20
CON ĐƯỜNG CHIẾN TRANH
Kể từ giờ phút này, tôi chỉ là một
binh sĩ đứng đầu đế quốc Đức. Tôi
sẽ lại mặc thêm lần nữa bộ nhung
phục, thứ quần áo thiêng liêng và
quí báu nhất đối với tôi. Tôi sẽ chỉ
cởi bỏ nó khi nào chúng ta đại
thắng hoặc tôi sẽ gửi thây nơi
chiến địa.
ADOLF HITLER
Hans Dieckhoff, một viên chức cao cấp trong bộ ngoại giao Đức nói với bộ trưởng Ribbentrop:
- Thôn tính được Áo quốc rồi chúng ta phải theo gương Bismarck ngày xưa dành nhiều năm để củng cố trước khi làm gì khác.
Ribbentrop cười đáp:
- Cả ông lẫn Bismarck đều không hiểu rõ sức mạnh của Quốc Xã.
Tất cả mọi người thân cận Hitler đều đánh giá quá cao sức mạnh Quốc Xã. Quốc Xã mạnh thật nhưng nhược điểm của chính sách Hitler là không biết dừng lai, nhược điểm này từng làm sụp đổ tan tành sự nghiệp Napoleon.
Tính xong nước Áo chưa được mấy ngày đã cho đòi Sudeteland, bây giờ Hitler quay sang Ba Lan buộc phải trả cho Đức đất Dantzig. Đổi lại, Hitler hứa ủng hộ Ba Lan đòi một phần Ukraine của Nga về. Chính phủ Ba Lan dưới sự điều khiển của đại tá Beck, người kế vị thống chế Dilsudski, hãy còn yếu thế đối với chính trị nội bộ vì ông không có quyền tuyệt đối như thống chế.
Vì vậy, Beck không dám thẳng thừng đối phó hay chấp thuận, hoặc từ chối, chỉ tìm kế hoãn binh kéo dài thêm ngày nào hay ngày ấy. Ông trả lời với Ribbentrp để thăm dò dư luận xem đã.
Ribbentrop cho điều kiện chậm lắm là mùa thu 1939, Ba Lan phải giải quyết vần về Dantzig. Xứ Lithuanie nhỏ bé không muốn động đến đế quốc Đức nên tự ý trả lại cho Đức tình Memel mà được chia phần năm 1923.
Trước sự lộng hành của Hitler, Anh quốc liền ban bố lệnh cưỡng bách tòng quân và gửi văn thư cho Ba Lan sẵn sàng dùng võ lực bảo vệ Ba Lan trong trường hợp nước này bị Đức xâm lăng.
Anh Pháp mở rộng trận tuyến kéo Nga, Sô, Thổ Nhĩ Kỳ liên minh chống Đức.
Tin vào sự bảo đảm của Anh Pháp, Ba Lan ban bố lệnh tổng động viên, tỏ thái độ cứng rắn trong cuộc thương thuyết về Dantzig.
Cuối tháng 3-1939, Hitler bảo tướng Keitel hãy sửa soạn kế hoạch đánh Ba Lan, tiêu diệt Ba Lan không phải vì Dantzig mà là tiêu diệt một động lực chính trị đe đọa Đức. Cơ hội đến, chúng ta sẽ dựng cho vùng này một quốc gia mới: quốc gia Ukraine. Kế hoạch cần hoàn tất trước tháng 9.
Tháng 4-1939, Mussolini đem quân chiếm nước Albanie, nại cớ Ý cũng cần phải đặt lại vấn đề lãnh thổ tại Âu Châu.
Tổng thống Mỹ liền gửi thông điệp cho Đức Ý kêu gọi xin tôn trọng lãnh thổ các nước nhỏ yếu, nước Mỹ sẵn lòng đóng vai trung gian hòa giải.
Hitler hiểu lờ mờ về nước Đức mặc dầu Goering, Schacht, Neurath và đại sứ Đức tại Mỹ Dieckhoff đã nhiều lần trình bày báo cáo tính chất quan trọng của Mỹ đối với thế giới trong tương lai. Hitler vẫn không chịu nghe vì nó trái hẳn với những điều ông nghĩ. Theo ông, Mỹ quốc chỉ là chỗ lùi của giống Anglo-saxon đang bị sa đọa bởi bọn Do Thái. Hitler hoàn toàn không để ý đến sức mạnh kinh tế của Mỹ.
Ba Lan động viên, cho báo chí chửi Đức, Anh Pháp tiến hành chính sách bao vây Đức. Bây giờ đến lượt Mỹ dở trò can khéo làm cho Hitler tức giận vô cùng.
Ngày 28 tháng 4-1939, Hitler đọc diễn văn tại Quốc Hội để trả lời thông điệp của tổng thống Mỹ. Ông nói:
“Ngài tổng thống Roosevelt! Tôi hiểu đất đai rộng lớn và tài nguyên dồi dào của nước ngài đã khiến ngài nghĩ rằng Hoa Kỳ có trách nhiệm với lịch sử thế giới, có trách nhiệm với số phận của các nước nhỏ. Còn tôi, thưa ngài, tôi được đặt trong một khung cảnh hẹp hơn,khiêm tốn hơn.
Ngoài tôi nắm quyền điều khiển quốc gia thì nước tôi gần như hoàn toàn sụp đổi chỉ vì tin tưởng vào lời hứa của thiên hạ, chỉ vì đã tin cậy những chính phủ dân chủ. Kể từ ngày đó, tôi chỉ biết có một sứ mạng hết sức đơn giản, tôi không cảm thấy mình mang trách nhiệm gì với thế giới bởi lẽ thế giới có bao giờ mang trách nhiệm gì với dân nước tôi. Sứ mạng theo tôi quan niệm, do trời đất giao phó, là phụng sự dân tộc và chỉ một mình dân tộc chúng tôi thôi. Tôi đã sống ngày đêm với mục tiêu duy nhất: lấy lại sự hùng mạnh của dân tộc, vì cả thế giới đã bỏ rơi nó. Rồi tôi đưa nước Đức ra khỏi tình trạng hỗn loạn để lập lại trật tự, đẩy mạnh sản xuất vọt lên. Rồi tôi đem việc làm hữu ích đến cho bẩy triệu người, chẳng những nước Đức bây giờ đã thống nhất trên chính trị mà còn được tái võ trang như một cường quốc. Tôi đã xé từng tờ một của bản hiệp ước chứa đựng 448 điều khoản áp bức tồi bại không dân tộc nào trên thế giới hay con người nào có thể chịu nổi.
Tôi đã lấy lại cho nước Đức những tỉnh mà người ta ăn cướp của Đức năm 1919, tôi đã đem hàng triệu người dân Đức trở về với đất mẹ, sao bao năm bị đày ải khổ cực, tôi đã xây dựng lai đất sống cho dân tộc.
Và thưa ngài Roosevelt, tôi đã hoàn thành sứ mạng nhưng không làm đổ một giọt máu của dân Đức cũng như của dân nước khác, tôi không hề gây đau khổ chiến tranh.
Tôi, 21 năm trước đây chỉ là một công nhân vô danh và một người lính không tên tuổi của dân tộc tôi, tôi đã thực hiện tất cả bằng cố gắng cùng với sức mạnh của tôi.
Còn ngài, thưa tổng thống Roosevelt, công việc của ngài dễ hơn tôi nhiều. Ngài thành tổng thống Mỹ năm 1933, cùng một năm tôi lên địa vị thủ tướng Đức. Ngay từ ngày đầu, ngài đã ngồi ghế nguyên thủ của một quốc gia giầu bậc nhất trên thế giới với tài nguyên thiên nhiên bao la. Mặc dù dân số Hoa Kỳ không hơn dân số Đức quá một phần ba mà đất sống Hoa Kỳ gấp 15 lần đất sống của Đức. Nhờ những điều kiện ấy nên ngài mới rỗi rãi thì giờ chú ý đến các vấn đề thế giới. Còn những gì tôi làm tuy nhỏ bé lắm nhưng tôi quí trọng chúng vì chúng là của dân tộc tôi. Vả chăng tôi chưa hề bao giờ vượt khỏi phạm vi công bằng, tiến bộ, hạnh phúc và hòa bình của nhân loại”.
Đoạn cuối diễn văn Hitler tỏ ý mong muốn ký hiệp ước bất khả xâm phạm với bất cứ quốc gia nào. Đan Mạch, Esthonie, Lettonie đều hưởng ứng, cả ba hiệp ước được hoàn tất mau chóng.
Quan sát viên quốc tế về chính trị nhận thấy một điều quan trọng là mấy tháng nay Hitler không đả động gì đến Liên Bang Sô Viết khác hẳn với những năm 1936, 37, 38 mà không một bài diễn văn nào Hitler không công kích Nga như một kẻ chuyên phá quấy hòa bình Âu Châu.
Tiếp tân thường niên các ngoại giao đoàn hôm đầu niên dương lịch Hitler đã nói chuyện khá thân mật với đại sứ Nga Merekalov. Đến tháng 4, Nga sai sứ giả ướm Quốc Xã về sự nối lại bang giao thân thiện giữa Nga-Đức. Từ ngày có hội nghị Munich, Nga không tin tưởng ở các cường quốc Anh-Pháp có thể giúp Nga trong trường hợp Nga bị Đức tấn công.
Tại đại hội cộng sản lần thứ 18, Staline tuyên bố: “Nga chẳng dại gì thò tay gắp hạt dẻ nóng cho người khác”.
Hitler hiểu và thông cảm lời tuyên bố trên ý muốn bóng gió đến việc không chấp nhận kiểu đồng minh giơ lưng chịu đấm như hồi 1914 nếu Nga dãn ra thì vấn đề Anh bảo vệ Ba Lan sẽ yếu hẳn. Do đó Hitler áp dụng chính sách ngoại giao mới đối với Nga.
Tháng 6-1939 Staline cho thay ủy viên Litvinov, người thân Tây phương bằng Molotov trong chức vụ bộ trưởng ngoại giao.
Tháng 6-1939, Hitler họp quân sự cao cấp để cho các tướng hải lục không quân hiểu rõ về tình hình quốc nội và quốc tế. Ống nói công cuộc đưa 80 triệu dân Đức về một khối nay đã hoàn toàn thành công nhưng về mặt sinh sống cho khối người đó chưa có gì đảm bảo, cần phải giải quyết gấp. Đức chẳng còn lối thoát nào hơn là mở rộng đất sống sang Ba Lan. Tuy nhiên, phải tránh gây rắc rối cùng Anh Pháp, nhất là đừng để Anh Nga đồng minh nên Đức tính cải thiện bang giao với Nga vì bất cứ sự liên kết nào giữa Anh và Nga đều có nghĩa là chiến tranh. Bởi thế bây giờ Anh là kẻ thù chính.
Trường hợp phải đánh nhau với Anh thì Đức cần có kế hoạch qui mô rộng lớn hơn, trên bộ, dưới biển và trên trời, Đức sẽ chiếm Pháp, Bỉ, Hòa Lan để làm căn cứ. Hitler yêu cầu các tướng lãnh nghiên cứu ngay tránh sự bất ngờ kém vế.
Trong khi thực hiện những toan tính quân sự, Hitler đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao để tranh thủ Nga, Hung Gia Lợi, Lỗ Mã ni, Thổ Nhĩ Kỳ cốt để cho các nhà ngoại giao tin rằng Quốc Xã chủ trương hòa bình chứ không có ý định chiến tranh.
Tháng 8-1939 tình hình căng thẳng giữa Ba Lan và Đức về vấn đề Dantzig.
Kiểm điểm lực lượng, tướng lãnh cho Hitler biết Đức có thể đương đầu với Anh Pháp nếu Nga đứng ngoài vòng chiến.
Ý phái Ciano qua gặp Hitler để thăm dò thì Hitler bảo với Ciano là Đức muốn chiến tranh.
Khi Ciano về rồi. Hitler lệnh cho tướng Halder thảo một kế hoạch đánh chiếm Ba Lan thật nhanh không kéo dài quá 15 ngày.
Một phái đoàn Anh-Pháp cấp tốc bay sang Nga để bàn về vụ Ba Lan. Nga đòi Anh Pháp chấp thuận cho Nga đưa quân vào Ba Lan thì mới gia nhập đồng minh. Anh Pháp từ chối. Staline liền quay sang Đức.
Ngày 20 tháng 8, kế hoạch chuẩn bị đánh Ba Lan hoàn tất chỉ còn chờ lệnh của Hitler.
Ngày 23 tháng 8, Ribbentrop ký vào bản hiệp ước bất xâm phạm và một mật ước với Nga chia nhau lãnh thổ Ba Lan.
Ngày 29 tháng 8, Hitler đòi trưng cầu dân ý tại Dantzig buộc Ba Lan phải trả lời trong vòng 24 giờ.
Ba Lan ban bố lệnh tổng động viên ngày 30 tháng 8.
Himmler và Heydrich được giao phó nhiệm vụ cho người mặc giả quân Ba Lan đến phá đài vô tuyến viễn thông của Đức ở Gleiwitz. Nửa đêm 31 tháng 8, đài nói trên bị bắn phá.
Sáng ngày 1 tháng 9, hồi 4 giờ 45, quân Đức ào ạt tiến đánh Ba Lan. Đài phát thanh Đức nói đây là hành động tự vệ của Đức vượt biên giới Ba Lan để phản công chứ không để tấn công.
Buổi trưa, Quốc Hội triệu tập phiên bất thường đưa ra đạo luật Dantzig trở về Đức quốc.
Ngày 3 tháng 9 hồi 9 giờ sáng, đại sứ Anh đến dinh Quốc Trưởng Đức đưa ra tối hậu thư của chính phủ Anh đòi Đức trong vòng hai tiếng đồng hồ phải cho lệnh rút quân Đức ở Ba Lan về. Tiếp theo là đại sứ Pháp cũng tới với một hành động tương tự.
Thời hạn qua đi, Hitler không trả lời.
Anh quốc chính thức tuyên chiến với Đức lúc 11 giờ.
Quân Ba Lan chiến đấu rất gan dạ nhưng không chống nổi với sư đoàn thiết giáp, sư đoàn cơ giới hùng mạnh tối tân của Đức. Không quân Đức chiếm ưu thế tuyệt đối trên nền trời Ba Lan.
Đây là đầu tiên, thế giới biết mùi chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkrieg) mà Hitler thường nhắc đến. Cuối tuần thứ hai, quân lực Ba Lan hầu như tan vỡ, bẩy phần mười lãnh thổ rơi vào tay Đức. Còn lại thủ đô Varsovie và tỉnh Modlin vẫn tiếp tục cầm cự. Ở thế thắng nhưng Hitler không đưa ra đề nghị hòa bình để cho Ba Lan thương thuyết. Tức giận đã làm cho Hitler nhất định đòi sóa bỏ Ba Lan trên bản đồ chính trị.
Quân Đức tiến quá mau làm cho Nga ngạc nhiên và lo ngại. Nga phải nhanh chân thời mới kịp chiếm đóng đất Ba Lan mà hiệp ước Nga Đức chia phần với nhau.
Ngày 17 tháng 9, Staline tung toàn lực vào Ba Lan và mấy ngày sau, hai cánh quân Nga Đức bắt tay nhau tại Brest Litovsk.
Quân Nga tràn cả dọc biên giới Hung Gia Lợi. Ribbentrop liền bay sang Nga lần nữa để nói chuyện lại vấn đề Ba Lan. Lần này Staline đặt điều kiện yêu cầu:
a) Đức từ bỏ mọi giải pháp chính trị như thành lập chính quyền Ba Lan mới như vậy có thể gây xung đột Nga Đức.
b) Chia hẳn Ba Lan ra làm hai, Nga chiếm một nửa, Đức chiếm một nửa.
c) Xứ Lithuanie trả về vùng ảnh hưởng Sô Viết, Nga sẽ nhượng lại miền Trung Ba Lan cùng với tỉnh Lublin. Mỏ dầu Borislav-Drohobyez về tay Nga.
Thế là Đức đánh cho Nga sơi. Hitler tất nhiên không thể hài lòng với sự trả giá quá đắt của mật ước Nga-Đức. Tuy nhiên, tình hình chưa cho phép xé nó, Hitler ra lệnh cho Ribbentrop nhận gộp tất cả mọi điều kiện của Staline.
Ngày 6 tháng 10, Hitler ra trước quốc hội để nói kết quả chiến dịch Ba Lan, đồng thời tỏ bày thiện chí hòa bình với Anh Pháp. Ông nói: “Không có lý do chiến tranh giữa Đức với hai cường quốc phía Tây. Mục tiêu của tôi đối với Pháp là xóa bỏ mọi liên hệ thiếu thiện chí để cho hai nước có thể chịu đựng được nhau. Đức không có gì phải dành dật với Pháp, ngay cả vấn đề Alsace-Lorraine. Tôi luôn luôn tỏ ý muốn đào sâu chôn chặt những mối hằn học cũ giữa hai nước. Tôi đã hăng say cổ súy cho sự liên minh Anh-Đức, nhiệt thành tán hưởng tình hữu nghị Đức-Anh. Tôi nghĩ Âu Châu ngày nay chỉ có thể hòa bình nếu Anh và Đức có thể thỏa thuận được với nhau…”
Sau bài diễn văn, báo chí Đức đăng hàng tít lớn: “Hitler offre la paix! Pas de guerre contre la France et l’ Angleterre!”
Chẳng có một đề nghị rõ rệt nào trong bài diễn văn.
Thủ tướng Daladier (Pháp) lên tiếng trả lời hôm mồng 10, thủ tướng Anh Chamberlain hôm 12. Cả hai bác bỏ luận điệu tuyên truyền của Quốc Xã.
Báo chí Đức hôm 13 nhất loạt đả kích lời lẽ trong diễn văn của hai thủ tướng Anh Pháp là đã khước từ bàn tay thân thiện của Quốc Trưởng Đức để chọn con đường chiến tranh.
Ngày 27 tháng 9-1939, Hitler ký vào lệnh số 6 (Directive No 6) mà ngay điều 1 có ghi như sau:
“Nếu rõ ràng trong tương lai gần nhất, Anh và Pháp không muốn chấm dứt chiến tranh thì tôi quyết định trả lời họ một cách tích cực, mạnh bạo và nhanh chóng” (S’il devenait evident, dans un avenir immediat que l’ Angleterre et la France ne desirent pas mettre fin a la guerre, je suis decide a repondre activement et agressivement a bref delai).
Tướng lãnh sợ đại chiến xẩy ra thì Đức chưa đủ nhân lực, vật lực cung ứng cho một chiến trường quá lớn nên tới tấp đưa ra những lời khuyến cáo chớ mạo hiểm. Họ đã bàn với nhau nếu cần sẽ làm đảo chánh để tránh tai họa cho tổ quốc. Tướng lãnh chống chiến tranh gồm có: Halder, Brauschitsh, Beck (cựu tổng tham mưu trưởng), Thomas, Oster (phản gián) và hai đại sứ Goerdeler, Hassell. Ở Đức hiện tại chỉ có lựu lượng quân sự mới đủ sức đảo chánh. Các người âm mưu bàn bạc với nhau sẽ quyết định sau 5 tháng 11 là ngày tướng Brauchitsh gặp Hitler.
Không rõ vì sao Brauchitsh bỗng từ bỏ ý định đảo chánh và chỉ cho anh em biết Hitler dự tính ngày 12 tháng 11 là khởi sự tấn công.
Ngày 8 tháng 11, Hitler tới Munich họp thường niên với các cựu đảng viên Quốc Xã ở Burgerbraukeller, khác với mọi lần, ông nói vài lời rồi đi ngay. Ra khỏi tòa nhà chừng mười phút thì một tiếng nổ long trời tàn phá Burgerbraukeller, giết nhiều đảng viên và làm bị thương một số khác.
Khi Hitler hay tin, mắt ông sáng lên, nói:
“Bây giờ tôi vững tâm rồi. Tôi rời khỏi Burgerbraukeller sớm hơn mọi lần chứng tỏ trời còn tựa, cho tôi hoan thành sứ mạng”.
Gestapo bắt được kẻ khủng bố, hắn tên Elser. Khám trong người hắn có tấm ảnh chụp tòa nhà và vài tài liệu liên hệ với cộng sản.
Goebels khai thác vụ mưu sát bằng một chiến dịch chửi rủa bọn đê hèn chủ hòa. Nhưng dân Đức tỏ vẻ nghi ngờ vì Gestapo đã tính giờ phút quá sát nút đến đỗi không thể tin nổi.
Ngày tấn công phải hoãn lại, lý do thời tiết xấu.
Mãi tới ngày 23 tháng 11, Hitler mới triệu tập các tướng lãnh để thuyết phục họ.
Ông nói:
“Tất cả đã được quyết định, chỉ còn chờ giờ giấc nữa thôi. Từ thời Bismarck, nước Đức không bao giờ sợ chiến đấu trên hai mặt trận. Hiệp ước ký với Nga chẳng có gì bảo đảm chắc chắn nhưng nếu kéo dài thì thời gian có lợi cho đối phương hơn là cho Đức. Ta sẽ đánh nước Pháp trước, sự trung lập của Bỉ và Hòa Lan không quan trọng. Một khi chúng ta thắng thì ai dám trách chúng ta vi phạm? Mọi hy vọng thỏa hiệp đều là quan niệm trẻ con, chỉ có thắng hay thua. Vấn đề không quan hệ riêng cho số phận Đức Quốc Xã mà cho cả tương lai Âu Châu. Trong lịch sử, chưa có ai làm nổi điều tôi sắp làm. Đời tôi không đáng kể, điều quan trọng là dân tộc Đức. Ngày nào tôi còn sống, tôi phải mang chiến thắng về tổ quốc. Tôi sẽ thắng hoặc tôi sẽ chết”.
Nhưng Hitler cũng không thuyết phục nổi các tướng lãnh đã đầy kinh nghiệm binh nghiệp.
Về phía tướng lãnh, họ tự biết không thể làm gì để Hitler từ bỏ quyết định nên đành chỉ dựa vào cớ bất lợi thời tiết mà trì hoãn đến năm 1940.
Tháng 12 năm 1939, quân Nga chiếm nước Phần Lan. Dân Ý biểu tình chống đối bằng khẩu hiệu: “Mort aux Russes! “
Mussoline gửi điệp văn cho Hitler nói: “Dù Ý có tận tình giúp Đức về mặt quân sự thì Đức cũng không thể nào đánh quị nổi Anh Pháp hay chia rẽ họ. Xin đừng ôm ấp ảo tưởng. Hơn nữa, Hoa Kỳ chắc chắn chẳng thể ngồi yên nhìn các quốc gia dân chủ hoàn toàn bại trận. Tốt hơn nên tìm một thỏa hiệp”.
Hitler ra lệnh cho các nhân viên bộ ngoại giao không được phê bình, công kích Nga Sô về vụ Phần Lan. Ông thừa hiểu hành động Nga củng cố sức mạnh tại vùng Baltimore rõ ràng là để đề phòng một cuộc tấn công của Đức. Nhưng tình thế hiện tại, hợp tác với Nga là một chính sách cần thiết trên cả ba mặt: chính trị, kinh tế và chiến lược.
Nhiều hiệp ước mậu dịch được ký kết. Nguyên liệu Nga thật quan trọng cho Đức. Năm đầu Nga cung cấp 1 triệu tấn ngũ cốc, 900.000 tấn xăng, 500.000 tấn phốt phát, 100.000 tấn bông.
Từ hợp tác kinh tế, hai nước tiến sang hợp tác chính trị.
Mùa thu 1939, Nga tuyên truyền theo dọng điệu Đức đổ trách nhiệm gây chiến tranh lên đầu các cường quốc phương Tây, chia nhau vùng ảnh hưởng Đông Bắc Âu cùng ép Thổ Nhĩ Kỳ theo đuổi chính sách trung lập. Tuy nhiên, điều mà Hitler đắc ý nhất nằm vào lãnh vực chiến lược. Ông có thể yên chí mặt Đông để tấn công mặt Tây, khỏi phải làm chiến tranh trên hai trận tuyến, theo ông, hiệp ước Nga-Đức có giá trị bằng 50 sư đoàn. Nếu không ký hiệp ước đó thì Đức phải có bằng ấy quân để bảo vệ mặt Đông.
Cả Staline lẫn Hitler đều quan niệm việc lợi dụng hiệp ước chỉ có tính cách tạm thời. Hiện tại, Staline được lợi hơn nhưng Hitler bất chấp Nga trung lập để cho Đức rảnh tay là tốt rồi. Khi nào đè bẹp cường quốc Tây phương xong, Đức sẽ đặt lại vấn đề, đâu có khó khăn gì.
Việc Nga xâm lăng Phần Lan làm đảo lộn hẳn tình thế. Anh-Pháp quyết định giúp Phần Lan. Đức sợ nếu để quân Anh-Pháp vào Phần Lan qua ngả Na Uy thì mệt cho Đức vô tả.
Kỹ nghệ Đức có một nhược điểm là phải lệ thuộc vào mỏ sắt Thụy Điển. Mỗi năm Đức tiêu thụ chừng 15 triệu tấn sắt thì Thụy Điển chiếm hết 12 triệu tấn. Quân đồng minh ở Na Uy mà cắt đứt đường giao thông trên biển giữa Đức với Thụy Điển thì Đức nguy khốn ngay.
Đô đốc Raeder đề nghị cùng Hitler nên xuống tay trước phỗng tay trên Na Uy. Hitler ưng thuận và cho gọi Alfred Rosenberg hiện là chỉ huy trưởng các đảng Quốc Xã hải ngoại, rất sành các vấn đề Bắc Âu. Rosenberg đích thân đi Na Uy gặp Quisling và Hagelin, hai lãnh tụ Quốc Xã Na Uy, để tính một vụ đảo chánh.
Quisling bí mật theo Rosenberg qua Đức hội kiến với Hitler ba lần trong năm ngày từ 14 đến 18 tháng 12. Hitler chấp thuận toàn bộ kế hoạch của Quisling và ra lệnh cho bộ ngoại giao, Gestapo giúp đỡ đủ mọi phương tiện. Dùng Quisling đảo chánh đỡ tốn kém hơn là mang quân đánh chiếm. Nếu không xong thì mới ra tay.
Trong khi Đức hối hả sửa soạn thì Churchill nhân danh bộ trưởng hải lực đòi nội các phải thả mìn chung quanh biển Na Uy gây khó khăn cho sự chuyển vận tầu bè Đức.
Nội các bác bỏ đề nghị Churchill, nhưng ngày 17 tháng 2 năm 1940, tuần dương hạm Anh ngang nhiên bắt giữ tầu Altmark của Đức chuyên việc chở tù và giải thoát được nhiều tù binh Anh. Hitler giận điên người, bỏ kế hoạch đảo chánh Na Uy, đặc nhiệm tướng Von Falkenhorst, chỉ huy tấn công Na Uy bằng một lực lượng hạn chế 5 sư đoàn. Phải đè bẹp ngay quân sự Na Uy, kéo dài thì 5 sư đoàn sẽ lộ nhược điểm.
Như đô đốc Raeder trình bày, đây là chiến dịch vô cùng mạo hiểm nếu không lợi dụng được tối đa cái thế đánh bất ngờ rất có thể bị thất bại vì hiện thời Đức chưa làm chủ được mặt biển.
May sao, Phần Lan đầu hàng Nga ngày 12 tháng 3 khiến dự tính Anh Pháp đổ bộ vùng Bắc Au7 bị ngưng lại, giảm hẳn mối nguy lớn nhất.
Hitler quyết định ngày 9 tháng 4 tấn công.
Các chính phủ Đan Mạch, Na Uy có nhận được tin quân Đức tập trung ở bờ biển Baltique nhưng đều cho rằng Đức chưa dám làm gì lúc này.
Bên Anh, thủ tướng Chamberlain lạc quan tuyên bố Đức đã lỡ tầu (rate de l’autobus).
Hitler khéo che đậy, cả mấy tháng nay, ông không đả động đén chính cục Bắc Âu, thái độ hầu như bất quan tâm.
Mãi tới ngày 8 tháng 4, nội các Anh mới chấp thuận cho thả mìn trên hải phận Na Uy. Đề phòng Đức phản ứng, chiến hạm Anh-Pháp đem quân đổ lên các hải cảng mà hải quân Đức cũng định chiếm cứ. Từ ngày 7 đến ngày 9, hạm đội hai bên đều tiến về một điểm: Na Uy.
Đức đã đến trước, ào ạt đánh chiếm Oslo, Bergen, Trondheim, Narvik, Stavanger.
Quisling đảo chánh thất bại thảm hại. Vua Na Uy và nội các thoát chạy được để tổ chức kháng chiến, khiến cho Đức phải mất thêm 6 tuần nữa để giải quyết.
Anh-Pháp và kháng chiến Na Uy trong thời gian 6 tuần ấy đã gây ra thiệt hại cho Đức khá nhiều trên bộ cũng như ngoài biển. Tuy nhiên, thiệt hại còn thấp hơn đô đốc Raeder ước tính. Đức phải trả giá đắt để làm chủ Bắc Âu rất quan trọng cho không và hải lực.
Trận Na Uy làm nẩy sinh mầm mống mâu thuẫn giữa quân đội và Hitler. Hitler xen vào việc quận đội và Hitler. Hitler xen vào việc quân đội quá lố khiến tướng lãnh phát điên đầu, chiến lược, chiến thuật thường đảo lộn tùy theo hứng bất chợt của lãnh tụ. Lại thêm Von Falkenhorst vụng về tạo nên sự ghen tức ngấm ngầm giữa ông với các tướng lãnh khác.
Tháng 5 ngày 10-1940, Hitler cho lệnh mở mặt trận phía Tây, ông lập bản doanh ở Munstereifel để đích thân chỉ huy.
Mấy sư đoàn thiết giáp Đức tràn ngập Ardennes, khu vực ba biên giới Đức-Pháp-Bỉ, xông thẳng xuống đồng bằng nước Pháp. Mười hôm sau, quân Đức tới bờ biển Manche. Hòa Lan xin hàng, hoàng hậu và chính phủ tị nạn bên Anh quốc. Nước Bỉ luân hãm. Vua Bỉ ra hàng cùng với quân đội.
Tháng 6, “chiến dịch Rouge”, toàn bộ lực lượng quân sự Pháp tan vỡ, chiến lũy Maginot trở thành vô dụng.
Mussoline báo cho Hitler biết Ý tham chiến. Thấy Đức thắng mau quá sợ mất phần khi chia lại vùng ảnh hưởng tại Âu Châu nên lãnh tụ phát xít phải hành động vội vàng.
Thống chế Philipe Petain đúng ra lập chính quyền mới của nước Pháp, gửi văn thư chính thức xin đình chiến. Văn thư đề ngày 17-06-1940. Hay tin này, Hitler sung sướng nhẩy lên. Thắng lợi mau chóng làm ông say sưa nên tỏ vẻ khinh thường khả năng quân sự của các tướng tham mưu. Nếu không có ông, một tên “caporal” thì làm sao có vinh quang tột đỉnh như bây giờ.
Hitler về Munich gặp Mussolini và bàn tính việc nước Pháp.
Mussoline đưa ra nhiều điều kiện quá, làm ông bực mình phải giảng giải mãi Mussolini mới thôi.
Ngày 22 tháng 6, hiệp ước đình chiến Pháp-Đức được thi hành. Hitler vòng qua Bỉ và miền Bắc Pháp để đến Paris.
Tại kinh đô ánh sáng, ông tới thăm nhà hát lớn và viếng mộ Napoleon ở điện Invalides.
Buổi tối về, Hitler ngồi vẽ phác cho ông một kiểu lăng. Nó sẽ có cái thạch trụ cao 220 thước, trên chỏm là hình con ó chiều dài 40m. Chung quanh thạch trụ là những kiến trúc tượng trưng cho lịch sự phong trào Quốc Xã. Đại lộ đi đến lăng đặt tên là: “L’avenue de la Vie”. Hai bên đại lộ sẽ xây nhà hát lớn, một dinh thự 20 tầng đặt tên là “Force de la Joie” và tòa nhà vĩ đại cho báo “Volkischer Beobachter”.
Ciano, bộ trưởng ngoại giao Ý được Hitler cho xem dự án kiến trúc trên đã viết vào nhật ký như sau: “Thật là những mộng ảo của người điên chẳng khác gì anh mê cờ bạc vừa cháy túi đi lang thang mơ tưởng tính chuyện dùng những số tiền khổng lồ vào việc gì”.
Chính phủ Chamberlain đổ.
Churchill làm thủ tướng Anh thề quyết tử chiến với Đức Quốc Xã.
Hitler còn gặp nhiều khó khăn trong mọi sắp xếp các vấn đề chính trị Tây Âu.
Seys-Inquart được đưa qua Hòa Lan làm toàn quyền. Bỉ và miền Bắc Pháp vẫn đặt dưới nền hành chánh quân sự. Lục Xâm Bảo và các tỉnh Alsace-Loraine sát nhập về Đức. Thống chế petain thiết lập chính quyền tại khu vực không bị chiếm đóng.
Hitler bắn tin sẵn sàng bắt tay hòa bình với Anh quốc, miễn là Anh để yên cho Đức giải quyết một số vấn đề trên lục địa Âu Châu. Ông nghĩ rằng Anh không thể chiến đấu đơn độc.
Nhưng Churchill lại nghĩ khác. Churchill nhắc đi nhắc lại câu “inflexible resolve to continue the war”.
Hitler cho rằng Churchill cũng như ông là một nhà hùng biện vậy thì những câu nói kia chỉ là đề hùng biện mà thôi.
Tòa thánh, vua Thụy Điển đưa đề nghị đứng hòa giải Đức với Anh. Hitler bằng lòng ngay nhưng ông cũng lập tức mơ tưởng sẽ đưa vua Edouard đệ bát đã thoái vị trở về ngôi báu.
Đề nghị của Tòa Thánh và vua Thụy Điển sang bên Anh bị gạt bỏ bởi bài diễn văn nẩy lửa của Churchill đòi những điều kiện mà Đức không thể nào chấp nhận được.
Ngày 6 tháng 7, Hitler lên tiếng trước Quốc Hội công kích thậm tệ giai cấp lãnh đạo Anh, rồi kết luận:
“Quí vị hãy tin tôi đi, tôi cảm thấy ghê tởm cái loại hội nghị vô lương tâm, phá hoại quốc gia dân tộc. Thật là một điều vạn bất đắc dĩ cho tôi, định mệnh đã chọn tôi phải làm đổ vỡ thêm những gì bọn đó phá hoại, bởi vì thực tâm tôi không muốn chiến tranh mà chỉ muốn xây dựng một nền văn minh cao nhất. Mỗi năm chiến tranh đối với tôi là một sự thiệt thòi mất mát cho công cuộc xây dựng. Nhân danh một người chiến thắng tôi tự cho mình có bổn phận kêu gọi Anh quốc hãy trở về với lẽ phải. Tôi không thấy có lý do nào để chúng ta phải tiếp tục chiến tranh”.
Churchill trả lời vẫn bằng quyết ý không hề bị lay chuyển tiếp tục đánh bại Quốc Xã. Toàn dân tộc Anh gồng mình lên chống với khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử. Bên kia bờ Đại Tây Dương, tổng thống Roosevelt đẩy mạnh sản xuất vũ khí để cứu Anh quốc.
Còn Hitler vẫn quá tin tưởng vào sức mạnh một ngày gần nhất mang máy bay, tầu ngầm yểm trợ cho cuộc đổ bộ lên đất Anh, lúc bấy giờ chắc Churchill sẽ quỳ xuống chịu khuất phục. Tình trạng hải quân Đức sau vụ Na Uy đã bị thiệt hại gần một nữa. Không lực mà Goering ca tụng đã bất lực trong việc tiêu diệt phi cơ Anh bay đến oanh tạc Đức mỗi ngày mỗi tăng. Cáu tiết Hitler cho phi cơ Đức ném bom xuống các thành phố Anh. Cuối cùng Hitler đành bỏ ý đồ đem quân đổ bộ lên Anh.
Chiến tranh tiếp tục, Hitler cố gắng thống nhất Âu Châu thành một khối để chống Anh. Ông muốn Pháp, Ý, Tây Ban Nha hết lòng hợp tác tống khứ Anh ra khỏi các vị trí chiến lược tại Địa Trung Hải và Trung Đông. Nhưng chẳng gặt hái được mấy kết quả qua những lần hội kiến với Petain, Mussolini và Franco.
Mussolini chỉ ậm ừ rồi cứ tiến hành chiến tranh theo mưu tính riêng. Petain tìm mọi cớ thoái thác. Franco đòi nhiều điều kiện khó khăn.
Rút cục, muốn làm gì Đức cũng phải tự mình cáng đáng hết, quân đội Đức bị căng ra bốn hướng.
Trong khi Nga bành trướng thế lực đều đều, toàn khu vực Ba Nhĩ Cán sắp bị hút dính vào ảnh hưởng Nga trở thành mối đe dọa nặng nề cho Đức.
Nga định làm gì vậy ? Hitler luôn luôn đặt câu hỏi đầy tính nghi ngờ cùng với những tướng tham mưu. Ông có linh tính chẳng chóng thì chày thế nào cũng phải mở mặt trận phía Đông nên ông bảo tướng Hlder bố trí một số quân cần thiết để canh phòng phía Đông.
Tổng số quân Đức hiện nay có 4.990.000 người.
Tháng 9-1949, hiệp ước tam cường Đức-Ý-Nhật thành hình. Hitler dùng hiệp ước này để dọa Nga vì Nhật có thể đánh vỗ sau lưng Nga qua ngả Tây Bá Lợi Á, đồng thời vẫn tìm cách kéo Nga vào hệ thống hiệp ước này.
Ngày 12 tháng 11-1940, ngoại trưởng Nga Molotov đến Bá Linh. Hitler đưa ra đề nghị chia thế giới thành 4 vùng ảnh hưởng, Nga sẽ cai quản Trung Đông và Ấn Độ. Molotov gạt đi và đòi Đức phải chấp nhận đặt Phần Lan, Bảo Gia Lợi và eo biển Dradancelles trong khu vực ảnh hưởng Nga trước.
Ngày 18 tháng 12-1940, Hitler ký nghị quyết đặc biệt số 21 mở chiến dịch đánh Nga đặt tên là Barborossa, sửa soạn lực lượng quân sự mạnh đánh nhanh thắng mau. Trong thời gian sửa soạn, ý kiến bất đồng giữa tướng lãnh và Hitler xẩy ra luôn. Bộ tham mưu muốn đánh thẳng vào Mạc Tư Khoa, Hitler muốn chiếm khu kỹ nghệ Ukraine rồi tiến vào Leningrad, nơi phát tích của chủ nghĩa Bôn sê Vích.
Hitler đòi tiến xa về phía Đông Nam chiếm mỏ dầu hỏa xứ Caucase mở đường vào Trung Đông luôn thể để khỏi lo nạn thiếu nhiên liệu.
Hilter cho lệnh khi nào đánh Nga phải tận diệt cán bộ bôn sê vích và giai cấp lãnh đạo. Không có chuyện đối xử anh hùng mã thượng trong cuộc chiến một mất một còn giữa hai ý thức hệ.
Tháng 3-1941, bộ trưởng ngoại giao Nhật Matsuoka sang Bá Linh. Hitler yêu cầu Nhật tuyên chiến với Anh ở Đông Nam Á.
Tháng 5-1941, quân Đức có ưu thế ở Địa Trung Hải. Tuy nhiên, Hitler bây giờ lại chú ý đến việc đánh Nga nhiều hơn nên ông không tính chuyện đánh Anh ở xa hơn nữa như Ấn Độ chẳng hạn mặc dầu từ 1939 Hitler đã đặt liên lạc với nhà ái quốc Ấn Độ Chandra Bose.
Giữa lúc Hitler cho sửa soạn gấp rút chiến dịch Barborossa thì một biến cố quan trọng xảy ra. Rudolph Hess lấy máy bay lẻn sang Anh quốc để thực hiện sứ mạng hòa bình. Hitler lo sợ Churchill sẽ khai thác vụ này bằng cách bịa chuyện Hitler bí mật sai Hess đi cầu hòa.
Hess trước kia được Hitler tin như một người có thể kế vị ông nếu ông có mệnh hệ nào, nhưng càng về sau Hess càng bị giảm giá trị mà tụt xuống hàng nhân vật loại hai. Buồn bã, Hess đâm mê tín số mệnh tiên tri đến độ mất bình tĩnh.
Các đồng minh của Đức thấy Hess đi cầu hòa thì làm sao họ tin Đức nữa. Hitler vội vàng tới tấp đánh điện giải thích khắp nơi là Hess tự ý hành động điên rồ. Hess tới Anh bị bắt giam như một tên do thám. Ở Anh chẳng ai tin cái sứ mạng hòa bình kỳ cục như vậy!
Ngày 2 tháng 6-1941, Hitler lại gặp Mussolini ở Brenner, nói bóng gió đến vụ tấn công Nga Sô và nhờ Ý hết lòng giúp đỡ tướng quân Rommel chinh phục Phi Châu. Mussolini hứa đem quân hiệp với Đức đánh Nga..
Ngày 17 tháng 6, Hitler loan báo cho các tướng lãnh năm hôm nữa sẽ tấn công Nga. Ông tin rằng chỉ trong vòng 8 tuần lễ, đế quốc của Staline sẽ sụp đổ, đồng thời ông viết bài diễn văn nói cùng dân chúng lý do đánh Nga vì Nga đã vi phạm hiệp định ký kết.
Tại Mạc Tư Khoa, tin tức quân Đức tập trung tới tấp gửi về nhưng Staline không cho rằng Đức dám đánh, chỉ tập trung quân để mặc cả thôi.
Tại Bá Linh, Hitler tung tin Staline sắp chính thức viếng thăm Đức để ngụy trang dành thế bất ngờ, đánh mà không tuyên chiến.
Tảng sáng ngày 22 tháng 6-1941, ba đạo quân Đức gồm 7 quân đoàn bộ binh, 4 quân đoàn thiết giáp, tổng cộng 3 triệu 200 ngàn người chưa kể những quân Ý, Phần Lan, Lỗ, Hung, Tiệp và chí nguyện quân chống Bôn Sê Vích từ Pháp, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Na Uy, Hòa Lan.
Vì tin chắc cuộc chiến không kéo dài nên số đồ trang bị chống rét chỉ đủ cung cấp cho 1/3. Đến mùa thu, chiến dịch tạm ổn, 2/3 quân số có thể trở về Đức. Toàn bộ không lực Đức phải dành cho mặt trận phía Đông.
Hitler rời đại bản doanh về rừng Rastenburg để đích thân lãnh đạo chiến dịch Barborossa. Mải mê với hành quân, Hitler không còn thì giờ coi sóc việc hành chánh, phó mặc cho Martin Bormann.
Trước kia, Bormann còn bị Hess canh chừng, bây giờ Bormann độc quyền thao túng, lần lượt trừ khử hết những kẻ nào mon men gần Hitler.
Toàn bộ đảng vụ rơi vào tay Bormann, một người nhiều thủ đoạn và tàn nhẫn. Đồng chí cũ của Hitler ngoại trừ Goering, Himmler, Goebels đều bị Bormann đẩy khỏi những chức vị then chốt.
Hàng ngày Hitler ba lần nghe thuyết trình hoặc chính ông thuyết trình tình hình quân sự. Bữa cơm, bữa cơm tối ông ngồi nói đủ mọi chuyện với bộ tham mưu. Bormann cho ghi chép thành từng câu để làm thành tài liệu lịch sử. Hitler nói nhiều lắm nhưng ông không bao giờ lộ ra những điều mà ông đã định giữ kín tỉ dụ kế hoạch dùng hơi độc tiêu diệt dân Do Thái, hoặc những dự án tương lai. Chỉ có một lần ông nói đến việc biến Nga thành thuộc địa như kiểu Ấn Độ là thuộc địa Anh, cử Alfred Rosenberg làm toàn quyền, di nông dân Đức lập những nông trại đẹp đẽ. Dân Nga sẽ chỉ là bọn nô lệ sống chết cho quyền lợi người Đức. Sẽ có đường xe lửa suốt từ Tây Bá Lợi Á đến biển Manche v.v… Ông hoàn toàn chìm ngập trong cơn mê chiến thắng vĩ đại.
Tháng 7-1941, thực tế bắt đầu có những triệu chứng bất lợi cho Đức. Anh đứng vững, bắt tay với Nga cùng bảo vệ Ba Tư. Hoa Kỳ ồ ạt đưa vũ khí cho Anh. Nhật Bản bị Anh phong tỏa kinh tế. Staline phat động chiến tranh du kích ở bất cứ nơi nào có quân Đức chiếm đóng do đảng cộng sản địa phương đảm nhiệm.
Anh Nga nỗ lực giúp đỡ mọi phong trào kháng chiến chống phát xít. Quân Đức ở nước Nga không dễ dàng như Hitler tưởng.
&&&&&
21
NGÀY MAI LÀ MỘT NẤM MỒ
Let us break from every flower
One fine blossom for our power
and two leaves to wind a wreath
NIETZSCHE
Thi sĩ Victor Hugo, trong bài thơ nói về cuộc rút lui khỏi Nga của đại đế Napoleon có câu:
Hôm nay là Austerlitz ngày mai là Waterloo
Và ngày mai nữa là một nấm mồ.
***
Tháng 9-1941, quân Đức tiến về hướng Leningrad, thành phố lớn thứ nhì của Nga với lệnh đặc biệt của Hitler là không cho Leningrad đầu hàng dù có xin hàng, nơi phát tích của chủ nghĩa bôn sê vích sẽ bị xóa hẳn trên bản đồ.
Ngày 3 tháng 10, Hitler nói với dân Bá Linh:
“Hôm nay, tôi có thể tuyên bố không cần dè dặt, kẻ thù phía Đông của chúng ta đã quị hết đường chỗi dậy. Rồi đây sau lung quân đội ta là một giải đất mênh mông, diện tích gấp 12 lần giang sơn Đức”.
Ngày 8 tháng 10, một tỉnh cửa ngõ phía Nam Mạc Tư Khoa thất thủ. Phát ngôn viên quân sự Đức bay về Bá Linh loan báo: quân đoàn của thống chế Timoshenko phòng thủ Mạc Tư Khoa đang bị kẹt giữa gọng kìm quân Đức, quân đoàn Nga dưới quyền điều động của thống chế Vorochilov bị bao vây ở Leningrad. Phát ngôn viên kết luận số phận Nga Sô Viết đã định xong. Hy vọng hai mặt trận của Anh đã tiêu tan.
Quân Nga bị vây nhưng quyết tử thủ không chịu hàng.
Hitler trông đợi một cuộc nổi dậy chống chế độ Bôn sê Vich ngay sau khi Đức khởi sự tấn công, đến nay đã năm tháng rồi mà vẫn chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ có thể nổi dậy. Trái lại, dân Nga còn chiến đấu hăng hái, gan dạ hơn bao giờ hết. Tướng lãnh Đức hoang mang lo ngại, sự thật rõ ràng là Nga không thua như đã dự tính.
Mùa đông của nước Nga mới chính là vị tướng đáng sợ nhất. Gió mưa tuyết giá buốt, nhớt cũng đông, lính Đức lạnh cứng máu, mấy triệu người rét run lên, quần áo trang bị chống rét không đủ phân phát. Sức chiến đấu giảm đi quá nữa.
Nga chỉ chờ có thế để phản công, tung ra hàng loạt vũ khí mới dành những đòn chí tử vào quân Đức.
Hitler lồng lộn đổ lỗi cho tướng Brauchitsch, đuổi ông này ra khỏi chức vụ, cách chức tất cả những vị tướng nào tỏ ý chống đối hay chán nản.
Ông nhất định không rút, quân Đức phải ở lại Nga cho đến lúc toàn thắng. Suốt ngày đêm, ông ngồi bên bản đồ tham mưu mặt trận Nga.
Ngày 7 tháng 12-1941, Nhật tuyên chiến với Mỹ đánh úp Trân Châu Cảng, tiêu diệt quá nữa hạm đội Anh Mỹ ở Thái Bình Dương. Nga phải chuyển bớt quân sang Tây Bá Lợi để phòng Nhật Bản. Nhờ vậy, Đức bớt áp lực mà thoát qua mùa ấm.
Nét mặt tươi vui trở về với Hitler, người ta thấy bớt trầm ngâm suy nghĩ mà tiếp tục nói, nói và nói…
Tháng 3-1942, sức khỏe Hitler kém hẳn vì làm việc quá sức đầu bị những cơn choáng váng muốn vật ông xuống đất. Tuy nhiên, khi đọc diễn văn trước quốc hội, ông vẫn lạc quan nói:
“Quý vị, mùa đông đã hết. Chúng ta hoàn toàn làm chủ vận mạng vượt qua nguy cơ từng quật ngã một người (chỉ Napoléon) hơn trăm năm trước đây”.
Cũng tháng 3-1942, khởi đầu cuộc phản công bằng không lực của Anh-Mỹ. Hàng trăm tấn thảm bom trải xuống thủ đô Bá Linh và nhiều thành phố khác.
Heydrick, một tay chân đắc lực của Gestapo bị ám sát bằng chất nổ tại Moravia (Tiệp Khắc.
Tướng Reichenau, tư lệnh mặt trận miền nam nước Nga, gặp chứng xuất huyết trong óc phải về nước điều trị.
Bộ trưởng quân nhu vũ khí Todt bị rớt máy bay chết cháy.
Hitler đưa kiến trúc sư Albert Speer thay thế súc tiến việc chế tạo loại xe tăng “Tigre” gắn đại bác 88 ly.
Con số thiệt hại ở mặt trận phía Đông về đủ mọi mặt lớn vô kể.
Mặc kệ tướng lãnh phản đối, Hitler hạ lệnh chọc sâu vào vùng Caucase với hy vọng băng qua Ba Tư, Ấn Độ nối liền trận tuyến với Nhật.
Bên Phi Châu, quân của tướng Rommel bắt đầu đuối sức phải dừng lại ở Alexandrie.
Tại Leningrad, tướng Von Paulus bị Nga bao vây, suốt ngày ăn đạn pháo kích cả ngàn trái, cuộc chiến ở đây Đức lâm vào thế sa lầy chới với đỡ đòn.
Để giữ vững tinh thần dân Đức, Hitler về Bá Linh khai mạc hội quyên tiền mùa đông giúp chiến sĩ. Ông nói:
“Chắc chắn bọn Nga không thể chống đỡ nổi sức mạnh cuồng phong của Đức”.
Người tinh ý nhận thấy thấy giọng Hitler bây giờ đã kém oai, hơi ngắn phản ảnh một trạng thái tâm lý hoang mang.
Cuối tháng 10-1942, quân thiết giáp Đức thua nặng trong trận El Alamein.
Ngày 7 tháng 11, lực lượng Anh Mỹ đổ bộ lên Maroc và Algerie ép tướng Rommel vào thế gọng kìm.
Mussolini chán nản khuyên Hitler tìm cách thỏa hiệp với Nga.
Ngày 22 tháng 11, tướng Von Paulus điện khẩn cấp về bộ tổng tham mưu cho biết 22 sư đoàn gồm 300.000 quân đang bị nguy khốn, yêu cầu cho phép ông mở đường máu rút về phía Tây. Hitler không chấp thuận, bắt Paulus giữ nguyên vị trí chờ tiếp viện và chờ giải tỏa áp lực.
Stalingrad bị cắt hết đường tiếp tế. Không lực Đức vì còn yểm trợ Rommel nên không cáng đáng nổi việc tiếp tế cho cánh quân khổng lồ của Von Paulus, Hitler giao trách nhiệm giải tỏa áp lực Nga ở Stalingrad cho tướng Von Manstein. Chỉ vài ngày đầu khả quan đôi chút, về sau cũng thúc thủ vì khắp nơi quân Đức phải đương đầu với hàng ngàn chốt (verrous) kháng cự mãnh liệt. Rút cục, Manstein chẳng làm gì được cho Von Paulus.
Ngày 22 tháng 12, tướng Rommel đề nghị rút khỏi Phi Châu nếu không thể tiếp sức cho ông được.
Qua đầu năm 1942, thống chế Manstein, tướng Milch, tướng Zeizler cùng với các tướng lãnh khác cố gắng làm cho Hitler hiểu tốt hơn là trả quyền điều động quân đội về cho các tướng lãnh để Hitler rãnh tay lo việc chính trị.
Ngược lại, Goebels và Goering muốn Hitler cứ tiếp tục lãnh đạo quân sự, vấn đề chính trị để họ lo.
Riêng Hitler, ông chẳng tin phe nào, ông cho rằng tình trạng càng đen tối thì càng thấy rõ chỉ có một người duy nhất cứu vãn nổi, người đó phải là Adolf Hitler. Ông cố tạo không khí lạc quan cho tất cả đừng thoái chí. Nhưng muộn rồi, vì lạc quan sao được khi các thủ hạ trông thấy vị lãnh tụ tối tăm mặt mũi chui dưới hầm xi măng cốt sắt ngày này qua tháng khác, lạc quan sao được khi Goering nhận rằng vị lãnh tụ, sau ba năm chiến tranh đã già hẳn đi 15 tuổi, lạc quan sao được khi một số người thân cận thì thào rằng vị lãnh tụ đã nói đến cái chết.
Tháng 1-1943, đi họp hội nghị Casablanca về, tổng thống Roosevelt loan báo cho thế giới biết, phe đồng minh phải đánh đến khi nào Đức phải đầu hàng vô điều kiện.
Chiến tranh trên biển, đô đốc Raeder cũng thua liền liền.
Hitler đưa đô đốc Doenitz lên thay thế.
Tình hình Stalingrad bi thảm không thể bưng bít mãi, đài phát thanh Đức truyền lời Hitler nói về những khó khăn, đồng thời Hitler ký sắc lệnh phong cho người hùng Stalingrad Von Paulus lên thống chế.
Ngày 1 tháng 2-1943, thống chế Paulus xin hàng. Quân Nga vào bắt 24 tướng, 2.500 sĩ quan và 90.000 quân Đức.
Vụ Stalingrad làm rung chuyển tình thế Đức quốc. Phong trào chống chiến tranh nổi lên ở Ý, Hung và Phần Lan. Các nước trung lập: Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ xa lánh chính trị Đức. Quân kháng chiến hoạt động gấp đôi ở những nơi Đức chiếm đóng.
Quân đội cảm thấy chán ghét Hitler, cái thiên tài quân sự của lãnh tụ chỉ là cái thiên tài của đầu óc “caporal”.
Hitler biết quân đội thế nào cũng âm mưu hại mình nên tăng cường lực lượng Wafen S.S. để bảo vệ. Tiện nghi vật chất dành cho S.S. trước rồi sau mới đến quân đội.
Tháng 5-1943, mặt trận Phi Châu sụp đổ, 250,000 quân Đức-Ý bị bắt làm tù binh.
Quân đồng minh lăm le đổ bộ lên Sicile (Ý Đại Lợi) khiến chế độ phát xít lung lay. Mussolini cho Hitler biết Ý đã kiệt sức rồi. Hitler phải bay tới Bellumo gặp Mussolini để chấn tĩnh tinh thần ông bạn.
Ngày 25 tháng 7, Hitler nhận được tin đảo chánh tại Ý, Mussolini mất chức, nhà vua ủy nhiệm thống chế Badoglio lập nội các mới. Chưa biết số phận Mussolini ra sao, bị bắt hay mất tích? Hitler vội phái tướng Rommel bỏ Hy Lạp về ngay trấn giữ mặt trận Ý.
Đảo chánh tại Ý gây ảnh hưởng dây chuyền sang các nước khác ngay cả Đức, con đường mới là lật đổ chế độ độc tài. Hitler vội vã đưa Himmler làm bộ trưởng nội vụ đề phòng đảo chánh.
Không lực đồng minh oanh tạc dữ dội, đời sống dân Đức khổ cực thiếu thốn đủ thứ.
Tướng Jeschonek, tham mưu trưởng không quân Đức tự sát tại văn phòng vì không muốn nhìn thấy Đức bị thua trận.
Sau khi dò biết Mussolini đã bị bắt giam, để cứu vãn mặt trận Ý, Hitler sai đại tá Skorzey dùng đặc công nhẩy dù xuống nơi cầm giữ Mussolini cứu ông này. Skorzeny mang theo một tác phẩm của triết học Nietzsche đóng gáy da chữ vàng có chữ ký của Hitler đề tặng Mussolini. Sứ mạng của Skorzeny thành công tốt đẹp.
Mùa thu 1943, xẩy ra nhiều bất hòa giữa Anh, Mỹ và Nga Sô. Staline đập bàn đập ghế trong điện Cẩm Linh thống mạ bọn tư bản thất hứa không mở ngay mặt trận phía Tây cốt ý kéo dài bắt Nga gánh chịu hết tai họa chiến tranh để Nga yếu chừng nào tốt chừng ấy.
Hitler lại hy vọng Nga sẽ chán nản, lúc đó ông đưa đề nghị hòa bình, chắc Nga phải chịu.
Ngày 8 tháng 9-1943, quân đội đồng minh đổ bộ miền Nam nước Ý, chính phủ Ý xin đầu hàng.
Nhờ Anh Mỹ tiếp tế qua ngã Ý, quân Nga mạnh hẳn lên mở cuộc tổng phản công chiếm lại vùng Ukraine. Mussolini ở vùng Bắc Ý, lực lượng còi cọp chẳng làm gì được. Chua sót, Mussolini cho rằng cớ sự này là do chính con rễ mình gây nên, nó chỉ biết chưng diện, kiêu hãnh, ông hạ lệnh xử bắn Ciano cùng một số đảng viên Phát Xít khác.
Ngày 8 tháng 11, Hitler tới Munick họp đại hội đảng, ông nói:
“Ngoài mặt trận, bổn phận mọi người là biến những gì không có thể thành có thể, trong nhà bổn phận mọi người là chống đỡ và tăng cường cho mặt trận, trong đấu tranh thực hiện những điều khó thực hiện nhất, trong đấu tranh hãy chịu đựng tất cả những gì hầu như không thể chịu đựng được. (Le role du front est de rendre finalement possible ce qui parait impossible, le role de l’interieur est de soutenir et de renforcer le front dans sa lutte pour-realiser ce qui parait impossible a realiser, pour supporter ce qui parait impossible a supporter).
Tháng 2 năm 1944, bác sĩ Frank, toàn quyền Ba Lan trở về thấy lãnh tụ gầy ốm hẳn đi, nét già và dáng mỏi mệt hiện rõ lên mặt, hào khí xưa mà Frank chiêm ngưỡng kính nể đi đâu mất hết. Đời sống dưới hầm quá lâu ngày tạo ra những tư tưởng đi xuống.
Lại thêm Martin Bormann cứ đẩy Hitler sống cho xa thực tại, sống với các yên lặng vây chặt chung quanh Hitler cùng với ánh sáng đèn đều đều làm tâm trạng bải hoải, chán nản.
Bệnh choáng váng bột phát, Hitler muốn ngủ phải uống thuốc ngủ mới ngủ được. Ông sợ nhìn tuyết phủ trắng giống như vuông vải liệm người chết.
Không quân Đức hao mòn mà không được bổ sung. Bá Linh tơi tả dưới những trận mưa bom, kỹ nghệ Đức vẫn chạy nhưng phải chạy dưới hầm hố, hao tốn và chậm chạp.
Hy vọng cuối cùng của Hitler là mâu thuẫn nội bộ đối phương sẽ nổ thành xung đột. Ông cho hệ thống gián điệp gửi tin tức về điện Cẩm Linh một số tài liệu vừa thực vừa ngụy tạo liên quan đến mật đàm hòa bình Anh-Đức đang diễn ra ở Tây Ban Nha.
Mùa hè 1944, Đức thua đậm trên mặt trận Ý. Quân Nga tiến sát biên giới Lỗ Ma Ni.
Ngày 6 tháng 6-1941, đồng minh đổ bộ vào bờ biển Pháp vùng Normandie. Ngày 17, Hitler bay qua Pháp trực tiếp chỉ huy trận đánh.
Thống chế Rommel cố thuyết phục Hitler hãy chấm dứt chiến tranh trước khi quá muộn vì đồng minh hiện tại dồi dào phương tiện gấp mười lần Đức, Normandie chắc khó lòng đương đầu. Hitler gay gắt bảo Rommel nên làm tròn nhiệm vụ của mình, tiếp tục chiến tranh hay không thì đấy là việc của ông.
Thấy tướng Rundstedt có vẻ về hùa với Rommel, Hitler cất chức luôn, đặt Von Kluge lên chức tổng tư lệnh mặt trận Tây Âu.
Tình hình Normandie bấp bênh vô phương giải quyết thì quân Đức lại phải chống giữ với hai mặt trận khác, quân Nga từ Ba Lan tiến rất mau tới vùng Đông Phổ, quân Anh-Mỹ từ Ý đánh thốc lên.
Trước mặt quân đội, Hitler bây giờ là một tên khùng reo tai họa cho dân tộc Đức, cần phải trừ khử.
Ribbentrop tuyệt vọng xin Hitler giao cho mình sứ mạng điều đình với Nga. Một lần nữa, Hitler lại gạt đi vì không muốn vụ Hess thứ hai xảy ra bôi nhọ thanh danh Quốc Xã.
Tướng lãnh chống Hitler bắt liên lạc với nhau tổ chức giết “lãnh tụ tối cao”, họ đặt tên âm mưu này là “Operation Walkyrie”. Người đóng vai trò quan trọng nhất trong âm mưu là bá tước Stauffenberg.
Vào cuối tháng 6-1944, nhóm âm mưu bắt được cơ hội bằng vàng: Stauffenberg được thăng chức đại tá và đổi về bộ tham mưu của tướng Fromm tư lệnh lực lượng phòng vệ lãnh thổ Đức. Ở chức vụ này, Stauffenberg có nhiều dịp gặp thẳng Hitler. Stauffenerg bị mất một mắt, cụt một tay ở mặt trận Phi Châu.
Kế hoạch của họ lúc đầu tính làm binh biến, dùng một hay hai tiểu đoàn vây bắt Hitler. Suy tính kỹ ra thì kế này không ổn vì phải dùng nhiều người quá dễ bị lộ, hơn nữa nếu Goering, Himmler trốn thoát tất là hỏng việc. Giết một mình Hitler chưa đủ. Họ chọn kế hoạch thứ hai là đặt chất nổ giữa phòng họp tham mưu cho chết hoặc làm bị thương những tên đầu sỏ Quốc Xã, xong đâu đó quân đội mới ra tay. Chỉ có hai nơi là Hitler dùng làm chỗ họp cao cấp: đại bản doanh Rastenburg và tư thất Obersalzberg.
Đa số tướng lãnh rải rác trên toàn Âu Châu hiện tại chưa theo họ nhưng trong trường hợp mấy tướng thân cận Hitler, những người trực tiếp chỉ huy cũng chết luôn thì tình hình có thể xoay chuyển. Tuy nhiên, mục tiêu quan trọng nhất là vẫn giết cho được Hitler.
Ngày 11 tháng 7, Stauffenberg đến Obersalzberg để trình với Quốc Trưởng một số vấn đề hệ trọng, Stauffenberg mang theo cặp da đựng khối chất nổ định bụng cho nổ để mình cùng chết luôn với Hitler, Goering và Himmler.
Lúc tới nơi mới hay Himmler bật đi công tác, Stauffenberg vội chạy lại nhà tướng Olbricht hỏi ý kiến, hay chỉ là giết Hitler và Goering thôi.
Tướng Olbricht khuyên nên rời qua một ngày khác để giết cả ba.
Vào gặp Hitler xong, Stauffenberg về nói với các tướng Beck và Olbricht hôm nay ông đã bỏ mất cơ hội bằng vàng, lần sau có dịp ông sẽ cứ làm, dù chỉ giết một mình Hitler.
Ngày 15 tháng 7, Stauffenberg đến trình với Quốc Trưởng những việc hôm 11, khối chất nổ lại được nhét vào cặp. Nhóm âm mưu tin chắc thành công nên ra lệnh Walkyrie số 1 để điều động quân về sát Bá Linh chờ lệnh Walkyrie số 2 sẽ chiếm thật mau các cơ sở quan trọng. Đúng 13 giờ, Stauffenberg sách cặp vào phòng hội ở Rastenburg, Hitler đã có mặt ở đó.
Stauffenberg tìm cớ ra gọi “phôn” cho tướng Olbricht báo tin tốt đẹp cả, bên ngoài cứ việc sửa soạn. Phôn xong trở lại phòng họp thì Hitler vừa đi khỏi. Hốt hoảng, Stauffenberg điện thoại gấp về Olbricht bảo hủy bỏ ngay lệnh Walkyrie, để chậm là chết cả lũ.
Thất bại lần thứ hai khiến nhóm tướng lãnh âm mưu lo lắng, họ muốn đổi giải pháp. Goerdeler đề nghị Beck hãy sang Paris gặp tướng Von Kluge tìm cách bắt tay với Anh-Mỹ để ngưng tấn công, để Đức mang toàn lực sang mặt trận phía đông tiêu diệt chủ nghĩa bôn sê vích.
Beck, đầu óc sáng suốt nói: “Giải pháp tìm hòa bình riêng với Anh-Mỹ là ảo tưởng. Anh-Mỹ không bao giờ tin nếu Hitler chưa chết và chế độ Quốc Xã chưa sụp đổ. Vì thế vấn đề phải giải quyết trước nhất là phải giết Hitler lật đổ chế độ Quốc Xã bằng mọi giá”.
Stauffenberg theo ý kiến tướng Beck.
Sáu giờ sáng ngày 20 tháng 7-1944, đại tá Stauffenberg sách cặp ra trường bay đi đến đại bản doanh của Quốc Trưởng.
Buổi họp được khai mạc đúng 12 giờ.
Lúc 12 giờ 42 phút, trái bom nổ long trời. Trước đó chừng 5 phút, Stauffenberg đã thoát ra ngoài.
Khi bom nổ, Hitler đang chăm chú ngồi nghe một vị tướng thuyết trình.
Stauffenberg quay lại nhìn thấy khói và lửa bốc cao, xác người tung ra ngoài, phòng họp tan tành. Stauffenberg chắc chắn không một ai có mặt trong phòng hội thoát chết.
Mừng rỡ Stauffenberg vội báo tin hoàn toàn thành công cho đồng bọn, chuyển Walkyrie sang giai đoạn 2.
Nhờ lanh trí, giỏi bịp bợm, nhờ lũ quân canh khờ khạo, nhờ cấp bậc đại tá và bộ mặt quen biết, Stauffenberg mới ra khỏi đại bản doanh để lên máy bay về Bá Linh. Ruột nóng như lửa đốt, Stauffenberg cảm thấy giờ dài bằng mười năm.
Máy bay vừa hạ cánh xuống Bá Linh, Stauffenberg đã sấp ngữa liên lạc với tướng Olbricht xem quân ta đã làm được chủ tình thế chưa ? Bên kia đầu giây trả lời chưa làm gì hết khiến Stauffenberg hết sức ngạc nhiên. Olbricht cho hay Walkyrie phải dừng lại vì không có một tin tức nào về cái chết của Hitler, chết rồi hay chưa chết? Bị thương hay không? Tất cả đang chờ Stauffenberg về.
Trái hẳn với sự dự đoán của Stauffenberg, Hitler không chết chỉ bị vài vết xây xát không đáng kể. May nhờ đại tá Brandt vô tình xách chiếc cập da của Stauffenbert vứt trên một cái bàn bỏ trống ở cuối phòng cách xa chỗ Hitler ngồi.
Bom nổ, Hitler bị xém một mảng tóc, bỏng chân, bầm tím nơi tay, ù tai, đằng lưng áo rách. Keitel là người ôm Quốc Trưởng ra khỏi gian phòng, mặt Keitel đầy tro bụi, tóc bốc khói, quần áo tã tơi và cũng may không hề hấn gì. Nhưng tất cả những ai ngồi gần chiếc bàn trống nơi cuối phòng đều bị chết hoặc bị thương nặng.
Việc điều tra thủ phạm vụ mưu sát không khó vì Stauffenberg đã để lại dấu vết trên mấy quyển sổ ghi tên những người ra vào, ghi giờ phút đến, đi tại ba trạm gác. Rồi từ đó, những người có mặt tại buổi hội mới nhớ ra Stauffenberg để lại chiếc cặp giết người đó.
Buổi tối, đài phát thanh loan đi tiếng nói quen thuộc của Hitler:
“Các bạn hữu người Đức!
Hôm nay tôi nói chuyện với các bạn, trước hết là để các bạn nghe tiếng nói của tôi để biết rằng tôi không sao cả, sau là để các bạn hay một tội ác dơ bẩn nhất lịch sử Đức.
Có nhóm người nhỏ nhoi đầy tham vọng, vô trách nhiệm, đã âm mưu ám sát tôi và bộ tham mưu tổng chỉ huy quân đội.
Trái bom do đại tá Stauffenberg đặt nổ cách tôi hai thước làm bị thương nặng một số người cộng tác thân tín trung thành của tôi, có một người đã chết. Tôi hoàn toàn vô sự, chỉ bị xây sát soàng với vài vết phỏng nhẹ, chứng tỏ quyết tâm của Thượng Đế vẫn bảo vệ sinh mạng tôi.
Bọn người âm mưu thoán đoạt rất ít ỏi, chúng chỉ là vài phần tử bất hảo, chúng sẽ bị trừng phạt không nương tay.
Từng lời, từng lời của Hitler như từng nhát búa bổ vào đầu những người nhúng tay trong âm mưu.
Tâm lý Quốc Xã vốn là tâm lý kết tinh bởi lòng thù hận. Thù hận càng thêm nung nấu đối với bọn người dám định hạ một đòn chót cho chế độ Quốc Xã đang xuống dốc.
Hitler làm đúng như ông nói là trừng trị không nương tay.
Ngày 7 tháng 8-1944, tòa án nhân dân họp tại Bá Linh để xử vụ mưu sát Quốc Trưởng, trên hàng ghế tội nhân có:
- Thống chế Von Witzleben.
- Tướng Hoepner, Stieff, Von Hase.
- Sĩ quan: Klausing, Bernadis, Yorck, Watenburg.
Tất cả trông tiều tụy, không ai được mang dây lưng thành thử hai tay cứ phải ôm lấy quần trông rất thảm thương. Thống chế Witzleben miệng móm, vêu vao vì hàm răng giả của ông đã bị đập vỡ.
Chưởng lý Freisler chỉ vào mặt thống chế nói lớn: “Lão già bẩn thỉu kia không biết lễ độ hả, vào chổ này mà hai tay còn ôm quần ư? “
Phiên tòa cứ thế mà kéo dài để quan tòa tìm đủ cách hạ nhục phạm nhân. Goebels cho quay phim từng chi tiết vụ xử án.
Phiên tòa chấm dứt bằng một bản án với mấy chữ: “Xử chết treo như loại trâu bò”.
Một giờ sau khi tuyên án, tám can phạm bị đưa vào gian phòng nhỏ của nhà tù Ploetzensee, đưa cổ vào chòng lọng làm bằng dây đàn dương cầm. Máy quay phim chụp các can phạm đang chới với giữa khoảng không, quần chụt xuống.
Đấy mới là đợt đầu. Còn đợt hai đợt ba và nhiều đợt nữa, lần lượt các tướng khác ít nhiều có dính líu đến âm mưu đều bị treo cổ hết. Chỉ có vài ba người chạy thoát được. Tổng số tướng là 20 vị, sĩ quan hơn 100, tổng số người bị xử tử là 1.980.
Ngày 17 tháng 8, Hitler cử thống chế Walther Model tới thay tướng Von Kluge vì Hitler nghi Kluge cũng ở trong phe phản nghịch. Kluge biết số phận sẽ ra sao nếu không sớm tự xử. Ông lên xe về nhà, đi dọc đường nuốt trọn gói thuốc độc cyanure.
Sau này, người ta tìm thấy trong hồ sơ quân đội Đức lá thư của Kluge gửi cho Hitler, lời lẽ như dưới đây:
“Khi ngài đọc những dòng này thì tôi đã từ giã cõi đời. Sống hay chết vô nghĩa đối với tôi… Cả tôi và Rommel từng tiên liệu từ lâu tình trạng rồi sẽ như bây giờ nhưng ngài chẳng bao giờ thèm nghe.
Tôi không hiểu thống chế Model đầy kinh nghiệm chiến trường có thể làm chủ đươc tình thế hay không. Nếu không thì lời cuối cùng của tôi là xin ngài hãy chấm dứt chiến tranh. Dân tộc Đức đến nay đã phải chịu nhiều đau khổ chồng chất, bây giờ chính là lúc cần ngừng cơn ác mộng đó.
Tôi vẫn hằng kính phục chí lớn của ngài nhưng nếu định mệnh mạnh hơn thì âu cũng là ý muốn từ nơi Thượng Đế, tôi xin ngài một lần nữa hãy chuyển chí lớn ấy vào nỗ lực chấm dứt cuộc chiến đấu vô vọng của chúng ta hiện thời”.
Sau Kluge đến lượt thống chế Rommel. Vì đại tá Hofacker không chịu nổi hình phạt tra tấn của Gestapo nên đã khai thống chế Rommel cũng có nhúng tay vào âm mưu ám sát Quốc Trưởng.
Rommel là một vị tướng danh tiếng được dân tộc Đức khâm phục. Nếu bắt ông thì dư luận sẽ bất lợi cho chế độ. Riêng Hitler lại rất trọng nể Rommel nhưng khi đọc lời khai của Hofacker đến đoạn Rommel bảo Hofacker rằng: “Hãy nói với dân chúng Bá Linh, họ có thể tin cậy nơi tôi”. Hitler khó chịu và quyết định tiết Rommel.
Hitler bảo Keitel nếu Rommel tự sát để khỏi phải đưa ra tòa án thì sẽ làm lễ quốc táng cho Rommel. Chẳng biết Keitel có nói lại ý đó hay không. Mấy ngày sau Rommel chết vì bị chẩy máu trong óc.
Theo thông cáo chính thức, vị thống chế thân yêu của Đức đã chết bởi vết thương ở đầu tại mặt trận Pháp. Hitler gọi giây nói phân ưu với bà quả phụ Rommel:
“Tôi đau đớn chia buồn về cái chết của thống chế, một vị anh hùng mãi mãi được dân Đức nhớ ơn”.
Lễ quốc táng Rommel rất lớn.
Tướng Rundstedt đọc điếu văn: “Trái tim thống chế nay đã quấn vào tâm hồn Quốc Trưởng…”
Đầu tháng 8-1944, phòng tuyến Pháp bị phá thủng, quân Đức phải rút khỏi đất Pháp Bỉ. Kho xăng Lỗ Mã Ni lọt vào tay Nga. Kỹ nghệ Đức tê liệt. Quốc Xã động viên toàn lực dân chúng, từ 16 đến 60 tuổi có thể bị xung vào quân ngũ bất cứ lúc nào.
Sức khỏe Hitler suy yếu ghê gớm, bệnh đầu choáng váng chuyển thành chân tay run lẩy bẩy, nhất là tay trái và chân trái. Ông phải chống gậy nhưng ông cấm tuyệt đối không cho chụp một bức hình nào ông cầm gậy trong tay. Vì chích Strychnine và uống Atigaz nhiều quá nên thuốc gây độc cho cơ thể, tóc bạc trắng, lưng còng tuy nhiên, Hitler vẫn làm việc như điên không chịu nghỉ. Cả đêm Hitler xem xét và thúc đẩy hai dự án mới: hỏa tiễn V2 và tầu ngầm tối tân, ông chứa chan hy vọng dùng hai thứ võ khí mới để lật ngược tình thế.
Tháng 12 năm 1944, Hitler thu thập nhặt nhạnh lực lượng ném ra một trận phản công trên chiến trường phía Tây. Phản công thất bại, những sư đoàn còn lại đã nướng hết vào ván bài chót.
Ngày 1 tháng 1 năm 1945, Hitler qua bài phát biểu, với giọng vui mừng tuyên bố về phép lạ của thế kỷ 20, Quốc Xã phục sinh trong cảnh hoang tàn.
Dân chúng nghe mỉm cười mai mỉa. Họ nghĩ rằng lãnh tụ của họ hết thời rồi và đang hóa điên, sống với những ảo giác.
Đại sứ Nhật gặp Hitler đề nghị Nhật sẽ đứng vai trò môi giới để Đức ký với Nga hiệp ước hòa bình xé lẻ (paix séparée).
Nga bằng lòng thừa nhận biên giới Đức của năm 1937, một phần lớn nước Áo sát nhập Đức quốc, nhưng Nga đòi xứ Boheme và Moravie. Đề nghị này càng làm cho Hitler tin rằng kẻ thù của ông cũng đang kiệt quệ, nước Đức chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là nắm chắc phần thắng.
Hạ tuần tháng 1-1945, đợt tổng tấn công mới của Nga chiếm trọn Tây Ba Lan, xứ Silesie và toàn khu vực Đông Thổ. Quân Đức không còn máu mà chảy nữa.
Hitler vội vã trở về Bá Linh, dinh Quốc Trưởng đổ nát vì bom nên phải làm việc dưới hầm bê tông cốt sắt.
Tháng 2-1945, Anh Mỹ vượt sông Rhin để mở đường đánh thẳng vào Bá Linh, nhiều cánh quân Đức bị bao vây ở hạt Ruhr. Hitler hạ lệnh tiêu thổ, để tiếp tục chiến đấu.
Thấy Röhm và tập đoàn hoành hành, tổng trưởng Nội vụ của chính phủ Bavière tìm cách ngăn chận, ông cho điều tra các vụ đồng tình ái của Röhm rồi cho báo đăng một tập thư gửi cho ‘‘người tình đực rựa’’ của vị tham mưu trưởng S.A.
Hitler cho gọi Röhm đến để hỏi về những tai tiếng xấu xa đó. Röhm nhận hết, bào chửa rằng ông thuộc loại ‘‘ bi- sexuel’’.
Tuy bực tức nhưng Hitler vẫn tìm cách che chở cho Röhm vi lẽ nếu bỏ Röhm thì đoàn S.A. chắc sẽ tan rã. Vả lại chung quanh ông biết bao kẻ thù đang rình rập mưu ám hại, ấy là chưa kể các đồng chí thân thiết cũ Strasser, Drexler, Pfeffer v.v… bây giờ là địch nhân một mất một còn với ông.
Röhm và tập đòan hung dữ, man rợ nhưng tuyệt đối trung thành. Mà chúng hung dữ với ai ? Với bọn cộng sản thì còn gì còngì cần thiết hơn nữa. Cộng sản cũng
hung dữ man rợ không kém đối với đảng viên quốc xã, Hitler nghĩ vậy.
Nạn thất nghiệp mỗi ngày thêm trầm trọng từ 3 triệu người lên 5 triệu nguời trong khoảng thời gian chưa đến nửa năm. Cả một đạo quân đói rách vĩ đại đang chờ đợi chính phủ phải giải quyết cách nào cho có đủ cơm ăn. Trước quốc hội, uy thế thủ tướng Bruning tụt xuống thảm hại. Ông ta gần như bị đẩy vào con đường cùng. Cả tả lẫn hữu đều công kích dữ chính sách Bruning trên mặt kinh tế và đối ngoại. Ông ta cứ phải đi đây mãi và bắt đầu thấy mệt mỏi, mất thăng bằng.
Các quốc gia tư sản Âu Châu vừa lo sợ lại vừa tin tưởng vào phong trào Quốc xã. Họ lo sợ tính chất quá khích của Hitler, họ tin cậy hiệu quả tiểu trừ cộng sản của Quốc Xã, thành thử họ chẳng làm gì để nâng đở chính phủ cộng hòa Bruning.
Được trớn, Hitler lợi dụng luôn vụ tướng Groner, tổng trưởng quân lực cộng hòa cấm quân đội không được gia nhập đảng Quốc xã vì lý do quân đội không làm chính trị và đã đưa ba sĩ quan : Scheningern Ludin và Wendt ra tòa về tội bất tuân lệnh. Hitler cử Hans Frank làm luật sư biện hộ cho bị can đồng thời cũng chính mình ông ra tòa với tư cách nhân chứng.
Trước tòa, Hitler đả kích nguyên tắc bắt quân đội tách rời chính trị. Ông nói :
‘‘Xin các ngài hãy nhìn sang một quốc gia khác, ở đấyquân đội có quan niệm thức thời hơn các ngài. Ở đấy tháng 10-1922, một số người, chỉ Mussolini đã lên nắm chính quyền đoạt từ tay bọn ăn cướp mà quân đội Ý không hề nói :’‘ Chúng tôi có nhiệm vụ phải giữ trật tự và hòa bình’’. Trái lại, quân đội Ý còn tuyên thị rằng : ‘‘Chúng tôi có sứ mạng bảo vệ tương lai dân tộc’’. Quân đội dứt khoát từ bỏ các đảng phái thối nát phá hoại để kết hợp hành động với đảng mang sức mạnh vũ bảo của toàn dân cũng sẵn sàng bắt tay với quân đội để bảo vệ tương lai đất nước. Còn tại quốc gia chúng ta, có biết bao nhiêu sĩ quan vẫn đang quanh quẩn với thắc mắc vẩn vơ về sự trung thành với những kẻ lúc nao cũng tìm mọi cách làm cho tan rã quan doại ? Chiến thắng nào thì cũng phải phần lớn trông cậy vào sức mạnh quân sự dù là chiến thắng của Mác xít hay chiến thắng của chúng ta. Nếu tả phái thắng nhờ ở thái độ khống thiên vị của quý ngài, tức là quý ngài đã làm cái công việc tự đào lấy mộ chôn mính. Bởi vì, thư quý ngài, rồi đây quý ngài sẽ buộc phải làm chính trị khi mà chiếc ‘‘casquette’’ màu đỏ đã ấn lên đầu. Quý ngài rất có thể sẽ là các chính ủy, một loại đao phủ thu của chế độ, quý ngài từ chối ư ? Vợ con quý ngài sẽ bị vứt vào nhà tù, sau đó quý ngài trễ nải hoặc kém cỏi với công tác ư ? Thì quý ngài sẽ bị đuổi ra hoặc đem đến pháp trường’’.
Nói thì nói vậy, chủ trương chiến lược của Hitler vẫn không thay đổi, ông cố bám chặt lấy cái hợp pháp và nỗ lực tranh thủ quân đội về phe mình, ông tiếp lời :
‘‘Đoàn xung phong S.A được trổ chức với mục tiêu duy nhất là bảo vệ đảng trong công tác tuyên truyền chứ hoàn toàn không để chiến đấu như một lực lượng chống nhà nước. Bản thân tôi đây đã từng phục vụ quân đội cho nên tôi phải hiểu hơn ai hết. Một tổ chức chính trị không thể nào đương đầu với lực lượng quân kỷ nghiêm minh là quân đội. Tôi luôn luôn ngăn chống việc để cho tổ chức S.A có những hành động và tính chất như quân đội. Tôi đã minh thị nhiều lần rằng tất cả mọi mưu định thay thế quân đội đều vô nghĩa, vô ích. Chẳng ai trong tổ chức chúng tôi muốn thay thế quân đội. Ước vọng của tôi chỉ là chính quyền Đức và dân tộc Đức phải hòa vào với nhau bằng một tinh thần mới. Bởi vậy hành động làm tan rã quân đội, theo tôi nó hoàn toàn điên dại. Chúng tôi không thấy có một lợi nào bên cạnh sự giải thể của quân đội.’’
Quan tòa ngắt lời Hitler rồi đưa ra nhận xét cho rằng đảng Quốc Xã xuyên qua bao việc làm từ trước tới nay khó mà thực hiện lý tưởng qua lề lối hợp pháp.
Hitler bác bỏ nhận xét trên nói :
‘‘Vấn đề đó thì lệnh của tôi cùng nguyên tắc căn bản của tôi sẽ giải quyết nếu có điều nào gây xung đột với luật pháp, điều đó sẽ không đem áp dụng, tôi sẽ trừng phạt kẻ nào bất tuân kỷ luật đảng. Nhiều đảng viên cao cấp của đảng đã bị khai trừ vì lý do kỷ luật như Oto Strasser chẳng hạn ..’’
Ông chánh án hỏi :
‘‘ Tôi chưa rõ quan niệm của ông về cách mạng dân tộc.’’
Hitler trả lời :
"Theo quan niệm Quốc Xã, mấy chữ cách mạng dân tộ có nghĩa là một cuộc nổi dậy của dân tộc Đức đang bị áp chế. Phong trào Quốc xã đại biểu cho cuộc nổi dậy đó nhưng nó không cần phải sửa soạn cho nổi dậy bằng những phương tiện bất hợp pháp. Chủ trương Quốc xã là tạo dựng cách mạng tinh thần cho dân tộc Đức cho nên không cần phải bạo động. Một ngày kia toàn dân Đức sẽ biết lý tưởng của chúng tôi, vã ngày ấy hơn năm mươi triệu người Đức sẵn sàng đứng vào hàng ngũ Quốc xã".
***
Những năm 1931 -1932, đảng Quốc Xã lảnh đạo bởi 3 người : Hitler, Röhm, Gregor Strasser (bây giờ thần phục hoàn toàn), Goering. Goebbels và Flick.
Địa vị của Röhm khá quan trọng, vì có nhiều liên hệ quân đội để móc nối lại là người rất tài tổ chức.
Goering giữ việc ngoại giao, vận động xã hội thượng lưu Đức cho đảng.
Goebbels phụ trách công tác chinh phục Bá Linh.
Gregor Strasser điều khiển chính trị họ.
Frick điều hành đảng vụ.
Ngoài ra còn có Walther Darré chuyên viên về vấn đề nông dân. Baldur Von Schirach thủ lãnh thanh niên ‘‘Hitlérienne’’. Hess bí thưn Schwarz thủ quỹ đảng, Boudler chuyên viên về thương mại của đảng, Hans Frank coi nghành tư pháp, Otto Dietrich liên lạc báo chí, Max Amann trông coi xuất bản văn hoá đảng.
Báo chí ngoại quốc liên minh tới phỏng vấn Hitler do sự môi giới của bác sĩ Hanfstaengl, mỗi lần phỏng vấn nhà báo phải trả cho Hitler một ngàn đô la. Bài phỏng vấn quan trọng nhất là bài của tờ Daily Express (Anh) do Lord Beaverbrook đích thân đến Munich.
Qua báo chí quốc tế Hitler trình bày với thế giới chính sách tư tưởng mềm dẻo, yêu chuộng hòa bình của đảng Quốc Xã để thế giới yên lòng. Mọi hành động cứng rắn đều chỉ nhằm vào việc chống chủ nghĩa bôn sê vích. Hitler chú ý đến tòa thánh và thế lực công giáo nên phái Goering qua La Mã (tháng 5-1931) gặp Đức Giáo Hoàng trước khi gặp Mussolini để Đức Giáo Hoàng biết rằng nếu có vài việc đáng tiếc xảy ra đối với công giáo thì cùng in hệt Mussolini đã bài xích chính sách tầm thường của đảng dân chủ Thiên chúa giáo mà thôi.