Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Một số cách hiểu từ "Ngô" trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

1 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-17 15:37:21Thanh Công>
                   CÁCH HIỂU MỘT SỐ TỪ NGỮ TRONG BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
 
I. Những quan niệm về ý nghĩa chữ Ngô trong Bình Ngô đạo cáo

1. Ngô là cách gọi quen thuộc của nhân dân ta để chỉ quân xâm lược phương Bắc, có từ thời kỳ nhà Đông Ngô thống trị nước ta (GS.Lê Trí Viễn, Những bài giảng văn ở đại học; GS. Nguyễn Đình Chú, Văn 10, Sách giáo viên; GS.TS. Trần Đình Sử, Đọc văn học văn)…
Tuy nhiên, có không ít người không tán thành cách giải thích này. Theo họ, trong thời Bắc thuộc (179 TCN-938) có nhiều triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau thống trị nước ta như Hán, Ngô, Tấn, Lưu Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường… đâu chỉ có duy nhất nhà Ngô? Nếu bảo rằng sự thống trị của nhà Ngô là tàn bạo nhất, thì lại chưa có cứ liệu lịch sử để chứng minh. Nếu lấy thời gian dài để có ấn tượng về sự tàn ác thì nhà Hán 351 năm, nhà Đường 285 năm, nhà Tấn 140 năm… nhà Ngô chỉ có 35 năm. Còn về ấn tượng đầu tiên thì phải là nhà Hán. Hơn nữa, văn phong Bình Ngô đại cáo là văn phong bác học, không vì lý do gì mà đầu đề lại dùng từ dân gian (Phan Hữu Nghệ, Tạp chí Văn học, số 7, 1995).
2. Chu Nguyên Chương, vua sáng nghiệp của nhà Minh nổi lên từ miền đất của Đông Ngô cũ nên ta gọi giặc Minh là giặc Ngô (Bùi Văn Nguyên, Hợp tuyển thơ văn thế kỷ X-XVI); Chu Nguyên Chương dấy binh ở đất Giang Tô, lúc đầu xưng là Ngô Vương. Do đó, dùng chữ “Ngô” để muốn gọi đích danh đến ông tổ kẻ xâm lược và tỏ thái độ khinh thị kẻ thù (Phan Hữu Nghệ, Tạp chí Văn học, số 7, 1995).
Nhưng GS.TS Trần Đình Sử phủ định quan niệm này: “Có người hiểu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương dấy binh ở đất Giang Tô, lúc đầu xưng là Ngô quốc công, do vậy quân nhà Minh được gọi là quân Ngô. Nhưng không đúng. Ngô là cách gọi truyền thống của dân ta đối với quân xâm lược phương Bắc từ thời Tam quốc: quân Đông Ngô, giặc Ngô. Nay Nguyễn Trãi dùng tên đó để chỉ quân Minh” (Đọc văn học văn tr. 44).
3. Đây là cách nói tránh nhằm chấm dứt chiến tranh, xây dựng hoà hiếu giữa hai nước. Nếu sau khi ta đại thắng mà bố cáo cả nước với một áng văn sỉ nhục thiên triều (Bình Minh đại cáo), chẳng phải tự khiêu chiến để chúng có cớ kéo quân sang nữa sao? Dùng "Bình Ngô Đại Cáo" vừa tránh được việc hiểu nhầm trên, vừa nhún nhường trong việc nói tránh, nói giảm đi sự thất bại của nhà Minh (Ý câu trả lời hay nhất trên Yahoo).
Quan niệm này chưa có sức thuyết phục vì trong bài Cáo Nguyễn Trãi có lúc gọi giặc Minh là “Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa”, gọi vua Minh là “Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng”.
4. Gọi Minh là Ngô để lưu giữ ký ức về đội quân xâm lược thâm độc, tàn bạo: “chính những trước tác của Nguyễn Trãi mà tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo đã góp phần quan trọng đối với việc lưu giữ ký ức lịch sử về quân Minh xâm lược thâm độc, tàn bạo và tư thế vĩ đại của nước Việt thời ấy góp phần hình thành trong tâm thức dân gian Việt Nam cách gọi người phương Bắc bằng từ Ngô” (Diễn đàn trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh).
Quan niệm này gần như quan niệm của các nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Trần Đình Sử.
II. Cách hiểu cụm từ: “Mưu phạt tâm công”
1. Đánh bằng mưu trí và đánh vào lòng người. Binh thư nói: trăm trận đánh, trăm trận thắng đã là giỏi. Không đánh mà thắng lại còn giỏi hơn (Bùi Văn Nguyên, Hợp tuyển thơ văn thế kỷ X-XVI).
2. Cụm từ “mưu phạt tâm công” là hai kết cấu trạng ngữ đi với động từ trung tâm nên cách dịch phải giống nhau. Kết cấu “mưu phạt” dịch là “đánh bằng mưu”, thì kết cấu “tâm công” cũng phải dịch là “đánh bằng tấm lòng (nhân nghĩa). Nếu dịch “đánh vào lòng người’ vừa nhầm về kết cấu, về nghĩa, lại thu hẹp ý. “Đánh vào lòng người” là nói đến chiến thuật chiến lược chiến tranh tâm lý, còn “đánh bằng tấm lòng” (nhân nghĩa) là thể hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược (Phan Hữu Nghệ, Tạp chí Văn học, số 7, 1995).
3.  Theo từ điển Từ hải của Trung Quốc thì phạt mưu (trong bài văn viết là “mưu phạt” chỉ là cách đảo ngữ để thỏa mãn yêu cầu của đối, đúng ra là phạt mưu), nghĩa là phá tan mưu kế giặc; còn tâm công (nguyên là “công tâm”, bài văn đảo lại thành “tâm công” cho phù hợp với yêu cầu của đối), nghĩa là đánh tan ý chí chiến đấu của địch. Đó là những biện pháp không dùng gươm giáo mà khiến cho quân địch chịu thua, hàng ngũ tan rã. Cho nên Nguyễn Trãi mới nói: “Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta nay mưu phạt tâm công” (GS.TS Trần Đình Sử, Đọc văn học).
4. Tra cứu Từ Nguyên, Từ Hải, hai cuốn từ điển vào loại có uy tín nhất ở Trung Quốc, ta thấy chỉ có hai từ phạt mưu và công tâm mà không có hai từ mưu phạt và tâm công. Như vậy, khi ghép hai từ đó lại, phải chăng Nguyễn Trãi đã dùng phép nghịch đảo? Có thể (…) khi đảo trình tự, sự đối thanh giữa hai chữ “phạt” và “công” sẽ làm cho cả cụm từ “mưu phạt tâm công” đọc lên nghe hài hòa, vang vọng hơn.
Từ nguyên giải thích “công tâm” là “làm tan rã đối phương trên lĩnh vực tinh thần và tư tưởng khiến cho đối phương phải tâm phục”. Từ hải giải thích là “làm tan rã ý chí chiến đấu của địch”. Trong lúc dẫn chứng, cả hai cuốn đều trích một câu trong Tương Dương ký mà Bùi Tùng Chi đã dùng để chú Tam quốc chí: “Dụng binh chi đạo, công tâm vi thượng, công thành vi hạ; tâm chiến vi thượng, binh chiến vi hạ”. Như vậy, dịch “công tâm” là “đánh vào lòng người” thì cũng tạm được, song nếu chú giải thì nên nói rõ hơn như Từ nguyên.
 Đọc Đề từ Ngô Thế Vinh viết cho Ức Trai di tập, ta càng có căn cứ để khẳng định rằng khi dùng chữ “công tâm”, Nguyễn Trãi đã dùng phép nghịch đảo, hơn thế đã nâng phương châm “công tâm” từ tầm thượng sách lên hàng đại sách: “Tiên sinh khởi, thủ hiến đại sách, bất ngôn công thành nhi thiên ngôn công tâm, tốt sử kỳ thập ngũ đạo nhân thổ khiết nhi qui chi ngã” (Tiên sinh đứng dậy, bắt đầu dâng đại sách, không nói đến việc đánh thành mà lại nói giỏi về việc đánh vào lòng người, cuối cùng, người và đất của 15 đạo đều đem về cho ta cả).
Nghĩa của từ “mưu phạt” (lẽ ra là “phạt mưu”), cả Từ nguyên và Từ Hải đều giải thích: “Phá hoại mưu kế của địch” và đều dẫn một câu trong thiên Mưu công của binh pháp Tôn Tử để minh họa: “Cổ thượng binh phạt mưu, kỳ thứ phạt giao, kỳ thứ phạt binh, kỳ hạ công thành. Công thành vi bất đắc dĩ”. Về từ “phạt mưu”, các nhà chú thích binh pháp Tôn Tử đã hiểu như sau: “Cái gọi là phạt mưu là làm tan rã ý chí của địch, khiến chúng không thể hoạch định được mưu lược”. Như vậy, từ “mưu phạt” ở Bình Ngô đại cáo trước hết cần hiểu là đập tan mọi âm mưu quỷ kế của địch. Hiểu như vậy là phù hợp với cách giải thích của từ điển lại không mâu thuẫn với cách giải thích “tâm công” là “đánh vào lòng người” lâu nay được mọi người nhất trí (Hưng Hà, Tạp chí Văn học, số 5, 1996).
                                             (Thanh Công tổng hợp)
Đề nghị các học giả, các nhà nghiên cứu và bạn đọc trên Vn thu quan cùng trao đổi, thảo luận để tìm ra cách hiểu đúng nhất.
 
 
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-13 08:35:54Bách Việt 18>
Trong lịch sử của Trung Hoa đã có những nước Ngô sau:
- Thời nhà Chu có nước Ngô do Ngô Thái Bá, bác của Chu Văn Vương lập nên. Cuối Đông Chu đây là một trong số ngũ bá Xuân Thu (Ngô Hạp Lư và Ngô Phù Sai).
- Thời Tam quốc có nước Đông Ngô của Tôn Quyền đô đóng Kiến Nghiệp (Giang Tô).
- Thời Mạt Đường trong Ngũ Đại Thập quốc có nước Ngô (An Huy) và Ngô Việt (Triết Giang).
- Chu Nguyên Chương khi khởi nghĩa xưng Ngô vương ở Nam Kinh (cũng là Giang Tô).

Tất cả các nước Ngô này đều nằm ở vùng sông Trường Giang. Trường Giang có tên gọi khác là "sông Ngô" trong thành ngữ "Bể Sở sông Ngô".

Ngô có nghĩa là Ngay, còn dấu vết trong từ "ngây ngô", chỉ đường thẳng, hay vuông. Đường thẳng là tượng trưng của phương Bắc trong dịch lý xưa. Ngô có nghĩa là phương Bắc. Sông Ngô là sông ở phương Bắc, do đất của người Bách Việt xưa ở Nam Trường Giang. Sông Ngô còn tên nữa là sông Đường (nàng Kiều trẫm mình trên sông Tiền Đường, là nhánh của sông Trường Giang). Điều này cũng cho thấy Ngô=Ngay=Đường, đều chỉ phương Bắc cả.

Chữ Ngô trong "Bình Ngô đại cáo" không phải là chỉ nước Ngô của Chu Nguyên Chương vì kẻ đánh Việt Nam khi đó là Minh Thành Tổ, sau khi "đảo chính", đã dời đô từ Nam Kinh (kinh đô của Ngô) về Bắc Kinh từ lâu, không còn nước Ngô xưa nữa. Gọi là giặc Ngô có nghĩa là giặc phương Bắc nói chung, không nhất thiết phải là những nước Ngô kể trên.
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài.
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=588939&mpage=1&key
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=547383&mpage=1&key
Đăng nhập để trả lời
0