Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Phong Thủy Học

217 trả lời, 211.482 lượt xem — Trang 4 / 8
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-06 17:21:02ngươi co don>
             CẢI THIỆN QUAN HỆ MẸ CHỒNG -NÀNG DÂU
Trong quan hệ Á Đông chúng ta xưa giờ , quan hệ mẹ chồng nàng dâu thường hay phát sinh căng thẳng nhất.  Hôm nay  NCD  xin hiến  1 cách cải thiện mối quan hệ này , với liệu pháp Hương hoa.
Liệu pháp này có thể dùng trong các trường hợp : nàng dâu ngang bướng  không nghe lời dạy bảo của mẹ chồng , bà mẹ chồng khó tính hay trách móc con dâu , cô dâu mới không biết cách chung sống sao cho hòa hợp mẹ chồng , bà mẹ chồng không hiểu được ý cô con dâu mới 
1/. Hoa BÁCH HỢP THỦY HƯƠNG  :  Màu vàng chanh
Giải trừ những cảm giác căng thẳng , bất an và có khoảng cách giửa mẹ chồng nàng dâu , khiến giửa 2 người không còn sự nghi kỵ lẫn nhau , những tình cảm chân thành tự phát sẽ nảy sinh giửa 2 người. Ngoài ra , nó còn giúp mẹ chồng nàng dâu hiểu được niềm hạnh phúc và sự tôn trọng lẫn nhau , giảm nhẹ những ưu tư , căng thẳng , giúp cho quan hệ mẹ chồng nàng dâu ngày càng tốt đẹp hơn.
2/. Hoa THẠCH THẢO  :  Màu lam nhạt
Giúp tâm hồn được thoải mái , vui vẻ , hiểu thấu tấm lòng nhau để quan hệ mẹ chồng nàng dâu được tốt đẹp hơn , gần gũi hơn , thân tình hơn. Ngoài ra , màu này còn giúp 2 người có những hành động yêu thương thiết thực , cụ thể hơn , giúp 2 người tăng thêm lòng tự tin nương tựa vào đối phương , tránh được những hiềm khích giửa 2 người.
3/. Cách thức dùng :
Mỗi sáng thứ 2 , cắm những đóa hoa tươi mới và đặt chúng trong phòng khách` hoặc trên bàn ăn. Mỗi ngày hít 3 lần hương hoa này thật sâu vào buồng phổi , năng lượng và hương thơm của hoa sẽ hòa quyện vào cơ thể bạn.
4/. Có thể cắm 1 bình hoa với các loại :
bách hợp thủy hương
thạch thảo
lan tiểu thương
hoàng kim bách
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-07 16:50:50ngươi co don>
                 GIÚP TÌM ĐƯỢC CÔNG VIỆC TỐT
Ngoài các cách Động cung Nghề Nghiệp để kiếm việc làm ra  ,PT còn có liệu pháp hương hoa giúp chúng ta tìm được công việc tốt. Cách này dành cho những ai muốn tìm cho mình 1 công việc tốt hơn ,hay muốn thuyên chuyển chỗ làm. 1/. Hoa THẠCH THẢO :  màu lam
Giúp tràn đầy sức mạnh và năng lực biết được công việc mà bản thân muốn để nổ lực đạt được. Nó giúp ta hiểu được tính cách của bản thân để tìm được công việc phù hợp với mình , đồng thời giúp ta nhận rõ ước mơ của mình để từ đó theo đuổi và cố gắng đạt được.
Ngoài ra , màu lam của hoa Thạch Thảo còn giúp ta dù trong hoàn cảnh nào cũng kiên định với lý tưởng ,ước mơ của bản thân , giúp dung hòa giửa công việc và cuộc sống để bản thân tự tin hơn.
2/. Hoa LÊ PHỤNG SAN HÔ  :  màu đỏ
Giúp ta hiểu rằng trước khi tìm được việc như ý ,điều cần thiết là phải thật nỗ lực và chịu học tập ,có vậy mới làm việc được tốt ,và tìm được công việc tốt.
3/. Cách thức dùng :
Đặt hoa trong văn phòng ,phòng đọc sách ,bàn làm việc , mỗi ngày hít thật sâu 3 lần hương hoa ,hương hoa và năng lượng của nó sẽ hòa vào Khí trường của cơ thể bạn ,giúp bạn trong việc tìm 1 công việc tốt.
4/. Có thể chưng 1 lẳng , 1 giỏ gồm :
hoa Thạch Thảo ( màu lam )
hoa Lê Phụng San Hô ( màu đỏ )
quả dưa Sơn Nam ( màu cam )
tiểu lâm đầu
Hồng Trúc
Hoàng Kim Bách  




                         LÀM CON CÁI VÂNG LỜI CHA MẸ
Cách này dành cho những đưa trẻ hay chống đối ,quậy phá ,quá hiếu động hoặc quá khép kín ,không cởi mở và ít nói.  Càng thích hợp dành cho những thanh thiếu niên mới lớn thường hay bốc đồng.
1/. Hoa HÒNG KIM BÁCH hay CÁT CÁNH  : màu lục
Giúp các bậc cha mẹ tăng thêm tính nhẫn nại với con cái , để cho mối quan hệ giửa cha mẹ và con cái trở nên thuận hòa , nhằm có được không gian yên tĩnh để nghe ra ý của nhau.
Ngoài ra ,màu lục của các hoa này còn có thể giúp trẻ tập trung chú ý ,và chúng trở nên sâu sắc hơn ,qua đó có thể hiểu được nỗi lòng của cha mẹ chúng , đồng thời nâng cao khả năng phân tích tốt xấu để con cái nghe lời cha mẹ.
2/. Hoa THẠCH THẢO  : màu lam tím
Giúp những đứa trẻ bị cản trở trong học tập hoặc chậm chạp trong ngôn ngữ và không thích nói chuyện ,luôn buồn rầu =&gt; trở nên cởi mở , vui vẻ
Đồng thời giúp cho các thanh thiếu niên trong tuổi mới lớn có bản tính bốc đồng có thể trở nên chín chắn hơn.
Ngoài ra ,hoa màu lam còn giúp trẻ phát triển tính sáng tạo ,ham mê sách vỡ hơn.
3/. Hoa THỦY TINH hoặc hoa ĐỒNG TIỀN   : màu hồng phấn
Giúp cho mối quan hệ giửa cha mẹ và con cái thêm tình yêu thương , để con cái có thể hiểu và trân trọng những gì cha mẹ làm cho chúng. Giúp cho trẻ có tính tự lập , tự lực khi không có cha mẹ gần bên ,và giúp chúng cảm nhận tình yêu thương bao la vô bờ bến của cha mẹ dành cho chúng.
4/. cách thức dùng  :
Đặt hoa tươi trên bàn ăn , 1 tuần thay hoa mới 1 lần. Hãy cố gắng mỗi ngày cùng ăn cơm với con mình 1 buổi.
 
Ngoài ra , cũng nên kích thích cung Tử Tức _ cung Đoài.  Xin lưu ý các bậc cha mẹ nào có con gái cỡ tuổi thanh thiếu niên : TUYỆT ĐỐI TRÁNH  ao - mương - hồ nước ở phía TÂY. Vì Đoài vi Thiếu nữ , nếu nơi đây có Thủy , chủ.....Đại dâm. sẽ khiến trẻ sớm sa vào con đường hư hõng , đàng đúm cùng bạn xấu. CẨN THẬN !
 
Đăng nhập để trả lời
0
                        TOILET TRONG PHONG THỦY
Vấn đề hôm nay NCD đề cập đến không phải vấn đề như trong bài nói về nhà vệ sinh và phòng tắm ,mà là 1 điều sai lầm mà mọi người thường hay mắc phải. Nhiều người có thói quen trang trí các vật dụng đẹp ,đắt tiền trong toilet và phòng tắm. Thật ra , điều này chỉ mang lại cho chúng ta sự tiện nghi vật chất ,nó không mang ý nghĩa PT nào cả. Vì bản thân toilet vốn dĩ LUÔN MANG NĂNG LƯỢNG XẤU , chodu2 có bài trí đẹp cỡ nào , và cho dù nó ở vị trí nào trong nhà. Cho nên , ngày xưa , các nhà giàu TQ thường không làm toilet , họ thuê người đổ những thứ chất thãi. Còn các nhà nghèo thì cũng làm toilet xa nhà.  Ngày nay ,xã hội văn minh ,hiện đại hơn , chúng ta làm toilet ngay trong nhà thì cũng nên chú ý :
_ Xây phạm vi vừa đủ ,không làm quá rộng.
_ Không trang trí đẹp đẽ ,chỉ cần giữ vệ sinh thật sạch trong đó.
_ Luôn đóng cửa lại.
_ ĐẶC BIỆT : Không được để hoa tươi và biểu tượng PT tốt đẹp vào toilet.




                 NĂNG LƯỢNG XẤU CỦA VẬT BÉN NHỌN
Những món quà có mũi nhọn , bén thường mang theo năng lượng Cực Âm , và gây hậu quả rất xấu cho người nhận. Vì vậy ,hầu hết mọi người không bao giờ mua dao kéo , hay các món đồ nghề sắc bén , có mũi nhọn làm quà tặng. Nếu vô tình các anh chị , các bạn nào có nhận được những món quà như thế ( có thể là bộ dao TQ , đồ khui rượu với mũi khoan xoắn , vật lưu niệm với hình thanh gươm hoặc cung tên...) thì hãy gửi trả lại người tặng 1 số tiền nhỏ tượng trưng , nhằm hóa giải năng lượng xấu do món quà mang lại. Hàm ý như chúng ta mua món đồ đó , và nó giúp chúng ta tránh khỏi những ảnh hưởng của năng lượng xấu.




    ẢNH HƯỞNG CỦA DAO KÉO TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ
Trên bàn làm việc không nên để các vật bén nhọn ,nhất là các mũi kéo chĩa thẳng về phía chúng ta ,hoặc người đồng nghiệp. Mũi kéo được xem như " mũi tên độc " tình cờ chĩa thẳng vào chúng ta , và chuyển năng lượng thù nghịch về phía chúng ta . Mũi dao , mũi kéo , lưỡi khoan , tuộc-nô-vít , búa..vv..cũng mang ý nghĩa tương tự.  Vì vậy , xin các anh chị , các bạn nên thật cẩn thận với các vật dụng có mũi nhọn , bởi chúng thường có trong mọi nhà , hãy cất chúng cẩn thận. 
Khi chúng ta chĩa 1 vật như vậy vào 1 người bạn ,là nó mang theo NĂNG LƯỢNG THÙ NGHỊCH đó đến người ấy ,và vô tình tự chúng ta đã tạo ra 1 NĂNG LƯỢNG THÙ NGHỊCH PHẢN HỒI từ người bạn ấy. Xin cẩn thận !  Điều này có thể hũy hoại mối quan hệ tốt đẹp giửa 2 người bạn. Hãy thật cẩn thận ! Và xin nhớ TUYỆT ĐỐI KHÔNG TẶNG BẤT KỲ VẬT BÉN NHỌN NÀO CHO NGƯỜI KHÁC.
Đăng nhập để trả lời
0
                     CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ NĂNG LƯỢNG NGŨ HÀNH
Trong cuộc sống , đôi khi chúng ta cần cải thiện các mối quan hệ giửa mình với bạn bè , với đồng nghiệp , với anh chị em , và thậm chí với sếp. Và các trường hợp này , PT có thể giúp chúng ta với năng lượng Ngũ Hành , và bất kỳ ai cũng có thể sử dụng cách này. _ Đối với các bạn bè , anh em , đồng nghiệp là nam lớn tuổi hơn chúng ta :
Hãy kích hoạt hướng Đông bằng cây và hoa , nói chung là hành Mộc
_ Đối với các bạn bè , anh em , đồng nghiệp là nam bằng tuổi chúng ta
Hãy kích hoạt hướng Bặc với các biểu tượng nước , là hành Thủy
_ Đối với các bạn bè , chị em , đồng nghiệp là nữ lớn tuổi hơn chúng ta
Hãy kích hoạt hướng Đông Nam bằng cây , hoa , nói chung là hành Mộc
_ Đối với các bạn bè , chị em , đồng nghiệp là nữ bằng tuổi chúng ta
Hãy kích hoạt hướng Nam bẳng vật màu đỏ , hay đèn , nói chung là hành Hỏa
_ Đối với các bạn bè , chị em , đồng nghiệp là nữ nhỏ tuổi hơn chúng ta
Hãy kích hoạt hướng Tây bằng chuông gió kim loại
_ Đối với các bạn bè , anh em , đồng nghiệp là nam nhỏ tuổi hơn chúng ta
Hãy kích hoạt hướng Đông Bắc bằng quả cầu pha lê
Còn với các Sếp của chúng ta thì sao?  Với Sếp , chúng ta không phân theo tuổi tác , chỉ tính theo vai vế , là người lớn nhất trong công ty , nên chúng ta hãy tăng cường cho góc  ...Tây Bắc. Chúng ta có thể dùng các vật mô phỏng hình núi vàng , núi kim cương , hay tranh các ngọn núi hùng vỹ nơi góc này , đây là góc chủ về sự may mắn trong các mối quan hệ với cấp trên.
Để hóa giải các mối thù địch từ bạn bè , anh em , đồng nghiệp biện pháp hiệu quả nhất của khoa PT cổ xưa là dùng Gương đồng , đường kính cỡ 7,5cm  , đánh bóng cả 2 mặt.



                                            NĂNG LƯỢNG BỊ TIÊU HAO
Có khi nào tự dưng các anh chị , các bạn cảm thấy như người mình uể oải , hết sinh lực , không còn hứng thú hoạt động nữa không ?  nếu không vì nguyên do bệnh tật , thì hãy xem lại trong nhà của mình , đã có những thứ làm tiêu hao năng lượng của các anh chị , các bạn 1 cách vô hình đấy. Hãy kiểm tra trong từng phòng một xem có lọ , chai , lu , bình...vv..bị vỡ , mẻ miệng bõ vất đâu đó không ?
Theo quan niệm của người Hoa , các loại ly , tách , chén , đĩa...sứt mẻ đều làm tiêu hao năng lượng của chúng ta 1 cách ngấm ngầm. Ngoài ra , người Hoa cho rằng ăn uống với các ly chén mẻ như thế lâu ngày sẽ làm cạn kiệt nguồn nuôi sống mình. Cho nên , xin đừng tiếc ! Hãy mạnh dạn bỏ ngay các đồ sứt mẻ ấy đi , cũng đừng vất lăn lóc đâu đó trong nhà , chúng sẽ tích tụ năng lượng âm tiêu cực phá hỏng PT tốt đẹp trong nhà đấy.
Cũng trên ý này , người Hoa và 1 số nước trên Á Đông rất kiêng kỵ khi đến nhà ai phải uống tách trà mẻ miệng , nên mong rằng các anh chị , các bạn lưu ý điểm này , xin đừng tự làm tiêu hao năng lượng của mình bởi những việc nhỏ như thế.
Đăng nhập để trả lời
0
       MỘT SỐ CON VẬT THƯỜNG DÙNG TRONG PHONG THUỶ
1/. SƯ TỬ ĐÁ :
 Sư tử được coi là 1 loại thú lành , có thể giải trừ được nhiều loại hình sát trước nhà , đồng thời còn có tác dụng tăng thêm uy phong của 1 cơ quan nhà nước , 1 công ty lớn , tăng thêm sinh khí cho nhà ở.  Sư tử đá rất thích hợp với những người sống bằng nghề nước bọt như luật sư , diễn viên. Trong phòng làm việc của những người làm nghề này có thể đặt 1 đôi để gây thêm thanh thế , tăng tài lộc. Sư tử luôn đặt có đôi , 1 đực , 1 cái mới đúng , xin thận trọng , đừng mua nhầm. Ngoài ra , khi đặt sư tử nên lưu ý nó có nhiều chất liệu , nhiều màu sắc , nên chọn chất liệu và màu thích hợp với Ngũ hành nơi đặt nó. Và 1 điểm rất quan trọng nữa là sư tử luôn đặt ngó ra ngoài , không được ngó vào nhà.
2/. SƯ TỬ ĐỒNG :
 Rất hay dùng để hóa sát ngăn ngừa tai họa. Nó hay được dùng khi :
_ Nhà ngay giao lộ
_ Cột đèn trước cửa
_ Cây to trước cửa hay cửa sổ
_ các vị trí Họa Hại và Tuyệt Mệnh trong nhà
 Nhà mà có người mạng Thủy , đặt sư tử đồng càng tốt , vì được Kim sinh Thủy thêm Vượng Tài. Nhớ cũng đặt quay đầu sư tử ra ngoài.
3/. GÀ ĐỒNG :
 Đây là vật chống lại thói trăng hoa rất hay trong PT. Đặt gà trên kệ , tủ nhìn ra cửa có thể cấm tiệt thói trăng hoa từ ngoài đưa đến. Nếu dùng trong tủ quần áo , phải dùng 1 đôi , đặt 2 bên góc tủ.
4/. GÀ GỐM SỨ :
 Khác với gà đồng , gà làm bằng gốm sứ lại dùng cho việc hóa giải hình sát Ngô Công Sát. Tức là bên ngoài nhà có các cấu trúc giống hình sâu , rết với các chân chìa ra 2 bên. NHƯNG nên nhớ rằng : Nếu nó chỉ chĩa vào nhà thì không sao , chỉ khi nào nó chỉa vào BẾP hoặc GIƯỜNG hay PHÒNG NGỦ TRẺ EM thì mới cần hóa giải.  Loại gà này nên chọn loại gà trống , tối đa chỉ là 2 con , mõ nó nên để hướng về phía có hình sát.
5/. RÙA ( QUY )
Đây là 1 trong Tứ Linh , hấp thu Linh Khí Trời Đất nên sóng rất thọ. Nó vừa là biểu tượng của Trường thọ , vừa có tác dụng hóa sát. Trong PT , không phải lúc nào chúng ta cũng dùng Cương chọi Cương theo kiểu đặt Sư Tử , Kỳ Lân , Tỳ Hưu , Long Mã , ...vv.. mà cũng có lúc ta phải dùng Nhu khắc Cương theo cách đặt Rùa ( Quy ).  Nhất là trong phòng người già , nếu đặt 1 con rùa đầu hướng ra cửa sổ là rất hay. Rùa ( Quy )  sống cũng có khả năng hóa sát , nên xin đừng nghe lời ai bảo trong nhà không nên nuôi Quy ( Rùa ). Chỉ xin lưu ý , khi dùng Rùa ( Quy) sống để hóa sát , nếu nó chết hãy lập tức thay ngay con khác , không cần lo lắng. Để hóa sát với biểu tượng Rùa , nên lưu ý chất liệu nó và Ngũ Hành nơi đặt , và CHỈ KHI HUNG SÁT MẠNH , ngại dùng sư tử không chống nổi mới phải dùng , tránh lạm dụng.
6/ LONG QUY :
 Đây là 1 loại thú lành , chuyên đem điều may mán đến , nên thường được dùng để hóa giải tai ương. Trong PT , Long Quy thường được dùng nơi có Thủy khí nặng , hoặc nơi Tam Sát chiéu đến. Nơi có Thủy Khí nặng thường phát sinh chuyện đôi co , đặt Long Quy nơi đó , ngoài việc hóa giải đôi co còn tăng thêm nhân duyên nữa đấy.
7/. LONG THẦN TỌA :
  Rồng là con vật đứng đầu trong các loài thú lành ( nam giới dùng thích hợp hơn nữ ) , nên ngoài việc hóa sát nó còn tăng cường phát huy quyền lực , người có chức vụ cao dùng nó có hiệu quả càng lớn. Nó còn có tác dụng đè ép bọn tiểu nhân rất tốt , nên rất thích hợp cho người làm việc hành chính , hoặc hoạt động chính trị , giúp chống lại những lời dèm pha và tăng cường quyền uy.  Có thể đặt công cụ này ở góc trái bàn viết tượng cho Tả Thanh Long.
 Nói chung về loại Rồng , thì không nên đặt hướng đầu Rồng về phòng ngủ , nhất là phòng ngủ trẻ em. Nếu treo tranh Rồng thì tốt nhất là dùng khung màu kim. Số lượng Rồng trong tranh nếu nhiều thì phải có 1 con chủ bầy , nếu không là Quần Long Vô Chủ , chỉ gây hại chứ không có lợi.
8/. KỲ LÂN :
 Đây cũng là 1 con vật trong bộ Tứ Linh , nên uy lực rất mạnh. Ngoài việc hóa sát , Kỳ Lân còn có tác dụng Chiêu Tài , Thêm Đinh. Nam nữ đều dùng được.
9/. TÌ HƯU :
 Đây là 1 loài thú trong truyền thuyết có từ thời thượng cổ , có tác dụng hóa tai , giải nạn rất hay. Nó có thể đặt hướng ra ngoài , hoặc loại nhỏ làm trang sức đeo bên mình cũng tốt.
10/. NGỰA ĐỒNG :
 Ngựa là con vật tượng cho sự đi xa , nên rất thích hợp cho những người hay đi công tác xa , hoặc bôn ba đây đó. Nên chọn 1 đôi ngựa đồng đặt ở trên bàn viết hoặc chỗ Tài Vị trong nhà , đầu ngựa hướng ra cửa , cửa sổ. LƯU Ý tránh đặt ngựa trong bếp , trong nhà tắm. 
Nói chung với việc dùng ngựa , xin lưu ý máy điểm sau :
_ Người tuổi Tý tránh dùng biểu tượng hay tranh ảnh ngựa.
_ Nếu đặt nhiều con ngựa , thì số 6 con ngựa là tốt nhất cho việc sinh tài lộc , 8 con ngựa tốt nhất cho việc sum họp gia đình , ĐẠI KỴ dùng 5 con ngựa ( vì như ngày xưa là Ngũ Mã Phanh Thây ).
_ Ngựa không dùng cho hóa sát.
11/. VOI
 Với Voi Đồng thì tác dụng chính của nó là Hút Tài Lộc , nhất là nhà mà mở cửa , cửa sổ nhìn thấy ao , hồ , sông , biển thì càng có hiệu quả cao.
Với voi bằng gồm sứ , thường được dùng để hóa giải các cấu trúc nặng nề như dầm nhà , xà nhà đè xuống.
12/. CHÓ :
 Với sư tử thì ta trấn cửa lớn , chó thì trấn cửa sau. Nhưng nhiều người theo thói quen là coi chó để giữ nhà , nên đặt ở trước cửa , cũng không sau. Số lượng chỉ 1-2 con là đủ. Người tuổi Thìn tránh dùng biểu tượng chó. Nên lưu ý màu sắc nó cho phù hợp phương hướng nhà.
 
Đăng nhập để trả lời
0
                                        KÍCH  HOẠT  VẬN  MAY  VỀ  TÌNH  CẢM
 
NCD tình cờ vào 1 trang web thấy có  người dịch từ sách tiếng Hoa ra , rồi đưa lên diễn đàn nói về Đào Hoa Trận. Đọc xong mà NCD thấy vừa buồn , vừa thương. Buồn cho giới PT có những người biết thì không nhiều , dịch thì lại dịch...không chính xác. Thương là thương cho những ai vô tình xem rối làm theo trong đó nói , vừa tốn tiền vừa làm chuyện...hơi bị ruồi bu 1 tý !  Nói dịch không chính xác đây  chưa hẳn do người đó không biết rành chữ Hoa , mà có thể do người đó chỉ biết có 1 cuốn đó , không biết rằng sách tiếng Hoa luôn không nói hết ý. Cứ bê nguyên văn trong đó vào , cứ nghĩ thế là đủ , thành ra...trật lất. NCD lúc ấy cũng rất ngứa nghề , muốn vào góp ý , nhưng ngặt nỗi diễn đàn đó không cho đăng ký nữa thôi. Nên hôm nay NCD xin đăng loạt bài chuyên về kích hoạt tình cảm , hôn nhân , hy vọng rằng giúp được những ai thường xuyên gặp thất bại trong việc tìm kiếm người bạn đời , những ai gặp bất hạnh trong hôn nhân nay muốn tìm tình duyên mới , những ai đang có những trục trặc trong hôn nhân như chồng ( vợ ) không chung thuỷ....vv....  Nói chung là các vấn đề về tình cảm , hôn nhân , gia đình. 
Trước tiên , NCD muốn nói đến 4 con giáp có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này theo người Hoa , đó là : Tý , Ngọ , Mẹo , Dậu . Trong PT , 4 phương Tý Ngọ Mẹo Dậu ( tức là 4 hướng Bắc Nam Đông Tây đó ) được gọi là Đào Hoa Sơn. Khi ta kích hoạt các cung này chính là đã kích hoạt cung Đào Hoa vậy. NHƯNG không phải ai cũng dùng như  nhau cả ! Đây chính là điểm sai lầm của người dịch đó vậy , vì các sách Hoa luôn chừa lại 1 ít...cho cuốn khác _ ngày nay NCD thấy các sách Việt mình hình như cũng làm thế ấy chứ.  Và người dịch kia cũng biên phần sau vào vậy , và cho rằng đó là 1 cách tính khác , thế mới nhầm lẫn. Thật ra , cách tính này có gì ghê gớm đâu mà phải giấu diếm ?!
_ các người tuổi Thân Tý Thìn    :  kích hoạt vận may về tình càm , hôn nhân của mình ở hướng Tây , với biểu tượng con gà. Con gà lớn hay nhỏ không quan trọng , trống hay mái không thành vấn đề , quan trọng là CON GÀ ĐẸP VÀ CÓ CẨN ĐÁ QUÝ.
_ các người tuổi Tị Dậu Sửu         :  kích hoạt vận may về tình cảm , hôn nhân của mình ở hướng Nam , với biểu tượng con ngựa. Như trên , nên chọn con ngựa CÓ CẨN ĐÁ QUÝ  , con ngựa càng đẹp thì khả năng thành công càng lớn , càng có nhiều cơ may.
_ các người tuổi Dần Ngọ Tuất    :  kích hoạt vận may về tình cảm , hôn nhân ở hướng Đông , với biểu tượng con thỏ. Như trên , nên chọn 1 con thỏ ĐẸP , CÓ CẨN ĐÁ QUÝ.
_ các người tuổi Hợi Mẹo Mùi     :  kích hoạt vận may về tình cảm , hôn nhân ở hướng Bắc , với con chuột. Tốt bậc nhất là tìm hình con chuột đang nhả ngọc , hoặc được cẩn đá quý.
   Điều cần thiết là các anh chị , các bạn phải kiên nhẫn.  Cách này không thể làm cho 1 người thay đổi ý định từ không yêu trở nên yêu mình , mà nó chỉ thúc đẩy nhân duyên thật sự của mình thôi , nên gặp trường hợp đó không phải là Lương Duyên Tiền Định thì nó sẽ phá vỡ mối quan hệ đó ngay. Cho nên xin đứng lầm lẫn chỗ này ! Kích hoạt vận may về tình cảm này sẽ giúp chúng ta tìm được 1 người tâm đầu ý hợp , NHƯNG phẩm chất người đó thì PT không thể bảo đảm cho các anh chị , các bạn được. Đó là nhân duyên của các anh chị , các bạn , nên PT chỉ tạo điều kiện để người đó xuất hiện thôi , còn bản chất người đó tốt xấu là do các anh chị , các bạn gieo duyên từ Tiền Kiếp vậy. PT không phải là phép tiên để có thể làm thay đổi định mệnh của con người 1 cách trọn vẹn. Muốn làm được điều cải  số này , cần có cái TÂM ĐỨC phụ trợ.
  Cách tính thứ 2 theo Huyền Không Phi Tinh đó là  nơi có Sao Tứ Lục chiếu đến , nhất là Sao Tứ Lục nằm ở Sơn Tinh. Khi có nhiều Phi Tinh Tứ Lục đến phòng ngủ thì vận may về tình cảm hôn nhân của người đó đặc biệt may mắn. NHƯNG khi có nước , haybiểu tượng hành THUỶ trong khu vực này , thì nó sẽ trở thành bất hạnh , có thể bị những điều tai tiếng về tình dục hay bị sự phản bội.  Khi tìm được vị trí Sao Tứ Lục đóng , ta có thể kích hoạt nó bằng nhiều cách.  Có thể bằng đá quý ( cái này là tuỳ theo tuổi , NCD sẽ có 1 bài riêng về 1 số loại đá quý tuỳ theo tuổi trong Cung Hoàng Đạo ) , bằng hoa tươi ( màu sắc hoa còn tuỳ vào Ngũ Hành nơi đặt ) , tranh ảnh đôi tình nhân đang âu yếm , đôi uyên ương , đôi hạc ,....v.v.... 
  Cách nữa mà NCD đã từng nói là theo trường phái PT Mật Tông Tây Tạng , là theo Bát Quái Đồ , cung Tây Nam luôn là cung chủ về tình yêu , hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Khi cần có tình yêu , khi cần tìm bạn đời , khi muốn giữ vững hạnh phúc gia đình thì nên xem trọng cung Khôn Tây Nam này. Phần này NCD đã nói rất kỹ trong loạt bài về 8 cung Bát Quái trong nhà rồi , nay xin không ghi lại.  Và 1 cách tính nữa CHỈ DÙNG  cho các cặp vợ chồng đó là cung Diên Niên của vợ chồng.  Cách này người ta thường dùng đầu giường và hướng bếp xoay hướng Diên Niên để giúp gia đạo hạnh phúc.
Đăng nhập để trả lời
0
CÁC TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỆN TÌNH CÀM , HÔN NHÂN ,HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH.
Hôm nay vấn đến mà NCD đưa ra y như tiêu đề bên trên , nếu chúng ta không phát hiện và hoá giải những điểm bất lợi này , thì dù chúng ta có lập 10 cái ,100 cái Đào Hoa Trận vẫn không có tác dụng.  và để phát hiện ra những điểm xấu ảnh hưởng về tình cảm trong PT không khó , không đỏi hỏi các anh chị , các bạn phải có 1 kiến thức cao siêu gì về PT , mà chỉ cần để ý 1 tý về KIẾN TRÚC TRONG VÀ NGOÀI NHÀ là thấy ngay.
1/ THUỶ
Trong Ngũ Hành ,hành Thuỷ là hành....gây khó chịu nhiều nhất đối với các nhà địa lý.  Bởi chỉ cần đặt Thuỷ sai vị trí , thì có thể lập tức chuốc hoạ vào thân ngay.,và cũng có khi đặt Thuỷ đúng vị trí thì được hưởng phước ngay ( Nói ngay chứ Hoạ hay Phước cũng phải 100 ngày cơ ! )
Về vấn đề Thuỷ ảnh hưởng đến Tình Cảm , Hôn Nhân và Gia Đình ,thì trong PT có những điểm sau đây trong nhà KHÔNG NÊN CÓ THUỶ :
_ Phòng Ngủ       :     Đây là nơi ĐẠI KỴ có Thuỷ , nhất là khi có Sao Tứ Lục Phi Tinh bay đến đó.  Nước nơi đây sẽ gây ra sự mất mát tiền bạc và người thân.
_ Tiền Bạch Hổ   :     Tức là bên phải nhà ( từ trong nhìn ra ) ở phía trước ( 1/3 chiều dài nhà ).Nếu nơi đây có bể cá , hồ bơi , hồ hay lu vại chứa nước , ao hồ hay mương rạch thì trước sau gì Đức lang quân trong nhà cũng...lập phòng nhì ,cho dù hiền cỡ mấy thì cũng khiến xui xảy ra chuyện đó.
_ Nước do toilet ở gần ,đối diện hay ở trên cửa chính  :    Ở vị trí này , nó sẽ gây ra sự bất hoà , xung đột trong các mối quan hệ gia đình. Tức là không chỉ vợ chôbng2 xung đột , mà còn là cha mẹ và con cái , anh chị em trong nhà.
_ Nước ở Tây Nam , do toilet đặt ở đó     :     Vấn đề này thì NCD đã nói rất rõ trong phần các cung Bát Quái trong nhà , nay xin không nhắc lại.
_ Vòi nước đối xung với Bếp   :   Điều này khiến gia chủ mắc nạn " Đào Hoa Sát " ,phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH .
2/. XÀ NHÀ :
Điểm này chắc không nói thì các anh chị , các bạn cũng đoán được là nó ở đâu thì ảnh hưởng đến chuyện tình cảm rồi. Vâng , đó chính là phòng ngủ của vợ chồng. Một cái xà nhà CHIA ĐÔI GIƯỜNG NGỦ THEO CHIỀU DỌC , nếu không hoá giải hay dời giường đi , thì trước sau gì đôi vợ chồng cũng " thôi là hết anh đi đường anh " thôi.
3/. GƯƠNG SOI :
Cái này thì nói hoài , nói nhiều lần quá rồi , dẹp nó ra khỏi phòng ngủ cho yên chuyện. Hãy lưu ý các phòng ngủ vợ chồng có đặt ti-vi ,lúc đi ngủ hãy che mặt kiếng tivi lại.
4/. CÁC VẬT NHỌN :
Hãy lưu ý trong phòng ngủ có đồ vật nào có góc cạnh nhọn chĩa vào giường không? Ở bên ngoài thì xem có vật thể nhọn , góc cạnh sắc nhọn nào chĩa vào phòng ngủ không ?
5/. PHI TINH ĐỒ :
Điểm này do NCD....thú thiệt là rất dỡ về vi tính ,nên lâu nay không sao đăng bài về Huyền Không Phi Tinh được . Thành thử hôm nay ,NCD cũng chỉ......diễn tả và giới thiệu sơ qua thôi , các anh chị , các bạn nào có thắc mắc cần hỏi có thể liên hệ với NCD qua p.m hoặc bên ngoài để trao đổi thêm.Vì ở đây nếu nói cặn kẽ về Phi Tinh mà không vẽ ra ,chỉ diễn tả thì biết bao giờ mới xong .
Trong PT Huyền Không Học , người ta cho rằng tất cả Dương Cơ , Âm Phần đều chịu lực tác động của Cửu Tinh , mà 9 ngôi sao này đi theo 1 chu kỳ nhất định.  Theo vòng luân chuyển đó ,mỗi ngôi sao lần lượt làm chủ 1 khoảng thời gian , trong thời gian đó ,ngôi sao ấy  như 1 ông Vua đầy quyền năng vậy. Sao nào làm chủ thì sao đó nhập vào cung giửa trong 9 ô vuông Lạc Thư ,các Sao còn lại lần lượt an vào các ô còn lại theo 1 quy luật định sẵn.  Có rất nhiều mốc thời gian trong Huyền Không :
_ Tam Nguyên Đại Vận    :   Đây là Chu Kỳ lớn nhất trong phái HK , mỗi 1 Đại Tam Nguyên này chiếm 180 năm , vị chi 1 Tam Nguyên Đại Vận là 540 năm. Như hiện nay chúng ta đang ở vào giai đoạn Hạ Nguyên của Đại Vận do Sao Tam Bích làm chủ ,kéo dài từ năm 1864 đến hết năm 2043.
_ Mỗi 1 Đại Nguyên 180 năm đó lại chia ra 3 Nguyên nhỏ nữa , mỗi Nguyên là 60 năm , và cũng như trên , mỗi Nguyên có 1 sao quản Nguyên nắm quyền sinh sát trong trọn 1 Nguyên đó. Và các sao quản Nguyên này thì lại không thay đổi. Tỷ như chúng ta đang ở vào giai đoạn Hạ Nguyên , thì Sao Thất Xích làm Sao Quản Nguyên.
   Hai Sao chủ Đại Vận và Sao chủ Nguyên này thường bị các nhà Huyền Không học lãng quên , có lẽ do họ cho rằng Lực ảnh hưởng của nó xa nên yếu hơn , vì vậy không đưa vào lúc luận đoán.Chính vì thế họ luôn cho rằng Sao Thất Xích đã là sao Thoái Khí , sẽ gây học , mà không nghĩ rằng Thất Xích cai quản cả 1 Hạ Nguyên này cơ.
_ Kế đến là mốc thời gian mà ta thường nghe nói nhất ,đó là Vận. Mỗi 1 Nguyên nhỏ ấy lại chia ra làm 3 Vận nhỏ ,mỗi Vận chiếm 20 năm do 1 sao làm chủ. Vị chi 3 Nguyên là 9 Vận ,vì thế mới có tên là Tam Nguyên Cửu Vận.  Hiện nay chúng ta đang ở vào giai đoạn của Vận 8 , từ năm 2004 đến năm 2023.
_ Dưới nữa là mốc từng năm , từng tháng , từng ngày , từng giờ đều có 1 sao làm chủ. Và Sao làm chủ 1 năm thường được gọi là Lưu Niên Phi Tinh.
   Để xét ảnh hưởng của Phi Tinh đối với vấn đề tình cảm ,hôn nhân ,hạnh phúc gia đình , có mấy điểm để lưu ý :
_ Phi Tinh trên Trạch Vận   :   Trạch Vận chính là Vận Khí của 1 ngôi nhà , nó được xác lập vào thời điểm ta xây dựng nhà , ta dọn vào nhà mới ,ta khởi sửa chữa lớn thay đổi kết cấu nhà.  Muốn tính được điều này thì ít ra các anh chị , các bạn phải biết khá rành về Huyền Không Phi Tinh. Trong khi NCD chưa thể đăng bài về Huyền Không được ( chờ NCD đi học vi tính mới được  ! [:)] ) , nếu các anh chị , các bạn nào cần hỏi về Phi Tinh ảnh hưởng vấn đề tình cảm của nhà mình ở đâu ,xin cứ nhắn cho NCD.  Đành phải vậy chứ biết sao bây giờ phải không ?!
_ Phi Tinh theo Vận  :   Cái này thì các anh chị các bạn có thể tính được. Cứ mỗi Vận nhỏ này là 20 năm , xoay vần các Sao theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Như hiện nay là vận 8 ,thì là Sao Bát Bạch. Sau năm 2023 thì là vận 9 , là vận của sao Cửu Tử. Sau năm 2043 là Vận 1 là của sao Nhất Bạch. 20 năm kkế đó là vận 2 là của sao Nhị Hắc. 20 năm kế là vận 3 là sao Tam Bích....rồi Tứ Lục , Ngũ Hoàng , Lục Bạch , Thất Xích , lại quay tiếp Bát Bạch , Cửu Tử....   Có Sao chủ Vận rồi , các anh chị , các bạn lần lượt an chúng vào các ô vuông Lạc Thư , mỗi sao 1 ô , sao nào làm chủ vận thì ở chính giửa. VD như trong vận 8 này thì các sao trong 9 ô vuông đó sẽ là :        7    3     5
                                6    8     1
                                2    4     9
_ Lưu niên phi tinh    :   Cái này thì các anh chị  , các bạn có thể tính được hết. Bởi Sao làm chủ 1 năm chính là sao trùng với Quái Số của người nam sinh năm đó. Các anh chị , các bạn cứ tìm Quái số cho nam sinh năm đó là ra thôi. VD như năm nay ,bé nam nào sinh ra sẽ có quái số là 2 , vậy năm nay sao số 2 Nhị Hắc sẽ vào ô giửa , các sao trong 9 ô vuông Lạc Thư sẽ là :
                                1     6     8
                                9     2     4
                                5     7     3
                                                                                                    ( còn tiếp )
Đăng nhập để trả lời
0
....[8|].... nhiều wá trời... đọc muốn "tẩu hỏa" luôn...công nhận kiến thức của "lão wuynh" nguoicodon đáng nể thật...[sm=1005.gif].... chúc wuynh sức khoẻ... để tiếp tục công trình đang "dở dang"....[:D]...[sm=MexicanWave.gif]
Đăng nhập để trả lời
0
Mong anh NCD giữ gìn sức khoẻ để viết tiếp Tam Nguyên Cửu Vận, Huyền Không Phi Tinh để mọi người được mở rộng tầm nhìn..
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-21 10:50:36NCD>
                                                          BÁT TRẠCH CHUYÊN SÂU
                                                        
                                                                       *****

Hôm nay , Nhím xin đăng loạt bài về phần chuyên sâu của Bát Trạch , tài liệu này của SH soạn cho Nhím , Nhím muốn chia xẻ với mọi người.
 
A/. HUYỀN KHÔNG BÁT TRẠCH :
Nói đến Huyền Không Bát Trạch , là phải nói đến bậc Thầy về PT , là Dương Quân Tùng đời Đường , chính ông đã đưa ra những thuyết về Huyền Không cho Bát Trạch , chuyên dùng để định Sa , Thủy , Lập Hướng cho Dương Trạch và Âm Trạch.
Huyền Không Bát Trạch có 2 phần : Đại Huyền Không và Tiểu Huyền Không. Dựa trên nguyên tắc Sinh , Khắc , Vượng , Tướng của Ngũi Hành mà chọn.
 1/. Tiểu Huyền Không Ngũ Hành :
Đây là cách để đo lường Cát , Hung của Dương Trạch , Âm Trạch dựa trên Sa , Thủy. Lấy Hướng mà định. Theo ông Dương Quân Tùng thì :
Bính Đinh Dậu Ất                           thuộc Hỏa
Càn Khôn Mẹo Ngọ                        thuộc Kim
Hợi Giáp Cấn Quý                          thuộc Mộc
Tuất Canh Sửu Mùi                        thuộc Thổ
Tý Dần Thìn Tốn Tân Tị Thân Nhâm  thuộc Thủy.
( cái này thì các bạn phải tự học thuộc rùi nhé ).
Thủy lai ( đến ) phải từ các Sơn có Ngũ Hành Vượng , Tướng.
Thủy khứ ( đi ) phải từ các sơn có Ngũ Hành Hưu , Tù.
 
Ví dụ cho dễ hiểu nha :  Một căn nhà tọa Nhâm hướng Bính chẳng hạn.
_ Mình xem bảng ở trên thấy Bính thuộc Hỏa.  Vậy thì các Hành Vượng Tướng so với Hỏa chính là Hỏa ( cùng Hành với Hỏa , nên Hỏa là Vượng ) , và Mộc ( Mộc sinh Hỏa , nên Hỏa được Tướng ).
Vậy thì các sơn có thể tiếp nhận Thủy lai là Bính , Đinh , Dậu , Ất , Hợi , Giáp , Cấn , Quý.
 
_ Bính thuộc Hỏa , vậy thì các Hành Hưu Tù so với Hỏa chính là Thổ ( Hỏa sinh xuất cho Thổ , nên Hỏa bị Hưu ) và Thủy ( Thủy khắc nhập Hỏa , nên Hỏa bị Tù )  
vậy các sơn để Thủy khứ là Tuất , Canh , Sửu , Mùi , Tý , Dần , Thìn , Tốn , Tân , Tị , Thân , Nhâm.
 
Ví dụ nữa nè :   Một ngôi mộ tọa Thìn hướng Tuất.
_ Ta thấy Hướng Tuất thuộc Thổ
Vậy thì các Hành Vượng Tướng so với Thổ chính là : Thổ và Hỏa
=&gt; các sơn tiếp nhận Thủy lai là Bính , Đinh , Dậu , Ất , Tuất , Canh , Sửu ,Mùi.
 
_ Tuất thuộc Thổ
Vậy thì các Hành Hưu Tù so với Thổ chính là : Kim và Mộc.
=&gt; các sơn để Thủy khứ là Càn , Khôn , Mẹo , Ngọ , Hợi , Giáp , Cấn , Quý.
 
Khi ứng dụng phép xem theo Tiểu Huyền Không ,phải dùng hoàn toàn Ngũ Hành theo Tiểu Huyền Không này , chớ xen lẫn Ngũ Hành các thuyết khác. Bởi trong Bát Trạch , ngoài Chính Ngũ Hành , còn có Tiểu Huyền Không Ngũ Hành , Đại Huyền Không Ngũ Hành , Hồng Phạm Ngũ Hành , Tam hợp cục Ngũ Hành , Nạp âm Ngũ Hành. Nếu dùng lẫn lộn e sẽ xảy ra lầm lẫn đáng tiếc. Cẩn thận ! Cẩn thận !
Đây chỉ mới là cách tính thuận , phần sau Nhím sẽ bàn cách tính Nghịch , từ Thủy luận ngược lại chọn Hướng cho Nhà và Mộ.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Hôm qua , đó là Nhím nói về cách tính thuận , nhưng đó chỉ là cách trên sách vỡ thui. Còn thực tế , chúng ta phải tính nghịch là thường nhất. Nghĩa là từ thế Thủy thực tế mà ta chọn Hướng cho nhà ở hay mộ phần. Cách này thì mình làm ngược thui ý mà !
 
Ví dụ cho dễ hiểu :  Đứng trên 1 cuộc đất , ta thấy Thủy lai đáo sơn Càn ( Khi dùng chữ Thủy lai này , xin các bạn hiểu cho là Nhím đang nói về Âm Trạch , mộ phần đó nhen ! ) , muốn chọn hướng cho Huyệt mộ , ta xét :
Càn theo Tiểu Huyền Không Ngũ Hành là thuộc Kim.
Vậy các Hướng cần lập là Kim và Thủy ( không còn là Kim và Thổ như cách tính thuận nữa đâu , xin đừng lầm , lầm 1 cái là chít liền đó ). Tức là 1 cái đồng Ngũ Hành với Thủy lai , 1 cái là được Thủy lai sinh cho.
=&gt; các hướng để lập mộ sẽ là Càn , Khôn , Mẹo , Ngọ , Tý , Dần , Thìn , Tốn , Tân , Tị , Thân , Nhâm.
Dễ hén !
 
Thêm 1 ví dụ nữa cho Dương Trạch đi  :  Với Dương Trạch , Thủy lai chính là các ngã đường gần nhất so với cuộc đất mình chọn. Do đó , các bạn hay thấy SH yêu cầu người cần tư vấn tả xem ngã 3-4 gần nhà nhất thuộc sơn gì so với nhà là vậy đó.  Đứng tại trung tâm đất đặt La bàn , chiếu tới ngã 3-4 gần đó nhất , xem nó rơi vào sơn gì , thì đó chính là sơn của Thủy lai trong Dương Trạch.
  Nhà trong khu đô thị thường mình khó có thể xoay hướng khác , trừ phi....nhà biệt thự [:D] . Mà thường nhất là nhà cố định hướng sẵn , trong trường hợp này , mình vẫn xác định hướng Thủy lai để....Khai môn.
  Nhà tọa Cấn hướng Khôn đi , có ngã tư gần nhà nhất thuộc sơn Càn.
  Ta thấy theo Tiểu Huyền Không Ngũ Hành thì Càn thuộc Kim.
  Vậy các sơn có thể Khai môn sẽ thuộc : Kim và Thủy
=&gt; các sơn Khai môn là Càn , Khôn , Mẹo , Ngọ , Tý , Dần , Thìn , Thân , Tốn , Tị , Nhâm , Tân.
 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
 2/. Đại Huyền Không Ngũ Hành :
Đây cũng là cách để định Thủy lai , Thủy khứ trong cả Dương trạch lẫn Âm trạch. Pháp này được ghi lại trong Thiên Ngọc Kinh , 24 sơn cũng chia ra theo Ngũ Hành , cụ thể là :
Tý , Dần , Thìn , Cấn , Bính , Ất            thuộc Kim
Ngọ , Thân , Tuất , Khôn , Nhâm , Tân   thuộc Mộc
Mẹo , Tị , Sửu , Càn , Canh , Đinh          thuộc Thủy-Thổ
Dậu , Hợi , Mùi , Tốn , Giáp , Quý           thuộc Hỏa
 
Nguyên tắc xét PT không ra ngoài sơn , hướng , sa thủy.
Theo cách tính của Đại HKNH , thì dùng Chi làm Chính thần , Can làm Linh thần. Nghĩa là Sơn Hướng phải dùng các sơn thuộc Địa Chi , Thủy lai phải đến các sơn thuộc Thiên Can hoặc Tứ duy ( Càn , Khôn , Cấn , Tốn ).
Khi xét Thủy lai theo Đại HKNH , thì lấy thế Hướng và Thủy cùng Ngũ Hành và Tương Sinh.
Nói khơi khơi như vậy chắc khó hiểu lắm , thôi để Nhím ghi ví dụ cho dễ.
 
Ví dụ : Nhà hay Mộ có các hướng thuộc Kim : Tý , Dần , Thìn.
          nên chọn Thủy lai ở các sơn Cấn , Bính , Ất ( cùng Ngũ Hành ) , Càn , Canh , Đinh (tương sinh ).
 
          Nhà hay Mộ có các hướng thuộc Hỏa : Dậu , Hợi , Mùi
          nên chọn Thủy lai ở các sơn Tốn , Giáp , Quý ( cùng Ngũ Hành ) , Khôn , Nhâm , Tân ( tương sinh ).
 
Cũng như cách Tiểu HKNH , đây là cách tính thuận , còn trên thực tế thường tính nghịch lại , lấy Thủy thực tế mà chọn Hướng.
Âm Trạch lấy Chân Thủy , Dương trạch lấy Giao lộ gần nhà làm Thủy. Đây là nguyên tắc chính , xin đừng quên !
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Nhim_con75 ơi !
 
"Cái này" hay thế sao cứ post từ từ, mọi người đều mong muốn xem để hiểu nhiều nhiều có được không?
 
Cảm ơn Nhim_con75 đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích !
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn Bin...@ : hihihi , ông bà mình nói "ăn ít no dai , ăn nhiều tức bụng" mà !
 
Trong thực tế , mình có thể áp dụng cả 2 phương pháp Đại và Tiểu HKNH chung với nhau để định Thủy , hoặc lập hướng , khai môn.
Đứng trước 1 thế đất nào đó , nếu xây mộ thì nhìn Thủy đáo sơn nào , nếu khai môn thì xem giao lộ gần nhất ở sơn nào so với trung tâm , mình xét theo Đại HKNH thì nó thích hợp với các sơn nào để lập hướng , khai môn ; rồi lại xét tiếp theo Tiểu HKNH xem nó thích hợp với sơn nào. Mình gộp các sơn đó lại , chọn sơn nào có ở cả 2 pp mà lấy.  Có đôi khi , nó không thích hợp , chẳng hạn nếu chọn khai môn ở bên hông nhà sao được ? Khi ấy ta phải dùng các pp khác nữa để chọn , cái này Nhím sẽ nói ở sau.
Ví dụ :  Cuộc đất có Thủy đáo sơn Khôn , muốn lập hướng cho mộ , ta tính thử xem nhé !
Theo Tiểu HKNH thì Khôn thuộc Kim , vậy các sơn cần để lập hướng phải thuộc Kim hay Thủy
=&gt; các sơn để lập hướng là : Càn , Khôn , Mẹo , Ngọ , Tý , Dần , Thìn , Tốn , Tân , Tị , Thân , Nhâm.
Theo Đại HKNH thì Khôn thuộc Mộc , vậy các sơn cần lập hướng phải thuộc Mộc và Hỏa
=&gt; các sơn để lập hướng là  : Khôn , Nhâm , Tân , Tốn , Giáp , Quý.
Gộp cả 2 lại , ta thấy có các sơn thích hợp là : Khôn , Tốn , Tân , Nhâm.
 
Ví dụ nữa : Nhà ở thành phố có giao lộ gần nhất thuốc sơn Tuất , muốn chọn sơn Khai môn , ta tính thử xem :
Theo Tiểu HKNH thì Tuất thuộc Thổ , vậy các sơn cần để Khai môn phải thuộc Thổ , Hỏa
=&gt; các sơn để Khai môn là  : Tuất , Canh , Sửu , Mùi , Bính , Đinh , Dậu , Ất.
Theo Đại HKNH thì Tuất thuộc Mộc , vậy các sơn cần để Khai môn phải thuộc Mộc , Hỏa
=&gt; các sơn để Khai môn là  : Khôn , Nhâm , Tân , Tốn , Giáp , Quý
Gộp cả 2 lại , ta thấy không có sơn thích hợp. Như vậy , ta phải dùng pp khác để chọn thôi.
 
B/. SONG SƠN NGŨ HÀNH  :
Ta thấy 1 vòng Địa bàn có 24 sơn , mà trên tựa đề là Song sơn , như vậy đủ thấy rõ sẽ có 12 cặp trong 24 sơn.
Đây thực ra chỉ là phương pháp chọn theo Tam hợp cục Ngũ Hành , và phối thêm các sơn đứng trước mỗi chữ Địa chi đó thành 1 cặp thôi.
_ Dần , Ngọ , Tuất là Tam hợp hóa Hỏa , nay thêm các sơn đứng kế trước nó , sẽ có Tam hợp cục Hỏa theo song sơn như sau :  Cấn , Dần , Bính , Ngọ , Tân , Tuất.
_ Tị , Dậu , Sửu là Tam hợp hóa Kim , nay thêm các sơn kề trước nó , sẽ có  :  Tốn , Tị , Canh , Dậu , Quý , Sửu  là Tam hợp cục Kim theo song sơn.
_ Thân , Tý , Thìn là Tam hợp hóa Thủy , nay thêm các sơn kế trước nó , sẽ có Tam hợp cục Thủy theo song sơn là  :  Khôn , Thân , Nhâm , Tý , Ất , Thìn.
_ Hợi , Mẹo , Mùi là Tam hợp hóa Mộc , nay thêm các sơn kề trước nó , sẽ có Tam hợp cục Mộc theo song sơn như sau  :  Càn , Hợi , Giáp , Mẹo , Đinh , Mùi.
 
Phương pháp song sơn này được ứng dụng rất rộng rãi trong  phép Tiêu sa , nạp thủy.
Ví dụ  :  Thế đất có Thủy lưu đáo sơn Nhâm.
Ta thấy Nhâm thuộc Tam hợp Thủy cục , vậy các hướng cần chọn là Thân , Tý , Thin , rất gọn.
 
Vì dụ : Thế đất có Thủy đáo sơn Tân
Ta thấy Tân thuộc Tam hợp Hỏa cục , vậy các hướng cần chọn là Dần , Ngọ , Tuất.   Chííííít liền đó !!!  Đây là 1 cái bẫy. Vì sao ?
Trong phép Tiêu sa , nạp Thủy , luôn luôn Thủy lai phải từ các sơn Sinh , Vượng , Lâm Quan ; Thủy khứ phải từ các sơn Mộ khố.
Ở đây , Tuất là Mộ khố của cục Hỏa , nên chỉ có thể là Thủy khứ , nay Thủy lai , ta không thể chọn theo phương pháp này được , mà phải dùng pp khác. Hãy cẩn thận !
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-07 07:53:26nhim_con75>
Do ở trên Nhím có đề cập tới Mộ khố của cuộc đất , nên hôm nay , Nhím giới thiệu tiếp luôn về pp Thập nhị thần :
 
C/. THẬP NHỊ THẦN ĐẠI PHÁP :
Trong tất cả các phương pháp Tiêu Sa - Nạp Thủy của Phong Thủy , thì đây là phương pháp quan trọng nhất. Đây là biểu hiện trạng thái của vạn vật từ thai nghén đến sinh trưởng , lớn lên cho đến suy tàn.. Cụ thể như sau  :
_ Tuyệt         :   Biểu thị trạng thái không có gì , vạn vật chưa tượng hình , như trong bụng mẹ trống không chưa mang thai.
_ Thai           :   Tức là vạn vật phôi thai , mới tượng hình , nảy mầm. Cũng như bào thai mới thụ khí bẩm sinh của cha mẹ.
_ Dưỡng         :   Muôn vật đã hình thành , tựa như bào thai đã phát triển chờ ngày khai hoa nở nhụy.
_ Trường sinh  :   Vạn vật bắt đầu sinh ra , như đứa trẻ lọt lòng mẹ , còn rất yếu ớt , non nớt.
_ Mộc dục      :   Vạn vật phát triền , như cây dần lớn lên , bắt đầu hứng chịu nóng lạnh , gió mưa , bão táp. Như đứa trẻ mới lớn , vẫn còn cần vòng tay của cha mẹ.
_ Quan đới      :   Như cây đã bắt đầu ra hoa , như người đã trưởng thành.
_ Lâm quan     :   Như cây đã kết trái , như người thi cử đỗ đạt ra làm quan , có được công việc ổn định.
_ Đế vượng     :   Như trái đã chín mùi , như thời hưng vượng thành đạt nhất của đời người , có được vinh hoa phú quý , hạnh phúc.
_ Suy             :   Vạn vật từ Trưởng chuyển sang Tiêu , như người đã leo đến đỉnh núi tất phải quay trở xuống vậy , như giai đoạn đời người đã lớn tuổi , đã nghỉ hưu . Như cây sau mùa ra trái , bắt đầu suy yếu , kiệt dinh dưỡng vậy.
_ Bệnh            :   Như người đã già yếu , bắt đầu bệnh tật xâm hại. Như cây suy yếu bị côn trùng , nấm mối tấn công vậy.
_ Tử               :   Như người đã già cỗi đến chết , như cây đã cằn cỗi chết đi
_ Mộ               :   Như người đã chôn xuống mộ sâu , mục rữa trở về đất lạnh.
 
Do ý nghĩa 12 cung như vậy , nên người ta mới chọn Trường Sinh làm cung khởi đầu , lấy tượng con người mới sinh ra làm giai đoạn đầu.
Trong đó có 4 cung Cát nhất là : Trường Sinh , Quan Đới , Lâm Quan , Đế Vượng. Người ta dùng 4 Cát để Nạp Sa , Thu Thủy.
3 cung trung bình là                :  Mộc Dục , Thai , Dưỡng ít dùng tới .
5 cung Hung là                       :  Suy , Bệnh , Tử , Mộ , Tuyệt.  Người ta dùng 5 cung Hung để chọn sơn Thủy Khứ ( chảy đi ).
Cách khởi cung của Thập Nhị Thần này , khời từ Trường Sinh cho đến cuối cùng là Dưỡng , 12 cung trên 24 sơn , với mỗi cung là 2 sơn trong Song Sơn Ngũ Hành ( đã nói ở trên ). Và phép khởi có 2 điểm cần lưu ý :
_ Khởi cung dựa theo đặt tính Tam Hợp Cục Ngũ Hành của sơn Địa Chi trong song sơn , để chọn cung Trường sinh ở đâu.
_ Khởi cung Trường Sinh đi thuận nghịch là tùy theo thế đất Âm hay Dương.
 
Thế đất Âm hay Dương là gì ?
Âm Long là thế đất từ phải chạy sang trái , giống như đi ngược chiều kim đồng hồ vậy.
Dương Long là thế đất chạy từ trái sang phải , giống như đi thuận chiều kim đồng hồ vậy.
Thế đất Dương phải phối với Thủy Âm _ Thế đất Âm phải phối với Thủy Dương.
Thủy lưu Âm là dòng nước chảy từ phải sang trái , ngược chiều kim đồng hồ là nghịch , nên gọi là Âm.
Thủy lưu Dương là dòng nước chảy từ trái sang phải , thuận chiều kim đồng hồ , nên là Dương.
 
Tam Hợp Cục Ngũ Hành :
_ Dần Ngọ Tuất là Hỏa cục  : Dương khởi Trường Sinh tại Dần đi thuận
                                        Âm khởi trường Sinh tại Dậu đi nghịch.
_ Thân Tý Thìn là Thủy cục : Dương khởi Trường Sinh tại Thân đi thuận
                                        Âm khởi Trường Sinh tại Mẹo đi nghịch.
_ Tị Dậu Sửu là Kim cục      : Dương khởi Trường Sinh tại Tị đi thuận
                                        Âm khởi Trường Sinh tại Tý đi nghịch.
_ Hợi Mẹo Mùi là Mộc cục    : Dương khởi Trường Sinh tại Hợi đi thuận
                                        Âm khởi Trường Sinh tại Ngọ đi nghịch.
Có 2 cách để dễ nhớ cho các vòng Âm Dương này :
_ Cung Lâm Quan của Dương là Đế Vượng của Âm , và ngược lại , Đế Vượng của Dương là Lâm Quan của Âm.
_ Dương khời Trường Sinh tại cung đầu tiên trong Tam Hợp , Âm khởi Trường Sinh tại cung cuối cùng trong Tam Hợp lùi lại 1 cung.
 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-06 05:06:23Binbom2005>
Hay nhưng Khó quá !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-06 05:08:13Binbom2005>
KÍnh thưa các anh/chị !

Nhiều bài viết rất hay nhưng vì chúng tôi không phải dân trong nghề nên rất khó tính toán và học hỏi. Vì thế mới độ chế thành bảng để tra. Nếu bấm tay thì chỉ có người chuyên môn mới làm được. Các anh chị nhớ và thuộc trong đầu hết rồi, còn chúng tôi vừa đọc, vừa ghi, vừa đánh dấu có khi còn sai hay chẳng hiểu gì. Thế nên mới mạo muội lập thành bảng tra cứu. Lượng tình thứ lỗi !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-06 05:41:33nhim_con75>
?!?!
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Bây giờ Nhím xin đi vào phần thực hành của phương pháp Thập Nhị Thần này :
 
Khi Nạp Sa phải dùng Sơn (Long) của Mộ phần để nạp.
    Thu Thủy phải dùng Hướng của Mộ phần để định.
Với Dương Trạch chỉ dùng Sơn của nhà để định thôi.
 
Ví dụ 1Ngôi mộ Cấn Long , Đinh Hướng. Thế đất Dương.
a/. Nạp sa
_ Thế đất Dương là khởi thuận.
_ Cấn Long thuộc song sơn Cấn Dần , thuộc Tam hợp Hỏa cục ( Dần Ngọ Tuất )
_ Là Dương Hỏa cục nên khởi Trường sinh tại Dần =&gt; Mộc dục tại Giáp Mẹo , Quan đới tại Ất Thìn , Lâm Quan tại Tốn Tị , Đế Vượng tại Bính Ngọ , Suy tại Đinh Mùi.....Dưỡng tại Quý Sửu.
_ Các cung để Nạp Sa là  : Cấn , Dần , Ất , Thìn , Tốn , Tị , Bính , Ngọ.
 
b/. Thu thủy
_ Đinh Hướng thuộc song sơn Đinh Mùi , thuộc Tam hợp Mộc cục ( Hợi Mẹo Mùi )
_ Là Dương Mộc cục nên khời Trường sinh tại Càn Hợi =&gt; Mộc dục tại Nhâm Tý , Quan Đới tại Quý Sửu , Lâm Quan tại Cấn Dần , Đế Vượng tại Giáp Mẹo , Suy tại Ất Thìn....Dưỡng tại Tân Tuất.
_ Các cung để Thu Thủy là  : Càn , Hợi , Quý , Sữu , Cấn , Dần , Giáp , Mẹo.
 
c/. Nếu là khởi cho Dương Trạch :
_ Đinh Hướng thì tất là Quý Sơn.
_ Quý thuộc Song sơn Quý Sửu , thuộc Tam hợp Kim cục ( Tị Dậu Sửu )
_ Là Dương Kim cục nên khởi Trường Sinh tại Tốn Tị =&gt; Mộc dục tại Bính Ngọ , Quan Đới tại Đinh Mùi , Lâm Quan tại Khôn Thân , Đế Vượng tại Canh Dậu , Suy tại Tân Tuất....Dưỡng tại Ất Thìn.
 
Ví dụ 2  :  Ngôi mộ Tọa Canh Hướng Giáp . Thế đất Dương.
a/. Nạp sa :
_ Thế đất Dương nên đây là cục Dương , khởi thuận.
_ Tân thuộc song sơn Canh Dậu , thuộc Tam Hợp Kim cục ( Tị Dậu Sửu )
_ Là Dương Kim cục nên khởi Trường sinh tại Tốn Tị =&gt; Mộc dục tại Bính Ngọ , Quan Đới tại Đinh Mùi , Lâm Quan tại Khôn Thân , Đế Vượng tại Canh Dậu , Suy tại Tân Tuất....Dưỡng tại Ất Thìn.
_ các cung để Nạp Sa là  :  Tốn , Tị , Đinh , Mùi , Khôn , Thân , Canh , Dậu.
 
b/. Thu Thủy :
_ Giáp thuộc Song sơn Giáp Mẹo , thuộc Tam hợp Mộc cục ( Hợi Mẹo Mùi )
_ Là Dương Mộc cục nên khởi Trường sinh tại Càn Hợi =&gt; Mộc dục tại Nhâm Tý , Quan Đới tại Quý Sửu , Lâm Quan tại Cấn Dần , Đế Vượng tại Giáp Mẹo , Suy tại Ất Thìn....Dưỡng tại Tân Tuất.
_ Các cung để Thu Thủy là  :  Càn , Hợi , Quý , Sửu , Cấn , Dần , Giáp , Mẹo.
 
c/. Nếu khởi cho Dương Trạch :
_ Tọa Canh thuộc Song sơn Canh Dậu , thuộc Tam hợp Kim cục ( Tị Dậu Sửu )
_ Là Dương Kim cục nên khởi giống ở VD trên.
 
 
Ví dụ 3 : Ngôi mộ Tọa Tân Hướng Ất. Thế đất Âm.
a/. Nạp Sa :
_ Thế đất Âm nên khởi nghịch.
_ Tọa Tân thuộc song sơn Tân Tuất , thuộc Tam hợp Hỏa cục ( Dần Ngọ Tuất ).
_ Là Âm Hỏa cục nên khởi Trường Sinh tại Canh Dậu =&gt; Mộc dục tại Khôn Thân , Quan Đới tại Đinh Mùi , Lâm Quan tại Bính Ngọ , Đế Vượng tại Tốn Tị , Suy tại Ất Thín....Dưỡng tại Tân Tuất.
_ Các cung để Nạp Sa là  : Canh , Dậu , Đinh , Mùi , Bính , Ngọ , Tốn , Tị.
 
b/. Thu Thủy :
_ Hướng Ất thuộc Song sơn Ất Thìn , thuộc Tam hợp Thủy cục ( Thân Tý Thìn ).
_ Là Âm Thủy cục nên khởi Trường Sinh tại Giáp Mẹo =&gt; Mộc dục tại Cấn Dần , Quan Đới tại Quý Sửu , Lâm Quan tại Nhâm Tý , Đế Vượng tại Càn Hợi , Suy tại Tân Tuất....Dưỡng tại Ất Thìn.
_ Các cung để Thu Thủy là  : Giáp , Mẹo , Quý , Sửu , Nhâm , Tý , Càn , Hợi.
 
c/. Nếu là Dương Trạch  : 
_ Tọa Tân thuộc Song sơn Tân Tuất , thuộc Tam hợp Hỏa cục ( Dần Ngọ Tuất ).
_ Là Âm Hỏa cục nên khởi Trường Sinh tại Canh Dậu =&gt; Mộc dục tại Khôn Thân , Quan Đới tại Đinh Mùi , Lâm Quan tại Bính Ngọ , Đế Vướng tại Tốn Tị , Suy tại Ất Thìn....Dưỡng tại Tân Tuất.
 
***Lưu ý :
Đối với Dương Trạch , nếu nhà ở nông thôn , thì Sa , Thủy dùng như Sa , Thủy của Mộ phần Âm Trạch (Chân Sơn núi , đồi ; Chân thủy sông , rạch , suối ).
Nhưng ở khu đô thị thì sao ? Ở thánh phố , lấy các nhà cao tầng nhất trong khu đó , hay các khu gần đó làm Sa  ; lấy các giao lộ ngã 3-4-5 gần nhà làm Thủy.
Trong Lý thuyết thì chúng ta lấy từ Sơn ( Long ) , Hướng ra để chọn Nạp Sa , Thu Thủy , NHƯNG trong thực tế , thường những cái đó đã có trước , cho nên ta thường phải làm ngược lại. Tức là từ Sa , Thủy có sẵn đó , ta chọn Hướng phù hợp với Sa , Thủy đó =&gt; Nhìn thế đất Dương hay Âm trước , sau đó xác định Sa , Thủy đó rơi vào 4 cung Cát nào ( Trường Sinh , Quan Đới , Lâm Quan , Đế Vượng ) của CỤC nào , từ đó xác định Sơn Hướng
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-08 08:37:11nhim_con75>
D/ ĐẠI DU NIÊN và TIỂU DU NIÊN PHÁP :
Thông thường , mọi người chỉ biết phép biến Du niên theo lệ Đông Tây Trạch. Thật ra , đó chỉ là phép biến tương tự của Đại Du Niên thôi , còn phép biến Tiểu Du Niên còn được gọi là Tham Lang Quyết Pháp. Nay Nhím xin ghi rõ ra 2 cách biến này :

1) ĐẠI DU NIÊN :
Cách này vốn dĩ tương tự như phép biến thông thường. Có điều biến hào dưới cùng cho ra Du Niên Họa hại trước. Kế đến là biến hào giửa , cho ra Du Niên Thiên Y....Cụ thể 8 cung biến với nhau cho kết quả Du Niên lần lượt như sau :  Phục Vì , Họa Hại , Thiên Y , Diên Niên , Lục Sát , Sinh Khí , Ngũ Quỹ , Tuyệt Mệnh
_ Càn    : Càn , Tốn , Cấn , Khôn , Khảm , Đoài , Chấn , Ly.
_ Khảm  : Khảm , Đoài , Chấn , Ly , Càn , Tốn , Cấn , Khôn.
_ Cấn    : Cấn , Ly , Càn , Đoài , Chấn , Khôn , Khảm , Tốn.
_ Chấn  : Chấn , Khôn , Khảm , Tốn , Cấn , Ly , Càn , Đoài.
_ Tốn    : Tốn , Càn , Ly , Chấn , Đoài , Khảm , Khôn , Cấn.
_ Ly      : Ly , Cấn , Tốn , Khảm , Khôn , Chấn , Đoài , Càn.
_ Khôn   : Khôn , Chấn , Đoài , Càn , Ly , Cấn , Tốn , Khảm.
_ Đoài    : Đoài , Khảm , Khôn , Cấn , Tốn , Càn , Ly , Chấn.
 
Chúng ta thấy các cung biến với nhau vẫn cho ra kết quả Du Niên y vậy thôi , nhưng thứ tự biến hào của nó khác , nên thứ tự cũng khác lệ thường luôn.
Pháp Đại Du Niên này chọn 3 cung Cát : Sinh Khí , Diên Niên , Thiên Y để Khai Môn cho Dương Trạch.
Trên thực tế , khi áp dụng các pp Đại-Tiểu HKNH , nếu các sơn được chọn để Khai Môn trùng với các sơn thuộc Tam Cát Du Niên này thì càng tốt thêm.
 
2). TIỂU DU NIÊN
Pháp này lấy theo số Tiên Thiên : Càn 1 , Đoài 2 , Ly 3 , Chấn 4 , Tốn 5 , Khảm 6 , Cấn 7 , Khôn 8.
Ứng dụng của pháp này để Nạp Sa cho Âm Trạch , chọn Nội-Ngoại Khí Khẩu hoặc Nhị Môn trong Dương Trạch . Lần lượt các bước biến như sau :
_ Biến hào trên , là sao Tham Lang , làm cung Sinh Khí.
_ Biến hào giửa , là sao Cự Môn , làm cung Thiên Y.
_ Biến hào dưới , là sao Lộc Tồn , làm cung Họa Hại.
_ Biến hào giửa , là sao Văn Khúc , làm cung Lục Sát.
_ Biến hào trên , là sao Liêm Trinh , làm cung Ngũ Quỹ.
_ Biến hào giửa , là sao Vũ Khúc , làm cung Diên Niên.
_ Biến hào dưới , là sao Phá Quân , làm cung Tuyệt Mệnh.
 
VD như : Quẽ Càn tam liên ( 3 vạch liền ).
_ Biến lần 1 : đổi hào trên thành Đoài thượng khuyết. Vậy Càn Đoài là Sinh Khí , sao Tham Lang
_ Biến lần 2 : đổi tiếp hào giửa thành Chấn ngưỡng bồn. Vậy Càn Chấn là Thiên Y , sao Cự Môn.
_ Biến lần 3 : đổi tiếp hào dưới thành Khôn lục đoạn. Vậy Càn Khôn là Họa Hại , sao Lộc Tồn.
.......
 
Cụ thể các cung biến nhau được kết quả sau ( ghi theo thứ tự 7 bước biến bên trên ) :
_ Càn  : Đoài , Chấn , Khôn , Khảm , Tốn , Cấn , Ly
_ Khảm: Tốn , Cấn , Ly , Càn , Đoài , Chấn , Khôn.
_ Cấn  : Khôn, Khảm , Đoài , Chấn , Ly , Càn , Tốn.
_ Chấn: Ly ,Càn , Tốn , Cấn , Khôn , Khảm , Đoài.
_ Tốn  : Khảm , Khôn , Chấn , Đoài , Càn , Ly , Cấn.
_ Ly    : Chấn , Đoài , Khảm , Khôn , Cấn , Tốn , Càn.
_ Khôn: Cấn , Tốn , Càn , Ly , Chấn , Đoài , Khảm.
_ Đoài : Càn , Ly , Cấn , Tốn , Khảm , Khôn , Chấn.
 
Phương pháp Tiểu Du Niên này còn gọi là Tham Lang Quyết pháp , là cách khởi Tam Cát Môn ( Sinh Khí , Thiên Y , Diên Niên ) cực kỳ quan trọng trong PT Bát Trạch. Vì từ Tam CÁt Môn này , nạp giáp vào , ta sẽ có Lục Tú ; rồi nạp thêm quẻ Liêm Trinh ( Ngũ Quỹ ) và nạp giáp của nó , ta sẽ có Bát Quý. Cho nên , phép khởi Tham Lang Quyết này rất quan trọng đấy !!!
Cũng như trên thôi , ta cũng chọn 3 sao tốt , du niên tốt đó để Nạp Sa hay Dụng sự cho Dương Trạch. NHƯNG ở Đại Du Niên thì các Du Niên tốt , sao tốt này là do hỗ biến giửa các cung cùng nhóm Đông hoặc Tây Trạch. Trong khi đó , ở đây , các cung thuốc Tam Cát không còn phân biệt Đông -Tây nữa , tất cả qui về 1 mối. Đây mới chính là điểm khác biệt giửa người mới học Bát Trạch và người chuyên sâu về Bát Trạch vậy.
Pháp này lấy Sơn làm gốc để biến hào chọn Tam Cát Môn , không phải lấy Hướng.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-09 07:51:39nhim_con75>
Nhân tiện ở trên nói về Nạp Giáp và Lục Tú , Nhím xin nói luôn để các bạn tiện tham khảo ( phần Tam Cát và Nạp Giáp =&gt; Lục Tú này đã có lần SH p.m chỉ riêng cho bạn NP rùi đó ).
_ Càn nạp Giáp
_ Khảm nạp Quý (kiêm Thân , Thìn )
_ Cấn nạp Bính
_ Chấn nạp Canh ( kiêm Hợi , Mùi )
_ Tốn nạp Tân
_ Ly nạp Nhâm ( kiêm Dần , Tuất )
_ Khôn nạp Ất.
_ Đoài nạp Đinh ( kiêm Tị , Sửu ).
 
Phần Nạp Giáp này cộng thêm Tam Cát Môn ở trên ( của Tiểu Du Niên ) sẽ thành Lục Tú.
VD như : Càn sơn có Tam Cát Môn là Đoài Chấn Cấn . Nay thêm 3 cung Nạp Giáp vào thành ra Lục Tú : Đoài , Chấn , Cấn , Đinh , Canh , Bính.
             Khảm sơn có Tam Cát là Tốn Cấn Chấn.  Nay thêm Nạp Giáp vào sẽ có Lục Tú là  :  Tốn , Tân , Cấn , Bính , Chấn , Canh.
 
Bạn nào có xem được La Kinh sẽ thấy có tầng chỉ đề 8 chữ : Tham , Cự , Lộc , Văn , Liêm , Vũ , Phá , Phụ.  Đấy chính là chỉ từng sơn ta có Tam Cát Môn , Lục Tú ứng nơi sơn nào vậy. 8 chữ đó là lấy chữ đầu của 8 sao khi biến ra Du Niên mà ở trên Nhím đã ghi đấy.
 
Tương ứng với phép Nạp Giáp này , ta cũng có cách Thu Thủy , và lựa ngày giờ theo Nạp Giáp.
_ Như Ly nạp Nhâm , Dần , Tuất chẳng hạn. 
  Tọa hướng Ly , thấy Thủy ở Nhâm , Dần , Tuất là đắc cách.
   Hoặc tọa Nhâm , Dần , Tuất thấy Thủy ở Ly cũng đắc cách.
_ Như Chấn nạp Canh , Hợi , Mùi chẳng hạn.
  Tọa Chấn thấy Thủy ở Canh , Hợi , Mùi là đắc cách.
  Tọa Canh , Hợi , Mùi thấy Thủy ở Chấn cũng đắc cách.
........
Các cung khác cũng tương tự như vậy. Cách Nạp Thủy này , trong Bát Trạch gọi là Đại cục Mẫu tử nạp Thủy.
 
Cũng có khi chỉ sử dụng mỗi cung Nạp Giáp thuộc Bát Quái , không dùng cung kiêm , người ta gọi đó là Đại cục Quy nguyên Thủy
_ Chẳng hạn như Tốn Long thấy Tân Thủy , hay Tân Long thấy Tốn Thủy
_ Hay Đoài sơn thấy Đinh Thủy , và ngược lại.
...........
 
Còn phép lựa ngày theo Nạp Giáp chỉ là phụ trợ cho các cách tính ngày khác , nhưng Nhím cũng đưa ra đây cho các bạn tham khảo luôn
_ Nhà hay Mộ Hướng Đoài lựa các ngày Đinh , Tị , Sửu.
_ Nhà hay Mộ Hướng Khảm lựa các ngày Quý , Thân , Thìn
...........

 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Lựa ngày theo Nạp Giáp cũng tính cả theo biến Du Niên :
_ Nhà Hướng Càn , mà chọn ngày Giáp là được Phục Vì , chọn ngày Ất là được Diên Niên ( vì Càn Khôn là Diên Niên , mà Khôn Nạp Ất ) , chọn ngày Quý , Thân , Thìn là bị Lục Sát ( vì Càn Khảm là Lục Sát , mà Khảm nap Quý , Thân , Thìn )....
_ Nhà hướng Đoài , mà chọn các ngày Đinh , Tị , Sửu là được Phục Vì ; nếu chọn các ngày Giáp thì được Sinh Khí ( vì Càn Đoài là Sinh Khí , mà Càn nạp Giáp ) ; nếu chọn các ngày Ất thì được Thiên Y ( vì Đoài Khôn là Thiên Y , mà Khôn nạp Ất ).....
 
Tuy vậy , bên trong còn có những ngoại lệ , những trường hợp không nên dùng ( giống như dùng Mã mà SH đã nói trong phần xem ngày vậy , có tuổi nên dùng , có tuổi không nên dùng ). Cái này , là kinh nghiệm và sự ứng biến linh hoạt của người xem vậy.
 
E/. THÀNH MÔN NHỊ CUNG :
Trước nay , mọi người chỉ nghe nói thuật ngữ này trong phái Huyền Không , nhưng thật ra từ "Thành Môn" đã có từ lâu lắm rồi. Nó xuất phát từ cử ở 4 phương , 8 hướng ngày xưa của các thành trì. Cách đơn giản nhất để sử dụng Thành Môn là mở cửa thông khí ( ngoài ra , Thành Môn còn có thể là giao lộ , bến cảng , cột phát sóng , ao hồ đầm , ngã ba sông.....).
Có 2 Thành Môn :
_ Chính Thành Môn được gọi là Chính Cách hay Chính Mã.
_ Phụ Thành Môn còn gọi là Thiên Cách ( lệch cách ) hay Tá Mã (mượn ngựa).
Nguyên tắc chọn Thành Môn Chính dựa trên sự kết hợp của số Tiên Thiên mà ra. Lấy Hướng nhà làm chủ đạo. Quẽ đứng kề trước quẽ của Hướng  được chọn làm Thành Môn Chính. Quẽ đứng kề sau quẽ Hướng làm Thành Môn Phụ.
Ví dụ 1 :  Nhà Tọa Khảm Hướng Ly. Lấy Ly làm chính để tìm Thành Môn.
             Trước Ly là Tốn. Số của Ly là 9 , số của Tốn là 4. 4-9 tác hợp thành Kim Tiên Thiên. Nên Tốn là Chính Thành Môn.
             Sau Ly là Khôn , nên Khôn là Phụ Thành Môn.
 
Ví dụ 2 :  Nhà tọa Đoài Hướng Chấn. Lấy Chấn làm chính để tìm Thành Môn.
             Trước Chấn là Cấn. Số của Chấn là 3 , số của Cấn là 8 , 3-8 tác hợp thành Mộc Tiên Thiên. Nên Cấn là Chính Thành Môn.
             Sau Chấn là Tốn , nên Tốn là Phụ Thành Môn.
 
...................
Các Hướng khác cứ theo đây mà suy ra vậy.
 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-09 13:24:12nhim_con75>
Như trên kia đã nói , Ngũ Hành trong thuật PT có rất nhiều loại , nay Nhím xin đưa ra 1 nhóm Ngũ Hành nữa để các anh chị các bạn tham khảo.

F/. HỒNG PHẠM NGŨ HÀNH :
Trước đây , nhiều người cho rằng thuyết này do Cơ Tử , đời vua Vũ nhà Hạ soạn ra. Nhưng thực tế , khi giải thích cách biến đổi giửa các hào , lại dùng công thức Nạp Giáp , phương vị Bát Quái Hậu Thiên. Vậy thì không thích hợp , bởi khi ấy , các công thức này chưa có.
Huống chi ứng dụng của nó trong phép Mộ Long Hoán Tuế , sử dụng trong thuật Trạch Cát xem ngày giờ , cũng có sau này.
Cho nên , có thể nói Hỗn Thiên Ngũ Hành là do các Phong Thủy gia sau này viết ra vậy. Cụ thể như sau :

_ Giáp , Dần , Thìn , Tốn , Tuất , Khảm , Tân , Thân
  thuộc Thủy , Mộ khố tại Thìn.
_ Sửu , Quý , Khôn , Canh , Mùi
  thuộc Thổ , Mộ khố tại Thìn.
_ Ly , Nhâm , Bính , Ất
  thuộc Hỏa  , Mộ khố tại Tuất.
_ Cấn , Chấn , Tị
  thuộc Mộc , Mộ khố tại Mùi.
_ Càn , Hợi , Đoài , Đinh
  thuộc Kim , Mộ khố tại Sửu.

Nhím chỉ luận sơ qua về cách biến thui , các trường hợp tương tự các bạn suy ra nhé !
_ Giáp thuộc Mộc nạp vào Càn , Ất thuộc Âm Mộc nạp vào Khôn.
Càn và Khôn phối với nhau ( là 2 quẽ đối nhau trong Tiên Thiên Bát Quái ) , biến đổi 2 hào thượng và hạ =&gt; Càn hóa thành Khảm , Khôn hóa thành Ly.
Giáp theo Càn , mà nay Càn hóa Khảm , nên Giáp thuộc Thủy.
Ất theo Khôn , nay Khôn hóa Ly , nên Ất thuộc Hỏa.

_ Canh thuộc Dương Kim nạp vào quẽ Chấn , Tân thuộc Âm Kim nạp vào quẽ Tốn.
Chấn , Tốn phối nhau ( là 2 quẽ đối trong Tiên Thiên ) , biến đổi hào thượng của Tốn được quẽ Khảm , biến hào hạ của Chấn được Khôn.
Canh theo Chấn , mà Chấn hóa Khôn , nên Canh thuộc Thổ
Tân theo Tốn , nay Tốn hóa Khảm , nên Tân thuộc Thủy.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Phép Mộ Long Hoán Tuế SH có chỉ qua nhưng Nhím chưa vững lắm nên không dám ghi ra đây , e có ai hỏi mà...bí nù thì ngại nắm !
 
F/. HÀ ĐỒ TỨ ĐẠI CỤC :
Đây cũng là cách từ Thủy lưu đáo sơn gì mà chọn Hướng , đa phần dùng cho Âm Trạch. Nếu trong thiên nhiên mà đắc cách này là rất tuyệt vời , bởi nó là sự phối hợp cả Tiên Thiên và Hậu Thiên , không gì cát lợi hơn.
_ Mộc cục Thủy pháp :  Tọa Hướng Giáp thu Ất Thủy
                                 Tọa Hướng Ất thu Giáp Thủy
Hai loại này hợp cách "Thiên Địa định vị" , vì sao ? Giáp , Ất vốn thuộc cung Chấn , ở Hậu thiên cư Chính Đông.
Càn nạp Giáp , Khôn nạp Ất. Nay Giáp Ất phối cũng chính là Càn Khôn phối , nên mới gọi là hợp cách Thiên Địa định vị.
Thế đất gặp Thủy lai ở sơn Giáp , Ất mà Lập Hướng theo Mộc cục của hà Đồ là Đại Cát.
Cụ thể là   :  Thủy lai ở Giáp , lập mộ Tọa tân , Hướng Ất.
                  Thủy lai ở Ất , lập mộ Tọa Canh , Hướng Giáp.
 
_ Thủy cục Thủy pháp  :  Tọa Hướng Nhâm nạp Quý Thủy
                                   Tọa Hướng Quý nạp Nhâm Thủy
Hai loại này hợp cách " Thủy Hỏa ký tế ". Vì sao ? Nhâm Quý vốn thuộc cung Khảm , ở Hậu Thiên cư Chính Bắc.
Ly nạp Nhâm , Khảm nạp Quý , Nhâm Quý phối nhau tức Khảm Ly hợp nhau , nên mới gọi là Thủy Hỏa ký tế.
Cụ thể của cục này như sau : Thủy lai ở Nhâm , lập mộ Tọa Đinh , Hướng Quý.
                                         Thủy lai ở Quý , lập mộ Tọa Bính , Hướng Nhâm.
 
_ Kim cục Thủy pháp  :  Tọa Hướng Canh nạp Tân Thủy
                                 Tọa Hướng Tân nạp Canh Thủy
Hai cách này hợp với cách " Lôi Phong tương bạc ". vì sao ?
Canh Tân vốn thuộc cung Đoài , ở Hậu Thiên cư Chính Tây.
Chấn nạp Canh , Tốn nạp Tân , nay Canh tân phối nhau cũng chính là Chấn Tốn hợp với nhau , cho nên mới gọi là Lôi Phong tương bạc.
Cục này cụ thể như sau :  Thủy lưu đáo Tân , lập mộ Tọa Giáp , Hướng Canh.
                                    Thủy lưu đáo Canh , lập mộ Tọa Ất , Hướng Tân
 
 
_ Hỏa cục Thủy pháp  :  Tọa hướng Đinh , nạp Bính Thủy
                                  Tọa hướng Bính , nạp Đinh Thủy.
Hai cách này hợp với cách " Sơn Trạch thông khí ". Vì sao?
Bính Đinh vốn thuộc cung Ly , ở Hậu Thiên cư Chính Nam.
Cấn nạp Bính , Đoài nạp Đinh , nay Bính Đinh phối nhau , tức là Cấn Đoài hợp nhau , cho nên nói là Sơn Trạch thông khí.
Cụ thể của cục này là  :  Thủy lai ở Bính , lập mộ Tọa Quý , Hướng Đinh.
                                  Thủy lai ở Đinh , lập mộ Tọa Nhâm , Hướng Bính.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
G/. LẠC THƯ TỨ ĐẠI CỤC :
Đây cũng là cách Tiên Thiên , Hậu Thiên phối hợp nên rất tốt , và cách dụng cũng là từ Thủy lưu đến sơn nào mà xác định Hướng của Mộ phần.
 
1). Thủy cục Thủy pháp :
_ Tọa Khảm ( Quý , Thân , Thìn cũng vậy ) nạp Càn ( hay Giáp ) Thủy.
_ Tọa Càn ( hay Giáp ) nạp Thủy Khảm ( hay Thân , Thìn , Quý Thủy )
 
Ở đây ta lại thấy sử dụng công thức Nạp Giáp cho Bát Quái trên kia. Cho nên , các anh chị các bạn hãy lưu ý bảng Nạp Giáp đó , Nhím đã nói là nó rất quan trọng rồi đấy. Trong khoa Âm Trạch thì hầu như luôn luôn sử dụng Nạp Giáp cho Bát Quái.
Khảm ở Lạc Thư là số 1 , nạp Càn Thủy số của Lạc Thư là 6 , Mà trong Tiên Thiên , Thủy cục chính là 1-6.  Vậy Thủy cục của Hà đồ làm Thể , Khảm 1 và Càn 6 của Lạc thư làm Dụng. Một sự phối hợp tuyệt vời giửa Hà đồ và Lạc thư.
Mặt khác , các bạn có thể cũng nhận thấy  :  Ở Hậu Thiên , vị trí của Khảm là chính Bắc ; ở Tiên Thiên , vị trí của Càn cũng là chính Bắc. Vậy Khảm Càn phối nhau chính là sự hợp nhất của Tiên Hậu Bát Quái. 
Còn các sơn Thân , Quý , Thìn nạp Giáp theo Khảm , và Giáp nạp theo Càn , nên cũng có tác dụng tương tự như thế.
Thực tế  :  Khi gặp thế đất Thủy lưu đáo sơn Càn hay Giáp , ta có thể lập Mộ phần theo 1 trong các hướng Tý , Quý , Thân , Thìn.
                Khi gặp thế đất Thủy lưu đáo sơn Tý , hoặc , Quý , Thân , Thìn , ta có thể lập Mộ phần theo hướng Càn hoặc Giáp.
 
2). Mộc cục Thủy pháp :
_ Tọa Chấn ( hay Canh , Hợi , Mùi cũng vậy ) nạp Thủy Cấn ( hay Bính )
_ Tọa Cấn (hay Bính) nạp Thủy Chấn (hay Canh ,Hợi ,Mùi Thủy cũng vậy )
 
Ta thấy Chấn trong Lạc thư là số 3 , Cấn trong Lạc thư là số 8 ; mà 3-8 cũng là Mộc cục của Hà đồ. Vậy Hướng và Thủy của Chấn với Cấn phối với nhau chính là Thể của hà đồ , và Dụng của Lạc thư.
Mặt khác , trong Bát Quái Tiên Thiên , vị trí của Khảm chính là vị trí Đông Bắc của Cấn ở Hậu Thiên. Cho nên , đây cũng là cục Tiên Hậu Bát Quái phối hợp.
Thực tế :  Khi gặp thế đất Thủy lưu đáo sơn Cấn ( hay Bính ) , ta có thể lập Mộ phần theo 1 trong các Hướng Mẹo , Canh , Hợi , Mùi.
               Khi gặp thế đất Thủy lưu đáo 1 trong các sơn Mẹo , Canh , Hợi , Mùi , ta có thể lập Mộ phần theo Hướng Cấn hoặc Bính.
 
3). Kim cục Thủy pháp :
_ Tọa Tốn ( hoặc Tân ) nạp Thủy Ly ( hay Nhâm , Dần , Tuất Thủy cũng vậy ).
_ Tọa Ly ( hay Nhâm , Dần , Tuất cũng vậy ) nạp Thủy Tốn ( hay Tân Thủy).
 
Ly trong lạc thư là số 9 , Tốn trong lạc thư là số 4 , mà trong Hà đồ thì 4-9  là cục Kim . Vậy hướng Ly nạp Tốn thủy _ hướng Tốn nạp Ly thủy chính là cục Kim của Hà đồ làm Thể , Ly 9 Tốn 4 của Lạc thư làm Dụng.
Cục này không Cát bằng 2 cục ở trên.
Thực tế :  Khi gặp thế đất có Thủy lưu đáo 1 trong các sơn Ngọ , Nhâm , Dần , Tuất , ta có thể lập hướng Mộ phần là Tốn ( hoặc Tân ).
               Khi gặp thế đất có Thủy lưu đáo sơn Tốn ( hoặc Tân ) , ta có thể lập Mộ phần theo 1 trong các hướng Ngọ , Nhâm , Dần , Tuất .
 
4). Hỏa cục Thủy pháp :
_ Tọa Khôn ( hay Ất cũng vậy ) nạp Thủy Đoài ( hay Đinh , Tị , Sửu , Thủy ).
_ Tọa Đoài ( hay Đinh , Tị , Sửu cũng vậy ) nạp Thủy Khôn ( hay Ất Thủy ).
 
Khôn ở Lạc Thư là số 2 , Đoài ở Lạc thư là số 7 ; ở hà đồ 2-7 là Hỏa cục. Vậy , Hướng và Thủy của Khôn phối với Đoài có thể nói là Hỏa cục của Hà đồ làm Thể , Khôn 2 Đoài 7 của Lạc thư làm Dụng.
Cục này cũng như cục Kim bên trên , không Cát bằng 2 cục đầu.
Thực tế :  Khi gặp thế đất có Thủy lưu đáo sơn Khôn ( hoặc Ất ) , ta có thể lập Mộ phần 1 trong các Hướng Dậu , Đinh , Tị , Sửu.
               Khi gặp thế đất có Thủy lưu đáo 1 trong các sơn Dậu , Đinh , Tị , Sửu , ta có thể lập Mộ phần theo Hướng Khôn hoặc Ất.
 
 
*** Hai cục Thủy và Mộc ngoài được sự phối hợp Hà đố - Lạc thư , còn là sự phối hợp của Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái , nên rất tốt.
      Hai cục Kim và Hỏa chỉ là sự phối hợp của Đồ-Thư , không Cát bằng , vì có sự tạp loạn.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Kính gửi Nhim_com75 !
 
Mình đang theo dõi và đọc các bài bát trạch chuyên sâu. Rất hay và hữu ích, dù chưa hiểu mấy xong cũng lý giải được nhiều điều ví dụ khi đọc các bài các anh chị tư vấn.
 
Nhim chi cho biết người ta xác định hướng Lăng, hướng mộ là hướng đầu, hay huớng đặt bia?
 
Ở quê mình người ta đặt bia ở đầu quay mặt bia về phía chân, nhiều nơi đặt bia ở dưới chân quay mặt bia ra ngoài.
 
Cảm ơn Nhim_con75 nhiều !
Đăng nhập để trả lời
0
Nhím học theo SH nên tính Tọa Hướng của Mộ phần theo người Hoa. Tức là Tọa là nơi đầu người mất , Hướng là chân ngưới mất. Theo người Hoa , khi táng , mộ bia luôn đặt dưới chân người mất , nên rất dễ thấy rõ đâu là Tọa , đâu là Hướng. Còn theo người Việt , thường thì chôn đầu ngay nơi đặt mộ bia. Tùy theo gia chủ chôn theo người Việt hay người Hoa mà mình chọn Tọa và Hướng của Mộ thôi , đừng chọn theo mộ bia mà lầm đó.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
Tất cả những kiến thức Nhím đăng trên đây , cả nhóm đi theo SH ( huynh vanti67 , huynh cumusic , Tím..bầm , hungvan40 ) ai cũng biết cả , kể cả phần về phái Bát Sơn. Hôm nay , Nhím muốn gửi đến các bạn 1 trường phái PT theo Quẽ Dịch. Kiến thức này trong nhóm chỉ mình Nhím có ( chắc tại...Nhím thông minh hơn nên được truyền nhiều hơn quá [8D][8D][8D] ) , nên Nhím có hỏi ý kiến SH trước khi đăng , được SH giao toàn quyền quyết định , nên Nhím xin chia xẻ với các bạn trường phái này.
 
                                          PHONG THỦY QUÁI DỊCH
 
1). Nguồn gốc và nguyên tắc
Vốn dĩ khi chúng ta nghiên cứu PT , ai cũng biết nó dựa trên nguyên lý Âm Dương , Ngũ Hành , Bát Quái và không ra ngoài Ý của Dịch.
Theo sử sách ghi lại có tới 9 loại Dịch , gọi là Cửu Dịch , nhưng theo thời gian đã thất truyền , chỉ còn lại 3 loại Dịch hiện nay đang sử dụng , đó là Liên Hoa Dịch , Quy Tàng Dịch và Kinh Dịch. Mà Liên Hoa Dịch và Quy Tàng Dịch là nội dung chính trong cuốn Thái Ất Thần Kinh ( do dòng họ Lương Nhữ Hốt người Hoa gốc Việt soạn ra theo tài liệu cổ, sau truyền lại cho Lương Đắc Bằng , và cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là được truyền lại từ Lương Đắc Bằng ). Muốn nghiên cứu tài liệu này , phải có sự thông hiểu Kỳ Môn Độn Giáp mới nghiên cứu nổi , vì lời văn trong sách này rất cao sâu , thâm thúy.
Nguyên tắc của Kinh Dịch là lấy Quái đơn xếp chồng lên Quái đơn tạo thành quẽ kép. Quẽ trên là quẽ Ngoại , hay còn gọi là Quẽ Thượng. Quẽ dưới gọi là quẽ Nội , còn gọi là Quẽ Hạ.
Trong PT , nếu theo Âm trạch thì lấy Long và Thủy Hướng , 2 điểm chính để lập quẽ ; theo Dương Trạch thì lấy Tọa và Hướng , 2 điểm chính để lập quẽ. Và Long ( hay Tọa ) được chọn làm quẽ nội ( tức quẽ Hạ ) , Thủy ( hay Hướng ) làm quẽ Ngoại ( tức quẽ Thượng ).
Ví dụ như : Mộ có Càn Long , Thủy lưu đáo Tốn.
                Càn vi Trạch làm quẽ Hạ , Tốn vi Phong làm quẽ Thượng.
                Vậy Mộ này xác lập quẽ : Phong Trạch Trung Phu.
Mỗi quẽ đơn có 3 hào , nên khi chồng quẽ lên có 6 hào. Số hào được đếm từ dưới lên trên , và từng hào có tên riêng của nó như sau :
_ Hào 1 : Là hào dưới cùng , gọi là Hào Sơ , nếu hào này là Hào Dương thì gọi là Sơ Cửu , nếu hào này là Âm thì gọi là Sơ Lục.
_ Hào 2 : Là hào giửa của quẽ Hạ , gọi là Hào Nhị , nếu hào này là hào Dương thì gọi là Cửu Nhị , nếu hào này là hào Âm thì gọi là Lục Nhị.
_ Hào 3 : Là hào trên cùng của quẽ Hạ , gọi là Hào Tam , nếu hào này là hào Dương thì gọi là Cửu Tam , nếu hào này là hào Âm thì gọi là Lục Tam.
_ Hào 4 : Là hào dưới cùng của quẽ Thượng , gọi là Hào Tứ , nếu hào này là hào Dương thì gọi là Cửu Tứ , nếu hào này là hào Âm thì gọi là Lục Tứ.
_ Hào 5 : Là hào giửa của quẽ Thượng , gọi là Hào Ngũ , nếu hào này là Dương thì gọi là Cửu Ngũ , nếu hào này là hào Âm thì gọi là Lục Ngũ.
_ Hào 6 : Là hào trên cùng của quẽ Thượng , gọi là Hào Lục , nếu hào này là hào Dương thì gọi là Thượng Cửu , nếu hào này là hào Âm thì gọi là Thượng Lục.
 
Hào Dương là vạch liền __ , Hào Âm là vạch đứt nối --
Người ta sử dụng chữ Cửu để ám chỉ Hào Dương , chữ Lục để ám chỉ Hào Âm. Đấy là trên nguyên tắc Âm Dương , 9 là số lẽ là Dương , 6 là số chẵn là Âm.
 
2). Tên và Ý nghĩa cơ bản của 64 quẽ Dịch :  Đây chỉ là ý nghĩa cơ bản theo Dịch Số PT , chứ chưa phải Ý Nghĩa theo Dịch Lý. Nó chỉ có ý nghĩa gói gọn trong trường phái này thôi , cho nên chết nghĩa , mới là Dịch Số ; chỉ khi thoáng ý mới là Dịch Lý.
_ Bát thuần Càn ( trên Càn , dưới Càn ) :
   Mạnh tốt , cứng cáp , kiêu sa.
_ Thiên Phong Cấu (trên Càn , dưới Tốn ) :
   Gặp gỡ , coi chừng hạng con gái hư hỏng , lăng loàn.
_ Thiên Sơn Độn ( trên Càn , dưới Cấn ) :
   Trốn tránh thì hanh thông , không nên lộ diện.
_ Thiên Địa Bĩ ( trên Càn , dưới Khôn ) :
   Thời vận không hợp , rất xấu , đang bị suy sụp.
_ Phong Địa Quán ( trên Tốn , dưới Khôn ) :
   Đã có tiếng tăm không nên khoe khoang , nên giữ điều chính đáng.
_ Sơn Địa Bác ( trên cấn , dưới Khôn ) :
   Đến thời suy , hãy ngưng việc , tiến tới sẽ thất bại.
_ Hỏa Địa Tấn ( trên Ly , dưới Khôn ) :
   Làm việc lớn sẽ có lợi lớn , được đón tiếp nồng hậu.
_ Hỏa Thiên Đại Hữu ( trên Ly , dưới Càn ) :
   Vận lớn đã tới , rất hanh thông Cát tường.
8 quẽ trên đây đều thuộc cung CÀN , thuộc Kim.
 
 
_ Bát thuần Đoài ( trên Đoài , dưới Đoài ) :
   Được vui vẻ , thông cảm lẫn nhau.
_ Trạch Thủy Khốn ( trên Đoài , dưới Khảm ) :
   Thời vận đang xấu , không nên làm việc gì.
_ Trạch Địa Tụy ( trên Đoài , dưới Khôn ) :
   Nhóm họp , dâng quà biếu lên người trên thì tốt.
_ Trạch Sơn Hàm ( trên Đoài , dưới Cấn ) :
   Yêu đương , chuyện tình cảm , thứ nữ có lợi.
_ Thủy Sơn Kiển ( trên Khảm , dưới Cấn ) :
   Hướng Tây nam có lợi , hướng Đông Bắc thì hao tổn.
_ Địa Sơn Khiêm ( trên Khôn , dưới Cấn ) :
   Nên khiêm tốn , nhún nhường ắt được việc tốt.
_ Lôi Sơn Tiểu Quá ( trên Chấn , dưới Cấn ) :
   Chỉ nên làm những việc nhỏ thôi , không nên làm những việc lớn.
_ Lôi Trạch Qui Muội ( trên Chấn , dưới Đoài ) :
   Như con gái về nhà chồng , phải nhẫn nhịn , nép mình.
8 quẽ này thuộc cung Đoài , thuộc Kim.
 
 
_ Bát thuần Ly ( trên Ly , dưới Ly ) :
   Chính đáng , nuôi trâu bò súc vật thì tốt.
_ Hỏa Sơn Lữ ( trên Ly , dưới Cấn ) :
   Mất gốc , phải xa nhà , nên tùy thời mà ứng biến
_ Hỏa Phong Đỉnh ( trên Ly , dưới Tốn ) :
   Phục vụ cho mọi người , việc gì cũng tốt.
_ Hỏa Thủy Vị tế ( trên Ly , dưới Khảm ) :
  Thời xấu , không nên làm việc gì.
_ Sơn Thủy Mông ( trên Cấn , dưới Khảm ) :
   Chưa sáng sủa , chưa thành đạt , còn non nớt.
_ Phong Thủy Hoán ( trên Tốn , dưới Khảm ) :
   Lìa tan , chia ly , có níu kéo cũng chẳng được gì.
_ Thiên Thủy Tụng ( trên Càn , dưới Khảm ) :
   Bị kiện cáo , hãy nhờ người minh oan , không nên kiện cáo người.
_ Thiên Hỏa Đồng Nhân ( trên Càn , dưới Ly ) :
   Thời vận hanh thông , nên kết hợp làm ăn , thuận lợi cát tường
8 quẽ này thuộc cung Ly , thuộc Hỏa.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
_ Bát thuần Chấn ( trên Chấn , dưới Chấn) :
   Có những sự việc bất ngờ tới , hãy vững tâm , sau sẽ rất tốt.
_ Lôi Địa Dự ( trên Chấn , dưới Khôn ) :
   Nên khởi công làm việc , rất tốt.
_ Lôi Thủy Giải ( trên Chấn , dưới Khảm ) :
   Đi về phía Tây Nam thì có lợi , không nên khuếch trương hãy giử yên như cũ , đừng đa sự , làm việc phải thật nhanh , chậm trễ thì hỏng.
_ Lôi Phong Hằng ( trên Chấn , dưới Tốn ) :
   Cưới hỏi rất tốt , lập gia đình vững bền , cát tường.
_ Địa Phong Thăng ( trên Khôn , dưới Tốn ) :
   Thời vận đang hướng lên, cứ tận dụng.
_ Thủy Phong Tĩnh ( trên Khảm , dưới Tốn ) :
   Thời mạt vận , có nhiều người quấy nhiễu , hãy vững tâm sẽ vượt qua được.
_ Trạch Phong Đại Quá ( trên Đoài , dưới Tốn ) :
   Căn bản không vững vàng , coi chừng sụp đổ , có việc xấu.
_ Trạch Lôi Tùy ( trên Đoài , dưới Chấn ) :
   Làm việc chính đáng tốt sẽ có nhiều người theo.
8 quẽ trên đây đều thuộc cung Chấn , thuộc Mộc.
 
 
_ Bát thuần Tốn ( trên Tốn , dưới Tốn ) :
   Hanh thông nhỏ , tiến hành chầm chậm , nên theo người hay.
_ Phong Thiên Tiểu Súc ( trên Tốn , dưới Càn ) :
   Bị ngăn cản nhỏ , đang gặp khó khăn , nhưng tự thân vẫn bình an.
_ Phong Hỏa Gia Nhân ( trên Tốn , dưới Ly ) :
   Đàn bà chính đáng thì có lợi , đàn ông nên nhún nhường.
_ Phong Lôi Ích ( trên Tốn , dưới Chấn ) :
   Đi làm rất có lợi , nên tiến lên làm việc.
_ Thiên Lôi Vô Vọng ( trên Càn , dưới Chấn ) :
   Hành động chính đáng thì tốt , làm điều mờ ám sẽ nguy hại.
_ Hỏa Lôi Phệ Hạp ( trên Ly , dưới Chấn ) :
   Phải cương mãnh , dụng luật thật nghiêm.
_ Sơn Lôi Di ( trên Cấn , dưới Chấn ) :
   Nuôi nấng , tự mình quật cường đi lên sẽ tốt.
_ Sơn Phong Cổ ( trên Cấn , dưới Tốn ) :
   Sụp đổ thất bại , hãy cẩn thận trước , sau gầy dựng sẽ thành công , nên tự lực không nên nương nhờ vào ai.
8 quẽ trên đây đều thuộc cung Tốn , thuộc Mộc.
 
 
_ Bát thuần Khảm ( trên Khảm , dưới Khảm ) :
   Hoàn cảnh xung quanh rất bất lợi , hãy vững tâm.
_ Thủy Trạch Tiết ( trên Khảm , dưới Đoài ) :
   Kềm hãm vừa phải thì được , không nên khắt khe quá.
_ Thủy Lôi Truân ( trên Khảm , dưới Chấn ) :
   Non nớt , mới sinh , khó khăn.
_ Thủy Hỏa Ký tế ( trên Khảm , dưới Ly ) :
   Mọi việc đã thành tựu , tuy vậy cũng nên đề phòng có việc xấu sẽ xảy đến.
_ Trạch Hỏa Cách ( trên Đoài , dưới Ly ) :
   Hãy vững bền chờ đợi , thời gian hơi có chuyển hướng tốt.
_ Lôi Hỏa Phong ( trên Chấn , dưới Ly ) :
   Vận lớn đang tới , nên khuếch trương làm việc.
_ Địa Hỏa Minh Di ( trên Khôn , dưới Ly ) :
   Tối tăm , kẻ gian tà có lợi , người quân tử nên cẩn thận.
_ Địa Thủy Sư ( trên Khôn , dưới Khảm ) :
   Cộng tác làm việc phải chính đáng , nên xét rõ người.
8 quẽ trên đây đều thuộc cung Khảm , thuộc Thủy.
 
 
_ Bát thuần Cấn ( trên Cấn , dưới Cấn ) :
  Mọi việc bị ngưng trệ , hãy chờ thời cơ.
_ Sơn Hỏa Bí ( trên Cấn , dưới Ly ) :
  Trang sức , nên tỏ vẻ bề ngoài có lợi nhỏ.
_ Sơn Thiên Đại Súc ( trên Cấn , dưới Càn ) :
   Làm điều chính đáng sẽ cát lợi.
_ Sơn Trạch Tổn ( trên Cấn , dưới Đoài ) :
   Hãy giảm bớt thì tốt , làm ăn có hiện tượng thua lỗ.
_ Hỏa Trạch Khuể ( trên Ly , dưới Đoài ) :
   Chuyện nhỏ thì tốt , không nên làm chuyện lớn.
_ Thiên Trạch Lý ( trên Càn , dưới Đoài ) :
   Nên nhu thuận với mọi người , gặp việc khó cũng thành công.
_ Phong Trạch Trung Phu ( trên Tốn , dưới Đoài ) :
   Hãy giử vững đức tin , cẩn thận , có chuyện xấu.
_ Phong Sơn Tiệm ( trên Tốn , dưới Cấn ) :
   Có tiến bộ , lợi với nữ nhi.
8 quẽ trên đây đều thuộc cung Cấn , thuộc Thổ.
 
 
_ Bát thuần Khôn ( trên Khôn , dưới Khôn ) :
   Nhu thuận , có đến đầy , nên nhờ người.
_ Địa Lôi Phục ( trên Khôn , dưới Chấn ) :
   Thời vận đang tới , sẽ có bạn bè rất tốt.
_ Địa Trạch Lâm ( trên Khôn , dưới Đoài ) :
   Công việc thịnh đạt , đến tháng 8 sẽ xấu , hãy coi chừng.
_ Địa Thiên Thái ( trên Khôn , dưới Càn ) :
   Hanh thông , việc lớn thành công , cát.
_ Lôi Thiên Đại Tráng ( trên Chấn , dưới Càn ) :
   Lớn mạnh , theo điều chính đáng rất tốt.
_ Trạch Thiên Quải ( trên Đoài , dưới Càn ) :
   Sẽ có sự xung đột này sinh , hãy cứng rắn nhưng không nên dùng vũ lực mà phải tế nhị xử sự.
_ Thủy Thiên Nhu ( trên Khảm , dưới Càn ) :
   Không thể tiến lên được , hãy chờ đợi , đang gặp khó khăn.
_ Thủy Địa Tỷ ( trên Khảm , dưới Khôn ) :
   Giúp đỡ nhau , họp bạn cần những người tới trước , những người tới sau hãy dè chừng , nên cẩn thận những người tới sau.
8 quẽ trên đây đều thuộc quẽ Khôn.
 
Sở dĩ Nhím tách riêng từng Nhóm quẽ thuộc Quẽ chủ thể , là vì giai đoạn sau , khi chúng ta lập ra 6 hào , sẽ phân Ngũ Hành cho từng hào theo hào Huynh đệ ( trong Lục Thân : Huynh đệ , Tử tôn , Phụ Mẫu , Quan Quỹ , Thê Tài ) , mà Ngũ hành của hào Huynh đệ lại tương ứng với Ngũ Hành của quẽ chủ thể.
Khi đã có đủ Ngũ Hành cho Lục Thân của các hào rồi , chúng ta sẽ xem xét vấn đề ngôi nhà , ngôi mộ đó khuyết gì trong Lục Thân , cần kích hoạt ở phương vị nào để kích hoạt với Luc thân tương ứng. Phần này , Nhím sẽ nói cụ thể ở các phần sau.
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-14 14:45:09nhim_con75>
3). Nạp Chi và Lục Thân cho quẽ Bát Quái :
Khi đã xác định được quẽ Bát Quái kép từ Long ( Tọa ) và Hướng , ta tiến hành bước tiếp theo là xác định quẽ kép này thuộc nhóm quẽ ở cung nào. Đó là phần Nhím vừa nói ở trên đấy.
Kế tiếp là chúng ta nạp Chi và Lục Thân cho quẽ. Bước này rất quan trọng , vì chỉ cần sai 1 Chi là khi kích hoạt cung sẽ sai trầm trọng liền.
_ Nạp Chi :  Tất cả thứ tự Địa Chi của từng quẽ sau đây là Nhím tính từ dưới lên. Ví dụ như ở quẽ nội Càn , Nhím ghi là Tý , Dần , Thìn. Tức là hào Sơ nạp Tý , hào Nhị nạp Dần , hào Tam nạp Thìn. Còn ở quẽ ngoại Càn , Nhím ghi là Ngọ , Thân , Tuất.  Tức là hào Tứ nạp Ngọ , hào Ngũ nạp Thân , hào Thượng nạp Tuất.  Các bạn đừng quên nha.
Quẽ nội của Càn     :  Tý thủy , Dần mộc , Thìn thổ.
                 Khảm   :  Dần mộc , Thìn thổ , Ngọ hỏa
                 Cấn     :  Thìn thổ , Ngọ hỏa , Thân kim
                 Chấn   :  Tý thủy , Dần mộc , Thìn thổ
                 Tốn     :  Sửu thổ , Hợi thủy , Dậu kim
                 Ly       :  Mẹo mộc , Sửu thổ , Hợi thủy
                 Khôn    :  Mùi thổ , Tị hỏa , Mẹo mộc
                 Đoài    :  Tị hỏa , Mẹo mộc , Sửu thổ
 
 
Quẽ ngoại của Càn  :  Ngọ hỏa , Thân kim , Tuất Thổ
                    Khảm:  Thân kim , Tuất thổ , Tý thủy
                    Cấn  :  Tuất thổ , Tý thủy , Dần mộc
                    Chấn:   Ngọ hỏa , Thân kim , Tuất thổ
                    Tốn  :  Mùi thổ , Tị hỏa , Mẹo mộc
                    Ly    :  Dậu kim , Mùi thổ , Tị hỏa
                    Khôn :  Sửu thổ , Hợi thủy , Dậu kim
                    Đoài  :  Hợi thủy , Dậu kim , Mùi thổ
Việc phân bổ Địa chi theo Ngũ hành chắc ai cũng đã biết Hợi Tý thủy , Dần Mẹo mộc....nên Nhím không nhắc lại ở đây làm gì.
 
_ Nạp Lục Thân  :   Như trên kia đã nói , Lục Thân chính là thể hiện những mối quan hệ xung quanh chúng ta.
  Ngang hàng chúng ta tức là anh em ta ( Huynh đệ )
  Sinh ra chúng ta là cha mẹ ta ( Phụ mẫu )
  Ta sinh ra chính là con cháu ( Tử tôn )
  Ta khắc chính là vợ , là của cải ( Thê tài )
  Khắc ta chính là chồng , là công danh sự nghiệp ( Quan quỹ )
 
Vậy làm thế nào để biết là ngang bằng , là sinh ta , là ta sinh....? 
Bây giờ chúng ta mới quay lại phần trên , xem quẽ chúng ta lập ra được là quẽ gì ? Nhất là nó thuộc cung gì ? và cung đó thuộc Ngũ hành gì ?
Lấy Ngũ hành đó làm mốc xác định.  Chúng ta đem so các Ngũ hành của từng hào so với Ngũ hành đó , xem nó sinh khắc thế nào sẽ biết hào nào là Quan quỹ , hào nào là Thê tài...
Nói vậy chắc khó biết , để Nhím làm thừ 1 ví dụ cho các bạn xem sẽ dễ hiểu hơn.
 
Ví dụ  :  Ta xác lập được quẽ Thiên Phong Cấu cho nhà mình đi.
Trước tiên , ta xem từng quẽ đơn  : quẽ Nội là Tốn , quẽ Ngoại là Càn.
Ta so với ở trên , để nạp Chi vào 6 hào  , sẽ có kết quả :
hào thượng : Tuất thổ
hào ngũ     : Thân kim
hào tứ       : Ngọ hỏa            
hào tam     : Dậu kim
hào nhị      :  Hợi thủy
hào sơ       :  Sửu thổ.
 
Nếu chưa quen thì các bạn có thể tách riêng từng quẽ Nội , Ngoại ra mà nạp Chi , sau đó chồng quẽ lên lại , cũng cho ra kết quả như trên thôi.
Bước kế tiếp ta tìm xem quẽ Thên Phong Cấu thuộc cung gì , sẽ thấy nó thuộc cung Càn , thuộc Kim.
Vậy ngang với chúng ta phải là Kim , tức là Huynh đệ thuộc Kim.  Sanh ra Kim là Thổ , vậy Phụ mẫu là Thổ .  Kim sanh ra Thủy , vậy Thủy chính là Tử tôn .  Cái khắc Kim chính là Hỏa , vậy Quan quỹ là Hỏa .  Cái KIm khắc chính là Mộc , vậy Thê tài chính là Mộc.
Khi đã xác định được Ngũ Hành của Lục Thân , ta đem so vào các Chi trong quẽ.  Và áp Ngũ hành tương ứng với nhau , ta sẽ biết Lục Thân của từng hào.   Cụ thể của ví dụ trên sẽ là :
 
hào thượng  :  Phụ mẫu Tuất thổ
hào ngũ      :   Huynh đệ Thân kim
hào tứ        :   Quan quỹ Ngọ Hỏa
hào tam      :   Huynh đệ Dậu kim
hào nhị       :   Tử tôn Hợi thủy
hào sơ        :   Phụ mẫu Sửu thổ.
 
Sau khi đã xác định được Luc Thân , ta xét tiếp Ngũ hành của quẽ , và so nó với Ngũ Hành của từng hào , tìm hào sinh vương , suy trong các hào.
 
Đối với thế giới này, anh chỉ là một ai đó...
Nhưng với một ai đó, anh lại là cả thế giới này!
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 2 3 4 5 6 » »»