Tui xong chương 7-8 rồi nè. Bạn mọt sách vui lòng kiểm tra coi tui làm vậy là đúng yêu cầu chưa nhé, vì tui mới tham gia đánh máy lần đầu, hổng biết vậy có đúng quy cách hông, nhờ bạn góp ý dùm.
Cho tui đăng ký tiếp chương 10-11 đi nha.
Đánh máy: dunght
VII
TRONG NHÀ CÁC NGỰ LÂM QUÂN
Khi d’Actanhăng ra khỏi cung điện Lurvo, chàng hỏi ý kiến các bạn xem chàng nên dùng phần mình trong số bốn mươi đồng pistôn như thế nào. Atôx khuyên chàng nên đặt một bữa chén thật ngon ở khách sạn Quả thông. Pooctox khuyên nuôi một tên hầu còn Aramix khuyên nên kiếm một nhân tình thật xứng đáng.
Bữa ăn được thực hiện ngay hôm ấy và tên đầy tớ hầu bàn luôn ở đấy. Bữa ăn do Atôx đặt và tên hầu do Pooctôx cung cấp. Đó là một người Pica mà anh chàng ngự lâm huênh hoang thuê ngay hôm ấy nhân dịp đi trên cầu La Tuốcnen trong khi nó nhổ nước bọ xuống sông để làm thành những vòng tròn trên mặt nước.
Pooctôx cho rằng cái việc nhổ nước bọt ấy là bằng chứng một tư chất chín chắn và trầm tĩnh. Chàng đã lôi nó đi theo mà không hỏi han gì cả. Cái tướng mạo oai phong của chàng quý tộc ấy mà Plăngsê - tên người Pica kia tưởng sẽ được hầu hạ làm hắn thích mê, nhưng nó hơi thất vọng khi thấy bạn đồng nghiệp của nó tên là Muxcơtông đã làm việc đó rồi và khi Pooctôx cho nó biết rằng nhà ở của chàng tuy rộng lớn cũng không cần gì đến hai đầy tớ, nó phải vào hầu hạ đ’Actanhăng. Tuy nhiên, khi nó đứng hầu bữa aun trưa do chủ nó thết đãi và khi thấy ông chủ móc ở túi ra một nắm tiền vàng để trả, nó tưởng phen này vận may của mình đã đến và cảm ơn Chúa mình đã được như chuột sa chĩnh gạo. Nó đeo đuổi mãi ý kiến ấy cho đến sau bữa tiệc mà những thức ăn thừa thãi đã giúp nó bù đắp lại được những bữa nhịn dài. Nhưng đến tối, khi dọn giường cho chủ, bao nhiêu ảo mộng của Plăngsê tắt ngấm. Có độc một cái giường trong căn nhà gồm một phòng đợi và một phòng ngủ. Plăngsê nằm ở phòng đợi trên một tấm mền lột ở giường đ’Actanhăng mà từ đó chàng thôi không dùng nữa.
Về phần mình, Atôx có một gã hầu tên gọi là Grimmô được chàng huấn luyện theo một cách đặc biệt để hầu hạ chàng. Cái vị quý tộc tôn quý này đến là lầm lì. Dĩ nhiên là chúng tôi nói về Atôx. Từ năm sáu năm nay, chàng sống trong tình bạn chí thiết với các đồng đội Pooctôx và Aramix của chàng, các bạn chàng nhớ ra rằng có trông thấy chàng mỉm cười luôn, nhưng chưa bao giờ nge thấy chàng cười thành tiếng. Lời lẽ của chàng vắn tắt và rất diễn đạt, luôn luôn nói đủ cái điều muốn nói, không thừa, không màu mè, không thêu dệt hoa mỹ, không kiểu cách. Cuộc đàm thoại của chàng là một sự việc không chút văn vẻ thêm thắt nào. Mặc dầu mới ba mươi tuổi và thật rất là đẹp đẽ cả về thân thể lẫn tâm hồn, chẳng ai thấy chàng có tình nhân. Không bao giờ chàng nói chuyện về đàn bà, song chàng chẳng ngăn cản người ta nói đến trước mặt mình, tuy người ta dễ nhận thấy là loại chuyện đó khiến chàng hết sức khó chịu, và chàng chỉ xen vào bằng những lời chua chát và những bình phẩm chán đời. Thái độ thận trọng tính khí tàn nhẫn và lầm lì khiến chàng chẳng khác gì một ông già; vì vậy để khỏi làm trái với thói quen của mình, chàng luyện cho Grimmô chỉ cần thấy chủ hất hàm, vẫy tay hay nhếch mép là biết ý tuân theo. Chàng chỉ nói với hăn trong trường hợp tối cần thiết.
Vừa rất mến con người và rất kính phục tài năng chủ, vừa sợ chủ như cọp, Grimmô đôi khi tuồng như hoàn toàn hiểu chàng muốn gì, lao ngay đi thi hành mệnh lệnh nhưng lại làm ngược lại. Tức thì, Atôx nhún vai, chẳng hề nổi giận, quất cho Grimmô mấy roi. Những hôm ấy chàng mới nói năng chút ít.
Pooctôx, như ta có thể thấy, có một tính cách hoàn toàn đối lập với Atôx: không những chàng nói nhiều mà nói oang oang; vả lại cũng phải nhận cho công bằng rằng chàng nói để được nói và được nghe mình nói, còn ai nghe không, chàng không cần; chàng nói về đủ mọi chuyện trên đời trừ môn khoa học, viện cớ rằng từ hồi nhỏ chàng đã có mối ác cảm thâm căn cố đế với các nhà bác học. Chàng không có vẻ uy nghi chững chạc bằng Atôx và vào buổi đầu quen biết nhau cái niềm mặc cảm tự ti đã khiến chàng thường hay bất công với con người quý tộc kia đến mức chàng ra sức vượt bạn bằng những phục sức lộng lẫy. Nhưng với tấm áo choàng ngự lâm bình dị và cái hất đầu ra sau, và bước chân lên, Atôx lập tức chiếm giữ cái địa vị vốn dành cho mình và quẳng anh chàng Pooctôx hào nhoáng xuống hàng dưới rồi. Pooctôx đành tự an ủi bằng cách phao tin tràn lan ở tiền sảnh của Ngài đờ T’rêvin và ở khắp các đơn vị bảo vệ hoàng cung Lurvơ về những hạnh vận của chàng mà Atôx chẳng bao giờ nói đến; và, lúc này, sau khi chuyển từ quý tộc pháp quan sang quý tộc binh gia, từ bà pháp quan sang bà nam tước, đối với Pooctox chỉ có tồn tại một vấn đề là có một nữ quận chúa nước ngoài mong muốn một tài sản lớn cho chàng.
Một câu tục ngữ xưa nói: “Thấy nào tớ ấy”. Vậy ta hãy chuyển từ gã hầu của Atôx sang gã hầu của Pooctôx, từ Grimmô sang Muxcơtông.
Muxcơtông là một người Noocmăng có cái tên hoà bình là Bônifaxơ bị chủ hắn đổi thành cái tên kêu hơn là Muxcơtông . Hắn nhận vào giúp việc Pooctôx với điều kiện được mặc và ở thôi nhưng phải thật oách; hắn chỉ xin có hai giờ một ngày để hắn dành cho một nghề nghiệp riêng có thể chu cấp đủ cho hắn những nhu cầu khác. Pooctôx ưng thuận: cái đó thật là thích hợp với chàng. Chàng đến một gã thợ may rất thông minh thường lộn và chữa cho chàng những quần áo cũ thành mới và người vợ thì nghi là muốn lôi kéo Pooctôx rời khỏi những tập quán quý phái của mình, thuê may cho Muxcơtông những quần áo chẽn bằng áo cũ và áo choàng thay đổi của chàng. Nhờ đó Muxcơtông mặt mày hớn hở đi điếu đóm cho chủ.
Còn về phần Aramix, chúng tôi thiết tưởng đã trình bày đủ tính cách của chàng. Ngoài ra cũng giống như tính cách của các bạn đồng đội chàng, chúng ta có theo dõi tính cách của Aramix ở tên gọi Badanh . Nhờ cái kỳ vọng của chủ hắn một ngày nào đó sẽ thụ giới vào hội đạo, lúc nào hắn cũng vận đồ đen như lẽ thường đầy tớ của một vị thầy tu phải mặc. Đó là một người xứ Bery khoảng từ ba mươi lăm đến bốn mươi tuổi, hiền lành, bình tĩnh, mập mạp, chăm lo đọc các sách kinh vào những giờ nhàn rỗi mà ông chủ dành cho, bần cùng phải làm một bữa ăn chiều cho họ, ít món nhưng thật ngon. Ngoài ra, hắn như câm, mù, điếc, và nhất mực trung thành với chủ.
Bây giờ ít ra đã biết sơ qua về đám thầy và tớ, ta hãy qua nơi ăn chốn ở của mỗi người.
Atôx ở phố Fêru cách công viên Luýchxembua dăm bước chân; căn nhà gồm hai buồng nhỏ, bày biện đồ đạc rất tinh tươm trong một toà nhà cho thuê sẵn đồ đạc. Bà chủ nhà hãy còn trẻ và thật sự còn đẹp thường hay đưa mắt tống tình chàng mà chẳng nước non gì. Vài ba mảnh di vật của một thời huy hoàng lộng lẫy đã qua nổi bật lên ở chỗ này chỗ kia trên các bức tường của căn nhà nhũn nhặn đó; chẳng hạn một thanh kiếm khảm vàng bạc rất sang, nhìn cách chế tạo biết ngay nó ở tận thời vua Frăngxoa đệ nhất, và chỉ riêng cái cán nạm ngọc quý có thể đáng giá hai trăm pixtôn, vậy mà trong những lúc túng quẫn nhất, Atôx cũng chẳng bao giờ chịu đem cầm cố hay bán đi. Pooctox thèm rỏ rãi thanh kiếm đó từ lâu. Chàng có thể cho đi mười năm tuổi thọ để có được thanh kiếm ấy. Một hôm thử nhân có cuộc hẹn hò với một nữ công tước, Pooctôx hỏi mượng Atôx thanh kiếm. Atôx chẳng nói chẳng rằng dốc hết túi, thu thập tất cả tư trang, tiền nong, tua ngù và dây chuyền vàng đưa biếu Pooctôx; nhưng còn thanh kiếm thì chàng bảo bạn rằng nó được gắn chặt tại chỗ của nó và chỉ dời khỏi khi nào chính chủ nó dời bỏ nơi ở của mình. Ngoài thanh kiếm ra còn có một bức chân dung hoạ một đại lãnh chúa thời vua Hăngri đệ tam, ăn vận hết sức cao sang và đeo huân chương Thánh – Linh; so với Atôx chân dung ấy có vài chỗ hao hao về đường nét, vài chỗ tương đồng về gia tộc, chứng tỏ rằng vị đại thần đó, người được tặng thưởng những huân chương của nhà vua là tổ phụ của chàng.
Cuối cùng, một cái hộp kim hoàn tuyệt mỹ có cùng một huy hiệu như thanh kiếm và bức chân dung, đặt ở giữa lò sưởi, nó xung khắc một cách ghê gớm với những thứ bày biện khác trên đó: Atôx luôn mang theo người chìa khoá của cái hộp đó. Nhưng một hôm chàng đã mở nó ra trước mặt Pooctôx và Pooctôx có thể tin rằng cái hộp ấy chỉ đựng có thư từ và giấy má; chắc là những thư tình và giấy tờ của gia đình.
Pooctôx ở một căn nhà rộng thênh thang có bề ngoài rất lộng lẫy ở phố Viơ – Côlombiê. Mỗi lần chàng cùng một người bạn nào đó đi qua dưới hàng cửa sổ, bao giờ cũng có Muxcơtông mặc chế phục đàng hoàng đứng ở một ô cửa, thì Pooctôx ngẩng đầu và giơ tay lên nói: Tệ sá đấy! Nhưng chẳng bao giờ chàng mời ai lên và chẳng ai có thể biết được cái bề ngoài lộng lẫy ấy chứa đựng những của cải thực sự gì.
Còn Aramix, chàng ngụ tại một căn nhà nhỏ, ở tần sát đất gồm một khuê phòng, một phòng ăn và một phòng ngủ, phòng ngủ trông ra một mảnh vườn nhỏ mát mẻ, xanh tươi, có bóng râm và mắt hàng xóm láng giềng không thể lọt vào được.
Về phần đ’Actanhăng, chúng ta đã biết chàng ở như thế nào rồi và ta đã làm quen với người hầu của chàng là bác Plăngsê.
Đ'Actanhăng vốn tính rất tò mò như những người tài bày mưu tính kế thường thế, đã ráng sức tìm hiểu xem Atôx, Pooctôx và Aramix đúng ra là những người thế nào, vì rằng dưới những cái tên đăng lính ấy, mỗi chàng trai trẻ đã giấu đi cái tên quý tộc của mình, nhất là Atôx, từ xa một dặm đã sực lên mùi đại lãnh chúa rồi. Chàng bèn hỏi Pooctôx để tìm hiểu về Atôx và Aramix, và hỏi Aramix để biết về Pooctôx.
Khốn nỗi chính Pooctôx cũng chỉ biết về đời người bạn thầm lặng của mình qua những biểu hiện toát ra bên ngoài mà thôi. Người ta đồn rằng Atôx gặp những bất hạnh lớn trong đường tình ái và một sự phản bội xấu xa đã đầu độc mãi mãi cuộc đời của con người phong nhã này. Sự phản bội ấy thế nào? Chẳng ai biết cả.
Về Pooctôx, trừ cái tên thật của chàng chỉ riêng Ngài đờ T’rêvin biết, cũng như tên thật của hai bạn chàng, cuộc đời của chàng thật dễ hiểu. Tự phụ và bộc tuệch, người ta nhìn qua chàng như qua một tấm pha lê. Điều duy nhất có thể khiến người điều tra lầm lẫn là nếu họ tin vào tất cả những cái hay cái tốt chàng nói về mình.
Còn về Aramix, có vẻ chẳng có một điều thầm kín nào thì lại là một con người chất chứa đầy bí mật, ít trả lời những câu người ta hỏi về người khác và lảng tránh những điều người ta hỏi về chàng. Một hôm sau khi hỏi chàng rất lâu về Pooctôx và qua đó được biết cái tin đồn về số đỏ của Pooctôx với một quận chúa, đ’Actanhăng cũng lại muốn biết sự thể ra sao về các chuyện tình duyên của người đối thoại, đ'Actanhăng hỏi:
- Này bạn thân mến, thế còn cậu, người ta nói về những nữ nam tước, nữ bá tước và nữ quận chúa của những người khác, thì sao?
- Xin lỗi, Aramix ngắt lời, tôi nói bởi vì bản thân Pooctôx tự nói đến, bởi vì cậu ấy oang oang phô ra tất cả những chuyện đó trước mặt tôi. Nhưng ông đ'Actanhăng thân mến ơi, hãy tin rằng nếu tôi nghe những điều đó từ một nguồn khác hoặc giả Pooctôx tâm sự riêng với tôi, thì sẽ chẳng có một người nghe tâm sự nào kín đáo hơn tôi đâu.
- Tôi chẳng hoài nghi điều ấy, đ'Actanhăng lại nói, nhưng rốt cuộc thì hình như chính cậu, cậu cũng khá thân thuộc với những huy hiệu, bằng chứng là chiếc khăn tay thêu mà nhờ nó mình có hân hạnh được quen biết cậu.
Lần này Aramix chẳng hề tức giận, nhưng lấy cái vẻ khiêm tốn nhất ra mà trả lời một cách thân ái:
- Bạn thân mến ơi, chớ quên rằng tôi muốn là người của nhà thờ, và trốn tránh mọi cảnh ngộ phù hoa. Cái khăn mà cậu nom thấy chẳng phải là được trao tặng tôi đâu mà do một anh bạn bỏ quên ở nhà tôi. Tôi phải nhặt lấy để khỏi làm tổn hại đến danh giá của anh bạn và cái bà mà anh ta yêu. Còn về phần mình, tôi chẳng có và chẳng hề muốn có tình nhân, về mặt này tôi theo tấm gương rất đúng đắn của Atôx, cậu ta cũng chẳng có tình nhân như tôi.
- Vớ vẩn thế? Cậu không phải là tu viện trưởng mà cậu là ngự lâm quân.
- Ngự lâm quân lâm thời bạn ạ, như giáo chủ nói, ngự lâm quân bắt đắc dĩ, nhưng tâm hồn là người của nhà thờ, cậu hãy tin tôi. Atôx và Pooctôx đã nhét tôi vào trong ngự lâm quân đã chiếm lấy tôi. Vào cái lúc sắp được phong chức giáo sĩ tôi đã có một va vấp nhỏ với … Nhưng thôi điều đó chẳng liên quan gì đến cậu mấy, và tôi đã chiếm khá nhiều thời giờ quý báu của cậu rồi.
- Không đâu, chuyện đó tôi rất thích thú, đ'Actanhăng kêu, và lúc này tôi hoàn toàn không có một việc gì phải làm cả.
- Ừ, nhưng tôi, tôi còn quyển kinh phải đọc, Aramix đáp, rồi lại còn mấy câu thơ phải làm cho bà đ’Eghiông; sau đó phải ra phố Xanh – Onorê để mua son hộ bà đờ Sơvrơi; cậu thấy đấy, nếu như cậu chẳng có việc gì gấp thì mình lại rất vội.
Rồi Aramix thân ái chìa tay cho người bạn trẻ của mình và cáo lui.
Dù vất vả mấy, đ'Actanhăng vẫn chẳng hiểu biết gì hơn về ba người bạn mới. Chàng đành quyết định trước mắt hãy tin ở những điều người ta nói về quá khứ của họ, hy vọng vào những điều phát hiện chắc chắn và phong phú hơn của tương lai. Trong khi chờ đợi, chàng coi Atôx như một Asin; Pooctôx như một Ajax và Aramix như một Jôdép .
Vả chăng, cuộc sống của bốn chàng trai thật vui vẻ. Atôx đánh bạc luôn luôn đen đủi. Song chàng không bao giờ vay mượn bạn lấy một xu mặc dầu túi tiền chàng không ngừng phục vụ cho các bạn; và khi nào phải chơi bạc miệng thì bao giờ chàng cũng đánh thức chủ nợ từ sáu giờ sáng để trả món nợ đêm hôm trước.
Pooctôx có những cơn hăng máu; những hôm được bạc, người ta thấy chàng hớn hở và ngạo mạn; nếu thua, chàng biến hẳn đi mấy ngày liền, sau đó chàng xuất hiện mặt mày nhợt nhạt và dài thuỗn ra nhưng trong túi lại rủng rỉnh tiền.
Còn Aramix không hề chơi bạc bao giờ. Đích thị chàng là người lính ngự lâm vụng nhất và người thực khác dở nhất. Chàng lúc nào cũng thấy cần phải làm việc. Đôi khi giữa một bữa ăn, khi men rượu đang bốc và chuyện trò đang sôi nổi, ai nấy đều nghĩ rằng còn phải ngồi đến vài ba tiếng nữa, Aramix nhìn đồng hồ, đứng dậy với một nụ cười duyên dáng xin cáo biệt bạn bè để theo chàng, đi thỉnh giáo một nhà thần học chuyên giải quyết những vấn đề khó nghĩ mà chàng đã hẹn gặp. Lần khác, chàng trở về nhà để viết một bản luận thuyết và yêu cầu bạn bè đừng làm chàng lãng ý.
Trong khi ấy, Atôx mỉm một nụ cười buồn rầu mà dễ thương rất hợp với gương mặt cao quý của chàng, còn Pooctôx thì nốc rượu mà rủa rằng Aramix suốt đời cũng chỉ có thể là một cha đạo xóm lẻ.
Plăngsê, người hầu của đ'Actanhăng chịu đựng hạnh vận một cách cao thượng; hắn lãnh ba mươi xu một ngày và trong một tháng hắn về nhà vui như sáo và lễ phép với ông chủ. Khi cơn gió bĩ bắt đầu thổi vào căn nhà phố Phu đào huyệt, nghĩa là khi bốn chục pixtôn của vua Lu-i XIII đã bị ngốn sạch hoặc gần như hết sạch, Plăngsê bắt đầu thốt ra những lời phàn nàn mà Atôx thấy lợm giọng, Pooctôx thấy hỗn hào và Aramix thấy lố bịch. Atôx bèn khuyên đ'Actanhăng thải cái thằng vô lại ấy, Pooctôx muốn trước đó hãy đánh đòn, và Aramix cho rằng một người chủ chỉ nên được nghe những lời gia nhân ca tụng mình.
Đ'Actanhăng nói:
- Việc đó các cậu nói thì dễ lắm. Atôx, cậu sống câm lặng với Grimmô và cấm hắn mở miệng, do đó có bao giờ cậu nặng lời với hắn. Pooctôx, cậu sống như ông hoàng thì làm gì Muxcơtông chẳng coi cậu như thánh như thần. Còn cuối cùng, Aramix, lúc nào cậu cũng mải mê vào những cuộc nghiên cứu thần học, thì dĩ nhiên cậu gây được lòng kính trọng sâu xa cho tên hầu Badanh của cậu vốn đã hiền lành và sùng đạo. Còn tôi, tôi chưa có gì ổn định chắc chắn, của nả cũng không; tôi không là lính ngự lâm cũng chẳng phải thị vệ, tôi làm sao khiến thằng Plăngsê quý mến, khiếp sợ hoặc kính trọng được cơ chứ?
- Việc nghiêm trọng đấy, ba người bạn đáp, mà đó là chuyện trong nhà; có những tên đầy tớ chẳng khác chi đàn bà, cần phải tức khắc đặt chúng vào cái chỗ mà ta muốn chúng ở đó. Cậu hãy suy nghĩ đi.
Đ'Actanhăng suy nghĩ và quyết định tạm đánh cho Plăngsê một trận, điều đó được thực hiện với ý thức mà chàng đặt vào mọi việc chàng làm. Rồi sau đó chàng cấm hắn bỏ việc mà chưa được phép; bởi vì, chàng nói thêm, tương lai chẳng thể thiếu với ta, ta đang đợi những ngày khá giả hơn và nhất định sẽ đến. Mày cũng sẽ nở mày nở mặt nếu ở lại đây với ta, và ta là người chủ quá tốt nên không thể để mày sa cơ lỡ vận bằng cách cho mày nghỉ việc như mày xin đâu.
Cách xử sự đó khiến các bạn ngự lâm quân rất kính trọng cái quyền mưu của đ'Actanhăng. Plăngsê cũng khâm phục và không nói đến chuyện bỏ đi nữa.
Cuộc sống của bốn chàng trai trẻ chan hoà với nhau: đ'Actanhăng chưa có một thói quên gì vì từ tỉnh nhỏ đến và rơi ngay vào giữa một thế giới hoàn toàn mới mẻ, nhanh chóng ngả theo những thói quen của bè bạn.
Về mùa đông, họ dậy vào tám giờ và mùa hè vào sáu giờ rồi họ đi đến dinh Ngài đờ T’rêvin để nhận khẩu lệnh và xem công việc ra sao. Mặc dầu không phải ngự lâm quân, đ'Actanhăng vẫn làm công việc của một ngự lâm quân một cách đúng đắn đáng cảm động. Chàng cũng canh gác vì bao giờ cũng cùng đi với một trong ba người bạn đến phiên gác. Cả dinh ngự lâm quân đều biết chàng và ai nấy đều coi chàng như một người đồng đội tốt. Ngài đờ T’rêvin đã coi trọng chàng từ lúc mới sơ kiến và thật tình thương mến chàng, không ngớt tiến cử chàng với nhà vua.
Về phần mình, ba chàng lính ngự lâm rất yêu quý người bạn trẻ. Tình bằng hữu gắn bó bốn người đó lại với nhau mỗi ngày ba bốn lần, hoặc để đi quyết đấu, hoặc vì công việc, hoặc để vui chơi, khiến họ luôn luôn theo sát nhau như hình với bóng, và người ta luôn gặp những người bạn chí thiết đó đi tìm kiếm nhau từ vường Luýchxembua đến quảng trường Xanh-Xuynbix hoặc từ phố Viơ-Côlombiê đến vườn Luýchxembua.
Trong khi chờ đợi, những lời hứa của Ngài đờ T’rêvin vẫn được xúc tiến. Một hôm nhà vua ra lệnh cho ông hiệp sĩ đề Etxe lấy đ'Actanhăng vào làm tập sự trong đại đội thị vệ của ông. Đ'Actanhăng thở dài, mặc bộ quần áo thị vệ mà chàng những muốn đánh đổi lấy cái áo ngự lâm bằng giá mười năm tuổi thọ của mình. Nhưng Ngài đờ T’rêvin hứa sẽ ban cho cái ân huệ đó sau hai năm tập sự, cái thời gian có thể vả chăng sẽ rút ngắn nếu đ'Actanhăng có cơ hội hoàn thành một nhiệm vụ nào đó cho nhà vua hoặc làm được một hành động oanh liệt nào. Đ'Actanhăng ra về sau khi được hứa hẹn như vậy và ngay hôm sau bước vào đời lính.
Thế là đến lượt Atôx, Pooctôx, và Aramix cùng đi gác với đ'Actanhăng khi đến phiên chàng. Như vậy đại đội ông hiệp sĩ đờ Etxa đã nhận những bốn người, lẽ ra là một, vào hôm nhận đ'Actanhăng.
VIII
MỘT ÂM MƯU TRONG TRIỀU ĐÌNH
Trong khi đó thì bốn mươi đồng pixtôn của vua Lu-i XIII cũng như mọi sự ở trên đời này, đã có khởi đầu ắt phải có kết thúc, và từ sau sự kết thúc đó bốn người bạn của chúng ta lâm vào cảnh túng thiếu. Đầu tiên, Atôx dùng tiền riêng của mình cứu mạng cả bọn được ít lâu. Rồi Pooctôx kế tiếp, và nhờ một trong những đợt đi biệt tăm người ta đã quen thuộc kia chàng chu cấp cho nhu cầu mọi người được nửa tháng. Cuối cùng đến lượt Aramix, chàng vui lòng đóng góp, và theo chàng nói, nhờ bán cuốn sách thần học của mình, chàng đã kiếm được dăm pixtôn.
Thế rồi, như thường lệ, người ta nhờ vả Ngài đờ T’rêvin, ngày cho ứng trước một phần tiền lương; nhưng các khoản ứng trước đó chẳng thể kéo dài đối với ba chàng lính ngự lâm đã mắc vô khối nợ quá hạn và một anh thị vệ còn chưa vay mượn gì.
Cuối cùng khi thấy sắp trắng tay rồi, bằng một cố gắng lần chót, họ ráng thu góp được tám hay mười pixtôn cho Pooctôx đánh bạc. Không may, đang vận rủi, chàng nướng sạch, lại còn nợ thêm hai mươi lăm pixtôn bạc miếng.
Thế là túng thiếu trở thành quẫn bách, người ta thấy những anh chàng đói bụng có kẻ hầu theo sau, chạy cùng các bến kè và các cơ lính thị vệ, ghé vào các nhà bạn hữu bên ngoài, gặp đâu chén đấy: vì rằng theo ý kiến của Aramix, trong khi sung túc người ta cần gieo rắc các bữa ăn ra tứ phía để trong cơn bĩ cực thu hoạch lấy vài ba bữa.
Atôx được mời ăn bốn bận và mỗi bận chàng kéo theo cả bạn bè cùng đầy tớ. Pooctôx có sáu cơ hội và cũng để các bạn cùng hưởng. Aramix được những tám lần. Như người ta đã có thể nhìn thấy, đó là một người làm thì ít ồn ào nhưng làm được nhiều việc.
Còn đ'Actanhăng chưa quen biết ai ở chốn kinh kỳ chỉ được mời ăn một bữa sôcôla lót dạ ở nhà của một linh mục cùng quê và một bữa ăn trưa ở nhà một tay cầm cờ của quân thị vệ. Chàng dẫn đại đội binh nhà đến nhà ông linh mục ngốn sạch chỗ thực phẩm dự trữ cho hai tháng của ông; và đến nhà tay cầm cờ, anh này đãi một bữa rất thịnh soạn, nhưng như lời Plăngsê nói: dù có ăn lòi tù và ra thì vẫn chỉ là ăn có một bữa mà thôi.
Đ'Actanhăng cảm thấy khá ngượng ngùng vì đáp lại những tiệc linh đình mà Atôx, Pooctôx và Aramix kiếm chác được, chàng chỉ có một bữa rưỡi, bởi vì bữa lót dạ nhà ông linh mục chỉ có thể tính là nửa bữa. Chàng nghĩ rằng mình là gánh nặng cho đồng bọn, trong thiện ý hoàn toàn thơ trẻ của chàng, chàng quên khuấy mất rằng chàng đã nuôi cả hội này trong một tháng trời và tâm trí băn khoăn của chàng bắt đầu làm việc hung. Chàng suy nghĩ rằng cái liên minh bốn người trẻ tuổi, dũng cảm, táo bạo và hoạt động này cần có một mục đích khác hơn là những cuộc đi dạo rạc cẳng, những bài học đấu kiếm và những trò nhạo báng ít nhiều hóm hỉnh.
Quả vậy, bốn con người như họ, bốn người hy sinh cho nhau từ tiền nong đến cả tính mạng, bốn người luôn luôn nâng đỡ nhau, không bao giờ chùn bước, thi hành riêng lẻ hợac cùng nhau những quyết định cùng đề ra; bốn cánh tay hăm doạ bốn phương trời hoặc cùng hướng về một điểm duy nhất, nhất định phải mở ra cho mình, ngấm ngầm hoặc lộ liễu, bằng chất nổ hoặc bằng hảo rãnh, bằng mưu mẹo hoặc bằng vũ lực, một con đường đi đến mục đích mà họ muốn đạt tới, dù nó được phòng thủ chắc chắn hay dù nó xa xôi đến đâu đi nữa. Điều duy nhất khiến đ'Actanhăng ngạc nhiên là các bạn đồng đội của chàng không hề suy nghĩ đến chuyện đó.
Riêng chàng thì chàng đang suy nghĩ đến và suy nghĩ nghiêm túc nữa là khác, chàng vắt óc để tìm ra một hường đi cho cái sức mạnh độc nhất được nhân lên bốn lần kia, với sức mạnh ấy giống như cái đòn bẩy mà Aximét tìm kiếm, chàng chắc chắn rằng, người ta có thể mang bổng cả thế giới, thì bỗng nhiên có tiếng gõ nhè nhẹ ở cửa. Đ'Actanhăng đánh thức Plăngsê dậy và bảo mở cửa.
Mong rằng từ cái câu “đ'Actanhăng đánh thức Plăngsê dậy” kia, bạn đọc chớ suy đoán rằng lúc ấy là đang đêm hay trời còn chưa sáng. Không! Bồn giờ chiều vừa mới điểm xong. Trước đó hai giờ, Plăngsê đến xin chủ cho ăn bữa trưa thì ông chủ trả lời bằng câu tục ngữ: “Ai ngủ thì người ấy ăn”. Và Plăngsê đã ăn bằng cách đi ngủ.
Một người được dẫn vào, bộ dạng khá giản dị và có vẻ một thị dân.
Để thế cho bữa tráng miệng, Plăngsê rất muốn nghe lỏm câu chuyện, nhưng người thị dân ngỏ ý với đ'Actanhăng rằng điều bác sẽ nói là chuyện quan trọng và bí mật, bác muốn được ngồi riêng với chàng.
Đ'Actanhăng bảo Plăngsê ra và mời khách ngồi.
Hai người yên lặng nhìn nhau một lát như để làm quen trước đã, sau đó đ'Actanhăng nghiêng mình ra ý chờ nghe. Bác thị dân bắt đầu:
- Tôi được nghe đồn ông đ'Actanhăng là một trang thanh niên rất dũng cảm và cái tiếng tăm ông ta hưởng một cách chính đáng ấy đã quyết định tôi thổ lộ với ông một điều bí mật.
- Thưa ông, mời ông cứ nói, đ'Actanhăng nói, chàng như linh cảm thấy một điều gì có lợi.
Bác thị dân lại ngừng một lát rồi tiếp:
- Thưa ông tôi có vợ làm người trông nom quần áo cho hoàng hậu, cô ta chẳng thiếu khôn ngoan lẫn nhan sắc. Người ta cưới cô cho tôi thấm thoát đã ba năm, mặc dù cô ta chỉ có ít vốn nhỏ mọn, bởi vì ông đờ La Póoc, quan ngự báo của hoàng hậu, là người đỡ đầu và che chở nhà tôi.
- Rồi thì sao hả ông?
- Rồi thì! Bác thị dân lặp lại; rồi thì buổi sáng hôm sau nhà tôi đã bị bắt cóc khi ra khỏi phòng làm việc.
- Thế bà nhà bị ai bắt cóc?
- Tôi không biết chắc cái gì hết, ông ạ, nhưng tôi nghi ngờ một người.
- Người ông nghi ngờ đó là ai?
- Một người đã theo dõi vợ tôi từ lâu.
- Gớm nhỉ!
- Nhưng ông ạ, tôi xin nói với ông, bác thị dân tiếp tục, tôi tin trong việc này có chuyện chính trị hơn là chuyện tình ái.
- Chính trị hơn là tình ái, đ'Actanhăng nhắc lại với vẻ rất đăm chiêu, và ông nghi ngờ cái gì?
- Tôi không biết có nên nói ra với ông điều tôi nghi ngờ không.
- Thưa ông, tôi xin lưu ý ông rằng tuyệt đối tôi chẳng đòi hỏi gì ông cả. Chính ông đến đây. Chính ông nói rằng có điều bí mật tâm sự với tôi, xin ông cứ tuỳ tiện, hãy còn thì giờ để ông rút lui.
- Ấy không, thưa ông, không mà, ông có vẻ một thanh niên trung thực và tôi tin cậy ở ông. Vậy là tôi cho rằng vợ tôi bị bắt giữ không phải do chuyện tình ái của cô ta mà do một chuyện tình ái của một phu nhân cao sang hơn nhà tôi gấp bội.
- A! À có lẽ do những chuyện tình ái của bà đờ Boa Thaxy? Đ'Actanhăng nói, muốn tỏ ra trước mặt bác thị dân rằng mình am hiểu công việc triều đình.
- Cao hơn, ông ạ, cao hơn.
- Của bả đ’Eghiông?
- Cao hơn nữa.
- Của bà đờ Sơvrơi?
- Cao hơn, cao hơn rất nhiều!
- Của bà… đ'Actanhăng ngừng lại.
- Vâng thưa ông, bác thị dân hốt hoảng trả lời rất khẽ, chỉ hơi đủ cho người ta nghe thấy.
- Và với ai?
- Với người nào mà chuyện đó có thể xảy ra, nếu không phải là với quận công đờ…
- Quận công đờ…
- Vâng, thưa ông! Bác thị dân đáp bằng một giọng còn nhỏ hơn nữa.
- Nhưng làm thế nào mà ông biết tất cả những điều đó?
- Chà! Làm sao tôi biết ư?
- Ô, làm sao ông biết nào? Không có lối tâm sự nửa vời, nếu không thì… ông hiểu chứ?
- Tôi biết là do vợ tôi, do chính vợ tôi.
- Do ai mà vợ ông biết được?
- Do ông đờ La Póoc. Tôi đã chẳng nói rằng nhà tôi là con đỡ đầu của ông đờ La Póoc đã cắt đặt vợ tôi ở bên mình Lệnh bà để hoàng hậu tội nghiệp của chúng ta ít ra cũng có một người nào đó có thể tin cậy được trong khi hoàng hậu bị đức vua bỏ rơi như thế, bị quan tể tướng do thám như thế, bị mọi người phản bội như thế.
- A! A! Câu chuyện rõ ra một chút. đ'Actanhăng nói.
- Ông ạ, một trong những điều kiện của vợ tôi là một tuần phải được về thăm tôi hai lần, tôi được hân hạnh thưa với ông là nhà tôi thương tôi lắm. Cách đây bốn hôm nhà tôi mới về và kể với tôi rằng hoàng hậu lúc này đang có những mối lo ngại lớn lắm.
- Thật ư?
- Vâng, xem ra quan tể tướng có vẻ đang theo dõi hoàng hậu và hành hạ bà hơn bao giờ hết. Ông ta không thể tha thứ cho bà về câu chuyện buổi khiêu vũ xarabăng . Ông biết câu chuyện đó chứ?
- Ô, sao lại không …! Đ'Actanhăng chẳng biết gì hết, nhưng muốn làm ra vẻ thông thạo.
- Thành thử bây giờ, không còn phải là ghen ghét nữa mà là trả thù.
- Thật ư?
- Và hoàng hậu cho rằng …
- Sao, hoàng hậu cho rằng làm sao?
- Lệnh bà cho rằng người ta đã mạo danh Lệnh bà mà viết cho ngài quận công đờ Bấckinhâm.
- Mạo danh hoàng hậu?
- Phải, để mới ông ta đến Paris rồi dụ ông ta vào một cái bẫy nào đó.
- Quỷ thần ơi! Nhưng ông bạn này, vợ ông thì có can dự gì đến tất cả những chuyện đó?
- Người ta biết nhà tôi hết lòng trung thành với hoàng hậu, nên người ta muốn tách xa nhà tôi ra khỏi hoàng hậu hoặc hăm doạ cô ta để biết được những bí mật của Lệnh bà, hoặc dụ dỗ cô ta để sử dụng làm một kẻ do thám.
- Có khả năng, đ'Actanhăng nói; nhưng ông có biết cái kẻ đã bắt cóc bà nhà không?
- Tôi đã nói với ông rằng tôi ngỡ là có biết hắn.
- Tên hắn là gì?
- Tôi không rõ; duy chỉ biết rằng đó là một bộ hạ của quan tể tướng, kẻ một lòng một dạ theo ông ta.
- Nhưng ông đã trông thấy mặt hắn chưa?
- Có, một hôm vợ tôi trỏ cho tôi xem.
- Hắn có tướng mạo gì để người ta có thể nhận ra không?
- Ô; chắc chắn; đó là một vị công hầu dáng bộ kiêu kỳ, râu tóc đen, da ngăm ngăm, tóc đen và dáng bộ kiêu kỳ.
- Ồ, đó là địch thủ ở Mơng của ta rồi.
- Ông bảo đó là địch thủ của ông à?
- Phải, phải, nhưng cái đó chẳng ảnh hưởng gì đến sự việc này cả. Không, tôi nhầm, trái lại điều đó làm cho sự việc này đơn giản đi nhiều; nếu địch thủ của ông cũng là của tôi, tôi sẽ làm một đòn hai cuộc trả thù, có thế thôi; nhưng biết hắn ở đâu mà tìm?
- Tôi cũng không biết nữa.
- Ông không biết một chút nào về chỗ ở của hắn à?
- Tuyệt không, một hôm tôi đưa vợ tôi đến hoàng cung Luvrơ, hắn đi ra trong khi vợ tôi đi vào và nhà tôi đã trỏ hắn cho tôi.
- Quái thật! Quái thật! Đ'Actanhăng lẩm bẩm, những điều này thật mơ hồ. Ai cho ông biết rằng vợ ông bị bắt cóc?
- Ơng đờ La Poóc.
- Ông ta có cho biết chi tiết gì không?
- Không một mảy may.
- Mà ông cũng không biết được gì thêm từ một nguồn khác?
- A có, tôi đã nhận được …
- Cái gì cơ?
- Nhưng không biết liệu tôi có làm một việc bất cẩn quá không đây!
- Ông lại trở lại điều đó rồi; tuy nhiên tôi xin lưu ý ông rằng lần này có muốn lùi bước cũng hơi muộn.
- Cho nên tôi đâu có lùi, mẹ kiếp! Bác thị dân vừa kêu to vừa chửi thề để tự kích thích mình. Vả lại lấy danh dự Bônaxiơ mà thề …
- Ông là Bônaxiơ à? Đ’Actanhăng ngắt lời.
- Phải tên tôi đó.
- Ông vừa bảo lấy danh dự Bônaxiơ! Xin lỗi tôi đã ngắt lời ông, nhưng hình như cái tên đó tôi nghe quen quen.
- Rất có thể thưa ông. Tôi là chủ nhà của ông mà.
- Ái chà! Đ’Actanhăng vừa nói vừa nhỏm người lên để chào, ông là chủ nhà của tôi?
- Vâng, vâng, từ ba tháng nay ông ở nhà tôi và có lẽ vì quá bận rộn về những việc lớn, ông đã quên trả tiền thuê nhà; nhưng tôi đâu có làm rấy rà ông một chút nào và nghĩ rằng ông sẽ vị nể sự tế nhị của tôi.
- Chết nỗi, ông Bônaxiơ thân mến ơi, đ'Actanhăng nói tiếp, xin ông hãy tin rằng tôi rất đỗi cảm ơn cách đối đãi như vậy, và tôi đã nói đấy nếu tôi có thể giúp ông được việc gì …
- Ông ơi, tôi tin ông, tôi tin ông mà, và như tôi sắp nói ra, lấy danh tự Bônaxiơ mà thề, tôi tin cậy ở ông.
- Vậy thì ông hãy nói nốt cái điều ông đã bắt đầu nói ra.
Bác thị dân rút ở túi ra một tờ giấy và đưa cho đ'Actanhăng.
- Một bức thư! Chàng thanh niên thốt lên.
- Mà tôi nhận được sáng nay.
Đ’Actanhăng mở cửa ra và do trời bắt đầu xẩm tối, chàng bước ra gần cửa sổ. Bác thị dân đi theo. Đ’Actanhăng đọc:
“Chớ nên tìm kiếm vợ ông. Người ta sẽ trả lại ông khi nào không cần thiết đến bà ta nữa. Nếu ông chạy chọt một chút nào thôi để tìm lại vợ ông thì ông đi đứt.”
- Xác thực đấy, đ'Actanhăng nói tiếp, song dù sao đó chỉ là một lời hăm doạ.
- Vậy, nhưng lời hăm doạ đã làm tôi kinh hãi. Ông ơi, tôi đâu phải là con nhà võ, và tôi sợ nhà ngục Baxti lắm.
- Hừm! Đ’Actanhăng nói; nhưng nhà ngục Baxti tôi có kém sợ hơn gì ông đâu. Nếu như chỉ có việc đánh kiếm thôi còn được.
- Nhưng thưa ông, tôi hết lòng trông cậy vào ông trong cảnh ngộ này.
- Vậy ư?
- Thấy ông luôn luôn quấn quít với những ông lính ngự lâm cốt cách oai phong và nhận ra rằng những ông ấy là người của ông chỉ huy đờ T’rêvin, do đó là kẻ thù của quan tể tướng, tôi đã nghĩ rằng ông và bạn bè của ông trong khi chuộc lại thanh danh cho hoàng hậu đáng thương của chúng ta, các ông có lẽ cũng sẽ rất khoái là chơi cho Các hạ một vố đau.
- Hẳn thế.
- Với lại tôi nghĩ rằng tiền nợ ba tháng thuê nhà mà tôi không bao giờ nhắc đến …
- Vâng, vâng, ông đã viện cái lẽ đó ra cho tôi và tôi thấy nó thật là tuyệt.
- Thêm nữa, chừng nào ông còn hạ cố ở lại nhà tôi, tôi sẽ chẳng nói ông về tiền nhà sau này.
- Hay lắm.
- Và thêm vào đó, nếu cần, tôi tính sẽ biếu ông năm mươi pixtôn, nếu điều này chắc đâu như vậy, trong lúc này ông cảm thấy thiếu thốn.
- Tuyệt thật! Nhưng ông Bônaxiơ thân mến ơi, vậy là ông giàu đấy nhỉ?
- Tôi sống ung dung, nói đúng ra là như vậy ông ạ. Tôi thu nhặt được chừng vài ba nghìn ê-quy tiền niên thu trong việc buôn bán hàng xén, và nhất là do đặt chút vốn vào chuyến viễn du gần đây của nhà hàng hải nổi tiếng Jăng Môckê; thành thử ra, ông hiểu cho rằng … A, nhưng kìa … bác thị dân kêu lên.
- Cái gì thế? Đ’Actanhăng hỏi.
- Tôi nom thấy cái gì kia?
- Đâu?
- Ngoài phố trước cửa sổ phòng ông, trong khuôn cửa kia kìa, một người trùm áo choàng.
- Nó đấy à? Cả đ'Actanhăng và bác thị dân cùng kêu lên, cùng lúc mỗi người nhận ra địch thủ của mình.
- A! Đ’Actanhăng vừa la lên vừa nhảy bổ tới thanh kiếm, lần này nó không thoát khỏi tay tôi.
Rồi tuốt kiếm khỏi bao, chàng phóng vội ra khỏi nhà.
Tới cầu thang chàng gặp Atôx, Pooctôx đến thăm. Họ tránh ra, đ'Actanhăng vụt qua giữa họ như một mũi tên.
- Ơ này, cậu chạy đi đâu vậy? Hai anh lính ngự lâm cùng kêu lên.
- Cái thằng cha ở Mơng! Đ’Actanhăng đáp và vụt biến.
Đ’Actanhăng đã nhiều lần kể cho các bạn của chàng về câu chuyện ly kỳ của chàng với kẻ lạ mặt, cũng như sự xuất hiện của người nữ du khách xinh đẹp mà kẻ kia đã có thể trao cho một bức thư quan trọng như thế.
Ý kiến Atôx cho là đ'Actanhăng có thể đã đánh mất bức thư tiến cử của mình trong cuộc ẩu đả. Theo hình dạng mà đ'Actanhăng tả về kẻ lạ mặt thì kẻ đó chỉ có thể là một nhà quý tộc, và theo Atôx, một nhà quý tộc không thể làm cái điều hèn hạ kia là đã đánh cắp một bức thư.
Pooctôx thì chỉ nhìn thấy ở đó một cuộc gặp gỡ yêu đương do một phu nhân hẹn với một kỵ sĩ, và nó đã bị quấy rối bởi sự có mặt của đ'Actanhăng và con ngựa vàng của chàng.
Aramix nói rằng những loại chuyện bí ẩn ấy, tốt hơn cả là đừng có đi sâu tìm hiểu làm gì.
Qua vài lời đ'Actanhăng thốt ra, Atôx và Pooctôx hiểu ngay đó là chuyện gì rồi và do nghĩ rằng dù có đuổi kịp hoặc mất hút địch thủ của chàng, cuối cùng đ'Actanhăng vẫn sẽ trở về cho nên họ tiếp tục lên nhà.
Khi họ vào phòng đ'Actanhăng thì gian phòng trống không; bác chủ nhà lo ngại hậu quả của cuộc chạm trán chắc chắn sắp xảy ra giữa chàng thanh niên và kẻ lạ mặt, sau khi chính bác đã trình bày hết tính cách của hắn, bác đã tính nước chuồn là hơn cả.