Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

ĐẠI NAM THỰC LỤC -

23 trả lời, 8.084 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.01.2016 16:39:18 bởi Ct.Ly>
ĐẠI NAM THỰC LỤC
 
* * *
 
TẬP MỘT

 
 



VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN SỬ HỌC QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN
Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch
ĐẠI NAM THỰC LỤC
TẬP MỘT
(Tái bản lần thứ nhất)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Phiên dịch : Nguyễn Ngọc Tỉnh Hiệu đính : Đào Duy Anh
 
LỜI GIỚI THIỆU
(Lần tái bản thứ nhất)
Đại Nam thực lục là bộ chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà Nguyễn, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong 88 năm mới hoàn thành, tính từ khi bắt đầu làm (1821 - Minh Mệnh năm thứ hai) đến khi hoàn thành và khắc in xong những quyển cuối cùng (1909 - Duy Tân năm thứ ba).
 
Đại Nam thực lục được viết theo thể biên niên, chia thành 2 phần Tiền biên và Chính biên:
-    Đại Nam thực lục tiền biên (còn gọi là Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi chép về sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia Dụ hoàng đế) vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến hết đời Nguyễn Phúc Thuần (Duệ tông Hiếu định hoàng đế), tức là đến năm Nguyễn Phúc Thuần mất (1777). Đại Nam thực lục tiền biên được khởi soạn năm 1821 (năm thứ hai niên hiệu Minh Mệnh), làm xong và hoàn thành việc khắc in năm 1844 (năm thứ tư niên hiệu Thiệu Trị). Tổng tài của sách Đại Nam thực lục tiền biên là Trương Đăng Quế, Vũ Xuàn Cẩn.
-    Đại Nam thực lục chính biên ghi chép về lịch sử triều Nguyễn, từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỷ, mỗi kỳ là một đời vua :
  1. Kỷ thứ nhất - Đời Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) từ 1778 đến 1819. Biên soạn trong 27 năm (từ 1821 đến 1847). Tổng tài Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn.
  2. Kỷ thứ hai - Đời Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) từ 1820 đến 1840. Biên soạn trong 20 năm (từ 1841 đến 1861). Tổng tài lần lượt có Trương Đăng Quế rồi Phan Thanh Giản.
3.  Kỷ thứ ba - Đời Thiệu Trị (Nguyên Miên Tông) từ 1841 dến 1847. Sách khắc in xong năm 1879. Tổng tài Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản.
4.  Kỷ thứ tư - Đời Tự Đức (Nguyễn Hồng Nhiệm) từ 1847 đến 1883. Sách khắc in xong năm 1899. Tổng tài Nguyền Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Trọng Hợp.
5.  Kỷ thứ năm - Năm cuối đời Tự Đức và đời Kiến Phúc (Nguyễn Ưng Đăng) từ 1883 đến 1885. Sách khắc in xong năm 1902. Tổng tài Trương Quang Đản.
  1. Kỷ thứ sáu - Đời Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch) và Đồng Khánh (Nguyễn Ưng Xụy) từ 1885 dến 1888. Sách khắc in xong năm 1909. Tổng tài Cao Xuân Dục.
Như vậy, Đại Nam thực lục Tiền biên và Chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn là bộ sử ghi chép thực về toàn bộ lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XIX dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn cũng như hơn 200 năm lịch sử Đàng Trong của các chúa Nguyễn.
 
Vào năm 1962, Viện Sử học bắt đầu cho công bố bản dịch bộ Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, do Nhà xuất bản Sử học xuất bản và đến năm 1978 thì in tập XXXVIII, hoàn thành công việc xuất bản trọn bộ Đại Nam thực lục với sự hợp tác của Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Viện Sử học phải mất 16 năm mới thực hiện xong kế hoạch xuất bản Đại Nam thực lục, một công trình dịch thuật đồ sộ của Tổ phiên dịch Viện Sử học mà các vị thành viên trong Tổ nay dều đã qua đời, cũng như Tổ phiên dịch và Nhà xuất bản Sử học của Viện Sử học đều không còn nữa! Bản dịch 38 tập Đại Nam thực lục đã được đông đảo độc giả hoan nghênh và đánh giá cao, nhất là giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, Viện Sử học đã nhận được nhiều thư của độc giả nói chung và của các nhà khoa học nói riêng, yêu cầu cho tái bản Đại Nam thực lục. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy, học tập về lịch sử dân tộc, Viện Sử học và Nhà xuất bản Giáo dục hợp tác cho tái bản bộ Đại Nam thực lục, là bộ sách đang nằm trong tay bạn đọc.
 
Trong lần tái bản này, về nội duns, chúng tôi cho in lại nguyên văn bản dịch trước. Phần Sách dẫn cũng giữ đúng như cũ. Nhưng về số tập thì có điều chỉnh lại.
 
Ở lần xuất bản thứ nhất, bản dịch Đại Nam thực lục được chia thành 38 tập (khổ 13 X 19), trong đó Tiền biên 1 tập, Chính biên 37 tập. Nay để độc giả tiện sử dụng, chúng tôi dồn lại còn 10 tập (khổ 16 X 24). Cụ thể phân chia như sau :
 
-    Tập một: Tiền biên và Chính biên, Kỷ thứ nhất (từ 1558 dến 1819) —
Nguyền Ngọc Tỉnh dịch. Đào Duy Anh hiệu đính.
-         Tập hai:   Kỷ thứ hai (từ 1820 dến 1829) - Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Phạm Huy Giu, Nguyễn Danh Chiên, Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn
Chinh, Đỗ Mộng Khương dịch. Đào Duy Anh hiệu đính.
-         Tập ba:    Kỷ thứ hai (từ 1830 đến 1833) - Đỗ Mộng Khương, Trần Huy Hân, Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Thế Đạt, Thẩm Văn Điền, Nguyễn Trọng Hân, Phạm Huy Giu dịch. Đào Duy Anh, Hoa Bằng hiệu dính.
-         Tập bốn: Kỷ thứ hai (từ 1834 đến 1836) — Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh, Nguyễn Doanh Chiên, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Đỗ Mộng Khương dịch. Hoa Bằng hiệu đính.
-         Tập năm: Kỷ thứ hai (từ 1837 đến 1840) - Đỗ Mộng Khương, Phạm Huy Giu, Nguyễn Ngọc Tinh, Nguyễn Mạnh Duân, Nguyền Danh Chiên, Trương Văn Chinh dịch. Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
-         Tập sáu:   Kỷ thứ ba (từ 1841 đến 1847) - Cao Huy Giu, Trịnh Đình Rư, Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân dịch. Hoa Bằng hiệu đính.
-         Tập bảy: Kỷ thứ tư (từ 1848 đến 1873) - Nguyên Ngọc Tỉnh, Ngô Hữu Tạo, Phạm Huy Giu, Nguyễn Thế Đạt, Đỗ Mộng Khương, Trương Văn Chinh, Cao Huy Giu dịch. Nguyễn Trọng Hân, Cao Huy Giu hiệu đính.
-         Tập tám: Kỷ thứ tư (từ 1877 đến 1883) — Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Trần Huy Hân, Nguyễn Trọng Hân, Đỗ Mộng Khương dịch. Cao Huy Giu, Nguyền Trọng Hân hiệu đính.
-         Tập chín: Kỷ thứ năm (từ 1883 đến 1885) - Nguyễn Ngọc Tinh dịch. Nguyên Mạnh Duân hiệu đính.
-         Tập mười: Kỷ thứ sáu (từ 1885 dến 1888) - Phạm Huy Giu, Trương Văn Chinh dịch. Nguyền Trọng Hân hiệu đính.
 
Chúng tôi rất mong nhận dược những ý kiến chỉ bảo thêm của quý độc giả dể rút kinh nghiệm cho lần sau tái bản Đại Nam thực lục được tốt hơn nửa.
 
Hà Nội, tháng 4 năm 2001
VIỆN TRƯỞNG VIỆN SỬHỌC PGS. TS.
Trần Đức Cường







Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2015 13:14:27 bởi Ct.Ly>
TIỀN BIÊN

[DỤ]

Thiệu Trị năm thứ tư [18 14], ngày 1 1 tháng 3, dụ rằng :
Nay cử bọn Tổng tài Sử quán là :
Thái bảo Văn minh điện đại học sĩ lĩnh Binh bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần tước Tuy thịnh tử Trương Đăng Quế.
Đông các đại học sĩ lĩnh Lại bộ thượng thư Vũ Xuân Cẩn.
Thự hiệp biện đại học sĩ lĩnh Hộ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần Hà Duy Phiên.
Lỗ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần kiêm quản Hàn lâm viện Nguyễn Trung Mậu, và bọn Toản tu là :
Hàn lâm viện trực học sĩ Đỗ Quang.
Thái bộc tự khanh Tô Trân.
Quang lộc tự khanh Phạm Hồng Nghi.
Hồng lô tự khanh Vũ Phạm Khải.
Tâu bày rằng : “Vâng lệnh soạn bộ Liệt thánh thực lục tiền hiên nay đã xong, xin đem khắc in”.

Xem qua tờ tâu, trẫm rất vui lòng, vì tín sử(1) của đời thanh bình là để lại chỉ bảo cho đời sau, sự thể rất là quan trọng. Nhà nước ta vâng chịu mệnh trời, đức Thái tổ Gia dụ hoàng đế dựng cơ nghiệp ở miền Nam, thần truyền thánh nối, hơn 200 năm, đức dày ơn sâu, thấm nhuần tất cả, mối giềng mở rộng, để phúc người sau, thực cũng sâu xa lắm. Duy lúc mới gây dựng ghi chép còn sót, niên đại đã lâu, điển tịch(2) tản mát. Sau khi Hoàng tổ Thế tổ Cao hoàng đế ta bình định thiên hạ, nhớ tới công xưa, hỏi tìm

 
điển cũ, việc đặt Sử cục vẫn đã có ý mà chưa rỗi để làm. Hoàng khảo Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, trau giữ nếp văn, lo noi nối nghiệp võ, năm Minh Mệnh thứ 1 [ 1820] xuống chiếu tìm sách vở sót, năm thứ 2 mở đặt Sử quán, sai quan vâng chép bộ Liệt thánh thực lục, chia làm Tiền biên và Chính biên. Lại đặc biệt sai văn võ đại thần là bọn Nguyễn Văn Nhân, Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, sung chức Tổng tài, soạn chép từng thời, theo năm ghi việc, tìm nhặt sử cũ, mà ý nghĩa thể lệ đều định đoạt do thánh tâm. Mấy lần sử biên chép dâng trình, vâng theo quyết định, cho nên phép tắc đã rõ rệt, điều mục đã phân minh, nhưng đã tinh còn muốn tinh hơn, đã tường còn muốn tường nữa, thánh tâm vẫn mong chờ như thế.

Trẫm nay vâng nối nghiệp xưa, noi theo phép cả, chỉ nghĩ nối được chí, theo được việc. Năm mới lên ngôi, đã cho rộng tìm sách xưa còn sót, bắt đầu mở Sử cục, kén chọn Nho thần ở quán để biên chép cho có chuyên trách; lại đặc phái các đại thần làm Tổng tài để sửa chữa, cốt cho hoàn thành. Phàm các địa phương trong ngoài có dâng sách vở gì, liền giao sang Sử quán kê cứu, để giúp việc tham đính. Tiết thứ theo bản mẫu do sử thần tiến lên, trẫm, trên theo lời Thánh dạy, dưới tìm nhặt các sách, đã châm chước sửa chữa, cốt cho chu đáo ổn thỏa. Nay bộ sách hoàn thành dâng lên, trâm kính cẩn duyệt kỹ, nhận thấy sách này biên chép các kỷ, văn thực mà việc đúng [rõ ràng như] giềng [lưới] cất thì mắt [lưới] dăng ra. Tuy rằng trời cao đất dày cũng khó mà hình dung, nhưng mặt trời sáng, ngôi sao bày, đã là vẻ vang rực rỡ.
Kể tính từ năm Minh Mệnh thứ 2 mở đặt Sử cục, đến năm Thiệu Trị thứ 4, trải trong khoảng 25 năm, biên soạn đã xong, dầy dủ rõ ràng được đến thế, thực đủ làm rạng rỡ công đức thần thánh lớn lao đời xưa, đã vui được lòng trẩm muốn nêu cao sự nghiệp, trông mến vinh quang. Vậy nên cho khắc vào gỗ lê gỗ táo, in dể dài lâu. Rồi đến các bộ Thực lục chính biên về đời Thế tổ Cao hoàng đế và thánh tổ Nhân hoàng đế, soạn xong cũng lần lượt kính cẩn cho khắc in nộp vào kho sách, càng thêm vẻ vang cho các đời của nước Đại Nam ta, đời nào cũng thịnh, và để truyền bảo phép tắc lớn mãi mãi đến ức muôn năm sau.
 
Lần này, bộ sách Liệt thánh thực lục tiền biên soạn xong, được bao nhiêu quyển, nên đem khắc bản, sai ngay Thái sử chọn ngày khởi công ở quán, lại giao các viên Toản tu kiểm điểm khoản thức chữ viết, mọi việc cho chu đáo ổn thỏa; các đại thần Tổng tài cũng cần xem xét luôn cho sớm xong việc lớn, để truyền bá về sau. Có cần dùng vật liệu nhân công thì sai Hữu ty kính cẩn ứng biện. Phải kính vâng dụ này.

[BIỂU]

Bọn thần vâng lệnh sung Tổng tài, Phó Tổng tài, Toản tu Quốc sử quán, kính cẩn tâu rằng :
Kính vâng soạn bộ sách Liệt thánh thực lục tiền hiên đã xong, xin đem khắc để cho sáng tỏ việc tốt.
Bọn thần trộm nghĩ : Nước phải có sử, cốt để làm tin với đời nay mà truyền lại cho đời sau. Từ xưa, đế vương nổi dậy, công việc các đời làm ra đều ghi vào sử sách, rõ ràng có thể khảo được. Làm thực lục là gồm cả phép biên niên [ghi năm] kỷ sự [chép việc], chính sử do đấy mà ra. Lớn thay nhà nước ta, vâng chịu mệnh trời. Thái tổ Gia dụ hoàng đế dựng nghiệp ở miền Nam, các thánh nối theo, vẻ vang rạng rỡ. Trong khoảng ấy, lễ nhạc, chinh phạt, chế độ, văn chương, tự có thể thống quy mô lập quốc.
 
Duy lúc đầu [như nhà Chu] mới ớ Mân, Kỳ[link=#_ftn1][1][/link], sử văn còn thiếu. Đến khi Thế tổ Cao hoàng đế ta dựng lại cơ đồ, thống nhất bờ cõi, sau cuộc đại định, nhớ dến công xưa, tìm hỏi điển xưa, bàn lập Sử cục, đã thường lưu ý mà chưa rỗi để làm. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, dùng văn chương ngang trời dọc đất, nhờ ơn đức gây dựng của các đời, năm đầu Minh Mệnh [1820] chiếu xuống hỏi tìm sách vở còn sót ; năm thứ 2 [1821] mở đặt Sử quán, sai quan kính soạn Thực lục ; năm thứ 14 [1833] lại sai biên soạn bộ Khám định thực lục các kỷ, từ đời Thái tổ Gia dụ hoàng đế đến đời Duệ tông Hiệu định hoàng đế, gọi là Tiền biên, từ sau khi Thế tổ Cao hoàng đế trung hưng, gọi là Chính biên. Phàm ý nghĩa thể lệ đều vâng lệnh cân nhắc cho vừa phải, lần lượt biên soạn dâng lên để xin quyết định. Nghĩ rằng lúc mới biên soạn, cần phải khảo đính tinh tế cho được chu đáo, cho nên chậm xong, để lòng thánh đã phải chờ đợi. Nay hoàng thượng ta, vâng theo mưu trước, nối theo chí xưa, chỉ nghĩ làm cho vẻ vang sáng tỏ công nghiệp, nên năm Thiệu Trị thứ 1, bắt đầu mở Sử cục, đặc biệt sai bọn thần vâng soạn Thực lục tiền biên và chính biên. Kế đến soạn Thực lục chính biên đời Thánh tổ Nhân hoàng đế. Đã chuẩn định chương trình và giao chuyên trách, lại thường có sắc dụ dạy bảo cho được hoàn thành. Thật bởi là tín sử của đời thanh bình càng nên là rõ ràng và cẩn thận.
 
Bọn thần học thức nông cạn, từ lúc vâng mệnh tới nay, ngày đêm lo sợ, cùng nhau cố gắng. Trước hết, kính cẩn kiểm duyệt những nguyên bản các kỷ Tiền biên, sau xét các điển cũ và chí lục ở Sử quán, cùng sách vở các địa phương dâng lên, tìm tòi cho rõ thêm, có chỗ cần thêm cần đổi, ghi chép theo từng khoản, viết thành bản mẫu dâng trình để kính xin ngự lãm và quyết định. Trong đó, hoặc có sự tích chưa rõ, thì đã vâng sắc mà tìm thêm để bổ khuyết. Trông lên biết ý vua suy nghĩ rộng khắp kỹ càng, đã tinh còn muốn tinh thêm, thực rất chu đáo. Bọn thần kính vâng lời dạy, dốc lòng cố sức, có những khoản nên sửa chữa, đã vâng lệnh làm xong. Cúi nghĩ, từ khi nước mới gây dựng, hơn 200 năm, người trước làm, người sau nối, chứa góp bao nhiêu công đức, nguồn gốc lập nên đế nghiệp cũng đã xa lắm. Tuy niên đại đã lâu, sách vở tản mát, ờ trong không khỏi có chỗ thiếu sót, duy từ đời Minh Mệnh tới nay, tiết thứ biên soạn sửa chữa theo sách vở còn lại, nghiên cứu qua nhiều năm tháng, thì những đức nghiệp vẻ vang, phép tắc lớn lao, hiện đã sáng tỏ trong sách. Xin cho khắc gỗ lê gỗ táo, in dâng vào kho sách, để nêu tiếng thơm về sau. Nay xin làm thành lập dâng tâu. Trước hết xin đem sách Liệt thánh thực lục tiền biên, chọn ngày lành khởi công khắc in. Sau đến Thực lục chính biên về các đời Thế tổ Cao hoàng đế và Thánh tổ Nhân hoàng đế, soạn xong cũng xin tiếp tục cho khắc in, đóng thành pho sách quý, để nêu rõ những sự nghiệp thịnh lớn thần truyền thánh nối, văn trị võ công của nước Đại Nam ta, mà càng tỏ rõ lòng hiếu vô cùng của hoàng thượng ta đã nối được chí, theo được việc.

Bọn thần trông ngóng không biết chừng nào ! Kính cẩn tâu lên.
Đề năm Thiệu Trị thứ 4 [1844] ngày mồng 6 tháng 3.
 
Thần Trương Đăng Quế
Thần Vũ Xuân Cẩn
Thần Hà Duy Phiên
Thần Nguyễn Trung Mậu
Thần Đỗ Quang
Thần Tô Trân
Thần Phạm Hồng Nghi
Thần Vũ Phạm Khải








Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2015 13:12:38 bởi Ct.Ly>
[BIỂU]
 
Bọn thần là Tổng tài, Phó Tổng tài, Toản tu Quốc sử quán, kính cẩn  tâu :
Vâng soạn bộ Liệt thánh thực lục tiền biên, san khắc đã xong, chữ nghĩa rõ ràng, giấy tờ đẹp tốt. Bọn thần rất vui mừng kính cẩn dâng biểu tiến sách lên. Cúi nghĩ, mệnh lớn trao thêm, mãi mãi âu vàng vững chãi; phúc xưa trùm khắp, rỡ ràng sách báu nêu ra. vẻ đẹp như tranh, ánh sáng như ngọc. Bọn thần trộm nghĩ : Đế vương được trao mối, mở mang phải có người xưa; phép tắc thánh nhân trị đời, chứng tỏ ở nền bình định. Bởi có dẫn ở trước giúp ở sau, để nên phúc lớn này, tin được lâu dài càng tỏ; cho nên chép theo việc ghi truyện thực, để truyền lại đời sau, tỏ rõ cồng lao từ đây.
 
Lớn thay nhà nước ta, đức nhà thịnh dày, phúc trời rộng lớn. Thái tổ Gia dụ hoàng đế dựng nền ở phương Nam, các vua thánh sửa sang nối nghiệp, đều chịu mệnh trời, mở mang đất nước.
 
Thánh võ mới lên, sông Ái Tử có Lục y giúp sức(1); linh uy đã mở, núi  Thiên Mụ có thần mẫu báo điềm(2) . Trời bảo thánh nhân dựng nước dựng  ngôi, dân theo người đức nên đô nên ấp. Từ Cát Dinh dời sang Phúc Yên, Kim Long, rồi tới Xuân Kinh, giữ vững được núi sông xã tắc; vượt Bi Lĩnh, lấy Thái Khang, Bình Thuận rồi đến Đông Phố, thu về cả bờ cõi bản chương. Đắp đồn lũy, lập trấn dinh, chia phủ châu, họp dân cư, quy mô bản đồ đều đủ; lập quan chức, dựng quân ngũ, đặt thuế má, định duyệt tuyển, pháp độ kinh luân rõ ràng. Truyền nhau trước làm sau theo, dốc lòng dựng, siêng năng xây, đã từ lâu lắm. Thấm thìa đức dày nhân thẳm, thân người hiền vui việc lợi, lòng người không quên. Lại nghĩ, ánh sáng trước kia, đẹp lộng lẫy khó hình dung được; đến nay còn chiếu, nên biên soạn truyền đến vô cùng.
 
Đến Thế tổ Cao hoàng đế ta, dựng lại cơ đồ, cả vâng mệnh lớn. Đạo chuộng luân thứ, ghi thế hệ để nêu tiếng thơm; nghĩa trọng suy tôn, truy đế hiệu để rõ điển thịnh. Nước nhà mới định, muôn điều kinh hoạch, nên Sử cục chưa rỗi mà làm; sách vở tản mạn, tìm hỏi điển xưa, là thánh ý muốn sâu truyền dạy. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta là bậc thánh trời cưng, được truyền tâm pháp; kính theo mưu trước, làm sáng tỏ thêm; mở đặt sử quan, thời thường bảo chép. Thể lệ tự lòng vua quyết định, nêu ra yếu điển trong sách xưa; ghi chép lấy tín sử làm bằng, thu góp di văn tra khảo được. Sách đã làm trọn, còn chờ sửa chữa kỹ càng; tin rằng người sau, hay theo được đạo hiếu.
Kính nghĩ, Hoàng đế bệ hạ, đạo tâm trong suốt, thánh học cao minh. Nắm cương trời xét phép trị dân, chăm chăm kính theo đạo sáng; theo phép tổ tỏ đức rạng nghiệp, tha thiết nối chí thuật làm. Từ mới kế vị cầm quyền, đã sai Sử cục biên soạn. Tham các sáng tỏ tường chu đáo, càng phải cẩn thận rộng tìm; sửa bản mẫu nhân lúc thanh nhàn, thường tiến lên trình ngự lãm. Suy nghĩ tĩnh mặc, xem xét tinh vi. Nơi bí các[[4]] quyết định sáng sâu, thể thức rõ ràng nhờ đế huấn; bản Thực lục của triều thịnh trị, vâng soạn trước là Tiền biên. Kể từ gây dựng nước nhà, hơn hai trăm năm, vẫn nhờ mưu xưa để lại; từ khi Sử quán mở đặt, hăm lăm năm chẵn, đã nêu ánh sáng thự tàng. Công việc thuật biên, trước sau đủ cả; suy tìm chế tác, lần lượt tỏ bày. Vua thánh nối nhau, đạo tâm như một; điển tịch rõ rệt, phép tắc sáng truyền. Mười hai quyển sách báu chép thành, khắc bản gỗ lê gỗ táo; nghìn muôn đời lời quý nêu yết, sáng như mặt trời mặt trăng. Đến nay kính soạn Chính biên, tỏ rạng vẻ sáng ngời của mưu mô công liệt; để cho rực rỡ sử sách, truyền rộng tiếng lừng thơm của sự nghiệp thánh minh. Thực là trời mở nước Đại Nam, một mình hưng thịnh; xét sử Việt từ đời Hồng Lạc, chưa thấy bao giờ. Sánh với Điển Mô Nhã Tụng[[2]] cùng truyền, gồm cả văn vật thanh danh đầy đủ. Bọn thần học thức nông cạn, gặp đời thịnh minh. May được dự hàng nho thần, ra sức mài dũa; nghiêm chỉnh vâng lời chỉ giáo, thuật hết thấy nghe. Vâng mệnh thánh để biểu dương; thấy sách xong mà mừng rỡ. Cúi mong tiếng đức thường tốt, lòng kính ngày hơn. Noi theo công xưa, nghĩ việc khó để mưu việc dễ; soi xem phép sẵn, tôn sở văn mà làm sở tri. Ơn to hậu thêm, đức trước lớn thêm, rạng tỏ nền phúc mười một đời vun đắp; chịu mệnh lâu mãi, phúc lành thường mãi, làm cho cơ nghiệp ức muôn năm thịnh xương.
Bọn thần xiết bao chiêm ngưỡng, rất mực vui mừng. Kính cẩn đem 12 quyển Thục lục tiền biên, một quyển mục lục, cộng 13 quyển, đã khắc lần này, tiến lên và làm tờ biểu dâng theo.
Đề năm Thiệu Trị thứ 4 [1844], ngày mồng 7 tháng 8. [Vua phê] : Đã xem.
 
Thần        Trương Đăng Quế
 Thần       Vũ Xuân Cẩn
Thần       Hà Duy Phiên
Thần       Nguyễn Trung Mậu
Thần       Đỗ Quang
Thần       Tô Trân
Thần       Phạm Hồng Nghi
Thần       Nguyễn Tường Vĩnh.
 
đã sai Sử cục biên soạn. Tham các sáng tỏ tường chu đáo, càng phải cẩn thận rộng tìm; sửa bản mẫu nhân lúc thanh nhàn, thường tiến lên trình ngự lãm. Suy nghĩ tĩnh mặc, xem xét tinh vi. Nơi bí các[[link=#_ftn1][1][/link]] quyết định sáng sâu, thể thức rõ ràng nhờ đế huấn; bản Thực lục của triều thịnh trị, vâng soạn trước là Tiền biên. Kể từ gây dựng nước nhà, hơn hai trăm năm, vẫn nhờ mưu xưa để lại; từ khi Sử quán mở đặt, hăm lăm năm chẵn, đã nêu ánh sáng thự tàng. Công việc thuật biên, trước sau đủ cả; suy tìm chế tác, lần lượt tỏ bày. Vua thánh nối nhau, đạo tâm như một; điển tịch rõ rệt, phép tắc sáng truyền. Mười hai quyển sách báu chép thành, khắc bản gỗ lê gỗ táo; nghìn muôn đời lời quý nêu yết, sáng như mặt trời mặt trăng. Đến nay kính soạn Chính biên, tỏ rạng vẻ sáng ngời của mưu mô công liệt; để cho rực rỡ sử sách, truyền rộng tiếng lừng thơm của sự nghiệp thánh minh. Thực là trời mở nước Đại Nam, một mình hưng thịnh; xét sử Việt từ đời Hồng Lạc, chưa thấy bao giờ. Sánh với Điển Mô Nhã Tụng[2] cùng truyền, gồm cả văn vật thanh danh đầy đủ. Bọn thần học thức nông cạn, gặp đời thịnh minh. May được dự hàng nho thần, ra sức mài dũa; nghiêm chỉnh vâng lời chỉ giáo, thuật hết thấy nghe. Vâng mệnh thánh để biểu dương; thấy sách xong mà mừng rỡ. Cúi mong tiếng đức thường tốt, lòng kính ngày hơn. Noi theo công xưa, nghĩ việc khó để mưu việc dễ; soi xem phép sẵn, tôn sở văn mà làm sở tri. Ơn to hậu thêm, đức trước lớn thêm, rạng tỏ nền phúc mười một đời vun đắp; chịu mệnh lâu mãi, phúc lành thường mãi, làm cho cơ nghiệp ức muôn năm thịnh xương.
Bọn thần xiết bao chiêm ngưỡng, rất mực vui mừng. Kính cẩn đem 12 quyển Thục lục tiền biên, một quyển mục lục, cộng 13 quyển, đã khắc lần này, tiến lên và làm tờ biểu dâng theo.
Đề năm Thiệu Trị thứ 4 [1844], ngày mồng 7 tháng 8. [Vua phê] : Đã xem.
 
            Thần                       Trương Đăng Quế
 
Thần       Vũ Xuân cẩn
Thần       Hà Duy Phiên
Thần       Nguyễn Trung Mậu
Thần       Đỗ Quang
Thần       Tô Trân
Thần       Phạm Hồng Nghi
Thần       Nguyễn Tường Vĩnh.
 
 
TIỀN BIÊN
PHÀM LỆ

Thời quốc sơ, từ Túc tông Hiếu ninh hoàng đế về trước, xưng là Công;
Từ Thế tông Hiếu võ hoàng đế về sau, xưng là Vương ;
Ngày nay theo đế chế xưng là Thượng.
 
Thời quốc sơ niên kỷ dùng niên hiệu nhà Lê. Nay theo sách Khâm định vạn niên thư, đều cứ năm sau năm nối ngôi mà chép làm năm đầu. Còn niên hiệu nhà Lê, nhà Minh, nhà Thanh thì chia ra chia ở dưới, để chỉ rõ thế đại và thống kỷ.
Năm lên nối ngôi mà chưa có kỷ nguyên thì những tháng còn lại của năm ấy, có làm chính sự gì, cứ theo tháng mà chép ở đầu bản kỷ.
Chép việc thì lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Nếu không có việc gì đáng chép, thì bỏ khuyết mùa, tháng mà chép năm; phàm việc thì không chép ngày, duy có việc lớn thì chép cẩn thận theo ngày.
Thời quốc sơ mở mang bờ cõi, từ Phú Yên vào Nam dần dần tháp nhập bản đồ. Nay phàm dùng binh tiến lấy được nơi nào, lập dinh phủ nơi nào, thì chép sơ [buổi đầu] dể ghi [là việc] khi mới bắt đầu.
Trong các kỷ, ngày sinh của liệt thánh hoàng đế đều ghi cả, là để tôn hệ thống nhà vua.
Vua và hậu chầu trời, đều chép là “băng”, là theo đế chế. Chỉ khi nào
nhà vua còn làm hoàng tử mà hậu mất, thì chép là “hoăng”[1], là để giữ tôn thống.
Thời quốc sơ, Nam Bắc chia đôi, các thánh của ta phù Lê chống Trịnh, cho nên phàm những việc của nhà Lê họ Trịnh có tương quan đến ta đều chép cả. Trong các kỷ, về vua nhà Lê thì đều chép “băng”, về chúa họ Trịnh thì đều chép “tốt” [mất]. Duy họ Trịnh có phạm tội thí nghịch đối với nhà Lê thì chép chữ “tử” [chết] để cho xứng với tội. 1

 
Các kỷ chép việc họ Trịnh, ở đầu phải hệ thuộc vào nhà Lê, để không cho được tiếm. Duy có việc quân Bắc vào đất ta thì chuyên chép họ Trịnh, để tỏ không phải là ý vua Lê.
 
Thời quốc sơ, hoàng tử xưng là côns tử, tôn thất đều ghi rõ họ. Nay theo tôn phả thì chép là hoàng tử, tôn thất. Duy bọn Hiệp, Trạch, Anh, Trung, Huệ, Thông đều phạm đại tội phản nghịch, đã phụ chép ở cuối tôn phả, khi tội ác của họ chưa rõ thì vẫn chép là tôn thất, đến khi phạm tội chỉ chép tên, là để răn bọn loạn thần tạc tử.
Những bản chí lục chép việc cũ, các bề tôi chỉ xưng tước hàm mà bỏ thiếu họ tên. Nay nếu xét rõ được, thì viết đủ họ tên, người nào nếu không xét được thì chép nguyên tước hiệu (như loại Dương Sơn. Xuân Sơn, V. V...
 
 
 Chú thích:

[1] Tín sử : Sứ đáng tin

[2]  Điển tịch : Sách sổ

[3] [1]Mân, Kỳ : Thái vương ở đất Mân. Văn vương ở Kỳ Sơn, sau dựng nên nghiệp đế nhà Chu (1234 (?) tr. c. ng. - 256 c. ns).

[4]  Nguyễn Hoàng đi đánh Lập Bạo nhà Mạc, qua sống Ái Tử. nghe tiếng kêu. Đêm nằm mộng có người con gái bảo : Muốn đánh được giặc phải dùng kế mỹ nhân. Hoàng tĩnh dậy nghe theo, sau đánh được.

[5]  Nguyễn Hoàng đến chơi núi Thiên Mụ, nghe nhân dân kể chuyện : Trước có một bà già mặc áo đỏ quần xanh đến núi này báo rằng sẽ có một vị chân nhân lại đây dựng chùa. Nguyễn Hoàng cứ vào lời ấy, mới dựng chùa ở núi đó gọi là chùa Thiên Mụ.

[6] Hoãng : Công hầu chết gọi là hoãng.

[7]  Bí các : Nơi chứa đồ thư ở trong cung cấm.

[8]  Điển Mô : Những thiên của Kinh Thư chép về Nghiêu Thuấn và Hạ Vũ Cao Dao. Nhã Tụng : Những thiên của Kinh Thi nói về đời nhà Chu.








Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.09.2015 21:35:24 bởi Ct.Ly>
TIỀN BIÊN

Vâng sắc khai chép tên chức và tên các quan trong Quốc sử quán :
Tổng tài :
Thái bảo (Văn minh điện đại học sĩ, lĩnh Binh Bộ thượng thư, sung Cơ mật viện đại thần, quán lý Khâm thiên giám, kiêm lĩnh Quốc tử giám, kiêm quản Tàu chính ấn triện, tước Tuy Thịnh tử).
Thần Trương Đăng Quế
Thái tử thái bảo (Đông các đại học sĩ, lĩnh Lại bộ thượng thư, kiêm quán Hình bộ ấn triện, kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ).
Thần Vũ Xuân Cẩn
Phó tổng tài
Thư hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Hộ bộ thượng thư.
Thần Hà Duy Phiên
Lễ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, kiêm quản Hàn lâm viện.
Thần Nguyễn Trung Mậu
Nguyên thự Hình bộ thượng thư, nay bổ thụ Định Yên tổng đốc,
Thần Phan Bá Đạt
 

 
 
 
 

 
TIỀN BIÊN
TỔNG MỤC
 
Quyến I
                                              THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ
[NGUYỄN HOÀNG]
( ở ngôi 56 năm)
Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê - Đối với nhà Lê niên hiệu là Chính Trị năm 1, đối với nhà Minh, niên hiệu là Gia Tĩnh năm 39) - Kỷ mùi - Canh thân - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão (Minh - Long Khánh năm 1) [1567] - Mậu thìn - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân (Nhà Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc) [1572] - Quý dậu (Lê - Gia Thái năm thứ 1, Minh - Vạn Lịch năm 1) [1573]     - Giáp tuất — Ất hợi - Bính tý - Đinh sửu - Mậu dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Quang Hưng) [ 1578] - Kỷ Mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu - Bính tuất - Đinh hợi - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ - Giáp ngọ - At mùi - Bính thân - Đinh dậu - Mậu tuất - Kỷ hợi - Canh tý (Lê - Thận Đức năm 1, tháng 10 mùa đông đổi niên hiệu là Hoằng Định) 11600] - Tân sửu - Nhâm dần - Quý mão - Giáp thìn - Ất tỵ - Bính ngọ - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu - Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý - Quý sửu.
 
Quyển II 
                                         HY TÔNG HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ
[PHÚC NGUYỄN]
(ở ngôi 22 năm)
Giáp dần, năm thứ 1 [1614] - Ất mão - Bính thìn - Đinh tỵ - Mậu ngọ - Kỷ mùi (Lê - Vĩnh Tộ năm 1) [1619] - Canh thân (Minh - Thái Xương năm 1) [1620] - Tân dậu (Minh - Thiên Khải năm 1) [1621] - Nhâm tuất -Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão - Mậu thìn (Minh - Sùng Trinh năm thứ 1) [1628] - Kỷ tỵ (nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Long) [1629] - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân — Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi (Nhà Lê đổi niên hiệu là Dương Hòa) [1635].

 
Quyển III
                                  THẦN TÔNG HIẾU CHIÊU HOÀNG ĐẾ
[PHÚC LAN]
(ở ngôi 13 năm)
Bính tý, năm thứ 1 [1636] - Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi (Lê - Phúc Thái năm 1) [1643] - Giáp thân (Thanh - Thuận Trị năm 1) [1644] - Ất dậu - Bính tuất — Đinh hợi - Mậu tý.
 
Quyển IV
                                        THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ
[PHÚC TẦN]
(ở ngôi 39 năm)
Kỷ sửu, năm thứ 1 [1649] (Nhà Lê niên hiệu là Khánh Đức) - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ (Nhà Lê đổi niên hiệu là Thịnh Đức) [1653] - Giáp ngọ - Ất mùi - Bính thân - Đinh dậu - Mậu tuất (Nhà Lê đổi niên hiệu là Vĩnh Thọ) [1658] - Kỷ hợi - Canh tý - Tân sửu - Nhâm dần (Nhà Lê dổi niên hiệu là Vạn Khánh, Thanh - Khang Hy năm 1) [1662]
 
Quyến V
                             THÁI TÔNG HIẾU TRIẾT HOÀNG ĐẾ
Quý mão (Lê - Cảnh Trị năm 1) [ 1663] - Giáp thìn - Ất tỵ - Bính ngọ - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu - Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý (Lê — Dương Đức năm 1) [1672] - Quý sửu — Giáp dần (Nhà Lê đổi niên hiệu là Đức Nguyên) [1674] - Ất mão - Bính thìn (Lê - Vĩnh Trị năm 1) [1676] - Đinh tỵ - Mậu ngọ - Kỷ mùi - Canh thân (Nhà Lê dổi niên hiệu là Chính Hòa) [1680] - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão.
 
Quyển VI
                                     ANH TÔNG HIẾU NGHĨA HOÀNG ĐẾ
(PHÚC TRĂN)
(ở ngôi 4 năm)
Mậu thìn, năm thứ 1 11688] - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi.
 
Quyển VII
                                     HIỂN TÔNG HIẾU MINH HOÀNG ĐẾ
[PHÚC CHU]
(ở ngôi 34 năm)
Nhâm thân, năm thứ 1 [ 16921 - Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi - Bính tý
-      Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu (Lê - Vĩnh Thịnh năm 1) [1705] - Bính tuất.
 
Quyển VIII
                                        HIỂN TÔNG HIẾU MINH HOÀNG ĐẾ
Đinh hợi [1707] - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn
-      Quý tỵ - Giáp ngọ - Ất mùi - Bính thân — Đinh dậu - Mậu tuất - Kỷ hợi
-      Canh tý (Nhà Lê đổi niên hiệu là Bảo Thái) [1720] - Tân sửu — Nhâm dần
-      Quý mão (Thanh - Ung Chính năm 1) [ 1723] - Giáp thìn - Ất tỵ.
 
Quyển IX
                                     TÚC TÔNG HIẾU NINH HOÀNG ĐẾ
[PHÚC CHÚ]
(ở ngôi 13 năm)
Bính ngọ, năm thứ 1 [1726] - Đinh mùi - Mậu thân - Kỷ dậu (Lê - Vĩnh Khánh năm 1) 11729] — Canh tuất - Tân hợi - Nhâm tý (Lê -Long Đức nãm 1) 11732] - Quý sửu - Giáp dần - At mão (Lê - Vĩnh Hựu năm 1) [1735] - Bính thìn (Thanh - Càn Long nãm 1) [1736] - Đinh tỵ - Mậu ngọ.
 
Quyển X
                                       THẾ TÔNG HIẾU VŨ HOÀNG ĐẾ
[PHÚC KHOÁT]
(ở ngôi 27 năm)
Kỷ mùi, năm thứ 1 [1739] - Canh thân (Lê - Cảnh Hưng năm 1) 117401 - Tân dậu - Nhâm tuất - Quý hợi - Giáp tý - Ất sửu - Bính dần - Đinh mão - Mậu thìn - Kỷ tỵ - Canh ngọ - Tân mùi - Nhâm thân - Quý dậu - Giáp tuất - Ất hợi - Bính tý - Đinh sửu - Mậu dần - Kỷ mão - Canh thìn - Tân tỵ - Nhâm ngọ - Quý mùi - Giáp thân - Ất dậu.
 
Quyển XI
                                      DUỆ TÔNG HIẾU ĐỊNH HOÀNG ĐẾ
[PHÚC THUẦN]
(ở ngôi 12 năm)
Bính tuất, năm thứ 1 [1766] - Đinh hợi - Mậu tý - Kỷ sửu - Canh dần - Tân mão - Nhâm thìn - Quý tỵ - Giáp ngọ.
 
Quyển XII
                                       DUỆ TÔNG HIẾU ĐỊNH HOÀNG ĐẾ
 
Ất mùi [1775] - Bính thân - Đinh dậu.

 
📎 image_015




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.10.2015 17:51:39 bởi Ct.Ly>
CHÍNH BIÊN
 
ĐÊ NHẤT KỶ •
 
THỰC LỤC VỂ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ
 
Quyển I
 
 
Mậu tuất năm thứ [1778] đến Nhâm dần năm thứ 3 [1782].
 
Quyển II
Quý mão năm thứ 4 [1783] đến Bính ngọ năm thứ 7 [1786].
Quyển III
Đinh mùi năm thứ 8 [1787] đến Mậu thân năm thứ 9 [1788].
 
Quyển IV
Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ dậu thứ 10 [1789], đến tháng 6 mùa hạ năm Canh tuất thứ 11 [1790].
 
Quyển V
Tháng 7 mùa thu năm Canh tuất [1790] đến tháng 12 mùa đông năm Tân hợi thứ 12 [1791].
 
 
Quyển VI
Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm tý thứ 13 11792] đến tháng 12 mùa đông năm Quý sửu thứ 14 [1793].
 
Quyển VII
Tháng giêng mùa xuân năm Giáp dần thứ 15 [1794] đến tháng 6 mùa hạ năm Ất mão thứ 16 [ 1795].
 
Quyển VIII
Tháng 7, mùa thu năm Ất mão thứ 16 [1795] đến tháng 9 mùa thu năm Bính thin thứ 17 11796].
Quyển IX
Tháng 10 mùa đông năm Bính thin thứ 17 [ 1796] đến tháng chạp (12) năm Đinh tỵ thứ 18 [1797].
Quyển X
Tháng giêng mùa xuân năm Mậu ngọ thứ 19 [1798] đến tháng 6 mùa hạ năm Kỷ mùi thứ 20 [1799].
Quyển XI 
Tháng 7 mùa thu năm Ký mùi thứ 20 [1799] đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XII
Tháng giêng mùa xuân năm Canh thân thứ 21 [1800] đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XIII
Tháng giêng mùa xuân năm Tân dậu thứ 22 [1801] đến than" 4 mùa hạ .
Quyển XIV
Tháng 5 mùa hạ năm Tân dậu thứ 22 [1801] đến tháng 7 mùa thu.
Quyển XV
Tháng 8 mùa thu năm Tân dậu thứ 22 đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XVI
Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm tuất thứ 23 [1802] đến tháng 4 mùa hạ.
Quyển XVII
Tháng năm mùa hạ năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 [1802] đến tháng 6 mùa hạ.
 
Quyển XVIII
Tháng 7 mùa thu năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 9.
Quyển XIX
Tháng 10 mùa đông năm Nhâm tuất Gia Long thứ 1 đến tháng 12.
Quyển XX
Tháng giêng mùa xuân năm Quý hợi Gia Long thứ 2 [ 1803] đến tháng 3.
Quyển XXI
Tháng 4 mùa hạ năm Quý hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 6.
Quyển XXII
Tháng 7 mùa thu năm Quý hợi Gia Long thứ 2 đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XXIII
Tháng giêng mùa xuân năm Giáp tý Gia Long thứ 3 [1804] đến tháng 3.
Quyển XXIV
Tháng 4 mùa hạ năm Giáp tý Gia Long thứ 3 đến tháng 6.
Quyển XXV
Tháng 7 mùa thu năm Giáp tý Gia Long thứ 3 đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XXVI
Tháng giêng mùa xuân năm Ất sửu Gia Long thứ 4 [1805] dến tháng 6 mùa hạ .
Quyển XXVII
Tháng 7 mùa thu năm Ất sửu Gia Long thứ 4 11805] đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XXVIII
Tháng giêng mùa xuân năm Bính dần Gia Long thứ 5 [ 1806] đến tháng tư mùa hạ.
Quyển XXIX
Tháng 5 mùa hạ năm Bính dần Gia Long thứ 5 đến tháng 6.
Quyển XXX
Tháng 7 mùa thu năm Bính dần Gia Long thứ 5 đến tháng 12 mùa đông.
Quyển XXXI
Tháng giêng mùa xuân năm Đinh mão Gia Long thứ 6 đến tháng 4.
[1807]  
 
Quyển XXXI
Tháng giêng mùa xuân năm Đinh mão Gia Long thứ 6
[1807]    đến tháng 4.
 
Quyển XXXII
Tháng 4 mùa hạ năm Đinh mão Gia Long thứ 6 đến tháng 6.
 
Quyển XXXIII
Tháng 7 mùa thu năm Đinh mão Gia Long thứ 6 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XXXIV
Tháng giêng mùa xuân năm Mậu thìn Gia Long thứ 7
[1808]    đến tháng 3.
 
Quyển XXXV
Tháng 4 mùa hạ năm Mậu thin Gia Long thứ 7 đến tháng 6 nhuận.
 
Quyển XXXVI
Tháng 7 mùa thu năm Mậu thìn Gia Long thứ 7 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XXXVII
Tháng giêng mùa xuân năm Ký tỵ Gia Long thứ 8
[1809]    đến tháng 3.
 
XXXVIII
Tháng 4 mùa hạ năm Kỷ tỵ Gia Long thứ 8 [1809] đến tháng 6.
 
XXXIX
Tháng 7 mùa thu năm Kỷ tỵ Gia Long thứ 8 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XL
Tháng giêng mùa xuân năm Canh ngọ Gia Long thứ 9
[1810]    đến tháng 6 mùa hạ.
 
Quyển XLI
Tháng 7 mùa thu năm Canh ngọ Gia Long thứ 9 đến tháng 12 mùa đông
 
Quyển XLII
Tháng giêng mùa xuân năm Tân mùi Gia Long thứ 10
[1811]    đến tháng 6.
 
Quyển XLIII
Tháng 7 mùa thu năm Tân mùi Gia Long thứ 10 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XLIV
Tháng giêng mùa xuân năm Nhâm thân Gia Long thứ 11 [1812] đến tháng 6 mùa hạ.
 
Quyển XLV
Tháng 7 mùa thu năm Nhâm thân Gia Long thứ 1 1 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XLVI
Tháng giêng mùa xuân năm Quý dậu Gia Long thứ 12 [1813] đến tháng 6 mùa hạ.
 Quyển XLVII
Tháng 7 mùa thu năm Quý dậu Gia Long thứ 12 đến tháng 12 mùa đông.
 
Quyển XLVIII
Tháng giêng mùa xuân nam Giáp tuất Gia Long thứ 13 [1814] đến tháng 6 mùa hạ.

Quyển XLIX
Tháng 7 mùa thu năm Giáp tuất Gia Long thứ 13 [ 1814] đến tháng 12 mùa đông.

Quyển L
Tháng giêng mùa xuân năm Ất hợi Gia Long thứ 14 [1815] đến tháng 6 mùa hạ.

Quyển LI
Tháng 7 mùa thu năm Ất hợi Gia Long thứ 14 đến tháng 12 mùa đông.

Quyển LII
Tháng giêng mùa xuân năm Bính tý Gia Long thứ 15 [1816] đến tháng 3.

Quyển LIII
Tháng 4 mùa hạ năm Bính tý Gia Long thứ 15 đến tháng 6 nhuận.

Quyển LIV
Tháng 7 mùa thu năm Bính tý Gia Long thứ 15 đến tháng 12 mùa đông.

Quyển LV
Tháng giêng mùa xuân năm Đinh sửu Gia Long thứ 16 [1817] đến tháng 6 mùa hạ.

Quyển LVI
Tháng 7 mùa thu năm Đinh sửu Gia Long thứ 16 đến tháng 12 mùa đông.

Quyển LVII
Tháng giêng mùa xuân năm Mậu dần Gia Long thứ 17 [1818] đến tháng 6 mùa hạ.

Quyển LVIII
Tháng 7 mùa thu năm Mậu dần Gia Long thứ 17 đến tháng 12 mùa đông.

Quyển LIX
Tháng giêng mùa xuân năm Kỷ mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 6 mùa hạ.

Quyển LX
Tháng 7 mùa thu năm Kỷ mão Gia Long thứ 18 [1819] đến tháng 12 mùa đông.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2016 12:19:01 bởi Ct.Ly>
TIỂN BIÊN
QUYỂN I 
 
THỰC LỤC VỀ THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ
Thái tổ Triệu Cơ Thùy thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ung Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ hoàng đế, họ Nguyễn, húy Hoàng, người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa.
 
Sinh ngày Bính dần, tháng 8, mùa thu, năm Ất dậu [1525] (Lê - Thống Nguyên năm thứ 4, Minh - Gia Tĩnh năm thứ 4), là con trai thứ hai của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế; mẹ là Tĩnh hoàng hậu Nguyễn thị (con gái Nguyễn Minh Biện, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quán thự vệ sự ở triều Lê).
 
Tổ tiên trước là một họ có danh vọng ở Thanh Hoa.
Ông nội là Trừng quốc công, húy là [Dụ][link=#_ftn1][1][/link], lên 8 tuổi đã biết làm văn,
15 tuổi thông thuộc võ nghệ. Triều Hiến tông nhà Lê, làm kinh lược sứ Đà Giang, đến khi Uy Mục đế vô đạo, về Tây Kinh giúp Lê Oanh khởi binh ở Thanh Hoa, mưu việc giữ yên xã tắc. Khi Oanh lên làm vua (tức Tương Dực đế), được phong làm thái phó Trừng quốc công.
Cha là Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế, húy [Kim], con trưởng Trừng quốc công, đầu làm quan triều Lê, chức Hữu vệ điện tiền tướng quân, [tước] An Thanh hầu. Năm Đinh hợi [1527], Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Lê mất. Triệu Tổ giận họ Mạc tiếm nghịch, chí muốn khơi phục nhà Lê, nên dẫn con em tránh sang Ai Lao. Vua nước ấy là Sạ Đẩu cho ở Sầm Châu. Bấy giờ thu nạp hào kiệt, quân chúng có hàng mấy nghìn người, voi có ba chục thớt, bàn mưu tìm con cháu nhà Lê để lập.
 
Năm Canh dần [1530], ông đem quân ra Thanh Hoa. Mạc Đăng Doanh (con trưởng Mạc Đăng Dung) sai tướng là Ngọc Trục (không rõ họ) chống cự, đánh nhau ở huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa), Ngọc Trục thua chạy. Năm Tân mão [1531], ông đánh phá được tướng Mạc là Nguyễn Kính ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), chém hơn một nghìn đầu. Khi tiến đến đò Điềm Thủy huyện Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình), lại đánh luôn mấy trận với tướng Mạc là Lê Bá Ly được to. Gặp trời mưa dầm, nước lụt lai láng, quân Mạc cho nhiều chiến thuyền tiếp nhau tiến đến, ông bèn rút quân về sách Sầm Hạ ở Ai Lao. Năm Quý tỵ [1533] ông đón con trai nhỏ của Lê Chiêu Tông là Ninh lập làm vua, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa, tức là Trang Tông. (Khi nhà Lê mới mất, Trang Tông còn thơ ấu, bầy tôi là bọn Trịnh Duy Tuấn và Lê Lan rước tránh sang Ai Lao, ở trà trộn với nhân dân, không ai biết. Đến bấy giờ, Triệu Tổ tìm khắp nơi mới được, bèn lập làm vua). Do công ấy, được phong Thượng phụ thái sư Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự. Bấy giờ có người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Lộc bây giờ) tên là Trịnh Kiểm đến yết kiến (Kiểm sau làm tổ họ Trịnh). Triệu Tổ thấy Kiểm có vẻ lạ, mới gả con gái lớn là Ngọc Bảo cho, sai coi mã quân và xin phong cho làm tướng quân. Năm Canh tý [1540], ông đem quân đóng giữ Nghệ An, hào kiệt theo rất nhiều. Năm Nhâm dần [1542] đi tuần hành trong đất Thanh Hoa, tiếng quân lừng lẫy, xa gần đều phục. Năm Quý mão [1543] rước vua Lê tiến binh ra Tây Đô (tức là Thanh Hoa) để đánh Mạc Chính Trung (con thứ hai Mạc Đăng Dung, có tên nữa là Đăng Xương), được tấn phong Thái tể đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ, chia đường đều tiến, đánh đâu được đấy.
 
Ngày Tân tỵ, tháng 5, mùa hạ, năm Ất tỵ [1545] ông bị hàng tướng Mạc [tên Trung] đầu độc. Triệu Tổ băng, thọ 78 tuổi. (Trước là nhà Mạc thấy quân nhà vua hoạt động mạnh, rất lo, ngầm sai hoạn quan là Trung (không rõ họ) trá hàng, để đầu độc vua Lê; việc không thành, nó liền ngầm cho thuốc độc vào quả dưa hấu rồi đón dâng Triệu Tổ). Vua Lê thương tiếc mãi, tặng tước Chiêu huân tĩnh công, dùng lễ hậu đem táng ở núi Thiên Tôn (thuộc huyện Tống Sơn). Tương truyền huyệt đào trúng hàm rồng, khi đặt quan tài xuống thì cửa huyệt ngậm lại, bổng trời đổ mưa, gió sấm sét, mọi người sợ chạy. Đến lúc tạnh trở lại tìm thì đá núi liên tiếp, cỏ cây xanh tốt, không nhận được là táng nơi nào nữa. Đến nay có việc [cúng tế] thì chỉ trông núi tế vọng thôi. Năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy là núi Triệu Tường). Thời quốc sơ chúa(l) tôn thụy hiệu ([link=#_ftn2][2][/link]) là Huệ Triết Hiến Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương. Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế (l) lại truy tôn [Nguyễn Kim] làm Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Đức phi. Gia Long năm thứ 5 lại truy tôn là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế
 
Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu là Triệu Tổ, lăng gọi là Trường Nguyên, và truy tôn phi là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục ĐứcTĩnh hoàng hậu. (Tương truyền phi hợp táng với Triệu Tổ). Chúa tướng [3] vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả đều biết là bực phi thường.
 
Khi Triệu Tổ tránh họ Mạc, chạy sang Ai Lao thì chúa mới lên 2 tuổi, gửi nuôi ở nhà thái phó Nguyễn Ư Dĩ (tên tự là Vô Sự, bấy giờ gọi là Uy quốc công, anh ruột của Tĩnh hoàng hậu), Ư Dĩ hết lòng bảo hộ, khi đã lớn, thường đem chuyện xây dựng công nghiệp để khuyến khích. Đầu làm quan ở triều Lê, được phong là Hạ Khê hầu. Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua yên ủy khen rằng: “thực là cha hổ sinh con hổ”.
 
Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ.
 
Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [nghĩa là : Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được]. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý. Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đổ ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng. Kiểm đương lấy làm lo. Chúa mới nhờ chị là Ngọc Bảo nói với Kiểm để xin vào trấn đất Thuận Hóa. Kiểm thấy đất ấy hiểm nghèo xa xôi cho ngay. Anh Tông lên ngôi, Kiểm dâng biểu nói: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, vì không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua Lô nghe theo và trao cho chúa trấn tiết(1), phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi.
 
Mậu ngọ, năm thứ 1 [1558] (Lê - Chính Trị năm 1, Minh - Gia Tĩnh năm 37), mùa đông, tháng 10, chúa bắt đầu vào trấn Thuận Hóa, 34 tuổi. Những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi. Dựng dinh ở xã Ái Tử (thuộc huyện Vũ Xương, tức nay là Đăng Xương)(2) . Phàm quan lại tam ty do nhà Lồ đặt đều theo lệnh của chúa.
 
Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy.
 
Kỷ mùi, năm thứ 2 [1559], mùa thu tháng 8, Thanh Hoa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào miền Nam.
 
Bấy giờ mọi việc bắt đầu. Chúa khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản. Nguyễn Ư Dĩ cùng bọn Tống Phước Trị (bấy giờ gọi là Luân quận công), Mạc Cảnh Huống cùng lòng hợp sức, quy hoạch nhiều phương, chúa đều thành thực tin dùng.
Canh thân, năm thứ 3 [1560], mùa đông, đặt đồn cứa biển giữ miền duyên hải (bấy giờ quân Mạc thường theo đường biển vào cướp Thanh Nghệ nên phải đế phòng).
 
Tân dậu, năm thứ 4 [1561]
Nhâm tuất, năm thứ 5 [1562]
 
Quý hợi, năm thứ 6 [1563], mùa thu, tháng 7, ngày Giáp thìn, sinh hoàng tử thứ sáu (tức Hy tông Hiếu Văn hoàng đế).
 
Giáp tý, năm thứ 7 [1564]
 
Ất sửu, năm thứ 8 [1565]
 
Chú thích ;
[1]Trấn Tiết : Cờ tiết vua giao cho làm huy hiệu của quyền trấn thủ
[2] Nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
 
Bính dần, năm thứ 9 [1566]
Đinh mão, năm thứ 10 [1567] (Lê - Chính Trị năm 10, Minh - Long Khánh năm 1)
Mậu thìn, năm thứ 11 [1568], mùa xuân, tháng 3, Tổng trấn Quảng Nam là Bùi Tá Hán (bấy giờ xưng là Trấn quận công) chết. Vua Lê lấy Nguyễn Bá Quýnh (bấy giờ xưng là Nguyên quận công) làm Tổng binh, thay giữ đất ấy.
Kỷ tỵ, năm thứ 12 [1569], mùa thu, tháng 9, chúa đi Thanh Hoa, yết kiến vua Lê ở hành cung Khoa Trường.
Canh ngọ, năm thứ 13 [1570] mùa xuân, tháng giêng, chúa từ Tây Đô về, dời dinh sang xã Trà Bát (thuộc huyện Đăng Xương).
Vua Lê triệu tổng binh Quảng Nam là Nguyễn Bá Quỳnh về trấn thủ Nghệ An. Chúa bèn kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa, Quáng Nam.
Thuận Hóa có 2 phủ, 9 huyện, 3 châu. Phủ Tiên Bình (xưa là Tân Bình), lĩnh 3 huyện : Khang Lộc, Lệ Thúy, Minh Linh, 1 châu : Bố Chánh; phủ Triệu Phong, lĩnh 6 huyện : Vũ Xương, Hải Lăng, Quảng Điền (xưa là Đan Điền), Hương Trà (xưa là Kim Trà), Phú Vang (xưa là Tư Vang), Điện Bàn, 2 châu : Thuận Bình, Sa Bồn. Quảng Nam có 3 phủ, 9 huyện. Phủ Thăng Hoa, lĩnh 3 huyện : Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang; phú Tư Nghĩa lĩnh 3 huyện : Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang; phủ Hoài Nhân, lĩnh 3 huyện : Bổng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Đeo ấn tổng trấn tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa.
 
Bấy giờ Mạc Mậu Hợp sai tướng là bọn Kính Điển đem quân xâm lấn Thanh Nghệ. Tướng trấn thủ Nghệ An Nguyễn Bá Quýnh nghe tin trốn chạy, thế giặc hung tợn. lòng dân xao xuyến. Chúa vốn có uy danh, nhiều mưu lược, kỷ luật rõ ràng, phòng giữ nghiêm ngặt, do đó quân giặc không dám phạm vào bờ cõi, nên riêng hai xứ Thuận Quảng được yên ổn.
 
Tháng 2, Trịnh Kiểm nhà Lê chết. Con thứ là Tùng (con của Ngọc Bảo) được nối. Chúa sai sứ đến viếng.
 
Tân mùi, năm thứ 14 [1571], mùa thu, tháng 7, người huyện Khang Lộc
(tức Phong Lộc bây giờ/[link=#_ftn3][3][/link]* tên là Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn (đều không rõ họ) nổi loạn, đánh dẹp yên. Trước là Mỹ Lương cùng em là Văn Lang và Nghĩa Sơn đều tiến thóc được làm quan, chuyên việc thu tô thuế có công. Nhà Lê phong Mỹ Lương làm tham đốc, Văn Lan, Nghĩa Sơn làm thự vệ. Trịnh Kiểm nhân mật sai họ đánh úp dinh Vũ Xương, hẹn nếu thành công sẽ trọng thưởng. Tới đấy, Mỹ Lương sai Văn Lang và Nghĩa Sơn đem quân phục ở huyện Minh Linh(1) rồi tự mình dẫn quân lẻn theo đường núi đến chỗ Cầu Ngói ở Hải Lăng mai phục, định ngày giáp đánh, (có thuyết nói khi binh thuyền Mạc cướp Nghệ An thì Thuận Hóa xao xuyến, bọn Mỹ Lương mưu đánh úp Vũ Xương để hàng Mạc). Chúa biết được mưu ấy, liền sai phó tướng Trương Trà (bấy giờ xưng là Trà quận công) đánh Nghĩa Sơn, và tự đem quân ngầm đến Cầu Ngói đánh úp Mỹ Lương và đốt trại. Mỹ Lương trốn chạy, đuổi chém được. Trà tiến quân đến xã Phúc Thị, đánh nhau với giặc, bị Nghĩa Sơn bắn chết. Vợ Trà là Trần thị (người xã Diêm Trường) nghe tin nổi giận, mặc quần áo đàn ông thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn tại trận. Quân Văn Lan thua, trốn về với Trịnh. [Thế là] dẹp hết đảng giặc. Chúa đem quân về. Phong Trần thị làm quận phu nhân.
 
Bấy giờ Quảng Nam cũng có bọn thổ mục nổi loạn, cướp giết lẫn nhau. Chúa sai thuộc tướng là Mai Đình Dũng dẹp yên, nhân đấy, sai ở lại giữ đất để thu phục vỗ yên tàn quân.
Nhâm thân, năm thứ 15 [1572] (Lê - Hồng Phúc năm 1, Minh - Long Khánh 6), mùa xuân, tháng giêng, vua Lê đổi niên hiệu là Hồng Phúc.
Mùa thu, tháng 7, tướng Mạc là Lập Bạo (không rõ họ, tự xưng quận công) lấy người ở châu Bắc Bố Chính (nay là huyện Bình Chính)[link=#_ftn4][4][/link] [link=#_ftn5][5][/link] dẫn đường đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh cướp, đóng trại từ con dường xã Hồ Xá đến đền Thanh Tương xã Lãng Uyển. Thế giặc đang mạnh. Chúa đem quân chống giữ, đóng ở sông Ái Tử, đêm nghe từ lòng sông có tiếng kêu “trao trao”, lấy làm lạ. Khấn rằng: “Thần sông có thiêng thì giúp ta đánh giặc”. Đêm ấy, chúa ngủ mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt the, đến trước trình rằng : “Minh công muốn trừ giặc thì nên dùng mỹ kế dụ đến bãi cát, thiếp xin giúp sức !” Tỉnh dậy, chúa ngẫm nghĩ rằng : “Người đàn bà trong mộng báo ta nên dùng “mỹ kế”, phải chăng là dùng kế mỹ nhân ?” Trong đám thị nữ có Ngô thị (tôn gọi là Ngọc Lâm, người làng Thế Lại, có tên nữa là Thị Trà) có sắc đẹp, và mưu cơ biện bác. Chúa sai nàng đem vàng lụa đi dụ Lập Bạo tới chỗ sông có tiếng kêu “trao trao” để giết. Ngô thị đến trại Lập Bạo nói rằng: “Chúa công thiếp nghe tin tướng công ở xa đến, cho thiếp mang quà mọn đến để cùng giảng hòa, đừng đánh nhau nữa”. Lập Bạo thích sắc đẹp của Ngô thị, nhưng giả cách giận, nói rằng: “Người lại đây làm mồi dử ta phải chăng ?” Ngô thị uyển chuyển thưa gửi, Lập Bạo liền tin, và giữ lại trong trướng. Ngô thị nhân đấy, mời Lập Bạo đến bờ sông để cùng chúa họp thề. Lập Bạo nghe lời. Ngô thị đem việc ấy mật báo trước. Chúa lập tức dựng một ngôi đền tranh ở bên bờ sông, chỗ có tiếng kêu “trao trao", để làm nơi họp thề, và đào hầm đặt phục binh. Đến hẹn, Lập Bạo cùng Ngô thị ngồi thuyền nhỏ, chỉ vài chục người theo hầu. Khi đến bến, thấy dưới cờ chúa cũng chỉ có vài chục người thôi, Lập Bạo thản nhiên không ngờ, bèn lên bờ thong thả bước đến cửa đền. Thình lình phục binh nổi dậy. Lập Bạo sợ chạy xuống thuyền, thuyền đã xa bãi rồi. Lập Bạo nhảy theo, rơi xuống nước, quân ta bán chết ngay, rồi thừa thắng tiến đến trại Thanh Tương. Gió to nổi lên, thuyền giặc đắm hết. Quân giặc đem nhau đầu hàng, chúa cho ở đất Cồn Tiên (1) (tức tổng Bái Ân bây giờ) đặt làm 36 phường. Chúa đem quân về, thưởng công cho Ngô thị, gọi phó đoán sự vệ Thiên võ là Vũ Doãn Trung gả cho. Lại phong thần sông làm ‘’Tr ảo trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu quân’’, và lập đền thờ.
 
         Mùa đòng, tháng 11, sai sứ về Tây Đô báo tin thắng trận. Vua Lê sai Phan Công Tích (bấy giờ xưng là Lai quận công) đến ủy lạo tướng sĩ. Chúa cùng [sứ giả] yến tiệc rất vui, khi sứ về lại tặng rất hậu.
Bấy giờ Chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn.
 
Quý dậu, năm thứ 16 [1573] (Lê - Gia Thái năm thứ 1, Minh - Vạn Lịch năm 1), mùa xuân, tháng giêng, vua Lê bị Trịnh Tùng bắt phải thắt cổ chết ở Lôi Dương, lập người con thứ là Duy Đàm làm vua, đổi niên hiệu là Gia Thái, tức là Thế tông. Từ đấy Tùng ngày càng lấn quyền, vua Lê gia phong cho tước vương, sau thành thế tập.
 
Tháng 2, vua Lê sai sứ đem sắc tấn phong chúa làm thái phó, khiến trữ thóc đế sẵn lương ở biên giới, còn số tiền sai dư thì hàng năm nộp thay bằng 400 cân bạc và 500 tấm lụa.
Giáp tuất, năm thứ 17 [ 1574]
Ất hợi, năm thứ 18 [1575] [link=#_ftn6][6][/link] [link=#_ftn7][7][/link]
Bính tý, năm thứ 19 [1576], mùa hạ, tháng 4, hoàng tử cả là Hà mất, tặng Thái bảo Hòa quặn công.
Đinh sửu, năm thứ 12 [1577], mùa đông, tháng 11, sao chổi xuất hiện ở đông nam. Vua Lê đổi niên hiệu là Quang Hưng.
Mậu dần, năm thứ 21 [1578] (Lê - Quang Hưng năm 1, Minh - Vạn Lịch năm 6)
Kỷ mão, năm thứ 22 [1579]
Canh thìn, năm thứ 23 [1580]
Tân tỵ, năm thứ 24 [1581]
Nhâm ngọ, năm thứ 25 [1582]
Quý mùi, năm thứ 26 [1583]
Giáp thân, năm thứ 27 [1584]
 
                                                           _
Ất dậu, năm thứ 28 [ 1585], bấy giờ có tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý (Hiển Quý là tên hiệu của bọn tù trưởng phiên, không phải là tôn người) đi 5 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy.
 
Chúa cả mừng nói rằng : “Con ta thực là anh kiệt”, và thưởng cho rất hậu. Từ đó giặc biển im hơi.
Bính tuất, năm thứ 29 11586], mùa xuân, tháng 3, vua Lê sai Hiến sát sứ là Nguyễn Tạo đến khám những ruộng đất hiện cày cấy để thu thuế. (Bấy giờ thuế ruộng hai xứ Thuận Quảng chưa có định ngạch, mỗi năm gặt xong, sai người chiếu theo số ruộng đất hiện cấy mà thu thuế thôi). Khi Tạo đến, chúa lấy lòng thành tiếp đãi. Tạo rất cảm phục, rồi không đi khám đạc nữa, cho các phủ huyện tự làm sổ, sổ làm xong rồi đem về.
Đinh hợi, năm thứ 30 [1587], mùa thu, tháng 9, ngày mồng 1, có nhật thực.
Mậu tý, năm thứ 31 [1588]
Kỷ sửu, năm thứ 32 [1589]. Bấy giờ mấy năm được mùa luôn, trăm họ giầu thịnh. Vua Lê thì liền năm đánh dẹp, quân dụng không đủ. Chúa xuống lệnh thu thuế cho đi giúp quân phí, chưa từng để thiếu thốn. Tây Đô dược nhờ vào dấy.
Canh dần, nầm thứ 33 11590], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, có nhật thực.
Tân mão. năm thứ 34 [1591]
Nhâm thìn, năm thứ 35 [1592], mùa thu, tháng giêng, vua Lê sai Trịnh Tùng cử đại quân đi đánh Mạc Mậu Hợp (con Mạc Nguyên), lấy lại được Đông Đô (tức Hà Nội báy giờ).
Tháng 5, chúa đem binh quyền [ra Đông Đô] yết kiến. Vua Lê yên ủi rằng : “Ông trấn thủ hai xứ, dân nhờ dược yên, công ấy rất lớn”. Liền phong làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái úy Đoan quốc công.
Chúa trở về Thanh Hoa, yết cáo tôn lăng.
Bấy giờ tướng Mạc là Kiến và Nghĩa (hai người đều không rõ họ, tự xưng quận công) đều tụ họp có tới mấy vạn quân, Kiến chiếm giữ phủ Kiến Xương, đắp lũy đất ớ bên sông, Nghĩa chiếm giữ huyện Thanh Lan (nay là huyện Thanh Quan), cám cọc gổ ở sông Hoàng Giang để chống cự nhà Lê. Tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên đánh không được. Chúa đốc suất tướng sĩ bản dinh, thống lãnh chiến thuyền của thủy quân các xứ nối tiến, dùng hỏa khí và đại bác đánh phá tan, chém được Kiến và Nghĩa tại trận, bắt sống, chém chết hàng vạn. Trấn Sơn Nam (nay là Nam Định) được dẹp xong. Mạc Kính Chương (tự xưng Tráng vương) lại cùng đồ đảng chiếm giữ Hải Dương. Chúa dời quân sang đánh dẹp được, bắt sống không xiết kể.
 
Trước kia, trong chiến dịch Sơn Nam, hoàng tử thứ hai là Hán (làm quan triều Lê, có quân công được làm Tả đô đốc Lỵ quân công) theo chúa đi đánh giặc, ra sức đánh, mất tại trận. Vua Lê truy tặng tước Lỵ Nhân công (có thuyết là Lỵ Trung công) (năm Gia Long thứ 2 cho được tòng tự ở Nguyên miếu), cho con là Hắc được tập ấm, sau làm quan đến thái phó. (Con cháu ở Thanh Hoa, dòng dõi rất phồn thịnh. Năm Gia Long thứ 1, cho hệ tính là Nguyễn Hựu).
 
Giáp ngọ, năm thứ 37 [1594], mùa hạ, tháng 5, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ núi Yên Tử, đánh cướp huyện Vĩnh Lại. Chúa đem thủy quân tiến đến Hải Dương đánh phá được. Ngọc Liễn thua chạy, chết ở châu Vạn Ninh.
 
Mùa thu, tháng 9, Mạc Kính Dụng (tự xưng Uy vương) sai người đảng là Văn và Xuân (hai người đều không rõ tên họ, tự xưng quốc công) đánh úp Thái Nguyên.
 
Chúa đem đại binh đánh quân Mạc ở huyện Võ Nhai, dẹp yên.
 
Mùa đông, tháng 10, tướng làm phản nhà Lê là Vũ Đức Cung cướp phá các huyện thuộc Sơn Tây, và lùa những cư dân hai huyện Đông Lan và Tây Lan (nay là Hùng Quan và Tây Quan) vào đất Đại Đồng. Chúa lĩnh thủy quân cùng Thái úy nhà Lê là Nguyễn Hữu Liêu dẫn bộ binh cùng tiến, thẳng tới Đại Đồng, giáp đánh phá được. Đức Cung chạy đến đất Nghĩa Đô. Chúa dẫn quân về.
 
Ất mùi, năm thứ 38 [1595], mùa xuân, tháng 3 nhà Lê thi tiến sĩ, chúa làm đề điệu, lấy được 6 người hợp cách là bọn Nguyễn Viết Tráng.
Bính thân, năm thứ 39 [1596], mùa hạ, tháng 4, chúa theo hầu vua Lê đi Lạng Sơn. Trước là Mạc Kính Dụng chạy sang Long Châu nước Minh, vu cáo với nhà Minh rằng hiện nay người xưng là vua Lê tức là người họ Trịnh chứ không phải con cháu nhà Lê. Người Minh tin lời, sai Án sát ty phó sứ Tả giang binh tuần đạo là Trần Đôn Lâm sang Trấn Nam quan, đưa thư hẹn hội khám. Vua Lê trước sai bọn thị lang Phùng Khắc Khoan đem hai quả ấn mực cũ, 100 cân vàng, 1.000 lạng bạc, cùng vài chục kỳ lão trong nước cùng đến cửa quan. Trần Đôn Lâm lại đưa điệp đòi vua Lê hẹn ngày đến cửa quan. Nhưng khi vua Lê đến thì sứ nhà Minh thác cớ không đến đúng hẹn. Chúa bèn hầu vua Lê trở về.
 
Đinh dậu, năm thứ 40 [1597] mùa xuân, tháng 2, nhà Minh lại sai ủy quan là Vương Kiến Lập đến cửa quan báo tin để hội khám. Chúa lại theo hầu vua Lê đến cửa quan, cùng với Vương Kiến Lập và Trấn Đồn Lâm làm lễ giao tiếp hội khám, gặp nhau rất vui vẻ. Từ đấy Bắc Nam lại thông hiếu.
 
Mùa đông, tháng 11, thổ phỉ Hải Dương là bọn Thúy, Lễ, Quỳnh, Thụy (đều không rõ họ, tự xưng quận công) kết bè đảng mấy nghìn, đánh úp giết tướng trấn thủ, cướp phá các huyện thủy Đường, Nghi Dương và Tiên Minh. Hoàng tử thứ tư là Diễn (có tên nữa là Miện, làm quan triều Lê, chức Tả đô đốc Hào quận công) cùng tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê và Phan Ngạn lĩnh 50 binh thuyền đến đánh ở sông Hổ Mang. Diễn đem 4 chiếc binh thuyền bán bộ vào trước xông lên đánh, mất tại trận. Vua Lê truy tặng Thái phó.
 
Mậu tuất, năm thứ 41 11598], mùa xuân, tháng 3, chúa đem thủy quân đánh dẹp Hải Dương, phá tan quân thổ phỉ ớ dãy núi Thủy Đường, bắt được đồ đảng giặc đem về.
 
Kỷ hợi, năm thứ 42 [1599], mùa thu, tháng 8, vua Lê băng. Con thứ là Duy Tân lên ngôi, đổi niên hiệu là Thận Đức, tức là Kính tông. Tấn phong chúa làm Hữu tướng.
 
Canh tý, năm thứ 43 [1600] (Lê - Thận Đức năm 1, mùa đông, tháng 11, đổi kỷ nguyên là Hoằng Định; Minh - Vạn Lịch năm 28), mùa hạ, tháng 5, chúa từ Đông Đô trở vế. Bấy giờ chúa đã ở Đông Đô 8 năm, đánh dẹp bốn phương đều thắng, vì có công to, nên họ Trịnh ghét. Gặp lúc bọn tướng Lê là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa Đại An (nay thuộc Nam Định), chúa nhân dịp đem quân tiến đánh, liền đem cả tướng sĩ thuyền ghe bản bộ, đi đường biển thẳng về Thuận Hóa, để hoàng tử thứ năm là Hải và hoàng tôn là Hắc ở lại làm con tin. Nghe tin ấy, lòng dân xao xuyến. Trịnh Tùng ngờ chúa vào chiếm Tây Đô, bèn đưa vua Lê chạy về Tây Đô, để giữ vững căn bản. Đi đến huyện An Sơn, bọn hoàng tử Hải đón đường nói rằng chúa về Thuận Hóa, chỉ nghĩ việc bảo vệ đất đai, thực không có ý gì khác. Vua Lê vỗ về, vẫn cho bọn Hải quản binh như cũ. Chẳng bao lâu vua Lê lại về Đông Đô.
 
Chúa đến Thuận Hóa, cho dời dinh sang phía đông dinh Ái Tử (bấy giờ gọi là Dinh Cát). Vua Lê sai Thiêm đô ngự sử là Lê Nghĩa Trạch đem sắc đến phủ dụ, vẫn sai ớ lại trấn thù, hằng năm nộp thuế má. Trịnh Tùng cũng gửi kèm thư, khuyên giữ việc thuế cống. Chúa hậu đãi sứ giả và sai sứ di tạ ơn vua Lê; lại gửi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia.
Mùa đông, tháng 10, chúa gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng). Từ đấy chúa không ra Đông Đô nữa. Triều thần nhà Lê thường thường nói nên xử trí, nhưng Trịnh Tùng sợ việc dùng binh, không dám đả động.
Tân sửu, năm thứ 44 [1601], mùa hạ, tháng 6 đặt kho thóc Thuận Hóa.
Bắt đầu dựng chùa Thiên Mụ. Bấy giờ chúa dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng bằng ở xã Hà Khê (thuộc huyện Hương Trà) giữa đồng bằng nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước thì nhìn ra sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp. Nhân thế hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tục truyền rằng : Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đĩnh gò nói rằng : “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch'’. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ.
Mùa thu, tháng 7, ngày Tân hợi, sinh hoàng tôn (tức Thần tông Hiếu chiêu hoàng đế).
Nhâm dần, năm thứ 45 [1602], mùa thu, tháng 7, sửa chùa Sùng Hóa. Chúa nhân tiết Trung nguyên đến chơi chùa Thiên Mụ, lập đàn chay làm lễ bố thí. Khi thuyền qua sông xã Triêm Ân (thuộc huyện Phú Vang), nhìn bờ sông phía đông - bắc, cây cối um tùm, chim chóc tấp nập, xem rất thích, chúa cho dừng thuyền ngắm xem. Nhận thấy chỗ ấy có nền chùa cổ, liền sai sửa lại, gọi là chùa Sùng Hóa.
Sai hoàng tứ thứ sáu làm trấn thủ dinh Quáng Nam. Quảng Nam đất tốt dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hóa mà số quân thì cũng bằng quá nửa. Chúa thường để ý kinh dinh đất này. Đến đây, đi chơi núi Hải Vân, thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển. Chúa khen rằng : “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng”. Liền vượt qua núi xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên), xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ. Lại dựng chùa Long Hưng ở phía đông trấn.
Bây giờ khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu. Rồi trở về Thuận Hóa.
 
Năm ấy nước Chiêm Thành sang thống hiếu.
 
Quý mão, năm thứ 46 [ 1603], mùa xuân, tháng 3, trong mặt trăng có ba điểm đen.
Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, có nhật thực.
Giáp thìn, năm thứ 47 [1604], lấy huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong đặt làm phủ Điện Bàn, quản 5 huyện (Tân Phúc, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu), lệ thuộc vào xứ Quảng Nam. Đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi, huyện Lê Giang thuộc phủ Thăng Hoa (nay đổi làm Thăng Bình) làm huyện Lễ Dương, huyện Hy Giang làm huyện Duy Xuyên.
Ất tỵ, năm thứ 48 [1605].
Bính ngọ, năm 49 [ 1606].
Đinh mùi, năm thứ 50 11607], dựng chùa Báo Châu ở Trà Kiệu (thuộc Quảng Nam).
Mậu thân, năm thứ 51 [1608], được mùa to, mỗi đấu gạo giá 3 đồng tiền. Bấy giờ từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt, nhiều dân xiêu dạt chạy về [với chúa].
Kỷ dậu, năm thứ 52 [1609], dựng chùa Kính Thiên ớ phường Thuận Trạch (thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình; năm Minh Mệnh thứ 7 đổi làm chùa Hoằng Phúc).
Canh tuất, năm thứ 53 [1610].
Tân hợi, năm thứ 54 [1611], bắt đầu đặt phủ Phú Yên. Bấy giờ quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được [đất ấy], bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy.
Nhâm tý, năm thứ 55 [ 1612].
Quý sửu, năm thứ 56 [1613], mùa hạ, tháng 5, ngày Mậu ngọ, chúa không được khỏe, triệu hoàng tử thứ sáu tự Quảng Nam vào hầu.
 
Tháng 6 ngày Canh dần, chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu và thân thần đến trước đền trước giường, bảo thân thần rằng : ‘Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”. Rồi chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn bảo rằng : “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói : “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi sơn] vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”. Hoàng tử thứ sáu và các thân thần khóc lạy vâng mệnh.
 Ngày ấy chúa băng. Ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi. Đầu thì yên táng ớ núi Thạch Hãn (xã thuộc huyện Hải Lăng), sau cải táng ở núi La Khô (xã thuộc huyện Hương Trà) (năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy làm núi Khải Vận). Thời quốc sơ thì dâng thụy hiệu là Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ vương. Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế truy tôn là Liệt tổ Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ thái vương và truy tôn phi là Từ Lương Quang Thục Ý phi. Năm Gia Long thứ 5, truy tôn là Triệu Cơ
Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia dụ hoàng đế, miếu hiệu là Thái tổ, lăng gọi là Trường Cơ; truy tôn phi là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia dụ hoàng hậu, lăng gọi là Vĩnh Cơ.

 
Chú thích:
1 - Có thuyết cho rằng An Hòa bá Nguyễn Hoàng Dụ sinh ra Nguyễn Kim (Đại Việt sử ký toàn thư).
2-  Chữ Hán là thượng, chỉ Nguyễn Hoàng
3-Hiện nay là huyện Quảng Ninh, tinh Quáng Bình.
4- Nay là huyện Do Linh, tinh Quảng Trị
5-Nay là huyện Quàne Trạch, tinh Quảng Bình
6 -Ở gần cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị

[7] Tiền thuế thân, ngoài sự gánh vác sai dịch còn phải nộp






Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.10.2015 20:41:23 bởi Ct.Ly>
TIỀN BIÊN
QUYỂN II


THỰC LỰC VỀ HY TÔNG HIẾU VĂN HOÀNG ĐẾ

Hy tông Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu văn hoàng đế, húy là [Phúc Nguyên], sinh năm Quý hợi [1563] (Lê - Chính Trị năm 6, Minh - Gia Tĩnh năm 42), là con thứ sáu của Thái tổ Gia dụ hoàng đế. Mẹ là Gia dụ hoàng hậu Nguyễn Thị.
 
Lúc chúa làm hoàng tử, từng đánh tướng giặc Tây Dương ở Cửa Việt, Thái tổ cho là có tài lạ, sau sai trấn thủ Quảng Nam. Bấy giờ hoàng tử cả là Hà, thứ hai là Hán, thứ ba là Thành, thứ tư là Diễn đều mất trước. Hoàng tử thứ năm là Hải thì làm con tin ở Bắc. Chúa tuổi lớn lại giỏi, ngày thường cùng các tướng bàn luận việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Thái tổ biết có thể trao phó nghiệp lớn, vẫn để ý tới. Năm Quý mùi, mùa hạ tháng 6, ngày Canh dần, Thái tổ băng. Các quan vâng di mệnh tôn làm Thống lĩnh thủy bộ chư dinh kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự thái bảo Thụy quận công. Bấy giờ chúa 51 tuổi.
 
Vua Lê sai đem sắc đến tặng Thái tổ làm Cẩn nghĩa công, và đưa phẩm vật để phúng, cho chúa trấn thủ hai xứ Thuận Hóa Quảng Nam, gia hàm Thái bảo tước quận công.
 
Chúa lên nối ngôi, sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phúc.
 
Giáp dần, năm thứ 1 [1614] (Lê — Hoằng Định năm 15, Minh - Vạn Lịch năm 42). Bắt đầu đặt tam ty : ở trong là Chính dinh thì [ba ty] là ty Xá sai, coi việc văn án từ tụng, do Đố tri và Kỷ lục giữ, ty Tướng thần lại, coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ giữ, ty Lệnh sử, coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương hướng cho quân đội Chính dinh, do Nha úy giữ. Những thuộc viên thì mỗi ty có 3 câu kê, 7 cai hợp, 10 thủ hợp, 40 ty lại. Lại đặt ty Nội lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, hai Tả, Hữu lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ. Các dinh ở ngoài, có nơi chỉ đặt một ty Lệnh sử, có nơi đặt 2 ty Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt 2 ty Xá sai và Lệnh sử để coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế ruộng sở tại, số nhân viên thì tùy theo công việc ít nhiều mà thêm bớt.
 
Mùa hạ, tháng 4, thăng hoàng tử cả là chưởng cơ Kỳ là Hữu phủ chưởng phủ sự, trấn giữ dinh Quảng Nam. Kỳ tới trấn, chăm làm việc ân huệ, yêu thương quân dân, trong cõi yên vui.
Ất mão, năm thứ 2 [1615], mùa xuân, tháng 3, ngày mồng 1, có nhật thực.
 
Bắt đầu quy chế về chức vụ của phủ huyện : Tri phủ. tri huyện giữ việc từ tụng; thuộc viên có đề lại, thông lại chuyên việc tra khám, huấn dạo, lễ sinh chuyên việc tế tự ; còn tô thuế sở tại thì đặt quan lại khác để trưng thu.
Bính thìn, năm thứ 3 [1616], mùa đông, tháng 11, Tôn Thất Hải mất tại Đống Đô. Hải làm con tin ở triều Lê, làm đến Tả đô đốc Cẩm quận công. Khi mất vua Lê tặng Thái phó. Con cháu ờ Thanh Hoa, năm Gia Long thứ 1 được cho hệ tính là Nguyễn Hựu.
 
Đinh tỵ, năm thứ 4 [1617], mùa xuân, tháng giêng. Mới đặt Nhà đồ(1), thu các hàng hóa phẩm, giao cho Nội lệnh sử ty giữ.
(Ở xứ Thuận Hóa, nguồn Phù Ẩu và núi đất ở xã Nam Phố Hạ huyện Phú Vang, là đất có vàng, hằng năm sai dân lấy để nộp. Những núi ớ Quảng Nam càng sản nhiều vàng. Các hộ đãi vàng gọi là liêm hộ, người trong hộ mỗi năm nộp 3 hay 2 đồng cân vàng sống. Lại nguồn Lỗ Đông mỗi năm nộp 70 lạng, nguồn Thu Bồn mỗi năm nộp 38 lạng 3 đổng 1 phân. Đầm An Xuân huyện Quảng Điền mỗi năm nộp 80 lạng bạc. Những nguồn ở phủ Quảng Ngãi mỗi năm nộp 180 lạng. Xã Phú Bài huyện Phú Vang, trang Phúc Điển châu Bố Chính, núi sản nhiều sắt, mỗi năm nộp 2.000 khối hoặc 500 khối, mỏi khối nặng 25 cân. Còn ngoài ra như dầu hương, sáp ong, ngà voi, chiếu mây, sơn, mật ong, trầm hương, sơn dầu, nhựa trám, nơi nào sản xuất thì nộp. Xứ Thuận Quảng duy không có mỏ đồng, mỗi khi những thuyền buôn Phúc Kiến, Quảng Đông hay Nhật Bản, chở đồng Đô đến bán thì nhà nước thu mua, cứ 100 cân thì trả giá 40 hay 50 quan tiền. Lại xã Mậu Tài, huyện Phú Vang làm dược dây thau, dây thép. Cứ 100 cân đồng đỏ pha vào 40 cân kẽm thì làm được 90 cân dây thau, cứ 25 cân sắt thì làm được 1 cân dây thép. Ty thợ mạ vàng thì cứ 10 lạng vàng dát mỏng dược 9 vạn lá vàng quỳ. Đều do các kho của nhà đồ thu trữ). [link=#_ftn1][1][/link]
 
Mậu ngọ, năm thứ 5 [1618], mùa hạ, tháng 5, đạc ruộng dân(1) hai xứ.
Bấy giờ bọn hương lý hào hữu xâm chiếm mất nhiều ruộng công để làm lợi riêng. Đến đây sai quan đo ruộng hiện có để thu thuế, dân mới hết tranh nhau. Mọi người đều yên nghiệp.
 
Mùa đông, tháng 1 1, sao chổi xuất hiện ờ phương Đông hơn một tháng mới hết.
Kỷ mùi, năm thứ 6 [1619] (Lê - Vĩnh Tộ năm 1, Minh - Vạn Lịch năm 47), mùa hạ, tháng 5, Trịnh Tùng nhà Lê giết vua Lê mà lập con là Duy Kỳ lên, đổi niên hiệu là Vĩnh Tộ, tức Thần tông. (Bấy giờ con Tùng là Xuân âm mưu giết Tùng để cướp ngôi. Việc phát giác, đem tra hỏi, lời khai liên can đến vua Lê, Tùng bèn sai con là Tráng cùng với nội giám Bùi Sĩ Lâm bắt vua Lê phải thắt cổ chết và truất bỏ Xuân làm dân thường).
 
Canh thân, năm thứ 7 [16201, (Lê - Vĩnh Tộ năm 2, Minh - Thái Xương năm 1), mùa xuân, chưởng cơ là Hiệp và Trạch (con thứ 7, thứ 8 của Thái tổ) mưu nổi loạn, gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì chia đất này cho trấn giữ. Trịnh Tráng khiến đô đốc Nguyễn Khải đem 5.000 quân đóng ở Nhật Lệ (thuộc huyện Phong Lộc) để đợi. Hiệp và Trạch sợ chưởng cơ Tôn Thất Tuyên (con thứ 4 của Hòa quận công Tôn Thất Hà) nên chưa dám hành động. Chúa cùng các tướng bàn việc chống Trịnh, Hiệp và Trạch giả tiến mưu rằng : “Tuyên trí dũng hơn người, nếu sai cầm binh, hẳn phá được giặc!” Tuyên biết mưu nói với chúa rằng : “Nếu thần dời bỏ dinh thì sợ có nội biến”. Chúa bèn sai chưởng dinh Tôn Thất Vệ (con thứ 2 Tôn Thất Hà, bấy giờ gọi là quận công) đem quân chống Khải. Hiệp và Trạch thấy mưu không xong, bèn đem quân chiếm giữ kho Ái Tử, đắp lũy Cồn Cát để làm phản. Chúa sai người đến dỗ, nhưng không chịu nghe. Chúa bèn lấy Tuyên làm tiên phong, tự đem đại binh đi đánh. Hiệp và Trạch thua chạy, Tuyên đuổi bắt được đem dâng. Chúa trông thấy, chảy nước mắt nói : “Hai em sao nỡ trái bỏ luân thường?”. Hiệp và Trạch cúi đầu chịu tội. Chúa muốn tha, nhưng các tướng đều cho là pháp luật không tha được. Bèn sai giam vào ngục. Hiệp và Trạch xấu hổ sinh bệnh chết. Nguyễn Khải nghe tin dẫn quân trở về.
 
Chúa thấy Trịnh vố cớ nổi binh, từ đấy không nộp thuế cống nữa.
 
Mùa hạ, tháng 6, ngày Ất sửu, sinh hoàng tôn.
Tân dậu, năm thứ 8 [1621] (Lê - Vĩnh Tộ năm 3, Minh - Thiên Khải năm 1), mùa hạ, tháng 4, bọn thổ mục Lục Hoàn (tức Lạc Hòn) thuộc Ai Lao [link=#_ftn2][2][/link] thả quân qua sông Hiếu sang cướp bóc dân biên thùy. Chúa sai Tôn Thất Hòa (bấy giờ gọi là quận công) đi đánh. Hòa chia quân phục ở các đường trọng yếu, khiến những lái buôn mua bán để nhử. Quả nhiên bọn người Man [Lào] đến cướp, kéo vào cửa động, phục binh nổi dậy, bắt được hết đem về. Chúa muốn lấy ân tín vỗ về người đất xa, sai cởi hết trói ra và cấp cho quần áo lương thực, răn dạy rồi thả về. Quân Man cảm phục, từ đấy không làm phản nữa.
 
Nhâm tuất, năm thứ 9 [1622], chúa cho rằng sông Hiếu xã Cam Lộ (thuộc huyện Đãng Xương) giáp giới với đất Ai Lao, các bộ lạc Man Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp, đều có đường thông đến đấy, bèn sai đạt dinh, mộ dân chia làm 6 thuyền quân để coi giữ, gọi là dinh Ai Lao.
Quý hợi, năm thứ 10 [1623], mùa hạ, tháng 6, Trịnh Tùng nhà Lê bệnh nặng, con thứ của Tùng là Xuân nổi loạn, phóng lửa đốt Đông Đô, bức dời Tùng đến quán Thanh Xuân (ở huyện Thanh Oai). Tùng chết ở dọc đường. Con trưởng là Tráng lên nối, lập vợ là Ngọc Tú làm Tây cung. Chúa nghe tin Tùng chết, bảo các tướng rằng : “Tùng không biết có vua, Xuân không biết có cha, đạo trời báo ứng, thật chẳng lầm vậy”. Rồi sai bắn 3 phát súng và kêu 3 tiếng. Văn chức là Nguyễn Hữu Dật ra khỏi ban nói rằng : “Trịnh Tùng chết, con mới lập, muốn đánh thì đánh, muốn giữ thì giữ. Nay sai nổ súng và kêu to, là sao vậy?”. Chúa cười nói rằng : “Hữu Dật tuổi trẻ cậy hăng, chưa biết rõ lẽ”. Nhân cho về, bảo cha Dật là Triều Văn dạy bảo. Triều Văn là người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, đương làm tham tướng. Hữu Dật 16 tuổi, vì có văn học được bổ làm văn chức. Chúa lại bảo các tướng rằng : “Ta muốn nhân cơ hội này nổi nghĩa binh đổ phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình rồi sau hãy liệu kế”. Các tướng đều bái phục. Bèn sai sứ sang phúng.
 
Lấy Nguyễn Phúc Kiều (vốn họ Nguyễn, cho theo quốc tính, sau đổi làm [hệ tính] Nguyền Cửu) làm cai đội, coi đội Mã cơ. Kiều từ Đông Đô đem mật thư của Ngọc Tú về dâng. Chúa rất mừng, đặc trao cho chức ấy, rồi gả công chúa Ngọc Đính cho.
Giáp tý, năm thứ 11 [1624] Trịnh Tráng nhà Lê sai Công bộ thượng thư Nguyễn Duy Thì và nội giám Phạm Văn Tri đến đòi thuế đất. Chúa triệu hai người ấy bảo rằng : “Hai xứ Thuận Quảng liền mấy năm không được mùa, dân gian túng đói, vì thế không nỡ thu thuế. Khi khác được mùa sẽ chở nộp cũng chưa muộn”. Sứ Trịnh không nói sao được, bèn từ biệt về.
 
Ất sửu, năm thứ 12 [1625], mùa đông, Đào Duy Từ đến theo. Duy Từ người xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoa, thông suốt kinh sử, rất giỏi thiên văn thuật số. Năm ấy có khoa thi hương ở Thanh Hoa, Hiến ty cho Duy Từ là con phường chèo, tước bỏ không cho vào thi. Duy Từ buồn bực quay về. Nghe tiếng chúa yêu dân quý học trò, hào kiệt đều quy phục, quyết chí đi theo, bèn một mình vào Nam. Ở huyện Vũ Xương hơn một tháng, không ai biết cả. Nghe tin khám lý Hoài Nhân Trần Đức Hòa là người có mưu trí, được chúa tin dùng, bèn vào Hoài Nhân, thác làm người ở chăn trâu cho phú ông ở xã Tùng Châu. Phú ông thấy người biết rộng nghe nhiều, nói với Đức Hòa. Đức Hòa nói chuyện với, thấy không điều gì là không thông suốt, rất quý trọng, đem con gái gả cho. Duy Từ từng ngâm bài Ngọa Long cương để ví mình [với Khổng Minh]. Đức Hòa thấy thế nói rằng : “Đào Duy Từ là Ngọa Long đời nay chăng”.
 
Bính dần, năm thứ 14 [11626], mùa xuân, tháng 3, dời dinh đến xã Phúc Yên (thuộc huyện Quảng Điền), gọi nơi chúa ngự là phủ.
Gia cho Chưởng cơ Tôn Thất Khê (con thứ 10 của Thái tổ) làm Tổng trấn Tường quận công. Bấy giờ chúa tuổi đã cao, việc quân quốc phần nhiều sai Khê quyết định, duy có án nặng tử tù, sau khi phúc xét, thì đợi chúa quyết định.
Mùa hạ, tháng 6, triệu Nguyễn Hữu Dật lại cho vào làm văn chức. Hữu Dật từ khi bị khiển trách, về nhà cố gắng sửa mình, đến đây được vào tham dự việc cơ mật, thông suốt chính thể, chúa càng yêu trọng.
 
Mùa thu, tháng 8, Trịnh Tráng sai Thái bảo Nguyễn Khải và Thiếu bảo Nguyễn Danh Thế đem 5.000 quân đóng đồn ở xã Hà Trung (thuộc huyện Kỳ Anh) làm kế xâm lấn miền Nam.
Mùa đông, tháng 10, Trịnh Tráng sai Binh khoa cấp sự trung Nguyễn Hữu Bản vâng sắc dụ vua Lê đến đòi số thuế từ năm Giáp tý về sau và mời chúa đến Đông Đô. Chúa cười bảo sứ giả rằng : “Việc này là do ý riêng của họ Trịnh, chứ hoàng đế nhà Lê nhân từ, há lại quên dòng dõi công thần sao? Vả lại quân dân của cải hai xứ này so sánh với bốn trấn có là bao nhiêu, mà tham cầu như thế ! Nếu nghĩ đến công tổ tiên ta, nên cắt cả Nghệ An cho ta nữa, huống chi là đất Thuận Quảng?”. Các tướng phần nhiều xin đánh. Nhưng chúa nói rằng : “Họ Trịnh đã quên ơn gây oán, mà ta lại lấy thân thích làm thù, e chẳng bõ để cười cho thiên hạ.” Chúa quay bảo sứ giả rằng : “Các ông vì tôi nói với Trịnh Vương đừng để ý những điều hiềm nhỏ”. Rồi hậu đãi sứ giả mà bảo về.
 
Đinh mão, năm thứ 14 [1627], mùa xuân, tháng giêng, Trịnh Tráng muốn cử quân xâm lấn miền Nam, nhưng sợ không có cớ, bèn sai Lê Đại Nhậm phụng sắc vua Lê sang dụ cho con vào chầu và đòi nộp 30 thớt voi đực, 30 chiếc thuyền đi biển để dùng vào lệ cống triều Minh. Chúa cười nói rằng : “Lệ ta sang cống triều Minh chỉ có vàng và kỳ nam thôi. Nay họ Trịnh đòi thêm ngoại ngạch, ta không dám theo mệnh. Còn con ta thì đương sắm quân khí để sửa việc biên phòng, xin vài năm nữa ra chầu cũng chưa muộn.” Sứ giả tỏ ý của vợ chúa Trịnh muốn xin các con của Hiệp và Trạch. Chúa không cho. Họ Trịnh bèn phát quân.
 
Tháng 3, Trịnh Tráng dẫn vua Lê đi, mượn tiếng xem xét địa phương, cho quân thủy bộ đều tiến. Tướng Trịnh là Nguyễn Khải bày dinh ở bắc sông Nhật Lệ.
Chúa sai Tôn Thất Vệ làm tiết chế, văn chức Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến, lĩnh quân bộ ra chống cự. Lại sai hoàng tử thứ tư là Trung chỉ huy quân thủy để tiếp ứng. Quân hai bên đối lũy nhau. Tiên phong của Trịnh là Lê Khuê đem kỵ quân ra cướp trận. Quân ta bắn đại bác, quân Trịnh sợ lui. Đêm ấy quân thủy ta lại thừa cơ nước triều lên bắn vào dinh Nguyễn Khải, quân Trịnh sợ, rối loạn. Trịnh Tráng tiến đến, thế binh rất mạnh. Quân ta đánh không lợi. Quân Trịnh thừa thắng tranh cướp của cải. Quân ta đem tượng binh thúc đánh chặn ngang, làm cho quân Trịnh tan vỡ, chết rất nhiều. Hữu Dật lại bàn mưu với Trương Phước Da (bấy giờ gọi là Lương quận công) sai gián điệp phao đồn rằng anh em Trịnh Gia, Trịnh Nhạc mưu nổi loạn. Tráng nghe tin lấy làm ngờ, bèn rút quân về.
Trần Đức Hòa nghe tin thắng trận, từ Hoài Nhân đến mừng.
Chúa hỏi tình hình trăm họ ở Quảng Nam sướng khổ thế nào. Hòa thưa rằng: “Chúa thượng rộng ra ân huệ, hiệu lệnh nghiêm minh, trăm họ ai chẳng an cư lạc nghiệp”. Chúa vui mừng. Đức Hòa ung dung lấy bài Ngọa Long cương ngâm từ trong tay áo ra tiến, nói rằng : “Bài này do thày dạy học ở nhà tôi là Đào Duy Từ làm”. Chúa xem thấy lạ, giục sai đi vời đến gặp. Sau mấy ngày thì Đức Hòa cùng Duy Từ đến ra mắt. Lúc ấy chúa mặc áo trắng đứng ở cửa nách chờ. Duy Từ nhìn thấy, đứng lại không đi. Chúa tức thì áo mũ chỉnh tề, ra vời vào. Duy Từ rảo bước vào lạy. Cùng nói chuyện. Chúa rất vui lòng nói : “Khanh sao đến muộn thế ?” Tức thì trao cho chức Nha úy nội tán, tước Lộc khê hầu, trông coi việc quân cơ trong ngoài và tham lý quốc chính. Chúa từng vời vào trong bàn bạc. Duy Từ bày tỏ hết những điều uẩn súc trong lòng, điều gì biết đều nói cả. Chúa cho Đức Hòa là biết người, bèn trọng thưởng cho.
 
Mậu thìn, năm thứ 15 [1628] (Lê - Vĩnh Tộ năm 10, Minh - Sùng Trinh năm 1), mùa thu, tháng 9, chính phi họ Trịnh là Ngọc Tú làm chùa Long Ân (năm Minh Mạng thứ 2 đổi làm chùa Sùng Ân; năm Thiệu Trị thứ 1 đổi làm chùa Hoằng Ân) ở phường Quảng Bá (thuộc phú Hoài Đức), thuật lại công đức của Triệu Tổ và Thái Tổ ta, dựng bia để ghi.
Mộ thêm những người khỏe mạnh sung làm thân binh. Bấy giờ cầm quân từ chức chưởng dinh, chưởng cơ cho đến cai đội thì chuyên dùng người tôn thất và người Thanh Hoa, mà con cháu những người ấy lớn tuổi thì sung làm cai đội tòng quân ở các dinh. Đến đây chúa cho mộ thêm người có sức mạnh và am hiểu võ nghệ ở hai xứ Thuận Quảng bổ làm thân binh ở các cơ đội, người có công cũng được lục dụng.
 
Kỷ tỵ, năm thứ 16 [1629] (Lê - Đức Long năm 1, Minh - Sùng Trinh năm 2), mùa hạ, tháng 4, vua Lê đổi niên hiệu là Đức Long.
 
Mùa đông, tháng 10, Trịnh Tráng lại bàn đem đại binh xâm lược miền Nam. Bầy tôi là Nguyễn Danh Thế nói rằng : “Nay phương Nam vua tôi hòa thuận, nước giầu binh mạnh, mà ta thì hằng năm đói kém, quân nhu không đủ. Không bằng sai sứ vào tiến phong cho tước quốc công, ủy cho trấn thủ hai xứ, lại khiến đem quân ra đánh Cao Bằng. Nếu vâng mệnh mà đến thì ta lấy rất dễ. Nếu không nghe mệnh thì ta đem quân đánh là có danh nghĩa”. Tráng theo lời, sai Lại bộ thượng thư Nguyễn Khắc Minh đem sắc tiến phong chúa làm Tiết chế Thuận Hóa Quảng Nam nhị xứ thủy bộ chư dinh kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự Thái phó quốc công, và giục đến Đông Đô để đi đánh Cao Bằng. Sứ giả đến. Chúa triệu quần thần họp bàn. Có người nói: sắc mệnh của vua Lê không thể không nhận. Có người nói: Nhà nước ta có riêng bờ cõi, đời đời truyền nối, há còn đợi ai phong nữa. Đào Duy Từ thưa rằng: “Đây là họ Trịnh mượn sắc mệnh vua Lê để nhử ta, nếu ta nhận sắc mệnh mà không đến thì họ có cớ nói được, nếu ta không nhận sắc mệnh thì họ tất động binh. Việc hiềm khích ngoài biên đã gây thì không phải là phúc cho sinh dân. Huống chi thành quách ta chưa bền vững, quân sĩ chưa luyện tập, địch đến thì lấy gì mà chống ? Chi bằng hãy tạm nhận cho họ không ngờ để ta chuyên việc phòng thủ, rồi sau dùng kế trả lại sắc, bấy giờ họ không làm gì được ta nữa”.
Chúa khen phải, rồi hậu đãi sứ Trịnh và bảo về.
Văn Phong ở Phú Yên dùng quân Chiêm Thành để làm phản.
Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên, cho theo quốc tính, sau đổi làm [hệ tính] Nguyễn Hữu) đi đánh dẹp yên và lập dinh Trấn Biên. (Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên). Vì có công ấy, đặc biệt cho dùng ấn son.
Canh ngọ, năm thứ 17 11630], mùa xuân, tháng 3, đắp lũy Trường Dục (thuộc huyện Phong Lộc, Quảng Binh). Đầu là Đào Duy Từ từng khuyên chúa đừng nộp thuế cho họ Trịnh. Chúa nói: “Tiên vương tài trí hơn đời cũng còn phải đi lại thông hiếu. Ta nay nhỏ mọn không bằng tiên vương, đất đai binh giáp lại không bằng một phần mười của Đông Đô, nếu không nộp thuế cống thì lấy gì mà giữ đất đai để nối nghiệp trước?”. Duy Từ thưa rằng: “Thần nghe nói dẫu có trí tuệ, không bằng nhân thời thế. Cứ uy vũ anh hùng, mưu kế sáng suốt của tiên vương, không phải là không giữ được đất đai. Song thời bấy giờ những thuộc tướng ở ba ty đều tự họ Trịnh cất đặt. (Thời Thế tông nhà Lê, Mai Cầu làm tổng binh Thuận Hóa, thời Kính tông nhà Lê, Vũ Chân làm Hiến sát Thuận Hóa), phàm cử động việc gì cũng bị bọn họ kiềm chế, nên tiên vương phải nhẫn nại như thế. Nay chúa thượng chuyên chế một phương, quan liêu đều tự quyền cất đặt, một lời nói ra ai còn dám trái. Thần xin hiến một kế, theo kế ấy thì không phải nộp thuế, mà giữ được đất đai và có thể dựng nên nghiệp lớn”. Chúa hỏi kế gì. Duy Từ thưa rằng : “Muốn mưu đồ sự nghiệp vương bá, cần phải có kế vạn toàn. Người xưa nói : Không một lần khó nhọc, thì không được nghỉ lâu dài, không phí tổn tạm thời thì không được yên ổn mãi mãi. Thần xin hiến bản vẽ, đem quân dân hai trấn đắp một cái lũy dài, trên từ chân núi Trường Dục, dưới đến bãi cát Hạc Hải, nhân thế đất mà đặt chỗ hiểm để vững biên phòng. Quân địch có đến cũng không làm gì được”. Chúa theo kế ấy, bèn huy động đông quân dân dắp lũy Trường Dục, hơn một tháng thì xong.
Chúa lại hỏi Duy Từ về kế trả lại sắc. Duy Từ thưa rằng: “Nên đúc một cái mâm đồng hai đáy, giấu sắc vào trong, ngoài sắm đủ vàng bạc lễ vật, lấy tướng thần lại là Văn Khuông (không rõ họ) làm sứ đi tạ ơn. Thần xin nghĩ hơn mười câu vấn đáp để trao cho mang đi, tùy cơ ứng đối. Đem [mâm ấy] tiến cho chúa Trịnh, rồi thừa cơ mà ra về. Làm thế thì họ Trịnh mắc kế ta vậy.
Chúa theo lời, sai Văn Khuông vâng mệnh đi Đông Đô. Văn Khuông đến. Trịnh Tráng vời vào yết kiến, hỏi : “Trước đây, việc đòi nộp lễ cống nhà Minh, Nam chúa lâu không nộp là tại sao?”. Văn Khuông nói : “Voi và thuyền, không phải là lệ cống nhà Minh, sợ người truyền lệnh nói không đúng cho nên không dám vâng mệnh”. Hỏi: “Sao không cho con đến làm con tin?” Trả lời : “Nam Bắc nghĩa như một nhà, đã thành tín với nhau thì dùng con tin làm gì?”. Hỏi : “Hoàng đế vời Nam chúa đi đánh Cao Bằng, cớ sao không đến?”. Trả lời : “Giặc Cao Bằng là giặc khốn cùng, sức quân Trung Đô cũng thừa đánh. Chúa tôi vâng mệnh giữ hai xứ Thuận Quảng, phía Nam thì chống Chiêm Thành, phía bắc thì phòng giặc Mạc, chỉ sợ không giữ yên bờ cỏi cho nên không dám đi xa”. Hỏi : “Đắp lũy Trường Dục ý muốn chống mệnh vua hay sao?” Trả lời : “Chịu mệnh giữ đất, cần phải phòng bị bờ cõi cho bền, sao gọi là chống mệnh được?” Hỏi: “Tướng tá ở phương Nam thế nào?” Trả lời: “Tài kiêm văn võ như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật thì chẳng kém vài chục người”. Hỏi: “Người ta nói Nam chúa là bậc anh hùng hào kiệt, sao không nghĩ đến đánh giặc lập công ?” Trả lời: “Chúa tôi không mê tửu sắc, không thích đàn hát, chỉ muốn đem ân huệ vỗ về dân chúng, uy tín cảm phục người xa. Ở phương Đông thì Mã Cao Lạc Già(l) (đều là thuộc quốc của Tây Phương), ở phương Tây thì Vạn Tượng Ai Lao, không đâu là sợ phục. Nếu có những bọn Vương Mãng, Tào Tháo tiếm lạm danh nghĩa, giết hại sinh dân thì [chúa tôi] vì nghĩa mà đi đánh, xây dựng công nghiệp, không việc gì lớn hơn thế nữa”. Tráng lặng yên. Quay bảo bầy tôi rằng : “Sứ Nam ứng đối như nước chảy, người Bắc không thể kịp được”. Rồi tiếp đãi rất hậu.
Văn Khuông bưng mâm đồng đầy vàng bạc dâng. Tráng nhận. Văn Khuông ngay hôm ấy lẻn ra cửu đô thành, đi đường biển vượt trở về. Người Trịnh thấy cái mâm đồng hai đáy lấy làm lạ, tách ra xem thì ở trong thấy một đạo sắc và một tờ thiếp viết : “Mâu nhi vô dịch, mịch phi kiến tích. Ái lạc tâm trường, lực lai tương địch” đem trình Tráng. Tráng hỏi bầy tôi, đều không ai hiểu được. Thiếu úy Phùng Khắc Khoan nói rằng : “Đó là ẩn ngữ [dư bất thụ sắc] ta chẳng nhận sắc”[link=#_ftn3][3][/link] [link=#_ftn4][4][/link]
 
Tráng giận lắm, sai người đuổi bắt Văn Khuông, nhưng không kịp. tức thì muốn kéo quân vào đánh miền Nam, nhưng khi ấy ở Cao Bằng và Hải Dương đều có tin báo cấp nên thôi.
Văn Khuông về, chúa mừng, nói rằng: “Duy Từ thật là Tử Phòng[link=#_ftn5][5][/link] và Khổng Minh[link=#_ftn6][6][/link] ngày nay”. Rồi trọng thưởng. Thăng Văn Khuông làm Cai hợp.
 
Mùa thu, tháng 9, bắt đầu lấy châu Nam Bố Chính (tức là huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay). Bấy giờ tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Kham (bấy giờ gọi là quận công) giữ châu Bắc Bố Chính. Đào Duy Từ khuyên chúa nên đánh lấy đất của Tịch trước, giữ sông Gianh cho vững cõi Nam. Chúa theo lời, bèn sai Nguyễn Đình Hùng (cháu Nguyễn Ư Dĩ, bấy giờ gọi là quận công) đem quân tập kích. Hai bên chống nhau. Đình Hùng ra sức đánh hăng, chém Tịch ở trận, rồi chiếm giữ đất, lập làm dinh Bố Chính (bấy giờ gọi là dinh Ngói), biên dân làm binh, đặt 24 đội thuyền, mà lấy Trương Phước Phấn (có tên nữa là Côn, con Trương Phước Da, bấy giờ gọi là Phấn quận công) để trấn giữ.
 
Mùa đông, tháng 11, ngày Giáp thân, nguyên phi [vợ cả chúa] là Nguyễn Thị Băng (con gái cả Mạc Kính Điển, trước kia Kính Điển bại vong, theo chú là Cảnh Huống ẩn ở chùa Lam Sơn, được tiến vào hầu tiềm để[link=#_ftn7][7][/link], được cho là họ Nguyễn), thọ 53 tuổi, tặng hiệu là Doanh Cơ, thụy là Nhã Tiết, an táng ở xã Chiêm Sơn (thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, tức là lăng Vĩnh Diễn).
 
Tân mùi, năm thứ 18 [1631], mùa hạ, tháng 6, hoàng tử cả là Hữu phủ chướng phủ sự Kỳ mất. Kỳ ở Quảng Nam, ân uy đều nổi tiếng. Khi mất dân sĩ đều thương tiếc, được gia tặng Thiếu báo Khánh quận công và được táng theo lễ tước công.
Chúa sai hoàng tử thứ ba là Anh trấn thủ Quảng Nam, hoàng tử thứ tám là Tứ làm tham tướng. Chúa lo Anh là người kiêu ngạo, phóng túng, muốn chọn một người văn thần để trông coi. Văn chức Phạm (không rõ họ) xin đi, tức thì trao chức ký lục. Bấy giờ hoàng tử thứ hai là Nhân Lộc hầu (tức Thần tông Hiếu chiêu hoàng đế) vốn cùng Phạm bái biệt nói rằng : “Phạm ở đây thì minh công cứ gối cao mà nằm yên". Từ đó Anh có làm gì hay không, Nhân Lộc hầu hết đều biết cả.
 
Mùa thu, tháng 8, lũy Nhật Lệ (tức là trường thành Quảng Bình ngày nay) đắp xong. Đầu là chúa sai Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật đi Quảng Bình xem xét hình thế sông núi. Bọn Duy Từ đến Quảng Bình xét biết hết những hình trạng cao thấp rộng hẹp. Khi về Duy Từ nói với chúa rằng : “Thần xem từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, phía ngoài có nước khe, bùn lầy sâu đọng, nhân đó dùng làm hào rãnh; trong thì đắp lũy Trường Dục”. Chúa ngại khó. Duy Từ nhân cáo ốm, thác ý vào những bài ngâm vịnh để ví, lời rất khích thiết. Chúa liền làm cho Duy Từ cùng với Hữu Dật trông coi công việc. Duy Từ đến, tính công họp dân để khởi công đắp không lũy dài. Lũy cao 1 trượng 5 thước, ngoài đóng gỗ lim, trong đắp đất, làm năm bực, voi ngựa đi được, dựa núi men khe, dài hơn 3.000 trượng, mỗi trượng đặt một khẩu súng quá sơn, cách 3 hoặc 5 trượng lập một pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn. Thuốc đạn chứa như núi. Mấy tháng đắp xong lũy, thành một nơi ngăn chận chia hẳn hai miền Nam Bắc. Lại đặt xích sắt chắn ngang các cửa biển Nhật Lệ và Minh Linh(1).
 
Chúa cùng Đào Duy Từ ngày đêm mưu tính chống họ Trịnh. Duy Từ mong được người anh tài tiến dẫn giúp chúa. Một hôm Duy Từ nằm mộng thấy một con hùm đen từ phương Nam vào, liền thúc quân vây bắt, bỗng hùm mọc đôi cánh, nhảy lên không bay múa. Tỉnh dậy, Duy Từ ăn mặc chỉnh tề, ngồi chờ. Chợt có người ở xã Vân Trai huyện Ngọc Sơn xứ Thanh Hoa là Nguyễn Hữu Tiến (biểu danh là Thuận Nghĩa) từ ngoài đến, mặc áo đen, cầm quạt lông, bái yết dưới thềm. Duy Từ thấy dáng vẻ không phải người thường, hỏi thì xưng họ tên. Hỏi tuổi thì nói sinh năm Nhâm dần. Duy Từ nghe mừng thầm, cho là ám hợp với mộng, bèn giữ lại cùng bàn bạc. Hữu Tiến thông minh, khỏe mạnh, mưu lược, Duy Từ quý trọng lắm, đem con gái gả cho, rồi tiến lên, chúa cho làm đội trưởng, coi thuyền Địch cần quân Nội thủy. Hữu Tiến thường ban đêm diễn tập quân lính. Trong quân có kẻ trái luật, lập tức chém người Kỳ trưởng (2) để thế mệnh, cả quân đều sợ. Duy Từ nghe thấy kinh ngạc, vội vào hầu. Bấy giờ chúa đương ngồi xem Chiến quốc sách. Nhân cùng bàn đến binh pháp xưa nay, Duy Từ ung dung nói đến chuyện Tôn Võ tử dậy chiến sự ở cung vua Ngô mà chém vợ yêu của vua. Chúa rất khen vua Ngô là người quyết đoán, Tôn Võ tử là người nghiêm, cho nên mới dựng nên nghiệp bá. Duy Từ nhân đấy đem việc Hữu Tiến chém người Kỳ trưởng để xin tội. Chúa nói rằng: “Binh không đều thì giết có tội gì ?”. Rồi dần thăng Hữu Tiến làm cai đội. Từ đó sĩ tốt ai cũng sợ phục.
Đặt ty Nội pháo tượn(3)  và hai đội Tả Hữu pháo tượng. Lấy dân hai xã Phan Xá, Hoàng Giang (thuộc huyện Phong Lộc) lành nghề đúc súng sung bổ vào (ty Nội pháo tượng 1 thủ hợp, 1 ty quan, 38 người thợ; hai đội Tả Hữu pháo tượng thì 12 ty quan, 48 người thợ. Việc đúc đại bác, mỗi khẩu dùng 12 khối sắt, 10 cân gang, tiền than 3 quan 5 tiền. Đúc súng tay thì cứ 10 cây dùng 30 khối sắt, 30 cân gang, 10 quan tiền than).
 
Nhâm thân, năm thứ 19 [1632], mùa hạ, tháng 6, có lệnh mua hết các sản vật hồ tiêu, kỳ nam, yến sào, cho triệu Đào Duy Từ vào định giá. Duy Từ có ý muốn can, mặc áo người buôn tiến vào, chúa hiểu ý, bèn bãi lệnh mua.
1.  Nhặt Lệ là cửa Đồns Hới, Minh Linh là cửa Tùng
2.  Người cầm cờ trong đội
3.  Nội pháo tượng : thợ đúc súng ở trong nội
 
Bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển [duyệt dân tuyển lính], theo lời Đào Duy Từ xin. Phép ấy lược theo quy lệ đời Hổng Đức triều Lê : 6 năm một lần tuyển lớn, 3 năm một lần tuyển nhỏ. Đến kỳ tuyển thì tháng giêng sai quan khiến các tổng xã làm sổ hộ tịch, chia làm chính hộ và khách hộ, mỗi loại chia các hạng tráng, quân, dân, lão, tật, cố, cùng, đào[link=#_ftn8][8][/link], cứ đến tháng 6 thì duyệt tuyển. Ba huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang đặt một trường, ba huyện Vũ Xương, Hải Lăng, Minh Linh đặt một trường, hai huyện Khang Lộc, Lệ Thủy và châu Nam Bố Chính đều mỗi nơi một trường, năm phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Hoài Nhân, Phú Yên, mỗi phủ một trường. Trong một tháng tuyển xong, chiếu từng hạng định lệ thu thuế theo ngạch bực khác nhau.
 
(Phép thuế thì có tiền sai dư[link=#_ftn9][9][/link] [link=#_ftn10][10][/link] : ở Thuận Hóa, về chính hộ người tráng hạng nộp 2 quan, quân hạng 1 quan 5 tiền, dân hạng 8 tiền, lão hạng 1 quan, tật hạng, cố hạng dẻu 5 tiền, cùng hạng 3 tiền, dào hạng 2 tiền, về khách hộ thì tráng hạng 1 quan, quân hạng 7 tiền, dân hạng, lão hạng đều 5 tiền, các hạng cố, cùng, đào, tật đều được miễn, ơ Quảng Nam, chính hộ thì tráng hạng 2 quan, quân hạng 1 quan 7 tiền, dàn hạng 8 tiền, lão hạng 9 tiền; cố hạng lại chia làm 3 hạng : hạng nhất 1 quan 5 tiền, hạng nhì 1 quan, hạng ba 7 tiền; tật hạng 6 tiền, cùng hạng 3 tiền, đào hạng 2 tiền, về khách hộ thì tráng hạng 1 quan 2 tiền, quân hạng 1 quan, dân hạng, lão hạng đều 6 tiền, tật hạng 4 tiền, các hạng cùng, đào được miền. Lại có tiền thường tân [cơm mới], tiền tiết liệu [lễ tết], tiền thay cước mễ [gạo cước], tùy hạng mà thu, nhiều ít không giống nhau, duy hai hạng cùng, đào ở trong chính hộ và các hạng trong khách hộ thì đều được miễn. Tóm lại thuế chính hộ thì nặng, thuế khách hộ thì nhẹ. Đó là đại lược vậy).
Số binh đinh có khuyết thì chiếu trong quân hạng mà tuyển bổ. Mỗi khi đến kỳ tuyển lớn thì có lệnh cho học trò các huyện đều đến trấn dinh để khảo thí một ngày. Phép thi dùng một bài thơ, một đạo vãn sách, hạn trong một ngày làm xong, lấy tri phủ tri huyện làm sơ khảo, kỷ lục làm phúc khảo. Người thi trúng thì cho làm nhiêu học, miễn thuế sai dư năm năm. Kỳ ấy gọi là “thi quận vào mùa xuân”. Lại thi viết chữ Hoa văn [Hoa văn tự thể][link=#_ftn11][11][/link], người nào trúng thì được bổ làm việc ở ba ty Xá sai, Lệnh sử, Tướng thần lại. Ba ty có khuyết thì người quyên tiền nộp thóc cũng được sung bổ.
Lấy Tôn Thất Tuấn (con Tôn Thất Diễn) làm trấn thủ dinh Quảng Bình.
 
Mùa đông, tháng 10, Tống Phước Thông (bấy giờ làm cai cơ) trốn về với họ Trịnh. Đầu là con gái Phước Thông là Tống thị lấy hoàng tử cả là Kỳ, sinh được 3 con trai, Phước Thông mừng cho rằng sau này hẳn được vinh hiển. Kịp khi Kỳ mất, Phước Thông đại thất vọng, bèn dẫn gia quyến lẻn ra cửa Eo( 1) (nay là cửa biển Thuận An) trốn đi, duy có Tông thị ở lại.
 
Quý dậu, năm thứ 20 [1633], mùa xuân, tháng 3, Trịnh Tráng sai Trịnh Tạc là trấn thủ Nghệ An đem thủy quân đóng đồn ở cửa biển Kỳ La (thuộc huyện Kỳ Anh), Trịnh Lệ đem bộ binh đóng đồn ở châu Bắc Bố Chính.
Mùa thu, tháng 8, triệu trấn thủ Quảng Bình là Tôn Thất Tuấn về, cho Nguyễn Phúc Kiều thay. Tuấn  ở Quảng Bình, hiệu lệnh nghiêm minh, quan dân yên ổn. Bấy giờ Anh ở Quảng Nam ngầm có chí khác, muốn ra trấn Quảng Bình để tiện được thông với họ Trịnh, bèn mật sai người ra bàn mưu với văn chức Quảng Bình là Lý Minh (không rõ họ). Lý Minh tập hợp những bọn bất mãn ở trong hạt mình cai quản, kiện vu cho Tuấn là lấn xét hà khắc trăm họ, xin đổi Tuấn đi nơi khác để Anh ra thay. Chúa lúc đầu tin lời, bãi Tuấn mà vời Anh. Nhưng Anh đi săn xa hơn một tuần không về. Chúa giận lắm, bèn cho Kiều thay, Kiều đến trấn, yêu thương quân dân, người đều tin phục. Do đấy Anh thất vọng, lại sai người hỏi kế Lý Minh. Lý Minh mật thư báo rằng : “Nguyễn Phúc Kiều mới lại, dân đương ái mộ, huống chi lại là họ ngoại Icon rể] của chúa, thế khó lung lay. Nhưng là người nhút nhát nếu được quân Bắc đến bức thì hắn hẳn chạy trước, khi ấy mà mưu thì việc gì cũng được”. Anh mừng, tức thì viết thư sai người đem đi xin quy thuận với họ Trịnh.
 
Mùa đông, tháng 12, Trịnh Tráng dẫn vua Lê đi, tự thống lĩnh đại quân thủy bộ thẳng tới cửa biển Nhật Lệ.
Chúa sai đại tướng Nguyễn Mỹ Thắng và đốc chiến Nguyễn Hữu Dật đem quân chống cự. Trấn thủ Nguyễn Phúc Kiều xin đóng cọc gỗ để chặn của biển. Nguyễn Hữu Dật xin đắp lũy Trường Sa dể bảo vệ lũy chính. Chúa đều theo cả. Quân Trịnh bắn súng làm hiệu. Không thấy Anh đến tiếp ứng. Tráng ngờ, lui quân xa lũy để chờ. Hơn một tuần, quân Trịnh chán nản, quân ta xổng ra đánh mạnh. Quân Trịnh vỡ chạy, chết quá nửa. Tráng bèn lấy Nguyễn Khắc Liệt (con Nguyễn Khắc Kham) cho giữ châu Bắc Bố chính rồi rút quân về.
 
Giáp tuất, năm thứ 21 [1634], mùa đông, tháng 10, nội tán Đào Duy Từ bệnh nặng, chúa thân tới thăm. Duy Từ khóc và nói rằng : “Thần gặp được 1
thánh minh, chưa báo đền được chút đỉnh, nay bệnh ốm đến thế này, còn nói gì nữa”, rồi chết, năm ấy 63 tuổi. Chúa thương tiếc không nguôi, tặng là Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, đưa về táng ờ Tùng Châu. (Cha là Đào Tá Hán, mẹ là Nguyễn thị, sau đều được phong tặng). Duy Từ có tài lược văn võ, phàm đã mưu tính trù hoạch gì, hễ làm thì trúng thời cơ, giúp việc nước có 8 năm mà công nghiệp rỡ ràng, đứng hàng đầu công thần khai quốc. (Năm Gia Long thứ 5, cho tòng tự tại Thái miếu; năm Minh Mệnh thứ 12, được phong tước Hoàng quốc công. Tập sách Hổ trướng khu cơ do ông làm còn lưu truyền ở đời).
Tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Liệt mật khiến người tâm phúc đến đưa tin hẹn phản họ Trịnh để theo về. Chúa nhận lời, hẹn Khắc Liệt đến họp. Khắc Liệt thân đến kết ước. Trở về rồi, bèn đắp thêm đồn Phật Cương, và chia quân đóng giữ Hoành Sơn. Trịnh Tráng nghe biết lo rằng đánh ngay thì sinh biến, nên hãy để yên. Khắc Liệt tự lấy làm đắc chí, ngày càng thêm kiêu ngạo càn rỡ. Vì thế chúa không tin nữa.
 
Ất hợi, năm thứ 22 [1635] (Lê - Dương Hòa năm 1, Minh - Sùng Trinh năm 8), mùa đông, tháng 10, vua Lê đổi niên hiệu là Dương Hòa.
Tôn Thất Hắc mất ớ Đông Đô, vua Lê tặng chức Thái tể.
 
Ngày Đinh hợi, chúa không khỏe, triệu thế tử Nhân Lộc hầu và Tôn Thất Khê vào chầu, bảo Khê rằng: “Ta vâng nối nghiệp trước, chí ta cốt trên giúp nhà vua, dưới cứu sinh dân. Nay Thế tử chưa lịch duyệt, mọi việc lớn quân quốc ta úy hết cho hiền đệ quyết định”. Khê cúi đầu khóc nói: “Thần dám đâu không đem hết sức ngựa hèn để lo báo đáp”. Chúa lại nói: “Khắc Liệt là tiểu nhân phản bội, trước kia ta cùng nó ước hẹn, cũng là kế chiêu nạp tạm thời. Các ngươi chớ nên quá tin nó mà lo về sau”. Thế tử và Khê lạy khóc vâng mệnh. Hôm ấy chúa băng, ở ngôi 22 năm, thọ 73 tuổi.
Thế tử nối ngôi, đem quần thần dâng thụy hiệu là Đại đô thống trấn nam phương tổng quốc chính Dực Thiện Tuy Du Thụy Dương vương. Trước táng ở núi Quảng Điền, sau cải táng ở núi Hải Cát (tên phường thuộc huyện Hương Trà). Thế tông Hiếu vũ hoàng đế truy tôn là Tuyên tổ Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu văn vương [và truy tôn] phi là Huy Cung Từ Thuận phi. Năm Gia Long thứ 5 truy tôn làm Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu văn hoàng đế, miếu hiệu là Hy tông, lăng gọi là Trường Diễn, [truy tôn] phi làm Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu văn hoàng hậu, lăng gọi là Vĩnh Diễn.

 
Chú thích:

 1 -Nhà đồ : Nhà chứa cất đồ đạc, phẩm vật, chữ Hán là Đồ gia.
  2- Ruộng dân : Ruộng công của xã dân, khác với quan điền, tức ruộng quan là ruộng công cúa nhà nước.
3 - Tức Ma Cao và Malacca
4 -Chữ mâu không phải nách, là chữ dư (ta)
Chữ mịch không có chữ kiến, là chữ bất (chẳng)
Chữ ái rơi mất chữ tâm thành chữ thụ (chịu)
Chữ lực chữ lai ghép lại, thành chữ sắc (sắc)
Góp lại thành câu “ta chẳng nhận sắc”
5 - Tử Phòng là Trương Lương, mưu thần của Hán Cao tổ.
6 - Khổng Minh là Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị thời Tam quốc
7 - Chỗ vua chúa ớ khi chưa lên ngôi.
8 - Chữ Hán là  đọc là Noãn hải khẩu hay cửa Noãn, nhưng xét cửa biển này
tục gọi là cửa Eo, mà Phú hiên tạp lục có chỗ chép là Yêu môn , nên chúng tòi đoán rằng chữ  có lẽ là do chữ (đọc là co), in lầm thành.
9 - Tật: người tàn tật: cố : người làm thuê; cùng : người nghèo khốn; đào : người bỏ trốn.
10 - Tiền sai dư : Đã chú thích ờ trên.
11 - Hoa văn : chữ Trims Hoa, tức chữ Hán






Đăng nhập để trả lời
0
Đánh máy: Nguyen đ Thanh
 
TẬP 2
Tái bản lần thứ nhất
 
                                   Phiên dịch:              Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân,
                                                           Phạm Huy Diu, Nguyễn Danh Chiên,
                                                           Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh,
                                                           Đỗ Mộng Khương.
                                   Hiệu đính:    Đào Duy Anh
 
 
 
 
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ
 
      Tự Đức năm thứ 14 (1861) tháng 5, ngày 25, nhà vua dụ rằng: «Nay cứ bọn Tổng tài Quốc sử quán là Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Lễ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Hộ bộ ẩn triện, Phan Thanh Giản, Phó tổng tài là hình Bộ thượng thư sung Kinh diên nhật giảng quan, chuyên quản khâm thiên giám sự vụ, Trương Quốc Dụng, Toản tu là Lễ bộ Hữu tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ẩn triện, Phạm Hữu Nghi và Hồng lô Tự khanh Lê Lượng Bạt, tâu nói đã soạn xong sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên, xin đem khắc in, xem tờ tâu Trẫm rất yên lòng. Nước có chính sử, ghi chép công tốt, để lại lâu dài. Bởi thế, các sách Thuật Hán(1), Tôn Nghiêu(2), Thánh chính(3), Nhật lịch(4) là để làm điển chương lớn của một đời. Nhà nước ta, thần truyền thánh nối, hơn 200 năm, cũng như Thương Chu gây dựng, nguồn gốc dài lâu.
      Thế tổ Cao hoàng đế ta, mặc áo nhung y, dẹp yên cả nước, tạo nên thái bình, quy mô dựng nghiệp lưu truyền là để giúp người sau, đều chính đáng mà không thiếu sót.
      Hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy tư chất bậc thượng thánh, giữ vận nước được hanh thông, thông minh duệ trí, rực rỡ hành vi, gốc ở công cách trí thành chính(5), suy làm việc bày sắp bổ thêm, tùy thời mà dựng đặt, đều có thứ tự nhất định.
(1) Thuật Hán: chỉ những sách Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán kỷ, thuật lịch sử đời Hán. 
(2) Tôn Nghiêu: Tôn Nghiêu tập của Trần Quán đời Tống. 
(3) Thánh chính: sách chép về chính trị của thánh Triều. Chu Tất Đại đời Tống được sai biên soạn về quan chế do «Thánh chính» đã định.
(4) Nhật lịch: nhật ký của sử quan.
(5) Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm.
Lớn thì các việc Giao Miếu, Triều đình, gần thì các việc cung cấm con cháu. Đặt ra bộ, viện, tự, các; chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu. Lễ nhạc rỡ ràng, phẩm thức đầy đủ. Lại làm quan châm(1) để răn bảo người chức vị; nén kẻ quyền hãnh(2), để trong sạch chốn quan trường. Định mưu chước lớn để bày phương pháp làm quan; ban điều dạy bảo, để chính phong tục dân chúng. Cấm tuyệt dị đoan để tôn sùng đạo chính; ban cấp sách vở để gia ơn sĩ lâm. Đặt khoa thi lấy học trò mà nhân tài nổi dậy; cày ruộng tịch khuyên nghề ruộng mà dân được đủ no. Phàm khi hai kỳ có loạn thì sai tướng ra quân, đánh dẹp nơi nào, võ công hoàn hảo. Trừ hết giặc Xiêm thì biên cương yên ổn; đặt ra Trấn Tây thì bản đồ rộng thêm. Công đức thánh thần, sáng soi trời đất. Giáo hóa lâu ngày, thịnh trị đủ phúc. Để trên noi theo mưu mô rực rỡ của Thế tổ Cao hoàng đế ta, để làm rạng thêm ơn trạch để lại cho cháu chắt của liệt thánh hoàng đế. Thực đường hoàng thay! Trong khoảng 21 năm, dựng công vòi vọi, lòng thành kính cung. Thực là những chuyện vẻ vang của một thời không thể viết sao cho hết được. Từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), đặt ra sử quán sai quan sửa soạn sách Liệt thánh thực lục định làm Tiền biên, Chính biên, thể tài nghiã lệ, đều do thánh tâm định đoạt. Bàn lễ nghĩa, xét văn chương, đủ cả ở đấy. Kính nghĩ, bậc đại thánh nhân chế tác, thực đủ chiết trung nghìn đời để soi rõ lòng tin của thiên hạ.
      Hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế, lấy tư cách thánh mà nối nghiệp thánh, tâm pháp trị pháp(3) tinh vi, đã hợp quy củ, mà công việc sáng tác noi theo cũng thêm thịnh lớn và sáng sủa rõ rệt. Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), lại mở Sử cục, sai soạn Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên. Năm thứ 4 (1844) làm xong Thực lục tiền biên về Thái tổ Gia dụ hoàng đế và liệt thánh hoàng đế, đã giao khắc in, trang hoàng thành pho để vào kho sách. Lần này Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế và Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương biên soạn, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. Ấy thánh nhân để ý về việc biên soạn, thận trọng như thế đấy.
      Ta là còn nhỏ, chịu cơ nghiệp lớn này, nhớ mãi sự khó về sáng nghiệp thủ thành(4), nghĩ tới đức tốt về phong hóa công lao. Năm Tự Đức thứ 1 (1848), đã làm xong sách Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đem ra khắc in, để vào kho sử của hoàng triều.
      Kính nghĩ bản thực lục về hoàng tổ là Thánh tổ Nhân hoàng đế đã được hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế trước sau xét định, đạo thường phép lớn, cũng đã rõ ràng rồi, mà vẫn ra lệnh cho các sử quan hết sức biên chép mài gọt mà lần lượt đã
(1) Quan châm: lời răn bảo các quan
(2) Quyền hãnh: người quyền thế, gần gũi với vua.
(3) Tâm pháp : phép giữ lòng cha con truyền cho nhau.
     Trị pháp: phép trị nước.
(4) Sáng nghiệp thủ thành: dựng nghiệp mới, giữ nghiệp sẵn.
tiến trình bản mẫu. Trong đó sự tích có một vài chỗ nên nghiên cứu sửa chữa, ta lại kính cẩn sửa đổi, đã giao cho bổ thêm vào, công việc đã xong. Kể từ năm Thiệu Trị thứ 1 đến nay, trải 20 năm, mới thành được sách đầy đủ thế này. Nghĩ Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, kính trời bắt chước tổ, hòa thuận thân thích, thể tất bề tôi, quý học trò, yêu nhân dân, chuộng văn chương, xét việc võ. Phàm những dấu tích hành động cuốn mở, vẫn đã sáng như mặt trời và tinh tú, rung động cả trên trời dưới đất, thực nên khắc vào bản in, để làm gương vẻ vang cho nghìn thu, thì mới có thể tỏ được lòng ta kế tự không quên. Rồi đây lại biên tập xong Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế, kính cẩn đem khắc in thành sách, mà chứa cất, làm cho rạng rỡ công hóa thánh thần của nước Đại Nam ta, mà để làm gương cho đế vương nghìn muôn đời sau.
      Vậy lần này tu sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, được bao nhiêu quyển, lập tức cho Thái sử chọn ngày tốt để mở cục ở trong Sử quán khởi công làm ngay, vẫn giao các viên Toản tu ở quán kiểm soát nét chữ và khoản thức, cốt được ổn thỏa. Viên Tổng tài đại thần ở quán cũng phải gia tâm xem xét để cho chóng xong bộ sách lớn này. Nhân công vật liệu để làm, cần dùng thế nào thì do hữu ty kính cẩn ứng biện. Các ngươi phải kính theo dụ này.
*
*    *
      Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán kính cẩn tâu lên về việc soạn xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, xin đem chạm khắc để tỏ rõ việc to lớn rực rỡ.
      Trộm nghĩ từ xưa thánh đế minh vương, nối trời mở mối, dấy giáo hóa, đến thái bình, để thành cuộc thịnh trị sáng sủa của một đời, đức tốt công to, tất phải chép vào sách sử để lại đời sau mãi mãi. Sự nghiệp cao xa rộng rãi của nhị đế(1) và thói tốt thuần phác của tam vương(2) thấy chép ở các thiên Điển Mô Huấn Cáo(3), đều là chép thực về lời nói việc làm và chính sự của đế vương. Các vua giỏi đời Hán, Đường, Tống, Minh, công việc làm mỗi đời một khác, đời nào cũng có sách sử để chép việc đời ấy.
      Nước An Nam ta, các đời Đinh, Lý, Trần, Lê dấy lên, sách chép hãy còn thiếu sót, tìm đến chỗ thành công cao cả, văn chương rực rỡ, rạng cho đời trước, để lại đời sau, ví với các đế vương, chưa có đời nào tốt đẹp được như thánh triều ta cả.
(1) Nhị đế: Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.
(2) Tam vương: Hạ, Thương, Chu.
(3) Điển, Mô, Huấn, Cáo: các thiên ở Kinh Thư.
      Nhà nước ta, dựng nền ở cõi Nam, thần truyền thánh nối hơn 200 năm, ơn đức đầy rẫy, đã sâu lại xa. Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy thánh đức võ công, dựng nghiệp trung hưng, thu cả nước Việt, tự mình làm nên thái bình, công cao đức lớn, tốt đẹp không cùng. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, có tư chất thượng thánh làm cho vận nước lại sáng tươi, noi theo đức trước, rạng rỡ công xưa, năm Minh Mệnh thứ 2 đặt ra Sử quán, sai quan soạn Thực lục về các đời liệt thánh, định làm Tiền biên chính biên, thể tài nghĩa lệ tự ý ngài quyết định cả. Sử sách quý báu ức muôn đời của nước Đại Nam ta, thực khởi đầu từ đấy.
      Hiến tổ Chương hoàng đế ta, noi theo chí trước, lại mở Sử cục, sai soạn sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, lại còn rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) làm xong Thực lục tiền biên về các đời liệt thánh, đã tâu xin đưa khắc in rồi.
      Nay Hoàng thượng ta, noi theo đức trước, sáng thêm nền văn, năm Tự Đức thứ 1 làm xong Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đã tâu lên và được chuẩn khắc in để được vào kho sử. Năm Tự Đức thứ 2 vâng chỉ dụ, trong có một khoản nói rằng: «Thực lục về đời hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương sửa chữa, phải nên sớm biên tập xong, để cho hoàn thành bộ sách quý. Thực lục về đời hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế thì soạn chép nối vào, cũng nên kịp hạn xét chữa, để bảo cho đời sau. Nhưng phải nghĩ kỹ rằng: Ba quyền lớn(1) trong cõi thì sử là một. Trong năm điều khó(2) của tác giả, sử là kiêm cả. Huống chi hoàng tổ và hoàng khảo ta, tâm pháp truyền trao rất tinh, trị thống mở đăng rất diệu, làm ra thật là thánh, trí thuật lại thật là thông minh, bày ở văn thư thì pháp độ rất tường, ghi ở tả sử thì góp nhặt rất kỹ, xét sửa tìm tòi, việc rất bề bộn. Sử thần các ngươi đều nên gia tâm kê cứu, hết sức chép sửa, cốt sao cho văn có đủ bằng chứng, việc đều ghi được sự thật, thì mới làm cho thêm rạng đức sáng đời trước, để rõ tín sử để lại đời sau. Phải kính theo lời dụ ấy.» Bọn thần vâng lời, hết lòng cứu xét, lần lượt soạn chép. Kính xét Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện thành bản mẫu cộng 220 quyển, đã lần lượt tiến trình, cúi đợi quyết định. Trong ấy có chỗ nào sự tích chưa được rõ ràng, chữ viết hơi có nhầm lẫn, được phê bảo, giao cho sửa đổi lại, bọn thần đã kính cẩn nghiên cứu tìm tòi, các khoản nên sửa chữa đã lần lượt kính cẩn bổ vào, tiếp tục tiến lên.
(1) Vực trung tâm đại: ba quyền lớn trong đất nước; lời của Cư Hằng nói «Trong cõi có ba cái lớn, Trời là lớn, đạo là lớn, sử là lớn».
(2) Năm điều khó: Viên Sơn Tùng, một sử gia đời Tấn, phàn nàn về việt sử có năm điều khó: 1) Tài liệu bề bộn mà không hoàn chỉnh; 2) Văn chép thô tục mà không trang nhã; 3) Sách chép không đúng thực lực; 4) Việc thưởng phạt không đúng lẽ phải; 5) Lời văn chép không nổi bật được phẩm chất của sự việc (Xem Phuơng đình tùy bút, quyển hạ).
      Cúi nghĩ rằng: Quốc triều ta sau khi dẹp yên cả nước, văn tự cỡ xe đều đã như nhau, ở trong ở ngoài đều được yên lặng, thực là lúc nên dựng đặt mọi việc. Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy đức thánh nối nghiệp thánh, mở mang trăm việc, tô điểm thái bình, lớn thì việc Giao Miếu, Triều đình, gần thì việc ở cung cấm con cháu; đặt ra bộ, viện, tự, các; chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu; then máy khuôn phép, đầy đủ rõ ràng. Đến cả những việc nén kẻ quyền hãnh, tuyệt hẳn dị đoan, mềm mỏng với người xa, giữ vững lấy bờ cõi, không việc gì là không đề phòng, uốn nắn làm thành phép tắc; tìm dấu tích kinh luân của đế vương xưa, chắc cũng không hơn được thế. Kịp khi hai kỳ có loạn, sai tướng ra quân, trao cho phương lược, quân trời đánh chỗ nào thì như chớp giật sấm vang, không đến vài năm mà đã quét được giặc Sơn Âm, bình được giặc Để Định, trừ hết giặc Xiêm, lấy lại Phiên An, mở đặt Trấn Tây, võ công cáo thành, bản đồ thêm rộng. Nghĩ trong khoảng 21 năm, càn khôn mở đóng, trời đất vần xoay, chính trị rõ ràng, đạo hóa tràn khắp, vũ công văn đức, sáng rọi mọi nơi. Vì thế, hòa khí đem điềm hay, phúc trời dài thêm mãi; nước sông chảy thuận, thóc lúa được mùa; muôn tuổi điềm lành, tam đa chúc phúc. Lấy đức của thánh nhân, làm nên trị hiệu của thánh nhân, để hưởng phúc của thánh nhân, thịnh trị và phúc to, khó mà nói cho rõ được. Hiến tổ Chương hoàng đế ta, lại làm sáng rạng và thịnh lớn thêm. Phàm thấy ở ngôn hành chính sự, pháp độ kỷ cương, những điều sáng sủa rõ ràng, thật đủ làm gương soi cho đế vương nghìn muôn đời. Bọn thần đều đã vâng mệnh, đem công việc từ năm Minh Mệnh thứ 1 đến năm thứ 21, xét từng năm chép lên, theo từng việc chép vào, kể từ năm Thiệu Trị thứ nhất đến nay, trải 20 năm, lần lượt tiến trình xét định. Tinh thần cuốn mở làm lụng và đường lối giúp rập định nên của thánh nhân, bày tỏ ra ở nơi phương sách, đều rõ ràng, đầy đủ cả.
      Này xin đăng bản mẫu đã xong về Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, đã được chuẩn cho chọn ngày tốt khởi công chạm khắc. Rồi sau Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế soạn chép xong, cũng sẽ thứ tự tiến trình, tâu xin đem khắc, để cho hoàn thành bộ sách lớn mà rạng vẻ sáng lành, để được ngửa thấy sự tốt về muu mô công liệt, đức thịnh về văn võ thánh thần, đều để mãi không bao giờ hết được. Bọn thần mong mỏi không biết chừng nào. Xin kính cẩn tâu lên.
      Viết tại năm Tự Đức thứ 14 (1861), tháng 5, ngày 15.
                                                                                                                      Ký tên:
                                                                                                          Thần Phan Thanh Giản
                                                                                                          Thần Trương Quốc Dụng
                                                                                                          Thần Phạm Hữu Nghi
                                                                                                          Thần Lê Lượng Bạt
      (Vua phê): Y lời tâu, kính cẩn khởi công làm.
*
*    *
      Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán, kính cẩn tâu về việc da khac in xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế.
      Hòm ngọc mở điềm, sách quý nêu sáng, bọn thần thật lấy làm vui vẻ, kính cẩn dâng biểu tiến lên.
      Trộm nghĩ: Mệnh lớn tự trời cho, nguồn thịnh ức năm còn mãi; sách quý như mặt trời đẹp, văn trị nghìn thuở dấy lên. Đức tốt rỡ ràng, chứng sáng giữ mãi.
      Bọn thần trộm nghĩ: Thánh nhân làm gì, quy mô thể thống cao hơn cả trăm vua: thế đạo thịnh, giường mối văn chương truyền mãi đến muôn thuở. Cho nên, chính trị của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, sách vẫn còn ghi; mà văn ở Điển Mô, Huấn Cáo, Thệ Mệnh, đời noi làm phép. Các đời từ Hán Đường mà xuống đều có thành thư; nước ta từ Đinh Lý đến nay có nhiều thiếu sót. Phuơng chi thực lục ghi chép đã rõ ràng, so với chính sử thể tài có khác. Ban huấn điều, lập chính thể, nhóm họp nghĩa sâu rộng của các đời; noi phúc tốt, noi đức hay, rạng rỡ văn ngang dọc vùng trời đất. Nhà nước ta, gây nền ở Nam phục, đóng đô ở Xuân Kinh. Truyền nối hơn hai trăm năm, đời chồng phúc cả: mở đất mấy nghìn trăm dặm, dân theo người nhân. Khuôn phép đầy đủ, rõ hệ thống ở tiền biên; nhân trạch sâu dày, để đức to cho hậu thế.
      Thế tổ Cao hoàng đế ta, hợp tâm linh(1) mà mở quẻ bói, nhân ngũ vận(2) mà chịu cơ đồ. Nổi giận để đánh giặc Tây Sơn, sấm sét vang lừng khoảng sông Giang sông Hán; đón rước có người dân đất Bắc, vui mừng đón rước dâng lụa huyền lụa vàng. Đã làm nghĩa để dẹp kẻ bạo tàn, lại nhân thời mà sửa sang chính trị. Gây dựng cương kỷ, giáo hóa mới đẹp ban ra; thi hành đức nhân, ca ngợi hòa bình vang nổi. Công to nghiệp lớn, đã sáng nghiệp, lại trung hưng; việc tốt tiếng hay, rạng tổ tiên, yên con cháu. Trị thống muôn năm khuôn phép, đầy rẫy mưu hay; chính biên nhất kỷ chép ghi, lưu truyền tiếng đức. Là bởi, trời thêm cõi rộng, từ Lạc Hùng trở lại chưa từng nghe; đời hưởng văn minh, khí số thịnh lên có từ đấy.
(1) Tâm linh: trời, đất, người.
(2) Ngũ vận: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
      Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, gồm tính sáng khôn, đương vận thịnh vượng. Theo đức ôn hòa của Nghiêu đế, văn võ thánh thần; nối sáng sâu xa của Văn vương, nhân từ hiếu kính. Một lòng thành vận dụng, chỗ trai cư vẻ rồng hiện, vực lặng sấm vang: ba điều thiện tuân theo, mặt trời tỏ mặt trăng tròn, bể nhuần sao sáng. Thiện lớn chọn tự lòng trời: sáng lớn mình nhận ngôi báu. Trù thứ năm dựng cao, có đức người thánh được thời người thánh; nền muôn hóa rộng mở, lấy tâm vua thuần làm chính vua thuần. Đầu đặt Sử cục, thu về sách sót bốn phương; chia mệnh nho thần, soạn chép bản triều thực lục. Dựng xây thế Miếu, lòng hiếu tưởng lên xuống ở sân; thờ phụng Từ cung, ban ơn khắp trong ngoài dân thứ. Nhạc tám cung hòa hợp, chim muông lại múa như nhạc Ngu; đỉnh chín chiếc đúc nên; quỷ quái sợ hãi như đỉnh Hạ. Kính đối chốn Giao đàn, vâng đức lớn để nuôi muôn vật; mình cày ruộng đế tịch, theo thời tiết mà khuyên nhà nông. Các cửa mở rộng suốt, để thông tai mắt mọi nơi; hiệu nước đổi mới ra, để tỏ đất nước nhất thống. Trang kính đối trong cung khổn, gây vương hóa theo thơ Quan thư(1), thuận hòa xử với họ hàng, rõ trung tín như thơ Hàng vĩ (2). Đặt chín khanh để đốc suất công việc, mà nghĩa thừa hành giúp đỡ phân minh; chia các tỉnh để tuyên chính trị dân, mà tệ áp chế chuyên quyền đổi hết. Binh có chế độ 5 người lấy 2, việc võ không nhàm mà đều tin; dân chỉ cung cấp 10 phần lấy 1, thuế đã nhẹ mà thường được miễn. Nêu cao hiếu thuận, hậu đãi tuổi già, rèn luyện lấy thói nhân nghĩa đạo đức; đặt nhà học hiệu, mở đường khoa cử, cổ động cho đạo lễ nhạc thi thư. Cân nhắc đo lường, trăm việc đều tốt; khoa điều luật lệnh, năm hình có dùng. Đi tuần để giúp đỡ dân, mùa thu xem gặt, mùa xuân xem cày; đắp đê để phòng nước lụt, như mắt trông thấy, như mình đến nơi. Triều chính không thiếu sót điều gì, mà hỏi han tới cả người cắt cỏ kiếm củi; nhân dân bị tai hại một chút, mà đuốc sáng soi khắp chốn vách nát nhà tranh. Phàm việc biến thông giáo hóa, đều là quyền lớn sáng tạo xây dựng của thánh nhân; và việc lo xa xét nhỏ, đều là đạo gốc chế trị giữ nước của người cổ. Kịp lúc hai kỳ có loạn, một giận yên dân. Chước lạ mưu sâu, đánh đâu hẳn được đấy; núi lay biển động, bền mấy cũng phải tan. Dẹp giặc Xiêm La, hạ thành Phiên An, uy linh làm mạnh sông núi; quét giặc Sơn Âm, bình giặc Để Định, thanh giáo thông cả Man Lào. Xa lại gần ưa, không đâu chẳng phục; công nên trị định, sáng hơn đời xưa. Hằng năm thường thấy được mùa; sông trong vẫn nêu điểm tốt. Trời đất yên lặng, có đức được hòa; trăng sao sáng soi, tuổi thọ hưởng phúc. Sớm hôm lo sợ, kính mệnh trời ở lúc vui yên; nhân nghĩa rõ ràng, vận thần công ở nơi sâu kín. Cầu đến trị an, lúc nào cũng lo vì trăm họ: tôn thân cũng thế, phúc lành chúc tụng một người.
(1) Quan thư: thơ Quan thư, thiên Quốc phong ở Kinh Thi, nói đức tốt của bà Hậu phi vợ Văn vương.
(2) Hàng vĩ: thơ Hàng vĩ, thiên Tiểu nhã Kinh Thi, nói về đạo anh em hiếu hữu với nhau.
      Tốt lắm thay! Trời mở thịnh trị, thánh lại tài năng. Cứng mạnh thẳng ngay mà tinh túy, thể kiền làm mãi không thôi; rộng dày cao sáng mà dài lâu, lòng thành rất mực chứng rõ. Đạo đủ cả, kính trời bắt chước tổ; chăm chính yêu nhân dân. Ngày mới thêm gọi là thịnh; có tất cả gọi là to. Đức rộng về xét tính vật, biện tài người, mến chư hầu, yêu người xa. Có phạm vi mà không quá; uốn nắn nên không sốt ai. Rực rỡ một sách Chính yếu, làm lụng cuốn mở, như thế kỹ càng; chói lọi các tập văn thơ, nhã tụng âu ca, nghe ra văng vẳng. Lối trị ngày càng đổi mới, bỏ hết thói gian lậu nhân tuần các đời gần; thái hòa lại thấy ngày nay, thêm mở rộng văn vật thanh danh của đất nước. So với nhị đế tam vương, như cùng một đạo: nên cùng tam phần(1) nhị điển(2), truyền đến vô cùng.
      Hiến tổ Chương hoàng đế ta, kính vâng mưu xưa, noi theo phép lớn. Đời trước đắp nền, đời sau dựng cột, thời thịnh thêm rộng sửa sang; ăn thấy ở canh, đứng thấy ở tường, đạo hiếu thực kiêm kế thuật. Bên tả ghi lời nói, bên hữu ghi việc làm, công đức để ở lịch hằng ngày; làm ra gọi là thánh, thuật lại gọi là minh, sự thực làm tỏ gương nghìn thủa. Nhờ thánh dụ nêu ra nghĩa lễ; để sử thần hết sức xét tìm. Duy biên chép phải được kỹ càng, mà rạng mở còn xin chờ đợi.
      Hoàng thượng ta, theo chí đời trước, làm rạng mưu sâu. Truyền phép trị về nguy vi tinh nhất(3), nắm đạo trung của vua Nghiêu(4) để giữ gìn; dựng nghiệp nước về kiến đốc cơ cần(5), nhắm đức tốt của nhà Chu mà theo dõi. Bèn xét định mà hạn công; để sửa chữa cho xong việc. Bắt đầu từ năm Canh thìn đến năm Canh tý, 21 năm để biên chép; lại từ năm Tân sửu đến năm Canh thân, 20 năm mới thành sách. Đặt vào bao lụa vàng, đưa lên nhà để sử. Nối phương sách(6) của các đời trước mà cùng truyền; hơn sách vở của các đời xưa mà thịnh nhất. Xét không lầm, dựng không trái, rõ như phép bói để cho đời; công cao vọi, văn sáng ngời, lớn như trời không thể hình trạng. Để tỏ phép hay dựng đắp từ trước; để rộng mưu sâu mở giúp về sau.
      Bọn thần, may được liệt vào nho thần, lạm coi biên soạn. Thuật ba bộ sử(7) nhà Hán, tự hổ không phải tài sửa chữa ở Đông Quán(8); làm một bộ kinh nhà Đường, trộm
(1) Tam phần: Sách chép về đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. 
(2) Là Nghiêu điển và Thuấn điển trong Kinh Thư.
(3) Nguy vi tinh nhất: Thiên «Đại Vũ mô» trong Kinh Thư, Ngu Thuấn bảo Hạ Vũ rằng: «Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung».
(4) Đạo trung của vua Nghiêu: Nghiêu bảo Thuấn chỉ có một câu «Doãn chấp quyết trung», nên gọi là đạo trung của Nghiêu.
(5) Kiến, đốc, cơ, cần: Thiên «Vũ thành» trong Kinh Thư, Vũ vương nhà Chu có nói «Duy tiên» vương kiến bang khởi thổ. Công Lưu khắc đốc tiền liệt. Thái vương triệu vương tích. Vương quý kỳ cần vương gia: Tiên vương là Hậu Tắc mới được phong ở đất Thái nên nói là dựng nước mở đất; Công Lưu là chắc Hậu Tắc hay dốc lòng vào công nghiệp của Hậu Tắc; Thái vương là Cổ công Đản phủ ở nước Mân, người nước Mân đi theo, gây được nghiệp vương ở đấy; Vương Quý hay siêng năng để nối cơ nghiệp.
(6) Phương sách: Ván gỗ vuông, khi trước chưa có giấy, ghi chép gì cứ viết vào gỗ vuông. 
(7) Tam sử: Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán ký là ba bộ sử về nhà Hán.
(8) Đông quán: Chỗ tàng thư trong cung nhà Hán.
bắt chước lấy cách biên tập của Xương Lê(1). Chỉ biết tìm hàng đếm nét, sưu cầu chẳng bổ gì cho truyện xưa; may nhờ khởi lệ phát phàm(2); xét định thảy theo ở gương sáng. Thấy sách xong mà vui mừng; nhờ mệnh tốt để bày tỏ. Cúi mong Hoàng thượng, dốc hiếu biểu dương; đạo noi liệt thánh. Để mối giềng có thể nối lâu, đắp thêm cõi nền nhân hậu; theo phép cũ mà không sao nhãng, điểm tô dựng đặt thái bình. Thịnh thay công vũ mưu văn, rỡ đức tốt vì thêm sáng; yên như đá bàn núi Thái vững nghiệp lớn ở muôn đời. Bọn thần vui vẻ không biết chừng nào, xin đem sách Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ đã khắc in lần này là 220 quyển và 2 quyển mục lục, cộng 222 quyển tiến lên. Kính cẩn dâng biểu để tâu.
      Viết tại năm Tự Đức thứ 17 (1864) tháng 11 ngày 19.
                                                                                                          Ký tên:
                                                                                              Thần Phan Thanh Giản
                                                                                              Thần Phan Huy Vịnh
                                                                                              Thần Phạm Huy
                                                                                              Thần Trần Liên Huy
      (Vua phê): Đã xem rồi.
(1) Xương Lê: Hàn Dũ ở đời Đường.
(2) Khởi lệ phát phàm: Đặt ra phàm lệ để noi theo.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ PHÀM LỆ
 
1.   Trong Bản kỷ, từ năm thứ nhất trở về sau, năm nào ở dưới cũng đều chua niên hiệu nhà Thanh để mà kê cứu.
2.   Chép việc thì lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Việc thường thì không chép ngày, việc lớn thì cẩn thận mà chép ngày.
3.   Tế Giao, Miếu hưởng, Yết lăng là lễ rất trọng, thường năm vẫn chép. Còn như các lễ triều hạ, ban sóc, đều chép ở tiết đầu, hằng năm lấy làm thường, sau không chép nữa.
4.   Đầu mùa xuân duyệt binh để giảng việc võ; giữa mùa hạ cày ruộng tịch điền để khuyến khích việc ruộng; hằng năm cùng đều chép ca.
5.   Các việc lớn như lễ nhạc, hình chính, tên quan, chế độ, từ mới dựng ra thì chép là sơ (mới, bắt đầu), khi đổi làm thì chép là cải (đổi), nhân cũ mà làm kỷ thêm thì chép là thân định (định rõ).
6.   Phàm việc gì đã được lời chỉ của vua, chép làm mệnh lệnh hay làm lệ thường, cùng là tâu lên được vua chuẩn cho, từ đấy về sau chiếu lệ mà làm, thì đều chép là chuẩn định.
7.   Những chương sớ ở trong ngoài tâu lên đã được chỉ chuẩn cho thì đều chép cả, duy việc nhỏ nhặt thì chép sơ lược thôi.
8.   Việc gì quan hệ đến điển lệ thì điều khoản số mục đều chép đủ cả, là để rõ sự thực.
9.   Việc gì hợp lại chép suốt từ đầu đến cuối thì việc trước dùng chữ sơ (đầu là), chữ tiên thị (trước là), chữ chí thị (đến đấy); việc sau thì dùng chữ tầm (rồi thì), chữ cập (kịp), để phân biệt.
10. Em vua, con vua, cháu vua và trưởng công chúa được tấn phong tước hiệu đều chép cả.
11. Văn từ tứ phẩm trở lên, võ từ tam phẩm trở lên được bổ thụ chức hàm đều chép cả. Ngũ phẩm thì chỉ có chức Đốc học là giữ việc học một tỉnh nên cũng chép. Ngoài ra thì tùy việc mà biên.
12. Thân công, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa từ trần thì đều chép là hoăng (mất).
13. Văn tứ phẩm ấn quan, võ tam phẩm lĩnh binh trở lên mà qua đời thì đều chép là tốt (chết). Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở xuống, người nào rõ ràng có công lao, tài năng, tiết liệt, sau khi chết được cấp tuất và tặng phong, thì tùy việc mà chép, ngoài ra thì không chép.
14. Sách văn, chiếu dụ, có gặp chữ tên húy thì hoặc bỏ thiếu một nét, hoặc chiếu theo nghĩa văn đổi dùng chữ khác. Đến như tên đất thì hoặc theo tên ngày nay, hoặc bỏ chiếu một nét, duy chữ hoa cùng nghĩa với chữ ba thì đổi làm chữ ba; tên người thì đều đổi dùng chữ khác.
15. Tên đất, tên người có đổi thì tên đất ở lúc chưa đổi, vẫn chép tên cũ, tên người ở chỗ bắt đầu thì viết ngay tên sau, trong khoảng ấy có một vài trở ngại chút ít thì tùy chỗ chưa rõ, sau khi đã chữa rồi cũng viết ngay tên sau. (Ví dụ tiến sĩ Phạm Thế Lịch sau đổi thành Phạm Thế Trung, Trần Mẫn sau đổi thành Trần Tiễn Thành.)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - TỔNG MỤC (I)
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Quyển I. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển II. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển III. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển IV. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển V. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển VI. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển VII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển VIII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển IX. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển X. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XI. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XIV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 3 nhuận.
      Quyển XV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển XVI. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7, tháng 8.
      Quyển XVII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XVIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XIX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXI. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXIII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXIV. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXV. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXVI. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXVII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXVIII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXIX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXXI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXXII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXXIII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXXIV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXXV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXXVI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXXVII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXXVIII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXXIX. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XL. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XLI. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XLII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XLIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XLIV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa xuân tháng 3.
      Quyển XLV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển XLVI. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 5 nhuận đến tháng 6.
      Quyển XLVII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XLVIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XLVIX. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển L. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển LIII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển LIV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển LV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 11.
      Quyển LVI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 12.
      Quyển LVII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LVIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa xuân tháng 3.
      Quyển LIX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển LX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXI. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.
      Quyển LXII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXIV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LXVI. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 4 nhuận.
      Quyển LXVII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 5.
      Quyển LXVIII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXIX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa thu từ tháng 8 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển LXX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXXI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXXII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa xuân tháng 3.
      Quyển LXXIII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển LXXIV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXXV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.
      Quyển LXXVI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXXVII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXXVIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXXIX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LXXX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 5.
      Quyển LXXXI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 6.
      Quyển LXXXII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển LXXXIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9.
      Quyển LXXXIV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9 nhuận.
      Quyển LXXXV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXXXVI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 11.
      Quyển LXXXVII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 12.
      Quyển LXXXVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), mùa xuân tháng 1.
      Quyển LXXXIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 2.
      Quyển XC. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.
      Quyển XCI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.
      Quyển XCII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.
      Quyển XCIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.
      Quyển XCIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.
      Quyển XCVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển C. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển CI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển CII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CXI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - TỔNG MỤC (II)
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Quyển CXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXVIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.
      Quyển CXXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.
      Quyển CXXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.
      Quyển CXXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.
      Quyển CXXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 10.
      Quyển CXXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXL. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXLI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXLII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXLIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXLIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXLV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXLVI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLVII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLVIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLIX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CL. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ từ tháng 6 đến tháng 6 nhuận.
      Quyển CLV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6 nhuận.
      Quyển CLVI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 7.
      Quyển CLVII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLVIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLVIX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CLXVII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CLXVIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLXIX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLXX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLXXI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 7.
      Quyển CLXXII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLXXIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLXXIV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXXVIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CLXXVIX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CLXXX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLXXXI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLXXXII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLXXXIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển CLXXXIV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLXXXV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXXXVI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXXXVIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXXXIX. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXC. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXCI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXCII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4 nhuận.
      Quyển CXCIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển CXCIV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển CXCV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXCVI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 11.
      Quyển CXCVII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), mùa xuân tháng 1.  
      Quyển CXCIX. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CC. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CCI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CCII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CCIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CCIV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 7.
      Quyển CCV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 8.
      Quyển CCVI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 9.
      Quyển CCVII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 11.
      Quyển CCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông tháng 12. 
      Quyển CCIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), mùa xuân tháng 1. 
      Quyển CCX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 2. 
      Quyển CCXI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 3. 
      Quyển CCXII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 4. 
      Quyển CCXIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 5. 
      Quyển CCXIV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 6. 
      Quyển CCXV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 7. 
      Quyển CCXVI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 8. 
      Quyển CCXVII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 9. 
      Quyển CCXVIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 10. 
      Quyển CCXIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 11. 
      Quyển CCXX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 12. 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ
 
      Vâng sắc khai chép chức và tên các sử thần:
      (Nguyên làm việc từ năm Tự Đức thứ 13 (1860) trở về trước.)
      Tổng tài:
      Cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần chính điện đại học sĩ, quản lý Binh bộ sự vụ, sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Khâm thiên giám, Tuy Thịnh quận công, thần Trương Đăng Quế.
      Phó tổng tài:
      Hình bộ Thượng thư, sung Kinh diên nhật giảng quan, kiêm biện Khâm thiên giám sự vụ, thần Trương Quốc Dụng.
      Nguyên thự Hình bộ Thượng thư, kim hiện thự Long Tường Tổng đốc, thần Trương Văn Uyển.
      Nguyên Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, kim giáng bổ Binh bộ Tả tham tri cách lưu, thần Lâm Duy Hiệp.
      Toản tu:
      Lẽ bộ Tả Tham tri, thần Tô Trân.
      Lễ bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ấn triện, thần Phạm Hữu Nghi.
      Công bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Đô sát viện ấn triện, thần Phạm Chi Hương.
      Thự Lại bộ Tả Tham tri, thần Bùi Quỹ.
      Nguyên Quang lộc Tự khanh, biện lý Hình bộ sự vụ, kim bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ, sung giám tu Việt sử Phó tổng tài, thần Phạm Huy.
      Nguyên thự Lễ bộ Hữu tham tri, kim hiện thự Lại bộ Hữu Thị lang, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần Đỗ Quang.
      Nguyên Hồng lô Tự khanh, kim bổ thụ Lang trung, lãnh Định Tường Tuần phủ, kiêm lãnh Bố chính ấn triện, thần Nguyễn Tường Vĩnh.
      Biên tu:
      Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Hình bộ Hữu tham tri, thần Phan Huy Vịnh.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Thái bộc Tự khanh, lĩnh Thái Nguyên Bố chính, thần Vũ Công Độ.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Hồng lô Tự khanh, sung Việt sử Toản tu, thần Lê Hiếu Hữu.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim hiện thự Hưng Hóa, Án sát, thần Vũ Văn Tuấn.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim lĩnh Bắc Ninh Đốc học, thần Phan Đình Dương.
      Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Lễ khoa chưởng ấn Cấp sự trung, kiêm kê hạch Tôn nhân phủ sự vụ, thần Nguyễn Huy Phan.
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Nguyễn Huy Lịch.
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Vũ Phạm Khải.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Nam Định Đốc học, thần Phạm Văn Nghị.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Nguyễn Huy Huỳnh.
      Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ Ứng Hòa phủ Tri phủ, thần Vũ Thấu.
      Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ Thuận An phủ Tri phủ, thần Nguyễn Đăng Tuyển.
      Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Hải Ninh phủ Tri phủ, thần Đỗ Huy Diễm.
      Nguyên thự Hàn lâm viện Thị độc, kim hiện dĩ Tòng ngũ phẩm lĩnh Kiến Thụy phủ Giáo thụ, thần Nguyễn Xuyến (trước là Kim Xuyến).
      Hàn lâm viện Tu soạn, thần Đặng Long Đống.
      Hàn lâm viện Tu soạn, thần Phan Danh.
      Nguyên thự Hàn lâm viện Thị giảng, kim bổ thụ Hình bộ Nam Hiến ty, Tòng thất phẩm lĩnh Tư vụ, thần Trịnh Xuân Thưởng.
      Khảo hiệu:
      Hàn lâm viện Biên tu, thần Lê Quang Linh.
      Hàn lâm viện Biên tu, thần Nguyễn Văn Lương.
      Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Nguyễn Đức Ý.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Tôn Thất Thụ.
      Đằng lục:
      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Trần Viết Khải.
      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Chân.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Quang Quýnh.
      Thu chưởng:
      Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Mai Văn Trí.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Lợi.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Hữu Đường.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Dĩnh.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Hữu Thăng. 
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Bùi Xuân Hiển.
 
CHÉP THÊM
 
      (Từ năm Tự Đức thứ 14 (1861) đến năm thứ 17 (1864) tiết thứ tiếp tục làm.)
      Tổng tài:
      Hiện biện đại học sĩ lãnh Hộ bộ Thượng thư, kiêm lĩnh Quốc tử giám, sung Cơ mật viện đại thần, thần Phan Thanh Giản.
      Phó tổng tài:
      Thự Hình bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám, thần Phan Huy Vịnh.
      Toản tu:
      Hồng lô Tự khanh, thần Lê Lượng Bạt. 
      Hồng lô Tự khanh, thần Bùi Sỹ Tuyển. 
      Thự Hồng lô Tự khanh, thần Phạm Huy.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Quang Tuấn.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Phùng.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Trần Liên Huy.
      Biên tu:
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Phan Lịch.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Điều.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Cát Văn Tụy.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Nguyễn Viện.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Cơ.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Vương Đình Chiểu.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Tạ Khắc Quản.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Phạm Huy Bỉnh.
      Khảo hiệu:
      Chánh bát phẩm hàm, thần Trần Nhượng. 
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Nguyễn Khắc Lý.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Huy Phan.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Cao Duy Tự.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Hồ Sĩ Đĩnh.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Duy Hòa.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Trương Hữu Tự.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Phạm Quang Khản.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Hồ Đĩnh.
      Đằng lục:
      Chánh cửu phẩm bút thiếp thức, thần Đổ Đăng Phong.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Lý.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trương Giảng.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Diệu.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Duyên.
      Thu chưởng:
      Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Tôn Thất Nghi.
      Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Diễm.
      Chánh bát phẩm, thần Đặng Văn Tài.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Đức Trị.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Côn.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Thanh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN I
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Thánh tổ, Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoán Sáng Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân hoàng đế, tên húy là Hiệu, lại húy là Đởm, sinh năm Tân hợi (1791) (năm thứ 12 sau khi Thế tổ Cao hoàng đế nối ngôi vương - Thanh Kiền Long năm thứ 56), là con thứ tư Thế tổ Cao hoàng đế. Mẹ là Thuận thiên Cao hoàng hậu Trần thị. Trước khi sinh vua, hoàng hậu nằm mơ thấy người thần dâng một cái ấn, sắc đỏ như mặt trời. Vua sinh ra thực ứng vào điềm ấy.
      Năm Gia Long thứ 15 (1816), mùa hạ, tháng 6, ngày Kỷ mùi, sách phong lập làm Hoàng thái tử, ở điện Thanh Hòa.
      Năm thứ 18 (1819), mùa đông tháng 12, ngày Đinh Mùi, Thế tổ Cao hoàng đế băng, bầy tôi dâng tờ khuyên ngài lên ngôi, ngài thương khóc mãi không thôi. Các đại thần hai ba lần xin mãi, ngài mới nghe theo.
      Ngày Giáp dần, đúc sách vàng.
      (Sách văn rằng: Đức lớn của trời đất là sinh, duy ở trước sau không ngừng; báu lớn của thánh nhân là vị, quý ở truyền trao được đúng. Kính nghĩ Hoàng thái tử ta, tính tốt trời cho, đức sáng ngày mới. Chốn lầu rồng thăm hỏi, lòng hiếu kính ân cần; nơi cung hạc tu tề, tình thân yêu đốc hậu. Thay quyết muôn cơ, trên vâng lòng vui của tiên đế; giao tin một đức, dưới yên mong muốn của thần dân. Nuôi đức ở nơi tiềm để(1), nay đã
      (1) Tiềm để: Chỗ ở khi chưa làm vua.
4 năm; tình người khắp cả trong ngoài, thảy đều kính mến. Lúc Tiên hoàng đế sắp băng, đã ban đi chiếu nối ngôi để nối lấy mối lớn. Nay việc lớn đã xong, bọn thần kính cẩn dâng sách vàng, kính dâng tôn hiệu Hoàng đế. Cúi mong nghĩ đến sự phó thác nặng nề của Tiên đế, cho hợp tình mong mỏi của bầy tôi, nối công việc, nhận cơ đồ, lên giữ ngôi vua, noi theo phép lớn, điều hòa thiên hạ, để cho dài nghiệp lớn muôn đời không cùng.)
      Ngày Ất mão, đem việc lên ngôi kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. 
      Ngày Bính thìn, đến điện Hoàng Nhân, lạy chịu ấn vàng truyền quốc và áo bào «Muôn năm nối ngôi».
      Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820),  (Thanh Gia Khánh năm thứ 25), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Mậu ngọ, vua lên ngôi Hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu và đại xá, ban chiếu cho trong ngoài.
      Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ, con hiếu thờ hai thân, chủ tế tự để phụng thừa Tôn Miếu; thánh nhân đầu muôn vật, rủ áo xiêm để theo nghĩa Kiền Khôn. Cho nên, trị nước quan hệ ở một người; truyền ngôi vốn gốc từ tam đại. Mệnh trời ở đâu, ngôi thần về đấy.
      Nghĩ Thánh tổ Thần tông, mở nền Nam phục, dựng nghiệp kim âu. Mưu sáng công to, rực rỡ cho đời trước; nhân sâu ơn hậu, rạng tỏ để đời sau. Hoàng khảo ta, vâng nhận mệnh lớn, lại dựng nghiệp to. Chống phủ việt đánh kẻ bạo tàn, thắt dải mũ giữ gìn trị hoá. Nhờ việc khai thác hơn 200 năm, võ công hơn đời trước; tự mình chăm lo trong 18 năm, để đức to tầy trời. Vạc Hiên Viên mới đúc xong, mà núi hồ không kéo lại được; hoa Đường Nghiêu chợt thấy rụng, đến hang sâu cũng thấy đau thương. Thực trời kia xuống tai vạ cho nước ta; nên hoàng khảo để gánh nặng cho đức mọn. Trẫm tự hổ, là người hèn kém, mà giữ ngôi này. Nghỉ gốc cây, cưỡi trên thuyền(1), việc dạy bảo theo như khuôn phép, vỡ ruộng hoang, làm nhà cửa(2), việc dành cho nhờ ở mưu mô. Nghĩ gánh vác chỉ thấy khó khăn; càng đau thương biết bao cho hết. Vui không cùng, thương cũng không cùng, lòng hiếu nghĩ sợ thêm về đường nối dõi; vị tất được, danh cũng tất được, lời dặn dò há dám trễ việc phó giao. Nay các tước công, các đại thần, các quan văn võ trong ngoài, đều khuyên trẫm tuân theo di chiếu, sớm lên ngôi vua, để theo lòng mong đợi của mọi người. Vì thế châm chước lễ văn, bớt thương thuận biến, lấy ngày 27 tháng 12 năm Gia Long thứ 18 (1819) kính cáo Giao Miếu, ngày 28 kính yết bàn thờ, ngày 1 tháng 1 năm nay, lên ngôi ở điện Thái Hòa. Trẫm vâng «mệnh sáng» ở trời, chịu «mệnh sáng» ở hoàng khảo, vậy lấy năm nay là năm Canh thìn, làm năm Minh Mệnh thứ 1, để chính tên hay, để rõ mối lớn. Đặt cách xuống ân điển gồm 16
      (1) Nghỉ gốc cây cưỡi trên thuyền: vua Đường Thái tông thấy thái tử đứng ở gốc cây thì bảo rằng: «Cây gỗ theo dây mực thì thằng, vua nghe lời can là thánh; thấy thái tử cưỡi thuyền thì bảo rằng: Nước hay chở được thuyền, mà cũng hay lật được thuyền».
      (2) Vỡ ruộng hoang làm nhà cửa: vua Vũ Vương nhà Chu bảo em là Khang Thúc rằng: «Như làm ruộng, đã vỡ hoang rồi thì phải sửa sang bờ cõi; như làm nhà, đã làm tường lũy rồi thì phải tô nề và lợp».
điều: 1) Những tiền thóc sản vật mà dân còn thiếu từ năm Gia Long thứ 18 trở về trước đều tha miễn cả. 2) Thuế lệ tiền thóc sản vật về nhân đinh điền thổ, trong năm Minh Mệnh thứ 1 đều rộng miễn cả. 3) Em vua và cháu họ vua, ai đã được phong tước công thì cấp thêm lộc hằng năm là 500 quan tiền, 500 phuơng gạo. 4) Em bé của vua chưa được phong tước công thì đợi 3 năm sau bộ Lễ bàn tâu sẽ sách phong. 5) Người tôn thất chưa làm quan thì cấp thêm lương tiền. 6) Các quan văn võ, ở trong từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia một bậc cấp. 7) Các quan văn võ, ở trong từ ngũ phẩm, ở ngoài từ tứ phẩm trở xuống, đã thục thụ thì chu cấp cho lương tiền 2 tháng. 8) Cha mẹ các quan trong ngoài, từ tam phẩm trở lên, đều chiếu phẩm phong tặng. 9) Từ tam phẩm trở lên đều cho tập ấm một người con cho vào học ở nhà Quốc tử giám; khi tuổi đã trưởng thành, có thể lục dụng được thì sai đại thần đề cử người mình biết lên rồi thứ tự dẫn lên yết kiến, sẽ tùy tài bổ dụng. 10) Các công thần Vọng Các, hoặc không có con cháu ngành trưởng mà có con thứ hay cháu thứ thì lượng cho quan tước lương tiền. 11) Công thần đã chết rồi, hoặc không con cháu mà có vợ còn giữ tiết, thì cấp cho tiền gạo để nuôi. 12) Tra xét rõ thần kỳ cả nước để phong tặng. 13) Đặt thêm nhà thêm phòng ở Quốc tử giám, và ưu cấp lương tiền. 14) Kỳ thi Hương khoa Kỷ mão, ai đỗ nhị trường thì miễn binh dao 3 năm; đỗ nhất trường thì miễn 2 năm. 15) Từ mờ sáng ngày 1 tháng giêng năm nay trở về trước, phàm tội sung quân và tội lưu trở xuống đều buông thả, tội tử thì lượng cho khoan giảm. 16) Trộm cướp ra thú thì đều rộng thả.
      Ôi! Nối chí noi việc là hiếu, mong biểu dương phúc lớn các thánh được lâu dài; ban phúc ra ân về xuân, để cho khắp trong ngoài thứ dân được đầy đủ».
      Vua đã lên ngôi. Lấy Quang Minh đường làm nhà Lương am(1), màn trướng đều dùng vải trắng, lấy Tả Phuơng đường làm nơi tiện điện để nghe chính sự. Lỗ bộ đại giá, phàm tàn lọng cờ quạt đều dùng sắc vàng không thêu thùa trang sức. (Trong ba năm để tang thì ở tiện điện nghe chính sự, vua mang áo khăn vải trắng, các quan đều mang áo đen khăn vải trắng để chầu.)
      Ngày Kỷ mùi, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện lớn. Từ ngày ấy trở đi mỗi ngày ba lần làm lễ điện (lễ điện buổi sáng, lễ dâng đồ ăn, lễ điện buổi chiều, vua thân đến làm lễ, hoặc sai thân công làm lễ). Ngày mùng một và ngày rằm thì làm lễ điện lớn (Vua thân đem bầy tôi làm lễ. Như gặp ngày lễ Miếu hưởng, ngày Ban sóc và ngày tết Nguyên đán thì để hôm sau làm lễ). Các hoàng thân tước công thay phiên chầu chực ban đêm. Các bầy tôi văn võ chia làm ba ban chầu chực và phụ bái ban ngày. Không phải người đến bái và người chấp sự thì không được vào.
      Ngày Canh thân, yết các miếu. Trước đây vua sai bộ Lễ bàn về yết kiến các miếu. Bộ Lễ tâu: «Kính xét sách Thượng thư có nói «Kính yết tổ tiên» và chú thích rằng «Yết kiến tất cả các vua đời trước của nhà Thương». Thơ «Mẫn dư tiểu tử» ở «Chu tụng»
(1) Lương am: nhà ở của vua khi có tang.
 
chú thích rằng «Tự vương(1) đến chầu miếu». Như thế là Tam đại đã có lễ kiến miếu. Từ Văn đế nhà Tây Hán về sau, phàm vua mới lên ngôi tất phải yết kiến miếu Cao tổ. Từ Quang Vũ đời Đông Hán về sau, vừa mới lên ngôi thì yết kiến miếu Cao tổ và miếu Thế tổ. Khoảng đời Lục triều(2), gián hoặc có đời làm. Tiêu Sâm đời Tề bàn rằng: Há có người đứng ngôi chính, ở nơi tôn, nối nghiệp trước, vâng mệnh trời, mà không đến nhà Thái miếu yết kiến tổ tông sao? Đời Đường Tống trở về sau, đều câu nệ thuyết ba năm có tang thì không tế, rồi không làm lễ ấy nữa, như thế không phải tỏ lòng thành với chín miếu mà ảnh hưởng đến muôn nước. Lại xét Minh điển về nghi thức lễ lên ngôi, thì trước khi lên ngôi, sai quan kính cáo ở miếu; đến ngày lên ngôi, vua thân hành đến cáo ở điện Phụng Tiên, sau khi lên ngôi không có lễ kiến miếu nữa. Như thế thì trước khi chưa lên ngôi có một việc mà hai lần cáo ở miếu, lễ như thế là phiền, sau khi lên ngôi không thân đến chầu tôn miếu, lễ như thế là thiếu. Nay xin theo lễ Tam đại, và Lưỡng Hán, sau khi lên ngôi, chọn ngày tốt thân yết các miếu, mới là hợp lễ».
      Vua nghe theo, liền dụ rằng, từ nay trở đi, phàm có việc ở Thái miếu thì đại giá do cửa Tả Túc, ra cửa Tả Đoan, vào cửa Hiển Nhân, đến cửa Hiển Thừa dừng lại, đến miếu làm lễ.
      Vua để tang, lòng thương nhớ, hằng ngày đến bàn thờ lạy khóc, dẫu ngày rét ngày nắng, chưa từng ngày nào thiếu. Mỗi khi ra vào đô thành, tất đem việc cáo. Từng đối với bầy tôi khen thuật công đức tiên đế, nhỏ nước mắt khóc không thôi. Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Thận và Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng thường nói xin bớt đau thương.
      Vua nói rằng: «Trẫm vẫn biết, thương mà hủy hoại thân thể, vượt ra ngoài lễ, đến nỗi không thể để tang được nữa, lại là bất hiếu, nhưng tình thương nhớ không thể tự thôi được». Từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Hoàng khảo ta có để lại giáp chiến, nón chiến, đai lưng là các đồ khi dẹp loạn vẫn dùng, nay trẫm trông thấy phảng phất như trông thấy người, cũng do đó mà biết công nghiệp gian nan bởi đâu mà nên» (sau khi đã ăn táng thì đem để ở điện Minh Thành). Vua lại đưa ra một đĩnh vàng bảo rằng: «Đĩnh vàng này là của tin của Hoàng tỷ(3) lúc còn xiêu dạt để lại cho ta khắc mà cất đi».  (Trước kia khoảng năm Quý mão, Thế tổ Cao hoàng đế phải đổi chỗ ở luôn, mới lấy một nén vàng chia làm hai đĩnh, một đĩnh đưa cho hậu để làm con tin. Kịp khi thiên hạ đã yên, Thế tổ bảo hậu rằng: «Lúc gian nan cũng không quên được, nên lưu lại để bảo con cháu». Đến nay vua ra lệnh khắc vào đĩnh vàng ấy rằng: «Thế tổ để hậu Quý mão bá thiên thời tín vật - Vật tin của Hoàng hậu vua Thế tổ lúc xiêu dạt năm Quý mão». Kính cất ở điện Hoàng Nhân).
(1) Tự vương là vua mới nối ngôi.
(2) Lục triều: Sáu triều đại là Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ở Trung Quốc.
(3) Hoàng tỷ: mẹ vua chết rồi gọi là Hoàng tỷ.
 
      Cho các kỳ lão ở trong kinh kỳ bạc và cơm rượu theo thứ bậc.
      Thu chép các bề tôi cũ có quân công. 
      Chiếu rằng: «Đến nơi công việc là bổn phận của tôi con; cất nhắc thưởng khen là ơn điển của nhà nước. Nhớ xưa Hoàng khảo ta, một bộ nhung y, đánh dẹp giặc giã, trung thần chí sĩ, như mây hợp, như bóng theo. Trong khoảng ấy, có những người vì nước khó nhọc, ra trận lập công, không thể kể hết được. Sau khi đại định, đã được khen thưởng, tước xứng với công, lớn nhỏ không sót. Từ đấy đến nay, hoặc có bệnh phải từ chức, hoặc vì tuổi già phải rút lui, hoặc về quê quán nghỉ ngơi, hoặc vì lầm lỗi mất chức, đấy đều là sự bất đắc dĩ cả, há lấy làm yên tâm ở đấy đâu. Trẫm nay mới nối ngôi, cần tìm người cũ, muốn nêu dùng thêm rộng để không ai bị nén chìm. Đặc chuẩn cho những người vì quân công được bổ quan khoảng từ năm Đinh mùi trở về sau, năm Gia Long thứ 18 trở về trước, ai dự có chỉ sai, chỉ truyền, châu sắc, châu thị và công đồng phó, đã tản cư về thôn quê, hoặc lệ thuộc vào các nha, có ai trước ốm mà nay khỏi, tuổi già mà sức khỏe, tình nguyện xin khởi phục để làm việc, cùng là người có tội bỏ trốn đi mà biết ra trình thú tội, thì đều cho về Kinh, do bộ Lại dẫn yết kiến, sẽ tùy tài bổ dụng».
      Lại dụ cho các quan ở Kinh và ở ngoài ai bị xử phạt bổng từ năm Gia Long thứ 18 về trước thì đều được khoan miễn. 
      Hạ lệnh cho các quan trong ngoại đều cử những người học trò có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học.
      Chiếu rằng: «Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, cho nên ngoài khoa mục ra, phải nhờ có cử tri, mà chức phận của đại thần là phải đem người tài đức để thờ vua. Trẫm mới nối ngôi, mưu toan gắng gỏi, rất muốn trong triều có nhiều người giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hóa. Vậy ra lệnh cho các quan ở trong Kinh, văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên, ở ngoài thì các quan ở thành dinh trấn, đều cử một hai người có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học, không kể là nhà sang hay nhà hèn, đều kê tên tâu lên».
      Bắt đầu chế dấu quan phòng để cấp cho văn võ đại thần. (Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân, Chưởng Hữu quân, Chưởng Trung quân, Chưởng Tiền quân, Chưởng Thủy quân và Thượng thư sáu bộ, mỗi chức một dấu quan phòng bằng bạc. Thủy quân Thống chế được một dấu quan phòng bằng đồng, Tả tham tri, Hữu tham tri sáu bộ, mỗi chức được một dấu quan phòng bằng ngà). Trước đây các quan văn võ tâu nghị thì dùng ấn công. Đến nay sai Hữu ty chế ấn quan phòng ban cấp, cho khi phụng lục dụ chỉ và khi tâu nghị thì dùng.
      Bắt đầu đặt Văn thư phòng. Sai Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân, Cai hợp Hứa Đức Đệ, Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh và Nguyễn Văn Thuận sung các chức Thị thư, Thị hàn coi giữ đồ thượng bảo và văn thư, chương tấu, đồ bản, sổ sách; sai Hàn lâm Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh và Cống sĩ viện Nguyễn Trường Huy sung chức Khởi cư chú; đều do bộ cấp bằng để làm việc ở Văn thư phòng. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng của Văn thư phòng giao cho các Thị thư, Thị hàn, Nội hàn cùng giữ.
      Chuẩn định từ nay phàm năm, tháng, ngày, gặp phải «cảnh mệnh» (là chữ ngọ), các văn thư của quan dân đưa lên, giao xuống thì cho viết thẳng tháng ấy ngày ấy, bất tất dùng chữ «kê» (như tháng 5 thì viết kế tứ nguyệt) cùng những chữ «nhật tiền nhật hậu» nữa.
      Lấy Vệ úy vệ Tả bảo nhất Tả quân là Nguyễn Văn Tính làm Khâm sai chưởng cơ vệ úy vệ Tiền nhất quân Thị trung. 
      Cho Lê Kim Nhượng làm Vệ úy vệ Minh nghĩa Tả quân, Trần Văn Hãnh làm Phó vệ úy. 
      Triệu Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân, Hữu tham tri Hình bộ hành Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Minh Nghĩa, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính về Kinh. Lấy Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Hoàng Văn Diễn làm Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Huy Trinh làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham hiệp là Nguyễn Khoa Hào làm Thự lý hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thục làm Ký lục Bình Định.
      Trấn thần Quảng Ngãi dâng sớ tâu xin lấy chức cai hợp bổ tri huyện, Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận đem việc ấy lên tâu. Vua nói: «Chức thần dân thì nên chọn người khoa mục để làm, tư lại không làm chức ấy được». Hữu Thận xin cử Cống sỹ viện. Vua nói: «Chọn người dùng được thì dùng, chớ gây nên cái thói vội vàng cầu cạnh».
      Bầy tôi bàn dâng tôn thụy Đại hành hoàng đế là Khai Thiên Hoàng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.
      Vua nói: «Hoàng khảo ta trung hưng kiêm sáng nghiệp, công đức thịnh lắm, Cao tổ và Quang Vũ nhà Hán, không thể hơn được, tôn thụy như thế thì cũng hầu được chăng». 
      Vài ngày sau lại dụ các đại thần rằng: «Ta đêm nằm mơ thấy Hoàng khảo ở điện Trung Hòa bảo ta rằng: Đưa kim sách của ta lại đây. Ý giả vong linh Hoàng khảo ở trên trời cũng ngầm nhận tôn thụy ấy».
      Răn dụ thần dân trong ngoài: 
      Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ hoàng cực dựng đạo trung, đối thời mà nuôi muôn vật; vua nói làm phép tắc, ra mệnh để cáo bốn phương. Vì ban đức ra lệnh, làm phúc thì ân, bắt đầu ở mùa xuân; mà ban chầu trị quân, nhận chức làm phép, đều do ở việc lễ. Xét xưa, vua tôi khuyên răn, đều là theo lối người trước; sửa sang mưu hay, trong ấy giáo hóa dựng làm. Để cho người lớn có đức, người nhỏ tạo nên. Đạo phải lâu thì hóa mới nên; định lời nói để yên dân chúng. Theo lẽ trời đất giao thái; chính ngày trên dưới đợi nhau. Giúp đỡ khuyên răn không bỏ thiếu, cùng lòng e sợ mà hợp lòng kính cung; triều quận mục thú bắt chước nhau, xếp bằng phép tắc mà xét bằng tin thực. Còn như quân sĩ nanh vuốt; từng trải chiến trận gian nan. Một mùa giảng võ ba mùa về cày, đều theo mệnh lệnh lui tới; nghìn ngày chăm nuôi một ngày đem dùng đến chớ quên gan dạ trung thành. Đến như đông đúc cả đàn, đều dưới bao gồm che khắp. Cày dệt chớ bỏ nghề nghiệp, rèn nung lấy thói kiệm cần; tài năng giữ ấy tính trời, hăng hái đua nhau nhân nhượng. Trẫm chịu ngôi báu lớn, nối phúc tốt xưa. Vâng Tiên hoàng để cơ nghiệp nặng, giao việc khó khăn, vẫn sợ hãi như tới vực sâu, băng mỏng; lúc sợ chính nhường bưng chậu đầy, ở cảnh mãn túc, càng giữ gìn như soi gương sáng nước trong. Nay nhân buổi ban cho ngọc thụy(1) vậy đem lời dạy bảo đinh ninh. Ôi! Uốn nắn không sót, phạm vi không qua, đã nhóm được phúc làm chí đạo; dạy bảo không cùng, dung dưỡng không hạn, để kéo lại cuộc thịnh đại đồng. Cố gắng đều lo; thanh bình cùng hưởng».
      Ban cho vua nước Chân Lạp sắc thư và gấm lụa. (Gấm Tống 10 cây, lụa vải đều 50 tấm, trừu lông 10 tấm.) 
      Dụ rằng: «Trẫm vâng trọng trách của Tiên đế phó thác cho, nghĩ tôn thống nước nhà quan hệ vào đấy, ngôi thần khí không thể vắng lâu. Vừa rồi, trên tuân di chiếu, dưới theo lòng người, ngày mồng 1 tháng giêng năm nay nối ngôi Hoàng đế, ban phúc ra ơn, để tai mắt mọi người đều mới. Vương ở hàng chức cống đã lâu, nhờ Tiên hoàng đế ta dựng lại nước cho, đã suy lòng nhất thị đồng nhân, nên hưởng phúc chung cùng thiên hạ. Vậy dụ cho biết và ban phẩm vật cho vương, để rõ ơn đặc biệt. Vương nên vâng theo lời dụ, kính giữ lễ phiên thần để khỏi phụ lòng ta, tức là không phụ ơn đức che chở của Tiên hoàng đế».
      Lại sai may áo trắng đưa đến nhà Nhu viễn để ban cấp cho. Vua dụ Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân rằng: «Bọn khanh trông coi việc ngoài khổn, canh phòng ở chỗ biên cương, càng không nên quên nước Chân Lạp là thần thuộc của bản triều ở giáp giới hai nước lớn. Nay Tiên đế vừa băng, chính giáo đổi mới, phải xét kỹ xem họ hướng lại quay đi thế nào, để mà yên ủi vỗ về, dù có chi phí cũng không nên tiếc. Và nước Chân Lạp từ khi bản triều gây dựng cho đến nay, người nước Xiêm há không thắc mắc. Nay hoặc giả nhân lúc nước ta có việc đau thương, mưu toan úp lấy Nam Vang, cũng không thể không phòng bị được. Đại kế ở biên cương đó, khanh nên liệu kỹ sớm đi».
      Sai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt chọn các ấm tử có tài có hạnh, tâu lên để bổ dụng.
(1) Ngọc thụy: lễ chư hầu chầu vua, thì ban cho ngọc thụy.
 
      Ngày Ất sửu, vừa mặc áo trở đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện buổi sáng, lễ xong đổi mặc áo thường đến làm lễ ở trước bàn thờ Hoàng tỷ.
      Truy cấp cho Tham tri Hình bộ Nguyễn Duy Hòa 2 cây gấm Tống, 50 lạng bạc.  (Mùa đông năm trước Duy Hòa sung chức Đề điệu trường thi Thăng Long, trở về ốm chết.)
      Ban gươm đeo và súng tay cho các quan võ Kinh và ở ngoài (quan Kinh thì từ Vệ uý trở lên, quan ngoài thì các đại viên ở hai thành). Lê Văn Duyệt và Nguyễn Đức Xuyên đều được cho thêm sừng tê. 
      Ở Kinh sư giá gạo cao. Sai Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng hỏi thăm dân gian, có ai muốn mua gạo thì giảm giá mà bán cho.
      Ban lịch Hiệp kỷ năm Minh Mệnh thứ 1.
      Sai biền binh các vệ Hữu bảo nhất, Hữu bảo nhị, Trung bảo nhất đi thú Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành; cho áo quần và tiền lương bổng theo thứ bậc. Rồi lính thú không quen thủy thổ, nhiều người bị ốm. Vua nghe tin, sai trung sứ chạy theo đường trạm đến xét thăm. Dụ cho các quan địa phương vỗ về thương xót; nếu có người chết thì cấp tiền theo như lệ và cấp thêm cho một tấm vải.
      Cho tế tướng sĩ chết trận ở Thi Nại. Vua nhớ lại buổi quốc sơ trong trận Thi Nại tướng sĩ nhiều người chết trận, sắc cho Hữu ty sắm sẵn sinh lễ và 300 quan tiền, sai Lê Văn Duyệt làm đàn để tế.
      Bàn đặt quan thuộc ở phủ Tôn nhân. Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Thế hệ của nhà nước từ vài trăm năm chi phái sinh ra nhiều lắm, không thể ghi hết được. Nay nên lấy thân thuộc hai ba đời làm một sổ riêng, sống thì đặt tên, chết thì cho thụy, các lễ quan hôn tang tế thì ân cấp theo thứ bậc. Đặc chức Tả, Hữu tôn chính và các phủ thuộc coi giữ phả hệ, để rõ nghĩa luân thường.»
      Ngày Ất hợi, đúc sách vàng tôn thụy. (Dùng 9 tờ vàng, mỗi tờ dài 6 tắc 3 phân 4 ly, ngang 3 tắc 5 phân 1 ly.)
      Ngày Bính tý, xuất binh (trao cờ tiết mao cho đại thần võ ban như lệ trước). Trước một ngày, ra lệnh cho 1.000 biền binh Thị trung sắp hàng ở Công thự tả hữu, 1.000 biền binh Thị nội sắp hàng ở hai bên tả hữu trong cửa Đoan Môn. Đến ngày thì xuất binh. Xong thì thôi việc giới nghiêm. Ghi làm lệ.
      Cho Kiến An công là Đài 2.000 quan tiền.
      Dụ rằng: «Nghe thấy em không đủ tiền tiêu dùng, vậy cấp cho tiền. Em phải nghĩ đấy, những bổng lộc ấy là máu mỡ của dân. Phải cung kiệm để nối nghiệp nhà, đừng xa xỉ mà hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của há có thể thường dùng của công làm ơn riêng mãi được sao?»
      Định lệ hậu thăng hậu điệu cho các quan ở Kinh và ở ngoài bổng mãn. 
      Vua từng xem sổ các quan, dụ bầy tôi rằng: «Triều đình vì nước chọn người, hoặc lấy tư cách, hoặc lấy công lao tài năng, đều nên đem ra bàn chung, há nên kéo bè tư túi. Vậy định điều lệ để thi hành». Bèn chuẩn định: Phàm những quan trong ngoài, văn từ Chánh tam phẩm, võ từ Tòng nhị phẩm trở xuống, hiện ăn lương bổng chức đương làm đã đầy sáu năm trở lên tức là bổng mãn.  (Bàn lương bổng chỉ lấy chức thực thụ hiện nay mà bàn, còn người nào nguyên đã có chức từ trước, tuy ăn bổng nhiều năm, cũng không bàn đến. Lại như người nào ăn lương bổng đã đầy sáu năm, nhân có tang về nghỉ, lại được bổ nguyên chức cũ mà không được thăng, nay tính từ khi lại bổ nguyên chức đến giờ, dẫu chưa đầy sáu năm cũng cho liệt làm bổng mãn), Thượng ty quản lĩnh nên xét người ấy có thể làm được việc thì hằng năm cứ đến tháng xuân làm hai bản danh sách. Văn có việc làm, võ có coi quân, là sách hậu thăng (võ thì Trấn thủ, Lưu thủ lệ cũng thế), văn không làm việc, võ không coi quân, là sách hậu điệu, do hai Bộ Lại binh tâu lên, đợi chỉ thăng điệu (ở Kinh thì tháng 2, ở ngoài thì tháng 3, đều cứ trung tuần thì gởi cho bộ). Nếu do đặc chỉ và do chuẩn theo đình thần cử lên thì không kể niên hạn.
      Lại định lệ khai khuyết. Phàm quan chức có khuyết thì ngay tháng ấy làm sách gửi cho bộ, bộ thần lấy cả sách hậu thăng, hậu điệu tiến trình, đợi chỉ bổ khuyết. 
      Bàn định ngày ninh lăng. Khâm thiên giám là Hoàng Công Dương cùng Thị trung Trực học sĩ là Lê Duy Thanh đều giữ ý kiến riêng. (Công Dương chọn ngày 16 tháng 4 là ngày Tân sửu, giờ Đinh dậu, Duy Thanh chọn ngày 29 tháng 3 là ngày Ất dậu, giờ Đinh sửu.) Vua phê bảo bầy tôi rằng: «Văn từ Thiêm sự, võ từ Thống chế trở lên, phải kính cẩn bàn kỹ. Việc ninh lăng là việc lớn, lâu dài muôn năm, nên phải hết tốt hết đẹp, mới xứng tấm lòng hiếu của trẫm. Nếu thấy đích xác có chỗ chưa hợp thì cho chỉ ra tâu lên. Nhược bằng trước thì theo hùa, sau lại phát lời nói quái để người nghi hoặc thì trị tội nặng». 
      Mọi người bàn cho ngày Tân sửu tháng 4 của Công Dương chọn là tốt nhất. Lại sai các tước công bàn lại, đều hợp cả. Lời bàn đã nhất định rồi. Bèn ra lệnh cho Hữu ty sắm sửa tang nghi, lấy các đại thần chia ra trông coi công việc. 
      Dụ rằng: «Việc đưa đám là lễ lớn, nếu một việc gì chưa được hết tốt hết đẹp thì hối hận suốt đời. Bọn khanh phải hết lòng trù tính đấy».
      Vua sáng suốt cận thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê. Có bản phê bắt đầu từ đấy. 
      Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ về đinh ưu. Lấy Thị trung Trực học sĩ Lê Duy Thanh thay.
      Lấy Thượng bảo khanh là Trần Đình Trưng làm Cai bạ Phiên An.
      Triệu Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất về Kinh. Sai Phó tổng trấn Lê Văn Phong quyền coi ấn vụ Bắc Thành.
      Trước đây Chất dâng sớ tâu xin vào viếng tang. Vua nghĩ rằng phương Bắc là nơi quan trọng, không thể tạm lìa được, không cho. Đến nay vua thấy lễ ninh lăng đã định ngày mới triệu vào. Sai lấy 1.500 người trong các vệ Ngũ kích thuộc ngũ quân đi theo.
      Gọi 2.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ về Kinh (Thanh Hoa 600 người, Nghệ An 1.400).
      Đổi Nội đồ gia làm Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia làm Vũ Khố. Sai Thiêm sự Hộ bộ quản Nội đồ gia là Nguyễn Công Vị vẫn quản Nội vụ phủ. Tri bạ Đồ gia là Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Biện lý Nội vụ phủ. Hữu tham tri Công bộ quản Đồ gia là Nguyễn Khoa Minh vẫn quản Vũ Khố. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng để cấp cho.
      Lấy Cai đội Lê Văn Ý làm Thủ ngự sở Phú Quốc. Sai mộ lính lập 10 đội ở thủ sở, mỗi đội 50 người, cho mỗi đội đều làm thuyền lớn thuyền nhỏ 3 chiếc, nhà nước cấp cho khí giới, tha cho thuế thân và tạp dịch để sai đi tuần biển. 
      Lấy Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Tứ làm Phó vệ úy vệ Tín oai thự việc vệ úy.
      Lấy Vệ úy vệ Hiếu dũng là Tôn Thất Tình lĩnh Quản phủ Hà Trung và ban cho triều phục. Tình bệ từ, vua dụ rằng: «Ngươi là họ Tôn Thất, không ví như người khác; Hà Trung là đất thang mộc, lại không ví như phủ khác. Ngươi nên siêng năng cố gắng thêm lên, để xứng đáng trách nhiệm giao cho. Nếu làm việc không kính cẩn thì không những phải tội với triều đình mà lại phải tội với thế phả nữa. Phàm người ta phải kính sợ mới làm nên việc. Làm thiên tử còn nơm nớp sợ trên kiêng dưới, không dám cho mình là tôn cao giàu sang mà xa xỉ. Ngươi nên thể tất ý trẫm, phải kính sợ, phải cẩn thận nhé».
      Tình cúi đầu vâng mệnh.
      Lạc Hoàn sai sứ sang cống; sứ giả đến Nghệ An, xin đến Kinh lạy chầu. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua y cho. Sứ giả đến, cho yết kiến ở Tiện điện, rồi cho hậu mà bảo về. 
      Triệu Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính về Kinh. Lấy Chưởng cơ Mai Gia Cương thay lĩnh chức Trấn thủ.
      Sai Lê Văn Duyệt bói ngày tế Giao. Từ đấy đầu mùa Xuân sai quan bói ngày tế Giao, hằng năm lấy làm lệ thường. 
      Trí sĩ là Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Hựu vào viếng tang. Đăng Hựu tuổi 69, vua vời vào yết kiến để ủy lạo, rồi cho 100 quan tiền.
      Bãi việc các địa phương tiến dâng thú rừng.
      Theo việc cũ thì ngày lễ kỵ, các dinh trấn nhiều nơi dâng thú rừng. Vua bảo bầy tôi
rằng: «Tế ở nhà Tôn Miếu, các món trân tu bày ở trở đậu(1) đều có phép thường. Nếu cứ để bốn phương cống hiến, một con chim một con muông, tuy là vật nhỏ mọn, mà quan lại trách lấy ở dân, không khỏi khó nhọc phiền phí. Vậy bãi đi».
      Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn bằng đồng, có chữ «Sắc mệnh chi bảo»(2) (Sau lưng khắc «Nguyên Hòa ngũ niên tạo». Nguyên Hòa là niên hiệu của Lê Trang Tông.) Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ: «Trung hòa vị dục»(3). Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo bậc khác nhau (Trần Hữu Bảo bạc 20 lạng, Hồ Quang 5 lạng).
      Lấy Ký lục Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa làm Cần Chính điện học sĩ.
      Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Bá Xuyến, Hiệp trấn là Trần Văn Thái, vì nhũng lạm bị tội miễn chức. Lấy cựu Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát làm Trấn thủ Cao Bằng, Tham hiệp Kinh Bắc là Lẽ Đình Khuê làm Hiệp trấn, Tri phủ Ứng Hòa là Phùng Khắc Tuân làm Tham hiệp, Hàn lâm viện Nguyện Bá Tuân làm Tham hiệp Kinh Bắc.
      Đem bạc, lụa, trâu, rượu cho cha Lê Văn Duyệt là Văn Toại và mẹ Lê Chất là Đào thị và cho thư để khen ngợi ủy lạo. 
      Cho dịch trạm các dinh trấn 3 tháng lương. (Từ Quảng Đức trở về Nam đến Biên Hòa, về Bắc đến Thanh Bình, cộng 91 trạm, gạo 4.995 phương.)
      Ban kính đeo mắt của Tây dương và lọ dầu đinh hương cho bầy tôi.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Đạo trị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ không thể biết hết được. Nay thư viện Thanh Hòa chứa nhiều sách lạ bốn phương, bọn khanh lúc rỗi việc mà có chí đọc sách thì mượn mà xem».
      Cho công thần Vọng Các là Chưởng dinh thượng đạo hưu trí Nguyễn Long 30 lạng bạc. Long trước đây vì tuổi già về nghỉ, đến nay nghe tin quốc tang, ốm nặng không thể vào viếng tang được, dâng biểu tự trần. Vua thương, dụ cho miễn đến Kinh mà hậu ban cho. Thuộc hạ là Cai cơ Cao Văn Quế cũng được cho bạc 10 lạng.
      Thưởng vàng bạc cho các thân công, hoàng đế, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, theo bậc khác nhau.
      Sai dinh Quảng Đức xây lò gạch ngói ở Vân Cù (tên xã thuộc huyện Hương Trà), hằng tháng cấp tiến gạo cho người làm việc. Lò làm vào ruộng đất của dân thì đền bằng thóc.
(1) Trở đậu: Đồ thờ để đựng thịt cúng.
(2) Sắc mệnh chi bảo: Cái ấn đóng sắc mệnh của vua.
(3) Trung hòa vị dục: Chữ sách Trung dung, nghĩa là: đạo được trung hòa thì trời đất yên ngôi (vị), muôn vật sinh nở (dục).
      Sai bộ Hộ làm tổng sách tiền thóc. Dụ rằng: «Tiên đế để lại kho tàng cho ta để giúp nhân dân, số dư thiếu không thể không biết được. Vậy tính kê số tiền thóc xuất nhập trong một năm, thừa được bao nhiêu, làm thành hai bản sách, một bản để dâng nơi bàn thờ, một bản để ta xem».
      Chọn lính Thị trung, người có sức mạnh bổ vào mười đội Túc trực, lấy cất vật nặng đi xa làm mức thưởng cấp bạc tiền áo quần. (Cách chọn, lấy hai khối chì mỗi khối nặng hơn 100 cân, người dự tuyển mỗi tay nhắc mốt khối đi 15 trượng; lại cho một tay nhắc một khối đi 30 trượng là hạng ưu; hai tay nhắc đi 12 trượng, một tay nhắc đi 24 trượng là hạng ưu thứ; hai tay nhắc đi 10 trượng, một tay nhắc đi 20 trượng là hạng bình; hai tay nhắc đi hơn 8, 9 trượng, một tay nhắc đi hơn 16 trượng là hạng bình thứ; hai tay nhắc đi 7 trượng cho đến 5 trượng, một tay nhắc đi trên dưới 10 trượng là hạng thứ).
      Thống quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn chết. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Nguyễn Văn Tồn tuy là ở ngoài giáo hóa, nhưng làm tôi thờ Tiên đế, đã nhiều năm vất vả, một lòng trung thành, rất đáng thưởng». Bèn sai quan dụ tế, cho hai cây gấm Tống, 20 tấm vải, 200 quan tiền. Lấy Phó quản đồn là Cai cơ Hồ Văn Thất thự Chánh quản đồn, An phủ là Tót làm Phó quản đồn.
      Biên các đội tinh binh ở đồn Uy viễn làm cơ Tinh biên, cho Nguyễn Văn Vì là con Nguyễn Văn Tồn làm Cai đội thự Chánh quản cơ, Cai đội Nguyễn Văn Thành thự Phó quản cơ.
      Vua đã đại xá tù đồ (ở Kinh tù lưu đồ 217 người, ở ngoài tội sung quân và lưu đồ 389 người), lại lo rằng hoặc giả chúng khinh rẻ lại tái phạm, mới dụ rằng: «Triều đình thể đức hiếu sinh của trời đất mà xá lỗi tha tội, thì người có lương tri nên cố sức hối cải, làm người dân lành, để cùng lên cõi nhân thọ. Nếu quen nết xấu không chừa, lại can vào tội, tức là cố ý không hối cải, thì nước có hình thường, dẫu muốn lại cầu xin ơn điển cũng không thể được nữa. Bộ Hình phải lấy chỉ dụ này gửi khắp cho các địa phuong khiến đều biết cả.
      Sai sứ báo tang cho nước Xiêm. Lấy Tham tri Lễ bộ Bùi Đức Mân sung Chánh sứ, Thiêm sự Công bộ Trương Quang Hải và Thuộc nội cai đội Ngô Văn Trung sung giáp ất Phó sứ (Tặng Phật vương 2 cân kỳ nam, 3 cân nhục quế, 1.000 cân đường phèn, 2.000 cân đường và the sa vải điều 100 tấm). Đức Mân đến, vua Xiêm khoản đãi rất hậu, hỏi rằng: «Tục nước tôi viếng đám tang lấy bố thí làm hậu, nay muốn sai sứ đem vàng để làm phúc có được không?» Đức Mân nói: «Không hại gì». Khi về, vua quở trách rất dữ, giao cho bộ Hình nghị tội. Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng hết sức xin cho mới được khỏi tội.
      Định lệ thưởng phạt vì chóng hay chậm cho lính trạm từ Gia Định và Bắc Thành đến Kinh. (Thành Gia Định, việc rất khẩn 9 ngày đến Kinh, thưởng tiền 6 quan, không tới 9 ngày mà đến thì thưởng thêm 3 quan; việc khẩn vừa đi 10 ngày đến thì thưởng tiền 4 quan. Bắc Thành việc rất khẩn đi 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng tiền 4 quan; đi không tới 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng thêm 2 quan; việc khẩn vừa đi 5 ngày đến thì thưởng tiền 3 quan. Phàm việc rất khẩn và khẩn vừa mà đi quá hạn 1 ngày thì đình thưởng, tha tội; quá hạn đến 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm một ngày lại thêm 20 roi, tội chỉ đến 90 trượng là thôi. Đến như đi thường thì Gia Định 12 ngày, Bắc Thành 6 ngày, quá hạn 1 ngày thì tha tội, quá hạn 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm 1 ngày thì thêm 10 roi, đến 50 roi là thôi. Từ Kinh đến hai thành, lệ cũng như thế).
      Tháng 2 dâng lên Hoàng mẫu 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo.
      Quảng Nam giá gạo hạ, vua nghe rất vui lòng. Mùa đông năm trước ở Quảng Nam giá gạo cao, sai Tham Bồi Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân đến phát gạo ra bán. Đến nay gạo rẻ, ít người lĩnh gạo bán, triệu bọn Nghi về.
      Tha thuế điền thổ cho dân xiêu dạt ở xã Nga Mi (thuộc huyện Nông Cống) trấn Thanh Hoa. Từ đấy về sau ruộng đất của dân xiêu dạt bỏ hoang, sở tại đem án tâu lên, đều miễn thuế. 
      Sửa Hữu miếu.
      Cất sinh đồ ở Thanh Hoa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận bổ vào Hàn lâm viện. Trước đây Lê Văn Duyệt đi kinh lược địa phương Thanh Nghệ, hai người ấy đều có công gọi giặc trốn ra đầu hàng. Duyệt đem việc tâu lên triều đình cho nên có mệnh này.
      Lấy Cai đội Nguyễn Văn Niệm làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất, cựu Phó quản cơ Nguyễn Văn Bằng làm Phó vệ úy. 
      Bắc Thành giá gạo cao. Dụ cho các trấn trong thành hạt rằng tiền lương bổng phải chi về tháng 3 tháng 4 thì cho chi bằng thóc, giảm giá thóc mỗi hộc trị giá 1 quan tiền.
      Dân hai xã An Vân và Đốc Sơ (thuộc huyện Hương Trà) dinh Quảng Đức tâu xin miễn cho tạp dao 2 tháng để đào mương lấy nước tưới ruộng. Vua sai dinh thần khám thực, rồi y cho.
      Sai Phó đô Thống chế Tôn Thất Bỉnh, Tả thống chế Tôn Thất Dịch, Chánh giám sơn lăng sứ Tôn Thất Đạo, hễ đến ngày mồng 1 và ngày rằm, đều mặt triều phục đến các miếu kính cẩn làm lễ.
      Sai các cửa biển dự trữ tiền gạo để cấp cho người bị nạn.
      Chiếu rằng: «Thương người bị nạn để rõ chính sách nhân từ. Vả đường biển gian hiểm, sóng gió khó lường, gần đây quan quân dân chúng, hoặc đi việc công, hoặc đi buôn bán, lội hiểm lặn sâu, đều là bất đắc dĩ cả, gián hoặc bỗng gặp nạn gió, người sống thì không nơi nương tựa, người chết không ai liệm bọc, xét soi thấy thế, rất đáng xót thương. Vậy hạ lệnh cho các thành dinh trấn đều dự trữ tiền 100 quan gạo 100 phương ở thủ sở cửa biển, khi có người bị nạn thì xem việc công hay việc tư, tùy bậc mà cấp. (Phàm người đi công sai, cai đội phó đội trở lên, mỗi người cấp tiền 4 quan gạo 1 phương; chánh đội trưởng, đội trưởng thì tiền 2 quan gạo 1 phương; người chết thì số tiền cấp gấp đôi. Binh lính thì tiền 1 quan gạo 1 phương; người chết thì tiền 3 quan. Nhân dân thì cấp 5 tiền và 15 bát gạo; người chết thì 2 quan tiền. Không phải là đi công sai thì cai đội phó đội trở lên tiền 2 quan gạo 15 bát; người chết thì 3 quan tiền. Chánh đội trưởng trở xuống đến quân dân, thì 3 tiền 10 bát gạo; người chết thì 1 quan tiền).
      Sai Thiêm sự Hoảng Quốc Bảo, Thị hàn Hoàng Sư Định, Nội hàn Lê Bá Tú đến Quảng Trị phát thóc kho ra bán. Trước là dân Quảng Trị nhiều người điêu hao, bọn Bảo vâng lệnh phái đi thăm hỏi, đem hết tình trạng đau khổ tâu lên, vua bèn ra lệnh phát thóc kho giảm giá bán ra (Thóc một hộc trị giá 8 tiền, quân dân đều bán cho 1 hộc; kẻ góa vợ, góa chồng, cô độc thì bán một nửa).
      Lại triệu Ký lục Quảng Trị Lê Đồng Lý đến quở trách rằng: «Bọn các ngươi là người giữ việc chăn dân mà để cho dân đến như thế, chẳng phải là vỗ về nuôi nấng không đúng nên đến thế sao! Ngươi làm việc mới ít ngày, hãy tha cho; phải về cùng với Lưu thủ là Bùi Văn Thái hội đồng với phái viên mà làm cho thỏa đáng, cho tiểu dân đều được nhờ ơn, để bù lại lỗi trước. Còn Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn không có tài chăn dân, giải chức ngay về Kinh để đợi chỉ. Lại chuẩn lời bàn của đình thần, phàm dinh hạt nào nhân dân xiêu dạt thì tha bắt dao dịch, hoãn thúc giục thuế, để dân được thư.
      Bộ Công tâu xin trưng thu trước gỗ thuế của thợ rừng ở Quảng Trị.
      Vua nói: «Lệ thuế sản vật năm nay, trước đã có lệnh tha, nay mực tờ chiếu chưa khô mà lại trưng thu thì lấy gì để cho dân tin được. Nếu không đủ thì lấy tiền công mà mua».
      Cấm các quản quân thiện tiện đòi lính mộ trốn thiếu.
      Vua thấy lính ứng mộ không dính dáng đến việc xã dân điền cấp, thế mà gần đây mỗi khi có người trốn thì người cai quản thường thường theo nguyên quán mà đòi bắt, làm khổ cho dân, nên sắc từ nay về sau hễ có lính trốn thì tư cho bộ Binh phái nã, không được bắt bớ nhiễu dân.
      Đổi tên đài Bắc Củng làm đài Bắc Định, cửa biển Yên Việt làm cửa biển Việt Yên.
      Sai biền binh Thủy quân đem các thuyền hiệu, thuyền ở, thuyền lê 70 chiếc đi chở gỗ cây, đá phiến cùng tiền và sản vật nhà nước ở Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Bình, Phú Yên, Bình Định nộp về Kinh.
      Bộ Lễ tâu dâng nghi chú tế Giao, từ lúc phát thệ ăn chay đến lúc lễ xong, cứ theo như điển cũ. Vua nghe theo. (Trước khi tế Giao 3 ngày, đại hội các quan văn võ để thề ăn chay ở sân điện Thái Hòa. Trước 2 ngày vua thân đến cáo ở Thái Miếu và điện Hoàng Nhân. Trước 1 ngày xa giá đến Trai cung. Đến ngày hôm ấy đem bầy tôi làm lễ lớn.)
      Ngày Tân sửu, tế Trời đất ở đàn Nam Giao, lễ xong, mưa to như trút nước. Trước đây trong kinh kỳ kém mưa, nhà vua lấy làm lo, dụ rằng để sau khi tế Giao thì cầu đảo. Ngày hôm ấy mưa, người đều cho rằng lòng tinh thành cảm đến trời đất.
      Sai trung sứ đi các huyện ấp trong kinh kỳ, xét xem lúa ruộng thế nào để tâu lên.
      Sai Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân vẫn lĩnh Hộ tào Bắc Thành, hiệp cùng Phó tổng trấn Lê Văn Phong bàn làm các việc ở thành. Tường Vân trước đây có lệnh gọi về Kinh, chưa kịp lên đường, vừa gặp Lê Chất đến Kinh, vua hỏi về việc thành. Chất nhân tâu nói: «Văn Phong là người chất phác hiền lành, không có học, xin để Tường Vân cùng ở làm việc». Vua nghe lời tâu, bèn ra lệnh cho Tường Vân ở lại thành. Cải bổ Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Tào hộ Bắc Thành là Hoàng Văn Diễn làm Hiệp trấn Thanh Hoa, Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Xuân Thục ở lại Kinh làm việc Bộ.
      Đặt trạm đường thủy ở sông Vĩnh Tế.
      Trước đây Hà Tiên có việc báo cho Gia Định tất phải theo đường biển, nhiều khi chậm trễ. Đến nay ra lệnh cho thành thần đặt trạm đường thủy để chạy đệ tin báo quan trọng, nếu đường sông có chỗ nào chưa thông thì đi đường bộ cho nhanh việc công.
      Lấy Phó vệ úy vệ Củng võ Hữu dinh quân Thần sách là Lê Văn Sách làm Vệ úy vệ Diệu võ Tả dinh.
      Cấm trong kinh thành chứa chấp những bọn nhỏ hèn vô lại và nói tiếng Hồ ăn mặc lạ.
      Vua bảo thị thần rằng: «Kinh thành ở sát dưới xe, gần đây viên giám thành lơ là đàn áp nên bọn nhỏ hèn nhiều kẻ dám đi lại làm ồn ào, không tôn trọng nơi kinh sư, phải nghiêm cấm đi».
      Quảng Bình giá gạo cao. Sai dinh thần phát gạo kho 10.000 phương, giảm giá bán ra (1 phương gạo giá 8 tiền).
      Trấn thần Bình Định tâu nói: «Các sở đầm nguồn Trà Đinh, Thạch Bàn, Kiều Bông, Hà Náo, Ô Kiêm, Đồng Trí thuộc hạt ấy ít người muốn trưng, xin giảm giá để tiện cho dân. Vua y cho. Sắc từ nay về sau ai muốn trưng thì cho trưng, ai không muốn thì chớ bắt ép.
      Sai các quân tập trận. Vua ngự điện Kiền Nguyên để xem.
      Lấy Hữu tham tri Công bộ là Đoàn Viết Nguyên làm Tả tham tri Hộ bộ, Nguyễn Đức Huyên làm Tả tham tri Công bộ, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính làm Hữu tham tri Công bộ.
      Bổ con Đặng Đức Siêu là Đức Thiệm, con Trần Văn Trạc là Văn Thục làm Hàn lâm Thị thư.
      Bàn định quy trình nhà Quốc tử giám.
      Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Học hiệu là quan hệ đến hiền sĩ, nhà nước dùng người phần nhiều lấy ở đấy. Tiên đế bắt đầu đặt nhà Quốc tử giám, đặt học quan và định phép xét thi để gây dựng nhân tài cho nhà nước dùng. Ta theo chí Tiên đế, muốn sai làm nhà học, lấy thêm sinh viên, hậu cấp lương cho, định rõ chương trình khiến cho người học đều được thành tài để đợi xét dùng. Bọn khanh phải cùng học thần bàn từng phần mà tâu lên».
      Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân dâng biểu thành khẩn xin vào viếng tang. Vua y cho, sai Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn.
      Vua nghĩ Văn Nhân là người huân cựu, tuổi lại già dụ cho đi đường thong thả, chớ để mệt nhọc, khi đến, vời vào yết kiến ở Tiện điện, thung dung cho ngồi, yên ủi hỏi han mãi.
      Lấy Vệ úy vệ Thắng oai quân Thị nội là Phạm Văn Tín làm Lưu thủ Quảng Nam. 
      Sai Đốc thần Thanh Hoa là Nguyễn Văn Ngoạn tế cáo ở Nguyên miếu.
      Chiếu rằng: «Báo đền từ gốc để cho tôn đạo hiếu; chính từ lúc đầu để cho rõ điển lễ. Trẫm mới nối mối lớn, nghĩ đến Nguyên miếu ở quý hương, gây mở nghiệp vương để lại muôn đời. Vậy ra lệnh sắm lễ yết cáo, để tỏ nghĩa nhớ đến tổ xa».
      Định thêm lệ lễ Nguyên miếu. (Lệ trước có những lễ Trừ tịch, Chính đán, Đoan dương, tế hưởng mạnh Xuân, mạnh Thu và tế Chạp. Đến nay thêm hai lễ hưởng mạnh Hạ, mạnh Đông.) Đặt ty Từ tế, lấy người công tính là Nguyễn Hựu Tuyên làm Từ tế sứ (trật Tòng tứ phẩm), Nguyễn Hựu Sỹ làm Từ tế phó sứ (trật Chánh ngũ phẩm), kiêm quản các chi công tính và phụng giữ việc thờ cúng. Vua dụ rằng: «Bọn ngươi là công tính coi giữ việc thờ tự, nên xướng suất người họ, dạy bảo con em, phàm việc tất phải thành kính, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm».
      Lấy tiền bạc trâu rượu cho tôn thất, công tính, ngoại thích, quý hương, quý huyện. Lại thưởng thêm cho các kỳ lão công tính tuổi từ 70 trở lên, các kỳ lão quý huyện tuổi từ 80 trở lên, bạc lụa rượu thịt theo bậc khác nhau.
      Bắt đầu đặt bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai quân Thị nội, mỗi dinh đều 5 vệ. Dinh Thần cơ 5 vệ thì lấy 8 đội Trung hầu (từ đội 2 đến đội 9), 3 đội Chấn oai, cộng 11 đội, bổ làm Trung vệ, 10 đội Chấn oai làm Tiền vệ, 10 đội Loan nghi làm Hậu vệ, 2 đội Tân hầu ở Bình Định, 7 đội, 5 đội Thắng và 2 đội Chấn ở Quảng Nam, đội Kiên Ngãi ở Quảng Ngãi, cộng 10 đội, làm vệ Thần oai, 2 thuyền Kiên súng và Nhưng súng ở Bình Hòa, thuyền Tân Bính ở Bình Thuận, 5 thuyền Bính ở Quảng Nam, đội Oai bính ở Quảng Trị, đội Thắng súng ở Phú Yên, cộng 10 đội, làm vệ Chấn oai. Dinh Tiền phong 5 vệ thì lấy 8 vệ Kiện võ bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Kỳ võ làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trang võ làm Tả vệ, 10 đội vệ Nghiêm võ làm Hữu vệ, 10 đội vệ Tuyên võ làm Hậu vệ. Dinh Long võ 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Nội trực bổ làm Trung vệ, 11 đội vệ Trung tín nhất làm Tiền vệ, 4 đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm và Tiểu sai, 6 đội Nội hầu (từ đội 8 đến đội 13), cộng 10 đội làm Tả vệ, 6 đội Kiên thuận, 3 đội Kiên dũng, đội Trung hầu thuộc tòng, cộng 10 đội, làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhất làm Hậu vệ. Dinh Hổ oai 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Tín oai bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Thắng oai làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trung cần làm Tả vệ, 12 đội vệ Trung tín nhị làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhị làm Hậu vệ. Còn quân Thị nội, vệ Kỹ võ (12 đội sinh thiết), vệ Thành võ (2 đội Thành võ, 3 đội Nội hầu ngũ, Nội hầu lục, Nội hầu thất, 5 đội Thường hầu, cộng 10 đội), vệ Trinh võ (2 đội Tiểu sai, Nội mã, 4 đội Trinh nghĩa, cộng 6 đội) cùng với đội Hoàng kiếm, đội Tả vệ, đội Hữu vệ, 3 đội Dực võ nhất nhị tam, đều để nguyên hiệu cũ.
      Bổ Phó vệ úy vệ Trung hầu là Trương Công Tuyên làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội, Vệ úy vệ Kiện võ là Lê Phúc Hậu làm Vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong, Vệ úy vệ Trang võ là Vũ Văn Châu làm Vệ úy Tả vệ, Phó vệ úy vệ Trang võ là Hồ Văn Trương làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Nghiêm võ là Nguyễn Khả Bằng làm Vệ úy Hữu vệ, Phó vệ úy vệ Nghiêm võ là Vũ Văn Tính làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Tuyên võ là Nguyễn Đăng Huyên làm Vệ úy Hậu vệ, Vệ úy vệ Nội trực là Mai Văn Thành làm Vệ úy Trung vệ dinh Long võ; Vệ úy vệ Trung tín nhất là Phan Văn Thúy làm Vệ úy Tiền vệ; Quản cơ Hữu thủy là Nguyễn Văn Sử làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Hữu bảo nhất là Ngô Văn Thành làm Phó vệ úy Hậu vệ, Phó vệ úy vệ Tín oai là Nguyễn Xuân làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Hổ oai, Phó vệ úy vệ Thắng oai là Nguyễn Văn Phượng làm Phó vệ úy Tiền vệ, Vệ úy vệ Trung cần là Đỗ Quý làm Vệ úy Tả vệ, Phó vệ úy vệ Trung cần là Bùi Văn Phượng làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Trung tín nhị là Nguyễn Văn Lượng làm vệ úy Hữu vệ, thự Vệ úy vệ Tín oai là Tôn Thất Tứ làm thự Vệ úy Hậu vệ, Phó vệ úy vệ Hữu bảo nhị là Nguyễn Văn Tùng làm Phó vệ úy.
      Chọn lấy 40 người trong các đội Loan nghi quân Thị nội đặt làm đội Bả cái.
      Bắt đầu đặt vệ Nội hầu. Lấy 3 đội Nội hầu nhị, tam, tứ, đội Tả hầu, đội Hữu hầu, đội Trung hầu nhất, đội Chấn hầu, hai thuyền Toàn bính nhất, nhị, thuyền Quảng bính, sung bổ vào.
      Sai Tôn Thất Dịch kiêm quản đội Giám thành.
      Vua thấy trong Kinh thành nhiều người quyền thế quan trọng, mà quản giám thành thì phẩm trật thấp, sợ không kiềm chế được, mới sai Dịch kiêm quản.
      Cai đội Hậu quân là Nguyễn Văn Trạc đi lầm vào Thanh Phong đường, bị người giữ cửa bắt được. Chưởng Hậu quân Lê Chất sợ hãi tạ tội, xin chém Trạc. Vua nói rằng: Trẫm làm chính trị bằng lượng rộng lớn. Trạc vừa ở ngoài đến, chưa biết tình hình cấm cửa, đánh roi mà tha cho».
      Sửa lăng liệt thánh.
      Sửa nhà Tả trù và nhà Hữu khố của Thái miếu.
      Định lệ thuộc binh của Thống chế quân Thị trung quân Thị nội và của Thượng thư, Tham tri, Thiêm sự sáu bộ. Sai mộ dân ngoài tịch sung vào (Thống chế 50 người, Thượng thư 20 nguời, Tham tri 15 người, Thiêm sự 5 người).
      Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Phạm Văn Quỳnh, tuổi già nghỉ việc, cho chi nửa lương công thần Vọng Các.
      Lấy Hữu thống chế quân Thị trung là Trương Phúc Đặng lãnh Án trấn Bình Định. Sai cấp cho 20 người đội Tài hoa làm thuộc binh, gọi là đội Kiên định. Phúc Đặng đến trấn xin mộ đủ quân số một đội. Vua y cho.
      Giảm 5 phần 10 tiền thóc cày mướn ruộng quan điền, quan trại năm nay (thường năm cày mướn ruộng quan điền quan trại lệ không được ân xá, đây là đặc cách).
      Vua thấy từ trước đến nay chương sớ của bốn phương tâu lên, các bộ thần mở phong bì phụ xem trước, có việc gì không hợp thì bỏ không tâu, bèn sắc cho sáu bộ, từ nay chương sớ có cái không hợp cũng đem việc thanh minh, không được tự ý bác đi, để phòng sự che lấp.
      Bắt đầu đúc tiền «Minh Mệnh thông bảo» 6 phần bằng đồng và bằng kẽm, sai lấy mẫu tiền gửi cho cục Bảo tuyền ở Bắc Thành theo đúng phép mà đúc. Định lệ tiền công liệu (Cứ trong 100 cân đồng kẽm thì có 49 cân đồng đỏ, 45 cân kẽm, 6 cân chì, đúc thành tiền đồng 37 quan 8 tiền, cấp tiền công liệu 5 quan 5 tiền 33 đồng 6 phân 2 ly. Mỗi 100 cân kẽm đúc thành tiền kẽm 41 quan, cấp tiền công liệu 3 quan 4 tiền 21 đồng 6 phân 5 ly).
      Cấm người thượng thiện mua rẻ vật ở chợ.
      Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng rằng: «Kinh thành là nơi đô hội, buôn bán đông đúc, gần đây nghe nói người thượng thiện và nhà bếp ở các nha môn, nhiều kẻ lấy thanh thế nạt người mà mua hàng rẻ, người ở chợ lấy làm khổ. Trẫm muốn luật pháp thi hành từ chỗ gần, cho nên ra lệnh cho người thượng thiện đều đeo tín bài để biết (bài khắc hai chữ Thượng thiện), hễ dám làm càn điều phi pháp thì bắt trị không tha».
      Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Văn Thái về đinh ưu, lấy Quản đạo Thanh Bình là Đào Văn Thành làm Trấn thủ Tuyên Quang, Vệ úy tiền vệ dinh Long võ quân Thị nội là Phan Văn Thúy làm Quản đạo Thanh Bình.
      Thái có tang mẹ, về táng ở Gia Định, khi đến Kinh vào yết kiến, vua nghĩ Thái ở ngoài 19 năm, vẫn có công lao rõ rệt, cho 100 quan tiền.
      Hiệp trấn Hải Dương là Ngô Khản vì ốm miễn chức; lấy Tham hiệp Hưng Hóa là Nguyễn Kim Bảng làm Hiệp trấn Hải Dương, Tri phủ Kiến Xương là Trần Đình Tiến làm Tham hiệp Hưng Hóa.
      Lấy Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân làm Hàn lâm viện Thừa chỉ, Cai hợp Hứa Đức Đệ làm Tu soạn, Thủ hợp Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh, Nguyễn Văn Thuận làm Biên tu. Quýnh và Thuận kiêm chức Khởi cư chú.
      Hạ lệnh cho các hoàng tử và hoàng đệ vào học ở Hữu Phương đường. Lấy Cần Chính điện học sĩ Ngô Đình Giới, Lê Đại Nghĩa sung chức Giảng quan.
      Vua từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Cha anh yêu con em, tất phải rèn luyện cho nên người có đức, không thế thì yêu chúng lại là làm hại chúng. Trẫm có 4 người em nhỏ. Muốn đặt sư phó để dạy cùng với các con. Nhưng nghĩ đến người dạy thì chỉ có Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa là bậc lão thành túc học, có thể kham chức ấy. Bèn có mệnh này. Rồi Đình Giới được thăng Hữu tham tri Hình bộ, Đại Nghĩa một mình chuyên việc giảng dạy.
      Vua dụ rằng: «Trẫm từ lúc nhỏ, nhờ sức giúp đỡ sửa chữa của khanh. Nay bọn Quân Cự là em nhỏ của trẫm, đều sinh trưởng ở nơi thâm cung, không dạy thì không thành người có đức được. Khanh nên sớm hôm khéo dẫn bảo, có lỗi thì đánh, chớ để cho thành tánh kiêu căng lười biếng». Nhân cho cái roi dạy.
      Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói: «Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được». Vua hỏi rằng: «Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à?» Vị đáp rằng: «Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học?» Vua nói rằng: «Về phần trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao?»
      Đốc học Quốc tử giám là Nguyễn Đăng Tài vì già ốm về nghỉ. Vua nghĩ đến công hầu giảng trước, cho tiền 50 quan. Rồi Đăng Tài chết. Cho một cây gấm Tống, 20 lạng bạc.
      Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Trị là Bùi Văn Thái có bệnh xin về Kinh điều dưỡng. Vua y cho.




Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN II
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất (1820), mùa xuân, tháng 3, lấy Tham bồi Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi làm Ký lục đạo Vĩnh Thanh. Khi Nghi bệ từ, vua dụ rằng: «Vĩnh Thanh là đất xung yếu ở cõi Nam, trấn thủ phủ cũ phần nhiều không được người giỏi. Ngươi là người trong họ, vẫn có tiếng khen, nay tới đất ấy, nên hết lòng với nhà vua, để ý phòng giữ nơi biên giới, cần phải tuyên dương ân tín, để cưu mang dân chúng và man di. Ngươi còn tuổi trẻ, khí huyết đương hăng, thực nên lấy đấy lắm răn, cùng bạn đồng liêu, bàn tính điều nên điều chăng để cùng giúp việc nước, thì ngươi được tiếng khen xứng chức, mà trẫm cũng không mang tiếng là tư vị người thân».
      Sai Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận chọn trong hai ty Tiết thận và Cẩn tín ở điện Thanh Hòa, ai làm được việc thì bổ vào phủ Nội vụ. Dụ rằng: «Giữ việc tuyển bổ, cân nhắc nhân vật, là trách nhiệm của ngươi, phải cẩn thận đấy». Lại nói rằng: «Bề tôi thờ vua, có việc gì không phải thì nói đừng giấu giếm. Xưa Đế Thuấn răn bề tôi rằng: Ta trái thì ngươi sửa giúp ngươi chớ chỉ có theo trước mặt. Ngươi nên thể theo ý ấy. Có việc gì sai trái thì nói hết đừng tiếc, để giúp những điều trẫm không biết tới. Vả lại trẫm mới nắm cầm muôn việc, làm sao cho mọi việc đều hay cả được. Muốn đặt chức ngự sử giao cho chức trách hiến nộp lời phải, xét hặc việc trái, mà khó tìm người. Ngô Đình Giới là người cương quyết ngay thẳng, bọn ngươi nên cùng bàn bạc chính sự được đấy».
      Bãi thuế sân chim ở Hà Tiên. Bộ Hộ tâu dâng ngạch thuế sân chim. Vua nói: «Dân là đồng bào ta, vật là cùng sống với ta, người làm vua nên suy lòng nhân với dân kịp đến muôn vật, khiến đều thỏa sống. Nay bọn tiểu dân trục lợi lấy việc đánh chim làm nghề nghiệp, làm hại nhiều sinh vật, lòng ta không nỡ để như thế. Vậy bãi đi».
      Thổ phỉ ở Thái Nguyên là Hà Đoan Thiệu ngụy xưng là Lý nguyên soái và Lương Hoàng Hải ngụy xưng là Quốc lão họp đảng đi cướp bóc, đông đến 2.000 người, đánh vây trấn thành. Trấn thủ Phan Văn Hài đóng chặt thành để tự thủ. Thành Thần nghe tin báo, lập tức sai Vệ úy vệ Hùng dũng là Đỗ Thiên Thẩm họp đánh. Thẩm đem 300 quân đánh nhau với giặc, bắt chém rất nhiều. Thiệu giải vây chạy.
      Tin thắng trận tâu lên. Vua sai thưởng cho Thẩm và Hài mỗi người một bộ mũ áo đại triều, cho quân linh hơn 600 lạng bạc. Người chết hay bị thương thì hậu cấp cho.
      Rồi Thiệu chạy đến Quỳnh Động (tên xã thuộc huyện Yên Thế, Bắc Ninh). Thẩm cùng Thống quản thập cơ là Ngô Văn Vĩnh đuổi bắt được Thiệu và Lương Hoàng Hải cùng đồ đảng hơn 160 người.
      Vua cho rằng thành thần Lê Văn Phong điều độ được đúng, hạ chiếu nêu khen. Thưởng thêm cho quân lính hơn 300 lạng bạc; cho Thẩm thăng Chưởng cơ, các tướng hiệu theo thứ tự được thăng thưởng.
      Khi thành thần dâng án lên, vua không nỡ giết nhiều, chỉ ra lệnh giết Thiệu và Hải cùng vài người cố phạm, còn các người khác thì rộng tha hết.
      Sai hành nhân là Quan Vĩnh Phát sang nước Thanh mua hàng hóa.
      Lấy Lê Bá Phẩm làm Thượng thư Hình bộ. Phẩm vì già ốm xin từ. Vua dụ rằng: «Trẫm trẻ tuổi nối ngôi, nghĩ nhờ năm ba người bề tôi cũ giúp đỡ, nay có mệnh mà khanh từ, vậy thì khanh không nghĩ yêu vua à? Vả lại, trẫm lấy khanh quản lãnh việc bộ là để nắm đại cương thôi, đến như án kiện giấy tờ thì có Tham tri Thiêm sự chia giữ, chứ có phiền khanh đến việc nhỏ đâu» Phẩm nhỏ nước mặt khóc cố từ, vua vẫn không nghe.
      Bộ Lễ bàn nghi thức dâng tôn thụy (trước kỳ, vua ăn chay, sai quan kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc, chọn sai đại thần chấp sự. Trước 1 ngày, nhân lễ điện buổi sớm đem việc dâng tôn thụy cáo ở bàn thờ. Đến ngày, lúc sáng rõ, hữu ty bưng sách vàng, sách lụa, sách hương, ấn hương, minh tinh để ở trên án trong Tiện điện. Vua mặc đồ trắng đến trước án, đứng quay mặt về phía bắc, cung kính xem xong, hữu ty bưng ra, dâng để ở thái đình cho loan nghi rước đi. Vua lên xe theo. Đến ngoài cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe vào, mặc áo tư thôi làm lễ. Sách vàng dâng để ở bên tả bàn thờ, minh tinh treo ở bên hữu; sách lụa, sách hương, ấn hương đều đốt đi), xin vua mặc đồ trắng kính duyệt sách vàng ở Tiện điện, rồi đi xe theo đến ngoài cửa điện Hoàng nhân.
      Vua xem tờ tâu, phê rằng: «Trẫm phải mặc áo tư thôi mà duyệt sách và đi bộ theo, lòng trẫm mới yên». Bầy tôi đều tâu nói: «Chỗ điện đình là nơi chính lệnh ban ra, không nên mặc áo tư thôi ra vào, cho nên Tiên đế để tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng mặc áo trắng duyệt sách ở Tiện điện. Xin theo như bộ Lễ đã bàn».
      Vua nói: «Bọn khanh đã cho rằng mặc áo tư thôi duyệt sách chưa tiện, nên để cho trẫm đi bộ theo là phải». Lại dụ rằng: «Làm vua thì lấy Tôn Miếu Xã Tắc làm trọng, lễ hạn chế nên tình không được tỏ hết ra. Đầu là trẫm muốn đưa tử cung Tiên đế để ở điện Trung Hòa cho được sớm hôm gần sát, sau đưa để ở điện Hoàng Nhân là cũng bởi các khanh hai ba lần lấy đi mệnh của Tiên đế mà cố xin mãi, trẫm không theo không được thôi».
      Ngày Bính dần, vua đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn thụy Đại hành hoàng đế(1) là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Vũ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế Tổ.
      Sách văn rằng: «Vẫn nghe, bàn soạn để thuật đức hay, nêu rạng để tôn đạo hiếu, cho nên lời lũy(2) đã rõ ở Kinh Lễ; mà lời tụng(3) bày ra ở Kinh Thi. Duy đức tốt tỏ lên đến trời, nêu danh to cao trùm nghìn thuở».
      Kính nghĩ, đức «Đại hành hoàng đế bệ hạ, đức vừa cứng sáng, tài kiêm võ văn. Gặp vận nước nhiều việc khó khăn; chỉnh kiền cương(4) lúc đã rối loạn. Chân trời góc biển, đi chỗ hiểm như đất bằng; hang hổ đầm rồng, ở chỗ nguy thành ra phúc. Dầm mưa chải gió, thân đánh trăm trận. Giết thù nước để yên nạn lớn; vững nghiệp cũ mà mở thái bình. Đức hiếu sinh khắp ở lòng dân; oai thần vũ vang nơi tục khác. Công to đức thịnh, hơn các đế vương; sáng nghiệp trung hưng, cao hơn Hạ Hán. Luân thường tốt đẹp, trên cả xưa nay; đạo đức sáng tươi cảm đến trời đất. Tốt thay! Ba chục năm ngựa sắt gươm vàng; mười tám năm dựng giường bày mối. Như trời mở đất đóng, vực lặng sấm vang. Biến hóa mầu nhiệm như thần; chuyển vần như trời không nghỉ. Đức hóa đương thi hành trong nước; linh hồn đã vội trở lại quê. Thềm Đế Nghiêu rụng hoa, canh tường(5) như thấy; rồng Hiên Viên bay ngất, cung kiếm khó vin. Tôi đòi cảm nhớ chốn miếu đường; dân chúng đau thương nơi rừng núi. Ơn trời cao vòi vọi, sao chút đích báo đền; đức vua khó hình dung, mong phô bày muôn vật. Kính cẩn đem bầy tôi, xin mệnh ở trời đất tôn miếu, kính dâng sách vàng, tiến tôn thụy là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế Tổ. Kính mong thông minh như trước, lên xuống ở đây; nhận hiệu tốt này, ban phúc lành mãi. Ở trên soi xuống, cùng mặt trời mặt trăng sáng tỏ từng không; như trời sáng cao, đặt núi to sông lớn vững bền muôn thuở».
      Lễ xong, báo cáo cho trong ngoài đều biết.
(1) Đại hành hoàng đế: vua mới chết chưa có tôn thụy.
(2) Lũy: trình bày đức hạnh người chết bằng lời văn. Kinh Lễ nói: người hèn không được trình bày đức nết người sang, kẻ nhỏ không được trình bày đức nết người lớn.
(3) Tụng: văn xưng tụng công đức. Kinh Thi có Thương tụng để xưng tụng công đức nhà Thương. Chu tụng để xưng tụng công đức vua nhà Chu.
(4) Kiền cương: quyền của vua.
(5) Canh, tường: khi Đế Nghiêu chết đi, Đế Thuấn nhớ Đế Nghiêu quá, rồi lúc ăn thì như thấy Đế Nghiêu ở bát canh, lúc đứng như thấy Đế Nghiêu ở bức tường.
 
      Chiếu rằng: «Nêu tên rạng rỡ để tôn đạo hiếu; trau dồi cuối cùng để trọn luân thường. Cho nên có đức lớn tất được danh hay, mà tôn sùng gọi là điển lớn. Nay Đại hành hoàng đế vội bỏ nước nhà. Xét trong điển lễ, nên dâng hiệu hay. Tháng này, trước đã sai các quan kính cáo Trời Đất và Tôn Miếu Xã Tắc. Ngày mồng 10 thân đem bầy tôi dâng sách cung tiến tôn thụy và miếu hiệu. Xin ngài nhận lấy tên hay, mãi ban nhiều phúc. Ôi! Bàn soạn báo đền không hết, đã thể một lòng hiếu của thánh nhân mở rộng ra; nghi ngút để mãi không cùng, mong đến hàng ức năm nơi tông xã giữ hưởng mãi.
      Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế se mình, bọn Cai bạ hầu thuốc Trần Văn Đại và Y chánh Nguyễn Tiến Hậu, Y phó Đoàn Quang Hoảng đều phải tội giam ở ngục, đến bấy giờ các đại thần hết sức xin, được tha cho về làng. Sau vua thường bảo thị thần rằng: «Nghề làm thuốc khó tinh. Khi Tiên đế ốm, bọn Văn Đại hầu thuốc thang, hỏi thì lúc nào cũng nói là tất khỏi, sau cùng không có hiệu nghiệm gì, khiến trẫm đến nay còn giận».
      Lưu thủ Quảng Ngãi hưu trí là Nguyễn Văn Toản vào chầu. Cho 5 tấm lụa, 20 lạng bạc. Tham tri Hộ bộ hưu trí là Trần Hữu Thiện, Chánh thống đồn Hậu quân hưu trí là Lê Văn Ký đều được cho 50 quan tiền.
      Cho Trần Công Lại mỗi tháng 10 quan tiền, 10 phương gạo, Lại trước là Đô thống chế lãnh Trấn thủ Thanh Hoa, phải tội giam ở ngục, đến nay được tha về, vào hầu. Vua nghĩ Lại đã tuổi già, vả có công lao trước, nên đặc cách hậu cấp cho.
      Cho năm con của Chưởng cơ Hồ Văn Bôi là Công thần Vọng Các hằng tháng được cấp tiền gạo (con trai tiền 3 quan gạo 3 phương, con gái tiền 2 quan gạo 2 phương).
      Định hạn cho kẻ cướp trốn ra thú. Đình thần tâu nói: «Trước đã có ân chiếu chuẩn cho ra thú, mà những kẻ phạm trốn còn nhiều kẻ trù trờ quanh co để ngóng xem, chưa ra thú hết. Xin lấy cuối tháng 6 năm nay làm hạn, trộm cướp không kể nặng nhẹ, ai hay đúng hạn đầu thú thì tha. Nếu quá hạn, xin theo luật mà phân biệt cho thú hay không cho thú, để cho người ta biết đều đáng sợ». Vua nghe theo.
      Định lệ lễ đền Thai Dương phu nhân(1). Phu nhân trước thờ chung ở miếu Hội đồng. Vua thấy có nhiều linh ứng, sai dinh thần Quảng Đức lập đền riêng để thờ ở xã Thai Dương, hằng năm mùa xuân mùa thu đến tế.
(1) Thai Dương phu nhân: đền ở xã Thai Dương, huyện Hương Trà, tương truyền có một người đánh cá ở cửa biển, một hôm mưa gió, đến nửa đêm tạnh, thấy ở bờ biển có một hòn đá lạ, sờ mó xem, chợt ngủ đi, mộng thấy một người đàn bà đẹp nói: «Ta là Thai Dương phu nhân, ngươi không được khinh nhờn, phải lui đi ngay». Người đánh cá thức dậy, biết là đá thần, khấn rằng: «Nếu là thần thì phù hộ cho tôi đánh được nhiều cá». Quả nhiên đánh được nhiều, mới lập đền tranh để thờ. Sau nhà nước đảo vũ linh nghiệm, đời Gia Long lập đền ngói, cho quốc tế. Đến đầu thời Minh Mệnh sửa lại đền. Lại thờ chung ở miếu Hội đồng.
      Triệu Vệ úy vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc là Lê Viết Quý về Kinh, lấy Trấn thủ Thanh Hóa là Đoàn Đức Luận làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc, Khâm sai chưởng cơ phó thống thập cơ Uy thắng cuộc Hậu quân là Hồ Văn Uẩn lĩnh Trấn thủ Hưng Hóa.
      Lấy Vệ úy vệ Tiền nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Tính tạm coi ấn vụ Hữu thống chế quân Thị trung, Vệ uy vệ Hữu nhị là Hoàng Văn Tại làm Vệ uy vệ Tiền nhất, Phó vệ úy là Lê Văn Hiếu làm Vệ úy vệ Hữu nhị, Phó vệ úy vệ Ban trực tả Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quyền làm Vệ úy vệ Tiền nhị, Vệ úy vệ Kỳ võ quân Thị nội là Nguyễn Văn Trọng làm Vệ úy vệ Tả nhị, Kiêu kỵ đô úy Tôn Thất Trinh làm Vệ úy vệ Hậu nhất, Vệ úy vệ Toàn võ Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường làm Vệ úy vệ Hậu nhị, Cai đội Trần Văn Lộc làm Phó vệ úy vệ Tiền nhị, Phan Văn Tạo làm Phó vệ úy vệ Hậu nhất, Nguyễn Văn Lễ làm Phó vệ úy vệ Võ oai Trung dinh quân Thần sách, Cai cơ Hoàng Văn Tín làm Phó vệ úy vệ Ban trực tả Tả dinh.
      Người Man ở các động Thâm Nguyên, Yến Sơn và Mộng Sơn thuộc trấn Nghệ An đến cống. 
      Lấy Thiêm sự Lễ bộ Phan Huy Thực làm Tham hiệp Lạng Sơn.
      Ngày Quý dậu, vua yết lăng liệt thánh, cho các quân đi theo 3.000 quan tiền. Vua yêu nuôi quân lính, mỗi lần xa giá đi ra là thưởng cho quân lính đi theo, từ đấy về sau lấy làm lệ thường. 
      Cho lính đội Thủ lăng 40 lạng bạc. 
      Hoãn công việc đào sông Vĩnh Tế.
      Vua mới lên ngôi, thấy việc đào sông từ mùa đông năm ngoái đến nời nước Chân Lạp đều phục dịch nhọc mệt khổ sở, xuống dụ cho thành thần Gia Định thường để ý hỏi han luôn, người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải. Ốc Nha và Bồn Nha theo làm việc ở nơi công trường hơn 100 người đều thưởng cho gươm đeo, súng tay và áo mặc.
      Lại dụ vua phiên là Chăn và các quan phiên rằng: «Tiên đế lấy việc đào sông làm lợi muôn đời cho các ngươi, vua tôi nhà ngươi nên cùng lòng hợp sức, sửa sang công việc, trước để xứng ý Tiên đế yên vỗ nước ngươi. Chớ tưởng rằng Triều đình muôn dặm, xét soi không tới. Cũng không thể đổ cho là phận sự của Đồng Phù (tên người quan phiên) mà lòng nghĩ sai đi, sức làm lười biếng. Sau khi thành sông rồi, sẽ có trọng thưởng. Phải cố gắng đi». Đến nay công việc chưa xong, (đã thành sông được 3.224 trượng, chưa thành sông 9.992 trượng), vua không nỡ để cho nhọc sức dân mãi, nên hoãn lại. Những chỗ chưa kịp đào thì ra lệnh cho tạm mở lạch nhỏ, có thể cho thuyền nhỏ đi lại thông được mà thôi. Thưởng cho quan lại coi việc súng tay, áo quần và bạc theo thứ bậc khác nhau.
      Từ Nghệ An ra Bắc đã lâu không mưa, sai trung sứ chia nhau đi các địa phuơng xem xét việc làm ruộng. Nhân dụ cho quan sở tại trai giới để cầu đảo. 
      Lấy Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính làm Lưu thủ Quảng Đức.
      Bọn con cháu nhà Lê là Lê Duy Tự, Lẽ Duy Cảo, con cháu chúa Trịnh là Trịnh Hiếu, Trịnh Cương đến Kinh chầu bái. Sai hữu ty hằng tháng cấp cho tiền gạo. Bọn Duy Tự xin dâng 70 lạng bạc làm lễ mừng, vua dụ sai trả lại.
      Cai cơ Trần Hữu Khách quản thuyền hiệu Bạch Yến đi chở vật công ở Quảng Nam bị mắt cạn ở cửa biển Thuận An. Khách bị giáng làm Chánh đội trưởng. Nhân chuẩn y lời bộ Lại bàn định: Phàm thuyền vận tải ra vào cửa biển, những chỗ nông sâu đều do thủ ngự cắm tiêu chỉ bảo. Nếu lấy chỗ nông làm chỗ sâu, nhân thế mà sai hỏng thì bắt tội người thủ ngự. Nếu theo ý riêng mình mà đi bừa thì bắt tội người quản vận. Đều xét bởi tại đâu, và theo nhẹ nặng mà trị tội.
      Triệu đại sứ cục Bảo tuyền ở Bắc Thành là Trương Văn Minh về Kinh, lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Biện lý cục Bảo tuyền. 
      Có người dâng đồng tiền cổ, mặt khắc tám chữ Quốc thái dân an phong điều vũ thuận(1). Vua đưa cho bầy tôi xem và hỏi đúc vào đời nào năm nào, đều không biết cả. Vua nói: «Đồng tiền ấy tuy năm và đời không thể khảo được, chữ đó cũng là lời xưng tụng cầu đảo thôi, song trị thiên hạ mà được thực như tám chữ ấy thì cũng đủ đấy».
      Bọn Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái, Chưởng cơ chánh trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn, Chưởng cơ thượng đạo An Tây là Nguyễn Văn Tứ vào yết kiến. Vua cho tiền, gạo, áo mặc, gươm đeo, súng tay. Vua từng hỏi Nguyễn Văn Tứ về việc An Tây. Tứ tâu nói: «Người Man núi cướp bóc, không giết thì không răn trị được». Vua hỏi về mưu chước. Đáp rằng: «Người Man bắn cung nỏ giỏi. Xin được 100 cái áo bông thì có thể đánh phá được». Vua bảo rằng: «Đó chỉ là người Man nhỏ ngu xuẩn, nên cẩn thận, chớ có dùng nhảm oai thế mà gây hấn là được». Rồi cho con Tứ là Nguyễn Văn Chẩn làm Cai đội. Lại trích 50 người lính khỏe thuộc trấn quê ở An Tây cho theo Tứ để phòng giữ bảo nguồn Kiều Bông.
      Sai Bắc Thành, Thanh Bình, Thanh Hoa, Nghệ An may áo quần thường để cấp cho thú binh các vệ. Nghệ An xin cấp cho tiền công để thú binh tự may lấy. Vua y cho.
      Cấm các vệ đội Thị trung và Thị nội không được lấy binh phí và nhung phục của công để dùng riêng và cho người khác mượn.
      Sai Hữu tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân ở lại làm việc Binh tào ở Gia Định.
      Lấy Tri bạ thành Gia Định là Lê Đăng Doanh làm Tham hiệp Hà Tiên. Thành thần dâng sớ nói: «Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đằng vì có bệnh cáo về, Trấn thủ là Mạc Công Du không hiểu việc văn, xin lấy Đăng Doanh tạm làm Tham hiệp». Vua nhân thế bổ Doanh.
      Lấy Tri phủ Anh Đô là Nguyễn Hữu Thị làm Tham hiệp Yên Quảng. 
      Dựng đền thờ trưởng công chúa Ngọc Bích.
(1) Nước thịnh dân yên, gió đều mưa thuận.
       Chúa là con bà mỹ nhân họ Trần ở triều nước, mất sớm, không con, vua thương, sai dinh Quảng Đức đặt ruộng thờ mua đồ thờ, dựng đền ở nhà cũ của Trần mỹ nhân để thờ cúng.
      Bộ Lễ bàn dâng nghi chú Lễ Ninh lăng và các lễ tiết. (Tháng 4 ngày Tân mão, sai quan kính cáo ở Giáo Miếu Xã Tắc và điện Minh Thành, rồi khai huyệt. Ngày Giáp ngọ, cáo ngày an táng. Ngày Ất mùi, cáo các tôn lăng đi qua. Ngày Bính thân, rước thánh vị Cao hoàng hậu để ở gian bên hữu điện Minh Thành. Ngày Đinh dậu, tế khải điện và tế tổ điện.
      Ngày Mậu tuất, tế khiển điện. Long giá(1) ra ngoài hoàng thành, vua đi bộ theo. Trên kỳ dài treo cờ trắng, phóng chín tiếng ống lệnh. Long giá đến điện lợp tranh ở bến sông Hương, lên thuyền rộng. Tế điện buổi sáng, thượng trực, và điện buổi chiều, như nghi thức thường. Những chỗ đi qua, thì hương thân kỳ lão đều đặt hương án ở bờ sông để chiêm bái. Ngày Canh tý thuyền đến bến lăng Thiên Thụ.
      Ngày Tân sửu rước Thánh vị để ở điện Minh Thành; rước long giá để ở chính giữa điện tranh trước Hoàng đường. Giờ dậu rước tử cung(2) đặt vào huyệt. Vua im khóc, đi thăm nom. Các hoàng đệ, hoàng tử, hoàng điệt, đại thần xoay tử cung để ngay ngắn theo hướng mộ, đặt áo tử cung, trải minh tinh. Vua đem bầy tôi tiến lụa dâng. Quan chấp sự bưng hòm sách hương, hòm sách lụa, hòm ấn hương, sách biên đồ(3) minh khí. Hữu ty khiêng linh dư, đồ minh khí và đồ lỗ bộ nghi trượng, cờ đạo trắng, phủ phất, các quạt và các vật thường dùng đến núi bên tả lăng mà đốt đi, rồi bỏ vào trong hố mà chôn. Sơn lăng sứ ở lại chỗ lăng coi việc xây lăng cho đến lúc xong. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, làm lễ sơ ngu. Vua thân hành bưng thần chủ lên xe, theo đường thuyền đến bến Kinh thành, lại bưng lên xe, vua theo ở trong xe, thân hành bưng đến cửa Tả Đoan. Trên kỳ đài treo cờ vàng, phóng chín tiếng ống lệnh. Đến cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe, bưng thần chủ để ở chính giữa điện, làm lễ an vị. Ngày hôm sau, đem việc lễ Ninh lăng xong, kính ở cáo Giao Miếu Xã Tắc, và bố cáo cho trong ngoài biết. Ngày Kỷ dậu tế ngu lần thứ hai; ngày Canh tuất, tế ngu lần thứ ba; ngày Quý sửu tế ngu lần thứ tư; tháng 5 ngày Bính thìn, tế ngu lần thứ năm; ngày Kỷ mùi, tế ngu lần thứ sáu; ngày Nhâm tuất, tế ngu lần thứ bẩy, ngày Ất sửu, tế ngu lần thứ tám; ngày Mậu thìn, tế ngu lần thứ chín; ngày Giáp tuất lễ tốt khốc. Từ tế tổ điện đến tế đàm, những cung tần triều trước và cung tần tại nội, thái trưởng công chúa, các tước công, hoàng đế, hoàng tử, hoàng nữ, phủ Tôn nhân, quan viên văn võ ở Kinh và ở ngoài, người quý hương, công tính, thích lý, và con cháu họ Lê, họ Trịnh, đều phụ tiến lễ phẩm).
(1) Long giá: kiệu rồng rước quan tài tiên đế.
(2) Tử cung: quan tài của nhà vua. 
(3) Minh khí: đồ mã chôn theo ở trong mộ hay đốt đi.
            Vua xem tờ tâu, bảo Nguyễn Văn Nhân, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên rằng: «Lễ tang, lễ táng là việc lớn, nhiều nghi tiết lắm, ta đương lúc đau thương trong lòng rối loạn, các khanh nên xét kỹ, chớ để sai lễ».
      Mùa hạ, tháng 4, sai các quan đem ngày Ninh lăng kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Lại sắc cho các nơi trong ngoài, từ trước tế khải điện 2 ngày, đến lễ tốt khốc, cấm mặc sắc đỏ tía và ca nhạc; từ khải điện đến tế sơ ngu, cấm chợ phố làm thịt.
      Lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng hộ sứ, Lê Chất làm phó, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên làm Phù liễn sứ, Tôn Thất Bính, Tôn Thất Dịch làm phó, Tống Phước Lương làm Sơn lăng sứ, Nguyễn Xuân Thục làm phó, Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Vân, Nguyễn Văn Trí, Mai Văn Thành, chia đốc các quân tả hữu, Trương Phúc Đặng thủ hộ hoành thành, Trần Văn Năng thủ hộ kinh thành. Hoàng thân, hoàng tử, các văn võ từ ngũ phẩm trở lên và các quân có việc ở hoàng đường đều cấp cho thẻ bài để đeo. (Hoàng thân thì thẻ rồng vàng, hoàng tử thì bài vàng, võ ban nhất phẩm thì thẻ rồng bạc, mặc áo chiến, từ nhị phẩm, đến ngũ phẩm văn võ đều bài ngà; quân đều đeo bài thắt lưng).
       Sai Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem chép đi đứng đường thủy đường bộ huấn luyện cho các quân.
      Ngày Đinh dậu, tế điện cáo ở điện Hoàng Nhân. Ngày Tân sửu, an táng ở lăng Thiên Thụ. Trước ba ngày Mậu tuất, linh giá tiến phát, vua đi bộ theo đến điện tranh ở bến sông Hương, rước linh giá lên thuyền. Ngày hôm ấy linh giá đến điện tranh ở trước hoàng đường. Giờ dậu, an táng vào huyệt. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, rồi rước về yên vị ở điện Hoàng Nhân. Ngày hôm sau đem việc làm lễ xong kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Bố cáo cho trong ngoài. Thưởng cho các quân thủy bộ đi theo 14.000 quan tiền, cho biền binh thủ hộ 1.400 quan.
      Trước là vua thấy sức chung(1) là việc lớn, ra lệnh cho lễ quan cứu xét lễ tang tế, thứ đệ rõ ràng, lớn nhỏ đều nêu hết. Đến như tang nghi và minh khí thì đều có hữu ty trông coi. Phàm lâu đài đền miếu, kho tàng thuyền xe, tất cả các vật ngự dụng, không cái gì là không tươm tất đầy đủ. Kể từ lúc khởi công là tháng giêng đến tháng này xong, phí tổn có bao nhiêu vạn, nghi tiết lễ vật đầy đủ, từ trước đến giờ chưa nghe như thế bao giờ.
      Sai bộ Lễ bàn về tế điện ở bàn thờ.
(1) Sức chung: tô điểm lúc cuối cùng.
      Bộ thần tâu nói: «Xét ngũ lễ thì sau khi đã tế ngu vẫn sớm hôm khóc chứ không tế điện». Chú rằng: «Ngày ấy lấy tế ngu đổi cho tế điện». Sách Gia lễ của Chu Văn công nói: «Sau khi tế sơ ngu thì thôi tế điện buổi sớm buổi chiều». Nghi thức phát dẫn đời Minh Vĩnh Lạc thì sau lễ tốt khốc, thôi tế điện buổi sáng buổi chiều. Theo Minh điển thì ở điện Phụng Tiên cũng chỉ sáng chiếu đốt hương, ngày mồng một và ngày rằm chiêm bái, cứ tuần tiết dâng vật mới, chỉ ngày sinh ngày kỵ là tế thôi. Duy theo miếu chế của nhà Hán thì trong vườn có nhà tẩm, ngày tế thì một ngày bốn lần dâng đồ ăn ở nhà tẩm. Năm Gia Tĩnh triều Minh ở miếu Duệ tông mọc ra cỏ chi, đổi tên là cung Ngọc chi, mỗi ngày đều dâng đồ ăn. Xưa kia lễ đại tang của Hiếu Khang hoàng hậu, và Cao hoàng hậu, Thế tổ ta đều thôi tế điện buổi sớm buổi chiều ở sau khi tế sơ ngu. Nay Hoàng thượng ta hiếu tâm rất mực, tình dẫu không cùng, nhưng lễ quý có tiết, vậy xin theo phép cũ, sau khi đã tế ngu thì chỉ ngày sóc ngày vọng là tế điện lớn, sau tế đàm thì thôi.
      Vua theo lời bàn, dụ rằng từ tế sơ ngu đến lễ tốt khốc, điện Hoàng Nhân và điện Minh Thành mỗi ngày ba lần dâng đồ ăn.
      Diên Khánh công là Tấn từng nhân việc thiện tiện lấy roi đánh Cai đội Thị trung là Lê Văn Hương. Tôn Thất Dịch đem việc tâu lên.
      Vua đang ngự ở Tiện điện, các tước công đều ở đấy. Vua quay lại nhìn Diên Khánh công, nhỏ nước mắt khóc, trách rằng: «Hương kia cũng là phẩm quan của triều đình, có tội nên tâu lên, sao lại tự lấy roi đánh người ta? Vả lại phép của Tiên đế lập ra là của chung của thiên hạ, chứ có phải riêng của anh em ta đâu! Em không thấy Tiên đế thiết trách Định Viễn công Bính à? Bấy giờ Định Viễn công có lỗi nhỏ, mà anh vì Bính hai ba lần xin tha, Tiên đế vẫn không tha. Như thế là vì nghĩ rằng các hoàng thân sinh trưởng ở chỗ giàu sang, cậy mình được yêu thương đặc biệt, nên coi nhẹ mà phạm hiến chương, cho nên không thể không nghiêm ngặt để răn người sau. Nay anh lấy lòng Tiên đế làm lòng mình mà yêu em, em cũng nên lấy lòng anh làm lòng mình mà yêu anh, cùng nhau cẩn thận giữ phép sẵn, để giữ tiếng lành mãi không cùng. Chớ nên lại làm thế nữa».
      Diên Khánh công cúi đầu tạ lỗi. 
      Vua vời các văn võ đại thần dụ rằng: «Việc Diên Khánh công đã làm có trái với phép, các khanh hãy vì trẫm tha thứ cho, từ nay về sau có kẻ nào bắt chước lỗi ấy thì không rộng tha nữa». 
      Dựng đình «Trần tĩnh ba thanh»(1).
      Lấy Cai cơ quản vệ Kỳ võ là Nguyễn Hữu Hựu làm Vệ úy Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ úy vệ Toàn võ quân Thần sách là Ngô Khánh Thái làm Vệ úy, Cai đội Lê Văn Quảng làm Phó vệ úy, Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ úy vệ Quảng võ, Nguyễn Lộc làm Phó vệ úy vệ Tráng võ.
      Sai trấn Bình Định chiếu lệ tiền thóc về tự dân tự điền của Lễ bộ Ngô Tòng Chu cho lấy tiền thóc trong kho trấn cấp cho như số để dùng vào việc thờ cúng (năm nay ân xá, tự dân tự điền đều ở lệ tha miễn, nên cấp riêng cho).
(1) Nghĩa là bụi sạch nước trong.
 
      Sơn Nam thượng và Kinh Bắc thiếu ăn. Phó tổng trấn Bắc Thành là Lê Văn Phong và Tham tri Hộ tào Nguyễn Tường Vân tùy tiện phát thóc cho dân nghèo vay. Việc đến tai vua. Vua dụ quở rằng: «Ta từ khi nối ngôi đến giờ, ăn muộn dậy sớm, cầu chữa được bệnh khổ của dân, những tiền thóc tha miễn có đến mấy trăm vạn; khi dân Kinh kỳ, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình thiếu ăn lại giảm giá thóc phát cho vay cũng gần mười vạn, để cứu giúp dân; phàm những việc yêu nuôi dân chúng, trẫm đều không tiếc gì cả. Nay nếu dân hạt ngươi có thiếu ăn thì cũng không phải là khẩn lắm, nên làm sớ chạy tâu ngay, chỉ trong khoảng tuần nhật là có chỉ xuống thi hành cũng không phải chậm, há nên tự chuyên làm như thế ru?» Rồi vẫn hạ lệnh cho hai trấn đều lấy 30.000 hộc thóc cho vay.
      Sứ bộ sang Thanh là bọn Cần Chính điện học sĩ Nguyễn Xuân Tình, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hữu Bình trở về, đem dâng hai con cừu (một con đực một con cái, lông nhỏ mềm, sạch trắng như bông, đuôi to mà ngắn, con đực thì hai sừng cuốn vòng lại đối với nhau, gọi là dương dốc tức là đấy), sai đem nuôi ở Thanh Phong đường.
      Tiết Thánh đản(1) (ngày 23 tháng này). Trước một ngày vua mặc lễ phục (mũ Xuân thu, không trang sức, áo tràng vạt đen, xiêm màu lam), kính cáo ở điện Hoàng Nhân. Rồi đổi mặc thường phục đến cung Hoàng mẫu làm lễ người nhà. Đến ngày, Hữu ty đặt đại triều nghi ở điện Thái Hòa, hoàng thân và các quan đều mặc triều phục xin làm lễ mừng. Sắc miễn cho.
      Lấy Tri phủ Lỵ nhân là Nguyễn Hựu Vinh làm Thiêm sự Công bộ quản lý việc nội tạo, sinh đồ ở Bắc Thành là Nguyễn Danh Giáp làm Hàn lâm viện Kiểm thảo kiêm biện việc nội tạo. Hai người này có xảo tứ nên đặc cách dùng.
      Sai Phó vệ úy Trung vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Xuân đem lính vệ đi thú ở Bình Định. 
      Sai Vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong là Lê Phúc Hậu, Vệ úy Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành, đều lấy chức mình mà biện lý việc dinh.
      Ngày Canh tuất, yết lăng Thiên Thụ.
      Vua đến chơi phủ Kiến An công, Thiệu Hóa công, Định Viễn công và Diên Khánh công. Vua rất yêu quý anh em, từ khi lên ngôi trở đi, cứ 5 ngày một lần sai người đến các phủ hỏi thăm, khi rỗi việc triều chính thỉnh thoảng đến chơi. 
      Sai Tôn Thất Dịch truyền dụ cho các hoàng thân, hoàng tử đều chọn một người thuần cẩn, tâu xin cho quan chức để quản suất các thuộc hạ trong phủ.
(1) Ngày sinh nhật của vua.
      Vua nghe nói đầy tớ nhà Thái trưởng công chúa Ngọc Du cậy thế lấn người, mà chúa không cấm, mới vời con bà ấy là Khinh xa đô úy Võ Khánh đến trách rằng: «Nước có điển hình, sao mày không khuyên mẹ mày đi». Khánh thưa rằng: «Không thể khuyên can được». Vua bảo rằng: «Làm con thờ cha mẹ phải nên lấy lời nói dịu dàng can ngăn ở lúc việc chớm phát, để cha mẹ đừng mắc vào điều phi nghĩa, không thế thì trách nhiệm ở mày».
      Dựng cục đúc tiền ở Vũ Khố. Vua nhiều lần đến xem. Sai hằng tháng cấp cho thợ mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương.
      Sai đình thần liệt kê các quan dinh trấn chưa vào chầu để lần lượt gọi về Kinh hỏi han cho rõ tình kẻ dưới. Rồi từ nay về sau, các quan dinh trấn vào chầu thì cho được cùng đình thần hội bàn, để xem uẩn súc của họ thế nào, và để tỏ ý trong ngoài nhất thể.
      Lấy Hữu Tham tri Binh bộ là Nguyễn Xuân Thục lĩnh Công tào Hộ tào Gia Định, Cai án Nghệ An là Trần Hữu Châu làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào Công tào, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Quang Đức biện lý Hộ tào kiêm biện Binh tào. Khi Thục sắp đi, vua vời vào dụ rằng: «Công việc ở Gia Định không ít, khanh đến thành phải nên siêng năng cẩn thận để giúp việc nước». Thục nhân nói từ trước đến nay các thành các trấn làm sổ binh phần nhiều chậm trễ. Vua bèn sai đình thần truyền dụ các địa phương từ nay về sau làm sổ binh ngạch kỳ tháng 4 thì hạn trong tháng 4 làm xong sổ để bộ Binh tâu xin chuẩn theo, rồi tức thì chép sao lại, nếu để chậm thì có tội.
      Lấy Hữu Tham tri Hình bộ là Trần Minh Nghĩa làm Hữu Tham tri Binh bộ. 
      Làm xe ngọc kính(1). Sai Vũ Khố làm theo cách thức của Tây dương; thưởng cho thợ 100 quan tiền.
      Sai bộ Hộ hằng tháng cấp tiền bạc cho các thợ bách công. Ai làm đồ dùng tinh xảo thì hậu thưởng.
      Chuẩn cho các đạo Côn Lôn và Long Xuyên thành Gia Định, thay nộp thuế yến sào bằng tiền. (1 cân yến sào nộp tiền 50 quan).
      Triệu Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân về Kinh, lấy Tả Tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên thay. 
      Sai biền binh các quân Thị trung Thị nội đóng 30 chiếc thuyền lê, cấp cho tiền làm xưởng thuyền (xưởng lớn 15 quan, xưởng trung 10 quan).
      Ngày Ất mão, bàn dâng thêm tôn thụy Cao hoàng hậu. Sai Hữu ty đúc sách vàng (5 tờ, mỗi tờ dài 6 tấc 3 phân 4 ly, ngang 3 tấc 5 phân 1 ly). 
      Triệu Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê về Kinh để dùng. 
(1) Xe lồng kính.
 
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN III
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất (1820), mùa hạ tháng 5, sai quan lễ tạ thần biển và đền Thai Dương phu nhân, vì cớ việc vận tải đường biển được yên ổn.
      Nhà quân Tiền phong cháy. Vua thân đem các quân Thị vệ đến dập tắt. Nhân dụ Tôn Thất Dịch và Võ Viết Bảo rằng: «Từ nay về sau phàm gặp cháy thì người trực ở tả vu tức thì đánh thanh la thổi tù và làm hiệu, đóng các cửa thành lại, quân thị vệ đều chỉnh bộ ngũ để đợi mệnh lệnh ở hai bên tả hữu điện Thái Hòa. Khi lửa tắt đánh chiêng thì thôi.
      Chuẩn định từ nay trở đi các quan không có lệnh triệu vào chầu hầu thì không được tự ý vào Tiện điện. Chánh phó vệ úy vào cửa Tả Túc trở vào thì chính mình đeo lấy gươm, không được giao cho người đi theo.
      Ngày Kỷ mùi, đúc ấn vàng của Thế tổ Cao hoàng đế (vuông 2 tấc, 7 phân, dày 3 phân 2 ly, núm rồng ngồi, khắc 6 chữ triện «Thế tổ Cao hoàng đế bảo» và ấn vàng của Cao hoàng hậu (vuông 2 tấc, 3 phân, dày 2 phân 7 ly, núm rồng ngồi, khắc 4 chữ triện «Cao hoàng hậu bảo». Sai Chưởng dinh Trương Tiến Bửu trông coi công việc.
      Tiết Đoan dương, miễn lễ chầu mừng cho các quan. 
      Cho những cung nhân triều trước, người nào không có con thì về với người thân. Đầu là vua sai làm dãy nhà dài ở sau điện Hoàng Nhân cho cung nhân ở để đợi hết tang. Lê Văn Duyệt xin theo di mệnh của Tiên đế, ai muốn về thì cho về. Vua cho lời ấy là phải, ra lệnh cấp cho mỗi người 2 năm lương.
      Triệu các Hương cống khoa Kỷ mão về Kinh, phái làm hành tẩu ở sáu bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương. Rồi sai Nguyễn Hữu Thận chọn lấy vài người học hạnh thuần cẩn sung làm trực học cho các hoàng tử. Thận cử Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ. Vua y cho.
      Vua nhân hỏi Thận rằng: «Nay đương cần cấp chuộng văn, để ý bồi dưỡng, mà nhân tài còn chưa được nhiều, ý giả sự cất nhắc người giỏi ở chốn quê mùa chưa được như đời cổ chăng». Thận đáp rằng: «Phần nhiều người dạy chưa được người giỏi, nên ít người thành tựu».
      Vua nói: «Phải, đó là điều trẫm rất giận. Gần đây như Cao Huy Diệu làm Đốc học Gia Định, không tuyên dương được phép dạy để mài giũa thói tập của học trò mà lại cùng học trò đánh bác chơi bời, sư phạm mà như thế thì mong thành tựu được nhiều người chẳng cũng khó lắm sao!
      Lấy Chưởng Tả quân lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định. Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm.
      Duyệt bệ từ. Vua cho rằng ký thác công việc ở biên khổn khó tìm được người, hai ba lần vỗ về yên ủi. Sai vệ Tả bảo nhất, vệ Tả bảo nhị, vệ Minh nghĩa và 2.000 người biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ ứng triệu về Kinh đi theo. Lại sai cựu Lưu thủ Nguyễn Cửu An theo đi Gia Định để quản suất năm đội Bính ở thành cùng các đội Bính ở các trấn. (Biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ còn ở Kinh 1.500 người, đến tháng 6 cho về ngũ).
      Lấy Vệ úy vệ Tín trực là Nguyễn Văn Ứng làm Vệ úy vệ Trung bảo nhị, Cai cơ Trần Văn Hiệu làm Phó vệ úy vệ Tín trực, Phó vệ úy quản các đội Hữu sai thuộc Hữu quân là Phạm Văn Châu làm Vệ úy vệ Hữu bảo nhị.
      Lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Trần Nhật Vĩnh làm Thiêm sự Hình bộ, theo thành Gia Định chuyên làm việc từ chương, Thiêm sự Hình bộ là Hoàng Quốc Bảo làm Tham hiệp Thanh Hoa.
      Quốc Bảo bệ từ. Vua dụ rằng: «Ngươi đến trấn nên cùng với bạn đồng liêu kinh dinh xếp đặt, phàm việc gì có thể ích nước lợi dân thì hết sức mà làm, chớ nên chỉ mưu cho mình tạm khỏi tội lỗi mà thôi».
      Lấy Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng, quyền coi ấn vụ Tiền quân. Vệ úy vệ Định võ Tả dinh là Nguyễn Văn Mân làm Chưởng cơ quyền coi ấn vụ Phó đô thống Hậu dinh, Quản cơ cơ Trung thắng Hậu quân là Nguyễn Đình Phổ làm Vệ úy vệ Định võ.
      Trấn Nghệ An đặt mua gỗ làm thuyền hiệu, những người lĩnh tiền của nhà nước phần nhiều chưa nộp gỗ. Đình thần bàn xin bắt nộp. Vua nói: «Trẫm nghe trấn Nghệ An đương khổ về thiếu ăn, dân ta làm sao lấy được gỗ để nộp cho nhà nước! Vậy miễn cho».
      Sửa đắp đài Trấn Hải. Sai Lê Chất trông coi công việc.
      Trước đây vua bảo Chất rằng: «Tiên đế đắp đài để giữ cửa biển Thuận An, gần đây sóng gió vỗ vào làm lở sụt. Muốn cho vững thì nên dùng chước gì?» Chất xin đóng nhiều cọc gỗ rối lấp bằng gạch đá. Vua cho là phải, nhân đấy sai Chất làm. Sau vài tháng Vệ úy Lê Văn Chương từ Thuận An tâu rằng phía trước đài đất cát bồi dần. Vua mừng nói rằng: «Đài này gần sát sóng biển, thường lo vỡ lở, nay có cát để chắn thì đài vững được. Đây là ý trời giúp cho, không phải sức người làm được».
      Cho bốn người con công thần Vọng Các Cáp Văn Hiếu hằng tháng được chi tiền gạo. 
      Định lệ khóa thanh tra cho cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đầu là đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh xin cho khám xét. Giao xuống đình thần bàn, đình thần tâu xin sai quan kiểm tra, từ tháng 4 năm Gia Long thứ 12 (1814), đến tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), làm khóa năm Kỷ mão; từ năm Minh Mệnh thứ 1 trở về sau, cứ 3 năm một khoá, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu làm khóa kỳ. Đều chọn phái một người Thiêm sự Hộ bộ đem các lệnh sử ty sáu bộ mỗi ty 1 người đi kiểm xét, theo như lệ thanh tra lương tiền. Vua nghe theo. Bèn sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng trông coi công việc thanh tra cục Bảo tuyền.
      Thành Gia Định dâng chim hạt đen và lợn vàng nước Ma Ly Căn. 
      Xuống chiếu tìm sách cũ. Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau. Nhà nước ta, từ Triệu tổ hoàng đế mở đất dựng nước, Thái tổ hoàng đế chịu mệnh nối ngôi, các thánh nối nhau rỡ ràng sáng rạng hơn hai trăm năm, trong khoảng ấy đều có sự tích. Duy vương chế chưa đủ, sử cục chưa có sự biên chép của quan Trụ hạ(1), hãy còn thiếu sót. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trung hưng nghiệp đế, dựng nên thái bình, nhớ lại công xưa, nghĩ tìm thực lục, nhưng muôn việc nên không kịp làm, sử chức vẫn còn bỏ thiếu. Trẫm để ý điển xưa, noi theo chí trước, ngửa nghĩ rằng nhờ công đức các đời mở đắp mới có ngày nay, càng muốn làm cho rõ rệt dấu xưa, giao cho sử quan soạn thuật. Nhưng từ lúc dấy quân về sau, kho sách không có bằng chứng, duy các nhà nhiều học thức hoặc còn ghi chép được chăng. Vậy chuẩn cho quân dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản biên chép điển cũ của triều trước, thì không thể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép, đều có khen thưởng».
      Do đó trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh Bột di ngư văn thảo, Chiêm hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản), người Quảng Đức là Cung Văn Hi dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển), người Thanh Hoa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 điều), người Quảng Ngãi là Võ Nguyên Biều dâng sách Cố sự biên lục (1 quyển). Vua khen, thưởng cho vàng lụa theo các bậc khác nhau.
(1) Trụ hạ: tên quan ở đời Chu Tần, tức là Ngự sử, đứng hầu ở dưới cột điện.
      Quan Bắc Thành tâu nói: «Đồn Bạt Thái ở Sơn Tây (thuộc huyện Bất Bạt) đất giáp huyện Tam Nông, thực là quan yếu. Thủ bảo là Nguyễn Đình Lương mộ được 50 người đinh lậu tịch từ Nghệ An trở vào, xin lập làm đội Hùng oai, hằng tháng cấp gạo lương để cho đóng giữ đất ấy». Vua y cho.
      Định lệ cấp tiền tuất cho các đội thị vệ. Binh ở mười đội Túc trực, hai đội Trường trực và Thường trực mỗi người tiền tuất là 5 quan; ngũ trưởng các đội Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất, mỗi người đều 10 quan. 
      Sai bọn Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Thiêm sự là Ngô Bá Nhân kiểm tra phủ Nội vụ.
      Đổi dựng kho Nội tạng (kho ở bên hữu trong hoàng thành). 
      Ngày Tân mùi, yết lăng Thiên Thụ.
      Bắt đầu định lệ thuế đinh cho người Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình. Trước kia ba trấn đạo ấy chỉ theo số người ở sổ thường hành mà nộp. Đến nay sổ đinh đã thành, mới định lệ thuế, cũng bằng các trấn ở Bắc Thành.  (Dân thực nạp, tráng hạng từ 20 tuổi trở lên hằng năm nộp tiền dung 1 quan 1 tiền, tiền đầu quan 1 tiền, gạo cước 2 bát, dân đinh 18 tuổi nộp tiền dung 5 tiền 30 đồng, tiền đầu quan 30 đồng, gạo cước 1 bát. Dân biệt nạp cũng nộp như thế. Quan viên tử con quan từ Chánh tứ phẩm đến Chánh lục phẩm và các hạng biệt tính cũng nộp giống như tráng hạng. Chức sắc thì quan viên tử con quan các bộ viện ty Tòng tam phẩm trở lên và hương cống, sinh đồ, cai hợp, thủ hợp ở nhà, nhiêu thân, nhiêu ấm, tấn thân khoa mục đời Lê trước, giản binh ở dinh vệ đội các quân; binh ở dinh cơ về đội các quân, giáo phường, nội giám, lính kho, lính trạm, đều là hạng ngoại tiêu sai, chuẩn cho miễn thuế).
      Xây cầu Ngự Hà. Cầu ở phía bắc kho Thái Thương và kho Vũ Khố. Năm đầu Gia Long mới bắt cầu gỗ gọi là cầu Thanh Câu, lâu ngày cầu hư, vua mới sai các quân chồng đá xây ở dưới, để ba khoảng trống, trên lát đá xanh, hai bên có lan can bằng đá. Hơn một tháng cầu xong, vì tên sông là Ngự Hà cho nên đặt tên cầu là cầu Ngự Hà. Thưởng cho các quân hơn 2.400 quan tiền. Từ đấy về sau có công việc dựng làm, không việc gì là không hậu thưởng.
      Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên có bệnh cáo về. Vua dụ rằng: «Trẫm mới lên ngôi, cần tìm người cũ, khanh ở bộ Công đã lâu, vừa được uỷ việc công chính, hễ bệnh khỏi là làm việc ngay. Đặc cách cho nghỉ 6 tháng».
      Truy lục những người có công Vọng Các. Phàm người khi sống chưa có chức thì tha phú dịch cho cả nhà để giữ việc thờ cúng.
      Người Man bảy sách Cam Lộ đến hiến sản vật địa phương (Lễ tiến hương: sáp ong 70 cân, trâu 7 con; lễ khánh hạ; hai con voi đực). Khi đến Kinh vào chầu, vua sai bộ Lễ đem đồ tang phục cấp cho các sai trưởng. Nhân tế điện lớn, đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiến hương. Khi trở về, cho sắc thư khen thưởng.
      Cấp cho công thần Vọng Các là Chưởng cơ Lê Phúc Điển 4 người mộ phụ. Lại cho sáu người con hằng tháng được chi tiền gạo.
      Định chức vụ của phủ Nội vụ, chia làm bảy kho (kho bạc vàng, kho gấm đoạn, kho the lĩnh, kho hàng Nam, kho đồ sứ, kho dầu nến, kho vị thuốc), mỗi kho đặt chủ thủ 12 người. Những lệnh sử sáu bộ trước sung chức hiệp sự Nội vụ đều bãi. Rồi hạ lệnh đem sổ sách các kho cứ 5 ngày một lần đóng ấn ở Văn thư phòng Thanh Phong đường, ai đóng ấn thì đều ghi họ tên ở dưới để tiện kê cứu.
      Cho con cháu các công thần Vọng Các được tập ấm. 
      Trước là Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng đem danh sách tập ấm đã đăng mùa đông năm trước tâu lại, cộng hơn 300 người. Vua sai cấp cho sắc thị theo bậc khác nhau.
      Đặt đường phố ở Kinh thành. (Từ cửa Thể Nguyên về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Thể Nguyên; từ cửa Quảng Đức về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Quảng Đức. Đều khắc biển để ghi). 
      Dựng xưởng tướng quân(1).
      Sai Thuộc nội vệ úy vệ Tả nhất quân Thị trung là Phan Văn Mân kiêm quản mười đội Túc trực.
      Bộ Hộ tâu dâng các án đinh điền lậu sổ ở Bắc Thành, xin truy thu thuế. Vua chuẩn y lời đình thần bàn, phàm phác giác từ lúc mờ sáng ngày mồng 1 tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 trở về trước thì không bàn, từ tháng giêng về sau mới truy thu. Những dân xiêu giạt và tù được tha mới về vào sổ thì đều miễn thuế thân năm nay.
      Chuẩn định từ nay trở đi hễ gặp ngày kỵ các miếu thì sai hoàng tử tước công tế thay. 
      Tháng 6 dựng viện Đoan Chính.
      Sai Nội hàn Trần Vĩnh Hựu và Phan Khắc Tỵ, Nội vụ phủ Lương Phúc Đồng và Vũ Hữu Lễ sang nước Thanh mua hàng hóa.
      Sửa Nguyên miếu. Đầu là sai trấn Thanh Hoa mộ khoán phu, mua gỗ giá gấp hai trước, trấn thần đem việc tâu lên, vua dụ rằng: «Trẫm nghĩ ơn của tổ tông để lại, cho nên mở rộng quy chế. Gỗ quý bền chắc, dẫu có phí nhiều cũng không tiếc». Hạ lệnh cứ theo giá mà cấp cho. Rồi sai làm đồ thờ, trang sức bằng vàng bạc gấm vóc.
      Sai Chánh quản cơ Tả kiên ở Quảng Ngãi kiêm coi cơ Lục kiên, hợp cùng trấn thần mà ngăn chặn người Man núi. Lại ra lệnh cho quản cơ Lục kiên mộ dân dời đến ở miền đất trống ven núi, lập làm thôn ấp, miễn thuế thân và dao dịch để sa phụ giữ.
(1) Xưởng để các súng lớn, gọi là xưởng tướng quân.
      Con cháu nhà Lê là Lê Duy Thản ốm chết. Lấy Lê Duy Cát làm Cai cơ (trật Chánh tam phẩm) để coi giữ việc thờ tự nhà Lê, hằng năm cấp tiền gạo vẫn như cũ.
      Dựng hành cung Thanh Hoa (một chính đường, một tiền đường. Trước gọi là hoàng cung quy vọng đường, đến nay gọi là hành cung).
      Thái trưởng công chúa Ngọc Du mất (Chúa là con gái thứ hai Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế(1), gã xuống cho Chưởng Hậu quân tham thặng Bình tây đại tướng quân Võ Tánh). Vua vì thế nghỉ chầu. Cho thụy là Nhu Gia. Sai chi của công để sửa việc tang. Lại cho thêm 1.000 quan tiền và 1.000 phương gao. Ngày an táng tứ tế một đàn. (Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), truy phong là Phúc Lộc thái trưởng công chúa).
      Sai đình thần tham chước bàn bạc luật lệ quốc triều. Vua muốn định lại luật lệnh, cho rằng Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh và Trần Hựu là ba người có tội, không nên để làm nhơ nhuốc sách luật, sai bỏ ba tên ấy đi. Dụ bầy tôi rằng: «Hình để đe răn kẻ gian, luật thì theo ý đời xưa mà lệ thì lựa cho hợp sự nghi đời nay, theo đổi biến thông chứ không thể gắn chặt mãi được. Buổi quốc sơ soạn định luật lệ, trong ấy điều mục hoặc có chỗ hợp với cổ mà không hợp với kim, thích với pháp mà chưa thích với tục, hữu ty phụng hành phần nhiều câu nệ cố chấp. Đức Tiên đế thánh minh, thấu hết những lệ ấy nên mỗi khi nhân có việc lại do đấy mà thêm bớt, như các điều ăn trộm xử trượng lưu thì chuẩn cho lưu làm đồ, đều là thông biến cho hợp với dân, để bổ vào chỗ điều lệ chưa kịp đến, nhưng chưa có rỗi để sửa chữa một phen. Trẫm vâng nhận cơ nghiệp lớn, trau dồi điển chương cũ, càng nghĩ rằng sách luật là đồ để giúp việc trị, điều mục hoặc giả còn thiếu, hữu ty sai về nhẹ nặng, thì dân biết đặt chân tay vào đầu. Các khanh nên kê cứu luật cũ, bàn kỹ những điều nên theo nên đổi, nên bớt nên thêm, trẫm sẽ xét định thi hành».
      Đổi hai đội Yến oa ở Quảng Nam làm Yến hộ, đội trưởng làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).
      Lấy Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hựu Bình làm Hàn lâm Thị độc học sĩ.
      Bắt đầu dựng Quốc sử quán. Vua dụ bầy tôi rằng: «Nhà nước ta từ khi mở mang đến nay, các thánh nối nhau, hàng 200 năm. Kịp đến Thế tổ Cao hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau. Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần(2) làm phép cho đời sau, cũng chẳng là phải sao».
      Bầy tôi xin như lời dụ.
(1) Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế là Nguyễn Phúc Huyên. 
(2) Kiến, đốc, cơ, cần: xem chú thích ở biểu dâng sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên ở trên.
      Bèn sai chọn đất ở bên tả trong Kinh thành, họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong.
      Sai dinh Quảng Bình sửa đắp đường quan (từ huyện Lệ Thủy đến châu Bắc Bố Chính hơn 20.000 trượng). Dân hạt đi ứng dịch hàng tháng được cấp tiền gạo. Đường có mở vào phần mộ của dân thì cấp tiền cho để di táng.
      Ngày Tân mão, dâng thêm tôn thụy cho Hoàng Tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Trước kỳ sai quan kính cáo ở các miếu. Trước một ngày vua mặc áo tư thôi kính cáo ở bàn thờ Tiên đế. Rồi đổi mặc thường phục, đến trước thần vị Hoàng tỷ cáo về việc ấy. Đến ngày, vua mặc lễ phục, đem bầy tôi dâng kim sách, kim bảo, rước thần chủ phối với Hoàng khảo (Năm Kỷ mão mùa đông đã rước thần chủ dời sang gian bên hữu điện Hoàng Nhân, đến nay đổi đề thần chủ thờ chung ở gian giữa). Sách văn rằng: «Lễ không gì lớn bằng tôn dâng danh hiệu; hiếu không gì trước hơn ghi chép đức xưa. Khuôn phép tốt vẫn còn nhớ hoài; xưng tụng to cần phải nêu rõ. Kính nghĩ, Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu, tư chất từ hiếu, tính nết đoan trang. Trong nhà cùng gánh vác cơ nghiệp gian nan, tu tề nối đầu vương đạo; thờ trên chăm giữ gìn dung nghi hòa thuận, sau trước rất mực hiếu tâm. Khắp trong nước nhuần giáo hóa mẹ hiền; cả cung đình được yêu như con cái. Tuy xe mây quê trời về trước, mà bút đỏ(1) khuôn phép vẫn ghi. Nên đức mọn mối lớn mới vâng, truy tôn thuật rõ công thánh; nghĩ khôn nghi sánh cùng càn đức, tán tụng ghi ở điển to. Nay mới xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi, kính tiến kim sách kim bảo, dâng thêm tôn thụy là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Cúi mong nhận lấy danh hiệu tốt, lên phối với Nễ cung(2) Ôi! Kính người vẫn tôn, đức dày khó xưng ra được; khí thiêng vòi vọi, phúc lớn để lại lâu xa».
      Ngày hôm sau ban chiếu cho trong ngoài.
      Chiếu rằng: «Mảng nghe, trời đất hợp đức, theo thế thì thịnh cả hai; đế hậu đều tôn, sùng báo thực là việc trước. Cả nghĩ Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu ta, ơn huệ rõ ràng, tiếng tốt đầy rẫy. Giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, làm rõ rệt công việc trong nhà, giúp sửa trị mối giềng âm hóa. Đức sánh Thái Nhâm Thái Tự; nết hơn Hữu Sần, Đồ Sơn. Phúc chốn khắp cung vi; lợi đến cả tôn xã. Trẫm khi còn bé, sớm được yêu đương. Nuôi ở trong cung, ơn như ruột thịt. Bảo ban dạy dỗ, cho đến trưởng thành, đội đức nổi danh, ánh sáng soi chiếu. Ghé tận tai bảo tận mặt toàn nhờ thánh mô; ngày càng tới tháng càng lên đều nhờ ý phạm. Khôn nghi lâu vắng thổn thức nỗi lòng; cưỡi rồng bay đi, bỗng ôm đau đớn. Mơ màng vẫn
(1) Bút đỏ: chữ Hán là đồng quản nghĩa là quản bút đỏ, người nữ sử cầm để ghi chính lệnh ở trong cung và việc làm của hậu phi.
(2) Nễ cung: miếu thờ cha.
nhớ đến mờ sáng; suy tôn càng đốc hiếu một lòng.
      Nay đã dâng thụy hiệu, miếu hiệu Cao hoàng đế rồi. Theo lễ thì đã bàn soạn từ trước: về tình thì tôn thân không cách nhau. Kính cẩn lấy ngày mùng 4 tháng này, sai quan kính cáo Tôn Miếu, thân đem các tước công và đại thần, xin mệnh lệnh ở trước thần ngự Hoàng khảo, ngày mồng 7 kính dâng kim sách kim bảo và dâng thêm thụy hiệu của Hoàng tỷ là Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu, để rõ rệt từ đức, phối hưởng lâu dài ở Nễ cung. Để nêu tiếng lớn cao vòi vọi rộng mênh mông, để rõ nghĩa lớn tôn người tôn quý người quý. Ôi! Đứng vào ngôi, làm lấy lễ, một mình ta yêu quý không quên; gốc ở mình, nghiệm ở dân, muôn họ ngươi hưởng phúc mãi mãi. Khắp nơi báo báo, để khiến đều hay».
      Ban bạc thay ăn yến cho các quan ở Kinh và ở ngoài. 
      Chiếu rằng: «Lúc mới lên ngôi vua, tất phải ra ơn cho khắp, yến hưởng bầy tôi, để mừng vua sáng tôi lành, mà tin trên hòa dưới thuận. Trẫm nhờ trời thương, trên vâng nghiệp nặng của Tiên đế phó thác, dưới hợp lòng thành của quân dân suy tôn. Khi mới lên ngôi, Tiên đế mới mất, nên lòng thương, sửa tang lễ, rối rít không kịp bàn làm. Nay đã núi Kiều(1) yên chỗ, miếu Nễ hợp tôn, phép thường là việc tôn sùng báo đáp, đều đã lần lượt làm xong, nhung âm nhạc còn lặng, cung kiếm chưa nguội, trẫm còn đau thương, há phải là lúc vua tôi yến tiệc vui mừng! Lễ không thể vượt mà việc lại không thể bỏ. Vậy cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau. (Trên nhất phẩm bạc 20 lạng, Chánh nhất phẩm 15 lạng, Tòng nhất phẩm 10 lạng, Chánh nhị phẩm 8 lạng, Tòng nhị phẩm 6 lạng, Chánh tam phẩm 3 lạng, Tòng tứ phẩm 2 lạng. Quan ở Kinh từ tứ phẩm trở lên, quan ngoài từ tam phẩm trở lên).
      Sai Tôn Thất Dịch chọn các quan tôn thất ai có đức hạnh cho dạy con em trong tôn thất.
      Sai Tôn Thất Bính kiêm quản về Nội hầu. Dụ rằng: «Thân binh cậy thế trái phép, người quản lãnh phần nhiều không hay ngăn giữ, ngươi nên nghiêm bảo đe nạt, nhất thiết lấy quân pháp mà trị, khiến cho đổi tệ trước đi». 
      Chuẩn định cho Tượng quân mỗi năm được cấp 100 quan tiền để thờ thần ở miếu Long Châu. (Miếu ở xã Nguyệt Biều huyện Hương Trà, hằng năm đến tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11 thì chọn ngày tốt để tế).
      Khởi phục cho Lê Cao Cơ làm chức Hàn lâm viện Tu soạn. Cao Cơ là con Thị giản Lê Cao Kỷ, trước đây làm Tri châu Bố Chính ngoại có tội mất chức. Vua nói: «Lê Cao Kỷ hầu Hoàng tổ Hiếu Khang hoàng đế ta, trung tiết đáng khen, nên lục dụng con cháu». Bởi thế có mệnh này.
(1) Kiều: cây kiều là chỉ cha. Thượng thư đại truyện có câu: «Kiều giả phụ đạo đã».
      Ngày Ất mùi, vua đến điện Hoàng Nhân, rước thánh vị Cao hoàng hậu lên thờ chung ở điện Minh Thành.
      Ngày Bính thân, yết lăng Thiên Thụ. Thưởng các quân đi theo hơn 900 quan tiền.
      Tha thuế ruộng đất bị lở ở xã An Lãng (thuộc huyện Nam Xang), trấn Sơn Nam. Từ đấy về sau các địa phương có nơi nào đem việc ruộng đất bị lở tâu lên cho đều miễn thuế.
      Triệu Thượng thư Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Gia Định là Trịnh Hoài Đức về Kinh, lại cho lĩnh việc Lại bộ. Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận thì điều sang lĩnh việc Hộ bộ.
      Cho các quan ở ngoài theo hầu trong Lễ Ninh lăng, đều về nơi làm việc. Hà Công Thái bệ từ. Vua nói rằng: «Ngươi ở đạo, phàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bàn bạc xét kỹ cơ nghi sao cho giặc cướp lặng yên, trấn đạo thanh tĩnh, để đền đáp ơn hậu đãi của triều đình. Phải cố gắng đấy».
      Triệu Ký lục Phiên An là Lê Chấn, Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn, Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh về Kinh. Trước là đình thần tâu cử quan trong, quan ngoài hơn 30 người. Vua chấm 3 người là bọn Chấn, nên sai triệu về.
      Lấy Cai bạ Phú Yên là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Bình Định, Thiêm sự Lễ bộ là Đoàn Đức Khánh làm Ký lục Phiên An, Tham luận Tượng quân là Trần Văn Tam làm Tham hiệp Hà Tiên. Khánh chưa kịp đến chỗ làm việc thì chết.
      Trấn thủ Yên Quảng là Vũ Văn Kế vì có bệnh xin về nghỉ. Vua y cho.
      Sai Đào Văn Lương coi chở 200.000 đồng tiền ở kho Kinh đến thành Gia Định. Lương trước làm Thống chế Thủy quân bị tội phải bãi, dâng biểu xin về, vua yên ủi dụ rằng: «Trẫm biết khanh là người đốc hậu, thành thực, chất phác, tuy vì lầm lỗi bị bãi, nhưng hãy nên ở lại, trẫm còn có chỗ dùng khanh». Đến nay nhân có việc vận chở bèn sai đi.
      Lấy Vệ úy vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Đặng Văn Lung làm Chưởng cơ, vẫn coi việc vệ. 
      Lấy Thuộc nội vệ úy vệ Hữu nhất quân Thị trung là Hoàng Đức Tùng làm Vệ úy vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Loan nghi quân Thị nội là Nguyễn Văn Tự làm Phó vệ úy Hậu vệ dinh Thần cơ. 
      Dụ rằng: «Từ nay về sau, những quan chức ở Thị trung Thị nội có đeo chữ thuộc nội thì bớt đi, để khỏi trùng điệp».
      Sai Tôn Thất Bính xét hỏi trong tôn thất ai là người trung hậu thành thực có thể dùng được, đem tên tâu lên.
      Đổi thuyền Toàn súng ở Chính dinh làm đội Tuần bạc. 
      Đắp trường súng (ở mặt sau trong Kinh thành). Sai quân lính tập bắn. Làm nhà vuông làm chỗ vua ngự xem.
      Sai Vệ úy vệ Oai võ quân Thần sách là Lê Mậu Cúc coi quân ba vệ Dương võ, Toàn võ và Oai võ, Án thủ bảo Hà Trung, kiêm hành việc quản thủ Hà Hoa. Bảo đặt ở địa hạt Hà Hoa, cho nên bớt chức quản thủ mà lấy chức án thủ kiêm làm, như lệ bảo Tiên Lý (bảo Tiên Lý ở hạt phủ Diễn Châu, án thủ kiêm hành việc quản phủ).
      Thành Gia Định theo đường biển vận chở gỗ đến Kinh. Thưởng cho những người quản lĩnh áo quần và tiền thưởng theo thứ bậc. 
      Chuẩn định các dinh vệ có đội kinh binh đều cử đến mồng 1 tháng 7 thì thay phiên để nghỉ.
      Ở Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường bệnh dịch phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo. Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì theo lệ cấp tiền tuất và cấp thêm một tấm vải; dân thì đàn ông đàn bà, người già người trẻ, mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng cho. Lại sai trung sứ tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, và số quân dân bị ốm chết, cứ ngày một lần tâu.
      Vua lại nghe biền binh các vệ Thị nội đi thú ở Thanh Hoa, Nghệ An. Thanh Bình, Bắc Thành nhiều người vì không quen thủy thổ nên bị ốm. Dụ cho sở tại gia tâm hỏi han, chữa thuốc, để cho đều được lành mạnh.
      Định ngạch thuộc lại cho các hạt Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận và Biên Hòa.
      Vua thấy số hộ khẩu ở các hạt ấy so với hạt khác rất ít (Quảng Bình hơn 13.400 người, Quảng Trị hơn 17.000 người, Quảng Ngãi hơn 15.400 người, Phú Yên hơn 5.000 người, Bình Hòa hơn 5.100 người, Bình Thuận hơn 9.600 người, Biên Hòa hơn 11.000 người), chuẩn y lời đình thần bàn, chiếu theo lệ sáu trấn ven biên giới ở Bắc Thành, mỗi hạt tả thừa ty, hữu thừa ty, câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 3 người, tư lại 25 nguoi, còn dư thì thải đi, bắt đầu thi hành từ năm sau.
      Cấm người quản quân lấn xén của quân lính.
      Vua bảo thị thần rằng: «Triều đình nuôi quân lính không có tiếc phí, khi có việc xây dựng thì thưởng cho thêm. Người quản quân có người không thể tất đức ý của bề trên, làm nhiều cách bóc lột, khiến người ta không được nhờ ơn thực, trẫm chán ghét quá. Vậy hạ lệnh cho bộ Binh truyền dụ cho trong ngoài phàm lương hằng tháng cấp cho lính và của được ân tứ, ai dám bớt xén và tạ sự dùng dằng, đều xử tội nặng».
      Lấy Vệ úy vệ Thị tượng nhất là Phạm Văn Điển, Phó vệ úy là Nguyễn Văn Thị làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng nhất quân Thị nội, Vệ úy vệ Thị tượng nhị là Nguyễn Đình Đề và Phó vệ úy Đặng Tài Cù làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng nhị quân Thị nội, Vệ úy vệ Thị tượng tam là Nguyễn Văn Toán và Phó vệ úy Nguyễn Văn Trì làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng tam quân Thị nội, Cai cơ Thị tượng là Lê Văn Hoan làm Vệ úy Thị nội, Quản ba cơ Tiền tượng, Tả tượng, Hữu tượng, Chánh quản cơ Nguyễn Văn Ngũ làm Vệ úy Tượng Quân, Quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng, Quản chi Trung tượng là Lê Công Thiệu làm Vệ úy Tượng quân quản cơ Thị tượng.
      Trấn Sơn Tây bắt được những quân giặc trốn là Nguyễn Hữu Danh và Đỗ Trọng Ngũ, đem giết. Thưởng cho biền binh đi bắt hơn 50 lạng bạc. Cai đội Nguyễn Văn Thư đánh nhau với giặc bị chết, đình thần bàn cấp tiền tuất 30 quan. Vua nói: «Thư là một tỳ tướng nhỏ, hăng hái không tiếc thân, cái nghĩa làm tôi căm giặc phải nên như thế». Cấp thêm cho 10 lạng bạc.
      Lấy Cần Chính điện học sĩ là Nguyễn Xuân Tình kiêm Thái thường Tự khanh tham bồi việc Lễ bộ, Ký lục Phiên An là Lê Chấn thự Tả tham tri Hình bộ. Hơn một tháng Chấn chết.
      Chuẩn định phàm các quan vào hầu ở Tiện điện, ban văn ở bên hữu, ban võ ở bên tả, đều theo ban thứ đứng hầu. Văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên thì khiến được ngồi, cho uống nước chè. Hằng ngày lấy thế làm lệ thường.
      Đặt đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Thái trưởng công chúa Ngọc Tú thường nói xin làm trai tiếu(1) để truy tiến tiên đế.
      Vua đem việc ấy bảo các đại thần rằng: «Trẫm đọc sách thánh hiền, cũng biết lễ trai tiếu của nhà Phật là không đủ tin. Duy nghĩ Hoàng khảo ta lúc trước để tang Hiếu khang hoàng hậu cũng đã từng làm. Con thờ cha mẹ, thà sai về quá hậu, các khanh nghĩ thế nào?»
      Nguyễn Văn Nhân tâu rằng: «Tiên đế làm chay là theo ý nguyện và lòng thích của Hiếu khang hoàng hậu, không phải là theo thuyết họa phúc báo ứng. Bệ hạ nối đức nên lấy lễ nghĩa mà xử định, để cho trên triều đình không thất chính, ở dưới không có nghị luận riêng, há việc gì cũng phải theo cũ mới là hiếu sao? Thái trưởng công chúa đã xin làm thì chỉ cấp kinh phí cho tự làm là phải». 
      Vua lại hỏi Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng, Hưng đáp rằng: «Nối chí noi việc là hiếu, việc bệ hạ làm là việc tiên đế đã từng làm, có gì là không thể làm được!»
      Vua cho là phải. Sai Tôn Thất Dịch cùng Vệ úy Trần Đăng Long đến trước chùa Thiên Mụ, dựng nhà tranh, sắm đồ vật. Đến nay bèn dựng đàn chay tam thất(1). Thái trưởng công chúa làm chủ đàn chay. Các tước công lần lượt đến dâng hương. Vua thường đến xem. 
      Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hoa lâu không mưa. Dụ cho sở tại cầu đảo.
(1) Trai tiếu: trai là đàn chay lớn, tiếu là đàn chay nhỏ.
      Vua bảo bầy tôi rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, nau náu nơm nớp, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay đại hạn và ôn dịch làm tai vạ, có lẽ là trời răn ta bất đức chăng?»
      Nguyễn Hữu Thận nói rằng: «Thiên tai lưu hành, từ xưa vẫn có. Đấng vương giả gặp tai vạ biết sợ, sửa thêm đức chính, thì tai vạ lại chuyển làm lành».
      Vua quay bảo Phạm Đăng Hưng rằng: «Làm vua thì một lời nói một việc làm trời đất thần kỳ cũng soi xét cả. Nay chiếu phong tặng bách thần đã 5, 6 tháng rồi mà còn chưa làm. Lời nói với dân còn không thể thất tín huống là đối với quỷ thần. Ngươi nên cùng các đại thần bàn ngay đi».
      Xã An Tiêm (thuộc huyện Hải Lăng) dinh Quảng Trị có ruộng đất công phủ cũ hơn 10 mẫu, dân xã ấy thuê để cày cấy, xin theo lệ ruộng đất công mà nộp thuế. Vua sai bộ Hộ bàn, cứ theo lệ tiền thuê tha cho một nửa mà thu.
      Sai Hữu ty làm ấn quan phòng bằng bạc cấp cho Tả hữu thống chế quân Thị trung, cho Thống chế các vệ Thần cơ, Tiền phong, Long võ Hổ oai quân Thị nội và cho năm dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu quân Thần sách và ấn quan phòng bằng ngà cho phó năm dinh quân Thần sách.
      Đổi vệ Long võ ở Trung dinh quân Thần sách làm vệ Ban trực trung, vệ Nghiêm oai ở Tả dinh làm vệ Nghiêm võ, vệ Hổ oai ở Hữu dinh làm vệ Nghĩa võ, vệ Kiên oai ở Tiền dinh làm vệ Trang võ, vệ Cường oai ở Hậu dinh làm vệ Cường võ.
      Thành Gia Định mộ lính lập 3 đội Võ chấn, Tả bính, Hữu bính, tâu xin biên vào ngạch. Vua y cho.
      Ban quần áo và tiền cho các viên biền và thợ thuyền các sở công tác ở Kinh theo thứ bậc khác nhau. Vua thấy gần đây công dịch có nhiều, sai bộ Hộ kê khai danh sách các viên biền, quan lại trở xuống đến thợ thuyền để cấp cho. (Từ chưởng quân đến thứ đội trưởng hơn 490 người, thợ hơn 1.080 người.) Lại sắc từ nay về sau có công việc xây dựng thì ngày khởi công phải kính cáo với thần tư công, sai quan làm lễ. 
      Sai Vệ uy vệ Quảng võ là Hồ Bôi án thủ bảo Thổ Sơn, Vệ úy vệ Tráng võ là Trương Văn Trâm án thủ bảo Tiên Lý.
      Sai bọn Thiêm sự Lại bộ là Phan Quang Anh, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Quang Gia kiểm tra văn thư phòng. Phàm những sách công không thành bộ thì chia cấp cho các nha từ thiêm sự trở lên. Văn thư và ấn tín ngụy thì tiêu hủy hết.
      Bổ biền trấn Nghệ An là Nguyễn Quang Thư bắt được tên giặc trốn là Lê Hùng Hổ (đảng của ngụy Kiền Thái). Sai giết đi. Thưởng cho Quang Thư 50 lạng bạc.
(1) Tam thất: 3 lần 7 tức là 21 ngày.




Đăng nhập để trả lời
0
Đánh máy: Nguyen Đ Thanh
 
 
Xem lại quyển I và III
 
---&---
 
 
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN SỬ HỌC
 
QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN
 
ĐẠI NAM
THỰC LỤC
 
TẬP 2
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
 
ĐẠI NAM THỰC LỤC
 
TẬP 2
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bản quyền thuộc nhà xuất bản giáo dục
______________________________________________________________________
619-2006/CXB/9-1332/GD                                                                   Mã số: 7X385n6 - CNĐ
 
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN SỬ HỌC
____________________________________________________________
QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN
Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch
 
 
 
ĐẠI NAM THỰC LỤC
 
TẬP 2
Tái bản lần thứ nhất
 
                                   Phiên dịch:              Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân,
                                                           Phạm Huy Diu, Nguyễn Danh Chiên,
                                                           Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh,
                                                           Đỗ Mộng Khương.
                                   Hiệu đính:    Đào Duy Anh
 
 
 
 
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ
 
      Tự Đức năm thứ 14 (1861) tháng 5, ngày 25, nhà vua dụ rằng: «Nay cứ bọn Tổng tài Quốc sử quán là Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Lễ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Hộ bộ ẩn triện, Phan Thanh Giản, Phó tổng tài là hình Bộ thượng thư sung Kinh diên nhật giảng quan, chuyên quản khâm thiên giám sự vụ, Trương Quốc Dụng, Toản tu là Lễ bộ Hữu tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ẩn triện, Phạm Hữu Nghi và Hồng lô Tự khanh Lê Lượng Bạt, tâu nói đã soạn xong sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên, xin đem khắc in, xem tờ tâu Trẫm rất yên lòng. Nước có chính sử, ghi chép công tốt, để lại lâu dài. Bởi thế, các sách Thuật Hán(1), Tôn Nghiêu(2), Thánh chính(3), Nhật lịch(4) là để làm điển chương lớn của một đời. Nhà nước ta, thần truyền thánh nối, hơn 200 năm, cũng như Thương Chu gây dựng, nguồn gốc dài lâu.
      Thế tổ Cao hoàng đế ta, mặc áo nhung y, dẹp yên cả nước, tạo nên thái bình, quy mô dựng nghiệp lưu truyền là để giúp người sau, đều chính đáng mà không thiếu sót.
      Hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy tư chất bậc thượng thánh, giữ vận nước được hanh thông, thông minh duệ trí, rực rỡ hành vi, gốc ở công cách trí thành chính(5), suy làm việc bày sắp bổ thêm, tùy thời mà dựng đặt, đều có thứ tự nhất định.
(1) Thuật Hán: chỉ những sách Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán kỷ, thuật lịch sử đời Hán. 
(2) Tôn Nghiêu: Tôn Nghiêu tập của Trần Quán đời Tống. 
(3) Thánh chính: sách chép về chính trị của thánh Triều. Chu Tất Đại đời Tống được sai biên soạn về quan chế do «Thánh chính» đã định.
(4) Nhật lịch: nhật ký của sử quan.
(5) Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm.
Lớn thì các việc Giao Miếu, Triều đình, gần thì các việc cung cấm con cháu. Đặt ra bộ, viện, tự, các; chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu. Lễ nhạc rỡ ràng, phẩm thức đầy đủ. Lại làm quan châm(1) để răn bảo người chức vị; nén kẻ quyền hãnh(2), để trong sạch chốn quan trường. Định mưu chước lớn để bày phương pháp làm quan; ban điều dạy bảo, để chính phong tục dân chúng. Cấm tuyệt dị đoan để tôn sùng đạo chính; ban cấp sách vở để gia ơn sĩ lâm. Đặt khoa thi lấy học trò mà nhân tài nổi dậy; cày ruộng tịch khuyên nghề ruộng mà dân được đủ no. Phàm khi hai kỳ có loạn thì sai tướng ra quân, đánh dẹp nơi nào, võ công hoàn hảo. Trừ hết giặc Xiêm thì biên cương yên ổn; đặt ra Trấn Tây thì bản đồ rộng thêm. Công đức thánh thần, sáng soi trời đất. Giáo hóa lâu ngày, thịnh trị đủ phúc. Để trên noi theo mưu mô rực rỡ của Thế tổ Cao hoàng đế ta, để làm rạng thêm ơn trạch để lại cho cháu chắt của liệt thánh hoàng đế. Thực đường hoàng thay! Trong khoảng 21 năm, dựng công vòi vọi, lòng thành kính cung. Thực là những chuyện vẻ vang của một thời không thể viết sao cho hết được. Từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), đặt ra sử quán sai quan sửa soạn sách Liệt thánh thực lục định làm Tiền biên, Chính biên, thể tài nghiã lệ, đều do thánh tâm định đoạt. Bàn lễ nghĩa, xét văn chương, đủ cả ở đấy. Kính nghĩ, bậc đại thánh nhân chế tác, thực đủ chiết trung nghìn đời để soi rõ lòng tin của thiên hạ.
      Hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế, lấy tư cách thánh mà nối nghiệp thánh, tâm pháp trị pháp(3) tinh vi, đã hợp quy củ, mà công việc sáng tác noi theo cũng thêm thịnh lớn và sáng sủa rõ rệt. Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), lại mở Sử cục, sai soạn Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên. Năm thứ 4 (1844) làm xong Thực lục tiền biên về Thái tổ Gia dụ hoàng đế và liệt thánh hoàng đế, đã giao khắc in, trang hoàng thành pho để vào kho sách. Lần này Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế và Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương biên soạn, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. Ấy thánh nhân để ý về việc biên soạn, thận trọng như thế đấy.
      Ta là còn nhỏ, chịu cơ nghiệp lớn này, nhớ mãi sự khó về sáng nghiệp thủ thành(4), nghĩ tới đức tốt về phong hóa công lao. Năm Tự Đức thứ 1 (1848), đã làm xong sách Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đem ra khắc in, để vào kho sử của hoàng triều.
      Kính nghĩ bản thực lục về hoàng tổ là Thánh tổ Nhân hoàng đế đã được hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế trước sau xét định, đạo thường phép lớn, cũng đã rõ ràng rồi, mà vẫn ra lệnh cho các sử quan hết sức biên chép mài gọt mà lần lượt đã
(1) Quan châm: lời răn bảo các quan
(2) Quyền hãnh: người quyền thế, gần gũi với vua.
(3) Tâm pháp : phép giữ lòng cha con truyền cho nhau.
     Trị pháp: phép trị nước.
(4) Sáng nghiệp thủ thành: dựng nghiệp mới, giữ nghiệp sẵn.
tiến trình bản mẫu. Trong đó sự tích có một vài chỗ nên nghiên cứu sửa chữa, ta lại kính cẩn sửa đổi, đã giao cho bổ thêm vào, công việc đã xong. Kể từ năm Thiệu Trị thứ 1 đến nay, trải 20 năm, mới thành được sách đầy đủ thế này. Nghĩ Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, kính trời bắt chước tổ, hòa thuận thân thích, thể tất bề tôi, quý học trò, yêu nhân dân, chuộng văn chương, xét việc võ. Phàm những dấu tích hành động cuốn mở, vẫn đã sáng như mặt trời và tinh tú, rung động cả trên trời dưới đất, thực nên khắc vào bản in, để làm gương vẻ vang cho nghìn thu, thì mới có thể tỏ được lòng ta kế tự không quên. Rồi đây lại biên tập xong Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế, kính cẩn đem khắc in thành sách, mà chứa cất, làm cho rạng rỡ công hóa thánh thần của nước Đại Nam ta, mà để làm gương cho đế vương nghìn muôn đời sau.
      Vậy lần này tu sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, được bao nhiêu quyển, lập tức cho Thái sử chọn ngày tốt để mở cục ở trong Sử quán khởi công làm ngay, vẫn giao các viên Toản tu ở quán kiểm soát nét chữ và khoản thức, cốt được ổn thỏa. Viên Tổng tài đại thần ở quán cũng phải gia tâm xem xét để cho chóng xong bộ sách lớn này. Nhân công vật liệu để làm, cần dùng thế nào thì do hữu ty kính cẩn ứng biện. Các ngươi phải kính theo dụ này.
*
*    *
      Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán kính cẩn tâu lên về việc soạn xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, xin đem chạm khắc để tỏ rõ việc to lớn rực rỡ.
      Trộm nghĩ từ xưa thánh đế minh vương, nối trời mở mối, dấy giáo hóa, đến thái bình, để thành cuộc thịnh trị sáng sủa của một đời, đức tốt công to, tất phải chép vào sách sử để lại đời sau mãi mãi. Sự nghiệp cao xa rộng rãi của nhị đế(1) và thói tốt thuần phác của tam vương(2) thấy chép ở các thiên Điển Mô Huấn Cáo(3), đều là chép thực về lời nói việc làm và chính sự của đế vương. Các vua giỏi đời Hán, Đường, Tống, Minh, công việc làm mỗi đời một khác, đời nào cũng có sách sử để chép việc đời ấy.
      Nước An Nam ta, các đời Đinh, Lý, Trần, Lê dấy lên, sách chép hãy còn thiếu sót, tìm đến chỗ thành công cao cả, văn chương rực rỡ, rạng cho đời trước, để lại đời sau, ví với các đế vương, chưa có đời nào tốt đẹp được như thánh triều ta cả.
(1) Nhị đế: Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.
(2) Tam vương: Hạ, Thương, Chu.
(3) Điển, Mô, Huấn, Cáo: các thiên ở Kinh Thư.
      Nhà nước ta, dựng nền ở cõi Nam, thần truyền thánh nối hơn 200 năm, ơn đức đầy rẫy, đã sâu lại xa. Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy thánh đức võ công, dựng nghiệp trung hưng, thu cả nước Việt, tự mình làm nên thái bình, công cao đức lớn, tốt đẹp không cùng. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, có tư chất thượng thánh làm cho vận nước lại sáng tươi, noi theo đức trước, rạng rỡ công xưa, năm Minh Mệnh thứ 2 đặt ra Sử quán, sai quan soạn Thực lục về các đời liệt thánh, định làm Tiền biên chính biên, thể tài nghĩa lệ tự ý ngài quyết định cả. Sử sách quý báu ức muôn đời của nước Đại Nam ta, thực khởi đầu từ đấy.
      Hiến tổ Chương hoàng đế ta, noi theo chí trước, lại mở Sử cục, sai soạn sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, lại còn rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) làm xong Thực lục tiền biên về các đời liệt thánh, đã tâu xin đưa khắc in rồi.
      Nay Hoàng thượng ta, noi theo đức trước, sáng thêm nền văn, năm Tự Đức thứ 1 làm xong Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đã tâu lên và được chuẩn khắc in để được vào kho sử. Năm Tự Đức thứ 2 vâng chỉ dụ, trong có một khoản nói rằng: «Thực lục về đời hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương sửa chữa, phải nên sớm biên tập xong, để cho hoàn thành bộ sách quý. Thực lục về đời hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế thì soạn chép nối vào, cũng nên kịp hạn xét chữa, để bảo cho đời sau. Nhưng phải nghĩ kỹ rằng: Ba quyền lớn(1) trong cõi thì sử là một. Trong năm điều khó(2) của tác giả, sử là kiêm cả. Huống chi hoàng tổ và hoàng khảo ta, tâm pháp truyền trao rất tinh, trị thống mở đăng rất diệu, làm ra thật là thánh, trí thuật lại thật là thông minh, bày ở văn thư thì pháp độ rất tường, ghi ở tả sử thì góp nhặt rất kỹ, xét sửa tìm tòi, việc rất bề bộn. Sử thần các ngươi đều nên gia tâm kê cứu, hết sức chép sửa, cốt sao cho văn có đủ bằng chứng, việc đều ghi được sự thật, thì mới làm cho thêm rạng đức sáng đời trước, để rõ tín sử để lại đời sau. Phải kính theo lời dụ ấy.» Bọn thần vâng lời, hết lòng cứu xét, lần lượt soạn chép. Kính xét Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện thành bản mẫu cộng 220 quyển, đã lần lượt tiến trình, cúi đợi quyết định. Trong ấy có chỗ nào sự tích chưa được rõ ràng, chữ viết hơi có nhầm lẫn, được phê bảo, giao cho sửa đổi lại, bọn thần đã kính cẩn nghiên cứu tìm tòi, các khoản nên sửa chữa đã lần lượt kính cẩn bổ vào, tiếp tục tiến lên.
(1) Vực trung tâm đại: ba quyền lớn trong đất nước; lời của Cư Hằng nói «Trong cõi có ba cái lớn, Trời là lớn, đạo là lớn, sử là lớn».
(2) Năm điều khó: Viên Sơn Tùng, một sử gia đời Tấn, phàn nàn về việt sử có năm điều khó: 1) Tài liệu bề bộn mà không hoàn chỉnh; 2) Văn chép thô tục mà không trang nhã; 3) Sách chép không đúng thực lực; 4) Việc thưởng phạt không đúng lẽ phải; 5) Lời văn chép không nổi bật được phẩm chất của sự việc (Xem Phuơng đình tùy bút, quyển hạ).
      Cúi nghĩ rằng: Quốc triều ta sau khi dẹp yên cả nước, văn tự cỡ xe đều đã như nhau, ở trong ở ngoài đều được yên lặng, thực là lúc nên dựng đặt mọi việc. Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy đức thánh nối nghiệp thánh, mở mang trăm việc, tô điểm thái bình, lớn thì việc Giao Miếu, Triều đình, gần thì việc ở cung cấm con cháu; đặt ra bộ, viện, tự, các; chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu; then máy khuôn phép, đầy đủ rõ ràng. Đến cả những việc nén kẻ quyền hãnh, tuyệt hẳn dị đoan, mềm mỏng với người xa, giữ vững lấy bờ cõi, không việc gì là không đề phòng, uốn nắn làm thành phép tắc; tìm dấu tích kinh luân của đế vương xưa, chắc cũng không hơn được thế. Kịp khi hai kỳ có loạn, sai tướng ra quân, trao cho phương lược, quân trời đánh chỗ nào thì như chớp giật sấm vang, không đến vài năm mà đã quét được giặc Sơn Âm, bình được giặc Để Định, trừ hết giặc Xiêm, lấy lại Phiên An, mở đặt Trấn Tây, võ công cáo thành, bản đồ thêm rộng. Nghĩ trong khoảng 21 năm, càn khôn mở đóng, trời đất vần xoay, chính trị rõ ràng, đạo hóa tràn khắp, vũ công văn đức, sáng rọi mọi nơi. Vì thế, hòa khí đem điềm hay, phúc trời dài thêm mãi; nước sông chảy thuận, thóc lúa được mùa; muôn tuổi điềm lành, tam đa chúc phúc. Lấy đức của thánh nhân, làm nên trị hiệu của thánh nhân, để hưởng phúc của thánh nhân, thịnh trị và phúc to, khó mà nói cho rõ được. Hiến tổ Chương hoàng đế ta, lại làm sáng rạng và thịnh lớn thêm. Phàm thấy ở ngôn hành chính sự, pháp độ kỷ cương, những điều sáng sủa rõ ràng, thật đủ làm gương soi cho đế vương nghìn muôn đời. Bọn thần đều đã vâng mệnh, đem công việc từ năm Minh Mệnh thứ 1 đến năm thứ 21, xét từng năm chép lên, theo từng việc chép vào, kể từ năm Thiệu Trị thứ nhất đến nay, trải 20 năm, lần lượt tiến trình xét định. Tinh thần cuốn mở làm lụng và đường lối giúp rập định nên của thánh nhân, bày tỏ ra ở nơi phương sách, đều rõ ràng, đầy đủ cả.
      Này xin đăng bản mẫu đã xong về Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, đã được chuẩn cho chọn ngày tốt khởi công chạm khắc. Rồi sau Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế soạn chép xong, cũng sẽ thứ tự tiến trình, tâu xin đem khắc, để cho hoàn thành bộ sách lớn mà rạng vẻ sáng lành, để được ngửa thấy sự tốt về muu mô công liệt, đức thịnh về văn võ thánh thần, đều để mãi không bao giờ hết được. Bọn thần mong mỏi không biết chừng nào. Xin kính cẩn tâu lên.
      Viết tại năm Tự Đức thứ 14 (1861), tháng 5, ngày 15.
                                                                                                                      Ký tên:
                                                                                                          Thần Phan Thanh Giản
                                                                                                          Thần Trương Quốc Dụng
                                                                                                          Thần Phạm Hữu Nghi
                                                                                                          Thần Lê Lượng Bạt
      (Vua phê): Y lời tâu, kính cẩn khởi công làm.
*
*    *
      Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán, kính cẩn tâu về việc da khac in xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế.
      Hòm ngọc mở điềm, sách quý nêu sáng, bọn thần thật lấy làm vui vẻ, kính cẩn dâng biểu tiến lên.
      Trộm nghĩ: Mệnh lớn tự trời cho, nguồn thịnh ức năm còn mãi; sách quý như mặt trời đẹp, văn trị nghìn thuở dấy lên. Đức tốt rỡ ràng, chứng sáng giữ mãi.
      Bọn thần trộm nghĩ: Thánh nhân làm gì, quy mô thể thống cao hơn cả trăm vua: thế đạo thịnh, giường mối văn chương truyền mãi đến muôn thuở. Cho nên, chính trị của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, sách vẫn còn ghi; mà văn ở Điển Mô, Huấn Cáo, Thệ Mệnh, đời noi làm phép. Các đời từ Hán Đường mà xuống đều có thành thư; nước ta từ Đinh Lý đến nay có nhiều thiếu sót. Phuơng chi thực lục ghi chép đã rõ ràng, so với chính sử thể tài có khác. Ban huấn điều, lập chính thể, nhóm họp nghĩa sâu rộng của các đời; noi phúc tốt, noi đức hay, rạng rỡ văn ngang dọc vùng trời đất. Nhà nước ta, gây nền ở Nam phục, đóng đô ở Xuân Kinh. Truyền nối hơn hai trăm năm, đời chồng phúc cả: mở đất mấy nghìn trăm dặm, dân theo người nhân. Khuôn phép đầy đủ, rõ hệ thống ở tiền biên; nhân trạch sâu dày, để đức to cho hậu thế.
      Thế tổ Cao hoàng đế ta, hợp tâm linh(1) mà mở quẻ bói, nhân ngũ vận(2) mà chịu cơ đồ. Nổi giận để đánh giặc Tây Sơn, sấm sét vang lừng khoảng sông Giang sông Hán; đón rước có người dân đất Bắc, vui mừng đón rước dâng lụa huyền lụa vàng. Đã làm nghĩa để dẹp kẻ bạo tàn, lại nhân thời mà sửa sang chính trị. Gây dựng cương kỷ, giáo hóa mới đẹp ban ra; thi hành đức nhân, ca ngợi hòa bình vang nổi. Công to nghiệp lớn, đã sáng nghiệp, lại trung hưng; việc tốt tiếng hay, rạng tổ tiên, yên con cháu. Trị thống muôn năm khuôn phép, đầy rẫy mưu hay; chính biên nhất kỷ chép ghi, lưu truyền tiếng đức. Là bởi, trời thêm cõi rộng, từ Lạc Hùng trở lại chưa từng nghe; đời hưởng văn minh, khí số thịnh lên có từ đấy.
(1) Tâm linh: trời, đất, người.
(2) Ngũ vận: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
      Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, gồm tính sáng khôn, đương vận thịnh vượng. Theo đức ôn hòa của Nghiêu đế, văn võ thánh thần; nối sáng sâu xa của Văn vương, nhân từ hiếu kính. Một lòng thành vận dụng, chỗ trai cư vẻ rồng hiện, vực lặng sấm vang: ba điều thiện tuân theo, mặt trời tỏ mặt trăng tròn, bể nhuần sao sáng. Thiện lớn chọn tự lòng trời: sáng lớn mình nhận ngôi báu. Trù thứ năm dựng cao, có đức người thánh được thời người thánh; nền muôn hóa rộng mở, lấy tâm vua thuần làm chính vua thuần. Đầu đặt Sử cục, thu về sách sót bốn phương; chia mệnh nho thần, soạn chép bản triều thực lục. Dựng xây thế Miếu, lòng hiếu tưởng lên xuống ở sân; thờ phụng Từ cung, ban ơn khắp trong ngoài dân thứ. Nhạc tám cung hòa hợp, chim muông lại múa như nhạc Ngu; đỉnh chín chiếc đúc nên; quỷ quái sợ hãi như đỉnh Hạ. Kính đối chốn Giao đàn, vâng đức lớn để nuôi muôn vật; mình cày ruộng đế tịch, theo thời tiết mà khuyên nhà nông. Các cửa mở rộng suốt, để thông tai mắt mọi nơi; hiệu nước đổi mới ra, để tỏ đất nước nhất thống. Trang kính đối trong cung khổn, gây vương hóa theo thơ Quan thư(1), thuận hòa xử với họ hàng, rõ trung tín như thơ Hàng vĩ (2). Đặt chín khanh để đốc suất công việc, mà nghĩa thừa hành giúp đỡ phân minh; chia các tỉnh để tuyên chính trị dân, mà tệ áp chế chuyên quyền đổi hết. Binh có chế độ 5 người lấy 2, việc võ không nhàm mà đều tin; dân chỉ cung cấp 10 phần lấy 1, thuế đã nhẹ mà thường được miễn. Nêu cao hiếu thuận, hậu đãi tuổi già, rèn luyện lấy thói nhân nghĩa đạo đức; đặt nhà học hiệu, mở đường khoa cử, cổ động cho đạo lễ nhạc thi thư. Cân nhắc đo lường, trăm việc đều tốt; khoa điều luật lệnh, năm hình có dùng. Đi tuần để giúp đỡ dân, mùa thu xem gặt, mùa xuân xem cày; đắp đê để phòng nước lụt, như mắt trông thấy, như mình đến nơi. Triều chính không thiếu sót điều gì, mà hỏi han tới cả người cắt cỏ kiếm củi; nhân dân bị tai hại một chút, mà đuốc sáng soi khắp chốn vách nát nhà tranh. Phàm việc biến thông giáo hóa, đều là quyền lớn sáng tạo xây dựng của thánh nhân; và việc lo xa xét nhỏ, đều là đạo gốc chế trị giữ nước của người cổ. Kịp lúc hai kỳ có loạn, một giận yên dân. Chước lạ mưu sâu, đánh đâu hẳn được đấy; núi lay biển động, bền mấy cũng phải tan. Dẹp giặc Xiêm La, hạ thành Phiên An, uy linh làm mạnh sông núi; quét giặc Sơn Âm, bình giặc Để Định, thanh giáo thông cả Man Lào. Xa lại gần ưa, không đâu chẳng phục; công nên trị định, sáng hơn đời xưa. Hằng năm thường thấy được mùa; sông trong vẫn nêu điểm tốt. Trời đất yên lặng, có đức được hòa; trăng sao sáng soi, tuổi thọ hưởng phúc. Sớm hôm lo sợ, kính mệnh trời ở lúc vui yên; nhân nghĩa rõ ràng, vận thần công ở nơi sâu kín. Cầu đến trị an, lúc nào cũng lo vì trăm họ: tôn thân cũng thế, phúc lành chúc tụng một người.
(1) Quan thư: thơ Quan thư, thiên Quốc phong ở Kinh Thi, nói đức tốt của bà Hậu phi vợ Văn vương.
(2) Hàng vĩ: thơ Hàng vĩ, thiên Tiểu nhã Kinh Thi, nói về đạo anh em hiếu hữu với nhau.
      Tốt lắm thay! Trời mở thịnh trị, thánh lại tài năng. Cứng mạnh thẳng ngay mà tinh túy, thể kiền làm mãi không thôi; rộng dày cao sáng mà dài lâu, lòng thành rất mực chứng rõ. Đạo đủ cả, kính trời bắt chước tổ; chăm chính yêu nhân dân. Ngày mới thêm gọi là thịnh; có tất cả gọi là to. Đức rộng về xét tính vật, biện tài người, mến chư hầu, yêu người xa. Có phạm vi mà không quá; uốn nắn nên không sốt ai. Rực rỡ một sách Chính yếu, làm lụng cuốn mở, như thế kỹ càng; chói lọi các tập văn thơ, nhã tụng âu ca, nghe ra văng vẳng. Lối trị ngày càng đổi mới, bỏ hết thói gian lậu nhân tuần các đời gần; thái hòa lại thấy ngày nay, thêm mở rộng văn vật thanh danh của đất nước. So với nhị đế tam vương, như cùng một đạo: nên cùng tam phần(1) nhị điển(2), truyền đến vô cùng.
      Hiến tổ Chương hoàng đế ta, kính vâng mưu xưa, noi theo phép lớn. Đời trước đắp nền, đời sau dựng cột, thời thịnh thêm rộng sửa sang; ăn thấy ở canh, đứng thấy ở tường, đạo hiếu thực kiêm kế thuật. Bên tả ghi lời nói, bên hữu ghi việc làm, công đức để ở lịch hằng ngày; làm ra gọi là thánh, thuật lại gọi là minh, sự thực làm tỏ gương nghìn thủa. Nhờ thánh dụ nêu ra nghĩa lễ; để sử thần hết sức xét tìm. Duy biên chép phải được kỹ càng, mà rạng mở còn xin chờ đợi.
      Hoàng thượng ta, theo chí đời trước, làm rạng mưu sâu. Truyền phép trị về nguy vi tinh nhất(3), nắm đạo trung của vua Nghiêu(4) để giữ gìn; dựng nghiệp nước về kiến đốc cơ cần(5), nhắm đức tốt của nhà Chu mà theo dõi. Bèn xét định mà hạn công; để sửa chữa cho xong việc. Bắt đầu từ năm Canh thìn đến năm Canh tý, 21 năm để biên chép; lại từ năm Tân sửu đến năm Canh thân, 20 năm mới thành sách. Đặt vào bao lụa vàng, đưa lên nhà để sử. Nối phương sách(6) của các đời trước mà cùng truyền; hơn sách vở của các đời xưa mà thịnh nhất. Xét không lầm, dựng không trái, rõ như phép bói để cho đời; công cao vọi, văn sáng ngời, lớn như trời không thể hình trạng. Để tỏ phép hay dựng đắp từ trước; để rộng mưu sâu mở giúp về sau.
      Bọn thần, may được liệt vào nho thần, lạm coi biên soạn. Thuật ba bộ sử(7) nhà Hán, tự hổ không phải tài sửa chữa ở Đông Quán(8); làm một bộ kinh nhà Đường, trộm
(1) Tam phần: Sách chép về đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. 
(2) Là Nghiêu điển và Thuấn điển trong Kinh Thư.
(3) Nguy vi tinh nhất: Thiên «Đại Vũ mô» trong Kinh Thư, Ngu Thuấn bảo Hạ Vũ rằng: «Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung».
(4) Đạo trung của vua Nghiêu: Nghiêu bảo Thuấn chỉ có một câu «Doãn chấp quyết trung», nên gọi là đạo trung của Nghiêu.
(5) Kiến, đốc, cơ, cần: Thiên «Vũ thành» trong Kinh Thư, Vũ vương nhà Chu có nói «Duy tiên» vương kiến bang khởi thổ. Công Lưu khắc đốc tiền liệt. Thái vương triệu vương tích. Vương quý kỳ cần vương gia: Tiên vương là Hậu Tắc mới được phong ở đất Thái nên nói là dựng nước mở đất; Công Lưu là chắc Hậu Tắc hay dốc lòng vào công nghiệp của Hậu Tắc; Thái vương là Cổ công Đản phủ ở nước Mân, người nước Mân đi theo, gây được nghiệp vương ở đấy; Vương Quý hay siêng năng để nối cơ nghiệp.
(6) Phương sách: Ván gỗ vuông, khi trước chưa có giấy, ghi chép gì cứ viết vào gỗ vuông. 
(7) Tam sử: Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán ký là ba bộ sử về nhà Hán.
(8) Đông quán: Chỗ tàng thư trong cung nhà Hán.
bắt chước lấy cách biên tập của Xương Lê(1). Chỉ biết tìm hàng đếm nét, sưu cầu chẳng bổ gì cho truyện xưa; may nhờ khởi lệ phát phàm(2); xét định thảy theo ở gương sáng. Thấy sách xong mà vui mừng; nhờ mệnh tốt để bày tỏ. Cúi mong Hoàng thượng, dốc hiếu biểu dương; đạo noi liệt thánh. Để mối giềng có thể nối lâu, đắp thêm cõi nền nhân hậu; theo phép cũ mà không sao nhãng, điểm tô dựng đặt thái bình. Thịnh thay công vũ mưu văn, rỡ đức tốt vì thêm sáng; yên như đá bàn núi Thái vững nghiệp lớn ở muôn đời. Bọn thần vui vẻ không biết chừng nào, xin đem sách Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ đã khắc in lần này là 220 quyển và 2 quyển mục lục, cộng 222 quyển tiến lên. Kính cẩn dâng biểu để tâu.
      Viết tại năm Tự Đức thứ 17 (1864) tháng 11 ngày 19.
                                                                                                          Ký tên:
                                                                                              Thần Phan Thanh Giản
                                                                                              Thần Phan Huy Vịnh
                                                                                              Thần Phạm Huy
                                                                                              Thần Trần Liên Huy
      (Vua phê): Đã xem rồi.
(1) Xương Lê: Hàn Dũ ở đời Đường.
(2) Khởi lệ phát phàm: Đặt ra phàm lệ để noi theo.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ PHÀM LỆ
 
1.   Trong Bản kỷ, từ năm thứ nhất trở về sau, năm nào ở dưới cũng đều chua niên hiệu nhà Thanh để mà kê cứu.
2.   Chép việc thì lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Việc thường thì không chép ngày, việc lớn thì cẩn thận mà chép ngày.
3.   Tế Giao, Miếu hưởng, Yết lăng là lễ rất trọng, thường năm vẫn chép. Còn như các lễ triều hạ, ban sóc, đều chép ở tiết đầu, hằng năm lấy làm thường, sau không chép nữa.
4.   Đầu mùa xuân duyệt binh để giảng việc võ; giữa mùa hạ cày ruộng tịch điền để khuyến khích việc ruộng; hằng năm cùng đều chép ca.
5.   Các việc lớn như lễ nhạc, hình chính, tên quan, chế độ, từ mới dựng ra thì chép là sơ (mới, bắt đầu), khi đổi làm thì chép là cải (đổi), nhân cũ mà làm kỷ thêm thì chép là thân định (định rõ).
6.   Phàm việc gì đã được lời chỉ của vua, chép làm mệnh lệnh hay làm lệ thường, cùng là tâu lên được vua chuẩn cho, từ đấy về sau chiếu lệ mà làm, thì đều chép là chuẩn định.
7.   Những chương sớ ở trong ngoài tâu lên đã được chỉ chuẩn cho thì đều chép cả, duy việc nhỏ nhặt thì chép sơ lược thôi.
8.   Việc gì quan hệ đến điển lệ thì điều khoản số mục đều chép đủ cả, là để rõ sự thực.
9.   Việc gì hợp lại chép suốt từ đầu đến cuối thì việc trước dùng chữ sơ (đầu là), chữ tiên thị (trước là), chữ chí thị (đến đấy); việc sau thì dùng chữ tầm (rồi thì), chữ cập (kịp), để phân biệt.
10. Em vua, con vua, cháu vua và trưởng công chúa được tấn phong tước hiệu đều chép cả.
11. Văn từ tứ phẩm trở lên, võ từ tam phẩm trở lên được bổ thụ chức hàm đều chép cả. Ngũ phẩm thì chỉ có chức Đốc học là giữ việc học một tỉnh nên cũng chép. Ngoài ra thì tùy việc mà biên.
12. Thân công, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa từ trần thì đều chép là hoăng (mất).
13. Văn tứ phẩm ấn quan, võ tam phẩm lĩnh binh trở lên mà qua đời thì đều chép là tốt (chết). Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở xuống, người nào rõ ràng có công lao, tài năng, tiết liệt, sau khi chết được cấp tuất và tặng phong, thì tùy việc mà chép, ngoài ra thì không chép.
14. Sách văn, chiếu dụ, có gặp chữ tên húy thì hoặc bỏ thiếu một nét, hoặc chiếu theo nghĩa văn đổi dùng chữ khác. Đến như tên đất thì hoặc theo tên ngày nay, hoặc bỏ chiếu một nét, duy chữ hoa () cùng nghĩa với chữ ba () thì đổi làm chữ ba (); tên người thì đều đổi dùng chữ khác.
15. Tên đất, tên người có đổi thì tên đất ở lúc chưa đổi, vẫn chép tên cũ, tên người ở chỗ bắt đầu thì viết ngay tên sau, trong khoảng ấy có một vài trở ngại chút ít thì tùy chỗ chưa rõ, sau khi đã chữa rồi cũng viết ngay tên sau. (Ví dụ tiến sĩ Phạm Thế Lịch sau đổi thành Phạm Thế Trung, Trần Mẫn sau đổi thành Trần Tiễn Thành.)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - TỔNG MỤC (I)
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Quyển I. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển II. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển III. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển IV. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển V. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển VI. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển VII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển VIII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển IX. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển X. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XI. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XIV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 3 nhuận.
      Quyển XV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển XVI. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7, tháng 8.
      Quyển XVII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XVIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XIX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXI. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXIII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXIV. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXV. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXVI. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXVII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXVIII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXIX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXXI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXXII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXXIII. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XXXIV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XXXV. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XXXVI. Ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XXXVII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XXXVIII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển XXXIX. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển XL. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XLI. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XLII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển XLIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển XLIV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa xuân tháng 3.
      Quyển XLV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển XLVI. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 5 nhuận đến tháng 6.
      Quyển XLVII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển XLVIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển XLVIX. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển L. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển LIII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển LIV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển LV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 11.
      Quyển LVI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 12.
      Quyển LVII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LVIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa xuân tháng 3.
      Quyển LIX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển LX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXI. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.
      Quyển LXII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXIV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LXVI. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 4 nhuận.
      Quyển LXVII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 5.
      Quyển LXVIII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXIX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa thu từ tháng 8 đến mùa đông tháng 10.
      Quyển LXX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXXI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXXII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa xuân tháng 3.
      Quyển LXXIII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.
      Quyển LXXIV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.
      Quyển LXXV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.
      Quyển LXXVI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXXVII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.
      Quyển LXXVIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.
      Quyển LXXIX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.
      Quyển LXXX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 5.
      Quyển LXXXI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 6.
      Quyển LXXXII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển LXXXIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9.
      Quyển LXXXIV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9 nhuận.
      Quyển LXXXV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 10.
      Quyển LXXXVI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 11.
      Quyển LXXXVII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 12.
      Quyển LXXXVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), mùa xuân tháng 1.
      Quyển LXXXIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 2.
      Quyển XC. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.
      Quyển XCI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.
      Quyển XCII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.
      Quyển XCIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.
      Quyển XCIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.
      Quyển XCVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.
      Quyển XCIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển C. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển CI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.
      Quyển CII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.
      Quyển CV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.
      Quyển CVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.
      Quyển CXI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - TỔNG MỤC (II)
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Quyển CXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXVIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CXXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.
      Quyển CXXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.
      Quyển CXXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.
      Quyển CXXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.
      Quyển CXXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 10.
      Quyển CXXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.
      Quyển CXL. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXLI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXLII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXLIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 1.
      Quyển CXLIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXLV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXLVI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLVII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLVIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXLIX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CL. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ từ tháng 6 đến tháng 6 nhuận.
      Quyển CLV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6 nhuận.
      Quyển CLVI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 7.
      Quyển CLVII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLVIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLVIX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLX. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXI. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXIII. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXIV. Ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CLXVII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CLXVIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLXIX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLXX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLXXI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 7.
      Quyển CLXXII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 8.
      Quyển CLXXIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLXXIV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXXVIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CLXXVIX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CLXXX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CLXXXI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CLXXXII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CLXXXIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển CLXXXIV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu tháng 9.
      Quyển CLXXXV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 10.
      Quyển CLXXXVI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 11.
      Quyển CLXXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 12.
      Quyển CLXXXVIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), mùa xuân tháng 1.
      Quyển CLXXXIX. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CXC. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CXCI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CXCII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4 nhuận.
      Quyển CXCIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.
      Quyển CXCIV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.
      Quyển CXCV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu tháng 9.
      Quyển CXCVI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 11.
      Quyển CXCVII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông tháng 12.
      Quyển CXCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), mùa xuân tháng 1.  
      Quyển CXCIX. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 2.
      Quyển CC. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 3.
      Quyển CCI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 4.
      Quyển CCII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 5.
      Quyển CCIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 6.
      Quyển CCIV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 7.
      Quyển CCV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 8.
      Quyển CCVI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 9.
      Quyển CCVII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 11.
      Quyển CCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông tháng 12. 
      Quyển CCIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), mùa xuân tháng 1. 
      Quyển CCX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 2. 
      Quyển CCXI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 3. 
      Quyển CCXII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 4. 
      Quyển CCXIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 5. 
      Quyển CCXIV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 6. 
      Quyển CCXV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 7. 
      Quyển CCXVI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 8. 
      Quyển CCXVII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 9. 
      Quyển CCXVIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 10. 
      Quyển CCXIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 11. 
      Quyển CCXX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 12. 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ
 
      Vâng sắc khai chép chức và tên các sử thần:
      (Nguyên làm việc từ năm Tự Đức thứ 13 (1860) trở về trước.)
      Tổng tài:
      Cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần chính điện đại học sĩ, quản lý Binh bộ sự vụ, sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Khâm thiên giám, Tuy Thịnh quận công, thần Trương Đăng Quế.
      Phó tổng tài:
      Hình bộ Thượng thư, sung Kinh diên nhật giảng quan, kiêm biện Khâm thiên giám sự vụ, thần Trương Quốc Dụng.
      Nguyên thự Hình bộ Thượng thư, kim hiện thự Long Tường Tổng đốc, thần Trương Văn Uyển.
      Nguyên Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, kim giáng bổ Binh bộ Tả tham tri cách lưu, thần Lâm Duy Hiệp.
      Toản tu:
      Lẽ bộ Tả Tham tri, thần Tô Trân.
      Lễ bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ấn triện, thần Phạm Hữu Nghi.
      Công bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Đô sát viện ấn triện, thần Phạm Chi Hương.
      Thự Lại bộ Tả Tham tri, thần Bùi Quỹ.
      Nguyên Quang lộc Tự khanh, biện lý Hình bộ sự vụ, kim bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ, sung giám tu Việt sử Phó tổng tài, thần Phạm Huy.
      Nguyên thự Lễ bộ Hữu tham tri, kim hiện thự Lại bộ Hữu Thị lang, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần Đỗ Quang.
      Nguyên Hồng lô Tự khanh, kim bổ thụ Lang trung, lãnh Định Tường Tuần phủ, kiêm lãnh Bố chính ấn triện, thần Nguyễn Tường Vĩnh.
      Biên tu:
      Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Hình bộ Hữu tham tri, thần Phan Huy Vịnh.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Thái bộc Tự khanh, lĩnh Thái Nguyên Bố chính, thần Vũ Công Độ.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Hồng lô Tự khanh, sung Việt sử Toản tu, thần Lê Hiếu Hữu.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim hiện thự Hưng Hóa, Án sát, thần Vũ Văn Tuấn.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim lĩnh Bắc Ninh Đốc học, thần Phan Đình Dương.
      Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Lễ khoa chưởng ấn Cấp sự trung, kiêm kê hạch Tôn nhân phủ sự vụ, thần Nguyễn Huy Phan.
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Nguyễn Huy Lịch.
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Vũ Phạm Khải.
      Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Nam Định Đốc học, thần Phạm Văn Nghị.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Nguyễn Huy Huỳnh.
      Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ Ứng Hòa phủ Tri phủ, thần Vũ Thấu.
      Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ Thuận An phủ Tri phủ, thần Nguyễn Đăng Tuyển.
      Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Hải Ninh phủ Tri phủ, thần Đỗ Huy Diễm.
      Nguyên thự Hàn lâm viện Thị độc, kim hiện dĩ Tòng ngũ phẩm lĩnh Kiến Thụy phủ Giáo thụ, thần Nguyễn Xuyến (trước là Kim Xuyến).
      Hàn lâm viện Tu soạn, thần Đặng Long Đống.
      Hàn lâm viện Tu soạn, thần Phan Danh.
      Nguyên thự Hàn lâm viện Thị giảng, kim bổ thụ Hình bộ Nam Hiến ty, Tòng thất phẩm lĩnh Tư vụ, thần Trịnh Xuân Thưởng.
      Khảo hiệu:
      Hàn lâm viện Biên tu, thần Lê Quang Linh.
      Hàn lâm viện Biên tu, thần Nguyễn Văn Lương.
      Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Nguyễn Đức Ý.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Tôn Thất Thụ.
      Đằng lục:
      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Trần Viết Khải.
      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Chân.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Quang Quýnh.
      Thu chưởng:
      Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Mai Văn Trí.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Lợi.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Hữu Đường.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Dĩnh.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Hữu Thăng. 
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Bùi Xuân Hiển.
 
CHÉP THÊM
 
      (Từ năm Tự Đức thứ 14 (1861) đến năm thứ 17 (1864) tiết thứ tiếp tục làm.)
      Tổng tài:
      Hiện biện đại học sĩ lãnh Hộ bộ Thượng thư, kiêm lĩnh Quốc tử giám, sung Cơ mật viện đại thần, thần Phan Thanh Giản.
      Phó tổng tài:
      Thự Hình bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám, thần Phan Huy Vịnh.
      Toản tu:
      Hồng lô Tự khanh, thần Lê Lượng Bạt. 
      Hồng lô Tự khanh, thần Bùi Sỹ Tuyển. 
      Thự Hồng lô Tự khanh, thần Phạm Huy.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Quang Tuấn.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Phùng.
      Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Trần Liên Huy.
      Biên tu:
      Hàn lâm viện Thị độc, thần Phan Lịch.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Điều.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Cát Văn Tụy.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Nguyễn Viện.
      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Cơ.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Vương Đình Chiểu.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Tạ Khắc Quản.
      Hàn lâm viện Trước tác, thần Phạm Huy Bỉnh.
      Khảo hiệu:
      Chánh bát phẩm hàm, thần Trần Nhượng. 
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Nguyễn Khắc Lý.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Huy Phan.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Cao Duy Tự.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Hồ Sĩ Đĩnh.
      Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Duy Hòa.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Trương Hữu Tự.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Phạm Quang Khản.
      Chánh cửu phẩm hàm, thần Hồ Đĩnh.
      Đằng lục:
      Chánh cửu phẩm bút thiếp thức, thần Đổ Đăng Phong.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Lý.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trương Giảng.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Diệu.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Duyên.
      Thu chưởng:
      Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Tôn Thất Nghi.
      Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Diễm.
      Chánh bát phẩm, thần Đặng Văn Tài.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Đức Trị.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Côn.
      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Thanh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN I
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Thánh tổ, Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoán Sáng Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân hoàng đế, tên húy là Hiệu, lại húy là Đởm, sinh năm Tân hợi (1791) (năm thứ 12 sau khi Thế tổ Cao hoàng đế nối ngôi vương - Thanh Kiền Long năm thứ 56), là con thứ tư Thế tổ Cao hoàng đế. Mẹ là Thuận thiên Cao hoàng hậu Trần thị. Trước khi sinh vua, hoàng hậu nằm mơ thấy người thần dâng một cái ấn, sắc đỏ như mặt trời. Vua sinh ra thực ứng vào điềm ấy.
      Năm Gia Long thứ 15 (1816), mùa hạ, tháng 6, ngày Kỷ mùi, sách phong lập làm Hoàng thái tử, ở điện Thanh Hòa.
      Năm thứ 18 (1819), mùa đông tháng 12, ngày Đinh Mùi, Thế tổ Cao hoàng đế băng, bầy tôi dâng tờ khuyên ngài lên ngôi, ngài thương khóc mãi không thôi. Các đại thần hai ba lần xin mãi, ngài mới nghe theo.
      Ngày Giáp dần, đúc sách vàng.
      (Sách văn rằng: Đức lớn của trời đất là sinh, duy ở trước sau không ngừng; báu lớn của thánh nhân là vị, quý ở truyền trao được đúng. Kính nghĩ Hoàng thái tử ta, tính tốt trời cho, đức sáng ngày mới. Chốn lầu rồng thăm hỏi, lòng hiếu kính ân cần; nơi cung hạc tu tề, tình thân yêu đốc hậu. Thay quyết muôn cơ, trên vâng lòng vui của tiên đế; giao tin một đức, dưới yên mong muốn của thần dân. Nuôi đức ở nơi tiềm để(1), nay đã
      (1) Tiềm để: Chỗ ở khi chưa làm vua.
4 năm; tình người khắp cả trong ngoài, thảy đều kính mến. Lúc Tiên hoàng đế sắp băng, đã ban đi chiếu nối ngôi để nối lấy mối lớn. Nay việc lớn đã xong, bọn thần kính cẩn dâng sách vàng, kính dâng tôn hiệu Hoàng đế. Cúi mong nghĩ đến sự phó thác nặng nề của Tiên đế, cho hợp tình mong mỏi của bầy tôi, nối công việc, nhận cơ đồ, lên giữ ngôi vua, noi theo phép lớn, điều hòa thiên hạ, để cho dài nghiệp lớn muôn đời không cùng.)
      Ngày Ất mão, đem việc lên ngôi kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. 
      Ngày Bính thìn, đến điện Hoàng Nhân, lạy chịu ấn vàng truyền quốc và áo bào «Muôn năm nối ngôi».
      Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820),  (Thanh Gia Khánh năm thứ 25), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Mậu ngọ, vua lên ngôi Hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu và đại xá, ban chiếu cho trong ngoài.
      Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ, con hiếu thờ hai thân, chủ tế tự để phụng thừa Tôn Miếu; thánh nhân đầu muôn vật, rủ áo xiêm để theo nghĩa Kiền Khôn. Cho nên, trị nước quan hệ ở một người; truyền ngôi vốn gốc từ tam đại. Mệnh trời ở đâu, ngôi thần về đấy.
      Nghĩ Thánh tổ Thần tông, mở nền Nam phục, dựng nghiệp kim âu. Mưu sáng công to, rực rỡ cho đời trước; nhân sâu ơn hậu, rạng tỏ để đời sau. Hoàng khảo ta, vâng nhận mệnh lớn, lại dựng nghiệp to. Chống phủ việt đánh kẻ bạo tàn, thắt dải mũ giữ gìn trị hoá. Nhờ việc khai thác hơn 200 năm, võ công hơn đời trước; tự mình chăm lo trong 18 năm, để đức to tầy trời. Vạc Hiên Viên mới đúc xong, mà núi hồ không kéo lại được; hoa Đường Nghiêu chợt thấy rụng, đến hang sâu cũng thấy đau thương. Thực trời kia xuống tai vạ cho nước ta; nên hoàng khảo để gánh nặng cho đức mọn. Trẫm tự hổ, là người hèn kém, mà giữ ngôi này. Nghỉ gốc cây, cưỡi trên thuyền(1), việc dạy bảo theo như khuôn phép, vỡ ruộng hoang, làm nhà cửa(2), việc dành cho nhờ ở mưu mô. Nghĩ gánh vác chỉ thấy khó khăn; càng đau thương biết bao cho hết. Vui không cùng, thương cũng không cùng, lòng hiếu nghĩ sợ thêm về đường nối dõi; vị tất được, danh cũng tất được, lời dặn dò há dám trễ việc phó giao. Nay các tước công, các đại thần, các quan văn võ trong ngoài, đều khuyên trẫm tuân theo di chiếu, sớm lên ngôi vua, để theo lòng mong đợi của mọi người. Vì thế châm chước lễ văn, bớt thương thuận biến, lấy ngày 27 tháng 12 năm Gia Long thứ 18 (1819) kính cáo Giao Miếu, ngày 28 kính yết bàn thờ, ngày 1 tháng 1 năm nay, lên ngôi ở điện Thái Hòa. Trẫm vâng «mệnh sáng» ở trời, chịu «mệnh sáng» ở hoàng khảo, vậy lấy năm nay là năm Canh thìn, làm năm Minh Mệnh thứ 1, để chính tên hay, để rõ mối lớn. Đặt cách xuống ân điển gồm 16
      (1) Nghỉ gốc cây cưỡi trên thuyền: vua Đường Thái tông thấy thái tử đứng ở gốc cây thì bảo rằng: «Cây gỗ theo dây mực thì thằng, vua nghe lời can là thánh; thấy thái tử cưỡi thuyền thì bảo rằng: Nước hay chở được thuyền, mà cũng hay lật được thuyền».
      (2) Vỡ ruộng hoang làm nhà cửa: vua Vũ Vương nhà Chu bảo em là Khang Thúc rằng: «Như làm ruộng, đã vỡ hoang rồi thì phải sửa sang bờ cõi; như làm nhà, đã làm tường lũy rồi thì phải tô nề và lợp».
điều: 1) Những tiền thóc sản vật mà dân còn thiếu từ năm Gia Long thứ 18 trở về trước đều tha miễn cả. 2) Thuế lệ tiền thóc sản vật về nhân đinh điền thổ, trong năm Minh Mệnh thứ 1 đều rộng miễn cả. 3) Em vua và cháu họ vua, ai đã được phong tước công thì cấp thêm lộc hằng năm là 500 quan tiền, 500 phuơng gạo. 4) Em bé của vua chưa được phong tước công thì đợi 3 năm sau bộ Lễ bàn tâu sẽ sách phong. 5) Người tôn thất chưa làm quan thì cấp thêm lương tiền. 6) Các quan văn võ, ở trong từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia một bậc cấp. 7) Các quan văn võ, ở trong từ ngũ phẩm, ở ngoài từ tứ phẩm trở xuống, đã thục thụ thì chu cấp cho lương tiền 2 tháng. 8) Cha mẹ các quan trong ngoài, từ tam phẩm trở lên, đều chiếu phẩm phong tặng. 9) Từ tam phẩm trở lên đều cho tập ấm một người con cho vào học ở nhà Quốc tử giám; khi tuổi đã trưởng thành, có thể lục dụng được thì sai đại thần đề cử người mình biết lên rồi thứ tự dẫn lên yết kiến, sẽ tùy tài bổ dụng. 10) Các công thần Vọng Các, hoặc không có con cháu ngành trưởng mà có con thứ hay cháu thứ thì lượng cho quan tước lương tiền. 11) Công thần đã chết rồi, hoặc không con cháu mà có vợ còn giữ tiết, thì cấp cho tiền gạo để nuôi. 12) Tra xét rõ thần kỳ cả nước để phong tặng. 13) Đặt thêm nhà thêm phòng ở Quốc tử giám, và ưu cấp lương tiền. 14) Kỳ thi Hương khoa Kỷ mão, ai đỗ nhị trường thì miễn binh dao 3 năm; đỗ nhất trường thì miễn 2 năm. 15) Từ mờ sáng ngày 1 tháng giêng năm nay trở về trước, phàm tội sung quân và tội lưu trở xuống đều buông thả, tội tử thì lượng cho khoan giảm. 16) Trộm cướp ra thú thì đều rộng thả.
      Ôi! Nối chí noi việc là hiếu, mong biểu dương phúc lớn các thánh được lâu dài; ban phúc ra ân về xuân, để cho khắp trong ngoài thứ dân được đầy đủ».
      Vua đã lên ngôi. Lấy Quang Minh đường làm nhà Lương am(1), màn trướng đều dùng vải trắng, lấy Tả Phuơng đường làm nơi tiện điện để nghe chính sự. Lỗ bộ đại giá, phàm tàn lọng cờ quạt đều dùng sắc vàng không thêu thùa trang sức. (Trong ba năm để tang thì ở tiện điện nghe chính sự, vua mang áo khăn vải trắng, các quan đều mang áo đen khăn vải trắng để chầu.)
      Ngày Kỷ mùi, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện lớn. Từ ngày ấy trở đi mỗi ngày ba lần làm lễ điện (lễ điện buổi sáng, lễ dâng đồ ăn, lễ điện buổi chiều, vua thân đến làm lễ, hoặc sai thân công làm lễ). Ngày mùng một và ngày rằm thì làm lễ điện lớn (Vua thân đem bầy tôi làm lễ. Như gặp ngày lễ Miếu hưởng, ngày Ban sóc và ngày tết Nguyên đán thì để hôm sau làm lễ). Các hoàng thân tước công thay phiên chầu chực ban đêm. Các bầy tôi văn võ chia làm ba ban chầu chực và phụ bái ban ngày. Không phải người đến bái và người chấp sự thì không được vào.
      Ngày Canh thân, yết các miếu. Trước đây vua sai bộ Lễ bàn về yết kiến các miếu. Bộ Lễ tâu: «Kính xét sách Thượng thư có nói «Kính yết tổ tiên» và chú thích rằng «Yết kiến tất cả các vua đời trước của nhà Thương». Thơ «Mẫn dư tiểu tử» ở «Chu tụng»
(1) Lương am: nhà ở của vua khi có tang.
 
chú thích rằng «Tự vương(1) đến chầu miếu». Như thế là Tam đại đã có lễ kiến miếu. Từ Văn đế nhà Tây Hán về sau, phàm vua mới lên ngôi tất phải yết kiến miếu Cao tổ. Từ Quang Vũ đời Đông Hán về sau, vừa mới lên ngôi thì yết kiến miếu Cao tổ và miếu Thế tổ. Khoảng đời Lục triều(2), gián hoặc có đời làm. Tiêu Sâm đời Tề bàn rằng: Há có người đứng ngôi chính, ở nơi tôn, nối nghiệp trước, vâng mệnh trời, mà không đến nhà Thái miếu yết kiến tổ tông sao? Đời Đường Tống trở về sau, đều câu nệ thuyết ba năm có tang thì không tế, rồi không làm lễ ấy nữa, như thế không phải tỏ lòng thành với chín miếu mà ảnh hưởng đến muôn nước. Lại xét Minh điển về nghi thức lễ lên ngôi, thì trước khi lên ngôi, sai quan kính cáo ở miếu; đến ngày lên ngôi, vua thân hành đến cáo ở điện Phụng Tiên, sau khi lên ngôi không có lễ kiến miếu nữa. Như thế thì trước khi chưa lên ngôi có một việc mà hai lần cáo ở miếu, lễ như thế là phiền, sau khi lên ngôi không thân đến chầu tôn miếu, lễ như thế là thiếu. Nay xin theo lễ Tam đại, và Lưỡng Hán, sau khi lên ngôi, chọn ngày tốt thân yết các miếu, mới là hợp lễ».
      Vua nghe theo, liền dụ rằng, từ nay trở đi, phàm có việc ở Thái miếu thì đại giá do cửa Tả Túc, ra cửa Tả Đoan, vào cửa Hiển Nhân, đến cửa Hiển Thừa dừng lại, đến miếu làm lễ.
      Vua để tang, lòng thương nhớ, hằng ngày đến bàn thờ lạy khóc, dẫu ngày rét ngày nắng, chưa từng ngày nào thiếu. Mỗi khi ra vào đô thành, tất đem việc cáo. Từng đối với bầy tôi khen thuật công đức tiên đế, nhỏ nước mắt khóc không thôi. Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Thận và Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng thường nói xin bớt đau thương.
      Vua nói rằng: «Trẫm vẫn biết, thương mà hủy hoại thân thể, vượt ra ngoài lễ, đến nỗi không thể để tang được nữa, lại là bất hiếu, nhưng tình thương nhớ không thể tự thôi được». Từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Hoàng khảo ta có để lại giáp chiến, nón chiến, đai lưng là các đồ khi dẹp loạn vẫn dùng, nay trẫm trông thấy phảng phất như trông thấy người, cũng do đó mà biết công nghiệp gian nan bởi đâu mà nên» (sau khi đã ăn táng thì đem để ở điện Minh Thành). Vua lại đưa ra một đĩnh vàng bảo rằng: «Đĩnh vàng này là của tin của Hoàng tỷ(3) lúc còn xiêu dạt để lại cho ta khắc mà cất đi».  (Trước kia khoảng năm Quý mão, Thế tổ Cao hoàng đế phải đổi chỗ ở luôn, mới lấy một nén vàng chia làm hai đĩnh, một đĩnh đưa cho hậu để làm con tin. Kịp khi thiên hạ đã yên, Thế tổ bảo hậu rằng: «Lúc gian nan cũng không quên được, nên lưu lại để bảo con cháu». Đến nay vua ra lệnh khắc vào đĩnh vàng ấy rằng: «Thế tổ để hậu Quý mão bá thiên thời tín vật - Vật tin của Hoàng hậu vua Thế tổ lúc xiêu dạt năm Quý mão». Kính cất ở điện Hoàng Nhân).
(1) Tự vương là vua mới nối ngôi.
(2) Lục triều: Sáu triều đại là Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ở Trung Quốc.
(3) Hoàng tỷ: mẹ vua chết rồi gọi là Hoàng tỷ.
 
      Cho các kỳ lão ở trong kinh kỳ bạc và cơm rượu theo thứ bậc.
      Thu chép các bề tôi cũ có quân công. 
      Chiếu rằng: «Đến nơi công việc là bổn phận của tôi con; cất nhắc thưởng khen là ơn điển của nhà nước. Nhớ xưa Hoàng khảo ta, một bộ nhung y, đánh dẹp giặc giã, trung thần chí sĩ, như mây hợp, như bóng theo. Trong khoảng ấy, có những người vì nước khó nhọc, ra trận lập công, không thể kể hết được. Sau khi đại định, đã được khen thưởng, tước xứng với công, lớn nhỏ không sót. Từ đấy đến nay, hoặc có bệnh phải từ chức, hoặc vì tuổi già phải rút lui, hoặc về quê quán nghỉ ngơi, hoặc vì lầm lỗi mất chức, đấy đều là sự bất đắc dĩ cả, há lấy làm yên tâm ở đấy đâu. Trẫm nay mới nối ngôi, cần tìm người cũ, muốn nêu dùng thêm rộng để không ai bị nén chìm. Đặc chuẩn cho những người vì quân công được bổ quan khoảng từ năm Đinh mùi trở về sau, năm Gia Long thứ 18 trở về trước, ai dự có chỉ sai, chỉ truyền, châu sắc, châu thị và công đồng phó, đã tản cư về thôn quê, hoặc lệ thuộc vào các nha, có ai trước ốm mà nay khỏi, tuổi già mà sức khỏe, tình nguyện xin khởi phục để làm việc, cùng là người có tội bỏ trốn đi mà biết ra trình thú tội, thì đều cho về Kinh, do bộ Lại dẫn yết kiến, sẽ tùy tài bổ dụng».
      Lại dụ cho các quan ở Kinh và ở ngoài ai bị xử phạt bổng từ năm Gia Long thứ 18 về trước thì đều được khoan miễn. 
      Hạ lệnh cho các quan trong ngoại đều cử những người học trò có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học.
      Chiếu rằng: «Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, cho nên ngoài khoa mục ra, phải nhờ có cử tri, mà chức phận của đại thần là phải đem người tài đức để thờ vua. Trẫm mới nối ngôi, mưu toan gắng gỏi, rất muốn trong triều có nhiều người giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hóa. Vậy ra lệnh cho các quan ở trong Kinh, văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên, ở ngoài thì các quan ở thành dinh trấn, đều cử một hai người có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học, không kể là nhà sang hay nhà hèn, đều kê tên tâu lên».
      Bắt đầu chế dấu quan phòng để cấp cho văn võ đại thần. (Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân, Chưởng Hữu quân, Chưởng Trung quân, Chưởng Tiền quân, Chưởng Thủy quân và Thượng thư sáu bộ, mỗi chức một dấu quan phòng bằng bạc. Thủy quân Thống chế được một dấu quan phòng bằng đồng, Tả tham tri, Hữu tham tri sáu bộ, mỗi chức được một dấu quan phòng bằng ngà). Trước đây các quan văn võ tâu nghị thì dùng ấn công. Đến nay sai Hữu ty chế ấn quan phòng ban cấp, cho khi phụng lục dụ chỉ và khi tâu nghị thì dùng.
      Bắt đầu đặt Văn thư phòng. Sai Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân, Cai hợp Hứa Đức Đệ, Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh và Nguyễn Văn Thuận sung các chức Thị thư, Thị hàn coi giữ đồ thượng bảo và văn thư, chương tấu, đồ bản, sổ sách; sai Hàn lâm Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh và Cống sĩ viện Nguyễn Trường Huy sung chức Khởi cư chú; đều do bộ cấp bằng để làm việc ở Văn thư phòng. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng của Văn thư phòng giao cho các Thị thư, Thị hàn, Nội hàn cùng giữ.
      Chuẩn định từ nay phàm năm, tháng, ngày, gặp phải «cảnh mệnh» (là chữ ngọ), các văn thư của quan dân đưa lên, giao xuống thì cho viết thẳng tháng ấy ngày ấy, bất tất dùng chữ «kê» (như tháng 5 thì viết kế tứ nguyệt) cùng những chữ «nhật tiền nhật hậu» nữa.
      Lấy Vệ úy vệ Tả bảo nhất Tả quân là Nguyễn Văn Tính làm Khâm sai chưởng cơ vệ úy vệ Tiền nhất quân Thị trung. 
      Cho Lê Kim Nhượng làm Vệ úy vệ Minh nghĩa Tả quân, Trần Văn Hãnh làm Phó vệ úy. 
      Triệu Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân, Hữu tham tri Hình bộ hành Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Minh Nghĩa, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính về Kinh. Lấy Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Hoàng Văn Diễn làm Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Huy Trinh làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham hiệp là Nguyễn Khoa Hào làm Thự lý hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thục làm Ký lục Bình Định.
      Trấn thần Quảng Ngãi dâng sớ tâu xin lấy chức cai hợp bổ tri huyện, Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận đem việc ấy lên tâu. Vua nói: «Chức thần dân thì nên chọn người khoa mục để làm, tư lại không làm chức ấy được». Hữu Thận xin cử Cống sỹ viện. Vua nói: «Chọn người dùng được thì dùng, chớ gây nên cái thói vội vàng cầu cạnh».
      Bầy tôi bàn dâng tôn thụy Đại hành hoàng đế là Khai Thiên Hoàng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.
      Vua nói: «Hoàng khảo ta trung hưng kiêm sáng nghiệp, công đức thịnh lắm, Cao tổ và Quang Vũ nhà Hán, không thể hơn được, tôn thụy như thế thì cũng hầu được chăng». 
      Vài ngày sau lại dụ các đại thần rằng: «Ta đêm nằm mơ thấy Hoàng khảo ở điện Trung Hòa bảo ta rằng: Đưa kim sách của ta lại đây. Ý giả vong linh Hoàng khảo ở trên trời cũng ngầm nhận tôn thụy ấy».
      Răn dụ thần dân trong ngoài: 
      Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ hoàng cực dựng đạo trung, đối thời mà nuôi muôn vật; vua nói làm phép tắc, ra mệnh để cáo bốn phương. Vì ban đức ra lệnh, làm phúc thì ân, bắt đầu ở mùa xuân; mà ban chầu trị quân, nhận chức làm phép, đều do ở việc lễ. Xét xưa, vua tôi khuyên răn, đều là theo lối người trước; sửa sang mưu hay, trong ấy giáo hóa dựng làm. Để cho người lớn có đức, người nhỏ tạo nên. Đạo phải lâu thì hóa mới nên; định lời nói để yên dân chúng. Theo lẽ trời đất giao thái; chính ngày trên dưới đợi nhau. Giúp đỡ khuyên răn không bỏ thiếu, cùng lòng e sợ mà hợp lòng kính cung; triều quận mục thú bắt chước nhau, xếp bằng phép tắc mà xét bằng tin thực. Còn như quân sĩ nanh vuốt; từng trải chiến trận gian nan. Một mùa giảng võ ba mùa về cày, đều theo mệnh lệnh lui tới; nghìn ngày chăm nuôi một ngày đem dùng đến chớ quên gan dạ trung thành. Đến như đông đúc cả đàn, đều dưới bao gồm che khắp. Cày dệt chớ bỏ nghề nghiệp, rèn nung lấy thói kiệm cần; tài năng giữ ấy tính trời, hăng hái đua nhau nhân nhượng. Trẫm chịu ngôi báu lớn, nối phúc tốt xưa. Vâng Tiên hoàng để cơ nghiệp nặng, giao việc khó khăn, vẫn sợ hãi như tới vực sâu, băng mỏng; lúc sợ chính nhường bưng chậu đầy, ở cảnh mãn túc, càng giữ gìn như soi gương sáng nước trong. Nay nhân buổi ban cho ngọc thụy(1) vậy đem lời dạy bảo đinh ninh. Ôi! Uốn nắn không sót, phạm vi không qua, đã nhóm được phúc làm chí đạo; dạy bảo không cùng, dung dưỡng không hạn, để kéo lại cuộc thịnh đại đồng. Cố gắng đều lo; thanh bình cùng hưởng».
      Ban cho vua nước Chân Lạp sắc thư và gấm lụa. (Gấm Tống 10 cây, lụa vải đều 50 tấm, trừu lông 10 tấm.) 
      Dụ rằng: «Trẫm vâng trọng trách của Tiên đế phó thác cho, nghĩ tôn thống nước nhà quan hệ vào đấy, ngôi thần khí không thể vắng lâu. Vừa rồi, trên tuân di chiếu, dưới theo lòng người, ngày mồng 1 tháng giêng năm nay nối ngôi Hoàng đế, ban phúc ra ơn, để tai mắt mọi người đều mới. Vương ở hàng chức cống đã lâu, nhờ Tiên hoàng đế ta dựng lại nước cho, đã suy lòng nhất thị đồng nhân, nên hưởng phúc chung cùng thiên hạ. Vậy dụ cho biết và ban phẩm vật cho vương, để rõ ơn đặc biệt. Vương nên vâng theo lời dụ, kính giữ lễ phiên thần để khỏi phụ lòng ta, tức là không phụ ơn đức che chở của Tiên hoàng đế».
      Lại sai may áo trắng đưa đến nhà Nhu viễn để ban cấp cho. Vua dụ Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân rằng: «Bọn khanh trông coi việc ngoài khổn, canh phòng ở chỗ biên cương, càng không nên quên nước Chân Lạp là thần thuộc của bản triều ở giáp giới hai nước lớn. Nay Tiên đế vừa băng, chính giáo đổi mới, phải xét kỹ xem họ hướng lại quay đi thế nào, để mà yên ủi vỗ về, dù có chi phí cũng không nên tiếc. Và nước Chân Lạp từ khi bản triều gây dựng cho đến nay, người nước Xiêm há không thắc mắc. Nay hoặc giả nhân lúc nước ta có việc đau thương, mưu toan úp lấy Nam Vang, cũng không thể không phòng bị được. Đại kế ở biên cương đó, khanh nên liệu kỹ sớm đi».
      Sai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt chọn các ấm tử có tài có hạnh, tâu lên để bổ dụng.
(1) Ngọc thụy: lễ chư hầu chầu vua, thì ban cho ngọc thụy.
 
      Ngày Ất sửu, vừa mặc áo trở đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện buổi sáng, lễ xong đổi mặc áo thường đến làm lễ ở trước bàn thờ Hoàng tỷ.
      Truy cấp cho Tham tri Hình bộ Nguyễn Duy Hòa 2 cây gấm Tống, 50 lạng bạc.  (Mùa đông năm trước Duy Hòa sung chức Đề điệu trường thi Thăng Long, trở về ốm chết.)
      Ban gươm đeo và súng tay cho các quan võ Kinh và ở ngoài (quan Kinh thì từ Vệ uý trở lên, quan ngoài thì các đại viên ở hai thành). Lê Văn Duyệt và Nguyễn Đức Xuyên đều được cho thêm sừng tê. 
      Ở Kinh sư giá gạo cao. Sai Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng hỏi thăm dân gian, có ai muốn mua gạo thì giảm giá mà bán cho.
      Ban lịch Hiệp kỷ năm Minh Mệnh thứ 1.
      Sai biền binh các vệ Hữu bảo nhất, Hữu bảo nhị, Trung bảo nhất đi thú Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành; cho áo quần và tiền lương bổng theo thứ bậc. Rồi lính thú không quen thủy thổ, nhiều người bị ốm. Vua nghe tin, sai trung sứ chạy theo đường trạm đến xét thăm. Dụ cho các quan địa phương vỗ về thương xót; nếu có người chết thì cấp tiền theo như lệ và cấp thêm cho một tấm vải.
      Cho tế tướng sĩ chết trận ở Thi Nại. Vua nhớ lại buổi quốc sơ trong trận Thi Nại tướng sĩ nhiều người chết trận, sắc cho Hữu ty sắm sẵn sinh lễ và 300 quan tiền, sai Lê Văn Duyệt làm đàn để tế.
      Bàn đặt quan thuộc ở phủ Tôn nhân. Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Thế hệ của nhà nước từ vài trăm năm chi phái sinh ra nhiều lắm, không thể ghi hết được. Nay nên lấy thân thuộc hai ba đời làm một sổ riêng, sống thì đặt tên, chết thì cho thụy, các lễ quan hôn tang tế thì ân cấp theo thứ bậc. Đặc chức Tả, Hữu tôn chính và các phủ thuộc coi giữ phả hệ, để rõ nghĩa luân thường.»
      Ngày Ất hợi, đúc sách vàng tôn thụy. (Dùng 9 tờ vàng, mỗi tờ dài 6 tắc 3 phân 4 ly, ngang 3 tắc 5 phân 1 ly.)
      Ngày Bính tý, xuất binh (trao cờ tiết mao cho đại thần võ ban như lệ trước). Trước một ngày, ra lệnh cho 1.000 biền binh Thị trung sắp hàng ở Công thự tả hữu, 1.000 biền binh Thị nội sắp hàng ở hai bên tả hữu trong cửa Đoan Môn. Đến ngày thì xuất binh. Xong thì thôi việc giới nghiêm. Ghi làm lệ.
      Cho Kiến An công là Đài 2.000 quan tiền.
      Dụ rằng: «Nghe thấy em không đủ tiền tiêu dùng, vậy cấp cho tiền. Em phải nghĩ đấy, những bổng lộc ấy là máu mỡ của dân. Phải cung kiệm để nối nghiệp nhà, đừng xa xỉ mà hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của há có thể thường dùng của công làm ơn riêng mãi được sao?»
      Định lệ hậu thăng hậu điệu cho các quan ở Kinh và ở ngoài bổng mãn. 
      Vua từng xem sổ các quan, dụ bầy tôi rằng: «Triều đình vì nước chọn người, hoặc lấy tư cách, hoặc lấy công lao tài năng, đều nên đem ra bàn chung, há nên kéo bè tư túi. Vậy định điều lệ để thi hành». Bèn chuẩn định: Phàm những quan trong ngoài, văn từ Chánh tam phẩm, võ từ Tòng nhị phẩm trở xuống, hiện ăn lương bổng chức đương làm đã đầy sáu năm trở lên tức là bổng mãn.  (Bàn lương bổng chỉ lấy chức thực thụ hiện nay mà bàn, còn người nào nguyên đã có chức từ trước, tuy ăn bổng nhiều năm, cũng không bàn đến. Lại như người nào ăn lương bổng đã đầy sáu năm, nhân có tang về nghỉ, lại được bổ nguyên chức cũ mà không được thăng, nay tính từ khi lại bổ nguyên chức đến giờ, dẫu chưa đầy sáu năm cũng cho liệt làm bổng mãn), Thượng ty quản lĩnh nên xét người ấy có thể làm được việc thì hằng năm cứ đến tháng xuân làm hai bản danh sách. Văn có việc làm, võ có coi quân, là sách hậu thăng (võ thì Trấn thủ, Lưu thủ lệ cũng thế), văn không làm việc, võ không coi quân, là sách hậu điệu, do hai Bộ Lại binh tâu lên, đợi chỉ thăng điệu (ở Kinh thì tháng 2, ở ngoài thì tháng 3, đều cứ trung tuần thì gởi cho bộ). Nếu do đặc chỉ và do chuẩn theo đình thần cử lên thì không kể niên hạn.
      Lại định lệ khai khuyết. Phàm quan chức có khuyết thì ngay tháng ấy làm sách gửi cho bộ, bộ thần lấy cả sách hậu thăng, hậu điệu tiến trình, đợi chỉ bổ khuyết. 
      Bàn định ngày ninh lăng. Khâm thiên giám là Hoàng Công Dương cùng Thị trung Trực học sĩ là Lê Duy Thanh đều giữ ý kiến riêng. (Công Dương chọn ngày 16 tháng 4 là ngày Tân sửu, giờ Đinh dậu, Duy Thanh chọn ngày 29 tháng 3 là ngày Ất dậu, giờ Đinh sửu.) Vua phê bảo bầy tôi rằng: «Văn từ Thiêm sự, võ từ Thống chế trở lên, phải kính cẩn bàn kỹ. Việc ninh lăng là việc lớn, lâu dài muôn năm, nên phải hết tốt hết đẹp, mới xứng tấm lòng hiếu của trẫm. Nếu thấy đích xác có chỗ chưa hợp thì cho chỉ ra tâu lên. Nhược bằng trước thì theo hùa, sau lại phát lời nói quái để người nghi hoặc thì trị tội nặng». 
      Mọi người bàn cho ngày Tân sửu tháng 4 của Công Dương chọn là tốt nhất. Lại sai các tước công bàn lại, đều hợp cả. Lời bàn đã nhất định rồi. Bèn ra lệnh cho Hữu ty sắm sửa tang nghi, lấy các đại thần chia ra trông coi công việc. 
      Dụ rằng: «Việc đưa đám là lễ lớn, nếu một việc gì chưa được hết tốt hết đẹp thì hối hận suốt đời. Bọn khanh phải hết lòng trù tính đấy».
      Vua sáng suốt cận thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê. Có bản phê bắt đầu từ đấy. 
      Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ về đinh ưu. Lấy Thị trung Trực học sĩ Lê Duy Thanh thay.
      Lấy Thượng bảo khanh là Trần Đình Trưng làm Cai bạ Phiên An.
      Triệu Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất về Kinh. Sai Phó tổng trấn Lê Văn Phong quyền coi ấn vụ Bắc Thành.
      Trước đây Chất dâng sớ tâu xin vào viếng tang. Vua nghĩ rằng phương Bắc là nơi quan trọng, không thể tạm lìa được, không cho. Đến nay vua thấy lễ ninh lăng đã định ngày mới triệu vào. Sai lấy 1.500 người trong các vệ Ngũ kích thuộc ngũ quân đi theo.
      Gọi 2.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ về Kinh (Thanh Hoa 600 người, Nghệ An 1.400).
      Đổi Nội đồ gia làm Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia làm Vũ Khố. Sai Thiêm sự Hộ bộ quản Nội đồ gia là Nguyễn Công Vị vẫn quản Nội vụ phủ. Tri bạ Đồ gia là Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Biện lý Nội vụ phủ. Hữu tham tri Công bộ quản Đồ gia là Nguyễn Khoa Minh vẫn quản Vũ Khố. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng để cấp cho.
      Lấy Cai đội Lê Văn Ý làm Thủ ngự sở Phú Quốc. Sai mộ lính lập 10 đội ở thủ sở, mỗi đội 50 người, cho mỗi đội đều làm thuyền lớn thuyền nhỏ 3 chiếc, nhà nước cấp cho khí giới, tha cho thuế thân và tạp dịch để sai đi tuần biển. 
      Lấy Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Tứ làm Phó vệ úy vệ Tín oai thự việc vệ úy.
      Lấy Vệ úy vệ Hiếu dũng là Tôn Thất Tình lĩnh Quản phủ Hà Trung và ban cho triều phục. Tình bệ từ, vua dụ rằng: «Ngươi là họ Tôn Thất, không ví như người khác; Hà Trung là đất thang mộc, lại không ví như phủ khác. Ngươi nên siêng năng cố gắng thêm lên, để xứng đáng trách nhiệm giao cho. Nếu làm việc không kính cẩn thì không những phải tội với triều đình mà lại phải tội với thế phả nữa. Phàm người ta phải kính sợ mới làm nên việc. Làm thiên tử còn nơm nớp sợ trên kiêng dưới, không dám cho mình là tôn cao giàu sang mà xa xỉ. Ngươi nên thể tất ý trẫm, phải kính sợ, phải cẩn thận nhé».
      Tình cúi đầu vâng mệnh.
      Lạc Hoàn sai sứ sang cống; sứ giả đến Nghệ An, xin đến Kinh lạy chầu. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua y cho. Sứ giả đến, cho yết kiến ở Tiện điện, rồi cho hậu mà bảo về. 
      Triệu Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính về Kinh. Lấy Chưởng cơ Mai Gia Cương thay lĩnh chức Trấn thủ.
      Sai Lê Văn Duyệt bói ngày tế Giao. Từ đấy đầu mùa Xuân sai quan bói ngày tế Giao, hằng năm lấy làm lệ thường. 
      Trí sĩ là Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Hựu vào viếng tang. Đăng Hựu tuổi 69, vua vời vào yết kiến để ủy lạo, rồi cho 100 quan tiền.
      Bãi việc các địa phương tiến dâng thú rừng.
      Theo việc cũ thì ngày lễ kỵ, các dinh trấn nhiều nơi dâng thú rừng. Vua bảo bầy tôi
rằng: «Tế ở nhà Tôn Miếu, các món trân tu bày ở trở đậu(1) đều có phép thường. Nếu cứ để bốn phương cống hiến, một con chim một con muông, tuy là vật nhỏ mọn, mà quan lại trách lấy ở dân, không khỏi khó nhọc phiền phí. Vậy bãi đi».
      Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn bằng đồng, có chữ «Sắc mệnh chi bảo»(2) (Sau lưng khắc «Nguyên Hòa ngũ niên tạo». Nguyên Hòa là niên hiệu của Lê Trang Tông.) Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ: «Trung hòa vị dục»(3). Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo bậc khác nhau (Trần Hữu Bảo bạc 20 lạng, Hồ Quang 5 lạng).
      Lấy Ký lục Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa làm Cần Chính điện học sĩ.
      Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Bá Xuyến, Hiệp trấn là Trần Văn Thái, vì nhũng lạm bị tội miễn chức. Lấy cựu Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát làm Trấn thủ Cao Bằng, Tham hiệp Kinh Bắc là Lẽ Đình Khuê làm Hiệp trấn, Tri phủ Ứng Hòa là Phùng Khắc Tuân làm Tham hiệp, Hàn lâm viện Nguyện Bá Tuân làm Tham hiệp Kinh Bắc.
      Đem bạc, lụa, trâu, rượu cho cha Lê Văn Duyệt là Văn Toại và mẹ Lê Chất là Đào thị và cho thư để khen ngợi ủy lạo. 
      Cho dịch trạm các dinh trấn 3 tháng lương. (Từ Quảng Đức trở về Nam đến Biên Hòa, về Bắc đến Thanh Bình, cộng 91 trạm, gạo 4.995 phương.)
      Ban kính đeo mắt của Tây dương và lọ dầu đinh hương cho bầy tôi.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Đạo trị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ không thể biết hết được. Nay thư viện Thanh Hòa chứa nhiều sách lạ bốn phương, bọn khanh lúc rỗi việc mà có chí đọc sách thì mượn mà xem».
      Cho công thần Vọng Các là Chưởng dinh thượng đạo hưu trí Nguyễn Long 30 lạng bạc. Long trước đây vì tuổi già về nghỉ, đến nay nghe tin quốc tang, ốm nặng không thể vào viếng tang được, dâng biểu tự trần. Vua thương, dụ cho miễn đến Kinh mà hậu ban cho. Thuộc hạ là Cai cơ Cao Văn Quế cũng được cho bạc 10 lạng.
      Thưởng vàng bạc cho các thân công, hoàng đế, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, theo bậc khác nhau.
      Sai dinh Quảng Đức xây lò gạch ngói ở Vân Cù (tên xã thuộc huyện Hương Trà), hằng tháng cấp tiến gạo cho người làm việc. Lò làm vào ruộng đất của dân thì đền bằng thóc.
(1) Trở đậu: Đồ thờ để đựng thịt cúng.
(2) Sắc mệnh chi bảo: Cái ấn đóng sắc mệnh của vua.
(3) Trung hòa vị dục: Chữ sách Trung dung, nghĩa là: đạo được trung hòa thì trời đất yên ngôi (vị), muôn vật sinh nở (dục).
      Sai bộ Hộ làm tổng sách tiền thóc. Dụ rằng: «Tiên đế để lại kho tàng cho ta để giúp nhân dân, số dư thiếu không thể không biết được. Vậy tính kê số tiền thóc xuất nhập trong một năm, thừa được bao nhiêu, làm thành hai bản sách, một bản để dâng nơi bàn thờ, một bản để ta xem».
      Chọn lính Thị trung, người có sức mạnh bổ vào mười đội Túc trực, lấy cất vật nặng đi xa làm mức thưởng cấp bạc tiền áo quần. (Cách chọn, lấy hai khối chì mỗi khối nặng hơn 100 cân, người dự tuyển mỗi tay nhắc mốt khối đi 15 trượng; lại cho một tay nhắc một khối đi 30 trượng là hạng ưu; hai tay nhắc đi 12 trượng, một tay nhắc đi 24 trượng là hạng ưu thứ; hai tay nhắc đi 10 trượng, một tay nhắc đi 20 trượng là hạng bình; hai tay nhắc đi hơn 8, 9 trượng, một tay nhắc đi hơn 16 trượng là hạng bình thứ; hai tay nhắc đi 7 trượng cho đến 5 trượng, một tay nhắc đi trên dưới 10 trượng là hạng thứ).
      Thống quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn chết. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Nguyễn Văn Tồn tuy là ở ngoài giáo hóa, nhưng làm tôi thờ Tiên đế, đã nhiều năm vất vả, một lòng trung thành, rất đáng thưởng». Bèn sai quan dụ tế, cho hai cây gấm Tống, 20 tấm vải, 200 quan tiền. Lấy Phó quản đồn là Cai cơ Hồ Văn Thất thự Chánh quản đồn, An phủ là Tót làm Phó quản đồn.
      Biên các đội tinh binh ở đồn Uy viễn làm cơ Tinh biên, cho Nguyễn Văn Vì là con Nguyễn Văn Tồn làm Cai đội thự Chánh quản cơ, Cai đội Nguyễn Văn Thành thự Phó quản cơ.
      Vua đã đại xá tù đồ (ở Kinh tù lưu đồ 217 người, ở ngoài tội sung quân và lưu đồ 389 người), lại lo rằng hoặc giả chúng khinh rẻ lại tái phạm, mới dụ rằng: «Triều đình thể đức hiếu sinh của trời đất mà xá lỗi tha tội, thì người có lương tri nên cố sức hối cải, làm người dân lành, để cùng lên cõi nhân thọ. Nếu quen nết xấu không chừa, lại can vào tội, tức là cố ý không hối cải, thì nước có hình thường, dẫu muốn lại cầu xin ơn điển cũng không thể được nữa. Bộ Hình phải lấy chỉ dụ này gửi khắp cho các địa phuong khiến đều biết cả.
      Sai sứ báo tang cho nước Xiêm. Lấy Tham tri Lễ bộ Bùi Đức Mân sung Chánh sứ, Thiêm sự Công bộ Trương Quang Hải và Thuộc nội cai đội Ngô Văn Trung sung giáp ất Phó sứ (Tặng Phật vương 2 cân kỳ nam, 3 cân nhục quế, 1.000 cân đường phèn, 2.000 cân đường và the sa vải điều 100 tấm). Đức Mân đến, vua Xiêm khoản đãi rất hậu, hỏi rằng: «Tục nước tôi viếng đám tang lấy bố thí làm hậu, nay muốn sai sứ đem vàng để làm phúc có được không?» Đức Mân nói: «Không hại gì». Khi về, vua quở trách rất dữ, giao cho bộ Hình nghị tội. Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng hết sức xin cho mới được khỏi tội.
      Định lệ thưởng phạt vì chóng hay chậm cho lính trạm từ Gia Định và Bắc Thành đến Kinh. (Thành Gia Định, việc rất khẩn 9 ngày đến Kinh, thưởng tiền 6 quan, không tới 9 ngày mà đến thì thưởng thêm 3 quan; việc khẩn vừa đi 10 ngày đến thì thưởng tiền 4 quan. Bắc Thành việc rất khẩn đi 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng tiền 4 quan; đi không tới 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng thêm 2 quan; việc khẩn vừa đi 5 ngày đến thì thưởng tiền 3 quan. Phàm việc rất khẩn và khẩn vừa mà đi quá hạn 1 ngày thì đình thưởng, tha tội; quá hạn đến 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm một ngày lại thêm 20 roi, tội chỉ đến 90 trượng là thôi. Đến như đi thường thì Gia Định 12 ngày, Bắc Thành 6 ngày, quá hạn 1 ngày thì tha tội, quá hạn 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm 1 ngày thì thêm 10 roi, đến 50 roi là thôi. Từ Kinh đến hai thành, lệ cũng như thế).
      Tháng 2 dâng lên Hoàng mẫu 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo.
      Quảng Nam giá gạo hạ, vua nghe rất vui lòng. Mùa đông năm trước ở Quảng Nam giá gạo cao, sai Tham Bồi Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân đến phát gạo ra bán. Đến nay gạo rẻ, ít người lĩnh gạo bán, triệu bọn Nghi về.
      Tha thuế điền thổ cho dân xiêu dạt ở xã Nga Mi (thuộc huyện Nông Cống) trấn Thanh Hoa. Từ đấy về sau ruộng đất của dân xiêu dạt bỏ hoang, sở tại đem án tâu lên, đều miễn thuế. 
      Sửa Hữu miếu.
      Cất sinh đồ ở Thanh Hoa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận bổ vào Hàn lâm viện. Trước đây Lê Văn Duyệt đi kinh lược địa phương Thanh Nghệ, hai người ấy đều có công gọi giặc trốn ra đầu hàng. Duyệt đem việc tâu lên triều đình cho nên có mệnh này.
      Lấy Cai đội Nguyễn Văn Niệm làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất, cựu Phó quản cơ Nguyễn Văn Bằng làm Phó vệ úy. 
      Bắc Thành giá gạo cao. Dụ cho các trấn trong thành hạt rằng tiền lương bổng phải chi về tháng 3 tháng 4 thì cho chi bằng thóc, giảm giá thóc mỗi hộc trị giá 1 quan tiền.
      Dân hai xã An Vân và Đốc Sơ (thuộc huyện Hương Trà) dinh Quảng Đức tâu xin miễn cho tạp dao 2 tháng để đào mương lấy nước tưới ruộng. Vua sai dinh thần khám thực, rồi y cho.
      Sai Phó đô Thống chế Tôn Thất Bỉnh, Tả thống chế Tôn Thất Dịch, Chánh giám sơn lăng sứ Tôn Thất Đạo, hễ đến ngày mồng 1 và ngày rằm, đều mặt triều phục đến các miếu kính cẩn làm lễ.
      Sai các cửa biển dự trữ tiền gạo để cấp cho người bị nạn.
      Chiếu rằng: «Thương người bị nạn để rõ chính sách nhân từ. Vả đường biển gian hiểm, sóng gió khó lường, gần đây quan quân dân chúng, hoặc đi việc công, hoặc đi buôn bán, lội hiểm lặn sâu, đều là bất đắc dĩ cả, gián hoặc bỗng gặp nạn gió, người sống thì không nơi nương tựa, người chết không ai liệm bọc, xét soi thấy thế, rất đáng xót thương. Vậy hạ lệnh cho các thành dinh trấn đều dự trữ tiền 100 quan gạo 100 phương ở thủ sở cửa biển, khi có người bị nạn thì xem việc công hay việc tư, tùy bậc mà cấp. (Phàm người đi công sai, cai đội phó đội trở lên, mỗi người cấp tiền 4 quan gạo 1 phương; chánh đội trưởng, đội trưởng thì tiền 2 quan gạo 1 phương; người chết thì số tiền cấp gấp đôi. Binh lính thì tiền 1 quan gạo 1 phương; người chết thì tiền 3 quan. Nhân dân thì cấp 5 tiền và 15 bát gạo; người chết thì 2 quan tiền. Không phải là đi công sai thì cai đội phó đội trở lên tiền 2 quan gạo 15 bát; người chết thì 3 quan tiền. Chánh đội trưởng trở xuống đến quân dân, thì 3 tiền 10 bát gạo; người chết thì 1 quan tiền).
      Sai Thiêm sự Hoảng Quốc Bảo, Thị hàn Hoàng Sư Định, Nội hàn Lê Bá Tú đến Quảng Trị phát thóc kho ra bán. Trước là dân Quảng Trị nhiều người điêu hao, bọn Bảo vâng lệnh phái đi thăm hỏi, đem hết tình trạng đau khổ tâu lên, vua bèn ra lệnh phát thóc kho giảm giá bán ra (Thóc một hộc trị giá 8 tiền, quân dân đều bán cho 1 hộc; kẻ góa vợ, góa chồng, cô độc thì bán một nửa).
      Lại triệu Ký lục Quảng Trị Lê Đồng Lý đến quở trách rằng: «Bọn các ngươi là người giữ việc chăn dân mà để cho dân đến như thế, chẳng phải là vỗ về nuôi nấng không đúng nên đến thế sao! Ngươi làm việc mới ít ngày, hãy tha cho; phải về cùng với Lưu thủ là Bùi Văn Thái hội đồng với phái viên mà làm cho thỏa đáng, cho tiểu dân đều được nhờ ơn, để bù lại lỗi trước. Còn Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn không có tài chăn dân, giải chức ngay về Kinh để đợi chỉ. Lại chuẩn lời bàn của đình thần, phàm dinh hạt nào nhân dân xiêu dạt thì tha bắt dao dịch, hoãn thúc giục thuế, để dân được thư.
      Bộ Công tâu xin trưng thu trước gỗ thuế của thợ rừng ở Quảng Trị.
      Vua nói: «Lệ thuế sản vật năm nay, trước đã có lệnh tha, nay mực tờ chiếu chưa khô mà lại trưng thu thì lấy gì để cho dân tin được. Nếu không đủ thì lấy tiền công mà mua».
      Cấm các quản quân thiện tiện đòi lính mộ trốn thiếu.
      Vua thấy lính ứng mộ không dính dáng đến việc xã dân điền cấp, thế mà gần đây mỗi khi có người trốn thì người cai quản thường thường theo nguyên quán mà đòi bắt, làm khổ cho dân, nên sắc từ nay về sau hễ có lính trốn thì tư cho bộ Binh phái nã, không được bắt bớ nhiễu dân.
      Đổi tên đài Bắc Củng làm đài Bắc Định, cửa biển Yên Việt làm cửa biển Việt Yên.
      Sai biền binh Thủy quân đem các thuyền hiệu, thuyền ở, thuyền lê 70 chiếc đi chở gỗ cây, đá phiến cùng tiền và sản vật nhà nước ở Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Bình, Phú Yên, Bình Định nộp về Kinh.
      Bộ Lễ tâu dâng nghi chú tế Giao, từ lúc phát thệ ăn chay đến lúc lễ xong, cứ theo như điển cũ. Vua nghe theo. (Trước khi tế Giao 3 ngày, đại hội các quan văn võ để thề ăn chay ở sân điện Thái Hòa. Trước 2 ngày vua thân đến cáo ở Thái Miếu và điện Hoàng Nhân. Trước 1 ngày xa giá đến Trai cung. Đến ngày hôm ấy đem bầy tôi làm lễ lớn.)
      Ngày Tân sửu, tế Trời đất ở đàn Nam Giao, lễ xong, mưa to như trút nước. Trước đây trong kinh kỳ kém mưa, nhà vua lấy làm lo, dụ rằng để sau khi tế Giao thì cầu đảo. Ngày hôm ấy mưa, người đều cho rằng lòng tinh thành cảm đến trời đất.
      Sai trung sứ đi các huyện ấp trong kinh kỳ, xét xem lúa ruộng thế nào để tâu lên.
      Sai Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân vẫn lĩnh Hộ tào Bắc Thành, hiệp cùng Phó tổng trấn Lê Văn Phong bàn làm các việc ở thành. Tường Vân trước đây có lệnh gọi về Kinh, chưa kịp lên đường, vừa gặp Lê Chất đến Kinh, vua hỏi về việc thành. Chất nhân tâu nói: «Văn Phong là người chất phác hiền lành, không có học, xin để Tường Vân cùng ở làm việc». Vua nghe lời tâu, bèn ra lệnh cho Tường Vân ở lại thành. Cải bổ Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Tào hộ Bắc Thành là Hoàng Văn Diễn làm Hiệp trấn Thanh Hoa, Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Xuân Thục ở lại Kinh làm việc Bộ.
      Đặt trạm đường thủy ở sông Vĩnh Tế.
      Trước đây Hà Tiên có việc báo cho Gia Định tất phải theo đường biển, nhiều khi chậm trễ. Đến nay ra lệnh cho thành thần đặt trạm đường thủy để chạy đệ tin báo quan trọng, nếu đường sông có chỗ nào chưa thông thì đi đường bộ cho nhanh việc công.
      Lấy Phó vệ úy vệ Củng võ Hữu dinh quân Thần sách là Lê Văn Sách làm Vệ úy vệ Diệu võ Tả dinh.
      Cấm trong kinh thành chứa chấp những bọn nhỏ hèn vô lại và nói tiếng Hồ ăn mặc lạ.
      Vua bảo thị thần rằng: «Kinh thành ở sát dưới xe, gần đây viên giám thành lơ là đàn áp nên bọn nhỏ hèn nhiều kẻ dám đi lại làm ồn ào, không tôn trọng nơi kinh sư, phải nghiêm cấm đi».
      Quảng Bình giá gạo cao. Sai dinh thần phát gạo kho 10.000 phương, giảm giá bán ra (1 phương gạo giá 8 tiền).
      Trấn thần Bình Định tâu nói: «Các sở đầm nguồn Trà Đinh, Thạch Bàn, Kiều Bông, Hà Náo, Ô Kiêm, Đồng Trí thuộc hạt ấy ít người muốn trưng, xin giảm giá để tiện cho dân. Vua y cho. Sắc từ nay về sau ai muốn trưng thì cho trưng, ai không muốn thì chớ bắt ép.
      Sai các quân tập trận. Vua ngự điện Kiền Nguyên để xem.
      Lấy Hữu tham tri Công bộ là Đoàn Viết Nguyên làm Tả tham tri Hộ bộ, Nguyễn Đức Huyên làm Tả tham tri Công bộ, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính làm Hữu tham tri Công bộ.
      Bổ con Đặng Đức Siêu là Đức Thiệm, con Trần Văn Trạc là Văn Thục làm Hàn lâm Thị thư.
      Bàn định quy trình nhà Quốc tử giám.
      Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Học hiệu là quan hệ đến hiền sĩ, nhà nước dùng người phần nhiều lấy ở đấy. Tiên đế bắt đầu đặt nhà Quốc tử giám, đặt học quan và định phép xét thi để gây dựng nhân tài cho nhà nước dùng. Ta theo chí Tiên đế, muốn sai làm nhà học, lấy thêm sinh viên, hậu cấp lương cho, định rõ chương trình khiến cho người học đều được thành tài để đợi xét dùng. Bọn khanh phải cùng học thần bàn từng phần mà tâu lên».
      Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân dâng biểu thành khẩn xin vào viếng tang. Vua y cho, sai Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn.
      Vua nghĩ Văn Nhân là người huân cựu, tuổi lại già dụ cho đi đường thong thả, chớ để mệt nhọc, khi đến, vời vào yết kiến ở Tiện điện, thung dung cho ngồi, yên ủi hỏi han mãi.
      Lấy Vệ úy vệ Thắng oai quân Thị nội là Phạm Văn Tín làm Lưu thủ Quảng Nam. 
      Sai Đốc thần Thanh Hoa là Nguyễn Văn Ngoạn tế cáo ở Nguyên miếu.
      Chiếu rằng: «Báo đền từ gốc để cho tôn đạo hiếu; chính từ lúc đầu để cho rõ điển lễ. Trẫm mới nối mối lớn, nghĩ đến Nguyên miếu ở quý hương, gây mở nghiệp vương để lại muôn đời. Vậy ra lệnh sắm lễ yết cáo, để tỏ nghĩa nhớ đến tổ xa».
      Định thêm lệ lễ Nguyên miếu. (Lệ trước có những lễ Trừ tịch, Chính đán, Đoan dương, tế hưởng mạnh Xuân, mạnh Thu và tế Chạp. Đến nay thêm hai lễ hưởng mạnh Hạ, mạnh Đông.) Đặt ty Từ tế, lấy người công tính là Nguyễn Hựu Tuyên làm Từ tế sứ (trật Tòng tứ phẩm), Nguyễn Hựu Sỹ làm Từ tế phó sứ (trật Chánh ngũ phẩm), kiêm quản các chi công tính và phụng giữ việc thờ cúng. Vua dụ rằng: «Bọn ngươi là công tính coi giữ việc thờ tự, nên xướng suất người họ, dạy bảo con em, phàm việc tất phải thành kính, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm».
      Lấy tiền bạc trâu rượu cho tôn thất, công tính, ngoại thích, quý hương, quý huyện. Lại thưởng thêm cho các kỳ lão công tính tuổi từ 70 trở lên, các kỳ lão quý huyện tuổi từ 80 trở lên, bạc lụa rượu thịt theo bậc khác nhau.
      Bắt đầu đặt bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai quân Thị nội, mỗi dinh đều 5 vệ. Dinh Thần cơ 5 vệ thì lấy 8 đội Trung hầu (từ đội 2 đến đội 9), 3 đội Chấn oai, cộng 11 đội, bổ làm Trung vệ, 10 đội Chấn oai làm Tiền vệ, 10 đội Loan nghi làm Hậu vệ, 2 đội Tân hầu ở Bình Định, 7 đội, 5 đội Thắng và 2 đội Chấn ở Quảng Nam, đội Kiên Ngãi ở Quảng Ngãi, cộng 10 đội, làm vệ Thần oai, 2 thuyền Kiên súng và Nhưng súng ở Bình Hòa, thuyền Tân Bính ở Bình Thuận, 5 thuyền Bính ở Quảng Nam, đội Oai bính ở Quảng Trị, đội Thắng súng ở Phú Yên, cộng 10 đội, làm vệ Chấn oai. Dinh Tiền phong 5 vệ thì lấy 8 vệ Kiện võ bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Kỳ võ làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trang võ làm Tả vệ, 10 đội vệ Nghiêm võ làm Hữu vệ, 10 đội vệ Tuyên võ làm Hậu vệ. Dinh Long võ 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Nội trực bổ làm Trung vệ, 11 đội vệ Trung tín nhất làm Tiền vệ, 4 đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm và Tiểu sai, 6 đội Nội hầu (từ đội 8 đến đội 13), cộng 10 đội làm Tả vệ, 6 đội Kiên thuận, 3 đội Kiên dũng, đội Trung hầu thuộc tòng, cộng 10 đội, làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhất làm Hậu vệ. Dinh Hổ oai 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Tín oai bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Thắng oai làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trung cần làm Tả vệ, 12 đội vệ Trung tín nhị làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhị làm Hậu vệ. Còn quân Thị nội, vệ Kỹ võ (12 đội sinh thiết), vệ Thành võ (2 đội Thành võ, 3 đội Nội hầu ngũ, Nội hầu lục, Nội hầu thất, 5 đội Thường hầu, cộng 10 đội), vệ Trinh võ (2 đội Tiểu sai, Nội mã, 4 đội Trinh nghĩa, cộng 6 đội) cùng với đội Hoàng kiếm, đội Tả vệ, đội Hữu vệ, 3 đội Dực võ nhất nhị tam, đều để nguyên hiệu cũ.
      Bổ Phó vệ úy vệ Trung hầu là Trương Công Tuyên làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội, Vệ úy vệ Kiện võ là Lê Phúc Hậu làm Vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong, Vệ úy vệ Trang võ là Vũ Văn Châu làm Vệ úy Tả vệ, Phó vệ úy vệ Trang võ là Hồ Văn Trương làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Nghiêm võ là Nguyễn Khả Bằng làm Vệ úy Hữu vệ, Phó vệ úy vệ Nghiêm võ là Vũ Văn Tính làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Tuyên võ là Nguyễn Đăng Huyên làm Vệ úy Hậu vệ, Vệ úy vệ Nội trực là Mai Văn Thành làm Vệ úy Trung vệ dinh Long võ; Vệ úy vệ Trung tín nhất là Phan Văn Thúy làm Vệ úy Tiền vệ; Quản cơ Hữu thủy là Nguyễn Văn Sử làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Hữu bảo nhất là Ngô Văn Thành làm Phó vệ úy Hậu vệ, Phó vệ úy vệ Tín oai là Nguyễn Xuân làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Hổ oai, Phó vệ úy vệ Thắng oai là Nguyễn Văn Phượng làm Phó vệ úy Tiền vệ, Vệ úy vệ Trung cần là Đỗ Quý làm Vệ úy Tả vệ, Phó vệ úy vệ Trung cần là Bùi Văn Phượng làm Phó vệ úy, Vệ úy vệ Trung tín nhị là Nguyễn Văn Lượng làm vệ úy Hữu vệ, thự Vệ úy vệ Tín oai là Tôn Thất Tứ làm thự Vệ úy Hậu vệ, Phó vệ úy vệ Hữu bảo nhị là Nguyễn Văn Tùng làm Phó vệ úy.
      Chọn lấy 40 người trong các đội Loan nghi quân Thị nội đặt làm đội Bả cái.
      Bắt đầu đặt vệ Nội hầu. Lấy 3 đội Nội hầu nhị, tam, tứ, đội Tả hầu, đội Hữu hầu, đội Trung hầu nhất, đội Chấn hầu, hai thuyền Toàn bính nhất, nhị, thuyền Quảng bính, sung bổ vào.
      Sai Tôn Thất Dịch kiêm quản đội Giám thành.
      Vua thấy trong Kinh thành nhiều người quyền thế quan trọng, mà quản giám thành thì phẩm trật thấp, sợ không kiềm chế được, mới sai Dịch kiêm quản.
      Cai đội Hậu quân là Nguyễn Văn Trạc đi lầm vào Thanh Phong đường, bị người giữ cửa bắt được. Chưởng Hậu quân Lê Chất sợ hãi tạ tội, xin chém Trạc. Vua nói rằng: Trẫm làm chính trị bằng lượng rộng lớn. Trạc vừa ở ngoài đến, chưa biết tình hình cấm cửa, đánh roi mà tha cho».
      Sửa lăng liệt thánh.
      Sửa nhà Tả trù và nhà Hữu khố của Thái miếu.
      Định lệ thuộc binh của Thống chế quân Thị trung quân Thị nội và của Thượng thư, Tham tri, Thiêm sự sáu bộ. Sai mộ dân ngoài tịch sung vào (Thống chế 50 người, Thượng thư 20 nguời, Tham tri 15 người, Thiêm sự 5 người).
      Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Phạm Văn Quỳnh, tuổi già nghỉ việc, cho chi nửa lương công thần Vọng Các.
      Lấy Hữu thống chế quân Thị trung là Trương Phúc Đặng lãnh Án trấn Bình Định. Sai cấp cho 20 người đội Tài hoa làm thuộc binh, gọi là đội Kiên định. Phúc Đặng đến trấn xin mộ đủ quân số một đội. Vua y cho.
      Giảm 5 phần 10 tiền thóc cày mướn ruộng quan điền, quan trại năm nay (thường năm cày mướn ruộng quan điền quan trại lệ không được ân xá, đây là đặc cách).
      Vua thấy từ trước đến nay chương sớ của bốn phương tâu lên, các bộ thần mở phong bì phụ xem trước, có việc gì không hợp thì bỏ không tâu, bèn sắc cho sáu bộ, từ nay chương sớ có cái không hợp cũng đem việc thanh minh, không được tự ý bác đi, để phòng sự che lấp.
      Bắt đầu đúc tiền «Minh Mệnh thông bảo» 6 phần bằng đồng và bằng kẽm, sai lấy mẫu tiền gửi cho cục Bảo tuyền ở Bắc Thành theo đúng phép mà đúc. Định lệ tiền công liệu (Cứ trong 100 cân đồng kẽm thì có 49 cân đồng đỏ, 45 cân kẽm, 6 cân chì, đúc thành tiền đồng 37 quan 8 tiền, cấp tiền công liệu 5 quan 5 tiền 33 đồng 6 phân 2 ly. Mỗi 100 cân kẽm đúc thành tiền kẽm 41 quan, cấp tiền công liệu 3 quan 4 tiền 21 đồng 6 phân 5 ly).
      Cấm người thượng thiện mua rẻ vật ở chợ.
      Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng rằng: «Kinh thành là nơi đô hội, buôn bán đông đúc, gần đây nghe nói người thượng thiện và nhà bếp ở các nha môn, nhiều kẻ lấy thanh thế nạt người mà mua hàng rẻ, người ở chợ lấy làm khổ. Trẫm muốn luật pháp thi hành từ chỗ gần, cho nên ra lệnh cho người thượng thiện đều đeo tín bài để biết (bài khắc hai chữ Thượng thiện), hễ dám làm càn điều phi pháp thì bắt trị không tha».
      Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Văn Thái về đinh ưu, lấy Quản đạo Thanh Bình là Đào Văn Thành làm Trấn thủ Tuyên Quang, Vệ úy tiền vệ dinh Long võ quân Thị nội là Phan Văn Thúy làm Quản đạo Thanh Bình.
      Thái có tang mẹ, về táng ở Gia Định, khi đến Kinh vào yết kiến, vua nghĩ Thái ở ngoài 19 năm, vẫn có công lao rõ rệt, cho 100 quan tiền.
      Hiệp trấn Hải Dương là Ngô Khản vì ốm miễn chức; lấy Tham hiệp Hưng Hóa là Nguyễn Kim Bảng làm Hiệp trấn Hải Dương, Tri phủ Kiến Xương là Trần Đình Tiến làm Tham hiệp Hưng Hóa.
      Lấy Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân làm Hàn lâm viện Thừa chỉ, Cai hợp Hứa Đức Đệ làm Tu soạn, Thủ hợp Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh, Nguyễn Văn Thuận làm Biên tu. Quýnh và Thuận kiêm chức Khởi cư chú.
      Hạ lệnh cho các hoàng tử và hoàng đệ vào học ở Hữu Phương đường. Lấy Cần Chính điện học sĩ Ngô Đình Giới, Lê Đại Nghĩa sung chức Giảng quan.
      Vua từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng: «Cha anh yêu con em, tất phải rèn luyện cho nên người có đức, không thế thì yêu chúng lại là làm hại chúng. Trẫm có 4 người em nhỏ. Muốn đặt sư phó để dạy cùng với các con. Nhưng nghĩ đến người dạy thì chỉ có Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa là bậc lão thành túc học, có thể kham chức ấy. Bèn có mệnh này. Rồi Đình Giới được thăng Hữu tham tri Hình bộ, Đại Nghĩa một mình chuyên việc giảng dạy.
      Vua dụ rằng: «Trẫm từ lúc nhỏ, nhờ sức giúp đỡ sửa chữa của khanh. Nay bọn Quân Cự là em nhỏ của trẫm, đều sinh trưởng ở nơi thâm cung, không dạy thì không thành người có đức được. Khanh nên sớm hôm khéo dẫn bảo, có lỗi thì đánh, chớ để cho thành tánh kiêu căng lười biếng». Nhân cho cái roi dạy.
      Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói: «Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được». Vua hỏi rằng: «Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à?» Vị đáp rằng: «Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học?» Vua nói rằng: «Về phần trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao?»
      Đốc học Quốc tử giám là Nguyễn Đăng Tài vì già ốm về nghỉ. Vua nghĩ đến công hầu giảng trước, cho tiền 50 quan. Rồi Đăng Tài chết. Cho một cây gấm Tống, 20 lạng bạc.
      Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Trị là Bùi Văn Thái có bệnh xin về Kinh điều dưỡng. Vua y cho.
 
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.02.2016 12:05:43 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Nguyen Đ Thanh
 
xem lại
 
---&---

 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN III
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất (1820), mùa hạ tháng 5, sai quan lễ tạ thần biển và đền Thai Dương phu nhân, vì cớ việc vận tải đường biển được yên ổn.
      Nhà quân Tiền phong cháy. Vua thân đem các quân Thị vệ đến dập tắt. Nhân dụ Tôn Thất Dịch và Võ Viết Bảo rằng: «Từ nay về sau phàm gặp cháy thì người trực ở tả vu tức thì đánh thanh la thổi tù và làm hiệu, đóng các cửa thành lại, quân thị vệ đều chỉnh bộ ngũ để đợi mệnh lệnh ở hai bên tả hữu điện Thái Hòa. Khi lửa tắt đánh chiêng thì thôi.
      Chuẩn định từ nay trở đi các quan không có lệnh triệu vào chầu hầu thì không được tự ý vào Tiện điện. Chánh phó vệ úy vào cửa Tả Túc trở vào thì chính mình đeo lấy gươm, không được giao cho người đi theo.
      Ngày Kỷ mùi, đúc ấn vàng của Thế tổ Cao hoàng đế (vuông 2 tấc, 7 phân, dày 3 phân 2 ly, núm rồng ngồi, khắc 6 chữ triện «Thế tổ Cao hoàng đế bảo» và ấn vàng của Cao hoàng hậu (vuông 2 tấc, 3 phân, dày 2 phân 7 ly, núm rồng ngồi, khắc 4 chữ triện «Cao hoàng hậu bảo». Sai Chưởng dinh Trương Tiến Bửu trông coi công việc.
      Tiết Đoan dương, miễn lễ chầu mừng cho các quan. 
      Cho những cung nhân triều trước, người nào không có con thì về với người thân. Đầu là vua sai làm dãy nhà dài ở sau điện Hoàng Nhân cho cung nhân ở để đợi hết tang. Lê Văn Duyệt xin theo di mệnh của Tiên đế, ai muốn về thì cho về. Vua cho lời ấy là phải, ra lệnh cấp cho mỗi người 2 năm lương.
      Triệu các Hương cống khoa Kỷ mão về Kinh, phái làm hành tẩu ở sáu bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương. Rồi sai Nguyễn Hữu Thận chọn lấy vài người học hạnh thuần cẩn sung làm trực học cho các hoàng tử. Thận cử Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ. Vua y cho.
      Vua nhân hỏi Thận rằng: «Nay đương cần cấp chuộng văn, để ý bồi dưỡng, mà nhân tài còn chưa được nhiều, ý giả sự cất nhắc người giỏi ở chốn quê mùa chưa được như đời cổ chăng». Thận đáp rằng: «Phần nhiều người dạy chưa được người giỏi, nên ít người thành tựu».
      Vua nói: «Phải, đó là điều trẫm rất giận. Gần đây như Cao Huy Diệu làm Đốc học Gia Định, không tuyên dương được phép dạy để mài giũa thói tập của học trò mà lại cùng học trò đánh bác chơi bời, sư phạm mà như thế thì mong thành tựu được nhiều người chẳng cũng khó lắm sao!
      Lấy Chưởng Tả quân lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định. Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm.
      Duyệt bệ từ. Vua cho rằng ký thác công việc ở biên khổn khó tìm được người, hai ba lần vỗ về yên ủi. Sai vệ Tả bảo nhất, vệ Tả bảo nhị, vệ Minh nghĩa và 2.000 người biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ ứng triệu về Kinh đi theo. Lại sai cựu Lưu thủ Nguyễn Cửu An theo đi Gia Định để quản suất năm đội Bính ở thành cùng các đội Bính ở các trấn. (Biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ còn ở Kinh 1.500 người, đến tháng 6 cho về ngũ).
      Lấy Vệ úy vệ Tín trực là Nguyễn Văn Ứng làm Vệ úy vệ Trung bảo nhị, Cai cơ Trần Văn Hiệu làm Phó vệ úy vệ Tín trực, Phó vệ úy quản các đội Hữu sai thuộc Hữu quân là Phạm Văn Châu làm Vệ úy vệ Hữu bảo nhị.
      Lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Trần Nhật Vĩnh làm Thiêm sự Hình bộ, theo thành Gia Định chuyên làm việc từ chương, Thiêm sự Hình bộ là Hoàng Quốc Bảo làm Tham hiệp Thanh Hoa.
      Quốc Bảo bệ từ. Vua dụ rằng: «Ngươi đến trấn nên cùng với bạn đồng liêu kinh dinh xếp đặt, phàm việc gì có thể ích nước lợi dân thì hết sức mà làm, chớ nên chỉ mưu cho mình tạm khỏi tội lỗi mà thôi».
      Lấy Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng, quyền coi ấn vụ Tiền quân. Vệ úy vệ Định võ Tả dinh là Nguyễn Văn Mân làm Chưởng cơ quyền coi ấn vụ Phó đô thống Hậu dinh, Quản cơ cơ Trung thắng Hậu quân là Nguyễn Đình Phổ làm Vệ úy vệ Định võ.
      Trấn Nghệ An đặt mua gỗ làm thuyền hiệu, những người lĩnh tiền của nhà nước phần nhiều chưa nộp gỗ. Đình thần bàn xin bắt nộp. Vua nói: «Trẫm nghe trấn Nghệ An đương khổ về thiếu ăn, dân ta làm sao lấy được gỗ để nộp cho nhà nước! Vậy miễn cho».
      Sửa đắp đài Trấn Hải. Sai Lê Chất trông coi công việc.
      Trước đây vua bảo Chất rằng: «Tiên đế đắp đài để giữ cửa biển Thuận An, gần đây sóng gió vỗ vào làm lở sụt. Muốn cho vững thì nên dùng chước gì?» Chất xin đóng nhiều cọc gỗ rối lấp bằng gạch đá. Vua cho là phải, nhân đấy sai Chất làm. Sau vài tháng Vệ úy Lê Văn Chương từ Thuận An tâu rằng phía trước đài đất cát bồi dần. Vua mừng nói rằng: «Đài này gần sát sóng biển, thường lo vỡ lở, nay có cát để chắn thì đài vững được. Đây là ý trời giúp cho, không phải sức người làm được».
      Cho bốn người con công thần Vọng Các Cáp Văn Hiếu hằng tháng được chi tiền gạo. 
      Định lệ khóa thanh tra cho cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đầu là đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh xin cho khám xét. Giao xuống đình thần bàn, đình thần tâu xin sai quan kiểm tra, từ tháng 4 năm Gia Long thứ 12 (1814), đến tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), làm khóa năm Kỷ mão; từ năm Minh Mệnh thứ 1 trở về sau, cứ 3 năm một khoá, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu làm khóa kỳ. Đều chọn phái một người Thiêm sự Hộ bộ đem các lệnh sử ty sáu bộ mỗi ty 1 người đi kiểm xét, theo như lệ thanh tra lương tiền. Vua nghe theo. Bèn sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng trông coi công việc thanh tra cục Bảo tuyền.
      Thành Gia Định dâng chim hạt đen và lợn vàng nước Ma Ly Căn. 
      Xuống chiếu tìm sách cũ. Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau. Nhà nước ta, từ Triệu tổ hoàng đế mở đất dựng nước, Thái tổ hoàng đế chịu mệnh nối ngôi, các thánh nối nhau rỡ ràng sáng rạng hơn hai trăm năm, trong khoảng ấy đều có sự tích. Duy vương chế chưa đủ, sử cục chưa có sự biên chép của quan Trụ hạ(1), hãy còn thiếu sót. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trung hưng nghiệp đế, dựng nên thái bình, nhớ lại công xưa, nghĩ tìm thực lục, nhưng muôn việc nên không kịp làm, sử chức vẫn còn bỏ thiếu. Trẫm để ý điển xưa, noi theo chí trước, ngửa nghĩ rằng nhờ công đức các đời mở đắp mới có ngày nay, càng muốn làm cho rõ rệt dấu xưa, giao cho sử quan soạn thuật. Nhưng từ lúc dấy quân về sau, kho sách không có bằng chứng, duy các nhà nhiều học thức hoặc còn ghi chép được chăng. Vậy chuẩn cho quân dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản biên chép điển cũ của triều trước, thì không thể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép, đều có khen thưởng».
      Do đó trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh Bột di ngư văn thảo, Chiêm hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản), người Quảng Đức là Cung Văn Hi dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển), người Thanh Hoa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 điều), người Quảng Ngãi là Võ Nguyên Biều dâng sách Cố sự biên lục (1 quyển). Vua khen, thưởng cho vàng lụa theo các bậc khác nhau.
(1) Trụ hạ: tên quan ở đời Chu Tần, tức là Ngự sử, đứng hầu ở dưới cột điện.
      Quan Bắc Thành tâu nói: «Đồn Bạt Thái ở Sơn Tây (thuộc huyện Bất Bạt) đất giáp huyện Tam Nông, thực là quan yếu. Thủ bảo là Nguyễn Đình Lương mộ được 50 người đinh lậu tịch từ Nghệ An trở vào, xin lập làm đội Hùng oai, hằng tháng cấp gạo lương để cho đóng giữ đất ấy». Vua y cho.
      Định lệ cấp tiền tuất cho các đội thị vệ. Binh ở mười đội Túc trực, hai đội Trường trực và Thường trực mỗi người tiền tuất là 5 quan; ngũ trưởng các đội Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất, mỗi người đều 10 quan. 
      Sai bọn Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Thiêm sự là Ngô Bá Nhân kiểm tra phủ Nội vụ.
      Đổi dựng kho Nội tạng (kho ở bên hữu trong hoàng thành). 
      Ngày Tân mùi, yết lăng Thiên Thụ.
      Bắt đầu định lệ thuế đinh cho người Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình. Trước kia ba trấn đạo ấy chỉ theo số người ở sổ thường hành mà nộp. Đến nay sổ đinh đã thành, mới định lệ thuế, cũng bằng các trấn ở Bắc Thành.  (Dân thực nạp, tráng hạng từ 20 tuổi trở lên hằng năm nộp tiền dung 1 quan 1 tiền, tiền đầu quan 1 tiền, gạo cước 2 bát, dân đinh 18 tuổi nộp tiền dung 5 tiền 30 đồng, tiền đầu quan 30 đồng, gạo cước 1 bát. Dân biệt nạp cũng nộp như thế. Quan viên tử con quan từ Chánh tứ phẩm đến Chánh lục phẩm và các hạng biệt tính cũng nộp giống như tráng hạng. Chức sắc thì quan viên tử con quan các bộ viện ty Tòng tam phẩm trở lên và hương cống, sinh đồ, cai hợp, thủ hợp ở nhà, nhiêu thân, nhiêu ấm, tấn thân khoa mục đời Lê trước, giản binh ở dinh vệ đội các quân; binh ở dinh cơ về đội các quân, giáo phường, nội giám, lính kho, lính trạm, đều là hạng ngoại tiêu sai, chuẩn cho miễn thuế).
      Xây cầu Ngự Hà. Cầu ở phía bắc kho Thái Thương và kho Vũ Khố. Năm đầu Gia Long mới bắt cầu gỗ gọi là cầu Thanh Câu, lâu ngày cầu hư, vua mới sai các quân chồng đá xây ở dưới, để ba khoảng trống, trên lát đá xanh, hai bên có lan can bằng đá. Hơn một tháng cầu xong, vì tên sông là Ngự Hà cho nên đặt tên cầu là cầu Ngự Hà. Thưởng cho các quân hơn 2.400 quan tiền. Từ đấy về sau có công việc dựng làm, không việc gì là không hậu thưởng.
      Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên có bệnh cáo về. Vua dụ rằng: «Trẫm mới lên ngôi, cần tìm người cũ, khanh ở bộ Công đã lâu, vừa được uỷ việc công chính, hễ bệnh khỏi là làm việc ngay. Đặc cách cho nghỉ 6 tháng».
      Truy lục những người có công Vọng Các. Phàm người khi sống chưa có chức thì tha phú dịch cho cả nhà để giữ việc thờ cúng.
      Người Man bảy sách Cam Lộ đến hiến sản vật địa phương (Lễ tiến hương: sáp ong 70 cân, trâu 7 con; lễ khánh hạ; hai con voi đực). Khi đến Kinh vào chầu, vua sai bộ Lễ đem đồ tang phục cấp cho các sai trưởng. Nhân tế điện lớn, đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiến hương. Khi trở về, cho sắc thư khen thưởng.
      Cấp cho công thần Vọng Các là Chưởng cơ Lê Phúc Điển 4 người mộ phụ. Lại cho sáu người con hằng tháng được chi tiền gạo.
      Định chức vụ của phủ Nội vụ, chia làm bảy kho (kho bạc vàng, kho gấm đoạn, kho the lĩnh, kho hàng Nam, kho đồ sứ, kho dầu nến, kho vị thuốc), mỗi kho đặt chủ thủ 12 người. Những lệnh sử sáu bộ trước sung chức hiệp sự Nội vụ đều bãi. Rồi hạ lệnh đem sổ sách các kho cứ 5 ngày một lần đóng ấn ở Văn thư phòng Thanh Phong đường, ai đóng ấn thì đều ghi họ tên ở dưới để tiện kê cứu.
      Cho con cháu các công thần Vọng Các được tập ấm. 
      Trước là Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng đem danh sách tập ấm đã đăng mùa đông năm trước tâu lại, cộng hơn 300 người. Vua sai cấp cho sắc thị theo bậc khác nhau.
      Đặt đường phố ở Kinh thành. (Từ cửa Thể Nguyên về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Thể Nguyên; từ cửa Quảng Đức về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Quảng Đức. Đều khắc biển để ghi). 
      Dựng xưởng tướng quân(1).
      Sai Thuộc nội vệ úy vệ Tả nhất quân Thị trung là Phan Văn Mân kiêm quản mười đội Túc trực.
      Bộ Hộ tâu dâng các án đinh điền lậu sổ ở Bắc Thành, xin truy thu thuế. Vua chuẩn y lời đình thần bàn, phàm phác giác từ lúc mờ sáng ngày mồng 1 tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 trở về trước thì không bàn, từ tháng giêng về sau mới truy thu. Những dân xiêu giạt và tù được tha mới về vào sổ thì đều miễn thuế thân năm nay.
      Chuẩn định từ nay trở đi hễ gặp ngày kỵ các miếu thì sai hoàng tử tước công tế thay. 
      Tháng 6 dựng viện Đoan Chính.
      Sai Nội hàn Trần Vĩnh Hựu và Phan Khắc Tỵ, Nội vụ phủ Lương Phúc Đồng và Vũ Hữu Lễ sang nước Thanh mua hàng hóa.
      Sửa Nguyên miếu. Đầu là sai trấn Thanh Hoa mộ khoán phu, mua gỗ giá gấp hai trước, trấn thần đem việc tâu lên, vua dụ rằng: «Trẫm nghĩ ơn của tổ tông để lại, cho nên mở rộng quy chế. Gỗ quý bền chắc, dẫu có phí nhiều cũng không tiếc». Hạ lệnh cứ theo giá mà cấp cho. Rồi sai làm đồ thờ, trang sức bằng vàng bạc gấm vóc.
      Sai Chánh quản cơ Tả kiên ở Quảng Ngãi kiêm coi cơ Lục kiên, hợp cùng trấn thần mà ngăn chặn người Man núi. Lại ra lệnh cho quản cơ Lục kiên mộ dân dời đến ở miền đất trống ven núi, lập làm thôn ấp, miễn thuế thân và dao dịch để sa phụ giữ.
(1) Xưởng để các súng lớn, gọi là xưởng tướng quân.
      Con cháu nhà Lê là Lê Duy Thản ốm chết. Lấy Lê Duy Cát làm Cai cơ (trật Chánh tam phẩm) để coi giữ việc thờ tự nhà Lê, hằng năm cấp tiền gạo vẫn như cũ.
      Dựng hành cung Thanh Hoa (một chính đường, một tiền đường. Trước gọi là hoàng cung quy vọng đường, đến nay gọi là hành cung).
      Thái trưởng công chúa Ngọc Du mất (Chúa là con gái thứ hai Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế(1), gã xuống cho Chưởng Hậu quân tham thặng Bình tây đại tướng quân Võ Tánh). Vua vì thế nghỉ chầu. Cho thụy là Nhu Gia. Sai chi của công để sửa việc tang. Lại cho thêm 1.000 quan tiền và 1.000 phương gao. Ngày an táng tứ tế một đàn. (Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), truy phong là Phúc Lộc thái trưởng công chúa).
      Sai đình thần tham chước bàn bạc luật lệ quốc triều. Vua muốn định lại luật lệnh, cho rằng Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh và Trần Hựu là ba người có tội, không nên để làm nhơ nhuốc sách luật, sai bỏ ba tên ấy đi. Dụ bầy tôi rằng: «Hình để đe răn kẻ gian, luật thì theo ý đời xưa mà lệ thì lựa cho hợp sự nghi đời nay, theo đổi biến thông chứ không thể gắn chặt mãi được. Buổi quốc sơ soạn định luật lệ, trong ấy điều mục hoặc có chỗ hợp với cổ mà không hợp với kim, thích với pháp mà chưa thích với tục, hữu ty phụng hành phần nhiều câu nệ cố chấp. Đức Tiên đế thánh minh, thấu hết những lệ ấy nên mỗi khi nhân có việc lại do đấy mà thêm bớt, như các điều ăn trộm xử trượng lưu thì chuẩn cho lưu làm đồ, đều là thông biến cho hợp với dân, để bổ vào chỗ điều lệ chưa kịp đến, nhưng chưa có rỗi để sửa chữa một phen. Trẫm vâng nhận cơ nghiệp lớn, trau dồi điển chương cũ, càng nghĩ rằng sách luật là đồ để giúp việc trị, điều mục hoặc giả còn thiếu, hữu ty sai về nhẹ nặng, thì dân biết đặt chân tay vào đầu. Các khanh nên kê cứu luật cũ, bàn kỹ những điều nên theo nên đổi, nên bớt nên thêm, trẫm sẽ xét định thi hành».
      Đổi hai đội Yến oa ở Quảng Nam làm Yến hộ, đội trưởng làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).
      Lấy Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hựu Bình làm Hàn lâm Thị độc học sĩ.
      Bắt đầu dựng Quốc sử quán. Vua dụ bầy tôi rằng: «Nhà nước ta từ khi mở mang đến nay, các thánh nối nhau, hàng 200 năm. Kịp đến Thế tổ Cao hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau. Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần(2) làm phép cho đời sau, cũng chẳng là phải sao».
      Bầy tôi xin như lời dụ.
(1) Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế là Nguyễn Phúc Huyên. 
(2) Kiến, đốc, cơ, cần: xem chú thích ở biểu dâng sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên ở trên.
      Bèn sai chọn đất ở bên tả trong Kinh thành, họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong.
      Sai dinh Quảng Bình sửa đắp đường quan (từ huyện Lệ Thủy đến châu Bắc Bố Chính hơn 20.000 trượng). Dân hạt đi ứng dịch hàng tháng được cấp tiền gạo. Đường có mở vào phần mộ của dân thì cấp tiền cho để di táng.
      Ngày Tân mão, dâng thêm tôn thụy cho Hoàng Tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Trước kỳ sai quan kính cáo ở các miếu. Trước một ngày vua mặc áo tư thôi kính cáo ở bàn thờ Tiên đế. Rồi đổi mặc thường phục, đến trước thần vị Hoàng tỷ cáo về việc ấy. Đến ngày, vua mặc lễ phục, đem bầy tôi dâng kim sách, kim bảo, rước thần chủ phối với Hoàng khảo (Năm Kỷ mão mùa đông đã rước thần chủ dời sang gian bên hữu điện Hoàng Nhân, đến nay đổi đề thần chủ thờ chung ở gian giữa). Sách văn rằng: «Lễ không gì lớn bằng tôn dâng danh hiệu; hiếu không gì trước hơn ghi chép đức xưa. Khuôn phép tốt vẫn còn nhớ hoài; xưng tụng to cần phải nêu rõ. Kính nghĩ, Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Hoàng hậu, tư chất từ hiếu, tính nết đoan trang. Trong nhà cùng gánh vác cơ nghiệp gian nan, tu tề nối đầu vương đạo; thờ trên chăm giữ gìn dung nghi hòa thuận, sau trước rất mực hiếu tâm. Khắp trong nước nhuần giáo hóa mẹ hiền; cả cung đình được yêu như con cái. Tuy xe mây quê trời về trước, mà bút đỏ(1) khuôn phép vẫn ghi. Nên đức mọn mối lớn mới vâng, truy tôn thuật rõ công thánh; nghĩ khôn nghi sánh cùng càn đức, tán tụng ghi ở điển to. Nay mới xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi, kính tiến kim sách kim bảo, dâng thêm tôn thụy là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Cúi mong nhận lấy danh hiệu tốt, lên phối với Nễ cung(2) Ôi! Kính người vẫn tôn, đức dày khó xưng ra được; khí thiêng vòi vọi, phúc lớn để lại lâu xa».
      Ngày hôm sau ban chiếu cho trong ngoài.
      Chiếu rằng: «Mảng nghe, trời đất hợp đức, theo thế thì thịnh cả hai; đế hậu đều tôn, sùng báo thực là việc trước. Cả nghĩ Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu ta, ơn huệ rõ ràng, tiếng tốt đầy rẫy. Giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, làm rõ rệt công việc trong nhà, giúp sửa trị mối giềng âm hóa. Đức sánh Thái Nhâm Thái Tự; nết hơn Hữu Sần, Đồ Sơn. Phúc chốn khắp cung vi; lợi đến cả tôn xã. Trẫm khi còn bé, sớm được yêu đương. Nuôi ở trong cung, ơn như ruột thịt. Bảo ban dạy dỗ, cho đến trưởng thành, đội đức nổi danh, ánh sáng soi chiếu. Ghé tận tai bảo tận mặt toàn nhờ thánh mô; ngày càng tới tháng càng lên đều nhờ ý phạm. Khôn nghi lâu vắng thổn thức nỗi lòng; cưỡi rồng bay đi, bỗng ôm đau đớn. Mơ màng vẫn
(1) (1) Bút đỏ: chữ Hán là đồng quản () nghĩa là quản bút đỏ, người nữ sử cầm để ghi chính lệnh ở trong cung và việc làm của hậu phi.
(2) Nễ cung: miếu thờ cha.
nhớ đến mờ sáng; suy tôn càng đốc hiếu một lòng.
      Nay đã dâng thụy hiệu, miếu hiệu Cao hoàng đế rồi. Theo lễ thì đã bàn soạn từ trước: về tình thì tôn thân không cách nhau. Kính cẩn lấy ngày mùng 4 tháng này, sai quan kính cáo Tôn Miếu, thân đem các tước công và đại thần, xin mệnh lệnh ở trước thần ngự Hoàng khảo, ngày mồng 7 kính dâng kim sách kim bảo và dâng thêm thụy hiệu của Hoàng tỷ là Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu, để rõ rệt từ đức, phối hưởng lâu dài ở Nễ cung. Để nêu tiếng lớn cao vòi vọi rộng mênh mông, để rõ nghĩa lớn tôn người tôn quý người quý. Ôi! Đứng vào ngôi, làm lấy lễ, một mình ta yêu quý không quên; gốc ở mình, nghiệm ở dân, muôn họ ngươi hưởng phúc mãi mãi. Khắp nơi báo báo, để khiến đều hay».
      Ban bạc thay ăn yến cho các quan ở Kinh và ở ngoài. 
      Chiếu rằng: «Lúc mới lên ngôi vua, tất phải ra ơn cho khắp, yến hưởng bầy tôi, để mừng vua sáng tôi lành, mà tin trên hòa dưới thuận. Trẫm nhờ trời thương, trên vâng nghiệp nặng của Tiên đế phó thác, dưới hợp lòng thành của quân dân suy tôn. Khi mới lên ngôi, Tiên đế mới mất, nên lòng thương, sửa tang lễ, rối rít không kịp bàn làm. Nay đã núi Kiều(1) yên chỗ, miếu Nễ hợp tôn, phép thường là việc tôn sùng báo đáp, đều đã lần lượt làm xong, nhung âm nhạc còn lặng, cung kiếm chưa nguội, trẫm còn đau thương, há phải là lúc vua tôi yến tiệc vui mừng! Lễ không thể vượt mà việc lại không thể bỏ. Vậy cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau. (Trên nhất phẩm bạc 20 lạng, Chánh nhất phẩm 15 lạng, Tòng nhất phẩm 10 lạng, Chánh nhị phẩm 8 lạng, Tòng nhị phẩm 6 lạng, Chánh tam phẩm 3 lạng, Tòng tứ phẩm 2 lạng. Quan ở Kinh từ tứ phẩm trở lên, quan ngoài từ tam phẩm trở lên).
      Sai Tôn Thất Dịch chọn các quan tôn thất ai có đức hạnh cho dạy con em trong tôn thất.
      Sai Tôn Thất Bính kiêm quản về Nội hầu. Dụ rằng: «Thân binh cậy thế trái phép, người quản lãnh phần nhiều không hay ngăn giữ, ngươi nên nghiêm bảo đe nạt, nhất thiết lấy quân pháp mà trị, khiến cho đổi tệ trước đi». 
      Chuẩn định cho Tượng quân mỗi năm được cấp 100 quan tiền để thờ thần ở miếu Long Châu. (Miếu ở xã Nguyệt Biều huyện Hương Trà, hằng năm đến tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11 thì chọn ngày tốt để tế).
      Khởi phục cho Lê Cao Cơ làm chức Hàn lâm viện Tu soạn. Cao Cơ là con Thị giản Lê Cao Kỷ, trước đây làm Tri châu Bố Chính ngoại có tội mất chức. Vua nói: «Lê Cao Kỷ hầu Hoàng tổ Hiếu Khang hoàng đế ta, trung tiết đáng khen, nên lục dụng con cháu». Bởi thế có mệnh này.
(1) Kiều: cây kiều là chỉ cha. Thượng thư đại truyện có câu: «Kiều giả phụ đạo đã».
      Ngày Ất mùi, vua đến điện Hoàng Nhân, rước thánh vị Cao hoàng hậu lên thờ chung ở điện Minh Thành.
      Ngày Bính thân, yết lăng Thiên Thụ. Thưởng các quân đi theo hơn 900 quan tiền.
      Tha thuế ruộng đất bị lở ở xã An Lãng (thuộc huyện Nam Xang), trấn Sơn Nam. Từ đấy về sau các địa phương có nơi nào đem việc ruộng đất bị lở tâu lên cho đều miễn thuế.
      Triệu Thượng thư Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Gia Định là Trịnh Hoài Đức về Kinh, lại cho lĩnh việc Lại bộ. Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận thì điều sang lĩnh việc Hộ bộ.
      Cho các quan ở ngoài theo hầu trong Lễ Ninh lăng, đều về nơi làm việc. Hà Công Thái bệ từ. Vua nói rằng: «Ngươi ở đạo, phàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bàn bạc xét kỹ cơ nghi sao cho giặc cướp lặng yên, trấn đạo thanh tĩnh, để đền đáp ơn hậu đãi của triều đình. Phải cố gắng đấy».
      Triệu Ký lục Phiên An là Lê Chấn, Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn, Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh về Kinh. Trước là đình thần tâu cử quan trong, quan ngoài hơn 30 người. Vua chấm 3 người là bọn Chấn, nên sai triệu về.
      Lấy Cai bạ Phú Yên là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Bình Định, Thiêm sự Lễ bộ là Đoàn Đức Khánh làm Ký lục Phiên An, Tham luận Tượng quân là Trần Văn Tam làm Tham hiệp Hà Tiên. Khánh chưa kịp đến chỗ làm việc thì chết.
      Trấn thủ Yên Quảng là Vũ Văn Kế vì có bệnh xin về nghỉ. Vua y cho.
      Sai Đào Văn Lương coi chở 200.000 đồng tiền ở kho Kinh đến thành Gia Định. Lương trước làm Thống chế Thủy quân bị tội phải bãi, dâng biểu xin về, vua yên ủi dụ rằng: «Trẫm biết khanh là người đốc hậu, thành thực, chất phác, tuy vì lầm lỗi bị bãi, nhưng hãy nên ở lại, trẫm còn có chỗ dùng khanh». Đến nay nhân có việc vận chở bèn sai đi.
      Lấy Vệ úy vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Đặng Văn Lung làm Chưởng cơ, vẫn coi việc vệ. 
      Lấy Thuộc nội vệ úy vệ Hữu nhất quân Thị trung là Hoàng Đức Tùng làm Vệ úy vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Loan nghi quân Thị nội là Nguyễn Văn Tự làm Phó vệ úy Hậu vệ dinh Thần cơ. 
      Dụ rằng: «Từ nay về sau, những quan chức ở Thị trung Thị nội có đeo chữ thuộc nội thì bớt đi, để khỏi trùng điệp».
      Sai Tôn Thất Bính xét hỏi trong tôn thất ai là người trung hậu thành thực có thể dùng được, đem tên tâu lên.
      Đổi thuyền Toàn súng ở Chính dinh làm đội Tuần bạc. 
      Đắp trường súng (ở mặt sau trong Kinh thành). Sai quân lính tập bắn. Làm nhà vuông làm chỗ vua ngự xem.
      Sai Vệ úy vệ Oai võ quân Thần sách là Lê Mậu Cúc coi quân ba vệ Dương võ, Toàn võ và Oai võ, Án thủ bảo Hà Trung, kiêm hành việc quản thủ Hà Hoa. Bảo đặt ở địa hạt Hà Hoa, cho nên bớt chức quản thủ mà lấy chức án thủ kiêm làm, như lệ bảo Tiên Lý (bảo Tiên Lý ở hạt phủ Diễn Châu, án thủ kiêm hành việc quản phủ).
      Thành Gia Định theo đường biển vận chở gỗ đến Kinh. Thưởng cho những người quản lĩnh áo quần và tiền thưởng theo thứ bậc. 
      Chuẩn định các dinh vệ có đội kinh binh đều cử đến mồng 1 tháng 7 thì thay phiên để nghỉ.
      Ở Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường bệnh dịch phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo. Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì theo lệ cấp tiền tuất và cấp thêm một tấm vải; dân thì đàn ông đàn bà, người già người trẻ, mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng cho. Lại sai trung sứ tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, và số quân dân bị ốm chết, cứ ngày một lần tâu.
      Vua lại nghe biền binh các vệ Thị nội đi thú ở Thanh Hoa, Nghệ An. Thanh Bình, Bắc Thành nhiều người vì không quen thủy thổ nên bị ốm. Dụ cho sở tại gia tâm hỏi han, chữa thuốc, để cho đều được lành mạnh.
      Định ngạch thuộc lại cho các hạt Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận và Biên Hòa.
      Vua thấy số hộ khẩu ở các hạt ấy so với hạt khác rất ít (Quảng Bình hơn 13.400 người, Quảng Trị hơn 17.000 người, Quảng Ngãi hơn 15.400 người, Phú Yên hơn 5.000 người, Bình Hòa hơn 5.100 người, Bình Thuận hơn 9.600 người, Biên Hòa hơn 11.000 người), chuẩn y lời đình thần bàn, chiếu theo lệ sáu trấn ven biên giới ở Bắc Thành, mỗi hạt tả thừa ty, hữu thừa ty, câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 3 người, tư lại 25 nguoi, còn dư thì thải đi, bắt đầu thi hành từ năm sau.
      Cấm người quản quân lấn xén của quân lính.
      Vua bảo thị thần rằng: «Triều đình nuôi quân lính không có tiếc phí, khi có việc xây dựng thì thưởng cho thêm. Người quản quân có người không thể tất đức ý của bề trên, làm nhiều cách bóc lột, khiến người ta không được nhờ ơn thực, trẫm chán ghét quá. Vậy hạ lệnh cho bộ Binh truyền dụ cho trong ngoài phàm lương hằng tháng cấp cho lính và của được ân tứ, ai dám bớt xén và tạ sự dùng dằng, đều xử tội nặng».
      Lấy Vệ úy vệ Thị tượng nhất là Phạm Văn Điển, Phó vệ úy là Nguyễn Văn Thị làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng nhất quân Thị nội, Vệ úy vệ Thị tượng nhị là Nguyễn Đình Đề và Phó vệ úy Đặng Tài Cù làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng nhị quân Thị nội, Vệ úy vệ Thị tượng tam là Nguyễn Văn Toán và Phó vệ úy Nguyễn Văn Trì làm Chánh phó vệ úy vệ Thị tượng tam quân Thị nội, Cai cơ Thị tượng là Lê Văn Hoan làm Vệ úy Thị nội, Quản ba cơ Tiền tượng, Tả tượng, Hữu tượng, Chánh quản cơ Nguyễn Văn Ngũ làm Vệ úy Tượng Quân, Quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng, Quản chi Trung tượng là Lê Công Thiệu làm Vệ úy Tượng quân quản cơ Thị tượng.
      Trấn Sơn Tây bắt được những quân giặc trốn là Nguyễn Hữu Danh và Đỗ Trọng Ngũ, đem giết. Thưởng cho biền binh đi bắt hơn 50 lạng bạc. Cai đội Nguyễn Văn Thư đánh nhau với giặc bị chết, đình thần bàn cấp tiền tuất 30 quan. Vua nói: «Thư là một tỳ tướng nhỏ, hăng hái không tiếc thân, cái nghĩa làm tôi căm giặc phải nên như thế». Cấp thêm cho 10 lạng bạc.
      Lấy Cần Chính điện học sĩ là Nguyễn Xuân Tình kiêm Thái thường Tự khanh tham bồi việc Lễ bộ, Ký lục Phiên An là Lê Chấn thự Tả tham tri Hình bộ. Hơn một tháng Chấn chết.
      Chuẩn định phàm các quan vào hầu ở Tiện điện, ban văn ở bên hữu, ban võ ở bên tả, đều theo ban thứ đứng hầu. Văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên thì khiến được ngồi, cho uống nước chè. Hằng ngày lấy thế làm lệ thường.
      Đặt đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Thái trưởng công chúa Ngọc Tú thường nói xin làm trai tiếu(1) để truy tiến tiên đế.
      Vua đem việc ấy bảo các đại thần rằng: «Trẫm đọc sách thánh hiền, cũng biết lễ trai tiếu của nhà Phật là không đủ tin. Duy nghĩ Hoàng khảo ta lúc trước để tang Hiếu khang hoàng hậu cũng đã từng làm. Con thờ cha mẹ, thà sai về quá hậu, các khanh nghĩ thế nào?»
      Nguyễn Văn Nhân tâu rằng: «Tiên đế làm chay là theo ý nguyện và lòng thích của Hiếu khang hoàng hậu, không phải là theo thuyết họa phúc báo ứng. Bệ hạ nối đức nên lấy lễ nghĩa mà xử định, để cho trên triều đình không thất chính, ở dưới không có nghị luận riêng, há việc gì cũng phải theo cũ mới là hiếu sao? Thái trưởng công chúa đã xin làm thì chỉ cấp kinh phí cho tự làm là phải». 
      Vua lại hỏi Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng, Hưng đáp rằng: «Nối chí noi việc là hiếu, việc bệ hạ làm là việc tiên đế đã từng làm, có gì là không thể làm được!»
      Vua cho là phải. Sai Tôn Thất Dịch cùng Vệ úy Trần Đăng Long đến trước chùa Thiên Mụ, dựng nhà tranh, sắm đồ vật. Đến nay bèn dựng đàn chay tam thất(1). Thái trưởng công chúa làm chủ đàn chay. Các tước công lần lượt đến dâng hương. Vua thường đến xem. 
      Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hoa lâu không mưa. Dụ cho sở tại cầu đảo.
(1) Trai tiếu: trai là đàn chay lớn, tiếu là đàn chay nhỏ.
      Vua bảo bầy tôi rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, nau náu nơm nớp, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay đại hạn và ôn dịch làm tai vạ, có lẽ là trời răn ta bất đức chăng?»
      Nguyễn Hữu Thận nói rằng: «Thiên tai lưu hành, từ xưa vẫn có. Đấng vương giả gặp tai vạ biết sợ, sửa thêm đức chính, thì tai vạ lại chuyển làm lành».
      Vua quay bảo Phạm Đăng Hưng rằng: «Làm vua thì một lời nói một việc làm trời đất thần kỳ cũng soi xét cả. Nay chiếu phong tặng bách thần đã 5, 6 tháng rồi mà còn chưa làm. Lời nói với dân còn không thể thất tín huống là đối với quỷ thần. Ngươi nên cùng các đại thần bàn ngay đi».
      Xã An Tiêm (thuộc huyện Hải Lăng) dinh Quảng Trị có ruộng đất công phủ cũ hơn 10 mẫu, dân xã ấy thuê để cày cấy, xin theo lệ ruộng đất công mà nộp thuế. Vua sai bộ Hộ bàn, cứ theo lệ tiền thuê tha cho một nửa mà thu.
      Sai Hữu ty làm ấn quan phòng bằng bạc cấp cho Tả hữu thống chế quân Thị trung, cho Thống chế các vệ Thần cơ, Tiền phong, Long võ Hổ oai quân Thị nội và cho năm dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu quân Thần sách và ấn quan phòng bằng ngà cho phó năm dinh quân Thần sách.
      Đổi vệ Long võ ở Trung dinh quân Thần sách làm vệ Ban trực trung, vệ Nghiêm oai ở Tả dinh làm vệ Nghiêm võ, vệ Hổ oai ở Hữu dinh làm vệ Nghĩa võ, vệ Kiên oai ở Tiền dinh làm vệ Trang võ, vệ Cường oai ở Hậu dinh làm vệ Cường võ.
      Thành Gia Định mộ lính lập 3 đội Võ chấn, Tả bính, Hữu bính, tâu xin biên vào ngạch. Vua y cho.
      Ban quần áo và tiền cho các viên biền và thợ thuyền các sở công tác ở Kinh theo thứ bậc khác nhau. Vua thấy gần đây công dịch có nhiều, sai bộ Hộ kê khai danh sách các viên biền, quan lại trở xuống đến thợ thuyền để cấp cho. (Từ chưởng quân đến thứ đội trưởng hơn 490 người, thợ hơn 1.080 người.) Lại sắc từ nay về sau có công việc xây dựng thì ngày khởi công phải kính cáo với thần tư công, sai quan làm lễ. 
      Sai Vệ uy vệ Quảng võ là Hồ Bôi án thủ bảo Thổ Sơn, Vệ úy vệ Tráng võ là Trương Văn Trâm án thủ bảo Tiên Lý.
      Sai bọn Thiêm sự Lại bộ là Phan Quang Anh, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Quang Gia kiểm tra văn thư phòng. Phàm những sách công không thành bộ thì chia cấp cho các nha từ thiêm sự trở lên. Văn thư và ấn tín ngụy thì tiêu hủy hết.
      Bổ biền trấn Nghệ An là Nguyễn Quang Thư bắt được tên giặc trốn là Lê Hùng Hổ (đảng của ngụy Kiền Thái). Sai giết đi. Thưởng cho Quang Thư 50 lạng bạc.
(1) Tam thất: 3 lần 7 tức là 21 ngày.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
 
Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN IV
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa thu, tháng 7 ngày mồng 1, tế thu hưởng. Sai Kiến An công là Đài tế thay.
      Sai Khâm sai chưởng cơ thủy quân là Nguyễn Văn Hạnh lấy bản chức mà quản bốn cơ Tiền dực, Tả dực, Hữu dực, Hậu dực đóng thú ở Bắc Thành.
      Dựng miếu công thần khai quốc và công thần trung tiết. Trước là Nguyễn Văn Nhân xin lập miếu thờ các bề tôi khai quốc. Vua nói: «Khanh nói chính hợp ý trẫm, bề tôi trung tiết cũng nên có chỗ thờ». Mới xuống chiếu rằng: «Tôn đức báo công là điển lễ lớn của nhà nước. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế ta làm sáng lại nghiệp cũ chiếm giữ toàn nước Việt, đầu tiên dựng Giao Miếu, rất để ý về thờ tự. Rồi lập miếu công thần trung hưng, để nêu công lớn, nhớ lại công lao, gây dựng giúp đỡ, và thương mến người khí tiết khảng khái lúc loạn lạc, bàn dựng miếu công thần khai quốc và miếu công thần trung tiết mà chưa kịp làm được, hằng năm mùa xuân mùa thu sắc cho Hữu ty lập đàn để tế. Nay trẫm vâng nối nghiệp lớn, cùng dân yên nghỉ, phàm cung điện nhà cửa không có làm lại gì cả. Duy điển lễ thờ tự những tôi trung có công thì không thể hoãn được. Vậy sai bộ Công họp thợ để làm». (Miếu Khai quốc công thần ở bên tả miếu Trung hưng công thần. Miếu Trung tiết công thần ở bên tả sau miếu Khai quốc công thần. Hàng năm xuân mùa thu tế vào ngày Giáp.) Khi miếu đã xong, cấp cho 10 người dân xã Vân Dương cùng với miếu phu miếu Trung hưng công thần mà trông giữ.
      Vua từng bảo bầy tôi rằng: «Khi trẫm mới lên ngôi, từng nằm nệm rơm tại điện Quang Minh, nằm mơ thấy các quan đội mũ mặc áo, đứng la liệt ở dưới thềm. Trẫm nghĩ rằng nhà Lương am(1) không phải là chỗ triều hội, sai hỏi, và đòi áo mũ để ra, thì thấy các quan giữ việc ở trước đều không phải là người quen mặt. Phải chăng là các công thần ngày trước âm thầm phù hộ ru». 
(1) Chỗ vua ở trong khi có tang.
      Sai Văn thư phòng từ nay về sau dùng bảo ấn «Văn lý mật sát» thì đều dùng quả lớn thôi. Trước kia bảo ấn «Văn lý mật sát» có hai quả, quả lớn thì theo với ấn «Ngự tiền chi bảo» dùng đóng vào dụ chỉ và chương sớ, quả nhỏ dùng đóng vào sổ sách của Nội vụ phủ. Vua cho rằng hai quả đều dùng cả thì chưa được hoạch nhất, sai cất quả nhỏ đi, phàm các việc nhất thiết lấy quả lớn mà dùng».
      Sai dinh thần Quảng Đức từ nay trở đi phàm tình hình nắng mưa và giá gạo cứ hằng tháng một lần tâu lên.
      Từ Bình Thuận trở ra đến Quảng Bình có tin báo bệnh dịch. Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. Sắc cho các địa phương mỗi nơi đặt một đàn tế lễ. Người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải, theo như lời dụ trước. Nhà vua rất lo về dịch lệ, từng ở trong cung trai giới và cầu đảo ngầm. Bảo bầy tôi rằng: «Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu, một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay. Trẫm làm chủ của dân, duy có ngày đêm kính sợ, xét mình hỏi đức để hồi lại ý trời. Đến như vì dân mà cầu đảo thì không cái gì là không làm, ngõ hầu khí độc có giam ít đi chăng?» Bèn sai Nguyễn Văn Nhân cầu đảo ở đàn Thái tuế Nguyệt Tướng (đàn đặt ở bên tả đàn Nam Giao, bậc thứ ba), Trần Văn Năng đảo ở miếu Đô thành hoàng, Nguyễn Văn Hưng đảo ở miếu Hội đồng. Lại sai bố thí cho các chùa, làm đàn trai tiếu khiến cầu đảo cho dân. Vừa gặp trấn thần Phú Yên là Nguyễn Văn Quế đem tình hình bệnh dịch trong trấn dâng biểu xin chịu tội. Vua bảo rằng: «Trẫm không có đức, trên can phạm hòa khí của trời, bốn phương có dịch đều là lỗi trẫm». Nhân sai Phạm Đăng Hưng theo ý ấy mà soạn dụ. Đăng Hưng tâu rằng: «Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân. Nhưng thần nghe bệnh dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình».
      Vua nói: «Nếu trẫm không thiếu đức thì tai vạ ở nước ngoài vào làm sao được. Nguyễn Văn Quế chỉ là một mục thú còn tự nhận là lỗi mình, huống trẫm là vua thiên hạ, có thể chối lỗi được sao?»
      Lấy thuốc viên chữa dịch mới chế chia cho bầy tôi.
      Xuống chiếu cầu lời nói thẳng. 
      Chiếu rằng: «Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị. Cho nên cờ tiến thiện, cây gièm chê là cốt biết tình dân để thông đạo trị mà đem lời khuyên can(1). Trẫm thấy thân nhỏ bé, nối nghiệp lớn lao thường nơm nớp sợ gánh nặng được phó thác, vẫn cùng các đại thần huân cựu, dậy sớm, ăn muộn, sửa sang chính trị. Nay bỗng gặp khí trời không hòa, nhân dân khó sống, có lẽ là chính sự có điều gì thiếu sót chăng, ẩn tình của dân có chỗ chưa suốt đến chăng? Người muốn thấy hình của mình, tất nhờ ở gương sáng; vua muốn nghe lỗi của mình, tất phải đợi ở tôi ngay. Vậy cho các văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên, các quan thành dinh trấn ở ngoài đều lo cố gắng, đua nhau
 (1) Ngu Thuấn cho dựng cây gỗ ở trong triều, ai thấy chính trị có điều gì thiếu sót đáng chê thì đến biên vào cây gỗ ấy.
đối đáp rõ rệt, hoặc lỗi chính ở trẫm, về kính đức nối sáng có thiếu, về nhân ân yêu giữ chưa tròn. Vậy lấy chư thần làm bầy tôi pháp độ, làm kẻ sĩ giúp vầy, như đá để trị ngọc, như đá để mài vàng, chớ như lời nói của mình quý như vàng ngọc mà giấu, cần phải chỉ ngay vào điều lỗi không kiêng kỵ gì. Lại phàm nghe thấy chính sự có thiếu sót, dân tình có khổ sở, đều cho dùng phong bì mà tâu thực lên. Trẫm sẽ thân xem, chọn để đem làm. Tôi quan ở trong ở ngoài, nên thể tất ý thiết tha lo tìm của trẫm để vua tôi sửa chữa lẫn nhau, may ra trên báo đáp được lòng trời, dưới chữa sống được bệnh dân, để cùng hưởng phúc thái bình». 
      Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân dâng sớ nói: «Hiện nay quân dân đương có bệnh dịch, xin nghỉ công tác 1, 2 tháng để dưỡng sức cho người và sai các quân ở Kinh và ở ngoài thao diễn để cho khí hăng hái lên. Dương thịnh thi âm suy, người mạnh thì tật yếu, cũng là một thuật để ngăn tai vạ». Vua khen là phải.
      Tuân lại dâng sáu điều: 1) Đặt viện Ngự sử. Xin chọn văn võ trọng thần kiêm lãnh chức Đài hiến sứ, ở trong thì đàn hặc sửa chữa trăm quan để khiến gắng sức siêng năng, ngoài thì củ sát các châu huyện để răn sự gian tham nhũng lạm. 2) Đặt Thái phỏng sứ. Xin chọn quan Kinh, người nào thanh liêm, trung thực, đứng đắn, trong sạch, thì sai đi khắp các châu quận, xét chính tích, xem tình dân, để nghiệm xem các thủ thần giỏi hay không, và để thấu suốt lợi bệnh của tiểu dân. 3) Bớt những viên chức thừa đi. Nói rằng triều đình cẩn thận chọn bề tôi nho học làm Tri huyện, mà chỉ giao một việc làm giấy tờ kiện tụng, còn việc tiền thóc binh lương vẫn ủy thác tất cả cho cai huyện, ký huyện. Vả trong một huyện quan lại và tạo lệ không ít, mà lại đặt riêng bọn cai huyện, ký huyện hơn 10 người, thì muốn không xâm phạm của dân khó lắm. Xin bớt đi. Phàm việc giấy tờ kiện tụng, lương tiền, binh lính, dao dịch cầu cống, đường sá là giao cả cho Tri huyện. Nếu một người không làm nổi thì đặt hai người, để cho họ được phát triển điều sở học, rồi mới trách được việc phục vụ cho dân. 4) Đặt nhà học ở dinh trấn châu huyện. Xin chọn những bậc lão sư túc nho làm Trợ giáo. Phàm học trò trước hết phải đến châu huyện học tập. Trợ giáo phải xét tài năng khí độ mà dạy. Khi đã hơi thông kinh sách và biết làm văn, thì cho đến dinh trấn để Đốc học dạy. Thường khảo xét người nào trúng cách thì cử lên Thái học cho giám đốc học khảo duyệt bài lại mà tâu lên. Vua bèn sai văn thần hội với giám đốc học khảo hạch lại. Người nào kinh thuật rộng khắp, học hạnh thuần đủ, cho làm sinh viên, cấp cho lương ăn mà học tập, để đợi lục dụng. 5) Mở khoa ân thí. Nói rằng hiện nay đương cử hành ân chính, thiên hạ đều được nhờ ơn, học trò bốn phương, không ai là không nghểnh cổ để trông đức tốt. Xin sang năm mở ân khoa như điều lệ nước Đại Thanh. 6) Cử hành ân tự. Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế đắp thành vàng, mở đường sá, những phần mộ hoang phế, đều để ý thương xót, chiếu cho hữu ty cấp cho áo quan và vải để liệm táng, hằng năm một lần hội tế, rồi sau mấy năm lễ tế ấy không đặt nữa. Nay nhà vua là chủ bách thần, thần kỳ lớn nhỏ đều được nhờ ơn, duy những cô hồn không người thờ cúng thì chưa kịp thương đến. Đời xưa có nói rằng: «Ma quỷ không có chỗ nương tựa thì làm dịch lệ. Xin định làm lệ tế, để cho có chỗ nương tựa».
      Sớ tâu vào, vua sai đình thần bàn để lần lượt thi hành.
      Định rõ thêm điều cấm thuốc phiện. Vua dụ bầy tôi rằng: «Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không thể bỏ được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật. Tổn thương cơ thể sinh mệnh. Nên bàn để nghiêm cấm đi».
      Bây giờ đình thần bàn tâu: «Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện, và cất giấu mà nấu nướng buôn bán thì xử tội đồ. Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng bạc 20 lạng. Cha anh không hay răn cấm con em, xóm giềng biết mà không tố giác, đều bị xử trượng».
      Lời nghị tâu lên, nhà vua chỉ sửa là quan chức có phạm thì phải cách, còn các điều khác thì theo lời bàn mà thi hành.
      Dinh thần Quảng Đức tâu nói: «Ruộng đất ở năm xã An Ninh, An Cựu, Thanh Lương, Lang Xá và Phú Xuân, hoặc bán cho nhà nước, hoặc lấy nung gạch ngói thành ra vũng sâu, xin tính mẫu mà tha thuế». Vua theo lời tâu.
      Trong kinh kỳ nắng. Vua mật đảo ở trong cung. Ngày hôm sau mưa to.
      Sai biền bình các đội Tuần thành và Lâm công vệ Kỳ võ lên núi lấy gỗ, thưởng tiền 200 quan.
      Sai bộ Lễ gửi thêm chữ húy các liệt thánh cho các địa phương. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Những chữ tôn húy gần đây của quốc triều, năm trước đã tuyên bảo rằng cấm (lúc đọc thì đọc tránh âm đi, lúc làm việc thì đổi dùng việc khác, cộng có 8 chữ, một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ viên (Noãn) khi làm văn đổi dùng chữ úc (); một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ ương (Ánh) đổi dùng chữ chiếu (); một chữ bên tả là chữ hòa, bên hữu là chữ trọng (Chủng) đổi dùng chữ thực (); một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ luận (Luận) đổi dùng là chữ diệu (); một chữ bên tả là chữ ngọc; bên hữu là chữ hoàn ((Hoàn) đổi dùng chữ viên (); một chữ trên thảo đầu, dưới chữ môn bọc lấy chữ giản (Lan) đổi dùng chữ hương (); một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ giao (Hiệu), đổi dùng là chữ hiệu (); một chữ bên tả là chữ nhục, bên hữu là chữ nhiêm (Đởm) đổi dùng chữ phủ (). Có ba chữ Khang, Khoát, Thuần, khi đọc thì đọc tránh đi, khi làm văn thì thêm bộ xuyên lên đầu (). Ngoài ra những chữ đồng âm, lúc làm văn đều không cấm. Duy tên các thánh triều trước, năm tháng xa lâu, gián hoặc có kẻ lầm lấy đặt tên gọi, rất là không kính, thì chuẩn cho phàm quan dân, từ trước như có lầm dùng chữ húy đặt tên, tức thì nên đổi, từ nay về sau không được tái phạm. Đến như làm văn thì những chữ đồng âm không ở lệ cấm. Một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ kim (Kim); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ hoàng (Hoàng); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ nguyên (Nguyên);  một chữ bên tả là chữ thủy,  hữu là chữ lan (Lan); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ tần (Tần); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ thái (Thái)(1); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ chu (Chu); một chữ bên tả là chữ thủy, bên hữu là chữ thụ (Thụ).
      Đổi huyện Gia Định ở trấn Kinh Bắc làm huyện Gia Bình, huyện Yên Việt làm huyện Việt Yên. 
      Sửa miếu công thần trung hưng, định thêm các lễ Trừ tịch, Chính Đán, Đoan dương, ngày sóc, ngày vọng.
      Sai bọn biện lý Nội vụ phủ là Hồ Hữu Thẩm đến Quảng Nam và Quảng Ngãi hội với dinh thần trấn thần đặt mua đường cát. Khi Hữu Thẩm về, đem việc dân vui lòng nộp cho nhà nước, tâu lên. Vua hài lòng nói rằng: «Đường cát dân không thể ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi rét được mà người Tây thì ưa lắm. Từ nay về sau nên mua nhiều để đổi lấy hàng hóa của Tây. Đến như thóc gạo tơ bông, vải lụa, dân ta phải nhờ đấy mà sống, thì không thể đổi được.
      Lấy Vệ úy vệ Tuyên võ là Lê Quốc Thái quản các đội Tam ngự Bảo biên ở thành Nam Vang. 
      Dinh Quảng Bình dựng miếu Hội đồng. Đào đất có nhiều xương khô, quan giám thành đem việc tâu lên. Vua thấy làm thương xót, sai cấp tiền để đem táng nơi khác, và tìm đất khác để làm miếu.
      Trấn thần Quảng Ngãi tâu nói: «Những sách Man phụ vào hai nguồn Bà Địa, Ba Tơ xiêu tán, không có người lĩnh trưng, xin tha thuế hai nguồn ấy». Vua y cho. 
      Triệu Ký lục Quảng Trị là Lê Đồng Lý về kinh. Vừa thấy bộ Lại nhiều việc, quan thuộc còn thiếu, dụ cho Trịnh Hoài Đức đem Lý tiến lên. Bèn triệu về, rồi thăng làm thự Tham tri Lại bộ tham biện việc bộ. 
      Lấy Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn làm Ký lục Quảng Trị. Vua dụ rằng: «Người ở Bình Định 8 năm, chính sự mau chóng, trẫm vẫn để ý chọn. Mới rồi triệu về muốn bổ cho ở kinh. Nhưng dinh Quảng Trị đã điêu hao lắm, phiền người vì trẫm vỗ về».
      Xuân Cẩn tâu rằng: «Quảng Trị hộ khẩu tuy ít, mà việc cũng giống như dinh trấn khác, một mình thần sợ không làm xiết». Vua bảo rằng: «Ngươi cứ đi đi, nếu có việc khó giải quyết thì làm sớ chạy trạm tâu lên».
      Lấy Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân thự Thượng thư Binh bộ. Hữu tham tri Binh bộ là Nguyễn Tăng Địch thự Thượng thư Công bộ. Rồi Địch chết, tặng Thượng thư Công bộ, cho 200 quan tiền và 2 cây gấm Tống.
(1) Các sách khác đều chép là Trăn ().
      Đặt đàn ân tự để tế những người chết về việc nhà nước. Vua bảo bộ Lễ rằng: «Nay các công thần khai quốc và trung hưng đều đã đặt nơi tế tự rồi. Duy nghĩ rằng nhà nước từ lúc khai sáng đến giờ, bề tôi và quân lính chết vì việc nước không phải ít mà họ tên vùi mất không được thăm viếng tế tự, rất đáng đau thương». Bèn chuẩn định hằng năm lấy hai kỳ xuân thu, sau khi tế miếu công thần rồi, thì tế riêng những người chết về việc nước gọi là đàn Ân tự.
      Nhà sư ở nước Chân Lạp tên là Kế làm loạn. Kế lấy bùa chú làm mê hoặc dân phiên, người theo càng ngày càng đông, bèn họp đảng mưu loạn, tự xưng là Chiêu vương, lấn cướp các đạo thủ Quang Hóa, Quản Phong, Thuận Thành (thuộc trấn Phiên An). Dân Hán (Việt) sợ chạy tan cả. Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý nghe tin báo, tức thì sai Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý đem quân đi đánh. Lại báo cho vua Phiên phái uỷ An phủ (tên quan nước Chân Lạp) phủ Ba Cầu Nam (tên phủ nước Chân Lạp) là Tham Vi Đô Chân góp sức đánh bắt, Quang Lý không đánh được, Tham Vi Đô Chân lại bị giặt bắt, giặc càng hung hăng, giữ núi Ba Cầu Nam để hoành hành cướp bóc.
      Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã đến Gia Định, sai Hoàng Công Lý tiến đánh dẹp, gửi hịch cho nước Chân Lạp thêm quân để làm thế đánh hai mặt. Công Lý đánh nhau với giặc, giặc thua chạy, bèn dẫn quân về.
      Lấy Cai đội Nguyễn Tiến Nghĩa làm Phó vệ úy vệ Cung võ, thự việc vệ úy.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ, mà chức việc sáu bộ cũng nên nhất thể thông nhau thì trăm việc mới làm được. Từ nay về sau, những ngày ra chầu nghe chính, chính sự trong ngoài đã qua trẫm xét định rồi, các quan sáu bộ ai được vào hầu đều nên ghi lấy, thì chính thể biết đủ cũng có ích thêm. Đó là khuôn phép giữ chức làm việc vậy».
      Định ngạch tượng binh cho ba vệ Thị tượng (voi ngự một con thì 20 người lính, ngoài ra thì voi đực 10 người, voi cái 5 người, có thiếu ngạch thì mộ dân sung vào). 
      Bộ Hình tâu dâng án thu thẩm. Vua thân tự xét xử phần nhiều giảm nhẹ và hành hình.
      Ngày Bính tý dựng cung Từ Thọ (cung ở phía tây cấm thành). Sai thự Tiền quân là Trần Văn Năng trong công việc. Dụ rằng: «Nay bệnh dịch lưu hành, đáng nên để cho quân dân nghỉ ngơi, đình bãi các công tác. Duy việc dựng cung Từ Thọ là việc không thể hoãn được. Ngươi nên hiểu dụ cho quân nhân biết ý bất đắc dĩ của trẫm».
      Trấn thần Nghệ An tâu nói: «Dân trong hạt xiêu tán cộng 63 xã thôn. Gần đây đã dẫn dần có người trở về 10 phần được 1, 2 phần. Nay nếu bắt riết điền thế lính trốn thì sợ dân lại tản đi, xin hãy đình hoãn». Vua y cho.
      Gọi lính hai cơ Thanh thuận, An thuận cho đi thú ở Gia Định.
      Năm trước Lê Văn Duyệt đi kinh lược miền Thanh, Nghệ, những phạm trốn ra thú có hơn 900 người biên bổ làm lính, người quân ở Thanh Hoa thì gọi là cơ Thanh thuận, người quán ở Nghệ An thì gọi là cơ An thuận, đều cho theo trấn thần sai phái. Đến khi nghe tin đi thú, nhiều người bỏ trốn, chỉ còn hơn 500 người mà thôi.
      Bổ 20 người ở Nội hàn ty làm thư tả ở Văn thư phòng chia làm ba phiên ứng trực, cấp cho lương tháng để theo làm việc công ở ba viện Thị thư, Thị hàn và Hàn lâm.
      Vua dụ bộ Lại rằng: «Văn thư phòng là nơi khu mật của nhà nước, không phải người dự việc, cấm không được vào».
      Vua Thanh băng ở Loan Dương, Thái tử là Miên Ninh lên ngôi, lấy năm sau là năm Đạo Quang thứ 1 (1821).
      Vua bàn sắp đi tuần miền Bắc. Dụ cho từ Quảng Đức trở ra đến Bắc Thành, 35 sở dịch trạm thì sáu sở (Thượng Xá, Trấn Ninh, Dũng Quyết, Đa Giá, Lam Cầu, Hoàng Mai) gần lỵ sở dinh trấn thì nghỉ lại ở hành cung, ngoài ra đều y theo thức của bộ Công gửi cho, sang xuân phải dựng 16 sở nghỉ trưa (Thượng An, An Lạc, Thượng Lập, Thạch Giá, Bồ Khê, Thần Đầu, Hữu Lạc, Đan Chế, Kim Khê, Tây Lũy, Khoa Trường, Thái Lai, Trịnh Sơn, Cổ Du, An Phú, An Khoái), đều cấp tiền 180 quan, và 13 sở nghỉ đêm (Mỹ Xuyên, Cao Xá, Đặng Lộc, Đông Cao, An Lộc, Lỗi Sa, Thạch Khê, Độ Liêu, Hương Ái, Quỳnh Hoa, Liên Xá, Cao Lũng, Hà Hồi), đều cấp tiền 200 quan. Dụ rằng: «Đặt hành cung để phòng lúc dừng chân, nên làm bằng gỗ tạp và cỏ tranh, cần tiết kiệm, không chuộng mỹ quan, đến như cầu cống đường sá có chỗ nào vỡ lở hư nạt thì sửa lại, cũng bất tất phải làm cao rộng».
      Dựng các điện đường hành cùng ở Bắc Thành, và sứ quán ở Kinh Bắc, Lạng Sơn (hành cung Bắc Thành, trước điện Kính Thiên dựng điện Thị triều, điện Cần Chính, đều lợp ngói cả. Ngoài năm cửa làm liền một dãy hành lang dài, trước mặt là cửa Chu Tước. Ở bờ nam sông Nhị Hà đặt nhà tiếp sứ lợp ngói; bờ bắc sông Nhị Hạ, các trạm từ sứ quán Gia Quất đến Lạng Sơn, cộng 7 sở, ở chính giữa đều dựng một nhà ngói, còn các tòa nhà ở trước sau tả hữu đều dùng gỗ tạp lợp cỏ tranh). Sai thành thần chia cắt các trấn làm. Cấp tiền vật liệu làm hành cung và nhà tiếp sứ, ở bến sông là 15.200 quan.
      Tháng 8, định rõ thêm lệ thứ tự lương điền khẩu phần cho các dinh vệ đội Thị trung và Thị nội. (Thị trung, 10 đội túc trực, dinh Thần cơ, dinh Tiền phong, dinh Long võ, dinh Hổ oai quân Thị nội các đội Tiểu sai, các đội Thị trà, đội Tả vệ, đội Hữu vệ, đội Hoàng kiếm, đội Ngân súng, đội Thị nghi, đội Bả cái, vệ Phấn dực Nội thủy, các vệ Thị tượng, các đội Dực vũ, đội Nội mã, đội Hữu mã các đội Tiểu hầu, đội Bả lệnh, vệ Kỳ võ, vệ Thành võ, vệ Trinh võ, đội Thượng thiện các đội Tư thiện, đội Trung cần, đội Tân nhất. Những người các dinh vệ đội kể trên đều được 9 phần khẩu phần và một mẫu lương điền. Về ngôi thứ đều lấy đầu quân trước sau làm thứ tự. Nếu vệ đội nào có đội trưởng, suất thập quyền sai hiện có sổ ngạch, thì không kể là Thị trung Thị nội hay các quân dinh, ngôi thứ đều ở trên binh đinh).
      Bầy tôi dâng biểu xin tôn Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu. Biểu nói: «Lời dạy của thánh nhân, lòng yêu bắt đầu từ người thân. Từ xưa đế vương nối nhau, ai cũng suy tôn người sinh ra mình, để nêu đạo hiếu cho dân, mà lấy giáo hóa dóng giả thiên hạ. Hoàng thượng ta nhận cơ nghiệp lớn nắm cả quyền cương, giữ ngay cõi gốc muôn loài, để làm tiêu chuẩn cho bốn phương, lễ nên kính dâng tôn hiệu Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu, để xứng lòng hiếu của cửu trùng, thỏa lòng vui vẻ của thiên hạ».
      Vua đem biểu dâng lên. Từ cung dụ rằng: «Ta xem biểu văn đã biết lòng thành của Hoàng đế và các quan rồi. Nhưng ta nghĩ, Tiên đế ninh lăng chưa được bao lâu, ta còn thấy ăn ngủ chưa ngon. Lại nay trời làm dịch lệ quan dân phần nhiều ốm đau, ta thấy Hoàng đế lo lắng siêng năng sớm trưa không yên như thế, lòng ta thương xót không biết chừng nào. Tuy tai lệ ấy, vị tất là bởi nhà vua kém đức mà nên nỗi thế, nhưng người có thiên hạ phải chịu trách nhiệm về thiên hạ mới phải. Vậy thì ta được thiên hạ phụng dưỡng, ta lo về sự lo của thiên hạ cũng là phải. Ta xin các lão tiên sinh cùng một đức, dốc một lòng giúp đỡ Hoàng đế những điều không biết tới để hồi lại ý trời, để cho dân vui sống thì ta vui mừng lắm. Còn tờ biểu xin tôn sùng bất tất cử hành».
      Vua đem ra để dụ bầy tôi rằng: «Thánh từ đã dụ cặn kẻ như thế, trẫm cũng không dám trái ý mà xin cho nhàm. Việc xin đó từ từ mới được».
      Cho Chưởng Tiền quân Nguyễn Hoàng Đức, Chưởng dinh Hồ Văn Lân, Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Phó tướng Vũ Văn Lượng, Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc được liệt thờ ở miếu Trung hưng công thần. Bọn Nguyễn Hoàng Đức giúp đỡ việc trung hưng, đều có công lao rõ rệt, đình thần tâu xin liệt thờ ở miếu. Cho nên có mệnh này.
      Bộ Hộ hạch tâu rằng các trấn ở Bắc Thành năm ngoái thanh tra tiền lương, các quan lại tổng lý để thiếu đáng phải truất phạt hơn 200 người. Vua cho là việc ấy ở trước khi ân xá nên miễn cho.
      Sư Kế nước Chân Lạp cướp phủ Thời Thu. Quan Phiên là Vị Bôn Lịch bị thua chết. Tham Đích Tây, Kế Luyện, Na Côn đều làm phản theo giặc. Quân giặc tiến sát đến thành Nam Vang. Có thư của vua Phiên cáo cấp. Lê Văn Duyệt sai Đô thống chế Nguyễn Văn Trị và Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thụy đem hơn 1.000 quan đến cứu viện. Lại sai Chưởng cơ Phan Công Nghĩa, Vệ úy Lê Kim Nhượng, Cai cơ Trần Văn Hạnh, Nguyễn Văn Tuyết đem thêm quân đến để tiếp ứng.
      Đặt nhà binh xá cho các đội Trung hầu, Nội hầu, Tôn thất, Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất cùng các đội Thị nội ở bên tả bên hữu hoàng thành.
      Định lệ phê chuẩn sổ tâu và đơn tâu của bộ Binh. (Phàm ngạch tâu ở chỗ viết niên hiệu thì phê điền ngày, dùng ấn «Binh ty khu mật» như lệ cũ, duy dưới chữ «nhật» thì viết chữ «đề» cùng những chữ «mỗ nguyệt nhật, thần mỗ, phụng chỉ chuẩn vi bằng khâm thử(1). Bộ Binh hội sửa sách tâu, rồi đưa đóng ấn kim bảo. Phàm đơn tâu thì dưới chữ «nhật» đề bộ nào phụng chỉ chuẩn y lời tâu. Bộ Binh biết rồi, có đóng ấn «Ngự tiền kim bảo» và dấu kiềm, thì bộ Binh giữ bản có chữ đỏ, rồi sức sao lục. Sau đơn viết những chữ «Binh bộ đường đằng lục khâm dụng bộ ấn chấp chiếu»(2).
(1) Ngày tháng nào, thần là Mỗ phụng chỉ chuẩn làm bằng. Phải kính theo đấy.
(2) Bộ Binh chép lại, kính dùng ấn của bộ và giữ để xét làm bằng.
      Đặt Điển tịch (trật Tòng thất phẩm) và Phó điển tịch (trật Chánh bát phẩm) hiệu Lễ sinh ở Văn Miếu, mỗi chức một người.
      Bãi công tác dựng kho ở Quảng Trị. Trước là vua sai Vệ úy Tống Văn Sở trông coi công việc, dụ rằng: «Dựng kho hàng bất đắc dĩ phải dùng sức dân, nên khéo sai khiến, chớ có thúc giục hà khắc mà gây oán thù». Hơn một tháng gặp bệnh dịch phát, bèn thôi.
      Hoãn bắt lính thiếu ở trong kinh và ở ngoài.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương. Phàm lính là để giữ nước, vẫn không thể thiếu được, mà đạo nuôi dân cũng nên rộng rãi. Vậy thông dụ cho ở Kinh và các thành dinh trấn phàm việc sung điền binh đinh trốn và chết đều hoãn lại, đợi sau khi lệ khí yên rồi sẽ bắt cũng chưa muộn».
      Hữu Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Du chết. Dù là người Nghệ An rộng học giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì. Vua từng dụ rằng: «Nhà nước dùng người, duy có tài là dùng, vốn không có coi nam bắc khác nhau. Khanh cùng Ngô Vị đã được tri ngộ làm quan đến chức á khanh, nên điều gì biết thì nói ra hết, dâng điều hay sửa điều dở, để hết chức minh. Sao cứ rụt rè sợ hãi, chỉ việc vâng dạ!». Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa đi thì chết. Vua thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền. 
      Nước Xiêm La sai sứ là bọn Phi Nhã Tiệp Cô Sỹ đến dâng lễ tiến hương và lễ khánh hạ.
      Sứ đến trấn Hà Tiên, trấn thần là Mạc Công Du đòi xem bản thảo quốc thư. Sứ giả không cho xem. Công văn lại nhiều chỗ không hợp lễ (công văn xưng Phật vương là trưởng giả, vật tặng biếu là đồ đạc sức vàng, hộp trầu vàng, ống nhổ vàng, ống điếu vàng, đều là những vật nước Xiêm thưởng cho bề tôi. Lại sai sứ giả mang 10 cân bạc đến để bố thí, đều không phải lệ sứ trước từng có). Công Du hỏi vặn sứ giả, không thể khuất phục được, đem việc ấy báo thành Gia Định, Lê Văn Duyệt dâng sớ nói: «Người Xiêm muốn trịch thượng, nhận lấy thì mất thể diện, khước đi thì mất tình hòa hảo».
      Vua đem hỏi bầy tôi. Nguyễn Đức Xuyên nói rằng: «Mọi rợ vô lễ, không gì bằng khước đi, nếu không hòa thì chỉ có đánh thôi, không nên để cho người ta khinh». Nguyễn Văn Nhân, Lê Chất cũng cho Đức Xuyên nói là phải. Lê Bá Phẩm nói rằng: «Nó thực có ý khinh ta, thì khước đi là phải, nếu lại xuất ư vô tâm thì chẳng tổn thương hòa khí sao?».
      Vua nói rằng: «Lê Bá Phẩm đáng gọi là biết lo xa. Nhưng ta với nước Xiêm là nước ngang hàng, há nên để cho họ khinh! Trẫm tưởng Lê Văn Duyệt là người lão thành, tất có cách để xử lý việc này». Bèn sai trung sứ dụ Duyệt cứ lấy tiện nghi mà xử trí, đừng để mất quốc thể.
      Rồi sứ giả đến Gia Định, đưa quốc thư ra, không khác gì lệ thường. Hỏi trước vì cớ gì lại không cho xem bản sao lục. Sứ giả nói là chưa am hiểu thể lệ, không phải dám cố chấp đâu. Duyệt nhân hỏi về việc công văn không hợp lệ. Sứ giả nói: «Gọi Phật vương là trưởng giả là bởi Phật Lăng gọi như thế. Đồ đạc sức vàng đều là những đồ Phật vương quý chuộng nên đem tặng. Đến như việc đem bạc để làm phúc là theo tục nước như thế».
      Duyệt bảo rằng: «Đưa bạc để làm phúc, không phải là để điếu tang, sứ giả nên cất vào tư trang. Tặng vật cũng không xứng đáng, để đợi trả lại». Rồi gửi thư cho Phật Lăng, trách là trái lễ. Sứ giả nhất nhất nghe theo, không dám trái điều gì. Duyệt làm sớ đem việc tâu lên. Vua cười bảo bầy tôi rằng: «Sứ Xiêm trước như là xấc láo kiêu ngạo, nay lại khuất phục chừng nào. Sách truyện Luận ngữ có nói: «Đi sứ bốn phương, đừng để nhục mệnh của vua».
      Chỉ những người hiền nhân quân tử trung thần liệt sĩ mới hay như thế, chứ không thể nói về người bậc giữa trở xuống được. Xem như sứ thần nước ta, trước kia trẫm thấy Bùi Đức Mân ngày thường là người cứng cáp quả quyết, không chịu khuất, vả xưa từng đi sứ nước Xiêm; lại từng làm Tham tri Lễ bộ thì về lễ giao lân đã quen biết lắm, ý hẳn đi sứ là xứng đáng. Vậy mà khi đi sứ nước Xiêm, chẳng nghe thấy có ứng đối được câu gì. Đến như vua Xiêm muốn đem bạc đến nước ta bố thí để cho dân tranh cướp nhau mà gọi là làm phúc, thì bằng cứ ở lễ nào, mà cũng cúi đầu nghe theo. Vả lại dâng biểu nói là vua Xiêm hậu đãi, xét việc ấy thì chẳng qua ngày nay một bữa yến, ngày mai một bữa yến mà thôi. Thế thì gọi là hậu há chẳng phải là lời tô điểm chăng? Trẫm ngờ Đức Mân ngày ở Xiêm bị khuất phục nhiều lắm. Nay sứ Xiêm đến, lại hay kính thuận, nếu không thế thì Bùi Đức Mân há chẳng là gây mối ác sao!» Bèn sai truyền dụ cho Lê Văn Duyệt sai người đưa sứ giả đến Kinh. Khi sứ giả đến, vua cho ngồi, yên ủi hỏi han, muốn may cho áo trở. Sứ giả nói ở nước đã có may sẵn (áo đơn ngắn vải trắng, trên hai cánh tay đều có một chỗ phụ thêm sắc vàng nhạt, xiêm dùng sắc lốm đốm), bèn thôi không may nữa. Lễ tiến hương xong, cho rất hậu rồi bảo về.  (Tặng Phật vương 50 lạng vàng tốt, 600 lạng bạc; cho sứ thần 500 lạng bạc.)
      Sai Thượng thư Binh bộ Nguyễn Tường Vân trông coi việc duyệt tuyển ở Bắc Thành. Tường Vân đến thành, vì có dịch lệ xin hoãn. Vua y cho. 
      Chưởng cơ thự phó đô thống chế Hậu dinh là Nguyễn Văn Mẫn chết. Vua cho hai cây gấm Tống, 10 tấm vải, 20 cân sáp ong, 300 cân dầu.
      Ngày Ất mùi, dựng bia thánh đức thần công ở lăng Thiên Thụ. Văn bia rằng: «Năm Giáp tuất, Gia Long thứ 13 (1814) sắc dựng sơn lăng Thiên Thụ. Bên hữu là chỗ để Hoàng tỷ Cao hoàng hậu ta, bên tả là thọ lăng, khác huyệt mà cùng uynh, là lấy nghĩa càn khôn hợp đức. Kịp đến năm Kỷ mão thứ 18 (1819), tháng 12, ngày Đinh mùi, ngài băng, thánh thọ 58 tuổi, di chiếu cho thần nối ngôi Hoàng đế. Thần ở nhà Lương am ở bên. Mình giữ tang lễ thường, những lễ khâm liệm, nhất nhất tuân theo trị mệnh(1), xa cái đẹp gấm vóc, bỏ trang sức châu ngọc. Đến như sửa sang việc lớn(2), dẫu dùng hết của giàu trong bốn biển cũng chưa dám cho là nhiều. Năm nay là năm Canh thìn, tháng 4, ngày Tân sửu, làm lễ sơn lăng xong, nhìn cây tùng cây sam rườm rà, xem núi sông quanh quất, nghĩ đến công đức thần thánh, rõ rệt mở mang, cùng cực cao dày, sánh với trời đất, mà Hoàng đế, Chuyên Húc không phải chất bền như vàng đá, Ngu Thuấn,
(1) Trị mệnh: Mệnh lệnh truyền ra khi còn khỏe mạnh gọi là trị mệnh, lúc ốm đau tinh thần rối loạn, thì gọi là loạn mệnh. 
(2) Việc lớn: việc tống táng.
Đường Nghiêu kém tuổi thọ như Kiều Tùng(1). Phơ phất xa chơi, vin gào không kịp. Duy có thuật lại đức tốt, phô bày ánh sáng, dạy bảo đời sau mà để mãi không cùng, ngõ hầu tả được nổi thương vô cùng, thư được lòng hiếu đầy đủ. Kính nhớ Thái tổ Hoàng đế ta, gây nên vương nghiệp, các thánh nối dõi, trong hai trăm năm, ví như làm nhà mới đắp tường mà chưa lợp, như làm đồ gỗ còn mộc mà chưa sơn. Cho nên trời xanh soi người có đức, mà sinh được Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta. Ngài vốn tư chất thông minh, làm nên chí khí anh hùng. Đương khi tuổi trẻ, gặp sự đau thương, mưu sự còn, ở chỗ mất. Thề ba mũi tên(2) để đuổi quân thù; mặc một nhung y mà dẹp được loạn. Đương lúc cờ thúy ba tuần thú miền Nam, đường hoàng lộ có chỗ nguy hiểm. Tuy thuận và nghịch có khác nhau, nhưng ít với nhiều không thể địch. Chật vật trăm trận đánh, vụt ăn, vụt thua; trằn trọc một góc trời, chợt được, chợt mất. Bèn gửi con tin cho nước Lãng Sa, nương tựa ở thành Vọng Các. Báo đen ẩn ở chỗ mây mù; rồng thần nấp ở nơi vực thẳm. Tôi tớ cầm cương ngựa đi theo, vẫn nhớ nước Tấn; phụ lão thấy uy nghi như cũ, ngày mong Hán quan. Lại nhóm họp những người trung lương, gióng xe đem quân về nước;hòa rượu chia cùng binh sĩ, đội đá trước chịu nhọc nhằn. Mặc áo hồ cừu tuy rách nát, ba quân cũng được ơn; ăn bữa cơm chiêm lúc vội vàng, trăm thua cũng không nhụt. Vì đức nhân đủ khắp muôn vật, lòng hiếu đủ cảm quỷ thần. Văn đủ khiến nhiều người theo; võ đủ cho kẻ bạo sợ. Mưu người đã tốt, đạo trời giúp theo. Sông Tân Bình nước trong đủ một tuần; bể Cần Giờ có nước ngọt buổi sáng. Dấu thần hiển ứng, nên nhiều việc hay. Tam linh(3) cùng giúp, lục khảm(4) đều bằng.
(1) Một nghĩa là cây tùng cao dày dạn sương tuyết mà sống mãi. Một nghĩa là sống lâu như hai vị tiên là Vương Tử Kiều và Xích Tùng Tử.
(2) Ngũ đại sử nói: Tấn vương lúc sắp chết, lấy ba cái tên nỏ, giao cho Trang tôn, bảo rằng: nước Lương là kẻ thù của ta, nước Yên thì ta dựng lên, và Khiết đan cũng là kẻ thù của ta, lấy ba cái nỏ này báo thù cho ta.
(3) Tam linh: trời, đất người.
(4) Lục khảm: sáu chỗ hiểm.
Cho nên hay bay qua mây đặc, vượt qua sông sâu, xăm xăm có thế mạnh không ai chống được. Thanh thế đến đâu, như sét vang gió lướt, lật đổ tổ chim diều, bắt hết bầy chim nhỏ. Giết kẻ thù không đội trời chung; gây nghiệp lớn ở trong rối loạn. Đã làm rạng tỏ nước cũ khôi phục toàn cõi Việt này. Công thành trị định, sáng hơn đời xưa. Từ năm Giáp ngọ đến năm Nhâm tuất, trải qua 29 năm, bắc đến Lạng Sơn, nam đến Hà Tiên, đất mở 27 xứ. Đến khi điểm tô nghiệp lớn, chính mình gây dựng thái bình. Lễ nhạc hành chính đặt ra; pháp độ điển chương đủ cả. Cung trường thọ vâng theo vui vẻ, bởi tình thân dạy đạo yêu người; đức khôn nguyên mở giáo hóa ra, từ trong nhà kịp đến cả nước. Thông lễ sinh cả Tây lẫn Bắc, tình lân bang hữu hảo vững bền; thương con cháu chúa Trịnh vua Lê, việc thờ tự triều trước không mất. Lâu ngày đánh dẹp, thu hiệu lớn lao, giữ nghiệp đã nên, hết tốt hết đẹp không sách vở nào thuật lại đủ được. Than ôi! Thịnh thay. Công đức của Hoàng khảo ta, nêu lên ở tai mắt người, như mặt trời mặt trăng không thể che được. Thần là con nhỏ, xin góp đại lược, khắc làm bia thánh đức thần công, để cho con cháu sau này đời đời chiêm ngưỡng, đều biết công gây dựng không dễ dàng và nhớ công gánh vác thực khó nhọc, để mà nương nhờ gìn giữ, ngõ hầu đáp được lời dạy của Hoàng khảo, mà kéo dài được cơ nghiệp tông xã ức muôn năm không cùng. Nay là năm Minh Mệnh thứ 1, tháng 7, ngày Bính thìn, kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài minh rằng:
      Duy trời xa thẳm, bày giúp hạ dân. Duy thánh là to, cứu vớt tai nạn. Sắc tía nhạc ca(1) không phải chính mệnh. Trời bảo thánh nhân, làm hết nỗi giận. Quân vua đến đâu, như sấm như sét. Tội nhân bị bắt, vụ công làm nên. Khoảng mười tám năm, trị dân định nước. Công đức thịnh lớn, trước sau tốt đều. Thánh nhân qua đời, phép tắc còn để. Can tường(2) mơ thấy, quân thạch(3) cảm thương. Đoái trong núi Cảnh(4) tưởng nhớ sông Phong(5). Công đức khắc vào, dòng dõi nhớ mãi. Hưởng cho giữ cho, rõ ràng đức sáng. Yên định Hoàng Việt, như trời không cùng.
      Nghệ An có bảo. 
      Lấy cựu Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ làm Ký lục Phiên An.
(1) Sắc tía, nhạc oa thanh: sắc tía không phải là sắc chính, oa thanh không phải là nhạc chính. Nói khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, cũng như là sắc có màu tía là gián sắc, nhạc có oa thanh là nhạc dâm, không phải là chính thống. Ý nói Tây Sơn cũng như sắc tía, nhạc oa, không phải là chính.
(2) Canh tường: đã chú thích ở trên. 
(3) Quân Thạch: sách Lễ ký nói về tháng trọng thu, phải sửa lại sự cân nhắc đo lường.
(4), (5) Núi Cảnh: Kinh Thi có câu: «Trắc bỉ Cảnh sơn, tùng bách hoàn toàn», nghĩa là: trèo lên núi Cảnh ấy, cây tùng cây bách thẳng tuột. Sông Phong: Kinh Thi có câu: «Phong thủy hữu dĩ, Vũ vương khởi bất sĩ, di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử», nghĩa là: Sông Phong có cỏ dĩ, vua Vũ há không làm việc gì? để mưu cho cháu, để giúp các con.
      Đặt hai vệ Hộ lăng và ty Cung phụng sơn lăng (Vệ hộ lăng, Tiền vệ lấy lính các đội Phiên như, Tả nghi, Tân nhị ở cung Trường Thọ cũ sung bổ vào. Trung vệ thì lấy giản binh thuộc 11 xã thôn phường là Trúc Lâm, Long Hồ, An Ninh, Định Môn, Tứ Chính, An Bằng, Khê Xước, Kim Ngọc, Hải Cát, Cư Chính, Dương Xuân ở phụ cận sơn lăng sung bổ vào. Mỗi vệ một Vệ úy, một phó vệ úy. Ty Cung phụng, Lang trung Lễ bộ một người, quản lãnh nhân viên các tào để cung phụng, trật Chánh tứ phẩm. Thượng trà giám một người, giữ chè rượu, trầu cau, trật Chánh lục phẩm. Thượng thiện giám một người, giữ cổ thờ và các thứ đồ ăn, trật Tòng lục phẩm, Tư vụ Lễ bộ 4 người, giữ các việc tán xướng, đọc chúc, xem xét lễ phẩm bài trí, đều cùng với Tư vụ và Tư khố của Nội vụ phủ giữ đồ thờ tự, trật Chánh bát phẩm, thư lại Lại bộ 2 người, giữ nhật ký, văn thư, trật Tòng cửu phẩm, Tư khố một người, cùng với Tư vụ Nội vụ phủ giữ đồ thờ tự và giữ chìa khóa, trật Tòng thất phẩm, Tư vụ Công bộ 2 người, giữ công việc sửa chữa, trông nom các sở trong ngoài, có chỗ nào nên tu bổ thì công việc nhỏ báo cho bộ bắt thợ tu bổ, công việc lớn thì báo cho bộ tâu lên để đợi chỉ. Tư vụ Nội vụ phủ 2 người, giữ đồ thờ tự, màn trướng, chiếu đệm, dầu nến, hương đèn, Tư vụ Vũ Khố 2 người, giữ đồ lỗ bộ, nghi trượng, giường phản, ghế bàn, rèm mành. Các tào cộng 15 người, đều cho mỗi người một bộ lễ phục).
      Lấy Hàn lâm viện Nguyễn Doãn Kỷ làm Lang trung Lễ bộ, cung phụng các việc ở Sơn Lăng.
      Dinh thần Quảng Nam lấy cớ rằng trong cõi nhiều người bị bệnh dịch chết, tâu xin từ 9 tuổi trở xuống thì bớt lệ tiền tuất. Vua quở trách rằng: «Hết thảy trên đất nước đều là dân ta, khắp trong bốn biển đều là của ta, trẫm thấy trăm họ bị bệnh dịch, lo thương không xiết, há lấy cớ phải cấp nhiều tiền mà lại bàn giảm bớt đi?»
      Lại cho dịch trạm các dinh trấn lương 3 tháng. (Từ Quảng Đức trở vào nam đến Biên Hòa, ra bắc đến Sơn Nam thượng cộng 96 trạm, gạo 5.220 phương.) Chánh thứ đội trưởng cấp lương tháng mỗi người 1 quan tiền 1 phương gạo, bắt đầu từ mồng 1 tháng này.
      Lấy Chưởng cơ Trần Văn Thái thự coi ấn vụ Phó đô thống chế Hậu dinh.
      Hiệp trấn Yên Quảng là Lê Văn Quyền chết.
      Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thanh lĩnh Trấn thủ Yên Quảng, Thiêm sự Binh bộ là Lê Đạt Đức làm Hiệp trấn, Thiêm sự Công bộ Trần Văn Thông làm Hiệp trấn Cao Bằng. Khi bệ từ, vua dụ Nguyễn Văn Thanh rằng: «Công lao tài năng của ngươi vốn đã rõ rệt, được Hoàng khảo ta chọn dùng, nay ủy cho ngươi trông coi phương diện, ngươi nên giữ mình trong sạch cẩn thận, chớ tự chuốc tội lỗi mà bỏ cả công việc mấy mươi năm trước. Pháp luật ba thước là của chung thiên hạ, nếu ngươi phạm pháp mà lấy tình tha thứ thì đối với phép còn ra sao? Lấy phép mà trị thì đối với người huân cựu còn ra sao? Nhưng tình là riêng, phép là công, trẫm sao dám lấy tình riêng mà bỏ phép công. Ngươi tuổi chưa đến tám mươi, phải cố gắng đấy». Lại dụ Lê Đạt Đức và Trần Văn Thông rằng: «Bề tôi làm việc, nhầm lẫn thì có thể tha, tham nhũng thì không khoan thứ được. Bọn các ngươi phải gắng giữ mình trong sạch, chớ để mất danh dự». Rồi Thanh chết, cho tiền tuất 200 quan.
      Sai Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Thận xét hạch các ty Tả hữu lệnh sử, người nào văn học, chữ viết, tính toán vào hạng ưu, thì bổ làm thư lại ở sáu bộ, vào hạng thứ thì sung làm văn hàn ở phủ hoàng tử; người nào không đến hạch thì thải đi.
      Lấy Phó vệ úy vệ Cường võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Biện làm Vệ úy, Cai đội Trần Đức Cung làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Tuyển phong tả là Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ úy, Cai cơ Đỗ Văn Thịnh làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Oai võ là Nguyễn Cửu Lợi làm thự Vệ úy vệ Dương võ.
      Kinh sư mưa lụt to. 
      Lấy Tri bạ Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Thiêm sự Hộ bộ, vẫn biện lý công việc Nội vụ phủ, Trần Đăng Nghi làm Thiêm sự Công bộ, tham biện công việc Vũ Khố.
      Sai nguyên thủ các nguồn Đồng Hương, Đồng Nãi, Nha Trang ở Bình Hòa mộ lính đặt hai đội Giao Lâm và Bình Lâm để phòng giữ người Man núi.
      Sai Vệ úy Nguyễn Văn Quyền kiêm quản mười đội Túc trực, Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản hai đội Trường trực và Thường trực.
      Lấy Vệ úy vệ Hậu nhất quân Thị trung là Tôn Thất Trinh làm Quản phủ Hà Trung. Trinh lấy cớ ít tuổi từ chối. Vua dụ rằng: «Về việc quân dân thì đã có Tri phủ; ngươi chỉ chuyên việc ngăn giữ trộm cướp và trông coi người công tính mà thôi, hà tất từ chối». Trinh đến Hà Trung, vài tháng rồi chết, cấp tuất 100 lạng bạc.
      Cấm từ nay về sau, kinh binh và hạng biệt tính không được mộ dân tứ trực(1) sung bổ. Vua thấy dân nhiều người tránh chỗ nọ đến chỗ kia ít đăng vào sổ đinh, cho nên cấm. Những người nguyên mộ từ tháng giêng năm nay về sau, gián hoặc có người trốn tránh thì chuẩn cho trong 1 năm phải hồi ngạch. Lại dụ bộ Binh rằng: «Quân lính có phép thay phiên để chia đều khó nhọc và nhàn rỗi. Gần đây nghe những quản quân phần nhiều sai quân nhân làm việc riêng, người hết phiên được về mà còn giữ lại 5, 3 ngày, người tới phiên thì bắt đến sớm 2, 3 ngày, hoặc mượn cớ bù số mà giữ lại không cho về. Đấy đều là những luật lệ cấm cả, nên nghiêm chặn đi».
      Lấy Trương Văn Kế làm Vệ úy Tiền vệ dinh Thần cơ quân Thị nội, Cai đội Lê Văn Trương làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Long võ. Đều cho triều phục. Bọn Kế vào tạ. Vua quay bảo Trịnh Hoài Đức rằng: «Xưa kia Hiếu Võ hoàng đế(2), chế áo mũ, trên chỗ điện đình trang nghiêm rầm rập, rất hợp lễ đời xưa. Gần đây muốn cho tiện đi lại, khi ra mắt thường không dùng triều phục, trẫm đương muốn lại theo chế độ đời xưa mà chưa làm được». Lại nói: «Trước trẫm hầu Tiên đế, bỏ giày lên thềm, đi chân không, đứng lâu, hoặc có khi hai chân đến tê dại. Trẫm tuổi trẻ còn thế, huống các đại thần đều già yếu». Hoài Đức nhân tâu nói: «Tiên đế trước cho bầy tôi đều được đi giày vào chầu, đến ngoài cửa cung thì thôi. Nhưng mưa lâu thì từ cửa Đoan Môn vào trong không thể đi giày được, bước đi hơi khó thôi».
      Vua bèn sai các quân xây tường gạch từ cửa Đoan Môn đến cửa Túc Môn. 
      Hoãn việc làm cầu Lý Hòa ở Quảng Bình. Cầu ở đường cái quan, lâu năm gỗ hư, vua sai dinh thần sửa sang để phòng khi tuần du. Vừa gặp mưa lụt và dịch lệ nên hoãn lại. 
(1) Tứ trực: Nam trực là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bắc trực là Quảng Trị, Quảng Bình.
(2) Hiếu Võ hoàng đế là Nguyễn Phúc Khoát.
 




Đăng nhập để trả lời
0
 Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh

 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN V
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa thu, tháng 9. Định lệ triều tham. Vua từng ra chầu sớm, bầy tôi nhiều người chưa đến, bèn xuống dụ rằng: «Trẫm mới nối ngôi làm việc, muốn cùng các quan lớn nhỏ, sớm hôm đều siêng năng để mong thịnh trị. Các quan nên thể tất ý ấy cùng khuyến khích nhau. Từ nay trở đi, buổi sớm, giọt đồng hồ đến ba điểm thì Văn từ Thiêm sự cùng Nội vụ phủ và Vũ Khố từ ngũ phẩm trở lên. Võ từ Thị vệ, Phó vệ úy và Vệ úy Tượng quân, Thủy quân trở lên, đều họp ở Tả vu chực để chầu hầu. Chiều thì đến giọt đồng hồ tám điểm. Cùng ngày công đồng hội nghị thì mỗi nha đều 1 người chực hầu. Làm trái có tội».
      Lại bảo bầy tôi rằng: «Xưa kia Hoàng khảo ta lấy tư chất thông minh, sáng suốt đặc biệt, còn phải dậy sớm ăn muộn, chính sự lớn nhỏ còn phải thân hành xét định. Nay trẫm mới nhận gánh công việc khó khăn to lớn, sớm hôm lo lắng siêng năng, chỉ sợ không làm kịp, có dám mê say vui chơi đâu. Gần đây có người dâng lời, khuyên trẫm mọi việc giao cho bầy tôi, rủ áo chắp tay, ngồi không làm gì để bắt chước lối trị nước đời xưa. Trẫm đã nghĩ mà có điều chưa hiểu, có lẽ nào mà việc gì cũng bỏ đấy, chỉ rủ áo chắp tay mà cầu lấy cái tiếng vô vi sao!».
      Trịnh Hoài Đức tâu rằng: «Đời xưa gọi là vô vi, nghĩa là không thấy dấu vết làm việc thôi, chứ theo lẽ của thiên hạ thì không khó nhọc sao có rỗi được. Cho nên muốn được vô vi (không làm), thì phải hữu vi (có làm), trước đã. Người dâng thư kia chỉ dẫn câu thành ngữ của sách xưa mà nói thôi».
      Lấy Cai cơ Phạm Văn Toản làm Phó vệ úy vệ Trang võ Tiền dinh quân Thần sách. 
      Vua thấy đất Nghệ An là nơi núi và biển giăng liền, thường có nhiều cướp, sai trấn thần xem đất đặt bảo để phòng bị cho nghiêm. Trấn thần mới xin đặt ba bảo ở Điệp Phụ (Cồn điệp), núi Trúc Viên và núi Hiếu Nghĩa, mỗi bảo chọn giao cho một Vệ úy và 100 biền binh đóng giữ. Lại cấp thêm lính cho ba bảo Tam Lễ, Hoàng Mai và Yêu Ủng mỗi bảo đủ 50 người. Vua theo lời xin.
      Thuyền vận tải của Sơn Nam hạ bị gió lật chìm. Vua nghe tin nói rằng: «Việc ấy không phải sức người chống được, vậy đồ vật và lương tiền của nhà nước đã mất đều miễn cả.
      Sai sứ sang nước Thanh. Lấy Hữu Tham tri Lại bộ là Ngô Vị sung Chánh sứ, Thiêm sự Hình bộ Trần Bá Kiên, Hàn lâm Thị độc học sĩ Hoàng Văn Thịnh sung giáp ất Phó sứ; sai thự Tham tri Binh bộ là Trịnh Hiến làm Chánh hậu mệnh, Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán làm Phó hậu mệnh, đến cửa ải Lạng Sơn thù ứng việc đi sứ. Vị đến cửa ải, dâng biểu nói: «Việc nước đã đặt, sứ kỳ đã gần, xin đem công văn và vật thổ sản đưa tặng đốc phủ Lưỡng Quảng».
      Vua bảo rằng: «Làm bề tôi không có phép được giao thiệp với nước ngoài, Hội điển nói rất rõ ràng. Đốc phủ Lưỡng Quảng phỏng có hậu với ta, nhưng sao lại giao thiệp riêng để phạm phép?» Cuối cùng không cho.
      Định lệ quan viên được thăng điệu vào yết kiến. Vua dụ bộ Lại rằng: «Gần đây những người ở ngoài được cất nhắc chỉ bằng cứ ở sách tâu và xét lý lịch. Trẫm muốn nhất nhất được thấy để ngụ ý biệt đãi và khuyến khích. Vậy từ nay trở đi, các thành dinh trấn, văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp, võ từ Thống quản thập cơ đến Phó vệ úy, có ai được thăng điệu, đều cho đến Kinh, do bộ Lại, bộ Binh dẫn vào yết kiến. Nếu số người nhiều không thể nhất tề đến Kinh được thì chia ra hai ba đợt, cốt trong năm ấy dẫn vào yết kiến là được».
      Bàn lễ ngày kỵ các miếu.
      Vua bảo bộ Lễ rằng: «Cổ lễ nói rằng có tang thì không tế. Lại nói người quân tử có cái tang suốt đời, tức là nói ngày kỵ. Thế thì biết kỵ không phải là cát tế. Vậy từ nay về sau, gặp ngày kỵ các miếu thì nên thế nào?» Bọn Phạm Đăng Hưng xin vua mặc lễ phục mà thân hành tế. Vua nghe theo.
      Tang cha Lê Văn Duyệt là Chưởng cơ Lê Văn Toại làm Thống chế. Trước đây Toại ốm chết, Duyệt nghĩ rằng đương có tang, không dám chế tang phục, xin mệnh ở triều. Bộ Lễ tâu: «Sách Lễ ký nói: Mình có mặc tang phục để tang vua thì không dám mặc tang phục riêng. Lại nói: Đám tang vua đã bắt đầu mà bề tôi có tang cha mẹ thì về khóc xong rồi trở lại đi đưa tang vua. Thế dù biết là bề tôi có tang vua mà sau gặp tang cha mẹ thì vẫn mặc tang phục để tang vua».
      Vua cho rằng lễ là theo tình người, đặc cách cho Duyệt may áo sổ gấu để tang cha, tang tế xong, trở lại phục tang vua. Cho thêm Toại 9 cây gấm đoạn, 150 lạng bạc, 2.000 quan tiền. Sai quan dụ tế. Lại ra lệnh cho Tham tri Hộ tào Nguyễn Xuân Thục đem 300 lính hộ việc tang.
      Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Trước khi vua Chân Lạp là Chăn dâng biểu xin đến cửa quyết chầu hầu. Vua cho 150 người quan phiên đi theo. Chăn đến Gia Định thì xưng có bệnh. Vua biết tình ý, xuống chiếu khiến cho về nước. Chăn bèn tâu sai bọn Ốc Nha Chiết Luyện, Phì Mục, Mân Tri Mạt đến Kinh dâng lẽ tiến hương và lễ khánh hạ. Vua y cho. (Lễ tiến hương: Sáp ong 500 cân, vải trắng 300 tấm. Lễ khánh hạ: Bạch đậu khấu, cánh kiến, sáp ong, mỗi thứ 55 cân, ngà voi 2 đôi, sừng tê 2 cỗ,  (sơn 10 vò). Khi đến, vua cho vào yết kiến, yên ủi hỏi han. Sai chế khăn áo vải trắng cấp cho. Nhân lễ điện lớn, làm lễ tiến hương, lễ xong, cho rất hậu rồi bảo về. (Lệ thưởng vua Chân Lạp gấm Tống 10 cây, trừu nam, sa nam, lụa bắc mỗi thứ 20 tấm, vải đen, vải trắng mỗi thứ 40 tấm. Thưởng thêm 2 cây thiểm kim (vàng nhấp nhánh) và 2 cây gián kim (lẫn vàng), 2 tấm đoạn lông màu đỏ, 4 tấm đoạn lông màu lam. Lệ thưởng sứ Chân Lạp, hai người Ốc Nha, mỗi người 30 lạng bạc và 10 quan tiền, thông ngôn 10 lạng bạc và 5 quan tiền, quân đi theo mỗi người 2 lạng bạc và 2 quan tiền. Thưởng thêm cho Chánh sứ 1 bộ đồ chè bịt vàng, 3 tấm trừu hoa, 1 tấm lụa; cho Phó sứ 1 bộ đồ chè bịt bạc, 2  tấm trừu nam hoa, 1 tấm lụa; cho thông ngôn trừu nam hoa, lĩnh nam đen, mỗi thứ 1 tấm. Lại ân tứ cho hai người sứ thần hai cái áo chiến hai lớp bằng trừu màu lam, hai cái áo ngắn hẹp tay bằng trừu lam lót lụa, hai bức chăn trừu lam lót lụa, hai cái áo tràng vạt bằng vải trắng, hai bức khăn vải trắng; cho thông ngôn một cái áo chiến bằng sa xanh lót vải, một cái áo ngắn hẹp tay bằng sa tanh lót lụa; cho 7 người đi theo mỗi người một cái áo chiến bằng vải xanh lót vải trắng).
      Lại gửi cho Phiên vương tờ sắc thư rằng: «Quốc vương Chân Lạp Chăn, nhà ngươi đời làm thần thuộc, kính giữ chức cống, sợ mệnh trời thờ nước lớn, một niềm kính thuận, cho nên khi trẫm mới lên ngôi, vương sai sứ đến lạy chầu ngay. Xét lòng thành thực ấy, thật là đáng khen, và gia thưởng các vật gấm đoạn. Vương được nhờ vinh quang ấy, phải kính sợ thêm, vỗ yên quan dân của ngươi, để cho vững mạnh phên giậu của ta mà giữ tiếng hay, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm».
      Vua bảo bọn Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận rằng: «Năm nay dịch lệ phát ra từ Hà Tiên, lan tới Bắc Hà, trước kia chưa có thế. May nhờ dân Nam Hà đã được thấm nhuần ơn nhân nghĩa của các thánh trước, cho nên phong tục thuần tốt, gặp tai nạn mà biến loạn không nổi. Dân Bắc Hà thấm nhuần đức hóa còn cạn, nay gặp tai vạ ấy, chưa biết tình trạng dân ngu xuẩn ra thế nào. Trẫm sớm đêm lo lắng, không thể thôi được, nên ngày gần đầy xuống chiếu cầu lời nói thẳng, mà các khanh tuyệt không có một lời nào là tại làm sao?». Bọn Hoài Đức không thể đáp được. Nhân dụ từ Nghệ An ra Bắc chỉnh bị đồn trát cho nghiêm và thao diễn quân lính, để phòng xảy ra sự không ngờ. 
      Nguyễn Văn Trí và Nguyễn Văn Thụy đánh phá được sư Kế ở Nam Vang. Đầu là Kế đem hơn 30 chiếc binh thuyền tiến bức thành Nam Vang. Phiên vương muốn bỏ thành chạy. Vừa bọn Trí đến Châu Đốc, kịp chọn thuyền nhẹ mà tiến. Khi đến thành thì quân giặc đã qua đò sang Cổ Nha Chăn (tên đất) cách thành chỉ hơn 10 dặm. Trí tiến trước, Thụy tiếp ứng sau. Quan phiên là Chiêu Chùy Đồng Phù đem quân đi theo. Gặp giặc ở Ỷ Hôn (tên đất), đánh phá được, chém giết rất nhiều. Bắt được 2 vị bôn (tên quan Chân Lạp) hàng theo giặc. Kế và bọn Tham Đích Tây đều chạy trốn. Quan quân đuổi theo, bắt chém hơn 400 người.
      Quân của bọn Phan Công Nghĩa đóng ở Liêu Hiêu nghe giặc ở Bà Nam chiếm giữ chỗ hiểm, sai Quản đạo Tân Châu là Vũ Văn Sáng dẫn quân tiến lên, Sáng đánh thua, bị giặc giết chết. Nghĩa cùng bọn Lê Kim Nhượng, Nguyễn Văn Tuyết kế đến, giặc bèn lui chạy. Đuổi theo tới Khu Trung, đánh phá được, lấy được đồ quân nhu khí giới. Đảng giặc nhiều người hàng. (Liêu Hiêu, Bà Nam, Khu Trung đều là tên đất.)
      Ở Biên Hòa mưa lụt. Ruộng nương nhà cửa của dân đều ngập mất. Lê Văn Duyệt theo tiện nghi phát gạo kho 1.000 phương để chẩn cấp cho người đói. Vua nghe việc ấy, ra lệnh phát thêm 200 quan tiền và muối gạo, chia ra để chẩn cấp.
      Vua nghe rằng những lại dịch từ Quảng Trị trở ra ngoài phần nhiều bớt xén tiền tuất, dụ rằng: «Gần đây lệ khí tràn lan, dân mắc hoạn nạn. Trẫm thương xót, nghĩ cách giữ yên cứu giúp, mới ra lệnh cho Hữu ty cấp cho thuốc thang tiền vải, đó là muốn cho dân ta người sống người chết đều được nhờ ơn. Các ngươi là quan lớn ở địa phương, được ký thác chăn dân, nên coi dân bị tai nạn như con, để lòng vỗ về cứu giúp, chớ để tư lại, tổng lý bám víu vào để làm gian, như thế mới vừa ý trẫm».
      Lấy Chưởng cơ Trần Văn Thái thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách, lĩnh Trấn thủ Sơn Tây. Vua dụ rằng: «Việc quân việc dân, khanh đã từng trải; nay vào lúc tuổi già, coi giữ địa phương, nên lo vì nước hết trung, để đền đáp ơn hậu đãi». Thái cúi đầu tạ, nhân xin lấy bộ khúc 14 người đi theo. Vua y cho.
      Lấy Vệ úy Hậu nhất quân Thị trung là Văn Nguyên làm Vệ úy Thành võ quân Thị nội, Cai đội Phạm Văn Sỹ làm Phó vệ úy Hùng cự nhất thuộc tượng quân, Hoàng Văn Trường làm Phó Vệ úy vệ Hùng cự nhị.
      Cho thêm hoàng tử, hoàng nữ tiền gạo hằng năm theo thứ bậc.
      Cho người Thanh là bọn Lê Thắng Lợi về nước. Trước đây Thắng Lợi nhân đi việc công bị gió dạt đến cửa biển Nhật Lệ, vua thương, ra lệnh cho dinh Quảng Bình gia cấp tiền tuất mỗi người 10 quan. Đến nay cho về.
      Phú Yên bị lụt, giá gạo cao. Sai bán thóc ra. Trấn thần tâu nói dân nghèo khổ lắm, xin cho vay. Vua y cho.
      Ngày Bính tý, dựng điện Phúc Thọ. 
      Định lệ quan văn quan võ chuyên cử người. Dụ rằng: «Tiến người hiền thì được thưởng, tiến người không hiền thì phải phạt, đó là phép thường của nước. Nay cả đình thần cùng cử một người đều ký tên tâu xin, nếu người ấy không xứng chức, thì lỗi quy cho ai? Phàm người ta cho nhau là vì cùng loài, tài hạnh của văn thần thì võ thần khó biết, trí năng của võ thần thì văn thần cũng không dễ biết. Nếu người xướng cử mà tư vị, hoặc là không biết rõ mà cứ theo người ta đề cử thì há chẳng vì thế mà sai lầm sao? Từ nay về sau, việc đình cử, văn giai thì do văn thần cử, võ giai thì do võ thần cử. Người chuyên cử chua tên rồi sau mới hội sớ tâu lên, không được hùa theo, để ngăn cái tệ cầu may và quá lạm».
      Lại sai bàn định phép chọn cất, một là làm việc lâu năm hạn bỗng đã mãn, hai là tài nghệ có thể lấy được. Văn mà tham tang, võ mà sợ giặc, thì người cử phải tội.
      Lấy Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng làm thự Tham tri Hộ bộ, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân làm Ký lục Quảng Đức. Rồi Hưng lấy cớ sửa sang phần mộ, dâng biểu xin về. Vua quở trách rằng: «Nghĩa làm tôi, làm việc công phải quên việc riêng, làm việc nước phải quên việc nhà. Nay ngươi mới được cất nhắc, vội vã xin về, vậy không lo việc công sao?». Không cho về.
      Triệu Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm về Kinh. Niệm giỏi võ nghệ, vua nghe tiếng, cho nên triệu về sai dạy cấm binh.
      Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng: «Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi».
      Sai đình thần hội bàn. Đều nói: «Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn». Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngực, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.
      Lấy Tri bạ Nguyễn Công Liệu làm Thiêm sự Công bộ.
      Hạ lệnh cho Vũ Viết Bảo, phàm các Nội hầu, Tiểu sai, Thị trà, nếu có sai khiến việc gì thì làm danh sách liệt tên dâng lên để đợi kén chọn. Dụ rằng: «Gần đây bọn ấy vâng lệnh sai đi, phần nhiều là lấy yêu ghét mà khen chê, hỏi tới tình trạng quan lại và nhân dân, đều không biết gì cả, vậy thì việc đi hỏi han giao cho bọn ấy sao được! Từ nay về sau nên cẩn thận chọn người mà sai đi mới được». 
      Sai từ Nghệ An trở ra dùng kẽm đúc tiền. Lại định lệnh cấm đúc trộm tiền. Đầu là vua sắc hỏi Lê Văn Phong rằng: «Tiền kẽm mới đúc dùng ở Bắc Thành thế nào?».  Phong tâu nói: «Dùng thì tiện, chỉ sợ có tệ đúc trộm thôi». Vua cho là phải, dụ rằng: «Đúc tiền là để lợi cho việc dùng của dân. Nhà nước mới đúc tiền kẽm, từ Quảng Bình vào Nam, đều đã tiêu dùng. Duy từ Nghệ An ra Bắc vẫn dùng tiền đồng cũ, từ trước đến nay, ngày càng hao bớt, dân dùng không đủ. Vậy đặc chuẩn từ nay về sau, kho tàng xuất thu, dân gian mua bán, đều dùng kẽm tiền «Gia Long thông bảo» và «Minh Mệnh thông bảo» để cho cái lợi tiền tệ đến khắp mọi nơi».
      Lại chuẩn định điều cấm. Phàm ở dân thu nộp, ở chợ phố mua bán đổi chác, tiền mới tiền cũ đều dùng cả, không được chọn bỏ. Ai dám đúc trộm thì phải tội giảo giam hậu, tịch thu gia sản. Người tố cáo được thưởng bạc 50 lạng. Người chở trộm và mua bán trộm kẽm thì xử 60 trượng, đồ 1 năm, thuyền và hàng hoá, một thu vào nhà nước, lại lấy 3 phần 10 tang vật thưởng cho người tố cáo. Các quan phủ huyện và đồn thủ không kiểm soát được thì xử tội thất sát. Biết tình mà cố ý dung túng thì đồng tội với người phạm. Những người ở trường đúc cục Bảo tuyền và Đồ gia Bắc Thành, có ai mang khối kẽm đúc tiền ra ngoài thì theo luật lấy trộm tiền lương ở kho, tính tang vật xử tội.
      Miễn lệ Bắc Thành dâng tiến cam đường. (Lệ trước khi cam đường chín, cứ 15 ngày do trạm tiến một lần, đến nay bãi đi. Duy lễ hưởng ở các miếu thì lấy dâng như lệ cũ.)
      Thái thường Tự khanh là Nguyễn Xuân Tình chết. Tình trước từ Hàn Lâm thiên dần lên Thiêm sự Lại bộ, Ký lục Quảng Nam, đi sứ Trung Quốc về, cất làm Tự khanh, tham biện việc Lễ bộ, làm quan trước sau tự giữ tiết trong sạch, đến nay chết, vua tiếc lắm, cho tiền tuất theo lệ Tham tri. Than rằng: «Những người trẫm mới cất lên, theo nhau mà chết, vậy còn cùng với ai mà trị nước?».
      Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Sai Kiến An công là Đài, Ứng Hòa công là Đán, Thái Bình công là Kính tế thay.
      Lấy Phó vệ úy vệ Trung nhất quân Thị trung là Lê Văn Quý làm Vệ úy vệ Hậu nhất, Vệ uy vệ Tả bảo nhị thuộc Tả quân là Lê Văn Từ làm Vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong quân Thị nội, Khâm sai cai cơ vệ Túc oai quân Thần sách là Trương Công Tồn làm Phó vệ úy vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Thị trung Trần Văn Trí làm Phó vệ úy vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm làm Phó vệ úy Tả vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ úy vệ Thị tượng Tam quân Thị nội là Nguyễn Văn Trì làm Vệ úy vệ Hùng cự nhất thuộc Tượng quân, Quản cơ cơ Thị tượng ở Thanh Hoa là Hồ Văn Đa làm Phó vệ úy vệ Thị tượng tam, Cai đội Lê Văn Phúc làm Phó vệ úy Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội.
      Lấy Cai án Thị nội là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Công bộ, tham biện công việc Vũ Khố. 
      Bọn ác man ở Quảng Ngãi lẻn xuống bảo Khu Linh giết cướp dân Hán (Việt). Trấn thủ Nguyễn Văn Hưng đem quân đuổi theo không kịp. Vua sai lấy Vệ úy vệ Nghiêm uy là Lê Viết Quý đem lính Kinh hội đánh. Khi đến thì bọn ác man đã trả lại những dân bị bắt, lính kinh không đánh mà trở về.
      Cho các đội Tư thiện, Trung cần tiền gạo lương hằng tháng (Hai đội Tư thiện nhất, nhị mỗi đội mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 25 phương; đội Tư thiện tam mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 30 phương; các đội Trung cần nhất, nhị, mỗi đội mỗi tháng gạo 50 phương).
      Lấy Tri bạ cơ Kiên thuận là Nguyễn Ngọc Châu làm Tri bạ phủ Tôn Nhân, theo Tôn Thất Dịch coi giữ sổ sách phủ Tôn nhân.
      Diễn trận voi. Thưởng cho ba vệ Thị tượng 100 quan tiền. 
      Cung Từ Thọ làm xong.
      Ngày Tân mão, rước Hoàng mẫu về ở cung mới. (Trước một ngày vua kính cáo ở điện Hoàng Nhân; đến ngày rước loan giá Hoàng mẫu từ cửa Hưng Khánh đi ra. Cung tần trong đại nội và các mệnh phụ theo hầu từ cửa Tiên Thọ đi vào. Vua đem bầy tôi xin làm lễ mừng. Hoàng mẫu dụ cho miễn.) Tiến tiền kẽm mới đúc 30.000 quan.
      Cho bọn Trần Hưng Chính 8 người họ Trần ăn lương theo thứ bậc. 
      Lấy Cai đội tuần thành là Đặng Đức Ân làm Quản thủ ba nguồn An Đại, An Náu, Cẩm Lý (ba nguồn thuộc tỉnh Quảng Bình).
      Nguyễn Văn Trí đánh phá được sư Kế ở Ba Tầm Lai (tên đất, ở phủ Thời Thu). Trước kia, trong trận Ỷ Hôn, Kế cùng bọn Tham Đích Tây chạy đến Lạng Khoan (tên đất) chọn chỗ hiểm để giữ. Quan phiên là Bông Sa Sô Phì đánh không được. Quan quân đến Xuy Sóc (tên đất), vì có khe lớn ngăn trước mặt, không thể tiến được. Trí giả cách rút quân về Long Sô (tên đất). Giặc nghe thấy, lại dẫn quân ra. Trí ra lệnh cho quân sĩ đương đêm ngậm tăm theo bốn đường đều tiến đến Ba Tầm Lai, phía trước phía sau cùng đánh hăng, phá vỡ được, chém được sư Kế. Đầu hàng vài trăm người. Bọn Tham Đích Tây đều trốn cả.
      Tin thắng trận tâu lên, vua mừng bảo bầy tôi rằng: «Giặc tăng kia gây loạn, dần dà gần tới Nam Vang, may Lê Văn Duyệt vừa đến, sai tướng dẹp tắt. Nếu không thì Nam Vang thất thủ, hỏng nát phên giậu của ta, sẽ không lợi cho thành Gia Định.
      Lê Chất tâu rằng: «Tên giặc tăng ấy cũng là địch mạnh, trước đây Lê Văn Duyệt sợ phiền bệ hạ lo nghĩ nên không dám giương to lên đấy thôi».
      Vua nói rằng: «Năm trước, sơn man ở Quảng Ngãi lấn cướp, Duyệt đem quân đi đánh, vài tháng mà dẹp yên. Nay việc giặc tăng lại khó hơn việc sơn man ở Quảng Ngãi». Bèn xuống chiếu khen ngợi. Sai lấy tiền 10.000 quan thưởng cho tướng sĩ.
      Quốc vương Chân Lạp là Chăn lấy cớ có những quan phiên giao thông với sư Kế làm loạn, mà không hay ngăn được, chịu đến Gia Định xin chịu tội. Vua sai sứ mang chiếu đến yên ủi, dụ rằng: «Nước phiên mới dẹp yên, người ta còn mang lòng ngóng trông thì làm thế nào được. Trẫm đã xét biết tình hình ấy, nên không bắt tội. Quan phiên, trừ Tham Đích Tây và Kế Luyện Na Công pháp luật không thể tha được, còn những người khác đền là tôi tớ thuộc quốc của triều đình, đáng bao dung hết, bất tất phải mang lòng ngờ vực sợ hãi làm gì. Phải nên càng kính thuận thêm, nhóm họp nhân dân nước ngươi, sửa lễ chức cống của ngươi, để xứng ý yêu thương gây dựng của trẫm».
      Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông xét đệ án về tội cùng đành giết người. Án ấy sai về xuất nhập tội người. Vua dụ bộ Hình rằng: «Cùng mưu cùng đánh, luật có điều mục rõ ràng. Nếu đánh loạn không biết ai trước sau nặng nhẹ thì lấy kẻ mưu trước làm thủ phạm, còn người khác làm tòng phạm. Nay án ấy chứng cớ không phù, cưỡng kéo cho hợp, khiến kẻ mưu trước được lọt lưới mà người khác lại mắc tội nặng, xét hỏi việc hình nên như thế nào? Nhưng vì ta mới lên ngôi, nên hãy rộng tha tội cho. Từ nay về sau, nếu quan xét xử chiếu luật không tường, khép tội không đúng, thì trị theo luật».
      Tha tù tội tử ở Gia Định. Lê Văn Duyệt dâng sớ nói: «Trong thành hạt có hơn trăm tù tội tử đáng được ở lệ ân chiếu khoan giảm. Và gần đây lại có kẻ quan lại không tốt, hút máu mủ dân, hoặc có kẻ ngặt vì đói rét, nên sa vào tội lỗi, trong số ấy có kẻ tạp phạm theo trộm cướp, tình trạng có chỗ đáng thương, xin rộng tha cho, để rộng đức hiếu sinh». Vua lấy làm phải, sai đánh trượng rồi tha cho hơn 90 người. Duy kẻ cướp giết người vẫn đợi đến kỳ xét án mùa thu.
      Triệu Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thúy về Kinh; lấy Vệ úy vệ Tuyển phong hữu Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Tạo thay. 
      Thự Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Tường Vân chết.
      Tường Vân ở Bắc Thành bệnh nặng có di biểu rằng: «Thần, học kém tài hèn, tính lại thô lỗ, duy theo làm việc lâu ngày, nên Tiên đế xét thấy ngu đần chất phác, tha tội lỗi cho, mới có ngày nay. Trước đây vâng chiếu đi duyệt tuyển ở Bắc Thành, bỗng bị ốm, vì cớ còn có mẹ già dựa cửa, cho nên cố gượng cơm ăn thuốc uống, mong làm xong công việc để kịp sớm về thăm. Thế mà bệnh ngày tăng lên, hạn chết không kéo lại được, đấy là tội thần nhiều vậy. Nhưng lòng thành nhỏ mọn, không thể tự thôi được. Xin bệ hạ thường giữ đức tốt, sau trước như nhau, khiến cho tốt đẹp sánh với Thành Chu ngày trước. Đến như việc nước Xiêm La, nếu có lỗi nhỏ cũng bỏ qua mà cùng nhau làm đạo lớn(1), thì không những là báo nghĩa Tiên đế dừng chân ở đấy mấy năm, mà cũng khỏi được mối lo trăm đời của năm kẻ bầy tôi lớn ở ngoài biên.
      Vua xem biểu than tiếc, truy tặng Binh bộ Thượng thư, cho 200 lạng bạc cấp cho 2 người mộ phu. Lại bảo bầy tôi rằng: «Tường Vân có đủ tài chính trị, văn học, lo việc nước, làm việc công, gặp việc thì lo cố gắng, ít người kịp được. Tiếc rằng chí chưa chọn mà thần đã chết. Và lòng trung ái hiện ra ở tờ di biểu, trẫm xem mà chảy nước mắt ra».
      Trịnh Hoài Đức tâu rằng: «Di biểu của Tường Vân nói đến mẹ già, ý muốn trông nhờ Hoàng thượng, nhưng không dám nói rõ đó thôi». 
      Vua nói rằng: «Bề tôi trung còn có mẹ, trẫm nên hậu đãi». Sai cho 20 lạng bạc, 2 tấm đoạn, sắc cho địa phương thời thường để ý thăm hỏi. Đến khi chết, cho 100 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 10 tấm.
      Sai Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm kiêm quản việc Truờng đà, Vệ úy Thị trung Trần Đăng Long quản lý Vũ Khố.
(1) Cùng làm đạo lớn: Kinh lễ có câu rằng: Đại đạo chi hành, thiên hạ vi công ».
      Đình thần dâng sớ cử Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Ký lục Quảng Trị, Hàn lâm viện Nguyễn Văn Đống làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ.
      Vua nói: «Nguyễn Đăng Tuân kiêm giữ việc Văn thư phòng và việc Thượng bảo tự, then chốt quan hệ ở đấy, chưa có người thay. Nguyễn Văn Đống thì trật Chánh ngũ phẩm, đổi ra ngoài chỉ đáng bổ Tri phủ, bổ Tham hiệp thì chẳng quá lạm sao?» Không cho.
      Sai Đông các học sĩ Đinh Phiên và Hàn lâm Thị độc Cao Huy Diệu soạn định thể thức cáo văn, sắc văn cho văn giai và võ giai.
      Định lệ cấp phu trạm cho quan ngoài đi nhận chức. (Lưu thủ, trấn thủ, 2 phu cáng, 2 phu gánh đồ; Cai bạ, Ký lục, Hiệp trấn, Tham hiệp, 2 phu cáng, 1 phu gánh đồ; Quản phủ, Đốc học, Tri phủ, Tri huyện, 2 phu cáng.)
      Triệu Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Huy Trinh về Kinh; lấy Tả Tham tri Lễ bộ là Bùi Đức Mân hành chức Hiệp trấn. Đức Mân trước đi sứ nước Xiêm, vì ứng đối không hợp, vua tuy không bắt tội, những ý đã sơ, đến nay đổi ra ngoài.
      Chuẩn định từ nay chánh đội trưởng và đội trưởng ở các vệ đội bốn dinh quân Thị nội được thực thụ suất đội đều chiếu phẩm mà chi bổng.
      Lấy Phó quản thập cơ thuộc Hữu quân là Nguyễn Hữu Viễn làm Trấn thủ Yên Quảng, Thiêm sự Lại bộ là Phạm Quang Anh làm Tham hiệp Sơn Nam hạ.
      Bốn trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, Biên Hòa, Phiên An, bão to, nước lớn, nhân dân nhiều người chết đuối. Lê Văn Duyệt trước hạ lệnh cho các trấn chiếu theo lệ bị nạn bãi mà chẩn cấp, rồi làm sớ tâu lên. Vua khen là phải. 
      Biếm Ký lục thự Tham Tri Lại bộ là Lê Đồng Lý làm Thái thường Tự khanh, tham lý công việc Lễ bộ. Trước đây thự Đô thống chế Hậu dinh Bùi Văn Thái ra làm quan ở trấn, vua sắc cho Lý rằng chiếu văn chớ viết thự hàm. Rồi khi Thái đến trấn lỵ vẫn mang ấn Hậu dinh. Vua nghe thấy làm lạ hỏi rằng: «Thái còn tạm giữ ấn dinh, có lẽ chiếu văn chưa bớt thự hàm chăng?» Hỏi ra thì quả như vậy.
      Vua cả giận. Triệu Lý vào trách về tội trái chỉ, bắt cùm lại. Thượng thư Trịnh Hoài Đức và bọn Hoàng Quýnh, Lê Vạn Công ở Văn thư phòng đều bị quở. Bèn đổi Lý làm chức này, lại giáng một cấp. Nhân dụ bầy tôi rằng: «Trẫm lấy khoan nhân mà trị, chứ có muốn lấy pháp luật mà buộc kẻ dưới đâu, chỉ sợ có lỗi nhỏ không răn đi, thì đến lúc có lỗi lớn khó tha được mà thành ra không phải là ý xây dựng».
      Vua dụ bộ Lại rằng: «Quan văn võ trong ngoài chức giữ việc quan trọng thì lệ có cấp ấn quan phòng là để tỏ sự tin, phòng gian dối và trọng danh vị. Từ nay về sau có ai được cất bổ, đáng cấp ấn quan phòng, thì đề thỉnh trước để đúc ấn, đến ngày ban chiếu sắc thi cấp cả một thể. Nếu viên nào được chọn bổ chức khác, cùng với chức cũ không có liên quan, thì nộp ấn ấy ở bộ, đưa sang Văn thư phòng thu giữ».
      Lấy thự Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Văn Hưng đổi thự Tham tri Lại bộ, Hưng lấy cớ ít học xin từ. Vua không nghe.
      Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Thiêm sự Lại bộ.
      Đổi bảo Bình Hòa làm đạo Bình An, trạm Kỳ Vĩ làm thủ sở Bình Nguyên (đều thuộc trấn Bình Hòa).
      Bắt đầu đặt chức Tri huyện Tân Định trấn Bình Hòa, kiêm lý việc huyện Quảng Phúc. Hai huyện trước chưa đặt quan, duy có quản đạo Bình An hợp với thủ quản coi các việc giấy tờ kiện tụng trong đạo. Đến nay mới đặt huyện nha chuyên làm việc giấy tờ kiện tụng. Có xảy ra trộm cướp thì báo cho đạo nã bắt.
      Kinh thành mưa lụt to, thành lở hơn 300 trượng. 
      Vua bảo bầy tôi rằng: «Trước Tiên đế có bảo trẫm: «Việc xây đắp Kinh thành không khỏi nhọc dân phí của, làm cho kẻ dưới ta oán. Ta cố đương lấy sự khó nhọc để rỗi cho mày, nếu có chỗ nào chưa xong, thì nhân đấy mà làm xong đi», Tiên đế băng, chỉ một việc ấy là kinh dinh chưa xong, nay lại lở sụt, đấy là trách nhiệm nối chí noi việc của trẫm». Tức thì ra lệnh cho người giám tu sửa đắp lại mà tha tội cho. Dụ rằng: «Từ nay về sau, phàm các công việc lớn về sửa đắp thành trì, nếu không hay chỉ vạch đúng phép, để đến nỗi không bền vững, thì đều theo nhẹ nặng mà trị tội.
 




Đăng nhập để trả lời
0
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VI
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa đông, tháng 11, định lệ quân cấm vệ chia đi tuần hoàng thàng và cấm thành: Ba đội Túc trực, Trường trực, Thường trực đi tuần ngoài cấm thành; mười vệ Thị trung đi tuần trong hoàng thành; các vệ Thị nội đi tuần ngoài hoàng thành; đều chia ra tả hữu dực, định nơi khởi hành và nơi trở lại. Lại sắc từ nay về sau, đêm đông chí thì ở sân ba điện Cần Chính, Thái Hòa, Càn Nguyên và ở cửa Tử cấm của hoàng thành đều thắp đèn mãn đường hồng (đèn nến) suốt đêm mới thôi.
      Cho con cháu tập ấm của công thần Vọng Các và công thần trung hưng được chi toàn bổng theo phẩm trật; ấm chức mà không cầm quân thì theo lệ cấp nửa bổng. Vua truy niệm các công thần có công lao ngày trước, cho nên đặc cách cho như thế.
      Sai Giám thành phó sứ Đỗ Phúc Thịnh, Phó đội Nguyễn Văn Học, Đội trưởng Nguyễn Văn Tuân và Trương Viết Suy, chia nhau đến các đầu nguồn ở Quảng Đức vẽ bản đồ núi sông rừng rú, đường đất xa gần, chỗ hiểm chỗ dễ, để dâng.
      Vua mở xem sách Dư địa chí, muốn biết rõ hình thế kỳ(1), điện(2), chép vào bản đồ sách vở để lại đời sau, bèn sai bọn Thịnh đi. Thưởng cho áo, bạc, tiền, gạo, theo thứ bậc khác nhau. (Trung lộ từ Sơn Bồ qua Tả Trạch, Hữu Trạch, cho đến nguồn Hưng Bình. Tả lộ từ Hưng Bình qua Phù Âu, Vân Quan, cho đến nguồn Lỗ Đông thuộc Quảng Nam. Hữu lộ từ Ô Lâu, Tho Lay đến nguồn Sơn Bồ. Cả ba lộ đều phía trên giáp địa giới sơn man).
 (1) (2) Kỳ, điện: nơi phụ cận với Kinh thành là kỳ, ngoài kỳ gọi là điện.
      Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý có tội bị hạ ngục. Khi Quang Lý ở trấn, có người tố cáo làm trái phép, thánh thần Gia Định tra xét tâu lên. Vua nói: «Quang Lý và công thần Vọng Các cũ, không biết tự yêu thân danh để mắc vào pháp luật, rất đáng thương tiếc». Khi án dâng lên, Lý bị khép vào tội lấn xén tiền công tiền tư hơn 9 vạn quan. Vua nghĩ đến công lao, miễn cho tội chết, bắt giam kín, đòi lại tang vật.
      Lấy Vệ úy vệ Định võ là Nguyễn Đình Phổ quyền thự việc trấn Phiên An. 
      Triệu Tham hiệp Lạng Sơn là Phan Huy Thực về Kinh; lấy Hàn lâm Thị độc học sĩ Nguyễn Hựu Bình làm Tham hiệp Lạng Sơn. 
      Sai Thiêm sự Lễ bộ là Lưu Thuyên kiểm tra Vũ Khố.
      Hiệp trấn Kinh Bắc là Phùng Huy Giảng vì ốm phải miễn chức. Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Lê Quang Thực làm Hiệp trấn Kinh Bắc.
      Triệu bọn Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành Vũ Đức Thông, Ký lục Quảng Nam Hồ Công Thuận, Cai bạ Bình Định Hoàng Văn Quyền, Ký lục Bình Hòa Bùi Đức Minh, Ký lục Bình Thuận Trần Thiên Tải, Ký lục Định Tường Trần Lợi Trinh, Trấn thủ Phú Yên Nguyễn Văn Quế về Kinh.
      Sứ bộ sang Thanh là bọn Ngô Vị, Trấn Bá Kiên, Hoàng Văn Thịnh qua Nam Quan. Trước kia, người Thanh đã ước hẹn ngày 19 tháng 10 mở cửa quan. Vừa được mật tín báo tang vua Thanh, bọn Ngô Vị, Trịnh Hiến bàn rằng biểu văn trước dùng ấn son, nay nên đổi ấn chàm. Liền làm công văn tư qua phủ Thái Bình xin hoãn hạn mở cửa ải và chạy biểu tâu lên. Vua nói: «Việc mở cửa quan đã hẹn trước, quốc tang báo sau, người Thanh không ngại gì ấn dấu son, tại sao sứ thần lại sinh chuyện mà chần chờ như thế?». Lập tức dụ sai báo ở cửa quan là dùng biểu dấu son.
      Kinh thành nhiều lần có nạn trộm. Sắc rằng quân dân bắt được thì hậu thưởng. Vừa gặp có người bắt được kể cắp ngày. Vua bảo bầy tôi rằng: «Ăn cắp tuy là tội nhẹ, nhưng giữa ban ngày mà ăn cắp ở chốn đại đô là rất khinh miệt phát luật. Bọn vô lại khinh phạm hiến chương như thế, tha thì rốt cục cũng không chừa nào, tha cũng vô ích». Bèn sai chém để răn dân chúng. Lại hạ lệnh cho Quảng Đức từ nay về sau ở đâu có trộm xảy ra, lân bàng (bên cạnh) phải kíp đến cứu ứng, bắt giải lên quan. Làm trái thì có tội.
      Định viên ngạch cho Thái y viện (Chánh ngũ phẩm Ngự y chánh 1 người, Tòng ngũ phẩm Ngự y phó 2 người, Chánh thất phẩm Y chính 2 người, Tòng thất phẩm Y chánh 2 người, Chánh bát phẩm Y chính 10 người, Tòng bát phẩm Y phó 10 người, Chánh cửu phẩm Y sinh 12 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 30 người; ngoại khoa Chánh bát phẩm Y chánh 2 người, Tòng bát phẩm Y phó 2 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 16 người. Tất cả gồm 89 người đều cho thực thụ. Chánh bát phẩm Y chánh trở lên 19 người, cấp bổng theo phẩm trật.)
      Đổi chức Cai án Thị nội làm Tri bạ. 
      Quảng Nam gạo đắt. Dinh thần tâu xin lại phát thóc kho bán cho dân. Vua y cho, sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng và Hàn lâm viện Biên tu Lê Bá Tú đến hội bán.
      Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Kiên bị tội tham tang phải bãi chức; lấy trấn thủ Phú Yên là Nguyễn Văn Quế thay, Quản phủ Kinh Môn là Nguyễn Văn Tài làm trấn thủ Phú Yên.
      Sai Thiêm sự Công bộ Nguyễn Công Liêu và Tham tụng Trương Văn Minh làm việc cục Bảo tuyền ở Bắc Thành.
      Lấy Vệ úy Hậu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Huyên làm Vệ úy Tiền vệ, Vệ uy Tiền vệ Nguyễn Văn Nghi làm Vệ úy Hậu vệ, Phó vệ úy vệ Tuyển phong hữu là Nguyễn Khắc Tiệp làm Vệ úy, Cai cơ Trần Văn Tính làm Phó vệ úy, Cai đội Lê Văn Giai làm Phó vệ úy vệ Ban Trực tả.
      Lấy Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thúy làm Chưởng cơ, thự lý ấn vụ Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách. Sau lại sai lấy bản chức lĩnh chức Phó đốc trấn Thanh Hoa. Dụ rằng: «Khanh tuổi dần suy yếu, đáng lý lưu lại chầu hầu bên cạnh, nhưng nghĩ việc tọa trấn Thanh Hoa khó có người, nên nhờ khanh giúp một vài năm rồi sẽ triệu về».
      Triệu bọn Tri phủ Bùi Phổ, Trương Văn Đoán, Vũ Du, Vũ Hữu Tín, Hoàng Nghĩa Thao, Lương Vân, Đặng Đình Dương, Phạm Thọ Vực, và thư ký Bình Định Phạm Phúc Thiệu, Cai án Hải Dương Nguyễn Công Duy, tất cả 10 người về bộ để dẫn vào yết kiến.
      Đổi định lệ thuế cảng và lễ cho các thuyền buôn nước ngoài. Lệ cũ, thuyền buôn Mã Cao và các nước phương Tây đến buôn bán, cũng đánh thuế như lệ thuyền buôn Quảng Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà thu khác nhau. Vua muốn tỏ lòng yêu mến người phương xa, sai đình thần bàn định phân biệt, theo ngạch cũ mà khoan giảm. (Như đến buôn bán ở Gia Định, thuyền phủ Quảng Châu, phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Chiết Giang, Mã Cao và các nước phương Tây, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước 160 quan); 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 90 quan; 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 70 quan; 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 35 quan (lệ trước từ 13 đến 7 thước, mỗi thước 100 quan). Thuyền phủ Triều Châu, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước 110 quan, 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 70 quan, 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 50 quan, 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 30 quan. Thuyền phủ Quỳnh Châu, phủ Lôi Châu, phủ Liêm Châu, phủ Cao Châu và các nước Ma Lục Giáp, Chà Và, rộng 20 thước đến 14 thước, mỗi thước 105 quan; 13 thước đến 10 thước, mỗi thước 55 quan, 9 thước đến 7 thước, mỗi thước 20 quan. Đến buôn bán ở Kinh cùng Quảng Bình, Quảng Trị, so với Gia Định, đều giảm cho 4 phần 10. Đến buôn ở Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An, đều giảm cho 3 phần 10. Đến buôn ở Bình Thuận, Bình Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Bắc Thành, đều giảm cho 2 phần 10.) Phàm các thuyền buôn nhập cảng, đều căn cứ nơi lĩnh thuyền bài để theo lệ mà đánh thuế. Nếu dám lừa dối, giả mạo lĩnh bài nơi khác để mưu giảm thuế, việc phát thì lấy số thuế giảm làm tang vật (luận tội), từ 20 lạng trở xuống xử 60 trượng, cứ mỗi chục lạng lại gia một bậc; lại chiếu số tang mà thu gấp đôi. Nếu tang đến 250 lạng trở lên, cũng chỉ xử 100 trượng và đồ 3 năm (hết mức tội). Thuyền và của trong thuyền thì sung công. Lấy 3 phần 10 thưởng cho người cáo giác.
      Vua lại thấy ba lễ thượng tiến và lễ quan cai tàu, trước đến nay đều tùy theo xứ sở thuyền buôn mà tính nhiều ít không đều, chưa được hoạch nhất, bèn chuẩn định rằng phàm tiền bạc đánh vào thuyền hộ gọi chung là thuế cảng và lễ, cứ khi mãn kỳ thì quan sở tại gộp kê tổng số tiền chia ra thuế cảng và các lễ (Lấy tổng số chia làm 100 phần, 78 phần làm thuế cảng, 22 phần làm lễ, tiến dâng vua 5 phần, cung Từ Thọ 4 phần, điện Thanh Hòa 3 phần, quan cai tàu 10 phần.)
      Lấy Nguyễn Văn Mưu làm Hàn lâm viện Biên tu sung chức Hành tẩu Văn thư phòng, Lê Công Tường làm Kiểm thảo, Vũ Doãn Triều, Đặng Như Tâm làm Điển bạ, Trần Tử Tuấn, Trần Đình Đạt làm Đãi chiếu. Bọn Mưu khởi thân là thường dân, Hứa Đức Đệ khen là viết tốt, vua sai Nguyễn Hữu Thận cho thi phép viết, rồi chia định thứ bậc mà dùng.
      Vua vời hỏi Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới năm nay án xử tử còn lưu lại bao nhiêu. Giới đáp: «Mỗi năm đến cuối mùa đông, các án hình phần nhiều chưa xử quyết hết. Gần đây có chí nói rằng ngày đông chí không được giết tù, cho nên trước ngày đông chí đều xử quyết hết, chỉ còn hoãn quyết 60 án mà thôi». Vua nói: «Trẫm tuổi trẻ nối nghiệp, gắng giỏi tinh thần để mưu trị nước, phàm việc gì cũng không muốn để bê trễ. Nhưng thường tình người ta hay hăng hái lúc đầu, chưa biết ngày sau có được như thế này hay không?» Nhân dụ bộ Hình rằng từ nay về sau các địa phương xét xử án tử hình phải tâu ngay để xử định, không được chậm trễ.
      Làm ngọc phả. Sai Tôn Thất Dịch và Phạm Đăng Hưng sung chức Giám tu. Vua dụ rằng: «Từ xưa sự hòa mục trong gia tộc có ảnh hưởng đến sự thịnh trị của nước. Thái tổ ta khi mới gây dựng, tỏ đức dày đối với thân thuộc, xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. Hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, bắt đầu dựng phủ Tôn nhân, giữ việc phả hệ để lại muôn đời. Trẫm vâng nối nghiệp lớn, rất lưu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm ngọc phả nên xét kỹ, thế thứ trong sách vở cũ, liệt kê đầy đủ dâng trình, đợi chỉ xử định». Lại dụ cho quân dân trong ngoài, nếu không phải tôn thất thì không được mạo dùng chữ Nguyễn Phúc, làm trái thì có tội.
      Bàn đặt Sử cục. Trước đây sai bộ Lại tâu rõ từng điều về quan chức Sử cục, đã lâu chưa dâng lên, vua dụ rằng: «Chức chưởng của Sử quán nên có điển cũ mà xét. Sang năm làm sử, việc đặt sử quán không thể hoãn được». Phạm Đăng Hưng xin sai đình thần bàn kỹ. Vua nghe theo.
      Hạ lệnh cho thổ ty Tuyên Quang là Tuyên úy đồng tri Nguyễn Thế Nga tạm sai Chánh thuộc hiệu Ma Doãn Thước cai quản thổ binh hiệu Hùng nhất đóng giữ bảo Tụ Long thu thuế đồng nhất thiết theo lệ trước.
      Triệu Hiệp trấn Lạng Sơn là Nguyễn Thận Ngôn về Kinh: lấy Hiệp trấn Sơn Tây là Ngô Huy Viên làm Hiệp trấn Lạng Sơn. 
      Lấy Hàn lâm viện Trực giảng là Lê Đường Canh làm Thiêm sự Binh bộ.
      Chuẩn định rằng lính mộ ở ba vệ Trung, Tiền, Hậu dinh Tiền phong quân Thị nội có thiếu thì cho lấy khinh phu và mộ người lậu sổ ở các dinh trấn sung vào, lính giản hai vệ Tả, Hữu có thiếu (binh hai vệ này quân ở Bình Định) mà dân sở tại xiêu tán, thì cho lấy các đội Tân sai quán ở các dinh trấn mà sung vào, cốt sao cho đủ số mỗi vệ 500 người.
      Tháng 12, mồng 1, ban lịch Hiệp kỷ sang năm. Trước đây bộ Lễ tâu nói: «Ban bảo chính sóc là việc chính trị lớn của vương giả kính trời chăm dân. Xin lấy ngày mồng một tháng này đặt đại triều ở điện Thái Hòa để truyền chỉ ban lịch, theo như phép cũ». Vua y theo.
      Làm sách Khâm định vạn niên thư.
      Thổ phỉ ở Sơn Tây là Trần Lê Quyền ngụy xưng hoàng thúc nhà Lê, tụ đảng ở Lâm Thao mưu khởi loạn. Thành thần mật sai quản cơ Tả quân là Lê Công Chiếu đem quân tìm bắt được Lê Quyền và bè đảng mười mấy người. Việc tâu lên. Thưởng cho quân sĩ 200 quan tiền.
      Bộ Binh dâng sớ tâu: «Khoảng mùa hạ mùa thu, khí trời không được điều hòa. Hoàng thượng ta xét thấu ẩn tình dân, hoãn việc bắt lính thiếu. Nay lệ khí đã yên, xin lệ đòi điền cho đủ ngạch binh».
      Vua dụ rằng: «Dân đau ốm mới khỏi, người đi lánh nạn chưa trở về hết, nếu vội vã bắt lính, há chẳng nhiễu dân sao». Không cho.
      Bình Thuận gió bão.
      Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân rằng: «Kinh sư là nơi thanh danh văn vật, phong hóa bắt đầu từ đây. Trước kia từ loạn Tây Sơn, quân dân tập nhiễm thói xấu, không biết nhún nhường. Nay phải lấy lễ phép mà dạy bảo. Khi có xe kiệu nhà vua đi thì phải nghiêm lặng tránh xa, không được xông xáo; hoặc thấy xe lọng các quan trưởng, thì đương ngồi phải đứng dậy, đương đi phải tránh lối, để tỏ giáo hóa tôn vua kính trên mà làm gương cho thiên hạ.
      Xuống chiếu mở khoa thi Hương và thi Hội. Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ thánh nhân ban ân trạch, không việc gì lớn bằng sự gây dựng nhân tài, vương giả suy ơn, tất phải trọng việc tuyển sĩ tử, cho nên không câu nệ ở lệ thường, chỉ quý chọn được chân tài. Lớn thay nhà nước ta, chính trị giáo hóa tốt đẹp, phong khí học nho chấn hưng. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mở khoa thi kén sĩ tử, ấn định các năm mão dậu thì thi Hương, gần đây đã đủ lệ thường. Trẫm noi theo nghiệp lớn, mở mang trăm việc, quan dân trong ngoài, ai cũng thấm nhuần ơn trạch. Nay muốn rộng ban ân điển cho khắp làng nho, mong được nhiều sĩ tử kéo đến, vang lừng như sấm như gió, quả mùa thu hoa mùa xuân đều hái được, vàng tốt phương nam, tên thẳng phương đông đều thu được, để làm rộng sáng sự nghiệp chuộng văn của Hoàng khảo ta, nên có dịp may tuyển nhân tài ngày nay. Vậy đặc biệt cho mở ân khoa, mùa thu năm Tân tỵ thi Hương, mùa xuân năm Nhâm ngọ thi Hội. Sĩ tử các ngươi đều phải trong sạch mà thừa hưởng phúc tốt này, chăm chỉ học hành, trong hoa hòe mà rảo đến trường thi, nhìn sóng đào mà tranh tiến lên trước, để đáp lại cái ý muốn cất nhắc nhân tài của trẫm».
      Chuẩn định rằng các địa phương từ nay có được ban phát chiếu thư, tiếp lĩnh yết thị, đều phải theo ghi chú do bộ Lễ gửi cho làm phép thường mãi. (Phàm tiếp trung sứ mang chiếu thư đến, quan địa phương trước phải bái vọng ở lỵ sở mình. Rồi xem trong tờ chiếu, có việc quan trọng cần tuyên bố cho mọi người nghe biết, thì lập tức đem văn võ thuộc quyền đều mặc phẩm phục, và sai binh lính sắp sẵn nghi trượng, long đình, tàn lọng, để sớm hôm sau đều họp đón rước chiếu thư ở hành cung, làm lễ bái tạ. Lễ xong, phụng mệnh dán treo lên và tùy việc sao gửi đi.)
      Sai Thị thư Lê Vạn Công cưỡi ngựa trạm đi các địa phượng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, xét hỏi tình hình đau khổ của dân gian.
      Ngày Quý tỵ, yết lăng Thiên Thụ, thưởng cho từ cung tần tiên triều trở xuống đến nô lệ phục dịch ở điện Minh Thành 100 quan tiền. Từ sau lấy làm thường lệ. 
      Bọn Trần Thiên Tải, Bùi Đức Minh vào yết kiến.
      Vua hỏi về giá gạo, nhân bảo thị thần rằng: «Trẫm từ khi lên nối ngôi đến nay, vẫn để ý đến cùng dân, giảm tha thuế má, phát chẩn cho vay đã nhiều, không biết ơn ấy có đến nơi không?»
      Phạm Đăng Hưng tâu rằng: «Ơn rộng đã thấm khắp, dân được dần dần tỉnh lại và sinh thêm».
      Vua nói: «Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc(1) lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được». 
 
(1) Quan: góa vợ; quả: góa chồng; : mồ coi; độc: người sống một mình không có vợ con để nhờ cậy.
 
      Bàn lễ tiến tôn(1). Bầy tôi lại dâng biểu nói: «Trước khi dâng biểu tiến tôn, kính vâng tuyên bảo lời từ dụ, ngửa trông được thấy đức khiêm tốn rất lớn. Trộm nghĩ bậc đại hiếu tôn cha mẹ là phép thường xưa nay. Cung mới đã làm xong, xa giá đức Từ cũng đã yên ở đó, bọn thần, tấm lòng nhỏ mọn, nghĩ không thôi được, nên dám lại xin». Vua lấy biểu tâu lên cung Từ Thọ, được từ chỉ y theo. Bèn dụ cho bầy tôi bàn sang năm làm lễ tiến tôn. Sắc cho Khâm thiên giám chọn ngày lành đúc sách vàng, ấn vàng, và chế lỗ bộ Từ giá (1 tán cán cong bằng đoạn vàng thêu chín phượng, 4 cờ long phượng, 10 cái ngô trượng, 4 cái lập trảo, 4 cái ngoạ trảo, 4 tán cán thẳng bằng đoạn vàng thêu hoa bảo tướng, 2 tán cán thẳng bằng đoạn hồng thêu thụy thảo, 2 tán vuông mầu đỏ, 2 tán long phượng bằng đoạn vàng, 4 quạt loan phượng bằng đoạn vàng, 4 quạt hoa cung bằng đoạn xanh, 2 phất trần, 2 lọ hương bằng vàng, 2 hộp hương bằng vàng, 1 kiệu phượng dư, 1 kiệu đại nghi, 1 kiệu phượng liễn, 4 phướn dẫn đường mầu đỏ nhạt, 4 phướn truyền giáo, 4 phướn chữ tín, 20 thanh nghi đao, 40 cái hàm trượng, 2 cờ thanh đạo).
      Ngày Đinh dậu, tế Chạp. Sai Định Viễn công Bính, Diên Khánh công Tấn, Điện Bàn công Phổ tế thay.
      Gọi bọn Tiến sĩ triều Lê là Nguyễn Đăng Sở và Đỗ Lệnh Thiện, Sinh đồ ở Bắc Thành là Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú, sĩ nhân là Ngô Du, Đoàn Nguyên, Đỗ Huy Ngạc, Nguyễn Minh Khiêm, do bộ dẫn vào yết kiến. Lệnh Thiện và Đình Hổ vì ốm từ không đến. Đăng Sở đến Kinh, được bổ Hàn lâm viện Tu soạn. Bọn Huy Chú được bổ các chức Biên tu, Kiểm thảo, theo bậc khác nhau.
      Phó hầu mệnh Hoàng Kim Hoán từ cửa quan trở về.
      Vua lấy việc sứ kỳ chậm trễ mà quở mắng, không cho phục mệnh. Chánh hầu mệnh là Trịnh Hiến đi đường bị ốm đến sau. Vua lại quở rằng: «Trước kia ngươi theo vua Lê, trọng nghĩa không khuất, giữ tiết tháo sao mà bền bỉ thế? Nay đến cửa quan lại dùng dằng kéo dài, sao lại trái nghịch như thế?». Hiến sợ hãi tạ tội. Vua tha cho. Kim Hoán cũng được miễn tội.
      Phục chức cho Nguyễn Đức Hội làm Tri bạ thành Gia Định. (Đức Hội trước làm Hiệp trấn Hà Tiên, mắc tội, bị cách chức.)
      Phục chức cho Phan Tiến Hoàng làm Vệ úy quân Thần sách. Hoàng trước kia lấy chức Phó tướng đi trấn Quảng Ngãi, mắc tội giam ở ngục. Năm ấy gặp ân xá được miễn. Vua thương Hoàng có công lao cũ mới đặc ân cho bổng mỗi tháng 10 quan tiền và 10 phương gạo. Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, sai đi theo, đến nay mới phục chức ấy. 
 
(1) Lễ tôn phong Từ cung làm Hoàng thái hậu.
 
      Đảng giặc Chân Lạp đã dẹp hết. Sai rút binh Gia Định về. Đầu là bọn Vệ úy Lê Kim Nhượng và Trần Văn Quế đuổi đánh dư đảng của sư Kế ở Lang Sóc (tên đất), phá luôn được, giặc tan tác hết. Bọn Tham Đích Tây, Kế Luyện Na Côn lần lượt về hàng. Lê Văn Duyệt tâu xin rút binh, nhưng để Nguyễn Văn Thụy với 700 quân sĩ lưu lại bảo hộ nước Chân Lạp, đợi khi nào nước ấy tạm yên sẽ trở về Châu Đốc, kiêm giữ Hà Tiên để bớt số thú binh. Vua y cho.
      Vua nước Chân Lạp thấy quan phiên là Chiêu Chùy Tôn La Ca Đồng Phù ngang nghịch vô đạo, gửi mật thư cho Gia Định. Chợt Đồng Phù có việc đến thành, Lê Văn Duyệt bắt lấy, đem việc tâu lên.
      Vua nói: «Hắn là quan phiên, nên để vua phiên xử trị». Bèn sai đóng gông đưa giao Đồng Phù và bọn quan phản nghịch Tham Đích Tây. Dụ vua phiên rằng: «Pháp luật là chung của thiên hạ. Bọn Tham Đích Tây phản quốc theo giặc. Đồng Phù khi quân ngược dân, theo pháp luật đều phải giết. Vương nên cương quyết, xử theo nghĩa lớn, không nên nhu nhơ». Vua phiên vâng mệnh giết hết, rồi xin sắm sửa sản vật địa phương sai sứ sang tạ. Vua nghĩ nước ấy mới yên nên miễn cho, chỉ khiến biểu tạ thì do sứ cống đệ luôn.
      Lê Văn Duyệt dâng sớ nói: «Gần đây nghe tin nước Xiêm La sửa soạn binh giáp và xin quân ở nước Hồng Mao, chưa hiểu cớ gì. Thần đã thao diễn các quân để dự phòng sự bất ngờ, và sai người đi đến Ô Đỗ của Hồng Mao để dò xét động tĩnh». Vừa khen phải, bảo từ nay dọ được tình trạng gì thì làm biểu tâu lên ngay.
      Sai Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình chế cấp quần áo cho lính thú. 
      Chuẩn định từ nay phàm lính mộ thiện tiện đào ngũ thì xóa tên ở binh tịch mà ghi vào hộ tịch, để không được lánh đến nơi khác và đầu quân vào vệ đội các nha.
      Sai bộ Lễ bàn lễ tiểu tường. 
      Vua hỏi Phạm Đăng Hưng ngày hôm trước lễ tiểu tường có làm lễ cáo không. Hưng đáp: «Ngày giỗ thì có lễ cáo, ngày tiểu tường thì không. Trước kia Tiên đế cư tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng vậy».
      Vua nói: «Tiên đế chế lễ, trẫm không dám trái. Nhưng không cáo mà tế thì chưa được yên tâm. Vậy đến kỳ lễ trẫm đem con em cáo trước, miễn cho các quan theo lạy là được». Lại bảo thị thần rằng: «Trẫm xem việc cũ chép lại, thì Hiếu Nghĩa hoàng đế triều ta kính thờ Nễ miếu, mỗi lần cúng tế có đủ các thứ chim muông quý báu, lòng hiếu thờ thân rất mực. Trẫm nay tìm tòi các thứ ấy ở bốn phương, sức cũng có thể làm được, nhưng nghĩ lại làm nhọc sức người, không phải ý định của Tiên đế ta, cho nên ta không nỡ làm. Vả lại Tiên đế từng nói: Lễ tang tế của trẫm, nên tiết kiệm không nên xa xỉ, nên thương xót không nên bày vẽ. Lời nói đức ấy như ở bên tai, trẫm sao dám trái vượt?».
      Ngày Tân sửu, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiểu tường. Vua mặc tang phục tiểu tường, các hoàng tử, hoàng thân, cho đến các quan văn võ chịu tang ba năm đều mặc tang phục tiểu tường; ai tang một năm thì trừ phục.
      Lấy Ký lục Bình Thuận là Trần Thiên Tải làm Hiệp trấn Sơn Tây, Thiên Tải bệ từ. Vua dụ rằng: «Trên thể tất đức ý của vua, dưới làm cho dân khỏi đau khổ, ấy là chức trách thú mục. Nếu đem việc quan khinh suất, ủy thác cho nha lại, để họ thẳng tay làm gian bậy thì hại dân không thể nói xiết».
      Ban bạc cho bọn con cháu nhà Lê là Lẽ Duy Cáo và con cháu nhà Trịnh là Trịnh Hiệu, theo thứ bậc khác nhau. Lại cho Duy Cáo triều phục Chánh tam phẩm, rồi đều cho về.
      Định lệ lễ ở điện Minh Thành. Hằng năm gặp ngày sinh ngày kỵ cùng các tiết Trừ tịch, Nguyên đán, Đoan dương, đều tiến dâng cổ bàn, lễ phẩm, sai viên Tôn thất hộ lăng làm lễ.
      Định rõ lại điều cấm về bưu chính. Vua dụ bộ Binh rằng: «Đặt ra bưu chính là để truyền đệ việc công. Điều cấm đã định, nhưng gần đây, các nha hoặc lạm sai lại dịch, ủy riêng thân quyến; người coi trạm thì hoặc có việc riêng đi vắng, đến khi có việc vội thì thúc giục chạy mau, hoặc việc không khẩn cấp mà bắt phu trạm chạy, còn thêm đánh đập; lại có người giả mạo danh hiệu chức sắc, chẳng có bằng trát gì mà dọa nạt; cùng cai trạm thứ trạm là đặt riêng hai ba chức dịch, bắt thu trạm phải lệ thuộc, miễn trừ con em mình không phải làm phu trạm; phàm các việc như thế, không thể không định rõ điều cấm để ngăn tệ đi. Vậy ra lệnh truyền dụ nghiêm cấm».
      Chánh sứ sang nhà Thanh là Ngô Vị chết ở phủ Nam Ninh (vua Thanh hậu ban bạc lụa, đợi khi Phó sứ Trần Bá Kiên trở về sẽ cho quân họ tống).
      Vua nghe tin nói: «Vị chết vì việc nhà vua, trước dẫu có lỗi, nhưng cũng là để làm việc công, cũng nên thương xót». Sai cấp cho gia đình 30 lạng bạc. Đến khi đưa tang về, sai quan dụ tế, cho thêm 100 lạng bạc.
      Đặt thêm chức Miếu lang (trật Tòng ngũ phẩm), Miếu thừa (trật Tòng thất phẩm). Vua bảo bộ Lễ rằng: «Vương giả kính thờ Tôn Miếu, chức quan coi việc thờ cúng không thể không đặt đủ. Vậy đặt thêm 2 miếu lang và 4 miếu thừa, lấy người tôn thất để bổ».
      Sai Tôn Thất Dịch chọn con em trong tôn thất từ ba đời trở xuống, người nào thông minh cho vào nhà Thái học.
      Định lệ thuế nạp trầm hương (mỗi người hằng năm nộp 1 cân trầm hương) cho thôn Chi Quan (thuộc huyện Kỳ Hoa) và hai đội Phan Long, Quần Cát (thuộc huyện Thạch Hà) trấn Nghệ An.
      Đắp ba đoạn đê mới ở Sơn Nam hạ thuộc Bắc Thành, (một đoạn tại hai xã Kim Lũ và Tiên Liệt huyện Mỹ Lộc, một đoạn tại hai xã Trà Lý và Lương Phú huyện Chân Định, một đoạn tại xã Sơ Lâm và Hàn Lâm huyện Thượng Nguyên).
      Gọi binh hai vệ Thần uy, Chấn uy ở các dinh trấn Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, đều đến mùa xuân sang năm họp tất đội ngũ ở Kinh.
      Nạn dịch ở Bắc Thành đã lui, thành thần tâu lên. Vua mừng phê rằng: «Hạt ngươi bị nạn dịch ở sau các cõi trong nước, nay dịch lui, thế là toàn hảo».
      Năm nay bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.
      Sai Thống chế Nguyễn Viết Bảo, Thượng thư Trịnh Hoài Đức, thự Tham tri Nguyễn Văn Hưng, Thừa chỉ Trần Công Tuân sung làm công việc đóng hòm ấn cuối năm.
      Cho dòng dõi công thần quốc sơ là Nguyễn Phúc Kiều làm họ Nguyễn Cửu.
      Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Kim Phương chết.
      Bàn lễ Nguyên đán. Bầy tôi dâng sớ nói: «Từ Càn học nhà Thanh dẫn lời Trình tử(1) nói rằng: «Cổ nhân để tang, trăm việc đều theo đúng lễ, dù bỏ tế cũng có thể được; nhưng người đời nay trăm việc như thường thì sao lại chỉ bỏ tế?». Lời nói ấy phải làm sao! Nhưng theo phong tục mà trái với cổ nhân thì lòng người cũng không yên. Trương tử(2) có nói: «Tang ba năm thì một năm có thể tế được; tang một năm thì khi đã táng rồi có thể tế được; tang ba tháng, năm tháng hay chín tháng, thì qua một tháng có thể tế được. Đó là chiếu theo tình mà so với lễ, thế mới vừa phải. Cúi thấy Hoàng thượng cư tang nay đã lễ tiểu tường rồi thì có thể tế được. Trộm nghĩ Nguyên đán là một trong ba tết lớn, theo điển lễ quốc triều ngày tết ấy có lễ chầu các miếu, thật là hết ý tôn kính tổ công, các đời giữ phép sẵn ấy đến 300 năm. Bọn thần trộm nghĩ ngày Chính đán sang năm, rước Hoàng thượng thân yết Thái miếu, các quan bồi tế như nghi. Lễ xong, Hoàng thượng ngự điện Cần Chính, đổi mặt áo thường, các quan vẫn mặc triều phục, kính cẩn đợi ở sân điện Thái Hòa. Do quan bộ Lễ tâu xin, vâng chỉ miễn triều phục, gọi vào triều kiến. Sau đó thì ngày thường Hoàng thượng mặc áo trắng ngự ở Tiện điện mà thính chính để trọn số tháng cư tang. Như thế ngõ hầu cổ điển và quốc lễ châm chước nhau được thích nghi, đạo làm con, lòng làm tôi, trên dưới đều được thỏa cả». Vua y theo.
      Bộ Hộ tâu dâng sách hội kê đinh điền tiền gạo vàng bạc năm nay: số đinh hơn 620.240 người; ruộng 3.076.300 mẫu, và hơn 26.750 khoảnh; tiền hơn 1.925.920 quan; thóc hơn 2.266.650 hộc; vàng hơn 580 lạng; bạc hơn 12.040 lạng. 
      Bộ Binh tâu dâng nhân số năm nay về binh ngạch, quan lại trong ngoài, các sắc binh tượng cùng các hạng binh tính, biệt nạp, tạp lưu, gồm hơn 204.220 người có lẻ.
(1) Trình tử: tức Trình Y Xuyên, danh nho đời Tống ở Trung Quốc.
(2) Trương tử: tức Trương Hoành Cừ, danh nho đời Tống.
 




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VII
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) (Thanh Đạo Quang năm thứ 1), mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý sửu, mồng 1. Vua mới đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tế Thái miếu. Miễn lễ triều hạ cho các quan. (Biểu mừng do Văn thư phòng dâng lên. Hai tết Vạn thọ và Đoan dương cũng thế.) Rồi đổi áo thường, ngự điện Cần Chính, các quan chiêm bái. Ban cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau.
      Ngày Giáp dần, dâng lễ lớn ở điện Hoàng Nhân.
      Làm vườn ngự (ở phía đông trong kinh thành). Có kẻ làm thư nặc danh nói gièm pha. Vua bảo thị thần rằng: «Làm vườn ngự là nhân cũ sửa lại cho mới chứ không phải dựng mới». Bèn bãi việc cung dịch cho các quân, chỉ lưu lại quân các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực để hoàn thành. Lại dựng hai đền Thành hoàng và Thổ kỳ trong vườn ngự, ban tặng cho. Sắc rằng hằng năm tế vào hai tháng cuối xuân thu.
      Định lệ treo đèn và răn cấm trong khi khánh tiết. Hằng năm ngày 15 tháng giêng là tiết Thiên thụ, ngày 27 tháng 11 là tiết Thánh thọ. Những đêm ấy ở kinh thành và ở lỵ sở các thành trấn, nhà các quan và nhân dân đều treo đèn ở trên cổng ngõ. Ngày hôm trước và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ngày 23 tháng 4 là tết Vạn thọ. Trước ba ngày và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ban đêm đều phải treo đèn.
      Gọi hơn 3.300 biền binh ở các hạt Bắc Thành, Thanh, Nghệ và Thanh Bình về Kinh.
      Ngày Kỷ mùi, khai ấn. Xuống chiếu dụ quan dân trong ngoài rằng: «Trẫm nghe sách Chu Lễ nói tháng giêng ban bố phát lệnh ở lúc bắt đầu hòa ấm. Theo quẻ Tốn (Kinh Dịch) thì trước ngày Canh ra mệnh lệnh để làm việc. Vì đạo trời sinh hóa mãi không ngừng, Trinh hết vận rồi trở lại Nguyên. Kẻ làm vua gắng gỏi không quên, cẩn thận lúc cuối cùng, mưu toan từ khởi thủy. Cho nên thiên «Đế mô»(1) thuật ý răn dạy của trời,
(1) Đế mô: thiên trong Kinh thư, tức là «Đại vũ mô».
từ việc chớm phát đến việc đã thành, mà thiên «Cơ phạm»(1) tỏ bày lời nói trị đời, đều là phép thường, đều là giáo huấn. Lớn lao thay đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta! Gây dựng nghiệp lớn, để lại đời sau. Chính lệnh ra là thi hành, lời nói là phép là tắc; giáo hóa thành lâu từ trước, dân cho là phải mà theo. Trẫm nối cơ nghiệp lớn này, xem hiến chương đã sẵn. Sớm hôm lo lắng, một lòng kính cẩn từ lúc đầu; giường mối mở mang, trăm việc làm cho đến chốn. Nhìn cảnh tượng hanh thông của trời đất; chính là lúc nhàn hạ của nhà nước. Vua là chủ, tôi thì làm, gian lao cho mọi việc đều tốt; dân đồng bào, vật cùng sống, trời đất che chở không sót đâu. Nghĩ sao đến được công hiệu trung hòa vị dục; giữ đúng được chuẩn đích chính trực thẳng bình. Nối chí theo việc là hiếu, đương thận trọng chọn ngày mưu đồ; bố đức ban lệnh mùa xuân, nên bày lời để làm giáo huấn. Đại thần thân huân, danh vọng ở bậc di phụ(2), mong cùng nhau một lòng tu đức để cùng hưởng tôn vinh; trong ngoài trăm quan, xét công tự có thường quy, nên cố gắng thận trọng chức ty để cùng vui công trạng kinh dinh trăm trận, các quân vốn đã huấn luyện, thuật tất phải tinh; sức tất phải mạnh, uy thanh vang như sấm sét, rộng như Hán Giang; nuôi dạy lâu năm, kẻ sĩ đều đã thành công, hạnh tất càng gắng, học tất càng chăm, thực dụng vững như rui xà, chắc như rường cột. Xa gần cùng lối, đạo lý một mà phong tục như nhau, cày ruộng chăn tằm, trồng cây nuôi súc, đều muốn cho được thỏa đời, đất không bỏ hoang; dân không du đãng, đều xu về đức hóa vui sống thuận hòa; phú dữ tính thường, chẳng cần nhủ từng nhà bảo từng hộ, lớn nhỏ trai gái, bạn bè cha con, đều muốn cho được đúng đạo, không trò dâm dật, không thói a dua, đều vui theo phong tục lễ nhượng liêm sỉ. Như thế là để tỏ công bình định hai chục năm, để lên cõi thái hòa thiên vạn thế... Ôi! Thể theo trời đất đủ bốn mùa bốn đức, khéo hợp với then máy mở đóng cửa càn khôn; làm cho thiên hạ thành một nhà, một người, mong được thấy đức hóa lan khắp như sấm gió. Các tước công, đại thần cùng quan quân sĩ dân đều lo cố gắng, để đón lấy phúc lớn, cùng nhau chung hưởng thanh bình».
      Ngày Canh thân, tế Xuân hưởng. Vua đến Thái miếu hành lễ. Từ đấy lễ miếu hưởng vua đều thân làm.
      Tham tri Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông và Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền bệ từ để trở về lỵ sở. Vua vời hỏi Thông rằng: «Việc ở Bắc Thành chỉ có Phó tổng trấn và bọn ngươi xét đoán giải quyết hay là có cả Hiệp trấn và Tham hiệp dự bàn?» Thông đáp: «Việc nhỏ thì Phó tổng trấn và bọn thần bàn bạc, còn như việc lớn thì võ từ Thống quản thập cơ, văn từ Thiêm sự trở lên, cùng các Hiệp trấn, Tham hiệp mà có việc ở thành đều hội bàn cả».
      Vua nói: «Ở Bắc Thành văn án rất nhiều, ngươi nên siêng năng xét xử, đừng để đọng lại». Lại hỏi Quyền về việc ở trấn. Quyền đáp: «Từ khi thú binh Hổ oai rút về thì hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn giặc cướp lại nổi».
(1) Cơ phạm: tức thiên Hồng phạm của Cơ tử.
(2) Di phụ: do tiên đế để lại để giúp đỡ vua.
      Vua nói: «Khi Hoàng khảo mới thăng hà, sai binh chia đóng thú các nơi để phòng việc bất ngờ. Như việc đã định thì thôi, chứ có lệ đóng thú đâu. Ngươi về bảo Án trấn Trương Phúc Đặng phải huấn luyện quân lính gia tâm giữ yên, chớ để sau thành cướp to mà phải động đến binh Kinh, trẫm tuy không bắt tội, nhưng riêng lòng há không tự biết xấu hổ sao? Vả lại, trấn mục là chức vụ thân dân, yêu ghét có công bằng, thì khi dân có đau khổ mới dám đến kêu. Trước kia trẫm sai Thị thư Lê Vạn Công đi dò hỏi dân tình, đều nói thường khổ về sự sách nhiễu, nên có cướp mà không dám kêu. Giữ chức chăn dân mà để dân đến thế thì sao gọi là cha mẹ dân được».
      Biên Hòa lụt, dân đói. Sai xuất tiền gạo phát chẩn.
      Đúc súng đại bác Uy phúc. Trước là quân Thị trung đào được vạn cân đồng đem dâng. Vua sai đúc ba khẩu đại bác, đều đặt tên là «Bảo quốc an dân đại tướng quân», thân chế bài minh khắc vào súng để ghi. Một khẩu bài minh rằng: «Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phúc, để bảo đời sau: Phúc đến có điềm hay, tiếng oai quét yêu quái, truyền con cháu ta, văn võ đều giỏi». Khẩu thứ hai bài minh rằng: «Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phúc, để bảo đời sau: Phúc lan khắp trong nước, uy dậy cả bốn phương, ức muôn năm ấy, phát mãi điềm lành ». Khẩu thứ ba bài minh rằng: «Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phúc, để bảo đời sau: Uy để chống giặc, phúc ứng điềm lành, văn võ đều dùng, thọ khảo mãi mãi ».
      Ngày Nhâm tuất, duyệt binh. (Sáng sớm ngày ấy biền binh các dinh thuộc các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đều họp cả ở trước điện Càn Nguyên. Sai Thị thư viện 5 người và sáu bộ mỗi bộ 3 người, hiệp với bộ Binh xét điểm.) Vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy.
      Lê Công Tồn trước lấy chân Hàn lâm viện ra Tri phủ Hà Trung, giả thác có bệnh xin về hưu, đến nay lại xin vào Hàn lâm. Vua nói: «Hôm trước thác bệnh để tránh tội, nay lại bắt chước Mao Toại tự tiến mình, rất đáng khinh bỉ». Không cho.
      Định thêm số viên dịch ở sáu bộ. Đầu đời Gia Long, mỗi bộ đặt một Thượng thư, 2 Tham tri, 4 Thiêm sự. Đến nay mỗi bộ đều đặt thêm 4 Lang trung, trật Chánh ngũ phẩm, 4 Chủ sự, trật Chánh lục phẩm, 4 Tư vụ, trật Chánh thất phẩm, và thư lại bát cửu phẩm đều 8 người, bộ Lại bộ Binh 70 thư lại vị nhập lưu(1), bộ Hộ 100 người, bộ Lễ bộ Công đều 50 người, bộ Hình 60 người. Sai các bộ trưởng cử những người Tri huyện thâm niên cùng các Hành tẩu, Hương cống, và các Ty lệnh sử thuộc bộ, có thể làm được việc thì sung bổ các chức ấy.
      Sai thủy quân diễn tập chèo thuyền. Thưởng cho 500 quan tiền. Sau theo đó làm lệ.
      Sai vệ Tả nhất quân Thị trung hầu ở cung Từ Thọ.
(1) Vị nhập lưu: chưa được vào ngạch.
 
      Lấy Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận kiêm quản Nội vụ phủ, Hữu Tham tri Công bộ kiêm quản Vũ Khố là Nguyễn Khoa Minh lại giữ việc bộ, Cần Chính điện học sĩ Lê Đại Nghĩa thự Tham tri Binh bộ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Nguyễn Đăng Tuân thự chức Thượng bảo khanh, Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh làm Thượng bảo Thiếu khanh, quản lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng.
      Sai Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới nghỉ việc bộ để chuyên việc dạy bảo. Dụ rằng: «Hoàng tử và hoàng đệ tuổi còn thơ ấu, đang mê chơi đùa. Bọn thuộc hạ trong phủ phần nhiều lại đón chiều thói xấu, ngươi phải nghiêm cấm, đừng để cho bọn chúng dỗ dành, ngõ hầu có thể thành tựu được».
      Đến ngày khai giảng vào bái, vua dụ các hoàng tử, hoàng đệ rằng: «Nay đã đặt chức sư bảo, các ngươi đều phải chăm chỉ học tập, ngày tháng tiến tới dần lên, cho thành đức nghiệp, nếu không được thế sẽ phải quở mắng». Giới nhân tâu nói: «Thần bất tài mà được dự ngôi tây tịch(1), xin ban giáo hình(2) cho thần». Vua bèn trao cho cái roi.
      Vua từng bảo bầy tôi rằng: «Người ta không phải là thánh hiền thì có thế nào không dạy mà giỏi được. Trẫm muốn chọn mấy người lão thành cùng ở với các hoàng tử để dạy bảo cho từng điều, như ra vào triều yết phải có lễ phép, tiếp kiến đại thần phải có lễ độ, thì sau mới có thể thành đức được. Nhưng chọn được người rất khó».
      Chọn những con em tuổi nhỏ tuấn tú trong tôn thất là bọn Tôn Thất Chào 60 người vào nhà Thái học đọc sách, cấp cho lương tháng và ban cho áo mũ. (Mũ tứ phương bình đính đều một cỗ, áo sa hoa màu bảo lam trong lót vải trắng, kiểu tràng vạt, một chiếc xiêm bằng trừu màu lam một bức, đai đỏ và hia tất đủ bộ.)
      Dụ rằng: «Đặt ra học hiệu đề giáo dục nhân tài. Tuy thường dân mà tuấn tú trẫm còn muốn gây dựng huống chi là bọn ngươi. Bọn ngươi là dòng dõi nhà vua, trẫm đã cấp lương, lại cho áo mũ, ban ân đã hơn người rồi. Đều phải dùi mài cố gắng học cho thành tài để khi dùng đến, cho phụ ý thiết tha của trẫm đối với họ hàng». Lại phát bút mực giấy trong kho ra cấp cho.
      Định lệ tiến gạo lên cung Từ Thọ, hằng tháng đều 10 phương gạo trắng, 60 phương gạo lương, do hộ vệ dâng lên. Bộ Hộ lại đem lệ dâng tiền tâu xin. Vua hỏi lệ cũ tiền tiến lên cung Từ Thọ một năm bao nhiêu. Bộ Hộ đáp là một vạn quan. Vua nói: «Như thế thì lấy gì để ban thưởng cho đủ?» Đáp rằng: «Lại có số tiền thóc về thuế ruộng và trại cũng có thừa». Vua nói Hiếu Khang hoàng hậu trước kia ở Gia Định đã có của để dành, sau khi đại định lại có của tiến dâng, vì thế thừa thãi. Nay phụng sự Từ cung, tự xét không được như thế. Trẫm lấy thiên hạ để phụng dưỡng, kho tàng đâu là chẳng có, để riêng mà làm gì». Vẫn định lệ mỗi năm tiến một vạn quan.
(1) Tây tịch: chỗ ngồi của thầy dạy các hoàng tử ở trong phủ, ngồi phía tây, hướng về phía đông.
(2) Giáo hình: thứ hình cụ của thầy dạy học, tức là cái roi.
      Giám thành phố sứ là Đỗ Phúc Thịnh đem địa đồ núi sông Quảng Đức tiến lên (từ sông Lương Điền đến giữa đèo Hải Vân quan dài 24.000 trượng, thành 170 dặm); từ cửa biển Thuận An đến dầu núi ở đất mọi Đê 1 vạn trượng, thành hơn 74 dặm 10 trượng).
      Vua xem bản đồ, nhân bàn đến địa thế thành trấn Nghệ An, nói rằng: «Khi trước tiên đế từng muốn dựng đô ở đấy». Nguyễn Văn Nhân tâu rằng: «Đấy không phải là đất đóng đô, nên chọn trọng thần để trấn».
      Vua nói: «Phải. Phú Xuân là khoảng giữa trong nước, đế vương đóng đô không đâu hơn đấy. Còn các thành trấn chỉ nên làm hành tại để tiện khi đi tuần thăm các địa phương và xem xét phong tục mà thôi».
      Lấy Tôn Thất Phụng, Tổn Thất Hựu làm Miếu lang, Tôn Thất Tiến, Tôn Thất Thọ làm Miếu thừa, phụng giữ việc thờ cúng các miếu. 
      Diễn tập trận voi. Vua ngự điện Càn Nguyên để xem.
      Người thuộc hạ ở phủ Diên Khánh công Tấn tranh nhau thầu thuế cửa quan bến đò với người ta. Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân không cho. (Diên Khánh) công gọi Bá Nhân đến trách mắng. Bá Nhân đem việc tâu lên. Vua nói: «Cửa quan bến đò là thuế của nước, Diên Khánh công sao lại được như vậy? Mà chức của ngươi là chức Kinh doãn, phải không sợ kẻ quyền quý, sao lại nghe gọi là đến ngay mà chịu nhục». Bá Nhân cúi đầu tạ tội.
      Cấp phẩm phục cho các quan văn võ tứ phẩm trở lên. Sắc từ nay, phàm gặp lễ đại triều mà vô cớ không vào chầu thì xử tội theo luật.
      Dựng hành cung ở Thanh Bình. Lính và thợ ứng dịch được cấp tiền gạo hai tháng. Trấn thần xin sai dân các huyện chia nhau đi lấy gỗ. Vua không muốn làm nhọc sức dân, sai quan tăng giá mà mua. 
      Sơn Tây bắt được giặc trốn là Nguyễn Danh Chí ngụy xưng Tả Hà đại tướng quân, đem giết. 
      Nguyên miếu làm xong. Vua muốn truy tôn huy hiệu Trừng quốc công, sai bầy tôi bàn. Bọn Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm cho rằng lễ chưa đời nào đủ bằng nhà Chu. Chu công giúp nên đức của vua Văn, vua Võ, truy phong vương tước cho Thái vương, Vương Quý, và lấy lễ thiên tử thờ cúng Tiên công. Còn từ Tổ Cam trở lên đến Hậu Tắc thì chỉ gọi là Tiên công mà thôi, chưa từng tôn phong. Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất trời nam, truy phong đế hiệu cho Triệu tổ và Thái tổ(1), cả đến liệt thánh, bèn nhân nơi nền cũ ở Quý hương dựng lên Nguyên miếu, chính miếu thờ Triệu tổ và Thái tổ, tả miếu thờ Trừng quốc công và phối thờ Lỵ nhân công, chưa từng truy tôn thụy hiệu. Đấy cũng là cùng một đường lối như nhà Chu thờ Tiên công. Xin vẫn theo hiệu cũ mà thờ cúng. Vua cho là phải. 
(1) Triệu tổ là Nguyễn Kim; Thái tổ là Nguyễn Hoàng.
      Ngày Kỷ mão, vua ra cửa biển Thuận An xem đài Hải Trấn. Ngày hôm sau trở về.
      Lại hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Dụ Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt rằng: «Việc sông ấy năm ngoái có chỉ tạm đình để năm nay lại đào tiếp. Duy nghĩ sông tuy chưa đào xong, đường nước cũng đã thông được thuyền bè, huống chi dịch lệ mới yên, chính là lúc phải để cho dân nghỉ ngơi, sao nên vội bắt dân vất vả? Khanh nên tuyên cáo ý ấy cho dân đều biết».
      Tháng 2 ngày Nhâm ngọ, mồng 1, có nhật thực.
      Cai bạ Quảng Nam Nguyễn Kim Trung vào yết kiến. Vua hỏi việc làm ruộng. Trung đáp: «Tháng sau mà không mưa thì sợ hại việc nông». Vua buồn rầu nói: «Năm ngoái ân xá trong ngoài không đâu là không nhờ ơn. Còn nghĩ Quảng Nam mất mùa, một năm hai lần bán thóc ra, lo lắng cho dân không phải là không chu đáo. Nay đương mùa làm ruộng mà trời lại ít mưa, sao riêng khổ cho dân miền ấy để trẫm ngày đêm lo phiền». Liền sai trung sứ chia đi các dinh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi để thăm dò lúa ruộng thế nào về tâu.
      Sai Chánh giám sơn lăng sứ là Tôn Thất Đạo quản các vệ Hộ lăng, vệ binh thì cấp cho mỗi người một bộ áo quần.
      Sai thủy quân lên núi lấy gỗ. Sắc cho các thợ rèn xem đồ dùng có sứt hỏng thì chữa lại. Từ đấy các sở công dịch xem đấy làm lệ.
      Ngày Tân mão, lễ Trời Đất ở đàn Nam Giao.
      Phục chức cho Trần Công Lại làm Vệ úy quân Thần sách, thự Trấn thủ Vĩnh Thanh. Trước Lại làm Đô thống chế trấn Thanh Hoa, có tội, gặp ân xá được miễn, theo Lê Văn Duyệt đi Gia Định. Duyệt xin hộ nên có mệnh này. Khi Lại bị tội, chưa nộp tờ chiều về chức Đô thống chế, nay mới sai thu hồi. Nhân đấy, sắc cho bộ Hình từ nay quan lại có tội mà đáng xét hỏi thì trước phải cách chức và thu bằng sắc để nghiêm phép nước. 
      Quan Bắc Thành tâu nói: « Trong hạt thành giá bạc cao, người thu thuế cửa quan và bến đò xin nộp bạc và tiền mỗi thứ một nửa (lệ phải nộp toàn bạc), và lấy tiền kẽm nộp thay».
      Vua nói: «Nếu có thể triệt trên mà lợi dưới thì tiếc gì». Rồi sau dâng các hạt Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Yên Quảng cũng nhân giá bạc cao, xin nộp thuế bằng toàn tiền (thuế ruộng, theo lệ nộp nửa bạc, nửa tiền). Vua đều y cho.
      Miễn thuế năm nay cho các đầm bỏ hoang ở Bình Thuận, Bình Hòa. Ra lệnh cho quan hai trấn ấy gia tâm chiêu tập đấu giá như lệ.
      Cho gọi sông An Cựu là sông Lợi Nông. Vua xem bản đồ Kinh thành, bảo thị thần rằng: «Tiên đế khai con sông này là lợi muôn đời cho nông dân». Bèn đặt tên là sông Lợi Nông. Sai dựng kệ đá ở trên dưới cửa sông để ghi nhớ. Lại gọi con sông ở bốn mặt thành là sông Hộ Thành, và đổi gọi cầu Bạch Yến là cầu Kim Long.
      Lấy Ký lục Vĩnh Thanh là Nguyễn Hựu Nghi làm thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào thành Gia Định, Hữu Tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân lĩnh hai tào Binh Công, Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Xuân Thục chuyên lĩnh Hộ tào, thiêm sự Hộ bộ là Vũ Văn Điềm biện lý Hộ tào, Tham luận quân Thần sách là Trịnh Văn Phượng làm Thiêm sự Binh bộ biện lý Binh tào, Tri bạ Gia Định là Nguyễn Đức Hợi làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào, thư ký Bình Định là Phạm Phúc Thiệu làm Lang trung Công bộ biện lý Công tào.
      Lấy Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn Thái Nguyên. 
      Tham hiệp Thanh Bình là Trần Văn Phú chết. Lấy tri phủ Diễn Châu là Lương Vân làm Tham hiệp Thanh Bình. 
      Sai Hàn lâm Thừa chỉ Trần Công Tuân tham lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng. 
      Bình Hòa bị hạn lâu, trấn thần không báo. Đến khi đảo được mưa đem việc tâu lên.
      Vua quở rằng: «Bọn ngươi là chức tuần tuyên, khi gặp hạn dữ thì đáng phải kíp làm sớ tâu ngay và hết lòng thành cầu đảo, ngõ hầu sớm được mưa rào, lúa bị hạn có thể cứu được, sao lại mấy tháng không mưa mà cứ dùng dằng chọn ngày, đảo vũ được mưa rồi mới tâu lên? Thế là bọn người không gấp lo việc dân, trách nhiệm chăn dân ở đâu? Nay hãy tha tội cho, sau đừng thế nữa».
      Bỏ tên Nguyễn Xuân Hải trong sổ hương cống. Xuân Hải người xã Đông Ngạc trấn Sơn Tây, khoa Kỷ mão khai mạo vào sổ Quảng Nam, đỗ Hương cống. Bầy tôi bàn bổ Tri huyện Diên Khánh. Hàn lâm Biên tu là Hoàng Quýnh phát giác việc ấy mà tâu hặc. Vua giao xuống cho bộ Hình bàn. Bộ thần bàn xin cho hai người được miễn tội.
      Vua nói: «Việc kiện tất có người trái người phải, tha cả hai bên có được không?» Hạ lệnh cho bầy tôi bàn lại. Đều cho là Hải dối vua bất trung, quên cha mẹ là bất hiếu, xin bỏ tên không dùng nữa; còn Quýnh tham hặc đúng thực, xin tha cho tội «nói việc vượt chức». Vua cho là phải.
      Lấy Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán làm Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ (trật Chánh tam phẩm). Sai bộ Lễ từ nay có chiếu sắc thì giao hết cho Kim Hoán để chia ủy cho Hàn lâm vâng soạn.
      Lấy Ký lục Định Tường là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Bình, Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Cai bạ Quảng Đức, Tham hiệp Sơn Nam hạ là Nguyễn Hữu Phượng làm Ký lục Quảng Đức, Tri phủ Lạng Giang là Vũ Hữu Tín làm Thiêm sự Lễ bộ.
      Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Văn Y chết; lấy Tri phủ Đức Quang là Nguyễn Hữu Bảo làm Tham hiệp Nghệ An.
      Lấy Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh làm Thiêm sự Lại bộ. Trước Đăng Doanh được triệu về Kinh, khi đến Kinh mắc bệnh, không thể yết kiến được. Vua nghĩ Đăng Doanh ngày trước có công phụ đạo(1), cho tiền ưu dưỡng. Đến nay bệnh khỏi, bèn bổ cho chức ấy.
(1) Phụ đạo: giúp đỡ việc học của Thái tử.
      Lấy Đốc học Kinh Bắc là Nguyễn Tuần Lý làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, Đốc học Sơn Nam thuợng là Nguyễn Mậu Bách làm Hàn lâm viện Thị độc, Trợ giáo Sơn Tây là Nguyễn Tập làm Đốc học Sơn Nam thượng.
      Dựng hai miếu Hội đồng và Tam Tòa ở Quảng Bình (miếu Hội đồng ở xã Lương Yên, huyện Phong Lộc); miếu Tam Tòa ở ngoài lũy Nhật Lệ). 
      Mua đường cát ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, hộ làm đường muốn lĩnh tiền hoặc bạc đều cho cả.
      Bắt đầu cho quan viên văn võ gia cấp. Chiếu rằng: «Trước thưởng là để khuyến khích người hiền tài công lao, cấp bậc là để ban ân điển. Hoàng khảo ta mở nền phục nghiệp, công đức đều thịnh, chia chức đặt quan, quy mộ rộng rãi, đã định đặt điển lệ gia cấp, nhưng chưa rỗi để bàn. Trẫm buổi đầu nối nghiệp, noi theo chí hướng Tiên đế, đã từng xuống ân chiếu cho văn võ trong Kinh từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia thêm một cấp, nhưng vì Tiên đế mới vắng, công việc bề bộn nên chưa thi hành. Nay tiết vừa mùa xuân, chính nên làm việc vui mừng ân huệ. Vậy hai bộ Lại, Binh phải xét rõ sổ quan lại, kể từ ngày mồng một tháng giêng, năm Minh Mệnh thứ 1, phàm các quan văn võ đều theo chiếu trước mà gia thêm một cấp, lại gia ân chuẩn cho cùng với lệ quân công mà gia cấp, làm chiếu văn cấp cho. Bọn ngươi phải kính trọng chức quan của mình, kính theo mệnh ta, đem hết tài năng giúp vầy mưu lược, nối vui tốt lành vô tận, để hưởng phúc thái bình đời đời.
      Ngày Tân sửu, dựng miếu Hưng tổ. Trước đây, năm Gia Long thứ 3, dựng miếu ở phía hữu trong hoàng thành, gọi là miếu Hoàng khảo. Đến nay, bàn dựng thế Miếu(1), bèn dời miếu ấy ra phía bắc. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hữu tham tri Công bộ Trần Văn Tính trông coi công việc. Bầy tôi bàn dâng miếu hiệu là Hưng tổ, đại lược nói rằng: «Hoàng tổ là con thứ hai dòng đích của Thế tông Hiếu Võ hoàng đế ta, phát phúc đã lâu dài, sinh ra Thế tổ Cao hoàng đế ta, ứng mệnh trời thuận lòng người, quét sạch biến loạn, khôi phục nghiệp cũ, mở mang toàn cõi nước Việt, nghiệp đế nổi lên thực gốc ở đây, theo lẽ phải làm rạng tổ công đức, sao cho xứng đáng. Phàm chữ «Hưng» nghĩa là khởi nghiệp, lại có ý là thịnh vượng, Kinh Thi có câu: «Trời giúp cho người, sao chẳng nổi dậy (Hưng). Vậy xin lấy chữ «Hưng» làm miếu hiệu». Vua khen phải.
(1) Thế miếu: miếu thờ Gia Long.
      Bắc Thành tâu nói: Trong 20 huyện châu ở hạt trấn Hưng Hóa thì 16 châu đều nộp thuế thay bằng tiền, duy có 4 huyện Thanh Xuyên, Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập và huyện Tam Nông ở Sơn Tây nộp theo thì hằng năm số thóc thuế chỉ có hơn 5.000 hộc, lấy để chi cấp lương bổng, thường lo không đủ, sợ không có sẵn dùng những lúc có việc hoãn cấp. Vậy xin trích hai huyện Hạ Hoa và Hoa Khê thuộc Sơn tây là nơi gần trấn lỵ khiến nộp theo để chứa trữ. Vua y lời tâu.
      Lại sai các quan trong ngoại đều cử những người mình biết. Chiếu rằng: «Từ khi đấng minh vương dùng người dựng chính, không phải là mượn nhân tài ở thời đại khác. Ta từ ngày giữ chức đến nay, cầu người hiền sĩ như khát nước, đã từng hạ lệnh cho trong ngoài đề cử người hiền, mà đã lâu không thấy cử ai. Một ấp mười nhà tất cũng có người trung tín. Cả nước rộng rãi thế này mà lại không có nhân sĩ đủ tài đủ đức sao? Hoặc giả chưa hết lòng tìm hỏi, đến nổi kẻ hiền tài còn bị che lấp mà chưa được trên biết đến, chẳng hóa ra phụ ý trẫm cầu tài rộng khắp hay sao? Vậy các ngươi phải đề cử những người mình biết, trẫm sẽ tùy tài bổ dụng».
      Lấy Vệ uý quân Thần sách là Phan Tiến Hoàng làm thự Trấn thủ Phiên An.
      Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt uỷ cho Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh vào yết kiến.
      Vua nhân nói: «Người Chân Lạp hẳn đã sợ uy mộ đức chưa?» Vĩnh đáp: «Sợ uy thì có, còn mộ đức thì chưa dám chắc».
      Vua nói: «Tình dân Man vốn như thế, ta nên sửa thêm đức tốt thôi». Khi Vĩnh về, vua dụ rằng: «Ở Gia Định bệnh dịch lại phát, ngươi về bảo Lê Văn Duyệt hạ lệnh cho nhà dân theo cách bỏ lửa cũ lấy lửa mới, thì bệnh dịch có thể bớt được. Đây là phương pháp tìm lành tránh dữ ghi trong sách cổ, mà lại là dị ý của người xưa dùi cây đổi lửa vậy».
      Vệ uý Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành dâng biểu đề cử Cai án thuộc dinh là Vũ Văn Trinh làm Thư ký Bình Định. Vua nói: «Thuộc hạ mình khuyết, đề cử vượt sang nha khác có nên không?» Nhân sắc rằng: «Từ nay quản lĩnh các dinh vệ xét thấy thuộc hạ mình có người tài giỏi mà không có chỗ khuyết để thăng bổ thì làm tờ trình rõ với đại thần, liệt khai lý lịch và sự trạng người ấy, tâu xin lượng tài bổ dụng. Không được đề cử vượt quyền».
      Định rõ lại điều lệ thi Hương. Hai trường Quảng Đức, Nghệ An thì lấy thượng tuần tháng 7, trường Gia Định thì hạ tuần tháng 9, các trường Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam thì thượng tuần tháng 9, vào thi. Phàm học trò ứng thi khoa trước chưa đỗ trường nhất, trường nhì thì do học quan xét hạch nếu là thuộc lại trong quân thì do người cai quản xét hạch, ai trúng thì ứng thí, người du học đều phải về nguyên quán, không được phụ thí. Lại hạ lệnh yến Lệ Minh thi Hương năm nay lấy bạc cấp thay.
      Sai Bình Hòa mộ người lập hai đội thuộc lệ, mỗi đội 50 người, chia ra đóng ở thủ Bình Nguyên và các cửa biển Cam Ranh, Hòn Khói.
      Bắt đầu dựng Quốc tử giám (ở giữa Giảng đường, đằng trước làm Di luân đường, hai bên tả hữu làm phòng ở cho tôn sinh, giám sinh). Vua khi mới lên ngôi, sai dinh thần Quảng Đức gọi thợ và sắm gỗ, sau vì có bệnh dịch lại thôi. Đến nay mới xây dựng.
      Ở Hương Sơn trấn Nghệ An có cướp nổi. Viên quan võ bắt cướp là Nguyễn Văn Thiết bị chết. Việc tâu lên. Vua dụ Trấn thủ Nguyễn Văn Xuân rằng: «Cuộc hành quân này quân cướp có 60 người mà quân của Thiết cũng 60 người, không phải là quân ít, giặc nhiều, mà không địch nổi, làm sao lại chịu thua? Ấy bởi tại ngươi ngày thường kỷ luật không nghiêm nên đến nỗi thế. Nay phải dạy khuyên quân lính, liệu phương lùng bắt, khiến cho giặc hết dân yên. Nếu điều độ sai trái, bọn cướp thừa cơ quấy rối thêm thì dù thương ngươi già, nhưng còn phép nước thì sao? Ngươi phải kính theo lời ta, chớ chểnh mảng».
      Dụ đến, Xuân sợ hãi xin nhận tội, rồi tức khắc thân đem binh voi, chia phái đuổi đánh, bắt được hơn 20 tên cướp. Xuân đem việc tâu, nói là chưa đủ lệ thưởng. 
      Vua nói: «Thưởng phạt đúng phép là đạo dụng binh. Có công không thưởng thì lấy gì mà khuyến khích». Rồi sai đem bạc thưởng cho theo thứ bậc. 
      Vua lại nghe tin trấn thần phái binh đi tuần bắt mà không cấp lương đi đường, bèn dụ rằng: «Thương nuôi quân lính là việc trọng yếu nhất của nhà binh. Nay giao cho trách nhiệm đi bắt cướp mà lại không cho ăn, thì có thể nào đói bụng mà trị được giặc! Từ nay biền binh có việc công sai, phải tùy việc khó dễ, định hạn đi đường mà phát lương tiền cấp cho».
      Vua đến hai xã An Vân, Cổ Vưu xem lúa ruộng, triệu kỳ lão đến hỏi, đều nói rằng lúa năm nay tốt hơn những năm gần đây nhiều. Vua cả mừng, lại đi thăm sông Lợi Nông, triệu kỳ lão xã Thanh Thủy hỏi. Đáp rằng hiện nay lúa hơi tốt, nhưng chưa biết thu hoạch sẽ ra sao. Vua nói: «Trẫm vì dân mà lo việc nông, được mùa thì mừng, chứ không phải nhân thể mà đánh thuế nặng thêm, sao không nói thực, há không phải là phụ ý trẫm ư?»
       Đến xã Dã Lê lại hỏi kỳ lão. Đáp rằng: «Bọn thần tuổi quá 70, chưa từng thấy năm nào lúa tốt như ngày nay». Vua khen là thành thực, ban cho 20 quan tiền. Chưa được bao lâu, bỗng có gió bấc. Vua triệu dinh thần Quảng Đức là Ngô Bá Nhân bảo rằng: «Nay lúa mới làm đòng mà gió bấc lạnh lẽo, trẫm rất lấy làm lo. Ngươi phải xét hỏi dân gian xem lúa ruộng có tổn hại không. Trẫm ngày đêm sốt ruột lo lắng về đó, không phải là mộ lấy tiếng khen, chính vì nghĩ đến nhà nông suốt quanh năm cần khổ, nếu không được mùa thì không khỏi đói rét vậy».
      Ra lệnh cho văn võ đều cử những người thuộc hạ có tài nghệ. Dụ rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến nay chỉ lo có được nhân tài, đã từng tìm kiếm rộng khắp để tùy tài ghi tên, bổ dụng. Nhưng còn nghĩ học trò tài giỏi bị chìm giấu ở hàng quan dưới còn nhiều, nếu không cho tiến dẫn ngoài lệ thì sao đạt đến trên được. Từ nay các viên nhân chuyên quản, văn mà có người kinh sách thông thạo, viết và toán tinh thông, võ mà có người thao lược uẩn súc, tài nghệ thành thạo, nếu biết đích xác thì dẫu chưa dự vào lệ đình thần đề cử cũng được xét cử do hai bộ Lại Binh tâu lên.
      Đổi Nội hàn ty làm Nội hàn viện, sai bọn Nguyễn Đăng Tuân chọn người viện thuộc, ai có văn học cần mẫn, kham nổi việc thì bổ cho các chức Biên tu, Kiểm thảo, Điển bạ theo thứ bậc khác nhau.
      Chia Văn thư phòng làm hai tào (Thượng bảo, Biểu bạ, Đồ thư, Ký chú), lấy các thuộc viên chia giữ công việc.
      Đặc kho Đốc tín ở bảo Châu Đốc thành Gia Định để thu tô thuế của hai huyện Vĩnh Định, Vĩnh An sung làm lương quân. Rồi sai Thiêm sự Binh tào thuộc thành là Nguyễn Đức Hội biện lý công việc lương tiền ở Châu Đốc.
      Ở huyện Lễ Dương, Quảng Nam có mưa đá. Thị thư Lê Vạn Công nhân đi xét hỏi về tâu. Vua nói đấy là khí âm ức khí dương nên sinh ra thế. Hơn một tháng trấn thần mới đem việc thiên tai báo lên. Vua quở rằng: «Các dinh trực lệ đều được mùa, duy chỉ hạt ngươi có tai nạn riêng, sao không kịp tâu ngay, có phải là sơ ý của trẫm ủy giao cho việc chăn dân như thế đâu!» Bèn sai tha thuế ruộng cho 11 xã bị tai.




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VIII
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa xuân, tháng 3, ngày Quý sửu, tôn Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu. Trước một ngày, sai quan kính cáo ở các miếu. Vua thân đến điện Hoàng nhân cáo việc ấy. Đến ngày, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ, dâng sách vàng, ấn vàng để làm lễ tiến tôn. Sách văn rằng: «Gốc nguồn là mẹ, công sinh thành tham dự với cha; đức cả nổi danh, mệnh tốt này thực trời ban xuống. Tô son rực rỡ, sách ngọc huy hoàng. Kính nghĩ: Hoàng mẫu bệ hạ, nhân hậu tự trời, hiền minh dòng dõi. Từ ái đối với con cháu; phúc đức để cho nước nhà. Dạy dỗ thân con, ngày nay mới có. Đã hưởng thiên hạ hiếu dưỡng, đáng được thiên hạ lừng danh. Thành khẩn chuẩn lời đình thần, nghển trông đức từ khiêm tốn. Hiếu lớn biểu dương khuôn phép, nên dùng thức văn quý tôn. Bởi thế đã xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi kính mang sách ấn dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu. Kính nghĩ, danh lớn chính đáng, phúc tốt dồi dào. Một nhà đều vui vẻ; phong hóa gốc từ đây. Muôn năm mong sống lâu; đời đời hưởng phúc mãi».
      Ngày hôm sau, vua ngự điện Thái Hòa, ban ân chiếu cho trong ngoài. Chiếu rằng: «Chính danh vị là mối đầu trong việc chính; tôn cha mẹ là hiếu lớn của người con. Từ xưa đế vương thừa hưởng dư đồ, ai cũng nêu đức để phúc, khiến cho khắp nơi chan hòa. Nhà Chu có bài vị Tư Trai(1) ghi làm thi ca; nhà Hán có ca Trường Lạc(2) lưu trong sử sách. Thực là luân thường phép lớn, vẻ đẹp đời bình. Kính nghĩ Hoàng mẫu giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, sáng tỏ đức hiền. Lòng từ ái ban cho con cháu, phúc tích luỹ để cho nước nhà. Dạy dỗ cho ta, thừa hưởng nghiệp lớn. Tuy mưu mô trị nước toàn nhờ Hoàng khảo, mà ngôn hành đúng đắn, đều nhờ Từ cung. Trông
(1) Tư Trai: một bài trong Kinh Thi, ca tụng đức hạnh Thái Nhâm là mẹ sinh ra vua Văn vương nhà Chu.
(2) Trường Lạc: nhà Hán làm cung này ở góc phía đông Tràng An. Sau Hán Huệ đế lấy cung này làm nơi ở của mẫu hậu.
 
lên ân lớn đức to, không thể nói xiết. Trước đây các quan xin dâng tôn hiệu, trẫm phụng chỉ Từ cung, người cứ khăng khăng khiêm tốn, hai ba lần mới được chuẩn y. Bèn tham xét điển lễ, hợp với lòng người, lấy ngày mồng 2 tháng này kính cáo Tôn Miếu, ngày mồng 3 kính đem quần thần mang sách ấn dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu, để báo đáp đức tốt của người, và tôn trong việc hiếu. Nay trong ngoài đã đều vui lòng, nên ban ơn rộng cho khắp cõi. Vậy có ân điển 5 điều: 1) Các hoàng tử tước công đều được cho bạc thay yến theo thứ bậc. 2) Thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa và phủ Tôn nhân, đều được ban ơn. 3) Các quan ở Kinh từ tam phẩm, ở ngoài từ nhị phẩm trở lên và các quan dinh trấn đều được cho bạc thay yến theo thứ bậc. 4) Vợ các quan văn võ ai chiếu theo phẩm trật của chồng mà được dự phần bạc thay yến được thì được ân tứ. 5) Ở Kinh các cụ già từ 80 tuổi trở lên ban 1 lạng bạc, 90 tuổi trở lên được ban 1 lạng bạc, 1 tấm vải; 100 tuổi trở lên, được ban 2 lạng bạc, 1 tấm vải. Ôi! Lấy thiên hạ để nuôi mẹ, mà lòng hiếu vẫn chưa đủ; hưởng thánh thọ đến vô cùng, mong theo khuôn được lâu dài. Lấy một người làm tiêu chuẩn cho bốn phương; đem lòng hiếu làm căn bản cho muôn việc. Nay đại lễ đã làm trọn, nên ban lời để dạy khuyên».
      Ngày Giáp dần, dựng miếu Thế tổ. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hữu Tham tri Binh bộ Nguyên Khoa Minh trông coi công việc. Rồi đúc quả chuông to. Sai Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm bài văn để ghi. Lời văn rằng: «Năm Tân tỵ Minh Mệnh thứ 2, dựng miếu Thế tố ở bên hữu hoàng thành. Khi sắp xong, sắc cho hữu ty đúc một chuông, tạo một trống, treo ở gác đông, gác tây, để hằng năm dùng vào việc cúng tế, khắc minh truyền lại vạn ức năm vô cùng về sau. Bài minh rằng: Nghiệp đế Thái (sơn) bàn (thạch), sênh ca trị đạo. Tiếng đức vang lừng. Đẹp thay Thanh miếu».
      Vua từng cùng bầy tôi bàn việc thờ cúng ở miếu. Bầy tôi tâu nói: «Nhà Minh khoảng năm Hồng Vũ cho rằng việc cúng tế ở Thái miếu chưa đủ tỏ lòng hiếu, bèn dựng riêng điện Phụng Tiên, sớm hôm đốt hương, sóc vọng chiêm bái, hằng năm các lễ Thường tân, ngày sinh, ngày kỵ, đều tế ở đây. Điển nhà Thanh cũng theo như thế. Tuy lễ cổ chưa có, nhưng lễ do nghĩa mà đặt ra, cũng càng thấy lòng hiếu kính rất mực của đế vương vậy. Thế tổ Cao hoàng đế ta, bắt đầu dựng điện Hoàng Nhân, cũng có ý nghĩa như vậy. Nay đã dựng Thế miếu, thì điện Hoàng Nhân cũng như điện Phụng Tiên nhà Minh nhà Thanh. Vậy xin khi làm lễ thăng miếu xong thì rước an thánh vị về điện Hoàng Nhân. Còn lệ lễ tiến cúng thế nào, sẽ do quan bộ Lễ bàn rõ để tâu». Vua khen phải.
      Khâm sai thuộc nội chưởng cơ vệ Hộ lăng tiền là Đào Văn Cửu vì già ốm về hưu, sai cấp cho bổng hằng năm theo công thần Vọng Các; đến khi chết, cho 100 quan tiền, 1 cây gấm Tống, cấp 4 người mộ phu. 
      Phó tướng Tiền quân Mạc Văn Tô có bệnh xin về hưu, cấp cho 30 người quân lệ tòng.
      Nước Vạn Tượng sai sứ vào cống. Sứ giả là bọn Phì Chủ Phô vào yết kiến tâu nói : «Tiểu quốc xa nghe tin Tiên đế chầu trời, Hoàng thượng mới lên ngôi báu, nhưng vì núi sông cách trở, chưa dám tin làm đúng, cho nên chỉ theo lệ hằng năm sửa lễ cống, còn lễ viếng và lễ mừng còn thiếu. Cúi xin thánh thượng lượng thương tình xa xôi, thứ cho tội sơ suất là may cho tiểu quốc».
      Vua an ủi, cho hậu và bảo về (Ngoài lệ thưởng, còn thưởng thêm cho Quốc trưởng 5 cây gấm đoạn, lụa các màu, là nam, sa nam, the nam, mỗi thứ 10 tấm, 1 bộ đồ chè bịt vàng, bát bịt vàng bịt bạc mỗi thứ 1 cái, đĩa bịt bạc 10 cái, trống lớn 1 cái; chánh sứ 1 áo chiến bằng gấm Tống đỏ, phó sứ một áo chiến bằng nhung đoạn lam, mỗi người đều 1 xiêm bằng gấm man, 1 cỗ cáng, 1 cái lọng, 1 bộ đồ chè bịt bạc, 20 lạng bạc; chánh sứ 2 cây súng tây bằng kim loại, phó sứ 1 cây, mỗi người đều một thanh đao mạ bạc; tù trưởng 8 lạng bạc, thông ngôn 5 lạng, mỗi người đều được áo chiến bằng trừu màu bảo lam, 1 bức xiêm man; dân man mỗi người được 3 lạng bạc).
      Chủ Phô lại nói: «Trước đi qua Nghệ An, đường sá nhiều nơi bị ngăn trở». Vua bèn dụ cho trấn thần theo địa hạt mà cho tuần xét và cho quân hộ vệ họ về.
      Trước kia, Phì Chủ Phô khiến thuộc man châu Quy Hợp là Phọp Khâm sách nhiễu động Động Dịch, dân động ấy tố cáo về Nghệ An, trấn thần xét được tình trạng tâu lên. Vua cho là dân man di ở ngoài vòng vương hóa, không muốn bó buộc họ vào pháp luật, hạ lệnh cho trấn thần gửi công văn cho quốc trưởng Vạn Tượng để răn cấm, và bắt Phọc Khâm phải tự hối cải để dân biên giới được yên.
      Chuẩn định phàm chức Vệ uý Thị nội trật Chánh tam phẩm, Phó vệ uý trật Tòng tam phẩm nhất thiết đều cho quan chế, trừ khi được đặc ân chuẩn cho cùng phẩm trật với quân Thị nội trung thì không theo lệ này.
      Lấy Khâm sai chưởng dinh lĩnh Trung quân phó tướng thự lý ấn vụ là Trương Tiến Bửu lĩnh chức Phó tổng trấn thành Gia Định và khiến hơn 200 người các đội thuộc về Tín trực đi theo. Từ khi Hoàng Công Lý bị tội, vua từng hỏi các đại thần rằng: «Chức Phó tổng trấn Gia Định có nên đặt lại không?» Nguyễn Văn Nhân đáp rằng: «Việc ngoài trấn rất nhiều, Tổng trấn nắm đại cương mà thôi, không có chức phó không được». Vua cho là phải. Đến nay sai Tiến Bửu đi. Tiến Bửu là người trọng hậu, giản dị và trầm tĩnh, tuổi hơn 70, khi bệ từ, vua dụ rằng: «Người lão thành từng trải thì hẳn không đến nỗi như Công Lý. Nhưng nếu một mực rộng rãi thì tôi tớ làm bậy, tội đến chủ nhà, há nên chẳng tự răn sao?»
      Lấy Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Kim Trung làm Cai bạ Quảng Ngãi, thự Thượng bảo khanh là Nguyễn Đang Tuân làm Cai bạ Quảng Nam. Tuân tâu xin một năm lại cho về Kinh. Vua nói: «Người bầy tôi nên hết lòng làm việc, trong triều ngoài quan cũng thế, hà tất phải chọn nơi làm việc mới là trung?». Tuân lạy tạ.
      Triệu trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Hưng và Ký lục Nguyễn Viết Ky về Kinh; lấy Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Soạn lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi, Thiêm sự Hộ bộ là Vũ Huy Đạt làm Ký lục Quảng Ngãi, Nguyễn Kim Lộc làm Thiêm sự Hộ bộ. Soạn bệ từ. Vua dụ rằng: «Ngươi chỉ am hiểu việc quân, chưa từng trải việc dân chính, nay đi nên lấy khoan hòa làm lòng, khiến cho dân được yên ổn không xảy việc gì. Các tư lại thuộc quyền, nên xét rõ kẻ hay người dở, tâu lên định thưởng phạt, để khuyên thiện trừng ác. Một dải biên giới tiếp giáp với các man, ngươi phải xét rõ địa thế, chia binh đóng giữ. Đó là trách nhiệm coi giữ bờ cõi, phải nên cẩn thận».
      Trấn thủ Biên Hòa là Tống Văn Khương, Ký lục là Hoàng Công Xuân, Cai bạ là Bùi Phụ Đạo, vì trước thiện tiện cho bắt binh dân làm việc riêng cho Hoàng Công Lý, việc phát giác đều bị bãi. Lấy Vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách là Trần Phúc Trung làm Trấn thủ Biên Hòa, Ký lục Bình Hòa là Bùi Đức Minh làm Cai bạ, Thiêm sự Công bộ là Trương Quang Hải làm Ký lục. Phúc Trung đến lỵ sở, chưa được bao lâu thì chết.
      Lại sai quan đi bảo hộ quốc ấn nước Chân Lạp. Vua phiên Nặc Chăn dâng biểu nói rằng: «Nước ấy nhỏ yếu, trước đã nhờ ơn vun trồng của Thế tổ Cao hoàng đế, sai quan bảo hộ, nước ấy nhờ được yên ổn. Vì Chăn còn trẻ dại, nghe lời gièm pha, đến nỗi quan quân bảo hộ rút về Gia Định, trong nước liền xảy ra các loạn nghịch Kế, nghịch Tây. Nhờ quan quân tiến đánh, dẹp hết được đảng nghịch, Chăn mà giữ được nước nhà đều là nhờ ơn tái tạo của triều đình. Vậy xin đặt quan bảo hộ như trước».
      Vua thương tình, sai Nguyễn Văn Thụy đóng giữ bảo Châu Đốc, lại lĩnh chức Bảo hộ quốc ấn nước Chân Lạp, kiếm lý việc biên vụ Hà Tiên. Dụ rằng: «Châu Đốc là đất xung yếu, ngươi nên khéo phủ dụ, mộ dân buôn lập thành làng mạc để hộ khẩu ngày một tăng, đồng ruộng ngày mở mang. Còn việc biên phòng cũng phải cẩn thận. Phàm có biểu văn, công văn của Chân Lạp, phải duyệt trước rồi hãy phát. Công việc nước ấy thì nhất thiết uỷ cho bọn vua phiên, quan phiên theo quốc tục mà làm. Lai nên nghiêm cấm quân sĩ không được mưu việc riêng, để giữ quốc thể».
      Lấy Phó vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý vệ Nội hầu. Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Hồ Văn Trương làm Phó vệ uý vệ Chấn uy dinh Thần cơ, Phó vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội là Trương Công Tồn làm Phó vệ uý vệ Thần uy. 
      Cho thợ các cục ở Kinh hơn 1.200 quan tiền. Bắt đầu đặt các chức Tế tửu, Tư nghiệp Quốc tử giám (Tế tửu trật Chánh tứ phẩm, Tư nghiệp trật Tòng tứ phẩm), sai Ký lục hành đốc học Bình Định là Vũ Xuân Biều lấy hàm Chánh Tam phẩm sung chức Tế tửu, Giáp phó đốc học Quốc tử giám là Ngô Trọng Vân đổi bổ làm Tư nghiệp, Ất phó đốc học Nguyễn Huy Tá lấy bản chức làm hành Đốc học Bình Định. Vua bảo Xuân Biều rằng: «Nhà Quốc tử là nơi giáo dục nhân tài, ngươi nên một tháng một lần tâu lên ai có tài hạnh thì cấp cho lương tiền để học nghiệp, không thì cách cho về».
      Đại sứ Bảo tuyền cục là Trương Văn Minh xin nghỉ một năm đi Gia Định lấy hài cốt tổ phụ đem về cát táng. Vua y cho. Sai Phó tổng trấn Bắc Thành là Lê Văn Phong quyền giữ công việc Giám đốc cục Bảo tuyền.
      Đổi dựng kho ngói An Dụ ở Bình Định. Vua thấy đất ấy liền núi giáp biển, đường thủy lưu thông, việc vận chuyển công tư đều tiện, trước đã có kho cũ, thu tiền khoán khố bổ theo điền mẫu của dân mà làm, đến nay sai trấn thần chi hơn 3.000 quan tiền công thuê thợ xây dựng mà miễn tiền khoán khố. Vừa Án trấn Trương Phúc Đặng vào chầu, từ biệt về, vua dụ rằng: «Hạt ngươi dân khổ chưa hồi, việc làm kho thực là bất đắc dĩ. Ngươi làm trọng thần của nước, nên răn dạy thuộc viên không được tạ sự bóc lột. Chẳng thấy gương Hoàng Công Lý đấy sao?». 
      Lấy Hàn lâm Tu soạn là Nguyễn Đăng Sở làm Đốc học thành Gia Định, sĩ nhân Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ làm Phó đốc học. Đó là theo sự đề cử của triều đình.
      Vua thường bảo Thượng thư Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận rằng: «Người Gia Định vốn tính trung nghĩa nhưng ít học, cho nên phần nhiều tính hay tức khí với nhau. Nếu được bậc đại nho túc học làm thầy dạy bảo cho điều lễ nhượng thì dễ hóa làm thiện mà thành tài cũng nhiều đó».
      Bắc Thành mua kẽm, nhà nước trả toàn bằng tiền. Người buôn thấy giá bạc cao xin lĩnh bạc tiền mỗi thứ một nửa. Thành thần tâu lên. Sai tăng giá lên mà trả (bằng tiền). 
      Lấy Ký lục Phiên An là Trương Công Vỹ làm Ký lục Định Tường, Thiêm sự Binh bộ là Đoàn Văn Chất làm Ký lục Phiên An.
      Đúc ấn «Lưu kinh» bằng bạc (ấn khắc bốn chữ triện «Lưu kinh chi ấn»).
      Đúc ấn quan phòng bằng đồng cho hai ty quản lý Thương bạc, Tào chính và các tào Hộ, Binh, Hình, Công của Gia Định, Bắc Thành, cùng ấn đồng cho các dinh trấn đạo phủ châu huyện. (Trước thì ấn triện các dinh trấn đạo đều khắc năm chữ triện «mỗ dinh, mỗ trấn, mỗ đạo chi chương», các phủ châu huyện đều dùng triện gỗ, đến nay đúc ấn cấp cho các dinh trấn đạo thì đều khắc bốn chữ triện «mỗ dinh ấn», hoặc «mỗ trấn ấn», hoặc «mỗ đạo ấn», ấn của phủ châu huyện cũng đều khắc bốn chữ triện «mỗ phủ ấn», hoặc «mỗ châu ấn», hoặc «mỗ huyện ấn».) Sắc từ nay các nha trong ngoài có thay đổi gì hoặc đặt ra, đều do bộ tâu xin chế ấn cấp cho.
      Đổi cấp ấn quan phòng bằng đồng cho Quản lĩnh thượng đạo Thanh Hoa giám đốc quế hộ là Hà Công Thái (nguyên cấp ấn đồng). 
      Vua thăm trường súng, xem cac quan dien ban. Nhan sai mot nguoi trong Van thu phong hang ngay den truong ban xem ai ban trung thi thuong. (Ban trung dich thuong 2 lang bac, trung khuyen thuong 1 quan tien), ba ngay mot lan tau.
      Vua thăm Quốc tử quán, sai đặt ngự tọa ở chính giữa và lập bia «nghiêng lọng, xuống ngựa»(1) ở trước cửa. Lại sai dựng nhà tả, nhà hữu.
(1) Chữ Hán là: khuynh cái hạ mã.
      Chế biến treo cửa công đường sáu bộ (khắc bốn chữ «Mỗ bộ đường môn» thếp vàng). Vua chuộng khen những người tiết hạnh, từng bảo thị thần rằng: «Lúc trẫm mới lên ngôi, có chiếu cho trong ngoài xét xem ai là hiếu tử thuận tôn, nghĩa phu tiết phụ, thì tâu xin nêu thưởng để khuyến khích phong hóa. Thế mà đến nay chưa có ai tâu thì sao đáp được cái ý thiết tha giáo hóa, gây dựng phong tục của trẫm». Lại hạ lệnh cho các địa phương xét hỏi để tâu. Sau có người con gái ở Bình Định là Nguyễn Thị Phiếu và người con gái ở Kinh Bắc là Hà Thị Biên đều không chịu nhơ mình vì kẻ cường bạo mà bị hại, sở tại tâu lên, vua sai đều ban cho biển vàng (khắc bốn chữ «Mỗ thị trinh nữ») để nêu khen.
      Miếu Hưng tổ làm xong (nhà chính, nhà trước đều ba gian, hai chái; hai bên tả hữu hai nhà vuông, cửa trước gọi là cửa miếu, cửa tả gọi là cửa Chương Khánh, cửa hữu gọi là cửa Dục Khánh, đằng sau bên tả gọi là cửa Trí Tường, bên hữu gọi là cửa Ứng Tường).
      Ngày Ất sửu, vua đem bầy tôi rước bài vị Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế và thần chủ Hiếu Khang hoàng hậu lên miếu (Trước kỳ đã để lại bài vị, đến nay rước đặt ở miếu mới).
      Ngày Bính dần, vua rước Hoàng thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ, vì mới tiến tôn hiệu. Thưởng cho các quân theo hầu hơn 1.000 quan tiền và quân hộ lăng 100 quan tiền. Từ đấy theo đó mà làm lệ.
      Thự Hữu Tham tri Binh bộ là Lê Đại Nghĩa chết. Nghĩa từng chầu hầu ở Tiềm để và có công phụ đạo. Vua thương, sai cấp tiền tuất theo lệ Tham tri, phát kinh binh hộ tang về làng.
      Dựng đền thần núi ở các tôn lăng. Dụ rằng: «Nước nhà ta gây dựng nghiệp lớn, giữ mệnh trời lâu dài. Kính nghĩ lăng tổ khí thiêng chung đúc, chứa chất phúc lành, đáng phong tặng cho thần núi Thiên Tôn lăng Trường Nguyên làm thần Triệu Tường sơn, thần núi lăng Trường Cơ làm thần Khải Vận sơn, thần núi lăng Cơ Khánh làm thần Hưng Nghiệp sơn, đều làm đền thờ để đáp ơn thần. (Điển thờ nhất thiết theo như đền thần Thiên Thụ sơn. Nay đều thờ theo ở đàn Nam Giao.) 
      Chưởng Thủy quân Tống Phước Lương dâng một viên ngọc, ban cho 150 lạng bạc. 
      Lấy Hiệp trấn Hưng Hóa là Trần Văn Lộc làm Ký lục Vĩnh Thanh, Tri phủ Thái Bình là Bùi Phổ làm Thiêm sự Hộ bộ, Tri phủ Từ Sơn là Đặng Đình Dương làm Thiêm sự Lễ bộ, Tri phủ Khoái Châu là Hoàng Nghĩa Thao làm Thiêm sự Công bộ.
      Vệ uý vệ Nội hầu là Nguyễn Hữu Khâm thấy vệ binh đều là tôn thất, sợ khó sai khiến, xin đặt đại thần trong coi. Vua nói: «Người trong họ vua chỉ là không được chửi mắng mà thôi. Ngươi đã làm Quản suất, ai làm trái đã có phép, sao lại phải nhờ đến đại thần?».
      Thu thóc thuế năm huyện (Cẩm Giang, Chí Linh, Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh) thuộc Hải Dương chứa ở kho Xích Đằng để đến kỳ thì chuyển vận đi.
      Xã An Lai thuộc Quảng Đức xin miễn 6 tháng dao dịch cho binh dân để cùng nhau đào sông tưới ruộng. Vua khen là chăm nghề nông, cho 100 phương gạo kho để giúp phí tổn. Lại sắc cho dinh thần đến xem xét. Hai xã Lễ Môn và An Ninh (Lễ Môn thuộc Quảng Trị, An Ninh thuộc Quảng Đức), cũng vì khe ngòi bị tắc, xin rút binh xã về để khơi đào. Vua đều y cho.
      Chuẩn định rằng danh tước các quan văn võ trong ngoài có trùng cả hai chữ với tên các sơn lăng, cung điện, cửa miếu, cửa cung điện và tên các thành dinh trấn đạo phủ, đều đổi lại hết. 
      Sai Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản các đội Nội hầu Ngân súng.
      Lấy Phan Đắc Hùng làm Hàn lâm viện Điển bạ. Cha Đắc Hùng là Đắc Lân trước làm Hàn lâm Thị giảng, hầu ở Tiềm để, thường khuyên điều hay răn điều dở, vua rất trọng. Đắc Lân đã chết, Thượng bảo Thiếu khanh Nguyễn Cửu Khánh xin xét dùng người con nên có mệnh này.
      Tha thuế dân cho dân các xã thợ mộc, thợ xẻ, thợ đóng thuyền thuộc Bắc Thành và Nghệ An. (Bắc Thành 10 xã thợ mộc số đinh 430 người; Nghệ An 1 xã thợ mộc số đinh 393 người, 6 xã thôn thợ xẻ số đinh 1.430 người, 5 xã thợ đóng thuyền số đinh 720 người.)
      Chuẩn cho dân thành Gia Định được nộp tiền thay thuế vải trắng (theo lệ dân biệt nạp thì vải trắng mỗi người hằng năm nộp 2 tấm 15 thước, nộp thay bằng 8 quan tiền).
      Lấy Hàn lâm viện Thị độc Nguyễn Mậu Bách làm Thị giảng học sĩ.
      Biền binh Tiền vệ dinh Long võ, và Tiền vệ Hữu vệ dinh Hổ oai thuộc quân Thị nội đóng thú ở Thanh Hoa, Thanh Bình nhiều người ốm chết. Vua thương đi thú xa xôi, cấp bội tiền tuất cho mỗi người 3 quan.
      Ấm thụ cho cháu Cai cơ Vọng Các Nguyễn Đình Lượng là Nguyễn Đình Phú làm Ân kỵ uý.
      Sai Nguyễn Văn Nhân và Trần Minh Nghĩa sát hạch các quan thuộc vệ Giám thành, phân biệt kẻ hơn người kém để định thăng giáng.
      Bộ Lễ tâu rằng: «Khoảng năm Gia Long có truy tặng hai đời của Hiếu Khang hoàng hậu. Triều ta nhân hậu, điển sẵn rõ ràng. Nay bệ hạ nối ngôi lớn, lễ lớn sách tôn Hoàng thái hậu đã xong, xin nhớ đến ơn họ ngoại để nêu rõ nguồn phúc, tỏ đạo nhân hậu». Vua hạ lệnh cho bầy tôi bàn lại, đều một lời tâu xin. Bèn truy tặng Thừa đức lang chính đạo lục kiêm Tri phủ Phương Danh tử là Trần Mậu Tài (tổ ba đời của Hoàng thái hậu) làm Thông chương đại phu Tư chính thượng khanh Thị trung Trực học sĩ Văn Xá bá, thụy là Trực Lượng, và chính thất là Phạm thị làm Tam phẩm Thục nhân, thụy là Như Trinh; truy tặng Thuần tín công thần Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Thái bộc tự chính khanh Bố Chính dinh Ký lục Tiến Đức hầu Trần Mậu Quế (tổ hai đời của Hoàng thái hậu) làm Quang tiến thận lộc đại phu Chính trị thượng khanh Lại bộ Thượng thư Gia Bình hầu, thụy là Đoan Hậu, và chính thất là Nguyễn thị làm Nhị phẩm phu nhân, thụy là Cung Tuệ; trắc thất là Đào thị làm Nhị phẩm phu nhân, thụy là Thục Tuệ; truy tặng Đồng đức công thần Phụng trực đại phu Chính trị khanh Lễ bộ Hữu Tham tri Trọng Chính hầu Trần Hưng Đạt (sinh ra Hoàng thái hậu) làm Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu thượng trụ quốc Thiếu phó Hà Hoa quận công, thụy là Ôn Cẩn và chính thất là Lê thị làm Nhất phẩm phu nhân, thụy là Thục Ý.
      Bắt đầu chế cờ bài Vương mệnh. Sắc rằng từ nay phàm xa giá đi ra ngoài, thì cấp cờ Vương mệnh cho quan thủ thành để làm hiệu lệnh; cùng là biền binh thay nhau đóng giữ Trấn Hải cũng được cấp cờ Vương mệnh và hợp phù để tuân hành việc công. Làm lệ mãi mãi.
      Mùa hạ, tháng 4, mồng 1, tế hạ hưởng. Sắc rằng từ nay có việc ở Tôn Miếu thì 3 khắc trước khi mặt trời mọc, bộ Lễ tâu xin vua thân đến hành lễ. Lại sai Vũ Khố cất rượu để cúng.
      Định rõ lại lệ đình nghỉ và nhật kỳ hội nghị, đều theo lệ năm Gia Long thứ 14. Hoặc khi chưa đến kỳ hội nghị mà có việc đáng phải bàn, thì do nha chủ thảo tâu xin hạ lệnh hội nghị. Ngày hội nghị kể từ sớm đến trưa thì thôi. Làm trái thì bị hặc. Lại vì trong triều có nhiều người già ngại là sớm quá, nên định rằng sau ngày xuân phân trước ngày thu phân, tạnh nắng thì giọt đồng hồ xuống một khắc là bắt đầu hội nghị, sau ngày thu phân trước ngày xuân phân trời mưa gió thì giọt đồng hồ xuống hai khắc là bắt đầu hội nghị.
      Vua từng bảo thị thần rằng: «Nhân tình ai chẳng muốn nhàn. Trẫm sáng sớm coi chầu, há không mỏi mệt sao, nhưng vì công việc rất nhiều, không thể không thế được. Các khanh lui tới, làm việc chăm chỉ, trẫm đã rõ cả. Từ nay các bộ có việc cần xét đoán mà Thượng thư ngồi công đường làm việc thì Tham tri, Thiêm sự vào chầu, để cho việc khỏi chồng chất».
      Hàn lâm viện Biên tu Phan Huy Chú dâng bộ sách do mình soạn là Lịch triều hiến chương loại chí (49 quyển). Thưởng cho một cặp áo sa, 30 lạng bạc. 
      Đúc ấn đồng cho Hàn lâm viện và Thái thường tự.
      Sai Thanh Hoa mộ dân ngoại tịch sung bổ đội Hổ dực.
      Chuẩn định từ nay các đội trưởng nhà trạm có bổ khuyết thì theo như lệ các quân dinh, đều phải tâu lên (lệ cũ do công đồng chuyên bổ).
      Thưởng tiền lương bổng cho quân binh vận chuyển (ở Kinh phái đi vận chở ở các địa phương trở về thì thưởng một tháng; tại địa phương phái thì thưởng nửa tháng).
      Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu nói: «Ba vệ Thị tượng và các tượng cơ đều là binh mộ, mỗi khi có người trốn hoặc chết, không có người điền bổ. Xin từ nay biền binh Tượng quân có con đều phải đăng vào quân tịch, người trốn không được đầu sang nha khác». Vua y lời tâu.
      Lấy Cai đội Vọng Các là Nguyễn Văn Đoài làm Quản cơ cơ Hậu kích đạo Thanh Bình, Đoài vào bái, được triệu lên điện, ban cho kiếm. Dụ rằng: «Ngươi theo hầu lâu ngày, trẫm có biết qua. Nay được bổ ra ngoài, nên giữ gìn thanh liêm thận trọng để trọn danh dự, chớ có cậy ơn mà kiêu căng làm bậy, lỡ khi phạm tội thì phép nước nghiêm nhặt, trẫm cũng không thể bênh được».
      Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân và Hàn lâm chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán đề cử bảy người học trò. Vua nói: «Khoa thi mùa thu gần đến. Bọn này nếu quả có thực học, sao không theo con đường khoa mục rộng rãi mà lại đi con đường tắt này. Vả lại nhân tài hiếm có, một ngày tiến cử đến bảy người, như thế chẳng lạm sao?» Không cho.
      Miễn lệ thuế cho bảy mỏ vàng, đồng, kẽm, chì và diêm tiêu ở Bắc Thành (Mỏ vàng Nà Ấp ở Lạng Sơn, mỏ đồng đỏ Trình Lạn ở Hưng Hóa, mỏ kẽm Quang Vinh và Cam Lộ ở Thái Nguyên, mỏ chì Khôn Hiển ở Thái Nguyên, mỏ chì Phúc Ninh ở Tuyên Quang, mỏ diêm tiêu Minh Lương và Minh Nông ở Sơn Tây. Chủ mỏ và phu khoán xiêu tán, thành thần tâu lên, nên cho miễn thuế).
      Vua đi xem xét Kinh thành, thấy có bệnh binh nằm ở bờ ao, hỏi ra là lính ở vệ Ban tực tiền. Liền sai Thái y viện điều trị. Dụ bộ Binh rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, không ngày nào không nghĩ đến việc yêu quân nuôi dân, đến những lính thú, dân biên mà còn sợ họ hãy nhiều nỗi khổ, thế mà ngay ở kinh sư lại có người ốm đau khổ sở không nơi nương tựa như vậy sao?» Bèn trị Quản vệ 40 roi, Cai đội 80 trượng. Sắc rằng từ nay người quản quân mà không biết thương nuôi bệnh binh, để khốn đói ở đường sá như thế, thì cứ y như lệ ấy mà trị. Nếu đến chết thì tội nặng thêm. Đến như trong kinh thành thì do Giám thành, ngoài quách thì do Quảng Đức, phải chiếu địa phận mà tuần xét, phàm đường sá thấy có người ốm đau, nếu là binh thì giao cho cai quản, là dân thì giao cho lý chánh hoặc thân nhân, để điều dưỡng. Làm trái thì phải trách phạt theo số bệnh nhân nhiều hay ít, đã nằm lâu hay chóng, mà xử tội khác nhau. (Trong kinh thành cứ một người ốm ở đường thì xử 40 roi, cứ thêm một người lại thêm một bậc; để người ốm nằm 3 ngày lại thêm một bậc. Các tội chỉ đến 100 trượng là cùng. Ngoài quách, mỗi người ốm phạt một tháng lương, cứ thêm một người lại phạt thêm 1 tháng; để nằm 3 ngày phạt lương 2 tháng, cứ thêm 3 ngày lại thêm 1 tháng. Các tội chỉ phạt lương đến 1 năm là cùng).
      Định hạn thì giờ cho các sở công tác. Dụ rằng: «Đã đến tiết mùa hè, trẫm ở nhà cửa cao rộng còn thấy khí nóng nung nấu, huống chi binh và thợ cả ngày phơi nắng chịu sao nổi. Vậy phải định thời hạn làm việc để giữ sức. (Hằng ngày, giờ dần bắt đầu làm, giờ tỵ, giọt đồng hồ xuống 8 khắc thì nghỉ, giờ mùi, giọt đồng hồ xuống 4 khắc bắt đầu làm, đến giờ tuất thì nghỉ. Khi làm khi nghỉ đều nổi hai tiếng ống lệnh làm hiệu.) Lại sai thái y chia nhau đi thăm các công sở, ai ốm thì chữa.
      Chọn hai mươi người dân ở hai xã Đường Long, Lương Mai (thuộc huyện Hương Trà) dinh Quảng Đức, bổ vào đội thợ mộc giỏi ở Nội viện Chính dinh, để theo làm việc ở Vũ Khố, cấp lương cho hằng tháng (mỗi người đều 1 quan tiền, 1 phương gạo).
      Tả thống chế Thị trung là Tôn Thất Dịch và Thượng thư Lễ bộ là Phạm Đăng Hưng tâu dâng điều lệ biên soạn Ngọc diệp, đại lược rằng: «Triều ta trích lũy nhiều đời, sách vở còn để lại vẻ vang. Triệu tổ gây nền vương nghiệp, Thái tổ dựng nước mở đất, các thánh nối nghiệp mở mang, vỗ về cả nước. Khi bắt đầu đại định, từng đã dựng miếu Triệu tổ và Thái miếu để làm điển thờ muôn ngàn đời không cùng. Nay xin từ Triệu tổ, Thái tổ đến các thánh về sau làm Chính kỷ bản chi, ghi chép rành rọt từng đời. Còn từ Trừng quốc công trở về trước, tham cứu quốc sử cũng biết được đại lược, những niên đại quá xa, sự việc thiếu sót, xin ghi riêng làm Tiền kỷ. Các chi phái từ Thái tổ về trước lưu cư từ Thanh Nghệ trở ra mà cho họ là Nguyễn Hựu, kê cứu được đích xác thì cũng xin phụ chép vào Tiền kỷ». Vua cho là phải.
      Vua thấy đồn điền ở Gia Định số người ngày đông thêm mà số đinh tịch không thêm, dụ cho thành thần xét kỹ tình trạng cái gì tăng thì hơn. Lê Văn Duyệt tâu nói: «Dân Gia Định phần nhiều là dân giang hồ trú ngụ, đặt ra đồn điền để dồn bọn du thủ cho nương tựa vào đồng ruộng vốn là phép tốt. Nếu không cho đồn điền tăng tục thêm dân thì bọn ấy đi lại không định, sợ hoặc để lụy cho dân. Nhưng tránh chỗ nọ đến chỗ kia cũng là thường tình người ta. Đồn điền nhiều thì hộ khẩu lại ít dần đi, lấy đâu mà bổ sung chỗ thiếu cho binh tịch? Vậy từ nay có ai xin sung đồn điền thì xin hỏi ngay hương lý, nếu muốn để người ấy đăng tịch ở làng thì trả họ về dân, nếu không muốn thì cho lưu ở đồn điền, đều cho tùy tiện». Vua nhận lời tâu.
      Tham hiệp Hà Tiên là Trần Văn Tam có tang, xin nghỉ việc trấn thủ về thu xếp việc tang. Vua y cho. Đến khi xong tang, lại cho giữ chức cũ.
      Sửa lại miếu Đô thành hoàng. 
      Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành trước ở Thanh Bình mộ được 296 người dân ngoại tịch lập thành vệ Chiến phong. Đến khi đi Tuyên Quang, vua cho lấy 150 người vệ binh đi theo, vẫn giữ quân hiệu cũ, số còn lại ở Thanh Bình thì hạ lệnh cho đạo thần gộp lại với binh mới mộ, đặt là 5 đội Hiệu dũng nhất, nhị, tam, tứ, ngũ.
      Người Man bảy sách Cam Lộ vào cống. Vua cho yết kiến và hậu thưởng. Trước đó mẹ Chiêu Ấp Ma Hạt Kiềm man Mang Vanh và vợ Sai trưởng Kha Man Xương Cụm xin nhận kỳ cống theo về Kinh để được xem sự phồn thịnh của văn vật trung đô. Vua nghĩ tình thành thực, không nỡ cự tuyệt. Khi đến, sai thái giám dẫn đến chiêm bái cung Từ Thọ. Đến khi về cũng được dự thưởng.
      Lập đàn chai lớn ở chùa Thiên Mụ. Sai bọn Tống Phước Lượng và Vũ Viết Bảo trông coi công việc. Thưởng cho binh và thợ hơn 1.000 quan tiền. 
      Định lệ thuế sâm ở Sa Kỳ (trên núi) Quảng Ngãi (Sâm hộ có 30 người, hằng năm mỗi người nộp 3 cân sâm, không có sâm thì theo lệ biệt nạp, nộp thay bằng 8 quan tiền).
      Thả binh hai vệ Chấn uy và Thần uy về nguyên ngũ các dinh trấn. Đầu là vua thấy mộ binh hai vệ chưa thạo phép bắn súng, nên triệu hết về Kinh cho thao diễn. Có kẻ trốn đi nên đến nay cấp tiền lộ phí cho về. Vua dụ rằng: «Bọn ngươi ứng mộ, nguyên là muốn dựng công lập nghiệp, chí ấy đáng khen. Trẫm sở dĩ triệu về Kinh để huấn luyện là muốn cho thành tài nghệ để phòng việc chống giữ. Thế mà có kẻ trốn không đến. Đều là do tội ở người cai quản không khéo phủ dụ. Vậy bọn cai đội tạm đình nửa bổng. Nếu chiêu dụ về được đủ số thì cho khai phục. Lính trốn trong vòng 3 tháng mà ra thú thì cũng khoan thứ».
      Lấy Hạt Xà Phù làm Sai trưởng man Cha Bôn, Chiêu A Điền Cáo làm Sai trưởng man Mang Vanh, Chiêu Ấp Ma Hạt Kiềm làm Phó sai trưởng. Các sai trưởng man ở Cam Lộ trước không đặt chức phó. Man Mang Vanh xin cách ngoại đặt chức ấy. Giao đình thần bàn, rồi cho.
      Bình Hòa hiến hươu trắng. 
      Tiết Vạn thọ. Trước một ngày, vua mặc lễ phục đến cáo ở điện Hoàng Nhân, rồi đến cung Từ Thọ dâng phẩm vật. Đến ngày, miễn triều hạ. Vua mặc áo thường phục ngự điện Cần Chính, các quan chiêm bái. Ban cho ăn ở Thanh Phong đường.
      Đổi định lệ thuế quan điền quan thổ ở các dinh trấn Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An. Trước kia giặc Tây Sơn lấy điền thổ ở các dinh trấn chia cấp cho bè đảng làm ngụ lộc và lập trại riêng, thiện tiện đánh thuế ở dân. Sau khi đại định, đã lấy làm quan điền, quan thổ, nhưng ngạch thuế vẫn theo cũ. Vua biết rõ nỗi khổ của dân, bèn hạ chiếu rằng: «Bậc vương giả lấy thuế của dân chỉ lấy chính cung, ruộng đất chia loại tốt xấu mà định thuế. Tự giặc Tây Sơn, lấy ruộng đất cấp cho tư gia, tự ý đánh thuế nặng, thành lệ chứa lâu ngày. Buổi quốc sơ đã toan sửa đổi, nhưng chưa có thì giờ. Trẫm nghĩ tới sự khó khăn của dân, rất chú ý đến chính sách bảo dưỡng. Vậy phải theo số mẫu và đẳng hạng mà định phép thuế. Phàm quan điền thổ các hạt về điền trang, quan trại, đồn điền, ruộng chùa, nhà cửa, ngụ lộc, cùng những ruộng đất, vườn, gò, ao, hồ, đất phù sa và bờ bãi của kẻ trốn tránh đã bị tịch thu vào nhà nước, nếu từ trước đánh thuế mỗi mẫu thóc từ 52 thăng 5 hợp, tiền từ 2 quan 1 tiền trở lên thì giảm 2 phần 10; nếu đánh thóc từ 100 thăng, tiền từ 3 quan trở lên thì giảm 3 phần 10. Ghi làm lệ».
      Thuộc nội chưởng cơ quản thuyền Phi Long là Nguyễn Văn Thắng từ Tây Dương đến, dâng cái hàn thử biểu. Vua nhân hỏi: «Ngươi lại muốn về sao?» Đáp: «Thần chịu ơn dày của nước, không biết lấy gì báo đáp. Nay tuổi già, xin làm tôi trọn đời».
      Vua nói: «Người ta ở đời quý ở chỗ lập công danh mà thôi. Ngươi theo đòi Tiên đế, hưởng lộc mấy chục năm, tuy là người ngoại quốc, cũng đã là thần tử bản triều. Nếu quả thực có thể trọn tiết làm tôi thì lưu danh nghìn đời trong sử sách, há chẳng hay sao! Nếu trở về nước Tây thì chẳng qua chỉ là một thường dân mà thôi».
      Có người Phú Lãng Sa(1) dâng quốc thư và sản vật địa phương (gương to) cùng đến với Thắng, đậu thuyền ở Đà Nẵng. Đem dịch thư ra thì là xin thông thương. Vua giao đình thần bàn, rồi hạ lệnh cho ty Thương bạc đưa thư trả lời nhận cho, và biếu nhiều phẩm vật (100 cân da voi, 30 cân da dê, 10 tấm da hổ, 100 tấm da trâu, 500 tấm da hươu, 200 tấm sa nam, 200 tấm the nam, 100 tấm lụa Cao Bộ, đường phèn, đường phổi mỗi thứ 1.000 cân, 10.000 đường cát, 2 cây ngà voi, 2 cỗ sừng tê), giao cho người ấy mang về nước.
      Trả thêm giá đường cát cho Quảng Nam, Quảng Ngãi.
      Dụ rằng: «Đặt mua nguyên là một việc ích quốc lợi dân, vốn không nên so kè từng ly từng tý. Nghĩ rằng hộ làm đường quanh năm cần cù lao động, công của đều khó, nên trả giá hậu cho có lời, để họ vui vẻ đem bán». 
      Tham hiệp Sơn Tây là Phan Hữu Nhượng chết, lấy Thiêm sự Lễ bộ là Lưu Tuyên làm Tham hiệp Sơn Tây. 
(1) Phú Lãng Sa: do chữ France phiên âm ra, là nước Pháp.
      Vua từng hỏi Biên tu Văn thư phòng là Hoàng Quýnh về việc dân. Quýnh đáp: «Từ khi Hoàng thượng lên ngôi đến nay cho miễn giảm (thuế), ban ơn cấp tuất, lòng người không ai không cảm tin. Nhưng gần đây, công việc dựng Tôn Miếu, sửa miếu thành hoàng, xây nhà Quốc học, tuy là những việc không thể chậm được, nhưng khi có việc thì nha lại nhân đấy sinh tệ, cho nên trên có lòng thương mà ơn không thấm tới dưới là vì thế». Lại nói: «Thánh thượng thông minh soi thấu nỗi khổ của dân, tuy đế vương xưa cũng không hơn. Nhưng cửa vua xa xôi vạn dặm, nổi u ẩn chưa chắc đã thấu hết được. Muốn yêu dân thì cần biết người, khi chọn người, xin nên lưu ý».
      Vua lại nói: «Triều thân cho trẫm là thế nào?» Đáp: «Trước kia lời chương tấu có chỗ thô lậu, đều uốn nắn từng ly từng tý, người ta lấy làm khó khăn. Nay đã dần quen rồi». Vua nói: «Có phải trẫm hiếu dị đâu, muốn cho được ổn nhã mà thôi». Nhân dụ Quýnh rằng: «Ngươi là cựu thần ở Tiềm để, trẫm đã biết tài. Nhưng tuổi trẻ mới tiến, phàm việc càng nên siêng năng cẩn thận, để hưởng ơn lâu dài. Đối với người xa trẫm còn muốn đào tạo, huống chi bọn ngươi».
      Cho các con cả các trưởng công chúa Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Ngọc Anh được bổng hằng năm (hằng năm một người 140 quan tiền, 50 phương gạo). 
      Dân hạt Bình Định xiêu tán 16 ấp, ngạch binh thiếu nhiều, trấn thần đem việc tâu lên. Vua chuẩn lời đình thần bàn, cho hoãn đòi bắt 3 năm. 
      Lấy Tri phủ Lâm Thao là Vũ Du làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Kinh Môn là Vũ Viết Trường làm Thiêm sự Hình bộ.
      Dồn hơn nghìn người của ba vệ Bảo thành nhị, tam, tứ; hai vệ Gia vũ nhất, nhị và vệ Tiền nghĩa thuộc thành Gia Định làm hai vệ Bảo thành và Gia vũ, 200 người của vệ Bảo thành nhất, hai vệ Tiền thắng, Trung tiền, vệ Gia dũng và của Vũ nha tòng thành làm bốn đội Vũ nha nhất, nhị, tam, tứ. Các vệ đều là lính mộ, gần đây trốn và chết nhiều, số ngạch linh tinh nên thành thần tâu xin dồn bổ lại. Vua y theo.
      Thống chế quân Thị nội là Vũ Viết Bảo tâu xin cho đội Tả vệ, đội Hữu vệ, đội Hoàng kiếm, 2 đội Tiểu sai nhất, nhị, 2 đội Thị trà nhất, nhị, đội Ngân súng, đội Thị nghi, 3 đội Dực vũ nhất, nhị, tam, 2 đội Nội mã nhất, nhị, đội Tả mã, đội Hữu mã, 2 đội Tiểu hầu nhất, nhị, đội Bả lệnh, đội Thượng thiện, cả thảy 20 đội, vẫn làm quân Thị nội. Còn 4 đội của vệ Trinh võ, 3 đội Tư thiện, 2 đội Thị hành, 2 đội Trung cần, đội Tân nhất, đội Bả cái, cả thảy 13 đội, thì ghi làm tinh binh. Vua theo lời xin.
 




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHINH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XI
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa thu, tháng 9, thi Hương ân khoa ở các trường Gia Định, Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam. 
      Sai Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Nguyễn Xuân Thục làm Đề điệu trường Gia Định, Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt làm Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán làm Đề điệu trường Thanh Hoa, Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền làm Giám thí, Tả Tham tri Lễ bộ hành Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Bùi Đức Mân làm Đề điệu trường Thăng Long, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Nguyễn Tuần Lý làm Giám thí, Hữu Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông làm Đề điệu trường Sơn Nam, Thị trung Trực học sĩ tham bồi Lại bộ Đinh Phiên làm Giám thí.
      Khi danh sách đệ lên, lấy đỗ tất cả 92 Hương cống.  (Trường Gia Định 16 người: Nguyễn Văn Kỳ, Bùi Văn Thọ, Vũ Công Nhàn, Nguyễn Khắc Hài, Trương Phác, Tôn Thọ Đức, Đoàn Khiêm Quang, Tống Đức Hưng, Trịnh Quang Khanh, Nguyễn Vĩnh Trinh, Phạm Tuấn, Trương Văn Uyển, Lê Bá Đằng, Hồ Văn Nghĩa, Phạm Ngọc Oánh, Lê Đức Ngạn - Trường Thanh Hoa 19 người: Hoàng Sĩ Quang, Phạm Xuân Bích, Nhữ Bá Sĩ, Nguyễn Xuân Thiều, Bùi Trần Đản, Nguyễn Thu, Phạm Phổ, Thiều Nguyên Diệu, Vũ Đức Dụng, Phạm Viết Cao, Đặng Kim Giám, Lê Bảo, Hoàng Sĩ Cơ, Bùi Danh Kỳ, Nguyễn Trọng Ôn, Bùi Lê Nghệ, Lê Huy Điện, Bùi Quốc Trinh, Nguyễn Trị - Trường Thăng Long 23 người: Lẽ Duy Trinh, Lê Hựu, Nguyễn Huy Vĩ, Nguyễn Đăng Chu, Hoàng Dũ Quang, Phạm Thế Phổ, Đỗ Cao Mai, Vũ Vĩnh, Ngô Huy Tuấn, Nguyễn Quốc Cẩm, Nguyễn Huy Chiểu, Nguyễn Quốc Thanh, Lý Văn Loát, Vũ Đình Hoán, Đoàn Thế Trạch, Phạm Quang Vy, Phùng Văn Bằng, Phạm Gia Lâm, Nguyễn Văn Bính, Đào Đình Nghiễm, Dương Đức Hoành, Dương Xuân Triêm, Ngô Hiến - Trường Sơn Nam 34 người: Nguyễn Văn Diễn, Hà Quyền, Trương Mãn, Phạm Đình Trạc, Dương Bá Cung, Lưu Diệu, Lưu Hân, Lê Quang, Vũ Đức Khuê, Đặng Văn Đồng, Nguyễn Đình Dao, Lê Đan Quế, Lê Lễ, Hoàng Quý Đức, Nguyễn Huy Chiếu, Phạm Xuân Kiểm, Nguyễn Ý, Nguyễn Xuân Xưởng, Mai Khắc Mẫn, Vũ Quý Đức, Lê Khản, Phạm Đình Tương, Phạm Nhưng, Trần Văn Yêm, Vũ Tuấn, Lê Duy Thị, Nguyễn Bá Huống, Vũ Đăng Dương, Nguyễn Thế Tự, Vũ Công Nho, Trương Chân, Ngô Vi Dực, Trần Lê Hoán, Vũ Đức Tuế).
      Hiệp trấn Kinh Bắc là Lê Quang Thực ốm phải miễn chức; lại lấy Phùng Huy Giảng thay (Giảng trước mắc bệnh về nghỉ, đến nay khỏi, bổ lại chức ấy).
      Triệu Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Đăng Tuân về Kinh, sai lấy nguyên hàm sung chức Quang lộc Tự khanh tham bồi công việc bộ Lễ.
      Ký lục Phiên An là Đoàn Văn Chất chết.
      Đổi Nhà đồ Gia Định và Bắc Thành làm cục Tạo tác, và chế dấu đồ ký bằng ngà cấp cho.
      Lấy Vệ uý vệ Củng võ là Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uý vệ Ban trực Hữu dinh quân Thần sách. 
      Định điều lệ (gia) cấp và kỷ (lục).
      Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức nghị tâu rằng: «Xét phép nhà Thanh, lệ cấp kỷ có ba: một là quân công, hai là nghị tự, ba là ân thưởng. Nghị tự là do xét công mà được. Cứ bốn lần được kỷ lục thì bằng một cấp. Một cấp quân công bằng hai cấp nghị tự hay ân thưởng; kỷ lục cũng thế. Ai được cấp kỷ đều do bộ cấp bằng. Đến kỳ mãn lệ được thăng, ai có nhiều cấp và kỷ thì ở trên, ít thì ở dưới, tính mỗi cấp quân công bằng tám lần kỷ lục của ân thưởng hay nghị tự, một cấp ân thưởng nghị tự thì bằng hai lần kỷ lục của quân công. Người được thăng bổ theo gia cấp quân công nếu có cả ân thưởng, nghị tự thì cứ mỗi một cấp của ân thưởng nghị tự được tính bằng một lần kỷ lục (quân công). Làm việc công phải tội giáng phạt thì cứ một cấp của ân thưởng, nghị tự được trừ phạt 6 tháng bổng; nếu là quân công thì được trừ gấp hai. Nếu tội phạt không đáng thì trừ một lần kỷ lục thì ghi vào sách để giáng hoặc đổi, nếu là kỷ lục quân công thì được miễn, nhưng nếu phạm tội về quân chính thì lại không được miễn. Người có nhiều kỷ lục mà bị giáng thì được hợp kỷ lục lại thành cấp mà chiết trừ; nếu chỉ có cấp mà bị phạt thì chia cấp ra thành nhiều kỷ lục để trừ. Một người mà có vài ba cấp, phải xét năm tháng trước sau mà trừ theo thứ tự. Nếu phạm tội về việc riêng thì xét nguyên do về việc đã được gia cấp và kỷ lục và xét cả cái cớ không được chuẩn cho trừ, tâu rõ lên để đợi chỉ mà tuân làm».
      Lời bàn dâng lên, vua y theo. 
      Định lại lệ mộ thuộc binh cho Võ nha theo thành Gia Định.
      Thành thần tâu rằng: «Dân trong hạt ẩn lậu nhiều, buộc theo pháp luật thì sao xiết tội, mà xử trị khoan hồng thì chúng cứ giữ thói cũ, muốn biết số hộ khẩu tăng, giảm thực cũng khó vậy. Vả lại, năm trước việc các quản quân ở Võ nha theo thành mộ đặt thuộc binh đã có định lệ (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 7 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 5 người, Cai đội, Suất đội thì 3 người). Nay xin cho những Vệ uý, Quản cơ, Cai đội không quản quân cũng được mở lập thuộc binh. (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 6 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 4 người, Cai đội thì 2 người.) Lúc thường thì dùng sai vặt, khi có việc dùng làm thân binh, để cho dân du đãng có nơi sở cứ, mà cái tệ ẩn lậu dần dần bỏ được».
      Vua y lời tâu.
      Yên Quảng có bảo. 
      Cai bạ Định Tường là Phan Văn Thịnh mượn riêng tiền công và nhận của hối lộ. Việc phát giác, trước cách chức rồi hạ lệnh cho thành thần Gia Định tra hỏi. Khi án dâng lên thì xử chém, vua chuẩn cho đồ 5 năm. 
      Ngày Canh tuất, đại duyệt binh.
      Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và thự Tiền quân Trần Văn Năng làm phù liễn. Lại sai Thống chế Tôn Thất Dịch thống lĩnh Trung dinh, Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí thống lĩnh Tả dinh, Thống chế Vũ Viết Bảo thống lĩnh Hữu dinh, đều chỉnh đốn trước biền binh để đợi hiệu lệnh. Ngày ấy, vua mặc binh phục đeo gươm cưỡi ngựa đến ngự doanh, lên lầu Duyệt thị. Hạ lệnh cho các quân bày trận pháp đều y theo quân lệnh mà tiến dừng. Rồi lấy trâu rượu thưởng và ủy lạo.
      Cho những người hỗ tòng, các hoàng tử tước công và quan văn từ Chánh ngũ phẩm, quan võ từ Suất đội trở lên, mỗi người 1 chiếc hào bao gấm; văn Tòng ngũ phẩm trở xuống thì xét phẩm trật cấp tiền; võ từ Suất thập cho đến binh lính thì đều cho quần áo. Lại thưởng cho quan quân 1 tháng tiền lương bổng. Kỵ tốt theo hầu cũng được cấp tiền gạo. Quan viên nào trước nhân việc công có lỗi mà bị phạt đều được miễn.
      Ngày Quý sửu, vua thân đến Thái Miếu cáo về việc Bắc tuần.
      Ngày Giáp dần, cáo ở điện Hoàng Nhân. Để tang phục ở tả vu. Từ đấy, vua ngự điện thính chính đều mặt cát phục.
      Trước bộ Lễ viết văn cáo có chữ sót lầm. Vua triệu Phạm Đăng Hưng và Lê Đồng Lý quở rằng: «Xem việc thì tội nhỏ mà xét lòng thì tội to. Nhưng nay sắp đi Bắc tuần, ai có lỗi đều khoan miễn. Tội bọn ngươi cũng tạm tha, đừng có bảo là trẫm nhu nhơ». 
      Vua cùng bầy tôi bàn lễ ngoại giao, hỏi Phạm Đăng Hưng rằng: «Lễ dụ tế thì nên mặc y phục gì?» Thưa rằng: «Lệ cũ triều Lê dùng áo bào đen và đai sừng». Vua không vui, bảo Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận rằng: «Ngày giỗ liệt thánh, Hoàng khảo ta đội mũ xuân thu, mặc áo tràng vạt, đã có điển lễ, thì trẫm theo lễ Hoàng khảo thờ liệt thánh để thờ Hoàng khảo, hà tất phải theo lễ đời Lê. Đến như lễ nhà Thanh thì 3 lạy 9 vái, nếu họ đòi ta như thế, há bọn khanh cứ yên lặng không nói gì sao? Tóm lại, lễ phải tùy tục nước, ta tự theo lễ nước ta, có gì là không được?» Liền định khi dụ tế mặc áo như ngày kỵ.
      Ngày Ất mão, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ mừng sức khỏe, rồi ban cho ăn ở tả vu và hữu vu.
      Sai Hoàng trưởng tử lưu Kinh trông coi việc quan quốc; Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân, Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách Tôn Thất Bính, Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm đều sung chức lưu Kinh đại thần; Quang lộc Tự khanh Nguyễn Đăng Tuân, Thiêm sự Hộ bộ Hồ Hữu Thẩm, Thiêm sự Binh bộ Vũ Hàm Chương đều hộ vệ ấn lưu Kinh.
      Vua bảo Nguyễn Văn Nhân rằng: «Hoàng tử tuổi còn trẻ, khanh cùng bọn Tôn Thất Bính, Lê Bá Phẩm việc gì cũng họp bàn thoả đáng, rồi mới trình bày cho biết. Việc nên tâu thì dùng ấn lưu Kinh và đều ký tên ở cuối giấy. Khi trước khanh ở Gia Định đương lúc chiến tranh mà còn giúp đỡ được giỏi giang, huống nay là lúc thái bình vô sự. Khanh nên hết lòng cẩn thận cho tròn trách nhiệm».
      Lại bảo Hữu Tham tri Hình bộ sung giáo đạo là Ngô Đình Giới rằng: «Các hoàng tử hoàng đệ ở lại Kinh, không phải chỉ dạy văn học mà thôi, phàm sự tiến lui ra vào càng nên chỉ bảo cho biết đúng đắn, đó là trách nhiệm của ngươi. Còn như việc lớn quân quốc thì cho cùng bàn bạc với các đại thần lưu Kinh».
      Sai Tôn Thất Bính quyền lĩnh biền binh Thị trung Thị nội lưu Kinh để canh giữ Kinh thành, Lê Bá Phẩm thay giữ ấn triện Hộ bộ. 
      Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên, thự Tiền quân Trần Văn Năng, Thống chế Tôn Thất Dịch, Vũ Viết Bảo sung làm thị vệ đại thần tùy giá.
      Ngày Kỷ mùi, đặt đại triều nghi ở điện Thái Hòa. Dụ rằng: «Trẫm kính theo lời di huấn, nay phải đi việc bang giao, mà lễ đại tường trừ phục 27 tháng chưa trọn, lòng trẫm thực bất đắc dĩ. Bèn sắc cho hữu ty xét rõ điển lễ để trong khi đi tuần Bắc Thành nhân tiện thăm các địa phương và hỏi về phong tục. Đã chọn được ngày lành, đến mồng 6 tháng này kính cáo Thái Miếu, mồng 7 kính cáo điện Hoàng Nhân, mồng 8 khánh an ở cung Từ Thọ, ngày 12 chọn sai hoàng tử và đại thần là Khâm sai chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân, Hữu dinh Phó đô thống chế Tôn Thất Bính, Hình bộ Thượng thư Lê Bá Phẩm lưu Kinh để trông coi mọi việc quân quốc, ngày 15 thì đại giá khởi hành. Tất cả các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ tùy giá, đều phải hộ vệ xa giá, giữ trật tự nghiêm chỉnh, cùng là nghiêm nhặt giữ cho quân lính tuân theo quân luật, đừng để quấy dân địa phương. Còn các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ không tùy giá, thì người nào nhận chức người ấy, đều phải công bằng giữ phép, theo lệnh các quan lưu Kinh điều độ».
      Xong rồi vua ngự điện Cần Chính. Hoàng trưởng tử và các đại thần luu Kinh bái mạng. Sắc dụ Hoàng trưởng tử rằng: «Kinh sư là đất căn bản, nay đặc biệt sai ngươi và bọn đại thần Nguyễn Văn Nhân ở lại coi giữ. Phàm gặp lễ hưởng tiến Tôn Miếu, ngươi phải kính cẩn tế thay và ngày thường thân đến cung Từ Thọ thay trẫm thỉnh an. Các chương sớ từ Quảng Nam trở về Nam và của các nha ở Kinh thì đều phát trạm đệ đến hành tại. Các bản sao đều cho mở xem rồi để lại Văn thư phòng. Nếu là việc thường thì cho cùng các đại thần xử trí. Nguyễn Văn Nhân vốn là người có công lao năng lực, trước tuổi đều hơn ngươi, nên lấy lễ sư bảo mà thờ, không được nghe kẻ bất chính tòng trung phá rối. Vả lại nay uỷ ngươi giữ Kinh là muốn cho quen hiểu chính trị, khi rảnh việc công, cũng nên học tập kinh sử, cố gắng tiến đức tu nghiệp, không nên chút ham vui chơi mà phụ lời trẫm. Nên ba lần nghĩ đi nghĩ lại và nghi vào lòng chớ sai». Nhân ban cho một dấu đồ ký bằng ngà để khi có chỉ của cung Từ Thọ và có việc ở nội cung thì dùng. Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Bính và Lê Bá Phẩm thì cũng đều ban sắc dụ khuyên cố gắng cùng lòng hiệp sức làm việc nước.
      Đem việc Bắc tuần bố cáo trong ngoài.
      Ngày Nhâm tuất, xa giá từ kinh sư xuất phát. Thuyền ngự đi theo dòng Hương giang. Ngày ấy trời mưa, đến chiều tạnh. Đi qua đâu kỳ lão các địa phương đều bày hương án vui mừng đón rước. Ngày Giáp tý thuyền ngự đến kênh Mới ở Quang Trị. Dinh thần đem dân khơi thông dòng sông. Thưởng cho 100 lạng bạc, 500 quan tiền.
      Ngày Bính dần, đến kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình. Nước cạn, thuyền ngự không đi được, biền binh đi theo cùng với dân sở tại đóng cọc giữ nước rồi kéo thuyền qua, đến cửa ngã ba sông, thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền. Lại dụ bộ Hộ rằng: «Đường kênh cạn hẹp, là lỗi ở người hướng đạo không biết chỉ bảo. Nay dân ta chăm lo việc công, ra sức chỉ vài ngày là thuyền đến được sông cái, trẫm há lại vì cớ quan tồi mà chẳng thương đến dân sao?» Cũng thưởng dân 1.000 quan tiền.
      Hoàng trưởng tử và đại thần lưu Kinh đem việc trong Kinh yên vui tâu lên. Vua cả mừng, tự tay viết biểu dâng cung Từ Thọ để thỉnh an. Lại thân làm dụ yên ủi thăm hỏi Hoàng trưởng tử và các đại thần. Từ đấy, tin yên vui trong Kinh cứ ngày một lần báo. 
      Vua ở hành tại, biểu thỉnh an cung Từ Thọ và dụ gửi cho Hoàng trưởng tử đều tự làm lấy cả.
      Ngày Mậu thìn, xa giá đến hành cung Quảng Bình. Vua lên thành xem lũy cổ, cùng với thị thần bàn về việc Nam Bắc phân tranh thời quốc sơ. Lại đến cửa biển Nhật Lệ ngắm xem hồi lâu.
      Cho tế tướng sĩ trận vong Nam Bắc (đàn nam tế tướng sĩ thời quốc sơ; đàn bắc tế tướng sĩ quân miền Bắc). Dụ rằng: «Khi các thánh mới bắt đầu mở nghiệp, chỗ này là chiến địa, là chỗ vùi ngọc của các tướng sĩ vì nước bỏ mình. Người Bắc chống nhau với ta, không khỏi không bị đâm chém, nhưng đều vì chúa mà bỏ mình thôi. Nhìn lại dấu cũ, bỗng lòng cảm thương. Vậy sai dinh thần đặt hai đàn tế Nam Bắc, mà đàn Nam lễ thì phẩm hậu hơn để tỏ hơn kém». Rồi đặc sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức khâm mạng đến tế.
      Đem phẩm vật địa phương dâng cung Từ Thọ. Đến địa phương nào có của quý, vua đều tự viết biểu sai trung sứ đệ dâng.
      Cho quân sĩ hỗ giá 1.000 quan tiền. Dụ rằng: «Trong khi đi đường, ai có bị bệnh thì quan sở tại cấp thuốc, nếu chết thì cấp cho tiền vải liệm chôn và đánh dấu mộ rồi báo lên bộ tư về quê quán». 
      Thưởng cho Quảng Bình 500 quan tiền về việc mới dựng nhà quan và trại binh.
      Ngày Canh ngọ, ngự giá qua sông Gianh, thưởng cho phu đò 20 lạng bạc và miễn thuế thân cho dân Thanh Hà (tên thôn, dân đều làm phu đò).
      Ngày Tân mùi, ngự giá vượt núi Hoành Sơn, thưởng cho lính loan nghi (lính kiệu) 500 quan tiền.
      Ngày Nhâm thân, trú chân ở hành cung Suối Sa ở Nghệ An, bỗng gặp bão, mưa to như trút. Đêm, vua dậy thấy thị thần đều ướt át rét mướt, tự mình rót rượu và lấy thuốc viên đem cho. Lại sai sở tại lấy củi than cấp cho các quân đốt sưởi chống rét. Thưởng bạc tiền cho quan quân trực đêm theo bậc khác nhau.
      Các hành cung ở Nghệ An nhà cửa tường dậu xiêu đổ nhiều. Vua dụ trấn thần rằng: «Hành cung là nơi tạm nghỉ, cứ để như cũ, không làm lại. Ngày hồi loan sẽ che lợp sơ sài cho tạm xong việc, không cần tô điểm làm gì».
      Quảng Bình ngày ấy cũng có bão lụt. Tin bão đến, vua dụ cho dinh thần xét dân có ai chết bẹp chết đuối thì cấp cho tiền tuất. Còn nhà cửa nơi hành cung đáng lợp sửa thì lấy của công mà làm, chớ để phiền phí cho dân.
      Ngày Giáp tuất, đến hành cung Thạch Khê, triệu kỳ lão sở tại đến hỏi về việc làm ruộng. Đáp rằng: «Gần đây bị hạn hán, nay lại bị gió bão, sợ dân gian khó tránh khỏi mất mùa đói kém». Vua yên ủi rằng: «Trẫm sắp tha tô thuế để dân được hồi lại. Các kỳ lão nên khuyên răn con em cố sức làm ăn, chăm nghề căn bản, sống yên nơi đồng ruộng, đừng nên vin cớ mất mùa đói kém rủ nhau trộm cướp mà tự hãm mình vào pháp luật». 
      Ngày Bính tý, ngự giá đến hành cung Nghệ An. Tha thuế mùa đông năm nay cho dân. 
      Dụ rằng: «Hạt các ngươi bỗng gặp nạn bão, tuy lúa ruộng nhà cửa không hại lắm, nhưng trẫm nghĩ rằng trời đã vì dân mà đặt ra vua, thì kẻ làm vua phải coi dân như con, để lòng thương nuôi như cha hiền đối với con trẻ, chưa rét đã lo cho mặc, chưa đói đã lo cho ăn, há lại đợi khóc oe oe đòi bú mới cho ăn ư? Trẫm từ khi lên ngôi, không ngày nào không lo cho dân cư đông đúc được mùa. Hạt ngươi đất xấu dân nghèo, thường bị mất mùa. Nay cảnh ấy đã mục kích, nếu lại theo lệ thường mà chờ đến nơi xem xét thì tình dân mắc nạn đương mong mỏi đấy, gặp phải quan lại tham nhũng tòng trung sinh tệ, thì há lại chẳng thêm nỗi phiền nhiễu cho làng xóm phải cung ứng hay sao! Vậy tha cho thóc thuế về vụ đông».
      Lại sai Hàn lâm viện Thừa chỉ là Hoàng Quýnh đi xem xét dân tình. Quýnh về nói: «Trong dân gian, thuế vụ đông đã có nhiều người nộp trước từ vụ hạ rồi. Nay nhất thiết tha thuế thì của ấy trên chẳng vào được kho, dưới chẳng hề đến dân, mà chỉ là một dịp đầy túi cho bọn quan lại tham nhũng thôi».
      Vua nói: «Nếu quả như lời ngươi nói thì kẻ chăm lo việc công, cung phụng bề trên, lại không được thấm ơn gì!» Lập tức truyền dụ: «Phàm ai đã nộp thuế rồi thì lưu trừ vào thuế chính cung năm sau».
      Vua thấy các hành cung Nghệ An làm to rộng quá, quở rằng: «Trấn thần các ngươi chưa thể tất được lòng trẫm, đến nỗi dân ta lại thêm một phen tổn phí như thế». Lập tức hạ lệnh thưởng cho nhân dân 6.000 quan tiền. Lại dụ quan lại sở tại rằng: «Hạt các ngươi mấy năm nay nhiều trộm cướp, lại gặp nạn bão, xa giá đi qua đã thấu rõ tình trạng đau khổ của dân. Phàm chính sách yêu nuôi không gì không làm. Các ngươi là quan lại, phải công bằng giữ phép dẹp trộm cướp để yên dân, thì mới không phụ ý trẫm thương yêu nhân dân».
      Dân gian nghe ngự giá đi qua, đón dâng sớ tâu, ngày kể hàng trăm.
      Vua dụ bộ Lại rằng: «Trẫm có việc Bắc tuần, nhân xem xét địa phương, hỏi han phong tục, nay dân đem nỗi khổ mà kêu, sao nỡ làm lơ. Nhưng trong lúc đi qua dọc đường, có thể làm rõ lẽ ngay sao được? Vậy nên chấp đơn, đợi sau khi hồi loan sẽ quyết định. Duy những sự tình cấp thiết và việc quan lại tham nhũng thì tâu ngay».
      Cho quân sĩ hỗ giá trâu và gạo.
      Vua bảo Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức rằng: «Các quan theo hầu khi đi đường tiêu pha tốn nhiều, trẫm đã rõ cả. Nếu chẳng đủ tiêu thì nên cho trẫm biết, không nên vay mượn của ai. Các quan địa phương phỏng có biếu xén, chẳng qua cũng là lấy mồ hôi nước mắt của dân để lấy lòng nhau đó thôi, nên từ chối là tốt. Bọn khanh nên bảo khắp cho các quan lớn nhỏ đều thể tất ý ấy».
      Vua dụ Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh rằng: «Trẫm lần này đi Bắc tuần là kính theo lời di huấn, thực là việc khổ tâm không đừng được. Từ ngày tạm xa bàn thờ, trong lòng thương xót. Vậy phải truyền chỉ cho các hoàng tử tước công, các trưởng công chúa, đều thể lòng trẫm, thân đến điện Hoàng nhân thay trẫm chầu hầu. Các quan ở Kinh cũng thay ban nhau mà chầu hầu. Nguyễn Văn Nhân và Lê Bá Phẩm, xong việc rỗi rãi, cũng phải thường đi tuần xét, truyền chỉ cho bọn nội giám, thị nữ phàm việc thờ cúng cần phải kính cẩn, đồ thờ phải cho thơm tho, nếu hơi lười nhác, ngày trẫm hồi loan, tra xét ra thì sẽ trị tội nặng không tha. Tôn Thất Bính đã kiêm lĩnh thị vệ thì phải ngày thường thân đi sức rõ cho viên biền tuần phòng nghiêm chỉnh. Bọn khanh phải kính lời dạy để xứng đáng sự uỷ thác».
      Cho Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Xuân một thanh kiếm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây chữ vàng và cho 19 người Vệ uý, Phó về uý Thần sách ở trấn, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng. Nhân bảo Nguyễn Văn Xuân rằng: «Ngươi nên cấm bọn thuộc hạ, kẻ nào nhũng tệ, phải xử tử ngay để răn kẻ khác. Nếu răn cấm không nghiêm, ngươi không thể chối lỗi được. Ngươi nay đã tuổi già, nếu có lỗi lầm phạm pháp, thì trẫm rất thương. Nên cố gắng làm việc một hai năm nữa, cũng sẽ được triệu về Kinh».
      Lại bảo Vệ uý Lê Mậu Cúc, Nguyễn Cửu Lợi rằng: «Trẫm nghe Nghệ An sai binh đi bắt cướp lại rút lấy ở các đội, mỗi đội hơn chục người. Binh ô hợp, ngày thường không biết có tướng, nhất đán gặp giặc, liệu có giữ cho khỏi lỡ việc được không? Từ nay điều khiển nên dùng cả vệ cả đội, lâu ngày thì đổi, san sẻ công việc cho đều. Vả lại đạo dùng binh, uy phải hơn yêu mới được việc. Các tỳ tướng trở xuống, ai không theo lệnh phải xử theo quân pháp, thì người ta biết sợ, mà khi lâm trận dễ sai khiến».
      Lại sắc cho văn võ ở trấn mộ thuộc binh để sai khiến không được dùng lính các vệ cơ làm việc riêng. (Trấn thủ được 20 thuộc binh, Hiệp trấn 15, Tham hiệp 10, Quản phủ 10, Vệ uý 4, Phó vệ uý, Chánh, Phó quản cơ đều 3. Các Cai cơ, Cai đội quân Thần sách đều 2. Các Cai cơ, Cai đội, Phó đội, Chánh đội trưởng, Suất đội, đều 1 người.)
      Đổi sông Tam Chế làm sông Tam Đa (sau đổi là sông Tam Đăng). 
      Sai thự lý Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào hỗ giá; Lưu thủ phó vệ uý Tiền bảo nhất thuộc Tiền quân là Nguyễn Văn Long đem vệ binh đóng giữ ở trấn. 
      Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng, sai Hoàng trưởng tử tế thay.
      Ngày Nhâm ngọ, ngự giá đến hành cùng Thanh Hoa. Mấy trăm kỳ lão đến chiêm bái. Vua triệu hỏi. Mọi người đều lấy việc tật dịch và mất mùa mà đáp.
      Vua nói rằng: «Trẫm vâng nối cơ nghiệp gian lao to lớn của tiên đế, dậy sớm ăn trưa, rất lo nghĩ đến dân nghèo, mỗi lần gặp thiên tai trẫm càng thêm tu tỉnh, nghĩ sao cứu giúp nuôi nấng được dân. Ngày đêm mỏi mệt, chẳng dám nghỉ ngơi, há phải là tự mình hưởng giàu sang mà không thương dân đâu! Nay thăm địa phương, xem phong tục, mắt thấy dân đau khổ, lòng rất xót thương, sắp bàn việc tha thuế ruộng thân cho dân được ơn trạch. Thuế ruộng thuế thân là phép đã định không đổi của đế vương, nhân dân các ngươi nên chăm việc cày cấy để cung nộp cho nhà vua, đừng thấy nhiều lần xá miễn mà sinh lười biếng. Trong nước nay dẫu chẳng dám vội bảo là thái bình, nhưng cũng gọi là thịnh. Các kỳ lão nên răn dạy con em, học trò thì để tâm vào sách vở, làm nông thì gắng sức cày ruộng trồng dâu. Nếu có con em khó dạy mà sinh ra trộm cướp thì lập tức đưa lên quan xét cho rõ tội. Nếu biết mà dung túng, thì lũ vô lại ấy, tích nhỏ thành lớn, không những chỉ nhọc sức quân ta, mà dân ta đã bị hại trước».
      Các kỳ lão đều lạy tạ và nói: «Bọn thần già yếu sống thừa, nay được thấy thiên nhân và được hỏi đến thì hạnh phúc nào bằng». 
      Vua khen là thành thực, thưởng cho 300 lạng bạc. Tha nửa thuế ruộng thuế thân vụ đông năm nay cho Thanh Hoa.
      Dụ quan lại sở tại rằng: «Thanh Hoa là nơi dấu vết dựng nghiệp vương. Loan giá đến đây, biết rõ nỗi dân vất vả, vì liền mấy năm nay mưa gió tai họa, mùa màng mất nhiều, nên xuống lệnh tha thuế để thư nỗi khổ lâu ngày của dân. Đoái nghỉ việc yêu dân căn bản là ở quan lại. Bọn ngươi nên thể tất ý tốt của trẫm mà thương xót dân ta, đừng để việc hình án kiện tụng bê trệ, kẻ gian tung hoành, để cho trong cõi được yên ổn, thế mới là không sơ khoáng chức vụ».
      Lại thấy các hành cùng hạt ấy đơn giản mộc mạc, vua rất khen, thưởng cho quân dân 4.200 quan tiền.
      Lấy trâu rượu cho các quan hỗ giá ăn uống.
      Con cháu nhà Lê là Lê Duy Cáo, con cháu họ Trịnh là Trịnh Trụ vào yết kiến, ban cho mỗi người một bộ y phục. Lại thưởng con cháu nhà Lê 100 lạng bạc, con cháu họ Trịnh 50 lạng bạc.
      Quản lĩnh thượng đạo là Hà Công Thái dẫn các thổ tù đến chiêm bái. Vua thấy Thái tuổi già, sai người nâng dìu lên điện. Thái sợ hãi. Vua dụ rằng: «Ngươi hiến thân làm tôi, không phải một ngày, còn hiềm ngờ gì mà có ý sợ». Sai cùng với con là Quỳnh theo hầu, thưởng cho các thổ tù mà cho về. 
      Cho Phó vệ uý vệ Thần Sách theo trấn Thanh Hoa là bọn Phạm Văn Xuân 8 người, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc và một khẩu súng Tây chữ vàng.
      Lưu Vệ uý vệ Trung bảo nhị là Nguyễn Văn Ưng lấy vệ binh mà theo trấn đóng giữ.
      Dời công thự của Hiệp trấn và Tham hiệp Thanh Hoa đi chỗ khác. Trước một mình Đốc trấn ở trong thành, Hiệp trấn và Tham hiệp ở riêng ngoài thành. Vua hiềm là cách trở, nên sai dời vào cùng ở trong thành.
      Ngày Mậu tý, vua thân đến yết Nguyên Miếu, đến núi Triệu Tường bái vọng lăng Trường Nguyên. Lễ xong, dụ bầy tôi rằng: «Trẫm trông núi Kiều(1), nhớ đến công đức tổ tiên. Sau khi hồi loan, sẽ soạn văn dựng bia để tỏ rõ từ đâu gây nên nghiệp lớn, truyền lâu dài hàng ức vạn năm».
      Nhân sắc cho trấn thần Thanh Hoa tìm kiếm trong quý hương(2) các bia kệ tàn gãy có liên quan đến sự tích bản triều thì thu cất đi.
(1) Một ngọn núi ở Thiểm Tây (Trung Quốc) truyền rằng trên có một Hoàng đế. Minh Mệnh ý muốn ví Nguyễn Kim với vua Hoàng đế. 
(2) Làng nguyên quán của nhà vua, tức làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn.
      Thưởng cho quý huyện, quý hương và công tính bạc lụa, trâu, rượu theo bậc khác nhau (Quý huyện 300 lạng bạc, 100 tấm lụa, 10 con trâu, 10 chum rượu; quý hương 200 lạng bạc; công tính 300 lạng bạc). Từ tế sứ Từ tế ty là Nguyễn Hựu Tuyên, Từ tế phó sứ là Nguyễn Hựu Sĩ và bọn bảy người trưởng phái lĩnh bảy chi công tính thì được ban cho y phục.
      Thưởng cho xã Bùi Xá 100 quan tiền. 
      Ngày Canh dần, ngự giá đến hành cung Thanh Bình. Tha cho dân nửa số thuê tô vụ đông năm nay. Thuế trốn thiếu đều được miễn cả. Lúa mùa bị bão, sai đạo thần khám xét để tha thuế.
      Thưởng cho Thanh Bình 700 quan tiền về việc xây dựng hành cung. 
      Cho Quản đạo Nguyễn Văn Tạo một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng. 
      Các thổ tù đạo Thanh Bình vào yết kiến, đều thưởng hậu mà cho về. Cho Quách Tất Thúc làm Phòng ngự sứ.
      Ngày Ất mùi, ngự giá đến hành cung Bắc Thành. Hôm ấy trời tạnh ráo, nhân dân hạt thành dắt già bế trẻ hoan nghênh rợp đường. Họ đều nói: «Nghi vệ đời thái bình xưa nay chưa từng thấy». 
      Cho kỳ lão Bắc Thành 3.000 quan tiền. Ai 90 tuổi trở lên, cho thêm 1 tấm lụa. 
      Tha thuế thân cho các trấn Bắc Thành.
      Dụ rằng: «Trẫm nhân có việc đi tuần Bắc Thành, thăm tục dân, xét quan lại. Cờ thúy hóa(1) mới đến hạt, cụ già, con đỏ, đón kiệu vui mừng. Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, vẫn nghĩ đến đời sống của dân, đã nhiều lần ra ơn lớn. Huống nay loan giá mới tới, há lại không có gì để tỏ lòng mong mỏi của dân ta sao? Nhưng thuế đinh thuế điền năm nay đã nộp một nửa, lý trưởng hương hào đã thu trước ở dân rồi, nay nếu vội vã tha cho thì kẻ giảo quyệt sẽ dễ quấy rối, quan lại nhân đấy vơ vét, thì ơn huệ ban ra, khó xuống đến dưới. Vậy đặc biệt gia ân dự tha cho 5 phần 10 thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước của 11 trấn Bắc Thành và phủ Hoài Đức về năm Nhâm ngọ, Minh Mệnh thứ 3. Duy có Yên Quảng vụ mùa này bị bão lụt thì tha cho cả thuế ruộng vụ đông năm nay nữa. 
(1) Cờ vua đi tuần hành, trang sức bằng lông xanh.
      Thưởng cho Bắc Thành 9.400 quan tiền về việc xây dựng hành cung và sứ quán.
      Lấy sản vật địa phương Bắc Thành sai trung sứ đêm dâng cung Từ Thọ. Vua tự viết biểu thỉnh an, đại lược rằng: «Thần từ ra đi đến nay, qua các địa phương đều cho ơn huệ. Từ Quảng Trị, Quảng Bình, đến Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, cho đến 11 trấn Bắc Thành, không chỗ nào không cho tha thuế thân thuế điền. Quan lại, binh đinh ở Kinh ở ngoài thì thường thưởng cho bạc, lụa, lương, tiền, không dưới mấy chục vạn. Muốn góp vui của thiên hạ làm vui, thu phúc trong thiên hạ làm phúc để dâng cho thánh mẫu được sống lâu vô cùng, gọi là tỏ nguyện vọng lớn trong lòng thần vậy».
      Hoàng Thái Hậu ban cho đồ ăn quý, vua tự tay viết biểu tạ ơn. Từ đấy, Từ cung có gì cho, vua thường tự mình làm biểu tạ ơn dâng lên.
      Vua nghĩ trong Kinh khí trời hơi lạnh, dụ hỏi tình trạng gần đây của Hoàng trưởng tử. Hoàng trưởng tử làm biểu nói: «Thần kính nhờ phúc lớn, may được yên lành. Cúi mong mau việc lớn, để sớm hồi loan».
      Vua phê rằng: «Xem biểu xong rất mừng. Trẫm chính muốn sớm trở về chầu hầu cung Từ Thọ để yên lòng mong nhớ lâu ngày». 
      Cho các hoàng tử thân công hỗ giá, mỗi người 100 lạng bạc, 100 phương gạo.
      Cho Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát vàng, cho Phó tổng trấn Lê Văn Phong một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát bạc; các liêu thuộc ở thành tất cả 125 người, từ Tòng nhị phẩm đến Tứ phẩm, mỗi người đều thưởng gươm mạ bạc và súng chữ vàng theo thứ bậc khác nhau.
      Các thổ tù dọc biên giới Bắc Thành vào lạy chầu. Cho Tuyên uý đồng tri Tuyên Quang là Nguyễn Thế Nga, Phòng ngự sứ Sơn Tây là Đinh Công Lương, Phòng ngự sứ Hưng Hóa là Điêu Quốc Thuyên và Chiêu thảo sứ Đinh Công Kiêm làm Tuyên uý sứ, cùng với quản cơ cơ Hùng dũng trấn Cao Bằng là Nguyễn Hựu Bằng, Tuyên uý sứ châu Vạn Ninh trấn Yên Quảng là Phan Phương Khách và Tuyên uý sứ Hưng Hóa là Đinh Công Vượng tất cả 7 người, đều được cấp triều phục. Còn những người khác thì đều cho bạc và y phục theo thứ bậc khác nhau. Nhân đấy, sai họ vẽ đồ bản cương giới và kê rõ thế hệ truyền nối tâu lên. Rồi bổ bọn Thổ ty Tuyên Quang là Nguyễn Quảng Khải, Nông Văn Vân, Thổ ty Hưng Hóa là Điêu Chính Hâm, Cầm Nhân Trân, Thổ ty Thái Nguyên là Hoàng Đình Đạt, Trần Hữu Quyền, Thổ ty Yên Quảng là Phan Đình Sự, Phan Thiên Thạch làm thổ Tri Châu và thổ Tri Huyện (đều trật Chánh cửu phẩm), thổ Lại Mục (trật Tòng cửu phẩm), tất cả 53 người, khiến cai quản để nộp thuế nhà nước.
      Sai xây dựng ở phía bắc hậu điện hành cung Bắc Thành một cái lầu cao gọi là lầu Tĩnh Bắc (Đều dùng gạch ngói làm cả. Trên chia ba nóc, giữa đặt cùng mái liền tường, mỗi tường có thang bậc vòng quanh mà lên. Cửa sổ, bao lơn, long lanh, thông suốt bốn phương tám hướng. Tầng trên thờ tượng Tam tôn(1), để cầu phúc cho dân. Phía dưới lầu thì trồng vải và các cây có tiếng.)
      Ở Bình Hòa có bão, thuyền của dân bị đắm mất nhiều. Trấn thần tâu lên, sai xuất tiền kho cấp cho.
(1) Tam tôn: tức là Thích Ca, Văn Thù và Phổ Hiền.




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHINH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XII
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa đông, tháng 11, vua ở hành cung Bắc Thành, thấy sứ Thanh chậm đến nên gửi thư hỏi. Lại sai người dọ hỏi, cũng chưa về báo. Vua từng cùng bầy tôi bàn về việc ấy, bảo rằng: «Các triều Lý, Trần, Lê dựng đô ở đây, sứ Bắc có tới chậm hay chóng, không đến nỗi mong mỏi. Nay ra đống đô ở Phú Xuân, cách xa mấy nghìn dặm, nhờ uy ân của Tiên đế để lại, được các nguyên lão đại thần một lòng giúp đỡ, xa giá có đi xa cũng không lo đến việc trong Kinh. Nếu nghìn trăm năm sau, sự thể có khác đi thì làm thế nào? Bắc Thành không phải nơi hiểm đủ trông cậy được, quyết không thể dời đô đến được. Trẫm muốn dựng kế lâu dài cho con cháu, đêm ngày nghĩ ngợi, chưa từng chốc lát lãng quên».
      Dụ các quan Bắc Thành rằng: «Trẫm luôn luôn nghĩ đến dân, nhưng không thể đến từng nhà mà bảo từng hộ được. Có các khanh làm tai mắt, các khanh thấy nghe gì tức là trẫm thấy nghe đấy. Những việc lợi đáng chấn hưng, việc hại đáng trừ bỏ thi đừng tiếc lời, cứ nói hết».
      Lại sai vẽ bản đồ thành trì đồn bảo ở các trấn dâng xem để biết rõ địa hình.
      Vua thấy Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Lê Duy Thanh già yếu, chuẩn cho lấy hàm thự Tham tri Lễ bộ về hưu. Gặp có người tố cáo Thanh trái phép ăn hối lộ, thành thần đem việc tâu lên. Vua sai thự Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi tra xét.  
      Thanh vào yết kiến nói với vua rằng: «Trước kia thần giữ chức bị vị ở Kinh, được mệnh đi trấn đã cố từ chối không được. Từ đó sớm hôm nơm nớp sợ mắc tội. Nay bị có người vu cáo, xin sai quan Kinh tra xét. Nếu uỷ cho Nguyễn Hựu Nghi thì thà cho thần được chết». 
      Vua nói: «Nghi cũng là quan Kinh. Như ngươi nói thì chọn ai được».
      Thanh lại cố xin mãi. Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên to tiếng mắng rằng: «Thế là thế nào?! Tội hay không, tự có công nghị, sao lại khinh nhờn như thế thì đối với lễ phép triều định như thế nào?»
      Tổng trấn Lê Chất cũng nói Thanh ngạo mạn vô lễ, xin bắt tội.
      Vua yên lặng hồi lâu, nói rằng: «Thanh trước kia không công lao gì, trẫm nghĩ là theo làm việc lâu ngày mà dùng. Há hắn chẳng biết pháp luật là của chung thiên hạ sao mà lại ngu xuẩn ngang chướng quá thế?». 
      Liền sai trói ở trại quân Tả vệ rồi giải về Kinh.
      Lấy Hương cống triều Lê là Hoàng Phạm Lãng làm Đốc học Cao Bằng, Hồ Trọng Điển làm Đốc học Nghệ An.
      Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đăng chết; lấy Thiêm sự Binh bộ là Trịnh Xuân Trạm làm Hiệp trấn Hà Tiên.
      Bàn dựng miếu Lịch đại đế vương.
      Vua dụ Hộ bộ rằng: «Trẫm tham xét điển lễ, thấy từ xưa các đế vương đều có miếu thờ. Nay nhân có việc đi Bắc tuần, những nơi có thờ đế vương đời trước, không nơi nào không sai quan đến tế. Nhưng từ triều Lê trở về trước thì đều là thờ cúng trong dân gian, miếu vũ do Nhà nước tế thì chưa từng xây dựng. Nghĩ rằng vua các triều trước thay nhau làm việc đều có công đức với dân, lòng trẫm rất kính mộ, việc làm miếu thờ nên theo nghĩa mà làm. Vậy bàn sai chọn đất dựng miếu để làm nơi cúng tế».
      Thị trung Học sĩ Phạm Thích bệnh nặng không đến yết kiến được, quan Bắc Thành tâu lên. Vua sai Hữu tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiếp đến tận nhà thăm hỏi. Thích dâng biểu tạ ơn. 
      Thị trung Trực học sĩ thự Binh bộ Tham tri là Trịnh Hiến chết. Tặng Binh bộ Tham tri, cho 200 quan tiền. 
      Lấy Sinh đồ ở Hải Dương là Phạm Đình Hổ sung chức Hành tẩu ở Hàn lâm viện. Trước Hổ bị bệnh, triệu chưa đến. Bây giờ đến bái yết, xin theo nghiệp học để thi cho đỗ, để trọn chí của cha.
      Vua sai sung Hàn lâm viện để phòng cố vấn, Hổ nhân dâng một quyển Tiền Lê hội điển, một quyển Bang giao điển lệ, và một quyển thơ thù phụng. Xong lại từ không đến Kinh. 
      Giải những tù phạm bị sung quân và bị lưu (trên 130 người) ở Bắc Thành đi Gia Định. Chuẩn cho ngày đến thành thì được bỏ xiềng khóa rồi phát đi bảo Châu Đốc cho theo bảo hộ Nguyễn Văn Thụy sai phái tạp dịch, hằng tháng cấp cho tiền gạo để nuôi. 
      Nước Chân Lạp đói, xin thành Gia Định bán thóc cho. Sai thành thần cho 300 phương gạo. Vua phiên tâu rằng: «các sở thủy lợi từ trước của nước ấy, mấy năm gần đây cấm người Hán (Việt) không cho trưng nên ngạch thuế bãi bỏ. Nay khẩn xin chiêu mộ dân chài để phát mãi lấy tiền dùng việc nước». Vua y cho. 
      Ban quần áo cho thú binh hai vệ ở Thanh Nghệ (vệ Long võ hậu và vệ Hổ oai hậu). Sắc cho quan hai trấn từ nay phàm binh khí thú binh có thiếu hay hỏng, phải lấy tiền công tu bổ, không được thu góp ở lính.
      Điều trên 2.600 người Thần sách ở Thanh Nghệ đến Bắc Thành để đổi phiên đóng thú. 
      Học trò Hải Dương là Mai Bách Tòng, Vũ Đức Quang và học trò Sơn Nam hạ là Phạm Xuân Đệ dâng phong thư nói rằng các quan chưa hết (quốc) tang ba năm mà mặc gấm vóc thậm chí tìm con hát, mua nàng hầu, phóng túng không chán để cầu vui, sợ có hại đạo hiếu. Lời nói rất thiết tha. Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức đem tâu lên.
      Vua nói: «Việc bang giao là lễ lớn, theo lễ phải vui mừng. Bọn Tòng quê mùa không biết gì, cho nên nói ngu như vậy, nên dụ mà bảo về». 
      Vua ngự lầu Ngũ Môn duyệt binh Bắc Thành (số binh trên 14.000 người).
      Ban áo rét cho Hoàng trưởng tử và bọn đại thần lưu Kinh Nguyễn Văn Nhân.
      Thưởng cho năm dinh quân Thần sách 5.000 quan tiền và các quân ở Bắc Thành 1 vạn quan.
      Đắp đê mới ở Phúc Lộc, Sơn Tây. Ruộng dân chỗ nào bị đắp mất thì miễn thuế; chỗ nào lấy đất thành sâu trũng thì sau ba năm mới thu thuế theo ngạch thuế đầm phá. Từ nay có việc đắp đất đai mà lấn vào ruộng đất của dân thì theo đây làm lệ. Chuẩn định Bắc Thành từ nay chở gạo về Kinh thì lấy Sơn Nam hạ và ở kho Xích Đằng mà chở, kho Thăng Long không phải chở nữa. 
      Vua đến phường Nghi Tàm (thuộc huyện Vĩnh Thuận) xem diễn trận voi.
      Lấy Cái bạ Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Hiệp trấn Nghệ An.
      Trước vua ngự đến Nghệ An, thự lý Hiệp trấn Nguyễn Khoa Hào làm nhiều việc không vừa ý, liền sai đi theo giá. Đến nay cho Nhân thay. Rồi bổ Hào làm Thiêm sự Lại bộ.
      Lấy Vệ uý vệ Hữu bảo nhất Hữu quân là Khâm sai chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên làm Trấn thủ Biên Hòa. Quản phủ Bắc Hà là Lê Văn Hợp làm Trấn thủ Cao Bằng, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Đình Thịnh làm Cai bạ Định Tường, Thiêm sự Hình bộ là Phạm Đình Tích làm Ký lục Phiên An, Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.
      Cai bạ Phiên An là Trần Đình Trưng có bệnh phải miễn chức; lấy Thiêm sự Lại bộ là Lê Đăng Doanh thay.
      Hữu tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Quang Vĩnh dâng sớ điều trần mười việc:
      1. Việc Nam tuần là (Gia Định là nền móng dấy nghiệp phục quốc, là đất căn bản, cũng như Quan Trung, Hà Nội của nhà Hán. Huống chi phía nam giữ yên Chân Lạp, phía tây khống chế Tiêm La, là phên che lớn của nước nhà. Nay ngự giá Bắc tuần, dân địa phương đã được nhờ ơn, xin lại cử hành việc Nam tuần để hỏi thăm kỳ lão, yên ủi nhân dân, cho Bắc Nam đều được nhờ ơn mưa móc).
      2. Hòa hiếu với láng giềng (Xưa Tiên đế ngự sang Xiêm trong ba bốn năm, tuy nước ấy không giúp được binh lương, nhưng là nơi rồng hổ ẩn náu, gió mây do đấy nổi lại. Tiên đế lượng to như trời đất, kết thân láng giềng, trên 20 năm biên giới không lo gì. Nay xin xem mọi người cùng một lòng nhân, không lấy lễ văn nước ta mà trách thói man di hung hãn, đấy cũng như sách Trung dung nói «Khéo noi theo người trước, yên vỗ người xa»).
      3. Định lại binh chính (Khoảng năm Gia Long, ở Bắc Thành năm nội trấn thì kén tinh binh, sáu ngoại trấn thì kén thổ binh, dùng binh đất ấy để giữ dân đất ấy, đó cũng là phép phủ binh đời Đường. Nhưng dân gian cứ quen thói cũ là định khóa thay nhau, lấy tiền phụ dưỡng, dân thì có cái phiền phải mang đưa, binh thì sinh tính lười nhác, đến khi có việc sai khiến thì co rút không đi, muốn cho đắc lực khó lắm. Vậy xin tăng cấp lương binh mà phí nuôi quân không để phiền dân, 50 tuổi thải về, niên hạn phải cho nhất định, cấm sự giao ước hẹn riêng. Lại đặt phép đổi thú, hoặc đi thú ở Kinh, hoặc đi thú ở Gia Định, chỉ để lại Bắc Thành không quá 3, 4 phần 10, vào ra nên lần lượt để san sẽ khó nhọc và nhàn rỗi cho đều. Như thế thì dân yên nghiệp làm ruộng chăn tằm, không khổ về đóng góp; binh đóng ở đất khách cũng khó trốn được. Duy thổ binh thì vẫn để đóng giữ như cũ, khỏi thay đổi).
      4. Nghiêm quân luật (Binh pháp nói rằng: «Quân lữ cốt ở uy», cho nên tiên vương xưa đặt ra pháp độ trước, trọng uy hình sau. Hình trọng thì bề trong sợ, bề trong sợ thì bề ngoài bền vững. Nay theo binh luật, trốn lần đầu thì xử 80 trượng, bắt về ngũ: trốn lần thứ hai, thì xử 100 trượng, phát đi sung quân ở biên giới xa; trốn lần thứ ba thì xử giảo giam hậu. Gần đây, người ta coi thường, khi ở ngũ khi trốn đi, hình phạt ấy không công hiệu gì. Xin từ nay, trốn lần đầu xử 100 trượng bắt về ngũ, trốn lần thứ hai xử tột bậc tội lưu cho đồ 6 năm rưỡi, trốn lần thứ ba xử chém ngay, để cho quân biết sợ mà tránh tội, như thế thì số quân thường đủ mà không lọt ngoài hiệu lệnh.
      5. Đặt kho thường bình (Phép kho thường bình. Thóc rẻ thì tăng giá mà mua vào, thóc đắt thì giảm giá mà bán ra, các đời đã làm, ai cũng lấy làm tiện lợi. Xin từ Thanh Bình trở vào thì đặt kho ở các dinh trấn đạo, ở Bắc Thành thì năm trấn trong đều đặt kho ở phủ, sáu trấn ngoài thì đặt ở trấn, do quan sở tại giữ, lượng xuất tiền kho tùy tiện mà mua vào bán ra, như thế thì được mùa hay mất mùa không hại, mà dân thường như được mùa).
      6. Thêm lương lính thú (Đời xưa sai đi thú, có xét đến tình cảnh mà thương người khó nhọc. Nay cho người đi đóng đồn ở biên giới xa xôi, bắt cướp yên dân, mà lương lộc so với người an nhàn không có khác gì thì sao sai họ vào nơi nguy hiểm được. Vậy xin tùy chỗ nguy hiểm chỗ bình thường mà bàn thêm lương bổng, thì mọi người lo cố gắng hết sức làm việc.
      7. Rộng với thuyền hộ (Buổi mới dựng nước thuyền chở chưa đủ, phàm thuyền riêng mà đủ thước tấc thì cấp cho bài chỉ, một năm chở việc công thì một năm đi buôn bán, đấy cũng là chế độ tạm thời. Nay thuyền công không phải không đủ, vả lại việc chuyển vận đã có Trường đà. Vậy xin rộng lệnh dùng thuyền tư chở việc công).
      8. Bớt số nha lại (Lại viên liêm hay tham có quan hệ đến nỗi vui lo của dân. Nay lại điển phức tạp, xin cho trưởng quan sở tại xét hạch, nêu rõ người tốt, người xấu, bớt số người mà cấp thêm lương, cất dùng người liêm người tài, trừng trị kẻ bóc lột dân, thì lại viên biết khuyên răn, mà dân được yên nghiệp khiến hình luật công bằng).
      9. Công bằng hình luật (Từ xưa đế vương không những chỉ lấy hình buộc dân, mà tất lấy đức làm gốc. Từ năm Gia Long thứ 14 (1815) về trước, ăn trộm cướp chỉ giết kẻ đầu sỏ, còn kẻ khác chỉ bắt tội đồ, vì thế được toàn tính mệnh rất nhiều. Đến khi chế điều luật, kẻ cướp lấy được của thì không phân thủ phạm hay tòng phạm, đều xử chém cả. Xin từ nay kẻ cướp thì nên xét xem lấy của nhiều hay ít, hại người hay không hại người, kẻ đầu sỏ cứ luật mà xử, còn kẻ đi theo nên khoan giảm, như thế thì đức hiếu sinh thấm thía lòng dân, mà không có kẻ phạm pháp nữa).
      10. Miễn thu đền (Theo sổ ngày nay, trong năm dân chết vào khoảng từ tháng giêng đến tháng sáu mà có báo quan thì miễn thuế thân năm ấy, từ tháng bảy đến tháng chạp mà báo thì phải thu đền. Vả lại cái tiếng «thu đền» đã không nhã, mà việc thu đền lại bắt ở thân thuộc người chết, nếu không có thân thuộc thì hương lý không tránh khỏi sự đền thay. Xin từ nay miễn cả).
      Vua xem sớ nói: «Đặt kho thường bình là phép hay đời xưa, nhưng thực hành rất khó. Không được người tốt thì dân không được nhờ ơn. Còn trong luật nói «kẻ cướp thủ phạm tòng phạm đều chém», như thế để dân đỡ phạm tội, là ý đặt hình luật để mong không phải dùng hình. Nay muốn xử nhẹ thì phải nên lúc xét hỏi tùy tình hình định tội để tỏ lòng thương dân. Còn như pháp luật đã định rồi, có thể lại sửa đổi ư? Đại khái lời tâu nửa được nửa hỏng, nhưng nay mở rộng đường cho nói mà biết vâng chiều dâng thư thì cũng đáng khen ngợi. Trẫm cũng chọn điều hay cho thi hành».
      Cho tế núi sông toàn hạt Quảng Đức, thần núi Triệu Tường ở Thanh Hoa, Văn Miếu, đền Chân Võ, thần núi Tản Viên và Xung thiên Đổng thần vương ở Bắc Thành, mỗi sở một đàn. 
      Đổi phủ Thanh Đô trấn Thanh Hoa làm phủ Thọ Xuân, phủ Trà Lân trấn Nghệ An làm phủ Tương Dương, phủ Trường Yên đạo Thanh Bình làm phủ Yên Khánh, phủ Bắc Hà trấn Kinh Bắc làm phủ Thiên Phúc, phủ Tam Đới trấn Sơn Tây làm phủ Tam Đa, huyện Phong Lộc trấn Thanh Hoa làm huyện Hậu Lộc, huyện Quảng Bình làm huyện Quảng Địa, huyện Đông Quan trấn Sơn Tây làm huyện Hùng Quan.
      Cấp lương bổng cho biền binh ba tượng cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng ở Bắc Thành (Một cai đội mỗi tháng 2 quan tiền 2 phương gạo, 2 đội trưởng thì theo phẩm mà chi lương, 138 kỵ binh phụ thì mỗi người mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo, 2 lính tiểu mục, mỗi người 1 phương gạo). Vua nghĩ lâu ngày đóng thú xa xôi nên đặc cách cho. 
      Triệu Chưởng cơ thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách hành Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thúy đến hành tại, ban cho áo triều.
      Lại cho tìm sách xưa còn lại.
      Dụ rằng: «Khi trẫm được rảnh việc một chút, thì tìm tòi sách vở. Phàm từ xưa đến nay, những dấu vết phế hưng của các đời, những việc đổi thay của chế độ, cả đến nhân vật tốt xấu, phong thổ khác nhau giống nhau, vẫn muốn góp nhặt chuyện cũ để tham khảo. Trước kia có hỏi tìm sách cũ, cũng đã có người dâng lên, nhưng còn thiếu sót nhiều. Nay nhân có việc Bắc tuần, xem rộng địa dư, nghĩ rằng Bắc Thành là đất văn hiến, tất có thể tìm tòi được. Vậy tất cả những văn tự còn sót lại của đời trước hoặc những sách vặt của các tư gia, cho cả đến những sách kín của nước ngoài, phàm là ghi chép sự thực, có thể giúp ích cho đời, thì không câu nệ văn chương quê mùa, lời lẽ kiêng dấu, đều do sở tại chuyển dâng, trẫm sẽ thu xem và hậu thưởng».
      Tìm những người hiền tài còn sót ở Bắc Thành và Thanh Nghệ.
      Dụ rằng: «Trẫm nghe nói trong một ấp mười nhà tất có người trung tín. Huống chi bấy nhiêu địa hạt, đất rộng người đông, vốn có tiếng văn học. Năm trước từng đã từng xuống chiếu tìm người tài giỏi giúp việc, đến nay chưa thấy ai hưởng ứng. Hoặc giả người có thực tài thực học không cần người biết, cho nên các quan lại không được biết tên mà tiến chăng? Hoặc giả là kẻ sĩ tài giỏi cho rằng lòng cầu hiền của trẫm chưa được thiết tha chăng? Hoặc giả vì ở nơi cỏ hoang rừng rậm, muốn được đề đạt mà không ai tiến cử chăng? Nay trẫm dừng chân ở Bắc Thành đã gần hàng tháng mà vẫn yên lặng không nghe gì». Hay là vì các nha môn trong ngoài, nhân trước thấy chiếu nói cử người hiền lương phương chính mà không dám đương danh hiệu ấy chăng? Phàm dùng người cũng như dùng vật, nên thu lượm rộng rãi, sao lại cứ đòi cho trọn vẹn đầy đủ? Vậy đặc chuẩn cho cả 11 hạt Bắc Thành và 2 hạt Thanh Nghệ, có người nào học rộng văn hay, am thuộc điển tích, cho chí kẻ có một tài một nghệ khả dĩ giúp ích cho thực dụng, thì cho được đến hành tại hoặc các nha môn, hoặc nhân tiện đến các thành trấn thì cho lấy tên tâu ngay. Trẫm sẽ sai người xét thực, tùy tài chọn dùng, không để phụ cái lòng mong cha mẹ vẻ vang tiếng tăm lừng lẫy và để xứng với ý kén tìm nhân tài của trẫm».
      Lại cấm việc đánh bừa thuế cửa quan và bến đò ở Bắc Thành. Dụ rằng: «Đặt cửa quan bến đò vốn để ngăn phòng kẻ cường bạo, và nhân đó vận chuyển hàng hóa từ chỗ có đến chỗ không làm lợi cho dân. Năm trước, giá hàng đã thành lệ. Gần đây nghe tuần ty làm phiền lụy nhiều người buôn bán, khi thuyền bè đến thì nâng giá hàng lên, mặc ý đánh thuế. Người buôn muốn kêu lại sợ phải đi lại nơi quan nha, chậm trễ hàng tuần, lẽ phải chưa chắc tỏ bày được mà đã thiệt hại trước, cho nên chịu ẩn nhẫn chẳng biện bạch nữa. Tuần ty càng lấy thế làm đắc sách, nhũng loạn kiếm lời, ngày càng sinh quá. Trẫm muốn sửa đổi mối tệ ấy, đặc biệt huấn thị trước cho các ngươi đều phải răn bảo lẫn nhau, nghiêm tuân lệnh cấm, đừng cậy thuế công mà bóc lột ngoại lệ. Kẻ buôn bán được yên nghiệp làm ăn thì bọn ngươi cùng đều được hưởng phúc thanh bình. Nếu dám vẫn cứ khinh nhờn pháp luật như trước thì trị tội nặng không tha».
      Vua thấy gần đến lễ Đại tường trừ phục mà sứ Thanh chưa tới, ra triều thường đăm đăm không vui, bảo bầy tôi rằng: «Lễ Đại tường là việc cuối cùng của người con hiếu. Nếu trẫm không tự mình làm lễ được, thì là một điều ân hận trong đời». Lại nói: «Sứ Thanh đến chậm trễ như vậy, trẫm muốn trở về để kịp lễ Đại tường, bọn khanh thấy thế nào?».
      Thự Tham tri Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi đáp rằng: «Thần trộm đoán sứ Thanh sắp đến, không xa. Xin Hoàng thượng tạm ở lại đợi cho xong lễ bang giao, còn lễ Đại tường trừ phục xin sai Hoàng trưởng tử lưu Kinh kính thay». 
      Hữu Tham tri Hộ bộ Đoàn Viết Nguyên nói rằng: «Lời Nghi tâu là phải. Nếu nay Hoàng thượng hồi loan, không khỏi lại phải đi lần nữa, há chỉ quân sĩ mệt mỏi, mà thánh thượng cũng lại vất vả nữa». 
      Vua nói: «Chỉ cần cho phải lẽ, sao lại bàn đến chuyện mệt hay không. Trước Tiên đế lặn lội vất vả bao nhiêu, nay trẫm mỗi khi bước xa đã có xe ngựa, người theo hầu, còn khó nhọc gì». 
      Hàn lâm chưởng viên học sĩ Hoàng Kim Hoán nói: «Đại tường trừ phục thực là lễ lớn, nhưng việc bang giao là theo di huấn của Tiên đế. Nối chí theo việc còn hiếu nào hơn».
      Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận, thự Tiền quân Trần Văn Năng, Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, Phó tổng trấn Bắc Thành Lê Văn Phong, Hữu Tham tri Binh bộ Trần Quang Tĩnh, cả bọn đều nói vua ở lại là phải.
      Tổng trấn Lê Chất nói: «Xưa Tiên đế đi Bắc tuần, đến ngày kỵ Hiếu Khang hoàng đế không thể tự mình làm lễ được, là Ngài cho rằng lễ bang giao là phép lớn và muốn vì Xã Tắc mưu kế lâu dài. Tiên đế có di huấn rằng: «Xã Tắc là trọng, thân trẫm là khinh», lời nói còn ở bên tai. Nay Hoàng thượng nối chí theo việc, nếu không thể tự mình làm lễ Đại tường trừ phục cũng không thất hiếu».
      Kiến An công Đài nói: «Ngày kỵ hằng năm thường có, còn lễ Đại tường trừ phục chỉ có một lần thôi. Lời di huấn nói: «Xã Tắc là trọng, thân trẫm là khinh», chỉ là nói việc lên ngôi ở trước linh cữu, sao lại viện dẫn lời ấy. Nếu Hoàng thượng ở lại để đợi sứ Thanh mà không thể tự mình làm lễ Đại tường trừ phục, thì lòng yên sao được? Trộm nghĩ Hoàng thượng cứ về rồi đem cái nghĩa hiếu cảm mà gửi thư cho nhà Thanh, họ cũng không có lời trách được».
      Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên nói: «Bọn thần muốn lưu giá lại để xong lễ lớn, mà làm đau lòng thánh thượng không phải là không có điều sợ, chỉ vì sự thế không vậy không được thôi ».
      Vua khóc nói: «Bọn khanh nói như thế, trẫm cũng không biết làm sao được». Rồi khóc to mãi. Các quan cũng đều nức nở.
      Đức Xuyên nói: «Tội bất hiếu là tội ở bọn thần», bèn cùng mọi người xuống thềm lạy tạ. Rồi cùng nhau dâng biểu xin ở lại.
      Vua xem hồi lâu, phê: «Bọn khanh đã chẳng muốn rõ lòng thương nhớ đau đớn của trẫm, trẫm chỉ còn vỗ ngực thương xót, nuốt lệ trọn ngày. Kính xin Hoàng khảo ta ở trên trời soi xét cho việc ngày hôm nay thôi».
      Tiết Thánh thọ(1). Vua tự tay viết biểu sai Hoàng trưởng tử dâng thay. Biểu văn rằng: «Thần từ lâu xa cách, không được thăm nom sớm hôm, hầu hạ bên cạnh. Nhìn đám mây lành, dạ càng quyến luyến, trông mặt trời sáng, lòng càng thiết tha. Nay gặp tiết thọ, lệnh ra từ tiết tiểu xuân, đến tiết hạ chí thì làm lễ cầu phúc. Ngày nọ thần được lời từ dụ trước mặt rằng việc mừng thọ năm nay đình lại. Nay thần lại vì việc bang giao ở bên ngoài chưa được bưng chén ngọc vui mừng chúc thọ, trong lòng ngậm ngùi, thức ngủ chẳng yên. Vậy kính sai Hoàng tử lưu Kinh là Dung kính mang hòm biểu cùng 3 dật(2) vàng tốt và 10 dật bạc, đến cung tiến lên để chút lòng thành được thấu đến
(1) Sinh nhật của Hoàng thái hậu.
(2) Dật: tức là nén, 10 lạng.
cửa phượng nỗi mong nhớ được thỏa ở đất Long Biên. Cúi mong tuổi thọ như mặt trời mặt trăng mới mọc, hưởng phúc lớn không cùng, như sông núi lâu dài, khắp thần dân vui vẻ. Phúc lành càng hậu, phúc tốt càng tăng. Bảo lục(1) ghi tên ức muôn năm rực rỡ, cơ trù chồng chất(2) tám nghìn xuân lâu dài. 
(1) Bảo lục: sách truyền đạo của đạo tiên. 
(2) Chín trù của Cơ tử: trù thứ chín nói về năm điều phúc là: Phú, khang, ninh, du hiếu đức (có đức tốt), khảo chung mệnh (sống lâu mà lúc chết được toàn mệnh). (Thiên «Hồng phạm» trong Kinh Thư).
      Tù trưởng châu Sầm Tớ trấn Thanh Hoa là Xỉ Vu Hâm sai thổ mục là bọn Xỉ Úc Hạt mang sản vật địa phương đến trấn, xin đến hành tại lạy dâng và nói: «Mười động thuộc châu ấy từ trước lễ cống nước Vạn Tượng, năm Gia Long thứ 18 (1819) nhờ Hà Công Thái xin nội thuộc, được Kinh lược đại thần Lê Văn Duyệt nhận cho. Nay nghe ngự giá Bắc tuần, xin được chiêm bái và xin chức cống, hằng năm cứ đến tháng ba thì mang đến trấn nộp. Trấn thần tâu lên.
      Vua sai Thiêm sự Hình bộ là Phan Văn Nguyên mang cho áo quần, bạc, lụa, mà trả lại đồ dâng, truyền dụ rằng: «Bọn ngươi dâng lễ, Hoàng đế đã xét lòng thành, nhưng từ đây đến nơi hành tại còn xa, nghĩ thương tình mới theo, miễn cho lặn lội. Nếu quả có lòng thực hướng theo đức hóa, thì chờ khi có việc sẽ ra sức giúp triều đình. Còn như lễ cống hiến cho tùy phong tục, không buộc phải theo thường lệ và kỳ cống lâu hay chóng cũng không cần có hạn. Bọn Úc Hạt vui mừng tạ ơn, xin một năm một lần cống».
      Dân Man ba động Thâm Nguyên, Yên Sơn, Mộng Sơn thuộc trấn Nghệ An đến trấn dâng voi đực, xin đến lạy mừng. Miễn cho. Man Mộng Sơn lại nói rằng tù trưởng là Tạo Nam chết, con không thể nối được, xin trấn cấp bằng cho người cháu là Nam Lục Tạo làm trưởng. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua nói: «Bọn Man nhỏ mọn nơi biên giới, ta không cần phải chiều theo ý họ xin. Con hay là cháu, cứ mặc họ tôn lập lấy nhau là được».
      Ban triều phục cho các quan văn võ nhị tam phẩm và các quan trấn ở Bắc Thành. Ai đã sắm riêng thì cấp cho tiền. Lại cho các quan, văn thì Thiêm sự, võ thì Quản cơ áo rét và tiền thay áo, theo thứ bậc khác nhau.
      Cho Cai cơ, Cai đội, Suất đội năm dinh quân Thần sách ở Thanh Nghệ mỗi người một chiếc áo mổ giữa bằng hàng bát ty bóng, ba tượng cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng ở Bắc Thành, mỗi cơ 30 chiếc áo mổ giữa bằng đoạn lông chim.
      Cấp cho phu trạm hai trấn Kinh Bắc và Lạng Sơn 1 tháng lương. 
      Hành cung Độ Liêu ở Nghệ An phát hỏa, trấn thần dâng biểu xin nhận tội. Vua tha cho, sai lấy tiền kho sửa chữa lại, cốt sơ sài mộc mạc.
      Tháng 12, ngày mồng 1, vua mặc thường phục ngự ở điện trước của hành tại. Khâm thiên giám đem lịch năm Nhâm ngọ dâng lên. Trước là quan Lễ bộ xin thiết triều ở hành tại để làm lễ ban sóc (ban lịch), vua không nghe, chỉ sai quan Khâm thiên giám đội mũ mặc áo dâng lịch thôi. Lại truyền dụ cho ở Kinh hôm ấy phải thiết triều ở điện Thái Hòa, Hoàng trưởng tử và các quan lưu Kinh làm lễ bái vọng, rồi lấy sách lịch chia cấp cho trong ngoài.
      Nghệ An sửa thuyền ghe, xin thu trước thuế gỗ lim năm sau để dùng. Vua nghĩ sức dân chưa thư, sai lấy tiền công mua mà làm.
      Bình Thuận bão lụt, dân nhiều người chết đuối. Sai trấn thần lấy tiền cho cấp tuất. 
      Sai Gia Định đóng 50 chiếc thuyền.
      Trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Hiếu làm quan có thành tích. Vua xuống dụ khen ngợi, thưởng cho một cấp trác dị(1) và một ống kính thiên lý Tây mạ bạc, một thanh gươm chạm mạ vàng và một khẩu súng chữ vàng ở nội thảng.
(1) Trác dị: lỗi lạc đặc biệt.
 
 
      Sứ thần Trần Bá Kiên và Hoàng Văn Thịnh từ nước Thanh về. Vua triệu vào hỏi việc nước Thanh, Kiên và Thịnh đều không trả lời được. Vua bảo bộ Lễ: «Uy võ của Tiên đế để lại, người Thanh vốn vẫn kính sợ. Trẫm là thái tử nối ngôi, danh chính ngôn thuận cho nên sứ thần đối đáp không có gì khó. Dẫu bọn Kiên chất phác thực thà, cũng không đến nỗi nhục mệnh. Nếu là từ Trần Lê về trước thì không phải người tài rộng khắp không cho đi sứ được». Nhân sắc rằng từ nay đi sứ phải chọn người tài thức.
      Thự Hữu tham tri Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi xin cho Hiệp và Trạch (hai người đều là con Thái tổ) được tòng tự ở Nguyên miếu.
      Vua nói: «Triều Hy tông Hiếu văn hoàng đế, Hiệp và Trạch mưu làm phản, Tôn Thất Nguyên đánh giết đi, đấy là việc cũ lúc quốc sơ, trẫm lại không nhớ sao? Lẽ nào bầy tôi làm phản lại được tòng tự, sao lại xin càn như vậy?» Liền ném sớ trả lại.
      Phó tướng Tiền quân lĩnh Đê chính là Hoàng Văn Điểm bị bệnh, lấy Thống quản thập cơ Trung quân là Nguyễn Khắc Tuân kiêm coi Đê chính.
      Phó tổng trấn Bắc Thành Lê Văn Phong dâng biểu nói tài không xứng chức, xin nghỉ việc thành.
      Vua bảo Tổng trấn Lê Chất rằng: «Xem lời lẽ Phong khiêm tốn, đạo làm tôi thế là phải. Nhưng chức phó ở nơi trọng khổn cho ai thay được! Hãy tạm cho theo giá về Kinh mấy tháng rồi lại sai đi cũng được».
      Chánh thống Trung đồn Hậu quân là Khâm sai chưởng cơ Ngô Văn Ngữ vì già yếu xin về hưu. Vua nói: «Người khá gọi là biết lúc nên thôi». Sai về Kinh chầu hầu. Hiệp trấn Sơn Nam hạ Bùi Đức Mân cũng xin nghỉ việc, vua cho là tuổi chưa già yếu, không cho.
      Lấy Cai cơ Hậu kính Tiền quân là Bùi Văn Nguyện làm Phó thống thập cơ Kính tiệp (trật Tòng tam phẩm).
      Đổi các đội Uy chấn, Thanh bính, An bính, Uy trấn, Đông trấn, Thiên hùng làm các đội Uy chấn dinh Thần cơ quân Thị nội. Từ năm Nhâm tuất lại đây, các đội lưu thú ở Bắc Thành chưa được dự phẩm trật quan chế. Thống chế Vũ Viết Bảo xin cho. Vua liền sai đổi, và suất đội đều cho thực thụ.
      Vệ uy vệ Thành võ quân Thị nội là Văn Nguyên đem vệ binh về Kinh, đi đến Nghệ An ốm chết. Cho 200 quan tiền.
      Lấy Tri phủ Thiên Trường là Văn Viết Hậu làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Hạ Hồng là Lê Đình Dư làm Thiêm sự Hình bộ, sung biện hai tào Binh và Hình ở Bắc Thành.
      Cho những người hỗ giá, các hoàng tử thì áo bào gấm, các quan văn võ cùng binh và thợ thì bạc tiền lương gạo (Võ từ Chánh nhất phẩm đến Cửu phẩm 927 người; 1.084 lạng bạc, 3.986 quan tiền, 1.446 phương gạo, văn từ Tòng nhất phẩm đến Cửu phẩm 198 người, 283 lạng bạc, 538 quan tiền, 493 phương gạo; viên tử các quan văn võ 60 người, 173 quan tiền, 10 phương gạo; biền binh và thợ các cục 21.789 người, 21.973 quan tiền).
      Trấn thần Hưng Hóa tâu nói đất trong trấn nhiều ruộng mùa, một năm hai lần thu thuế, chuyên chở vất vả phí tổn, xin thu cả vào vụ đông để tiện cho dân. Vua y theo.
      Triệu Hiệp trấn Thái Nguyên là Lê Đình Khuê hỏi về việc trấn. Đáp: «Có giặc núi tên là Túc thường thường ẩn hiện chưa bắt được». Vua nói: «Lũ vô lại tụ nhau ở rừng núi, hẳn không trông lương vào đâu, có thể bắt được cũng không khó. Dẹp trộm cướp để yên dân là trách nhiệm của trấn thần các ngươi. Nên vì dân trừ hại, đừng để lan tràn ra. Phải truyền dụ cho các thổ hào mục trong trấn hạt rằng ai bắt được giặc thì hậu thưởng».
      Vua thấy dân phủ Hoài Đức ở Bắc Thành nhiều tay du thủ, hay sinh trộm cướp, sai thành thần theo phía trong La thành chia đặt ra từng giáp từng bảo để họ tố giác lẫn nhau, lại chia phái biền binh ngày đêm tuần phòng.
      Lấy Phó vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Trần Văn Lộc quản vệ Trung nhất, Vệ uý vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uy vệ Dương võ, Vệ uý vệ Tráng võ là Trương Văn Tuân làm Vệ uý vệ Ban trực hậu, Phó vệ uý vệ Quảng võ là Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ uý vệ Ban trực hữu.
      Bàn về việc duyệt tuyển ở Bắc Thành và Thanh Nghệ. Vua bảo thị thần rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, đại xá thi ân chưa từng tiếc phí. Số dân nhiều hay ít, vốn cũng chẳng có tính toán so đo. Nhưng duyệt tuyển là phép hay của bản triều còn chưa thi hành ở Bắc Hà, cho nên muốn mở đầu một phen để bảo đời sau. Bọn khanh nên bàn bạc thỏa đáng để tâu».
      Thế rồi bầy tôi nói: «Thân thì phải có dung, hộ thì phải có sổ, là để biết rõ nhiều ít, phân biệt già trẻ mà thi hành chánh sách phú dịch, khiến cho không có cái tệ quá nặng quá nhẹ. Nhà nước ta duyệt tuyển đã có phép sẵn. Thế tổ mới khai sáng, từ sông Gianh về Nam việc dân chính đều theo phép cũ, từ sông Gianh về Bắc thì đã sai bỏ sổ thường hành đổi sửa sổ đinh để làm phép duyệt tuyển, nhưng chưa kịp làm. Nay bốn phương yên ổn thì nối chí, noi việc là điều nên làm trước. Vậy xin 5 trấn nội ở Bắc Thành cho thi hành phép 5 năm một lần tuyển, bắt đầu từ năm Nhâm ngọ Minh Mệnh thứ 3, mà 2 trấn Thanh Nghệ, cũng lần lượt cho thi hành để cho Nam Bắc cùng phong tục, xa gần một thể thức, quốc kế dân sinh đều được tiện lợi». Vua cho là phải. Sai Hữu ty đúc ấn duyệt tuyển cho 5 trấn nội ở Bắc Thành.
      Thành thần Gia Định tâu nói: «Lính mới điền và lính mới mộ của các trấn thuộc thành chưa quen hàng ngũ, xin đến tháng giêng sang năm họp tất cả lại ở thành, cấp cho hai tháng gạo lương đề thao diễn». Vua y theo.
      Ngày Tân mão tế Chạp, sai Hoàng trưởng tử tế thay.
      Sứ nhà Thanh là Án sát Quảng Tây Phan Cung Thìn đến Nam Quan.
      Trước vua được tin Cung Thìn sắp đến, sai Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thúy, Hữu tham tri Lại bộ là Nguyễn Văn Hưng, Tham bồi Lễ bộ là Đinh Phiên sung chức hậu mệnh sứ ở cửa quan, Phó đô thống thế quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí, Hữu tham tri Hình bộ là Vũ Đức Thông, thự Tham tri là Nguyễn Hựu Nghi sung chức hậu tiếp sứ ở địa đầu Kinh Bắc, Thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo, Hữu tham tri Hộ bộ là Nguyễn Công Tiếp sung chức hậu tiếp sứ ở công quán Gia Quất. Đều cấp cho ấn quan phòng bằng ngà «Hậu mệnh», «Hậu tiếp» và sai đi trước.
      Cung Thìn đã đến cửa quan, hẹn lấy ngày 20 ngày tuyên phong, ngày 21 dụ tế. Hậu mệnh sứ là bọn Phan Văn Thúy xin đổi lấy ngày 18 tuyên phong, ngày 19 dụ tế. Cung Thìn đòi có quốc thư. Vua liền sai viết thư kíp đệ. Cung Thìn thuận theo, gấp đường mà đến.
      Vua cả mừng, bảo thị thần rằng: «Sứ nhà Thanh lấy ngày 19 để tế vừa vặn gặp lễ Đại tường. Từ Đinh Lý Trần Lê trước kia, người Bắc sang tế chưa có như thế bao giờ há chẳng phải Hoảng khảo ta ở trên trời thiêng liêng phù hộ mà được thế hay sao». Lại bảo Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức rằng: «Lễ Đại tường trừ phục trẫm không được ở trước bàn thờ làm lễ, lấy làm đau lòng trọn đời. Hôm ấy trẫm muốn dâng trước một tuần rượu ở trước thần ngự, rồi sau mới ra tiếp sứ nhà Thanh, theo lễ thế có được không?» Đáp rằng: «Được».
      Vua khóc to hồi lâu. Các quan đều ứa nước mắt.
      Ngày Giáp ngọ, lễ sách phong xong. Sáng sớm hôm ấy đặt lỗ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên suốt đến cửa Chu Tước. Từ phía ngoài cửa Chu Tước đến bến đò sông Nhĩ Hà thì xếp bày binh voi, nghi vệ rất thịnh. Sai Tả thống chế Thị trung Tôn Thất Dịch làm thân thần mang mũ áo bào tía sang cong quán Gia Quất, trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Hiếu, Tả tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Tả tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên đến nhà tiếp sứ ở bến sông để nghênh tiếp.
      Vua đội mũ cửu long, mặc hồng bào, đeo đai ngọc đứng chờ ở cửa Chu Tước, hoàng thân và các quan mặt phẩm phục theo hầu. Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất và Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức đều sung chức thị vệ đại thần.
      Giờ ngọ, sứ Thanh Phan Cung Thìn theo long đình đến điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong. Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên sung chức thụ sắc sứ. Lễ xong vua mời Cung Thìn đến Tiền điện, ung dung mời trà rồi lui. Cho đặt yến ở công quán Gia Quất và tặng biếu phẩm vật. Cung Thìn nhận lụa vải, còn đều trả lại và tạ ơn.
      Ngày Ất mùi, lễ dụ tế. Hai ngày trước Phan Cung Thìn đến công quán Gia Quất dâng lụa tế 50 tấm và đồ tế phẩm chiết thành số bạc 100 lạng, do hậu tiếp sứ là Vũ Viết Bảo đệ tiến.
      Vua sai hữu ty sắm sửa xôi lợn cỗ bàn và thêm lụa tế 100 tấm, hôm ấy đem bày ở điện Thị Triều. Vừa mặc lễ phục đến trước thần ngự dâng rượu lạy cáo, rồi sai quan ra tiếp sứ. Giờ thìn, Cung Thìn theo long đình đến làm lễ dụ tế. Chưởng Thủy quân là Tống Phước Lương sung chức Bổng tửu sứ(1), Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận sung chức Điển nghi sứ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Bùi Đức Mân, Hữu tham tri Công bộ Trần Văn Tính sung chức Tả hữu bổng tửu sứ. Lễ xong, Cung Thìn từ biệt về công quán. Lại đặt yến và tặng biếu như trước. Cung Thìn chỉ nhận ngọc quế Thanh Hoa và ngày hôm ấy trở về nước. Vua sai hậu mệnh sứ là bọn Phan Văn Thúy tiễn ra cửa quan.
      Cung Thìn phụng mệnh sang sứ, phàm việc nhất thiết theo điển lễ nước ta, khiêm tốn mềm mỏng, tình tứ lời lẽ đều rất là đầy đủ. 
      Ngày hôm ấy, lễ Đại tường ở điện Hoàng Nhân. Sai Hoàng trưởng tử tế thay (Ngày hôm trước Hoàng trưởng tử đem các quan văn võ ở Kinh, đều mặc áo luyện(2), làm lễ cáo yết. Lễ xong, bỏ tang phục. Đến ngày chính, mặc áo đàm(3) làm lễ).
(1) Bổng tửu sứ: sứ bưng rượu.
(2) Thứ áo tang bằng lụa trắng, mặc sau khi lễ Tiểu tường.
(3) Áo mặc sau khi làm lễ trừ phục.
      Trước đó, vua dụ Hoàng trưởng tử rằng: «Vừa rồi nhân sứ Thanh đến chậm, trẫm đã toan quyết ý trở về cho kịp ngày đại lễ Đại tường và trừ phục. Không ngờ mọi người cùng một lời, hai ba lần can ngăn, nên bất đắc dĩ phải gượng theo lời xin của các quan mà tạm lưu giá lại. Việc đã như thế, ta còn biết nói sao! Ngày lễ Đại tường, ngươi phải tế thay, đem tang phục của ta đội lên đầu, khấu đầu một cái rồi bỏ đi, cũng như chính bản thân ta khấu đầu làm lễ vậy. Như thế thì cực kỳ buồn tủi, tấm lòng đau xót giãi tỏ được phần nào chăng. Nguoi nên trai giới, tắm gội, cực kỳ thành kính, mới là con ta. Các hoàng tử, hoàng thân và các bề tôi ở Kinh đều phải thể tất lòng trẫm, hết lòng thành kính, ai không thành thì không phải là tôi con của ta. Nói chửa hết lời, mực hòa nước mắt, các người nên rõ cho ta».
      Lại sai đến kỳ lệ viếng lăng cuối năm, Hoàng trưởng tử rước Hoàng thái hậu ngự giá đi bái yết. 
      Sai sứ sang nước Thanh. Lấy Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoán sung Chánh sứ, Thiêm sự Lễ bộ Phan Huy Thực và Thiêm sự Binh bộ Vũ Du sung giáp ất Phó sứ. Sai chế ấn phụng sứ bằng ngà cấp cho. (Trước kia chương sớ của sứ thần đều dùng triện riêng.) Sau đó, người Thanh cho là nước ta đương có quốc tang, báo hoãn đồ cống, chờ kỳ cống sau nộp một thể.
      Vua bàn hồi loan. Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất và Phó tổng trấn Lê Văn Phong đem văn võ quan liêu các trấn thuộc thành vào bái. Dụ rằng: «Bọn ngươi chịu ơn nước đã hậu, tuy trẫm lên ngôi chưa lâu, ơn trạch chưa có gì, nhưng há không nghĩ đến đức của Tiên đế sao? Các ngươi đều phải hết chức vụ, võ thì coi quân, không xẻo xén khắc nghiệt, thì quân không đến nỗi trốn tránh, văn thì trị dân, nhất thiết giữ công bằng, thì có thể làm cho dân tin phục. Phải nên cố gắng». Bọn Chất lạy tạ. 
      Sai trung sứ đem cờ hồi loan (có viết hai chữ Hồi loan») truyền tin dọc đường vào Nam cho tới Kinh sư.
      Vua thân viết biểu dâng về cung Từ Thọ. Lại vì Hoảng trưởng tử xa cách lâu ngày, mong được gặp mặt ngay, bèn dụ khiến sang đầu xuân, xong lễ Nguyên đán, thì cùng với Thiệu Hóa công là Chẩn theo đường thủy đi đón giá.
      Ngày Bính thân, xa giá từ Thăng Long khởi hành, ngày Mậu tuất đến hành cung Thái Lai. Sai trấn thần Thanh Hoa sửa lễ tạ Nguyên miếu.
      Ngày Bính ngọ, thuyền ngự đến phá Tam Giang.
      Trước đó đã sai binh mã hỗ giá trích từng toán đi các hành cung, lại sai vệ Phấn dực quân Nội thủy dự bị thuyền ghe chia đến các bến sông Ròn, sông Gianh, Nhật Lệ, Hồ Xá chờ sẵn. Khi hồi loan, đi gấp đường, đến tối ngày 30 tết thì đã tới Tam Giang, tính mới có 11 ngày, thuyền theo hầu chỉ có mấy chiếc theo kịp.




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XIII
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
 
      Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) (Thanh Đạo Quang năm thứ 2), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Đinh mùi, ngự giá về tới Kinh sư; yết điện Hoàng Nhân; lại yết cung Từ Thọ mừng sức khỏe, rồi ngự ở điện Cần Chính. Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh là bọn Nguyễn Văn Nhân lạy để trả mệnh.
      Ngày Nhâm tý, đem việc lễ bang giao đã xong cáo các miếu và điện Hoàng Nhân.
      Ngày Quý sửu, đặt nghi thức tại triều ở điện Thái Hòa. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài.
      Chiếu rằng: «Bậc vương giả kính trời, theo tổ, là để làm vững mệnh lớn, giữ gìn phúc to, lưu truyền lâu dài về sau. Kính nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất bờ cõi, cả định dư đồ, tính kỹ kế trị thiên hạ, gây hòa hảo với lân bang. Trẫm nối nghiệp lớn noi phúc xưa, nhận trách nhiệm khó khăn trọng đại do tổ tiên giao cho bản thân ta, vẫn nghĩ sao nối được chí, noi được việc là hiếu. Cho nên trẫm đã tuân theo điển cũ, có việc bang giao phải đi Bắc tuần, đã tuyên dụ cho thần dân đều biết. Đến ngày 19 tháng 12 thì lễ lớn đã xong. Giờ thìn ngày 20 trẫm hồi loan và giờ mão ngày Nguyên đán thì đến Kinh. Lần này sứ nhà Thanh đem mệnh sang đây, mọi việc nhất thiết theo quốc lễ của ta, từ trước đến sau lúc nào cũng hòa nhã khiêm tốn. Vì thế lễ lớn chóng xong, trẫm đã tỏ được lòng đại hiếu. Lại, chuyến đi này, trẫm cùng các quan binh hộ giá lớn nhỏ đều được mạnh khỏe, thực là nhờ trời và tổ tiên phù họ cùng nhờ ơn uy của Hoàng khảo ta để lại mà được như thế. Nay đã chọn ngày lành là mồng 6 làm lễ tạ các miếu cùng điện Hoàng Nhân và ngày hôm nay ban chiếu cho thiên hạ. Ôi! Giữ tin hòa hảo với lân bang, bèn xét mưu mô hữu đạo; ở giữa mà là công việc lớn còn diễn phúc trạch lâu dài».
      Chuẩn định từ nay các chiếu văn đều phải niêm yết ở lầu Phu Văn. Các Tri huyện ba huyện trong kinh kỳ phải dẫn kỳ lão, hương lý và thân hào đến trước lầu để lạy xem.
      Thưởng bạc và quần áo cho các thị vệ đại thần tùy giá là Nguyễn Đức Xuyên, Trần Văn Năng, Tổn Thất Dịch, Vũ Viết Bảo và bọn quản vệ các quân Thị trung, Thị nội theo thứ bậc khác nhau. Biền binh các quân Thị trung và Thị nội, ai về trước thì cấp cho tiền và cho về thăm nhà một tháng; ai về sau, cho về thăm nhà 20 ngày.
      Để ấn ngự bảo ở điện Trung Hòa. Lệ trước, ấn tỷ để ở điện Cần Chính. Vua bảo Thượng bảo khanh rằng: «Hoàng khảo ta dùng điện Trung Hòa, thực ví như cung Càn Thanh của nhà Đại Minh, đó là nơi chính điện của thiên tử ở. Vậy phải đem những quả ấn ngự bảo để vào chỗ chính giữa điện, khi nào cần đóng ấn thì Đại học sĩ hiệp cùng Thượng bảo và Văn thư phòng tâu rõ. Sau khi được chỉ, thì do Nội giám mang ấn đến điện Cần Chính. Đóng xong, lập tức khóa lại rồi lại để ở chỗ cũ. Chìa khóa đó Thượng bảo giữ. Ghi làm lệnh mãi mãi».
      Ngày Giáp dần, vua mặc y phục tế đàm (mũ xuân thu bằng nhiễu màu xanh, áo trắng, vạt bằng lụa thâm không trang sức, trong lót lụa trắng Xiêm bằng lụa mộc không viền, bít tất lam, giày đen), đến điện Hoàng Nhân làm lễ tế đàm.
      Thế miếu làm xong (nhà chính, nhà trước đến chín gian hai chái; hai bên tả hữu hai nhà vuông; chính giữa sân là gác Hiển Lâm ba tầng; bên tả là cửa Tuấn Liệt trên có lầu chuông; bên hữu là cửa Phong Công trên có lầu trống; phía trước có tả vu hữu vu thờ các vị tòng tự; tường vây quanh có 5 cửa, phía trước gọi là cửa Miếu, phía tả là cửa Khải Địch, phía hữu là cửa Sùng Thành, phía trước bên tả là cửa Hiển Hựu; bên hữu là cửa Đốc Hựu. Cửa Phong Công sau đổi làm Sùng Công).
      Bộ Lễ dâng nghi chú lễ Thăng miếu(1). Vua nói: «Lễ có một tiết ban thịt tế. Trẫm nghĩ việc định nơi ở muôn năm của Hoàng khảo ta là việc rất tốt lành. Ngài đã để lại cho ta phúc to nghiệp lớn, thì tiết này trẫm phải kính cẩn quỳ bưng chén rượu phúc, giơ lên trán vái một cái rồi uống cạn, để đáp cái phúc lớn Hoàng khảo đã cho ta».
      Ngày Ất mão, vua đem bầy tôi rước thần chủ Thế tổ Cao hoàng đế và Cao hoàng hậu lên Thế miếu và rước thánh vị về để yên ở điện Hoàng nhân.
      Định lệ cúng ở các miếu. Tiết Nguyên đán và hai kỳ tế Xuân, Thu thì vua đến tế ở Thái miếu; tiết Đoan dương và hai kỳ tế Hạ, Đông, thì vua đến tế ở Thế miếu. Lễ hợp hưởng thì năm nay vua đến Thái miếu, sang năm đến Thế miếu làm lễ. Còn Triệu miếu và Hưng miếu thì sai hoàng tử, hoàng thân tế thay. Ngày mồng một và ngày rằm, đều sai hoàng tử, hoàng thân làm lễ.
(1) Rước thần chủ lên miếu để thờ.
      Ngày Mậu ngọ, tế xuân hưởng. 
      Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Thái Hòa, đem việc lễ Thăng miếu đã xong ban chiếu cho trong ngoài. 
      Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ thánh nhân đặt giáo trọng hiếu, là để làm cho hậu luân lý; vương giả cúng thân mượn miếu là để tỏ sự tôn sùng. Cho nên «Tụng» của Kinh Thi ca ngợi việc hữu hưởng(1), «Điển» của Kinh Lễ quý trọng việc thăng nhân(2). Lớn lao thay Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, thân đủ cả ba tài(3), lòng chứa muôn điều thiện. Buổi gian truân gặp cơn nguy biến, được trời cứu giúp mà có bão tự núi (Côn Lôn) ra(4); nước ngọt giữa biển(5). Nhân dân mong sống lại, cùng vợ con đem cơm nước đón rước quân vua. Nương náu nơi tối tăm, ngầm lập mưu, gây ân đức; vận dụng kế sâu thẳm; đánh giặc nước, trả thù nhà. Công lao dựng nghiệp và trung hưng, bằng cả Cao Tổ và Quang Vũ; mở bờ mà rộng đất, thống nhất cõi Bắc miền Nam. Kính mệnh trời từ gây dựng đến thành công; dựng ngôi báu không thiên tư không đảng phái. Chế ra lễ nhạc, đẹp tốt hơn trăm vua; dựng nên mối giềng, phép tắc truyền muôn thuở. Trải bốn mươi năm đức sâu ơn hậu, rực rỡ nghìn xưa; để lại ức muôn năm công lớn, mưu to, như trời vĩ đại. Trẫm kính nhận sự phó thác (của Hoàng khảo), trong lòng rất mực đau thương. Nơi Dực thất(6) băn khoăn muốn báo đáp mà không cùng được; chốn quân đài(7) nối nghiệp, nghĩ noi theo là việc khó khăn. Nay tang phục đã hết, vừa miếu  vũ làm xong. Muốn tỏ điển lớn lao, cử hành lễ long trọng, nên kính cẩn chọn ngày mồng 3 tháng này, lễ cáo các miếu và điện Hoàng Nhân, ngày mồng 9 thân đem bầy tôi rước thần chủ Hoàng khảo Thế tổ Khai Thiệu Hoàng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần
(1) Hữu hưởng: dâng lễ cúng.
(2) Thăng nhân: trai khiết dâng lễ cúng tế.
(3) Trời, đất, người.
(4) (5) Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn vây khốn ở Côn Lôn, bỗng có cơn bão làm đắm nhiều thuyền của Tây Sơn, Ánh thừa cơ trốn thoát. Khi chạy ra ngoài khơi, mấy ngày không có nước ngọt để uống, sắp chết khát, Nguyễn Ánh khấn trời: Nếu có chân mệnh làm vua thì xin gió dạt thuyền vào đất liền, nếu không thì xin dìm thuyền cho chết đuối. Khấn xong, bỗng có một vùng nước ngọt nổi lên ở giữa biển để quân sĩ múc uống (Theo: Thực lục chính biên - Đệ nhất kỷ).
(6) Dực thất: cái nhà ở bên tả hay bên hữu Thái miếu, vua ở trong khi có tang (Thiên «Cố mệnh» Kinh thư).
(7) Quân đài: cái đài khi ông Khải nhà Hạ làm lễ lên ngôi vua.
Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế lên miếu và rước thần chủ Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu lên thờ chung. Từ chín tầng mây lên xuống, như vẫn giáng lâm; muôn đời thờ hiển linh, vô cùng rực rỡ. Để làm sáng tỏ nền nếp tốt đẹp, nên cho ân trạch nhuần thấm khắp nơi. Vậy nay có ân điển gồm 8 điểm:
1.   Trong dịp Bắc tuần năm ngoái, các hoàng tử tước công theo giá và hoàng tử lưu Kinh đều thưởng 50 lạng bạc, 1 tấm đoạn thêu mãng xà, 1 tấm nhiễu Hồ, 1 tấm sa, bút mực đều 1 hộp, 1 cái nghiên, 1 quyển giấy hoa tiêu.
2.   Các đại thần thị vệ, đại thần luu Kinh, văn võ tùy giá, từ Chánh nhị phẩm trở lên và các Chánh phó tổng trấn Gia Định, Bắc Thành đều gia một cấp.
3.   Văn võ tùy giá từ Tòng nhị phẩm đến Tòng tam phẩm đều cấp một lần kỷ lục.
4.   Các miếu Lịch đại đế vương, Văn miếu, miếu Hội đồng ở các thành dinh trấn cùng các thần kỳ ở trong điển thờ, đều tế một đàn.
5.   Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình được giảm 6 phần 10 thuế thân và tiền đầu quan năm nay; Quảng Nam, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa được giảm 5 phần 10.
6.   Chuẩn cho 11 trấn Bắc Thành đều theo chỉ trước, được giảm 5 phần 10 thuế thân và tiền đầu quan năm nay.
7.   Năm nay mỗi huyện cống một người học sinh và từ sau cứ hằng năm mỗi phủ cống một người, do quan Quốc tử giám phúc hạch, nếu trúng được bốn kỳ thì làm danh sách tâu lên để cấp cho lương ăn học (ở Quốc tử giám). Khi gặp có khoa thi Hội, thì quan Quốc tử giám lại đem sát hạch rồi tâu xin cho cùng với Hương cống vào thi. Người nào văn học không thông thì bắt về và bắt phủ huyện cử người khác điền vào.
8.   Phong tặng cha mẹ quan viên văn võ. Bộ Lễ phải tuân tờ chiếu trước mà xét rõ, trừ những người phạm tội thập ác(1) và các tội danh không được phong tặng, còn thì đệ tâu danh sách để đợi chỉ phong tặng.
      «Ôi! Nghi ngút hương thơm, phụng thờ sánh cùng chín miếu; chén vàng cầu phúc, thiêng liêng bền tựa đất trời. Nơi hương khói nay đã dựng xong, con cháu ta được nhờ sự phù hộ. Cầu chúc để ban cho muôn họ, các ngươi nên thành kính hưởng thừa.»  
      Chưởng dinh hưu trí là Nguyễn Long vào yết kiến, thưởng cho quần áo và 200 quan tiền.
      Gọi hơn 4.200 biền binh ở Bắc Thành, Thanh, Nghệ và Thanh Bình về Kinh.
(1)  Thập ác: 10 tội danh trong hình luật: 1. Mưu phản, 2. Mưu đại nghịch, 3. Mưu bạn (phản nước theo giặc), 4. Ác nghịch (đối với thân thích), 5. Bất đạo, 6. Đại bất kính. 7. Bất hiếu, 8. Bất mục, 9. Bất nghĩa, 10. Nội loạn (loạn dâm). (Theo «Hình luật chí» trong Lịch triều hiến chương loại chí).
Sửa văn miếu.
      Vua từng bảo bộ Lễ rằng: «Sách vở là để rộng kiến văn. Nay việc học sĩ tử cạn hẹp là vì cớ ít sách. Phải sai các Tế tửu, Tư nghiệp xét sách trong Quốc tử giám, nếu chưa đủ thì tâu xin ban cấp để giảng tập». 
      Sai Bắc Thành hằng năm mua 1.000 hộc thóc nếp chở về Kinh. Từ nay lấy đó làm lễ.
      Chuẩn định từ nay tế Giao có tám đàn tòng tự, thì hoàng tử hoàng thân giữ việc phân hiến(1) ở bốn đàn (tả nhất, hữu nhất, tả nhị, hữu nhị), văn võ đại thần phân hiến ở bốn đàn (tả tam, hữu tam, tả tứ, hữu tứ). Năm lẫn tế hưởng(2) ở Thái miếu thì tám án hai bên tả hữu, hoàng tử, hoàng thân phân hiến bốn án (tả nhất, hữu nhất, tả nhị, hữu nhị); văn võ đại thần phân hiến bốn án (tả tam, hữu tam, tả tứ, hữu tứ). Trước kỳ tế, bộ Lễ xin chỉ để phân phái, ai không dự vào phân hiến thì theo ban mà bồi tế. Ai vô cớ mà bỏ không đến tế thì xét hặc.
      Ngày Đinh mão, vua ngự điện Trung Hòa, dụ bầy tôi rằng: «Trước đây trẫm dùng nhà Minh đường ở dãy bên đông chính điện làm nơi cư tang, sớm chiều chịu tang chế ở đấy, ba năm nay vẫn giữ như một ngày. Nay lễ Thăng miếu đã xong, trẫm ngự ở điện chính, để hợp với cái nghĩa ở giữa mà lo việc lớn». Bầy tôi đều chúc mừng.
      Sai quét màu vàng cung thành để làm Tử cấm thành.
      Sai Giám thành phó sứ là Đỗ Phúc Thịnh đến đạo Cam Lộ ngắm đo từ sông Điếu Ngao (tên xã) đến Ai Lao, vẽ thành bản đồ hình thế núi sông để dâng. Vua sai truyền dụ cho Sai trưởng bảy sách thuộc Man rằng: Bọn ngươi đời đời dâng cống, đã hơn 200 năm nay, cũng là phiên thuộc của triều đình. Phàm đất đai thuộc bản đồ phải có bờ cõi rõ ràng để dùng trong việc trị dân giữ nước chớ nên ngờ sợ. Những người được sai phái đã có hậu thưởng, không phiền các ngươi phải cung đốn».
      Tường sinh(3) tỉnh Phúc Kiến nước Thanh là Vương Khôn Nguyên đi Đài Loan chấm thi, nhân bị bão dạt vào đậu ở Đà Nẵng. Sai cho quần áo tiền gạo và đưa theo đường bộ về nước. Khôn Nguyên xin về đường biển. Y cho, và cho thêm 100 lạng bạc. 
(1) Dâng rượu cúng ở các bàn phối hưởng hai bên tả hữu.
(2) Xuân, hạ, thu, đông hưởng và hợp hưởng.
(3) Tường sinh: sinh viên ở phủ, huyện.
      Bàn cho những công thần trung hưng được tòng tự ở Thế miếu.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Nay rước Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế lên miếu để hưởng cúng muôn năm, theo lễ thì có tòng tự. Trẫm nghĩ từ buổi trung hưng đến nay, những người theo đòi giúp đỡ, ngoài năm người là Tôn Thất Mận, Tổn Thất Điển, Tôn Thất Huy, Võ Tánh, Ngô Tòng Chu ra, còn nhiều người công trạng rực rỡ. Bọn ngươi phải xét kỹ các công thần thân huân, ai là người thủy chung hết lòng, công lao đặc biệt, thì liệt kê công trạng, bàn xét tâu lên đợi trẫm quyết định, để đáp lại công lớn, làm sáng tỏ điển thờ. 
      Sai sứ sang nước Xiêm. Lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Nguyễn Kim Truy làm Chánh sứ, Cai cơ Thị trà là Ngô Văn Trung làm Phó sứ (tặng Phật vương, 3 căn quế và sa, the, trừu, lụa mộc, lụa trắng, mỗi thứ 100 tấm). 
      Ngày Tân mùi, duyệt binh.
      Lấy Thiêm sự Binh bộ là Lê Đường Anh quyền làm công việc Cai bạ Quảng Ngãi.
      Bộ Lễ tâu rằng: «Những miếu thờ đế vương lịch đại ở các địa phương, có khi hai ba sở miếu cùng thờ một triều đại, có khi một hạt mà thờ hai bà triều đại, xin cho từ sau kỳ xuân tế này, mỗi hạt đều hợp thờ một đàn».
      Vua dụ khiến các triều đại cứ mỗi triều đều tế mộ đàn, duy họ Trịnh không dự lệ ấy.
      Bộ Lại tâu dâng danh sách gia cấp các đại thần văn võ.
      Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng: «Điển lễ gia cấp là để ngụ ý khuyên răn. Nếu nhất khái cho cả những người lười biếng, không xứng chức vụ thì không phải là ý khuyên răn». Sai đình thần bàn lại. Bọn Lễ bộ Phạm Đăng Hưng và Lê Đồng Lý vì làm việc sai lầm không được dự. 
      Lại dụ sai hai bộ Lại, Binh kê danh sách các quan viên văn võ lớn nhỏ tùy giá và các văn võ ở Bắc Thành có dự vào việc lễ bang giao, cho đình thần bàn xét, ai được việc thì thưởng, ai không được việc thì phạt. 
      Lấy Phó vệ uý Nguyễn Văn Tình quản Tả vệ dinh Long võ quân Thị nội.
      Sai Quảng Bình và Thanh Hoa mộ người lập những hộ yến sào (mỗi người mỗi năm nộp thuế 8 lạng), tha cho thuế thân. Nhân lại định lệ thuyền yến hộ (yến hộ nào đinh số 40 người trở lên thì đóng 12 chiếc thuyền, hộ nào 30 người trở lên đóng 8 chiếc, hộ nào 20 người trở lên đóng 5 chiếc, hộ nào 10 người trở lên đóng 2 chiếc. Thuyền rộng 5 thước đến 6 thước 9 tấc, do quan sở tại cấp bài chỉ, chiếu lệ nộp thuế. Sai dịch đều được miễn cả. Hộ nào không đủ 10 người thì không ở lệ này).
      Sai Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận quản lý Khâm thiên giám.
      Bộ Lễ bàn và dâng nghi chú đại triều và thường triều. (Vua) chuẩn cho bắt đầu từ buổi thiết triều ngày 15 tháng 2. Hằng tháng, ngày mồng 1 và ngày rằm đặt đại triều; các ngày 5, 10, 20, 25 đặt thường triều. Ngày đại triều thì hữu ty bày lỗ bộ và nghi vệ đại triệu ở điện Thái Hòa. Vua ngự mũ cửu long, áo bào vàng, đai ngọc. Hoàng tử, hoàng thân và văn võ trăm quan đều mang áo mũ đại triều, theo ban chầu bái. Ngày thường triều thị đặt nghi vệ thường triều ở điện Cần Chính. Vua ngự khăn cửu long kiểu nhà Đường, áo tràng vạt sắc vàng kiểu nhà Minh, bổ tử thêu rồng vàng. Hoàng tử, hoàng thân và văn võ tứ phẩm trở lên đều mang áo mũ thường triều mà chầu bái. Được gọi lên điện cho ngồi và cho uống nước chè. Các nhà môn có việc gì thì tâu.
      Cấp thêm lương tháng cho thư lại vị nhập lưu ở Nội vụ phủ. (Mỗi người mỗi tháng được cấp 1 quan 5 tiền và 1 phương gạo.) Dụ rằng: «Trẫm nghĩ bọn ngươi lương ít, không đủ nuôi đức thanh liêm, nay đã được ngoại lệ gia ân thì đều phải cố gắng, nếu còn tham nhũng hối lộ và không chăm chỉ chức vụ, sẽ thêm bậc mà trị tội». 
      Bổ biền ở Thanh Hoa bắt được tướng giặc là Lê Văn Thông ở Nông Cống đem giết.
      Sai bộ Lễ lựa chọn trong các đội tiểu hầu, ai là người cao tuổi biết âm nhạc thì cho dạy đội tiểu hầu nữ diễn tập cho thông thạo để hát chầu.
      Sai Quảng Đức bắt dân và thợ luyện nấu các thứ ngói lưu ly.
      Tháng 2, nước Vạn Tượng sai sứ đến Nghệ An dâng biểu xin truy dâng lễ tiến hương. Vua cho là việc quốc tang đã xong, cho miễn. Cho vua nước ấy và sứ giả bạc và lụa rồi bảo về.
      Nước Vạn Tượng lại xin cho Man thuộc là Phọc Khâm được thu thuế ở động Động Dịch. Vua sai Thiêm sự Vũ Viết Trường đến hội với trấn thần Nghệ An truyền họp tên Phọc Khâm và người Động Dịch để xét. Phọc Khâm thú rằng: «Trước kia nghe nói động Động Dịch thuộc về động Lạc Hoàn, nên đã bị Phì Chủ Phô sai đến động ấy đòi thuế. Nay tự biết là trái lệ, xin nhận tội».
      Lại gặp có việc hai sách Phá Băng, Xương Cụm thuộc đạo Cam Lộ cũng bị Phá Hạt Xà Bút (con vua nước Vạn Tượng) sai người đến đòi thuế. Việc tâu lên. Vua dụ vua nước Vạn Tượng rằng: «Động Dịch là dân biền của ta, đã ghi vào sổ sách. Phọc Khâm đã biết tội thì tạm rộng tha cho. Còn như các sách Man ở Cam Lộ thì là thần thuộc của triều ta, vẫn cung nộp thuế lệ hơn 200 năm nay, không có cái việc nước ngoài đến sách nhiễu thuế khoá bao giờ. Phá Hạt Xà Bút sao dám như vậy? Duy nghĩ y mới mạo phạm một lần nên cũng rộng dung cho. Vương phải nghiêm cấm bọn chúng, từ nay phải tuân pháp luật, giữ cương giới, không được làm bậy, để nhờ cái phúc của trẫm vỗ yên các bang». Lại truyền dụ cho dinh thần Quảng Trị thông sức cho Sai trưởng bảy sách Cam Lộ đều được biết.
      Bắt đầu duyệt tuyển ở nam trấn Bắc Thành (Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, mỗi nơi một trường; phủ Hoài Đức phụ vào trường Sơn Tây). Sai Tổng trấn Lê Chất quản lĩnh ấn vụ duyệt tuyển, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiệp, Thái thường Tự khanh Lê Đồng Lý, Hiệp trấn Nghệ An Ngô Bá Nhân, Hiệp trấn Sơn Nam thuợng Vũ Xuân Cẩn, Cai bạ Bình Định Hoàng Văn Quyền, chia nhau đi các nơi phụng mệnh làm việc. Bọn Công Tiệp năm ngoái tùy giá được lưu lại ở Bắc Thành để làm việc này. Vua nghĩ bọn họ ở ngoài lâu ngày, cho mỗi người 100 lạng bạc và dụ rằng: «Bọn ngươi là chính do trẫm lựa chọn, cần phải cố gắng giữ công bằng trung trực, để xứng lòng trẫm đinh ninh dặn dò ba bốn lần. Nay ban cho như thế cũng đã đủ nuôi liêm. Nếu còn dụng tâm đen tối, cam làm ô trọc, thì dù không nghĩ đến báo đáp ơn trẫm, nhưng lại không nghĩ đến bản thân và gia đình sao? Phàm những bọn quên ơn vô sĩ như thế, trẫm nhất định trị tội nặng để trừ tiệt cái tệ hối lộ. Khi dụ đến nên để luôn luôn ở trước mặt chỗ ngồi để kính cẩn tuân theo, chớ quên».
      Lại dụ Lê Chất rằng: việc dân chính buổi mới, công việc nên giản dị, miễn sao trừ bỏ thói tệ, chấn hưng điều lợi là được.
      Bấy giờ có viên phủ lại ở Kinh Bắc là Man Kim Xán và viên trấn ty ở Sơn Nam hạ là Nguyễn Đình Cẩm đòi tiền của dân, Chất lập tức đem chém cho mọi người biết, rồi đem việc tâu lên. Vua cho là phải.
      Khi tổng sách dâng lên, đinh số tăng nhiều. (Số đinh năm trấn và phủ Hoài Đức về năm Canh thìn có 190.226 người, năm Tân tỵ có 189.271 người, đến năm nay số tuyển lên tới 193.817 người). Vua thưởng bọn Lê Chất và Công Tiệp mỗi người gia một cấp và 1 tấm đoạn thêu mãng xà; lại thêm cho Chất 2 tấm đoạn bát ty, bọn Công Tiệp mỗi người 1 tấm. Các trấn và phủ huyện thì giao cho bộ Lại nghị công: các Trấn thần Nguyễn Văn Hiếu, Lê Công Lý, Lê Văn Tiến, Trần Thiên Tải, Nguyễn Kim Bảng, Lưu Thuyên, mỗi người đều được thưởng hai lần kỷ lục. Thuyên và Bảng vì trội hơn nên thưởng thêm mỗi người 30 lạng bạc và 10 tấm lụa. Các tri phủ, tri huyện, cai án, tri bạ, tham luận, mỗi người được thưởng một lần kỷ lục. Thư lại, cai tổng thì được thăng thụ và thực thụ theo bậc khác nhau. Duy viên tuyên phủ sứ Hoài Đức là Phan Đức Quang vì không làm được việc, phạt 6 tháng lương. Bộ Lại vì nghị tâu rõ ràng được thưởng 30 lạng bạc.
      Bộ Họ tâu rằng: «Bắc Thành mới làm việc duyệt tuyển, những hạng lão nhiêu, nhiêu tật, lão hạng, tàn tật, xin cho chiếu theo lệ định từ Quảng Bình trở vào là thuế thân cho lão hạng và tàn tật được nộp bằng một nửa thuế của tráng hạng, còn hạng lão nhiêu, nhiêu tật thì cho miễn». Vua y theo.
      Thành thần Gia Định tâu rằng: «Gần đây những án cướp trong hạt phần nhiều là những hạng dân bần cùng lậu sổ, nên đã sức cho các trấn phàm xã nào số dân xin tục tuy ghi nhiều là hạng cùng cố, cũng đều phê chuẩn, đừng câu nệ cái lệ «10 đinh 1 cùng». Năm ngoái, từ tháng 8 đến tháng 12, số dân mới tục cộng được 16.155 người (tráng đinh 12.436 người, cùng cố 3.719 người), xin miễn cho thuế thân năm ấy».
      Vua y lời tâu. Lại sắc rằng từ năm nay trở đi, những hạng dân cùng cố đã có sản nghiệp thì đem vào các hạng tráng, quân, dân, còn những người làm chưa đủ ăn thì vẫn cho miễn.
      Quan Bắc Thành tâu rằng phủ lỵ phủ Quốc Oai thuộc Sơn Tây đóng ở Phượng Trì, địa thế chật hẹp, xin dời đến Trung Thụy là nơi rộng rãi cao ráo. Vua y cho (Phượng Trì, Trung Thụy đều là tên xã thuộc huyện Đan Phượng).
      Ngày Bính tuất, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao, rước Thế tổ Cao hoàng đế lên phối hưởng. 
       Ngày Tân mão, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ mừng. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. Chiếu rằng: «Trẫm nghĩ Kinh Dịch nói «ân tiến» là làm sáng tỏ việc phụng sự để trọng lễ tế Trời, Kinh Thi ca tụng việc «dâng lễ» là nói tiếng cúng để nêu lòng hiếu tôn cha mẹ. Như thế là đặt giáo hóa trước hết phải báo đáp từ gốc, mà tôn cha không gì bằng đem phối hưởng với Trời. Lớn lao thay Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, lấy vui hòa làm mối giềng, lấy thông minh làm khuôn phép. Khí thiêng non sông chung đúc, anh tài như Chu vương mở nghiệp khi xưa; quân dân một đức một lòng, mưa lớn như Hạ hậu phục thù thuở trước. Dựng nghiệp đã trải qua nguy hiểm, mưu sâu vẫn giữ được vẹn toàn. Quân đến đâu, nhân dân vui mừng khắp cửa nhà; lòng mong người cũ; căm quân giặc, tướng sĩ tranh xông pha tên đạn, cùng chí phục thù. Cờ kiếm ra uy trừ quân hung bạo; bụi mù quét sạch khôi phục đất đai. Kiến thiết miếu xã thị triều(1), tô điểm quy mô buổi đầu rực rỡ; sửa sang điển chương lễ nhạc, lưu truyền cơ sở muôn đời về sau. Trị nước gắng công, sớm hôm không hề nhàn rỗi; nghiệp xưa giữ vững, mọi việc thận trọng thủy chung. Tưởng đến phép trời rủ truyền, con cháu thịnh vượng; đức còn chuyển mạnh, cao cả vô cùng. Trẫm được nhờ để lại yên vui, nghiệp lớn. Việc tế tự thì theo Thành Chu điển lớn, tôn Hậu Tắc mà thân Văn vương; việc tiến cúng thì tỏ lòng hiếu giữ nề, rước Hoàng khảo sánh cùng Thái tổ. Noi đường hay ấy, lại cứ lễ to. Kính cẩn chọn ngày mồng 6 tháng này, sai quan kính cáo Trời Đất và tôn miếu Xã tắc; ngày mồng 10 thì hợp tế Trời Đất ở đàn Nam Giao và rước thần vị Hoảng khảo Thế tổ Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu cao hoàng đế lên phối hưởng, kể bắt đầu từ năm nay là năm Nhâm ngọ. Các đồ thờ nghi lễ đều theo như ngôi phối Thái tổ Gia dụ hoàng đế. Việc này chép làm hội điển, để lại vô cùng.
(1) Tôn miếu, xã tắc, đô thị, triều đình.
      Bình Ngọc dâng thờ, ca ngợi mệnh trời sinh dục; đàn Giao chúc hỗ, đội ơn Thượng Đế phù trì. Đã kính dâng tôn hiệu, để ban ơn khắp nơi. Vậy có 8 điệu ân điển:
1.   Các công hoàng đế, hoàng tử và văn ban ở Kinh từ ngũ phẩm trở lên, ban yến một lần.
2.   Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở lên ở Kinh và ở ngoài, cấp một lần kỷ lục.
3.   Các thần kỳ ở thành dinh trấn đạo đã được ban tế trong khi Bắc tuần hồi loan đi qua, nay lại cho tế một lần nữa.
4.   Các kỳ lão ở bốn dinh trực lệ 100 tuổi trở lên thì thưởng 3 lạng bạc, 1 tấm lụa; 90 tuổi trở lên, thưởng 2 lạng bạc, 1 tấm vải; 80 tuổi trở lên, thưởng 1 lạng bạc, 1 tấm vải; 70 tuổi trở lên, thưởng 1 tấm vải.
5.   Những người đã nộp quyển để dự sát hạch vào lớp cao đẳng ở Quốc tử giám từ năm Minh Mệnh thứ 2 trở về trước, thì các viên Tế tửu, Tư nghiệp cho gọi đến mà ra bài thi ở trước mặt, lấy trúng 100 tên, chia làm ba hạng ưu bình thứ, làm danh sách do bộ Lễ đề đạt để cho làm giám sinh, cấp cho tiền gạo theo thứ bậc khác nhau.
6.   Những quan viên phạm sai lầm về việc công đã bị xử phạt bổng từ năm Minh Mệnh thứ 2 trở về trước, đều cho tha phạt.
7.   Những quan viên có quân công đã về hưu trí ở quê quán mà hiện không có ai là thân nhân để tang một năm trở lên để nuôi nấng thì cho đến nha gần mà trình rõ, do các quan thành dinh trấn xét thực để đạt lên mà cấp cho tiền gạo.
8.   Các dinh trấn đạo Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên, Thanh Bình, đều cho đặt thêm chức Đốc học. Ở các thành dinh trấn, mỗi phủ được đặt một Giáo thụ hàm Chánh thất phẩm, mỗi huyện được đặt một Huấn đạo làm Chánh bát phẩm, để dạy bảo học sinh, mở mang văn hóa.
      Ôi! Đức lớn mãi mãi sánh với trời, cao sáng dài lâu cùng phối; chứng giám ở đây không hết phúc, lên xuống rõ ràng không xa. Thần hưởng ở lòng thành, một mình ta không quên kế tự; cầu phúc để ban khắp, dân các ngươi được hưởng không nhàm».
      Ngày Quý tỵ, vua yết lăng Cơ Thánh(1).
      Ngày Giáp ngọ, yết lăng Thụy Khánh(2), lăng Thiên Thụ(3).
      Sai Lang trung Hộ bộ Trương Thừa Huy đem các bộ ty đi thanh tra thành Gia Định cùng các trấn Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận.
      Lấy Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Hoàng Văn Thịnh làm Thiêm sự Hộ bộ.
(1) Lăng Hưng tổ Hiếu khang Phục Noãn.
(2)  Lăng vợ Hiếu khang Phục Noãn.
(3) Lăng Thế tố Gia Long. 
      Miễn tiền đóng ấn và viết cáo sắc (lệ trước các chức tán quan và các thư lại vị nhập lưu, khi được cấp bằng sắc đều phải trả tiền đóng ấn và tiền viết, do Lại bộ, Thượng bảo, Thị thư và những biền binh canh giữ ấn quốc bảo chia nhau, đến nay bãi đi).
      Đổi phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương làm phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang; lại đổi phủ Tam Đa, trấn Sơn Tây làm phủ Vĩnh Tường.
      Hiệp trấn Thanh Hoa là Hoàng Văn Diễn vì ốm xin nghỉ việc và nói: «Xa bỏ phần mộ đã 17 năm nay, may được về làng thăm viếng thì bệnh sẽ tự khỏi». Vua nói: «Há có cái lý về làng mà bệnh tật khỏi ngay. Thế rõ ràng là không có bệnh». Không cho. Nhân bảo bộ Lại rằng: «Những quan chức lớn nhỏ cáo bệnh, cũng có người thực tình, cũng có người nhân có việc mà thoái thác, không thể không biết rõ».
      Định lại phẩm trật quan chức ở ty Cung phụng sơn lăng, Lang trung trật Chánh ngũ phẩm (trước Chánh tứ phẩm), Tư vụ trật Chánh thất phẩm (trước Chánh bát phẩm), Thư lại trật Chánh cửu phẩm (trước Tòng cửu phẩm). 
      Thuyền trưởng nước Xiêm là Hoàng Nghi Hữu nhân bị bão và đậu thuyền ở Bình Định, xin vay 2.000 quan tiền công và 500 phương gạo. Vua chuẩn lời đình nghị cho vay.
      Thuộc hạ trong phủ Thiệu Hóa công Chẩn là bọn Nguyễn Đăng Quy trá xưng là thị vệ đêm vào nhà dân bắt bạc, nhân cự đánh viên Tri huyện Vũ Văn Thục. Dinh thần Quảng Đức tâu. Vua sai đem chém. Chẩn sợ hãi xin nhận tội. Vua nói: «Biết công thực thà, nhưng quá nhu nhơ nên bọn thuộc hạ sinh nhờn». Phủ thuộc Cai đội là Lê Văn Đắc bị tội trượng và cách chức.
      Ngày Đinh dậu, tế Xuân ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Từ khi trẫm lên ngôi, thường vẫn muốn thân đến tế để tỏ chút lòng ngưỡng mộ, nhưng nghĩ còn đương cư tang chưa tiện cử hành. Nay đã hết quốc tang, trẫm thân đến làm lễ, phàm phẩm vật cúng tế và đồ thờ đều phải cho tinh khiết, các quan phân hiến bồi tế đều phải kính cẩn, để xứng cái ý tôn thầy trọng đạo của trẫm».
       Quảng Nam và Quảng Trị lâu không mưa, lúa ruộng tổn hại nhiều. Sai dinh thần khám tâu để liệu giảm thuế. 
      Thư lại ở bộ Công là bọn Nguyễn Bút giả tạo ấn tín đơn bằng để mạo lĩnh lương kho. Việc phát giác. Vua dụ bộ Hình rằng: «Ngay ở chốn Kinh thành mà dám làm càn không sợ như vậy thì biết ngày thường chúng nó làm bậy đến thế nào. Trẫm quyết không làm điều nhân từ nhu nhơ để cho đảng ác càng ngày càng quá, đi lụy đến người lương thiện». Sai đem chém ngay ở chợ Đông. Lại sắc rằng từ nay phàm các vụ giả mạo ấn tính các nha có liên quan đến việc quân quốc quan trọng, cùng việc binh cơ lương tiền, đều theo đó mà nghĩ xử.
      Hoãn việc cấm lưu hành tiền ngụy hiệu (của Tây Sơn). Khoảng đời Gia Long có chiếu tạm lưu hành tiền ấy trong 5 năm, từ Đinh sửu đến Tân tỵ, từ Nhâm ngọ về sau thời cấm hẳn. Đến nay bộ Hộ tâu lại. Vua dụ rằng: «Nhà nước ra mệnh lệnh là cần phải thi hành. Nay cái hạn cấm đã hết thì số tiền ngụy còn lại trong dân gian đều thành vật vô dụng. Nghĩ rằng dân nhỏ không có bao nhiêu tiền nong mà đột ngột không tiêu dùng được thì sự ăn tiêu hằng ngày tất phải thiếu thốn. Vậy tạm hoãn cho một năm, phàm những tiền đồng ngụy hiệu đều được đem nộp thuế hết. Ai xin đem nộp đổi thì đổi cho tiền mới chế (cứ 2 đồng tiền đồng ngụy ăn 1 đồng tiền đồng mới chế); đến sang năm thì thôi. Việc mua bán đổi chác trong dân gian và chợ búa đều theo như hạn mà cấm».
      Đổi đội Từ phụng nhất làm ty Tả từ tế, đội Từ phụng nhị làm ty Hữu từ tế. 
      Xây đắp mặt tả Kinh thành (dài 566 trượng 5 thước). Sai Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Vân trông coi công việc. Thưởng các quân hơn 67.900 quan.
      Vua dụ bầy tôi rằng: «Kinh sư là nơi căn bản của nước. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta khi võ công cả định thì bắt đầu dựng đô thành, dần dần xây đắp thêm mãi, cho nên uy danh trấn áp mọi nơi, để lại cơ nghiệp muôn đời cho con cháu ta. Duy về mặt tả còn là thành đất chưa xây gạch đá. Trẫm kính noi nghiệp lớn, rất để tâm làm sáng tỏ công nghiệp tiền nhân. Nay nước nhà đương nhàn rỗi, chính là lúc nên sửa sang việc ấy để làm nơi căn bản vững nước, bảo dân. Vậy hạ lệnh theo đúng quy thức mà xây đắp». Sau thấy mưa xuân còn lạnh, binh lính phải lấy cát ở sông vất vả đáng thương, nên đặc biệt hạ lệnh cho đào lấy cát ở trên bãi, chỗ nào đào mất lúa rau của dân thì chiếu giá đền tiền. Lại định thì giờ làm việc (mặt trời mọc bắt đầu làm, mặt trời lặn thì nghỉ; mưa gió cho tạm ngừng) và phái thái y đến trú ngay ở sở làm, ai ốm thì lấy thuốc công điều trị. Đến khi hoàn thành, thưởng cho quan binh và thợ thuyền hơn 52.000 quan. Đổng lý Nguyễn Văn Vân trở xuống đến suất đội đều được thưởng 5 tháng tiền bổng và 1 thứ kỷ lục. Các y sinh cũng chiếu công trạng mà phân hơn kém để định thưởng phạt.
       Đắp thành trấn Hưng Hóa. Thành ở Trúc Phê (tên xã thuộc huyện Tam Nông), khuôn khổ cũ thấp hẹp. Trước vua đi Bắc tuần, sai viên giám thành đến ngắm địa thế để mở rộng thêm. Đến nay sai Thống quản thập cơ Trung quân là Nguyễn Khắc Tuấn trông coi 1.500 người các quân thuộc Bắc Thành đến ứng dịch. Nhà dân và đình miếu phía ngoài thành, chỗ nào cần dời đi nơi khác thi cấp tiền. Khi thành đắp xong, bọn giám tu và chuyên biện đều được thưởng tiền bổng và kỷ lục.
      Bọn tướng giặc ở Bắc Thành là Vũ Đình Lục, nguy xưng quân dinh Trung khuông, Nguyễn Thế Chung, nguy xưng Thống lĩnh Sơn Nam thượng đạo, nhóm họp đồ đảng quấy nhiễu cướp bóc vùng Sơn Tây và Sơn Nam thượng hạ, chống cự quan quân trong mười mấy năm nay, dân bị hại không kể xiết. Vừa quản phủ Ứng Hòa là Nguyễn Văn Quý đem quân đi tuần bắt, gặp Thế Chung ở Chương Đức, binh của giặc hơn 200 mà binh của Quý chỉ có 80, ít chẳng địch được nhiều, Quý hết sức đánh, tay đâm được mấy tên giặc rồi chết ở trận. Thành thần được tin báo, chia quân đi đuổi bắt. Thế Chung trốn về vùng Thiên Bản, hội với Đình Lục. Thành thần mật sai thổ hào ở Nam Chân là Đổ Hữu Lực dùng kế dụ đến nhà bắt được. Lại sai Chưởng cơ Ngô Văn Vĩnh đem binh và voi đi bắt đảng giặc ở Từ Sơn, bắt và chém được rất nhiều. Việc tâu lên, vua cho Lê Chất làm việc trúng thời cơ, xuống dụ ngợi khen, cho Đổ Hữu Lực làm Cai cơ, ban cho áo mũ Chánh ngũ phẩm, 2.000 quan tiền và 100 lạng bạc. Ba người con và cháu gọi bằng chú bạc của Hữu Lực đều được bổ Chánh đội trưởng, theo trấn sai phái. Ngô Văn Vĩnh được thưởng 1 cấp quân công. Biền binh được thưởng 200 quan tiền. Quản phủ Nguyễn Văn Quý được truy tặng Vệ uý vệ Thái võ Tả quân, được cho 1 cây gấm Tống cẩm và 20 lạng bạc tuất. Đình Lục và Thế Chung bị giết, đem đầu đi bêu ở các trấn. Cha Thế Chung là Nguyễn Gia Phan (tiến sĩ Triều Lê) vì không tri tình được khỏi tội.




Đăng nhập để trả lời
0
Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
 
 
TẬP 2
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XIV
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
      Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), mùa xuân, tháng ba, vua đi săn ở núi Thế Giới. Vua bảo bộ Hộ rằng: «Trẫm đi lần này, sáng đi tối về, người trên không có mối lo liên miên hằng tuần, người dưới thì có lòng trông hoan nghênh giúp đỡ, trẫm rất vui lòng. Những dân xã trẫm đi qua đều cho miễn 2 phần 10 thuế điền năm nay. Một đoạn điền thổ giáp đường quan La Chữ mới bị nước lụt xói lở thì cho miễn thuế, sai dân bồi đắp và cho 1.500 quan tiền».
      Định lệ thuộc binh của các viên quản suất ở quân Thị trung Thị nội (Quân Thị trung: Vệ uý được 7 người, Phó vệ uý 5 người, Cai đội 3 người, Phó đội 2 người; Quân Thị nội: Vệ uý được 6 người, Phó vệ uý 4 người, Cai đội 2 người, Phó đội, Chánh đội trưởng, Đội trưởng, Suất đội, đều 1 người), sai lấy phu thường ở các vệ đội mà bổ, sau có khuyết thì mộ ngoài sung vào. Những binh lính lệ tòng cấp trước thì đều cho về ngũ, không được sai việc riêng. Lại sắc rằng các quan ngoài khi ở lỵ sở có mộ thuộc binh thì khi đổi nơi khác phải lưu thuộc binh ấy lại cho thượng ty trong hạt, duy quan Kinh mang theo thuộc binh đi thú, thì khi về Kinh hoặc đổi đi nơi khác được mang theo đi.
      Dựng viện Thụy tường.
      Lấy Cai đội Thị nội là Lê Văn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách, Cai đội Đặng Văn Đạt làm Phó vệ uý vệ Uy võ.
      Án phủ sứ Hoài Đức là Hoàng Văn Nhị chết. Cho một cây gấm Tống. Lấy Vệ uý vệ Trung bảo là Nguyễn Văn Phượng làm Án phủ sứ Hoài Đức.
      Chuẩn định từ nay các chương tấu về đình nghị đều xưng là bọn đình thần (trước xưng là bọn văn võ thần), những văn bằng truyền thị cũng xưng là đình thần (trước xưng là công đồng), đều đóng ấn công đồng (lệ trước, sớ sách về đình nghị chỉ đóng ấn quan phòng ở chỗ ký tên cuối giấy).
      Thuyền bị nạn của nước Xiêm đậu vào hải phận An Hải (tên phường) thuộc Quảng Ngãi. Cấp cho tiền gạo rồi cho đi. Bọn trấn thần là Nguyễn Văn Soạn, Lê Đường Anh, vì trái lệ bắt dân lặn vớt của cho họ, bị phạt 6 tháng bổng.
      Mỏ đồng Tụ Long ở Tuyên Quang sản nhiều đồng, hóa phu tập hợp đông. Người lĩnh trưng xin lĩnh 15.000 quan tiền công chiết trả bằng khối đồng đỏ 25.000 cân. Quan Bắc Thành tâu xin cho. Vua y cho.
      Chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân chết. Tặng Thái bảo, thụy là Trung Cẩn. Cho 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc, 2 cây gấm chân kim(1), 3 cây gấm Tống, 30 tấm lụa. Nghỉ chầu 3 ngày, sai quan đến dụ tế.
(1) Chân kim: thứ gấm thêu bằng kim tuyến. 
      Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng: « Nguyễn Văn Nhân là bậc đại thần huân cựu, là người trung thành cẩn hậu. Khi trẫm được tin ốm nặng, muốn thân tới thăm, nhưng nghĩ lễ vua tôi rất nghiêm, nếu cho phép nằm thì không dám yên tâm, mà gượng dậy thì lại mỏi mệt, cho nên trẫm thường sai hoàng tử đến thăm. Nay không may qua đời, thương tiếc vô cùng». Lại nói: «Nhân bình nhật ăn mặc rất tiết kiệm, nay lễ tế điện trẫm muốn làm hậu». Rồi đặc biệt sai xuất tiền kho, uỷ cho đội Thị thiện hằng ngày làm cỗ nấu để cúng. Đến hôm đám đưa về Gia Định, vua ngự giá đến nhà, thân rót rượu cúng. Cho 100 binh đội hữu sai đưa đi. Đến ngày an táng, lại nghĩ chầu một ngày. Cấp cho 10 người mộ phu.
      Giặc trốn ở Kinh Bắc là Ngụy tổng quản Thái hợp đảng ở xã Cổ Biện, huyện Gia Lâm. Quan thành sai Phó vệ uý vệ Uy võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Lễ đem quân vây bắt. Giặc trổ ra. Lễ xông lên trận trước, bị trúng đạn chết. Cai đội Lê Văn Thi và Ngô Ngọc Kim cố sức đánh, chém được mấy đầu giặc, cướp được khí giới. Thái bèn chạy sang Sơn Tây, hợp đảng với ngụy Thống Lĩnh là Phan Hố. Quản phủ Vĩnh Tường là Trần Đình Dy, Vệ uý vệ Trung võ là Nguyễn Đức Niên, Phó vệ uý vệ Hùng võ là Phạm Văn Lượng, Quản cơ cơ Tả định là Hoàng Văn Truyền đều đem binh và voi đuổi đến xã Bồng Mạc, huyện An Lạc, đánh chém được tên Thái, bắt sống được tên Hố cùng bè đảng hơn 50 người. Việc tâu lên. Truy tặng Nguyễn Văn Lễ làm Vệ uý, cho 1 cây gấm Tống, lụa vải mỗi thứ đều 5 tấm và 30 lạng bạc, thưởng bọn Trần Đình Dy 6 người mỗi người 10 lạng bạc và quân công cấp kỷ theo thứ bậc khác nhau. Lại thưởng cho biền binh 300 quan tiền.
      Triệu Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thúy, Trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Soạn, Ký lục Quảng Nam là Trần Lợi Trinh, Cai bạ Quảng Trị là Nguyễn Cửu Khánh, Cai bạ Quảng Bình là Lương Tiến Tường vào yết kiến. Nhân sắc rằng từ nay đại quan các thành dinh trấn về Kinh chầu hầu, thì từ chức Tham hiệp trở lên cho dự những phiên đình nghị. Gặp khi làm việc thuộc về hạt mình mà cần phải lánh mặt thì cho phép lánh mặt.
      Vua từng bảo Trịnh Hoài Đức rằng: «Bộ Lễ thì có điển lễ, bộ Hình thì có luật lệ, cần phải được người có học thức mới xứng đáng chức vụ. Nguyễn Khoa Minh viết chữ thì tốt nhưng ít học cho nên lâm sự nhiều việc không thông. Giá như những lúc việc công nhàn rỗi, chịu khó xem sách thì cũng tiến bộ, nhưng mà lười biếng đã quen». Lại vời Lang trung Hình bộ là Nguyễn Công Duy bảo rằng: «Ngươi làm việc bên cạnh, trẫm đã biết qua. Bộ trưởng cho ngươi là cần cán, nên đề cử ngươi làm Tham hiệp. Và Lê Bá Phẩm tuổi già hay quên, cần có người giúp đỡ. Phàm bề tôi chỉ lo là vua không biết đến mình, nếu đã được biết thì nhất định sẽ được thăng tiến hiển vinh, sao lại chìm mãi ở chức Lang trung Thiêm sự!».
      Lấy cẩm thạch ở Quảng Nam.
      Dời dựng Văn miếu trấn Phú Yên đến Xuân Sơn. Trấn thần thấy miếu cũ địa thế chật hẹp, gỗ ván đã mọt nát, xin dời về đây. Vua theo lời.
      Định lệ đóng ấn của các nha. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Phàm dùng ấn tín là để đề phòng gian dối, ngăn cấm sự thay đổi. Xưa nay, bất luận quốc bảo hay ấn tín, phần nhiều đều đóng lên chữ năm nào. Nhưng theo lệ cũ của bản triều, ấn tín các nha môn đóng ra bên cạnh là ngụ ý tôn quân. Trẫm nghĩ quốc bảo đã đóng ở chữ năm nào thì ấn tín các nha môn lớn nhỏ cho phép được đóng lên chữ tháng nào, thế cũng đủ phân biệt tôn ty mà có thể phòng được cái tệ tẩy xóa». Bèn sai đình thần bàn định điều lệ để ban hành (phàm ấn chương quan phòng và đồ ký do quan cấp thì đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu). Như việc do hai ba nha hội bàn làm tập tâu thì cũng theo thứ bậc trên dưới của các nha mà đóng ở bên tả và bên hữu chữ tháng nào. Việc riêng văn ban hay riêng võ ban nghị tâu thì đóng ấn quan phòng và nơi ký tên ở cuối giấy, rồi dùng ấn công đồng mà đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu, theo như lệ đình nghị.
      Ngày Canh thân, ban đại yến cho hoàng tử, hoàng thân và văn võ từ Tam phẩm trở lên ở điện Cần Chính.
      Trước là vua thấy lễ Thăng phối đã xong, muốn ban yến cho bầy tôi, bèn sai bộ Lễ đặt bài ca Bát dật, dạy nhạc công diễn tập. Đến ngày, vua ngự điện Cần Chính, hoàng thân Kiến An công Đài, hoàng trưởng tử và đại thần Nguyễn Đức Xuyên lần lượt dâng thọ. Múa bài Bát dật(1) ở sân (khi vua lên ngai, tấu bài nhạc Bảo thành, vũ sinh múa mộc và giáo. Dâng thọ lần thứ nhất, tấu bài Binh thành, múa bài Thanh hoa chi (cánh hoa xanh). Dâng thọ lần thứ hai, tấu bài Doãn thành, múa bài Hồng hoa chi (cánh hoa đỏ). Dâng thọ lần thứ ba, tấu bài Gia thành, múa bài Hoàng hoa chi (cánh hoa vàng).
(1) Một điệu vũ nhạc thời phong kiến có tám hàng, mỗi hàng tám người, chỉ vua mới được dùng.
Khi lễ xong thì tấu bài Khánh thành, múa bài Vũ thược (cầm lông chim và ống sáo). Lễ xong thưởng cho mọi người theo thứ bậc khác nhau (thường theo lệ, hoàng tử, hoàng thân 30 lạng bạc, quan Nhất phẩm 20 lạng, Tống nhất phẩm 15 lạng, Nhị phẩm 10 lạng, Tống nhị phẩm 8 lạng, Tam phẩm 7 lạng, Tống tam phẩm 6 lạng. Thưởng thêm cho các hoàng tử, hoàng thân dự yến mỗi người 1 lạng vàng, các hoàng tử, hoàng thân đã dâng thọ 1 tấm nhiễu đỏ, 3 tấm sa màu và đại thần 1 tấm nhiễu đỏ, 2 tấm sa màu). 
      Ngày sau, ban yến cho quan tứ ngũ phẩm ở lầu Phú Văn (đặt phòng yến ở trong lầu; thưởng quan Tứ phẩm 5 lạng bạc, Tòng tứ phẩm 4 lạng, Ngũ phẩm 3 lạng, Tòng ngũ phẩm 2 lạng). Diễn tuồng ở trước cửa lầu bảy ngày để thần dân cùng xem.
      Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Thái Hòa, bầy tôi dâng biểu tạ.
      Cải bổ hai đội Nội cần nhị và tam làm hai đội Tráng ngũ, Tráng lục trấn Bình Định (Binh số 2 đội cộng 87 người, mỗi người mỗi năm nộp 10 quan tiền miễn dịch, đến nay mới cải bổ cho lệ theo quân ngũ).
      Truy xét công dẹp giặc ở nước Chân Lạp. Dụ rằng: «Trước đây tội thần(1) Hoàng Công Lý phụng mệnh trấn thủ Gia Định, làm việc ngang trái để đến nỗi bọn nghịch nước Chân Lạp mưu nhòm ngó, giết chóc dân buôn và cất quân chống cự. Đến khi trẫm sai Lê Văn Duyệt vào trấn thủ, tùy cơ phân phái biền binh đi đánh bắt, không bao lâu mà bình định xong, báo tin thắng về triều. Tuy đã thi ân ban thưởng cho quân sĩ, nhưng nghĩ việc điều khiển chỉ huy là do mưu của người, triều đình nghị công thù lao há nên để sót. Vậy thưởng cho Lê Văn Duyệt gia một cấp quân công, những văn võ tòng chinh ai thực là có công lao thì cũng phải xét rõ đệ sách tâu lên để giao bộ nghị công».
(1) Người bề tôi có tội. 
      Sai bộ Lại tra xét Tri phủ tại chức lâu năm lấy 10 người đệ danh sách tâu để tuyên triệu về Kinh dẫn vào yết kiến. 
      Chưởng tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu rằng: «Lính ở các vệ cơ thuộc Tượng quân đều là lính mộ, có khi cha già con trẻ đồng thời ở trong hàng ngũ. Nay xin cho những người chưa đến 60 tuổi mà có thương tật hay đã 60 tuổi mà suy yếu thì ở Kinh do bộ Binh, ở ngoài do thượng ty xét thực thải ra, tạm miễn cho thuế thân và tạp dịch. Người nào 60 tuổi mà còn mạnh khỏe thì vẫn cho lưu lại ngạch quân. Ghi làm lệ mãi mãi». Vua theo lời.
      Sửa miếu Triệu tổ(1).
(1) Miếu Nguyễn Kim.
      Bắt đầu mở ân khoa thi Hội và định phép thi (trước hết đúc ấn Hội thí và dựng trường thi ở phía Nam trong kinh thành, chia làm nội trường, ngoại trường và hai vi giáp ất. Chiếu theo số người ứng thí mà dựng các nhà ở trong vi, có đánh số hiệu và treo thẻ tên. Những Hương cống các khoa trước và Hương cống triều Lê chưa ra làm quan đều cho được vào thi, do bộ Lễ làm danh sách đệ tâu. Các giám sinh đã sát hạch được dự thi thì do quan Quốc tử giám làm danh sách đệ tâu. Quan trường thì một Chánh chủ khảo, một Phó chủ khảo, tới khi sắp thi thì chọn không câu nệ phẩm trật cao thấp; Tri cống cử 2 viên, dùng Tham tri sáu bộ, Đề điệu một chánh một phó, dùng Thiêm sự sáu bộ, đồng khảo 6 viên, dùng Hàn làm tứ ngũ phẩm, giám di phong soạn hiệu(2), giám đằng lục(3), giám đốc học(4), mỗi chức đều một người, dùng Lang trung, Chủ sự sáu bộ; chép quyển và viết bảng có 24 người, dùng Thư lại bát cửu phẩm; Giám thí, Tuần sát 2 người, dùng Thị vệ nhị tam phẩm 2 người; Giám thí nội liêm(5) và Tuần sát ngoại trường(6) mỗi chức 4 người, dùng Phó vệ uý quân Thị trung và Thị nội. Đề thi kỳ thứ nhất năm đề kinh nghĩa, một đề truyện nghĩa; kỳ thứ hai, chiếu chế biểu mỗi thứ đều một đề; kỳ thứ ba một đề thơ ngũ ngôn cổ thể, một đề phú 8 vần; kỳ thứ tư, một đề văn sách, về cổ văn hoặc 10 đoạn, về kim văn hoặc 3, 4 đoạn. Trong nhà thí viện đặt một cái án đỏ để những đầu bài vua ra. Những quyển văn viết mực của các cống sinh, giám sinh và những quyển son do thư lại chép ra, đều dùng giấy quan lệnh và in hồng cách(7). Ngày vào trường, phía ngoài mỗi nhà thì có một võ sĩ đeo gươm đứng kiểm soát suốt ngày. Các cống sinh, giám sinh làm bài thì phải viết chân phương, không được viết thảo. Thu quyển thì cứ tối ngày là hết hạn. Các quan ngoại trường sau mỗi kỳ thu quyển thì lần lượt giao quyển thi cho các chức di phong soạn hiệu, đằng lục đối đọc. Xong rồi, quyển mực lưu lại ở thí viện, quyển son giao cho đồng khảo chấm. Mỗi quyển hai người hội chấm, chia làm bốn hạng ưu bình thứ liệt. Quan ngoại trường duyệt lại và định lấy hay dở. Số trúng trong ba kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đều đem tâu rồi yết bảng ở bên ngoài cửa Thể Nguyên. Đến kỳ đệ tứ thì dâng những quyển trúng để kính lấy số trúng cách, sau đó, làm danh sách để tâu và yết bảng ở lầu Phu Văn. Phàm sau khi yết bảng kỳ đệ tam, quan trường nào có anh em ruột hay con đẻ được trúng thì cho phép được lánh mặt (ở trường đệ tứ). Quan trường và cống sinh, giám sinh nếu bị phát giác có sự tư thông hay nhờ cậy thì quan trường bị xử biếm chức hay bãi chức, cống giám sinh thì xử tội đồ. Những thư lại đằng lục đối đọc mà dụng tình thêm bớt hay thay đổi chữ hay câu cùng những người viết bảng, di phong soạn hiệu mà làm bậy, thì đều xử tội đồ. Những viên giám đằng lục đối đọc, giám di phong soạn hiệu, tuần sát ngoại trường, giám thí nội liêm mà làm bậy thì đều tùy nặng nhẹ mà luận tội.
      Sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức sung Chủ khảo trường thi Hội, Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới sung Phó chủ khảo, Thị trung Trực học sĩ Đinh Phiên và Tế tửu Quốc tử giám Vũ Xuân Biền sung Tri cống cử. Dụ rằng: «Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm».
(2) Coi việc rọc phách và biên số hiệu.
(3) Coi việc chép lại quyển thi.
(4) Coi việc đọc soát lại quyển chép.
(5) Nội liêm: trường trong, nơi các đồng khảo chấm bài thi.
(6) Ngoại trường: trường ngoài, nơi các quan trường hội họp quyết định việc lấy đỗ.
(7) Hồng cách: đường kẻ đỏ ở trang giấy để viết chữ cho đều.
      Khoa này, Hương cống, Giám sinh dự thí là 164 người. Các kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam đều do vua ra đề (khi ngự đề ban ra thì kỳ đài kéo cờ đỏ và bắn ra tiếng ống lệnh), kỳ đệ tứ thì vua sai quan trường ra đề. Kết quả lấy 5 quyển trúng cách dâng lên. Vua hiềm là ít, bảo rằng: «Hoàng khảo xưa chưa mở thi Hội, thực là vì trải qua loạn ly, học trò thất học, phải chờ khi giáo dục thành tài. Nay nước nhà đào tạo nhân tài đã lâu mà khoa thi chỉ trăm người lấy trúng được mười, mười người lấy trúng được một, dự tuyển chỉ được có thế thì sao xứng với ý tốt của trẫm kén chọn nhân tài. Bèn sai lấy thêm. Thế rồi lấy trúng cách 8 người là: Hà Quyền, Trần Lê Hiệu, Nguyễn Ý, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt.
      Giáng bổ Nguyễn Văn Hưng làm Phó vệ uý quân Thần sách. Hưng trước lấy chức Thống chế lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi, hai lần bọn ác man tràn xuống các bảo ở biên giới bắt phụ nữ, giết quân lính, mà Hưng không kịp tâu ngay. Bộ Hình nghị xin giáng Hưng chức hàm Tam phẩm, nên bổ chức này. Viên đồng sự là Ký lục Nguyễn Viết Cơ bị xử phạt, lưu lại Kinh chờ bổ.
      Lê Duy Thanh có tội bị cách chức. Thanh trước làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng, vì tham nhũng, việc phát giác, giao cho tào Hình ở thành xét hỏi. Người nhà Thanh cùng ty thuộc ở trấn đều đã thú nhận, mà Thanh thì đã phải giải về Kinh trước. Lê Chất đem tội trạng tâu lên. Vua hạ lệnh cất chức, giao xuống bộ Hình xét trị. Khi thành án, phát phối đi Quảng Bình làm việc chuộc tội.
      Vua từng nói chuyện với Nguyễn Hữu Thận về vấn đề bằng đảng ở nước Đại Thanh, nhân nói rằng: «Khi trẫm còn ở Tiềm để, triều thần ít người được yết kiến, duy có Lê Duy Thanh vì phụng mệnh đi xem đất sơn lăng, nên trẫm thường vời đến. Hoặc có kẻ cho là trẫm hậu với hắn thì chắc hắn cũng có tài gì nên mới được trẫm để ý. Khi trẫm mới nối ngôi thì bổ hắn ra làm quan ngoài là muốn thử xem có trị dân được không, chứ không phải là coi rẻ, kẻ không biết lại cho là trẫm dùng người có ý phân biệt kẻ Nam, người Bắc. Nhưng Nam - Bắc vốn là một nhà, ai chẳng là tôi con, trẫm đâu có kỳ thị. Kìa như nhà Đại Thanh dùng người không có phân biệt người Hán, người Mãn, huống Nam hà với Bắc Hà, cùng ngôn ngữ, cùng văn tự, không ví như người Hán, người Mãn được».
      Đặt năm vệ Hộ vệ ở phủ các hoàng tử, tước công mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người. Vệ đặt một Phó vệ uý (trật Tòng tam phẩm) để coi công việc vệ, không thuộc quyền quản thúc của hoàng tử; đội đặt một Cai đội hoặc Phó đội hoặc Chánh đội trưởng suất đội (phẩm trật cũng như các quân khác), lệ theo hoàng tử sai khiến. Lại hoàng tử đã ra Các đọc sách thì cho phép lập 15 người văn hàn để hầu bút nghiên.
      Dồn các vệ đội Trinh võ, Thị trà, Bả cái và số văn hàn thừa làm hai vệ Trung hộ và Tiền hộ, nếu thiếu thì mộ thêm.
      Chuẩn định từ nay những hồ sơ các vụ án ở Kinh và ở ngoài đều do bộ Hình xét nghĩ rồi tâu, duy có những án quan trọng giao xuống đình nghị thì do đình thần (lệ trước, bộ Hình xét nghị xong lại đệ cho đình thần) bàn lại. Án nào nên bác phải xét rõ tình lý, để tâu rành mạch để chờ chỉ.
      Giảm một nửa thuế năm nay cho các dân Nùng, Mán ở các trấn Bắc Thành.
      Dụ rằng: «Trẫm thương nuôi nhân dân, chỉ sợ có người còn sót. Dịp ban ơn trong cuộc Bắc tuần mùa đông năm ngoái, đã xuống chỉ tha trước 5 phần 10 thuế thân năm nay cho 11 trấn Bắc Thành. Song nghĩ những người Nùng, người Mán, người Hoa kiều, những phụ đạo (người Tày) và những người Nùng Lục Khu Lũng làm thuê, nguyên không có thuế thân để giảm, thì những người dân mọn ở nơi biên giới ấy còn tủi thân chưa được thấm nhuần ơn trạch. Vậy số bạc thuế tiền thuế đánh theo số người số bếp, số nhà năm nay đều cho giảm 5 phần 10, khiến những kẻ cùng dân hẻo lánh cũng đều được thấm ơn, để xứng với ý nhất thị đồng nhân của trẫm».
      Thành thần nhân tâu xin truy xá cả số thuế năm đầu (Minh Mệnh). Vua nói: «Ấn chiếu năm đầu đã nói rõ là xá thuế thân cho dân thực nạp(1). Bọn nó quanh năm không phải sai dịch gì, chỉ phải nộp bạc tiền không thể ví với thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước được, sao lại viện lệ xin miễn!» Không cho.
(1) Thực nạp: thuế thân của dân nội tịch.
      Bọn Cai đội Trần Hưng Chính, Trần Hưng Mỹ tâu xin mũ áo. Vua phê bảo rằng: «Bọn ngươi nếu hay kiềm chế thân tâm, không phạm lầm lỗi, thì chậm vài năm nữa sẽ ban cho phẩm cao lộc hậu, chẳng những một việc này». Khiến chiếu theo phẩm trật mà sắm lấy.
      Sai Bình Định mộ thêm đội Thái Hương (lấy hương), (mỗi đội 50 người). 
      Đặt thêm hai bảo của sáu cơ Kiên ở Quảng Ngãi (bảo cũ 115 người, mỗi bảo có 10 người lính thú). Đổi bổ chức Cai lân của 27 lân làm Chánh bát phẩm bách bộ, Phó lân làm Chánh cửu phẩm bách bộ, mỗi năm 4 kỳ bắt một nửa dân đi thao diễn.
      Đổi ty Phương the ở thành Gia Định làm hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 15 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc). Lại sai Bình Hòa mộ người lập hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 30 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc), miễn cho thuế thân. Chuẩn định từ nay chức võ quan ở Kinh và ở ngoài có khuyết mà đề xin thăng bổ và những việc thuộc về binh chính thì những biểu văn đều do bộ Binh tâu lên. Ghi làm lệnh mãi mãi.
      Định cách thưởng về việc sai phái giám thành (chia ra hai hạng khó và dễ: Sai đi nơi xa hoặc miền rừng núi, công việc hơi khó khăn là hạng nhất; đi địa phương cận tiện, vùng đồng ruộng bằng phẳng, công việc hơi dễ là hạng nhì. Giám thành phó sứ được phái vào công việc hạng nhất thì mỗi tháng được cấp 10 quan tiền 10 phương gạo, vào hạng nhì thì cấp 8 quan tiền 8 phương gạo. Nhân viên am hiểu việc đo đạc, họa đồ và chỉ vạch quy thức thì hạng nhất được cấp 7 quan tiền 7 phương gạo, hạng nhì được cấp 6 quan tiền 6 phương gạo. Người theo đi giúp việc đo đạc thì hằng nhất 5 quan tiền 5 phương gạo, hạng nhì 4 quan tiền 4 phương gạo. Đều chiếu bổng hàng tháng mà cấp thêm như số).
      Thự tiền quân Trần Văn Năng dâng sớ cử Thư ký Lê Văn Liêm làm tri phủ Ninh Giang. Khi dẫn vào bệ kiến, vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học. Vua nói: «Chức Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu». Không cho. Nhân bảo các quan rằng: «Trong việc thăng bổ, trẫm muốn biết người thế nào nên sai dẫn yết kiến, nhưng như thế cũng chỉ là biết được một đôi phần mà thôi, còn suốt đời hay hay dở cũng chưa thể biết đúng được. Vả lại việc tiến dẫn nhân tài trẫm đã lấy triều đình làm tai mắt, há lại không tin sao! Nếu việc gì trẫm cũng tự xét lấy mới là rõ ràng thì bề bộn lắm».
      Hạ lệnh từ dinh trực lệ Quảng Bình cho đến thành Gia Định từ nay có bổ Tri huyện thì chiếu văn phải thêm những chữ «Thôi đốc các việc lương tiền». Ghi làm lệ mãi mãi. Còn những Tri huyện hiện tại chức thì cho cấp văn bằng công đồng để tuân theo mà phụng hành.
      Định giá nhà nước mua diêm tiêu ở Bắc Thành (mỗi 100 cân diêm tiêu trị giá 29 quan, mỗi năm hạn mua 40.000 cân).
      Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái bị kẻ cướp bắn chết. Vua được tin lấy làm thương, cho tuất 100 lạng bạc và 20 tấm lụa.
      Chuẩn định từ nay, phàm các quan viên văn võ có tội bị giáng cấp, nếu có cấp thì giáng trừ đi, nếu không có cấp thì chiếu phẩm mà giáng trừ (như Chánh nhất phẩm gặp giáng một cấp mà không có cấp để trừ thì giáng làm Tòng nhất phẩm để trừ đi một cấp. Ngoài ra lấy đó mà suy). Những viên văn võ vị nhập lưu chưa có phẩm cấp mà gặp việc phải xử phân thì cứ chiếu luật xét nghĩ. Ghi làm lệnh.
      Tháng 3 nhuận, sắc rằng từ nay gặp tháng nhuận thì những kỳ đại triều thường triều đều miễn. Ghi làm lệ mãi mãi.
      Sai thủy quân chở 80.000 quan tiền ở kho Kinh đến Bình Định.
      Trấn Bình Định, đầu mùa xuân lâu không mưa, lúa ruộng thiệt hại nhiều, đến nay trấn thần mới tâu báo thiên tai. Vua dụ rằng: «Thiên tai như lụt, hạn phải tâu báo trước, sao lại coi thường như vậy. Trẫm ngày đêm lo lắng, mong cho nhân dân khỏi khổ, há lại vì kẻ chăn dân hèn kém làm việc chậm trễ sai lầm mà thiếu ơn săn sóc thương xót của trẫm sao»! Bèn hạ lệnh cho hộ Bộ xét tai nặng thì giảm cho 6 phần 10 thuế ruộng năm nay, tai nhẹ thì giảm 5 phần 10. Trấn thần Trương Phúc Đặng và Nguyễn Văn Thục đều giáng 2 cấp lưu dùng. Thục không có cấp để trừ, nên giáng làm Công bộ Thiêm sự, hàm Chánh tứ phẩm, vẫn lưu làm việc trấn.
      Nguyễn Cư Tuấn trước làm Cai bạ Quảng Trị, nhân có việc sách nhiễu hối lộ đến hơn 900 quan tiền, đến nay thành án, đáng xử tử. Vua cho là phạm tội trước khi có lệnh ân xá, gia ân miễn cho tội chết, xử tội lưu và chuẩn đổi làm đồ 6 năm, truy một nửa tang trả cho dân. Con Cư Tuấn là Cư Sĩ 14 tuổi xin thay hành dịch cho cha. Vua ngờ là có sự xúi bảo, sai nó đọc trầm tờ trạng, nó đọc không sai chữ nào. Bèn cho thay. Thế rồi lại cho người dò xét mấy lần, đều thấy Cư Sĩ đeo xiềng xích, không có vẻ hối hận gì cả. Vua khen, xuống chiếu dụ rằng: «Cư Tuấn là con công thần Nguyễn Cư Trinh, tuy Tuấn làm mất thanh danh gia đình, nhưng Cư Trinh thực có cháu xứng đáng. Trẫm nghĩ đến kẻ công thần và thương người con hiếu, vậy tha tội cho».
      Bỏ bớt viên chức thừa ở các phủ từ Quảng Bình về Nam. Dụ rằng: «Tri châu tri huyện là những chức như thú lệnh đời xưa, giữ quyền cai trị hàng trăm dặm, các việc dân chính đều là công việc chức phận. Gần đây, những viên châu huyện từ Quảng Bình về Nam chỉ chuyên việc xét xử kiện tụng, còn các việc lương tiền tổ chức và nhất thiết các việc sai dịch thì lệ vào các phân ty của bản phủ, như thế thì lệnh ra lắm cửa, không phân biệt kẻ trên người dưới, làm cho dân không biết mà theo. Trẫm từ khi lên ngôi, lo tìm phương pháp tốt chính sách hay về việc trị dân để lần lượt cử hành, nên đã xuống dụ sai các viên châu huyện phải đôn đốc việc lương tiền, trông coi việc sai dịch, để cho công việc nuôi dân đốc thuế quy về một nơi. Vậy các chức bản phủ cai huyện, ký huyện, cai thuộc, ký thuộc, phó tổng đều bãi hết; các tổng thuộc chỉ đặt mỗi tổng một viên cai tổng để theo châu huyện sai phái. Làm lệ mãi mãi».
      Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất dâng biểu xin về Kinh chầu hầu. Vua dụ rằng: «Bắc Thành gần đây các địa phương chưa được yên tĩnh; huống ngày nay việc dân chính thi hành đều là mới mẻ, nhân tình chưa hết nghi ngờ, cần phải có trọng thần huân vọng hết lòng thành thực công bằng đối với dân thì mới có thể yên ổn được. Khanh nên giúp trẫm đương trọng trách ấy, đợi có người thay thế sẽ triệu khanh về. Vua lại được tin mẹ Chất ốm, cho con Chất là Lê Hậu đi trạm về thăm.
      Chuẩn định những danh sách việc hình cuối năm của các thành dinh trấn, hạn đến trung tuần tháng hai năm sau đã phải đệ đến bộ Hình để bộ hợp thành tập tâu lên, làm trái thì tham hặc. Ghi làm lệnh. Lại sắc cho bộ Hình từ nay phàm gặp ngày cảnh mệnh(1) đều cho được tâu việc án.
(1) Ngày ngọ: trước kia gặp ngày nay thì không làm việc án.
      Rừng rú Thiên Quan (đạo) Thanh Bình lắm trộm cướp. Quản phủ Lê Tự mộ được hơn 60 người dân ngoại tịch, xin biên làm một đội, chia phiên và cấp lương để cho theo việc bắt trộm cướp. Trấn thành Thanh Hoa đem việc tâu lên. Vua y cho.
      Dân Man cao ở nguồn Ô Da thuộc Quảng Nam ngầm giết dân Hán (Việt). Dinh thần tâu lên. Vua dụ rằng: «Dân Dao Đồng(2) ở hạt ngươi chưa từng phản đối bao giờ, không như bọn ác man hung dữ ở Quảng Ngãi. Trước đây họ có giết người Hán thì xuống chỉ khiến phải để phòng. Nay kẻ ác man lại dám làm như vậy thì bọn ngươi còn có thể gọi là xứng chức được chăng? Nay nên lo trừng trị những kẻ ngoan ngạnh hung ác, rồi trù tính cách xếp đặt cho tốt về sau. Nếu còn cứ cẩu thả tắc trách, không chịu thi thố việc gì, tất giao cho bộ nghiêm xét không tha». Dinh thần bèn họp bọn người Man đã quy thuận chịu thuế, sai họ hội ước với bọn người Man trung, tìm kế dụ bắt được bọn ác man là Đinh Chiết, Đinh Bốc đem giết. Sai phát 100 quan tiền kho, mua nhiều trâu rượu cá muối để hậu đãi mà khuyến khích họ. 
(2) Người Dao, Người Đồng: tức là người Man.
      Trấn thần Bình Thuận tâu nói hai con đường quan lộ Ma Ly, Phù My trong là khe ngoài là biển, xin bắt 300 dân trong hạt sửa cầu cống và đắp đường mới để tiện quan quân đi lại. Vua sai chi tiền gạo để cấp.
      Chuẩn định từ nay những người được cấp cáo thân mà không phải là phẩm trật chức quan, như loại nhiêu ấm, nhiêu thân, thì chỉ cấp cho văn bằng của đình thần, không nên cấp chiếu sắc. Ghi làm lệ.
      Tù phạm trấn Thanh Hoa (29 đứa) phá ngục. Biền binh thuộc trấn đuổi bắt giết, có người bị thương và chết. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua dụ rằng: «Tù phạm nhiều như thế mà không chịu đề phòng trước, để đến nỗi chúng hành hung phá ngục, thì chức trách các ngươi để đâu. Nếu không làm tội những hạng quan hèn kém này thì sao tỏ bày pháp luật với thiên hạ được. Bèn sai Cai đội Cẩm y là Hồ Văn Khuê và Chủ sự Hình bộ là Trương Văn Loan kịp đến tuyên chỉ rằng Đốc trấn Nguyễn Văn Ngoan, Hiệp trấn Hoàng Văn Diễn, Tham hiệp Hoàng Quốc Bảo đều bị lột mũ áo chờ xét. Những biền binh bị thương vong đều cấp cho bạc lạng. Kẻ nào xong đi trước đuổi bắt giết được tù phạm, sau khi xét rõ đều được thưởng. Phó đốc trấn Phan Văn Thúy đương chầu ở Kinh, vua đòi vào quở. Thúy dập đầu tạ tội. Sai trở về trấn ngay.
      Lấy Tả Tham tri Lễ bộ hành Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Bùi Đức Mân hành chức Hiệp trấn Thanh Hoa, Hiệp trấn Hưng Hóa là Trần Chính Đức làm Hiệp trấn Hưng Hóa, cựu Ký lục Quảng Ngãi là Nguyễn Viết Cơ hành chức Tham hiệp Lạng Sơn.
      Vua ra cửa biển Thuận An. Định kỷ luật tuần tra dưới nước trên cạn cho các quân. Phàm vua đi tuần đến địa phương nào mà nghỉ chân lại thì ban ngày biền binh thủy bộ đều chia làm hai ban, một ban ứng trực, một ban nghỉ ngơi, thay đổi lẫn nhau. Khi đương trực mà quản quân không chịu lưu tâm tuần xét, để quân lính bỏ ban, xét ra thì trị tội nặng. Ban đêm thì đóng đại dinh ở trên bờ, chiếu lệ vây màn và đặt thành lưới. Lính vệ Cẩm y chia sắp hàng phía trong thành lưới, lính Thị trung Thị nội chia sắp hàng ở ngoài. Binh Thần sách thì chia làm bốn mặt, tùy theo địa thế rộng hẹp mà tuần tra trong ngoài trong vòng hơn một dặm. Dưới nước thì lấy thuyền Cẩm y sắp hàng ở phía ngoài, thuyền thủy binh sắp hàng ở phía trong, các thuyền rồng lanh nhẹ đều phòng vệ ở phía trước, phía sau thuyền ngự. Dưới nước thì lúc bắt đầu trống canh một, ở trên bộ thì lúc bắt đầu trống canh hai, ai không có bài mệnh vua thì không được đi qua địa phận canh phòng, làm trái thì lập tức bắt tâu lên. Biền binh canh phòng mà tư tình cố ý dung túng thì chiếu luật nghiêm xử. Các viên chưởng lãnh cũng phải luôn luôn đốc sức, nếu trễ nhác lười biếng thì theo tội nịch chức(1) nghĩ xử. Sắc từ nay phàm vua đi tuần trong kinh kỳ thì chiếu theo lệ ấy mà làm; đi ở ngoài kinh kỳ thì tuân theo kỷ luật Bắc tuần. 
(1) Nịch chức: làm việc không hết chức vụ. 
      Dời đắp thành trấn Sơn Tây.
      Thành cũ ở xã Cam Giá (thuộc huyện Phúc Lộc) bị sông lở. Ngày vua đi Bắc tuần, đã sai giám thành đi ngắm địa thế và chờ dời đến hai xã Mai Trai và Thuần Nghệ (thuộc huyện Phúc Lộc). Đến nay lấy 2.000 người các quân ở Bắc Thành, uỷ cho Phó thống thập cơ Tả quân là Vũ Văn Thân trông coi công việc. Thành xong, thưởng cho các giám ty và chuyên biện mỗi người 5 tháng tiền bổng và một thứ kỷ lục.
      Lấy Thị trung Trực học sĩ Đinh Phiên kiêm chức Thái thường Tự khanh, tham bồi công việc bộ Lễ. 
      Chuẩn định từ nay những sách tâu của sáu bộ, từ Lang trung trở lên đều phải ký tên, gọi là hoa áp».
      Sai Chưởng cơ Thủy quân Tống Phước Lương trông coi việc chở sản vật ở Bắc Thành về Kinh. Sắc rằng từ nay biền binh chở của công ở Kinh phái đi các địa phương và chở những sản vật địa phương về Kinh mà cả hai chuyến đi về đều có chở thì cấp thêm cho tiền gạo bằng một tháng lương; nếu chỉ chở một chuyến thì cấp một nửa.
      Nghệ An có động đất. Trấn thần báo cho bộ Lễ.
      Vua nghe tin nói: «Địa phương có điều lạ, nên kịp tâu ngay để trẫm biết mà sợ hãi tu tỉnh, sao lại giấu giếm không nói?». Bèn sắc cho bộ tư về trấn bảo phải làm sớ tâu lên.
      Trấn thần Bình Thuận tâu rằng số muối chứa ở kho đã nhiều, xin từ năm nay về sau cho dân được nộp thay thuế muối bằng tiền cho tiện. Vua y cho. Dụ cho các dinh trấn ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Hòa cũng theo lệ ấy cho nộp thay (một phương muối nộp thay bằng 2 tiền 30 đồng).
      Ở Gia Định lại phát bệnh dịch. Hạ lệnh hoãn các công dịch để cho dân nghỉ ngợi.
      Định rõ điều lệ về cấp kỷ.
      Vua cho rằng lệ cấp kỷ do Trịnh Hoài Đức bàn năm trước có chỗ chưa được rõ ràng, hạ lệnh cho đình thần bàn kỹ lại, rồi chuẩn định rằng phàm quan viên đáng được gia cấp về quân công, nghị tự, ân thưởng thì được ban chiếu sắc, được kỷ lục thì cấp văn bằng của triều đình. Như có thăng bổ thì quân công và cấp kỷ đều ghi theo, nghị tự thì tâu rõ để đợi chỉ, ân thưởng thì một cấp tính trả cho một lần kỷ lục, được bao nhiêu kỷ lục thì trừ hết đi. Còn các khoản khác thì vẫn theo nghị trước. Đến như các quan viên văn võ trong ngoài đã được gia cấp về ân thưởng và quân công từ năm Minh Mệnh thứ 1 mà nay đã thăng thụ rồi, thì đều cho cấp chiếu sắc cả.
      Lấy Cai đội Cẩm y là Vũ Văn Từ làm Phó vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách.
      Vét đường lạch cửa Tư Dung. Sai Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí trông coi 1.000 người các quân làm việc. Dụ rằng: «Nhà nước ta mở mang bỏ cõi miền Nam, cho đến khôi phục Thần kinh, đều là do đường cảng ấy. Từ khi lạch cũ bị lấp và thành lạch mới cạn hẹp quanh co, ra vào rất khó. Nay lại theo lối cũ mà khai vét, vì nghĩ có phí tổn tạm thời mà được yên mãi, để lợi vô cùng cho nghìn muôn đời». Lại sai bộ Lễ mang sắc đến dụ thần cửa biển Tư Dung và sắm lễ để tế. 
      Vua thấy thợ và sai dịch ở Nội vụ và Vũ Khố bớt xén của công, muốn trừ bỏ tệ ấy, mời bảo Nguyễn Hữu Thận rạng: «Trẫm nghĩ cách phòng gian không có phép nào hay hơn cả, chỉ dùng được người trông coi là được». Lại bảo Trần Đăng Nghi và Hồ Hữu Thẩm rằng: «Trách nhiệm bọn ngươi là ở việc trông coi, phải cẩn thận đối với chức vụ, thường gia tâm kiểm xét để trừ cái thói sâu mọt đục khoét. Phàm chó thì giữ đêm, gà thì gáy sớm, há người lại không bằng vật sao»!
      Đặt 20 người từ phu cho Hà Hoa quận công, sai Trần Hưng Khanh mộ người sung vào.
      Ở Cao Bằng và Lạng Sơn giá gạo đắt, hạ lệnh hoãn thuế vụ hạ cho dân.
      Chuẩn định lính mộ của các vệ đội ở Kinh, hạn mỗi vệ là 10 đội, mỗi đội là 50 người; thừa thì cứ để như cũ, thiếu thì mộ thêm.
      Chế bản nhạc tế ngũ hưởng ở các miếu (rước thần thì tấu bài Hàm hòa; tuần rượu đầu (sơ hiến) tấu bài Thọ hòa (sau đổi làm Tường hòa); tuần rượu thứ hai (á hiến) tấu bài Dự hòa; tuần rượu sau cùng (chung hiến) tấu bài Ninh hòa; từ tạ thần thì tấu bài An hòa; lễ xong thì tấu bài Ung hòa). Trước kia năm lễ tế hưởng và hai tiết Nguyên đán, Đoan dương thì tối hôm trước dùng nữ nhạc tiểu hầu. Vua bảo bộ Lễ rằng: «Đội tiểu hầu hát xướng hình như trò đùa. Nay nhà nước nhàn hạ, chính phải sửa sang văn vật thêm lên. Vậy nên bàn chế các bản nhạc, khiến nhạc công hát để trở lại chính lễ. Duy điện Hoàng Nhân thì vẫn dùng nữ nhạc, cũng là ý theo cũ đấy».
      Cai bạ Bình Thuận là Nguyễn Văn Khiêm, trước đây làm bản sách tâu về việc cấp tuất cho người chết dịch, số người và số tiền không phù hợp, giáo xuống bộ Hình nghị xử, phải cách chức.
      Lấy Cai đội về Nội hầu là Tôn Thất Bằng làm Quản phủ Hà Trung.
      Chuẩn cho các đội trưởng suất thập thực thụ ở các đội Trường trực, Thường trực vệ Cẩm y mà chửa có lệ bổng được chiếu phẩm mà chi bổng.
 




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN XV
 
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
      Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), mùa ha, tháng tu, ngay mong 1, te ha huong.
      Vua thấy nhạc mới hát lên đúng nhịp, thưởng sa và bạc cho nhạc sinh và ty viên bộ Lễ theo thứ bậc khác nhau. Lại sắc cho bộ Lễ từ nay hễ gặp lễ Giao Miếu và các lễ đại triều thường triều, thì hoàng tử, hoàng thân các quan văn võ, đều phải chầu lạy như lệ. Ai có việc thì ngày hôm trước báo cho bộ biết, nếu bỏ thiếu thì bộ Lễ tham hặc tâu lên.
      Sai bộ Binh sửa lại sổ binh. (Phàm dinh vệ cơ đội các quân ở trong và ở ngoài, trước gọi các hiệu Trung bá, Tài bá, Uy bá, Hùng sơn, đều đổi làm binh mỗ, họ mỗ, tên mỗ. Cai hợp, thủ hợp thực thụ thì vẫn để chức hàm; người quyền sai thì đổi cấp cho văn bằng của bộ, mỗi đội 1 người làm thư lại vị nhập lưu, thừa ra đều ghi làm binh. Quyền sai và thư hộp các cục tượng bách công đều ghi làm thợ. Văn hàn ở Chiêm hậu lại ty, Lệnh sử tàu, Chiêm hậu ở tả hữu thừa ty các địa phương, trước gọi là đô văn, đều đổi làm thư lại vị nhập lưu).
      Làm tại chùa Thiên Tôn. Chùa ở xã Đâu Kinh dinh Quảng Trị, do Thái tông Hiếu triết hoàng đế(1), dựng lên. Trải qua loạn lạc chùa bị bỏ. Năm ngoái Bắc tuần, dân sở tại đem việc ấy tâu lên. Vua nhớ di tích xưa, sai dinh thần sửa chữa, bắt 100 thợ rừng lấy gỗ, cấp cho 300 quan tiền, 100 phương gạo, và tha thuế đinh điền một năm cho xã Đâu Kinh để sung làm việc ấy. 
(1) Thái tông Hiếu triết hoàng đế: Nguyễn Phúc Tần.
      Đổi đội Điền liệp làm Liệp hộ, hộ 30 người, mộ dân ngoại tịch ở các dinh trấn sung vào. Lại sai từ Quảng Nam trở vào đến Hà Tiên, Quảng Trị trở ra đến Thanh Bình, đều mộ người lập liệp hộ, mỗi hộ 50 người (mỗi người, mỗi năm nộp thuế ngà voi 15 cân; như cả hộ mà thiếu 10 cân trở xuống thì mới cho tính giá nộp thay mỗi cân 8 tiền). Thuế thân và dao dịch đều miễn. Ai mộ được 30 người trở lên thì cho làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).
      Bắt đầu đúc tiền đồng lớn (nặng 1 đồng cân trở xuống, 9 phân 1 ly trở lên). Định phép chế lẫn đồng kẽm thiếc (phàm đúc tiền đồng lớn, cứ mỗi 100 cân dùng khối đồng đỏ 52 cân 4 lạng, kẽm 47 cân 8 lạng, thiếc 4 lạng. Đúc hạng tiền đồng 6 phân thì cứ mỗi 100 cân dùng tiền đồng ngụy hiệu 52 cân, khối đồng đỏ 27 cân, kẽm 20 cân 14 lạng, thiếc 2 lạng).
      Đúc súng đồng hạng trung hạng tiểu ở Vũ Khố. Sai thuộc ty của Văn thư phòng, hai bộ Hộ, Công và Vũ Khố kiểm xem. Nhân sắc từ nay về sau khi chế tạo đồ dùng bằng vàng bạc thì bộ Hộ, Văn thư phòng, Nội vụ và Vũ Khố đều phái nhân viên đến cân nghiệm, biên vào sổ chi tiêu tâu lên.
      Sai bộ Lễ truyền dụ rằng Hương cống các khoa mà thi Hội không trúng cách, như có tình nguyện ở Giám học tập thì bổ làm Giám sinh, cấp cho lương lẫm; ai muốn về quê hương cũng cho. Người nào chưa dự thi Hội thì do bộ tư đòi mùa thu này đến Kinh xét hạch, đúng thực thì vẫn tuân dụ chỉ cho theo sở nguyện. Sau đó xin tọa giám 27 người, cấp cho lương tháng (mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo, 5 cân dầu). Dụ rằng: «Đó là ý trẫm săn sóc văn học, cốt cầu người thực dụng. Tế tửu, tư nghiệp phải hết trách nhiệm làm thầy, hết lòng dạy bảo. Giám sinh các ngươi cũng phải dùi mài để được nên công, ngõ hầu không phụ ý tốt chấn hưng (văn học), gây dựng (nhân tài) của trẫm».
      Lấy thự Thư ký Quảng Trị là Vũ Tiến Huân làm Tham hiệp Sơn Nam thượng, Thiêm sự Hộ bộ là Bùi Phổ thự Ký lục Quảng Trị.
      Lấy Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Ngô Tiến Đức làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất. 
      Triệu Phó trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh vào yết kiến.
      Chuẩn định từ nay bằng thuyền hải vận ở Kinh hay ở ngoài, đi lại được bình yên thì quan sở tại mỗi năm một lần sửa lễ thái lao (trâu), và có đủ cả nhạc, để tế hai đền Thái Dương và Thuận An ở Quảng Đức và đền thần Liêu Lác ở Sơn Nam hạ. Ghi làm lệ mãi mãi.
      Trấn Phú Yên, quan mua 5.000 cân sa nhân, lấy một chiếc thuyền lớn của thủy quân chở về Kinh nộp. Vua xem bản tâu, quở rằng: «Dùng thuyền lớn mà chỉ tải có thế, há hạt ngươi không có vật gì khác để giải nộp sao?» Vả lại đường biển vận tải khó nhọc, phải đợi mùa gió, thế mà lần này chở chưa xong lần sau lại chở, biền binh đã khổ về lặn lội, mà sóng gió ngoài biển đã chắc chắn đâu mà không phải lo! Sao lại khinh suất làm bậy như thế! Huống chi trong sách tâu chữ «tấu» đài ở hàng thứ hai, mà chữ «công đồng» lại đài ở hàng thứ nhất, thế là lòng lại cho đình thần làm tôn à? Điều đó không thể ví với sai lầm ở tờ di văn tầm thường được. Đều là bởi bọn ngươi lâm sự không quan tâm gì. Một việc như thế thì việc khác có thể biết được. Nếu không xử trí thì lấy gì mà răn bảo». Bèn sai vệ Cẩm y mang bài vương mệnh kíp đi truyền chỉ đánh Trấn thủ Nguyễn Văn Tài 40 roi; Ký lục Nguyễn Bá Uông thì bắt giải chức về Kinh giáng làm Thiêm sự Công bộ.
            Nguyễn Văn Tài sau lại bắt hai chiếc thuyền của dân chở sản vật đến Kinh. Vua nói: «Khi trước mà chở cả vào thuyền công thì nhanh tiện biết chừng nào? Sao đến nỗi lại phái thuyền tư!» Hạ lệnh bắt thu 60 quan tiền công thuê cấp cho dân.
      Lấy Ký lục Quảng Bình là Lê Văn Quảng làm Ký lục Phú Yên.
      Tha thuế thân năm nay cho thợ những cuộc ở Vũ Khố và Nội vụ phủ (Nội vụ 387 người, Vũ Khố 3.466 người).
      Định phép thi Điện (đúc ấn «Điện thí chi ấn», và triện vuông nhỏ «Luân tài thịnh điển» đều bằng bạc. Một giám thí đại thần, dùng quan võ Chánh nhị phẩm trở lên, 4 quan độc quyển, 1 quan truyền lô, dùng quan văn Tam phẩm trở lên; các quan thụ (nhận) quyển, di phong, thu chưởng (giữ quyển), ấn quyển (đóng dấu), điền bảng (viết bảng), đều 1 viên, dùng quan văn Tứ ngũ phẩm; kinh dẫn cống sĩ 1 viên, dùng ty viên bộ Lễ; chia cấp quyển thi kiêm biên chép 4 viên, dùng hành tẩu Văn thư phòng; quan tuần la kiêm hộ bảng 4 viên, dùng quản vệ quân Thị trung Thị nội; quan tuần sát 8 viên, dùng cai đội quân Thị trung Thị nội. Các chức ấy đều do hai bộ Lại, Binh làm sách tâu trước kỳ thi để đợi phê điểm. Quyển thi của Cống sĩ thì dùng giấy quan lệnh, kẻ đỏ. Đến ngày thi Điện, vua ra đề văn sách, hoặc cổ văn 10 đoạn, hoặc kim văn 5, 6 đoạn. Cống sĩ mang mũ áo, làm bài ở bàn thi và tả hữu vu, lấy chiều hôm làm hạn. Quan độc quyển hội duyệt rồi dâng vua xem để định đoạt giáp đệ thứ tự như: đệ nhất giáp đệ nhất danh, đệ nhị danh, đệ tam danh, đều cho tiến sĩ cập đệ; đệ nhị giáp có bao nhiêu tên, đều cho tiến sĩ xuất thân; đệ tam giáp bao nhiêu tên đều cho đồng tiến sĩ xuất thân, ban cấp mũ áo. Ngày hôm sau đặt đại triều nghi ở điện Thái Hòa để truyền lô xướng danh, treo bảng vàng ở lầu Phu Văn, ba ngày rồi đệ đến cất ở học đường Quốc tử giám. Sau khi phát bảng 2 ngày, ban yến ở công đường bộ Lễ, cho trâm và hoa lụa cùng cờ biển vinh quy. Ngày ban yến, các quan giám thí, độc quyển, thứ quyển kiêm duyệt quyển, kinh dẫn cống sĩ, truyền lô, tuần la kiêm hộ bảng, mỗi viên được ban 1 cái trâm và 1 cái hoa bạc; các quan tuần sát, di phong, thu chưởng, điền bảng, ấn quyển, chia cấp quyển thi kiêm biên chép, cùng các tiến sĩ, mỗi viên được ban 1 cái trâm và 1 cái hoa lụa. Ai dự trúng tiến sĩ đệ nhất giáp thì cấp riêng trâm và hoa bằng chất bạc mạ vàng. Ngày hôm sau, các tiến sĩ mới dâng tờ biểu tạ ơn ở trước cửa điện Căn Nguyên, lại đến Quốc tử giám làm lễ Thích điện(1). Bia đề tên tiến sĩ, dựng ở hai bên tả hữu ngoài cửa Văn miếu). 
(1) Lễ Thích điện: Lễ Khổng Tử.
      Thi Cống sĩ ở điện Cần Chính. Sai Thự tiền quân Trần Văn Năng sung chức Giám thí đại thần, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức, Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận, Hữu Tham tri Lại bộ Nguyễn Văn Hưng, thự Hữu Tham tri Hình bộ Nguyễn Huy Trinh đều sung độc quyển. Cho Nguyễn Ý đậu Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân và bọn Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Văn Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu 7 người đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
      Định trình hạn vinh quy của tiến sĩ. Bộ Lễ tâu rằng: «Năm này mở khoa thi Tiến sĩ là thịnh điển buổi đầu, lại vâng ân tứ vinh quy, ban thưởng rất hậu. Người trúng tuyển được vẻ vang cả làng xóm, rạng rỡ cả gia đình, thật là phấn khởi cho sĩ phu, khuyến khích người hậu tiến. Xin cấp hạn cho ở quê 2 tháng, để cho thiên hạ đều biết ơn nhà vua trọng nho». Vua y cho và gia ân cho trạm đưa về.
      Định lại lệ triều tham tâu việc. Lệ trước, mỗi tháng đại triều 2 ngày, thường triều 4 ngày, đình nghị 4 ngày, ngày khác thì tâu việc. Vua thấy các quan triều tham sớm chiều nhiều lần, nhiều khi không làm việc ở công thự, hoặc đến chậm trễ lỡ việc, bèn sai sáu bộ châm chước bàn bạc, đều nói rằng mỗi tháng 10 ngày đại triều, thường triều và đình nghị, xin định thêm 9 ngày tâu việc. (Mỗi tháng đại triều 2 ngày, mồng 1 và rằm; thường triều 4 ngày, mồng 5, 25, 11, 21; tâu việc 9 ngày, mồng 3, 13, 23, mồng 7, 17, 27, mồng 9, 19, 29; đình nghị 4 ngày, mồng 2, 8, 16, 24). Ngày đại triều và thường triều mà có chỉ miễn triều thì cũng chiếu lệ thường tâu việc. Các ngày khác thì một viên Thiêm sự hoặc Lang trung thường trực ở triều phòng, đường quan thì hội ở công thự để làm việc. Nếu có việc khẩn trọng thì phải tâu ngay, không kể lệ này». Lời nghị dâng lên, vua dụ rằng: «Trẫm muốn chính trị được thịnh, bộ viện các quan không bỏ trễ chức vụ, cho nên sai đình thần bàn tâu. Nay lời tâu cũng phải, chuẩn cho thi hành. Nếu chức quan ở bộ viện gặp ngày tâu việc mà không theo ban làm việc, ngày làm việc mà không đến công thự làm việc thì thượng ty cứ thực tham tâu. Nếu nể nang dung giấu mà để người khác tham hặc, hoặc bị trẫm biết, thì thượng ty cũng phải giao bộ bàn xử. Lại sau khi ban hành nghị này, bất luận quan tư lớn nhỏ, viên nào lười biếng, tạ thể không phải ngày tâu việc mà không làm việc ở công thự, ở nhà tự tiếp khách nói chuyện hão hay làm những chuyện xấu như uống rượu, xem tuồng, để đến bỏ trễ việc công, như thế thì ý tốt chỉnh đốn lại thở thành phép quá nhẹ, nhất định phải trừng trị nặng không tha. Trẫm đã đinh ninh răn bảo, bọn khanh phải kính theo chớ quên. Như trẫm có hơi thích an nhàn thì cũng phải nói thẳng để sửa, thế mới là vua tôi cùng nhau cố gắng, để cho chính lệnh thông suốt, nhân dân thuận hòa, phép trị sánh cùng thượng cổ, há chẳng tốt sao!».
      Một hôm vua vời Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận hỏi rằng: «Gần đây triều tham tâu việc, so với ngày trước thế nào?». Đức, Thận trả lời: «Trước kia thường ngày tâu việc, bọn thần lui triều thì đã mỏi mệt, cho nên công việc chứa chất nhiều. Nay tâu việc có ngày thì ngày thường được chuyên tâm làm việc, cho nên việc bộ hơi gọn». Vua nói: «Trẫm nay tuổi đang mạnh mẽ, có thể cố gắng xét đoán các việc, chỉ sợ sau này mỏi mệt, không thể được như ngày nay. Xem ra thì người bề tôi không dám lười biếng, là vì sợ, chứ làm vua ngồi cao thế mạnh, ai cũng kính sợ, cho nên cái lồng trễ nải dễ sinh. Vậy thì bề tôi nên khuyên răn vua cho được trước sau như một là việc hay đấy!».
      Bắt đầu chế cấp «Bài xanh đầu»(1) cho các nha. Gặp ngày làm việc, thì một người nha thuộc thường trực ghi tên vào bài ấy, có việc gì phải tâu thì viết cả vào đấy dâng lên.
(1) Chữ Hán là Lục đầu bài.
      Ban quần áo mùa xuân cho quan Kinh, văn từ tứ phẩm, võ từ chánh đội trưởng trở lên, theo thứ bậc. Lệ trước quần áo mùa xuân đều cấp tiền, đến nay mới cho áo quần.
      Bắt đầu đặt viên dịch ở kho súng, chủ sự, tư vụ đều 1 người, bát cửu phẩm thư lại đều 2 người, vị nhập lưu thư lại 14 người. Từ trước đến nay, số súng và đại bác ở kinh và ở ngoài đều do Thống chế Vũ Viết Bảo quản lĩnh, chưa đặt quan lại chuyên giữ sổ sách. Đến nay Viết Bảo xin, mới sai bộ Binh bàn đặt.
      Chưởng cơ hành Trấn thủ Hưng Hóa là Hồ Văn Uẩn, Chưởng cơ Hữu quân thống quản Hùng Dũng thập cơ là Nguyễn Văn Hưng, đều vì tuổi già nghỉ việc. Lấy Vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách là Nguyễn Đức Niên làm Trấn thủ Hưng Hóa, Vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Vũ Văn Châu thống quản Hùng dũng thập cơ thuộc Hữu quân.
      Định lệ các nha phụng thủ bản phê chữ đỏ. Như bộ Lại phụng chỉ mà việc quan hệ đến bộ Hộ, thì bản phê chữ đỏ giao cho bộ Hộ, bộ Hộ sao chép đưa sang bộ Lại để lưu chiếu. Hoặc việc của bộ Lại tâu lên mà sai bộ Hộ thay vâng phê chuẩn, thì bản phê chữ đỏ giao bộ Lại, bộ Lại cũng sao chép đưa sang bộ Họ để lưu chiếu. Hoặc bộ Lại phụng chỉ, việc quan hệ đến ba bộ Hộ, Lễ, Binh, mà là việc trọng ở bộ Lễ, thì bản phê chữ đỏ giao cho bộ Lễ, bộ Lễ cũng sao chép giao cho ba bộ Lại, Hộ, Binh để lưu chiếu. Các việc khác cũng lấy thế mà suy. Các nha liên quan đến sổ sách của các địa phương thì giữ bản phê chữ đỏ, sao chép bản phó gửi đến lưu ở Văn thư phòng.
      Sai Gia Định mộ lập đội Phượng du (mỗi đội 30 người, mỗi người hằng năm nộp thuế dầu 60 cân). 
      Quan Bắc Thành tâu nói rằng năm trấn nội của thành và phủ Hoài Đức, trước nhân tai dịch, xiêu tán mất 49 xã, nay mới trở về, tô thuế thiếu nhiều. Vua thương vì đau khổ, hạ lệnh tha hết.
      Đặt đội Bảo trung. Vốn là người Quý hương ở Gia Định, con cháu lệ vào sổ binh dân của hạt thành có 53 người, vua sai thành thần trích đặt một đội gọi là đội Bảo trung, cho viên quản các Bính đội các trấn thuộc thành là Nguyễn Cửu An suất lĩnh.
      Phó tướng Tiền quân là Mạc Văn Tô chết; cho 200 quan tiền, và cấp 1 người mộ phu.
      Giáng bổ Tham hiệp Cao Bằng là Phùng Khắc Tuân làm Tri bạ Hậu vệ dinh Hổ oai quân Thị nội. Trước là Khắc Tuân thiện tiện cho người sai dịch nước Thanh theo đường tắt đem văn thư đến (lệ phải theo cửa Bắc Nẫm), lại phái binh trấn hướng dẫn, bắt người lấy của. Thành thần cho là làm việc phi lệ, tham hặc xin xét hỏi. Khi án xong, giáng 4 cấp đổi bổ chức này.
      Đổi định lễ các lệ tiết khánh hạ, hoàng tử, hoàng thân, Tôn nhân phủ và văn võ dâng tiến lễ bằng bạc theo thứ bậc khác nhau. (Lễ mừng Hoàng thái hậu tiết Thánh thọ là 120 lạng, 2 tiết Nguyên đán, Đoan dương mỗi tiết 100 lạng; lễ mừng Vua, ba tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương mỗi tiết 100 lạng; lễ mừng Hoàng hậu, ba tiết lớn Thiên thu, Nguyên đán, Đoan dương đều 100 lạng; lễ mừng hoàng tử, ba tiết Thiên xuân, Nguyên đán, Đoan dương đều 90 lạng. Hợp cộng 1.190 lạng; chia làm 20 phần; hoàng tử 3 phần; hoàng thân 4 phần; Tôn nhân phủ 1 phần, văn ban 4 phần, võ ban 8 phần). Các thành dinh trấn gặp tiết Thánh thọ thì uỷ quan dâng biểu mừng. Về ba tiết lớn ngự tiền thì dâng biểu mừng với các sản vật địa phương. (Gia Định, Bắc Thành, uỷ quan Tam tứ phẩm; các dinh trấn thì uỷ quan phủ châu, huyện, nơi nào chưa đặt các chức ấy thì dùng tản viên(1) đi thay). Lệ cung tiền bạc trước kia đều miễn.
      Vua dụ các đình thần rằng: «Trẫm vì kế hay cho Tôn Miếu Xã Tắc, muốn được người giỏi nên gia tâm kén chọn, không dám khinh suất làm bậy, cho nên ngôi Trung cung(2) và ngôi Hoàng thái tử, chưa có sách lập, thì các lễ mừng của các quan dâng lên Hoàng hậu, Hoàng thái tử về các tiết Thiên thu, Thiên xuân, Nguyên đán, Đoan dương, đều nên đình chỉ, đợi sau này sách lập, các vị đã định sẽ chiếu lệ thi hành». 
(1) Tản viên: quan hư hàm, không có chức vụ.
(2) Trung cung: Hoàng hậu.
      Lại bảo Trịnh Hoài Đức rằng: «Xưa Hoàng khảo ta đã lập trẫm làm Hoàng thái tử rồi sau mới phong tước công cho các con. Trẫm xem điển nhà Thanh thì các con còn nhỏ đều đã phong vương. Nay trẫm muốn phong tước công cho các con, đợi khi trưởng thành, xét ai có đức tốt mới lập làm Hoàng thái tử cũng là phải».
      Tiết Vạn thọ. Vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ mừng. Trước một ngày, ban yến cho văn võ từ Tam phẩm trở lên ở tả hữu vu điện Cần chính. Ngày ấy lễ khánh hạ xong, lại ban yến một lần; đến chiều hôm thì cho xem hát tuồng ở nhà Thanh Phong. Lại ngày hôm trước và ngày chính, các nha và công sở đều nghỉ việc, nhân đấy lấy làm lệ.
      Thưởng cho nhạc vũ sinh đội Việt tường 200 quan tiền, cho thợ nội tạo 100 quan.
      Sai Trung sứ đem các đồ thưởng cho Lê Văn Duyệt. Dụ rằng: «Khanh từ khi nhận mệnh vào trấn đến nay, các đại lễ khánh hạ chưa được về thăm hầu. Nay tiết Vạn thọ, lại vì biên cương chưa yên nên không triệu về, lòng trẫm lấy làm áy náy. Vậy đặc biệt cho đồ nội tạo, một cái ống điếu bằng pha lê bịt vàng, 1 chén ngọc liệu màu xuân thanh bịt vàng, 1 chén ngọc liệu màu mỡ cắt bịt vàng, 1 cái chậu pha lê, để tỏ ý trẫm quyến niệm càng lâu càng trọng».
      Chuẩn định từ nay, các thành dinh trấn chọn cử văn võ để bổ khuyết, như xin thực thụ hoặc thí sai, có quan hệ đến chức thủ thì trong tờ biểu phải liệt rõ quan hàm, họ tên, niên canh, quê quán, lý lịch, do bộ đề tâu, không được nhất khái tự báo.
      Tướng giặc ở Hưng Hóa là Mạc Văn Cao họp đảng mưu khởi loạn. Thổ mục châu Văn Bàn là Nguyễn Bảo Cẩm và Lưu Trọng Chương đem thổ binh lừa bắt sống được tên Cao và đồ đảng đem nộp. Cho Bảo Cẩm và Trọng Chương làm Thổ tri phủ, và thưởng tiền cho binh đinh theo thứ bậc.
      Định ngạch tượng cục ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, lấy số ngạch năm nay làm chuẩn. (Quảng Nam 2.051 người, Quảng Ngãi 893 người, Bình Định 925 người, Phú Yên 335 người, Bình Hòa 460 người, Bình Thuận 347 người). Hoặc số ít không đủ sai phái thì tâu xin mộ thêm.
      Trấn thủ Bình Hòa là Mai Tiến Vạn tuổi già nghỉ việc; cho theo lệ Vọng các, hằng năm chi toàn bổng.
      Lấy Phó vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Hạnh làm Vệ uý; đổi bổ cựu Vệ uý vệ Tương võ Trung quân là Phan Bá Phụng làm Phó vệ uý vệ Trung võ, Phó vệ uý vệ Trung võ là Nguyễn Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu, Cai đội Cẩm y là Dương Công Trung làm Phó vệ uý vệ Tráng võ, Phó vệ uý vệ Minh võ là Chu Văn Quế làm Vệ uy vệ Tráng võ, Cai đội Thị nội là Nguyễn Hữu Thuyên làm Phó vệ uý vệ Minh võ.
      Tháng 5, vua nghe thấy các quân dinh nhiều người hay sai quân làm việc riêng, dụ rằng: «Từ trước đến nay, binh ở Kinh và các quân Thanh Nghệ và Bắc Thành hằng năm gọi về Kinh, thì bị bọn quản suất xấu hám lợi riêng mà quấy nhiễu, hoặc sai dựng lợp cửa nhà, hoặc sai đi tìm kiếm gỗ lạt, lại trích đến vài mươi người để sai khiến ở nhà tư, đội củi, gánh nước, khiên võng, chèo thuyền, thậm chí phục dịch cả về việc cát hung hôn táng của vợ con thân bằng, cho đến làm vườn mở phố, lại dám bắt cả binh lính cho người ta mượn để sai, các việc làm bậy tính không kể xiết. Từng không nghĩ binh dân đều là con nhỏ của triều đình, làm vua còn phải lượng sai dè dặt, thế mà làm bề tôi lại dám coi binh lính như kẻ thù, không chút thương yêu. Các việc về trước, trẫm bất tất xét kỹ. Nay vì bọn người, ân cần bảo rõ, phải nên sửa đổi, bỏ hết lỗi trước, thì khi có việc mới thu được công hiệu sai khiến, mà khi vô sự cũng tránh khỏi lời kêu sai khiến bậy, các ngươi đã xứng đáng trách nhiệm được quân phụ uỷ thác, lại giữ được lộc vị cho thân gia, ích lợi cho bọn ngươi có phải là ít ỏi đâu!».
      Tết Đoan dương, vua đến cung Từ Thọ làm lễ mừng. Lễ xong, ngự ở điện Thái Hòa nhận mừng. Ngày hôm ấy, các nha và công sở đều nghỉ việc, hằng năm lấy làm lệ thường.
      Thự Hữu thống chế Thị trung là Nguyễn Văn Tính chết. Tính có công Vọng Các, khi mới bị bệnh, vua sai trung sứ đến thăm, cho quế thượng phương. Đến khi chết, tặng Thống chế, thụy là Thành Cẩn; cho 300 quan tiền, 2 cây gấm Tống, 30 tấm vải.
      Đổi Tư thiện làm Lý thiện ty, Thị hành làm Lý thiện tả ty, Trung cần làm Lý thiện hữu ty.
      Truy tặng thuộc nội Cai đội Thị trung là Nguyễn Văn Trúc làm Cai cơ Thị nội, cho 2 cây gấm Tống, 30 lạng bạc, 100 quan tiền, 20 tấm vải, vì có công lao cũ ở Tiềm để.
      Tham hiệp Hưng Hóa là Trần Đình Tiến về đinh ưu, lấy Lang trung Hộ bộ giữ cục Bảo tuyền Bắc Thành là Trần Xác làm Tham hiệp Hưng Hóa.
      Nguyễn Đăng Tuân và Lê Đồng Lý ở Lễ bộ dâng sớ cử Tri huyện Hải Lăng là Nguyễn Văn Nghị làm chủ sự. Nghị trước lấy tư cách uỷ viên được dẫn yết kiến, vua xem lý lịch, thấy tại chức hơn mười năm, sai bộ Lại sát hạch rồi tâu lại. Vừa gặp bọn Đăng Tuân tâu cử, vua nói: «Nghị có thực là người khá chăng? Phải đợi sát hạch tâu lên, trẫm sẽ quyết định, bọn ngươi sao được vội cử?» Bèn giục bộ Lại hạch. Nghị không thông luật văn nên bổ chức Tư vụ. Phạt bọn Đăng Tuân 6 tháng bổng.
      Định lệ tra nghiệm các sở công tác. Phàm sửa đắp thành tường, đê đập, đường sá và xây dựng đền đài, kho tàng, nhà xưởng, đều có người giám tu và chuyên viên. Ngày làm xong, ở Kinh thì bộ Công và giám thành sứ, ở ngoài thì quan thành dinh trấn, sai người khám nghiệm, lấy tờ đoan kết hạn bảo cố ba năm. Trong hạn mà hỏng lở đổ nát thì bắt phải làm đền. Lại sắc từ nay xây dựng công trình lớn như đàn miếu cung điện, nếu không trọn vẹn, không đúng phép, và nhiều chỗ thấm dột sụt đổ thì viên chuyên biện bị trị tội theo luật. Giám tu thì tính hết cả công trình, nếu công nhiều lỗi ít, quan khám nghiệm xét thực tâu rõ, sẽ lượng mà thưởng cấp, công và lỗi ngang nhau thì đều miễn tội, công ít lỗi nhiều thì giao bộ bàn xử. Nếu đến nỗi sụt lở nghiên đổ thì xử riêng nặng thêm.
      Lấy Vệ uý Tả vệ, dinh Hổ oai quân Thị nội là Đổ Quý làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Hòa. Trước vua muốn dùng Quý làm trấn chức, vời hỏi rằng: «Ngươi có học không?» Quý tâu: «Thần lúc nhỏ gặp loạn thất học». Vua nói: «Nguyễn Văn Phân cũng ít học, nay làm chức Lưu thủ ở Quảng Bình, trị dân hành chính cũng hơi khả quan, ngươi gắng sức mà làm, việc gì chả được». Đến nay bèn sai làm chức ấy.
      Truy phục nguyên hàm cho Ngô Văn Sở làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa ngoại, cho thụy là Trung Tráng. Sở trước có lỗi bị cách. Vua nghĩ là có công, nên đặc ân cho khai phục, lại cho gia đình 200 phương gạo.
      Định quy thức cáo sắc phong tặng. (Chánh nhị phẩm trở lên, dùng đoạn bát ty Bắc sắc vàng, xung quanh thêu rồng mây, Tòng tam phẩm trở lên, dùng đoạn bát ty Nam, xung quanh thêu mây và giao. Trục sắc đều dùng ngà voi. Chánh tứ phẩm trở xuống, dùng giấy màu vàng rắc bạc. Bản phần hoàng(1) đều dùng giấy vàng).
(1) Phần hoàng: giấy màu vàng, dùng để sao đạo sắc truy tặng, làm lễ tuyên đọc đốt đi, gọi là phần hoàng.
      Lấy Lang trung Vũ Khố là Nguyễn Công Đàm làm Thiêm sự Công bộ.
      Lại lấy Quang lộc Tự khanh tham bồi Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Cai bạ trấn Quảng Nam.
      Cai bạ Vĩnh Thanh là Lê Hy coi việc vận tải của công từ Gia Định đến Kinh. Vua khen là nhanh, thưởng cho một lần kỷ lục, và thưởng cho biền binh 1.500 quan tiền.
      Sai Vệ uý Tuyển phong hữu quân Thần sách là Nguyễn Văn Thụy, Phó vệ uý vệ Trung võ là Phan Bá Phụng đem hơn 2.000 người các quân Thanh Nghệ và Bắc Thành đi thú Gia Định. Triệu thú binh trước về. Khi đến Kinh, vua thương đi thú lâu, thưởng thêm cho lương tiền 1 tháng và cho về đội ngũ.
      Thành thần Gia Định tâu rằng: «Các kho ở hạt thành duy có kho An Bình có thăng bằng đồng, là chế từ thời quốc sơ (có khắc mấy chữ «Vĩnh Thịnh thập niên chế tạo»(1), ngoài ra đều theo thức ấy mà làm bằng gỗ. Xin nhà nước cấp cho thăng mới để làm thường thức, còn thăng cũ thì nộp về Kinh». Vua y theo. 
(1) Vĩnh Thịnh thập niên chế tạo: chế tạo năm Vĩnh Thịnh (Lê Dụ Tông) thứ 10.
      Lấy Đội trưởng Tôn Thất Điêu làm Từ tế đại sứ Từ tế ty (trật Tòng tứ phẩm), cấp cho áo mũ đại triều.
      Cho con Thống chế Vũ Viết Bảo là Vũ Viết Sĩ làm hàn lâm Điển bạ, cùng với Tu soạn là Đặng Đức Thiệm và Trần Văn Thục đều sung hành tẩu Văn thư phòng.
      Trước vua từng bảo thị thần rạng: «Con các quan văn võ, ta muốn cho ghi dùng hết để thừa ấm của cha. Song nghĩ trong đó chưa phải hiền tài hết cả, cả kẻ làm nhục đến cha, nếu muốn dùng thì không thể không xét được». Bèn sai Trịnh Hoài Đức xét hỏi bọn Sĩ để xem học hạnh thế nào, rồi có mệnh ấy.
      Ở ba trấn Tuyên Quang, Hưng Hóa, Yên Quảng gạo kém. Cho dân nộp thay thuế vụ hạ bằng tiền.
      Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng sáu huyện châu ở hai phủ Thọ Xuân, Thiệu Hóa (Thọ Xuân, Lang Chánh, Quan Da, Tàm Châu, Quảng Địa và Thạch Thành) cách trấn đường xa, chở nộp thóc thuế rất khó, xin cho theo lệ nộp thay bằng tiền như huyện Cẩm Thủy. Vua y cho.
      Định lệ tâu án cho Gia Định và Bắc Thành. Từ trước đến nay, hai thành tâu án, có khi do Tổng trấn, có khi do Hình tào, lại có khi do (Tổng trấn và Hình tào) hiệp nghị, việc làm bất nhất. Bộ Hình bàn tâu cho là hai thành đã đặt Tổng trấn, mọi việc đều coi cả mà định đoạt, còn Hình tào thì bổn phận là theo giúp, sao lại tự đề tâu. Vả lại Hình tào chuyên việc văn án, xét nghĩ phải trái chỉ nên theo ý xét định của Tổng trấn. Nếu lại hiệp bàn thì sợ không phải là theo ý nghĩa trách nhiệm chuyên nhất. Xin từ nay việc án ở hạt thành thì Hình tào xét nghĩ trước, mà chuyên do Tổng trấn xét chắc rồi làm án tâu lên. Đình thần bàn lại, cũng cho thế là phải. Vua nghe theo. Rồi cho rằng việc ký tên chung ở các án hiệp nghị thành Gia Định là việc nhân tuần từ lâu, nên vẫn cho theo cũ mà làm.
      Ban bổng năm cho hoàng đệ là Quang và Mão. Vua dụ bộ Lễ rằng: «Em trẫm Quang và Mão, hai người tuổi còn trẻ thơ, nếu vội phong cho tước công, thì e chưa hiểu việc đời, có khi người chưởng ấn không tốt, hoặc vì bọn tiểu nhân lừa dối, đến can tội lệ, thì lại không phải ý trẫm quyến niệm người thân. Vậy hằng năm cấp cho nửa số bổng thân công, lấy sang năm là năm Quý mùi bắt đầu. Lệ xưng hô phủ đệ thì theo như lệ thân công, đợi khi tuổi và đức đều tiến, thì sẽ sách phong».
      Đặt chức Học chính ở Quốc tử giám (trật Tòng lục phẩm), chuyên dạy các tôn sinh(1). Sai Tế tửu và Tư nghiệp kén chọn hai ba người có học hành bổ vào. 
(1) Tôn sinh: học sinh tôn thất.
      Định niên khóa duyệt tuyển. Các dinh trấn đạo tất cả 21 trường, chia làm ba khóa: Giáp Kỷ, Mậu Quý, Đinh Nhâm. Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hóa, Thanh Bình, 8 trường ấy dùng năm Giáp, năm Kỷ; Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh (Hà Tiên, Long Xuyên và Kiên Giang phụ vào Định Tường), 8 trường ấy dùng năm Mậu, năm Quý; Sơn Nam thượng hạ, Hải Dương, Sơn Tây (Hoài Đức phụ vào), Kinh Bắc, 5 trường ấy dùng năm Đinh, năm Nhâm. Ghi làm lệ mãi mãi.
      Vua thấy hai đội Nội hầu, Trung hầu đều là người tôn thất, sắc rằng sổ ngạch hằng năm do Tôn Thất Dịch duyệt phê làm bằng.
      Bộ Hình tâu rằng: «Từ trước đến nay, nha môn xét hỏi việc hình gặp có án giám thủ lấy trộm của cho mình, hoặc một hai hạn đòi rồi trả số tang đã đủ mà vẫn cứ bản tội ấy mà xử, không y luật lệ mà giảm miễn, sợ không phải là theo ý lập pháp khoan thứ của luật văn». Vua sai đình thần bàn lại, đều cho rằng lấy trộm cho mình, tội không thể trốn được. Nếu cứ theo lệ đúng hạn trả xong mà giảm bậc tha tội thì kẻ lấy trộm của công còn sợ gì. Vậy lệ này, nên bỏ đi. Vua nói: «Lời bàn của đình thần là phải. Duy khi tang ăn trộm từ 100 lạng trở xuống, mà trong hạn có thể bồi đủ thì tâu lên để phát lạc (cho qua chuyện)».




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN IX
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa hạ, tháng 5, cho binh Túc trực, Thường trực, Trường trực 400 quan tiền, 400 phương gạo. Vì túc vệ siêng năng, khó nhọc. 
      Vua thấy những hộ biệt nạp gỗ lim ở Nghệ An xiêu tán mới về, dụ cho trấn thần, gỗ thuế họ nộp, không đúng cách thức hay có tỳ vết cũng đều cho thu, ai thiếu thì cho hoãn.
      Tiết Đoan dương, vua ngự mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc, cúng ở Thái miếu. Rồi thay thường phục đến chầu cung Từ Thọ. Miễn lễ triều hạ cho các quan. 
      Sai quan soạn sách Liệt thánh thực lục. Vua rất để ý việc soạn thuật, mới lên ngôi đã cho tìm thư tịch cũ còn sót ở mọi nơi, rồi sắc cho đại thần biên tập những điều mắt thấy tai nghe về buổi đầu trung hưng để dâng lên. Lại hạ lệnh cho các quan văn võ trong ngoài từ tứ phẩm trở lên trình bày lý lịch đầy đủ. Đến nay lấy thự Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân làm Tổng tài, Thượng thư Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng làm Phó tổng tài, bọn Tham tri Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Khoa Minh, Nguyễn Văn Hưng, thự Tham tri Nguyễn Huy Trinh, Hàn lâm chưởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoán, Thái thường Tự khanh Lê Đồng Lý, Lại bộ Thiêm sự Lê Đăng Doanh, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm Thị giảng học sĩ Nguyễn Tuần Lý, Nguyễn Mậu Bách, làm Toản tu, bọn Thị độc Cao Huy Diệu, Biên tu Hoàng Quýnh, 25 người làm Biên tu. Đặt 5 người Khảo hiệu, 12 người Thu chưởng, 8 người Đằng lục. Lấy Quốc sử quán làm nơi soạn sách. Cho bạc thay yến (Tổng tài 15 lạng, Phó tổng tài 10 lạng, Toản tu 8 lạng, Biên tu 6 lạng, Khảo hiệu 4 lạng, Thu chưởng, Đằng tả 2 lạng). Mỗi ngày ban một bữa ăn. Sau đổi cấp tiền ăn hằng tháng. (Toản tu 5 quan, Biên tu 3 quan, Khảo hiệu 2 quan, Thu chưởng, Đằng tả 1 quan 5 tiền.)
      Dụ rằng: «Nước phải có sử để làm tin ở đời nay mà truyền lại đời sau. Từ xưa, các đế vương đời nào cũng có chế tác, chẳng gì là không ghi chép, để lại bảo cho tương lai. Nước nhà ta từ Thái tổ gây nền, liệt thánh nối trị, hơn 200 năm, phàm chế độ, văn hiến, hiệu lệnh, đánh dẹp, đều có quy mô thể thống một đời. Những lúc mới mở nước, sử văn còn thiếu. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, thống nhất non sông, mở mang trăm phép, đã từng bàn định làm sử, nhưng vì muôn việc phải tùy nghi việc trước việc sau, nên việc làm sử còn chưa làm được. Trẫm mới thân chấp chính, chí chuộng việc văn, làm việc đều theo sử cũ. Mỗi khi xét việc ban lệnh xong, lại đăm nghĩ đến việc noi dòng nối nghiệp. Đặc biệt sai xét tìm văn thư sót lại, xây dựng sử cục, ban rõ mệnh này để bắt tay làm. Phàm bầy tôi các ngươi được dự tuyển vào việc này nên sốt sắng cố gắng, cho chóng xong việc. Đến như những điều phàm lê, có điều gì nghĩ bàn, đều cho phép tâu bày để trẫm thân chỉ bảo, cốt sao cho việc đáng biên đáng bỏ được có phép tắc, và nhặt nhạnh không sót, để thành bộ tín sử một đời. Như thế ngõ hầu sáng tỏ được cái cơ đồ thần thánh truyền nối và mưu mô công liệt như vua Văn vua Vũ đời xưa, thành bất hủ mà được long trọng như các thiên Điển Mô Cáo Mệnh(1) đời xưa vậy».
(1) Các thiên trong Kinh Thư, chép việc các vua thánh đời xưa trong truyền thuyết của Trung Quốc.
      Đặt một viên Chủ thủ chủ sự ở Kho hỏa dược (thuốc súng); Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại mỗi hạng 4 người. Sai bộ Binh chọn nhân viên trong bộ bổ vào.
      Triệu Thị trung học sĩ Phạm Thích. Thích nghĩ việc đã lâu. Vua vốn trọng tiếng Thích, đến nay nhân việc soạn sử, sai đem bạc lụa đến mời. Khi lên đường, Thích lại vì ốm xin từ về.
      Cho bổng hằng năm các công tử, công nữ. (Hằng năm mỗi người 150 quan tiền, 60 phương gạo, 236 cân 4 lạng dầu, 15 cân sáp, 2 đôi chiếu.)
      Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định đòi hỏi, Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại cho binh dân.
      Dụ rằng: «Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Hoàng Công Lý, lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót kể đến muôn vàn, bắt người làm việc (riêng) mỗi lần đến hàng mấy nghìn, mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ các ngươi vô tội mà gặp nỗi độc hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hồi được. Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình».
      Lý làm Tả thống chế quân Thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó dụ rằng từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn.
      Diễn tập thủy quân ở sông Hương. Vua ngự đến xem thưởng cho quân sĩ 200 quan tiền. 
      Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Cai bạ Quảng Đức là Ngô Bá Nhân tâu rằng thanh tra Nội vụ phủ thấy đồ vật công có thiếu thốn tổn thất.
      Vua nói: «Nội vụ là nơi dồn chứa bách hóa. Có một mình Nguyễn Công Vị coi giữ, suốt ngày say sưa, còn lúc nào để ý đến của Nhà nước. Vừa rồi trẫm sai lấy gấm đoạn dâng xem, thấy có mục nát, hỏi thì thấy như thế còn nhiều. Tội của Vị nói sao cho xiết. Các ngươi đã không hặc tâu ngay, lại muốn che chở cho hắn để được giảm tội thì phép nước ra sao? Người làm tội giữ chức cần phải công bằng trung trực. Trẫm ngày thường rất ghét tội che giấu».
      Liền sai bắt giam Công Vị mà lấy Hàn lâm Biên tu Lê Bá Tú hiệp cùng Thiêm sự Hồ Hữu Thẩm biện lý công việc Nội vụ phủ. Khi án thanh tra xong, Công Vị bị cách chức. 
      Cấp lương bổng cho ấm tử và quan viên tử theo thành Gia Định.
      Dụ thành thần rằng: «Bọn này tuy chưa phục vụ, nhưng cha chúng đã có công với nước, trẫm sắp tùy tài ghi dùng. Người nào đã được tập ấm cho theo phẩm trật mà chi lương, quan viên tử hằng tháng cấp 1quan tiền, 1 phương gạo». 
      Dựng Hữu viện. 
      Lấy Đông các học sĩ Đinh Phiên làm Thị trung Trực học sĩ, vẫn sung Toản tu sử quán.
      Lấy Cai cơ quân Thần sách là Đặng Hữu Chất làm Vệ úy vệ Võ thành, Phó vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Văn Thụy làm Vệ uý vệ Tuyển phong tả, Cai cơ Nguyễn Hữu Huấn làm Vệ uý vệ Định võ.
      Đổi định lại lệ tiền công liệu ở cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh cho rằng công đúc tiền đồng nặng, công đúc tiền kẽm nhẹ, nên nghĩ xin đổi định lại. Thành thần đem việc tâu lên. Vua y cho. (100 cân tiền kẽm tiền công liệu là 3 quan 2 tiền 59 đồng 2 phân 5 ly, kém lệ trước 1 tiền 22 đồng; 100 cân tiền đồng tiền công liệu là 5 quan 6 tiền 46 đồng 4 phân 2 ly, hơn lệ trước 1 tiền 12 đồng 8 phân.)
      Đắp ụ bắn súng ở Thanh Phước (tên xã). Sai tướng sĩ thủy bộ hằng ngày diễn tập.  (Ngày 2 lần, sáng từ trước khi mặt trời mọc một khắc bắt đầu, giọt đồng hồ xuống 5 khắc thì nghỉ, chiều giọt đồng hồ xuống 8 khắc bắt đầu, mặt trời lặn thì nghỉ. Tối khi diễn gặp mưa thì thôi.) Vua nhiều lần đến xem, định rõ lệ thưởng phạt. (Làm thuyền giả, bắn trúng mũi thuyền, cột buồm, thủy quân một phát thưởng 15 quan tiền, lục quân thưởng 10 quan tiền; trúng thân thuyền, thủy quân một phát thưởng 10 quan tiền, lục quân 5 quan tiền; có trúng mà một phát không vào ụ thì không theo lệ ấy.) Lại cấp quần áo tây cho lính pháo thủ để tiện bắn súng.
      Lấy đèn đọc sách của Tây ban cho quan văn. 
      Lấy Thiêm sự Lại bộ là Trần Chính Đức làm hiệp trấn Hưng Hóa.
      Thành thần Gia Định tâu rằng học trò các trấn đến ở thành học tập, cũng có người đã đỗ nhất, nhị, tam trường, ở ngụ lâu ngày đã thành người thổ trước, xin cho họ đuoc phụ thí ở trường thành. Vua y cho. Lại dụ rằng từ nay gặp khoa thi Hương, từ Phú Yên trở về Nam, cho được tùy tiện phụ thí, từ Bình Định trở ra Bắc đều phải theo nguyên quán như bộ đã bàn. Thành thần lại thấy sau nạn dịch lớn, sĩ tử nhiều người có đại tang, nếu nhất luật theo trường quy không cho dự thí thì sợ sĩ tử không có mấy, nên báo lên bộ để tâu. Vua nói: «Đổi hiếu làm trung là bản lĩnh lập thân của kẻ sĩ quân tử, nhưng quên tang cha mẹ mà vội tìm hiển vinh thì không phải là hiếu. Không hiếu thì thờ vua được sao? Bọn ấy hãy nên tu thân sửa đức để đợi khoa sau cũng chẳng muộn».
      Lấy Tri phủ Lạng Giang là Lưu Đình Luyện làm Thiêm sự Lễ bộ.
      Cho Tả thống chế quân Thị trung là Tôn Thất Dịch được theo lệ bổng công thần Vọng Các, cấp cho lương tiền bội lên.
      Đổi tên cửa Củng Thần của hoàng thành làm cửa Địa Bình; tám cửa thành Gia Định thì phía nam gọi là Gia Định, Phiên An, phía bắc gọi là Củng Thần, Vọng Khuyết, phía đông gọi là Phục Viễn, Hoài Lai, phía tây gọi là Tĩnh Biên, Tuyên Hóa.
      Thành thần Gia Định tâu rằng theo lệ thì lính thú thuộc quân Thần sách Thanh Nghệ và ngũ quân ở Bắc Thành được tiền phụ dưỡng và tiền áo quần, hằng năm do địa phương thu ở dân sở tại mà chở đến cấp cho.
      Vua dụ rằng: «Quân là nanh vuốt của nước, họ đóng thú xa xôi, làm việc vất vả, trẫm vẫn thương xót, tiền phụ dưỡng và áo quần trước nay đã có thành lệ chứ không phải là cưỡng ép điều dân không muốn. Có điều nay thuế chính cung của nhà nước dân cũng chưa nộp xong, nếu lại bắt chịu phí tổn nuôi quân thì sao tỏ được cái ý trẫm thương xót chăm lo cho dân. Vậy phàm thú binh thuộc thành, ngoại lệ lương ra, đều được cấp thêm 5 quan tiền, áo quần thì quan may mà cấp, miễn tiền phụ dưỡng và tiền áo quần cho dân».
      Có người thợ vẽ trốn vào phủ Định Viễn công, người sở quản bắt đi làm việc, Định Viễn công là Bính tranh giữ. Công sợ hãi vào tạ tội. Vua quở rằng: «Pháp luật là do các thánh và Hoàng khảo ta để lại để trị thiên hạ, trẫm phải cùng người trong nước đều theo. Em là người chí thân mà phạm pháp, nếu lại vị tình thì đối với triều đình thiên hạ làm sao? Nay tạm tha cho, về sau phải chừa». 
      Định lệ lương cho các thợ ở Bắc Thành. (Công việc nặng. Mỗi tháng một quan tiền, 1 phương gạo, thứ thì 5 tiền, 1 phương gạo, nhẹ thì 1 phương gạo.)
      Miễn lễ thượng tiến bạc năm nay cho các quan văn võ ngũ phẩm trở xuống. 
      Tháng 6, sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở Gia Định nước trong hơn 50 dặm, suốt 12 ngày từ ngày Canh thìn đến ngày Tân mão.
      Các yến hộ ở Quảng Nam xin nộp thêm thuế yến để thay sai dịch. 
      Vua nói: «Thuế có ngạch thường, nay tăng lên rồi sau làm sao kham được? Vậy miễn hết cho thuế thân và sai dịch, hằng năm lấy số dư dật mà dâng, không kể hạn định».
      Lấy Tri phủ Tam Đới là Nguyễn Duy Cần làm Thiêm sự Hình bộ, biện lý Hình bộ, biện lý Hình tạo thành Gia Định; Hàn lâm viện Trực giảng Nguyễn Đăng Sĩ làm Thiêm sự Binh bộ, biện lý giữ Binh tào Bắc Thành. 
      Cho Nguyễn Văn Hưng làm Hữu tham tri Lại bộ. 
      Thả lính Bắc Thành và Thanh Nghệ trở về đội ngũ, cho hơn 3.000 quan tiền. 
      Cho Hoàng Đức Tòng làm Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Nguyễn Tăng Minh làm Phó vệ uý vệ Thành võ.
      Đặt vệ Tuần thành. Lấy các xã thuộc vệ Giám thành biên làm năm đội nhất, nhị, tam, tứ, ngũ của vệ Tuần thành. Các đội Tuần thành của Quảng Bình biên làm 5 đội lục, thất, bát, cửu, thập của vệ Tuần thành. Sau lại sắc cho các xã tạm đình việc biên đồn ấy.
      Vua truy niệm Khâm sai lưu thủ Nguyễn Đức Thịnh có công bảo dưỡng lúc bé, hằng năm ngày kỵ cho 30 quan tiền. Lại hạ lệnh cho dinh Quảng Đức đem trâu riêng đến tế. Ngày kỵ vợ Thịnh cũng thế.
      Quan đê chính Bắc Thành thấy con đê cũ ở Hưng Nhân thuộc Sơn Nam bị nước xói vào, thế không chống được, tâu xin đắp hai con đê khác dài hơn 770 trượng. Vua sai thành thần lấy tiền kho hơn 17.000 quan thuê mộ người làm.
      Lấy Cai đội quân Thần sách là Phạm Văn Thịnh làm Phó vệ uý vệ Trang võ.
      Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân ốm. Vua ban cho quế thượng phương, sai Hàn lâm viện Thừa chỉ Trần Công Tuân đến nhà thăm hỏi.
      Sai Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên lại giữ việc bộ, Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa làm Tả Tham tri, Hữu Tham tri Công bộ là Nguyễn Khoa Minh làm Hữu Tham tri Binh bộ, Thị trung trực học sĩ Đinh Phiên lấy bản chức mà tham bồi công việc Lại bộ, Hiệp trấn Lạng Sơn là Phan Huy Thực lại làm Thiêm sự Lễ bộ.
      Lấy Trợ giáo Sơn Nam thượng là Dương Đức Tuy làm Đốc học Kinh Bắc.
      Nước Chân Lạp sai sứ vào cống và dâng đồ lễ mừng cung Từ Thọ. Vua sai bộ Lễ bàn. Bộ thần tâu rằng: «Nước có tang thì miễn lễ mừng cho ngoại phiên là việc đã có điển lệ rõ ràng. Duy nước Chân Lạp đời đời giữ chức cống, triều đình che chở gây dựng, so với các ngoại phiên có khác, xin thu nhận lễ tiến mừng mà miễn lạy. Vua theo. Đến khi bồi thần là bọn Ốc Nha Lịch Y, Giá Lung đến yết kiến, vua triệu lên điện thăm hỏi và dụ rằng: «Ngươi về bảo quốc vương và các quan phiên nên cùng lòng hiệp sức để lo việc nước. Việc lớn thì triều đình xếp đặt cho, còn việc nhỏ thì lo tính lấy. Há chỉ chuyên dựa vào người mà không nghĩ làm hết phận sự mình sao?».
      Sánh tặng nguyên phi Hồ thị (tức Nhân hoàng hậu) làm Chiêu nghi, thụy là Thuận Đức. (Sách văn rằng: «Lễ là lẽ nên vậy, cho thụy để tỏ điển cổ; ơn là nghĩa ở đấy, truy phong cho trọng lễ nghi. Nay chọn được ngày lành, ban sắc rực rỡ. Nhớ tuyển thị(1), Hồ thị, dòng dõi trâm anh, dáng như (ngọc) uyển (ngọc) diễm. Trang nghiêm nhàn nhã, giữ khuê nghi không hề vội vàng, thuần thục nêu gương, từ tiềm để còn lưu tiếng tốt. Sinh con trai đương được yêu quý, giấc nam kha lại chợt tỉnh ngay. Vội đã từ trần; vô cùng thương xót. Vậy đặc sai sứ thần mang sách bạc, tăng làm Chiêu nghi, thụy là Thuận Đức. Mong rằng nhận lấy huy chương và kính tuân sủng mệnh, để được an ủi đức tốt quỳnh dao và hưởng lâu dài cổn hoa vinh hiển».
(1) Người được chọn vào hầu trong cung.
      Hoàng trưởng tử (tức Hiến tổ Chương hoàng đế) dâng biểu tạ.
      Tặng tuyển thị Phạm thị làm Tu nghi, thụy là Đoan Lệ.
      Nước Thủy Xá xin phụ thuộc vào nước ta. Đầu đời Gia Long, Quốc trưởng nước ấy sai sứ đến Phú Yên xin quy phục. Thế tổ cho nhiều rồi bảo về. Đến nay sai người mang đồ vật được cho trước kia và cồng thau, sáp ong làm tin đến bảo Phước Sơn, xin cho sứ được thông hành vào cống. Trấn thần tâu lên.
      Vua khen là đến có ý thiết tha, y cho. Sau vì nước ấy có biến, lễ cống không đến được. 
      Các địa phương từ Quảng Bình vào Nam, việc xét hỏi kiện tụng thuộc lại hay yêu sách quá dáng, dân khổ sở. Bèn sai bộ Hình đem bản «Khâm định Bắc Thành tụng lệ» ở đời Gia Long (các lệ tiền cung đốn cơm, tiền hành lý, tiền gông cùm, tiền canh giam, tiền dầu đèn) chia gửi đi các nơi, cấm không được hà lạm ngoài phép. 
      Lấy Hương cống triều Lê là Thái Doãn Tư làm Tư nghiệp Quốc tử giám.     
      Triệu Đốc học Nghệ An là Phan Bảo Đĩnh về Kinh; lấy Hương cống triều Lê là Đặng Đán làm Đốc học Nghệ An. Sau vì Tư nghiệp Quốc tử giám là Ngô Trọng Tân bị bệnh, sai Bảo Đĩnh thay.
      Định lệ lương cho lính kinh tượng và lính tượng cơ các địa phương (Lấy số voi mà tính suất. Ở Kinh, voi ngự mỗi thớt có 20 nguời, 10 người mỗi tháng mỗi người được cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo, còn 10 người mỗi người mỗi tháng 1 phương gạo. Voi đực mỗi thớt 10 người, 5 người mỗi tháng mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo; còn 5 người mỗi người 1 phương gạo; voi cái mỗi thớt 5 người, 2 người mỗi tháng mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo, còn 3 người mỗi người 1 phương gạo; voi đực voi cái ở các thành dinh trấn, mỗi thớt 5 người, 2 người mỗi tháng mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo, còn 3 người mỗi người 1 phương gạo. Đội trưởng thì chiếu phẩm trật mà chi lương.)
      Đặt trường đúc súng. Vua ngự đến xem. Nguyễn Hựu Tùng đón tâu bày sáu việc: 1). Giữ yên biên cương; 2). Binh pháp; 3). Cấm quan lại tham nhũng; 4). Ngăn mối kiện tụng; 5). Răn kiêu binh; 6). Xét trị loạn.
      Vua xem nói rằng: «Lời Tùng nói tuy nghĩa văn chưa ổn, nhưng có lòng thành khẩn, những điều nhỏ mọn, biết đều nói cả, rất đáng khen ngợi». Bèn cho vào bái yết. 
      Học trò ở Sơn Tây là Hoàng Văn Thường dâng lời nói, có chỗ dùng được, thưởng cho 5 lạng bạc, rồi bổ chức Tư vụ.
      Triệu Cai bạ Bình Thuận là Nguyễn Văn Khiêm về Kinh; lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Trịnh Văn Thành làm Cai bạ Bình Thuận.
      Trong hạt Gia Định có nhiều trộm cướp. Vua không nỡ khép hết vào pháp luật, dụ thành thần rằng: «Dân Gia Định vốn có tiếng trung nghĩa. Năm gần đây, bị mất mùa, dân gian làm ăn khó khăn, cùng quẫn sinh làm bậy, hãm mình vào tội. Nếu không phân biệt thủ xướng và tòng phạm, cứ theo luật buộc tội thì vẫn dẫu họ muốn đổi lỗi theo mới cũng không có đường. Vậy gặp ăn cướp mà kẻ tòng phạm tình có thể lượng thì gia ơn giảm cho tội chết, mà xử tội lưu để tỏ ý hiếu sinh».
      Lại từng bảo thị thần rằng: «Dân Gia Định vốn sợ Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Nay trừng phạt chém giết ngày nhiều, mà trộm cướp ngày càng sinh ra, há chẳng phải vì đói rét bức bách mà ra thế sao?»
      Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân đáp rằng: «Đất ấy nhiều bưng biền, trộm cướp dễ tụ tập. Huống chi dân ngày thường không biết tích trữ, ngoài ngũ cốc ra không trồng những thứ có thể đỡ đói. Chợt gặp mất mùa thì giữ sao được hằng tâm. Trước thần làm Tổng trấn đã bày đặt nhiều cách, song rồi cũng không hết được».
      Bầy tôi tâu rằng xương đầu lâu giặc Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản và thần chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ, khóa giam ở Vũ Khố hơn 20 năm nay, phép hình phạt đã đủ tỏ cho thiên hạ rõ rồi, nay xin hủy nát vứt đi. Một mình quan Hình bộ xin bỏ lẫn cả hòm gỗ mà giam vào nhà ngục. Vua theo lời bộ bàn.
      Chuẩn định các dinh vệ phàm Quyền sai đội trưởng được một khóa, hoặc trải hai ba khóa mới được quản quan đề cử, thì được thực thụ Đội trưởng, Suất thập đội trưởng thì theo thứ tự thăng Chánh đội trưởng, Suất thập chánh đội trưởng thì theo thứ tự thăng Cai đội tòng quân, không được viện nhiều khóa mà vượt cấp.
      Miễn thuế thân năm nay cho thợ các cục thuộc Vũ Khố.
      Đường trạm ở các trạm Hòa Thịnh, Hòa Tân trấn Bình Hòa và Thuận Lâm trấn Bình Thuận, rậm rạp có nhiều nạn hổ hại người. Sai quan hai trấn bắt dân phát quang, xuất tiền gạo cấp cho. 
      Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt dâng biểu xin vào chầu.
      Vua dụ rằng: «Xem biểu đã biết lòng khanh chân thành luyến nơi cung quyết. Trẫm thấy khanh lâu ngày khó nhọc ở ngoài, cũng muốn gặp. Song vì Gia Định là trọng trấn của nước, mới đây gặp Hoàng Công Lý hà ngược, lại gặp tật dịch, đói kém, nỗi đau khổ của dân chưa hồi, mà nước Xiêm lại đương nhòm ngó, nước Chân Lạp cũng chưa thành thực quy phục, được khanh giữ trấn, cũng thư được lòng lo lắng về phương Nam. Khanh phải nghĩ kỹ, nên lưu lại Gia Định là phải. Khi dụ đến, nếu đã lên đường trước rồi, hẳn công việc khanh đã xếp đặt chu đáo, thì cứ thong thả về Kinh, cho khỏi vất vả. Nếu chưa đi thì chờ sang năm, dân yên cướp hết, việc biên cương không lo, thì sẽ vào chầu cũng chưa muộn».
      Khi dụ đến, Duyệt lại dâng biểu nói: «Trước đây nghe tin bệ hạ sắp ngự giá Bắc tuần, muốn vào chầu để tâu bày cơ nghi. Nay lại uỷ cho lưu lại trấn, đâu dám không tuân mệnh. Cúi xin hoàng thượng xét lời làm phép tắc cho chư hầu(1) để yên ủi lòng mong mỏi của thần dân Bắc Thành. 
(1) Mỗi lần vua đi tuần du là một lần làm phép tắc cho chư hầu (Mệnh tử – Lương Huệ vương). 
      Vua khen phải.
      Dựng đền Quan công (ở trong Kinh thành, phía bắc Ngự Hà), hằng năm tế vào xuân thu.
      Định phép phong thần kỳ cả nước. Hạng thượng tặng ba chữ, hạng trung hai chữ. Thần hiệu nào quê mùa thi đổi đi. Dụ bộ Lễ rằng: «Các thần trước kia phong mỹ tự quá nhiều, mỗi lần được gia phong lại đeo thêm xuống dưới, lâu sau sẽ không viết hết được. Nay nên dùng chữ phong mới viết vào sắc, còn chữ cũ bớt đi thì phải».
      Chuẩn định rằng từ nay những kẻ tù tội Bắc Thành và các dinh trấn phát phối đi Gia Định và lính ở hai cơ Thanh thuận, An thuận đi thú ở Gia Định, nếu có ai bỏ trốn mà quân hoặc dân bắt được thì cứ bắt được mỗi người thưởng cho 2 lạng bạc. Hai thành bắt được thì cho chém trước tâu sau; các địa phương bắt được thì tâu lên đợi chỉ.
      Miễn thuế thân vài giao dịch cho xã Văn Xá(1) trong 30 năm, bắt đầu từ năm nay. Vua bảo bầy tôi rằng: «Vua Quang Vũ nhà Hán đối với Nam Dương(2), chỉ tha thuế 1 năm, không dám tha lâu đến 10 năm. Nay tha 30 năm đã lâu lắm rồi». Rồi lại tha thuế điền thổ cho dân ấy 3 năm.
      Người nhà Chưởng Thủy quân Tống Phước Lương có kẻ phạm pháp. Vua sai dinh thần Quảng Đức tra hỏi, nhân bảo Cai bạ Ngô Bá Nhân rằng: «Chức quan Kinh triệu cần phải công bằng chính trực, không chịu khuất phục khi làm chức vụ. Từ hoàng thân quốc thích và đại thần trở xuống, có tôi tớ phạm pháp thì nhất thiết xét xử theo pháp luật, đừng tránh kẻ cường quyền. Nếu có kẻ ghen ghét gièm pha, đã có trẫm, không sợ».
      Vua lại nghe dân Kinh thành nhiều người khinh nhờn quan trưởng, lại dụ cho dinh thần nghiêm cấm.
      Định ngạch nhân viên ở Nội vụ phủ và Vũ Khố, Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, mỗi chức 2 người. Thư lại bát cửu phẩm mỗi chức 8 người, Thư lại vị nhập lưu thì Nội vụ phủ 36 người, Vũ Khố 44 người.
      Đổi Lệnh sử ty ở sáu bộ làm Thanh lại ty, Lệnh sử ty ở Nội vụ, Vũ Khố làm Thanh thận ty. Lại chuẩn định rằng Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, Thư lại bát cửu phẩm ở các ty đã thực thụ thì đều chiếu phẩm trật chi lương; Thư lại vị nhập lưu thuộc sáu bộ, thì chia làm ba ban mà chi lương, thuộc Nội Vụ và Vũ Khố thì thường xuyên chi lương (mỗi người hằng tháng cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo). 
 
(1) Quê ngoại của Minh Mệnh.
(2) Quê vua Quang Vũ nhà Hán ở Trung Quốc.
 




Đăng nhập để trả lời
0
TẬP 2
 
 
 
 
CHÍNH BIÊN
 
ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN X
THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ
 
 
      Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), mùa hạ, tháng 7, mồng 1 tế thu hưởng. 
      Thi Hương ân khóa ở hai trường Quảng Đức, Nghệ An. Sai Thượng thư Hình bộ là Lê Bá Phẩm sung Đề điệu trường Quảng Đức, Thị trung Trực học sĩ tham bồi công việc Lại bộ là Đinh Phiên sung Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán sung Đề điệu trường Nghệ An, Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh sung Giám thí.
      Dụ rằng: «Tìm nhân tài phải do khoa muc, đào tạo kẻ sĩ không phải để gây ơn riêng. Trẫm lên ngôi mong trị, ngồi lánh bên chiếu đợi người hiền. Ân khoa năm nay là điển tốt lần đầu. Phàm bầy tôi các ngươi được dự tuyển vào việc trường thi, phải chí công, chí minh, không được thiên tư mảy may mà tự chuốc mối lo. Đề điệu và Giám thí phạm lỗi, mà Giám khảo và Sơ phúc khảo biết nêu lên thì có thưởng; Giám khảo và Sơ phúc khảo phạm lỗi mà Đề điệu và Giám thí biết nêu lên để hặc thì được miễn nghị. Phải mọi người cố gắng cho xứng đáng thịnh ý của trẫm kén chọn người tài».
      Đến khi danh sách dâng lên, lấy số đỗ Hương cống là 40 người. (Trường Quảng Đức 25 người: Bùi Văn Lý, Phạm Hữu Nghi, Thân Văn Duẩn, Phạm Văn Thiện, Nguyễn Quốc Hoan, Phùng Nghĩa Phương, Ngô Bá Tuấn, Lê Văn Lễ, Trần Văn Tưu, Lê Văn Hi, Nguyễn Hữu Hoàng, Tào Quang Lệ, Hoàng Công Huyến, Đỗ Văn Du, Bùi Ngọc Chấn, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Đình Tân, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Văn Thống, Nguyễn Thừa Giảng, Phan Thế Chấn, Nguyễn Hữu Gia, Phan Hữu Nghĩa, Dương Quỳnh, Hà Thúc Trương. Trường Nghệ An 15 người: Phan Hữu Tính, Đỗ Mẫn, Chu Danh Hiển, Đinh Văn Phác, Phan Văn Bưu, Nguyễn Thế Tịnh, Phan Cử, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Bật Lượng, Nguyễn Trọng Phu, Trần Huy Phác, Hồ Sĩ Tiêm, Nguyễn Trọng Ngọc, Ngụy Khắc Tuần, Nguyễn Cơ Thể.)
      Vua đến thăm trường thi Quảng Đức, lên vọng lâu xem, có người Kinh Bắc là Nguyễn Văn Hoán đón giá dâng 15 sách thái bình. Lính Tả vệ bắt giam ở trại quân. Vua nói: «Những điều Hoán trình bày tuy là viễn vong không dùng được, nhưng trẫm đã mở rộng đường cho nói, há vì lời nói mà bắt tội người ta sao?» Lập tức sai tha. Nhân thế dụ rằng từ nay có ai đón giá dâng lời thì tả hữu vệ phải giao cho bộ tâu lên, không được bắt giam.
      Cho thú binh An thuận, Thanh thuận ở Gia Định hơn 100 quan tiền. 
      Vua thấy Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân già yếu, dụ rằng khi lễ thường thì miễn vào chầu, tâu việc thì không phải quỳ. Nhân từ chối nói: «Trước mặt vua quỳ tâu là lễ vậy». Vua nói: «Đấy là trẫm ưu đãi lão thần, việc gì mà từ chối». 
      Công thần Vọng Các Lê Văn Chử trước làm Lưu thủ Bình Định, có tội bị cách chức. Đến nay nhờ Vũ Viết Bân dẫn vào yết kiến. Vua nghĩ đến công trước, khiến ở lại Kinh hầu hạ, hằng tháng cấp cho 6 quan tiền, 1 phương gạo.
      Nước sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở Gia Định lại trong, từ ngày Bính thìn đến ngày Tân dậu là 6 ngày. Thành thần đem cả việc nước sông đã trong kỳ tháng trước làm biểu tâu lên. Vua dụ bầy tôi rằng: «Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, ngày đêm đăm đăm lo nghĩ để tìm đạo lý trị dân mà còn sợ rằng trên không báo đáp được sự phó thác nặng nề của trời và hoàng khảo, dưới chưa yên ủi được lòng thần dân trông mong, nên sớm hôm lo lắng chăm chỉ, không dám vui thú mảy may. Gần đây giặc cướp chưa hết, dân chúng chưa yên, phong tục còn kiêu bạc, việc trị dân chưa bỏ được hình phạt, há không phải là trẫm đức bạc sao! Có chính sách hay gì đâu mà được nước trong như thế? Nghe tin càng thêm sợ hãi để tu tỉnh mà thôi. Hoặc giả dân ta gần đây gặp dịch lệ trẫm đã hết sức vì dân cầu khẩn, chút cảm động được lòng nhân ái của trời, nên trời giáng điềm lành báo cho dân ta thóc lúa đầy kho, đều được nhân thọ. Hoặc giả bầy tôi biết lấy công bằng trung trực làm việc nước, giữ mình thanh liêm cần kiệm, xét xử hình án ngay thẳng mà được thế chăng? Mọi người nên cố gắng lấy mình làm gương cho kẻ dưới, để quan lại trọn chức, dân được yên lành, thì chẳng đợi điềm nước sông trong mà nước ta đã bước lên cõi thịnh trị rồi. Còn điềm lành nào bằng, sự mừng nào bằng!»
      Bèn dụ trấn thần Phiên An rằng: «Năm Mậu thân ở Gia Định nước sông trong, thì Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy được cõi nam, trẻ già đều bảo là triệu thái bình, không hỏi ai mà đều nói vậy. Thế rồi tức khắc thống nhất đất nước. Năm Đinh sửu nước sông lại trong, nay lại tâu rằng nước sông trong. Trẫm nghĩ rằng trời nhiều lần giáng điềm lành, thực là báo khí hậu thuận hòa, mùa màng phong nẫm, trong ngoài yên lành, để dân ta đều được hưởng phúc. Vậy phải sửa lễ mà tế để đáp ơn thần». 
      Chở ở kho Kinh 5 vạn quan tiền và 3 nghìn tấm vải đến trữ ở Gia Định.
      Miễn việc binh dao cho xã Minh Hương ở Gia Định; thuế thân vẫn thu theo lệ.
      Ban áo quần tiền gạo cho biền binh các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực và hai đội Thị trà nhất, nhị.
      Lấy Hương cống triều Lê là Lý Thiện Dưỡng làm Đốc học Quảng Bình, Lê Tri làm Đốc học Quảng Ngãi, Tổng giáo Nguyễn Huy Cẩm làm Đốc học Biên Hòa.
      Vua đến đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ, cho các tăng hơn nghìn lạng bạc.
      Gọi thợ rèn ở hai xã Minh Lương, Tân Chàng (thuộc huyện Thiên Lộc) về Kinh làm việc, tha cho thuế thân năm nay.
      Vùng ven núi Thanh Hoa có nhiều trộm cướp. Sai trấn thần đặt thêm 3 bảo Nhân Trai, Yên Các, Yên Mỹ cùng với 5 bảo cũ Lãnh Thủy (Nước lạnh), Chúc Quán (Quán cháo), Khoa Trường, Yên Tôn, La Miệt, tăng thêm binh đóng giữ.
      Thanh Hoa và Thanh Bình có bảo, mưa nhiều, lúa ruộng bị ngập. Sai trấn thần và đạo thần đi khám tâu lên. Rồi Thanh Hoa thấy miếu vũ nhà cửa bị hư hỏng, xin bắt dân sửa chữa. Vua nói: «Dân ấy riêng bị thiên tai, đương cần vỗ về chưa xong, sao còn bắt họ mệt nhọc nữa?» Hạ lệnh thuê người làm.
      Sai trích lấy 100 người binh vệ Hổ oai trung sung việc coi giữ Nguyên miếu.
      Thượng thư Lễ bộ là Phạm Văn Hưng cử Tư vụ Nguyễn Bá Thân làm Tri huyện. Vua nói: «Thân nhận chức chưa tới một tuần, sao vội cử như vậy?» Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức đáp: «Xưa nay Hương cống đều bổ huyện lệnh, chức Tư vụ không phải là sở nguyện của họ. Nay cho thăng để người ta biết rằng chức Tư vụ là bậc thang để thăng bổ mà vui lòng làm việc».             
      Vua nói: «Co lẽ nào rồi sau lại không được thăng? Chưa ngồi ấm chiếu đã vội gì?». Không cho.
      Định lệ nộp thay tiền cho ba đội buồm đệm ở Bình Hòa. (Tráng dân nộp thay bằng tiền mỗi người 8 quan; lão tật nộp một nửa.)         
      Định ngạch số người giữ án và giữ sổ cho các địa phương từ Quảng Bình vào Nam, tùy công việc nhiều ít mà khác nhau. (Gia Định 15 người giữ án, 25 người giữ sổ; Quảng Đức, Quảng Nam, Bình Định, Phiên An, Vĩnh Thanh, Định Tường, mỗi nơi 10 người giữ án, 20 người giữ sổ; Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Biên Hòa, Hà Tiên, mỗi nơi 6 người giữ án, 12 người giữ sổ.)
      Vệ uý Thị trung lĩnh Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Trinh cáo ốm. Trấn thần Thanh Hoa tâu lên. Vua nói: «Trinh là con trung hưng công thần Tôn Thất Hội, buổi quốc sơ được ấm thụ chức Kiêu kỵ đô uý, trẫm nghĩ thương người có công lao cũ nên xét dùng con cháu, cất nhắc lên chức ấy. Thực là nghĩ con em nhà ăn ngon mặc đẹp, việc quân chưa quen, nên cho ở ngoài để tập khó, rắp muốn gây dựng cho. Ngày được lệnh, hắn đã cố từ, trẫm hai ba lần mắng bảo mới chịu lên đường. Nay làm quan chưa được bao lâu lại cáo ốm. Sao chẳng nghĩ như thế là trên phụ ơn nước, dưới nhục gia thanh thì còn đứng ở cõi đời sao được». Bèn không cho. Sau Trinh chết, cho 100 lạng bạc.
      Ký lục Quảng Nam là Hồ Công Thuận chết. Lấy Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Nam, Thiêm sự Lại bộ là Lê Văn Quảng làm Ký lục Quảng Bình.
      Vua sắp đi Bắc tuần có việc. Vì công việc Bắc Thành bề bộn, sai Tổng trấn Lê Chất về trước thu xếp việc thành. Chất nhân tâu rằng hành cung ở Bắc Thành xin cho dùng sơn đỏ. Vua nói: «Nơi Tôn Miếu làm đẹp thì nên, còn nơi vua ở thì nên mộc mạc để tỏ đức tiết kiệm, dùng văn vẻ làm gì!».
      Lại dụ các dinh thần trấn từ Quảng Trị ra Bắc sửa lợp lại hành cung, dặn đừng xa xỉ trang hoàng. 
      Sai hữu ty chế đồ lỗ bộ đại giá cùng cờ xí, binh khí.
      Quan giám thành đem bản đồ đường thủy từ Kinh sư ra Bắc dâng lên (Từ Kinh sư đến hành cung Quảng Bình 8 trạm, từ hành cung Thạch Khê đến hành cung Nghệ An 3 trạm, từ hành cung Thanh Hoa đến hành cung Bỉm Sơn 1 trạm, từ hành cung Thanh Bình đến hành cung Bắc Thành 6 trạm, đều theo đường thủy).
      Vua xem. Phàm trên đường chỗ nào đường thủy có thể đi thuyền được, đều sai trước Vệ uý vệ Phấn dực Nội thủy là Nguyễn Tài Năng chỉnh bị thuyền ghe để chờ.
      Bộ Lễ tâu nói: «Lễ tế tự không gì to bằng lễ Giao tế Trời; lòng hiếu của đế vương không có gì trước sự tôn kinh tổ tiên. Xét sách Chu dịch, thì tiên vương chế nhạc sùng đức, tiến lên thượng đế và phối tế tổ tiên. Lại xét sách Chu lễ tế Trời ở đàn tròn, thì phối tế Hậu Tắc(1), tế Trời ở nhà Minh Đường thì phối tế Văn vương. Vì vậy mà sách Trung dung tán dương Vũ Vương Chu công là đại hiếu. Từ nhà Hán về sau, duy có Minh đế nối ngôi, tôn thờ Quang Vũ ở nhà Minh Đường là hơi theo ý cổ. Thế tổ Cao hoàng đế ta, khi đại định rồi, bắt đầu dựng đàn Nam Giao và Thái Miếu, sửa sang lễ nhạc mỗi năm tháng trọng xuân tế Trời Đất ở đàn Nam Giao, rước Thái tổ Gia dụ hoàng đế để phối tự, nêu rõ ở Hội điển để phép cho muôn đời. Kính nghĩ Thái tổ Gia dụ hoàng đế, mở mang nghiệp lớn, gây dựng đất nước, Thế tổ Cao hoàng đế dẹp định họa loạn, thống nhất cả nước, lập ra cương kỷ, bản thân làm được thái bình, công cao đức dày, xưa chưa từng thấy, thì theo lễ nên sánh với Trời và cùng hưởng với liệt tổ. Sang năm xong việc quốc tang, đến kỳ tế lớn Nam Giao, xin rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự với Trời. Các đồ thờ và nghi tiết đều theo như vị phối của Thái tổ Gia dụ hoàng đế, rồi ghi thêm vào điển lệ, để noi theo phép hay nhà Thành Chu và tỏ lòng thánh hiếu về sau mãi mãi. Vua y lời tâu. Bộ thần lại xin cho nhạc sinh tập trước để dự bị đến ngày đại lễ hiếu nhạc. Vua y cho. 
(1) Hậu Tắc: tổ nhà Chu.
      Tháng 8, ngày Mậu dần, đặt triều nghi ở điện Cần Chính, ban dụ cho trong ngoài. Dụ rằng: «Lễ rước lên phối tự ở đàn Nam Giao là để truy tôn tổ tiên, cao sánh với Trời, cho nên lời Tượng(1) nói về lễ ân tiến ghi trong sách Hy kinh(2), bài ca Hữu hưởng còn chép ở thiên «Chu tụng»(3). Tôn bậc tôn, thân bậc thân, vương đạo thực đã rất đầy đủ. Kính nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, thông minh thần vũ, ứng mệnh trời, thuận lòng người, trổ tài kinh luân trong loạn ly, quét sạch bụi mù trong vũ trụ, rửa sạch thù nhục cho muôn dân, yên ổn linh hồn tổ tiên trong chín miếu. Được trời thương giúp, thống nhất cả nước; dựng nghiệp trung hưng, công đức tươi tốt. Chế tác lễ nhạc để rạng ơn trước, dựng nên kỷ cương lưu lại đời sau. Thân trải hơn bốn chục năm khó nhọc, để lại đến vạn muôn năm cơ đồ. Thực nên phối tự với trời, để tỏ ơn lớn vô hạn. Trẫm từ khi nối ngôi đến nay, kính nhớ tổ tiên, tưởng như giáng lâm, sáng tỏ ở trên, nên càng nghĩ làm cho lừng lẫy nghiệp lớn để tỏ bày lòng kính hiếu. Hiếu kinh nói rằng: «Tôn kính cha không gì bằng đem phối với Trời. Vậy thì chỉ có tế Giao lễ lớn, kính rước phối lên mới có thể nêu được đức thịnh, tỏ rõ đạo hiếu về sau, lòng chỉ nghĩ nối noi để báo đáp. Nay chuẩn y lời tâu của bộ Lễ, mùa xuân sang năm làm lễ Nam Giao kính rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự. Việc này chép thành Hội điển, truyền lại vô cùng, để tỏ tấm lòng hiếu nối dõi của trẫm và đưa nước nhà đến cõi phúc lâu dài. Còn đồ thờ và lễ vật thì do hữu ty kính cẩn sắm sửa».
(1) Tượng từ: lời của Khổng Tử giải thích Kinh Dịch.
(2) Hy kinh: Kinh Dịch.
(3) Chu tụng: một thiên trong Kinh Thi.
      Cấp ruộng lương cho biền binh ở vệ Hộ lăng trung theo như lệ quân Thị nội.
      Lấy Vệ uý vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách là Lê Viết Quý làm Vệ uý Trung vệ dinh Hổ uy quân Thị nội.
       Triệu Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí về Kinh. Trí trước được sai theo việc quân ở Gia Định, đến nay việc biên cương hơi rỗi nên triệu về. Về đến nơi, vua hỏi việc dân, Trí thưa về việc giá gạo đắt (1 phương gạo giá hơn 9 tiền). Vua quay bảo Nguyễn Hữu Thận rằng: «Gia Định là đất dựng nghiệp vương, nay luôn năm mất mùa, trẫm rất thương, muốn tha hết thuế ruộng thì thế nào?» Đáp rằng: «Thuế ruộng năm nay đã nộp kho một nửa. Nếu miễn thì người chăm chỉ làm ruộng để nộp thuế cho vua lại không được dự ơn, mà kẻ lười biếng lại được lợi riêng». 
      Vua bảo: «Ngươi nên vì ta nghĩ kỹ việc ấy».
      Sai Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản các đội Trường trực, Thường trực. 
      Lấy Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách là Phạm Văn Xuân làm Vệ uý vệ Túc võ, Cai cơ Võ Văn Tường làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ, Lê Văn Hùng làm Phó vệ uý vệ Củng võ, Nguyễn Văn Vỵ làm Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị.
      Triệu thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Gia Định là Nguyễn Hựu Nghi vào chầu. Sai Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh quyền lĩnh việc tào. 
      Các địa phương tuân theo ân chiếu xét hỏi về các công thần vô tự mà vợ còn thủ tiết, làm sớ tâu lên. Vua chuẩn y lời bầy tôi bàn cấp thêm tiền gạo để nuôi. (Phàm vợ các công thần Vọng Các trước mông ân cấp mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 36 quan tiền, 24 phương gạo; ai hằng tháng được 2 quan tiền, 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 24 quan tiền, 18 phương gạo; ai hằng tháng được 1 quan tiền, 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 18 quan tiền, 12 phương gạo; ai hằng tháng được 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 12 phương gạo. Vợ các công thần nhất phẩm thì hằng tháng cấp 36 quan tiền, nhị, tam phẩm 24 quan, tứ phẩm 18 quan, số phương gạo cũng như số quan tiền. Duy có vợ Lễ bộ Ngô Tòng Chu thì hằng năm cấp 50 quan tiền, 50 phương gạo.)
      Tướng giặc ở Sơn Tây là bọn Đỗ Hoành Thản, Đỗ Văn Kỷ kết đảng mưu loạn. Cai đội giữ bảo Bá Dương là Nguyễn Duy Trữ sai thuộc hạ nhập đảng dụ đến Thụy Hương (tên xã thuộc huyện Từ Liêm), vây bắt được Thản, Kỷ và đảng giặc hơn mười người. Việc tâu lên. Thưởng cho 100 lạng bạc.
      Sai bộ Binh lĩnh việc bưu chính. Lệ trước các trát giao cho trạm đệ đều do bộ Lại. Vua thấy lính trạm thuộc về binh tịch, nên đổi định lại.
      Ngày Quý sửu, yết lăng Thiên Thụ.
      Sai Chưởng cơ giám thành sứ Trần Văn Học đi Gia Định chiếu địa giới các trấn trong hạt thành và nước Chân Lạp mà vẽ núi sông dường sá để dâng. Học khéo vẽ mà tuổi đã già. Vua bảo rằng: «Ngươi sống không bao lâu nữa, không nghĩ đến để tiếng về sau ru?» Học đáp: «Xin vâng mệnh». Bèn sai đi, cho 100 quan tiền.
      Thái thường Tự khanh tham lý công việc Lễ bộ là Lê Đồng Lý, trước kia ở Quang Trị, cùng Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn đốc biện lò gạch, bắt dân làm thay dao dịch, việc phát giác, đều bị cách chức chờ xét. Khi án dâng lên, vua thấy phạm tội trước khi có lệnh ân xá, nên miễn tội cho Lý, cho cung chức như cũ. Cư Tuấn còn can về hối lộ, hạ lệnh cho bộ Hình xét lại.
      Quốc tử giám làm xong. Bộ Lễ bàn tâu rằng: «Nhà học hiệu đặt ra là để thi hành lễ nhạc, tuyên bố đức hóa, sáng tỏ văn minh, lưu hành ơn dạy, đó là điển lễ rất sáng lớn. Thế tổ lúc mới đại định, yết miếu Khổng tử, dựng lại Văn miếu, dựng học cung ở phía tây, nền móng đã thành mà công việc chưa xong. Hoàng thượng ta vâng theo chí lớn, nhân nền cũ dựng nhà Quốc học, quy mô văn trị rỡ ràng. Nay đã làm xong, xin đặt vị vọng bái Tiên thánh ở nhà Di luân. Giám thần họp sinh viên đến bái yết, rồi hằng ngày ngồi ở giảng đường dạy, để mở con đường sùng nho thịnh vượng cho muôn đời». Vua y lời tâu.
      Bắt đầu đặt vệ Cẩm y, lấy các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực sung vào, phẩm trật cũng như quân Thị trung.
      Hơn 140 thủ binh ở đạo Cam Lộ thuộc Quảng Trị, gần đây nhiều kẻ trốn hoặc chết. Dinh thần thấy nơi ấy đường sá thông đi các ngả, rất là xung yếu, tâu xin mộ người sung đủ ngạch cũ để phòng ngự. Vua y cho.
      Cho Trần Công Lại làm Thống chế hành chức Trấn thủ Vĩnh Thanh, kiêm quản biền binh đồn Uy Viễn, Vệ uý Thần sách là Phan Tiến Hoàng hành chức Trấn thủ Phiên An. 
      Miễn thuế thân năm nay cho hai đội thợ rừng ở Quảng Trị. 
      Phục chức cho Hoàng Trung Đồng làm Chánh quản Tuần hải đô dinh, cấp bổng Tòng tam phẩm, cho thuộc thành Gia Định sai khiến. Trung Đồng trước có tội bị bãi chức. Vua nghĩ buổi đầu trung hưng có quân công nên lại dùng.
      Chế ấn quan phòng bằng ngà cho Quang lộc Tự khanh và Thị trung Trực học sĩ.
      Lấy Phó vệ uý Hậu nhị quân Thị trung là Lê Phúc Bảo làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị, Cai đội Hoàng Văn An làm Phó vệ uý vệ Trung nhị.
      Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ là Trần Công Tuân làm Thượng bảo Thiếu khanh, Lang trung Binh bộ là Vũ Hàm Chương làm Thiêm sự Binh bộ.
      Lấy Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện đại học sĩ, văn lĩnh Thượng thư Lại bộ và kiêm lĩnh Thượng thư Binh bộ.
      Đầu vua muốn cho Hoài Đức làm quan nhất phẩm, đem hỏi các đại thần. Bọn Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên đều đáp rằng nên. Vua nói: «Phong hội chuyển biến ngày càng mau mà nhân tài ngày càng kém. Văn thần ngày nay tìm được người như Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Siêu khó mà có được. Khéo dùng người thì chỉ tùy tài mà bổ quan để dùng. Vả lại quan nhất phẩm văn giai thì buổi quốc sơ đã có quan chế. Ngày nay thăng bổ lên cũng là noi theo lệ cũ vậy. Quy mô dựng nước của Hoàng khảo ta đều là để làm nên chí của tổ tiên. Phàm các điển chương pháp độ để lại cho ta là người sau, ta tự nên tuân theo để truyền muôn đời, có dám vượt qua đâu».
      Hoài Đức được mệnh, dâng biểu từ chối.
      Vua nói: «Ngày nay ở văn ban có mình ngươi là hơn cả, nên gắng làm tròn chức vụ để giúp trẫm những chỗ chưa kịp». Chớ từ chối. 
      Lấy Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên lâm thự Thượng thư Công bộ. Huyên cũng dâng biểu từ chối. Vua không cho.
      Triệu Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn về Kinh; lấy Thượng bảo Thiếu khanh là Nguyễn Cửu Khánh làm Cai bạ Quảng Trị. Tham quân Tiền quân là Vũ Tiến Uyên làm thự Ký lục. Bọn Khánh bệ từ. Vua dụ rằng: «Quảng Trị là nơi đất xấu dân nghèo. Bọn ngươi nên để ý vỗ nuôi, bất tất hộ khẩu phải tăng nhiều, miễn không điêu hao cũng là xứng chức vậy». 
      Quảng Oai công là Quân thích chơi bời săn bắn, từng sai thuộc hạ trong phủ đòi chó săn trong dân gian.
      Vua hạ lệnh đánh roi Trưởng sử và Cai đội; còn bọn thuộc hạ thì đánh 100 trượng, sung làm lính nhà bếp trong quân Tam trực(1). Em ruột tiểu sai Ngô Doãn Diệu cũng can việc ấy mà bị tội. Diệu đến cổng phủ đòi hỏi. Vua nghe tin cả giận, ném cái lông bài, sai đem chém Diệu ở chợ. Sau nguôi giận lại thôi. Nhân bảo thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo rằng: «Em Diệu dẫn Quảng Oai công đi chơi bời, ngày ngày chỉ chăm săn bắn, có giết cũng đáng. Nay sung làm lính nhà bếp cũng không quá, thế mà Diệu dám đòi hỏi là thế nào? Diệu hằng ngày hầu bên cạnh, há không biết Quảng Oai công là em trẫm mà còn dám thế? Chả trách nào bọn ấy được sai đi các địa phương, hễ ai cho ăn thì khen hay, không thì nói xấu».
      Chuẩn định bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai thuộc quân Thị nội từ nay có dân ngoại tịch ở Tứ trực(2) và các trấn tình nguyện làm binh thì cho ghi vào ngạch. 
(1) Tam trực: các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam. 
(2) Tứ trực: các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
      Đổi chức Cai hợp các thành dinh trấn làm Thư lại chánh bát phẩm, thủ hợp làm Thư lại chánh cửu phẩm.
      Bắt đầu định ngạch số và phẩm trật Tri bạ và Thư lại các quân dinh. Các vệ cơ ở trong ngoài đều đặt 1 Tri bạ, đội đặt 1 Thư lại. Tri bạ quân Thị trung trật Tòng ngũ phẩm, Thư lại thì Tòng bát phẩm; Tri bạ quân Thị nội Chánh lục phẩm, Thư lại Chánh cửu phẩm. Năm dinh quân Thần sách cùng vệ cơ các quân và các thành dinh trấn, thì Tri bạ trật Tòng lục phẩm, Thư lại Tòng cửu phẩm.
      Đình thần bàn lấy tháng 9 thì hạ lệnh ngự giá Bắc tuần. (Nhà Thanh có thư sang nói sứ thần ta là bọn Trần Bá Kiên khoảng tháng 4 đến Yên Kinh, vua Thanh sai Án sát sứ Quảng Tây là Phan Cung Thìn sung chức Khâm sứ.) 
      Định chương trình đi Bắc tuần (Trước kỳ chọn sai hoàng tử và đại thần ở lại Kinh; điểm các đại thần quan viên hỗ giá; chọn ngày yết cáo ở các miếu và ở điện Hoàng nhân, thỉnh an cung Từ Thọ. Sai quan tế thần kỳ đạo (cờ). Xa giá qua Thanh Hoa thì yết cáo Nguyên miếu. Trên đường đi, qua miếu các đế vương lịch đại, và đền thờ các thần danh sơn đại xuyên, đều có bày đàn tế. Các nơi dịch trạm thì liệu trữ bạc tiền gạo lương để sẵn cho việc ban thưởng. Ngày xa giá khởi hành thì hoàng tử và quan viên lưu kinh ra ngoài Kinh đô quỳ tiễn. Phàm gặp ngay miếu hưởng, ngày kỵ, ngày sóc ngày vọng, và lễ ân tiến, hoàng tử lưu Kinh làm lễ. Từ Quảng Nam trở vào nam, có chương sớ về Kinh, phải đổi trát để chuyển đến hành tại. Từ Quảng Trị trở ra Bắc thì đều đệ thẳng đến. Xa giá đến đâu, quan lại địa phương phải đến đầu hạt quỳ đón. Xa giá đến hành cung thì quan lại địa phương làm lễ triều bái. Lễ dùng trâu gạo thay cho ngọc lụa. Các xã dân dọc đường, kỳ lão đều bày hương án quỳ đón, cho miễn dâng hiến. Ngày hồi loan quan lại các địa phương lại quỳ tiễn ở địa đầu; hoàng tử và quan viên lưu kinh quỳ đón ở ngoài Kinh đô. Ngày hôm sau, lễ tạ các miếu, điện Hoàng nhân, mừng sức khỏe ở cung Từ Thọ, đều theo các lễ như trước).
      Ban kỷ luật hành quân (Phàm ra đi đều y theo đồ thức, nghe hiệu lệnh chiêng trống mà tiến hay dừng, cốt sao đội ngũ nghiêm chỉnh, không được vượt thứ tự tranh nhau. Làm trái thì có tội. Nơi vua trú chân trong hành cung thì treo màn, ở ngoài thành thì vây thành lưới. Quan túc vệ thì tướng không lìa binh, quân không được bỏ hàng ngũ; không cho người vô sự ra vào lẫn lộn. Khi yên doanh rồi, thổi một hồi tù và, mỗi đội cho 1 phần 5 lính đi lấy củi nước và kiếm mua thức ăn. Thổi ba hồi tù và thì phải về doanh ngay. Kẻ nào dám mua rẻ mua hiếp, hoặc tự tiện vào nhà người hái rau trẩy quả thì đánh 100 trượng. Giày xéo ruộng lúa và thả voi ngựa giẫm hay ăn lúa thóc rau quả thì đánh 80 trượng và bắt đền giá gấp đôi cho chủ. Nếu không có bài trạm mà bắt bậy phu trạm, thì khép vào tội vi chế. Khi đi đường, có ai ốm thi viên cai quản phải lưu lại hai người trong đội để điều dưỡng. Có người chết thì bảo địa phương sở tại cấp tiền tuất để mai táng, dựng mộ chí để đợi lúc về nhận. Làm trái thì khép vào luật bỏ xác chết. Ban đêm, trung sứ có việc quan trọng truyền báo, nếu xét có cờ bài mệnh vua, ấn vua hay cờ rồng thị lập tức cho đi. Như các quan văn võ có việc vào tâu, xét có bài tâu việc, cũng lập tức cho đi. Đến cửa ngự doanh, phải chuyển báo cho thị vệ đại thần tâu xin cho vào hay đứng lại. Sau khi mọi người yên nghỉ, nếu biền binh có việc ra vào thi lấy khẩu hiệu và hỏa mai làm tin, nếu không có, bắt xét trị. Nếu có việc quân cơ khẩn yếu, lập tức chạy báo cho thị vệ ở ngũ doanh để tâu lên, nếu chậm trễ lỡ việc thì xử theo quân pháp. Đêm có ai nằm mộng nói mê, người canh gác phải đánh thức; nếu điềm nhiên để người nói mê kêu to, trong quân đêm khuya hoảng sợ thì cũng xử theo quân pháp).
      Gọi hơn 2.800 người mới điền ở dinh về đội các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đến cả hàng ngũ ở Kinh. Đầu là số binh ở Kinh thiếu, nhân gặp nạn dịch nên đình bổ sung. Đến khi nạn dịch lui, chuẩn y lời đình nghị, hạ lệnh cho sở tại điền cho đủ số, nhưng vẫn để ở bản quán đến nay mới gọi ra để chuẩn bị theo giá.
      Dụ rằng: «Tôn người trên mà hầu hạ là công việc phận sự của bọn ngươi, đều phải cố gắng, không được quen thói bỏ trốn. Làm trái thì xử theo quân pháp. 
      Khi lính đến rồi, sai cùng các quân diễn tập ở trước Kinh thành. 
      Vua từng ngự giá đến xem và chỉ bảo, tự mình đánh trống ra lệnh, đi đứng đều đúng kỷ luật.
      Sai trấn Quảng Ngãi bắt hết lính ở sáu cơ Kiên chia đi phòng giữ các đồn núi và điều động 500 lính ở cơ Hòa Thắng trấn Bình Hòa, cơ Thuận Nghĩa trấn Bình Thuận, đi đóng thú ở Bình Định. Lại sai trấn Nghệ An bắt hơn 3.000 biền binh hạ ban(1) của quân Thần sách, chiếu cấp cho lương hằng tháng để chờ lệnh điều độ.
(1) Hạ ban: ban đương nghỉ ở nhà.
      Vét kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình để đường thủy được thông (từ cầu Tiểu Khê ở địa đầu đến cửa sông Tam Kỳ về xã Thổ Ngoã, dài trên 4.880 trượng). Sai quan giám thành đến chỉ bảo. Những người ứng dịch được hậu cấp tiền gạo. Ruộng đất chỗ nào bị đào mất thì được đền tiền. 
      Dụ rằng: «Việc này là bất đắc dĩ chứ không phải là thích chơi xem để làm nhọc sức dân đâu!». 
      Sai Chưởng thủy quân Tống Phước Lương quản lĩnh binh thuyền đi trước.
      Dụ rằng: «Quân đi có kỷ luật, ngươi nên răn cấm quân lính không được nhiễu dân; nếu coi giữ không nghiêm là tội ngươi đấy. Cho quân sĩ hơn 2.000 quan tiền».
      Sai Thanh Nghệ và Bắc Thành dự bị binh thuyền để đón ngự giá, và liệu bắt biền binh đi tuần xét các chỗ quan yếu ở dọc đường.
      Cấp gạo lương cho các dịch trạm từ Quảng Đức trở ra Bắc. (Quảng Đức 2 trạm, mỗi trạm 48 phương gạo, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, mỗi trạm 60 phương; Nghệ An 11 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, mỗi trạm 80 phương; Thanh Bình 2 trạm, Sơn Nam thượng 5 trạm, mỗi trạm 60 phương). Lại hạ lệnh cho sở tại thuê thêm dân đinh phụ vào.
      Chế bài trạm bộ Binh, phàm người theo ngự giá đáng được cấp trạm thì dùng. Lại sai các Cai đội và Phó đội các quân Thị trung, Thị nội chia đi xét nghiệm ở các trạm, cấp cho mỗi người 10 lạng bạc. 
      Bộ Lễ tâu rằng các miếu đế vương lịch đại thì xin sai quan đến tế ở nơi phát tích hoặc ở nơi tiếp cận dọc đường, còn các danh sơn đại xuyên thì mỗi nơi do địa phương hợp tế một đàn.
      Vua y lời tâu. (Miếu Kinh Dương vương ở xã Á Lữ trấn Kinh Bắc, miếu Hùng vương ở xã Nghĩa Cương(1), trấn Sơn Tây, miếu Thục An Dương vương ở xã Hương Ái trấn Nghệ An, miếu Triệu Vũ đế ở xã Xuân Quan trấn Kinh Bắc, miếu Trưng vương ở xã Nhân Châu trấn Sơn Nam thượng, miếu Lý Nam đế ở xã Tử Đường trấn Sơn Nam hạ, miếu Triệu Việt vương ở xã Trinh Hà trấn Thanh Hoa, miếu Mai Hắc đế ở xã Hương Lãm trấn Nghệ An, miếu Bố Cái đại vương ở xã Cam Lâm trấn Sơn Tây, miếu Đinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên thượng đạo Thanh Bình, miếu Lê Đại Hành đế ở xã Ninh Thái trấn Sơn Nam thượng, miếu các vua triều Lý ở xã Đình Bảng trấn Kinh Bắc, miếu các vua triều Trần ở xã Tức Mặc trấn Sơn Nam hạ, miếu các vua triều Lê ở xã Bố Vệ trấn Vệ Thanh Hoa. Tất cả 15 nơi. Thần các danh sơn đại xuyên từ Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Bắc Thành, tất cả 8 đàn.)
 
(1) Đúng là Hy Cương.
      Đặt trường đại duyệt binh ở phía nam sông Hương. 
      Vua đến xem. Nhân lên núi nhìn xem cửa biển của Kinh thành, đặt tên núi bên tả là núi Tả phụ, núi bên hữu là núi Hữu Dực, phá Tam Giang là Tam Giang hải nhi, phá Hà Trung là Hà Trung hải nhi. 
      Sai trung sứ ra Bắc Thành hỏi thăm tin tức sứ nhà Thanh.
      Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tế cờ xong rồi duyệt binh tượng. Vua ngự điện Càn Nguyên xem (số binh trên 21.100 người).




Đăng nhập để trả lời
0