Diễn Đàn » Sân Khấu - Điện Ảnh

THẢO LUẬN PHIM XƯA

13 trả lời, 1.827 lượt xem — Trang 1 / 1

Blue Hawaii (1961)



Blue Hawaii (1961) thật đậm chất Elvis: nhiều bài hát, nhiều thiếu nữ đẹp, và một bối cảnh làm nổi bật cả hai yếu tố trên. Lần này, khung cảnh diễn ra ở Oahu và Kauai cùng người tình trong mộng (do Joan Blackman thủ vai ), một giáo viên trung học xinh đẹp (do Nancy Walters thủ vai ) cùng bốn sinh viên tuổi teen. Bộ phim còn cho thấy một trong những sự thành công của sự hợp tác lâu dài giữa nhà sản xuất quyền lực Hal B. Wallis ở Hollywood và Presley.

Huyền thoại Wallis (phim Casablanca 1942, phim Rooster Cogburn 1975) đã lần đầu gặp mặt Presley trong một chương trình truyền hình của Tommy và Jimmy Dorsey vào năm 1956 và ông đã dự đoán với vợ mình rằng “Elvis sẽ nhanh chóng trở thành nhân vật mới đến được đề cập nhiều nhất trong ngành”. Ông đã gọi điện cho Colonel Tom Parker vào ngày hôm sau và bảo rằng ông muốn ký hợp đồng làm phim với Elvis. “Tôi đã biết bằng trực giác rằng Colonel rất hứng thú nhưng còn tìm cách chơi khăm. Anh ấy là một thiên tài trong việc tận dụng mọi khả năng lợi nhuận tài chính có thể từ nhà bảo trợ kỳ lạ của mình,” Wallis viết trong cuốn tự truyện Starmaker của mình. Sau khi làm phiền Parker, Wallis sau cùng cũng thành công trong việc đưa Elvis đến Hollywood cho một cuộc gặp mặt và kiểm tra hình ảnh và kết quả đã trở nên rất sôi nổi:
“Khi tôi tiến hành cuộc kiểm tra tôi cảm thấy cảm giác rợn người tương tự như tôi đã từng trải nghiệm khi tôi lần đầu gặp Errol Flynn trên màn hình. Elvis, bằng một phong cách hiện đại khác hẳn có chính xác nguồn năng lượng tương tự, nam tính và gợi cảm. Máy quay đã chăm sóc cho anh ấy.”

Dưới sự giám hộ của Wallis’ – và sự chấp thuận của Parker – máy quay tiếp tục chăm sóc cho Elvis trong suốt chín tác phẩm của họ hợp tác cùng nhau, từ phim Loving You (1957) đến phim Easy Come, Easy Go (1967).

Nhà viết kịch bản phim Allan Weiss, người đã viết kịch bản phim Blue Hawaii từ tác phẩm truyện ngắn của mình mang tên “Beach Boy”, cũng ghi nhớ rõ cuộc kiểm tra hình ảnh đầu tiên của Elvis. “Trong lúc xem xét cuộc kiểm tra, có một điều rất rõ ràng: Sẽ là một sai lầm nếu cố gắng ép buộc tính cách mạnh mẽ này vào một vai được định sẵn. Các vai của anh ấy cần phải được đo đạc riêng cho anh ấy, cần được thiết kế để khai thác việc mà anh ấy làm tốt nhất – ca hát… anh ấy sẽ thoải mái và thành công hơn nhiều trong các bộ phim nhẹ nhàng phân vai cho anh ấy với một tính cách yêu ca hát,” Weiss nhận định trên The Entertainers.

Sau đó Weiss đã viết thêm năm tác phẩm cho Presley, ông đã học cách lắp ghép các nhân vật chính của mình sao cho tốt nhất đối với tính cách và phong cách của Presley. Trong Blue Hawaii, nhân vật Chad, theo ông hồi tưởng, “cần thiết phải là một anh chàng cô đơn biết trân trọng sự yêu thích của phụ nữ nhưng chỉ về mặt số lượng – bên dưới là thái độ trơ tráo và ngạo mạn, thậm chí còn có một chút khinh người. Presley phù hợp với vai diễn nhân vật này một cách dễ dàng và tốt đẹp. Có thể một số yếu tố của vai diễn gần gũi với con người thật bên dưới.”

Weiss đã bị ấn tượng bới khả năng bẩm sinh của Presley trong việc phán đoán khán giả và ông đã học cách lắng nghe điều đó:” Nếu anh ấy yêu cầu tôi giải thích một trò đùa trong kịch bản, tôi học được rằng không phải vì anh ấy không hiểu nó, nhưng bởi vì anh ấy cho rằng nó mơ hồ và không hài hước. Trước tiên, khi không biết điều này, tôi giải thích và để yên trò đùa – đến khi chiếu thử thì chẳng ai cười cả.”

Dù Elvis có thể tiến xa hơn hay không, các vai diễn sâu hơn sẽ không bao giờ được biết đến. Parker đã giữ một ngôi vị chắc chắn trên các dự án của ông để đảm bảo sự thành công lớn nhất về mặt tài chính. Nhiều người tranh cãi rằng phim King Creole (1958), phim thứ hai của Presley với Wallis, vốn kéo dài vai diễn của anh ấy nhiều hơn hầu hết các vai diễn khác mà anh từng thực hiện, đã thể hiện diễn xuất tốt nhất của anh. Nó được ghi nhận là bô phim yêu thích nhất của nam tài tử.

Elvis bị bao quanh bởi rất nhiều tài năng kỳ cựu trong Blue Hawaii, bao gồm Angela Lansbury ( phim The Manchurian Candidate, 1962) trong vai mẹ của anh ấy và Roland Winters, diễn viên thứ ba đóng vai Charlie Chan, trong vai ba của anh. Howard McNear, mãi được nhớ đến với vai Floyd người thợ cắt tóc trong chương trình The Andy Griffith (1960), xuất hiện với vai ông chủ của Maile và Chad, ngài Chapman bị bối rối một cách dễ thương.

Nhân vật của Maile (do Blackman thủ vai) nguyên đã được đề cử cho Juliet Prowse, người đã từng là tình yêu của Elvis trong phim G.I.Blues (1960). Nhưng theo như Reel Elvis! Pauline Bartel viết, các yêu cầu của cô ấy đã làm hỏng thỏa thuận. Prowse muốn sử dụng người trang điểm từ phim trường chính của cô ấy, hãng Twentieth Century-Fox, và đã nài nỉ cho thư ký của cô ấy đi theo, với mọi khoảng chi phí cần được chi trả. Cô ấy cũng muốn có một sự thay đổi trong điều khoảng thanh toán của mình. Wallis sau cùng đã trả lời “Không, cảm ơn” và đã thông báo cho Prowse rằng cô ấy đã bị loại khỏi bộ phim. Trong vòng 48 giờ, Blackman, người vốn trở lại với vai diễn tình yêu của Elvis vào năm kế tiếp trong phim Kid Galahad, (1962) đã được chọn.

Mặc dù Wallis đã tuyên bố mối quan hệ lâu dài với Colonel Tom Parker, người quản lý của Elvis không phải luôn luôn dễ dàng chấp thuận mọi việc. Trong một ngày quay đặc biệt rắc rối, Parker xâm nhập thẳng vào trong cảnh quay từ chiếc xe cẩu của mình, phá tan cảnh quay. Elvis đang mang chiếc đồng hồ của anh ấy trên máy quay, mặc dù hợp đồng của anh ấy cấm sử dụng phục trang cá nhân. “Nếu anh muốn mang chiếc đồng hồ đó, anh phải trả cho chúng tôi thêm 25.000 USD” Parker cảnh báo với Wallis, người đã bình tĩnh yêu cầu Elvis cởi nó ra.

Không có buổi thảo luận nào về phim của Elvis được hoàn tất mà không nhắc đến nhạc phim và nhạc phim của phim Blue Hawaii là một điển hình thành công, kéo dài hai mươi tuần liên tiếp trên đỉnh bảng xếp hạng Billboard LP (1961 – 1962) và nhận được một đề cử giải thưởng Grammy. Ca khúc “Can’t help falling in love”, được hát với bà của Maile (do Flora K. Hayes thủ vai, một Cựu Đại Biểu Quốc Hội của Vùng Lãnh Thổ Hawaii), đã trải qua mười bốn tuần trong danh sách Billboard Hot 100 và cũng là một ca khúc thành công tại Anh Quốc. Nó trở thành ca khúc gắn liền với tên tuổi Elvis mà anh dùng để kết thúc các buổi hòa nhạc trong suốt thập niên 70 của mình.


Theo Emily Soares (Precious Stone dịch).

Đăng nhập để trả lời
0
Singin' in the Rain (1952)



Đối với nhiều nhà phê bình và người hâm mộ, Singin’ in the Rain đơn thuần là bộ phim ca nhạc hay nhất từng được thực hiện. Và họ có thể đúng. Mọi người đều đang trong thời kì đỉnh cao trong phim này từ chuyên viên vũ đạo đến các đồng đạo diễn, các tài tử và nhà soạn nhạc. Singin’ in the Rain tóm gọn mọi thứ khiến cho dòng phim ca nhạc trở thành một thể loại giải trí sôi động trong thời kì vàng son của kỷ nguyên điện ảnh. Bộ phim cũng là một giải pháp tuyệt vời cho những bộ phim buồn tẻ. Hãy xem Singin’ in the Rain và mọi đám mây u ám sẽ biến mất, lúc nào cũng vậy.

Trong khi bộ phim ngập tràn những điểm nhấn âm nhạc, ca khúc Singin’ in the Rain của Gene Kelly là một sự thu hút khán giả chân thật nhất. Đề cập đến màn trình diễn đơn ca bất hủ của anh ấy, Kelly đã bình luận sau đó một cách khá là thanh lịch và giản dị về điều đã khiến cho cảnh quay pháy huy tác dụng rất tốt rằng: “Khái niệm đơn giản là tôi ngại phải giải thích cảnh quay về mặt tiền bạc tại trường quay trong trường hợp tôi không thể khiến điều đó nghe khả thi. Những đóng góp thật sự cho cảnh quay này được thực hiện bởi các kỹ thuật viên phải nối ống nước cho hai dãy nhà phố làm cảnh nền với các ống phun nước bên trên, và người quay phim đáng thương phải thực hiện tất cả việc quay phim suốt trong môi trường nước đó. Mọi thứ tôi phải làm chỉ là khiêu vũ.” Những nỗ lực của các kỹ thuật viên càng trở nên đáng ghi nhận hơn trong khi thành phố Culver, California đang lâm vào tình trạng thiếu nước vào ngày cảnh quay được thực hiện. Phim Singin’ in the Rain (1952) nâng tổng chi phí sau cùng lên 2.540.800 USD, riêng về phần trang phục của Walter Plunkett đã tốn 157.000 USD. Mặc dù tổng chi phí sau cùng vượt quá ngân quỹ của MGM đến 665.000 USD, hãng phim nhanh chóng nhận ra sự khôn ngoan trong đầu tư của họ khi bộ phim mang về 7,7 triệu USD trong lần ra mắt đầu tiên.

Gene Kelly đã ở phong độ tốt nhất trong phim Singin’ in the Rain và không chỉ tự hài hước đâm thọt chính mình như là một thần tượng biểu diễn ca nhạc hung hăng thô lỗ mà còn trở thành một đồng đạo diễn và chuyên viên vũ đạo cùng với Stanley Donen trong suốt quá trình sản xuất. Kelly đã làm nên tên tuổi của mình lần đầu tiên trong ngành công nghiệp phim ảnh với bộ phim Cover Girl (1944) mà anh ấy đã cách mạng hóa nền nhạc kịch Hollywood với các điệu nhảy tự do và sáng tạo của mình. Anh ấy đã đạt đến đỉnh cao của thành công với một đề cử Oscar cho Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất trong phim Anchors Aweigh (1945) nhưng anh thật sự tiến một bước dài trong phim On the Town (1949), tác phẩm đầu tiên trong số ba bộ phim hợp tác thành công với đạo diễn Stanley Donen. Trong khi có nhiều điểm mạnh khác trong sự nghiệp của Kelly sau này – như phim An American in Paris (1951), phim It's Always Fair Weather (1955), và phim Invitation to the Dance (1956), phim Singin' in the Rain có thể sẽ luôn gắn liền tên tuổi của anh. Danny Peary đã viết trong cuốn sách Cult Movies của ông “ Tôi tin rằng bí mật dẫn đến thành công cho bộ phim là vì ngôi sao, đồng đạo diễn Kelly sẵn lòng chia sẻ hình ảnh của mình cùng các bạn diễn của anh ấy. Không phải chỉ do cơ hội đơn thuần mà Reynolds, O’Connor, và Hagen chưa bao giờ diễn tốt hơn như vậy. Kelly thật sự chiếm nhiều khoảnh khắc trước ánh đèn sân khấu, khiêu vũ như một cơn bão và tạo nên một màn trình diễn hài kịch tự châm biếm sắc sảo (quê mùa, tự phụ, mỉm cười). Mặc dù vậy anh vẫn rộng lòng chấp thuận cho Jean Hagen bỏ đi cùng bạn diễn.”

Vai diễn của nữ thần tượng điện ảnh quá quắt Lina Lamont được viết cho Judy Holliday. Holliday là một người bạn thân của Betty Comden và Aldolph Green và cặp đôi đã kết hôn này thậm chí thiết kế nhân vật theo các thói quen mà họ đã cùng làm việc với Holliday khi họ còn là thành viên của một nhóm hài mang tên The Revuers tại New York. Nhưng thời gian là tất cả và ý tưởng thử vai cho Holliday đã bị phủ quyết sau khi cô ấy đạt thành công lớn trong Born Yesterday (1950). Mọi người nhận ra rằng cô ấy sẽ không được yêu thích trong vai trò diễn viên phụ, kết quả là nữ diễn viên xinh đẹp Jean Hagen, người đóng thế cho Holliday trên sân khấu Broadway trong Born Yesterday, đã nhận được vai diễn.

Debbie Reynolds chỉ mới 19 tuổi khi cô tham gia thử vai Kathy Selden trong phim Singin’ in the Rain. Sự thiếu kinh nghiệm liên quan đến thể loại nhạc kịch của cô ấy khiến nhà đầu tư MGM chú ý, nhưng Gene Kelly và Stanley Donen đã thuyết phục các nhà điều hành rằng ngôi sao triển vọng hoạt bát này có thể giữ vững vị trí của mình. Reynolds luôn cho rằng cả Kelly lẫn Donen đều không thật sự muốn cô bởi vì cô không phải là một vũ công đủ giỏi. Nhưng Donen giữ quan điểm rằng các đồng đạo diễn đã muốn sử dụng cô ngày từ khi bắt đầu, mặc dù Judy Garland và June Allyson đã từng được xem như là những khả năng. Reynolds sau đó đã nhận xét rằng cô đã bị “vất cho bầy sư tử”. Nhưng bởi vì cô đã lên kế hoạch trở thành một hướng dẫn viên thể dục nhịp điệu, Reynolds đã là một lực sĩ tự nhiên, và là một người làm việc chăm chỉ. Cô ấy đã từ bỏ lĩnh vực tập luyện làm đẹp mặc dù sau đó cô đã được phát hiện bởi một nhân viên tài năng tại một cuộc thi sắc đẹp ở Burbank, California.

Nhân vật Cosmo Brown, do nam tài tử Donald O’Connor thủ vai đã được sáng tác cho nhà soạn nhạc và nhạc công dương cầm Oscar Levant. Nhưng một khi Gene Kelly tham gia vào dự án, biến chuyển bộ phim một cách hiệu quả từ một phim tập trung mạnh vào ca khúc trở thành phim nhấn mạnh về vũ đạo, có sự đồng ý rằng Donald O’Connor là một lựa chọn tốt hơn cho vai diễn. Lý lịch của O’Connor trong đoàn xiếc (ba của anh là một diễn viên nhào lộn cho đoàn Ringling Brothers và mẹ của anh là một diễn viên đi dây) đã cho phép anh đạt được thể lực dồi dào cho vai diễn của mình. Nhưng trong khi O’Connor hợp với Gene Kelly từng bước một, anh cũng phải chịu đựng về mặt thể lực cho diễn xuất của mình, cũng như bạn diễn Debbie Reynolds. Để thực hiện màn trình diễn ca khúc “Make’ em Laugh”, Kelly đã yêu cầu O’Connor làm sống lại một trò diễn xuất mà anh đã thực hiện khi còn là một vũ công trẻ, chạy lên tường và thực hiện một cú nhào lộn. Màn trình diễn đã quá thử thách đến nỗi O’Connor phải hút bốn gói thuốc lá một ngày vào thời điểm đó và phải lên giường nghỉ một tuần sau khi hoàn tất do bị kiệt sức và bị phỏng nặng trên thảm. Thật không may, một tai nạn đã hủy hoại mọi cảnh phim ban đầu nên sau một kỳ nghỉ ngắn, O’Connor, người chưa từng là một diễn viên chuyên nghiệp, đã đồng ý thực hiện lại màn trình diễn một lần nữa.

Cyd Charisse, người thủ vai bạn nhảy với Gene Kelly trong màn trình diễn “Broadway Ballet”, đã học khiêu vũ ballet tại Los Angeles với Adolph Bolm và Bronislawa Nijinska và sau đó đã khiêu vũ với đoàn Ballets Russes với nghệ danh Siderova. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, cô được giao một vai khiêu vũ trong bộ phim Something to Shout About (1943) của Gregory Ratoff. Vai diễn này đã khiến chuyên viên vũ đạo Robert Alton chú ý đến cô và cô đã nhanh chóng được thuê bởi Arthur Freed để trở thành vũ công ballet chính thức của hãng phim MGM.

Theo Scott McGee & Jeff Stafford (Precious Stone dịch).
Đăng nhập để trả lời
0

WEST SIDE STORY (1961)



Tác phẩm Romeo và Juliet của William Shakespeare đã trở thành nguồn cảm hứng cho vô số những tác phẩm cải biên từ câu chuyện kinh điển này – từ bộ phim chuyển thể năm 1936 của đạo diễn George Cukor đến tác phẩm nhạc kịch lãng mạn đa chủng tộc hiện đại, Save the Last Dance For Me (2000). Nhưng bộ phim West Side Story (1961) dễ dàng trở thành phiên bản vui nhộn và sôi động nhất của tác phẩm lãng mạn nổi tiếng vượt thời gian này. Từ việc dàn dựng sân khấu đầy trí tưởng tượng (Một khu phố nghèo tại bờ Tây thành phố New York) đến vũ đạo thách thức trọng lực của Jerome Robbins và dàn nhạc gây thiện cảm của Leonard Bernstein với lời nhạc của Stephen Sondheim, West Side Story đã cập nhật câu chuyện của Shakespeare một cách thuyết phục trong thời hiện đại kèm thêm vấn đề chủ chốt về định kiến chủng tộc tạo tác động kịch tính. Gia đình Montagues được xác định như là nhóm Jets, một băng đảng người Anglo, trong khi nhà Capulets đã được chuyển đổi thành nhóm Sharks, một nhóm băng đảng người Puerto Rico đối địch. Nhân vật của Friar Lawrence là một dược sĩ hàng xóm và các cập nhật song song khác bao gồm Bernado giết chết Riff (cũng như Tybalt đã giết chết Mercutio) và Tony giết chết Bernado (cũng như Romeo đã giết chết Tybalt). Chỉ có chi tiết cùng tự sát của Romeo và Juliet là đã được thay thế.

West Side Story tận hưởng sự thành công đầu tiên trên sân khấu Broadway, cùng với Carol Lawrence và Larry Kent thủ các vai chính. Một dàn diễn viên mới đã được tập hợp tiêu biểu theo kiểu Hollywood cho phiên bản mới ngoại trừ George Chakiris, người thủ vai Riff, không phải Bernado, trong ấn bản của London. Đầu tiên, tất cả mọi người từ Marlon Brando (34 tuổi vào thời điểm này) đến Elvis Presley đã được cho rằng thích hợp với vai diễn Tony nhưng chính Keir Dullea là người đã được kiểm tra cho vai diễn. Khi anh ấy từ chối cắt mái tóc vàng dài gợn sóng của mình để trông giống như một kẻ côn đồ, nam diễn viên trẻ tuổi Richard Beymer đã được kiểm tra cho vai diễn và đã được nhận. Vai diễn Maria ban đầu cũng được đề cử cho một diễn viên tương đối mới – Barbara Luna – nhưng khi nhà sản xuất trông thấy Natalie Wood thử vai thì họ biết rằng họ đã tìm thấy nhân vật Maria của mình. Thật không may, Wood không đủ yêu cầu về chất giọng opera cho vai diễn. Mặc dù cô đã luyện tập với Jerome Robbins mười sáu giờ mỗi ngày để đạt được sự hoàn hảo và thuộc nằm lòng mọi bài hát, giọng của cô sau cùng đã được lồng tiếng bởi Marni Nixon, người sau này lồng tiếng cho giọng hát của Audrey Hepburn trong phim My Fair Lady (1964). Beymer cũng không phải là một ca sĩ chuyên nghiệp và giọng hát của anh đã được lồng tiếng bởi Jimmy Bryant. Lúc đầu Wood có ý định thay thế Beymer bởi vì cô không thích anh ấy nhưng nhà sản xuất đã từ chối mong muốn của cô và cô đã giữ sự oán giận trong suốt quá trình quay.

Theo như mong đợi, phiên bản phim của West Side Story là một thiên tình sử của hãng United Artists nên mọi người đã quyết định cần hai đạo diễn. Đạo diễn kỳ cựu của Hollywood Robert Wise đã được chọn để xử lý phần kết thúc kịch tính và nhiều kỹ xảo trong khi Jerome Robbins sẽ tập trung vào các cảnh nhạc. Tuy nhiên, cả hai người đã có tính khí rất khác nhau cũng như cách họ tiếp cận bộ phim và đã chạm trán nhau ngay từ ban đầu. Robbins muốn mọi thứ hoàn toàn nguyên bản với tác phẩm trên sân khấu của mình và từ chối mọi sự thay đổi. Trong cuốn tự truyện của mình, đạo diễn âm nhạc, dàn dựng và sáng tác giành giải thưởng Oscar Saul Chaplin đã bình luận tính cách đối đầu của Robbins rằng: “ Jerry là chuyên viên vũ đạo thú vị nhất tôi từng được xem đến thời điểm này. Anh ấy dường như có một dòng ý tưởng thú vị vô tận… Đồng thời, anh cũng là một kẻ theo chủ nghĩa hoàn hảo điên rồ mà không có bất kỳ vũ công nào có thể đạt được các tiêu chuẩn anh ấy yêu cầu ngay lập tức. Điều tồi tệ hơn là anh có một sức chịu đựng rất thấp. Khi anh ấy không được hài lòng, anh quẳng hàng đống lời xúc phạm về phía các vũ công tạo không khí căng thẳng như đang ở trong một trại tập trung vậy. Các vũ công không nhảy vì niềm thích thú, họ nhảy vì sự sợ hãi… Tôi tự hỏi không hiểu làm cách nào anh ấy tìm được bất kỳ ai làm việc cho mình đến khi tôi yêu cầu một trong số các vũ công. Câu trả lời là “ Làm thế nào để còn cơ hội được nhảy như vậy nữa?” Tôi không có ý định khoác lác, nhưng điều đó chứng tỏ rằng muốn làm một vũ công thành công đòi hỏi một mức độ thông cảm nhất định.”

Thậm chí sau đó, trường quay buộc phải thay thế Robbins khi anh khiến cho việc sản xuất bị vượt quá ngân quỹ bằng cách từ chối gắn liền với kế hoạch quay phim đã được định sẵn. Các hiểm nguy khác bao gồm việc quay phim tại một số địa điểm nguy hiểm (có người ném đá vào các thành viên trong đoàn từ mái nhà trong suốt quá trình làm phim quanh khu vực bị cấm tại được 68 khu Tây) và sự giám sát vô ích của cảnh sát trong khi quay phim trên khu vực đường 110 (đoàn làm phim thậm chí phải thuê một băng đảng đường phố địa phương để bảo vệ). Và bằng cách nào đó Robert Wise đã hoàn thành bộ phim, dù phải gắn kết màn trình diễn “Mở đầu” chưa hoàn tất của Robbins, vốn trở thành một trong những cảnh quan trọng nhất của bộ phim.

Khi West Side Story công chiếu tại rạp, bộ phim nhanh chóng trở thành bộ phim đứng thứ hai trong năm (phim 101 Dalmatians đứng đầu). Hollywood cũng sửng sốt về bộ phim và đã trao mười giải thường Oscar bao gồm giải Phim Hay Nhất, Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất (Rita Moreno), Nam Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất (George Chakiris), Màu Sắc Phim Đẹp Nhất, và Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất. Hạng mục sau cùng đã tập hợp Wise và Robbins cùng nhau lên nhận giải thưởng mặc dù chẳng ai nhắc đến nhau trong bài phát biểu nhận giải của họ. Đối với Natalie Wood, cô đã tạo nên một tin giật gân tại giải Oscar bằng việc xuất hiện cùng với Warren Beatty ( Sự lãng mạn của họ phá vỡ cuộc hôn nhân giữa Natalie Wood- Robert Wagner). Điều khôi hài là cô đã được đề cử giải Oscar cho Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất cho diễn xuất của mình trong phim Splendor in the Grass, chứ không phải phim West Side Story, nhưng đã để thua Sophia Loren trong phim Two Women.

by Jeff Stafford (Precious Stone dịch).
Đăng nhập để trả lời
0

My Fair Lady (1964)



Vào năm 1964, trong một lần hiếm hoi trong sự nghiệp của mình, hãng Warner Bros đã để Jack Warner tự sản xuất một bộ phim – phim My Fair Lady. Bất chấp một số bất đồng về việc phân vai, kết quả là một bộ phim ca nhạc tuyệt vời cuối cùng của hãng và cũng là bộ phim đạt lợi nhuận cao nhất trong lịch sử của anh em nhà Warners vào thời đó.

Warner đã có cảm tình với phiên bản nhạc kịch kinh điển Pygmalion của George Bernard Shaw khi ông thưởng thức vở kịch mở màn tại New York năm 1956. Các bản quyền được quản lý bởi CBS, nhưng giám đốc Bill Paley thậm chí không ngó ngàng đến đề xuất làm phim trong năm năm. Sau cùng ông đã chấp thuận một hợp đồng 5,5 triệu USD từ hãng Warner, cùng với 50 phần trăm lợi nhuận bộ phim một khi nó vượt điểm mốc 20 triệu USD. Ông cũng quy định rằng Warner thuê Cecil Beaton để giám sát mọi mặt của việc thiết kế và giữ quyền phát hành phim cho đến sau khi tác phẩm Broadway đã ngừng trình diễn.

Vấn đề sau đó không khó khăn gì khi dành nhiều thời gian để gắn kết một tập thể làm phim phù hợp. Cam kết theo ngân quỹ lớn dành cho bộ phim (tác phẩm có thể hoàn tất với chi phí 17 triệu USD), Warner đã quyết định đảm bảo việc đầu tư bằng việc theo đuổi một dàn diễn viên toàn ngôi sao, trước tiên là việc từ chối các ngôi sao nguyên gốc trong tác phẩm: Rex Harrison, Julie Andrews và Stanley Holloway. Ông muốn James Cagney cho vai diễn phụ đầy cảm hứng Alfred Doolittle, cha của nữ diễn viên chính, nhưng Cagney vừa về hưu và mặc dù ông thường biểu diễn các bài hát của Doolittle tại các bữa tiệc, ông không có ý định trở lại để gây chiến với ông chủ cũ của mình. Do đó Warner hoàn tất bằng việc phân vai cho Holloway.

Đối với vai diễn Henry Higgins, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng nhất trên sân khấu, ông tìm đến Cary Grant vào lúc đầu. Nhưng Grant đang lên kế hoạch nghỉ hưu cho mình và đã châm chọc “Không những tôi không nhận vai Higgins mà nếu anh không dùng Rex Harrison thì tôi thậm chí chẳng thèm đến xem phim.” Sau cùng đó là điều mà phòng truyền thông của hãng Warner đã cho biết, mặc dù kết quả tương đồng một cách đáng ngạc nhiên với nhận định của Grant khi phân vai cho Robert Preston vai Giáo sư Harold Hill trong phim Music Man (1962), vốn cũng đã được quay tại hãng Warner Bros. Warner sau đó quay sang Peter O’Toole, diễn viên vừa trở thành một ngôi sao quốc tế trong phim Lawrence of Arabia (1962), nhưng yêu cầu lương của diễn viên quá cao. Sau cùng, đạo diễn George Cukor đã yêu cầu Harrison thử vai. Để đáp trả, Harrison đã gởi cho Cukor một số ảnh Polaroids trần trụi của chính mình. Cukor phải thuyết phục Warner phân vai cho Harrison với mức phí tương đối thấp là 200.000 USD.

Trong việc phân vai nữ chính, Warner đã không khoan nhượng. Audrey Hepburn là một trong số những ngôi sao màn bạc đỉnh cao vào thời đó và đã kiếm cho hãng phim một khoản tiền lớn trong phim The Nun’s Story (1959). Thậm chí mặc dù có một sự hỗ trợ ngầm dành cho ngôi sao gốc của vở nhạc kịch là Julie Andrews, Warners tranh luận rằng sức hút vé của Hepburn có thể giúp bộ phim nhiều hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì mà Andrews, người chưa từng đóng phim, có thể mang lại. Thật khôi hài, Andrews, người mà mọi người đã gắn kết với vai Eliza Doolittle nhờ vào việc bán vé của album nguyên gốc của màn trình diễn, lại chỉ là sự lựa chọn sau cùng cho vai diễn trên sân khấu. Cô được phân vai sau khi Mary Martin, Deanna Durbin và Dolores Gray đã không đạt yêu cầu vai diễn.

Nhưng thậm chí khi Warner đã trả cho Hepburn 1 triệu USD, có một phần trong vai diễn mà cô đã không thể xử lý – phần ca hát. Cô đã trình diễn rất đáng yêu trong bộ phim ca nhạc trước đó của mình, phim Funny Face (1957), nhưng đó là kịch bản gốc và các màn trình diễn có thể được sắp xếp để phù hợp với tài năng của cô ấy. Âm nhạc trong My Fair Lady vốn đã nổi tiếng sẵn, đặc biệt khi được trình bày bởi Andrews, do vậy có rất ít khả năng đạo diễn âm nhạc Andre Previn có thể thực hiện để khiến cho các màn trình diễn của Hepburn dễ dàng hơn. Cô ấy bắt đầu luyện tập với một huấn luyện viên thanh nhạc hầu như ngay khi cô được phân vai và đã dành hàng giờ đồng hồ trong phòng thu để thu âm và ghi âm lại các màn trình diễn để cho đúng. Nhưng mặc dù cô ấy đã thực hiện một công việc đáng ghi nhận trong các bài hát đơn giản hơn như “Wouldn’t it be loverly,” cô không thể đạt đến các ca khúc có chất opera cao hơn. Đến phân nửa quá trình quay phim, Cukor đã cho cô ấy biết rằng họ sẽ cho người lồng tiếng các ca khúc của cô ấy. Thật ra, họ đã bắt đầu làm việc cùng Marni Nixon, người trước đó đã hỗ trợ việc ca hát cho Deborah Kerr trong phim The King and I (1956) và Natalie Wood trong phim West Side Story (1961). Hepburn đã rất đau buồn, và hãng phim đã cố gắng giảm thiểu sự xúc động bằng cách công bố với báo chí rằng Nixon chỉ thực hiện một nửa những phần ca hát. Điều đó chỉ gây ra sự phản đối công khai từ phía chồng của nữ ca sĩ, dẫn đến việc tiết lộ rằng sự đóng góp của Nixon chiếm gần 95 phần trăm. Phần thu âm của Hepburn chỉ được nghe thấy trong một số đoạn ngắn vừa nói vừa hát. Công luận xấu đã gần như hủy hoại một đề cử giải Oscar cho Nữ Diễn Viên Xuất Sắc nhất của Hepburn.

My Fair Lady là một bộ phim có kinh phí lớn mà mỗi xu đều có thể được nhìn thấy trên màn ảnh. Mặc dù hãng Warner đã nài nỉ việc quay phim bộ phim hoàn toàn tại Hollywood, bất chấp những tranh luận từ phía Beaton rằng họ cần sử dụng những địa điểm thật sự tại Anh Quốc, ông vẫn tiến hành quay phim trên một phạm vi xa hoa. Đối với các con đường lát đá cuội tại Covent Garden, các hòn đá được làm riêng biệt (tiêu chuẩn công việc yêu cầu làm các hòn đá y hệt nhau từ một khuôn đơn). Giám đốc nghệ thuật Gene Allen đã sơn và sơn lại các khung cảnh để tạo ảo giác rằng một số tòa nhà đã đứng đó hàng thế kỉ. Ông cũng đã giành hàng giờ đồng hồ làm cũ những bộ phục trang bán hoa của Hepburn để cô ấy trông không có vẻ vương giả.

Các phục trang của Beaton cho màn trình diễn trên sân khấu vốn đã là một huyền thoại. Ông đã vượt qua chính mình trong bộ phim, lấy cảm hứng từ các nhân tài của phòng phục trang tại hãng Warner Bros. Một số người quan sát ngay từ lúc đầu đã mô tả mối quan hệ cũa họ như là một sự đấu tranh giành quyền lực: Beaton là tài năng sáng tạo chính đến từ Broadway trong khi Cukor là một đạo diễn Hollywood đáng kính trọng và có tính cá nhân cao.

Không có bất kỳ sự xích mích đằng sau sân khấu nào ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất và My Fair Lady đã mở màn với những bình luận ngây ngất và những nguồn lợi nhuận ấn tượng từ tiền bán vé. Bộ phim đã kiếm được 72 triệu USD trong lần công chiếu đầu tiên, trở thành bộ phim có lợi nhuận cao nhất của hãng phim vào thời điểm đó. Bộ phim cũng chiếm sạch các giải thưởng cuối năm, mang lại cho Harrison một giải Oscar Nam Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất, cho Cukor giải Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất duy nhất của ông, và cho hãng phim Warner Bros giải thưởng Phim Xuất Sắc Nhất  kể từ phim Casablanca (1942) trong năm 1943. Thậm chí cả Julie Andrews cũng đạt được sự thăng tiến trong sự nghiệp từ bộ phim. Khi Warner chuyển cho cô vai chính, cô đã đồng ý vai diễn trong bộ phim Mary Poppins của hãng Walt Disney (1964). Do diễn xuất của cô và sự thông cảm rằng cô đã mất phần trong phim My Fair Lady, cô đã chiến thắng giải Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất cho bộ phim đầu tiên của mình và đã đạt được vai diễn chính trong phim The Sound of Music (1965), vốn cũng như phim Mary Poppins, đã vượt qua phim My Fair Lady về doanh số bán vé.

by Frank Miller (Precious Stone dịch).
Đăng nhập để trả lời
0
Easter Parade (1948)



Vợ chồng nhà biên kịch Frances Goodrich và Albert Hackett đã viết kịch bản bộ phim Easter Parade (1948) với một sự tín nhiệm hoàn hảo. Họ không chỉ đã viết nên một trong số những hình ảnh nhất định biểu hiện về Châu Mỹ, như phim It’s a Wonderful Life (1946), mà gần đây nhất họ còn viết một phim ca nhạc khác cho Judy Garland – phim The Pirate (1948). Điều này không ngăn MGM dùng thêm một nhà biên kịch khác nữa cho kịch bản sau khi họ đã hoàn tất nó, nhưng sau đó, họ khó có thể trở thành những người có thể thay thế được đối với một trong số những vở nhạc kịch tuyệt vời nhất của hãng phim.

Phim Easter Parade lấy cảm hứng từ thành công của bộ phim Blue Skies 1946 do hãng phim Paramount thực hiện, một sự kết hợp giữa những ca khúc mới và lỗi thời của Irving Berlin do Fred Astaire và Bing Crosby diễn xuất. Được thuyết phục rằng ông đã viết đủ ca khúc cho hàng tá phim ca nhạc khác, Berlin đã quyết định tìm kiếm một ý tưởng mới dựa trên danh sách các ca khúc của mình, phim Ester Parade, và MGM đã rất nôn nóng để thực hiện dự án.
 
Trước tiên, bộ phim tái hợp những người thực hiện phim The Pirate, những nhà biên kịch Goodrich và Hackett, đạo diễn Vincent Minelli và những ngôi sao Judy Garland và Gene Kelly. Và đó là khi rắc rối phát sinh.
 
Việc thần kinh của Garland bị suy sụp, điều thậm chí có thể đã kết thúc sự nghiệp của cô tại hãng MGM, đã xảy ra trong quá trình làm phim The Pirate, khi cô trở nên ghen tỵ với mốt quan hệ đồng nghiệp gần gũi giữa Kelly và người chồng đạo diễn của cô. Cô thậm chí đã nghi ngờ một mối quan hệ tình dục không có thật. Sau khi cô đã hoàn tất bộ phim, chuyên viên tâm lý của cô đã đề nghị cô gắn kết các vấn đề của mình tại MGM với Minelli. Sau năm ngày tập luyện phim Easter Parade, ông đã được thay thế bởi vũ công trước đó là Charles Walters.


Cùng lúc đó Berlin đang làm việc sát cánh cùng Hacketts để chế tác một kịch bản được xây dựng dựa trên kí ức của chính ông về một màn hài kịch. Ông đã hài lòng, nhưng Walters đọc lướt qua tác phẩm và đã quyết định rằng nó thật quá gay gắt và độc địa. Ông đã nhờ Kelly và Garland gọi điện cho Freed, yêu cầu một ai đó thêm vào một văn phong nhẹ nhàng cho kịch bản, nên Freed đã thuê Sidney Sheldon, người đã chiến thắng một giải thưởng Oscar cho bộ phim The Bachelor and the Bobby-Soxer (1947). Sheldon, người thực hiện một vở hài kịch tình huống nổi tiếng I Dream of Jeanie, sau đó đã yêu cầu thực hiện một sự xem xét toàn bộ đối với kịch bản, trong khi Hacketts chỉ thuyết phục ông thêm vào một cảnh.
 
Trở lại với hội trường tập luyện, đoàn làm phim có một số vấn đề. Cyd Charisse, nữ diễn viên nhận được vai diễn đầu tiên là người bạn nhảy đã bỏ rơi Kelly trong phần đầu phim, bị gãy chân. Nên Mayer đã yêu cầu Freed giao vai diễn cho người được bảo hộ của ông, nữ diễn viên Ann Miller, người vừa ký hợp đồng với hãng phim. Sau đó Kelly bị gãy mắt cá chân. Vào thời điểm đó, anh ấy thông báo với phim trường chuyện xảy ra trong khi tập luyện. Nhiều năm sau, anh đã thừa nhận rằng anh gây ra sự việc trong khi chơi bóng bầu dục quá mạnh.
 
Không thể dừng việc sản xuất phim đến năm tháng để chờ mắt cá chân của Kelly hồi phục, Freed nhanh chóng xem xét việc phân vai cho diễn viên trẻ Gene Nelson. Sau đó ông đã quyết định rằng ông cần một tên tuổi lớn hơn để cộng tác cùng Garland, nên ông đã gọi Fred Astaire, người đã giã từ màn ảnh để về hưu từ hai năm trước. Trước khi chấp nhận vai diễn, Astaire đã gọi điện cho Kelly và hỏi anh ba câu hỏi: “Liệu việc này có gây tổn hại cho sự nghiệp của anh không?,” “Anh có nghĩ rằng tôi có thể học được các bước nhảy trong phim này không?,” và “Có cách nào anh có thể thực hiện bộ phim này không?” Khi Kelly chắc chắn với anh rằng đây là cách duy nhất để bộ phim Easter Parade có thể được thực hiện, Astaire đã nồng nhiệt chấp nhận.
 
Astaire và Garland hợp tác một cách tuyệt mỹ, đúng người đúng lúc, bộ phim trở nên thật nên thơ. Phim Easter Parade được công chiếu vào tháng Bảy năm 1948 (việc trì hoãn đã khiến bộ phim không thể sẵn sàng cho lễ Phục Sinh) và trở thành một trong số những bộ phim đoạt doanh thu cao nhất của MGM trong năm, thu về hơn 6.8 triệu USD so với 2.5 triệu USD tiền đầu tư. Sự thành công của bộ phim khiến Astaire quay trở lại thành một ngôi sao của MGM và đem lại cho Garland một trong số những giai điệu gắn liền với cô – bản song ca của những kẻ lang thang, “A Couple of Swells.” Khởi đầu với sự xuất hiện đột ngột của cô tại khách sạn Palace năm 1951, nơi cô đã trình diễn bản song ca cùng đạo diễn phim Easter Parade Charles Walters, màn trình diễn trở thành một tiết mục của cô, thường được theo sau bởi màn trình diễn ca khúc cảm động “Over the Rainbow,” vẫn trong bộ trang phục kẻ lang thang.

by Frank Miller (Precious Stone dịch).
Đăng nhập để trả lời
0
Lili (1953)



Những câu chuyện thuộc thể loại tưởng tượng và kỳ lạ rất khó đế chuyển thể thành phim ảnh. Thể loại này đòi hỏi những sự tiếp cận nhẹ nhàng nhất, hoặc chúng sẽ trở nên nhàm chán. Và chúng cũng yêu cầu một loại ngôi sao rất đặc biệt. Leslie Caron là một trong số những ngôi sao như vậy, và Lili (1953) là bộ phim tưởng tượng có sức tác động tuyệt vời.


Lili (do Leslie Caron thủ vai) là một cô bé 16 tuổi tham gia vào đoàn tạp kỹ và trở thành thành viên của nhóm: Marc (do Jean-Pierre Aumont thủ vai), một ảo thuật gia đào hoa, Rosalie (do Zsa Zsa Gabor thủ vai), người trợ lý gợi cảm của anh; và Paul (do Mel Ferrer thủ vai), một nghệ sĩ múa rối tàn tật và đầy bất mãn. Không thể tiếp cận Lili, Paul chỉ có thể gặp nàng qua những con búp bê rối của mình. Cô bé Lili, đơn giản và ngây thơ, đáp lại các con búp bê như thể chúng là những người bạn thật, và cô đã thổ lộ tâm sự của mình với chúng.

Bộ phim Lili dựa trên câu chuyện “Người đàn ông căm ghét con người,” đăng trên tạp chí vào năm 1950 của Paul Gallico, kể về một nghệ sĩ múa rối trên truyền hình bất mãn với xã hội. Gallico lấy cảm hứng từ một chương trình truyền hình nổi tiếng sau đó, chương trình Kukla, Fran, and Othe, dựa trên các búp bê rối của Burr Tillstrom. Trong năm 1954, năm sau khi phim Lili được công chiếu, Gallico đã xuất bản một phiên bản làm lại của câu chuyện này theo dạng tiểu thuyết ngắn mang tên Love of Seven Dolls. Bối cảnh được thay đổi thành một buổi lễ hội tại Pháp, nhưng mang màu sắc tăm tối hơn bộ phim Lili.

Gallico là một tác giả phong phú khởi nghiệp là một cây bút viết về thể thao, ông làm công việc của một người liên lạc trong chiến tranh, và đã viết văn hiện thực, sách cho thiếu nhi, các câu chuyện ngắn, các tiểu thuyết, và kịch bản phim. Các phim dựa trên tác phẩm của ông bao gồm The Pride of the Yankees (1942), The Clock (1945), The Three Lives of Thomasina (1964), và The Poseidon Adventure (1972). 

Leslie Caron là một nữ vũ công trẻ tuổi tại công ty ballet của Roland Petit tại Paris khi cô được Gene Kelly bắt gặp, người đã chọn cô làm bạn diễn trong phim An American In Paris (1951). Cô đã ký hợp đồng với MGM, nhưng đã không nhận được một vai diễn xứng đáng cho tài năng của mình đến khi nhận vai Lili. Vẻ đẹp trơ trọi của Caron, cùng với tài năng âm nhạc, và sự thuyết phục tuyệt đối khi diễn cùng các búp bê rối đã mang lại cho cô nhiều lời khen ngợi, một Đề Cử Giải Thưởng Hàn Lâm cho Nữ Diễn Viên Xuất Sắc Nhất. Cô đã để mất giải thưởng vào tay một vẻ đẹp ngây thơ khác là Audrey Hepburn trong phim Roman Holiday (1953)
 
Mặc dù đã đạo diễn cho Caron trong phim An American In Paris, đạo diễn Vincente Minnelli không thấy ấn tượng bởi Lili, và đã quyết định từ chối đạo diễn phim này. Charles Walters, một người kỳ cựu đáng tin trong những bộ phim ca nhạc như Easter Parades (1948) và Summer Stock (1950) đã được tuyển dụng để đạo diễn dự án phim. Hãng MGM không mong đợi nhiều ở Lili, và bộ phim khó có thể là một vở nhạc kịch thông thường, ngoại trừ ca khúc chính rất thu hút trong phim, “Hi Lili, Hi Lo,” đã trở thành một ca khúc thành công. Nhưng tiêu đề quảng cáo đã hứa rằng “bạn sẽ cười, bạn sẽ khóc, bạn sẽ yêu quí Lili”… và đó đúng là điều đã xảy đến với khán giả. Các nhà phê bình cũng vậy. Báo New York Times đã gọi đây là một “bộ phim nhỏ đáng yêu và lý thú chạm đến phép lạ của sự lãng mạn và ánh sáng lung linh của dạ hội hóa trang.” Tờ Film Daily đặt bộ phim Lili ở vị trí thứ sáu trong danh sách “Mười Phim Hay Nhất” của năm 1953. Thậm chí nhà viết kịch bản thô lỗ H. L. Menken, người vốn xem phim ảnh là một sự lãng phí thời gian và ít khi xem một bộ phim, đã bị thuyết phục phải xem phim Lili và đã yêu thích bộ phim. Cùng với đề cử Nữ Diễn Viên Xuất Sắc Nhất cho nữ diễn viên Caron, bộ phim Lili đã được đề cử cho năm giải thưởng Oscar khác bao gồm: Giải Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất, Giải Kịch Bản Xuất Sắc Nhất, Giải Quay Phim Xuất Sắc Nhất, Giải Đạo Diễn Nghệ Thuật Xuất Sắc Nhất, và Giải Âm Nhạc Xuất Sắc Nhất. Thật đáng ngạc nhiên là ca khúc “Hi Lili, Hi Lo” đã không được đề cử cho Ca Khúc Xuất Sắc Nhất. Tuy nhiên, dàn nhạc du dương của Bronislau Kaper đã chiến thắng giải Oscar duy nhất cho bộ phim.
 
Trong năm 1961, phim Lili trở thành bộ phim đầu tiên được chuyển thể thành nhạc kịch trên sân khấu Broadway, được gọi là vở nhạc kịch Carnival, do Anna Maria Alberghetti thủ vai, James Mitchell thủ vai ảo thuật gia, và Jerry Orbach thủ vai nghệ sĩ múa rối. Vở kịch kéo dài đến 719 buổi biểu diễn

by Margarita Landazuri (Precious Stone dịch)

Đăng nhập để trả lời
0

The Sound of Music (1965)






Sự thật rằng vở nhạc kịch “The Sound of Music” đã được trình diễn trong ba năm rưỡi trên sân khấu Broadway, bất chấp yếu điểm có thể nhận thấy từ cốt truyện lỗi thời và kỳ quặc rõ ràng là sự đảm bảo đầy đủ cho nhà sản xuất – đạo diễn Robest Wise để kết luận rằng điều đã khiến vở kịch phổ biến trên sân khấu sẽ khiến nó phổ biến ngang bằng trên màn ảnh. Đó là một cảm giác vui tươi tràn đầy cảm xúc tôn giáo – trẻ thơ –  bếp núc và niềm hạnh phúc du dương từ dàn nhạc 2d của Richard Rodgers-Oscar Hammerstein.

Kết quả là bộ phim màu vĩ đại mà ông Wise đã thực hiện từ vở nhạc kịch, vốn được công chiếu  tại một ga la vĩ đại ở Rivoli đêm qua, gần như trở thành một phiên bản cẩn trọng của buổi biểu diễn được thực hiện trên sân khấu vốn đẩy lùi tuổi thọ của ngành điện ảnh, dù có thiên về khuynh hướng hài kịch ngắn.
 
Để đảm bảo, ông Wise đã cho những máy quay của mình thiết lập cảnh đồ họa tuyệt đẹp bên trong và xung quanh thành phố Salzburg thật nằm nép mình bên dãy Alps của nước Áo. Bằng phương tiện máy bay trực thăng, ông phóng to những đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa và quay xuống vùng đất hoàng thổ và xanh tươi, tương tự như khi ông phóng to xuống những con đường đông đúc của New York trong bộ phim “West Side Story” đáng nhớ của mình (vốn khác biệt so với phim này).
 
Ông đã sử dụng lâu đài Frohnburg xinh đẹp để biểu hiện ngoại thất ngôi ngà của gia đình vương giả Von Trapp nơi câu chuyện diễn ra, và ông cũng đã sử dụng những bối cảnh đầy màu sắc như Tu Viện Nonnberg, Vườn Mirabell và Cầu Mozart.
 
Cảnh lễ hội âm nhạc tại thời điểm gay cấn là ngôi trường Pelsenreit nổi tiếng hay còn gọi là trường Rocky Riding, với đường hầm uốn cong nặng nề cắt ngang sườn núi dốc đứng. Và dĩ nhiên ông đã bay vút lên trên những cánh đồng thuộc dãy núi Alps với tầm nhìn nghẹt thở và chóng mặt trong bối cảnh một bài hát vui tươi và tràn đầy không khí được cất lên.
 
Thêm vào đó, ông để nữ diễn viên Julie Andrews thủ diễn và hát trong vai một nữ chủng sinh rời khỏi tu viện để bắt tay vào vai trò cô giáo giữ trẻ cho bảy đứa trẻ của gia đình nhà đại úy Von Trapp góa vợ – và những phân đoạn còn lại, sau những sự lạc lối có chuẩn mực, để trở thành mẹ kế của chúng. Và chính cô ấy đã mang lại sự đột phá rõ ràng và mê hoặc cho bộ phim.
 
Nữ diễn viên Andrews, với hơi thở mãnh liệt tỏa sáng của mình, cùng sự xuất hiện lành mạnh bình dị của cô và khả năng khiến cuộc đối thoại sống động và hấp dẫn như khi cô thực hiện các ca khúc, mang lại một sự hợp lý và một sức mạnh đáng yêu theo kiểu Marry Poppins, vốn luôn có nguy cơ bị sụp đổ dưới sức nặng của cảm tính và sự lãng mạn vô nghĩa.
 
Bất chấp sự giả vờ vô vọng trong thực tế mà cô ấy và bạn diễn phải hài lòng, đặc biệt trong đoạn cuối, khi mà gia đình Von Trapps có vẻ như phải lẩn trốn khỏi lính Đức Quốc Xã và quê nhà của họ, cô Andrews đã xử lý mọi chuyện cùng với bầu không khí tự tin trong sáng bản lĩnh tương tự của mình khi chúng ta bắt gặp cô lần đầu cất lên ca khúc mở màn trên đỉnh núi.
 
Liệu cô có cảm thấy điều đó thật ngu ngốc khi nhận ra điệp khúc những nữ tu bồn chồn xem xét nên làm gì cho cô trong một ca khúc của vở hài kịch trong sáng? Liệu cô có cảm thấy rằng những trao đổi đầu tiên của cô cùng bọn trẻ của nhà Von Trapp hống hách độc ác là một sử thử nghiệm đối thoại vốn chỉ có thể diễn ra trong một vở kịch? Và liệu cô có biết (cũng như chúng ta đều biết) rằng công việc của đại úy và nữ bá tước giàu có đã diễn ra trong vở hài kịch của Victor Herbert vào khoảng năm 1910?
 
Dĩ nhiên cô ấy biết. Và dường như cô ấy nhận ra rằng mọi chuyện đều được thiết kế bởi ông Wise theo một dáng vẻ ủy mị và thoải mái mà thậm chí người trong ngành sân khấu đều thấy cũ rích. Nhưng cô ấy vẫn biểu diễn một cách hạnh phúc và can đảm. Cô ấy thậm chí kéo cả đám trẻ con lên giường và xóa bỏ âm thanh của tiếng sét đánh bằng ca khúc lạc quan “My Favourite Things” và đã song hành cùng lũ trẻ trên các đường phố của Salzurg một cách vui vẻ khi cùng cất cao ca khúc trẻ trung “Do-Re-Mi.”
 
Nữ diễn viên Andrews không có vẻ dọa nạt. Cô thủ vai một bảo mẫu ngọt ngào hơn là vai Mary Poppins, nhưng điều đó không gây bức xúc.
 
Sự hợp tác của cô ấy là miễn bình luận. Tốp ca bảy người trẻ tuổi tỏa sáng đã thủ diễn như nhiều diễn viên nhí Shirley Temples và Freddie Bartholomews khi còn trẻ đã phát huy tác dụng như mong đợi với nhiều vai diễn nhân tạo đa dạng, nhưng những người lớn thì khá là kinh khủng, đặc biệt là Christopher Plummer trong vai đại úy Von Trapp.
 
Với vẻ ngoài đẹp trai và giả dối như một người bán hàng vùng Alpine, nam diễn viên Plummers thủ vai anh chàng đại úy cứng giọng, thẳng lưng và thiếu tự nhiên. Và khi anh ấy đặt cử chỉ và biểu hiện của mình lên một ai khác bằng ca khúc buồn “Eidelweiss” (vốn cũng là ca khúc sau cùng của Hammerstein), điều này này mang lại một vẻ ủy mị đầy thương tâm đối với những xúc cảm đơn thuần cho ca khúc đáng yêu này.
 
Nam diễn viên Richard Haydn với vẻ mặt cau có cùng thói quen đạo đức giả và vai trò ông bầu hài hước cố gắng đăng ký cho gia đình Von Trapps thi hát, và nữ diễn viên Eleanor Parker được minh họa sang sủa và mỏng manh như một nữ bá tước. Nữ diễn viên Peggy Woods với vai mẹ bề trên thông thái dưới lớp mũ trùm đầu của bà, nhưng bà đã thoáng tránh khỏi máy quay khi một giọng hát trẻ hơn nhiều – có thể là của Marni Nixon – lồng tiếng cho ca khúc “Climb Every Mountain” của bà.
 
Tình cờ, bà Nixon nổi tiếng, người lồng tiếng cho Audrey Hepburn trong bộ phim “My Fair lady,” tham gia vào bộ phim này với vai một trong những nữ tu thủ diễn với bộ dạng ngây thơ và sự vui tươi thường thấy trong các bộ phim. Nữ diễn viên Charmian Carr vào vai cô con gái cả, người đem lòng yêu một tên lính Quốc Xã Đức còn trẻ (do Daniel Truhitte thủ vai), có những bước nhảy khá ngọt ngào nhưng tất cả nằm trong ca khúc “16 Going on 17”.
 
Điều cũng đáng nói là vở rối nhỏ thú vị do Bil và Cora Baird thực hiện theo vở “The Lonely Goatherd,” vốn được sử dụng cho một vở ba lê Alpine trên sân khấu.
 
Mặc dù một số bài hát mới đã được thêm vào (cả hai đều chẳng đáng nhớ), ông Wise có vẻ như không có đủ các ca khúc cho phần cuối bộ phim và lặp lại hai hoặc ba ca khúc quen thuộc. Nhưng điều tương tự như vậy cần được nhấn mạnh trong phim “The Sound of Music”. Nó lặp lại đúng kiểu cách và đúng đề tài.
 
Tuy nhiên, bộ phim ngập tràn cảm xúc. Về mặt kinh doanh khôn khéo, ông Wise không phải là một tên ngốc.

by Bosley Crowther - New York Times (Precious Stone dịch).
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn bạn Precious Stone bỏ công ngồi dịch, bài rất hay.
Hôm nào rảnh, bạn điểm mấy phim hiện đại hơn được không. Coi phim mới chút cho nó hợp gu [:D] LT cũng khoái phim mà không có thời gian ngồi lọc, nên nghe nói phim nào hay thì tìm.
 
Chúc bạn cuối tuần an vui.
"Khi người không yêu ta, Buồn đã thành một nhẽ
Khi ta không yêu người, Sao cũng buồn đến thế"

Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: lang thang

Cảm ơn bạn Precious Stone bỏ công ngồi dịch, bài rất hay.
Hôm nào rảnh, bạn điểm mấy phim hiện đại hơn được không. Coi phim mới chút cho nó hợp gu [:D] LT cũng khoái phim mà không có thời gian ngồi lọc, nên nghe nói phim nào hay thì tìm.

Chúc bạn cuối tuần an vui.


Cám ơn bạn Lang Thang,

Thật ra topic này chỉ điểm phim xưa, bạn thông cảm, vì một lí do nào đó mà mình nghĩ biết thêm về lịch sử điện ảnh thế giới có thể giúp mình đánh giá tốt hơn về điện ảnh hiện đại và những nền điện ảnh trẻ như Việt Nam.

Từ hồi có HBO, Starmovies... mình hầu như không đi mua phim coi nữa... trừ những phim đặc biệt... nhưng hồi trước đó thì mình cũng thường hay đi lựa phim coi.

Bạn có thể xem thêm thông tin điểm phim hay tại: www.dienanh.net

Chúc bạn lựa được phim ưng ý,



Đăng nhập để trả lời
0

Funny Girl (1968)



"Hiện tôi là ngôi sao tuyệt vời nhất, nhưng chẳng ai biết điều đó."
Barbra Streisand, Funny Girl

Vào năm 1968, mọi người đều biết rằng nữ diễn viên Barbra Streisand là ngôi sao tuyệt vời nhất trên toàn thế giới. Không chỉ bởi vì cô đã vươn đến đỉnh cao của hàng loạt chương trình truyền hình đình đám, những bản ghi âm thành công và vở nhạc kịch nổi tiếng Funny Girl, mà khi thực hiện sự chuyển đổi từ sân khấu sang màn ảnh, cô đã thay đổi khái niệm của một nữ hoàng điện ảnh. Mặc dù luôn mang hình ảnh của một kị binh hào nhoáng với phục trang tự nhiên, những đặc điểm độc đáo của Streisand khác xa so với tiêu chuẩn được thiết lập trước đó bởi những nữ hoàng nhạc kịch như Doris Day và Rita Hayworth. Một khi cô ấy bước lên màn ảnh trong vai ngôi sao Fannie Brice của đoàn Ziegfeld Follies, khán giả không thể rời mắt khỏi cô.

Tác phẩm Funny Girl là đứa con tinh thần của nhà sản xuất Ray Stark, người chồng con gái đầu lòng của bà Brice với người tình đầu tiên Nicky Arnstein. Ông đã ủy nhiệm cho Isobel Lennart, một nhà viết kịch bản được chú ý vì đã tạo nên những vai nữ mạnh mẽ trong Love Me or Leave Me (1955) và The Inn of the Sixth Happiness (1958), để viết một kịch bản phù hợp đáng giá. Jule Styne, nhà soạn nhạc cho những tác phẩm kinh điển như “Small World” và “Just in Time”, viết phần nhạc, trong khi Bob Merill, người đã thực hiện cả phần nhạc lẫn lời cho vở kịch sân khấu thành công Carnival, viết lời bài hát. Cùng những chuẩn mực trong các ca khúc “People” và “Don’t Rain on my Parade” dành cho dàn nhạc kết hợp với sự trình diễn tỏa sáng của Streisand, màn trình diễn đã gây xúc động mạnh khi công diễn vào năm 1964. Nữ diễn viên Streisand đã tiếp tục diễn vai bà Brice trong hai năm trên các sân khấu kịch của New York và London.
 
Stark luôn luôn xem phiên bản sân khấu như là một sự thử nghiệm cho bộ phim, và cùng với những bình luận đình đám với lượng người hâm mộ gia tăng, Streisand dường như là lựa chọn duy nhất cho vai chính. Nhưng ngoại hình của cô khá là độc đáo nên cô đã bị buộc phải thực hiện một cuộc kiểm tra trên màn ảnh để cho thấy cô có thể thu hút khán giả. Nổi tự ái và cảm thấy lo sợ, nữ minh tinh liên tục từ chối lời thuyết phục của Stark để thực hiện cuộc kiểm tra cho đến khi phim trường chấp nhận và phân vai cho cô ấy bất chấp mọi thứ.

Việc phân vai nam chính, Nick Arstein thì khó hơn nhiều. Với nữ diễn viên thủ vai chính và giữ vai trò mũi nhọn trong mọi yếu tố của quá trình sản xuất, bộ phim được xây dựng như là một bệ phóng cho sự nghiệp điện ảnh của cô, vốn đồng nghĩa với việc nhân vật Arnstein cần trở nên kém nổi bật hơn trong phim. Những người có khả năng thủ vai bao gồm ngôi sao truyền hình David Jannsen, Sean Connery, Gregory Peck và James Garner. Styne muốn phân vai cho Frank Sinatra và thậm chí mong muốn viết những ca khúc mới để mở rộng vai diễn của anh, nhưng Stark đã quyết định rằng anh ấy quá lớn tuổi. Họ sau cùng đồng thuận chọn nam diễn viên hút hồn người Ai Cập Omar Sharif, vốn vẫn còn sức  hút sau hình tượng thành công của nhân vật David Lean trong phim Lawrence of Arabia (1962) và Doctor Zhivago (1965), bởi vì trông anh ấy có vẻ phù hợp trong một chiếc áo đuôi tôm. Vấn đề duy nhất là anh ấy không thể hát. Họ đã ghi hình một màn trình diễn đơn ca của Arnstein nhưng đã kết thúc bằng việc cắt bỏ nó.

Vào thời điểm Stark thuê anh ấy, không ai nhận thấy sự khôi hài trong việc phân vai cho một nam diễn viên Ai Cập vào vai nhân vật Arnstein người Do Thái. Thế là cuộc chiến sáu ngày giữa Do Thái và Ai Cập xảy ra. Những nhà điều hành phim trường muốn loại bỏ Sharif trước khi bắt đầy quay, nhưng đạo diễn William Wyler và Streisand, những người thậm chí chưa gặp mặt anh vào lúc đó, đe dọa rời bỏ bộ phim nếu họ làm vậy. Sau khi quá trình sản xuất bắt đầu, một cuộc tranh cãi khác diễn ra khi một cảnh quay từ các cảnh tình cảm của các ngôi sao bị tung lên báo chí Ai Cập. Việc này châm ngòi cho một cuộc vận động tại quê hương của Sharif nhằm thu hồi quyền công dân của anh. Khi cánh nhà báo hỏi Streisand cô cảm thấy như thế nào về vấn đề này, cô ấy đã châm biếm, “Mọi người thật sự nghĩ rằng những người Ai Cập đang giận dữ sao? Mọi người nên đọc lá thư tôi nhận được từ cô Rose của tôi.”

Streisand còn có nhiều hơn cả sự thích thú về công việc với Sharif trong phim vào thời điểm này. Ngay sau khi quá trình sản xuất bắt đầu, cả hai đã khởi đầu một mối quan hệ. Chồng của Streisand, Elliott Gould, đã ở bên cạnh cô trong suốt giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất và đã giúp cô hạ nhiệt trong khi ghi âm các ca khúc cho phim. Sau đó anh ấy đã được đề nghị cơ hội đóng vai chính đầu tiên trong phim The Night They Raided Minsky’s (1968), vốn được quay tại New York. Anh ấy không thể bỏ cơ hội để li thân với vợ nên anh đã nhận lời bất chấp sự phản đối của cô ấy. Mối quan hệ giữa Streisand và Sharif đã kéo dài bốn tháng, thời gian đủ để thực hiện bộ phim. Sau đó thì ai đi đường nấy. Cô ấy và Gould cũng thế, điều đó dẫn đến cuộc li dị vào năm 1971.
 
Thậm chí trong bộ phim đầu tiên của mình, Streisand đã tạo nên danh tiếng như là một người theo chủ nghĩa hoàn hảo yêu cầu sự kiểm soát về mọi mặt trong các bộ phim của cô. Trong giai đoạn chuẩn bị ghi âm, cô đã yêu cầu thực hiện lại các bài hát của mình cho đến khi chúng như ý cô muốn. Trên phim trường, cô thường bất chấp đạo diễn kỳ cựu William Wyler để đưa ra những ý kiến về phục trang và hình ảnh. Cô cũng yêu cầu bỏ hầu hết những cảnh giữa cô và Anne Francis (một nữ minh tinh Hollywood xinh đẹp trong đoàn Ziegfeld và là bạn than nhất của Brice ). Kết quả là Francis đâm đơn kiện vì tên tuổi của cô bị xóa bỏ khỏi đoàn làm phim.

Với những câu chuyện về những tin đồn và sự thất thường giữa cô ấy và nam diễn viên Sharif được công bố rộng rãi trên báo chí, những nhà phê bình có mọi lý do để chỉ trích bộ phim Funny Girl. Nhưng trong hầu hết các phần, họ đã bị mê hoặc bởi diễn xuất của Streisand và sự xuất hiện chói sáng của cô. Một số nhận xét rằng bộ phim rõ ràng là một bệ phóng. Trong tờ New York Times, Renata Adler đã gọi bộ phim này là “một bê phóng cẩn thận, tỉ mỉ, cùng với những tài năng của Hollywood đối xử với Barbra khá là ngớ ngẩn, không có thật và thậm chí là kẻ cả như thể họ xuất thân từ một nơi xa hoa.” Những chuyên gia phim đã trả lời bằng việc mời Adler ăn trưa và gọi cho cô món bông cải đắt tiền, để cô có thể cho biết sự khác biệt.

Thành công của Streisand tiếp tục khi mùa phát giải thưởng đến gần. Cô nhận được giải Golden Globe, giải Italy's David di Donatello và, trên trang đầu các báo, giải Oscar cho Nữ Diễn Viên Xuất Sắc Nhất. Cô được cùng với huyền thoại Hollywood Katharine Hepburn trong phim The Lion in Winter nhận giải của Viện Hàn Lâm trong cùng hạng mục giải thưởng dành cho các diễn viên. Funny Girl là một trong số những thành công lớn nhất trong năm, giành được bảy đề cử Oscar, bao gồm Phim Hay Nhất, và giải thưởng Hướng Dẫn Kịch Bản Xuất Sắc Nhất. Sau bảy năm, nữ diễn viên Streisand đã trở lại trong bộ phim Funny Lady (1975), đề cập đến hôn nhân của Brice với nhà sản xuất Billy Rose (do James Caan thủ vai ) cùng nam diễn viên Sharif. Bộ phim được đạo diễn bởi Herbert Ross, người đã đưa lên sân khấu và quay những màn trình diễn âm nhạc của tác phẩm Funny Girl.

by Frank Miller (Precious Stone dịch)
Đăng nhập để trả lời
0
Thank kiu Stone nhé.
Hôm cuối tuần ngồi tìm vài phim hành động, để dành coi từ từ.
"Khi người không yêu ta, Buồn đã thành một nhẽ
Khi ta không yêu người, Sao cũng buồn đến thế"

Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn bạn Precious Stone, topic này rất hay. Mình thì phim xưa hay nay gì miễn là hay thì thích thôi [:)]. Có một dạo mình cũng hay đi thuê phim kinh điển về coi, giờ thì chỉ xem trên HBO hay Star Movies thôi.

Trong các phim bạn giới thiệu mình đã xem The sound of music và từ đó cũng thích thể loại phim có hát nhạc như vậy. Bạn bỏ công ra dịch các bài điểm phim cho thấy bạn cũng đam mê nhiều, cám ơn bạn lần nữa nhưng nói thật đọc những bài điểm phim này mình căng cả đầu lên mà cũng không hiểu được bao nhiêu. Có lẽ ngôn ngữ chưa thuần việt lắm, bạn có thể nào cố gắng thêm chút nữa cho phần dịch dễ hiểu hơn không? Cám ơn bạn trước.

À, mình rất thích avatar của bạn nhìn rất giống diễn viên Hàn Quốc lại càng giống hoàng tử trong mơ của... nhiều cô gái. Mình vì bị cái avatar đó "dụ dỗ" nên cặm cụi viết vài dòng lăn tăn này [:)]
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn các bạn đã ghé thăm và góp ý,

@lang thang: cuối tuần ở nhà coi phim hành động một mình... đỡ phải lang thang...

@Nón Lá: Mình sẽ cố Việt hoá các bản dịch hơn để người đọc dễ hiểu và cảm nhận, còn cái avatar thì mình không sửa được đâu.[:D]

Vui vẻ!


Đăng nhập để trả lời
0

Summer Stock (1950)




Sự hợp tác kinh điển giữa Judy Garland và Gene Kelly để “cùng nhau sơn một cái kho thóc và thực hiện một màn trình diễn” đã khiến khán giả rất phấn khởi và có thể sẽ không bao giờ tưởng tượng được điều gì đã diễn ra đằng sau sân khấu của vở nhạc kịch đầy vẻ lạc quan này. Trên thực tế, Summer Stock 1950) là một bộ phim nhưng gần như không phải vậy, và chi tiết rằng bộ phim đã được hoàn thành và thành công là một bằng chứng về quan hệ giữa nữ diễn viên Judy Garland và Hollywood, cùng sự quyết tâm của những người bạn và đồng nghiệp ở MGM để kéo cô trở lại nghiệp diễn lẫn sự tận tâm từ nhiều khán giả hâm mộ cô.

Là một nhà sản xuất, Joe Pasternak được xem như là người khá khuôn khổ và dễ đoán trước vào thời của ông và thực sự ông đã định làm một bộ phim giữa nữ diễn viên Garland/ nam diễn viên Rooney, chỉ có vấn đề là Mickey không còn thu hút khán giả như ngày xưa nên nam diễn viên Kelly đã được chọn để thay thế. Ngôi sao phim ca nhạc vừa hoàn tất bộ phim On the Town (1949) được hoan nghênh nồng nhiệt và mang tính đột phá và hiện cảm thấy không hứng thú lắm với việc tham gia dự án của Pasternak nên trước đó đã từ chối một ý kiến khác từ nhà sản xuất này. Nhưng anh ấy đã đồng ý tham gia bộ phim vì yêu thích nữ diễn viên Garland mà anh đã phát biểu trong cuốn sách Easy the Hard Way của Pasternak rằng “Chúng tôi yêu cô ấy và chúng tôi biết cô ấy phải trải qua điều gì, và tôi có mọi lý do để vui mừng vì mọi chuyện cô ấy đã làm cho tôi."

Điều mà nữ diễn viên Garland đã phải trải qua vào thời điểm này là việc đấu tranh cùng với nhiều chuyên gia tâm lý – một tình thế xoay vòng bắt đầu từ khi cô còn trẻ và được định hướng về mặt tâm thần để điều chỉnh trọng lượng của mình. Sau khi phục hồi, hãng MGM đưa ngôi sao của phim Summer Stock trở lại công việc với hi vọng cô hoàng toàn bình phục. Người được liệt kê trong danh sách là trợ lý cho nữ diễn viên Garland và cũng là đạo diễn bộ phim chính là Charles Walters. Trong cuốn tiểu sử Clive Hirschhorn của Gene Kelly, Walters gợi nhớ lại những khó khăn của bộ phim và do đâu mà nữ diễn viên chính không thể làm việc: “Gene cầm tay trái của cô ấy,” anh nói, “và tôi cầm tay phải của cô ấy, và giữa chúng tôi rõ ràng đang cố gắng để giữ cô ấy đứng vững trên chân của mình nhưng điều đó không dễ dàng. Về mặt tinh thần thì cô đang ở thời kỳ suy sụp nhất. Về mặt thể chất cô ấy cũng hoàn toàn không đảm bảo. Thậm chí có lúc chúng tôi còn phải hạ cảnh diễn để hỗ trợ cô ấy khỏi bị té ngã. Tôi nhớ có lần cô ấy bước một vài bước và không thể tiếp tục. Thế là tôi phải đánh lừa cảnh quay bằng một góc quay khác. Toàn bộ trải nghiệm thật sự rất kinh khủng như một cơn ác mộng và thật may mắn là nó không còn rõ ràng lắm trong kí ức của tôi.”

Nữ diễn viên Garland, người gặp vấn đề tăng cân vào thời điểm bộ phim bắt đầu đã không có gì đảm bảo cho sự xuất hiện của cô ấy trong bộ phim. Chuyên viên phục trang Walter Plunkett, người đã thiết kế các phục trang cho phim Summer Stock và là người bạn tâm giao với Garland trong quá trình làm phim, gợi nhớ lại trong cuốn sách của Hirschhorn rằng thật không dễ dàng gì để tạo sự thay đổi cho cô ấy. “Chúng tôi cố gắng làm cho cô ấy trông có vẻ càng ốm càng tốt nhưng chúng tôi không phải là người làm ra phép lạ và chúng tôi đã không thành công,” ông nói. Plunkett đã bí mật sẻ chia với Garland những thời điểm khó khăn nhất của bộ phim. “Cô ấy bị hoang tưởng về việc không thể diễn xuất,” ông nói, “ và cảm thấy rằng cô đã khiến cho Gene và Chuck Walters thất vọng rất nhiều. Và cô ấy càng nỗ lực bao nhiêu thì cô lại càng lâm vào tình trạng hỗn loạn bấy nhiêu. Thật đau lòng khi nhìn thấy điều này.”

Thời gian biểu quay phim được thiết lập từ 1 giờ chiều đến bảy giờ chiều để phù hợp nhất với thời gian của Garland nhưng khi quá trình làm phim bắt đầu, cách cư xử của cô ấy trở nên thất thường hơn cho đến khi không thể chắc chắn liệu cô ấy có muốn diễn xuất nữa hay không. Nhà sản xuất Pasternak bắt đầu nắm tóc suy nghĩ sau nhiều tuần và đã chuẩn bị bộc phát cơn thịnh nộ. Trong cuốn sách của Hirschhorn, ông giải thích:” Tôi chỉ có thể làm hết sức thôi,” bộ phim tiêu tốn hàng ngàn đô la của hãng phim vì vấn đề trì hoãn, và chẳng có dấu hiệu gì để tiếp tục tiến hành. Chúng tôi đã cố hết sức một cách tự nhiên để giúp Judy nhưng đều vô ích. Tôi đã bảo với ông Mayer hãy cắt chi phí của bộ phim và hãy quên Summer Stock đi. Tôi đã nghĩ rằng ông ấy sẽ tán thành ý kiến của tôi. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, ông trả lời không. Ông đã nói rằng “Nữ diễn viên Judy Garland đã làm cho hãng phim này thành công vào thời kỳ vàng son và điều tối thiểu chúng ta có thể làm được,” ông tiếp tục, “là cho cô ấy một cơ hội nữa. Nếu anh ngừng việc làm phim ngay bây giờ thì điều đó sẽ kết thúc luôn sự nghiệp của cô ấy.” Vậy là chúng tôi thở dài một cách nặng nề và quay trở lại công việc.”

Nhiều tháng trời sau sáu tháng liên tiếp trì hoãn bộ phim Summer Stock, những nhà làm phim đã nhận thấy họ cần một màn trình diễn sau cùng cho cảnh quay lớn kết thúc bộ phim. Garland đã sụt mười lăm đến hai mươi pound và khi cô chọn biểu diễn ca khúc “Get Happy” với bộ phục trang được thiết kế cho phim Easter Parade (1948) – bao gồm mũ mềm, áo nịt ngực đen và áo khoác – cô ấy trông thật mảnh khảnh khi đem so sánh với các cảnh quay khác của cô trong bộ phim Summer Stock, điều này khiến nhiều người nghĩ rằng cảnh quay được lồng ghép từ kho phim lưu trữ.

Với tất cả những điều kịch tính đằng sau máy quay, Summer Stock đã được hoàn tất một cách thành công và được đem đi công chiếu. Theo đúng phong cách của nhà sản xuất Pasternak, phần mở đầu bộ phim khá là tầm thường so với năm 1950 nhưng khán giả vẫn tìm thấy nét quyến rũ. Garland thủ vai chủ một điền trang tại bang New England tên Jane Falbury, người có cô em gái ham mê nghệ thuật Abigail (do Gloria DeHaven thủ vai) đã mang về nhà mà không báo trước cả một đoàn nghệ sĩ chiếm dụng kho thóc làm nơi tập dợt. Cô chủ Jane và quản gia Esme (do Marjorie Main thủ vai) mới đầu cảm thấy bị xúc phạm, nhưng một khi lũ trẻ thành thị được giao những công việc vặt tại nông trại theo đúng thỏa thuận thì mọi việc tiến triển tốt đẹp. Trong một khoảnh khắc sau đó, Abigail nổi giận và rời bỏ trưởng đoàn vốn cũng là bạn trai của cô tên là Joe D. Ross( do Gene Kelly thủ vai) và anh này trong một tình huống không may tìm kiếm vai nữ chính mới đã tìm được cho mình một người bạn gái mới. Jane kết thúc bằng việc từ bỏ mối quan hệ với vị hôn phu khờ khạo của cô tên Orville (do Eddie Bracken thủ vai), người có ác cảm với sân khấu và anh này lại tiến đến cùng Abigail trong một kết cuộc hoàn hảo, điều này gây ấn tượng sai lầm về cả thực tế của đoàn làm phim lẫn tương lai của nữ diễn viên chính

by Emily Soares (Precious Stone dịch)



Đăng nhập để trả lời
0