Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Ngày Quanh Quẩn - Trần Long Hồ 🔒

14 trả lời, 7.739 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.04.2014 01:15:22 bởi Ct.Ly>
Ngày Quanh Quẩn
Tác giả: Trần Long Hồ
Nhà xuất bản : Minh văn
 
 
***
 
Lới tựa

Cõi văn chương của Trần Long Hồ

Hồ Trường An


Vầng trán rộng, chiếc càm vuông, cặp mắt buồn, cái nhìn mệt mỏi, thờ ơ, và nụ cười man mác, bùi ngùi. Đó là chân dung của Trần Long Hồ, mà tôi phác họa qua vài đường nét tiêu biểu, trước khi đi vào thế giới văn chương của anh.
 
Trần Long Hổ vốn đã yêu văn chương từ thuở lên mười, lên mười một. Cho nên qua vầng trán rộng, chiếc cằm vuông của anh, tôi đã thấy đây là mẫu người cương quyết đeo đuổi dự định và lý tuởng cho đến cùng: dự định và lý tuởng đó không thể ra ngoài ngành y khoa và cái cõi văn chương. Qua cặp mắt, cái nhìn, và nụ cười của anh, tôi biết đây là mẫu người thích sống nhiều bằng nội tâm cho nên cõi văn chương của anh rất đa dạng, nhân vật của anh qua một số truyện ngắn thường khắc khoải trước đời sống mà tôi sẽ đề cập sau đây.
 
Chị Thụy Vũ của tôi, Trần Long Hổ và tôi, cả ba chung sống dưới một mái nhà tại ngoại ô tỉnh Vĩnh Long trên sáu năm. Sau nhà là con sông Long Hồ, một phụ lưu của dòng Cổ Chiên, nơi đó hai chị em tôi cùng anh chị của Trần Long Hồ thường tắm và thi đua lội đua qua bên kia sông. Con sông đó vào mùa Xuânnước trong leo lẻo chúng tôi đi xúc cá lòng tong, cá rói, cá linh. Vào mùa hè nước quyện phù sa nâu đỏ, chúng tôi đi mò hến, mò ốc gạo, câu cá mè vinh, xúc cá mang rổ. Đó là con sông của tuổi ấu thơ chúng tôi, êm đềm chảy qua những giấc mộng ngày xanh huyền hoặc.
 
Sau Hiệp Định Génève, bà thân mẫu của Trần Long Hổ (tôi gọi bằng cô Bảy) đem gia đình lên Sài Gòn. Chị Thụy Vũ tôi sau đó cũng lên Saigon để học Anh văn, ở trọ nhà cô Bảy tôi thêm hai năm nữa. Và chính dưới mái nhà đó, chị tôi bắt đầu viết văn.
 
Thuở đó, Trần Long Hổ là cậu bé Trần Trúc Quang (tên cúng cơm)bắt đầu viết từ lúc rất nhỏ cho các bạn cùng tuổi hay trong gia đình đọc. Lúc đó anh đâu khoảng mười một tuổi khi mới vào lớp đệ thất. Sau này khi là một sinh viên quân y anh cộng tác với Văn Học (do Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm) và với nhật báo Tin Sáng.
 
Sau ngày 30/4/1975, anh bị đưa về làm việc tại Chương Thiện. Anh đã bỏ sở và cùng vợ tìm cách vượt biên. Anh đã bị bắt cầm tù tại Gò Quao, thuộc tỉnh Rạch Giá. Sau đó anh vẫn quyết chí vượt biên nhiều lần, cuối cùng đến lần thứ sáu (năm 1981) mới thành công.
 
Hè 1989, nhân chuyến đi qua Washington D.C. ra mắt quyển ký sự "Giai Thoại Hồng", tôi gặp lại Trần Trúc Quang bây giờ đã là bác sĩ y khoa, có mở phòng mạch tại Falls Church (Virginia). Tôi có hỏi anh:
- Định cầm bút lại không?
- Hễ tui ổn định đời sống xong là làm văn nghệ trở lại nhưng lấy bút hiệu là Trần Long Hồ.
 
Ai đó mới gặp qua Trần Long Hồn sẽ bắt gặp một mẫu người ít nói, đôi lúc lầm lì, cái nhìn có vẻ thờ ơ mọi việc, nhưng nhìn kỹ lại chúng ta sẽ thấy cái nhìn đó dù lướt qua mọi vật, nhưng đã quan sát thật kỹ. Tám truyện trong tập truyện "Ngày quanh quẩn" đã chứng tỏ điều ấy, nhứt là truyện"Một Ngày Không Tùy Nghi ". Bằng bút pháp trong sáng, giản dị, nhưng mới mẻ, họ Trần mô tả tỉ mỉ từng biến động, từng đợt sóng suy tư của nhân vật xưng tôi.  Cho nên đi vào cõi văn chương của anh, nếu ai thích loại văn hoạt kê, hoặc loại tiểu thuyết phiêu lưu, giựt gân thì đương sự sẽ thất vọng. Điều rõ rệt nhất là Trần Long Hồ làm văn chương thuần túy. Anh không nhắm vào thị hiếu quần chúng mà viết sách.  Anh cứ làm văn chương, dựng lên một mẫu người đi suốt một chặng đường khá dài trên lịch sử lầm than của đất nước. Đó là mẫu người tiêu biểu, lớn lên từ cuộc nội chiến cuộc đất nước, để rồi sống gần bảy năm dưới chế độ Cộng Sản. Sau đó, nhân vật xưng tôi ấy vượt biên, định cư ở Hoa Kỳ, tranh đấu với bản thân, với bao việc mưu sinh phiền toái, mộng trở nên một con người vững vàng trong cuộc hành hương vào đời sống.
 
Truyện ngắn mở đầu " Nơi Nào Tôi Dung Thân " là một truyện ngắn tiêu biểu trong việc mô tả một mẫu thanh niên thời đại bề ngoài có vẻ nhút nhát, nhưng bên trong là cả một cơn nổi loạn dấy lên triền miên. Nhân vật đó nghĩ tới chuyện giết người để rồi tự sát, khi đã sống qua một vài cuộc tình không hoan lạc đến độ say đắm mà cũng không đau đớn đến độ ê chề, nhưng cũng đủ làm cho anh cảm thấy mình không khám phá được một chút hạnh phúc nào. Nhân vật đó cứ tự nhủ bằng câu sắt máu " Thế nào tôi cũng giết một người ". Nhưng trong truyện ngắn "Nơi Nào Tôi Dung Thân" độc giả sẽ không thấy tác giả diễn tả sự diễn biến bằng lối văn dữ dằn, gai góc. Anh giữ một giọng điệu uể oải thờ ơ, nhưng đọc xong chúng ta mới thấy nhân vật chính đó khao khát sống biết bao, có nhiều tâm tư u uẩn là dường nào, và nhất là tâm trạng khá uyển chuyển, khá phức tạp biết mấy.
 
"Trong Miền Gió Bụi" và các truyện ngắn khác được sáng tác sau truyện ngắn đầu tay mười bảy năm. Nhưng tác giả vẫn giữ cái nhất quán thật tinh vi, mạch văn vẫn trước sau sao vậy. "Trong Miền Gió Bụi ", tác giả viết về cảnh đời của nhân vật xưng tội bước vào quân ngũ, sau chuyển qua trường Quân Y. Ở đây có nhân vật tên An, bạn thân ở ngoài đời và cũng là bạn đồng khóa với nhân vật xưng tôi nêu lên một niềm ấm áp về tình bạn về tình người qua  nhân vật. An nầy vì An yêu mến bạn chân thành biết vui với cái may mắn của bạn.
 
Ở « Một Nơi Tưởng Như Yên », tác giả mô tả cảnh sinh hoạt của nhân vật xưng tôi (ở đây có tên là Quang) tại trường Y Khoa và Quân Y. Và bắt đầu từ truyện này, độc giả có thể theo ngòi bút của tác giả tham dự vào thế giới của những kẻ có ước vọng xoa dịu nỗi đau thân xác của bệnh nhân. Ở phần đầu, chúng ta chứng kiến những công việc thực tập của sinh viên nghành y khoa , chúng ta tràn ngập niềm tin về viễn ảnh tươi sáng của họ. Nhưng ở phần cuối, chúng ta phải tham dự cuộc ma chay của An. Người bạn tốt bụng đó đã tử trận, xác được quàng ở nhà vãng chung.
 
Ở « Những Ngày Thôi Quanh Co », tác giả viết về thời gian gần ngày mãn khóa của nhân vật xưng tôi. Sau đó là buổi lễ tốt nghiệp. Tại đây, đương sự gặp Thúy, cô gái thùy mị đoan trang, gốc người Bình Định. Tình yêu chân thành bắt đầu. Nhân vật Thúy sau đó, ở các truyện ngắn kế tiếp trở thành người bạn đời của đương sự. Nếu An là người bạn dịu hiền biết vui với cái thành công của đương sự, là dư ảnh, là tiếng động vọng của tình người từ cõi chết đưa về thì Thúy luôn luôn là người bạn đời bằng thịt bằng xương ở cõi sống cùng đương sự dìu bước nương tựa nhau, chia xẻ nhau gánh nặng cam khổ trên đường đời.
 
 ‘’Một Chuyến Đi’’   nói về cuộc vượt thoát của nhân vật xưng tôi (ở đây có tên Trúc) khi bị bắt về tội vuợt biên. Bạn đồng tù của đương sự là Tư Lãng, một cán bộ gốc người Bắc bị giam giữ vì án thâm lạm công quỹ, và Tám Phảng bị kết tội vì chém chết  tên cán bộ ỷ thế uống ruợu quịt của ông, đánh đập ông và muốn hãm hiếp con gái ông. Ở đây, chúng ta sẽ bùi ngùi với hoàn cảnh của Tám Phảng và mến cái con người hào sảng của Tư Lãng. Chính Tư Lãng bày kế phục rượu tên giữ tù Tám Lương để nhân vật xưng tôi và Tám Phảng vượt thoát. Nhưng Tư Lãng không chịu theo hai anh bạn đồng tù của mình. Và hắn bảo ‘’Các cậu chạy đi, tớ ở lại ’’. Gia đình tớ ở cả ngoài Bắc, tớ về cũng chẳng có hộ khẩu mà sống’’. Đây là một câu chuyện sống thực và đẹp.
 
‘’ Ngày Quanh Quẩn’’ ghi lại cảnh sống trong thời gian nhân vật xưng tôi đã định cư trên đất Mỹ. Đương sự và Thúy đã là đôi vợ chồng son bắt đầu khởi nghiệp từ con số không. Thúy làm việc nuôi chồng đeo đuổi ngành y khoa. Nhân vật xưng tôi còn phải làm việc thêm ở viện dưỡng lão để kiếm tiền thêm. Ở đây chúng ta gặp bà Dove một bà già triệu phú khó tánh. Những người Mỹ đen, những người Mễ Tây Cơ đến săn sóc bà trong thời gian nhắn đều bị bà điện thoại lên ban giám đốc để yêu cầu cho nghỉ việc. Ai cũng nghĩ rằng bà thuộc thứ bà già lựu đạn, ó đâm. Nhưng khi nhân vật xưng tôi đến săn sóc bà, đút thức ăn cho bà một cách vụng về, và dù trong câu chuyện đương sự có vẻ đốp chát với bà, nhưng bà nhận thấy đây là người chân thật, không như lũ « người máy » đã tuần tự đến săn sóc bà trong thời hạn ngắn




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.06.2014 17:44:05 bởi ticonuong>
Tôi chán chính con người tôi, nhưng tôi không phủ nhận đời sống tôi. Đôi khi trên lầu cao, tôi cảm thấy mặt đất là nơi yên tĩnh cuối cùng. Tôi muốn làm thân chim bay ra khỏi nơi nương tựa chênh vênh. Vì tôi làm không được nên tôi còn đứng lại. Có khi ngoài phố thị tôi cảm thấy bánh xe lăn có thể đưa tôi về nơi an nghỉ hoàn toàn, một nơi khác hẳn những nơi tôi đã gặp, đã đi qua. Nhưng chắc gì đó là nơi tuyệt đối, nơi yên lặng hơn nơi đây. Tôi không tin nên tôi vẫn đi tìm.
Quanh co làm sao rồi cũng đến trường. Tôi vẫn muốn đến lúc nào đó điều khiển được chính tôi, hành động tôi như ngựa bất kham, tôi bước theo thói quen của đời mình.
Tôi ngồi trong quán nước, tôi đi trong hành lang, tôi có nhiều mẫu chuyện, xếp đặt nhiều ý tưởng, nhưng tôi chưa bao giờ nói gì với Châu hết. Tôi gặp Châu lần đầu trong giảng đường, thứ địa ngục mà bây giờ nàng cùng số đông người đang tự đày trong ấy.
Tôi đến trường không phải để vào giảng đường, tôi đến trường để chẳng làm gì cả. Mặc dù có lần tôi vào nơi địa ngục ấy. Khi tôi mời Châu vào một ghế trống, nàng chẳng chịu hiểu rằng tôi muốn làm quen với nàng. Châu có thói quen của một người con gái đẹp, xem đó là chuyện tự nhiên, xem đó là chuyện phải xảy ra như một cộng vào một bằng hai. Tôi chẳng cần biết điều đó đúng hay không. Tôi hỏi nàng theo thủ tục của một người muốn làm quen với một người. Tôi được trả lời lấp lửng, có nghe không thể biết được điều gì hơn. Đại khái nàng cho biết tên Châu, ngày xưa học ở một trường nữ rất khiêm tốn nên thiết tưởng một ai nào khác không cần biết đến làm gì. Nhà ờ một nơi thư đi không đến, người tìm không ra (Châu cũng giống như Tuyết ngày xưa vậy thôi). Khi tôi đề nghị mời nàng đến một nơi giải trí nào đó, Châu trả lời không phải là chuyện cần thiết và cám ơn tôi thêm một lần nữa.
Buổi chiều nào đó, tôi gặp Châu trong thư viện. Nơi hẹp thế này dễ cho người ta bắt chuyện với nhau, hơn nữa sự gặp gỡ không phải là sự tình cờ. Tôi hỏi nàng để mượn một tập cours tôi đã có rồi. Châu bảo cours Châu chỉ để Châu học chứ không để cho người khác mượn. Tôi lại đề nghị mượn tập ghi bài. Châu trả lời nghe giảng chứ không chép lời giảng. Thế thì tôi cho Châu mượn tập ghi bài của tôi. Châu nói nàng chỉ hiểu khi đọc chữ của nàng viết thôi. Tôi không hỏi thêm gì nữa vì không biết chuyện gì để nói. Tôi lật sách đếm trang và làm thơ, viết xong lại xóa. Tôi biết Châu không học được, suốt buổi nàng không đọc hết một trang. Châu ra về trước tôi một khoảng thời gian ngắn. Châu hỏi tại sao tôi quấy phá không cho nàng học. Tôi trả lời không có ý định như vậy.
Có lần tôi đem tặng nàng một bản nhạc của Phạm Duy, tình khúc ví người con gái là tiên nữ bị đày xuống hạ giới làm người. Tôi đón Châu tại vườn thực vật của trường, nơi tương đối vắng lặng nhất. Tôi nghĩ rằng nàng nhận thì chẳng có gì phải nói, nếu nàng không nhận, tôi thối lui cũng không có ai nào khác biết được. Quả nhiên như điều tôi dự liệu. Bao giờ điều mong ước của tôi cũng không thành, nhưng điều dự tính của tôi lúc nào cũng xảy ra đúng như vậy. Tôi hỏi tại sao nàng không nhận, Châu nói không muốn thọ ơn ai. Tôi nói Châu nhận chính tôi là người mang ơn. Nàng vẫn ngoan cố. Tôi nói khi nào Châu cần bản nhạc cứ hỏi, xin đừng ngại. Nàng bỏ đi, từ đó chúng tôi không còn nói chuyện với nhau nữa.
Tôi vẫn đến trường mỗi ngày, vẫn đi trên những con đường nhiều bóng mát. Cây là điệp nên hoa vàng phủ đầy trên lối, nhất là vào tháng năm, buổi trưa vang tiếng ve kêu. Theo tôi như thế là buồn. Trời nắng hay mưa tôi vẫn lang thang trên những con đường ấy. Chỉ khác khi mưa tôi đi dọc trên những hành lang vắng người hay đứng nhìn cây cối trơ xương trên bầu trời trắng đục. Tôi lao vào màn nước, đến một nơi nào đó mong rằng không còn ai.
"Thế nào tôi cũng sẽ giết một người".
Quán cà phê, một góc vỉa hè. Buổi sáng bắt đầu thật sớm, bắt đầu bằng những giọt cà phê đen lóng lánh rơi lăn tăn trong ly thủy tinh. Buổi tối thức thật khuya mắt mở trừng trừng, nghe tiếng côn trùng rả rít, nghe tâm sự mình nói với chính mình. Tôi nhớ lại hình ảnh những chiều đã qua, thống khoái lại cảm giác đã hưởng thụ như những con thú nhai lại phần cỏ đã ăn trong một lúc nào trước đó. Tôi dựng lên phong cảnh, tôi tạo nên cốt truyện và từ đó tôi đối thoại với em trong sự sắp xếp của tôi. Từng đêm tôi miệt mài với những mẫu chuyện vụn vặt. Tôi đạo diễn, tôi thủ vai chính và chỉ tôi làm khán giả. Tất cả mọi câu chuyện đều có kết cuộc theo ý muốn của khán giả khó tính, bao giờ cũng vui vẻ và êm đẹp.
Em đi trên đường thật vắng vẻ, con đường tôi chưa được thấy bao giờ, thời gian là buổi chiều, nếu có thêm mưa rơi càng tốt. Em trong hình ảnh áo trắng mang cặp sách, có lẽ em đang trở về nhà. Trời mưa lạnh mà gió lại nhiều, em đi co ro thật đáng thương (em bao giờ cũng đáng thương hết ngay cả lúc em đáng ghét nhất). Trên đường ấy chỉ có tôi đi sau lưng em, không biết đi từ lúc nào, một khoảng cách đủ nhìn rõ. Thú thật đến bây giờ tôi vẫn khó chịu vì sự sắp xếp tiêu cực ấy. Khán giả tôi muốn rằng phải có sự đi song đôi, phải có đối thoại xảy ra giữa hai người nhưng đạo diễn tôi vẫn dựng nên tình cảnh như vậy. Thời gian qua không lâu lắm, dĩ nhiên cảnh sắc càng lúc càng hoang liêu và ảm đạm. Mưa vẫn lất phất như tự bao giờ. Vào một lúc bất ngờ nhất, có sự xuất hiện một số bóng đen, khuôn mặt tên nào cũng phải thật gian ác, chúng nhất định phải bắt em cho kỳ được (mục đích làm gì tôi không nghĩ nên chẳng viết ra đây, điều cần thiết nhất có bọn chúng để làm em kinh sợ). Quả nhiên, em kêu rú lên hoảng hốt thật sự. Chúng vây lại thành vòng tròn, em cố sức lẩn tránh những bàn tay thô bạo. Chỉ còn vài giây nữa em lâm nguy, tôi tiến đến kịp lúc. Chiến trường thanh toán trong chớp mắt. Em bàng hoàng lẫn vui mừng khi nhận ra tôi là vị anh hùng đã cứu thoát nàng. Em nói rằng xem anh vậy (?)... mà tài giỏi quá. Em xúc động vì hành động ấy. Em hối hận ví từ trước đã cố tình làm anh điêu đứng. Em chân thành cảm tạ nghĩa cử cao đẹp. Em hứa hẹn từ nay thân thiết với anh hơn. Không bút mực nào tả xiết nỗi vui mừng của tôi lúc ấy, tôi nói sẽ đưa em về tận nhà, em cứ an tâm khi có tôi bên cạnh, đường đời em từ nay sẽ có tôi chăm sóc. Hãy tin tưởng đi em, hãy tin tưởng rằng anh bao giờ cũng đủ sức bảo toàn đời sống em chu đáo. Lúc đó chúng tôi tiếp tục đi, tôi nói với em rất nhiều, nhưng tôi không nhớ đã nói gì, tôi vào giấc ngủ mãn nguyện.
Những câu chuyện tôi tạo nên bao giờ cũng vậy. Từng đêm tôi tự dựng ước mơ, tạo niềm tin qua tháng ngày lặng lẽ. Giấc ngủ tôi bắt đầu chập chờn và ác mộng. Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh em, tôi loanh quanh hoài mối tình tôi u tối.
Buổi sáng thức dậy từ lúc tiếng chuông chùa công phu hay tiếng chuông nhà thờ rộn rã. Buổi sáng thức dậy đôi mắt cay sè. Buổi sáng bắt đầu ra phố, bắt đầu những giọt cà phê đen lóng lánh. Ngồi co ro chắt chiu từng ngụm cà phê, từng hơi thuốc lá, ngắm từng chiếc áo trắng đến trường. Em có bao giờ còn trong số áo trắng kia, trong lứa tuổi người ta gọi là hoa niên, gọi là hứa hẹn. Em thản nhiên từ bỏ để bước sang đời sống khác, có lẽ phiền muộn hơn nhiều. Nên tôi còn tiếc chi mỗi ngày mỗi buổi chui vào giảng đường. Bây giờ buổi sáng như thế, buổi trưa giống buổi sáng, buổi chiều không khác gì buổi trưa, buổi tối là sự lặp lại. Ngày và đêm của phố xá, của quán nước, của tiếng nhạc và lang thang. Ra đi khi đường phố vắng lặng và trở về với đường phố không người, nghe gió tru tréo đời cay nghiệt, nghe dế rỉ rả đời khinh bạc.
Tôi thật sự rời bỏ học đường, tôi thật sự sống đời phố xá.
Tôi bắt đầu nói chuyện với Nguyệt để tôi bắt đầu uống cà phê ký sổ. Nguyệt có vẻ đẹp của cô hàng quán, giọng nói của dân buôn bán, có đời sống không mưu tính xa xôi. Nguyệt khác Tuyết, Nguyệt có sự thành thật, nhất là bội bạc có báo trước. Tôi quen Nguyệt khi tôi biết rằng không còn gặp lại Tuyết nữa.
Trong ánh sáng vàng mù của quán nhỏ, tôi muốn nhớ một người này để quên một người khác. Khi quán được trả về sự yên lặng như ngoài đường phố kia, tôi nói với Nguyệt tất cả những gì tôi định nói với Tuyết. Sự khó khăn đối Tuyết ngày xưa như lần đầu tiên hút thuốc phải điếu Bastos. Sự dễ dàng đối với Nguyệt ngày nay như cùng thứ Bastos sau lần hút thứ bao nhiêu đó. Cũng cùng một thứ thuốc lá, cũng cùng một nhãn hiệu con gái nhưng hai lần không thể như nhau. Nguyệt hỏi rằng, sao ngày nào anh cũng có mặt ở nơi đây. Tôi nói, anh không thể vắng mặt ở nơi đây ngày nào, anh không thể sống nổi nếu trong một ngày anh không thấy em. Nếu anh không còn được gặp em, anh sẽ tàn tạ, anh sẽ chết héo úa, chết dần mòn, chết trong tuyệt vọng. Em cứ đếm số lần anh ký vào sổ là bao nhiêu lần anh nhớ thương em. Đã bao nhiêu lần anh trở về trong đêm khuya, một mình, anh mang theo ánh mắt em, mang theo đôi môi em, anh ấp ủ trong tim nụ cười em rạng rỡ. Tôi nói tự nhiên như cậu học trò nhỏ trả bài học thuộc lòng. Tôi nói mọi lần anh trở về, nhưng đêm nay anh ở lại với em. Anh ra đi một chốc, em đóng cửa rồi anh trở lại, mọi người không biết chúng ta gặp nhau.
Bóng tối và yên lặng khi tôi trở về. Nguyệt chờ bên cửa. Tôi hỏi, lâu không? Nguyệt lắc đầu. Tôi lách mình bước vào. Nguyệt ngã người vào lòng tôi, thân hình con gái mềm rũ. Nguyệt nói em thương anh, em yêu anh từ khi anh bước chân vào quán những buổi tối. Em thường tự hỏi, sao anh buồn vậy? Em nghĩ anh bị phụ tình phải không anh? Tôi lắc đầu. Anh có nghĩ đến mỗi lần em đem cà phê đến cho anh không? Anh có nhận thấy em pha cho anh ngon hơn những người khác không? Anh có biết sổ anh ký là sổ của em không? Ba má em không biết được nên anh còn mãi đến gặp em. Anh cám ơn em nhiều lắm. Anh đừng nói vậy, em chẳng tiếc gì với anh hết. Tôi như bị hỏa thiêu bởi tình yêu bốc lửa của người con gái, Nguyệt hiện thân của sự nóng bỏng, sôi sục. Bàn tay của thằng con trai và thân thể của đứa con gái. Thân hình Nguyệt cuộn như con rắn, đôi mắt nàng khép kín trong bóng tối. Một sự phó mặc hoàn toàn, hai tay Nguyệt buông xuôi, nàng đang lao đầu trong cơn lốc. Tôi ngửi mùi tóc nàng thoang thoảng trong không khí yên lặng của đêm khuya, hương tóc dịu dàng trong phút chốc đưa tôi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Tôi cảm giác từ nơi oi bức giữa nắng trưa hay dưới một mái tôn nào đó lụp xụp, từ lò lửa hừng hực hay trong lò hấp hơi cao độ, đến một nơi mát dịu trong chiều hay trong bóng cây xanh rậm, đến hồ nước trong xanh, hay trong phòng điều hòa không khí. Hương tóc đưa tôi về hình ảnh êm đềm của ngày đã qua, đưa tôi về bóng dáng của Tuyết những chiều tan học. Tôi rủ người ra như một giải lụa.
Người con gái cảm thấy sự thay đổi đột ngột, nàng mở mắt ra nhìn tôi. Đôi mắt Nguyệt ước sũng nước mắt, đôi mắt ngạc nhiên xấu hổ. Cảm ơn Tuyết, cảm ơn em, cảm ơn mối tình tôi đã giúp tôi thoát được điều lầm lỗi vô cùng. Nguyệt im lặng, nàng buông xuôi hai tay đứng yên trong bóng tối. Đôi mắt nàng mở to long lanh. Đôi mắt mèo cái. Tại sao tôi bất động thế này, hoạt động lên đi chứ. Nào! Cử động đôi tay rũ liệt, hãy làm công việc phải làm của nó xem sao. Sự yên lặng khuyến khích cho ta mà. Bóng tối đồng lõa với ta mà. Không nghe tiếng thằn lằn tiếc ra cho ta bỏ qua một dịp may hiếm có sao? Không nhớ mọi người đang say ngủ. Không nhớ nơi này, trước đó, ồn ào bao nhiêu, đông đảo bao nhiêu, bây giờ, chỉ còn đôi ta duy nhất cạnh nhau. Không nhớ ta bỏ biết bao thì giờ, ký bao nhiêu chữ ký đến mỏi cả tay, mờ cả mắt. Ta đã làm mặt dạn mày dày ngồi từ sáng đến chiều, từ chiều đến khuya, từ ngày này qua ngày khác. Ta phải giả vờ rất can đảm trước một số đông thằng đực, từ choai đến sồn, từ thằng ồn ào nhất đến thằng tính toán nhất. Không nhớ rằng ta phải khổ công học thuộc lòng những câu trau chuốt trong tiểu thuyết, phải trưng dụng tối đa trí nhớ, sắp xếp từng câu từng chữ cho đàng hoàng, lưu ý từng dấu chấm phết, để ngừng đúng lúc, lưu loát đúng lúc
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2014 06:04:02 bởi yeusachtruyen>
NGÀY QUANH QUẨN - PHẨN 3
MỘT NƠI TƯỞNG NHƯ YÊN
Tại sao tôi lại về đây?
Bác thư ký già dẫn tôi đi loanh quanh từ văn phong chính của trường qua mấy hành lang, rồi vòng theo cầu thang lên khu cơ thể học. Tôi vừa đi vừa nhìn quanh ngơ ngác như một kẻ đi lạc về thành phố. Chỉ mấy tháng trời xa nơi phố xá sao tôi cảm thấy lâu đến cả chục năm.
Đi giữa khung cảnh nguy nga của ngôi trường này càng lúc tôi càng cảm thấy không ổn về sự hiện diện của chính mình. Trước đây không lâu người ta đã ném tôi vào quân trường nhanh đến nỗi tôi không phản ứng được gì. Họ cạo đầu tôi gần như trọc, bắt tôi mặc quân phục, đội nón sắt, mang giày da, và đeo súng cồng kềnh.  Tôi không biết níu ai để than phiền. Bây giờ không những tôi được trở về thành phố mà còn đi tuốt vô ngôi trường này. Tôi biết trước như vậy, đã chuẩn bị rồi, nhưng vẫn trông lớ ngớ, đi loạng quạng như người còn mơ ngủ.
Sự thay đổi nhanh quá làm tôi bứt rứt không yên được. Với bộ đồ treilis xanh bụi bậm,  cái mũ cũ kỹ phong trần mưa nắng, thêm đôi giày ống nặng nề, dáng đi như muốn chạy, miệng lúc nào cũng chỉ chực đồng ca đếm nhịp, tôi thật không giống bất cứ ai nơi đây.
Tôi lủi thủi đi theo bác thư ký. Đường đi lót gạch ô vuông, bậc thang làm bằng đá mài nhẵn thin, tay vị gắn gỗ trơn bóng láng. Tôi cứ đảo mắt nhìn loanh quanh. Lạ thật. Điều lạ không phải những thứ đó quá sang và hiếm. Điều lạ không phải tôi chưa từng thấy chúng bao giờ. Mà lạ vì tôi cho chúng là lạ. Điều này chứng tỏ rất rõ rang khi các sinh viên mặc áo trắng đi ngược xuống cầu thang cứ trố mắt nhìn tôi. Các bạn lấy làm lạ lắm phải không? Đừng ngạc nhiên. Chính tôi còn lấy làm lạ cho tôi nữa mà. Đừng nhìn tôi nữa, lỡ bạn vấp té u đầu sứt trán không phải lỗi tại tôi đâu. Thế thì lỗi tại ai? Tôi không nghĩ ra điều đó.
Chúng tôi đi vào hành lang sâu hun hút. Bác thư ký bước đến căn phòng bìa có ánh đèn. Tôi nghi bác giới thiệu tôi cho một thư ký khác, rồi thủ tục ghi danh tại khu với một số giấy tờ. Thế ở đâu cũng có hệ thống quân giai, đâu cứ gì ở quân trường. Bác thư ký nói, chúc anh may mắn, sau khi bàn giao tôi cho một bác khác, cũng già y như vậy. Anh bắt đầu thực tập ngày hôm nay, bác ấy nói, anh biết mọi người đã học ba tháng rồi không? Ba tháng rồi, học trình chỉ có chín tháng thôi. Thế là tôi phải chạy nước rút cho kịp bạn bè đã chạy trước tôi những ba tháng.
Ồ…ồ…, mọi người đều dừng tay lại, dao kéo được bỏ xuống khay rổn rảng. Hàng trăm cặp quay lại nhìn tôi. Cả rừng áo trắng đồng loạt xếp hàng tự động thành tám dãy đều đặn. Làm gì nhìn tôi dữ vậy! Tội nghiệp họ hay tội nghiệp tôi. Chưa biết. Một chút xíu nữa tôi đã hô toáng lên “đại đội, nghiêm” rồi. Bác thư ký nói, đây là nhóm thực tập của anh, các bạn sẽ chỉ cho anh những chuyện phải làm.
Một anh sinh viên mặc áo trắng, đương nhiên không phải treillis xanh như tôi, hắn tên Phượng, cũng lạ, tên gì giống con gái quá, nhưng không hề gì. Anh tên Quang phải không? Tôi gật đầu. Hắn quay sang đám bạn thật vui vẻ, đây là người mất tích ba tháng nay. Cả đám bu quanh lại chăm chú nhìn tôi. Thiệt khổ, nhìn thì nhìn xin đừng rờ bậy tội nghiệp tôi. Mấy cô sinh viên đã nhìn trân trối lại còn chỉ chỏ trao đổi ý kiến với nhau. Mấy cô trông trắng quá, lại đẹp nữa. Xin lỗi tôi đã thấy mấy con nhỏ đen đúa ở câu lạc bộ quân trường quen rồi, da họ cháy nắng quân trường. Bây giờ trông các cô, ai nấy cũng như Tây Thi tái thế. Một cô, lại tên Phượng, nhanh miện nói, tụi tôi chừa cái chân này lại cho anh, chưa có ai động tới. Chừa cho tôi cái chân, trời đất, bộ các cô hết thứ gì khác để dành cho tôi hay sao? Tôi chưa kịp hỏi, thì một cô khác, thêm một Phượng nữa, chẳng biết Phượng ở đâu mà nhiều quá, cô nói, nhóm thực tập có mười người phải mổ mười phần cơ thể, phần chân được chia cho anh.
À, té ra các bạn thực tập mổ xác và để dành một phần cho tôi. Chà, cái xác ông già ướp thuốc nâu sậm bay mùi hóa chất nồng nặc đang nằm tênh hênh trên nắp hòm bằng kim loại. Tội nghiệp ông, bọn họ mổ ông nát nhừ, dây nhợ lòng thòng. Nhưng cái đó của ông, lại còn nguyên trông thật oai dũng, có lẽ nó nằm trong phần của một Phượng nào đây.
Phần này của ai vậy? Tôi hỏi. Một giọng the thé từ phía sau, cái đó không phải của anh, anh đã có rồi, anh muốn cái phần của tôi không? Vậy là đụng rồi, lần này không phải Phượng mà chắc một con cọp nào đây. Tôi ngoái cổ lại, một cô, tên Lan, đang đứng chống nạnh, chỉ tay vào cái xác bà già bên cạnh. Tôi thấy mặt cô vênh lên, mũi cong quặp như cú vọ. Tôi cảm thấy bị dội ngược, định hỏi, tưởng cô hỏi phần của cô té ra là phần cái xác mổ của cô. Nhưng thôi, linh mới đùa dai không tốt. Tôi trả lời, phần của cô xấu quá, không thèm. Cả đám cười rộ lên. Thế ra bọn họ làm bộ chăm chỉ làm việc nhưng thật sự vẫn theo dõi tôi, quyết không buông tha.
Tôi biết ra nhóm thực tập chia theo mẫu tự. Mỗi nhóm mười người phụ trách một xác mổ. Nhóm tôi gồm vần P, Q, R, S thành thử có ba Phượng, hai Phụng, hai Quang, Rung và Sơn. Cả nhóm xúm lại cho tôi mượn áo blouse, dao kéo mổ, sách Grand Atlas. Họ gỡ mũ kaki xanh trùm cho tôi cái nón vải trông giống như anh nấu bếp nhà hang.
Tôi bắt đầu làm việc theo sự chỉ dẫn trong sách. Nhát dao đầu tiên trong đời y khoa của tôi là một nhát dao không thể cứu vãn nổi. Hai cánh tay tôi đã quen cầm M-16, hít đất năm mươi cái không ăn thua gì, nay cầm lưỡi dao mổ nhỏ như lá liễu, bỗng dưng rung và cảm thấy nặng nề vô cùng. Lưỡi dao hạ xuống, tôi chỉ định cắt lớp da thôi, nhưng nó đi xuống ngọt sớt. Đến khi tôi nghe một tiếng “cụp” khô khan và lạnh lung. Thì thôi rồi, bao nhiêu cơ, thần kinh, mạch máu đều đứt lìa. Phượng mụn đứng kế bên, rên như bị thiến, thôi ông rớt thực tập năm nay rồi. Nhưng bọn họ đâu ngờ đến cuối năm, nhóm mười tên rớt đến bảy. Tôi nằm trong số ba tên qua cầu. Thôi đành phải cúng vái xác ông già và khấu đầu tạ lỗi với thầy, chuyện tôi qua mặt thầy. Tên học trò đã phải dở ngón công dung ngôn hạnh, đem chỉ trắng, vàng, hồng ra vá lại mấy thần kinh, mạch máu. Đến buổi thi, thầy hỏi mạch máu, thần kinh nào cứ việc nắm nó ra, mà phải nắm đúng chỗ nối mới được. Tội nghiệp, thầy quan sát rất kỹ, thầy khó nổi tiếng, mà cũng gật gù khen ngợi.
Hết giờ thực tập, xác đồng loạt được hạ xuống hòm đựng hóa chất. Tiếng rít của mấy tay quay kim loại và hai mươi  cái xác nâu sậm chìm dần vào lớp nước vàng đục. Mùi hôi nồng nặc của hóa chất và mùi hương nhang thoang thoảng đâu đó trong phòng làm tôi cảm thấy lơ mơ như bị hớp hồn. Xác ông già trong nhóm tôi đang chìm từ từ xuống. Tiếng nước tràn lên phần thịt kêu ục ục. Mấy sợi dây thần kinh và mạch máu còn lơ lửng trên mặt nước. Vài mảnh da vàng nâu như da thuộc đang nổi lều bều. Tôi thấy mặt ông già chìm xuống hẳn, hai hố mắt sâu hút đọng chút nước vàng và phần đầu trọc còn trơ vài sợi tóc dật dờ trên mặt nước. Cuối cùng một tiếng ục thật lớn phát ra và cái xác chìm hẳn xuống nước.
Mọi người lần lượt ra khỏi phòng. Tôi còn đứng tần ngần nhìn dãy hòm màu trắng bạc xếp đều đặn. Các nhóm đang xoay tay quay hạ xác xuống. Những tiếng ục ục liên tiếp nổi lên và toàn thể xác đã chìm vào trong. Bác quản thủ phòng xác đang đi lần từ cuối phòng để đóng các nắp hòm lại. Bác ngạc nhiên nhìn tôi lặng lẽ đứa giữa mấy dãy hòm. Với bộ quân phục xanh cũ, mặt đen đúa, choàng cái áo blouse và cái mũ trắng có lẽ tôi giống như một cái xác vừa nhảy ra khỏi hòm. Bác đừng lo, tôi vẫn thở, mắt đang nháy, và chân còn dính đất mà. Nhưng ông già vẫn nhìn tôi trân trối. Tôi đành phải nhếch miệng cười. Khổ thật ngay bác quản thủ phòng xác cũng nghi ngờ về sự hiện diện của tôi trong cuộc sống. Vậy còn ai nhớ đến tôi không? Chắc tôi đã chết hẳn trong trí nhớ của Tuyết và Châu rồi. Phải chi ông già còn cái hòm nào trống xin cho tôi một chỗ yên thân.
Sinh viên tan hàng nghỉ trưa để chiều vào giảng đường. Tôi lại phải xuống tập họp dưới sân trường. Đại úy Phong, đại đội trưởng sinh viên Quân Y, đang đứng chờ dựa lan can, vuốt cằm bóng nhẵn không có một sợi râu.
Ngoài sân trường chiếc GMC đang đậu lùi trong sân. Mấy anh hạ sỹ quan bắt cái thang ngắn sau xe cho sinh viên Quân Y leo lên. Thật lính kiểng có khác. Mấy anh sinh viên Quân Y, tên nào mặt cũng trắng như phấn, tranh nhau leo lên. Có tên còn bày đặt trợt chân. Sauk hi đại úy Phong đếm đủ số bốn mươi lăm. Đai đội một sinh viên quân y chỉ có bốn mươi lăm chứ không phải đủ túc số hai trăm như ở quân trường bộ binh.
Chiếc xe chở chúng tôi từ trường y-khoa trên đại lộ Hồng Bàng, vòng mấy ngã đường, qua chợ cá Trần Quốc Toản, theo đường Nguyễn Tri Phương về trường Quân Y. Mấy sinh viên huynh trưởng đang trờ trên vũ đình trường. Thật là chạy ô mồ mắc ô mã. Thoát khỏi quân trường bộ binh về đây lại đụng một tháng huẩn nhục.
Đại đội tập họp xuống sân cờ. Đại úy Phong bàn giao đại đội cho sinh viên huynh trưởng. Thế là bắt đầu. Mấy anh có một phút lên phòng cất sách vở.
Sinh viên quân y còn huấn nhục, không được ở trong khu nội trú như đàn anh, phải ở trên một tấng lầu rộng phía bên hành chánh quản trị. Từ khu đàn em cách khu nội trú của đàn anh cả khoảng rộng vũ đình trường. Bên đàn anh có câu lạc bộ, có nhạc, bi-da và đầy đủ các thứ giải khát. Bên này đàn em chỉ có trơ trọi căn nhà tiền chế với cầu thang gỗ. Chung quanh toàn là đá sỏi. đất không có đến một cọng cỏ xanh. Thú thật đàn em chán cảnh khô cằn đó lắm rồi.
Đàn em túa chạy như đàn ong vỡ tổ, lên lầu cất sách. Chưa lên hết cầu thang đàn anh đã thổi còi tập họp. Thôi thì sách vở cứ ném vào phong, chạy xuống ngay cho kịp. Các anh chưa có tác phong quân y, lề mề, chậm chạp. Huynh trưởng đề nghị chạy mười vòng vũ đình trường trước khi ăn cơm. Thế là dưới nắng trưa đổ lửa, huynh trưởng chạy trước, đàn em lục tục theo sau. Qua được một vòng, đàn em bắt đầu thở hồng hộc. Đến vòng hai, ngoài tiếng thở lại có tiếng rên rỉ, chửi rủa lầm bầm. Huynh trưởng Vân lùn bên Dược Khoa, quát mắng ầm ĩ, đàn em không có tác phong lại hỗn láo dám chửi đàn anh. Hắn vào thế huynh trưởng Hầu, vì có một đàn em sùi bọt mép té xỉu. Không biết xỉu thật hay giả, nhưng có xỉu được rồi, ít ra cũng mềm lòng đàn anh chút đỉnh. Huynh trưởng Hầu bắt mạch tên đàn em xấu số rồi vạch mắt nghe tim xong gật gù có ý không sao. Đến vòng thứ ba, them vài tên gục ngã, hai phần ba đại đội ngồi bệt xuống sân vũ đình trường, không thèm chạy nữa. Đàn anh đã thay phiên mà còn thở hồng hộc. Tôi bị quần thảo ở quân trường bộ binh quen rồi nhưng thấy đàn anh thở một mình phải thở mười. Chọc giận đàn anh lúc này đồng nghĩa với tự vận.
Hai huynh trưởng gom đàn em lại, tiếp tục vừa chạy vừa lết xuống nhà ăn. Huynh trưởng lại bắt đàn em ca cho phấn khởi. Mặc dù đàn em chẳng còn chút hơi sức nào. Mặt mày tên nào cũng tái nhợt, thở hổn hển, ca thều thào như sắp từ giã cõi đời.
Nhà ăn phía sau khu nội trú sinh viên quân y nên đại đội muốn đến đó phải qua khu đàn anh. Tiến đàn em hát những bài hùng tráng nhưng lại thê thảm như tiếng sáo Trương Lương trong đêm sương mù nhiều gió lạnh. Đàn anh từ bên trong các phòng túa ra, chẳng khen thì chớ, lại đem ba đời đàn em ra chửi rủa thậm tệ. Cả đêm họ phải thức khuya học bài thi, giờ trưa đang yên giấc điệp, bị tiếng ca nảo nuột của đàn em quấy rối làm họ nổi điên lên.
Bọn tôi bị tập họp trước nhà ăn. Huynh trưởng cho ăn một màn thóa mạ chửi rủa trước khi bố thí cho bữa cơm.
Huynh trưởng lôi tam đại nhà đàn em ra nhiếc mắng. Mang phẩm giá đàn em dày vò, chà đạp không tiếc lời. Chưa đã nư, huynh trưởng còn bắt đàn em ca vài bài cho mềm cổ, nhảy xổm vài chục cái cho dãn gân trước khi ăn.
Sau bữa cơm trưa, đàn em lại phải chạy vài vòng vũ đình trường. Rồi một phút lên lầu lấy sách vở, đại đội được bàn giao lại cho đại úy Phong. Đàn em thở một hơi dài, tự động thao diễn nghỉ.
Chiếc GMC chạy lùi vào vũ đình trường. Thang được bắt lên. Đại úy Phong điểm quân số. Bụi lại tung lên trong nắng trưa gay gắt. Xe lướt qua bệnh viện Trần Ngọc Minh, mấy thương binh băng bó trắng xóa nhìn lom lom theo. Đàn em ngồi trong xe vừa mệt, vừa thở, vừa chán đời. Nắng trưa lấp loáng qua mấy nóc nhà tôn. Mọi người yên lặng lắng nghe từng giọt mồ hôi nhễ nhại chảy từ hai mang tai, xuống cổ và thân thể. Cái nóng hâm hấp từ bên trong cộng với cái nắng hừng hực bên ngoài, góp lại cái mệt tinh thần và thể xác làm mọi người ngồi yên như hôn mê. Tôi nghe loáng thoáng tiếng gà gáy trưa, tiếng cục cục của gà mẹ, chíu chit của gà con. Hình như phảng phất dáng con cho vàng nằm thè lưỡi thở dưới bóng tre. Đâu đó tiếng chuông reo leng keng của người bán cà-rem, tiếng rao lanh lảnh của bà bán tàu hủ đường.
Tôi nhắm mắt, thấy lại áo dài em trắng chóa dưới nắng trưa. Thấy môi em đỏ, má em hồng, tóc em cột nơ vàng và khuôn mặt em cười rạng rỡ. Thấy tôi loạng quạng đâm xe đạp vào hàng rào lộn cổ dưới bước chân em. Tôi mơ lại ngày Quang Trung nắng lửa. Thấy mình phơi thây trên ụ bắn chói chang, thân thể thủng hàng trăm lỗ đạn. Thấy mình đi cúi mặt đội nắng lên đầu, mồ hôi dã dượi, mắt cay xè đọc táp nuốt trang cour. Thấy An, dáng gầy gò đưa thân chịu tội. Tôi nhắm mắt lại thấy cả quay cuồng.
Tại sao tôi lại về đây?
Chồng cours chất cao ngang mũi tôi. Chị Lợi, trưởng ban  học tập ấn loát, và mấy anh bạn mang lại cho tôi mớ cours đó. Ba tháng cours anh phải nuốt cho xong, chị nói, ngày thi còn một tháng nữa, kỳ đầu bị rớt kỳ sau phải bù khổ lắm. Bọn họ nhìn tôi thương hại cho tên bạn xấu số. Nhìn tôi như xót xa cho kẻ sắp lên đoạn đầu đài. Quân trường và chiến trường vẫn như mảnh thú chực chờ chụp lấy tôi. Thoát thân được một lần chạy như ma đuổi về thành phố. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hoàn hồn và thở chưa đủ hơi cho hết mệt. Nếu để bị bắt lại lần nữa thì không phái chết êm ái như trong trí nhớ  của Tuyết và Châu như tôi đã làm bộ buồn rầu. Lần này chết thật sự, tắt hơi, chấm dứt hẳn sự sống. Nhưng không sao, chưa chết là may rồi. Còn sống phút nào rán phút đó.
Hơi lạnh từ sàn giảng đường thổi lên ù ù mát không thể chịu được. Hai mắt tôi sụp xuống. Thôi chữ nghĩa, súng ống, quân trường, học đường, vũ đình trường, bệnh viện và phòng thí nghiệm. Bây giờ tôi xuôi tay và nhắm mắt. Xin đừng bắt tôi chạy nước rút cho kịp kẻ đã khởi hành ba tháng trước. Xin đừng huấn nhục tôi nữa. Bao nhiêu nhọc nhằn đã qua tôi xin biện ra đây cho mọi người xem xét. Đủ hay không xin người hãy chịu. Mỗi ngày tôi phải chạy bao nhiêu vòng vũ đình trường, ca hát như người đọc thần chú, rồi vào giảng đường giương cổ, banh mắt, và vểnh tai cố thu mớ chữ rối loạn vào đầu. Người còn bày trò để máy lạnh vào giảng đường như tụng kinh cho tôi sám hối. Bây giờ tôi thật sự nhắm mắt yên thân rồi.
Quán ma Soeur, bờ hồ Stomach, những giờ trống ngồi dưới bóng cây mẹ rậm mát với một xấp cours trong tay. Đã nhiều lần tôi muốn ném nó đi, nhưng ném tay này phải bắt lại tay kia. Nó làm tôi mệt mỏi nhưng chính nó là kẻ hướng dẫn đời tôi. Phiền quá, tôi không hiểu hay là tôi không chịu hiểu. Diễn biến chung quanh vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của tôi. Những ám ảnh của quá khứ vẫn dằn vặt trong đầu. Tôi muốn chối bỏ những điều tôi suy nghĩ. Tôi muốn quên những điều tôi đang nhớ. Tôi muốn mù lòa trước những gì tôi trông thấy. Như dáng Châu tha thướt ngoài kia. Tại sao nàng cũng bày đặt chui vào ngôi trường này để tôi phải gặp lại người tôi không muốn gặp. Những ngày lao đao xưa là những ám ảnh khôn nguôi. Ở đây không còn điệp vàng nhưng có me xanh, có hồ Stomach. Ở đây không có vườn thực vật nhưng có nước phun, sỏi và bông sứ trắng. Cảnh không là cảnh xưa nhưng người cũ vẫn trở về. Dáng Tuyết dù đã xa trong trí nhớ nhưng lòng tôi đau như mới tinh khôi. Nơi đây giữa hành lang rộng thênh thang lộng gió, áo lộng tà như căng nỗi đau lên. Lá me xanh rắc nhẹ trên mặt hồ như rải buồn trên niềm u uẩn không phai. Ôi, dáng Châu là một chuyện đời tái diễn. Tại sao tôi không chận Châu lại ở một nơi nào đó, ngoài hành lang, trong thư viện, hỏi thăm nàng một vài câu. Tại sao không chào những lần đụng mặt?  Có lẽ nàng chẳng còn nhớ những ngày đã xa không đáng nhớ. Một cánh én chao qua mái lầu đại giảng đường không đủ cho nàng xao xuyến chuyện xưa. Cánh sứ trắng không thể thay cho hoa điệp vàng ngày đó.
Tôi chưa bao giờ toan tính một điều gì với Châu, không âm mưu hay dàn cảnh chuyện gì cả. Tôi vẫn theo dõi nàng đâu đó trong trường. Qua Châu tôi vẫn thấy dáng Tuyết về bất chợt. Tôi thương nhân dáng đó, con người đó hay thương mối tình tôi. Tôi không hiểu hay tôi chưa muốn hiểu. Tôi chui vào giảng đường, ra ngoài phòng thực tập, về ướng quân y, cours vẫn chồng chất ngập đầu. Chuyện cũ tái diễn, cài xấp cours sau lưng, đọc nó khi đứng, khi đi, khi ăn, khi làm chuyện vệ sinh. Chỉ khác không còn M-16 với nhựa che tay, không còn mồ hôi cay xè trong mắt. Không còn chà láng, không còn giao thông hào, không còn dáng dấp An gầy gò đau khổ. Nhưng tôi cảm thấy bất ổn trong lòng. Có gì không yên trong trang cours. Có gì mong manh đau đớn với dáng Châu nhẹ nhàng trong hành lang im lặng. Có gì buồn thảm với lá me bên hồ Stomach.
Tôi vẫn vùi mài với bài học trong giảng đường, chai lọ hóa chất xanh đỏ trong phòng sinh hóa, cái chân te tua dây nhợ của ông già trong phòng cơ thể, chuột thỏ trong phòng sinh lý, hay bài vẽ đủ màu trong phòng mô và di truyền học.
Những ngày huấn nhục trôi qua, chúng tôi được cởi bỏ treillis xanh và  khoác lên bộ kaki vàng mềm mại, cầu vai đỏ với alpa vàng, mũ beret đen với long tua sau gáy. Bạn bè đã quen thuộc với đám quân y, trông cũng không đáng ghét lắm. Nhưng họ vẫn cười vì đám ấy đi nhanh như chạy, đầu trọc chỉ ba phân tóc. Đang đi vào nhà ăn MaSeur bỗng dưng đứng sững lại trước cửa giơ tay chào. Xong giở nón beret nhét vào sau lưng quần. Rồi vài chuyện tình nảy sinh giữa cô sinh viên duyên dáng và anh chàng quân y có vẻ ngây ngô.
Một năm trôi qua, bốn mươi hai người phải ở lại lớp trong số  hai trăm người. Tôi lại sống sót thêm một lần nữa. Cầu vai alpha được thêm một vạch, đám quân y có vẻ cứng cáp và thân thiện với mọi người hơn.
Tại sao tôi lại về đây?
Hết giảng đường, phòng thí nghiệm rồi đến bệnh viện. Lúc trong quân trường tôi cứ nhớ về thành phố, bây giờ vào bệnh viện tôi lại không quên được cảnh gió bụi nhà binh. Đi giữa hành lang trại bệnh, đếm từng viên gạch bông tôi còn muốn đếm nhịp đồng ca. Nhưng chẳng ai có hứng thú làm chuyện lạ đời đó với tôi. Nghe tiếng rên xiết của bệnh nhân tôi cứ ngỡ mình bị ném vụt từ quân trường ra chiến trận. Không có tiếng còi nhưng miệng muốn đọc thần chú và chân giật kinh phong. Đột ngột thấy người tay cứ đưa lên trán và mặt cứ ngẩng lên chào. Đã mặc áo blouse trắng, đeo ống nghe sao cứ thủ bộ như đang kềm súng di hành.
Tôi cảm thấy mình lúc nào cũng vướng một nửa quá khứ vào người. Còn lại một phần tư cho hiện tại và tương lai. Tuổi đời càng chồng chất phần quá khứ càng nặng nề hơn. Cũng may tôi còn trẻ măng nên còn đi đứng được. Nếu không sớm tu sửa cho kịp một ngày nào đó chắc tôi phải nặng nề lết từng bước trên đời. Khổ thật, nhưng biết làm sao hơn.
Vào bệnh viện tôi lại thích ra phòng cấp cứu. Không hiểu tại sao tôi thích làm việc ở đây hơn ở những trại khác. Có lẽ tất cả hỉ, nộ, ái, ố của cuộc đời đều tề tựu vào đây cả.
Một bà giãy giụa trên băng ca đang bị ba người xúm nhau đè cột lại. Nhưng họ cũng không thể giữ nổi bà. Tôi phải phụ với họ cột tay chân bà lại . Người chồng đã bị đuổi ra ngoài rồi. Ông này có đến hai vợ bé, chứ không phải một, bà vợ ghen đến nổi điên, cứ thấy chồng là sùi bọt mép.
Ông nằm sát vách là một giáo sư dẫn học sinh đi cuốc đất để nghiên cứu trồng trọt. Đám đệ tử không cuốc vào đất mà nhè gót chân ông thầy bửa cho một nhát. Thế là ông được cho vào nằm đây. Đám học trò còn đang nhốn nháo ngoài kia.
Một cô bé đang nằm trong góc phòng, khoảng đôi mươi, được chở vào đây lúc sáng sớm. Ông già đang đứng bên giường có vẻ lo lắng lắm. Ông không hiểu sao đột nhiên con gái ông ra máu dầm dề. Sau đó bác sỹ trực tìm thấy một bóng đèn xoắn ốc bị bể từng mảnh trong ấm đạo.
Đằng kia một bà khoảng gần bốn mươi, đang nằm trên băng ca chờ chở về nhà. Bà vào với triệu chứng đau bụng đã hai ngày, người ta khám phá được một cục pin được giấu kỹ trong đó, to thì có to nhưng quá ngắn.
Còn nữa, anh chàng nằm gần cửa với triệu chứng đi tiểu ra máu, không cần phải khám gì hết, đã thấy một khúc dây cước còn lòi ra ngoài.
Chuyện trần gian hỗn loạn đều vào cả đây trình diện. Tôi loay hoay không xong với cuộc sống bản thân lại quẩn quanh hoài với những xôn xao thiên hạ. Một ngày nào đó tôi sẽ thấy chính mình nằm trên băng ca với các vết thương tuyết-châu nát bấy trên người. Oằn oại với mấy tính yêu đã thành ung thư  không thể chữa trị được.
Hết bệnh viện về lại trường quân y. Thứ bảy là ngày chuẩn bị vui của mọi người nhưng là ngày khốn khổ của chúng tôi. Sau khi được nửa giờ ăn trưa mọi người phải tập họp ra vũ đình trường theo thông lệ. Mọi người đều trông sáng sủa với tóc trọc ba phân, bút nịt đồng, giày ống đen bóng loáng như gương. Trong túi tên nào cũng sẵn sàng cái lược đen nhỏ với khăn tay xếp làm tám. Chúng tôi cảm thấy đầu tóc trọc với cái lược đen lúc nào cũng chửi nhau thậm tệ. Đại tá bảo, sinh viên quân y phải học giỏi, quân sự giỏi, biết văn nghệ, thêm võ giỏi, khi nói chuyện với phụ nữ không được bỏ tay vào túi quần, ăn chuối phải bẻ làm hai trước…Đại tá muốn nhiều thứ quá. Đám con than thở không ngừng. Từ tờ mờ sáng, đúng bốn giờ rưỡi, chuông trong khu nội trú đã kêu réo rầm rĩ. Chúng tôi phải mặc võ phục xuống võ đường học nhu đạo. Theo lời giáo huấn của võ sư, một đòn thế tên này phải ném tên kia mười lần. Nhưng chúng tôi làm chỉ đúng cách một lần khi võ sư đứng gần, còn các lần khác tên nào cũng nâng niu tên kia như nâng trứng hứng hoa. Chúng tôi phải thức khuya gạo bài hàng đêm, xương cốt gần sút sổ hết rồi. Vật nhau đúng cách chỉ có nước chầu nhị tì sớm.
Sau bốn mươi lăm phút tập võ, chúng tôi được về sửa soạn đi nhà thương. Trưa phải về ăn cơm, có huynh trưởng ghi tên. Đại tá nghĩ rằng cơm trường quân y bổ hơn, mỗi bữa có chuối và một viên Nona Vitamin. Thường thì chuối bị ăn còn thuốc bị bỏ vào thùng rác. Mỗi tuần phải lên bàn cân, tên nào sụt cân sẽ bị đại tá mắng chửi cho. Lại còn phải uống thuốc ngừa sốt rét, nhưng thuốc cũng chung số phận với viên Vitamin thôi.
Sau bữa cơm trưa phải về đại giảng đường của trường y khoa. Bốn giờ phải banh mắt, kềm đầu, không thôi gục bất tử, cuối năm lại toi mạng.
Chiều về lại trường quân y, sau khi tắm rửa và cơm chiều, chúng tôi phải tập họp lại để bị điểm danh. Xong xuôi một hồi chuông reo điếc tai, giờ “etude surveiller”  bắt đầu. Chúng tôi phải mặc quân phục, nhưng không cần đúng mức như mang giày hay bỏ áo trong quần. Phải ngồi ngay ngắn, vào bàn với xấp cours trước mắt. Có huynh trưởng hay cán bộ len lén đi kiểm soát. Không được nghe radio, không được đọc sách giải trí, không được nằm trên giường, và phải giới hạn chuyện đi vệ sinh. . Lắm tên hay đau bụng nhưng lại táo bón khi đi cầu. Thường thường bên dưới tập cours là tờ Văn, Văn Học, Bách Khoa, hay một quyển Kim Dung. Phải học, chỉ có học thôi. Phải ngồi ngay đơ trong hai tiếng đồng hồ  thật là một cực hình. Tên nào không chăm chỉ phải ở lại học thêm tối thứ bảy và ngày chủ nhật.
Thế chưa hết, chúng tôi phải thường xuyên tập họp chịu kiểm tra quân phục, súng ống, và thao dượt diễn hành. Quần áo phải ủi thẳng tắp và giày phải đánh bóng. Còn nòng súng phải sáng choang khi soi ngược dưới nắng mặt trời. Lần nào bị kiểm súng chúng tôi cũng cầu cho trời đất đừng nổi cơn gió bụi, sợ một hạt bụi nào đó không phải làm cay mắt mà chui ngay vào nòng súng, phiền lắm. Từng đại đội được xếp hàng bốn, tay trái bị cột để đánh cho đều nhịp và diễn hành vòng quanh vũ đình trường. Đám sinh viên quân y như đội quân máy chạy dây thiều, thần trí lơ mơ đi cà giật trong bụi tung mịt mù. Chúng tôi y như những hột xí ngầu bị đại tá lắc liên tu bất tận đến thần trí quay cuồng, thân thể tàn tạ.
Tại sao tôi lại về đây?
Cours chồng chất tới tấp, đêm tiếp đêm thức trắng, chùi súng lại diễn hành, sáng tất tả trong nhà thương, chiều gật gù trong giảng đường. Kỳ thi này san sát kỳ thi khác. Những năm kế tiếp trôi qua, thêm một số người ngã gục. Số sống sót trong lớp còn được hơn phân nửa. Trong quân y có năm người bị ở lại, trong số đó hai người bị đưa ra chiến trường, về trợ y vì rớt liên tiếp hai năm. Tin tức chiến trường sôi sục tới tấp bay về. Một số huynh trưởng vừa ra trường đã anh dũng hy sinh. Chúng tôi được tập họp lại đưa linh cữu trong sự lo lắng và hoang mang.
Tôi có gặp lại An trong mấy lần về phép, hắn vẫn ốm, đen và khắc khổ. Những buổi tối ngồi uống cà phê, nghe nhạc đã mang nhiều tâm tư và rung động khác. An chảy nước mắt khi nghe những bài ca nói về quê hương và thảm cảnh chiến tranh. Tôi cảm thấy mình bất lực trước thực tại đau buồn của đất nước. Tôi muốn làm điều gì để thay đổi cục diện này, của tôi, của An, và của những người chung quanh. Nhưng tôi không biết phải làm gì? Tôi không thể tự chủ được cuộc sống của mình, không thể gượng lại được và bị cuốn hút như một chiếc lá vào con nước xoáy lũ.
Sau đó An không vế phép thường được nữa. Một vài lá thư An gửi về với tâm trạng hoảng hốt và hoang mang. Chiến tranh càng sát vùng phụ cận Sài Gòn. Pháo kích liên tiếp về đêm. Chất nổ gài trong rạp hát, quán nước và khách sạn Mỹ dồn dập. Chúng tôi bị dồn xuống dưới lầu. Giao thông hào được đào chung quanh khu nội trú để phòng pháo kích.
Sáng hôm đó, lúc tôi sắp rời trại để đến nhà thương thì có loa từ văn phòng tiểu đoàn báo có người cần gặp tôi gấp ngoài cổng trại. Tôi biết, một điều gì đau đớn đã xảy ra cho tôi, một linh cảm từ lâu tôi cố quên nay đã thành hình. Tôi lái xe Honda ra cổng trại. Thủy, em gái An đang đứng trước đồn canh. Thôi rồi, tôi biết, không cần em nói, tôi không cần ai nói cho tôi cả. Thủy mặc bộ quần áo trắng, lại trắng toát, tôi không ưa thứ đó. Thủy trong dáng dấp thiểu não như muốn ngã, nghẹn ngào nói, anh An…Không cần nói, tôi nói với Thủy như tôi nói cho chính mình, lên xe mau đi. Chiếc xe chạy vùn vụt như bay, gió thổi sao lạnh hai bên khóe mắt.
Trong nhà dì của An đèn thắp sáng trưng. Hình bán thân của An mặc quân phục với quân hàm thiếu úy đang đặt trên chiếc bàn nhỏ sát vách. Đèn cầy cháy lao chao, khói nhang bay nghi ngút. Tôi đứng yên, trân trối nhìn hình An. Mẹ An ôm lấy tôi khóc ngất, cha An ôm đầu lặng lẽ ngồi trong một góc nhà. Tôi không nghĩ được điều gì cả. Trong óc tôi trống không vô tận. Rồi cảm giác nặng trĩu từ từ lớn dần và lớn dần. Mẹ An té xỉu xuống đất. Tôi không làm được gì cho ai cả và ngay cả cho chính tôi. Vài người đỡ bà vô trong. Tôi lui lại ngồi vào chiếc ghế phía sau. Tôi thấy tối sầm trước mắt. Tôi cảm thấy đôi mắt nóng bỏng và cay xè.
Thế là xong, không còn trở lại những ngày đồng ca đếm nhịp, ly cà phê chia đôi và điều thuốc hút chung. Không còn giao thông hào, sáng tinh sương chà láng dưới ánh đèn cầy leo lắt.  Không còn đêm cà phê buồn dã dượi. Không còn ai quấy rầy. Bây giờ yên lặng.
Chiều hôm đó tôi cùng gia đình An lên nghĩa trang Quân đội nhận xác An.
Một rừng hòm phù cờ xếp bốn dãy chạy dài mút mắt. Rất nhiều phụ nữ và trẻ con mặc áo tang đang thắp nhang vái lạy. Gió thổi từ phía nhà xác mang lại mùi tanh nồng nặc, quyện với mùi nhang và tiếng than vãn kể lể, làm khung cảnh càng tăng thêm vẻ thê lương.
Chúng tôi đi xuyên ngang mấy dãy hòm bước vào bên trong. Mấy người lính dẫn chúng tôi đi sâu vào dãy nhà xác phía trong. Mùi hôi càng bốc lên nông nặc với hơi lạnh tỏa ra làm chúng tôi rùng mình. Người lính kiểm đúng số trên ngăn hòm làm bằng tôn, xong từ từ kéo nó ra. Trước mặt tôi, An nằm đó lạnh lùng và đau khổ hơn lúc nào hết. Mặt hắn tái xám, mắt nhắm nghiền, đâu còn nét đẹp thiên thần ngày nào trong Vườn Tao Ngộ.
An nằm đó, yên lặng, yên lặng đến tận cùng đau đớn và tức tối. Tiếng khóc của cha mẹ An, của Thủy càng đưa nỗi đau xa hơn bến bờ tận cùng phải đến. Những người lính từ từ kéo tiếp cái xác ra. Một loạt chừng sáu dấu chấm đen to như đầu đũa trải đều từ phía vai trái đến hông phải của An. Sáu chấm đen như những con mắt quỷ sứ mù lòa trên màu da xám xịt. Một chấm cũng đủ giết An rồi huống gì đến sáu. Hắn yếu đuối và hiền lành lắm. Đâu cần nặng tay như vậy. Sao không cho những chấm ấy bay ra ngoài không trung. Sao không cho những chấm ấy vào chân tay hắn. Sao không cho hắn được què quặt trở về. Sao không cho tôi san sẻ vài chấm ấy vào chân tay để cùng nhau trở về thành phố. Nhưng chúng tôi sẽ không ăn mày tình thương những người ở đó. Chúng tôi sẽ dẫm nát những tham vọng đê hèn, những khoái lạc nhục dục trên xương máu người khác. Chúng tôi đã lớn lên trong sự tăm tối mùa lòa của đất nước, trong mưu đồ vị kỷ của lãnh đạo, trong sự bất lực và quên lãng của cha anh. Chúng tôi đứng dậy, không thấy gì ngoài mây mù, gió lốc của cuộc đời. Không biết mình đi tới để làm gì, nên làm gì, và phải làm gì? Bị ném vào cơn lốc như thác lũ ấy, và bị cuốn hút quay cuồng, rồi bị sa lầy vào những mối tình vô vọng. Cuối cùng, hắn chấm dứt sự sống ở một xó tối lãng quên của cuộc đời. Ước gì, tôi đổi được một phần cơ thể cho những dấu chấm ấy. Ước gì, tôi đủ sức không chỉ mang An mà nhiều người khác nữa ra khỏi con đường xuôi nhị tì, như An đã nói. Nhưng đó là ước mong và chỉ là ảo vọng. Tôi không làm gì khác hơn được điều tôi làm bây giờ. Tôi còn sống sót là may lắm rồi.
Bây giờ, tôi chỉ mong được yên lặng và lãng quên. An đã đi rồi, một người bạn, có lẽ, tôi khó tìm lại được trong quãng đời còn lại. Tôi hoài nghi về cuộc sống. Có thể. Không còn gì, cho tôi, có thể tin được nhiệt thành như ngày mới lớn. Sự ra đi nào cũng mang nhiều đau khổ, dù vô tình hay cố ý, đương nhiên, nhiều hơn, cho người ở lại. Một sự ngoảnh mặt, quay lưng, một sự dửng dưng đau lòng hơn một lời chửi mắng. Thì sự ra đi vĩnh viễn, dĩ nhiên, đã lên đến tột đỉnh của niềm đau.
Những người chung quanh còn đang khóc vật vã. Tôi bước ra ngoài đi lang thang. Hòm phủ màu cờ vẫn ngập tràn chung quanh. Một chuyến xe về thành phố. Rồi chiếc xe như ngựa quen đường cũ trở về mái trường ấy. Những cánh nhạn còn chao qua nóc giảng đường. Những cánh sứ vẫn rơi nhẹ trên những viên sỏi trắng ngây ngô. Những bụi lá me vẫn buông xuống mặt hồ Stomach phẳng lặng.
Quán Ma Soeur buổi chiều yên lặng. Mọi người đang gom cả trong đại giảng đường. Tôi là một người tỉnh táo hay một kẻ lạc loài ngoài đây. Không nên biết và không nên suy nghĩ về điều đó. Ngày mai tôi lại chui và nơi ấy như bao người khác. Tôi không thích đi về một ngã rẽ nào thì lại càng không muốn trở lại con đường xuôi nhị tì.
Giờ học tan, mọi người đang chen chúc ra khỏi giảng đường. Tôi thấy dáng Châu lẫn khuất, chập chờn trong đám đông ấy. Dáng nhỏ nhắn, thân thương quấn quýt quanh mấy người bạn. Dáng ngây thơ nhưng những ngày nàng thơ thẩn dưới bóng điệp vàng. Dáng kiêu kỳ như chiều nàng quay lưng bên vườn thực vật. Và nay dáng đau khi nàng cùng ai song đôi trong hành lang chiều lộng gió. Tôi còn gì để níu kéo hôm nay. Thì thôi. Không còn gì để suy nghĩ thêm. Điếu thuốc bị dụi xuống mặt gạt tàn. Hãy lãng quên những gì không đáng nhớ. Liệu tôi có chắc điều gì không đáng nhớ để lãng quên?
Chiếc xe vẫn theo đường cũ trở về trường Quân Y.
Một giáng sinh lại sắp trở về. Một vài dấu hiệu trong trường đang chuẩn bị một buổi lễ. Nhưng không phải chính thức mừng giáng sinh, mà cho lễ tốt nghiệp khóa hiện dịch sinh viên quân y.
Tôi ngồi xuống thềm kỳ đài. Những thương binh áo xanh đi chậm chạp bên kia hàng rào bệnh viện. Đại đội nữ quân nhân đang di chuyển về phía trại hạ sỹ quan, âm thanh lảnh lót của phụ nữ vẫn có tác dụng làm tỉnh táo lòng người. Mấy chiếc xe Honda đang tiến dần ra cổng trại. Mặt trời đã lặn mất phía trời tây.
Buổi chiều xuống thật trọn vẹn trên vũ đình trường.
Tại sao tôi lại về đây?
Mệt! Tôi không muốn suy nghĩ thêm chút nào nữa.
 
 
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.06.2014 13:31:45 bởi ticonuong>
Tôi cố tình nhớ rất nhiều, thế nào rồi cũng bất động. Hương tóc quái ác, tôi không thể so sánh, tôi chỉ nói được, tôi phải liên tưởng đến hương dạ lý phảng phất trong đêm. Đã có lần, không lâu lắm, vì tôi còn nhớ được tôi đã ngửi hương tóc Tuyết với hương dạ lý trong đêm.
Tôi xô cửa bước ra ngoài, đứa con gái bật khóc sau lưng. Tôi bỏ tay vào túi quần đi lầm lũi. Con đường vắng lặng, trăng không tròn nhưng trăng sáng vằng vặc. Mặt đường nhựa trông lạnh đến rùng mình. Mấy con chó moi những thùng rác bên đường, rượt đuổi nhau sủa ong óng làm hoảng hốt những cặp nhân tình trẻ ôm ghì nhau bên mấy cột đèn đường.
Hôm sau tôi trở lại. Quán vẫn đông như thường lệ. Nguyệt lạnh lùng trong quầy như mọi khi. Tôi nhìn nàng cố gắng hết sức để tạo một nụ cười nhưng không được. Một thằng nào đó mặc áo sơ mi đỏ bó thắt, tóc dài chấm vai, đấu hót nhăn nhở với nàng. Hắn mang gọng kính cận dày, đôi cánh tay khẳng khiu săn áo phô trương nhưng sợi lông lưa thưa, trông hắn có vẻ ngôi sao sáng trong giới choai bây giờ.
Cà phê được đem ra khác với những lần trước. Sự khác biệt do mảnh giấy khổ hai mươi bảy liệt kê số tiền ký sổ của tôi trong những ngày qua. Chưa đọc đã thấy mỏi mắt. Bên dưới mảnh giấy tổng kết số tiền đáng kể, kèm theo &lt;&lt;yêu cầu thanh toán gấp&gt;&gt;. Tôi lột chiếc đồng hồ trên tay gói vào mảnh giấy đến bỏ trên quầy hàng. Từ đó tôi không còn trở lại quán cà phê ấy nữa.
Tôi đi dọc theo hè phố đông người. Tôi lẩm nhẩm ca một đoạn nhạc nào đó đến đúng lúc với trí nhớ khốn cùng của tôi lúc này. Tôi cảm thấy yêu đời vô cùng. Tôi đếm số tiền vụng trong túi, phải bắt đầu quen con nhỏ bán thuốc lá đầu đường, hương Bastos không thể đủ cho ngày tháng quá dài sắp tới. Tôi xóa ngay mối tình vừa qua dễ dàng hơn người ta xóa dấu chân tên cát.
Khi tôi đặt mớ bạc vụn trên mặt kính, Lan, tên con bé ấy, nhoẻn miệng cười. Tôi biết nó cười chẳng phải vì mới tiền lẻ ấy và càng không phải chịu nét mặt đẹp trai của tôi. Nó thích có bồ là sinh viên, thế thôi. Tuy những tháng gần đây tôi chẳng còn ôm chồng cours dày cộm đi qua như trước nữa, nhưng Lan có trí nhớ lạ lùng, gọi đúng tên tôi khi tôi mua gói Bastos đầu tiên trong đời thả khói của tôi. Nó bảo rằng tình cờ đọc được tên tôi trên một bìa sách. Tôi chẳng cần để ý làm gì đến Lan lúc đó, nhưng bây giờ Lan trở nên rất quan trọng đối với tôi.
Lan đặt gói Bastos vào tay tôi, bàn tay con gái lúc nào cũng mềm và mát cả, cho anh nợ hôm nào trả cũng được. Tôi bảo đừng cho tôi nợ, vì nợ được một lần tôi sẽ tiếp tục nhiều lần sau nữa và em nên nhớ rằng trên người tôi ngoài cây bút nguyên tử chả còn gì cho em lột để trừ nợ đâu. Lan trả lời, em chỉ mong được có thế thôi. Từ đó, tôi tháng ngày ngao du, vừa hút thuốc không mất tiền, vừa được Lan tài trợ phần cà phê. Mỗi ngày chỉ cần nắm tay con bé nói chuyện xa xôi, khuếch đại thật mạnh về những chuyện trong học đường, và hứa hẹn chuyện tương lai tươi sáng. Đời sống cứ thế qua đi thật dễ chịu. Cho đến lúc thằng bé tôi dạy kèm rớt ngay tú tài một thật dễ dàng. Bấy giờ muôn tội đổ đầu ông thầy. Bởi thằng học trò nhỏ thuộc loại đầu xanh đã sớm biết ngâm nga thi phú, chỉ chịu học duy nhất một thứ việt văn mà chuộng phần không có trong chương trình là thi văn tiền chiến. Gặp ngay ông thầy là loại thích thơ thẩn. Thôi thì bỏ hết toán lý hóa qua một bên, đem nói cho nhau nghe chuyện thơ vậy. Nói từ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Bính đến Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Huy Cận. Có lúc thầy trò suốt tuần lễ nói với nhau về huyền thoại T.T.KH. Thằng nhỏ mê man khi nghe nói, một buổi tờ mờ sáng vào năm 1937 khi sương mù còn ngưng đọng trên cành là, hơi lạnh còn vương vấn bên trong nhưng chiếc áo len ấm nhất. Một người thiếu phụ trẻ đẹp, xanh xao, yếu đuối mang bức thư niêm phong đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Bên trong là bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn, rồi sau đó thêm những bài thơ khác như Bài Thơ Thứ Nhất, Đan Áo Cho Chồng, và Bài Thơ Cuối Cùng. Bắt đầu thi đàn sóng gió nổi lên, nào T.T.KH, là Thâm Tâm Khánh, Tuấn Trình Khánh... Nhà Nguyễn Bính than thở tình người trong vườn Thanh. Đến cuối cùng tôi cho chú học trò nhỏ biết rằng nhà văn Vũ Bằng xác nhận T.T.KH là Thanh Tùng Tử tức Jean Leiba, một thi sĩ tiền chiến. Thằng bé có vẻ không bằng lòng nhưng không dám chống đối. Cứ như thế tôi dạy thơ cho học trò suốt năm, hết T.T.KH đến cuộc đời Thâm Tâm, Trần Quang Dũng, những bài thơ tình lừng lẫy của Vũ Hoàng Chương ngày xưa... Kết cục ông thầy thất nghiệp đi lang thang, học trò chạy giấy tờ giả không xong đành xuống tóc khoác áo ka ki.
Nếu đời sống chỉ có thế, đủ vui vẻ quá rồi còn gì, chẳng phải thắc mắc cho vương vấn tấc lòng. Đêm nào tôi cũng gặp cô bé bán thuốc lá, phải dẫn hết chỗ này đến chỗ nọ. Khuếch đại tối đa về đời sống huy hoàng của sinh viên đại học, muốn đi học lúc nào thì đi, muốn nghỉ lúc nào thì nghỉ. Sự tự do chốn học đường là món mồi ngon cho các bạn học trò nhỏ hàng ngày phải lấm lét trước mặt giám thị, lo sợ trước tổ điểm danh. Nào phòng thực tập dùng dao, kéo, chai, lọ, ống nghiệm đủ màu. Giảng đường rộng như rạp chiếu bóng. Cô bé có biết đâu sinh viên đại học chen nhau vào giảng đường như có dạo dân chúng chen lấn mua đường sữa lúc khan hiếm. Tôi nói dối lưu loát hơn nói thật. Phải chi hồi trước tôi chỉ nói dối được một phần mười như vậy, tôi không phải mất Tuyết và chắc đời tôi nay đã đổi khác. Tình thuốc lá rồi cũng tan như bọt nước, mọi sự diễn ra như nước lớn, nước ròng.
"Thế nào tôi cũng giết một người".
Tôi rời xa thành phố từ đó. Điều tôi dự tính lúc nào cũng đúng nhưng ước muốn của tôi bao giờ cũng không thành. Tôi từ chối khi Nha Động Viên đề nghị cấp cho tôi bản mới tình trạng hợp lệ quân dịch. Người ta mang tôi tới một nơi tôi không vừa ý chút nào, cho không tôi thật nhiều quần, áo, giày, vớ, nón, áo lót, mùng, mền, túi đeo lưng... Điều bực mình hơn hết họ gọt phăng mớ tóc dài trên đầu tôi xuống thành như một quả dừa khô bày bán ngoài chợ. Và từ đó tôi biết thú chạy bộ cộng đồng, hợp ca, đếm nhịp.
Tôi bỏ lại sau lưng tôi tất cả ước mơ của tuổi học trò. Tôi đánh mất nơi thành phố tôi sống mối tình tôi không bao giờ quên được.
"Thế nào tôi cũng giết một người"
"Thế nào tôi cũng giết đời tôi"
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.06.2014 17:02:33 bởi ticonuong>
TRONG MIỀN GIÓ BỤI
 
Một, hai, ba, bố... Một, hai, ba, bốn...
Việt Nam, Việt Nam, nghe từ vào đời...
Một, hai, ba, bố... Một, hai, ba, bốn...
Đoàn người trở về từ bãi tập vừa đi vừa hát vang bài đồng ca quen thuộc của đại đội. Giọng ca thật trầm hùng vang dội trong buổi chiều yên lặng. Dù gần năm giờ rồi nhưng nắng Quang Trung vẫn như đổ lửa trên đầu, như cháy sém lớp da sạm đen lớp nhớp mồ hôi. Nắng như muôn ngàn mũi kim nhọn châm chích vào da thịt. Sức nóng hừng hực bên ngoài cộng với hơi nóng hâm hấp bên trong là cho mọi người mệt rã rượi.
Lẫn trong hàng quân nón sắt lụp sụp trên đầu, ba lô nặng trĩu sau lưng và súng M-1 nâng niu trên tay, tôi vừa gạt mồ hôi đang chạy tràn xuống mắt, vừa cố đọc những hàng chữ nhảy múa loạn cuồng. Tờ cour quấn quanh ống nhựa che tay cứ di chuyển nhịp nhàng theo bước đi làm tôi gục gặc đầu như thằng người máy. Tôi nương theo đám đông, miệng lầm bầm ca như đọc thần chú, chân chạy như mắc kinh phong.
Đại đội đi theo con đường chính của trung tâm tiến về liên đoàn A. Tôi vào đây đã hơn hai tháng rồi. Biết bao trang cour đã được xé ra quấn quanh ống nhựa che tay, và mấy lít mồ hôi ứa ra khỏi thân thể tả tơi này. Tôi đã bị mang ra khỏi thành phố yêu dấu và bị ném vào đây nhanh đến nỗi tôi không thể ngờ được. Đi trong lòng trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi vẫn ngỡ ngàng như thấy phong cảnh Sài Gòn trước mắt. Bên này vòng kẽm gai, rào sắt tôi còn mơ hồ thấy bóng giảng đường hàng me xanh và hoa điệp vàng. Bây giờ quả thật những điều mơ ước của tôi không bao giờ đạt được và cả những điều dự tính cũng không thành. Đi quanh quẫn một thời chẳng về được chốn cũ mà chui tọt vào chốn quân trường này. Hỡi Tuyết của một thời si ngông bán đời không tiếc. Ôi! Châu của những ngày thả mộng bay qua nóc giảng đường. Làm sao tôi có thể quay lại con đường cũ đếm bước chân đi để nhớ lại một thuở dại khờ. Có người hỏi mưa bên chồng có làm em khóc hay mưa bên người lạnh lắm không em. Tôi chẳng cần hỏi làm chi. Mưa nơi đây mịt mù bãi tập, trắng cả đồng hoang. Mưa nơi đây mặn thấm mồ hôi, lạnh điếng lòng rồi còn hỏi đến mưa nơi khác làm gì.
Đoàn người dừng lại trước cổng liên đoàn chờ an ninh kiểm soát quân số. Từng hàng tư lần lượt đi qua cổng. Tôi xếp trang cour đút vào tút quần, giữ súng ngang ngực, thẳng lưng đi vào bên trong trại. Phải chi ngày xưa tôi đi ngay đơ như vậy, đừng liếc dọc, liếc ngang, đừng thả lòng bay tứ tung để tận cùng tanh bành như xác pháo. Có lẻ tôi đã đi vào một cổng khác chứ không phải cổng trại lính như kiểu này. Thế thì đâu có chuyện xé bài ra từng trang quấn quanh nhựa che tay M-16 như hôm nay. Nhưng mọi chuyện đã qua rồi. Tôi cứ tưởng cuộc đời ở đâu cũng vậy, sẽ êm xuôi cho mình thả hồn bay theo mộng tưởng. Cứ vào học đường làm thơ trên bài học và xem mọi sự trên đời không còn gì đáng kể ngoài em. Tôi đã nghĩ đến chuyện chui vào bánh xe lăn hay gieo mình xuống từ tầng cao chót vót. Đến nước đó thì không còn gì là quan trọng nữa. Nói chi chút nhỏ nhoi như cổng trường y khoa. Rồi chuyện xảy ra như người xưa Hữu Loan đã gặp. Tin đồn quân đến trước và kết quả vào y về sau. Không có ai chết cả, không có Tuyết hay Châu rủi mạng trượt chân, té cắm đầu xuống cầu, nhủi bên sông mà thác. Chỉ có tôi suýt chết thôi. Xét ra Hữu Loan vẫn còn may mắn hơn tôi nhiều.
Qua khỏi cổng trại, đoàn người như con rắn uốn khúc tiến về phần đất tiểu đoàn Gia Long. Đại đội vào vũ đình trường, bụi tung mù mịt dưới ánh nắng gay gắt. Đoàn người dừng lại trong sân đại đội. Từng trung đội tách ra thành bốn toán đứng xếp hàng yên lặng. Tiếng hô thao diễn nghỉ cùng lúc với tiếng thở hồng hộc. Một hồi còi ré lên. Tan tành. Đoàn quân tức khắc được xé tan ra từng mảnh vụn. Mọi người chạy tứ tán về phòng như đàn ong vỡ tổ.
Tôi đứng dựa vào thành cửa sổ, mệt lả. Ngoài kia nắng trải dài suốt khoảng sân rộng. Ánh sáng vàng vọt còn yếu ớt bám trên những cây bả đậu sần sùi, gay góc. Những đốm tối loang lổ trên màu cây nâu sậm như những bóng mắt u buồn chịu đựng. Mọi vật im sửng sốt dưới nắng gắt làm buổi chiều trở nên khô khan hơn. Thỉnh thoảng vài cơn gió thổi qua sân làm bốc xoáy lên những đám bụi mù. Trong khoảnh khắc yên lặng, tôi thấy lại rõ hơn về những ngày đã qua. Tuyết và Châu đã làm tôi mòn mỏi chí anh tài và tiêu tan bao ước vọng. Tôi đã quay lưng với tuổi vàng son của thời mới lớn để đối diện với khoảng tối mịt mù trong tương lai. Bây giờ tôi chẳng còn muốn giết ai cả và càng không muốn giết chính bản thân mình. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ, tôi không muốn bị giết bởi một người nào khác. Tôi phải trở về thành phố tôi đã sống. Tôi phải trở về trường Quân Y. Đó là con đường thoát cuối cùng.
Người ta đã đưa tôi vào một nơi tôi không vừa ý chút nào và tôi không có quyền lựa chọn. Đó là trung tâm ba nhập ngũ. Tôi cảm thấy ngột ngạt quá giữa hàng ngàn người chen chúc. Trong cảnh không có chỗ nằm, không có nước uống, trong khi thức ăn tập thể không thể nuốt được. Tôi lại là kẻ tự chui ra ngoài đám đông đáng ghét. Mọi người vẫn quay cuồng trong cảnh hỗn loạn và ngột ngạt ấy. Họ gởi thư đi, cho địa chỉ, và đợi quà về. Họ xôn xao như tự bao giờ họ vẫn vậy. Tôi đứng lặng yên một mình bên hàng rào kẽm gai, thèm được như cánh chim bay thong thả trên cao. Thèm như con dế mèn, con trùn đất đào lổ chui ra khỏi chốn ngục tù này. Tôi không màng tới chuyện người nhộn nhịp trong kia. Dù tôi có màng cũng không được. Tôi không còn ai để trông ngóng, không còn gì để gởi, và chẳng mong nhận được gì.
Sáng Chủ Nhật tôi đi lang thang trong vườn Tao Ngộ. Ai cũng có người đến thăm. Vài mẹ già vừa chấm nước mắt, vừa an ủi cho thằng con dại. Mấy cặp tình nhân ôm nhau hôn đằm thắm. Vài người làm chuyện lục đục dưới tấm áo mưa khuất sau mấy bụi rậm. Tôi đi quanh quẩn trong khu tiếp tân. Tôi cảm động cho những giọt nước mắt của người. Tôi vui vẻ vì những nụ cười hay tiếng xôn xao của kẻ khác. Tôi mong mỏi được mấy giọt nước mắt ấy. Tôi ngơ ngẩn tưởng những nụ cười vừa ban phát cho mình và những nụ hôn đó vừa đặt lên môi mình. Nhưng không có ai cho tôi điều gì cả và chẳng ai ngó ngàng đến tôi.
Tôi đi quanh quẩn hoài trong khu tiếp tân, đi mà không tìm lại được chút gì của ngày xưa. Không có dáng Tuyết thong thả trong chiều. Không có bóng em đứng nghiêng bên cầu nhìn xuống dòng sông buồn yên lặng. Không còn những con đường hoa điệp vàng và dãy hành lang buồn sâu hút. Không còn quán cà phê im lìm trong sương lạnh. Cũng chẳng còn khu vườn thực vật nhỏ nhoi với vài nhóm cây khép nép bên vách tường cao thẳng. Hôm nay chỉ còn xôn xao của người với lòng tôi nặng trĩu.
Tôi gặp An trên chiếc băng cây mục đã gãy sụp một góc. Hắn trông thật trẻ, gương mặt trắng bệt vì thiếu ngủ, pha lẫn chút ngỡ ngàng sợ hãi. Hắn ngồi yên lặng nhìn ra phía trước. Trông dáng hắn cứng đờ với nước da trắng tái, tôi cảm giác như đụng phải một pho tượng hay xác chết đã đóng băng. Tôi chỉ nghĩ băng cây này là một nơi nghĩ chân tạm như bao nơi khác. Tôi ngồi một chút rồi sẽ đi. Không gì đáng quan tâm về một thanh niên yếu ớt và chiếc băng cây tầm thường. Thấy tôi đến gần, hắn nép qua một bên nhường chỗ. Đôi mắt hắn nhìn xuống mảnh ván gãy ngụ ý bảo tôi nên cẩn thận rồi quay lại ngồi yên như pho tượng. Hắn hút thốc thật chậm rãi và cẩn thận. Cung cách hắn giống như một ông già nhàn rỗi không có việc gì làm. Tôi ngồi yên hút thuốc như hắn, cũng một kiểu mơ màng nhìn ra chung quanh. Dáng điệu giống nhau nhưng lòng tôi cảm thấy bức rức không yên. Thỉnh thoảng, tôi liếc sang nhìn hắn bắt gặp hắn đang mĩm miệng cười. hắn mời tôi một điếu thốc với vẻ tự nhiên như quen thân tự lúc nào. Tôi đón lấy, lâu quá rồi không rớ đến thứ này. Hắn cười nhe hàm răng trắng nuột trông thật ngây thơ.
An vừa đúng mười tám tuổi. Đậu xong tú tài đôi, hắn cảm thấy cuộc đời nhàm chán, rỗng tuếch. Không thèm thi vào trường đại học nào cả. Đi lang thang, uống cà phê, nghe nhạc, hút thuốc lá, nuối tiếc về một mối tình trong những năm trung học. Hắn cũng như tôi, rất thương cha mẹ, nhất là mẹ, nhưng bỏ mẹ mà đi bất chấp bà buồn thảm, khóc lóc.
Buổi trưa từ vườn Tao Ngộ trở về trại, chúng tôi được lệnh tập trung chụp hình, làm giấy tờ đề phân tuyến đi. Có lẽ chưa có nơi nào trên thế giới đoạt kỷ lục về chụp hình nhanh như ơ nơi này. Từng đoàn người được chia toán theo ngày vào trại, xếp hàng một, uốn quanh co không biết đuôi dài đến đâu. ban chụp hình tập trung trước văn phòng bộ chỉ huy. Đoàn người nối đuôi nhau bị đẩy tới đó. Một người hạ sĩ đứng đầu hàng xô tôi bổ nhào tới trước. Tôi chưa kịp định thần, tên thứ hai cầm áo treillis xanh có dấu chuẩn úy choàng qua vai tôi. Mắt chưa kịp mở, tôi đã cảm thấy ánh sáng lòa trước mắt. Thế là xong tấm hình dùng để dán quân bạ cho một đời lính. Buổi chụp hình diễn ra như thế đến hai giờ khuya mới xong.
Đêm, An và tôi trở về chỗ ngủ ngồi bó gối nhìn ngọn đèn cầy chao đảo như hồn mình đang lắc lư trên vách. Tiếng xe Honda về khuya rên xiết như thân phận mình kêu gào trong giông bão cuộc đời. Bây giờ Tuyết đang làm gì trong mái nhà yên ấm với hạnh phúc gia đình. Châu có lẽ đang học bài chuẩn bị ngày vào trường y khoa. Nguyệt có lẽ vẫn bán cà phê, đã tìm được người tình cho cuộc đời trống trải. Lan còn tưởng tôi đang dùi mài trong thiên đường đại học ngụy tạo. Còn cha mẹ tôi, có lẽ ông bà đang thấp thỏm không biết thằng con bất hiếu ra sao.
Buổi sáng bừng tỉnh dậy với từng đoàn xe GMC đổ suốt từ văn phòng bộ chỉ huy ra đến cổng trại. Loa phát thanh tập họp mọi người ra sân chờ lệnh phân phát tuyến đi. Đa số được trả về nhà hai tháng chờ giấy gọi tái trình diện, vì tất cả các trại trên toàn quốc không còn chỗ chứa nữa, số còn lại được chuyển đi Thủ Đức và Long Thành. Tôi chờ mãi đến trưa cũng chẳng có ai gọi đến tên mình. Hỏi ra mới biết có mười tên trong tổng số mười ngàn người bị hư hình phải chụp lại. An cũng cùng chung số phận với tôi.
Tôi đứng tần ngần trước cửa văn phòng chỉ huy. Mặt trời đã lên quá cao khỏi hàng cây bả đậu, chiếu chói chang xuống vũ đình trường. Đoàn xe lần lượt rời trại, bụi bay mịt mù.
Tôi với An trở về trại. Đến chiều, từng đoàn xe khác vào trại đổ xuống không biết bao nhiêu người. Hỗn loạn lại bắt đầu, buổi chụp hình lại tái diễn như cũ. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi bị tập trung ra vũ đình trường. Lần này chẳng kịp chờ đợi. Tôi và An bị gọi tên trong toán đầu tiên và bị chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Ban chỉ huy biết sự lo lắng của chúng tôi về nơi trước đây chỉ để đào tạo hạ sĩ quan và binh sĩ. Họ giải thích vì nhu cầu chiến trường, trung tâm bắt đầu nhận đào tạo sĩ quan, đương nhiên sẽ có nhiều ưu đãi và thoải mái.
An và tôi được đưa về trung tâm ngay buổi trưa hôm đó. Hai trăm người được sắp xếp ngay vào thành một đại đội. Quân trang được bổ túc đầy đủ hơn. Buổi hớt tóc diễn ra nhanh như chớp. Các tay thợ hớt tóc như các tay lái máy ủi hạng nặng, cứ lướt càn không chút ngập ngừng. Ôi thôi bao nhiêu mái tóc xanh hoa mộng đổ từng đống dưới đất. Từng mảng tóc đen rơi lả tả như từng phần xuân xanh của đời mình bị cắt phăng đi. Tôi thấy mình như lăn lông lốc xuống dốc thảm của cuộc đời. Trên màu vài trắng tôi cố bám víu một cách yếu ớt, gượng gạo trong bản năng sinh tồn. Rồi một cơn gió thoảng qua, tôi thấy mình bị tung bay đi tơi tả.
Chiều đó, đại đội lũ lượt như đoàn ma trơi, hướng dẫn bởi trung úy đại đội trưởng Trần Giao và trung sĩ phụ tá Thanh kéo về liên đoàn A. Đoàn quân lằn nhằn kéo vào cổng trại, mới ra quân mà giống như tàn binh bại hơn trăm trận.
Chúng tôi được đưa về tiểu đoàn Gia Long và được phân chia đội ngũ. Có lẽ do số mệnh, tôi và An ở cùng tiểu đội một, trung đội hai, đại đội C, thuộc tiểu đoàn Gia Long, liên đoàn A.
Một, hai, ba, bốn... Một, hai, ba, bốn...
Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng.
Đại đội trở về sau một ngày đoạn đường chiến binh mệt lả. Nhưng hôm nay, tiếng ca đại đội vẫn vang dội và
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2014 13:28:12 bởi ticonuong>
bước chân vẫn oai phong, kiêu dũng. Không có gì lạ, hôm nay là ngày đi phép, hai mươi bốn giờ phép.
Ngày xưa lang thang mãi, ngày qua ngày chẳng có gì là quan trọng. Nhưng bây giờ khác, tôi đã quá ngộp thở trong cái cảnh tù túng của quân trường, trong kỷ luật sắc thép tưởng chừng muốn gãy xương ói máu. Tôi chỉ muốn nhìn thấy cảnh đường phố nhộn nhịp, đám đông đáng ghét ngày xưa. Tôi thèm được ngồi lại trên vỉa hè, một góc phố. Tôi muốn thấy người qua lại. Tôi sẽ vẫy tay với mọi người. Tôi sẽ chăm chú nhìn tất cả, ai cũng được. Tôi không cần một dáng áo dài thanh thoát, một thân thể mập ú cũng cam lòng.
Tôi nhìn An, thấy trong mắt hắn cả một kế hoạch hai mươi bốn giờ của tôi trong đó. An hỏi, còn giữ được bùa hộ mệnh không? Tôi gật đầu cười, xài bung đến đâu cũng được nhưng đến đó phải dừng. Tôi dò mắt hỏi lại, An gật đầu cười thoải mái. Lần trước hai đứa phải ở lại đến bảy giờ tối với lý do súng dơ. Mảnh giấy nhỏ xíu của ông thượng sĩ già quản thủ kho súng có sức mạnh kỳ lạ. Danh số mười lăm và hai mươi mốt súng dơ. Thế là giấy phép bị giữ lại. Hai đứa lau chùi súng, thông nòng, vô dầu, chùi lại. Thật là từ thuở cha sanh mẹ đẻ ra tới giờ chưa có lúc nào hai đứa làm việc tận lực như vậy. Nhưng súng dơ vẫn hoàn dơ. Ông thượng sĩ già cứ lắc đầu không thể ngừng lại được. Hai tên chỉ còn nước nhào lên bóp cổ và nắm đầu ông gật một trăm cái. Cuối cùng, chúng tôi xuống nước năn nỉ ông chỉ cho cách là sao chùi súng cho sạch. Ông nói dễ ợt, chầm chậm lấy đầu nhựa điếu thuốc se nhỏ lại cắm vào đầu súng. Thế là từ đó chúng tôi biết đến bùa hộ mệnh.
Tan hàng, buổi chiều đi phép như muốn bay lên mây. Không cần ăn uống, không cần tắm rửa. Đồ đạc bỏ trong túi xách từ đêm hôm qua. Chỉ cần nhấc lên và chạy thẳng ra cổng trại. Bên ngoài xe cộ chờ đón dập dìu, xe hơi, Jeep, Honda... Chúng tôi không cần để ý làm gì cho mất thì giờ, làm thân con bà phước lâu ngày không thấy bà phước đâu cả, quen rồi. Chúng tôi chạy nhanh đến một chỗ, họ đang chờ đợi chúng tôi. Xe lam.
Buổi tối mát mẻ. Buổi tối với bộ quần áo dân sự nhẹ nhàng. Buổi tối sau khi bòn rút tiền cha mẹ cùng nhau sống đời bất hiếu. Hỏi han cha mẹ qua loa, xong chạy tuôn ra đường như bị ma đuổi. Có phải chúng tôi muốn như vậy không? Tôi không biện minh cho mình một điều gì cả. Tôi chỉ biết có một điều, trong cuộc sống hôm nay, tôi không làm gì khác hơn được. Ngày thi vào quân y đã gần kề. má tôi đã làm hết mọi việc cho tôi. Bà đau khổ với nổi đau của tôi. Bà lo lắng trước và nhiều hơn tôi lo nghĩ. Ba tôi vẫn yên lặng với những nổi đau của ông trong dĩ vãng. Tôi sờ tập cours xếp lại còn nằm trong túi quần sau. Như tự trấn an lòng mình.
 Chiếc xe Honda vẫn giữ tốc độ nhanh trong đêm. An ngồi yên lặng phía sau. Gia đình An đều ở Long Xuyên. Hắn chỉ ghé tạt ngang nhà bà dì lấy tiền do cha mẹ hắn gởi lên. Hỏi qua loa mấy câu lấy lệ xong phóng nhanh ra khỏi nhà. Tôi chạy như ma đuổi chứ hắn chạy nhanh như bị chằn tinh rượt. Bây giờ hắn ngồi đây, sau lưng tôi, không nói gì. Tôi tôn trọng sự yên lặng của hắn cũng như sự yên lặng của chính mình. Có lẽ đây là giờ phúc tụng kinh của những tên quỷ sứ.
Chúng tôi vào một quán cà phê, chọn bàn trong góc. Bản nhạc đang hát là một tình khúc của Trịnh Công Sơn nói về cuộc chiến, về trận đánh Pleime, Đồng Xoài, về nạn nhân chết hai lần trong thảm cảnh chiến tranh. Chúng tôi ngồi với nhau như thường lệ với cà phê, thuốc là và nghe nhạc. Thường nhạc từ máy cassette, có khi chúng tôi dự các buổi nhạc sống của Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, Từ Công Phụng và Từ Dung, Lê Uyên và Phương. Chúng tôi thường ngồi yên không nói một lời nào. Mỗi tên ngồi như thiền, ngấu nghiến sự suy tưởng của chính mình hoặc để nó đi lang thang không hướng định như cuộc sống của chủ nhân nó. Tôi phiêu lưu trong những tình khúc xa vời và phiêu lãng của Trịnh Công Sơn, những ngày tháng xanh xao, dài tay năm ngón, nỗi chết tình yêu và nắng thủy tinh vỡ vụn. Tôi bàng hoàng ngơ ngác về thảm cảnh chiến tranh của chính tác giả này và Phạm Duy, những mìn nổ tan da nát thịt, đàn bò vào thành phố, người cụt chân trở về trên nạn gỗ. Tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng trong diễn biến ngoài xã hội và trên đất nước này. Tôi cảm thấy như bị nhận chìm xuống, chơi vơi trong dòng nước, muốn tìm lấy bám víu một cái gì không rõ, có thể mang tôi đi thoát.
Tôi nhìn An đang ngồi dựa ngửa đầu vào thành ghế, mắt hắn không còn nét thiên thần nữa. Với cái đầu tóc ba phân, da đen như lọ chảo, hai mắt sâu hút nhắm nghiền như hai hố thẳm. Nếu phải suy nghĩ thêm chỉ là đi tìm cái tên quỷ sa tăng nào thích hợp với hắn thôi. Chúng tôi đi phép, chạy ra khỏi trại huấn luyện xúm nhau vào quán cà phê, ngồi đó, yên lặng, không nói gì cả. Tôi không biết phải làm gì cho tôi trong hiện tại. Nhạc chuyển hết bản này đến bản khác, thuốc đốt hết từ điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, cà phê chẳng còn một giọt trong ly, bình trà châm nước sôi không biết đến lần thứ bao nhiêu. Chủ quán chẳng lấy làm lạ gì trước cảnh thiền kỳ lạ đó.
An mở mắt ra hỏi, mai có đi đâu không? Tôi gật đầu. Tôi bắt gặp thoáng tinh anh vừa lóe lên từ đôi mắt ấy. An mở mắt ra hỏi, mai đi hả?. Ừ!
Quần áo treillis lại khoát lên, vài món thức ăn, vật dụng cần thiết bỏ trong túi xách mang theo đi thẳng lên quân trường bị ngưng lại dọc đường. An cột hai sợi dây lại, máng đôi giày qua vai. Các em đã đứng sẵn ngoài đầu ngõ. Các cô mặc quần áo, phấn son sặc sỡ. Các cô mặc váy ngắn cũn cỡn, khoe da thịt trắng muốt lên gần tới háng. Có cô mặc quần bó sát lấy đùi phơi cá hình tam giác thiên nhiên lồ lộ.
Chúng tôi đi sâu vào con hẻm, các cô đứng dài theo hai bên đường cười nói vui vẻ. Chúng tôi trông oai phong hơn cả tướng chỉ huy trưởng đi duyệt binh. An đi đầu với chiếc giày đung đưa trước ngực. An đã trải qua những ngày buông xuôi không hướng định. Phá trinh hắn là một em đại hạ giá một trăm năm mươi đồng. Nằm bên dưới hắn, cô vừa ăn cóc vừa ca Lan và Điệp. Cũng may mắn cho hắn, cô ta không chấm mắm ruốc. Hắn vừa run, vừa quạu cứ nằm yên không nhúc nhích được. Cô đẩy hắn ra, toan đạp hắn xuống giường nhưng sợ mất toi tiền lại lôi hắn lên. Lần này cô không ăn cóc nữa, nhưng nằm chán lại ca Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Tôi thấy tội nghiệp hắn cũng như cho chính bản thân mình.
Ảo mộng của một cuộc tình rốt cuộc rồi cũng tàn rụi như bọt bèo. Ngày tan nát cõi lòng với bao nhiêu ảo vọng và ngày trây trúa trên thân thể của một em có xa là bao. Chỉ mong ngày sau tôi còn giữ được những gì êm đẹp của buổi ban đầu.
Một, hai, ba, bốn... Một, hai, ba, bốn...
... núi cây rừng đã khuất xa hình bóng...
Đại đội như con rắn dài từ từ trườn ra cổng trại. Hôm nay là ngày đi hành dã trại, chúng tôi phải đi một đoạn đường rất dài suốt cả một ngày. An đi trước mặt tôi, lấy thân che mắt trung sĩ Thanh. Tôi đi sau lưng hắn, cố đọc cho hết phần cuối của xấp bài. Ngày mai thi quân y rồi. Giấy phép đi thi cũng chưa về tới. Đây là lần thứ tư tôi làm lại giấy phép. Lần thứ nhất, chờ cả tuần lễ, cuối cùng đơn trả về với lý do tôi quên gạch dưới chữ kính gởi. Lần thứ hai đơn lại trả về với lý do hàng Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng không ngay với lề chữ. Lần thứ ba, An viết lại giùm tôi trong ngày hắn trực nhà bàn, đơn lại trả về với lý do dấu mực đỏ đóng lem luốc, sợ vô lễ và bất kính với chỉ huy trưởng. Lần cuối cùng này đơn gởi cả tuần rồi mà biệt vô âm tính. Hôm qua tôi trực nhà bàn, lẻn qua văn phòng tiểu đoàn hỏi thăm cũng chẳng biết được gì khá hơn. An cố gắng giúp tôi trong mọi hoàn cảnh để tôi có thì giờ ôn bài cho kịp. Hắn chà láng phần giao thông hào của tôi, rửa nhà cầu giùm tôi trong ngày trực, canh chừng cán bộ cho tôi. Hắn thấy quá nhiều lần tôi học đứng dưới ngọc đèn mù như chân nhang trong phòng về khuya khi mọi người đều yên giấc, hoặc ngủ gục khi đi tiểu hay đang di chuyển trong hàng quân.
Buổi chiều sau khi di hành dã ngoại, cả đại đội đều mệt lả. Tiếng còi của trung sĩ Thanh khẹt khẹt như người bị bóp cổ. Đại đội ca thều thào như sắp đứt hơi. Tôi trở về trong cơn đồng thiếp, bước đi theo chút hơi tàn còn sót lại trong người. Sau khi tan hàng, tôi chỉ còn biết chui ngay vào giường với nguyên bộ đồ treillis và giày lấm lem bùn đất.
An chui qua hàng rào nhà bàn trộm mớ cơm và cá mối đem về. Tôi không thể nuốt bất kỳ thứ gì trừ ra nước lã. Sáng mai là ngày thi vào quân y rồi. Giấy phép xuất trại cũng vẫn chưa về. Đã bảy giờ tối trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. An lôi tôi dậy, cả hai đi lên văn phòng đại đội. Trung úy Giao đang hút thuốc bên bàn giấy. Thấy chúng tôi chào, ông không buồn đứng dậy. Ông đã biết chuyện giấy phép của tôi. Bây giờ hơn bảy giờ tối rồi. Mọi người đã ngưng làm việc từ lúc năm giờ. Ông chỉ nói ngắn ngủn, không có giấy phép của anh ngày hôm nay.
Chúng tôi chào ông. Nhưng chúng tôi không về trại mà đi thẳng lên văn phòng tiểu đoàn. An đứng chờ ngoài cửa. Tôi bước vào. Người trung sĩ thư ký trực hỏi giọng hách dịch, anh lên đây có việc gì? Tôi muốn gặp thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Anh không thể gặp được thiếu tá. Tôi phải gặp thiếu tá ngay tối hôm nay. Tôi không cần biết vấn đề gì, chỉ biết anh không được gặp thiếu tá, ngày mai anh báo dưới đại đội anh trước.
Việc gì xảy ra vậy? Giọng một người đàn ông từ trong hỏi vọng ra. Tôi bước ngay vào trong. Viên trung sĩ không còn cản kịp nữa. Thiếu ta Hoa, tiểu đoàn trưởng, đang ngồi bên bàn giấy. Tôi đưa tay chào ông. Ông chào đáp lại. Anh lên đây là vượt hệ thống quân giai, có biết không? Dạ, thưa biết, thiếu tá. Anh biết làm như vậy bị phạt như thế nào không? Dạ, thưa biết, thiếu tá. Anh có trình qua đại đội chưa? Dạ, tôi có nói với trung úy Giao rồi. Thôi được, việc gì anh nói cho tôi nghe. Thưa thiếu tá, sáng ngày mai, tôi phải đi thi vào quân y. Sáng ngày mai anh đi thi, anh có biết bây giờ là tám giờ tối rồi không? Đó chính là lý do tôi trình diện thiếu tá ở đây. Tại sao bây giờ anh mới nói? Tôi đã làm đơn bốn lần rồi, đã ba lần bị trả đơn về vì lý do thiếu gạch dưới, lệch hàng và lem mực. Bao lâu rồi? Lần đầu cách đây gần một tháng, lần cuối cách đây một tuần. Trung úy Giao có biết việc này không? Thưa thiếu tá có, nhưng trung úy không thể làm sao hơn được vì đơn trả về từ văn phòng liên đoàn. Thôi được, anh ra ngoài kia chờ tôi.
An đã đi vào phòng đợi. Tôi ra ngồi bên cạnh hắn. Chúng tôi nghe tiếng thiếu ta gọi điện thoại, có lẽ ông liên lạc với liên đoàn. Năm phút sau, ông bước ra. Tôi đã gọi Trung tá liên đoàn trưởng nhưng ông đang họp trên văn phòng bộ chỉ huy. Tôi lo lắng, thưa thiếu tá, có biết khi nào trung tá trở lại không? Thiếu tá Hoa lắc đầu, tôi
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.09.2014 11:34:22 bởi Ct.Ly>
không biết nhưng tôi sẽ gọi trung tá nếu anh muốn cho ở đây.

Thiếu tá Hoa bỏ vào phòng An nhìn tôi, tao không tin ông ấy sẽ giúp mình Nhưng tao sẽ chờ thiếu tá ở đây, tôi nói. An nhếch mép cười, tùy mày, tao ra ngoài một lát sẽ trở lại.

An bước ra ngoài, tôi nhìn qua cửa sổ.Ánh đèn điện vàng kéo cái bóng gầy gò của An ra dài ngoằn trên vũ đình trường. Dáng hắn đi thất thểu làm cái bóng đen di động chập chờn ma quái! Tôi muốn gọi hắn lại để nói với hắn vài lời, nhưng không biết sẽ nói với hắn điều gì. Nói tôi bỏ cuộc đi theo con đường xuôi nhị tì với hắn có lẽ hắn sẽ mắng nhiếc tôi một trận nên thân. Nói tôi cương quyết chờ giấy phép về thì hắn xem đương nhiên tôi phải làm như vậy. Thế thì nói với hắn điều gì, thực sự tôi có cần nói với hắn đâu. Tôi chỉ muốn có hắn ở bên cạnh.

Vệt đèn sáng vừa lóe lên ở góc đường rồi kéo dài loang loáng trên vũ đình trường. Tiếng bánh xe nghiền trên mặt đường nhựa đầy cát nghe đến lạnh người. Tôi thấy bóng một chiếc xe zeep chạy lướt qua cổng trại tiểu đoàn. Có lẽ xe trung tá vừa về tới. Không biết mình có nên nhắc thiếu tá ngay bây giờ không , tôi quay nhìn viên trung sĩ, trung tá đã về rồi. Sao anh biết? Tôi vừa thấy xe ông chạy ngang. Trời tối mù làm sao anh nhìn rõ được. Viên trung sĩ vẫn ngồi gác chân lên bàn , một tay buông thõng, một tay đang cầm cây viết chì gảy ống chân lông tua tủa.
 
Tôi còn nhớ bài học chùi súng trước khi đi phép hôm nào. Gói thuốc lá con mèo còn một điếu cuối cùng vẫn được giữ cẩn thận trên túi áo. Tôi cười giả lả nói, chỉ đoán mò thôi trung sĩ, mời ông một điếu. Tôi thấy mắt hắn sáng lên như ngọn đèn pha. Hắn bỏ hai chân xuống, nhận ngay một điếu không chút khách sáo. Tôi bỏ gói thuốc vào túi áo, cái bao không vẫn còn giá trị hy vọng cho hắn tội gì phải ném đi.
 

Hắn rít một hơi dài đây khoan khoái, có lẽ trung tá về thật, chuẩn úy , để tôi vào báo với thiếu tá xem sao. Nhưng hắn chưa kịp rời bàn một tiếng súng ngắn đã nổ chát chúa dội lại từ huớng nhà trung tá liên đoàn trưởng. Tôi chợt nhớ tới An, thôi rồi có chuyện gì xảy ra cho hắn. Tôi phóng ra khỏi văn phòng tiểu đoàn, chạy băng qua vũ đình trường, lách qua các dãy nhà trong khuôn viên trại, vòng về hàng rào đại đội C.


Dưới ánh trăng mờ nhưng đủ rõ soi dáng An đứng lỏng khỏng trên đường, hai tay hắn đưa lên trời. Chiếc xe zeep của trung tá đậu cách hắn một khoảng chừng mười thước. Người lính bảo vệ cầm súng chỉa vào người An quát lớn, để hai tay lên đầu , quay lưng lại.
 
Tôi bước đến sát hàng rào, nghe tiếng An nói sang sảng, tôi có chuyện muốn thưa với trung tá . Anh là ai sao dám chận xe trung tá ? Người tùy viên an ninh hỏi hằn học . An đáp, tôi là sinh viên sĩ quan  thuộc đại đội C, tiểu đoàn Gia Long . Anh là sinh viên sĩ quan có biết hệ thống quân giai là gì không? Dạ biết. Nếu anh đã biết sao dám chận xe trung tá? Tôi có việc cấp bách không thể chờ đến ngày mai được. Tôi không cần biết , việc trước tiên tôi phải giải anh về tiểu đoàn của anh trước .
 
An bước tới một bước,
- Tôi cần nói với trung tá. Thêm một người phía sau đứng lên chỉa súng vào người An, tiếng đạn lên nòng răng rắc. Có tiếng nói nhỏ trầm ấm phía trong xe,
-  Để cho hắn nói. Dạ, trung tá. Người lính phía sau nhảy xuống xe, tiến tới chỉa súng thẳng vào người An.
- Trung tá đã cho phép, nói đi.
- Tôi muốn nói dùm cho một người bạn để xin giấy phép đi thi ngày mai.
 - Anh đã trình cho đại đội và tiểu đoàn chưa ?
-  Dạ rồi.
-  Anh nói cho bạn anh ?
-  Dạ phải trung tá.
- Anh có biết anh sẽ vào tù ngày mai không ?
- Tôi biết, thưa trung tá.
- Nếu anh rút lại ý định liề lĩnh ấy tôi sẽ tha cho anh.
- Tôi chấp nhận bị phạt, thưa trung tá.
 
Tôi chui qua hàng rào định bước ra ngoài đường. Tiếng trung tá lạnh lùng:
-      Còng nó lại.
Người lính đứng trước đầu xe hất hàm, quay lưng lại,
-      Quỳ xuống, đưa hai tay ra sau lưng.
An làm theo lệnh:
-      Xin cho tôi nói.
-      Còng nó lên xe, đưa về văn phòng tiểu đoàn Gia Long.
-      Dạ, trung tá.
 
An bị đẩy nhào lên xe sau. Chiếc xe zeep bị quặc một vòng thật gắt, tiếng bánh xe lạnh lùng nghiến lên mặt đường nghe rợn người. Tôi chui lại vô trong hàng rào cắm đầu theo đường cũ trở về.
 
Khi tôi về đến văn phòng tiểu đoàn, chiếc xe đã đậu sát cửa tự lúc nào. Tôi đâm sầm bước vào, không có gì ngăn cản được cơn bực tức đang hừng hực trong lòng, tôi xô bật tên trung sĩ sang một bên. Thiếu tá tiểu đoàn trưởng quát hỏi:
-      Ai bảo các anh làm như vậy?
An bình tthản nói:
-      Chính tôi chận xe trung tá không có liên can gì đến bạn tôi, việc tôi làm tôi xin chịu phạt, không ai xúi tôi hết.
-      Được rồi, anh là người có gan làm thì phải chịu, thiếu tá lấy giấy phép ra cho tôi.
-      Dạ, cám ơn trung tá. Thiếu tá cò cần gì nữa không?
-      Thưa không, trung tá.
-      Được, tôi ký cho anh giấy phép hai mươi bốn giờ trong quyền hạn cho phép, các anh đưa tôi về, còn hắn giao lại cho thiếu tá xử lý.
-      Cám ơn trung tá.
Thiếu tá và mọi người đồng loạt giơ tay chào.
 
Trung tá và hai người cận vệ ra khỏi phòng. An ngẩng lên nhìn tôi cười thoải mái. Thiếu tá nói như khạt lửa vào mặt bọn tôi, đây là giấy phép của anh, nhớ ngày mai trở lên nhận giấy chính thức, còn anh, thiếu tá trợn mắt, anh còn cuời được sao, nhốt nó lại ngày mai giải về phòng giam bộ chỉ huy.
 
Thiếu tá hầm hầm quay vào trong. Viên trung sĩ thư ký lắc đầu:
-      Mấy ông gan thật, đây là lần đầu tiên tôi thấy một sinh viên sĩ quan dám chận xe trung tá liên đoàn trưởng trong đêm.
An cười:
-      Bây giờ anh thấy rồi, có chết ai đâu.
Tôi nắm vai An:
-      Tao không ngờ mày lại làm như vậy.
An nói:
-      Tao không muốn mày theo con đường xuôi nhị tì như bọn tao, thôi lo đi nhanh lên mày, không còn bao nhiêu thì giờ nữa đâu.
Tôi xiếc chặt tay An:
-      Cám ơn mày rất nhiều.
Hắn cười thoải mái:
-      Đừng ca sáu câu nữa, mày cũng biết tao không ưa cải lương mà.
-      Tao biết, nhưng …
An đẩy tôi:
-      Đi nhanh lên tao chờ nghe kết quả tốt.
Tôi gật đầu, quay lại phía viên trung sĩ :
-      Khi tôi về sẽ đến cám ơn anh, nhớ đối xử tốt với hắn rồi tính sổ lại cho tôi.
-      Nếu chuẩn úy đã dặn tôi sẽ lo chu đáo.
-      Cám ơn anh, thôi tao đi.
An gật đầu. Tôi bước ra ngoài.
 
Tôi trở về văn phòng




0
NHỮNG NGÀY THÔI QUANH CO
 
 
 






Không có gì quan trọng cả.
Tiểu đoàn sinh viên quân y gần đây rộn rịp về việc chuẩn bị lễ tốt nghiệp cho khóa đàn anh. Thiệp mời đã phát cho mọi người. Mỗi sinh viên được quyền mời thêm một người, bất cứ ai.
Cái thiệp của tôi vẫn còn nằm trên bàn hơn một tuần qua. Ê, Hột, hỗn danh của tôi bị Bảng gán ghép cho sau lần bị mụt nhọt dưới đùi, nếu mày vẫn khư khư làm thân con bà phước thì đưa thiệp đó cho tao. Được thôi, mày muốn đưa ai cũng được. Nhưng không được cự nự đấy nhé, trên thiệp có tên mày, tao đưa cho ai có nghĩa là mày mời người ta, hiểu chưa. Ừ! Còn thằng Hiệp nữa, Địa, lại một hỗn danh của Minh mà Bảng ghép cho vì tấm thân phì lũ, mày hỏi nó chưa? Rồi! Nó trả lời sao? Không có vấn đề gì cả, nó cũng như Quang thôi, một đám con bà phước, không có quyền thắc mắc ai hết. Thế cái thiệp đó mày đưa chưa? Tối mai. Sao lại tối mai? Thì tao đã đưa cho Hồng rồi, tối mai tụi mình đi uống cà phê, sẽ đưa thiệp cho người đó. Ai vậy? Bạn của Hồng thôi.
Bảng bước qua bàn tôi lấy cái thiệp. Tối mai đi uống cà phê không? Đi, nhưng ở đâu? Quán Đà Lạt. Lại một quán mới. Thế có Yến đi không? Đương nhiên là có. Còn ai nữa? Minh, Hồng và Hiệp. Mấy giờ? Sau buổi cơm chiều.
Bảng là cái loa truyền tin của đại đội. Tôi gặp hắn từ ngày còn ở quân trường bộ binh. Hắn cũng là một tên kỳ cục trong hàng ngũ đám con bà phước. Bạn gái của hắn toàn là mấy em ở Gò Vấp, ngã ba Chú Ía. Bỗng dưng gần đây, sau buổi sinh nhật đứa em gái con ông bác, hắn bị một bà chằng bắt xác. Yến rất trẻ, khoảng mười chín, giao du rộng, sống mạnh không kiêng dè dư luận. Yến chụp hắn ngay trong buổi tiệc. Không biết vì bộ đồ quân y láng cón với cầu vai nền đỏ alpha vàng sáng chói hay vì tính ngang bướng, du côn của hắn. Yến trông xinh, vui vẻ, hòa hợp, và thân mật rất dễ dàng, với bất cứ ai ngay từ phút đầu. Từ Yến, lôi ra một cặp khác. Hồng, bạn của Yến, cả hai đều hoc trường cán sự xã hội. Tôi không biết cái trường này đào tạo học sinh ra để làm gì. Có lẽ để ủy lạo chiến sĩ hay cứu trợ lụt lội, thiên tai. Các cô thật có máu xã hội, nói tía lia, chạy lăng xăng. Và nhất là bắt bồ rất tài tình.
Một buổi tối, bỗng dưng Bảng kêu ré lên như bị điện giựt. Té ra chiếc nhẫn vàng nơi ngón áp út bên trái của Minh bay mất tự lúc nào. Cái nhẫn ấy là cả một pho tình sử lâm ly theo lời Minh kể lại. Gia đình hắn đều ở tại Bến Tre. Minh thuộc kiểu công tử Bến Tre, con trai một, đương nhiên được ưu đãi mọi bề. Hân quen Xuân trong thời gian ở trung học, có lẽ lúc hắn còn đứng tiểu ngoài đường. Dù Xuân lớn hơn hắn hai tuổi, nhưng theo lời hắn kể, chuyện tình ướt át, thơ mộng, nồng nàn, không thua gì Romeo-Juliette. Gia đình hai bên có qua lại. Hai người đều tự đeo nhẫn, xem kiểu như là yên mồ yên mã cả rồi. Sau khi đậu tú tài đôi, Minh lên Sài Gòn, thi đậu vào trường Y Khoa, rồi Quân Y. Đám bạn thích hắn vì được ăn ké đồ ăn, bánh mức do Xuân gởi lên. Hắn có cái áo len đan màu xám do Xuân nhiều đêm móc chỉ làm cho. Đêm nào hắn cũng mặc dù không lạnh, lại tẩn mẩn hay sờ chiếc nhẫn vàng bên ngón tay trái. Đám con bà phước bị đông đá từ lâu, thấy vậy cũng thèm muốn được chút gì ấm áp sưởi bớt những ngày giá buốt. Nhưng chẳng có gì, chỉ có cái áo treillis xanh dày cộm của đại tá thôi. Mặc vào một chập là nóng đổ đom đóm mắt. Minh hay tâm sự, không có gì làm sút chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay hắn. Nhưng bây giờ, chiếc nhẫn bay rất nhẹ nhàng trong yên lặng. Thảo nào Bảng không kêu thét lên như chạm điện. Này, nói cho tao biết, tại sao? Bảng hỏi. Minh cười giả lả, mày đâu phải ông già tao. Đành vậy, nhưng mày làm bọn tao cảm thấy đau quá. Tao có đánh tụi mày hồi nào đâu? Nhưng tụi tao đau cho Xuân được không? Tôi lên tiếng, từ từ đã, đừng làm như bị pháo kích, chuyện đâu còn đó. Bảng nói, để tao móc họng trả lại đồ ăn bánh trái tao lỡ ăn rồi. Ê, Bảng, thứ mày móc ra chó cũng chê nữa, thì Xuân đâu thèm lấy lại, coi như thí cô hồn. Tiếng Hiệp ré lên, thứ thằng Bảng cho ra có người độc quyền nhận rồi, không cần phải lo. Thế là trong phòng có dịp dấy lên như ong vỡ tổ. Thứ của thằng Bảng xì ra chỉ có mấy em ở Chú Ía mừng thôi. Thứ nó xì ra một tháng vài lần chắc mấy em mừng lắm. Thứ nó xì ra... Bảng vói tay tắt đèn, rú lên như heo bị chọc tiết. Tụi bây có im hay không? Cả phòng bỗng im bặt, một giây, lại cười ồ lên. Điện bật sáng lên. «Vào hàng... phắt!» Tiếng Bảng hô lớn vang dội cả phòng. Toàn thể hơn hai mươi người trong phòng đồng loạt đứng dậy, tiếng xô ghế, tiếng sách vở đổ, tiếng bi đông nhôm rơi loảng xoảng xuống sàn, tiếng người té lụi đụi, đau đớn, rên rỉ. Im lặng, một giây. Lần này chỉ có Bảng cười như bị thọc lét. Cả đám xúm lại lôi ba đời Bảng ra chưởi không tiếc lời.
Có tiếng hỏi, giọng khàn khàn, các anh đang làm gì vậy? Thôi rồi, bố già chứ không ai khác. Bọn tôi không hẹn mà đến đứng im sững. Cả phòng im lặng như tờ, tiếng ruồi bay cũng nghe được. Miệng thằng Bảng thiệt độc địa, không biết nó ăn cái thứ gì. Nó chỉ hô đùa để dọa anh em không ngờ lại đúng lúc. Từ đầu phòng đại tá Lân vẫn với bộ đồ dù thẳng tắp, quân hàm, bằng dù, bút nịt đồng, giày ống đen, sáng chói dưới ánh đèn. Đi sau ông là đại úy Phong và huynh trưởng Hầu. Đại úy Phong nói đỡ, thưa đại tá đã hết giờ etude surveiller rồi. Tôi biết, đại tá gật đầu. Khi đi ngang qua chúng tôi, đại tá bỗng dừng lại. Hiệp lần nầy hiện nguyên hình. Hắn đang đứng trần truồng. Bàn tay chào theo phản xạ còn chết cứng trên trán, cái của hắn cũng đang kênh lên chào đại tá. Chúng tôi không lạ gì, hắn có thói quen ngủ trần truồng. Lúc trời lạnh có đắp mền còn đỡ, thường khi trời nắng hắn nằm ngủ trong mùng, tênh hênh, cứ chào cờ suốt buổi. Đại tá chỉ dừng lại liếc mắt nhìn rồi tiếp tục đi ra khỏi phòng. Chúng tôi đinh ninh phen này, cả đại đội bị cấm trại thứ bảy chủ nhật. Nhưng không, vài tuần trôi qua chẳng có lịnh phạt gì cả. Chỉ có lời nhắn nhủ từ văn phòng chỉ huy trưởng, sinh viên quân y nên sắp xếp ngăn nắp trong phòng. Thế thôi?
Không có gì quan trọng cả?
Quán cà phê Đà Lạt buổi tối, gió nhẹ mát. Sau buổi cơm chiều, hôm nay lại thứ bảy, mỗi tên một chiếc Honda, lần lượt nối đuôi thoát ra trường quân y. Quán nằm trong con đường nhỏ, yên lặng, bóng cây, dây leo, lan treo rũ. Bảng và Yến, Minh và Hồng, với một người bạn của Hồng, cô tên Thúy, hình như bạn cũ thời trung học ở Qui Nhơn. Tôi và Hiệp, mỗi tên một chiếc xe. Hiệp có chiếc xe P.C. nhỏ, nói chạy cho đỡ tiền xăng, chúng tôi biết hắn tiết kiệm tiền để làm gì. Hắn có lẽ là người thiếu nợ khắp thiên hạ, bất cứ chuyện gì hắn cùng ký sổ. Tiền lương lãnh ra mất biến ngay. Nó ký sổ từ chị giật ủi quần áo mỗi chiều hay ngồi ở đầu cầu thang, cho đến rất nhiều quán cà phê, sạp thuốc lá. Thậm chí đến cả mấy em ở Gò Vấp, Chú Ía cũng chịu cho hắn ký luôn. Thành tích này quả tình bọn tôi chịu thua.
Khi tôi và Hiệp đến, mọi người đã có mặt rồi. Minh và Hổng ngồi trong góc. Hồng có khuôn mặt hơi vuông. Chân mày đậm và sắc, đôi mắt linh động di chuyển không ngừng, đôi môi hơi vểnh bên khóe. Bên cạnh Hồng, tôi đoán là Thúy, với khuôn mặt trái xoan, cằm nhỏ, chân mày rõ nét, mặt hơi buồn và bối rối, trông có vẻ hiền lành. Tiếp đến Yến và Bảng. Yến hôm nay trông trẻ hơn mọi khi, tóc kẹp gọn ra sau khiến cổ cô trông cao hẳn lên, khuôn mặt thon, đôi chân mày sắc nét đuôi móc lên, mắt lá râm với đôi khoé tô đậm đen như lưỡi kiếm, mũi cao, môi tô son đỏ. Bọn Bảng và Minh đã chừa hai ghế trống, một ghế giữa Thủy với Yến, và một ghế giữa hai tên ấy. Bảng nói chỉ ghế đó, bảo tôi, ngồi đây, giữa hắn và Minh, sau khi giới thiệu tôi với mọi người. Hiệp dược chỉ định ngồi giữa hai cô, Bảng nói với Thúy, thiệp mời đó là của anh Hiệp. Chỗ tôi lại đối diện với Thúy, cô gật đầu hơi mỉm miệng cười, mắt bối rối. Có lẽ con gái Trung hay như vậy, không sao. Nhìn lên bàn, thức uống có lẽ nói lên phần nào tính tình. Bọn Bảng, Minh vẫn là cà phê muôn thuở. Hồng, ly cà phê đen đá. Thúy, nước chanh đường. Yến, nước chanh rhum. Hiệp, lại một cà phê đen đậm, hắn chỉ muốn pha làm sao cho đặc lại đến nỗi để đứng đầu lớn tâm xỉa rằng xuống mà không ngã. Tôi, một ly coca với chút muối, chút chanh. Như thế, bình thường như mọi ngày. Nhưng hôm nay rộn rã hơn mọi khi nhiều, có lẽ vì sự hiện diện của mấy bông hồng, lại thêm ba loa phát thanh Bảng, Hồng và Yến.
Minh để hộp thuốc 79 trên bàn, loại dùng để hút ống vố, nhưng vì mùi thơm đặc biệt của nó, bọn hắn hay vấn để hút. Tôi không thể bỏ loại 79 to và cứng vào giấy quyến mỏng để vấn được, phải đành hút một điếu capstan. Bọn Bảng, Minh, Hiệp thì phà hơi thuốc thơm lừng. Tôi thử một lần nữa, những ngón tay lóng cóng làm thuốc rơi xuống bàn, giấy lại rách te tua. Bỗng dưng mọi người yên lặng vài mươi giây, chăm chú nhìn về Thúy. Cô nói, anh Bảng đưa dùm hộp thuốc và miếng giấy. Không chỉ bọn tôi, cả Hồng và Yến, đều nhìn cô có vẻ ngạc nhiên. Một người con gái mảnh mai, hiền lành, dịu dàng, ít nói, rất dễ rớt nước mắt vì Kim Cương, Quỳnh Giao, lại có thể bập bập phì phà một điếu thuốc vấn? Bọn tôi tôn trọng sở thích cá nhân của nhau, không ai nhìn Thúy nữa, tiếp tục nói chuyện, lại tưng bừng rộn rã, nhưng đuôi mắt ai cũng để ý xem cô làm gì. Với ngón tay thon nhỏ thoăn thoắt, thoáng sau cô làm xong một điếu đều đặn, hai đầu không bị trống, không bị lép, lại bị móng tay bấm phía ngoài, dù để đứng lại thuốc chưa chắc rớt ra. Tôi, Bảng, Minh đều liếc mắt về phía Hiệp. Hắn dụi điếu thuốc, nhắp một hớp cà phê làm như suy tư, thật sự ra có vẻ đợi chờ. Bọn tôi đều nhấp cà phê, không nói, từ lâu chuyện ấy trở thành một động tác báo hiệu, chờ đợi. Một giây im lặng trôi qua. Bỗng dưng Thúy nhỏm dậy, đưa điếu thuốc về phía tôi, mời anh. Mời tới, tội nghiệp, khựng lại một giây. Tôi vốn dĩ là niên trưởng trong đám con bà phước. Quá lâu rồi, tôi chỉ hưởng ké đám bạn tốt phước, tốt phần. Chưa có người con gái hay đàn bà nào lo lắng cho tôi, ngoại trừ má và chị. Lâu rồi, đôi khi An hay Bảng xót thương cho tên bạn đồng cảnh ngộ, vấn cho một điếu thuốc. Cho nên trước cảnh ấy tôi cảm thấy bối rối một giây. Cám ơn Thúy, ngón tay con gái cũng như bàn tay, lúc nào cũng mát và mềm. Bảng ngồi kế bên vớ ngay cái zip nhựa, bật lửa cho tôi. Ngọn lửa gas cao lên thẳng mạnh mẽ, nhìn qua bên kia khuôn mặt Thúy thon nhỏ, tóc rũ ngang vai, yên lặng, bối rối cúi xuống bàn. Thuốc 79 hút với giấy vấn, ngon thật, ngon hơn mọi khi từ trước đến giờ. Mọi người lại ngừng nói chuyện vài mươi giây. Tôi hút thuốc có gì lạ đâu. Nhưng họ đâu có nhìn tôi hút thuốc, họ muốn nhìn xuyên suốt qua đầu tôi xem hắn đang suy nghĩ chuyện gì, muốn lôi phăng cái đó ra đặt trên bàn trần trụi. Họ muốn lắng nghe tim tôi có đập quá nhịp hay loạn nhịp không. Họ muốn chẩn đoán tâm hồn tôi, xem tôi sảng khoái đến mức nào.
Không có gì quan trọng cả.
Tôi về trường Quân Y, cả đám mở ra một hội nghị náo nhiệt. Bảng vừa nói vừa cười thật khoái chí, tao chỉ tội nghiệp cho thằng Hiệp thôi, khà... khà, ngồi sát bên mà chẳng chịu đưa cho một điếu thí cô hồn. Biết đâu người ta chơi cao, Minh nói. Cao như thế nào? Cao như Hồng lột nhẫn của mày không? Bảng đột nhiên đá ngược một đòn trúng ngay yết hầu tên bạn. Minh quả nhiên đau thật, hắn thở thoi thóp, im lặng như sắp chết. Hiệp nói giả lả, ăn nhằm gì, có em cũng vấn cho tao một điếu vậy. Ha... ha, tao biết em «Lan» ở Chú Ía mà, cái em phá trinh tao ngày xưa hay ca Lan và Điệp. Em chẳng chịu cắt dây chuông mà mở toang cửa chùa rước chàng Điệp Hiệp vào, mỗi ngày một điếu thuốc vấn, phải không? Bảng vẫn tía lia, vui vẻ, này đừng sợ «Hột», nói cho tụi tao nghe, mày cảm thấy thế nào? Sướng! Không được, mày thỉnh thoảng cũng có viết văn, sao ăn nói như kẻ thất phu vậy? Thì tao bảo sướng lắm! Chưa được, tao còn cảm thấy sướng huống hồ là mày, phải nói sướng như thế nào? Sướng ra làm sao? Thì sướng như sắp xuất tinh vậy, tôi trả lời. Bảng cười gật gù, vậy cũng được.
Trường Quân Y đã được chuẩn bị sẵn sàng cho buổi tiệc tối mừng ngày tốt nghiệp khóa sinh viên Quân Y hiện dịch. Đèn treo sáng rực, từ cổng vào tới bộ chỉ huy. Dưới khu nội trú cũng treo đèn khắp nơi. Buổi cơm chiều bị dẹp bỏ, để dành cho buổi tiệc tối trong trường. Sinh viên Quan Y không phải tập họp. Lệnh cấm trại hủy bỏ luôn bốn mươi tám giờ. Mọi người được tự do ra trại từ xế trưa. Trước khi đi Bảng đưa tôi mảnh giấy ghi địa chỉ cẩn thận, nhà mày phía Long Vân Tự đi qua ngã Thị Nghè cũng tiện, tao đã nói trước rồi, Diệu chờ mày đó. Cô đó là ai vậy? Tôi hỏi. Diệu là chị bạn dì của Yến, tao đã đưa thiệp mời cho cô ấy. Thấy mặt tôi không có chút gì hứng khởi. Bảng nói, tụi mình đã thỏa thuận rồi, thiệp mày không mời ai có vụt vào sọt rác cũng uổng, mày đã đồng ý, tao mới đưa. Ừ, tao đâu có nói gì đâu. Nhưng đi đón người đẹp mà mặt mày như đi đưa đám vậy, cô Diệu này chắc kiếp trước vừa giựt chồng người ta lại quịt hụi, bị cái thiệp mời ế ẩm lại gặp tên sống cũng như chết. Ừ, thì tao đi. Nhưng cố banh cái miệng ra mà cười nhớ chưa? Tao biết, nhưng đừng xúi dại, banh miệng ra mà cười không được người ta lại tưởng bị nhát ma. Không cần đến phải nhát, tự mặt mày đã là ma thứ thiệt rồi.
Thật là nhà kín cổng cao tường, không biết con gái có đoan trang hay không? Chưa biết! Chuông reo mấy hồi, không nghe động tịnh gì, lại mấy phen đập cửa. Đến lúc tôi cảm thấy nản sắp bỏ đi thì có tiếng chân chạy hấp tấp từ cầu thang. Có tiếng hỏi, anh Quang phải không, xin lỗi bắt anh chờ, để em mở cửa. Tiếng chìa khóa và lòi tói khua loảng xoảng. Chưa thấy người đã bị gọi trúng tên rồi, hên hay xui có lẽ tùy người đối diện. Nhưng bây giờ, tôi không màng chuyện hên xui nữa. Quái lạ, sao thèm thuốc quá. Thuốc con mèo, ba số năm không đầu lọc, hay Capstan, Pallmall hút thấy nhạt nhẽo quá, chỉ thèm điếu thuốc vấn 79 thôi. Chào anh. Chào cô Diệu. Anh chờ lâu quá phải không? Phòng em ở trên tận lầu ba, chuông lại hư chưa sửa được, anh Bảng với Yến có nói về anh, em thỉnh thoảng đi ngang trường Quân Y, thấy thích lắm, nay mới có dịp được vào, anh có vô nhà chơi không? Tôi chưa kịp trả lời. Có lẽ trễ rồi anh nhỉ, Yến nói bắt đầu sáu giờ rưỡi bây giờ gần bảy giờ rồi, anh tìm nhà có dễ không vậy? Thật y như bị một tràng ra phang điếc tai, tôi hiểu, mọi người một kiểu biểu lộ bối rối. Có người như tôi, câm cậy miệng không ra, như cô, bịt miệng không kịp. Tôi nói, không sao cả, họ nói vậy chứ bảy giờ rưỡi chưa chắc đã bắt đầu. Diệu kéo hắn cánh cửa sắt ra, cô nhìn tôi, một thoáng bối rối, xong quay lại khóa cửa. Cô người tầm thước không cao, bộ đồ đầm cắt khéo hợp với thân hình cô hơn áo dài. Khuôn mặt cô bầu tròn, chân mày nhỏ lợt, mắt to, mũi không cao, đôi má phủ phấn hồng và đôi môi cong sơn đỏ. Bỗng dưng tôi cảm thấy một niềm đau nhẹ nhàng vừa gợn trong lòng. Tội nghiệp Diệu, có phải chăng cô hy vọng một điều gì không có thể xảy ra. Mùi son phấn và đầu thơm thoang thoảng bay. Tôi giúp Diệu một tay đấy cánh cửa sắt lại. Cô nói, ba má em kỹ lắm, cánh cửa sắt này lúc nào cũng phải đóng, khóa lại.
Tôi chở Diệu trên chiếc xe Honđa từ Thị Nghè về trường Quân Y. Con đường Hồng Thập Tự thật dài. Diệu nói suốt quãng đường, tiếng xe ồn lại thêm gió bạt ra sau, tôi chỉ ừ hữ, nghe được tiếng mất tiếng còn. Cô không để ý về điều đó, như con chim vừa được sổ lòng cô cứ hót cho bằng thích.
Trời đã tối hẳn, đèn sáng rực cả khu chỉ huy trường Quân Y, mấy người lính canh dơ tay vẫy vui vẻ thay vì chào đúng kiểu nhà binh như mọi khi. Hôm nay có quá nhiều bông hồng viếng thăm trường làm các anh vui lây. Chúng tôi để xe phía sau khu nội trú, băng qua vũ đình trường đi lên khu tiếp tân. Nhạc từ phía đó vọng lại, có lẽ tiệc đã bắt đầu. Không phải tìm lâu, bọn Minh, Bảng, Hiệp và Hồng, Yến, Thúy đã chiếm một bàn trong góc sân cỏ. Yến giới thiệu Diệu với mọi người. Tôi ngồi đối diện với Thúy, cô hôm nay trông đẹp hẳn hơn mọi khi. Tóc buông dài ngang vai, có kẹp cánh hoa mai vàng. Đôi chân mày tô kỹ đều đặn. Mí mắt đánh chút màu xanh lợt vẫn chớp bối rối. Cánh mũi trông cao hẳn lên giữa đôi má màu hồng lợt, nổi bật trên đôi môi màu son ướt đỏ nhạt. Cô mặt áo màu vàng với những đốm hoa đen, hai cánh tay rộng như hai cánh bướm. Tôi nói, cám ơn Thúy đã vấn cho điếu thuốc. Cô cười tự nhiên, không có chi, anh thích hút thuốc đó lắm hả? Tôi gật đầu, chắc phải nhờ Thúy chỉ cho cách vấn. Đâu có gì khó đâu, cô có vẻ ngây thơ, chỉ tại anh chưa quen tay thôi, ngoài ấy ai cũng biết vấn thuốc hết. Hiệp cười, xen vào, dân Bình Định biết cuốn bánh tráng khi còn bú sửa, thì anh cũng dân Bình Định mà, Thúy nói. Nhưng tôi vào Sài Gòn từ nhỏ, Hiệp trả lời. Bảng lại vọt miệng phóng qua từ bên kia bàn, phải rồi Hiệp quen cách cuốn bánh tráng chỉ nhớ món quấn lá đa trong nam thôi. Đám con gái có vẻ chưa hiểu. Hiệp giả lả, thôi đủ rồi Bảng, chút nghề mọn cần chi phải nói, để tao đi lấy nước, mọi người uống gì không? Tôi đứng dậy, tôi cũng lấy thức ăn, Thúy và Diệu cần lấy cái gì? Yến vọt miệng hỏi, anh Quang sao không hỏi em? Hồng phát pháo ngay, Thúy đã ăn rồi anh Quang à, chỉ có anh và Diệu chưa ăn thôi. Thế thì mọi người cần gì nữa không? Gớm, bọn con gái dữ tợn thiệt, mới ra quân mà địch đã phản pháo tới tấp rồi.
Lúc tôi trở lại bàn thì Minh và Hồng, Bảng và Yến, Hiệp và Diệu đã đi vào sàn nhảy rồi. Thúy văn ngồi đó im lặng. Tôi hỏi, Thúy không thích nhảy sao? Cũng có, nhưng không thích lắm, cô trả lời lại hỏi. Còn anh? Tôi không thích và không biết nhảy. Thúy không ngạc nhiên về điều đó, cô nói. Nếu mình không thích thì thôi, đâu cần phải miễn cưỡng. Tôi chỉ biết một kiểu nhảy thôi. Thúy nhìn tôi, không hỏi, nhưng muốn được trả lời, tôi cười, nhảy xổm. Thúy ngẩn người một giây rồi chợt hiểu, mỉm cười, nhưng anh không thể nhảy kiểu đó trong kia được.
Mọi người trở ra rồi lại trở vào. Tôi cảm thấy một điều, tôi không thể vào đó trong tiếng nhạc loạn cuồng, ánh đèn điên đảo. Tôi không thể hòa hợp vào đám đông đó được. Hiệp và Thúy đi vào sàn nhảy. Diệu trở ra hỏi, anh nhảy với em một bản đi. Tôi lắc đầu, tôi không biết nhảy. Cô tròn xoe mắt nhìn tôi, cô lấy làm ngạc nhiên vì chuyện một sinh viên quân y không biết nhảy đầm. Cô hỏi lại. Thật không? Tôi đáp đúng vậy. Thế là xong, Diệu vừa cho tôi thấy một hố thẳm ngăn cách vô cùng rộng và sau, và cô đứng bên kia bờ không thể nào tiến gần lại được.
Gần mười giờ, Diệu ngỏ ý muốn về, ba má em cấm không được về trễ. Yến nói, thôi nhờ anh Quang một lần nữa vậy. Bảng đá chân tôi nói nhỏ, đừng đưa đám nữa, xong ma chay sẽ có cưới hỏi mà. Tôi đưa Diệu ra về. Thúy ngẩng lên nhìn, tôi thấy trong mắt cô cả tâm hồn tôi buồn man mác.
Suốt con đường về nhà Diệu, chúng tôi không nói gi. Diệu có vẻ bứt rứt sau lưng tôi. Tôi biết nhiều lần cô định mở lời nhưng thôi. Có lẽ con chim buồn không muốn hót khi biết trở về bị nhốt lại trong lòng.
Tôi giúp Diệu mở cánh cửa sắt. Cô tần ngần đứng phía ngoài, hôm nào anh, Bằng và Yến đến chơi. Tôi gật đầu. Em sẽ nhắn với Yến liên lạc với anh. Tôi gật đầu. Thôi anh về ngủ ngon nhé, em vào. Tôi gật đầu.
Chiếc xe không về hướng Hàng Xanh, Long Vân tự như thường lệ. Nó quay ngược trở lai trường quân y. Tôi muốn thu ngắn con đường dài. Trời thật trong và gió mát.
Mọi người vẫn còn đó. Hình như ai cũng muốn kéo dài thời gian trong đêm nay. Mọi người đều vui vẻ khi tôi trở lại. Thúy ngẩng lên nhìn, tôi thấy trong mắt có một bình mình vừa rạng trong tâm hồn tôi. Hồng nói, em biết anh thế nào cũng trở lại thôi. Yến phụ họa, trở lại cho vui, về nhà giờ này chết vì buồn được.
Trên bàn la liệt đồ ăn, thức uống, gạt tàn đã đầy ngập, vương vãi tàn ra ngoài. Hiệp che tay ngáp, mệt quá tôi phải về trước. Mọi người muốn giữ hắn lại nhưng đều cảm thấy trong lòng chuyện hắn đòi về là có lý. Tôi không muốn nói điều gì trái lòng mình, chỉ hỏi, sao hôm nay mày ngủ sớm vậy? Sáng mai, tao có hẹn phải đi sớm, Hiệp đáp.
Hiệp bỏ đi, cái bóng hắn thất thểu dưới ánh trăng. Tôi muốn chạy theo lôi hắn trở lại. Nhưng hắn ở lại để làm gì? Tôi không biết chúng tôi sẽ làm gì nếu hắn ở lại. Tôi cảm thấy tội nghiệp hắn như tôi đã từng cảm thấy, cho tôi. Thôi đành vậy. Bảng hỏi, ngày mai đi đâu? Yến đáp không cần suy nghĩ, picnic Đường Sơn Quán. Mọi người nhìn nhau, cuối cùng cả bọn đều nhìn phía Thúy chờ đợi. Hồng hỏi nhỏ, Thúy ngày mai đi nghe? Nhưng đi bằng cách nào, cô hỏi. Khỏi lo, Yến đáp, bọn mình đã lo hết rồi, chỉ cần mua bánh mì, vài món thức ăn, nước ngọt là xong. Có phải nấu gì mang theo không? Thúy hỏi. Tôi nói, Thúy định nấu món gì, bây giờ gần nửa khuya rồi.
Tiếng nhạc bên trong đã tắt tự lúc nào. Mọi người đã về gần hết. Gió bắt đầu lạnh và trăng đã lên cao. Minh nói, thôi tụi mình về, ngày mai gặp tại nhà Thúy nhe. Mấy giờ? Bảng hỏi. Yến đáp, tám giờ được không? Hồng gật đầu, được rồi. Bọn họ hỏi qua đáp lại mặc tình khổ chủ làm thinh. Tôi hỏi, tám giờ được không Thúy? Cô đáp, được chứ.
Không có gì quan trọng cả.
Buổi sáng chủ nhật, nắng nhẹ nhàng, gió mát thoang thoảng, ba chiếc xe Honda chạy chầm chậm trên xa lộ Biên Hòa, hướng về Thủ Đức. Vài sợi tóc của Thúy phía sau thỉnh thoảng cứ lất phất bám víu vào mặt tôi. Không khó chịu chút nào, dễ chịu là khác, thậm chí cả khi chúng chui tọt vào lỗ mũi. Mùi hương thật dịu dàng từ phía sau. Không tả được. Chiếc xe tôi chạy sau cùng. Minh chạy đầu. Tiếng nói chuyện và tiếng cười của Yến ròn rã vọng lại từ phía trước. Tiếng Bảng kêu oái và chiếc xe chao đi, có lẽ cô ta lại cắn một phát vào vành tai hắn.
Thúy nói, cô Diệu trông dễ thương lắm. Tôi im lặng, không nói gì, coi chừng, gật đầu là tự an táng sớm. Cô nói, hôm qua vui quá, Thúy chưa đi chơi vui như vậy bao giờ. Tôi lại im lặng chưa dám gật đầu, cái lỗi đưa Diệu về tối qua còn áy náy trong lòng, tôi lo phập phồng như người chờ bị hỏi cung. Thúy lại hỏi, học y khoa lai trường Quân Y chắc anh cực lắm phải không? Tôi gật đầu mạnh, kỳ này chắc ăn một trăm phần trăm, thôi thì tả oán một hồi cũng không sao. Quái lạ, từ trước đến giờ, tôi có bao giờ chịu than thở với ai đâu? Thúy nói, học Nha có khó không vậy? Tôi không biết rõ lắm nhưng cứ nói bừa, chẳng khó gì đâu, tôi thấy bọn bên Nha có vẻ thong thả lắm.
Qua khỏi ngã tư Thủ Đức, thêm một đoạn, bọn tôi chạy rẽ vào khu đầy bóng cây mát. Bảng và Minh chọn một đám cỏ xanh tốt dưới tàn cây rậm. Các cô bày biện đồ ăn, thức uống ra. Nhưng Minh và Hồng, Bảng và Yến chẳng chịu ngồi đó lâu. Họ nắm tay nhau thả bộ đi ra phía khác.
Thúy ngồi nghiêng, tóc rũ một bên. Tôi châm một điếu thuốc, mơ màng nhìn ra con đường đất trải nắng vàng. Tôi hỏi, ba má Thúy còn ở Quy Nhơn? Cô gật đầu, ba má còn ở ngoài ấy, em chỉ ở đây với ông anh và một đứa em trai. Rồi cô say mê kể cho tôi nghe về chuyện gia đình có, ông nội cô giàu có nhứt nhì vùng Qui Nhơn-Bình Định có khoảng một chục người con. Ruộng đất cò bay thẳng cánh, gia sản chất đầy nứt vách. Của cải phân chia đều cho con cái. Một ông bác chỉ lo đi chơi mèo mở, một ông cần kiệm, một ông bỏ nhà đi học võ dẫn con gái thầy trốn mất, ba cô chăm chỉ đời công chức. Các anh chị em cô đều thương yêu nhau, học hành siêng năng, đứa em trai út bốn tuổi dễ thương còn nói ngọng đã biết ca «tình yêu, em sợ tình yêu». Cô kể chuyện say mê quên mất tên khán thính giả ngồi bên lúc nào cũng chỉ chực phân tích tâm lý câu chuyện.
Cô hiếu thảo thật, chẳng bù tôi không có hứng thú mấy kể về chuyện gia đình. Ba tôi đi dạy học có viết một số sách giáo khoa bút hiệu Minh Văn. Cô chẳng biết cái ông mang tên Minh Văn là ai, nhưng vẫn chăm chú nghe, má tôi chỉ ở nhà lo cho gia đình, anh chị đều theo nghề giáo cả chỉ lọt sổ tôi đi cầm ống chích. Tôi thích viết văn có vài chuyện đăng báo. Trong bà con có vài người thích tham gia hoạt động văn nghệ. Cô thích thú khi nghe kể chuyện Trúc Phương là tên chị tôi, ông chú họ thích sáng tác nhạc, dẫn chiếc xe cán đinh xẹp vỏ đến nhà trình diện ba tôi. Ông hỏi ba tôi có hai bản thảo nhạc chưa in là Chiều Làng Em và Đò Chiều, nhưng chưa biết lấy tên gì cho nhạc sĩ. Tôi có người chị qua đời tên là Trúc Phương nên ông hỏi để lấy tên đó và sẵn mượn chút đỉnh vá xe và trả tiền ấn loát. Ông biến mất một thời gian, sau đó hàng loạt nhạc phẩm ra đời như Tàu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Buồn Trong Kỷ Niệm, Con Đường Mang Tên Em... Thúy nói, nghe Thanh Thúy ca nhạc Trúc Phương thật là chết cũng không tiếc. Sau đó, tôi kể tiếp, ông dẫn về trình diện ba tôi và đám cháu, thím Trúc Phương. Bà thím đẹp và quá trẻ, nhỏ tuổi hơn cả người anh thứ tư của tôi. Bà góc người Bến Tre, mười sáu tuổi mê nhạc ông rồi bỏ đi theo ông luôn. Thúy hỏi, sau đó anh còn gặp lại ông không? Không còn gặp lại nữa. Đến Bông Cỏ May, Trên Bốn Vùng Chiến Thuật thì bặt tin luôn. Tôi lại kế tiếp chuyện người khác cho Thúy nghe. Có lẽ câu chuyện hấp dẫn lắm rồi, Thúy vuốt tóc ngồi xoay lại gần tôi hơn. Đôi mắt mở lớn, nghiêng tai, liếm đôi môi mọng. Chút xíu nữa tôi đã hôn lên môi đó rồi, bậy quá. Thúy có hay đọc truyện không? Có chứ, cô trả lời. Thế, tôi kể cô nghe chuyện một văn sĩ. Bà là chị em cô cậu, tên Nguyễn Thị Thụy Vũ. Thúy kêu lên, em có đọc truyện của bà. Tôi nói, bà góc người Vĩnh Long, con ông cậu tên là Mặc Khải. Thúy lắc đầu, chẳng biết ông Mặc Khải là ai. Buồn quá, nhưng đừng nói cho cậu biết rằng cô chẳng biết ông là ai. Sông Nước Cổ Chiên với tên Mặc Khải, ai cũng biết hết, nhớ không? Thúy gật đầu. Bà Thụy Vũ bỏ Vĩnh Long lên Sài Gòn, cắt ca cắt củm bản thảo «Mèo Đêm», bà ở nhà ba má tôi đi dạy Anh văn cho các cô me Mỹ. Nếu không có Hồ Trường An thì có lẽ không có tên Nguyễn Thị Thụy Vũ đâu. Thúy hỏi, Hồ Trường An là ai vậy? Tôi đáp, là em của Thụy Vũ, là người đốc xúi, nói khôn, nói dại, bày đường dẫn lối cho bà chị. Thế ông ta làm gì? Anh ấy viết báo kịch trường, phê bình ca sĩ, và hay đi rong chơi.
Chuyện văn lằng nhằng đến lúc xế trưa lúc nào không hay. Hai cặp bạn mất hút không thấy tăm hơi động tĩnh gì. Bọn họ cũng làm ăn kỹ thật.
*
Một điều gì đó thay đổi rất lớn. Tôi không thích cơm nhà bàn của đại tá nữa, nhưng không sao miễn là đừng sụt cân là được, để khỏi bị bắt lên bàn cân hàng tuần. Tôi cảm thấy ngột ngạt hơn trong khung cảnh trường, bực bội vì chuyện điểm danh, kiểm súng, kiểm quân phục, diễn hành. Tôi gặp Thúy thường xuyên, tuần vài ngày có khi hàng ngày. Nhưng chẳng có gì tiến xa hơn ngoài chuyện vãn lông bông. Chiếc xe tôi không còn quen đường cũ về trường Quân Y, nó thuộc đường mới nhanh chóng, cứ ra khỏi trường y khoa là phóng ngay về Phạm Viết Chánh.
Tết lại sắp đến trong cảnh hỗn loạn chiến tranh trên đất nước. Người ta không còn nôn nao chuẩn bị Tết như ngày xưa nữa. Không còn cảnh treo đèn, treo hoa, hay lau chùi sơn phết nhà cửa. Không còn cảnh chùi bộ lư đồng. Những cảnh bếp lửa ấm cúng với nồi bánh tét sôi sùng sục còn tồn tại. Thúy báo cho tôi biết cô và anh em phải trở về nhà ăn Tết với cha mẹ hai tuần lễ. Cô cho tôi biết ngày trở lại. Tôi mua vài món quà gởi cho các em Thúy nhưng cô không nhận. Tôi đề nghị đưa Thúy ra bến xe nhưng cô từ chối. Tôi cảm thấy sắp mất điều gì đó lớn lao trong tôi. Cô say mê nói chuyện về gia đình, cha mẹ, anh em, về cái xứ Qui Nhơn lạ hoắc, có bờ biển, có tôm cá, có những hòn đảo để đi chơi hè rất vui. Tôi không cần biết những thứ đó, cứ giả vờ lắng nghe, nhưng chúng lọt vào tai này qua tai kia chạy biến mất ngay. Tôi chờ đợi cô nói một điều gì buồn khi cô phải xa thành phố này vài tuần. Những con đường Hồng Thập Tự, Phan Đình Phùng đầy bóng mát, những quán cà phê buổi tối, những bản nhạc dịu dàng, những buổi đi chơi vui nhộn. Tuyệt nhiên chúng không được nhắc tới. Chúng mất hút nhanh chóng, dễ dàng trong trí nhớ cô, như số phận tôi vậy thôi, một tên sống cũng như chết. Chắc tôi phải làm cô hồn trong những ngày sắp tới.
Thúy đi rồi, tôi chẳng muốn đi chơi với đám Minh, Hồng, Bảng, Yến nữa. Viện cớ mẹ già sức khỏe yếu phải về nhà hàng tuần. Thật đúng là tên bất hiếu nhất trên đời, những khi chán nản về cuộc sống mới ló mặt về nhà. Ba má tôi cũng ngạc nhiên nhưng cứ nghĩ thi cử xong xuôi, đứa con mới có được thời giờ rảnh về nhà, tội nghiệp nó.
Tin chiến sự dồn dập bay về, những trận đánh không gặt hái kết quả tốt lắm dân chúng càng thêm hoang mang. Địch vẫn lấn chiếm những phần đất ngoài Trung. Sinh viên học sinh không thể nào ngồi yên học được. Trong trường Quan Y bộ chỉ huy đã ra kế hoạch phòng thủ. Giao thông hào được đào quanh trại và khu nội trú sinh viện Quân Y. Lệnh gioi nghiệm một trăm phần trăm sau tám giờ tối.
Chiều hôm đó từ trường y khoa trở về, tôi gặp Minh ngoài bãi đậu xe, hắn nói, Thúy về chiều nay, tao và Hồng đi đón ngoài bến xe. Tao biết. Mày biết sao không đi đón cô ấy? Tao định đi đây. Thúy mời bọn mình đến ăn cơm chiều mai. Vậy hả, tao đi đây. Chiếc xe chưa tắt máy, lại bị quay đầu chạy băng qua vũ đình trường ra khỏi trường Quân Y. Buổi chiều xe thật đông, chiếc xe như con ngựa bất kham, lòn lách qua những khoảng trống. Gió ù ù thổi bên tai.
Thúy đang đứng bên cửa sổ. Tôi dừng xe ngay cổng nhà. Cô chạy ra, vui vẻ nói, em về tới chiều nay. Tôi gật đầu. Thúy đi đường có mệt lắm không, tôi hỏi. Cô lắc đầu, không mệt, chỉ mong trở về đây thôi. Tôi thở ra một hơi dài như mắc nghẽn suốt hai tuần nay mới được thông. Thúy nói, đi uống cà phê đi. Thật là một đề nghị dễ thương. Tôi quay xe trở lại. Ra khỏi con hẻm nhỏ, băng qua Phạm Viết Chánh, quẹo về Hồng Thập Tự, tôi vẫn thích con đường này, rộng rãi, nhiều bóng mát. Thúy hỏi, sao không thấy anh ra bến xe chiều nay? Tôi đáp, bận việc ở nhà thương. Thúy nói, chỉ thấy Minh, Hồng, Bảng, Yến nhưng ngó mãi không thấy anh. Kẹt phụ mổ với anh bác sĩ hướng dẫn, tôi đáp. Thúy nói nhỏ, em chờ mà không thấy anh đến. Giọng nói rất nhẹ pha lẫn âm nghẹt mũi. Tóc Thúy phủ xuống gáy phất ra trước mặt tôi. Tôi buông tay ra cầm tay Thúy đang nắm yên xe. Bàn tay thật mềm và êm dịu. Tôi quàng tay Thúy qua hông, cô ngã người vào lưng tôi. Một luồng hơi ấm lạ lùng, tôi cảm thấy lan tỏa khắp thân thể. Xe cứ tiếp tục chạy đều. Cầu mong con đường Hồng Thập Tự dài hơn như nó đã từng. Bây giờ, tôi không còn cần cái áo treillis dày của đại tá nữa.
Tôi không cần đến một nơi nào cả, cứ đi về phía trước, thẳng đường. Chúng tôi không nói gì, nhưng chính thật nói với nhau rất nhiều. Bàn tay Thúy hơi cựa quậy, xoay lại, những ngón tay thon nhỏ đan vào tay tôi. Những sợi tóc vẫn nhẹ nhàng mơn trớn sau gáy và bên mặt tôi. Hơi ấm dịu dàng u sau lưng tôi. Chiếc xe qua khỏi Thị Nghè, rẽ trái một đoạn xa lộ Biên Hòa, qua cầu Phan Thanh Giản, sang Đinh Tiên Hoàng, trở lên Phan Đình Phùng, con đường nhỏ dài nhiều bóng mát.
Tôi nói nhỏ, Thúy. Dạ! Mình đi đâu. Không biết. Nhưng quá bảy giờ rồi, anh phải vào trường. Không cần! Không được, anh đừng xao lãng chuyện học. Cảm ơn Thúy đã cảnh tỉnh hồn sa tăng. Cảm ơn An, giữa niềm vui, nhớ về người bạn cũ, đã yên dưới lòng đất lạnh.
Chiếc xe qua Lý Thái Tổ, vọng về Phạm Viết Chánh, rẽ vào con hẻm thân thương. Buổi tối yên lặng, mọi người đã đi hết rồi. Chúng tôi bước vào nhà. Thúy quay lại, thế đủ rồi. Tôi ngã lưng vào tường, Thúy ngã người vào tôi. Tôi ôm vào một ấm áp nhất đời tôi, chưa từng có trong những ngày đã qua. Cái dáng dấp mảnh mai, yếu ớt, khuôn mặt dịu dàng, hương tóc nồng nàn ấy, là cả một bầu trời trong sáng mở rộng, là cả niềm tin bền vững cho tôi. Cúi xuống, gần lại, tôi nhìn thấy một vùng tình yêu ấm áp. Bờ vai gầy, dốc cổ thon, tôi hôn lên gò má, tìm về đôi môi đang run rẩy chờ đợi. Một ngọt lịm thấm suốt hồn tôi, đầu lưỡi rụt rè, những chiếc răng ngây thơ chạm khẽ.
Một cơn gió khẽ lay tấm mành mành bên cửa sổ. Thúy hơi cựa quậy dụi đầu vào vai tôi. Lần này, mạnh hơn tôi ôm ghì lại, như muốn giữ Thúy vào tận trong lòng tôi. Lần này, như bảo táp trên môi, trên mũi, trên má, trên mặt. Thúy chợt lắc khẽ đầu, em không muốn anh vào trễ bị phạt, gần tám giờ rồi.
Tôi buông Thúy ra, giữ bàn tay, nắm lại, như muốn lấy thêm phần nào đó ấm áp. Thúy nói nhỏ, mai gặp lại nghe. Thúy hôn nhẹ lên má tôi. Thật là một đòn đánh trúng ngay tử huyệt. Tôi đứng lặng người, như muốn bay, như muốn ngã quị, như muốn giữ cái hôn đó mãi mãi. Tôi hôn nhẹ lên má Thúy, nàng áp bàn tay lên mặt tôi.
Thúy đẩy tôi ra ngoài. Tôi khép cổng, nhẹ nhàng cài móc lại. Tôi khẽ đạp máy xe, nhẹ rồ máy. Tôi chỉ sợ làm bể vụn tất cả mọi vật chung quanh tôi. Bây giờ về thẳng trường Quân Y, không còn phải quanh co đi đâu hết.
Không có gì không quan trọng cả.






0
NQQ P158 - P182
 
MỘT NGÀY KHÔNG TUỲ NGHI
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tiếng đồng hồ kêu rộn rã lại gây gắt ngân nga. 
      Tôi chợt bừng tỉnh dậy. Làm gì có đồng hồ ré đâu. Tối hôm qua tôi quên bật nút báo thức. Mấy giờ rồi? Bảy giờ. Không xong, tôi phóng ra khỏi giường, đẩy đứa em ra khỏi phòng tắm, rửa mặt qua loa, xúc miệng vội vã, khoác quần áo hấp tấp. Coi kỹ còn nút nào quên cài hay không, trời lạnh để cửa sổ mở không tốt đâu. Tôi vác túi xách lên lưng, không phải lo, mọi thứ đều còn trong đó, kể cả ống nghe, búa phản xạ và vài thứ lặt vặt. Cứ yên tâm, mọi thứ đều không bị thay đổi từ tối hôm qua, dĩ nhiên phải còn ở đó. Có tiếng vợ dặn dò phải cẩn thận.          
      Tôi chạy vội ra xe. Trời lạnh, tuyết ngưng rơi hồi khuya còn đóng một lớp dầy cả tấc. Phiền quá, đã bảy giờ mười lăm. Cào tuyết nhanh lên. Cây cào bỏ đâu rồi? Đôi găng cũng mất biến. Mở cửa ném túi xách vào xe, tôi nghiêng người vô nổ máy xe cho ấm. Đành phải dùng đôi tay trần trụi thôi, lạnh cóng nhưng không đến nỗi tê liệt đâu. Tôi lùi xe sau, đi một vòng thật gắt. Tuyết mới ngưng rơi, đường chưa đóng đá được, cũng may. Tôi cho xe chạy ra ngõ sau tránh cái dốc ở đầu ngõ, bị kẹt trong đám tuyết giờ này là tàn đời. Chiếc xe lao đi gấp gáp như lòng chủ nó nhảy nhổm không yên. Tôi lòn tay vào trong túi xách bật beeper lên.
      Bảy giờ hai mươi rồi, không biết đã có ai «page» tôi chưa? 
      Đường còn trống, tuyết đã bị xe ủi ra hai bên. Vài hạt muối còn rải rác trên đường. Tôi tăng tốc độ, nhưng xem chừng có chiếc xe chớp đèn nào chung quanh không. Tăng nhiệt, bật cây gạt nước phía trước, tôi cho xe chạy nhanh hơn cố nuốt quãng đường với khoảng thời gian nhanh nhất cho phép.
      Chiếc xe quẹo vào bãi đậu. Tôi rút cái thẻ vào cổng ra, lại bỏ xuống, không cần nó nữa, chạy luôn vào lối ra để rút ngắn thời giờ. Chiếc xe ngừng lại tức tối, tiếng máy xe tắt bực bội. Tôi nắm túi xách khoác lên lưng. Ngoái lại một lần, đèn xe đã tắt rồi. Tôi cắm đầu chạy về phía bệnh viện.
      Bảy giờ bốn mươi, tôi vẫy tay chào người an ninh gác cửa, chạy vội lên cầu thang chân. Chạy ba lầu vẫn nhanh hơn thang máy. Tim tôi bắt đầu đập mạnh, chẳng biết có bệnh nào ra đi tối hôm qua hay có tên nào lên săn sóc đặc biệt dưỡng sức hay không?
      Tiếng beeper chợt ré lên gay gắt : «Dr. Tran, Dr. Tran, Dr. Tran, call MICU, call MICU». Thôi rồi, có lẽ ông già William bị đứng tim trong đêm qua. Tôi mở tung cửa đi vội vã về lầu Three E North. Tiếng beeper lại kêu : «Dr. Tran, Dr. Tran, call 4141, call 4141, call 4141.» Tôi không lạ gì tiếng Tom, tên resident năm thứ hai. Không hiểu sao hôm nay nó lại vào sớm như vậy. Tôi vừa đi, vừa chạy về phòng trực của trại, mắt liếc vào các giường bệnh. Tim tôi bắt đầu nhảy loạn lên. Mot, hai, rồi đến ba giường trống. Không lẽ họ chết cả rồi sao, tôi lẩm bẩm. Tấp ngay vào phòng y tá trực trả lời tên Tom trước. Tiếng Tom ở bên kia đầu giây, rất gấp, ông William bị đứng tim đêm qua, hiện đang ở trên MICU, tao lên đó trước, mầy đến lo cho ông Musgrove đang bị khó thở và ông Daniel đang bị đau ngực. Quả nhiên hắn khôn thật, ông William dù gì đã ở trên trại săn sóc đặc biệt (MICU) rồi, hắn chỉ thảo luận với bọn kia thôi. Nhưng tôi phải vâng dạ, vì không có thì giờ để bàn luận nữa. Tôi gác điện thoại bước nhanh ra cửa, suýt chút nữa đụng phải Linda, cô học trò y khoa năm thứ ba, đang bước ra khỏi phòng chứa dụng cụ. Linda lắc đầu hất mái tóc vàng óng ánh ra phía sau. Cô có khuôn mặt thon dài. Cánh mũi cao, đôi mắt xanh biếc và đôi môi hồng tự nhiên. Thân hình cô cân đối trong chiếc áo rộng và quần jean bó sát. Cô chào tôi và nhanh miệng hỏi phải làm gì. Tôi đáp, tôi đến phòng ông Daniel trước, cô mang máy đo tim (ECG) và dưỡng khí đến sau dùm.
      Ông Daniel đang ngồi dựa vào đầu giường, tay ôm ngực, mặt tái xanh, lấm tấm mồ hôi. Một bà y tá đang đứng bên giường. Tôi hỏi, bà đã để một viên Nitroglycerin dưới lưỡi chưa? Dạ xong rồi. Thế nào? Dạ, ông ấy cảm thấy đỡ hơn. Ông ta bị lúc nào? Mới mười phút vừa rồi. Chị đã lấy mạch và huyết áp chưa? Dạ, 120/70 và 78. Đường nước vào mạch đã có rồi. Bà cho dưỡng khí một lít một phút. Trong khi người y tá gắn đường giây trên tường. Tôi nghe tim phổi ông Daniel, hỏi diễn tiến cơn đau. Linda mang máy ECG lại, tôi bảo bà y tá lấy dùm hai ly nước và hai bộ «gas» để lấy máu từ động mạch. Bây giờ tôi đến gặp ông Musgrove, cô chạy ECG cho ông Daniel xong sang gặp tôi, có thể mình cần hai cái «blood gas». Cô chuẩn bị hai giây hội chẩn cho khu tim và khu phối. Linda vâng dạ đẩy máy ECG đến bên giường ông Daniel. 
      Tôi bước ra hành lang, bà y tá trưởng trại đang đi lai. Tôi hỏi, đêm qua có chuyện gì xảy ra không? Bà đáp, chỉ có ông William lên MICU. Còn hai giường trống nữa, tôi hỏi. Dưới CT Scan gọi ông King từ sớm, còn ông Ray được chuyển xuống phòng cuối. Mình cho ong Ray ở phòng riêng sao? Dạ, bên nhiễm vừa cho biết đàm ông Ray bị lao. 
      Tôi đi vội về cuối hành lang.
      Ông Musgrove khoảng sáu mươi tuổi, là một tay ghiền thuốc nặng hơn bốn mươi năm, nhập viện ngày hôm qua với bệnh cảnh táo bón kinh niên, thỉnh thoảng ho và khó thở. Kết quả thử máu về cho biết bạch cầu tăng với calcium cao. Tôi dự đoán có thể ông bị ung thư phổi với loại «squamous cells» không chừng. Quả nhiên phim quang tuyến ngực cho thấy vùng trung tâm gần cuống phổi có một khối trắng ở bên trái. Bây giờ ông chờ phim ngực CT Scan. Tôi đi vào phòng. Ông Musgrove đang ngồi vừa họ vừa thở hổn hển. Tôi máng lại dây dưỡng khí vào mũi ông. Tôi nghe tim phổi ông, và hỏi gấp diễn tiến bệnh. Không có gì đáng ngại lắm. Ông chỉ bị cơn khó thở như mọi khi, nhưng đằng nào cũng cần một «blood gas» mới. Bọn bên phổi chắc phải soi phổi cho ông, thiếu «gas» họ nhằn đến lũng màng nhĩ.
      Linda tất tả chạy vào cầm cuộn giấy ECG đưa cho tôi. Mặt cô có vẻ lo lắng lắm. Cô chưa thể đọc được ECG nên tâm thần bất ổn không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi hỏi, ông Daniel còn đau lúc cô chạy ECG không? Linda nhìn tôi có vẻ lo sợ, tôi không biết. Tôi nói, cô gởi giấy hội chẩn qua khu tim ngay, ông Daniel bị đau ngực trong lúc đang nằm trên giường, thế nào họ cũng mang ông đi soi tim. Tôi xem ECG, không có dấu hiệu thay đổi của một cơn «heart attack» trên giấy. Tôi bảo Linda, có lẽ không cần «gas» cho ông Musgrove. Tôi «page» cho Tom báo cáo sự việc cho hắn. Cô đem «gas» đi, ghi số beeper của tôi trên đó, gửi hai giấy hội chẩn rồi gặp tôi ở phòng một để đi «round». Linda vâng dạ vừa đi vừa chạy.
      Tôi vào phòng y tá gọi Tom báo cho hắn biết qua mọi việc rồi gọi người bác sĩ trực hôm qua đã «cover» cho khu tôi để hỏi tình hình trong đêm qua, xong đọc lại mười hồ sơ bệnh của tôi hiện nằm trong trại.
      Thật khó lòng giải quyết bệnh cho họ xuất viện được, mười người đã đến sáu thuộc loại kinh niên. Khó nhất là ông Soyer, đang nằm ở cuối trại, ông bị ung thư đoạn ruột thập nhị chỉ tràng. Ông chỉ mới năm mươi lăm tuổi nhưng trông già như tám mươi. Người ta đã cắt bỏ đoạn ruột của ông rồi. Gần đây ông bị đau bụng và đi cầu ra phân đen. Tình trạng của ông quá kiệt quệ, suy nhược toàn bộ thể xác và tinh thần. Ông không còn đủ tinh anh để phán xét vấn đề hay trả lời câu hỏi của người khác. Nhưng vấn để khó chưa phải ở căn bệnh của ông mà chính là bà Soyer, người vợ quyết định mọi việc cho ông. Chỉ trong vòng hai tháng ông đã ra vào bệnh viện đến ba lần. Chúng tôi không hiểu bà suy nghĩ như thế nào, bà đã nhiều lần ký giấy xuất viện bất chấp kế hoạch trị liệu đang tiến hành cho ông. Thật mệt, tôi không muốn suy nghĩ thêm về dự tính của người đàn bà ấy.
      Tôi đi về phòng một ở đầu trại, Linda đang chờ ở đó. Cô nói mọi việc xong rồi, đây là kết quả «blood gas». Cô chìa mảnh giấy nhỏ cho tôi. Tôi hỏi, cô chờ lấy kết quả luôn à? Linda gật đầu, bây giờ phải làm sao? Tôi giảng giải cho cô về ý nghĩa của các con số, bây giờ giữ lượng dưỡng khí như vậy, không thay đổi gì cả. Cô mím môi đồng ý. Tôi biết cô không hiểu được vấn đề. Nhưng không sao, con đường chông gai còn dài mà.
      Chúng tôi đi theo từng giường bệnh, ghi nhận huyết áp, mạch, nhiệt độ, lượng nước vào ra, cân nặng, hỏi thăm chuyển biến bệnh trạng, giải thích kế hoạch điều trị cho từng người. Linda hỏi, đã có bệnh mới vào chưa? Rồi, bệnh đầu tiên đã vào lúc nãy. Chừng nào chúng ta nhận bệnh, cô hỏi. Lần tới, chúng ta ở thứ tự số hai trong danh sách bốn nhóm. Tôi sẽ nhận bệnh sắp tới, được không? Được chứ, cô đã xong mấy cái bệnh án rồi? Bảy xong hoàn toàn. Mỗi cái dài bao nhiêu trang? Chỉ có hai mươi lăm trang thôi. Tôi nhìn cô vừa có vẻ dò hỏi vừa có vẻ giả vờ ngạc nhiên. Linda nghiêng đầu cười giả lả. Mấy tên kia viết dài lắm, có đứa viết đến ba mươi trang. Tôi không lạ gì đám này, họ viết một bệnh án tràng gian đại hải, đọc một buổi mới xong không biết họ muốn nói gì và cũng chẳng biết người bệnh bị cái thứ gì. Nhưng bác sĩ hướng dẫn có vẻ hài lòng về những bài viết thật dài, thật cẩn thận và ngăn nắp. Tôi biết họ chẳng có thời giờ đọc, họ có đến mười lăm tên học trò, mỗi tên viết mười lăm bệnh án, mỗi cái dài ba mươi trang. Nếu đọc đủ và cho hết chắc họ tự vận chết sướng hơn. Nhưng bác sĩ hướng dẫn phê bình gắt gao lắm. Tôi biết họ chỉ lấy một trong mười lăm bài rồi đem ra mổ xẻ. Học trò mất cả hồn vía thiếu điều bị «heart attack» non cả đám. Nhưng dù sao cũng còn hơn kiểu làm việc thả hoc trò đi rong bệnh viện, ký tên vào sổ hiện diện rồi chuồn mất.
      Linda lúng túng đi theo tôi, trên cổ có gắn cái ống nghe, túi áo trên để đèn soi mắt, thước đo ECG, một xấp thẻ giấy cứng, hai túi dưới một bên để đèn soi mắt tai mũi họng, một bên nhét cuốn sách dày cộm. Cô lại cầm trên tay cái kẹp với một xấp giấy dày nặng trĩu. Tôi tìm cái xe đẩy hồ sơ, bảo Linda «page» Tom cho hắn biết chúng ta đã sẵn sàng.
      Năm phút sau Tom xuất hiện ở cuối hành lang vội vã đi tới. Hắn cho tôi biết sơ tình hình của ông William trên MICU làm như từ sáng giờ hắn bận túi bụi ở đó. Nhưng mỡ còn đóng trên môi hắn cho tôi biết là có lẽ hắn vừa làm xong một cái «double cheeseburger» ở dưới nhà ăn và một ly Coke, xong giả vờ chạy đến. Cái kiểu thượng đội hạ đạp và nói láo giật công trong «morning round» không còn lạ lùng gì trong lề lối làm việc của bọn chúng. Có ít thằng tốt, còn phần lớn là lười biếng nhớt thây, nhất là khi chúng được lên resident năm thứ hai. Miệng lưỡi chúng nói trơn như mỡ.
      Lần này cũng như mọi ngày hắn bắt đầu với màn kiểm điểm trước. Tôi bị hắn nói ngay vụ đi trễ sáng nay, sau đó theo dõi thử nghiệm không sát, báo cáo không kịp thời. Linda bị kê khai một số tội, hắn chẳng nhân nhượng phụ nữ chút nào, cô phạm lỗi rút máu thử nghiệm không rành, viết hồ sơ cẩu thả, theo đuôi người khác không có sáng kiến. Bọn tôi gật gù không nói gì, đành phải nín thở qua sông cho rồi, cự lại nó chỉ sanh ra phiền não thôi. Xong phần kiểm điểm bọn tôi hắn giải thích trước lý do hắn vắng mặt trong vài giờ qua, bận giúp các toán khác chọc nước tủy sống và chọc nước màng phổi.
      Hắn lại hỏi sẵn sàng cho «round» chưa? Linda gật đầu. Tội nghiệp cô, làm thân em út thường bị mọi người ăn hiếp. 
            Như thường lệ «round» chỉ diễn ra khoảng hai mươi phút. Tom hạch hỏi đủ điều, ra lệnh không ngừng nghỉ. Khi «round» chấm dứt, chúng tôi lãnh một danh sách dày cả trang đủ thứ công việc phải làm. Linda nhìn tôi mặt sầu thảm muốn khóc. Cô biết trong số việc đó có gần phân nữa là của cô rồi.
      Chúng tôi chưa kịp thở thì bác sĩ hướng dẫn đang lừ đừ đi lại từ phía cuối hành lang. Một «round» khác lại bắt đầu. Hai giờ đi «round» với bác sĩ hướng dẫn thật là một cực hình. Ông chuyên về dinh dưỡng, làm việc trong bệnh viện nhiều năm, nên chỉ nhớ phần chuyên môn của mình thôi. Ngoài ra ông quên hết rồi. Hầu hết mọi việc ông đều đồng ý với residents tại chỗ. 
      «Morning round» với bác sĩ hướng dẫn vừa xong, chúng tôi lãnh ngay một bệnh mới từ phòng cấp cứu. Tom cho tôi biết ngắn gọn, một tên bị tiểu đường chỉ lo uống rượu mà quên dùng thuốc đã ba ngày đang nằm dưới cấp cứu. Hắn bảo tôi và Linda có mười phút ăn, còn hắn xuống dưới phòng đó trước. Lần nào cũng vậy, Tom xuống trước xem hồ sơ, hỏi bệnh, chuẩn bị một số công việc cho bọn tôi làm. Hắn có quyển sách nhỏ trong túi áo cứ mở ra xem, rồi theo đó ra lệnh cho người khác làm. Phần lớn các việc hắn yêu cầu làm đều bình thường và không cần thiết.
      Linda hỏi tôi cần gì không, cô sẽ chạy xuống câu lạc bộ. Tôi nói, đừng vào trong, cô không đủ thì giờ đâu. Cứ bỏ tiến vào máy lấy một lon Coke hay 7-up và bánh ngọt được rồi. Linda vội vã chạy đi. Bây giờ trong khi người khác nghĩ ngơi thì bọn tôi bắt đầu chạy như điên cuồng để giải quyết số công việc đầy ắp trước mặt. Ngồi xuống ghi lại công việc theo thứ tự phải làm, chia bớt một số cho Linda nhưng không hy vọng cô làm được nhiều trong ngày hôm nay. Mỗi khi cô ôm một bệnh mới, hỏi bệnh sử, làm bệnh án là mất đến mấy tiếng đồng hồ. Cô cứ theo giáo khoa thư hỏi từng kẻ tơ sợi tóc, hỏi hết cá nhân đến cha mẹ, con cái, dòng họ. Khi khám bệnh cô tẩn mẫn từng móng tay móng chân. Cuối cùng sau ba tiếng đồng hồ, cô chẳng biết người bệnh bị thứ gì và phải làm sao.
      Việc đầu tiên phải bấm computer lấy toàn bộ kết quả thử nghiệm của bệnh nhân. Lại thêm một số việc khác phải làm khi các con số bất bình thường trở về. Có khi chỉ một con số potassium quá cao mất vài tiếng đồng hồ là chuyện thường. 
      Sau một thoáng ăn trưa nhanh và gấp như bị ma đuổi, chúng tôi phải chạy xuống phòng cấp cứu. Bệnh nhân là một người da đen ba mươi sáu tuổi bị bệnh tiểu đường đã nhiều năm, lại nghiện rượu nặng, thuốc hết cả bốn ngày mà chẳng thèm quan tâm đến. Hắn vào bệnh viện với bệnh trạng chóng mặt, ói mửa, đường trong máu lên cao đến tám trăm, với nhiều ketone trong máu và nước tiểu. Chúng tôi đang hỏi bệnh và ký nhận bệnh vào trại thì beeper lại reo lên. Tôi nhắc điện thoại trả lời, được biết bà Joyer vợ của ông bệnh xấu số kia đã vào và muốn thảo luận với bác sĩ trong trại. Tôi bàn với Tom, tạm thời bệnh mới chưa có gì, giao hắn cho Linda trông chừng. Tôi dặn Linda, trong khi hỏi bệnh cứ mỗi giờ cô phải làm một lượt «SMA9» và «blood gas», được kết quả «page» cho tôi biết, nhớ ghi lượng nước ra vào và liều lượng thuốc cho theo từng giờ. Linda vâng dạ, nói sẽ làm theo. 
      Tôi rời phòng cấp cứu chạy trở lên trại. 
      Bà Joyer chờ trong phòng. Trên giường ông chồng xấu số đang nằm thở thoi thóp. Ông Joyer đã vào đây một tuần lễ, tiền căn ung thư thập nhị chỉ tràng đã bị cắt bỏ từ năm trước, bây giờ đau bụng và đi cầu ra phân đen, ông không thể ăn uống gì được. Nhưng bà Joyer không chịu đồng ý cho bên khu tiêu hóa soi bao tử, ruột và làm thử nghiệm tế bào nếu có ung thư tái phát. Mỗi ngày chúng tôi phải nói chuyện với bà nhưng mãi đến bốn ngày sau bà mới chịu ký đồng ý cho phép. Ông Joyer càng lúc càng yếu dần. Kết quả soi bao tử và thập nhị chỉ tràng cho thấy bướu tái phát và kết quả thí nghiệm tế bào cho biết đó là ung thư. Trong «morning round» sáng nay chúng tôi đã bàn nên đặt ông Joyer trong tình trạng «no code», tức là nếu có biến chuyển xấu xảy ra thì để ông ra đi trong yên lặng. Tôi là người được chỉ định nói với bà Joyer về điều đó. Bây giờ là lúc tôi phải báo cho bà biết kết quả thử nghiệm tế bào và vấn đề «no code».
      Bà Joyer còn trẻ khoảng bốn mươi, dáng cao lớn, mặt tròn, càm bành, vai ngang, chân mày kẻ ngược, má môi thoa son phấn loè loẹt. 
      Thấy tôi vào bà bắt tay hỏi kết quả của nhà tôi thế nào? Tôi đáp, như bà đã biết khi soi ruột chúng tôi đã thấy bướu tái phát. Bà gạt ngang, tôi biết rồi, còn... Kết quả thử nghiệm về trưa này cho biết chắc chắn đó là ung thư. Bà hỏi, bây giờ có thể cắt bỏ được không? Cắt bỏ bướu ung thư thì có thể được, nhưng không đạt được kết quả khả quan gì cả. Tại sao vậy? Ung thư tái phát ngay tại chỗ cũ và đã xâm lấn quá nhiều đến các cơ quan lân cận. Bà Joyer càu nhàu, vấn đề đó các ông làm việc quá chậm thôi. Bà biết rằng ông nhập viện đuoc bảy ngày, ngay ngày đầu chúng tôi đã yêu cầu bà ký giấy để tiến hành việc điều trị cho ông nhưng bà không chịu. Chờ đến bốn ngày sau. Ông nên biết rằng tôi phải cần đem giấy tờ ấy về thảo luận với luật sự của tôi. Nhưng bà phải biết rằng việc điều trị cần phải tiến hành gấp không thể chờ đợi được. Tôi chưa cần biết điều đó, việc quan trọng là luật sư tôi phải biết công việc đó làm gì và có cần thiết hay không? Nếu không cần thiết thì chúng tôi đã không nài nỉ bà ký nhận đồng ý và bà nhớ là đã ba lần trước bà cương quyết mang chồng bà về và không cho chúng tôi làm gì cả, đây là lần thứ tư ông nhập viện với tình trạng quá nặng rồi. Vậy ông nói là tôi cố ý giết chồng tôi? Tôi không nói như vậy, tôi chỉ nói việc điều trị phải đúng lúc kịp thời mới có hy vọng có kết quả tốt. Ông có biết rằng tôi có thể kiện các ông được, luật sư tôi sẵn sàng để làm việc đó rồi. Bà có thể kiện bất cứ ai, đó là quyền của bà. Nhưng bà nên nhớ rằng chúng tôi cũng có quyền kiện ngược lại. Ông hăm dọa tôi phải không? Báo cho ông biết, không những tôi kiện các ông mà còn kiện bệnh viện đã cắt bỏ ruột của chồng tôi trong năm trước. Bà Joyer giận dữ đá cái thùng rác gần chân tường rồi bỏ đi về phía cửa sổ. 
      Tôi thấy tình hình gây cấn quá không thể nói với bà vụ «no code» được. Nói ra có khác nào chế dầu vào lửa, bà la lối om sòm lên phiền phức cho cả bệnh viện. Tôi lấy điện thoại «page» Tom, báo cho hắn biết tự sự. Tom hằn học trách móc bà Joyer không tiếc lời. Hẳn hỏi số điện thoại rồi bảo tôi chờ để hắn gọi bác sĩ hướng dẫn. Một lúc sau Tom gọi lại cho biết bác sĩ hướng dẫn bảo phải tiến tới với bất cứ giá nào, không thể gọi «code blue» cho một ông già bị ung thư ở thời kỳ cuối không hy vọng gì cứu chữa được. Tôi cho hắn biết bà Joyer sẵn sàng la lên bất cứ lúc nào. Tom đáp, để tao lãnh vụ này cho. Tốt.
      Khoảng năm phút sau có tiếng chân nặng nề trên hành lang đang đi lại gần. Tom đi vào hỏi nhỏ, bà ấy đâu? Tôi đưa mắt về phía cửa sổ. Được, tao lo việc này. Tôi hỏi, tao đi lo việc khác được không? Ừ, mày đi xem chừng bệnh mới, không thể thả lỏng cho cô bé Linda được, nhớ làm cho xong những gì tao dặn lúc sáng. Tao nhớ rõ, sẽ làm xong chiều nay mà.
      Bệnh mới đã được đưa vào phòng số mười. Linda đã rút được một ống máu, thấy tôi vào cô cong môi khoe ngay thành tích. Tôi gật đầu, cô làm tốt lắm, thế còn «blood gas» đâu? Linda bị hỏi khựng lại, cô nói giả lả, tôi mới làm xong ống máu này mà. Nói xong cô tất tả chạy đi lấy nước đá và các thứ cần thiết. Tôi vội hỏi bệnh sử, khám bệnh, viết hồ sơ nhập bệnh và làm bảng theo dõi chi tiết cho Linda. Cô lúi cúi lấy «blood gas», kim đâm sâu vào động mạch làm người bệnh nhăn nhó cựa quậy. Tôi hỏi thế nào, có cần tôi giúp không? Linda đáp, tôi đã lấy «blood gas» nhiều lần rồi. Vậy được, có gì «page» tôi, bây giờ cô theo dõi mọi chi tiết ghi vào bảng này, tôi đưa số một xuống CT Scan và số ba xuống «Radiation». Khi cô xong mang «blood gas», ống máu, rồi đẩy số bảy theo, lên bỏ «blood gas» trước, đem ông ta xuống quang tuyến và tiện đường thảy ống máu vào phòng thí nghiệm, nhớ để «stat» nghe không? Dạ, tôi biết. Còn số chín để tôi qua bên «rehab» lấy cái «walker» cho ông ấy luôn, cô khỏi đi. Dạ, cám ơn. Xong việc mình gặp nhau trong phòng trực, nếu tôi xong trước sẽ ngồi đó viết hồ sơ xuất viện và toa thuốc cho số tám, nếu cô xong trước nhớ thay băng cho số hai rồi trở lại gặp tôi. Dạ nhớ. Tôi đi đây.
      Tôi trở về phòng trực. Beeper lại réo lên. Tôi nhấc điện thoại. Tiếng Tom bên kia đầu dây, thêm bệnh mới cho mày đây. Một tên ói mửa ra máu. Tao đang ở dưới phòng cấp cứu, sắp xếp công việc xuống ngay. Được rồi, tao xuống liền. 
      Linda đè ngực vừa thở hồng hộc vừa chạy làm bộ ngực cô căng dồn dập dưới làn vải mỏng. Cô nói, mọi việc xong rồi, tôi phải làm gì nữa? Thêm bệnh mới dưới cấp cứu, tôi phải chạy xuống dưới đó. Có ở trên này, thay băng cho số hai, «page» bên ngoại khoa đến xem vết lở dưới mông, theo dõi chi tiết của số mười, mỗi giờ ghi kết quả vào bảng tôi đã đưa cho cô. Cứ gắn nó vào đầu giường. Dạ nhớ. Linda chạy đi. Khoan đã, «page» khu tim và phổi nói mình đã bỏ giấy hội chẩn sáng nay cần họ xem bệnh gấp, «page» bên nhiễm nói đã chuyển bệnh lao về cuối trại, phòng hai mươi, nói họ cho ý kiến chiều nay. Còn gì nữa không? Hết rồi, «page» tôi mỗi giờ để xem có gì mới xảy ra không?
      Tôi chạy xuống phòng cấp cứu, «ói ra máu» là một người bệnh da đen bóng, đám y tá và bác sĩ chịu chết không lấy được mạch máu để đặt đường nước biển. Họ chỉ mới đặt được ống thông bao tử, phen này chắc tôi mệt đến tắt thở rồi. Bác sĩ hướng dẫn dưới cấp cứu ra lệnh chuyển «ói ra máu» lên trại liền, đường nước biển sẽ giải quyết trên đó, quá nhiều bệnh vào ngày hôm nay, không còn đủ chỗ nữa. Tom nói, mày theo bệnh lên trại cố đặt cho được đường mạch. Tao sẽ lên sau. Hắn vừa nói vừa thở hồng hộc. Quả nhiên đúng như lời đồn, phiên trực ngày thứ hai lúc nào cũng đông bệnh, họ vào tới tấp như thác lũ, bốn toán trực trên trại nhận không xuể. Tom phải xem hai toán, mặc dù hắn không làm việc trực tiếp với bệnh nhưng số bệnh đông hắn phải chạy như con thoi lên xuống giữa trại và phòng cấp cứu. Tấm thần mập của hắn xem chắc không chịu nỗi lâu nữa.
      Tiếng beeper lại reo điếc tai. Tôi nhấc điện thoại. Giọng Linda từ bên kia đầu dây, số năm vừa mới té ra khỏi giường. Có việc gì không? Có lẽ ông ta bị gẫy tay rồi. Cái gì, nói lại tôi nghe xem? Chắc ông ấy bị gẫy tay. Linda nói. Làm sao té được? Chính tôi cột số năm hồi sáng lại kỹ lắm mà. Họ nói ông ấy tự tháo dây ra với tay lấy mắt kiếng trên bàn, mất thăng bằng ngã lăn xuống đất. Thôi được, tôi lên ngay. Tôi quay lại nhìn Tom, mày biết cái gì mới xảy ra không? Hắn nhìn tôi, lắc đầu chờ đợi. Số năm té gẫy tay. Tom đập tay lên bàn, buột ra một tiếng chưởi thề. Hắn nói, đằng nào mày cũng lên đó, liệu việc nào gấp làm trước. Tôi bảo người y tá đẩy bệnh lên lầu Three E-North, tôi gặp anh trên đó.
      Mọi người đang xúm xít trong phòng, số năm đã được đỡ lên giường, đau rên hừ hừ. Tôi kiểm soát lại, không nặng lắm, gẫy kín không có tổn hại đến thần kinh và mạch máu. Tôi nói, để yên ông ta ở đó, cho một mũi giảm đau, «page» portable quang tuyến «stat» mau. Linda chạy đi, tôi dặn vói theo, xong trở lại số mười, ở đó làm theo lời dặn, tôi ở bên số bốn với bệnh mới, có gì chạy sang tìm tôi.
      Da số bốn đen bóng, thân thể nặng nề đầy mỡ không thể tìm được mạch máu, hắn mệt lã nằm nghẽo đầu sang một bên. Ống thông bao tử đã được nối vào máy hút, nước lẫn chất đen bị hút từ đó ra từng chập. Tôi đâm mấy phát vào hai bên tay nhưng kim không vào mạch được. Dưới chân hắn còn tệ hơn nữa, tôi không thể tìm thấy mạch máu nào cả. Tôi đành phải gọi cho Tom báo cho hắn biết tình hình. Mầy đã cố nhiều lần mà không lấy được à? Thử dưới chân chưa? Không hy vọng gì hết, tôi nói, bây giờ tao phải chổng đầu hắn thấp xuống, đâm vào mạch cổ. Mầy liệu làm được không? Tôi đáp, tao đã làm nhiều lần rồi. Tốt, nếu vậy cứ làm đi nhưng nhớ gọi Linda đến phụ và chỉ cho cô ấy biết, lỡ khi không có ai nó lấy «tourniquet» quấn quanh cổ người bệnh thì khốn khổ cả đám. Tôi cười, vừa thôi Tom, Linda đâu ngu đến như vậy. Biết đâu được, à, tao đã nói với mụ Joyer rồi. Thế nào? Thật điên không thể chịu được. Mụ vẫn muốn «code» cho ông chồng, mụ không những chưởi tao còn đòi lên gặp bố già giám đốc nữa. Còn gì nữa không? Hết, mầy đi lo việc của mầy đi, giải quyết hết trên trại, khi nào không xong mới gọi tao. Dưới cấp cứu thế nào? Vẫn còn đông, Tom nói.
      Tôi gọi Linda sang phụ giữ đầu số bốn sang một bên, quay đầu giường xuống thấp, cuối cùng đường mạch cũng lấy được. Tôi nói, trong khi theo dõi số mười cô viết giấy hội chẩn cho bên tiêu hóa và «page» cho họ biết liền, xong viết xin bốn bịt máu, hai «type and match» dùng ngay và hai «type and hold» để dùng trong đêm. Linda đáp, tôi làm ngay. Đã có kết quả của số mười chưa? Xong rồi, tôi có ghi kết quả ra đây. Linda đưa mảnh giấy cho tôi coi. Đường xuống nhanh quá không được, cô hạ xuống còn hai mươi giọt một phút thôi, nhớ rút máu thử mỗi giờ, có kết quả cho tôi biết liền. Linda đáp, tôi sẽ làm đúng y như vậy, còn gì nữa không? Hết rồi, tôi đi đây. Ờ! 
      Tiếng beeper lại réo lên, có người «page» tôi từ phòng y tá trực. Chuyện gì xảy ra trong trại đây, tôi đi nhanh về phía đó. Người y tá nói gấp, ông Joyer không xong rồi. Việc gì vậy? Huyết áp tuột, mạch tăng, mồ hôi đầy mặt, ông ta tím tái rồi. Tôi vừa chạy vừa nói, goi Dr. Tom Brown, mang xe để dụng cụ cấp cứu cho tôi. Linda, nếu không có gì hết ở số mười theo tôi qua phòng ông Joyer ngay. Tôi chạy ngay vào phòng. Ông Joyer đang được người y tá đo huyết áp và mạch. Da mặt ông tái mét, mồ hôi lấm tấm, thở hổn hển như muốn đứt hơi. Tôi nghe tim và phổi ông. Người y tá đưa mắt nhìn ngụ ý phải làm gì? Mở đường nước và mạch tối đa, tiếp tục hút nước bao tử, gọi gấp portable quang tuyến cho ngực và bụng, «page» MICU ngay. Linda dạ. Đặt thêm một đường nước ở tay bên kia, tôi lấy «blood gas» liền, cho dưỡng khí sáu lít một phút qua «mask». Mấy người y tá nhận lệnh hấp tấp chạy đi.
      Tom tất tả chạy vào, tôi vừa làm vừa báo cáo tình hình. Hắn hỏi gọi MICU chưa? Có người gọi rồi. Bà Joyer vẫn đứng ở đầu giường hỏi, mấy ông định làm gì chồng tôi? Tom đáp, tình trạng của ông Joyer quá nặng rồi, vì bà vẫn giữ «code» chúng tôi sẽ chuyển ông lên trại MICU. Nhưng tôi không muốn chuyển ông nhà tôi lên đó. Bà phải biết rằng ở trại bình thường chúng tôi không thể giữ bịnh nặng như vậy được. Nhưng tôi muốn chồng tôi ở đây. Tại sao bà muốn giữ chồng bà ở trại thường không đủ dụng cụ săn sóc và theo dõi bệnh được? Bà Joyer đáp, tôi không cần giải thích lý do. Nếu bà vẫn giữ ý định đó và không muốn giải thích lý do, chúng tôi sẽ mời bác sĩ hướng dẫn đến và toàn bộ «staff» sẽ quyết định trị liệu. Lúc đó chúng tôi không cần ý kiến bà nữa. Bà Joyer nhếch mép cười, tôi sẽ gọi luật sư của tôi can thiệp. Đó là quyền của bà, tôi không có ý kiến về việc này. Bây giờ cho tôi gặp giám đốc bệnh viện. Bà không thể gặp được ông bây giờ, bác sĩ hướng dẫn của tôi sẽ đến gặp bà. Tom quay lại nhìn người y tá như ý ra lệnh.
      Bà Joyer bỏ ra ngoài đi tìm điện thoại. Hai người bác sĩ từ trại săn sóc đặc biệt đi vào. Xe quang tuyến X đẩy tới. Linda đã đặt được đường mạch thứ hai. Tôi đưa ly nước đá có ống máu để làm «blood gas» cho cô. Bọn chúng tôi đi ra ngoài hành lang. Bác sĩ hướng dẫn đến. Chúng tôi thảo luận và quyết định chuyển ông Joyer lên MICU ngay. Mấy người y tá mang đầy đủ dụng cụ và dưỡng khí đến, họ tháo rời dường dây trong tường, đẩy cả chiếc giường ra ngoài hành lang.
      Bác sĩ hướng dẫn dặn dò, mọi người cứ tiến hành theo kế hoạch đã bàn, ông ta không thể qua khỏi đêm nay đâu. Nói xong ông đón đầu bà Joyer từ phía cuối hành lang đang đi lại. Ông nói, các anh trở về làm việc, chuyện này để tôi lo.
       Tôi lấy kết quả «blood gas» và phim quang tuyến X do Linda vừa mang về, rồi quơ kẹp hồ sơ vừa đi theo đám chuyển bệnh vừa viết phần chuyển trại. Linda chạy theo hỏi, còn phim quang tuyến X của số năm thì sao? Tôi cầm tấm phim giơ lên dưới ánh đèn, xương cánh tay trên gẫy hẳn rồi. Cô đưa phim này cho Tom, gọi bên chỉnh trực báo cho họ biết, phải chuyển số năm đi thôi. Rồi tôi phải làm gì nữa? Linda hỏi. Trở về số mười của cô, làm theo lời dặn của tôi lúc đầu. Linda vâng dạ chạy đi.
      Trên đường từ MICU trở về, tôi gặp đám bên chỉnh trực đang đứng trong hành lang. Họ muốn trị liệu gẫy xương tại chỗ chứ không chịu nhận bệnh về bên đó. Tom bị dưới phòng cấp cứu gọi xuống nhận bệnh mới, hắn phải bàn giao việc đấu lý này lại cho tôi. Bác sĩ hướng dẫn bên khu chỉnh trực đang soi phim dưới ánh đèn cắt nghĩa cho đám học trò đang bu quanh. Họ có vẻ không muốn bàn luận về vụ chuyển bệnh nữa. Tôi thấy tình hình không êm. Trận chiến này chênh lệch quá, bên tả lép vế thấy rõ. Tôi quay trở về hướng phòng ông Joyer. May thay bác sĩ hướng dẫn của tôi vẫn còn ở đó. Mụ Joyer không còn làm dữ nữa, có lẽ luật sự của mụ cảm thấy không thể ăn được trong vụ này. Mụ lấy giấy chậm nước mắt khóc sụt sùi. Tôi đành phải đứng chờ phía đầu hành lang. Mụ khóc cho ông chồng sắp chết hay khóc vì bỏ công bấy lâu nay chỉ làm chuyện dã tràng se cát? Mụ mang thân xác ông chồng và tìm sơ hở nếu có trong việc điều trị của chúng tôi để mong kiếm chác tiền bạc. Người luật sư chỉ tốn chút nước bọt chứ mụ đã phí công sức nhiều. Mụ tưởng có thể mang thân thể khốn khổ của ông chồng để làm một chuyện kinh doanh đen tối. Bây giờ mụ khóc, có lẽ tiếc rẻ nhiều hơn là hối hận hay xót thương?
      Bà Joyer đi về phía MICU. Bác sĩ hướng dẫn đi về phía tôi, ông đã thấy tôi chờ trong lúc ông nói chuyện. Tôi tường trình lại vấn để gẫy xương của số năm và cho biết ý kiến của «staff» tại chỗ. Ông hỏi, bên chỉnh trực đâu? Tôi chỉ tay về phía đám đông còn đang đứng bàn luận. Ông đi ngay về phía đó. Tốt, bây giờ trận đấu ngang sức rồi. Bên họ đông nhưng toàn là bọn lòng tong, tép riu như Linda thôi, chẳng có gì phải quan tâm.
      Cuộc thảo luận thật gay cấn và sôi nổi. Đám học trò dạt ra dựa vào vách chung quanh. Giữa đường đi, bây giờ chỉ còn hai bác sĩ hướng dẫn đang đấu nhau chí tử. Ông thầy của tôi quên nhiều về chuyên môn nhưng nổi tiếng là lì lợm, ra trận là quyết tử chứ không lùi. Cuối cùng bên chỉnh trực nhượng bộ và phải lấy bệnh đi nhưng với điều kiện vớt vát khi vấn đề ổn định sẽ trả bệnh lại. Không sao. Chịu nhận bệnh là biết điều rồi.
      Làm hồ sơ chuyển bệnh xong tôi cố bước về phòng số mười. Cũng may khá lâu rồi beeper không kêu. Tôi bấm thử, có tiếng kêu chứng tỏ pin còn tốt. Tôi mong nó đừng kêu nhưng nếu hết pin nó tắt thở thì mình cũng tàn đời sớm. 
      Tôi đi vào phòng số mười. Linda đưa cho tôi bảng kết quả. Mức đường trong máu khi xuống khi lên, không xong rồi, đường nước và thuốc truyền vào mạch ở dưới cườm tay. Tôi hỏi, cô lấy máu ở khuỷu tay cùng bên phải không? Linda sợ hãi gật đầu. Tôi giơ hai tay lên chỉ có nước kêu trời. Tom mà biết được cô rút máu thử nghiệm cùng bên tay vô thuốc hắn sẽ bóp cổ cô lè lưỡi đến chết. Linda đứng yên lặng, đôi mắt ướt đẫm, cô hỏi bây giờ tôi phải làm sao? Tôi lắc đầu nhìn cô, rút máu tay bên kia ngay rồi trên đường đi xuống ăn chiều mình bỏ vào phòng thí nghiệm. Nhanh lên, chỉ có mười phút thôi.
      Trên đường chạy xuống nhà ăn, chúng tôi bỏ mẫu máu vào phòng thí nghiệm. Linda lo âu hỏi, ngày mai tôi phải nói sao trong «morning round»? Thế nào bác sĩ hướng dẫn cũng dũa cô thấu tới xương. Linda liếm đôi môi mọng đỏ lo sợ nói, đám học trò trong trại sẽ cười tôi, từ nay tôi phải trốn bọn nó. Đừng lo, tôi sẽ có cách giúp cô. Linda nắm bàn tay tôi siết chặt. Bàn tay cô mềm và mát lạnh. Cô lại nghiêng đầu hôn lên má tôi, khẽ nói, cám ơn anh.
      Chúng tôi đi vào hàng chờ lấy thức ăn. Linda lấy một cái khay đưa cho tôi. Thức ăn chắc vẫn như mọi khi, tôi chép miệng nói. Linda rầu rĩ nói, tôi không muốn ăn. Tôi nhìn cô, an ủi, cô có nhịn đói tới chết thì họ vẫn đem cô ra bàn mổ như thường.
      Biết vậy nhưng tôi không thấy đói. Tôi nói, cô ăn đi, tôi có cách giúp thật mà. Thật không? Tôi đâu có nói đùa để gạt cô đâu, dù gì chuyện đã xảy ra rồi, thôi đừng lo, ăn đi. Chúng tôi ngồi vào một bàn trống. Có mười phút thôi đừng chần chờ nữa, còn nhiều việc phải làm lắm. Tôi biết. Bên phổi, tim và truyền nhiễm đã đến xem bệnh chưa? Rồi, tôi thấy họ vào trại có lẽ họ đã cho ý kiến vào hồ sơ rồi, nè... anh nói có cách giúp tôi mà. Ờ, đương nhiên có cách, nhưng còn tùy kết quả thử máu kể từ bây giờ, mấy lần trước cô làm hư hết rồi. Tôi sẽ gắng sức. Được, nếu kết quả diễn tiến tốt như dự định thì đâu có ai bắt cô báo cáo con số từng giờ. Linda sáng mắt ra, cô nhìn tôi với ánh mắt chứa chan tình cảm và khâm phục.
      Chúng tôi vừa ra khỏi nhà ăn, Tom chạy vào gặp tôi ngay cửa. Tao định gọi mầy đây. Có bệnh mới hả? Ừ, một ông già đau bụng đi cầu ra máu. Mày đã gặp bệnh rồi à, tôi hỏi. Tom gật đầu, tao đã làm xong thủ tục, bây giờ mầy qua phòng cấp cứu đi. Còn Linda, mọi việc ra sao? Tom vừa hỏi vừa nhìn cô soi mói. Linda ấp úng chưa kịp trả lời. Tôi đáp, cô làm việc tốt lắm. Linda nhìn tôi tỏ vẻ cám ơn, cô ngần ngại nói, mọi việc được thôi, không có gì lạ. Chúng tôi chia tay nhau ở hành lang. Linda, cô qua bên khu thí nghiệm lấy kết quả thử máu, tôi đến phòng cấp cứu rồi mình sẽ gặp nhau trên trại.
      Ông già bảy mươi tuổi, đau bụng lâm râm, đi cầu ra máu thỉnh thoảng cả mấy tháng nay rồi. Hôm nay bị nặng ra máu đến mấy lần. Ông được chuyển lên trại phòng số mười bốn. Từ ngày làm việc ở xứ Mỹ tôi chưa hề thấy người ta chia phòng số mười ba bao giờ.
      Thế thì đêm nay lại không ngủ rồi, ba trại khác đến bàn giao công việc tối nay, mỗi trại một lô việc phải làm. Lại thêm bệnh cũ ở trại, ba bệnh mới vào hôm nay, một tên đường trong máu tăng cao, một tên ói ra máu, và một tên đi cầu ra máu. Bệnh nào cũng phải theo dõi sát không thể lơ là được. Một chiến trường đẫm máu hứa hẹn cho chúng tôi tối nay.
      Linda mang kết quả thử máu lên. Cô hồi hộp nhìn tôi không chớp mắt. Tăng lên ba mươi giọt một phút, vẫn theo kế hoạch như đã định, tôi kiểm soát lại hồ sơ cũ ở trại, cô qua đặt đường nước vào mạch cho số mười bốn rồi lấy máu làm «CBC», «SMA9», «phosphorous», và bốn bịt máu «type and cross match» sẵn sàng, tôi sẽ gọi bên tiêu hóa báo cho họ biết.
      Tôi sắp xếp công việc phải làm tối nay. Đặt đường nước vào mạch và làm thử nghiệm máu cho ông Daniel đi soi tim. Kiểm soát lại dưỡng khí, «blood gas», đặt đường nước cho ông Musgrove sẵn sàng cho việc soi phổi ngày mai. Xem kết quả CT Scan sọ não của số một. Coi lại bên ngoại khoa đã làm gì cho vết lở của số hai. Đọc phim quang tuyến X ngực của số bảy xem tình trạng viêm phổi đã khá chưa. Qua phòng hai mươi cho ông bệnh lao biết kế hoạch trị liệu và lý do phải ở phòng riêng. Đến số năm xem ông ta còn trên giường hay té lăn quay trên sàn lại sinh ra lắm chuyện. Còn bệnh mới số bốn phải kiểm soát nước hút bao tử đã sạch chưa? Theo dõi mức độ hồng cầu sụt đến đâu, truyền máu xong phải thử lại, chuẩn bị cho chuyện soi bao tử ngày mai. Và số mười bốn mới vào, phải theo dõi máu mỗi bốn giờ, truyền máu và kiểm soát mức độ hồng cầu, đọc phim quang tuyến bụng, sửa soạn để soi ruột. Cuối cùng số mười, chúng tôi phải theo dõi thử nghiệm máu mỗi hai giờ, nếu tạm ổn, mỗi bốn giờ, điều chỉnh mức nước biển truyền và thuốc. Bao nhiêu chuyện đó trên trại tôi phải chạy như điên suốt đêm chưa kể chuyện tôi phải làm bao cho các trại khác. Bốn thử nghiệm máu theo dõi diễn tiến bệnh, ba việc đâm ngón tay kiểm soát mức đường trong máu, một «blood gas» và điều chỉnh mức dưỡng khí, một quang tuyến X kiểm soát vị trí ống thông bao tử...
      Ngoài ra một số rất nhiều việc sẽ xảy ra trong đêm và beeper đã, còn, và sẽ reo đinh tai nhức óc. Bốn tầng lầu, mấy chục trại, tôi phải chạy như điên cuồng trong đêm. Ngộp thở, đau ngực, đau bụng, té xỉu, thậm chí cả chuyện nhức đầu, mất ngủ, táo bón họ cũng gọi tôi liên miên quyết không tha. Thêm vào đó, việc sút đường nước biển truyền là cả vấn đề nan giải. Vài tên ngủ nằm mơ thấy ác mộng đánh nhau, chỉ cần quơ tay múa chân là dây truyền sút ra ngay. Trong đêm vàng mờ ánh đèn, nhất là với bệnh nhân da đen hay mấy bà mập ú, tôi phải mất cả tiếng đồng hồ cặm cụi đặt dường đây là chuyện thường. Trong khi beeper reo gọi liên hồi. Trăm công ngàn việc đổ ập lên đầu. Ba bốn bên «page» mình cùng một lúc thiếu điều muốn tự vận cho khỏe thân.
      Công việc quay cuồng, dồn dập từ cấp cứu, MICU, trại bệnh bạn, và trại của chính mình. Tôi chạy như điên, làm việc đến phát khùng. Mỗi lần thiên hạ «page» mình, tôi cứ tưởng như đang lảnh từng phát đạn. Thật ác hại, phát đạn nào họ cũng bắn trúng mục tiêu, trúng ngay chỗ nhược. Đến quá nửa đêm, tôi bị «page» đến mấy chục lần. Thân thể tôi tơi tả, rách bươm như cái rổ cũ đã bị xài tận tình.
      Tôi đi thất thểu trong hành lang. Buổi tối thật yên lặng và trống vắng. Hình như có gió từ đâu luồn vào đến phát lạnh. Tôi nhìn trước, nhìn sau, ngó qua hai bên. Không còn ai quanh đây. Chỉ còn một mình tôi thôi. Tôi cảm thấy mình như tên lính bại trận trơ trọi trên đường vắng. Bệnh nhân đã ngủ yên, mọi người cũng tìm chỗ nghỉ ngơi. Như vậy địch thủ đã rút lui rồi. Lạy trời, xin đừng ai «page» tôi nữa. Phát đạn này chắc là phát cuối cùng kết liễu đời tên bại binh không còn manh giáp.
      Có lẽ gần sáng rồi. Công việc vơi được hơn nửa. Tôi thấy Linda vừa đi vừa lết trong hành lang. Cô mở phanh áo coat trắng ra. Thân hình cô thật cân đối. Cô đưa tôi bảng kết quả thử máu thật dài. Tôi nhìn Linda, mặt bơ phờ, tóc rối tung. Tôi nghĩ tôi cũng trông chẳng khá hơn gì cô. Linda nhìn tôi, bây giờ phải làm gì? Cô không về nhà sao? Linda lắc đầu. Học trò không cần ở lại suốt đêm, tôi nói. Cô gật đầu, tôi biết, nhưng tôi muốn ở lại tối nay để theo dõi bệnh và tường trình bệnh án cho ngày mai. Cô có chắc còn đủ sức làm tiếp không? Linda cương quyết gật đầu, được mà, nhưng tôi cần phải thay bộ quần áo này ra. Cô biết chỗ phòng trực không? Linda lắc đầu. Phòng trực lại có khoá, để tôi dẫn cô đi.
      Chúng tôi đi vòng theo hành lang, lấy thang máy lên lầu bốn. Tôi rẽ vào khu trực của bác sĩ, mở cửa phòng. Linda hỏi, phòng anh phải không? Ờ, nhưng chẳng mấy khi tôi được ngủ đâu. Tại sao họ không xếp phòng trực cho học trò? Năm thứ ba như cô đâu cần ở lại đêm. Tôi ở chung phòng với anh đêm nay được không? Được chứ, chỉ sợ cô ngại thôi. Linda bước vào vừa cười, vừa nói. Người lo ngại đó là anh hay là tôi? Tôi chưa kịp trả lời, Linda đã cởi áo ngoài. Tôi bước theo vào trong. Linda kéo luôn chiếc áo rộng lên khỏi đầu. Dưới ánh đèn vàng cả phần trên thân người cô hiện ra lồ lộ. Màu da trắng như ngọc, đôi vú tròn đều vun cao lên, hai núm vú dễ thương màu hồng nhạt còn lắc lư nhịp nhàng. Linda nhìn tôi mỉm cười, cô tiếp tục kéo cái quần tuột hẳn xuống. Cả thân hình cô thôn dài trắng nuột, chiếc quần sì líp đen nhỏ xíu vắt ngang qua mông chỉ vừa đủ che khát khao phần đáng che của nó. Linda chậm chạp lôi bộ quần áo mổ màu xanh rộng thùng thình ra khoác lên người. Cô làm những động tác ấy tỉnh bơ như một đứa trẻ lên năm hay sáu tuổi.
      Tôi còn đứng tần ngần ngay ngưỡng cửa, Linda quay lại nheo mắt nhìn rồi cúi người hôn nhẹ lên môi tôi. Tôi vẫn chưa rứt ra được trong đầu thân hình Linda trắng như pho tượng vệ nữ. Cô đã nhẹ nhàng bước ra ngoài, vẳng lại tiếng nói nhỏ, tôi xuống trại trước. Tôi gật đầu, mình gặp nhau ở phòng số mười nghe. Tôi chờ ở đó, Linda nói.
      Gần sáu giờ sáng, công việc đã xong gần hết. Tôi cố nhấc hai chân tê dại lê từng bước về phòng trực. Còn phải kiểm soát kết quả thử nghiệm máu của số mười và điều chỉnh tốc độ nước biển và thuốc truyền. 
      Tôi bước vào phòng số mười. Linda đang ngồi bệt dưới sàn dựa vào thành giường, đầu nghẽo sang một bên ngủ mê mệt. Trên tay cô vẫn còn cầm tờ giấy ghi kết quả thử máu. Các con số đều đi đúng theo ý mong muốn. Tình trạng bệnh nhân đã ổn định rồi.
      Linda mở mắt ra, lật đật đứng dậy. Tôi nói, thôi mình về phòng ngủ, còn một vài việc đến sáng làm cũng được. Linda gật đầu, tôi cũng nghĩ như vậy. 
      Chúng tôi đi về phía cửa trại, lấy thang máy lên lầu bốn. Linda nói, tôi ngủ chung phòng anh nghe. Tôi gật đầu, nhưng trong phòng trực, chỉ có một giường thôi. 
      Linda cười, một giường cũng không sao nhưng cấm anh không được lộn xộn. Tôi nhìn Linda, cố cười đáp lại, nhưng sự mệt mỏi làm khuôn mặt tôi cứng như chiếc mặt nạ. Linda khoác tay lên vai tôi. Cả hai thất thểu đi về phía phòng trực.
      Hành lang thật im vắng. Chúng tôi băng qua văn phòng giám đốc. Chung quanh không có tiếng ho, rên rỉ, cho đến cả tiếng chân đi, tiếng nói chuyện. Nếu có chỉ là tiếng beeper thỉnh thoảng réo inh ỏi điếc tai. 
      Vào đến phòng trực, Linda ngã ngay xuống giường, chỉ vài phút tôi đã nghe tiếng cô thở đều đặn. Chung quanh có vẻ bình yên nhưng không biết được bao lâu. Hơn sáu giờ rồi, hy vọng có hòa bình thật sự.
      Nhưng chỉ vài phút sau khi tôi vừa đặt lưng xuống giường, tiếng beeper kêu inh ỏi, nhức nhối cả tai. Tôi nhấc điện thoại, bấm số. Tiếng Tom từ bên kia đầu dây, xin lỗi đã hơn sáu giờ tao không muốn đánh thức mày. Tôi cười như mếu, không sao, mày khỏi lo chuyện đánh thức tao vì tao chưa ngủ suốt đêm. Tao cảm thấy áy này cho mày, Tom giả lả. Thôi được rồi, có chuyện gì vậy? Tao rất tiếc phải nói, một bệnh mới cho mày. Cái gì, tôi gắt gỏng, bệnh mới cho tao vào giờ này, họ không thể chờ đến tám giờ sáng phiên trực khác sao? Họ neo người bệnh dưới cấp cứu đã mấy tiếng đồng hồ rồi, Tom nói, không thể chờ đến sáng mai được. Tôi bực bội, tại sao không cho vào từ sớm? Tom đáp, họ suy nghĩ mãi không dứt khoát được cho vào hay thả về. Tôi hỏi, mày đang ở phòng cấp cứu phải không? Ờ, tôi buông thõng câu trả lời, tao xuống ngay. 
      Thế là xong một đêm. Ngày mai công việc vẫn đầy ắp. Thêm một ngày làm việc cho đến chiều mai mới được về nhà. 
      Tôi sờ beeper lên lưng quần, còn gần hai tiếng đồng hồ. Lạy trời cho nó đừng kêu nữa. 
      Bên trong giường Linda đang soải chân ngủ mê mệt. Tôi đứng dậy lê từng bước ra ngoài. 
      Hành lang vắng ngắt đến rợn người. Tôi khép hai vạt áo lại. 
      Hai chân đã mỏi rã rời, tôi cố lết từng bước về phía thang máy. Còn một ngày dài làm việc nữa mà. Cố lên.
 




0
NQQ P186 A 205
 
 
 
 
 
 
 
NÓI VỚI AI BÂY GIỜ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Buổi chiều mùa thu đúng nghĩa, với những đám mây xám ảm đạm trên nền trời trắng đục và bên đường trơ hàng cây khô đang run rẩy trong gió nhẹ.
Tôi trở về từ bệnh xá Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Đứng trên bậc thềm cao nhìn ra hè phố rộng lộng gió. Chiều nay, tôi ngập ngừng không muốn bước xuống con đường quen thuộc như mọi khi. Như có gì níu kéo bước chân từ mấy ngày nay, như có gì xóa nhòa ngõ đi thân thiết mọi ngày. Tôi vẫn đứng yên trên bậc thềm cao ấy, muốn có một phút giây trong chuỗi ngày tháng bận rộn. Không phải để nhìn những chiếc lá bay chao đảo ngoài kia, hay những người kéo cao cổ áo che gió đi hấp tấp trên hè phố. Càng không phải mấy con chim bồ câu vừa đáp xuống hay vài mảnh giấy bay vướng víu bên lề đường. Chính tôi muốn nhìn rõ hơn điều nan giải đang xoay chuyển trong đầu.
Bước xuống một bước có nghĩa là, không phải đi một bước như thông thường mỗi buổi chiều về, không phải nhấc bàn chân như một hành động phản xạ, không như một bước chân nào khác, trước đó. Bước xuống một bước chính là quyết định một hướng đi cho chiều nay.
Tôi đứng yên lặng cảm thấy hơi lạnh thấm dần qua vải áo, thấy tóc mình bay lòa xòa trước mặt. Hình như có hơi nước nồng nàn theo gió như những chiều xưa, bên cửa, lặng nhìn tà áo trắng ướt đẫm quấn quít trong mưa. Hình như có mặn môi, những ngày hai mươi năm trước.
Tại sao tôi phải đứng đây chiều nay. Ở đó, trong phòng mạch, có lẽ một số người bệnh đang chờ tôi. Đương nhiên trong số ấy không có người tôi mong đợi. Tại sao tôi phải gặp lại người đã đi từ hai mươi năm trước. Làm sao tưởng được một đường vòng quá lâu như vậy. Một sự gặp gỡ tình cờ, tôi muốn nghĩ như vậy, tôi không mong là định mệnh. Đừng nghĩ như thế. Một thoáng nghĩ về số phận sẽ làm tôi chao về một hướng đi khác. Trên đường vòng đó không phải hai người đi ngược chiều. Chỉ có một người đi thôi. Chỉ có người ấy, Tuyết đi thôi. Tôi đã đứng yên từ điểm tôi bắt đầu. Tôi đã đứng yên với lòng đau đầy luyến tiếc. Trên đường vòng, người đi tôi phó mặc. Những ngày mới lớn, chỉ có lòng hoang mang xao xuyến, chỉ có mắt nhìn ngẩn ngơ ngây dại, chỉ có môi rung rẩy nghẹn lời. Thì đương nhiên ngày ấy vỡ tan là một chuyện phải đành. Nào ai biết sự yên lặng chứa đựng một lò lửa hừng hực, nóng bỏng, nào ai biết ánh mắt tôi muốn nói vạn lời, nào ai biết lòng tôi đau theo mắt liếc môi cười. Chỉ có một người biết được. Chính tôi thôi. Người đi, tôi đứng lại. Bao năm tự giết mình trong hối tiếc và một mưu đồ tự hủy. Đường vòng xa quá, chính tôi cũng lãng quên thì còn ai nhớ được.
Chiều hôm đó đường vòng đã nối lại sau hai mươi năm. Không ngờ quả đất tròn thật. Chiều đó vẫn như thường lệ từ bệnh xá Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ tôi trở về phòng mạch. Những người bệnh đã ngồi chờ tôi như mọi khi. Không có gì mới lạ và không có gì thoát ra lẽ thường lặp đi lặp lại mỗi ngày. Bận rộn như tự bao giờ.
Người thiếu phụ ngồi chờ trong phòng khám dáng nhỏ nhắn, gục đầu ho rũ rượi. Dáng dấp có vẻ thân quen như bao trường hợp khác tôi đã gặp đâu đó trong cuộc đời. Tôi xem chi tiết trong hồ sơ, lướt qua triệu chứng bệnh sử, dừng lại một thoáng ở cái tên, đi tiếp đến mạch, huyết áp, nhiệt độ... Quay lại, trở lại, có điều gì không ổn ở tên người bệnh.
Tôi đi ngay vào phòng khám, khép cửa lại. Người bệnh ngước lên nhìn. Tôi đứng dựa vào vách yên lặng. Tôi quên mất hết những câu hỏi thường lệ dành cho bệnh nhân. Tôi xem lại cái tên trong hồ sơ, quay nhìn người đàn bà ấy. Vẫn khuôn mặt, dáng người quen thuộc của một thời xa xưa tưởng như mất hút trong dĩ vãng. Vẫn đôi mắt long lanh, mũi thon dài, môi cong ấy. Tôi cảm thấy mắt hơi nhòa và tim đập mạnh.
Quả nhiên Tuyết đang ngồi trước mặt tôi, nàng đã thay đổi rất nhiều với tóc rối buông ngang vai và vài nét nhăn mờ nhạt ở đuôi mắt. Mặt nàng nhợt nhạt với đôi môi tím tái. Tôi nhìn nàng, thấy Tuyết của ngày nào trong chiều tan học. Dáng áo dài trắng mảnh mai trong nắng nhạt, tóc kẹp hai bên với cái nơ nhỏ màu vàng. Thấy nàng với khuôn mặt trái soan, chân mày nhỏ, mắt long lanh giả vờ không liếc, mũi dọc dừa thon nhỏ, môi cong chúm chím làm bộ không cười. Đôi vai gầy, tay nàng ôm cặp, tay kéo vạt áo dài khép nép trong gió chiều. Tôi nhìn nàng, thấy Tuyết của thời xưa đi ngang nghiêm trang yên lặng, đi qua mắt liếc môi cười. Thấy Tuyết của ngày lộng gió cuốn quít nép vào hàng cây lồng đèn có cánh hoa đỏ cài qua mái tóc bên mảnh nơ vàng. Thấy Tuyết trong chiều mưa lướt thướt, dáng gầy lạnh run, đi co ro rũ rượi, đi trong lòng đau buồn muốn khóc. Tôi nhìn nàng, thấy Tuyết của trưa hè nhí nhảnh, đi tung tăng chân chim, ngắt một cành đâm bụt cho bối rối tay run. Tôi thấy tôi, mặt mũi ngờ nghệch đang chạy xe đạp, mắt một đàng, đi một nẻo, đâm vào ông bán ve chai té lăn trên đường. Tôi nhìn nàng, thấy Tuyết một thời, mím môi cười vỡ tim tôi, liếc mắt chao đảo tâm hồn, nghiêng vai đổ sầu chất ngất. Thấy em những ngày mắt thoáng môi cười, tay run chưa vẩy, rồi vấp chân chim. Rồi thấy em ngày đi ngoảnh mặt, mắt lạ người dưng, mím môi không nói. Thấy em ngày theo mây gió, nuốt bóng trăng suông. Thấy tôi mắt dại ngỡ ngàng, chân theo hấp tấp. Thấy em ngày đi mất dấu, lạnh suốt hồn tôi. Thấy em mưa theo ngày tháng. Thấy tôi ủ rũ thành sầu. Thấy em ngày về tay bế. Thấy tôi toan tính qua đời.
Tuyết ngẩng mặt nhìn tôi yên lặng, ánh mắt bối rối ngỡ ngàng. Nàng có nhận ra tôi không? Chưa biết? Nàng làm sao nhớ được tên học trò trường Hồ Ngọc Cẩn, quần xanh áo trắng đi chiếc xe Solex gỡ máy. Nàng làm sao nghĩ được tên học trò vắt ra sữa ngày nào, nhút nhát nói không ra lời, nay im lặng làm bộ như nghiêm trang. Nàng khó lòng nghĩ được bây giờ là tên đàn ông, tóc muối tiêu với bộ râu mép, mặt áo trắng, giả vờ như lạnh lùng mà lòng lao đao rối loạn. Nàng làm sao tưởng được tên học trò ngày xưa thất thểu bên cuộc đời nàng, sống như đã chết, bây giờ đứng đây, hình như còn mạnh khỏe. Nàng lấy làm khó nghĩ đó lại là tên đàn ông đang đứng trước mặt nàng, làm bộ như vững chãi, nhìn nàng bày đặt như ban ơn.
Tuyết cúi mặt xuống sàn, lại ngẩng lên. Nàng quên cả ho tự nảy giờ. Tôi thấy môi nàng mấp máy như muốn hỏi điều gì. Tôi nhìn mặt nàng, như có một thoáng vui trong vẻ u buồn ấy. Nàng muốn hỏi tôi một điều gì, có lẽ của ngày xưa, để xác nhận tên học trò ngờ nghệch đó với người đàn ông chẳng khá gì lắm ngày hôm nay, là một. Hay nàng sợ hỏi lầm người đâm ra câu hỏi thành lời tự thú.
Tôi hiểu, cảm ơn em vẫn còn nhớ những ngày xưa xa xôi ấy. Thôi để tôi hỏi trước vậy, làm sao nhận lầm người được mà lo, nhưng vấn đề xưng hô ra sao đây. Em dĩ nhiên sổ sàng quá. Bà có vẻ nặng nề khách sáo. Tuyết, nghĩ ra thân mật quá đáng. Thôi đành gọi cô chứ còn tiếng nào khá hơn nữa. Tuyết vẫn yên lặng đợi chờ. Tôi hỏi, cô sang đây được bao lâu rồi? Dạ, được ba tháng. Chắc cô sang đây chung cả gia đình? Dạ, chồng em vượt biên bị mất tích từ năm tám mươi. Đứa con bị bệnh chết lúc nhỏ. Em sang đây chung với cha mẹ do người anh bảo lãnh. Cô vẫn còn ở xóm Long Vân Tự? Tôi thoáng cảm thấy hồi hộp vì câu hỏi này. Tuyết yên lặng nhìn xuống thảm, hình như dĩ vãng chợt quay về vội vã. Nàng không nói nhưng chậm chạp gật đầu. Tôi đã xa khu xóm ấy từ năm bảy mươi, thỉnh thoảng có về một đôi lần, rồi ra đi năm tám mươi mốt, bây giờ chắc cảnh vật không còn như xưa. Tuyết đáp, nhiều thay đổi lắm, nhà cửa càng lúc thêm tiêu điều, con đường cũ ngày xưa càng lầy lội. Tôi nhìn nàng, không còn thấy dáng cô bé duyên dáng cái nơ vàng mặt áo trắng tha thướt trong nắng chiếu. Chỉ thấy một thiếu phụ xanh xao gầy gò xắn quần lội trên quãng đường lầy lội. Tôi lắc đầu vội vã xua hình ảnh đó đi. Tuyết nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, nhưng chỉ thoáng qua, nàng hỏi, anh còn nhớ cây cầu phía trước chùa không? Tôi gật đầu, nhớ chứ. Tuyết nói, cây cầu bị thu hẹp lại, lan can gẫy sụp, dưới sông nước đen ngòm ngập tràn rau muống. Tôi vẫn nhớ đã một thời ôm mộng qua cầu gió bay. Dáng Tuyết chiều về qua cầu tà áo bay bay, bên dưới dòng nước xanh trong vắt. Bây giờ, trời ơi, họa chăng chỉ còn một thiếu phụ tóc rối bời, mồ hôi nhễ nhại tay khiêng tay xách. Bây giờ đâu còn Tuyết ngày xưa yêu kiều, duyên dáng, đâu còn những ngày trông dáng em tưởng chừng có thể đem đổi cả cuộc đời, tương lai, và sự nghiệp.
Tôi nhìn Tuyết, giờ đây, một bệnh nhân đang ngồi khép nép. Phải trở về vị thế của mình, hết rồi thời yêu dấu ngày xưa. Tôi hỏi diễn tiến bệnh, ghi vào hồ sơ, bảo nàng cởi áo để tôi khám bệnh. Tuyết ngoan ngoãn vâng lời. Phải chi ngày xưa nàng được một phần mười như vậy cũng đỡ lắm rồi. Phải chi tôi được một phần mười bây giờ cuộc đời chắc rẻ qua ngõ khác. Tôi đặt ống nghe lên làn da trắng đó, nghe tiếng phổi thở, tiếng tim run. Qua thân thể một thiếu phụ, tôi thấy lại dáng dấp một thiếu nữ nhỏ nhắn ngày xưa. Một dốc cổ thon, một bờ vai hẹp, và bộ ngực nhỏ trong dáng gầy guộc, mảnh mai. Tôi nghe lại chính tiếng tim mình đau buốt, hơi thở mình uất nghẹn với thân xác mình rơi xuống gẫy gập. Tôi nhìn thấy thân mình ướt đẫm những chiều mưa, nóng rát những ngày nắng lửa. Nhưng tôi lang thang ngồi thiêu đốt đời mình qua hơi thuốc bên ly cà phê đắng, nuôi dưỡng niềm đau, mưu toan tự hủy và giết hại một người.
Tuyết cái nút áo lại, bàn tay trắng, đầy gân xanh, run run, lúng túng. Em vẫn còn run sợ như ngày xưa sao? Hai mươi năm rồi còn gì. Em đâu có áy náy trong ngày ra đi, đâu có bối rối những ngày gặp mặt. Chưa phải hạnh ngộ thì sao bàn chuyện phân ly. Tôi cắn môi bật máu cho nụ cười em rạng rỡ, tôi muốn hủy mình cho đời em hạnh phúc. Em đã quá ngây thơ đến độ vô tình, tôi đã quá chắt chiu đến nổi điên cuồng.
Tôi đưa thuốc cho Tuyết, dặn nàng trở lại vào một ngày khác. Tôi không ghi toa, tôi muốn cho nàng một thứ gì đó của tôi, trong giới hạn của thầy thuốc và bệnh nhân. Nhưng khi tôi cho nàng một cái hẹn, tôi đã đi ra khỏi giới hạn rồi, tôi trộn lẫn lương y và tình cảm riêng tư. Tôi muốn nàng trở lại đúng hẹn của bệnh nhân nhưng mang lại cho tôi những yêu dấu của riêng nàng. Tôi nhìn nàng xuyên suốt một quãng đời, trở lại ngày mới lớn, rộn rã ngày yêu em.
Tuyết đã đi rồi. Bỗng dưng tôi như bị rơi vào một khoảng không lạnh buốt. Chung quanh đây vẫn vậy, mọi người vẫn như cũ, tôi vẫn là thầy thuốc, bệnh nhân vẫn chờ ở đây. Tôi làm việc cho quên đi những điều tôi đang nhớ. Có lý nào nỗi đau ngày xưa trở thành niềm thân thương hiện tại. Tôi lầm hay tôi bỗng dưng bắt được.
Tuyết trở lại đúng hẹn. Hôm nay nàng thật sự hết bệnh hay cố tình khỏi bệnh. Nàng trông trẻ lại quá nhiều so với lần tôi vừa gặp. Tôi còn đủ bình tĩnh để nghĩ rằng đã hai mươi năm hay mới chỉ vài năm. Nàng đi quá gần với Tuyết ngày xưa nhưng tôi đã quá cách biệt với tôi ngày trước.
Tôi cầm hồ sơ cùng nàng đi vào phòng khám. Tôi hỏi nàng về bệnh tình và thuốc uống. Tại sao nàng thuyên giảm bệnh nhanh đến như vậy. Tôi cứ nghĩ nàng còn bệnh cần uống thêm vài thứ thuốc và phải trở lại lần nữa. Nhưng không. Nàng thật sự khỏe mạnh rồi. Bây giờ, tôi tự hỏi, tôi là thầy thuốc hay là người bệnh. Nàng có phải là thầy thuốc đến trị căn bệnh kinh niên hai mươi năm của tôi không? Chưa biết. Không khéo cả hai đều bệnh cả, còn lấy ai điều trị cho. Tuyết nói, thuốc anh đưa thật hay, chỉ uống hai ngày đã thấy hết ho và khỏe hẳn. Tôi tự nhủ, chẳng lẽ bảo Tuyết tôi muốn một tháng cô mới hết bệnh, không ngờ cô lại mau khỏi như vậy. Nhưng thôi, nghĩ lẩn thẩn mãi lỡ buột miệng nói toạt ra lại phiền. Nhưng nói gì bây giờ, tôi vẫn yên lặng, quả thật mình tưởng bở, hóa ra chẳng khá hơn hai mươi năm trước là bao. Tuyết nói, thật không ngờ gặp lại anh nơi đây. Trông Tuyết không khác ngày xưa mấy, tôi nói. Nàng cười, khác nhiều chứ, ngày đó tôi chỉ là một cô bé học trò Trưng Vương, bây giờ già rồi còn gì nữa mà trông mong. Tôi chỉ muốn trở lại những ngày xưa. Nhưng trở lại để làm gì, ngày xưa anh có nói gì đâu làm sao người ta hiểu được. Tôi không nói nhưng cô hiểu được tôi muốn gì. Tôi biết anh muốn gì nhưng tôi không biết anh định làm gì. Cô không thể chờ được hay sao? Tuyết nghẹn lời, tôi biết lòng anh nhưng tôi không thể chờ được, chúng ta chỉ là hai đứa học trò, em không thể quyết định được đời mình.
Tôi nhìn ra hàng cây khô trơ lá ngoài cửa sổ, vài đám mây xanh lảng đãng ở chân trời. Những đám mây di chuyển thật chậm giống như những đám mây tôi thấy trong những buổi chiều chờ Tuyết tan trường về. Chúng chở theo nỗi buồn man mác đi tận vào lòng tôi ngày ấy. Rồi những đám mây có khi to lên vần vũ làm cho tôi lo lắng nàng sẽ mắc mưa một lúc nào đó trên đường về. Có lúc mưa đổ như trút nước thình lình lúc nàng đi ngang qua trước nhà. Tôi cầm áo mưa chạy ra trước cổng. Để làm gì. Tôi định đưa áo mưa cho nàng. Nhưng tôi vẫn đứng yên trước cổng lúc nàng đi đến. Cả hai đứa đều ướt đẫm nước mưa. Tuyết đứng lại nhìn tôi. Nước mưa ướt hết tóc nàng chảy tuôn xuống mặt mũi. Đôi mi dài cũng ướt quyện nước mưa. Cánh mũi nàng phập phồng, đôi môi tái nhợt mím lại như sợ nước thấm vào miệng. Tôi biết Tuyết bị lạnh, thân hình nàng run lên từng chập. Tôi cầm áo mưa trên tay đưa cho Tuyết nhưng không thể nói được lời nào. Nàng yên lặng nhìn tôi, bàn tay nàng như muốn đưa lên lại buông thỏng xuống. Đôi mắt nàng đã nói với tôi ngàn lời cảm ơn.
Tôi quay nhìn Tuyết, đôi mắt nàng ướt đẫm. Tôi hỏi, tại sao chiều đó cô không lấy áo mưa? Tôi hỏi xong mới biết mình ngớ ngẩn. Tự dưng hỏi một câu không đầu không đuôi, không có gì liên hệ hiện tại. Tuyệt nói, em chỉ sợ người khác biết được, nhưng em hiểu lòng anh lắm. Thật là hai đứa trẻ ngây ngô không thể tha thứ được. Tôi muốn gào lên, em đã biết vậy sao bỏ tôi đi không nói một lời nào. Nhưng thôi chuyện đã lâu rồi. Bây giờ phải khác, chỉ việc mở tung áo mưa, giũ một cái thật mạnh, trùm lên người nàng là xong. Bất chấp nàng có ưng chịu hay không. Nhưng dù cho nàng không muốn, sức mấy mà dám chống đối.
Đột nhiên, Tuyết ngẩng mặt nhìn tôi, tại sao ngày xưa anh cù lần quá vậy? Chết rồi, không biết nàng đang suy nghĩ chuyện gì? Hai mươi năm cũng lâu, nhưng tôi nhớ rõ không có làm chuyện gì bậy bạ với nàng. Nhưng có lẽ vì vậy mà tiêu tan mọi sự. Biết đâu có làm chuyện bậy bạ một chút hóa ra hay hơn, lại không mang tiếng cù lần. Tôi nhìn nàng không biết trả lời ra sao. Tuyết nghiêng mặt nhìn tôi, vẫn với đôi mắt long lanh và đôi môi cong lại.
Một lát sau, Tuyết dịu giọng, anh chỉ lo những bằng cấp của anh thôi. Tóm lại, tôi không thể nói được gì khác, chẳng lẽ tìm lời bào chữa, để làm gì, chẳng cần thiết để làm như vậy. Tuyết lại nói, anh chỉ lo cái mộng bác sĩ của anh. Lần này thì nàng lầm to rồi, tôi đâu có muốn như vậy, quả tình tôi chỉ biết có em thôi. Tại ba má tôi muốn như vậy, nhưng nói ra chỉ hổ thẹn và bất kính với người trên. Tôi yên lặng không nói gì. Nàng lẩm bẩm, suốt đời anh chỉ biết im lặng, sao anh không lớn tiếng nói hết những gì anh muốn nói ngày xưa.
Tôi cúi xuống viết vào hồ sơ, bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc thêm một tuần, bệnh tiến triển tốt, trở lại khi cần thiết. Tuyết nắm lấy bàn tay tôi, bàn tay nàng lạnh và run. Nàng hỏi, khi nào em trở lại. Cô hết bệnh rồi mà. Nhưng em muốn trở lại. Nàng nhét vào túi áo tôi một mảnh giấy nhỏ.
*
Bây giờ mảnh giấy ghi địa chỉ và ngày giờ hẹn vẫn nằm trong túi áo. Tôi đã báo trước cho y tá trong bệnh xá phải về sớm chiều nay. Nhưng tôi còn đứng đây, trên bậc thềm này. Ngoài kia cây gió xôn xao như lòng tôi chao đảo. Ngoài kia nắng đã tàn, chiều xuống hẳn, đêm chưa về, nhưng lòng tôi lạnh ngắt tự bao giờ. Chiều nay, ai biết, nhưng tôi có rất nhiều việc phải làm nhưng lại không biết nên đi đâu và phải làm gì. Chân tôi như bị đóng đinh, lòng xoay như chong chóng.
Có lẽ Thúy đang chờ tôi ở phòng mạch, chưa có ai đến giờ này đâu. Nàng đã làm xong một số hồ sơ, có thể đang bắt nước sôi pha cho tôi một tách cà phê. Nàng làm việc chăm chỉ, lo lắng cho tôi mọi việc. Nàng đang mong tôi trở về phòng mạch. Nàng hay lo sợ vẫn vơ có chuyện gì xảy ra trên đường đi. Hôm nay không có tuyết rơi nhưng có mưa lâm râm sợ đường trơn trợt. Hôm nay trời u ám anh phải đeo kiếng khi lái xe. Hôm nay không có cái hẹn nào sớm, anh cứ thong thả đứng gấp.
Bây giờ Tuyết đang chờ tôi, có lẽ nàng nôn nóng lắm. Bao năm rồi cách biệt, mọi sự đã chìm lắng tận sâu cùng trong ký ức trước bao khó khăn cơm áo của cuộc đời. Bao năm rồi tưởng như đã lãng quên hẳn trong trí nhớ khốn cùng. Bao năm rồi niềm đau đã lắng dịu, đã yên nghỉ trong một xó gốc của tâm hồn. Bây giờ Tuyết trở lại, tình cờ, làm mọi sự sống dậy thúc dục ồn ào. Chuyện ngày xưa như một khủng long nằm yên ngủ dưới lớp băng dầy đột nhiên vùng dậy kêu gào cuồng nộ. Chuyện ngày xưa khác nào như nước nghẹn vỡ bờ tuôn tràn như thác lũ. Chuyện ngày xưa đâm thẳng vào niềm đau, lôi nó dậy, lắc cho tỉnh táo. Chuyện ngày xưa tan nát trong tuổi thơ ngây dại, trong lòng cuồng si nhưng bất lực, trong tiếc nuối dằn vặc tháng ngày. Giờ đây tôi biết rõ mình muốn gì và nên làm gì và phải làm gì. Nhưng nên làm gì đã trở thành một điều nan giải.
Hai mươi năm cho một mối tình như mây trôi lảng đảng, như gió thổi thoảng hiên ngoài, như lá chao qua cửa. Hai mươi năm cho một mối tình man mác qua hồn, lao chao trong trí, vướng víu trong tim. Hai mươi năm cho một tiếc nuối triền miên, ngậm ngùi ray rức, nhức nhối không nguôi. Hai mươi năm nuôi dưỡng bóng hình, ấp ủ niềm đau, dày vò ảo vọng. Hai mươi năm gặp lại, giờ đây.
Mười năm làm cho một mối tình nặng nghĩa phu thê. Mười lăm năm cho một mối tình như bồ câu quấn quít, như lược tóc đan nhau, như keo sơn gắn bó. Mười lăm năm cho một mối tình ấm áp thân thương, yêu đương nồng thắm. Mười lăm năm chia xẻ niềm đau, ôm chung gian khổ. Mười lăm năm nước mắt chung môi, tim hòa một nhịp. Mười lăm năm đủ cả đời nhau.
Làm sao có thể mang lên bàn cân so sánh được. Làm sao có thể làm chuyện cân đo gạo muối đường. Nhưng làm sao giữ được bây giờ. Làm sao hai cánh tay tôi có thể ôm được hai người. Làm sao tim tôi có thể nhốt được hai người. Làm sao tôi có thể cưu mang được hai người yêu dấu. Tôi không biết phải làm sao?
Từ bậc thềm, tôi bước xuống, chưa phải là quyết định một đường đi, chẳng qua không thể đứng mãi một chỗ được. Thế thôi. Tôi đi về phía chỗ đậu xe, còn thì giờ mà, tội gì bắt mình quyết định gấp vậy.
Chiếc xe quanh co qua mấy đường nhỏ, không phải do vô tình, không phải do hướng đi nên như vậy. Chiếc xe quanh co như hồn chủ nó sa mê hồn trận, như tham vọng của chủ nó muốn tìm một nơi không phải thiên đàng cũng không phải địa ngục. Tôi muốn đi đến một nơi thứ ba, không biết nơi đó ở đâu, chỉ biết đó là nơi người ta cho tôi giữ được hai người.
Chiếc xe đi vào xa lộ Ba Chín Năm. Buổi chiều xe thật đông, lại kẹt xe, càng tốt. Một chiếc xe bị hư làm kẹt đường, thật tuyệt diệu. Kèn inh ỏi, lại một ngón tay giữa chỉ lên trời. Té ra họ làm bộ văn mình vẫn lòi đuôi nguyên thủy.
Tôi đi vào ngã rẻ số tám, đi vào bên trong gần lề, không có gì gấp cả.
Vài cô bé bên kia trường học, đang đi thong thả ra phía lề đường. Các cô mặc áo trắng, váy trắng đi nhởn nhơ thật vô tư. Tôi vẫn thích màu áo ấy. Cái áo trắng ngắn tay có nếp xếp vòng nơi vai, để lộ suốt cánh tay trắng nuột lơ thơ những sợi lông tơ. Những hạt nút vàng nhỏ như đầu ngón tay cái dọc phía trước ngực. Cái áo ấy giống như áo Tuyết mặc ngày xưa, nhưng khác ở chỗ áo nàng có thêm dấu hiệu trường Trưng Vương bên ngực trái. Như thế, cái áo nhờ có hai vai phồng ra trông vừa đẹp lại vừa ngây thơ. Nhưng cô bé ấy không có hai cái nơ vàng cột hai bên bím tóc. Cô lại không có váy trắng có xếp nếp nhỏ cở bề ngang ngón tay, vải mềm mại lất phất theo gió chiều. Đôi chân cô lại to quá không thon nhỏ, với hai đầu gối bé xíu như Tuyết ngày xưa. Cô cứ đi chầm chậm như thế. Được rồi, như Tuyết ngày xưa mỗi chiều tan học, cặp sách bên hông, đi nhởn nhơ không ngại đường xa, không sợ mỏi chân. Như tôi ngày đó, mỗi chiều, tự động xì hơi bánh xe đạp, đành phải xin lỗi cái xe, tôi sẽ bơm lại sau, đương nhiên. Tôi cũng đi chầm chậm, xe hư mà làm sao đi nhanh cho được. Dáng Tuyết mảnh mai và dịu dàng. Nàng đi thong thả, đi chầm chậm, đi như kéo dài hạnh phúc đời tôi trải suốt buổi chiều. Có khi em dừng lại nhìn một cánh nhạn bay trên nền trời xanh lơ hay ngắm con chim sẽ đậu trên giây điện bên đường. Em nghiêng đầu, tóc lệch sang bên, cánh mũi cao thẳng, khuôn mặt trái soan, môi mím như cười. Em nghiêng đầu, em nghiêng cả đời tôi mãi về sau, em có biết không. Em nghiêng đầu trong chốc lát nhưng đời tôi đã lắc lư hai mươi năm rồi còn gì. Em vẫn đi chậm, nhởn nhơ một cách cố tình, cô bé mười lăm, mới mười lăm sao em biết «làm ác» như vậy. Còn tôi mười bảy, chỉ mười bảy, đã cam thân chịu chết vui lòng.
Em vẫn đi và tôi vẫn theo. Em vẫn nhởn nhơ và xe đạp tôi vẫn hư. Ngày qua lại qua, em biết tôi đi phía sau, nhưng không hề gì, em vui lòng về chuyện đó. Còn tôi, dĩ nhiên, không hề mở miệng than phiền. Trên đường đi chúng tôi phải qua chiếc cầu gỗ nhỏ trước chùa Long Vân trên con sông mang tên Bà Láng. Tôi không hiểu tại sao con sông đó, phải nói là con rạch mới đúng, lại có tên Bà Láng. Tôi nghĩ đó là người đàn bà đẹp, đương nhiên, vì tôi nghĩ như vậy. Đâu có ai cãi lại điều đó đâu. Chiếc cầu đó là chứng nhân của lòng tôi ngày ấy. Tuyết hay đứng lại trên cầu, em thường vịn lan can nhìn xuống nước sông trong vắt, trôi lặng lờ. Gió vẫn qua và tà áo vẫn bay, nhất là những chiều em mặc áo dài. Hai bím tóc em đong đưa theo gió, vạt áo dài phất phơ, quần trắng ôm sát vào người. Thân thể em chưa phát triển toàn vẹn, đôi mông tròn nhỏ trên đôi chân dài mảnh mai in hẳn những chiếc quần xì líp rất nhỏ khi hồng, khi vàng, khi đen dưới làn vải trắng. Tôi yêu từ mái tóc, mắt mũi, môi cười, đến dáng người, điệu bộ. Yêu cả những gì thấy được trên em và cả những gì chưa thấy được trong em. Tôi vui với môi em cười, rộn rã với dáng em vui tươi, lo lắng khi em giận dỗi, điêu đứng khi em làm thinh. Tôi hớn hở trong bước em đi ngày nắng đẹp. Tôi buồn so chiều em lầm lũi trong mưa. Tôi đau khi em vui cười với kẻ khác, thì đương nhiên nỗi đau vượt khỏi bến bờ của nó khi em không còn là em nữa.
Sau đó xe tôi vẫn hư nhưng em không còn đi nhởn nhơ trong chiều tan học. Em không còn đi bộ để tôi theo. Em vui cười trên chiếc xe vespa lộng gió. Xe đạp tôi quá cũ, sức tôi đã mòn mỏi, làm sao theo được chiếc xe ấy. Nhưng theo để làm gì. Làm sao níu kéo được người đã quay lưng. Tên học trò nhỏ đứng đó, trên cầu, mỗi buổi chiều, nhìn xuống dòng sông lững lờ. Nước vẫn chạy, trôi xuôi phải chịu. Người đã đi một thoáng qua đời. Tôi im như chân cầu khốn khổ, vướng víu bọt bèo phủ ám rong rêu. Người đã đi một lần nước chảy, một lần và mãi mãi trôi xuôi. Tôi soi bóng cho hồn điên đảo. Ai dật dờ dưới đó như tôi. Chiều vẫn mưa như lần về muộn. Nước trên cành giọt xuống rưng rưng. Chim bên đường ôm sầu cú rũ. Tôi gục đầu nước trút sau lưng. Người đã đi trời còn lộng gió. Áo nào ôm quấn quít theo đời. Dáng ai đâu cho lòng đau đẩy. Mưa trên trời mặn đắng trên môi.
Tôi vẫn đi một mình trong ngày nắng, chiều mưa. Mộng qua cầu gió bay đã bay theo gió. Một buổi trưa nắng gắt tôi đi như đội lửa trên đầu. Theo con đường đất đỏ lởm chởm đá xanh, thỉnh thoảng bụi lại tung mù sau một cơn gió lốc. Tôi không ngờ gặp lại Tuyết. Nàng ngồi trên một chiếc xe xích lô đạp. Trong nắng trưa gió bụi nàng như một kỳ nữ trên kiệu ngày xưa. Nàng mặc chiếc áo hồng, tóc kẹp nơ vàng, vẫn khuôn mặt trái xoan, mũi cao, môi son đỏ. Nàng ẵm trên tay một đứa bé chừng một tuổi. Tôi đứng sững giữa đường. Chiếc xe tiến đến chầm chậm, dừng lại. Bác phu xe bậc cái thắng kêu lách cách. Nhưng bác lầm rồi, trời gầm sét đánh chưa chắc đã lay chuyển được tôi lúc đó. Tôi nhìn nàng trân trối. Đôi má Tuyết đã hồng càng ửng đỏ thêm, môi nàng mím lại. Đứa nhỏ đột nhiên khóc ré lên. Tôi cảm thấy một luồng hơi lạnh từ sau gáy chạy dọc xuống lưng ra hai tay, hai chân. Tôi không biết tôi đang làm gì, tôi chỉ cảm thấy đôi môi tôi run lên, tim đập nhanh, hai bàn tay giá lạnh. Tôi nhìn thấy đôi môi Tuyết tái lại, run lên và vài giọt nước mắt lăn xuống má nàng. Càng lúc tôi càng thấy tối xầm trước mặt, tôi lùi dần dựa vào cột đèn bên đường. Chiếc xe chạy qua, tôi còn nghe tiếng nàng dỗ đứa con cho nín khóc. Tiếng nàng vẳng lại nghe thật êm dịu và ngọt ngào. Đứa nhỏ vẫn khóc. Tiếng nàng thân thương êm ái quá. Giá mà tôi khóc được chắc khóc thảm thương hơn đứa nhỏ kia nhiều.
Chiếc xe chui qua cầu, đi một đường vòng vào đường Năm Mươi. Hình ảnh Tuyết mặc áo hồng kiều diễm ngồi trong chiếc xích lô vẫn bám víu trong óc tôi không sao gỡ ra được. Lời ru của nàng vẫn còn văng vẳng bên tai. Gần hai mươi năm rồi sao còn đau như mới. Dáng dấp thân yêu ấy ai ngờ đâu mất hút tay người. Ánh mắt long lanh quyến rũ đó có ngờ đâu còn làm tan nát cõi lòng. Bờ môi dịu ngọt đó có ngờ đâu tím tái cuộc đời. Em như công chúa trên kiệu vàng trở về quê cũ, tôi khác nào tên ăn mày một mối tình vô vọng, đứng bên đường uất ức không nguôi. Và em bây giờ đâu còn ngây thơ nữa. Sao ta mãi còn chất chiu mật đắng đến nỗi điên cuồng.
Tôi theo dòng xe di chuyển trên đường. Tôi cầm ly trà chắt một ngụm cuối cùng còn sót lại. Vị thơm của Thiết Quan Âm thấm dần vào đầu lưỡi. Tôi bỗng dưng thèm hơi thuốc lá mặc dù đã bỏ thuốc nhiều năm rồi. Một điếu thuốc không phải có thể kiếm được bất cứ ở đâu. Nó phải là điếu thuốc của mười lăm năm trước. Điếu thuốc loại Bảy Mươi Chín để hút ống vố được vấn trong giấy quyến ABC. Loại rất khó vấn vì cọng thuốc to cứng mà giấy lại mỏng mềm. Bởi vì chúng tôi hay chơi những trò lạ như hút thuốc kiểu ấy mới có chuyện xảy ra. Điếu thuốc của Thúy những ngày yêu kiều, duyên dáng. Điếu thuốc từ bên kia bàn đưa đến đã đưa hơi thuốc xuyên suốt vào tim tôi. Thúy của những ngày bối rối mắt trông, làm ngơ giả bộ, xao xuyến môi cười. Thủy của lòng chân thật, yêu dấu trọn tình. Nàng đến với tôi rực rỡ như ánh bình minh trong đêm dài u ám. Nàng thức tỉnh tôi khỏi cơn mê Tuyết triền miên. Nàng đã cứu tôi khỏi cơn tự hủy, tôi vẫn nhớ Thúy thân thương ngày nào ấp ủ sau lưng trên chiếc Honda qua những bóng mát Hồng Thập Tự, Duy Tân, Phan Đình Phùng. Quấn quít bên nhau trong những đêm cà phê lãng đãng, vu vơ trong những tình khúc Trịnh Công Sơn. Thúy trong những ngày tao loạn chung nhau gian khổ, không cửa không nhà, lang thang thân du mục. Thúy của những ngày vượt sóng trùng dương hẹn nhau giờ chết. Thúy của những ngày lặng tháng qua mấy trại tị nạn. Còn nữa, Thúy trong những ngày chật vật nơi xứ lạ quê người, làm bà Tú Xương gian khổ theo chồng.
Chiếc xe vẫn theo dòng luân chuyển chầm chậm trên đường. Chiều nay trời u ám hơn mọi hôm anh nhớ đeo kiếng khi lái xe. Chiều nay dự báo có tuyết anh cứ chạy thong thả không phải gấp, em đã dời cái hẹn trễ sau bốn giờ rưỡi. Thức ăn đã để trên bàn, anh chỉ cần bỏ cơm vào thôi, khi ăn coi chừng mắc xương. Anh cứ lo làm việc, đâu còn biết ai bên cạnh, một ngày nào đó không còn em, anh mới biết ra. Ngày xưa, anh giống như chết, bây giờ anh giống như đang chiêm bao. Nè, hũ đường để phía gốc tủ, còn chai tiêu, muối, xì dầu để trong hộc phía dưới. Để hộp cơm vào microwave một phút thôi, để lâu quá nó khô hết ăn không ngon. Đủ rồi, anh ăn mặn quá coi chừng bị cao máu. Để chiều nay em đi mua cá, ăn thịt nhiều quá chỉ sợ bị cao cholesterol. Mặc áo vào đi, trời lạnh anh để ngực trần bảo sao đừng ho. Bây giờ nằm xấp xuống để em đấm lưng cho, anh có muốn đi trên lưng không? Gần đây nghe người ta nói nhiều, em phải canh chừng kỹ, họ nói anh đẹp trai chỉ sợ có người dụ bắt mất.
Tôi giật nẩy người, chiếc xe bị đạp thắng đột ngột dừng lại thình lình trên đường. Cũng may không có xe phía sau. Tiếng Thúy ngừng bặt bên tai. Tôi cảm thấy hơi hồi hộp và lạnh trên phía trán. Mồ hôi đã rịn ra trong hai bàn tay. Gần đến chỗ rẽ vào nơi hẹn với Tuyết. Có lẽ chỗ đó là nhà của người nào. Chắc Tuyết ở tạm với người anh.
Chiếc xe không thể nào chạy chậm hơn được nữa. Bọn phía sau bóp còi, vượt qua mặt, có tên còn giơ ngón tay giữa lên trời. Mặc kệ chúng, có giơ của thật lên tôi cũng không ngán huống hồ là ngón tay. Thôi đành phải quẹo vào con đường nhỏ ấy, chạy chậm lại chút nữa, xem kỹ số nhà. Nhà ở bên tay phải. Thôi vòng qua ngỏ khác đi ngược lại lấy lề bên kia. Dừng lại một chút xem sao? Nhưng dừng để làm gì, vài phút có thay đổi vấn đề được đâu. Đã suy nghĩ mấy ngày nay cũng chưa biết mình phải làm gì. Thôi chạy tiếp. Chẳng lẽ chạy vòng như thế này mãi sao? Dừng thì dừng lại vậy.
Chiếc xe tấp vào một lề đường. Tôi nhìn lại số nhà. Gần lắm rồi, chỉ còn một khoảng đường nữa thôi. Sao đến gặp Tuyết giống như Kinh Kha sang Tần không bằng. Em có hiểu được lòng tôi không? Chắc em không hiểu được như ngày xưa em đã như vậy. Bây giờ em chờ tôi có giống như xưa tôi chờ em không? Dĩ vãng xa quá rồi, em làm sao nhớ được.
Tôi đạp chân ga cho chiếc xe từ từ tiến tới. Tôi thấy dáng Tuyết đang đứng tựa cửa trước nhà. Nàng mặc chiếc áo ấm mỏng màu xanh, đang co ro tội nghiệp. Tôi dừng xe lại ở một khoảng đủ nhìn thấy nàng. Tuyết vẫn đứng yên, gió thổi tóc rối lòa xòa. Dáng nàng ốm yếu ẻo lả quá, chỉ sợ nàng bị té ngã thôi. Tôi vẫn ở xa nàng một khoảng cách không sao đến gần được. Ngày xưa tôi không thể làm gì được, tôi mất em. Ngày nay, tôi vẫn không làm hơn được gì. Tôi biết gặp em lần này có nghĩa là bước vào một ngỏ rối, đi vào một lầm lỗi với người khác. Tôi biết gặp lại em, tôi làm điều không phải với Thúy. Tôi biết khi gặp em, lần này, tôi không thể ngăn được lòng tôi.
Em vẫn đứng đó, hai tay ôm chặt lấy người. Tôi biết em cô đơn và yếu đuối lắm. Phải chi ngày xưa em đừng bỏ tôi đi. Phải chi ngày xưa tôi níu em lại được. Bây giờ em đứng đó, trước mặt tôi, chờ đợi. Tôi muốn tiến tới ôm em vào lòng như tôi đã từng mong muốn. Tôi muốn đan tay vào tóc, hôn lên mặt, lên môi em như tôi đã từng ao ước. Em biết ngày em đi tôi chỉ nghĩ rằng tôi sẽ chết, tôi không thể đo lường được lòng tôi lúc đó. Nhưng tôi không hề oán hận em, ngay cả khi tôi nhìn em trở về nhà cũ. Những giọt nước mắt lăn trên má em ngày ấy đã nói lên lòng em tất cả. Ôi những lời ru con ấy ngọt dịu mà đâm vào tim tôi đau tận đến bây giờ. Tôi vẫn yêu em như ngày đầu gặp gỡ.
Tôi ngồi yên trong xe, nhắm mắt, ngửa đầu vào ghế dựa. Chiều nay trời trở lạnh, dự báo thời tiết nói có thể xuống đến không độ C, anh có mang theo áo ấm không? Buổi trưa lúc em ra bưu điện có ghé tạt qua tiệm Đại Hàn mua mấy con cá rồi, họ đã đánh vảy sẵn tiện lắm, chỉ việc ướp và nấu thôi. Tối nay lại có tuyết, họ nói đến sáu inches, mình sẽ đốt lò sưởi lên, anh vặn lại những tình ca Vũ Thành An nghe, có còn thèm điếu thuốc vấn không? Nhưng đừng nghe nhạc ông ấy nhiều, buồn lắm, em vẫn thích tình khúc Ngô Thụy Miên hơn. Hôm nay có thư anh Hồ Trường An từ bên Pháp qua, anh ấy nói cho biết ngày sinh của anh để bấm số tử vi, anh không tin, nhưng em tin, thử xem số anh mấy vợ, có bà nào muốn bắt anh không?
Tôi giật mình mở mắt ra. Giong Thúy đã ngưng bặt nhưng âm vẫn vang lên trong đầu. Làm sao em biết được anh muốn đến gặp Tuyết. Chẳng qua em lo sợ vẩn vơ thôi. Tôi nhắm mắt lại muốn yên ngủ và quên hết. Em nằm chiêm bao thấy mình đi dự tiệc của một người bạn. Rất đông người tham dự có cả người quen và người lạ. Sao em thấy có một cô rất đẹp đến nói chuyện với anh hoài. Trong lúc nói chuyện, em thấy anh có vẻ thân mật, trìu mến với cô ấy còn hơn đối với em nữa. Em đến gần cố nói xen vào nhưng anh và cô ta cứ nói chuyện không màng gì tới em cả. Em cố lôi anh về mà anh nhất định không đi. Em giận quá khóc lớn lên rồi tỉnh dậy. Tôi mở mắt ra, quả thật giấc mơ ấy Thúy kể cho tôi nghe cách đây vài tháng. Tuyết còn đứng yên đó. Tôi biết em rất buồn nhưng em có đau đớn như tôi ngày xưa không? Em đã cho tôi biết quá sớm một điều rất quan trọng, không bao giờ mình đạt được hết những mong ước của lòng mình. Có khi điều mong ước không bao giờ đạt được trở thành niềm đau ray rức cả một đời cho đến khi nhắm mắt. Điều đó trở thành sống giữ chết mang theo.
Tôi đạp ga cho chiếc xe rẽ về ngỏ khác. Dáng Tuyết gầy gò đau khổ trong chiều xa dần đi. Tuyết ơi, tôi vẫn yêu em như ngày nào tôi gặp em lần đầu trong chiều tan học. Tôi vẫn nhớ em từng ánh mắt, môi cười, dáng đi, và điệu bộ. Tôi muốn mang em theo đời tôi dù đoạ đày đau khổ như ngày xưa tôi nghĩ như vậy. Nhưng tôi không thể mang em theo tôi chiều nay. Thôi hãy giữ niềm yêu dấu của ngày xưa trong lòng. Tôi mong em tìm được một người khác yêu em như tôi đã yêu em. Tôi mong em tìm được niềm vui và hạnh phúc. Tôi vẫn như ngày xưa, vui với môi em cười, rộn rã với lòng em hớn hở.
Chiếc xe trở về với tốc độ nhanh như tâm trạng chạy trốn của chủ nó. Tôi quay đi với lòng nặng trĩu, với nuối tiếc không nguôi. Tuyết ơi, tôi vẫn yêu em thật nhiều, thật như lòng anh ngày xưa ngây dại. Tôi yêu em mà phải đành bỏ em. Tôi yêu em mà phải đành xa em. Tôi yêu em không bao giờ phai được trong lòng. Trời ơi! Tôi yêu em mà đành đoạn bỏ đi. Làm ơn cho tôi nói.
Nói với ai bây giờ?
 
0
NGÀY QUANH QUẨN P134 A 155
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NGÀY QUANH QUẨN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
      Tiếng điện thoại reng rên rỉ và ngoan cố đến lần thứ sáu. Âm thanh xoáy óc cứ luân chuyển mãi trong phòng. Tôi vẫn ngồi yên lặng buông thỏng cánh tay bên cạnh bàn. Còn tiếng reng nào nữa không? Tôi nhìn cái điện thoại cầu mong nó tắt ngúm cho rồi. Nhưng không, nó vẫn kêu dai dẳng. Ráng chờ thêm một lần nữa xem sao? Thôi mệt, nhấc lên cho xong. Tiếng người anh cau có lẫn tiếng nói chuyện ồn ào từ bên kia, các em chừng nào mới sang được, tiệc sắp tàn, mọi người về gần hết rồi. Chúng tôi sẽ đến mà, tôi đáp. Tiếng lao xao trong điện thoại vẫn tiếp nhưng giọng người anh đã ngưng bặt để lại khoảng không gian trống vắng nặng nề.
      Có tiếng gác điện thoại thật gấp từ đầu giây bên kia như người nói muốn dằn xuống hết sự bực bội. Tôi nhắc đuoc cánh tay trở về, ngả người vào chiếc ghế bành cũ mua từ một flea market mới hôm qua. Đứa em vẫn còn ngồi trên sàn trước cái truyền hình nhỏ đen trắng đặt trên hai thùng giấy cũ. Nó đang xem một chương trình giáng sinh với hình ảnh mờ nhạt nhảy múa không ngừng.
      Tôi đẩy đống sách sang một bên, định đứng dậy như tôi đã toan tính từ mấy giờ đồng hồ trôi qua. Nhưng một trì kéo vô hình vẫn giữ tôi lại. 
      Giọng nói của người anh qua điện thoại vẫn còn vang mãi trong đầu. Mọi người đã về gần hết rồi. Tốt chứ sao. Đó là điều tôi mong muốn mà. Rất tiếc điều đó đã làm anh thất vọng. Mười năm mới gặp được anh, mười năm từ ngày chia tay, từ ngày bình minh của đời tôi nhưng lại bắt đầu bình minh cho một xã hội và một chế độ. Mười năm qua sự giúp đỡ của anh, với nhiều ước vọng về một thiên đường. Bây giờ gần một năm trên cái xứ lạnh này, lạnh như tình người của dân bản xứ. Một năm kể từ ngày gặp lại ở phi trường với giọng nói thân quen và tình thương chạy quanh trong mắt. Hạnh ngộ chờ quá lâu cho một cố gắng mười năm. Nhưng phôi pha lại quá nhanh không thể tưởng được. Mất mát thôi phải đành cho một tình cảm mong manh trước nhiều cách biệt quá lớn.
      Tôi phải rời bỏ ngôi nhà đó, nơi anh gọi tôi đến. Tôi mong điều đó không phải là một sự trốn chạy. Tôi mang theo không kịp mớ hành trang ít ỏi trong xã hội mới, mớ tình cảm còn vương víu nơi bậc thang, ngưỡng cửa, nơi đôi mắt và lời bập bẹ của mấy đứa cháu ngây thơ. Chị đã làm sạch chỗ tôi ở như người ta tẩy uế thứ dơ bẩn không thể chấp nhận được. Tôi ra đi với lòng đầy nhưng tay trống. Tôi không có hai thứ mà xã hội này qui định cần thiết là money và credit. Không thể tìm được một chỗ ở nơi xứ người cũng là một điều tự nhiên thôi. Không thể có được một đường điện thoại cho một kẻ không mù chữ nhưng gần như câm và điếc, cũng không nên lấy làm lạ.
      Cuối cùng tôi cũng có chỗ ở và điện thoại. Phải cám ơn David, tên chủ nhà ế ẩm đó. Cả hai tên bị tẩy chay, đi lang thang cuối cùng phải gặp được nhau. Tôi đang cần chỗ ở, hắn đang cần cho mướn nhà. Giả nhà rẻ đương nhiên, vì nhà cũ, phải nói là một ngôi bốn căn dính chùm còn một ngăn trống. Không cần phải mặc cả gì hết, cũng hơi lạ, chưa có tên chủ nhà nào kỳ cục như vậy. Chỉ một điều kiện duy nhất, nếu ưng thuận, điền đơn và ký tên ngay, không được vào xem nhà. Thật là hẳn hòi rồi, nhưng nhà đâu đến nỗi sập. Không lẽ có ma. Làm gì nghĩ lẩn thẩn như vậy. Dù có ma đi nữa chắc họ cũng chẳng thèm nhát thứ ma trơi, cô hồn không nhà không cửa như tôi. Ký thì ký sợ gì. Xuống hết nấc thang cuối cùng rồi đâu còn chỗ xuống thêm nữa mà lo. Dễ gì tìm được tên chủ nhà như David. Tôi khỏi phải đóng trước nửa tháng tiền nhà. Hắn không thèm hỏi credit của tôi và chẳng màng biết tôi làm thứ nghề gì. Mọi việc xong xuôi, David giao cho tôi chìa khóa, xoa tay cười khoái trá bỏ đi. Tôi cũng chẳng thèm lo, chúng tôi, Thúy và tôi với hai đứa em chẳng có gì để sợ người khác lấy đi. Cửa phòng mở ra. Bây giờ chúng tôi mới thấy tận mắt chỗ ở. Rác phủ tràn hết căn nhà, ngập lên khỏi mắt cá. Tên nào ở đây trước kia quả là dân lười biếng nhất thiên hạ. Ngoài rác bừa bãi lại còn một lỗ thủng to ở sàn nhà, trông xuống thấy được sinh hoạt một gia đình người Mỹ bên dưới. Thảo nào David cho mướn được nhà như trút bỏ được của nợ. Tôi phải chạy sang một người Việt ở hàng xóm mượn điện thoại gọi cho David. Tiếng hắn cười thoải mái bên kia đầu dây, bớt ba chục đồng tiền nhà, chịu không? Chịu! Thế là xong vụ nhà ở.
      Còn điện thoại, đi xin mắc đường dây gần giống như đi ăn mày. Đào đâu ra bảy mươi lăm đồng để đặt cọc trước, dân không có credit phải chịu điều kiện này. Thật kẹt, đã gần như câm điếc nhưng cần điện thoại lắm. Tiếng Mỹ không thông nhưng tiếng Việt lại thạo. Khổ một điều người Mỹ không chịu nói tiếng Việt. Cuối cùng tôi gặp một người bạn không quen, xót thương đồng hương ký bảo lãnh cho.
      Bây giờ gần một năm trôi qua rồi. Bước đầu đã xong nhưng bước sau còn khổ nhọc hơn nhiều. Đã một năm chà lết gần láng tấm thảm nhà rồi. Đi qua lại cái lỗ thủng đó cứ nơm nớp lo sợ từng ngày. Không biết tấm ván gẫy sụp mình bị rơi tòm xuống dưới lúc nào không hay. Sách vở vẫn chất chồng tràn ngập chung quanh. Làm thân Tú Xương mới hiểu được nỗi lòng tiền bối. Chỉ tiếc là văn cạn, thơ dốt không thể nói được như người xưa. Thi rồi lại thi. Chữ chạy vào đầu như hòn bi đụng vào tường sắt. Chữ dội ra lại bị bắt lại nhồi nhét vào bộ óc khốn cùng. Con đường nghiệp chướng thật còn khổ hơn kiểu đường vào tình yêu của Trúc Phương, có trăm lần vui có vạn lần buồn.
      Tiếng chuông điện thoại lại reo, lần này kiên cường hơn bao giờ hết. Bảy, tám, chín, rồi mười tiếng. Tiếng reo nín bặt, tức nghẹn như người ngồi nghe nó. Tôi nhất định không nhấc nó lên nhưng tiếng reo hình như vẫn còn vang dội trong đầu, mười một, mười hai, mười ba... Chịu thua. Tôi quay lại nhìn Thúy. Nàng đang đứng bên cửa sổ nhìn tôi. Làm bà Tú Xương suốt năm nay trông nàng gầy gò thật tội nghiệp. Thúy nhìn lại tôi, gật đầu. Thôi mình phải đi vậy. Xin đấng linh thiêng phù hộ cho cái xe nổ máy được hai bận, lần đi và lần về. Thật tham lam không bỏ được, cầu một lần chưa chắc đã xong mà ham hố xin đến hai lần.
*
      Á... Á... Đừng la nữa bà già ơi. Nước này tôi vặn cả hai vòi mà, ấm và lạnh đủ cả. Nóng gần muốn lột da. Thế thì trật rồi. Lạnh không được mà nóng cũng không xong. Ấm như vậy là được rồi. Bà già không la nữa chỉ rên ư ử. Tôi lấy tấm khăn lau đầu tóc rồi trùm lên người bà. Tôi kéo lui xe lăn ra sau. Cái lược đen lại rơi xuống sàn gạch. Bà tru tréo lên chưởi bới. Bà Rose nổi tiếng khó chịu trong khu này. Bà đã chín mươi tuổi không còn đi đứng hay mặc quần áo được. Bà không thể tự ăn nên phải có người đút cho. Nhưng miệng lưỡi bà rất tinh anh không già chút nào. Tôi đưa cái lược cho bà, đẩy xe lăn trở về phòng. Chiếc khăn lai tuột xuống trán che mặt bà lại. Bà Rose tiếp tục chưởi không ngớt miệng. Cũng may phước cho bà hôm nay đến phiên tôi, nếu gặp mấy đứa Mễ chắc bà đã thưởng thức một màn nước lạnh và vài cái cú đầu rồi. Đẩy chiếc xe vào bàn ăn, bật chốt gài bánh xe lại. Thế là xong phần bà Rose.
      Bây giờ đi tìm ông Daniel. Có lẽ ông già tám mươi lăm tuổi này lại đi lạc qua phòng mấy bà già rồi. Chẳng phải đi đâu xa đã có tiếng la oai oái của mấy bà già cuối phòng. Ông Daniel đang đứng trước cửa. Vẫn như mọi khi, ông bận bộ quần áo màu xanh đậm, nón nỉ xám, tay cầm cây gậy đang gõ nhịp xuống sàn gạch. Mấy bà già kéo mền lên tận cằm kêu réo cầu cứu. Suốt tuần Ông Daniel mặc quần áo như vậy không chịu thay ra ngay cả khi ngủ. Với bộ quần áo chỉnh tề đó ông la cà suốt ngày bên phòng mấy bà già. Mỗi khi thấy ông, họ lại kêu cứu y như các trinh nữ đang bị tấn công. Tôi phải dẫn ông trở về phòng ăn, đặt ông ngồi trên cái ghế đối diện truyền hình màu. Dặn dò ông cẩn thận không được đi đâu. Ông gật gù vâng dạ nhưng không biết được bao lâu.
      Xong hai người này đến phiên ông già Jerry. Ông chỉ tám mươi tuổi với dáng dấp khỏe mạnh. Ông chưa phải cao niên nhất trong đám già, nhưng trí óc ông lú lẫn rồi. Ông chỉ thích một chuyện là thoát y đi lang thang trong mấy hành lang. Chúng tôi phải dùng dậy rất chắc cột ông lại trên giường, mối dây phải dấu bên dưới, vì ông là tay chuyên nghiệp tháo dây. Bọn làm việc ở đây rất sợ ông, có đứa đã bị ông nhấc bổng lên ném té lỗ đầu. Chỉ có một cách dỗ ngọt thôi, phải hứa với ông trong ngày thứ bảy hay chủ nhật chúng tôi sẽ gọi các con ông vào chở ông đi chơi thì muốn làm gì cũng được. Bây giờ phải tháo dây bảo ông ra khỏi giường lên xe lăn, cột lại, rồi đẩy ông ra nhà ăn.
      Xong phần ông Jerry công việc còn lại nhẹ lắm rồi. Đối với ông Irving thì chẳng phải làm gì cả. Chỉ cần báo cho ông biết phần ăn đã sẵn sàng ông sẽ tự động đi ăn. Ông đã chín mươi tuổi nhưng rất khỏe mạnh và tỉnh táo. Ông tự săn sóc một mình không phải nhờ ai giúp cả. Ông lại là trợ thủ đắc lực của chúng tôi. Ông canh chừng mấy ông già khác rất cẩn thận. Mỗi khi ông Daniel đi qua phòng mấy bà già hay ông Jerry tháo dây định thoát ý, ông Irving chạy đến báo cáo ngay.
      Còn vài người nữa phải giải quyết cho xong trước giờ ăn. Phải xem bà Lucille còn thở không. Bà đã chín mươi tám tuổi. Xưa bà là bác sĩ, bị con bỏ từ lâu. Sau khi tiền bạc đã hết, bà vào nằm đây bao nhiêu năm rồi mà chưa... chết. 
      Bà không nhúc nhích gì được, chỉ có đôi mắt còn mở ra khép lại thôi.
      Tôi đi một vòng xem qua các người khác, trên đường trở về phòng trực phải đưa cho bà Barbara hộp giấy để bà lau nước mắt. Bà Barbara trẻ nhất chỉ mới bảy mươi hai, bà còn đi được nhưng chỉ thích di chuyển trên xe lăn thôi. Bà là chuyên viên khóc trong khu nầy, với thành tích kỷ lục khóc suốt ngày suốt đêm, xài một ngày đến mấy hộp giấy lau.
      Mọi người đã được xếp đặt yên ổn chờ đợi buổi cơm chiều. Tôi đi về phía phòng trực lôi một xấp cours trong xách tay chui vội vào cầu về sinh. Tôi dựa vào bồn nước mở xấp bài ra. Không ngờ, bao năm rồi, những tưởng rằng mình có thể ném nó đi được, nhưng bây giờ nó vẫn đứng trước mặt với chữ nghĩa nhảy múa quay cuồng. Nhưng ngày xưa, hơn mười năm trước, thời đồng ca đếm nhịp, nhễ nhại mồ hôi trong quân trường. Cũng trang cours quấn quanh nhựa che tay M-16, mắt nổ đom đóm dưới nắng gắt quân trường. Chữ mờ nhạt dưới ánh đèn cầy bên giao thông hào, Rồi sau đó với bụi lá me bên hồ Stomach, trong quán Ma Soeur, hay dưới cành sứ trắng trong khuôn viên trường y khoa. Chữ nghĩa và niềm đau trộn lẫn bao nhiêu năm. Bây giờ tôi lại ngồi đây, trong phòng vệ sinh nơi xứ lạ, bắt đầu lại sau một nửa đời quanh quẩn.
      Có tiếng kêu ngoài hành lang. Tôi nhét xấp bài sau thắt lưng mở cửa ra. Mụ y tá người Phi đang đi tìm tôi. Thấy tôi vừa ló đầu ra từ cầu vệ sinh mụ mừng rối rít, bà Dove gọi ông tới ngay. Bây giờ sao, còn mấy người trong phòng ăn nữa, tôi hỏi. Để tụi kia lo, bà Dove không chịu ai đút ăn ngoại trừ ông thôi, tới lo cho bà mau đi. Được rồi, tôi đi ngay. Lo cho bà Dove xong ông đi ăn được rồi. Cứ thong thả ăn không có gì phải gấp hết. 
      Tôi đi về cuối hành lang phía phòng bà Dove. Mọi người trong viện dưỡng lão này đều hết sức chăm sóc lo lắng cho Bà. Ông giám đốc thường xuyên mỗi tuần ghé thăm bà một lần, hỏi thăm sức khỏe, ân cần chìu chuộng mọi yêu cầu của Bà. Điều này không thể xảy ra cho bất cứ người già nào khác. Mấy mụ y tá luôn luôn cẩn thận lo lắng thức ăn, nước uống, thuốc men, chú ý từng miếng vải trải giường, ánh đèn trên trần, và chí cả bình hoa bên cửa sổ. Bà chỉ cần ho một tiếng là có người đến phòng ngay không cần phải bấm chuông chờ đến hàng giờ như các người khác. Bọn phụ dịch phải túc trực sẵn sàng bất cứ lúc nào bà cần đến.
      Không có gì phải ngạc nhiên. Bà Dove khoảng tám mươi lăm tuổi bị yếu hai chân không đi được nhưng trí óc còn rất minh mẫn. Bà thừa hưởng gia tài của ông chồng để lại khoảng ba chục triệu đô la. Bà chiếm cả một phòng lớn trong khu dưỡng lão nầy. Có cả ba toán nhân viên thay phiên săn sóc bà ngày đêm. Trong phòng bà trang hoàng lộng lẫy, không thiếu một thứ gì y như một căn nhà sang trọng thu nhỏ lại. Giường bà nằm có thể di động từng phần nơi đầu cổ, xuống lưng và chân. Chưa kể nó có thể được nâng lên hạ xuống rất dễ dàng. Trước mặt bà có cái truyền hình Sony màu hai mươi lăm inches với remote control. Cửa sổ treo màn do đám thợ đến đo cắt cho hợp với màu sắt trong phòng. Gần cửa ra vào để bộ ghế bằng da đặt mua từ bên Ý. Trong góc phòng để bàn ăn với ghế dựa nhún lò xo cho bà. 
      Tôi chỉ mới gặp bà Dove chiều hôm qua. Lý do tên săn sóc cho bà thình lình gọi điện thoại vào báo nghỉ việc. Đám Mễ và đen không muốn săn sóc cho bà. Từ trước đến giờ chỉ có đám da trắng săn sóc cho bà. Bọn lãnh đạo từ trước đến giờ không dám để đám da màu chăm lo cho bà. Tôi là tên da vàng mũi tẹt cũng nằm trong số đó. Nhưng hôm qua thiếu người, bọn kia không muốn mất việc bất tử vì kề cận bà Dove. Không biết bà trả cho viện dưỡng lão nầy bao nhiêu mỗi tháng. Chỉ biết bà có ảnh hưởng rất mạnh. Bà có điện thoại ngay bên cạnh giường. Có thể nhấc lên gọi ngay giám đốc bất cứ lúc nào, bất kể ngày hay đêm. Đã có người bị đuổi sau vài giờ săn sóc bà. Không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chỉ biết sau một buổi tối săn sóc cho bà Dove, ngày hôm sau bị đuổi mất biến, cho nên bọn chúng không dám đến gần bà. Bọn chúng bàn bạc với nhau mới đẩy tôi đi thế mạng. Đi thì đi chớ sợ gì. Cơm áo đã làm con người ta nhút nhát, lòn cuối, đã không phải là chuyện lạ, dù ở bất cứ quốc gia nào. Tôi đâu còn gì phải sợ nữa, hết mức xuống rồi, cùng lắm thì bị xê dịch qua lại thôi. Bỏ nước mà đi, bỏ gia đình cha mẹ người thân, tự cắt lìa cuống rún, tù tội, vượt đại dương, chà lết trong mấy trại tỵ nạn ở mấy quốc gia rồi. Tôi còn sống mạnh, thở khỏe, sợ gì. 
      Thật sự bà Dove chẳng có gì đáng sợ cả. Bà cũng chẳng đòi hỏi gì quá đáng. Bọn kia có lẽ quen xối nước lạnh và cú đầu bà Rose, gạt gẫm và nói dối ông Daniel, đánh lộn với ông Jeray, hay hách dịch sai bảo ông Irving, thậm chí còn chọc ghẹo cho bà Barbara khóc nhiều hơn. Đến khi chúng gặp bà Dove, dấu đầu lòi đuôi, hành động đã quen thói, cố chừa nhưng cũng không khá được.
      Hôm nay mụ y tá lại gọi tôi lần nữa, vậy là tạm yên, chứng tỏ bà Dove không muốn đuổi tôi. Dù gì cũng có chút đỉnh phụ với vợ trả tiền nhà. Mặc dù căn nhà có cái lỗ to dưới sàn, cứ mỗi lần bước ngang qua tôi lại có cảm giác giống như đang ngủ nằm mơ thấy đột ngột lọt xuống hố. Chỉ sợ không mơ mà lọt tòm xuống tầng dưới mới phiền. Lúc đó quả nhiên cuộc đời còn chỗ đi xuống nữa chứ chưa hết như tôi cứ tưởng bở.
      Bà Dove đang ngồi trên ghế dựa, bên bàn ăn trong phòng bà. Thấy tôi vào, bà vừa cười vừa giơ tay ngoắc tôi lại. Thức ăn của bà đã để sẵn trên bàn vẫn còn nóng. Bà bấm tắt truyền hình, chỉ tôi xem gót chân của bà. Ngày hôm qua là ngày đầu tôi gặp bà Dove mà cũng là lần đầu tiên tôi đút cho người khác ăn. Chưa bao giờ tôi làm chuyện này, ngay cả cho cha mẹ tôi. Còn chuyện đi đổ phân và nước tiểu tôi chưa làm cho ai chỉ trừ làm cho bà ngoại lúc tôi còn nhỏ. Cho nên đút cho bà Dove ăn thật là phiền toái. Miệng bà lại móm sọm, không răng, nước xúp nóng tôi lại quên. Tôi phải thổi thức ăn cho nguội. Muỗng xúp đầu tiên tôi đút vào miệng bà làm bà giật bắn người. Cái muỗng rơi ngay xuống. Phản ứng tự nhiên tôi giơ bàn tay kia ra hứng lại. Bà Dove hỏi, tay mầy có bị phỏng không? Đó là điểm đầu tiên, tôi đánh giá nhất định không sai, bà Dove là người rất tốt không như lời đồn tôi đã nghe qua. Tôi nói không, vội chụp miếng giấy lau miệng cho bà. Thấy bộ tướng tôi luống cuống, vụng về, bà cười hỏi, mầy mới vào làm việc phải không? Tôi gật đầu. Bà hỏi, bao lâu rồi? Mới hai ngày, tôi đáp. Từ trước đến giờ mầy chưa từng làm việc này phải không? Đúng vậy, đây là lần đầu tiên tôi đút cho người khác ăn. Được, tao thích như vậy, xúp cũng không nóng lắm đâu. Tôi gật đầu, cảm ơn bà. 
      Bà Dove nuốt xong muỗng xúp, mầy có biết mầy là đứa đút ăn dở nhất trong mười lăm năm tao ở đây không, chưa có đứa nào làm việc tệ như mầy vậy. Tôi giật mình nhìn bà không biết mở lời ra sao. Thôi tiếp tục đi. Tôi lại đút xúp cho bà ăn. Bàn tay tôi cứ run lên làm cho xúp chao ra rớt xuống tấm khăn trên ngực bà Dove. Thật tình tôi không sợ bà chút nào lại càng không sợ mất việc nữa. Nhưng câu nói của bà cho biết tôi là tên làm việc dở nhất trong vòng mười lăm năm gần đây làm tôi phải chú ý công việc thật cẩn thận. Nhưng tôi càng để ý bao nhiêu thì tay lại càng run có lúc lại giật một cái. Xúp đổ mấy lần lên tấm khăn trên ngực bà. Tôi đặt chén xúp lên bàn dùng tay còn lại kềm cánh tay cầm muỗng. Cũng chẳng khá gì hơn. Tôi cảm thấy mồ hôi bắt đầu rịn ở hai bên thái dương rồi chạy dài xuống cổ. Tôi thấy mắt hoa lên. Cái miệng móm của bà Dove cứ di chuyển qua lại. Muỗng xúp lại đút trúng gò má bên phải, rồi đụng vào cánh mũi của bà. Cố gắng lần nữa muỗng xúp lại trúng môi bên trái của bà Dove. Thôi phen này bị mất việc chắc rồi.
      Bà Dove mỉm cười nói, ngừng lại đi, mầy làm ơn đỡ tao ngồi cao lên một chút. Tôi bỏ cái muỗng lên khay rồi nghiêng người sát bên trái của bà, một tay quàng qua người để kéo bà ngồi lên. Nhưng bà nặng quá, có lẽ gần hai trăm pounds. Tôi hít hơi cố lấy hết sức để nâng bà lên nhưng thật không may, có lẽ xúp bị rơi xuống sàn gạch lúc nãy làm chân tôi bị trợt. Không thể gượng lại nổi nữa, tôi té lăn xuống sàn nhà và bà Dove bị kéo ngả nghiêng trên ghế dựa. Bàn tay bà cố giữ cạnh bàn bị sút ra hất văng khay thức ăn xuống. Xúp, bánh, cocktail văng tung tóe trên sàn. Bà Dove cười ngặt nghẽo có vẻ khoái chí lắm. Tôi lồm cồm ngồi dậy cố đỡ bà ngồi ngay ngắn lại trên ghế. Bà Dove bảo, mầy đi vòng ra sau lưng tao, hai tay lòn dưới nách, hai bàn tay nắm chắc nhau trước ngực tao, như thế, nhấc tao lên. Tôi làm y như lời bà chỉ, quả nhiên dễ dàng thật, khối thịt nặng nề đó được nhấc lên không mấy khó khăn. Bà nói, lau mặt dùm tao rồi chùi sạch sàn nhà, ném hết tất cả vào thùng rác. Tôi làm theo lời bà dặn. Xong rồi, đến ngồi trên ghế này, nói cho tao nghe chuyện của mầy đi, mầy người nước nào vậy? Dạ, người Việt Nam. À, người Việt Nam, tao có thấy một số người Á đông làm việc ở đây, nhưng họ đi qua lại ngoài kia, chưa có ai săn sóc cho tao hết, mầy là người Á đông đầu tiên săn sóc cho tao. 
      Tôi nhìn bà Dove không biết phải nói gì. Tôi săn sóc cho bà hay tôi hành tội bà, suýt chút nữa tôi quăng bà té gãy xương rồi. Bà Dove lại hỏi, mầy từ Việt Nam đến đây bao lâu rồi? Gần một năm, tôi đáp. Tao biết mầy không phải người sinh trưởng ở xứ này, nghe giọng nói của mầy tao biết ngay, à, mầy làm nghề gì vậy. Dạ, nursing aid. Không phải, đây không phải nghề của mầy, chưa có tên nursing aid nào quờ quạng như mầy vậy, tao muốn nói nghề trước của mầy kia. Dạ, assembler ráp dây điện. Ờ, mầy làm gì ở Việt Nam vậy. Dạ, làm lính. Không được, lính không phải nghề, ở xứ tao đây rất nhiều nghề những đâu có nghề lính. Tôi đáp, tại bà không biết thôi chứ ở nước tôi là xứ chiến tranh, nhiều người làm nghề lính vinh thân, phát tài lắm. Vậy ngoài nghề lính mầy còn làm nghề gì không? Dạ, y tá. Bà Dove nghiêng đầu nhìn tôi, mặt mầy có lẽ làm y tá được, không đến nỗi làm nursing aid nhưng mầy là y tá mà không biết gì hết vậy. Tại tôi làm y tá ở quê gần giống như rừng vậy, thành ra không rành nhiều công việc ở nhà thương hay viện dưỡng lão của thành phố. Nói dóc, tao nghĩ mầy có làm nghề gì khác, coi bộ mầy không phải y tá đâu. Được rồi nếu bà không tin để tôi nói cho nghe, lúc tôi đở bà dậy thấy hai gót chân của bà bị lở vì họ không xoay chuyển thế nằm của bà thường xuyên. Vậy được, mầy nói đúng, nhưng tao chưa tin đâu. Tôi nói, bây giờ để tôi xếp gối dưới chân bà rồi lau và băng hai gót chân cho bà lại, vết thương sẽ lành mau. Vậy thì mầy làm đi.
      Hôm nay bà Dove chỉ cho tôi xem hai gót chân của bà. Tôi mở băng ra, vết thương có vẻ tốt hơn hôm qua. Bà nhìn tôi gật gù, tao nói họ thay băng cho tao và xoay trở tao mỗi bốn giờ, cũng may họ có làm nên trong người tao không bị lở, có lẽ họ quên gót chân nên tao mới bị như vậy. Tốt rồi, để tôi đút cho bà ăn. Không cần, tao tự ăn cũng được. Bà có thể tự ăn được, tại sao bà nhờ người khác đút cho ăn. Tôi trố mắt nhìn bà Dove. Mầy ngạc nhiên lắm phải không? Thật sự tao tự ăn được nhưng mấy chục năm nay, tao có người săn sóc đút cho ăn quen rồi, thậm chí tao quên hẳn là tao có thể tự ăn được. Nhưng có chắc bà tự ăn được không? Tôi hỏi. Sao lại không, tại vì tao gặp mầy mới nhớ ra, hơn nữa mầy làm việc quá tệ, tao nghĩ nếu tao tự ăn chắc chắn tốt hơn mầy đút cho tao nhiều. Chưa chắc. Sao lại không chắc, nhìn đây. Bà Dove cầm lấy muỗng tự múc xúp trong chén đưa vào miệng ăn ngon lành. Tay bà hơi run nhưng thức ăn không rơi ra ngoài. Bà nhìn tôi có vẻ khoái chí. Bà nói, thật ra thỉnh thoảng tao cũng tự ăn khi không có ai, tao không muốn chúng nó thấy được. Bà tự làm được là điều tốt tại sao phải dấu người khác. Mầy ngu quá, tao trả tiền cho chúng nó phải bắt chúng nó làm việc cho tao chớ. Nhưng bà tự ăn vẫn tốt hơn. Chưa chắc mầy nói đúng đâu, chẳng qua mầy là đứa quá tệ nên tao phải tự săn sóc cho bản thân. Vậy cũng được. Mầy còn nói được sao, mầy có thấy cái điện thoại này không, tao chỉ cần nhấc nó lên thì mầy bị đuổi ngay. Tại sao bà làm chuyện ác vậy. Đâu phải ác, chẳng qua chúng nó đều là người máy, chúng nó làm giỏi hơn mầy nhiều, nhưng người máy vẫn là người máy. À, sự thật là như vậy. Bà Dove tiếp, mầy có biết không cứ mỗi lần tao đuổi một đứa tao tự tăng tiền hàng tháng cho bọn chủ ở đây, cho nên tao muốn đuổi ai, thật là dễ dàng. Bà thật là điên. Mầy nói gì? Xin lỗi bà Dove tôi chỉ muốn nói bà không nên làm như vậy. Có nghĩa là mầy sợ tao đuổi mầy. Tôi sợ bị đuổi à, tôi không sợ bà đâu, chỉ có bọn kia sợ bà thôi. Mầy nói thật không? Thật, tôi chỉ tội nghiệp cho bà, tôi bị đuổi thì bọn người máy lại đến chăm sóc cho bà, lúc đó bà sẽ ra sao. Bà Dove cười, mầy làm như mầy giỏi lắm sao, chỉ một chuyện đút cho tao ăn cũng làm không xong. Bà lại hỏi, tại sao mầy nói tội nghiệp tao? Mày có biết tao giàu lắm không? Tôi biết, nhưng bà có tiền chẳng làm gì được, bà nằm đây một mình, có ai thật sự yêu thương bà đâu.
      Bà Dove không nói gì, yên lặng nhìn khung truyền hình đã tắt ngúm từ lâu. Tôi cảm thấy hối hận vì câu nói vừa rồi, tôi không có ý định làm tổn thương lòng bà. Tôi chỉ vô tình trả lời câu hỏi kiêu hãnh của bà. Một lát sau bà nói, mầy nói đúng, tao biết điều đó từ lâu, từ ngày chồng tao qua đời. Bà không có con sao? Không, tao chỉ có mấy đứa cháu ở xa, đứa nào cũng dành đem tao về nuôi, nhưng tao biết chúng muốn gì, tao thà ở đây, cảm thấy khoẻ hơn. Tại sao bà bị liệt chân không thể đi được vậy? Mầy thật sự muốn biết sao? Tôi chỉ hỏi bà vậy thôi. Sau khi chồng tao qua đời khoảng hai mươi năm trước tao bị té đập xương sống vào thềm cửa, ban đầu còn đi đứng được nhưng sau đó hai chân tao không thể nhúc nhích, tao phải ngồi xe lăn tự sống một mình suốt năm năm trước khi vào đây. Bác sĩ không nói bà bị tổn hại như thế nào sao? Họ không tìm được nguyên do tại sao, tao đi trị nhiều nơi suốt bao nhiêu năm cũng không kết quả gì. Bà có nghĩ rằng bà sẽ đi được không? Tao không bao giờ nghĩ về điều đó nữa. Trước kia bà làm nghề gì vậy? Mầy hỏi không ăn nhập gì câu chuyện đang nói cả. Tại sao bà nói vậy? Tao nghĩ không liên hệ gì hết. Thì bà cứ cho tôi biết đi, lúc nảy bà đã hỏi nghề nghiệp của tôi mà. Nhưng không có công bằng đâu, tao vẫn nghĩ mầy nói dóc. Bà có bằng cớ đâu mà nói như vậy. Chính như vậy tao mới nghĩ, nếu có bằng cớ tao đã đuổi mầy rồi. Bà đã đuổi nhiều người rồi phải không? Đúng vậy, nhiều đến nỗi tao không thể đếm và không thể nhớ hết. Nhưng bà có chắc rằng trí nhớ bà còn tốt đủ sức cho bà nói lên điều đó hay bà chỉ mới đuổi được một vài người rồi tưởng rằng quá nhiều. Mầy đừng tưởng tao già rồi lú lẫn, tao nhớ hết mọi chuyện. Nhưng bà đâu có nhớ đã làm nghề gì. Đừng mong khích bác cho tao nói, ngày tao đi lấy chồng lúc đó chưa chắc cha mẹ mầy đã được sinh ra đời. Chính vì lâu như vậy bà mới quên. Tao nhớ nhưng tao không thèm nói. Chắc chuyện không tốt đẹp nên bà không muốn cho ai biết. Nhưng tại sao mầy lại cố biết cho được vậy? Tôi sẽ cho bà biết lý do sau nếu bà cho tôi biết điều tôi muốn biết. À, mầy giỏi lắm, tưởng tao già rồi muốn gạt thế nào cũng được sao. Bà không chịu nói thì thôi, tôi chỉ muốn giúp bà. Được, mầy nhượng bộ trước thì tao nói. Tao không có làm nghề gì hết. Thì ra... Thì ra sao? Thì ra bà không có nghề gì cho nên bà không chịu tự ăn và tự đi đứng như mọi người. Tao già lại bị bệnh không thể tự săn sóc được. Không phải già mà cũng không phải bệnh, tại bà đã quen đuoc hầu hạ nên bà không chịu làm. Tại sao tao phải làm, tao có tiền trả thì có người làm việc cho tao, thêm việc cho người ta trong xã hội. Nhưng hôm nay bà tự ăn tôi có việc khác ích lợi hơn để làm. Chưa chắc đúng như mầy nghĩ, tao sẽ chứng tỏ mầy làm công việc rất ích lợi, đó là việc săn sóc cho tao. Chưa chắc ngày mai tôi gặp bà, có thể người khác sẽ săn sóc cho bà. Mầy nói gì, định bỏ việc chạy trốn sao, chỉ cần mầy còn làm việc ở đây chắc chắn mầy phải đến gặp tao. Chào bà Dove. Mai gặp lại mầy. Bà bấm nút vặn truyền hình lên. 
      Quả thật như bà Dove nói, mụ y tá trưởng khu đến gặp tôi ngay phút đầu khi tôi bấm thẻ xong. Mụ nhìn tôi vui vẻ nói, anh được lên lương gấp đôi. Tôi được lên lương, bây giờ là... Bắt đầu ngày hôm nay anh được lãnh lương bảy đồng thay vì ba đồng rưỡi một giờ, bà Dove nói anh làm việc rất giỏi, bà muốn từ nay anh chỉ săn sóc một mình bà thôi. Cảm ơn bà, tôi đi đến đó ngay. 
      Bà Dove đang nằm dựa trên giường, thấy tôi vào, bà nhỏm dậy nói, đở tao xuống cái ghế dựa kia. Tôi vâng lời kéo thanh sắt và bấm nút hạ giường xuống thấp. Tôi kéo cái ghế lại sát giường, theo cách bà Dove chỉ hôm qua nhấc bà qua bên ghế. Tôi vừa nhỏm người định đứng lên thì xấp bài rơi tụt xuống sàn gạch. Bà Dove cúi xuống nhìn, nhưng không nói gì. Tôi kéo bà lại bên bàn quay mặt về phía máy truyền hình. Bà nói, bắt đầu từ hôm nay, công việc của mầy tại đây như thế này, tao bảo cái gì thì làm cái đó. Được, tôi nghĩ bà không bắt tôi làm chuyện bậy bạ. Mầy cho tao là thứ người gì, bộ mầy tưởng dễ kiếm được ba mươi triệu đô la ở cái xứ này sao. Tôi đâu có nghĩ như vậy. Thế thì tốt, mầy chỉ ở đây trả lời câu hỏi của tao, không phải làm bất cứ công việc nào khác. Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của bà. Nhưng tao báo cho biết không dễ đâu, mầy có thể bị đuổi bất cứ lúc nào. Điều đó tôi không sợ, tôi chỉ lo bà sẽ buồn vì những câu trả lời của tôi. Tao sẽ không buồn, không giận, nếu mầy trả lời đàng hoàng. Tôi lúc nào cũng trả lời đàng hoàng, chỉ sợ bà nổi giận rồi đuổi tôi bất tử. Không có chuyện đó đâu. Bây giờ bà hỏi đi. Được rồi, tao hỏi lại, lúc trước mầy làm nghề gì? Tôi đã trả lời cho bà ngày hôm qua rồi. Tao không tin mầy nói thật, tao cho mầy một dịp để nói lại, nếu mầy nói láo tao sẽ đuổi mầy ngay. Bà làm như công an tra khảo người khác, tôi sẽ chạy ra ngoài đó xin nghỉ việc tức thì, bà có gọi cho giám đốc để đuổi tôi thì xong rồi, tôi đã về nhà hay sang làm chỗ khác. Mầy không sợ mất việc sao? Đương nhiên là không, chỉ có bọn người máy sợ thôi. Vậy được, tao không hỏi nghề mầy nữa, nhưng tao biết nghề của mầy ở Việt Nam rồi. Bà chỉ đoán mò thôi. Không phải đâu, chồng tao ngày xưa là bác sĩ có nhiều bệnh viện lắm, trước khi trở thành vợ, tao là y tá của chồng tao.
      Tôi hơi chột dạ vì câu nói của bà Dove, có lẽ bà đoán được, hay là bà chỉ nói doạ để tôi khai thật. Tôi cố nói lảng sang chuyện khác, có lẽ ngày xưa bà đẹp lắm. Tại sao mầy biết được, vậy bây giờ tao vẫn còn đẹp phải không? Tôi đáp, da mặt bà nhăn nheo, tóc rụng, miệng móm xọm làm sao mà đẹp được. Nhưng ít ra nhìn khuôn mặt mầy cũng đoán được, bà nói. Cũng còn tùy người, tôi nói bà đẹp là do tôi suy luận thôi. Điều gì cũng phải có nguyên cớ, mầy nói ngày xưa tao đẹp chắc phải có lý do. Đương nhiên rồi, chồng bà là bác sĩ lại giám đốc nhiều bệnh viện chắc phải giàu có lắm. Đúng vậy. Một người giàu lại có địa vị tức nhiên phải lựa một người vợ xứng đáng. Mầy nói như thế nào là xứng đáng. Thế này, vợ ông ta phải đẹp hoặc có lòng tốt hay nói chuyện có duyên thu hút được người khác. Nói chung chung như mầy thì ai nói chẳng được. Tôi chỉ muốn nói là bà nói chuyện với người khác câu trước thì câu sau hăm doạ đuổi người đối thoại rồi, như vậy lúc trẻ chắc bà đẹp lắm nên chồng bà mới mê lấy bà làm vợ. Mầy muốn ám chỉ rằng tao nói chuyện vô duyên lắm sao? Không phải như vậy, bà nói chuyện cũng có duyên nhưng bà tàn ác quá, chỉ vì vài chuyện phật ý cá nhân mà làm người khác mất việc. Lúc trẻ tao hiền và tốt bụng lắm. À, như vậy bà công nhân điều tôi nói rồi. Thì xem tạm như mầy đúng đi, nhưng đừng có tảng lờ về chuyện nghề nghiệp của mầy. 
      Tôi biết khó lòng dấu được bà Dove, có lẽ bà thấy xấp cours tôi làm rớt ra lúc nảy nên phỏng đoán thôi. Bà đoán được mới hay, chứ để tôi nói ra thì còn gì hứng thú nói chuyện nữa. Đừng có làm bộ, trong sắc mặt của mầy, tao biết hết rồi, tao chỉ sợ nói ra cho mọi người biết thì mầy lại bỏ việc, mầy tưởng là mầy can đảm nhưng thật sự là một tên nhát gan. Bà Dove quả nhiên thật lợi hại, hèn chi bà tóm được ông chồng giàu hưởng gia tài ba chục triệu đô la. Bà chỉ muốn tôi tự nói ra cho bà biết như một người thú tội. Nhưng không thể nói cho bà biết được, mặc dù có thể bà đã biết rồi. Tôi nói giả lả, bà đã biết tôi không cần nói nữa. Đừng làm như kẻ chiến bại trước khi lâm trận, tao chưa đánh mà mầy đã thua sao. Không phải thua, tôi chỉ nhường bà thôi, tôi chỉ có ba trăm đô la mà vốn liếng bà đến ba mươi triệu đô la, quân của bà đông quá tôi không muốn đánh trong tình thế bất công như vậy. Thôi được, mầy không muốn trả lời thì thôi, nhưng đương nhiên mầy phải chấp nhận mầy là kẻ nhát gan. Bà nói tôi nhát gan vì tôi không trả lời cho bà biết phải không? Đừng nói như vậy, tao không có ý đồ. Vậy thì sao, tôi chưa hỏi nghề nghiệp của bà mà. Ha... ha... đừng làm như tên bại trận điên cuồng, mầy nên nhớ việc của mầy ở đây, bây giờ là để trả lời những câu hỏi của tao thôi. Như vậy chúng ta bắt đầu trở lại, tôi sẽ trả lời bà những câu hỏi nào có thể trả lời được. Bà Dove tiếp, còn câu nào nhắm không trả lời được thì mầy đành bỏ việc phải không? Đương nhiên phải như vậy thôi, tôi đáp. Bà Dove bấm tắt truyền hình ngồi dựa vào ghế nhắm mắt lại. Mầy thấy quyển sách trên bàn không? Dạ thấy. Mở nó ra đặt trên bàn. Xong rồi. Nếu ai có vào thì đọc vài câu trong trang sách đang mở. Để làm chi vậy? Sao mầy chậm hiểu vậy, tao không muốn những đứa khác phân bì công việc của mầy. Nhưng tôi cũng chưa hiểu tại sao tôi phải làm như vậy. Thì xấp cours mầy đang dấu sau lưng đó, không biết để làm gì à? Thôi, bây giờ tao ngủ đây. 
      Tôi chăm sóc cho bà Dove thấm thoát gần nửa năm. Mọi việc diễn tiến đều đặn hàng ngày. Bà không hỏi tôi nhiều như lúc đầu nữa. Tôi được thì giờ rảnh suốt buổi để ôn bài. Tôi cố làm những công việc cần thiết cho bà, nhưng bà Dove có vẻ không muốn tôi phải bận rộn. Ngoài công việc bưng khay thức ăn và dọn dẹp bàn tôi không phải làm gì cả. Bà sắp xếp việc tắm rửa và vệ sinh cho phiên sáng từ bảy giờ đến ba giờ rưỡi chiều. Bà chỉ nói chuyện với tôi trong giờ ăn, nhưng càng về sau tôi cảm thấy trí nhớ bà suy giảm dần và sức khỏe bà không tốt như trước nữa. Bà không thể tự ăn được. Bà cố gắng nhiều lần nhưng tay bà run rẩy làm đổ thức ăn ra bàn hoặc rơi lên người bà. Tôi phải đút cho bà ăn.
      Một hôm bà đưa cho tôi xem lá thư của người cháu gái gọi bà bằng cô. Người cháu có ý định đem bà về ở chung để có dịp săn sóc cho bà. Tôi xem qua lá thư rồi để lại trên bàn. Theo nội dung lá thư người cháu thật tình lo lắng cho sức khỏe của bà và không muốn bà tiếp tục sống rồi chết giữa những người xa lạ. Người cháu đã viết thư nhiều lần muốn mang bà về nuôi nhưng bà đều từ chối. Lần này bà đem lá thư hỏi ý kiến của tôi. Thật tình tôi không thể trả lời được. Làm sao phán xét con người bà sau khi đọc qua vài lá thư, nhưng tôi biết những người khác đã có dự tính về số phận của bà. 
      Vào một chiều thứ bảy tôi gặp người cháu đến thăm bà. Đó là một người đàn bà sang trọng khoảng gần sáu mươi, dáng cao lớn, mặt vuông mắt sâu, chân mày đậm. Lúc bà ấy đến tôi bị mời ra khỏi phòng. Khi tôi trở lại thì bà ta đã đi rồi. 
      Bà Dove ngoắc tôi lại gần giường, lúc này bà yếu nhiều, không thể di chuyển ra khỏi giường đến bàn ăn được. Bà cho tôi biết đó là người cháu mà bà đã hỏi ý kiến tôi. Tôi không biết phải nên nói gì về chuyện bà nên đi hay ở lại. Tôi báo cho bà biết tôi phải nghỉ mười ngày để lo việc thi cử. Bà nói sẽ sắp xếp để giữ việc cho tôi khi tôi trở lại. Bà căn dặn ban quản trị của bệnh viện không được sa thải tôi vì lý đó nghỉ việc tạm thời.
      Ngày cuối cùng khi tôi từ giã, bà Dove trông yếu rất nhiều. Mặt bà hốc hác, hai mắt lỏm sâu xuống, bàn tay bà run rẩy nắm tay tôi nói chúc may mắn. Tôi nói xong việc sẽ trở lại gặp bà nhưng tôi cảm thấy một sự mất mát nào đó rất lớn sẽ xảy ra trong những ngày tôi vắng mặt. 
      Mười ngày sau, khi tôi trở lại thì bà Dove không còn ở đó nữa. Bà không chết nhưng đã đồng ý theo người cháu. Bà để lại vài dòng chữ nói chúc tôi thành công và mong tái ngộ. Ban quản trị bệnh viện dưỡng lão vẫn để tôi làm việc trở lại và phân công việc cho tôi rất nhẹ nhàng. Sau này tôi biết ra tiền lương của tôi là do bà Dove trả trước cho họ cả nửa năm. Có lẽ bà dự đoán trong nửa năm tôi sẽ đủ sức tìm việc khác. Tôi đồng ý với ý kiến của bà, tôi vẫn giữ công việc này với căn nhà của tên David có cái lỗ thủng to trên sàn. Cũng may thời gian trôi qua sàn nhà không gãy sụm và tôi hết bị cảm giác rơi tòm xuống tầng dưới.
      Khoảng hai tháng sau, buổi chiều khi tôi sắp xếp cho mấy người già vào phòng ăn thì có tin bà Dove trở về. Nhưng lần này bà không ở trong căn phòng sang trọng như trước nữa. Người cháu cho bà ở trong một căn phòng nhỏ hơn, tầm thường như mọi người khác. Bà còn được ân huệ ở một mình trong phòng riêng không ở chung với các ông bà già khác. Lần này tôi tình nguyện trở lại săn sóc cho bà. Ban quản trị và người cháu cũng không hẹp hòi gì về chuyện đó. Họ căn dặn tôi phải chăm sóc bà cẩn thận. Tôi cảm thấy khác hẳn lần đầu họ phái tôi đi gặp bà Dove. Lần này họ có vẻ lịch sự ngoài mặt chứ không như lần trước đầy vẻ quan tâm và lo lắng. Bà Dove đã quá suy yếu rồi. Không ngờ chỉ có vài tháng mà con người bà sa sút như vậy. Bà nằm yên trên giường không còn nhúc nhích gì được. Bộ óc bà đã hoàn toàn ngưng hoạt động. Chỉ còn đôi mắt bà lờ đờ khi nhắm khi mở. Bà không còn nhận ra tôi nữa. Bây giờ bà Dove thật sự là một cái xác không hồn y như bà Lucille, chín mươi hai tuổi mà tôi đã gặp lúc bắt đầu làm việc. Căn phòng bà ở bây giờ không còn truyền hình, bông hoa, hay bàn ăn gì nữa. Ngay cả giường bà nằm cũng chỉ là cái bình thường như bao nhiêu người khác. Tôi có hỏi ban quản trị xin cho bà tấm nệm êm hơn và cái giường có thể di động từng phần như khi xưa của bà. Họ trả lời, người cháu hiện tại hưởng gia tài kếch xù ấy quyết định cho bà trở về đây và bà ta không muốn chi bất cứ gì xem là xa xỉ cho bà Dove. Trong quyết định của người cháu bà Dove được hưởng đúng qui chế như mọi người già khác, chỉ được một đặc ân là ở phòng riêng thôi. 
      Một buổi chiều tôi mang khay thức ăn vào phòng cho bà Dove như thường lệ. Bà vẫn nằm im không cục cựa, nhưng lần này đôi mắt bà đã nhắm hẳn lại. Bà đã vĩnh viễn ra đi không một dấu hiệu từ giả. Thật sự bà đã chết từ khi người cháu mang bà đi. Người ta đã làm gì bà, tôi không biết. Nhưng đương nhiên bằng giấy tờ hợp pháp người ta đã lấy hết tài sản của bà rồi đem ba trở về bỏ thí ở đây. Phải nói tôi đã thọ ơn bà quá nhiều, do đó, niềm đau cũng ray rứt nhiều hơn. Làm gì có thù hận ở đây mà nguyền rủa hay trả thù. Làm gì có án mạng mà tra cứu hay thưa kiện. Mọi việc đều hợp pháp và xem như hợp ý. Bà Dove đã ra đi lặng lẽ và số tiền đó sang tay một người khác. 
      Tôi trở lên văn phòng báo tin bà Dove đã qua đời. Mọi người đều bình thản và dửng dưng về chuyện đó. Tôi báo nghỉ việc ngay ngày hôm nay. Họ cũng tỉnh bơ không chút gì ngạc nhiên. Tôi hỏi có cần phải ký gì không. Họ đưa cho tôi một tờ giấy. Ký vào. Thế là xong. Bà y tá trưởng trại thay mặt giám đốc xử lý công việc thường ngày đưa cho tôi khoảng bảy trăm đồng. Đó là số tiền bà Dove đã ứng trước cho tôi còn dư lại. Tôi nhét số tiền đó vào túi bước ra cửa. 
      Bên ngoài trời lạnh và gió nhiều. Hình ảnh bà Dove vẫn quay cuồng trong óc, tôi phải sống làm sao suốt quãng đường còn lại trên cái xứ lạnh này, lạnh như tình người dân bản xứ.
 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2014 13:20:36 bởi ticonuong>
LỜI TÁC GIẢ


Ngày Quanh Quẩn là quyển tập gồm tám truyện ngắn như những mảnh kỷ niệm của một quãng đời được ghi lại từ năm 1972 đến 1989. Trong sự ghi chép dưới hình thức văn chương, dĩ nhiên, không giống như thực tế ngoài đời. Nhưng nhìn từ một mặt nào đó, tuyển tập có thể được người đọc xem như chuyện thật. Nhưng tập truyện này chỉ là sản phẩm của tiểu thuyết nên nếu có sự trùng hợp nào xảy ra điều đó không phải do chủ tâm của tác giả.
Điều mong muốn của người viết ở đây là nhằm giữ lại những điều suy tư hay niềm xúc động trong từng giai đoạn của cuộc sống.
Một ngày nào đó yên lặng, nhìn lại, chúng ta chợt khám phá ra rằng mình chỉ còn giữ được thật ít những gì thuộc về kỷ niệm. Mà những điều còn sót lại đó cũng hết sức mong manh và man mác trong lòng. Mong rằng chúng ta cùng nhau chia xẻ những cảm xúc khi đọc tuyển tập này như đang trở lại chính ta của ngày xưa.
 
Virginia, Mùa Xuân 1991
 
Trần Long Hồ
 
 
 
 
"Thế nào tôi cũng giết một người".
Tủ kính trong suốt, tôi đứng trước, tủ kính đủ quái tượng hình hài xếp trăm bề trăm hướng. Tủ kính trong suốt, tôi thấy rõ như thấy tâm hồn tôi ngổn ngang trăm mối. Tôi mĩm cười một mình. Không có gì lạ, chính tôi ngạc nhiên tôi đầu tiên. Làm thế nào cười được với một bức tượng thạch cao, cẩm thạch... không phải dễ, nhưng không vì thế mà khó được. Nào tôi cười với quái tượng trong tủ kính kia đâu, tôi đã cười cho chính tâm hồn tôi đấy chứ.
Tôi đi một mình trên hè phố đông người như tự thuở nào tôi vẫn đi như vậy. Tôi không đi cùng một ai nào hết, nhất là một người con gái. Nhưng đừng bảo rằng tôi cô đơn. Tôi vô cùng hạnh phúc với thứ ấm cúng riêng tâm hồn tôi. Không ai hiểu được vì không ai nhìn thấy được. Tâm hồn tôi chỉ trong suốt với riêng tôi, họa chăng thêm một người thứ hai nữa. Chỉ có hai, chung quy rồi tôi biết được chỉ có hai người thôi. Tôi vẫn đi trên hè phố, tôi mang theo một người trong tâm hồn tôi. Bao năm rồi vẫn vậy.
Đường phố đông hay đường phố vắng. Đường phố có sang trọng cũng là đường phố của người. Tôi đâu cần một nhân dáng nào trong số đông kia, tôi thiết gì một người con gái nào khác. Thủy chung vì em không còn là em nữa. Tôi biết rõ như vậy. Tôi vẫn mang em trong hồn tôi trong suốt đoạn đời còn lại này. Tôi không bảo đoạn đời thừa. Nếu cần xác định, tôi nói rằng đoạn đời đầy đủ ý nghĩa của nó, có vui không cười và có buồn không khóc, không khác gì bức tượng trong tủ kính kia. Làm sao vui với cảnh tượng nào đó bên ngoài khi nghĩ rằng em không còn là em nữa, làm sao buồn khi tôi thấy rõ em trong tôi.
Đã có một lần tôi nghĩ rằng, sau này tôi sẽ chết nếu không có em. Tôi chỉ dám nói tôi không có em, chứ không nói rằng mất em, vì chẳng bao giờ tôi được em nên không bao giờ tôi mất em. Có ít nhất một người bảo tôi không nói thật, đó là em. Không trách được, chưa từng em nói, mai này tôi sẽ chết nếu không có anh. Chẳng nên ngạc nhiên khi em nói vậy. Ngày nay, tôi vẫn sống, vẫn thở, đi lại như mọi người gọi là sống trên đời này. Tôi vẫn biết vui không cười và buồn không khóc, tức là tôi có vui và có buồn. Xin em đừng nghĩ tôi không thật, dù tôi biết rõ không có một lần em nhớ đến tôi. Tôi vẫn sống, vẫn thở, vẫn đi lại, nhưng với cung cách khác và nhân dáng khác. Nụ cười nào đó, màu hồng nào đó tôi đã tô điểm cho đời tôi, rộn rã của thời mới lớn, náo nức của thời yêu em.
Khi tôi trở lại nơi đó, những buổi chiều của ngày xưa đón đợi. Tôi nghĩ rằng nếu tái diễn cảnh đời quá khứ, liệu tôi có thay đổi chung cuộc của ngày hôm nay? Tôi không dám nói được hay không. Vấn đề không có em chỉ là thời gian tính. Trước sau gì cũng thế mà thôi. Đã có người bảo rằng, yêu là không nói rất tiếc, yêu người cần người yêu lại là hạnh phúc của con người, yêu người không cần yêu lại là hạnh phúc của thiên đường. Tôi không dám nói những điều phi thường như vậy. Tôi vẫn là tôi mang đầy tội lỗi. Tôi chỉ biết một điều, dù em bội bạc thế nào đi nữa tôi vẫn yêu em. Tôi muốn trong một lần nào đó mai sau như một lần nào đó trong quá khứ, em phải bình thản khi gặp tôi, khi xa tôi em đừng mặc cảm đời em cưu mang một điều tội nghiệt.
Nếu phải xin một điều, tôi xin một lần tái diễn như xưa. Chung cuộc vẫn như thế, em vẫn như vậy, tôi trước sau không khác gì. Chỉ như thế thôi.
"Thế nào tôi cũng giết một người".
Con đường tôi đi lại những bước em đi. Cẩn thận thế nào rồi cũng lang thang. Tôi rời bỏ mái nhà bao năm sinh trưởng, tôi lạc mình vào phố xá đông người, tôi dẫn tôi quanh quẩn đi hoài. Cà phê làm tôi tỉnh táo đẻ thương em nhiều, thuốc lá mơ màng tôi nhớ em hơn, tình khúc nào cũng đưa tôi về thứ tình yêu vô vọng. Có một nhạc sĩ nói, hãy cố yêu người mà sống, tôi không độ lượng và từ bi được như vậy. Tôi cố quên người mà sống
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.09.2014 21:30:17 bởi Ct.Ly>
MỘT CHUYẾN ĐI
 
Tên du kích xã gạt đám lục bình sang một bên, cố nạy mũi xuồng sát bờ hơn. Một tên khác nhảy lên bờ kéo sợi lòi tói cuốn quanh trụ xi măng bể nát trơ mấy cọng sắt lởm chởm. Tên cuối cùng ngồi sau lái lên đạn, hất hàm:
-          Lên bờ!

Bọn chúng tôi chỉ có hai người được chuyển từ xã lên văn phòng huyện đội Gò Quao. Cùng đi với tôi là một ông già khoảng năm mươi tuổi, dáng loắt choắt, da ngăm đen, mặc bộ vải đen mốc cời. Chúng tôi đều bị trói thúc ké bằng dây chuối, tay quặc ra sau lưng.

Tên du kích sau khi ra lệnh nhìn chúng tôi như thúc dục lẫn hăm dọa. Tôi gượng đứng lên, nhưng đôi chân tê dại lại khuỵu xuống. Ông già để chân trái dưới lòng ghe, chân phải cố bước lên miếng ván nhỏ trước mũi xuồng nhưng một chiếc tắc ráng phía cuối sông đang phóng đến như bay, cuốn nước theo cuồn cuộn làm chiếc xuồng chòng chành liên hồi. Sóng nước đưa chiếc xuồng lên cao rồi quật xuống. Không thể gượng nổi, tôi té ngửa lưng chạm phải đầu gối gã du kích ngồi phía sau. Ông già ở đầu mũi bị lộn nhào về phía trước, mặt đập vào cột trụ xi măng rồi rơi tòm xuống sông. Một tên du kích nắm vai ông lôi lên bờ. Tên còn lại định kéo lên. Tên kia vội nói:
-          Coi chừng tên già Tám Phảng đó!
-          Không sao, nó bị trói rồi.

Lúc đó tôi mới biết ông già tên Tám Phảng. Đồng hành suốt ba tiếng đồng hồ trên xuồng từ xã lên huyện đội nhưng chúng tôi ngậm câm như hến. Chẳng biết ông bị tội gì nhưng thấy mấy tên du kích có vẻ e dè ông hơn tôi nhiều.

Ông già được lôi lên bờ, không biết vết thương bao sâu nhưng máu ràn rụa ướt nửa mặt nhuộm đỏ cả khoảng nước sát bờ.
-          Đi lên!

Thằng du kích sau lưng nắm sợi dây chuối kéo dựng tôi dậy. Nhờ sức nó, tôi bước lên bờ không mấy khó khăn. Ông già cũng gượng đứng dậy đi theo hai tên phía trước.

            Huyện đội là một dãy nhà lá dựng sát bờ song. Chúng tôi đi vài chục bước đã đến khoảng sân trống có cắm cờ đỏ sao vàng. Một tên du kích lấy cái gáo dừa múc nước trong lu đặt sát vách xối lên mặt ông già. Trong nhà trống trơn, chỉ có hai cái bàn kê ở giữa, phía sau là một cái tủ cũ, trên vách treo hình Hồ Chí Minh. Sau bàn là hai người đang ngồi. Một mụ khoảng bốn mươi mặc bộ đồ bà ba đen rằn quấn cổ còn gã kia trẻ hơn, chừng ba mươi mặc đồng phục ka-ki vàng. Hắn hất hàm hỏi:
-          Tụi bây đánh nó hay sao vậy?
-          Thưa anh Ba, tự nó té mình ên ngoài bờ sông, trúng vô cột xi-măng.
-          Đưa tụi nó vô đây.
Chúng tôi bị đẩy vào sát vách lá. Tên du kích đi sau rút ra cuộn giấy:
-          Trình anh Ba và chị Năm.

Tên áo vàng đọc lướt qua rồi chuyền cho mụ đàn bà ngồi cạnh.
Mọi người đều im lặng. Hai tên du kích múc nước uống ừng ực. Thằng còn lại moi trong túi ra một bịch thuốc, thong thả bốc một nhúm cuộn giấy báo, se lại, mồi lửa bập bập hút.
 
Gã tên Ba hít mũi vài cái, bước lại :
-      Dạ, thưa anh ba, mấy anh bên văn phòng huyện hôm qua xuống công tác dưới xã cho tụi em mớ nhắm, tính hôm nay qua chợ mua mấy tập giấy quyến ABC.
-      Ờ, vậy mới phải chớ !
-      Không có giấy quyến nên chưa dám mời anh Ba.
-      Không sao, tao hút đỡ cũng được !
Mụ Năm xem xong xấp giấy, đưa lại cho tên Ba :
-      Không có gì, một thằng vượt biên bị bắt, còn một thằng nổi điên chém người bằng tám nhát phảng.
Tôi quay lại nhìn ông già.Té ra Tám Phảng không phải là tên ông. Bọn du kích gọi ông bằng cái thành tích ghê gớm đó, nhưng ông trông thật hiền lành, không có vẻ gì là một tên giết người cả.
 
Tên Ba ký vào mấy tờ giấy, nói :
-      Đem tụi nó qua Sáu Hiệp đi.
Bọn du kích dạ ran. Chúng tôi lại bị áp tải ra khỏi nhà, theo hai gã du kích đi theo con đường dọc bờ sông. Gió sông lồng lộng thổi, tôi cảm thấy lạnh run, hai cánh tay bị trói bắt đầu nhức nhối khó chịu. Vài người dân bên đường thản nhiên đi qua. Mấy đứa trẻ ngó thấy rồi tiếp tục quay lại chơi đánh trỏng với nhau. Có lẽ họ đã quá quen thuộc với cảnh bắt bớ của đám du kích.
 
Chúng tôi rẽ vào con đường đất  nhỏ, bên trái là mấy cầu vệ sinh cất trên ao cá vồ, đi thẳng tới mấy dãy nhà tôn có hàng rào và cửa kẽm gai hai lớp. Tên du kích đi đầu bước đến bên cửa sổ nói:
-      Có hai tên trình lên anh Sáu.
Bên trong có tiếng hỏi vọng ra :
-      Anh Ba và chị Năm đã chuẩn chưa?
-      Xong, anh Ba ký rồi.
-      Vô đây, Bảy Vịnh.
Tên du kích tên Bảy Vịnh giao súng lại cho đồng bọn, hất đầu về phía chúng tôi ngầm bảo coi chừng, xong tất tả đi vào căn nhà tôn.
 
Tôi ngồi phệt xuống đất, định tìm thế dựa, nhưng mất thăng bằng, đầu đập vào vách tôn. Tôi nhìn lại hai tên du kích. Bọn chúng trừng mắt ngó tôi nhưng không nói gì. Bên trong nhà cũng im lặng.
 
Gần một tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy Bảy Vịnh trở ra. Hai tên du kích còn lại ngồi ngáp vắn ngáp dài. Một tên lôi thuốc lấy giấy nhựt trình ra vấn một điếu to bằng ngón tay cái. Hắn thấm nước miếng cho ướt một đầu rồi bật quẹt hút, khói bay mù mịt, khét nghẹt như cháy nhà. Ông già đột nhiên mở mắt, khịt mũi mấy cái. Ông nhìn hai tên du kích với ánh mắt thèm thuồng và cầu xin.
 
Hai tên quay lại nhìn ông, rồi nhìn nhau.
-      Coi chừng đó mầy!
-      Không sao đâu, cho ổng rít vài hơi.
Một tên lấy điếu thuốc cháy dở dí vào môi ông già:
 
-      Rít vài hơi đi cha, nhớ mai mốt có nổi điên cũng đừng chém thằng nầy … Óai, rít từ từ chớ ông nội.
 
Ông già đã vận dụng hết sức rít thuốc quá nhanh làm phỏng ngón tay tên du kích. Hắn vứt tàn thuốc xuống đất, ngậm ngón tay bị phỏng rồi trở về chỗ ngồi. Ông già từ từ phà khói, vẻ khoan khoái cực điểm.
 
Một tên áo vàng từ trong nhà bước ra, mặt non choẹt, tay cầm súng, tay cầm xâu chìa khoá:
-      Dẫn tụi nó theo tao!
Chúng tôi tiếp tục đi theo con đường đất nhỏ. Hai bên có nhiều ao nước trong. Bên bờ cỏ măng mọc trơ gốc đóng phèn óng. Trại giam phía bên trong là hai dãy nhà tôn cất thành hình chữ L, phía giữa là khoảng sân rộng, phía trước là hai cái ao, chung quanh có hàng rào kẽm gai bao bọc.
 
Thấy chúng tôi vào, vài người tù đang đi trong sân dừng lại, nhiều con mắt chăm chăm nhìn xuyên qua chấn song cây.
 
Tên công an mở cửa ngăn bìa bên phải đẩy ông già vào, khóa lại cẩn thận.
-      Ông già này tội nặng phải nhốt ở đây. Còn anh qua bên kia.
Tôi bị đầy vào căn bìa phía bên trái. Tên áo vàng cắt dây chuối giải thoát cho hai cánh tay tôi. Bên trong mù mờ không thấy được gì, hình như có vài người đang nằm ngồi ngổn ngang. Mặc kệ, bây giờ phải xoa bóp hai cánh tay cho máu lưu thông trước đã.
 
Một giọng Bắc lè nhè:
-      Anh bị tội gì vậy? Tôi là Lăng trưởng phòng A đây.
-      Vượt biên!
-      Lại vượt biên bị bắt. Tôi không đi nhưng ủng hộ những người vượt biên.
Mắt dần dần quen với bóng tối, tôi thấy trong phòng có cả thảy bốn người, luôn tôi là năm. Người vừa nói là một người đàn ông còn trẻ, khoảng ba mươi. Hắn mặc cái áo thủng ba lỗ nhưng đã thành mười lỗ và cái quần xì líp cũ đến nỗi không biết màu gì. Hắn toét miệng nhìn tôi cười, ngón tay thò xuống gãi vào chỗ kín ngay chỗ quần thủng một lỗ bằng ngón tay cái.
-      Thâm lạm công quỹ, đánh bài ăn vàng, ăn cắp xuồng, đánh mẹ ghẻ, nay thêm vượt biên, thật vui vẻ cả làng. Này, anh may lắm nhé, gặp tôi là trưởng phòng ở đây thêm vào quần chúng đều tốt cả. Chứ anh mà qua các phòng kia toàn dân đâm chém. Thì chẳng còn răng mà ăn cơm đâu.
 
Hắn lại cười khà khà, có vẻ khoái chí lắm.
-      Phòng này chỉ bốn người thôi sao?
-      Không, năm chứ, kể cả anh nữa. bao nhiêu đó đủ lắm rồi. Đông nữa làm sao có chổ ngủ! Chỗ anh đang ngồi là chỗ nằm của anh đó. Chỗ ấy hên lắm, ai nằm chỗ ấy cũng chóng được thả nếu không … thì cũng ra sớm thôi. Để tôi giới thiệu mọi người với anh. Tôi là Lãng, cán bộ chin tuổi đảng bị vu oan thâm lạm công quỹ. Đây là anh Thanh, bị thiên hạ đổ cho ăn cắp xuồng. Đó là anh Lương, bị công an kết tội đánh bài ăn vàng. Kia là anh Hòa, bị người thù oán ghép cho tội đánh mẹ ghẻ. À, anh tên gì nhỉ?
-      Tôi là Trúc.
-      Tên cũng đẹp. Thế chúng nó bắt quả tang anh ở trên ghe không?
-      Không. Tôi bị bắt trên bờ, trong rẫy mía.
-      Thế là anh bị vu học rồi. Như vậy bọn ta đều là quần chúng tốt cả, chỉ vì bị đời ghét hại mà phải vào đây.
Có tiếng vỗ vào vách tôn rồi tiếng chià khóa mở cửa lẻng xẻng. Một tên công an đang đứng chờ trước cửa. Ba người trong phòng gồm Thanh, Lương, và Hòa chụp cái nón rách lên đầu lặng lẽ bước ra. Lãng giải thích :
-      Bọn họ đi làm công tác.
-      Còn anh sao không đi ?
Lãng không trả lời, bắt sang chuyện khác :
-      Tớ còn phần cơm nguội cho cậu ăn tạm, đến chiều mới có gạo nấu cơm.
-      Ở đây nồi niêu có cả, lò chỉ cần kê ba cục gạch lại là xong. Bọn đi lao động lo nhặt cành khô mang về. À, lúc nãy tớ không trả lời vì có thằng áo vàng đứng ngoài cửa. Tớ xin ra làm công tác mãi mà bọn chúng không cho đấy chứ. Lý do dễ hiểu, bọn nó không muốn để nhân dân thấy cán bộ cách mạng bị đối xử tệ bạc. Ngày tớ vào đảng chúng còn ỉa đùn ngoài đồng.
Lãng vừa nói vừa lôi trong túi lác treo trên vách ra mấy ngăn gà mèn cũ và cái muỗng gãy cán.
-      Cơm trắng đấy cậu. Hôm nay cậu có phước lắm mới còn cơm dư. Nếu tớ không bị đau bụng trưa nay thì đã sạch láng rồi. Này, còn thêm chút dứa kho muối đây.
Tôi không khách sáo gì cả, cầm ngay phần cơm ăn ngấu nghiến. Trọn một ngày chẳng có gì dằn bụng lại uống một mớ nước sông lờ lợ nên lúc nào tôi cũng cảm thấy nhờn nhợn muốn ói.
-      Tại sao anh bị bắt vô đây ? Chín tuổi đảng như anh đáng lẻ phải làm lớn hơn Sáu Hiệp chớ.
-      Ờ, đúng đấy. Lúc tớ làm trưởng phòng vật tư huyện, Sáu Hiệp đi đổ phân cho tớ còn chưa xứng …
Hắn cười khà khà khoái chí, ngón tay lại thò xuống gảy …
-      Anh nói lớn không sợ họ nghe sao ?
-      Tớ mà sợ à ? Có lần nổi cơn tớ gọi ba đời Sáu Hiệp ra chưởi mà hắn đâu có dám làm gì tớ. vài ngày nữa, cậu ra ngoài lao động cứ hỏi Tư Lãng là ai cũng biết. Ngày trước, tớ chỉ ho một tiếng là chúng nó xa nh mặt. Lũ chúng nó đứa nào chẳng mang ơn tớ, không nhiều thì ít. Nếu tớ không ký xuất kho là chúng đói nhăn răng ra !
 
Tôi để gà mèn xuống, thở ra một hơi dài, no bụng, cảm thấy khoẻ hơn. Tư Lãng ngồi xổm, thân hình nhún lên nhún xuống như ngồi trên lò xo.
-      Này, đừng dựa vào cái tỉn ấy.
-      Cái gì vậy ?
-      Nó dùng đựng nước tiểu ban đêm đấy. Cậu dựa vào, ban đêm nó lăn ra thì khổ cả lũ. Ban ngày thì không sao. Này, tớ dặn … Hắn chặc lưỡi … Khổ ! Lính mới cái gì cũng phải bảo… Ban đêm trước khi đi tiểu phải thò ngón tay vào trước, biết không ?
-      Để ngón tay vào …
-      Thì dễ hiểu thôi, xem mực nước cao đến đâu ấy mà. Có lần tụi này bị ngập lụt, khổ cả đêm.
-      Chắc anh là người kỳ cựu nhất ở đây ?
-      Chưa, tớ là người thứ hai thôi. Bác Năm trưởng trại ở đây hai năm rồi, bị tình nghi hoạt động kháng chiến chống cách mạng.
-      Còn anh tại sao vào đây ?
-      Ấy, tớ nói rồi, bị chúng vu oan thâm lạm công quỹ. Trước tớ là trưởng phòng vật tư, lớn hơn bọn Ba Thắng, Sáu Hiệp nhiều. Tớ có tính thương bạn bè nên ký xuất kho thoải mái lắm. Năm ngoái tớ đi phép về Bắc, trễ tàu không kịp hạn phép mất một tuần, bọn chúng cần con dấu của phòng nên cạt tủ tớ ra. Hừm, bọn đểu giả. Trong tủ chẳng có gì, ngoài khoảng chục tờ giấy xuất kho tớ đóng mộc sẵn. Thế là chúng làm ầm lên, kiểm kho lập biên bản, bảo mất 500 ký đường, 50 ký bột ngọt, 300 gói thuốc lá … Tớ nhớ rỏ, nếu có thất thoát, nhiều lắm cũng chỉ độ 100 ký đường, 20 ký bột ngọt, khoảng 100 gói thuốc lá thôi. Tớ không chịu ký vào bản án kiểm điểm ! Thế là chúng nhốt tớ vào đây cả năm rồi. Lũ khốn nạn !
Lãng vừa vấn thuốc vừa lẩm bẩm chưỡi thề.
 
 
 
Có tiếng mở khoá. Một tên công an đứng trước cửa nói vọng vào :
-      Tư lãng, hôm nay anh đi lao động.
-      Tớ đi à, sao lại có chuyện lạ thế ?
-      Đừng nhiều lời. Hôm nay có công tác đột xuất. Lệnh Sáu Hiệp đó ! Anh, anh Trúc, ông Tám Phảng đi theo tôi, nhanh lên !
Tôi quơ cái nón rách cùng Tư Lãng chui ra, đã thấy ông già Tám Phảng đợi sẵn bên ngoài, tay ông vẫn bị trói quặc ra sau.
-      Tư Lãng, anh đi trước dẫn đường ra phía lò rèn. Anh Trúc đi giữa, ông già đi sau cùng với tôi.
Bọn tôi lặng lẽ theo con đường đất nhỏ dẫn ra bờ sông.
Tư Lãng hỏi :
-      Này Tám Lương, tại sao phải ra lò rèn ? Có chuyện gì vậy ?
-      Đi rèn còng.
-      Tụi này sẽ bị còng à ?
-      Ừ, đêm qua có hai thằng trổ nóc nhà trốn thoát rồi cho nên từ nay ai cũng bị còng ban đêm.
-      À, ra thế ! Làm còng sắt kiểu nào tớ cũng rành, chỉ cần có chút đỉnh phì phà thôi.
-      Tư lãng, anh biết anh đang ở tù không ?
-      Hà hà, biết chứ ! Tớ đã kiện lên đơn vị gốc của tớ ở Hà Nội rồi. Để khi họ đến điều tra, các cậu sẽ biết !
Tám Lương có vẻ chột dạ, im lặng không nói gì.
Tôi im lặng để ý địa thế. Lò rèn ở cạnh bờ sông, sát mé. Chung quanh cây cối rập rạp. Dưới nước lục bình từng mảnh lớn tụ nhau san sát. Chỉ cần đứng sát vách lò rèn, thụt người xuống là xong.
 
Ông già Tám Phảng vẫn lầm lũi bước. Ông không xoay đầu nhưng tôi thấy mắt ông đảo liếc chung quanh.
 
 Tám Lương ra hiệu cho cả bọn vào trong.
-      Bác Bảy, số sắt mang tới hôm qua là để rèn còng đó. Tư Lãng, anh qua đây.
Hắn trải tờ giấy lên chiếc bàn gỗ cũ đầy bụi đất.
-      Đây là sơ đồ kiểu còng và đây là cách làm còng. Tôi đã hội ý anh Sáu rồi. Bác rèn cho 50 đôi còng. Còng hình chữ U có hai cái ngoéo ở đâu. Còn sắt một phân bác làm cho 15 cây, mỗi cây dài 4 thước, một đầu thẳng, một đầu có cù ngoéo.
Ông già thợ rèn, Bác Bảy, vẫn nhìn chằm chặp vào tờ giấy. Tám Lương bực mình sẵn giọng :
-      Bác hiểu không ?
-      Ờ … ờ 
Tư Lãng lên tiếng :
-      Tám Lương à, anh nói toạc ra cho rồi. Anh làm còng để còng bọn tớ. Thiên hạ đều biết. Chẳng qua là mấy anh bắt chước kiểu còng làm ngoài Bắc thôi. Để tớ chỉ ông già cách làm …
Tư lãng có vẻ ngán Tám Lương, đưa mắt nhìn hắn như muốn xin phép.
-      Được rồi, anh nói đi.
-      Này nhé. Còng chữ U bác để từ phía sau cổ chân ngay trên mắt cá, như thế này. Hai cù ngoéo đưa ra phía trước. Hai lỗ cù ngoéo đủ rộng cho cây sắt một phân xuyên qua. Năm mươi cặp vị chi là một trăm cái. Bác phải lấy cọng kẽm uốn trước làm kiểu cho vừa cỡ chân xong rồi kéo thẳng ra, đo theo chiều dài đó mà cắt ra một trăm cái. Còn 15 cây sắt một phân, bác phải cắt dài hơn 4 thước dư thêm một tấc. Một đầu để thẳng, một đầu uốn cong như cù ngoéo với cái lỗ rộng vừa ngón tay trỏ. Thế … anh Tám đây không cần vào phòng. Cứ đếm bao nhiêu người là thảy vào chừng ấy còng. Mỗi tên chúng tôi phải tự ráp còng vào chân, ngồi thành một hàng, đưa hai cổ chân ra. Anh Tám chỉ cần soi đèn pin kiểm soát xem có tên nào để chân ngoài còng hay không. Xong xuôi chỉ cần xuyên cây sắt một phân từ bên ngoài qua vách phòng, chui qua tất cả các lỗ còng, xuyên qua vách bên kia phòng. Đâu đấy, chỉ cần khóa đầu cây sắt phía ngoài. Dễ lắm, không khó khăn gì hết. Anh Tám đây xỏ lỗ rất giỏi, đêm nào …
-      Tư Lãng, đủ rồi, anh nói nhiều quá !
-      Khà …, khá …
Tám Lương hất hàm :
-      Bây giờ mấy anh phụ bác Bảy làm việc đi.
Hắn lấy con dao nhỏ trong túi cắt dây cho ông già Tám Phảng rồi đi ra ngoài kéo khúc cây mục ngồi trước cửa hút thuốc, mắt lom lom nhìn vào trong.
 
Tám Lảng rất khoẻ, ông cầm cưa sắt đưa qua lại nhanh nhẹn. Tôi đo kích thước theo cọng kẽm mẫu rồi chuyền cây sắt ra cho ông. Lẫn trong tiếng cưa, ông Tám Phảng hỏi nhỏ :
-      Anh biết lội không ?
-      Không giỏi nhưng được.
-      Chỉ cần quơ được chân tay không chìm là tốt rồi.
Tám Lương lừ mắt :
-      Các anh không được nói chuyện.
Tư Lãng phụ bác Bảy đốt lò :
-      Tám Lương à, anh bắt chúng tớ làm việc mà không cho nói chuyện thì ác quá.
-      Các anh phải nói lớn, không được rù rì.
-      Được, để tớ kể chuyện ngoài Bắc cho cậu nghe … Chà, quên không mang gói thuốc Lạng Sơn theo, tiếc nhỉ … Này Tám Lương, bọn tớ mang trà qua đây uống được không ?
-      Mấy anh làm việc tốt, hoàn tất chỉ tiêu trong ba ngày như anh Sáu chỉ thị thì muốn hút thuốc hay uống trà gì cũng được.
Tư Lãng nói huyên thuyên hết chuyện này sang chuyện nọ, từ lúc hắn còn nhỏ ở quê đến ngày đi bộ đội, được kết nạp vào đảng. Giọng hắn oang oang át cả tiếng cưa sắt chói tai, tiếng lửa phì phụp, tiếng nước đập bờ bì bõm, và tiếng ghe, xuồng tắc ráng chạy ngoài sông. Lần đầu tiên vượt biên bị bắt thật xui, thằng Sen thoát chạy mất sau khi bỏ tôi lại trong mấy vồng mía. Nếu tôi không họ có lẽ đã thoát. Nhưng đêm sương xuống, gió lạnh, tôi cảm thấy ngứa cổ không chịu nổi. Tôi đã cẩn thận dùng khăn bụm miệng, ho nhỏ vài tiếng. Thế là xong. Chúng bắt được tôi trói dẫn về xã ngay đêm đó.




0
Tám Lương có vẻ bị cuốn hút vào câu chuyện của Tư Lãng. Tôi hỏi nhỏ ông Tám Phảng :
-      Bác dân xứ này phải không ? Ờ, tôi lớn lên ở vùng này. Cần Thơ, Vị Thanh, Hỏa Lựu, Gò Quao, Rạch Sỏi, Rạch Giá tui rành như nắm trong bàn tay.
-      Sao chúng bắt bác vậy ?
-      Tui chém chết thằng Hùng Lủi. Thằng đó lưu manh ăn hiếp dân xã, cậy thế chú nó là bí thư huyện ủy Gò Quao. Nghề tui là thợ rèn nhưng tui làm rượu để bán. Nó lấy rượu của tui uống không trả tiền còn đánh tui nhiều lần. Nó còn chọc quẹo tính hãm hiếp con gái tui. Sáng hôm đó nó tới lấy rượu không trả tiền. Tôi giựt chai rượu lại, nó đánh tui chảy máu đầu. Tui nói, mầy đánh nữa tao chém mầy chết, nó vẫn tiếp tục đánh tui té gục rồi bỏ đi. Trưa hôm đó tui xách cái phảng đi tìm, thấy nó đang ngồi nhậu với một thằng nữa trước nhà. Tui dấu cái phảng sau lưng đi xăm xăm tới. Nó cười trây nói, ông già mang rượu tới thêm phải không. Tui  tiến sát trước mặt, vung phảng chém thẳng vô đầu nó. Nó giơ chai rượu lên đỡ. Làm sao mà đở nổi ! Chai rượu với mấy ngón tay rớt xuống đất, nó té bật ra sau tính bò dậy. Tui chém xuống, hai, ba, bốn …Tám phát cả thảy. Nó dãy đành đạch như cá lóc bị đập đầu, máu văng tung tóe.
Tôi rùng mình cảm thấy hơi lạnh chạy dọc từ gáy xuống xương sống. Ông già cắn chặt hàm răng, mặt đanh lại, nhìn đăm đăm xuống đất.
-      Ê, mấy người làm việc đi chớ !
Giọng Tám Lương nhắc nhở.
Chúng tôi tiếp tục làm. Tôi vịn chặt cây sắt cho bác Tám Phảng cưa. Tư Lãng vừa nói vừa trở qua trở lại mấy khúc sắt ngắn trên lò lửa. Gió ngoài sông vẫn thổi mấy tàu lá chuối đung đưa phần phật bên nhà. Tiếng sông nước đập bờ và tiếng đò máy chạy có sức hấp dẫn kỳ lạ.
 
Trưa Tám Lương dẫn chúng tôi về trại sau khi cột tay bác Tám Phảng cẩn thận. Công việc cứ tiếp tục đều đặn chiều hôm đó và ngày hôm sau.
 
Tám Phảng cố cưa thanh sắt thật mạnh, âm thanh rít lên chát chúa, ông hỏi nhỏ :
-      Nói chuyện với Tư Lãng chưa ?
-      Rồi !
-      Hắn nói sao ?
-      Hắn sẵn sàng giúp nhưng bác liệu tin được không ?
-      Được. Hắn nói nhiều nhưng không báo Sáu Hiệp với Tám Lương đâu. Hắn bất mãn từ lâu, chỉ mong trả thù cho bỏ ghét. Mà cậu còn tiền phải không ?
-      Ờ, còn dấu được.
-      Đưa cho ông già Bảy chưa?
-      Chưa, nhưng bác đừng lo.
-      Nhớ chừa tiền đò nghe.
Hôm nay Tám Lương có vẻ dễ dãi hơn. Qua ngày thứ hai, chúng tôi đã làm xong gần tám mươi còng và mười hai thanh sắt rồi. Trưa mai có lẽ hoàn tất chỉ tiêu của Sáu Hiệp đặt ra sớm hơn dự định. Thêm nữa Tám Lương được dúi mấy gói Tam ảo và Lạng Sơn, hắn vừa thoải mái hút thuốc lại được nhàn nhã uống trà. Hắn cảm thấy vừa bụng đám tù ngoan ngoãn này lắm.
 
Bác Tám khẽ nói :
-      Tư Lãng nhậu khá không ?
-      Chưa biết, nhưng hắn nói làm mtộ lít đế chưa suy suyển.
-      Được rồi. Bộ tướng Tám Lương chỉ một xị là quắc cần câu.
Tôi đưa mắt về phía bác Bảy thợ rèn. Bác Tám hiểu ý nói nhỏ :
Không sao, nó dân nhậu, dễ gì chịu đứng ngó, chỉ cần Tư Lãng chịu được lâu.
 
Thêm một ngày trôi qua. Đến xế trưa ngày thứ ba, mọi việc hoàn tất. Hai bàn tay tôi nóng rát, phồng lên mấy bong bóng nước. Bọn tôi đưa mắt nhìn Tư Lãng chờ đợi. Hắn nháy mắt cười ranh mãnh, móc gói Tam Đảo bước lại gần Tám Lương nói nhỏ. Tám Lương làm thinh lắng nghe. Tư Lãng vừa nói vừa ra dấu có vẻ cầu khẩn. Một lát sau, Tám Lương gật đầu :
-      Được, nhưng bác Bảy trước khi đi phải cột tay ông già kia lại.
Mọi người thở phào nhẹ nhỏm. Bác Tám Phảng lẹ làng đưa hait ay sau lưng sẵn sàng để bị cột. Tám Lương không để ý đến những thay đổi nhỏ nhặt chung quanh, hắn thỏa mãn về sự trọng vọng của mọi người đối với hắn.
 
Tư Lãng dúi tiền cho bác Bảy. Ông già lôi ra hai chai không và một bình tích cũ, tất tả đi ra chợ.
 
Không phải chờ đợi lâu, khoảng tàn một cây nhang, bác Bảy quay về, khệ nệ mang hai chai và một bình tích rượu, một số có ổi và mớ đồ lòng. Ông bày tất cả lên cái bàn cũ giữa nhà vói mấy cái ly nhỏ.
 
Tư Lãng kéo cái ghế duy nhất trong nhà đến sát bàn :
-      Mời anh Tám ngồi, tụi này đứng cũng được.
-      Tôi ngồi, mấy anh đứng sao được, kéo mấy khúc cây kia lại đây.
Tám Lương, Tư Lãng, bác Bảy ngồi quanh bàn, rót rượu ra ly. Tám Lương ngoắc tay, vẻ kẻ cả :
-      Mấy anh lia lại đây !
Tôi và bác Tám Phảng bước lại ngồi lên khúc cây cạnh bàn.
 
Tám Lương rót cho mỗi người một ly nhỏ. Bọn họ đưa lên môi ực đánh trót một tiếng, xong khà hơi xuýt xoa khoái trá.
 
Tư Lãng nói :
-      Chắc phải kiếm chút nước chữa lửa.
Tám Lương gạt đi :
-      Yếu quá ! Chưa chi đã chạy rồi !
Tám Lương lại chuyền ly rượu qua tôi và Tám Phảng. Tôi nhắp một chút, cay xé môi phải phun ra. Bác Tám Phảng cũng chẳng hơn gì. Bác nhăn mặt như uống thuốc độc, lại nhờ tôi gắp thịt cho ăn không ngừng. Tám Lương nổi quạu :
-      Hai tên nầy uống không được lại phá mồi quá. Mỗi anh một trái cóc, ra đằng kia đi !
Bàn nhậu giờ xôn xao ra trò. Họ vừa uống vừa hò hét khóch bác nhau. Tư Lãng quả là bợm nhậu thứ thiệt. Hắn đưa rượu ngọt sớt như uống nước lã. Tôi chỉ sợ hắn gục trước Tám Lương thì hư chuyện. Tám Lương cao hứng không còn biết trời đất gì nữa, thoáng một cái đã sạch một chai.
 
Bác Támnhìn tôi gật gù :
-      Không sao đâu, cậu chọn đúng người rồi. Tư Lãng là tay bợm chính hiệu con nai vàng.




0
Ngày Quanh Quẩn – Tác giả Trần Long Hồ
Đã mang vào thư viện
 
Ct.Ly xin cảm ơn ticonuong, Nguyen Đ Thanh và Yeusachtruyen
 
Đã góp sức cho thư viện
Chúc vui
 
📎 ThankYou_0




0