Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Bản SCAN 1 số truyện cũ cực kỳ hiếm (chưa thấy có trên mạng)

21 trả lời, 8.863 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-12-31 18:08:03duy_anh_o2>
HAPPY NEW YEAR 2012 --- CẬP NHẬT THÊM 2 TRUYỆN MỚI SCAN XONG.

Mình đang SCAN thêm 1 số truyện cũ cực kỳ hiếm (chưa thấy có trên mạng). Bạn nào thấy hay thì đánh máy nha, tại mình ko có thời gian !!!

DANH SÁCH TRUYỆN:

Đã Scan xong:

- Hành tinh Oxygenien


- Thầy phù thuỷ đi trong thành phố


- Cuộc phiêu lưu của bút chì & khéo tay


- Công viên khủng long kỷ JURA - Jurassic Park (Michael Crichton) (2 tập) 


- Người bay ARIEL (A.BELJAEV)  


- Thuyền trưởng tuổi 15 (Jules Verne)


Đang tiến hành Scan (trong tuần này sẽ hoàn tất):

- Tô Mếch ở xứ sở Cănguru 
- Tô Mếch và thủ lĩnh tia chớp đen


- Bí mật những con tàu chết (Yves Dartois)




LINKS:

http://buiduyanh.4shared.com
hoặc
http://www.mediafire.com/?k2jlrc777yga4


(Email: [email=duy_anh_o2@yahoo.com]duy_anh_o2@yahoo.com[/email]   hoặc   [email=buiduyanh@vienthonga.com]buiduyanh@vienthonga.com[/email])  
Đăng nhập để trả lời
1
Cảm ơn duy anh nhiều nhá

Thanh Vân sẽ cố gắng xem có đủ thì giờ đánh máy hết hay khg,

hy vọng các bạn sẽ phụ một tay cho hoàn tất nhanh hơn nha

Chúc vui
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-12-01 04:57:10bablu>
Bạn ơi cho mình hỏi "Thầy phù thủy đi trong thành phố" đã có ai đánh chưa??? Nếu chưa có ai đánh thì mình đánh có được không? Pm cho minh nhé :)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-12-22 11:23:12bablu>
Hi mọi người, mình post một phần mình gõ xong lên. Mình gõ nếu có lỗi gì thì mọi người góp ý giúp mình nhé. Cám ơn nhiều. [:)]



THẦY PHÙ THỦY ĐI TRONG THÀNH PHỐ

Khánh Giang dịch
Leningrad “Detxcala literatura” 1981 (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga của nhà xuất bản “Văn học thiếu nhi” Lêningrat 1981)


GIỚI THIỆU
Tômin Iuri Gennadievich là là văn Xô Viết có tên tuổi. Những tác phẩm nổi tiếng của ông dành cho bạn đọc nhỏ tuổi là “Thầy phù thủy đi trong thành phố” và “Vitca Muras – người chiến thắng tất cả”
“Thầy phù thủy đi trong thành phố” được nhà xuất bản “Văn học thiếu nhi” Lêningrat in lần thứ hai vào năm 1981. Tập sách hấp dẫn từ trang đầu đến trang cuối với những tình tiết bất ngờ, lý thú, với những đoạn hóm hỉnh, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Sách viết cho thiếu nhi nhưng nội dung độc đáo của nó cùng nghệ thuật trình bày đặc biệt của tác giả sẽ làm vừa lòng bạn đọc ở nhiều lứa tuổi khác nhau.
Nhà xuất bản Đà Nẵng chọn dịch “Thầy phù thủy đi trong thành phố” xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Nhà xuất bản Đà Nẵng

PHẦN I - NHỮNG HUYỀN BÍ NHỎ NHỎ
Các anh công an rất yêu trẻ con. Các anh không chỉ yêu con mình mà tất cả, không phân biệt. Bạn không tin ư? Hãy xem các phim thiếu nhi thì biết. Trong phim, công an bao giờ cũng cười với con trẻ, cười và giúp đỡ…
Nếu có em nào đấy gặp một anh công an không cười và không giúp đỡ thì đấy không phải là anh công an “chính cống”.
Nhưng dù sao cũng tốt nếu như một khi nào đó ta gặp phải những anh công an không "chính cống".
Ở Lêningrat có một anh công an như thế. Nếu không có anh ta, thì chắc sẽ không có chuyện gì xảy ra với cậu bé Tôlic Rưzcốp.
Chuyện xảy ra thế này.
Tôlic đi dọc theo đại lộ.
Một chiếc "Vônga" màu vàng chạy chầm chậm bên cạnh Tôlic. Một giọng nói inh tai phát ra từ cái loa đặt trên trần xe:
"Đồng bào chú ý! Phải luôn luôn chấp hành luật lệ giao thông đường phố! Không tuân theo luật lệ giao thông thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Cách đây không lâu trên đại lộ Matxcơva, ông Rưxacốp đã bị ô tô cán. Ông ta bị gãy chân và phải đưa vào bệnh viện. Đồng bào chú ý! Nếu không tuân theo luật lệ giao thông đường phố thì sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng...".
Tôlic đi bên cạnh chiếc "Vônga" qua lớp kính nó nhìn thấy một anh trung uý công an với chiếc micrô trong tay. Anh còn rất trẻ. Thật trái với giọng nói đầy vẻ "chững chạc" của anh, cho dù có qua loa đi nữa.
Tôlic nhìn dọc theo đường phố, cố đoán ra vị trí đã xảy ra tai nạn, nhưng không thể nào đoán nổi. Cả hai bên đường xe cộ nối tiếp nhau qua lại. Một chiếc xe ben khoẻ vượt nhanh qua đầu chiếc "Matxcơvich", còn anh chàng "Traica" đen nặng nề thì cố bám sát cả hai. Tất cả những chiếc ô tô đó có lẽ đã chạy qua nơi mà "cách đây không lâu" ông Rưxacôp đã bị cán...
"Mà nếu như, - Tôlic nghĩ, - chuyện đó xảy không phải "cách đây không lâu" mà ngay bây giờ! Nhưng ô tô không cán Rưxacôp mà... đâm vào một chiếc tàu điện... Nhưng làm sao để anh lái xe vẫn không hề gì... Còn chiếc tàu điện thì trật khỏi đường ray... Và hành khách cũng an toàn. Thế là mọi chuyển động trên đường phố phải dừng lại... Và khi ấy không thể đi qua đường được. Và... mình sẽ không phải đến trường..."
Tôlic đứng lại nhìn những người băng qua đường, họ khéo léo né tránh ô tô.
Chiếc "Vônga" vàng chạy xa về phía trước. Tôlic nhìn về phía "Vônga" và chạy qua đường. Nó lách giữa hai chiếc xe buýt, vượt qua đầu chiếc tàu điện, chiếc ô tô cấp cứu và bay lên vỉa hè ngay trước cửa hàng bánh mì. Tôlic đi về phía cửa hàng, bất ngờ nhìn thấy một anh công an ngay trước mũi nó. Anh ta đứng nhìn Tôlic. Anh ta không cười.
- Này, lại đây - Anh công an nói.
- Để làm gì? - Tôlic lắp bắp.
- Lại đây, nhanh lên!
Tôlic bước lần tới.
- Ở trường người ta đã dạy cho cậu phải đi qua đường như thế nào rồi chứ? - Anh công an hỏi, vẻ giận dữ.
- Dạ, không ạ - Tôlic trả lời thận trọng.
- Thế bản thân cậu không biết là phải đi qua đường ở chỗ nào à?
- Cháu cần phải đến cửa hàng bánh mì. - Tôlic nói nhỏ nhẹ.
Anh công an im lặng.
- Cháu rất vội...
Anh công an im lặng.
- Mẹ cháu bị đau, - Tôlic đã bắt đầu mạnh dạn. - Cháu chưa được đến trường bao giờ. Cháu phải chăm sóc mẹ. Cháu không có thời gian đi học.
- Bà ta đau gì? - Anh công an hỏi.
- Mẹ cháu bị thương... - Tôlic thở dài. - Vì đại bác.. bom, đạn... Mẹ cháu đã chiến đấu ở mặt trận. Trước đây mẹ cháu ít đau, nhưng bây giờ thì hầu như thường xuyên. Còn ba cháu nằm viện. Ông làm việc ở Sở Công an. Ông bị bọn tội phạm làm bị thương.
- Thế ba cháu tên gì? - Anh công an đã bắt đầu nhẹ nhàng.
- Pavlôp.
- Hình như tôi có biết. - Anh công an nói sau một lát suy nghĩ. - Vậy ra cháu chưa đến trường bao giờ à?
- Dạ hoàn toàn chưa. - Tôlic thở dài.
- Thôi chạy lẹ vào mua bánh mì đi.
Tôlic cúi đầu, chầm chậm đi vào cửa hàng, trông nó rất thiểu não.
Trong cửa hàng, Tôlic cũng chậm chạp đi giữa các quầy hàng một cách buồn bã. Nó nghĩ rằng có lẽ mọi người đều thấy dáng nó đau khổ như thế nào, họ sẽ đoán là mẹ nó bị đau, còn cha bị thương vì bọn tội phạm.
Thả chiếc bánh mì trắng vào túi. Tôlic bước ra cửa. Anh công an vẫn ở chỗ cũ. Anh ta vẫn không cười, nhưng se sẽ gật đầu. Tôlic cũng gật đầu chào. Bây giờ nó không một chút sợ hãi công an.
Trước khi đi qua đường nó nhìn về phía bên trái. Đi giữa lòng đường nó nhìn về phía bên phải. Và chính vào lúc đó nó nhìn thấy Misca Pavlôp. Misca chạy thẳng về phái nó, gọi giật giọng:
- Tôlic! Anna Gavrilôvna nói tớ và cậu hôm nay phải đến trường sớm một tiếng!
Tôlic quay mặt sang phía khác, coi như Misca gọi một người nào đó chứ không phải mình. Nhưng Misca đã chạy đến bên nó và hét vào tai:
- Tớ vừa gặp cô giáo! Chính cô ấy nói!
Tôlic không để ý đến Misca. Nó nhìn về phía anh công an. Anh không đứng im nữa mà đi chầm chậm về phía nó.
Tôlic se sẽ lần bước theo vỉa hè. Anh công an bước nhanh hơn. Tôlic dốc toàn lực bỏ chạy.
Misca đứng ngây người nhìn anh công an đuổi theo Tôlic rồi chạy theo họ.
Tôlic chạy thục mạng không nhìn thấy gì hết. Nếu như lúc đó mà có ô tô cản đường thì có lẽ nó sẽ đập vỡ ô tô.
Nếu gặp sông thì tất nhiên nó sẽ nhảy qua sông. Tôlic dồn hết sức chạy, vì không có gì xấu hơn là bị công an bắt.
Misca đã tụt lại phái sau từ lâu, còn Tôlic thì hình như không mệt, nó vẫn chạy. Anh công an vẫn theo sát, khoảng cách có rút ngắn hơn chút ít.
Người đi đường dừng lại. Những khuôn mặt ngạc nhiên của họ lướt nhanh qua mắt Tôlic như những ngọn đèn pha tàu điện ngầm.
Khủng khiếp nhất là cả đường phố dường như chết lặng. Hầu như tất cả mọi người đều nhìn vào Tôlic, chờ đợi lúc nó vấp ngã. Trong không khí im lặng đó Tôlic nghe rõ tiếng gõ mồn một của đôi giày công an.
Nhưng thật là kỳ diệu, trong khi chạy Tôlic vẫn còn kịp nghĩ ngợi. Vì chân khua nhanh, thở nhanh nên những ý nghĩ của nó đứt quãng. Chẳng hạn thế này: "Sẽ chạy thoát... Không, không thoát... Có thể thoát?... Misca đã thấy... Misca sẽ không nói... Mẹ sẽ không biết... Anna Gavrilôvna sẽ không biết... Cần phải nhanh hơn... Sẽ không ai biết... Còn nếu như hắn?... Không có quyền!..."
Tiếng vang của đôi giày ngày càng gần hơn. Tôlic biến vào một ngôi nhà, vào cửa chính. Ngay đó còn một cửa nữa ra sân. Tôlic mở cửa và nghe thấy tiếng giày trên bậc tam cấp. Tôlic đóng sập cửa và ngay sau đấy lại nghe thấy tiếng mở cửa. Tôlic hoảng sợ. Nó hầu như muốn dừng lại khi nhìn thấy phía bên trái một dãy nhà gara. Giữa hai ngôi nhà nhỏ có một cái hẻm. Tôlic lao vào hẻm và có cảm giác như bị ai níu lại. Nhưng ngay lúc đó nó đã nhảy ra khỏi hẻm, và không biết tại sao thấy chạy nhẹ nhàng hơn.
Mấy cậu bé con đang chơi phía bên kia của gara không hiểu gì cả. Chúng thấy một cái gì đó băng qua trước mặt chúng, và ngay sau đó lại một cái gì đó nữa. Và bây giờ trong sân có một anh công an cầm trên tay cái túi đựng ổ bánh mì.
Anh đứng một lúc nhìn xung quanh và đi ra cổng.
Các cậu bé nhìn theo anh một lúc rồi lại tiếp tục vẽ trên cánh cửa những ngôi sao và viết bằng phấn:
"Tôxca + Vôvca = Tình yêu".
Tôlic không dừng được. Sau lưng nó không còn ai cả, nhưng nó vẫn chạy qua bốn cái sân nữa, bò qua một cái ống gì đấy, nhảy từ một mái nhà nào đó và cuối cùng ở trong một cái sân nhỏ.
Chỉ đến lúc này nó mới biết rằng không còn ai đuổi theo nó nữa. Tôlic nhìn quanh tìm cửa hoặc một cái cổng để thoát ra ngoài nhưng chỉ thấy những bức tường phẳng. Đấy là một cái sân kỳ lạ. Những bức tường không có cửa sổ và ban-công cao vút lên đến tận trời xanh. Sân tròn xoay như cái giếng và giữa sân là một cái gì đó to, tròn trông như cái vỏ đồ hộp.
Tôlic xoay đầu cố tìm một chỗ trống để nhảy ra ngoài, nhưng cũng chẳng thấy một lỗ trống nào.
Cuối cùng thì trong ngôi nhà giống như cái vỏ đồ hộp này cũng có một cái cửa. Tôlic mở cửa đi vào một cái phòng rộng. Đó là một gian phòng kỳ lạ. Từ trên cái trần cao không nhìn thấy lần lượt rơi xuống những quả bóng màu xanh lam. Chạm nền nhà chúng loé lên một tia sáng xanh rồi tắt ngấm. Chầm chậm từng cái một, những quả bóng rơi từ trên cao xuống dưới và biến mất, toả ra xung quanh một thứ ánh sáng ma quái.

Sau đó Tôlic nhìn thấy một thằng bé. Cậu ta ngồi sau một cái bàn dài. Trên một đầu bàn có đống hộp diêm. Thằng bé cầm lấy một hộp xem kỹ rồi đặt lên đầu bàn kia.
- Ba trăm nghìn lẻ một, - thằng bé lẩm bẩm.
Tôlic đi đến gần. Thằng bé không nhìn Tôlic, lấy tiếp một hộp diêm nữa.
- Ba trăm nghìn lẻ hai.
- Này, cậu làm gì ở đây? – Tôlic hỏi.
- Ba trăm nghìn lẻ ba. – thằng bé nói.
- Đi khỏi đây bằng cách nào? – Tôlic hỏi – Cổng ra ở đâu?
- Ba trăm nghìn lẻ bốn, - thằng bé nói.
Tôlic hơi khó chịu. Nó nghĩ, có thể đây không phải là người thật mà là người máy mà có lần Tôlic đã thấy trong phim “Hành tinh bão”. Trong phim Rôbốt giống như người thật, đi bằng hai chân và có thể nói chuyện bằng một giọng rè rè như thép rung.
Tôlic đưa tay về phía vai thằng bé, nhưng rụt ngay lại dường như sợ điện giật.
- Ba trăm nghìn lẻ năm, - thằng bé nói.
Tôlic bắt đầu tức giận. Nó không phải rôbốt mà là người thật cho nên nó biết giận. Mà khả năng đó thì khôg một người máy nào có được, kể cả những rôbốt hiện đại nhât.
- Ba trăm nghìn lẻ sáu, - thằng bé nói.
Tôlic cảm thấy mình không chỉ tức giận thôi mà trở nên hung dữ.
- Ba trăm nghìn lẻ bảy, - thằng bé nói.
Tôlic cảm thấy tay chân mình động đậy.
- Ba trăm nghìn lẻ tám – thằng bé nói.
“Thôi được, - Tôlic nghĩ – Bây giờ thì mày sẽ phải câm miệng.”
Tôlic đưa tay vuốt lưng thằng bé tìm công tắc ngắt điện. Lưng nó âm ấm và hoàn toàn không phải bằng sắt.
- Ba trăm nghìn lẻ chín, - thằng bé nói, ngẩng đầu nhìn Tôlic bằng cặp mắt xanh kỳ dị.
- Này, cậu điếc à? – Tôlic nói to – A, có thể cậu điếc phải không?
- Tớ nghe thấy hết, - thằng bé trả lời – Ba trăm nghìn lẻ mười.
- Bây giờ mày sẽ biết tay tao ! – Tôlic hét – Tao sẽ dạy cho mày biết thế nào là đánh nhau. Tao sẽ cho mày ba trăm nghìn ! Mày sẽ nhận được gấp đôi nữa, lúc ấy mày sẽ hiểu thế nào là ba trăm nghìn !
- Đừng quấy rầy – thằng bé nói – Cậy thấy đấy, tớ vừa mới bắt đầu một nghìn mới.
- Mặc xác mày với một nghìn hay một triệu ! – Tôlic hét. Nhưng nó im ngay bởi đôi mắt thằng bé lóe lên một tia sáng xanh khi nghe từ “một triệu”.
Tôlic đột nhiên hết giận dữ. Nó nghĩ đến những điều kỳ lạ ở đây: này cái sân không có cổng, này cái phòng không cửa sổ, này những số nghìn khó hiểu và cả thằng bé này nữa, tuy không phải là người máy, nhưng có lẽ cũng không phải là bình thường. Và nó bỗng thấy rợn người.
- Một triệu … - thằng bé lặp lại – Đó là điều quan trọng nhất trên thế giới này. Nhưng điều đó khó đạt làm sao … Thời gian thì quá ít. Nhưng nếu cậu biết một triệu thì tớ có thể nói chuyện với cậu hai phút. Sau đó thì cậu đi khỏi đây, được chưa?
- Tớ có thể đi ngay bây giờ, chỉ cần cậu chỉ cho tớ cổng ra ở đâu.
- Không biết… - thằng bé thở dài – Cổng để làm gì kia chứ, tớ hoàn toàn không cần. Tớ chỉ cần một triệu.
- Triệu gì?
- Một triệu hộp diêm. Một triệu tròn. Khi ấy tớ sẽ có nhiều nhất trên thế giới.
- Có chừng đó để làm gì? – Tôlic hỏi.
- Bởi vì khi ấy tớ sẽ có nhiều nhất trên thế giới ! Cậu hiểu không?
- Hiều – Tôlic miễn cưỡng trả lời.
Nó hoàn toàn không hiểu gì hết. Nó chỉ sợ im lặng và thằng bé lại đếm các hộp diêm. Khi ấy càng ghê rợn hơn.
- Thế cậu đã sưu tầm được bao nhiêu rồi? – Tôlic hỏi.
- Ba trăm nghìn mười hộp
- Tuyệt diệu ! – Tôlic hưởng ứng, cố làm ra vẻ bình tĩnh. – Sưu tầm – đấy là một công việc tốt. Bây giờ chúng ta hãy đi ra sân và cậu chỉ cho tớ cổng ra vào ở đâu. Cậu biết không, tớ vừa mới thoát khỏi công an đấy. Ồ, tớ chạy rất ngon lành ! Nhưng cậu cũng rất tài: đã sưu tầm được biết bao nhiêu là hộp diêm. Nào, hãy chỉ cho tớ cổng ra đi !
- Cổng ra để làm gì … - thằng bé buồn rầu nói – Tớ cần có một triệu hộp diêm. Chừng đó là đủ cho tớ cả cuộc đời.
- Cuộc đời nào? – Tôlic cầm hộp diêm tung tung trong tay – Một hộp diêm bình thường. Nó giúp gì cho cậu cả cuộc đời?
Nhưng Tôlic chỉ mới đụng đến hộp diêm thì thằng bé đã leo ra khỏi bàn, đôi mắt nó lại phát ra những tia sáng xanh kỳ lạ.
- Không được đụng vào ! – nó kêu lên – Không phải của cậu ! Các hộp đó là của tớ. hãy đi khỏi đây ! Hai phút đã kết thúc rồi. Để hộp diêm lại ! Cút đi !
Tôlic đi giật lùi. Nó muốn quay người chạy, nhưng hai con mắt của thằng bé cứ như phát sáng, càng lúc càng trở nên xanh trong và Tôlic cứ thụt lùi, thụt lùi, nhưng không thể quay người lại, dường như nó sợ bị đánh vào lưng.
Tôlic cứ thụt lùi và cái bàn đối với nó bỗng nhỏ dần, nhỏ dần. Bên cạnh bành hình thằng bé cũng nhỏ dần, nó giơ nắm đấm nhỏ xíu như hạt đậu về phía Tôlic đe dọa. Còn trên mặt của nó thì lấp lánh hai ngọn lửa xanh lạnh lùng như hai ngôi sao xa.
- Để … hộp diêm … lại ! … - Tiếng kêu từ đằng xa văng tới.
Tiếng kêu như thức tỉnh Tôlic. Nó nhắm mắt bỏ chạy thục mạng. Những bức tường, những ngôi nhà lướt qua mặt nó. Sau đó là những đường phó. Cuối cùng ở phía dưới là sông và núi. Mặt trời vội vã chạy trong bầu trời trống rỗng. Rồi sau đó mặt trời cũng tắt ngấm. Tât cả đều chìm đắm trong một màn đen vô tận.
“Có lẽ mình đang ngủ, - Tôlic nghĩ – Mình thấy bầu trời đen … Có nghĩa là đã về đêm và mình đang ngủ … Cần phỉa tỉnh dậy. Phải thử động đậy tay, khi ấy sẽ tỉnh ngay…”
Tôlic nhúc nhích tay và mở mắt.
Trên bầu trời xanh, mặt trời đứng yên như bị dán. Nó không chuyển động về phía nào cả. Và đường phó vẫn là đường phố cũ. Này đâu là hiệu bánh mỳ. Này là anh công an đang nhìn Tôlic và đi về phía nó. Còn bên cạnh nó là Misca Pavlôp đang hét to:
- Tớ vừa gặp cô giáo ! Chính cô ấy nói !
“Mình chưa tỉnh giấc – Tôlic nghĩ – Có lẽ, mình chưa thật cử động tay. Bởi có khi thế này: Ta cứ tưởng là ta đã thức nhưng thực ra thì vẫn còn ngủ và trong cơn mơ ta thấy mình đã thức dậy”
Tôlic lại cử động tay. Nó cảm thấy như đang nắm một vật gì đó. Tôlic nhìn xuống và thấy trong lòng bàn tay một hộp diêm. Đó là một hộp diêm thật sự.
Và Misca cũng thật, bởi vì nó đang gọi to hơn:
- Cậu điếc à? Hãy mang bánh mì về nhà rồi chúng ta cùng chạy đến trường !
Và anh công an cũng thật. Anh nắm tay Tôlic, nói:
- Ở tuổi này mà cậu đã học nói dối thì lớn lên sẽ ra sao? Nào, hãy nói lại xem mẹ cậu đau gì?
Tôlic im lặng. Còn Misca, tuy lúc này chưa hiểu gì hết nhưng vẫn quyết bênh vực bạn. Nó nhíu mày nhìn anh công an:
- Mẹ nó không đau gì hết. Anh muốn mẹ nó đau à? Bà ta hoàn toàn khỏe mạnh.
- Tôi cũng nghĩ như vậy – anh công an trả lời và nắm lấy tay Tôlic kéo đi – Hãy theo tôi cậu bé!

Trên đường phố nếu ai đấy bị công an dẫn về đồn thì có nghĩa là anh ta đã làm một việc gì đó không tốt đẹp trước hết có thể là anh ta làm bể cửa kính, hoặc đánh lộn, hay có thể đã ăn cắp…
Tôlic đi bên cạnh anh công an và cảm giác như mọi người đều nhìn mình. Tất nhiên họ sẽ nghĩ là nó đã làm vỡ kính, đã đánh nhau hoặc đã ăn cắp. Và Tôlic rất sợ phải gặp một người quen.
Còn những người qua đường thì nhìn Tôlic một cách tò mò và không hiểu sao họ lại cười cười. Đặc biệt Tôlic không thích một ông béo phị. Không phải chỉ vì ông ta quá mập. Không phải chỉ vì trên tay ông ta là một cái túi bự với những trái cam tròn trịa. Cũng không chỉ vì ông ta cười khi còn cách Tôlic những một trăm thước. Nhưng cái chính là câu nói của ông ta khi đi ngang qua nó:
- Phạm tội gì đấy đồng chí chuẩn úy? Thả nó đi, Mẹ nó đang chờ đấy.
Và cười ồ, dường như rất hài lòng về câu nói đùa ý vị của mình.
Anh chuẩn úy lẩm bẩm điều gì đó. Còn Tôlic nghĩ: “Thật là hay, nếu bây giờ người ta bắt cái ông béo đó vào đồn lấy hết cam. Thế rồi ông ta bị nhốt sau song sắt và van xin được thả. Còn ở nhà thì những đứa con béo tròn của ông ta sẽ khóc lóc, bởi bây giờ không còn ai mang cam cho chúng nữa.”
Ông béo đã đi xa, nhưng Tôlic vẫn còn ngoái lại nhìn theo. Biết đâu bất ngờ lại chẳng xảy ra phép lạ và người ta sẽ bắt ông béo. Chẳng hạn như ông ta sẽ đi qua đường khi đèn đỏ. Và thế là … tuýt … tuýt và …những đứa trẻ béo tròn sẽ không có cam ăn.
Đã ba lần Misca chạy lên phía trước và đi ngược lại. Mỗi lần đi ngang qua Tôlic, nó lại nháy mắt trái. Nhưng tất nhiên Misca không thể giúp được gì cho Tôlic.
Gần đồn công an Misca đứng lại và Tôlic cảm thấy đơn độc. Dù sao thì hai đứa cũng đỡ sợ.
Trong đồn công an, sau cái bàn lớn, một ông đại úy đang ngồi và viết gì đó vào trong cái tập dày cộp. Nhìn thấy Tôlic và anh chuẩn úy, ông cười mỉa.
- Anh Xaphrônôp, anh mang đứa trẻ này về làm gì đấy? Chẳng lẽ anh quên là nhà của ta đang sửa à?
- Đúng, tôi quên, thưa đồng chí đại úy – chuẩn úy nói.
- Hay có thể, anh không quên mà do đứng gác chán quá nên muốn dạo chơi một lúc?
- Trên đường phố thời tiết rất tuyệt diệu, thưa đồng chí đại úy. Đây không phải là mùa đông, không khí bên ngoài rất thú vị. Còn cậu bé này, thưa đại úy, rất kỳ lạ. Một mặt, cậu nói là mẹ cậu đã hy sinh ngoài mặt trận…
- Không phải hy sinh – Tôlic phản đối nhỏ, không ai nghe thấy.
- Mặt khác, - chuẩn úy tiếp tục – cha cậu ta là … Điều đó cả bạn của cậu ta cũng khẳng định. Bạn cậu tên là gì nhỉ? – anh chuẩn úy quay lại phía Tôlic.
- Pavlôp … - Tôlic nói rất nhỏ.
- Đấy đấy, - chuẩn úy nói – Và cậu bé này cũng là Pavlôp. Cậu ta đi qua đường không theo một luật lệ nào hết.
Nghe những câu cuối cùng của chuẩn úy, Tôlic rùng mình và khịt mũi. Đến bây giờ nó mới nhớ là nó nói với anh chuẩn úy không phải là họ của mình mà là họ của Misca. Vì chuyện đó sẽ bị phạt như thế nào, Tôlic không biết, nhưng có lẽ nhẹ nhất cũng phải bị nhốt vài ngày hoặc sẽ bị nhà trường cho hai điểm đạo đức…
- Được rồi, đồng chí Xaphrônôp, hãy đi đi ! – Đại úy ra lệnh. – Nhưng nhớ cho là đừng dựng nhà trẻ ở đây cho tôi nữa và đừng bỏ vị trí vì những chuyện nhảm nhí đấy. Cần phải làm đúng nhiệm vụ. Rõ chưa?
- Rõ, thưa đại úy – chuẩn úy nói và đi ra.
- Này, Pavlôp, hãy quay mặt lại đây, - ông đại úy nói. – Hãy giải thích cho tôi nghe, người ta đã dạy nói dối cho cậu từ lúc nào?
- Nói dối … lúc nào? – Tôlic lẩm bẩm.
- Đấy, đấy, cậu không phải là Pavlôp, đúng chưa?
- Thế họ cháu là gì? – Tôlic hỏi lại.
- Cái đó thì ngay bây giờ cậu phải nói cho tôi biết.
Ông đại úy mỉm cười nhìn Tôlic, hiểu rằng thế nào cậu bé cũng phải nó họ của mình.
- Rưzcôp.
- Đấy, bây giờ thì cậu đã nói đúng. Điều đó dễ dàng thấy khi người ta nói sự thật. Giỏi. Mấy giờ mẹ cháu đi làm?
- Hai giờ chiều, - Tôlic trả lời và hí hửng nhìn ông đại úy. Nó đã nói sự thật và ông đại úy không còn lý do gì để nhốt nó. Hơn nữa nhìn vào mặt đại úy, Tôlic thấy rõ là ông ta không có ý bỏ tù mình.
- Hai giờ chiều mẹ đi làm – ông đại úy lặp lại chậm rãi. Chính là cái bà đã bị giết ngoài mặt trận ấy phải không?
- Cháu không nói là đã bị giết ! – Tôlic phản đối – Điều đó anh ta bịa đấy. Cháu nói là mẹ cháu bị thương và phải nằm ở nhà.
- Thế có nghĩa là vừa nằm vừa đi làm việc? – đại úy hỏi.
Tôlic không trả lời và thở ra. Nói cái gì ở đây? Mẹ nó đã không ở mặt trận. Nếu bây giờ mà hỏi về ba nó thì càng khó nói hơn. Ba nó, có lẽ trong đời chưa một lần nhìn thấy bọn tội phạm.
- Về ba cháu và bọn tội phamj – ông đại úy tiếp tục – tốt hơn là chúng ta sẽ không đề cập nữa. Biết đâu lại chẳng xảy ra chuyện không hay. Phải không?
Tôlic im lặng. Nó bỗng thấy nóng nực và lấy tay kéo mũ lưới trai về phía gáy.
- Cái gì ở trong tay cháu đấy? – ông đại úy hỏi.
Tôlic xòe tay và chìa cho ông đại úy hộp diêm mà nó đã quên từ lâu. Đại úy cầm hộp diêm, mở ra lấy một que và quay quay trong tay. Que diêm thật lạ lùng – không có đầu diêm sinh. Ông đại úy bẻ que diêm rồi vứt vào gạt tàn thuốc.
- Hút thuốc?
- Thề danh dự là cháu không hút – Tôlic hoảng sợ trả lời – Chú cứ hỏi bất cứ ai đi.
- Tôi tin – ông đại úy nói – Lần này thì tôi tin, Cháu ưa nói dối nhưng không biết cách. Luật lẹ qua đường phố, tất nhiên là cháu biết, nhưng không thích chấp hành. Nào hãy nói nhanh số điện thoại trường học. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông hiệu trưởng. Nhưng cũng có thể tôi sẽ không gọi, nếu từ giờ phút này cháu bỏ ngay những thói xấu.
- Cháu sẽ không làm như thế - Tôlic nấc lên.
- Tôi sẽ theo dõi. Nói số điện thoại đi rồi chạy về nhà. Không khéo thì mẹ sẽ nghĩ là cháu biến mất với cái bánh mì rồi đấy.
Ông đại úy cầm viết và chuẩn bị ghi số điện thoại nhà trường. Nhưng Tôlic chưa kịp mở miệng thì ở ngoài cửa có tiếng ồn. Cửa mở, hai anh công an lôi một thanh niên khỏe mạnh vào phòng. Khó khăn lắm hai anh mới kéo được gã đến cái bàn lớn. Gã đứng lên và lấy ống tay áo chùi mặt.
- Anh ta uống Vôtca trong quán cà phê “Kem lạnh” – một anh công an báo cáo – Anh ta mang rượu theo người.
- Thế việc gì đến ông – gã thanh niên hét – Nếu tôi uống thì cũng uống cho riêng tôi. Ở đâu tôi thích thì tôi uống ! Biết đâu tôi chẳng uống vì đau khổ.
- Im đi, công dân Daixep – ông đại úy bình thản nói - Ở đây không phải là nhà bạn anh, mà là đồn công an. Hơn nữa anh lại đang say. Còn nỗi bất hạnh của anh. Chúng tôi chỉ không biết một điều là anh lấy đâu ra tiền để mua rượu.
- Đấy là việc của tôi – gã bướng bỉnh – Còn ông, thưa ngài chỉ huy, hãy lo đếm tiền của mình. Còn tiền của tôi thì đã có người tính ở thế giới bên kia.
- Có thể là nhưa thế - đại úy không phản đối – Nhưng cái điều mà chúng tôi tin anh, chúng tôi đã thả anh ra – đó là công việc của chúng tôi. Chúng tôi đã đem việc làm cho anh chỉ ba ngày anh bỏ việc. Anh có hiểu là anh đã làm dơ bẩn thành phố của chúng ta? Anh chỉ biết quấy phá và chè chén. Anh vễn theo con đường cũ?
- Vâng tôi … bởi vì tôi … Xì ! – Kẻ bị bắt kêu lên một cách ngu xuẩn. Gã khoát tay, khuôn mặt emó xệch. Các anh công an tiến về phía gã. Tôlic đoán là thế nào gã cũng nhảy bổ vào mặt ông đại úy, và để đề phòng nó lùi vào góc nhà. Nhưng kẻ bị bắt khôgn hề nhúc nhích, gã nắm lấy cổ áo và giật mạnh. Hột nút trên cùng bay ra. Gã liếc nhìn về phía ống đại úy rồi giật tiếp. Một hột nút nữa bay ra.
- Hãy bỏ tấn kịch đó đi, Daixep – ông đại úy nói – Cái trò đó chúng tôi đã biết rồi.
- Vâng, tôi … - gã thanh niên nức nở - Tôi có thể, suốt ngày tôi đi tìm việc làm. Tôi, có thể, tôi uống vì không có công ăn việc làm. Có thể, tay của tôi bị đâu. Tôi là … người mà. Ông chỉ huy có hiểu không?
Ông đại úy nhíu mày, lơ đãng lấy một que diêm từ hộp ra, bẻ gãy rồi vứt lên bàn.
- Nghe đây Daixep. Anh không phải là người mà là chim. Tôi muốn biến anh thành bồ câu cho rảnh. Nhưng …
Ông đại úy chưa dứt lời thì chính giữa nhà một cái gì đó vụt lên và biến thành một luồng khói trắng. Hơi nóng bốc lên thổi vào mặt Toolic. Nó nhắm nghiền mắt lại và khi mở ra thì không còn thấy Daixep nữa.
Cả hai anh công an đều nhìn vào chỗ trống.
Ông đại úy bật khỏi bàn, đứng sứng, mở to mắt.
Và chính vào lúc ấy từ nền nhà một con bồ câu trắng bay lên. Nó bay loạng choạng trong căn phòng, huc đầu vào các cánh cửa, vỗ cánh tuyệt vọng từ tường này sang tường kia cho đến khi bất ngờ lao vào một cái ô trống, lách qua các song sắt cửa sổ và bay biến mất.
Ông đại úy mơ hồ nhìn vào góc nhà nơi Tôlic đứng.
- Bồ câu của cậu?
- Không … thể … - Tôlic run run
Ông đại úy chạy đến bên hai anh công an:
- Kẻ bị bắt đâu rồi?
- Hình như … chạy … rồi … - một anh công an ngần ngừ nói.
- Đuổi theo ! – đại úy quát – Đuổi ngay lập tức.
- Tuân … lệnh … ! – anh công an thứ hai thức tỉnh, và cả ba chạy ra đường phố.
Tôlic từ trong góc kinh ngạc quan sát căn phòng. Chưa bao giờ nó phải chứng kiến nhiều điều kỳ quái như buổi sáng hôm nay. Tôlic không dám nhúc nhích. Ai mà biết được … Biết đâu chỉ cần khẽ cử động là trong phòng lại xuất hiện công an và gã say rượu Daixep. Mọi việc hôm nay đều có thể xảy ra. Tôlic nhìn lên cửa sổ. Có thể tất cả những chuyện đó chỉ là một giấc mơ. Bởi vì con người cũng có thể mơ thấy công an, thấy bồ câu, thấy kẻ say rượu và thấy cả những thằng bé với những con mắt xanh kỳ dị. Tất nhiên là có thể. Nhưng tại sao trên cửa sổ, chỗ ô trống, nơi con chim bồ câu bay ra lại lung lay một cái lông chim trắng? Còn mấy hột nút ở dưới chân bàn kia là gì?
Cuối cùng, Tôlic quyết định đi ra khỏi góc phòng. Nó thận trọng đến gần cái bàn lớn. Trên nền nhà có một bộ quần áo. Trên cùng là cái áo vét, phía dưới lòi ra hai ống quần. Đó là quần áo của Daixep. Quần áo nằm có thứ tự trên nền nhà như còn giữ lại hình dáng của con người. Lạ lùng là tại sao các anh công an không thấy. Có lẽ họ vội quá.
Chưa hiểu thế nào hết. Tôlic lấy mũi giày đá áo vét về một phía. Nó lại sợ, biết đâu từ trong áo quần lại chui ra một Daixep say. Nhưng không có ai chui ra cả. Áo vét bị tung sang một bên làm lộ ra một đôi giầy bẩn thỉu dễ đến hàng trăm năm chưa lau chùi.
Không còn nghi ngờ gì nữa. Tất cả những thứ đó là của Daixep.
Nhưng nếu Daixep là một nhà ảo thuật, nếu như anh ta biết chui ra khỏi quần áo sau một giây, thì anh ta cũng không thể chạy trốn thiếu giày. Điều đó Tôlic biết chính xác. Đôi giày vẫn còn đang thắt dây. Và trên cả thế giới này không có một người nào có thể cởi giày mà lại không mở dây. Ngay cả khi người đó đang say hoặc người đó là một nhà ảo thuật.
Đột nhiên Tôlic nghĩ tới thằng bé với đôi mắt xanh kỳ dị và tiếng kêu não nùng của nó “Để … hộp diêm … lại ! …” Tại sao nó lại kêu thảm thiết như vậy, trong khi trong tay nó còn có ba trăm nghìn hộp như thế? Chẳng lẽ nó tiếc một hộp hay sao?
Và Tôlic lại cho rằng tất cả những điều đó là mơ thấy. Chỉ không hiểu sao giấc mơ lại quá dài, không thể kết thúc.
Tôlic đến sát bàn lớn thò tay cầm hộp diêm mà ông đại úy lấy của nó. Nó rung tay và nghe thấy diêm chạy qua lại trong hộp. Cũng là cái hộp diêm ấy. Và có nghĩa là ở đây không phải mơ bởi lẽ chưa bao giờ Tôlic mang diêm theo người.
Bỗng nhiên Tôlic thấy mọi chuyện đều đã rõ ràng. Đó là những chuyện khó tin nhưng rất đơn giản. Đó là những chuyện thần thoại, không bình thường, nhưng đồng thời cũng dễ hiểu, nếu ta chấp nhận là trên thế giới này còn xảy ra những điều huyền bí.
Điện thoại reo trên bàn ông đại úy. Tôlic rùng mình và lao nhanh ra cửa. Băng ra đường phố, nó cong đầu cong đuôi chạy…
Lần này thì Tôlic rất nhanh mệt – hôm nay nó phải chạy quá nhiều. Nó rẽ vào một chỗ quẹo và đứng thở. Một gnười đàn bà không quen biết đi qua nhìn nó một cách nghi ngờ.
- Không chạy nữa à? – bà ta hỏi.
- Xin lỗi – Tôlic nhũn nhặn, giấu hộp diêm ra đằng sau lưng.
Người đàn bà đi khỏi. Tôlic đưa hộp diêm lên gần mắt và chăm chú xem xét. Một hộp diêm bình thường ! Đúng hơn là nó giống như bình thường. Và trên thế giới này chỉ có Tôlic và có thể cả thằng bé có đôi mắt xanh kỳ dị biết đây là hộp diêm THẦN.
Daixep không trốn đi đâu hết. Gã chỉ BIẾN THÀNH con bồ câu “Tôi muốn biến anh thành bồ câu …” ông đại úy đã nói như thế. Và Daixep đã BIẾN THÀNH bồ câu. Gã biến thành bồ câu vì lúc đó ông đại úy đã bẻ một que diêm trong hộp của thằng bé có đôi mắt xanh kỳ lạ. Và nếu như ông đại úy biết được hộp diêm đó là gì thì ông sẽ hiểu ngay rằng Daixep không chạy trốn đâu hết mà bay qua cửa sổ ngay trước mắt ông. Lúc này chắc họ đang lùng khắp phố để tìm bắt Daixep, còn Daixep thì ung dung nhặt dận trên vỉa hè, ngay trước mũi công an.
Tôlic trôi theo dòng suy nghĩ. Càng khẳng định hộp diêm trên tay là hộp diêm thần, nó càng cẩm thấy kinh sợ hơn. Nếu như hộp diêm này có thể biến con người thành chim thì không biết nó sẽ làm gì với Tôlic. Hãy còn tốt nếu bị biến thành chim và lúc ấy có thể bay lên trời. Còn nếu biến thành con lợn thì sao? Tôlic sẽ đi đến lớp. Anna Gavrilôvna sẽ hỏi nó, còn nó chỉ khịt khịt ! Tôlic tưởng tượng đến cảnh bọn cùng lớp sẽ kéo đuôi nó, còn nó thì cố bứt ra với tiếng kêu ụt ịt. Và nó cũng chẳng biết kêu với ai bởi không một người nào có thể nói chuyện với lợn được.
Càng nghĩ đến cuộc sống động vật sắp đến, Tôlic càng thấy hộp diêm nguy hiểm cho mình. Nó cảm thấy như hộp diêm đang cháy trong tay nó. Tôlic quyết định từ biệt hộp diêm, chôn hộp vào lòng đất, rồi đi thẳng.
Đi qua một dãy nhà, Tôlic lại thấy cửa hàng bánh mỳ. Rõ ràng, hôm nay mọi con đường đều dẫn đến hiệu bánh mỳ này và bên cạnh cửa hàng là người công an quen biết đang đứng gác.
Tôlic nhanh chóng chạy sang phía bên kia đường phố và định quay về nhà thì bất thần suýt va phải ông béo. Ông ta từ cửa hàng thực phẩm đi ra. Bây giờ ngoài cái túi nặng ra, trên tay ông ta còn mấy gói to nữa. Từ những chỗ hở lộ ra những miếng dồi nhân thịt to lớn. Còn chính ông ta dường như cũng béo hơn và nụ cười trên cặp môi dày càng khó nhìn hơn.
Ông béo không nhìn thấy hoặc đã quên Tôlic, và chính điều đó càng làm Tôlic tức giận hơn.
Tôlic suy nghĩ: đây chính là lúc phải trả thù ông béo. Nó muốn trả thù đến mức chẳng còn biết sợ công an, nó vội vã chạy băng qua đường. Nó sợ rằng ông béo sẽ đi khỏi trước khi nó kịp quay trở lại.
Tôlic đào đất, hộp diêm vẫn còn ở chỗ cũ. Nó cầm lấy hộp diêm và chạy ngược lại.
Ông béo đã đi qua góc đường. Tôlic quay mặt vào tường của một ngôi nhà, bẻ một que diêm và lầm bầm:
- Tôi muốn người ta bắt ông béo này vô đồn công an.
Ông béo hầu như đã đi khuất sau góc đường. Người công an đi lại trên đường phố. Bỗng anh ta dừng lại và nhìn theo ông béo một cách nghi ngờ, rồi đưa còi lên miệng thổi. Anh công an băng qua đường và đuổi kịp ông béo:
- Này, công dân, hãy đi theo tôi.
Ông béo không hiểu, hỏi lại:
- Anh nói với tôi?
- Vâng, với ông.
- Nhưng vì sao? Tôi đã làm gì?
- Không biết, cứ đi theo tôi.
Ông béo thở ra nặng nhọc, sửa lại mấy gói đồ rồi lẳng lặng bước theo anh công an.

Mẹ ra mở cửa cho Tôlic. Điều đó chẳng có gì là tốt đẹp. Nó nghĩ là mẹ đã đi làm và chiều tối bà mới trở về. Lúc ấy Tôlic có thể đi ngủ sớm một chút. Và sẽ không ai đánh thức đứa con độc nhất dậy để la mắng về những chuyện ban sáng.
- Thế … - mẹ nói.
Tiếng “thế” kéo dài của mẹ cũng chẳng hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Tôlic lẳng lặng đi ngang qua bà, vào buồng tắm. Đầu tiên nó mở vòi nước nóng, rồi vòi nước lạnh, rồi điều chỉnh cho nước đủ ấm để rửa tay thật lâu. Mẹ đứng ngoài cửa buồng tắm, im lặng theo dõi Tôlic. Cần phải rửa mặt nữa. Rửa bằng xà phòng. Nhưng mẹ vẫn không đi. Khi ấy Tôlic lấy bàn chảy ra đánh răng. Mẹ không kiềm chế được.
- Mày ở đâu về? – mẹ nặng nền hỏi.
- Ơ … cu … hơ … - Tôlic trả lời, không lấy bàn chải ra khỏi miệng.
- Đặt bàn chải xuống !
Tôlic lấy bàn chải ra rồi hớp một ngụm nước.
- Mày ở đâu về? – mẹ lại hỏi.
- Nước lạnh quá – Tôlic nói và mở thêm nước nóng.
- Tao hỏi: mày ở đâu về?
- Con? – Tôlic nói.
Mẹ lấy khăn lau miệng Tôlic, rồi lôi nó ra khỏi buồng tắm. Tôlic muốn lẻn vào phòng mình, nhưng mẹ đã tóm cổ nó lôi vào bếp và ấn xuống ghế. Trước mặt Tôlic là đĩa xúp đã nguội. Tôlic nhanh nhẹn cầm lấy thìa, mong trốn tránh trả lời.
- Không được ăn ! – mẹ nói.
- Mà con cũng chẳng muốn ăn – Tôlic nói nhẹ nhàng – Mẹ biết không, con chẳng thấy ngon miệng.
- Tao sẽ cho mày biết thế nào là “chẳng muốn” ! Ăn ngay lập tức !
Tôlic thả ngay thìa vô đĩa xúp. Nhưng mẹ đã biể ngay sơ suất của mình.
- Đặt thìa xuống ! Trả lời đi, mày đã ở đâu?
- Mẹ biết không, con đi ngoài đường phố, xe cộ quá nhiều.
- Tao bị trễ làm rồi – mẹ nói – Tao cứ đứng bên cạnh cửa sổ. Tao nghĩ là mày đã bị chẹt ô tô rồi chứ.
- Đấy không phải là con, mà là Rưxacôp. Nhưng mẹ đừng sợ, họ đã đưa ông ta vào bệnh viện.
- Mẹ sợ là con lớn lên sẽ trở thành một kẻ vô lương tâm – mẹ nói, mắt ngấn lệ.
Bây giờ Tôlic mới thực sự không muốn ăn. Nó rất khó chịu khi mẹ khóc. Nó không biết phải làm gì. Nó đau đớn nhìn mẹ. Và muốn chạy ngay ra khỏi nhà để khỏi nhìn thấy mẹ khóc. Nhưng bây giờ thì không thể chạy được.
Tôlic đến gần an ủi mẹ.
- Mẹ biết con đã thấy những gì ở ngoài phố không? Trên đường phố có một ông béo đi mua dồi nhân thịt. Một thằng bé lấy cắp dồi của ông ta rồi bỏ chạy. Anh công an đuổi theo nó. Con cũng đuổi theo. Rồi con đuổi kịp nó trước tiên. Anh công an cám ơn con và ghi địa chỉ để gọi điệnt hoại cho nhà trường. anh công an ấy đã bị bọn tội phạm làm bị thương. Còn con …
Nhưng mẹ không cho Tôlic kể về bọn tội phạm.
- Câm đi, đồ ba hoa – mẹ tức giận – Tại sao với người khác thì chẳng có gì xảy ra. Còn mày thì lúc nào cũng gặp tội phạm. Tao đã chán những lời nói láo của mày rồi. Ba ngày nữa, không được ra đường phố !
Tôlic lo lắng ngồi xuống ghế. Tất nhiên nó có lỗi. Làm mẹ bực dọc. Nhưng ba ngày – quả là nhiều. Mong sao cả ba ngày bà đừng khóc.
Mẹ chăm chú nhìn vào đôi chân của Tôlic, Tôlic cũng nhìn nhưng không thấy gì đặc biệt. Và mẹ cũng chẳng thấy gì. Nhưng mẹ nghe. Thật là kỳ diệu, người mẹ nào cũng có đôi tai rất thính. Ngoài ra họ còn có đôi tay khéo léo. Như những nhà ảo thuật.
Chỉ tích tắc bàn tay của mẹ đã nằm trong túi quần của Tôlic và lôi ra một hộp diêm.
- Tôlic, con hút thuốc? ! – mẹ hoảng sợ nói.
Tôlic nhìn hộp diêm. Tôlic quên bẵng đi và bây giờ nó hiểu là cần phải làm gì.
Nó giật lấy hộp diêm trên tay mẹ, chạy vào buồng tắm và bẻ một que.
Khi Tôlic quay ra bếp, mẹ nhìn nó với nụ cười sung sướng. Bà ôm Tôlic vào lòng, xoa đầu và hôn má:
- Đứa con trai tuyệt diệu của tôi – mẹ nói.
- Ư – hư – Tôlic trả lời.
- Con đã giật hộp diêm thật nhẹ nhàng – mẹ nói – Mẹ mừng biết chừng nào. Con quả thật là một nhà thể thao chính cống.
- Mẹ, mẹ có đi làm không? – Tôlic hỏi.
- Không, con ạ, hôm nay mẹ không đi. Làm sao mẹ có thể đi làm được nếu như cần hâm nóng xúp cho con? Bởi vì con rất mệt, con bé bỏng của mẹ ạ, con phải leo lên đến tầng bốn với cái bánh mỳ khốn khổ này. Còn mẹ thật là vô ý không xuống đón con. Còn bánh mỳ, sao họ bán cho can bẩn quá ! Để mẹ chạy đi mua cái mới.
- Không cần mẹ ạ. Chính con làm bẩn bánh đấy mà. Con lấy bánh mỳ làm bóng đá đấy - Tôlic nói, quyết định thử sức mạnh huyền bí của hộp diêm.
- Bằng bánh mỳ? Đá bóng? – mẹ hỏi và tươi cười hạnh phúc – Con thật giỏi ! Mẹ đoán ra rồi. Con không có bóng nên phải lấy bánh mỳ để đá. Mẹ thường nói, con là một đứa bé có óc sáng tạo. Nhưng mẹ sẽ mua bóng cho con. Có thể, một lúc nào đó con sẽ thích đá bằng bóng. Nhưng con đừng nghĩ là mẹ bắt con đá bằng bóng. Nếu muốn con cứ đá bằng bánh mỳ.
- Hãy mua hai trái bóng. Cả gậy hốc-cây Canada(1) nữa. Và hai quả sai-ba(1) – Tôlic nói.
- Nhất định rồi – mẹ trả lời.
Với đôi bàn tay khéo léo, mẹ nhanh chóng chuẩn bị thức ăn cho Tôlic và chỉ vài phút sau trước mặt nó đã có xúp nóng, bittêt và cả một đĩa dứa hộp dự định sẽ dùng vào ngày lễ.
Mẹ ngồi đối diện Tôlic, với nụ cười hiền hậu hình nó đưa lên miệng khoanh dứa vàng.
- Tại sao con không ăn xúp và bittêt? – mẹ lo lắng hỏi.
- Con không thích.
- Đúng – mẹ nói – con cứ làm những gì mà con thích.
Tôlic đã ăn no dứa. Nó đút tay vào túi kiểm tra xem hộp diêm có còn không. Mẹ chăm chú theo dõi. Nghe tiếng sột soạt của mấy que diêm, mẹ thở ra nặng nhọc.
- Khi nhìn thấy hộp diêm mẹ rất hoảng, Tôlic ạ. Mẹ nghĩ ngay là con đã bắt đầu hút thuốc. Mẹ hoảng bởi vì ở tất cả các chửa hiệu người ta để treo những thông báo nhảm nhí “Trẻ con dưới 16 tuổi không được vào nơi bán thuốc”. Mà con thì mới 11 tuổi. Điều đó thật là kinh khủng tự con sẽ không mua được thuốc hút. Thôi được, mẹ sẽ mua giúp con.
Tôlic nhìn mẹ. Có lẽ mẹ đùa chăng? Đùa với cái thứ khói ngu ngốc ấy?
Nhưng mẹ không đùa. Khuôn mặt phúc hậu của mẹ đầy thỏa mãn khi nhìn và nói chuyện với Tôlic. Bây giờ bà sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của con trai. Tôlic nghĩ, nếu như bất ngờ mà mình hôn mẹ thì có lẽ bà sẽ lại khóc, nhưng lần này sẽ là nước mắt của hạnh phúc. Bỗng nhiên Tôlic thấy ái ngại, dường như chính nó đã bắt mẹ phải làm những điều không tốt, dường như nó đang lừa dối mẹ. Còn mẹ, thì như một đứa trẻ dễ tin và biết vâng lời, mẹ trở nên quá hiền lành và không còn là một người mẹ thực nữa.
Nhưng điều đó, Tôlic lại nghĩ, cũng không đến nối xấu. Cuối cùng thì dứa hộp vẫn hấp dẫn hơn nhiều so với những cái bợp tai. Còn ba trái bóng và một gậy Canada cũng không đến nối. Và nếu phải tìm thủ phạm thì thủ phạm cũng không phải là Tôlic mà là những que diêm và thằng bé với đôi mắt xanh kỳ di kia.
Song để mẹ hiểu đúng mình, Tôlic tuyên bố là nó không hút thuốc và sẽ không bao giờ hút thuốc. Nghe điều đó bà cũng tỏ ra phấn khởi như trước đây, khi bà nghĩ là Tôlic đã bắt đầu hút thuốc.
Sau đó mẹ đi xếp sách vở vào cặp cho Tôlic. Mẹ tự kiểm tra theo thời khóa biểu để xếp những thứ cần thiết và không quên một thứ gì.
Tiễn Tôlic đi học, mẹ hôn nó, mở cửa cho nó và đứng vẫy tay một lúc cho đến khi Tôlic đi xuống hết cầu thang.
Xuống đến nơi Tôlic dừng lại. Nó sờ tay vào túi, chạm hộp diêm và mỉm cười khoái chí.
Một cuộc sống mới, hoàn toàn huyền bí, bắt đầu.

Khi Tôlic vào lớp học, tất cả đã ngồi vào vị trí của mình. Anna Gavrilôvna chỉ cái gì đó trên bản đồ. Nghe thấy tiếng mở cửa, cô giáo quay ra:
- Chào Rưzcôp – Anna Gavrilôvna nói – Tại sao em đi muộn?
- Em?
- Vâng, em – cô giáo nói.
- Em … - Tôlic mở miệng, tần ngần.
Cô giáo mỉm cười.
- Chưa kịp nghĩ cách phải không?
- Em … không – Tôlic ngập ngừng.
- Ngồi vào chỗ Rưzcôp. Chúng ta sẽ nói chuyện sau giờ học – Anna Gavrilôvna quay lại phía bản đồ và tiếp tục giảng. Tôlic ngồi vào chỗ mình, bên cạnh Misca.
- Thả rồi à? – Misca hỏi.
- Cậu không nói với ai chứ?
- Không.
- Bây giờ cậu cứ nói, tớ chẳng sợ đâu – Tôlic thì thầm, vỗ nhẹ vào túi quần.
- Cậu có cái gì vậy? – Misca hỏi.
- Có gì đâu. Biết nhiều sẽ nhanh già đấy – Tôlic trả lời.
- Rưzcôp, Pavlôp ! – Anna Gavrilôvna nói, không quay lại.
Misca và Tôlic nín lặng và bắt đầu nghe. Anna Gavrilôvna kể về những thay đổi của bản đồ đất nước sau 10 năm. Cô nói về những đập thủy điện sẽ xây dựng trong thời gian tới. Cô nói về những dòng sông, về sự mở rộng lòng sông gần như ngang tầm với biển.
- Bây giờ tớ có thể bơi qua bất cứ con sông nào – Tôlic thì thầm.
Masca nhìn nó và im lặng gập ngón tay gõ vào trán. Nhưng Tôlic không thèm giận. Bởi Misca chẳng biết gì hết.
Sau đó Anna Gavrilôvna kể về kho báu sẽ được khai thác dưới đáy đại dương. Nào là rong tảo có thể ăn được, nào là dầu lửa và những thứ gì đó mà Tôlic không nghe được vì lúc này nó đang nói với Misca:
- Bây giờ tớ có thể bơi qua bất cứ đại dương nào.
Misca lại gõ ngón tay vào trán. Lần này thì Tôlic giận.
- Chính cậu mới ngu – Tôlic nói – Không biết gì thì im đi
- Rưzcôp – Anna Gavrilôvna nói – nhắc lại điều tôi vừa nói.
Tôlic đứng dậy
- Cô nói về những đập nước và về rong tảo ạ.
- Tôi đã nói gì về đập nước và rong tảo?
- Chúng có thể ăn được.
- Có thể ăn được đập nước? – Cô giáo hỏi.
Cả lớp cười ồ. Misca cũng cười. Tôlic tức giận thật sự. Nếu như bọn chúng biết là nó có cái gì trong túi thì chúng sẽ hết cười ngay, mà còn khóc vì thèm muốn nữa là khác.
- Đập nước không thể ăn được – Tôlic lầm bầm – Chúng bằng sắt.
- Đập nước bằng bêtông – cô giáo chữa lại – Tôi cho em hai điểm vì thiếu chú ý nghe giảng.
Tôlic không muốn nhận điểm hai. Nó chưa bị điểm kém nào trong học kỳ này. Thật là khó chịu – Lần đầu tiên phải nhận điểm hai. Tôlic đút tay vào túi.
- Ôi, cô Anna Gavrilôvna, em có thể ra ngoài một phút? – Tôlic nói.
- Cái gì đấy?
- Em … em mệt.
Cô giáo nhún vai:
- Đi đi.
Tôlic bước ra cửa. Cô giáo mở sổ và viết điểm hai đối diện với tên Rưzcôp.
Tôlic trở lại lớp ngay. Nó khiêm nhường ngồi xuống bên cạnh Misca và nhìn về phía cô giáo. Anna Gavrilôvna ngẩng đầu:
- Rưzcôp – cô nói – tôi đã cho em điểm hai về sự thiếu chú ý. Còn bây giờ … tôi sẽ … sửa lại thành điểm … năm. Cần phải làm như thế. Rưzcôp, em … là … một học sinh … rất tốt.
Cô Anna Gavrilôvna mệt mỏi lau trán.
- Hôm nay chúng ta dừng ở đây – Cô giáo nói và bước nhanh ra khỏi lớp.
Cả lớp càng nhìn về phía Tôlic. Chúng chẳng hiểu gì cả. Chúng nó hiểu cô Anna Gavrilôvna từ lớp một. Cô rất công bằng, không bao giờ thien vị một học sinh nào. Nếu trả lời tồi thì cô cho điểm hai, trả lời tốt - điểm năm. Tôlic hầu như lúc nào cũng trả lời tốt. Nhưng riêng hôm nay, điểm hai dành cho nó là xứng đáng.
Cuối cùng Lêna Seglôva không kiềm chế được.
- Này Rưzcôp – cô bé nói – Học sinh giỏi Rưzcôp, hãy nói thử về đập nước bằng sắt xem.
Ngay lập tức bọn trẻ rời chỗ của mình và vây quanh bàn của Tôlic.
- Học sinh giỏi ! Học sinh giỏi ! Ăn đập nước ! – bọn trẻ đồng thanh.
- Có thể cô ấy đùa – Tôlic chống đỡ - Có thể cô giáo bị đau đầu nên đi ra ngoài.
- Cô ấy không đùa một tí nào – Lêna nói – Chính mắt tớ thấy cô ấy sửa điểm hai thành điểm năm. Vì cậu nên cô ấy mới bỏ đi.
Còn cậu bé chơi đàn viôlông Lênha Traviy thì nói:
- Cậu phải xin lỗi cô Anna Gavrilôvna.
- Tại sao tớ phải xin lỗi? – Tôlic giận dữ - Tớ có cho điểm đâu? Chính cô ấy cho điểm. Tớ không chịu trách nhiệm thay cho cô ấy.
- Thế thì chúng ta cùng đi đề nghị cô giáo sửa điểm năm thành điểm hai lại cho cậu. Như thế mới công bằng – Lênha nói.
- Cứ việc – Tôlic cười ranh mãnh – Cô ấy sẽ không nghe cậu đâu. Tốt hơn là cậu đi kéo viôlông.
- Ai cùng đi gặp cô giáo với tôi nào? – Lênha hỏi.
Nhưng không hiểu sao, chẳng ai muốn đi. Kể cả Lêna Seglôva thường tự cho mình là người biết bênh vực lẽ phải nhất trong lớp. Ngược lại, bọn trẻ lần lượt về chỗ của mình. Rời bàn Tôlic, Lêna nói:
- Đồ hèn.
- Sau giờ học sẽ biết – Tôlic đe dọa.
Chỉ còn một mình Lênha đứng lại bên bàn.
- Thế thì tớ sẽ đi một mình – Nó nói.
Bất thình lình Misca đứng dậy:
- Tớ cũng đi.
- Đi đi, xin mời ! – Tôlic tức giận – Rồi các cậu cũng chẳng đạt kết quả gì đâu. Còn cậu – Tôlic quay sang Misca – là dồi phản bội.
- Tớ không phản bội gì hết. Tớ thấy là phải đi, thế thôi. Còn nếu cậu muốn thì tớ sẽ kể về chuyện công an.
- Ha – ha – ha – Tôlic nói – Cậu cứ nói xem tớ có sợ không.
Vừa lúc đó cửa mở và thầy hiệu trưởng dòm vào lớp. Bọn trẻ ngồi nín lặng. Học sinh lớp bốn rất sợ thầy hiệu trưởng. Và cả lớp năm, lớp sáu, lớp bảy, lớp tám đều sợ. Bởi vì thầy muốn đuổi ai tùy ý.
- Giờ gì đây? – Thầy hiệu trưởng hỏi.
- Địa lý – Lêna Seglôva trả lời.
- Anna Gavrilôvna đâu?
- Cô ấy … đi khỏi.
- Đi đâu?
Cả lớp im lặng. Bọn trẻ không muốn phản cô giáo. Có thể, cô sẽ bị khiển trách về chuyện bỏ đi vì Tôlic. Và nếu như thầy hiệu trưởng biết được cô sửa điểm hai thành điểm năm thì có khi cô bị đuổi cũng nên.
Cuối cùng, Lênha đang chuẩn bị chuyển vào trường âm nhạc nên ít sợ thầy hiệu trưởng hơn, nói:
- Chắc là cô ấy bị đau đầu.
- Hừ - thầy hiệu trưởng lắc đầu đi ra.
Cả lớp lại nhào về phía Tôlic. Chúng la lên rằng, do Tôlic mà cô Anna Gavrilôvna sẽ bị khiển trách. Và có thể, cô sẽ bị đuổi khỏi trường. Lúc ấy tốt hơn hết, Tôlic đừng mò đến lớp nữa. Lêna Segiôva đề nghị đi gặp thầy hiệu trưởng, kể lại tất cả sự thật, rồi đề nghị thầy tha lỗi cho cô giáo.
Bọn trẻ phản đối Lêna. Chúng cho rằng làm như thế, thầy hiệu trưởng sẽ biết hết mọi chuyện. Còn cứ im lặng thì chưa chắc thầy đã biết. Lớp học ồn ào đến mức chẳng ai biết cô Anna Gavrilôvna vào lớp từ lúc nào.
- Tại sao các em lại ồn vậy? – Cô giáo nói – Chẳng lẽ không thể để các em tự quản một phút hay sao ! Tất cả về chỗ ngồi !
Bọn trẻ nhanh chóng ngồi vào chỗ, chờ đợi. Chúng muốn biết thầy hiệu trưởng nói gì với cô giáo. Cũng có thể thầy hiệu trưởng chưa gặp cô giáo? Tốt hơn là đừng gặp. Không học sinh nào muốn cô bị đuổi khỏi trường. Điều đó cũng có thể xảy ra lắm, bởi thầy hiệu trưởng là người quan trọng nhất trong trường.
Anna Gavrilôvna ngồi xuống ghế, bóp trán. Dường như cô muốn nhớ lại một điều gì đó nhưng không thể nhớ ra. Cả lớp im lặng.
Lêna Seglôva là người đầu tiên phá tan bầu yên tĩnh.
- Thưa cô – cô bé nói – thầy hiệu trưởng vừa mới đến đây ạ.
- Tôi biết – cô giáo gật đầu.
- Chúng em nói rằng cô bị đau đầu …
Cô giáo nhìn cả lớp một lượt. Bọn tre lấy làm hài lòng, rằng bọn chúng đã khéo nói dối thầy hiệu trưởng và bảo vệ Anna Gavrilôvna. Cô giáo mỉm cười và những nếp nhăn trên trán biến mất.
- Các em quả là những đứa trẻ mưu trí – cô giáo nói – Thế mà tôi vẫn tưởng …
- Tất nhiên, thưa cô – Lêna trả lời – cô đừng sợ, chúng em sẽ không nói với một ai.
- Các em sẽ không nói cái gì?
- Không nói chuyện cô cho Rưzcôp điểm năm.
- Không hiểu gì cả - Anna Gavrilôvna nói – Tất nhiên tôi đã cho điểm năm. Tại sao phải giữ bí mật? Rưzcôp trả lời rất tốt. TÔI CẦN PHẢI cho cậu ta năm điểm.
Bọn trẻ nhìn nhau. Chúng không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra với cô giáo. Một thời gian dài hầu như chúng đã quên Tôlic. Còn Tôlic thì ngồi sút lưng xuống gần như cúi dưới bàn để ít bị chú ý. Chỉ có nó là biết chuyện gì xảy ra.
- Không hiểu gì cả - anna Gavrilôvna lặp lại – Tại sao các em lại nhìn tôi như vây? Điều gì đã xảy ra, Seglôva?
- Em … em không biết ạ - Lêna miễn cưỡng trả lời, rồi ngồi xuống.
Cô giáo nhìn Tôlic một cách thiếu tự tin:
- Rưzcôp, em có thể giải thích chuyện gì đã xảy ra chăng? Tại sao cả lớp lại tỏ ra lo lắng về điểm của em vậy?
- Em … em không biết.
Tôlic đứng lên nghiêng đầu về một phía, dường như chính nó cũng không hiểu. Vào lúc ấy một cục giấy thấm vo tròn bắn vào tai cậu.
- Grômôp, ra khỏi lớp ngay – cô giáo nói.
Ghênha Grômôp lẳng lặng bước ra cửa. Đây không phải là lần đầu nó bị đuổi ra khỏi lớp. Nhưng lần này thì cả lớp ái ngại nhìn nó, và se sẽ đưa cùi chỏ về phía Tôlic. Ngay cả Lênha Travin cũng giơ cùi chỏ, mặc dù chưa bao giờ nó đánh nhau – Lênha sợ hư ngón tay, khi ấy nó sẽ không thể trở thành một nghệ sĩ viôlông được.
Cửa đóng lại sau lưng Gômôp.
- Tôi đang chờ, Rưzcôp – Cô Anna nói.
Tôlic đỏ mặt, bẻ mấy ngón tay. Nó rất hối hận vì không cẩn thận. Nó đã hiểu là cần phải đạt điểm năm theo cách khác. Từ ngày mai nó sẽ nhận được hàng trăm điẻm năm. Còn bây giờ … bây giờ thì phải trả lời cô giáo đã.
- Em, thưa cô – nó bắt đầu nó, nhưng bỗng khuỵu xuống ghế - Xasa Ardukhanhan thò chân dưới bàn đạp vào khuỷu chân nó.
- Ardukhanhan, ngồi lên bàn đầu ! Cô giáo ra lệnh.
Và Xasa Ardukhanhan, một học sinh thường cãi lại cô giáo, lần này im lặng đi lên ngồi vào bàn đầu.
- Ngồi xuống, Rưzcôp – cô Anna nói. Cô đưa mắt nhìn cả lớp rồi tiếp – Tôi thường nghĩ là tôi và các em coi nhau như bạn bè. Và chúng ta đã thỏa thuận là mọi chuyện đều kể cho nhau nghe. Thế mà … tôi vừa ra khỏi lớp thì đã có chuyện gì xảy ra. Và các em không muốn nói với tôi. Tôi thấy các em bắt đầu đối xử với tôi không tốt …
- Không ! Không ! – Cả lớp đồng thanh.
Nhưng cô Anna tiếp tục:
- Hãy suy nghĩ và tự quyết định, chúng ta có nên tiếp tục quan hệ với nhau như trước không? Cái đó tùy các em. Còn tôi, tôi sẽ không phạt một ai hết. Kể cả Grômôp và Ardukhanhan. Thích thế nào thì cứ xử sự thế ấy.
Chuông điện báo hết giờ. Cô giáo cầm kẹp sách đi ra khỏi lớp. Bọn trẻ im lặng. Xasa Ardukhanhan nói:
- Thôi được, Rưzcôp, sau buổi học sẽ biết.

Tan học, Tôlic ra khỏi lớp cuối cùng. Cậu không ra đường phó ngay, mà đi dọc theo những hành lang trống rỗng, rồi dòm vào phòng thể thao. Ở đây học sinh lớp mười đang chơi bóng rổ. Tôlic lẻn vào phòng rồi ngồi xuống một chiếc ghế trong góc. Mấy phút trôi qua không ai để ý đến nó, nhưng sau đó bóng bay tới. Một học sinh lớp mười mồ hôi đầm đìa chạy ra nhặt bóng, hét vào mặt Tôlic:
- Mày làm gì mà ngồi một cục đó?
- Tôi không ngồi một cục – Tôlic phản đối.
- Mày còn hỏi lại nữa à ! – thằng lớn quát.
Tôlic đứng dậy và lẳng lặng đi ra cửa. Tốt hơn là không nên cãi nhau với bọn lớp mười. Nhất là khi chúng đang thua. Khi thua thì chúng cáu gắt không vì một cái gì, với bất cứ ai.
Tôlic leo lên tầng hai, nhìn vào phòng đội viên. Ở đấy không còn một ai. Trên tầng ba cũng vắng vẻ. Ở cuối hành lang có tiếng động. Tôlic đi tới đó và thấy bà giúp việc trong trường đang lau nhà. Bà đụng phải Tôlic nhưng không nói gì. Tôlic đứng nhìn bà lau. Cuối cùng, bà hỏi:
- Sao cháu chưa về nhà? Hôm nay tivi có chương trình thiếu nhi đấy.
- Hết rồi. Chương trình thiếu nhi có từ năm giờ kia.
- Nhưng cũng phải về nhà đi chứ. Đừng cản trở tôi làm.
- Thế bà có muốn cháu giúp không? – Tôlic đề nghị.
- Hôm nay cháu làm sao vậy? – bà dọn trường ngạc nhiên.
- Nói chung là cháu ưa giúp đỡ - Tôlic nói.
- Tôi nói là đi về đi – bà ta nổi giận – Lớn lên có khối việc để làm.
Không biết làm gì, Tôlic chậm rãi đi xuống cầu thang. Nó cẩn thận hé cửa nhìn ra đường. Sau hàng rào trường, trên vỉa hè mấy đứa cùng lớp đang đứng. Tôlic thấy đau bụng. Nó hi vọng là chúng nó về hết. Nhưng chúng không về. Chúng chờ Tôlic, không phải để rủ nó đá bóng hoặc chơi khúc côn cầu, chúng muốn choảng cho Tôlic một trận.
Ở đấy có Ghênha Grômôp, Xasa Ardukhanhan, Lênha Travin, Misca Pavlôp cũng đứng cạnh đó. Misca sẽ không đánh, đúng hơn là nó sẽ bênh vực, bởi dù sao thì Tôlic cũng là bạn nó. Travin thì không cần tính đế. Cậu ta biết sẽ được đối xử thế nào nếu về nhà với đôi tay sây sát. Nhưng Grômôp và Ardukhanhan sẽ không bỏ phí thời gian chờ đợi. Chúng luôn luôn đi với nhau và bênh vực nhau. Bọn lớp năm cũng phải sợ chúng nữa là.
Tôlic thở ra và đút tay vào túi. Nó không muốn phí diêm vào những chuyện nhảm nhí như thế này. Nhưng biết làm thế nào được. Nó không thích nhận thêm những cú đấm nữa.
Tôlic lấy hộp diêm ra. Trước khi bỏ que diêm nó liếc nhìn ra cửa một lần nữa. Có thể chúng sẽ đi chăng? Chúng vẫn đứng. Được thôi, như thế lại càng xấu hơn cho chúng. Bây giờ Tôlic biết cần ước cái gì. Nó sẽ ước điều mà bọn kia không hề đợi.
Tôlic bẻ một que diêm. Hấp tấp quá, nó quên mất Misca – Nó đọc thần chú cho tất cả bọn ngoài đường mà không loại trừ Misca. Tôlic đi ra đường phố. Bọn trẻ đã nhìn thấy nó.
- Lại đây, lại đây – Ardukhanhan nói – Lại đây, đừng sợ, con ạ. Vì mày mà cô Anna đã cãi nhau với bọn tao. Bây giờ mày sẽ biết.
- Tôlic, đừng sợ ! – Misca kêu lên.
- Còn cậu, Pavlôp, tốt hơn là đi đi – Grômôp nói – Không thì cậu cũng sẽ được lãnh đủ đấy.
- Đừng cản trở, Pavlôp. Tớ cũng không cản trở - Lênha Travin nói và đút bàn tay quý giá của mình vào sâu trong túi.
- Yên trí, tớ không sợ đâu ! – Tôlic kêu tô. Và để chọc tức, nó nói thêm – Tớ coi khinh các cậu. Hiểu không?
Tôlic đến gần và đứng trước mặt Ardukhanhan. Khi ấy Misca cũng đi đến gần và đứng sau Tôlic. Còn Ghênha Grômôp thì đưgns sau Misca.
- Đúng, đừng sợ con ạ - Ardukhanhan nói và đá vào giày Tôlic nhưng bị trượt.
- Đúng, tớ không sợ đâu – Tôlic trả lời và đá vào giày Ardukhanhan.
- A, ra thế? – Ardukhanhan nói.
- Ừ, thế - Tôlic trả lời.
- Thế đấm đi – Ardukhanhan nói.
- Cậu đấm trước đi – Tôlic trả lời.
- Tớ đấm đây.
- Thử xem.
- Tớ thử đây.
- Sao cậu không đấm đi?
- Tớ đấm đây – Ardukhanhan nói, vung tay đấm Grômôp.
- Cậu đấm ai đấy? – Grômôp la lên và đấm vào Misca.
- Cậu đứng như trời trồng thế ! – Misca kêu lên và đấm vào Lênha Travin.
Lênha Travin rất ngạc nhiên. Suy nghĩ một lúc nó rút đôi bàn tay quí giá của mình ra khỏi túi và tụi vào Ardukhanhan. Bắt đầu một cuộc ẩu đả. Grômôp, Ardukhanhan, Travin và Misca đấm lẫn nhau, còn có Tôlic đứng bên cạnh, nhưng hình như bọn chúng không nhìn thấy Tôlic. Chugns vừa đánh vừa la:
- Này, cho mày vì cô Anna Gavrilôvna!
- Này, cho mày vì điểm năm.
Nói chung, bọn chúng chỉ la hét về Tôlic, nhưng lại thụi lẫn nhau. Tiéng ồn làm mấy con quạ đang ngủ đêm dưới mái trường học phải nhìn xuống, rồi vỗ cánh bay đi nơi khác.
Lạ lùng nhất là Ardukhanhan luôn luôn tìm cách đấm Grômôp, mặc dù chúng nó thân nhau từ lớp một. Còn Travin không có lỗi gì thì phải chịu những cú đấm của Misca. Bản thân Travin lại không để ý đến Misca. Nó xông vào vặn tai Ardukhanhan bằng những ngón tay âm nhạc của mình. Cuộc ẩu đẩ kéo dài cho đến khi có một người đàn ông với cái chổi xể trên tay đi qua. Có lẽ ông ta đi từ nhà tắm ra bởi mặt ông đỏ và đầy hơi nước. Không nghĩ lâu, ông lấy chổi quất vào lưng Travin, sau đó lôi Ardukhanhan ra khỏi Grômôp và dọa:
- Bọn bay có muốn vào đồn công an không?
Ông ta không kịp nó thêm một lời thì tại chỗ đánh nhau đã không còn một ai. Travin, Ardukhanhan và Grômôp biến mất. Chúng chạy rất nhanh mặc dù không có ai đuổi theo. Còn Misca và Tôlic chạy qua hai dãy nhà rồi đi chậm lại.
- Thật chẳng hiểu ra sao – Misca nói sau khi đã thở dốc – Không biết tại sao tớ lại đánh nhau với bọn chúng. Tớ định bênh cậu. Còn bọn chúng thì chẳng đụng đến cậu nữa. Tớ không muốn đánh nhau. Nhưng có điều cậu biết không – Misca nhìn quanh rồi thì thầm: - Tay tớ dường như tự vung lên. Thật mà ! Tớ muốn đi ra một phía nhưng hình như có ai đấy giữ tớ lại. Còn tay thì tự động vung lên … Và thế là tớ - bụp ! bụp ! Mặc dù chính tớ không muốn.
Tây của cậu, Misca, đúng là tự nó vung lên – Tôlic khẳng định – Cậu không có lỗi. Lỗi là tại tớ. Khi nãy tớ đã dự định cho tất cả mà quên trừ cậu ra.
- “Dự định” nghĩa là làm sao? – Misca ngạc nhiên.
- Thế này. Cậu biết tớ có cái gì không?
- Cái gì?
- Cậu không nói với ai chứ?
- Thế tớ đã nói về chuyện công an chưa? Misca giận dỗi.
- Thì nghe đây – Tôlic nói – Đầu tiên chắc là cậu không tin. Nhưng tớ sẽ chứng minh cho cậu thấy. Tớ có …
Nhưng Tôlic lặng thinh. Nó đột nhiên nghĩ rằng không nên kể về cái hộp cho Misca nghe. Tất nhiên, Misca là bạn thân. Nó đã không nói với ai về chuyện công an. Nhưng công an là một đằng, mà cái hộp lại là một đằng khác. Sau một ngày làm quen với những điều kỳ diệu, Tôlic có cảm giác là suốt cả cuộc đời nó sẽ sống với cái hộp nay. Còn Misca có thể sẽ kể lại cho một người khác nghe. Và người ta sẽ lấy mất hộp diêm của nó. Hoặc sẽ ăn trộm. Có thể nói, Tôlic đã gặp may một lần trong cuộc đời. Tại sao phải đem điều đó trò chuyện với một kẻ gặp lần đầu? Tất nhiên, Misca không phải là người gặp lần đầu. Và Tôlic nhất định sẽ chia sẻ với nó. Tôlic sẽ đưa cho Misca năm que diêm. Hoặc cả mười que. Mà cũng có thể một nửa hộp. Nhưng không phải bây giờ. Lúc khác kia. Ngày mai. Hoặc ngày kia.
- Cậu có cái gì? – Misca nôn nóng hỏi.
- À, tớ chẳng có cái gì hết – Tôlic nói – Tớ đùa đấy.
- Cậu không nói dối đấy chứ? – Misca nghi ngờ hỏi.
- Không ! Thế tớ nói dối với cậu bao giờ nào? – Tôlic thảnh nhiên trả lời.
- Vì sao cậu bị công an bắt?
- Đi qua đường không đúng luật.
- Tớ muốn đi cùng với cậu vô đồn công an, nhưng sau đó tớ sợ quá – Misca thú nhận.
- Nhưng dù sao thì cậu cũng chẳng làm được gì – Tôlic nói – Họ mạnh gấp mấy lần cậu đấy thôi.
- Đúng, mạnh hơn – Misca đồng ý.
Hai đứa bé im lặng một lúc. Chúng đã đến ngõ nhà Tôlic. Misca hỏi:
- Tôlic, tại sao cô giáo cho cậu điểm năm? Chính tớ nghe cậu trả lời sai kia mà.
- Tớ dự định không đúng … - Tôlic bắt đầu và kiềm lại được. Tất nhiên nó dự định không đúng. Cần phải dự định để trả lời tốt. Nó đã bẻ que diêm và nói “Hay để cô giáo cho tôi điểm năm”. Thế là Anna Gavrilôvna không thể làm khác được. Cô bắt buộc phải cho điểm năm vì một câu trả lời tồi. Trong khi ấy cả lớp đều thấy điều đó. Bở Tôlic không dự định về bọn chúng. Nó sẽ không mắc những sai lầm như thế nữa. Nhưng lúc này Misca không nhất thiết phải biết về chuyện đó.
- Cái gì cậu dự định không đúng? – Misca hỏi – Đã hai làn cậu nói cái từ “dự đinh” rồi đấy.
- Nhưng tớ không có lỗi – Tôlic nói – Chính cô giáo tự cho điểm. Chính cậu cũng thấy đấy.
- Tớ thấy – Misca đồng ý – Nhưng tớ chỉ không hiểu vì sao.
- Tạm biệt, Misca – Tôlic nói – Ba tớ đang chờ.
- Ngày mai cậu đến chứ? Chúng mình sẽ làm cho xong chiếc máy bay.
- Cậu thích, tớ sẽ tặng cho cậu một chiếc máy bay thực – Tôlic cươi to.
Nhưng Misca, tất nhiên, không đoán được là Tôlic nói nghiêm túc. Nó đã quen với những chuyện bịa của Tôlic. Và theo thói quen, Misca lại gập ngón tay gõ vào đầu. Nhưng lần này Tôlic không giận, bởi nó nói hoàn toàn sự thật.
Tôlic nhảy vài bước và đã ở trên tầng bốn.
- Xin chào ông bạn – ba mở cửa.
- Tivi hết rồi hả ba? – Tôlic hỏi.
- Dành cho con thì hết rồi, nhưng cho ba thì mới bắt đầu – ba trả lời – Điểm hai đủ xài chứ?
Tôlic để cặp lên ghế.
- Chỉ toàn điểm năm thôi – nó trả lời qua loa – Mẹ ở nhà chứ ba?
- Mẹ đi làm. Con ăn không?
- Ba mở hộp dứa đi – Tôlic đề nghị.
- Tao sẽ cho chú mày dứa – ba đe dọa – Tao chỉ thấy ở đây một cái hộp không. Tác phẩm của chú mày phải không?
- Chính mẹ cho con.
- Tầm bạy – ba nói – Đã thỏa thuận là để dành cho ngày lễ tết rồi kia mà. Nói chung ba không hiểu, chuyện gì đã xảy ra với mẹ con hôm nay. Mẹ gọi điện thoại đến cơ quan đề nghị ba mua cho con hai quả bóng và hai quả sai-ba, một gậy Canada. Con cần gì tới hai quả bóng và hai quả sai-ba?
- Cần chứ - Tôlic nói – Con nói đùa đấy, chỉ cần một quả bóng và một quả sai-ba là đủ. Ba có mua không?
- Cần phải xem tư cách của chú mày thế nào đã – ba nói – Này, ông già, hãy tự chuẩn bị thức ăn nhé. Ba phải xem khúc con cầu đây.
- Ba cứ xem đi – Tôlic đồng ý – Con tự nấu lấy.
- Giỏi đấy ông già, chú mày đã là người lớn rồi đó – ba nói và chạy ngay đến bên tivi.
Ba hôm nay trông vui vẻ lạ thường. Có lẽ do đội bóng của ba. Ba thường gọi Tôlic là “ông già” khi ông vui. Và lúc ấy ông gọi mẹ là “bà già”. Mẹ không thích cách gọi đó. Còn Tôlic thì sao cũng được – ông già thì ông già.
Vào trong bếp, Tôlic múc hết nước dứa còn lại trông lọ ra. Sau đó nó đặt xoong súp lên bếp ga, rồi lấy hộp diêm trong túi ra và … quên ngay hâm xúp. Nó nhớ là hôm nay đã phung phí quá nhiều diêm. Ấy, giá như có thể làm lại ngày hôm nay từ đầu. Nghiêm chỉnh mà nói thì tất cả số diêm mất đi trong ngày hôm nay đều đang tiếc.
Que diêm đầu tiên do ông đại úy bẻ và bỏ vào cái gạt tàn, nhưng không nói gì nên nó mất đi như một que diêm bình thường.
Bằng que diêm thứ hai ông đại úy biến Daixep thành bồ câu. Tôlic không ưa Daixep. Nhưng Tôlic chẳng được lợi gì nếu như trên thế giới này mất đi một Daixep và thêm một con bồ câu !
Que thứ ba đưa ông béo vô đồn công an. Cũng không đến nỗi. Như thế lần khác sẽ hết cười. Mặc cho ông ta khóc cùng với những đứa con to béo của mình !
Que thứ tư cho mẹ. Tốt hay không, đièu đó chưa biết. Nhưng sẽ có bóng, gậy và sai-ba thì cũng đáng giá.
Que thứ năm – hoàn toàn dại dột. Vì nó phải chi thêm que thứ sau. Mà cái chính là bọn cùng lớp sẽ không quên điểm năm ấy, bởi Tôlic chưa đọc thần chú về điều đó. Từ chuyện này sẽ còn rắc rối nữa. Chẳng hạn, ngày mai Tôlic đến trường, thế nào bọn nó cũng xầm xì về điểm năm …
Tôlic thở ra. Không thể khác được. Cần phải tốn một que nữa.
- Hãy để cho bọn nó quên mọi chuyện về điểm năm.
Tôlic tiếc rẻ nhìn que diêm gãy. Đó là những quả bóng, những cây gậy Canada, những điểm năm, những hộp dứa và hàng trăm bịch kem. Tất cả những thứ đó mất đi cùng que diêm.
“Có thể, ta sẽ cầu thêm thêm một cái gì đó cần thiết?” – Tôlic nghĩ và đọc cái điều nảy ra trước tiên:
- Tôi muốn có một trăm cây kẹo kéo !
Tôlic nhìn trần nhà, nghĩ rằng kẹo kéo sẽ hiện ra ở đây. Nhưng trên trần chẳng có chiếc kẹo nào. Ở đấy chỉ có một con ruồi đầu tiên của mùa xuân đang ngồi lau tay.
Một que diêm chỉ thực hiện được một ước muốn.
Tôlic đổ tất cả diêm ra bàn rồi bắt đầu đếm.
Trong phòng ba ngồi vang lên tiếng hét inh tai từ tivi. Sau đó ba chạy ra, kêu:
- Ông già, chúng ta dẫn hai – không ! Chú mày sẽ có gậy Canada!
Tôlic nhanh chóng lấy tay che diêm, nhưng ba không để ý gì đến nó và lại biến vào trong phòng.
Tôlic lập tức thu dọn diêm và đi ngủ. Hôm nay nó rất mệt nên thiếp đi ngay. Nó mơ thấy một cuộc sống tuyệt diệu, ở đấy có thể ước muốn được mọi thứ. Nó mơ thấy cùng một lúc: một núi gậy Canada, hàng nghìn quả bóng, mơ thấy nó và Misca đang bay trên con tàu vũ trụ “Phương Đông – 1”, còn ba nó đứng ở phía dưới giơ tay lên đe dọa: “Chúng mày có xuống ngay không?!”

Sáng hôm sau Tôlic tỉnh giấc sốm. Nằm nguyên trên giường, nó cố nghĩ xem vì sao lúc này nó cảm thấy khoan khoái, dễ chịu như vậy. “Có cảm giác như hôm nay là ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè và tiếp theo là những ngày vui chơi bất tận – hàng ngày có thể bơi lội và không phải đến trường. Nói chung, nó cảm giác một cái gì đó đầy thú vị đang chờ đón ở phía trước, nhưng chính xác là cái gì thì không nghĩ ra.
Ngoài hành lang có tiếng chân bước nhẹ nhàng. Có lẽ mẹ đã dậy và im lặng đi vào bếp. Im lặng để không đánh thức Tôlic. Và vào bếp để chuẩn bị bữa sáng cho nó.
Tôlic nghe thấy tiếng lửa reo và tiếng xoong nồi lách cách. Rồi tất cả bỗng yên lặng – mẹ đã đóng cửa bếp.
Tôlic nhắm mắt và bắt đầu ngược theo thời gian ôn lại những việc đã xảy ra. Đây là cảnh Tôlic đang bay trên con tàu vũ trụ, ở phía dưới là ba, và bên cạnh là Misca trong bộ trang phục của nhà du hành. Còn nó vẫn trong bộ quần áo học sinh bình thường. Hình như nó ở phía ngoài con tàu. Nhưng Tôlic thở nhẹ nhàng và thấy ba đang ra lệnh cho chúng nó hạ cánh. Tôlic dõng dạc báo cáo: “Mọi việc đều trôi chảy. Sức khỏe các nhà du hành rất tốt” và tăng vận tốc con tàu. Tất nhiên, đây là mơ.
Tiếp theo là gậy Canada chất đống như củi. Đó cũng là mơ.
Ba chạy vào bếp kêu lên rằng chúng ta đã thắng hai – không. Đến nay không phải là mơ, vì trước đó đã … Rồi Tôlic đã nhớ lại trước đó là cái gì và thấy rợn người. Ngay lập tức nó sờ tay xuống dưới gối. Hộp diêm ở đây. “Hoan hô” – Tôlic reo. Tất nhiên là nó chỉ reo trong ý nghĩ, chỉ một mình nó nghe thấy. Reo thành tiếng sẽ không có lợi: mẹ có thể nghe được và tra hỏi tại sao nó lại kêu “hoan hô” mà đáng lẽ ra là phải đi đánh răng.
Hộp diêm nằm dưới gối. Lúc này có thể hiểu được là tại sao Tôlic thấy thoải mái và hoàn toàn không muốn ngủ. Hộp diêm không phải là thấy trong mơ. Đây là hộp diêm thần và Tôlic bây giờ trở thành người hạnh phúc nhất trên thế giới.
Cửa hé mở. Qua kẽ hở cso thể thấy đôi mắt lo lắng của mẹ.
- Con không ngủ à? – Tiếng mẹ khe khẽ.
- Con dậy từ lâu rồi – Tôlic trả lời, đẩy hộp diêm vào sau hơn.
- Chào con – mẹ nói và đi vào phòng – Mẹ đã chuẩn bị bữa sáng cho con – bánh kem với mứt mà con thíc. Dậy rửa mặt đi.
- Con không rửa cũng được chứ mẹ? – Tôlic hỏi.
- Tất nhiên là được – mẹ đồng tình ngay – Hãy để dơ, nếu con thích.
Tôlic nghi ngờ nhìn mẹ. Còn mẹ thì âu yếm nhìn Tôlic và mặt mẹ tỏa ra vẻ đôn hậu làm tan biến ngay nỗi khi ngại của nó: Hộp diêm vẫn còn hiệu lực.
- Con cũng sẽ không đánh răng ! – Tôlic tuyên bố.
- Tất nhiên rồi – mẹ nhíumày – mẹ không bao giờ đồng tình với những bà mẹ cứ ép buộc con mình phải đánh răng buổi sáng. Mẹ không phải là loại người đó. Trẻ con cần phải làm những gì chúng thích. Còn những bà mẹ thì phải thực hiện tất cả những ước muốn của chúng. Nếu không thì mẹ sống trên trái đất này để làm gì? Tất nhiên là chỉ để cho con – đứa trẻ quí giá và đáng yêu của mẹ.
Trong khi Tôlic ăn sáng, mắt mẹ không rời khỏi nó. Mẹ dõi theo từng cử động của Tôlic, lấy thêm mứt vào đĩa, đẩy cốc cà phê đến gần … Bà tỏ ra quá đỗi hạnh phúc khi nhìn Tôlic nhai bánh bằng hàm răng vàng khè.
- Cám ơn mẹ - Tôlic nó khi cầm cái bánh tho chín. Mẹ phật ý:
- Nói gì vậy Tôlic … Mẹ phải cảm ơn con mới phải chứ.
- Vì sao?
- Vì con ăn ngon miệng như thế.
- Không đáng – Tôlic nói – Mẹ à, con đi học bài đây.
- Con của mẹ thông minh thật – mẹ nói – Học giỏi đi. Con sẽ là bác học.
- Hay tốt hơn là con đi chơi? – Tôlic đề nghị.
- Tất nhiên, tốt hơn là con đi chơi ! – mẹ sung sướng – Con học bài làm gì kia chứ. Không phải mọi người đều phải là bác học. Tốt hơn là lớn lên vô học.
Đẩy sâu hộp diêm vào túi, Tôlic đi ra sân.
Mặt trời đã mọc từ lâu, nhưng trên sân chưa có ánh nắng. Mặt trời còn dạo chơi ở đâu đó trên các nóc nhà, làm rỏ xuống những giọt nước tí xíu. Ánh nắng chỉ đến sân này vào cuối ngày nên tuyết rất khó tan. Ở cuối sàn tuyết vẫn còn dày, hằng ngày bọn trẻ say sưa đuổi theo những quả sai-ba trên tuyết trắng.
Và lúc này cũng có bọn chúng – bọn cùng lứa với Tôlic và mấy đứa trẻ nhỏ hơn. Ra sân đầu tiên là các cậu bé nhỏ nhất: chúng không phải học bài. Chúng mang ra nào là gậy, nào là các mảnh gãy của batoong gậy chống, hòm hư và mọi thứ đồ gỗ vớ được. Chúng không có lấy một cây gậy thực, còn sai-ba thì chúng thay bằng một trái bóng cao su. Bọn trẻ chạy khắp sân hò hét, đánh vào chân nhau bằng những khúc gỗ nhỏ và tưởng tượng là đang chơi khúc côn cầu thật.
Ra sân muộn hơn là các cậu bé lớp ba, tư và năm, sau khi đã học thuộc bài. Bọn nhỏ hơn bị đuổi khỏi sân và trò chơi đã bắt đầu nghiêm chỉnh hơn một chút – đã có sai-ba thật và vài cây gậy thật.
Khi Tôlic ở nhà ra, giờ chơi của bọn trẻ nhỏ nhất đã kết thúc, tuy cũng còn một vài chú bé con nán lại trong sân, chạy đuổi theo sai-ba, nhưng chỉ cần bọn lớn hơn đẩy nhẹ một chút là cúng bay ra khỏi sân còn nhanh hơn bóng.
Bọn trẻ chơi không có giày trượt băng. Gôn là hai cái thùng gỗ đặt hai đầu.
- Lại đây, Tôlic – một đứa bạn gọi.
Tôlic không muốn tới. Nó rất thích chơi khúc côn cầu nhưng không có gậy. Tôlic đã làm gãy gậy của hai ngày trước đây.
- Tớ không có gậy – Tôlic nói.
- Thì đứng ở gôn.
- Trông gôn cũng phải có gậy.
- Cậu lấy của thằng nhỏ kia.
Tôlic cau mày nhìn thằng bé con cuối cùng còn lại trong sân. Tay nó cầm một cái gì như là cái nạng gãy. Chơi bằng miếng gỗ ấy thì chẳng thích thú gì lắm, nhưng còn hơn là đứng ngoài.
- Nào, đưa đây ! – Tôlic ra lệnh.
Thằng bé con rầu rĩ nhìn Tôlic và chìa miếng gỗ ra.
- Nào, có chạy đi ngay không? – Tôlic cầm lấy và dọa. Thằng bé con thở dài đi về một phía.
Trận đấu được bắt đầu bằng đợt tấn công về phía gôn Tôlic. Tiền đạo và hậu vệ chạm nhau gần thùng gỗ, cùng đập gậy – quả sai-ba không tiến mà cũng chẳng lùi. Cuối cùng một đứa đẩy được bóng vào chỗ trống. Tôlic lui tới trong gôn rồi quì một chân như những thủ môn thực thụ. Sát ! Sai-ba bắn vào đùi Tôlic và bật trở lại. Hậu vệ chặn được bóng và đẩy bóng về gôn bên kia. Tôlic đau chân nhưng đứng ngay dậy – những đôi mắt thán phục bên ngoài đang nhìn về phía nó.
Lúc này sai-ba nằm ở phía nửa sân bên kia, bị đẩy từ góc này sang góc khác. Khung thành đối phương bị tấn công tới tấp nhưng sai-ba vẫn không lọt được vào gôn. Cuố cùng một tiền đạo của đội Tôlic cũng ghi được bàn thắng nhưng đội bạn lại không chịu bàn thua, thế là chúng cãi nhau. Tôlic đứng ở gôn mình lo hết giờ chơi, bởi chẳng mấy chốc nữa bọn lớp trên sẽ đến. Buồn bực, Tôlic nhìn về phía cổng nhà và thấy mẹ đang đi ra. Hình như mẹ ra cửa hàng.
Nhưng sai-ba lại đến “khung thành” nó. Và một tiếng vụt, Tôlic không đỡ kịp. Thế là đội bạn dẫn một – không (bàn đầu không tính). Bị thua Tôlic càng thêm buồn. Nó thích chơi tiền đạo chứ không ưa để “thủng lưới”.
Tôlic nhìn ra cổng. Mẹ đã về. Trên tay mẹ có một cái gì như là … Tôlic bỏ gôn chạy ra đón mẹ. Bọn trẻ ngừng chơi, thèm thuồng nhìn chiếc gậy Canada mới tinh mà mẹ Tôlic vừa mua cho nó.
- Con muốn có hai cái – mẹ nói – nhưng ở cửa hàng chỉ có một cái duy nhất. Mẹ cãi nhau với họ rất lâu … Họ bảo trong kho không con cái nào nữa. Và bóng cũng hết. Thật là tồi tệ ! Thôi được, bây giờ mẹ sẽ đi đến Bách hóa tổng hợp.
- Lúc khác mua cũng được – Tôlic nói – mẹ phải đi làm kia mà !
- Khỏi lo con ạ, công việc không quan trọng. Cái chính là làm sao để con có mọi thứ cần thiết cho trò chơi tuyệt diệu này, mặc dù mẹ cũng chưa biết tên nó là gì.
- Thôi mẹ đi làm đi – Tôlic cầu khẩn – bởi bọn trẻ đang chăm chú nghe mẹ nó.
- Nếu con cho phép thì mẹ đi. Con ở nhà nhé.
Bọn trẻ cười rộ. Tôlic dùng gậy mới đập mạnh vào miếng băng vỡ làm bọn trẻ im bặt. Chẳng có gì đáng cười cả - trước mắt chúng là chiếc gậy Canada tuyệt đẹp.
- Nào, quả sai-ba đâu rồi? – Tôlic hỏi.
Bọn trẻ mang sai-ba đến.
- Nào, tránh hết ra đi !
Tôlic sửa lại sai-ba, và bùm một phát, quả sai-ba đã nằm gọn trong thùng gỗ.
Tôlic đá thanh gỗ mà nó vừa chơi về phía thằng bé lúc nãy.
- Này, gậy của mày đấy ! – Tôlic gọi thằng bé – Nào, chúng ta tiếp tục các bạn !
Tôlic chơi không hay hơn các bạn của mình, nhưng vị sợ làm hư cây gậy mới nên tất cả đều né tránh cho Tôlic đi bóng. Sai-ba được chuyển cho nó liên tục. Chẳng mấy chốc Tôlic đã ghi được hai bàn. Sau mấy cú làm bàn, Tôlic hãnh diện lắm. Nó bắt đầu lên giọng chỉ huy.
- Bac ! – Tôlic hét – đưa đi đâu đấy? Chuyền đây !
Bọn trẻ lại chuyền sai-ba cho nó. Và Tôlic lại sút – tất nhiên có quả trật, nhưng nhiều quả đã “thủng lưới”.
Một lúc sau, học sinh lớp trên xuất hiện. Một đứa trong bọn mới đến là Ôleg Tritrerin, thường gọi la Tritra, cũng không có gậy.
- Bac ! – Tôlic chạy về phía mé sân.
Nhưng ở đấy một bàn tay đã giữ lấy vai nó. Tôlic dừng lại một giây, ngước lên và đứng khựng. Trước mặt là Tritra đang nhìn nó cười nham nhở.
- Nào, đưa đây xem – Tritra nói và chìa tay về phía chiếc gậy.
- Đây là gậy của tôi – Tôlic nói nhỏ.
- Nào, có đưa ngay không? – Tritra ra lệnh.
Tôlic rầu rĩ chìa chiếc gậy mới cho kẻ lớn hơn.
Tritra gõ gõ chiếc gậy xuống tuyết, rồi đi về phía gôn.
- Nào, chúng ta bắt đầu – Tritra nói.
Tôlic và các bạn của mình đứng về một góc xem bọn lớp trên chơi. Hầu hết bọn chúng đều có gậy nên chẳng ai thương xót cho chiếc gậy của Tôlic. Chiếc gậy mới cũng bị xây xát như những chiếc khác. Chẳng mấy chốc nó có thể biến thành gỗ vụn. Tôlic không thể chịu nổi. Chờ lúc Tritra chạy đến gần, nó nói:
- Tritra, trả đây !
- Nào, có xéo đi không ! – Tritra đe dọa, vung gậy đập mạnh vào quả sai-ba. Tôlic căm phẫn nhìn về phía Tritra. Nó nhớ ngay đến hộp diêm, nhưng không muốn tốn diêm thần vào những chuyện lặt vặt như thế này. Tôlic thử dùng biện pháp cuối cùng.
- Tôi sẽ nói mẹ - Nó dọa và đi về phía cầu thang.
- Đứng lại ! – Tritra gọi, không muốn gây chuyện với mấy bà mẹ - Thôi thế này. Chú mày sẽ tập hợp đội của chú. Anh sẽ tập hợp đội của anh. Thế là chúng ta sẽ thi đấu. Nếu như bọn anh thua thì bọn anh sẽ đưa gậy cho các chú. Còn nếu các chú thua thì các chú đưa gậy của mình cho bọn anh. Và mọi chuyện sẽ công bằng. Đồng ý chưa?
Tritra nháy mắt cho các bạn của mình. Bọn lớp trên đồng tình ủng hộ “sáng kiến” của Tritra. Tất cả chúng nó đều cao hơn Tôlic một cái đầu. Thắng bọn chúng là không thể được. Tôlic hiểu là chúng muốn giễu mình. Tôlic càng lúc càng tức hơn. Đã thế cả bọn lại còn cười kiêu ngạo, như chúng là những cầu thủ mạnh nhất thế giới không bằng. Ồ, chắc chắn là chúng không mạnh hơn hộp diêm thần !
- Nào, thì thì đấu ! – Tôlic quyết định.
- Chơi một hiệp – mười phút – Tritra nói – Và đừng quên là chúng ta chơi ăn gậy đấy nhé.
- Cứ yên tâm – Tôlic trả lời – Nào các bạn, ai theo tôi?
Nhưng các bạn của Tôlic đều dồn về một góc. Không ai muốn từ bỏ chiếc gậy của mình. Ngay lúc ấy Tôlic nhìn thấy Misca đang đứng chờ nó.
- Misca, lại đây ! – Tôlic gọi. Và quay về phía Tritra – Chúng ta sẽ chơi mỗi bên hai người.
- Được thôi – Tritra bỗng nhiên trở nên dễ dãi – Điều luật vẫn như cũ. Nếu như bạn chú không có gậy thì bọn anh chỉ cần lấy một gậy của chú em thôi. Còn các chú thắng thì lấy cả hai.
Bọn lớp trên cười rộ. Chúng cười nghiêng ngả gần như lăn xuống đất. Trong khi chúng cười Tôlic giải thích cho Misca biết chuyện gì đã xảy ra. Misca đồng ý ngay mặc dù không biết chơi khúc côn cầu. Nó chỉ có một ý nghĩ là bạn bè cần phải giúp nhau trong mọi trường hợp và sẵn sàng chơi bằng chân vì không có gậy.
- Cái chính là cậu cản phá bọn nó thật nhiều vào – Tôlic nói – Còn tớ sẽ sút.
- Thế nào, bắt đầu chứu? – Tritra hỏi, rồi cầm lấy một triếc gậy tốt của đồng bọn.
Không trả lời, Tôlic chạy về phía hàng rào, bẻ một que diêm, lẩm bẩm:
- Tôi muốn ghi hai mươi bàn – Nó cho rằng chừng ấy là đủ ăn rồi.
Tôlic và Misca đứng ở giữa sân. Đối diện chúng là Tritra và mội đứa khỏe nhất của lớp trên.
- Học tập đội bạn ! – Tritra ra vẻ trang trọng.
- Học tập đội bạn ! – Tôlic trả lời mặc dù biết thằng Tritra chỉ làm bộ như vậy. Rồi đến khi thua thằng vô lại sẽ không chịu đưa gậy cho xem.
Một thằng lớp trên thả sai-ba. Tôlic và Tritra cùng một lúc đập gậy vào bóng và …
Không ai có thể hiểu nổi ! Quả sai-ba dường như bật ra từ gậy của Tôlic, bay lên không trung và chui tọt vào thùng gỗ.
Bọn lớp trên nín thinh há hốc. Chúng cho là Tritra đánh trật vào gôn mình. Chính Tritra cũng nghĩ như vậy, nó tiếc rẻ là không đánh về phía bến kia.
- Không – một – cuối cùng Tritra nói – Thả bóng !
Và sai-ba lại chạy thẳng vào gôn Tritra.
Bảy lần thả thì bảy lần sai-ba chui lọt vào gôn lớp trên, mặc dù cả đôi bên chưa di chuyển một bước.
Tritra không tài nào hiểu nổi. Sau mỗi quả thua nó lại nhìn về phía đồng bọn. Còn đồng bọn thì nghĩ rằng Tritra muốn chấp.
Lúc đầu bọn chúng reo cười, nhưng sau quả thứ bảy thì im bặt, bắt đầu lo lắng.
Sau quả thứ muồi, Tritra trắng trợn xô Tôlic trước khi sai-ba chạm đất, rồi một mình dẫn bóng về phía gôn đối phương. Tỉ số trở thành 10 : 1. Chín lần tiếp theo Tritra lặp lại y như vậy. 10 : 10. Tôlic không thể chạm được vào sai-ba. Bọn lớp trên cười đắc thắng.
Chỉ riêng Tritra là không cười nổi. Nó phải vất vả lắm mới giành được mười quả.
Khi tỷ số 11 : 10 nghiêng về lớp trên, Misca quyết định tích cực hơn. Nó dốc toàn lực. Nó bổ về phía chân Tritra, chắn gậy, cản đường. Biết là luật khúc côn cầu cho phép dùng lực cản, cho nên nó không thấy xấu hổ lắm khi bị hất ngã xuống đất. Đã bị sây sát nhiều ở chân, ở lưng, nhưng Misca vẫn xông xáo. Nhờ Misca giúp sức, Tôlic chạm sai-ba được bốn lần nữa và cả bốn bóng chui vào thùng tỗ, tỷ số 11 : 14 nghiêng về phía đội lớp dưới.
- Giữ nó lại ! – Tritra chỉ Misca – Đẩy nó ra !
Đồng đội, Tritra chạy về phía Misca và “đẩy nó ra” đúng theo luật khúc côn cầu. Hoàn toàn đúng luật … Chỉ có điều là Misca nhẹ hơn đối phương đến mười lăm cân, nên bị đẩy mạnh là nó bật tung lên và bay vào chính gôn nhà. Theo sau nó là quả sai-ba do Tritra đánh vào.
Thế là một thằng “giữ” Misca, còn một thằng đẩy Tôlic và ghi bàn. Còn hai phút nữa thì kết thúc trận đấu. Tỷ số 19 : 16 nghiêng về Tritra.
Bọn lớp trên đã sẵn sàng bạt tai Tôlic nếu như nó không chịu đưa gậy. Trong ý nghĩ, Tôlic chuẩn bị chia tay với chiếc gậy của mình, nó chỉkhông hiểu tại sao que diêm thần lại không có hiệu lực. Còn Tritra thì vừa chùi mồ hôi ở trán vừa ranh mãnh nhìn chiếc gậy mới.
Bỗng Tôlic thấy mình trở nên nhẹ nhàng, dẻo dai như chiếc lò xo. Nỗi sợ trước Tritra tan biến. Tay nó khỏe khoắn là thường. Còn chân trượt thì dường nhơ không bị tuyết cản. Trong khoảnh khắc nó đuổi kịp Tritra cướp lấy sai-ba và trở người đập manh. Gôn.
Trọng tài thả bóng. Và Tôlic lại nhẹ nhàng lấy bóng trong tầm tay Tritra. Gôn !
Bạn Tritra chạy xô đến giúp nó, nhưng bản thân thằng này lại bị Misca dũng cảm ngăn cản. Tritra dồn sức xông về phía Tôlic vì giận dữ. Nó không nghĩ đến sai-ba nữa mà chỉ mong gạt ngã Tôlic, và nếu có thể thì giẫm bẹp. Tôlic đã làm nhục nó trước bạn bè và dọn đàn em !
Tritra dồn hết sức nặng lớp tám của mình ra hòng đè bẹp Tôlic. Còn Tôlic không hiểu vì sao, chỉ cần hất nhẹ là Tritra bắn tung ra. Cứ thế Tôlic tiếp tục ghi bàn, mặc cho Tritra giãy giụa, chửi thề.
Tỉ số 19 : 19.
Trọng tài mang sai-ba đến giữa sân, liếc nhìn đồng hồ, đội Tritra đứng vào vị trí.
- Còn năm giây nữa – trọng tài nói. Là đồng bọn với Tritra, trọng tài trắng trợn câu giờ, không chịu thả bóng. Bọn lớp trên chỉ cầu hòa.
- Còn ba giây nữa – Trọng tài đểu cáng giữ chặt sai-ba như sợ tuột khỏi tay.
- Còn hai giây …
Chính vào lúc ấy sai-ba tự nhiên nhảy khỏi tay trọng tài và rơi trúng gậy của Tôlic.
- Gôn ! – Misca hét lên.
20 : 19!
Lớp dưới chiến thắng !
Bọn nhỏ từ đằng xa gõ thùng inh tai, mừng ra mặt.
Còn bọn lớp lớn thì im lặng nhìn Tritra, chờ đợi.
Tritra mím môi.
- Nào, chơi một hiệp nữa – nó nói qua kẽ răng.
Tôlic không trả lời, dùng gậy bới tuyết.
- Nào ! – Tritra tiếp.
- Chúng ta đã thỏa thuận: mười phút. Còn gậy của anh tôi cũng chẳng lấy. Tôi không cần – Tôlic nói nhẹ nhàng.
- Còn tao nói là phải chơi nữa ! Hiểu không?
Tôlic bối rối nhìn quanh. Misca đến bên nó. Nhưng Misca có thể làm gì được? Tất cả lòng dũng cảm của Tôlic bỗng nhiên biến mất. Nó cảm thấy mình không còn dẻo dai và khỏe mạnh như vài phút trước đây.
- Nào, ra sân ! – Tritra ra lệnh – Thêm mười phút thôi.
Tôlic chậm chạp bước ra. Nó sợ Tritra đến nỗi quên cả hộp diêm. Nhưng Misca giữ nó lại.
- Tritra – Misca nói – chúng ta đã thỏa thuận là mười phút. Tốt hơn là anh đưa gậy. Còn tôi phải về nhà chuẩn bị bài.
Tritra há hốc mồm.
- Cái gì? … - hắn nhăn mặt – Mày nói ai đấy hở con rệp kia ?!
Và Oleg Tritrerin, tường gọi là Tritra, giơ tay lên định tát Misca để chứng tỏ đâu là sự khác biệt giữa lớp tám và lớp bốn.
- Hê, không được ! – một giọng nói vang lên.
Bên cạnh hàng dậu, một người đàn ông cao lớn, đội mũ xanh đang đứng. Anh ta đứng đấy từ lâu để theo dõi trận đấu và chú ý là xem Tôlic đánh. Anh hướng về phía Tôlic:
- Này lại đây, cậu bé !
Tritra cau mày thả tay xuống. Tôlic tiến về phía người lạ mặt.
- Em tên gì?
- Tôlic Rưzcôp.
- Em thích khúc côn cầu?
- Dạ thích – Tôlic trả lời – nhưng sao cơ?
Người lạ mặt ghi gì đó vào một tờ giấy rồi đưa cho Tôlic – Hãy đến bãi tập vào thứ sáu. Em sẽ chơi cho đội thiếu nhi. Đồng ý chứ?
Tôlic kiêu hãnh nhìn bọn lớp trên.
Trước mắt đông đảo bọn trẻ trong phố nó đã được mời vào chơi cho một đội khúc côn cầu thực sự. Còn gì thích thú bằng !
- Dạ đồng ý – Tôlic trả lời.
- Còn cậu kia, đi tới đây ! – Người đàn ông chỉ vào Tritra.
- Làm gì? – Tritra không bằng lòng.
- Không có gì, trả cây gậy đi. Và hãy nhớ là một cầu thủ chân chính không bao giờ chơi vì tiền, vì gậy. Nhưng cậu muốn chiếm đoạt gậy của đứa bé, thì bây giờ hãy đưa của mình cho nó.
- Thế việc gì đến ông? … - Tritra bỗng im bặt, nó chăm chú nhìn người lạ rồi kêu lên:
- Anh là Altưnôp, tuyền thủ quốc gia?
- Tôi là ai, không quan trọng – người lạ mặt nói – Tốt hơn là cậu đưa gậy cho đứa bé.
- Vâng, đây – Tritra nói, một tay chìa gậy cho Misca, còn tay kia đưa cùi chỏ về phía nó – Cầm đi. Anh ghi tên em vào đội chứ?
- Không, không ghi.
- Em không cần gậy – Misca nói – Dù sao em cũng không biết chơi. Anh ta cứ việc giữ lấy.
Người lạ mặt chăm chú nhìn Misca, mỉm cười.
- Em cũng đến nhé. Em chơi rất dũng cảm. Mà khúc côn cầu là trò chơi của những người như thế !
- Nhưng em không biết chơi – Misca nói.
- Điều đó không quan trọng – người lạ mặt nói – chơi thì có thể học được, nhưng lòng dũng cảm thì khó. Đến cả hai nhé. Anh sẽ chờ đấy.

Còn một giờ nữa mới phải đến trường. Tôlic qua nhà Misca. Misca vẫn đang làm toán.
- Còn hai bài nữa, - Misca nói – Bài vở nhiều quá, cả ngày phải ngồi học, chẳng có thời gian để chơi.
- Còn tớ chẳng phải học – Tôlic khoác lác.
- Thì cậu sẽ nhận điểm hai.
- Cậu yên trí, - Tôlic nói – Tớ sẽ nhận toàn điểm năm. Tớ cuộc với cậu đấy. Nếu có một điểm bốn thì cậu búng vào trán tớ một trăm cái. Còn nếu không thì ngược lại. Đồng ý không?
- Vâng, có lẽ hôm nay cậu đã thuộc tất cả, chắc tớ phải chìa chán cho cậu mất.
- Tớ chưua học một chữ !
- Danh dự?
- Danh dự.
- Thế cậu sẽ ăn hai nếu như bị gọi.
- Cuộc nhé.
- Thì cuộc, - Misca đồng ý – nhưng tớ pahri làm xong bài tập đã. Cậu chờ một tí nhé.
- Được, tớ chờ. Tớ đang nghĩ là nên búng vào chỗ nào trên trán cậu.
Misca không trả lời. Nó đang tập trung làm bài. Còn Tôlic chẳng biết làm gì, nó đi lại trong căn phòng.
Năm phút trước nó đã tốn que diêm thứ mười. Bây giờ Tôlic đã thuộc hết bài vở của cả năm học. Từ nay đến tận mùa hè nó sẽ không phải đụng đến sách giáo khoa nữa. Trong đầu của nó đã có sẵn câu trả lời cho bất cứ câu hỏi nào. Và tất cả có được không phải tốn một chút sức, chỉ cần bẻ một que diêm là đủ.
Chậm rãi bước trong căn phòng, nó cẩm thấy thật là hạnh phúc. Bây giờ trở đi nó có thể làm bất cứ việc gì và đòi hỏi bất cứ cái gì – ngay cả máy bay phản lực TU-104. Nó có thể trở thành anh hùng Liên Xô. Hoặc nhà vô địch thế giới. Hoặc một nghệ sĩ nổi tiếp như ông Ôleg Pôpôp. Hoặc có thể ước một nghìn hộp dứa. Chỉ có điều phải cẩn thận, đừng để xảy ra những chuyện không hay như trong giờ học của Anna Gavrilôvna.
Tôlic nhìn Misca chăm chú giải bài tập. Chỉ còn tốn một que diêm là Misca sẽ thuộc bài vở của cả mười năm … Nhất định Tôlic sẽ chia diêm cho Misca. Nhưng không phải bây giờ. Có thể là ngày mai, khi đã nghĩ ra cho mình tất cả những điều mong ước. Số còn lại sẽ cho Misca. Bởi Misca dù sao cũng là bạn, không thể không chia cho nó.
Cuối cùng, Tôlic đã chán cảnh im lặng. Nó đến cạnh Misca, nhìn qua vai bạn. Misca cẩn thận ghi đáp số. Tôlic cảm thấy buồn cười.
- Thế nào, xong rồi chứ? – Tôlic hỏi – Thế hai lần hai là mấy?
- Cậu tự trả lời lấy, - Misca nói – Tốt hơn là để cho tớ yên.
Tôlic đi bách bộ một lúc nữa. Hình như có cái gì đấy cào vào cửa ra vào, Tôlic mở cửa. Con chó béc-giê to lến tên là Maida đi vào phòng. Con chó không để ý đến Tôlic mặc dù quen biết. Nó đi đến cạnh Misca và đặt hai chân trước lên vai chủ.
- Tôlic, bỏ ngay – Misca nói.
Tôlic bật cười. Misca quay lại, và Maida dụi mồm vào má chủ.
- Nằm xuống ! – Misca ra lệnh.
Maida thở ra và nằm xuống cạnh Misca.
- Đứng dậy ! Maida ! – Tôlic nạt.
Maida nghiêng về phía nó.
- Ngồi lên !
Nhưung Maida chẳng thèm vẫy tai. Nó chỉ vâng lời chủ.
Tôlic chống hai tay xuống đất, bò về phía Maida. Nó chìa má cho con chó, nhưng Maida xoay mòm sang hướng khác. Con chó nhắm mắt lại dường như khó chịu khi phải nhìn Tôlic.
- Đồ ngu. – Tôlic nói.
Maida thở dài, đứng dậy vươn vai rồi đi ra khỏi phòng với vẻ như không muốn nghe những lời xằng bậy.
- Misca – Tôlic nói bằng giọng buồn rầu – ba lần ba là mấy?
Misca ghi đáp số của bài toán cuối cùng rồi đứng lên.
- Xong – nó nói – Có thể đi đến trường.
- Không, cậu nói đi, ba lần ba là mấy?
- Chín.
- Giỏi ! – Tôlic nói – Giáo sư số học đây !
Nhưng Misca không cãi lại. Bọn trẻ cùng nhau đến trường.
Có lẽ không cần thiết phải kể lại ngày hôm ấy trôi qua như thế nào. Bở những sự kiện chính không phải xảy ra trong lớp học mà sau đó. Trong buổi học Tôlic được gọi ba lần và cả ba lần nó đều đạt điểm năm. Và để đạt được nó chẳng phải tốn một chút sức lực nào. Lưỡi tự nó những điều gì cần thiết. Nó trả lời đúng như sách. Tôlic cũng không cần biết là lưỡi mình nó gì. Bởi tất cả đều đúng.
Các thầy giáo khen nó. Cô Anna Gavrilôvna cũng khen, nhưng cô lưu ý là không cần phải nói đúng từng từ trong sách mà hãy sử dụng ngôn ngữ của mình. Nhưng điểm năm thì cô vẫn cho. Tất cả đều đã quên chuyện ngày hôm qua.
Tan học, Tôlic cùng bạn bè đi ra đường phố.
- Này, các cậu ơi, - nó nói – lại đây coi tớ búng trán Misca. Nó bị thua cuộc tớ, Misca, lại đây !
- Vâng, tớ thua – Misca nói – Có thể, Nhưng cậu nói láo là không học bài. Nếu cậu không học thì cậu sẽ không được điểm năm.
- Thề danh dự là tớ không học !
- Thề danh dự là nói láo ! – Xasa Ardukhanhan nói.
- Rõ ràng là nói láo – Lênha Travin khẳng định.
- Ai nói láo ?! – Tôlic sửng sộ.
- Cậu, - Lôna Seglêva nói – Cậu, cậu, cậu … và cậu, cậu, cậu.
- Tớ nói láo ?! Có muốn tớ chứng minh không?
- Không chứng minh được đâu – Lêna nói – Không được đâu, không được đâu …
- Tớ … không được? Đây tớ … Đây tớ có … - Tôlic nói và thò tay vào túi nhưng kiềm lại được.
- Thế cậu có gì?
- Chẳng có gì, - Tôlic trả lời – Misca, đưa trán đây.
Tất cả đều đứng về phía Misca, nhưng không anh bênh nó, bởi đứa nào cũng buốm biết nó sẽ chịu một trăm búng như thế nào. Và chính Misca cũng không cho phép ai bênh vực mình. Nó đến gần Tôlic và chìa trán ra:
- Búng đi !
Lần đầu tiên Tôlic búng vào lương tâm mình. Ngón tay trở nên đau đớn, Bọn trẻ vây quanh chúng cười đùa, vì cái búng kêu to, còn Misca thì nhăn mặt.
Sau hai mươi cái, trán của Misca quầng đỏ.
- Bây giờ hãy búng vào chỗ khác, - Lênha Travin gợi ý.
- Đâu thích thì tớ búng – Tôlic nói – Đúng không Misca?
- Cậu cứ búng đi – Misca trả lời – Tốt hơn là đừng hỏi tớ.
Tôlic búng thêm ba cái nữa.
- Đủ rồi, - Tôlic nói – Còn lại tớ tha cho cậu.
Misca đỏ mặt. Nó dạng chân ra, như muốn đứng thật vững.
- Tớ không cần sự tha thứ của cậu – Misca nói – Còn bảy bảy cái nữa. Búng tiếp.
- Tớ sẽ không búng nữa ! – Tôlic ngang bướng.
- Thế thì tớ sẽ không nói chuyện với cậu – Misca nói.
- Dù sao tớ cũng không.
Misca lườm mắt nhìn Tôlic, xách cặp lên rồi đi thẳng. Bọn cùng lớp cũng phân tán mỗi đứa một ngả. Còn lại một mình Tôlic. Nó cảm thấy nặng nề và đơn độc. Dường như chỉ còn lại một mình nó trên thế giới này. Nó tự nhủ là nó đã làm theo danh dự. Bởi thực thế nó đã không học bài và nhưng cái búng là chính đáng. Nhưng sâu xa trong lòng nó cảm thấy bứt rứt, khó chịu.
- Misca chờ một tý. Tôlic gọi và chạy đuổi theo – Có phải cậu thua cuộc không nào? – Tôlic giữ tay bạn – Tại sao cậu giận?
- Xéo đi ! – Misca nói – Tớ chẳng giạn. Tớ sẽ không nói chuyện với cậu, thế thôi.
- Thế cậu muốn búng tớ không? – Tôlic đề nghị.
Misca cúi đầu bước nhanh hơn. Nó không trả lời Tôlic thêm một tiếng. Tôlic tự nhiên thấy thương Misca và thương cả thân mình. Nó muốn nghĩ ra một điều gì để mọi chuyện trở lại êm đẹp như trước đây.
Tất nhiên, nó chỉ cần bẻ một que diêm và Misca sẽ chạy lại ôm lấy nó. Nhưng như thế Misca sẽ không còn là Misca trước đây nữa. Bạn bè dạng đó thì hộp diêm thần này có thể tạo nên bao nhiêu cũng được. Nhưng Misca thì chỉ có một.
Bất thình lình Tôlic quyết định lấy hộp diêm ra khỏi túi, chạy đến bên Misca và chìa cho bạn:
- Misca – nó nói – chúng ta sẽ chia hai hộp diêm này. Cậu tự chia lấy, rồi tớ sẽ kể hết cho cậu nghe.
Nhưng Misca im lặng đẩy tay Tôlic, diêm trong hộp vung ra vỉa hè. Khi Tôlic thu nhặt hết diêm thì Misca đã đi xa.

Buổi tối trước ngày Tôlic đến bãi tập khúc côn cầu ba và mẹ cãi nhau rất lâu. Tất nhiên, mẹ sẵn sàng cho phép Tôlíc ra sân tậm, nhưng ba phản đối. Ông cho rằng khúc côn cầu là một trò chơi nguy hiểm. Không gãy tay chân thì cũng gãy răng.
- Tôi không muốn thấy con tôi tàn tật – ba nói – Mà khúc côn cầu là trò chơi chết người.
- Thế không phải chính anh ngồi suốt buổi trước tivi là gì? – mẹ trả lời.
- Ở đấy chỉ người lớn chơi thôi. Mà họ đều không phải là con tôi – ba nói.
- Nhưng Tôlic là con tôi. Và nó có quyền làm những gì nó thích – mẹ nói, âu yếm nhìn Tôlic.
- Có lẽ nó cũng là con tôi – ba tức giận nhìn mẹ.
- Anh hoàn toàn không thương nó !
- Tôi không hiểu là gần đây cái gì đã xảy ra với cô – ba nói – Cô cho phép con bất cứ việc gì. Còn nó thì lợi dụng điều đó. Gần đây nó luôn cố tình giấu chúng ta một việc gì đó. Nó còn nói dối nhiều hơn trước kia. Hay cô muốn con trở thành kẻ lừa dối.
- Vâng, - mẹ nói một cách tự hào – Nó là đứa bé nói dối đáng yêu. Và vì thế, tôi yêu nó …
Ba nghi ngờ nhìn mẹ. Sau đó ông đuổi Tôlic ra khỏi phòng và nó không nghe thêm được gì nữa. Chỉ biết là sáng hôm sau ba mẹ đã đồng ý cho nó đi đến bãi tập …
Bây giờ, trên đường đến sân vận động. Tôlic thầm mơ ước một ngày không xa mình sẽ chơi trong đội tuyển khúc côn cầu quốc gia và sẽ được phát lên vô tuyến truyền hình. Ba sẽ không giận nữa khi thấy Tôlic mười lần làm tung lưới một đội nước ngoài nào đấy. Và điều đó chẳng phải nghi ngờ ! Bở lẽ trước khi đi Tôlic đã bẻ một que diêm và thầm nhủ rằng hôm nay sẽ chơi hay nhất thế giới.
Khi Tôlic đến nơi, đội người lớn đang chơi trong sân. Trên khán đài trống trải đếm được ba mươi cậu bé, trong đó có Misca. Tôlic đến gần chào các bạn mới. Tất cả đều chào lại, chỉ riêng Misca là không nhìn về phía nó. Misca ngước nhìn bầu trời lúc đó chẳng có gì ngoài một đám mây nhỏ.
“Tớ chỉ cần bẻ một que thôi là cậu sẽ bò tới bên tớ cho mà xem” – Tôlic nghĩ. Nó đang suy tính xem có nên tốn một que diêm vào những chuyện nhảm nhí như thế này không thì huấn luyện viên đến. Đây là người đàn ông đã mời Misca và Tôlic đến đây.
- Tôi là Bôric Alêchxanđrôvich Altưnôp – huấn luyện viên nói – Hôm nay là buổi tập đầu tiên của chúng ta. Áo may ô, quần đùi, giày vải, đẩy đủ chứ?
Bọn trẻ nhìn nhau thầm thì, một đứa mạnh dạn hỏi:
- Thưa anh, áo may ô và giày vải để làm gì ạ? Chẳng lẽ chúng em sẽ mang giày vải để chơi sao?
- Bây giờ chúng ta chưa chơi đâu – huấn luyện viên nói – Đầu tiên chúng ta sẽ rèn luyện thể lực. Sau đó sẽ học cách cầm gậy cho đúng và cách đứng vững trên giày trượt băng. Ít nữa chúng ta mới chơi. Còn bây giờ vào gian thể thao dưới khán đài kia.
- Thế còn ai đã biết chơi thì sao? – Tôlic hỏi.
- Trong các em chưa có ai biết chơi đâu. Các em còn phải tập đứng trên băng đã.
- Nhưng em biết. – Tôlic nói – Thật mà !
- Em tưởng đấy thôi ! – huấn luyện viên cười nói.
- Em biết thật mà – Tôlic không chịu.
Huấn luyện viên nhìn những khuôn mặt ỉu xìu. Tất cả đều muốn chơi ở sân băng chứ không ai muốn “rèn luyện thể lực”. Trên khuôn mặt huấn luyện viên thoáng một nụ cười khó hiểu.
- Valôđia ! – anh gọi trọng tài trong sân – lại đây !
Trọng tài dừng trận đấu, đến gần.
- Đây là các “cầu thủ” mới của tôi – huấn luyện viên nói – Tất cả đều muốn chơi. Cậu lấy một đứa chơi thử xem sao. Và, nói nhỏ vào tai trọng tài: - Tất cả các cậu bé đều có năng khiếu khúc côn cầu và tưởng là đã biết chơi. Đặc biệt là cậu kia. Cậu ta cũng chính là người có khả năng nhất. Nhưng phải nói trước để cầu thủ đừng xô phải, hiểu không?
- Hiểu rồi – Trọng tài nháy mắt với huấn luyện viên và quay sang phía Tôlic: - Vào phòng thay quần áo di ! Ở đây họ sẽ đưa cho em mọi thứ cần thiết.
Trong phòng thay quần áo Tôlic không tài nào mặc được những thứ người ta đưa cho mình, may mà có người giúp đỡ.
- Em sẽ chơi ở vị trí nào? – Huấn luyện viên hỏi.
- Tiền đạo ạ.
- Rất tốt. Em sẽ chơi cho đội xanh. Ra đinh.
Tôlic ra sân … Các cậu thủ mìm cười nhìn cầu thủ tí hon. Bên cạnh những vận động viên cao hơn, Tôlic trông bé nhỏ và yếu ớt. Nhưng “quân xanh”, “quân đỏ” với đôi vai rộng, lưng vuông trông giống như những rôbốt. Tất cả đều là kiện tướn thể thao.
Trận đấu bắt đầu. Cầu thủ áo đỏ dẫn bóng, Tôlic nhanh nhẹn lùi về phòng ngự. Áo đỏ trượt đến trước mặt Tôlic không để ý đến nó. Anh ta còn không định lừa qua Tôlic mà chỉ đưa bóng sang một bên để khỏi tông phải cậu bé.
Tôlic đưa gậy ra và … áo đỏ trượt qua, còn sai-ba bị giữ lại. Tôlic không phải suy nghĩ gì hết. Mọi động tác đều tự phát. Tay chân nó cũng tự cử động lấy. Không bỏ phí một giây, Tôlic tăng vận tống và dẫn bóng về phía gôn đối phương. Nó lừa qua hậu vệ rồi đánh mạnh sai-ba về phía cầu gôn. Thủ môn té sấp, nhưng còn kịp dùng gậy chặn sai-ba. Quả bóng bật lại với một sức mạnh ghê gớm giống như bị bắn ra từ nòng đại bác. Ngay lập tức các cầu thủ áo đỏ lại lấy được bóng vàn dẫn về phía gôn đối diện.
Thủ môn nằm trên băng kinh ngạc nhìn Tôlic. Một cú đánh mạnh như thế chỉ có thể là của kiện tướng thể thao, đằng này lại là cậu bé con. Những thủ môn không biết rằng cậu bé này hôm nay là cầu thủ mạnh nhất thế giới. Và điều đó các cầu thủ áo đỏ còn lại, thật đáng tiếc, cũng không biết.
Lúc đầu các kiện tướng thể thao chẳng chú ý gì đến Tôlic. Hay đúng hơn là họ cố gắng để không tông phải nó. Họ chỉ muốn chứng tỏ cho cậu bé thấy rằng cậu trả giá cho sự lầm lẫn … Trong khi người lớn “tế nhị” thì Tôlic nhiều lần lấy bóng của “quân đỏ”, tự mình dẫn sai-ba đến gôn đối phương và sút. Lấy bóng của Tôlic hầu như không thể được.
Sau hai phút Tôlic ghi bàn đầu tiên. Qua bốn phút “quân xanh” ghi được hai bàn nữa nhờ đường truyền của Tôlic.
Cả bên xanh và đỏ đều chẳng hiểu ra sao. Một thằng bé con trên sân tranh cướp bóng nhanh nhẹn và làm bàn như một kiện tướng thể thao ! Hơn thế nữa, nó còn chơi hay hơn tất cả. Điều đó đã rõ ràng.
Đứng chôn chân trên khán đài, huấn luyện viên Altưnôp – cầu thủ đội tuyển Liên Xô – không rời mắt khỏi sân. Anh bấm nhẹ tai mình để xem thử là mơ hay thật. Anh tự nhủ là cậu bé còn chơi hay hơn cả anh. Hơn thế nữa, trong đời mình anh chưa hề thấy một cầu thủ khúc côn cầu nào tài ba như thế.
Trong khi ấy tiếng đồn về sự kỳ diệu trên sân khúc côn cầu đã truyền đi khắp sân vận động. Các nhà thể thao, giám đốc và cả những người quét dọn đều leo lên khán đài theo dõi trận đấu.
Tất cả đều nhìn về phía Tôlic và chế giễu các kiện tướng “quân đỏ” không làm được gì với một cậu bé con.
“Quân đỏ” đã bắt đầu giận dữ. Bây giờ họ không tránh Tôlic nữa mà xông vào tranh giành bóng với nó. Nhưng lấy được sai-ba của Tôlic quả là khó. Khi Tôlic làm bàn quả thứ hai, trọng tài suýt làm rơi còi khỏi miệng bởi quả sai-ba được đánh từ xa mà thủ môn cũng không kịp động đậy.
Trên khán đài người ta la hét, cười nói ầm ĩ vì hào hứng. Một mình cậu bé gần như ăn đứt cả một đội kiện tướng.
Cuối cùng trọng tài không kiềm chế được, thổi còi chấm dứt trận đấu sớm hơn thời gian đã định.
- Tôi không thể tiếp tục được – trọng tài nói với huấn luyện viên – Tôi sẽ điên mất. Hay là tôi điên rồi cũng nên? Anh lấy đâu ra cái của kỳ dị này?
- Hình như tôi cũng điên mất – Altưnôp nói – Cậu bé này đáng giá bằng một đội. Tôi không cần dạy gì cho cậu ta nữa. Cậu ta còn chơi hay hơn cả tôi.
- Nhưng nó … bình thường chứ? – trọng tài hỏi, nghi ngờ nhìn về phía Tôlic – Không thể như thế được. Có thể cậu ta bị bệnh thần kinh đặc biệt đấu – bệnh khúc côn cầu chăng?
Huấn luyện viên vuốt tóc ra sau gáy suy nghĩ rồi đến cạnh Tôlic đang bị bao vây bởi “quân xanh”, “quân đỏ” và nhiều người khác. Không nói một lời anh cầm tay Tôlic dấn đến phòng y tế.
- Một cậu bé bình thường – bác sĩ nói sau khi khám cho Tôlic – Hoàn toàn bình thường. Thể trọng, cơ bắp chưa phát triển nhưng rồi đâu sẽ vào đấy. Anh nói cậu bé này thắng cả một đội “quân đỏ” à? Xin lỗi, tôi không tin. Cậu bé này cao tay là 11 – 12 tuổi. Người ta chưa cho phép cậu chơi cho đội trẻ nữa là.
- Chính tôi cũng không tin – huấn luyện viên nói. – Cậu ta là cầu thủ cỡ quốc tế. Ngay bây giờ tôi có thể đưa cậu ta vào đội tuyển Liên Xô !
Đi dọc theo khán đài ra công, Tôlic cảm thấy mình như một anh hùng. Bằng mắt mình, nó thấy mọi người đều hướng về nó. Bằng tai mình, nó nghe thấy những tiếng thầm thì ngạc nhiên và thán phục: “Nó đấy”. “Nhìn kìa, nó đang đi đấy” “Cậu ta chơi hay hơn bất cứ một kiện tướng thể thao nào”
(PHẦN NÀY BỊ THIẾU MẤT MỘT TRANG)
Một phần cho mình, và một phần cho Misca. Còn lại tất cả là ba mươi chín que diêm. Như thế là thừa một que. Không suy nghĩ lâu, Tôlic thêm cho mình một que. Phần nó hai mươi que, còn Misca – mười chín. “Một con số nhảm nhí, chẳng chia hết cho một số nào” – Tôlic nghĩ và bổ sung cho mình một que nữa. Bây giờ Misca còn lại mười tám. Một con số lý tưởng: có thể chia hết cho hai, cho ba, cho sáu, cho chín. “Hay thật ! – Tôlic lại nghĩ – Cần phải chia coh hai” Thêm chín que diêm nữa chạy về bên phải, Misca còn lại chín. Đống bên phải trở lên to lớn, đống bên trái bé tí. “Như thế là không công bằng – Tôlic nghĩ – nếu Misca biết được, nó sẽ tự ái. Mà không nói với Misca cũng không được, bởi như thế là không chân thật. Mà không chân thật thì không nên. Nhưng để Misca tự ái cũng không nên. Có nghĩa là phải làm thế nào để vừa chân thật mà lại vừa không xúc phạm bạn. Điều đó thật đơn giản: không phải chia mà cũng chẳng phải nói gì hết.”
Tôlic dồn hết diêm vào hộp. Nó cất hộp diêm vừa đúng lúc. Cửa vào buồng tắm xịch mở.
- Tôlic – mẹ nói, tỏ vẻ xin lỗi – mẹ không quấy rầy con chứ? Khuya rồi con ạ. Mẹ có thể đi ngủ được không? Hay con cần gì nữa?
- Con … không có gì, - Tôlic trả lời, nhưng sực nhớ lại điều gì, nó tiếp: - À, con … cần một chiếc xe đạp mẹ ạ. Mẹ mua chứ?
Mẹ ôm đầu:
- Tội nghiệp con tôi. Tại sao mẹ lại không nghĩ ra từ trước nhỉ ! Con của mẹ thật là khiểm tốn: cần chiếc xe đạp mà cũng không dám hỏi. Đi với mẹ con !
Mẹ cầm tay Tôlic dắt vào phòng nơi ba đang xem tivi.
- Anh này – mẹ nói hồ hởi – con nó cần một chiếc xe đạp đấy.
- “Cần” nghĩa làm sao?
- Nghĩa là con nó muốn có xe đạp.
- Thế tàu thủy nó có muốn không?
- Anh đùa không đúng lúc đấy.
- Tôi không đùa. Cô biết đấy, hiện nay chúng ta còn ít tiền. Xe đạp có thể chờ lúc khác.
- Không, không thể ! - mẹ nổi giận – Tại sao phải chờ khi mà con trai đáng yêu của chúng ta đang cần đi xe đạp?
- Nó chưa đáng yêu đâu – ba nói – Còn em thì gần đây hoàn toàn nuông chiều nó. Tôi phải tự giáo dục nó mới được.
- Anh đã nói điều đó hàng trăm lần rồi.
Ba đứng lên nặng nề tắt tivi.
- Tôlic, ra khỏi phòng ngay – ba nói to – Đi ngủ ngay lập tức. Sẽ không có xe đạp xe điếc gì hết.
- Tôlic, khỏi phải đi, - mẹ nói gay gắt – Không phải đi ngủ. Con sẽ có hai xe đạp. Loại tốt nhất.
Tôlic đưa mắt từ ba sang me, thở ra, hối hận vì đã gây nên cuộc cãi vã này. Nó hoàn toàn không muốn ba mẹ la nhau. Trước đây ba mẹ thường tranh luận chứ chưa bao giờ to tiếng. Còn bây giờ thì họ đang cãi nhau kịch liệt.
- Cô có thể không cãi lại tôi trước mặt con được chứ? – ba hét.
- Con đối với anh là gì đâu – mẹ cũng hét - Anh hoàn toàn không yêu con !
- Tôi không yêu ?!
- Anh không yêu ! Anh ghét bỏ nó !
- Đồ ngu ! – ba mắng.
Mẹ ối lên một tiếng. Mặt mẹ trắng bệch. Ba im bặt, hoảng sợ nhìn mẹ. Mẹ quay đi, chạy vào bếp.
Ba ôm đầu đi lại trong phòng, như không nhìn thấy Tôlic. Còn Tôlic đứng giữa phòng không biết phải làm gì.
Cuối cùng, ba dừng lại trước mặt Tôlic, vẻ hối hận:
- Chúng ta đã làm gì không phải với nhau, ông già? – ba nói nhỏ.
Tôlic thấy thương ba quá. Và cả mẹ nữa. Nhưng nó cũng tiếc một que diêm có thể làm yên chuyện. Nếu như phải làm lành tất cả những người cãi nhau thì bao nhiêu diêm cho vừa. Nhưng đây lại là ba mẹ nó ! Tôlic thở ra và chạy vội vào buồng tắm. Nó bẻ một que diêm và lầm bầm để ba mẹ làm lành với nhau.
Ngay sau đấy nó nghe thấy tiếng guốc của mẹ đi qua buồng tắm và ngoài hành lang, tiếng giày nặng nề của ba. Tôlic nhìn ra cửa.
Ba và mẹ đứng giữa hành lang ái ngại mỉm cười nhìn nhau.
- Em đừng giận anh nhé ! – ba nói.
- Đúng hơn là anh đừng giận em, - mẹ nói.
- Tất nhiên anh có lỗi.
- Lỗi tại em chứ !
- Không, không, - ba nói – Em vất vả như thế. Ở nhà rồi ở cơ quan. Chẳng lẽ anh không thấy sao? Và anh … rất yêu em.
- Em cũng yêu anh, - mẹ trả lời – Chúng ta có thể mua cho con xe đạp chứ?
- Để thử xem – ba không phản đối.
Tôlic im lặng ra khỏi buồng tắm và đi ngủ.

Sáng chủ nhật Tôlic dắt chiếc xe đạp mới tinh hiệu “Đại bàng con” ra sâu. Nó đứng bên hàng dậu một lúc để kiểm tra lại phanh tay và phanh chân, bóp chuông một hồi. Tất nhiên, có thể không cần kiểm tra gì – mọi thứ đã được xem kỹ ở cửa hàng, rồi cả sáng nay ở nhà. Nhưng Tôlic muốn để bọn trẻ chạy đến đông thêm.
Bọn trẻ quây quanh nó cũng thử phanh, thử chuông. Đứa nào đã có xe đạp thì không nói gì. Còn đứa nào không có xe thì nói: “Đại bàng con” – thường thôi, “Du lịch” tốt hơn nhiều: đến ba tốc độ kia !
Sau đó Tôlic lên xe. Ba lần nó đạp xe ngang qua cửa sổ nhà Misca, xem thử Misca có nhìn ra không. Nhưng chẳng thấy cậu bé đâu. Tôlic đạp xe ra một bãi nhỏ, nơi bọn bé con đang chơi khúc côn cầu bằng thanh gỗ nhỏ. Tôlic đạp xe ngang qua chúng để quấy phá. Bọn nhỏ tức lắm nhưng không dám nói gì bởi Tôlic to khỏe hơn chúng nhiều. Chúng cũng chẳng to thái độ chống đối nên chẳng mấy chốc Tôlic đã thấy chán.
Tôlic lại đạp xe về phía hàng rào nhà Misca. Nó biết Misca thế nào cũng đi dạo với con chó Maiđa.
Đúng vậy. Sau đó 5 phút Misca và Maiđa đi ra cổng. Tôlic đuổi theo và cho xe chạy sát Misca, suýt nữa thì đâm phải nó. Nhưng Misca tỉnh bơ như không có gì xảy ra. Chỉ có con Maiđa là chồm lên chủ, dường như muốn hỏi: có đáng xé xác cái thằng lưu manh kia không?
- Yên nào ! – Misca nói và con chó yên ngay.
Tôlic lại vượt lên trước Misca rồi đạp ngược lại. Chiếc xe lạc vào sợi dây buộc chó. Con Maiđa nhảy lên, sợi dây căng ra và Tôlic phanh không kịp. Nó bị ngã xuống đường nhựa. Tôlic nằm trên đường và phía trên là con Maiđa đang sủa inh ỏi. May mà mõm nó đeo rọ !
- Lùi lại ! – Misca ra lệnh. Maiđa lùi về phía chân chủ.
Tôlic đứng lên gần như khoe. Nó giận quá. Nó chỉ muốn đùa thôi. Hơn thế nữa nó còn muốn làm lành với Misca. Thế mà …
- Tại sao cậu thả chó ra? – Tôlic hỏi.
- Cậu tự chui vào thì có – Misca nói – May mà con chó đeo rọ. Không thì cậu chỉ còn là đống xương vụn thôi.
- Cậu cũng phải đeo rọ vào ! – Tôlic trả lời – Tớ chỉ cần muốn là cậu và cả Maiđa của cạu chỉ còn là đống xương ngay.
- Muốn đi.
- Vậy thì nhìn đây ! – Tôlic nói và đút tay vào túi.
Misca thản nhiên nhìn Tôlic. Nó đã được Maiđa bảo vệ. Hơn nữa Misca đã quen nghe Tôlic khoác lác. Nó hoàn toàn không nghĩ rằng chỉ sau một giây nó có thể biến thành một con bồ câu hoặc một con giun mà suốt đời sẽ phải sống dưới đất và chỉ bò lên vào những đêm mưa.
Tôlic co hộp diêm trong túi và mất vài giây suy nghĩ nên biến Misca và Maiđa thành con gì. Nhờ sự chậm trẽ đó mà chủ và chó được cứu thoát, bởi ngay lúc ấy Tritra đi tới.
- Mới quá nhỉ ! – Tritra nói – Tớ rất khoái những chiếc xe đạp mới như thế này. Đưa đây tớ đi một tí nào !
- Tôi đã đi đâu – Tôlic nói.
Tritra cười mỉa:
- Tao đâu có hỏi là mày đã đi hay chưa. Tao nói : đưa cho tao!
Không đợi trả lời, Tritra giơ tay định nhấc xe đạp lên.
Tôlic bối rối nhìn Tritra, nó cảm thấy mình lúc này cũng giống như mấy đứa nhỏ bị nó quấy phá ban nãy. Tất nhiên,
Tôlic có thể biến Tritra thành con giun, con dế. Nhưng Tôlic không nghĩ ra điều đó bởi lẽ nó quá sợ Tritra.
Bỗng Tôlic nghe thấy tiếng của Misca:
- Không được đụng xe đạp. không phải của anh – anh không được đụng đến.
- A, nhà thể thao đấy à?! – Tritra cười mỉa – chắc đã lâu chú mày chưa được ăn gậy ?! Tớ có thể …
Nhưng Misca không thèm cãi nhau với Tritra. Nó chỉ chiếc xe đạp và nói với Maiđa:
- Hãy giữ lấy.
Maiđa lại nằm cạnh chiếc xe. Con chó béc-giê lè lưỡi, nghiêng đầu về một phía, thản nhiên nhìn Tritra, như nhìn một đứa nhóc con. Tritra đỏ mặt. Nhưng nó không muốn rút lui trước mặt mọi người. Nó lại đưa tay về phía xe đạp. Con Maiđa gầm gừ, nhe hàm răng nhọn hoắt.
- Tốt hơn là đi đi, Tritra – Misca nói – Chúng tôi chẳng đụng gì đến anh kia mà.
Tritra chịu thua. Nó chắp tay ra sau lưng vừa đi vừa huýt sáo, như không có chuyện gì xảy ra.
Misca dựng xe lên.
- Nhìn kìa, pêđan bị gãy rồi – nó nói với Tôlic bằng một giọng như chúng chưa bao giờ cãi nhau. Và Tôlic chũng trả lời nó như là chưa bao giờ muốn biến Misca thành giun dế:
- Không sao. Bây giờ mẹ tớ có thể mua cho tớ hàng chục chiếc như thế.
Dù sao Misca vẫn quyết định đưa Tôlic về nhà. Nó dắt con maiđa về nhà mình rồi sau đó hai đứa cùng khiêng xe đạp lên cầu thang.
Mẹ mở cửa cho chúng. Thật là may. Mẹ là người đầu tiên nhìn thấy chiếc pêđan gãy và thầm thì:
- Giỏi thật ! Chưa kịp ra khỏi sân thì pêđan đã gãy. Con thật là một cậu bé cừ khôi. Nhưng đừng nói với ba. Ngày mai chúng ta sẽ sửa lại thôi.
Misca ngạc nhiên nhìn mẹ Tôlic. Nó chưa bao giờ thấy cha mẹ khen con vì xe đạp gãy.
Nghe động ba cũng đi ra. Mẹ đứng che chiếc xe đạp nên ba không thấy gì.
- Xin chào, Mikhail ! – ba nói – Sao đã lâu không thấy cháu tới chơi?
- Dạ … - Misca ngập ngừng. Nó không muốn nói là bọn chúng đã cãi nhau – Dạ … bài vở nhiều quá. Và cháu còn phải đi tập khúc côn cầu nữa.
- Chơi cẩn thận chứ không thì dễ bị gãy chân lắm – ba nói – Anatôli chơi thế nào, được chứ?
- Nó chơi giỏi lắm. Huấn luyện viên nói: nó chơi hay nhất.
- Chơi hay nhất à – ba cười to, tỏ vẻ hài lòng. Ông còn gọi vào bếp – Bà già ơi, nghe chưa, Anatôli của chúng ta chơi hay nhất đấy !
- Tôi chưa bao giờ nghi ngờ điều đó – mẹ nhô ra khỏi bếp – Nhưng một lần nữa tôi yêu cầu anh không được gọi tôi là bà già.
- Thôi bà già ơi, tôi đùa đấy mà – ba cười – mọi người đều thấy là em còn trẻ và đẹp chán.
- Thôi, ông già, đi ăn cơm trưa đi.
- Nào thôi đi, các cụ - ba nói – Tôi còn phải xem khúc côn cầu nữa. Hôm nay ta đấu với Mỹ.
Sau bữa ăn, như thường lẹ, mẹ đi rửa bát đãi. Ba đứng bên mẹ một phút tán chuyện rồi đi mở tivi xem trận đấu với Mỹ.
Misca và Tôlic đi ra phố. Ra đến sân chúng tháo khăn quàng cổ đút vào túi. Bây giờ, đi dọc theo đường phố, nhảy qua những vũng nước, bọn chúng thấy lòng nhẹ nhõm, vì trời hôm nay ấm áp và vì chúng đã làm lành với nhau.
- Đến vườn bách thú đi – Tôlic đề nghị.
- Tiền không có, - Misca thở ra – Tớ cũng muốn xem con hươu cao cổ vừa mới đem về.
- Không lo – Tôlic nói và đưa cho Misca xem một rúp – Cần bao nhiêu mẹ tớ cũng cho.
- Sau này tớ sẽ trả lại cho cậu – Misca nói.
Nhưng Tôlic chỉ cười. Misca làm sao biết được rằng Tôlic muốn bao nhiêu tiền cũng có. Chỉ có điều là nó chưa nghĩ ra cách để mọi người không thấy là nó có nhiều tiền.
Đến cổng bánh thú, Tôlic mua hai vé và hai que kem, ngay sau đấy chúng cho mấy con gấu con ăn luôn mặc dù điều đó bị nghiêm cấm. Và cái điều nghiêm cấm ấy cũng chẳng mấy ai chịu để ý tới. Người xem ném cho gấu nào là kẹo, táo v.v…, mặc cho bà dọn chuồng la mắng. Bà ta làu bàu: “đi xem gấu mà còn mất lịch sự hơn gấu, trí óc còn thua cả gấu” nhưng chẳng ai nghe.
Tôlic và Misca đứng một lúc lâu bên cạnh chuồng. Hai chú gấu con đương sinh sự với nhau. Chúng đứng trên hai chân sau vật nhau như người. Sau đó cả hai chạy lại quấy phá sư tử con. Sư tử con chịu đựng một lúc rồi bớp cho mỗi chú gấu con một cái làm chúng lộn đi đến hai vòng. Tritra mà bị bớp như thế chắc ngất xỉu ngay. Còn gấu con chỉ xoay đầu, rồi chạy về phía song sắt đòi kẹo.
Sau đó đôi bạn đi xem voi. Con voi vẫn như trước – già cỗi, gân guốc và thông minh. Người xem ném tiền xu cho voi và nó thủng thẳng lấy vòi nhặt hết bỏ vào túi người trong thú, chắc để thưởng công cho con người đã đút cho nó khi thì cà rốt, khi thì là bắp cải. Tội nghiệp cho con vật. Nó quá lớn so với cái chuồng bé nhỏ. Nó nhìn ra ngoài với đôi mắt buồn, dường như thấu hiểu một cái gì đó mà nó không muốn nói với người xem.
Tôlic ném cho con voi một đồng xu rồi bọn trẻ đi qua chuồng gấu trắng.
Mấy chú gấu trắng bơi trong cái bể lớn có tường bao bọc. Các bậc cha mẹ để con mình ngồi lên tường nhìn cho rõ. Một bà mẹ kể cho đứa con gái nhỏ nghe rằng, có một lần người ta đã ném một bé gái vào bể.
- Con bé ấy không biết vâng lời, - người mẹ nói – Nó luôn luôn khóc nhè. Cũng giống như đôi lúc con khóc nhè vậy.
- Nó chạy thoát khỏi mấy con gấu chứ mẹ? – em bé gái hỏi.
- Không, nó là đứa bé không vâng lời nên bị xé ra từng mảnh nhỏ.
Em gái nhìn mẹ, nước mắt dàn dụa. Người mẹ nói:
- Con thấy không? Nếu như con biết vâng lời mẹ thì chẳng bao giờ con bị gấu trắng ăn thịt cả !
Em gái òa khóc, đòi vê,f nó không còn muốn xem một con thú nào nữa. Người mẹ bắt đầu dỗ dành nhưng em bé không nghe và còn khóc to hơn. Tôlic cấu nhẹ vào da bé gái. Nó rất ngạc nhiên rồi im bặt. Người mẹ lại dẫn con đến chuồng sau.
Bên cạnh chuồng con sói đôi bạn đứng không lâu. Chúng hầu như giống chó nhà.
Nhưng ở chuồng sư tử thì người xem dồn lại rất đông. Misca và Tôlic đứng nhón chân xem cái gì ở cạnh song sắt mà người ta tán chuyện, cười đùa ầm ĩ vậy.
Khó khăn lắm bọn trẻ mới đến được gần song sắt và trong thấy Tritra. Cậu ta đứng giữa đồng bọn, trêu chọc con sư tử trong chuồng.
- Gừ … gừ … - Tritra nói – Nào, bò lại đây, lại đây … Cắn tao đi ! Sao không ăn thịt tao đi ? Lại đây … Đừng sợ, tao không làm gì đâu !
Đồng bọn cười ầm ĩ. Còn Tritra tỏ ra rất hài lòng, rất dũng cảm bởi con sư tử đã nằm trong song sắt.
- Ra khỏi chuồng đi – nó nói tiếp – tao sẽ lột da mày rồi thả trần truồng về châu Phi.
Đồng bọn cười nghiêng ngả, tán thưởng Tritra.
- Tao sẽ róc xương mày nấu cao – Tritra nói và lấy một que gỗ ném về phía chuồng.
Con sư tử không thèm động đậy. Nó nằm áp bụng xuống đất, đầu ngẩng về phía người xem, mắt lim dim nhìn Tritra. Dường như nó chẳng liên quan gì đến sự trêu chọc bên ngoài. Nhưng khi Trtra thò tay qua rào chắn, mí mắt con sư tử bỗng nhấp nháy, đuôi nó khẽ động đậy … Cái nhìn của nó trở nên chú ý hơn, nhưng sau đó lại khép lông mi như cũ. Dù sao nó cũng chẳng đụng đến tay Tritra được.
Còn Tritra “dũng cảm” thì tiếp tục gây cười cho đồng bọn.
Tôlic muốn đi khỏi chuồng khi Tritra chưa kịp nhận ra bọn chúng, nhưng Misca giữ nó lại. Misca yêu động vật và ghét Tritra. Nó nhô đầu lên phía trước nói:
- Trirerin, anh gọi nó ra làm gì kia chứ? Nếu thích thì anh cứ chui vào?
Tritra nhíu mày nhìn Misca:
- Lại một tiếng nói từ âm phủ ! A, xin chào đồng chí Pavlôp. Mày muốn bịt mồm bây giờ hay lát nữa?
- Anh bịt nó đi ! – Misca nói, hất đầu về phía con sư tử - Anh muốn nấu cao nó thì nấu đi. Hãy vô chuồng mà lột da nó. Anh vừa nói là sẽ lột da nó kia mà.
- Tao sẽ lột da chính mày, - Tritra đe dọa, đưa mắt nhìn chung quanh.
Một người đàn ông đứng bên cạnh nhìn Tritra, nói:
- Này, anh bạn trẻ, đi khỏi đây ngay. Dọa dẫm như thế là đủ rồi. Bỏ ngay cái kiểu chơi treo ghẹo động vật ấy đi. Cậu bé này nói đúng đấy. Cậu ta tuy nhỏ nhưng thông minh hơn anh bạn nhiều.
- Đúng, thông minh hơn – Tritra nói, lách ra khỏi đám đông, đứng về một phía chờ Tôlic và Misca ra. Đồng bọn đứng gần nó, cười cợt. Tôlic hiểu là lần này chúng sẽ không thoát khỏi Tritra.
- Misca – Tôlic thầm thì – đi ra và chạy thôi. Có thể nó sẽ không đuổi theo.
Misca nhún vai:
- Tớ sẽ không chạy.
- Nó sẽ đánh.
- Mặc kệ.
- Không, không mặc kệ được – Tôlic nổi xung – Nếu như nó muốn đánh thì tớ sẽ róc xương nó. Tớ cũng ngấy nó từ lâu rồi.
Misca liếc nhìn thằng Tritra to lớn, mặc dù chẳng vui vẻ gì, nhưng nó cũng cười và gõ ngón tay vào trán.
- Lại khoác lác !
- Để cậu xem ! – Tôlic nói – Đi đi, đừng sợ !
Hai đứa đi ra khỏi đám đông. Tritra liếc nhìn đồng bọn rồi từng bước đi tới. Nó đi thẳng đến trước mặt Misca, không để ý gì đến Tôlic. Tôlic lấy hộp diêm từ túi ra. Tritra lững thững đến sát Misca rồi giơ tay ra.
Tôlic bẻ que diêm và lầm bầm điều gì đấy.
Và ngay lúc đó đám đông kêu hét lên, dạt ra khỏi rào chắn. Trong chuồng sư tử, một thanh niên, không biết từ đâu, đứng giơ tay về phía trước. Đó là Tritra.
Một vài giây không gian chết lặng. Không một ai nhúc nhích. Sư tử xoay đầu giận dữ nhìn Tritra. Nó đã nhiều năm sống trong bách thú và quen nhìn người xem qua song sắt, nhưng chưa bao giờ có lấy một người chui vào chuồng nó.
Mũi sư tử phập phồng, đuôi nó quất lia lịa xuống nền. Nó đã nhận ra kẻ trêu chọc nó.
Tritra đứng, mồm há hốc, mắt tròn xoe. Nó chẳng hiểu tại sao trước mặt nó không phải là Misca mà là con sư tử. Nó nhắm mắt lại một giây rồi lại mở ra. Và quá kinh sợ, chân nó bắt đầu run lẩy bẩy, sau đó đến hai tay, rồi hai tai nó cũng run. Nó đã hiểu, trước mặt là con sư tử thật. Và nhìn mắt sư tử, nó hiểu rằng con sư tử đang chuẩn bị lột da nó.
Con sư tử từ từ đứng dậy. Những tiếng kêu thất thanh vang lên. Một số người xem chạy ra xa, lấy tay che mắt để khỏi thấy cảnh hãi hùng. Một số khác, dũng cảm hơn, xua tay và la hét con thú. Tất cả ở trong trạng thái hỗn loạn. Từ những chuồng ở đằng xa người giữ thú cầm gậy sắt len tớ. Từ tứ phía, nhân viên vườn bách thú chạy đến với dụng cụ dập lửa, gậy sắt trên tay. Trong bối cảnh đó không một ai, kể cả Misca, nhìn thấy Tôlic bẻ một que diêm nữa.
Sư tử chuẩn bị vồ mồi. Tritra lại nhắm mắt. Nó muốn chết nhẹ nhàng hơn.
Rồi tất cả những ai đang nhìn vào chuồng sư tử lại kêu ồ lên, chết khựng.
Bên cạnh Tritra bất thì lình hiện ra một cậu bé. Cậu bé lấy mũ trên đầu xuống, xua sư tử. Và con thú dữ đang ở trong tư thế vồ mồi bỗng cụp duôi, lùi lại và biến ra sau cửa, vào ngăn trú đông.
Vừa lúc ấy một nhân viên bách thú chạy đến. Chưa hiểu ngô khoai gì hết, anh ta lấy bình cứu hỏa phun một luồng nước vào người Tritra từ đầu đến chân. Dòng nước làm Tritra tỉnh lại. Nó chớp chớp mắt nhìn cậu bé và mỉm cười một cách ngu xuẩn. Sau đó nó nhìn vào máng ăn, nơi con sư tử vừa đặt chân lên và ngất xỉu.
Cùng lúc ấy người giữ thú chạy đến, run rẩy mở khóa chuồng. Dân chúng từ khắp mọi nơi trong vườn chạy đế. Họ hỏi nhau về chuyện đã xảy ra. Họ kháo nhau về một thanh niên dại dột nào đấy đã chui vào chuồng sư tử và về một thanh niên dũng cảm xông vào cứu gã kia.
Cậu thiếu niên dũng cảm, tất nhiên là Tôlic.
Người ta khiêng Tritra ra khỏi chuồng và đặt lên một chiếc ghế dài, ông bác sĩ làm hô hấp nhân tạo cho nó.
Dân chúng bao quanh Tôlic. Họ muốn nhìn thấy con người không biết sợ thú dữ. Người ta gọi Tôlic là anh và tranh nhau hỏi nó. Tôlic mỉm cười lịch sự và trả lời đại loại như sau:
Từ nhỏ nó đã không biết sợ sư tử, vì cha nó là một người dạy thú. Nó chri hành động một cách bình thường.
Đối với nó những chuyện ấy là không đáng nói.
Nó không thấy Tritra chui vào chuồng như thế nào. Ở trường nó học toàn điểm năm.
Nó luôn luôn giúp đỡ mọi người trong hoạn nạn.
Ước muốn trở thành nhà du hành hoặc giám đốc nhà máy.
Và vân vân …
Cho đến thi giám đốc vườn bách thú tớ hôn vào hai má Tôlic và siết chặt hai tay nó. Một người cao lớn xin được chụp ảnh Tôlic, ông giám đốc, chuồng thú và sau đó phỏng vấn Tôlic về đời tư. Người đến xem ngày một đông. Ai cũng muốn nhìn thấy người anh hùng tí hon bằng chính mắt mình. Đến khi giám đốc vườn bách thú sự nhớ là phải đưa phạm nhân là Tritra đến công an, ông bổ về ghế dài nhưng chỉ thấy mỗi mình ông bác sĩ ở đấy.
- Một trường hợp là lùng – bác sĩ xoa tay nói – Cậu thanh niên hầu như không có dấu hiệu sống. Tôi đã nghĩ là phải gọi xe cấp cứu. Ấy thế mà tôi chỉ mới ngoảnh mặt đi một giây để lấy ống tiêm trong túi thì cậu ta đã vùng dậy bỏ chạy…
- Không có gì lạ cả - giám đốc nhíu mày – Thằng lưu manh không muốn trả lời cho những hành động của mình và bỏ chạy, thế thôi.
- Tôi không muốn nói điều đó – bác sĩ nói – Không phải nó chạy ra cổng, mà là chạy thẳng đến hàng rào rồi nhảy qua luôn …
- Hoàn toàn dễ hiểu – sợ qua thì làm sao mà thấy lối ra.
- Tôi không muốn nói đến điều đó – bác sĩ nói – Ông hãy nhìn hàng rào kia. Nó cao phải đến ba mét chứ chẳng chơi. Nếu tôi không nhầm, thì kỷ lúc thế giới về nhảy cao thấp hơn nhiều.
- Hãy dẹp mấy cái kỷ lục của anh lại – giám đốc nói – Bây giờ không phải là lúc nói chuyện kỷ lục. Đi đến phòng làm việc của tôi ngay. Cần phải lập hồ sơ. Sẽ phải điều tra đấy. Con người trong chuồng thú – về chuyện đó, anh biết không, người ta chẳng để tôi yên đâu.
Dân chúng vẫn bao quanh Tôlic. Bận rộn nhất là ông có máy ảnh. Ông ta chụp Tôlic từ trên xuống, từ dưới lên, từ góc này sang góc kia, ông ta hỏi Tôlic về cha mẹ, về học hành và viết các câu trả lời vào sổ. Cuối cùng ông chụp Tôlic trên nền chuồng thú và nói rằng sẽ viết về nó lên báo. Tôlic rạng rỡ. Lần đầu tiên trong cuộc đời nó cảm thấy sảng khoái biết bao khi làm người anh hùng. Các cậu bé nhìn nó với sự thèm thuồng vô hạn. Đàn ông thì vỗ vai và bắt tay nó. Đàn bà thì nhìn nó cảm phục và hơi chút ghen tuông, bởi họ không có được những đứa con trai như thế. Họ thầm thì với nhau rằng Tôlic có khuôn mặt kiên nghị, cái nhìn dũng cảm, phong thái chững chạc. Những điều như thế có thể nghe đến tối cũng được. Nhưng rất tiếc là ông giám đốc lại xuất hiện. Đến bên Tôlic, một lần nữa ông hôn hai má nó rồi dắt nó đến phòng làm việc. Phía sau là một dòng người.
- Chờ một tí, - người chụp ảnh gọi theo – Tôi là phóng viên. Cậu bé chưa nói cho tôi biết tên, họ.
- Ghé lại lấy sau – giám đốc nói – Chúng tôi sẽ lập hồ sơ. Tên tuổi sẽ có thôi.
Khi Tôlic và giám đốc vào phòng, ở đấy có ông bác sĩ.
- Này, bác sĩ hãy chiêm ngưỡng người anh hùng của chúng ta ! – giám đốc hể hả nói.
Bác sĩ nhìn Tôlic, Tôlic cũng nhìn bác sĩ và chớp mắt. Người bác sĩ trong bộ đồ trắng chính là ông béo đã xách những gói dồi nhân thịt to lớn hôm nào.
Bác sĩ nhíu đôi mày rậm, trên khuôn mặt ông ta thoáng một nụ cười ngỡ ngàng.
- Hình như tôi đã gặp người anh hùng của anh ở đâu rồi - ông lẩm bẩm – A, nhớ ra rồi, này cậu bé, có khi nào cậu bị bắt vô công an chưa?
- Cháu? – Tôlic hỏi lại.
- Vâng, cậu.
- Chưa một lần.
- Kỳ lạ thật … - bác sĩ kéo dài giọng.
- Chẳng có gì kỳ lạ ! ông giám đốc nổi giận – Chẳng lẽ anh cho rằng một cậu bé dũng cảm như thế này lại có thể làm một việc gì xấu hay sao?
- Tôi không muốn nói như thế - bác sĩ trả lời – Tôi chỉ tin là tôi đã gặp cậu bé này. Và cứ mỗi lần tôi gặp cậu ta là lại xảy ra những điều kỳ lạ. Ngày hôm đó tôi gặp cậu lần đầu tiên và tôi bị công an bắt không vì một lý do gì. Đầu tiên tôi thấy cậu ta đi với một anh công an. Sau đó chính anh công an đó bắt tôi đưa vô đồn. Lạ lùng nhất là ở chỗ anh công an không thể giải thích cho cấp trên của mình vì sao anh ấy lại bắt tôi. Anh chỉ huy rất giận, bởi vì chỉ trong một buổi sáng hôm đó đã có hai trường hợp kẻ bị bắt chạy trốn: đầu tiên là một tên tội phạm nào đó, sau đấy là một cậu bé. Anh chỉ huy cách chức người công an đó và thả tôi ra. Hôm nay tôi gặp cậu bé này lần thứ hai và … không biết bằng cách nào cậu ta đã vào được chuồng thú để cứu một người cũng không rõ vì sao lại chui vào được. Tất cả thật kỳ lạ …
- Không có gì kỳ lạ hết – giám đốc phản đối – Đơn giản là anh nhầm lẫn thôi. Còn về chuồng sư tử … thì ngay bây giờ tôi sẽ đuổi người giữ thú vì tội quên đóng chuồng.
Ông giám đốc chưa dứt lời thì cửa ra vào xịch mở và người giữ thú lo lắng bước vào.
- Thưa đồng chí giám đốc, - người giữ thú nói – Tôi vừa mới đi quanh chuồng và chẳng hiểu thế nào cả. Dạ xin đồng chí thứ lỗi cho … Bọn chúng vào bằng cách nào? Chuồng đã được khóa cẩn thận, khóa hai vòng hẳn hoi.
- Anh khẳng định điều đó? – giám đốc hỏi.
- Không phải chỉ một mình tôi, tất cả mọi người đều thấy. Anh cứ hỏi thử mọi người xem.
- Lạ thật … - ông giám đốc nói và quay sang phía Tôlic. Nhưng ông chỉ kịp thấy đôi giày của cậu bé lướt qua và tiếng đế giày gõ bộp bộp trên thềm.
- Bắt gữ anh hùng lại ! – giám đốc hét.
Người dạo chơi quay về phía tiếng kêu, rồi nhìn quanh không thấy ai giống anh hùng cả. Họ nghĩ là chắc ai đấy đùa nghịch.
- Kỳ lạ thật ! – giám đốc lau mồ hôi trán rồi thả mình xuống ghế.
- Chẳng có gì kỳ lạ - ông bác sĩ nhận xét – Có lẽ chúng ta điên hết rồi. Hãy gọi bác sĩ ngay.
Misca đuổi kịp Tôlic khi đã đến gần nhà.
- Tại sao cậu bỏ chạy? – nó hỏi.
- Chẳng lẽ tớ đã chạy à? – Tôlic hỏi lại.
- Cậu chạy như một người không bình thường.
- Đơn giản là tớ rất thích chạy.
- Tôlic … - Misca ngập ngừng hỏi – Tôlic cậu đã ở trong chuồng thú thiệt à? Và cả Tritrerin cũng ở trong đó? Hay là do tớ cảm giác như thế?
- Có gì đặc biệt đâu !? – Tôlic nói – Mọi việc là như thế.
- Nhưng anh ta vừa mới đứng cạnh tớ. Cậu cũng đứng bên cạnh … Ấy thế mà tự nhiên – cậu ở trong chuồng … va tớ chẳng biết …
- Tớ nhảy vào rất nhanh – Tôlic nói – Nếu như tớ nhảy chậm thì con sư tử đã xé xác anh ta rồi còn gì.
- Cậu hoàn toàn – hoàn toàn không sợ à?
- Sợ cái gì kia chứ ! Tớ chưa thấy sư tử sao?
- Thế tại sao cậu chạy trốn ông giám đốc vườn thú?
- Họ muốn thưởng cho tớ một nghìn rúp. Nhưng tớ bỏ chạy vì khiêm tốn.
- Thế tại sao cậu nói rằng ba cậu là người dạy thú? Ông ấy làm việc ở trường đại học, chứ đâu phải trong đoàn xiếc.
- Sao cậu cứ “tại sao, tại sao” hoài thế? Tớ nói với cậu rằng: bởi vì, bởi vì và hết.
Misca nghi ngờ nhìn Tôlic. Nó muốn hỏi: Tôlic học chơi khúc côn cầu lúc nào mà đánh hay hơn cả các kiện tướng? Và trông dầu nó nảy ra một ý nghĩ lạ lùng. Hay có thể, đây không phải là Tôlic thật. Tôlic thật còn không dám bò vào chuồng nhốt chuột nữa chứ đừng nói là chuồng sư tử. Và khúc côn cầu Tôlic thật chơi cũng chẳng hay hơn các bạn của mình. Misca nhớ lại thái độ lạ lùng của mẹ Tôlic sáng nay. Bà mẹ Tôlic trước đây sẽ chẳng khen Tôlic làm hư xe đạp và cũng sẽ không giấu ba nó về điều đó.
Càng nghĩ, Misca càng thấy là cậu bé này không phải là Tôlic mà có thể là một tên gián điệp nào đấy, và mẹ của nó cũng không phải là mẹ thật mà cũng là một nữ gián điệp hoặc là một mụ trôm cắp cải trang.
Đúng ra, Misca không nên nói với Tôlic về những nghi ngờ của mình, mà phải báo ngay với công an để bắt Tôlic giả và buộc nó khai ra Tôlic thật mà Misca làm bạn từ hồi lớp một bây giờ ở đâu. Nhưng Misca là một cậu bé trực tính, không ưa mánh khóe, nó hỏi thẳng:
- Này, Tôlic … cậu là Tôlic hay không phải Tôlic?
Nhưng Tôlic không chút ngạc nhiên, dường như từ lâu nó đã chờ đợi cậu hỏi này. Nó xắn ống quân lên và Misca nhìn thấy cái mụn cóc mà năm ngoái bọn chúng định dùng kéo cắt đi. Vậy là không phải là Tôlic giả.

Vào một ngày trong tuần Anna Gavrilôvna mang một tờ báo đến lớp.
- Đây là báo hôm nay – cô giáo nói với học sinh – Trước khi bắt đầu giờ học cô muốn đọc cho các em nghe một bài báo.
Học sinh xếp sách vở, vòng tay lên bàn, chuẩn bị nghe. Thích thú nhất là các trò lười nhác chưa thuộc bài. Chúng sẵn sàng nghe suốt cả ngày.
Anna Gavrilôvna ngồi xuống ghế và trải tờ báo ra.
- Bài báo có tên: “Người anh hùng chưa tìm ra”. “Chủ nhật vừa qua, người đi chơi vườn bách thú đã chứng kiến một câu chuyện không bình thường. Đó là một ngày nắng đẹp. Người đi chơi đông vui, náo nức. Họ tò mò ngắm nhìn những con thú được mang về từ những nơi xa xôi của đất nước chung ta và các ngước khác. Đặc biệt, rất đông người xúm quanh chuồng sư tử. Con sư tử to lớn gầm gừ nhìn người qua lại. Người đi xem chăm chú chiêm ngưỡng vị chúa tể của nói rừng. Và chẳng ai để ý đến một cậu bé khiêm tốn đứng bên cạnh chuồng. Bỗng vang lên những tiếng kêu hoảng sợ. Một thanh niên ngổ ngáo không hiểu từ đâu chui vào chuồng thú. Chỉ một giây thôi là con sư tử sẽ xé xác anh ta !... Không một ai có thể giúp anh ta được ! Không một ai? Nhưng không ! Chỉ nửa giây sau trong chuồng thú có hai người. Người mới vào xông tớ con sư tử và … “vị chúa tể” hoảng sợ lùi dần. Và cậu thiếu nhi (bởi người mới vào là cậu thiếu nhi) tiếp tục tấn công mặc dù trong tay cậu chẳng có một thứ vũ khí gì ngoài cái mũ bình thường. “Vị chúa tể” gầm gừ rút lui rồi biến vào gian trú đông của nó. Thế là con người đã chiến thắng thú dữ. Người chiến thắng là một học sinh của thànhh phố chúng ta, chính là cậu bé mà mấy phút trước đây đã đứng bên cạnh chuồng sư tử. Người anh hùng nhỏ tuổi lại rất khiêm tốn. Được hỏi về hành động của mình, cậu thiếu nhi trả lời “Bất cứ một học sinh nào ở vị trí tôi cũng hành động như thế”. Chúng tôi chưa kịp biết tên họ của con người dũng cảm, nhưng phóng viên của chúng tôi đã kịp chụp bức ảnh này”.
Anna Gavrilôvna đặt tờ báo xuống bàn và nhìn lớp học im phăng phắc.
Bọn trẻ tròn xoe mắt nhìn cô giáo. Những tay lười nhác, đã quên những bài chưa thuộc của mình, ngồi im không động đậy. Chỉ một mình Tôlic, khiêm tốn cúi đầu, lấy ngòi viết khều khều mặt bàn.
- Thế mới thật là ! – cuối cùng Xasa Ardukhanhan nói.
- Một hành động anh hùng hiếm có – Lênha Travin đồng tình.
Còn Lêna Seglôva thở ra nói:
- Giá như trong lớp ta có những người như thế …
- Ở đây có cả ảnh nữa – Anna Gavrilôvna nói và âu yếm nhìn về phía Tôlic – Biết đâu được, cậu bé ấy lại ở trong lớp ta thì sao?
Bọn trẻ cười ồ. Chúng cho là cô giáo nói đùa. Chúng quay lại nhau hỏi: “Có thể đấy là cậu?”. Và từng đứa trả lời: “Tất nhiên, tớ đấy mà”. Xasa Ardukhanhan đá chân Tôlic hỏi: “Có thể, đấy là cậu, phải không Rưzcôp?”
- Vâng, tôi – Tôlic trả lời.
Cả lớp lại cười ồ. Tất cả đều biết là Tôlic sợ cả chuột trắng. Và Anna Gavrilôvna cũng cười. Nhưng nếu bọn trẻ chú ý sẽ thấy cô giáo hết nhìn tờ báo lại nhìn Tôlic.
- Cô giáo ơi, cho xem ảnh Rưzcôp đi – bọn trẻ nói cười ầm ĩ – Rưzcôp nói là chính bạn ấy đấy.
Anna Gavrilôvna giơ tờ báo lên.
Mấy đứa ngồi gần bàn cô giáo lập tức im bặt. Dần dần hàng thứ ba, thứ tư cũng im luôn. Ở bàn cuối nghe thấy những tiếng khì khì rồi mất hẳn. Chỉ còn mồi Lênha Travin bị cận thị là vẫn tiếp tục cười.
Không khí lớp học hoàn toàn im lặng.
Khuôn mặt tròn xoay tươi cười của Tôlic từ trong tờ báo đang nhìn bọn trẻ.
- Rưzcôp … - Lênha Seglôva thầm thì kinh ngạc.
Tất cả quay về phía Tôlic. Nó ngồi đó như chẳng có gì xảy ra và tiếp tục khều mặt bàn.
- Rưzcôp, có phải cậu không? – Lênha Travin thiếu tin tưởng hỏi.
- Tớ. Thì sao? – Tôlic nói, vẻ ngạo mạn.
Lại im lặng. Tất cả bọn trẻ chăm chú nhìn Tôlic như thể tìm trên người nó một cái gì đó không bình thường, dường như chúng cho rằng những người anh hùng cần phải có đôi tay hay đôi chân đặc biệt. Cả Misca Pavlôp cũng bị nhìn, bởi đôi bạn ngồi cạnh nhau và có nghĩa là Misca cũng chịu ảnh hưởng ánh hào quang của Tôlic. Ngồi dưới ánh mắt của bạn bè Misca cảm thấy khó chịu. Còn Tôlic vẫn ngồi bình tĩnh, dường như từ lâu nó đã quen được đăng ảnh trên báo chí.
- Có nghĩa là chính em, Rưzcôp? – Anna Gavrilôvna hỏi.
- Vâng, thưa cô, chính em – Tôlic trả lời.
- Tại sao em không nói tên họ của mình?
- Em sợ …
Bọn trẻ bật cười nhưng ngay lập tức hích nhau im lặng. Chúng không muốn bỏ sót một lời của Tôlic.
- Em sợ cái gì?
- Em sợ mẹ mắng.
Cả lớp nói cười vui vẻ. Bởi quá hài hước: một con người hoàn toàn không sợ sư tử, lại sợ mẹ một cách kinh khủng. Người anh hùng con có biệt tài hóm hỉnh !
Bọn trẻ rời khỏi chỗ của mình, bao quanh bàn Tôlic. Chúng muốn biết chuyện xảy ra cụ thể thế nào và ai là người được Tôlic cứu sống. Đứa nào cũng muốn đến gần Tôlic và vỗ vào lưng nó, bởi không phải lúc nào cũng có thể vỗ lưng một người vĩ đại thế này. Anna Gavrilôvna dường như không để ý đến sự mất trật tự. Bọn trẻ ồn ào đến mức thầy hiệu trưởng đi ngoài hành lang cũng nghe thấy.
Cửa vào lớp xịch mở. Bọn trẻ quay về phía cửa. Thầy hiệu trưởng – người có quyền đuổi bất cứ ai, kể cả cô Anna Gavrilôvna vào bất cứ lúc nào – đứng nhìn lớp học mất trật tự.
- Chuyện gì thế này? – thầy hiệu trưởng hỏi.
- Tôi vừa đọc cho các em nghe bài báo – cô Anna trả lời.
- A ha – thầy hiệu trưởng nói. Ông chăm chú nhìn Tôlic và nghiêm nghị nói tiếp – Giỏi đấy, Rưzcôp ! Sau giờ học lên tôi gặp.
Cửa đóng lại sau lưng thầy hiệu trưởng.
- Nào, tất cả ngồi vào chỗ của mình – Anna Gavrilôvna nói – Chúng ta bắt đầu bài học. Rưzcôp sẽ kể cho chúng ta sau.
Nhưng bọn trẻ thấy ngay là cô giáo chỉ nói để cả lớp trật tự, chứ bản thân cố cũng muốn nghe Tôlic kể ngay.
- Để Rưzcôp kể bây giờ đi cô ! Sau đấy chúng em sẽ tự học lấy ! Chỉ một lần thôi cô ! Chỉ một bài học tí xíu thôi mà ! – bọn trẻ kêu lên.
- Thôi được – cô giáo nói – Rưzcôp kể đi, tất nhiên là nếu như em muốn. Những trường hợp như thế này không phải là thường xuyên.
Tôlic đứng lên, đằng hắng và nhìn vào mắt Anna Gavrilôvna, bắt đầu:
- Chủ nhật vừa rồi em và Misca rủ nhau đi bách thú. Em mua vé cho Misca. Và mua cả kem cây nữa. Kem cây tụi em cho gấu con ăn và tiếp tục đến chuồng voi. Nó nói với em.
- Voi nói? – Cô giáo hỏi trong tiếng cười rộ của bọn trẻ.
- Misca nói – Tôlic tỉnh bơ như không – Nó nói: “Tôlic, cậu có thể ăn con voi không?” Và em trả lời nó: “Đừng hỏi vớ vẩn. Anna Gavrilôvna thường nói với chúng ta là đừng bao giờ đưa ra những câu hỏi vớ vẩn”. Đúng vậy không, cô Anna?
- Đúng, đúng – cô giáo nói – Em kể chuyện con sư tử đi chứ.
- Cậu đừng bịa – Misca giật ống quần Tôlic, thầm thì. Nhưng Tôlic dường như không để ý.
- Sau đó chúng em đến hồ gấu trắng. Mấy con gấu đang bơi. Một bé gái rơi xuống đó và bị xé ra từng mảnh …
- Khi nào? – Bọn trẻ đồng thanh kêu lên.
- Cách đây không lâu – Tôlic thản nhiên trả lời. – Tớ không nhớ rõ. Lúc đó tớ không có ở đây. Không thì tớ đã cứu được. Nói chung, tớ mến trẻ nhỏ. Các cậu đã biết là tớ đã bắt một tên tội phạm như thế nào?
- Không ! Bọn trẻ kêu lên.
Tôlic nhún vai, tỏ vẻ như sáng nào nó cũng bắt được một tên tội phạm.
- Một phạm nhân to béo như thế này này – nó đưa tay ra môt tả - Hắn ăn trộm một trăm kilôgam đồi nhân thịt. Và rút súng lục định bắn. Còn tớ …
- Rưzcôp, Anna Gavrilôvna ngắt lời nó – Từ lâu chúng ta đã biết em bắt bọn tội phạm như thế nào rồi. Cô đã nghe chuyện đó từ hồi năm ngoái kia. Còn với sư tử, em cũng chiến đấu như vậy à?
- Không, thật đấy, báo hoàn toàn viết đúng ! – Tôlic tức giận – Đúng không, Misca?
- Đúng đấy, cô Anna ạ - Misca khẳng định – Chính em thấy mà.
- Vậy đừng đi lạc đề nữa – cô giáo nói.
- Thế thì em đi ngay vào con sư tử - Tôlic
(CHỖ NÀY BỊ THẾU 3 TRANG)

từ tay người này sang tay người khác và đến cuối buổi học thì nhàu nát. Nếu Tôlic ra nhà ăn thì những người đứng trước sẵn sàng nhường chỗ. Trong phòng thiéu nhi đã có một bài báo với tựa đề: “Người anh hùng trong trường học chúng ta”. Còn ông chủ tịch hội thân hữu nhà trường thì đề nghị cho trường học mang tên A.Rưzcôp.
Ngày hôm đó không biết Tôlic đã phải bắt tay mấy trăm lần, nghe không biết bao nhiêu lời chúc mừng, chỉ biết rằng mới về đến nhà, không kịp ăn tối, Tôlic đã lăn ra đi-văng ngủ. Nó không hề hay biết mẹ đã cẩn thận cởi giầy, quần áo và bế nó vào giường.
Mẹ đắp chăn cho Tôlic, đứng một lúc lâu bên cạnh giường và sung sướng nhìn thấy đứa con mỉm cười trong mơ. Mẹ biết rằng chỉ có những người rất tốt mới có thể mỉm cười trong giấc ngủ.

Tôlic đạt thành tích rực rỡ trên sân khúc côn cầu. Theo luật lệ, nó không được thi đấu cho đội người lớn, kể cả đội trẻ. Nó phải chơi cho đội thiếu niên. Nhưng ở đấy không phải là cuộc thi đấu thật sư. Những cậu bé đã chưoi hai ba năm trông như mới biết đi so với Tôlic. Mình nó có thể thắng cả một đội thiếu niên.
Tôlic tập luyện với người lớn. Điều đó cũng không cho phép, nhưng huấn luyện viên dành cho Tôlic một sự ngoại lệ. Ở đội người lớn Tôlic cũng chơi hay nhất. Các kiện tướng thể thao lắc đầu nói rằng, cái của kỳ dị này họ chưa thấy trông đội bao giờ. Muốn trở thành một cầu thủ giỏi thì ít ra cũng phải mất vài năm tập luyện, hàng nghìn lần tập đánh vào gôn và những bài học chuyên môn khác. Danh hiệu kiện tướng mà họ đạt được không dễ dàng. Họ không thể nào hiểu nổi tại sao cậu bé lại có một khả năng tuyệt vời như vậy. Nhưng các cầu thủ không hề ghen ghét Tôlic. Họ thấy nó chơi hay hơn thất cả và cố gắng học tập cách chơi của nó. Họ coi Tôlic như bạn bè và cũng như huấn luyện viên, họ lấy làm tiếc vì Tôlic chưa thể chơi trong đội tuyển Liên Xô bởi còn quá nhỏ.
Vinh quang của Tôlic được lan truyền đến tai tất cả các vận động viên trong thành phố. Cả những người từ các thành phố khác cũng đến chiêm ngưỡng lối chơi của Tôlic. Và tất cả những ai xem Tôlic chơi lần đầu đều phải kinh ngạc lắc đầu, nhưng không thể tin ở chính mắt mình.
Misca cũng thường xuyên đến bãi tập. Nhưng tất nhiên, nó luyện tập cách biệt với Tôlic, cùng với những đứa trẻ khác. Chúng rất kít được thi đấu, chủ yếu là “rèn luyện thể lực”. Tôlic thường bắt gặp đôi mắt thèm muốn của Misca nhìn nó dắt bóng trượt trên băng. Đôi lúc huấn luyện viên cũng khen Misca. Nhưng không phải là kỹ thuật mà là vì nó chơi dũng cảm.
Đôi bạn cùng đi đến bãi tập. Nhưng suốt cả buổi tập chúng chẳng gặp nhau mấy. Misca vào gian thể thao “rèn luyện thể lực”, còn Tôlic thì mặc trang phục khúc côn cầu biểu diễn lối đánh kỳ diệu trên sân băng. Vinh quang của Tôlic càng lớn thì tình bạn của nó với Misca càng giảm. Misca hầu như không ghen tị với Tôlic. Ngược lại, nó nhìn Tôlic một cách kính trọng. Và sự kính trọng đó quả là quá lớn. Misca cảm thấy không thể nói truyện một cách bình thường với một Tôlic nổi tiếng như vậy.
Đã có lần Tôlic quyết định chỉ một que diêm để Misca có thể chơi như nó. Nhưng rồi nó nghĩ rằng khi ấy vinh quang cũng sẽ phải chia đôi. Điều đó hoàn toàn không cần thiết. Và Tôlic đã không tốn một que diêm.
Cuối cùng, trong thời gian tập luyện, huấn luyện viên Altưnôp gọi Tôlic đến và dẫn nó vào phòng y tế.
- Anh đã kêu nài để họ cho phép chú em chơi trong đội người lớn – huấn luyện viên nói – Một đoàn kiểm tra đặc biệt đã đến. Họ sẽ khám sức khỏe cho em. Chú phải làm sao cho họ thấy, hiểu không?
- Có gì không hiểu đâu? – Tôlic trả lời – Tốt hơn là để cho họ xem em chơi như thế nào.
- Họ đã xem rồi. Chỉ có chú không nhìn thấy họ thôi.
Trong phòng y tế, sau chiếc bàn dài có bốn người ngồi. Một người là bác sĩ của sân vận động. Những người còn lại Tôlic không biết, nhưng ít ra cũng phải là giáo sư bởi tất cả đều đeo kính.
Khi Tôlic đi vào, các giáo sư nhìn nó với một sự kinh ngạc che giấu.
- Xin chào các giáo sư – Tôlic nói.
Các vị giáo sư gật đầu chào lại.
- Cho phép tôi – một giáo sư đeo kính hai lớp hỏi. Tôlic có cảm giác ông là giáo sư chính.
- Xin mời đồng nghiệp – giáo sư đeo kính một lớp trả lời.
- Anh bạn trẻ - giáo sư chính nói – trước hết anh hãy trả lời tôi đã học chơi hay như vậy ở đâu?
- Cháu đã chơi ở sân nhà – Tôlic trả lời.
- Anh muốn nói là chỉ cần chơi ở sân nhà với các bạn cùng lứa anh đã học được cách chơi của những kiện tướng thể thao?
- Và hơn thế nữa, Tôlic nói – Cháu còn chơi hay nhất thế giới.
- Gườm, - giáo sư chính nói – một nhà thể thao trẻ trước hết phải biết khiêm tốn ! Bây giờ hãy nghe tôi nói đây. Tôi sẽ gọi ra những từ khác nhau, còn anh sẽ đáp lại những từ anh nghĩ ra trước tiên. Trò chơi là như thế. Hiểu không?
- Có gì đâu mà không hiểu? – Tôlic nói.
- Tôi bắt đầu. Chú ý này, Lê !
- Táo.
- Đực !
- Cái.
- Thìa!
- Nĩa.
- Mèo !
- Chó.
- Diêm!
- Thần.
- Cậu nói cái gì ? – ông giáo sư ngạc nhiên – Tại sao lại thần? Thần nghĩa là gì?
Tôlic hoảng sợ. Nó hiểu mình lỡ đà. Nó nghĩ rằng, hay giờ ông giáo sư sẽ lấy hộp diêm thần và đuổi nó ra. Khi ấy mọi người sẽ biết nó không phải là con người lừng danh như họ tưởng.
Tôlic lùi về phía cửa, giữ chặt tay trong túi chứa hộp diêm.
- Cậu sợ tôi à? – giáo sư hỏi.
- Không – Tôlic nói – Chẳng có gì hết … Cháu phải đến trường.
Ông giáo sư nghiêng về phía các giáo sư khác hội ý.
Tôlic nhìn về phía cửa. Nó muốn biến mấy ông giáo sư này thành giun hết để khỏi phải trả lời những câu hỏi hiểm hóc.
- Nói chung, thần kinh bình thường – cuối cùng giáo sư chính nói – Tôi chỉ không hiểu diêm thần là nghĩa làm sao. Cúng ta tiếp tục.
Bây giờ đến lượt ông giáo sư đeo kính một lớp. Ông bắt đầu nghe tim phổi, đo huyết áp. Sau đó ấn bụng, kiểm tra tai, mắt. Ông đút thìa vào miệng Tôlic bắt nói “ a – a – a”. Suýt nữa thì Tôlic đẩy thìa ra nhưng thấy các giáo sư cùng lúc lắc đầu, nó phải cố chịu đựng, mặc dù có thể biến các ông ấy với cái thìa thành giun dế.
- Có gì đâu, tất cả đều tốt đẹp – giáo sư chính kết luận – Một cậu bé phát triển bình thường.
- Cám ơn giáo sư – huấn luyện viên Altưnôp sung sướng nói – Bây giờ sẽ đưa cậu bé vào thành phần dự tuyển quốc gia.
- Nhưng tiếc là không thể - giáo sư lắc đầu – Tôi nói: “Cậu bé phát triển bình thường”. Điều đó không có nghĩa là cậu bé có thể chơi với đội người lớn. Cậu ta sẽ không chịu đựng được cường độ thi đấu. Thể lực chưa cho phép cậu bé chơi cho đội tuyển.
- Cậu ta chơi hay hơn bất cứ một người lớn nào ! – huấn luyện viên nói.
- Vâng – giáo sư hưởng ứng – tất nhiên là một sự kỳ dị, không thể giải thích nổi. Nhưng dù sao cũng phải chờ một vài năm nữa. Tôi không có quyền. Mặc dù tôi cũng tiếc, nhưng không thể làm khác được.
- “Thể lực chưa cho phép” nghĩa là gì – Tôlic hỏi khi nó và huấn luyện viên đã ra khỏi phòng.
- Có nghĩa là, chú em chưa đủ sức mạnh – huấn luyện viên trả lời, rồi thở ra – Họ không cho phép chú em chơi với người lớn.
- Thế em sẽ làm gì với mấy đứa bé kia ?!
- Đúng – huấn luyện viên Altưnôp đồng ý – Nhưng hội đồng đã quyết định rồi … Giá như chú em khỏe hơn …
- Em có thể khỏe mạnh hơn tất cả ! – Tôlic nổi giận
- Đừng khoác lác. Hãy khiêm tốn hơn.
- Em chẳng có gì phải khiêm tốn. – Tôlic nói – em sẽ chứng minh cho họ thấy.
Và Tôlic chạy ngược trở lại. Nó dừng một lúc ở cửa phòng y tế. Nó làm gì ở đây, huấn luyện viên không rõ. Cửa xịch mở và các giáo sư đi ra cầu thang.
Giáo sư chính đi trước. Các giáo sư khác lần lượt theo sau. Tôlic đứng cản đường họ.
- Thưa bác – nó nói với giáo sư chính – bác không tin là cháu rất khỏe à?
- Tin, tôi tin - giáo sư tủm tỉm cười – Cho phép tôi đi qua, cậu bé.
Và ngay lúc ấy huấn luyện viên Altưnôp nhìn thấy người học trò của mình một tay nâng giáo sư chính, còn tay kia nâng giáo sư đeo kính một lớp và đưa cả hai xuống cầu thang. Các giáo sư cũng không chống lại vì quá bất ngờ. Cho đến chân cầu thang giáo sư chính mới nhớ ra và đá hậu Tôlic. Nhưng Tôlic không cảm nhận cú đá. Còn trên gót chân của giáo sư thì nổi lên một quầng đỏ.
Tôlic đặt cả hai xuống đất, rồi cầm lấy cây sắt được chở đến để sửa khán đài, vung tay ném lên cao. Rít như tên lửa, thanh sắt bay lên trời xanh và biến mất. Nó rơi ra ngoài thành phố, nhưng điều đó không ai nhìn thấy. Nhưng các giáo sư lại được chứng kiến Tôlic dùng tay đập một viên gạch nát vụn. Sau đó nó cầm bức tượng cầu thủ khúc côn cầu cao ba thước tung từ tay này sang tay kia rồi cẩn thận đặt vào chỗ cũ. Cuối cùng, Tôlic chọn từ đống gỗ một khúc to nhất và nhẹ nhàng kê vào gối bẻ đôi. Nó tiến đến trước mặt các giáo sư và hỏi:
- Đã thấy là tôi khỏe chưa?
Ông giáo sư chính sửng sốt, hết nhìn khúc gỗ gãy lại nhìn bức tượng cao lớn đang đứng yên tĩnh ở vị trí của mình.
- Các ông có thấy gì không, hỡi các bạn đồng nghiệp? – ông ta hỏi.
- Còn các ông có thấy gì không? – ông đeo kính một lớp trả lời.
- Tôi có cảm giác …
- Và tôi có cảm giác …
- Có thể tất cả chúng ta chỉ cảm giác ? – giáo sư chính nói, thiếu tự tin.
- Đúng, chúng ta chỉ cảm giác thôi, - giáo sư đeo kính một lớp thở ra – Bởi không thể như thế được.
- Không thể - giáo sư chính tán thành.
Các giáo sư sợ hãi nhìn Tôlic rồi ngồi vào xe của mình, nổ máy. Và như vậy là Tôlic cũng chẳng được phép chơi cho đội tuyển. Tôlic thở dài và đi vào phòng thay quần áo.
- Rưzcôp ! – một tiếng gọi từ phía sau.
Tôlic dùng lại. Đưa tay lau mồ hôi trán, huấn luyện viên đi nhanh về phía nó.
- Như thế nghĩa là thế nào, Rưzcôp – huấn luyện viên hỏi, hất đầu về phía khúc gỗ gãy.
- Em lỡ - Tôlic khiêm tốn trả lời.
- Lỡ à? – huấn luyện viên Altưnôp hét lên – Cậu nói là “lỡ” ?! Thế mà tôi tìm một người “lỡ” như cậu không ra đấy !
- Nhưng em không có lỗi vì sinh ra mạnh khỏe.
- Nghe đây Rưzcôp – huấn luyện viên hỏi nhỏ - Hãy nói cho tôi biết, cậu là ai. Cậu là người hay là trời? Hay cậu bị thần kinh? Tôi xin thề là không nói lại với ai hết. Cậu làm những cái đó bằng cách nào?
- Rất đơn giản – Tôlic cười nói. Nó cầm lấy một khúc gỗ khác đặt vào đầu gối thứ hai bẻ đôi – Chỉ cần mạnh tay một chút là được.
- Thôi về đi, Rưzcôp – huấn luyện viên mệt mỏi nói – Tôi hoàn toàn không hiểu. Ngày mai cậu đến nhé, chúng ta sẽ nói chuyện. Hôm nay tôi mệt quá rồi.
Huấn luyện viên ôm đầu đi về phía phòng y tế để hỏi bác sĩ xem có thuốc gì chữa bệnh thần kinh không. Anh ta nghĩ là mình bắt đầu bị bệnh ảo giác. May mà anh ta không nhìn thấy Tôlic giận dữ vì không được vào đội tuyển đã đá chân vào đống gỗ, làm các khúc gỗ đổ xòa như những que diêm.
Huấn luyện viên không biết rằng anh vừa mới trò chuyện với một người khỏe nhất thế giới.

Đã là lần thứ mười bọn trẻ tụ họp lại để nghe Tôlic kể chuyện đánh sư tử. Sau buổi họp mặt, Seglôva đến bên cạnh Tôlic.
Gần đây cô bé trở nên rất thân mật với nó.
- Rưzcôp – Lêna nói – Mình đề nghị cậu thế này. Bọn mình muốn đề cử cậu làm lớp trưởng. Cậu thấy thế nào?
- Cứ việc – Tôlic không từ chối – Tớ cũng có thể làm lớp trưởng.
- Ngoài ra, đến ngày 1 – 5 bọn mình sẽ tổ chức một buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ phụ huynh học sinh. Cậu sẽ góp một tiết mục nhé!
- Tớ sẽ làm gì?
- Đơn giản thôi. Cậu sẽ kể lại hành động dũng cảm vừa rồi. Về sư tử ấy mà.
- Tớ đã kể hàng trăm lần.
- Thì có sao đâu – Lêna nói – Mỗi người sẽ biểu diễn những gì mà mình biết. Lênha Travin chẳng hạn, sẽ kéo viôlông.
- Tớ cũng có thể kéo viôlông – Tôlic thản nhiên nói. Còn hay hơn cả Travin của cậu nữa.
- Cậu ?!
- Tớ. Có thể múa, có thể hát. Tớ có thể làm mọi thứ.
- Và chơi được cả pianô?
- Có thể cả hai pianô một lúc.
Lêna nghi ngờ nhìn Tôlic. Nhưng cãi nhau với anh hùng thì cố bé không muốn. Lỡ ra cậu ta giận không chịu biểu diễn thì khốn.
- Thế thì cậu đến dượt nhé – Lêna nói.
- Tớ không cần dượt cũng được.
- Sẽ giới thiệu cậu như thế nào?
- Giới thiệu là Rưzcôp sẽ biểu diễn. Vậy thôi.
- Cám ơn – Lêna nói và chìa tay cho Tôlic. Tôlic cầm tay cô bé, Lêna bỗng hét lên, xoay tròn. Lúc đầu Tôlic không hiểu. Còn Lêna gần như khóc, xoa xoa các ngón tay đau.
- Đồ điên ! – cô bé mắng – tớ là con sư tử của cậu đấy à ?! Dập tay tớ rồi còn gì.
Tôlic quên bẵng mình là người mạnh nhất thế giới.
Từ lúc đó trở đi bắt tay chở thành trò chơi của Tôlic – một trò chơi rất hấp dẫn. Đặc biệt là khi bắt tay với bọn lớp trên. Chẳng hạn, từ xa một tay lớp 10 đi tới. Anh ta sẽ nói: “ A – a – a, người chiến thắng sư tử …”. Tôlic sẽ trả lời: “Vâng, tôi đây” rồi họ chìa tay cho nhau. Và chỉ một giay sau anh bạn lớp mười đã co giúm lại, nhảy tưng tưng.
Sau giờ giải lao thứ ba, cả trường đã biết chuyện Tôlic có bàn tay thép và không ai dám đưa tay cho nó bắt. Không một ai dám va chạm với nó, bởi chỉ cần Tôlic hất nhẹ là bất cứ ai cũng phải ngã lăn kềnh. Vinh quang của Tôlic lớn lên từng phút. Từ một học sinh lớp bốn bình thường nó đã trở lên nổi tiếng. Còn gì thú vị hơn !
Đúng là cũng có những lúc bất lợi như khi chơi bóng ném trong giờ giải lao, suýt nữa thì Tôlic ném bóng xuyên qua người Xasa Ardukhanhan. Xuyên thì không đến nỗi nhưng ở bả vai Xasa hiện ra một vết bầm to tướng. Sau đó chẳng ai muốn chơi với Tôlic nữa. Tất cả đêu sợ. Và Tôlic lững thững một mình cùng với sự vinh quang của mình.
Chỉ một mình Misca là thấu hiểu nỗi cô đơn của bạn. Nó đến bàn Tôlic, nói:
- Nào, chúng ta cùng chơi cái gì đi.
- Các cậu mà chơi gì ! – Tôlic giận dỗi nói – Toàn là bọn hèn nhát.
- Không ai hèn nhát cả - Misca nói – Chỉ do cậu quá mạnh đó thôi. Chơi với cậu không hấp dẫn. Cũng như cậu sẽ không thích thú gì khi chơi khúc côn cầu với tớ. Và cũng chẳng ra sao nếu cậu phải chơi cờ tướng với Bôtvinnhic. Chỉ cần hai nước đi là ông ta ăn cậu.
- Tớ có thể thắng ba Bôtvinnhic một lúc – Tôlic nói – Tớ không muốn thôi.
Theo thói quen Misca lại gõ tay vào trán.
- Thôi được, - đầu tiên cậu thử chơi với tớ đã.
Bản thân Tôlic không biết chơi cờ. Nhưng thời gian gần đây nó đã quen được ca tụng nên không thể hình dung là mình có thể không thành công trong một việc gì đấy.
Nó gần như không để ý là mọi thành công của nó đều nhờ có hộp diêm thần. Tất nhiên nó không quen hộp diêm, nhưng thực tế nó đã trở thành người mạnh nhất và khéo léo nhất. Do đâu mà có được như vậy – điều đó không quan trọng.
Tôlic cảm thấy buồn cười, bởi Misca dám cả gan thách nhau với một con người vĩ đại như nó.
- Tớ có thể ném cậu lên Mặt trăng bằng tay trái. – Tôlic nói.
- Đầu tiên cậu hãy thắng cờ tớ đã !
- Tớ có thể làm … Tớ có thể làm mọi chuyện !
- Nhưng cờ tướng thì sao? …
- Có thể nhắm mắt mà chơi ! – Tôlic nói một cách tự hào.
- Thế thì sau buổi học đến nhà tớ. Có thể mở mắt cũng được.
Sau buổi học Tôlic không về nhà mình mà đến thẳng nhà Misac. Mẹ Misca cho chúng ăn tối, rồi hai đứa ngồi vào bàn cờ.
Misca đi trước. Tôlic nhắm mắt đẩy tốt. Misca mỉm cười, đi tượng. Tôlic lại đẩy tốt. Misca đẩy tiếp một con gì đó mà Tôlic chưa biết tên.
- Mở mắt được rồi đấy – Misca nói – Chiếu tướng – gọi là “chiếu con tướng nít”.
- Tại sao lại “con nít” ?! – Tôlic nổi giận.
- Bởi vì chỉ có con nít mới bị chiếu tướng kiểu này. Chúng hoàn toàn không biết chơi.
- Cậu im đi, - Tôlic nói – Cậu đã chui vào chuồng sư tử chắc !
- Tớ chẳng nói chuyện đó – Misca trả lời – Tớ không nói là tớ chui vào. Chỉ có cậu nói là thắng tớ. Thế thì thắng đi !
- Tớ có thể trèo vào chuồng báo !
- Tớ không nói hổ báo. Tớ đang nói chuyện cờ tướng.
Ván thứ hai Tôlic chơi mở mắt. Vì chỉ năm nước đi là kết thúc. Tôlic lại bị chiếu tướng. Huy vọng có thể làm nên chuyện bất ngờ. Tôlic thua cả ván thứ ba và thứ tư. Sau ván thứ năm thì Tôlic nổi xung.
- Một trò chơi ngu ngốc ! – Nó tuyên bố - Ô với hình, nhảm nhí ! …
- Một trò chơi bình thường – Misca phản đối – nhưng phải biết suy nghĩ.
- Tớ không nghĩ à?
- Có nhưng dở.
- Có nghĩa là tớ ngu?
- Đơn giản là cậu không biết chơi, nhưng khoác lác.
- Tớ khoác lác ?!
- Thế còn ai nữa !
- Tớ có thể vào chuồng có ba con báo một lúc !
Misca cười mỉa và dồn cờ lại. Còn Tôlic – Tôlic vĩ đại và vô địch ! – cảm thấy rằng chỉ cần một giây nữa là nó sẽ dẫm nát Misca. May mà giây đó đã không tới. Tôlic hình dung ngay rằng nếu nó giẫm nát Misca thì chẳng còn ai để nó trả hận. Còn trả thế nào thì Tôlic đã nghĩ ra. Nó không cho phép một người bạn cũ, mà lúc này là thằng Misca Pavlôp nhỏ bé và hèn yếu cười cợt nó.
Tôlic đút tay vào túi.
- Cậu lầm bầm cái gì đấy? – Misca hỏi.
- Cậu sẽ biết ! Sắp cờ ra !
Ván đầu tiên Misca bị thua ở nước thứ 14. Ván thứ hai – nước thứ 15. Ván thứ ba – nước thứ 12. Tôlic đi cờ không suy nghĩ.
- Tôlic, cậu đã bao giờ chơi cờ đâu ?! – Misca ngạc nhiên nói.
- Tớ giả cách thôi – Tôlic thản nhiên trả lời – Chơi ván nữa?
Misca chăm chú nhìn Tôlic, chừng như muốn hỏi một điều gì, nhưng không kịp hỏi thì Misca đi vào phòng.
- Chơi cờ đấy à? – Ba nói – Xin hoan nghênh các bạn. Cái đó tốt hơn đã bóng nhiều. Ai ăn nào?
- Nó ăn con liên tiếp – Misca nói.
- Thế à ! Chớ Tôlic chơi cờ từ hồi nào? – Ba hỏi.
- Cháu tự chơi một mình – Tôlic giải thích.
- Ba thử chơi với nó xem – Misca đề nghị - Nó chơi hay lắm.
- Ba sợ Tôlic không thích thú thôi. Dù sao ba cũng là vận động viên cấp 1.
- Không sao. Cấp chủa cáu còn nhỏ hơn – Tôlic khích lệ ba Misca. Nó không biết rằng cấp 1 không phải là cấp thấp nhất mà là cấp cao nhất.
Misca sắp quân cờ ra.
Sau nước thứ năm ba nói:
- Gườm …
Sau nước thứ mười ba nói:
- Ô hô !
Tôlic đi nhanh như chớp. Sau mỗi nước đi của nó ba lại gãi cằm và nghĩ rất lâu. Misca lo lắng theo dõi trận đấu, vì nó biết rằng không giống những người khác, trong trường hợp nan giải, người đánh cờ không cào tóc mà lại gãi cằm.
Sau nước thứ 17 ba tưoi tỉnh hơn, và nói:
- Nào, nào, xem nào, anh bạn thân mến …
Như thế có nghĩ là ba có thể thắng sau vài nước nữa.
Sau nước 21 ba nói:
- À … à …
Và sau nước 23 ba bị mất một quân và chịu thua.
- Tôlic ! – ba nói một cách long trọng – Cháu có biết cháu là một thiên tài ?
- Dạ biết chứ. – Tôlic trả lời.
- Cháu học chơi như thế từ khi nào vậy?
- Cũng mới thôi. Bác chơi nữa chứ?
- Rất sẵn sàng – ba sắp cờ và thua tiếp một ván nữa.
- Thật là khó tin ! – ba kêu lên – Cháu chơi với bác như một đứa trẻ. Nhất định là cháu phải tham gia thi đấu.
- Không được đâu – Tôlic khiêm tốn trả lời – Bài vở quá nhiều !
- Ba biết không, nói chung Tôlic có rất nhiều khả năng – Misca nói, đưa mắt nhìn Tôlic – Cả khúc côn cầu nó cũng chơi hay nhất, ở trường nó là người mạnh nhất, và thú dữ nó cũng không sợ.
- Đấy, con lấy gương bạn mà học theo – ba khuyên – Cần phải học những người hơn mình.
- Con chũng muốn nhưng … - nhìn thấy Tôlic đưa chùi chỏ về phía mình. Misca không nói nữa. Không phải nó sợ cùi chỏ. Nó thấy rằng kể cho ba nghe những điều kỳ lạ xảy ra với Tôlic là không tốt, bởi Tôlic không muốn điều đó.
Tiễn Tôlic xuống cầu thang, Misca cứ thắc mắc: “Tại sao Tôlic lại không kể những chiến công của mình cho ba, cho mẹ và những người thân thuộc?”. Có lẽ chỉ mỗi mình Tôlic giải thích được câu hỏi đó.

Càng đến ngày lễ, lòng người càng rạo rực. Đặc biệt là lễ 1 – 5. Bởi đấy là ngày lễ của mùa Xuân. Sau ngày lễ là cả một mùa hè vui chơi thoải mái.
Khắp thành phố cờ treo rợp trời, những hàng bóng điện đủ màu, nhấp nháy. Trên các quảng trường người ta trưng bày những quả địa cầu to lớn với các con tàu vũ trụ bay quanh. Trong các sân nhà đã vang lên những tiếng khóc của trẻ thơ vì chúng đã làm nổ những quả bóng đầu tiên.
Trong các trường học trẻ em tích cực chuẩn bị cho ngày lễ. Chúng đọc thơ, tập hát, chuẩn bị biểu diễn văn nghệ. Chúng viết lên bảng đen những dòng chữ: “Ngày cuối năm – ngày lười học, đề nghị các thầy cô đừng làm khổ học trò”. Các giáo viên cũng chẳng giận gì chúng – chính bản thân họ cũng mong chóng đến ngày 1 – 5.
Chỉ mỗi mình Tôlic là sợ ngày lễ của người lao động. Con người vĩ đại Anatôli Rưzcôp – người chiến thắng sư tử, một cầu thủ khúc côn cầu tài ba, lục sĩ mạnh nhất của hành tinh – bỗng hèn nhát như một đứa trẻ chưa đến trường. Nó có thể bẻ gãy một khúc gỗ lớn, có thể dễ dàng thắng cờ nhà vô địch Bôtvinnhic. Nhưng bên cạnh Tôlic là những con người bình thường. Và nếu như ai đấy sau mười năm tập luyện trở thành một người chơi cờ nổi tiếng thì đó là một chuyện hoàn toàn bình thường. Riếng Tôlic chỉ biết thực hiện mỗi điều huyền bí. Điều đó thất là nguy hiểm. Tôlic bắt đầu lo lắng.
Tất nhiên, hộp diêm vẫn ở trong tay nó. Chỉ cần bỏ ra vài que diêm là mọi người sẽ quên ngay rằng trên thế giới này có một thầy phù thủy là Tôlic Rưzcôp và sẽ không chú ý đến những trò kỳ lạ của nó nữa. Nhưng trò kỳ lạ chỉ hấp dẫn khi người ta chú ý. Và sẽ buồn biết mấy khi sức mạnh và lòng dũng cảm của anh không ai biết đến và kinh ngạc. Sẽ buồn lắm nếu những điểm 5 của anh không được ai khen. Thật là thú vị bởi Tritra giờ không dám tới gần Tôlic ! Và nếu để cho Tritra quên đi tất cả thì Tôlic sẽ được ăn bạt tay cua nó ngay trong ngày đàu tiên !
Không ! Làm một thầy phù thủy dù sao vẫn thích hơn ! Thật là tuyệt diệu khi chỉ cần khẽ đưa tay là có thể làm được những điều mà người khác phải tốn cả năm trời ! Cứ để cho mọi người thèm muốn !
Nhưng phải biểu diễn cái gì đây trong hội diễn nhà trường sắp tới? Ngày 1 – 5 đến ngơi rồi mà Tôlic chưa nghĩ ra được một điều gì. Bàn bạc được với Misca thì hay biết mấy, nhưng lại phải kể cho nó nghe tất cả. Thêm vào đó gần đây Misca thường nhìn nó với ánh mắt khác thường – có lẽ nó thèm được như Tôlic. Phải như thế mới được ! Cứ để cho nó thèm muốn ! Còn ở hội diễn nhất định Tôlic sẽ có tiết mục, như đã hứa với Lêna Seglôva.
Nó sẽ không biểu diễn những điều kỳ lạ mà sẽ tự đọc một bài thơ nào đó trong tập “Dòng sông quê hương”. Tôlic học bài thơ trong hai ngày. Nó đã quên cách học bài nên đã qua hai ngày mà vẫn không tài nào thuộc hết một bài thơ ngắn. Nhưng Tôlic quyết không dùng tớ diêm thần, và cố học cho thuộc nửa bải – theo nó, chừng ấy là đủ rồi.
Ngày 29 – 4. Đến sáu giờ chiều trong trường đã tụ họp đầy đủ các bậc phụ huynh học sinh. Trong lúc bọn trẻ chuẩn bị bàn ghế thì các bậc cha mẹ đi lại trong hành lang làm quen với nhau. Các ông bố trầm tĩnh như những học trò lớn tuổi, đứng hút thuốc ở cuối hành lang. Ba Tôlic nhanh tróng làm quen với một ông “ghiền” bóng đá, hai người cùng giơ chân múa tay ra hiệu phải đá phạt trực tiếp như thế nào.
Phía sân khác Lêna Seglôva, giống như một cái dù trong chiếc váy ni lông của mình, kéo lưng Tôlic:
- Cậu sẽ biểu diễn cái gì?
- Đọc thơ – Tôlic trả lời – Bài “Mênh mông đất nước tôi”
- Đây là bài thơ !
- Không sao, Tôlic nói – hoàn toàn nghiêm chỉnh !
Ai đó gọi Lêna và cô bé chạy đi, Tôlic liếc nhìn Lênha Travin với cây viôlông trên tay.
- Sẽ kéo viôlông?
Lênha kinh khỉnh nhìn Tôlic, vuốt vuốt mấy ngón tay nghẹ sĩ của mình.
- Cậu kéo in ít – Tôlic khuyên – chứ không bọn ruồi ngạt thở đáy.
- Tớ phải bình tĩnh trước khí biểu diễn, chứ không thì …
- Thì sau khi biểu diễn vậy – Tôlic khuyên, nhưng ngay lúc đó nó nhớ ra mình là một con người vĩ đại, nên thôi không khiêu khích. Tốn nước bọt làm gì với một kẻ yếu hèn như Travin.
Khi màn mở, các bậc cha mẹ vỗ tay nồng nhiệt, mặc dầu trên sân khấu trống trơn. Sau đó Seglôva bước ra, tươi cười tuyên bó:
- Chương trình biểu diễn của học sinh cấp 1 chào mừng ngày 1 – 5 bắt đầu.
Seglôva chưa kịp nói tiếp thì bỗn em gái lớp một đã chạy ra sân khấu. Chúng múa điệu polca. Một em gái hình như bị lộn. Lúc thì em chụm lại, lúc quay tròn một mình, lúc thì đột nhiên đứng lại ngơ ngác nhìn các bạn của mình.
Phía dưới có tiếng cười. Chỉ đến khi kết thúc mọi người mới hiểu rằng em bé cố tình làm như vậy. Em đóng vai cô bé lơ đãng.
Tiết mục được vỗ tay rất lâu. Một phụ nữ vỗ tay đến lỗi bị bật ra khỏi ghế. Sau đó mới biết đấy là mẹ của em gái kia.
Tiếp theo là Lênha Travin. Nó bước ra sân khấu và trong trọng cúi chào. Mọi người lại vỗ tay. Nó bắt đầu kéo một bản nhạc trầm buồn. Và Lênha dường như cũng buồn theo. Nhìn điệu bộ và tiếng nhạc của Lênha, Tôlic tự nhiên thấy khô cổ, run chân. Tiết mục tiếp theo là của nó. Sẽ tốt hơn nếu như thằng Travin bất hạnh kia chơi một bản khác. Chẳng hạn như bài hát trong phim “Người lưỡng cư”, “Này, chàng thủy thủ, chàng bơi sao lâu vậy …”. Bài hát ấy đến bọn lớp một cũng biết. Bài hát rất nhộn. Người nghe sẽ thấy thoải mái, vui tươi. Nhưng Travin lại chơi một bản nhạc quá buồn. Đã thế người ta lại còn vỗ tay rất lâu. Có một ông bó còn kêu to “lại ! lại !”. Cuối cùng mới biết đó là ba Lênha Travin.
Đến lượt Tôlic bước ra sân khấu. Nó thấy ba nó ngồi ở hàng đầu, đang nói chuyện gì đó với thầy hiệu trưởng. Tôlci lo lắng. Bởi thầy hiểu trưởng có thể kể với ba về con sư tử và những chuyện khác của nó. Tôlic đứng im nhìn ba, cố nghe ba nói cái gì. Nó hoàn toàn quên là mình đang đứng trên sân khấu. Mọi người vỗ tay động viên nó. Tôlic ngạc nhiên nhìn xuống hội trường và nhớ ra là nó phải đọc thơ.
- mênh mông đất nước của tôi – Tôlic run run đọc rồi im bặt.
Cả hội trường im lặng chờ đợi.
- Rừng xanh … xanh … Rừng xah – Tôlic hét to và lại đứng im. Nó quên mất lời.
- Biển rộng – giọng ai đó nhắc khẽ từ phía dưới..
- Biển rộng – Tôlic nói theo
- Bạt ngàn !
- Bạt ngàn – Tôlic lặp lại.
- Màu xanh ! – Cũng giọng đó nhưng to hơn vẻ tinh nghịch.
- Màu xanh … - Tôlic đồng ý.
Cả hội trường cười ồ. Ba ngừng nói chuyện với thầy hiệu trưởng. Tôlic hoảng sợ - nó đã quên biến bài thơ. Chri còn đường chuồn là thượng sách. Nhưng như thế, mọi vinh quang của Tôlic sẽ mất đi trong chốc lát. Tôlic thử nhớ lại một bài thơ khác những bài học trước đây thì nó đã quên, còn những bài mới đây thì nó chỉ nhớ lại khi phải trả lời.
Tôlic đứng há miệng giữa sân khấu chiếu sáng rực rỡ. Phía sau tấm màn Lêna hồi hộp lo lắng. Bên cạnh chiếc pianô thằng Travin đưa tay che miệng, cười khì khì. Còn phía dưới hội trường thì các bậc phụ huynh bấm mấy đứa trẻ không được cuồi to làm Tôlic mất bình tĩnh.
Và Tôlic bỗng nhớ ra ! Nó nhớ một bài thơ nó và Misca cùng “sáng tác”, nhưng chưa xong. Ý thơ bắt trước thơ của Puskin. Nhưng dù sao cũng còn hơn là im lặng.
- Có cây đa xanh đứng giữa cánh đồng … - Tôlic nói.
Cả hội trường im lặng.
- Một chiếc ô tô vàng đậu trên cành đa ấy.
- Và đêm ngày chú mèo bác học.
- Nuôi con mình bằng dòng sữa tươi ngon …
Ở phía dưới có tiếng thầm thì. Tôlic không để ý, tiếp tục đọc tiếp những câu nảy ra trong đầu nó.
- Ở đất này chú là Chúa tể.
- Ngay cả voi rừng chú cũng bắt về đây.
- Trên những con đường chưa hề quen biết.
- Mấy cô lạc đà nhảy trong đôi dép …
Không nhịn được đầu tiên là mấy đứa bé. Chúng cười khà khà và người lớn cũng cười theo. Còn Tôlic lại tưởng rằng họ cười tán thưởng, nó rán sức đọc to:
- Trong những chùm mây trước mắt nhân dân.
- Chú ếch con trở thành khách bộ hành …
Tiếng cười nói ầm ĩ, không ai nghe thấy Tôlic đọc gì. Cả người lớn và trẻ con cùng cười nghiêng ngả. Chỉ một mình ba Tôlic là không cười. Mặt ông thất sắc. Ông nhìn các phía, dường như muốn tìm một cái cửa để trốn ra ngoài. Và cho đến lúc này khi nhìn về phía ba, Tôlic mới hiểu là tất cả mọi người đang cười nó, đang cười Tôlic.
Đỏ mặt vị xấu hổ, Tôlic chạy bổ ra phía sau sân khấu. Như một con lốc, nó lao qua một nhóm học sinh lớp một đang chuẩn bị biểu diễn, đá ngã một cậu bé và một em gái, đẩy Lêna Seglôva đang định giữ nó lại. Lêna bị bay gần ba thước trong không khí, rơi lên một cái bàn lớn, ngồi khóc. Còn Tôlic chạy thẳng về hành lang.
Nó rẽ vào góc nhà, đâm phải một cái gì mềm và dừng lại.
Trước mặt nó là cô Anna Gavrilôvna đang đứng tha thít vì đau.
Tôlic nghĩ rằng, bây giờ khi chính nó làm hỏng buổi văn nghệ, và suýt nữa thì đã ngã Anna Gavrilôvna, sẽ không ai có thể tha thứ cho nó được. Nó nhanh chóng đút tay vào túi, đụng hộp diêm kêu sột soạt. Nhưng Anna Gavrilôvna nói:
- Đừng khóc, em. Có gì đặc biệt đâu.
- Tôlic ngước mắt, nghi ngờ nhìn Anna Gavrilôvna, nó nghĩ rằng cô giáo cũng đang cười nó. Cô Anna mỉm cười độ lượng nhưng dường như phải cố gắng lắm, có lẽ cô đau quá, bởi Tôlic húc đầu vào chính giữa bụng cô.
- Chẳng có gì đặc biệt – cô giáo lặp lại – Đơn giản là em quá hồi hộp nên không nhớ ra. Điều đó trong đời người ai cũng mắc phải ít ra là một lần. Như cô chẳng hạn, lần đầu tiên lên lớp, cô cũng quên hết và chạy ra khỏi lớp, như em bây giờ vậy.
- Họ cười em … - Tôlic nói trong tiếng nấc.
- Còn em, chẳng lẽ em không cười? Thử tưởng tượng là em đang ngồi dưới hội trường, còn trên sân khấu là mấy cô lạc đà mang dép nhảy.
Tôlic mỉm cười và rút tay ra khỏi túi.
- Nhưng em sẽ không quay lại sân khấu.
- Không ai bắt ép em. Hãy bình tĩnh đi về nhà. Và nhớ lời cô nói: không có gì xảy ra đặc biệt.
- Nhưng em sẽ bị phạt vì làm hỏng buỏi văn nghệ.
- Em chẳng làm hỏng đâu. Tiết mục tiếp theo đang được trình diễn đấy thôi.
Tôlic nhìn theo Anna Gavrilôvna và nghĩ rằng, mọi chuyện không phỉa dễ dàng bỏ qua nếu cô giáo biết được Lêna Seglôva bị bay như thế nào trong không khí. Nhưng Tôlic không cho mình là có lỗi. Điều đó xảy ra tình cờ, chẳng qua vì nó là một người mạnh nhất thế giới. Biết Lêna không bao giờ học lại thầy cô, Tôlic thấy yên tâm.
Nhưng dù sao Tôlic cũng cảm thấy buồn chán sau cuộc nói chuyện với Anna Gavrlôva. Dường như nó đã phạm một lỗi lầm không thể chối cãi được. Và cô giáo không là mắng mà còn động viên, làm nó cũng buồn thêm. Đi xuống cầu thang Tôlic thử nhớ lại xem nó đã phạm lỗi gì trước Anna Gavrilôvna nhưng không tài nào nhớ được.
Để đề phòng mọi bất trắc, Tôlic dừng lại ở chân cầu thang, lưỡng lự đưa tay vào túi, bẻ một que diêm và lẩm bẩm:
- Hãy để cho Anna Gavrilôvna qua khỏi, nếu như tôi làm cô đau.
Nhưng Tôlic cũng chưa tin rằng đây là lỗi chính của nó trước cô giáo. Nó không thể nghĩ ra lỗi chính là gì. Nhưng điều đó cũng không quan trọng lắm. Khi nào hộp diêm thần còn trong túi thì lỗi lầm cũng dễ sửa chữa như khi gây ra nó.
Tôlic mở cửa ra đường phố và đứng chết lặng.
Trước cổng trường, chắp tay ra sau lưng, ba đi lui đi tới.
- Đi lại đây – ba vẫy tay.
- Làm gì? – Tôlic lo lắng hỏi.
- Sẽ biết để làm gì – ba nói úp mở.

Trong căn phòng quá yên tĩnh, đến nỗi khi ba im lặng, Tôlic nghe thấy tiếng đồng hồ trên tay ba kêu tích tắc. Tiếng kêu sao mà khó chịu ! Tôlic muốn biến ra một chỗ khác để khỏi phải trả lời những câu hỏi của ba. Hộp diêm chẳng giúp gì được. Sớm muộn gì cũng phải trả lời.
- Ba đã nói chuyện với ông hiệu trưởng. Ông ấy có kể về con sư tử. Chuyện ấy là thế nào?
Tôlic im lặng.
- Một sự lừa dối tiếp theo?
- Đây là sự thật, - Tôlic nói nhỏ.
- Tao không tin !
- Thề danh dự !
- Lời thề của mày ít khi đúng lắm.
Tôlic lặng thinh lấy tờ báo trong cặp ra chỉ cho ba.
- Thế thì sao? – ba nói - Ở đây đã ghi rõ “Người anh hùng chưa tìm ra”. Đơn giản là có một thằng bé nào đấy rất giống mày. Còn mày thì lợi dụng sự trùng hợp ấy. Chuột trắng mà mày còn sợ chớ đừng nói gì đến sư tử với cọp.
- Thề danh dự, đó là con.
- Tôlic, con đã lớn rồi đấy – ba mệt mỏi nói – Chẳng lẽ con không hiểu rằng ba mẹ muốn con nên người? Ba mẹ muốn con lớn lên chân thật. Ba mẹ là kẻ thù hay sao mà lúc nào con cũng lừa dối?
- Con không lừa dối. Đấy, hôm nay con hoàn toàn không lừa dối. - Tôlic tự ái trả lời.
- Thôi được. Không nói chuyện sư tử nữa. Theo con, ba có hiểu gì về khúc côn cầu không?
- Hiểu.
- Vậy thì, ba không thể hiểu được bằng cách nào một đứa con nít ít tuổi bỗng chơi khúc côn cầu như một cầu thủ cỡ lớn. Đó cũng là sự thật?
- Đúng như thế.
- Tôlic, hãy nghĩ kỹ trước khi trả lời. Bởi chúng ta thỏa thuận là sẽ chuyện trò chân thật. Ba chưa bao giờ quở phạt cọn. Và bây giờ đây ba cũng không có ý định đó. Nhưng phải nói sự thật.
- Đó là sự thật ! – Tôlic nói – Sự thật ! Sự thật ! Sự thật !
- Thế thì giải thích điều đó bằng cách nào?
Tôlic im lặng. Tiếng “tích tắc” như to hơn và khó chịu hơn.
- Hay là mày muốn xỏ mũi chúng tao – ba và mẹ mày? – ba quát.
- Con không xỏ mũi.
- Thế thì mày học chơi khúc con cầu ở đâu ? – ba gào.
- Con không học …
- Thế tại sao?
- Mọi việc đề tự nó đến.
- Tại sao lại “tự” được, hay là nhờ phù thủy?
- Nhờ phù thủy.
Ba ôm đầu đi lại trong phòng. Tôlic biết rằng ba phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh. Tôlic cảm thấy xót xa cho ba và cho mình, bởi ba không tin nó, mặc dù hôm nay nó nói sự thật một trăm phần trăm.
Cuối cùng ba đã bình tĩnh được chút ít. Ông ngồi xuống ghế đối diện với Tôlic và hỏi:
- Con đã giành chức vô địch trong giải cờ toàn trường. Ông hiệu trưởng đã nói với ba như vậy. Ba biết là con chưa bao giờ chơi cờ. Có đúng thế không?
- Đúng như thế.
- Có nghĩa là con học chơi cờ một cách nhanh chóng?
- Không.
- Thế tại sao? …
- Nhờ phù thủy.
- Tôlic, con là một đứa trẻ độc ác – ba nói nhỏ - Nếu con đặt mình vào vị trí của ba, con sẽ không có ý định cười ba như lúc này …
- Nhưng con hoàn toàn không cười. Thề danh dự !
Ba buồn rầu nhìn Tôlic, phẩy tay bất lực rồi đi về một phía. Ông ngồi xuống đi văng. Mặt ông thiểu não. Chưa bao giờ Tôlic thấy ba buồn phiền như vậy. Ước gì ba lại mỉm cười như trước đây và nói: “Thôi được, ông già, chúng ta sẽ cho qua. Đi xem ti-vi nào”. Nhưng ba không nói gì. Ông ngồi đó và đăm chiêu nhìn vào một điểm trên bức tường trống trơn.
Chỉ cần khẽ động đậy – một que diêm – là ba sẽ quên đi tất cả, ba sẽ tươi cười như trước. Nhưng Tôlic không muốn nhờ cậy đến mấy que diêm. Nó sợ rằng, ba cũng như mẹ, sẽ có một bọ mặt không thực, sẽ nói chuyện không phải bằng tiếng nói của mình. May mà mẹ chưa về. Chứ không thì nhất định bà cũng sẽ bênh vực Tôlic và cãi nhau với ba.
Càng nhìn ba Tôlic càng thấy xót xa. Tôlic hiểu rằng ba đang tức giận thật sự và còn lâu mới hết. Điều đó càng đau đớn hơn khi ngày hôm nay Tôlic hoàn toàn nói sự thật. Nhưng ba cũng như những người khác lại không nghĩ ra được rằng trên thế giới này còn có thể xảy ra những điều kỳ diệu.
Tôlic hối hận là trước đây đã không kể tất cả cho Misca nghe. Cùng với Misca nhất định chúng sẽ nghĩ ra lối thoát. Nhưng Misca không có, bên cạnh nó chỉ mỗi một mình ba đang tức giận.
“Sẽ ra sao nhỉ, nếu như kể hết mọi chuyện cho ba? – Tôlic nghĩ – Ba sẽ rất sung sướng. Ông sẽ không giận nữa. Ba và mình sẽ đọc thần chú để có nhiều tiền. Cả nhà sẽ cùng đi xem phim. MÌnh sẽ mua tặng phẩm cho ba mẹ nhân ngày lễ. Cho ba – một chiếc mô tô, còn mẹ - một hộp mứt dâu tây lớn – mẹ rất thích loại mứt ấy. Rồi sau đó …, sau đó cũng rất tuyệt: diêm còn lại khá nhiều, nhưng mình sẽ nói dối rằng chỉ còn bốn, năm que … Số còn lại sẽ để dành cho riêng mình.
Quyết định như thế, Tôlic thấy vui lên. Nó đến gần ba.
- Ba này, ba có muốn con kể hết sự thật không?
Ba quay sang Tôlic. Vẫn đôi mắt nghi ngờ ấy, nhưng có tươi hơn bởi ông thấy Tôlic nói rất nghiêm túc và ánh mắt nó rất chân thành.
- Tất nhiên rồi, ông già … Ba nói và đặt tay lên vai Tôlic – Nào, chúng ta hãy kết thúc nhanh buổi nói chuyện này đi rồi đi mua tặng phẩm cho mẹ và con. Hôm nay ba la con hơi nhiều nhưng con đừng giận. Con biết không, ba rất buồn. Con đã lớn và dễ dàng hiểu được điều đó. Hơn nữa, trong hội diễn văn nghệ ba cũng cahửng thú vị lắm …
- Ở đấy chẳng có gì đặc biệt – Tôlic nói – Đơn giản là con bị quên lời …
- Ừ, đúng thế - ba đồng tình. Điều đó có thể xảy ra với mọi người … Thôi được, ông già, chẳng có gì quan trọng. Con nói sự thật đi.
- Thế này, - Tôlic bắt đầu – Ba còn nhớ cái ngày ba hứa mua cho con chiếc gậy khúc côn cầu?
- Nhớ chứ ! ba kêu lên – Khi đó chúng ta thắng 3 – 1 …
- Vậy là, ngày hôm đó con bị dẫn vào công an.
- Lại còn cái gì đây?
- Ba đừng sợ. Sẽ không ai biết đâu. Chính cái ngày hôm đó con bắt được hộp diêm thần.
- Hộp diêm gì?
- Thần.
- Có nghĩa là thế nào? – ba hỏi – Rất đẹp phải không?
- Không. Đúng nghĩa phù thủy của nó. Ta chỉ cần bẻ một que diêm và nói ước muốn của mình là sẽ thấy được ngay.
- Trò chơi của các con như thế à? – ba hỏi.
- Không, chính sự việc là vậy.
- Thôi được – ba đồng ý – Phù thủy với thần thánh ta tạm gác lại đã. Con muốn kể cái gì chho ba nghe nào? Có phải con đã hứa là nói sự thật?
- Vậy là con đã ước để con trở thành cầu thủ khúc côn cầu hay nhất thế giới, để cho sư tở phải sợ con, để con chơi cờ hay hơn tất cả mọi người.
- Tôlic – ba kiềm chế. Con đã hứa là nói sự thật. Ba đã tin con. Thế mà con lại sưu tầm những điều nhảm nhí!
- Không phải nhảm nhí ! – Tôlic giận dỗi – Hộp diêm đây này, ba nhìn xem.

Tôlic đút tay vào túi lấy hộp diêm ra. Ba lơ đãng cầm lấy, tung tung trên tay rồi vứt xuống đi văng. Ông đỏ mặt, giận dữ, không nói một lời, ông đi nhanh ra hành lang.
- Ba ! Con không nói dối ! Tôlic kêu to – Không nói dối ! Không nói dối ! Tại sao tất cả đều không tin con ?!
Cửa ra vào dập lại. Căn phòng chết lặng.
Tôlic đứng giữa phòng, cầm hộp diêm trên tay khóc nức nở.
Tôlic – con người mạnh nhất thế giới, người chơi khúc côn cầu và đánh cờ hay hơn tất cả mọi người, đã không biết làm thế nào để ba tin mình dù trong chốc lát. Tất nhiên, nếu cậu ta không nhớ đến hộp diêm. Và điều đó thật là đau đớn, bởi lẽ hóa ra rằng, Tôlic dường như không thể tự làm bất cứ một điều gì, kể cả nói một lời sự thật.

Trên đường phố đông đúc người qua lại. Ai cũng mang xách giỏ vội vã trong buổi chiều trước ngày lễ lớn. Mọi người cười nói ầm ĩ khác thường, bởi trước ngày lễ lớn tinh thần thường thoải mái, vui vẻ. Tàu điện, được trang hoàng cờ xi, bóp còi inh ỏi xin đường. Anh công an đứng gác không để ý đến sự mất trật tự trên đường. Bởi muốn hay không anh cũng không thể dẹp yên được. Hơn nữa hôm nay hình như không ai biết sợ anh.
Nhưng có một người nhìn thấy anh liền quay ngoặt sang phía khác. Người đó không muốn rơi vào tầm mắt của người đứng gác.
Anh công an kia tất nhiên là Xaphrônôp, còn con người qua ư cẩn thận chính là Tôlic.
Không hy vọng tìm thấy ba trong đám đông này, nhưng biết đâu lại chẳng gặp may ! Tôlic đoán là thế nào ba cũng đi dạo trên đường khi chưa bình tĩnh lại. Tôlic vừa đi vừa nhìn tứ phía, tay đút túi quần. Trong lòng bàn tay là que diêm. Chỉ cần thấy ba là nó sẽ thực hiện ngay điều huyền bí để ba tin nó. Rồi sau đó hai cha con sẽ cùng nhau bàn bạc xem sẽ sử dụng số diêm còn lại thế nào.
Nhưng chẳng thấy bóng dáng ba đâu !
Ở quầy kem người đứng xếp hàng đông nghịt. Tôlic quay đầu nhìn một lượt xem có ba không dồi đứng vào cuối hàng. Chẳng mấy chốc đã đến lượt nó. Ngay trước quầy nó mới biết là không mang theo tiền. Nhưng cũng chẳng sao. Bẻ que diêm trong túi, nó lầm bầm vài lời và ngay lập tức trong tay đã nghe tiếng sột soạt của tờ bạc mới.
- Hai que kem – Tôlic nói
- Không có tiền trả lại đâu – người bán hàng nhìn tờ 100 rúp lắc đầu – lạ thật, tại sao lại đưa cho con nít nhưng tờ bạc lớn như thế.
- Cháu muốn ăn kem, đổi hộ cháu ! – Tôlic nài.
- Làm gì mà lâu vậy ! Nhanh lên chứ ! – tiếng quát từ phía sau.
- Có ai đổi cho 100 rúp không? – người bán kem hỏi.
- Một nghìn cũng đổi được nữa là một trăm – một người nói.
- Cần phải thử xem tại sao thằng bé này có số tiền lớn như vậy – một người khác nói.
Tôlic lần ra khỏi quầy.
- Giữ nó lại ! – Giọng lúc nãy đùa.
Tôlic hoảng quá. Nó co chân chạy, được một đoạn không thấy ai đuổi mới dừng lại. Tôlic tự trắc thầm là tại sao nó không ước lấy 5 rúp thôi. Với 100 rúp này mà vào cửa hàng cũng nguy hiểm nữa là.
Đi qua một dãy nhà nữa nó thấy Misca với con Maiđa đang đi tới. Tôlic muốn rẽ sang phía khác nhưng Misca đã nhìn thấy nó.
- Cậu đọc thơ của bọn mình làm gì? – Misca hỏi ngay khi chúng vừa giáp mặt.
- Chuyện gì tới cậu !
- Vì điều đó không chân thật.
- Làm gì mà cậu cứ lải nhải chân thật với không chân thật cho tớ mãi thế - Tôlic nổi giận – Tớ đã ngấy rồi !
- Chẳng ai thèm dính vòa cậu – Misca nói – Tốt hơn là cậu rút tay ra khỏi túi đi. Maiđa không ưa người ta để tay trong túi đâu !
- Mặc xác con Maiđa của cậu !
- Cậu nói năng hơi nhiều đấu – Misca nói.
- Cần bao nhiêu thì tớ nói bấy nhiêu. Đứng dậy đời !
Tôlic nhìn qua vai Misca và khựng lại. Từ đằng xa ông bác sĩ to béo ở vườn thú đang đi tới. Như thường lệ, ông mang một cái xách nặng trĩu với nhiều gói to nhỏ.
Ông bác sĩ tới gần nó và Tôlic lao về phía khác. Nó tông phải một phụ nữ và bà này va vào ông bác sĩ. Thế là mấy gói to nhỏ đổi xòa xuống vỉa hè.
Misca giúp ông thu nhặt các gói. Ông bác sĩ cũng chẳng thèm nhìn người đàn bà đã va vào mình. Có lẽ ông đã quen là mình béo nên thường bị va phải.
- Cám ơn anh bạn trẻ, - ông bác sĩ nói với Misca khi các gói đã nằm trong xách. Vợ tôi nằm viện cho nên, cậu thấy đấy, tôi phải tự tay làm tất cả. Tôi có thể cho con chó đẹp này ăn dồi nhân thịt?
- Cám ơn. Nó không ăn đâu.
- Có nghĩa là nó càng đặc biệt hơn – ông bác sĩ mỉm cười và nhập vào dòng người đi tiếp.
Misca nhìn xung quanh, không thấy Tôlic. Nó đã biến mất.
Tôlic không đi, không bỏ chạy và cũng không trốn. Nó tự nhiên BIẾN MẤT. Giống như hồi ở chuồng sư tử.
Misca đứng giữa lối đi, mặc cho người qua lại va vào nó. Nó hồi tưởng lại tất cả những điều kỳ lạ xảy ra gần đây đối với Tôlic. Những điều hoàn toàn không thể tin được. Nhưng rõ ràng là những chuyện đó đã xảy ra. Tất cả đều không phải là thấy trong mơ hay là do cảm giác. Bởi những người khác nhau không thể cùng mơ, cùng cảm giác về một điều gì. “– Có nghĩa là Tôlic – không phải là Tôlic – Misca suy nghĩ – Vậy thì Tôlic thật ở đâu?”
Và lần đầu tiên nó nghĩ rằng có chuyện gì đó đã xảy ra với Tôlic thật và cần phải nhanh chóng tìm ra bạn.
Misca cùng với Maiđa chạy băng qua bãi cở, đến một ngôi nhà quen thuộc.
Anna Gavrilôvna ra mở cửa. Cô giáo ngạc nhiên nhìn Maiđa rồi nhìn Misca hỏi:
- Có chuyện gì vậy, Pavlôp?
- Anna Gavrilôvna, em có chuyện phải nói với cô.
- Khẩn cấp à?
- Dạ không biết nữa – Misca nói.
- Vào đi.
Sau chiếc bàn ăn có hai đứa bé đang ngồi. Chúng giống nhau như đúc, có lẽ là anh em sinh đôi.
Hai đứa bé trây cháo bột ra khắp đĩa. Thấy con Maiđa chúng sợ quá, tròn mắt nhìn.
Anna Gavrilôvna nói với mấy đứa bé:
- Con chó rất ghét những đứa trẻ nhác ăn đấy.
Hai đứa bé cùng một lúc đưa thìa không vào miệng.
- Cô nghe đây, Pavlôp – cô giáo quay sang Misca.
Misca thở ra.
Nó không biết phải bắt đầu như thế nào.
Không phải dễ dàng nói những chuyện như thế này. Đặc biệt là khi phải nói về một người bạn.
- Tôi nghe đây – cô giáo nhắc lại.
- Em muốn kể về Rưzcôp … - Misca nói – Em không muốn kêu ca gì về nó.
- Đúng, không nên kêu ca – Anna Gavrilôvna mỉm cười.
- Và cô sẽ không quở phạt nó?
- Phạt vì cái gì kia chứ?
- Em cũng không biết – Misca thở ra – Cô có hiểu không, nó luôn luôn nói khoác.
- Nhưng em và nó làm bạn với nhau từ lớp một kia mà. Nó rất ưa nói khoác, em còn lạ gì?
- Em muốn nói chuyện khác kia – Misca nói – Trước đây nó nói khoác toàn những chuyện nhảm nhí, còn bây giờ - tất cả đều là sự thật.
- Không hiểu gì cả. Bọn em vừa cãi nhau à?
- Em không biết – Misca thất vọng – Em không muốn nói cái đó. Đầu tiên em định hỏi ba nó. Nhưng như thế Tôlic sẽ bị mắng. Sau đó em muốn kể với ba em, nhưng ba em rồi sẽ kể lại cho ba Tôlic. Và em đã không thể kể cho ai được ! Em không hiểu gì cả …
Anna Gavrilôvna không cười nữa. Cô giáo đứng lên khỏi ghế tựa rồi ngồi vào đi-văng.
- Ngội lại gần đây – cô giáo nói – Hãy bình tĩnh. Cô sẽ không hỏi em một điều gì. Hãy ngồi xuống và tự kể. Sau đó chúng ta sẽ nghĩ cách. Còn bây giờ cô chưa hiểu gì hết Misca ạ. Có chuyện gì xảy ra với Rưzcôp chăng? Rất nguy cấp?
Misca ngồi xuống bên cạnh Anna Gavrilôvna. Nhưng ý nghĩ cứ chạy lộn xộn trong đầu. Nó ngâng lên, nhìn cô giáo:
- Có thể, người ta đã giết nó … - Misca thì thầm.
- Giết à … Ai? – cô giáo hỏi khẽ. Mặt cô trắng bệch và xa lạ. – Em nói cái gì thế Misca ?!
- Cô đừng sợ - Misca nói vội – Em vừa mới gặp nó. Nó sống và đang dạo chơi. Em hoàn toàn nghĩ khác kia. Bây giờ em sẽ kể hết cho cô nghe. Chắc cô còn nhớ nó đã trèo vào chuồng sư tử như thế nào?
Anna Gavrilôvna vội vàng đứng dậy mặc paltô.
- Em thấy nó ở đâu? – cô giáo hỏi bằng một giọng xa lạ - Đi ngay bây giờ thôi ! Không được chậm trễ !
- Vâng, em không hoàn toàn muốn nói về điều đó ! – Misca hét lên – Nó sống. Không có gì hại nó cả.
Anna Gavrilôvna nhìn về phía cửa ra vào.
- Cô cón nhớ chuyện nó trèo vào chuồng thú?
- Nhớ.
- Vậy thì nó không trèo vào. Em đứng bên cạnh và nhìn thấy hết.
- Em muốn nói là không phải Rưzcôp đuổi sư tử?
- Rưzcôp.
- Có nghĩa là nó đã ở trong chuồng thú?
- Đã.
- Thế em định chế giễu tôi đấy à? – cô giáo hỏi nhỏ.
- Em không chế giễu ! – Misca kêu lên – Tôlic không trèo vào chuồng thú. Nó TỰ NHIÊN ở trong đó. Nó đang đứng bên cạnh em và BỖNG NHIÊN ở trong đó.
- “Bỗng nhiên” nghĩa là thế nào?
- Nó không đi bằng chân ! Cô hiểu không? Nó cũng không trèo qua một cái gì. Nó TỰ NHIÊN ở trong đó.
- Tiếp đi … - Anna Gavrilôvna nói, nhìn Misca hơi là lạ.
- Sau đó nó thằng cờ em. Rồi thắng cả ba em. Mà ba em là vận động viên cờ cấp 1.
- Có gì đặc biệt đâu?
- Trước đó nó chưa bao giờ chơi cờ ! – Misca nói – Nó hoàn toàn không biết chơi.
Anna Gavrilôvna tò mò nhìn Misca. Cô giáo cởi áo paltô và lại ngồi xuống đi-văng.
Hai đứa bé sau bàn không rời mắt khỏi con Maiđa. Chúng ngồi im như chuột.
Cháo trong đĩa đã nguội từ lâu, nhưng Anna Gavrilôvna không chú ý đến chúng. Cô lắng nghe. Còn Misca thì kể về khúc côn cầu, về chuyện chúng đánh nhau trước công trường.
- Những điều đó không thể có được – Cô giáo nói khi Misca kết thúc.
- Không thể - Misca đồng ý. Và ý nghĩ ban đầu lại xâm chiếm lấy nó, nó thì thầm: - Bởi thế em mới nghĩ rằng Tôli đã bị bắt trộm hoặc bị giết. Còn NÓ không phải là Tôlic ! Nó là một người khác được thay cho Tôlic …
- Cậu chỉ nói nhảm !! – Anna Gavrilôvna nói. – Chẳng lẹ ba mẹ nó không biết sao?
- Và mẹ nó cũng khác … - Misca nói – Bà ấy cho phép nó làm bất cứ việc gì và không hề là mắng. Bà ta hoàn toàn khác. Cả hai đều khác …
- Bây giờ nó ở đâu?
- Có lẽ, ở công viên.
- Em có thể tìm ra nó không? Nói nó đến chỗ tôi ngay bây giờ nhé.
- Có con Maiđa này em sẽ tìm thấy nó ngay thôi.
Misca dắt con chó đi ra cửa. Hai đứa bé leo xuống khỏi ghế, cầm thay nhau như bị quyến rũ, chập chững bước theo Misca mắt không rời con chó.

Cùng thời tian ấy Tôlic đi ở đâu khia của đường phố. Nó chịu khó nhìn qunh hơn. Rõ ràng là hôm nay nó không gặp may. Thật là trớ trêu, nó gặp toàn những người không muốn gặp, còn ba thì lại không tìm thấy. Tôlic thấy khó chịu trong người. Nó xoay đầu và đợi: từ một chỗ ngoặt nào đấy ông giám đốc vườn bách thú hay là ông đại úy công an sẽ đi ra. Bởi hôm nay mọi chuyện đề có thể xảy ra.
Ở đằng kia có hai con bồ câu đang tìm thức ăn trên vỉa hè. Một trong hai con có thể là bồ câu – Daixep mà Tôlic cũng không muốn gặp.
Cuối cùng Tôlic đi đến công viên. Ở đây yên tĩnh hơn. Trên những con đường trong cây thẳng tắp có thể nhìn thấy bất cứ ai đi từ đằng xa. Trong trường hợp cần thiết, bên cạnh có một bụi cây, có thể trốn vào đó. Hơn nứa, có nhiều khả năng ba đang đi lại đâu đó trong công viên. Ba thường đến công viên, khi cần suy nghĩ một việc gì nghiêm túc.
Tôlic sực nhớ là hoàn toàn không cần thiết phải đi tìm ba. Chỉ cần bẻ một que diêm là nó sẽ ở bên cạnh ba cho dù ba ở đâu đi nữa.
Tôlic đút tay vào túi.
- Giơ tay lên ! – một giọng nói vang lên từ bụi cây.
Tôlic rút tay ngay ra khỏi túi và đứng chết lặng trên con đường nhỏ.
- Đi lại đây ! – vẫn giọng lúc nãy.
Như bị thôi miên, Tôlic bước vào bụi cây, lách giữa các cành lá và đi ra một cái sân không lớn. Ở đấy nó nhìn thấy con người mà hầu như nó đã quên và không hề muốn gặp lại.
Trước mặt Tôlic là thằng bé với đôi mắt xanh lạnh. Trong tay nó là khẩu súng lục. Nó khinh khỉnh nhìn Tôlic như sâu bọ.
Thấy Tôlic hoảng sợ nhìn khẩu súng, thằng bé nhếch mép cười, vứt khẩu súng vào bụi.
- Đừng sợ, - thằng bé nói – Súng giả đấy ! Tớ với cậu thì cần gì đến súng ! Từ lâu tớ đã theo sát cậu. Nhưng cậu và Misca luôn luôn đi với nhau … Không thể nào túm cổ một mình cậu.
“Tại sao nó biết tên Misca nhỉ?” Tôlic kinh sợ nghĩ. Còn thằng bé như đoán được những ý nghĩ của Tôlic, nói:
- Tớ biết tất cả về cậu. Cậu là một thằng khờ. Cậu đã lãng phí quá nhiều diêm vì những chuyện đâu đâu. Đưa hộp diêm đây !
- Đây là hộp của tôi !
- Tốt hơn là trả lại cho đường hoàng.
- Không …
- Được – thằng bé không phản đối – Hãy nhớ đấy.
Đến lúc này Tôlic mới để ý thấy tay thằng bé giữ chặt túi nó. Tôlic đút tay vào túi. Nhưng đã muộn rồi. Ngay lúc ấy hộp diêm đã bay khỏi túi Tôlic và nhẹ nhàng đậu vào lòng bàn tay của thằng bé.
- Rõ chưa? – thằng bé phá lên cười, đôi mắt nó ánh lên những tia lửa xanh lạnh lùng – Từ phút này trở đi cậu không còn là phù thủy nữa. Cậu chỉ là một học sinh rất bình thường. Còn phù thủy là tớ ! – thằng bé tự hào nói, tay vỗ vào ngực – Ngoài hộp diêm này, trong tay tớ còn chín trăm chín chín nghìn chín trăm chín chín hộp nữa. Không phải ngẫu nhiên mà tớ đã tốn gần một năm trời không nghỉ ngơi để đếm các hộp diêm này. Nếu không thế thì từ lâu tớ đã lên lớp 6. Nhưng bây giờ tớ chẳng cần lớp trường gì hết. Tớ - thầy phù thủy. Ngời tớ ra, trên thế giới này không còn một phù thủy nào khác. Và chỉ, trong tích tắc tớ có thể biến cậu thành con giun. Cậu sẽ sống dưới đất. Nhưng tớ sẽ không làm điều đó, bởi cậu là một kẻ tham lam và tớ thích cậu.
Ước muốn lớn nhất của Tôlic lúc này là được về nhà. Nó không cần đến một que diêm nào nữa. Nó sẽ vui mừng chia tay với sức mạnh và trình độ khúc côn cầu của mình. Nó sẽ sung sướng, nếu như có Misca bên cạnh. Nhưng trước mặt nó không phải là Misca mà là một thằng bé với cặp mắt xanh kỳ lạ. Nó tò mò nhìn Tôlic bằng ánh mắt không chút tình thân hữu. Nó ngắm Tôlic như đang chiêm ngưỡng một con thú rừng nào vậy.
Phía bên kia bụi cây có tiếng cười. Đấy là mấy cô gái vừa đi vừa nói chuyện. Tôlic hy vọng nhìn về phía ấy, khẽ bước đi, như là mấy cô gái ấy có thể cứu được nó không bằng.
- Đứng im tại chỗ ! – thằng bé ra lệnh.
Tôlic đứng lại ngay. Nó hiểu rằng, bỏ chạy chẳng có lợi gì. Không một ai có thể bảo vệ được nó khỏi sức mạnh của diêm thần. Không một ai ! Ngay cả Misca nếu bây giờ có nó ở bên cạnh.
- Tôi có thể đi về nhà? – Tôlic hỏi nhẹ.
- Không – thằng bé nhếch mép cười – Cứ đứng ở đây cho đến khi nào tớ thả ra. Cũng có thể tớ sẽ không bao giờ thả cậu.
- Ba sẽ mắng tôi …
- Ba mẹ mà làm gì? Như tớ đây, chẳng có ba nào cả. Chỉ cần làm phù thủy là đủ.
Tôlic ngạc nhiên, mặc dù đang lo sợ.
- Không có ba – có lẽ ba cậu đã …
- Điều đó tớ không cần biết – thằng bé nói – Tớ tốn nguyên 10 que diêm để quen đi tất cả. Tớ là phù thủy, có ba mẹ chỉ thêm phiền thôi. Tớ chẳng cần bạn bè, chẳng cần người thân. Nhưng cậu là một kẻ tham lam – Tớ thích cậu. Chúng ta sẽ làm bạn với nhau, cậu đồng ý chứ?
- Nhưng tốt hơn là cho tôi về nhà !
- Cậu từ chối làm bạn với tớ ?!
- Không … - Tôlic run run nói. Nó cào nhẹ chân mình thử xem đã bị biến thành giun chưa.
- Vậy thì tớ với cậu sẽ là bạn. Cậu sẽ tuân theo lệnh tớ. Cậu sẽ gọi tớ là “Thầy phù thủy”. Chúng ta sẽ cùng sống một chỗ với nhau. Sẽ không ai nhìn thấy chúng ta. Cậu sẽ có thất cả những gì cậu muốn. Còn nếu cậu không nghe lời, tớ sẽ biến cậu thành con giun đất.
- Còn ba mẹ tôi?
- Cậu sẽ quên đi – thằng bé nói và vỗ vỗ tay vào túi.
Từ phía trong công viên vang tiếng “tít … tít … tít …” – đài báo 6 giờ tối. Có lẽ, bây giờ ba mẹ đã đi làm về. Chắc mẹ đang chuẩn bị cơm tối và thỉnh thoảng lại chạy ra cửa sổ xem thử Tôlic đã về chưa. Chắc ba cũng đang lo lắng và ân hận vì đã cãi nhau với Tôlic. Có lẽ ông đang tự hứa với mình rằng, sẽ không bao giờ la mắng Tôlic nữa. Bao giờ cũng vậy, nếu Tôlic về muộn mà không rõ nguyên nhân thì ba mẹ lại tự hứa thế, chỉ mong cho Tôlic không bị chẹt ô tô hay một tai nạn nào khác. Còn đến khi Tôlic trở về lành lặn, thì tất nhiên sẽ bị la mắng.
Bây giờ Tôlic sẵn sàng lắng nghe những bài học đạo đức cho dù suốt đêm cũng được. Miễn sao thằng bé này thả nó ra.
- Tôi không thích quên ba mẹ - Tôlic nói.
- Có gì đâu mà cậu sợ - thằng bé thản nhiên nói. – Chỉ cần một giây là cậu quên hết. Cậu sẽ không cảm thấy đau đớn tí nào.
- Dù sao tôi cũng không muốn.
Thằng bé nhún vai.
- Tùy cậu. Cậu sẽ khổ hơn.
- Tôi không thích “sống một chỗ”. Tôi muốn cùng sống với ba mẹ.
- Nhưng tớ thích ! – Đôi mắt xanh nhấp nháy – Cậu sẽ làm tất cả những gì tớ muốn. Còn nếu như không nghe … - thằng bé lại vỗ vỗ vào túi.
Tôlic buồn bã nhìn về phía bên kia bụi cây đang có tiếng người cười nói. Tôlic có cảm giác như họ đang cười mình. Và lần thứ hai trong ngày, Tôlic bật khóc.
- Đừng có rống lên như thế - thằng bé nghiêm khắc nói – Tớ có chuyện này còn quan trọng hơn nước mắt của cậu nhiều. Hãy ngồi xuống và nghe đây. Tớ muốn cậu biết tất cả. Rồi tớ sẽ đem theo cậu theo. Bởi thả cậu ra. Cậu sẽ phản bội tớ.
- Tôi sẽ không phản – Tôlic nói qua nước mắt. – Xin thề là không phản !
- Tớ không tin ai hết – thằng bé nói – Còn cậu là một kẻ tham lam. Tớ thích cậu.
- Tôi không tham lam – Tôlic nhẹ nhàng phản đối.
Thằng bé bật cười:
- Thế ai tiếc một que diêm cho Misca?
Tôlic ghê sợ nhìn thằng bé và nín lặng. Nó biết tất cả, không thể nào chối cãi được.
- Cậu đừng sợ tớ - thằng bé nói – Chúng ta sẽ còn làm bạn với nhau. Trước đây tớ cũng như cậu. Và lần đầu tiên tớ bắt được hộp diêm này. Nhưng tớ khôn hơn cậu. Bằng que diêm thứ hai, tớ đã ước cho mình 100 que diêm. Đến que diêm thứ ba tớ đã hiểu ra rằng cứ cái đà này thì chẳng bao lâu sẽ hết diêm cho những điều nhảm nhí. Và thế là tớ ước cho mình có đúng một triệu hộp diêm như thế này. Nhưng tớ chẳng tin ai, kể cả những que diêm thần. Và tớ bắt tay vào đếm – mất gần một năm rưỡi. Bây giờ tó là người quền lực nhất trên trái đất. Tớ có thể thực hiện bất cứ một việc gì mà không cần tốn một giọt mồ hôi. Cậu đã gặp may là đến đúng nơi tớ đếm hộp diêm. Chỉ có điều tớ không hiểu là cậu đến được bằng cách nào. Bởi lúc ấy tớ đang ở trong ngày hôm qua.
Sau những sự việc xảy ra ngày hôm nay Tôlic không còn phải ngạc nhiên gì: ngày hôm qua thì hôm qua, chẳng có ý nghĩa gì với nó lúc này. Nhưng thằng bé thấy rằng Tôlic không hiểu ngày hôm qua là gì. Nó giải thích một cách tự hào:
- Tớ tự nghĩ ra đấy ! Cậu là một kẻ tham làm nhưng khờ hơn tớ nhiều. Cậu sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra được ngày hôm qua đâu. Tớ đã nghĩ ra được, nên bây giờ tớ là Thầy phù thủy vĩ đại nhất. Ngày hôm qua – đó chính là ngày hôm qua. Bởi cái gì là của ngày hôm qua thì đã qua đi và không một ai có thể thấy cái của ngày hôm qua được. Vì mọi cái đã qua đi và đến ngày hôm sau tất cả đều mới mẻ. Và nếu như tớ đi vào ngày hôm qua thì không một ai nhìn thấy tớ được. Nhưng tớ không hiểu tại sao cậu lại rơi vào ngày hôm qua được. May cho cậu là tớ không có quyền phí một que diêm khi chưa đếm hết một triệu hộp diêm. Không thì lúc ấy tớ đã biến cậu thành con giun đất rồi.
- Tốt nhất là tôi không nên cầm hộp diêm đó – Tôlic rầu rĩ nói – Tôi đã không biết nó là hộp diêm thần. Tôi cũng chẳng muốn rơi vào ngày nào hết …
- Theo tớ, cậu rơi vào ngày hôm qua bởi vì cậu là một kẻ tham lam – thằng bé trầm ngâm – Tớ rất thích những kẻ tham lam. Bản thân tớ cũng là một thằng tham lam. Và bây giờ tớ là kẻ tham lam khỏa ngoan nhất trên thế giới.
Trong công viên đã sẫm tối. Cây lá đã trở nên đen trũi. Và trên cái nền đen ấy đôi mắt xanh của thằng bé ánh lên những tia lửa tham lam, độc ác.
- Thôi đủ rồi – thằng bé nói – bây giờ cậu sẽ đi với tớ.
- Đi đâu ?! Tôlic hoảng sợ hỏi.
- Đi vào ngày hôm qua. Cậu sẽ thấy, tớ đã gây dựng cuộc sống ở đấy như thế nào.
- Tôi không muốn ! – Tôlic kêu lên – Thả tôi ra. Để cho tôi về nhà với mẹ.
- Cậu mà nhắc tiếng “mẹ” một lần nữa, thì cậu sẽ quên luôn đấy.
- Tôi sẽ không, không nhắc nữa ! – Tôlic nhìn xung quanh nói bằng giọng van lơn. Nó còn chút hy vọng mỏng manh là có ai đấy sẽ nhìn vào bụi cây bất kể người đó là ai. Người đó có thể là anh công an hay ông bác sĩ béo tròn hoặc ông giáo sư với đôi kính dày đi nữa, miễn là cứu được nó. Nhưng xung quanh im lặng như tờ.
- Chẩn bị - thằng bé ra lệnh.
Chính vào lúc ấy Tôlic nhìn thấy Misca. Đúng hơn là nó không biết có phải là Misca không. Nó chỉ nhìn qua kẽ hở bụi cây hai cái bóng người và chó.
- Misca ! – Tôlic kêu lên tuyệt vọng – Misca ! Cứu tớ với !
Ngay lập tức có tiếng giày và chó sủa.
Misca chạy xuyên qua bụi cây, tay giữ dây buộc chó.
Misca thở dốc, cho con Maiđa ngồi xuống. Nó nhìn thằng bé và bình tĩnh hỏi:
- Hắn bám lấy cậu à?
- Hắn không bám. Tệ hơn thế nữa kia … - Tôlic bỗng im bặt, nó nhìn thấy đôi mắt thằng bé long lên dữ tợn.
Nhưng Misca không để ý đến mắt thằng kia.
- Vậy thì, đi khỏi đây thôi ! – Misca nói.
Thằng bé nhếch mép cười khinh bỉ, nhưng không nói gì.
- Đi thôi Tôlic, dây dưa với hắn làm gì – Misca nhún vai – Hai thằng mình có thể đem nó ra làm nước xốt nhưng thôi, tha cho nó.
Thằng bé cười ồ. Misca nhìn nó ngạc nhiên.
- Một thằng điên. Đi thôi Tôlic, đừng dích tớ hắn.
- Nhưng tao lại ưa dính với bọn mày – thằng bé nói – Bây giờ mày sẽ không đi khỏi đây. Mày đã sỉ nhục một con ngươi quyền lực nhất trên thế giới. Hoặc là, phải xin lỗi ngay lập tức, hoặc là…
- Con khỉ ! – Misca nổi giận – Xin lỗi mày? Cút ngay khỏi đây khi còn chưa muộn !
- Xin lỗi đi, Misca, xin lỗi đi – Tôlic van lơn – Có thể, nó sẽ thả chúng ta.
Thằng bé không để ý Tôlic nói, đút tay vào túi. Con Maiđa từ nãy giờ không rời mắt khỏi thằng bé, chồm lên sủa, nhưng Misca đã giữ nó lại, không muốn để con chó cắn người.
- Đừng giữ chó ! Thả nó ra ! Cậu không biết gì hết ! – Tôlic hét lên. Nó chạy đến giật dây buộc chó khỏi tay Misca. Con Maiđa nhảy chồm lên. Nhưng đã muộn.
Chính vào lúc ấy cả Tôlic, Misca và Maiđa cảm thấy bị nhấc bổng lên không trung và bay đi đâu, không biết.



PHẦN II – ĐIỀU KỲ LẠ KHÔNG THEO Ý MUỐN

Tôlic tỉnh dậy trong một gian phòng lớn. Trời đã sáng rõ. Ánh nắng mặt trời xuyên qua các cửa sổ và tấm thảm trên nên fnhà gần như bốc lửa. “Tấm thảm này ở đâu ra thế nhỉ? – Tôlic nghĩ – Hôm qua đâu có nó?”
Ngước lên đầu giường Tôlic nhìn thấy một tấm biển sang trọng với dòng chữ: “Không nhất thiết phải rửa mặt vào buổi sáng”
“Có lẽ, ba viết đùa – Tôlic đoán. Hất tấm đắp sang một bên. Tôlic nhảy xuống đất tìm dép. Nhưng không có, thay vào đó là một đôi giày mới. Tôlic lôi giày ra, gặp tia nắng mặt trời đôi giày lóe sáng, phải nheo mắt mới nhìn được. Cả lỗ giày và dây giày đều lấp lánh, mà không hiểu sao dày lại màu vàng. Đôi giày rất nặng. Nhìn kỹ, Tôlic mới biết rằng cả dây lẫn lỗ đều làm bằng một thứ kim loại nào đấy. Tóm lại là một đôi giày không bình thường, như để dùng trang trí cho các cây thông ngày tết.
“Một đôi giày lạ” – Tôlic nghĩ và đặt vào chỗ cũ.
Bên cạnh giường, trên chiếc ghế trắng bằng thếp có một bộ quần áo. Chiếc ghé sáng loáng như chiếc kèn đồng đánh dánh bóng. Càng ngạc nhiên hơn: khi Tôlic trải bộ áo quần ra. Chúng rất nhẹ, những nút áo thì to lớn và làm bằng kim loại. Mỗi hạt nú có lẽ nặng bằng cả chiếc áo. Bộ quần áo giống như một thứ ý phục vũ hội hóa trang nào đó. Và Tôlic hiểu ra quần áo ấy là gì khi nhìn lên trên ngực chiếc áo ngôi sao vàng Anh hùng Liên Xô.
Tôlic nhìn xung quanh và đến lúc này mới biết là đang đứng không phải là trong phòng mình.
Gian phòng quá là to lớn. Trên trần nhà treo một cây đèn chùm vĩ đại với hàng nghìn bóng. Dọc theo tường nhà là các trụ cao đến tận trần. Bên cạnh các trụ là những cái lọ to lớn. Tôlic có cảm tưởng là mình đã thấy căn phòng hay đúng hơn là cái gian nhà rộng lớn này ở đâu rồi. Bạn bè của cả ba và mẹ đều không có những căn phòng như thế.
Tôlic tới gần các lọ. Lọ đầu tiên chứa đầy kẹo “Chin trắng”. Trong lọ thứ hai là những thanh kẹo sô-cô-la. Trong lọ thứ ba – bánh ga tô. Cả 44 lọ to lớn đều chứa một loại bánh kẹo nào đấy. Nhưng Tôlic chẳng vui sướng gì, mà ngược lại, mỗi lúc nó càng thấy ghê sợ hơn. Đấy không phải là hóa trang hay chuyện đùa. Trong căn phòng rất yên tĩnh. Và cũng không nghe thấy một tiếng động nhỏ từ phía bên ngoài mặc dù các cửa kính đều được mở toang. Không một tiếng máy ô tô, không một tiếng người, không một tiếng chổi quét sân – hoàn toàn im lặng.
Với cái áo cánh và chiếc quần đùi đang mặc. Tôlic chạy lại cửa sổ nhìn ra ngoài. Một cái sân rộng tráng nhựa, không người. Xung quanh sân là những tòa nhà mà Tôlic cảm thấy quen quen. Đó là những ngôi nhà hai ba tầng với những cột trụ và những cửa chóp lớn – những ngôi nhà cổ vừa giống các cung điện lại vừa giống các cửa hàng.
“Bách hóa tổng hợp” – Tôlic đọc tấm biển lớn trên một tòa nhà dài. Trên một tòa nhà khác ghi: “Thế giới trẻ em”. Trên tòa nhà thứ ba – “Cửa hàng ăn uống”. Tôlic không nhận ra các cửa hàng này, bởi chúng đứng gần nhau, mà đáng lẽ ra phải nằm riêng lẻ ở các đường phố khác nhau.
Bây giờ đã rõ vì sao không nghe thấy một tiếng động. Trên quảng trường không một bóng người, không một chiếc ô tô và không có lấy một con bồ câu nhỏ.
Trong các tủ đứng bằng kính trương bày những hình nhân làm mẫu với tấm vải quảng cáo trên tay. Tôlic cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy những người ấy giữa chốn vắng vẻ này.
Chẳng thích thú gì khi chiêm ngưỡng một quảng trường với các cửa hàng đầy ánh nắng nhưng trống rỗng. Không một ai đi vào các cánh cửa mở rộng của các cửa hàng và cũng chẳng có ai trong đó đi ra. Các cửa hàng đứng nghiêm trang như những người lính canh trong tư thế chờ đợi những khác hàng bí ẩn.
Tôlic quay đầu lại. Cái giường và chiếc ghế đứng giữa căn phòng bỏ trống, nhỏ bé, đơn độc. Và Tôlic cảm thấy chính mình cũng trở nên đơn độc giữa cái thế giới không hiểu vì sao trống rỗng này.
Theo thói quen Tôlic lại nhắm mắt xem thử có phải mình mơ không. Nó đứng nhắm mắt rất lâu, gần 5 phút. Rồi nó cẩn thận từ từ mở mắt – cảnh xung quanh không hề thay đổi.
Tôlic đi qua gian phòng, đến gần một cái cửa. Cái cửa nặng nề từ từ mở ra trước mặt, Tôlic ngạc nhiên lùi lại. Nó đứng yên suy nghĩ, chăm chú nhìn qua khe hở giữa cánh cửa và bức tường xem có ai núp không, nhưng chẳng thấy một ai.
Thụt cổ lại, Tôlic chầm chậm bước ra cửa chờ điện giật hoặc một cái gì ghê gớm hơn sẽ xảy ra … Nhưng chẳng có gì hết.
Phía dưới là cái cầu thang rộng với các bậc và lan can làm bằng đá cẩm thạch, thấy quen quen. Tôlic đã nhìn thấy cái cầu thang này ở đâu rồi, nhưng không nhớ ra. Hình như bị thiếu cái gì đó ở chiếc cầu thang này, có lẽ là tấm trải. Phải gõ chân đất trên nền đá lạnh này chẳng lấy gì làm thú vị lắm.
Trước khi ra đường phố còn phải đi qua một cái cửa dày với những tấm kính phía trên. Của này cũng tự mở ra khi Tôlic đến gần. Lần này Tôlic không ngạc nhiên nữa. Có lẽ trong cửa có một bộ phận cơ học tự động làm việc khi có người đến gần. Với kỹ thuật hiện đại thì điều đó cũng chẳng phải là ghê gớm gì.
- Có – co – co – ai – ai – ai – không – khong – khong – khong …
Phía sau có tiếng lạo xạo. Tôlic quay và giống như Tritra trong chuồng thú, nó run rảy đàu tiên là chân sau đó đến tay và sau cùng hai tai cũng run theo.
Trước mắt Tôlic là một Người Sắt đang đứng nhìn nó bằng đôi mắt to của mình. Trên Người Sắt không có lấy một mảnh vải nhưng không thể nói là anh ta trần truồng, cũng như không thể nói là hòn đá trần truồng. Anh ta có hai tay, hai chân và đầu. anh ta có cả mũi và miệng luôn luôn mỉm cười. Nụ cười dường như không bao giờ tắt trên môi. Trên cái đầu trọc lóc bằng sắt chỉ mọc có một sợi tóc duy nhất cũng bằng sắt. Sợi tóc quá dài và ở cuối gắn với một quả cầu nhỏ.
Tất cả những cái đó Tôlic nhìn thấy trong một giây, còn giây sau thì nó đã nhảy lùi lại, dựa lưng vào tường, chờ chết.
Người Sắt im lặng nhìn Tôlic, không động đây. Nhưng trong sự bất động của anh ta vẫn có một cái gì ghế rợn. Đó là sự bất động không phải của một cơ thể sống mà là của một cái máy.
Tôlic không rời lưng khỏi tường, nhích dần từng bước. Vẫn nụ cười trên môi, Người Sắt xoay đầu đi chút chút.
Chẳng còn biết sợ hãi gì. Tôlic bất ra khỏi tường co chân chạy băng qua quảng trường. ngay lập tức phía đằng sau vang lên tiếng chân sắt nặng nề. Ai đấy đang đuổi theo, không đuổi kịp được nó, nhưng cũng không bị bỏ xa. Dồn hết sức lực Tôlic chạy nhanh hơn. Tiếng chân đuổi theo vang lên càng to hơn. Người chạy phía sau không nói một lời. Tôlic cảm thấy mình kiệt sức không thể chạy tiếp. hay chânn xiêu vẹo, nó ngã xuống nền nhựa giữa quảng trường, hai tay ôm lấy đầu. Nó chờ đợi một cú đấm của bàn tay thép và đấy sẽ là cảm giác cuối cùng. Không tức giận ai, gần như bình thản. Tôlic nghĩ: “Vì cái gì? Mình đã làm gì anh ta?” và nhắm mắt chờ chết.
Nhưng xunh quanh im lặng, không còn tiếng chân đuổi nữa. Đâu đấy, bên cạnh Tôlic có tiếng đập của tim mình.
Cuối cùng Tôlic quyết định mở mắt. Nó ngước lên và thấy Người Sắt. Anh ta gần như bên cạnh, cách xa chừng ba mét. Người Sắt hoàn toàn yên tĩnh, như không phải vừa mới chạy. Khuôn mặt sắt vẫn một nụ cười như trước.
- Anh … gì … - Tôlic mấp máy môi vì sợ hãi.
- Không hiểu – Người sắt đáp lại không chậm trễ.
- Tôi … sợ … - Tôlic nói.
- Xin cứ việc – Người Sắt trả lời – Anh có thể làm những gì mà anh thích. Anh không thể làm những gì mà không cho phép.
Tôlic để ý thấy rằng khi Người Sắt nói, trên mặt anh ta không có gì thay đổi. Kể cả môi cũng không mấp máy. Và vẫn với nụ cười muôn thuở.
Dần dần, Tôlic bớt sợ. Nó nhận ra, rằng lúc này Người Sắt chưa có ý định giết nó. Bao giờ cũng vậy, khi người ta chuẩn bị giết một người, thì người ta sẽ không nói chuyện với anh ta một cách quá lâu.
- Anh là người thực chứ? – Tôlic hỏi có phần dạn hơn.
- Tôi là người thực.
- Tại sao anh lại bằng sắt?
- Tôi là một rôbơt thực.
- Tại sao anh lại nói chuyện được?
- Tôi biết nói chuyện.
- Tôi có thể hỏi anh được chứ?
- Anh có thể làm những gì mà anh thích. Anh không thể làm những gì mà không cho phép.
- Thế ai là người không cho phép? – Tôlic hỏi, đã hết sợ.
- Thầy phù thủy.
Tôlic nhỏm dậy. Nó bỗng nhớ ra tất cả. Nó bỗng hiểu ngay cái điều mà trước đây nó lờ mờ suy đoán. Đó là ngày hôm qua … Cũng có thể, không phải là ngày hôm qua, mà là nghìn ngày hay là nghìn năm trước … Nhưng điều đó không quan trọng, bởi thằng bé với đôi mắt xanh không phải là nó nằm mơ thấy.
Tôlic Rưzcôp, một học sinh lớp bốn, một cậu bé có cha mẹ, giờ đây đang sống trong ngày hôm qua.
Và dường như để khẳng định cho những ý nghĩ ấy, từ phía đằng xa vang lên tiếng động cơ ô tô: Tôlic nhìn thấy một chiếc xe màu đen to lớn đang tiến về phía nó. Ô tô không có người lái, tự chuyển động. Và trên hàng ghế phía sau là con người mà Tôlic dự đoán sẽ gặp.
Chiếc se tự dừng lại bên cạnh Tôlic.
- Chúc cậu buổi sáng tốt lành ! – thằng bé nói, vẻ cười cợt.
Tôlic không trả lời.
- Tại sao cạu đi chân đất ? – thằng bé hỏi – Chẳng lẽ cậu không thích đôi giày đế vàng sao? Đôi ấy cũng giống như đôi tớ mang đấy thôi. Xem này.
Thằng bé giơ chân lên và trước mắt Tôlic là đôi giày sáng chói, giống hệt như đôi mà Tôlic đã để lại dưới giường.
- Chẳng lẽ cậu không thích bộ đồ vét với những khuy vàng sao? Tự tớ nghĩ ra kiểu đó đấy.
- Ở đấy có ngôi sao vàng – Tôlic cau có nói.
- Tớ tặng cho cậu đấy – thằng bé khoác lác. Tớ biết là cậu mơ trở thành anh hùng. Và tớ làm cho cậu đạt được ý muốn. bởi dù sao tớ cũng thích cậu.
- Tôi chưa có chiến công nào – Tôlic nói – Tớ không thể đeo ngôi sao được.
- Cậu không phải là người chơi cờ hay nhất sao? Cậu chẳng phải là cầu thủ khúc côn cầu xuất sắc nhất trên thế giới?
Tôlic im lặng. Chẳng biết nói gì hơn.
Thằng bé bật cười:
- Đừng ngại. Chính vì lẽ đó mà tớ thích cậu. Tớ sẽ gắng hết sức vì cậu. Tớ đã chi cho cậu không phải một que diêm. Đến cái ghế tớ cũng làm bằng bạc. Còn cậu thì ngủ ở Cung Thiếu nhi. Chẳng lẽ cậu không thích ở đây?
“Đúng rồi, - Tôlic nghĩ – thế mà mình không đoán ra. Gian phòng và cầu thang trước đây mình đã thấy – thuộc Cung Thiếu nhi”.
- Sao cậu không cảmơn tớ?
Tôlic không thể hiểu nổi thằng bé nói thật hay đùa.
- Cám ơn – Tôlic nói, nghĩ rằng không nên cãi nhau với thằng bé lúc này. Bởi cần phải nghĩ cách trốn khỏi đây.
- Không cần thiết – thằng bé trả lời – Tớ tin rằng, chúng ta sẽ là những người bạn lớn. Ở đây cậu sẽ có mọi thứ.
Chúng ta sẽ là những người hạnh phúc nhất trên thế giới. Bởi chúng ta hoàn toàn không phải làm việc hay học hành. Cậu chưa quen đấy thôi. Bước đầu tớ khuyên cậu hãy quên ba mẹ đi.
- Không cần – Tôlic khẩn khoản – Không cần thế.
- Tùy cậu. Cậu sẽ khổ tâm hơn. Bởi dù sao cậu cũng không thể ra khỏi đây được. Và cả Misca của cậu cũng sẽ không đi đâu hết.
- Misca ở đâu? – Tôlic mừng rỡ 0 Tại sao Misca không đến đây?
- Điều đó chỉ mình tớ biết ! – Thằng bé giận dữ. – Tớ ! Tớ - Thầy phù thủy ! Cậu không cần phải biết. Misca của cậu là thằng ngu ngốc, mất dạy. Nó không thích sống trong cung điện. Nó không muốn nói chuyện với tớ ! Nó là con người kỳ dị - không có lấy một chút tham lam và lười biếng. Và nếu như nó không chịu thay đổi, tớ sẽ biến nó thành … Tớ còn đang nghĩ sẽ biến nó thành cái gì. Tớ - Thầy phù thủy !
Giọng nó gay gắt, đôi mắt ánh lên những tia lửa xanh dữ tợn. Tôlic sợ thằng bé trong con thịnh nộ có thể biến nó thành một con gì đấy thì khốn. Tôlic lùi lại một bước khỏi chiếc xe và ngồi xuống, im lặng.
- Đừng sợ - thằng bé thấy dáng điệu của Tôlic, hạ giọng – Với cậu thì khác. Cậu là một kẻ tham lam, tớ sẽ quan tâm tới cậu. Cậu thấy thằng Ngốc Sắt này thế nào? Nó sẽ bảo vệ cậu. Nó sẽ đi theo cậu khắp mọi nơi.
Tôlic ngước nhìn Người Sắt, thầm hy vọng anh ta sẽ tức giận vì từ “thằng ngốc” và sẽ xé xác thằng bé bằng đôi tay sắt của mình. Nhưng Người Sắt không hề nhúc nhích. Thằng bé bắt gặp cái nhìn của Tôlic, cười to:
- Anh ta không biết giận – Thằng bé nói – Này, mày tên gì?
- Ngốc Sắt ! – Người Sắt trả lời.
- Mày không tự ái sao? – Thằng bé cười hỏi.
- Không hiểu.
- Ngốc – đó là cái tên xấu.
- Tôi – rôbơt – Người Sắt trả lời – Tôi không biết xấu hổ.
- Nhiệm vụ của mày là gì?
- Anh ta có thể làm những gì mà anh ta thích – Người Sắt nói, đưa tay chỉ Tôlic – Anh ta không thể làm những gì mà không cho phép. Tôli luôn luôn ở bên cạnh.
- Cậu hiểu chưa? – thằng bé hỏi Tôlic – Nó sẽ luôn luôn ở bên cạnh. Cậu không thể làm những gì mà không thể cho phép. Nhưng cậu sẽ quen thôi. Đi chơi đi, cậu sẽ thích đấy.. Còn bao giờ cậu thích thì chúng ta sẽ trở thành những người bạn lớn.
Thằng bé ngả lưng vào thành ghế, lập tức chiếc xe phóng đi mất hút.
Tôlic quay lại phía Người Sắt. Sau khi thằng bé đi khỏi Tôlic nghĩ ngay rằng cần phải làm thân với anh rôbơt này. Bộ óc sắt của anh ta đã có cấu tạo thế nào nữa cũng không thể thông minh hơn người. Và đánh lừa anh ta chắc cũng không khó lắm.
- Misca và Maiđa ở đâu? – Tôlic hỏi.
- Không hiểu.
- Misca và … con chó?
- Người và chó ở đây.
- Ở đây? Chỗ nào?
- Không thể làm những gì mà không cho phép.
- Tôi đâu có làm gì.
- Anh có thể làm những gì mà anh thích.
- Thế thì hãy nói, người và chó ở đâu?
- Ở đây.
- Ở chỗ nào?
- Không thể làm những gì mà không cho phép.
- Cứ nhắc đi nhắc lại: “Không cho phép – không cho phép” – Tôlic nổi giận – Mày là thằng ngu.
- Tôi – Ngốc Sắt – Người Sắt sửa lại – Tôi – rôbơt.
- Thế không cho phép tôi làm gì?
- Ra khỏi trước rạng đông?
- Ra khỏi để đi đâu?
- Khắp nơi.
- Này, Rôbơt thân mến – Tôlic dỗ ngọt – Tôi sẽ không nói với ai đâu. Hãy nói “Ra khỏi trước rạng đông” có nghĩa là gì?
- Không cho phép.
- Tôi sẽ không bao giờ gọi anh là Ngốc Sắt. Tôi tha thiết yêu cầu anh.
- Tôi hiểu.
- Thôi nào – Tôlic mừng rỡ - Nói đi.
- Không cho phép.
Tôlic thấy là không thể nói chuyện tình cảm với Người Sắt được. Bộ óc sắt của anh ta không hề có tinh thượng.
Tôlic thở dài đi qua quảng trường, đến các cửa hàng. Người Sắt theo sát nó. Trong các gian hàng của Bách hóa tổng hợp không một người bán, không một người mua, vắng lặng. Hàng hóa nằm trên tủ kính và trên các bệ. Tất cả đều giống như Bách hóa tổng hợp thật sự. Ở các cầu thang đều có máy điện thoại tự động. Tôlic nhấc ông nghe ấn nút miễn cước. Nó hy vọng sẽ gọi được cho công an và yêu cầu giúp đỡ. Nhưng không một tiếng trả lời.
Tôlic giận dữ vứt ống nghe. Người Sắt đến gần điện thoại, cẩn thận gác ông nghe lên máy. Rõ ràng là anh ta ưa gọn gàng.
Tôlic đi giữa hai dãy hàng háo, dửng dưng nhìn những mặt hàng tuyệt đẹp trong tủ kính. Đến quầy phim ảnh nó cầm lấy một chiếc mấy ảnh có giá nhất và đưa mắt nhìn Người Sắt. Anh ta im lặng. Tôlic đặt máy vào chỗ. Cách đây không lâu nó còn chưa dám ước mơ một chiếc máy ảnh như thế. Còn bây giờ thì chẳng hấp dẫn chút nào. Máy ảnh để làm gì kia chứ, chẳng lẽ để chụp Người Sắt ?!
Trong quầy thể thao Tôlic có phần tươi tỉnh hơn. Ở đây có mọi thứ tuyệt đẹp, nào là bóng đá, sai-ba, gậy khúc côn cầu, xe đua … Tôlic dừng lại bên chiếc xe đạp một lúc nhưng không lấy. Nó hình dung ra cảnh nó cưỡi xe trên quảng trường. và thằng Người Sắt đuổi theo, không rời một bước – Giống như Tôlic trong vai con chó trong một cuộc dạo chơi. Chỉ khác là thiếu sợi dây.
Tôlic đi về phía quầy săn bắn. Ở đấy có hàng chục khẩu súng và bên cạnh là đạn. Một ý nghĩ lóe lên trong óc nó: “Cần phải lấy một khẩu súng để phòng thân. Ai biết được thằng bé mắt xanh sẽ muốn gì?”
Tôlic đưa tay lấy một khẩu súng hai nòng.
Người Sắt lúc nãy đứng im lặng, bỗng động đậy:
- Cầm vũ khí không cho phép.
- Tôi có thể làm những gì mà tôi thích kia mà ! – Tôlic nóng mặt.
- Anh có thể làm những gì mà anh thích.
- Tôi cần vũ khí.
- Cầm vũ khí không cho phép.
- Cho phép với không cho phép ! – Tôlic xẵng giọng – Ai biểu mang tao tới đây.
- Cầm vũ khí không cho phép.
Người Sắt nói bằng giọng đều đều, bình tĩnh, không một chút tức giận. Nhưng khi Tôlic cầm khẩu súng từ trên xuống thì anh ta không nói một lời, đến bên nó nhẹ nhàng lấy lại khẩu súng đặt vào chỗ cũ.
- Thằng ngu ! – Tôlic chửi.
- Tôi không là thằng ngu. Tôi – Ngốc Sắt.
- Hai từ chỉ là một !
Người Sắt im lặng. Cũng như những Người Sắt khác, anh ta có hệ thần kinh sắt thép. Không ai có thể làm anh ta buồn bã hay tức giận. Đó là điều hiển nhiên.
Nếu khác đi anh ta sẽ gần như người thật.
Còn Tôlic thì nổi giận thật sự. Nó lấy hết đò đạc trên giá, trong tủ vứt xuống đất. Nhưng chỉ phí công. Người Sắt không hề phản ứng, anh ta im lặng thu dọn tất cả đồ đạc xếp vào chỗ cũ. Chẳng mấy chốc trong gian hàng thể thao đâu lại vào đấy, dường như Tôlic chưa hề động tới.
Ở quầy thể thao Tôlic lấy một đôi giày vải. Đi chân không trên các bậc đá, hai bàn chân nó tê lạnh. Tôlic đi qua các tủ kính với những đồng hồ bằng vàng, những chuỗi ngọc và những hòn đá quý. Bên cạnh mỗi thứ là một tấm biển nhỏ ghi giá tiền. Nếu như dồn hết tất cả các thứ đó lại thì sẽ có một giá tiền chung – giá của sự chia ly với cha mẹ, với tất cả những người khác, kể cả Tritra mà bây giờ Tôlic không còn thấy ghét nữa.
Tôlic trở ra quảng trường. Vẫn trống không như trước. Người Sắt đứng lại bên cạnh với nụ cười muôn thuở trên môi.
- Đã đến giờ ăn – anh ta nói.
- Tôi không ăn – Tôlic trả lời.
- Anh có thể làm những gì mà anh thích.
- Tốt hơn là chết vì đói !
- Không hiểu.
- Tôi chết. Sẽ không có thôi.
- Anh đi khỏi?
- Mãi mãi – Tôlic hí hửng – Tao sẽ đi khỏi và Thầy phù thủy sẽ cắt cổ mày.
- Không cho phép đi khỏi.
- Con khỉ ! Im đi ! – Tôlic nói – Đồ gián điệp.
- Tôi – rôbơt. Tôi – Ngốc Sắt, - Người Sắt chữa lại.
- Thì tao cũng muốn nói như vậy đấy.
Tôlic đi vào ngôi nhà có treo tấm biển lớn “Cửa hàng ăn uống”. Đã có lần Tôlic đến đây với ba mẹ. Chính ở đây, lần đầu tiên nó được nếm loại bánh ga tô đặc biệt và kem anh đào.
Trong nhà hàng vắng lặng. Trên các bàn đã bày sẵn đủ loại thức ăn khác nhau. Không hiểu sao thức ăn vẫn nóng, tươi nguyên, dường như chúng vừa mới được mang đến từ dưới bếp. Trong cửa hàng không có gì thay đổi, vẫn những trụ bê tông, vẫn cái sân khấu ấy và vẫn những bức tường được trang trí bằng những hình vẽ. Tất nhiên, đây chính là cửa hàng ăn uống mà gia đình Tôlic đã đến ngày nào.
Tôlic bỗng nghĩ rằng, ở những nơi mà “Bách hóa tổng hợp”, “Thế giới trẻ em”, “Cửa hàng ăn uống” vẫn đứng chắc bây giờ trống không. Và, tất nhiên, công an đang truy tìm những ngôi nhà ấy và có thể sẽ tìm ra Tôlic, rồi bắt giam thủ phạm là thằng bé mắt xanh. Nhưng ngay sau đó Tôlic nhớ lại chuyện chính nó làm cho anh công an phải bắt ông bác sĩ béo không phạm lỗi gì, và nó hiểu rằng công an cũng chẳng có hiệu lực gì ở cái xứ sở này !
Chưa kịp ngồi vào bàn, Tôlic cầm ngay một miếng bánh ga tô đưa lên miệng.

Cách xa quảng trường, trên bờ biển có một tòa nhà cao tầng được xây dựng ngay trên bãi tắm. Ngôi nhà có đến 44 tầng. Hằng ngày sóng biển vỗ vào đến tận thềm. Ba mươi chiếc ca nô mới và một tàu biển sơn xanh ngày đêm túc trực bên cạnh nhà. Phía bên kia ngôi nhà, trên bãi tráng nhựa có đến ba mươi chiếc ô tô mới tinh đang sẵn sàng nổ máy.
Mỗi tầng nhà có đúng 100 phòng.
Thằng bé với đôi mắt xanh kỳ dị sống trong tòa nhà này.
Mỗi buổi sáng, khi thằng bé bước ra khỏi nhà, ba mươi chiếc ca nô “xếp hàng” thẳng tắp, các máy nổ bắt đầu hoạt động, dường như tất cả đều chỉ có một ước mơ là được chở thằng bé.
Ở phía đằng kia 30 chiếc ô tô cũng nổ mấy chờ đợi, sẵn sàng lên đường.
Còn thằng bé không để ý gì hết, tiến đến sát bờ, cơi quần áo, nhảy xuống bơi lội. Nói đúng hơn là thằng bé không bơi mà biển tự nâng nó trên mặt nước.
Sâu đấy thằng bé đi câu cá. Cứ mỗi giây một con cá to lại bị cắn câu. Và thằng bé chỉ việc lấy cá ra, vứt lên bờ.
Sau câu cá là ăn sáng. Thằng bé ngồi một mình trong gian nhà rộng như ga xe lửa và trước khi bắt tay vào việc ăn uống nó phải suy nghĩ gần nửa tiếng đồng hồ để nghĩ ra các món ăn mà nó chưa được thử.
Sau bữa ăn, thằng bé đi dạo trên các tầng nhà mình ở. Các căn phòng với những đồ kỳ diệu đang chờ nó. Này là những phòng với các loại đồ chơi công nghiệp, những chiếc tàu lửa và máy bay nhỏ xíu chạy bằng điện. Kia là căn phòng với những bộ tem hiếm về bể, về các loại tiền trên thế giới. Có những căn phòng đặc biệt với những thùng nước giải khát tự động có thể uống tha hồ mà không tnn một xu. Có tới 15 căn phòng với các trò chơi khác nhau. Có cả một phòng chuyên dùng chứa bánh đậu nành mà thằng bé rất thích. Nếu gặp một phòng trống thì thằng bé lập tức lấy hộp diêm ra, bẻ một que và ngay sau đó căn phòng sẽ được chứa đầy tất cả những gì mà nó muốn.
Phòng trống trong tòa nhà còn nhiuu, cho nên ông việc của thằng bé cũng không phải là ít. Ngoài ra, nó còn dự định đặt thêm một tòa nhà nữa bên cạnh để chứa hết tất cả những gì mà nó nghĩ ra được.
Chỉ có ở tầng 20 là các phòng còn trống. Đúng hơn là tất cả đều trống trừ một phòng. Ở đấy Misca và Maiđa đang sống. Và trước khi bước vào tầng này, thằng bé bẻ một que diêm và lầm bầm điều gì đó mà chỉ mình nó biết.
Sau ngày Tôlic làm quen với Người Sắt, thằng bé lại lên tầng 20. Ra khỏ thang máy, nó nhón chân đi đến phòng có khóa. Phía trong cửa vang lên tiếng sủa đe dọa. Thằng bé mở cửa đi vào phòng.
Một bóng đen lao từ phía cửa sổ tới. Bóng đen bay trong không khí rồi đột nhiên dừng lại, rơi xuống nền nhà.
Thằng bé cười ha hả, nhưng đôi mắt nó không cười. Chúng phát ra những tia sáng xanh lạnh lùng.
- Tao đã nói với mày là phải cột con chó lại – thằng bé nói – Nó sẽ không cắn được tao đâu, cũng như mày không thể sờ được lông chân tao vậy.
Con Maiđa xù lông lên, cố sức xông tới thằng bé. Nhưng có một sức mạnh nào đó đã giữ nó tại chỗ. Maiđa không biết là cái gì đang xảy ra với nó. Con chó quay đầu lại phía chủ dường như muốn hỏi. Nhưng Misca cũng không thể giúp được gì. Nó đứng dậy cầm dây buộc có quấn vào chân bàn để con chó khỏi tốn sức chống lại một vật cầu không nhìn thấy.
- Mày đã suy nghĩ lại chưa? – thằng bé hỏi.
- Tao sẽ không nói chuyện với mày, khi nào mày chưa trả lời: Tôlic ở đâu.
Thằng bé nhếch mép cười khinh bỉ:
- Từ lâu Tôlic đã không nghĩ đến mày nữa rồi. Nó đã thích ở chỗ tao. Và chúng tao sẽ là bạn bè với nhau. Chính nó nói điều đó. Nó cũng nói rằng tốt nhất là biến mày thành giun đất.
Misca im lặng.
- Mày phải biết sợ tao – thằng bé nói tiếp – Bởi tao là thầy phù thủy. Tao là người quyền lực nhất trên thế giới.
- Đã nghe rồi – Misca càu nhàu.
- Chỉ một que diêm thì mày sẽ quỳ xuống xin lỗi tao !
- Còn không có diêm thì mày chẳng làm nên trò trống gì !
- Tao có thể làm tất cả - thằng bé thét lên – Tao – Thầy phù thủy. Nhưng tao muốn tự mày phải xin lỗi tao.
Không trả lời, Misca đưa nấm đấm chìa ngón tay cái ra ngoài về phía thằng bé.
- Mày điên à? – thằng bé kinh ngạc – Mày có hiểu là tao có thể làm gì với mày không?
- Hiểu.
- Tớ có thể thả cậu nữa – thằng bé bất ngờ nhỏ nhẹ - Có muốn không, tớ sẽ cho cậu về với cha mẹ?
Thằng bé dường như hết giận. Nhưng nhìn thấy những tia lửa xanh dữ tợn lóe lên trong đôi mắt nó, Misca không thể nào tin được.
- Thiếu Tôlic tao sẽ không đi đâu hết.
- Tớ sẽ cho cậu một nghìn rúp.
- Dẹp nghìn rúp của mày đi !
- Một triệu rúp !
- Dẹp triệu rúp của mày đi !
Đôi mắt thằng bé lóe sáng dữ dội hơn. Rõ ràng là nó cương quyết đè bẹp sự bướng bỉnh của Misca. Nhưng nó muốn làm điều đó không phải nhờ đến mấy que diêm, và khi ấy chiến thắng của nó mới là chiến thắng thực sự.
Không rõ là Misca hiểu được điều đó không, nhưng một điều chắc chắn là bất cứ lúc nào nó cũng có thể bị biến thành một con giun đất. Misca đã đứng vững với sức lực cuối cùng.
- Thôi được – thằng bé nó – Tao sẽ cho mày ba ngày để suy nghĩ. Nếu sau thời hạn đó mày không chịu từ bỏ Tôlic và xin lỗi tao, thì tao sẽ biến mày thành … - Thằng bé đến bên cửa sổ, đăm chiêu nhìn ra biển. Mấy chiếc canô lềnh bềnh trên ngọn sóng sát bờ - Sẽ biến mày thành chiếc canô ! – thằng bé hí hửng nói – Và tao sẽ ngồi lên đi chơi cùng với Tôlic. Tôlic là kẻ tham lam, nó sẽ trở thành người bạn tốt.
Thằng bé đút tay vào túi, và trên tường bỗng hiện lên một chiếc đồng hồ với đầy đủ ba kim chỉ giờ, phút, giây và một ô chỉ ngày trong tuần.
- Nhìn đi, - thằng bé nói – Từ phút này trở đi đồng hồ sẽ bắt đầu tính. Mày còn đúng ba ngày nữa.
Thằng bé đi ra cửa, dừng lại nhìn đồng hồ.
- Còn hai ngày 23 giờ 59 phú 45 giây, - thằng bé cười hì hì, đi ra khỏi phòng.
Misca nhìn đồng hồ, rồi ngồi xuống nền nhà bên cạnh con Maiđa, ôm cái đầu xù lông của nó. Con có liếm vào má Misca để lại trên mặt cậu bé một vết ướt … Từ xa có thể nghĩ là Misca khóc. Nhưng cũng có thể nó đang khóc thật. Điều đó thường xảy ra khi con người phải cố chịu đựng quá lâu và không muốn tỏ ra là mình sợ. Misca hoàn toàn không muốn biến thành chiếc canô. Nhưng nó cũng không muốn bỏ rơi bạn bè trong hoạn nạn. Và nó đã đứng vững.

Tôlic lại ngủ đêm trong gian phòng ấy. Vừa tỉnh dậy, nó chạy ngay đến cửa sổ nhìn ra ngoài. Không có gì thay đổi qua một đêm. Trước mắt nó vẫn là quảng trường trống rỗng, các cửa hàng vẫn mở rộng cửa nhưng không một người vào ra.
Tôlic bu người lên bệ cửa sổ nhìn xuống lối ra. Người Sắt vẫn ở đó. Anh ta đứng không động đậy với nụ cười vô nghĩa trên mặt.
Tôlic đi qua gian phòng và nhìn qua một cửa sổ khác. Trước mặt nó là một công viên lớn. Xen giữa cây xanh là những bãi trống, ở đây có nhiều đu quay nhưng không một người đu. Đây đó vươn cao những cái bệ nhảy dù nhưng chẳng có ai leo lên để nhảy. Ở bến nước có nhiều thuyền bè đang đậu. Hết thảy đều giống hệt công viên văn hóa và nghỉ ngơi, chỉ khác là ở đây không một bóng người.
Tôlic nghĩ rằng: Nếu xuống được phía này thì có thể trốn thoát khỏi Người Sắt và biết đâu lại chẳng tìm thấy lối ra. Nhất định là phải có lối ra khỏi thế giới của thằng bé mắt xanh. Bởi cái thế giới này nằm đâu đó trên trái đất và xung quanh là con người đang sống và vì một nguyên nhân gì đấy họ không thể đến đây được. Nhưng chẳng lẽ con người không biết tí gì sao?
Tôlic cởi giày vải ném xuống trước. Sau đó nó bò ra một cái mái đua và bám vòa ống dẫn nước. Tầng hai của ngôi nhà này thật là cao. Tôlic nhìn xuống phía dưới tưởng tượng chỉ cần thả tay ra là rơi ngay xuống dưới, đập lưng vào nền đá. Tôlic rùng mình và bám chặt vào ống nước. Đứng một lúc lấy bình tĩnh, nó thả một chân xuống trước, rồi chân thứ hai và kẹp chặt lấy ống nước. Cứ thế Tôlic tụt dần xuống, tay chân, bụng không rơi khỏi ống.
Đấy là chiến công đầu tiên trong cuộc đời mà Tôlic lập nên không cần sự giúp đỡ của ai. Nhưng tiếc là chỉ phí công. Chân của Tôlic vừa chạm đất thì nghe tiếng lét kết sau góc nhà và Người Sắt đi ra từ phía ấy, dừng lại bên cạnh Tôlic.
- Mày đến đây làm gì? – Tôlic tức giận hỏi.
- Tôi – luôn luôn bên cạnh.
- Mày không biết cào sao, đồ mất dạy?
- Anh muốn như thế?
- Tao chẳng muốn gì hết.
- Hoàn toàn mâu thuẫn – Người Sắt nói – Anh yêu cầu tôi phải chào anh mà lại nói không muốn gì hết !
- Mày thông minh quá đấy ! – Tôlic hậm hực trả lời.
- Tôi – rôbơt. Tôi – Ngốc Sắt.
Tôlic phẩy tay và lê bước tới công viên. Người Sắt, vẫn nụ cười trên mặt, bước theo sau.
Tôlic vừa mới đặt chân lên con đường của công viên, thì lập tức con đường rời khỏi vị trí và chạy đi như một cái thang máy. Nhưng nó không chạy lên, cũng không chạy xuống, nó chạy về hướng mà Tôlic đi tới.
- Còn cái gì đây nữa ? Tại sao nó chạy? – Tôlic ngạc nhiên.
- Như thế tiện lợi hơn – Người Sắt trả lời – Không cần phải chuyển động bằng chân. Không cần phải tốn năng lươgj. Điều đó rất kinh tế.
Tôlic quay người và đi về phía ngược lại. Con đường cũng đổi hướng, chạy ngược lại. Tôlic hướng về phía đu quay và ngay lập tức con đường vòng lên đưa nó vào chiếc đu. Tôlic lại đổi hướng chuyển động, con đường cũng làm y như thế.
- Dừng nó lại ! – Tôlic nói – Tôi muốn đi bằng chân.
- Điều đó không cho phép. Điều đó là không kinh tế. Tốn nhiều sức lực. Mệt. Con người không nên làm việc. Con người cần phải nghỉ ngơi.
- Mày biết nhiều quá đấy – Tôlic mỉa mai – Thế ai làm ra mày, con lợn à?
- Không hiểu.
- Con lợn – một loại động vật.
- Điều đó mâu thuẫn – Người Sắt nói – Thầy phù thủy làm ra tôi. Công ấy không phải là động vật. Con lợn – là động vật. Có nghĩ là thầy phù thủy không phải là con lợn.
- Nó là một con lợn thật sự, còn tệ hơn là khác – Tôlic nói và hướng về phía tháp nhảy dù. Người Sắt bám theo, bằng cái giọng đều đều của mình, anh ta giải thích rằng con người không thể là lợn được và như thế là mâu thuẫn. Nhưng vì Tôlic không trả lời, chẳng bao lâu Người Sắt lại im lặng.
Tôlic tới gần một cái tháp cao. Nó muốn lên đến bậc cao nhất để quan sát các vùng lân cận. Biết đâu nó chẳng nhìn thấy lối ra ở một nơi nào đấy. Tôlic vừa mới bước lên bậc thứ nhất, cầu thang đã tự nâng lên cao. Người Sắt im lặng đứng phía sau.
Tôlic đã lên đến mặt bằng cao nhất. Công viên rộng lớn trải dài trước mắt. Ở đây có đầy đủ các trò giải trí. Khắp nơi đều có thể nhìn thấy những loại cầu trượt to nhỏ khác nhau, những phòng bắn súng, những gian chọc cười. Và tất cả những thứ đó thật vô nghĩa bởi không một người dạo chơi, không một tiếng cười trong cái công viên quá lớn này. Giống như là ai đấy đã lấy trộm công viên của thành phố mang về đây. Tôlic nghĩ rằng ở trong thhhh phố nơi vẫn có công viên chắc bây giờ là một bãi đất trống giống như những lỗ thủng. Ở đằng xa, sau công viên là biển. Biển rất tĩnh lặng và cũng rất lạ lùng. Biển có bờ nhưng không có đường chân trời. Cách bờ khoảng 10 kilômét biển tự nhiên kết thúc. Xa hơn không có gì cả - không trii, không nước, không đất liền. Nó không giống một cái gì, bởi bản thân nó không phải là cái gì, mà là không có gì cả. Giải thích điều đó thật là khó.
- Cái gì đằng kia? – Tôlic chỉ về phía biển hỏi.
- Anh nói là “lúc rạng đông có thể … Có thể làm gì lúc rạng đông?
- Kh – Không biết.
Người Sắt dường như phải cố sức lắm và trong người anh ta, những tiếng ken két vang lên rõ mồn một. Anh ta không thể trả lời câu hỏi và hình như rất buồn bực. Tất nhiên, nếu giả thiết rằng những Người Sắt biết buồn bực.
- Anh không được khỏe à? – Tôlic hỏi.
- Tôi – rôbơt. Tôi luôn luôn mạnh khỏe. – Người Sắt đã bình tĩnh lại – Tôi không thể trả lời câu hỏi. Tôi không biết. Không nên đưa ra những câu hỏi mà tôi không biết.
Thật là lạ, Tôlic thấy thương hại Người Sắt, có thể là do trước đây Tôlic cũng đã từng buồn bực vì phỉa trả lời những câu hỏi ở trong lớp mà nó không biết. Có thể có một chút tình người trong rôbơt này chăng? Tôlic có cảm giác như người sắt không còn là sắt nữa. Và Tôlic quyết định lợi dụng cơ hội này.
- Người và chó ở đâu?
- Ở đây – Người Sắt bình thản trả lời.
- Cụ thể là ở chỗ nào?
- Không thể làm những gì mà không cho phép.
Không, rõ ràng là Người Sắt đã ghi nhớ một cái gì thì ghi nhớ mãi mãi. Tôlic thôi đưa ra những câu hỏi chẳng có lợi gì. Nó lại chú ý nhìn ra biển, nhưng chẳng thấy Đường Biên nào, chỉ thấy nước và sau nước – là không gì cả. Ở đấy che giấu một điều gì bí mật. Có thể là một điều khủng khiếp?
Nhưng điều gì có thể khủng khiếp hơn khi phải sống trong thế giới, mà ở đấy vào bất cứ phút nào “người bạn” cũng có thể biến anh thành giun đất, ở đấy anh có thể bị quên hẳn cha mẹ anh, ở đáy những con đường ngu ngốc không cho anh đi một bước, ở đấy anh giàu có bằng đồ đạc mà thiếu những thứ quí nhất là tự do và tình người.
Và Tôlic hiểu rằng nó sẽ sống không phải dễ dàng trong cái thế giới quá nhiều điều khong được cho phép này. Không được phép biết Misca ở đâu, không được đi đâu đó trước khi trời sáng, không được đi một mình không có Người Sắt. Cái gì sau Đường Biên kia mà không được đến gần dưới 2 kilômét? Giá như thoát khỏi được thằng Người Sắt này …
Một cái dù treo lơ lửng trên lan can cầu nhảy đập vào mắt Tôlic. Sẽ ra sao nhỉ, nếu nhảy xuống dưới ấy bằng chiếc dù này? Và khi Người Sắt phải leo xuống thì Tôlic đã ở xa. Nó sẽ chạy đến bên bờ biển và có thể nhìn thấy cái Đường Biên ấy?
Tôlic đến bên lan can và ngập ngừng cầm dây đeo. Nó nhìn xuống phía dưới và lùi lại. Tháp cao phải đến 50 mét. Tôlic cảm thấy như cái tháp đu đưa trong gió. Nhưng nhìn thấy những chiếc là không động đậy trên cành cây nó hiểu rằng không phải là tháp mà chính nó đu đưa. Bởi Tôlic chưa nhảy dù bao giờ.
Bất ngời, Người Sắt đi đến giúp Tôlic mang dây đeo và thắt nịt. Anh ta làm những công việc đó một cách bình thản và vô tư, Tôlic nghĩ rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Nó sẽ nhảy, từ từ hạ xuống và chạy thoát khỏi Người Sắt.
Không một chút nghi ngờ, Người Sắt đã giúp cho Tôlic chạy trốn. Rõ ràng là anh ta không biết suy xét bằng cái bộ óc sắt của mình.
Tôlic đến gần mé cầu nhảy. Người Sắt bình thản đứng bên cạnh. “Bây giờ mày sẽ hết cười thôi, con ạ” – Tôlic nghĩ và nhảy xuống. Sợi dây treo tấm dù căng ra và Tôlic từ từ hạ xuống đất. Người Sắt không hề dao động. Bình thản và lạnh lùng, anh ta bước lên và bay xuống dưới theo gót Tôlic, như cái việc đó anh ta đã từng làm hằng ngày. Bay không dù từ độ cao 50 mét, trên môi anh ta vẫn một nụ cười không thay đổi.
Chân Tôlic đã chạm đất, nó ngả về một bên, rụt đầu vào cổ khiếp sợ chờ Người Sắt sẽ rơi trúng mình. Ngay lúc ấy vang lên một tiếng két. Rồi tất cả đều im lặng.
Tôlic ngẩng đầu và nhìn thấy Người Sắt. Anh ta bị treo ngược, chân mắc vào sợi dây buông xuống từ đỉnh tháp, đầu cách mặt đất khoảng nửa mét. Người Sắt im lặng đu đưa, mỉm cười.
Tôlic đứng lên cởi bỏ dây đeo. Người Sắt cong người lên mở nút quấn ở chân. Nhưng bàn tay sắt đã không đủ sức tháo mở nút. Nút đã bị thắt chặt. Tôlic đã được tự do.
Không quá vội vàng, Tôlic bước đi. Người Sắt lo lắng cựa mình trong nút thắt.
- Tôi cần ở bên cạnh – anh ta nói.
- Xin mời – Tôlic trả lời – Đi tới đây, Tao đâu có giữ mày.
- Dây cáp giữ tôi.
- Thì việc gì đến tao? – Tôlic nhếch mép cười.
- Anh có thể thả dây cáp xuống đất. Để thế được phải lên lại đỉnh tháp.
- Nhưng tao không muốn thả dây cáp !
- Anh có thể làm những gì mà anh thích.
- Vậy thì tao muốn mày bị treo ở đấy và không theo dõi tao được.
- Tôi sẽ không thể ở bên cạnh.
- Tao không cần – Tôlic nói và đi thẳng.
Người Sắt vùng vẫy điên cuồng. Những ngón tay sắt cào vào sợi dây cáp, nhưng không làm gì được. Trong khoảnh khắc, Tôlic thương hại nhìn Người Sắt vùng vẫy trên sợi dây mà không hề chửi rủa, không hề rên, khóc. Nhưng Tôlic không thể nghĩ đến chuyện giải phóng Người Sắt. Thả anh ta xuống, Tôlic và cả Misca, Maiđa sẽ vĩnh viễn ở lại trong thế giới này.
Tôlic đã đi xa. Bỗng nghe thấy tiếng kêu của Người Sắt:
- Cứu tôi với ! …
Tôlic dừng lại, ngây người. Đây là lần thứ hai trong ngày anh ta nói một câu bình thường như người. có thể, bộ óc của thằng Ngốc Sắt này không hoàn toàn bằng sắt? Có thể thỏa thuận với nó được chăng?
- Tao sẽ giải phóng cho mày với điều kiện là mày nói người và chó ở đâu – Tôlic nói to.
- Điều đó không cho phép.
- Thế treo ngược đầu xuống đất có cho phép không?
- Không.
- Vậy thì chọn đi, cái nào không cho phép nhiều hơn.
Từ phía tháp cao nghe thấy tiếng ken két – Người sắt đang suy tính bằng bộ óc sắt của mình. Anh ta phải chọn cái nào không cho phép nhiều hơn.
- Người và chó ở trong ngôi nhà bên mép nước. Tầng 20 – Cuối cùng Người Sắt nói.
- Người đó còn sống không?
- Điều đó mâu thuẫn, - Người Sắt nói – Tôi chỉ phải trả lời một câu hỏi thôi.
Thế thì cứ việc treo ở đấy, tao đi.
- Điều đó mâu thuẫn – Người Sắt lặp lại – Tôi phải được giải phóng, nếu tôi trả lời câu hỏi người và chó ở đâu. Tôi đã trả lời. Anh cần phải thả dây cáp xuống.
Tôlic hiểu rằng. Người Sắt sẽ không trả lời thêm nữa. Và nó cũng không muốn lừa dối – trong cuộc đời quá ngắn ngủi vừa qua nó đã kịp nói dối quá nhiều.
Ngoài ra, thành thật mà nói, thì Người Sắt cũng tội. Anh ta không có lỗi, chính thằng bé mắt xanh bắt anh ta theo dõi Tôlic. Thằng bé có thể làm một Người Sắt khác bằng những que diêm của mình. Và Tôlic trèo lên đỉnh tháp, thả dây cáp xuống.
Người Sắt nhanh chóng mở được nút dây. Anh ta không ngạc nhiên cũng không sung sướng. Anh ta bình thản đứng dậy và đến bên cạnh Tôlic.
- Mày có đau không? – Tôlic hỏi.
- Tôi – rôbơt. Tôi không bị đau.
- Còn tao thì bị. Và nặng nữa là khác – Tôlic thở dài. Người Sắt im lặng.
- Hãy nói, sau Đường Biên là cái gì? – Tôlic cầu khẩn.
- Không biết.
- Đồ không có lương tâm ! Tôlic nói.
- Tôi – rôbơt. Tôi không có lương tâm.
Tôlic nhìn cái miện cười không động đậy của anh ta, nhìn đôi mắt to không phản ánh được điều gì và nuối tiếc đã phí công giải phóng cho thằng Ngốc
Sắt này.

Khi Tôlic và Người Sắt ra đến bờ biển thì trời đã về chiều.
Biển yên tĩnh và cô quạnh. Mấy con cá bơi sát bờ ngóc đầu nhìn Tôlic một cách buồn bã. Trên bờ là những chiếc cần câu bóng nhoáng với lưỡi câu bằng vàng, bạc. Bên cạnh mỗi cần câu có một chiếc hộp bằng vàng, mấy con giun lười nhác đang bò trong đó.
Tôlic cầm lấy một chiếc cần câu. Và ngay lập tức một con giun bò từ hộp ra, rồi tự mắc vào lưỡi câu. Tôlic không ngạc nhiên. Nó đã quen với cách sinh hoạt ở đây, mọi việc đều có thể làm mà không tốn một chút sức lực nào.
Tôlic thả cần câu xuống nước, và ngay sau đó cá đã mắc câu. Đúng hơn là không thể nói mắc câu. Đúng hơn là không thể nói mắc câu, mà đơn giản là một con cá bơi đến bên lưỡi câu, cẩn thận ngậm lấy lưỡi và bình tĩnh nằm yên ngửa bụng lên trên chờ người ta kéo lên.
Tôlic kéo con cá lên bờ. Con cá khá to, phải đến ba kilôgam, nhưng hoàn toàn không vùng vẫy.
Tôlic gỡ cá ra khỏi lưỡi câu rồi vứt lại xuống biển. Con cá ngạc nhiên nhìn Tôlic. Nó bơi sát bờ vẫy đuôi, dường như đang xét lại xem mình có phạm phải nỗi nào không. Sau đó con cá chậm chạp bơi ra xa khoảng ba bốn mét rồi dừng lại.
“Chắc là con cá bị bệnh”. Tôlic nghĩ và lại tung cần câu ra. Nhưng con cá thứ hai cũng lập lại y như vậy. Câu như thế chẳng thích thú gì !
- Tại sao mấy con cá này ốm yếu vậy? – Tôlic hỏi.
- Không hiểu.
- Như là chết vậy, hiểu không?
- Không hiểu.
- Tại sao chúng không vùng vẫy?
- Như thế tiện lợi – Người Sắt nói – Tay không phải hoạt động. Không cần tốn năng lượng. Điều đó rất kinh tế.
- “Kinh tế, kinh tế” ! – Tôlic nhại – Có thể chết ở đây vì buồn chán !
- Không hiểu – Người Sắt nói – Anh nói: ốm yếu, chết. Vậy ốm yếu, chết nghĩa là gì?
- Chết? Có nghĩa là mất, không còn.
- Cái gì không còn?
- Tao không còn.
- Điều đó không cho phép.
- Cứ thử không cho phép đi ! – Tôlic bực tức – Tao chết đây này. Chết còn hơn là sống với bọn mày.
- Anh cần phải ở đây. Tôi – bên cạnh.
- Nghe mày nói mà phát mệt – Tôlic nói – Mày đúng là một thằng đần độn bằng sắt.
- Tôi – Ngốc Sắt – Người Sắt chữa lại.
Tôlic phẩy tay đi thẳng. Người Sắt bám theo nó.
Bờ biển là một dải cát mịn, bằng phẳng, dường như được là ủi, không bị lún dưới chân người. Rõ ràng đây lại là vấn đề “kinh tế”.
Tôlic nhìn ra khơi xa, không thấy bóng dáng Đường Biên đâu cả. Đứng ở đây không thấy được cái nơi mà biển kết thúc và cái không có gì bắt đầu. Một mặt trời không bình thường đang tiến gần đến đường chân trời và chuẩn bị lặn xuống biển.
Sau 15 phút đi dọc theo dãy cần câu dài vô tận. Tôlic đến gần một chiếc canô nhỏ được sơn xanh, đỏ rất đẹp. Mũi canô hướng vào bờ. Tôlic tới gần hơn, ngay lập tức chiếc canô quay mũi ra biển và động cơ bắt đầu làm việc. Rõ ràng là canô rất muốn được chở Tôlic dạo chơi. Một thời điểm hiếm có.
Tôlic nhảy lên canô. Người Sắt im lặng bước theo nó – chứng tỏ Tôlic chưa làm điều gì không được phép.
Tôlic cầm lấy bánh lái và chiếc canô phóng đi.
Mấy con cá hiền lành nhảy lên trên mặt nước, lúc lắc đầu như tiến đưa Tôlic.
Tôlic lái canô ra biển theo hướng mặt trời lặn, Người Sắt đứng yên bình tĩnh. Anh ta không ngồi. Có lẽ anh ta không biết ngồi. Điều đó chẳng cần thiết. Bởi vì anh ta không biết mệt.
Chiếc canô chạy rất thẳng, không hề chao đảo trên những con sóng nhỏ. Tay lái rất nhẹ nhàng. Tôlic thử bỏ tay ra, chiếc canô vẫn chạy thẳng như kẻ chỉ.
Bờ biển nhanh chóng lùi xa.
Tôlic cắn môi lái canô, chờ cái phút Người Sắt sẽ quấy rầy mình. Bở nó đang đi về phía Đường Biên nào đấy mà không được phép đến gần dưới 2 km. Sau Đường Biên ấy có thể nhìn thấy cái gì đó mà cả Người Sắt cũng không biết được. Có thể, ở đấy rất kinh sợ … Nhưng Tôlic chẳng quan tâm. Nó không sợ thằng bé mắt xanh, nó đã chán ngấy những con đường chuyển động và những con cá ốm yếu. Nó muốn trở về với ba và với mẹ. Nó muốn được cắp sách đến trường. Nó sẵn sàng nhận những cái bạt tai của thằng Tritra, nếu thoát khỏi cái thế giới kỳ dị và lười nhác này. Và nó nghĩ rằng nếu thấy được lối ra, nó sẽ quay lại cứu cả Misca.
Người Sắt Động đậy.
- 800 mét nữa quay mũi.
- Quay mĩ đi đâu?
- Vào bờ. Không được đến gần dưới 2 kilômét.
- Tôi sẽ quay – Tôlic nói, giữ chặt tay lái.
Canô chuyển động trên mặt biển bình lặng. Phía trước là đường chân trời. Và mặt trời đã gần chạm vào mặt nước.
- 400 mét – Người Sắt bình thản nói.
Tôlic căng mắt nhìn về phía trước. Không có gì ngoài nước.
- 200 mét.
Tôlic không xoay đầu.
- 100 mét.
Tôlic cắn răng giữ chặt bánh lái.
- Khômg mét. Quay mũi.
Tôlic thụt đầu vào cổ nhưng không xoay bánh lái. Chiếc canô vẫn tiến về phía trước.
- Quay mũi. Quay mũi. Quay mũi – Người Sắt lặp lại nhiều lần.
Không để ý đến anh ta, Tôlic không rời mắt về phía trước. Ở đấy không có gì, ngoài nước và cái mặt trời to lớn đã bị mất một nửa. Trong khoảnh khắc, Tôlic cảm thấy như mặt nước phía trước phồng lên, làm thành một đường cong. Chẳng lẽ là sóng sao?
Người Sắt đến gần Tôlic đặt tay mình lên trên tay nó, quay bánh lái. Canô bị quay đi. Tôlic dùng hết sức lực để giữ lại. Nhưng nó không giữ nổi, Người Sắt mạnh hơn nhiều.
- Đau quá ! – Tôlic thét lên – Thả tay ra ! Đau quá !
Bất thình lình Người Sắt rút tay lại.
Tôlic lại quay canô về hướng cũ.
Người Sắt lại cầm lấy bánh lái. Nhưng bây giờ Tôlic không đợi đau thật sự, đã kêu to:
- Đau quá ! Ôi, đau quá !
Người Sắt rút tay khỏi bánh lái. Anh ta lưỡng lự. Chính vào lúc ấy bên trong Người Sắt vang lên tiếng nói.
- Quay trở lại ngay !
Tiếng nói, rất giống giọng của thằng bé mắt xanh.
Tôlic rùng mình, nhưng không đổi hướng chuyển động. Chiếc canô vẫn tiến thẳng về phía mặt trời lặn.
- Quay lại không được – Người Sắt bình thản trả lời – Nó không chịu cất tay.
- Giật tay nó ra khỏi bánh lái. Tự điều khiển lấy !
- Điều đó mâu thuẫn – Người Sắt nói – Tôi được lệnh không được làm đau. Tôi không thể giật tay mà không làm đau.
Giọng thằng bé ăng ẳng rồi im bặt. Người Sắt lặng người bên mạn lái nhìn Tôlic.
Tôlic vẫn nhìn về phía trước. Mặt nước phòng lên cao hơn. Chiếc canô tiến thêm vài mét nữa. Và trước mũi thuyền bỗng nhiên sáng chói. Một vệt sáng màu da cam chói lòa trải dài trên mặt biển và Tôlic nhìn thấy tận cùng của biển. Nhưng xa hơn không phải là không có gì. Xa hơn là thành phố.
Tôlic nhìn thấy những đường phố và nhà cửa quen thuộc. Chúng nằm ngay trên mép nước như là mọc lên từ biển. Tôlic nhìn thấy những chiếc ô tô lặng lẽ chạy trên đại lộ, nhìn thấy người đi qua lại và những lá cờ đủ màu sắc trên các cột cờ công viên và các cửa hàng.
Nó còn nhìn thấy phần trên của ngôi nhà mình ló ra bởi những ngôi nhà phía trước thấp hơn.
Tôlic say sưa nhìn những cảnh vật quen thuộc, không để ý chiếc canô đã không còn chạy nữa, nó đứng yên trên Đường Biên mà da cam. Tôlic vẫy tay, gào thét tuyệt vọng:
- Mẹ ơi, con ở đây ! Mẹ ơi, con đây ! Tôlic đây !
Nhưng không một ai đi trên đường quay về phía tiếng kêu của nó.
Và ngay sau đó chiếc canô từ từ lùi lại. Nó chậm chạp rời khỏi Đường Biên và tất cả đều biến mất. Chiếc canô tăng tốc độ dần, mạn lái vẫn làm phía trước, và ở đằng kia những tia sáng yếu ớt của mặt trời đang chìm vào bóng tối. Chẳng còn gì hết, ngoài nước biển. Thành phó biến mất như thể đá tan.
Một chiếc tàu trắng to lớn rẽ sóng tiến về phía con thuyền. Chiếc canô tự động dừng lại và Tôlic nhìn thấy thằng bé mắt xanh.
Thằng bé đứng ở đầu tàu trong bộ quân phục thuyền trưởng với nụ cười nham hiểm trên môi.
- Cậu định trốn à?
Tôlic im lặng sợ giấu niềm vui khấp khởi của mình, bởi nó vừa mới nhìn thấy ngôi nhà thân yêu. Không để cho thằng bé biết được điều đó, nó có thể làm cho Tôlic quên cả cha cả mẹ.
- Trả lời đi chứ !
- Tôi chỉ muốn đi thuyền.
- Thằng Ngốc Sắt không nói với cậu là phải quay lại à?
- Nó có nói. Nó còn vặn cả tay tôi. Tôi không ưa người ta vặn tay mình và cố tình không nghe lời nó. Chắc là anh cũng tức giận khi người ta vặn tay mình?
Thằng bé nhíu mày.
- Tao đã nói là không được làm đau nó – thằng bé quay lại phía Người Sắt.
- Tôi đã thả ngay ra – Người Sắt tiếp lời.
- Nếu như anh ta không vặn tay thì tôi đã tự quay thuyền rồi – Tôlic nói – Đằng này.
Mặt thằng bé trở nên nhẹ nhõm.
- Tớ biết là chúng ta sẽ kết bạn với nhau – thằng bé nói – Tớ rất yêu những người bướng bỉnh. Bản thân tớ là một thằng bướng bỉnh ! Tớ là người bướng bỉnh nhất trên đời ! Cậu đã sẵn sàng làm bạn với tớ chưa?
- Chờ một ít nữa. Khoảng hai ngày nữa – Tôlic đề nghị - Hôm nay tôi đã câu cá, rất thích thú. Nhưng anh là con người quá vĩ đại. Tôi cần phải quen dần.
- Tớ - thầy phù thủy ! – thằng bé tự hào nói. – Còn cậu là kẻ tham lam. Tớ mến cậu. Nên nhớ cho là không ai có thể đương đầu với tớ. Tớ không cần ra khỏi nhà, vẫn bắt con thuyền lùi lại được, Cậu thấy đấy, con thuyền tự nó đã chạy lùi.

Thằng bé bỗng nhiên nhíu mày, như nhớ ra điều gì, nghi ngờ nhìn Tôlic.
- Cậu có thấy gì ở đằng ấy không? – nó hỏi, hất đầu ra biển.
- Thầy cái gì? – Tôlic ngạc nhiên – Chỉ toàn là nước.
- Và không thấy cả Đường Biên?
- Đường Biên nào?
- Chẳng có đường nào, - thằng bé trả lời – Tớ đùa đấy mà. Tớ rất hiền lành. Tớ đùa với cậu, mặc dù có thể dễ dàng biến cậu thành giun dế. Tớ chờ cậu hai ngày. Thằng Ngốc sắt sẽ đẫn đường cho cậu sau hai ngày. Sau hai ngày chúng ta sẽ là bạn thân. Tớ sẽ giao cho cậu cung điện và tất cả các cửa hàng.
Con tàu trắng nhanh chóng tăng tốc độ, tiến vào bờ. Ngay lúc đó canô cũng nổ máy. Tôlic không chạm tay vào bánh lái. Bây giờ nó đã chán cầm lái. Nhưng chiếc canô tự biết phải làm gì. Nó chạy đến nơi mà nó đã nhỏ neo.
Ra khỏi canô, Tôlic ngồi bệt xuống cát. Trước mắt nó vẫn là Đường Biên màu da cam, và sau đó – những đường phố quen thuộc và góc trên ngôi nhà nó đã từng vui sống. Trước mắt Tôlic lướt qua những khuôn mặt thân yêu: mẹ, ba, Anna Gavrilôvna, ông bác sĩ to béo mà bây biờ nó cảm thấy là một con người tuyệt diệu, cả Lênha Travin – người chơi đàn viôlông rất hay, và rất nhiều, rất nhiều người khác. Đó là những con người tốt nhất thế giới, mà thiếu họ không thể nào sống được.
Dòng suy nghĩ của Tôlic bị cắt đứt bởi cái giọng tỉnh bơ của Người Sắt.
- Đã đến lúc ngủ.
- Tao không ngủ - Tôlic giận dỗi – Để cho tao yên.
- Anh có thể làm những gì mà anh thích.
- Còn mày đã bao giờ làm cái điều mày thích chưa?
- Tôi làm theo mệnh lệnh.
- Chẳng lẽ mày không bao giờ ước muốn một điều gì? Trở thành con người, chẳng hạn?
- Tôi – rôbơt. Thầy phù thủy đã ra lệnh như thế.
- Mày là thằng mách lẻo – Tôlic chỉ chiết – Mày – mày là kẻ bợ đỡ !
- Không hiểu.
- Tốt hơn là câm đi ! – Tôlic hốt cát ném vào Người Sắt. Anh ta không động đậy. Trên khuôn mặt vẫn nụ cười bình thản ấy.
- Nó sẽ giết chết Misca – Tôlic nói với chính mình nhiều hơn là nói cho Người Sắt nghe – Hoặc sẽ bị biến thành con giun. Mày có hiểu điều đó không?
- Ốm yếu, chết … - Người Sắt lầm bầm – Hiểu. Người và chó : sẽ mất, không còn.
- Đối với mày thì đơn giản: mất, không còn – Tôlic nổi giận – Còn nó đối với tao là bạn. Nó không như thầy phù thủy ngu ngốc của mày ! Cần phải cứu nó. Và mày có thể giúp tao. Chính mày đã từng cầu cứu tao khi bị treo ngược trên day cáp đấy. Mày còn nói “cứu tôi với” …
- Có nói, khi cần cầu cứu con người.
- Vậy tao yêu cầu mày như với một con người: hãy giúp tao giải thoát Misca. Mày chẳng mất mát gì.
- Điều đó không cho phép.
- Thế thì câm đi – Tôlic quát – Đồ gián điệp sắt ! Tao không thể nói chuyện với mày. Tao sẽ đau đầu vì mày mất.
Nghe thấy tiếng “đau” Ngưới Sắt lúc lắc cử động. Ở Người Sắt, đó là dấu hiệu của sự hồi hộp tột đỉnh.
- Không được làm anh đau. Tôi không làm anh đau.
- Mày làm đau – Tôlic nói và, một ý nghĩ bất ngờ lóe lên trong đầu nó. Tôlic nhớ lại là chính cái từ “đau” đã làm cho Người Sắt thả tay nó – Mày làm đau – Tôlic nhắc lại – Mày không muốn nói người và chó ở đâu. Chính điều đó làm tao đau.
- Điều đó không cho phép. Điều đó không thể làm đau được.
- Đau quá đi chứ - Tôlic nói – Tao rất đau nữa là khác.
- Người và có trong ngôi nhà bên mép nước. Tầng 20.
- Cái đó tao đã biết. Ngôi nhà bên mép nước ở đâu kia?
- Điều đó không cho phép.
- Đau qua !
- Ở đằng kia – Người Sắt chỉ tay dọc theo bờ biển.
Tôlic nhìn về phía ấy và thấy một chấm trắng lờ mờ ở đằng xa.
- Cậu khá lắm – Tôlic sung sướng nói – Cậu rất tốt. Tớ rất mến cậu.
- Không hiểu.
- Mày … mày rất tinh tế ! – Tôlic ngập ngừng.
Nghe thấy những tiếng cuối cùng của Tôlic. Người Sắt lại lúc lắc cử động, biểu hiện sự hài lòng tột độ. Rõ ràng anh ta không hoàn toàn bằng sắt như ta tưởng, mà anh ta cũng có niềm vui riêng của mình.
Tôlic đứng tim ngắm nhìn người máy và có cảm tưởng rằng chính nó vừ làm nên một phát minh vĩ đại.

Misca đứng bên cửa sổ nhìn mặt trời đi vào đường chân trời. Mới hôm qua đây từ độ cao của tầng 20 này Misca nhận ra rằng cái biển kỳ lạ này có mép rìa. Biển này kết thúc bằng một vách đứng. Và sau vách đứng chẳng có gì cả. Không nước, không trời, không đất, không sao, ngẫu gọn là không có gì. Và mặt trời đang lặn vào cái không có gì đó. Cũng không phải lặn nữa mà nhỏ dần như bị tan ra.
Đã hơn hai ngày qua đi kể từ khi chiếc đồng hồ trên tường bắt đầu đếm thời gian.
Không một tiếng động từ bên ngoài vọng tới.
Phía dưới kia, trên bãi biển, không một vật nào động đậy. Kể cả những con sóng, như một thứ đồ chơi, vật vờ đi vào bờ…
Ngoài khơi xa, Misca nhìn thấy một chấm trắng di động. Đó là con tàu chở thằng bé mắt xanh. Sáng hôm nay, từ cửa sổ này Misca nhìn thấy thằng bé câu cá. Chỉ sau 5 phút thằng bé đã câu được một núi cá, rồi bỏ đi, không cầm lấy một con. Cá nằm sát mép nước nhưng không một con cử động và không có dấu hiệu nào chứng tỏ chúng muốn quay về biển cả. Giống như là thằng bé đã câu được những con cá sắp chết vậy.
Ngắm nhìn biển bờ vắng lặng, Misca nghĩ tới Tôlic. Có lẽ giờ này Tôlic cũng đứng ở đâu đó bên cửa sổ và nhìn xuống dưới. Và cả nó, cả Tôlic sẽ chẳng bao giờ ra khỏi được cái xứ sở kỳ lạ này. Lúc đầu Misca thấy giận Tôlic. Bởi chính Tôlic đã gây ra những chuyện rắc rối mà không biết bao giờ mới kết thúc này. Nhưng bây giờ thì Misca nghĩ khác, cùng một cảnh ngộ bọn chúng không có quyền giận nhau. Misca rất muốn thoát khỏi nơi đây và giúp cho Tôlic cùng trốn thoát. Nhưng phía dưới chỉ có bãi biển im lìm và từ đây xuống đó phải đến 60 mét. Không thể nhảy xuống từ một độ cao như vậy.
Chiếc tàu trắng rẽ sóng tiến vào bờ. Misca rời khỏi cửa sổ. Nó không muốn nhìn thấy thằng bé ngay cả từ đằng xa. Nhưng Misca không tránh khỏi. Chỉ sau 5 phút cửa ra vào xịch mở và thằng bé đi vào phòng. Maiđa ngồi xổm, chuẩn bị nhảy tới. Bao giờ nó cũng ngồi với tư thế như muốn vồ lấy cổ họng thằng bé. Đến khi bị một vật cản vô hình nó vẫn không chịu ngồi yên. Không hiểu tại sao con chó lại căm ghét thằng bé đến thế. Thằng bé chưa làm hại gì cho nó kia mà. Thằng bé chỉ không để ý đến nó thôi.
Misca giữ dây buộc Maiđa và cảm thấy con có run lên vì giận dữ.
- Thế nào, cậu nghĩ lại chưa – thằng bé hỏi.
Misca không trả lời.
- Nghe đây, Misca, - thằng bé tiếp tục – Hôm nay tớ hiền lành, tớ dễ dãi. Trước sau gì tớ cũng biến cậu thành một cái gì đó, nhưng mai mốt kia. Còn bây giờ hãy trả lời: Chẳng lẽ cậu quá khó khăn khi phải xin lỗi sao?
- Mày sẽ thả tao và Tôlic ra, nếu tao xin lỗi?
- Tôlic là một người rất bướng bỉnh. Bây giờ tao còn thấy mến nó hơn. Nó đã đi câu cá và bơi canô. Nó rất thích. Đúng là suýt nữa thì nó đã đến Đường Biên … Nhưng điều đó chỉ là tình cờ. Và nó không nhìn thấy gì hết. Nó gần như trở thành bạn của tao.
- Tao khạc nhổ vào cái Đường Biên của mày !
Thằng bé cười ồ:
- Không, mày không khạc nhổ đâu. Mày chưa biết cái đó là cái gì thôi. Tự mày sẽ bơi đến Đường Biên nếu như tao thả mày ra. Nếu đến Đường Biên vào lúc hoàng hôn sẽ nhìn thấy thành phố. Nếu đến Đường Biên vào lúc rạng đông, có thể trốn thoát. Đấy là con đường duy nhất, bởi rạng đông là thời điểm ngày hôm qua kết thúc và ngày hôm này bắt đầu. Bây giờ mày đã biết tất cả. Mày sẽ không được ra khỏi nhà này dù có xin lỗi đi nữa.
Tay chân Misca tê lạnh. Nó căm thù nhìn thằng bé. Trong cả đời mình Misca chưa bao giờ căm thù ai như thế. Nếu có thể, nó sẽ nhảy vào thằng bé, như con Maiđa, và tống cho nó một quả trước khi bị biến thành con giun đất. Nhưng thằng bé đã được bảo vệ có hiệu lực trước những quả đấm của nó. Thằng bé bình thản nhìn Misca. Trên khuôn mặt nó bây giờ không có nét gì gọi là độc ác. Dường như nó đến đây là để bàn với Misca xem thử nên biến Misca thành cái gì. Điều đó lại càng đáng giận hơn.
Và Misca đã không ghim nổi cơn giận của mình.
- Này, nghe đây, mày là thầy phù thủy? – Misca hỏi.
- Cuối cùng mày đã hiểu điều đó. Tao – Thầy phù thủy vĩ đại ! Nhưng muộn rồi, điều đó cũng chẳng giúp gì cho mày được. Nhưng vì những lời đó tao có thể giảm nhẹ tội cho mày. Mày vẫn được làm người. Nhưng mày sẽ không bao giờ ra khỏi căn phòng này. Tất nhiên, nếu không muốn nhảy từ tầng 20 xuống.
Thằng bé bật cười. Nhưng Misca không để ý đến những lời của nó, tiếp tục:
- mày – con người vĩ đại nhất? Mày có thể làm được tất cả mọi chuyện, chỉ cần mày muốn?
- Đúng ! – Thằng bé tự hào vỗ ngực – Mày đã bắt đầu ăn năn. Tao – con người vĩ đại nhất ! Tao – thầy phù thủy !
Misca nhìn vào thằng bé bật cười.
- Thế thì tại sao mày phải van xin tình bạn của Tôlic như là một kẻ ăn mày? Mày muốn làm bạn không cần tới que diêm? Nhưng chẳng lẽ còn có ai đó muốn làm bạn với mày? Mày chỉ ép buộc họ được thôi. Mày không phải là thầy phù thủy vĩ đại mà là thằng ăn mày khốn kiếp !
Thằng bé rùng mình, đôi mắt của nó ánh lên những tia lửa xanh lạnh lùng, ma quái.
- Tao sẽ biến mày thành giun dế ! – nó rít qua kẽ răng. Chính mày đã tự biến thành giun dế từ lâu ! – Misca trả lời.
- Còn 18 tiếng nữa ! – thằng bé không đứng yên được vì quá giận dữ. Nó lồng lộn như bị roi quất – Mười tám tiếng ! Mười tám tiếng ! – nó hét lên và lủi nhanh ra cửa.
Cửa ra vào tự mở rồi tự dập lại sau lưng thằng bé.
Misca nhìn đồng hồ. Còn lại 17 giờ 58 phút.

Khi Tôlic tỉnh dậy, trời hãy còn tối mịt. Nhưng ngôi sao lấp lánh tỏa sáng trên bầu trời đen. Một ngôi sao nhỏ, sáng nhất, chạy ngang qua bầu trời. “Tàu vũ trụ - Tôlic nghĩ – Có nghĩa là mình đang ở nhà và nằm mơ thấy. Bở ở nhà mình hay mơ thấy tàu vũ trụ”.
Tôlic chống tay nhỏm dậy. Tay nó chạm phải cát lạnh. Ngay bên cạnh nghe thấy tiếng vỗ thì thầm của những con sóng nhỏ. Trước mặt Tôlic là thân hình cao lớn của Người Sắt.
Tôlic lại ngước nhìn bầu trời. Tàu vũ trụ không còn nữa. Nó bay qua bầu trời giữa các vì sao rồi biến mất. Chẳng bao lâu nữa con tàu sẽ bay đến phần ban ngày của Trái đất và sẽ nhìn thấy những thành phố dân cư đông đúc.
Tôlic đứng dậy. Xa xa trên bờ biển lấp lánh một ngôi sao hay đúng hơn là một vết sáng. Đó là ngôi nhà mà ở đấy con người, chó và thằng bé mắt xanh đang sống. Tôlic bỗng cảm nhận ra rằng, nó không thể ở một mình được nữa. Nó phải gặp Misca. Nó sẽ đi đến đó ngay bây giờ, trong đêm nay. Có thể như trước đây, hai đứa sẽ nghĩ ra được một điều gì. Mặc xác thằng bé và những hộp diêm của nó, bởi không thể sống tiếp như thế này được nữa.
- Tao đi đến ngôi nhà trên bờ biển – Tôlic thông báo.
- Điều đó không cho phép – Người Sắt nói.
- Cho phép. Mày có nghe Thầy phù thủy nói “thằng Ngốc Sắt sẽ đẫn đường cho cậu”.
- Anh đã sẵn sàng làm bạn với Thầy phù thủy?
- Mày biết thế nào là bạn không?
- Bạn là cho tặng phẩm: cung điện và các cửa hàng.
- Không phải – Tôlic nói – bạn là … là – Tôlic ngập ngừng và im bặt. Nó không thể giải thích nỏi thế nào là bạn. Trước đây chưa bao giờ nó nghĩ tới điều này. Nó với Misca cùng đi học, cùng ngồi một bàn. Như thế là đủ để mọi người gọi chúng là bạn bè. Misca bênh vực Tôlic, còn tôlic cũng … cũng … làm cái gì đó cho Misca. Cụ thể là cái gì thì không nhớ ra. Nhưng tốt hơn là không cần nhớ lại, bời những kỷ niệm không được hay lắm lại len vào đầu.
- Bạn bè – đấy là khi cứu nhau thoát khỏi cái gì đó hay giúp đỡ … - cuối cùng Tôlic nói – Bạn là Misca.
Nhưng Người Sắt không hiểu nó.
- Anh đã sẵn sàng nhận tặng phẩm: cung điện và các của hàng?
- Vâng, vâng – Tôlic trả lời – đã sẵn sàng. Đi nhanh lên !
Người Sắt không nói một lời bám theo Tôlic.
Chúng đi rất lau trên cát. Tôlic thường vấp phải những chiếc cần câu được đặt ngay ngắn dọc theo bờ biển. Tôlic đã thấm mệt, mà việt sáng hâu như không gần thêm được tí nào. Nó ngước nhìn Người Sắt và lần đầu tiên nó thấy ghen tị với sức lực của anh ta.
Cuối cùng ở đằng xa, hình ngôi nhà với các cửa sổ thấp sáng đã hiện ra. Ngôi nhà quá đồ sộ và rất nhiều cửa sổ. Chúng còn phải đi rất lâu mới đến được ngôi nhà và khi đã hoàn toàn đứng bên cạnh, Tôlic bỗng thấy mình trở nên nhỏ bé.
Đâu đó trong ngôi nhà đồ sộ này Misca, Maiđa đang sống và thằng bé mắt xanh đang ngủ. Cần phải tìm ra Misca mà không làm thức thằng bé.
- Không nên quấy phá giấc ngủ của Thầy phù thủy – Người Sắt nói.
Suýt nữa thì Tôlic nhảy lên mừng rỡ. Chính Tôlic cũng lo thằng bé thức dậy tặng cung điện, cửa hàng cho nó.
- Tất nhiên, chúng ta sẽ không đánh thức anh ta – Tôlic thầm thì – Để cho anh ta ngủ yên. Điều đó là kinh tế.
Người Sắt lắc lư nhè nhẹ và nếu không phải là môi sắt chắc anh ta cười rộng hơn.
Tôlic ngước đầu đi vòng quanh ngôi nhà vài lần, không có lấy một cửa tối. Tất cả các cửa sổ của tầng 20 đều sáng trưng. Tôlic thử gọi gọi Misca bằng phương pháp đã được bọn chúng sử dụng trước đây. Nó chọn những hòn sỏi nhỏ, rồi lần lượt ném lên các cửa sổ. Người Sắt theo sát nó, không nói một lời. Rõ ràng, điều này không bị cấm. Hoặc có lẽ thằng bé không dự tính cái kiểu ném đá này để cấm.
Chẳng mấy chốc Tôlic đã mỏi rụng tay, nhưng không được kết quả gì. Bởi giỏi lắm nó chỉ ném được đến tầng mười là cùng.
Bầu trời đã bắt đầu sáng mờ mờ. Tôlic hoảng sợ nghĩ rằng, chẳng bao lâu nữa trời sẽ sáng rõ, thằng bé sẽ thức giấc, và khi ấy sẽ chẳng làm được nữa. Nhưng Tôlic không có ý định rút lui. Đã là lần thứ 20 nó đi quanh ngôi nhà và quan sát Misca có hiện ra từ một cửa sổ nào đó của tầng 20 này chăng?
- Tôlic … - bỗng nó nghe thấy tiếng kêu nho nhỏ.
Tôlic ngạc nhiên nhìn Người Sắt. Nhưng Người Sắt im lặng. Tiếng kêu từ phía trên.
Tôlic ngước lên và nhìn thấy đầu Misca trong một cái cửa sổ.
Sau đó thấy cả đầu con Maiđa và trong không gian yên tĩnh vang lên tiếng chó sủa.
Tôlic cố sức vẫy tay, nhưng rõ ràng là tự Misca cũng đoán ra được. Đầu con Maiđa biến mất và tiếng sủa cũng im bặt.
- Tôlic, tớ không thể xuống được. Cửa bị khóa – Misca nói nhỏ - Tớ biết cách trốn thoát. Chỉ cần, ra khỏi nhà này thôi.
- Tớ không thể vào nhà – Tôlic trả lời.
Chúng nói với nhau rất nhỏ. Nhưng xung quanh im lặng nên từng tiếng rõ mồn một.
Tôlic nhìn Người Sắt. Khó đoán được là anh ta có hiểu gì không.
- Mang người và chó xuống đây – Tôlic nói thật rõ ràng, thận trọng.
- Điều đó không cho phép.
- Đó là bạn của tôi – Tôlic than thở - Đấy là bạn, có hiểu không ! Nó sẽ chết nếu để nó ở trên đó. Và tôi cũng sẽ chết.
Tôlic chạy về phía bờ biển. Người Sắt chạy theo sau.
Tôlic chưa biết giúp bạn bằng cách nào nhưng nó hiểu rằng không thể bỏ phí một giây. Nó hy vọng sẽ tìm được một chiếc gậy hoặc một sợi dây dài gì đấy để ném lên cho Misca. Nó cũng chưa biết sẽ phải sử dụng các thứ ấy như thế nào, nhưng vẫn chạy dọc theo bờ biển vắng lặng và bằng phẳng, cuống cuồng nhìn khắp phía.
Ở phía sau, vẫn nụ cười vô nghĩa trên môi. Người Sắt chạy theo bằng những bước chân dài không biết mệt.
Trên bến đậu của chiếc tàu trắng Tôlic đã tìm được cái cần tìm. Đó là một cuộn dây cáp lớn. Không rõ là nó nằm ở đây để làm gì. Con tàu đứng yên tĩnh không cần neo buộc. có lẽ, trước đây thằng bé đã nhìn thấy những chiếc tàu như thế và làm cho mình tất cả những gì nó thấy được.
- Cầm lấy dây cáp – Tôlic nói.
- Anh đến đây vì cung điện và các cửa hàng !
- Tao đau ! – Tôlic nói – Cầm lấy dây cáp.
Người Sắt nhẹ nhàng nhấc cuộn dây lên và đi theo Tôlic.
- Nâng một đầu dây cáp lên tầng 20 – Tôlic nói khi chúng trở lại ngôi nhà.
- Tôi không thể để anh một mình. Tôi – luôn luôn bên cạnh.
- Thế thì nâng cả tao và dây cáp lên.
Người Sắt lưỡng lự.
- Tao đau ! Tao sẽ đau đớn hơn nếu mày không trèo lên.
Người Sắt buộc một đầu dây cáp vào người, giữ Tôlic bằng một tay rồi trèo lên. Bây giờ Tôlic mới bị đau thật sự. Những ngón tay sắt kẹp vào sườn. Tôlic phải cố chịu đựng lắm mới không thét lên. Và Tôlic bỗng hiểu ra những người khác đã đau đớn như thế nào khi nó bắt tay họ.
Người Sắt bám một tay vào mái che và bệ cửa sổ tèo dần lên. Tôlic nhìn xuống dưới và nó thấy ghê sợ, quên cả đau đớn. Chân của nó buông thõng trong không trung, còn hai tay bám chặt lấy Người Sắt. Dưới kia, giống như dưới đáy vực sau, cuộn dây cáp được tháo ra dần. Người Sắt trèo lên trên, không hề run sợ. Có lúc tay anh ta chỉ nắm được một đầu mút của bệ của sổ. Bệ cửa rạn nứt và gần như bể ra, nhưng Người Sắt đã kịp bám vào bệ cửa trên, lên được một tầng nữa. Tôlic không còn nghĩ gì thêm. Khi chúng lên đến tầng 20 và Người Sắt thả nó ra, nó ngã xoài ra nền nhà, gần như bất tỉnh.
Tôlic tỉnh lại nhờ một cái gì âm ấm và ươn ướt. Con Maiđa đúi đầu vào mặt Tôlic. Nó liếm má Tôlic. Bên cạnh là Misca.
- Cậu xuống được không? – Misca hỏi, không để ý đến Người Sắt.
Tôlic gật đầu, Misca nháy mắt, nói thầm vào tai Tôlic:
- Cậu cần phải lừa thằng Ngốc Sắt này. Tớ có biết về nó. Nó luôn luôn bên cạnh cậu. Nó sẽ không thả cậu đâu.
- Tụt xuống đi – Tôlic thầm thì – Tớ sẽ lừa nó.
Misca đặt con chó lên lưng mình. Con Maiđa khôn ngoan không phát ra một tiếng động, dường như nó hiểu tất cả mọi chuyện. Người Sắt mỉm cười nhìn Misca biến mất sau cửa sổ. Rõ ràng là anh ta không được lệnh theo dõi Misca.
Tôlic nhìn xuống phía dưới. Misca đã chạm đất. Tôlic chăm chú quan sát căn phòng. Sau đó nó chạy đến giường ngủ lấy chăn mềm, đệm vứt hết xuống đất. Người Sắt với tính cẩn thận của mình bắt tay vào trải lại đệm, khăn giường. Còn Tôlic tiếp tục đi quanh phòng vắt tất cả các chai lọ, đá ngã bàn ghế. Người Sắt điềm tĩnh sắp xếp lại trật tự cho căn phòng.
Lừa lúc Người Sắt quay lưng lại, Tôlic bỏ về phía cửa sổ. Lúc này nó chỉ nghĩ một điều duy nhất là làm thế nào xuống đến đất nhanh nhất. Tay bám lấy dây cáp, Tôlic từ từ tụt xuống. Mắt nó nhắm nghiền vì quá sợ. Nó chỉ mở mắt khi chân chạm đất. Chính vào lúc ấy trên cửa sổ tầng 20 Người Sắt hiện ra. Anh ta không suy nghĩ một giây, bình thản bước lên phía trước và bay xuống dưới mỗi lúc một nhanh hơn. Bọn trẻ vừa kịp tránh sang một bên. Người Sắt đã rơi “xoảng” ngay bên cạnh chúng. Ngay sau đấy Người Sắt đã đứng lên lúc lắc với nụ cười muôn thuở trên mặt.
Misca sửng sốt. Còn Tôlic đã biết Người Sắt từ lâu nên nó chẳng hề ngạc nhiên. Một cái gì đó bị bể vỡ bên trong Người Sắt. Anh ta không đứng thẳng được như trước đây mà nghiêng nghiêng trên chiếc chân cong, còn đầu thì bị lệch về một phía. Nhưng anh ta vẫn đứng im và mỉm cười. Và không hiểu sao Tôlic cảm thấy thương hại cho Người Sắt.
Misca hồi tâm trước. Nó nhìn ra biển, phía đường chân trời đã mờ mờ sáng.
- Ở đây có thuyền không? – Nó hỏi nhỏ Tôlic.
- Tớ biết chỗ canô đậu.
- Chạy tới đó đi. Có thể đi khỏ lúc Rạng đông.
- Tớ cũng đoán như thế - Tôlic thầm thì.
Mới chạy vài bước bọn trẻ đã nghe thấy giọng nói bình thản, hơi rè rè của Người Sắt:
- Không được đi khỏi trước khi trời sáng.
- Chạy đi, nó bị vỡ rồi – Tôlic lẩm bẩm.
Bọn trẻ cắm đầu, cắm cổ chạy trên bờ biển. Người Sắt khập khiễng bước theo. Bây giờ thì đã rõ là anh ta đã bị bể vỡ. Anh ta không theo kịp bọn trẻ. Người Sắt bước đi khó khăn, hai chân khệnh khạng và bị tụt dần lại phía sau. Giọng nói rè rè của anh ta nhỏ dần, nhỏ dần:
- Không được đi khỏi trước khi trời sáng. Không được đi khỏi trước khi trời sáng …
- Nó sẽ kêu thằng bé – Misca nói trong hơi thở.
- Không. Không được đánh thức Thầy phù thủy … Nó đã nhớ như in … - Tôlic trả lời.
Bọn trẻ chạy theo bờ biển, đá vào các cần câu, mấy con cá trồi lên từ lòng nước. Bọn có không hiểu tại sao hai người này không muốn câu cá mà lại chạy và thật là không kinh tế …
Đôi bạn đã chạy khá xa khỏi ngôi nhà, bỗng Misca giữ lấy tay Tôlic dừng lại. Nó chỉ tay về phía chân trời lúc này đã sáng màu xanh lợt, nó:
- Chúng ta không kịp đâu. Thằng bé dậy rất sớm. Nó sẽ nhìn thấy dây cáp. Nó sẽ nhìn thấy canô của chúng ta trên biển…
Maiđa dừng lại phía trước đôi bạn. Nó ngạc nhiên quay đầu lại, sủa vang. Con chó rất muốn chạy tiếp, bời đã lâu nó chưa được chạy.
Nhưng chủ nó vẫn đứng yên nhìn ra biển.


Thằng bé dậy rất sớm. Bởi công việc của nó rất nhiều. Trong tòa nhà còn rất nhiều phòng trống. Cần phải lấp những chỗ trống đó. Ngoài ra, cho đến bây giờ nó vẫn chưa chọn được vị trí cho tòa nhà thứ hai và sẽ đặt những gì vào tòa nhà ấy.
Ngày hôm nay còn là ngày đặc biệt. Vừa mở mắt, thằng bé đã hài lòng nhớ lại hôm nay là thời hạn cuối cùng cho Misca. Hôm qua thằng bé đã quyết định là đầu tiên sẽ biến Misca thành con giun đất. Sau đó, khi Misca đã sống dưới đất một tuần, sẽ bị biến thành cá và hằng ngày thằng bé sẽ câu nó rồi vứt lại xuống biển. Sau nữa sẽ biến nó thành một cái gì đó và cứ thế cho đến khi Misca chịu xin lỗi. Và nếu Misca xin lỗi rồi thì sẽ được biến thành chiếc canô mãi mãi.
Với những ý nghĩ thú vị như vậy thằng bé rời khỏi chiếc giường vàng của mình, đi qua 22 phòng ngủ và ra đến thang máy. Vài giây sau đó đã ở dưới tầng ngầm. Những hộp diêm thần được chứa ở đấy. Sáng nào thằng bé cũng đến đây xem xét kho báu của mình. Như thường lẹ, tất cả đều nguyên vẹn.
Thằng bé lên tầng một, bước ra sân. Trời mới sáng … Mặt trời chưa mọc nhưng không hề cảm thấy cái lạnh buổi sáng. Trong phòng và ngoài phố nhiệt độ không bao giờ thay đổi: 250C. Thằng bé tự hào nghĩ rằng chỉ ở xứ sở của nó là không bao giờ có mùa xuân, mùa thu và mùa đông, độc nhất một mùa hè. Và biển, mà bây giờ thằng bé sẽ đi tắm, ấm áp như nước sôi để nguội.
Thằng bé ra khỏi sân, chân bước lên cát mịn. Mấy chiếc ô tô ở bãi đậu bắt đầu nổ máy. Chiếc nào cũng sẵn sàng chở thằng bé đi cùng trời cuối đất. Cùng lúc với ô tô, động cơ của những chiếc canô đậu trên bờ cũng bắt đầu làm việc. Tất cả đều dành cho thằng bé và chỉ thuộc quyền sở hữu của nó.
Nhưng thằng bé không mảy may để ý đến những thứ đó. Từ lâu đã quen với những cái lặt vặt ấy. Và nếu như không lười suy nghĩ thì nó đã thay bằng những thứ khác hay hơn rồi.
Thằng bé đến gần góc nhà và dừng lại. Nó nhìn thấy sợ dây cáp lòng thòng từ tầng 20 xuống. Thằng bé lo lắng nhìn ra biển. Biển xanh vắng lặng không một con thuyền, không một canô. Thằng bé nhếch mép cười, trong đôi mắt ánh lên những tia xanh dữ tợn. Không cần phải thông minh lắm cũng hiểu rằng một cuộc chạy trốn như thế là vô nghĩa. Có thể nào ẩn núp được trong chính xứ sở của Thầy phù thủy?
Một cái bóng vụt qua sau góc nhà. Thằng bé nhìn về phía ấy, và những tia lửa trong mắt càng sáng xanh hơn. Nó đã nhìn thấy những đưa trẻ đang trốn. Chúng có hai người – Misca và Tôlic. Có nghĩa là, Tôlic đã đánh lừa nó. Chính Tôlic đã giúp Tôlic đã giúp Misca ra khỏi nhà. Thôi được, sẽ có thêm một con giun đất nữa.
Thằng bé sờ tay vào chỗ vẫn thường có túi và tái mặt. Nó mặc quần đùi đi tắm. Trong tay nó không có lấy một que diêm. Thằng bé chạy bổ về phía của ra vào và ngay lúc đó vang lên tiếng kêu đằng sau lưng:
- Tôlic, giữ lấy nó, nó không có diêm đâu !
Thằng bé nghe thấy tiếng chân chạy đuổi theo. Nó hoảng sợ. Nó nghe thấy tim mình đập rất nhanh và rất không kinh tế. Nó rất hoảng sợ. Chân nó cứ ríu lại. Nó nhìn thấy cảu tầng hầm cần phải tới đó, ngoài ra nó không thấy gì khác. Nó dồn hết sức chạy. Nhưng hai chân lại không quen chạy. Chúng không nghe theo thằng bé.
Trên đà chạy, Tôlic nhảy lên lưng thằng bé và cả hai lăn xuống cát.
Chưa bao giờ Misca thấy một cuộc ẩu đả ngắn ngủi đến thế, chỉ một giây là kết thúc. Thằng bé nằm ngửa giãy giụa trên cát cố sức đánh trả Tôlic. Nó lớn và to hơn Tôlic nhưng hèn nhát. Tay chân nó yếu đi vì sợ hãi. Những tia lửa xanh dữ tợn chớp lia lịa. Nó căm thù nhìn Tôlic. Nhưng bây giờ nó không phải là Thầy phù thủy mà là kẻ hèn nhát bình thường nhất.
Con Maiđa nhảy xung quanh định cắn thằng bé. Nhưng mỗi lần nó xông đến thì bị một vật vô hình cản lại. Misca cũng không đến gần được, có một cái gì đó cản trở nó.
Thằng bé liếc mắt nhìn thấy Người Sắt, như thường lẹ, đứng bên cạnh Tôlic.
- Ngốc Sắt – thằng bé kêu.
- Tôi - ở đây. Tôi – bên cạnh.
- Bụm miệng nó lại ! – Misca kêu lên.
Tôlic dùng tay bụm miệng thằng bé. Thằng bé cắn tay nó. Tôlic rất đau nhưng không rút tay. Người Sắt đứng yên tại chỗ, mỉm cười vô tư. Anh ta bình thản nhìn Tôlic ngồi trên chủ mình, không động đậy. Bởi anh ta không nhận được mệnh lệnh nào.
Thằng bé hiểu rằng không còn ai có thể giúp nó nữa. Nó khao khát có trong tay dù chỉ một que diêm. Nó sẽ biến những đứa bé thấp hèn này thành tro bụi. Nó sẽ giết chúng ngay tại chỗ. Nó ghĩ, cách tốt nhất là phải giết ngay tại chỗ. Nghĩ là thế, nhưng nó nói hoàn toàn khác:
- Thả tôi ra – nó nói bằng giọng thiểu não – tôi sẽ chỉ cho các anh đường ra khỏi đây.
Giọng thằng bé hièn hòa cầu khẩn. Và mặt nó cũng biểu lộ sự van xin. Nhưng đôi mắt thì phản nó. Những tia lửa xanh, đã quen với Tôlic, nhảy múa trong hai con mắt thằng bé.
- Giữ chặt nó, Tôlic – Misca nói – Đừng tin nó.
- Thề danh dự - thằng bé buột miệng.
- Tốt hơn là câm đi – Tôlic nói.
Thằng bé dùng hết sức hét lên:
- Ngốc Sắt, bắt … !
Nhưng Tôlic không cho nó nói hết câu. Tôlic lại lấy tay bụm miệng thằng bé, đồng thời sẵn sàng nện vào tai thằng bé nếu nó lại cắn.
- Không hiểu – Người Sắt nói bằng giọng đều đều, đưa mắt nhìn ông chủ quằn quại dưới người Tôlic.
- Tôlic, nhanh lên đi – Misca nhìn về phía chân trời nói. Chắc không bao lâu nữa mặt trời sẽ hiện ra.
- Nhanh cái gì? Tớ không thể thả nó ra !
- Trói nó vào một chỗ nào đi.
Thằng bé lắc đầu, lấy tay ra hiệu là nó sẽ im lặng. Tôlic thả tay ra. Nó hốt muột nụm cát và đưa cho thằng bé thấy.
- Nhìn đây này. Nếu mày mở miệng tao sẽ nhét cát vào miệng đấy.
- Các anh là những người tốt bụng, hiền lành – thằng bé nói – Tôi rất hối hận là mình ác quá. Tôi rất muốn đưa các anh ra khỏi đây. Tôi sẽ đi cùng với các anh nữa.
- Mày cần cho chúng ta quá nhỉ ! – Misca nói.
- Tôi muốn giúp các anh mà. Tôi chỉ cần vào lấy một que diêm là các anh lập tức sẽ ở nhà mình.
- Vâng, chúng ta tim mày lắm – Misca nói – Đứng dậy, không nói nữa !
Thằng bé đứng dậy, phủi cát.
- Nào, Tôlic lôi nó vào phòng đi. Chúng ta sẽ trói nói ở đấy.
- Tôi không đi đâu hết ! – Thằng bé thét lên – Ngốc Sắt !!! …
Nhưng Tôlic đã đề phòng. Nó đấm một quả vào miệng Thầy phù thủy. Lần này bằng cùi chỏ. Có thể nói nó đã tông vào cái miệng này đến ba bốn lần rồi. Còn làm cách nào khác được?
Thằng bé liếm môi chảy máu, rên rỉ. Nó liếc mắt nhìn Người Sắt, còn Người Sắt trả lời nó bằng nụ cười không thay đổi của mình.
Míca cở áo ném cho Tôlic.
- Bịt miệng nó lại. Không thể tin nó một giây.
Tôlic quấn cái tay áo quanh miệng Thầy phù thủy và cột hai tay áo ra sau gáy.
- Đi ! – Tôlic ra lệnh – Đi đi, không tao cho vài cái đá bây giờ.
Thằng bé ngoan ngoãn lê bước vào gian phòng nơi nó từng ăn sáng.
Trong gian phòng có nhiều bàn, trên bàn là những đĩa đựng thức ăn, nhưng bọn trẻ không nghĩ đến chuyện ăn uống. Misca cởi dây buộc chó. Bọn chúng đẩy Thầy phù thủy vào phòng rửa bát đĩa, rồi dập cửa lại, cột chặt dây bên ngoài.
Bọn trẻ chạy theo bờ biển. Phía sau chúng là Người Sắt khập khễnh bước theo, lặp đi lặp lại bằng giọng rè rè như muốn bể.
- Nhanh quá, nhanh quá. Tôi phải ở bên cạnh …

Bọn trẻ vừa đến gần canô, thì động cơ cũng như lần trước, tự động làm việc.
Misca nhảy vào khoang thuyền, tiếp theo là con Maiđa.
- Nhanh lên ! – Misca kêu.
Nhưng Tôlic chần chừ. Nó nhìn về phía Người Sắt đang lê bước từ cách canô khoảng 200 mét. Lần này bọn trẻ thấm mệt, chạy không nhanh nên Người Sắt tụt lại không xa.
Tôlic nhìn Người Sắt và một tình thương vô cớ xâm chiếm tâm hồn nó.
Thật khó giải thích tại sao vậy. Có thể là Người Sắt không hoàn toàn là sắt như vẫn tưởng.
- Đem nó theo đi, - Tôlic đề nghị.
- Nó sẽ làm gì ở chỗ chúng ta?
- Không biết nữa.
- Có thể tháo rời nó ra và xem nó cấu tạo thế nào – Misca nói – Sau đó chúng ta sẽ làm một người máy giống như thế.
- Không, không nên tháo rời, - Tôlic nói – Tốt hơn là đi thôi.
Tôlic quay tay lái, chiếc canô rời khỏi bờ.
Chẳng bao lâu Người Sắt đã đến chỗ chiếc canô vừa rời khỏi. Trong tiếng nổ của động cơ Tôlic nghe thấy cái giọng rè rè của anh ta:
- Nhanh quá, nhanh quá. Tôi phải ở bên cạnh.
Lặp lại những lời đó. Người Sắt bước xuống nước và đi theo vết của chiếc canô. Đáy biển thấp dần và Người Sắt bị ngập dần trong nước. Chẳng mấy chốc nước đã ngập đến vai Người Sắt, nhưng anh ta vẫn tiếp tục đi với nụ cười không tắt trên môi.
Mấy con cá đang bơi dừng lại nhường đường. Đầu Người Sắt đã chìm vào trong nước biển. Qua vùng rong tảo gần bờ, nước trở nên xanh hơn. Nhưng Người Sắt không để ý đến tất cả những thứ đó. Anh ta tiếp tục tiến bước, tiến bước đến nơi mà nước biển trở nên xanh thẳm, và ngoài màu xanh ấy ra không còn gì hết.
Còn đối với những người ngồi trên canô thì Người Sắt đã mất hút từ lâu.
Tôlic không quay đầu lại. nó chỉ nhìn về phía trước giữ chặt lấy bánh lái, trên má nó những giọt nước mằn mặn lăn tròn.
Cũng có thể đấy là những giọt nước biể, bởi nước biển cũng mặn như nước mắt.


- Cái Đường Biên ấy ở đâu? – Misca hỏi – Tó chẳng thấy gì.
- Sẽ thấy. Chính tớ cũng chưa thấy. Nó phải sáng chói kia.
Bỗng con Maiđa nhúc nhích. Nó nhìn vào một điểm ở phía trước, gầm gừ. Nó đã thấy cái gì đấy mà bọn trẻ chưa trông thấy. Đúng hơn là nó cảm thấy. Bởi mắt chó không tỏ hơn mắt người chút nào.
Vài phú sau Tôlic bắt đầu để ý thấy nước biển phồng lên. Và cùng lúc đó, như trong sương mù đỉa bọn chúng nhìn thấy hình thù mờ mò của thành phố.
- Tớ thấy rồi ! – Misca kêu lên – Tôlic, tớ thấy rồi.
Ngay lập tức một vệt màu da cam tỏa sáng trước mũi con thuyền. Nó sáng chói như dòng kim loại nấu chảy. Và ngay sau Đường Biên là nhà cửa, đường xá của thành phố thân yêu.
Con thuyền chạm mũi lên Đường Biên. Một phần con thuyền đã qua Đường Biên … Nhưng chính vào lúc ấy sóng phía sau thuyền sôi lên sùng sục. Động cơ bắt đầu làm việc về phía ngược lại. Chiếc canô từ từ lùi khỏi Đường Biên.
Lần này Tôlic hiểu ngay điều gì đang xảy ra.
- Rời thuyền ngay ! – Tôlic kêu lên – Misca nhảy đi ! Nhảy nhanh lên !
Và Tôlic, sau đó là Misca, Maiđa nhảy lên phía trước.
Chúng bay qua Đường Biên. Một luồng sáng màu da cam dập vào mắt Tôlic và trong khoảnh khắc nó không thấy gì hết.
Sau đó Tôlic nghe thấy tiếng “kít” và những tiếng kêu the thé. Rồi tiếng người lao xao.
Tôlic mở mắt. Nó và Misca đứng giữa đại lộ. Một chiếc ô tô dừng cách chúng ba bước. Từ các cửa sổ ô tố ló ra những khuôn mặt lo sợ. Người lái xa vội vã bước ra khỏi ca bin. Mặt anh ta tái ngắt.
- Bọn mày làm cái gì thế, đồ vô lại ! – Người lái xe quát – Bọn mày ở đâu ra thế này? Hai trăm mét phía trước, con đường hoàn toàn trống trải kia mà !
Người lái xe mỗi tay túm cổ một đứa. Bọn trẻ không hề chống cự. Chúng không thể giải thích chúng hiện hình bằng cách nào.
Đám đông quay vòng tròn. Họ bàn luận về chuyện xảy ra.
- Có cán cũng chẳng có tội gì ! – một người nói.
- Thật là vô giáo dục ! – người khác nói.
- Nhìn kìa, chúng đứng như trời trồng vậy ! – người thứ ba nói.
Tôlic nghe những lời ấy và cảm thấy hạnh phúc. Tất cả họ là những con người vinh quang. Họ mắng chúng thật là tuyệt diệu. Nó có thể suốt đời nghe chửi như thế. Nhưng cuối cùng, Maiđa không kiềm chế được. Nó đứng giữa bọn trẻ và những người qua đường, bắt đầu sủa vang.
Người qua đường giải tán rất nhanh, còn nhanh hơn khi họ tụ họp lại.
Còn lại một mình người lái xe đứng giải thích điều gì đó với anh công an đang đi tới. Sau đó người lái xe cùng với chiếc ô tô của anh ta chạy đi. Anh công an đến gần hai đứa bé:
- Thế nào? – anh ta nói – Vào đồn chứ?
- Đồng chí công an, gượm một tí nào – có tiếng nói từ vỉa hè.
Trên vỉa hè ông bác sĩ to béo của vườn thú đang đứng. Như thường lệ, trên tay ông là cái xách nặng, Tôlic nhìn thấy ông và quay mặt đi. Bây giờ nó không muốn ông ta nhận ra mình.
- Tha cho bọn trẻ đi anh – ông bác sĩ đề nghị - Đấy là những cậu bé rất tuyệt vời. Chúng sẽ không cẩu thả như thế nữa đâu. Như cậu bé này, - ông ta chỉ Misca – tôi biết là rất tốt. Anh thấy không … tôi thường bị va chạm. Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ đó. Có một lần tôi bị tông phải, đồ đạc đổ ra, và ngay lập tức cậu bé này đã chạy đến giúp tôi. Trước khi đó tôi chưa gặp một cậu bé nào có lòng tốt như vậy.
Anh công an nghi ngờ lắc đầu:
- Hôm nay tôi có thể tha thứ cho chúng, nhưng ngày mai chúng lại lao vào ô tô.
- Không lao đâu. Anh cứ tin như thế. Về phía tôi, xin mời anh đến vườn thú chơi. Mang cả các con theo. Tôi sẽ giới thiệu những con voi cho chúng, hoàn toàn không mất tiền.
- Này, người công dân, tôi không còn những con voi không mất tiền đâu nhé – anh công an nói. Nhưng đồng thời giơ tay chào ông bác sĩ và quay đi, sải bước dọc theo vỉa hè.
- Nào, chạy về nhà đi – ông bác sĩ nói với bọn trẻ, nhưng Tôlic vẫn quay mặt về hướng khác.
- Cảm ơn bác – Misca nói.
Còn Tôlic không nói gì. Nó sợ rằng ông ta sẽ nhận ra nó qua giọng nói.
Vài phú sau bọn trẻ đã đứng bên cạnh nhà mình. Chúng do dự nhìn lên mấy cửa sổ, không bước thêm một bước. Chúng không thể nghĩ ra cách gì để giải thích cho sự vắng mặt của mình. Bây giờ, khi không còn lấy một que diêm, không thể chứng minh được điều gì.
- Ầy, nếu như có lấy một que thôi – Tôlic thở dài – Chỉ một que cuối cùng thôi. Còn thêm nữa thì tớ chẳng cần.
- Ừ, một que thôi thì chẳng hại gì – Misca đồng ý.
Nhưng không có que diêm nào.

Tôlic chậm chạp lao lên cầu thang, cứ mỗi lần cửa ra vào phía trên đóng, mở là nó lại giật mình đứng im nghe nghóng xem có phải là ba hay mẹ đi xuống không. Tôlic trở về với lỗi lo sợ.
Sau những gì đã xảy ra ở nhà Misca. Tôlic đã có thể hình dung mình sẽ được đón tiếp thế nào. Tôlic tự ý đi với Misca đến nhà bạn trước. Nhưng như thế cũng chẳng lợi hơn gì. Ở đấy người ta không cho Tôlic mở miệng bênh vực Misca. Mà nếu có mở miệng được thì cũng chẳng để làm gì. Bởi không thể giải thích thế nào được. Càng giải thích thì càng bị cho là lừa dối.
Misca, tất nhiên, bị giữ ở nhà. Tôlic buộc phải về nhà một mình.
Tôlic đứng rất lâu bên cửa, không dám bấm chuông. Ở phía dưới có tiếng chân người. Bà hàng xóm đang đi lên. Nhìn thấy Tôlic, bà ta kêu “ái chà” và Tôlic vội bấm chuông để khỏi phải nói chuyện với bà hàng xóm.
Cửa mở. Ba đứng trên lối ra vào. Tôlic không nhận ra ba nay. Ba xanh xao, gầy còm, râu đâm tua tủa. Mặt ba trắng bệch khi nhìn thấy Tôlic.
Nhưng ghê sợ nhất là giọng nói xa lạ và nhỏ nhẹ của ba:
- Con đấy ư, Tôlic? Con đã về?
Cổ họng Tôlic khô cứng lưỡi cứng đờ.
- Nào, vào đi … Sao con cứ đứng đấy?
Tôlic bước vào và dừng lại ở phòng ngoài.
Ngay lúc ấy mẹ từ phía trog bước ra.
Nhìn thấy Tôlic, mẹ “ái chà” và chạy bổ đến nó. Mẹ không nói một lời. Ôm Tôlic mẹ hôn lấy hôn để, vừa khóc, vừa cười. Còn ba cẩn thận đóng cửa ra vào, tay đưa lên ngực, chậm chạp đi vào phòng trong.
Cả văn phòng bốc lên mùi thuốc tây. Đồ đạc vung vãi khắp nơi, như trước cuộc đi xa.
Bất ngờ, mẹ buông Tôlic ra, chạy vào bếp. Ở đấy nghe thấy tiếng xoong chảo loảng xoảng. Rồi một cái gfi đó rơi xuống đất và tiếng mảnh vỡ bay lách cách. Mẹ chạy ra khỏi bếp và lại ôm hôn Tôlic.
- Mẹ ! – Tôlic nói bằng giọng run run – Mẹ ơi, con sẽ không như thế nữa đâu. Đừng giận con mẹ nhé.
Mẹ khoát tay.
- Có thể nào lại giận con được ! Con đừng giận mẹ thì có ! Mẹ lo cho con quá …
Chưa hết lời, mẹ buông Tôlic ra, ù chạy đến bên điện thoại. Bà quay số và hét vào ống nói:
- Giênha ! Ghiênha, Tôlic về rồi ! Đúng ! Đúng ! Tất nhiên ! Khỏe mạnh, khỏe mạnh …
Bác Giênha là anh ruột mẹ. Có lẽ ông nói cái gì đó mà mẹ hét vào máy một cách giận dữ:
- Anh điên đấy à ! Có thể nào lại đánh đòn Tôlic. Nó là đứa trẻ thông minh nhất và biết vâng lời nhất.
Đến bây giờ Tôlic mới hiểu là mình đã mắc phải một sai lầm khó sửa. Đúng, nó đã trở về nhà. Nó đã giúp Misca chạy trốn. Nhưng mẹ thì vẫn như cũ. Đấy không phải là mẹ nó. Và chính nó đã làm cho mẹ như vậy. Tôlic có thể đánh đổi tất cả gậy bóng khúc côn cầu trên thế giới, tất cả mọi vinh quang trên sân băng để lấy một que diêm thần. Nhưng không có một que nào hết.
Tôlic thận trọng mở cửa vào phòng trong. Ba đang ngồi trên đi-văng, hai tay ôm đầu. Ngày chia tay với gia đình nó cũng thấy ba như vậy. Không có gì thay đổi. Hoàn toàn không thay đổi !
- Ba … - Tôlic gọi – Ba …
- Gì? – Ba nói hai tay vẫn ôm đầu.
- Ba, con sẽ kể tất cả cho ba. Tất cả, tất cả ! Thề danh dự nhất ! Hồi ấy con không hề lừa dối ba. Ba cứ hỏi Misca xem …
- Được – ba lơ đãng nói – ba sẽ hỏi …
Tôlic ngồi xuống bên cạnh ba. Nhưng ba vẫn trơ như đá. Và Tôlic nằm xuống đi-văng. Khóc nức nở. Nó cố khóc thật khẽ, nhưng không được. Nước mắt quá nhiều.
Tôlic cảm thấy bàn tay ấm áp của ba xoa nhẹ trên lưng. Nó nghe thấy giọng nói khàn khàn:
- Tôlic .. nhín đi, ông già. Nào, ba xin lỗi … Chính ba đã đẩy con tớ đó. Khi ấy chắc là ba đã không đi nếu như biết … Thứ lỗi cho ba nghe, ông già …
Tôlic úp mặt xuống ghế và khóc to hơn. Một cái gì câm châm vào mũi nó, nhưng Tôlic cố ý úp mặt xuống sát hơn, để càng đau them. Có lẽ, bằng cái đau như thế nó có thể chuộc bớt tội lỗi của mình. Nhưng cái mũi không chịu nổi. Buộc phải nhấc lên một tí. Tôlic hé mở một mắt và nhìn thấy que diêm.
Que diêm nằm ở khoảng giữa chỗ ngồi và thành dựa lưng. Chính cái nơi ba đã ném hộp diêm xuống đó trong cái ngày ông bực tức Tôlic.
Tôlic quì lên gối. Nó giơ tay chụp que diêm như chụp con ruồi, sợ nó bay mất.
Ba ngạc nhiên nhìn Tôlic.
Tôlic mỉm cười qua nước mắt và nhảy bổ vào buồng tắm.
- Tôlic, con đai đâu? – ba lo sợ hỏi.
Nhưng không phải là lúc Tôlic cần giải thích. Trong buồng tắm nó bẻ que diêm và nói:
- Tôi chẳng cầu gì hết. Chỉ muốn tất cả đề y nguyên như cũ. Cả Misca cũng thế.
Tôlic cẩn thận nhìn ra ngoài. Mẹ đang đứng trên ngưỡng cửa vào bếp. Mẹ nghiêm khắc nhìn Tôlic và với giọng vốn có của mình, bà nói:
- Tôlic, chẳng lẽ con không thấy mẹ mệt sao? Chạy ngay ra cửa hàng mua một ổ bánh mì trắng. Chơi thế đủ rồi đấy.
Và, ngay lúc ấy, trong sự ngạc nhiên của mẹ, Tôlic bu lên cổ bà kêu to:
- Hoan hô ! Hoan hô mẹ ! Con chạy ra cửa hàng đây ! Hoan hô bánh mì trắng !
Còn mẹ, đẩy Tôlic ra, dịu dàng nói:
- Được, được. Mẹ thường nghĩ là con không đến nỗi lười nhác như con muốn tỏ vẻ.
Và đến đây cuộc đời huyền thoại của Tôlic vĩnh viễn kết thúc.


NHƯNG TÔI MUỐN NÓI THÊM MỘT LỜI
Vấn đề là ở chỗ thằng bé mắt xanh vẫn còn sống trong này hôm qua. Nó có thể trở về ngày của chúng ta, nếu nó lại muốn đi tìm bạn. Nó có thể trả thù Tôlic vì Tôlic không đến lỗi lười nhác và tham lam như nó tưởng. Và Tôlic còn phải nhìn quanh khi đi trên đường phố. Và không chỉ một lần Tôlci sẽ phải thở dài khi gặp một người nào đấy mà trong đôi mắt bỗng lóe lên tia lửa tham lam.
Còn những kẻ lười nhác và tham lam, nói chung là tất cả những ai mơ ước một cuộc sống không lao động, nên nhớ: họ là những khách mời của ngày hôm qua. Sẵn sàng đón họ là thằng bé mắt xanh, mà nhắc lại nó tôi thấy khó chịu đến nỗi không muốn nói ra nó là gì và từ đâu đến. Bởi tự nó muốn quên ai tất cả những người thân thuộc và bạn bè, để không phải chia sẻ sự giàu có của mình với một ai. Nó chẳng đáng để chúng ta nhớ đến.
Ở đâu đó dưới đáy đại dương Người Sắt còn đang đi lang thang. Anh ta quá sắt thép cho nên không bao giờ hiểu được nỗi đau của người khác. Vì vậy anh ta sẽ chẳng bao giờ trở thành con người thật sự. Anh ta sẽ cứ đi mãi như thế dưới đáy biển để tìm Tôlic cho đến khi bị han gỉ hoàn toàn. Nhưng riêng tôi, nếu như các bạn muốn biết, còn có một chút gì thương hại anh ta.
Bây giờ tôi đã biết ngọn ngành câu chuyện của Tôlic. Và tôi hoàn toàn tin tưởng rằng, chỉ có những điều kỳ diệu được làm nên bởi ay ta, mới mang đến cho ta hạnh phúc thực sự.
Đấy là tất cả những gì tôi muốn nói với tất cả những ai đọc quyển sách này.
TÁC GIẢ

END



Truyện mình gõ kết thúc rồi. Có một số trang còn thiếu mong mọi người bổ xung hộ mình nhé. Cám ơn nhiều.
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếp tục đi bạn, cám ơn bạn đã đánh máy.
Đăng nhập để trả lời
0
Hiện giờ mình đang save truyện "Cuộc phiêu lưu của bút chì và khéo tay". Nếu bạn nào đã đánh thì xin báo trước để mình khỏi post. Thanks!!
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn ơi mình gõ tiếp quyển "Hành tinh Oxygene" nhé. Mặc dù sẽ hơi lâu xong một tẹo. [8|]
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn bablu nhiều nhá

Qua Giáng Sinh rồi, CtLy mới có thời gian hiệu đính truyện

cảm ơn bablu nhiều nha

chúc bablu Giáng Sinh thật hạnh phúc an lành trong đêm đầy thánh thiện

và năm mới vạn sự như ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.10.2015 12:44:41 bởi Ct.Ly>
[:D] cám ơn bạn nhiều. Sắp sang năm mới rồi chúc bạn và mọi người trong diễn đàn luôn luôn vui vẻ, hạnh phúc và có được nhiều thành công trong cuộc sống. [:)]

Mình post "Hành tinh Oxygenien"


HÀNH TINH OXYGENE


I. NGƯỜI LẠ MẶT MUỐN GÌ?


Trong nhà ăn, chàng thanh niên làm ra vẻ như đang nghiên cứu tờ thực đơn, thực ra anh liếc về phía bàn đối diện.

Anh đã đoán đúng, ở góc bàn bên kia vẫn là người lạ mặt. Người lạ mặt rất đáng chú ý và lúc này cũng đang nhìn anh. Trong ánh sáng mờ nhạt của phòng ăn anh vẫn thấy là người đó liên tục quan sát mình.

Chàng thanh niên cảm thấy toát mồ hôi. Nếu lúc này anh bật đứng dậy và rời khỏi nhà ăn có lẽ lại càng khó khăn hơn. Vì nếu người lạ mặt là một tên chỉ điểm, hắn sẽ lập tức theo anh ra ngoài và theo tới tận nhà ngủ. Anh nghĩ, trước nay mình vẫn cẩn thận, không có lỹ lại bị lộ? Bây giờ ta phải dấu tập tài liệu ghi chép ở đâu?

Tim chàng thanh niên đập nhanh. Thật khó thoát khỏ tình huống này. Mức tiêu hao Oxy của anh đã tăng ít nhất là mười phần trăm so với bình thường. Hơn nữa, mấy viên thuốc Ngủ đông anh đã dùng hết.

- Anh chưa gọi món ăn? – Tiếng loa trên bàn nhắc với giọng nhỏ nhẹ dễ chịu – Tôi có thể giúp anh được không? Hôm nay có món Kem táo với vị chuối chỉ cần có bốn Đơn vị Oxy.

- Xin cho nửa suất Kem với vị phúc bồn tử - Anh trả lời và đặt tờ thực đơn xuống.
Người lạ mặt đứng lên và tiến thẳng về phía anh. Anh tự nhủ, mình phải thật bình tĩnh. Nếu cần đánh nhau thì dự trữ Oxy của mình cũng còn vừa đủ. Ta không chịu mất mạng với giá quá rẻ.

- Chào ông – Người lạ mặt nói – Ông cho phép tôi ngồi với ông một phút.

- Ông là ai?

- Là một người bạn tốt. Tôi sẽ giải thích cho ông.

Bình tĩnh ! Bình tĩnh ! Chàng thanh niên tự nhủ. Anh không trả lời, chỉ khẽ gật đầu.

Người lạ mặt hơi cúi mình.

- Cảm ơn, và nếu được phép, tôi sẽ tự giới thiệu. Tôi tên Peter Mac Gulliver. Tôi đã quan sát ông từ mấy ngày nay …

- Xin lỗi, tôi chẳng có gì đáng để quan sát cả.

- Thế thì ông nhầm đấy ông bạn ạ. Phong cách của ông bạn hoàn toàn khác tất cả những người kia.

- Tôi có thể đảm bảo với ông rằng, tôi vẫn hành động hoàn toàn giống như mọi người. – Anh thanh niên cố giấu vẻ xúc động. Nhưng rất lo thấy tim mình đập quá mạnh. Chiếc kim đồng hồ đo lượng tiêu hao Oxy ở cổ tay anh vọt lên một cách đáng sợ.

- Tôi chỉ muốn xin ông giúp cho một vài thông tin …

Chàng thanh niên thở dài lo lắng. Anh đã chuẩn bị tư tưởng, có thể những Kẻ Ở Trên đã lần mò theo anh tớ tận đây, bao vây anh, anh sẽ phải đánh nhau và sẽ dùng hết sức lực của mình. Nhưng sao thế này? Những câu hỏi kéo dài hàng giờ hoặc hàng ngày cho đến khi lượng Oxy của mình phải cạn? Hay là họ sẽ giật phắt chiếc vòi mặt nạ thở của mình? Tất cả chỉ do lỗi tại mình thiếu suy nghĩ chín chắn, do quá khát khao hiểu biết. Chiếc túi nhỏ đựng tài liệu, đáng lẽ mình phải cất dấu ở nơi an toàn thì lại luôn luôn mang theo bên người như một vật cần thiết. Ít ra mình cũng muốn biết thằng cha này thuộc đội điều tra nào: Một chiếc mặt nạ và một chiếc nón bảo hộ với hình dáng mà anh chưa từng thấy.

Anh cố lấy hết nghị lực gắng nói thật bình tĩnh:

- Tôi không tin rằng tôi có bất kỳ loại thông tin nào mà ông có thể quan tâm. Tốt hơn là ta nói thẳng đi. Ông cần gì ở tôi?

- Tôi cần sự giúp đỡ của ông.

Chàng thanh niên tự trấn tĩnh, đừng có rơi vào bẫy của hắn … Anh nói to:

- Tôi không hiểu ông định nói gì?

- Tôi muốn ông cho biết, hiện tôi đang ở đâu?

- Sao tự nhiên ông lại hỏi tôi điều đó?

- Chính tôi muốn hỏi ông. Như tôi vừa nói, tên tôi là Peter Mac Gulliver, tôi từ Trái Đất, một hành tinh ký hiệu BG97 614 nằm trên Đường Ngân Hà trong hệ Mặt Trời. Tôi đang sửa con tàu vũ trụ của tôi thì bị nạn và rớt xuống đây.

Chàng thanh niên hốt hoảng nghĩ, hắn nói láo! Hắn muốn cướp hơi thở của ta, muốn đánh lừa ta. Chắc ta đã để lộ rằng trí nhớ của ta còn hoạt động … Không, ta không được phép biết Đường Ngân Hà là gì … Ta không được biết gì hết … Ôi ! Oxy … Oxy … chiếc kim.

- Ôi, Ông làm sao thế? – Người lạ mặt quan tâm hỏi – Hình như ông bị khó chịu?

- Oxy …

- Oxy của ông cạn rồi à? Xin phép ông cho tôi được tiếp thêm?

Người lạ mặt nạp một vài viên vào chiếc bình Oxy của chàng thanh niên.

- Sao? Khá hơn rồi chứ?

Chàng thanh niên vẫn còn nghi ngờ, có lẽ họ không muốn giết mình ngay, chắc họ còn muốn tra khảo ở ta những điều bí mật. Rất có thể họ tra khảo ta hàng năm. Mà lạ thật, lại cho mình cả Oxy. Cách cư xử rất tế nhị. Nhưng dẫu sao ta cũng phải kín miệng.

- Thưa ông, ông cần gì ở tôi? – Anh hỏi lại lần nữa.

- Thì tôi đã nói, tôi muốn ông giúp đỡ tôi kia mà. Ông xem có chỗ nào yên tĩnh để trò chuyện mà không bị ai quấy rầy không? Nếu ông cho phép tôi xin đề nghị: Ta về nhà ông.

- Thưa ông, ông đừng đùa giỡn với tôi làm gì? Hãy bắt tôi đi nếu các ông muốn. Tôi chán ngấy lắm rồi.

- Trên có trời chứng giám! Tại sao ông không muốn tin tôi. Tôi đã nói rõ. Tôi bị rơi từ con tàu vũ trụ của tôi xuống đây. Tôi không phải là người ở đây. Tôi từ một hành tinh xa lắc xa lơ tới. Tên tôi là Peter Mac Gulliver … Tôi thực không biết ông là ai và cũng không biết mình đang ở đâu. Tôi thấy ông là người có thể giúp đỡ tôi. Xin ông làm ơn …

Và người lạ mặt chắp tay hệt như những người ở đây vẫn làm trong ngày Đại Hội Mùa Xuân.

- Tôi thật chưa hiểu ông – Chàng thanh niên nói. Nhưng nếu ông chỉ yêu cầu có thế thì tôi cũng đành. Tín hiệu của tôi là ON 711 314. Chúng ta đang ở trên hành tinh số I234 567 trong hệ Đường Ngân Hà tên nó là Hành tinh Oxy. Còn một ngôi nhà riêng thì tất nhiên tôi không có cũng như tất cả mọi người ở đây.


2. TRÊN CON TÀU VŨ TRỤ NHÂN LOẠI


Trong cơn bối rối đầu tiên, July không biết nàng phải làm gì. Chuyện vừa xảy ra quá đột ngột. Trong chớp mắt, kim của các đồng hồ đo trên bảng điều khiển đã nhảy vọt loạn xạ. Có luồng ánh sáng khác lạ và những tín hiệu âm thanh cũng khác lạ. Cùng lúc này, Peter biến mất trên màn hình. Rồi tất cả trở lại yên tĩnh.

July và Peter là cặp vợ chồng mới cưới. Để thưởng thức tuần trang mật, họ làm một chuyến bay vũ trụ. Theo cách tính thời gian của Trái Đất thì ngày 30 tháng 1 năm 3069 con tàu vũ trụ nhỏ 2 chỗ ngồi mang tên Nhân Loại đã xuất phát. Gần đây, đối với thanh niên nam nữ trên Trái Đất, thì đó là “mốt” của những cặp vợ chồng mới cưới. Đi du lịc với tên lửa có tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Ai đã qua cuộc hành trình như vậy là có được một bằng chứng thử thách về nhiều mặt: Dũng cảm, Kiên nghị à Tin cậy lẫn nhau tuyệt đối trong mọi tình huống. Những cặp nào khi trở về Trái Đất vãn cảm thấy yêu nhau khăn khít là đã vượt qua mọi thử thách.

Đầu tiên con tàu vũ trụ Nhân Loại vọt theo quỹ đạo như kẻ chỉ với July và Peter, cặp thanh niên nam nữ hạnh phúc, yêu nhau thắm thiết. Trên con tàu, họ cảm nhận được sức mạnh và uy lực của con người, ý nghĩa lớn lao của cuộc sống và đồng thời sự bé nhỏ của mình giữa khoảng không vũ trụ. Hai điểm vô cùng nhỏ trong giải Ngân Hà vô tận, đang say sưa vì hạnh phúc tột độ và sự phiêu lưu của cuộc hành trình. Thỉnh thoảng họ lại bay qua một trạm không gian. Những vệ tinh nhân tạo này từ Trái Đất bắn lên để cung cấp thông tin và giúp đỡ những người du hành vũ trụ trong trường hợp khẩn cấp như hư hỏng máy đo, thiết bị hoặc thiếu thức ăn. Nếu cần, những con tàu vũ trụ có thể đõ lại một hòn đảo mến khác trong khoảng không vô tận. Nhưng July và Peter không thích điều đó. Họ cứ tiếp tục bay, bay mãi.

Họ đang ở trong khu vực của trạm không gian Fortuna 710. Họ có liên hệ vô tuyến đều đặn và định kỳ báo cáo với trạm.

- Tất cả hoạt động đều chứ? – Trạm không gian hỏi.

- Cám ơn, tất cả đều bình thường.

Gần quỹ đạo của con tàu vũ trụ Nhân Loại hiện ra một ngôi sao sáng như mặt trời. Xung quanh có nhiều ngôi sao nhỏ. Trong đó có một ngôi sao phát ra màu Tím – Đỏ rất lạ kỳ. Họ muốn đến gần hành tinh đó và bay vòng để xem. Họ đã khởi động một tên lửa phụ để làm việc đó.

- Tránh xa đi ! Giữ nguyên khoảng cách. Nguy hiểm chết người đó ! Lập tức tiến hành hiệu chỉnh quỹ đạo ! Nhân Loại ! Nhân Loại ! Hãy tránh xa hành tinh màu Tím – Đỏ.

July bỡ ngỡ nhìn Peter hỏi:

- Họ nói gì thế anh?
- Cứ quan trọng hóa vấn đề – Peter mỉm cười nói – Trạm không gian nào cũng thế ! Mấy cậu ấy không được nhúc nhích khỏi chỗ và họ ganh tị với chúng mình đấy.

Tuy vậy, anh vẫn bấm chương trình hiệu chỉnh đường bay.

Con tàu vũ trụ Nhân Loại không lại gần hành tinh màu Tím – Đỏ hơn nhưng cũng không đi xa hơn. Nó bay tròn xung quanh hành tinh chưa quen biết. Trạm không gian Fortuna 710 vừa tiếp tục chỉ dẫn cách phát động tên lửa chính thì một tai nạn xảy ra:

Một tảng thiên thạch đập trúng vỏ con tàu.

Trung tâm điện báo tiếp nhận được ngay báo cáo và cho rằng nhất thiết cần phải sửa chữa chỗ hư hỏng trước khi phát động tên lửa chính. Peter chuẩn bị làm nhiệm vụ này. Anh ôm nhẹ July vỗ về:

- Anh hy vọng là em hãy bình tĩnh. Trong năm phút anh sẽ sửa xong. Sau đó chúng ta sẽ rời khỏi cái khỏng không gian ít mến khách này. Còn em thì làm gì? Trong khi chờ đợi, em pha cho anh một ly nước mát.

Peter mặc bộ đồ du hành vũ trụ theo đúng quy tắc và bước qua lớp cửa dẫn ra phía ngoài con tàu. Đây chỉ là một thao tác sửa chữa thông thường như họ đã học và thực tập không biết bao nhiêu lần lúc còn ở trường học lái tên lửa. July cũng biết điều đó nên không có gì lo lắng.

Lúc này Peter đã bước ra khoảng không vũ trụ, July vừa pha nước vừa theo dõi anh trên màn hình và thấy rõ anh đang di chuyển nhẹ nhàng. Đột nhiên, có một chớp sáng lóe … kim các máy đo vọt lên … hình Peter bỗng biến mất trên màn kiểm tra. Bên con tàu vũ trụ chỉ còn lơ lửng sợi dây bảo hiểm đã bị đứt và một vài dụng cụ. Có vẻ như có cái gì đó đã giật Peter khỏi chỗ đứng của mình. Hay lại một tảng thiên thạch khác cắt đứt dây an toàn? Hay là họ đã gặp một hiện tượng lạ của vũ trụ mà xưa nay chưa ai biết? Khi thực tập du hành vũ trụ, họ đã được luyện tập với tình huống dây giữ bị tuột, nhưng lúc nào cũng còn một dây thứ hai bảo hiểm. Và chuyện cũng đã xảy ra rồi: Trong một cuộc tập luyên, một người tính thích đùa, giỡn được cử ra ngoài đã bỏ lại một sợi dây lưng lòng thòng và một vài dụng cụ cho lởn vởn xung quanh con tàu vũ trụ để dọa người khác. Nhưng không, Peter không thể làm điều này … Và nhất là lúc này họ đang muốn rời xa cái thiên thể có màu Tím – Đỏ bao bọc thì chắc chắn làm gì có sự đùa giỡn.

Tuy vậy July vẫn còn hy vọng. Cô mong chờ Peter bước trở lại vào phòng lái. Mắt cô như dính chặt vào chiếc then cài bên trong tấm cửa. Nhưng then không động đậy. Cô ra tận nơ, mở tấm cửa ra nhìn. Bên ngoài là khoảng không vắng lặng. Peter không còn đó nữa. Phải rồi ! Cùng với tia chớp, có một chuyện gì đó ghê gớm đã xảy ra.

Khi còn ở dưới Trái Đất, mọi người thường nói chuyện với nhau về hiện tượng Phản vật chất. Người ta kể về những nhà du hành vũ trụ chỉ trong chớp mắt bị những tia nào đó tiêu hủy. Nhưng những chuyện đó chỉ xảy ra đối với những người dám mạo hiểm vượt qua khu vực bên kia Đường Ngân Hà … Và nếu đúng thế thì cả con tàu vũ trụ cũng tiêu rồi chứ còn đâu ! Hay là các đồng hồ đo hoặc màn hình bị trục trặc? Nhưng còn tia chớp lóe mắt kia là cái gì? Và thời gian cứ trôi qua, đáng lẽ Peter đã làm xong công việc, trở về rồi mới phải.

Chiếc đồng hồ trên con tàu vũ trụ đã nhích lên được bốn phút theo giờ vũ trụ mà vẫn không thấy vân mong Peter đâu.

Lúc này, trạm không gian lại lên tiếng:

- Đây Fortuna 710 … vỏ tàu đã sửa xong chưa?

- Peter vừa mất tích … - Giọng Jly kêu lên đầy thất vọng – Peter vừa mất tích. Tôi phải làm gì đây?


3. BÁO CÁO


BÁO CÁO

Thành phố Oxy, 12-4-1207 – 19.99.

Con tàu vũ trụ lạ đã bay vòng quanh hành tinh của chúng ta. Nó có liên hệ với tuyến thường trực với trạm AAA. Điện đàm cuối cùng hồi 19.96 là “Peter vừa mất tích. Tôi phải làm gì đây?”

Chúng tôi đang tiếp tục quan sát.

Chúng tôi đã dùng túi TIA BẠC chụp bắt được sinh vật vừa rời khỏi con tàu và đưa xuống đây. Túi đã chụp lên nó không gây thương tích, giữ sống.

Người gốc hành tinh BG 97614 thuộc hệ MẶT TRỜI trong ĐƯỜNG NGÂN HÀ.

Sinh vật được bọc một lớp da, cao 1,80m, giống đực. Nó cũng thở OXY. Từ nãy đến giờ sinh vật không có hành động chống cự.


4. NƠI ĐÂY LÀ NƠI ĐÂU


Peter Mac Gulliver mải sửa vỏ con tàu nên không thấy được tia chớp. Ý niệm cuối cùng của anh là, anh vừa sửa xong con tàu vũ trụ, anh nghĩ, ổn rồi, ta có thể trở vào …

Bây giờ anh thấy mình đang ở giữa một quảng trường.

Quảng trường nom như một sân chơi trẻ em … những em nhỏ ngồi trên những đống cát nhỏ và chơi với những nhùng, sô nho nhỏ xinh xinh. Xung quanh quảng trường có ghế dài. Trên đó có nhiều người lớn, họ rút trong túi ra những hộp gì tròn tròn nho nhỏ và xoay đi xoay lại. Một vài người khác đứng lên đi khỏi quảng trường. Nhưng anh nhận thấy quảng trường có cái gì đó không giống ở Trái Đất. Tại sao? Peter cũng ngồi xuống một chiếc ghế dài và cố suy nghĩ, hệ thống lại mọi việc vừa xảy ra.

Thật là hãn hữu … lạ lùng. Ta hoàn toàn không thể hiểu được. Không có lý bây giờ ta đang mơ? Mới vừa đây ta còn ở trong con tàu vũ trụ Nhân Loại cùng với July. Con tàu bị một tảng thiên thạch đập vào vỏ … Rồi ta ra ngoài khoảng không để sửa chỗ bị thủng … và rồi … Hiện giờ ta đang ở đâu? Ta đã trở về Trái Đất ư? Nhưng phong cảnh này dứt khoát không phả của Trái Đất. Còn thiếu một cái gì đó mà ở trái đất rất sẵn. Màu sắc? Ở đây, không một thứ gì có màu. Khắp nơ chỉ thấy một thứ ánh sáng lờ mờ, một sự chuyển tiếp giữa ngày và đêm. Tất cả đều màu xám và được chiếu sáng một cách đơn điệu. Cả quần áo của mọi người cũng màu xám. Và mặt họ … Nhưng làm sao có thể trông thấy mặt họ được. Tất cả đều đeo một cái mặt nạ để thở, người lớn cũng như trẻ con … Và cách đi lại của họ cũng thật là kỳ lạ: họ di chuyển thật chậm chạp. Không thấy có súc vật. Cả đến một con mèo hay một con chó cũng không có. Hoặc một con chim sẻ trên cây … Ồ mà ngay cả cây cố cũng không có nữa.

Có lẽ mình mơ, Peter nghĩ vậy và từ từ đứng dậy. Anh nhận thấy mình đang mặc bộ quần áo vũ trụ, một cái nón chụp du hành vũ trụ, một trang bị cấp Oxy và các vật dụng khác. Như vây, anh đã rời khỏi con tàu vũ trụ khi vừa sửa xong chỗ hư hỏng … Và lúc đó đã xảy ra một điều gì mà anh không thể hình dung nổi. Lúc này anh không còn ở trong con tàu vũ trụ nữa. Nhưng anh phải ở một nơi nào chứ ! Nơi đây là nơi đâu? Anh cảm thấy người đờ đẫn mệt mỏi, tim đập nặng và không đều. Chiếc đồng hồ chuẩn đoán vạn năng anh đoe ở cổ tay chỉ rõ nhịp thở và nhịp tim không đều. Bằng một động tác quen thuộc, Peter ấn vào nút chiếc máy nhỏ đeo trên ngực. Nhờ đó bộ lọc máy hô hấp của anh được rửa sạch và máy được nạp đầy không khí giàu Oxy. Lập tức nhịp mạch của anh trở lại bình thường và dần dần anh có thể sắp xếp lại được những ý nghĩ lộn xộn trước đây.

Điều chắc chắn nhất là lúc này anh không còn ở trên con tàu vũ trụ Nhân Loại và cũng không thể là ở trên Trái Đất thân yêu. Vậy thì anh ở đâu?
Túi dụng cụ anh còn đeo bên người, nhưng chiếc dây lưng an toàn đã bị đứt, một đầu thõng xuống. Kiểm lại đồ nghề anh thấy thiếu mất mấy dụng cụ mà trước đó anh vừa dùng để tu sửa vỏ tàu. Nhưng toàn bộ máy móc của anh vẫn đầy đủ và sẵn sàng, trong đó có cả máy Định vị.

Peter hồi hộp ấn vào nút đỏ trên máy định vị. Máy vẫn hoạt động. Trên mặt số của máy lần lượt xuất hiện những thông tin. Khoảng cách tới Fortuna 710 là hàng triệu km, lực hấp dẫn của nơi này cũng gần giống lực hấp dẫn của Trái Đất … Và này lạ chưa, cả khối lượng của hành tinh này cũng gần như trùng với khối lượng của Trái Đất. Thành phần khí quyển không khí .. Quái ! Máy này hỏng rồi chắc ! Nitơ, khí carbonic, oxyt carbon, muội khói, khí thải và những hạt thạch anh nhỏ … Còn Oxy chỉ có vết thôi. Nếu đúng như vaạy thì trên mặt hành tinh này không có sự sống phát triển cao như trên Trái Đất được.

Peter lo lắng nghĩ, nhưng đó chỉ là lý thuyết. Thực tế mình đã thấy cả người lớn và trẻ con giống như con người trên Trái Đất: những sinh vật đi bằng hai chân giống con người … Ngoài ra có thêm một cái vòi? Hay có thêm một máy hô hấp? Hay với một chiếc máy lọc khí? Thânhj mình không nhận thức nổi. Lập tức một câu hỏi khủng khiếp nữa nảy ra: Nếu anh không mơ, nếu thực sự anh đã bay trên con tàu vũ trụ Nhân Loại và bị một sức mạnh lạ lùng bí hiểm nào đó gạt xuống hành tinh lạ này thì bây giờ con tàu vũ trụ ở đâu? Và July ở đâu?

Ánh sáng mờ nhạt dần chuyển sang bóng tối. Trên quảng trường bằng bêtông hầu như không còn người. Những người vừa đi qua gần bên anh với bước chậm rãi và mệt mỏi hoàn toàn không chú ý đến anh. Lúc này Peter sực nhớ ra điều cần thiết nhất phải làm: chiếc máy vô tuyến.

Anh lấy chiếc máy phát nhỏ bật theo bước sóng của con tàu Nhân Loại. Nếu con tàu còn tồn tại và ở gần đây thì nó sẽ trả lời.

Chung quanh hoàn toàn yên tĩnh. Anh phát tín hiệu theo làn sóng của Fortuna 710. Không có trả lời.

Không biết sao làn sóng bị chặn, không truyền đi được, anh nghĩ. Nhưng trên hành tinh này chắc chắn phải có một đài vô tuyến mà ta có thể nghe được tính hiệu của nó hoặc hỏi nó. Anh bắt đầu dò tìm từng bước sóng một. Càng tìm càng căng thẳng, hồi hộp. Không một tín hiệu: Điện đài hoàn toàn vô dụng.

Điều gì đã xảy ra với July và điều gì đã xảy ra với chính anh?

Anh xem lại máy định vị một lần nữa. Đúng, anh đang ở cách trạm không gian Fortuna 710 ba triệu km trong hệ Mặt Trời gần dãy Ngân Hà, trên một hành tinh thực thụ. Nhiệt độ khí quyển 260C. Độ ẩm không khí không đo được. Oxy chỉ có vết hoặc có thể có trong những hợp chất.

Như vậy các máy móc dụng cụ vẫn hoạt động được bình thường, chỉ trừ điện đài.

Anh chắc chắn là anh không mơ. Lúc này anh đứng trên một thiên thể chưa được nghiên cứu. Không biết do tình cờ anh đã hạ cánh xuống đây hay là do những ý muốn của kẻ khác? Anh được tự do hay đang bị cầm tù? Chỉ có cách quan hệ ngay với bất kỳ một người nào đó.

Một vài thanh niên bước tới gần giữa quảng trường. Đánh giá bằng con mắt của người Trái Đất, thì đó là những thiếu niên. Học mặc những bộ áo liền quần màu xám của thợ máy và mặt nạ thở. Nhưng kỳ lạ là những chiếc mặt nạ này không che mắt họ nên thoạt trông có vẻ như một chiếc vòi: chiếc mặt nạ chỉ chụp vào mũi và một chiếc ống cao su có nhiều xếp ly khá dài dẫn tới một chiếc bình họ đeo trên lưng. Như vậy có thể nhìn được khá rõ. Ngay cả mồm họ cũng chỉ có một miếng gạc mỏng bảo hộ.

Peter tiến về phía họ và lấy tay vẫy. Mấy chàng trai thản nhiên nhìn anh và tiếp tục đi. Rồi có một thiếu phụ đi tới quảng trường. Peter lại vẫy. Vì qua chiếc nón chụp vũ trụ anh không thể nói được. Người thiếu phụ cũng bình thản đi qua hệt như mấy thanh niên vừa rồi. Peter cởi bộ đồ vũ trụ ra và chỉ giữ một chiếc máy thở trước mặt. May thay khối lượng của các bộ quần áo vũ trụ hiện đại không nặng quá nửa kilô. Chỉ trong giây lát Peter đã cuộn bộ đồ bỏ vào trong chiếc túi đeo bên hông. Tất cả việc này diễn ra ngay trên quảng trường. Trong lúc này cũng có một vài người đi qua chỗ anh nhưng không có một ai quan tâm tới anh.

Peter phát hiện ra rằng, tất cả những người này đi theo một hướng nhất định và đều nhắm vào một ngôi nhà vuông vắn hình hộp nằm gần đấy. Ở đó là cái gì nhỉ? Khác sạn? Nhà ga? Nhà hàng? Ga xe điện ngầm? Anh cũng theo họ đi về hướng đó. Lần này anh bước đi cũng nhẹ nhàng như đi trên mặt đất vì khối lượng của hành tinh này cũng gần bằng khố lượng Trái Đất nên lực hấp dẫn cũng suýt soát bằng nhau. Cùng lúc này anh cảm thấy đầu nhức nhối khó chịu và chiếc đồng hồ chuẩn đoán của anh chỉ rõ sự giảm huyết áp. Anh ấn vào chiếc nút nhỏ bên cạnh chiếc máy vạn năng. Lập tức anh cảm nhận được một luồng hỗn hợp gồm các chất đường, adrenalin và cafein được đưa vào cơ thể. Anh thong thả đi theo dòng người.

Anh đã dự đoán không sai. Họ vào một ngôi nhà lớn có nhiều cửa. Trên các cửa đều sơn vẽ các ký hiệu. Những ký hiệu này giống những hình vẽ ở các vườn trẻ, nhờ nó mà các em bé nhất có thể phân biệt được chiếc khăn tay và con thỏ, bông hoa hoặc một hình tam giác … Khi tới gần, anh có thể nhận rõ một vài ký hiệu. Một ký hiệu thể hiện một người đang ngồi ăn, ký hiệu nữa chỉ phòng tắm và một ký hiệu thứ ba vẽ cái giường.
Trước tiên anh bước vào phòng tắm có hương sen. Độ chiếu sáng ở đây cũng lờ mờ khó chịu. Nhưng anh đã dần dần quen rồi. Các bồn tắm hoặc các hương sen dược sắp xếp thành hàng dài. Đi sâu vào một đoạn nữa là các nhà vệ sinh. Anh mở một vòi nước trên một chiếc bồn tắm. Một luồng nước âm ấm dễ chịu chảy ra. Anh lấy một giọt đưa vào máy phân tích bỏ túi. Chất lỏng là nước thông thường có pha lẫn chút ít thuốc khử trùng. Đây lại là một đièu bí mật mới. Trên hành tinh này chỉ có Oxy trong các hợp chất. Như vậy có thể hình dung được rằng các sinh vật thuộc giông người hiếm có này phải thở dưỡng khí bằng mặt nạ.

Không ai nói với anh một lời. Tắm rửa xong, anh cảm thấy khỏe khoắn hơn đôi chút và bước qua gian bên cạnh, trên cửa có vẽ một người đang ngồi ăn.

Đó chính là phòng ăn. Phòng ăn sạch như lau li. Nhưng nó rất lớn, xám xịt và không hấp dẫn. Ngay cả khi mặt bàn cũng làm bằng một tấm chất dẻo mặt xám. Ngay ở đây anh cũng cảm thấy có cái gì kỳ kỳ. Điều đó là gì nhỉ? Mọi người đều ngồi ăn thong thả, không nói một lời, không nhìn người khác và cũng không hề quan tâm đến ai.

Peter tìm ngay được một chiếc bàn trống. Anh ngồi xuống cầm lấy bảng thực đơn để sẵn và bấm nút chiếc máy phiên dịch liên hành tinh. Chiếc máy này là một phát minh mới và là quà cưới của July tặng. Đã từ lâu lắm, từ hàng ngàn năm nay trên Trái Đất, tất cả những thứ cần cho mọi người dân đều không phải trả tiền, từ giầy dép tới thuyền buồm cũng như vé đi xem hát hoặc kem chocolat. Nhưng người ta luôn luôn phát minh được những cái mới. Và ai lao động tốt, có thành tựu khoa học kỹ thuật mới hoặc tác phẩm nghệ thuật đặc biệt và đôi khi cả những thành tích thể thao xuất sắc cũng được thưởng. Phần thưởng luôn tạo nên một sự kích thích và làm cho cuộc sống không trở thành đơn điệu. Chiếc máy phiên dịch liên hành tinh cũng thuộc vào loại sáng chế mới. Không những nó có thể dịch ngôn ngữ của các hành tinh đã biết và đã có quan hệ với Trái Đất, mà còn trong giây lát nó có thể tìm ra chìa khóa của tất cả các tín hiệu âm học hoặc quang học và làm cho tai mắt và bộ óc con người có thể nhận thức hiểu biết được. Mới đây, July đã viết một bản báo cáo tốt nhất về ngôn ngữ học trong hai ngàn sinh viên nên được thưởng chiếc máy này.

- Em tặng anh chiếc máy phiên dịch liên hành tinh – Trước chuyến bay vũ trụ July nói với Peter – Có thể khi tới một ngôi sao nào đó, anh sẽ gặp một nàng tiên diễm kiều hỏi anh một cái gì đó. Lúc đó anh cần cái máy này.

Sau đó họ cùng nhau cười ran. Đã bao lâu rồi nhỉ? Một năm hay một tuần? Thời gian vũ trụ không có giới hạn. Trong suốt chuyến bay, hai người chưa hề hạ cánh xuống một hành tinh nào. Họ không muốn nói chuyện với ai. Chỉ nói với nhau. Và nhiều lắm là trao đổi với các trạm không gian của Trái Đất.

Trên chiếc máy phiên dịch bỏ túi, một bên có chữ Vox để dịch tiếng, một bên có chữ tượng hình để dịch các ký hiệu. Peter bấm nút điều khiển máy. Một chớp đèn nhỏ bật súng chiếu vào tờ thực đơn. Lập tức hiện lên dòng chữ dịch:

Món ăn Oxy để tiêu hóa
Sốt tảo
Kem nấm 2 đơn vị
Bánh phồng hỗn hợp 2 đơn vị
Bánh phồng kem chuối 1 đơn vị 4 đơn vị


Mình hiểu lời dịch nhưng lại chưa nhận thức được. Peter nghĩ: Ở trường anh đã được học rằng trên Trái Đất có thời kỳ thực phẩm chưa được dồi dào nên các thức ăn đều có giá tiền. Như vậy khi vào khác sạn hoặc cửa hàng thực phẩm, người ta phải trả một lượng tiền nhất định để đổi lấy các loại thức ăn. Nếu ở đây có ghi “Sốt tảo, 1 đồng tiền vàng” thì anh không ngạc nhiên. Nhưng tại sao họ lại phải ghi “cần bao nhiêu Oxy để tiêu hóa”

Chiếc loa trên bàn lên tiếng với giọng trầm đặc biệt. Đầu tiên nó còn nói nhỏ, sau đó tiếng nói có vẻ sốt ruột. Peter vội gạt chiếc nút máy phiên dịch sang vị trí Vox anh liền được nghe:

- Anh chưa đặt món ăn …

- Kem nấm – Peter hỏi nhanh.

Chiếc máy dịch lại lập tức. Mặt bàn ăn xám mở ra và một đĩa thức ăn kiểu cháo đặc được đưa lên, kế bên có một dụng cụ như chiếc muỗng. Peter vừa tháo chiếc mặt nạ khỏi mặt vộ vàng chụp ngay nó vào. Không khí vừa đập vào mặt anh cay xè làm anh muốn ho sặc. Anh nhìn đĩa thức ăn mà chẳng biết làm sao. Nếu tháo mặt nạ anh sẽ bị ngạt, nếu để mặt nạ anh không thể ăn. Anh bèn nhìn chung quanh và quan sát những người khác. Tất cả mọi người đều đeo chiếc mặt nạ có vòi. Trên miệng chỉ che một tấm gạc. Khi ăn học gạt một góc tấm gạc lên và ngậm cuống muỗng vào mồm như một chiếc ống hút. Khi đó anh mới phát hiện ra cái muỗng có cán rỗng như một chiếc ống.

Peter nghĩ, bây giờ mình kiếm đâu ra chiếc mặt nạ loại này. Bí quá, anh liền đục một lỗ trên chiếc mặt nạn thở để đút cuống muỗng qua rồi ngậm vào mồm. Bây giờ anh bắt đầu hút loại cháo đặc. Món ăn này vừa có vị nấm và gần giống cháo tấm có muối. Nó không quá ngon cũng không quá dở.

Ăn xong anh cảm thấy mồ hôi toát ra. Anh lại nghe thấy tiếng loa hỏi:


- Ăn ngon chứ? Dùng một món gì nữa không?

Chiếc máy nhỏ lập tức dịch ra. Peter lầm bầm:

- Cảm ơn.

Peter vừa đứng dậy thì có một người khác ngồi vào chỗ của anh. Anh đi tới chiếc cửa trên có ký hiệu một chiếc giường. Hẳn đây là một khách sạn.

Anh đoán ở cửa sẽ có một quầy tiếp tân. Thay vào đó anh lại bước ngay vào một phòng ngủ rất rộng, có các giường ngủ, tủ và giá để đồ đạc. Nhìn quanh anh thấy có nhiều người đang cởi quần áo hoặc đang ngủ.

Lúc này anh cảm thấy mệt mỏi khôn tả. Nếu mình cứ nhào đại nằm vô một chiếc giường thì sao? Anh tự nhủ, khi chủ nó tớ xin lỗi và dựng anh dậy thì sao? Không, có lẽ ta không làm thế được.

Anh muốn hỏi một người nào đó rằng hiện anh đang ở đâu. Nhưng nếu anh đặt câu hỏi lập tức sẽ gây ra sự chú ý. Như vậy anh sẽ giải thích thế nào ! Cũng không ổn. Nhưng lúc này Peter mệt quá rồi. Cái gì đã xảy ra với July? Nếu bây giờ anh nằm xuống đây và ngủ thiếp đi thì làm sao tìm hiểu được điều đó. Có thể July cần được ứng cứu? Có thể nàng bị nguy khốn và đang chờ anh? Vậy thì muộn mất. Nhưng lúc này anh mệt quá rồi. Hay là tại bữa ăn? Cái món kem nấm lạ lùng đó? Liệu họ có bỏ gì vào không? Thuốc ngủ chăng? Ngốc quá? Sao nãy mình không đưa món này vào máy phân tích trước khi ăn nhỉ? Bây giờ đối với anh chỉ cần một điều: nằm dài ra và ngủ … Nhưng có lẽ ta hãy hỏi chàng thanh niên đi qua.

- Thưa ông, ai có thẻ nằm ngủ trong chiếc giường này?

- Ai cũng được – Tiếng trả lời đều đều không tình cảm.

Peter nghĩ, mình phải cởi đồ ra chứ. Nhưng không kịp. Anh vừa đặt mình lên chiếc giường rất êm ái thì đã chìm vào giấc ngủ sâu.


5. NGÀY CÀNG LO LẮNG


Peter ngủ được một lát thì có tiếng nhạc nhẹ làm anh tỉnh dậy. Anh mở mắt thấy trần nhà màu xám được dùng làm màn ảnh để chiếu phim. Anh cố gắng lau sạch kính của máy hô hấp để theo dõi diễn biến của phim được rõ hơn. Xung quanh anh, giường nào cũng có những sinh vật giống người đang nằm. Tất cả đều thức và nhìn lên trần. Họ không đeo mặt nạ mà gỉ có một vòi thở Oxy ở mũi.

Peter vội bật chiếc máy phiên dịch và lắng nghe.

Trên màn xám hiện ra cảnh một thanh niên và một thiếu phụ, theo dự đoán của anh về lứa tuổi và giới tính của họ. Hai người mặc quần áo thể thao, mũi vẫn đeo vòi thở Oxy ngồi trên ghế dài nói chuyện tình yêu. Câu chuyện buồn tẻ kéo dài. Họ nói về ngày “Đại lễ mùa Xuân” lúc đọ họ sẽ lại ôm lấy nhau … “Em đẹp lắm” – Người đàn ông nói: “Anh tốt lắm” – Cô gái nói. Sau đó chuyển cảnh, tiếp theo là mục lời khuyên của thầy thuốc: Ta phải nhai chậm hơn thì sẽ cần dùng ít Oxy hơn. Cảnh lại chuyển nữa. Một dàn đồng ca thiếu nhi hát về ngày Đại lễ mùa Xuân. Lời hát “Chúng em muốn vui vẻ và khỏe mạnh. Chúng em muốn cầu xin được dự ngày Đại lễ mùa Xuân” Lại chuyển tiếp phim màu. Giống như một phong cảnh của Trái Đất với bầu trời xanh và cánh đồng bát ngát mơn mởn. Lúc này, những người đang nằm bị kích động đặc biệt. Nhiều người ngồi dậy và bắt đầu hát. Hình màu chỉ hiện ra có một phút rồi trở lại đen xám. Mọi người lại im lặng. Có điều là hậu cảnh của cặp đôi nam nữ yêu nhau, bác sĩ, đồng ca thiếu nhi đều là những khối bê tông vuông vức.

Lúc này các hình ảnh biến mất. Những người nằm các giường bên trở dậy và đi vào phòng vệ sinh. Peter nằm lại để suy nghĩ. Lạc có nhạc êm dịu nổi lên. Anh nhận ra tiếng nhạc cụ gió và nhạc cụ dây. Giai điệu giống hệt như lúc đầu.

Peter cố gắng tập trung suy nghĩ. Tất nhiên ta bị tai nạn sau khi sửa con tàu vũ trụ. Có thể July còn sống sót và ở đâu gần đây. Cũng có thể nàng cũng bị bắt. Ta phải lập tức đi tìm nàng. Ta không được ăn những thức ăn ở đây vì có nhiều khả năng có thuôc mê mà ta chưa hiểu rõ. Tốt nhất là ta sẽ ăn những viên thức ăn vũ trụ còn dự trữ.

Ta phải tìm cách liên lạc với July. Liên lạc trên các làn sóng thường lệ với con tàu vũ trụ và trạm không gian Fortuna 710 đều không được. Nhưng trên người nàng cũng có một máy thu phát dự phòng khi có sự cố như của ta. Tại sao nàng không tìm cách lên tiếng?

Anh thử bật nút điện đài của mình một lần nữa. Vẫn hoàn toàn im lặng.

Anh nghĩ: Có lẽ uổng công vô ích ! Chắc là các làn sóng thu phát đều bị chặn. Mình phải tìm cách ra chỗ thoáng. Đi ra, ra khỏi đây ngay.

Peter rửa mặt và làm vệ sinh thật nhanh, mặc lại bộ trang phục vũ trụ mà anh vẫn nhét trong túi. Anh chạy trong trừng mực chiếc máy hô hấp của anh cho phép.

Chạy giữa dường, anh mới chợt nghĩ ra: Không có ai tới thu tiền ăn và ngủ của anh. Cũng chẳng có ai nhòm ngó anh đến một lần.

Anh lại tới quảng trường màu xám. Đó là một sân betông rộng, phẳng lỳ, ở giữa không có vòi phun nước, không có đường phố, chỉ có ghế đá và chỗ ngồi chơi cho trẻ em. Lúc này trên các ghế dài lại có người ngồi. Vẫn những người đeo vòi trước mũi và hầu hết họ xoay xoay trong tay một cái gì tròn tròn như chiếc đồng hồ quả quýt. Quảng trường khá rộng, trải dài gần như hết tầm mắt. Xung quanh có những ngôi nhà màu xám. Đó là những hộp bằng bê tông gần giống nơi anh đã ngủ. Anh phát hiện ra một điều rất kỳ lạ. Những nhà này hoàn toàn không có cửa sổ mà chỉ có cửa ra vào. Peter ra giữa quảng trường bật máy thu phát, chiếc loa vẫn câm tịt, không bắt được một đài nào, cũng như phát tín hiệu mà không được trả lời.

Anh nghĩ, ta phải leo lên một vị trí cao hơn để định hướng tốt hơn và dùng máy thu phát có hiệu quả. Anh đi liều về một phía. Đồng hồ của anh vừa chỉ giờ Trái Đất và giờ vũ trụ. Nhưng ở trên cái hành tinh quái quảy này là sáng hay chiều, là ngày hay đêm? Còn cái thứ ánh sáng ảm đạm trên hành tinh này, không biết nó nhận được từ đâu. Tất nhiên phải có một hoặc nhiều Mặt Trời nào đó. Nhưng ánh sáng Mặt Trời làm sao qua được bầu khí quyển dơ bẩn này. Phải, chỉ có cách lên được một cao điểm. Nếu càn có thể lên nóc một ngôi nhà nào đó ít người qua lại.Từ đó anh mới có thể định hướng được. Gần quảng trường có một ngôi nhà giống như cái mà anh đã ngủ đêm qua. Nhà hình hộp, tường xám nhẵn lỳ, ngay cả cửa ra vào cũng như nhau: Một khung cửa lớn, trong lắp một tấm kính mờ. Mãi tới giờ anh mới nhận thấy rằng phía trên cửa có số 3. Còn ngôi nhà kế bên, phía trên của có số 4. Chính xác hơn là trên cửa một ngôi nhà có ba vạch thẳng đứng. Còn trên cửa kế bên có 4 vạch. Anh tò mò bước vào ngôi nhà mang số 3. Ngay cửa cũng có một tiền sảnh rộng rãi, không khác với ngôi nhà có phòng ăn và phòng ngủ. Peter bước vào tiền sảnh qua một cánh cửa treo bằng tủy tinh dáng như cửa một nhà kho. Các cánh cửa treo đều mang một bảng màu trắng đục như sữa. Phía trên mỗi chiếc cửa là một ký hiệu khác nhau. Trên cửa đầu tiên tấm bảng vẽ một chiếc giầy, trên cửa thứ hai vẽ một bộ áo liền quần và cửa thứ ba mang hình một con búp bê. Peter bị cuốn theo một đám đông đang đổ xô vào cửa có hình chiếc giầy. Đó là một nhà kho hết sức rộng. Trên các giá kê thành hàng san sát nhau là những đôi giày cùng kiểu bằng da nhân tạo gần giống cao su màu xám. Trên giá, giày được xếp theo cỡ. Phía ngoài cửa là các giày vừa cỡ với Peter. Những người đi vào không ai hỏi ai điều gì. Mặt họ chẳng thể hiện nét gì quan tâm hay tò mò. Họ lấy cỡ giày phù hợp với mình trên các giá. Họ diện ngay giầy mới, vứt bỏ giày cũ vào một hố sâu ngay dưới giáy bày hàng. Xong việc, họ lại chậm rãi bước ra khỏi kho cũng như lúc họ tới. Peter dừng lại trước một giá trắng và cầm lên một đôi giày. Một tiếng chuông báo động nổi lên, anh giật mình đặt đôi giày trở lại thì nghe có tiếng loa, anh vội bật chiếc máy phiên dịch liên hành tinh và nghe lời hướng dẫn. “Không vừa cỡ chân anh. Đi quá vào dãy phía trong”

Lúc này anh mới nhận thấy có một tấm cao su màu xám chạy dọc theo các giá để giày. Những người đi tìm giày bước dọc theo tấm thảm đó và học dừng lại khi có một đèn tín hiệu nhỏ bật sáng. Tất nhiên là cỡ chân được đo ngay trên thảm nhờ một hệ thống máy tự động. Và khi một người bước tới chỗ có giày vừa cỡ chân anh ta thì máy tự động báo hiệu có thể lấy ở chỗ đó.

Peter lại tiếp tục đi, vừa đi vừa quan sát tấm cao su. Qua hai hàng tủ, đèn tín hiệu màu vàng bật lên. Peter với tay lấy một đôi giày trên tủ và đi thử. Đôi giày vừa khít. Anh liền vứt đôi giày mang theo từ Trái Đất vào chiếc hố cạnh đó. Đôi giày mới thật là hay, không những nó vừa chân mà còn đàn hồi rất êm. Anh rời khỏi kho giầy. Không ai nói với anh một lời. Cũng không ai đòi tiền giày.

Vừa tìm giày, vừa quan sát, Peter đã phí hết một giờ. Không. Đây không phải là chủ đích của anh khi vào đây. Anh cần tìm xem chỗ nào có một cầu thang có thể đưa anh lên mái bằng. Và ở đó, anh sẽ tìm cách sử dụng điện đài một lần nữa. Anh tiếp tục bước vào các cửa tiếp nhưng lại lập tức quay trở ra vì không tìm thấy chỗ nào có cầu thang. Có những chỗ, kho có nhiều tầng, ví dụ ở kho có các bộ quần áo liền quần. Các bộ quần áo được xếp cao tới ba tầng lầu. Nhưng ở đó cũng chỉ có cầu thang đi bên trong gian nhà kho và dẫn tới những tầng có giá để quần áo khác. Còn không có một lối nào đưa ra ban công hoặc sân thượng. Và cũng không chỗ nào có một chiếc cửa sổ để anh có thể mở ra và thử đứng ở đó sử dụng điện đài. Hoặc từ đó anh có thể nhìn ra xung quanh để tìm phương hướng. Trong kho, hàng hóa nhiều vô kể. Những con người (Peter tạm gọi các sinh vật có đeo vòi thở đang chen chúc chung quanh anh là những con người), họ nhận được tất cả mọi thứ mà không phải chờ đợi. Phải nói rằng chữ tất cả này có ý nghĩa chủ yếu là trang phục, quần áo lao động và quần áo lót. Không nơi nào có áo khoác ngoài và chăn. Trong một kho khác rất rông, những chiềc vòi hô hấp được xếp thành đống. Đó là những chiếc vòi hô hấp được xếp thành đống. Đó là những chiếc mặt nạ để đeo trước mũi. Tất cả đều làm theo một kiểu giống nhau và được sắp xếp theo cỡ lớn nhỏ. Kèm theo mỗi chiếc mặt nạ có hai hoặc ba chiếc khăn bằng gạc để đeo miệng. Anh đoán hẳn là khăn gạc dùng tốn hơn. Trong kho mặ nạ thở này Peter cũng nhận ra những tấm băng cao su. Nhưng ở đây nó không trải trên mặt đất mà chăng ngang tầm mặt người. Khi anh bước tới khoảng giữa kho, đèn tín hiệu bật sáng. Lần này Peter không chần chừ, cầm ngay chiếc mặt nạ trên giá gần nhất. Anh đeo thử. Nó hoàn toàn áp chặt vào mũi và mặt anh. Đồng thời, anh giật mình phát hiện ra rằng khi anh hít vào thì chiếc vòi chụp mũi này dán cặt vào mũi anh nhưng không có không khí từ ống đưa vào. Hay chiếc bình chứa có khuyết tật gì đây. Nhưng kia rồi, tiếng chuông báo động lại réo lên và chiếc máy phiên dịch liên hành tinh của anh giúp anh hiểu lời thông báo.

- Anh hãy mang máy đến trạm nạp Oxy gần nhất.

Như vậy là trong bình chứa chưa có không khí và phải đưa tới một nơi nào đó để nạp. Anh hơi mừng nghĩ rằng. Nơi người ta nạp Oxy chắc phải có văn phòng hay bàn giấy, tóm lại, một nơi phân phối. Ở đó chắc anh có thể hỏi được những điều cần thiết. Anh cố gắng lắm mới giật được chiếc mặt nạ đang làm anh sắp nghẹt tở. Anh vộ vàng đeo cheiéc mặt nạ Trái Đất của anh vào. Tất cả xảy ra chưa đầy nửa phút mà anh cảm thấy như bị nghẹt thở. Mồ hôi vã ra, nhịp tim đập dồn dập, anh phải dừng lại nghỉ trong giây lát. Anh bỏ chiếc mặt nạ mới nhận được vào túi khoác vai.

Ra khỏi kho mặt nạ, anh bước vào kho đồ chơi. Peter thấy những mô hình máy, những búp bê mặc đồng phục lao động áo liền quần và cũng đeo mặt nạ. Có lẽ đến hàng trăm ngàn con búp bê. Chỉ có điều tất cả đều màu xám và chỉ khác nhau về cỡ lớn nhỏ. Phía trước anh, trong gian hàng cũng có một vài người lớn. Rất nhiều người lấy một tứ gì tròn tròn như một chiếc hộp phấn trên các giá. Anh tớ gần coi kỹ hơn và nhận ra đó là một trò chơi luyện tính kiên nhẫn. Trong đó có những hòn bi và một khe nhỏ. Phải tìm cách lắc hộp sao cho những hòn bi đó lách qua những chướng ngại hình học và lăn tới đích. Peter chợt hiểu rằng, những người ngồi ở ghế dài trên quảng trường lúc trước cầm những vật trên tay vừa xoay vừa lắc chính là trò chơi này đây.

Trong cửa hàng hiếm có này, anh thấy có nhiều trẻ con. Chúng đi một mình hoặc đi từng nhóm. Mặt xanh rớt. Chúng lấy một hoặc hai thứ đồ chơi rồi đi tiếp.

Trong đống hàng hóa khổng lồ này, nổi lên một sự đơn điệu. Màu xám ngự trị rõ rệt. Và còn điều này nữa: Có rất ít chủng loại mặt hàng. Trong một nửa cửa hàng đồ chơi trên Trái Đất cũng có nhiều những chiếc máy nhỏ, xe hơi, tên lửa và nhiều đồ chơi cơ khí, kế đó thể nào cũng có những con gấu con, chó con … Còn ở đây thì điều kỳ lạ là không có hình dáng một con vật nào trong đống đồ chơi khổng lồ này. Ngay ở các hộp đồ chơi cho các em tập lắp ráp, cũng chỉ có những cấu kiện xây dựng màu xám, không có cửa, chỉ dùng lắp được những ngồi nhà hình hộp đơn điệu và ảm đạm.

Sau kho đồ chơi là kho sách. Đó cũng là một kho như các kho khác. Trên những chiếc giá rất dài, Peter chỉ thấy có tám hay mười tựa sách, loại nào cũng nhiều vô kể. Trên giá đầu tiên nỏi bật lên chữ Sách học. Anh cầm một cuống dầy nhất, cắp nách đi tiếp. Anh ít chú ý đến những cuốn sách khác. Còn có một tập sách mỏng với tự đề Tình yêu và một tập khác : Tôi chỉ đợi ngày Đại lễ mùa xuân. Trên bìa cuốn này có hình một người đàn ông và một người đàn bà quỳ gối cùng ngước mắt lên trời.

Anh nắm chặt cuốn sách học và cảm thấy hồi hộp vô hạn. Không tự kìm chế được, anh lấy chiếc máy phiên dịch đọc: Tờ bìa có ghi Sách giáo khoa cho trẻ em, không ghi dùng cho lứa tuôi nào và khoa nào, ngành nào. Đó là cuốn sách giáo khoa dày nhất có trong kho sách.

Peter cảm thấy cuốn sách sẽ giải đáp cho anh nhiều điều bí ẩn của hành tinh này. Anh rảo bước trở lại tiền sảnh. Một lần nữa anh nhìn quanh thật kỹ lưỡng để tìm một lối lên mái nhưng vô hiệu … Anh đành bước nhanh ra đường và trở lại quảng trường. Từ đó anh đi đại vào một ngôi nhà có năm vạch thẳng đứng đánh dấu ở mặt trước. Anh lại gặp một hình ảnh quen thuộc: tiền sảnh rộng rãi, có cửa quay bằng kính mờ về mọi phía. Nhưng trên cái cửa đó không ghi một ký hiệu nào. Anh chặc lưỡi, theo một cửa bước vào.

Khung cảnh hoàn toàn khác. Anh cảm thấy như đang ở phòng điều khiển một nhà máy điện, hay trong phòng lái một con tàu vũ trụ hoặc trong phòn chỉ huy một chiếc máy bay, hay đài chỉ huy một chiếc tàu, cũng có thể là phòng chỉ huy một nhà máy tự động. Máy móc được bày thành hàng dãy dài trước các bàn lắp đầy đồng hồ và dụng cụ đo lường. Có nhiều người ngồi làm việc, trước mũi vẫn đeo ống thở. Họ điềm nhiên ấn vào các nút khác nhau, quay các tay quay khác nhau mà không hề nói với nhau một lời hay mảy may quan tâm lẫn nhau. Peter đi qua một bàn điều khiển thì một chiếc đèn màu lục tươi bật lên kèm theo tiếng nói. Chiếc máy phiên dịch lập tức chuyển cho anh:

- Ấn vào đòn bẩy phía bên phải cho đến khi có tín hiệu vo vo nổi lên. Sau đó cũng ấn như vậy với đòn bẩy bên trái.

Peter muốn đi tiếp nhưng sự tò mò còn mạnh hơn ý chí. Anh ngồi lên chiếc ghế tựa màu xám rất tiện nghi. Nhìn thấy trên bàn điều khiển có các đòn bẩy. Anh ấn vào các đòn bẩy như hướng dẫn. Anh cứ thế hết phải rồi trái, rồi phải … cứ như thế anh làm việc khoảng hai tiếng, cho đến khi anh cảm thấy chán ngấy. Anh vừa nhỏm lên định đứng dậy bỏ đi. Ngọn đèn lập tức bật sáng và mọt cánh tay bằng chất dẻo không biết từ đâu chìa ra. Peter lúng túng thì lời hướng dẫn vang lên:

- Đưa bình chứa Oxy.

Peter không kịp hiểu, đứng ngẩn ra. Chiếc máy vẫn tiếp tục nhắc lại lời chỉ dẫn. Chợt óc anh lóe lên một tia sáng: Phải rồi, chiếc bình chứa Oxy của chiếc mặt nạ mà anh vừa nhận trong kho hàng. Cánh tay kỳ lạ chụp lấy chiếc bình nâu của máy hô hấp như một thanh nam châm. Phía thành bình hiện ra một khe nhỏ và ở chiếc máy cũng tự mở ra một ô cửa nhỏ. Giống hệt như trong một chiếc máy tự động bán kẹo, có ba viên tròn dẹp rớt qua ô cửa chạy tọt vào trong bình chứa. Xong việc, các khe và ô cửa tự động đóng lại.

Ồ ! Điều bí mật là như thế đấy ! Đó là một trạm nạp Oxy. Người ta phải làm một công việc lao động nào đó và những chiếc máy sẽ tự động trả công cho anh bằng cách nạp Oxy vào máy hô hấp cho anh. Nhưng có thực là những viên khi nãy có chứa Oxy không?

Peter hồi hộp đổi mặt nạ. Lần này anh chuẩn bị kỹ càng từng động tác, từng tư thế để có thể lập tức đeo ngay trở lại chiếc máy hô hấp cũ của mình khi cần thiết. Nhưng không phải sử dụng tới biện pháp đề phòng này. Thành công rồi ! Chiếc máy mới hoạt động thật kỳ diệu. Không khí qua ống và mũi anh rất dễ chịu. Peter thử phân thích hỗn hợp khí. Chất khí từ các viên tròn dẹp đó sinh ra gồm có Nitơ và Oxy. Thành phàn hỗn hợp giống như không khí ở Trái Đất.

Anh tò mò muốn thử lại lần nữa, bước qua chiếc máy kế bên. Không biết có nên gọi là máy hay gọi là bàn điều khiển? Tùy ý. Ở đây cũng có một chiếc đèn tín hiệu sáng lên. Tiếp theo là lời chỉ dẫn. Nhưng ở đây chân phải đạp vào một chiếc bàn đạp đồng thời tay quay một chiếc vôlăng. Peter cũng làm việc ở đây một lát và khi anh đứng lên thì có một bàn tay bằng chất dẻo đưa ra. Đã biết, nên Peter đưa bình chứa Oxy. Lần này anh chỉ được nhận có một viên Oxy.

Bây giờ đã rõ. Trên hành tinh này, Oxy được dùng làm Tiền, là thước đo giá trị như ngày xua thường làm ở Trái Đất. Công lao động được tính đổi thành Oxy. Vậy là anh đã làm được một công viẹc lao động có ích nào đó và được trả công bốn Đơn vị Oxy.

Đột nhiên Peter cảm thấy bụng đói còn cào. Làm sao nhớ được phòng ăn hôm trước ở chỗ nào nhỉ. Anh quyết định, đầu tiên đi tìm phòng ăn. Kiếm một cái gì ăn và sau đó lại tiếp tục lên đường đi tìm một điểm cao. Nghĩa là một vị trí thích hợp cho cuộc thu phát vô tuyến. Nếu không thì cũng phải tìm được một phòng chỉ dẫn nào đó để có thể bắt liên lạc được với các sinh vật ở hành tinh kỳ lạ này …

Anh lại trở lại quảng trường và phải tự thừa nhận rằng anh không tài nào tìm được cái nhà ăn hôm trước. Lúc này, có vẻ sáng sủa hơn hôm trước. Anh nhìn được mọi vật rõ hơn. Nhưng khắp nơi cũng chỉ là những khối bêtông màu xám và những bức tượng phẳng lỳ.

Anh quyết đinh, cứ đi hú họa từ ngôi nhà này qua ngôi nhà khác cho đến khi tìm được chỗ ăn.

Ngôi nhà kế bên là một loại bệnh viên. Có những bệnh nhân đang được nằm trên cáng khiêng vào. Peter nhận xét thấy không có bệnh nhân nào bị thương, cũng không có người nào rên rỉ hay kêu la, cũng không có ai còn tỉnh táo cả. Họ như là chìm trong một giấc ngủ sâu, nằm bất động trên cáng. Các nhân viên cấp cứu cũng đeo mặt nạ trước mặt, thong thả đưa bệnh nhân vào cửa … Sau bệnh viện, Peter lại tới một ho và cuối cùng anh cũng thấy một ngôi nhà giống ngôi nhà đêm trước. Ở đó cũng có các phòng tắm, phòng nghỉ và một phòng ăn lớn rất rộng rãi. Cuối cùng anh đã tìm được nó.

Lần này, anh tự tin ngồi ngay vào một chiếc bàn. Theo bản thực đơn, anh gọi món Bánh bột tảo và Sốt nấm. Lúc này anh biết cách khéo léo đưa cuống muỗng vào miệng dưới chiếc khẩu trang và bắt đầu hút. Peter đói và háu ăn đến mức quên phứt đi việc phân tích thức ăn. Chung quanh những người đàn ông và đàn bà đeo mặt nạ cũng ngồi hút món ăn của họ. Họ ăn xong đứng dậy và lại có những nguồi khác tiếp tục tới ăn. Peter quyết định ăn xong ngồi nguyên tại chỗ dể đọc lướt qua cuốn sách giáo khoa một lát. Tại đây anh phát hiện ra ở bàn thứ ba có một thanh niên không ăn mà lấy muỗng quết quết món súp đặc lên một chiếc khăn bằng lên thành những nét nguệch ngoạc. Chàng thanh niên chăm chú làm việc. Chàng không hề chú ý đến ai và cũng chẳng ai quan tâm tới chàng.

Chỉ có mình Peter tò mò ngồi ngắm anh ta. Chàng thanh niên lấy cán muỗng quệt một vệt cháo đặc lên chiếc khăn và kiên nhẫn chờ cho đến khi cháo khô. Anh ta gấp chiếc khăn lên vệt dó, quệt một vệt khác và tiếp tục vẽ một ký hiệu gì đó. Phải … Nom cứ như chàng ta đang viết hoặc vẽ. Đột nhiên, Peter nhớ lại: Trong các kho hàng, không chỗ nào có giấy, bút, mực, màu, phấn … Tất cả văn phòng phẩm đều không có thứ nào hết. Các loại đồ gỗ, máy ảnh, hoa, đồng hồ đeo tay, máy thu thanh, thảm, rèm cửa, tranh anh, tuyệt nhiên chẳng có thứ nào ! Vậy chàng thanh niên này đang làm gì? Chiếc loa treo trên bàn anh lại lên tiếng:

- Anh còn dùng món gì nữa không?

- Cho một phần Kem phúc bồn tử - Anh nói nhanh vì còn muốn tiếp tục quan sát chàng thanh niên. Món kem đã hiện lên. Đúng lúc này, chàng thanh niên nhận thấy có người đang quan sát mình. Anh đột nhiên nhìn lên và giật minh, không dấu được sự hoảng hốt. Anh vộ gấp chiếc khăn lại, bỏ vào một chiếc túi nhỏ và bước vội ra ngoài, bỏ dở luôn phần thức ăn trên bàn.


6. TÌM HIỂU


Peter có cảm giác là anh phải tìm chàng thanh niên này. Một linh cảm kỳ lạ không thể giải thích được đã cho anh biết rằng chàng thanh niên này sẽ không xa lánh nếu anh gần gũi anh ta. Vì chàng ta không như mọi người, đi qua anh mà không hề quan tâm tới anh. Đến đây, dòng suy nghĩ của anh phải tạm dừng …

Anh cũng đứng vút dậy, bỏ lại món Kem phúc bồn tử đang ăn, đi lướt theo ra tiền sảnh, nhưng chàng thanh niên đã biến mất.

Vừa bực mình, vừa thất vọng, anh lại đi ra quảng trường. Trước bữa ăn, bên ngoài trời sáng hơn hôm trước nhiều, nhưng lúc này lại tối hơn. Peter có cảm giác như bầu không khí bị ô nhiễm nhiều hơn chứ không phải là nguồn ánh sáng – Mặt Trời? – lúc này yếu hơn. Do thiếu sáng, quảng trường nom lại càng xa lạ hơn một cách đáng sợ.

Peter thuộc kỹ lịch sử du hành vũ trụ của loài người. Anh dã được học về những hành tinh có người ở đầu tiên đã dính vào những cuộc tranh chấp như thế nào. Phải, đã có nhiều hành tinh, ở đó người ta đón các nhà du hành vũ trụ từ Trái Đất với tình cảm anh em. Đối với nhiều hành tinh trên Đường Ngân Hà, loài người vừa có những liên hệ thường kỳ về vô tuyến, và truyền hình còn có những chuyến bay vũ trụ theo đúng bảng Giờ tồn. Nhưng cũng có những trường hợp khác, trong đó các nhà thám hiểm dũng cảm phải chịu cực hình hoặc tử hình. Cũng đã xảy ra trường hợp họ sợ người Trái Đất, lấy xích xiềng lại và đưa vào sở thú. Trên những hành tinh khác thì nguồi ta cho những người từ Trái Đất tới là các vị thánh. Họ quỳ lạy và mang đồ vật đến tế lễ. Đã có những hành tinh mà ở đó ta có thể nói chuyện với người bản xứ qua máy phiên dịch liên hành tinh. Và cũng còn những hành tinh khác mà con tàu không thể hạ cánh được vì trước khi tới quá gần, các vũ khí phòng không của họ đã tiêu diệt rồi. Ai mà biết được, giống người nào ở trên hành tinh này? Họ có phải là một sắc tộc không thống nhất không? Hoặc ở đây có nhiều loại sinh vật khác nhau. Liệu July có bị họ cầm bắt chưa. Từ lúc ta rớt xuống đây nàng ra sao? Hay là nàng cũng đã bị bắt đày xuống đây hòa lẫn với đám người bình thản một cách kỳ lạ? Ai cũng đeo mặt nạ thở giống như nhau? Nhưng dãy máy ở chỗ mình vừa làm việc và phương thức cung cấp chứng tỏ rằng ở đây cũng có những sinh vật phát triển cao. Nhưng đây là chỗ nào? Và họ là ai?

Các ý nghĩ của anh ngày càng lẩn quẩn bế tắc. Anh đã hết đói nên liếc qua cuốn sách giáo khoa, tạm thời chưa tìm được người thanh niên chưa quen.

Anh ngồi vào một ghế đá trên quảng trường, gạt nút chiếc máy phiên dịch vào chỗ chữ tượng hình và hướng mắt điện tử lên xuống sách giáo khoa. Anh hồi hộp đọc:

Bạn đầu Chúa tạo ra bầu trời dưới đó là hành tinh Oxy. Chúa rất nhân từ và vì vậy Chúa đã tạo ra một thế giới to lớn và tuyệt đẹp. Chúa đã sắp đặt trong bầu trời gồm Mặt Trời với mười hai Mặt Trăng và ba mươi ba triệu Ngôi sao để chiếu sáng. Bầu trời trong xanh như một bức rèm. Trên mặt hành tinh mọc lên các loại cỏ mỡ màng, các loại cây cho những quả chín ngọt như mật. Khi đó, Chúa đã triệu tập Mặt trời và các mặt trăng lại hỏi:

- Trong thế giới tươi đẹp này còn thiếu gì?

Mặt trời dáp:

- Những người đàn ông.

Các Mặt trăng đáp:

- Những người đàn bà và trẻ em.

Chúa đã lấy đất sét nặn ra 1.000 người đàn ông, 1.000 người đàn bà và 10.000 trẻ em từ nhỏ đến lớn. Chúa đặt họ trên đám cỏ dứoi lùm cây. Nhưng các hình nhân bằng đất sét này không cử động được.

- Còn thiếu cái gì nữa nhỉ? Đấng sáng thế lẩm bẩm.

Mặt trời và các Ngôi sao lập lại:

- Còn thiếu gì nữa nhỉ?

Các mặt trăng nói:

- Hỡi Đấng sáng thế. Người hãy ra ơn ban cho họ khí Oxy từ hơi thở cao quý của người.

Khi đó Chúa đã lần lượt nhấc các hình nhân bằng đất sét lên và hà cho mỗi người một ít hơi thở từ đôi môi cao quý của người. Lập tức, đất sét hồng hào lên trở thành da thịt, chân tay bắt đầu cử động. Và tất cả bừng lên thành cuộc sống. Và như vậy, Chúa đã thể hiện tính toàn năng. Bức rèm lụa trong xanh của bầu trời bắt đầu chuyển động. Từ đó sinh ra gió. Gió đưa khí Oxy tới toàn hành tinh Oxy.

Chúa phán rằng:

- Đất này kể cả đồng cỏ và trái cây thuộc về các ngươi. Nhưng các ngươi không được có ý nghĩ dời nơi này đi nơi khác. Bởi vì ta cấm các người rời khỏi nơi mà ta đã an bài. Ai di chuyển nhiều thì cần nhiều Oxy hơn và như vậy là kẻ đó cướp của anh chị em mình một phần hơi thở thiêng liêng của ta. Phải nhớ rằng, khí Oxy là báu vật vĩ đại mà ta tặng cho các ngươi và qua nó ta đã ban cho các ngươi cuộc sống.

Và ta cũng cấm các ngươi không được Suy nghĩ. Bởi vì sự Suy nghĩ cũng tiêu hoa thêm Oxy. Các ngươi không cần có ý nghĩ nào khác các ý nghĩ mà ta đã truyền cho các ngươi.

Và ta cũng cấm các ngươi không được Đa ngôn bởi vì ngay cả những lời nói cũng làm giảm bớt kho báu chung của đồng loại mình.

Kẻ nào vi phạm những lệnh truyền của ta thì ta sẽ trừng trị tùy theo tội trạng.

Nhưng Đấng sáng thế đã hoài công cảnh cáo loài người. Vì ở đó có giống chim được sản sinh từ địa ngục. Với đoi cánh giang rộng, nó từ bên kia núi tới nói:

- Hãy nhìn ta. Ta tự đặt mình lên hơi thở thiêng liêng của Chúa và bơi trong đó như cá bơi trong nước. Ta có thể bay đi khắp nơi, bất kỳ nơi nào mà ta muốn. Các ngươi hãy tự làm lấy những đôi cánh và những chiếc buồm. Các ngươi hãy chiếm đoạt lấy Oxy. Nhờ đó các ngươi có thể đạt tới nơi Mặt trời, 12 Mặt trăng và 33 triệu Ngôi sao. Ở đó đẹp hơn hành tinh Oxy gấp trăm lần.

Nhưng những con người không biết rằng con Ác điểu không bay theo hơi thở của Chúa mà bay theo hơi thở của Quỷ dữ. Họ không biết rằng tất các các lời nói của nó đưa tới sự hủy diệt và sự phá hoại. Người Cha nhân từ của loài người đã hoài công nhắc nhở. Nhưng lần lần, tính tò mò, tính khao khát, tính hiếu động và tính đố kỵ đã len lỏi vào trái tim con người. Họ làm lấy những đôi cánh từ những tàu lá cọ, làm buồm từ những lá vả lớn. Họ muốn chiếm đoạt gió là chất khí Oxy đang chuyển động. Người này giành lấy không khí của người kia. Họ giành giật lẫn nhau và thở hổn hển. Ai cũng muốn bay cao hơn nữa. Cho tới khi họ tới gần Mặt trăng gần nhất thì Đấng sáng thế thu hút không khí lại. Gió dừng. Khí Oxy trở lại trong lòng Chúa. Những con người tham lam rơi xuống hàng loạt như những con búp bê bằng đất sét màu xám.

Tới đây, Chúa lại thuwong xót các loài sinh vật do mình tạo ra đã chết, phán:

- Các người đã mắc vào vòng tội lỗi. Nhưng ta không muốn xử phạt các người bằng tội đày ải vĩnh cửu. Tuy vậy, bắt đầu từ nay trở đi. Ta quyết định, mỗi người chỉ được nhận vừa đủ Oxy và không ai được vượt quá lượng đó. Bởi thừa Oxy đối với các người chỉ thêm tai hại.

Và thế là gió biến mất. Màu xanh của bầu trời cũng biến mất. Và kẻ nào không mang cái cuống nhau Chúa ban cho tức là cái chụp mũi để cấp sự sống cho các người, muốn thở khôn có nó thì mồm mũi và phổi của kẻ đó sẽ chứa đầy một thứ khí cay xè, hơi thở của quỷ dữ. Kẻ đó sẽ phải đau đớn mà chết.

Và chính do đó những tội lỗi của cha anh các người nên thần dân trên hành tinh Oxy chỉ được nhận liều Oxy hàng ngày của mình theo các quy phạm về sự lao động bình đẳng. Nhất là phải nhận qua cuống nhau của Chúa ban cho. Hàng năm có một ngày, cuống nhau được tháo ra vào dịp Đại lễ mùa xuân, khi Đấng ban ơn mở bức rèm trời cho phép những đôi mắt của thần dân được nhìn lên nơi Sáng lạn. Đó là nơi mà cuối cùng các thời đại. Sau khi Chúa cứu thế tới thì ta có thể tận hưởng muôn đời. Amen !!

Đọc đến đây, Peter vô cùng sửng sốt. Anh dở tiếp một đoạn khác. Sau phần giảng dạy về tín ngưỡng tiếp đến phần giảng dạy về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân:

“Tôi là một công dân trung thành của hành tinh Oxy. Oxy là tổ quốc của tôi Hành tinh Oxy lo lắng cho tôi. Tôi được nhận quần áo và giày, tôi được nhận mọi thứ vừa bằng mức tôi cần, tôi được nhận Oxy là nguồn sống. Muốn được nhận Oxy tôi phải làm việc. Lao động là tươi đẹp, nhẹ nhàng và dễ chịu. Khi tôi chăm chú thao tác đúng theo chỉ dẫn vận hành, khi tôi làm việc tốt thì tôi được nhận khí Oxy. Khi Oxy này là sở hữu của tôi và không ai láy đi của tôi. Tôi có quyền tích lũy khi Oxy nhiều tới mức mà trong bình chứa cho phép. Nếu tôi muốn tôi có thể tích lũy Oxy đủ để dùng cho ba ngày ba đêm.

Tôi dùng khí Oxy để làm gì?

Tôi cần khí Oxy để sống. Tôi hít thở khí Oxy.

Khi tôi ngủ hoặc khi tôi nằm yên không suy nghĩ thì tôi cần dùng sự tiêu hao khí Oxy ở mức thấp nhất. Các cử động đều gây ra sự tiêu hao đặc biệt về Oxy ! Vì vậy chúng ta hãy đi chậm một cách đĩnh đạc ! Trước khi chúng ta bước lên đường, chúng ta phải kiểm tra lại xem chúng ta có đủ Oxy hay không? Nếu không đủ, chúng ta tìm tới phòng làm việc gần nhất. Ở đó ta có thể tiép nhận thêm khí Oxy. Chúng ta phải chú ý sao cho cơ thể chúng ta khỏi bị giảm thân nhiệt do thiếu Oxy. Nếu không, chúng ta không thể tham dự vào Đại lễ mùa Xuân sắp tới.

Khi ăn chúng ta cũng cần tới Oxy. Trên bảng thực đơn, bên cạnh tên mỗi món ăn, các bạn sẽ thấy phải cần bao nhiêu Oxy để tieu hóa nó ! Bạn phải nhớ hãy tiết kiệm. Đừng có dùng quá nhiều Oxy cho một bữa ăn.

Hãy coi các buổi truyền hình vô tuyến. Coi nó không cần phải tiêu hao Oxy.

Trong sách giáo khoa còn có nhiều hình minh họa. Trong một hình, Peter nhận ra một phòng ngủ như chính anh đã từng đến. Những đứa trẻ nằm trên giường, chân tay duỗi thoải mái và đang quan sát các hình chiếu trên trần nhà. Nhưng ngay những hình ảnh này cũng xám ngắt và buồn tẻ. Khoảng giữa cuốn sách, trong chương Nơi chúng ta ở có một hình vẽ theo kiểu bản đồ địa hình làm Peter hết sức quan tâm:

“Hành tinh Oxy là tổ quốc của chúng ta.

Hành tinh Oxy là một đồng bằng hết sức rộng lớn dưới một bầu trời cao rộng. Trên có Mặt trời, 12 Mặt trăng và 33 triệu Ngôi sao. Hơi thở của ma quỷ ngăn trở chúng ta với bầu trời. Nhưng mỗi năm một lần vào Đại lễ mùa Xuân, bầu trời mở bức rèm và ta có thể nhìn thấy các Ngôi sao, Mặt trời và các Mặt trăng theo lệnh của Chúa đi quanh hành tinh Oxy. Khi ngày ban ơn tới thì chúng ta sẽ trông thấy hình ảnh lớn lao của Mặt trời và Mặt trăng. Chúng ta là dân của hành tinh Oxy. Thần dân của hành tinh này gồm có đàn ông, đàn bà và trẻ con. Trẻ con từ trên trời xuống vào dịp Đại lễ mùa Xuân. Chúng mang theo sự ban ơn.

Trên đồng bằng hành tinh Oxy được dựng lên các thành phố. Tất cả các thành phố đều giống nhau. Thần dân Oxy sống trong các thành phố. Tất cả thành phố có nhiệt độ bằng nhau, được cung cấp ánh sáng và thực phẩm bằng nhau. Mỗi thành phố có 12 quảng trường Mặt Trời, chung quanh mỗi quảng trường Mặt trời có 12 khố nhà Mặt Trăng. Trong mỗi khối nhà được chia thành những gian giống nhau. Khối 3 dùng làm nhà ngủ và nhà ăn. Khối 1 là trường học và trẻ con ở luôn đó. Khối 2 và khối 4 là các của hàng. Khối 5, 6, 7 là những cơ xưởng lao động đồng thời là trạm cung cấp Oxy, khối 8 là bệnh viện …

Peter Mac Gulliver ngao ngán nhìn vào cuốn sách giáo khoa. Không còn nghi ngờ gì nữa. Tất cả các thành phố đều là những cư xá được xây dựng theo một sơ đồ thống nhất. Giữa thành phố là những quảng trường giống hệt nhau, xung quanh đó là những khối hình hộp không có cửa sổ, màu xám xịt giống hệt nhau. Và không hề có một đài hay tháp nào, không có thang gác, không có sân thương, không có gì hết.

Peter thầm nghĩ, không biết mình rơi vào đâu? “Các thần dân hành tinh Oxy sống trong các thành phố … Tất cả các thành phố đều giống nhau … Có nhiệt độ như nhau … Được cung cấp thực phẩm như nhau …” Anh cảm thấy mình rơi vào một cái bẫy chuột khổng lồ. Hơn thế nữa, mình như đang ở một trại chăn nuôi kiểu cổ như trước đây hàng thế kỷ trên Trái Đất đã có. Ở thời đại mà người ta chưa có khả năng, bằng con đường quang hợp điều chế trực tiếp đạm từ các loại cây cỏ … Xưa kia, khi người ta chăn nuôi và vỗ béo gia súc trong những cái gọi là chuồng, thì các cơ sở kinh tế hoặc trang trại khổng lồ rất giống cái đó. Khi thấy ình ảnh xám xịt nặng nề này, thấy các sinh vật đeo những ống hô hấp như vòi chậm chạp lê đi thì ta không thể chịu đựng nổi nữa.

Peter bở cuốn sách giáo khoa vào chiếc túi khoác và tuyệt vọng nhìn chung quanh. Bất ngời, anh lại nhận thấy chàng thanh niên có ôm một bọc giống cái túi đang bước vào một trong những cơ xưởng làm việc, trạm cung cấp Oxy.


7.TRONG CON TÀU VŨ TRỤ


Theo cách tính thời gian của Trái Đất, một vài tuần đã trôi qua mà con tàu Nhân loại vẫn bay xung quanh hành tinh Oxy. Trạm vũ trụ Fortuna 710 đã lên tiếng không biết bao nhiêu lần.

- Đây, trạm không gian vũ trụ Fortuna 710 … Đây, Fortuna 710 … Nhân loại ! Chúng tôi yêu cầu bạn lập tức hạ cánh xuống trạm chúng tôi. Để điều chỉnh quỹ đạo bạn hãy khỏi động …

- Không … không, tôi không thể chấp nhận được.

- Nhân loại ! Bạn hãy rời ngay vùng nguy hiểm.

- Tôi không dám tự cho phép. Còn Peter …

- Bay vòng quanh hành tinh màu Tím đỏ ấy thật không có tác dụng và tốn công vô ích.

Peter có thể cần sự có mặt của tôi … Peter chắc bị rơi xuống đó … Tôi cảm thấy rằng anh ấy đang bị nguy hiểm … Tôi không thể phó mặc Peter cho số phận được.

- Bạn hãy suy nghĩ kỹ đi. Chính bạn cũng đã thấy anh ấy hi sinh trong một tai nạn.

- Peter có thể cũng còn sống. Tôi phải chờ anh ấy.

- Chờ bao lâu nữa?

Chờ tới khi nào cần phải chờ. Có thể chờ mãi mãi – July trả lời và nấc lên.

Fortuna 710 luôn luôn nói chuyện qua làn sóng, nhắc nhở, truyền đạt những hướng dẫn, tìm cách giải thích:

- Con tàu vũ trụ nhất thiết phải rời khỏi quỹ đạo vòng quanh hành tinh khủng khiếp với lớp khi bọc màu Tím – Đỏ của nó. Cho tới nay chưa từng có một phương tiện thăm dò nào lọt vào được để nghiên cứu hành tinh này. Bầu khí quyển trên hành tinh có thành phần chủ yếu là khí carbonic. Có nhiều dấu hiệu cho thấy trên đó có thể có cuộc sống hữu cơ. Nhưng chúng ta chưa hề nhận được tín hiệu trả lời trên làn sóng. Từ trước tới nay tất cả những con tàu vũ trụ đến gần nó đều bị mất tích. Chắc chắn Peter cũng bị mất tích ở đây.

- Không, tôi không thể phó mặc Peter cho số phận.

Nhân loại hãy lập tức khởi động tên lửa chính để rời ngay vùng nguy hiểm ! Chúng tôi cho một phi đội Tàu vũ trụ - Cấp cứu lên đường. Còn Nhân loại chỉ là loại tàu thể thao cỡ nhỏ. Về mặt kỹ thuật nó không đủ khả năng để giúp đỡ Peter ngay cả trường hợp có cơ hội ở trong tầm tay. Như vậy bạn chỉ tự đưa mình vào trong vòng nguy hiểm. Và bạn cứ bay một mình không có tác dụng gì hơn là sẽ làm bạn mất trí trong cái khoảng không vũ trụ vô tận này.

- Dẫu sao thì tôi vẫn cứ ở lại – July vừa đáp vừa khóc. Chính cô ta cũng cảm thấy rằng, đáng lẽ cô phải bay trở về Trái Đất. Bởi cứ ở mãi trong buồng lái của con tàu chật hẹp này, trước băng đồng hồ sáng loáng với những tín hiệu gọi trên điện đài tin khó có thể chịu đựng nổi … Và mỗi lần nhận tín hiệu, cô đều chỉ bắt được liên lạc với trạm Fortuna còn chưa lần nào liên lạc được với Peter. Đáng sợ nhất là bóng tối trong khoảng không vũ trụ. Bóng tối mờ ảo, không thời hạn, dai dẳng vô cùng, làm thần kinh con người bị thương tổn dẫn đến không tài nào chịu đựng nổi..

Ý nghĩ là có lẽ cô sẽ phải bay theo quỹ đạo vòng tròn này mãi mãi mà không thể hành động gì được với tâm trạng luôn luôn thấp thỏm lo sợ cũng làm July hết sức nao núng. Không biết Peter đã gặp phải hiện tượng nào? Lúc này anh đang ở đâu? Có lẽ điện đài của anh bị hư. Có lẽ anh đang cần cứu cấp? Có lẽ … có lẽ … và có lẽ … Nhưng có một điều chắc chắn là cô sẽ tiếp tục bay lượn như thế cho đến khi xác minh được điều gì cụ thể. Cũng có thể là chính cô sẽ biến thành một ngôi sao hay một mặt trăng. July chợt nhớ tới cha mẹ anh em, bạn bè trên Trái Đất. Nơi có ánh sáng mặt trời rực rõ, biển, cây cỏ, công việc làm … và rồi lại Peter. Luôn luôn nhớ tới Peter. Và cô tán thành là đã không bỏ mặc anh để một mình quay về trái đất.


8. ON 711 314


Chàng thanh niên mang số hiệu ON 711 314 vừa bước qua ngưỡng cửa cơ xưởng lao động gần nhất. Anh đặt gói tài liệu đặc biệt của anh bên mình, trên sàn nhà trước khi chăm chú nghiên cứu chỉ dẫn vận hành máy. Quay tròn nút giữa bốn vòng rồi ấn cánh tay đòn bên trái xuống tới hết cỡ cho đến khi một tín hiệu nổi lên thì cũng làm như thế với cánh tay đòn bên phải. Và rồi lại quay nút giữa … Như vây, đây là một loại công việc với ba thao tác. Vậy là hơi rắc rôi hơn các việc khác một tý và hy vọng cũng được trả công bằng nhiều Oxy hơn. Anh ta bắt tay vào việc.

Anh ta ấn tay lên nút. Nhưng sai rồi ! Đáng lẽ phải quay mới đúng. Nếu làm sai hai thao tác, anh sẽ không được nhận Oxy. Bây giờ anh quay nút giữa 1 … 2 …. 3 … 4 nào tiếp đến cánh tay đòn bên trái … Không biết con người kỳ lạ mình gặp trong nhà ăn lúc nãy là ai nhỉ. Anh ta đã quan sát mình rất kỹ … Tín hiệu nổi lên rồi. Bây giờ đến cánh tay đòn bên phải. Bây giờ không được làm sai thao tác nào nữa. Và cũng không được phép suy nghĩ nát óc về việc nào nữa. Bởi vì mỗi một ý nghĩ đều tiêu hao khí Oxy. Chiếc kim ở bình Oxy của anh đã chỉ mức vơi quá nửa. Bây giờ ta phải cố làm đủ dùng cho một năm. Úi chà ! Xuýt nữa thì lại tao tác sai lần nữa … Nếu như mình có đủ Oxy dự trữ cho một năm thì … Những điều này ta chỉ có thể mơ thấy mà thôi. May ra khi ON nhỏ lớn lên thì có thể … Bây giờ lại tới cánh tay đòn trái. Thôi, mình không được suy nghĩ nữa. Mức Oxy sụt xuống trông thấy rồi … Không biết người kia là ai nhỉ? Chiếc mặt nạ hô hấp của anh ta cũng không giống ai ở đây. Làm sao mình có thể thoát người đó được? Ví dụ ta có thể qua thành phố bên cạnh. Nhưng đi đường ít nhất phải tốn ba chục Đơn vị Oxy. Và chạy làm gì? … Lại đến lượt cánh tay đòn phải. Chú ý này, quay nút 1, 2, 3, 4 vòng … rồi lại đến lượt cánh tay đòn trái.

Cuối cùng máy chỉ cấp cho anh hai viên Oxy. Tính toán rất đơn giản, anh cũng cần tới ba viên cho buổi ăn trưa. Chàng thanh niên dành ngồi trở lại máy và làm việc gần bốn tiếng đồng hồ cho đến khi thu thập được lượng Oxy cần thiết.

Bây giờ anh mới bước sang khối nhà ăn. Anh đặt nửa xuất Kem với vị phúc bồn tử. Chính lúc này, người lạ mặt đã tới bàn anh.


9. ON MUỐN NGỦ


Peter Mac Gulliver ngạc nhiên không hiểu, nhìn chàng thanh niên:

- Làm thế nào mà anh không có nhà riêng? Vậy thì anh ở đâu?

Chàng thanh niên không trả lời. Anh nghĩ: Từ nãy đến giờ mình đã xử sự ngốc nghếch không thể tưởng tượng được. Đáng lý mình phải làm như tất cả mọi người. Mình phải đi thẳng như không hề trông thấy người lạ mặt, không hề nghe thấy tiếng nói của anh ta, không hề hiểu lời hỏi của anh ta. Bây giờ thì đằng nào cũng vậy thôi. Nếu hắn là kẻ thù, nếu họ gửi hắn từ Trên đó xuống thì hắn đã thắng được mình … Nhưng nếu anh ta nói thật? Nếu anh ta là một du khách vũ trụ bị tai nạn rớt xuống đây thì sao? Nếu vậy mình có thể cứu được anh ta … Trong điều kiện nào đó, anh ta cũng có thể có ích cho mình … Phải, như vậy anh ta có khả năng giúp đỡ mình.

Nghĩ tới đây, chàng thanh niên ON bị kích động tới mức tim chàng lại bắt đầu đập mạnh. Chàng cảm thấy rằng lượng Oxy của chàng giảm đi thấy rõ.

- Thưa ông, trên hành tinh Oxy không một ai có nhà ở riêng cho mình. Chúng tôi không ở. Chúng tôi chỉ sống thôi. Nói chính xác hơn, mỗi người có thể dừng lại nghỉ đêm ở chỗ mình muốn, ở chỗ mình tìm thấy một cái giường gần nhất, một cái chậu và một cái bàn. Người đó có thể ăn uống, nhận quần áo và xem truyền hình.

- Thế còn gia đình anh? Các bạn anh? – Peter kiên nhẫn hỏi tiếp.

- Thưa ngài, câu chuyện này làm tôi bị mệt, tôi đang phải dùng tới liều Oxy dự trữ.

- Thưa ông, khí Oxy thì tôi có thể tặng cho ông bao nhiêu cũng được.

- Ông lấy khí Oxy ở đâu ra?

- Tôi sản xuất nó. Với chiếc máy nhỏ này, bất kỳ một nguyên tố nào cũng có thể biến thành Oxy được. Với nó, người ta có thẻ tạo ra hoặc phá hủy một nguyên tử, làm thay đổi số điện tử …

ON cố gắng để không tỏ ra quá ngạc nhiên, vẻ mặt anh ta trở nên nhẹ nhõm cởi mở hơn.

- Thưa ông … bây giờ tôi không thể tiếp tục suy nghĩ nữa. Xin ông đừng tiếp tục đưa những thông tin như vậy cho tôi nữa …

- Anh muốn lấy Oxy ở dạng nào? Ở dạng rắn? Hay ở dạng lỏng?

ON quơ tay vào túi mình và rút ra một chiếc máy hô hấp còn mới nói:

- Đây là chiếc mặt nạ dự phòng của tôi. Ông có thể nạp đầy Oxy?

Peter Mac Gulliver mở chiếc bình chứa Oxy mới nhận được ở hành tinh và lấy một viên Oxy vừa được trả công khi lao động. Đặt vào chiếc máy MOE, chiếc máy sản xuất Oxy loại loại bỏ túi luôn luôn đeo trước ngực anh. Anh bấm nút, lập tức chiếc máy sản xuất theo chương trình những viên giống hệt như viên mẫu và nạp đầy đến tận cổ bình chứa của chàng ON.

ON run bắn người lên vì cảm động. Anh rơm rớm nước mắt:

- Tôi không biết làm thế nào để tạ ơn ông – Thưa ông … Quí …

- Tôi tên là Peter. Và bây giờ anh làm ơn giải thích cho tôi một việc.

- Với tất cả những gì bạn muốn. Nhưng đầu tiên, tôi có một lời thỉnh cầu duy nhất. Một thôi, anh cho phép để tôi ngủ một vài tiếng đã. Không biết đã từ bao lâu nay tôi chưa bao giờ được ngủ với đầy đủ liều Oxy.

- Tại sao anh không làm được điều đó? Từ khi nào và do đâu?

- Ban đêm chúng tôi phải tiết giảm lượng Oxy đưa vào thở. Chúng tôi chỉ được phép ngủ với nửa liều lượng. Phần Oxy thiếu chúng tôi phải thay thế bằng những viên ngủ đông.

- Thế còn khi anh có đủ Oxy?

- Chúng tôi không khi nào có thể có đủ Oxy. Ngay dù chúng tôi có làm việc cật lực suốt ngày đi nữa. Chúng tôi cũng không nhận được nhiều hơn lượng Oxy cần dùng trong một ngày. Khi lao động nhiều hơn, ta cần nhiều năng lượng hơn và mức tiêu hao cũng lớn hơn. Như vậy, ta cần nhiều thức ăn hơn và sự tiêu hóa lại tăng mức tiêu hao Oxy. Nếu ta làm việc ít hơn thì ta được ít Oxy hơn để dùng cho bữa ăn. Thực tế đã dạy cho mỗi người một mức thu nhận và tiêu hao Oxy tối ưu. Khoảng 10 giờ để ngủ là tỷ lệ thích hợp. Như vậy đôi khi ta còn được khoảng nửa tiếng đồng hồ để ngồi ngỉ trên một quảng trường và loay hoay với trò chơi nho nhỏ luyện trí kiên nhẫn. Chất Oxy loãng hỗn hợp với viên ngủ đông đảm bảo sự nghỉ ngơi hoàn toàn. Trí nhớ được ngắt mạch và ngủ không có mông mị gì hết. Kẻ nào nghĩ ra điều này thật láu lỉnh một cách ma quái … Nếu tôi được ngủ đẫy giấc thì … Nhưng bây giờ, anh làm ơn cho tôi đi ngủ đã.

Nghe tới đây, Peter cảm thấy lo láng tới mức anh có thể nắm lấy ON lắc mạnh cho tỉnh ngủ và yêu cầu anh ta lập tức kể lại và giải thích cặn kẽ mọi chuyện. Trong đầu anh dồn dập biết bao cảm nghĩ khó chịu mà xua nay chưa hề có. Trước đây ở trường, trong giờ tâm lý học, anh đã được nghe rằng có thời gian trước đây hàng ngàn năm loài người không làm chủ được những cảm xúc của mình, rằng những cảm xúc khó chịu làm huyết áp tăng lên và hoóc-môn lọt vào máu gây sự bồn chồn lo lắng bất ổn và sự giận dữ. Nhưng khi học, tất cả chỉ là lý thuyết, anh chưa có thể hình dung cụ thể những tình cảm đó như thế nào. Tới bây giờ Peter mới thực sự cảm thấy rằng từ lúc bị rớt xuống đây, những tình cảm xấu đó đang lớn dần lên và dồn ứ trong người anh. Anh nhìn lại ON thì thấy chàng thanh niên đờ đẫn cả người vì kiệt sức ON nói:

- Chúng ta đi ngủ đi anh. Sau sẽ bàn tiếp.

Peter không còn cách nào khác là cùng đi với chàng thanh niên đến phòng ngủ gần nhất.


10. BÍ MẬT CỦA HÀNH TINH KỲ LẠ


Khi Peter thức giấc, anh thấy ON đã tỉnh táo. Lúc này chàng thanh niên khác hẳn trước lúc ngủ. Anh ta linh hoạt hơn, nhanh hơn trong các cử động, hầu như vui vẻ. ON cùng Peter đi vào phòng ăn. Theo lời khuyên của ON, Peter chỉ gọi một món lỏng giống như sữa và không ăn thức ăn gì khác. ON nói:

- Nếu không, anh sẽ cảm thấy bị ru ngủ dần dần. Trong tất cả các món ăn khác đều có nhỏ thuốc.

- Thuốc gì thế? – Peter hỏi.

- Rồi anh sẽ hiểu tất cả.

Khi học đã ăn xong, ON nói tiếp:

- Bây giờ tôi có thể hoàn toàn và đầy đủ sức khỏe để chiều theo ý anh.

- Tôi cần được sự giúp đỡ, tôi muốn biết con tàu vũ trụ và vợ tôi ở trên đó ra sao?

- Đièu này không có khả năng thực hiện được - ON trả lời.

Peter cho rằng chiếc máy phiên dịch của anh dịch sai. Do đó anh tìm cách diễn tả ý mình rõ ràng hơn:

- Tôi muốn nói chuyện với một người nào đó có thể nắm trong tay mạng lưới giao thông của thành phố … chẳng hạn ông giám đốc Sở cấp cứu hoặc là nhà chức trách về an ninh.

- Ở đây không có những loại người đó.

- Vậy thì các cơ quan cấp thành phố ở đâu?

- Ở đây không có công sở.

- Tôi nói thế nào được nhỉ, tôi muốn tới một vị trí nào mà ở đó tôi muốn bắt liên lạc vô tuyến với một trạm trên Trái Đất hoặc con tàu vũ trụ.

- Tôi chịu, không biết liên lạc vô tuyến bằng cách nào?

- Là chuyển một thông tin bằng sống điện tử.

- Tôi cũng hiểu như vậy. Anh ạ, từ hành tinh Oxy không ai chuyền được tín hiệu vô tuyến đi đâu cả.

- Ở đâu mà chả có sóng vô tuyến. Ở Đường Ngân Hà cũng vậy. Khả năng cao nhất là ở đây sóng vô tuyến bị cái gì chặn lại. Anh hiểu chứ?

- Tôi hiểu rõ – ON đáp – Nhưng trong và ngoài thành phố, không ai có thể chuyển được tín hiệu vô tuyến đi đâu cả. Ít nhất theo chỗ tôi biết là như vậy. Riêng chúng tôi không thể phát được tín hiệu vô tuyến và cũng chưa nghe thấy có ai làm được điều đó.

- Làm thế nào để rời được thành phố này.

- Các thành phố chung quanh đều giống hệt thành phố này.

- Và giữa các thành phố là cái gì?

- Có khoảng tối đen.

- Anh có đưa tôi tới đó được không?

- Tại sao bạn lại muốn tới khoảng tối đen?

- Tôi nghĩ may ra từ đó tôi có thể phát tín hiệu được.

- Tôi không chắc là được đâu !

- Tuy vậy tôi cũng muốn anh làm ơn đưa tôi tới đó.

- Tôi sẽ cố gắng tuy rằng ra ngoài thành phố thật khó.

Sau này Peter nhớ lại con đường ra khoảng tối như một cơn ác mộng. Họ phải đi, đi và đi mãi lặng thinh dọc theo ven những khối lớn đồ sộ bằng bê tông. Chung quanh họ toàn những sinh vật giống người nhưng bước chân chậm chạp với chiếc máy hô hấp có vòi dài. Trong thế giới kỳ lạ này hầu như không có một tiếng động nào. Bên trong các khối nhà chắc chắn đây đó có chiếu truyền hình nhưng không một âm thanh nào lọt ra ngoài. Các khối nhà xám xịt, bầu trời xám xịt. Chân trời lẩn mất trong sương mù và rồi lại những khối nhà xám xịt như vậy. Peter cảm thấy muốn ói.

- Trong thành phố này có những phương tiện giao thông gì?

- Hầu như không có phương tiện giao thông – ON đáp.

Peter có cảm giác rằng nếu đường đi còn kéo dài anh sẽ co ngưiời lại nằm ngay trên mặt đường nằm ngủ một giấc bất kể mọi thứ.

May thay, lúc đó họ đã tới ngay khúc nhà cuối cùng. Đi hết hình khố bằng bê tông đó họ đứng trước cõi hư vô, một khoảng tối vô tận và trống không. Nền bê tông được thay bằng một loại đất nào đó. Không khí ở đây lại còn đặc sệt và bẩn hơn nữa. Peter phải bấm chiếc đèn Pin nguyên tử cầm tay mới có thể đi tiếp.

- Tại sao ở đây lại tối một cách khác thường như vậy? Trong kia đang là buổi sáng mà?

- Chúng tôi không biết khi nào là buổi sáng, khi nào là buổi tối. Cuốn sách giáo khoa của chúng tôi không dạy như thế. Nhưng tôi biết rằng hành tinh Oxy quay xung quanh mặt trời và nó cũng tự chuyển động xung quanh trục của nó. Như vậy ở hành tinh Oxy cũng có sáng và tối, cũng có các mùa trong năm. Chúng tôi cũng đã có được bầu khí quyển có chứa Oxy và cũng có những trận mưa. Nhưng từ khi chúng tôi sống dưới sự chiếu sáng nhân tạo thì ánh sáng mặt trời không thể xuyên qua lớp khí được. Tuy thế vì nhịp độ sinh học rất cần thiết cho các sinh vật nếu người ta dùng sự tăng hoặc giảm ánh sáng nhân tạo để thể hiện thời gian đi ngủ và thức dậy.

Các tên gọi còn được giữ lại. Thời gian ngủ chúng tôi gọi là đêm và thời gian thức là ngày. Ngày và đêm đều được chia ra làm 10 giờ.

- Vậy thì ai hướng dẫn sự phân chia thời gian đó? Peter hỏi:

- Trung tâm.

- Trung tâm đó ở đâu?

- Tôi không biết điều này.

- Làm thế nào có thể bắt liên lạc với Trung tâm này?

- Nói chung là không được. May lắm, tới ngày Đại Lễ Mùa Xuân bạn có thể tìm cách.

- Bao giờ tới ngày lễ đó?

- Tôi không biết được chính xác. Nhưng cho tới ngày đó chúng ta còn phải đi ngủ và trở dậy vài lần nữa.

- Tôi hy vọng rằng, tới ngày đó thì tôi đã rời khỏi đây lâu rồi.

- Anh hy vọng hão huyền – ON nói một cách buồn bã – Anh không thể thoát ra khỏi hành tinh Oxy được.

Peter hốt hoảng kêu lên:

- Thật quá vô lý !

- Tôi hy vọng rằng có thể tôi nhầm.

Ở đây hết khu vực được chiếu sáng nhân tạo. Phía ngoài tối đen hệt như trong khoảng không vũ trụ, như trong ác vùng giữa các vì sao. Nhưng sự tối tăm này gây nên cảm giác sợ hãi như một cảnh chết trên mặt trăng. Ở Trái Đất, ngoài Thái Bình Dương có những hòn đảo vùng núi lửa hoạt động. Có những miệng núi lửa màu xám tro rộng hoắc. Có những gốc cây cháy dở. Và có những tồn tích than hóa của các làng đã hủy hoại một cách tàn bạo. Đôi khi họ có cảm giác là họ đang ở trên những con đường lộ cổ xưa. Dọc đường họ có thể gặp súc vật, người và xe cộ. Khi họ vượt qua những khố bê tông để ra khỏi thành phố, Peter có cảm giác bị đè nén. Một cảm giác kỳ lạ rất khó tả. Thật vậy, cái khoảng đất không người giữa các thành phố xám này, cái phong cảnh buồn thảm nhắc đến ngày tận thế này thật đáng sợ hơn tất cả.

Peter không có khả năng, cảm nhận về thời gian nữa. Khi tới rìa thành phố, ON đã nạp đầy bình chứa Oxy nhưng đi được một quãng, họ đã phải đánh vật với hơi thở. Như vậy có lẽ họ đã đi được khá lâu và đã qua được một đoạn đường khá dài. Bây giờ, ngọn đèn pin nhỏ của Peter chiếu lên một khối đồng nhất nhấp nhô kỳ lạ. ON ra hiệu là họ phải dừng lại.

- Cái gì đấy anh? – Peter hỏi

- Đây là Đại Dương – ON trả lời.

Họ đã tới bờ biển. Peter xoay chuyển chiếc đèn. Gióng tia sáng mạnh của chiếc đèn nguyên tử chỉ giống như một sợi chỉ mảnh bị khoảng đen nhấp nhô kia nuốt chửng. Hiện tượng này nhắc Peter nhớ một phần đến biển. Nhưng anh thấy nó còn giống những hồ phun thạch của núi lửa hơn nhiều. Biển này không có màu và cũng không có những lớp sóng đuổi theo nhau với những ngọn sóng bạc đầu. Nó không vỗ vào núi đá, cũng không phản quang dưới ánh sáng. Nó cũng không tạo thành bụi nước bắn lên trên đầu sóng. Biển này chuyển động nặng nề khủng khiếp như một con vật thời tiền sử. Hoặc như một vùng sình lầy rộng lớn đang thức giấc và muốn nuốt chửng tất cả.

- Chớ có tới gần anh ơi ! – ON nhắc nhở - Nguy hiểm đấy !

- Đây là loại biển thế nào?

- Trên biển này, ngày xưa nhiều tàu bè qua lại – ON giải thích với một nỗi lòng luyến tiếc đau thương vô hạn – Biển này ngày xưa màu xanh biển, phản chiếu bầu trời xán lạn. Tàu thuyền nhộn nhịp, những người dân chài hạnh phúc tấp nập … Tôi không biết rõ đó là vào lúc nào. Có lẽ từ khi có hành tinh này. Không còn thời gian. Hồi đó có nhiều loại cá, cua, sò, sứa … sống dưới biển này. Cả những cá như cá bay và các loại cá ăn thịt đáng sợ. Hồi đó biển tràn đầy sự sống và bờ biển có nhiều thành phố không giống những thành phố hiện nay chút nào. Ở các thành phố đó rất nhiều ngôi nhà đủ loại tươi tắn, mộc mạc và được trang hoàng lộng lẫy, có nhà có tháp cao, lại có cái lợp mái bằng. Đôi khi tôi cảm thấy như tự mắt tôi đã trông thấy những thành phố đó mặc dù tôi chỉ mới được đọc. Từ khi sự việc đã xảy ra với tôi, tôi mất cảm giác về thời gain.

- Sự việc gì đã xảy ra đối với anh?

Thay vì một câu trả lời rõ ràng thì ON trả lời lúng búng.

- Tôi từ Thành phố những người có trí nhớ tới đây.

- Từ chỗ chúng ta xuát phát sáng nay phải không?

- Không phải. Sáng nay chúng ta từ Thành phố của những người mang vòi hoặc bọn họ gọi là Thành phố của những người phục vụ. Còn Thành phố của những người có trí nhớ mà tôi đã ở thì khác xa những chỗ này.

Peter hỏi tiếp:

- Nhưng anh đã chẳng nói rằng tất cả những thành phố đều giống nhau à?

- Chỉ ở dưới này thôi.

Peter bực mình lắc đầu:

- Những điều anh nói với tôi thật là mâu thuẫn. Tôi không thể nào hiểu rõ được.

- Tôi rất muốn diễn tả cho dễ hiểu hơn. Tôi rất tiếc là anh chưa hiểu được hoàn toàn những điều tôi nói. Chính vì vậy tôi đã xin anh khí Oxy và tôi đã muốn ngủ một giấc để khí Oxy tràn qua bộ não tôi một chút và trí nhớ của tôi được phục hồi.

- Xin lỗi anh, tôi không muốn làm anh phải mệt mỏi…

- Anh đừng ngại. Tôi nghĩ rằng lúc này anh chưa thể hiểu rõ ngọn ngành được. Thành phố của những người có trí nhớ cách đây rất xa. Không phải là tôi tự nguyện từ đó tới đây đâu. Trong thành phố đó những người dân có trí nhớ: bác học, bác sĩ, kỹ sư, những người thiết kế và những người nghiên cứu … sống ở đó. Thành phố tươi đẹp nhờ màu sắc đa dạng của các ngôi nhà. Ở đó có tất cả những con người mà tôi yêu mến. Con trai tôi, vợ tôi, các bạn tôi và ngôi nhà nhỏ của tôi.

- Vậy tại sao anh lại phải dời khỏi chỗ đó?

- Tôi bị trừng phạt và bị đày xuống với những Người mang vòi.

Peter nhìn ON ngỡ ngàng. Đã từ lâu trên Trái Đất người ta không biết đến tội phạm hình sự cũng như luật vi cảnh nữa. Những kẻ xấu xa chỉ là những nhân vật trong những truyện cổ tích hoặc trong các sách lịch sử hay văn học.

- Nhưng vì sao kia chứ? Anh đã phạm phải điều gì vậy?

- Tôi đã đọc và suy nghĩ – ON trả lời rành rọt.

- Và chỉ có vậy thôi à???

- Phải, chỉ có vậy thôi.

- Như vậy, ai đã có quyền lực trừng phạt anh? Một tòa án à? Hay là một ông chủ đang trị vì? Một ông Vua hay Tổng thống?

- Đó là Trung tâm.

- À, như vậy, Trung tâm đóng tại Thành phố của những người có trí nhớ.

- Không, nó không ở tại đó – ON đáp.

- Vậy thì Trung tâm ở đâu?

- Tôi không biết.

- Nhưng mà khi họ thông báo cho anh bản án …

- Họ có cần thông báo cho tôi đâu.

- Vậy từ đâu anh biết rằng anh phải rớt khỏi thành phố đó?

- Họ đã quẳng tôi xuống đây.

- Thế sao anh không tự vệ? Anh không nêu lên lời khiếu nại hay sao?

- Khiếu nại ở đâu?

- Khiếu nại với Trung tâm. Thế ai đã quẳng anh xuống đây?

- Các máy móc. Với các máy móc mình không thể cãi được anh ạ. Nó chỉ truyền đạt mệnh lệnh và chỉ thị cho mỗi người. Ngay cả ORO cũng chưa lần nào được nói chuyện với Trung tâm.

- Thế ORO nào đó là ai?

- Là bạn thân nhất của tôi. Một người hết sức tuyệt vời, thông minh, sẵn sàng hy sinh.

- Bây giờ ORO ở đâu?

- Khi họ ném tôi xuống đây thì anh ấy vẫn ở trong Thành phố của những người có trí nhớ. Tôi nghĩ rằng … Tôi hy vọng rằng lúc này anh ấy vẫn còn ở đấy.

- Và ta làm cách nào để tới được Thành phố của những người có trí nhớ? – Peter trầm ngâm hỏi: - Nếu anh trở lại thành phố đó thì các máy móc nó có bắt giữ anh lại không? Liệu chúng có thể phát hiện ra anh được không? Và anh có muốn trở lại không?

Câu hỏi đột ngột làm ON lúng túng chưa biết trả lời ra sao. ON nghĩ, không biết có phải trạm kiểm soát gửi người lạ mặt này để theo dõi mình không? Có phải từ nãy tới giờ mình bị người đó điều khiển. Chính điều Peter vừa mới hỏi là bí mật thầm kín nhất của ta; là nỗi nhớ nhưng khắc khoải nhất của ta, là tất cả những gì ta đã chuẩn bị từng giờ từng phút từ lúc bị đày xuống đây.

Lúc này ON lại bị một cơn hoảng hốt như trong nhà ăn, lúc Peter nói chuyện với anh lần đầu.

Cả hai người im lặng một lúc lâu, ON tự trấn tĩnh lại dần dần. Vô lý. Tại sao Trung tâm lài phải cần có một người như Peter để kiểm soát ta? Hay đây chính là định mệnh tốt đẹp, một điều kỳ diệu đã đưa Peter đến chỗ ta. Nếu chỉ có một mình, có lẽ với mức tiết kiệm mỗi lần nửa viên Oxy ta phải cần tới 1000 năm mới đủ sức để trở lại thành phố. Nhưng giờ đây, khi Peter cấp đủ Oxy cho ta một cách thoải mái. Khi hai người cùng đồng tâm hiệp lực … Peter lại hỏi:

- Ta làm thế nào để gặp gỡ những người có trí nhớ?

- Nói chung thì bây giờ không thể được. Nhưng có lẽ đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Trước đó thì không được đâu !

- Tại sao lại không sớm hơn được?

- Tới Đại Lễ Mùa Xuân thì mới có con đường mở ra cho chúng ta. Nhưng chúng ta không được bước lên nó. Rồi anh sẽ hiểu rõ điều này. Nhưng bên cạnh con đường có kiểm soát đó, có lối vào con đường mòn cũ. Từ khi người ta ném tôi xuống đây và đã tuyên án tôi phải bị xóa trí nhớ thì tôi đã bắt đầu vẽ con đường này. Tôi đã được xem nó trên bản đồ. Tôi sẽ không quên nó đâu. Cho tới nay tôi đã vẽ xong bản nháp. Nó đang nằm trong túi tôi đây. Bằng bất kỳ giá nào tôi cũng phải trở về trên đó. Vì như anh đã biết, con trai tôi và vợ tôi đang sống ở đó. Tuy vậy tôi không biết chỗ rẽ vào con đường mòn. Nhưng đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân sẽ có đoàn người đi hành hương. Nhân dịp này chúng ta sẽ tìm ra được nơi xuất phát của con đường mòn đó. Khi chúng ta biết chỗ ta sẽ rẽ và tìm ra con đường. Anh có mốn cùng đi với tôi không?

- Tôi hy vọng rằng đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân thì tôi đã trở về con tàu vũ trụ của tôi.

- Bây giờ chúng ta quay trở vào thành phố đi. Vào thành phố nào cũng được. Bầu trời chỗ nào cũng tròn cả - ON bàn.

- Trước khi đó, tôi muốn thử lại chiếc máy phát tin một lần nữa.

ON không nói gì. Peter trong lòng tràn đầy hy vọng bắt đầu phát tín hiệu. Anh gọi July trước tiên sau đó chuyển làn sóng gọi trạm không gian Fortuna 710. Nhưng hoàn toàn không có tín hiệu đáp lại. Xung quanh anh bóng tối dày đặc và vô vọng làm chủ, không một nơi nào có tín hiệu trả lời.


11. HAI BẢN BÁO CÁO


BÁO CÁO

Thành phố OXY 15.4.1207, 8 giờ 99.

Thu được một cuộc điện đàm trên sóng 6.17:

“July lên tiếng đi em … July lên tiếng đi em.”

Đã chặn sống ở khu vực A – B. Kết quả việc tầm sóng: phát tại khoảng đen giữa các thành phố phục vụ và B.

CHỈ THỊ

Tiếp tục tiến hành những cuộc tầm sóng khác !

Khi có kết quả lập tức báo cáo !

BÁO CÁO

Thành phố OXY 15.4.1207, 9 giờ 71.

Trên làn sóng 6,17 không bắt được làn sóng điện đài.


12. NGÀY ĐẠI LỄ MÙA XUÂN


Rồi cũng có lúc người ta có thể quen dần với việc không còn cảm giác về thời gian.

Ở đây không có ngày hôm qua và cũng không có ngày mai. Không có mặt trời mọc và cũng không có mặt trời lặn. Chỉ có sự thay đổi về cường độ sáng, tăng lên hoặc giảm đi. Có rất nhiều quảng trường bằng bê tông và ghế xi măng. Trên dó có những sinh vật giống người mặc áo liền quần, đeo ống hô hấp, tay cầm đồ chơi luyện kiên nhẫn. Hòn bi phải lăn vào một cái lỗ, sau đó lại một hòn bi nữa. Khi bi đã vào hết lại cầm món đồ lắc lên và bắt đầu lại từ đầu. Nhưng thường họ không chơi lại lần thứ hai chỉ nghỉ giải lao được vài phút. Những sinh vật này phải lập tức trở lại phòng máy. Nếu nghỉ tay quá lâu họ sẽ không nhận được đủ lượng Oxy cần dùng. Trên các quảng trường rất nóng. Trái lại, trong các xưởng máy mát hơn và dễ chịu hơn. Hết giờ giải lao, những người mang vòi lại nối đuôi nhau chui vào các khối nhà hình hộp, và quay các bánh xe, lại kéo các cánh tay đòn, lại bấm vào các nút, sang trái, sang phải, sang trái, sang phải … Họ cứ làm như thế hàng giờ, không hề ngẩng đầu lên. Tất cả công việc này phải làm để khỏi bị thiếu hụt Oxy.

Từ lúc hai người đã cảm thông với nhau, Peter và ON không lúc nào rời nhau. Rất may mắn là chiếc máy sản xuất Oxy bỏ túi của Peter làm việc tuyệt vời nên luôn luôn nạp đầy bình chứa Oxy của họ. Nhờ đó hai người chỉ phải lao động theo sự bố trí thời gian của mình để khỏi bị buồn chán. Họ tự thấy phải làm một cái gì đó, nếu không, suốt ngày ngồi trên chiếc ghế dài, lắc lắc cái đồ chơi luyện kiên nhẫn thì đầu óc họ trở nên đần độn. ON tiếp tục ghi chép các tư liệu chăm chỉ. Anh hoàn chỉnh tấm bản đồ và ghi chú lên chiếc khăn của mình. Từ lúc được cung cấp dồi dào khí Oxy, anh luôn luôn phát hiện được thêm nhiều chi tiết. Còn Peter luôn luôn quan sát xem có một tia sóng nào phát tới không? Nhưng anh chỉ thấy im lặng như tờ. Trong thế giới của những khối bê tông. Những sinh vật với chiếc ống hô hấp luôn luôn bao quanh anh nhưng dửng dưng với mọi việc. Trong thế giới này chỉ có ON là sinh vật duy nhất có trí nhớ. Không tìm thấy một trung tâm, một văn phòng hay một cơ quan chính quyền nằm chỗ nào.

Có những ngày chính Peter cũng gần như mất hết hy vọng và trở thành dửng dưng. Những lúc ấy anh cảm thấy mình như một người đi biển đắm tàu, phải chấp nhận suốt đời trong cảnh xám xịt và câm lặng này.

Những lần khác, anh hoảng hốt, nổi khùng lên một cách vô lý, không thể kiềm chế được. Lúc đó anh đi lang thang tìm kiếm July. Có thể cả cô ấy cũng hạ cánh xuống đây. Có thể việc ta bị tai nạn không phải là tình cờ mà là do một quyền lực xấu xa muốn bắt giữ ta. Nó đang thả lỏng ta ở đây tuy vẫn có sự canh gác và quan sát. Biết đâu ON đã không nói sự thật mà có thể chàng ta lại chính là người đại diện của quyền lực xa lạ này … Không, vô lý. Chính ta đã phát hiện ra ON, chính ta đã chủ động bắt chuyện với anh ta và yêu cầu anh ta dẫn mình tới khoảng tối đen. Ta phải cùng ON đến gặp những người có trí nhớ và ta phải thoát khỏi cái cuốn kẹp khổng lồ bằng bê tông này … Ta phải hết sức gần gũi ON. Rất có thể những người bạn của chàng trai này sẽ giúp đỡ ta được nhiều …

ON tiếp tục làm công việc ghi chép, vẽ bản đồ và cố gắng giải thích cho Peter những điều anh làm. Anh cũng nhắc đến những khó khăn mà hai người sẽ gặp phải và giải thích cho Peter rõ ràng anh không được hòa mình vào giống người bị mê hoặc và ru ngủ trong ngày Đại Lễ Mùa Xuân.

Lúc này ngày Đại Lễ Mùa Xuân đã tới gần. Trên các giá sách của các cửa hàng tự nhiên các loại sách khác biến mất và chỉ còn một tập nói về ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Peter lấy một cuốn từ trên giá sách xuống và dở xem.

Nó nói về phép lạ trên trời, nói về sự ban ơn và về niềm vui của tình ái, nhưng nội dung không rõ ràng và rối rắm. Anh nhận thấy càng ngày càng có nhiều người đeo vòi ngồi ngỉ trên quảng trường cầm xem tập sách này và ở màn ảnh trên trần các phòng ngủ xuất hiện những phim ảnh màu nhiều hơn có kèm theo nhạc kích động. Còn các món ăn thì càng ngày càng được nhỏ thêm nhiều giọt thuốc bí mật. Nhưng ON đã báo cho Peter biết trước điều này. Peter lấy một vài giọt kem nấm đưa vào máy phân tích của anh. Nhưng máy chỉ xác nhận sự có mặt của một hợp chất hữu cơ hết sức rối rắm, không rõ công thức cấu tạo.

Rồi đến một ngày kia, mọi người thức dậy trong những âm thanh nhịp nhàng và kỳ lạ, nhịp độ ngày càng nhanh hơn, cường độ ngày càng lớn hơn và kéo dài suốt ngày. Những âm thanh này giống với tiếng trống và tiếng chuông. Những người mang vòi ngày càng tỏ ra lo lắng. Trong các giàn máy chỉ có ít người làm việc. Peter và ON ngồi vào một chiếc máy tự động trong thời gian ngắn. Những việc Oxy trả cho công việc của họ đề chứa thêm một chất ma túy. ON đã báo cho Peter biết trước điều này. Lúc này họ phải cẩn thận, họ không được ăn những thức ăn và thở hít Oxy của nơi đây trong những ngày này. Vì những thứ này đều được tẩm thuốc.

Họ cảm thấy có một chính quyền tối cao, bí mật chuẩn bị cho đám đông để tham gia đám rước cho ngày Đại Lễ. Những ngày này, các thức ăn có chứa Hoóc môn sinh dục và chất kích thích. Âm nhạc nổi lên khắp nơi, trong các phòng ngủ và các nhà ăn, trong các của hàng và cả trên quảng trường. Rồi bầu trời trên đầu họ đột nhiên sáng hơn, giống như mặt trời rẽ những đám may để hiện ra. Mặt trời sáng chói đến mức Peter phải lấy tay che mắt. Lúc này họ đang ở một quảng trường. Các sinh vật chung quanh họ đột nhiên quỳ rạp xuống đất và hô lớn “Bạn ơi ! Bạn ơi ! Đấng Ban Ơn đã tới ! Mùa xuân đây rồi ! Mùa xuân đây rồi !”

ON nắm cánh tay Peter nhắc:

- Bạn phải hết sức cẩn thận, đừng để bị lôi cuốn vào dòng người. Chúng ta sẽ đứng tránh sang một bên.

Peter cảm thấy như vừa qua một giấc mơ tỉnh dậy. Mặc dù những lời báo trước của ON, mặc dù anh không uốn phải một thứ thuốc nào, Peter vẫn cảm thấy say sưa thực sự và suýt nữa thì đã bị lôi cuốn vào dòng người nhấp nhô và điên khùng này. Đám đông những sinh vật màu xám đeo các ống hô hấp này như từ lòng đất tuôn ra, đổ đầy các quảng trường. Tầm mắt nhìn xa tới đâu cũng vẫn thấy người. Dòng người đổ xô tới một chùm tia sáng chói. Họ giơ tay hướng lên trời và cử động theo các điệu trống nhịp nhàng vang xa với nhịp bước ngày càng nhanh dần. Họ vừa kiêu vũ và gần như vừa chạy.

ON ép Peter và một bức tường bê tông bảo:

- Chúng ta phải chờ cho tới hết đám rước. Chúng ta không được xen lẫn vào dòng người. Nếu không tất cả hy vọng của chúng ta đều tiêu tan. Chúng ta chờ cho họ đi hết rồi mới đi.

Có lẽ phải hàng giờ. Cho tới khi dòng người sống động ấy đi qua hết. ON và Peter đi sau cùng đám rước. Nhưng họ vẫn tiếp tục phải chú ý. Vì dọc đường từ các khối nhà lại tiếp tục có người tuôn ra. Khi đến ven thành phố, tất cả tiếp tục vọt đi. Peter nhận ra phong cảnh, địa hình lúc trước không thể đi qua được nay lại hiện ra một con đường rộng … tràn đầy ánh sáng. Họ đi theo con đường đó. Từng tốp khá đông người màu xám vẫn tiếp tục từ thành phố kéo ra nối đuôi sau đám rước.

Đám rước dừng lại ở một quảng trường bê tông hết sức rộng lớn. Ở đây, bức màn trời mở ra, lớp sương mù trên đầu họ mở ra y như một tấm màn lớn trong rạp hát và trên đầu họ là bầu trời trong xanh xán lạn.

- Khí Oxy ! Khí Oxy ! Hơi thở của Chúa !

- Khó Oxy thật – Peter cũng kêu lên.

- Không phải đâu bạn ơi – ON đáp – Đó chỉ là một sự lừa dối, một ảo ảnh được chiếu lên. Ở đây cũng chưa có Oxy đâu.

Bây giờ trên bức màn trời màu xanh hiện ra trẻ con, vô vàn là trẻ con. Có tới hàng trăm ngàn, hàng triệu những sinh vật nhỏ, đáng yêu với đôi mắt sáng ngời đang chạy tới. Âm nhạc nổi lên rộn rã. Đám đông lại hô:

- Đấng Ban Ơn ! Đấng Ban Ơn !

Nhưng đó không phải là những đứa trẻ thực mà chỉ là phim ảnh. Một sự ghép hình, một sự lừa dối con mắt. Tiếp đó, bức màn trời lại khép lại và bây giờ ở phía xa, tuốt đầu đám rước khổng lồ, họ thấy một cửa hang mở ra. Hang này đặc biệt rộng rãi, mỗi lần có thể tới hai ba trăm người kéo vào hang. Ánh sáng từ trong đó chiếu ra ngoài. Cả đoàn người vừa chạy vừa dồn vào trong.

- Ở đó có cái gì? – Peter hỏi.

ON đáp:

- Chúng ta có thể nhìn vào trong để xem nhưng tuyệt đối không được bước chân vào. Bạn nhớ lấy rằng nếu chúng ta đặt chân vào là chúng ta thua cuộc.

Hai người rất cẩn thận đi theo hàng sau cùng của đám rước tới trước cửa hang. Nhưng giữa đường lại có những tốp người nối đuôi thêm vòa. Hai người vội bước ra khỏi dòng người và đứng phía bên ngoài quan sát. Nhưng vì đứng ngoài họ chỉ nhìn thấy một phía nhỏ của cuộc truy hoan thô tục đang diễn ra. Mỗi người bước tới cửa hang đều tháo ống hô hấp ra vì ben trong là một bầu không khí chứa Oxy thật tinh khiết làm cho họ say sưa. Trên vòm và hai bên tường có nhiều hình ảnh màu sắc sặc sỡ. Những người đang tiếp tục đi vào tưởng mình đang ở trong một khu rừng cành lá xum xê. Trong vương quốc của các cây dừa và cây chà là, những cây dái ngựa và cây bạch đàn khổng lồ. Các dây leo chằng chịt và rêu mọc xanh rì. Ngay cả nền trong hang cũng có cỏ xanh thay cho chất bêtông rắn. Người ta có cảm giác cỏ mượt như nhung dưới chân. Các sinh vật bước vào đó, trong giây lát tự động lột hết quần áo, ôm lấy nhau và lăn ra đất. Từng đoạn một, hang lại nới rộng ra. Ở các đoạn phình ra đó có để những thức uống có vị giống mật ong gây sự sảng khoái cho đám đông. Cứ như thế, đám rước nhích về phía trước, vừa hát, vừa uống và biến thành một cơn say ái tình không gì ngăn cản nổi. Trước khi đuôi của đám đông rất dài lọt vào cửa hang thì những hàng đầu tiên đã tuôn ra cửa hang đàng kia cách cửa vào không quá một dặm. Nhưng con đường chạy quanh co trong hang nên độ dài của nó tới vài dặm. Điều đặc biệt là ở hai bên thành hang có những cửa trượt tự mở ra lại tự đóng vào, nuốt đi một số người trong đám đông. Nhưng tuyệt đại đa số lại trở ra lòng hang gần nơi họ đã bước vào. Họ vẫn còn nửa say nửa tỉnh và lại được đưa dần tới cửa ra khỏi hang. Ở đó họ lại nhận được những bộ đồ lao động áo liền quần và những máy hô hấp, chỉ khác là lần này các bình chứa đã được nạp Oxy. Sau cuộc du hí chỉ kéo dài vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ, tất cả lại quay trở lại thành phố của những khối nhà bê tông. Ở đó họ lại kéo dài cuộc sống cần cù phẳng lặng và buồn tẻ cho đến Đại Lễ Mùa Xuân lần sau.

Peter và ON đứng xem một lúc, theo dõi đoàn người say sưa, từ từ tuồn vào hang. Peter hỏi:

- Ngày Đại Lễ này có tác dụng gì?

- Hệ thống hang hốc này chứa một máy tính điện tử, một máy xử lý khổng lồ. Hàng năm, tất cả người dân hành tinh Oxy đều phải qua nó một lần. Hình thức là tự nguyện. Nếu có người nào đó không bước vào thì cũng chẳng ai quan tâm tới người đó. Như vậy, không có gì xảy ra với anh ta. Nhưng qua một năm làm việc buồn tẻ, ai cũng muốn được qua đây và đó là điều mơ ước, là nỗi nhớ nhung, là ý nghĩa của cuộc sống, là điều duy nhất mà người ta đã để họ nhớ được và ham muốn. Trong hang, không khí chứa dồi dào Oxy được pha lẫn hương liệu và các thuốc kích thích. Trong sự mê ly ngây ngất trước việc được thở đầy lồng ngực với điệu nhạc kích thích các loại thuốc ma túy, họ cởi bỏ hết quần áo, làm tình, ăn và uống. Trong thời gian họ lưu lại ở trong hang, có các máy tính tự động làm các công việc đo lường, đánh giá và phân loại từng người hết sức nhanh. Họ được phân loại và chọn lọc. Các cửa trượt mở ra và đóng vào. Ở bẫy trượt thứ nhất, các thanh niên nam nữ được phát hiện là thích hợp cho Thành phố của những người có trí nhớ. Đó là thế giới của các nhà bác học. Những người dược đưa lên đó là những người đã được máy móc phát hiện những khả năng đặc biệt trong bộ não: năng khiếu lôgic, năng khiếu toán học, tài năng về vẽ v… v … Từ các bẫy trượt học được chuyển vào những con đường trượt kiểu băng tải. Cũng theo các này, trước đây tôi cũng đã được tới Thành phố của những người có trí nhớ. Còn trong một bẫy trượt khác, máy móc lựa những người nhanh nhẹn đặc biệt và khéo tay. Ở cửa trượt thứ ba là những người có xu hướng nghệ thuật. Còn một cửa nữa chọn những người có cuộc sống cảm giác đặc biệt mạnh. Cách cửa ra một đoạn, các thiếu phụ đã làm tình xong được thăm dò xem họ đã thụ thai chưa.

Peter hỏi:

- Đối với những người có thai thì sao?

- Máy móc đưa những người đã thụ thai đến những trại rộng lớn ở gần Thành phố của những người có trí nhớ. Ở đó họ sinh con và chăn nuôi con cho tới ngày Đại Lễ Mùa Xuân năm sau. Khi đó người ta tách những đứa con ra khỏi những người mẹ. Những người mẹ lập tức được đưa trở lại một trong những Thành phố của những người phục vụ. Còn các hài nhi thì được nuôi cho đến năm lên sáu. Sau đó những đứa nhỏ được đưa đến các Thành phố phục vụ nuôi nấng dạy dỗ trong những khối nhà có mang số hai cho đến khi chúng lớn lên và biết tham gia vào ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Khi đó các máy móc sẽ quyết định số phận chúng.

- Thế còn các bà mẹ, họ có được trả lại con không?

- Không – ON ảm đạm trả lời – Các bà mẹ thì khóc than và la hét. Nhưng máy móc và bẫy trượt là những vật vô tri, vô giác, không biết thương xót. Các thiết bị ru ngủ: Họ bị phun thuốc an thần, rút mất Oxy, cho thêm chất ngủ đông. Và cứ thế họ xỉu đi gần như ngất hẳn. Sau đó học được đưa vào xóa trí nhớ và đưa trở xuống các Thành phố phục vụ.

- Thế không có khả năng nào khác để các bà giữ lấy con mình à?

- Muốn như vậy, ta phải gặp may mắn, ví dụ như trường hợp tôi. Khi tôi được biết mối nguy hiểm nào đang đe dọa thì tôi cố gắng mọi cách để bảo vệ trí nhớ của tôi. Tôi đã làm thân được với anh bạn ORO và anh đã bí mật giúp tôi. Trước khi bị đưa vào xử lý xóa trí nhớ, anh đã lót vào sọ tôi một miếng bảo hộ mỏng, các tia xóa trí nhớ bị hút vào đấy. Ngoài ra anh còn cho tôi nhiều thứ thuốc để vô hiệu hóa các chất độc ngăn trở sự trao đổi chất giữa Oxy và Aciđe Rubonnucleic. Khi tôi đã vượt qua được điều khủng khiếp nhất thì tôi đã bắt đầu ghi chép lại những gì cần thiết … Và số phận may mắn lại run rủi cho tôi gặp anh, một người bạn tốt như ORO trên đường đi của tôi.

- Khi nãy anh nói rằng, những người mẹ sẽ quên hết tất cả? Như vậy là việc thu hẹp trí nhớ của họ hoàn tất đến mức họ không thể nhớ được cả con của mình hay sao?

- Những người mẹ không còn nhớ được gì nữa: Có lẽ chỉ có đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân, khi học bắt buộc rơi vào cơn say ái tình và lại có thể có mang nữa.

- Thế ai dạy dỗ những đứa trẻ. Nếu không có mẹ, chúng có những người bảo mẫu hay người thầy?

- Khi còn nhỏ chúng được giao cho những người bảo mẫu. Họ tập cho chúng những cử chỉ và những nhiệm vụ đầu tiên. Khi đã lớn hơn, chúng chỉ học qua người máy và phim đen chiếu. Chúng được xem phim về cách đeo mặt nạ hô hấp, về cách chăm sóc vệ sinh cơ thể và về cách ăn uống. Các đồ chơi của trẻ em phần lớn là các mẫu nhỏ của máy móc. Ví dụ có những chiếc bánh xe nhỏ và những nút bấm. Nếu chúng khéo tay trong khi chơi thì bình chứa Oxy nhỏ của chúng cũng được nạp đầy Oxy. Như vậy đến khi lớn lên, chúng đã học được những điều chúng cần biết. Và em nào không học được những điều đó sẽ không được sử dụng – ON nói nhỏ nhẹ đều đều.

Peter giọng run run hỏi:

- Anh có thể nói về những điều tàn bạo khủng khiếp đơn giản như vậy sao?

- Nói cách nào thì sự thực cũng không thay đổi nếu chính mắt chúng ta chưa nhìn thấy được nó. Nhưng bây giờ, anh Peter thân mến ạ, tôi nghĩ rằng, điều cần nhất đối với chúng ta là phải làm được cái mà gần như không thể làm được: Theo tôi thì Con đường mòn cũ phải bắt đầu ở phía bên trái cách đây chừng nửa dặm.


13. ĐOÀN CẤP CỨU KHUYÊN NHỦ


- Nhân loại ! Nhân loại ! Đây Fortuna 710 ! Đây Fortuna 710 con tàu cấp cứu RA-1 của chúng tôi đã lên đường. Tôi sẽ hướng dẫn cho bạn lắp ghép vào con tàu đó và trả về Fortuna 710.

- Đây RA-1 … Đây RA-1 … đề nghị Nhân loại hãy phát động các tên lửa phụ số 2 và số 3 …

- Tôi sẽ không thay đổi quỹ đạo ! Tôi không dời khỏi khu vực Hành tinh màu tím – đỏ.

- Đó là điều điên rồ. Hãy thi hành mệnh lệnh đi.

- Tôi sẵn sàng chết, nhưng không thể bỏ Peter được.

- Bạn không thể cứu được Peter và bản thân. Bạn cũng sẽ tự lao vào tai họa. Nếu Peter còn sống, anh ta đã liên lạc bằng điện đàm.

- Tôi biết rằng anh ấy còn sống ! Anh ấy sẽ lên tiếng. Cũng có thể là anh ấy bị cầm giữ. Dù như vậy, Peter cũng sẽ lên tiếng. Có lẽ anh ấy đã gọi tôi hàng triệu lần. Nhưng những cơn bão điện tử tác động từ mặt trời hoặc tác động từ những trở ngại khác ngăn trở sự liên lạc vô tuyến. Nếu tôi không bắt liên lạc được bằng điện đài, tôi sẽ hạ cách xuống hành tinh.

- Fortuna 710 thông báo: Trong bất kỳ trường hợp nào cũng khôgn thể đồng ý với việc làm của bạn.

- Như vậy, tôi xin tự chịu trách nhiệm về việc hạ cánh.


14. BA BẢN BÁO CÁO


BÁO CÁO

Thành phố OXY, 1.5.1207, 3 giờ 67. Trung tâm điện báo khu vực A – B báo cáo:

Giữa con tàu vũ trụ và trạm không giang AAA có liên lạc vô tuyến thường trực.

Sinh vật lạ tiến hành liên lạc vô tuyến, đã bắt được những đoạn điện đàm sau đây:

Trên làn sóng 6.17: July em ở đâu? July hãy lên tiếng ! Anh còn sống ! Em lên tiếng đi ! (chắn sóng)

Trên làn sóng 19.31: Đây nhân loại … July gọi Peter (chắn sóng khu vực B).

Trạm kiểm soát báo cáo: Việc chắn sóng được tiến hành theo đúng qui tắc.


CHỈ THỊ

Truy tìm trạm phát với làn sóng 6.17.


BÁO CÁO

Thành phố OXY, 2.5.1207, 1 giờ 10.

Trung tâm Rađa báo cáo:

Con tàu vũ trụ kiểu F1 bay vòng khu vực B-C. Liên lạc vô tuyến của nó với trung tâm của trạm không gian vũ trụ AAA không thay đổi !

Phía ngoài khu vực C xuất hiện một con tàu vũ trụ mới khiểu RH.

Giữa hai con tàu vũ trụ có liên lạc vô tuyến thường trực.


CHỈ THỊ

Tiếp tục quan sát


BÁO CÁO

Thành phố OXY, 6.5.1207, 2 giờ 25.

Trung tâm vô tuyến báo cáo:

Khu vực A báo cáo:

Trên làn sóng 6.17: July em ở đâu? Peter đây ! Peter đây ! Em lên tiếng đi ! Anh còn sống ! (chắn sóng)

Nhận xét: Các buổi phát trên làn sóng 6.17 ngày càng thưa.

Trên làn sóng 19.31: Đây Nhân loại. Đây July ! Peter anh ở đâu? Anh lên tiếng đi ! Đây July ! Đây July ! (chắn sóng)

Trên làn sóng 43.211: Đoàn cấp cứu đang trên đường. Hãy thi hành những hướng dẫn của chúng tôi.

Trên làn sóng 51.2: Đây RA – 1 ! Đây RA – 1 !

Khu vực B báo cáo: … chắn sóng – chắn sóng.

Trạm kiểm soát báo cáo: Sự chắn sóng được tiến hành theo đúng quy tắc.

Trạm tầm sóng vô tuyến đang truy tìm đài phát có làn sóng 6.17.


15. THÀNH PHỐ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÍ NHỚ


Con đường này được gọi là Đường mòn cũ hay là Đường mòn tiêu diệt. Ở Thành phố của những người có trí nhớ đôi khi người ta nói đến nó Lúc ON còn làm việc ở đó. Anh đã được thấy tuyến đường trên một tấm bản đồ cũ. Ngoài ra không có tư liệu nào đầy đủ hơn. Người ta không biết nó đi qua địa hình bằng phẳng hay ở chỗ nào có đèo dốc. Liệu giữa đường có một đầm lầy không thể vượt qua được? Họ cũng không biết khoảng cách mà họ phải vượt qua. Vì tấm bản đồ mà ON đã được xem không có tỷ lệ. Và bây giờ anh đã vẽ lại con đường theo trí nhớ. Nhưng hia người không có gì để mất cả. Họ có đủ dự trữ Oxy và các viên thức ăn. Chiếc máy nhỏ xíu của Peter không những chế được Oxy nguyên chất mà chế được cả nước. Nếu đi theo con đường này gặp thất bại. Họ vẫn có thể quay trở lại chờ khi họ vẽ lại chính xác con đường sẽ phải đi.

Nhưng họ không muốn quay lại và cũng không được phép quay lại. ON muốn về với vợ anh và đứa con nhỏ của chàng. Còn đối với Peter thì anh linh cảm thấy rằng, đó là con đường duy nhất có thể giúp anh thoát khỏi hành tinh này …

Đột nhiên ánh sáng trong hang lớn tắt đi. Ngày Đại Lễ đã kết thúc bởi các bức tường đá tự khép lại giống như cửa vào hang thần trong truyện 1001 đêm lẻ. Nếu chính mắt họ đã không thấy chỗ nó mở thì họ không thể tin rằng ở đây đã có một cái cửa. Không còn vết tích gì của cuộc hội hè say sưa vừa diễn ra. Bầu trời xanh xán lạn và Mặt Trời vàng chói đã biến mất. 12 Mặt Trăng bàng bạc và các chấm sáng lấp lánh của các vì sao cũng đã biến mất. Cảnh trí lại còn tối tăm âm u đen tối hơn trước. Nhưng nhờ chùm sáng mảnh dẻ của chiếc đèn Pin nguyên tử chẳng mấy lúc họ tới một con đường mòn đá lổm chổm. Họ phải đi thật cẩn thận. Nhưng khi họ đã đặt tchaan lên thì thấy con đường rất dễ đi và khá bằng phẳng tuy đôi lúc nó hơi lên dốc.

Hai bên con đường là bóng tối không thể soi thấu và là một sự yên tĩnh khó chịu nổi. Đây là một cảnh chết, không có gió thổi, không một chiếc lá lay động, không có một hòn đá nhỏ nào lăn, xa gần, không một tiếng động hoặc tiếng vang nào cả. Con đường ma quỷ này có vẻ như dẫn từ cõi hư không đến chốn hư vô.

Cứ như thế, họ đi và đi mãi. Họ đã đi khá lâu. Theo các tính giờ của Trái Đất thì ít nhất là 40 giờ họ mới dừng lại nghỉ chân. Peter sản xuất cho hai người cafêin, đường. Họ nạp thật đầy bình chứa Oxy.

Họ nằm nghỉ khá lâu bên nhau, chìm đắm trong suy nghĩ, không trao đổi một lời. Peter quan sát bóng tối, nó hoàn toàn câm lặng và không thể soi thấu. Tự nhiên anh nghĩ rằng, đáng lý mình nên đi theo đám trước ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Đám đông người được tuyển chắc đã đạt tới một chỗ nào đó. Ít nhất cũng tới được một nơi.

Như vậy có lẽ mình sẽ tới trước một Hội Đồng cao cấp hay có khi tới tận Trung Tâm đầy huyền bí mà ở đó có thể nói chuyện phải, trái được. Còn bây giờ thì mình đi đâu với ON đây? Nếu có thể … Lúc này Peter chợt thấy hoảng lạnh xương sống: Nếu ON đầu óc không bình thường thì sao? Rất có thể xưa kia anh ta đã có một việc làm nghiêm chỉnh, nhưng do quá mệt nhọc, ảnh hưởng tới đầu óc rồi rớt xuống Thành phố bêtông này thì sao? Có pahri vì vậy mà ON cứmải mê vẽ vời không? Nhỡ con đường này dẫn tới cõi hư không thì sao? Có thể …

Anh rút chiếc máy phát sóng ra và tiếp tục phát tín hiệu gọi July. Lại một lần nữa không có tín hiệu đáp.

- Anh bạn không ngủ à? – ON hỏi.

- Không, tôi không tài nào ngủ được. Tôi đang suy nghĩ rằng … - Anh dừng lại không nói tiếp.

- Thế nào?

- Nếu như chúng ta đi với những người kia thì sao? … Anh có thể nhầm được không? … Có thể … Tôi nghĩ, phải có một văn phòng, một trạm kiểm soát, ở đó ta có thể hỏi tin tức được.

- Hoặc là ở đó người ta tiêu diệt anh – ON đáp.

Nghe gợi ý của ON, Peter cảm thấy lạnh sống lưng. Đột nhiên Peter nhớ lại bài giảng đã được học nhiều lần trên Trái Đất. Quy tắc hành động đầu tiên khi xảy ra tai nạn ở con tàu vũ trụ. Quy tắc đó anh đã được học ở trường dạy lái con tàu vũ trụ và nó được niêm yết ở khắp các bến tàu vũ trụ. Nhưng từ lâu anh đã không quan tâm đến điều đó nữa. Cũng như khi ngồi trên máy bay hoặc du thuyền, bạn không quan tâm đến việc sử dụng chiếc áo cấp cứu nữa. Điều đó họ viết thế nào nhỉ?

Qui tắc thứ nhất khi xảy ra tai nạn trên vũ trụ:

- Bạn không được mất bình tĩnh ! Nhất thiết không được hoảng loan !

- Bạn là một “công dân của Trái Đất” ngay khi ở trong vũ trụ cũng được hưởng sự bảo hộ của Trái Đất.

- Tất cả các hoàn đảo không gian và các trạm cấp cứu sẵn sàng lo cho bạn !

- Bạn hãy tìm cách xác định ngay bạn đã rớt xuống đâu và cái gì đã xảy ra với con tàu của bạn, với những người đồng hành của bạn.

- Bạn phải ngay lập tức tìm các bắt liên lạc bằng vô tuyến.

Xét về cơ bản, mình đã hành động theo nhưng quy tắc trên. Nhưng những việc đó chưa mang lại kết quả gì lắm. Tốt nhât,s bây giờ mình phải ngủ, thư giãn và sau đó lại tiếp tục suy nghĩ.

Nhưng chính ON cũng không ngủ được.

- Bạn Peter, tôi có cảm giác là anh chưa tin tôi, hoặc chưa đặt hết niềm tin tưởng vào tôi. Trước khi chúng ta tiếp tục đi nữa, anh cần phải có một quyết đinh. Từ đây anh có thể quay trở lại Thành phố phục vụ không khó khăn cho lắm.

Nhưng trước khi anh quyết định dứt khoát, xin anh hãy nghe tôi một lần nữa. Lần này tôi muốn kể cho anh nghe tất cả những gì anh cần biết về tôi và tất cả những gì tôi biết về hành tinh Oxy …

Theo lối sống ở đây, tất nhiên tôi không thể biết được ai là cha tôi và ai là mẹ tôi. Tôi cũng không còn nhớ được tôi đã tới Thành phố bê tông vào ngày Đại Lễ Mùa Xuân nào. Tuy nhiên trên hành tinh này có một cuốn sổ ghi tất cả các khai sinh. Trong đó, chiếc máy tự đông ghi chép những thông số của tất cả những đứa trẻ đã sinh ra. Sự ghi chép đó và tấm phiếu đục lỗ mang các số liệu đó đi theo mỗi người trong suốt cuộc đời. Nhưng người ta chỉ nói về hồ sơ cá nhân của chúng tôi bằng những ký hiệu mà chúng tôi phải học thuộc. Đó là con số kiểm soát của chúng tôi. Như anh biết, tôi mang ký hiệu ON 711314. Có một thời gian dài, tôi tưởng rằng, từ những con số này tôi có thể rút ra được một kết luộn nào đó, vỡ lẽ về năm sinh hoặc nơi sinh. Nhưng ngay cả hệ thống ký hiệu và con số chúng tôi cũng không được biết. Như tôi đã nói, thời gian trên hành tinh Oxy là một cái gì đó, không chắc chắn, rất khó nhận thức được. Vì vậy, cho đến nay tôi không biết bao nhiêu thời gian trôi qua, có bao nhiêu Đại Lễ Mùa Xuân. Như anh đã thấy, trẻ em 5, 6, 7 tuổi đã bắt đầu tham gia vào cái ngày hội say sưa này rồi. Tất nhiên, chúng chưa được ngả vào cuộc say ái tình, nhưng chúng chơi đùa, cãi lôn, những cảm xúc của chúng bắt đầu được thức tỉnh. Chúng đã cảm thấy đòi hỏi những thức uống có chất thuốc làm say và chúng say sưa với âm nhạc kích động, với lượng Oxy dồi dào không hạn chế và với các điệu nhảy. Sau đó chúng lại trở lại những chiếc ổ trong chuồng bêtông, nơi chúng được học rằng người ta không phải chen lấn nhau để nhận thức ăn hay giày dép và mỗi người đều được nhận đủ cho mình. Chúng còn được học rằng người ta không được nuôi dưỡng lòng ham muốn người ta phải biết rằng Chúa đã tạo ra hành tinh Oxy, rằng phải xem phim đèn chiếu và khéo léo sử dụng trò chơi luyện trí kiên nhẫn. Như vậy, việc sử dụng thời gian sẽ hoàn toàn dễ chịu.

ON dừng lại một lát trầm ngâm rồi tiếp tục kể:

- Nếu tôi cứ tiếp tục cuộc sống như vậy thì biết đâu chẳng tốt hơn. Đó là số phận của hàng triệu con người. Họ lao động để đổi lấy Oxy hàng ngày. Sau đó họ cảm thấy hoàn toàn mệt mỏi, ngả lưng xuống giường không buồn động đậy, dùng thêm viên ngủ đông giảm bớt lượng Oxy dẫu vào cơ thể. Cho đến một ngày kia quá mệt mỏi sẽ ngủ luôn, không khi nào trở dậy nữa.

- Và điều gì xảy đến với họ?

- Một chiếc băng tải sẽ chở họ đi …

Peter nghĩ, nếu như mình thoát khỏi được nơi này trở về nhà … trên Trái Đất .. về tổ quốc tươi đẹp của mình … Anh có cảm giác là mất hết sức lực.

- Tôi không biết lúc đó tới bao nhieu tuổi. Nhưng còn chọn đến tuổi biết yêu đương. Tóm lại là một cậu bé đang lớn, khi chiếc máy xử lý lựa tôi ra. Hôm đó tôi cũng say sưa nhảy nhót mừng Đại Lễ Mùa Xuân trong một cái hang có ánh sáng rực rỡ tỏa ra. Từ con đường rông, tôi thấy tự nhiên mình được đưa vào một lối đi hẹp hơn. Ở đây có rất nhiều con trai và con gái được đưa vào cùng với tôi. Một tiếng nói liên tục nhắc chúng tôi “các con là những người hạnh phúc nhất, các con đã được tuyển chọn. Đấng ban ơn đã thấy rõ các con. Các con sẽ được lên cõi trên đầy ánh sáng. Chúa yêu thương các con.”

Cõi Ánh Sáng là một kiểu bệnh viện. Ở đó chúng tôi phải qua rất nhiều loại kiểm tra xét nghiệm. Họ kiểm tra chúng tôi trong các phòng thí nghiệm. Soi chiếu mọi kiểu từ đầu đến chân. Tiến hành đo những thông số gì đó. Nhất là chúng tôi luôn luôn được đo bộ não, mỗi phần não được kiểm tra nhiều lần. Cho tới khi người ta quyết định phần nào của não sẽ được kích thích phát triển và phần nào của não sẽ bị ức chế …

- Anh nói, người đã làm gì? – Peter hỏi hoảng hốt.

- Anh không cần hoảng sợ như vậy. Họ không khoan sọ não chúng tôi ra đâu. Mọi sự can thiệp và xử lý đều tiến hành qua máy móc hệt như công việc lắp ráp hoặc cải tạo một trung tâm điện thoại phức tạp.

Với sự can thiệp đó, khu vực nào ở não của chúng tôi qua kiểm tra tỏ ra có năng khiếu nhất thì sẽ được phát triển, tiếp tục kích thích. Thí dụ ở tôi là năng khiếu logique và toán học. Ngoài ra, trí nhớ, trí tưởng tượng thị lực và thính lực cũng được tăng cường. Còn tất cả tất cả các phần khác của bộ não chỉ được phát triển ở mức độ chúng vừa đủ giúp cho tôi giải các nhiệm vụ toán học. Sau đó tôi được đưa tới trường. Ở đó tôi học chuyên toán trong nhiều năm. Chúng tôi cũng đã chơi và luyện tập thể thao, đã tập chạy và đã chơi bóng bầu. Chúng tôi luôn luôn nhận đủ Oxy cần thiết cho những hoạt động này. Khi đi trên đường phố, chúng tôi mới phải đeo máy hô hấp, chúng cũng nhẹ nhàng thanh lịch chứ không nặng nề kềnh càng như ở Thành phố phục vụ. Trong nhà chúng tôi đều được trang trí. Bạn bè có thể ở cùng với nhau hoặc mỗi người ở riêng tùy thích. Ngay cả trong truyện tình ái yêu đương chúng tôi cũng được phép sử dụng Oxy theo ý muốn. Nhưng chúng tôi không được phép đẻ con. Cùng với sự can thiệp về não, tất cả nam nữ đều đã được xử lý để vô sinh.

Peter nghe đến đây cảm thấy choáng váng. Anh không còn đủ sức nói hoặc hỏi gì nữa. Từ miệng ON những lời kể tuôn ra như một luồng nước đã bị ngừng hoạt động từ lâu.

- Nói về cơ bản thì đó không phải là cuộc sống cực khổ. Không. Tôi từng có nhiều bạn trai, bạn gái và chúng tôi được ăn ngon. Khi chúng tôi đã hoàn thành công việc được giao, chúng tôi có thể sử dụng thời gian theo ý thích. Chỉ có mỗi quy tắc duy nhất phải theo nghiêm ngặt: Ở chỗ làm việc chúng tôi chỉ được phép suy nghĩ tới chủ đề đã nhận. Ví dụ tôi phải thiết lập các kế hoạch đặt chương trình cho các máy tính tự động.

Người ta luôn luôn nhét vào đầu chúng tôi là chỉ được suy nghĩ một việc, dù có điều gì xảy đến cũng vậy. Chúng tôi được uống khá dồ dào và hay chơi bài. Cứ như thế, nhiều năm trôi qua mà chúng tôi chưa bao giờ suy nghĩ về trật tự xã hội trên hành tinh Oxy, về chính nghĩa và phi nghĩa. Chúng tôi chưa hề nghĩ đến tất cả những việc này xảy ra theo mệnh lệnh và ý muốn của ai. Điều này chắc chắn đã xảy ra nếu đầu óc chúng tôi được phát triển một cách tự do.

Nhưng dù những biện pháp hạn chế đầy đủ thế nào đi nữa thì cơ thể sống cũng phát triển tự phát, tự thay đổi, tự đề kháng và có thể vượt qua sự can thiệp. Dần dần, những khả năng tiềm tàng được thức tỉnh, hoạt động thần kinh được nâng cao. Điều đó đã xảy ra đúng như thế: Một cặp tình nhân nào đó đã sống mãi bên nhau. Tình cảm và tình yêu còn mạnh hơn sự lôi cuốn về thể xác đã làm cho họ mãi mãi chung thủy với nhau. Và rồi một lúc nào đó một noãn sào đã kết quả … Điều đó đã xảy ra như thế: Một cô gái tóc vàng đã giữ tình yêu chung thủy với tôi và chúng tôi đã sinh được một cháu trai kháu khỉnh đặt tên là ON con. Nhưng chúng tôi phải nuôi dạy con một cách “chui” vì không muốn để nó phải ghi tên vào sổ khai sinh …

- Nhưng làm sao anh chị lại có thể bí mật sinh một đứa trẻ và bí mật nuôi nó? Vậy những người láng giềng, những người quen không để ý đến à? – Peter hỏi.

ON nhìn anh với vẻ ngạc nhiên:

- Xin lỗi, tôi chưa hiểu thật rõ câu hải của anh.

- Có lẽ những người láng giềng cũng thấy rằng vợ anh có thai chứ? Họ không hỏi gì anh à? Họ cũng không nói gì à? Liệu có người tố cáo không?

- Hoàn toàn không anh ạ. Ngay ở Thành phố của những người có trí nhớ này, chúng tôi cũng không quan tâm đến người khác. Một người láng giềng đột nhiên biến mất, hoặc ở chỗ làm việc một người đồng nghiệp mới xuất hiện … hoàn toàn không làm cho mọi người chú ý. Khi vợ tôi có thai cũng vậy. Láng giềng gần nhất của chúng tôi là ORO, anh bạn thân của tôi. Anh là nhà phẫu thuật và đã iups đỡ chúng tôi khi sinh ON con. Còn những ngừoi trên đường phố trong các nhà ăn và các cửa hàng, không hề nhìn cô ấy đến một lần. Chính bản thân anh đã trải qua điều đó. Anh Peter ạ ! Ở Thành phố bê tông đã không có một ai để ý đến chiếc máy hô hấp và chiếc mũ của anh, mặc dù hai thứ này có hình dạng rất khác biệt.

- Thế còn các máy xử lý và các trạm kiểm soát?

Điều này tôi đã nói rồi. Mỗi người có một tấm thẻ đục lỗ. Trên tấm thẻ này là số liệu mà người mang nó được nhận sau khi can thiệp vào não. Tấm thẻ đục lỗ này mở được tất cả các cánh cửa. Anh thấy ở Thành phố phục vụ hoàn toàn không có điều này. Ở đó, khi anh có đủ Oxy, anh có thể tùy tiên ăn, ngủ hoặc vào các cửa hàng tìm lấy các thứ vật dụng theo yêu cầu của mình. Các sinh vật đeo bộ máy hô hấp chẳng có giá trị gì. Họ chỉ tồn tại, ngày càng sinh sôi nảy nở. Ở Thành phố có trí nhớ thì khác hẳn: Khi cần bất cứ việc gì thì việc đầu tiên là phải đút tấm thẻ đục lỗ vào máy tự động. Khi anh nghe một tiếng kèn dễ chịu, giống như tiếng một chiếc chuông nhỏ hoặc một tiếng xạch rất khẽ hoặc một chiếc đèn nhỏ màu lục bật sáng lên. Đó là dấu hiệu tấm thẻ của anh hợp lệ. Và như vậy món ăn ưa thích của anh sẽ xuất hiện trên bàn hay quần áo đựng trong một hộp giấy bóng kiếng tùy theo yêu cầu. Tôi không hề thấy một người nào có tấm thẻ đục lỗ lại không hợp lệ. Tất nhiên, giống như mọi người, tôi không hề chú ý đến người khác. Nhưng tôi muốn nói rằng, mọi chuyện ở đây không thể xảy ra khác được: đầu giờ làm việc, chúng tôi dùng nó mở cửa chỗ làm việc và chính tấm thẻ đục lỗ có giá trị đó cũng là điều kiện cần và đủ để chúng tôi có thể rời khỏi chỗ làm việc. Họ chỉ lấy tấm thể đó của chúng tôi khi tiến hành kiểm tra bộ não. Lúc kiểm tra xong họ trả lại tấm thẻ.

- Họ kiểm tra những gì? Điều này tôi chưa rõ lắm – Peter nói.

ON thở dài mệt mỏi kể:

- Tất cả trò này thật là rối rắm và phức tạp. Rồi anh sẽ thấy điều đó. Tôi đã kể với anh là ở hành tinh Oxy không có cảnh sát, không có nahf đương cụ hay cái gì đó tương đương. Ấy thế mà họ có một phương pháp kiểm tra hết sức ma quái. Chúng tôi pahri làm việc một phần trong ngày. Chúng tôi yêu thích công việc của chúng tôi. Và toàn cơ thể của chúng tôi được chuẩn bị để làm điều đó. Các nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi có thể giải quyết dễ dàng. Nhưng chúng tôi rất sợ khi bị kiểm tra. Có một quy tắc hết sức nghiêm ngặt là sau giờ làm việc chúng tôi phải giải trí, có thể chơi hoặc nghỉ ngơi: Việc suy nghĩ và bận rộn với những nhiệm vụ khác bị cấm hết sức nghiêm ngặt.

Các cuộc kiểm tra thường tiến hành đột ngột. Trên bàn làm việc của chúng tôi đột nhiên bật lên một ngọn đèn đỏ. Điều đó có nghĩa là tấm thẻ đục lỗ của chúng tôi chỉ có giá trị sau khi qua kiểm tra. Các cuộc kiểm tra chỉ có thể tiến hành trong phòng thí nghiệm. Người ta kiểm tra chúng tôi bằng những máy đo điện não. Chúng thông báo một cách không thương tiếc khi trong những phần não đã bị chặn của chúng tôi có những kích động. Chúng tôi biết rõ điều gì chờ đợi mình nếu bị họ tóm. Các cuộc kiểm tra được lặp lại nữa, rồi đến việc can thiệp não: Chỉ phần có ích của não được phép kích thích. Tất cả những cảm giác và các mối quan hệ các loại là không cần thiết. Nếu kết quả kiểm tra đưa tới bằng chứng là bộ não của chúng tôi mệt mỏi, đã kiệt sức, rằng không thể hy vọng khai thác được gì mới ở nó nữa, thì bản án được quyết định: bỏ xuống giếng. Và kẻ bị kết án chờ đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân gần nhất sẽ được đẩy xuống nơi những người mang vòi trên con đường lãng quên. Và như thế là số phận họ đã được đóng dấu. Trước khi sinh cháu ON con một vài tuần, chúng tôi đã lo rằng não đồ của vợ tôi qua xét nghiệm có thể nộ ra những điều chúng tôi muốn dấu. Khi đó tôi đã quyết định dấu vợ tôi và cả đứa con sắp ra đời trong hang động … Rồi chính anh sẽ được thấy chỗ đó. Ở đó có rất nhiều người sống từng gia đình một. Họ tới đó để trốn các cuộc kiểm tra.

Tôi không nhớ rõ từ lúc nào, tôi đã bắt đầu suy nghĩ và tranh luận, chỉ biết rằng trò chơi bài tây và các cuộc giải trí trống rỗng không hấp dẫn được tôi nữa. Lúc đó, vấn đề lớn lao về sự tồn tại đặt ra cho tôi. Trong tất cả các cuộc tranh luận, điều làm chúng tôi lo sợ nhất là chúng tôi có ý nghĩ thầm kín ở khu vực mà chúng tôi bị cấm suy nghĩ. Tôi thường hay tranh luận nhất với bạn ORO, chính anh ta đã cho tôi Thuốc Ngủ sâu. Tôi không phải là nhà hóa học, tôi không hình dung được thành phần mà chỉ biết tác dụng của nó: “Khi uống thuốc này tôi lại có thể hoàn toàn tập trung vào công việc, tập trung duy nhất. Tất cả các vấn đề khác, trước đó làm tôi bận rộn và kích động đều biến khỏi đầu óc tôi. Ở chỗ chúng tôi phải có đến hàng trăm hoặc hàng ngàn người sử dụng thứ thuốc bí mật này. Tôi cũng không biết ORO lấy nó ở đâu? Nhưng tôi luôn luôn mang một lọ con bên mình. Luôn sẵn sàng khi ngọn đèn đỏ yêu cầu kiểm tra bật lên là tôi uống. Còn công việc, tôi đã làm hoàn toàn không sai sót. Tôi không thề được gặp một ông sếp nào. Tôi cũng không hề được biết, tôi làm việc theo mệnh lệnh của ai. Mỗi buổi sáng tới chỗ làm, tôi thấy trên bàn có sẵn một bản giao nhiệm vụ. Khi làm xong việc đó, tôi lại nhận được một việc khác. Nếu như trong ngày đầu tiên, tôi không giải được bài toàn thì tôi có thể làm tiếp nó ngày sau hoặc tiếp tục làm luôn cả tuần.

Vào buổi sáng cái ngày khủng khiếp đó, tôi tới chỗ làm bình thường. Tôi có một công việc rất hấp dẫn. Tôi bận rộn với nó một cách say sưa. Trong giây lát, chỉ trong một giây lát rất ngắn tôi có nghĩ tới ON nhỏ và nghĩ tới việc mang thức ăn cho nó sau giờ làm việc. Sau đó tôi lại tập trung tư tưởng hoàn toàn vòa việc làm. Tự nhiên tôi thấy giữa các bản đánh máy có một cuốn vở. Đó là một cuốn vở mỏng, đánh máy và tất nhiên tôi đã đọc nó. Nếu tôi giữ đúng quy chế mà thường người ta luôn luôn ngồi nhét cho chúng tôi là: Công việc của anh là các bài toán. Anh không được quan tâm đến bất kỳ việc gì khác ! Anh không có quyền sử dụng khí Oxy của Đấng Ban Ơn cho một việc khác với việc đã được chỉ định …

Nên tôi chưa khi nào bận rộn về một việc nào khác. Nếu tôi không phải dấu vợ và đứa con trai nhỏ. Nếu tôi không bận rộn về những ý nghĩ bị cấm phủ nhận Chúa, lật đổ và những ý nghĩ rắc rối khác … thì tôi đã gạt cuốn vở về một bên. Tôi đã không hiểu được điều đó. Khi bộ não của tôi thực tế chỉ có khả năng giải các nhiệm vụ toán học. Nhưng .. Như tôi đã nói. Những lần can thiẹp hiệu chỉnh mà họ làm không phải lúc nào cũng hoàn chỉnh. Và ngoài ra muốn có một nhà toán học tốt thì nhiều khu vực của não phải được giữ nguyên không được động chạm tới. Nhất là trí nhớ lôgic. Hơn nữa, một cơ thể đang sống luôn luôn tự tái tạo. Đó là chưa nói đến tác động của sự can thiệp đối với mỗi người không thể hoàn toàn giống nhau …

Tôi bắt đầu dở cuốn vở đó ra và đọc và bị kích động một cách khủng khiếp. Khi đọc hết, tôi vô cùng lo lắng và bàng hoàng … Lúc đó mắt vẫn mở nhưng tôi không nhìn thấy gì và không thể tiếp tục công việc. Tôi phải làm một cái gì .. thật là khủng khiếp … làm gì đây … Đúng lúc đó, ngọn đèn kiểm tra trên bàn tôi bỗng nhiên bật lên. Tôi đứng dậy để đến nơi kiểm tra não, lòng hồi hộp lo lắng. Tôi cảm thấy rằng phải uống Thuốc Ngủ sâu nhiều hơn mọi lần nên dóc ngược lọ thuốc không sót một giọt. Do uống nhiều nên tôi chỉ nhớ hết sức lờ mờ về cuộc kiểm tra tín hiệu sóng và tín hiệu chung. Tôi cảm thấy mỏi mệt, buồn ngủ. Tôi nghĩ tới vợ và ON con, nhưng chỉ thoáng qua. Kiểm tra xong, tôi chờ được nhận được lại tấm thẻ đục lỗ, nhưng không có !

Lúc đó tôi hiểu quá rõ điều gì sẽ xảy ra.

Ai không có tấm thẻ đục lỗ, kẻ ấy không thể mở cửa nhà mình, không bước được vào chỗ làm việc của mình, không được nhận thực phẩm. Anh nhớ, tôi không chỉ lo cho riêng mình mà còn vợ và ON con nữa ! Mà còn có những Bẫy chụp. Từ đầu câu chuyện đến giờ tôi chưa nói về những chiếc bẫy này. Tren các đường phố anh có thể gặp chướng ngại đột ngột dựng lên như mọc từ dưới đất hay hiện ra từ chỗ hư không. Đó là những bức tường, chiếc tủ, chắn song sắt, hoặc tấm kính … Ai có thể kiểm tra lliền rút ra, lập tức chướng ngại biến mất và người đó tiếp tục đi bình thường. Đối với những người chạy trốn, những người sống ẩn nấp không có thẻ đục lỗ thì sẽ có một cơ cấu giống hệt như chiếc lồng hay một ô xà lim chụp lấy họ … Lúc đó tôi phải quyết định, tự lựa chọn: hoặc mãi mãi thu mình ẩn nấp trong hang động làm tăng số người cần phải cứu trợ … hoặc tôi phải trốn tránh một thời gian ngoài thành phố vì không có thẻ đục lỗ. Hoặc sẽ gõ cửa anh bạn ORO để nhờ trợ giúp.

Tôi chọn giải pháp thứ ba. ORO giật mình khi tôi kể lại với anh chuyện xảy ra. Chúng tôi bàn mưu tính kế rất lâu và cùng đi đến kết luận là sẽ đưa tôi tới kiểm tra đầu óc một lần nữa. ORO nói:

“Điều xấu nhất mà cậu có thể gặp phải là học sẽ xử lý chân não cho cậu một lần nữa.”

“Một cuộc can thiệp mới à “ – Tôi hỏi.

Tôi cho rằng vì tất điều này sẽ xảy ra. Nhưng rất có thể phải điều trị bằng phóng xạ … Cậu bày hết sức chú ý … Trong quá trình nghiên cứu mình đã phát hiện ra điều này : Mình có thể đặt cho cậu một tấm rất mỏng úp lên xương sọ. Tấm đó sẽ ngăn không cho tia phóng xạ đi qua.

ORO tiến hành chuẩn bị cho tôi, sau đó anh trang bị đầy đủ cho tôi nhiều loại thuốc uống, hạn chế trí nhớ, thuôc ngủ và thuốc an toàn. Tôi lại tôi làm lại não đồ. Tôi không còn thẻ đục lỗ trên đâng đọc các dữ liệu cá nhân của tôi trước một máy xử lý hoạt động theo tiếng nói. Cánh cửa được mở ra trước mặt tôi. Các máy móc kêu vo vo, các đèn tín hiệu chớp tắt liên hồi. Nhưng lần này tôi cũng không được nhận lại tấm thẻ đục lỗ. Tôi bị rơi vào một tình trạng nửa thức nửa ngủ.

Sau đó tôi tỉnh lại trong một ngôi nhà bê tông khổng lồ. Lúc này, tôi biết ngay rằng số phận của tôi đã tới một bước ngoặt, họ đã không đưa tôi trở lại chỗ xử lý bộ não. Có thể những máy móc đã phát hiện ra điều gì ở tôi. Đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân tới, họ sẽ đày tôi tới Thành phố của những người nô lệ. Tức là những người đeo vòi: Tôi đã bị tuyên án phải hoàn toàn xóa trí nhớ.

NHưng nhờ cách chuẩn bị của anh bạn ORO nên phần lớn trí nhớ của tôi đã được bảo toàn.


16. CUỐN VỞ ĐẦY BÍ ẨN


ON tiếp tục kể:

- Cuốn vở đầy bí mật chính là cuốn vở đã đưa tới sự đày đọa mà tôi sẽ không bao giờ quên được nó.

Trong đó có ghi lịch sử của hành tinh Oxy và biên bản của ĐẠI HỘI LẬP HIẾN BÍ – MẬT CỦA TƠRỚT OXY. Lần đầu tiên khi thấy cuốn vở, tôi đã chần chừ, mở ra rồi lại gấp lại. Lúc đầu tôi không muốn đọc. Vì tôi cũng đã được biết là lâu lâu người ta lại đưa lẫn vào tài liệu làm việc của bọn tôi những câu hỏi và những thông tin bàn về vấn đề không thuộc phạm vi công việc của chúng tôi. Thật là bất hạnh cho kẻ nào đã tiết lộ ra rằng anh hiểu và đáp lại những câu hỏi ngoài đề đó. Nhưng rõ ràng cuốn vở này không thể đưa tờ Trung tâm tới được. Đây chỉ có thể là của những người Vô hình, tức là những người bạn đồng hành không quen biết của chugns tôi. Những người đang bí mật sản xuất ra chất thuốc Ngủ sâu. Những người che chở cho những gia đình đang lẩn trốn. Phải nói là tôi đã hành động thiếu cân nhắc. Đáng lẽ tôi không nên đọc cuốn vở đó thì mới đúng mà phải mang nó về nhà rồi bí mật đọc nó. Có lẽ tôi đã kể với anh rằng: Khi chúng tôi ở nhà hoặc ở câu lạc bộ thì chỉ có kiểm tra đột xuất trong trường hợ hết sức hạn hữu. Sau khi đọc, tôi có thể uống những viên thuốc Ngủ đông rồi qua một giấc ngủ sẽ quên tất cả ! Bởi vì nội dung cuốn vở đó gây cho người đọc sự phẫn nộ ghê gớm. Tôi luôn luôn bận tâm suy nghĩ và muốn làm những chuyện chọc trời khuấy nước.

Nghĩ lại, đúng trong giây phút vừa đọc xong cuốn vở thì họ yêu cầu tôi đi kiểm tra. Chưa chắc đây là sự tình cờ. Phải, đó có thể là sự tình cờ nhưng tôi đã sai lầm mà hốt hoảng uống quá nhiều chất thuốc Ngủ sâu.

Nói đúng ra, tôi không thể nhớ đúng từ câu từng chữ của cuốn vở vì tôi chỉ được đọc có một lần và sau đó biết bao điều ghê gớm đã xảy ra ! Đến bây giờ tôi chỉ cón nhớ những điều đáng chú ý:

Xua kia trên hành tinh Oxy có các lục địa và các đại dương. Có 17 lục địa mọc lên từ đại dương lớn và ngoài ra còn có những biển kín, các hồ, sông, vịnh ..v .. v… Địa lý của chúng tôi cũng giống như địa lý của nhiều hành tinh khác trong hệ đường Ngân Hà. Chúng tôi cũng có những con tàu vũ trụ và có quan hệ với các hành tinh xung quanh. Có nhiều dân tộc đã ở trên hành tinh chúng tôi và xưa kia họ sống lúc thì hòa bình lúc thì đấu tranh với nhau. Lúc đó có dồi dào lương thực thực phẩm. Kinh tế thịnh vương, văn hóa và khoa học nở hoa.

Trong lịch sử hành tinh chúng tôi có mấy thế kỷ là một thời đại hạnh phúc trong sáng, sung sướng dư dật và niềm vui tràn trề. Các phát minh sáng chế được nảy ra liên tiếp. Sự kiêu hãnh của những người danh Oxy ngày càng lớn lên. Các phương tiện giao thông nhanh chóng đến mức người ta có thể bay vòng quanh hành tinh Oxy trong một thời gian ngắn trong khi chính no quay quanh trục của nó. Nhưng kế hoạch giao thông liên hành tinh và điều chỉnh thời tiết được vạch ra. Nếu những người dân hành tinh Oxy có suy nghĩ chia hẳn hợp lực nhau tìm cách giải quyết những nhiệm vụ đó nhằm mục đích hòa bình thì mọi việc đã khác hẳn …

Nhưng tới một lúc, từng dân tộc ganh đua nhau xây dựng riêng những viện nghiên cứu và cơ sở công nghiệp khổng lồ. Cái nào cũng muốn vượt nhau và dìm nhau. Rồi những thí nghiệm hạt nhân trong bầu khí quyển. Nơi này thì gây ra sự tan vỡ mây. Nơi khác thì gây ra mưa đá. Nhiệm vụ nổ hạt nhận ngầm dưới đất làm rung chuyển lớp vỏ của hành tinh OXY. Và những hiện tượng thật đang sợ, không giải thích được bất ngờ xảy đế. Đầu tiên phát sinh ra địch. Nhưng bệnh dịch mà cả mấy thế kỷ không nghe ai nói đến nữa. Hàng loạt người dân OXY tự nhiên vàng vọt, gan họ phình lên và họ bị sốt cao. Những trẻ sơ sinh thường hay bị dị dạng. Da mọi người bị rộp lên kèm theo nhiều mụn nhọt. Những vết loét phát sinh trên người họ. Các nhà bác học vội vàng nghiên cứu tìm nguyên nhân và họ càng đi tới kết luận: đất, biển và không khí bị ô nhiễm tới mức độ khủng khiếp. Đầu tiên, môi sinh bị tràn ngập những loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn hết sức nhỏ. Mối nguy hiểm ngày càng tăng . Các con vật nối tiếp nhau chết trong các nguồn ngước. Nước bề mặt đã biến thành một chất lỏng nhầy nhẩy. Các loại tảo và tảo dạt, các sinh vật nổi và các loại thảo mộc sống dưới nước đều bị hủy diệt. Các súc vật uống nước này lần lượt chết hết. Khi người ta đến gần nguồn ngước thì mùi hôi thối xông lên tận óc. Các cánh rừng bị nhạt màu dần, màu xanh tươi mát của lá biến mất và cây cối cũng chết dần theo. Vòm lá bị ngạt thở chuyển dần thành màu vàng và màu nâu. Ở các thành phố lớn ngày càng hiếm được nhìn thấy bầu trời xanh. Từng đám khói lớn như đám mây màu xám, màu vàng và cả màu nâu nữa trôi dạt trong bầu trời. Ngay lúc đầu, mọi người không nhận thức ngay được mối nguy hiểm. Công nghiệp thực phẩm đã dùng hàng ngàn loại hương vị khác nhau để thay thế những thực phẩm lấy từ súc vật bị thiếu hụt. Ánh sáng muôn màu của thành phố, sự huyên náo của các trung tâm giải trí làm người ta ít chú ý đến các màn khói, làm người ta quyên đi những cơn giông ngày càng hiếm hoi. Rồi đến cả thời tiết cũng đã thay đổi. Sự khác biệt giữa các mùa trong năm dần dà biến mất. Tới một lúc, không còn mùa đông và mùa hè nữa. Cuối cùng, thiếu mất nhịp sinh học thường lệ.

Nếu hồi đó, những người dân thành phố OXY biết dùm bọc lấy nhau thì đâu đến nỗi. Nhưng đáng tiếc, họ đã coi những quyền lợi nhỏ mọn lớn hơn điều đó. Các sự tranh chấp về nguồn gốc, tham vọng muốn làm bá chủ và sự tranh giành quyền lực thúc đẩy họ lao vào sản xuất vũ khí, thống trị, chiếm lấy đất đai của kẻ khác, lợi nhuận, quyền lực … chắc anh hiểu những khái niệm ấy chứ?

Peter đáp và gật đầu:

- Có một thời, ở Trái Đất chúng tôi cũng có những cái đó.

ON kể tiếp:

- Có những kẻ đã tạo ra nguồn thu nhập ngay từ những điều nguy hiểm đáng sợ đó. Trong các thành phố đông dân, hoa cỏ và cây cối chết hết. Họ đã sản xuất hoa nhân tạo, bãi cỏ nhân tạo, bụi cây và các cây nhân tạo nhiều màu và bán rất đắt. Mỗi ngày hàng ngàn người được đưa vào bệnh viện cấp cứa với triệu chứng ngạt thở. Đối với những kẻ có tiền thì có sẵn những bình chứa OXY hoặc những lều có chứa không khí lẫn Ozon thơm mùi nhựa thông. Lợi nhuận … Những lời cảnh báo nhắc nhỏ của những nhà bác học, những nhà văn và nghệ sĩ đều vô hiệu. Những người dân tốt nhất

(Thiếu trang 88 – 93)


17. TRONG NHÀ NGƯỜI BẠN THÂN THIẾT NHẤT


Peter càng đi càng cảm thấy con đường mòn dài vô tận. Đôi khi anh có cảm giác họ đã dong ruổi trên con đường này từ ngày sinh ra Trái Đất. Lúc này họ đi trên nền đất mềm hơn. Đôi chỗ có ít bùn, còn bước chân họ cảm thấy nặng hơn. Sau đó lại tiếp tục đi trên nền đá. Tia sáng mảnh mai của chiếc đèn Pin nguyên tử rọi đường cho họ đi. Còn bên cạnh, trên đầu và dưới chân hai người là khoảng tối âm u không gì xuyên qua được.

Lúc này Peter đã nghĩ rằng các tốt nhất để tranh thủ sự giúp đỡ không gì bằng tìm đến ORO, anh bạn thân mến của ON. Anh không tự cho phép mình ảo tưởng gì nữa. Đối với quyền lực âm thầm và đầy bí ẩn của Trung Tâm thì điều tốt hơn hết là nên ẩn mỉnh, ẩn nấp nếu có thể được. Ai mà biết được chuyện anh rơi xuống đây có phải là sự tình cờ hay không? Có phải một người nào đó đã cố tình lôi anh xuống đây? Có phải người ta vẫn quan sát và theo dõi anh từng giờ từng phút? Những lời kêu gọi trên điện đài của anh không nhận được lời đáp. Nhưng chúng có bị ghi lại ở đâu không?

Còn July yêu dấu của ta? Bây giờ nàng ở đâu? Riêng ý nghĩ rằng điều bất hạnh cũng có thể xảy đến với July đã làm cho anh gần điên đầu lên rồi. Có lẽ những người có trí nhớ biết ít nhiều điều này. Có lẽ ở thành phố này anh sẽ được biết thêm điều gì …

Peter và ON tiếp tục đi theo con đường mòn vắng vẻ. Đôi khi anh có cảm giác bị người theo dõi. Khi đó anh dùng đèn Pin nguyên tử soi khắp xung quanh. Nhưng khắp nơi không hề thấy một bóng người, chỉ có bóng tối, bóng tối nặng nề và dày đặc.

Hai người tiếp tục đi, đi mãi, không dám dừng chân, ai cũng im lặng. Bản thân ON cũng bị nhiều ý nghĩ lo lắng dầy vò. Không biết bản đồ ta vẽ có đúng không? Không rõ hai người đã đi đúng đường chưa? Liệu ta có tới đích không? Khi nào mới tới được? Và cuối cùng là cái gì sẽ chờ đợi ta?

Nghĩ có kỹ dẫu sau họ cũng thấy có niềm vui và tự tin. ON chứa chan hy vọng gặp lại vợ và ON con. Còn Peter thì cũng nuôi hy vọng mong manh hơn là biết đâu July chẳng đã có mặt ở Thành phố của những người có trí nhớ. Hoặc có thể ORO biết được tin tức về nàng. Còn nếu không thì sao? Cái gì sẽ xảy ra? Lúc đó anh phải đi tới đâu? Làm gì?

Chiếc mày sản xuất Oxy bỏ túi của Peter tiếp tục sinh ra lượng Oxy nuôi sống hai người. Từng lúc một, Peter lại nạp đầy bình chứa Oxy cho ON. Không nhớ là bao nhiêu lần. Thay cho các bữa cơm, họ nuốt những viên dinh dưỡng. Đột nhiên Peter lo lắng: Không biết những máy móc tinh vi này của mình còn sử dụng được đến bao giờ? Tuổi thọ của nó cũng có giới hạn chứ ! Nó đã được sản xuất cho những chuyến du lịc ngắn nên giống đồ chơi hơn là các thiết bị nghiêm túc.

Tới một lúc, ON đang đi phía trước, đột nhiên dừng lại nói:

- Bây giờ tôi nhớ rồi. Nhớ rất chính xác. Chúng ta sắp tới thành phố rồi anh ạ !

Lúc này anh lại bị kích động mạnh, không thua gì lần anh biết nội dung của cuốn vở bí mật.

- Theo bản đồ thì chúng ta đã tới đây, ở cuối con đường mòn và tôi có thể nhớ lại vị trí của hang động. Giây lát nữa chúng ta sẽ tới đó … Nhưng đoạn đường cuối cùng là đoạn đường khó đi nhất. Anh cần hết sức chú ý …

Trong các chuyện cổ tích người ta thường nói đến những ngọn núi dốc đứng, bằng pha lê với thành núi trơn tuột, mà chỉ có các loại rồng bay kỳ lân mới có thể bay qua được.

- Bây giờ tôi nhớ ra rồi … Thành phố của những người có trí nhớ, được bao quanh bởi một con hào tối. Và ven chỗ có hang động có rất nhiều bụi cây. Còn phía bên kia bắt đầu có các ngôi nhà. Nhưng tôi không biết sẽ vượt qua hào đó bằng cách nào. Có lẽ là nên dừng lại nghỉ một lát …

- Hào này ta nhất định vượt qua được. Trong những trang bị tôi đem theo có loại thang Mặt Trăng.

Họ dừng lại dưới chân một bức tường đá dốc đứng. Đó là phần thạch nguội hóa đá, hậu quả một vụ nổ khổng lồ dưới đất.

Peter mở túi dụng cụ lấy ra hai chiếc thang. Loại thang này như những cuộn chỉ lớn hay cuộn ống cứu hỏa cuốn thành vòng lớn. Khi sử dụng ta không phải làm gì khác hơn là trải cuộn đó ra, cho lăn trước mặt mình. Chiếc thang dây dính vào vách đá và tự nỏ ra thành từ đốt khi tiếp xúc với một vật rắn. Hai người có thể đặt mũi giầy lên các nấc, dựa đầu gối vào đó và lần lần leo lên. Mỗi cuộn thang dây dài tới vài dặm. Và mỗi nhà du hành vũ trụ mang theo trong túi hành lý của mình thàng tá loại thang Mặt Trăng như vậy. Khi người ta đụng phải bất kỳ một thiên thể nào hoặc rớt xuống một cái hào hay gặp một bức tường đá cao nào đều có thể vượt lên được. Hồi thế kỷ thứ 21 loại thang này đã được sử dụng lần đầu tiên trên Mặt Trăng nên đã được đặt tên như vậy.

Việc leo trèo tuy vậy không phải là quá dễ. Nhưng loại thang này tỏ ra rất chắc chắn. Họ leo từng đốt một, từng thước một và dần dà đã gần tới đỉnh. Chỉ lăn thêm vài vòng nữa là chiếc thang của Peter đã bám được vào một cành cây phía trên đỉnh đá. Chỉ một bước cuối, Peter đã nắm được một cành cây. Cành đó trơn như bằng chất dẻo. Thực ra đó không phải là một cây sống.

ON cũng đã tới một bụi cây. Họ tắt chiếc đèn Pin nguyên tử. Dừng lại vài phút xả hơi và nạp đầy bình chứa Oxy. Họ cố gắng phán đoán xem cái gì đang đợi họ ở đây. ON nhớ ra rằng đây là ngoại vi ngoài cùng của thành phố và nói chung không có người dân nào đi chơi ra tới đây. Cũng như ở Thành phố bêtông mà họ vừa rời khỏi, lối vào của mọi nhà đều quay vào phía trung tâm thành phố. Vì vậy mọi người dân không ai đi về phía này. Họ ra làm gì vì ở đây là chấm dứt của thế giới và bắt đầu cõi hư không. Đó là phần không sống của hành tinh. Dù cho có muốn đi chơi cũng không đủ lượng Oxy dự trữ…

Nói chung thế giới của hành tinh Oxy nơi nào cũng như nhau kể cả các nhà và thành phố của các nhà bác học. Ai cũng chẳng nghĩ tới việc đi đâu làm gì.

Đồng thời, chính ON cũng không biết xung quanh có thiết bị kiểm tra, hoặc cái gì đó chộp bắt họ. Điều có thể xảy ra nữa là họ vừa vượt qua một đoạn đường rất gian nan. Nhưng đột nhiên họ có thể rơi xuống một cái giếng và lập tức họ được đưa trở lại Thành phố bêtông, Thành phố của những sinh vật có đeo ống hô hấp.

Khi họ tự vạch một con đường qua đám cành và lá bằng chất dẻo thì một tiếng lao xao nổi lên. Toàn bọ đám bụi cay này đen kịt khi còn xa. Nhưng lúc đến gần thì chúng trở nên màu xanh sẫm. Lúc này Peter nhận thấy rằng ở Thành phố của những người có trí nhớ này có nhiều màu sắc như ON đã nói trước.

Họ đi xuyên như thế được vài trăm thước thì đám bụi cây chấm dứt đột ngột. Họ đã đến bên ria một cánh đồng rộng. Nền đất ở đây không phải bằng bêtông nhưng được phủ một lớp nệm dày bằng chất dẻo màu xanh lục. Phía bên kia bãi cỏ, họ thấy những ngôi nhà đầu tiên, xung quanh có vườn nhân tạo với những cành cây và hoa lá nhân tạo.

- Chúng ta tới rồi ! – ON reo lên – Chúng ta đã tìm thấy nó rồi. Tôi nhận ra được mọi thứ ở đây rồi.

Phía trên các ngôi nhà, bầu trời màu xám xanh.

Nhưng dẫu sao, nó cũng tươi sáng hơn là ở Thành phố bêtông. Ở đây các ngôi nhà không giống hệt nhau như ở dưới kia. Nó khác nhau về vật liệu xây dựng và cả màu sắc nữa. Trước các ngôi nhà, Peter thấy có những người đi lại một cách trầm lặng như những người ở dưới kia. Họ cũng đeo mặt nạ hô hấp nhưng kiểu nhẹ hơn và tiện nghi hơn nhiều.

Peter lấy máy phân tích không khí: Nitơ, Anhydric Sulfureux, khí Cacbonic và …

- Này ON xem này, không khí ở đây đã có được 5% Oxy.

ON gật đầu:

- Phải, chính nhờ điều này mà khi ở trong các phòng làm việc đóng kín, các ngôi nhà và các câu lạc bộ, chúng tôi có thể sinh hoạt mà không cần đến máy hô hấp. Tất nhiên là có những máy lọc và những bộ điều hòa không khí thích hợp.

Hai người đi qua bụi cỏ tới đường phố đầu tiên. Không ai để ý đến họ. Không ai quay lại khi họ đi qua và cũng chẳng ai nói gì với họ. Kể cả bộ quần áo lao động của ON với chiếc bình chứa Oxy căng phồng trên lưng cũng chẳng làm ai chú ý.

ON nắm lấy tay Peter:

- Tôi thật không biết nói làm sao để cám ơn. Nếu có một mình chắc chắn tôi không bao giờ tới đây được. Chúng ta hãy tới nhà ORO.

- Còn xa lắm không?

- Không xa lắm.

ON vội vàng rảo bước:

- Thật là kỳ lạ anh ạ. Nếu như mình nghĩ lại thật kỹ. Chúng tôi đã ở khá lâu ngay cạnh nhà ORO. Nhưng chúng tôi không hề biết rõ anh ta làm công việc gì. Tôi nhớ, mỗi người chúng tôi ở thành phố này đều có một nhiệm vụ riêng. Ngay tại chỗ làm việc mỗi người cũng có một phòng riêng. Mỗi người nhận được một nhiệm vụ từng phần và không được phép trao đổi hoặc thông báo công việc của mình cho nhau. Và bây giờ, khi nghĩ lại, tôi mới thấy được một điều thật hiếm có. Điều mà trước đây tôi chưa hề phát hiện ra: Hằng ngày, khi làm xong việc, chúng tôi bước lên tấm thảm lăn để đi về nhà hoặc đi đến câu lạc bộ nhưng không khi nào gặp gỡ những người có chùng nghề. Nhà ở của chúng tôi cũng được bố trí sao cho cạnh nhà một người thầy thuốc là nhà một người hóa học, cạnh đó có lẽ là một người thiết kế truyền hình hoặc một nhà vật lý. Như vậy, nếu hàng xóm láng giềng có gặp gỡ ngồi lại với nhau thì không tài nào nói chuyện về công việc được. Đồng thời chúng tôi cũng không hiểu biết gì nghề nghiệp của người khác. Và lúc đầu, điều này cũng không làm chúng tôi quan tâm. Tôi đã từng kể cho anh là chúng tôi cũng đánh bài hoặc nghe nhạc. ORO91 là một nhà phẫu thuật rất giỏi. Anh sống ngay kế bên nhà tôi. Nói cho đúng thì chính anh ấy là người có nhiều cố gắng để kết chặt tình bạn với chúng tôi. Anh ấy đã kể về mình cho tôi nghe và tâm sự với tôi rằng anh có nhiều ý nghĩ riêng tư. Trong những người mà tôi gặp từ trước đến nay thì ORO là con người tuyệt diệu nhất. Chính anh ấy đã giải thích cho chúng tôi biết về sự biến đổi đặc biệt trong cơ thể vợ tôi và đã đỡ cho ON con ra đời trong một cái động.

Trong khi họ hoàn toàn tỉnh táo và căng thẳng đi dọc theo con đường, họ bàn bạc với nhau về những điều ORO có thể biết, những điều có thể nói và khuyên nhủ họ, thì Peter không thể không nhận ra rằng, mọi thứ ở dây đều khác hẳn ở Thành phố bêtông và sự khác biệt đập ngay vào mắt. Ở đây, các ngôi nhà đều có cửa sổ tuy bị đóng kín cả. Không biết những cửa sổ này có chấn song hay không? Hay là người ta chỉ có thể nhìn qua mà không mở được. Ở đây anh có thể dễ dàng phân biệt các nhà ở với các ngôi nhà khác. Những nhà ở được xây dọc theo các quảng trường với những bãi cỏ nhân tạo. Trên các bãi cỏ nhân tạo rực rỡ những bông hoa nhân tạo màu đỏ, vàng và xanh. Những ngôi nhà lớn hơn là cửa hàng tổng hợp với những tủ kính chưng bày hàng rất đồ sộ. Trong đó có khá nhiều mặt hàng: quần áo nhiều màu, đồ gỗ, đồ dùng nội trợ, dụng cụ gia đình, kể cả văn phòng phẩm và đặc biệt là nhiều trò chơi xã hội. Trong đó có một bàn đánh bạc kiểu quay số, bộ bài cào có ba chục lá. Ở các Thành phố của những người mang vòi khắp nơi người ta ăn uống trong những nhà ăn màu xám giống hệt nhau. Ở đây cũng có những nhà ăn nhưng được trang trí bằng những tấm kính thật lớn. Tôi thấy mọi người ngồi ở các bàn nhiều màu ăn uống mà không phải đeo vòi hô hấp. Lại còn có cả những của hàng bán thực phẩm. Phần nhiều họ trưng bày đồ ngọt và khá nhiều thức uống.

- Chúng ta đến rồi ! – ON vui vẻ kêu lên.

Anh ta vừa dừng lại trước một ngôi nhà quét vôi xanh khả ái. Khi anh bấm chuông, một cánh cửa mở ra. Hai người bước vào. Cánh cửa đóng lại sau lưng họ. Phía trong một cánh cửa khác mở ra. Qua những ngăn như thế, hai người vào hẳn trong nhà. Vách ngăn này đương nhiên là cần thiết để khí Oxy trong nội thất khỏi thoát ra ngoài.

Sau khi qua năm sáu khoang như thế, họ vào tới một phòng khá rộng. Ở đây có một cầu thang đi lên các phòng trên lầu.

ON dùng lại ở giữa sảnh và lên tiếng gọi:

- ORO, cậu có nhà không đấy?

- Có, bạn chờ tôi một lát – Lời đáp vọng ra từ trên lầu.

Phía trên cầu thang hiện ra một người cao lớn có bộ mặt thông minh. Peter đã hơi quen cách nhận xét bộ mặt của người dân hành tinh này. Nên anh thấy đó là một người đàn ông chừng 34, 35 tuổi, chạc tuổi với ON.

Người đàn ông đứng dừng lại trên cầu thang, ngỡ ngàng nhìn hai người mới đến.

- ORO, bạn thân mến ! Cậu không nhận ra mìnhh à? Mình là ON, ON 711314, bạn thân nhất của cậu đây mà.

Lời đáp:

- Thưa, xin lỗi, tôi không có hân hạnh được quen biết ông – Anh nhìn thẳng vào ON với cái nhìn trống rỗng – Tôi chắc chắc chưa bao biờ gặp ông cả.

- Tôi xin cậu … cậu đừng làm cho tôi mất trí. Cậu có thể nói cho mình biết, vợ mình và thằng ON con hiện nay ra sao và mình tìm họ ở đâu bây giờ?

- Xin lỗi, tôi nghe rõ lời ông nhưng không hiểu là ông định nói gì. Tôi trông thấy ông lần này là lần đầu tiên.

- Thế này thì quá tệ - ON gào lên và bắt đầu nức nở.


18. CUỘC BÀN BẠC TRONG ĐÊM TỐI


Có những giây phút làm cho ON tự nghi ngờ chính mình. Có lẽ ta đã nhầm lẫn? Hay trí nhớ của ta đã trượt sang con đường lãng quên? Có thể ta đã nhận lầm một người xa lạ là ORO? Hay là các giác quan của ta lừa dối ta? Nhưng coi lại trên tấm bản đồ mà anh đã tốn bao nhiêu công sức mới vẽ được khi còn ở Thành phố bêtông, anh đã vẽ ngôi nhà ORO đúng ở vị trí này. Hơn nữa, anh đã nhận ra ngôi nhà này. Và anh đã nhận rõ đúng là ORO theo vóc người, theo khuôn mặt và theo giọng nói. Và người đó cũng tự nhận tên là ORO …

Vậy cái gì đã xảy ra với ORO? Có phải anh đã bị người ta can thiệp vào bộ não hoặc ru ngủ hay xóa mất trí nhớ? Hay là ORO sợ một cái gì đó?

Hay cậu ta cho rằng mình là hồn mà hiện hình. Từ kinh nghiệm của mình, ON biết rằng: Một khi một đồng nghiệp hoặc một người bạn đã bị loại ra theo đợt kiểm tra thì sau đó không có ai hỏi tới điều đó nữa. Nếu trước đây một người trong số này xuất hiện lại sau một hai năm thì chẳng phải là chính ON cũng trả lời: “Thưa ông, tôi mới trông thấy ông lần đầu …?”

Suốt dọc đường ON đã ôm ấp hy vọng là họ có thể tạm ẩn náu trong nhà ORO và nhờ anh ta giúp đỡ. Còn như bây giờ, lang thang giữa thành phố không có tấm thẻ đục lỗ họ không thể ở đâu được và cũng không thể làm gì được. Trên đường phố, họ gặp những người qua lại thật may mắn. Những người này cũng hoàn toàn bình thản đi qua trước mặt họ như những người ở Thành phố bêtông. Tuy nhiên từ lúc ở nhà ORO trở ra, Peter và ON nơm nớp lo sợ: Ở bất kỳ chỗ nào và bất kỳ lúc nào, nếu họ gặp kiểm tra đột xuất là lập tức sẽ bị bắt. Các lối đi bí mật, các khoang nhốt người hoặc các giếng sâu có thể mở ra dưới chân họ bất kỳ lúc nào …

Hai người quyết định phải rời khỏi thành phố theo con đường ngắn nhất và sẽ qua tạm đêm trong đám bụi cây nhân tạo để nghỉ ngơi đến sáng cho lại sức mà tiến hành những việc cần thiết.

Ở đây, tại Thành phố trí nhớ này, Peter đã có thể nhận thấy được sự thay đổi giữa ngày và đêm. Tuy chưa nhìn thấy được bầu trời xanh và Mặt Trời. Tuy nhiệt độ và cường độ sáng đều thay đổi rất rõ ràng. ON giải thích:

- Theo chỗ tôi được biết thì đây không phải là ánh sáng nhân tạo. Ít nhất tôi cũng hiểu được một vài nét.

Suốt trong thời gian ở dưới kia, tôi đã cố gắng tập trung để khỏi quên một tên và nhà của ORO. Bây giờ tôi không còn biết nhờ cậy ai trong số bạn cũ của tôi nữa. Kể ra thì có nhiều bạn đấy. Chúng tôi cũng đã tranh luận, cùng ngồi uống rượu với nhau … Nhưng giữa chúng tôi không hề có quan hệ nội tâm thì bây giờ làm sao tới nhờ vả họ được. Khi một người nào đó lại thay thế hoặc có một người nào mới xuất hiện sẽ không có ai đặt vấn đề gì hết.

Lúc này trời đã về đêm, họ mệt mỏi và cố gắng lắm mới tự thu xếp được một chỗ nghỉ trong đám bụi cây nhân tạo. Bầu trời tối om. Qua các cành nhánh của bụi cây, đôi lúc người ta có thể trông thấy ánh sáng ở các cửa hàng và quán ăn được tăng cường.

Hai người im lặng nằm hẳn xuống nhưng cũng không ngủ được. ON nhắm mắt lại rồi lại mở mắt ra. Anh cố nhớ lại mọi việc.

Ánh sáng thành phố từ phía kia tới thì lối vào hang động nhất định ở phía này. Lúc này trong bộ não đã nhiều lần bị can thiệp và tra khảo của anh hình thành những sóng của sự giận dữ và sự trả thù.

Tại sao mình không thể nhớ lại được rõ người một cách chính xác? Người ta đã làm gì mỗi người ở đây?

Bây giờ anh ta nằm, mắt mở trừng trừng và quan sát ánh sáng thành phố. Ánh đèn rực rỡ làm anh khắc khoải nhớ đến đôi mắt như sáng sủa và tò mò của đứa con trai. Điều này làm anh thư dãn và có thêm sức lực.

- Bây giờ chúng ta dậy đi Peter. Tôi có thể tìm được hang động.

- Ta đi đi ON. Nhưng anh nhớ rằng xung quanh đây toàn những vách đứng bằng phún thạch và núi đá.

- Hôm nay chúng ta sẽ thử số phận lần nữa.

Bây giờ họ vượt ra phía ngoài đám bụi cây. Bắt đầu theo bờ đá đi vòng bên ngoài thành phố. Họ vẫn sử dụng hai cuộn thang Mặt Trăng lăn trước mặt để bước chân thật chắc chắn khỏi trượt ngã. Peter nghĩ:

- Thật giống như cuộn chỉ của Arianne. Anh lại nhớ Trái Đất, nơi quê hương đẹp đẽ và thân thương của anh. Với những vùng đất mến khách, những con người hạnh phúc, những chuyện thần thoại và với đầy đủ vẻ đẹp của nó.


19. MÓN QUÀ CỦA ON CON


Trời sáng rồi lại tối trở lại. ON và Peter đi dọc theo đỉnh núi. Peter chợt có ý nghĩ dùng tín hiệu sáng để liên lạc với những người trong hang động.

Anh dùng chiếc đèn Pin nguyên tử vẽ những vòng trong không khí. Anh tiếp tục lặp đi lặp lại tín hiệu nhưng không thấy trả lời: Một sự yên tĩnh câm lặng và u uất tràn khắp nơi.

- Đến đây là gần tới nơi rồi đó – ON nói khẽ.

- Sao họ không đáp lai? Hay là họ sợ chúng ta?

- Sợ tôi à? Tại sao họ lại phải sợ tôi kia chứ?

- Họ làm sao biết được đó là cậu? – Peter hỏi – Nhiều lắm là họ chỉ thấy được tín hiệu sáng chứ khôgn thấy được chúng ta. Ta hãy chờ …

Họ dừng lại và bám chặt vào núi đá. Peter chiếu sáng ON, chùm sáng của chiếc đèn nguyên tử rọi lên làm tóc nâu, thân hình mảnh dẻ của ON. Họ cứ đứng như vậy một vài phút. Sau đó Peter tắt và bật đèn lên mấy lần nữa. Anh muốn mọi người trong hang động nom rõ ON. Quả nhiên sau vài phút có tiếng phụ nữ vang trong bóng tối:

- ON … O … O … ON … Hãy chờ em … Hãy ở nguyên đó và chờ em.

Sau đó, từ phía xa một điểm sáng nhỏ chao đi chao lại ngày càng tới gần. Rồi một thiếu phụ mảnh mai xinh xắn xuất hiện trước mắt họ. Peter không biết chính xác quần áo trên hành tinh Oxy này cắt theo kiểu nào và bằng thứ vải gì. Nhưng qua trang phục của thiếu phụ, anh nhận ra rằng quần áo này do cô ta tự cắt may lấy với bàn tay không nghề lắm. Tuy vậy nó vẫn toát ra nét duyên dáng và hấp dẫn. Cô ta chạy thẳng tới ON và ôm chặt lấy. Hầu như cô không để ý tới Peter.

- Còn ON con đâu? – ON hỏi sau khi âu yếm vợ.

- Bây giờ nó lớn thế này rồi – Cô ta ra hiệu – Mỗi ngày con nó đều cầu nguyện cho ba trở về để nó tặng món quà của nó … Bây giờ em đưa anh món quà này …

Ánh Dương, tên người thiếu phụ, đưa cho ON một mẩu gỗ mục có phát lân quang.

- Nó phát sáng đấy anh ạ - Cô nói.

Peter vội vàng xin phép được tới gần coi mảnh gỗ tận mắt. Với các dụng cụ khoa học, anh xác định được rằng nó thực sự là một mảnh vỏ cây hữu cơ và sự phát lân quang của nó là kết quả của quá trình phân hủy.

Peter dùng đèn pin rọi đường, Ánh Dương dẫn hai người đi ngược theo đường cô ta đã đến. Con đường mà với những bước chân khéo léo, tránh cách mảnh đá nhọn và đá lăn chị đã leo thật nhanh lên gặp ON. Lúc này họ phải bám chặt vách núi và đôi chỗ phải xử dụng đến chiếc thang dây Mặt Trăng. Nếu Ánh Dương không dừng lại chỉ thì chắc chắn họ không phát hiện ra lối vào hang động.

- Đây là người bạn tốt … Người tới là một người bạn tốt – Ánh Dương kêu lên – Tôi biết anh ta … ON con lại đây nào! Chúa đã nghe thấy lời cầu nguyện của con. Con hãy mang tặng phẩm lại cho ba cọn.

Một em trai kháu khỉnh chạy từ hang ra. Chân mang chiếc dép làm bằng những mảnh chất dẻo phế thải nào đó và mặc một kiểu xà rông. Em không đeo dụng cụ hô hấp. Lúc này Peter và ON mới phát hiện ra rằng cả thiếu phụ cũng đã bỏ mặt nạ hô hấp.

- Ở đây chúng ta có không khí, chúng ta có Oxy – Ánh Dương sung sướng kêu lên – Các anh bỏ mặt nạ ra.

Đến lượt Peter và ON tháo máy hô hấp. Không khí trong hang thật dễ chịu, thơm mát rất dễ thở.

Ánh sáng Mặt Trời của các anh – ON gọi với niềm hạnh phúc tràn đầy – ON con, con trai của ba …

Gia đình mới đoàn tụ lại, ôm ấp và hôn nhau hồi lâu. Lúc này cặp mắt của Peter đã quen dần với độ sáng mờ mờ trong hang. Anh thấy trong động lớn trung tâm có mở ra nhiều vòm hang nhỏ hơn và nhiều nhánh kiểu như lối đi. Đó là những sinh vật hình người, phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Họ không thể ra khỏi các hang nhỏ, chỉ cúi người ra ngoài để nhìn rồi lại thụt đầu vào duy vẫn còn tiếp tục quan sát. ON nhỏ khuôn mặt sáng ngời hạnh phúc, mang tới một chiếc bình giống như một chiếc đĩa sâu, không rõ bằng một mảnh chất dẻo hay một hòn đá rỗng. Thiếu phụ giải thích:

- Cái này hai mẹ con đã trồng cho ba nó đấy.

ON nhận lấy chiếc bình ngắm nghía mãi mà không hiểu. Anh đưa lại cho con trai hỏi:

- Cái gì đây?

- Nó sống ba ạ … Nó nẩy mầm, sống và lớn lên. Mẹ và con đã trồng nó cho ba đấy! Mẹ và con biết rằng thế nào ba cũng trở lại mà.

Peter tò mò quan sát chiếc bình. Anh thấy trong có chứa đất, đất thịt thật sự, từ lớp đất mọc lên một thân cây nhỏ với những chiếc lá mảnh và nhỏ.

- Đây là bạn tôi. Peter Mac Gulliver. Anh từ một hành tinh xa xôi của bầu trời tới đây. Chúng ta hãy nồng nhiệt đoná tiếp – ON nói.

- Mời hai anh theo em – Thiếu phụ nói và dắt ON nhỏ đi trước.

ON đặt một tay lên vai vợ còn một tay khoác vai con đi sâu vào mê cung hang hốc. Peter Mac Gulliver vừa cảm động vừa tò mò lẳng lặng đi theo họ.


20. SỰ KỲ LẠ DƯỚI LÒNG ĐẤT



Peter không thể xác định được cái thế giới trong lòng đất này lớn bao nhiêu và có bao nhiêu người sống trong đó. Trong những giò đoán đầu tiên. ON vui mừng và xúc động đến mức gần như quên bẵng hẳn anh. Peter không muốn rời khỏi bạn mình. Nhưng anh tranh thủ lúc này để thử cách quan sát các hang hốc. Ít nhất là ngó xem phần hang mà vợ con ON đang ở.

Hệ thống hang có một lối đi chính rộng rãi, có lúc thắt nhỏ lại, có lúc phình rộng ra thành những hang lớn có vòm đá rất cao. Bên thành các hang có nhiều chỗ ẩm ướt. Peter ngạc nhiên thấy ở bên thành một cái hang có một thác nước nhỏ tuôn ra rồi lại biến đi trong một cái hang khác. Trong cái mê cung bằng đá này có những phòng nhỏ, lớn, nhiều nhánh mở ra về khắp các phía. Ở một vài nhánh người ta phải leo lên cao. Trong một vài hang, có những chỗ nằm trải cát hoặc đá sỏi, có lớp chất dẻo trải ở trên. Trong một vài hang khác, anh thấy có cả cỏ tươi. Từ khi đặt chân lên hành tinh xa lạ này, đây là lần đầu tiên Peter gặp những thực vật dạng sống … Những người ở trong các hang hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Sau khi trải qua cái im lặng buồn tẻ và những động tác chậm chạp của người dân ở các Thành phố bêtông thì Peter thấy ở đây tất cả đều sống động. Họ nói nhiều và hát cũng nhiều nữa.

Peter tiếp tục đi theo lối đi chính và đột nhiên như lọt vào một khu rừng rậm. Thực ra ở đây không có cây to nhưng có nhiều cây nhỏ, có cả bụi rậm và những loại dây leo thực sự. Đó là một loại bụi rậm tự nhiên, không có vết tích của sự trồng trọt. Tất cả điều đó đối với Peter thật khó hiểu. Nhất là ánh sáng ở đây chiều từ trên xuống. Kiểu chiếu sáng này Peter không giải thích được. Lúc này anh không hiểu được tình hình toàn cục. Khi còn ở Trái Đất anh chỉ thấy được cảnh như thế ở một vài nơi như ở gần Nable, tại Capi và trên một hòn đảo Malta không xa Lavletta trong những cái gọi là hang xanh. Ở dưới sâu của những hang tối lại có nước sáng rực màu cẩm thạch. Vậy thì ánh sáng ở đâu tới? Và cây cối này tự đâu mà có? Những sinh vật như người này từ đâu tới? Họ sống như thế nào? Sống bằng cái gì? Ai nuôi họ? Và số phận nào đang chờ đợi họ?

Trong các buồng nhỏ, không chỗ nào thấy có lửa. Điều này chắc không thực hiện được vì ngọnlửa tất sẽ tiêu hao mất nhiều Oxy.

Peter hoàn toàn ngỡ ngàng đứng giữa đám cỏ cây. Anh cảm thấy như mình vừa lạc tới một nhà kính trồng cây loại đặc biệt. Đột nhiên, anh có cảm giác là anh đang chuyển động trong cái hang lạ kỳ này như trong mộng. Phải, có lẽ anh chỉ mơ thấy điều này mà thôi. Có lẽ anh đang ở nhà trên Trái Đất hoặc đang ngủ trong buồng lái của con tàu vũ trụ Nhân loại và đang mơ thấy về những điều không thể xảy ra, về những sinh vật mang vòi, về những hang động, về biển cả kỳ lạ màu đen như than, về những sinh vật hình người với bộ não bị khống chế. Anh cho là mình đang nằm mơ và sẽ có một lúc nào tỉnh dậy … Nhất định có lúc anh sẽ tỉnh dậy.

Có những tiếng kêu réo kéo anh ra khỏi tình trạng mơ mộng này: Một đám trẻ em đang quây lấy anh và hỏi anh dồn dập không biết bao nhiêu câu hỏi. Peter đã học được của ON khá nhiều ngôn ngữ của hành tinh Oxy tới mức lần này không cần máy phiên dịch tự động nữa. Những trẻ em ở đây nói vội vàng với giọng the thé và có nhiều âm sắc kích thích hơn những sinh vật trong các Thành phố bêtông:

- Anh kể cho chúng em cái gì đi ! Anh từ đâu tới? Anh có biết viết không? Tại sao anh mặc quần áo lạ thế?

Peter nhìn từng đứa trẻ một, em no qua em kia. Tất cả bọn chúng đều xanh xao gầy còm, quần áo rách rưới. Nhưng chúng có những đôi mắt sáng, tinh nhanh sinh động. Anh đang định trả lời câu hỏi thì ON tới giúp:

- Các cháu ơi ! Vị khách của chúng ta còn mệt. Chú ấy từ nơi rất xa tới đây và có lúc nào đó sẽ kể cho các cháu nhiều chuyện hay. Nhưng bây giờ hãy để cho chú ấy nghỉ đã. Chúng ta còn nhiều thời gian mà.

- Thế còn chú là ai? – Đám trẻ hỏi ON.

- ON con là con trai của chú. Các cháu hiểu chứ?

- Ê ! Nó không thể là con trai chú được. Chú đâu có phải là phụ nữ mà sinh được nó – Một chú bé còn ít tuổi reo lên và cả đám trẻ cười rộ - Chú không nên nói ON là con chú nữa !

- Sau này chú sẽ giảng cho các cháu rõ. Còn bây giờ bọn chú phải nghỉ ngơi cái đã.

- Chúc hai chú ngủ ngon và mơ đẹp – Bọn trẻ reo lên và mở đường cho họ đi.

Lúc này ON mới nắm chặt lấy tay Peter.

- Anh thứ lỗi cho tôi vì đã để anh một mình lâu quá … Nhưng sự vui mừng cảm động chút xíu nữa đã làm cho tôi mất trí. Bây giờ tôi đưa anh trở về chỗ vợ tôi. Chúng tôi chờ anh ăn và sau đó có chỗ nghỉ cho anh.

- Tôi không thấy mệt đâu, bạn ON thân mến ạ. Lúc này tính tò mò đang làm tôi ngứa ngáy. Tôi muốn tìm hiểu …

- Bây giờ chúng ta phải nghỉ cái đã. Bởi vì đến tối chúng ta phải lên đường. ORO đã nhắn tim chúng ta. Anh ấy đang đợi chúng ta.

- Anh ấy đã nhắn tìm chúng ta à? – Peter vừa hỏi vừa nghi hoặc nhìn ON – Cậu có hiểu được điều này không?

- Tôi không biết phải đánh giá tình hình này thế nào.


21. ORO 91


Sự tình thế này. Thực ra ORO đã lập tức nhận ngay ra ON.

Anh đã nhận ra ON khi mới nghe tiếng gọi và khi còn dừng lại ở trên thềm thang gác. Ý nghĩ đầu tiên khi thấy ON đứng dưới phòng khách bên một người lạ mặt là chạy thẳng tới ôm lấy cổ bạn. Nhưng trong giây tiếp theo anh có một suy nghĩ trái ngược: Điều này không thể xảy ra được. Đây chỉ có thể là một sự khiêu khích … Điều này không thể xảy ra được … ON làm thế nào mà trở về được nhỉ? Vì từ “đó” chưa hề có một người nào quay trở lại được … Vậy thì người này nhất định không thể là ON. Anh ta chỉ mang ngoại hình của ON và bắt chước tiếng nói của ON … Và còn người lạ đi cùng? Không, mình không được phép tự bộc lộ.

Sau khi khước từ với giọng nói lạnh lùng, ORO nhìn thấy trên khuôn mặt ON thể hiện sự ngỡ ngàng và thất vọng thì anh lại chần chừ giây lát. Nhưng anh quyết định không ra mặt và anh cứ đúng âm thầm không nhìn ai cả và chờ cho tới khi ON thổn thức vì thất vọng cùng với người lạ mặt rời khỏi nhà anh.

Tuy vậy, suốt ngày hôm đó anh ở trong trạng thái hốt hoảng và kích động. Sự yên tĩnh và tính kỷ luật của anh đã hoàn toàn biến mất. May thay, hôm đó lại trúng vào ngày nghỉ của anh, ORO cảm thấy rằng nếu cứ để thế này khi tới chỗ làm việc, thì thần kinh của anh sẽ bị rệu rã không làm được gì. Anh để sẵn lọ thuốc ngủ trên bàn, bên cạnh mình để bất kỳ lúc nào cũng có thể uống được. Anh có cảm giác chưa khi nào bị nguy hiểm to lớn như vậy.

ORO trạc tuổi ON. Nguồn gốc và thời niên thiếu, anh cũng không còn nhớ gì. Anh chỉ có những kỷ niệm rất mờ nhạt và nhòe nhoẹt bên Thành phố bêtông với một chiếc mặt nạ nhỏ. Đôi khi anh còn nhớ đến một dây kệ dài vô tận chất đầy gạch nhưng anh đã đánh rơi xuống. Lúc ấy một tiếng chuông lanh lảnh vang lên một miệng giếng mở ra và nuốt chửng những hòn gạch vừa rơi xuống. Còn lưu niệm sau đó của anh thì đã là Ngày Hội Mùa Xuân. Trong đám rước có nhiều người lớn và trẻ em, những bộ quần áo sặc sỡ đến chóng mặt, các thức uống say sưa và đám rước rồng rắn vui vẻ. Đồng thời anh cũng còn nhớ rõ anh bị tách khỏi đám đông như một dòng lớn sinh động. Lúc đó anh không thể lùi lại được và anh cũng không muốn tránh né. Lúc đó anh cảm thấy ở trần là thích thú. Tất nhiên khi đó anh còn là một em trai nhỏ. Nhưng đôi khi có người ôm choàng và siết chặt lấy anh. Trên đường đi chỗ nào cũng có thức ăn thức uống. Càng ăn và uống thì cậu bé càng thấy thèm. Sau đó đầu óc càng thấy khang khác. Hơi thở của anh nhẹ nhàng. Trong không khí có hương thơm đặc biệt. Và thế rồi đột nhiên anh thấy mình rơi vào một lối đi hẹp: Trên một con đường lăn luôn luôn có tiếng nói nhắc nhở: “Em là một đứa con của đấng Ban ơn, em có phúc ở trong số những đứa trẻ được chọn lọc, chúng ta đưa em lên ánh sáng …:

Các máy móc điện tử đã phát hiện ở ORO khả năng khéo tay khác thường. Từ đó ORO đã được đào tạo thành nhà phẫu thuật và làm việc trong một bệnh viện tại Thành phố của những người có trí nhớ.

Đầu tiên người ta đưa ORO cũng như các trẻ em có năng khiếu đặc biệt khác tới một bệnh viện. Chúng chỉ cần đứng trên một con đường lăn như một tấm băng tải. Suốt dọc đường có tiếng hướng dẫn. Điều này cũng bình thường vì khi còn ở dưới Thành phố bêtông của những người mang vòi thì đời sống của chúng cũng được các máy móc và ánh đèn chiếu hướng dẫn. Các cánh cửa đều tự động đóng mở. Các tín hiệu quang học hướng dẫn chỉ chỗ ngồi cho người vào kiểm tra. Các bàn tay máy đặt các dụng cụ lên cổ và cổ tay họ. Họ cảm thấy như bị mê đi. ORO nhớ mang máng rằng sau đó anh được các máy dạy học, ngoài ra anh không hoàn toàn nhớ rõ điều gì đã xảy ra. ORO nhận được các bài tập về toán học và sinh học. Và phải qua những cuộc luyện tập dần dần nâng cao sự khéo tay. Các máy móc tự động lại tiếp tục kiểm tra, đo và đánh giá trình độ. Sau đó anh được biết rằng, trước tiên anh phải học qua y học đại cương sau đó sẽ được đào tạo về công tác hộ sinh và cuối cùng anh sẽ phải làm việc trong khoa ngoại sản và phải thành thạo tất cả các phương pháp phẫu thuật cũng như sử dụng và sáng tạo các dụng cụ và máy móc của khoa này. Các thao tác giải phẫu sẽ do máy móc tiến hành. Nhưng các nhà nghiên cứu ý học phải lập chương trình cho nó. Sau giờ học hành mệt nhọc, tới giờ nghỉ ban đêm, ORO luôn nghe một giọng đơn điệu nhắc đi nhắc lại:

Con là một đứa con của Đấng Ban Ơn. Hằng ngày con được cung cấp ăn uống đầy đủ và Oxy dồi dào, Oxy là hơi thở của Chúa. Con chỉ được phép dùng nó cho những việc đã quy định. Quyết định của Chúa đã xác định con phải làm những công việc nào đó để nâng cao sự sung túc của hành tinh oxy. Con chỉ được phép nghĩ đến các nhiệm vụ của con. Chỉ được phép nghĩ đến các nhiệm vụ của con mà thôi. Tất cả những lo nghĩ khác sẽ được Đấng Ban Ơn thần thánh giải thoát cho con. Hàng ngày khi đã xong công việc được chỉ định, con hãy nghỉ ngơi và giải trí.

Trong Thành phố của những người có trí nhớ (Người ta không biết ai và lúc nào đã đặt tên cho những thành phố mà trong đó những chuyên gia được chọn lọc sinh sống. Rất có thể tên gọi này là châm biếm vì có thể chính nó muốn nói rằng, điều tốt hơn là người ta không nên nhớ gì hết). Mỗi ngày được chia thành hai phần: nửa đầu tức là buổi sáng được dành cho việc học tập và học xong thì làm việc. Các nhiệm vụ học tập và làm việc không quá lớn và không quá mệt nhọc nhưng đòi hỏi cường độ đặc biệt. Mỗi thanh niên được bố trí trong một buồng riêng và có một máy dạy học riêng. Những hình hiện ra trên màn hình và các máy tính giải thích các hình đó. Các bài tập được nâng dần lên ngày càng khó hơn. Sau mỗi tiết, môn học tạm dừng và lại được nghe một giọng đơn điệu. Nội dung lời giáo huấn đối với ORO và những trẻ khác đều đã quá quen thuộc vì họ được nghe nhiều năm ở Thành phố những người mang vòi trước khi được chọn:

Thoạt tiên Chúa đã tạo ra bầu trời và dưới bầu trời là hành tinh Oxy. Chúa đáng kính và đầy quyền lực, Chúa đã sáng tạo ra một thế giới tươi đẹp …

Đó là môn học tôn giáo đồng thời là môn học về tập quán và công dân giáo dục. Đó là điều mà người ta muốn làm thấm sâu vào trái tim và khối óc các em để không còn có sự hoài nghi có sự suy tư gì về các vấn đề trên nữa và có muốn suy tư cũng không được phép. Khi Oxy được phân phối bởi Đấng Ban Ơn thần thánh và khôn ngoan: Dưới các Thành phố bêtông thì qua ống rốn của Chúa, còn ở đây, trên Thành phố trí nhớ này thì được dồi dào hơn. Đó là một đặc ân và cộng đồng phải đền đáp lại bằng sự tận tụy làm việc. Mỗi người phải học hiểu tốt nhất và chỉ được phép suy tư về công việc riêng của mình được giao. Nếu dùng sự ban ơn thần thánh vào bất kỳ việc nào khác là đáng tội chết.

Hình phạt cho những kẻ phạm tội là cái gì thì các chú học sinh trẻ đều được làm quen rất sớm. Khi một người vào phòng học và ngồi trên ghế tựa, lập tức có những thanh thép chụp lấy thắt lưng và cổ tay họ. Thỉnh thoảng chiếc máy dạy học lại xen lẫn giữa các bài tập những điều cấm kỵ để thử thách học sinh. Ví dụ như vừa giải xong một bài tập vè sinh học thì màn hình trước mặt ORO nhấp nháy và một đứa trẻ hiện ra hỏi: “Ai bắt cậu học giờ này trong lúc cậu thích đứng lên chạy chơi? Vị chúa ra lệnh này là ai? Tại sao ông ta không hiện ra với chúng ta?” Khi đó ORO đặt bút xuống và nhìn tấm hình suy tư theo câu hỏi thì lập tức anh cảm thấy ở cổ tay một cú sốc điện mạnh và lại nghe được một lời răn dạy.

- Chúa nhìn thấy và biết tất cả. Vừa qua con, ORO 01 đã sử dụng khí Oxy sống động và dồi dào được cung cấp cho bộ óc con vào những ý nghĩ tội lỗi. Xin Chúa tha lỗi cho con. Chúa hãy thương yêu con và đừng đầy đọa con trở lại Thành phố bêtông giữa những người mang vòi.

- Xin Chúa thương yêu con và vì những tội lỗi của con đừng đẩy con xuống giữa những người không được phép làm công tác khoa học, không được phép sống như ý thích, yêu nhau theo ý thích. Xin đừng loại con khỏi những người được chọn lọc. Được như vậy, con sẽ luôn luôn vâng lời, dễ bảo.

Những điều này ORO phải học đi học lại cho đến khi anh ta khôn lớn. Một ngày kia, chiếc máy dạy học báo cho anh biết.

- Vừa qua là bài tập cuối cùng của anh. Ngày mai anh phải trình diện ở quảng trường trung tâm của thành phố. Ở đó, một con đường lăn sẽ đưa anh tới nơi làm việc, một bệnh viện đã được chỉ định. Sau đó, các vòng kiểm tra ở tay anh được tháo ra và anh dọn vào một ngôi nhà đẹp đẽ: anh đã trưởng thành.

Trong suốt thời gian học tập, thiếu niên nam nữ được học tập trong các trường hỗn hợp gồm cả trai và gái. Giờ nghỉ học họ được chơi ở các câu lạc bộ. Trong các trường học, ngoài việc học tập ra còn có ba việc chính: chơi bài, uống rượu và yêu đương. Rượu giống như bia, lượng uống không hạn chế. Sau khi uống loại này, đa số họ sống từ buổi chiều cho tới sáng hôm sau đều trong tình trạng say nhẹ. Thức uống làm họ phấn chấn hơn và có pha một ít chế phẩm hoócmôn. Còn mặt sau các con bài chơi thì có in các hình ảnh tôn giáo: Những cảnh trích trong lịch sử Đấng Ban Ơn thần thánh: Chúa hà hơi vào các hình hài bằng đất cho có một tâm hồn. Con chim ác xuất hiện và những lầm lỗi của con người… Bản thân trò chời bài này cũng là một hành động hợp ý Chúa, gần như là hành động tôn giáo. Trên trần các phòng ngủ của các trường học cũng vậy. Ở đó, bất kỳ ai tùy thích có thể ngủ bất kỳ với ai. Nhìn lên trần thấy quét màu xanh trên đó có Mặt trời và 12 Mặt trăng. Và nếu không có đủ 33 triệu Ngôi sao thì cũng có rất nhiều ngôi sao. Trong các câu lạc bộ có sách vở và tất nhiên là có truyền hình. Trong truyền hình, họ thường được xem các phim quay ở Thành phố của những người mang vòi: Đấng Ban Ơn thần thánh cũng lo cho cả những sinh vật thấp hèn đó. Họ cũng đóng góp cho cộng đồng, đóng góp cho hành tinh Oxy. Cuốn phim dạy như vậy và cuối buổi chiếu phim vang lên lời cầu nguyện tạ ơn: “ Con là một người có hạnh phúc được lựa chon … xin Chúa đừng vì những tội lỗi của con mà đày đọa con xuống nơi những người mang vòi.”

Nơi làm việc đầu tiên của ORO là một bệnh viện phẫu thuật. Trong đó anh lo việc đưa các thao tác phẫu thuật và các phương pháp phẫu thuật mới vào chương trình tự động. Sau đó anh được chuyển sang khoa sản của bệnh viện.

Ở các Thành phố bêtông không có trẻ con được sinh ra. Như trong môn học tôn giáo đã dạy. Các trẻ em chỉ xuống đó sau ngày Đại Lễ Mùa Xuân từ Trên Trời. Các trẻ em được sinh ra trong Thành phố trí nhớ. Được chăm sóc và lớn lên ở đó. Đến lên 5 hoặc lên 6 thì cũng được đưa xuống Thành phố của những người mang vòi. Ở đó chúng sinh hoạt và học tập. Sau một vài mùa xuân chúng được các máy móc tự động phân loại.

Khi còn học ở trường, ON đã tìm hiểu IF 717 và anh đặt tên hiệu cho cô là “Ánh Dương”. Thường thường các chàng trai đều đặt tên hiệu cho các cô gái mình yêu. ON và Ánh Dương quyết định chung sống với nhau lâu dài. Việc đi tìm nhà ở thật đơn giản. Ở cửa các ngôi nhà không có người ở, bạn chỉ cần đút một tấm thẻ đục lỗ có giá trị vào là chiếc máy tự động có tế bào quang điện sẽ trao cho bạn chiếc chìa khóa cửa nhà. Và người chủ mới có thể dọn đến không cần thủ tục gì khác.

ON và Ánh Dương đã vừa ý một ngôi nhà một tầng rộng rãi, quét sơn màu ve nhạt. Nhà có nhiều phòng rất tiện nghị, giường màu phấn dìu dịu. Không biết bao nhiêu là tranh ảnh, thảm và hoa giả. ORO ở ngay ngay nhà kế bên và trở thành láng giềng của họ. Lúc đầu cũng như mọi người, họ chỉ chơi bài với nhau và chuyện trò về chương trình truyền hình.
(Thiếu 118 – 119)

Anh lo sợ khi anh tranh luận suốt đêm với ON, anh sợ hãi khi ON và Ánh Dương thú nhận với anh là muốn sống mãi mãi với nhau. Anh càng sợ hãi hơn khi biết được Ánh Dương sắp có một đứa con và anh bí mật giúp đỡ đứa con đó. Anh sợ hãi vì trong đầu anh ngập đầy những môn khoa học bị cấm, những câu hỏi và những nghi vấn. Anh run sợ lo rằng đến kỳ xét nghiệm kiểm tra gần nhất, sự ức chế với chất thuốc Ngủ sâu sẽ không tác dụng. Và lần chụp não đồ có thể tố giác anh một cách không thể cứu vãn được. Nếu vậy anh khó lòng thoát khỏi số mệnh và sẽ phải trải qua một lần can thiệp não mới nữa. Hoặc là anh sẽ bị kết án xóa trí nhớ, đày xuống nơi tối tăm vĩnh viễn giữa những nhường mang vòi. Nơi mà chưa hề một ai trở lại được. Anh còn lo sợ vì anh biết rõ ràng có một hang động bí mật gần thành phố. Ở đó, nơi trốn tránh tất cả những người dám suy nghĩ, dám kích động phần không yêu cầu của bộ não. Đó cũng là nơi mà những kẻ có gan đã lựa chọn thay cho việc bị đày đọa xuống Thành phố bêtông. Đó cũng là nơi những người bất chấp mọi phẫu thuật, mọi tác động, vẫn có thai được và vẫn sinh được những đứa trẻ. ORO biết rõ về động này và những hang bí mật này. Trước khi sinh ON con, anh đã dẫn Ánh Dương tới đó và chỉ sau đó it lâu ON bị sa lưới kiểm tra, bị lãnh án xóa trí nhớ và bị đày đọa xuống Thành phố bêtông.

Nhưng cuối cùng, sự thông cảm với nỗi khổ của anh đã thắng được sự sợ hãi trong trái tim. ORO thay vao đó là một lòng quyết tâm cứng rắn. Theo anh thì ON là người cùng khổ và bị chìm đắm không sao chống đỡ nổi. Nhưng đối với Ánh Dương và ON con và tất cả những người trốn tránh trong các hang hốc của núi trọc thì lâu lâu anh lại mang thuốc men và thực phẩm cấp cho họ. Ít nhất anh phải cứu lấy những người đó. Do vậy, ORO thường xuyên đến thăm hang động. Đêm đêm, thường có những người bạn tốt đi cùng với anh mang các gói quà tới rồi biến mất. Đó chính là những người VÔ HÌNH. Họ biết rõ nhau dù chỉ mới gặp và không biết mỗi người làm việc ở nơi nào và tất cả có bao nhiêu người. Rất ít người liên lạc được với nhau. Thường ban ngày họ không dám gặp nhau vì họ sợ gây nguy hiểm cho nhau và cho những người trốn tránh trong hang động.

ORO là một trong những người dám giúp đỡ những người trong hang động nhiều nhất. Nếu anh gặp chuyện gì thì nguy hiểm cũng có thể đe dọa những người khác. Chính vì thế mà lúc ON tới nhà, ORO phải giả ngây giả điếc, chỉ chậm một phút nữa là ORO sẽ chạy theo bạn. Bởi vì nếu đó đích thực là ON, nếu ON đã trở về được thì điều đó không chỉ có nghĩa rằng ON cần tới anh, tìm kiếm anh mà còn có nghĩa là từ dưới đó, có thể trở về được.

Suy nghĩ vậy nên ORO đứng ngồi không yên. Anh vội lấy thuốc Ngủ sâu ra uống. Nhưng cái thứ thuốc nước có tác dụng an thần và ru ngủ tốt cũng không thể giúp gì anh lúc này. Anh bị mối nghi hoặc thầm lặng dày vò. Lúc thì nằm xuống, lúc thì vụt đứng lên. Đến buổi sáng ngày thứ năm thì Ánh Dương nhắn tin bí mật tới là ON đã trở về. ORO cũng trả lời cô theo con đường bí mật như vậy: "Đêm nay chúng ta sẽ gặp nhau ở chỗ thường lệ".


22. CUỘC HỘI THẢO TRONG LÒNG ĐẤT


Peter đang ngủ thì Ánh Dương đánh thức anh dậy. Trời còn khuya.

Cùng với ON họ đi sâu vào phía trong hang. Hang động lúc này tối như hũ nút. Peter phải xử dụng cây đèn Pin nguyên tử. Ánh pha của đèn pin làm các người đang ngủ trong hang giật mình, trẻ con sợ hãi ...

Ánh Dương phải vừa đi vừa hô " Bạn tốt, bạn tốt đấy" trên đường họ đi qua.

Họ đi khá nhanh và Peter cố gắng nhìn quanh khắp mọi nơi và để ý đến mọi thứ.

Con đường dài hơn Peter tưởng. Và ngay trong nhưng đoạn hang sâu này, chỗ nào cũng có người. Tuy vậy, Peter không thể xác định được rằng có vài chục hay vài trăm hay cả hàng ngàn người trốn tránh.

Cắt ngang con đường dài dưới đất có nhiều mạch nước nhỏ. Trên đó người ta đặt những tấm ván làm cầu. Đây đó có những giọt nước từ đỉnh hang rơi xuống. Nước trong vắt như pha lê. Thành hang có nhiều chỗ trần và nhiều chỗ khác lại phủ nhiều rêu. Có những bụi cây và những vườn rau ngầm dưới đất. Không khí thật là dễ chịu. Có một vài con đường ngang không có người ở. Ánh Dương giải thích:

- Ở đây chúng tôi trồng nấm. Nấm mọc rất nhiều và đều có thể ăn được.

Như vây, có thể giải thích được rằng, một phần Oxy trong hang do các cây này tiết ra. Nhưng phần Oxy được giải phóng ấy thì quá ít. Vậy phần Oxy còn lại ở đâu ra? Nấm ăn ở đâu ra? Các hạt giống cây trồng ở đâu ra? Đối với Peter điều sau cùng này có vẻ dễ hiểu hơn vì anh biết trên hành tinh Oxy đã có một thời có bầu khí quyển có Oxy, còn có cả một thế giới động vật và thực vật.

Bây giờ, ánh sáng ngọn đèn pin của Peter lại chiếu sáng một cái hang lớn hơn. Giữa hang này có cả những tảng đá. Ta không thể biết được rằng đó là những hình thù tự nhiên hay do bàn tay con người đã xếp lại thành ghế. Trên các ghế độc đáo này có chừng ba mươi người ngồi có cả nam và nữ, trong số đó có cả ORO. Ánh Dương nói:

- Chúng tôi đã tới.

Cô quay lại Peter giới thiệu thêm:

- Còn đây là cái "Vườn" của chúng tôi: Lối vào hang nằm ở cửa động. Phần bên trong động được gọi là vườn. Không thể biết được ai đã tìm ra nó và vào lúc nào. Nhưng nhiều người biết sự tồn tại của nó. Không rõ nước và Oxy được đưa tới đây từ nơi nào. Người ta có thể nằm nghỉ ở đây một thời gian mà không cần dụng cụ hô hấp. Những người trốn tránh đã nâng cao hàm lượng Oxy bằng cách trồng thêm nhiều loại cây khác nhau. Những người dân ở thành phố nói chung không khi nào qua lại đây vì lẽ đơn giản là họ không dám xuống. Hang động còn có tên gọi nữa là "Hơi thở của Ma Quỷ" và "Hố sâu của tội lỗi". Nhưng tại sao họ lại gọi như thế? Vì sau khi hoàn thành công việc, họ có cuộc sống thoải mái, trong các cửa hàng ăn và câu lạc bộ. Ở đó họ ăn uống, chơi bài, làm tình với nhau và chịu ơn thế lực vĩnh cửu, ông chủ của bầu trời hay là người sáng tạo ra hành tinh Oxy.

Còn nói chung, người ta không cấm người dân thành phố rời khỏi thành phố hoặc tới thám hiểm chung quanh hang động. Những cuộc du lịch như vậy không bị cấm đoán nhưng không thể thực hiện được. Lý do rất giản đơn là ở Thành phố những người mang vòi cũng như Thành phố của những người có trí nhớ không hề có một phương tiên giao thông nào như ở Trái Đất thường có. Không có xe hơi, không có xe lửa, xe buýt, không có cả trực thăng. Khiêm cường lắm mới so sánh được những con đường lăn của thành phố với phương tiện giao thông của Trái Đất. Những con đường đó cũng chỉ có ít. Vì chúng chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển mọi người từ quảng trường trung tâm đến nơi làm việc và trở về.

Những người dân ở thành phố không di chuyển nhiều lắm vì khẩu phần Oxy chỉ đủ cho thời gian để đi từ nơi này đến nơi khác trong thành phố. Còn giữa các thành phố có một khoảng tối trống rỗng, hoang phế. Khoảng trống này là bao nhiêu họ không thể đoán biết được. Các kỹ sư, kiến trúc sư, nhà thiết kế và các nhà bác học tương lai được học hành rất nhiều trong Thành phố trí nhớ. Nhưng trong các môn học không hề có địa lý, thiên văn và lịch sử. Do đó không một ai biết được hành tinh Oxy có bao nhiêu dân, hoặc lục địa nào có người ở trong 17 lục địa, hoặc có bao nhiêu Thành phố phục vụ và bao nhiêu Thành phố trí nhớ. Họ chỉ có một khái niệm mơ hồ là ở đâu đó có một Trung tâm điều khiển. Ngay những người cố tình suy nghĩ điều này, phải nói số này là rất ít, họ cũng chỉ thấy được những máy tính tự động, phiếu đục lỗ và các máy móc dụng cụ khác. Họ không thể nghĩ tới được Người Sáng Tạo ra tất cả các bộ máy đáng sợ này là ai? Ở đâu? Thuộc nòi giống nào?

Những người đầu tiên tiến đến hang động là phụ nữ. Những người gặp tình huống tương tự như Ánh Dương tuy đã qua xử lý triệt sản nhưng vẫn có bầu mà muốn cứu con mình. Rồi sau đó là những người mà bộ não làm việc không chỉ với các nhiệm vụ đã giao mà còn đặt ra những câu hỏi, còn nghi ngờ, còn không nhận thức được rằng trong giờ nghỉ không uống bia mà quân tâm đến một ngành khoa học khác là tội lỗi. Và những người luôn luôn lo sợ một cuộc xét nghiệm kiểm tra đột xuất sẽ tố giác họ như ORO. Điều tẹ hại nhất là họ không biết ai tiến hành những cuộc xét nghiệm đó và tại sao phải làm như vậy. Chẳng lẽ Chúa phải dùng tới một phương pháp như vậy mới nhìn thấy được tâm hồn họ hay sao? Tại sao khi bạn trải qua một nửa đời người trong tình trạng nửa say nửa mê thì lại là điều làm cho Chúa vui lòng? Tại sao người ta lại cần phải can thiệp vào chức năng của não bộ. Tại sao? Tại sao? Tại sao? Nghi vấn đẻ ra nghi vấn. Tư duy phát sinh tư duy. Cái bộ não bị ức chế và kìm kẹp bắt đầu hoạt động ...

Trong hang động có cả những người mẹ đã tìm được cách trốn trước khi bị tách khỏi con mình. Một vài hôm trước ngày Đại Lễ Mùa Xuân, nhiều phụ nữ lo lắng tới mức kinh hoàng. Hình như linh tính họ cảm thấy người ta sắp bắt mất con của mình rồi sau đó sẽ tống mình trở lại sự lãng quên giữa những người mang vòi. Đúng vào dịp này ORO cùng vài nhà bác học nữa đang tiến hành những cuộc xét nghiệm và đo lường kiểm tra. ORO bèn bổ một ít phiếu đục lỗ sang nhóm tử vong và giúp các người mẹ mang con trốn khỏi bệnh viện.

Trong trường hợp này, các máy ghi chép thực hiện công việc mình "Như máy" nên không ai tìm kiếm những người chạy trốn.

Ánh Dương lên tiếng:

- Thưa các bạn, hôm nay chúng ta sẽ được nghe báo cáo về những chuyện lạ chưa ai được biết. Người này là người bạn đời, chồng tôi, là cha của đứa con trai tôi, chính là ON 711314. Anh vừa thoát khỏi Thành phố những người mang vòi trở lại. Còn đây là Peter Mac Gullivơ, anh bạn rất thân thiết, đến với chúng ta từ một thế giới xa xăm.

ORO vụt lao tới và ôm chầm lấy ON. Còn những người khác im lặng mở to mắt nhìn hai người mới tới.

Đầu tiên ON báo cáo về việc họ chạy trốn khỏi Thành phố những người mang vòi, về tấm bản đồ địa hình mà anh đã thấy trong cuốn sách bị cấm và vẽ lại theo trí nhớ. Anh cũng nói rõ về con đường mòn của quỷ trong đêm tối như mực và về điểm xuât sphát chạy trốn vào ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Anh mô tả Thành phố những người mang vòi và cách bảo vệ trí nhớ của anh nhờ sự giúp đỡ của ORO. Sau đó anh giới thiệu Peter Mac Gullivơ là người dân của một thế giới xa xôi và là người nắm được bí mật về sản xuất Oxy. Điều này mâu thuẫn với học thuyết được nhồi nhét ở hành tinh Oxy rằng Oxy chỉ có một nguồn duy nhất là sự ban ơn của Chúa cấp cho và lượng Oxy không thể tăng cũng không thể giảm được ...

ON đã kể xong và con mắt mọi người đổ dồn vào Peter chờ đợi.

Những điều Peter kể sau đó, kích thích người nghe hơn cuốn tiểu thuyết giật gân nhất và say sưa hơn cả loại thuốc giọt mà họ vẫn uống. Tuy rằng anh chỉ thông báo ngắn gọn vài sự việc cụ thể. Anh kể chuyện rằng mình đã xuất phát từ một thiên thể, một hành tinh giống như hành tinh Oxy vì trong vũ trụ có không biết phải là một, không phải là 12 không phải là 33 triệu mà nhiều tới mức không thể đếm được. Trên hành tinh Trái Đất quê hương của anh có dồi dào Oxy để mọi người hít thở tự do và đi tới nơi nào họ muốn. Mỗi người đều có thể học tập những môn mình ưa thích. Các sinh vật sống ở đó là những con người rất hạnh phúc. Trong lịc sử Trái Đất, cũng đã có một thời đại mà cuộc sống bị đe dọa vì các nguồn nước bị ô nhiễm. Thu hoạch của đồng ruộng bị giảm thấp. Những người dân các thành phố phải đấu tranh cho khỏi bị ngạt thở. Cũng đã có những người bị ngã trên đường phố và bị ngộ độc khí thải chết. Có những người mất trí nhớ. Các giống vật lăn ra chết ...

Đến đây, mọi người đều xì xào. Peter phải xử dụng đến chiếc máy phiên dịch liên hành tinh, nhưng cũng không kết quả vì đa số người nghe không hiểu chữ giống vật là gì.

- Đó là những sinh vật cấp thấp hơn - Peter giải thích - Chúng không nói được và cũng không biết suy nghĩ.

Anh kể tiếp, các giống vật ngày càng chết nhiều. Ở dưới biển, cuộc sống bị tiêu diệt dần. Có những khu vực mà các giống vật bị tuyệt sản do không khí bị nhiễm chất hóa học. Đến lúc này phải có những giải pháp quyết định. Có những người hiểu rõ rằng, chính loài người cũng có nguy cơ bị tiêu diệt nếu các ống khói nhà máy tiếp tục làm ô nhiễm không khí, nếu các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước, nếu có những người khác mà quan điểm cho rằng không khí ô nhiễm và nước có chất độc sẽ chỉ tiêu diệt những người ốm yếu, họ sống cũng chỉ bằng thừa. Theo quy luật chọn lọc tự nhiên, chỉ những người có khả năng chống đỡ tốt nhất, với bộ máy hô hấp mạnh nhất là còn sống được. Nhưng đa số loài người đã quyết định khác. Đến giây phút cuối cùng, các dân tộc chọn một quyết định cứu nhân

Họ quét sạch tất cả những kẻ đã đặt mối ham lợi nhuận riêng lên trên sức khỏe của loài người. Người ta triệu tập những hội nghị lớn và các hiệp định quan trọng đối với sự sống được ký kết.

Biện pháp đầu tiên là cấm tất cả các vụ nổ nguyên tử để chống nguy hại của tác dụng phóng xạ. Ngoài ra những biện pháp quốc tế khác được dùng làm sạch nguồn nước, các suối, các sông hồ và các đại dương. Các xí nghiệp và các thành phố bắt buộc phải có hệ thống làm sạch nước thải trước khi đưa ra sông biển. Biện pháp thứ ba, thay vì vũ khí, người ta xây dựng các hệ thống làm sạch các công trình thủy lợi và sản xuất các máy nông nghiệp để phát triển trồng trọt.

Kế đó có những biện pháp quốc tế đẩy mạnh việc trồng rừng, làm ruộng bậc thang trên các sườn núi để trồng rau. Thanh niên toàn thế giới đảm nhận trọng trách bảo vệ Cây và Rừng.

Nhờ những biện pháp đó nên khoa học lại trải qua một thời kỷ nở hoa mới. Các sáng chế nối tiếp nhau liên tục. Chúng chỉ được duyệt nếu kỹ thuật và nền văn minh phát triển không gây tổn hại cho môi sinh tự nhiên. Tất cả các phương tiện giao thông vận tải gây ô nhiễm không khí đều bị cấm chỉ. Tất cả các xí nghiệp gây ô nhiễm môi sinh đều phải dẹp bỏ. Thay vào những thành phố chật chội và phản vệ sinh bằng những khu dân cư đầy ánh sáng. Cuối thế kỷ 21 đã tiến đến hoàn toàn giải trừ quân bị. Các công nghiệp chiến tranh đều bị đình chỉ. Các cơ sở để cải hóa các nguyên tố từ đó đến nay chỉ dùng để phục vụ hòa bình và sự phồn vinh ... Hiện nay chúng tôi có khí Oxy không hạn chế, các rừng cây, các vườn hoa, nước trong lành, không khí không ô nhiễm, các đồng ruộng năng suất cao, và hàng triệu con người khỏe mạnh và hạnh phúc. Cuộc sống hiện tại trên Trái Đất chúng tôi là như vậy đó các bạn ạ.

- Bạn là ai và bạn làm cách nào để tới được đây? - Một giọng trẻ em hỏi.

- Tôi là ai ấy à? Tôi là một người bình thường, theo tiếng nói của các bạn thì tôi là một sinh vật. Tôi đã bay tới đây qua một khoảng không gian rộng lớn. Tôi ngồi trên một con tàu vũ trụ, trông nó như một chiếc nhà nhỏ trong thành phố của các bạn. Nhưng tự nhiên tôi bị rớt xuống đây, không biết con tàu của tôi ra sao? Và cũng không biết vợ tôi ra sao nữa, vì cô ấy còn ở trong con tàu. Tôi đi tìm nàng và các bạn. Các bạn có biết tin tức gì về cô ấy không? ... Có lẽ các bạn có thể giúp đỡ tôi tìm được nàng ...

Mọi người im lặng. Họ đang cố gắng tìm hiểu những thông tin để nhận thức được. Cuối cùng một thanh niên phá tan sự im lặng. Anh cũng là một trong những người làm việc trên thành phố. Nhưng thỉnh thoảng anh tới đây để tranh luận và suy nghĩ, ở đây họ không lo bị một cuộc kiểm tra đột xuất hoặc đơn giản hơn, để giúp đỡ và dạy dỗ những người chạy trốn.

- Tôi được biết chút ít, may ra có thể giúp đỡ được bạn. Tôi là thợ cơ điện và lắp các máy móc dùng để ghi nhận các dao động điện tử cao tần. Nghĩa là các máy thu thanh.

Peter nhảy dựng và reo lên vì kích động:

- Thế mà khi nãy ON nói là trên hành tinh Oxy không có điện đài và người ta không thể nói chuyện bằng vô tuyến được.

- Lần đầu tiên tôi được nghe về các là sóng là do anh nói - ON đáp.

- Trong khi làm việc, tôi chú ý đến một hiện tượng kỳ lạ - Anh cơ công kể tiếp - Cách đây ít lâu tôi luôn luôn nghe thấy một tiếng động nhịp nhàng mà trước đây tôi chưa bao giờ nghe thấy. Tôi không hiểu được nhịp điẹu đó. Không biết nguồn tin xa xôi đó nói gì nhưng khi nào nó cũng đến trên làn sóng 19,31 ...

- Chính là làn sóng của con tàu Nhân loại.

- Anh nghe nhé, tôi có thể gõ lại theo nhịp điệu đã nghe.

Anh bắt đầu gõ. Tim Peter thắt lại khi nghe thấy tín hiệu morse: tach tè tạch - tạch - tè - tạch - tè tè.

Peter:

- Như vậy là July còn sống ở trong con tàu Nhân loại ! Nàng đang ở buồng lái của con tàu và đang tìm tôi ! - Anh hồi hộp hỏi:

- Tôi làm thế nào để đáp lại những tín hiệu đó? Và tới đâu để phát tín hiệu?

- Không có chỗ nào cả. Mọi tín hiệu đều bị Trung Tâm xóa sạch.

- Điều này không thể có được ! Cũng hệt như cậu có thể thu được tín hiệu gọi. Thì một người nào đó cũng có thể phát được tín hiệu khác chứ !?

Anh cơ công lắc đầu:

- Những tín hiệu chỉ tới được nơi nào Trung Tâm muốn. Tôi cũng không hiểu tại sao họ để cho nó lọt tới nơi tôi làm việc. Và lần nào tôi cũng thu được những tín hiệu đó trên làn sóng đó, không sai chút nào. Đáng tiếc là tôi không vẽ được các trang thiết bị thu phát sóng điện tử trên hành tinh Oxy. Tổ chugns tôi sản xuất những thiết bị đó cho Trung Tâm mà. Tôi cũng biết rằng ngay trong các Thành phố trí nhớ này có những trạm thu và phát những tín hiệu như vậy. Nhưng những trạm này không được phép liên lạc với nhau mà chỉ được liên hệ với Trung Tậm. Vì vậy những tín hiệu vô tuyến truyền từ ngoài vũ trụ tới thì chỉ có Trung Tâm kiểm tra thu được thôi.

- Nhưng bạn vừa nói là bạn có thu được tín hiệu của con tàu Nhân Loại mà?

- Chúng tôi chỉ tiếp nhận được những tín hiệu mà Trung Tâm chuyển tiếp cho để tiến hành công việc. Đó là những tín hiệu mà chúng tôi luôn luôn hoàn toàn không hiểu được. Chúng tôi không được phép giải những tín hiệu đó. Nếu tôi tìm cách đáp lại, lập tức Trung Tâm sẽ đập xóa những tín hiệu này tại chỗ. Nếu các trạm trong các Thành phố trí nhớ tìm cách liên hệ với nhau thì cũng bị đập xóa.

- Nhưng Trung Tâm làm việc đó bằng cách nào?

- Tôi không được biết.

Thế Trung Tâm là cái gì? Trung Tâm là ai? Thế lực vô hình này là cái gì? - Peter kêu lên! - Trung Tâm đó ở đâu? Tôi muốn tìm ra nó!

Không ai trả lời. Peter hỏi lại lần nữa.

- Tôi tìm cách nào để tới được Trung Tâm đó?

Chung quanh anh lại im lặng. Không ai trả lời nổi!

Peter nêu lên câu hỏi quyết định. Điều mà tất cả mọi người ở đây đều muốn biết. Cái vật hoặc cái con ngươi bí ẩn đang nắm số mệnh họ trong tay đang ở đâu? Bây giờ họ lại càng nghi ngờ về sự chính xác của các cuộc thoải luận là phải có khả năng tìm ra, tìm thấy và nhìn tận mắt cái Trung Tâm đó. Điều này trước nay chưa ai dám phát ngôn rõ ràng.

- Tôi phải trở về con tàu vũ trụ của tôi ... Và phải tìm được một người có thể giúp đỡ tôi làm được việc đó. Nàng July yêu dấu đang chờ tôi. Tổ quốc của tôi là Trái Đất, tôi sẽ không ở lại đây! - Peter lại nêu lên lần nữa - Nếu tôi tìm được Trung Tâm, tôi sẽ tự nguyện để lại đây các dụng cụ và các trang bị của tôi. Chiếc máy sản xuất Oxy của tôi có thể có ích cho các bạn. Tôi sẽ kể lại tất cả những điều tốt biết. Nhưng các bạn phải giúp tôi trở lại với July.

Trước lời kêu gọi tuyệt vọng của Peter. Xung quanh vẫn lặng như tờ.

Lúc này ORO mới đứng dậy:

- Theo tôi biết, có một khả năng. Một khả năng duy nhất. Thỉnh thoảng tôi nhận được một bản câu hỏi về công việc của tôi. Tôi không biết ai gửi và từ đâu nhưng chắc chắn nó từ đài kiểm tra, từ Trung Tâm đến. Đôi khi tôi phải ghi thêm lời giải thích cho các lời đáp. Đôi khi người ta cũng cho tôi biết rằng người ta vừa ý với công việc của tôi. Tôi cho rằng điều này các bạn cũng thường gặp ...

- Đúng như vậy. Tất cả chúng tôi đều nhận được những thẻ kiểm tra.

- Khi nhận được thể kiểm tra lần tới, tôi sẽ ghi lên đó rằng! Chúng ta có một người khách từ hành tinh xa và người khách đó đang ở nhà tôi.

Một sự im lặng, bối rối bao trùm mọi người. Sau đó có nhiều người kêu lên:

- ORO cậu không được làm như vậy! Chỉ viết thêm một chữ thừa lên thẻ đó đã là tội đáng chét rồi ...

- ORO, điều này không thể được ...

- Không được ORO ạ, chúng ta phải nghĩ cách khác.

- Tốt nhất là chúng ta giữ Peter ở đây với chúng tam mãi mãi. Anh có thể sống với chúng ta và có thể dạy chúng ta học ...

- Tất cả chúng ta sẽ lao vào bất hạnh nếu chúng ta báo cáo rằng anh Peter có ở đây ...

- Tôi không tin rằng còn có một cách giải quyết nào khác - ORO đáp lại lần nữa - Tất nhiên làm thế thì cũng nguy hiểm đấy. Nếu chúng ta thông báo rằng Peter ở đây. Có thể xảy ra tai họa lớn. Mà người gặp nguy hiểm số một là Peter. Không đoán ra được cái gì chờ đợi anh ta. Nhưng mà có lẽ họ đã biết tất cả. Có lẽ họ đã quan sát anh ấy từ lâu rồi. Nếu vậy ta tìm cách nhìn thẳng vào điều không thể tránh được có phải là thông minh hơn không?

Peter bước tới trước mặt ORO:

- Nếu bạn sẵn sàng làm việc đó, ORO ... Nếu bạn có dũng khí làm việc này, tôi hết sức đội ơn bạn. Tôi đã quyết tâm tìm gặp thế lực đó dù cho nó là ai và dù cho nó ở đâu chăng nữa. Tôi không thể ngồi im lâu hơn nữa vì tối sẽ phát điên lên mất. Các bạn hiểu cho. Tôi không biết điều gì đã xảy đến với vợ tôi. Thực thà, tôi không muốn đưa các bạn vào vòng nguy hiểm. Nếu vậy có lẽ tôi sẽ phải đi khỏi đây. Tôi sẽ đi đến đường phố xa nhất và tìm cách lọt vào mỗi nhà cho đến khi đụng phải một mắt lưới kiểm tra. Tôi sẽ tìm cách mở các cửa và đi theo con đường lăn. Cứ như thế, nếu tôi gặp điều gì rủi ro, tôi sẽ không bao giờ tiết lộ lối vào hang động của các bạn cũng như bất kỳ người nào trong các bạn.

ORO đứng dậy tuyên bố với Peter:

Tôi hy vọng rằng vận may đã cùng bạn tới đây.

Cuộc hội thảo đã kết thúc như vậy.


23. BÁO CÁO


Thành phố OXY.

Trung tâm vô tuyến 14-0-1207 8 giờ 77.

Thu được trên làn sóng 6,17: Peter Mac Gulliver đây! Trả lời đi July em! Đây Peter ! Đây Peter!

Nhạn xét quan trọng:

Lần này sóng phát ra từ khu vực Thành phố của những người có trí nhớ số 5.

Đã tiến hành chắn sóng! Gửi các nhà đương cục về an ninh. Khẩn1


CHỈ THỊ

Thành phố OXY 15-6-1207 9 giờ 30.

Mỗi trung tâm kiểm soát vô tuyến và mỗi đài Rada phải báo cáo hàng giờ cho Thái tử.

Các cơ quan an ninh tổ chức kiểm tra tổng quát trong các thành phố của những người cso trí nhớ.

Trong vòng 60 giờ báo cáo lại cho Thái tử Recke

Thiện vương XIII


24. ORO NHẬN ĐƯỢC LỜI ĐÁP


Từ khi ORO gửi lời nhắn tin đi, một vài ngày đã trôi qua. Hôm đó anh phải báo cáo trên một tờ mẫu về khả năng ứng dụng của một loại dụng cụ phẫu thuật mới. Các câu hỏi liên quan đến độ chính xác của dụng cụ về hình thức chế tạo và chất lượng của hợp kim. ORO đã trả lời chu đáo từng câu hỏi. Khi tới cột "những nhận xét quan trọng khác" thông thường anh để trống. Lần này anh viết trong thành phố có một người dân của Trái Đất đang tạm trú và anh ta muốn trở lại con tàu vũ trụ của mình.

Anh chần chừ trong giây lát rồi ấn lên một nút của bản điều khiển. Tờ giấy lập tức biến đi tới một nơi nào không biết. Lúc này, chiếc lao đã phóng đi, không thể thay đổi gì được nữa.

Báo cáo đã được gửi đi nhưng trong ngày đó không có hồi âm. ORO lại tiếp tục nhận được những chỉ thị mới. Phải giải những bài toán và bố trí những thí nghiệm và cũng nhận được những bản câu hỏi in sẵn khác. Nhưng không có dấu hiệu gì rằng một người nào đó nhận, đã đọc và ghi nhớ lại thông báo của anh.

Sau khi suy tính kỹ trong hai ngày. Peter quyết định dọn lên ở Thành phố trí nhớ. Anh nghĩ, ORO nhận được trả lời, người ta sẽ lập tức tìm kiếm anh như một người mới tới. Và nếu anh còn tiếp tục ở trong hang động thì có thể tiết lộ chỗ ẩn náu của mọi người. Nói chung, cuộc sống của những người trốn tránh trong hang động còn là một bí mất đối với quyền lực cai trị.

Hồi âm càng chậm tới thì Peter và các bạn càng lo lắng. Peter luôn cảm thấy rõ ràng rằng, có một nơi nào đó biết rõ về anh, đã ghi nhận việc anh đến hành tinh này và có lẽ đã theo dõi anh suốt chặng đường ở Thành phố những người mang vòi. Chính ở đó nguwòi ta đã thu được tín hiệu gọi của July từ con tàu vũ trụ Nhân Loại cũng như đã thu được những tín hiệu gọi dai dẳng và tuyệt vọng của anh tìm July. Theo các tín hiệu đó, tất nhiên họ đã xác định được anh đang ở đâu vào lúc phát sóng. Đến lúc này, Peter đã tự đăng ký chính thức - Nếu như ở đây có một loại công sở và anh phải chuyển vào ở trong thành phố.

ON và Ánh Dương cũng thống nhất nhận định này. Tuy rằng ON rất luyến tiếc khi phải xa rời Peter. Kể cả ON con và đám trẻ khác cũng không muốn để Peter ra đi.

- Anh bạn từ Trái Đất, hãy ở lại với chúng em và dạy cho chúng em học ! - Các em bé thỉnh cầu.

Những ngày Peter ở trong hang với các em đã để lại trong anh những ấn tượng mạnh. Anh hiểu nhưng không thể tưởng tượng được những sinh vật sống trong tình trạng Oxy bị hạn chế từ một, hai có thể đến mười thế hệ bị thoái hóa như thế nào. Điều này thể hiện rõ nhất trong ngày Đại Lễ Mùa Xuận.

Trong những tháng đầu tiên chào đời, các hài nhi được cung cấp dồi dào Oxy. Ngoài việc bú sữa mẹ, chúng còn được ăn gì nữa mà anh chưa rõ. Nhưng chắc chắn là bộ não của các em có khả năng tiếp thu tất cả những điều có thể học được. Peter kinh hãi khi nghĩ đến việc họ đã đày đọa hầu hết những em bé vô tội đó xuống Thành phố những người mang vòi. Và trong số đó chỉ cón một vài em được trở lại Thành phố trí nhớ với những nhiệm vụ được chỉ định hết sức nghiêm ngặt ...

Nhưng ở đây, liệu số phận các em có tốt đẹp hơn không? Peter lòng đầy thông cảm nhìn những bộ mặt nhợt nhạt không khi nào được hưởng ánh nắng Mặt Trời. Nhưng con mắt sáng long lanh thêm hiểu biết. Những cơ thể gầy còm thiếu dinh dưỡng. Và nhất là cảnh các em hối hả ngốn ngấu ăn nấm cỏ sống và các rễ cây sống.

Đôi khi những bà mẹ khóc lóc và tự trách mình có lỗi. Việc cá bà mang con trốn tránh sự phục tùng của Chúa để khỏi mất con liệu có phải là việc làm đúng không?

Những đứa trẻ ở hang sẽ ra sao? Nuôi các em trong hang sâu với vài thứ nấm và rễ này quả là một sự chịu đựng dũng cảm. Nhưng sẽ đi đến đâu? Cho trẻ em học hành có tác dụng gì khi suốt cuộc sống của chúng phải luôn luôn đấu tranh để giành được miếng ăn, một ngụm nước, một hớp không khí, chống lại một quyền lực vô hình? ...

Peter đã kể cho các em nghe tất cả những điều anh biết về các con tàu vũ trụ, về cây cỏ và động vật. Anh cho các em xem những máy móc dụng cụ của anh. Anh bấm nút sản xuất ra Oxy và đường tại chỗ để chia cho các em. Anh đã đi được một quãng mà các em còn nhắn théo:

- Hỡi người bạn từ Trái Đất, hãy trở lại với chúng em. Chúng em sẽ chờ anh.

Khi từ biệt ON và Ánh Dương. Anh thân thiết xiết chặt họ trong vòng tay. Liệu sau này có còn gặp mặt họ được không?

Peter đã định để lại tất cả trang bị của mình trong hang động. Nhưng trước mắt anh đành phải mang theo vì anh chưa rõ cái gì chờ đợi mình ở phía trước.

Ra khỏi động, Peter leo lên sườn núi. ORO đứng đón anh phía trên và dẫn anh về nhà.

Peter để ý xem kỹ ngôi nhà của ORO. LÚc đầu khi anh và ON tới đây tinh thần khá căng thẳng và chỉ đứng lại ở phòng khách tầng trệt có một lát nên chưa quan sát kỹ được.

Đó là một ngôi nhà rộng rãi, đủ tiện nghi thoải mái. Những ghế và giường được bọc nệm êm ái. Ở lầu một là các phòng ngủ trải thảm màu xanh nhạt chạy chỉ vàng. Và những phòng tắm tiện nghi có một vòi nước pha sẵn xà bông và một vòi nước trong sạch ấm ấm. Trên tầng nóc còn có một phòng làm việc, có nhiều sách chuyên môn cho lĩnh vực đặc biệt của ORO. Ở tầng trệt, ngoài phòng khách lớn ngay gần cửa, còn một phòng xem truyền hình nhỏ hơn và kế đó là một phòng chơi bài với các bàn vuông bọc nỉ và bàn rulét. Bên tường có những tủ rượu, tủ nào cũng đầy thức uống. Trong nhà không có bếp và cũng không có gì ăn, ngoại trừ một gói kẹo. Khi bạn đói bụng bạn phải tới một câu lạc bộ hoặc một nhà hàng mới có ăn. Không khí ngoài phố xá thuộc loại nghèo Oxy. Khi ra phố phải đeo mặt nạ và mang bình Oxy phụ. Các trạm tự động chỉ nạp Oxy vào bình khi bạn xuất trình thẻ dục lỗ. Cũng may mắn là Peter có thẻ sản xuất bao nhiêu Oxy tùy ý. Tới mức anh và ORO có thể dùng hết đời. Lúc đầu Peter không muốn tới các phòng ăn. Nhưng từ lâu ORO và các bạn đã quen với việc lấy thực phẩm cung cấp cho những người trong hang. ĐẦu tiên họ dùng thẻ đục lỗ của mình ăn ở một nơi, sau đó qua một phòng ăn khác đặt lại bữa ăn và mang tất cả về. ORO bàn với Peter rằng anh cứ chờ ở nhà, ORO sẽ mang thức ăn về. Nhưng Peter ngĩ ra một sáng kiến: Anh ngồi vào một bàn trong phòng ăn và ấn thẻ đục lỗ của ORO vào máy phát thức ăn . Giây lát, thức ăn hiện ra trên bàn và máy tự động đẩy thẻ ra ngoài. Lúc này, ORO ngồi vào ghế đối diện thì máy tự động lại dọn cho anh một xuất thức ăn nữa với tấm thẻ đó mà không phản ứng gì. Bằng cách đó với một tấm thẻ họ có thể gọi một lúc mười xuất ăn cũng được.

Tuần đầu tiên trôi qua và ORO vẫn không nhận được hồi âm. Peter đã nghĩ rằng, có lẽ họ không chú ý đến thông tin của anh. Chắc họ để lầm nó giữa các bản tính và bản vẽ trong một hộp phiếu không đáy nào đó. Do vậy thông tin đã biến mất và không có ai trả lời nữa. Đầu tiên ý nghĩ đó làm anh thất vọng. Nhưng rồi anh cảm thấy rằng, tốt nhất là họ đừng chú ý đến anh nữa và anh sẽ tìm cách khác để rời khỏi đây ... Nhưng anh cảm thấy như mình đang trong một cái bẫy chuột. Có những lúc anh tuyệt vọng đến mức muốn xin ORO mấy giọt thuốc ngủ sâu hoặc một thứ thuốc say nào đó để quên hết, quên được tình trạng bế tắc vô vọng của anh.

Cứ như thế, anh đã ở nhà ORO tới gần ba tuần.

Ngay cả ORO cũng không yên tâm. Mỗi buổi sáng anh đi làm tại bệnh viện. Còn buỏi chiều anh ngồi với Peter trước máy truyền hình buồn tẻ. Anh trầm ngâm nhìn bóng hình trên máy. Suốt thời gian này ORO ko dám mời các bạn tới chơi nữa. Ngay cả khi ở phòng ăn hai người cũng ngồi riêng một bàn, để tránh phiền phức. Một ngày kia ORO nhận được một bài toán mới. Cuối cùng, sau đoạn chỉ dẫn cứ thế. Phía dưới tờ giấy có ghi thêm:

- Con người Trái Đất lập tức tớ con đường lớn thứ tư ở quảng trường Trung Tâm!

Chỉ có từng ấy chữ. Trước đây ORO càng nóng lòng chờ đợi tin tức bao nhiêu thì bây giờ anh càng hoảng hốt bấy nhiêu. Anh tạm ngừng công việc và chạy vội về nhà. Khi được thông báo, Peter cũng tái mặt. Hai người hỏi nhau

- Không biết chúng ta đã hành động đúng hay sai.

Anh cũng tự hỏi như vậy, nhưng bây giờ không còn là lúc để chọn lựa. Phóng lao thì phải theo lao.


25. NHỮNG ĐÁM MÂY TỰ MỞ RA


Quảng trường Trung Tâm là điểm xuất phát của rất nhiều con đường lăn. Những con đường này mang những người có trí nhớ từ nơi ở tới chỗ làm việc. Trong thành phố ngăn nắp và đẹp đẽ này có từ mười lăm đến hai mươi loại nhà khác nhau, lớn và nhỏ, quét vôi màu khác nhau. Chúng được dựng lên giữa các hàng cây và bụi cây nhân tạo. Cách mười hoặc hai mươi nhà lại có một câu lạc bộ, một cửa hàng ăn và một cửa hàng bách hóa tổng hợp. Rồi quảng trường với cây cối nhân tạo và rồi tới dãy nhà ở khác. Thành phố rộng lớn một cách đáng ngạc nhiên. Trừ quảng trường Trung tâm, không nơi nào có cảnh đẹp. ORO tiễn đưa Peter tới tận quảng trường Trung Tâm. Hai người yên lặng đi bên nhau, lòng đầy lo âu.

Giờ phút quyết định không thể trì hoãn được nữa. Cho tới lúc này, họ cũng khôgn thể biết được cái Thế lực có quyền sinh quyền sát này sẽ ủng hộ hay chống đối họ. Nhưng cũng chẳng còn khả năng nào khác.

Peter bước lên đường lăn số 4, thầm nghĩ không biết có gặp lại ORO nữa không:

- Xin cảm ơn anh. Anh ORO.

- Chúc Peter và tất cả chúng ta nhiều may mắn!

Peter buồn rầu nhìn lại nhưng quyết định ra đi. Anh nói:

- Không! Không còn giải pháp nào khác. Nhưng ta không sợ họ đâu.

Đường lăn dẫn Peter đi một đoạn trên những con đường giống hệt như anh đã thấy từ trước đến nay ở Thành phố trí nhớ. Đột nhiên, anh tới trước, một ngăn kín. Một cánh cửa tự động mở ra. Bây giờ anh đi theo một hành lang kín với ánh sáng màu lục nhạt mờ ảo. Tốc đọ băng tải ngày càng tăng. Con đường lên dốc liên tục. Đột nhiên băng tải dừng lại. Peter chút xíu nữa bị ngã chúi. Anh lại đứng trước cánh cửa thứ hai. Cửa tự động mở Peter bước vào vài bước thì cửa sập lại sau lưng. Anh cảm thấy như đi trong sương mù dày đặc, hay trong một luồng hơi đang tuôn.

Anh tập trung cố gắp nhận thức xung quanh. Tứ phía đều là những đám sương mù dày đặc màu xám bồng bềnh trôi. Anh dang đứng cô lập ở một nơi hoàn toàn xa lạ, không nhìn thấy gì và cũng chẳng nghe thấy gì. Bông nhiên trước mắt anh hiện ra một vật bóng nhoáng màu bạc giống như một chiếc thang. Anh bước lên bậc thứ nhất. Quả là một chiếc thang. Tuy trong lòng bối rối và đầy nghi hoặc, anh leo tiếp vài nấc nữa. Lúc này sương mù đã loãng hơn nhưng anh vẫn chưa trông rõ mọi vật. Tuy vậy anh phát hiện ra đường nét của một chiếc máy bay, cửa nó tự mở ra và đóng lại sau khi anh bước lên.

Peter thấy mình trong phòng hành khách rất đầy đủ tiện nghi của một chiếc máy bay tương đối nhỏ. Ngoài anh, trên máy bay không có ai, kể cả phi công.

Sau khi anh chọn một ghế ngồi phía sau cánh, chiếc máy bay lập tức khởi động và gần như bay lên theo chiều thẳng đứng. Nó bay khá lâu trong sương mù. Những đám mây loãng dần rồi cuối cùng chiếc máy bay bay vào vùng ánh sáng.

Lúc này anh trông rõ phía dưới máy bay là những đám mây bồng bềnh vô tận. Nhưng khác là chúng không trắng như chúng ta quen thấy các biển mấy ở Trái Đất, ngược lại chúng rất bẩn, màu vàng và nâu. Phía trên máy bay là bầu trời xanh trong vắt và sáng chói. Lúc này Peter không quen với ánh nắng nên anh buộc phải nheo mắt. Anh cho rằng chung quanh mình lúc này cũng chỉ là ảo ảnh. Một cảnh dựng lên để dành cho anh. Vì màu xanh quá đẹp. Anh cảm thấy chung quanh mình toàn là khí Oxy loảng và ánh nắng Mặt Trời có vẻ mạnh hơn ở Trái Đất hàng trăm lần.

Một chiếc bàn nhỏ tự động lăn tới trước mặt anh. Trên mặt bàn có một cái ly đựng thức uống và một cái đĩa đựng mứt trái cây. Nước giải khát về màu sắc, hình dáng và hương thơm hấp dẫn tới mức Peter vội vàng dùng thử.

Vừa uống xong anh chột dạ nghĩ: có lẽ mình đã nhìn lầm? Mình không nên tin tất cả những gì mình đã nhìn và nghe thấy ở dưới kia. Có thể mình đã không rơi vào tay một thế lực xấu xa chuyên hủy hoại con người. Mọi cái ở đây đều là tiện nghi và chăm sóc chu đáo. Hoặc là chúng láu lỉnh và tinh khôn hơn mình? Hoặc là chúng cũng muốn dùng hương thơm, vị ngọt và sự hào nhoáng để ru ngủ sự sợ hãi và sự cảnh giác của mình? Có lẽ người ta muốn thử thách mình với tất cả những điều đó? Hay là sự ngạc nhiên vui thích và không hứng thú sẽ lần lượt thay thế cho nhau?? Nếu vậy, điều này chỉ nói lên là người ta muốn yêu cầu mình một cái gì đó. Làm sao mà nhưng người này vừa đáng yêu vừa đáng sợ được? Ai mà biết được?

Cẩn thận! Ta phải cẩn thận!

Nhưng những sự kiện dễ chịu lại tiếp tục xảy đến. Peter chưa ăn xong hẳn thì cảm thấy máy bay giảm thấp độ cao. Rồi nó hạ canh trên một đường băng ngắn. Máy bay dừng lại, cửa mở ra, một cầu thang hiển a.

Peter bước ra khỏi máy bay. Vừa đặt chân xuống đất thì con đường lăn tự di chuyển. Một tấm cửa kiếng lớn cũng tự động mở ra trước mắt anh. Peter thấy mình đang ở trong một phòng đợi lớn, với những nét trang trí màu lục. Trong phòng đợi anh cũng không gặp ai. Con đường lăn tiếp tục đem anh đi vào sâu hơn. Một cửa thứ hai lại mở ra trước mặt anh. Đột nhiên anh ra tới quảng trường trước sân bay. Một công viên tuyệt đẹp. Peter phải reo lên vì sự ngạc nhiên.

Quảng trường chạy dài, lớn hơn quảng trường trước nhà thờ thánh Pi-e ở Rom. Giữa quảng trường là một đài phun nước với một nhóm tượng nhẹ sinh động có cả nam, nữ và trẻ em, những con ngựa đang chồm lên. Tất cả như đang nhảy múa trong giòng nước lóng lánh sủi bọt đang phun. Chung quanh đài phun nước có trồng nhiều cây lớn, cây nhỏ và hoa cũng nhiều. Xa xa người ta thấy những đường nét của những công trình xây dựng tráng lệ. Những lâu đài bằng đá hoa cương màu trắng và màu hồng. Phía trên quảng trường vẫn là màu trời xanh mát ...

Anh thoáng suy nghĩ rồi tháo bộ máy hô hấp của mình ra, hít mạnh không khí. Anh cảm thấy mình đang thở một loại không khí giàu Oxy và thoang thoảng có mùi thơm.

Thứ không khí này ta chỉ được gặp ở những nơi đẹp nhất trên Trái Đất, cảnh tuyết phủ chói chang ánh năng vùng Coradơ hoặc vùng Anpơ hoặc dưới các dãy cây cọ đảo Hawai hoặc trong các cánh đồng hoa ở Tibany, anh thở ngày càng sâu và lần này hoàn toàn say sưa vì vui thích! Khí Oxy! nguyên tố sinh động kỳ lạ đó tràn ngập không hạn ché dưới bầu trời xanh trong vắt. Đài phun nước và cây cối đang nở hoa. Gần đó là một dãy bụi cây thấp. Anh bước gần một bụi cây và lấy tay sờ thử lên chiếc lá: Đó là một cây thực đang sống, có cành lá rườm rà và những bông hoa màu đỏ tươi.

Sao có thể như vậy? Mình có còn ở trên hành tinh Oxy không? hành tinh của sương mù ngột thở, của các ngôi nhà bê tông ảm đạm, của những người khốn khổ trốn tránh trong hang động?

Anh cứ đứng thế đến hai phút, mắt chớp chớp trong ánh sáng rực rỡ, hít thở mạnh, thưởng thức khí Oxy đang ào ạt tràn vào phổi và các mạch máu. Một chiếc xe hơi màu trắng như tuyết nhẹ nhẹ lăn tới trước mặt anh. Nó giống như một chiếc xe hơi trên Trái Đất chạy trên các bánh xe được lau chùi bóng nhoáng, không có tiếng động. Cánh của xe bất mở. Một chàng thanh niên bước ra khỏi xe. Anh ta mặc bộ quần áo bằng thứ vải rất đẹp nhưng cắt theo kiểu hơi lạ so với Trái Đất. Nó có vẻ quá bó chặt lấy người. Chàng ta không mang máy hô hấp. Anh ta nhiệt tình chìa tay cho Peter bắt và mìm cười chào anh.

Peter định trả lời ngay nhưng anh kịp thời trấn tĩnh. Đầu tiên mình cứ nên làm như không hiểu tiếng nói của hành tinh Oxy thì khôn ngoan hơn. Anh lắc đầu và ra hiệu bằng tay rằng anh không hiểu gì hết! Anh với tới túi dụng cụ, rút chiếc máy phiên dịch liên hành tinh ra bật lên và nhìn lại người thanh niên.

Chàng ta nhắc lại.

- Thay mặt Trung Tâm hành tinh Oxy, tôi nồng nhiệt chào mừng người dân của Trái Đất xa xôi. Tôi hy vọng rằng ngài đã qua một chuyến bay tốt đẹp và sẽ cảm thấy thoải mái ở chỗ chúng tôi, sau tại nạn đáng tiếc mà ngài đã gặp.

"Như vậy ở đây người ta cũng đã biết anh đã tới đây lúc nào và khi nào" Anh đáp lại sau nhi bắt tay:

- Ở đây tất cả đều đáng ngạc nhiên, trước đây tôi không thể mơ tưởng điều đó.

Người thanh niên gật đầu một cách lịch sự và mời anh ngồi vào xem. Trong xe không có vô lăng mà chỉ có một bảng điều khiển. Người thanh niên bấm nút, các cửa xe đóng lại. Chiếc xe lướt êm theo một con đường ngoằn ngoèo rất láng tiến về sườn núi phía trước.

Chưa bao giờ Peter được thấy một cảnh tráng lệ như vậy. Anh cảm thấy như tất cả những cảnh đẹp trên Trái Đất đã tập trung tại đây. Những đỉnh núi cao phủ tuyết trắng. Những vách núi dựng đứng. Những thác nước. Những rừng cây bạch đàn và cây cọ, cây thông bạc và cây nguyệt quế ... Giữa cảnh thiên nhiên với màu sắc rực rỡ, hình dáng phong phú và hương thơm ngọt ngào, thỉnh thoảng lại xuất hiện nhưng ngôi nhà. Cỗ này là một lâu đài cẩm thạch. Chỗ kia là một ngôi nhà giống nhà gỗ Phần Lan. Nơi khác lại là một công trình kỳ ảo bằng thủy tinh làm Peter hết sức ngạc nhiên. Hai bên đường có rất nhiều bụi cây và bụi hoa. Lưng chừng núi có những con suối và thác nước đổ xuống. Giữa thung lũng hiện lên những mặt sáng long lanh của các hồ. Trên đó những chiếc thuyền buồm và thuyền máy đang chạy nhanh kéo theo những người lướt ván. Peter thấy mình đang ở một xứ sở đẹp đẽ ở Thụy Sĩ, Hawai hay vùng Carimê nổi tiếng. Chung quanh những tòa nhà rải rác khắp nơi, anh thấy có những nguwòi đi lăị. Đặc biệt là rất ít người nếu so với chiều rộng và kích thước của các ngôi nhà.

- Tôi có cần mở cửa xe cho thoáng?

- Xin cám ơn ông - Peter nói và gật đầu.

Chủ xe ấn ngón tay vào một chiếc nút. Lập tức không khí mát bên ngoài mang theo mùi hoa thơm cỏ dại ùa vào trong xe. Chiếc xe chạy không một tiếng động, nhưng cảnh bên ngoài còn yên tĩnh hơn. Xe đi sát một cái hồ, trên đó có nhiều người đang lướt ván. Các xuồng mày lướt trên mặt hồ không một tiếng động.

Peter lại nhận ra tiếng động khác: đó là tiéng chim hót líu lo, tiếng âm nhạc, tiếng xì xào của cành lá. Chúng lan rộng hệt như không khí dễ chịu làm anh ngây ngất. Peter nhớ rằng chưa có lần nào anh có được cảm giác thoải mái đến như vậy. Sự lo lắng bất an hình như biến mất trong chiếc máy bay. Anh chủ động hỏi người tới đón mình:

- Như vậy, quý ông đã biết là tôi từ Trái Đất tới đây?

- Phải, điều đó chúng tôi biết!

- Quý ông cũng biết tàu vũ trụ của tôi bị sự cố?

- Phải!

- Và điều gì đã xảy ra với vợ tôi?

- Bà ấy hiện ở trên con tàu vũ trụ. Bà ấy vẫn mạnh khỏe.

Nghe tới đây, tim Peter đập mạnh:

- Quý ông có liên hệ vô tuyến thường xuyên với cô ta không?

Người thanh niên mỉm cười bí ẩn:

- Ngài muốn nói thường xuyên? Điều này chúng tôi không giám nói. Do nhiễu loạn về khí quyển nên trong lúc này không thể liên hệ vô tuyến được.

- Và tôi có thể ... Tôi có được phép hy vọng rằng quý ông sẽ giúp đỡ tôi để bắt liên lạc với vợ tôi không? Tôi có thể hy vọng rằng quý ông giúp tôi trở lại con tàu vũ trụ không?

- Đó là lẽ đương nhiên - Người thanh niên mỉm cười - Chính vì vậy mà chúng tôi đã mời ngài đến đây.

Chiếc xe hơi tới gần đỉnh núi. Con đường lộ ngoằn ngoèo chạy qua một vườn hoa khổng lồ. Tại đây nhiều loại cây, nhiều hoa còn đẹp hơn dọc đường. Giữa các thác nước, các ao nhỏ và các suối phun nước, anh thấy lấp ló hàng trăm bức tượng điêu khắc. Anh còn thấy một vài bức tượng đứng có trang trí đầy hoa tươi. Một trong những tượng đó giống hệt người thanh niên đang cùng đi với anh.

Sau khi anh đã gặp lại ba chục bức tượng đứng như thế và mỗi lần cứ liếc qua liếc lại giữa bức tượng và người ngồi gần anh, thì người trẻ tuổi khiêm tốn mỉm cười giải thích:

- Ông Peter thân mến. Hành tinh Oxy là một vương quốc. Người trị vì vương quốc hiện nay là Thiện Vương XIII. Còn tôi là trưởng nam của người. Tên tôi là Recker, sau này khi tôi được nối ngôi tôi sẽ mang tên hiệu là Thiện Vương XIV.

Peter ngạc nhiên nhìn người đang nói chuyện với mình. Anh nhớ rằng trên Trái Đất, cả hàng ngày năm nay không còn một ông vua nào trị vì nữa. Như vậy người đàn ông hòa nhã và cởi mở này không có lẽ là ông vua tương lai của hành tinh đầu mâu thuẫn và không thể hiểu được này? Có phải bộ óc của ORO và ON được đặt chương trình theo lệnh của người này? Có phải vì ông ta mà những người mang vòi phải vất vả vì thiếu khí thở? Những sinh vật phải ẩn nấp, co quắp trong hang cũng vì người này? Phải! Chính người đang ngồi trên chiếc xe hơi đầy tiện nghi cứ chạy hoài về phía trước. Nhưng tới đâu? Như trả lời cho thắc mắt của Peter, chiếc xe dừng lại.

- Nếu ông muốn chúng tôi bố trí cho ông riêng một nhà để sử dụng ... Hoặc nếu ông không chê thì xin dành cho ông một căn phòng trong tệ xá.

Cái "tệ xá" đó thực chất là một lâu đài trong mộng. Thái tử kẽ ra hiệu mời. Peter bước xuống xe và đứng trước cổng chính. Tất cả những gì mà Peter có thể tưởng tượng về mặt đẹp đẽ, tiện nghi, độc đáo, thẩm mỹ và giàu sang đều hiển hiện ra trước mắt anh. Không thể so sánh lâu đài này với những công trình nổi tiếng ở trên mặt đất như những vòm mái ở đền thờ Cordobon, các hòn đá hoa cương trắng ở đền Tasan Mahan, như sự thanh thảnh đầy ý nghĩa của tượng Phật ở Kamakura ... Khi Peter đứng ở cửa chính, anh hết sức ngạc nhiên và ngỡ ngàng vì trước mắt anh là một công trình nghệ thuật hợp với thuật kiến trúc bằng đá hoa cương, đá rửa quý và vàng. Trên đó là bầu trời xanh thẫm. Ngay cả những đám mây trông chẳng khác gì lưới đăng ten. Còn màu xanh của cây cỏ thì sáng tươi như ngọc thạch.

- Sau hai giờ nữa chúng ta gặp lại nhau để ăn trưa - Thái tử nói, gật đầu chào rồi đi thẳng.

Một cánh cửa rộng tự mở ra trước Peter. Anh đặt chân lên một tấm thảm lăn. Nó đưa anh về phía trong lâu đài, vượt qua những lối đi được trang trí đầy nhung lụa, thảm Gobelin và nhiều đồ gỗ đẹp giá trị. Cuối cùng tấm thảm lăn biến thành một bậc thang máy đưa anh đến trước hai cánh cửa trắng như tuyết. Cửa này cũng tự động mở ra êm ru trước mặt anh. Peter bước vào một căn phòng tráng lệ. Lúc này anh mới giật mình nhận xét: Ngay cả ở đây cũng không có người nào đi kèm anh. Trong tòa lâu đài nguy nga này, trừ Thái tử ra hình như không có một sinh vật nào.


26. NHƯ TRONG MỘT TÒA LÂU ĐÀI CỔ Ở NƯỚC ANH


Người vợ trẻ của Peter Mac Gulliver, July, một nhà ngôn ngữ học, yêu thích đặc biệt các tiểu thuyết cổ Anh. Nàng thường hay nói chuyện với Peter về những cuốn tiểu thuyết lãng mạn cổ. Trong đó thường có những nhân vất người lùn và hồn ma. Anh hãy còn nhớ lại họ đọc xong và cười thoải mái biết bao. Nhất là nếu họ được cảm giác kỳ ảo là ngủ trong một lâu đài có hồn ma bóng quỷ. Khi đột nhiên một cánh của không có người mà tự mở ra hoặc khi trong lò phát ra một giọng nói đầy bí ẩn. Lúc này rõ ràng là anh đang ở một tòa lâu đài như vậy. Peter đứng giữa gian phòng rộng lớn và không biết anh phải bắt đầu bằng việc gì. Lúc này ở Trái Đất vào khoảng thế kỷ thứ XXXI và cũng là lúc bắt đầu một thời hòa bình và thịnh vượng.

Vào năm 3069 này thì cuộc sống của con người thực sự dễ chịu và hạnh phúc. Mọi người có nhà ở rất đẹp, các phòng tiện nghi rộng rãi. Nhưng còn sự xa hoa quá sức tưởng tượng này, những đồ gỗ, tranh và thảm treo tường quý này thì ở Trái Đất chỉ có trong những Viện bảo tàng và nó là sở hữu công cộng. Mọi người đều có thể ngắm nghía ... Nhưng trong một phòng mà tập trung nhiều thứ trang trí chạm trổ, thủ công mỹ nghệ như thế này thì thật hiếm có! Phòng lớn thứ nhất này có nhiều cửa mở ra mọi phía: ra các ban công, các phòng các sảnh khác. Ở Istambon trong hậu cung Topkaki ở các lâu đài cổ của các vua chúa Thổ Nhĩ Kỳ cũng không có được một góc nào xây dựng kỹ lưỡng bằng và cũng không có những vườn hoa treo nào đẹp bằng trong lâu đài này. Người ta có thể ngạc nhiên hàng trăm năm nếu như ... Phải, nếu như không có những chuyện đáng lo ngại khác. Peter thử bước tới gần một cửa: Cánh cửa tự mở êm. Anh bước tới bên một chiếc bàn. Ở trên bàn hiện ra những cốc thủy tinh mài và những lọ đầy nước uống. Anh bước qua một bàn khác: mặt bàn tự mở ra và một chiếc đĩa lớn đầy hoa quả hiện lên. Peter không tự kiềm chế được, cẩm một quả cắn thử. Vị nó gần giống những quả trên Trái Đất, nhưng cũng lại không giống. Anh có cảm giác như cùng một lúc ăn cả táo, cam, chuối, xoài, nho và dứa. Ở một chỗ nào đó có một điệu nhạc nhẹ êm dịu nổi lên rất ngắn như hiệu báo giờ đồng hồ.

Thái tử mời anh ăn cơm trưa trong vòng hai tiếng nữa. Nhưng anh không biết một tiếng đồn hồ ở đây là bao lâu. Anh cũng không biết đi lối nào, qua cửa nào thì tới được phòng ăn. Anh đang phân vân bước đi bước lại trong phòng lớn. Như đọc được ý nghĩ của anh, một cửa che bằng thảm đượ mở ra, cửa này dẫn tới một phòng tắm kỳ ảo với một bể tắm rộng lớn đến mức có thể bơi được. Kế bên bể tắm có những ghế dài để ngả lưng và nhưng khăn bông trắn như tuyết. Trên mặt bàn có xà bông thơm, kem dưỡng da và nhưng vật phẩm khác.

Peter tháo máy và cơi bỏ quần áo. Được tắm trong bồn sạch sẽ và sáng loáng này thật thoải mái biết bao.

Peter không nén được tò mò, lấy một giọt nước ấm trong bồn tắm phân tích. Máy của anh lập tức cho kết quả: nước suối trong có hương lá rừng, nhiệt độ 30 độ C. Vậy là nước tắm tuyệt hảo. Peter bước vào bể tắm nằm dài thoải mái. Anh tắm xong làm một vài động tác bơi thì nước cũng hơi chuyển động có những làn sóng nhỏ lăn tăn và mát hơn vì giảm đi một độ.

- Đây đúng là một xứ sở thần tiên! - Peter thốt lên: Anh lại nghê thấy hiệu nhạc đồng hồ lần nữa nên quyết định ra khỏi bồn tắm. Anh hoảng hốt suýt xỉu: Trên chiếc ghế dài, quần áo và trang bị của anh đã biến mất. Chiếc túi đựng đồ đạc với chiếc mũ vũ trụ, chiếc máy hô hấp, chiếc máy phân tích vạn năng, máy sản xuất Oxy, điện đài, là bàn, đồng hồ bấm giây ... tất cả đều biến mất. Anh ngỡ ngàng, lưỡng lự đứng bên bồn tắm. LÚc này anh không chú ý rằng không khí trở lên ấm dần: Một luồng khí nóng, thơm, nhẹ thổi về phía anh co đến khi thân anh hoàn toàn khô trước khi anh kịp cầm lấy một tấm khăn lông.

Peter thầm nghĩ: Mình bị rơi vào đâu đây? Rõ ràng bị sa bẫy rồi! Mình bị cầm tù mất rồi! Mất hết máy móc dụng cụ rồi! ... Bây giờ, nói chung anh không thể tự định hướng được. Thiếu Oxy thiếu máy phiên dịch liên hành tinh ...

Anh quá hốt hoảng nên không kịp nhân tháy một chiếc tủ chìm trong tường vưa mở ra. Trong đó thay vì quần áo và trang thiết bị đã bị mất, có để sẵn giầy, quần áo lót và một bộ quần áo lịch sự băng tissa mềm, trắng tinh vừa vặn với thân người anh. Không còn cách nào khác là mặc bộ quần áo đó vào người.

Anh vã mồ hôi, cầm chiếc khăn để thấm mới chợt nhớ ra mình bị mất cả chiếc máy cạo nữa. Nhưng đột nhiên anh mở to mắt nhìn vào chiếc khăn lông: Khi anh cầm chiếc khăn chấm nhẹ vào mặt thì bộ râu anh biến mất. Thì ra chiếc khăn thơm có tẩm hóa chất nhổ râu và bôi vào dó một loại kem mịn và thơm.

Sự phục vụ anh càng tinh xảo và hoàn thiện bao nhiêu thì cũng bí mật bấy nhiêu. Trái tim Peter càng tràn đầy lo lắng và sợ hãi: Làm sao ta có thể thoát khỏi nơi này? Thế lực này càng to lớn đến mức nào? Anh mặc quần áo xong. Cửa phòng tắm lại tự mở ra.

Bị kich động qua nhiều, Peter cảm thấy kiẹt sức, ngồi bệt lên một chiếc ghế dài. Sự sang trọng giàu có, những tiện nghi hết sức tinh vi của căn phòng làm anh càng lo lắng hồi hộp. Anh cảm thấy thế lực bí mật đang giữ anh trong nanh vuốt nó còn mạnh hơn là anh tưởng tượng.


27. CUỘC HỌP CỦA THIỆN VƯƠNG XIII


Trong khi Peter bị những lo nghĩ luôn luôn ám ảnh và chờ trong lâu đài của Thái Tử thì trong lâu đài của Thiện vương XIII cũng có một cuộc hội ý thiệt khẩn trương. Cuộc họp bí mật này chỉ có bốn người tham gia: Nhà vua Thiện Vương XIII, Thái Tử Recker, Thế tử Vacker và Grabkopf Đầu To, chủ tịch hội đồng trămhọ.

Nhà vua đăm chiêu nghe báo cáo của Đầu To.

Trong lịch sử của hành tinh Oxy đã có rất nhiều lần xảy ra chuyện các sinh vật hoặc những vật vô tri vô giác từ khoảng không vũ trụ rơi xuống. Cơ cấu phòng thủ vũ trụ của hành tinh Oxy tự động đóng lại khi có vật thể lạ đến gần. Như Đầu To hết sức thân trọng báo cáo cho Thiện vương XIII là trường hợp đầu tiên xảy ra ở thời Thiện vương IX bắt được một sinh vật ở khoảng không vũ trụ mà không bị tan xác. Họ đã đưa sinh vật đó vào xét nghiệm sinh học. Bây giờ chúng ta có thể đến gian vũ trụ của Viện bảo tàng thành phố Oxy xem vật đó đã được bảo quản trong Phoocmoon.

- Xưa kia, hội đồng bí mật đã ban bố đạo luật về quan hệ của hành tinh Oxy với vũ trụ, nếu được phép thần sẽ tâu để bệ hạ xét ... - Đầu To nói.

Nhà vua gật đầu. Đầu To ấn vào một chiếc nút. Trên một phần tường cung điện được trang trí bằng thẳm Gobelin hiện ra hình chiếu văn bản của đạo luật:

1. Khoảng không vũ trụ bao quanh hành tinh Oxy cũng là không phận của hành tinh Oxy.

2. Một vật lạ xâm nhạm không phận của hành tinh Oxy dù là con tàu vũ trụ, sinh vật hay vật vô tri vô giác đều bị coi là kẻ tù cà bị bắt xuống để kiểm soát kỹ lưỡng hơn.

3. Trong trường hợp có nguy hiểm, hệ thống tên lửa tự động của hành tinh có thể tiêu diệt vật đột nhập vao không phận nói trên.

4. Nếu sinh vật hoặc vật vô tri vô giác đang tới gần mà không đe dọa tới sự sống còn của hành tinh Oxy thì sẽ bắn một lớp vỏ bảo vệ. Chiếc vỏ này bắt nguyên ven kẻ đột nhập xuống hành tinh.

5. Nếu là một vật chất vẹ tinh thì sẽ được đưa vào phân tích lý hóa trong tất cả mọi điều kiện.

6. Nếu là một sinh vật ở bậc phát triển cao hơn thì Chủ tịch hội đồng hành chánh sẽ quyết đinh:

a, Xóa trí nhớ sinh vật đó và đưa xuống một trong các Thành phố phục vụ (Thành phố của những người mang vòi)

b, Nếu qua một kỳ kiểm tra nếu thật chi tiết, xác nhận khả năng đặc biết của sinh vật theo chương trình tương ứng sẽ đưa sinh vật vào Thành phố của những người có trí nhớ về phục vụ công ích của hành tinh Oxy.

c, Cũng sẽ tiến hành những xét nghiệm sinh học trên sinh vật đó.

Tới đây, hình biến mất, Quốc vương nhìn Đầu To vẻ chờ đợi ...

- Thưa bệ hạ, trước đây năm thagns rưỡi có một con tàu vũ trụ di theo hướng trạm không gian AAA về phía hành tinh của ta. Giữa khu vực BC con tàu thắng dần lại và chuyển sang quỹ đạo tròn.

- Thế ta đã bắn rơi nó chưa? - Thế tử Vacker sốt ruột hỏi.

- Thưa Thế Tử, chưa. Hệ thống phòng không tự động của chúng ta chỉ làm việc trong khu AB.

- Ta phải tăng phạm vi hoạt động hệ thống phòng không của chúng ta. Và đừng quấy rối ta về chuyện đó trong khi chơi gold! Những công việc về an ninh quốc gia không thuộc về phần việc của tôi mà là công việc của Thái Tử.

Đầu To im lặng khó chịu.

- Tiếp tục đi - Nhà vua nói.

- Tiếp đó vỏ của con tàu vũ trụ bị một thiên thạch đụng phải. Thế là sinh vật trong đó bò ra ngoài. Nó đu bằng một sợi dây và lúc đó tiếp xúc với khu vực B.

- Biên giới của khu vực B lại đúng ở đó hả! Thật là lạ! - Thế Tử Vacker nói.

- Thưa Thế tử, với khoảng một triệu dặm thì biên giới chỉ là một ly. Đây là một sự tình cờ nhưng sự việc xảy ra đúng như vậy. Sinh vật từ trong con tàu leo ra và vừa vặn lọt vào phạm vi hoạt động của tên lửa Ánh Sáng Bạc của chúng ta. Tất nhiên, lúc đó chúng ta đã đồng thời bắn một cái vỏ ánh sáng bạc bắt nó xuống mà không bị tan xác để giao cho Viện động vật nghiên cứu. Sự đáng tiếc là sinh vật đó biến mất không để lại dấu vết trong phạm vi Thành phố phục vụ Anpha ...

Theo báo cáo của Trạm Rađa thì lúc vừa chạm đất, chiếc vỏ ánh sáng bị vỡ tan.

Sau một giây im lặng, Đầu To báo cáo tiếp:

- Một vài giờ sau đó, trung tâm vô tuyến báo cáo rằng từ khu vực này có những sóng vô tuyến yếu ớt độ dài 6,17 được đánh đi với nội dung lập đi lập lại như sau:

"Đây Peter, đây Peter, July hãy lên tiếng đi em" Có rất nhiều khả năng là những tín hiệu vô tuyến này do sinh vật đó phát ra. Thần đã quyết định đến ngày Đại Lễ Mùa Xuân sẽ bắt sinh vật đó đưa vào Viện động vật nếu như nó còn sống. Tất cả những điều đó sẽ không có ý nghĩa gì đặc biệt nếu không xảy ra chuyện ...

Đầu To dừng lại một chút để nhấn mạnh:

- Điều đáng ngạc nhiên nhất trong vụ này là thay vì xuât shiện ở Thành phố phục vụ, sinh vật đó lại tới được Thành phố có trí nhớ sô 5. Không rõ bằng cách nào. Thần chưa đánh giá được đúng mức tầm cỡ của việc này.

Thiện Vương ngạc nhiên nhìn Đầu To:

- Ta chưa hiểu điều này!

- Thưa bệ hạ, thần cũng chưa hiểu điều này. Nói chung là không thể hiểu được. sự an ninh của hành tinh Oxy dựa trên cách bố trí cơ bản là chỉ có Trung Tâm mới giải quyết được việc giao thông giữa Thành phố trí nhớ và Thành phố phục vụ bằng con đường bí mật. Nó luôn luôn được kiểm soát nghiêm ngặt. Từ trước tới nay thần cho rằng ngoài chúng ta ra không ai biết được con đường đó. Nhưng theo sự việc vừa mới xảy ra thì tất nhiên phải có người biết nó. Nhưng không biết là bao nhiêu người!

- Sinh vật từ Trái Đất có thể tới đó hoàn toàn tình cờ. - Thái Tử Recker nó.

- Không! Con nên nhớ rằng trong thời gian như vây thì khôgn thể được. Nhất là nếu không có kẻ đồng lõa. Thiện vương bác ý kiến Thái Tử.

- Sinh vật này có thể sản xuất được Oxy và có cả dự trữ thực phẩm. Vậy nó có thể tự đi được. Còn những thần dân phục vụ hoặc thân dân có trí nhớ dù có biét rõ con đường đó cũng không thể nào vượt qua được.

- Tôi đề nghị. Tìm hiểu rõ sự việc, bắt lấy nó và đem hành hình - Thế Tử Vacker nhấn mạnh - Và chúng ta phải tăng tầm hoạt động của tên lửa phòng không. Tôi nhấn mạnh điều này ngay cả nếu như hoàng huynh Recker thân mến vẫn cho rằng hệ thống tên lửa phòng thủ hiện tại của hành tinh Oxy đã hết sưc an toàn rồi.

- Hoàng đệ thân mến chưa biết được sự phát triển tiếp tục của sự việc kia nhưng ta lại biết - Thái Tử Recker lạnh lùng nói - Ta không cần phải tìm kiếm và bắt giữ sinh vật này nữa vì nó tự báo từ Thành phố trí nhớ. Hiện nay ta đang giữ trong lâu đài của ta. Ta đưa nó bằng đường bay bí mật về thành phố Oxy. Ta đã đoạt được tất cả trang bị dụng cụ của nó. Bây giờ nếu đưa nó ra hành hình quá sớm, là một sự ngờ nghệch vô cùng vì ta không thể biết được những đứa nào đã giúp đỡ nó.

- Nếu nó không khai những người đã giúp đỡ nó thì sao?

- Nó sẽ khai thôi - Recker nói - Nó sẽ khải bởi vì nó muốn trở lại với con tàu vũ trụ của nó. Ta đang làm nó tin rằng ta sẽ đưa nó trở lại con tàu. Ta đã tiếp đón nó hết sức niềm nở. Ngay từ khi còn ngồi trong máy bay ta đã bỏ những giọt thuốc hưng phấn vào nước uống để ru ngủ sự lo lắng và cánh giác của nó.

- Tại sao chúng ta phải nuông chiều nịnh nọt ó thay vì ...

- Nếu hoàng đệ của ta mong muốn và việc đó phục phục vụ cho sự an ninh của hành tinh tốt hơn ta sẽ lập tức giao kẻ bị bắt cho hoàng đệ - Recker nói.

- Ôi chao! Sao lại phải bàn lòng vòng đến kẻ bị bắt? Chúng ta bàn xong chưa? - Vua hỏi.

- Tâu bệ hạ, sắp xong ngay thôi - Đầu To đáp - Trong thời gian chúng ta quan sát sinh vật này.Thần muốn đề nghị một vài biện pháp an ninh bổ sung. Chúng ta cần tập tức kiểm tra lại tất cả các sách giáo khoa, các bài bản giải trí và các chương trình vô tuyến mà chúng ta phát ở các Thành phố phục vụ. Còn các tài liệu chuyên môn gửi đến Thành phố những người có trí nhớ cũng phải đưa vào các máy xử lý để kiểm tra và phân tích lại. Vì qua việc này ta buộc phải nghĩ rằng có lẽ trong đó còn sót một cái gì kích thích sự suy nghĩ và gây ra sự lo lắng. Rất có thể toàn bộ việc này là một biên pháp cân thận hơi thừa vì trước đây chúng ta đã thử trên hai ngàn lần đọc thì không có một bản não đò nào có sực kích thích hoặc có ý nghĩ không ghi trong chương trình.

- Các vị định bàn tới bao giờ nữa đây? - Thế Tử Vacker sốt ruột cắt ngang - Nếu ta còn nghi ngại ở các quyển sách thì sau giờ làm việc nên cho tăng gấp đôi phần rượu. Như vậy là rẻ nhất và không gây thêm điều gì. Thưa quý vị, hôm nay tôi còn muốn đi săn nữa.

- Thưa Thế Tử, chúng ta thảo luận đến đây là đủ. - Đầu To nói - Tôi chỉ muốn xin phép được ra lệnh báo động trong trường hợp cần thiết.

- Điều này phụ thuộc vào ông hoàng huynh của ta - Thế tử Vacker nói châm biếm - Khi người bảo vệ cao nhất của nền an ninh quốc gia đang làm phận sự thì ta có thể an tâm mà đi săn ...


28. PETER CÓ PHẢN BẠN KHÔNG?


Peter ngồi trên chiếc ghế dài, mệt mỏi rã rời như người vừa leo núi ba ngày đêm liền. Nhưng anh mới ngồi nghỉ được một lát thì lại nghe điệu nhạc êm dịu của đồng hồ. Tiếp theo đó là một tiếng cồng trầm buồn. Cánh cửa lớn tự mở, Peter bước ra. Anh vừa đặt chân xuống, tấm thảm lăn bắt đầu chuyển động qua các phòng và các lối đi. Những chỗ lên xuống biến thành những bậc thang máy. Chúng đem anh tới một phòng ăn rộng rãi và tráng lệ. Bàn ăn được dọn cho hai người. Tấm thảm lăn đưa anh tới cửa thì cánh cửa phòng ăn mở rộng. Phía đối diện, cánh cửa cũng mở rộng và Thái Tử mỉm cười bước vào. Ngoài hai người chẳng có ai trong phòng. Hoàng tử ra dấu chào khách thật niềm nở và họ ngồi đối diện nhau trước một bàn ăn vô cùng sang trọng. Bên cạnh chén đĩa và bộ đồ ăn vàng kể rõ các món ăn và thức uống của bữa ăn hoàng gia. Peter ngạc nhiên nhìn tờ thực đơn trên giấy quý. Thái tử liếc nhìn anh và mỉm cười.

- Thực đơn ngày hôm nay đã được in bằng tiếng nói hành tinh của ngài - Thái Tử mỉm cười - Và ngài thấy không, ngài cũng hiểu tiếng nói của tôi.

- Thưa ngài, quả thật là như vậy - Peter vẫn chưa hết ngạc nhiên - Luôn tiện tôi xin nhắc lại rằng chiếc máy phiên dịch của tôi biến mất và tôi cũng nhận thấy ngài cũng hiểu được tôi mặc dù tôi noi bằng tiếng của Trái Đất.

- Còn tôi thì dùng tiếng nói của bản địa. Nhưng chúng ta hiểu được nhau. Rất đơn giản, trong bộ quần áo của ngài có cài chiếc máy phiên dịch. Được ngài vui lòng đồng ý nên chúng tôi đã nghiên cứu chiếc máy phiên dịch liên hành tinh của ngài và sản xuất tiếp vài chiếc. Đó là một chiếc máy rất tinh xảo! Ở xứ các ngài người ta chỉ tạo máy móc theo kiểu khác hẳn chỗ chúng tôi nhưng không kém phần hấp dẫn. Máy móc của chúng tôi nhẹ, rất nhỏ và rất dẻo, có thể uốn được và gắn vào túi hoặc cổ áo. Suýt nữa tối quên mất tôi phải xin lỗi ngài: chắc vừa rồi ngài cảm thấy khó chịu khi chúng tôi thay thế những đồ dùng mang theo từ Trái Đất bằng những quần áo sạch sẽ. Chúng tôi sẵn sàng cung cấp ngài mọi thứ mà ngài cần dùng. Tất nhiên đến khi ngài lên đường trở lại con tàu vũ trụ của ngài, chúng tôi sẽ trao trả tất cả mọi đồ dùng lại cho ngài.

Thái Tử nói chuyện vui vẻ, ánh mắt thân ái cởi mở đến mức lúc này Peter không biết là có nên tin hay không. Nếu người ta có những ý định không tốt với mình, đương nhiên họ có thể khử mình từ lâu. Hoặc tống mình xuống đám người mang vòi. Hoặc bỏ vào một chiếc lồng cho những người tò mò đến xem như ở một vài hành tinh thù địch khác. Anh cho rằng những cảm nghĩ xấu của anh trước đây là do anh quá sợ hãi, sốt ruột và thiếu tin tưởng mà thôi. Như vậy việc họ thu quần áo anh đã mặc không biết bao nhiêu tháng nay chưa giặt để đưa cho anh một bộ quần áo sạch sẽ là tự nhiên và logic . Và cũng ở đây nơi có bầu không khí trong sạch giàu Oxy, nếu đi đâu anh cũng kè kè chiếc túi với máy hô hấp, bình chứa Oxy và các dụng cụ dư thừa khác thì người ta có buồn cười cũng là logic. Tất nhiên là vậy. Nhưng tại sao trong dãy phòng anh lại không có một chiếc tủ mở ra để anh có thể tự mình cất giữ những thứ đó. Tại sao họ không cho anh một ngăn kéo tủ hoặc một cái rương ....? Hay đó là thiếu sót của anh? Nếu anh go vào vách phòng, có lẽ một cánh cửa tủ đã mở ra ... Nhưng khi nãy anh bỏ máy móc, dụng cụ, quần áo cạnh bồn tắm? Bây giờ thì cũng vậy thôi. Chuyện đã qua rồi. Nhưng không, hãy còn may mắn. Vì anh vẫn đeo chiếc nhẫn cưới của anh ở ngón tay ... Anh cầm thực đơn lên xem. Đầu tiên có một loạt món khai vị như cá biển và các rau trộn. Sau đó là súp, thịt rán, trái cây, phôma, crem và món tráng miệng. Đây không phải là một thực đơn ở khách sạn mà ta phải chọn mà là bản kê tất cả các món ăn của bữa tiệc. Theo thực đơn sẽ có bốn mươi món sơn hào hải vị. Nhưng đột nhiên dạ dày của Peter như muốn cứng lại. Anh nhớ lai những người mang vòi với các ống hút và món chác đặc với muối. Anh nhớ lại ON con khi kiếm được nấm tươi và rễ cây đã cho là những món ăn thượng hạng...

- Chúc sức khỏe và tình hữu nghị của chúng ta - Thái tử giơ tay lên nói.

Mặt bàn tự động mở ra và đóng lại nhiều lần. Những đĩa thức ăn mới được bày rất khéo cứ lần lượt xuất hiện. Họ chỉ ăn mỗi thứ một miếng. Khi họ không ăn một món và đặt dao dĩa xuống thì món tiếp theo lại xuất hiện.

Trong phòng nổi lên tiếng nhạc nhẹ êm dịu làm nền cho câu chuyện, làm cho Peter nhớ dến những tác phẩm của những nhạc sĩ trên Trái Đất đã qua đời từ lâu lắm rồi như Bach và Beethoven. Những nhạc cụ thì không giống như của Trái Đất. Khi thích, tiếng nhạc nghe khá rõ nhưng ngay khi họ bắt đầu nói chuyện thì nhạc tự động nhỏ đi và ấm ấm không làm ảnh hưởng đến câu chuyện.

- Ngài Peter, nếu ngài có một ước mong nào thì chúng tôi sẵn sàng ...

- Thưa Thái Tử tôi chỉ có một ước muốn duy nhất. Tôi muốn liên lạc vô tuyến với vợ tôi hiện đang ở trên con tàu vũ trụ.

- Điều này chúng ta sẽ thực hiện được trong ngày.

- Thưa ngài, một ngày trên này dài bao nhiêu?

Hoàng Thái Tử cười xởi lởi:

- Cũng chỉ dài như một ngày trên Trái Đất. Nhưng hình như trong quần áo của ngài có một chiếc đồng hồ và một cuốn lịch cơ mà.

-Tôi chưa kịp để ý - Peter ngượng ngập - Tôi chi rmới mặc quần áo nên chưa quen và chưa hề cho tay vào túi. Bây giờ tôi mới nhận thấy là áo cũng có túi.

Trên bộ quần áo, nhiều nơi có những khóa kéo mảnh như sợi chỉ. Peter vừa đụng vào khó là anh có một cay viết mạ vàng rất thanh mảnh, một cuốn sổ ghi chép giấy trắng và một cuốn lịch. Trên bìa cuốn lịch có ghi: Lịch năm Thiện Vương 1207.

Peter muốn đề nghị một điều, nhưng ở giữa bàn tiệc với Thái Tử nói ra quá bất tiện. Anh tìm khắp các túi không thấy đồng hồ, anh vừa định nói lên điều đó thì anh thấy cả hai măng sét nhấp nháy, đó chính là những đồng hồ nhỏ. Mặt đồng hồ bên trái chia thành 12 phần và mặt đồng hồ bên phải chia thành 20 phần.

Thái Tử giải thích:

- Chiếc đồng hồ bên trái chỉ theo giờ Trái Đất còn chiếc đồng hồ bên phải chỉ theo giờ của chúng tôi. Nhưng ngày thì dài bằng nhau. Tùy ngài muốn sử dụng chiếc nào cũng được.

Peter hỏi:

- Vậy trên này cũng có một chiếc đồng hồ của Trái Đất?

- Trong khi ngài đang tắm chúng tôi đã đủ thời gian sản xuất theo mẫu của ngài. Còn ở ngon tay ngài đeo cái gì đẹpt thế? - Hoàng Tử nhìn vào tay Peter hỏi.

- Tôi sẽ rất vui sướng nếu tôi có thể tặng Thái Tử thứ nhỏ mọn này để kỷ niệm tính mến khách đáng yêu của ngài. Nhưng đó là vật duy nhất mà trong đời tôi không được phép rời nó ... Đó là quà đính hôn của vợ tôi. Ở Trái Đất chúng tôi, sau khi đính hôn, mỗi người phải luôn luôn mang theo một chiếc nhẫn vàng như thế này ở ngón tay áp út của bàn tay trái. Đó là dấu hiệu của tình yêu. Đèo chiếc nhẫn nghĩa là hai người thuộc về nhau, vĩnh viễn yêu nhau.

- Nếu không có cái vòng này thì các ngài sẽ không biết điều đó à? - Thái Tử mỉm cười hỏi.

- Có thể Thái Tử coi đó là một tập quán lạc hậu. Nhưng Trái Đất là tổ quốc của tôi. Và những phong tục tập quán của vợ tôi đối với tôi là thiêng liêng.

- Tất nhiên, tất nhiên - Thái Tử lịch sự gật đầu.

Lúc này họ đã tới món ăn thứ hai mươi. Các món ăn đều mang những tên của Trái Đất: Chim trĩ quay, Gà tiềm hột dê, Bánh bông lan táo ... và khẩu vị cũng giống những món ăn của Trái Đất nhưng còn tinh tế hơn. Điều đó có phải do không khí? Hay là do anh đang rất thèm các món ăn của Trái Đất? Ở tất cả các món anh đều cảm thấy một hương vị dễ chịu không thể bắt trước được. Ngay cả các thức uống cũng tuyệt hảo. Anh chỉ nhấm chút rượu để khỏi bị bốc lên đầu. Nói chung, không những chỉ có rất nhiều rượu vang mà còn có dồi dào nước trái cây, sữa chua, nước khoáng, trà và cà phê bày trên bàn.

- Tôi muốn xin phép hỏi Thái Tử. Quý ngài có những kế hoạch nào đối với tôi?

- Chúng tôi không theo kế hoạch nào cả. Đối với chúng tôi, ngài là một vị khách quý. Trung tâm Thiên Văn của chúng tôi đang tiến hành tính toán bắt liên lạc với con tàu của ngài. Và khi nó tới một vị trí thuận lợi, chúng tôi sẽ đưa ngài trở lại với con tàu vũ trụ của ngài. Theo như chúng tôi được biết, nó mang tên Nhân Loại. Chúng tôi muốn rằng trong thời gian chờ đợi, ngài luôn cảm thấy khỏe khoắn và sẽ tự lo cho chương trình hoạt động của ngài. Ngoài ra tôi muốn đề nghị với ngài là không từ chối lời thỉnh cầu của Viện hàn lâm khoa học Oxy. Chúng tôi sẽ rất biết ơn nếu ngài thuyết trình cho vài buổi vể Trái Đất. Chúng tôi luôn luôn đánh giá cao tất cả những điều có thể giúp chúng tôi mở rộng được kiến thức.

- Rất hân hạnh - Peter nói - Thưa ngài, tôi rất sẵn sàng.

- Còn tối nay, chúng ta được Công Chúa Tóc Vàng, vị hôn thê của tôi mời tới dự dạ hội. Mọi người sẽ đón tiếp ngài nông nhiệt. Khi về phòng ngài sẽ thấy chương trình dạ hội. Muốn đi chơi hoặc lái xe xin ngài ấn nút mạ vàng. Tất nhiên là chiếc máy phiên dịch sẽ làm việc này. Hay ngài có một sở thích nào khác.

- Tôi chỉ muốn tái ngộ với vợ tôi, với July ...

- Đương nhiên chúng tôi sẽ thông báo cho ngài ngay khi lập được liên lạc. Nếu ngài còn bất kỳ một ý thích nào khác, chỉ cần ngài nói lên thành tiếng, lập tức mãy xử lý sẽ phục vụ ngài!

29. MỘT BUỔI TỐI SÁNG 7 MẶT TRĂNG


Chiếc thảm lăn đưa Peter trở lại dãy phòng của mình. Anh nhận thấy rõ rằng anh đi qua nhưng gian phòng hoàn toàn khác những phòng anh đã qua để đến phòng ăn. Hình như họ muốn cho anh thấy lâu đài này như một mê cung để anh tự hiểu không thể tìm cách tự vượt ra khỏi lâu đài! Nhưng lúc này anh càng không có ý định làm gì. Bữa tiệc trưa thật thịnh soạn. Cách đối đãi của Thái Tử thật nhã nhặn đáng mến. Nhưng khi còn một mình, anh lại cảm thấy nao nao bất an.

Bây giờ chiếc thảm lăn vừa dừng lại trước dãy phòng quen thuộc. Cánh cửa tự mở ra. Anh cảm thấy thích thích. Anh lướt qua các phòng. Anh tới một phòng làm việc hay trang trí sang trọng giống ở Trái Đất. Trong phòng có một cái ghế nệm rất êm, một bàn viết và một bàn để hút thuốc.

Anh ngạc nhiên lẩm bẩm.

- Thật kỳ lạ, một phòng làm việc mà chẳng có cuốn sách nào cả.

Chưa dứt lời đã thấy trên mặt bàn viết hiện ra hai ô phiếu thư mục. Peter ngồi vào chiếc ghế nệm và với lấy ô phiếu bên trái. Nó chưa có một cuốn catalog micro phim với đầu đề Mỹ học. Ô phiếu kia bên phải liệt kê các tác phẩm khoa học. Anh ấn vào một chiếc nút trắng trên hộp phiếu thì trên mặt bản lần lượt hiện lên các đề mục nhỏ của thư mục khoa học: sinh học, vật lý vũ trụ, toán học ...

- Đầu tiên thì như thế là tạm đủ - Peter vừa thốt lên thì tập thư mục biến mất.

Anh cho tay vào túi lấy cuốn lịch ra. Lịch túi năm Thiện Vương 1207. Trên trang đầu của cuốn lịch có in ảnh của gia đình Thiện Vương XIII. Ảnh vua, ảnh hoàng hậu Ngàn Lần Đẹp với hai hoàng tử: Thái tử Recker và Thái tử Vacker. Bên ảnh Thái Tử Recker người sẽ nối ngôi vua là ảnh vị hôn thê Công Chúa Tóc Vàng.

Ở trang hai là bản đồ địa hình của hành tinh Oxy: hai bán cầu với mười bảy lục địa và các đại dương. Như vậy ở đây người ta cũng biết hành tinh Oxy không phải một đĩa dẹt mà có dạng cầu ... Người ta biết điều đó ... Và nguwòi ta còn biết gì nữa nhỉ? Peter tò mò tiếp tục dở cuốn lịch và càng coi càng thấy ham. Những bản đồ chi tiết, các số liệu thống kê, các sự kiện lịch sử .. Bây giờ ta đang ở đâu - Peter tự hỏi. Trên tấm bản đồ đầu tiên là mười bảy lục địa. Các lục địa đều gần lớn như châu Úc và cũng có hình dang tương tự. Có một lục địa lớn hơn tất cả lục địa Âu Á của Trái Đất. Còn các lục địa nhỏ nằm theo như một đường viền phía đông lục địa lớn. Đại dương đen rộng lớn nằm giữa các lục địa. Trong bản đồ có ghi rõ mười một lục địa không có người ở. Phần chính của lục địa lớn là đồng bằng. Các thành phố phục vụ đều nằm ở đồng bằng và trên bản đồ được ký hiệu bằng những hình vuông màu xám được đặt tên bằng những chữ cái và con số. Peter tìm thấy khu vực Anpha. Trong khu vực này tất nhiên có Thành phố phục vụ mà từ đó anh đã ra đi. Trên bản đồ không hề vẽ đường giao thông, không có hệ thống hang động phục vụ ngày Đại Lễ Mùa Xuân. Anh bỏ khá nhiều thời gian nghiên cứu bản đồ Thành phố những người có trí nhớ. Nhưng vô hiệu, anh không thể tìm dược các cửa bẫy va các con đường lăn. Trên trung tâm về phía bắc của lục địa lớn có nhiều đồi. Theo bản đồ thì các Thành phố trí nhớ nằm trên đồi. Trên các lục địa mang số II, III, IV, V cũng có các Thành phố trí nhớ. Chúng có vị trí như hoàn toàn độc lập với nhau. Ta chỉ có thể đoán được sự liên quan giữa chúng qua cách sắp xếp trên bản đồ. Peter không biết rõ nơi anh đến với ON là thành phố thứ mấy vì gần vùng Anpha có tới ba thành phố như vậy. Nên trong thực tế chữ gần đó là bao nhiêu Peter không thể xác định được. Tuy nhiên trên bản đồ có ghi tỷ lệ xích nhưng ảnh chỉ có thể ghi được khoảng cách theo đường chim bay. Còn bản đồ này dấu kín không vẽ các sông, thung lũng và các đường đi.

Trong các lục địa nhỏ, chỉ có một lục địa không mang số. Theo bản đồ thì những núi cao nhất tại các lục địa này nằm khá xa các lục địa có người ở và có hai biển kín. Một biển goi là Biển Xanh còn biển kia gọi là Sinh Thủy. Trên lục địa đó là Thành phố Oxy. Vùng thấp nhất của nó có độ cao hai ngàn mết trên mặt biển.

Trang tiếp theo của cuốn lịch bỏ túi là một bản đồ của Thành phố Oxy. Đây không phải là một bản đò giống chiếc sơ đồ thành phố thường gặp ở Trái Đất mà là một bản đồ chụp rất tinh tế. Peter có thển nhận ra các đỉnh núi, những cảnh trí rất đẹp với các suối nguồn, thác nước, những đường xe hơi chui ngầm qua núi, những công việc và các lâu đài tráng lệ. Anh nhận ra cả lâu đài của Thái Tử Recker. Sau giây lát tìm kiếm anh nhẩn ra cả quảng trường có đài phun nước mà anh đặt chân lần đầu tiên đến đây. Có điều đặc biệt, không có chỉ dẫn gì về sân bay nhưng có lẽ chính là quảng trường này đây. Peter tiếp tục quan sát các lâu đài, các dinh thự, các ngôi nhà nhỏ trong rừng, các cung thể thao, các bích họa, các quảng trường, các con đường nhỏ dến lên núi và các đại lộ ngăn thành nhiều tuyến có trồng hoa. Đặc biệt là không có công trinh nào giống cái nào: Mỗi nhóm điêu khăc, mỗi đài phun nước, mỗi tượng đài, mỗi thác nước đều cso hình dáng màu sắc khác nhau và gây cho ta cảm giác khác nhau.

Bây giờ anh gần như đoán chắc: chõ quảng trường phía tây nàm thành phố đúng là chỗ sân bay anh đã hạ cánh. Anh ghi nhớ đường đến đấy thật kỹ.

Trên bản đồ thành phố cũng có những số liệu thống kê. Toàn thành phố oxy chỉ có mười ngàn dân. Trong mười lăm Thành phố có trí nhớ thì có năm triệu nhà khoa học và nhà nghiên cứu. Còn trong hàng ngàn Thành phố bêtông của lục địa lớn có tám tỷ sinh vật.

Peter tiếp tục lật phần lịch. Ở đây năm chia thành hai mươi tháng. Ở lục địa trung tâm luôn luôn có khí hậu dễ chịu, nhiệt độ giao động từ 20 - 26 độ C. Nhiều ánh nắng, thỉnh thoảng có những trận mưa bui. Một nằm gồm có ba trăm ngày. Vậy mỗi tháng có mười lăm này. cứ ba ngày lại tới ngày hội của một gia đinh. Những người dân của thành phố Oxy được goi là Tạo Nhân. Đó là con cháu của giòng họ mà trước đây 1.207 năm đã tạo lập ra Tơrớt Oxy. Trong cuốn lịch có ghi rõ sự thành lập dựa trên một điều cam kết. Tổng giám đốc đầu tiên Hard ( cứng rắn) sau này lên ngôi với danh hiệu Thiện Vương I có một giấc mơ, trong đó theo lời báo mộng của Chúa, đã mua lại tất cả các khoảnh đất còn có thể cứu kịp trong khu vực có biển và lục địa bị ô nhiễm.

Nhờ thiên tài và nghị lực cộng với khả năng tổ chức ưu việt của Người, sau khi tham khảo ý kiến hàng ngàn hàng vạn các nhà bác học, công nhân chuyên nghiệp và thợ xây dựng ở hành tinh, ông ta đã cho xây dựng theo kế hoạch của mình và sáng lập ra triều vua Thiện Vương. Bằng cách đó, ông đã mang lại đời sống hạnh phúc cho một trăm gia đinh và cứu được hàng tỷ sinh vật khỏi bị chết ngạt. Sau đó lịch sử tóm tắt vè những tiến bộ mà hành tinh đã trải qua dưới từng triều vua một. Thiện Vương IV đã sáng lậpr a Viện Hàn lâm khoa học. Thiện Vương V tổ chức các cuộc thi có săn và tổ chức các cuộc đi săn ... Tới đây Peter hơi ngạc nhiên: Săn đuổi à? Chạy thi với chó à? Vậy ra hành tinh Oxy cũng có động vật.

Trong các ngày hội lớn của một trăm gia đình thì đầu tiên là ngày hội lớn của Hoàng gia. Trong cuốn lịch chỉ dẫn chính xác diễn biến và nghi lễ của này hội. Ví dụ khi nào thì khách khứa tới, mặc quần áo nào dự hội, các cô gái trang điểm trên tóc bằng những loại hoa nào, còn các nàng thì phải cúi rạp tới mức nào. Trong đó cũng còn nêu những điểm chính của nghi lễ. Cuộc duyệt binh của đội cận vệ hoàng gia (Như vậy là cũng có đội cận vệ). Một cuộc thi thơ. Một vũ hội. Các cuộc thi đấu thể thao. Và một cuộc đi săn kéo dài hai ngày.

Tên các gia đình có thể thạm dịch ra tiếng nói của Trái Đất như sau: Kim Hoàn, Chung Thủy, Khôn Ngoan, Hiền Nhân, Đầu To, Tráng Lệ, Dịu Dàng, Mỹ Tuyền ... và tương tự vậy. Tới mỗi tên gia đình có ghi lại những hành động và cống hiến của gia đình. Và tất nhiên là chương trình đại hộ của từng họ.

- Như vậy hôm nay là ngày nào nhỉ?

Trên bàn xuất hiện ra lời đáp "Ngày thứ sáu của tháng thử mười một, đó là ngày hội của giòng họ Tóc Vàng"

Peter tham khảo trong cuốn lịch bỏ túi và biết rằng Công Chúa Tóc Vàng vị hôn thê của Thái Tử mở một vũ hội vào mười một giờ tối.

Peter vừa gấp cuốn lịch bỏ túi lại thì mặt bàn tự động mở, một gói nhỏ hiện ra trước mắt anh. Trong đó, một tấm thiệp mời bằng giấy gió, viền vàng với nội dung: "Công Chúa Tóc Vàng rất hân hạnh mời con người từ Trái Đất tới dự cuộc vui của người". Sau đó là một thiệp mời của gia đình Kim Hoàn đi săn cáo. Một giấy mời dự buổi thi đấu quần vợt. Một giấy mời dự buổi cooctay ở Viện Hàn lâm khoa học. Giấy mời ...

Peter tự nhắc nhủ mình, cuộc sống ở đây hấp dẫn thật đấy. Nhưng ta chỉ muốn lưu lại ở đây càng ngắn càng tốt. Anh bước tới cửa sổ nhìn ra ngoài: Dưới bầu trời xanh thẫm các cây quý chen nhau, cây hồng, cây thông, cây bồ đề ... Các vì sao sáng lấp lánh muôn màu như những viên kim cương. Và Mặt Trăng, không phải là một Mặt Trăng mà có một, hai ... bẩy trong số mười hai Mặt Trăng đang chiếu sáng ánh vàng bạc trên bầu trời. Nghĩa là ở bảy vị trí khác nhau trên bầu trời có những vầng trăng lớn và nhỏ khác nhau ... Và ở một nơi nào đó còn có một con tàu vũ trụ đang bay vòng quanh hành tinh này, con tàu Nhân Loại.

Peter nhìn vào chiếc nhẫn của July tặng trên ngón tay mình. Đó là bí mật của báu vật duy nhất anh còn bảo vệ được. Trong đó có một máy thu phát vô tuyến hết sức tinh vi. Nhưng trong phòng này có chiếc máy xử lý làm việc theo tiếng động, ghi nhận mọi tiếng nói, nên anh không được phép sử dụng. Các trạm kiểm soát của hành tinh Oxy sẽ ghi nhận được mỗi cuộc điện đàm mà anh tìm cách phát đi. Nếu anh tìm cách thu các tín hiệu của July thì chiếc máy xử lý gắn trong phòng này cũng sẽ nghe đượ. Vậy khác gì thông báo cho chủ nhà biết anh còn một chiếc máy thu trong người. Anh chỉ có thể ra ngoài trời, tới một nơi rất an toàn - nếu còn có một nơi như vậy - để tìm cách tiếp nhận sóng vô tuyến phát từ con tàu vũ trụ Nhân Loại ... July hiện ở đâu? Con tàu Nhân Loại ở đâu? Ta có thể trờ về con tàu được không?

Ánh sáng xanh của các Mặt Trăng lấp lánh trên chiếc nhẫn của anh. Cùng lúc đó trên bàn bàn dội lên một tiến hiệu nhấp nháy màu lục, anh nghe thấy tiếng nói bằng ngôn ngữ của Trái Đất:

-Ông Peter Mac Gulliver. Chúng tôi thiết lập được liên lạc với con tàu vũ trụ ...


30. ĐÂY JULY! ... ĐÂY PETER!!!


- July!

- Peter!

- Em quý mến nhất của anh!

- Anh yêu mến nhất của em!

- Như vậy là em vẫn sống!

- Em đã lo cho anh biết bao!

Đó là những trao đổi hạnh phúc của cặp uyên ương qua làn sóng vô tuyến.

- Như vậy em vẫn khỏe chứ?

- Còn anh, anh vẫn khỏe chứ?

- Chúng ta lại sắp đoàn tụ.

- Chúng ta sẽ quay về Trái Đất.

- Em hãy ráng kiên nhẫn ở trong con tàu.

- Anh vẫn ổn chứ? Tất cả đều ổn chứ anh?

- Những người trên hành tinh này sẽ giúp đỡ để anh có thể sớm trở lại với em.

- Em có nên hạ cánh con tàu đón anh không?

- Hôm nay anh chưa có thể trả lời đượ, em July thân mến. Theo anh biết thì hiện nay người ta đang giải những bài toán để xem chúng ta gặp nhau ở đâu và khi nào là ít nguy hiểm và tốt nhất ...

- Em có nên hạ cánh chỗ gần anh?

- Không! Đừng July. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không hạ cánh. Anh sẽ xuất phát từ dưới này nhưng không biết là khi nào. Người ta sẽ thông báo điều này cho em và cho anh. Em có thật khỏe không?

- Em vẫn khỏe anh ạ. Còn anh? Anh yêu của em?

- Tất cả đểu ổn em ạ.

- Anh mong tới ngày gặp lại em quá!

- Chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao.

- Em sống trong tàu vũ trụ thế nào? Có buồn tẻ không? Khi anh biến mất em có hoảng hốt lắm không? Em có được các trạm không gian lo việc cấp cứu không?

- Có chứ anh. Đoàn cấp cứu với con tàu RA-1. Em không thiếu gì hết ... Em chỉ lo lắng rất nhiều thôi ... Bây giờ, thì mọi việc đều tốt lành. Peter, anh hãy cẩn thận giữ mình!

- Em cũng phải giữ gìn sức khỏe.

- Em yêu anh quá.

- Anh cũng yêu em vô cùng!///

Đến đây, liên lạc vô tuyến bị gián đoạn.

Tim Peter đang đập rộn ràng đến mức suýt nữa nó nhảy ra khỏi lồng ngực. Anh quá xúc động nên không nhó mình đã thông báo hết những điều quan trọng chưa ... Như thế là được rồi. Thái Tử đã giữ lơià hứa đầu tiên. Bây giờ đã liên lạc được vô tuyến. July còn sống, nàng vẫn khỏe, một con tàu cấp cứu đang ở gần nàng ... Bây giờ anh chỉ cần phải kiên nhẫn đôi chút. Khi nào về Trái Đất thân yêu họ sẽ nghỉ ngơi cho hồi sức ...

Trên mặt bàn lại hiện ra một chiếc cốc chứa một thức uống màu lục. Peter cầm lấy uống một hơi và hoàn toàn mê mẩn. ON và ORO và những người mang vòi đối với anh giờ đã quá xa xôi, gần như trước đây anh chỉ mơ thấy họ mà thôi.


31. BA BẢN BÁO CÁO


BÁO CÁO

Thành phố OXY 7/11/1207, 9 giờ 20. Phòng thí nghiệm báo cáo Trung Tâm.

Những mẫu viên OXY tìm thấy trong bình chứa OXY của máy hô hấp chứng tỏ rằng sinh vật ở Trái Đất đã làm việc tại một trong nhiều máy công cụ của thành phố phục vụ.

BÁO CÁO

Thành phố OXY 7/11/1207, 11 giờ 86.

Cuộc phân tích hóa học về chiếc mũ chụp và giầy của kẻ đột nhật đã có thấy những vết bẩn có nguồn gốc từ nhiều loại đất khác nhau.

Phân tích các hạt đất cho thấy sinh vật rời thành phố bêtông tới bần bờ biển vào ngày ĐAỊ LỄ MÙA XUÂN nó đã đến rất gần cửa hang. Sinh vật đã tới thành phố có trí nhớ bằng cách đi bộ theo con đường bí mật.

Ở đếu giày tìm thấy những dấu vết phún thạch và đất thịt. Đất thịt có chứa đất màu, những mẫu nấm, mẫu men và lá mục. Từ các lớp bẩn của đế giầy có thể xác định được rằng, sinh vật đã nhiều lần rời khỏi thành phố trí nhớ và đã nhiều lần trở lại đó vì các dẫu vết cũ mới thành nhiều lớp chồng lên nhau.

BÁO CÁO

Thành phố OXY 7.11.1207 - 18 giờ.

Khu vực A-B báo cáo trung tâm:

ORO 91 đã gặp gỡ sinh vật Trái Đất lần đầu tiên trong nhà hắn. Nó đã thỉnh cầu ORO 91 giúp đỡ và tiếp nhận.

ORO 91 đã lập tức báo cáo Trung Tâm sự có mạt của sinh vật Trái Đất! Theo tính toán của máy tự động thì xác suất là ORO 91 không biết gì về con đường bí mật mà sinh vật Trái Đất đã đi từ Thành phố phục vụ đến Thành phố trí nhớ! Não đồ âm tính.

Tuy vậy, để đảm bảo an ninh, ORO 91 cũng phải xóa trí nhớ và đẩy xuống thành phố phục vụ 78.


32. TỐI TIẾP TÂN TẠI LÂU ĐÀI


Điệu nhạc êm ái của đồng hồ lại nổi lên. Tuy không có yêu cầu, cưa phòng tắm cũng tự động mở. Điều đó nhắc Peter rằng anh phải chuẩn bị để đi tự dạ hội của công chúa.

Lần này bước ra khỏi bồn tắm anh không hề ngạc nhiên khi thấy tất cả quần áo trên ghế dài biến mất. Thay vào dó là một bộ lễ phục mới.

Theo cách tính giờ ở đây, anh được mời dự buổi ăn tối lúc 18 giờ. Tính đổi ra giờ trái đất là 21 giờ 36 phút.

Nhưng manchette ở áo sơ mi của anh cũng là những đồng hồ nhỏ. Lần này anh thấy trong túi nhiều đồ dùng nhỏ nhỏ.

Còn vài phút nữa mới tới giờ đi nên anh ngồi ở chiếc bàn nhỏ trong phòng tiếp đó. Lúc đó anh chợt nghĩ và hỏi chiếc máy xử lý xem Thành phố Oxy có báo chí không.

- Thay lời đáp có một chồng họa báo và microphone hiện ra trên mặt bàn. Tờ báo ảnh xám trên cùng mang những tin tức mới nhất vè vũ hội của Công Chuacs Tóc Vàng và tất cả cách thức chuẩn bị. Kiểu trang trí bằng hoa và các món chính của bữa tiệc. Một câu đề nghị ghi rõ rằng một vị khách quý đã tới hành tinh Oxy: quý ông Mac Gulliver là hành tinh Trái Đất xa xôi.

Ta phải cầm một tờ báo này về nhà làm kỷ niệm - Peter nghĩ thầm. Trạng thái vui vẻ của anh vẫn thêm lực cho đến khi những bậc thang máy đưa anh tới cửa chính của lâu đài. Cùng lúc đó, Thái Tử cũng vừa tới.

-Tôi không chọn được đủ lời để cảm tạ Thái Tử - Peter nói - Tôi đã được nói chuyện với vợ tôi. Nàng khỏe và đang chờ tôi, tôi càng phải cảm tạ Thái Tử về buổi tiệc long trọng này và mẩu tin trong báo.

-Ồ! Ngài nhắc đến những điều đó làm gì, đối với chúng tôi, đó cũng là niềm vui và vinh dự - Hoàng Tử vừa nói vừa cười, đồng thời ra hiệu cho Peter bước vào xe.

- Tôi mong rằng sẽ có lần được đón Thái Tử thăm Trái Đất của chúng tôi như một thượng khác. Có lẽ những người ở Trái Đất của chúng tôi cũng muốn giúp đỡ hành tinh của ngài điều gì đó. Ví dụ như để sản xuất đủ Oxy.

- Sao vậy ông Peter ? Hay là ông có cảm giác hàm lượng Oxy trong không khí ở đây không đủ - Hoàng Tử cười tưoi hỏi lại.

Chiếc xe hơi đưa họ đi dọc theo đỉnh núi. Về chiều, cảnh đẹp hơn ban ngày. Lúc này đã có năm Mặt Trăng chiếu sáng. Xe không cần bật đèn phai. Nói chung cũng không cần đèn pha vì bộ phận rađa của chiếc xe tự động phát hiện mọi chướng ngại. Do đó người đi xe có thể hưởng thụ mọi cảnh vật dưới ánh trăng bạc. Các ngôi nhà xây trên các sườn núi, ven rừng, trên bờ hồ và ở chân thác nước lấp lánh như những viên đá quý. Peter không thể xác định được đó là đèn thường, đèn neon hay một khí hiếm nào khác được dùng để tạo ra ánh sáng nhiều màu của các ngọn đèn. Nhưng tất cả đều thật tráng lệ. Đêm như thế này người ta càng cảm giác vùng núi này rộng lớn biết chừng nào. Không khí trong vắt như pha lê cho phép thấy những ngọn đèn của những ngôi nhà ở rất xa. Peter phá tan im lặng.

- Tôi không biết những số liệu trong cuốn lịch bỏ túi của tôi có đúng không. Nhưng tôi không thể tin rằng trong thành phố rộng lớn và tuyệt đẹp này lại chỉ có tất cả mười ngàn dân.

- Không có hơn đâu thưa ngài - Thái Tử trả lời.

- Kể cà người phục vụ à?

- Ở chúng tôi không có người phục vụ. Chúng tôi chỉ sử dụng người máy.

- Tôi thấy nhiều nhà quá ...

- Phải. Mỗi giống họ có nhừng nhà ở của mình. Ngoài ra còn một vài chiếc vila ven hồ, một vài ngôi nhà nghỉ trên núi và tất nhiên là củ như chuối sắn nữa. Hơn nữa còn các ngôi nhà công cộng, các câu lạc bộ, viện hàn lâm, các nhà bảo tàng, nhà quốc hội và các ngôi nhà của viện kiểm sát kinh tế tối cao. chúng tôi còn có những chuồng ngựa, những nhà nuôi chó săn, những chuồng nuôi chim ưng để đi săn. Chúng tôi còn có các cung thể thao, các cảng thuyền buồm ... Ngài sẽ làm quen với tất cả những cái đó ...

Lâu đài Công Chúa Tóc Vàng có lẽ còn đẹp hơn cả lâu đài Hoàng Thái Tử. Những đài phun nước lấp lánh nhiều màu bao chung quanh tòa nhà chính màu trắng như tuyết. Những tia nước phun nhiều màu nhảy nhót ánh lên dưới ánh trăng. hàng ngàn cây cọ trong vườn hoa giống như những người lính canh chung quanh một lâu đài thần tiên.

Công Chúa Tóc Vàng, trong thực tế cũng là một mỹ nhân tuyệt đẹp, đang đứng chờ họ trên bậc thềm. Thái Tử giới thiệu Peter với công chúa và mọi người. Những chàng trai và cô gái đón anh bằng nhiều tràng vỗ tay.

Peter đã đọc nhiều cảnh này trong lịc sử cổ đại và thấy nhiều cảnh này trong các phim cổ đại: vũ hội cung đình, khiêu vũ các loại đồ uống. Không khí thơm phức. Đêm rực rỡ, năm Mặt Trăng tỏa sáng bạc. Tất cả như một cơn mê. Người ta lại mang tới một cốc bằng pha lê chứa chất nước màu lục mời anh uống. Anh lại cảm thấy bồng bênh: Ồ nếu July hạ cánh xuống đây hưởng cảnh thần thiên này một hai tuần lễ ... Có lẽ chỉ cần ngỏ ý với Thái Tử ...

- Quý ông Mac Gulliver, ông không nhảy à? - Một thiếu phụ mỉm cười hỏi anh.

- Thưa bà, có chứ, tôi rất vui thích ...

Đó là một điệu valse. Thiếu phụ lướt đi rất nhẹ nhàng. Nàng mặc một chiếc áo dài màu xanh tươi.

Anh thấy say sưa với điệu nhảy, với cô gái trong tay và quay tròn nhiều vòng. Cô gái nhắc:

- Ông cẩn thận đấy.

- Về điều gì?

- Nếu mặt ông áp vào mặt tôi có nghĩa là ông phải cưới tôi đấy.

- Thưa bà, tôi đã có vợ rồi.

- Tôi biết điều đó. Và nói chung tôi cũng không thể trở thành vợ của một người đàn ông Trái Đất được. Chưa kể là từ khi mới sinh, tôi được chỉ định người chồng tương lai của mình.

- Ở đây thường làm như vậy à?

- Phải. Muốn cho môn đăng hộ đối, ở đây có một quy tắc nhất định cho việc hôn nhân và điều đó không phải là xấu. Vị hôn phu của tôi rất đáng yêu. Tất nhiên, nếu khi hai người đính hôn đều phản đối quyết định thì Đức Vua có thể giải lời hứa của họ. Nhưng nói chung, chúng tôi thường không cần tới cách giải quyết đó. Bởi vì chúng tôi từ bé đã cùng học, cùng chời với nhau nên hai người rất hiểu nhau, bạn tốt của nhau. Và tất cả chúng tôi đều đẹp và khỏe.

Peter ngạc nhiên và nhìn cô gái. Anh cho rằng cô ta đùa, cô thừa biết anh từ một hành tinh xa xôi tới đây. Nhưng thiếu phụ mỉm cười:

- Ông chưa tin à? Không phải chỉ có thế đâu. Người ta còn định rõ, chúng tôi được mấy con và lúc nào thì sinh con. Trong thành phố nào bất kỳ lúc nào cũng chỉ có mười ngàn Tạo Nhân sống, không nhiều hơn cũng không ít hơn.

- Điều đó làm sao thực hiện được? Điều khiển bằng cách nào?

Ồ! Có khó gì đâu! Máy tính điện tử giải quyết tất cả mọi việc. Ví dụ chúng tôi biết rằng sẽ có hai đứa con. Tuổi thọ trung bình của mỗi người là ba trăm năm ...

- Thật như vậy à? Ở trái đất cúng tôi, tuổi thọ chỉ bằng một nửa! Còn những người dân Oxy khác?

Thiếu nữ ngạc nhiên khó chịu:

- Ông muốn nói những sinh vật mà cúng tôi cho Oxy? Tôi cho rằng chúng tồn tại khoảng ba mươi năm cũng như con chó ... Ồ! Tôi muốn mời ông đến xem tôi có bầy chó săn đẹp như thế nào! Ông có nhận được giấy mời dự cuộc đua ngựa ở hồ Rì rào không? Ngày mai, cuộc đua diễn ra trên đường đua của Thế tử Vacke đấy! Còn sáng ngày kia ở chỗ chúng tôi có một cuộc săn cáo ..

- Phải .. Phải.

Ồ! Cái ông ở Trái Đất này! Sao ông không nghe tôi nói? Ông làm sao vậy/

Một người đàn ông trẻ tuổi cao dong dỏng tóc vàng bưới tới cúi mình trước cô gái.

- Xin giới thiệu với ông, vị hôn phu của tôi - Cô gái giới thiệu người đàn ông với Peter, mỉm cười từ biệt Peter và tiếp tục lướt đi trong tay người đàn ông.

Âm nhạc tiếp tục. Cả gian phòng rộng lớn hình như cũng quay theo nhạc. Trên chiếc bàn dài luôn luôn có những cốc pha lê chứa đầy chất giải khát. Các ly đã uống cạn thì lại tụt xuống dưới mặt bàn.

- Ông phải tới mời Công chúa ra ngảy đi chứ! - Cô bạn mới quen của anh thì thầm khi lướt qua.

Peter nghe theo lời đi thẳng tới bàn của nữ chủ nhân tuyệt đẹp của lâu đài đang ngồi cùng với Thái Tử. Anh cúi rạp xuống chào theo nghi thức. Thái Tử Recke mỉm cười tỏ ý tán thành. Công chúa nhẹ nhàng chìa tay cho anh nắm.


33. BÁO CÁO


BÁO CÁO

Thành phố Oxy 13.11.1207, 8 giờ 05.

Báo cáo của trạm quan sát sinh học bở Trung Tâm.

Liều lượng chất PXE hàng ngày cho sinh vật Trái Đất vòng đã đuwọc nâng lên 0.7mg. Chất thuốc này có tác dụng 100%. Trạng thái của sinh vật Trái Đất hiện nay rất tốt. Có những lúc sảng khoái. Trí nhớ cùn dần. Các phản xạ chậm dần. Cảm giác về thời gian đã bị hủy hoại. Theo phán đoán của chúng tôi, thời gian ngắn nữa có thể bắt đầu tra hỏi nó.


34. MỘT CUỘC ĐI SĂN VÀ KẾT QUẢ BẤT NGỜ


Peter đã ở thành phố Oxy được một tuần lễ. Thời gian trôi qua cùng với những cuộc vui chơi giải trí triền miên. Vị Thái Tử trẻ tuổi đối đãi với anh hệt như Peter là một người bạn ngang hàng. Thái Tử đi đâu cũng mời đi cùng. Anh đã được xem thi lướt ván, dự các cuộc khiêu vũ, xem trình diễn múa Balê. Đội ca vũ gồm những thanh niên của một trăm giống họ. Khiêu vũ, ca hát, chơi nhạc và hội họa được các thế hệ già truyền lại cho các thế hệ trẻ một cách trân trọng và được coi như truyền thống gia đình. Còn tất cả những môn khác kể từ môn thủ công đến toán học cao cấp đều do các máy dạy học. Các báo hàng ngày và báo ảnh cũng như bản tin thời sự thể thao của đài truyền hình đều báo cáo tỉ mỉ về những người chiến thắng cá cuộc thi đấu. Đặc biệt là cuộc đua ngựa ben hồ Rì rào nổi tiếng được tường thuật bằng đài. Bài báo kể rằng tham dự cuộc đua có đức vua Thiện Vương XIII cùng với đức Hoàng Hậu, hai Hoàng tử cùng với quý ông Mac Gulliver vị khác từ Trái Đất tới. Những người thắng cuộc được nhận phần thưởng là những chiếc chúp, huy chương hoặc những cành nguyệt quế. Có nhiều người chung các huy chương. Bình thường Peter là một người có cái nhìn sắc sảo. Nhưng một tuần trôi qua hầu như anh không thể phân biệt nổi bộ mặt của những người mới quen biết mà anh thương gặp. Peter than phiền với Thái Tử lúc ăn trưa.

- Thưa Thái Tử, tôi đang gặp một tình trạng khó khăn. Sáng hôm nay, trên sân quần vợt, tôi đã chào hai chàng thanh niên như người đã quen biết. Nhưng sau mới biết là chưa gặp hai người này lần nào. Ngược lại, khi tôi đã đi qua cô Hoa Lệ chướng là người đã từng nhảy với tôi ở vũ hội của công chúa thì tôi lại không chào như một người thiếu giáo dục.

- Điều này không có gì là lạ - Thái Tử cười nói - Ở đây chúng tôi rất giống nhau. Khi máy tính điện tử lựa chọn vị hôn phu hay hôn thê cho đứa bé mới sinh thì nó quan tâm đến việc pha trộn dòng máu trong phạm vi 100 gia đình. Cách làm này không những dẫn tới sự giống nhau về hình thức mà còn giống nhau về nội tâm nữa. Nhờ đó mà đảm bảo sự cai trị quốc gia một cách điều hòa. Ông bạn Peter thân mến, ông đã được đọc kỹ của đáng sáng lập, ông tổ của chúng tôi, Thiện Vương I chua? Chính ngài đã đặt ra các nguyên lý cơ bản đó!

- Xin cám ơn Thái Tử đã cho biết. Tôi sẽ đọc cuốn sách đó - Peter nói. Thật ra một tuần lễ đã trôi qua mà anh vẫn chưa tiến thêm bước nào trong việc thu thập những hiểu biết về hành tinh Oxy. Anh rất thích được dự một buổi sinh hoạt của viên hàn lâm khoa học. Thái Tử cũng đã cho biết người ta đang mong đợi anh ở đó và đặt cho anh nhiều câu hỏi về cuộc sống trên Trái Đất. Nhưng ngày ngày trôi qua với các buổi tiệc, cốc tay, khiêu vũ, đua ngựa, hội hoa viên trong các rừng phong lan đẹp như mộng ...

Còn sáng sớm hôm nay là ngày hội săn lớn của Hoàng gia ...

Peter chưa khi nào được dự cuộc săn. Ở trái đất người ta bỏ thú vui này trên 1000 năm nay. Số lượng thú rừng cũng đã giảm đi rất nhiều. Người ta nuôi chúng trong các khu công viên quốc gia rộng lớn. Người ta có thể xem thú bằng ống nhòm hoặc quay phim chụp ảnh bằng những máy có ống kính chụp xa. Trên truyền hình thỉnh thoảng cũng có những phim về nững con vật này. Nhưng hoàn toàn cấm giết hoặc săn đuổi chúng theo ý thích. Chính vì vậy nên trên Trái Đất không có những việc đá gà chọi trâu nữa.

Peter lật đi lật lại tấm thiệp mời một cách miễn cưỡng. Tốt nhất là anh ở lại lâu đài xem sách hoặc đến tòa nhà cảu Trung tâm hoạch định kinh tế. Xem chỗ mà từ đó người ta điều khiển kinh tế của hành tinh Oxy, điều khiển hàng triệu máy.

Nhưng tất nhiên là anh phải tham gia vào cuộc săn lớn của hoàng gia.

Lúc hai giờ sáng, thay cho tiếng chuông đồng hồ, có tiếng tù và đi săn đánh thức Peter dậy. Nước tắm lạnh hơn mọi khi và anh cũng cảm thấy mình sảng khoái hơn những ngày trước. Thức ăn sáng rất ngon, có nhiều gia vị. Thức uống nóng làm anh nhớ đến rượu Sakê Nhật hoặc rượu dế. Anh được mang bộ quần áo màu xanh như màu lá rừng, với đôi ủng nhẹ màu nâu. Dưới đường chờ anh là một chiếc xe màu lục.

- Lúc nào Thái Tử cũng bận rộn với tôi như thế này có phải rất là phiền quá không? - Peter hỏi.

Thái Tử mỉm cười đáp:

- Ngày Peter thân mến, ngài quả là một con người rất lịch lãm. Chắc ngài muốn nói rằng đôi khi ngài có chương trình hơi khác hơn là luôn luôn đi kèm với tôi? Tôi cho rằng điều ước mong của ngài là chính đáng. Vì tôi thấy rằng ngài đã tự sắp xếp được cách sử dụng thời gian rất tốt giữa các giấy mời và các chương trình. Ngay trong ngày đầu ngài mời tôi, tôi đã nhắc rằng trên bàn viết ở phòng làm việc của ngài có một chiếc nút màu lục. Khi ngài muốn đi một mình tới bất kỳ nơi nào, chỉ cần ấn lên chiếc nút đó là sẽ có xe hơi túc trực để ngài sử dụng. Ngài chỉ đọc tên nơi ngài muốn tới, chiếc xe hơi sẽ đưa ngài tới đó. Vậy ngài muốn đi đâu?

- Thú thật là tôi rất quan tâm đến phương pháp kiểm tra kinh tế ở đây.

- Tôi thật vui thích mỗi khi được cùng ngài ... Nhưng ngài có thể an tâm đi một mình. Và nếu ngày muốn thì ngay ngày mai ngài có thể đi thới đó được.

- Tôi rất mong muốn điều đó vì tôi nghĩ rằng chỉ trong ít này nữa tôi có thể trở lại với con tàu vũ trụ của tôi ...

- Hoàn toàn đúng! - Thái Tử gật đầu đồng tình - Tiếc rằng hôm nay người ta mới vừa báo cáo với tôi rằng, do những cơn bão vũ trụ nên việc liên lạc bằng vô tuyến bị gián đoạn. Và trong mười ngày tới cũng chưa có hy vọng gì nối lạid được.

Chiếc ô tô màu lục dẫn anh đi theo một con đường khác hẳn những con đường anh đã đi từ trước tới nay. Lâu đài công chúa, bãi cỏ bên hồ Rù rì hoặc tới cái sân thể thao, các sân quần vợt của gia đình Khôn Ngoan. Hai bên đường là những vách đá dựng đứng. Nó dẫn anh đi một quãng khá dài trong lòng sông cạn đó cho đến khi con đường dẫn tới đồng bằng. Ở đây cỏ mọc xanh rờn như Peter chưa từng thấy bao giờ. Anh có cảm giác như ai đó đã dùng vàng bạc để dệt một tấm thảm. Dưới ánh nắng chói chang có những bông hoa lớn màu xanh nhạt, màu tím, đỏ, vàng nhạt, óng ánh như lụa. Đó là một bãi chăn thả lớn. Sau bãi là một khẽ núi với những bụi cây rất rậm rạp và những cây lớn vươn lên trời. Xuyên qua rừng đó là một con đường ngoằn ngoèo kỳ lạ không một dấu vết. Họ đã đi tới khu rừng cấm của nhà vua. Hai bên đường lộ có những dòng suốt đổ xuống. Nước lóng lánh trên những hòn đá phủ đầy rêu. Ở chỗ bọt trắng phun ra thấp thoáng bóng những con cá hồi nước ngọt.

Mặt trời còn chưa mọc nhưng ánh trăng đã phai nhạt. Một dải sáng hồng ánh ngọc lam vắt ngang bầu trời như trong mộng. Ánh sáng kỳ lạ làm cảnh trí như bằng bạc.

Chiếc xe dừng lại. Thái tử ra hiệu, hai người xuống xe. Họ đi bộ độ vài trăm mét. Con đường lên dốc thu hẹp dãn thành những con đường nhỏ. Nhưng họ đi hết sức nhẹ nhàng. Lúc này Peter mới nhận ra con đường nhỏ cũng chạy cùng chiều với họ.

Con đường dẫn tới một khu rừng thưa. Phía bên kia rừng là chòi săn của Hoàng gia làm bằng thân cây phủ rêu và lá cây. Căn chòi gọn và nổi bật, đơn giản mà lại cao quý. Thật là một công trình tuyệt vời của nghệ thuật kiến trúc.

Nhà vua đã ngồi trên một ghế nệm bằng rêu rừng ở ngoài trời. Hàng trăm thanh niên mặc trang phục đã đứng quanh vua. Bên trái nhà vua là Thái tử Vocke em của Thái tử Recke. Thái tử đưa Peter đến tận chiếc ghế và xin phép giới thiệu anh với vua cha. Dáng vua cao lớn uy nghi nhưng khá già. Peter biết ông ta xấp xỉ hai trăm năm mươi tuổi nhưng rất tráng kiện. Nếu ở Trái Đất người ta đoán ông chỉ độ tám mươi đến chín mươi tuổi là cùng. Thái tử Recke trịnh trọng hôn tay vua cha. Vua khẽ gật đầu đáp lại lời chào của Peter. Vua đứng lên và ra lệnh bắt đầu cuộc săn.

- Tôi chưa được đi săn bao giờ - Peter nói với Hoàng Tử - Tôi không biết tôi phải làm những gì.

Hoàng Tử ngạc nhiên nhìn Peter vì cuộc săn là một thú tiêu khiển được ưa thích của người dân hành tinh này.

- Mời ngài đi tới vị trí quan sát của ngài và ngài sẽ cảm thấy vui thích - Hoàng Tử kênh kiệu đáp.

Tiếng tù và vang lên ngày càng thối thúc. Bầy chó sốt ruột lao về tứ phía. Nhóm thanh niên cũng dừng lại không nói chuyện. Không thấy có người nào mang súng. Vua bước lên. Hai hoàng tử bước liền theo sau và họ ra hiệu cho Peter đi theo.Thanh niên chia nhóm hai ba người bước theo. Việc đi bộ ở đây cũng nhe nhàng như khi từ xe hơi đi đến quảng trường rừng thưa. Thỉnh thoảng có một người thân mật vỗ vai Peter. Sâu vào rừng vài chăm chục đường nhỏ hơn bên phải và bên trái. Ai cũng biết trước con đường của mình. Peter chần chừ. Thái Tử quay lại chỉ cho Peter một con đường. Peter vừa đặt chân lên thì cảm thấy đó là một thảm lăn. Một tấm băng chạy vô hình và không có tiếng động đưa anh qua thảm lá khô vào sâu trong rừng. Chỗ này chỉ có một mình anh. Vòm lá dày đặc che kín mọi người, anh không thấy những người đi săn cũng không thấy chó.

Bình minh ở đây thật yên tĩnh.

Con đường dẫn đến một gốc sồi rất lớn. Peter nhìn quanh thấy bên gốc có phủ rêu có dáng như một chiếc thang có thể dễ dàng leo lên. Đây là một kiểu chòi săn đã được bố trí sẵn. Anh leo lên chỗ lấp và nhìn xung quanh. Giữa đám cành cây có gác sẵn một khẩu súng săn tuyệt đẹp có cả ống ngắm. Ở Trái Đất anh đã thấy những thứ này ở viện bảo tàng chống chiến tranh của Hội đồng các dân tộc. Khi còn là học sinh, anh có tới đó và đã được cầm thử thứ dụng cụ giết người này. Nhưng chưa bao giờ anh có ý nghĩ hướng nó vào một sinh vật ... Anh dương súng lên vai như đã nhìn thấy trong phim và ghé mắt vào ống ngắm để quan sát rừng. Anh lại đặt súng xuống và xem xét kỹ thân cây. Anh thấy một hốc cây, trong đó có để sẵn một bi đông nước suối với một khay bánh trái cây. Peter ăn thử một trái gần giống trái táo. Rồi lại tiếp tục ngắm cảnh.

Buổi sáng ở rừng thật là tráng lệ. Tất cả đều im vắng chỉ nghe tiếng nước rì rầm xa xa và tiếng xao của lá vòm lá. Mặt trời và mặt đất. Bầu trời xanh thẳm giống như trên những hòn đảo đẹp nhất của Địa trung hải hoặc Thái bình dương. Không khí thơm mùi mật ong.

Peter nghe thấy những tiếng tù và tản mác và tiếng sủa dồn dập của đám chó săn.

Anh thấy có tiếng vó chạy, tiếng cành cây gãy, tiếng của vật gì lao về phía trước, xé tan sự yên tĩnh ban mai. Qua ống ngắm, Peter thấy một đám thú. Đó là những con thú rất đẹp, anh chưa bao giờ nhìn thấy. Màu của chúng là sự chuyển tiếp giữa màu nâu của vỏ cây và màu lục của rêu. Trên lưng chúng có những đốm và vằn màu nâu sậm. theo dáng thú và bộ sừng của chúng thì giống hươu núi. Nhưng dáng mắt sắc và nhộn như mũi cọp. Đàn thú chạy dồn xuống thung lũng và sau đó lao vào đám rừng thưa, đứng về phía lâu đài săn của nhà vua và các chòi của những người đi săn. Peter nghe tiếng súng nổ từ nhiều phía. Đàn thú hốt hoảng chạy càng nhanh. Tiếng kêu thét rộn ràng khắp rừng. Tiếng chó sủa cũng ngày càng dồn dập thêm. Vậy là ở chỗ náo đó đã có những con thú bị dính đạn. Đúng lúc này bụi cây trước mặt Peter rẽ ra, một con thú với bộ sừng to và đẹp cách anh chừng một trăm mét. Peter chỉ cần cử động ngón tay rất nhẹ thì phát súng không thể nào trượt được. Nhưng Peter ngần ngừ trong giây lát rồi lại đặt súng xuống không bắn. Con vật tiếp tục chạy đi xa hơn. Vừa lúc đó một phát súng nổ. Sau đó còn nghe hai ba phát súng nữa.

Một con vật oằn oại ngã xuống. Máu tuôn có vôi từ cổ và mắt con vật. Peter cảm thấy đau nhói ở vùng thượng vị. Mặt anh vã mồ hôi lạnh. Không quen với cảnh chết chóc tàn bạo, người Peter nóng ran ghê tởm. Anh chóng mặt muốn ói. Lần đầu tiên nguwòi con Trái Đất thấy cảnh chết chóc, thấy sự đổ máu vô ích, thấy cơn dẫy chết của một sinh vật. Đã hàng ngàn năm nay ở Trái Đất gười ta không hề biét đến kiểu giết chóc như thế này. máu con vật tuân ra lai láng, mắt nó lồi ra, con vật dẫy dụa đau đớn. Toàn bộ cái đó làm Peter bủn rủn chân tay. Cũng do bị kích động mạnh, tác dụng của chất thuốc ru ngủ PXF mà họ vẫn cho anh uống hàng ngày đột nhiên biến mất, Peter nghĩ:

"Cái gì đã xảy ra với mình? Người ta đã làm gì mình đây? Ta ở đây từ bao giờ?" Peter hoảng hốt lau khuôn mặt đẫm mồ hôi, có phải mình đã sống trong xa hoa thăng lệ từ mấy ngày hay mấy tuần này rồi? Có phải chính anh đã giết thời gian ở đây bằng giải trí và những thú vui đáng xem xét lại?

Không lẽ kẻ đi khiêu vũ, dự các bữa tiệc và không làm một việc gì để tìm cách thoát khỏi nơi này lại là Peter Mac Gulliver đứa con của Trái Đất? Mình đã quên ON và ORO và suýt nữa quên cả July rồi! Hình như có một đám sương mù nào đã chụp lấy mình?

Con vật đang nằm trong vũng máu giẫy mạnh rồi chết hẳn. Peter đã hoàn toàn tỉnh táo.

Chiếc nhẫn cưới ở ngón tay ta!

Trong mấy ngày qua, khi sống trong tình trạng mịt mù, đôi nghi anh suy nghĩ đến việc dùng chiếc điện đài nhỏ xíu này. Nhưng anh lo rằng, trạm kiểm soát trung tâm nghe được các tín hiệu gọi của anh và sẽ xóa chúng trước khi July có thể bắt được.

Anh cũng không dám bật công tắc thân vì anh sợ rằng bộ phận thu mọi tiếng động của máy xử lý theo lời nói bên anh sẽ phát hiện ra. Họ sẽ lấy mất chiếc nhẫn như lấy mọi đồ vật khác của anh ...

Nhưng nếu vậy, chiếc máy thu phát tinh vi dấu trong chiếc nhẫn còn có ích gì nếu ta không dùng đến nó? Còn ta là người thế nào mà cũng không dám làm điều gì hết? Anh quả quyết xoay chiếc nhẫn trên tay, bấm nút thu và đưa lên tai. Chỉ có một mình anh trên cây xoài. Từ xa có những tiếng súng vang lên cùng với tiếng rống của những con thú, tiếng sủa của những con chó. Tiếng động bên ngoài to tới mức hầu như anh không nghe được các tín hiệu. Nhưng đồng thời nhờ vậy cũng không ai chú ý đến tín hiệu vô tuyến.

Đầu tiên anh nghe thấy toàn con số. Một ai đó đã truyền chỉ thị nào đó cho người khác. Không biết là máy hay người.

- 6.400.000 - 16 ... Đã nhận được ... Rõ ... 85.997 53.003 ... Đã nhận ... Rõ ...

Peter vừa qua bước sóng khác. Bây giờ anh nghe được một câu chuyện. Đầu tiên anh chỉ hơi chú ý rồi sau anh sững sờ:

- Sau khi bắt được con cái thì Viện nghiên cứu động vật có được một cặp sinh vật Trái Đất và lần đầu tiên chúng ta có điều kiện để quan sát cặp đó về mặt sinh học.

- Chuẩn y.

Bây giờ lại có những con số khác đánh tiếp mà Peter không hiểu được ý nghĩa. Rồi tới một điều làm Peter hoảng hốt suýt ngã lăn xuống gốc cây: Một tiếng nói dõng dạc gọi con tàu vũ trụ và July đã trả lời. Toàn bộ cuộc điện đàm dùng tiếng nói của Trái Đất. Peter nín thở lắng nghe:

- Đây là con tàu Nhân Loại ... Ông đã hứa với tôi rằng hôm nay chính anh ấy sẽ nói chuyện mà.

- Xin bà kiên nhẫn một chút.

- Trước đây hai ngày chính ông đã nói rằng ...

Toàn thân Peter toát mồ hôi lạnh: Trước đây hai ngày à? Như thế nghĩa là sao? Có nghĩa là liên lạc vô tuyến thiết lập được nhiều ngày? Máu trong người Peter gần như ngừng chảy.

- Thưa bà, đáng tiếc là hiện giờ cưa được. Sự thực là ống ấy hơi bị chấn thương não nhẹ thôi. Nhưng chúng tôi ...

Chấn thương não là thế nào? Peter sứng sờ hỏ.

- Ít nhất, ông phải đề nhà tôi nói một tiếng để tôi được yên tâm ...

- Nếu bà cứ nhất định như vậy thì ... Vâng, bây giờ bác sĩ đã cho phép thì xin mời ông Peter Mac Guilliver nói một câu thôi ... Và Peter như chết cứng khi nghe thấy tiếng nói của chính mình:

- July. Em thân mến nhất. Chúng ta sắp được sống đoàn tụ rồi. Em kiên nhẫn ...

Đó chính là những lời mà trước đây một tuần anh đã nói với July, trong buổi điện đàm duy nhất mà anh được phép. Thì ra họ đã ghi lại và phát lại. Tốt nhất là lúc này anh phải hét lên, bật sang chế độ phát lại. Tốt nhất lúc này anh phải hét lên, bật máy sang tư thế phát và kêu gọi July.

"July, em hãy cẩn thận. Đừng có tin bọn chúng!" Nhưng may thay anh tự chủ được. Nếu anh nói ngay lúc này thì sẽ vĩnh viễn không cứu được cả hai. Anh đành tiếp tục nghe cuộc điện đàm:

- Từ hôm tai nạn, chồng bà nằm bệnh viện, chân bị gãy và chấn thương não. Vì vậy chúng tôi xin nhắc lại là không có khả năng nào khác ngoài các bà hạ cánh xuống đây ... Việc hạ cánh sẽ tiếng hành chính xác sau 72 giờ nữa. Những mấy móc của chúng tôi sẽ giúp con tàu vũ trụ của bà hạ xuống. Có nghĩa là bà sẽ nhận tín hiệu của chúng tôi sẽ để mồi cháy tên lửa và điều chỉnh các thiết bị cần thiết cho việc hiệu chỉnh đường bay. Từ bây giờ cho tới lúc đó bà cứ yên tâm nghỉ ngơi.

Cuộc điện đàm kết thúc. Peter hốt hoảng muốn xỉu, nhất là biết rằng mình bất lực trước tình huống này.

Anh không nhận thấy rằng mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, anh không cảm thấy đói. Chìm đắm trong suy nghĩ miên man. Anh quyết định, bây giờ phải tìm cách càng ở ngoài trời lâu càng tốt để tiếp tục theo dõi cuộc điện đàm. Có lẽ ... Anh phải làm một việc gì chứ! Đến bây giờ anh vẫn bằng lòng vì tính cẩn thận của mình. Vì nếu vừa qua mà anh gọi July thì mọi tín hiệu phát ra sẽ bị chặn và kết quả là anh đã bộc lộ trước lúc cần thiết ...

Anh chìm đắm trong suy nghĩ hàng giờ cho tới khi tiếng tù và lại vang lên váo hiệu kết thúc cuộc đi săn. Anh giả vờ cử động như người đang ngủ. Anh bỏ lại thức ăn, thức uống trên cây và leo xuống. Lúc thì anh cảm thấy ớn lạnh, lúc cảm thấy nóng ran như lên cơn sốt. Nhưng anh quả quyết phải tự kìm chế để bền ngoài không thấy được sự xúc động của mình.

Con đường lăn ở chân gốc cây xoài lại chạy ngược chiều hồi sáng nên anh không phải tìm đường trở về.

Rừng đã mát, gió lay động kóm lá khe khẽ rung, không khí đượm hương êm dịu của buổi chiều. Các Mặt Trăng bắt đầu ló lên. Riêng Peter cảm thấy, trong khắp khoảng không vũ trụ, không có người nào bất hạnh và khổ sở như anh.

Khi anh theo con đường lăn về tới khoảng rừng thưa thì đã thấy một ngọn lửa trại lớn đang bừng cháy. Ngai của nhà Vua được đặt trên rêu. Xung quanh có những cô gái mang những dây boa - Hoa để tặng cho các xạ thủ giỏi nhất. Tiếng tù và rúc lên liên tiếp. Người đi săn đặt các con thú săn được trên cỏ và hãnh diện đứng giữa đàn chó và con thú. Riêng Peter trở về tay không, người đẫm mồ hôi và mệt mỏi!

Nhà Vua đứng lên, Tù và ôm tiếng:

- Huy chương của hội săn hôm nay được tặng cho vị khách của chúng ta. Ông Peter Mac Gulliver người từ Trái Đất. Ông xứng đáng được tặng thưởng này vì đã thể hiện tính tự chủ rất cao, ông thà không bắn vào con Cọp - Hươu có cặp sừng vàng của Hoàng Thượng.

- Hoan hô! - Những người đi săn reo lên.

Bây giờ thì Peter lại càng không hiểu gì nữa.

Những người đi săn trẻ tuổi xúm quanh chúc mừng anh. Anh nhớ ra con Cọp - Hươu chạy qua chòi bắn cảu anh có mang những vòng vàng ở đầu cặp sừng. Nếu tự anh bắn con đó sẽ là sự vô lễ lớn nhất đối với nhà vua. Nhưng mọi người ở hoàn cảnh như thế rất ít người tự chủ được. Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!

Một cô gái xinh đẹp nhẹ nhàng đặt lên đầu Peter một dây hoa. Nhà vua gọi anh lại và ban cho anh một chiếc huy chương vàng to bằng bàn tay.

- Ông cảm thấy ở đất nước chúng tôi thế nào? Ông có nguyện vọng gì không?

- Thưa bệ hạ, ở đây thật tuyệt hảo. Nhưng tôi cũng rất muốn trở về con tàu vũ trụ để gặp vợ tôiv à cùng trở về Tô quốc.

Vùa quay lại nhìn Thái tử Recker.

- Chuyến đi của ông khách thân mếm của chúng ta được chuẩn bị tới đâu rồi?

- Thưa vua cha, tất cả được tiến hành theo tuần tự tốt đẹp nhất. Hoàng Tử cúi gập mình đáp.


35 - TRUNG TÂM HOẠCH ĐỊNH KINH TẾ


Vào buổi sáng sau bữa đi săn, Peter cảm thấy yêu cầu thôi thúc muốn đi ra ngoài trời, bất kỳ nơi nào có thể mở máy thu nghe tiếng nói của July để biết được tất cả, tất cả những gì đang xảy ra. Nhưng anh nghĩ rằng mình phải thông minh đấu trí mới được.

Mãi quá nửa đêm họ mới về tới lâu đài vì sau cuộc săn là một bữa tiệc lớn. Phòng ăn của lâu đài săn hoàng gia được bày biẹn cho 1000 thực khách. Các mốn thịt chim rừng, thịt thú rừng, vô số loại rượu và trái cây thơm ngon được dọn ra. Bữa tiệc diễn ra rất vui vẻ. Những người đi săn trẻ tuổi ca hát vui nhộn, sau đó quay thành vòng tròn và nhảy một điệu nhảy tập thế. Peter đã ghép mình cùng ăn, cùng uống, cùng hát, cùng nhảy với mọi người. Nhưng anh vẫn tỉnh táo nên sốt ruột đến chết đi được. Còn kế hoạch cho ngày sau là cuộc viếng thăm ngồi nhà của Trung Tâm hoạch định kinh tế.

Anh luôn luôn gặp Thái Tử theo một chương trình đã thỏa thuận từ trước. Anh không biết cách gọi điện cho Thái Tử thế nào. Và Thái Tử cũng chưa bao giờ gọi điện khi anh ở trong phòng. Ở đây chắc không có máy điện thoại? Ở trái đất mọi người đều có máy riêng của mình và có thể gọi bất kỳ người nào, bất kỳ giờ nào và bất kỳ ở đâu. Hoặc giả là ở đây cũng có nhưng họ muốn ngăn chân không để anh dùng. Khi anh có một mong muốn nào, ảnh chỉ nói lên điều này bằng tiếng nói Trái Đất và các Rôbốt vô hình sẽ phục vụ anh với mức độ chính xác đáng sợ mà không nói một lời.

Còn cuộc viếng thăm hôm nay anh sẽ đi một mình. Peter ấn vào chiếc nút màu bạc trên bàn làm việc. Lập tức các cửa mở ra. Các thảm lăn và bực thang máy đưa anh tới công ra. Ở đó có một chiếc xe hơi nhỏ rất đẹp màu ngà voi đứng chờ sẵn.

- Tới Trung Tâm hoạch định kinh tế - Peter ra lệnh. Cửa chiếc xe đóng lại. Nó tự chuyển bánh và mang Peter trên một con đường khác và theo hướng khác. Nhờ cuốn lịch bỏ túi Peter có thể tìm phương hướng trong và chung quanh thành phố Oxy một cách khá dễ dàng. Anh cũng đã kiểm tra lại rằng, quảng trường anh đã chú ý chính cũng là nơi chiếc máy bay chở anh đã hạ cánh. Anh cũng biết rằng Trung Tâm hoạch định kinh tế hoặc với tên khác là Trung Tâm kiểm soát kinh tế nằm trong khu vực phía Nam tương đối xa trung tâm thủ đo. Peter đã chăm chỉ nghiên cứu tất cả những tư liệu rơi vào tay anh kể cả bản đồ và sổ tay thống kê. Anh có cảm giác là anh chỉ có thể thắng được kẻ thù mạnh mẽ và xảo quyệt nếu anh nhìn thấu qua được nó, nếu anh tìm được trong cái lưới đang bóp nghẹt anh có một lỗ hổng, nơi mà sự kiểm soát hết sức chặt chẽ đó có kẽ hở. Đôi khi anh có cảm giác là chân tay của anh nặng như chì và đầu óc của anh đần độn. Nhưng chỉ cầ nghĩ tới July và tình trạng tuyệt vọng của nàng, anh lại tự tái tạo được sức lực mới. Lần này cũng vậy, anh đã ngồi vào chiếc xe hơi với niềm hy vọng rằng sẽ tìm thấy được một giải pháp cho có cứu thoát sinh mạng của hai người. Hay có lẽ, ngay trên chiếc xe này, bảng máy móc dụng cụ có thể giúp anh chốn. Không, anh không được để mình roi vào tình trạng không cứu vãn nổi. Mới đây anh đã chẳng cùng với ON thực hiện được điều chưa ai có thể làm nổi là đi bộ từ Thành phố những người mang vòi đến Thành phố những người có trí nhớ là gì. Nhưng bây giờ ON ở đâu? ORO ở đâu? Các bạn anh ở đâu và còn trang bị của anh, nhất là chiếc máy sản xuất Oxy ở đâu? Thứ duy nhất anh con giữ được trên ngón tay là chiếc máy thu phát tinh vi mà anh chưa dám sử dụng.

Chiếc xe hơi chạy theo con đường ngoằn ngoèo lên dốc. Hai bên đường, núi, ao, hồ, nhà, lâu đài thoắt ẩn, thoắt hiện. Bầu trời trong xanh. Tốc độ xe ngày càng tăng. Nhưng trên xe không có đồng hồ đo tốc độ. Nhìn phong cảnh lướt qua hai bên đường, Peter biết rằng tốc độ đã tăng gấp mười lần. Bất ngời chiếc xe rời khỏi mặt đất. Peter cảm thấy cacs bánh xe gấp lại. Nó biến thành một chiếc máy bay phản lực lao về phía trước. Chẳng mấy lúc, anh ngồi trên độ cao hai ngàn mết ngắm phong cảnh phía dưới. Khi chiếc xe bắt đầu bay lên, anh hơi ngạc nhiên tuy rằng anh biết ở Trái Đất có những kiểu xe chạy theo ba, bốn, năm, sáu phương thức khác nhau nhưng trên hành tinh nầy, tất cả đều xảy ra thật bất ngờ, không có sự báo trước hoặc giải thích.

Có lẽ anh đã bay được một giờ với tốc độ cao. Rồi chiếc xe lại chạm đất. Chỉ vài phút sau anh đã ở trước một công trình xây dựng lớn.

Ngôi nhà chính kiểu rất đơn giản, với những bức tường phẳng và không có cửa sổ. Có một chiếc tháp hình trụ, trên đó có gắn hàng ngàn thanh kim loại giống như ăngten truyền hình và một gương rađa khổng lồ đương quay.

Peter xuống xe. Cánh cửa lối vào chính mở ra. Một người mặc bộ đồ xanh bước ra lịch sự đón anh:

- Tôi là giám đốc của Trung tâm và cũng là nhân viên duy nhất. Tôi sẽ rất vui mừng nếu ngài cảm thấy thoải mái ở đây ... Xin ngài vui lòng cho biết ngài muốn tìm hiểu điều gì.

Peter cay đắng nghĩ thầm: "Làm cách nào tôi có thể trở lại Trái đất". Nhưng anh lại nói:

- Tất cả những điều mà ngài có thể giới thiệu cho tôi ... Tôi quan tâm đến tất cả và tôi rất cám ơn ngài về mọi điều ...

Phòng điều khiển chiếm toàn bộ phần giữa của Trung Tâm hoạch định kinh tế. Kích thước phòng cực lớn vớn hàng ngàn bảng dụng cụ xếp chung quanh tường. Trên các màn hình luôn luôn có những vệt màu xanh lục lướt qua. Chỉ có những tiếng rì rào, vo vo, tích tắc nhỏ nhỏ.

- Trước mặt ngài là bộ não của hành tinh Oxy. Tất cả những điều xảy ra trên hành tinh của chúng tôi đề được điều khiển từ đây. Có những quy trình làm việc mà chúng tôi đã đưa vào chương trình cách đây 200 đến 600 năm và chúng tôi chỉ đổi những quy trình này khi ít nhất mười trong mười hai trạm kiểm soát trung gian của chúng tôi xác nhận điều đó là cần thiết. Trái lại có những quy trình mà khi cần thiết trong một phần ngàn giây chúng tôi có thể thay đổi hàng ngàn phương pháp khác nhau kể từ cải tiến nhỏ nhất cho tới phát minh sáng chế rộng lớn nhất.

- Xin ngài cho biết, làm thế nào ngài trở thành Giám đốc của Trung Tâm hoạch định kinh tế?

- Ngài Mac Gulliver, chắc ngài cũng biết rằng ở hành tinh này có một trăm gia đình hay một trăm họ và mỗi họ có một trăm người đang sống. Trong một trăm người đó có một người được đào tạo để trở thành giám đốc Trung Tâm hoạch định kinh tế. Vậy là chúng tôi có 100 giám đốc, cứ mười giờ thay ca nhau một lần. Trường hợp cần thiết, Hội đồng giám đốc cả 100 người có thể họp lại và quyết định những việc quan trọng. Nhưng rất may là bộ máy kinh tế của chúng tôi được xây dựng theo những nguyên lý của Thiện Vương I hoàn thiện đến nỗi trong 1207 năm vừa qua chỉ phải triệu tập Hội đồng giám đốc có bốn trăm lần mà thôi. Thực tế những lần đó cũng chỉ quyết định những biện pháp phòng ngừa chứ thực sự không cần thiết áp dụng mà chỉ do sự quá cẩn thận.

- Ở Trái Đất chúng tôi cũng có khá nhiều máy móc nhưng tôi cho rằng không thể nào bằng Trung Tâm hoạch định kinh tế của các ngài.

Viên Giám đốc kiêu hãnh mỉm cười nói tiếp:

- Tôi cho rằng trong hệ thống Ngân hà cũng có một sự phát triên như chúng tôi. Trong phạm vi có thể, chúng tôi hết sức chăm chú theo dõi những thânhf tựu của các hành tinh khác rút ra bài học ứng dụng nó. Còn bây giờ tôi muốn mời ngài lên tháp quan sát.

Một chiếc thang máy trong nháy mắt êm ái đưa họ vào trong một chiếc phòng hình tròn. Chỉ cần ấn vào một cái nút thì các bức tường chung quanh biến mất. Thay vào đó là những lưới vách trong suốt như thủy tinh.

- Tôi xin phép giả thiết rằng ngài đã được biết bản đồ của hành tinh Oxy. Bây giờ chúng ta sẽ quan sát lại tất cả theo kiểu chim bay.

Peter nhìn xuống phía dưới, anh thấy các đỉnh núi và các lâu đài của thành phố Oxy và xa hơn nữa một bức tường lũy màu da cam.

- Tôi sẽ tiếp tục chỉnh máy - Viên giám đốc ấn tiếp một chiếc nút. Các tấm kính mờ đi trong giây lát rồi tiếp theo đó có ánh màu tím. Phong cảnh phía dưới hiện ra một cách đầy đủ như ta mở nắp một chiếc hộp hoặc lật mái một chiếc nhà mười tâng ra để có thể trông rõ từ tầng mái cho tới tầng hầm.

Hình trên cũng là thành phố Oxy.

- Chỗ này ngài biết rồi, chúng ta không cần xem kỹ. Chúng ta xem tới hjình sau.

Thành phố Oxy biến mất, Peter thấy một hệ thống đường ống bạc cực kỳ phức tạp.

- Hệ này nằm dưới độ cao của thành phố Oxy một trăm thước. Ngài chờ một chút, tôi sẽ cho xem gần hơn.

Peter bây giờ mới được thấy rõ ràng và hiểu đó là một mạng lưới hết sức rối rắm gồm dây cáp, đường ống và dây dẫn, gồm các kênh và hệ thống bơm. Tại nhiều vị trí có đặt các máy móc và tất cả đều đang làm việc, cái thì quay tròn, cái gì giao động trượt, đòn bẩy, bânhs răng, thanh truyền ... Cả một nhà máy không lồ nằm dưới đất với vô số bảng điều khiển và những đường băng vận chuyển ... Tất cả đều hoạt động nhịp nhàng mà không cần người điều khiển.

Cuốn phim sống đã đưa anh theo đường vận chuyển của các băng tải. Chúng vận chuyển các công nghệ phẩm với số lượng thật lớn đến những kho thật rộng. Peter thấy đủ mọi mặt hàng: thực phẩm, thảm màu rực rỡ, bóng quần vợt và ghế nệm, xe hơi và súng săn. Sau đó anh lại thấy những bảng điều khiển rất lớn khác với những máy luôn kêu vo vo gợi cho ta nhớ tới máy Telex và những bản tín hiệu tròn với kim loại màu lục lân tinh.

- Đây là những trung tâm dịch vụ tự động - Viên giám đốc giới thiệu - Nguồn năng lượng của hành tinh chúng tôi gần như không thể cạn được. Để làm công việc bảo trì bảo dưỡng kỹ thuật cho các xí nghiệm, chúng tôi cso trên hai trăm ngàn máy tính điện tử và có một triệu chuyên gia đã lập trình cho chúng. Nhưng cs lẽ ngài sẽ thấy rõ hơn một chút khi tôi để ngài xem cách sản xuất của chúng tôi ở phần thô sơ nhất.

Viên giám đốc ấn vào một nút khác, các tấm kiếng đỏ rực lên và chuyền dần sagn màu xám.

- Bây giờ chúng ta đụng phải Bức màn I-ON. Bức màu này giới hạn khu vực có Oxy. Tôi sẽ nói thêm về điều này sau. Bây giờ xin mời ngài nhìn xem.

Trước mặt Peter hiện ra một hình ảnh rất quen thuộc: Một quảng trường trong Thành phố những người mang vòi. Những sinh vật mệt mỏi lê bước. Những phòng máy. Những cỗ máy. Công việc lao động đơn điệu. Gạt cánh tay đòn qua phải, qua trái ...

- Phương pháp làm việc rất đơn giản. Chúng tôi có thể truyền động cho những máy này bằng những máy tự động khác. Nhưng điều đó không hợp lý vì ở hành tinh Oxy cso tâm lý sinh vật phục vụ và chúng tôi cũng muốn có công việc cho họ làm. Để trả công lao động của họ, máy móc của chúng tôi cung cấp đồi dào các nhu cầu vật chất và tinh thần cho các sinh vật cấp thấp này. Lượng Oxy phân phối cho họ hoàn toàn đủ dùng cho cuộc sống. Tất nhiên với nền kỹ thuật cao siêu của chúng tôi. Chúng tôi có thể sản xuất Oxy không giới hạn nhé, làm sạch sẽ môi sinh, làm cho đất đen trở lên phì nhiêu và làm sạch cả đại dương. Nhưng để làm gì? Vị vua đầu tiên Thiệu Vương I đã thiết lập ra cơ chế phân phối Oxy hiện nay. Hạn chế Oxy đảm bảo được sự yên tĩnh hoàn toàn của quần chúng. Mọi người đểu ở chỗ mình. Và họ còn cần phải đi đâu nữa. Vậy sẽ không có sự ghen tỵ tranh chấp, không có nổi loạn, không có tư duy. Không có người đi du lịch vì khi di chuyển người ta cần phải có Oxy. Vậy chỉ bằng một cai dập, chúng tôi đã loại trừ hoàn toàn được mối hiểm họa lớn nhất của nền văn mình của chúng ta là sự phẫn nộ của dân chúng. Việc phân phối Oxy đã triệt để chấm dứt sự phát triển thiếu suy nghĩ đáng lo ngại của tầng lớp dưới ... Tâm lý sinh vật này chỏ có mỗi một việc là vận hành các máy móc của chúng tôi. Và dân số chỉ tăng theo những tính toán nghiêm ngặt. Đồng thời chúng tôi đã thực hiện được một nền văn hóa, văn học, triết học hòa bình và bình đẳng xã hội cao đến mức trong vũ trụ không có nơi nào sánh kịp.

Peter hỏi tiếp với giọng khàn khàn:

- Ngài đã có lần nào đi đến chỗ các sinh vật đó chưa?

- Không! Điều này không cần thiết và cũng không thể thực hiện được - Viên giám đốc bình thản nói - Giao thiệp giữa các lục địa gián đoạn muôn thuở. Từ dưới kia không một kẻ nào lên đây. Trong chúng tôi thì ngài có thể tin được điều này: chẳng ai xuống tới đó làm gì. Hơn nữa tôi có thể giải thích cho ngài rõ nhiệm vụ của bức màn I-ON. Bức màn này gồm có những tia I-ON khí luôn luôn chuyển động mạnh. Nó ngăn không cho lớp không ký giàu Oxy của thành phố Oxy trộn lẫn với các lớp khí của các lục địa khác. Bầu khí quển I-ON này là một lớp khí giàu OZON khoảng một ngàn mét. Tất cả các chất mà nền công nghiệp rộng lớn của chúng tôi thải ra đều tập trung trong đại dương đen và trong lớp không khí tầng thấp. Lớp dưới của bức màn I-ON dày năm trăm mét khóa chặt lớp vỏ không khí ô nhiễm tới mức trong các Thành phố phục vụ không có tốc độ gió. Đồng thời nó cho phép chúng tôi cấp nhiều ánh sáng và một hỗn hợp không khí khá hơn cho những Thành phố trí nhớ. Nhưng tôi cho rằng những vấn đề vật lý, hóa học này chắc ông không quan tâm đến.

- Có chứ, thưa ngài. Tôi cũng rất muốn biết điều gì xảy ra nếu không khí và biển của Thành phố phục vụ ngày càng bị ô nhiễm? Giới hạn ở mức nào?

- Tất nhiên chúng tôi luôn luôn hăm chú theo dõi thành phần lớp vỏ khí của hành tinh Oxy. Tình hình hoàn toàn không đáng lo ngại. Dù lớp khí quyển của lục địa lớn có tăng hàm lượng oxy carbon đến mức độ nào thì những người dân của thành phố Oxy không bị ảnh hưởng. Dưới kia, người dân của Thành phố phục vụ được bảo vệ bằng những dụng cụ hô hấp. Hơn nữa việc làm sạch môi sinh là việc dễ dàng với chúng tôi.

- Nếu như mức ô nhiễm vượt quá tầm tay các ngài thì sao?

- Trước tiên là như vây - Giám đốc nhún vai - Sự ô nhiễm ngày càng nặng thì kỹ thật ngày càng cao. Kỹ thuật của chúng tôi có thể làm được gì? Tôi sẽ dẫn cho ngài xem một trò chơi như Ngày Đại Lễ Mùa Xuân ngay bây giờ.

Peter nghĩ thầm: Trò chơi á? Số phận của tám tỷ sinh vật, tín ngưỡng của họ, những sự phấn đấu và ước vọng của họ. Thế mà ở đây chúng coi như một trò chơi.

- Tiếp đó tôi sẽ mời ngài xem những Thành phố của những người có trí nhớ ...

Bây giờ xin pháp được mời ngài dùng một bữa điểm tâm nhẹ. Chúng ta ngồi vào bàn và vẫn có thể theo dõi được các hình ảnh ...

Giữa đài quan sát có một chiếc bàn tròn nhỏ với những ghế tựa rất êm. Viên giám đóc ấn vào một chiếc nút khác. Lập tức có hai khay đựng thịt với trứng, trái cây và nước giải khát hiện ra.

- Vào dịp Đại Lễ Mùa Xuân, chúng tôi kéo chiếc màn I-ON qua một bên, đấy là nói về hình ảnh có thể. Nhờ các hệ mương và ống dẫn chúng tôi đưa qua không khí và Oxy trộn các chất kích thích tương ứng vào những điểm cố định ở các Thành phố phục vu. Họ sẽ thấy đó là một cái hang, họ học điều đó trong sách vở tuy rằng những luồng gió này thổi theo những thung lũng tự nhiên: Luồng gió chỉ có thể thổi xuống. Tất nhiên chúng tôi ngăn không cho không khí ô nhiễm bay ngược lên trên lẫn với bầu không khí của chúng tôi. Mục đích quan trọng của ngày Đại Lễ Mùa Xuân là phân loại và lựa chọn Những người mang vòi. Ông hãy thử tưởng tượng, nếu chúng tôi mang kiểm tra và làm thẻ đục lỗ cho từng người thì sẽ cần tới một bộ máy hành chính khổng lồ như thế nào. Ông nên nhớ rằng, hầu hết họ là những sinh vật hiền lành cầu an, không có khả năng tự mình xét và suy nghĩ. Các giác quan của họ đã bị cùn đi vì vậy khi ngày Đại Lễ Mùa Xuân gần tới chúng tôi cần thay truyền hình xám bằng truyền hình màu, bày trí sinh động hơn, làm thức tỉnh những cảm xúc và tình cảm nhất định nơi họ. Nếu không thì ngoài việc thở Oxy và ăn uống, họ không có mong muốn gì khác. Việc giao cấu của họ cũng chỉ được giới hank trong một vời giờ như ở các giống vật. Ví dụ, nếu như ông rơi vào giữa một Thành phố phục vụ, ông có thể đi lại hàng năm giữa các sinh vật đó mà không ai quan tâm tới ông. Chúng tôi thực hiện tất cả điều này nhờ một chất thuốc ru ngủ rất tốt. Đó là những giọt nước màu xanh (Lục Thủy) nhứ thuốc đó ru ngủ tất cả mọi hoạt động của sinh vật trừ mấy phản xạ nhất định là thở Oxy, ăn uống và lao động, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhờ đó mà các sinh vật lao động chính xác, cẩn thận, chăm chỉ và tích cực. Đương nhiên, theo việc hoạch định kế hoạch, có thể yêu cầu phân xưởng này hoặc phân xưởng khác tăng hay giảm sản xuất. Chỉ trong một phần ngàn giây các máy tính điện tử của chúng tôi sẽ thay đổi chương trình và chỉ tiêu của các dây chuyền công nghệ. Khi đó sẽ có một vài máy được cho ngăn lại và những sinh vật phải tự tìm một chỗ làm việc khác. Khi muốn tăng sản lượng một xưởng, chúng tôi giảm lượng Oxy trả công và như vậy buộc Những người mang vòi phải làm việc nhiều hơn ở xưởng đó. Việc tiêu thụ thực phẩm cũng được điều tiết theo đó. Chúng tôi sản xuất ra những loại thức ăn yêu cầu của nhiều hay ít Oxy và trộn các món ăn với liều lượng Lục Thủy khác nhau nhau ... Nhưng hình như tôi đã hơi xa rời chủ đề chính. Tóm lại, chúng tôi yêu cầu các sinh vật lao động và điều tiết sự phát triển của họ để đảm bảo nguồn cung cấp cho những Thành phố của những người có trí nhớ. Đặc tính đáng lưu ý của những thứ Lục Thủy này là nó không ảnh hưởng đến các đặc tính về tinh thần và cơ thể của con cái, không tác dụng đến hoocmon giới tính và các tế bảo sinh học. Nó không tiêu diệt các chức năng đó mà chỉ ru ngủ chúng một thời gian. Nhờ đó mà Những người phục vụ sinh ra được con cái khỏe mạnh. Từ những đứa trẻ đó, chúng tôi dễ dàng tuyển lựa ra được vài triệu các nhà vật lý, toán học, sinh học, kiếm trúc sư và các chuyên gia tương lai khác theo chương trình để quy hoạch. Nhưng tôi không biết ngài xem nhiều thế có mệt không?

- Không! Thưa ngài không - Peter đáp.

- Tuy vậy ông ông chưa xem đến phầm hấp dẫn hơn. Tôi muốn giới thiệu với ngài Thành phố của những người có trí nhớ. Phải nhớ rằng cho tới triệu đại Thiện Vương VIII chúng tôi chưa hoàn toàn nắm chắc được việc điều khiển lao động trí óc cấp cao. Nhũng người làm công việc này sử dụng quá nhiều Oxy và chỉ dùng có một phần năng lượng của họ để giải quyết phần việc được giao. Không có Oxy, tôi muốn nói rằng nếu không có dồi dào Oxy thì không thể duy trì được hoạt độngt hần kinh cao cấp. Chúng tôi đã cung cấp dồi dào Oxy cho trí nhớ, có thể nói là đã quá nuông chiều họ. Đáp lại điều đó chúng tôi chỉ yêu cầu họ không lo lắng gì khác, không suy nghĩ gì khác ngoài các chủ đề mà họ phải giải đáp. Đáng tiếc là việc đó không đạt được. Ngay cả khi đa số các nhà khoa bác học và kiên kỹ sư biết điều yên phận làm nhiệm vụ thông thường đó thì học cũng dùng quá nhiều năng lượng cho công việc riêng của mình. Như vậy là lãng phí Oxy. Theo các não đồ đã thu thập được ở các khoảng thời gian khong đều nhau thì phọ phải liên tục đấu trinh chống những ý nghĩ tản mạn phân tán và những ý nghĩ khác. Việc khiểm tra thường xuyên tốn kém và khó khăn. Các kết quả cho thấy rằng bộ não của đa số các nhà bác học do bị kích thích bởi chất Oxy quý giá có những ý nghĩ thừa mà lại có hại và nguy hiểm cho trật tự của hành tinh Oxy. Vị ngày của đáng Thiện Vương VIII tôi vừa nhắc tới, vì hộ đó việc chữa bịnh không chỉ riêng là của máy móc mà còn do một người lịch sự mà đấng Thiện Vương VIII đã đặt tên cho ông ta là Sáng Tạo vì đã tìm ra phương pháp giải quyết tốt nhất: Khi cung cấp đày đủ Oxy, bộ não cũng không thể sagns tạo với toàn năng của nó được. Chúng tôi xác định được phần giá trị nhất của não theo kết quả kiểm tra rất kỹ lưỡng của các máy móc cung cấp. Chúng tôi chỉ kích thích phần đó. Còn việc cung cấp Oxy cho các khu vực khác được hạn chế tới mức tối thiểu. Vậy hoạt động của các bộ phận được cung cấp dồi dào Oxy sẽ mạnh hơn hẳn các kết quả nghiên cứu lập luận, sáng tạo hết sức giá trị. Những tiến bộ kỹ thuật ghê gớm của khoa kinh tế chúng tôi từ đời Thiện Vương III đã hùng hồn chứng minh điều đó. Còn các phần khác của não, các phần bị ức chế tiếp tục sống nhưng không sản sinh ra ý nghĩ. Chúng chỉ tồn tại mà không quấy rối những suy nghĩ nghề nghiệp hướng vào một mục đích duy nhất. Như vậy các sinh vật giống nhau, họ không lo buồn, không có ý nghĩ quấy rối. Chúng tôi lo cho họ những sinh hoạt giải trí thích thú và họ cảm ơn chúng tôi bằng năng suất cực đại của các việc mà chúng tôi giao cho.

Nếu ngài cho phép, tôi sẽ dẫn ngài sang phòng kiểm tra thứ hai, ở đó ngài sẽ thấy rõ việc này. Đương nhiên việc kiểm tra các nhà bác học chặt chẽ hơn những người ở thành phố phục vụ. Những người được lực chọn lên Thành phố có trí nhớ khi qua can thiệp não được nhận một tấm phiếu đục lỗ. Tấm thẻ cá nhân này sẽ đi theo máy vào máy kiểm tra. Các cửa đóng mở tự động. Họ có thể vào khách sản, lấy hàng hoa stừ tấm thẻ đó. Đáp ứng lại tín hiệu của máy tự động họ phải xuất trình nó để kiểm tra não.

- Điều này tôi chưa hiểu được - Peter cố tình nói.

Viên giám đốc tiếp tục giải thích.

- Bộ não của con người là một bộ máy xử lý không hoàn chỉnh. Dù có can thiệp cẩn thận hết sức cũng không hoàn toàn đầy đủ và không có giá trị mãi mãi. Chuyện đã xảy ra là bộ não của một nhà bác học không làm việc theo hướng đã được xác định. Anh ta lo tới những việc không có ích, trong chừng mực nào đó còn quấy rối nữa. Như vậy chẳng những anh ta sử dụng nhiều năng lượng hơn và mang lại năng suất thấp hơn mà còn có thể gây ra tác hại nếu không muốn nói là nguy hiểm cho cả bộ máy lớn đang vận hành hoàn chỉnh. Các máy tính tự động của chúng tôi phản ứng nhạy bén đối với những sự sai lệch nhỏ nhất. Trong trường hợp này chúng báo động cho Trung Tâm kiểm tra của Thành phố trí nhớ và nhà bác học có liên quan lập tức phải trình diện để kiểm nghiệm não đồi.

Peter hỏi:

- Và cái gì xảy ra nếu anh ta không trình diện?

- Tấm thẻ đục lỗ của nó sẽ không dùng được nữa. Họ không lãnh được Oxy, không lấy được thức ăn, ngay cả cửa nhà mình cũng không mở được.

Peter nghĩ thầm: Đó chính là những người trốn tránh trong hang động.

- Có lẽ bây giờ ta nên xem xét một Thành phố của những người có trí nhớ - Viên giám đốc vừa nói vừa ấn một vài nút trên bảng điều khiển. Bức tường ngoài trong vắt rung rung chuyển sang màu tím nhạt. Bây giờ họ thấy một thành phố dưới chân họ như đang ngồi trong buồng lái phi cơ nhìn xuống đất. Phong cảnh rất đẹp. Những ngôi nhà nhiều kiểu và những đường phố hướng tâm.

- Cây và hoa là nhân tạo đấy - Viên giám đốc nói và tiếp tục ấn nút - Ta xuống gần hơn. Tôi không biết ngài đã biết điều này chưa. Mỗi người được chọn có một ký hiệu trên phiếu đục lỗ. Ký hiệu đó đồng thời là mã hiệu về ngành chuyên môn của họ. Như vậy, ví dụ khoa học đều mang ký hiệu FE, các nhà hóa học AK, các nhà toán học ON và các nhà phẫu thuật ORO. Trong các nhóm lớn đó lại chia thành tiểu nhóm FE1, FE2 và FE3 và mỗi người lại có một ký hiệu cá nhân ví dụ FE1-81 ... Nhưng có lẽ xin mời ngài xem xét cụ thể một chỗ làm việc.

Vừa nói viên giám đốc vừa chỉ vào một dãy nút bấm có các chữ cái và các con số trên một tấm bảng điều khiển được đưa tới tầm tay của Peter.

- Xin mời ông tùy ý ấn vào chữ và con số nào đó.

Peter đọc được FE, AK, OS, SOM ... đây rồi. Anh do theo nhóm ORO và như một sự tình cờ anh ấn nút ORO 91 và căng thẳng nhìn vào màn ảnh.

- ORO, đó là các nhà phẫu thuật - Ông giám đốc giải thích - Phân nhóm chính là một nhóm lập chương trình rất phức tạp. Trên chúng tôi, phẫu thuật không có nghĩa là nhà phẫu thuật phải đứng mổ bịnh nhân trong phòng mổ. Tất cả các can thiệp đều do máy móc tiến hành. Nhưng việc hoạch định các phãu thuật mới, việc bố trí quy trình, nhất là việc can thiệp não ...

- Rõ - Peter đáp và nhìn vào hình - Chỗ làm việc hiện ra với nhiều máy móc phức tạp. Trên đó khuôn mặt một người đàn ông đang cúi xuống quan sát. Hình khá rõ, có thể nhận được mặt.

- ORO 91 đấy - Viên giám đốc nói.

Peter thấy một bộ mặt xa lạ hoàn toàn không quen biết. Không có nét gì giống ORO mà anh đã quen thuộc lúc còn ở dưới đó.

- Và điều gì xảy ra - Peter cố ghìm tiếng nấc - Khi một sinh vật không đáp ứng được yêu cầu lao động nữa? (Peter không dám hỏi rằng điều gì xảy ra nếu họ chết)

- Có thể xảy ra rằng, một nhà bác học không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nữa. Khi đó chúng tôi rút thẻ của họ và người đó bị đẩy trở lại một Thành phố phục vụ. Trước đó chúng tôi sẽ xóa trí nhớ của họ. Ở vị trí làm việc đó sẽ đặt một người khác. Những ký hiệu của tấm thẻ được đục lỗ không phải chỉ cá nhân con người mà là chỉ vị trí làm việc nên người thay thế cũng mang ký và số hiệu của người trước. ORO 91 mà ngài vừa trông thấy luôn luôn chỉ định vị trí làm việc đó mà không phụ thuộc vào con người đang có mặt tại đó.

Chúng tôi có một lượng dự trữ khá lớn về bác học. Và các bác học ở tư thế dự bị như vậy luôn được đào tạo rèn luyện. Có những vị trí làm việc, ở đó chúng tôi chỉ có một hoặc hai nhà bác học dự phòng. Trái lại, những lĩnh vực mà sự hao mòn mệt mỏi, nhất là sự tiếp xúc với những việc bất ổn trong tư duy logic hết sức lớn thì ở đó, con số bác học dự phòng phải lên tới gấp hai ba lần ...

Bây giờ tôi còn có thể chỉ cho ngài điều gì nữa đây?

- Hiểu được công viêc của ngài cũng khá mệt đấy. Đương nhiên là vì tất cả những điều này cúng tôi chưa hề được biết ở Trái Đất.

Peter cười ngượng nói tiếp:

- Tôi cho rằng bây giờ điều khôn ngoan nhất là tôi trở lại lâu đài.

Viên giám đốc đứng dậy lễ phép tiễn khách:

- Tôi sẽ rất vui mừng nếu ngài còn đến thăm chúng tôi một lần nữa.

- Rất cảm ơn. Xin phép được hỏi ngài thêm một câu. Nếu tôi muốn xin phép đi chơi, đi ra ngoài trời một lát không biết có ảnh hưởng gì không? Ở gần đây có một cái vông viên hay một nơi nghỉ ngơi mà tôi có thể thoải mái một vài giờ không?

- Ở đây có tới hàng ngàn chỗ như vậy - Viên giám đốc cười thoải mái - Ngài có một cuốn lịch bỏ túi chưa hay để tôi tặng ngài một cuốn.

- Cám ơn ngài, tôi có một cuốn rồi.

- Ngài nhìn đây. Chiếc xe hơi bay sẽ đưa ngài theo con đường này trở về thành phố Oxy. Nếu ngài ra lệnh cho xe: Về nơi xuất phát hướng giữa đường nghỉ lại Y-A. Thì tới khu vực Y-A trên bản đồ xe sẽ dừng nghỉ lại và chời ngài với thời gian tùy ý. Việc điều khiển chiếc xe mới này hết sức đơn giản. Người phát minh ra nó mang ký hiệu ON-G3 đã bỏ công sức vào nó bảy chục năm. Và đó là bản thiết kế thứ hai ngàn của ông ta được cấp nhận. Ngài thử nghĩ xem, với một bộ não không bị kích thiechs theo một hướng nhất định phì phải mất bao nhiêu thời gian để đạt kết quả đó?

- Điều này phải nói là thần thánh - Peter vừa nó vừa ngồi vòa chiếc xe màu ngà voi đang chờ anh.

36 - TRONG CÔNG VIÊN


- Trở lại lâu đài, dừng giữa chặng ở Y-A - Peter ra lệnh.

Chiếc xe hơi ngoan ngoãn chuyển bánh. Nó đi theo tốc độ rất nhanh. Trong giây lát, khối nhà khổng lò của Trung Tâm Hoạch Định Kinh Tế biến khỏi mắt Peter. Những cánh rừng và những cánh đồng như đón chờ tia nắng chói chang dưới bầu trời trong xanh. Cảnh phía dưới đẹp đến mức làm trái tim anh rộn ràng.

Peter có suy nghĩ, tìm kế hoạch thoát khỏi cảnh bị giam lỏng ở hành tinh này. Anh biết rõ rằng trật tự tại hành tinh Oxy này là một thế giới khép kín đáng ghê sợ, rằng người ta kiểm soát mọi bước đi của mình, rằng ...

Không! Nói chung anh không biết gì hết. Trước hết là anh không biết họ định làm j anh, không biết họ đang có kế hoạch đen tối gì đối với anh.

Chiếc xe bay qua hai đỉnh núi cao phủ tuyết rồi hạ xuống ven một cái hồ giữa một khu vực đẹp như tiên cảnh. Nơi này được ký hiệu Y-A trên bản đồ. Lần đầu tiên Peter được thấy bọn trẻ con của hành tinh Oxy. Dưới kia, ở Thành phố những người mang vòi những trẻ con xanh xao, tự lự, đi đâu cũng mang dụng cụ hô hấp. Dáng mệt mỏi và bình thản, chúng lấy trên các giá bảng những chiếc mô hình máy màu xám và những con búp bê cũng mang vòi màu xám. Trong hang động ânh đã gặp những đứa trẻ háu đối, già trước tuổi với những đôi mắt sáng rực. Những đứa trẻ con đang chơi đùa, nahỷ múa ở đây chính là những hình ảnh sinh động của hạnh phúc. Chúng hát, múa, la hét, đùa giỡn với những quả bóng đủ màu sắc, chơi các vòng quay, các con búp bê và những chiếc xe hơi tuyệt đẹp.

Peter bước xuống, xem các em chơi đùa. Hai đứa bé trai ở trần đang nhảy nhót trong làn nước trong như pha lê của một chiếc đài phun nước. Trên sân bé gái tóc vàng, quần áo trắng toát đang luyện tập. Mặt Trời chiếu sáng từ một bầu trời trong vắt không một áng mây.

Trong một góc của công viên nổi lên tiếng nhạc du dương. Anh thấy các em trai và gái đang chơi nhạc cụ dây nhỏ, hình dáng tựa chiếc vĩ cầm. Những người lớn đang đi bách bộ dừng lại xem một lát rồi lại đi tiếp: Các em thiếu niên đang trình diễn một buổi hòa nhạc theo ý thích của mình.

Cách bục hòa nhạc vài thước có một dẫy dù che nắng đủ các màu. Peter ngồi xuống bên một chiếc bàn. Mặt bàn lập tức mở ra và trong nháy mắt hiện ra một ly cà phê có phủ kem sữa.

Peter nghĩ: "Nếu tự mắt mình không thấy thì không thể tin được trên cùng một hành tinh lại có nhiều điều khổ ải và nhiều điều tươi đẹp, có nhiều niềm vui và cũng có nhiều sự bất công ghê gớm. ORO hiện nay đã biến đi đâu? Có thể anh đã bị thủ tiêu? Hoặc bị đầy xuống nơi Những người mang vòi. Còn ON thi sao? Số phận nào đang chờ đợi chính mình, Peter?"

Dưới các chiếc dù che nắng sặc sỡ không còn ai ngoài anh. Được ra nơi thoáng khi anh có cảm giác được an toàn. Peter lập tức bật nấc thu của chiếc máy tí xíu trên chiếc cà rá. Anh kiên nhẫn chờ ít nhất nữa tiếng: Một giong buồn tẻ đcọ hành dãy những con số mật mã. Lúc này không có liên lạc vô tuyến giữa July và đài phát ở đây.

Anh cảm thấy chưa muốn trở về lâu đài tý nào. Peter quyết định đi chơi khoảng nửa tiếng nữa trong công viên và sau đó lại mở máy thu.

Tới đầu kia của công viên, anh thấy một đám trẻ đông hơn nữa. Đây là một vườn thú nằm sâu giữa các vách đá. Các giống vật có thể đi lại tự do ở phía dưới và chỉ cách người xem bởi lớp vách đá thẳng đứng. Các em đang thích thú cúi xem: Những con vật giống như gấu đang vụng về bước, những con vật giống hươu đang nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác.

Peter ngồi xuống một mỏm đá ở chỗ vắng vẻ và lại bật máy thú. Anh nghe thấy:

- Hành tinh Oxy gọi Nhân loại ...

- Đây con tàu Vũ trụ Nhân loại ... Tôi sẵn sàng nhận tin ...

Peter được nghe tiếng nói thân yêu của July.

- Cần phải điều chỉnh quỹ đạo, chuẩn bị ... thao tác hạ cánh ...

- Đã làm xong các công tác chuẩn bị ...

Nghe đến đây người Peter run lên, mồ hổi toát ra như tắm.

37 - CUỘC GẶP GỠ RÙNG RỢN


Peter vẫn ngồi trên mỏm đá và tiếp tục nghe cuộc đối thoại. Anh cảm thấy ý định gần như không cưỡng lại được là bật đài phát và hô lớn lên thật ngắn, thật rõ:

July em, hãy cẩn thận ... July hãy cảnh giác ... Em đang bị đe dọa ..."

Nhưng anh biết rằng làm như vậy thật vô ích. Đó chỉ là một cách tự phát hiện trong lúc anh không được phép sơ hở hơn lúc nào hết. Anh phải kiên nhẫn chờ. Nhưng chờ cái gì? Anh cảm thấy vô kế khả thi! ... Đám trẻ quanh anh vẫn vui vẻ reo hò.

Đột nhiên có tiếng gọi thống thiết làm anh chú ý:

- Ngày người con của Trái Đất, hãy giúp tôi ... người anh em giúp tôi với ...

Peter hoảng sợ. Anh hiểu những lời vừa thốt lên: Đó là tiếng nói của những Con người hai đầu. Là những người ở hành tinh F-317 thuộc Dãy Ngân Hà. Đã từ 300 năm nay, Trái Đất duy trì quan hệ chặt chẽ và thân thiết với hành tinh bạn này. Tiếng nói của F-317 còn có tên gọi khác là Hành tinh lửa được dạy trên các trường Đại học ở Trái Đất như ngoại ngữ và đại diện của hai hành tinh thường đến tham nhau. Hành tinh nhận biệt danh là Lửa vì có hiện tượng đặc biệt là lúc bình mình và lúc hoàng hôn, bề mặt hành tinh đó đỏ rực lên như Lửa. Peter vội tìm quanh xem tiếng nói từ đâu tới: Dưới thung lũng đá có một sinh vật Hai đầu trần truồng, dáng vẻ tuyệt vọng đang tìm cách leo lên thành đá dựng đứng trơn như mỡ, miệng thì kêu gọi anh:

- Này người con của Trái Đất, anh có hiểu lời tôi nói không! Người con của Trái Đất, tôi tên là ... Anh có hiểu tôi không? hãy báo tin về quê hương tôi rằng người ta bắt tôi ... Đã hành hạ tôi ... Họ không cho tôi về nhà ... Người con của Trái Đất ! Hãy cứu giúp tôi ... Đừng có tin chúng nó ... Hãy trả lời nếu anh đã hiểu tôi! Mà thôi, đừng có trả lời! Như thế nguy hiểm lắm! ... Chúc người con cua Trái Đất được may mắn hơn tôi ... Hãy báo tin về Tổ quốc tôi ... Đám trẻ đang cúi xuống vách đá và rất thích thú về con người nhỏ nhỏ hai đầu đang hao tay múa chân. Chúng ném cho anh kẹo, những trái cam và võ tay

- Ồ! Hay quá! ... Thích quá ...

Một cô bé dọa em:

- Nếu em không nghe lời thì trên đầu em cũng mọc thêm một cái đầu nữa đấy.

Peter lại muốn bật chiếc máy phát của mình và kêu lên:

- July, Hãy để anh ở lại đây với số phận cảu anh ... Đừng có hạ cánh July, đừng có tin chúng July, em hay bay xa di ...

Nhưng anh lại tự kìm chế được vì biết rằng đài phát của hành tinh Oxy sẽ lập tức ngăn chặn tiếng nói của anh.


38 - BÂY GIỜ TA HÃY THẬT KÍN ĐÁO


Khi Peter về đến nơi, Thái Tử không nhận tháy có gì đáng nghi ngoài việc anh hơi xanh và mắt có quầng.

- Ngài mệt à? - Thái Tử hỏi.

- Thưa Thái Tử, tôi không quen với các buổi dạ hội, vũ hội và các cuộc vui liên tiếp. Khi còn ở nhà tôi sống yên tĩnh hơn. Bây giờ tôi chỉ thích chơi thể thao ví dụ như bơi ...

- Còn điều đi săn tối cao!

- Thưa Thái Tử tôi rất vui thích - Peter đáp và nghĩ rằng trong cuộc săn anh có nhiều thời cơ để thu sóng. Lúc này chỉ còn một ý nghĩ duy nhất làm anh lo lắng là người ta bằng mọi cách để lôi July ở con tàu vũ trụ Nhân Loại xuống hành tinh Oxy. Có thể vài giờ nữa. Cũng có thể cô ta đã xuông đây rồi và đang bị bắt ở một chỗ nào đó...

Làm thế nào để biết được chắc chắn nhỉ?

Làm thế nào mình có thể bay tới đón July?

Nếu những kẻ cầm quyền ở hành tinh Oxy này không có những ý định xấu xa đen tối thì họ đã báo cho anh biết từ lâu rằng July đang chuẩn bị hạ cánh. Nhưng suốt thời gian qua, bất kỳ lúc nào anh hỏi Thái Tử về con tàu vũ trụ và liên lạc vô tuyên vô tuyến thì hắn ta cũng mỉm cười để anh tin tưởng và nói: "Những cơn báo vũ trụ không cho phép liên lạc xin ông hãy kiên nhẫn chút, có lẽ ngày mai hoặc ngày kia. Nhưng sự thật thì vẫn có liên lạc vô tuyến thường xuyên giữa July và Trung tâm. Họ còn dùng cả tiếng nói ghi âm của anh để lừa July! Rất có thể là chúng sẽ ... Ở đây mọi điều đều có thể xảy ra.

Peter nghĩ đến anh bạn nguwòi Hành tinh Lửa mà hãi hùng: Chúng đã nhốt anh vào vườn thú. Anh nghĩ đến số phận của ORO và ON nói riêng với số phận của những người mang vòi nói chung. Anh hạ quyết tâm, phải chấm dứt sự u mê, tê liệt của anh, phải hành động, bất chấp mọi khó khăn.

Bề ngoài, anh sẽ làm ra vẻ vui thích, muốn ở lại lâu tại hành tinh Oxy, phải thể hiện nhiều quan tâm hơn nữa về văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán của hành tinh này.

Thái Tử vẫn quan sát Peter và vừa lòng nhận thấy rằng anh bắt đầu vui vẻ hơn. Anh cũng hỏi nhièu hơn và cũng kể chuyện về đời sống và tập quán trên Trái Đất. khi Thái Tử hỏi anh có thích điến dự một buổi tối sinh hoạt văn hóa hay không thì anh to ra hết sức thích thu nếu được nghe vài bài thơ hay. Trước bữa ăn tối, Peter lại đi tắm. Bây giờ anh đã hơi quen với việc mỗi buổi sáng và sau khi tắm anh lại có quần áo mới và đồ dùng mới tinh trong túi. Anh bước ra khỏi buồng tắm mặc đồ lót mới và một bộ đồ màu kem rất đẹp. Theo thói quen, anh cho tay vào túi và ngạc nhiên nhận thấy rằng lần này không có cuốn lịch bỏ túi nữa. Như vậy là anh không có bản đồ.

39 - NHỮNG CHỈ THỊ ĐẶC BIỆT


Viên chỉ huy của con tàu cấp cứu RA-1 nghiêm trang nhắc nhở July một lần nữa là nhiệm vụ cứu Peter nên thuộc về đội cấp cứu. Cô không được trái lời. Không được hạ cánh trên hành tinh xa lạ và nguy hiểm này.

- Nhưng chính các anh cũng nghe thấy đấy! Peter bị tai nạn, anh ấy bị thương và đang chờ tôi ...

- Chúng tôi thấy tai nạn này có vẻ thật kỳ lạ ... Và kỳ lạ hơn nữa là tuy Peter lên tiếng rất nhiều lần nhưng lần nào cũng chỉ nói có mỗi một câu giống hệt nhau. Điều này cho phép đoán nhận rằng: Những lời này phát từ máy ghi chứ không phải anh ấy chực tiếp nói ...

- Nếu Peter bị nguy thì tôi lại càng phải hạ cánh: Các anh cũng đã nghe thấy đấy lần nào tôi đề nghị đưa Peter lên đây thì người ta cũng đáp: không được, chúng tôi không làm được.

- Nếu vậy thì con tàu cấp cứu của chúng tôi sẽ hạ cánh và cô chờ ở trên này.

- Không ... Đừng thế! Nếu các anh gặp phải sự cố gfi thì một mình tôi làm sao cứu được. Trái lại, nếu có gì xảy ra đối với tôi thì các anh có thể thông báo cho Trạm cấp cứu và nếu cần thiết có thể huy động hàng trăm con tàu cấp cứu tới đây!

- Cô này bướng bỉnh thật! Không thể nói chuyện nghĩa lý với cô được. Bây giờ thì tùy ý cô muốn hành động thế nào cũng được.

Và thế là July quyết định chuẩn bị hạ cánh. Cô kiểm tra lại tất cả các máy móc dụng cụ. Điều chỉnh toàn bộ theo hướng dẫn của Trạm tiếp đón của Hành tinh Oxy. Chỉ còn khoảng 10 gi ( Hai ngày của hành tinh Oxy) là tới lúc hạ cánh.

- Chúng tôi nhắc bà chú ý rằng. Nếu bà thay đổi góc hạ cánh hoặc tốc độ quy định hoặc có một con tàu nào khác đi theo con tàu của bà thì lập tức hệ thống tên lửa bảo vệ của chúng tôi sẽ tự động làm việc ...

- Rõ! Tôi nhắc lại: Nếu thay đổi góc hạ cánh hoặc tốc độ quy định ... - July ngoan ngoãn nhắc lại.

- Sau khi mệnh lệnh Hạ Cánh vang lên thì liên lạc vô tuyến sẽ chấm dứt. Khi nào con tàu vũ trụ của bà dừng trên hành tinh chúng tôi, sẽ có người của chúng tôi đón tếp. Trước khi đại diện của chúng tôi tới tuyệt đối không được phép mở cửa con tàu. Cấm rời khỏi buồng lái của con tàu vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Bà phải ngồi yên chờ trong buồng lái cho đến khi chúng tôi mở con tàu! Chúng tôi nhắc lại chỉ thị: Sau khi mệnh lệnh Hạ Cánh vang lên , liên lạc vô tuyên sẽ chấm dứt. Chúng tôi yêu cầu về phía bà không được phát tín hiệu vô tuyến nào nữa. Trong vùng hạ cánh bà cũng không thể nhận tin vô tuyến được ... Nhắc lại lần nữa: Hạ cánh xong phải kiên nhẫn ngồi đợi trong buồng lái ...

- Thế, anh Peter có ra đón tôi không?

- Sau khi mệnh lệnh Hạ Cánh vang lên, lập tức khởi động các tên lửa phụ ...

July nhận lệnh Hạ Cánh tim đập mạnh đầy lo âu.


40 - KHÓ KHĂN ĐIỆP TRÙNG


Mỗi khi Peter tách riêng ra được một lúc anh lại bật nút thu của chiếc máy tí hon. Tất nhiên không bao giờ anh sử dụng nó trong các lâu đài có trang bị máy xử lý tiếng động. Anh chỉ bật ở ngoài trời.

Trong 40 giờ nữa ... Như vậy ta chỉ còn hai ngày nữa July sẽ hạ cánh.

Từ bữa đi chơi công viên đến nay, Peter không còn được nhận lại bản đồ nữa. Trong hai ngày sau cùng, anh cố tình tắm nhiều lần để thay quần áo nhiều lần. Mỗi lần anh đều nhận được mọi thứ: Một chiếc áo sơ mi tinh tươm, giầy vừa khít chân, một con dao bỏ búi, lược, bút ... Nhưng không có lịch mà cũng chẳng có bản đồ nữa. Không biết vô tình hay hữu ý người ta làm cho anh không thể định hướng được. Anh còn nhận thấy rằng, trong phòng của anh, những tiếng chuông đồng hồ cũng biến mất. Chỉ còn các bữa ăn được báo hiệu bằng một tiếng cồng.

Peter đang chơi quần vợt, anh chơi được vài ván thì gọi mấy chàng thanh niên đang đứng gần đấy:

- Này, các anh vào chơi đi. Thôi nghỉ mệt một lát.

Rồi Peter đứng ra cạnh sân, kín đáo bật máy thu dơ lên tai: Lại toàn con số và những tín hiệu, anh không hiểu được. Phía bên kia bãi quần vợt, Thái tử đang tiến lại gần:

- Thế nào? Ông khách thân mến của chúng tôi có khỏe không? Hôm nay tôi thấy ngài có vẻ hơi đãng trí. Ngài không thích chơi nữa à?

- Xin cảm ơn Thái Tử ... Tôi cũng không hiểu tại sao, hôm nay tôi cảm thấy hơi mệt mỏi.

- Như vậy, tôi đề nghị điều này, có lẽ sẽ làm cho ngài tỉnh táo. Ngài thích câu cá không?

- Tôi không biết câu cá là gì?

- Ồ! Đó là một môn giải trí thật là tuyệt diệu. Tôi sẵn lòng mời ông tới Hồ Gương. Ở đó là thủy phận nhỏ của tôi. Ngày mai, tôi có những công việc quốc gia phải giải quyết. Nhưng nếu ngài thích, sáng sớm mai ngày có thể ra đó chơi. Ngài sẽ thấy bộ đồ nghề câu cá của tôi để sẵn ở đó.

- Thế tôi sẽ tìm thấy gì ở đó?

- Này nhé, một chiếc cần dài ... với một sợi dây nhỏ ở đầu ... - Thái tử mô tả chiếc cần câu cho đến lưỡi cầu và bày cho anh cách làm cho cá bạc cắn câu, làm cách nào giật và lôi cá lên khỏi mặt nước.

- Cá câu được sẽ làm gì? - Peter hỏi.

- Nếu như thích. Ngày hãy chiên nó lên. Còn không thích thì vứt ở đó hoặc quảng lại xuống hồ. Diều này hoàn toàn không quan trọng. Ngày hiểu cho, đây là một môn thể thao, một môn giải trí ... Ngày hãy thử xem! Hẫy đến Hồ Gương câu cá hai hoặc ba ngày, tôi cam đoan là ngài sẽ vui tươi và trẻ lại mười tuổi.

Peter nghĩ nhanh: Đây có thể là một cái bẫy. Anh nói to:

- Xin đa tạ Thái Tử: thật là may mắn cho tôi. Nhưng đến Hồ Gương đi đường nào? Mấy ngày nay tôi không có lịch túi nên chẳng có bản đồ.

- Thực thế à? - Thái Tử làm bộ ngạc nhiên hỏi - Tôi sẽ cho chỉ thị. Có lẽ họ đã quên mất đấy.

Peter nghĩ: Quên à? Máy tính điện tử mà quên được à?

Thái Tử nói tiếp:

- À này, nhưng ngài cần gì đến bản đồ, chỉ cần ra lệnh cho chiếc xe T3 thì nó sẽ đưa ngài tới đó.

- Xin trân trọng cảm ơn Thái Tử về lời mời. Sáng sớm mai tôi sẽ tới đấy.

- À ta còn gặp nhau ăn tối nữa cơ mà!

Đến bữa tối. Các món ăn mới dọn lên có nhiều gia vị ngon hơn và cũng ru ngủ hơn ngày thường. Thái Tử hỏi anh nhiều hơn mọi khi: Cho tới nay anh đã thấy được những gì ở hành tinh Oxy? Anh thích những gì? Đột nhiên Thái Tử nhìn thẳng vào mắt Peter hỏi:

- Ngày Peter thân mến. Tôi quên chưa hỏi ngài đã làm thế nào để tới Thành phố của những người có trí nhớ.

- Khi tôi tới quý hành tinh thì tôi mê man bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, tôi tìm cách tự định hướng. Tôi thấy mình ở giữa những sinh vật lạ lùng mang vòi trong một Thành phố bêtông màu xám. Nhưng nếu tôi không làm thì tôi đã kệu điều đó rồi. Tôi tìm cahcs nói chuyện với họ và hỏi thăm đường nhưng không có kết quả ... Lúc đó tôi hãy còn điện đài và tôi tìm cách phát tín hiệu. Các tín hiệu không được đáp lại. Tôi không thể bắt chuyện được với những người mang vòi. Nhưng tôi có Oxy, tôi có đầy đủ trang bị. Và thế là tôi thử vận may rủi, tự tìm lấy đường đi. Tôi phải đi một thời gian rất dài thì lại tới một khu vực có người ở. Một thành phố đẹp hơn. Từ đó, Thái Tử đã cho máy bay chở tôi đến đây. Không hiểu sao tôi lại không còn nhớ đầy đủ các chi tiết nữa ! Có thể là khi tôi rơi xuống đây, bộ não đã bị chấn thương ít nhiều.

- Làm thế nào mà ngài gặp được ORO?

- Tôi không biết ORO là ai. Tôi đã gõ cửa một căn nhà. Người ta đã mở cửa và đã giúp đỡ tôi... Sau đó tôi được hướng dẫn là đi theo một con đường lăn. Đường đó đã dẫn tôi tới máy bay.

Thái Tử nghĩ thầm "Thằng này nhất định nói dối"

Peter cũng nghĩ thầm"Hứ, chú mày định đưa ta vào bẫy! Chúng mày nói dối như cuội ... Mày nói dối với July là ta bị chấn thương não mà!"

- Ngày mai ngày định làm gì nữa - Thái tử hỏi - Theo chỗ tôi biết thì ngài đã nhận được rất nhiều giấy mời.

- Vâng, sau khi đi câu vào buổi sớm, tôi sẽ đi xem Viện bảo tàng mỹ thuột hoặc đi thăm thử viện của Viện Hàn lâm ... Tốt hơn hết là tôi được trở về con tàu vũ trụ.

- Vậy là ngài không thích ở đây với chúng tôi hay sao? Ngài Peter thân mến, ngài hãy tin rằng, tối làm tất cả mọi điều để ngài được thoải mái.

- Tôi xin cảm ơn Thái Tử rất nhiều về mọi ân huệ mà ngài đã ban cho. Nhưng thú thật là tôi nhớ vợ và đang lo cho vợ tôi. Nếu có được liên hẹ vô tuyến thì hay quá!

- Rất tiếc là sáng nay tôi cũng mới vừa nhận được báo cáo: Các cơn bão vũ trụ đang còn tiếp diễn nên mọi liên hệ vô tuyến hoàn toàn không thể thực hiện được.

Cũng đúng vào lúc này thì July nhận được lệnh điều chỉnh quý đạo lần chót.

Đêm đó Peter không ngủ được.

41 - CON TÀU VŨ TRỤ NHÂN LOẠI ĐÃ HẠ CÁNH


Hồ Gương thật xứng với tên gọi, nó lấp lánh như một chiếc gưng bằng bạc. Trên mặt nước phẳng lặng, mọi vật đều soi bóng. Các gợn mây trắng, các tia nắng mặt trời, vòm lá của các cây và chiếc mái nhỏ của túp lều câu cá xinh xắn lẻ loi. Trời lặng gió, không khí thơm mùi đồng nội.

Chiếc xe hơi màu trắng toát đứng lại. Peter tìm các trang bị đi câu nhưng không hề nghĩ đến chuyện thả câu xuống nước. Gần và xa đều không có một bóng người. Những con cá bạc bơi tung tăng trong hồ. Mặt trời lấp ló sau vòm lá xanh. Trên cây có các thứ hoa đủ màu: tím, hồng, trắng, đỏ ...

Peter ngả lưng trên cỏ, dưới một bụi cây và xoay xoay chiếc cà rá. Anh hồi hộp chăm chú áp tai vào chiếc máy.

Xung quanh Hồ Gương này quả là thuận tiện cho việc thu thanh. Vì ở các bước sóng dài, trước nay chưa từng bắt được tín hiệu thì ở đây anh cũng nghe được. Anh phát hiện được các chỉ thị, các tín hiệu, các con số. Tiếp đó là những mệnh lệnh và các chỉ thị khác. Và Peter sửng sốt phất hiện ra rằng tất cả các tín hiệu gọi và đáp đều liên quan chặt chẽ đến số phận của anh và đến chiếc bẫy mà người ta giăng ra cho con tàu vũ trụ Nhân Loại.

- Mệnh lệnh: Đúng 11 giờ anh phải đi xe hưoi tới điểm Y4. Nhắc lại đi!

- Đúng 11h tôi phải đi xe hơi tới điểm Y4.

- Các mệnh lệnh tiếp theo nằm trong cuộn phim Mật mã số 3. Phía dưới bức màn ION không có liên lạc vô tuyến. Nhắc lại đi!

- Tất cả các mệnh lệnh tiếp theo đều ghi trong cuốn phim ...

Đúng lúc này cuộc đối thoại bị một làn sóng khác lấn át:

- Đây! Trung Tâm! Sân bay 1103 chú ý. Chuẩn bị cho một máy bay XK hai chỗ ngồi xuất phát! Cần trang bị máy sản xuất Oxy và máy hô hấp. Kế hoạch chuyến bay: ĐI cất cánh 11 giờ 30, hạ cánh 16 giờ 30. Chuyến về ngày hôm sau: Cất cánh 11 giờ 30 hạ cánh 18 giờ 30.

Tôi nhắc lại: Phía dưới tấm màn ION không có liên lạc vô tuyến.

- Chỉ thị bắt sống sinh vật Trái Đất mang về, nhất thiết phải bắt sống! Làm cho con tàu vũ trụ của nó không thể bay được nữa! Các chỉ dẫn chi tiết nằm trong cuốn phim. Mật mã số 3!

- Con tàu vũ trụ của sinh vật Trái Đất hạ cánh ở điểm BX3'4". Quỹ đạo hạ cánh được đánh dấu trên bản đồ bằng một mũi tên bạc ... Xuống dưới bức màn ION phải chấm dứt mọi liên hệ vô tuyến. Nhắc lại đi!

- Mật mã số 3. Mệnh lệnh chi tiết trong cuộn phim ... Con tàu vũ trụ của sinh vật Trái Đất ...

Tới đây, buổi phát kết thúc. Sau một lát, cũng trên làn sóng đó, cũng tiếng nói đó lại lên tiếng:

- Lên đường đến điểm Y4 ... Con tàu vũ trụ Nhân Loại hạ cánh hôm nay ... Xuống dưới bức màn ION không còn liên lạc vô tuyến. Nhớ dùng mật mã số 3. Hãy lên đường đến điểm Y4.

Tất cả các dây thần kinh của Peter đều căng thẳng đến cực độ. Néu anh không hành động lúc này thì mất hết! Thua cuộc hoàn toàn! Anh vụt nhỏm dậy với quyết tâm dám làm tất cả mọi việc. Anh bước nhanh lên chiếc xe hơi đang đợi và ra lênh:

- Tới điểm Y4.

Cửa xe tự đóng lại. Xe phóng như bay trên các đường núi đẹp như trong giấc mơ. Đi qua ven các hồ, qua cầu và chui qua đường hầm, đi giữa các rừng và các vườn cây đang nở hoa. Phong cảnh như nhòa đi trước mặt Peter. Anh không còn thấy các lâu đài với những ngọn tháp và các nhà nghỉ mát đẹp đẽ nữa. Chiếc xe đưa anh đến cuộc phiêu lưu nguy hiểm không thể lường được và không thể tránh được. Anh không có đồng hồ và cũng không biết xe chạy mất bao lâu. Anh lo lắng và căng thẳng đến mức ngồi trên xe không dám mở máy thu nữa. Anh vẫn còn sợ người ta có thể nghe được anh. Hoặc là những tiếng nói thu được sẽ lọt vào chiếc ô tô có máy lái tự động theo mệnh lệnh và sẽ làm thay đổi hướng đi của nó. Lòng đầy hồi hộp anh mong chiếc xe đưa anh tới chỗ cần đến. Tuy hồi hộp nhưng anh rất quả quyết và sẵn sàng chiếc đấu. Anh sẽ làm tất cả điều gì có thể làm được để cứu July.. Và nếu phải chiến đấu thì anh sẽ bắt kẻ địch phải trả giá tính mạng anh thật đắt. Lúc này chiếc xe lướt qua một vườn hồng rất rộng rồi đi qua chân một thác nước. Xe tới một quảng trường hình tròn trang trí bằng nhiều bức tượng, những cây cọ và đài phun nước. Quảng trường đẹp tuyệt vời và không có một bóng người. Chiếc xe dừng lại rất em. Cánh cửa tự mở ra.

Peter bước xuống và nhận ra nơi này. Đây chính là nơi anh đặt chân tới khi họ đưa anh từ Thành phố của những người có trí nhớ tới đây.

42 - CUỘC TẤN CÔNG THẮNG LỢI


Peter bước ra khỏi xe vài bước. Không còn nghi ngờ gì nữa, anh lại tới đúng cổng sân bay bí mật. Theo mệnh lệnh vừa truyền đạt bằng điện đài thì đúng 11 giờ phải có một người nào đó (hay là nhiều người?) tới đây với nhiệm vụ bắt July về. Có nên bật máy thu không nhỉ? Không! Việc đầu tiên là phải dấu kín chiếc xe hơi. Chiếc xe màu trắng toát sẽ đập ngay vào mắt bất kỳ người nào tới đây.

Sau một đài phun nước, anh thấy một hàng chuối với nhiều lá xum xuê. Con đường hơi đổ xuống, Peter lấy hết sức lực đẩy, chiếc xe nhẹ nhàng lăn gần như không có trọng lượng. Chỉ vài phút sau anh đã dấu kín nó sau những tán lá.

Bây giờ anh có thể yên tâm mở máy thu. Anh chọn một bui phong lan chỉ cách cử vào sân bay có vài thước và nấp vào dưới các chùm hoa dày đặc. Đưa máy thu lên tai, anh lại nghe thấy những con số tín hiệu, chỉ thị và mệnh lệnh tren hàng trăm làn sóng khác nhau. Anh hết sức chăm chú chỉnh máy tìm ra làn sóng cần thiết và đã thành công.

- Đây Trung Tâm.

- Tôi đã có mặt ở đây.

- Chuẩn bị tiếp nhận con tàu vũ trụ Nhân Loại để cont àu tại chỗ hạ cánh cho đến khi có lệnh mới. Tịch thu tất cả máy móc dụng cụ của sinh vật Trái Đất. Phải bắt sống đưa về. Nếu cần thì cho thuốc ngủ. Nhưng chỉ thị chi tiếp tiếp theo trong cuộn micro phim, sử dụng mật mã số 3. Đến 11h38 phút anh sẽ chui qua bức màn ION, lúc từ đó chấm dức liên lạc vô tuyến.

- Yêu cầu khu vực A - B không chắn sóng ! ... Nhân Loại đâu? Con tàu Nhân Loại đâu?

- Nhân Loại đây! Nhân Loại đây! Chồng tôi thế nào rồi?

- Chồng bà đã khỏe.

- Tôi muốn nói chuyện với anh ấy.

- Chúng tôi xin chiều theo ý bà. Tôi nối máy đây.

- Peter! Anh thân yêu! Em July đây!

- Đây Peter! Em July thân mến nhất! Anh nóng lòng chờ giây phút gặp em! Anh rất mong nhớ em! Em hãy theo đúng các chỉ thị hạ cánh!

Bầu trời như quay cuồng trên đầu Peter. Rõ ràng anh nghe tiếng nói của mình mà không phải anh nói. Có phải họ đã dùng kỹ thuật ma giáo của hành tinh Oxy vào đây? Hay họ đã thu các lời nói trước vào băng từ và chắp lại thành những câu trả lời? Hoặc hơn nữa, họ đã nạp tiếng nói của mình vào một chiếc máy quái quỷ nào đó và với âm sắc riêng của mình nó có thể nói bất kỳ điều gì với đúng giọng nói của mình? Thế còn July? Thật là khủng khiếp! Tất nhiên July hoàn toàn mắc lỡm! Vậy thì khi nghe tiếng nói của July không biết mình có nên tin không đây?

- Sau khi hạ cánh bà hãy kiên nhẫn chờ trong buồng lái! Mở cửa ra là nguy hiểm chết người! Chú ý! Sẵn sàng khởi động tên lửa ... Xuất phát! Liên lạc vô tuyến tạm cắt...

- Rõ, rõ rồi!

Bây giờ lại có một giọng đàn ông khác lên tiếng.

- Báo cáo, tôi đangtrên đường tới điểm Y4.

- Nhớ kỹ: Sau khi qua bức màn ION, theo các mệnh lệnh chi tiết trong cuộn micro phim! Mật mã số 3!

Peter cẩn thận nhìn qua đám hoa lá. Chiếc xe sẽ từ hướng nào đi tới nhỉ? Liệu kế hoạch táo bạo của mình có thực hiện được không? Phải được chứ! Ta không có gì để mất cả!

Các đài phun nước, các bụi phong lan, các gốc hồng, những bông hoa to bằng đầu người mùi thơm ngào ngạt, các dãy núi xa xa có ánh lam huyền ảo, bầu trời trong sáng, những hạt nước nhỏ li ti của đài phun bị gió tạt lấp lánh như những hạt kim cương ... Cảnh đẹp thần tiên và vắng vẻ này! Tất cả làm anh bồn chồn lo lắng. Cảnh càng đẹp thì anh càng cảm thấy rằng tất cả chỉ là một cái lưới sặc sỡ duy nhất bao quanh lấy anh, thắt dần lại, chẹt lấy cổ anh và tìm cách bắt July của anh!

Peter nín hơi lắng nghe và chờ đợi. Chắc là đã 11 giờ. Đúng lúc đó một chiếc xe hơi màu anh đào vụt đến và dừng ngay trước cửa vào sân bay. Một người đàn ông to lớn, cơ bắp nổi hẳn dưới áo đang bước xuống xe liền quay lại xe và cầm lấy chiếc túi ở ghế sau. Đúng giây phút này, Peter nhảy vọt ra khỏi bụi phong lan. Chỉ cần một bước đi anh đã tới sau lưng kẻ lạ mặt. Kẹ lạ mặt đang điềm nhiên tìm gì đó trong túi. Peter cảm thấy mình rất tỉnh tảo, trầm tĩnh. Anh sẵn sàng hành động nhanh và có suy nghĩ. Anh có thể giết cỏ người này nhưng anh không nghĩ tới điều đó. Ảnh chỉ ra đòn lại hắn ra khỏi vòng chiến trong thời gian anh chạy trốn.

Peter siết chặt cổ kẻ lạ mặt.Khi tên này bắt đầu ngột thở thì anh lại hơi nới lỏng tay. Trong nháy mắt anh dùng cườm tay chặt một nhát vào gáy hắn. Tên này ngất ngay lập tức. Anh lấy lá nhồi chặt vào mồm hắn rồi rút túi ra sợi dây câu mà anh mang theo từ Hồ Gương. Sợi dây làm bằng vật liệu dàn hồi khó dứt đứt được. Peter trói quặp hai tay tên này ra sau và quấn bó giò nó. Peter nghĩ nhanh: Ta cần thời gian. Anh lục túi của hắn và lấy tất cả mọi dụng cụ giấy tờ bỏ vào túi mình. Anh dựng từ nhân lên và kéo hắn vào sau hàng chuối, bỏ vào chiếc xe mà anh đã giấu. Anh đặt hắn vào ghế và ra lệnh:

- Trở lại điểm T3.

Chiếc xe tuyệt đẹp màu trắng toát lập tức chuyển bánh vọt trở lại về phía Hồ Gương.

Ở cửa sân bay, chiếc xe màu anh đào vẫn còn đậu cửa mở toang. Peter thu lấy chiếc túi và nhìn quanh tìm những trang bị mà kẻ đi bắt July có thể còn bỏ sót. Dưới xe, anh tìm được một bao trắng giống một bao kiếng. Trong khi lôi tiên kia di, chiếc bao đã rớt ra khỏi túi hắn. Peter nhặt lấy cái bảo nhét vào túi và bỏ lại chiếc xe hơi màu đỗ ở của vào sân bay bí mật.

43 - TRONG MÁY BAY


Khi Peter bước tới, một chiếc cửa kính rộng lập tức tự mở ra. Anh bước vào và cánh cửa khép lại sau lưng anh. Anh ở giữa một phòng rộng thênh thang có lát gạch màu lục. Trước đây vài tuần, anh đã tới đây! Phòng đợi của sân bay bí mật. Anh không thấy một tấm bảng chỉ dẫn nào cả. Trước mặt anh có một vẹt sáng màu lục nhạt đang chuyển động trên nền nhà như một chiếc thảm. Peter đi theo vệt sáng qua phòng đợi trống rỗng. Anh không gặp một ai và cũng không nghe thấy một lời nào. Một cánh cửa nữa lại mở ra trước mặt anh và đóng lại sau lưng anh.

Rồi anh đi qua một cánh cửa nữa. Thực ra Peter chỉ đứng trên một thảm lăn hoàn toàn giống như khi trước anh ở máy bay ra nhưng ngược chiều.

Ra khỏi phòng đợi, anh đã thấy chiếc máy bay màn ảnh bạc đợi sẵn cách vài mét. Lần anh bay từ Thanh phố trí nhớ tới đây sương mù dày đặc, anh không nom rõ nó. Khi anh xuống sân bay ở đây thì lại quên mất không quay lại nhìn nó. Bây giờ anh nhìn chiếc máy bay một cách ngạc nhiên. Có lẽ nó cũng vẫn là chiếc máy bay đó? Nếu đúng vậy thì tính toán của anh có logic không? Người ta có định sử dụng chiếc máy bay này tới July không?

Anh không còn có cách lựa chọn nào khác. Anh bước lại máy bay. Khi anh tới gần, một chiếc cầu thang màu bạc hiện ra. Peter bước lên vài bước, cửa máy bay cũng tự mở ra. Chiếc cầu thang lướt lên. Peter bước vào máy bay và cánh cửa tự động đóng lại.

Peter tiếp tục suy nghĩ. Anh có phải ra lệnh cho máy bay: Thành phố trí nhớ hay không? Hay anh bảo nso tới điểm hạ cánh đã quy định BX 3'4"? Mà thật ra nhanh có cần nói gì không?

Nhưng đã tới lúc việc đó không cần thiết nữa. Đúng 11 giờ 30 động cơ của máy bay nhẹ nhàng quay về chiếc máy bay từ từ bay len. Qua cửa sổ anh vẫn thấy bầu trời trong xanh lâp loáng. Anh có thể nhìn rõ thành phố Oxy với những màu sắc không thể quên được. Những ngôi nhà màu sắc không thể quên được. Những ngôi nhà tráng lệ với các tháp thon mảnh. Nếu vừa qua biết tận dụng thời gian anh có thể còn xem được nhiều hơn nữa ...

Chỉ trong vài phút, thành phố biến khỏi tầm nhìn. Bây giờ anh nom thấy núi non, thung lũng, hồ xinh và thác nước bạc. Càng ngày càng đi xa không còn nhìn thấy phong cảnh thành phố dưới chân nữa.

Peter nhớ lại, khi họ đưa anh từ Thành phố trí nhớ lên đây, đột nhiên đám may mù màu sậm sáng ra và tất cả như bắt đầu tỏa ra màu hồng cho đến khi anh đột ngột nhìn thấ bầu trời xanh thẫm. Khi đó ở chân trời có những tia màu tím hồng, những biến ảo rất kỳ lạ như một vòm khum khép kín hoặc một vành đai ngày càng to bản và không gian ngày càng thâu hẹp lại. Đột nhiên một tiếng loa vang lên làm anh hoảng hốt:

- Anh đang đến gần bức màn ION! Trong 2 phút nữa liên hệ vô tuyến sẽ chấm dứt. Nếu anh phát hiện được điều gì đo skhông bình thường cần lập tức báo cáo ngay bây giờ! Chúng tôi nhắc lại lần chót; Băt sống sinh vật đưa về trên này. Quỹ đạo của con tàu được đánh dấu bằng một Mũi Tên Bạc. Đường vạch xanh là đường bay của anh. Sử dụng mật mã số 3. Bỏ con tàu Vũ Trụ lại vị trí hạ cánh. Tiến hành các kiểm tra RG (YEK), J .. ICK. Ngày mai máy bay sẽ quay trở lại đúng 11h30 ...

Tiếng nói dứt. Xung quanh hoàn toàn im lặng. Máy bay bắt đầu xuyên vào một vành ánh sáng lấp lánh màu tím hồng. Các cửa sổ của máy bay gần như đỏ rực lên. Tất cả chỉ xảy ra trong nháy mắt rồi tối đen lại. Những đám mây mù ẩm ướt màu nâu xám quấn lấy máy bay. Mây càng ngày càng sẫm hơn hẳng như không thấy gì nữa. Ở đây, thế giới thần tiên của màu sắc và ánh sáng gần như kết thúc. Peter thấy tìm mình thắt lại: Anh đã trở lại cái thế giới khủng khiếp, thế giớ sự thật của hành tinh này. Bất ngờ một sự chán nản xâm lấn tâm hồn anh. Bây giờ anh tìm July ở đâu? Và nếu anh tìm thấy làng thì sẽ cùng nàng đi trốn như thế nào? Theo hướng nào?

Thế giớ bên ngoài máy bay ngày càng tối hơn. Tren bảng đồng hồ của máy bay ngày càng tối hơn. Trên bảng đồng của máy bay ngày càng tối hơn. Trên bảng đồng hồ của máy bay, một vệt ánh sáng màu lục nhạt bắt đầu nhấp nháy. Chùm ánh sáng nhắc anh nhớ tới chùm sáng trong phòng chiếu phim trước khi hình được hiện lên.

Cuộn micro phim . Bây giờ anh mới nhớ ra. Chắc nó phải nằm trong chiếc túi đoạt được. Anh tự nghĩ: Mình hồ đò quá! Trong những phút đầu của chuyến bay, anh chỉ nghĩ quẩn lo quanh và ngồi đờ ra nhìn mà quên khuấy đi mất việc lục soát chiếc túi đã cướp được. Anh vội mở nó ra: Trong túi có những đồ vật mà anh đã biết cách sử dụng. Cũng có thứ rất lạ. Một bộ dụng cụ hô hấp. Một máy sản xuất Oxy. Những viên kẹo giải khát và một cuộn phim.

Peter cầm cuộn phim lên tay. Thanh tựa của chiếc ghế anh ngồi lập tức chìa ra. Sườn của một chiếc máy chiếu phim đụng vào cổ tay Peter, có vẻ như nó muốn nắm lấy tay anh. Peter giật mình, vội vàng mắc cuộn phim vào sườn máy.

Chiếc bảng đồng hồ đã hiện thành một màn ảnh nhỏ, hiện ra nhiều vệt màu lục run run, nhiều đường nét và chữ cái không thể hiểu được. Kèm theo là tiếng thuyết minh không rõ. Đó là thông báo, là chỉ thị là những thông tin liên quan đến của anh. Nhưng ảnh phải giải mã được nó. Anh chợt nhớ ra mật mã số 3 ... Mật mã số 3 là thế nào đây? Peter hết sức chăm chú, căng thẳng nhìn các hình ảnh đang chập chờn trước mắt. Thời gian trôi qua, phim vẫn chiếu ... Nhưng anh ... anh nhìn vào túi, xem lại bộ máy hô hấp và các dụng cụ. Chìa khóa của bí mật có thể ở những chỗ nào? Anh phải đặt cái gfi? Quay ở đâu? ... Theo trực giác anh chụp đại một vật trong túi giống một bao kiếng. Anh gặp may. Anh tìm thấy một vật giống như cặp kính đeo mắt. Hai mắt kính tròn mỏng dính bóng loáng, nối với nhau bằng một cái sống và có gọng để đeo. Các mắt kính được bọc trong một cái sườn nhẹ đàn hồi và chúng có thể quay được trong sườn. Anh quay một nấc thì trên sống nối hiện ra con số tương ứng ... 1, 2 , 3. Đến số 3, Peter chợt tỉnh ngộ và đeo vội chiếc kính này lên mắt. Thật khác hẳn, anh thấy màn ảnh nhỏ sáng hơn và rõ nét hơn. Thay vào màu lục lóa nhòe anh thấy hàng trăm màu sắc và ánh sáng. Đó là bản đồ của hành tinh Oxy. Kèm đó anh cũng nghe thấy tiếng thuyết minh rõ ràng và dễ hiểu... Và bây giờ là một tấm bảng, anh phải quan sát tấm bảng này thật kỹ ...

Không biết ở đoạn đầu phim có gì nhỉ? Làm sao mình có thể tháo cuộn phim ra cuộn lại và xem lại tất cả từ đầu.

... Anh phải bay theo đường vạch màu xanh và đây là chỗ hạ cánh của máy bay ...

Anh thấy một hình ảnh hiếm có, bằng điều khiển của một mương và cửa sập. Tiếp theo đó là bản đồ của một hệ thống nhiều đường hầm. Sau đó có một mũi tên bạc và một vòng bạc.

... Đây là chỗ con tàu vũ trụ của Trái Đất đã hạ cánh ...

Đã hạ cánh! Như vậy là con tàu vũ trụ Nhân Loại trong đó có July đã hạ cánh!

Trống ngực Peter đập mạnh. Hai bên thái dương giật giật tới mức gần như anh không tự chủ được nữa.

... Anh hãy ghi nhớ lấy, luôn luôn theo con đường vạch màu xanh ...

Bây giờ trên màn ảnh hiện ra hai điểm rất rõ: Điểm hạ cánh của chiếc máy bay và điểm đậu của con tàu vũ trụ Nhân Loại. Kèm theo hệ thống giao thông nối liền hai điểm. Những con đường lăn, đường hầm và cửa sập anh phải đi qua đều hiện lên màu sáng xanh.

... Khi gặp thiếu sót về kỹ thuật, khi có sự cố, dùng mật mã số 6! Trong trường hợp nguy hiểm dùng mật mã số 6!

... Chú ý! Bây giờ tới lúc anh phải rời khỏi máy bay và sẽ đi ra cửa ngăn phía bên phải ...

Thật là kỳ lạ, điều này khó mà có thật. Có lẽ nó chỉ xảy ra trong chuyện thần tiên: Qua cửa cách bên phải là con đường dẫn đến con tàu Nhân Loại, dẫn đến July, dẫn đến sự trốn chạy. còn hệ đường hầm chạy gần như song song với nó trên bản đồ được đánh dấu bằng vạch đỏ lại chính lầ con đường lăn dẫn đến Thành phố trí nhớ số 5. Phải! Đi theo con đường đó là tới quảng trường Trung Tâm và phía bên phải quảng trường là hang động, nơi mà ON, cô vợ Ánh Dương và ON con đương sống chui rúc...

Peter nhận thức ngay mình đang nắm được một vật báu trong tây. Những bản vẽ và những cuộn phim là chìa khóa của những điều bí mật mà lâu nay anh tìm hiểu. Nếu những tư liệu này tới được tay Những người có trí nhớ thì sẽ tạo cho họ một vũ khí sắc bén và một sức mạnh hùng hậu!

Anh kích động đến nỗi mồ hôi lại toát ra đầm đìa. Nếu ta không đi theo con đường màu xanh đã vạch mà đi trở lại Thành phố trí nhớ thì cái gì sẽ xảy ra? ... Sẽ dẫn tới hậu quả nào? Ở thành phố Oxy chỉ trong một vài giờ nữa là chúng sẽ phát hiện ra sự vắng mặt của ta. Họ sẽ bắt July. Nếu có cách nào thông báo cho July để nàng chạy trốn trước ... Ta không có quyền kéo July hy sinh theo mình. Nhưng ta cũng không có quyền cứ thế bỏ chạy cho riêng mình, để lại ON và các bạn oằn oại với số phận của họ.

Không! Ta không thể làm khác. Ta phải đến với July. Đến con tàu Nhân Loại và tìm cách chạy trốn. Cũng có thể là các bạn Oxy nếu chỉ có cuộn phim và các bản vẽ chưa thể nổi dậy được. Ta còn bao nhiêu thời gian để chạy trốn nhỉ? Khi nào thì ở Thành phố Oxy chúng phát hiện được chiếc xe trắng bên cạnh Hồ Gương? Chỉ riêng việc ở trên máy bay ta không nói lên một tiếng nào cũng đáng nghi rồi.

Anh nghĩ lẩn thẩn: July đã hạ cánh rồi! Nàng đã chờ hàng mấy tiếng đồng hồ trong buồng lái. Ta phải về nhanh với July ... Phải! Về với July ... Nàng đang mong đợi ta. Ta cũng hết sức mong gặp nàng. Ta là người một hành tinh khác. Ta không thể buộc số phận mình vào những sinh vật khốn khổ trên hành tinh Oxy này ... Ta và July phải trốn, phải tìm cách xuất phát ...

Đột nhiên chiếc máy bay dừng lại. Cửa máy bay tự mở ra. Thang máy bay tự hạ xuống.

Bên ngoài tối đen như mực. Luồng không khí hôi hám sặc sụa ùa vào máy bay. Chiếc máy hô hấp đâu nhỉ? Peter vội vàng đeo máy thở và bộ sản xuất Oxy. Chắc là những chỉ dẫn cho việc ra khỏi máy bay nằm ở đoạn đầu cuộn phim, đoạn mà anh không hiểu được.

Anh lo lắng và luống cuống mắc hết sai lầm này đến sai làm khác. Lẽ ra anh phải đeo máy hô hấp trong máy bay. Nhưng nếu vậy anh phải bỏ kính ra và không hiểu được cuộn phim ...

Những ngón tay của anh trở nên lóng cóng, hai tay run run, thở phì phì và khó khăn lắm mới nối được chiếc máy hô hấp vào bộ sản xuất Oxy. May thay nó gióng hệt với bộ máy mà ở đã sử dụng ở Thành phố trí nhớ. Anh bắt đàu thở đều nhưng chưa nhìn thấy gì. Anh bước xuống và đứng xớ rớ trong bóng tối dày đặc. Điểm còn hơi sáng duy nhất là chiếc máy bay đậu sau lưng anh cửa hãy còn mở và có chút ánh sáng lân tinh màu lục hắt ra.

Peter lo lắng quờ tay lênt rán. Đúng lúc này lập tức một chùm sáng từ trên đầu anh chiếu ra. Tất nhiên là nguồn sáng được bố trí ngay méptrên của chiếc máy hô hấp: Anh quay đầu đi đâu thì có ánh sáng chiếu tới đó, như một đèn đội của người thợ săn đêm. Chiếc máy bay đậu trên một tấm bêtông hình tròn ở giữa một lòng chỏa bằng bêtông rộng. Xung quanh thành là những bức tường lớn màu xám buồn tẻ, trơn như là như mỡ, kím như bưng, không chỗ nào có một kẽ hỡ, không một cánh cửa và không một bóng người. Anh chợt nhớ! Mật mã số 3. Nhưng vô lý. Ở đây không có một tấm biển, không một ký hiệu, không một chữ ... Mình không thể tìm được. Tuy vậy anh cứ lấy kính ra khỏi túi và đeo lên. Thì lạ thay những mắt kính tròn vừa vặn khớp với mặt nạ. Vật mà trước đây anh cho là rất lớn giống như tấm bản đồ thu nhỏ anh vừa được xem trên máy bay. Anh tisn khoảng 200 bước lại gần tấm bản đồ thì hình ảnh bắt đầu chấn động rồi mất hẳn. Bây giờ chỉ còn lại một bức tường không lồ làm bằng bêtông trơn và phẳng lỳ. Anh vô tình cầm vào mắt kính và xay thì phãi ngỡ ngằng dừng lại.

Anh đang đứng trước cửa vào của hệ thống đường hầm và cửa sập. Một vệt sáng màu xanh chỉ rõ anh phải đi theo hướng nào. Trên một bảng điều khiển có nhứng mũi tên màu xanh đang run run chỉ phía quay các nút đó theo hướng nào. Bên trái hệ tín hiệu chính là một cửa sập thứ hai và cũng là lối vào một đường hầm khác. Tất cả ký hiệu ở đây đều mang màu đỏ oxy sắc. Đó chính là con đường đi đến Thành pố Trí nhớ số 5. Một ngã ba đường giống hệt trong chuyện thần thoại. Khi còn nhỏ anh đã đọc những điều na ná như thế này và cũng lo sợ trống ngực đập mạnh. Lúc này anh cũng đang đứng trước ngã ba . Bên phải là đường chạy trốn nguy hiểm và không chắc chắn, bên trái là cuộc phiêu lưu còn nguy hiểm hơn và không chắc chắn hơn. Nhưng anh muốn mang bản đồ và chìa khóa bí mật thới hang động cho các bạn ...

Không chần chừ được nữa. Peter quyết định đi vào con đường đánh dấu đỏ sắt. Ở đây cũng có những nút phải bấm, phải quay và những đòn bẫy, nhưng chỉ khác là không có ký hiệu và lời giải thích. Có lẽ cặp kính ... Anh lại quay cặp kính kỳ lạ qua nhiều nắc cho tới khi các tín hiệu màu Đỏ sắt bắt đầu sáng lên và những mũi tên hiện ra. Anh xoay chiếc nút đầu tiên và một cánh cửa sập mở ra trước mắt anh. Chùm sáng trên đầu anh chiếu ra sáng hơn. Anh vội vàng tiến lên phía trước theo chùm sáng của chiếc đèn pha dẫn lối. anh bước vào một cái hang sâu và rộng. Nền hang là một con đường lăn. Chính là con đường lăn đã dẫn anh từ Thành phố trí nhớ ra máy bay lần trước. Anh tìm cách nhảy nhè nhẹ nhiều bước theo chiều ngược lại. Nhưng vô hiệu. Anh không thể rời khỏi chỗ này. Tốc độ con đường lăn lên tới mức anh không thể thắng được nó.

Peter đang bí kế thì nhận thấy bên rìa đường lắn có mép vièn nhỏ. Anh ép người vào vách và bò lên phía trước. Nhưng con đường lăn ngược chiều làm anh chóng mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Cứ thế anh bò được khoảng năm trăm thước thì rẻo viền này cũng biến mất. Trong ánh sáng đèn pha anh nhận ra chân tường có một bản điều khiển màu Đỏ sắt.

Anh chợt nhớ: Khi gặp nguy hiểm, mật mã số 6! Thật là ngẫu nhiên. Khi còn ngồi trên máy bay anh hầu như không nhớ tới âu này. Trong trường hợp nguy hiểm tức là thế nào? Nghĩa là khi cái gì không mở ra, không đóng vào theo ý muốn? Ừ nhỉ. Khi cái gì chạy ngược chiều! Anh vội gỡ kính ra và vặn tới nấc số 6 và đeo lên. Anh thấy rõ dọc theo bức tường đá cứ cách mười đến mười năm thước lại có một hàng nút bấm màu tím. Trên mối nút bấm có một mũi tên nhỏ màu lục run run chỉ theo chiều đường chạy. Anh tới bảng gần nhất và quay ngượt một mũi tên lại. Một tiếng gầm rú nổi lên như có một con lốc quét qua đường hầm. Bây giờ con đường lăn đã chạy ngược trở lại và tất cả các mũi tên màu bạc cũng chỉ ngược lại ... Thế là anh đang lăn tới thành phố với tốc độ cao! Peter nằm bẹp xuống tấm băng và bị đưa đi nhanh tới mức anh cảm thấy như mình đang bay.

Anh không rõ thời gian trôi qua bao lâu. Anh mất cảm giác về thời gian. Chân anh cảm thấy nặng. Anh thở hồng hộc. Cuối cùng cũng tới đầu con đường lăn. Anh đứng trước một cánh cửa sập và một bức tường bêtông lớn màu xám. Anh đã biết cách sử dụng những tấm mắt kính trên bộ máy hô hấp. Anh quả quyết xoay mắt kính cho đến khi nhìn thấy hệ thống điều khiển. Anh bấm nút và bức tường bêtông mở ra: Anh đứng trước quảng trường chính của Thành phố trí nhớ số 5.


44 - HẠ CÁNH


Con tàu Nhân Loại vừa hạ cánh trên hành tinh lạ. July cảm thấy hơi chóng mặt, chân tay rã rời.

Lời hướng dẫn cuối cùng là giọng nói quen thuộc tới mức chán ngấy: Liên lạc vô tuyến sẽ chấm dứt. Bà phải chờ trong buồng lái đến khi có thông báo mới. Cấm không được mở cửa ra ngoài. Ra khỏi con tàu sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Trong quá trình hạ cánh, July thấy có ánh sáng màu tím hiện ra rồi biến mất. Từ lúc đó, con tàu đi trong một biển màu xám nâu. Qua cửa sổ con tàu không nhìn thấy gì hết. Nàng cố phát những đường viền của núi non hoặc thành phố nào đó, hoặc một khu vực có người ở hay một cái biển . Nhưng không thấy gì hết, chỉ có mây mù.

Trong các cuộc điện đàm những ngày trước, nàng liên tiếp đượ nghe lại giọng nói của Peter. Những lời Peter làm nàng yên tâm: "Chúng ta sắp sửa gặp lại nhau. Có lẽ anh sẽ không ra đón em được. Nhưng chúng mình sẽ gặp nhau ở Thủ đô" July cảm thấy sung sướng khi được nghe và nhận thức giọng nói của Peter. Nhưng không hiểu sao, sau mỗi lần điện đàm nàng cảm thấy một sự lo lắng không thể giải thích được: Giọng nói là giọng của Peter mà cũng không phải là giọng của Peter vì còn thiếu một cái gì đó trong lời nói. Thiếu một điều gì đó mà nàng không thể giải thích được. Có lẽ là thiếu sự trầm ấm. Đôi lúc nàng có cảm giác rằng không phải là đang nói chuyện với Peter của nàng. Mà là nàng đang nói chuyện với một, Peter - người máy. Rồi nàng tự an ủi. Thật nực cười! Chỉ tại do mình không yên tâm, lo lắng, rồi nghĩ quẩn. Hoặc giả đó là hậu quả của việc anh ấy bị chấn thương não? Hay là Peter đã thay đổi? Không biết người ta có làm gì anh ấy không? Hay là ... Không! Mình không thể hiểu được ...

Nhưng sau khi hạ cánh. July đã bợt lo lắng. Nàng tin là họ sẽ gặp nhau, sẽ trở lại con tàu vũ trụ, sẽ cùng bay trở về quê hương của họ: Trái đất thân yêu biết bao! ... Từ khi July hạ cánh, đã một tiếng rưỡi đồng hồ truôi qua. Bên ngoài con tàu là mây mù và lại là mây mù. Nàng cảm thấy mệt mỏi rã rời. Đầu nàng rũ dần ra phía trước. Nhưng nàng không được phép ngủ! Nếu ngủ sẽ không biết khi người ta đến. Họ sẽ tới trong một chiếc trực thăng hay một chiếc xe hơi? Họ có đánh tín hiệu ánh sáng không? ...

July có cưỡng lại giấc ngủ ... Sương mù và bóng tối, bên ngoài càng dày đặc hơn trước. Từ khi con tàu vũ trụ hạ cánh đã hơn mười tiếng đồng hồ trôi qua. Cái gì đã xảy ra? Có thể đoàn đại biểu tiếp đón có sự nhầm lẫn? Hay làng đã hạ cánh sai địa điểm? Có một thiếu sót nào đó đã xảy ra? Nàng bật điện đài phát đi tín hiệu.

- Đây Nhân Loại! Tôi đã chờ mười tiếng đồng hồ.

Không có tiếng đáp lại.

45 - LẠI TRỞ LẠI HANG ĐỘNG


Bao nhiêu thời gian đã trôi qua? Chúng đã phát hiện mình bỏ trốn chưa! Cái gì đã xảy ra với July?

Biết bao nhiêu câu hỏi không có lời đáp!

Peter rảo bước bượt nhanh trên các con đường vắng có những hàng cây và những bãi cỏ nhân tạo. Vượt qua Thành phố những người có trí nhớ, trong ánh sáng mờ nhạt của buổi chiều.

Lúc này anh hầu như đã kiệt sức. Chỉ còn nhờ có ý trí thúc đẩy, chân anh mới bước được. Hai chân anh cảm thấy đau. Khi thở thì thấy ngực đau. Trong giây lát, vì quen đường, Peter đã tới của hang vừa sáng vừa tối. Những người đàn ông, đàn bà trẻ em lại xúm quanh anh. Người họ xanh xao vàng vọt. Ôi! Họ hoàn toàn khác những người sống ở thành phố Oxy. Một chú bé quen nắm ngay lấy tay anh và reo lên:

- Em đã biết mà! Người của Trái Đất sẽ trở lại với chúng em mà! Chúng em vẫ chờ người! Em còn mơ thấy người nữa kia! Em biết rằng không ai ngăn cản được người vì người có sức mạnh.

ON và Ánh Dương tới đón Peter. Hia người không biết gì về ORO. Peter tới một chiếc bàn đá và bày tất cả mọi vật lên đó: các bản đồ, cuộn phim. Anh tặng họ cả các dụng cụ và cặp kiếng giải mã rồi giả thích vội vã:

Bức màn ION là cơ cấu ngăn cách Oxy với các khí ngột ngạt. Anh giải thích cả hệ thống đường hầm ... Thời gian cứ thế trôi qua. Lần đầu tiên, trên khuôn mặt xanh xao của mọi người ánh lên tia hy vọng. Họ đã biết được điều bí mật: Tại sao có tám tỷ động vật trong tình trạng bần cùng với hơi thở bị hạn chế. Tại sao có hàng triệu người phải sống với bộ não bị ức chế ... Và trước mắt họ đã có tấm bản đồ trong đó có vẽ các điểm bí mật, các chỗ mở cửa sập và lớn nhất là bí mật của đám may mù quanh quẩn dai dẳng mà thực ra có thể quét đi được.

- Peter! Chúng tôi xin bầu anh làm người dẫn dắt chúng tôi! Chúng ta sẽ thảo ra kế hoạch để mở tất cả các cửa sập ... Chúng tôi đã tìm được thêm nhiều người cùng quyết tâm.

- Tôi chúc các baqnj được nhiều may mắn và thắng lợi. Nhưng tôi phải đi đây!

- Anh đi à? Đi đâu? Chúng ta sẽ phá tất cả các hầm bẫy! Chúng ta sẽ thắng lợi.

- Tôi phải đi thôi các bạn ạ. Con tàu vũ trụ đã hạ cánh. Vợ tôi đang chờ trên con tàu.

- Tại sao bây giờ anh mới nói điều này? Chị ấy đâu? Chị ấy hạ cánh lúc nào?

Peter chỉ điểm BX3'4" trên bản đồ.

- Cô ấy đã hạ cánh ở đây, trước đây khoảng sáu tiếng đồng hồ.

Lúc này anh mới kể lại cho các bạn nghe, anh đã trốn khỏi thành phố Oxy như thế nào, đã thay thế phái viên của Thủ đo Oxy cử đi đón July như thế nào, đã đoạt được chiếc máy bay như thế nào.

- Thay vì lao thẳng đến con tàu vũ trụ với chị ấy, và lập tức trốn đi, anh đã ...

Bây giờ mợi người mới hiểu rõ Peter đã làm tất cả những điều này vì họ, vì anh không muốn họ chết dần chết mòn.

- Thế còn July, sao anh không tìm cách liên hệ với chị ấy?

- Các bạn cũng biết rằng, điều này không thể được. Mỗi cuộc điền đàm đều bị thu lại và xóa đi ở ven bức màn ION. Thôi! Chúc các bạn chiến đấu thắng lợi ... Còn bây giờ tôi sẽ tìm cách trở lại điẻm BX3'4". Các bạn có thấy đường hầm này trên bản đồ không? Nếu thôi qua đó đồng bên giọt là được gặp July.

- Bây giờ thì chậm mất rồi - ON nói - Vì chúng tôi sẽ cho phá các cạm bẫy ...

Một người khác nói:

- Người Trái Đất ạ. Bây giờ anh có trở lại cũng vô ích. Chắc chắn họ đã bắt giữu con tàu vũ trụ rồi ... Chân anh lại bị xây xát kìa, anh mệt rồi, anh phải nghỉ cái đã ...

- Tôi phải đi thôi các bạn ạ - Peter đáp - Nhưng tôi muốn nhờ các bạn đưa tôi tới đầu đường hầm vì nếu không có cặp kính giải mã tôi không thể đi lọt được.

Lập tức ON và hai thanh niên bước lên:

- Chúng tôi cùng đi với anh.

Ánh dương cầm tới trao cho anh một cành hoa nhỏ

- Anh hãy cầm lấy vật này, đây là một kỷ niệm của hang động. Nó sẽ mang lại may mắn cho anh chị.


46 - CHIẾC MÁY BAY TRỞ LẠI KHÔNG NGƯỜI


Bản kế hoạch và bản báo các được trình bày ở Hội đồng hành chính Trung tâm do chính Đầu To đích thân thảo ra.

Từ sân bay bí mật, chiếc máy bay kiểu AK phải xuất hát lúc 11 giờ 30, đến 11 giờ 38 nó vượt qua bức màn ION, 18 giờ 30 đến lòng chảo lớn. Hội đồng đã chọn Kỵ sĩ Không Ngoan để thực hiện nhiệm vụ này. từ Lòng chảo lớn. Khôn Ngoan sẽ đi theo các đường lăn và tới điểm BX3'4" lúc 20 giờ.

- Đúng nửa đêm sẽ tới điểm BX3'4". Tại đây hắn sẽ tiến hành các cuộc khảo nghiệm kỹ thuật cần thiết và chụp ảnh. Đến sáng hôm sau, khoảng tám, chín giờ phải cùng với July lên đường trở lại Lòng chảo lớn. Chuyến bay về được bố trí lúc 11 giờ 30 và họ hạ cánh lúc 18 giờ 30 tạ sân bay thành phố Oxy. Kỵ sĩ Khôn Ngoan chỉ được pháp tín hiệu vô tuyến trong trường hợp nguy hiểm. Nhưng làm gì có chuyện Kỵ sĩ gặp nguy hiểm được. Sự cố kỹ thuật ư? Đặt chương trình sai ư? Còn lại tất cả các điện đàm khác sẽ được Tấm Gương lớn chắn lại ở ranh giứoi khu vực A - B.

Trung Tâm đã quyết định, không đưa ngay July tới viên nghiên cứu sinh vật học mà cử Giám đốc Đầu To thân chỉnh a sân bay thành phố Oxy tiếp đón nàng. Đưa nàng tới ở một nơi tiên nghi và hơn nữa họ còn cho phép July gặp lại Peter. Cuộc gặp gỡ này sẽ là một cơ hội rất tốt để nghiên cứu tập quán của những sinh vật sống trên hành tinh mang tên Trái Đất. Phải tước tất cả các trang bị của July cũng như đã lấy của Peter Mac Gulliver. Sau khi quan sát đầy đủ, Hội đồng Hành chacnhs sẽ bắt đầu thẩm vấn hai người của Trái Đất. Đưa họ qua xét nghiệm và sau đó sẽ quyết định số phận sắp tới của họ. Đồng thơi lúc đó cũng có quyết định phải tiến hành nghiên cứu con tàu vũ trụ để nguyên hay tháo gỡ ra từng phần. Và quyết định việc nghiên cứu kiêm nghiệm đó được tiến hày ở Thành phố trí nhớ hay đưa cả con tàu vũ trụ đó lên thành phố Oxy. Việc thực hiện kế hoạch lúc đầu diễn ra rất tốt đẹp. Các thiết bị tự động của sân bay đã bó cáo: chiếc máy bay xuất phát đúng quy định. Sau đó nó đã vượt qua màn ION đúng thời gian. Kể cả con tàu vũ trụ cũng hạ cánh đúng điểm quy đinhk không hề sai lệch.

Các phiếu kiểm tra đã nằm trên bàn của Đầu To, chỉ có một sự kiện đáng ngạc nhiên duy nhất không có dự kiến trong chương trình xảy ra là một cuộc điện đàm: Đây Nhân Loại, đây Nhân Loại! Tôi đã chờ 10 tiếng đồng hồ!

Đầu To mỉm cười rộng lượng. Sinh vật cái của Trái Đất thật thiếu kiên nhẫn. Theo đúng kế hoạch thì chỉ một tiếng đồng hò nữa Kỵ sĩ Không Ngoan sẽ có mặt bên July. Tất nhiên là họ đã không trả lời tín hiệu của July. Theo các qui định hiện hành thì các điện dàm ở khu vực A được ghi lại, còn điện đam trong khu vực B bị đập xóa. Đoạn đó như sau:

" Những vị chủ nhân của hành tinh OXY nghe được tất cả nhưng không ai được phép nghe lại họ. Các thiết bị vô tuyến ở ranh giới bức màn ION đã thu được và ghi lại tất cả những cuộc điện đàm trên tất cả các làn sóng ở các vùng dưới dù là ở Thành phố trí nhớ hay Thành phố những người mang vòi, và báo cáo tiếp về TRUNG TÂM. Còn từ phía trên không không khi nào có một lời đáp. Nhiều lắm thì thành phố OXY chung chỉ đôi ba lầ phát những điện đàm ra phía ngoài, trong khoảng không vũ trụ. Con tàu vũ trụ NHÂN LOẠI cũng vậy, nó chỉ được phép nói chuyện với các ĐẤNG SÁNG TẠO cho tới khi nó hạ cánh. Vì vậy, July phát tín hiệu nhưng không có lời đáp - Trả lời là hoàn toàn im lặng"

Còn những tiếp nói. Những mệnh lệnh. Những tín hiệu bằng số mà thỉnh thoảng Peter nghe được với chiếc cará thu phát của mình là nững báo cáo của máy xử lý và những chỉ thị mà một đài phát của thành phố Oxy chuyển cho một đài khác. Còn những cái tai không có nhiệm vụ bên kia bức màn ION sẽ không bao giờ nghe thấy được.

Vậy 16 giờ 30 ngày hôm sau, chiếc máy bay phải trở lại nơi xuất phát, mang theo Kỵ sĩ Khôn Ngoan và sinh vật cái của Trái Đất.

Đúng kế hoạch, 17 giờ 30 Đầu To ngồi lên chiếc xe hơi lộng lẫy màu ánh bạc ra lệnh:

- Tới điểm Y - 4.

Trong vòng nửa giờ Chiếc xe đã tới quảng trường tráng lệ. Đầu To bước xuống lơ đãng nhìn các bụi hồng và các đài phun nước trên quảng trường. Trước cửa sân bay là chiếc xe màu anh đào của Kỵ sĩ Không Ngoan, cứ mở đang đậu chờ.

Đã quá 18 giờ 30 vài phút mà chưa có ai ra khỏi phòng đợi của sân bay. Đầu To quyết định ra sân bay đợi tiếp. Cánh cửa có lắp tế bào quang điện lại tự động mở ra và đóng vào.

Đầu To đi qua phòng đợi và nhìn quanh. Đáng lỹ những người mới đáp máy bay phải xuống tới đây rồi. Hắn khá ngạc nhiên vì ở thành phố Oxy hiếm xảy ra việc thực hiện không đúng kế hoạch thời gian.

Hắn chờ trong phòng chừng năm phút, rồi tiếp tục đi ra sân qua một chiếc cửa thứ hai và một cửa lớn cho tới khi bước tới rìa đường bay. Hắn thấy chiếc máy máy đậu trên con đường bêtông trước mặt.

Thật là khó hiểu. Tại sao họ không xuống nhỉ? Hay là sinh vật Trái Đất muốn chống cự? Không lý Kỵ sĩ Khôn Ngoan không đur liều thuốc ru ngủ? Hay là khi họ ở phía dưới có thể bị ngất đi vì không khí ô nhiễm quá độc? Đầu To chờ một phút nữa rồi bưới tới máy bay.

Cửa máy bay mở ra và chiếc thang nhỏ hạ xuống. Không một chút ngần ngừ, viên giám đóc leo lên các bậc thang và bước vào phòng hành khác. Hắn nhìn chung quanh: không một bóng người. Hắn định quay trở xuống nhưng cánh cửa sau lưng hắn đã đóng lại. Động cơ đã khởi động và máy bay lại cất cánh.

- Dừng lại! Mang tôi đi đâu? Dừng lại ... Quay trở lại ... Trở về ...

Viên giám đốc cáu kỉnh kêu lên:

- Ta ra lệnh rằng ....

Ôi! Thật là bực bội vì Đầu To suốt trong đời mình chưa lần nào gặp phải tình huống thất vọng như lần này. Chả là từ trước tới nay ở thành phố Oxy, từ khi hắn còn ít tuổi, tất cả các máy móc đều luôn luôn thực hiện mệnh lệnh của hắn một cách chính xác nhất. Hắn không nhớ ra chiếc máy bay này hoạt động theo chương trình của Trung Tâm và hắn bắt đầu gào thét, đấm vào thành máy bay, nổi khùng dọa nạt ...

Khi đã hơi trấn tĩnh được một chút thì Đầu To hối hả tìm dụng cụ, máy phát tín hiệu hoặc điện đài để nhờ đó mà kêu cứu vớ Trung Tâm hoặc bắt chiếc máy bay bất trị phải phục tùng. Nhưng chính hắn là nguwòi phải biết rõ nhất viẹc đi lại của chiếc máy bay này theo máy tính điện tử của Trung Tâm An Ninh cao nhất rằng người dùng nó không thể lôi nó ra khỏi đường bay đã định hoặc điều chỉnh đường bay, rằng khi đã qua bắc màn ION thì dù có điện đàm cũng không có tác dụng gì nữa.

Sau 7 giờ bay liên tục, chiếc máy bay hạ cánh. Đầu To ngồi im bất động trên ghế. Từ trước tới nay hăn chỉ nhìn qua cửa sổ mấy bay và chỉ thấy những đám may khi tới gần và đầy hươn thôi. Còn lúc này thì mây mù mùa sẫm và đe dọa đang lùa đám khi ngột ngạt qua cửa máy bay mới mở. Đầu To bắt đầu ho, nặng nhọc thở phì phì. Mặt dần chuyển sang màu xanh và ngất đi.

Sau thời gian quy định, cánh của tự động đóng lại và một chiéc bơm tự khởi dộng dọn các khí độc ra khỏi máy bay, thay vào đó thổi không khí nguyên chất giày Oxy vào trong khoang.

Đầu To vẫn nằm bất tỉnh một thời gian trong máy bay. Khi hắn tỉnh lại thì thấy ở phi trường thành phố Oxy. Hai người trai tráng là hai sĩ quan của đội cần vệ hoàng gia kéo hắn ra khỏi máy bay. Họ dìu hắn đi qua phòng đợi lớn vfa thông báo cho hắn biết là hắn phải trình diện lập tức trước Hội đồng Hoàng tộc.

47 - CHƯA PHẢI ĐÃ HẾT NGUY HIỂM


Peter, ON và hai chàng thanh niên người Thành phố trí nhớ tên là AT và GEN cùng nhau ra khỏi hang động đi vào thugn lũng sâu. Theo bản đồ thì ở đây có một hệ đường hầm có thể dẫn thẳng đến điểm BX3'4" là nơi hạ cánh của con tàu vũ trụ Nhân Loại. Nhưng thung lũng này bố trí thế nào, có một con đường lên ở đó không thì không thấy ghi rõ... Ngoài ra cũng không thể thấy được hệ thống đường hầm này còn được giữ lại từ thời nguyên thủy hay do các chủ nhân hiện tại của hành tinh Oxy mới xây dựng để sử dụng. Nhìn trên bản vẽ không thể hiểu đó là đường hầm thiên nhiên hay đường hầm nhân tạo.

Một bức tường đá thẳng đứng đang hiện ra ở đoạn cuối thung lung. ON thất vọng nhìn vào đáng sương mù cuồn cuộn che gần kín vách đá. Làm sao tìm được lối vào. Peter lắp cặp kính giải mã lên bộ máy hô hấp của ON. ON thấy rõ đường và ra dấu cho mọi người đi theo. Anh thấy thạt rõ những dấu hiệu, những mũi tên chỉ đường màu lục. tất cả đều hiện ra giống như con đường Peter đã đi qua, kể lại và ON đã hy vọng. Các ổ khóa, các bẫy điều khiển các bức tường đều ngoan ngoãn tuânt theo anh. Cánh cửa sập của hệ thống đường hầm bí mật tự mở ra. Ánh sáng chói chang của chiếc đèn pha lắp trên máy thở của ON soi đường. Họ lọt vào một đường hâm đang chuyển động. Mới ngày hôm qua, hay ngày hôm kia, hoặc là cách đây một trăm năm? Viên giám đốc Trung tâm hoạch định kinh tế đã chỉ cho Peter xem hệ thống đường ống này. Nhìn từ xa nó có vẻ như một tứ đồ chơi. Nhưng lúc này họ bước vào mới thấy đó quả là một mê cung rộng lớn tối tăm dễ sợ. Một hệ thôgns băng tải kết hợp với hệ thống chuyển động rào rào trong các con đường ngầm. Các hiện vật đã được gia công trong các cơ xưởng hình khố bằng bê tông từ cá Thành phố phục vụ liên tiếp tuôn trào tới đây và được chuyển tới một nơi nào đó. Một chiếc băng tải chờ toàn giầy và quần áo. Một băng tải khác chở vô vàn những hộp các tông màu xám cùng loại. Qua mùi ngửi được, Peter phát hiện thấy đó là thứ bột dùng để chế biến mốn cháo đặc mà anh từng được thưởng thức ở Thành phố những người mang vòi! Cặp kính giải mã giúp họ nhận ra các bảng chỉ dẫn. Một chiếc băng tải chở những bình chứa chất dính như keo tới điểm BX3'4". ON nói:

- Đáng tiếc là nó không chờ giày hay quần áo lao động về phía đó, nếu không chỉ việc ngồi lên thôi!

Peter nhắc:

- Mật mã số 6.

ON xoay kính theo chỉ dẫn và thấy rõ hệ thống điều khiển có thể sử dung trong từng trường hợp có nguy hiểm. Anh gạt cần điều khiển một băng tải chở quần áo để các Mũi tên xanh chỉ mục tiêu BX3'4".

Chiếc băng tải dừng lại, dồn ép đột ngột, có tiếng kêu lạch cạch sau đó chuyển động theo hướng yêu cầu.

- Tất cả trèo lên!

Họ ngồi lên những gói quần áo đang lao đi với tốc độ rất nhanh. ON quấnts các băng tải đang chạy ầm ầm bênt trên, bên dưới, bên cạnh họ và các dấu hiệu lóe sáng hai bên đường và các cột đỡ. Anh tháo kính và đưa cho Peter.

- Anh cầm mà xem!

Đến lượt Peter lại nhìn rõ tất cả.

Các luồng vận chuyển được sắp xếp và thay đổi hệt như cách bẻ ghi ở một nút đường sắt. Các ngọn đèn và các tín hiệu mùa bật lển ồi lại tắt. Có lẽ do sự can thiệp của bọn anh, các máy tính tự động ở các hệ này dang làm việc đổi hướng chạy và tự động đổi điện...

Có lẽ tất cả những đièu này đã được theo dõi bằng các thẻ kiểm tra và báo cáo len Trung Tâm ... Có lẽ giây lát họ sẽ tới một bức bêtông mới hay những cửa sập đóng kín mà hàng hà sa số những gói quần áo này không vượt qua đường, sẽ dồn lại cao như núi và sẽ đè lên họ. Peter đưa kính giải mã cho ON. ON nói:

- Tôi đã suy nghĩ. Bây giờ tôi biết chúng ta cần phải làm gì ...

Đột nhiên bọn anh rơi ra khỏi chiếc hang tối. Họ sa xuống một cái hố rất lớn. Bến dưới họ là cả ngàn gói quần áo, còn chiếc băng cứ chạy tiếp tục. May thay, tường vách của cái hố này có dáng hình phễu nên họ có thể leo lên được. ON nhìn trở lại và thấy rằng, phía trên chiếc phễu trút hàng này có một hẹ thống điều khiển. Tất nhiên hệ thống này cũng có thể chuyển đôi được như các hệ thống trướng...

Peter quay đầu nhìn quanh trong đám sương mù dày đặc. Anh nhìn thấy một điểm ánh bạc sáng lờ mở giữa làn mấy mù màu nâu đen: Đó là con tàu vũ trụ Nhân Loại. Họ đã tới các con tàu có vài trăm mét.

- Cúc các bạn luôn gặp những điều tốt lành để có thể bay thoát lên được - ON nói - Chúng tô cảm ơn người anh em về tất cả những gì anh đã làm cho hành tinh Oxy.

- Tôi cũng chúc các bạn tất cả mọi điều tốt lành để các bạn có thể tự giải phóng được. Và xin cảm ơn các bạn vè những điều đã giúp đỡ tôi.

Mọi người ănms chặt tay nhau trước khi từ biệt. ON và hai chàng trai tới miệng phễu tụi trở xuống. Anh lại điều khiển đổi chiều và chiếc băng tảy xếp đầy các gói quần áo lại phóng nguwòi trở lại.

- Nếu các cậu muốn, bây giờ các cậu có thể trở về hang độ - ON nói.

- Vây anh đi đâu bây giờ? - AT hỏi.

- Tôi sẽ đến đường hầm điều khiển bức màn ION.

- Nếu anh thấy chúng em có thể giúp được, chúng e sẽ cùng đi với anh.

- Nguy hiểm đến tính mạng chứ không phải chuyện chơi đâu.

- Dù chúng em về hang động thì cũng vẫn nguy hiểm đến tính mạng.

- Trong khi tôi tìm cách đầu ngược lại hệ thống điện thì cần phát tín hiệu kêu gọi Những người có trí nhớ sẵn sàng chiến đấu ...

Peter dò dẫm trên cánh đồng bằng phẳng giữa sương mù và bóng tối vĩnh cửu. Anh đã tới được con tàu Nhân Loại. Cùng lúc này trong hệ thống đường hầm dày đặc của hành tinh Oxy có ba người thanh niên sẵn sàng chết để đáu tranh giành quyền sống.

48 - CUỘC RÚT CHẠY


July đang mơ màng lúc ngủ lúc thức. Nàng mơ thấy mình đang nhận được tín hiệu vô tuyến rồi cô trông thấy Peter đứng trong phòng lái của con tàu. Nàng thức giấc hẳn và đây mới là sự thật: Nàng chỉ có một mình! Xung quanh con tàu là mây mù và bóng tối dày đặc. July quyết định tìm cách phát tín hiệu một lần nữa. có lẽ nàng đã hạ cánh trên hành tinh này và chờ đợi suốt một ngày. Từ lúc đó xung quanh nàng chỉ có im lặng và bóng tối.

Nàng áp mặt vào tấm kính buồng lái và cố gắng nhìn qua đám mây mù bồng bềnh. Đột nhiên nàng thấy một điểm trắng rồi nó biến thành một chùm sáng của một chiếc đèn pha yếu ớt. Nàng thấy như có một người đang tới gần, bước đi một cách khó nhọc. Người đó mang một bộ amý hô hấp và mặc một bộ quần áo đẹp tuyệt vời. Người đó dừng lại ra dấu hiệu bằng tay, một dấu hiệu hoàn toàn quen thuộc và dùng chiếc dèn phin quét xung quanh . Đó chính là Peter! Peter đi một mình ...!

July quên phứt lệnh cấm đã ban hành. Cô ấn vào nhiều chiếc nút, chiếc cửa thứ nhất rồi cửa khóa thứ hai, thứ ba lần lượt mở ra...

July bước ra bậc thang ... Nhưng chất khí cay xè và ngột ngạt đạp vào mặt và mắt nàng. Nàng thở khò khè rồi lảo đảo ... Hai cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng nàng lên và bế nàng vào trong con tàu ... Peter, Peter yêu dấu của nàng đây rồi. Anh đang giữ nàng trong hai cánh tay cứng rắn và thân yêu, Peter, Peter yên mến, anh đã tới rồi, còn những người khác đâu? Tai sao anh lai tới chậm thế? Peter, anh kể đi chứ! ...

Nhưng Peter không có thời gian để kể chuyện và giải thích dông dài. Những lời nói đầu tiên anh thốt lên là:

- Các tên lửa xuất phát có sẵn sàng khởi động được không em? Lập tức khởi động tên lửa! Nhanh lên em! Có lẽ chúng ta chỉ còn vừa đủ thời gian ...

Một tiếng rít nư xé vang lên. Con tàu vũ trụ chuyển động. Thâ con tàu Nhân Loại tách khỏi mặt đất và để lại đuôi lửa dài phía sau.

- July, em mến thương. Hãy tha lỗi cho anh vì anh đã tới chậm .. Anh cư lo chỉ vì anh mà em phải bỏ mạng.

- Peter anh thân yêu! Ah nói gì em không hiểu!

- Khoan đã em. Bây giờ chúng ta phải lo đi thoát đã ... may ra .. may ra thì ...

Peter tập trung chăm chú hoàn toàn vào các máy móc dụng cụ. Tốc độ bay của con tàu liên tục tăng đều. Không biết khi nào thì chúng phát hiện được sự trốn chạy của ta? Liệu chúng đã biết chưa? Chúng đã bắt đầu đuổi mình chưa? Cuộc să đuổi đã bắt đầu thì tầm xa của vũ khí tên lửa ở đâu là bao nhiêu? Con tàu vũ trụ Nhân Loại phải bay cách hành tinh bao xa mới thoát khỏi tầm bắn của tên lửa?

Máy đo độ cao lân lượt chỉ một trăm dặm ... ba trăm dặm ... tám trăm ... một ngàn ...

Các đám may mù và tấm màn tím biến mất từ lâu, kể cả bầu trời xanh trong và ánh sáng mặt trời ... Bây giờ bao quanh họ là bóng tôi lờ mờ, có những tia sáng từ xa. Họ đã thoát về với khoảng không vũ trụ.

- Bây giờ chúng không thể đuổi kịp ta được nữa, anh sẽ kể cho em nghe từ đầu đến cuối - Peter nói.

- Khoan đã anh ơi - July đáp - Anh hãy xem kìa, màu sắc của hành tinh Oxy đang biến đổi lạ quá. Màu tím đỏ biến mất. Các đám may khí sôi sục như đang xảy ra một cơn bão dữ dội dưới đó.

Cứ thế, con tàu vũ trụ Nhân loại nhẹ nhàng mang theo Peter và July rời xa hành tinh Oxy trở về với Trái Đất.


49 - THẨM VẤN TẠI HOÀNG CUNG


Tại Hoàng cung ở thành phố Oxy. Bình thường đấng Thiện vương XIII ít khi ngồi trên ngai báu ở cung đình nhiều lắm là trong các buổi lễ tiếp tân hoặc vào ngày Tết đầu năm. Lúc đó cả trăm gia đình cầm quyển đến chúc mừng Đức vua.

Lần này, công việc rất quan trọng. Thiện vương XIII đang ngồi trên ngai. Viên giám đốc Đầu To hoảng hốt khi được hai viên sĩ quan cận vệ báo cho biết hắn phải ra trước Hội đồng Hoàng tộc. Tham dự bưởi này, ngoài ra Thiên Vương XIII chỉ có Thái tử Recker và Thế tử Vocker. Buổi thẩm vấn diễn ra ngắn gọn.

Đầu To không thể thanh minh được tại sao hắn lại bước lên máy bay. Hăn phải biết là cửa máy bay được đóng mở theo thế bào quang điện chứ. Hắn còn phải biết là ngồi trên máy bay không thể thay đổi được đường bay nữa. Tại sao hắn không sử dụng ngay trang bị an ninh của sân bay để hạ lệnh báo động khi hắn thấy có sự sai lệnh trong việc thực hiện kế hoạch?

Đầu To không cãi được một lời. Theo cách đào tạo, hắn phải biết những điều này từ khi còn là một chú bé. Hắn sượng sùng cúi đầu lặng thinh.

Thiện Vương vẫy tay và Thái tử Recker đưa cho Đầu To xem bản báo cáo của Trạm kiểm soát Trung tâm.

Theo hoạch định, Đầu To phải đón July ở sân bay và đưa nàng đến nơi ở đã định. Quá thời hạn quy định đó 30 phút, khi Trung Tâm chưa nhận được báo cáo thực hiện, lập tức đã tìm kiếm họ trên vô tuyến. Đã không có hồi âm. Tổ kiểm tra đã tìm thấy chiếc xe của Kỵ sĩ Khôn Ngoan đậu trước sân bay bí mật theo đúng quy định. Bằng các phiếu kiểm tra của sân bay người ta đã xác định được rằng chiếc máy bay đã bay tơi Thành phố trí nhớ và trở về theo đúng kế hoạch. Các dụng cụ cũng xác định là trên máy bay có một hành khách. Lạp tức người ta đã tiến hành kiểm tra xem cơ cấu hóa cửa máy bay có gì hư hỏng không. Bởi vì đầu tiên người ta cho rằng trên máy bay phải cso hai người là Kỵ sĩ Khôn Ngoan và July thay vì chỉ có một trong hai người. Và lại cho rằng vì sự cố kỹ thuật nào đó, chiếc máy bay vừa tới nơi lại bay trở lại. Không thể giải thích được suốt thời gian ngồi trên máy bay Kỹ sị Khôn Ngoan không hề báo cáo hay trả lời khi nghe các chỉ thị. Trong khi máy bay đang ở trên không, đương nhiên người ta không thể thay đổi đường bay. Vì vậy họ phải chờ sau khi máy bay xuống tới Thành phố trí nhớ. Và từ đó họ đã ra lệnh cho nó lập tức bay trở về thành phố Oxy. Khi máy bay trở về thành phố đã có hai sĩ quan cận vệ đón sẵn ở sân bay và đưa ông Đầu To về đây. Còn Kỵ sĩ Khôn Ngoan và sinh vật giống cái của Trái Đất đã bặt vô âm tín.

Đầu To định biện bạch đôi lời thì báo cáo về tình huống mới lại vang lên:

- Trạm kiểm soát báo cáo: Peter Mac Gulliver, sinh vật giống đực của Trái Đất đã hai ngày nay chưa trở về lâu đài của Thái Tử. Chiếc xe hơi được giao cho hắn sử dụng riêng vẫn đậu bên Hồ Gương. Trong chiếc xe đã tìm thấy Kỵ sĩ Khôn Ngoan bất tỉnh, tay chân bị trói chặt. Peter Mac Gulliver đã biến mất không để lại một dấu vết.

Thiện Vương nghe báo cáo này, mặt tái đi. Nhưng tin tức xấu chưa dứt thì báo cáo nữa tới.

- Trạm kiểm soát Trung Tâm tại thành phố Oxy báo cáo: Hình con tàu vũ trụ Nhân Loại vừa biến mất khỏi màn hình kiểm tra trước đây một giây.

- Tại sao biến mất? Biến mất nghĩa là thế nào? - Thiện Vương VIII trợ mắt giận dữ hỏi.

- Theo dự đoán, nó đã xuất phát - Trung Tâm báo cáo.

- Làm thế nào mà nó cất cánh được? Đầu To kêu lên.

- Đó chính là điều muốn hỏi nhà ngươi - Thiện Vương XIII rít lên với giọng đe dọa.

- Tên lửa phòng không! Tại sao không dùng tên lửa phòng không bắn nó? Sao mọi người cứ ngồi yên bất động thế này? - Đầu To gào lên, quên bẵng đi mất tình thế bị cáo của hắn!

- Tên lửa phòng không của chúng ta đã làm việc - Trung vô tuyến báo cáo.

- Người biết rõ những luật lệ lớn của xã hội chúng ta. Đó chính là nhà ngươi, tên Đầu To - Thiện Vương phán - Ngươi cũng biết rằng một sự nhầm lẫn hay lơ là hoặc chống đối nhỏ nhất sẽ dẫn tới những hậu quả không thể lường trước được. Để điều khiển hệ thống máy tính điện tử hoàn chỉnh nhất của chúng ta, cũng cần có những bộ não hết sức hoàn thiện. Nếu không thì máy móc sẽ leo lên cổ chúng ta hoặc chỉ còn giá trị như sắt vụn; Đấng tiên đế vĩ đại Thiện Vương II đã nói như vậy.

Trẫm rất tiếc rằng nhà ngươi, Đầu To, đại diện cho một danh gia thế tộc, phải đi đến kết cục này. Để từ biệt, nhà ngươi được phép hôn tay trẫm.

- Sao lại từ biệt? Thần cúi xin bệ hạ ...

- Phải, trẫm sẽ thông báo cho gia quyến nhà ngươi biét quyết định bất di bất dịch này! Ta hy vọng rằng kh sống cùng với Những người mang vòi, ngươi sẽ tiếp tục phục vụ tổ quốc chúng ta tương ứng với khả năng của ngươi ...

- Thưa bệ hạ, sao bệ hạ có thể làm như thế được?

- Chúng ta có thể làm tất cả mọi điều Đầu To ạ. Và ta phải làm thôi. Đó là để bảo vệ cho quyền lợi của hành tinh Oxy - Thiện Vương XIII đáp và ra lệnh - Giải hắn đi.

Giữa cung đình mở ra một cửa sập và Đầu To rơi tụt xuống đó. Hắn có cảm giác được nhúng vào một bể thuốc ru ngủ. Không khí chung quanh ẩm ướt làm hắn chóng mặt. Xung quanh là bóng tối. Bóng tối dày đặc và hắn có cảm giác như đang tụt xuống một cái giếng sâu không đáy.

Trong triều đình còn lại ba người. Hai hoàng tử trợn mắt nhìn nhau.

- Đồ phản bộ! - Thế tử Vocker rít lên - Mày đã cho thằng người Trái Đất biết rằng con tàu vũ trụ sẽ hạ cánh. Mày đã để cho nó đi thoát!

- Sự thật không phải như vậy! - Thái tử Recker thanh minh - Thưa cha, cha đừng có tin lời nói của nó.

- Ta không tin lời em con nói đâu - Thiện Vương XIII nói - Vì ta biết con đã không tiết lộ những bí mật của chúng ta. Nhưng con đã làm những điều sai lầm trầm trọng có hại đến triều đình và do đó không còn xứng đáng là người nói dõi ngai vàng nữa. Con đã thể hiện tính yếu hèn.

- Nhưng thưa cha ...

- Con đã không tiết lộ với nó rằng con tàu vũ trụ đã hạ cánh. Nhưng nó biết được điều đó. Vì sao nó biết được? Nó đã nghe được những cuộc điện đàm của chúng ta. Vì sao nó hãy òn máy thu? Ta đã chỉ thị cho con là tịch thu tất cả trang thiết bị của nó mà? Và làm thế nào nó hiểu được tiếng nói của chúng ta?

- Con đã tịch thu của nó tất cả mọi đồ vật.

- Thế con đã cắt hết tóc của nó chưa? Có đã cho soi trong cơ thể của nó chưa? Chẳng lẽ nó đã nuốt máy thu? Con đã kiểm tra bộ não của nó chưa? Con đã làm tất cả việc đó chưa?

- Nhưng thưa cha, con đã xử theo lòng mến khách, theo tinh thần hào hiệp.

- Những kẻ yếu hèn không thể lên ngôi trị vì hành tinh Oxy này được!

- Con chỉ để cho hắn có mỗi một chiếc nhẫn cưới vì hắn rất tha thiết với vật ấy! Đó là kỷ vật của vợ hắn. Cha thử nghĩ xem. Cũng như không một thế lực nào trên hành tinh này có thể bắt con trao lại chiếc khăn kỷ vật mà vị hôn thê của con, Công Chúa Tóc Vàng đã tự tay thêu tặng con.

- Vị hôn thê nào? - Nhà vua hỏi - Con không có vị hôn thê nào hết.

- Thưa cha, nhưng lúc công chúa mới sinh, nàng đã được đính hôn với con ...

- Con nhầm rồi. Công chúa được đính hôn với người nối ngôi vua, với Thiện Vương XIV tương lai. Hay giờ thì người đó chính là em con, Hoàng tử Vocker.

- Thưa cha, xin cha rủ lòng khoan dung.

- Nếu là cha thì ta có lòng khoan dung. Nhưng là Vua của hành tinh Oxy thì không được phép khoan nhượng. Con tàu vũ trụ của Trái Đất đã phóng lên, nó đã vượt khỏi tầm bắn của các tên lửa của chúng ta. Vì sao? Vì con là người cao nhất điều hành các thiết bị an ninh của chúng ta. Con đã mê ngủ lâu quá nên hệ thống tên lửa phòng không của chúng ta chỉ có thể có hiệu lực được với các vật thể chuyển động đang đi vào hành tinh của chúng ta. Đáng lẽ con phải tính toán tới điều này từ lâu và đặt lại chương trình cho các tên lửa.

- Nhưng thưa cha, khi một cặp vợ chồng trên một con tàu vũ trụ nhỏ bé và tầm thường rời chúng ta để trở về hành tinh của họ thì có gì hệ trọng đối với hành tinh Oxy? Nếu ở một nơi rất xa trong hệ của một Mặt Trời khác người ta biết chút ít về chúng ta thì có gì hệ trọng? Hành tinh Oxy đâu có bị ai đe dọa ...

- Vậy mà chúng ta bị đe dọa đó. Khi một người có thể từ đây bay đi là chúng ta bị đe dọa. Chỉ cần một điều nhỏ tiết lộ ra ngoài là chúng ta bị đe dọa. Để vĩnh biệt, con trai của ta được phép hôn tay ta.

- Thưa cha, cha định đày con xuống dưới với Những người mang vòi sao? Đày cả con, Thái Tử nối ngôi của hành tinh Oxy?

- Theo luật của chúng ta, đấng trị vì Oxy luôn luôn có hai con trai "Thông thường con lớn lên nối ngôi, nếu nó xứng đáng với ngôi đó. Con nên nhớ rằng, ta cũng là con thứ hai của cha ta.

Tấm cửa sập ở trên hoàng cung lại tự mở ra. Thái Tử Recker rơi tụt xuống và ngất đi.

Hai giờ sau, một người máy chở Recker cùng với Đầu To ra sân bay bí mật để đưa họ tới Thành phố của những người mang vòi. Họ đã được mặc quần áo lao động màu xám và mang chiếc mặt nạ có vòi thở. Không ai nhận ra họ nữa và họ cũng không còn nhớ gì đến thành phố Oxy nữa.

Trong hoàng cung một cuộc hội nghị mới bắt đầu diễn ra. Dưới sự chủ tọa của nhà vua và Hoàng tử Vocker mới được phong làm Thái tử Vocker. Hội đồng An nih được bầu lại. Hội đồng nhận được chỉ thị lập tức tiến hành điều tra những tình tiết của vụ Peter Mac Gullive chạy trốn và kiểm tra lại tính năng kỹ thuật của đường bay bí mật. Tiến hành điều tra cấp tốc não đồ của tất cả Những người có trí nhớ và soát xét lại tất cả các sách giáo khoa. Tiếp đó, yêu cầu phải cải tạo trang bị rađa phòng không của hành tinh Oxy. Trước chỉ được dựt rù chống các vật thể từ khoảng không vũ trụ tới thì từ nay có thêm cơ cấu bảo vệ đối với bên trong. Khi một con tàu vũ trụ từ hành tinh Oxy bay ra được một lần thì rất có thể, điều này lại xảy ra một lần nữa ...

Nhà vua vui lòng chấp nhận những đề nghị cương quyết của Hoàng Tử Vocker. Ngoài ra hắn còn đề nghị thiết lập một hệ mật mã mới để mở và đóng các cửa sập và ...

Nhà vua bất chợt ngẩng đầu lên nhìn ra ngoài. Qua các ô kính pha lê rất lớn ở các cửa sổ, ông nhìn thấy những hiện tượng quang học khác thường. Hình như những bóng màu nâu đỏ chợt vươn lên.

Hoàng Tử Vacker cúi mình kính cẩn nói tiếp:

- Thưa hoàng phụ. Con vừa nói về một hệ mật mã mới ...

- Phải, - Nhà vua lơ đễnh đáp, mắt nhìn chằm chằm vào cửa sổ - Cho mở ngay các cửa sổ.

Các tấm kinh pha lên lớn từ từ mở ra.

Những người dự cuộc họp trố mắt nhìn ra ngoài: Phía trên các luống hoa và các cây cỏ của vườn thượng uyển có cái gì cuồn cuộn rất đáng sợ. Nó dâng từ phía chân trời xanh lên càng ngày càng gần và càng dày đặc. Đó là một đám mây màu nâu đỏ, đám may ngày càng lớn lên ghê gớm. Cây lá bắt đầu lào xào. Tiếng gió lui về dồn dập chạy qua khuôn viên.

- Thế này là thế nào? - Hoàng Tử Vacker ngạc nhiên kêu lên.

Trên khuôn mặt nhà vua hiện rã nỗi lo sợ khủng khiếp.


50 - VĨNH BIỆT


Trong khoảng không vũ trụ. Ở độ cao 3000 dặm phía trên hành tinh Oxy con tàu cấp cứu RA-1 đang chờ con tàu Nhân Loại.

Những chiếc tên lửa săn đuổi của hành tinh Oxy tụt lại sau họ qua sxa ở phía dưới. Phi hành đoàn con tàu RA-1 đã hoàn thành nhiệm vụ, nói loài từ biệt Nhân Loại và chúc chuyến bay về may mắn.

Qua điện đàm, nó cũng chào trạm Vũ trụ liên hành tinh Fortuna 710

- Cúc con tàu Nhân Loại nhiều may mắn!

- Chúc Trạm Vũ Trụ Fortuna 710 nhiều may mắn!

Peter và July nhìn xuống phía dưới. Hành tinh Oxy đáng sợ hiện chỉ còn là một quả cầu nhỏ đang ngày càng rời xa họ.

- Bây giờ, mọi việc đều tốt lành ... Thật may mà chúng ta trốn thoát được. Những điều vừa xảy ra với anh thật là khủng khiếp. Thật là có một không hai - Peter nói - Anh không biêt ... Anh không biết ...

- Anh không biết cái gì?

- Anh không biết rằng anh giúp họ tới đó đã đủ chưa .. Rằng anh đã giải thích tất cả rõ ràng chưa? Không biết họ có biết các sử dụng các bản đồ đúng lúc đúng việc không ... Anh còn phải kể cho em nghe nhiều nữa July ạ. Thật không thể tưởng tượng được rằng, ở nơi này lại có những sinh vật phải sống đọa đầy như vậy. Anh luôn muốn tin rằng vì tranh chấp quyền hành, người ta đã biến các đại dương thành các ao tù ô nhiễm đến mức chiếm đoạt Oxy của những người khác, đến mức đày đọa hàng tỷ con người phải mang vòi hô hấp. Anh muốn tin rằng đây chỉ là một cơn ác mộng. Em có thể tưởng tượng được kiểu lao động nô lệ cùng cực như vậy không? Ồ! Nếu như họ thành công được.

- Anh đừng nghĩ mãi về họ như thế Peter. Chúng ta là những con người từ Trái Đất chúng ta phải trở về nhà .. MỖI HÀNH TINH CHỈ CÓ THỂ TỰ MÌNH GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA MÌNH.

Lúc này, hành tinh Oxy màu tím đỏ ở chân trời chỉ còn lớn bằng một cái đĩa đựng súp.

Hành tinh đang phát ra những tia sáng, những chùm sáng lấp lánh. Peter thấy hình như đám mây màu tím đỏ chuyển động và vồng lên...

- Lạ lắm em ạ. Chúng ta đừng bay quá xa. Em hãy lái thêm một thời gian theo quỹ đạo elipse. Anh muốn xem điều gì đang xảy ra...

Peter và July cúi xuống bảng điều khiển và sửa đổi đường bay của con tàu. Con tàu bay quanh hành tinh Oxy với cự lai gần nhất là 30.000 dặm. Hai người nín tở quan sát hành tinh.

- Peter, anh cứ định bay vòng mãi như thế này hay sao?

- Không, không đâu em ạ. Chỉ một buổi nữa thôi.

Hai người thấy màu của lớp vở khí xung quanh hành tinh dần dần thay đổi. Có vẻ như một cơn bão cực mạnh đang hoành hành liên tục dưới đó. Đôi khi nó chớp lên ánh đỏ, khi thì ánh xanh rồi lại đỏ nâu rồi xanh rồi lại lúc sẫm lúc nhạt. Cái gì đang diễn ra ở hành tinh Oxy? Họ đã mở được các cửa sập chưa? Cái gì xảy ra với nhân loại Oxy.

Sáng ngày thứ tư đột nhiên họ thu được một bức điện không phải là từ trạm liên hành tinh Fortuna 710. Những lời phát lên bằng tiếng nói của hành tinh Oxy.

- Đây hành tinh Oxy ... Thành phố của những người có trí nhớ ... Những người bạn tốt gọi con tàu Vũ trụ Nhân loại.

- Đây Nhân Loại, Đây con tàu Nhân Loại.

- Cám ơn các bạn về tất cả mọi điều ... Cáp đập chắn được mở .. Chúng tôi đã làm chủ Trung Tâm Điện báo và các công trình quan trọng khác. Bức màn ION không còn tồn tại nữa. Chúng tôi đã có không khí trong lành.

- Đây Nhân Loại, đây con tàu Nhân Loại, chúng tôi rất vui mừng về thắng lợi của các bạn ... chúng tối chúc các bạn nhiều hạnh phúc. Chúng tôi sẽ không quên các bạn. Trời đất phù hộ cho các bạn ON ... Tôi sẽ luôn luôn ghi nhớ công ơn bạn ORO thân mế. Chúng tôi chúc các bạn nhiều hạnh phúc ... Các bạn hãy hít thở không khí tự do.

Bây giờ con tàu Nhân Loại bắt đầu tăng tốc rời xa hành tinh Oxy. Các tín hiệu vô tuyến ngày càng yếu. Một trạm phát sóng khác là trạm chuyển tiếp SORBONA-300 của Trái Đất phát sóng mạnh hơn đang gọi.

- Đây Sorbona ... đây Sorbona ...

- Đây Nhân Loại, mọi việc bình thường. Chúng tôi đang trên con đường bay trở về Trái Đất.

- Em còn quyên mất cái này - July nói.

- Quên cái gì? - Peter hỏi

- Trước khi ra khỏi con tàu hình như anh muốn uống nước chanh thì phải?

Peter cười vang. Hai người ôm chặt lấy nhau.

Con tàu tiếp tục bay về quê mẹ, về Tổ quốc và về với Trái Đất già cỗi thân yêu, với bầu trời trong xanh, với những mặt biển xanh rờn, về với các thành phố trắng như tuyết, nơi đó có biết bao nhiêu bông hoa đang nở rộ, nơi đó con người sống trong hòa bình và hạnh phúc, ở nơi mà mọi người tự do thở không khí trong lành.




END






Đã mang vào thư viên


Đăng nhập để trả lời
1
HAPPY NEW YEAR 2012 --- CẬP NHẬT THÊM 2 TRUYỆN MỚI SCAN XONG.
Đăng nhập để trả lời
0
Mình đăng ký đánh máy cuốn Người bay ARIEL của A.Beljaev.
Đăng nhập để trả lời
0
Ct.Ly ơi !!!
Bạn bablu đã đánh máy truyện "Hành tinh Oxygenien" rồi kìa, đưa vô thư viện đi bạn. THANKS
Đăng nhập để trả lời
0
ok, vậy CtLy mang vào nhé




Đăng nhập để trả lời
0
THANKS.
Bạn ơi còn Người bay & Thuyền trưởng tuổi 15 vẫn chưa ai đánh máy.
Đăng nhập để trả lời
0
có gửi pm cho duy_anh , chắc là duy_anh khg nhận được, nên ctly gửi ở đây nha
 
duy_anh làm ơn cho ctly xin tến tác giả và dịch giả  cuốn truyện "Hành tinh Oxygenien
 
cảm ơn duy_anh nhiều




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.07.2013 22:04:48 bởi Ct.Ly>
Gửi Ct.Ly [sm=----.gif]
http://de.wikipedia.org/wiki/Oxygenien
Tác giả: Klára Fehér
Dịch giả: Nguyễn Phú Hoành & Phạm Huy Hùng
Nhà xuất bản tổng hợp Sông Bé.
 
📎 oxygenien 1001
Đăng nhập để trả lời
0
Hành Tinh Oxygene - Klára Fehér
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn
bablu - bản scan: duy_anh đã góp sức cho thư viện
 

 
 
📎 thank you




Đăng nhập để trả lời
0
&gt;___&lt; lâu lâu mình ko vào. Có truyện gì trong này cần đánh máy ko???
Đăng nhập để trả lời
0
Sao chưa thấy Tô mếch và thủ lĩnh Tia Chớp Đen trong thư viện các bạn nhỉ?
Ngái ngôi chi mà em nỏ về?
Hay là vì quê anh nghèo đói
Hay em chê anh vụng về câu nói
Đất Thanh Chương nhút mặn chua cà
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.04.2017 23:50:24 bởi Ct.Ly>
bablu:

&gt;___&lt; lâu lâu mình ko vào. Có truyện gì trong này cần đánh máy ko???

 
Chào balu
 
Đã gửi cho bablu bản scan rồi, nhận được nhớ hồi âm cho mình nha.
Cảm ơn bạn nhiều
 
Thân ái




Đăng nhập để trả lời
0
Hi, bạn
 
Còn bài nào cho Ticonuong gõ không vậy. Email : nguyenkim_tien@yahoo.com.
Mong nhận hồi âm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.04.2017 12:52:52 bởi Ct.Ly>
Đã gửi cho Tí cô Nương 5 trang bản scan,

Phong Trào kháng chiến Trịnh Minh Thế - Nhị Lang
 
chiều nay sẻ gửi tiếp nha
Cảm ơn TCN nhiều
chúc vui




Đăng nhập để trả lời
0