#25 —
06.03.2007 07:50
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-13 02:44:32huytran>
Đánh máy: Tien tuu
CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU
Võ tánh náu thân rừng Tam Phụ
Nguyễn Vương đại bại Thất Kỳ Giang
Nguyễn Phúc Ánh được Đỗ Thành Nhân và các tướng tôn lên ngôi chúa xong hôm sau Nguyễn Nghị yết kiến nói riêng với Phúc Ánh:
Lúc Lý Tài bỏ Tây Sơn theo chúa Định Vương ở thành Sài Côn, nhưng Đỗ Thành Nhân ở trong thành quản thúc chúa Định Vương, khiến cho nội bất xuất, ngoại bất nhập. Kế đến Đông cung thế tử trốn khỏi Quy Nhơn đến đồn Thị Nghè, chính thần và Đông cung đến xin vào thành Sài Côn. Lúc ấy có phải chính Thượng vương đã xạ tiễn trao thư báo tin Thành Nhân làm phản?
Ánh đáp:
- Chính ta đã xạ tiễn trao thư cho Đông cung báo tin Đỗ Thành Nhân làm phản.
Nguyễn Nghi hỏi tiếp:
- Vậy tại sao khi viết mật thư triệu tập các tướng về rừng Tam Phụ, Thượng vương lại bảo rằng Đỗ Thành Nhân vì sợ Lý Tài giả hàng làm nội ứng, nên Thành Nhân bất đắc dĩ không cho Định vương ra ngoài thành mà đón Lý Tài. Vậy té ra lúc xạ tiễn trao thư bảo Thành Nhân làm phản là Thượng vương đã lầm lẫn chăng?
Ánh đáp:
- Lúc ấy Thành Nhân làm phản quản thúc Định vương, ta xạ tiễn trao thư không hề lầm lẫn.
Nghi hỏi:
- Vậy bây giờ Thượng vương bảo Thành Nhân lúc ấy không có bụng làm phản là bấy giờ Thượng vương lầm lẫn chăng?
Ánh cười đáp:
- Ta không hề lầm lẫn.
Nghi lại hỏi:
- Cả hai điều trái ngược nhau mà không có điều nào lầm lẫn là Thượng vương có ý gì chăng?
Ánh nghe xong khen Nghi rằng:
- Khanh thật là có mắt tinh đời, lúc quân ta bị Nguyễn Huệ đánh tan tành, mỗi người lẫn tránh một nơi, hai chúa đều bị bắt, chỉ có binh Đỗ Thành Nhân ở rừng Tam Phụ là chưa bị tổn thất gì cả. Ta muốn mượn thế lực Đỗ Thành Nhân khôi phục cơ đồ nên mới viết mật thư triệu tập các tướng về hội quân như thế, để Thành Nhân yên tâm mà điều binh đuổi quân Tây Sơn khỏi đất Gia Định. Trong các đại thần theo chúa Định vương từ Phú Xuân đến đây chỉ còn lại mỗi mình khanh, khanh thấy Thành Nhân là người thế nào?
Không chút do dự Nghi đáp:
- Thành Nhân tôn phò Thượng vương để thu phục nhân tâm mưu đồ bá vương.
Ánh nghiêm mặt hỏi:
- Dựa vào đâu mà khanh quả quyết như thế?
Nghi tâu:
- Lúc tôn Thượng vương làm Nguyên Soái, Thành Nhân nói rằng việc điều binh khiển tướng đã có hắn lo liệu, ấy là tự cho mình tài hơn Thượng vương. Lúc giết tên quân dung mạo giống mình Thành Nhân nói: mặt giống vua chúa là phạm mạo, ấy là trong lòng đã có chí làm vua chúa. Rồi mới đây khi Thượng vương xưng vương, Thành Nhân lại nói: Chỉ có một mình Thượng vương là con cháu nhà chúa mà thôi, ấy chẳng phải là Thành Nhân vì bất đắc dĩ mới ở dưới quyền Thượng vương sao? Xét ba điều ấy nếu để Thành Nhân lớn quyền sớm muộn gì cũng sinh ra tai hoạ.
Ánh gật đầu nói:
- Lời khanh rất hợp ý ta nhưng hiện nay trong thành Sài Côn toàn là quân Đông Sơn cả, vả lại ở Trường Đồn còn có Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập trấn giữ. Nếu giết Thành Nhân e rằng quân Đông Sơn làm loạn thì sao?
Nghi hiến kế:
- Hiện trong thành Sài Côn còn có thần, Hồ Văn Lân, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương mỗi người có hơn ngàn thủ hạ. vả lại quân Đông Sơn theo Thành Nhân vì Nhân tôn phò Thượng vương. Nếu kết tội Thành Nhân làm phản đem giết đi thì quân Đông Sơn ắt theo về cùng Thượng vương. Việc ở Sài Côn không còn đáng lo, chỉ lo Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập ở Trường Đồn mà thôi.
Ánh nói:
- Sau khi giết Đỗ Thành Nhân rồi ta lập tức xuống chỉ sai người vào Hà Tiên báo Mạc Thiên Tứ tiến quân ra, ta từ Sài Côn tiến vào vây Trường Đồn bắt Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập để diệt trừ hậu họa. Khanh thấy thế nào?
Nghi mừng rỡ thưa:
- Kế ấy rất hay, ta nên thi hành ngay đừng chậm trễ.
Hôm sau Phúc Ánh cho mời Thành Nhân đến nội cung, Nhân không nghi ngờ gì cả, ung dung vào ra mắt Nguyễn Ánh. Ánh hỏi:
- Nay quân ta đã chiếm được ba thành Trường Đồn, Sài Côn, Trấn Biên. Vậy việc đem quân Bắc tiến diệt Tây Sơn Nguyễn Nhạc, thượng tướng công đã có kế sách gì chưa?
Nhân đáp:
- Thần có quen một đạo sĩ người Pháp Lang Sa, tên là Bá Đa Lộc. Người này từ Tây Dương đến giảng truyền đạo Hoà Lan (Kitô giáo) ở nước Nam ta. Đạo sĩ Bá Đa Lộc có mượn cho thần mấy chiếc tàu đồng to và súng đại bác lớn, hẹn trong một tuần trăng nữa sẽ từ Pháp Lang Sa vượt biển vào Sài Côn giúp cho ta. Thần định nhờ họ đem tàu đồng súng lớn sang đây rồi sẽ định ngày đem quân Bắc tiến.
Ánh hỏi:
- Việc hệ trọng như thế sao thượng tướng công không cho ta hay?
Nhân cười bảo:
- Thượng vương cứ ngồi trên ngôi chúa gọi người hầu hạ, mọi việc đã có hạ thần lo.
Ánh tức giận vỗ án quát:
- Thành Nhân to gan, ngươi tự thị có công dám xem ta như con nít hay sao mà buôn lời xúc phạm. Võ sĩ đâu, trói lại cho ta.
Võ sĩ liền xong ra trói Thành Nhân lại, Thành Nhân lúc ấy mới hoảng sợ van xin:
- Hạ thần nói thế vì không muốn cho Thượng vương phải hao tâm khổ trí, xin Thượng vương tha tội.
Ánh cười đáp:
- Tha cho ngươi lần này, lần sau ngươi có tha cho ta chăng? Ngươi tưởng ta không biết bụng dạ của ngươi sao? Đến như chúa Định vương và hoàng thân quốc thích ngươi còn dám quản thúc trong thành Sài Côn để khống chế quân các đạo, tội của ngươi thật là đáng chết.
Thành ngạc nhiên nói:
- Ngày trước vì sợ Lý Tài giả hàng làm nội ứng cho Tây Sơn nên hạ thần bất đắc dĩ phải làm như thế. Khi ấy chính thượng vương cũng đồng ý với hạ thần nên mới lên mặt thành bắn tên đuổi Đông cung thế tử đi kia mà! Sao nay lại đổ lỗi cho hạ thần làm phản?
Ánh cười mỉa mai nói:
- Trò dối trá của ngươi tưởng rằng có thể lừa được ta sao? Đến nay ngươi vẫn nghĩ rằng ta tin ngươi thật dạ trung thành ư? Ta nói cho ngươi biết, hôm ấy mũi tên ta bắn trúng nón của Đông cung thế tử, trong mũi tên ấy có phong thư của ta nói ngươi làm phản, nên Đông cung và Lý Tài mới hợp quân các trấn đánh Sài Côn đuổi ngươi về rừng Tam Phụ. Giờ ngươi đã rõ chưa?
Thành Nhân bấy giờ mới nói:
- Trong thành Sài Côn còn có thủ hạ của thần là Võ Nhân và mấy ngàn binh mã. Ở Trường Đồn còn có Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập trấn thủ. Nếu thượng vương giết thần e rằng thành Sài Côn sẽ thành biển lửa.
Ánh đập bàn quát:
- Ngươi còn hăm doạ ta sao! Thật lòng là mưu phản, tự miệng ngươi nói ra rồi đó. Ngươi bảo trong thành sẽ chìm trong biển lửa ư? Ngươi chớ lo, mọi việc ta đã lo liệu cả rồi. Ánh vừa dứt lời Hồ Văn Lân vào báo:
- Thần vừa vây nhà bắt được Võ Nhân xin đem về cho Thượng vương xét xử.
Phúc Ánh liền sai quân đem Đỗ Thành Nhân và Võ Nhân ra chém. Lúc đao phủ sắp khai đao hành quyết, Thành Nhân ngửa mặt than rằng:
- Đỗ Thành Nhân ta một đời ngang dọc. Bởi ta không nghe lời Võ Tánh nên phải thua trí mà chết dưới tay một thằng con nít.
Nói xong giương cổ chịu hình. Giết Đỗ Thành Nhân xong Ánh liền sai người đi mời đạo sĩ Bá Đa Lộc đến yết kiến. Ánh nói:
- Nghe nói giám mục định giúp cho tướng của ta tên là Đỗ Thành Nhân tàu đồng và súng đại bác, điều này có chăng?
Bá Đa Lộc đáp:
- Thưa có! Vài hôm nữa tàu chiến sẽ đến đây.
Ánh lại hỏi:
- Đỗ Thành Nhân đã chết rồi, giám mục đã biết chưa?
Lộc giật mình đáp:
- Điều này tôi chưa được biết. Dám hỏi vì sao Đỗ tướng quân lại chết?
Ánh trầm ngâm nói:
- Lúc trước ta giao cho Thành Nhân tìm cách liên lạc với người nước Pháp Lang Sa của ngài mua cho được tàu đồng súng lớn để đánh giặc Tây Sơn phục quốc cho nhà Nguyễn ta. Nào ngờ Thành Nhân lòng đầy tham vọng lợi dụng việc ấy mưu dùng vũ khí của các ngài lập quân đội riêng toan làm phản ta để đoạt quyền, ta hay được mới giết đi. Nay ta cho mời ngài đến đây nói cho rõ việc ấy mà thôi.
Bá Đa Lộc thất sắc quỳ xuống lạy thưa:
- Việc Thành Nhân mưu phản tôi không được biết, xin Thượng vương lượng cả xét soi.
Ánh đỡ Lộc dậy, mời ngồi an ủi:
- Việc ấy không can gì đến ngài, ta chỉ mời ngài đến để nói rằng từ nay về sau việc mua khí giới của nước Pháp Lang Sa cứ trực tiếp bàn bạc với ta, để tránh sự hiểu lầm về sau. Chẳng hay ý ngài thế nào?
Bá Đa Lộc đáp:
- Nếu được vậy thật là diễm phúc cho tôi quá. Tôi là kẻ truyền đạo không màng đến vật chất, nên việc đem tàu đồng súng lớn sang đây là giúp cho Thượng vương đánh lũ giặc Tây Sơn để phục quốc, thật lòng không nói đến việc mua bán. Chỉ xin Thượng vương cho những kẻ hành đạo như chúng tôi được truyền bá đạo lành của Đức Chúa trời để loài người biết yêu thương nhau mà thôi. Xin Thượng vương chấp thuận cho.
Ánh cả mừng nói:
- Việc này nào có khó gì, ngài cứ giúp tàu chiến và vũ khí cho ta đánh giặc Tây Sơn, hễ lãnh thổ của ta đến đâu, thì quyền truyền đạo của các ngài rộng ra đến đó. Ta lấy tư cách là Vua trong một nước mà hứa với ngài!
Nói rồi Ánh liền trao cho Bá Đa Lộc một cái thẻ bài nói:
- Đây là hiệu lệnh của ta, có hiệu lệnh này ngài đi bất cứ đâu trên lãnh thổ của ta mà không ai có quyền ngăn cản. Nếu có kẻ nào gây khó dễ, ngài cứ đem hiệu lệnh này đến trình, quan trấn thủ sẽ cho quân trị tội chúng ngay.
Trao thẻ bài cho Bá Đa Lộc xong, Ánh lại cho bày tiệc thết đãi, của ngon vật lạ, cao lương mỹ vị chẳng thiếu món chi. Ánh lại cho người sữa sang công quán cho tươm tất mời Bá Đa Lộc đến nghỉ. Bá Đa Lộc vui mừng cảm tạ ra về. Bỗng các tướng Nguyễn Nghi, Hồ Văn Lân, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương bước vào đồng thanh quỳ nói:
- Xin chúc mừng Thượng vương!
Ánh ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao các khanh lại chúc mừng ta?
Nguyễn Nghi đáp:
- Cái họa trong tâm phúc là Đỗ Thành Nhân đã được trừ rồi. Thượng vương lại mượn được tàu đồng súng lớn của người Pháp Lang Sa thì cơ hội khôi phục cơ đồ xem như đã chắc mười phần rồi vậy. Bởi thế nên chúng thần mới đến đây chúc mừng Thượng vương.
Ánh suy tư nói:
- Tuy đã diệt được Đỗ Thành Nhân nhưng còn cháu của Đỗ Thành Nhân là Đỗ Nhàn Trập, em Võ Nhân là Võ Tánh đang trấn thủ Trường Đồn. Chưa trừ được hai người này ta lấy làm lo lắm.
Nghi tâu:
- Bởi biết Thượng vương lo việc ấy nên chúng thần mới đến đây cùng bàn việc này.
Ánh xuống lệnh:
- Hồ Văn Lân, Tống Phước Khuông đem năm ngàn quân mã tiến đánh Trường Đồn. Ta đã sai người vào Hà Tiên triệu Mạc Thiên Tứ đem quân họp sức. Hai đạo quân hai mặt giáp công ắt phải chiếm được thành, hai tướng nên hết lòng mau báo tiệp khải hoàn cho an lòng quả nhân.
Hồ Văn Lân và Tống Phước Khuông lãnh lệnh đi ngay.
Nói về Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập trong thành Trường Đồn ngày ấy nghe quân vào báo:
- Có người nhà của Thượng tướng công xin vào ra mắt nhị vị tướng quân có việc cơ mật.
Võ Tánh bảo:
- Lập tức mời vào.
Người nhà Đỗ Thành Nhân vào đến ôm chầm lấy Đỗ Nhàn Trập và Võ Tánh khóc rằng:
- Thượng tướng công Đỗ Thành Nhân và tướng quân Võ Nhân đã bị Thượng vương giết chết cả rồi.
Đỗ Nhàn Trập đau đớn quá hét lên hai tiếng “Chú ơi” rồi ngã lăn ra đất. Võ Tánh sửng sốt hỏi:
- Hà cớ gì Thượng vương lại giết chết Thượng tướng công và anh ta?
Người nhà đáp:
- Thượng vương bắt tội Thượng tướng công lúc trước làm phản, quản thúc chúa Định vương và hoàng tộc trong thành Sài Côn. Lại sai người đang đêm vây nhà bắt Võ Nhân rồi đem chém hết cả đi. Tôi may mắn thoát được nên vội đến báo tin cho nhị vị tướng quân được rõ.
Đỗ Nhàn Trập vùng đứng dậy nghiến răng mắng:
- Thằng con nít Nguyễn Phúc Ánh kia, lúc trốn thoát khỏi quân Tây Sơn, đói cơm rách áo cù bất cù bơ. May nhờ có chú ta mang về phò tá, mang quân đi đánh, chiếm lại đất Gia Định, đưa nó lên ngôi chúa. Thằng khốn nạn ấy không nghĩ đến công ơn lại đem lòng đố kỵ mà giết chết chú ta. Thù này không trả được ta thề không làm người.
Nói rồi Trập quay sang hỏi Võ Tánh:
- Còn anh của ông là Võ Nhân cũng bị thằng giặc Ánh giết chết. Ông còn chờ gì nữa mà không cùng tôi mang quân đánh Sài Côn bắt thằng Phúc Ánh báo thù cho hai người ấy?
Tánh gạt nước mắt đáp:
- Đứt tay thì đau ruột, anh tôi chết tôi không đau lòng sao được. Nhưng phàm làm việc gì nên suy tính phải trái thiệt hơn. Theo tôi nghĩ thượng vương giết chủ tướng và anh tôi tất sớm muộn gì cũng đem quân tiến đánh Trường Đồn bắt hai ta để trừ hậu hoạ. Tôi và ông ở đây chỉ có ba ngàn quân mã, không thể chống lại đại binh ở thành Sài Côn. Nếu để họ đem quân đến đây chặn mất đường về căn cứ của ta ở rừng Tam Phụ, rồi Thượng vương lại sai Mạc Thiên Tứ đem quân từ Hà Tiên đánh ra thì ta không còn đường thoát thân. Vậy ta hãy mau bỏ thành Trường Đồn, đem ba ngàn quân về cố thủ trong rừng Tam Phụ rồi sẽ liệu sau.
Nói rồi Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập liền dẫn ba ngàn quân Đông Sơn bỏ thành Trường Đồn lui về căn cứ Tam Phụ. Tống Phước Khuông và Hồ Văn Lân đem quân đến thành Trường Đồn thì Mạc Thiên Tứ đã chiếm được thành rồi. Hai người bèn để Mạc Thiên Tứ trấn thủ Trường Đồn rồi kéo binh về Sài Côn báo tin cho Nguyễn Phúc Ánh. Ánh còn chưa quyết bỗng quân vào báo:
- Thưa thượng vương, quân do thám của ta về báo rằng: Quân Tây Sơn đang chuẩn bị lực lượng tiến đánh Gia Định, xin thượng vương định liệu.
Ánh bảo các tướng:
- Hãy tạm gát chuyện Võ Tánh và Đỗ Nhàn Trập lại, ta nên luyện tập binh mã cũng cố lực lượng để chống nhau với quân Tây Sơn.
Vừa dứt lời có quân vào báo:
- Thưa thượng vương có đạo sĩ Bá Đa Lộc xin vào yết kiến.
Ánh mừng rỡ reo lên:
- Cứu tinh của ta đến rồi đấy, mau mời vào.
Bá Đa Lộc vào đến, Ánh mời ngồi, đón hỏi:
- Dám hỏi đạo sĩ, có phải tàu đồng của ta đã đến tới đây rồi chăng?
Bá Đa Lộc đáp:
- Thưa thượng vương, tôi vừa mượn được hai chiếc tàu đồng và hai trăm ngàn quân của nước Pháp Lang Sa do viên đô đốc tên là Mạn Hoè (Manuel) chỉ huy đang đậu tại sông Thị Nghè chờ lệnh thượng vương.
Ánh liền nói:
- Chúng ta hãy đến đấy xem tàu chiến như thế nào.
Nói rồi liền cùng các tướng theo Bá Đa Lộc đến sông Thị Nghè. Đến nơi thấy hai chiếc tàu vừa cao, vừa rộng, vừa dài. Sức lớn của nó ước chừng gấp năm lần thuyền gỗ nước Nam. Toàn thân tàu được đúc bằng đồng sáng loáng. Mọi người lên tàu cũng thấy sàn tàu cũng được bọc bằng đồng đều trầm trồ khen ngợi. Viên tướng chỉ huy hai chiếc tàu là Mạn Hoè ra mắt Ấnh xong ngạo mạn nói:
- Tàu đồng của chúng tôi đạn bắn không thủng, lửa đốt không cháy. Giặc ở xa thì dùng súng lớn bắn một phát đắm vỡ một tàu. Khi giặc lại gần thì dùng súng nhỏ, đạn bay vừa xa vừa chính xác. Cung tên của các ngài đối với nước Pháp Lang Sa của chúng tôi đã trở thành vô dụng rồi. Xin Thượng vương an tâm, hai chiếc thuyền của tôi là bất khả xâm phạm, quân Tây Sơn là lũ giặc nào mà dám đến đây.
Phúc Ánh cả mừng liền phong cho Mạn Hoè làm chức tướng quân và ban thưởng rất hậu, lệnh cho Hoè đậu ở bến Thị Nghè chờ lệnh. Ánh lại cho quân lập một đền canh trên núi Cấp (Vũng Tàu ngày nay). Nhiệm vụ quân đồn canh này là ngày đêm thay phiên nhìn ra biển, hễ thấy thuyền chiến Tây Sơn đến lập tức đốt lửa báo tin cho quân ở Sài Côn biết để kịp thời ứng chiến. Xong việc Ánh vui vẻ bảo:
- Giờ ta có thể ăn ngon ngủ yên, chờ giặc Nhạc - Huệ đến đánh một trận cho chúng biết sự lợi hại của tàu đồng súng lớn của nước Pháp Lang Sa.
Trong lúc Phúc Ánh ở Gia Định đêm ngày xây dựng quân đội chờ quân Tây Sơn thì ngày ấy trong thành Hoàng Đế vua Thái Đức nhà Tây Sơn đang đánh cờ với một tên thái giám tên là Vũ Văn Can, chợt nghe quân vào báo:
- Tâu bệ hạ, có Long Nhượng tướng quân xin vào yết kiến.
Vua Thái Đức bảo:
- Hãy gọi em ta vào đây.
Nguyễn Huệ vào đến quỳ tâu:
- Thưa Hoàng huynh, quân thám mã từ đất Gia Định về báo rằng, cháu Định Vương Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Phúc Ánh còn sống sót, hiện đang quy tụ những tướng lãnh còn đang lẩn tránh nổi dậy đánh chiếm lại ba thành Trường Thành, Sài Côn, Trấn Biên. Tướng của ta là Lê Chu và Nguyễn Uy tử trận, Phạm Ngạn phải bỏ thành Trấn Biên lui về cố thủ ở Bình Thuận. Phúc Ánh lại cầu viện người Pháp Lang Sa đem tàu đồng súng lớn đóng ở sông Thị Nghè xây dựng lại lực lượng hòng đánh lại quân ta để khôi phục cơ đồ. Hoàng huynh nên sớm lo liệu.
Vua Thái Đức nghe Huệ nói xong quăng cờ đứng dậy tức giận nói:
- Thằng con nít Phúc Ánh dám lộng hành giết chết hai tướng ta tuyển từ trong trường thí võ. Không bắt được Phúc Ánh để trị tội thì còn gì oai võ vua trời.
Nói xong liền hạ lệnh thiết triều, các tướng đến đông đủ, vua nói:
- Ta những tưởng đã tiêu diệt hết dòng họ Nguyễn ở Gia Định, ngờ đâu cháu của Định vương là Phúc Ánh vẫn còn sống, dấy binh chiếm lại ba thành Trường Đồn, Sài Côn và Trấn Biên. Nay ta định ngự giá thân chinh đem đại binh vào Gia Định một phen. Các tướng chuẩn bị xuất chinh.
Nguyễn Huệ bước ra thưa:
- Tâu Hoàng huynh, đánh Nguyễn Phúc Ánh thì cần gì đến hoàng huynh phải ngự giá thân chinh cho nhọc nhằn Long thể. Em xin đem mười ngàn quân thủy bộ vào Gia Định bắt Phúc Ánh đem về đây cho hoàng huynh trị tội. Việc đánh quân Nguyễn ở Nam hà là việc dễ, nhưng việc giữ đất Gia Định, vỗ an bá tánh để lòng dân không nghĩ đến chúa Nguyễn mới là khó.
Vua Thái Đức nghĩ ngợi hồi lâu nói:
- Được! Vậy Nguyễn Huệ phải vì ta vào Gia Định lần nữa. Nhưng Phúc Ánh là người xảo quyệt cầu viện người Pháp Lang Sa về chống lại ta, em chỉ đánh bằng thuỷ binh thì e rằng không đảm bảo toàn thắng. Vậy ta nên sai tướng đem một vạn quân bộ vào Bình Thuận tiến đánh Trấn Biên như thế mới nắm chắc phần thắng. Tướng nào có thể lãnh bộ binh Nam tiến?
Nguyễn Huệ nói:
- Em xin tiến cử hai người lãnh bộ binh Nam tiến:
Vua Thái Đức hỏi:
- Hai người ấy là ai?
Huệ đáp:
- Từ ngày Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo em vào đánh Tống Phước Hiệp ở Phú Yên thì Sở và Lân trấn thủ Phú Yên đến nay. Ngô Văn Sở Tính tình điềm đạm, làm việc cẩn thận, dùng binh quy cũ. Phan Văn Lân vũ dũng phi thường, ba quân đều mến đức sợ uy. Nếu dùng hai người này lãnh bộ binh Nam tiến thì không phải lo có điều gì sơ sẩy.
Vua Thái Đức nghe lời liền cho người vào Phú Yên triệu hồi Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân. Huệ lại nói:
- Đất Gia Định vốn là nước của người Chân Lạp được thiên nhiên ưu đãi, ít khi xảy ra lũ lụt hạn hán, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, phì nhiêu. Chúa nhà Nguyễn mới đem quân vào khai hoang lập ấp, các quan lại dẫn dân, binh vào nơi đất khách xa xôi ngàn dặm, đều là người trung quân ái quốc tràn đầy nhiệt huyết cả. Vả lại trong thời gian lập ấp ở xứ người thường bị tộc Chân Lạp đánh phá, bởi vậy tướng sĩ xem nhau như phụ tử, quân với dân như cá với nước, đoàn kết một lòng đánh lại người Chân Lạp để sinh tồn. Chính vì lẽ ấy nên đến nay người ở đất Gia Định được cơm no áo ấm đều nhớ ơn chúa nhà Nguyễn. Thế cho nên dòng họ Nguyễn còn nhân dân Gia Định liền nổi dậy đi theo. Ấy chính là điều khó nhất của ta trong việc bình định đất Gia Định vậy.
Vua hỏi:
- Theo em thì nên phải làm thế nào?
Huệ đáp:
- Nay có một người trí dũng song toàn, kính người già như cha mẹ, thương trẻ nít như con. Múa kích thì có thể giết được hổ dữ, xuất ngôn nho nhã khiến kẻ sĩ phải tuân. Sau khi dẹp được giặc Phúc Ánh nếu để người này làm tổng trấn Gia Định, thì lo gì không an được cõi Nam Hà.
Vua hỏi:
- Người đó là ai?
Huệ đáp:
- Người ấy chính là đô đốc Đặng Văn Long!
Vua Thái Đức vỗ trán nói:
- Đặng Văn Long là học trò của quân sư Trương Văn Hiến. Ngày trước quân sư còn sống vẫn thường khen Văn Long như thế. Ta vì lo nhiều việc mà quên mất Văn Long.
Rồi vua xuống lệnh:
- Các tướng hãy về kiểm điểm binh mã, chờ Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân về đến sẽ xuất binh Nam phạt.
Nói xong truyền bãi triều. Quan thái giám Vũ Tâm Can nói với vua Thái Đức rằng:
- Đành rằng là nên đánh giặc ngoài, xin bệ hạ cũng phải đề phòng hoạ bên trong.
Vua Thái Đức trầm ngâm hỏi:
- Ngươi nói vậy là ý thế nào?
Tâm Can đáp:
- Hạ thần muốn nói về Long Nhương tướng quân đó. Xin bệ hạ xét lại. Vợ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân là cháu vợ của Long Nhương. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân lại chịu ơn nhà của Bùi Thị Xuân, cùng Long Nhương uống máu ăn thề, tình như thủ túc. Nay Long Nhương lại xin bệ hạ cho hai người ấy về nắm giữ binh quyền Nam phạt là có ý gì? Vũ Văn Dũng, Đặng Văn Long đều là học trò của quân sư Trương Văn Hiến, cùng với Long Nhương là huynh đệ đồng môn. Nay Long Nhương lại xin cho Văn Long trấn thủ đất Gia Định là có ý gì? Các người này chỉ biết có Long Nhương mà không biết có bệ hạ, nếu để họ lớn quyền như vậy chẳng phải là đáng ngại lắm ư?
Vua Thái Đức giật mình nói:
- Vậy ta phải ngự giá thân chinh để hạn chế Huệ mới được, và đạo quân bộ phải do Vũ Văn Nhậm chỉ huy.
Năm Nhâm Dần (1872) niên hiệu Thái Đức thứ tư, vua Thái Đức và Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem hai vạn quân theo hai đường thủy bộ tiến vào Nam. Vua Thái Đức và Long Nhương cùng các tướng Đặng Văn Long, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết, Trương Văn Đa đi đường thuỷ vào cửa Cần Giờ. Khi đến ngoài khơi cửa Cần Giờ thấy trên hòn núi nhỏ trên đất liền khói lên nghi ngút, vua Thái Đức hỏi rằng:
- Trên hòn núi này khói bỗng lên nghi ngút nghĩa là sao?
Nguyễn Huệ đáp:
- Ấy là Nguyễn Phúc Ánh lập đồn canh trên ấy nhìn ra biển, hễ thấy quân ta tiến vào quân đồn trấn đốt lửa làm hiệu để Phúc Ánh ở Sài Côn hay được mà kịp thời ứng phó.
Vua hơi lo lắng hỏi:
- Vậy là Phúc Ánh đã có chuẩn bị, ta phải tiến quân như thế nào?
Huệ cương quyết đáp:
- Hoàng huynh cứ cho quân tiến quân vào cửa Cần Giờ rồi sẽ tuỳ cơ mà ứng biến.
Vua liền hạ lệnh:
- Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, kíp mang hai mươi đại thuyền và hai ngàn quân đi trước mở đường.
Nguyễn Văn Tuyết lãnh lệnh đi ngay.
Khi ấy Nguyễn Phúc Ánh ở thành Sài Côn nghe quân hốt hoảng vào báo rằng:
- Thưa Thượng vương, quân ta trên núi Cấp ngoài cửa bể đốt lửa làm hiệu, xin Thượng vương định liệu.
Phúc Ánh nạt rằng:
- Hễ giặc đến thì ta sẽ có kế sách mà đánh, việc gì ngươi sợ hãi thế. Nếu tự hậu còn như thế nữa ta giết chết không tha.
Tên quân hoảng sợ lui ra. Phúc Ánh liền đem toàn quân được hơn vạn người xuống thuyền, theo sông Sài Côn ra cửa Cần Giờ cự địch. Khi chiến thuyền ra đến một đoạn sông rộng lớn, ngã rẽ chằng chịt, Phúc Ánh hỏi tả hữu rằng:
- Sông này là sông gì?
Tả hữu đáp:
- Thưa, đoạn sông này có năm nhánh nối liền với các sông Tiền Giang ở Nam và sông Đồng Nai ở Bắc, cộng với thượng lưu và hạ lưu của dòng sông chính tạo thành ngã bảy sông nên có tên gọi là Thất Kỳ Giang (nay là sông ngã bảy).
Ánh bèn cho đóng thuỷ trại ở Thất Kỳ Giang và hạ lệnh:
- Nguyễn Nghi đem hai ngàn quân và hai mươi đại chiến thuyền ra cửa Cần Giờ, hễ gặp quân Tây Sơn đến thì đánh, chỉ được thua chứ không được thắng. Dụ cho giặc vào đến Thất Kỳ Giang rồi quay thuyền lại mà đánh.
Nguyễn Nghi hăm hở lãnh lệnh đi ngay.
Phúc Ánh lại hạ lệnh:
- Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông, Hồ Văn Lân, Mạn Hoè, mỗi người lãnh một ngàn năm trăm quân mai phục ở bốn ngã sông. Ta cùng đạo sĩ Bá Đa Lộc lãnh ba ngàn quân mai phục hai ngã ở thượng lưu, chờ giặc đến cùng nhất tề đổ ra mà đánh. Trận này nhất định phải bắt cho được anh em Nhạc – Huệ.
Các tướng hăng hái lãnh lệnh và đồng thanh khen rằng:
- Thượng vương tuổi còn trẻ mà mới nhìn qua địa hình đã biết bày ra thế trận. Không biết bát trận đồ của Gia Cát ngày xưa là có thật hay chăng. Còn ngày nay anh em Nhạc – Huệ lọt vào thất trận đồ của Thượng vương chắc là chểt chẳng toàn thay.
Nói rồi cùng nhau bố trận. Lúc ấy Nguyễn Nghi dẫn hai ngàn quân và hai mươi đại thuyền đi tiên phong ra đến cửa Cần Giờ gặp đoàn thuyền tiên phong của Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Tuyết. Nguyễn Nghi trông thấy đại bác Tây Sơn đặt trên thuyền bề thế, uy nghi nghĩ thầm rằng:
- Quân Tây Sơn thuyền to súng lớn nếu mà giáp chiến giả thua e rằng không thoát khỏi bọn này. Chi bằng ta từ xa bắn trước vài phát súng, chọc cho bọn chúng bắn đại bác ra rồi làm bộ hoảng sợ quay đầu bỏ chạy, dụ chúng vào Thất Kỳ Giang rồi sống mái một trận cũng chẳng muộn gì.
Nghĩ rồi dàn thuyền, truyền quân khai hỏa mà bắn. Quân Nguyễn bắn được vài phát đại bác, tầm đạn chưa đến thuyền Tây Sơn đã nghe đại bác Tây Sơn nổ ầm ầm, đạn bay trúng thuyền quân Nguyễn vỡ liền mấy chiếc. Nguyễn Nghi thất kinh hồn vía, quay thuyền mà chạy. Nguyễn Văn Tuyết không đuổi theo lại lệnh cho quân neo thuyền chờ đại quân Tây Sơn đến. Khi đại quân đến, vua Thái Đức hỏi Nguyễn Văn Tuyết:
- Sao không tiến binh mà lại dừng quân nơi cửa bể?
Tuyết đáp:
- Tâu bệ hạ, thần vừa đến đây gặp một đoàn hai mươi đại thuyền của giặc Nguyễn Gia Miêu. Quân ta mới vừa bắn vài phát đạn bọn chúng đã bỏ chạy, thần e có mai phục nên không dám đuổi theo, mới đóng quân ở đây chờ thượng lệnh.
Nguyễn Huệ khen:
- Văn Tuyết cẩn thận như thế là đúng, quân Nguyễn trên núi đốt lửa báo hiệu tất chúng đã có phòng bị. Đã có phòng bị sao chưa đánh đã chạy vậy tất là dụ ta vào chỗ mai phục.
Huệ giở bản đồ ra nói tiếp:
- Hoàng huynh hãy xem, nhất định là chúng mai phục ta ở Thất Kỳ Giang này.
Vua Thái Đức hỏi:
- Vậy theo em ta phải đánh thế nào?
Huệ chỉ vào bản đồ nói:
- Tại sông Thất Kỳ Giang nhất định Ánh cho giấu thuỷ quân trong các ngả sông chờ chiến thuyền ta lọt vào ổ phục kích rồi đổ ra mà đánh. Hoàng huynh cứ mạnh dạn tiến binh chia làm sáu cánh, mỗi cánh đánh vào một ngã sông nơi quân Nguyễn mai phục. Chúng chia quân mai phục thì ta chia quân mà đánh cho chúa tôi Phúc Ánh tan tác chẳng nhìn thấy mặt nhau.
Vua Thái Đức trao bảo kiếm cho Nguyễn Huệ nói:
- Em đã một lần đánh vào Gia Định nên tỏ tường địa thế sông ngòi. Ta giao cho em được toàn quyền điều binh khiển tướng. Em mau hạ lệnh tiến binh.
Huệ chậm rãi nói:
- Xin hoàng huynh chớ vội, bây giờ thuỷ triều đang rút chảy, ta tiến quân mệt sức, chốc lát nữa nước cạn sẽ có thuyền quân Gia Miêu đến khiêu chiến. Khi ấy nước thuỷ triều lên ta theo sức nước mà đuổi theo giặc thì thuyền đi đã mau mà quân lại khoẻ.
Vua Thái Đức nghe lời, đóng binh chờ quân Nguyễn.
Nói về Nguyễn Nghi đem quân ra khiêu chiến bị tướng Tây Sơn là đô đốc Tuyết bắn vỡ vài chiếc đại thuyền liền quay đầu chạy một mạch về Thất Kỳ Giang. Không thấy quân Tây Sơn đuổi theo, Nghi đến đại bản doanh gặp Phúc Ánh tâu:
- Thưa Thượng vương, quân Tây Sơn thuyền to súng lớn, đạn thuyền thần bắn chưa đến thuyền giặc thì đã bị đại bác Tây Sơn bắn vỡ mất hai đại thuyền. Thần vội chạy về đây, không rõ vì lý do gì giặc chẳng đuổi theo.
Khi ấy Mạnh Hoè vì nóng lòng lập công khoe tàu đồng súng lớn. Mạn Hoè theo Nguyễn Nghi vào gặp Phúc Ánh, thưa:
- Tôi xin đem hai chiếc tàu đồng ra cửa biển dụ giặc, nếu chúng đuổi theo thì ta dụ vào Thất Kỳ Giang mà đánh. Nếu chúng sợ thì tôi bắn vỡ thuyền chúng ở cửa Cần Giờ cho khỏi nhọc sức Thượng vương.
Phúc Ánh y lời, phong Mạn Hoè làm tiên phong, đem hai chiếc tàu đồng và hai mươi đại thuyền cùng hai ngàn quân ra cửa biển Cần Giờ khiêu chiến. Mạn Hoè hùng hổ kéo quân đi ngay. Đến gần thuỷ trại quân Tây Sơn, vua Thái Đức trông thấy bảo:
- Quả đúng như Nguyễn Huệ tiên đoán, nước cạn quân Nguyễn lại ra khiêu chiến, lần này chúng có hai chiếc tàu đồng lớn, có phải là người của Pháp Lang Sa không?
Nguyễn Huệ nói giọng rền như sấm:
- Cái lũ người mắt xanh mũi lỏ này, mượn tiếng truyền đạo nhưng có ý đồ dòm ngó nước ta. Trận này phải đốt hai chiếc tàu đồng này cho chúng biết quân Tây Sơn ta hùng mạnh thế nào.
Nói rồi sai Nguyễn Văn Tuyết làm tiên phong, phò mã Trương Văn Đa làm hậu quân Đô đốc, bảo vệ vua Thái Đức, còn mình đem toàn quân giáp chiến. Tiến vừa tầm đạn, quân Tây Sơn nhất tề khai hoả, đại bác nổ ầm ầm, đạn bay tới tấp trên thuyền quân Nguyễn. Mạn Hoè chỉ huy hai chiếc tàu đồng đi trước liền bắn trả nhưng quân Tây Sơn đông quá lại tập trung hoả lực vào hai chiếc tàu đồng của Mạn Hoè, chẳng mấy chốc súng đại bác trên tàu đồng của Mạn Hoè đều bị đạn quân Tây Sơn bắn hỏng cả. Mạn Hoè liền hạ lệnh lui binh. Quân Tây Sơn ào ạt đuổi theo. Vừa đến Thất Kỳ Giang Nguyễn Huệ ra lệnh:
- Đặng Văn Long đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ nhất. Nguyễn Văn Lộc đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ hai. Ngô Văn Sở đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ ba. Phan Văn Lân đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ tư. Trần Quang Diệu đem hai mươi đại thuyền và một ngàn quân đánh vào nhánh sông thứ năm.
Các tướng lãnh lệnh chia quân đi ngay. Nguyễn Huệ cùng Bùi Thị Xuân cầm trung quân đốc chiến, thúc quân tiến lên vây hai chiếc tàu đồng của Mạn Hoè vào giữa. Quân Pháp Lang Sa trên tàu thấy quân Tây Sơn giáp chiến liền lấy súng nhỏ mà bắn. Quân Tây Sơn lấy khiên đồng đỡ đạn lầm lũi tiến lên. Đến gần tàu đồng Mạn Hoè, quân Tây Sơn tung hỏa hồ mà đốt. Nguyên nhựa hoả hổ của Tây Sơn văng đâu dính đó, sức nóng vô cùng. Hoả hổ bắn tung toé như mưa lên tàu Mạn Hoè, hai chiếc tàu đồng của quân Pháp Lang Sa bốc cháy. Mạn Hoè cùng hai trăm quân người Pháp Lang Sa đều bị chết cháy cả. Các cánh quân mai phục của Nguyễn Gia Miêu đều bị quân Tây Sơn đánh tan tác, chiến thuyền đắm vỡ gần hết, quân chết vô số. Các tướng của Nguyễn Phúc Ánh là Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Hồ Văn Lân, Nguyễn Nghi đều theo lạch nhỏ mà chạy trốn. Lúc ấy Nguyễn Phúc Ánh thấy thyền Tây Sơn lọt vào Thất Kỳ Giang trong bụng mừng lắm nói:
- Anh em Nhạc – Huệ quả nhiên trúng kế, chờ chúng vào hết trong trận ta sẽ nhất tề tiến đánh.
Nói vừa dứt câu lại thấy quân Tây Sơn chia thuyền làm sáu cánh, mỗi cánh tiến vào một ngả sông. Ánh giật mình nói với Bá Đa Lộc rằng:
- Sao quân Tây Sơn lại bố trận như thế, không lẽ quân cơ của ta đã lộ rồi chăng?
Bá Đa Lộc lại thất sắc kêu Ánh:
- Quân Tây Sơn vây hai chiếc tàu đồng của Mạn Hoè, xin Thượng vương hạ lệnh tiến quân giải vây cho Mạn Hoè.
Phúc Ánh liền hô quân xông trận, thuyền quân Nguyễn vừa mới xông ra đã bị đại bác Tây Sơn bắn chìm liền mấy chiếc. Quân Nguyễn thấy vậy hoảng sợ không dám tiến lên, Ánh ở phía sau tuốt gươm hét:
- Quân bay mau tiến lên, liều chết mà đánh, đứa nào sợ lui ta chém chết không tha.
Ánh hét vừa dứt lời nhìn vào giữa trận thấy hai chiếc tàu đồng của Mạn Hoè bốc cháy, quân sĩ cả kinh, đều quay thuyền chạy cả. Ánh ngăn không nổi đành cùng Bá Đa Lộc tất tả chạy theo.
★
★
★
★
★
0