Do không up được hình bìa lên, nên sau khi hoàn thành cuốn này, mình sẽ gửi file *.doc lên trên này.
TIỂU DẪN
I- Sử: Sử là truyện tích xưa, chỉ dẫn cội rễ một nước, một loại dân chép những sự tân hóa, những lúc hung vong, trị loạn, những thói tục, đạo đức cùng sự giao thiệp với ngoại bang. Lấy xưa mà sánh nay, lấy lành mà răn dữ, sử cũng là gương soi mình cho các đấng cầm quyền trị nước và nhân dân vậy: vua chúa xem lấy mà tu cang ký, nhân dân đọc lấy mà sửa lề gia.
II- Đời sơ nguyên: Sự văn minh hóa của một nước khởi từ khi bày ra chữ nghĩa, nhất là từ khi tìm đặng phép in sách vở mà lưu truyền đến sau. Có sách vở mới tri nguyên những sự tích xưa mới lập thành chánh sử được.
Phàm sử ký nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai đời phân biệt: đời thượng cổ - là đời u minh chưa có sử và đời chánh sử - là đời đã có chữ nghĩa văn minh. Những truyện xứ ta trong thời thượng cổ, từ nhà Hồng bang cho đến nội thuộc Trung nguyên thì chép y theo sử Tầu. Phần nhiều là những điều truyền khẩu, nhưng sự phi thường không đáng tin, vì không có đủ bằng cớ mà kê cứu. Nước Nam có chính sử là kể từ năm 111, trước Chúa giáng sinh, Tầu mới qua chiếm trị, bắt người Nam học chữ Nho, theo đạo nho.
III- Dòng giống người Annam: Người Annnam cũng thuộc một chi với người Tầu và người Nhật bản, gốc bên Tây tạng (Thibet) mà ra. Lúc ban sơ mới lìa chi thì lần qua phía Đông, nơi tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quảng đông bây giờ. Đụng người Trung nguyên không chống cự nổi, mới dồn xuống phía nam, nơi xứ Bắc kỳ, thì lại gặp dân bổn thổ: Lào, Lâm ấp, Chiêm thành (Ciampois), CHân lạp (Cambodgiens). Khi đó phải tranh phong với những dân ấy đã nhiều trận, đã lâu đời, mới lấy đặng nước chúng nó, rồi cũng có ăn chung lộn với nhau mà nối sanh ra, thì dòng giống người Nam lai lần đầu.
Đến sau hết từ đời Tây hán, vua Giếu võ đế nước Nam bị trung nguyên chế phục (111 trước chúa giáng sinh). Người Tầu mới sang qua mà lập nghiệp, kết bạn cùng đàn bà xứ ta mà sinh sản ra thì cái cốt cách nguyên sơ của người Nam lại đổi khác nữa, nhưng mà chưa có lạc mất.
III- Đạo của dân Annam: bên Trung nguyên từ đời Tam hoàng, Ngũ đế cho tới Hạ, Thượng, CHâu, chỉ lấy đạo Trời Đất làm gốc. Thiên tử thì tế Giao, tế Xã là tế TRời Đất; chư hâu tế Sơn Xuyên là tế thần núi song, công khanh tế thần Hậu thổ, thần Đất đai. Còn sĩ thứ tế tổ tiên ông bà qua vãng.
Đời Châu định vương (606 – 585) trước chúa giáng sinh, lão đa, xuất thế (604 – 500) bầy ra đạo đức kinh. Từ ấy mới có đạo Lão tử.
Đời Châu linh vương (571 – 544) trước chúa giáng sinh, đức Khổng tử (550 – 480) truyền đạo Nho, dạy cang thường luân lý.
Đến năm 207 trước công nguyên, nhằm đời Tây hán, vua Cao tổ đạo Phật bên xứ Thiên trúc đã sang qua Trung nguyên. Đời Tây Hán vua Hiếu minh đế (58 – 76) sau chúa giáng sinh, sai người qua thiên trúc mà rước thầy sãi và thỉnh kinh Phật.
Đạo Lão tử, đạo Nho, đạo Phật kêu là Tam giáo, dân Tầu cũng kính thờ hết cả ba.
Sử nước Nam, đời sơ nguyên chép rằng: nhà Hồng bang là dòng dõi Thần nông. Vậy thì lúc xưa ta cũng giữ đạo thời Trời đất và ông bà. Sau nước nam bị Trung quốc chiếm trị, thì người Nam cũng theo Tam giáo như người Tầu vậy, duy lấy sự phụng tự nhiên làm gốc.
V- Sử nước nam: nước Nam có quốc sử kể từ đời Trần Thánh Tông (1258 – 1279). Ông Lê Văn Hưu phụng lệnh soạn thành bộ Đại việt sử ký, khởi từ Triệu võ Vương cho đến Lý Chiêu Hoàng thì dứt. Sau mới chép với tới Hồng bàng thị.
Phép lu sử thì dẫn những việc các dòng vua trước chớ không nói về dòng vua đương trị vì nhà sử quản biên những điều đại khái các đời vua ấy mà để có nơi, qua họ khác lên cầm quyền thì mới lấy ra mà viết nối theo, lần lần như vậy mới tư thành quốc sử.
Sử Nam cũng như sử Tầu còn sơ lược, chỉ chép giặc giã nhắc chuyện nhà vua, còn sự văn minh lấn hóa, việc nông cơ, kỹ nghệ, đạo đức, cách ăn thói ở của dân và đều quí trọng hơn hết là sự học hành thì phớt qua mà thôi, cũng có khi không nói đến. Muốn hiểu rõ sự tích nước mình thì phải xem mấy pho sử của người Lãng sa soạn ra, ngặt phần nhiều dân Nam không thong chữ Pháp.
Bổn sử tôi soạn ra đây dẫn giải tuy là đại lược nhưng mà do theo chương trình mới về bậc Sơ học thì cũng đủ cho con nhà Nam đọc lấy cho rõ cội nguồn rễ xứ mình. Những sự tích đem vào sách nầy, nhất là từ nhà Nguyễn tới sau, đã có tra sát trước trong mấy quyển sử chữ Tây.
Sau rốt tôi có đính them bản kể các đời vua Annam, đối với các đời vua Tầu và Lãng sa, từ sơ nguyên cho đến bây giờ, trước là để phụ ích cho sách nầy, sau nữa là giúp kẻ nào hay nghiệm xưa nay khỏi nhọc công tìm them.
Vĩnh hội – Aoril 1919
NGUYỄN VĂN MAI
NAM VIỆT LƯỢC SỬ
Chương I
Đời sơ nguyên tới năm 968 (sau giáng sinh).
I Nhà Hồng bàng
20 đời vua, trị 2647 năm (2874 – 257, trước giáng sinh)
1- Kinh Dương Vương: vua này là con vua Đế minh, chắt vua Thần nông bên Trung quốc, lên ngôi năm 2874, đặt niên hiệu là Kinh Dương Vương. Nước Nam khi ấy kêu là Xích Qùi, phía Bắc giáp tỉnh QUảng tây, phía Đông giáp Nam hải, phía Tây giáp nước Thục (tỉnh Cao bằng), phía Nam giáp xứ Chiêm thành (Ciampa)
2- Lạc Long Quân: con vua Kinh dương Vương tên là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền ngôi lại cho con trưởng nam là Hùng vương thứ nhất. Kể từ đây những kế vị đều lấy hiệu Hùng vương cho đến đời Hùng vương thứ 18 (257) trước giáng sinh thì mất nước.
3- Hùng vương thứ nhất: Vua này cải tên nước lại là Văn lang, chia làm 15 quận:
- Văn lang (đế đô)
- Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định)
- Châu dễn (Sơn tây)
- Võ ninh (Bắc ninh)
- Phước lộc (Sơn tây)
- Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
- Ninh hải (Quảng yên)
- Dương tuyên (Hải dương)
- Lục hải (Lạng sơn)
- Võ định (Thái nguyên, Cao bằng)
- Hoài hoan (Nghệ an, Hà tĩnh)
- Bình giao….
- Tân hung (Hưng hóa, Tuyên quang)
- Cử đức
Sự giao tiệp với nước Tầu
Năm 110 trước giáng sinh, bên Tầu nhằm vua Thành vương, chà Châu, vua Annam sai sứ qua cống bạch trĩ. Lúc trở về ông Châu công Đáng là chú vua, sợ sứ đi lạc đường, bèn dạy đóng một cỗ xa, có để cái địa bàn chỉ hướng nam cho sứ.
Sự giao thiệp và tận cống với nước Tầu là kể từ đời này.
Tích vẽ mình
Đời Hùng vương thứ nhất bày ra thủ tục vẽ mình là vì dân sự đi làm nghề chai lưới, thướng bị những loài thủy tộc phá hoại. Vẽ mình ra có rắn rực, thì rắn rít, sâu, cá, tưởng là đồng loại với nó mà không động đến.
Tục vẽ mình xâm mình đến nay hãy còn nơi các mán mọi, như Mường, ở Tonkin, Kha, ở Lào.
Cũng như đời vua Hùng vương này bầy ra đóng ghe có vẽ con mắt hình như cá.
Tích bão lụt xứ Bắc
Vua Hùng vương thứ 18 có một đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Vua nhà Thục đã nghe phen cậy người đi nói cho thái tử, mà vua Hùng vương không chịu gả. Ngày kia có hai người trai tới xin làm rể. Vua phán rằng: trẫm vốn có một đứa con, không lẽ đưa cho hai người. Như rạng sáng mai ai đem sính lễ tới đủ thì trẫm sẽ gả cho.
Sơn tinh đến trước, cưới được công chúa, đem lên núi Tản viên (Tonkin). Thủy tinh chậm bước hụt vợ, nên oán hận, làm dông gió bão lụt đặng hại Sơn tinh, mà không làm chi nổi.
Bởi vậy, hễ khi nào có bão lụt, thì những người hay tin dị đoan thường nói rằng lại là sự cừu ấy mà ra.
Hùng vương thứ 18: Vua này hoang dâm vô độ, không lo việc quốc chính, lại gây họa cho nước nhà, là vì không khứng gả công chúa cho tháu tử nước Thục. Vua nước Thục, tên Phán dấy binh đánh gấp, vua Hùng vương tính bề cự không nổi, bèn tự vẫn mà chết, hết đời Hồng bàng, truyền qua đời Thục.
II. Nhà Thục
1 đời vua, trị n50 năm (257 -207) trước giáng sinh.
Cháu nội vua nước Thục, tên là Phán, lấy đặng nước Văn lang của HÙng vương, bèn sát nhập với nước mình là Âu lạc, kêu là Âu việt, lên ngôi xưng là An dương Vương , trị đặng 50 năm. Vua này không có con trai, có một người con gái gả cho con Triệu Đà. Sau bị triệu đà dụng quỉ kế lấy đặng nước dựng nên nhà Triệu.
Nguyên nước Âu việt ở giáp cương giới với nước Tầu, có nhiều thứ thổ sản quí lạ, nên ghe phen Trung quốc muốn chiếm đoạt. Tần thủy Hoàng (246 – 209) trước giáng sinh, sai hai tướng Nhâm Ngao và Triệu đà qua đánh Âu việt. Đánh đã lâu mà lấy khong được. Kế Tần Thủy Hoàng băng, Nhâm Ngao qua đời còn một mình Triệu đà cô thế, cứ giữ xứ Lãnh nam (phía bắc nước Âu việt)
Triệu đà thứa lúc loạn Trung nguyên , nhà Tần mất, tính lập một cõi riêng, bèn giao lân cùng vua An Dương Vương cưới công chúa cho con. Sau đặng binh ròng tướng mạnh, trở lại đánh vua An dương Vương mà lấy nước, lập nên đời nhà Triệu.
III. Nhà Triệu.
5 đời vua trị 96 năm (207 – 111) trước giáng sinh.
1- Triệu võ đế (207 – 136) Triệu Đà lấy đặng nước Âu việt, sát nhập với nước mình, kêu là Việt nam, rồi lên làm vua hiệu là Triệu võ đế, đóng đo tại Phiên ngu (tỉnh Quảng đông). Lúc này bên Trung quốc, Lưu Bang diệt Hạng Võ lập nên dời Tây Hán.
Hán cao tổ sai Lục Giả qua Việt nam phong tước cho Triệu Đà. Từ khi ấy nước Nam cứ giữ đạo chư hầy, thường năm dâng cống cho nhà Hán.
Hán cao tổ băng (194), Lữ Hậu phế Huệ đế lên tiếm ngôi, bèn cầm người Trung quốc không cho bán đồ khí cị cho Annam. Triệu võ đế giận cử binh đánh lấy nước Trường sa, là nước chư hầu của Trung quốc rồi xưng đế như vua Trung nguyên vậy.
Lữ hậu mất Hiếu văn đế lên ngôi, sai Lục Giả qua giải hòa với Triệu Đà. Từ đấy nước Nam qui phục lại nước Tầu như xưa.
2- Triệu văn vương (136 – 121) Hồ lên ngôi xưng là Triệu văn vương. Vua này tính không ưa giặc giã. Lúc người trị vì, có nước Mân việt là nuowc chư hầu của Trung quốc, qua xâm phạm cõi Nam. Vua sai sứ đi viện binh nhà Hán dẹp đặng giặc rồi cho con trưởng nam là Anh tế qua ở làm con tin triều Hán.
3- Triệu minh vương (124 – 113) Anh Tề lên ngôi, xưng hiệu là Triệu minh vương, trị nước được 11 năm. Lúc Anh Tề qua làm con tin bên nhà Hán, thì có cưới một người vợ Trung nguyên tên là Cù thị, sanh đặng một đứa con trai kêu là Hưng. Anh Tề phong Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làn thái tử, phế con của người vợ Annam khi trước là cho đình thần bất bình.
4- Triệu ai vương (113 – 111) Hưng lên nối nghiệp cha, xưng hiệu là Triệu ai vương ở ngôi đặng ít năm, kế nhà Hán sai sứ qua đòi vua và mẹ con hầu ngự giá, thì trong nước bọn đình thần có ông Lữ gia nới rằng: vua và hoàng thái hậu âm mưu mãi quốc, bèn khiến dân dậy lên bặt giết cả hai người rồi tôn cong người vợ Annam lên ngôi, hiệu là Thuật dương vương.
5- Thuật Dương vương (111) vua này ở ngôi chưa đầy một năm, kế bên triều Hán, vua Hiếu võ đế cử binh qua lấy nước mà sát nhập về Trung nguyên.
IV. Thuộc Trung nguyên lần thứ nhất
Năm 150 – 111 trước giáng sinh – 39 sau giáng sinh
Năm 1 Chúa giáng sinh, nhằm đời Hiếu ai đế (Tây hán_ kể từ đây về sau là đời Thiên chúa.
Triều Tây hán sai quan Tầu qua cai trị chia nước Nam là 9 quận:
- Nam Hải (Quảng đông)
- Thương ngô (Quảng tây)
- Uất lâm (Quảng tây)
- Hiệp phò (Quảng đông)
- Giao chỉ (Quảng tây)
- Cửu chân (Quảng tây)
- Nhựt nam (Tonkin)
- Châu nhai (Cù lao, Hải nam)
- Thiên nhĩ (Cù là gần Hải nam)
Trong bọn quan Tầu qua cai trị nước Nam có 2 người: Tích quang và Nhâm Diên hay lo lắng cho dân. Tích Quang thì dậy dân học chữ nghĩa cùng đạo lý đức Khổng tử, Nhâm Diên dậy dân vỡ đất làm ruộng, tròng dâu nuôi tằm. Còn những quan khác hay tham ô, làm nhiều điều khắc bạc, nên thường gây ra loạn lạc.
Năm 39 sau công nguyên, nơi quận Giao chỉ có một người đàn bà tên là Trưng trắc khiến dân dấy lên, bắt thái thú Tô Định giết đi mà báo cừu cho chồng, rồi thâu cả nước Bam lên là vua được 3 năm.
V. Trưng nữ vương (39 – 42)
Trưng Trặc lên ngôi đặng vài năm, kế bên Trung nguyên, triều Đông Hán, vua Quan Võ sai Mã Viện qua bình phục Giao chỉ. Ban đầu đanh nhau cầm cự, chưa biết hơn thua. Sau binh Giao chỉ vẫn không thiện nghệ chinh chiến, bèn đỏ lần hết, Trứng Trắc và em là Trưng Nhị thế cùng nên phải tự vẫn cho khỏi bị nhục.
Mã Viện bình Giao chỉ rồi, truyền đúc một cây trụ đồng, trồng tại Khâm châu có khắ: Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt (Đồng trụ ngã, dân Giao chỉ dứt.)
Từ đây nước Nam phải sát nhập về Trung nguyên lầ thứ hai.
VI. Thuộc trung nguyên lần thứ hai
144 năm (42 – 186)
Sĩ vương 186 – 226 Lúc này bên Trung nguyên nhà Đông Hán dứt, qua Tam quốc phân tranh. Sĩ nhiếp dùng dịp loạn xưng vương, hiệu là Sĩ vương, trị nước được 40 năm. Nguyên Sĩ nhiếp là người Trung quốc mà tiên nhân sang ở nước Nam lâu đời, nên đã thành người Nam.
Sĩ Nhiếp lên ngôi xưng hiệu là Sĩ vương, khai trường dậy chữ nho, dậy phong hóa Trung quốc. Đời vua này có nhiều người hay chữ không kém cho người Trung nguyên. Sĩ nhiếp băng, Đông ngô sai tướng là Lữ Đại qua dụ em Sĩ Nhiếp là SĨ Huy thần phục nhà Ngô rồi thừa thế mà giết đi. Nước Nam bị sát nhập về Trung nguyên lần thứ 3.
VII. Thuộc về Trung nguyên lần thứ ba
314 năm (226 – 540)
Từ năm 226 tới 540 nước Nam bị nhà Hậu Hán Ngô, Ngụy (Tam quốc) Tấn Tống Tề Lương kiềm chế 314 năm.
Những quan Trung gnuyeen qua cai trị cõi Nam trong mấy đời ấy thì cũng như cá quan đời trước ít người nhân hậu, nhiều tay tàn bạo. Thuở ấy có xứ Lâm ấp, sau kêu là Chiêm thành (Ciampa) ở phía nam hay đến đánh phá nước Nam. Đã bao phen bị thua, bị giết mà không chừa tinh hung hăng. Qua đến đời chứa Hiền vương (1649 – 1685) nhà Nguyễn mới trừ tuyệt.
Nước Nam lúc nầy về nhà Lương chế trị. Quan thái thú Tiêu tư là nhiều điều độc ác, khiến long dân oán hận. Lý Bôn thừa cơ hội cầm binh đánh đuổi quân Trung nguyên rồi lên ngôi hiệu là Lý Nam đế.
VIII. Nhà tiền Lý
2 đời vua, trị 58 năm (544 – 602)
1- Lý nam đế: 544 0 548 , bốn năm. Lý Bôn vốn là người Trung nguyên, nhân lúc loạn Tây Hán. Vương Mãng soán ngôi vua Hiếu bình, qua ở ngụ tại Giao châu lâu đời, nên đã thành người Nam.
Lý Bôn lên ngồi xưng là Lý Nam Đế trị được 4 năm, kế bên Trung nguyên, nhà Lương sai Trần bá Tiến qua đánh Nam việt, Lý Nam Đế yếu thế bèn giao quyền cho tướng quân Triệu Quang Phục, cách ít năm thọ bệnh mà băng.
2- Triệu Việt Vương 549 – 570, 24 năm. Triệu Quang Phục cầm binh đánh với quân Tầu đã lâu. Sau binh Trần bá Tiên đổ lần, rồi rút về Trung nguyên hết. Triệu Quang Phục lên ngôi hiệu là Triệu việt vương, trị được 21 năm rồi truyền lại cho Lý phật Tử, là dòng dõi tôn thất nhà Lý.
3- Lý Phật Tử, 570 502, 32 năm. Lúc này Trung gnuyeen nhắm nhà nhà Tùy. Tùy dương Kiên sai Lưu Phương sang đánh Nam Việt. Lý Phật Tử sợ, bèn xin qui hàng. Từ đây nước nam bị Trung nguyên kiềm chế lần thứ 4.
IX. Thuộc trung nguyên lần thứ 4.
Từ năm 603 – 939 bên Trung nguyên nhằm đời Tùy, Đường, Ngũ đại.
Vua nha Tùy nghe nói bên cõi Nam, nơi xứ Lâm ấp có nhiều vật quí lạ, nên sai Lưu Phương qua một lần nữa mà cướp phá, vua Lâm ấp là Phạm phàn Chi chống cự không nổi, quâ trung nguyên đoạt được kinh thành Lâm ấp, cướp giật của cải, còn Lưu Phương thì lấy vang ngọc rất nhiều. Nhưng mà lúc trở về, binh chết hết ba phần, Lưu Phương cũng bỏ mình.
Nhà Tùy mất (617), nhà Đường dấy (618) vua Đường cảo tổ cải nước Nam việt lại thành Annam đô hộ phủ, chia làm 13 châu.
Nước Annam khi ấy, kể từ Bắc kỳ cho tới tỉnh Quảng nam. Trên phía Tây bắc là nước nam chiều (tỉnh Vân nam) phía Tây là nước Lào, phía Nam là nước Chân lạp (Cao man) còn nước Lâm ấp (Chiêm thành) ở từ quận Nhật nam cho tới ranh chơn lạp.
Nhà Đường cai trị nước Nam. Đường cao tổ lên ngôi Trung nguyên năm 618. Việc cai trị xứ Annam lúc bấy giờ cũng như các đời vua trước: trên hết thị đặt một quan Thứ sử, gồm hay cả xứ thuộc địa, dưới thì mỗi châu có một thái thú cai trị. Những viên quan phần nhiều là người Tầu, tính tham lam độc ác lại quá hơn khi trước.
Dân An Nam bị sưu cao thuế nặng đã ghe phen muốn khởi loạn, mà không thành sự. Có quan thái thú Lý Trắc làm khổ các mán mọi, nên gây họa., Các mán mọi hiệp với nước Nam chiếu tới cướp phá đuổi người Tầu, thâu được nước Nam. Sau nhà Đường sai Cao Biền bình định trong 10 năm mới yên. Cách ít lâu binh Nam chiều kéo đến một lần nữa. Nhà Đường dụng kế đưa công chúa cho vua Nam chiếu. Vua Nam chiếu ngờ là thiệt, bèn sai ba viên danh tướng đi đón rước, thì cả ba điều bị thuốc độc mà thác, từ ấy nước Nam mới yên đặng một khoản.
Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ: Nhà Đường suy, sang đời Ngũ đại (907 – 957), là hậu Lương, hậu Đường, hầu Tấn, hậu Hán, Hậu châu.
Nhà hậu Lương phong Lưu Ấn làm Nam bình vương, đóng đo tại Phiên ngu, phong Khúc Hạo là Thái thú Giao châu (An nam).
Lưu Ấn qua đời , em là Lưu Nghiêm lên thế vị xưng là hoàng đế Nam hán (917)
Khúc Hạo mất, em là Khúc Thừa Mỹ vâng mạng vua hậu Luong, gồm trị cả 12 châu xứ Nam. Cách ít lâu vua Nam Hán khởi binh đánh bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ cầm binh đuổi quân Nam hán, rồi lại bị Kiều công Tiện là tướng của mình âm mưu giết đi.
Khi ấy có Ngô Quyền, gốc là người An Nam cũng là tướng của Dương Đình Nghệ ra chống cự, thắng được Kiều Công |Tiện, sau lập nên nhà tiền Ngô, làm vua được 5 đời trị được 30 năm.
X. Nhà tiền Ngô
5 đời vua, trị 30 năm 939 – 968
Ngô Quyền làm vua được 5 năm 939 - 941 thì băng, truyền ngôi lại cho con là Xương Ngập, khi ấy còn nhỏ. Dương Tam Ca là cầu lên làm phụ chánh, rồi dùng dịp mà đoạt ngộ, xưng Bình vương 945 – 949. Sau bị Xương Văn là con thứ Ngô Quyền giành lại à cai trị, rồi truyền cho Xương Xí.
Lúc này nước An Nam chia làm 12 châu, mỗi châu có một sứ quân, mỗi sứ quân thì xưng vương một cõi, mạnh lẫn yếu, loạn lạc cả năm. Hậu Ngô vương là Xương Xí cũng trấn một quận, không làm gì nổi mấy sứ quân khác, tuy là khỏi làm tôi mọi Trung nguyên, chứ người Nam chưa dựng được nền độc lập. Sau đó có một người họ Đinh dáy lên dẹp 12 sứ quân, lập nên đời chính thống.
CHƯƠNG II
Đời chính thống.
I. Nhà Đinh
2 đời vua trị được 13 năm 968 – 981
1. Đinh Tiên Hoàng: 968 – 980, 12 năm. Người dẹp yên 12 sứ quân ấy là Đinh Bộ Lĩnh, quê ở Hoa lư ( tỉnh Ninh Bình), vố là con của Đinh Công Trứ, làm thái thú châu Hoan khi trước. Cha mẹ mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh ở làm thỉ hạ với sứ quân Trần minh Công quận Bố chính. Trần minh CÔng qua đời, Đinh Bộ Lĩnh bèn chiêu tụ anh hùng, rồi cử binh đánh đuổi các sứ quân.
Năm 968, người lên ngôi xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cải nước Nam là Đại Cồ Việt. Phong cho Lê Hoàn là tôi công thần làm chức Thập đạo tướng quân. Vua này bề luật rất nghiêm, trước sân chầu có để vạc dầu sôi, có nhốt thú dữ, mà răn dân sự cho chúng nó bỏ thói hung hăng theo đời 12 sứ quân. Vua lại tu chỉnh việc binh nhung, phân ra có đội ngũ giao cho Lê Hoàn quán thống. Năm 980 vua bị tên Đỗ Thích giết, đình thần tôn con thứ của vua tên là Triều lên Kế vị.
2. Phế đế 980 -981. 1năm. Triều lên ngôi hiệu là Phế đế, khi ấy mới có sáu tuổi. Quyền nhiếp chính về tay Lê Hoàn, oai thế lẫy lừng, vì có tư thông với bà Dương Thái Hậu là vợ vua Đinh Tiên Hoàng. Trong bọn đình thần có người bất bình, toan mưu hại Lê Hoàn. Lê Hoàn hay được bèn bắt mà giết đi. Lúc này Trung nguyên cử binh qua đánh nước Nam. Quan sĩ hòng ra trận, thì có người nói rằng: vua còn thơ ấu, lấy ai mà thưởng phạt cho minh. Chi bằng ta tôn Thập đạo tướng quân lên rồi sẽ đánh không muộn chi. Nói vừa dứt lời cả triều đều tung hô, phò Lê Hoàn lên ngôi, lập nên nhà tiền Lê.
Từ Đinh Tiên Hoàng 968 cho đến năm 1278, bên Trung nguyên nhắm đời Bắc Tống (Triệu Khuông Dẫn)
II. Nhà tiền Lê
3 đời vua trị 28 năm 981 – 1010
1. Lê Đại Hành, 981 – 1006, 25 năm. Lê Hoàn tức vị, xưng Lê Đại Hành. Các quan triều bái vừa xong, vua ra trận đánh thắng, hai tướng Trung nguyên bị bắt triệu về kinh. Sau có sứ triều Tống qua giao hòa, vua dạy trả lại.
Khi ấy xyws Chiêm thành vì phép, bắt cầm sứ An Nam, vua Lê Đại Hành kéo binh đánh phá tan hoang, đốt kinh đo, chùa miếu, lấy của cải rất nhiều.
Lê Đại Hành băng hà năm 1006, di chúc lập con thứ là Long Việt.
2. Lê Trung Tông: 1006. Long Việt lên ngôi hiệu là Lê Trung Tong, làm vua mới được 3 ngày bị em là Lê Long Đĩnh thi đi mà giành quyền.
3. Lê ngọa triều, 1006 – 1010, 4 năm. Vua này tính độc ác, ưa xem những sự dữ tơn. Vua dạy bắt tội nhân, lấy rơm tẩm dầu rồi đốt cháy mà coi chơi. Có khi lại bắt thầy sãi (nhà sư) quì xuống, để mía lên đầu mà róc, giả đò sẩy tay nhầm, chảy máu ta lênh láng. Sử đặt tên vua này là Ngọa triều, vì tính hay dâm dục, nên mang bệnh, hệ mỗi khi lâm triều thì nằm. Lê ngọa triều băng, để lại một đứa con trai còn nhỏ, sau bị Lý Công Uẩn là tôi quyền thần phế đi mà lập nên đời hậu Lý.
III. Nhà hậu Lý
IV. 9 đời vua, trị 215 năm (1010 – 1225)
1. Lý Thái Tổ: 1010 – 1028, 18 năm. Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, đóng đo tại Đại la, sau cải lại là Thăng Long (Hà Nội), ấy là đế đô nhà hậu Lý tới nhà hậu Lê.
Đời này thật thái bính, dân no đủ, vua tu tạo đền đài, sửa sang đế đô lại nên rất xinh đẹp. Triều nhà Tống (Chân Tông, 998 – 1023) sai sứ qua phong cho Lý Công Uẩn là Giao chỉ quận vương.
Vua trưng các sắc thuế, lập đồn thủ để mà thâu thuế xuất cảng nhập cảng.
Qua năm 1028 Lý Thái Tổ băng, truyền ngôi lại cho con truowgr nam là Phật Mã.
2. Lý Thái Tông 1028 – 1054, 26 năm. Lý Thái Tông (Phật Mã) chưa tức vị, thì ba em vua bèn kéo binh tới vây thành, nhờ có ông Lê Phụng Hiểu ra cự, chém được một người, mới yên đám giặc ấy. Đời vua này trong 15 năm đầu, mắc lo việc chinh chiến, dẹp tan giặc trong nước, giặc ngoài biên thùy lại nổi lên. Năm 1043, binh Chiêm thành cướp phá dọc gành bãi nước Nam, Lý Thái Tông cử binh kéo tới thành đô, bắt được 3000 dân Chàm đem về nước cho đất vỡ ruộng làm ăn.
Nước Chiêm thành khi ấy kể từ tỉnh Quảng trị cho tới Bình thuần bây giờ, còn nước An Nam kể hết xứ Bắc Kỳ cho tới Quảng trị.
Đời nhà Lý hay sùng đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thừa lúc thái bình lập chùa miếu, cấp ruộng đất để lấy hoa lợi mà phụng tự. Vua này tính khoan nhân đại độ, hằng lo cho dân được ấm no. Năm mất mùa bão lụt, giặc giã thì giảm thuế, lại xuất của kho mà trợ kẻ nghèo. Vua ra chỉ cấm nhặt nghê buôn mọi, lập nhà tram, dạy kiểm duyệt luật hình, luật hộ, đinh phần hưu trí cho các quan văn võ.
Đời vua này, bày nghề dệt tơ lụa. Lý Thái Tông băng năm 1054, có di chúc lập thái tử Nhật Tôn.
3. Lý Thánh Tông, 1054 – 1072, 18 năm. Nhật Tông lên ngôi, hiệu là Lý Thánh Tông, cải nước Giao chỉ là Đại Việt. Đời này có giặc Chiêm Thành dấy lên nữa. Vua cử binhđi đánh chín tháng trường mà không dẹp yên được. Lúc trở về, nghe người khen ngợi bà hoàng haauk có công trị nước, vua bèn hổ thẹn kéo binh trở lại, ra sức đánh phá Chiêm thành.
TIỂU DẪN
I- Sử: Sử là truyện tích xưa, chỉ dẫn cội rễ một nước, một loại dân chép những sự tân hóa, những lúc hung vong, trị loạn, những thói tục, đạo đức cùng sự giao thiệp với ngoại bang. Lấy xưa mà sánh nay, lấy lành mà răn dữ, sử cũng là gương soi mình cho các đấng cầm quyền trị nước và nhân dân vậy: vua chúa xem lấy mà tu cang ký, nhân dân đọc lấy mà sửa lề gia.
II- Đời sơ nguyên: Sự văn minh hóa của một nước khởi từ khi bày ra chữ nghĩa, nhất là từ khi tìm đặng phép in sách vở mà lưu truyền đến sau. Có sách vở mới tri nguyên những sự tích xưa mới lập thành chánh sử được.
Phàm sử ký nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai đời phân biệt: đời thượng cổ - là đời u minh chưa có sử và đời chánh sử - là đời đã có chữ nghĩa văn minh. Những truyện xứ ta trong thời thượng cổ, từ nhà Hồng bang cho đến nội thuộc Trung nguyên thì chép y theo sử Tầu. Phần nhiều là những điều truyền khẩu, nhưng sự phi thường không đáng tin, vì không có đủ bằng cớ mà kê cứu. Nước Nam có chính sử là kể từ năm 111, trước Chúa giáng sinh, Tầu mới qua chiếm trị, bắt người Nam học chữ Nho, theo đạo nho.
III- Dòng giống người Annam: Người Annnam cũng thuộc một chi với người Tầu và người Nhật bản, gốc bên Tây tạng (Thibet) mà ra. Lúc ban sơ mới lìa chi thì lần qua phía Đông, nơi tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quảng đông bây giờ. Đụng người Trung nguyên không chống cự nổi, mới dồn xuống phía nam, nơi xứ Bắc kỳ, thì lại gặp dân bổn thổ: Lào, Lâm ấp, Chiêm thành (Ciampois), CHân lạp (Cambodgiens). Khi đó phải tranh phong với những dân ấy đã nhiều trận, đã lâu đời, mới lấy đặng nước chúng nó, rồi cũng có ăn chung lộn với nhau mà nối sanh ra, thì dòng giống người Nam lai lần đầu.
Đến sau hết từ đời Tây hán, vua Giếu võ đế nước Nam bị trung nguyên chế phục (111 trước chúa giáng sinh). Người Tầu mới sang qua mà lập nghiệp, kết bạn cùng đàn bà xứ ta mà sinh sản ra thì cái cốt cách nguyên sơ của người Nam lại đổi khác nữa, nhưng mà chưa có lạc mất.
III- Đạo của dân Annam: bên Trung nguyên từ đời Tam hoàng, Ngũ đế cho tới Hạ, Thượng, CHâu, chỉ lấy đạo Trời Đất làm gốc. Thiên tử thì tế Giao, tế Xã là tế TRời Đất; chư hâu tế Sơn Xuyên là tế thần núi song, công khanh tế thần Hậu thổ, thần Đất đai. Còn sĩ thứ tế tổ tiên ông bà qua vãng.
Đời Châu định vương (606 – 585) trước chúa giáng sinh, lão đa, xuất thế (604 – 500) bầy ra đạo đức kinh. Từ ấy mới có đạo Lão tử.
Đời Châu linh vương (571 – 544) trước chúa giáng sinh, đức Khổng tử (550 – 480) truyền đạo Nho, dạy cang thường luân lý.
Đến năm 207 trước công nguyên, nhằm đời Tây hán, vua Cao tổ đạo Phật bên xứ Thiên trúc đã sang qua Trung nguyên. Đời Tây Hán vua Hiếu minh đế (58 – 76) sau chúa giáng sinh, sai người qua thiên trúc mà rước thầy sãi và thỉnh kinh Phật.
Đạo Lão tử, đạo Nho, đạo Phật kêu là Tam giáo, dân Tầu cũng kính thờ hết cả ba.
Sử nước Nam, đời sơ nguyên chép rằng: nhà Hồng bang là dòng dõi Thần nông. Vậy thì lúc xưa ta cũng giữ đạo thời Trời đất và ông bà. Sau nước nam bị Trung quốc chiếm trị, thì người Nam cũng theo Tam giáo như người Tầu vậy, duy lấy sự phụng tự nhiên làm gốc.
V- Sử nước nam: nước Nam có quốc sử kể từ đời Trần Thánh Tông (1258 – 1279). Ông Lê Văn Hưu phụng lệnh soạn thành bộ Đại việt sử ký, khởi từ Triệu võ Vương cho đến Lý Chiêu Hoàng thì dứt. Sau mới chép với tới Hồng bàng thị.
Phép lu sử thì dẫn những việc các dòng vua trước chớ không nói về dòng vua đương trị vì nhà sử quản biên những điều đại khái các đời vua ấy mà để có nơi, qua họ khác lên cầm quyền thì mới lấy ra mà viết nối theo, lần lần như vậy mới tư thành quốc sử.
Sử Nam cũng như sử Tầu còn sơ lược, chỉ chép giặc giã nhắc chuyện nhà vua, còn sự văn minh lấn hóa, việc nông cơ, kỹ nghệ, đạo đức, cách ăn thói ở của dân và đều quí trọng hơn hết là sự học hành thì phớt qua mà thôi, cũng có khi không nói đến. Muốn hiểu rõ sự tích nước mình thì phải xem mấy pho sử của người Lãng sa soạn ra, ngặt phần nhiều dân Nam không thong chữ Pháp.
Bổn sử tôi soạn ra đây dẫn giải tuy là đại lược nhưng mà do theo chương trình mới về bậc Sơ học thì cũng đủ cho con nhà Nam đọc lấy cho rõ cội nguồn rễ xứ mình. Những sự tích đem vào sách nầy, nhất là từ nhà Nguyễn tới sau, đã có tra sát trước trong mấy quyển sử chữ Tây.
Sau rốt tôi có đính them bản kể các đời vua Annam, đối với các đời vua Tầu và Lãng sa, từ sơ nguyên cho đến bây giờ, trước là để phụ ích cho sách nầy, sau nữa là giúp kẻ nào hay nghiệm xưa nay khỏi nhọc công tìm them.
Vĩnh hội – Aoril 1919
NGUYỄN VĂN MAI
NAM VIỆT LƯỢC SỬ
Chương I
Đời sơ nguyên tới năm 968 (sau giáng sinh).
I Nhà Hồng bàng
20 đời vua, trị 2647 năm (2874 – 257, trước giáng sinh)
1- Kinh Dương Vương: vua này là con vua Đế minh, chắt vua Thần nông bên Trung quốc, lên ngôi năm 2874, đặt niên hiệu là Kinh Dương Vương. Nước Nam khi ấy kêu là Xích Qùi, phía Bắc giáp tỉnh QUảng tây, phía Đông giáp Nam hải, phía Tây giáp nước Thục (tỉnh Cao bằng), phía Nam giáp xứ Chiêm thành (Ciampa)
2- Lạc Long Quân: con vua Kinh dương Vương tên là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền ngôi lại cho con trưởng nam là Hùng vương thứ nhất. Kể từ đây những kế vị đều lấy hiệu Hùng vương cho đến đời Hùng vương thứ 18 (257) trước giáng sinh thì mất nước.
3- Hùng vương thứ nhất: Vua này cải tên nước lại là Văn lang, chia làm 15 quận:
- Văn lang (đế đô)
- Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định)
- Châu dễn (Sơn tây)
- Võ ninh (Bắc ninh)
- Phước lộc (Sơn tây)
- Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
- Ninh hải (Quảng yên)
- Dương tuyên (Hải dương)
- Lục hải (Lạng sơn)
- Võ định (Thái nguyên, Cao bằng)
- Hoài hoan (Nghệ an, Hà tĩnh)
- Bình giao….
- Tân hung (Hưng hóa, Tuyên quang)
- Cử đức
Sự giao tiệp với nước Tầu
Năm 110 trước giáng sinh, bên Tầu nhằm vua Thành vương, chà Châu, vua Annam sai sứ qua cống bạch trĩ. Lúc trở về ông Châu công Đáng là chú vua, sợ sứ đi lạc đường, bèn dạy đóng một cỗ xa, có để cái địa bàn chỉ hướng nam cho sứ.
Sự giao thiệp và tận cống với nước Tầu là kể từ đời này.
Tích vẽ mình
Đời Hùng vương thứ nhất bày ra thủ tục vẽ mình là vì dân sự đi làm nghề chai lưới, thướng bị những loài thủy tộc phá hoại. Vẽ mình ra có rắn rực, thì rắn rít, sâu, cá, tưởng là đồng loại với nó mà không động đến.
Tục vẽ mình xâm mình đến nay hãy còn nơi các mán mọi, như Mường, ở Tonkin, Kha, ở Lào.
Cũng như đời vua Hùng vương này bầy ra đóng ghe có vẽ con mắt hình như cá.
Tích bão lụt xứ Bắc
Vua Hùng vương thứ 18 có một đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Vua nhà Thục đã nghe phen cậy người đi nói cho thái tử, mà vua Hùng vương không chịu gả. Ngày kia có hai người trai tới xin làm rể. Vua phán rằng: trẫm vốn có một đứa con, không lẽ đưa cho hai người. Như rạng sáng mai ai đem sính lễ tới đủ thì trẫm sẽ gả cho.
Sơn tinh đến trước, cưới được công chúa, đem lên núi Tản viên (Tonkin). Thủy tinh chậm bước hụt vợ, nên oán hận, làm dông gió bão lụt đặng hại Sơn tinh, mà không làm chi nổi.
Bởi vậy, hễ khi nào có bão lụt, thì những người hay tin dị đoan thường nói rằng lại là sự cừu ấy mà ra.
Hùng vương thứ 18: Vua này hoang dâm vô độ, không lo việc quốc chính, lại gây họa cho nước nhà, là vì không khứng gả công chúa cho tháu tử nước Thục. Vua nước Thục, tên Phán dấy binh đánh gấp, vua Hùng vương tính bề cự không nổi, bèn tự vẫn mà chết, hết đời Hồng bàng, truyền qua đời Thục.
II. Nhà Thục
1 đời vua, trị n50 năm (257 -207) trước giáng sinh.
Cháu nội vua nước Thục, tên là Phán, lấy đặng nước Văn lang của HÙng vương, bèn sát nhập với nước mình là Âu lạc, kêu là Âu việt, lên ngôi xưng là An dương Vương , trị đặng 50 năm. Vua này không có con trai, có một người con gái gả cho con Triệu Đà. Sau bị triệu đà dụng quỉ kế lấy đặng nước dựng nên nhà Triệu.
Nguyên nước Âu việt ở giáp cương giới với nước Tầu, có nhiều thứ thổ sản quí lạ, nên ghe phen Trung quốc muốn chiếm đoạt. Tần thủy Hoàng (246 – 209) trước giáng sinh, sai hai tướng Nhâm Ngao và Triệu đà qua đánh Âu việt. Đánh đã lâu mà lấy khong được. Kế Tần Thủy Hoàng băng, Nhâm Ngao qua đời còn một mình Triệu đà cô thế, cứ giữ xứ Lãnh nam (phía bắc nước Âu việt)
Triệu đà thứa lúc loạn Trung nguyên , nhà Tần mất, tính lập một cõi riêng, bèn giao lân cùng vua An Dương Vương cưới công chúa cho con. Sau đặng binh ròng tướng mạnh, trở lại đánh vua An dương Vương mà lấy nước, lập nên đời nhà Triệu.
III. Nhà Triệu.
5 đời vua trị 96 năm (207 – 111) trước giáng sinh.
1- Triệu võ đế (207 – 136) Triệu Đà lấy đặng nước Âu việt, sát nhập với nước mình, kêu là Việt nam, rồi lên làm vua hiệu là Triệu võ đế, đóng đo tại Phiên ngu (tỉnh Quảng đông). Lúc này bên Trung quốc, Lưu Bang diệt Hạng Võ lập nên dời Tây Hán.
Hán cao tổ sai Lục Giả qua Việt nam phong tước cho Triệu Đà. Từ khi ấy nước Nam cứ giữ đạo chư hầy, thường năm dâng cống cho nhà Hán.
Hán cao tổ băng (194), Lữ Hậu phế Huệ đế lên tiếm ngôi, bèn cầm người Trung quốc không cho bán đồ khí cị cho Annam. Triệu võ đế giận cử binh đánh lấy nước Trường sa, là nước chư hầu của Trung quốc rồi xưng đế như vua Trung nguyên vậy.
Lữ hậu mất Hiếu văn đế lên ngôi, sai Lục Giả qua giải hòa với Triệu Đà. Từ đấy nước Nam qui phục lại nước Tầu như xưa.
2- Triệu văn vương (136 – 121) Hồ lên ngôi xưng là Triệu văn vương. Vua này tính không ưa giặc giã. Lúc người trị vì, có nước Mân việt là nuowc chư hầu của Trung quốc, qua xâm phạm cõi Nam. Vua sai sứ đi viện binh nhà Hán dẹp đặng giặc rồi cho con trưởng nam là Anh tế qua ở làm con tin triều Hán.
3- Triệu minh vương (124 – 113) Anh Tề lên ngôi, xưng hiệu là Triệu minh vương, trị nước được 11 năm. Lúc Anh Tề qua làm con tin bên nhà Hán, thì có cưới một người vợ Trung nguyên tên là Cù thị, sanh đặng một đứa con trai kêu là Hưng. Anh Tề phong Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làn thái tử, phế con của người vợ Annam khi trước là cho đình thần bất bình.
4- Triệu ai vương (113 – 111) Hưng lên nối nghiệp cha, xưng hiệu là Triệu ai vương ở ngôi đặng ít năm, kế nhà Hán sai sứ qua đòi vua và mẹ con hầu ngự giá, thì trong nước bọn đình thần có ông Lữ gia nới rằng: vua và hoàng thái hậu âm mưu mãi quốc, bèn khiến dân dậy lên bặt giết cả hai người rồi tôn cong người vợ Annam lên ngôi, hiệu là Thuật dương vương.
5- Thuật Dương vương (111) vua này ở ngôi chưa đầy một năm, kế bên triều Hán, vua Hiếu võ đế cử binh qua lấy nước mà sát nhập về Trung nguyên.
IV. Thuộc Trung nguyên lần thứ nhất
Năm 150 – 111 trước giáng sinh – 39 sau giáng sinh
Năm 1 Chúa giáng sinh, nhằm đời Hiếu ai đế (Tây hán_ kể từ đây về sau là đời Thiên chúa.
Triều Tây hán sai quan Tầu qua cai trị chia nước Nam là 9 quận:
- Nam Hải (Quảng đông)
- Thương ngô (Quảng tây)
- Uất lâm (Quảng tây)
- Hiệp phò (Quảng đông)
- Giao chỉ (Quảng tây)
- Cửu chân (Quảng tây)
- Nhựt nam (Tonkin)
- Châu nhai (Cù lao, Hải nam)
- Thiên nhĩ (Cù là gần Hải nam)
Trong bọn quan Tầu qua cai trị nước Nam có 2 người: Tích quang và Nhâm Diên hay lo lắng cho dân. Tích Quang thì dậy dân học chữ nghĩa cùng đạo lý đức Khổng tử, Nhâm Diên dậy dân vỡ đất làm ruộng, tròng dâu nuôi tằm. Còn những quan khác hay tham ô, làm nhiều điều khắc bạc, nên thường gây ra loạn lạc.
Năm 39 sau công nguyên, nơi quận Giao chỉ có một người đàn bà tên là Trưng trắc khiến dân dấy lên, bắt thái thú Tô Định giết đi mà báo cừu cho chồng, rồi thâu cả nước Bam lên là vua được 3 năm.
V. Trưng nữ vương (39 – 42)
Trưng Trặc lên ngôi đặng vài năm, kế bên Trung nguyên, triều Đông Hán, vua Quan Võ sai Mã Viện qua bình phục Giao chỉ. Ban đầu đanh nhau cầm cự, chưa biết hơn thua. Sau binh Giao chỉ vẫn không thiện nghệ chinh chiến, bèn đỏ lần hết, Trứng Trắc và em là Trưng Nhị thế cùng nên phải tự vẫn cho khỏi bị nhục.
Mã Viện bình Giao chỉ rồi, truyền đúc một cây trụ đồng, trồng tại Khâm châu có khắ: Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt (Đồng trụ ngã, dân Giao chỉ dứt.)
Từ đây nước Nam phải sát nhập về Trung nguyên lầ thứ hai.
VI. Thuộc trung nguyên lần thứ hai
144 năm (42 – 186)
Sĩ vương 186 – 226 Lúc này bên Trung nguyên nhà Đông Hán dứt, qua Tam quốc phân tranh. Sĩ nhiếp dùng dịp loạn xưng vương, hiệu là Sĩ vương, trị nước được 40 năm. Nguyên Sĩ nhiếp là người Trung quốc mà tiên nhân sang ở nước Nam lâu đời, nên đã thành người Nam.
Sĩ Nhiếp lên ngôi xưng hiệu là Sĩ vương, khai trường dậy chữ nho, dậy phong hóa Trung quốc. Đời vua này có nhiều người hay chữ không kém cho người Trung nguyên. Sĩ nhiếp băng, Đông ngô sai tướng là Lữ Đại qua dụ em Sĩ Nhiếp là SĨ Huy thần phục nhà Ngô rồi thừa thế mà giết đi. Nước Nam bị sát nhập về Trung nguyên lần thứ 3.
VII. Thuộc về Trung nguyên lần thứ ba
314 năm (226 – 540)
Từ năm 226 tới 540 nước Nam bị nhà Hậu Hán Ngô, Ngụy (Tam quốc) Tấn Tống Tề Lương kiềm chế 314 năm.
Những quan Trung gnuyeen qua cai trị cõi Nam trong mấy đời ấy thì cũng như cá quan đời trước ít người nhân hậu, nhiều tay tàn bạo. Thuở ấy có xứ Lâm ấp, sau kêu là Chiêm thành (Ciampa) ở phía nam hay đến đánh phá nước Nam. Đã bao phen bị thua, bị giết mà không chừa tinh hung hăng. Qua đến đời chứa Hiền vương (1649 – 1685) nhà Nguyễn mới trừ tuyệt.
Nước Nam lúc nầy về nhà Lương chế trị. Quan thái thú Tiêu tư là nhiều điều độc ác, khiến long dân oán hận. Lý Bôn thừa cơ hội cầm binh đánh đuổi quân Trung nguyên rồi lên ngôi hiệu là Lý Nam đế.
VIII. Nhà tiền Lý
2 đời vua, trị 58 năm (544 – 602)
1- Lý nam đế: 544 0 548 , bốn năm. Lý Bôn vốn là người Trung nguyên, nhân lúc loạn Tây Hán. Vương Mãng soán ngôi vua Hiếu bình, qua ở ngụ tại Giao châu lâu đời, nên đã thành người Nam.
Lý Bôn lên ngồi xưng là Lý Nam Đế trị được 4 năm, kế bên Trung nguyên, nhà Lương sai Trần bá Tiến qua đánh Nam việt, Lý Nam Đế yếu thế bèn giao quyền cho tướng quân Triệu Quang Phục, cách ít năm thọ bệnh mà băng.
2- Triệu Việt Vương 549 – 570, 24 năm. Triệu Quang Phục cầm binh đánh với quân Tầu đã lâu. Sau binh Trần bá Tiên đổ lần, rồi rút về Trung nguyên hết. Triệu Quang Phục lên ngôi hiệu là Triệu việt vương, trị được 21 năm rồi truyền lại cho Lý phật Tử, là dòng dõi tôn thất nhà Lý.
3- Lý Phật Tử, 570 502, 32 năm. Lúc này Trung gnuyeen nhắm nhà nhà Tùy. Tùy dương Kiên sai Lưu Phương sang đánh Nam Việt. Lý Phật Tử sợ, bèn xin qui hàng. Từ đây nước nam bị Trung nguyên kiềm chế lần thứ 4.
IX. Thuộc trung nguyên lần thứ 4.
Từ năm 603 – 939 bên Trung nguyên nhằm đời Tùy, Đường, Ngũ đại.
Vua nha Tùy nghe nói bên cõi Nam, nơi xứ Lâm ấp có nhiều vật quí lạ, nên sai Lưu Phương qua một lần nữa mà cướp phá, vua Lâm ấp là Phạm phàn Chi chống cự không nổi, quâ trung nguyên đoạt được kinh thành Lâm ấp, cướp giật của cải, còn Lưu Phương thì lấy vang ngọc rất nhiều. Nhưng mà lúc trở về, binh chết hết ba phần, Lưu Phương cũng bỏ mình.
Nhà Tùy mất (617), nhà Đường dấy (618) vua Đường cảo tổ cải nước Nam việt lại thành Annam đô hộ phủ, chia làm 13 châu.
Nước Annam khi ấy, kể từ Bắc kỳ cho tới tỉnh Quảng nam. Trên phía Tây bắc là nước nam chiều (tỉnh Vân nam) phía Tây là nước Lào, phía Nam là nước Chân lạp (Cao man) còn nước Lâm ấp (Chiêm thành) ở từ quận Nhật nam cho tới ranh chơn lạp.
Nhà Đường cai trị nước Nam. Đường cao tổ lên ngôi Trung nguyên năm 618. Việc cai trị xứ Annam lúc bấy giờ cũng như các đời vua trước: trên hết thị đặt một quan Thứ sử, gồm hay cả xứ thuộc địa, dưới thì mỗi châu có một thái thú cai trị. Những viên quan phần nhiều là người Tầu, tính tham lam độc ác lại quá hơn khi trước.
Dân An Nam bị sưu cao thuế nặng đã ghe phen muốn khởi loạn, mà không thành sự. Có quan thái thú Lý Trắc làm khổ các mán mọi, nên gây họa., Các mán mọi hiệp với nước Nam chiếu tới cướp phá đuổi người Tầu, thâu được nước Nam. Sau nhà Đường sai Cao Biền bình định trong 10 năm mới yên. Cách ít lâu binh Nam chiều kéo đến một lần nữa. Nhà Đường dụng kế đưa công chúa cho vua Nam chiếu. Vua Nam chiếu ngờ là thiệt, bèn sai ba viên danh tướng đi đón rước, thì cả ba điều bị thuốc độc mà thác, từ ấy nước Nam mới yên đặng một khoản.
Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ: Nhà Đường suy, sang đời Ngũ đại (907 – 957), là hậu Lương, hậu Đường, hầu Tấn, hậu Hán, Hậu châu.
Nhà hậu Lương phong Lưu Ấn làm Nam bình vương, đóng đo tại Phiên ngu, phong Khúc Hạo là Thái thú Giao châu (An nam).
Lưu Ấn qua đời , em là Lưu Nghiêm lên thế vị xưng là hoàng đế Nam hán (917)
Khúc Hạo mất, em là Khúc Thừa Mỹ vâng mạng vua hậu Luong, gồm trị cả 12 châu xứ Nam. Cách ít lâu vua Nam Hán khởi binh đánh bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ cầm binh đuổi quân Nam hán, rồi lại bị Kiều công Tiện là tướng của mình âm mưu giết đi.
Khi ấy có Ngô Quyền, gốc là người An Nam cũng là tướng của Dương Đình Nghệ ra chống cự, thắng được Kiều Công |Tiện, sau lập nên nhà tiền Ngô, làm vua được 5 đời trị được 30 năm.
X. Nhà tiền Ngô
5 đời vua, trị 30 năm 939 – 968
Ngô Quyền làm vua được 5 năm 939 - 941 thì băng, truyền ngôi lại cho con là Xương Ngập, khi ấy còn nhỏ. Dương Tam Ca là cầu lên làm phụ chánh, rồi dùng dịp mà đoạt ngộ, xưng Bình vương 945 – 949. Sau bị Xương Văn là con thứ Ngô Quyền giành lại à cai trị, rồi truyền cho Xương Xí.
Lúc này nước An Nam chia làm 12 châu, mỗi châu có một sứ quân, mỗi sứ quân thì xưng vương một cõi, mạnh lẫn yếu, loạn lạc cả năm. Hậu Ngô vương là Xương Xí cũng trấn một quận, không làm gì nổi mấy sứ quân khác, tuy là khỏi làm tôi mọi Trung nguyên, chứ người Nam chưa dựng được nền độc lập. Sau đó có một người họ Đinh dáy lên dẹp 12 sứ quân, lập nên đời chính thống.
CHƯƠNG II
Đời chính thống.
I. Nhà Đinh
2 đời vua trị được 13 năm 968 – 981
1. Đinh Tiên Hoàng: 968 – 980, 12 năm. Người dẹp yên 12 sứ quân ấy là Đinh Bộ Lĩnh, quê ở Hoa lư ( tỉnh Ninh Bình), vố là con của Đinh Công Trứ, làm thái thú châu Hoan khi trước. Cha mẹ mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh ở làm thỉ hạ với sứ quân Trần minh Công quận Bố chính. Trần minh CÔng qua đời, Đinh Bộ Lĩnh bèn chiêu tụ anh hùng, rồi cử binh đánh đuổi các sứ quân.
Năm 968, người lên ngôi xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cải nước Nam là Đại Cồ Việt. Phong cho Lê Hoàn là tôi công thần làm chức Thập đạo tướng quân. Vua này bề luật rất nghiêm, trước sân chầu có để vạc dầu sôi, có nhốt thú dữ, mà răn dân sự cho chúng nó bỏ thói hung hăng theo đời 12 sứ quân. Vua lại tu chỉnh việc binh nhung, phân ra có đội ngũ giao cho Lê Hoàn quán thống. Năm 980 vua bị tên Đỗ Thích giết, đình thần tôn con thứ của vua tên là Triều lên Kế vị.
2. Phế đế 980 -981. 1năm. Triều lên ngôi hiệu là Phế đế, khi ấy mới có sáu tuổi. Quyền nhiếp chính về tay Lê Hoàn, oai thế lẫy lừng, vì có tư thông với bà Dương Thái Hậu là vợ vua Đinh Tiên Hoàng. Trong bọn đình thần có người bất bình, toan mưu hại Lê Hoàn. Lê Hoàn hay được bèn bắt mà giết đi. Lúc này Trung nguyên cử binh qua đánh nước Nam. Quan sĩ hòng ra trận, thì có người nói rằng: vua còn thơ ấu, lấy ai mà thưởng phạt cho minh. Chi bằng ta tôn Thập đạo tướng quân lên rồi sẽ đánh không muộn chi. Nói vừa dứt lời cả triều đều tung hô, phò Lê Hoàn lên ngôi, lập nên nhà tiền Lê.
Từ Đinh Tiên Hoàng 968 cho đến năm 1278, bên Trung nguyên nhắm đời Bắc Tống (Triệu Khuông Dẫn)
II. Nhà tiền Lê
3 đời vua trị 28 năm 981 – 1010
1. Lê Đại Hành, 981 – 1006, 25 năm. Lê Hoàn tức vị, xưng Lê Đại Hành. Các quan triều bái vừa xong, vua ra trận đánh thắng, hai tướng Trung nguyên bị bắt triệu về kinh. Sau có sứ triều Tống qua giao hòa, vua dạy trả lại.
Khi ấy xyws Chiêm thành vì phép, bắt cầm sứ An Nam, vua Lê Đại Hành kéo binh đánh phá tan hoang, đốt kinh đo, chùa miếu, lấy của cải rất nhiều.
Lê Đại Hành băng hà năm 1006, di chúc lập con thứ là Long Việt.
2. Lê Trung Tông: 1006. Long Việt lên ngôi hiệu là Lê Trung Tong, làm vua mới được 3 ngày bị em là Lê Long Đĩnh thi đi mà giành quyền.
3. Lê ngọa triều, 1006 – 1010, 4 năm. Vua này tính độc ác, ưa xem những sự dữ tơn. Vua dạy bắt tội nhân, lấy rơm tẩm dầu rồi đốt cháy mà coi chơi. Có khi lại bắt thầy sãi (nhà sư) quì xuống, để mía lên đầu mà róc, giả đò sẩy tay nhầm, chảy máu ta lênh láng. Sử đặt tên vua này là Ngọa triều, vì tính hay dâm dục, nên mang bệnh, hệ mỗi khi lâm triều thì nằm. Lê ngọa triều băng, để lại một đứa con trai còn nhỏ, sau bị Lý Công Uẩn là tôi quyền thần phế đi mà lập nên đời hậu Lý.
III. Nhà hậu Lý
IV. 9 đời vua, trị 215 năm (1010 – 1225)
1. Lý Thái Tổ: 1010 – 1028, 18 năm. Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, đóng đo tại Đại la, sau cải lại là Thăng Long (Hà Nội), ấy là đế đô nhà hậu Lý tới nhà hậu Lê.
Đời này thật thái bính, dân no đủ, vua tu tạo đền đài, sửa sang đế đô lại nên rất xinh đẹp. Triều nhà Tống (Chân Tông, 998 – 1023) sai sứ qua phong cho Lý Công Uẩn là Giao chỉ quận vương.
Vua trưng các sắc thuế, lập đồn thủ để mà thâu thuế xuất cảng nhập cảng.
Qua năm 1028 Lý Thái Tổ băng, truyền ngôi lại cho con truowgr nam là Phật Mã.
2. Lý Thái Tông 1028 – 1054, 26 năm. Lý Thái Tông (Phật Mã) chưa tức vị, thì ba em vua bèn kéo binh tới vây thành, nhờ có ông Lê Phụng Hiểu ra cự, chém được một người, mới yên đám giặc ấy. Đời vua này trong 15 năm đầu, mắc lo việc chinh chiến, dẹp tan giặc trong nước, giặc ngoài biên thùy lại nổi lên. Năm 1043, binh Chiêm thành cướp phá dọc gành bãi nước Nam, Lý Thái Tông cử binh kéo tới thành đô, bắt được 3000 dân Chàm đem về nước cho đất vỡ ruộng làm ăn.
Nước Chiêm thành khi ấy kể từ tỉnh Quảng trị cho tới Bình thuần bây giờ, còn nước An Nam kể hết xứ Bắc Kỳ cho tới Quảng trị.
Đời nhà Lý hay sùng đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thừa lúc thái bình lập chùa miếu, cấp ruộng đất để lấy hoa lợi mà phụng tự. Vua này tính khoan nhân đại độ, hằng lo cho dân được ấm no. Năm mất mùa bão lụt, giặc giã thì giảm thuế, lại xuất của kho mà trợ kẻ nghèo. Vua ra chỉ cấm nhặt nghê buôn mọi, lập nhà tram, dạy kiểm duyệt luật hình, luật hộ, đinh phần hưu trí cho các quan văn võ.
Đời vua này, bày nghề dệt tơ lụa. Lý Thái Tông băng năm 1054, có di chúc lập thái tử Nhật Tôn.
3. Lý Thánh Tông, 1054 – 1072, 18 năm. Nhật Tông lên ngôi, hiệu là Lý Thánh Tông, cải nước Giao chỉ là Đại Việt. Đời này có giặc Chiêm Thành dấy lên nữa. Vua cử binhđi đánh chín tháng trường mà không dẹp yên được. Lúc trở về, nghe người khen ngợi bà hoàng haauk có công trị nước, vua bèn hổ thẹn kéo binh trở lại, ra sức đánh phá Chiêm thành.
tuusacqui