Diễn Đàn » Khoa Học Xã Hội

Cách học và dạy 🔒

136 trả lời, 30.247 lượt xem — Trang 3 / 5
29 Tháng 5 2005 - Cập nhật 09h04 GMT




Giáo dục Việt Nam


(Cập nhật hàng tuần vào sáng Chủ Nhật)

Giáo dục là chủ đề lớn được mang ra bàn cãi lâu nay không chỉ trong nhân dân, mà còn tại Quốc hội và trong giới chức ở Việt Nam.

Tuy đạt được một số thành công, nền giáo dục của Việt Nam còn đối mặt với vô vàn vấn đề và thách thức.

Hồng Nga thảo luận với giáo sư Phạm Minh Hạc từ Hà Nội, giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Hoa Kỳ và giáo sư Trương Nguyễn Trân từ Pháp về các vấn đề cấp bách trong nền giáo dục Việt Nam.

Chương trình Tư duy Thế kỷ về giáo dục sẽ được phát sóng làm hai phần.

Phần một phát sáng Chủ nhật 29/5/2005 và lặp lại sáng thứ Hai 30/5/2005 sẽ bàn về chủ đề: "Nhút nhát hay vô chính kiến: Vị trí nào trong nền giáo dục Việt Nam cho tính sáng tạo và độc lập của học sinh?"

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/programmes/story/2005/05/agenda_education.shtml
0
Bộ trưởng Giáo dục & Đào tạo tiếp tục nhận lỗi và hứa hẹn


Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển trả lời chất vấn. Ảnh: Anh Tuấn


Chiều 9/6, Bộ trưởng GD&ĐT Nguyễn Minh Hiển lần thứ 3 liên tiếp đăng đàn Quốc hội. Trong 60 phút trả lời chất vấn, đối diện với những câu hỏi hóc búa về những yếu kém chậm được giải quyết, ông Hiển liên tiếp "xin nhận trách nhiệm". Tuy nhiên, phương thuốc giải quyết dứt điểm căn bệnh giáo dục lại không được đưa ra.

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Home/
0
Thứ năm, 9/6/2005, 16:22 GMT+7

Bộ trưởng Giáo dục & Đào tạo tiếp tục nhận lỗi và hứa hẹn

Trong phần chất vấn bằng văn bản, các kiến nghị của đại biểu tập trung vào các vấn đề: tình trạng giáo viên chưa đạt chuẩn, chương trình kiên cố hoá trường học triển khai chậm, nạn dạy thêm học thêm, tình trạng gian lận để trúng tuyển đại học...

Theo ông Hiển, giáo viên chưa đạt chuẩn phân làm 4 loại: giáo viên trẻ, giáo viên cao tuổi, giáo viên không đủ sức khỏe và giáo viên vi phạm kỷ luật. Với mỗi loại giáo viên chưa đạt chuẩn, Bộ GD&ĐT sẽ có những giải pháp phù hợp. Ví dụ, giáo viên trẻ chưa đạt chuẩn sẽ cho đi bồi dưỡng. Với giáo viên già không còn khả năng đi học nâng cao kiến thức sẽ cho về hưu sớm. Về chương trình kiên cố hoá trường học, ông Hiển thừa nhận có tình trạng chất lượng phòng học chưa đạt yêu cầu, tiến độ triển khai ở một số nơi còn chậm.

Về tình trạng thày cô thu tiền học thêm của chính học sinh mình giảng dạy chính khoá. Ông Hiển cho biết đây là vấn đề bức xúc của cử tri tại nhiều kỳ họp gần đây. Bộ GD&ĐT đã lên kế hoạch những biện pháp mạnh để xử lý.

Trong đợt rà soát vừa qua, có 90 trường hợp trúng tuyển giả, trong đó dùng giấy báo điểm giả có 68 trường hợp. "Xảy ra vụ việc này, trách nhiệm thuộc các địa phương không rà soát kỹ thí sinh trúng tuyển. Bộ GD&ĐT có lỗi do không thường xuyên đôn đốc. Mùa tuyển sinh này, Bộ yêu cầu tiến hành hậu kiểm kỹ, áp dụng công nghệ thông tin để rà soát thí sinh trúng tuyển. Với các trường hợp đã lọt lưới, kể cả đã ra trường cũng kiên quyết thu hồi bằng tốt nghiệp", Bộ trưởng GD&ĐT nói.

Ngay sau khi Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển kết thúc phần giải trình bằng văn bản, đại biểu Nguyễn Thị Ánh Tuyết chất vấn: "Thời gian quá dài, nhưng tại sao chúng ta không khắc phục tình trạng chất lượng giáo viên thấp. Theo Bộ trưởng, việc chậm trễ này ảnh hưởng thế nào đến chất lượng giảng dạy? "Bộ GD&ĐT đang tiến hành rà soát và sẽ giải quyết dứt điểm", ông Hiển hứa.


Đại biểu Nguyễn Lân Dũng.
Đại biểu Nguyễn Lân Dũng nêu thực trạng, chương trình sách giáo khoa hiện nay quá nhồi nhét, khiến các em không có thời gian vui chơi. Vừa qua, Liên hiệp KHKT Việt Nam có công trình nghiên cứu về chất lượng SGK, nhưng không thấy Bộ GD&ĐT tham gia. Ông Dũng chất vấn: "Nếu chương trình SGK hiện nay không đạt thì Bộ GD&ĐT có xây dựng lại chương trình SGK không?".

Bộ trưởng Hiển cho rằng, thời gian qua, SGK chưa hẳn đã hoàn thiện nhưng có tiến bộ, học sinh đã thấy hứng thú hơn. không đồng tình với quan điểm cho rằng, tình trạng quá tải của học sinh là do chương trình SGK Bộ trưởng Hiển cho rằng, ở đây có vấn đề về chất lượng giáo viên, điều kiện trang thiết bị phục vụ SGK. "Tiếp thu ý kiến của đại biểu chúng tôi sẽ mời một số nhà khoa học để thẩm định lại chương trình SGK hiện nay. Còn ý kiến của đại biểu về sự tham gia của Liên hiệp KHKT Việt Nam chúng tôi rất hoan nghênh. Chúng tôi cảm thất rất may mắn và diễm phúc khi được Liên hiệp KHKT Việt Nam hợp tác", ông Hiển nhẹ nhàng.

Xung quanh tình trạng đề thi THPT phân ban đã xảy ra nhiều sai sót và liên tiếp tái diễn mà đại biểu Nguyễn Thị Hồng Khanh chất vấn, người đứng đầu ngành giáo dục thừa nhận, một số đề thi có câu hỏi quá nâng cao là không nên. "Bộ GD&ĐT xin nhận thiếu sót, chúng tôi đã phê bình, không xét thi đua, không mời ra đề những người tham gia ra đề những kỳ thì này".

Tiếp tục đề cập tới chương trình phân ban, đại biểu Hoàng Văn Xim yêu cầu Bộ trưởng đánh giá hiệu quả của chương trình này. Ông Hiển cho biết, xu hướng phân ban tốt, nhiều nước đã làm và chúng ta cũng phải làm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng có nhiều bất cập. Bộ đã báo cáo Chính phủ và xin ý kiến điều chỉnh.

Vẫn với giọng khúc triết mạnh lạc, Đại biểu Nguyễn Ngọc Trân, dẫn ra việc một số địa phương ra quyết định khen thưởng giáo viên có thành tích chống lưu ban, bỏ học, và cho rằng, chính điều này gây bức xúc giáo viên vì tạo sức ép bắt họ phải chạy theo thành tích. Bộ trưởng Hiển thừa nhận, thời gian qua đúng là có một số tỉnh tỷ lệ bỏ học cao nên UBND tỉnh đã ..."sốt ruột" ra văn bản này.

Nghị trường Quốc hội nóng hơn khi đại biểu Dương Trung Quốc nêu lên một vấn đề thời sự tại ở kỳ thi THPT vừa qua. Phao thi bán công khai, giao tận nhà, kết thúc giờ thi phao vứt ngập trường học. Trong thời gian thi, nhiều Hội đồng thi người nhà thí sinh bắc thang ném phao cho con em, các giám thị thả lỏng cho thí sinh quay cóp.

"Chất lượng giáo dục đang thể hiện bằng điểm số bài thi. Nhưng có những thí sinh vì trung thực không cạnh tranh được với thí sinh quay cóp. Hiện tượng này đã kéo dài nhưng tại sao vẫn chưa giải quyết? Bộ trưởng hứa giải quyết dứt điểm vấn đề này thế nào trong các kỳ thi tới", ông Quốc gay gắt.

"Chúng tôi xin nhận thiếu sót là chưa có giải pháp chặn đứng nạn dùng phao. Nhưng năm nay, kỳ thi đã có nhiêù tiến bộ. Theo đánh giá của nhiều thày, cô cách ra đề thi đã vô hiệu hoá việc dùng phao, giám thị cũng nghiêm khắc hơn. Nhiều học sinh đem phao nhưng không sử dụng được nên vứt ở cổng trường", ông Hiển nói.

Kể câu chuyện về việc đi tiếp xúc cử tri ở Bắc Ninh, đại biểu Vũ Thanh Lịch chất vấn: "Cử tri hỏi Luật Giáo dục có cấm giáo viên phát đơn đưa cho phụ huynh, bắt họ phải ký đơn xin cho con học thêm không. Đây có phải là chủ trương của Bộ không?"Bộ trưởng Hiển đáp: "Chúng tôi không chấp nhận vấn đề này. Đại biểu gửi địa chỉ cụ thể chúng tôi sẽ yêu cầu Sở GD&ĐT Bắc Ninh kỷ luật hiệu trưởng của trường học mà cử tri nêu".

Kết thúc phiên chất vấn Bộ trưởng GD&ĐT còn 4 đại biểu đăng ký chất vấn. Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh yêu cầu Bộ trưởng GD&ĐT trả lời bằng văn bản.

Việt Anh

Ý kiến của bạn:

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2005/06/3B9DF085/

0
.
Ý kiến của bạn:

Mong Bạn cùng nêu ý kiến.

Chúc vui với giáo dục
0
Nói hòai , nói mãi cũng vậy thôi
Quan lại ngày nay lũ hợm đời
Tham ô, móc ngoặc hơn ăn trộm
Kết bè, kéo đảng quá lưu manh
Uổng công bao lớp cha anh
Để cho lớp trẻ hổ danh muôn đời.[sm=kaioken.gif]
0
Thứ tư, 6/7/2005, 08:08 GMT+7

Giả gái để thi hộ vào đại học


Ảnh minh hoạ.


Một thanh niên Nga "đóng bộ" và trang điểm như một quý cô để thi hộ em gái vào khoa tâm lý trường Đại học Matxcơva. Tuy nhiên, mưu kế trên bất thành bởi bộ ngực giả vĩ đại đã phản bội lại anh chàng.

Trưởng khoa Du lịch của Đại học Matxcơva Yasen Zasursky cho hay những đặc điểm "quá nữ tính" của "cô gái" cộng với khuôn mặt trang điểm quá đậm đã khiến bảo vệ nghi ngờ. "Bảo vệ trong trường ngờ rằng 'cô gái' có mang tài liệu vào phòng thi nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Sau khi cởi áo khoác, thân phận của anh này đã bị lật tẩy", ông nói.

Người thanh niên này bị cấm không được làm bài thi môn toán và cô gái anh định thi hộ bị loại khỏi danh sách thí sinh.

Giới quan sát cho hay tình trạng gian lận trong thi cử ở các trường đại học, cao đẳng ở Nga là một vấn đề lớn bên cạnh một vấn nạn khác là tệ đút lót.

http://www.vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Cuoc-song-do-day/2005/07/3B9DFD52/

0
Thứ Tư, 13/07/2005, 06:03 (GMT+7)

Dạy và học văn hiện nay: Đúng là nguy thật!

Bấm vaò để xem hình
Giám thị kiểm tra phiếu dự thi của thí sinh trước khi làm bài môn văn tại hội đồng thi Trường ĐH Sư phạm TP.HCM - Ảnh: Như Hùng



TT - Hầu như đến hẹn lại lên, sau những kỳ thi tốt nghiệp THCS, THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ, bạn đọc cả nước lại âm thầm chờ những bài báo về những “đặc sản” văn chương “đến thượng đế cũng phải cười” do các sĩ tử “mang nặng đẻ đau” trong phòng thi.

Vâng, qua kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ 2005, chắc chắn cũng sẽ không thiếu những áng văn “dựng tóc gáy” ra đời. Chung quanh câu chuyện này, PGS.TS TRẦN HỮU TÁ - phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM - chia sẻ:

- Trước tình trạng chắc không đến nỗi quá phổ biến nhưng có thật như thế thì không thể không buồn và xót xa.

* Thưa ông, văn chương thể hiện đời sống tinh thần, “một phần tất yếu của cuộc sống”, nhưng HS lại sợ học môn này. Cứ kéo dài mãi như thế thì nguy quá!

- Đúng là nguy thật! Điều đó đôi lúc khiến chúng ta phải giật mình lo sợ. Chúng ta không thể chấp nhận tình hình ấy kéo dài nhưng trước hết phải bình tĩnh đã. Chúng ta phải có trách nhiệm tìm mọi cách để cải thiện; buộc phải thay đổi tình hình chứ không thể để nó tồn tại như thế được. Trách nhiệm của từng giáo viên cũng như của ngành giáo dục làm sao để HS, thế hệ trẻ hôm nay thật sự yêu môn văn và được môn văn cảm hóa. Từ đó sẽ tác động tích cực đến việc bồi dưỡng tri thức về cuộc sống, về xã hội... và cũng từ đó hình thành nhân cách tốt đẹp ở mỗi con người.

* Cứ cho là những “bài văn… văng mạng” chưa phải là hiện tượng chiếm đa số trong HS, nhưng điều đó đã nói lên một sự thật đầy bất ổn trong dạy và học văn hiện nay ở bậc phổ thông?

- ... Ngay như xét ở số đông HS trung học, những yêu cầu cơ bản cần đạt đối với môn văn cũng còn lâu mới đạt được. Ví dụ, đã đến lớp 12, ở tuổi 18 thì phải đạt yêu cầu viết “sạch” đối với ngôn ngữ mẹ đẻ. Nhưng xin thưa rằng dù chỉ đánh giá ở bộ phận HS khá văn nhất của lứa tuổi thi tú tài này thì trình độ viết văn tiếng Việt của các em vẫn không đạt yêu cầu. Thậm chí ngay như sinh viên năm 4 khoa văn, nhiều khi chấm bài tôi vẫn thấy giật mình về trình độ viết văn của các em. Ý tôi muốn nói rằng trình độ cảm, hiểu văn chương và sử dụng tiếng mẹ đẻ ở các bạn trẻ ngày nay rất đáng lo ngại ở một diện rộng hơn, chứ không riêng gì HS ở các bậc học phổ thông.




* Nhưng để tồn tại những điều xót xa như thế trong dạy và học văn, theo ông, nên trách người thầy hay trách người học?

- Nói một cách công bằng, với chương trình học như hiện nay, cho dù HS có muốn yêu văn chương cũng không có đủ thì giờ để mà yêu… Chương trình dạy của từng khối lớp rất căng nên HS học rất vất vả và số đông HS phải đối phó để giải quyết cho xong những yêu cầu của nhà trường, của thầy cô giáo. Chính vì thế mà hầu hết HS không có thời gian đi sâu vào những điều các em yêu thích, trừ một số đã giỏi. Cũng vì vậy càng khiến học trò không thấy hấp dẫn với môn văn.

Nhưng có lẽ nhiều thầy cô giảng dạy môn văn cũng chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của học trò, chưa làm cho học trò say được với môn mình dạy. Ở đây tôi muốn nói đến bản lĩnh của người thầy. Những thầy giáo cô giáo dạy hay, chuẩn bị kỹ bài giảng, truyền đạt hấp dẫn… thì HS sẽ yêu thích. Còn nếu trình độ người thầy hạn chế, chuẩn bị bài giảng sơ sài, cốt là làm sao truyền đạt được kiến thức mà Bộ GD-ĐT qui định thì coi như hoàn thành trách nhiệm, coi như xong… như thế làm sao học trò yêu văn chương cho được.

* Và có nhiều ý kiến cho rằng khả năng truyền đạt của người thầy mới là quan trọng?

- Riêng tôi thấy vẫn cần có sự thông cảm với thầy cô giáo dạy văn. Một truyện ngắn rất dài như Chí Phèo mà phải dạy trong hai tiết thì có thánh cũng không giảng được cho ra đầu ra đũa; một đoạn thơ dài năm bảy chục câu trích trong bài Việt Bắc mà giảng một tiết thì liệu ai có thể giảng nổi.

Vì vậy giáo viên cứ loay hoay đối phó làm thế nào “thanh toán” cho xong giáo án để tránh bị “cháy” và cốt đảm bảo truyền đạt được những kiến thức cơ bản nhất đến HS nhằm đối phó với các kỳ thi… Thực tế là người thầy chỉ “thanh toán” được bài giảng một cách hình thức chứ không đem đến cho HS nhiều kiến thức bổ ích, làm giàu thêm đời sống văn hóa, tinh thần cho HS.

“Cũng cần nói thêm, thanh niên ngày nay ít đọc sách quá. Muốn hiểu và yêu văn thì không chỉ thu hẹp trong phạm vi sách giáo khoa… Di sản văn học dân tộc cũng như tinh hoa văn học nhân loại đọc cả đời người cũng không hết.

Nhưng thử hỏi có bao nhiêu người trẻ hào hứng tìm sách để đọc? Tôi tin là ít lắm! Tôi cho rằng đây là hiện tượng đáng lo ngại trong giới trẻ ngày nay”.

Còn giảng dạy văn học cổ thì lôi thôi hơn nữa... Các cụ thường dạy: phải phấn đấu biết mười dạy một. Song hiện nay ở tất cả các cấp (tất nhiên không phải 100%) nhiều chục phần trăm thầy cô giáo vẫn chưa đủ “vốn” để có thể biết mười dạy một. Khi người thầy chưa có tiềm lực ấy thì không thể dạy hay và hấp dẫn được. Chỉ có thể đổi mới phương pháp giảng dạy trên cơ sở người thầy có tiềm lực mạnh. Khi người thầy đã dư “vốn” mới có thể nói đến chuyện đổi mới cách giảng dạy.

* Thưa ông, dường như thực tế cuộc sống đã mách cho chúng ta một điều: có một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ đang vô cảm trước đời sống văn học, không thèm tìm đến các tác phẩm văn học?

- Cũng không nên trách họ. Và tôi nghĩ cũng không hoàn toàn như thế đâu. Tuy nhiên, mối lo như tôi đã nói, sự quan tâm đến sách của giới trẻ dường như ngày càng nhạt hơn. Thực tế phải nhìn nhận hiện nay không có động cơ nào thúc ép bạn trẻ tìm đọc các tác phẩm văn học, trong khi những động cơ khác thì thúc ép họ rất kinh...

Vì vậy sách phải hay, phải chân thực, hấp dẫn. Ví dụ báo Tuổi Trẻ đăng nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi đã tạo tiếng vang, rất xúc động, rất có ích về mặt tình cảm, tư tưởng. Tôi nghĩ rất nhiều bạn trẻ đọc Mãi mãi tuổi hai mươi và rút ra được những điều bổ ích cho riêng mình. Nhưng rất tiếc những món ăn bổ dưỡng như vậy hiện còn ít lắm.

* Xin được hỏi thật, là người dạy văn và nghiên cứu văn học… nhưng các thành viên trong gia đình ông có yêu thích văn chương?

- Tôi có ba con, lớn hết cả rồi. Tủ sách của tôi đến vài ba nghìn cuốn. Tôi cũng đã gần 50 năm giảng dạy và nghiên cứu văn học nên sách quí không hiếm. Các con tôi tuy không đi theo con đường giảng dạy và nghiên cứu văn học như cha của chúng nhưng chúng đọc rất nhiều.

QUỐC THANH thực hiện

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=88290&ChannelID=13
0
Để không còn văn chương “dựng tóc gáy”

Kỳ tuyển sinh ĐH-CĐ 2005 vừa kết thúc, tôi mạo muội đề xuất vài ý kiến với hi vọng góp phần nhỏ kềm bớt độ sáng tác văn chương “dựng tóc gáy” của các “sĩ tử tiềm năng”.

Hãy biết mình đang viết gì!

Đây chính là vấn đề mấu chốt dẫn đến sự ra đời những “kiệt sức” văn chương khi sĩ tử không làm chủ được ngòi bút của mình. Đi buôn thì phải có vốn, song không ít sĩ tử bước vào phòng thi mà kiến thức về tác giả, tác phẩm, các giai đoạn văn học… thủng một cách khủng khiếp chứ chưa nói đến những chuyện “cao siêu” hơn như kiến thức về lý luận văn học, các chủ đề lớn trong tác phẩm từng giai đoạn...

Trong chấm thi văn, yếu tố “đúng” bao giờ cũng được đặt trên yếu tố “hay”. Chuẩn bị cho “một trận đánh lớn” như tốt nghiệp hay “trận đánh rất lớn” như tuyển sinh ĐH-CĐ, ngoại trừ những sĩ tử xem cuộc thi chỉ là cuộc dạo chơi, thi một lần cho biết mùi thi ĐH-CĐ, chưa đánh mà đã âm thầm giương cờ hàng thì những sĩ tử “quyết tử” trong trận đánh này nhất thiết phải có một vốn kiến thức văn học vững vàng. Đây chính là yếu tố quyết định bài thi của bạn có “đúng” và “đúng” đến mức nào, còn yếu tố “hay” thì phụ thuộc khả năng cảm thụ văn học, khả năng diễn đạt…

Siết chặt khâu kiểm tra kiến thức

Điều tôi muốn nhấn mạnh nhất trong ý này là việc kiểm tra kiến thức văn học của HS qua kiểm tra miệng, 15 phút, một tiết, học kỳ… Hiện tượng photocopy văn mẫu, xào nấu văn mẫu, cho ra lò những bài văn thập cẩm… rất phổ biến trong các kỳ thi từ bé đến lớn. Cần phải thấy rằng chuyện hỏng kiến thức bắt nguồn từ những bài kiểm tra trả kiến thức bằng cách chép với qui mô nhỏ ở lớp.

Tại sao trong phạm vi một bài kiểm tra một tiết ở lớp hay kiểm tra học kỳ ở một trường, hiện tượng văn chương “dựng tóc gáy” chỉ là lẻ tẻ về số lượng và nhẹ về mức độ? Phao thi, các cuốn sách văn mẫu và thái độ nhiều khi rộng rãi, du di của giáo viên trong quá trình coi thi và chấm thi chính là một phần quan trọng của câu trả lời. Cứ đến thi là chép, biết đường chép thì sẽ có điểm. Thậm chí có những giáo viên biết chắc HS chép từ những cuốn văn mẫu nào nhưng vẫn cho qua để bình diện chung của điểm số được đẹp!

Hậu quả để lại là thay vì kiến thức được củng cố qua các kỳ thi thì ngược lại lại thủng dần, rơi rụng dần và khi đến với các “trận đánh lớn”, bị tước mất “vũ khí mật” là phao thi thì các sĩ tử chới với và thi nhau sáng tác nên những “kiệt sức” văn chương. Phải nghiêm khắc với HS trong những “trận đánh nhỏ” thì HS mới biết luật chơi, biết nghiêm túc chuẩn bị “quân trang”, “quân dụng” cho những trận đánh lớn.

ĐÀO TRUNG UYÊN
(Giải nhất môn văn bảng B - kỳ thi HS giỏi quốc gia
năm học 2002-2003)

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=88290&ChannelID=13
0

Đông là hướng mặt trời mọc -> tiếng Việt
Tây là hướng mặt trời lặn -> tiếng Việt

Riêng cổ và kim là xưa và nay là tiếng Hán Việt.

Rồi Đông Tây cổ kim (hay kim cổ) là Hán Nôm đề huề.

HY Thân,
Sao có vụ Hán Nôm đề huề ở đây vậy HY.
Đông Tây Nam Bắc đều là tiếng Hán hết đó. Thử hỏi HY nhé, đọc truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân chưa, truyện Tôn Hành Giả phò Tam Tạng đi thỉnh Kinh. Chữ Tây trong Tây Du Ký là Tiếng Hán hay tiếng Nôm vậy?
西游記(吳承恩) = Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân)
Chưa hết, nếu chưa đọc Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, thì thử cho biết; đọc xong thì sẽ biết Đông Chu, Tây Chu, Bắc Nguỵ, Tây Thục, Đông Ngô là Hán hay là Nôm ngay.

Còn nữa, Chữ Đông Tây trong Đông Tây kim cổ không hẳn chỉ là nói đến hướng Đông và hướng Tây. Chữ Hán có lối nói tiết kiệm, nói một hiểu hai. Hai chữ Đông Tây ở đây phải hiểu là ở khắp mọi hướng, mọi nơi. Mấy anh nhà báo tán phét thường có mục Đông Tây Kim Cổ để nói đủ thứ chuyện khắp nơi, trên trời dưới đất, từ xưa tới nay. Đông Tây kim cổ do đó trở thành một thành ngữ (idiom). Tiếng Hán có vài thành ngữ khác cũng dùng hai chữ Đông Tây với ý nghĩa khắp nơi (người Việt không dùng các thành ngữ này):
Đông phanh Tây thấu: 東抨西凑 : chắp vá lung tung.
Đông lạp Tây xả 東拉西扯: Nói lung tung, lằng nhằng dây cà ra dây muống.

Như vậy rồi chắc sẽ hỏi: vậy người Việt không có tên gọi riêng cho bốn hướng sao? Thưa không. Vậy còn chữ Đoài trong câu:" Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài tan". Hoặc trong câu "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Một người chín nhớ mười mong một người. Gió mưa là bệnh của trời. Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng." Chữ Đoài đây có nghĩa là Tây, vậy có phải là tiếng Việt không?
Thưa cũng không luôn, chữ Đoài là rặt Hán. Đoài đây là một trong tám quẻ (quái) của Bát Quái: Càn Khôn Chấn Tấn Tốn Ly Khôn Đoài. Quẻ Đoài thuộc phương Tây nên chữ Đoài chỉ hướng tây.

Thân
TC
Vạn kim bảo kiếm tàng thu thuỷ
Mãn mã xuân sầu áp cẩm yên.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-10 23:12:31HongYen>
Kính TC,

Cám ơn TC đã chỉ bảo.

Nhân đọc xuống "Xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài tan" liên tưởng đến:

"Xuân nở.....Đông tàn", thật ra giọng đia phương có trùng như: an hay ang. Đúng là :"Xuân nở...Đông tàng". Chưa nhớ trọn câu dù chỉ có bốn mùa; thật là đáng chê.

Nếu nói giọng địa phương như trau dồi và trau giồi. Trau dồi sai vì dồi có nghĩa là dồn nén, không có nghĩa trau chốt mài dũa như là tranh sơn mài phải nhiều lần bồi và dủa hay mài. Vậy mà có vài báo trong nước và nước ngoài vẫn dùng trau dồi. Đây lại nói đến tiếng bôi và xóa của địa phương dù nghĩa có khác nhưng lại dùng trùng nghĩa; ngay như những giáo viên dùng thường ngày trong lớp học. Tiếng hay giọng địa phương cũng là một trong những cách học và dạy...

Tuy nhiên giọng địa phương âm "ôn và ông" khác nhau trong khôn và không.... Còn ong và ông gần như giống nhau hay chưa quan tâm âm thanh....

Về tiếng nào là Hán tiếng nào là Nôm đây cũng là bài học khó khăn dù nói tiếng Việt làu làu từ trong pụng mẹ.

Tiếng nào coi như chỉ có một âm như Xuân, Thu, Đông... thì tạm hiểu là tiếng Việt, vì lẻ đó HY chưa hiểu đó là gốc tiếng Hán. Riêng Hạ và Hè thì tiếng nào là tiêng Hán, có lẻ là tiếng Hạ; vì nhờ rằng nghỉ hẻ là vui lắm hay bài hát Mùa Hè của Nhạc Sĩ Hùng Lân. Cám ơn TC đã chỉ dạy cho từ Hán Việt Đông, Tây.

PS. Về vi tính có những tiếng chuyên môn trong ngành như mặc định....thì có khó khăn cho người đọc được âm thanh Việt mà không hiểu rõ. Đây là ý cá nhân cần góp ý của Thầy Cô và Bạn.

Chúc TC và quý bạn vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-28 21:11:19HongYen>
"Xuân nở...Đông tàng"


Xuân sinh
Hạ trưởng
Thu liễm
Đông tàng


Thật ra mấy điển tích Trung Hoa và văn thơ khi phải thuộc lòng thì nhớ, nhưng mà sao khi bị hỏi lại thì rất khó nhớ để trả lời.

Xa xưa nghe nói học trỏ phải nằm dài trên chiếu để học với thầy và cô phu nhân thì bắt làm đủ thứ chuyện trong nhà... Đó là đọc trong tiểu thuyết hay truyện ngắn. Học thi đổ là được cưới công chúa....hay goị phò mã. Bây giờ "phò mã" là có nghiã nhất xứ rồi!!!!

Khi đến đời Hồ Quý Ly với tinh thần tự lập và yêu tồ quốc đã sáng chế ra chữ Nôm phỏng theo chữ Hán. (Đoạn nầy TC có hỏi từ lịch sử nào??? Xin thưa nhớ nhớ và có dịp tìm lại. Nếu Quý vị nào củng đọc taì liệu như vậy mong giúp cho. Cám ơn nhiều.) Có lẻ lịch sử còn chưa in đậm hay hoc trỏ chưa nhớ rõ cội nguồn hay chỉ cá nhân chưa quan tâm. Ngay bây giờ đã thấy có những chuyện thật và giả tưởng lẫn lộn như chuyện Lê Văn Tám là hoàn toàn do ý nghĩ của một con người. Vậy mà có thời gian đã đi vào lịch sử như in. Đây không nói về tôn giáo, nhưng câu truyện Trung Hoa lại thành sự thật và có đền thờ và xin xâm và xâm rất linh!!!!

Khi những nhà truyền giáo đến Việt Nam và chữ La tin hay Quốc Ngữ được hình thành. Mở mang các nước ngoài như Đại Hàn, Nhật Bản cũng dùng chữ Hán và viết theo cách riêng của mỗi nước;hưng họ laị không áp dụng lối viết La Tin rất đơn gian về hình thức. Hiện tại đang có biểu tình chống dối dữ dội thì mới biết là Trung Hoa đâu phải là vĩ đại và 1000 năm với hai lần Bắc Thuộc (hiện taị thì sao với bờ với biển.) Cái đang day dứt là lúa nước có chăng từ vua Nghiêu vua Thuấn đã thuơng yêu truyền dạy cho dân ta. Nhưng xét laị, người Hoa đâu ăn cơm ngày ba bữa như ta mà truyền.....luá nuớc với luá khô. Luá khô có cấy bên Nhật Bản đấy. Không như luá rẩy cuả người thượng du Việt Nam. Đây cũng là cách dạy và học.

Khi mẫu tự La Tin a, b, c.... đến ta thì lớp đồng ấu chưa có mẫu giáo phải học thuộc lòng 24 hay 27 chữ cái nên mới có câu "a, b, c ăn bánh bò hay bánh cam" là bị đòn nhiều hay ăn roi mây nhiều.....Lại một cách dạy và học.

Rồi bình dân học vụ o, ô, ơ....Ô thì đội mũ, ơ thì mang râu...Những nhà tâm lý cho là học như thế rất là lẫn lộn......

Chúc quý bạn có niềm vui lẫn lộn học và dạy.
0
Khi đến đời Hồ Quý Ly với tinh thần tự lập và yêu tồ quốc đã sáng chế ra chữ Nôm phỏng theo chữ Hán.

Không biết câu này HY lấy từ cuốn sử nào ra?

Chữ Nôm thì đến nay các sử gia vẫn còn chưa thống nhất được về thời điểm phát sinh của nó, có tài liệu cho tiếng Nôm đã có thời Phùng Hưng (791) do bốn chữ Bố Cái Đại Vương. Những tài liệu bằng viết chữ Nôm xưa nhất còn lưu truyền đến nay đều được viết vào thời nhà Trần. Tuy rằng chúng ta hiện không có bằng chứng để xác định thời gian phát sinh những tài liệu trên. Vì phần lớn đều được các nhà khảo cứu tìm thấy vào thời tiền chiến (trước 1945) trong các thư tịch của nhà chùa, và các gia thư sao lục hay gia phả, vốn rất khó xác tín về thời gian và gốc tích.

Thí dụ như bài thơ của nàng Điểm Bích vu oan sư Huyền Quang vào đời Trần Anh Tông (1293- 1314) chép trong Tam Tổ Thực Lục:

Vằng vặc giăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ
Màu Thích Ca nào thử hữu tình.

Bài thứ hai đã có đăng trong thư quán tức là bài Cư Trần Lạc Đạo Phú của Trần Nhân Tông (1276-1293).
Thứ ba là bài văn tế đuổi cá sấu của Nguyễn Thuyên ( còn được gọi là Hàn Thuyên, gọi họ Hàn là để sánh với Hàn Dũ bên TQ)
Ngoài Nguyễn Thuyên ra còn có Nguyễn Sỹ Cố, và Chu Văn An (có làm Quốc Ngữ thi tập đã thất truyền).
Và Hồ Quý Ly khi còn làm quan dưới triều Trần cũng đã có làm thơ Nôm, và dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư ra chữ Nôm.
Vài bài thơ Nôm trong Truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam Chích Quái, truyện thơ Vương Trường, truyện Trê Cóc, truyện Trinh Thử cũng được coi là sáng tác vào thời Trần.
(Lược trích theo Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên của Phạm Thế Ngũ).
0
Mới đọc trên Talawas thấy hay hay, nên đem vô để ké với câu chuyện tiếng Việt với Tiếng Hán.


Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt?
Hà Văn Thùy
(Bàn lại với ông Huệ Thiên về tiếng Việt)

Nhiều năm nay ông Huệ Thiên giữ chân chủ xị mục Chuyện Ðông chuyện Tây của tạp chí Kiến thức ngày nay. Công bằng mà nói, ông có giúp cho độc giả những phút thư giãn bổ ích khi biết thêm những điển tích, những chữ nghĩa cổ. Người đọc nhận ra rằng, ông chịu tra cứu, phần nhiều nói có sách mách có chứng. Tuy nhiên, trong một số bài viết của ông có những kiến giải chưa thỏa đáng. Những kiến giải đó xuất hiện trên tạp chí, trên nhật trình, nguyệt trình là chuyện thoảng qua nhưng khi tập hợp lại thành sách Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm [1] thì gây không ít ngộ nhận. Ðiều khiến chúng tôi băn khoăn là ông có cái nhìn thiên lệch trước một số hiện tượng tế nhị trong ngôn ngữ Việt. Chúng tôi có vài điều xin thưa lại.

Trong bài Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương, trang 145, khi bài bác quan điểm cho rằng yếu tố “Kẻ” và những địa danh đi liền sau nó như “Mẩy”, “Cót”, “Vòng”... (thành những “Kẻ Mẩy”, “Kẻ Cót”, “Kẻ Vòng”) là những tên Nôm làm thành một “hệ thống tên xã thôn... hoàn toàn khớp với cương vực nước Văn Lang được ghi lại trong truyền thuyết dựng nước”, ông “đã chứng minh rằng ‘kẻ’ là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ giới 界 mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là ‘giới’, âm Hán Việt hiện đại ít thông dụng hơn là ‘giái’, còn âm chính thống gọi là ‘cái’.” Và “những cái gọi là tên Nôm hoặc ‘thuần Việt’ như Mẩy, Cót, Vòng... chẳng qua chỉ là âm xưa của những chữ Hán nay đã được đọc theo âm Hán Việt hiện đại mà thôi (!)”

Ðọc những dòng trên hẳn không ít người phải than “hỡi ôi” cho tiếng Việt, cho dân tộc Việt! Một dân tộc có 70% tiếng nói vay từ tiếng Hán mà đến một vài chữ hiếm hoi tưởng như đặc sản, đặc hữu cũng là đi mượn nốt! Dù không biết ông nói đúng hay sai nhưng chí ít cũng thêm một chút đau lòng! Một dân tộc vay mượn tới chừng đó trong ngôn ngữ thì nếu có bị nô lệ cũng đáng đời!

Ðể minh chứng cho ý tưởng của mình, ông bắt đầu từ tên Mơ, một tên gọi phổ biến ở vùng Hà Nội: “Đó rõ ràng là một từ Việt gốc Hán có liên quan đến chữ/ từ ‘Mai’. Ðó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ và đây tất nhiên không phải là trường hợp duy nhất...”. Và ông dẫn ra hàng loạt trường hợp khác: Núc là âm xưa của Canh Nậu; Vài, của Ngọc Nhị; Gượm, của Cần Kiệm; Noi, của Cổ Nhuế; Núc, của Dị Nậu; Vòng, của Dịch Vọng; Gạch, của Ô Cách... Trong những câu tương ứng trên đây, tiếng đầu (Núc, Vài, Gượm...) là âm xưa, còn tiếng sau (Nậu, Nhị, Kiệm...) là âm nay của cùng một chữ Hán trong những địa danh hữu quan và sự tương ứng đó là hoàn toàn nhất quán trong các địa danh chỉ nhiều địa phương khác nhau, thậm chí rất xa nhau: “Núc không chỉ là Canh Nậu, Dị Nậu Hà Nội mà còn là của Dị Nâu vùng Tam Ðảo. Gạch không chỉ là Ô Cách ngoại thành Hà Nội mà còn là âm xưa của Bình Cách thuộc Ðông Quan Thái Bình...”. Từ đó ông kết luận: “Sự tương ứng nhất quán đến cao độ trên đây là một chỗ dựa chắc chắn để khẳng định rằng những cặp từ đang xét chỉ là âm xưa và âm nay của những chữ Hán hữu quan. Nếu là phiên âm thì, dù âm gốc có là một, từ địa phương này sang địa phương khác, kết quả phiên âm thế nào cũng có sai biệt, và có khi khác nhau rất xa.”

Ðể củng cố cho lập luận của mình, ông Huệ Thiên dẫn Nguyễn Tài Cẩn, nhà ngôn ngữ hàng đầu: “Hiện ta có từ ‘mơ’ là dạng cổ Hán Việt ứng với cách đọc Hán Việt ‘mai’. ‘Mai’ là kết quả của cả một quá trình diễn biến *dj&gt;oj&gt;aj. ‘Mơ’ là dạng vay mượn vào lúc âm cuối -j chưa xuất hiện trong tiếng Hán; theo giới Hán ngữ học, ‘mơ’ phải được vay trong khoảng 1500 trở về trước. Mà trong thời cổ đại đó thì – cũng theo sự phục nguyên của giới Hán ngữ học - từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi” ( tr.147).

Không có nhiều tri thức ngôn ngữ học lịch sử nhưng chúng tôi được biết thế này: đứa trẻ sinh ra, cha mẹ đặt tên cho nó. Mảnh đất khai phá xong thì chính người chặt cây đào gốc đặt tên cho nó bằng ngôn ngữ của mình. Sài Gòn là một tên gốc Phù Nam, Cần Thơ, Sóc Trăng là tên gốc Khmer. Những năm 1830, khi làm Ðịa bạ Nam Kỳ, nhiều quan chức triều Nguyễn đã phải cùng với hương chức vất vả phiên âm chữ Hán cho biết bao thửa ruộng cánh đồng từ lâu mang tên Nôm! Lập luận như ông Huệ Thiên thì phải chăng hàng vạn năm trước, đất Việt cổ không có tên vì chưa có chữ Hán mượn để đặt?!

Chúng tôi cũng xin mạn phép nghi ngờ ý kiến của GS Nguyễn Tài Cẩn bởi lập luận của ông dựa trên sự phục nguyên của giới Hán ngữ học. Theo logic đơn giản: phục nguyên một chữ Hán hiện đại là việc xác định gốc gác cổ xưa của nó và từ đó tìm ra mối liên hệ với những ngữ gần gũi. Vậy, việc phục nguyên ở đây sao lại đưa tới kết luận một chiều là chỉ có Việt mượn Hán chứ không phải ngược lại? Phải chăng vì nước Hán bự, người Hán đông, văn hóa Hán lớn nên chỉ cho mà không cần nhận?

Mặt khác, trong ý kiến của giáo sư Cẩn có nói: từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi. Theo thiển ý, thời Kinh Thi là một thời gian khó xác định. Nếu là ở thời điểm hình thành Kinh Thi thì chí ít là vào thời Ðế Nghiêu khoảng 5000 năm trước. Còn ở thời điểm Khổng tử san định Thi thì cách nay 2500 năm. Nhưng giả sử có chuyện vay mượn thì ai vay? Vay bằng cách nào? Muốn vay mượn tiếng nói thì phải có sự chung sống với nhau mà không thể một ông nào đó đi sứ rồi mượn tiếng về dạy!

Còn theo chúng tôi thì ngược lại, khoảng 5000 năm trước, từ ‘mơ’ tiếng Việt đã chuyển thành từ ‘mai’ tiếng Tàu! Không phải Việt mượn của Hán mà Hán mượn của Việt! Nhận định này là có cơ sở.

Nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, người ra suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 15-20% nhân số thế giới (Vũ Hữu San. Vịnh Bắc Việt. Tripod.com). Trong công trình khảo cứu Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ, luật sư Cung Ðình Thanh dẫn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra kết luận mới nhất của giới ngôn ngữ học: Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông và Ðông Nam Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ (Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trongThe Origins 1983 – Dẫn theo Cung Ðình Thanh. Dactrung.net.)

Trong khi đó người Hán nói ngôn ngữ Sino-Tibétan chỉ là nhóm thiểu số sống du mục trên vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. Khoảng 2500 TCN, người Hán vượt sông Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Một bộ phận Bách Việt chạy xuống phía Nam tụ lại ở vùng Ngũ Lĩnh. Phần lớn (khoảng 70%) người Bách Việt ở lại sống cùng quân chiếm đóng. Người Bách Việt do số dân đông áp đảo và văn hóa cao đã đồng hóa kẻ xâm lược cả về huyết thống cả về văn hóa. Cùng với việc tiếp nhận Kinh Thi, Kinh Dịch của người Việt, người Hán đã tiếp thu tiếng Việt vào trong vốn từ vựng của mình. Chính lúc này mơ của Việt chuyển thành mai của Tàu. Bao tiếng khác cũng được chuyển hóa như vậy làm phong phú vốn từ vựng Trung Hoa.

Bị người Hán đuổi tiếp, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Việt Nam góp phần xây dựng nước Văn Lang. Chính những người Việt trở lại mái nhà xưa này đã mang về những yếu tố ngôn ngữ từng để lại bên sông Hoàng Hà: cả từ vựng, cả những địa danh. Ðiều này cắt nghĩa vì sao bên ta có nhiều địa danh giống bên Tàu. Chính là do ông bà ta đặt cho vùng đất mình mới khai phá những cái tên thân thuộc phải bỏ lại ở phía Bắc. Ðó cũng chính là điều trả lời cho thắc mắc của ông Huệ Thiên vì sao có sự phiên âm thống nhất một số địa danh trên địa bàn rộng.

Trong cuốn sách của mình, tác giả Huệ Thiên còn nhiều bài viết: Chung quanh từ nguyên của từ “gạo”; Chữ “vằn” liền với chữ “văn” một vần; Những bài về tên các con giáp trong thập nhị chi... Ở đó, cũng theo cách tư duy trên, ông có vẻ hào hứng cho tất cả là Hán, là của Tàu, là “trăm phần trăm made in China”! Không có điều kiện bàn từng trường hợp cụ thể, chúng tôi chỉ xin nói rằng, ông đã quá tin vào sách Tàu nên sai lạc, trái ngược với thực tế lịch sử diễn ra từ bờ sông Hoàng Hà đến sông Hồng sông Mã.

Thực tế lịch sử này từ lâu bị khuất lấp, và chúng ta được dạy rằng: Người Việt là đám Tàu lai bị người Tàu xua đuổi trôi dạt xuống, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Việt. Văn hóa Việt là thứ văn hóa Tàu dần dần được bản địa hóa! Chúng ta cứ hồn nhiên tin thế cho tới 30 năm trước mới có một người Việt là học giả Kim Ðịnh dám nghi ngờ tín điều trên, đòi lại Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư... cho người Việt. Tiếp đó là nhiều học giả khác như GS Lê Văn Sửu với Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương và Học thuyết âm dương ngũ hành, GS Bùi Văn Nguyên với Kinh Dịch Phục Hy rồi Nguyễn Tiến Lãng với Kinh Dịch - sản phẩm sáng tạo của người Việt... cùng chung ý hướng trên.

Sự hồn nhiên của tác giả Huệ Thiên chẳng những dội gáo nước lạnh vào tâm huyết của những người cố công quẫy đạp ngược thời gian tìm lại cội nguồn mà còn gây ngộ nhận cho người đọc, nhất là bạn trẻ, những người có lúc thích thú theo dõi chuyện Ðông chuyện Tây của ông.

Nói rằng ngôn ngữ Hán đã mượn nhiều từ vựng tiếng Việt không phải chuyện hoang tưởng mà là dựa vào tiến trình lịch sử dài lâu của người Việt. Chí ít, người Việt đã sống 30.000 năm từ lưu vực sông Hoàng Hà tới sông Dương tử. Một ngôn ngữ lớn từng giữ vai trò lãnh đạo cộng đồng Bách Việt đông đảo chiếm đến 20% nhân loại bỗng dưng biến mất không để lại dấu tích gì sao? Rõ ràng là, cùng với sự tiếp thu nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Việt, người Hán đã học nhiều tiếng Việt từ cộng đồng lê dân Miêu tộc đông đảo. Tiếng Việt từ trước thời Hoàng đế đã được ghi bằng chữ Hỏa tự, chữ Khoa đẩu. Loại chữ này đã viết nên Kinh Thư được giấu trong vách nhà của Khổng tử. Khi phát minh ra chữ vuông, người Hán đã dùng chữ vuông ký tự những chữ Việt đó rồi đương nhiên coi là tiếng Hán, chữ Hán. Người Việt không giữ được đất đai, không giữ đựơc chữ hình ngọn lửa nên để mất luôn chữ viết của mình! Tiếp thu vốn từ vựng của người Việt nhưng vì giữ vai trò lãnh đạo xã hội nên người Hán ép buộc ngườI Việt nói theo cách nói của người Hán. Như vậy, cùng với việc người Việt hòa tan vào cộng đồng Hán tộc thì tiếng Việt cũng nhập vào ngôn ngữ Hán, trong một cơ cấu ngữ pháp mới. Sau này các tác giả tự điển, các công trình phục nguyên Hán ngữ không có điều kiện tìm đến gốc gác xa xưa hơn của những từ mà họ tra cứu. Ðã từng xảy ra câu chuyện thế này: Vào những năm 70 thế kỷ trước, để chứng minh cho sự độc lập của Ðài Loan với Hoa Lục, chính quyền Tưởng Giới Thạch lệnh cho nghiên cứu lịch sử hòn đảo này. Nhưng khi thấy trước thời Khổng tử, đất này của người Bách Việt, việc nghiên cứu bị dừng lại! Nhưng dù che giấu kỹ thế nào, ta vẫn có thể tìm thấy trong Hán ngữ những từ thuần Việt như Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Cốc... Và trong Kinh Thi cũng bắt gặp khá nhiều trường hợp in dấu ấn cách nói của người Việt như:

Hồ vi trung lộ (Thức vi: trong sương)
Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)
Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn )
Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)

Tại sao hàng nghìn năm thực hiện nghiêm cẩn xa đồng quỹ thư đồng văn mà trong quyển kinh quan trọng bậc nhất của văn hóa Trung Hoa vẫn giữ cách nói của người Việt trung lộ, trung tâm, trung cốc... mà không chuyển sang cách nói của người Hán lộ trung, tâm trung, cốc trung...? Ðấy chính là những hóa thạch ngôn ngữ mách bảo cho người biết nghe những điều thầm kín: những câu ca của người Miêu Việt!

Thiết tưởng, ông Huệ Thiên với sở học sở đọc của mình, nếu không hồn nhiên tận tín những sách của thày Tàu mà tìm đọc giữa những hàng chữ Hán có thể sẽ cống hiến những phát hiện quý giá.

© 2005 talawas
0
...Ðó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ và đây tất nhiên không phải là trường hợp duy nhất...


Kính TC,

Phải xác định rằng, muốn học hỏi là cần biết mình bị hiểu chưa chih1 xác hay vội vàng hay là chưa quan tâm.

"...Ðó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ..." Vậy ra có ba bốn vấn đề ư.

TC cũng rộng lượng nghe HY trình baỳ sự hiểu biết cuả mình:

1. Âm thanh, chưa bàn đến âm địa phương, có tiếng Việt cổ và tiếng Việt đang thời. Trong tiếng Việt có âm Hán và Nôm. Vậy ra âm Nôm nầy không là tiếng Việt phổ cập ư.

2. Hình tượng, chưa bàn chữ mượn âm từ tiếng nước ngoài, có chữ Hán, chữ Nôm, và chữ Quốc Ngữ hay La-Tinh.

3. Chưa đi vaò chi tiết cuả lịch sử từng môn.

Vậy ra HY có sự nhầm lẫn khi hiểu chữ Nôm là tiếng Việt thông dụng. Mong TC vá Quý Bạn giúp ý.

Chúc vui với âm Việt ê a của tình mẹ bao la như biển cả rừng sâu, nuí cao, và....
0
Không biết câu này HY lấy từ cuốn sử nào ra?


Kính TC.

Tha lỗi cho không thể nào nhớ đọc từ đâu; tuy nhiên cũng có suy nghĩ vì rằng Thời Hồ Quý Ly làm vua rất ngắn ngủi và bị bắt đem về Trung Quốc.

Rất tiếc là không có cuốn sử hay từ điển nào trong tay; toàn là trộn lẫn trong đầu có đầy tham vọng mà kiến thức thì hạn hẹp.

Chúc vui trong học và dạy.
0
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=36189&mpage=8

Theo câu chuyện trên, một em bé gái 6 tuổi, đeo bám cây dưà trong lúc sóng thần ngaỳ 26 tháng 12 đã không còn nói được gì nữa. Em chỉ khóc vì mẹ. Có lẻ chính mắt em đã thấy nước cuốn mất người mẹ thân yêu nhất trên trần thế nầy.

Có thể chúng ta sẽ đối xử với em bằng cách cho tiếp xúc với người thân, để em chơi với các trẻ khác, cho ăn mặc đầy đủ...Và cũng có thể ta áp dụng: thương cho roi cho dọt, ghét cho ngọt cho bùi. Cho xin tự hoì dọt là gì ???.

Một bác sĩ tâm lý, hình như đối với ta còn mới. Đâu có bệnh tâm thần mà cần BS tâm lý. Ta cần BS trị bệnh bằng cách chít có lẻ là tối ưu. Đôi khi rủng rỉnh chút goị là kinế thức hay bạc cắc thì phải vô nước biển....

Ở đây, BS nầy trị bệnh bằng cách cho bé chơi với thú nhồi bông và kể câu chuyện về thú ấy. Đôi khi có hành động tàn nhẫn với tâm tình thú. Ta phải giựt mình cho cốt chuyện. Nhưng với kinh nghiệm 15 năm hành nghề BS tâm lý trên khắp thế giới; BS đó làm làm cho bé mỉm cười và bắt đầu nói.

Đây là baì học vô cùng to tát cho cá nhân mình trong chuyện học và dạy.

Chúc vui với thú nhồi bông và tâm tình cuả riêng con thú ấy.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-19 03:10:33HongYen>
Học tài thi mạng

Khi đi thi trợt thì nhớ đến học taì thi mạng, hay thi bằng ngòi bút vàng, hay CCCC, và...đủ thứ lý lẻ để biện minh cho cái rớt cuả mình. Xưa kia còn động viên rằng: chưa thi đỗ thì chưa động phòng...v.v và v, v. Ta đã rút ra cách học và daỵ chưa.

Nhân dọc 9 baì nầy thì mới thấy ý chí cuả một người....Chưa hẳn là tuyệt đối nhưng cũng là một gương hcọ với hành... Xin mời:

Thứ hai, 18/4/2005, 09:40 GMT+7

271 lần thi để lấy bằng lái xe

Sau 5 năm ròng với 271 lần trượt vỏ chuối ở vòng thi lý thuyết để lấy bằng lái xe, Seo Sang-moon tại thành phố Yeongju, Hàn Quốc, cuối cùng đã vượt qua bài kiểm tra này hồi tuần trước.

Tuy vậy, ông Seo vẫn chưa được phép lái xe mà còn phải trải qua vòng thi thực hành nữa. "Lái xe có vẻ hơi khó đấy nhưng sau 271 lần cố gắng thì có gì mà tôi phải sợ cơ chứ", ông nói.

Thí sinh 69 tuổi này cho hay ông gặp trở ngại do không biết chữ nên không đọc được quyển sách hướng dẫn thi lấy bằng.

Seo cho biết là thợ sửa chữa và phải đi lại khắp tỉnh North Gyeongsang và Gangwon nên ông rất cần có bằng lái xe. Song ông không dám đăng ký kỳ thi viết vì không biết chữ. "Mãi đến năm 2000 người ta mới áp dụng kỳ thi miệng và tôi mới đăng ký được", Seo cho hay.

Ông đã liên tiếp đăng ký dự thi và tính đến nay số lệ phí mà ông bỏ ra đã lên đến 1 triệu won (1.000 USD). Mỗi lần thi ông lại học thêm được một ít và cuối cùng ông đã thi đỗ.

Các nhân viên ở trung tâm thi lấy bằng lái xe cũng rất vui mừng khi ông Seo thi đỗ. "Ông ấy đến đây suốt 5 năm qua và chúng tôi coi ông ấy như người nhà", một nhân viên của trung tâm cho hay.

Seo cho biết ông đã chuẩn bị kỹ càng cho bài thi thực hành. "Tôi rất tự tin. Tôi còn đang bàn với vợ tôi xem nên mua loại xe nào rồi".

Ngọc Sơn (theo BBC)

http://www.vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Cuoc-song-do-day/2005/04/3B9DD60B/
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-22 00:52:59HongYen>
Nhớ rằng:

Dàn baì:
I. Mở bài với hai, ba ý trọng tâm... (xã luận hay cao hơn thì 4, 5 ý..)
II. Thân bài:
1. Diễn tả ý thứ nhất
2. Diễn tả ý thứ hai
...
ÌII Kết luận tổng kết lại những ý kia theo thứ tự, không lộn xộn....

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=47484



Dàn bài

Dàn bài tuy đơn giản nhưng rất quan trọng. Nếu ta dùng cho một bài viết ngắn hay dùng cho bài viết dải; theo cách nầy, người đọc dể theo dỏi ý tưởng.

Thí dụ bài dài hay web thì sao. Đây là ý kiến cá nhân cần kinh nghiệm.

Khi có những tiểu mục và tiểu mục có những chi tiết và chi tiết có những ý trọng tâm....

Mục cân đối nên lưu tâm. Nếu chỉ nói lên vài tiết mục trong phần giới thiệu còn phần khác chưa bàn đến. Vậy có thể đưa đến một quan điểm nào đó chăng.

Mong rằng đây là nhận xét tổng quát khi áp dụng dàn bài từ Đông sang Tây hay từ cổ đến kim.

Chúc vui với hàng ngàn tư tưởng
0


Chiến tranh là gì? Là Giết nhau càng nhiều càng tốt
Tại sao có chuyện bịa đăt chết nguồi về Lệ Văn Tám, và dấu giếm cho đến hôm nay.
Tranh luận là gì? Là hạ đối thủ bằng mọi cách
Hơn thua là gì? Là ta luôn luôn hơn người
Ai thắng ai là gì? Là mưu mẹo hay xảo trá dến giết người và bưng bít sự thật.

Học và ứng dụng
ý kiến cá nhân hạn hữu




.............................
Học Đến và Học Đi

Trích dẫn một phần cuả Chương 15 trong cuốn sách
KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY

Các em nữ sinh Việt Nam đứng dàn chào trên bãi biển, chờ đón để cài hoa lên áo người chiến sĩ đồng minh. Hôm đó là ngày 8 tháng 3, 1965. Hai sư đoàn TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Họ là nhóm đầu tiên mở đường cho một đoàn quân trên nửa triệu vào tham chiến tại Việt Nam. Họ đến để giúp nhân dân miền Nam chiến đấu với quân đội cộng sản Bắc Việt.

Mười năm sau, cũng vào tháng 3, Mỹ lại có kế hoạch đưa TQLC vào. Nhưng lần này không phải vào Đà Nẵng mà là vào Sàigòn. Không phải vào để tham chiến mà là vào để đưa Mỹ rút đi. Kế hoạch rút lui của Mỹ đòi hỏi phải có tới ba chứ không phải hai sư đoàn, cùng với oanh tạc cơ bao phủ vòm trời để yểm trợ. Tại sao lại như vậy? Vì vào thời điểm này, ngoài quân đội Bắc Việt, Mỹ còn lo ngại hơn nữa là phải chạm súng với chính quân đội VNCH! Ôi chao, sao lại có thể ê chề đến như vậy? Ăn ngủ với nhau đã vài chục năm, lúc ra đi lại bắn nhau hay sao?

Ấy thế mà khả năng này lại có thật! Với thời gian, dần dần ta mới thấy rõ hơn những biến chuyển đàng sau hậu trường khi giờ hấp hối của VNCH đã gần kề. ĐS Martin kể lại với tôi:

“Lúc đó đã có biết bao nhiêu những kế hoạch điên rồ (crazy plans) được mang ra. Tôi phải cố ngăn chận lại. Suýt nữa thì hoàn toàn đổ vỡ, chẳng ai đi được mà còn có thể gây ra thảm hoạ lớn!”

Sau khi nói chuyện với ông và nghiên cứu thêm tôi thấy các tình huống xoay quanh kế hoạch của Mỹ rút khỏi Việt Nam nó ăn khớp với nhau. Nói chung, để giúp cho việc ra đi được yên ổn và không tổn hại nhiều tới uy tín của mình, Hoa Kỳ đã có bốn dự định chính:

• Thứ nhất, một kế hoạch quân sự: mang thuỷ quân lục chiến vào Sàigòn để phụ trách di tản 6,000 người Mỹ và một số rất ít người Việt Nam liên hệ;
• Thứ hai, tác động với phía Việt Nam để tránh tình trạng hỗn loạn vào giờ phút chót.
• Thứ ba, nhờ cậy Liên Xô dàn xếp với Hà Nội để không cản trở việc di tản; và
• Thứ tư, sắp xếp một giải pháp chính trị để có một thời gian chuyển tiếp.
Dù là cả bốn hành động đi chung với nhau, về tầm quan trọng và ưu tiên, có sự khác biệt giữa những quan chức Mỹ ở Washington và ở Sàigòn. Washington thì đặt nặng giải pháp quân sự và việc cầu cứu Liên Xô. Tại Sàigòn, Đại sứ Martin lại cực lực chống đối kế hoạch quân sự, chỉ tập trung vào việc tránh xáo trộn và sắp xếp giải pháp chính trị.

Về mục tiêu của các giải pháp cũng có sự khác biệt: Washington theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu tình thế, đó là rút ra cho mau lẹ, trong khi Đại sứ Martin lại muốn có một thời gian lâu hơn để việc rút lui không quá lộ liễu, đồng thời giúp di tản một số người Việt Nam.

Suýt có đụng độ lớn!

Tình trạng hỗn loạn, tắc nghẽn ở Sàigòn làm kẹt việc di tản 6,000 người Mỹ là một tình huống đã làm cho Đại sứ Graham Martin lo nghĩ nhiều nhất. Ông kể lại là mình đã mất ngủ từ khi trông thấy cảnh rút lui thê thảm khỏi Cao Nguyên, rồi tới tình trạng rối loạn, kiêu binh ở Đà Nẵng, Nha Trang: dân chúng tràn ngập đường phố để tìm lối thóat, rồi tới tình trạng rối ren ở phi trường. Máy bay không đáp xuống được nữa khi các phi đạo bị tắc nghẽn. Ông giải thích về bài học quan trọng đã rút ra:

“Yếu tố đáng sợ nhất chính là sự hoảng hốt. Sự hoảng hốt có thể là kẻ giết người, là kẻ phá đổ, và là yếu tố làm tê liệt mọi việc mà ta cần phải tránh với bất cứ giá nào vào lúc đó” (1).

Bỏ rơi là phản bội. Phản bội và hậu quả của nó là điều mà đại sứ Martin đã vô cùng lo ngại trong những ngày cuối cùng. Nếu cảnh hoảng hốt lại tái diễn ra ở Sàigòn thì hơn 6,000 người Mỹ và số người Việt được chọn sẽ bị kẹt. Trong trường hợp đó, quân lực Mỹ sẽ phải vào can thiệp, dẫn tới khả năng đụng độ giữa hai quân đội Mỹ-VNCH. Đó là một tình huống ê chề nhất, mà lại vào giờ chót.

Kế hoạch để di tản số người Mỹ và bà con hoặc đã có dính líu tới Mỹ, có mật hiệu là “Talon Vise.” Lựa chọn thứ nhất của kế hoạch này là di tản bằng những máy bay lớn từ phi trường Tân Sơn Nhất, yểm trợ bằng quân lực Mỹ.

“ Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm lớn, vì, thưa quý vị, nếu quý vị đứng vào hoàn cảnh của người Việt Nam thì quý vị sẽ phản ứng như thế nào?” Ông Martin trình bày với Quốc Hội về sau này (2).

Khi bị chất vấn là tại sao ông không yêu cầu Tổng Thống cho di tản trước ngày 29 tháng 4 (ngày Tân sơn Nhất bị pháo kích), ông Martin trả lời:

“Không, vì theo đánh giá kỹ nhất của tôi, nếu làm sớm hơn sẽ có nguy cơ là xảy ra một tình trạng hỗn loạn với kết quả là một số rất đông người Mỹ sẽ chết. Nó sẽ đưa tới một sự khủng khiếp nặng nề nhất, đó là nhu cầu phải đưa quá nhiều quân lực Mỹ vào, và chúng ta sẽ phải chiến đấu với quân đội Miền Nam để mở đường tháo lui” (3).

Ngày nay ta mới hiểu hết được tâm tư của Đại sứ Martin. Rõ ràng là thoạt đầu Washington chỉ muốn di tản nhân viên toà đại sứ Mỹ, cơ quan Tuỳ viên Quốc Phòng DAO, công dân Mỹ và một số rất ít người Việt làm việc cho Mỹ mà thôi. Và phương thức di tản thì lại quá ư là nguy hiểm. Ta thử tưởng tượng: nếu Mỹ đem từ 3 tới 6 sư đoàn vào để chỉ di tản người Mỹ và bà con, trước hết là TQLC chiếm đóng phi trường Tân Sơn Nhất, rồi Toà Đại Sứ Mỹ; sau đó, trực thăng và từng đoàn xe Mỹ chở người tới phi trường. Và cũng như vậy, di tản từ các địa điểm khác như Biên Hoà, Cần Thơ. Khi thấy sự phản bội quá lộ liễu như thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh sát, nghĩa quân, địa phương quân, dân chúng VNCH có để yên hay không? Vào đầu tháng 4, sau những buổi họp tại Dinh Độc lập và Phủ Thủ Tuớng, tôi cũng đã bắt đầu nghe thấy hai chữ “đ.m.” Sau này, nhiều người cũng kể lại sự phẫn nộ lúc đó tại các đơn vị quân đội VNCH khắp nơi.

Vào thời điểm đó, “kế hoạch điên rồ” mà ông Martin lo ngại đang được bàn định tại Ngũ Giác Đài. Kế hoạch này được tuần báo TIME tiết lộ như sau:

“Sự nguy hiểm là Cộng sản sẽ pháo kích các phi trường. Cũng có một khả năng ác liệt khác là quân đội miền Nam Việt Nam sẽ quay súng bắn vào phi trường Tân sơn Nhất, và phía Tân cảng (cảng Newport), hay bắn vào chính cả cái bãi đáp trực thăng trên nóc toà Đại sứ Mỹ nữa, nếu những người Mỹ rục rịch di tản…” (4).

Hoa Kỳ đã tập hợp lại một đoàn hạm đội ở vùng biển Nam Hải cho công tác này. Đoàn này gồm 4 hàng không mẫu hạm: Hancock, Coral Sea, Midway, và Enterprise. Một đơn vị 2.200 lính Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đã được huy động tới trên bốn mẫu hạm này và những tàu hộ tống khác. “Nếu cần, quân đội Mỹ có thể được không vận vào Sàigòn, bắn phá mở đường đến một địa điểm an toàn, rồi chở đoàn người di tản ra bằng trực thăng tới các tầu ngoài khơi” (5).

Địa điểm an toàn đó là phi trường Tân Sơn Nhất. TQLC Mỹ sẽ chiếm và bao vây phi trường . Để thi hành kế hoạch này, cũng theo tờ TIME :

“Theo ước lượng của các chuyên viên Ngũ Giác Đài, sẽ cần tới 3 sư đoàn - mỗi sư đoàn 18,000 người- và hơn nữa, nếu tình hình trở nên bết bát hơn là dự đoán. Ngoài những máy bay phản lực bảo vệ trên vòm trời, lại còn cần đến yểm trợ hoả lực từ ngoài khơi, và hàng tá, nếu không phải là hàng trăm chiếc trực thăng nữa” (6).

Tờ NEWSWEEK còn tiết lộ là Ngũ Giác Đài rất lo ngại về một tình huống có thể xẩy ra như một ác mộng, đó là nhu cầu phải có một lực luợng làm hậu thuẫn cho kế hoạch Talon Vise, nhất là khi họ đã trông thấy cái cảnh kiêu binh của nhiều binh chủng ở Đà Nẵng (7):

“Dù rằng đã có 20,000 quân ở Miền Tây Thái Bình Dương và vài tá chiến hạm-gồm 4 hàng không mẫu hạm cỡ lớn và một mẫu hạm chở trực thăng ở ngay bên trong, hay sát gần hải phận Việt Nam, lực lượng này gần như chẳng đủ để thi hành công tác đó. Sau kinh nghiệm Đà Nẵng và Nha Trang hai tuần trước đây… Ngũ Giác Đài đã trở nên thận trọng.”

Tờ báo này trích dẫn một viên chức cao cấp ở Ngũ Giác Đài đã tiết lộ:

“Tôi đã được nghe một số tướng lãnh nói có thể cần tới 6 sư đoàn mới lập được một hành lang di tản.” Viên chức cao cấp khác thêm: “Phải chiếm phi trường Tân Sơn Nhất để máy bay và trực thăng đáp, chỉ việc này không thôi cũng đã cần 3 sư đoàn. Rồi cần giữ an ninh ngoài cảng cho tầu cập bến nên lại cần thêm ba sư đoàn nữa.”

Ngày 28 tháng 4, tờ NEWSWEEK còn tiết lộ thêm là có thể cần tới 200,000 quân đội Mỹ, nhưng các nhà quân sự đã phải thừa nhận rằng khó có thể nào điều động được một số quân lớn như vậy trong một thời gian ngắn. Tờ này nói thêm: “Một viên chức Mỹ ở Sàigòn đã giải thích ‘Chúng tôi thật lòng cố gắng để di tản tất cả những người đã làm việc cho chúng tôi hay những người bị nguy hiểm. Thế nhưng, hãy nhìn vào thực tế: chúng tôi phải lo cho người chúng tôi trước, và trong lúc này thì chỉ việc đó cũng là một cơn ác mộng rồi.’”

Đại sứ Mỹ cực lực phản đối

Từ khi biết được kế hoạch này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, ĐS Martin đã chống lại. Rồi ngày 8 tháng 4, ông lại thấy trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội, TT Ford lại còn nói rõ ra rằng ông yêu cầu Quốc Hội cho phép dùng quân lực Mỹ để thực hiện “một mục tiêu giới hạn là bảo vệ mạng sống người Mỹ bằng cách đảm bảo cuộc di tản của họ, nếu trở nên cần thiết.” Ông Ford còn xin Quốc Hội sửa đổi luật lệ hiện hành (về quyền hạn chiến tranh của Tổng Thống) để ông còn có thể dùng quân lực giúp di tản một số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đặc biệt đối với họ (những người làm cho Mỹ). Nghe Tổng Thống nói tới “dùng quân lực” là ông Martin hết hồn. Ông cực lực phản đối. Không, ông không thể nào để xảy ra một tình huống có thể dẫn đến cái cảnh Mỹ-Việt chĩa súng bắn nhau, mà lại bắn nhau vào giờ phút chót! Cái cảnh nồi da xáo thịt ấy còn làm cho Mỹ bẽ mặt thêm biết bao nhiêu nữa. Trong mật điện rất dài gửi Kissinger đêm ngày 17 tháng 4, ông Martin đã thẳng thắn đề cập tới vấn đề và cố thuyết phục (8):

“Lệnh di tản người Mỹ đột ngột có thể gây bạo động ở Sàigòn. Nếu không giữ bình tĩnh mà lại đưa thuỷ quân lục chiến vào đây thì có thể gây sự nổi giận không thể lường được….”

Rồi ông nhấn mạnh thêm:
“Tôi nhắc lại một lần nữa là sẽ có náo động lớn nếu gửi quân đội Mỹ vào Sàigòn, ngoại trừ một số ít và không quá lộ liễu.”

“Tất cả những tin tức lặt vặt nhận được về phản ứng (của phía Miền Nam) đều xác định đây là điều ta không nên làm…”

Chắc chắn ông Martin đã nhận được nhiều tin tức tình báo về khả năng này.

NEWSWEEK (28 tháng 4) còn viết thẳng ra: “Thực vậy, kế hoạch phòng hờ để bảo vệ người Mỹ được soạn thảo ra dường như là để đối phó với những người lính Miền Nam đang liều mạng tìm lối thoát hoặc uất hận vì bị bỏ lại, còn nhiều hơn là đối phó với đoàn quân cộng sản đang tiến tới.”

Tờ này còn thuật lại câu chuyện là một buổi sáng nọ, khi quan sát nhóm người Mỹ và thân nhân Việt của họ kéo đến trước toà Đại sứ, một viên chức cảnh sát Sàigòn bỗng nhiên chận lại và quát lên: ‘Các anh không thể bỏ xứ này ra đi, tôi sẽ nhốt hết các anh lại.’ Lính gác vội vàng đưa đoàn người này lọt vào qua cổng toà Đại sứ.

Trường hợp khác, tại Cần Thơ, những chuyến trực thăng của hãng Air America đã phải bay ban đêm tới một khu chung cư của người Mỹ để bốc họ đi, vì viên sĩ quan chỉ huy phi truờng có nói với ông Lãnh sự Hoa Kỳ ở Cần Thơ rằng ông ta không thể bảo đảm được kỷ luật của quân lính dưới quyền mình nếu người Mỹ cố di tản bất cứ ai ra khỏi phi cảng” (9). Về điểm này, chính bản thân nhiều độc giả chắc cũng đã chứng kiến những bất mãn tương tự tại các đơn vị quân đội hay tại địa phương.

Tại Nha Trang, NEWSWEEK thuật lại: “Khi Toà Lãnh sự Mỹ di tản, chỉ có đủ máy bay để chở người Mỹ, những lính gác Mỹ đã phải chĩa súng tự động vào số nhân viên để họ khỏi tràn ngập máy bay. Và một nhân viên CIA còn kể đến một chuyện phản bội nhẫn tâm hơn khi di tản Toà Lãnh Sự Mỹ ở Đà Nẵng: tới lúc ra đi, người Mỹ nhận thức rằng họ không thể nào cho di tản số nhân viên Việt Nam được, nên họ đã cho đậu ba chiếc xe vận tải trước cổng Toà Lãnh sự. Người Việt vội vàng trèo lên, thế là xe phóng đi liền. Khi đám đông đi rồi, người Mỹ mới chạy thoát ra. Rồi những chiếc xe vận tải thả ngay đám người này xuống một bãi ở cách Toà Lãnh Sự mấy dậm” (10).

Theo những thông tin nhận được, ông Martin ra sức ngăn chận việc mang quân vào. Trong cùng một mật điện (ngày 17 tháng 4), ông báo động về Washington:

“Người Việt Nam sẽ cho rằng Hoa Kỳ mang TQLC vào để di tản người Mỹ và mặc kệ số phận người Việt ở đây. Đó là một hành động phản bội trắng trợn của Hoa Kỳ.”

“Họ sẽ tin rằng Mỹ chẳng còn cần để ý tới những gì sẽ xảy ra cho họ nữa. Và từ cái cảm nhận sâu đậm đó, nếu chỉ có một việc gì bất ngờ xảy ra, dù là nhỏ nhoi tới đâu, cũng có thể gây ra tình trạng vô cùng hỗn độn. Cứ để như tình trạng hiện tại, chúng tôi sẽ gây được cảm tình với người Việt Nam vì họ cho rằng người Mỹ còn ở lại đây cũng chịu chung số phận với họ…”

“Hôm nay tôi đã cho di tản, một cách bất hợp pháp, bà vợ của một viên chức tình báo cao cấp. Ông ta sẽ không bao giờ ra đi, nhưng như vậy ta luôn luôn có thông tin đầy đủ, và chính ông ta cũng đã dùng ảnh hưởng lớn của mình can thiệp với tư lệnh một vài đơn vị quân đội trong số những đơn vị mạnh nhất để giúp cho “những người bạn trung thực nhất” của Việt Nam ra đi cho an toàn.”

Rồi như không còn chế ngự được mình nữa ĐS Martin đã đi tới chỗ gần như chửi thề ông Ngoại Trưởng và Tổng Thống:

“Thế nhưng tất cả những điều này đều có thể thay đổi đột ngột nếu như có một tên điên rồ khốn kiếp nào đó (some god-damned fool) lại thuyết phục được một trong các quý ông ở địa vị lãnh đạo cao cấp, mang TQLC vào trước khi tôi yêu cầu.”

“Và tôi sẽ không ngần ngại chút nào để yêu cầu khi trật tự công cộng bắt đầu tan rã.”

Để cho tăng phần quan trọng, ông thêm:

“Đây là công điện tôi tự đánh máy lấy, không có bản sao, ngoại trừ hồ sơ tại Washington.”

Chưa xong, trước khi chấm dứt bức công điện, ông đã bỏ hết mọi ràng buộc về ngoại giao và còn dứt khoát với cấp trên:

“Có một điều tôi đoan chắc tuyệt đối (deadly certain) là nếu đưa quân đội Hoa Kỳ ào ạt vào đây trong đìều kiện hiện nay thì họ sẽ phải chiến đấu với quân đội miền Nam để tìm đường tháo chạy.”

“Nếu ta hành động một cách bình tĩnh thì ta có thể rút khỏi một cách êm đẹp – tôi xin nhắc lại –và ta sẽ không làm một lỗi lầm ghê gớm nữa trong trăm ngàn lỗi lầm người Mỹ đã làm ở Việt Nam và về vấn đề Việt Nam .”
Trân trọng,
Martin

Tác động phía Miền Nam

Một mặt thì ngăn chận Washington gửi TQLC vào Sàigòn, một mặt ông lại cố tác động phía Miền Nam để giữ cho tình hình khỏi xáo trộn. Ông làm ba hành động: một là sinh hoạt hết sức bình tĩnh để không đổ thêm dầu vào lửa, không làm xôn xao thêm dư luận là Mỹ đang bỏ chạy; hai là cố kéo dài cuộc di tản người Mỹ để giúp một số người Việt ra đi; và ba là cho di tản sớm một số phi công và gia đình quan chức, tướng lãnh nòng cốt. Ông giải thích cho Quốc Hội Hoa Kỳ đầu năm 1976:

“Điều lo ngại nhất của chúng tôi lúc đó là tránh khỏi cảnh hoảng hốt, hỗn loạn. Sự lo nghĩ này nó ảnh hưởng đến tất cả những hành động khác.

“Liên quan tới điều này là mối lo âu thứ hai của tôi, đó là: nếu chúng ta không cư xử cho đúng mức thì đồng minh của chúng ta (phía VNCH) sẽ cảm thấy mình đang bị bỏ rơi, và trở mặt với Mỹ trong những ngày cuối cùng.”

“Bởi vậy phải hết sức bình tĩnh nếu muốn di tản được người Mỹ, những người Việt có liên hệ gia đình với Mỹ, và càng nhiều nếu có thể được, số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đối với họ” (11).

Dù bị Kissinger hối thúc liên tục, tại tư thất cũng như văn phòng làm việc, ông Martin nhất định không chịu đóng gói. Đồ đạc, sách vở, hồ sơ, hình ảnh trên tường vẫn được để nguyên vẹn, không xê dịch. Ngày 18 tháng 4, ông còn cho Giám Đốc Thông Tin Hoa Kỳ, ông Alan Carter lên TV Sàigòn để tham dự một cuộc phỏng vấn. Những câu hỏi và trả lời được soạn kỹ luỡng trước, nhằm làm giảm nhẹ những lo âu là Mỹ đang bỏ Việt Nam. Việc đầu tiên Carter phải làm là đánh tan cái tin đồn là “nếu Quốc Hội Mỹ không chấp thuận quân viện cho VN vào hạn chót như TT Ford đã đặt ra (đó là 19 tháng 4), thì toàn bộ người Mỹ sẽ được di tản.”

Tôi còn nhớ là ngày 11 tháng 4, sau khi ông Ford ấn định ngày 19 tháng 4 là ngày Quốc Hội phải quyết định có hay không cấp quân viện phụ trội cho VNCH, toàn bộ Nội Các hết sức xôn xao. Ông Thiệu cũng hỏi tôi tại sao lại là ngày 19 tháng 4? Tôi trả lời là thực sự tôi cũng không hiểu. Sau đó tôi gọi ĐS Martin hỏi, ông nói lơ mơ là không có gì đặc biệt. Rồi ông soạn một trang gợi ý cho ông Thiệu mấy điểm để giải thích lập trường của ông Ford (xem chương sau).

Trong cuộc phỏng vấn trên TV, ông Carter đã nhấn mạnh là:

“Ngày 19 tháng 4 chỉ là một ngày đề ra cho Quốc Hội hành động, chẳng có gì quan trọng cả. Ngoài ra, ông nói: “Ta cũng nên nhớ rằng Tổng Thống Ford đã tuyên bố ông sẽ còn yêu cầu những $1.29 tỉ quân viện cho VNCH vào tài khoá tới (1975/76) cơ mà.”

Để chứng tỏ là tình hình vẫn bình thường, Carter nói thêm:

“Nếu qúy vị ghé thăm tư thất Đại sứ và Bà Martin, quý vị sẽ thấy hoàn toàn không có đóng gói gì hết. Và ở nhà riêng tôi cũng vậy.”

Được hỏi về lời đồn thổi là văn phòng Lãnh Sự Mỹ đã cấp chiếu khán cho một số người Việt di tản, Carter chối phắt đi: “ Đây cũng chỉ là một lời đồn đại khác nữa, không có một chút sự thật nào cả” (12).

Người ta kể lại là ông Martin đã rất khó chịu với ông Polgar (trùm CIA) khi nghe tin ông này đã đóng gửi đồ đạc gia dụng đi từ đầu tháng 4 (13). Theo ông Von Marbod, Đệ nhất Phó Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng kể lại, dù đã tới ngày 28 tháng 4, ông Martin cũng vẫn còn chưa muốn cho Marbod di chuyển số máy bay còn lại và quân cụ nặng ra khỏi VN vì e ngại ảnh hưởng tới tinh thần quân đội VNCH. Dĩ nhiên là Marbod cứ tiếp tục vì ông đã có lệnh từ Washington.

Vì sao phi công VN được di tản trước?

Ngoài bà vợ viên chức tình báo cao cấp, Đại sứ Martin đã sắp xếp để đưa một số khá nhiều phi công VNCH và gia đình được ưu tiên ra đi. Tất cả khoảng 2,000 người di tản trước hết là tới phi cảng Utapao ở Thái lan. Mục đích của việc này là để giảm thiểu khả năng trả thù và đụng độ với lực lượng Mỹ.

Trình bày cho Quốc Hội về việc này, ông Martin cho rằng nếu cảm thấy bị bỏ rơi quá tàn nhẫn, phía Việt Nam sẽ trút sự giận dữ trên đầu những người Mỹ còn lại:

“Tình báo của chúng tôi đã có rất nhiều những báo cáo chính xác là nếu chúng ta mang số đông TQLC vào để di tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải chiến đấu để mở đường tháo chạy; Không Quân Việt Nam sẽ bắn rơi các máy bay vận tải của mình, khi chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho Bắc Việt” (14).

Ông Martin cho rằng phi công là những phần tử trong quân đội VNCH bị uất hận nhiều nhất nên có thể phản ứng :

“Tôi có một sự lo nghĩ trong lòng nhưng nó đã được giải quyết trước ngày cuối cùng của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Miền Nam đã được bay sang căn cứ Utapao ở Thái Lan. Như vậy là đã di chuyển được khả năng (chiến đấu) của một số phi công chống đối trên bầu trời, họ có lẽ là phần tử uất hận nhất trong các quân chủng. Và để trả thù, họ sẽ ngăn chặn cuộc di tản cuối cùng của chúng ta” (15).

Nếu phi công VNCH bắn rơi ba bốn chiếc máy bay vận tải Mỹ, chắc chắn là sẽ có nhiều trong số 6,000 người Mỹ phải chết. Thêm vào đấy là số thương vong không thể lường của quân đội hai bên. Dĩ nhiên là không lực từ Đệ Thất Hạm Đội sẽ vào uy hiếp, dẹp tan hết mọi cuộc tấn công. Nhưng Sàigòn sẽ đổ nát như Baghdad, và bao nhiêu người dân sẽ là nạn nhân?





--------------------------------------------------------------------------------
Khi Đồng Minh Tháo Chạy - Nguyễn Tiến Hưng
WebDesign by iPhongDesign © 2005

0
Tại sao có chuyện bịa đăt chết nguồi về Lệ Văn Tám, và dấu giếm cho đến hôm nay.


15 Tháng 10 2004 - Cập nhật 19h00 GMT


Tìm sự thật về nhân vật Lê Văn Tám?



Từ huyền thoại thành sự thật là một quá trình phức tạp


Tại Việt Nam, câu chuyện về nhân vật Lê Văn Tám 'lấy thân mình làm đuốc sống' đốt kho đạn Thi Nghè đã được truyền tụng nhiều năm qua.
Không ít người vẫn nghĩ rằng đây là câu chuyện hoàn toàn có thật trong lịch sử.


Nhiều tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng có các tượng đài, trường học, công viên, đường phố mang tên Lê Văn Tám.

Tuy vậy, trên số báo Thế giới (Hà Nội) ra ngày 27-09 vừa qua và được web site talawas đăng lại, một người viết đã đặt lại vấn đề này.

Tác giả Quang Hùng đặt câu hỏi "liệu Lê Văn Tám có phải là người thật việc thật, từng lập nên chiến công oanh liệt?"

Bài viết nhắc người ta rằng từ năm 2003, báo Xưa & Nay (thuộc Hội khoa học lịch sử Việt Nam) cũng đã đề nghị cần có sự nhìn nhận lại sự việc:

"Vụ đốt kho đạn Thi Nghè ngày 1.1.1946 bao nhiêu năm nay quy về một huyền thoại Lê Văn Tám. Nhưng về phương diện khoa học, huyền thoại này không đứng vững được. Và chúng ta cứ chấp nhận như thế mà lưu truyền như là một hình tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng."

Bài viết của tác giả Quang Hùng nêu lên một vài chi tiết khập khiễng trong câu chuyện về Lê Văn Tám.

"Chỉ nghe kể Lê Văn Tám là giao liên, nhưng không thấy nói cụ thể Tám là giao liên cho đơn vị nào...Đơn vị của Tám không đứng ra báo công trường hợp người của đơn vị mình là thiếu sót lớn, không phải để hưởng tiếng thơm lây, mà là có tội che giấu thành tích của người làm nên lịch sử."

"Thông thường, theo nguyên tắc quân sự, kho đạn nào cũng được bảo vệ nghiêm ngặt...Đằng này Lê Văn Tám chạy một hơi từ cổng đến tận nhà kho chẳng thấy lính tráng nào ngăn cản, cứ như xông vào chỗ không người."

Vậy hình tượng Lê Văn Tám được đưa lên như thế nào?

Đạo diễn phim truyện Phan Vũ là người đầu tiên đưa ra hình tượng này. Theo ông Phan Vũ, ông không hề viết Lê Văn Tám là nhân vật có thực.

"Nhưng do các nhà tuyên truyền thời ấy thấy cần xây dựng một tấm gương dũng cảm hy sinh cứu nước, bèn chộp luôn sáng tác của ông, hiện thực hóa như một nhân vật có thật. Lỡ phóng lao đành theo lao luôn."

"Tại sao nhân vật được đặt tên là Lê Văn Tám? Vẫn theo tác giả Phan Vũ, khi ấy nhân Cách mạng tháng Tám, ông đặt luôn nhân vật của mình tên Tám, vừa có ý nghĩa, vừa dễ nhớ, vừa dân dã lại rất Nam Bộ gần gũi."

Bài báo về nhân vật Lê Văn Tám gợi nên một ví dụ về việc cần nhìn nhận lại nhiều cách thức viết sử ở Việt Nam, cũng như những biện pháp tuyên truyền từ nhiều năm qua.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2004/10/041011_levantam.shtml
0
Tìm sự thật về nhân vật Lê Văn Tám?


Tạp chí Xưa & Nay số 154 (202) - XII - 2003, bài Đọc hồi ký Dương Quang Đông trọn đời tận trung với Đảng tận hiếu với dân của Nguyễn Quế Lâm, trang 9, có đoạn viết:

"Vụ đốt kho đạn Thi Nghè ngày 1.1.1946 bao nhiêu năm nay quy về một huyền thoại Lê Văn Tám. Nhưng về phương diện khoa học, huyền thoại này không đứng vững được. Và chúng ta cứ chấp nhận như thế mà lưu truyền như là một hình tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nay bác Năm Đông đưa ra một tư liệu khác. Tổ đánh mìn kho đạn Thị Nghè là công nhân nhà máy đèn Chợ Quán gồm có Ka Kim, Kỷ và Nỉ. Ka Kim là chỉ huy. Kỷ và Nỉ dùng thuyền nhỏ chở mìn chờ lúc con nước ròng đưa thuyền chở mìn và hai người chui qua ống cống thoát nước. Vì lính gác chặt chẽ nên hai anh tiến hành công việc đặt mìn rất chậm. Khi đặt xong đến giờ điểm hỏa thì con nước đã lớn, ống cống ngập lút không ra được. Giờ điểm hỏa phá tung kho đạn Thị Nghè cũng là giờ phút hy sinh của hai công nhân nhà máy điện Chợ Quán.”


Tôi xin có một vài ý kiến nhỏ, rất mong được các bạn đọc góp thêm, để tìm đúng sự thật.

Có nhiều bài báo, có cả sách viết về Lê Văn Tám. Rất nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước có nào là tượng đài, công viên, đường phố mang tên Lê Văn Tám, trường học Lê Văn Tám...

Tuy nhiên, nếu nghiêm túc về nguồn để tìm kiếm sự kiện lịch sử có thể sẽ nảy sinh những thắc mắc: liệu Lê Văn Tám có phải là người thật việc thật, từng lập nên chiến công oanh liệt? Xin nêu bốn điểm thắc mắc:


1. Qua tên gọi Lê Văn Tám, với tập quán đặt tên của người miền Nam, có thể suy ra Tám có sáu anh chị ruột lớn hơn (không kể các em). Năm 1946, Tám khoảng 10 tuổi như vậy phỏng đoán các anh chị của Tám hơn 10 tuổi đến hơn 20 tuổi. Qua 1975, tức 30 năm sau, anh chị của Tám khoảng chừng từ 40 đến 50 tuổi. Ở lứa tuổi này, rất nhiều khả năng trong số sáu anh, chị của Tám có người vẫn còn sống (ngay cha mẹ của Tám cũng có thể còn sống với lứa tuổi từ 60-80). Trước 1975, có thể họ không dám nhận là anh chị của Tám, nhưng sau khi cách mạng thành công, tại sao không thấy ai đứng ra nhận vinh dự (và cả quyền lợi) cho gia đình? Nếu gia đình khiêm tốn không nhận công lao kháng chiến, các cơ quan chức năng cũng phải đi tìm. Ngành thương binh xã hội phải lập danh sách gia đình có công, ngành viết lịch sử phải tra cứu thân thế sự nghiệp.

Chẳng lẽ tất cả sáu anh chị của Tám đều đã chết yểu ở độ tuổi từ 20 đến 30? Ngay cả trong trường hợp chuyện này xẩy ra, hẳn chú bác, cô dì của Lê Văn Tám thế nào cũng có người còn sống, vì Tám ở ngay vùng Thị Nghè chớ nào phải xa xôi, hẻo lánh gì?

Để làm rõ hơn, đề nghị nên đăng thông báo trên truyền hình, phát thanh, báo chí, cả trung ương lẫn địa phương, tìm người thân của Lê Văn Tám.


2. Chỉ nghe kể Lê Văn Tám là giao liên, nhưng không thấy nói cụ thể Tám là giao liên cho đơn vị nào. Phàm đã hoạt động cách mạng, thời chống Pháp cũng như chống Mỹ, dứt khoát phải hoạt động trực thuộc một đơn vị nào đó (như Thành đoàn, Công đoàn, Binh vận, Biệt động thành, Trinh sát vũ trang, Địch vận v.v.), không ai có thể một mình một cõi, tự tung tự tác, muốn hoạt động ra sao cũng được, dù là tự thiêu, phá hủy kho đạn của địch.

Thực tiễn hoạt động cách mạng tại Sài Gòn cho thấy đến tình báo hoạt động cũng phải có tổ chức. Đơn vị của Tám không đứng ra báo công trường hợp người của đơn vị mình là thiếu sót lớn, không phải để hưởng tiếng thơm lây, mà là có tội che giấu thành tích của người làm nên lịch sử. Vậy đơn vị nào có chiến sĩ Tám, cần nhanh chóng làm các thủ tục này. Không lẽ cả đơn vị lớn nhỏ đều hy sinh hết? Nhiều trường hợp cả đơn vị hy sinh, vẫn có nhiều người biết do cuộc chiến tranh của chúng ta luôn được nhân dân nuôi dưỡng, bảo vệ giúp đỡ.

....

11.10.2004
Quang Hùng

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2960&rb=0302

0
tiếp.....

3. Thông thường, theo nguyên tắc quân sự, kho đạn nào cũng được bảo vệ nghiêm ngặt. Đây là khu quân sự cấm người lạ mặt lai vãng, ngoài cổng luôn có lính gác "vũ trang đến tận răng". Trong kho lại có nhiều nhà kho, mỗi nhà kho đều có cánh cửa luôn khóa chặt, đạn được bỏ trong thùng. Chỉ khi có người đến lãnh đạn hoặc quan hệ công tác, trình giấy tờ hợp lệ và đầy đủ, lính gác mới mở cổng cho vào. Tiếp đó, phải có lệnh của trưởng kho, thủ kho mới mở khóa, giao đạn.

Đằng này Lê Văn Tám chạy một hơi từ cổng đến tận nhà kho chẳng thấy lính tráng nào ngăn cản, cứ như xông vào chỗ không người, tất cả mọi cánh cổng, cánh cửa kho đều mở rộng như chờ đón sẵn!


4. Giả sử Lê Văn Tám đã điều nghiên kỹ lưỡng, nắm được quy luật của địch, hoặc rơi vào trường hợp may mắn ngẫu nhiên, do lính gác cổng bị bất ngờ không kịp phản ứng và tất cả mọi tình huống đều thuận lợi cho Tám, thì một người bình thường tẩm xăng đốt mình cháy như cây đuốc sống cũng khó chạy bộ một quãng vài chục mét. Nhà kho, nhất là kho đạn, không phải nhà mặt tiền, chí ít cũng phải qua cổng gác rồi cách vài chục mét.

Hình tượng Lê Văn Tám được đưa lên như thế nào? Người sáng tác hình tượng này là đạo diễn phim truyện Phan Vũ.

Theo ông Phan Vũ kể, ông không hề viết rằng Lê Văn Tám là nhân vật có thực lập nên kỳ công "cây đuốc sống", mà chỉ viết một phim truyện. Nhưng do các nhà tuyên truyền thời ấy thấy cần xây dựng một tấm gương dũng cảm hy sinh cứu nước, bèn chộp luôn sáng tác của ông, hiện thực hóa như một nhân vật có thật. Lỡ phóng lao đành theo lao luôn. Tại sao nhân vật được đặt tên là Lê Văn Tám? Vẫn theo tác giả Phan Vũ, khi ấy nhân Cách mạng tháng Tám, ông đặt luôn nhân vật của mình tên Tám, vừa có ý nghĩa, vừa dễ nhớ, vừa dân dã lại rất Nam Bộ gần gũi.

Thời chiến, có thể dùng mọi biện pháp, miễn hữu ích. Nay cũng cần trả lại sự thật cho các các sự kiện lịch sử.

Nguồn: Báo Thế giới (Hà Nội) số 39 (154) ngày 27/9/04 (trang 22-23)

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2960&rb=0302
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-14 00:35:46HongYen>
Thứ Năm, 02/06/2005, 10:43



“Cô bé đèn lồng” và tấm bằng xuất sắc của Đại học Cambridge

“Tý hon” nhất trong số những học sinh được trao bằng Anh văn Quốc tế của Trung tâm Anh - Việt - Mỹ, nhưng Trần Nguyễn Diễm Quỳnh đã vượt các anh chị để là người duy nhất chiếm số điểm tuyệt đối.


Đây là trường hợp đặc biệt nhất từ khi Trung tâm Anh - Việt - Mỹ (AVIEC - Đà Nẵng) thành lập cho đến nay. Thông tin mà ông Đặng Xuân Nghĩa – Giám đốc điều hành AVIEC cung cấp gợi cho tôi niềm háo hức khi tìm về với phố Hội.

Ngôi nhà đơn sơ 115 Trần Phú (thị xã Hội An)

Nam Cường
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=11196&ChannelID=4


&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Xin Mời:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=65697&mpage=1&key=&#65698
📎 ImageView
0
Phỏng vấn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ

21-June-2005


Sau nhiều năm sinh sống tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt đã gặt hái được nhiều thành công trong các lãnh vực kinh tế và giáo dục, tuy nhiên đối với một số phụ huynh, nhất là những người mới đến Hoa Kỳ trong những năm gần đây thì họ vẫn cảm thấy rằng việc dạy dỗ con cái vẫn còn là một vấn đề khó khăn vì chúng hội nhập quá nhanh vào xã hội Mỹ.

Tuy nhiên theo các chuyên gia về giáo dục trẻ em thì nếu các bậc làm cha mẹ sớm biết thích nghi với hoàn cảnh mới và hiểu được đường lối giáo dục của Tây phương thì những trở ngại vì sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa Đông Tây có thể vượt qua được. Mời quí vị nghe một số nhận định về vấn đề này của Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ, qua cuộc phỏng vấn do Trần Nam trong Ban Việt Ngữ của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ thực hiện:

Kính chào Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, xin cô cho biết hoàn cảnh nào đã khiến cho cô quyết định chọn ngành giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ?

Thưa anh khi qua đây em không bao giờ nghĩ rằng em có thể học bên Mỹ được. Sau một thời gian làm việc và thấy không có việc làm nào hợp với khả năng thì em mới quyết định đi học thêm mấy lớp tiếng Anh được gọi là ESL. Sau đó em có ý định đi học để lấy một cái bằng để làm một cô giáo phụ tức là Teacher Assistant, chứ không bao giờ em dám mơ ước có thể trở thành một cô giáo ở bên nước Mỹ vì tiếng Mỹ không phải là ngôn ngữ của chúng ta và bản thân của em nửa. Tuy nhiên sau khi học mấy lớp Anh Văn rồi em cảm thấy không có gì khó lắm, và em lại may mắn có được một công việc làm, đó là dạy các em nhỏ . Khi dạy các em nhỏ em có đi học một số lớp về tâm lý trẻ em, và lúc đó em nhận thấy đó là thiên đường của em vì đường lối giáo dục trẻ em bên Âu châu quá hay, quá nhân bản, bởi vì họ dạy các em từ bé để biết đâu là phải đâu là trái và họ dạy tất cả mọi người phải có lòng tôn trọng lẫn nhau. Do đó sau 2 năm dạy học em quyết định rời chỗ làm để đi học trở lại. Em thử sức và thấy học được cho nên em tiếp tục học cho đến khi xong chương trình Master . Và sau chương trình Master, đang có hứng, em học tiếp lên chương trình Doctor, và bây giờ em là Doctor Theresa Vương Anh Ý Như, em chuyên môn về giáo dục trẻ em và Family Counselling, em dịch là Cố Vấn Cho Các Gia Đình.

Thưa Tiến Sĩ Ý Như, lúc nãy cô có nói rằng khi đi học các lớp về tâm lý của trẻ em và lúc đó cô nhận thấy đó là thiên đường của cô nên cô quyết định rời bỏ nơi làm việc để theo học ngành giáo dục trẻ em. Còn có lý do nào khác để cô nhất quyết theo đuổi ngành giáo dục, một ngành mà có nhiều người cho rằng khó khăn nhưng lại không kiếm được nhiều tiền như những ngành chuyên môn khác?

Thưa anh, cái thứ nhứt em nghĩ rằng mình có cái đam mê, mình có thích thì mình mới có thể làm được cái công việc đó. Cái thứ hai là khó hay không thì em cũng không biết trả lời ra sao nửa, nhưng em có thể đồng ý là khó bởi vì cái ngành này nói nhiều lắm, tuy nhiên nếu mình mê thì có thể vượt qua cái khó đó.

Đối với một người Mỹ thì họ học không khó nhưng đối với cá nhân em thì khó hơn cho nên em phải cố gắng nhiều hơn thôi.

Trở về vấn đề tiền bạc thì em đồng ý rằng ngành giáo dục này không có làm được nhiều tiền đâu nhưng bởi vì em mê cho nên em không đặt nặng vấn đề tiền bạc cho lắm, thưa anh.

Xin cô vui lòng mô tả các công việc mà cô đang làm hiện nay?

Thưa anh hiện giờ em đang dạy về giáo dục trẻ em tại trường Đại Học Community College của thành phố Philadelphia. Em cũng làm thêm một công việc bán thời gian cho một trung tâm gọi Inter-cultural Family Sevices. Bổn phận của em trong công việc
part-time này là đi giúp đỡ tất cả các gia đình gặp khó khăn trong vấn đề giáo dục con cái về thể lý cũng như tâm lý và đời sống trong gia đình, hoặc có những trẻ em vị thành niên mà gặp trắc trở ở trường học hoặc cha mẹ không dạy dỗ các con được thì em đến để chia xẻ với cha mẹ để cha mẹ dùng các phương cách mà em đã chia xẻ để giáo dục các con.

Thưa cô, những khó khăn mà cha mẹ thường hay gặp phải trong vấn đề giáo dục con cái là những khó khăn nào?

Thưa anh, theo em nghĩ thì những khó khăn đã đến từ cha mẹ nhiều hơn là đến từ các em bé. Em nói như vậy có thể quí thính giả khi nghe không đồng ý. Cha mẹ Việt Nam chúng ta đã đến từ một nền văn hóa Á Châu và khi chúng ta ở bên này chúng ta hội nhập vào nền văn hóa Tây Phương thì chúng ta có cảm tưởng như là con cái chúng ta khó dậy, mất dậy, nếu chúng ta dùng chữ mất dậy, tùy theo tình trạng mà chúng ta cảm thấy thất vọng.

Tuy nhiên em nghĩ rằng nếu cha mẹ biết update cái kiến thức của họ, biết cập nhật hóa cái đường lối giáo dục bây giờ, open mind, tức là cởi mở hơn, cho con cái được phép thưa nói, cho con cái được chia xẻ những thắc mắc, những ưu tư, và khi hiểu nhau rồi thì đôi bên có thể cộng tác với nhau và xây dựng một mái ấm gia đình được. Còn bao lâu mà cha mẹ cứ khăng khăng rằng tao đúng mày sai, không bao giờ cho các con có cơ hội được chia xẻ cái tâm tư và ước nguyện của mình thì làm sao chúng ta có thể giáo dục con cái của chúng ta được. Ý Như cũng xin thưa với anh rằng cha mẹ Việt Nam qua bên nay khổ tâm rất nhiều vì cha mẹ Việt Nam nghĩ rằng các em ở bên này rất khó dậy. Tuy nhiên không phải như vậy đâu mà tại vì chúng ta chưa hiểu các cháu và có thể rằng chúng ta chưa dùng đúng cách giáo dục con cái của chúng ta đó thôi.

Ngoài những vấn đề vừa kể, có những điều gì khác mà các bậc làm cha mẹ thường hay than phiền nhiều nhất trong vấn đề giáo dục con cái?

Thì như em đã thưa với anh vừa rồi, nhiều khi con cái không có như mình nghĩ nhưng vì mình muốn con cái làm theo ý mình, và khi con cái không theo ý mình thì mình cho là con cái hư. Có một câu nói như thế này, không có học trò nào ngu mà chỉ có nhà trường không biết dạy dỗ học trò, và em tin câu này vô cùng.
Em trở lại vấn đề cha mẹ, không có con cái nào hư nhưng chỉ có cha mẹ có thể chưa biết dạy dỗ con cái cho đúng cách mà thôi.

Cô có nghĩ rằng cha mẹ là những người đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cái để chúng trở thành những học trò giỏi ở nhà trường và những công dân tốt trong bất cứ xã hội nào?

Thưa anh đúng như vậy, một danh nhân bên Âu Châu đã nói như thế này: cha mẹ là bậc thầy giáo đầu tiên của con cái, và trong cái nhìn của em thì cha mẹ không khác gì những người trồng cây. Nếu cha mẹ trồng cây mà cái gốc của cái cây được tốt thì cái cây đó sẽ lớn lên và sinh sôi nẩy nở, cành lá sum xuê, và nếu cái cây đó ra ngoài gặp sóng gió bão táp thì cùng lắm cũng chỉ rụng vài ba chiếc lá mà thôi chứ cái cây đó không thể gẫy đổ được. Tuy nhiên nếu cha mẹ, người trồng cây, mà không trồng cho cây đó được tốt thì khi ra ngoài gặp sóng gió bão táp, cái cây đó sẽ bị gẫy liền, và rồi khi đó mình chửi các con của mình là chúng mày hư lắm, chúng mày thế này thế kia, thì điều này em không đồng ý.

Thưa cô, tại Hoa Kỳ thường thường trẻ em khi đến trường học thì nói tiếng Anh với thầy giáo, với bạn bè, còn khi về nhà thì cha mẹ ông bà thường là nói tiếng Việt, như vậy sự khác biệt về ngôn ngữ có phải là yếu tố quan trọng khiến cho việc dậy dỗ con cái trong gia đình trở nên khó khăn hơn không?

Câu hỏi của anh, em có thể chia làm 2 phần. Ngôn ngữ là quan trọng bởi vì ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta có thể communicate, tức là có thể liên lạc với nhau. Tuy nhiên nếu nói rằng sự khác biệt về ngôn ngữ là yếu tố quan trọng khiến cho việc giáo dục các em trở nên khó khăn thì em không đồng ý hoàn toàn 100% bởi vì dù rằng cha mẹ nói tiếng Việt các con nói tiếng Anh nhưng mà họ vẫn hiểu nhau. Có nhiều gia đình em biết, con cái của họ nói tiếng Mỹ mà vẫn hiểu cha mẹ nói tiếng Việt, họ vẫn có thể dạy con được nếu mình biết cách dạy con đúng cách như em đã thưa với anh trong câu hỏi trước đây.

Cám ơn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như đã dành cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ cuộc phỏng vấn hôm nay.

Phỏng vấn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ

21-June-2005

http://www.voanews.com/vietnamese/2005-06-21-voa13.cfm
0
Chủ Nhật, 26/06/2005, 05:12 (GMT+7)

2006 - Bắt đầu lộ trình đổi mới giáo dục đại học...


Click: Bà Trần Thị Hà


TTCN - “Đây chính là một cơ hội lớn cho giáo dục - đại học (GDĐH) Việt Nam. Tất nhiên nó sẽ đi kèm những thách thức cũng rất lớn”. Bà Trần Thị Hà - vụ trưởng Vụ Đại học & sau đại học - mở đầu cuộc trao đổi với TTCN.

Đánh giá về những yêu cầu bức thiết đòi hỏi hệ thống GDĐH phải có sự đổi mới, bà Trần Thị Hà nhìn nhận:

- Tuy có những cố gắng nhưng nhìn chung, sự chuyển biến của GDĐH nước ta còn chậm và vẫn trong tình trạng yếu kém, bất cập. Trong đó, yếu kém lớn nhất, gây nhiều lo lắng cho xã hội và làm trở ngại tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thống GDĐH đối với nhu cầu đào tạo nhân lực cho đất nước và nhu cầu học tập của nhân dân. Hiện qui mô đào tạo ĐH của chúng ta chỉ đáp ứng được khoảng 10% tỉ lệ trong độ tuổi học ĐH, chỉ là một nền GDĐH dành cho số ít.

Những biểu hiện cụ thể về sự yếu kém của hệ thống GDĐH hiện nay bao gồm: chất lượng đào tạo thấp, học không gắn với hành, nhân lực được đào tạo yếu về năng lực, phẩm chất. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổ chức quá trình đào tạo chậm đổi mới hoặc không đồng bộ, còn khép kín, chưa mềm dẻo, liên thông.

Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý hẫng hụt, không đáp ứng với nhu cầu đổi mới về cả số lượng và trình độ, thiếu nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia nghiên cứu và thiết kế chính sách GD ĐH. Hệ thống được thiết kế thiếu liên thông, chưa thích ứng với cơ chế thị trường, mạng lưới trường ĐH và viện nghiên cứu bị tách biệt và bố trí không hợp lý trên lãnh thổ, làm giảm hiệu quả đầu tư và chất lượng đào tạo nghiên cứu. Trong khi đó, công tác tổ chức quản lý, cơ chế chính sách và năng lực thực hiện bất cập.

* Theo bà, đâu là nguyên nhân tạo nên những yếu kém kể trên?

- Trong quá trình nghiên cứu xúc tiến xây dựng đề án, chúng tôi đã thống nhất đánh giá một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế là tư duy chậm đổi mới, thậm chí còn có những biểu hiện lệch lạc. Mặt khác, tư tưởng và thói quen bao cấp đối với giáo dục vẫn còn khá nặng nề trong các ngành, các cấp và trong xã hội, nguồn lực đầu tư cho GDĐH còn hạn hẹp do thói quen bao cấp, cơ chế huy động thành phần ngoài công lập chưa thích hợp, nguồn lực từ nghiên cứu triển khai quá bé nhỏ...

* Trong đề cương mà Bộ GD-ĐT chuẩn bị trình Chính phủ, đề án “Đổi mới GDĐH” hướng tới những mục tiêu nào, thưa bà?

- Đề án được xây dựng cho cả giai đoạn 2006-2020 nên trước hết chúng tôi tập trung xác định những mục tiêu tổng quát. Bao gồm: Xây dựng một nền GDĐH tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH-HĐH và nâng cao dân trí, tạo nên một sự thay đổi căn bản để khắc phục những yếu kém bất cập, đổi mới tư duy, xóa bỏ thói quen bao cấp đối với GDĐH, chuyển hướng GDĐH từ sự nghiệp công ích sang cơ chế dịch vụ phù hợp kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tác động phát triển khoa học công nghệ, làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời phải bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong một thế giới hội nhập.

* Đề án có tới bảy nhóm nội dung và giải pháp lớn. Vậy trong đó đâu là những giải pháp mang tính đột phá, có thể tạo ra “bước chuyển” của GDĐH VN?

Bản đề cương đề án “Đổi mới giáo dục đại học” sẽ được Bộ GD-ĐT trình Chính phủ vào đầu tháng 7- 2005. Lần đầu tiên vấn đề đổi mới GDĐH được đặt ra trong một kế hoạch tổng thể và dài hơi, thực hiện từ năm 2006 - 2020. Đề án này đang được kỳ vọng là một kế hoạch đồng bộ với những giải pháp đột phá mạnh mẽ có thể tạo ra bước chuyển biến cơ bản cho GDĐH Việt Nam.

- Đề án được thiết kế mang tính tổng thể, để đạt hiệu quả như mong muốn cũng cần thực hiện tổng thể, các giải pháp mang tính đồng bộ. Tuy nhiên, việc thực hiện được chia thành từng giai đoạn.

Trong từng giai đoạn sẽ có những giải pháp mang tính đột phá. Giai đoạn 2006-2007, trọng tâm là xây dựng sự thống nhất về ý chí và hành động của xã hội tham gia đổi mới GDĐH, đẩy mạnh xã hội hóa GD, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, xây dựng các tiểu dự án.

Giai đoạn 2008-2010, trọng tâm là tạo được chuyển biến bước đầu về chất lượng GDĐH, về cơ chế quản lý và tài chính hiệu quả, về xây dựng, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý GDĐH. Giai đoạn 2011-2020, trọng tâm là hình thành hệ thống GDĐH hiện đại, mạng lưới các trường ĐH hợp lý, hội nhập quốc tế và đạt trình độ chất lượng khu vực.

* Trong đề cương chi tiết của đề án có xác định định hướng GDĐH sẽ thực hiện một phần hoặc toàn bộ các chương trình GD sau trung học, đa dạng về cơ cấu và phương thức đào tạo, liên thông và có nhiều đầu ra, đầu vào đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội. Với định hướng này, cơ cấu trình độ và phương thức đào tạo ĐH sẽ có gì thay đổi thưa bà?

- Chương trình GDĐH sẽ được phân chia rõ theo hai hướng chính: hướng nghiên cứu - phát triển và hướng nghề nghiệp - thực hành. Hướng nghiên cứu - phát triển về cơ bản vẫn giữ cơ cấu trình độ theo mô hình 4:2:3 tương ứng với các bằng cấp cử nhân - thạc sĩ - tiến sĩ như hiện nay.

Còn hướng nghề nghiệp - thực hành sẽ thiết kế cơ cấu trình độ theo mô hình 2:2:1:1:3, tức là thực hiện đào tạo đa giai đoạn cả chương trình ĐH (2:2), thạc sĩ (1:1) để tăng thêm cơ hội học tập và phân tầng trình độ nhân lực được đào tạo. Bộ GD-ĐT sẽ qui định thêm các văn bằng trung gian đánh dấu từng giai đoạn học tập.

Đặc biệt, hướng nghề nghiêp - thực hành sẽ được ưu tiên phát triển về số lượng, mở rộng qui mô giai đoạn đầu, các chương trình cao đẳng (CĐ) và thu hẹp qui mô giai đoạn sau nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cơ cấu hình tháp về trình độ nhân lực đáp ứng nhu cầu sử dụng. Nhưng giữa hai hướng đào tạo kể trên có qui định về sự tương đương trình độ.


Click: Ảnh minh họa



Hệ thống GDĐH cũng sẽ được phân chia lại. Trong đó hệ thống trường THCN từng bước chuyển sang CĐ kỹ thuật với bằng CĐ kỹ thuật hai năm. Các trường CĐ cộng đồng được củng cố và phát triển phục vụ nhu cầu nhân lực cho các địa phương. Các trường ĐH mở hiện có sẽ được củng cố cùng với việc phát triển hệ thống đào tạo từ xa ở qui mô toàn quốc trên nguyên tắc mở đầu vào theo phương thức ghi danh, chuẩn về chương trình và kiểm tra đánh giá, bằng cấp được công nhận tương đương với hệ chính qui.

Trong đề cương đề án cũng chính thức đặt mục tiêu xây dựng một số trường ĐH kiểu mới, hiện đại đạt trình độ tiên tiến trong khu vực làm hình mẫu cho hệ thống GDĐH và thành lập hai trường đào tạo sau ĐH trong hai Viện Khoa học và công nghệ VN và Viện Khoa học xã hội VN. Đồng thời xây dựng một số trường ĐH trong các doanh nghiệp lớn để gắn kết đào tạo với sử dụng, ưu tiên phát triển các ĐH, CĐ tư thục, khuyến khích thành lập cơ sở đào tạo của các trường ĐH nước ngoài có uy tín tại VN...

* Vậy theo bà, để tương ứng với những thay đổi trong hệ thống GDĐH, công tác quản lý sẽ phải đổi mới như thế nào để theo kịp bước phát triển của GDĐH, không để tình trạng quản lý nhà nước “chạy” theo thực tế?

Đề cương đề án đưa ra bảy nhóm nội dung cùng các giải pháp chủ yếu. Bao gồm: cơ cấu trình độ GDĐH và hệ thống nhà trường; quản lý GDĐH; chương trình và qui trình đào tạo ĐH; xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu và cán bộ quản lý GDĐH; nghiên cứu khoa học và triển khai; tài chính và cơ sở hạ tầng cho GDĐH, và GDĐH và hội nhập quốc tế?


- Quản lý GDĐH sẽ phải đổi mới đồng bộ ở cả hai cấp: quản lý nhà nước mà trực tiếp là Bộ GD-ĐT và quản lý cấp trường. Quản lý ở cấp nhà nước sẽ theo hướng chuyển mạnh sang quản lý vĩ mô, thống nhất quản lý bằng luật và chính sách, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển. Bộ GD-ĐT sẽ chủ yếu thực hiện việc quản lý nhà nước, tức là xây dựng các văn bản pháp qui, chỉ đạo và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đúng các văn bản đó.

Còn các trường ĐH được tăng cường quyền tự chủ và đồng thời phải nâng cao trách nhiệm xã hội của mình. Để tăng quyền tự chủ một trong các cơ chế quan trọng là thành lập các hội đồng trường và đưa chúng vào hoạt động đúng chức năng. Hội đồng trường là hội đồng có tính lập pháp và quyết định phương hướng lớn của trường đại học, còn hiệu trưởng là người điều hành thực thi.

Để nâng cao trách nhiệm xã hội của các trường, hoạt động kiểm định công nhận chất lượng sẽ được Bộ GD-ĐT triển khai thường xuyên trong toàn bộ hệ thống GDĐH. Kiểm định chất lượng là hoạt động tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài theo các tiêu chí tỉ mỉ, dẫn đến việc công nhận một trường ĐH hoặc một ngành đào tạo của trường có đạt chất lượng hay không, định kỳ công bố kết quả kiểm định cho xã hội.

* Trong lộ trình đổi mới, sự tham gia của các trường ĐH đến đâu, thưa bà?

- Các trường ĐH, CĐ là bộ phận quan trọng của đề án này và đóng vai trò rất lớn. Ngay từ bây giờ các trường cần bắt đầu khởi động, tham gia vào quá trình đổi mới GDĐH ngay từ giai đoạn xây dựng đề án.

Trong quá trình lập đề cương chi tiết cho đề án, chúng tôi cũng đã trực tiếp trao đổi với nhiều trường, tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi từ đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên... Bởi chúng tôi xác định ngay từ đầu: để có tính khả thi và hiệu quả cao, đề án được xây dựng phải đồng trục với chiến lược phát triển của các trường.

* Thưa bà, khi nào Bộ GD-ĐT sẽ bắt tay vào thực hiện lộ trình đổi mới GDĐH?

- Đề cương của đề án sẽ được trình Chính phủ vào đầu tháng bảy tới. Nếu được phê duyệt, Chính phủ sẽ có nghị quyết về việc xây dựng đề án “Đổi mới GDĐH” VN giai đoạn 2006-2010 và xác định nguồn kinh phí cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện đề án. Chính phủ cũng dự kiến sẽ lập một “Ban chuyên trách đổi mới GDĐH” để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng đề án và thực hiện đề án.

Còn Bộ GD-ĐT sẽ chủ trì thành lập tổ công tác xây dựng đề án gồm các chuyên gia về GDĐH và liên ngành, trong đó có một số chuyên gia nước ngoài. Dự kiến đến cuối tháng 6-2006 đề án sẽ hoàn thiện và bắt đầu triển khai thực hiện giai đoạn đầu với đích ngắm là năm 2010 với một số mục tiêu cụ thể như các trường ĐH cơ bản chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, thực hiện đại trà kiểm định chất lượng...

THANH HÀ thực hiện

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=85361&ChannelID=13
0
Ngân Hàng Thế Giới và 5 nước trao tặng viện trợ khác cho Việt Nam vay 128 triệu đôla để cải thiện các tiêu chuẩn giáo dục

29-June-2005

AP


Ngân Hàng Thế Giới và 5 nước trao tặng viện trợ khác đã cho Việt Nam vay 128 triệu đôla để cải thiện các tiêu chuẩn giáo dục.

Theo tin AFP, Ngân Hàng Thế Giới cho Việt Nam vay 50 triệu đôla để cải thiện hạ tầng cơ sở, công tác giảng huấn, học liệu và sự tham gia của cộng đồng. Bỉ, Canada, Ủy Hội Âu Châu, New Zealand và Anh quốc cung cấp thêm ngân khoản để nâng số tiền này lên 128 triệu.

Chương trình này nhằm vào những khu vực gánh chịu những tiêu chuẩn giáo dục thấp kém, và chủ yếu để giúp học sinh nghèo, các sắc tộc thiểu số và trẻ em bị khuyết tật hoặc tàn phế. Đại diện Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam, ông Klaus Roland, nói rằng cải thiện giáo dục là mục tiêu chính yếu trong chiến lược của Việt Nam nhằm cắt giảm tình trạng nghèo khó và phát triển kinh tế.

http://www.voanews.com/vietnamese/2005-06-29-voa8.cfm
0
29 Tháng 6 2005 - Cập nhật 21h29 GMT

Biến đổi trong xã hội miền Nam thế kỷ 19


'Miền Nam Việt Nam dưới thời vua Minh Mạng' là tên một nghiên cứu mới xuất bản năm 2004 - đây là lần đầu tiên sau 30 năm mới lại có một cuốn sách tiếng Anh viết về miền Nam trong 40 năm đầu thế kỷ 19.

Cuốn "Southern Vietnam under the reign of Minh Mạng (1820-1841): Central policies and local response" của Choi Byung Wook, một nhà nghiên cứu Nam Hàn, và do ĐH Cornell xuất bản.

Dưới đây là bài điểm sách của Liam C. Kelley, giáo sư ĐH Hawaii, Manoa, in trong Journal of the Economic and Social History of the Orient, VOL. XLVII, 2004:

Trong vài năm qua, một nhánh của nghiên cứu về lịch sử Việt Nam đã xuất hiện, với trọng tâm về cuộc mở rộng về Nam của các dân tộc Việt vào đồng bằng sông Mêkông trong thế kỷ 17 và 18, và nỗ lực của họ trong việc cai trị ở các vùng đất mà ban đầu có dân cư là những nhóm sắc tộc khác.

Được củng cố chủ yếu bởi các sử gia ở Úc Li Tana và Nola Cooke (cả hai đang công tác ở Đại học Quốc gia Úc), nhưng cũng được khuyến khích ở Mỹ bởi Keith Taylor ở ĐH Cornell, xu hướng mới này nhấn mạnh các yếu tố “phi truyền thống” (so với miền Bắc Việt Nam”) của các xã hội hình thành ở khu ngoại biên này, các xã hội mà những nhà nghiên cứu này cho rằng có sự cởi mở hướng đến tính đa dạng.

Cuốn Miền Nam dưới triều Minh Mạng của giáo sư Choi Byung Wook, ĐH Quốc gia Seoul, là một sự bổ sung, và cũng là sản phẩm, của nhánh nghiên cứu này.

Dựa trên một luận án tiến sĩ ông viết tại ĐH Quốc gia Úc, bản thảo của Choi mở đầu trong thế giới tự chủ về chính trị, hỗn tạp về văn hóa và sắc tộc tại đồng bằng sông Mêkông vào cuối thế kỷ 18. Tác phẩm sau đó quan sát nỗ lực của vua Minh Mạng muốn áp đặt một mức độ thuần nhất về sắc tộc và văn hóa lên khu vực này vào những năm 1830 và đăṭ nó dưới sự kiểm soát chính trị trực tiếp. Tác giả khảo sát nhiều nguồn tư liệu gốc bằng tiếng Hoa (văn bản triều Nguyễn, địa bạ), và tác phẩm bằng tiếng Việt, Triều Tiên, Nhật, Pháp và Anh. Choi ghi lại chi tiết những biến chuyển hấp dẫn về xã hội và chính trị mà miền Nam trải qua trong nửa đầu thế kỷ 19.

Cuốn sách chia làm hai phần. Phần đầu, đặt tựa “Uy quyền địa phương và sự biến mất của nó”, nhìn miền Nam trong những thập niên trước khi nó sát nhập vào vương quốc nhà Nguyễn. Giáo sư Choi mở đầu trong chương thứ nhất, “Di sản của chính quyền Gia Định (1788 – 1802)”, với việc xem xét sự xuất hiện của một cơ cấu chính trị ở đồng bằng sông Mêkông mà ông gọi là “chính quyền Gia Định”. Vào cuối thế kỷ 18, chiến tranh phủ kín Việt Nam khi phong trào Tây Sơn kết liễu nhà Lê và hai phe Trịnh, Nguyễn. Khi bắt đầu đẩy lui Tây Sơn và thống nhất vùng đất, Nguyễn Phúc Ánh đã thành lập căn cứ tại Gia Định năm 1788.

Choi cho rằng ‘chính quyền Gia Định’ này quan trọng bởi vì nó không đơn giản chỉ là hòn đá tảng trên con đường chinh phục của Nguyễn Ánh, mà nó đánh dấu sự xuất hiện của một thực thể chính trị “dựa vào sự chủ động của dân Gia Định”. Theo Choi, nó cũng đánh dấu sự trỗi dậy, hay có lẽ là sự hợp nhất, của một bản sắc cụ thể – bản sắc này dung thứ các nhóm sắc tộc và tôn giáo, và cho phép một mối quan hệ ‘mang tính cá nhân hơn là quan cách’ giữa tầng lớp thống trị.

Chính cái khía cạnh ‘tương đối bình đẳng’ này tại miền Nam cuối thế kỷ 18 đã được Choi gọi là ‘di sản của chính quyền Gia Định’. Di sản này tiếp tục định hình cuộc sống ở vùng này ngay cả sau khi chính quyền Gia Định đã bị thay bằng Gia Định Thành Tổng Trấn, một chính quyền quân sự tự trị mà triều Nguyễn lập ra để quản lý miền Nam từ năm 1808.

Đây là tác phẩm mang tính tiên phong, đi vào lãnh địa chưa được khai thác và mở đường cho những người khác đi theo.

Chương hai của cuốn sách, “Chính quyền Gia Định (1808-1832) và Lê Văn Duyệt”, khảo sát cuộc sống dưới chế độ quân sự này. Mặc dù Choi tìm thấy bằng chứng về di sản của chính thể Gia Định cũ trong những năm này, đặc biệt là có sự dung thứ của Lê Văn Duyệt với tín đồ Công giáo và người Hoa, nhưng ông cũng để ý sự xuất hiện của các cách nhìn đối lập quanh câu hỏi đối xử với các sắc dân này như thế nào. Các cách nhìn này xuất phát từ triều đình đặt ở Huế, đặc biệt được vua thứ hai, Minh Mạng, thể hiện mạnh mẽ.

Sự chán ghét của vua Minh Mạng đối với phong cách cai trị của Lê Văn Duyệt và đồng bạn miền Nam là chủ đề của chương ba, “Tước bỏ quyền lực miền Nam”.

tiếp.....

0
tiếp.....

Đầu thập niên 1830, vua Minh Mạng bắt đầu có nỗ lực phá vỡ quyền lực và uy tín của giới cai trị miền Nam. Khi Lê Văn Duyệt qua đời năm 1832, vua Minh Mạng xóa bỏ bộ máy quân sự tự trị tại miền Nam và đặt vùng này dưới sự kiểm soát trực tiếp của trung ương, bổ nhiệm quan chức từ các vùng khác đến đây trấn giữ. Sau đó là sự cấm đoán đạo Công giáo và theo dõi các hoạt động thương mại của người Hoa. Choi đề cập các diễn biến này và sau đó ngắn gọn xem xét cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, đã nổ ra để phản ứng trước các đổi thay.

Trong phần hai cuốn sách, giáo sư Choi khảo sát các nỗ lực của Minh Mạng biến đổi vùng này sau khi đã sát nhập nó vào vương quốc. Phần này nhan đề “Những đặc điểm mới dưới thời Minh Mạng”, và nó mở đầu bằng chương thứ tư nói về “Sự giáo hóa của Minh Mạng với người miền Nam”.

Trong chương này, Choi kể lại làm thế nào mà bắt đầu từ thập niên 1820, nhưng đặc biệt tăng lên từ 1830 sau cái chết của Lê Văn Duyệt, vua Minh Mạng đã tìm cách phát triển ở miền Nam một cảm thức trung thành với trung ương thông qua việc thành lập trường học, ra huấn dụ đạo đức, và quảng bá các điện thờ đại diện cho uy quyền triều đình.

Những nỗ lực này nhằm đưa người Việt ở miền Nam vào quỹ đạo của triều đình trung ương. Cùng lúc đó, các nỗ lực khác cũng được nhắm tới các nhóm sắc tộc khác ở đây. Đây là chủ đề của chương thứ năm, “Giá của chính sách đồng hóa của Minh Mạng.” Tại đây, tác giả khảo sát nỗ lực của nhà Nguyễn khi ‘Việt hóa’ người Khmer, Hoa và các nhóm sắc tộc khác ở miền Nam, cũng như các cuộc nổi loạn để phản ứng những chính sách này.

Chính sách về đất đai của vua Minh Mạng ít tạo ra phản ứng đối nghịch hơn so với hai dạng chính sách ở trên. Năm 1836, nhà vua ra lệnh là hệ thống đo đạc đất ở miền nam phải giống như hệ thống trên toàn quốc.

Như Choi giải thích, các chính sách này đã không tạo ra phản ứng tiêu cực vì Minh Mạng khôn ngoan khi ông bảo vệ quyền sở hữu của người miền Nam. Choi cho rằng việc tiêu chuẩn hóa việc đo đạc đất đai đã giúp một số người giàu có ở miền Nam thu vén thêm đất. Kết quả là đến giữa thế kỷ 19, có một bộ phận trong xã hội miền Nam giàu có, an tâm và sống trong một xã hội thuần nhất hơn khi so với nhiều thập niên trước. Giờ đây họ cũng trung thành hơn với chính quyền trung ương.

Quyển sách là sự bổ sung mới ở chỗ nó khai phá lĩnh vực mới, tức là nửa đầu thế kỷ 19, và đây là ưu điểm lớn của sách.

Như đã nói ở trên, tác phẩm của Choi Byung Wook vừa là sự bổ sung, vừa là sản phẩm, của một nhánh mới trong nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, tập trung vào việc mở rộng biên giới phía Nam và, trong sách của Choi, sự biến mất của nó. Quyển sách là sự bổ sung mới ở chỗ nó khai phá lĩnh vực mới, tức là nửa đầu thế kỷ 19, và đây là ưu điểm lớn của sách. Thật tuyệt khi giờ đây có một bản thảo ghi chi tiết một số vấn đề và sự kiện chính từ nơi và thời kì này. Choi đặc biệt cừ khôi khi thảo luận các chính sách của vua Minh Mạng, xem xét các tư tưởng mà chúng dựa vào và lần ra ảnh hưởng của chúng.

Tuy nhiên, tác phẩm của Choi cũng là sản phẩm của xu hướng mới ở chỗ nó giữ nguyên giọng điệu của các tác phẩm đi trước. Giống như cách Frederick Jackson Turner mô tả biên giới Hoa Kỳ, Taylor, Li và Cooke, ở mức độ khác nhau, đều mô tả vùng miền Nam theo nghĩa tích cực. Họ nhấn mạnh sự cởi mở trước tính đa dạng và sự tự do tương đối thoát khỏi ý thức hệ Khổng giáo. Choi rõ ràng đi theo mô hình này, đặc biệt trong nửa đầu tập sách, và đây cũng là phần yếu hơn trong tập sách. Trong sách này, người đọc được khuyến khích hãy hình dung miền Nam theo nghĩa tích cực, như là vùng đất của hòa bình và dung thứ, một vùng đất mà sau đó đã bị chính sách của Minh Mạng hủy diệt. Mặc dù Minh Mạng rõ ràng đem lại các thay đổi lớn ở đồng bằng sông Mêkông, nhưng sự mô tả tích cực mà Choi dành cho miền Nam trong cuối thế kỷ 18 và đầu 19 tỏ ra hơi ngây thơ.

Lấy ví dụ về vấn đề quan hệ sắc tộc. Ngược với nỗ lực đồng hóa của Minh Mạng, tác giả Choi ghi nhận rằng vào cuối thế kỷ 18, Nguyễn Phúc Ánh đã cố gắng “phân rẽ mỗi nhóm sắc tộc, cho phép họ duy trì tự chủ và đã bảo vệ môṭ số quyền của họ”. Để lấy bằng chứng, Choi trích lời Nguyễn Ánh nói rằng “hán di hữu hạn”, mà Choi dịch là “người Việt và man di phải có biên giới rõ rệt”, rồi ông giải thích là “đây không phải là sự bày tỏ phân biệt ở Gia Đình, mà là sự bày tỏ ý tưởng của Nguyễn Ánh rằng các nhóm Việt và sắc tộc khác phải sống riêng rẽ.” Ở đoạn sau đó, Choi gọi điều này là “quan hệ hợp tác”. Cái cách nói “hán di hữu hạn” về nghĩa đen có nghĩa “có sự phân chia rõ rệt giữa người Hán và giống man di.” Dù nó có thể hiện sự “phân biệt” hay không, nó rõ ràng thể hiện một cảm giác đứng trên về văn hóa và sắc tộc, và không hề bày tỏ cảm giác “hợp tác.”

Choi đã đọc các nguồn tư liệu để tìm kiếm thông tin hỗ trợ luận cứ của ông thay vì thật sự cố gắng xem xét chúng thể hiện gì về xã hội này.

Tuy nhiên những vấn đề về cấp bậc và thế đứng trên lại đối nghịch với bức tranh mà Choi muốn vẽ cho miền Nam thời trước Minh Mạng. Để chứng minh về một xã hội “tương đối bình đẳng” và “dung thứ”, rõ ràng Choi đã đọc các nguồn tư liệu để tìm kiếm thông tin hỗ trợ luận cứ của ông thay vì thật sự cố gắng xem xét chúng thể hiện gì về xã hội này.

Đây là điều đáng tiếc bởi vì về nhiều mặt, tác phẩm này rất hay. Thật là vui khi thấy một học giả sử dụng các nguồn tư liệu gốc, chứ không phải bản dịch tiếng Việt, để làm nghiên cứu về Việt Nam thời hiện đại. Cũng thật khâm phục khi thấy các vấn đề quan trọng trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 19 đã đươc trình bày chi tiết như vậy.

Đây là tác phẩm mang tính tiên phong, đi vào lãnh địa chưa được khai thác và mở đường cho những người khác đi theo.

Tuy nhiên, những sử gia tương lai cũng sẽ phải sẵn lòng vượt qua cách tiếp cận kiểu Turner khi nghĩ về các vùng biên, và sẵn lòng nhìn thấy những bụi bặm, máu, mồ hôi và sự áp bức mà bức tranh thiện cảm này đã che dấu.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/06/050629_southervietnambook.shtml
0
Văn hóa khạp và lu...








Í, văn hoá gì mà lu vàkhạp hay khạp và lu. Bạn có nói lộn xin noí laị đi.

Không phải nói lộn; mà là cái bình nylon maù vàng kia để lộn. Nơi đó phải là cái gáo dừa xiêm già tra caí cán daì bằng cây xim và mốc vào cây dưng bên cái lu nhỏ kê trên caí ghế hay caí chảng ba....

Đó mới đúng là văn hóa khạp hay lu. Nói nôm na là văn minh Miệt Vườn. Tân tiến là Cộng Đồng....

Và mời Bạn xem bài kế...
0
Văn hóa khạp và lu...

Wednesday, June 29, 2005


Khạp nước giải khát bên đường ở huyện Cần Ðước, Long An.

Vựa bán lu ở huyện Cần Ðước, tỉnh Long An.

Lu nước rửa chân ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.


Trần Tiến Dũng/Người Việt


Bà con sống ở hai bên con kinh Ðạo Hổ chảy qua xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, mấy ngày nay đang râm ran tán chuyện một bà Việt kiều Mỹ, em ông S. - sắp tới đây sẽ bỏ ra hơn một trăm triệu đồng Việt Nam làm cầu bê-tông cốt thép cho dân ấp Tân Hưng.

Vì cái cầu của bà Việt kiều còn đang trong vòng bàn tính nên chúng tôi chọn đò ngang để qua kinh. Khi chúng tôi đứng chờ đò ngang, con kinh đang lúc nước ròng. Trên đầu bến, chỗ có bậc thang bằng gỗ tạp dẫn xuống đò, tôi thấy có một cái lu đầy nước, trong lu có cái thau nhựa nhỏ màu vàng. Không biết cái lu sành còn tốt này của ai, không dưng để ngay bến đò này làm gì? Không sợ trộm khiêng hay con nít phá bể sao? Chúng tôi đem những điều thắc mắc hỏi anh X, ông chủ nhà của cái đám giỗ mà chúng tôi sẽ tới ăn. Anh X nói:

- Ðể gặp lúc nước ròng khách lên xuống có nước mà rửa chưn.

Chúng tôi buộc miệng kêu lên:

- Dân ở đây có sáng kiến hay quá hả!

Anh X khoát tay:

- Bậy, cái nếp ông bà để lại chứ sáng kiến gì. Xưa nay khắp miền Tây sông nước này ở đâu cũng vậy.

Chúng tôi hỏi:

- Rồi hàng ngày ai múc nước đổ vô cho thiên hạ rửa chưn? Chắc là phải thu phí để có tiền mướn người làm việc đó chớ hả?

Một người đàn bà trên đường đi chợ, đang múc nước từ trong cái lu đứng rửa hai cái bắp chưn trắng nõn nói:

- Ai rảnh, thấy hết nước thì xách. Chớ hở một chút nói chuyện tiền bạc như dân ở thành phố, sao còn dám nhìn mặt ai.

Hồi đầu năm, anh một người bạn tôi từ Canada về lấy cốt một ông anh chôn ở một nghĩa trang sẽ giải tỏa trên Ðà Lạt. Lúc đi trên đường từ Sài Gòn ra cứ mỗi bận xe dừng lại ở các trạm thu phí giao thông, bà con đi cùng xe ai cũng bực mình, có người gay gắt nói:

- Tôi thấy đâu có khác gì nạn cướp đường mãi lộ đời xưa!

Ông Việt kiều trả lời:

- Chú không nói vậy được! Hãy tập thói quen vui lòng trả phí. Về nước đi chỗ nào có thu phí là tôi thấy chỗ đó đàng hoàng hơn mấy chỗ xài chùa. Ở xứ văn minh người ta nhờ làm vậy mà khá.

Chị vợ tôi, một Việt kiều Mỹ, năm nào cũng về Việt Nam. Về thường như vậy nên chị tin rằng cái đường ruột của chị đã “nội địa hóa” cứ tha hồ ăn hột vịt lộn, gỏi cuốn vỉa hè. Trong một lần “chơi” hai dĩa gỏi khô bò và một ly chè đậu đỏ nước cốt dừa, trên đường từ chợ Bến Thành về nhà chị tôi bị đau bụng. Chị biểu tôi tìm cho chị một nhà vệ sinh công cộng gần nhất để xả “bầu tâm sự.”

Tôi nói:

- Không vô đó được đâu chị ơi!

Chị tôi hốt hoảng:

- Sao vậy em? Chị chịu hết nỗi rồi!

Tôi hiểu tình cảnh không thể “chờ đợi” của chị. Nhưng đa số nhà vệ sinh công cộng mới lập ở một số vỉa hè khu trung tâm nội thành Sài Gòn đã biến chất trở thành một thứ phòng riêng của dân xì ke và các cô điếm già và kinh khủng nhất là chuyện mất vệ sinh. Tôi đành liều mạng chạy đại vào một căn nhà mặt tiền đường Xô Viết Nghệ Tỉnh để hỏi cho chị đi nhờ. Tất nhiên là tôi bị chủ gia từ chối. Tôi tin mình sẽ bị cả khu phố này từ chối dài dài nếu tiếp tục chai mặt hỏi chuyện đi toa-lét nhờ. Cuối cùng chị tôi cũng giải quyết được “tâm sự” trong một quán cà phê sang trọng.

Tất nhiên vì cái bụng đang “xấu” của chị tôi mà chúng tôi phải trả tiền hai ly cà-phê có giá cắt cổ, trong trường họp ngặt nghèo này chúng tôi phải “mang ơn” cái quán cà-phê đó không hết chớ nào có sá gì chuyện tốn “phí đi cầu” hết mấy chục ngàn đồng.

Chúng tôi chỉ tự hỏi, vì sao tinh thần cộng đồng của cư dân Sài Gòn ngày nay lại xuống cấp đến thế! Trong một đô thị gần 10 triệu dân, ở mọi đầu đường đầu hẻm đi đâu cũng thấy chính quyền hô hào bắt dân góp tiền lập cổng chào tự giới thiệu là khu phố, phường xã văn hóa nhưng thật không thể tìm được sự tự nguyện giữ gìn một nếp văn hóa đẹp như chuyện cái lu rửa chân của người dân quê ở miền Tây. Anh LNP, một ông thầy giáo tiểu học, bực tức nói: “Dân tình ngày xưa sống có nếp lắm đâu tệ vậy!”

Trong một quán cà phê trước chợ mới Phú Nhuận. Ông U - một người làm nghề giữ xe, kể:

- Ông nhớ chuyện cái khạp nước với cái gáo hoặc cái ca múc nước để ngoài cổng rào dành riêng cho người đi đường lỡ bước giải khát không? Trước đây khắp Nam Kỳ lục tỉnh đi đâu cũng gặp. Ðời bây giờ dù có đi gãy chưn, tôi đố ông kiếm được?

Tất cả những người có tuổi đang uống cà phê trong quán đều thấy thú vị khi nhớ lại hình ảnh cái khạp nước ngọt mà chủ gia luôn dành riêng cho người dưng nước lã đó. Chuyện cái lu chứa nước rửa chưn và cái khạp nước mưa giải khát không chỉ đơn giản là những phương tiện giúp đỡ người qua đường. Hình ảnh đầy ấp ý nghĩa và tình cảm cộng đồng này luôn là thứ động lực tạo nên tính cách hào phóng của người miền Nam. Bởi mọi người dù đến trước hay đến sau cũng từ tứ xứ tìm đến vùng đất này và cái hạnh phúc cuối cùng ai cũng muốn có là cùng nhau sáng tạo bản sắc văn hóa cộng đồng. Một dẫn chứng rõ nét về tinh thần văn hóa đó không gì hơn là chuyện cái khạp giải khát và cái lu rửa chưn, những vật thể tuy mộc mạc bình dị nhưng một thời là tài sản văn hóa nhân văn chung của đất và người miền Nam.

Một tay chơi còn trẻ, mặt rất “cô hồn” nói:

- Thời của mấy ông mắc chứng gì mà có dân tốt dữ vậy! Có ai bây giờ chơi khùng thử giống vậy, vui à nghen.

Trong quán tuy không ai chấp nhất lời lẽ thiếu văn hóa của người thanh niên này nhưng mọi người không thể không ngậm ngùi.


Tháng 6/2005

Trần Tiến Dũng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=28036&z=1

0
«« « 1 2 3 4 5 » »»