Chưa tới chín giờ sáng, hai vợ chồng chú Walter đã đến nhà mình với một chiếc túi nhỏ - thì ra chú ấy tìm được một mớ sâu quy từ một người anh họ là dân đánh cá. Chú ấy giúp bà nhẹ nhàng đưa con chim hét ra khỏi hộp, trái tim cô nàng đập như điên dại dưới lớp lông ngực mềm mại. Bà gắp vài con sâu ra khỏi đĩa bằng một cái nhíp và đưa cho nó. Dù bà đã ve vẩy mấy con sâu trông thật ngon lành trước mỏ thì nó vẫn chẳng tỏ vẻ thèm thuồng chút nào. “Bà phải cạy mỏ nó ra bằng một cây tăm ấy,” chú Walter đề nghị. “Nhưng trước hết thì phải làm bằng tay đã.” Dĩ nhiên là bà không đủ can đảm để làm chuyện đó. Nhưng rồi bà nghĩ về những con chim nhỏ xíu hai bà cháu mình đã cùng nhau nuôi nấng và nhớ lại việc cần phải làm là cạy chiếc mỏ từ một bên, thế là bà đã làm như vậy. Cứ như thể là có một chiếc lò xo ở bên trong, cô nàng ngay lập tức mở miệng ra. Ăn xong ba con sâu thì cô nàng no căng rồi. Cô Razman pha cà phê vì bà không thể làm được với đôi tay bẩn của mình, rồi sau đó bọn bà ngồi chuyện phiếm. Nếu không nhờ lòng tốt và sự giúp đỡ của họ thì cuộc sống của bà sẽ khốn khó biết nhường nào. Vài ngày tới, họ sẽ đến vườn ươm để mua hạt và củ chuẩn bị cho mùa xuân sắp tới. Họ rủ bà đi cùng nhưng bà chưa trả lời sẽ đi hay không, rốt cuộc mọi người đã đồng ý là sẽ bàn lại về việc này qua điện thoại vào sáng ngày mai.
Hôm đó là ngày Tám tháng Năm. Bà làm vườn suốt cả buổi sáng, lúc này những khóm lâu đẩu [4] đã nở hoa và cây anh đào đang hé nụ. Mẹ của cháu đột ngột xuất hiện vào buổi ăn trưa mà không hề báo trước. Nó len lén lẻn ra phía sau bà rồi bất ngờ hét to: “Ngạc nhiên chưa!” Bà giật mình đến nỗi đánh rơi cả cái cào cỏ. Thế nhưng nét mặt của nó trái ngược hoàn toàn với niềm vui giả tạo trong lời chào đầy hồ hởi kia. Trông nó tái xanh tái mét với đôi môi mím chặt. Nó liên tục dùng những ngón tay để vuốt tóc khi nói chuyện, thỉnh thoảng lại giật giật, chải chải những lọn tóc trước mặt rồi ngậm cả dây buộc tóc trong miệng.
Tình trạng này của con bé đã diễn ra từ khá lâu nên bà không lo lắng lắm, ít nhất là cũng bớt lo hơn bình thường. Bà hỏi nó rằng cháu đang ở đâu. Nó trả lời là cháu đang chơi ở nhà một người bạn. Khi hai mẹ con trở vào nhà, nó lôi ra một chùm hoa lưu ly đã giập nát từ trong núi. “Hôm nay là Ngày Của Mẹ,” nó nói rồi đứng đó nhìn bà với chùm hoa trong tay mà không biết sẽ làm gì tiếp theo. Chính vì vậy mà bà quyết định giúp nó bằng cách ôm nó vào lòng và nói cám ơn một cách đầy trìu mến, thế nhưng cảm giác khi chạm vào cơ thể nó đã làm bà sốc khủng khiếp. Người nó cứ cứng đơ như tảng đá. Bà có cảm giác rằng cơ thể nó hoàn toàn trống rỗng như một hang động với màn sương lạnh bao phủ bên ngoài. Bà nhớ rất rõ là đã nghĩ đến cháu vào đúng khoảnh khắc ấy. Bà tự hỏi rằng một đứa bé như cháu sẽ ra sao khi mẹ của nó đang trong tình trạng đáng thương như thế? Thời gian trôi qua và mọi thứ chẳng những không tốt hơn mà ngày càng tồi tệ; bà lo lắng cho cháu và những gì có thể tác động đến cháu. Thế mà con bé cứ giữ khư khư lấy cháu và cho bà gặp càng ít càng tốt. Nó muốn ngăn bà gây ảnh hưởng tiêu cực đến cháu đấy mà. Dẫu có làm hỏng được đời nó, thì bà cũng không thể nào làm hỏng cuộc đời của cháu.
Vì đã đến giờ ăn trưa nên sau khi ôm ấp, bà vào bếp để nấu vài món gì đó. Trời hôm ấy mát dịu nên hai mẹ dọn bàn ra bên ngoài dưới cây hoa tử đằng. Bà trải chiếc khăn ca-rô trắng và xanh lá cây rồi đặt giữa bàn chiếc lọ cắm những cành hoa lưu ly của mẹ cháu tặng. Cháu thấy không? Một người lẩm cẩm như bà cũng có thể nhớ được mọi việc với độ chính xác không ngờ như thế đấy. Phải chăng bằng một cách nào đó bà đã biết trước rằng đó có thể là lần cuối cùng bà gặp mẹ cháu? Hay có lẽ là sau khi nó chết, bà đã cố bịa đặt ra những cách lý giải về khoảng thời gian lúc hai mẹ con còn ở bên nhau? Ai mà biết? Ai có thể nói được chứ?
Vì chẳng có thứ gì được chuẩn bị từ trước nên bà bắt tay làm món sốt cà chua. Khi sắp xong, bà hỏi Ilaria xem nó thích ăn loại mì Ý nào. Nó la to đáp lại từ bên ngoài, “Gì cũng được,” nên bà nấu món mì xoắn fusilli. Lúc ngồi xuống ghế, bà hỏi vài điều về cháu nhưng chỉ nhận được những câu trả lời lảng tránh. Bầy côn trùng lì lợm hết bay ra lại bay vào mấy cành hoa như con thoi, tiếng vo ve của chúng như nuốt chửng cả lời trò chuyện của hai mẹ con. Đúng lúc đó có một con gì đen đen bay vào trong đĩa mì của mẹ cháu. “Ong bắp cày! Giết nó, giết nó ngay!” nó thét lớn, nhảy ra khỏi ghế và đập túi bụi lên mọi thứ. Bà nghiêng người nhìn kỹ, thì ra thủ phạm là một con ong nghệ. “Không phải ong bắp cày,” bà bảo nó. “Chỉ là một con ong nghệ thôi, nó không chích đâu.” Bà đuổi con ong đi và bỏ lại mì lên đĩa cho nó. Con bé trông vẫn chưa hoàn hồn nhưng đã chịu ngồi xuống trở lại, cầm nĩa lên mân mê hồi lâu, cứ chuyển hết tay nọ sang tay kia, rồi thì chống khuỷu tay lên bàn và nói: “Con cần một ít tiền.” Trên chiếc khăn trải bàn nơi món mì fusilli vừa bị đổ có một vết màu đỏ thật to.
Vấn đề tiền bạc này kéo dài dai dẳng đến tận vài tháng sau đó. Trước lễ Giáng Sinh, Ilaria thú nhận rằng nó đã ký giúp vài giấy tờ cho bác sĩ tâm lý của nó. Khi bà hỏi để biết rõ chi tiết hơn thì nó lại ù ù cạc cạc như mọi lần. “Chẳng qua là để bảo lãnh thôi mà,” nó nói. “Chỉ là thủ tục không hơn không kém.” Đó là cái lối ác ôn của nó: mỗi lần muốn nói chuyện gì đó, nó chỉ nói nửa vời mà không đưa ra đầy đủ thông tin, và cứ thế trút hết mọi lo lắng của nó lên cho bà. Nhưng bà cần thông tin mới có thể giúp nó được. Trong những chuyện như thế này, nó luôn là người ác ý, mà hơn cả ác ý ấy chứ, đó là nhu cầu mãnh liệt luôn muốn trở thành trung tâm của mọi nỗi đau thương. Tuy nhiên, hầu hết các câu chuyện của nó chẳng qua là đóng kịch.
Chẳng hạn như có lúc nó nói: “Con bị ung thư tử cung rồi,” và sau một hồi tra hỏi, tuy ngắn gọn nhưng rất đỗi tuyệt vọng, bà phát hiện chỉ đơn giản là nó mới đi kiểm tra sức khỏe định kỳ mà mọi phụ nữ vẫn hay làm. Cháu thấy chưa? Cũng như là một thằng nhóc khóc giả vờ ấy mà. Suốt mấy năm qua, nó thông báo quá nhiều tấn thảm kịch đến nỗi bà hết tin, hoặc là không còn tin nhiều nữa. Vì vậy mà lúc con bé bảo nó đã ký giấy tờ gì đó, bà chẳng chú ý lắm và cũng không hỏi thêm thông tin gì. Trên hết là vì bà đã kiệt sức, những trò đùa của nó làm bà mòn mỏi cả rồi. Cho dù bà có gặng hỏi hay biết việc này sớm hơn thì cũng chỉ vô ích, bởi vì nó đã ký giấy tờ từ trước đó mà chẳng hé nửa lời.
Thực tế là cái việc động trời ấy đã xảy ra từ lâu, vào cuối tháng Hai. Bà phát hiện ra rằng giấy tờ mà Ilaria đã ký để trở thành người bảo lãnh cho phòng khám của gã bác sĩ kia có giá trị là ba trăm triệu Lia. Chỉ trong hai tháng thì phòng khám bị phá sản với khoản lỗ gần hai tỷ, thế là các ngân hàng đã đua nhau đòi nợ. Trong hoàn cảnh ấy, mẹ cháu chỉ biết khóc lóc với bà và hỏi liệu nó có thể làm gì. Số tiền dùng để bảo lãnh hóa ra chính là căn hộ mà hai mẹ con cháu đang sống, và ngân hàng muốn mẹ cháu phải trả ngay. Cháu có thể tưởng tượng được là bà đã điên tiết đến mức nào. Mẹ cháu đã ngoài ba mươi và nó không hề có chút khả năng tự lực cánh sinh, thế mà lại còn dám đem tài sản duy nhất của mình ra cá cược – đó chính là căn hộ mà bà đã ký cho nó vào ngày cháu chào đời. Bà giận sôi lên nhưng không cho nó trông thấy. Để nó không bị rối loạn hơn nữa, bà giả vờ bình tĩnh và nói: “Để xem chúng ta có thể làm được gì nào.”
Thế rồi mẹ cháu hoàn toàn thu mình trong lãnh cảm trong khi bà bắt đầu tìm kiếm một luật sư giỏi. Bỗng dưng bà trở thành một thám tử bất đắc dĩ và thu thập hết tất cả thông tin để có thể thắng kiện với các ngân hàng. Trong lúc làm việc này, bà phát hiện ra rằng nhiều năm nay gã bác sĩ kia đã cho nó uống thuốc có ảnh hưởng mạnh đến não. Nếu tâm trạng của nó đi xuống một chút trong các cuộc điều trị thì gã tống ngay rượu cho nó. Gã không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng con bé chính là đứa học trò cưng và tài giỏi nhất của gã, chẳng bao lâu nữa là nó có thể thành lập một phòng khám và có bệnh nhân của riêng mình. Chỉ cần lặp lại những từ này là bà lạnh cả sống lưng. Hãy tưởng tượng Ilaria chứ không phải ai khác, thật mong manh, hoang mang và không hề tập trung lại có bệnh nhân! Nhưng việc đó cũng có thể xảy ra đấy chứ, nếu như cái phòng khám kia không bị giải thể, và thế là không cần nói cũng biết rằng con bé sẽ mô phỏng rập khuôn nghệ thuật chữa trị của sư phụ nó.
Dĩ nhiên là nó chưa bao giờ dám nói thẳng với bà về dự án nó đang thực hiện. Mỗi lần bà hỏi tại sao nó không dùng tấm bằng văn chương của nó vào việc gì đó thì nó trả lời với một nụ cười ranh mãnh: “Rồi mẹ xem, con sẽ dùng đến nó...”
Thật đau đớn khi phải nghĩ về một điều gì đó, nói về nó lại càng khó khăn gấp bội. Trong những ngày tháng bất đắc dĩ ấy, bà đã hiểu một điều về mẹ cháu, điều mà bà chưa bao giờ nghĩ tới, và chẳng biết có nên nói ra không; tuy nhiên, vì đã quyết định không che dấu bất cứ điều gì với cháu nên có lẽ bà cứ tiếp tục. Vậy thì đây. Điều mà bà bỗng dưng hiểu về mẹ cháu là... là nó chẳng hề thông minh tí nào. Quá trình đi đến việc thấu hiểu rồi chấp nhận nó thực sự khó khăn vô cùng, một phần là vì bà mẹ nào cũng luôn tự lừa dối bản thân về con cái của mình, và một phần là vì nó rất giỏi trong việc tung hỏa mù với những kiến thức giả tạo cũng như tài biện hộ của nó. Nếu có đủ dũng cảm để đối diện với sự thật trước khi quá muộn thì bà đã bảo vệ nó tốt hơn và yêu thương nó một cách mạnh mẽ hơn. Và có lẽ nếu bà bảo vệ nó thì bà đã có thể cứu sống nó rồi.
Đó là điều quan trọng nhất, nhưng trước khi ý thức được như thế thì mọi chuyện hầu như không thể giải quyết được. Khi xem xét toàn bộ tình cảnh lúc đó thì chỉ có một cách duy nhất, đó là tuyên bố rằng nó không có đủ năng lực hành vi, và như thế việc tố tụng là không chính đáng. Vào ngày bà nói với nó rằng bà và luật sư quyết định làm theo cách đó, mẹ cháu đã nổi cơn tam bành. “Mẹ làm như vậy là có âm mưu!” nó liên tục la hét. “Tất cả là vì mưu tính chiếm lấy con gái của con!” Tuy nhiên, bà chắc chắn rằng điều làm nó đau đớn nhất chính là việc thông báo nó không đủ năng lực hành vi, vì như vậy có nghĩa là sự nghiệp của nó vĩnh viễn chấm dứt trước khi được bắt đầu. Nó đang bị bịt mắt và đi trên bờ vực thẳm nhưng vẫn cứ tin rằng mình đang dạo chơi trên một cánh đồng. Sau đó nó ra lệnh cho bà phải chấm dứt làm việc với luật sư và hãy quên hết tất cả mọi thứ đi. Nó tự tìm đến một luật sư khác và bà không còn nghe gì về vấn đề này nữa cho tới ngày nó mang chùm hoa lưu ly đến tặng bà.
Cháu có biết là bà cảm thấy thế nào khi nó chống khuỷu tay lên bàn và hỏi tiền không? Đúng, dĩ nhiên là bà đang nói về mẹ cháu, và có lẽ cháu không cảm nhận được gì ngoài sự giả dối cay độc trong những lời nói của bà, có lẽ cháu nghĩ rằng mẹ cháu đúng khi nó ghét bà. Nhưng hãy nhớ điều bà đã nói với cháu ngay từ đầu, rằng mẹ cháu là con gái của bà, và bà đã mất mát nhiều hơn là cháu đấy. Cháu vẫn còn quá ngây thơ khi mất mẹ, nhưng bà thì không, không chút nào. Nếu thi thoảng cháu cảm thấy sao bà có thể nói về chuyện này một cách vô tư như thế thì hãy nghĩ rằng bà đã đau đớn đến mức nào, và nỗi đau ấy không thể diễn tả hết bằng lời. Vô tư chỉ là vẻ bề ngoài, vô tư chính là khoảng không giúp bà hít thở và tiếp tục nói ra những điều này đấy cháu ạ.
Khi mẹ cháu đề nghị bà trả nợ cho nó, lần đầu tiên trong đời bà đã nói không với nó, tuyệt đối không. “Mẹ không phải là ngân hàng Thụy Sĩ,” bà bảo nó. “Mẹ không có số tiền đó. Mà cho dù có thì mẹ cũng không đưa cho con, con đủ lớn để chịu trách nhiệm cho những hành động của mình. Tài sản duy nhất của mẹ là căn hộ mà mẹ đã cho con. Nếu con làm mất nó thì mẹ cũng chẳng quan tâm.” Thế là nó bắt đầu khóc lóc sụt sùi. Nó bắt đầu nói một câu, rồi dừng lại nửa chừng và bắt đầu một câu khác; bà không thể hiểu mà cũng chẳng thấy chút logic nào trong những lời nó nói. Sau mười phút than van thì nó đi tới chủ đề yêu thích nhất: cha nó và những điều sai trái mà nó cho là ông ấy đã làm, chủ yếu là việc ông ấy chẳng hề đoái hoài đến nó. “Con muốn được đền bù, mẹ hiểu không?” nó hét lớn với ánh mắt rực lửa dữ tợn. Thế là bà nổ tung. Bí mật bà thề sẽ đem theo xuống mồ đã bật ra khỏi môi. Ngay sau khi lỡ lời, bà đã hối tiếc biết bao, bà muốn lấy nó lại và có thể làm bất cứ điều gì để nuốt chửng những từ ngữ đó, thế nhưng đã quá muộn rồi. Câu nói “Cha của con không phải là cha ruột của con” đã chạm tới tai con bé. Gương mặt nó tái xanh hơn cả lúc trước. Nó từ từ đứng lên và nhìn bà chằm chằm cả một lúc lâu. “Mẹ nói gì?” Giọng nó hầu như không thể nghe rõ, nhưng thật kỳ lạ là bà bình tĩnh trở lại ngay. “Con nghe đúng đấy,” bà trả lời. “Mẹ nói là chồng của mẹ không phải là cha ruột của con.”
Ilaria phản ứng thế nào ư? Đơn giản là nó bỏ đi. Nó quay đầu và đi thẳng đến cổng vườn, di chuyển như một con rôbốt chứ không phải là người. “Đợi đã! Hãy nói chuyện đã!” bà hét to với giọng the thé đầy giận dữ.
Tại sao bà chẳng đứng dậy, tại sao bà chẳng chạy theo nó, tại sao bà chẳng làm gì để ngăn nó ra đi? Bởi vì bà cũng chết điếng với lời lẽ của chính mình. Cháu hãy hiểu là điều bà bảo vệ cẩn thận bao nhiêu năm nay bỗng dưng vụt khỏi tầm tay. Cứ như một con chim bạch yến đột nhiên thấy cửa lồng hé mở và vội vàng bay mất trong tích tắc. Mà nó lại bay đến một người bà không hề mong muốn.
Khoảng sáu giờ chiều ngày hôm ấy, khi bà đang tưới những khóm hoa tú cầu trong lúc vẫn còn bàng hoàng tột độ, vài cảnh sát đã đến và thông báo rằng một tai nạn đã xảy ra.
Giờ đã khuya rồi nên bà phải nghỉ ngơi một lát. Bà đã cho Buck và con chim hét ăn. Bà cũng đã dùng bữa tối và xem tivi một lát. Cái vỏ bọc già cỗi và rách rưới của bà không thể giúp bà chịu đựng nổi những cảm xúc mạnh mẽ quá lâu nữa rồi. Nếu muốn tiếp tục làm gì đó thì bà phải xao lãng đi một lát để hít thở chút không khí đã.
Cháu cũng biết là mẹ cháu không mất ngay mà chập chờn giữa sự sống và cái chết trong mười ngày. Bà đã ở bên cạnh con bé suốt và hy vọng giá như nó mở mắt, dù chỉ trong giây lát, để bà có cơ hội xin lỗi nó lần cuối cùng. Chỉ mỗi hai mẹ con bà trong căn phòng nhỏ xíu đầy máy móc, có một màn hình nhỏ cho thấy trái tim nó vẫn đang đập, còn một màn hình khác thì lại cho thấy não của nó hầu như ngừng hoạt động rồi. Bác sĩ bảo rằng những bệnh nhân trong tình trạng như vậy đôi khi có thể phục hồi khi nghe những âm thanh họ yêu thích, vì vậy bà mang đến chiếc băng cát-xét với những bài hát nó say mê lúc nhỏ và bật liên tục hàng giờ. Có điều gì đó thực sự đã chạm đến nó, bởi vì biểu hiện trên gương mặt của nó thay đổi ngay từ nốt nhạc đầu tiên, nét mặt nó giãn ra và đôi môi bắt đầu động đậy như một đứa trẻ sơ sinh sau khi được cho bú. Có vẻ như đó là một nụ cười mãn nguyện. Ai biết được, có lẽ ký ức về những khoảnh khắc tươi vui được lưu giữ trong một phần nhỏ của bộ não vẫn còn hoạt động, và nó đang tạm thời ẩn lánh ở nơi ấy. Sự thay đổi tí xíu ấy cũng đủ làm bà ngập tràn hạnh phúc. Những lúc như vậy, chúng ta thường làm đủ mọi cách để mong sự việc tốt hơn. Bà liên tục xoa đầu nó và lặp đi lặp lại: “Con yêu ơi, con phải ráng lên, chúng ta vẫn còn cả cuộc đời trước mắt để sống với nhau, chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu, và mọi thứ sẽ không còn như trước nữa.” Khi trò chuyện với mẹ cháu, có một hình ảnh liên tục xuất hiện trước mắt bà: con bé chỉ mới bốn hay năm tuổi đang đi dạo trong vườn và nói chuyện không ngừng với con búp bê yêu thích nhất trong tay. Lúc đó bà đang ở trong bếp và không nghe rõ những gì nó nói. Thỉnh thoảng bà chỉ nghe thấy nó cười, ôi tiếng cười tươi vui, hạnh phúc biết bao. Bà tự nhủ rằng nếu nó từng hạnh phúc, nó sẽ được hạnh phúc thêm lần nữa. Và cuộc đời mới của nó phải được bắt đầu từ đó, từ đứa bé đáng yêu đó.
Như nhiều trường hợp khác, điều đầu tiên mà các bác sĩ nói với bà sau trận tai nạn là cho dù mẹ cháu còn sống thì nó cũng không bao giờ được như trước đây, có thể là nó sẽ bị liệt hoặc tổn thương não vĩnh viễn. Và cháu biết không, vì sự ích kỷ của tình mẫu tử nên bà chỉ quan tâm đến một điều là nó phải sống, cho dù có bị như thế nào đi chăng nữa. Thực tình, nếu trách nhiệm duy nhất của bà là đẩy xe lăn, tắm rửa, đút cho nó ăn hay chăm sóc nó cả đời thì âu đó cũng là cách tốt nhất để chuộc lại mọi lỗi lầm. Nhưng nếu tình yêu thương của bà đủ chân thành, nếu bà yêu nó bằng cả trái tim thì có lẽ bà sẽ cầu nguyện cho nó ra đi. Tuy nhiên, cuối cùng thì Ai đó đã yêu nó hơn bà: vào cuối buổi chiều ngày thứ chín, nụ cười mơ hồ của nó biến mất trên gương mặt và nó đã ra đi. Bà nhận ra ngay vì đang ngồi bên cạnh nó, thế nhưng bà không thông báo cho y tá trực liền bởi vì bà muốn ở bên nó thêm một thời gian. Bà vuốt ve khuôn mặt nó, siết chặt tay nó như bà vẫn từng làm lúc nó còn bé xíu. Bà liên tục lặp đi lặp lại: “Con yêu ơi, con yêu ơi.” Sau đó bà quỳ xuống giường, vẫn nắm chặt tay nó rồi bắt đầu cầu nguyện. Và trong lúc cầu nguyện, bà đã bắt đầu khóc.
Bà vẫn khóc cho đến khi cô y tá khẽ chạm vào vai. “Ra đây với cháu,” cô ấy bảo, “cháu sẽ cho bà thứ này để bình tâm trở lại.” Bà chẳng muốn bình tâm, bà chẳng muốn bất kỳ thứ gì để khỏa lấp nỗi đau của mình. Bà ở đó đến lúc họ đưa con bé tới nhà tang lễ. Sau đó bà đón taxi tới nhà của người bạn nơi cháu đang chơi, và đến tối thì bà đón cháu về nhà. “Mẹ đâu rồi bà?” cháu hỏi trong lúc ăn tối. “Mẹ cháu đi rồi,” bà bảo cháu. “Nó đã đi một chuyến rất xa, xa tít lên đến tận trời kia kìa.” Cháu tiếp tục ăn trong yên lặng, bà nhìn mãi cái đầu vàng hoe bự xự của cháu. Vừa ăn xong, cháu liền hỏi bà với giọng thật nghiêm túc: “Bà cháu mình có thể vẫy chào mẹ không ạ?” Bà trả lời: “Dĩ nhiên rồi, cháu yêu của bà,” và bế cháu trên tay rồi cùng đi ra vườn. Hai bà cháu mình đã đứng trên bãi cỏ thật lâu trong khi cháu vẫy bàn tay nhỏ xíu của mình với các vì sao.