Thơ phổ nhạc, đôi điều suy nghĩ
Nguyễn Đình San
Để tạo nên một bài hát, có khi người nhạc sĩ làm luôn lời ca, có khi tìm đến thơ để phổ nhạc. Trong kho tàng ca khúc Việt Nam hiện đại, số lượng những bài phổ thơ chiếm tỉ lệ đáng kể. Cần phân biệt: Nhạc sĩ phổ thơ và cùng với nhà thơ tạo nên phần lời ca là hai việc khác nhau. Phổ thơ là từ một bài thơ nguyên bản của nhà thơ đã có sẵn, nhạc sĩ phổ nhạc. Còn việc sau là nhạc sĩ bàn với nhà thơ phác thảo phần lời ca rồi dựa vào đó tạo nên bài hát hoặc làm giai điệu trước rồi mời nhà thơ “lắp ghép” lời ca vào.
Trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về việc thứ nhất: Phổ thơ. Nghiên cứu lại tất cả những bài hát phổ thơ đặc sắc được công chúng ưa thích trong suốt mấy chục năm qua, thấy rõ một điều: Đó không phải là những bài thơ hay ở mức đặc biệt xét về phương diện thơ. Nói cách khác, những bài thơ ấy nếu đứng độc lập, ít người coi là hay. Và người ta đã rất ít biết đến bài thơ trước khi được phổ nhạc. Bản thân các nhà thơ được phổ nhạc nhiều chắc cũng tự biết điều đó. Nhiều thế hệ công chúng đã rất ưa thích và truyền tụng những: Bộ đội về làng (Lê Yên phổ thơ Hoàng Trung Thông), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi phổ thơ Huyền Tâm), Anh vẫn hành quân (Huy Du phổ thơ Trần Hữu Thung), Đường chúng ta đi (Huy Du phổ thơ Xuân Sách), Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp phổ thơ Anh Ngọc), Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp phổ thơ Đằng Giao), Bước chân trên dải Trường Sơn (Vũ Trọng Hối phổ thơ Đăng Thục), Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, phổ thơ Lữ Giang), Đôi dép Bác Hồ (Văn An phổ thơ Tạ Hữu Yên), Đợi (Huy Thục phổ thơ Vũ Quần Phương) v.v… Con số có thể sẽ là nhiều trăm bài, không thể kể hết. Tất cả những trường hợp trên đều là nhạc sĩ phổ nhạc từ bài thơ đã có sẵn (ở nước ta, cách làm này là phổ biến chứ hiếm khi ngược lại: Sáng tác giai điệu trước rồi mời nhà thơ làm lời như ở nhiều nước trên thế giới). Trước khi xuất hiện những bài hát trên, người ta đã không hoặc ít biết đến những bài thơ cùng tên. Những nhà thơ vừa kể (và rất nhiều nhà thơ khác) không phải là không có thơ hay, nhưng là những bài thơ không trở thành bài hát, chứ không phải những bài thơ được phổ nhạc.
Ngược lại, có nhiều bài thơ nổi tiếng được đông đảo công chúng ưa thích nhưng người ta lại không hề nhớ được bài hát mặc dù đã được những nhạc sĩ cũng nổi tiếng phổ nhạc. Có thể dẫn ra một số trường hợp tiêu biểu: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Hồ Bắc phổ nhạc), Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ (Huy Thục phổ nhạc), Đợi anh về của Xi-mô-nốp (Vân Đông phổ nhạc). Chiếc áo xanh của Tố Hữu là một bài thơ hay được rất nhiều người ưa thích, được ba nhạc sĩ nổi tiếng cùng phổ nhạc là Đỗ Nhuận, Hoàng Vân, Lương Ngọc Trác nhưng cả ba bài hát đều không mấy đặc sắc, không lưu lại được bài nào trong trí nhớ người nghe. Những bài thơ hay như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Quê hương của Giang Nam, Núi đôi của Vũ Cao, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, Bói hoa của Đoàn Lê, tôi cũng đều đã được nghe khi chuyển thành bài hát. Nhưng tôi đã chẳng thể nhớ được tên người phổ nhạc.
Tất nhiên, qua hiện tượng trên sẽ chẳng có ai ngây ngô để nghĩ rằng: Vậy thì những bài thơ bình thường hoặc dở sẽ dễ thành bài hát hay và ngược lại, khi phổ thơ, cứ bài hát mà không hay có nghĩa là hình thành từ bài thơ đặc sắc (!). Vấn đề hoàn toàn ở lao động sáng tạo của nhạc sĩ - một thứ sáng tạo lần thứ hai khi phổ thơ. Và cần truy tìm nguyên nhân vì sao có hiện tượng như đã nói? Đã là một bài thơ hay dĩ nhiên là phải hội được khá đầy đủ những yếu tố cần thiết: ý tứ sâu sắc, độc đáo, nhiều khi là mới lạ; kết cấu chặt chẽ, hợp lý, khó có thể cắt bỏ câu, chữ nào; cách gieo vần, tạo nhịp điệu phù hợp với ý tứ; từ ngữ được tìm tòi ở mức đắt nhất với hàm lượng thông tin nhiều nhất v.v… Tóm lại, bài thơ được coi là hay khi nó đã khá hoàn chỉnh mọi yếu tố cấu thành như đã nói. Và hẳn nhiên là khi xuất hiện, nó phải gây được ấn tượng, tạo mĩ cảm tối đa cho người thưởng thức. Nhưng khi chuyển thành bài hát, nhạc sĩ bắt buộc phải tổ chức lại lời lẽ trong một kết cấu, khúc thức nhất định. Điều này đặt ra việc không thể bê nguyên xi lời thơ sang bài hát mà phải cắt xén, có khi lại cần thêm vào, lúc lại phải đảo thứ tự các khổ thơ. Rất nhiều khi để cho bài hát hoàn chỉnh thì bài thơ đã không còn hình hài cũ. Như vậy thì không thể gọi là phổ thơ, mà chỉ có thể gọi là phỏng thơ, tức là thơ hay thì chẳng nên phổ mà chỉ nên phỏng là cùng. Nhưng thường thì khi có được bài thơ hay, người nhạc sĩ rất thích thú, cảm thấy tiếc những lời lẽ nhà thơ đã làm ra nên dễ sa vào việc huy động hết thơ vào bài hát, dẫn đến ca khúc lủng củng, rườm rà, lê thê. Như vậy thì không thể hay được. Nhưng những bài thơ như Núi đôi của Vũ Cao hay Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ mà nhạc sĩ đã phổ nhạc thì biết lấy chỗ nào, tước bỏ chỗ nào? Tôi đã thấy các nhạc sĩ cứ thế mà cho âm nhạc lẵng nhẵng bám theo từng câu thơ. Rốt cuộc, bài thơ rất dài, loãng. Huy Thục đã không tạo nên bài hát hay từ Đêm nay Bác không ngủ nhưng lại cho đời được bài Đợi thật đặc sắc. Vấn đề có lẽ còn ở điểm này: Bài thơ của Vũ Quần Phương chỉ ở mức “thường thường bậc trung” chẳng mấy ấn tượng. Một giai điệu thú vị của Huy Thục từ chất liệu ả đào cộng với việc xử lý khúc thức rất hợp lý trong cách phát triển chủ đề âm nhạc đã thổi vào Đợi một diện mạo mới. Còn bài thơ của Minh Huệ đã quá hoàn chỉnh, ít nhất là đã in sâu vào tiềm thức rất nhiều người thì khó có thể có một đường nét giai điệu nào đủ sức khiến người ta thích thú, vồ vập. Đó có lẽ là lí do để nghĩ tới một điều: Khi một tác phẩm đã định hình, tồn tại vững chắc ở một loại hình nào đó rồi, nhất là đã có đời sống, tiếng tăm, đã được khẳng định giá trị trường cửu thì hãy hết sức dè dặt trong việc nghĩ tới chuyển thể sang một loại hình nghệ thuật khác. Vì khi ấy, mảnh đất dành cho người nghệ sĩ sáng tạo ở loại hình thứ hai sẽ rất hẹp. Nhìn sang các lĩnh vực khác cũng thấy như vậy. Từng có rất nhiều đạo diễn điện ảnh ở nhiều nước đã đưa những vở bi kịch của Sếch-xpia lên màn ảnh nhưng chỉ có Kô-zin-xép của điện ảnh Xôviết là thành công. Nhưng người ta đã thấy là xem Vua Lia trên sân khấu vẫn thích hơn xem phim Vua Lia. Cũng như vậy, xem phim Chiến tranh và hoà bình của đạo diễn Bôn Đa-súc không thể thoả mãn bằng đọc bộ tiểu thuyết cùng tên vĩ đại của Lép Tôn-stôi mặc dù đây là một bộ phim được thực hiện bằng tất cả các nghệ sĩ lừng danh nhất ở Liên Xô (cũ). ở nước ta, công chúng đã nhanh chóng quên những phim Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy, Số đỏ, Giông tố… bởi họ đã quá thích thú những tác phẩm văn học của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng.
Trở lại vấn đề phổ thơ, có lẽ cách tốt nhất là nhạc sĩ hãy tìm đến những bài thơ có ý, tứ phù hợp với ý định sáng tác của mình nhưng chưa phải là bài thơ đặc sắc, hoàn chỉnh. Sự đồng điệu nào đó về cảm xúc trong ý tứ, tư tưởng ở tác phẩm sẽ dễ giúp người nhạc sĩ tạo nên được bài hát hay từ bài thơ. Và thực tế thành công của những bài hát phổ thơ đã có dịp nói tới trong bài viết này đã chứng minh rõ điều đó.
Cũng chính vì một thực tế như đã thấy mà có lẽ chẳng ai minh định giá trị một nhà thơ lại căn cứ vào việc nhà thơ ấy có nhiều hay ít thơ được phổ nhạc. Có những nhà thơ lớn, tác phẩm của họ là một kho báu của quốc gia mà chẳng có bài thơ nào được phổ nhạc và cũng có những người có tới cả trăm bài thơ trở thành ca từ bài hát nhưng vẫn chưa thể gọi được là thi sĩ đích thực.
(Báo Văn nghệ)
Nguyễn Đình San
Để tạo nên một bài hát, có khi người nhạc sĩ làm luôn lời ca, có khi tìm đến thơ để phổ nhạc. Trong kho tàng ca khúc Việt Nam hiện đại, số lượng những bài phổ thơ chiếm tỉ lệ đáng kể. Cần phân biệt: Nhạc sĩ phổ thơ và cùng với nhà thơ tạo nên phần lời ca là hai việc khác nhau. Phổ thơ là từ một bài thơ nguyên bản của nhà thơ đã có sẵn, nhạc sĩ phổ nhạc. Còn việc sau là nhạc sĩ bàn với nhà thơ phác thảo phần lời ca rồi dựa vào đó tạo nên bài hát hoặc làm giai điệu trước rồi mời nhà thơ “lắp ghép” lời ca vào.
Trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về việc thứ nhất: Phổ thơ. Nghiên cứu lại tất cả những bài hát phổ thơ đặc sắc được công chúng ưa thích trong suốt mấy chục năm qua, thấy rõ một điều: Đó không phải là những bài thơ hay ở mức đặc biệt xét về phương diện thơ. Nói cách khác, những bài thơ ấy nếu đứng độc lập, ít người coi là hay. Và người ta đã rất ít biết đến bài thơ trước khi được phổ nhạc. Bản thân các nhà thơ được phổ nhạc nhiều chắc cũng tự biết điều đó. Nhiều thế hệ công chúng đã rất ưa thích và truyền tụng những: Bộ đội về làng (Lê Yên phổ thơ Hoàng Trung Thông), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi phổ thơ Huyền Tâm), Anh vẫn hành quân (Huy Du phổ thơ Trần Hữu Thung), Đường chúng ta đi (Huy Du phổ thơ Xuân Sách), Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp phổ thơ Anh Ngọc), Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp phổ thơ Đằng Giao), Bước chân trên dải Trường Sơn (Vũ Trọng Hối phổ thơ Đăng Thục), Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, phổ thơ Lữ Giang), Đôi dép Bác Hồ (Văn An phổ thơ Tạ Hữu Yên), Đợi (Huy Thục phổ thơ Vũ Quần Phương) v.v… Con số có thể sẽ là nhiều trăm bài, không thể kể hết. Tất cả những trường hợp trên đều là nhạc sĩ phổ nhạc từ bài thơ đã có sẵn (ở nước ta, cách làm này là phổ biến chứ hiếm khi ngược lại: Sáng tác giai điệu trước rồi mời nhà thơ làm lời như ở nhiều nước trên thế giới). Trước khi xuất hiện những bài hát trên, người ta đã không hoặc ít biết đến những bài thơ cùng tên. Những nhà thơ vừa kể (và rất nhiều nhà thơ khác) không phải là không có thơ hay, nhưng là những bài thơ không trở thành bài hát, chứ không phải những bài thơ được phổ nhạc.
Ngược lại, có nhiều bài thơ nổi tiếng được đông đảo công chúng ưa thích nhưng người ta lại không hề nhớ được bài hát mặc dù đã được những nhạc sĩ cũng nổi tiếng phổ nhạc. Có thể dẫn ra một số trường hợp tiêu biểu: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Hồ Bắc phổ nhạc), Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ (Huy Thục phổ nhạc), Đợi anh về của Xi-mô-nốp (Vân Đông phổ nhạc). Chiếc áo xanh của Tố Hữu là một bài thơ hay được rất nhiều người ưa thích, được ba nhạc sĩ nổi tiếng cùng phổ nhạc là Đỗ Nhuận, Hoàng Vân, Lương Ngọc Trác nhưng cả ba bài hát đều không mấy đặc sắc, không lưu lại được bài nào trong trí nhớ người nghe. Những bài thơ hay như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Quê hương của Giang Nam, Núi đôi của Vũ Cao, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, Bói hoa của Đoàn Lê, tôi cũng đều đã được nghe khi chuyển thành bài hát. Nhưng tôi đã chẳng thể nhớ được tên người phổ nhạc.
Tất nhiên, qua hiện tượng trên sẽ chẳng có ai ngây ngô để nghĩ rằng: Vậy thì những bài thơ bình thường hoặc dở sẽ dễ thành bài hát hay và ngược lại, khi phổ thơ, cứ bài hát mà không hay có nghĩa là hình thành từ bài thơ đặc sắc (!). Vấn đề hoàn toàn ở lao động sáng tạo của nhạc sĩ - một thứ sáng tạo lần thứ hai khi phổ thơ. Và cần truy tìm nguyên nhân vì sao có hiện tượng như đã nói? Đã là một bài thơ hay dĩ nhiên là phải hội được khá đầy đủ những yếu tố cần thiết: ý tứ sâu sắc, độc đáo, nhiều khi là mới lạ; kết cấu chặt chẽ, hợp lý, khó có thể cắt bỏ câu, chữ nào; cách gieo vần, tạo nhịp điệu phù hợp với ý tứ; từ ngữ được tìm tòi ở mức đắt nhất với hàm lượng thông tin nhiều nhất v.v… Tóm lại, bài thơ được coi là hay khi nó đã khá hoàn chỉnh mọi yếu tố cấu thành như đã nói. Và hẳn nhiên là khi xuất hiện, nó phải gây được ấn tượng, tạo mĩ cảm tối đa cho người thưởng thức. Nhưng khi chuyển thành bài hát, nhạc sĩ bắt buộc phải tổ chức lại lời lẽ trong một kết cấu, khúc thức nhất định. Điều này đặt ra việc không thể bê nguyên xi lời thơ sang bài hát mà phải cắt xén, có khi lại cần thêm vào, lúc lại phải đảo thứ tự các khổ thơ. Rất nhiều khi để cho bài hát hoàn chỉnh thì bài thơ đã không còn hình hài cũ. Như vậy thì không thể gọi là phổ thơ, mà chỉ có thể gọi là phỏng thơ, tức là thơ hay thì chẳng nên phổ mà chỉ nên phỏng là cùng. Nhưng thường thì khi có được bài thơ hay, người nhạc sĩ rất thích thú, cảm thấy tiếc những lời lẽ nhà thơ đã làm ra nên dễ sa vào việc huy động hết thơ vào bài hát, dẫn đến ca khúc lủng củng, rườm rà, lê thê. Như vậy thì không thể hay được. Nhưng những bài thơ như Núi đôi của Vũ Cao hay Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ mà nhạc sĩ đã phổ nhạc thì biết lấy chỗ nào, tước bỏ chỗ nào? Tôi đã thấy các nhạc sĩ cứ thế mà cho âm nhạc lẵng nhẵng bám theo từng câu thơ. Rốt cuộc, bài thơ rất dài, loãng. Huy Thục đã không tạo nên bài hát hay từ Đêm nay Bác không ngủ nhưng lại cho đời được bài Đợi thật đặc sắc. Vấn đề có lẽ còn ở điểm này: Bài thơ của Vũ Quần Phương chỉ ở mức “thường thường bậc trung” chẳng mấy ấn tượng. Một giai điệu thú vị của Huy Thục từ chất liệu ả đào cộng với việc xử lý khúc thức rất hợp lý trong cách phát triển chủ đề âm nhạc đã thổi vào Đợi một diện mạo mới. Còn bài thơ của Minh Huệ đã quá hoàn chỉnh, ít nhất là đã in sâu vào tiềm thức rất nhiều người thì khó có thể có một đường nét giai điệu nào đủ sức khiến người ta thích thú, vồ vập. Đó có lẽ là lí do để nghĩ tới một điều: Khi một tác phẩm đã định hình, tồn tại vững chắc ở một loại hình nào đó rồi, nhất là đã có đời sống, tiếng tăm, đã được khẳng định giá trị trường cửu thì hãy hết sức dè dặt trong việc nghĩ tới chuyển thể sang một loại hình nghệ thuật khác. Vì khi ấy, mảnh đất dành cho người nghệ sĩ sáng tạo ở loại hình thứ hai sẽ rất hẹp. Nhìn sang các lĩnh vực khác cũng thấy như vậy. Từng có rất nhiều đạo diễn điện ảnh ở nhiều nước đã đưa những vở bi kịch của Sếch-xpia lên màn ảnh nhưng chỉ có Kô-zin-xép của điện ảnh Xôviết là thành công. Nhưng người ta đã thấy là xem Vua Lia trên sân khấu vẫn thích hơn xem phim Vua Lia. Cũng như vậy, xem phim Chiến tranh và hoà bình của đạo diễn Bôn Đa-súc không thể thoả mãn bằng đọc bộ tiểu thuyết cùng tên vĩ đại của Lép Tôn-stôi mặc dù đây là một bộ phim được thực hiện bằng tất cả các nghệ sĩ lừng danh nhất ở Liên Xô (cũ). ở nước ta, công chúng đã nhanh chóng quên những phim Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy, Số đỏ, Giông tố… bởi họ đã quá thích thú những tác phẩm văn học của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng.
Trở lại vấn đề phổ thơ, có lẽ cách tốt nhất là nhạc sĩ hãy tìm đến những bài thơ có ý, tứ phù hợp với ý định sáng tác của mình nhưng chưa phải là bài thơ đặc sắc, hoàn chỉnh. Sự đồng điệu nào đó về cảm xúc trong ý tứ, tư tưởng ở tác phẩm sẽ dễ giúp người nhạc sĩ tạo nên được bài hát hay từ bài thơ. Và thực tế thành công của những bài hát phổ thơ đã có dịp nói tới trong bài viết này đã chứng minh rõ điều đó.
Cũng chính vì một thực tế như đã thấy mà có lẽ chẳng ai minh định giá trị một nhà thơ lại căn cứ vào việc nhà thơ ấy có nhiều hay ít thơ được phổ nhạc. Có những nhà thơ lớn, tác phẩm của họ là một kho báu của quốc gia mà chẳng có bài thơ nào được phổ nhạc và cũng có những người có tới cả trăm bài thơ trở thành ca từ bài hát nhưng vẫn chưa thể gọi được là thi sĩ đích thực.
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,