Thử tìm hiểu trường hợp nhà thơ Tế Hanh
Phan Ngọc
Người xưa có câu “Văn chương tự cổ vô bằng cứ” nghĩa là “Trong văn chương từ xưa đã không có bằng chứng gì (để khen hay chê)”. Khi nghiên cứu một nhà thơ, người ta chủ yếu căn cứ vào ấn tượng của mình. Cách phê bình này có thể rất hấp dẫn nên nó đã thành một bộ phận của văn học, bên cạnh thơ và văn xuôi. Nhưng nó thiếu những khái niệm riêng để có được tính khoa học, bởi vì làm sao phê bình về thơ có thể mang tính chất một khoa học khi nó không có những khái niệm được hiểu theo yêu cầu của chính nó? Vào thời đại hậu khoa học khi những quan hệ hoà bình lần đầu tiên xuất hiện trên toàn thế giới, vấn đề này đặt ra gay gắt với văn học. Ta thấy trước đây có nhiều nhà thơ lúc này được khen , nhưng lúc khác lại bị chê, lại có nhà thơ được đánh giá không đúng suốt một thời gian dài. Tôi muốn nói đến trường hợp Tế Hanh.
Tôi muốn nêu lên một khái niệm rất cần thiết cho việc nghiên cứu thơ Việt Nam thời Pháp thuộc. Đó là khái niệm “tha hoá”. Chữ “tha hoá” có nghĩa là nhà thơ cố tình cho mình là “khác mọi người”, chữ “tha” ở đây là yếu tố Hán Việt ta thường gặp trong “tha hương”, “tha phương”, vị tha”. Một nữ văn sĩ ở “tha hương” giải thích chữ “tha” tôi dùng để dịch “Mỹ học” Hêghen theo nghĩa chữ “tha” trong “thối tha”. Nhưng chữ “tha” trong “thối tha” là láy âm, cũng như trường hợp chữ “xa” trong “xấu xa, xót xa”, chữ “la” trong “lê la”. Và làm sao một từ láy âm lại có thể tạo nên một khái niệm mà chị gọi là Hán - Việt được? Chị căn cứ vào chữ “tha hoá” để trách tôi dùng nhiều từ Hán - Việt trong bản dịch này, nhưng cách hiểu từ Hán - Việt của chị quá lạ lùng, nên tôi không làm cách nào có thể tranh luận với chị ấy được?
Nếu ta theo dõi phong trào “Thơ Mới” sẽ thấy một điều hiển nhiên. Tại sao rất nhiều nhà thơ có tiếng thời ấy đều tự xem mình hết sức khác mọi người? Đoạn dưới đây trong bài “Tựa” tập “Điêu tàn” của Chế Lan Viên giải thích khái niệm “tha hoá” trong “Thơ Mới” đầy đủ nhất:
“Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên”. Tôi thêm làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tình, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa hợp lí. Nhưng thường thường nó không nói. Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó. Rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối, không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả”.
“Điêu tàn” ra đời năm 1937 khi tác giả mới 17 tuổi. Cách nói này là tổng kết một sự thực. Có sự “tha hoá” trong một số đông đảo những nhà “Thơ Mới” thời ban đầu. Thế Lữ tự gọi mình là “chàng kì khôi”, “người yêu cái Đẹp”. Xuân Diệu định nghĩa “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió”. Rồi người thì nói đến “Say”, đến “Vũ trụ” đến “Giang hồ”, và đủ mọi thứ kì lạ khác.
Đây là một khái niệm chỉ ra đời sau khi quân Pháp chiếm cả nước. Còn trước đó, nhà thơ nào cũng nhận mình là con dân nước Việt Nam. Người mở đầu là Nguyễn Khuyến, ông tự xem mình là một bà goá, rồi Trần Tế Xương tự xem mình là kẻ vô dụng. Từ khi Đảng lãnh đạo dân tộc giành độc lập và tự do thì tất cả những nhà thơ theo Đảng trước đây tự cho mình tha hoá đều trở lại với dân tộc và từ bỏ chuyện này. Chính họ bảo tôi, đó chẳng qua là một cách nói trong tình trạng không thể nói được sự thực. Như vậy, đây là một biểu hiện của hiện tượng “khúc xạ” hết sức quen thuộc đối với văn hoá học. Điều đáng chú ý là sau năm 1936, khi Mặt trận Bình Dân ra đời có một số nhà thơ quay trở lại với đề tài nông thôn và hiện tượng tha hoá cũng giảm bớt.
Hiện tượng nhà thơ tự xem mình khác mọi người xảy ra sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại. Tuy phong trào thất bại nhưng chính nó đã khiến cho một số nhà thơ thấy mình có sứ mạng văn hoá . Vì bản chất tiểu tư sản của họ yếu đuối cho nên họ mượn cớ là người điên, người say để tự đề cao mình, chứ không tự coi khinh mình như thế hệ các cha ông của họ.
Thực tế “Thơ Mới” đã có đóng góp to lớn và đã được nhân dân yêu chuộng bởi vì chính nhân dân cũng cảm thấy mình bị tha hoá, không còn có thể là người Việt Nam nữa. Muốn là người Việt Nam, có hai cách, cách thứ nhất là chống tha hoá, chấp nhận cách mạng, và theo Đảng Cộng sản. Trường hợp Tố Hữu là thế. Cách thứ hai, biết mình bị tha hoá, nhưng cố gắng giữ giá trị mình như một người Việt Nam bé nhỏ bình thường, gắn bó với quê hương, chưa tìm được lối đi nhưng không đầu hàng cái xấu. Tế Hanh mở đầu con đường này, và sau đó có Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Anh Thơ.
Tế Hanh là nhà thơ trong số những nhà thơ nổi tiếng thời Thơ Mới từ trước đến sau vẫn là người Việt Nam bình thường, nhưng vẫn là nhà thơ lớn. Thơ của anh không nói chuyện cao xa, mà nói đến những chuyện thực, con sông, chiếc thuyền, chiếc tàu, sự gắn bó của mình với quê hương, trách nhiệm nhỏ bé của mình. Anh không bao giờ ồn ào, trước cũng như sau, nhưng lẳng lặng chấp nhận trách nhiệm. Anh chấp nhận mọi khó khăn về tinh thần và thể xác để làm con người bình thường, cho nên thơ anh làm người ta xúc động đến mức kì lạ.
Tôi còn nhớ lần tôi gặp anh ở nhà anh Huỳnh Lý, anh rể tôi, thấy anh còn đeo khẩu súng trường. Tôi biết anh đã từ bỏ một người vợ đẹp bậc nhất Huế để theo cách mạng, nhưng anh không bao giờ nói điều đó. Thơ anh có cái ưu điểm của những bài thơ bất tử. Tôi có sưu tập những bài thơ toàn nhân loại để xem lí do gì khiến nó bất tử, bởi vì tôi có thói quen tìm cái bất biến. Bài thơ muốn bất tử phải là bài thơ người ta đọc nó để hiểu được chính mình. Không có thơ, cái hiểu của một người về chính mình sẽ hời hợt. Không một nghệ thuật nào có thể sánh được với thơ về mặt tìm hiểu chính mình. Người ta đọc thơ để thấy những chỗ yếu của mình mà khắc phục, thấy những chỗ khá của mình để củng cố thêm. Có những bài thơ trong đó nhà thơ , dù là một vĩ nhân, cũng tự hạ thấp mình để gắn với quần chúng bình thường. Những bài thơ ấy thường có tác dụng rất lớn, bởi vì nó dạy cho ta cách sống. Các vĩ nhân viết những bài thơ kêu gọi chẳng qua là bất đắc dĩ, vì yêu cầu của công việc, còn khi là nhà thơ các vị đều nói lên những ham muốn bình thường của mình , những cố gắng của mình để sống bình thường. Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh đều thế.
Anh Tế Hanh tự nhận mình là người bình thường và viết những chuyện bình thường, nhưng chính nhờ thế mà anh có hi vọng hơn nhiều nhà thơ tự cho mình không phải là người. Anh đã chịu thiệt thòi gần như cả cuộc đời thi sĩ của mình. Đó là vì Việt Nam trước 1945 ở trong tình trạng một nước bị tha hoá. Còn sau năm 1945 lại là một nước phải đảm đương những nhiệm vụ phi thường. Cho nên thơ anh ít được ca ngợi. Nhưng trong hoàn cảnh mới, khi người Việt Nam và nước Việt Nam đã thoát khỏi tha hoá để hưởng cuộc sống bình thường, thì cách đánh giá sẽ khác. Giờ đây, đọc những bài thơ trong đó nhà thơ gọi mình là người điên, người say, người yêu cái đẹp, người sống chỉ để yêu, vân vân, ta thấy từ chương nhiều mà thiếu sự trao đổi tâm hồn, bởi vì nhiệm vụ ngày nay của con người Việt Nam đã khác. Chúng ta đã thay đổi khác trước, cho nên ta chỉ có thể thông cảm mà không thể say mê. Sự trao đổi tâm hồn của ta với bài thơ trước đây là có thực. Vì chính chúng ta cũng tha hoá. Nhưng giờ đây chúng ta đã nhờ Bác và Đảng mà thoát khỏi tha hoá. Điều ta cần là một trao đổi tâm hồn để tìm thấy mình, giản dị, bình thường và nhỏ bé, nhưng là đích thực, và có giá trị trong khi theo đuổi những mục tiêu nhỏ bé mà Bác đã dạy là góp phần thay đổi đất nước để theo kịp thế giới. Có thể nói Tế Hanh gần như là nhà thơ duy nhất trong số các nhà “Thơ Mới”, trước đây đã cấp cho ta cách trao đổi tâm hồn này để ta hiểu thêm chính mình.
Tôi nghĩ rằng thơ Tế Hanh sẽ còn và sẽ được đánh giá lại. Những bài thơ thiếu sự trao đổi tâm hồn, trong đó người đọc không hiểu thêm được mình thì sẽ bị quên đi. Tôi đã đọc nhiều bài phú thời Tự Đức về mặt ngôn ngữ phải nói là hay nhất trong lịch sử làm phú của Việt Nam, nhưng giờ đây chẳng ai buồn nhắc đến nữa, vì hoàn toàn thiếu sự trao đổi tâm hồn giữa người Việt với người Việt trong giai đoạn đất nước như nghìn cân treo sợi tóc. Thưởng thức một bài thơ xét cho cùng cũng như thưởng thức một bát phở. Bát phở ngon miệng hay không là tuỳ theo yêu cầu của cái bụng vào lúc đó. Có những nhu cầu bất biến cho thức ăn, dù đó là thức ăn tinh thần hay thức ăn thực tế. Tôi rất sung sướng được tỏ lòng kính phục anh khi anh còn sống. Hi vọng bài này sẽ được đọc cho anh nghe, để anh hiểu chính anh có những kinh nghiệm làm thơ có giá trị lâu dài, nhưng cũng vì khiêm tốn mà anh không tiện nói ra. Còn việc trình bày thao tác Tế Hanh, xin chờ một dịp khác. Tôi viết bài này một phần để cảm ơn chị Tế Hanh đã tận tuỵ săn sóc anh, và đồng thời cũng an ủi chị trong công việc vất vả chăm nom anh, và công lao ấy được cả một thế hệ đàn em , trong đó có tôi, biết ơn chị.n
(Báo Văn nghệ)
Phan Ngọc
Người xưa có câu “Văn chương tự cổ vô bằng cứ” nghĩa là “Trong văn chương từ xưa đã không có bằng chứng gì (để khen hay chê)”. Khi nghiên cứu một nhà thơ, người ta chủ yếu căn cứ vào ấn tượng của mình. Cách phê bình này có thể rất hấp dẫn nên nó đã thành một bộ phận của văn học, bên cạnh thơ và văn xuôi. Nhưng nó thiếu những khái niệm riêng để có được tính khoa học, bởi vì làm sao phê bình về thơ có thể mang tính chất một khoa học khi nó không có những khái niệm được hiểu theo yêu cầu của chính nó? Vào thời đại hậu khoa học khi những quan hệ hoà bình lần đầu tiên xuất hiện trên toàn thế giới, vấn đề này đặt ra gay gắt với văn học. Ta thấy trước đây có nhiều nhà thơ lúc này được khen , nhưng lúc khác lại bị chê, lại có nhà thơ được đánh giá không đúng suốt một thời gian dài. Tôi muốn nói đến trường hợp Tế Hanh.
Tôi muốn nêu lên một khái niệm rất cần thiết cho việc nghiên cứu thơ Việt Nam thời Pháp thuộc. Đó là khái niệm “tha hoá”. Chữ “tha hoá” có nghĩa là nhà thơ cố tình cho mình là “khác mọi người”, chữ “tha” ở đây là yếu tố Hán Việt ta thường gặp trong “tha hương”, “tha phương”, vị tha”. Một nữ văn sĩ ở “tha hương” giải thích chữ “tha” tôi dùng để dịch “Mỹ học” Hêghen theo nghĩa chữ “tha” trong “thối tha”. Nhưng chữ “tha” trong “thối tha” là láy âm, cũng như trường hợp chữ “xa” trong “xấu xa, xót xa”, chữ “la” trong “lê la”. Và làm sao một từ láy âm lại có thể tạo nên một khái niệm mà chị gọi là Hán - Việt được? Chị căn cứ vào chữ “tha hoá” để trách tôi dùng nhiều từ Hán - Việt trong bản dịch này, nhưng cách hiểu từ Hán - Việt của chị quá lạ lùng, nên tôi không làm cách nào có thể tranh luận với chị ấy được?
Nếu ta theo dõi phong trào “Thơ Mới” sẽ thấy một điều hiển nhiên. Tại sao rất nhiều nhà thơ có tiếng thời ấy đều tự xem mình hết sức khác mọi người? Đoạn dưới đây trong bài “Tựa” tập “Điêu tàn” của Chế Lan Viên giải thích khái niệm “tha hoá” trong “Thơ Mới” đầy đủ nhất:
“Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên”. Tôi thêm làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tình, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa hợp lí. Nhưng thường thường nó không nói. Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó. Rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối, không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả”.
“Điêu tàn” ra đời năm 1937 khi tác giả mới 17 tuổi. Cách nói này là tổng kết một sự thực. Có sự “tha hoá” trong một số đông đảo những nhà “Thơ Mới” thời ban đầu. Thế Lữ tự gọi mình là “chàng kì khôi”, “người yêu cái Đẹp”. Xuân Diệu định nghĩa “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió”. Rồi người thì nói đến “Say”, đến “Vũ trụ” đến “Giang hồ”, và đủ mọi thứ kì lạ khác.
Đây là một khái niệm chỉ ra đời sau khi quân Pháp chiếm cả nước. Còn trước đó, nhà thơ nào cũng nhận mình là con dân nước Việt Nam. Người mở đầu là Nguyễn Khuyến, ông tự xem mình là một bà goá, rồi Trần Tế Xương tự xem mình là kẻ vô dụng. Từ khi Đảng lãnh đạo dân tộc giành độc lập và tự do thì tất cả những nhà thơ theo Đảng trước đây tự cho mình tha hoá đều trở lại với dân tộc và từ bỏ chuyện này. Chính họ bảo tôi, đó chẳng qua là một cách nói trong tình trạng không thể nói được sự thực. Như vậy, đây là một biểu hiện của hiện tượng “khúc xạ” hết sức quen thuộc đối với văn hoá học. Điều đáng chú ý là sau năm 1936, khi Mặt trận Bình Dân ra đời có một số nhà thơ quay trở lại với đề tài nông thôn và hiện tượng tha hoá cũng giảm bớt.
Hiện tượng nhà thơ tự xem mình khác mọi người xảy ra sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại. Tuy phong trào thất bại nhưng chính nó đã khiến cho một số nhà thơ thấy mình có sứ mạng văn hoá . Vì bản chất tiểu tư sản của họ yếu đuối cho nên họ mượn cớ là người điên, người say để tự đề cao mình, chứ không tự coi khinh mình như thế hệ các cha ông của họ.
Thực tế “Thơ Mới” đã có đóng góp to lớn và đã được nhân dân yêu chuộng bởi vì chính nhân dân cũng cảm thấy mình bị tha hoá, không còn có thể là người Việt Nam nữa. Muốn là người Việt Nam, có hai cách, cách thứ nhất là chống tha hoá, chấp nhận cách mạng, và theo Đảng Cộng sản. Trường hợp Tố Hữu là thế. Cách thứ hai, biết mình bị tha hoá, nhưng cố gắng giữ giá trị mình như một người Việt Nam bé nhỏ bình thường, gắn bó với quê hương, chưa tìm được lối đi nhưng không đầu hàng cái xấu. Tế Hanh mở đầu con đường này, và sau đó có Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Anh Thơ.
Tế Hanh là nhà thơ trong số những nhà thơ nổi tiếng thời Thơ Mới từ trước đến sau vẫn là người Việt Nam bình thường, nhưng vẫn là nhà thơ lớn. Thơ của anh không nói chuyện cao xa, mà nói đến những chuyện thực, con sông, chiếc thuyền, chiếc tàu, sự gắn bó của mình với quê hương, trách nhiệm nhỏ bé của mình. Anh không bao giờ ồn ào, trước cũng như sau, nhưng lẳng lặng chấp nhận trách nhiệm. Anh chấp nhận mọi khó khăn về tinh thần và thể xác để làm con người bình thường, cho nên thơ anh làm người ta xúc động đến mức kì lạ.
Tôi còn nhớ lần tôi gặp anh ở nhà anh Huỳnh Lý, anh rể tôi, thấy anh còn đeo khẩu súng trường. Tôi biết anh đã từ bỏ một người vợ đẹp bậc nhất Huế để theo cách mạng, nhưng anh không bao giờ nói điều đó. Thơ anh có cái ưu điểm của những bài thơ bất tử. Tôi có sưu tập những bài thơ toàn nhân loại để xem lí do gì khiến nó bất tử, bởi vì tôi có thói quen tìm cái bất biến. Bài thơ muốn bất tử phải là bài thơ người ta đọc nó để hiểu được chính mình. Không có thơ, cái hiểu của một người về chính mình sẽ hời hợt. Không một nghệ thuật nào có thể sánh được với thơ về mặt tìm hiểu chính mình. Người ta đọc thơ để thấy những chỗ yếu của mình mà khắc phục, thấy những chỗ khá của mình để củng cố thêm. Có những bài thơ trong đó nhà thơ , dù là một vĩ nhân, cũng tự hạ thấp mình để gắn với quần chúng bình thường. Những bài thơ ấy thường có tác dụng rất lớn, bởi vì nó dạy cho ta cách sống. Các vĩ nhân viết những bài thơ kêu gọi chẳng qua là bất đắc dĩ, vì yêu cầu của công việc, còn khi là nhà thơ các vị đều nói lên những ham muốn bình thường của mình , những cố gắng của mình để sống bình thường. Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh đều thế.
Anh Tế Hanh tự nhận mình là người bình thường và viết những chuyện bình thường, nhưng chính nhờ thế mà anh có hi vọng hơn nhiều nhà thơ tự cho mình không phải là người. Anh đã chịu thiệt thòi gần như cả cuộc đời thi sĩ của mình. Đó là vì Việt Nam trước 1945 ở trong tình trạng một nước bị tha hoá. Còn sau năm 1945 lại là một nước phải đảm đương những nhiệm vụ phi thường. Cho nên thơ anh ít được ca ngợi. Nhưng trong hoàn cảnh mới, khi người Việt Nam và nước Việt Nam đã thoát khỏi tha hoá để hưởng cuộc sống bình thường, thì cách đánh giá sẽ khác. Giờ đây, đọc những bài thơ trong đó nhà thơ gọi mình là người điên, người say, người yêu cái đẹp, người sống chỉ để yêu, vân vân, ta thấy từ chương nhiều mà thiếu sự trao đổi tâm hồn, bởi vì nhiệm vụ ngày nay của con người Việt Nam đã khác. Chúng ta đã thay đổi khác trước, cho nên ta chỉ có thể thông cảm mà không thể say mê. Sự trao đổi tâm hồn của ta với bài thơ trước đây là có thực. Vì chính chúng ta cũng tha hoá. Nhưng giờ đây chúng ta đã nhờ Bác và Đảng mà thoát khỏi tha hoá. Điều ta cần là một trao đổi tâm hồn để tìm thấy mình, giản dị, bình thường và nhỏ bé, nhưng là đích thực, và có giá trị trong khi theo đuổi những mục tiêu nhỏ bé mà Bác đã dạy là góp phần thay đổi đất nước để theo kịp thế giới. Có thể nói Tế Hanh gần như là nhà thơ duy nhất trong số các nhà “Thơ Mới”, trước đây đã cấp cho ta cách trao đổi tâm hồn này để ta hiểu thêm chính mình.
Tôi nghĩ rằng thơ Tế Hanh sẽ còn và sẽ được đánh giá lại. Những bài thơ thiếu sự trao đổi tâm hồn, trong đó người đọc không hiểu thêm được mình thì sẽ bị quên đi. Tôi đã đọc nhiều bài phú thời Tự Đức về mặt ngôn ngữ phải nói là hay nhất trong lịch sử làm phú của Việt Nam, nhưng giờ đây chẳng ai buồn nhắc đến nữa, vì hoàn toàn thiếu sự trao đổi tâm hồn giữa người Việt với người Việt trong giai đoạn đất nước như nghìn cân treo sợi tóc. Thưởng thức một bài thơ xét cho cùng cũng như thưởng thức một bát phở. Bát phở ngon miệng hay không là tuỳ theo yêu cầu của cái bụng vào lúc đó. Có những nhu cầu bất biến cho thức ăn, dù đó là thức ăn tinh thần hay thức ăn thực tế. Tôi rất sung sướng được tỏ lòng kính phục anh khi anh còn sống. Hi vọng bài này sẽ được đọc cho anh nghe, để anh hiểu chính anh có những kinh nghiệm làm thơ có giá trị lâu dài, nhưng cũng vì khiêm tốn mà anh không tiện nói ra. Còn việc trình bày thao tác Tế Hanh, xin chờ một dịp khác. Tôi viết bài này một phần để cảm ơn chị Tế Hanh đã tận tuỵ săn sóc anh, và đồng thời cũng an ủi chị trong công việc vất vả chăm nom anh, và công lao ấy được cả một thế hệ đàn em , trong đó có tôi, biết ơn chị.n
(Báo Văn nghệ)
Love mickey,