Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyển tập truyện cực ngắn hay Trung Quốc

41 trả lời, 27.141 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-10 07:17:34minhhuong268>
TUYỂN TẬP TRUYỆN CỰC NGẮN HAY TRUNG QUỐC

T/g:Dương Danh Hy tuyển chọn
NXB Thanh niên
Đánh máy & sưu tầm: minhhuong268
Phần I: Những nụ cười thiền
1. Cới nút
Có hai nhà láng giềng, do kết oán từ nhiều đời trước nên đã trở thành thế cừu. Đến nay, tuy người trong hai nhà đều cảm thấy không nên như vậy nhưng do oán thù tích đã quá sâu, nên chẳng ai giúp được họ thoát khỏi nỗi đau khổ đó. Một hôm có một hoà thường vân du tời thôn, sau khi biết sự tình hai nhà, ông có một chủ ý.
Ông thắt chiếc thừng thành một cái nút, rồi dấu một đầu dây thừng đi, chỉ để lộ một đầu dây. Sau đó đưa ra lời hẹn trước: nhà nào cởi được chiếc nút này ra thì nhà kia phải đứng ra làm lễ tạ lỗi với nhà kia trước toàn thôi. Cả hai nhà đều lần lượt thay nhau cởi nút, nhưng nửa tháng đã trôi quan mà họ vẫn không sao cởi được. Cuối cùng họ phải tìm đến vị hoà thượng. Ông mỉm cười nói:" Then chốt của vấn đề nẳm ở đầu dây bị giấu đi. Muốn cởi được cái nút này, chiếc thừng có hai đầu dây, thiếu một đầu là không nổi". Sau khi nghe xong, hai nhà như đại ngộ. Được sự khuyên giải của hoà thượng, họ đã xoá bỏ được oán thù đời trước, sống hoà thuận với nhau.
Đừng đợi người khác làm lành với mình trước, chỉ bằng lòng thành của chính mình, người khác mới vì mình mà đáp lại lòng thành. 


📎 small_nba1224915657
Đăng nhập để trả lời
0
2. Sa di nhớ con hổ
Trên Ngũ đài sơn có một vị hoà thượng già nhận một cậu bé lên ba làm sa di. Ngũ đài sơn rất cao, hai thầy trò tu hành trên đỉnh núi không bao giờ xuống núi. Mười mấy năm sau, hoà thượng dẫn sa di, lúc này đã là một thanh niên xuống núi chơi. Do một thời gian dài ở nơi không có dân cư nên chàng sa di hầu như không biết cái gì. Vừa đi, hoà thượng già vừa giảng giải cho cậu những con vật gặp trên đường:" Đây là con bò, dùng để cày ruộng. Đây là con ngựa, dùng để cưỡi hay kéo xe. Đây là con gà trống để báo trời sáng. Đây là con chó để canh giữ nhà...". Chàng sa di thấy con nào cũng kì lạ.
Một lúc sau có một thiếu nữ đi tới, sa di ngạc nhiên hỏi:" Đây là con gì?". Hoà thượng già sợ cậu ta động lòng trần nên nghiêm sắc mặt nói:" Đó là con hổ, nếu đến gần, nó sẽ cắn chết ăn thịt ngay lập tức". Sa di không hỏi gì nữa.
Buổi tối sau khi trở về núi, hoà thượng già hỏi:" Những con vật mà con gặp hôm nay, con thấy nhớ con gì nhất?".
Sa di trả lời:" Con không nhớ các con khác, chỉ thấy nhớ con hổ ăn thịt người thôi!".
Đăng nhập để trả lời
0
3. Chén nước chè và vại nước
Một ông cụ hỏi một vị cao tăng:" Tôi sống uổng phí đã một trăm năm, tuy già mà vẫn tráng kiện nhưng cả đời chằng làm nên trò trống gì". Cao tăng hỏi lại:" Gia đình cụ có hoà thuận không?".
 - Rất hoà thuận.
 - Các con cháu cụ có hiếu thảo không?
 - Rất hiếu thảo.
Thế thì việc gì làm cụ không hài lòng?- Vị cao tăng nhấc chén nước chè để trên bàn rồi nói:" Chén nước chè này tuy nhỏ nhưng nó có thể giải được cơn khát của tôi. Cái vại nước ở ngoài cửa tuy lớn, nhưng không làm dịu nổi cơn hạn hán của thiên hạ".
Cụ già nghe xong vuốt rây mỉm cười bỏ đi.
4. Nguyên nhân của sự tự ti
Một võ sĩ vô cùng kiêu ngạo đến chào đại sư Thiền Tôn. Anh ta vốn là một võ sĩ xuất sắc và nổi tiếng, thế nhưng khi nhìn thấy vẻ trang nghiêm và cử chỉ nhã nhặn của thiền sư, tự nhiên anh ta cảm thấy tự ti.
Võ sĩ cất tiếng hỏi:" Thưa thiền sư, vì sao con cảm thấy tự ti? Chỉ một phút trước đây con vẫn bình thường, thế nhưng vừa bước vào chùa đã đột nhiên cảm thấy tự ti. Trước đây con chưa bao giờ có cảm giác đó. Con đã từng đối mặt với rất nhiều lần chết chóc, nhưng chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi, vì sao bây giờ lại cảm thấy run sợ như thế này?".
Đại sư liền bảo:" Con hãy kiên nhẫn chờ đợi một chút. Đợi đến khi sau khi mọi người đã ra về hết, ta sẽ nói cho con câu trả lời".
Suốt ngày hôm đó người ta lũ lượt tới chào, thăm thiền sư, võ sĩ chờ đợi rất suốt ruột. Mãi tới gần nửa đêm, sân chùa mới không còn người qua lại. Võ sĩ nôn nóng thưa với thiền sư:" Bây giờ xin thầy trả lời con".
Đó là một đêm trăng tròn vành vạnh, ánh trăng hiền từ chiếu sáng khắp lá cây ngọn cỏ. Thiền sư nói:" Hãy nhìn các cây trong vườn. Cây cổ thụ kia như vươn tới trời cao, nhưng ngay sát nó có một cây nhỏ bé, cao chưa bằng một phần ba thân nó, cả hai cây tồn tại trong vườn ta rất nhiều năm rồi. Cái cây nhỏ kia cũng chưa bao giờ nói với cây cổ thụ, vì sao trước mặt anh tôi cảm thấy tự ti? Một cây rất cao, một cây thật thấp vì sao ta chưa bao giờ nghe thấy lời kêu ca, oán thán của chúng?
Võ sĩ thưa:" Vì chúng không biết so sánh".
Thiền sư nói:" Thế thì con không cần phải hỏi ta nữa. Con đã biết câu trả lời rồi đấy".
Đăng nhập để trả lời
0
5. Dây chuyền cuộc đời
Một pho tượng đất hâm mộ nhìn đám người qua lại, ông ta cầu cứu đức Phật:" Xin cho con trở thành người".
" Con có thể biến thành người được, nhưng con hãy cùng ta thử đi trên đường đời một lúc. Nếu như con chịu không nổi những đau khổ của đời người, ta sẽ lập tức hoàn nguyên cho con". Nói xong đức Phật chỉ tay một cái, pho tượng đât lập tức biến thành một chàng thanh niên.
Thế rồi chàng thanh niên theo đức Phật đi tới một vách đá. Tại đó chàng ta thấy ở bên bờ kia xa tắp cũng có một vách đá nữa, vách đá bên này là " sinh", vách đá bên kia là"tử", nối hai vách đá là một chiếc cầu bằng dây xích do những vòng sắt to nhỏ không đều.
 - Bây giờ anh hãy đi từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Chàng thanh niên từng bước vất vả dẫm lên trên những thanh sắt to nhỏ khác nhau ấy. Do không để ý anh ta trượt chân ngã vào bên trong vòng sắt, hai chân không còn chỗ tựa, ngực bị vòng sắt kẹp chặt hầu như nghẹt thở. Chàng thanh niên hét lớn:"Xin cứu mạng!".
 - Hãy tự cứu lấy mình, trên con đường này chỉ có anh là có thể tự cứu được mình thôi.
Chàng thanh niên lấy hết sức rấy rụa, khó khăn lắm mới thoát được ra, rồi tức tối nói:"Những cái vòng sắt chết tiệt này, làm sao kẹp ta đau thế!".
 - Ta là chiếc vòng danh lợi - Chiếc vòng sắt dưới chân trả lời.
Chàng thanh niên tiếp tục theo cầu sắt tiến lên. Bỗng có một cô gái tuyệt đẹp xuất hiện, cười rất tươi với anh ta, trong lúc không định thần, anh ta lại trượt ngã vào trong vòng sắt. Một lần nữa anh ta lại hét lớn:"Xin cứu mạng!".
Lúc này đức Phật lại xuất hiện trước mặt anh ta nói:" Trên con đường này, không ai có thể cứu được con, chỉ có con là tự cứu được mình thôi."
Chàng thanh niên lại hết sức giẫy giụa, cuối cùng sau khi đã mệt lả người anh ta lại thoát ra được. Vừa thở anh ta vừa hỏi:"Vừa rồi là cai vòng đau khổ gì đây?".
 - Ta là chiếc vòng nữ sắc - Chiếc vòng dưới chân trả lời.
Tiếp đó chàng thanh niên trượt ngã vào chiếc vòng ham muốn, chiếc vòng ghen ghét, chiếc vòng oán hận... và anh ta cũng phải từ những chiếc vòng đau khổ ấy, rấy rụa tìm đường ra. Cuối cùng không còn dũng khí để đi tiếp.
Lúc này đức Phật nói với anh ta:"Đời người tuy có nhiều đau khổ, nhưng cũng có sự thoải mái và niềm vui sau khi chiến thắng đau khổ, chẳng lẽ con vui lòng vứt bỏ cuộc đời?'.
 - Con đường đời người đau khổ quá nhiều, vui sướng và thoải mái quá ngắn ngủi và chỉ là tạm thời, con muốn trở thành pho tượng đất như trước.
Đức Phật lại chỉ tay một cái, chàng thanh niên lại biến thành pho tượng đất. Thế nhưng không lâu sau, bức tượng đất phải chịu một trận mưa lớn, nó biến thành một đống đất bùn!
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
6. Nguyên nhân khóc than
Một vĩ ẩn sĩ trú trong vùng núi sâu. Do phẩm đức cao thượng, hiền từ nên được mọi người tôn trọng. Ngài không hề làm tổn hại các sinh mệnh trong thiên nhiên, ngay khi đi đường cũng rất cẩn thận vì sợ lỡ ra dẫm chết một con kiến. Sau khi đã qua tuổi 80, sức khoẻ của ngài không được như trước, ngài cũng tự ý thức được điều này. Đến một hôm, biết là giờ ly biệt đã tới, ngài gọi các đệ tử đến bên giường rồi nghẹn ngào than khóc.
Các đệ tử vô cùng kinh ngạc hỏi:" Mỗi ngày sư phụ đều kiên trì học tập, dạy dỗ học trò, xưa nay chưa bao giờ chảy nước mắt. Khi bị người vô lý xúc phạm cũng không hề khóc. Sao hôm nay sư phụ lại khóc than thương tâm vậy?"
 - Sở dĩ ta khóc là vì trước lúc lâm chung, ta đã tự vấn lương tâm:" Có kiên trì học tập không? phẩm hạnh có đoan chính không?, có làm việc thiện không?". Ta đều trả lời là "có", thế nhưng khi tự hỏi:" Đã qua cuộc sống của người bình thường chưa? Thì ta chỉ có thể trả lời là "chưa". Vì thế ta khóc!
7. Lấy bất biến ứng vạn biến
Thiền sư Đạo Thụ xây dựng một ngôi chùa, gần một" miếu quán" của một đạo sỹ. Đạo sĩ ngứa mắt vì ngôi chùa bên cạnh nên hàng ngày đều dùng pháp thuật gọi một số yêu ma quỉ quái đến gây rối với chúng tăng. Hôm thì mưa to gió lớn, hôm thì đom đóm lập loè... để doạ các chúng tăng sợ hãi bó đi. Và đã có một số sa di vì sợ quá nên đã bỏ đi. Thế nhưng thiền sư Đạo Thụ vẫn ở lại chùa suốt hơn mười năm. Khi mọi pháp thuật của đạo sĩ đã dùng hết, thiền sư Đạo Thụ vẫn không đi, không còn cách nào khác, đạo sĩ đành phải rời bỏ "miếu quán" của mình.
Có người hỏi thiền sư Đạo Thụ:" Pháp thuật của đạo sĩ cao cường, vì sao ngài lại chiến thắng ông ta?".
Thiền sư trả lời:" Tôi chẳng có cái gì để thắng ông ta, chỉ có chữ "vô" có thể thắng ông ta".
 - "Vô" sao có thể thắng được?
Thiền sư trả lời:" Họ có (hữu) pháp thuật, nhưng hữu là hữu hạn, hữu tận, hữu lượng, hữu biên; còn tôi không (vô) có phép thuật, vô là vô hạn, vô tận, vô lượng, vô biên. Quan hệ giữa có và không là bất biến ứng vạn biến. Tôi"vô biến" đương nhiên là thắng "hữu biến"!
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
8. Chàng câm ăn phải hoàng liên
Một chú tiểu vô cùng lễ phép hỏi thiền sư Từ Thụ:" Người theo đạo khi ngộ đạo có thể nói được ranh giới và cảm thụ khi ngộ đạo không ạ?".
Từ Thụ:" Đã ngộ đạo thì không nói ra được".
Chú tiểu:" Nếu không nói ra được, sẽ giống như cái gì vậy?".
Từ Thụ:" Giống như chàng câm ăn phải hoàng liên".
Chú tiểu:" Khi một người đi tu nhưng chưa ngộ đạo, những điều nói ra có thể coi là ngộ đạo không ạ?".
Từ Thụ:" Đã chưa ngộ đạo thì những điều nói ra làm sao coi là ngộ đạo được".
Chú tiểu:" Bởi vì họ nói câu nào cũng là đạo, nếu không coi là ngộ đạo thì coi là gì?".
Từ Thụ:" Giống như con vẹt học nói mà thôi!".
Chú tiểu:" Chàng câm ăn mật và con vẹt học nói có gì khác nhau?".
Từ Thụ:" Chàng câm ăn mật, biết chứ, giống như người uống nước, nóng lạnh đều tự biết; con vẹt học nói có biết gì đâu".
Chú tiểu:" Nếu vậy kẻ đi tu chưa ngộ, làm thế nào thuyết pháp độ sinh được?".
Từ Thụ:" Tự mình biết sẽ khiến người khác biết, tự mình không biết thì không làm người khác biết được".
Chú tiểu:" Hiện nay thầy biết hay là không biết?".
Từ Thụ:" Ta như chàng câm ăn phải hoàng liên, đắng mà không nói ra được, cũng giống như con vẹt học nói, nói vô cùng giống. Con thử nói xem ta biết hay là chưa biết?"
Chú tiểu nghe xong ngộ ra.
 
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
9. Sợ nhất cái gì?
Chú tiểu hỏi hoà thượng:" Thưa sư phụ, người ta sợ nhất cái gì?".
Thế con cho là cái gì? - Hoà thượng hỏi lại đồ đệ.
Có phải là sự cô độc không ạ?
Hoà thượng lắc đầu:" Không đúng!".
Thế thì là sự hiểu nhầm chăng?
Cũng không đúng!
Là sự tuyệt vọng?
Không đúng!
...
Chú tiểu đưa ra liền mười mấy phương án, nhưng hoà thượng đều lắc đầu.
" Vậy thì sư phụ nói cho con xem, đó là cái gì?" - Chú tiểu chưa chịu thôi.
" Là chính con?" - Chú tiểu ngẩng đầu, mở to mắt dường như hiểu nhưng cũng dường như chưa hiểu, chú nhìn thẳng vào sư phụ như xin điểm hoá.
" Đúng vậy!" - Hoà thượng cười nói - "Thực ra những điều con vừa nói như sự cô độc, sự hiểu lầm, sự tuyệt vọng...đều là cái bóng của thế giới nội tâm của con, đều là cảm giác mà tự con gây ra cho con thôi. Nếu con tự nghĩ là những cái này thật đáng sợ thì đúng là con tự đánh bại con. Còn nếu con nghĩ là chẳng có gì đáng sợ cả, ta có thể chiến thắng thì chẳng cái gì có thể áp đảo con. Bởi vì một người mà ngay cả bản thân mình cũng không sợ thì còn sợ cái gì nữa. Cái làm cho ta sợ không phải là những suy nghĩ mà là chính bản thân ta".
Chú tiểu bỗng ngộ ra.
10. Pháp bảo
Vào lúc đệ tử học sắp thành tài, sư phụ cho anh ta xuống núi để vượt qua 81 thử thách cuối cùng. Trước khi lên đường, sư phụ cho anh ta một pháp bảo.
Pháp bảo đó quả là hiệu nghiệm, nhờ có nó, anh ta đã vượt qua được 80 cửa ải như sông lớn, vực sâu hoặc đi qua sa mạc không người, chịu được mùa hè nóng như đổ lửa, mùa đông lạnh như cắt da...Cửa ải thứ 81 là một ngọn núi hiểm trở.
Nhờ pháp bảo, anh ta đã vượt qua được những chặng đường dốc cao vực thẳm, nhưng khi đến lưng chừng núi thì anh ta gặp một vách đá dựng đứng, cao hơn tay với của anh ta một chút, nhưng mặc dù đã cố gắng hết sức anh ta vẫn không sao bám được vào gờ vách trên. Ba ngày ba đêm liền anh ta cứ quanh quẩn tại đó, trong lòng đã có chút nghi ngờ tác dụng của pháp bảo. Đúng lúc đó, vị sư phụ xuât hiện. Đệ tử vội vã thưa:"Pháp bảo không linh nghiệm nữa". Sư phụ cười nói:" Xem ra con vẫn chưa nắm được những điều kỳ diệu đã học. Pháp bảo có thể lúc thế này, lúc thế khác, nhưng trong trường hợp này sao con không dùng nó làm hòn đá kê chân mà cứ khư khư ôm nó trên người như một gánh nặng?".
11. Đêm và ngày
Một vị thiền sư hỏi các đệ tử của mình:" Trò nào có thể cho ta biết, đêm kết thúc khi nào, ngày bắt đầu lúc nào?".
Một đệ tử buột miệng nói:" Ở một cự ly nhất định, vào lúc có thể phân biệt được con vật ở đằng xa là con cừu hay con chó, đó là lúc ngày bắt đầu!".
- Không đúng! - Thiền sư nói.
- Vào lúc có thể từ đằng xa phân biệt được một cây là cây không có hoa, hay là cây đào là lúc ngày bắt đầu - Một đệ tử khác vội vàng nói tiếp.
- Cũng không đúng! - Thiền sư đã có chút bực bội.
- Vậy thì thưa thầy, ngày bắt đầu vào lúc nào? - Các đệ tử đồng thanh hỏi.
Thiền sư nghiêm túc trả lời:" Chỉ vào lúc các con nhìn rõ khuôn mặt của người đối diện, nhận ra họ là người anh em của mình thì mới là lúc ngày đã đến. Nếu không, bất kỳ lúc nào trong ngày đối với các con cũng chỉ là đêm đen".
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
12.Niệm kinh và thành Phật
Một vị vừa gia nhập tăng đồ, thỉnh giáo một thiền sư nổi tiếng:" Thưa đại sư, niệm kinh có thể thành Phật được không ạ?"
Đại sư trả lời:" Không được".
Tăng đồ hỏi:" Thế thì làm thế nào để thành Phật?"
Thiền sư trả lời:"Niệm kinh."
Tăng đồ cảm thấy khó hiểu:" Thưa đại sư, chẳng phải là ngài vừa nói niệm kinh không thể thành Phật à? Vì sao bây giờ lại bảo con niệm kinh?"
Đại sư nói:" Nếu như chỉ biết niệm kinh, con chẳng bao giờ thành Phật cả. Thế nhưng niệm kinh lại là con đường phải đi để thành Phật. Chỉ có không ngừng niệm kinh, không ngừng nghiên cứu kinh sách, không ngừng ngộ kinh đạo, hiểu thấu được chân tướng của kinh Phật, phát hiện được những điều kỳ diệu và đẹp đẽ của kinh Phật, con mới có thể thành Phật".
13. Trí tuệ của vị phương trượng
- Sự khác biệt căn bản giữa người và Phật là: tính người thay đổi, tính Phật cố định.
Phương trượng xuống núi giảng Phật pháp, khi tới một cửa hàng bầy bán một bức tượng Thích Ca Mầu Ni được đúc bằng đồng đen, rất giống, rất đẹp. Phương trượng nghĩ nếu ta đưa về chùa để thờ cúng suốt đời thì vô cùng hạnh phúc. Thế nhưng, khi thấy phương trượng tỏ ra vô cùng yêu thích pho tượng, người chủ cửa hàng đòi phải trả 5.000 đồng.
Về chùa, phương trượng bàn với các vị chúng tăng, và nói nhất định phải mua được bức tượng Thích Ca Mầu Ni đó. Chúng tăng hỏi: thầy định dùng bao nhiêu tiền để mua được pho tượng. Phương trượng nói:" 500 đồng là đủ rồi". Chúng tăng không tin, làm sao có thể mua được pho tượng rẻ như vậy. Phương trượng nói:" Lẽ trời còn đó, sẽ có biện pháp, bụi trần muôn dặm, đông đảo chúng sinh, dục vọng khó đầy, được không bằng mất, phật từ bi, phổ độ chúng sinh, sẽ khiến ông ta chỉ kiếm được 500 đồng thôi".
 - Làm thế nào phổ được cho ông ta?- chúng tăng không hiểu hỏi.
 - Để cho ông ta hối hận!- Phương trượng cười trả lời. Chúng tăng lại càng không hiểu.
Phương trượng nói:" Chỉ cần các con làm theo điều ta dặn là được". Phương trượng bảo các đệ tử hoá trang thành nhiều loại người khác nhau.
Đệ tử thứ nhất xuống núi đến cửa hàng mua tượng, khi mặc cả giá nói người chủ chỉ trả đến 4.500 đồng là thôi.
Hôm sau, đệ tử thứ hai xuống núi để mua pho tượng trên, khi mặc cả giá với người chủ, chỉ trả đến giá 4.000 đồng là bỏ đi.
Cứ như vậy, đến ngày thứ chín, khi người đệ tử cuối cùng xuống núi thì giá mua pho tượng chỉ còn là 200 đồng mà không thèm mua.
Mắt thấy những người mua ngày ngày bỏ đi mà giá trả cứ mỗi ngày một thấp, người chủ cửa hàng trở nên sốt ruột, ngày nào ông ta cũng hối hận: giá như bán cái giá mà người hôm trước trả có phải là tốt không. Ông ta tự trách móc mình quá tham tiền để nhỡ việc.
Đến ngày thứ mười, ông ta thầm nghĩ, nếu ngày hôm nay có ai đến mua pho tượng này thì bất kể trả bao nhiêu tiền ông cũng bán.
Ngày thứ mười, phương trượng đích thân xuống núi, nói muốn mua pho tượng với giá 500 đồng. Người chủ cửa hàng vô cùng phấn khởi: Không ngờ lại được đến 500 đồng! Ông ta đồng ý bán ngay. Đang lúc phấn khởi, ông ta còn tặng phương trượng một khám thờ. Phương trượng mua được pho tượng, nhưng từ chối cái khám thờ, nghiêng tay trước ngực cười nói:" Dục vọng vô bờ, việc gì cũng nên có mức độ, mọi cái đủ rồi thì thôi! Thiện tai, thiện tai...".
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
14. Con lừa không sao đuổi được
Có một thanh niên tới gặp một đại sư xin học thiền. Đại sư hỏi:"Trên đường đến đây, con nhìn thấy cái gì?". Người này nhớ là gặp một con lừa nằm trên đường. Đại sư nói:"Tốt lắm, trước tiên con hãy làm bài tập sau, nếu con làm được, ta sẽ dạy con học thiền. Con ngồi xuống, hãy đuổi con lừa đó ra khỏi đầu óc con. Bao giờ con làm được điều đó thì vào gặp ta".
Chàng thanh niên đó cố gắng ngồi thử hai giờ, nhưng anh ta thấy rằng những ký ức về con lừa càng ngày càng rõ, không sao đuổi được nó đi. Chàng ta đành đến gặp đại sư, nói:" Xin lỗi thầy, dù đã rất cố gắng nhưng con vẫn không thể nào đuổi được con lừa đó ra khỏi đầu con".
Đại sư nói:"Con chỉ mới thoáng nhìn con lừa thế mà sau hai tiếng đồng hồ con vẫn không đuổi nổi nó ra khỏi đầu óc mình. Hiện nay, trong đầu con có hàng đống sự việc tích luỹ từ khi còn nhỏ đến giờ, nếu muốn vứt bỏ hết những cái đó sợ rằng khó hơn việc quên con lừa vừa gặp đi rất nhiều!". Đại sư nói tiếp:" Nhưng nếu con hạ quyết tâm, thực sự vứt bỏ những gánh nặng đó thì trước tiên con phải nhận thức rằng không cần phải thử thoát khỏi bất cứ cái gì hết! Không cần đấu tranh với cái dục vọng của con, không cần thử thoát khỏi chúng mà chỉ cần buông chúng ra, xem thường chúng là chúng sẽ từng cái, từng cái một tự rời bỏ con".
Nghe xong những lời nói đó, chàng thanh niên đại ngộ.
15. Lớn và nhỏ
Một hôm, đệ tử hỏi thiền sư Đại Châu:" Thưa thầy! Thế nào là sắc, thế nào là không?".
Thiền sư trả lời:" Sắc tức là không!".
Đệ tử lại hỏi:"Thưa thầy, thế nào là có, thế nào là không?".
Thiền sư trả lời:"Có tức là không?".
Đệ tử lại hỏi tiếp:" Thưa thầy, thế nào là thiền sư, thế nào là đồ đệ?".
Thiền sư trả lời:"Chúng sinh đều là thiền sư,chúng sinh đều là đệ tử".
Đệ tử:" Vì sao thầy không đổi cho con làm thiền sư?".
Thiền sư không trả lời mà hỏi lại:"Như thế nào mới gọi là nhỏ?".
Đệ tử:" Thưa, không nhìn thấy".
Thiền sư:" Như thế nào mới gọi là lớn?".
Đệ tử:" Thưa, không thấy bờ bến".
Thiền sư:" Thế nào là không thấy bờ bến?".
Đệ tử đành trả lời:" Là nhìn không thấy!".
Thiền sư trả lời:" Vậy thì nhỏ tức là lớn".
Đệ tử lập tức ngộ ra.
16. Chỉ có một lớp vải mỏng
Có một chú tiểu xuất gia đã mấy năm, nhưng vẫn chưa nắm được yếu lĩnh của thiền. Điều đáng tiếc là chú chưa thoát khỏi cuộc sống trần tục.
Một hôm, vào lúc cảm thấy cùng đường, chú ta tìm đến phương trượng cầu giáo. Sau khi nghe chú ta trình bày nỗi niềm,phương trượng mỉm cười hỏi:" Con đã có thể tìm đến ta giãi bày, điều đó cho thấy con có tuệ nhãn, tính ngộ của con chỉ còn cách một lớp vải mỏng nữa thôi. Thế này nhé, con hãy về đắp một tấm chăn mỏng mà ngủ, rồi sẽ lãnh ngộ".
Nghe xong lời phương trượng, chú tiểu trở về phòng mình đắp chăn ngủ. Thế nhưng khi chú ta vừa ngủ, thì phương trượng dẫn mấy hoà thượng vạm vỡ cường tráng đi tới phòng, không nói một lời, dùng chiếc chăn chú tiểu đang đắp chùm kín từ đầu đến chân chú ta. Chú tiểu giật mình tỉnh giấc không hiểu chuyện gì xảy ra, chỉ thấy ngột thở. Theo bản năng, chú ta dùng hết sức cựa mạnh, chiếc chăn rách toang, do dùng sức quá mạnh, chú tiểu cũng lăn khỏi giường.
Chú đứng dậy, bước đến trước mặt phương trượng, vô cùng kinh ngạc:" Chẳng phải là thầy bảo con về ngủ ư? Sao lại cho người trói con?".
Phương trượng cười ha hả nói:" Con khá lợi hại đấy. Chỉ một lát là thoát ra được".
 - Nếu không thoát ra thì con chết ngạt rồi!" - chú tiểu tủi thân nói.
 - Đúng vậy, cho dù bị trói buộc chặt đến mức nào, chỉ cần con liều chết giãy giụa là trong nháy mắt có thể thoát ra! - Phương trượng nói với ý nghĩa sâu xa.
Ngay lập tức chú tiểu ngộ ra.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần II: Hài hước
1. Hài hước
 - Quản giáo đang giảng giải cho một kẻ cắp chuyên nghiệp mới vào trại:" Khi lấy cắp đồ đạc của người ta, anh có nghĩ đến mẹ anh không?" - Kẻ cắp trả lời:"Tôi có nghĩ, nhưng chẳng có cái gì thích hợp với bà ấy cả."
 - Một người nói:" Người xưa không có TV, không có tủ lạnh, không có máy giặt, không có điện thoại, làm sao các cụ có thể sống được nhỉ?" - Một người khác trả lời:" Vì thế họ đều chết cả rồi".
 - Một cô gái đang định xuống tắm tại một hồ chứa nước, khi cô vừa cởi xông quần áo ngoài định xuống nước thì người quản lý ngăn lại:"Thưa cô, không được tắm ở đây!" - Cô gái tức giận hỏi:" Vì sao không bảo cho tôi biết trước khi cởi quần áo?" - Người quản lý nói:" Nơi này không cấm người ta cởi quần áo!".
 - Một tư lệnh quân đội có con trai không có tài, nhưng cháu nội học rất giỏi. Một hôm tư lệnh mắng con trai:"Làm sao ta lại có đứa con chẳng làm nên trò chống gì như mày nhỉ?" - Người con trai cãi lại:" Bố con là tư lệnh, thế còn bố của bố? Đó chỉ là một nông dân đáng thương. Con của con là một học sinh ưu tú, thế còn con của bố? Chẳng ra cái gì cả! Như thế là bố của bố không bằng bố của con, con của bố không bằng con của con. Bố hãy xem lại mình đi!"
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
2. Vài mẩu chuyện vui
Câu chuyện thứ nhất:
Trước đây nước Pháp có một tổng thống tên là Goda, ông nổi tiếng là người nhanh trí. Một hôm, một phụ nữ Anh hỏi ông:" Có đúng là phụ nữ Pháp có vẻ đẹp mê hoặc hơn so với phụ nữ các nước khác?".
Goda không hề do dự trả lời ngay:" Đó là điều tất nhiên! Bởi vì phụ nữ Paris khi hai mươi tuổi thì đẹp như một bông hồng, khi ba mươi tuổi giống như một bản tình ca mê người,còn khi bốn mươi tuổi thì lại càng hoàn mỹ:.
Người phụ nữ Anh đó hỏi tiếp:" Vậy sau bốn mươi tuổi thì sao?".
Tổng thống Goda mỉm cười nói:" Thưa bà, bà không biết à, một phụ nữ Paris bất kể là bao nhiêu tuổi, khi nhìn đều không quá bốn mươi!".
Câu chuyện thứ 2:
Có một thanh niên Mỹ đang nghỉ tại một khách sạn. Hôm đó không biết vì sao anh chàng đi nhầm đường, chưa gõ cửa đã đẩy cửa vào một phòng. Khi thấy trong đó là một bà cụ, chàng ta vội nói:" Xin lỗi, tôi vào nhầm phòng!".
" Chưa hẳn là như thế!" - Bà cụ mỉm cười nói:"Chẳng qua là cậu đến chậm mất bốn mươi năm thôi!".
Một nhà triết học phương Tây nói:" Tính cách thoải mái là linh hồn của thành công". Đúng thế, khôi hài là tự cười mình, cùng hưởng niềm vui với người khác. Hơn nữa, hài hoà, trả lời dí dỏm, tự trào, nhanh trí, đều cũng là sự thể hiện của khôi hài, có thể làm cho người ta bị áp lực của cuộc sống nhưng vẫn tràn đầy niềm vui.
Shakespear cũng đã nói:" Đã ngọt lại thêm ngọt thì không thấy ngọt nữa; đã vui lại thêm vui thì mới là đại vui!".
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
3.Sức mạnh của truyền thống
Một ngày năm 1903, khi đi dạo, Sa hoàng Nga phát hiện ra một hiện tượng kỳ lạ: giữa một khoảng đất trống của điện Cremli có một người lính đứng gác. Không rõ vì sao lại phải đặt trạm gác ở đó, ông cho gọi đội trưởng đội cảnh vệ đến hỏi. Người này trả lời là do đội trưởng đội cảnh vệ khoá trước bàn giao lại. Sa hoàng hạ lệnh người này phải nhanh chóng tìm ra lời giải thích.
Sau một số ngày tìm hiểu, cuối cùng đội trưởng đội cảnh vệ cũng tìm được nguyên nhân. Thì ra vào năm 1776, một hôm, khi đi dạo, nữ hoàng Ecatherina đã vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ khi thấy một bụi hoa nhỏ nở rộ vào đúng chỗ người lính hiện nay đang đứng gác. Nữ hoàng ra lệnh đặt một trạm gác tại chỗ đó để không cho ai xâm phạm bụi hoa.
Thế là từ hôm đó,một trạm khác được thiết lập tại chỗ. Dù một thời gian sau bụi hoa này không còn nữa, nhưng theo truyền thống, trạm gác vẫn còn và cho tới hôm Sa hoàng hỏi, nó đã tồn tại được 127 năm.
4. Bệnh viện người điên
Có một người thấy một chàng thanh niên đang ngồi trên chiếc ghế dài trong một bệnh viện dành cho người điên. Chàng thanh niên này trông trắng trẻo, mặt mũi sáng sủa nhưng thần sắc trông rất lạ.
Người đó ngồi xuống bên cạnh và hỏi:
-          Vì sao anh lại vào đây?
Chàng thanh niên ngạc nhiên nhìn người đó và nói:
-          Đây là một vấn đề không lịch sự lắm, nhưng tôi vẫn trả lời ông. Cha tôi muốn tôi trở thành một người giống ông ấy như hệt, chú ruột tôi cũng muốn tôi trở thành một người đàn ông giống như ông ấy. Mẹ tôi lại muốn tôi giống như ông ngoại nổi tiếng của tôi. Chị tôi muốn tôi giống như người chồng dũng cảm đang là thuyền trưởng đi biển. Anh trai tôi muốn tôi trở thành một vận động viên giỏi như anh. Các thày học của tôi cũng đều như vậy, các vị ấy muốn tôi trở thành tiến sĩ triết học, giáo sư âm nhạc, nhà lôgic học…Tóm lại mỗi người đều muốn tôi trở thành cái bóng trong gương phản ảnh như hệt những nhân vật mà họ tôn thờ. Vì thế nên tôi mới đến đây. Tôi cảm thấy tỉnh táo hơn khi ở trong bệnh viện dành cho người điên này. Bởi chí ít, khi ở đây tôi có thể trở thành chính mình.
Rồi chàng thanh niên đột ngột quay lại nhìn người đó, nêu câu hỏi:
-          Chẳng lẽ ông cũng bị sự giáo dục và những ý nguyện chân thành xua đuổi tới cái bệnh viện dành cho người điên này à?
-           Không! Tôi là người đến phỏng vấn.
Chàng thanh niên vội nói: Thì ra ông là người ở bên cạnh bức tường của bệnh viện dành cho người điên này.
5. Đều bảo đối phương là quỷ
Mọi người đều nói tại ngôi nhà cổ nọ có một con quỷ dữ. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi không ai dám vào đấy nữa. Một hôm, có một người nói với mọi người rằng mình rất bạo gan, sẽ đến ngôi nhà đó ngủ một đêm. Sau đó cũng có một người nói mình còn gan dạ hơn người kia, cũng muốn vào ngôi nhà đó ngủ. Người này đẩy cửa định vào, không ngờ người đến trước tưởng là quỷ đến nên liều mạng đẩy ra, người ở bên ngoài tưởng là quỷ đã vào trong nhà nên càng cố sức đẩy cửa vào đấu. Cứ như vậy, kẻ đẩy vào, người đẩy ra, giằng co nhau suốt đêm, ai cũng nghĩ đối phương là quỷ, và tin rằng mình là người gan dạ.
6. Thần bút
Thân gửi đồng chí X.X.
Đã nhận được bài viết, vì đồng chí viết quá ít nên không sửa trên bản thảo, nay viết ra đây để đồng chí chép lại rồi gửi cho chúng tôi.
-          “Nông dân toàn huyện giảm đóng góp 300.000 NDT, bình quân 300.00 nông dân, mỗi người giảm được 1 NDT. Xin sửa là:”Nông dân toàn huyện giảm đóng góp 300.000 NDT, 100% nông dân đều được giảm đóng góp”.
-          “Tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn huyện từ 1 triệu NDT năm ngoái, tăng lên 2 triệu NDT”. Xin sửa là:”Tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn huyện tăng gấp đôi so với năm ngoái”.
-          Toàn huyện đã trồng 10.000 mẫu ngô”. Xin sửa là “Toàn huyện trồng được 50.000 cây ngô”.
-          Thu nhập bình quân đầu người năm ngoái của nông dân từ 100 NDT năm ngoái đã tăng lên 200 NDT “. Xin sửa là :”Thu nhập bình quân đầu người sửa nông dân huyện tăng gấp đôi so với năm ngoái:.
-          “Toàn huyện năm 2005 sẽ thoát nghèo toàn bộ”. Xin sửa là:”So với kế hoạch năm 2004, toàn huyện đã thoát khỏi đói nghèo 1 năm”.
-          “Nông dân toàn huyện giảm thu nhập 10 triệu NDT”. Xin sửa là :”Nông dân toàn huyện gia tăng thu nhập âm 10 triệu NDT”.
-          “Khi sự cố xảy ra,có 30 công nhân đang làm việc dưới hầm mỏ, trừ một người được cứu ra, tất cả đã tử vong”. Xin sửa là :”Qua việc này, lãnh đạo huyện hết lòng tổ chức cứu chữa, trong số công nhân đang làm việc dưới hầm mỏ, trừ 29 người không cứu được, toàn bộ đều sống sót”.
7. Lên lớp
Huyện uỷ tổ chức cho các cán bộ từ cấp khá trở lên đến học tập ở trường Đảng. Để làm rõ tầm quan trọng của đợt học tập này, mấy vị bí thư, phó bí thư huyện uỷ đều đến lớp giảng bài.
Bí thư mà giảng bài, tất nhiên là báo cáo phải do thư ký viết. Thư ký Lưu là thư ký của bí thư huyện uỷ, biết thủ trưởng của mình thích những bài nói có tính lý luận mạnh mẽ, nên đã chép một bài từ trên mạng nộp cho bí thư. Đọc xong, bí thư huyện uỷ khen thư ký Lưu viết tốt, có trình độ lý luận cao.
Bí thư và phó bí thư huyện uỷ phụ trách tổ chức được sắp xếp cùng giảng bài một ngày, theo kế hoạch thì bí thư giảng trước, phó bí thư giảng sau, nhưng hôm đó do bí thư có việc gấp nên để phó bí thư giảng trước. Khi bí thư huyện uỷ và thư ký đến lớp học, thì bài giảng của phó bí thư đã xong, các học viên đang nghỉ giải lao.
Bí thư huyện uỷ cầm giáo án, nghiêm túc chậm rãi từng câu. Ngồi ở phía dưới thư ký Lưu phát hiện, các học viên đều giương mắt nhìn bí thư huyện uỷ,có mấy người còn chụm đầu, ghé tai thì thào cái gì. Thấy vậy, thư ký Lưu liền hỏi một học viên ngồi bên cạnh xem có chuyện gì. Học viên này không biết thư ký Lưu, nên nói rõ:”Bài giảng của bí thư, y hệt bài giảng mà phó bí thư vừa nói”.
Thư ký Lưu chưa tin lắm,liền mượn bài ghi của học viên này xem, quả nhiên không sai. Làm sao mà hai thư ký riêng, không trao đổi với nhau, lại có sự trừng hợp khéo như vậy?
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
8. Hậu quả
Thầy giáo: Các em, bây giờ chúng ta luyện tập từ trái nghĩa. Cách luyện tập như thế này, tôi nói một câu, các em nói từ trái nghĩa của nó, bắt đầu nhé.
Thầy giáo(TG): Hôm nay thời tiết rất tốt
Học sinh(HS): Hôm nay thời tiết rất xấu.
TG: Mặt trời chiếu sáng khắp nơi.
HS: Mây đen bao phủ mặt trời.
TG: Trên đường người đông như kiến.
HS: Trên đường không một bóng người.
TG: Tuổi già.
HS: Tuổi trẻ.
TG: Đứng.
HS: Nằm.
TG: Có một thanh niên đứng trên đường.
HS: Có một cụ già nằm dưới đường.
TG: Tôi nhặt được một đồng.
HS: Tôi đánh rơi một đồng.
TG: Sai rồi, không nói thế được!
HS: Đúng rồi, phải nói như thế.
TG: Sai lầm.
HS: Chính xác.
TG: Không thể được, đó là hành vi phạm pháp.
HS: Có thể được, đó là hành vị hợp pháp.
TG: Tôi nói là sai lầm.
HS: Chúng em nói là chính xác.
TG: Phải nghe lời thầy, thầy nói mới chính xác.
HS: Phải nghe chúng em, thầy nói đều sai lầm.
TG: Các em là đồ ngốc.
HS: Chúng em là thông minh.
TG: Dừng lại.
HS: Tiếp tục.
TG: Bây giờ các em dừng lại, không nói nữa.
HS: Bây giờ chúng em tiếp tục, còn nói nữa.
TG: Các em là đồ ngốc,tôi bảo dừng lại.
HS: Chúng em là thiên tài,chúng em bảo tiếp tục.
TG: Các em hãy nghe lời thầy!
HS: Thầy hãy nghe lời chúng em!
TG: Học sinh phải nghe lời thầy giáo.
HS: Thầy giáo phải nghe lời học sinh.
TG: Bây giờ các em dừng luyện tập.
HS: Bây giờ chúng em tiếp tục luyện tập.
TG: Này, các em phải dừng lại, đồ ngốc!
HS: Này, chúng em phải tiếp tục, Thiên tài!
9. Giá ủng là bao nhiêu
Ngày xưa có hai vị quan to, một người tên là Trương Tam, một người tên là Lý Tứ, cả hai đều là quan nhị phẩm. Quan hệ giữa họ với nhau rất tốt, có thể coi là như “chiến hữu”.
Hôm ấy, không phải lên triều, Trương Tam đến nhà Lý Tứ uống rượu, Lý Tứ rất mừng,sai gia nhân làm tiệc. Hai người vừa uống được một chén rượu bỗng Lý Tứ nhìn thấy Trương Tam đi một đôi ủng mới giống hệt như của mình, liền hỏi giá mua là bao nhiêu. Trương Tam từ từ đặt chén xuống rồi chìa chiếc chân đi ủng ra trước mặt Lý Tứ, cười hể hả nói:”Tám quan”. Lý Tứ vốn định cười theo, nhưng vừa nghe xong câu nói đó đã đùng đùng nổi giận. Ông ném chén rượu làm bằng vàng đến “bình” một cái xuống sàn nhà, rồi gọi thủ hạ đến hung dữ ra lệnh: “Con m. nó, quan của Trương Tam không lớn như ta, mà mua cũng chỉ mất 8 quan,còn như ta lại phải trả 16 quan. Thật không ra thể thống gì, bọn ngươi mau lôi cổ thằng bán ủng đến đây”.
Bọn thủ hạ dạ to một tiếng rồi mang đủ mọi dụng cụ đi bắt người. Lúc bấy giờ Lý Tứ mới nhặt cái cốc lên, đợi kẻ hầu rót đầy rượu, nâng chén lên nói:”Nào chúng ta tiếp tục uống!”.
Còn Trương Tam, vẫn chỉ cười hì hì. Ông ta hạ chân xuống, rồi từ từ nâng chiếc chân kia cũng đi ủng lên, rồi nói:”Cái này cũng phải trả 8 quan!”.
10. Chuột, ong và tú tài
Chuột và ong muốn kết nghĩa anh, em với một tú tài. Không có cách gì thoái thác, vị tú tài đành phải nhận lời và chịu xếp thứ ba.
Có người hỏi: Ông là người vì sao phải chịu nhục đứng sau chuột và ong?
Tú tài trả lời: Hai con đó một con biết đào, biết khoét, một con biết châm, biết chích, tôi chẳng có tài cán gì, nên đành phải nhường thôi!
11. Kẻ tội phạm tử hình sung sướng
Quốc vương Marốc là một vị hoàng đế hiền lành tốt bụng, dưới sự cai trị của ông, dân chúng đều có cuộc sống hạnh phúc.
Một hôm, tại đất nước này bỗng xảy ra một sự kiện lớn,làm kinh động dân chúng: một người đàn ông đã vô cớ giết chết vợ mình. Trong lúc giận dữ, quốc vương tuyên bố tử hình kẻ phạm tội đó. Trước phán quyết này, nhân dân cả nước đều đồng tình. Thế nhưng một vấn đề mới đã nảy sinh, xưa nay ở Marốc không có án tử hình, bây giờ lấy đâu ra máy chém và đao phủ? Bộ trưởng ngoại giao cử người sang mượn nước Pháp. Nước Pháp đồng ý nhưng đòi 16.000 Fr thủ tục phí. Vì một tử tù mà phải tiêu 16.000 Fr! Bộ trưởng ngoại giao lại cho người đi mượn nước Ý, nước Ý giảm bớt giá nhưng vẫn đòi 12.000 Fr. 12.000 Fr vẫn là một con số quá lớn đối với đất nước nhỏ bé này. Quốc vương lo lắng. Chẳng lẽ phải tăng thuế! Cuối cùng ông cho mở lại phiên toà, xử lý vụ án phiền phức này. Toà giảm tội phạm nhân xuống tù chung tân. Mặc dù Marốc chưa có nhà giam, nhưng xây một gian ngục dễ hơn làm một đoạn đầu đài.
Quốc vương tưởng mình có thể ăn ngon ngủ yêu vì những quyết định trên,chẳng ngờ những phiền phức mới đã nẩy sinh. Phạm nhân suốt ngày nhàn rỗi ăn uống thoải mái, lại còn lương bổng cho những người canh gác…Một năm sau, Chánh án và Bộ trưởng Bộ tài chính báo cáo lên quốc vương,chi phí ăn uống cho phạm nhân và lương bổng của lính canh đã trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước!
Chỉ có kẻ tử tù vẫn nhàn tản, vô vi!
11. Mấy mẩu chuyện lịch sử
Vào một buổi sáng, một sinh viên khoa Lịch sử một trường Đại học của Trung Quốc được người chị ruột nhờ trông hộ đứa con trai đang học lớp ba để đi có việc. Bà chị nhờ cậu em trai không để cháu ra ngoài chạy nhẩy,nhưng cũng không được chúi đầu vào trò chơi điện tử. Cậu em vui lòng đáp vì tin vào sự hiểu biết và tài kể chuyện lịch sử của mình. Cậu ta bắt đầu dẫn đứa cháu vào các câu chuyện sau:
Đục tường ăn trộm ánh sáng
Chàng sinh viên (SV): Thời Hán có một thiếu niên tên là Khuông Hằng, rất chăm học nhưng tối đến không có nến thắp nên cậu ta đành phải đục trộm một lỗ trên bức tường sát nhà hàng xóm để nhờ ánh sáng của họ mà đọc sách…
Cậu bé (CB): Dừng một chút đã cậu ơi. Vì sao anh ta không bật đèn?
SV: Bởi vì không có điện.
CB: Đó là vì bị cắt điện.
SV: Thời Hán cách đây hai ngàn năm, lúc đó làm gì đã có điện.
CB: À ra thế! Vậy anh ta đục lỗ vào lúc nào?
SV: Hử? Vào…vào, buổi tối.
CB: Buổi tối? Buổi tối không nhìn thấy gì? Đục làm sao được?
SV: (Ngập ngừng) À, à…vào ban ngày.
CB: Sao mất công đục ban ngày? Sao không dùng thời gian đó để đọc sách?
SV: ( Lại ngập ngừng) – Cái đó thì cậu không nhớ rõ, thôi ta chuyển sang câu chuyện khác.
Tào xung cân voi
SV: Thời Tam Quốc có một chú bé tên là Tào Xung. Người nước ngoài tặng bố cậu ta một con voi, ông bố muốn biết con voi nặng bao nhiêu cân nên đã gọi Tào Xung đến…
CB: Cậu ơi, ngừng lại đã, cháu biết rồi. Giết con voi đó, cắt thành từng miếng nhỏ, cân từng miếng một, cộng lại là xong ( tỏ vẻ đắc ý).
SV: ( Trừng mắt) Đây là tặng phẩm, không được giết.
CB: ( Lần này đến lượt cậu ta ấp úng, chuyển đầu đề câu chuyện) - Thế con voi này được đưa tới bằng cách nào?
SV: ( Có chút cáu kỉnh) – Có thể dùng ô tô.
CB: Thế thì khẳng định là quá tải rồi. Chỉ cần xem biên lai phạt tiền của lái xe là biết trọng lượng ngay.
SV: ( Tiếng nói run run) – Thôi, chuyển câu chuyện khác.
Dùng thuyền chở cỏ mượn tên
SV: Thời Tam Quốc, Khổng Minh nhận được lệnh của Chu Du, trong ba ngày phải có mười vạn mũi tên…
CB: Cậu ơi ngừng một tý đã, tên là cái gì?
SV: ( Cuối cùng thì cũng đúng tủ rồi, rất phấn khởi) Đó là vũ khí tiên tiến, được vót nhọn, người xưa dùng cung bắn đi…
CB: À! (Có phần suy nghĩ) So với súng AK có lợi hại hơn không?
SV: Không. Thời đó làm gì có súng, chỉ là mũi tên thôi!
CB: Hiểu rồi,cậu kể tiếp đi.
SV: Một sáng sớm, nhân lúc có mù lớn, Khổng Minh dẫn hơn chục chiếc thuyền trên để những hình nhân bằng cỏ xuất phát…
CB: Trời làm gì có mù?
SV: Khổng Minh dự đoán.
CB: Ông ấy là nhân viên khí tượng à?
SV: Không phải, đó là ông ấy đoán.
CB: Ông ấy mù à? Là thầy bói à?
SV: ( Người choáng váng) Cậu cháu ta lại chuyển…lại chuyển…sang chuyện khác nhé, cậu tin là cậu chưa kể hết mọi câu chuyện.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần III: Sức mạnh của tình yêu thương

Tình yêu là một chỗ dựa
Trong thời gian xảy ra chiến trang thế giới lần thứ hai, trong đám người tị nạn, có một bà mẹ cùng đứa con ba tuổi theo đoàn người đi tới một nơi rất xa.
Bà mẹ nghiền vụn mảnh lương khô cuối cùng, bón cho con ăn. Nhìn gương mặt gầy guộc của đứa bé, bà không ngăn nổi dòng lệ. Đã hai ngày, bà chưa được ăn miếng nào, nửa tháng trời bị đói khát dằn vặt, đến nay sức khoẻ của bà đã vô cùng suy yếu. Bà sợ nếu mình không chống đỡ nổi thì đứa bé cũng không thể nào sống được. Nghĩ đi, nghĩ lại, bà quyết định bế con đến trước mặt một người. Người này là hàng xóm trước đây của bà, là một thầy thuốc, là người rât tốt bụng, bà nghĩ nếu bây giờ giao phó con cho ông ta, nhất định ông sẽ nuôi dạy nó khôn lớn.
-          Suốt đời tôi xin cám ơn ông – Bà mẹ quỳ xuống trước người hàng xóm – Xin ông mang cháu đi tị nạn cùng.
-          Không, tôi không thể đáp ứng yêu cầu này của bà. Người hàng xóm sau khi kiểm tra tình hình sức khoẻ của bà mẹ và đứa con, đã từ chối:” Công việc của tôi cũng đủ bận bịu rồi, tôi không giúp nổi bà đâu”.
Bà mẹ đành phải bế đứa con, tiếp tục lên đường. Trên đường đi, bà ta luôn nhìn thấy có người ngã gục bên đường, không dậy nổi. Thế nhưng, bà mẹ này đã bế con vượt qua biên giới vào được trại tị nạn giống như một kỳ tích. Sở dĩ bà mẹ kiên trì được như vậy là vì bà biết rằng, nếu mình không thể bảo vệ được con mình, thì chẳng ai có thể nuôi dạy con bà lớn lên thành người.
Trong trại tị nạn, bà mẹ lại gặp người láng giềng. “Bà và cháu bé đều cần có chỗ dựa”, người láng giếng nói:” Chỉ có hai người cùng dựa vào nhau, thì mới có thể giúp hai mẹ con được bình yên:.
Đến lúc này bà mẹ mới hiểu rõ tấm lòng tốt của người láng giềng. Tình yêu là một chỗ dựa. Tình yêu đã là chỗ dựa cho sự sống của bà mẹ và đứa con.
Nếu như tình yêu có thể là chỗ dựa cho một hy vọng, vậy thì có cái gì tình yêu không thể dựa vào được?

Em muốn làm một con chó
Một hôm, tôi đến thăm người bạn đang dạy học tại vùng núi xa xôi. Cuộc sống vùng núi rất gian khổ, nhưng các em bé ở đây rất hiểu biết và chăm chỉ học tập. Người bạn tôi vì thế được an ủi rất nhiều.
Tối đến, bạn tôi ngồi chấm bài. Không có việc gì làm, thuận tay rôi lấy một bài kiểm tra để trên bàn ra xem. Đó là những bài kiểm tra tập làm văn. Đầu đề là “Nguyện vọng của em”. Nguyện vọng của các em cũng giống như thời của chúng tôi: Muốn làm thầy, cô giáo, muốn làm giải phóng quân, làm nhà Khoa học…Bỗng có một dòng chữ đập vào mắt tôi: “Nguyện vọng của em là làm một con chó”. Ngạc nhiên và hiếu kỳ, tôi đọc tiếp:” Bố đi xa rồi, ở nhà chỉ còn mẹ và em. Ở đây đêm rất tối, nghe người ta nói vào lúc đêm tối, thường có ma. Em lại nghe nói, nhà nào có chó thì ma không dám vào, thế nhưng nhà em lại không có chó. Nếu như em là một con chó thì tốt biết bao nhiêu,em có thể ngày đêm trông giữ nhà, mẹ em sẽ không phải sợ hãi nữa”.

Di chúc
Bố tôi mắc bệnh hiểm nghèo, chắc chẳng sống được thêm bao lâu nữa. Việc mà ông cụ canh cánh trong lòng nhất là người mẹ già của tôi. Nhân lúc còn chút sức tàn, ông cụ tìm cách điều mẹ tôi đi nơi khác, rồi gọi vợ chồng tôi đến trước giường nằm nói :” Các con,bố giao mẹ con cho các con, mẹ con ở với bố chả được hưởng sung sướng nào. Sau khi bố chết, các con hãy chăm sóc mẹ cho tốt!”. Chúng tôi chảy nước mắt khi nghe lời dặn dò, và hứa:” Bố yên tâm,chúng con nhất định sẽ trông nom mẹ chu đáo”. Bố tôi vui lòng gật đầu, lại dặn thêm:” Các con yêu quý, bố đã viết di chúc, sau này hãy làm theo những điều viết trong di chúc!”. Chúng tôi lại hứa xin làm theo. Không lâu sau đó, bố tôi qua đời.
Tang lễ bố tôi rất long trọng,những vị cao tuổi trong thôn đều cho rằng bố tôi là người may mắn,hai vợ chồng sống với nhau suốt đời, con trai con dâu đều hiếu thuận,sống được như vậy, đáng lắm!
Lo liệu xong việc tang, tôi tìm được di chúc của bố,lòng rất bồn chồn: mọi việc trong nhà đều rất mĩ mãn, không rõ bố còn dặn dò điều gì? Thế nhưng,bố đã viết di chúc, tôi quyết định sẽ làm theo. Hôm sau, nhân lúc mẹ đang ngủ, tôi và vợ mở di chúc ra xem. Di chúc viết như thế này:
“ Các con yêu quý, bố có một việc nhờ cậy các con.Việc này liên quan đến mẹ các con. Các con đều không biết, mẹ các con rất thích cho dấm vào thức ăn, nhưng mấy chục năm nay khi làm món ăn không bao giờ mẹ con cho dấm vì biết bố không thích ăn như vậy. Vì bố mà mẹ các con mấy chục năm nay không hề ăn các món có trộm dấm, vì vậy bố xin các con, từ nay trở đi khi làm món ăn đều cho dấm vào. Được như vậy,coi như là các con thay cho bố có chút đền bù cho mẹ!”
Đọc xong di chúc, hai vợ chồng tôi không nói ra lời. Mối tình sâu nặng giữa bố, mẹ chúng tôi, lòng thương yêu nhau ấy, mặc dù chất phác, đơn sơ, nhưng cảm động biết bao!
Ngay chiều hôm đó, khi làm cơm tối, vợ tôi đã cho dấm vào các món ăn. Trước khi mọi người ngồi vào bàn, mẹ tôi bỗng đột nhiên bảo tôi:”Này, xếp ghế ngồi cho bố các con đi chứ!”.
Tôi vội bê ghế đến, lấy thêm bát, đũa, và còn đặt một chiếc cốc lên bàn rồi rót đầy rượu. Sau đó chúng tôi lặng lẽ nhìn mẹ gắp thức ăn. Ai ngờ vừa gắp ăn một miếng nhỏ, mẹ lại thử tiếp mấy miếng nữa, rồi nhíu mày lại. Thấy vậy, tôi rất lo, đang định nói ngọn nguồn, thì mẹ tôi đã đặt đũa xuống, nước mắt trào ra,nói:” Các con không biết bố con không thích ăn chua hay sao? Vì sao bố các con vừa đi, các con đã làm thức ăn chua thế này, bố con ăn làm sao được!”.
Nghe những lời nói đó của mẹ, tôi và vợ tôi cùng khóc theo…
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0

Khách của thiên đường
 
Đây là một câu chuyện có thực đã xảy ra cách đây rất lâu rồi…Hôm đó, một tên lừa gạt đi tới một gia đình. Thấy trong nhà chỉ có một bà cụ già, hắn xin được vào ngồi trong nhà một lát.
Bà cụ hỏi:
-          Ông từ đâu đến?
Tên lừa gạt trả lời:
-          Tôi từ thiên đường tới, bây giờ đang chuẩn bị về.
Bà cụ tin là thật, liền hỏi:
-          Ông từ thiên đường xuống, chắc là ông thấy ông chồng đáng thương của tôi. Ông ấy mất đã 10 năm mà tôi không hề nhận được tin tức gì, không biết hiện nay ông ấy thế nào?
Tên lừa gạt nói:
-          Ồ, tôi đã được nghe câu chuyện của chồng cụ rồi, đáng tiếc hiện nay ông cụ vẫn chưa thể nào vào cửa thiên đường vì không có 100 đồng nộp tiền vào cửa nên cho đến giờ ông cụ vẫn còn đang phải chờ ở ngoài.
Nghe tên lừa gạt nói như vậy, bà cụ bỗng cất tiếng khóc:
-          Ông chồng đáng thương của tôi ơi! Rồi nói tiếp:
-          Này ông, xin mời ông ngồi nán một lúc, đợi con trai tôi về, tôi sẽ bàn với nó để nhờ ông mang giúp cho chồng tôi 100 đồng.
Tên lừa gạt không dám gặp người con trai, nên vội nói, công việc trên thiên đường rất nhiều phải về ngay:
-          Nếu như chồng cụ không nộp ngay 100 đồng sẽ mất cơ hội tốt nhất để vào thiên đường, mà vẫn phải chờ đợi mãi mãi ở ngoài cửa.
Nghe vậy bà cụ hoảng hốt lo sợ, vội vào phòng trong lấy ra 100 đồng giao cho tên lừa gạt và nói:
-          Nếu ông vội về thì không cần đợi con trai tôi nữa. Hãy cầm lấy số tiền này đưa giùm cho chồng tôi.
Tên lừa gạt nhận xong tiền, vội vàng ra đi.
Hắn đi được chưa lâu thì con trai bà cụ về. Sau khi nghe mẹ kể đầu đuôi câu chuyện, anh ta biết mẹ mình đã bị lừa, bèn nói:
-          Mẹ ơi! Mẹ hồ đồ quá, làm sao có thể đưa tiền cho người không quen biết? Hắn đi về phía nào? Để con đuổi theo.
 Bà cụ vội chỉ hướng. Người con trai vội nhảy lên mình ngựa, ra roi, ngựa chạy như bay.
Thấy có người đuổi phía sau, tên lừa gạt vội ngồi xuống bên đường giả vờ nghỉ. Thấy có người, con trai bà cụ vội dừng ngựa lại hỏi:
-          Vừa có người chạy về phía này, ông có thấy hắn chạy tiếp về đâu không?
Tên lừa gạt vội chỉ vào một rừng rậm phía trước mặt, nói:
-          Vừa có một người, vội vội vàng vàng chạy vào cánh rừng kia. Cánh rừng rậm rạp gai góc, thấy ngựa không đi được, nên người con trai bà cụ đề nghị tên lừa gạt trông hộ con ngựa một lúc. Hắn vui vẻ nhận lời ngay.
Thế là người con trai bà cụ, nhảy xuống ngựa, chạy bộ về phía rừng cây. Tên lừa gạt nhân cơ hội đó nhảy lên ngựa cao chạy xa bay. Con trai bà cụ từ cánh rừng trở ra với hai tay không, thấy tên lừa gạt đã đi xa, biết là mình cũng lại mắc mưu, anh đành lủi thủi ra về. Thấy con trai về nhà, bà cụ vội nói:
-          Con có đuổi kịp người lạ mặt đó không? Người con trai phấn khởi nói:
-          Đuổi kịp chứ! Ông ta đi bộ chậm quá, con đã đưa ngựa cho ông ta để ông ta nhanh chóng về thiên đường. Như thế là bố con sẽ được vào thiên đường sớm hơn một chút!
 

Đôi vai đáng tin cậy
Cô yêu anh nhưng chưa xác định có lấy anh hay không. Dường như, cô còn chưa muốn về với anh, bởi vì anh chỉ là một giáo viên quèn, trừ khi trúng số độc đắc lớn, anh không thể cung cấp cho cô một cuộc sống giàu có đầy đủ. Anh biết suy nghĩ của cô, nhưng vẫn không yêu cầu cô cái gì mà chỉ yêu cô, chăm sóc cô như cũ.
Vừa hay hai người cùng đi làm và về nhà trên cùng một chuyến ô tô công cộng, nếu không có tình hình đặc biệt, bao giờ anh cũng đợi cô để cùng đi ô tô về nhà. Nói chung, cô thường cố tình chậm chạp đến phút cuối cùng mới rời khỏi văn phòng, cô không muốn người khác nhìn thấy bạn trai của mình không phải người lái ô tô đến đón cô, mà chỉ là người đưa cô lên ô tô buýt. Lòng anh biết rõ điều đó nhưng không hề suy tính.
Hôm ấy, vì mấy ngày liền phải bận rộn làm việc, cô rất mệt. Sau khi lên ô tô buýt được một lúc, cô bắt đầu buồn ngủ. Anh cố gắng đứng chắc chân, một tay nắm chặt giá đỡ, một tay ôm lấy lưng cô để đầu cô dựa vào vai mình ngủ ngon lành. Qua mấy bến đỗ, có thêm hai chỗ trống, anh dìu cô ngồi xuống và cô lại dựa vào vai anh tiếp tục ngủ.
Giấc ngủ này sao mà say thế, đợi đến lúc cô tỉnh giấc thì ô tô đã đi qua chỗ họ cần xuống mất một trạm. Cô gái vừa ấm ức vừa giận dữ nói:” Anh cũng ngủ à? Vì sao quá trạm mà không biết? Ngồi xe mà để xe đi quá trạm, liệu còn trông chờ gì ở anh?”. Anh chỉ mỉm cười một cách hiền lành. Cô càng tức giận nói to:”Em rất ghét cái cười ngu ngốc đó của anh. Ngay cãi lại cũng không biết cãi”.
Đúng vào lúc cô gây sự một cách vô lý như vậy, một bà cụ ngồi phía sau nói với lên:”Cô gái, cô đừng trách oan người bạn trai của mình. Cậu ta có ngủ đâu. Người soát vé hỏi cậu ta có xuống xe không, cậu ta nói, mấy hôm nay cô làm việc rất mệt, khó khăn lắm mới có được giấc ngủ ngon như vậy, nên đành để cho cô ngủ thêm một lúc. Ngay cả động đậy người cậu ta cũng không dám. Cô không biết trân trọng người bạn trai chăm sóc mình chu đáo như vậy sao?”.
Cô gái đỏ mặt lên, xe vào bến, họ xuống xe, rồi lại quay lại ngồi với nhau trên chiếc xe đi theo chiều ngược lại. Bàn tay cô bị anh nắm chặt, lần đầu tiên cô cảm thấy có một đôi vai đáng tin cậy để dựa vào mới là điều quan trọng nhất, còn ngồi ô tô buýt hay ô tô sang trọng không còn là điều đáng quan tâm nữa.
 

Câu trả lời đạt 100 điểm
Chiều xuống, mặt trời từ từ lặn, trên con đường dài, hẹp, một thanh niên đạp xe, ngồi sau lưng anh là một thiếu nữ…
-          Anh sẽ yêu em bao lâu?
Cô gái ôm chặt chàng trai, ghé đầu vào bên tai anh, dịu dàng hỏi. Cô biết vấn đề này không có câu trả lời đạt 100 điểm. Cô khẽ mỉm cười ngây thơ nói tiếp:”Cho anh một cơ hội để nói những lời ngọt ngào nhất”.
Nhân lúc đèn đỏ chàng trai giơ một ngón tay lên, muốn cô gái đoán xem câu trả lời của mình là gì.
Cô gái nghĩ một lát, rồi vui vẻ nói:”Là một đời”.
Chàng trai cười không phải vì câu trả lời này mà là lây niềm vui của cô gái.
Đèn xanh bật, chàng trai không cười nữa, nhẹ nhàng bảo cô gái:”Anh không trả lời em đáp án đó, đáp án đó đẹp đến mức không chân thực, như là nói dối vậy…em đoán tiếp đi…”.
Cô gái rất vừa lòng vì câu trả lời của chàng trai, và cô tiếp tục nghĩ…
-          Một ngày!
-          Ha, ha! Chúng ta yêu nhau đã hai tháng rồi! Một ngày, một tuần lễ, một tháng đều không đúng!
Lại đèn đỏ, chàng trai nắm chặt tay cô gái, mỉm cười nhìn cô, cô gãi bỗng bật cười lớn:”Không thể là một chớp mắt?”.
Câu hỏi đó suýt nữa làm chàng trai ngã xuống đường.
-          Tất nhiên là không phải rồi!
Anh rất yêu vẻ khôi hài của cô gái, rất yêu nét cười thoải mái của cô. Câu tự trả lời của cô gái càng làm anh nắm chặt tay cô hơn.
-          Một năm chứ? Đã từng chờ đợi lời hứa suốt một năm, nên cô gái đặc biệt nhạy cảm với câu trả lời một năm.
-          Chàng trai lắc đầu, giữa họ với nhau đã không còn sự chờ đợi nữa, mà chỉ còn thời gian thử thách.
-          Một trăm năm vậy! – Cô gái nói, dáng vẻ vô cùng hạnh phúc.
Chàng trai trả lời: “Một trăm năm quá ngắn, không đủ để anh yêu em”.
Cô gái cười, tiếng cười nhẹ nhàng vui vẻ như chất đầy lòng chàng trai. “Muốn nghe câu trả lời không?”. Chàng trai định nói nhưng cô gái đã hỏi: “Em sẽ yêu anh được bao lâu?”. Chàng trai lại giơ một ngón tay lên: “Cho đến…cho đến một ngày nào đó em không còn yêu anh nữa…”.
Rất dài, rất ngắn, có thể vĩnh viễn mà cũng có thể chỉ trong nháy mắt…
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần IV: Vài mẩu chuyện với thượng đế và các vị quân vương
 

Đợi một phút nhé
Một người nằm mơ thấy mình đang nói chuyện với thượng đế.
-          Thưa thượng đế vĩ đại, đối với người, một ngàn năm là như thế nào?
-          Chỉ bằng một phút mà thôi!
-          Ôi! Thưa thượng đế chí cao vô thượng, thế thì đối với ngài, một vạn đồng tiền vàng có nghĩa như thế nào?
-          Như một đồng xu mà thôi!
-          Thưa thượng đế đại từ đại bi, hãy rủ lòng thương cho con một xu.
-          Được thôi! Đợi một phút nhé!
 

Hãy xem nhẹ mình!
Chúng ta không bay được vì chúng ta coi nặng mình quá.
Thượng đế và thiên sứ cùng xuống trần gian, loài người thấy thiên sứ biết bay tỏ ra rất bất mãn, lên tiếng hỏi thiên sứ:”Vì sao ngài biết bay mà chúng tôi không biết?”.
Thiên sứ cười mà không trả lời.
Thượng đế hiền từ hỏi:”Hỡi con người, cống hiến của con cho cõi trần được bao nhiêu? Giá trị của con là bao nhiêu?”.
Con người:”Cõi trần này do con người trang điểm, thế giới này vì con người mà có, con người là vật linh thiêng nhất thế gian”.
Thượng đế hỏi thiên sứ:”Thế còn con?”.
Thiên sứ:”Con chẳng là cái gì cả, con chẳng có cống hiến gì hết, con cũng không rõ giá trị của mình”.
Thượng đế:”Hỡi loài người, đó là câu trả lời đấy, các người đã hiểu chưa?”.
Con người:”Vẫn chưa hiểu ạ!”.
Thượng đế:” Sở dĩ thiên sứ bay được vì thiên sứ coi mình rất nhẹ, còn con không biết bay vì con coi mình đứng trên vạn vật, những thứ phải mang vác quá nhiều nên chức năng cất cánh đã biến mất”.
 

Hai chiếc hộp của thượng đế
Trên tay tôi cầm hai chiếc hộp được thượng đế ban cho. Người nói: Hãy đem mọi đau thương của con cất vào chiếc hộp đen, và cất mọi vui sướng vào chiếc hộp vàng… Tôi làm theo lời thượng đế, cất niềm vui và đau thương của tôi vào hai chiếc hộp theo đúng lời dặn. Thế nhưng trọng lượng của chiếc hộp vàng cứ mỗi ngày một nặng thêm, còn chiếc hộp đen vẫn nhẹ như trước. Với lòng hiếu kỳ, tôi mở chiếc hộp đen để tìm hiểu nguyên do. Và tôi thấy đáy hộp có một lỗ thủng nhỏ, thì ra mọi đau thương của tôi đã theo lỗ đó chảy ra ngoài. Cầm chiếc hộp đen đưa lại cho thượng đế tôi ngập ngừng hỏi: Con muốn biết những đau thương của con đã chảy đi đâu. Thượng đế cười hiền lành trả lời: Con ơi, chúng đang ở trong ta.
Tôi vội hỏi tiếp: Vì sao người lại cho con hai cái hộp?
Thượng đế trả lời: Chiếc hộp vàng là để con cất giữ hạnh phúc. Chiếc hộp đen là để con giải thoát đau thương.
 

Vấn đề tặng phẩm và thiên sứ
Có ba người sau khi chết đã được lên thiên đường, họ là thương nhân, nhà chính trị và quân nhân. Đúng vào lúc họ định bước qua cửa thiên đường thì một vị thiên sứ ra ngăn họ ở cửa:
-          Thưa các vị, xin các vị trả lời ba vấn đề của thượng đế, sau khi trả lời xong, có thể nhận được và mang đi một cái hộp, trong đó có những cái quan trọng nhất muốn nói với các vị. Thương nhân đã mất kiên nhẫn từ lâu, ông ta là người đầu tiên bước ra.
Thiên sứ bắt đầu hỏi ông ta:” Đối với ngài, cái gì là quan trọng nhất?”.
Thương nhân không cần suy nghĩ, nói luôn :”Tiền!”.
-          Tốt lắm, vấn đề thứ hai, hãy nói lý do?
-          Đã có tiền, muốn gì được nấy!
-          Vấn đề thứ ba, nếu phải vứt bỏ nó ngài có vui lòng không?
Thương nhân cười nói:”Trừ việc mua vé vào cửa thiên đường ra, tôi quyết không vứt bỏ điều đó!”.
Thiên sứ lấy ra một cái hộp và nói:” Đây là cái ngài muốn, ngài có thể vào”.
Thương nhân mở hộp ra xem, thấy toàn là tiền, ông ta vui mừng đi qua cửa.
Thiên sứ than thở sau lưng:”Của cải do đồng tiền tạo ra chỉ có hạn thôi!”.
Thiên sứ hỏi nhà chính trị:”Bây giờ đến lượt ngài. Ngài hãy nói, cái gì quan trọng nhất đối với ngài?”.
-          Tất nhiên là quyền lực – Nhà chính trị trả lời.
-          Hãy nói lý do!
-          Quyền lực có thể mang lại tất cả, bản thân quyền lực là hạnh phúc.
-          Ngài có vui lòng vứt bỏ nó không?
-          Vì sao phải vứt bỏ nó? Tôi sẽ không vứt bỏ nó.
Thiên sứ lấy ra một chiếc hộp nói:” Ngài có thể vào!”.
Nhà chính trị mở chiếc hộp thấy trong đó để một chiếc quyền trượng, không ngăn nổi nỗi vui mừng lộ ra trên nét mặt. Thiên sứ lại than thở:”Không phải lúc nào quyền lực cũng có hiệu lực!”.
Thiên sứ hỏi quân nhân:” Anh hãy nói cái gì quan trọng nhất?”.
-          Trung thành và danh dự!
-          Tại sao?
-          Chẳng sao cả, không cần có lý do.
-          Anh có vui lòng vứt bỏ nó không?
-          Không, tôi không thể vứt bỏ chúng.
Thiên sứ thở dài hỏi:”Anh đã xa rời trần gian lên thiên đường, còn phải trung thành với ai nữa chứ?”.
Quân nhân không trả lời, nhưng ánh mắt anh ta lộ ra vẻ không hay biết gì cả. “Tâm linh anh trống rỗng, hãy vào đi, đây là cái hộp của anh” – Thiên sứ nói.
Quân nhân mở cái hộp ra, trong đó là các loại huân chương, anh ta đeo một số lên ngực rồi lặng lẽ đi vào. “Một con người đáng thương!”. – Đó là kết luận của thiên sứ.
Đúng lúc đó, một cô gái xinh đẹp chạy tới và muốn qua cửa. Thiên sứ ngăn cô ta lại:”Thưa cô, tôi nghĩ, chí ít cô cần trả lời vấn đề tôi nêu, để lấy được chiếc hộp đựng cái mà cô muốn nhất, rồi hãy vào.”
Cô gái nhìn thiên sứ bằng một con mắt khinh thường nói:”Tôi không cần, bởi vì bản thân tôi đã là cái quan trọng nhất”.
 

Hàm nghĩa của sự im lặng
“Im lặng nghĩa là gì?”. Trong phiên thẩm vấn cuối cùng, một số người bị thượng đế hỏi câu hỏi buộc phải trả lời đó.
Đó là sự “Nghe theo” - Người nông dân trả lời.
Đó là sự “Thương hại” - Một cụ già nói.
Đó là sự “Đồng ý” - Một cấp dưới trả lời.
Đó là sự”Bàng quan” - Một người đàn ông nói.
Đó là sự “Xem thường” - Một học giả nói.
Đó là sự “Che giấu” - Một nhà thơ nói.
Đó là sự “Đại trí” - Một nhà triết học trả lời.
Đó là sự”Gánh vác” - Một người phụ nữ nói.
Vì sao nhà ngươi không trả lời? - Thượng đế hỏi người cuối cùng chưa nói gì – Xem ra chỉ có sự im lặng của ngươi mới là sự im lặng thực sự. Mà chỉ có những người thực sự im lặng mới có thể tiếp cận ta!
Những người trả lời trước đó bắt đầu im lặng trở lại. Bọn họ đều biết, người không hề mở miệng đó là một người câm. Thượng đế không hiểu được rằng lần này họ đã dùng sự im lặng để đánh giá lại ngài.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần V: Chuyện về những vị quân vương
1.Giang sơn và thể diện
Đường Thái Tôn Lý Thế Dân là một vị vua sáng suốt, ông là người chịu nghe và nghe được nhưng ý kiến khác nhau của các quan cận thần. Đại thần Nguỵ Chưng dám can gián thẳng, nhiều lần trước mặt văn võ bá quan, phê bình chỉ trích các sai lầm của Đường Thái Tôn. Phần lớn các quan đều cho là Nguỵ Chưng đã làm quá mức, có người nhịn không nổi đã hỏi Đường Thái Tôn:
-          Tâu Hoàng thượng, vì sao người không diệt cái cao ngạo của Nguỵ Chưng?
-          Thuốc đắng giã tật! - Đường Thái Tôn trả lời.
-          Thế nhưng, xưa nay Nguỵ Chưng không hề nể mặt nhà vua một chút nào. Ông ta can gián thẳng thừng nhà vua như vậy trước mặt mọi người, uy nghiêm của hoàng đế còn gì nữa? – Có người phẫn nộ bất bình nói.
Đường Thái Tôn hỏi lại người đó:” Uy nghiêm của trẫm, theo khanh nên duy trì thế nào?”.
-          Nói một là một, vua muốn bề tôi chết, bề tôi  không thể sống. Làm sao có thể cho phép con người như Nguỵ Chưng đốp chát trước mặt? - Một vị đại thần lắc đầu lia lịa nói.
-          Thế trẫm hỏi khanh, thể diện của trẫm quan trọng, hay là giang sơn xã tắc của trẫm quan trọng?
-          Cái này…, đương nhiên là giang sơn xã tắc quan trọng.
-          Đúng vậy, trẫm dù có mất thể diện, nhưng lại được giang sơn xã tắc ổn định. Khanh muốn trẫm giữ thể diện, chẳng lẽ lại muốn ra mất giang sơn à?” - Đường Thái Tôn hỏi.
Vị đại thần biết sai, lui ra.
2. Nhà vua là chàng ngốc thứ tư
Ngày xưa có một quốc vương sau một cơn ngẫu hứng, đã ra lệnh cho tể tướng phải tìm cho mình 4 chàng ngốc. Tể tướng đành phải lên đường chấp hành mệnh lệnh. Trên đường đi, tể tướng gặp một người cưỡi một con ngựa nhỏ, nhưng lại đội một cái túi rất nặng lên đầu. Tể tướng đoán ngay đây là một chàng ngốc vì anh ta không để túi lên lưng ngựa, nên bảo người này đi cùng mình.
Hai người tiếp tục đi, tể tướng thấy trên phố có một người đang chia kẹo cho những khách qua đường. Tể tướng lại gần và hỏi người đó tại sao lại làm như vậy, người này trả lời:”Sau khi ly hôn, vợ tôi đã lấy người khác, bà ấy vừa sinh một cháu trai, tôi rất phấn khởi nên vội phân phối kẹo mừng cho khách qua đường”. Thế là tể tướng tìm được chàng ngốc thứ hai. Ông quyết định không đi tìm nữa và dẫn hai người về cung. Quốc vương ngạc nhiên hỏi: Nhà ngươi đã tìm đủ 4 chàng ngốc đâu mà đã trở về? Tể tướng vội kể lại chuyện hai người và thưa: Ngoài hai người này ra, thần là chàng ngốc thứ ba, vì thần đã không làm nhiệm vụ chính mà lãng phí thời gian vào việc ngu ngốc là đi tìm những chàng ngốc. Nhà vua không hề chú ý đến những trình bầy của tể tướng mà sẵng giọng hỏi tiếp: Thế thì chàng ngốc thứ tư đâu?
Sau khi ngập ngừng một lúc, tể tướng lấy hết can đảm nói: Thưa bệ hạ, chính nhà vua là chàng ngốc thứ 4, bởi vì người đã bắt thần đi tìm 4 chàng ngốc chứ không phải là đi tìm 4 người thông minh.
Đến lúc này quốc vương mới thấy tể tướng của mình là một người rất thông minh, ông xấu hổ vì sự ngu ngốc của mình, từ đó càng trọng dụng tể tướng hơn.
3. Câu chuyện nhà vua mua muối
Một hôm, một vị vua vào rừng săn bắn, mấy người hầu nấu cho nhà vua một món ăn rừng, nhưng không tìm thấy muối. Đang lúc mấy người này định cử người vào thôn gần đấy lấy muối, nhà vua biết chuyện liền căn dặn:
-          Các ngươi vào nhà dân lấy muối, không được quên trả tiền, nếu không làm đúng qui định đó, cái thôn này sẽ phá sản.
Mấy người hầu ngạc nhiên thưa:
-          Lấy một ít muối có gì mà phải ghê gớm vậy?
-          Ban đầu mọi tội ác đều nhỏ không đáng kể, nhưng rồi do thói quen thành lệ, cuối cùng không thể sửa được nữa.
Nếu nhà vua lấy trong vườn của trăm họ một quả táo, các quan có thể chặt cây táo đó. Nếu nhà vua lấy 5 quả trứng của dân chúng, các quan của ông có thể bắt một nghìn con gà của dân chúng. Mặc dù tuổi thọ của bạo quân là có hạn. Nhưng tiếng ác của ông ta sẽ lưu truyền mãi mãi.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Nga hoàng và chiếc áo
Một hôm, Nga hoàng bị ốm nặng, ông truyền lệnh “Ai chữa khỏi bệnh cho ta, sẽ được trọng thưởng”. Một thày thuốc giỏi trong nước lũ lượt kéo đến. Nhưng chẳng ai chữa khỏi được cho ông ta. Cuối cùng, một bậc hiền triết nói, chỉ có thể chữa khỏi bệnh, một khi tìm được cái áo của một người hạnh phúc mang về cho Nga hoàng mặc.
Nga hoàng sai người đi tìm hạnh phúc, nhưng những sứ giả mà Nga hoàng cử đi đều không tìm được người nào, bởi vì không ai vừa ý với yêu cầu đặt ra: có người rất giầu nhưng bệnh tật triền miên; có người khoẻ mạnh nhưng không một xu dính túi; có người vừa giầu vừa có sức khoẻ nhưng vợ hỏng, con hư… Tóm lại, mọi người đều đang phải khổ sở vì một điều gì đó.
Một hôm, đêm đã khuya, thái tử đi qua một túp lều nhỏ, chợt nghe thấy trong lều có tiếng người nói:”Cám ơn trời đất, làm việc cũng đủ rồi, ăn cũng no rồi, bây giờ lên giường ngủ một giấc cho say. Ta có cần gì nữa đâu!”.
Thái tử mừng quá, ra lệnh cho người hầu vào bảo người đó cởi chiếc áo đang mặc trên người ra, đòi bao nhiêu tiền cũng trả để mang về cho Nga hoàng.
Người hầu vào trong lều định cởi chiếc áo của con người hạnh phúc đó, nhưng ông ta nghèo đến mức không có áo mặc trên người.
 
Treo đầu dê, bán thịt chó
Tề Linh Công thích nhìn cung nữ mặc giả trai. Thế là cả nước Tề nhanh chóng dấy lên phong trào:”Tất cả phụ nữ, bất kể là già hay trẻ đều đua nhau mặc trang phục nam giới. Thấy vậy, Tề Linh Công sai người đi ngăn cấm, lệnh:”Nếu còn thấy phụ nữ mặc nam phục sẽ xé nát quần áo của họ!”. Không lâu sau, đi đâu cũng thấy cảnh phụ nữ bị xé quần áo nhưng phong trào nữ mặc nam phục hầu như không giảm.
Nhà vu liền hỏi Án Tử:”Vì sao lệnh cấm của ta không có hiệu quả?”.
Án Tử trả lời:”Nhà vua ra sức đề xướng ở trong cung, nhưng lại nghiêm lệnh ở bên ngoài giống như một cửa hàng, bên ngoài thì treo thịt dê, bên trong lại bán thịt chó. Nếu muốn cấm phụ nữ vận nam phục thì phải cấm từ trong cung. Ở trong cung phụ nữ không mặc nữa thì phụ nữ ở bên ngoài ai dám mặc!”.
Linh Công nghe theo và chưa đến một tháng sau, cả nước không còn một phụ nữ nào mặc nam phục nữa.
 
Công Nghi Hưu thích ăn cá
Công Nghi  Hưu rất thích ăn cá. Sau khi làm tướng quốc nước Lỗ, rất nhiều người trong nước đã gửi biếu ông các loại cá ngon, song ông đều khéo léo từ chối không nhận. Có một học sinh của ông hỏi:”Thưa thày! Thày rất thích ăn cá nhưng sao thày lại không nhận cá biếu của người ta?”.
Công Nghi Hưu trả lời:”Chính vì ta thích ăn cá nên không thể tuỳ tiện nhận cá do người ta khác đưa tới. Nếu ta thường xuyên nhận cá, sớm muộn sẽ không thoát khỏi tội nhận hối lộ, chưa biết chừng đến ngày nào đó sẽ mất chức tướng quốc. Đến lúc đó dù có thích ăn cá cũng không có cá mà ăn. Còn bây giờ ta giữ mình liêm khiết, vì việc công mà làm, không nhận hối lộ của ai, nhà vua không thể tuỳ tiện cách chức tướng quốc của ta. Chỉ cần ta không bị cách chức thì vẫn thường xuyên được ăn cá”.
 
Quốc vương bị hói đầu
Gần đây, nhà vua luôn tỏ ra bực bội vì tóc trên đầu ông cứ đua nhau rụng hàng loạt. Ngự y bó tay, các thang thuốc bí truyền đều vô dụng, đầu nhà vua hói rồi. “Ta là người đứng đầu cả nước thế mà bây giờ không giữ nổi mái tóc trên đầu, thật đáng xấu hổ”. Nhà vua than thở với hoàng hậu :”Ta đã nhìn thấy mấy vị thượng thư già, nhiều tuổi hơn ta mà đầu tóc vẫn rậm rạp thầm thì cười nói, bàn tán với nhau như chế giễu ra. Ta chỉ muốn lôi họ ra chém”.
Những lời nói ấy được truyền đi, từ đó văn võ bá quan trong triều không ai dám cười đùa, thì thầm nữa. Nhưng cũng có mấy vị quan tỏ ra không sợ gì, họ cứ nhìn vua mà cười bởi vì họ còn hói hơn cả nhà vua.
Hoàng hậu bỗng nẩy ra sáng kiến, thưa với quốc vương :”Sao bệ hạ không phong cho mấy người hói hết đầu ấy lên chức quan lớn hơn nữa?”.
Quốc vương thấy phải, làm theo. Sau khi mấy người hói đầu được phong chức to hơn, nhà vua trở nên vui vẻ:”Hói đầu được làm quan to, hói đầu gặp may, hói đầu có gì là không tốt?”. Nhà vua thầm nghĩ:”Những người nhiều tóc có muốn hói cũng không được!”.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần VI: Chuyện thường gặp trong cuộc sống
 
1.Vị chánh án công bằng
Do tranh chấp tài sản, hai người kiện nhau ra toà. Chánh án nghe lời tố cáo của từng người một. Người thứ nhất biếu chánh án một chai mật ong. Người kia biếu chánh án một con lừa. Ra về cả hai đều hy vọng mình sẽ thắng kiện vì đã có quà biếu cho chánh án.
Đến ngày xử án, chánh án nói với người đã tặng ông ta con lừa:”Vụ này toà tuyên ông thắng”.
Người biếu chai mật ong vội hỏi:”Thưa quan lớn, người đã nhận chai mật ong của tôi, vì sao ngài lại phán tôi thua kiện?”.
-          Bởi vì – Chánh án trả lời” Con lừa đã đá đổ chai mật ong của ông ra đất, ta chẳng được thưởng thức tí nào!”.
 
2.Lừa gạt!
“Khi lừa gạt đã quá nhiều, thì người ta không còn tin vào sự thành thật nữa”.
Một lữ khách đang đi trên đường, phía trước có một người lạ mặt đi tới. Người này có dáng điệu như một tên lừa gạt chuyên nghiệp, anh ta lấy từ trong bọc ra một vật có hình dạng kỳ lạ, màu sắc cũ kỹ cho lữ khách xem và nói:” Đây là một cổ vật, ít nhất cũng đáng hai ngàn đồng, nhưng vì tôi bị lừa nên muốn đổi nó lấy hai trăm đồng làm lộ phí trở về”.
Tâm trạng của lữ khách lúc này khá thoải mái, muốn làm một thí nghiệm mà cũng có thể là làm một việc ngu xuẩn, ông ta nói:”Tôi không hiểu đồ cổ, nhưng tôi cho anh vay hai trăm đồng, sau này anh trả lại tôi”. Những người biết chuyện đều cho rằng lữ khách đã bị lừa. Không ngờ hơn một tháng sau người lạ mặt đã mang tiền đến trả đúng nơi đã hẹn.
Lần này người lạ mặt nói với lữ khách:” Tôi sắp đi làm ăn xa, có thể về mà cũng không trở về nữa, muốn để lại một số tranh cổ cho một người có thể tin tưởng được”. Lữ khách hỏi giá bao nhiêu, người lạ mặt nói, chí ít cũng phải ba mươi vạn đồng. Lữ khách cười nói:”Tất cả tiền dành dụm của tôi hiện này chỉ được ba vạn đồng thôi”. Người lạ mặt nói:”Ba vạn cũng được”.
Sau khi trả tiền, lữ khách thầm nghĩ, chắc là lần này thì mình bị lừa thật. Nhưng không ngờ, khi mời chuyên gia đến giám định thì số tranh cổ đó có giá trị vượt xa ba mươi vạn đồng.
Lữ khách là một giảng viên môn xã hội học. Một hôm, khi kể lại cho các sinh viên của mình toàn bộ câu chuyện trên, ông nhận định:” Trong 10 người trông giống như kẻ lừa gạt như người lạ mặt nói trên chỉ có một người giống kẻ lừa gạt thực sự, 9 người còn lại đều là người tốt. Nhưng trong 10 người bình thường, có đến 9 người coi những người như người lạ mặt là kẻ lừa gạt, và chỉ có một người thực sự tin anh ta là người tốt thôi”.

Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
3.Nghệ thuật cho mượn tiền
Mua ô tô còn thiếu 50 triệu, bà vợ bảo tôi:” Sao ông không sang hỏi nhà ông Vương đối diện? Là người buôn bán lớn, vay 50 triệu khó gì?”.
Tôi đành lấy hết nghị lực sang nhà ông Vương, ấp a ấp úng nói ra lý do. Ông ta lật đi lật lại tờ báo, chẳng thèm ngẩng đầu lên, trả lời rành mạch :” Tiếc quá, tôi vừa mua vào một số lớn hàng, trong tay hiện nay chẳng còn đồng nào, sợ rằng trong một thời gian nữa vẫn chưa thu hồi được”. Tôi đành ủ rũ ra về.
Sáng sớm hôm sau, khi hai vợ chồng tôi còn đang ngon giấc đã thấy ông Vương ngõ cửa. Ông ta nhét một đống tiền vào tay tôi, thành khẩn nói:”Bạn bè, hàng xóm có khó khăn, tôi không thể ngồi nhìn. Đây là 50 triệu đồng tôi tìm cách lấy về từ chỗ khác, bác cầm lấy mà dùng”. Tôi và bà vợ cảm động đến mức chẳng nói lên lời.
Hôm sau tôi lấy ô tô về. Buổi tối, sang nhà ông Vương cảm ơn. Ông ta đang nói chuyện trên điện thoại. Ngồi đợi trên ghế, tôi tiện tay cầm lấy tờ báo đang để trên bàn. Chỉ thấy trên một trang đang mở có một cột có mấy dòng bị gạch bằng bút chì đỏ:” Cho người khác vay tiền phải có kỹ xảo, có thể từ chối trước để người vay vào thế tuyệt vọng, dằn vặt, sau đó bất ngờ xuất hiện thoả mãn yêu cầu của người vay sẽ thu được hiệu quả không ngờ, người vay chỉ còn nước rơi nước mắt mà cám ơn mình…”.
 
4.Mua láng giềng
Phó cục trưởng Lưu vừa về đến nhà đã vội vàng bảo vợ:” Bà gom ngay số tiền có trong nhà, tôi đã mua một căn hộ tại khu chung cư gia đình thành uỷ, hợp đồng đã ký rồi!”.
-          Sao gấp thế, hôm kia ông còn nói khu chung cư gia đình thành uỷ không có căn hộ thích hợp mà? Sao bây giờ lại mua? Thế ở tầng mấy? Bà vợ hỏi.
-          Vẫn là căn hộ số 301 tầng 18 mà tôi đã dẫn bà đi xem rồi đấy.
-          Bao nhiêu tiền?
-          400.000 NDT ( khoảng 880 triệu VNĐ), bà chuẩn bị tiền nhanh lên.
-          Bốn trăm ngàn đồng? Ông điên đấy à! Hôm kia ông còn nói người ta đòi 350.000 đồng ông còn chê là đắt, mới có hai ngày sao đã vọt lên thành 400.000 đồng? Bà vợ như bị bất ngờ, hỏi lại.
-          Hôm kia 350.000 đồng là đắt vì căn hộ 302 bên cạnh chưa có ai. Bây giờ căn hộ đó có người ở rồi!
-          Chúng ta mua căn hộ 301 thì liên quan gì đến người ở căn hộ 302?
-          Bà thì hiểu cái gì? Người vừa tới ở căn hộ 302 là Phó bí thư thành uỷ mới, vừa được cấp trên điều về! – Phó cục trưởng Lưu nói với vợ.
 
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
5. Nhìn chếch
Lãnh đạo đến thăm đơn vị. Mọi người xếp hàng hoan nghênh. Lãnh đạo lần lượt bắt tay từng người một. Đứng trong hàng tôi phát hiện, lãnh đạo bắt tay có hiệu suất rất cao: Khi đang bắt tay người này, mắt đã nhìn chếch vào người đứng bên cạnh và cứ như vậy cho đến hết lượt.
Tôi cứ tưởng hành vi đó là của riêng lãnh đạo đơn vị chúng tôi, nhưng sau này qua vô tuyến và ảnh chụp trên báo, tôi gần như thấy lãnh đạo nào cũng thế: Bắt tay người này nhưng mắt lại nhìn chếch vào người đứng bên cạnh, hình như là một “qui luật”.
Thời xưa goị những người chức cao quyền trọng là bệ hạ, điện hạ, các hạ, túc hạ. Bốn cách gọi này đều có một ý tưởng chung, đó là tôi không dám nhìn thẳng vào mặt ông, chỉ dám cúi đầu nhìn phía dưới mặt thôi, bởi vì ông có địa vị quá cao, bộ mặt quá lớn.
Sang thời đại bình quyền, nhìn thẳng vào mắt nhau là nghi lễ cơ bản nhất của người hiện đại. Ở đây, tôi không dám đoán mò tâm lý lãnh đạo khi bắt tay chúng tôi, nhưng mỗi khi gặp hoặc nhìn thấy tình hình tương tự, tôi thầm nghĩ: Liệu có nên gọi một số vị lãnh đạo có hành vi như vậy là “Người nhìn chếch” không?
 
6. Thăng quan: được và mất
Một người vừa được thăng quan, họ hàng thân thích kéo đến chúc mừng.
Nhìn thấy bao nhiêu người đến nịnh nọt bợ đỡ, người này lập tức tỏ ra kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Sau đó anh ta gặp một người bạn cũ và làm như không quen biết cất tiếng hỏi: Anh là ai?
-          Trời đất ơi! Vốn là người cơ trí, người bạn cũ thở dài một cái rồi mới lên tiếng: Tôi vô cùng lo lắng cho anh. Tôi đã được nghe người ta nói, có một người vừa được hiển danh đã lập tức mất đi thị giác, mất ngay thính giác, mất ngay ký ức, ngay bạn bè cũ cũng không nhận ra. Không ngờ người đó lại là anh.
 
7. Trút giận lên đầu kẻ yếu
Một hôm, một con báo nhỏ trốn mẹ ra cánh đồng cỏ chơi đùa. Một đàn voi đang ăn cỏ tại đó. Báo con chưa biết nguy hiểm khi chạy nhảy quanh đàn voi khổng lồ, đàn voi thì vô tâm, kết quả là chỉ được một lúc, chú báo bị dẫm chết.
Một con sói phát hiện ra, nói vội chạy về báo tin không may đó cho báo mẹ.
Báo mẹ vô cùng thương tâm hỏi: Ai giết con ta? Hãy nói cho ta biết ngay! Ta thề sẽ trả thù!
-          Voi giết đấy! – Chó sói trả lời.
Vừa nghe, báo mẹ đã định gầm lên, nhưng nó kịp thời nín lại được và đổi giọng:” Không thể là voi được, các bác voi đâu lại làm thế! Đó là đàn sơn dương,con ta bị bọn này giết, ra phải trả thù!” . Báo mẹ lồng lên chạy đi tìm đàn sơn dương và chỉ trong một lúc, nó đã cắn chết cả đàn sơn dương như để thoả nỗi căm thù.
Trong thời đại chúng ta cũng có một số người như vậy, sau khi bị kẻ mạnh hơn ăn hiếp, họ thường trút cơn tức giận lên đầu kẻ yếu hơn.
 
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
8. Giới hạn của sự tôn nghiêm
Robert lên ô tô buýt đi qua một cụ già rồi đứng giữa hai hàng ghế. Vụ già trông có vẻ ốm yếu, bàn tay đen đúa nắm chắc vòng tay vịn, lắc đi lắc lại như cây cỏ. Trên xe đều như không nhìn thấy ông cụ.
Robert giậm chân, cúi đầu xuống nhìn con chó nhỏ đang bế trên tay cất tiếng hỏi:” Tôi muốn mua một chỗ ngồi cho con chó nhỏ này với giá 10 đồng, vị khách nào vui lòng bán?”.
Câu nói vừa dứt thì những cặp mắt vừa rồi đã lảng tránh ông cụ đều quay lại nhìn Robert và nhìn thấy ông cụ đứng đằng sau Robert, rồi lại vội vàng đưa đi nơi khác. Trên xe dường như im lặng hẳn, rõ ràng là không có ai vì 10 đồng bạc mà vứt bỏ sự tôn nghiêm đem chỗ ngồi của mình bán cho một con chó.
Robert liền tăng giá nói:” Hai mươi đồng, có ai bán không?”.
Vẫn không có ai lên tiếng.
-          Ba mươi đồng…, Một trăm đồng.
Lúc này có hai vị khách trên xe tỏ ra không im lặng được nữa, đồng thanh lên tiếng:” Tôi bán”.
Robert tỏ ra khó xử, nhìn hai vị hành khách nói: “Hai người đều muốn bán, tôi biết mua của ai bây giờ?”.
Người đàn ông da xạm đen nhanh mồm nói:”Mua của tôi đi, lấy chín mươi đồng thôi”. Còn người đàn ông da trắng bợt cũng không chịu kém, vội vàng nói:”Sao ông đùa như vậy, muốn lấy giá rẻ hơn à? Tôi bán tám mươi đồng đấy”.
Người đàn ông da xạm đen cũng vội nói:” Tôi, bảy mươi đồng”.
-          Tôi, sáu mươi đồng!...Mười đồng tôi cũng bán.
Lúc này người đàn ông da trắng bợt đã đỏ bừng mặt mũi, anh ta kéo Robert đến gần, ấp a ấp úng nói: “Người anh em, chỗ ngồi của tôi không cần tiền, nhường không cho con chó của anh ngồi đấy”.
Robert nhìn hai người đàn ông đang đỏ mặt tía tai với nhau:” Xin hai vị đừng tranh cãi nhau. Tôi không mua chỗ ngồi của ai nữa, vì tôi đã đến bến đỗ”.
 
9. Lễ cắt băng khánh thành kỳ lạ
Trương Hải là một hoạ sĩ trẻ thuộc trào lưu mới, anh định làm một cuộc trưng bầy tranh riêng của mình. Rất nhiều danh nhân, nhà lãnh đạo được mời tới dự, trong đó có giáo sư hoạ sĩ Triệu, đã ngoài tám mươi tuổi vốn là thầy dạy cũ.
Đúng ngày hẹn, cụ Triệu đến nhà trưng bầy, đã thấy người đến dự rất đông. Sau vài lời giới thiệu của người chủ trì, cụ Triệu cùng mấy vị quan khách nữa được mời lên cắt băng khánh thành. Mấy cô phục vụ mỗi người bưng một cái khay đựng vật cắt băng trên phủ vải đỏ đến đưa cho từng người tham gia cắt băng. Khi cô phục vụ vừa kéo miếng vải đỏ ra, cụ Triệu bỗng giật mình kinh ngạc, thì ra vật dùng để cắt băng khánh thành không phải là một cái kéo mà là một con dao phay sáng choang. Cụ già lẩm bẩm suy nghĩ, đây là lễ cắt băng khánh thành hay là hội giết gà? Thấy cụ Triệu chưa biết xử lý ra sao, cô gái phục vụ khẽ nói:” Đây là đơn vị tổ chức đặc biệt thiết kế ra đấy ạ, xin cụ cứ cầm dao cứa cho đứt băng”. Đến lúc đó cụ Triệu mới hiểu ra và cầm lấy con dao. “Xoẹt” một tiếng, tấm lụa hồng ngăn cửa bị cứa ra làm mấy đoạn, âm nhạc nổi lên, người đến dự ùa vào phòng.
Trương Hải nhiệt tình chạy đến chào mừng thầy dạy cũ, nhân cơ hội đó cụ Triệu kéo anh ta ra một bên, đấm nhẹ vào vai anh ta mấy cái rồi nói:” Hỡi chàng trai, tư tưởng của anh đúng là đi trước thời đại, dùng dao phay để cắt băng khánh thành! Chỉ có anh mới nghĩ ra cái trò này”.
Trương Hải cười đau khổ thưa với thầy:” Con đâu dám! Thầy không thấy tấm biển đề trước cổng à? Triển lãm lần này của con được một nhà máy chuyên sản xuất các loại dao tài trợ ạ”.
Cụ Triệu ớ ra không biết nói gì nữa.
 
10. Con chó biết nghe lời
Một con chó sủa suốt đêm, vì nó sợ có kẻ trộm. Ông chủ mất ngủ đã đánh nó một trận rất đau. Đêm thứ hai con chó ngủ kỹ, kẻ trộm vào nhà thật. Con chó suốt đêm không sủa một tiếng ấy lại bị người chủ đánh rất đau!
 
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
13.Nghèo nàn là một loại bệnh
Mỗi lần anh ta đến, trên mặt đều hiện lên vẻ khiêm tốn, lễ phép, lấy lòng. Anh ta gật đầu lia lịa chào mọi người và không ngừng nói “cám ơn”. Đúng thế,anh ta cám ơn chúng tôi, nói chính xác hơn, cái anh ta cám ơn là cơ cấu quốc gia và cơ chế an  ninh xã hội mà chúng tôi là đại biểu, cơ chế an ninh xã hội này khiến mỗi tháng, anh ta có thể lĩnh từ tay chúng tôi 100 NDT. Người anh ta thấp nhỏ, khô quắt, mặt thường xuyên đỏ vì mang một loại bệnh gì đó. Mỗi lần thấy anh ta, tôi đều cảm thấy một mùi thất bại, một mùi vị cuộc sống định nghĩa.
Anh ta đã rời khỏi biên chế, vợ không có việc làm, con gái đang học trung học cơ sở, là đại biểu điển hình của tầng lớp nghèo nàn trong thành phố. Việc gì anh ta cũng làm, bán rau, bán xì líp, bán tất ni lông… Một lần, ở bên đường, gió thổi tất ni lông của anh ta bay xuống cống thoát nước, anh ta lội xuống lấy, bị mảnh thuỷ tinh cắt đứt nửa ngón chân, nhưng anh ta tỏ ra không đau đớn vì vết thương ở chân mà sung sướng vì đã nhặt được đủ số tất. Chẳng có ai lời ra tiếng vào vì việc mỗi tháng anh ta được lĩnh 100 đồng đó, đúng thế, rõ ràng anh ta là đối tượng cần được giúp đỡ.
Thế nhưng đã có một người tìm đến, đưa ra những lời dị nghị, hơn nữa còn rất gay gắt. Hôm đó chúng tôi đang họp tại phòng họp, một bà cụ đã xông vào nói lớn: tôi đến đây để hỏi thăm một việc, có phải các ông mỗi tháng phát cho thằng X 100 đồng không? Tôi là mẹ nó đấy! Phản ứng đầu tiên của chúng tôi là có lẽ việc làm của chúng tôi có sơ suất phát tiền không đúng cho anh ta, đến nỗi bà mẹ anh ta phải đến chỗ chúng tôi có ý kiến. Nhưng sau khi suy nghĩ, chúng tôi không thấy có chuyện đó, nên đã nói với bà cụ:” Chúng tôi không phát sai tiền cho anh ta, cụ hãy về nhà xem xét đối chiếu với anh ta”. Dựa vào cái gì mà các ông cho chúng nó tiền, vợ chồng chúng nó còn trẻ, sao không kiếm nổi tiền ăn? Các ông không được phát tiền cho nó nữa”. Bà cụ run người hét lên với chúng tôi. Mái tóc bạc phơ rối bù, bộ mặt đầy nếp nhăn trông càng thê lương khi bà cụ ra về theo hành lang tôi tối.
Chúng tôi giật mình, vì sao bà mẹ lại muốn làm mất bát cơm của con mình, chẳng lẽ bà cụ giận dữ vì không muốn cho con mình sống khá hơn một tý?
Buổi chiều chúng tôi gọi điện thoại mời anh ta tới, hỏi kỹ đầu đuôi câu chuyện. Anh ta vừa ngồi xuống chưa nói được câu nào mà nước mắt đã chảy đầy mặt, tôi cảm nhận được là anh ta vô cùng đau khổ. Chúng tôi do dự hỏi: bà cụ có phải là mẹ đẻ của anh không? Anh ta nói:”Sao lại không phải? Bố tôi chết đã lâu, chúng tôi vẫn dựa vào nhau mà sống”. Chúng tôi lại hỏi:”Có phải anh bất hiếu, không phụng dưỡng bà cụ phải không? Anh ta kêu lên một tiếng trời ơi, bà cụ cũng có tiền bảo hiểm sinh hoạt tối thiểu, trước đây mỗi tháng đưa thêm cho bà cụ 50 đồng, nhưng hiện nay con gái tôi đã vào trung học cơ sở, chi tiêu nhiều lắm, nên thực sự không dư tiền đưa cho bà cụ! “ Sao bà cụ mãi không chết thế! Cứ làm khổ tôi mãi thế này? Sao bà cụ chưa chết đi cho rồi?”. Anh ta dùng những lời nói oán trách độc địa như vậy để kết thúc những lời trình bày của mình.
Khi anh ta về rồi, tất cả câu chuyện trên đã làm tôi vô cùng đau lòng. Tôi luôn luôn cho rằng tình mẹ con là tình cảm thiêng liêng nhất, chân thật nhất, vô tư nhát, vĩ đại nhất trên thế gian. Tôi cũng biết trong cuộc sống đã xảy ra một số việc như con trai làm trái ý mẹ hay người mẹ can thiệp vào đời sống của con…tạo nên màng ngăn cản, làm yếu đi tình cảm đó, nhưng làm yếu đi không có nghĩa là mất hẳn đi những quan tâm và cầu mong sâu sa bắt nguồn từ con tim, từ thiên tính. Trên trái đất này có bà mẹ nào không muốn con cái mình sống tốt hơn, có người con nào không muốn mẹ mình sống tốt hơn?
Thế nhưng, tôi đã tận mắt thấy sự sụp đổ của tình cảm đó, một sự sụp đổ trầm trọng và quyết liệt đến đáng sợ. Vì sao có nguyên nhân này? Tôi nghĩ là do nghèo nàn, vì vậy tôi muốn nói nghèo nàn là một loại bệnh. Nó khơi gợi cái ác trong tính người, nó huỷ diệt cái cơ sở mà chúng ta dựa vào đó để sống. Điều mà chúng ta cần làm là chiến thắng nó, tiêu diệt căn bệnh này.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
11. Nâng cao chỉ tiêu
Một hôm vua hổ muốn ăn thịt 1 con rùa. Sau khi biết tin, tổng quản sói lập tức gọi thị vệ cáo đến ra lệnh phải bắt ngay 10 con rùa, vì tuy đại vương nói chỉ muốn ăn một con thôi nhưng còn hoàng hậu, các vị hoàng tử,công chúa..., sợ rằng 10 con còn chưa đủ.
Thị vệ cáo vội gọi lực sĩ nhím đến hạ lệnh phải bắt ngay 100 con rùa vì nghĩ, tổng quản sói tuy nói chỉ cần 10 con rùa, nhưng trong cung còn có hoàng thân quốc thích và các đại thần, sợ rằng 100 con cũng không đủ phân phối.
Lực sĩ nhím vội tập hợp các chú lính thỏ, mệnh lệnh cho bọn chúng, phải tìm mọi cách bắt đủ 1.000 con rùa ngay lập tức. Lực sĩ nhím nghĩ, ngoài quan lại trong cung còn có các cấp quan, phủ, sợ rằng 1.000 con rùa còn chưa đủ chia.
Chỉ khổ cho các chú lính thỏ, mặc dù dốc toàn lực, lên núi, xuống sông, đào hang, kéo lưới mà chỉ bắt được 777 con rùa, so với chỉ tiêu vẫn còn thiếu 223 con, không hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ. Trong khi các chú lính thỏ lo sợ mất đâù vì không làm tròn nhiệm vụ thì không ngờ lại được lực sĩ nhím khen thưởng.
Nhận được 777 con rùa, lực sĩ nhím nộp lên trên 300 con, còn mình tự xủ lý 477 con, và thế là vừa được cấp trên khen thưởng, vừa có thu hoạch riêng. Thị vệ cáo nhận được 300 con rùa, nộp lên trên 100 con, còn thừa 200 con tự xử lý, lại cũng được cấp trên khen thưởng. Tổng quản sói một dạ trung thành, đem đủ cả 100 con rùa nộp lên vua hổ, vua hổ khen tổng quản sói làm việc giỏi.
Vua hổ vốn chỉ muốn ăn 1 con rùa, không ngờ ngay một lúc nhận được nhiều rùa như vậy, đành phải ngày ngày ra sức ăn, cuối cùng ăn đến phát chán, liền nói, thực ra thịt rùa có ngon lành gì đâu, từ nay trở đi đừng dâng loại thịt này nữa.
Nghe được tin đó, từ tổng quản sói đến thị vệ cáo, lực sĩ nhím, người nào người nấy thở phào nhẹ nhõm, nhất là lực sĩ nhím càng mừng thầm trong bụng: Nếu nhà vua còn muốn ăn thịt rùa nữa sợ rằng có lên trời xuống biển cũng không thể tìm thấy được bóng dáng con rùa.
Chỉ có các chú lính thỏ là chẳng nghe được tin gì cả!
 
12. Phép chia
Khi đoàn kết, người ta dùng phép cộng, khi cạnh tranh- người ta dùng phép trừ, khi lộng quyền - người ta dùng phép nhân, khi tự tư - người ta dùng phép chia.
Trong một căn phòng có 1 người và 12 con muỗi; 12 con muỗi cắn một người, 12:1=12; người đó cảm thấy không chịu nổi liền mời thêm một người nữa vào phòng.
12 con muỗi cắn 2 người: Chúng chia thành hai nhóm, 12:2=6.
Người đó cảm thấy dễ chịu hơn trước, nhưng để dễ chịu hơn nữa, họ mời thêm 1 người vào phòng; 12:3=4.
Dễ chịu hẳn lên! Họ mời thêm người thứ tư: 12:4=3.
Bỗng có người thứ năm định bước vào; 12:5=?
Mọi người bảo người thứ năm đừng vào nữa vì như vậy khó chia đều muỗi.
Nhưng người thứ năm cứ bước vào. Rồi “đèn, đẹt” hai tiếng. Người thứ năm đánh chết 2 con muỗi ; 10:5=2. OK, bây giờ thì dễ chia rồi. Mọi người đang phấn khởi thì người thứ năm lại đánh chết hai con muỗi nữa; 8:5=?
Những người khác cảm thấy có người thứ năm thêm phiền nên đã đồng lòng đuổi người đó ra ngoài.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần VII: Khôn lỏi
1.Một kiểu quảng cáo sáng tạo
Ông Lý được nhận vào làm việc ở phòng quảng cáo có ý kiến sáng tạo. Vừa về đến nhà, bà vợ đã cướp lời hỏi trước:” Công việc ra sao?”.
Ông Lý trả lời:” Này, mai bắt đầu đi làm, lương một năm là 150.000 USD, còn có hoa hồng. Bà vợ nghe xong vừa mừng vừa lo, không đừng được hỏi tiếp:” Đãi ngộ cao thế, chắc là số người được tuyển không ít”.
-          Có khoảng ba, bốn mươi người, đều là những anh tài trong giới quảng cáo! – Ông Lý trả lời.
-          Lấy mấy người?”.
-          Chỉ lấy một người, đó là tôi! – Ông Lý tự hào trả lời, rồi nói tiếp:
-          Tổng giám đốc đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy trắng, bảo chúng tôi có thể tuỳ ý viết, vẽ trên đó. Sau đó mang bài thi vừa viết vứt qua cửa sổ xuống phố, hễ bài thi của ai được người đi qua đường nhặt lên trước, họ sẽ chọn người đó. Thế là có người viết lên giấy những dòng chữ rất đẹp, có người vẽ mĩ nhân khoả thân, có người vẽ tranh biếm hoạ, có người gập giấy thành đồ chơi rất xinh…
-          Thế ông làm gì? – Bà vợ cuống quýt hỏi
-          Tôi chẳng viết, chẳng vẽ, chẳng gấp gì hết…, mà chỉ dán vào tờ giấy đó 3 tờ 100 đồng! – Ông Lý đắc ý trả lời.
 
2.Khôn lỏi
Ở một đất nước xa xôi có hai bác thợ mộc vô cùng kiệt xuất, tài nghệ của họ rất cao siêu, không ai hơn ai.
Một hôm, trong lúc vui vẻ, nhà Vua chợt nghĩ:”Không biết ai trong số hai người này là tài giỏi nhất? Chẳng bằng ta tổ chức một cuộc thi, sau đó sẽ phong cho người thắng cuộc là “Người thợ mộc giỏi nhất nước”.
Thế là nhà vua cho gọi hai người thợ mộc tới, ra lệnh cho họ trong ba ngày chạm trổ được một con chuột càng giống thật càng tốt. Ai thắng sẽ được thưởng và phong tước.
Trong ba ngày hẹn ấy, hai người thợ mộc hầu như quên ăn, quên ngủ mải miệt cưa, đục, chạm trổ và họ đã đúng hẹn dâng lên nhà vua sản phẩm của mình. Nhà vua chọn một số đại thần, thành lập hội động xét duyệt. Người thợ mộc thứ nhất làm một con chuột rất sinh động, có mắt, có mũi, có lông, thậm chí mấy cái râu chuột còn có thể cử động được. Con chuột của người thợ mộc thứ hai thì chẳng giống chút nào, nhìn từ xa mới thấy có vẻ như một  con chuột. Thế là thắng bại đã rõ ngay. Nhà vua và hội đồng xét duyệt nhất trí cho người thợ mộc thứ nhất là người giỏi hơn.
Nhưng người thợ mộc thứ hai không phục, ông nói:”Sự phán xét của nhà vua không công bằng”.
-          Tại sao? – nhà vua hỏi.
Người này thưa:” Để quyết định xem con chuột này có giống chuột thật không nên để cho mèo quyết định. Mắt mèo nhìn chuột chắc chắn tinh hơn người”. Quốc vương nghe vậy thấy cũng có lý, liền sai người vào hậu cung mang ra mấy con mèo, để qua mèo biết con nào giống thật hơn.
Ai ngờ, vừa thả mèo ra, mấy con đều không hẹn mà cùng nhẩy tới vồ vào “con chuột” không giống chuột lắm rồi gằm ghè, tranh cướp mồi. Còn “con chuột” giống như thật, chúng không thèm để ý. Trước sự thật đó, nàh vua phải phong cho người thợ mộc thứ hai danh hiệu “Người thợ mộc giỏi nhất nước”.
Sau việc này, nhà vua hỏi người thợ mộc thứ hai:” Nhà ngươi dùng phương pháp gì khiến mấy con mèo tưởng con chuột nhà ngươi chạm trổ là chuột thật?”. Người này thưa:” Sự thật rất đơn giản, chẳng qua là thần dùng xương cá để chạm trổ chuột thôi! Về căn bản, mèo không để ý đến việc có giống thật hay không, mà quan trọng là chúng chỉ thích mùi tanh thôi!”.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
Phần VIII: Ứng xử thông minh
1.Là nhà vua muốn gặp tôi mà
Puskin là nhà thơ nổi tiếng của nước Nga. Khi danh tiếng của ông vang đến triều đình, Sa hoàng hạ lệnh ông phải tới triều kiến. Sáng hôm đó, khi sa hoàng đến giá lâm, cửa điện mở hết tầm, mọi người đều khom lưng cúi chào nhà vua, chỉ có một mình Puskin là đứng thẳng, đưa mắt lạnh lùng nhìn Sa hoàng:
-          Nhà ngươi là ai? – Sa hoàng dằn giọng hỏi.
-          Gorie Grơevich Puskin. Nhà thơ trả lời một cách đúng mực.
-          Thế tại sao nhà ngươi không khom lưng chào ta? Ta là Hoàng đế nước Nga, toàn dân thiên hạ, ai dám không cúi đầu trước ta?
Puskin nhìn Sa hoàng từ đầu đến chân rồi nói:” Không phải là tôi muốn gặp hoàng đế, mà là hoàng đế muốn gặp tôi. Nếu như tôi cũng làm như mọi người, cúi gập lưng xuống, thì làm sao ngài có thể nhìn thấy tôi?”.
 
2.Học thức và bổng lộc
Học giả Pháp Dowall là người quản lý việc của Hoàng đế Francois đời thứ nhất. Một hôm, có một người hỏi ông một vấn đề, ông không biết đã thành khẩn trả lời:” Tôi không hiểu!”.
Người kia nói:” Ngài không hiểu? Thế mà chính là vì học thức của ngài uyên thâm nên nhà vua mới ban cho ngài nhiều bổng lộc đến thế!”.
“ Hoàng đế căn cứ vào sự hiểu biết nhiều ít của tôi để ban bổng lộc. Còn như nếu nhà vua căn cứ vào những cái không biết của tôi để ban bổng lộc, thì toàn bộ tài sản của nhà vua cũng không đủ trả cho tôi!”.
 
3.Thế mới là người cao cờ thực sự
Tả Tông Đường, một danh tướng đời Thanh còn là một người cao cờ nổi tiếng. Trong một lần ông mặc thường phục đi kinh lý qua một ngôi nhà tranh thấy trước cửa có một tấm bảng trên đề mấy chữ “Người cao cờ nhất thiên hạ”. Không phục, Tả Tông Đường bước vào nhà xin thử tài cao thấp. Kết quả là chủ nhà bị thua liền ba ván. Trước khi tiếp tục đi, Tả Tông Đường bảo người chủ nhà:” Hãy cất ngay tấm bảng đi!”.
Sau đó trên đường thắng trận trở về kinh, Tả Tông Đường lại đi qua ngôi nhà tranh này và vẫn thấy tẩm bảng “Người cao cờ nhất thiên hạ” để nguyên chỗ cũ. Có chút ngạc nhiên, Tả Tông Đường bước vào hỏi nguyên nhân. Người chủ trả lời: Lần trước tướng quân nhận lệnh hoàng thượng ra đi phải thắng, nên tôi không nỡ làm nhụt nhuệ khí của ngài; còn hôm nay tôi quyết không nhường. Qủ nhiên lần chơi lại này, Tả Tông Đường thua liền ba ván.
Người cao cờ chân chính, không vội để lộ tài năng thật sự của mình, họ thường để dư địa cho đối phương. Xem xét thời thế, giỏi hiểu ý người, tụ vào tản ra như không đó mới là “ý” chủ quan của những cao thủ chân chính.
 
4.Ngôi sao và chiếc bóng
Ngôi sao trên trời lạnh lùng nheo mắt nói với chiếc bóng trên mặt đất:
“Chí ít thì ta cũng mang lại cho những chỗ đen tối trên trời một chút ánh sáng, còn các ngươi thì sao?”.
Chúng tôi thì ngược lại, sự tồn tại của chúng tôi khiến người ta ý thức được rằng, bất kỳ sự quang minh nào cũng đều có mặt đen tối của nó” - Chiếc bóng trả lời. Còn ngôi sao không biết nói gì.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
5. Nhanh nhạy
Nguỵ Văn Hầu thời chiến quốc cùng quần thần ngồi nói chuyện vãn. Nhà vua hỏi các quần thần:” Các khanh thấy ta là một vị vua như thế nào?”. Hầu như tất cả đều trả lời:” Nhà vua là một quốc quân nhân hậu”. Chỉ có Cù Hoàng trả lời:” Nhà vua không phải là một quốc quân nhân hậu”. Nghe vậy, Nguỵ Văn Hầu biến sắc mặt, nhưng vẫn làm ra vẻ bình tĩnh hỏi thêm:” Căn cứ vào đâu?”.
Cù Hoàng trả lời:” Sau khi đánh chiếm được nước Trung Sơn, nhà vua không phong cho anh em mà chỉ phong cho thái tử của mình, điều đó chứng tỏ lòng tự tư tự lợi, vì vậy, thần cho là nhà vua không nhân hậu”.
Những lời nói đó đã làm cho Nguỵ Văn Hầu vừa xấu hổ, vừa tức giận liền ra lệnh đuổi Cù Hoàng ra khỏi cung. Cù Hoàng coi như không có chuyện gì thản nhiên bỏ đi.
Nguỵ Văn Hầu vẫn chưa cam tâm, hỏi tiếp Nhiệm Toạ:”Rốt cuộc, ta là một ông vua như thế nào?”.
Nhiệm Toạ trả lời:” Nhà vua đúng là một vị quốc quân nhân hậu”.
Nguỵ Văn Hầu nghi hoặc hỏi:” Vì sao lại nói như vậy?”.
“ Thần nghe nói, phàm là một quốc quân nhân hậu thì bề tôi nhất định cương trực, dám nói suy nghĩ thực. Những lời Cù Hoàng vừa nói là những lời rất chân thực, không phải là những lời nịnh hót. Vì thế, thần biết vị vua của ông ta chắc chắn là một người khoan dung, nhân hậu”.
Nguỵ Văn Hầu thấy lời nói chí lý, luôn miệng bảo:” Nói hay lắm! Nói hay lắm”. Rồi lập tức sai người mời Cù Hoàng ở lại, hơn nữa còn coi ông là thượng khanh.
 
6. Kẻ thù và bạn bè
Thái độ đối xử với một số kẻ thù chính trị của Tổng thống Mỹ Lincoln khiến cho một số nhân viên dười quyền ông bất bình. Những người này khuyên Lincoln không nên kết giao bạn bè với những kẻ đó mà phải tiêu diệt họ.
Khi họ biến thành bạn của tôi – Lincoln từ tốn nói- Chẳng phải là tôi đã tiêu diệt kẻ thù của mình rồi à!”.
 
7. Cùng đường trở nên sáng suốt
Ngày xửa ngày xưa, có một người chuyên cho vay nặng lãi vừa già lại vừa xấu, hắn để mắt đến con gái một người mắc nợ nghèo không có khả năng trả nợ, nên đã yêu cầu người này dùng con gái gán nợ. Khi biết người con gái mắc nợ nghèo không đồng ý, lão cho vay nặng lãi liền đưa ra một điều kiện vô cùng “nhân nghĩa”: Lão ta sẽ nhặt trong những viên đá bên đường ra hai hòn đá, một trắng một đen rồi cho vào một cái túi đựng tiền không có tiền, sau đó người con gái thò tay vào lấy ra một hòn đá, nếu cô ta lấy được hòn đá đen, cô sẽ trở thành vợ lão. Khoản nợ của bố cô sẽ không phải trả nữa. Còn nếu cô lấy được hòn đá trắng, không những cô được về với cha mẹ mà món nợ cũ cũng được xoá. Nếu cô từ chối sự lựa chọn trên, lão ta sẽ đưa bố cô vào trại giam.
Trước điều kiện có vẻ công bằng đó cô gái con người mắc nợ nghèo đành phải liều một phen. Thế là lão cho vay nặng lãi cúi mình xuống nhặt lấy hai hòn đá cho vào chiếc túi không đựng tiền. Không ngờ, người con gái tinh mắt ấy đã phát hiện được lão già này đã cố tình chọn hai hòn đá màu đen cho vào túi. Cô làm như không thấy gì, chỉ từ từ thò tay vào túi lấy ra một hòn đá rồi ném ngay nó xuống con sông gần đấy. Ném xong cô ôm mặt ngồi khóc làm ra vẻ không biết vì sao lại làm thế. Khi mọi người đến làm chứng còn chưa biết xử lý ra sao thì cũng chính là cô gái đưa ra cách giải quyết vấn đề:” Thế này nhé, bây giờ chúng ta lấy hòn đá trong túi ra, nếu nó màu trắng thì hòn đá tôi lấy là màu đen, còn nếu nó màu đen thì hòn đá tôi lấy ra phải là màu trắng”.
Hòn đá trong chiếc túi đựng tiền không thể là màu trắng được, lão già cho vay nặng lãi không thể thừa nhận trước mặt mọi người hành vi xảo trá của mình. Hắn đành nhận thua cuộc.
Cô gái vui vẻ trở về với bố mẹ và đã trả xong món nợ cho cha.
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
8. Dùng khôi hài hoá giải những ngượng ngùng trong giao tiếp
 
Fkanklin, nhà ngoại giao, nhà hoạt động xã hội Mỹ, trong một lần tới thăm Pháp đã dự một cuộc nói chuyện bằng tiếng Pháp tại một Học viện. Khi bài nói chuyện kết thúc, các thính giả vỗ tay rào rào hoan nghênh, ông cũng vỗ tay theo. Vì không biết tiếng Pháp nên Fkanklin không hiểu diễn giả vừa nói những gì, ông quay sang hỏi người ngồi bên cạnh, người này cười cười rồi nói cho biết, đó là những lời ca ngợi ông. Franklin cảm thấy vô cùng ngượng ngùng vì mình đã tự vỗ tay khen ngợi mình, tuy vậy ông đã đứng dậy nói với những người nghe trong hội trường:” Tôi xin kể cho mọi người một câu chuyện cười”. Tiếp đó ông kể lại câu chuyện vừa trải qua của mình. Cả hội trường bùng lên một trận cười lớn, ông cũng cười. Trong tiếng cười hữu nghị, Franklin đã thoát khỏi sự ngượng ngập.
* * *
Để chiêu đãi một lãnh tụ dân tộc Ấn Độ, vương thất Anh đã cử hành một bữa tiệc tối long trọng, do Thái tử Windsor chủ trì. Khi bữa tiệc kết thúc, những người phục vụ bàn đã mang tới trước mặt mỗi vị khách một chậu nước nhỏ để rửa tay, nhưng vị khách Ấn Độ thấy chiếc chậu nhỏ bằng bạc đựng nước được chế tác rất tinh xảo ấy lại hiểu nhầm là nước uống, nên đã nhấc lên, một hơi uống cạn. Những người dự tiệc, phần lớn là các nhà quý tộc Anh đều há mồm trợn mắt vì nhạc nhiên. Chỉ có thái tử Windsor vẫn thần sắc như thường, vừa tự nhiên nói chuyện vừa nâng chậu nước của mình lên uống cạn như vị khách vừa làm. Thấy vậy những người khác cũng bắt trước làm theo. Một sự việc vốn có thể tạo thành những ngượng ngùng lớn, trong giây phút đã được giải thoát. Bữa tiệc vẫn thu được thành công như dự tính.
* * *
Sinh viên đại học X tranh thủ làm thêm giờ tại một quán ăn để đỡ gánh nặng cho cha mẹ. Đang lúc chạy toát mồ hôi vì ngày nghỉ khách hàng rất đông thì một đôi vợ chồng tuổi trung niên ngồi vào khu bàn do X phục vụ. Một lát sau, bỗng người chồng cao giọng gọi “Phục vụ viên!”. X vội chạy tới, vị khách nghiêm sắc mặt dung đũa chỉ vào một con ruồi đang trôi nổi trên bát canh, nói:” Xin hỏi, cái con vật này đang làm gì trong bát canh của tôi vậy?”. X chăm chú nhìn bát canh, trong bụng thầm nghĩ: chắc chắn là mình sẽ mất việc thôi, nhưng bỗng anh bật ra một kế:” Thưa ngài hình như nó đang bơi”. “Chẳng lẽ nó không biết đây là nơi cấm bơi à?”. Người chồng rất khôi hài vặn lại. “Vô cùng xin lỗi, đó là do tôi quản lý không nghiêm, khiến nó phạm phải sai lầm tự do chủ nghĩa. Tôi xin đổi bát canh khác, có được không ạ?”. Đôi vợ chồng trung niên này cũng bị thái độ khôi hài của X làm cho bật cười và thông cảm bỏ qua.
* * *
Địa phương nọ mở một cuộc triển lãm hàng hoá có tính toàn quốc. Rất nhiều doanh nghiệp đã cho dựng những tấm quảng cáo hàng hoá của mình trong khu triển lãm. Tấm quảng cáo của doanh nghiệp Y bỗng bị một cơn gió thổi đổ, nữ nhân viên bán hàng A của doanh nghiệp này hoảng hốt kêu lớn “Tấm quảng cáo đổ mất rồi!”. Giám đốc doanh nghiệp nghe vậy sa sầm nét mặt cho là điềm gở. Nữ nhân viên phục vụ B thấy vậy cũng kêu lớn:” Tấm quảng cáo quá đẹp!”. Nói xong vội chạy ra dựng tấm quảng cáo lên. Trên nét mặt đang cau có của giám đốc hiện lên vẻ cười mãn nguyện. Ông ta mắng cô A:”Từ nay trở đi mà còn nói những lời không có lợi như thế nữa thì sẽ bị đuổi việc!”. và quay sang thưởng cho cô B một khoản tiền. Qua đây có thể thấy sức mạnh khôi hài là như thế nào.
 
9. Giữ chắc lấy cái quần đùi
Vương Dương Minh - một nhân vật quan trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, do phản đối hoạn quan bị chuyển về Quí Châu làm một chức quan nhỏ. Trong khi làm nhiệm vụ, ông phải xét xử một tên cướp phạm nhiều tội ác giết người cướp của, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ…Khi thẩm vấn, hắn thản nhiên nói: Tôi đáng tội chết, ngài muốn làm gì cũng được, chỉ xin đừng nói chuyện lương tâm đạo đức với tôi.
Vương Dương Minh đống ý và nói: Hôm nay trời nóng quá, trước khi xét hỏi, ta nghĩ chúng ta nên cởi bớt áo ngoài ra. Tên cướp đồng ý ngay vì cởi áo ngoài có nghĩa là hắn được cởi trói. Sau khi cởi bỏ áo ngoài, Vương Dương Minh nói: Vẫn còn nóng lắm, cởi nốt áo lót ra nhé! Tên cướp đâu ngại chuyện cởi trần, hắn cởi luôn áo lót. Vương Dương Minh nói tiếp: Trời vẫn còn nóng quá, chúng ta cởi bớt quần ngoài nữa nhé…Tên cướp đồng ý ngay. Thế là cả hai người đều chỉ còn chiếc quần đùi trên người. Lúc này, Vương Dương Minh dấn thêm một bước nói: Sao chúng ta không cởi nốt quần đùi, khắp người trần truồng càng thoải mái. Thế nhưng vừa nghe thấy nói cởi nốt quần đùi, tên cướp đã cuống quít:’ Không được! Điều này không thể được!”.
Thấy vậy, Vương Dương Minh liền thuận lời thuyết phục: Vì sao lại không được? Chẳng phải là trong lòng ngươi còn chút cảm giác gọi là xấu hổ ư? Cái cảm giác xấu hổ đó chính là sự thể hiện ở mức độ nào đó của cái gọi là lương tâm đạo đức mà ngươi vừa nói là bất chấp, là không cần đấy. Một đứa trẻ sơ sinh, không coi việc trần như nhộng là cái gì cả, nhưng qua việc này ta thấy vẫn còn có thể nói chuyện lương tâm đạo đức với ngươi.
Sau những khơi dậy về lương tâm đạo đức đó, tên cướp đã tự giác khai hết tội lỗi của mình và bè đảng.
 
10. Con dê nhỏ khôn ngoan
Một hôm, chú dê nhỏ mải ăn đã bỏ đàn ra gặm cỏ tại một nơi cách xa người chăn dắt. Và điều không may đã đến: một con sói già nhe nanh gầm gừ định ăn thịt. Chú dê nhỏ thiết tha cầu khẩn: Xin ngài sói tạm thời tha cho tôi một thời gian, đợi đến mùa thu hãy ăn thịt, hiện nay tôi quá gầy.
-          Thế thì tên người là gì? Sói hỏi.
-          Tên tôi là Khôn ngoan.
Đến mùa thu, con sói tìm đến, nó gào lớn: Khôn ngoan đâu! Con dê nhỏ khôn ngoan đâu? Ra đây ta bảo.
Lúc này chú dê nhỏ đang ở tron chuồng mới cười và đáp lại:
-          Con sói ngờ nghệch ơi! Nếu ta không khôn ngoan thì làm sao còn sống đến hôm nay, ở trong chuồng mà trả lời mi!
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
11. Một hoạ sĩ thông minh
Nghe nói từ thời xa xưa, có một ông vua tướng người rất xấu. Ông ta bị chột một mắt và bị cụt một chân.
Một hôm nhà vua triệu tập tất cả các hoạ sĩ trong nước lại để vẽ chân dung của mình. Ông ta ra lệnh: vẽ đẹp thì thưởng, vẽ xấu thì chặt đầu.
Trong số hoạ sĩ được gọi đến, có một người nghĩ là: “Nhà vua oai nghiêm như vậy, ai dám mạo phạm! Cho dù nhà vua trông rất xấu xí, nhưng mình sẽ vẽ ông ta thành rất đẹp!”. Thế rồi hoạ sĩ dâng lên một bức vẽ. Chỉ thấy nhà vua trong tranh không chột, không thọt, không xấu xí, mà thần thái oai vệ, nghiêm trang. Ai ngờ, vừa nhìn qua một cái, nhà vua đã nổi giận hét lớn:
-          Đây là đứa giỏi ăn gian nói dối, nịnh bợ người khác, là kẻ tiểu nhân có dã tâm để lại đâu có dùng được, mang nó ra mà chém!
Người hoạ sĩ đó bị chặt đầu.
Lúc này, người hoạ sĩ thứ hai nghĩ: “Bức vẽ giả dối, khoa trương đã làm nhà vua nổi giận, vậy thì ta cứ vẽ như thực!”. Ông ta cắm cúi vẽ một lúc rồi dâng bức tranh lên nhà vua. Chỉ thấy nhà vua trong bức tranh mù một mắt, thọt một chân, tìm đâu cũng không thấy một chút uy nghi. Vừa nhìn bức tranh nhà vua đã đùng đùng nổi giận, gào to:
-          Lại dám làm xấu quốc vương à? Dám mạo phạm oai trời, loại này thuộc vào loại vô dụng để lại đâu có dùng được, mang nó ra chém!
Người hoạ sĩ thứ hai cũng bị chặt đầu. Trước tình hình đó, đám hoạ sĩ còn lại đều thất kinh run lẩy bẩy, người nào dám vẽ nhà vua nữa đây? Nhưng không vẽ không được, chống lại thánh chỉ cũng sẽ bị chặt đầu.
Đúng vào lúc mọi người còn chưa biết xoay xở ra sao, có một hoạ sĩ bước lên dâng lên nhà vua một bức tranh. Vừa nhìn thấy bức tranh, nhà vua luôn miệng khen đẹp, rồi đưa bức tranh cho quần thần xem.
Đó là bức tranh vẽ nhà vua đi săn. Chỉ thấy một chân nhà vua quỳ xuống đất, một chân gác lên cành cây, một mắt nhắm, một mắt mở, hai tay nâng súng nhắm. Ôi một bức vẽ khéo biết bao nhiêu. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi. Nhà vua thưởng cho hoạ sĩ này hai nghìn lạng vàng.
 
12. Tự do
Một con quỷ nói với một người đánh cá vừa cứu nó từ biển lên:” Ta đã sống những năm tháng nặng nề dưới biển. Ở thế kỉ thứ nhất, ta nghĩ:” Trong một trăm năm này, nếu có ai đến cứu ta, ta sẽ trả ơn người đó bằng cách dùng năng lực của mình làm họ vinh hoa phú quý suốt đời. Thế nhưng 100 năm trôi qua mà chẳng có ai đến cứu ta: đến thể kỷ thứ hai ta nghĩ: nếu trong thế kỷ này có ai đến cứu ta, ta sẽ dùng năng lực của mình thay người đó khai thác những của quý dưới mặt đất, thế nhưng vẫn chẳng có ai đến cứu ta. Sang thế kỷ thứ ba, ta nghĩ: ai cứu ta trong thế kỷ này, ta sẽ đền ơn họ bằng cách thoả mãn ba điều ước của họ. Cứ như vậy 300 năm trôi qua mà chẳng có ai đến cứu ta cả. Ta vô cùng tức giận và thề, nếu lúc này có ai đến cứu ta, ta sẽ giết chết người ấy, thế nhưng ta để cho họ tự do, tự do chọn lựa cách chết. Chính vào lúc này người đến cứu ta, vì thế ta phải giết ngươi, nhưng ta để ngươi tự do lựa chọn phương thức chết”.
Người đánh cá cười nói:” Có thể nhà ngươi bị nhốt kín dưới nước quá lâu, nên mới nói tầm bậy như vậy. Con người ta ở trên đời, bất kể là vinh hoa phú quý như thế nào, bất kể hiển tích như thế nào, trước cái chết đều không có sự tự do nào cả, mà nếu có sự tự do nào đó, nhiều nhất cũng chỉ lựa chọn là chết như thế nào thôi, đời người ta là như vậy, làm gì ngươi phải bận tâm lo nghĩ đến thế”.
Con quỷ đờ người ra một lúc:” Nếu thật như vậy...”
Người đánh cá ngắt lời nó:” Ngươi thật hồ đồ, nếu như để cho ta lựa chọn, ra sẽ chọn cách chết già một cách tự nhiên. Vậy, điều này có liên quan gì đến quyết định của ngươi nữa không?”.
Nói xong người đánh cá bỏ đi, để mặc con quỷ đứng như trời trồng.
 
13. Rượu có chữa được hói đầu đâu
Trong bữa tiệc chiêu đãi các anh hùng chiến đấu không quân của CLB không quân Berlin, Cộng hoà dân chủ Đức cũ, một anh lính trẻ trong khi rót rượu đã vô ý rót vào cái đầu hói của vị tư lệnh quân chủng. Trong chốc lát, binh lính sĩ quan sợ đến mức đờ người ra, cả phòng tiệc im ắng.
Nhưng vị tướng lại thản nhiên như không, ông vỗ nhẹ vào vai người lính trẻ nói:
-          Này chú em, chú cho rằng cách chữa trị này tốt à?
Lời nói của ông vừa dứt, cả phòng tiệc bỗng vang lên tiếng cười sảng khoái, mọi người lại vui vẻ, thoải mái ăn uống, trò chuyện.
 
14. Một cộng một bằng mấy?
Sami là nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng và là cựu tổng thống của Argentina. Khi Sami còn chưa làm tổng thống, có một người có tiền nhưng bị nhiều người không ưa, hỏi ông:” Tôi nghe nói ngài rất thông minh, không có việc gì có thể qua mặt được ngài. Liệu ngài có thể cho tôi biết vì sao ngài lại thông minh như vậy?”. Sami mỉm cười nói:” Ồ! Tôi không thông minh đâu, nếu như ngài cho rằng tôi thông minh, thì ngài là môt thằng ngôc đấy”.
Người có tiền nghe xong, rất tức giận.
Sami lại nói:” Ngài đừng giận dữ. Nếu như ngài không thừa nhận ngài là một thằng ngốc, xin ngài trả lời tôi một vấn đề: nếu ngài có một đàn dê, tôi lại biếu cho ngài một đàn dê nữa, vậy ngài có mấy đàn dê?”.
“ Vấn đề của ngài quá đơn giản, đây là vấn đề đơn giản nhất trên thế giới. Một cộng một bằng hai, đứa trẻ lên 3 cũng biết là được 2 đàn dê!”.
Sami ha hả cười lớn, nói:” Ngài trả lời sai rồi. Nếu ngài gộp hai đàn dê lại với nhau thì chúng sẽ hợp thành một đàn thôi. Đó mới là vấn đề đơn giản nhất”.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
15.Công cụ gây án
Cảnh sát bắt được một tên kẻ trộm đang gây án.
Kẻ trộm nói:” Tôi không phạm tội, tôi chỉ là một công cụ bị người ta lợi dụng mà thôi, mà công cụ thì không có tội. Ví dụ như nói, một người cầm dao giết người, thì kẻ có tội là người đó, chứ không phải con dao”.
Viên cảnh sát hỏi lại:” Ý của anh là, anh chỉ là công cụ gây án bị người ta lợi dụng?”.
Kẻ trộm trả lời:” Đúng như vậy!”.
Viên cảnh sát cười nói:” Tốt lắm! Xin mời theo tôi về đồn cảnh sát”.
Kẻ trộm kêu lớn:” Tại sao lại thế? Vừa rồi chẳng phải là đã nói, tôi chỉ là công cụ bị người ta lợi dụng, mà công cụ thì không có tội mà!”.
Viên cảnh sát gật đầu nói:’ Đúng! Nhưng theo pháp luật, thì công cụ gây án phải bị tịch thu”.
 
16.Người thông minh làm khách
Có một người thông minh, ông nghe nói ở nơi nọ có một người vô cùng khảng khái và hiếu khách. Người thông minh liền mặc một bộ quần áo rách tới nhà người ấy làm khách. Không ngờ chủ nhân tỏ ra không hoan nghênh lắm, thậm chí một bữa cơm cũng không mời. Người thông minh không vui, bỏ đi.
Hôm sau ông đổi mặc một bộ trang phục rất đẹp đến nhà người ấy. Vừa nhìn thấy bộ quần áo sang trọng của người thông minh, chủ nhân lập tức mời ông vào nhà, rồi chuẩn bị thết ông một bữa ăn rất thịnh soạn.
Thấy vậy người thông minh chỉ cười nhạt mấy tiếng, rồi lấy ra mấy đồng tiền vứt ngay trước mặt chủ nhân.
Chủ nhà ngạc nhiên hỏi: Ông cho tôi tiền làm gì?
-          Ngày hôm qua, tôi mặc một bộ quần áo rách tới đây, ông không mời tôi ăn cơm. Hôm nay tôi ăn mặc chỉnh tề, ông liền coi tôi là khách quý để chiêu đãi, có thể thấy, đối với ông cái quan trọng không phải là con người mà là bộ quần áo bên ngoài của người ta. Người thông minh có thể dùng trí tuệ đền đáp tình hữu nghị, còn người có tiền chỉ có thể cho tiền. Mấy đồng tiền này không phải là tôi biếu ông mà là bộ quần áo của tôi tặng ông vậy.
Nói xong câu đó, người thông minh bỏ đi.
 
17.Cái mà người đàn bà muốn nhất là gì?
Vua Iase trẻ tuổi, trong một cuộc chiến tranh với nước láng giềng, thua trận bị bắt làm tù binh. Vương phi nước láng giềng thấy nhà vua đẹp trai, phóng khoáng, không nỡ giết, vì vậy đã đưa ra một điều kiện, yêu cầu trong một năm nhà vua phải tìm được một câu trả lời khiến bà ta vừa lòng, và tạm thời thả nhà vua. Còn nếu sau một năm Iase vẫn không có được câu trả lời khiến bà ta vừa lòng, nhà vua phải tự nguyện quay lại nhận cái chết. Còn nếu không đáp ứng được điều kiện này, sẽ bị giam suốt đời trong nhà tù.
Câu hỏi của bà ta là:” Cái mà đàn bà muốn nhất là gì?”.
Ngay cả những người có học thức cao cũng khó trả lời được câu hỏi này, huống chi nhà vua Iase vừa trẻ , vừa hiểu đời chưa sâu. Lòng tín nghĩa và danh dự là cuộc sống thứ hai của người đàn ông, cho nên khi đã đáp ứng yêu cầu của người ta rồi cũng phải đưa ra câu trả lời.
Nhà vua trở về nước tiến hành mấy cuộc điều tra, nhiều lần thỉnh giáo các bậc trí giả, hỏi mẹ và chị em gái...nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời vừa ý. Một mưu sĩ thưa với nhà vua, có thể đến thỉnh giáo một người đàn bà thần bí, bà ta nhất định sẽ có câu trả lời nhưng tính tình bà ta vui buồn thất thường lắm.
Mãi đến ngày cuối cùng của thời hạn, không còn cách gì nữa, vua Iase đành phải cùng các tuỳ tùng đến tìm người đàn bà thần bí đó. Người đàn bà này dường như đã biết yêu cầu của nhà vua nên đã nhanh chóng đưa ra cái giá phải trả:” Ta bảo đảm đưa cho nhà vua một câu trả lời đạt yêu cầu nhưng điều kiện là Gewen phải lấy ta làm vợ”. Gewen là một kỵ sĩ đẹp trai phóng khoáng nhất trong các vũ sĩ và cũng là người bạn tốt nhất của nhà vua.
Vua Iase quan sát người đàn bà thần bí xấu xí trước mặt mình và nghĩ là mình quyết không thể bán bạn bè để cầu sống nên đã từ chối ngay, chuẩn bị ngày mai sẽ lên đường đi nhận cái chết. Thế nhưng các tuỳ tùng đã đem tình hình này báo cho Gewen biết. Cảm động trước nghĩa khí của nhà vua đối với bạn bè, Gewen quyết định hi sinh bản thân, bí mật đến gặp người đàn bà thần bí và đồng ý lấy bà ta.
Người đàn bà thần bí cũng là người nói lời giữ lời, đã nói câu trả lời cho vua Iase:” Cái mà người đàn bà muốn nhất là có thể tự làm chủ cuộc sống của mình”.
Nhà vua mang câu trả lời đó đến gặp Vương phi nước láng giềng. Bà đã vui vẻ tiếp nhận và trả Iase về nước. Lúc đó, Gewen và người đàn bà thần bí đang cử hành hôn lễ chính thức rất linh đình. Nhìn thấy bạn, vì mình mà phải hi sinh lớn đến vậy, nhà vua đau khổ như không muốn sống nữa.
Gewen vẫn giữ được phong độ của một kỵ sĩ, vui vẻ giới thiệu vợ mình với bạn bè. Vào đêm động phòng, theo tập quán, Gewen vẫn bế cô dâu vào phòng mới. Người đàn bà thần bí xấu hổ quay mặt đi, đợi đến lúc Gewen đặt bà ta xuống giường, anh ta mới chợt phát hiện ra bà ta đột nhiên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, tươi vui, dịu dàng. Gewen vội hỏi chuyện gì đã xảy ra thế? Người đàn bà thần bí trả lời:
-          Để đền đáp tấm lòng lương thiện và thái độ quân tử của chàng, thiếp đã vui lòng khôi phục lại bộ mặt vốn có của mình. Thế nhưng thiếp chỉ có thể xuất hiện với tư thế một mĩ nữ trong một nửa ngày, còn nửa ngày kia vẫn phải trở về với bộ mặt xấu xí mà người ta chán ghét. Tuy vậy, thưa phu nhân thân mến, chàng có thể lựa chọn bộ mặt của thiếp xuất hiện như thế nào vào ban ngày hay ban đêm. Thiếp sẽ làm theo chỉ thị đó.
Gewen suy nghĩ rồi trả lời bằng giọng nói kiên định:” Phu nhân thân mến, ta cảm thấy kết quả của sự lựa chọn có ảnh hưởng lớn với nàng lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng đối với ta, vì vậy chỉ nàng mới có tư cách quyết định việc này”.
“ Phu quân thân mến, trên thế giới này, chỉ có chàng là người hiểu nhất cái mà người đàn bà muốn nhất là có thể làm chủ cuộc sống của mình, vì vậy thiếp phải 24 giờ trong một ngày khôi phục lại bộ mặt vốn có của mình để đền đáp chàng”.
Thật ra, điều mà người đàn bà muốn nhất là:” Tìm được người đàn ông lúc nào cũng tôn trọng họ”.
 
18.Lời nói dối đẹp đẽ
Trong một vũ hội lớn, ngài Nói thật gặp một bà cụ tuy đã già nhưng còn rất phong độ, ông ta chào bà cụ và nói:” Cụ làm tôi nghĩ đến thời con gái của cụ”.
Bà cụ mỉm cười hỏi:” Như thế nào?”.
“ Rất đẹp”.
“ Thế chẳng lẽ bây giờ tôi không đẹp à?”. – Bà cụ hỏi với cách nói đùa dí dỏm.
Ngài Nói thật vô cùng nghiêm túc trả lời:” Vâng, so với khi cụ còn trẻ thì da đã nhẽo, không còn mịn màng và đã có nếp nhăn”.
Mặt bà cụ lúc đỏ, lúc tím rồi gượng gạo mở to đôi mắt giận dữ. Lòng tự tin đắc ý lúc đầu không còn nữa.
Lúc đó Ngài Nói dối đi tới trước mặt bà cụ, lịch sự mời bà cụ ra nhảy và nói:’ Bà là người đàn bà xinh đẹp nhất trong vũ hội này, nếu lời mời của tôi được tiếp nhận, tôi sẽ là người hạnh phúc nhất”.
Trong giây lát, mắt bà cụ ánh lên thần sắc mê người rồi chìa bàn tay đồng ý ra. Ngài nói thật ngồi bên chăm chú nhìn đôi bạn nhảy tuổi tác chênh lệch nhau. Ông nói dối mỉm cười nói với bà cụ mấy câu gì đó sức sống thanh xuân của bà cụ như đột ngột sống lại bước nhảy như là của  một cô gái – một cô gái trẻ, xuất sắc xinh đẹp.
Vũ hội kết thúc. Ngài Nói thật, bảo ngài Nói dối vừa tiễn bà cụ, đứng lại và bảo:” Lúc nhảy ông nói những gì với bà cụ?”.
Tôi nói với bà ta:” Anh yêu em, em có đồng ý lấy anh không?”.
Ngài Nói thật ngạc nhiên mở to mắt, giận dữ nói:” Ông lại nói dối rồi, sự thực là ông sẽ không lấy bà ta”.
“ Đúng thế. Thế nhưng bà cụ rất cao hứng, chẳng lẽ ông không nhìn thấy à?”.
Hai người tranh cãi nhau một hồi rồi mỗi người đi một hướng. Hôm sau, mỗi người đều nhận được một bản thông báo tin buồn từ bưu điện gửi tới:” Ngày x, ở địa điểm x.x, tham gia tang lễ x.x.x”. Sau khi hai người không hẹn gặp nhau, ánh mắt họ nhìn vào quan tài, người nằm trong đó chính là bà cụ.
Khi kết thúc tang lễ, một người hầu đi tới, lần lượt đưa cho ngài Nói thật và ngài Nói dối mỗi người một bức thư. Sau khi mở ra, ngài nói thật thấy mấy dòng chữ:” Ông nói thật, ông đã đúng. Già yếu, chết chóc là không thể tránh khỏi, nhưng nói ra lại càng thêm đau khổ. Tôi gửi tặng ông cuốn nhật ký đời tôi, đó mới là sự chân thực của tôi”.
Ngài nói dối mở xem di chúc của bà cụ:” Ông nói dối, tôi vô cùng cảm ơn những lời nói dối của ông. Chúng làm cho cái cây khô sinh mệnh của tôi như có lại ngọn lửa thanh xuân, chúng làm tan những băng tuyết dày nặng trong lòng tôi. Tôi tặng ông mọi di sản của tôi, ông hãy dùng nó để tạo ra những lời nói dối đẹp đẽ nhé!”.
 
Hạnh phúc là những thứ mình sẵn sàng cho đi khi biết nó vĩnh viễn không phải là của mình!
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»