Phần Hai
I Đòm! Đòm! Đòm! Những tiếng súng nổ chỉ thiên ở khu chợ súng làm con ngựa hồng một tuổi rưỡi giật mình, hất cổ, giật cái dây cương đã buộc vào cọc. Pao vỗ vỗ má con ngựa, âu yếm: “Đừng sợ! Đừng sợ! Họ thử súng thôi! Rồi tao cũng có một khẩu súng cơ mà”.
Con ngựa cúi đầu, lim dim mắt rồi hếch mõm thè lưỡi liếm tay Pao. “Ối, mày làm tao buồn đến muốn cười đấy”. Pao cười, vuốt bờm con ngựa, rồi quay lưng đi.
Khu bán súng ở lảnh một góc dưới chân đồi, xa chợ một con dốc. Phải họp riêng một góc vì bây giờ đã có hẳn những tay chuyên nghề buôn bán súng đạn. Phải họp riêng một nơi vì khách mua bao giờ cũng thử dăm ba phát để xem thực súng có tốt hay không. Súng tốt, kêu to. Giản dị vậy.
Khu chợ này toàn đàn ông. Phiên này đông nên người tràn cả xuống mấy mặt ruộng ở phía dưới. Người quẩn lại như say. Súng Tây chạy Nhật vứt lại. Súng Nhật đầu hàng thu còn sót. Súng bọn thổ phỉ cướp được. Súng bọn lính bọn sĩ quan Tưởng bán ra. Toàn là súng trận cả. Tất cả đều tụ họp ở đây như để chứng tỏ rằng: đất này vốn loạn lạc và còn loạn lạc, còn đánh nhau to. Còn đánh nhau to vì súng, đạn nhiều thế cơ mà. Bày trên chõng con, trên mẹt, trong lòng những chiếc nón sơn để ngửa dưới đất, trên mảnh vải bạt, vải dù chẳng khác gì một thứ hàng hóa thông dụng hiện lành, quen thuộc. Có lái buôn xếp súng đầy một cái chiếu mây rộng. Lại có mấy anh biến thân thể mình thành cái giá treo. Súng, ba bốn khẩu trên vai, lựu đạn dăm quả dài ở lưng, băng đạn quấn quanh bụng, quàng trước ngực. Thôi thì đủ mặt các sản phẩm của kỹ nghệ chiến tranh, từ cổ lỗ sĩ như súng hỏa mai tới loại tân kỳ nhất như các-bin còn bọc giấy nhựa bê bết dầu mỡ. Mút-cơ-tông ngắn ngủn. Trung chính dài nặng. Mát. Sì-ten, Tôm-sơn. Có cả một dãy trung liên FM ngóc đầu trông như lũ cào cào. Lựu đạn mỏ vịt. Lựu đạn chuôi gỗ. Súng ngắn bao da, bao gỗ. Đạn bóng lọng để từng mớ như lạc luộc. Có cả một cái bệ súng cối đặt ở trên một tấm da báo.
Pao đứng tần ngần trước một cái chiếu rơm lổn nhổn súng đạn. Lão lái người Xã đội nón sơn, gầy ngỏng, lưng gù, mặt choắt, ngồi trên cái nạng thồ, ngoảnh mặt đi khinh khỉnh, phì phò cái tẩu sừng.
Pao liếm đôi môi khô nứt, hồi hộp:
—
Tả tế *! Khẩu súng này bao nhiêu tiền?
— Khẩu nào? — Lão lái quay cổ lại, lạnh nhạt.
— Khẩu poọc hoọc này! Có bao gỗ không?
Lão lái quài tay kéo cái bao gỗ đeo ở sườn ra trước đoạn gõ gõ ngón tay vào vỏ gỗ.
Pao nhấc khẩu súng, lồng ngực khẽ rên một tiếng. Khẩu súng nặng rất vừa tay, ánh thép biêng biếc, nòng dài, khỏe, còn mới nguyên. Súng này gọn, bắn xa. Bọn quan quân lính Tưởng hay dùng. Chà! Pao mà có một khẩu súng như thế này. Ông ơi, ông nói giá đi. Đủ tiền, tôi mua liền, không bớt một hào.
Lão lái lé lé con mắt. Con mắt hẹp, sắc, biết đánh giá dò xét khách hàng. Đoạn rút cái tẩu sừng ra khỏi miệng, xẹt một tia nước bọt qua kẽ răng, lão hất hàm, kẻ cả:
— Có bạc trắng không?
Pao ngẩn mặt:
— Không có!
— Thuốc phiện?
— Không có!
— Năm trăm rưởi đúng!
Ôi chao! Mặt Pao tối sầm. Gương mặt tròn vạnh đang đỏ hồng như bị trúng gió, tái nhợt. Khẩu súng như buột khỏi tay, Pao đứng dậy, loạng choạng. Năm trăm rưởi. Bán hai con ngựa vẫn còn thiếu. Loạn lạc, súng nhiều phải rẻ chứ? Trong túi chỉ có hai trăm. Còn ba lạng thuốc phiện đưa ra chỗ ông bà Lìu nhờ bán thì bị bọn Quốc dân Đảng cướp mất rồi. Bọn nó có theo dõi. Ngay đêm ấy ập tới, khám nhà. Bà Lìu tha hồ chửi, chúng cứ lạnh như thép, đút túi lẩn đi.
Pao lẳng lặng đi qua các hàng khác. Không đâu có súng giá hai trăm.
Đòm! Đòm! Súng thử giật từng phát một vẫn cứ nổ đều đều. Như đang có chiến trận. Không ai giật mình nữa. Cả khu chợ bên kia cũng vậy. Nghe mãi rồi quen, lại thấy tiếng nổ là vui. Lại còn biết phân biệt: tiếng nổ tóe ra là súng kíp; tiếng nổ chắc gọn là mút; đanh tiếng là súng mới; nhòa tiếng là súng cũ. Đất này đã quen và còn quen nữa với tiếng súng.
Đòm! Đòm! Súng vẫn cứ giật giọng nổ đều đều, đập vào tai Pao, như chọc tức Pao. Buồn bực, Pao ra khỏi khu bán súng tới khu buộc ngựa. Nhưng, đứng cạnh con ngựa hồng, Pao lại tần ngần muốn ở lại. “Hay là đi tìm người vay? Hay bán con ngựa? Con trai H'Mông đẻ ra, bố đã phải sắm cho khẩu súng rồi kia. Thời buổi này...”.
— Này, anh. Có đổi ngựa không? — Nghe tiếng hỏi, Pao quay lại. Gã đàn ông đội khăn to, má có một cái sẹo dài, mặt đầy vẻ gian xảo, đứng sau Pao, tay vỗ bộp vào mông con ngựa hồng, mắt ngó nghé cái bụng, cái chân nó:
— Xì, ngựa này rồi phản chủ. Đổi không? Cho tôi thêm một trăm, tôi đưa con ngựa đực đen của tôi.
Pao lắc đầu, hất bàn tay đang đặt trên mông ngựa của gã nọ.
Gã gạ đổi ngựa thản nhiên đi. Phía bên trái Pao đang túm tụm một đám đông. Chắc lại đổi ngựa, mua ngựa: Pao định cởi dây cương dắt ngựa đi, bỗng thấy đám đông túa ra, có người hét toáng: "Chết rồi!”.
Pao chạy lại. Đám đông dãn thành một vòng tròn rộng. Dưới đất, một con ngựa lang vàng trắng bụng to kềnh, nằm thẳng đơ. Nắng trưa, trắng lóa. Vòng người đổ bóng nhấp nhô như bóng núi.
— Chết rồi! Trúng gió độc rồi!
— Không cứu được đâu! Ôi giời, nó giãy chết kìa.
— Nó động kinh đấy! Thịt thôi!
— Thịt đi còn được tiền đấy nhỉ?
Pao lách vào vòng trong. Trên đất, con ngựa nằm gại gại mấy cái móng đổ nghiêng. Cái bụng to phình phập phồng. Cạnh cái nạng thồ mới nhấc khỏi lưng ngựa, ngồi một người Nùng mặt sần trứng cá. Nghe người vây quanh hối thúc, anh liền đứng dậy, cầm dây cương ngựa kéo, miệng thét chửi con vật khốn nạn:
— Dậy! Dậy! Đồ ngựa thối! Đồ ngựa hoang!
— Đánh! Đánh! Nó lười đấy! — Gã đổi ngựa từ đâu chen vào cạnh Pao, hò. Người Nùng mặt sần trứng cá vẫn cố kéo. Cổ con ngựa bị co lên, cứng như cái bạnh cây. Cái mũi đen của nó bị kéo căng, hở hoác cái lỗ rộng, cơ chừng chỗ thịt mềm sắp đứt. Tuy vậy, con ngựa vẫn không gượng dậy được.
Mỏi tay và hết hy vọng, người Nùng nọ buông tay. Đầu con ngựa rơi bịch xuống đất. Gã đổi ngựa nhảy lại, đặt cái chân đi giày vải đen lên bụng con vật đáng thương, dận mạnh:
— Bán đi, may còn được tiền! Đ. mẹ, chết mất thôi!
Người Nùng ngẩng lên, lo lắng đẫm hai con mắt:
— Tôi ở tận Mường Cang sang đây mua muối.
— Ôi, thế thì bán đi.
— Ngựa này tôi đi mượn.
— Bán đi rồi về bảo nó ngã vực!
Cái vòng tròn người cười à à, ngả nghiêng. Bóng nắng cháy lung linh những tia lửa nhỏ.
Mái tóc đen dày trên đầu Pao nóng rát. Người Pao ngôn ngốt khó chịu. Bước lại cạnh con ngựa, Pao ngồi xuống, tay nắm bụng, tay sờ mũi con ngựa. Bụng con ngựa đầy bình bịch. Mũi con ngựa lạnh ngắt. Pao biết, ngựa có trăm thứ bệnh. Nước uống bẩn, lạnh, là hại ngựa nhất.
Người Nùng đứng ở đuôi con ngựa, run run cả hai chân. Pao quay lại, nhìn anh:
— Này, anh! Lấy cho tôi mấy củ tỏi, một cục diêm sinh.
— Củ tỏi? Diêm sinh ạ?
— Phải! Nhanh lên!
Pao đứng lên, nhìn quanh rồi quỳ rập xuống, hai đầu gối áp sát bụng con ngựa. Gáy Pao đỏ cháy. Hai bả vai Pao ngang, rộng, nở căng lần vải chàm bợt. Hai bàn tay Pao vần lưng con ngựa. Rồi bất ngờ, hầy một tiếng, Pao vòng hai tay qua lưng bụng con ngựa ốm, ôm phắt nó, vùng đứng dậy, hét to:
— Lùi ra! Cho nó vào chỗ mát! Lui ra!
— Hây dà! Ôm cả con ngựa kia!
— Ối giời! Khỏe quá! Khỏe quá!
Vòng người vỡ ra với những lời reo kinh ngạc. Con ngựa, nặng ịch. Hai cách tay đỏ hồng rắn câng, mặt Pao căng ứ, Pao bước những bước thật nặng nhọc.
Con ngựa bị cảm lạnh bụng trương phình, được xoa tỏi, thổi diêm sinh vào mũi, hắt xì hơi liên tục. Xoa bóp bốn vó nó một hồi nữa thì nó nghển cổ, loạo quạo bốn chân, gượng đứng dậy. Ngựa khỏe không nằm. Đứng dậy được, là con ngựa hồi sức khỏe lại rồi.
Người Nùng nọ mừng quá, mụn trứng cá đỏ sậm như bôi phẩm, trán mướt mồ hôi, kéo tay Pao, lắp bắp:
— Tôi là Mìn, ở Mường Cang, thế nào cũng đón anh sang chơi. Ơn anh, tôi không bao giờ quên. Giờ anh phải cùng tôi uống một bát rượu.
Pao co tay:
— Tôi không uống. Tôi cũng có tiền chứ!
— Rượu này rượu ân, rượu nghĩa. Anh không uống, anh coi tôi bằng nhau với con chó, anh người H'Mông ơi.
Pao cười, đành theo bạn.
Bấy giờ đã già trưa, là cữ chợ đang đông. Như bị hút vào với nhau, cả ngàn con người quần tụ lại, chen chúc trên một mỏm đồi, xung quanh vây bằng những túp nhà cỏ và những mái lều gianh. Đầu chợ, chim họa mi hót trong những chiếc lồng mắc trên dãy cây đào già. Mấy anh bán khèn đang biểu diễn điệu khèn xuân. Lợn giống trong rọ nằm ngửa tênh hênh, khoe những núm vú tí tẹo. Kềnh càng nhất là những hàng lâm thổ sản và hàng thủ công. Mây song cuộn từng vòng. Muôi gỗ đủ loại. Ghế mây tết mặt tròn vạnh. Hạt đuôi ngựa treo ở cột lều từng xâu dài. La liệt, lấp loáng dao quắm, dao phay, lưỡi cày loại cong vỏ đỗ, cuốc Hà Nhì lỗ rộng có con chêm to đùng.
Dưới những tán ô giấy xòe tròn, thuốc phiện bọc giấy bản to bằng nắm tay một xếp trên mặt lù cở
* giang, cạnh những mớ tam thất, hoàng liên, gấu tàu hay cao hổ, cao khỉ, vẩy tê tê, dạ dày nhím.
Người mua đi lại như nước chảy. Các cô H'Mông váy áo mới sặc sỡ xanh, đỏ, vòng bạc sáng như thủy ngân tíu tít nói cười. Nắng lóng lánh mặt vải phết sáp ong. Các cô đi chợ là đi hội, đi với bạn tình.
Đàn bà muốn ăn thịt, đến tháng đẻ,
Đàn ông muốn ăn thịt, đến ngày chợ.
Đông nhất, chiếm một diện tích rộng nhất chợ là các quán ăn. Các quán ăn là nơi vui nhất. Ở đây, có thể gặp gỡ, trò chuyện. Vui vẻ và cáu kỉnh tha hồ bộc lộ. Rượu thịt là chỗ cuối cùng cánh đàn ông đi tới, sau khi đã mỏi cẳng vì đường xa, hoặc bán xong một cuộn mây, một con gà, một cái mật gấu.
Bởi vậy, ngoài những chõng lèng phân phần lớn là khách đàn bà, đến chợ nổi lửa sớm nhất vẫn là các hàng thắng cố và bây giờ khói vẫn bốc mạnh. Những chảo thịt vẫn cứ ình ịch sôi, không cạn. Thắng cố chó. Thắng cố dê. Thắng cố ngựa. Đủ loại. Nước trong chảo lúc nào cũng sủi bọt, tràn trên những miếng thịt chém vuông quân cờ. Vò rượu không biết vơi, nồng nàn từ đầu buổi chợ. Rượu, thắng cố đã có, thế là đủ. Còn thì mặc, ngồi đâu cũng được. Có ghế thì tốt. Không thì một tấm ván sệt trên đất cũng xong.
Quán lão béo ở chợ được khách nhất vì có rượu ngon, loại một sênh
* bắp chỉ lấy có tám lít, nhấp tê lưỡi, đổ ra bàn tay, châm lửa cháy xanh nhoáng. Lão lại rộng rãi, không chắc lép. Khách quen, uống chịu là chuyện thường. Thiếu tiền mặt, gán bằng thuốc phiện, củ thuốc... cũng được.
Pao và người Nùng nọ tới quán lão béo khi khách đang đông. Chợ vãn, mua bán đã xong, ai cũng muốn ních đầy bụng thịt và chuếnh choáng hơi men rồi mới về nhà. Lão béo quả xứng với tên nôm na dân gian đặt. Núc ních như một xúc thịt. Không cổ. Ngực sệ từng tảng mỡ. Bụng phưỡn như đàn bà chửa. Cái mặt tròn xoay. Nếu không có cái nốt ruồi ở cằm loăn xoăn mấy sợi lông dài thì đặc mặt tượng. Lão ngồi trên khúc gỗ tròn, áo phanh ngực, quần soóc lửng lính Nhật chùm đầu gối. Cột lều buộc một con dê sữa lông trắng kêu be be như gọi mời khách tới.
Đông khách quá. Cả ba hàng ghế đều ken người mải miết, ồn ào ăn uống, trò chuyện. Hàng ghế bên trái có hai người — một già một trẻ, hai cha con vừa đứng dậy. Chỗ ngồi chật, họ ra ngoài lều, bê hai nạng thồ tới, mỗi người ngồi một, rồi lại tiếp tục cuộc đấu tửu.
Người Nùng dắt Pao vào chỗ ghế trống, ngồi xuống, đập khẽ tay lên mặt bàn:
— Cho một cân đây. Chén đầu chén cuối như nhau, đừng thấy say pha nước lã vào nhé, ông chủ quán.
Lão béo ghé chai rượu vào cái bát lớn:
— Đây không gian dối như thằng phở Kinh đâu.
— Thằng phở Kinh nào! Tôi chém bỏ mẹ nó!
— Thình! — Một người nào đó vừa đập bàn, quát lớn. Nghe tiếng quen quá. Pao ngẩng lên, thì vừa lúc người vừa quát kêu to:
— Pao! Mày ở đây à?
— Anh Lử!
Lử, anh trai Pao, ngồi ở hàng ghế bên kia đứng dậy, bước lại cạnh em. Lử, vóc dáng khác hẳn Pao. Pao mập, cao to, lực lưỡng. Lử choắt bé, nhưng rắn chắc, dẻo dai.
— Anh Lử, anh này tên Mìn, ở Mường Cang, bạn em.
— Hè hé... bạn tốt... sao không mời nhau chén rượu — Vỗ vai người tên Mìn, Lử ngồi xuống giọng lè nhè, rồi hất hàm vào chủ quán:
— Ngôi oan! Cho một bát dây!
"Ngôi oan"! "Ngôi oan"! Om sòm trong quán tiếng thúc gọi.
Những bát rượu trong xanh sóng sánh. Những tiếng khà, tiếng ực. Mùi thịt nồng hoi. Hơi rượu cay cay tê tê khứu giác. Những khuôn mặt đỏ cháy. Những nước da tái nhợt. Có tiếng nôn oặc oặc.
Lửa đang đốt những ngọn nhỏ dưới da mặt Pao. Da mặt Lử càng lúc càng nhợt. Càng lúc, Lử càng nói nhiều.
Đặt bát rượu, Mìn nhìn Pao, nhễ nhại:
— Khổ quá, bạn Pao à, Tưởng sang đây có muối bán... Hóa ra ông thổ ty Hoàng Văn Chao cũng đóng cửa đại lý như ông Nông Vĩnh Yêng bên Mường Cang tôi.
Lử xóc xóc cái túi nặng bạc trắng, mặt nghiêng nghiêng:
— Uống đi, Pao, tao trả tiền cho. Mấy hôm mày đi đâu? Đi theo tao có phải cũng được như tao không?
"Giá mà có từng ấy tiền thì mua được khẩu poọc hoọc". Pao nghĩ, nhìn anh trai:
— Mấy hôm vừa rồi anh đi đâu, anh Lử?
— Hé hé...
Cười chưa dứt, Lử đã đứng dậy. Pao cũng đứng dậy. Có tiếng thét tiếng chửi, tiếng cái bát rơi, cái nạng thồ đổ. Ở ngoài lều, cuộc đấu tửu của hai cha con người H'Mông khi nãy đã vào hồi quyết liệt, người già đang đè người trẻ xuống đất, tay ấn cái bát không vào mồm người trẻ, miệng gào khản đặc: “Uống đi con!”. Người con tức thì giãy giụa, bất đồ nhướn mình, đạp mạnh vào bụng người cha. Hai cha con sâu rượu quấn lấy nhau. Bụi mù mịt. Ruồi cất cánh vu vu.
Vỗ đùi khoái trá, Lử cười khành khạch:
— Hai cha con đấu tửu rồi đấu võ! Giỏi!
Pao chạy vào đám hai cha con người nọ đang ôm nhau dưới đất. Anh nắm bả vai người con giật mạnh: "Bỏ ra! Bỏ ra".
— Thằng Pao, việc của mày đấy à! Mặc nó chứ! Thằng Pao! Việc của mày đấy, hả!
Đang quát ngậu, mặt Lử bỗng tươi rờn. Có một bóng người vừa thấp thoáng ở bên phải lều, Lử quay lại gọi to:
— Seo Cấu! Seo Cấu!
Người được gọi lách qua đám đông bước tới. Thì ra đó là gã đổi ngựa. Pao can đám hai cha con người say rượu xong, đi vào quán, đứng ngẩn. Pao đã nhận ra. Người có khuôn mặt dữ tợn, má phải có vết sẹo kia là người ở bên thôn Phéc Bủng, cạnh Can Chư Sư, làng Pao, hình như đã có lần đến nhà Pao chơi.
Lử kéo Cấu vào quán, ấn Cấu ngồi xuống.
— Tao thấy mày lúc nãy ở đám múa khèn. Mê à! Tập kèn thì được ăn đùi bò. Tập khèn thì được ăn mũ nấm
*. Cho cân nữa đây, chủ quán!
— Tao thích ăn mũ nấm. — Seo Cấu ngửa mặt cười — Tao bỏ con Seo Cả rồi. Con Seo Cả chạy về nhà Giàng Ly Trang bên mày làm con
gái gầu phàng,
gái dong * rồi.
— Phí thế. Con Seo Cả đẹp đấy chứ.
— Uống đi! Để tiền xây cái nhà như nhà ông tri châu à?
— Đ. mẹ, nước lã hả?
Lử rút con dao nhọn ở sườn, cắm sụt xuống bàn:
— Ông chủ quán, nước lã thì cho ông ăn trứng nhé!
Seo Cấu cũng rút con dao nhọn to bản đặt xuống cạnh bàn, nhăn nhở:
— Rượu này so với rượu ông tri châu cho uống thì đúng là nước suối. Lử à! Ông Tường, con ông tri châu bảo: có hai thằng Quốc dân Đảng...
— Kệ nó. Bọn ăn trộm trâu ở cầu La Hờ nó định lấy đầu ông Chao đấy. Đừng theo nó? Theo ông La Văn Đờ bên Pha Linh hơn.
— Ông Đờ bên ấy mới là người H'Mông mình! Uống nhé.
— Ừ uống!
Mặt Lử càng lúc càng bợt. Mồ hôi đẫm lưng. Mồ hôi có hơi rượu, đốt cũng cháy được. Cổ họng ứ nghẹn. Có cái gì ở bụng đang định phòi lên. Mắt Lử nhìn cái gì cũng thấy như cầu vồng. Cả thằng Seo Cấu cũng đỏ đỏ vàng vàng như cầu vồng. Mày đi đâu đấy? A! Đi kiếm ăn à! Có món nào gọi tao nhé. Ừ, túi tao loảng xoảng tiền. Tao giàu. Tao sẽ như tri châu. Tao bắt tất cả phải theo tao. Tao phải giết thằng Kinh bán phở chan nước lã. Tao phải đốt cả cái nhà nó.
Men rượu đang cháy rần rật trong da thịt Pao. Pao thấy chân tay mềm lả, rời rã, thú vị. Mìn cũng đã say, đầu dựa cột lều ngủ. Cái chợ đang hồi tàn, chống chếnh, la đà. Người say lăn lóc như cây gỗ trong các lều quán. Lát nữa, họ sẽ tỉnh. Những người vợ ngồi cạnh canh giấc ngủ dã rượu cho họ lúc ấy sẽ đỡ họ dậy, dìu họ lên ngựa. Đường về, chồng cưỡi ngựa, vợ nắm đuôi ngựa, chập choạng đi, dẫu xa cũng gần.
Pao nghĩ lơ mơ, sung sướng. Rồi thình lình Pao mở choàng mắt. Lử vừa rút con dao, chồm lên.
— Anh Lử, làm cái gì thế?
— Mặc tao!
— Anh Lử!
Pao vừa nhảy tới, ôm chặt hai cánh tay Lử. Hơi thở của Lử sặc sụa:
— Bỏ tao ra! Bỏ tao ra! Tao giết thằng Kinh bán phở.
— Anh Lử! Để rượu nó uống người à!
— Bỏ tao ra! Ôi giời! Oặc... ọc, ọc... ọc...
Lử rụi xuống đất, oặc ra một đống bầy nhầy, rồi cứ từng đợt, thót bụng lên, ọe oẹ.
Pao trở về chỗ ngồi khi nãy. Cơn say mơ màng chưa tan, cứ phảng phất, dễ chịu. Mắt Pao khép hờ, dim díp mỏi mỏi. Có người nào đó vừa vào quán. Ực ực tiếng nuốt. Tiếng con dê be be. Cả tiếng con chó gặm xương cột cột nhẫn nại.
— Giàng Ly Trang sao ra chợ muộn vậy? Con chó béo nhỉ?
Nghe tiếng lão chủ quán, Pao mở mắt. Cạnh Pao nằm, một con chó vàng, lông xù, mặt nhỏ lút trong đám lông, đang gặm một khúc xương giữ bằng hai chân trước. Chủ nó ngồi quay lưng lại phía Pao, lè nhè giọng rượu:
— Ông tri châu gọi nên phải đi thôi. Chứ có muốn đi đâu!
— Chắc có việc gấp. Nghe nói Việt Minh họ sắp vào châu ta?
— Có chuyện ấy à?
— Tôi nghe người ra tỉnh về nói: Quốc dân Đảng kéo binh lính về chật tỉnh lỵ.
Người khách nọ đứng dậy. Pao ngẩng lên. Pao nhận ra ông ta là Giàng Ly Trang, lý trưởng làng mình. Giàng Ly Trang xịt mũi, quay lại lão béo:
— Ông tri châu gọi tôi vì chuyện lão Pâu làng tôi. Lão này bị ông tri châu bắt vì phạm tội nuôi lợn đực giống. Việc này ông tri châu cấm từ lâu rồi.
Pao không nghe thấy lời ông Giàng Ly Trang. Pao đang mải nghĩ: “Ta ra tỉnh về, ta còn lạ gì. Quốc dân Đảng là bọn xấu. Nó sợ Việt Minh. Việt Minh là ai? Ông bà Lìu yêu Việt Minh. Chắc Việt Minh tốt”.
Đứng dậy, Pao lay vai Mìn, hẹn ngày sang chơi Mường Cang rồi ra chỗ Lừ ngủ:
— Anh Lử, dậy, dậy, về ngựa với em đi!
Lử đã dã rượu, nhưng mệt lử. Ấy thế, thoạt đầu rượu là bạn, sau nó là kẻ thù, nó ngấm vào người, cắn xé rồi làm tê bại bắp thịt, tháo lỏng các khớp xương. Người Lử lúc này như tàu rau cải hơ hơi nước để làm dưa cải cay. Ngồi trên lưng ngựa hắn cứ ngật ngà ngật ngưỡng, rồi gục xuống rũ hẳn trên cổ ngựa. May được con ngựa ngoan, đi bước êm và Pao đi trước, dắt cương nó đi theo.
Ra khỏi chợ, hai con ngựa lững thững bước. Gió chiều hun hút, mỗi lúc một mạnh. Sương từ các đỉnh núi đang ùa xuống, thả mù trắng xóa trong thung lũng chật.
Hai con ngựa leo dốc. Đồi úp thoai thoải. Gió ào ào, vu vu, lắc cành sa mộc và lật tung phiến lá xanh mặt dưới trắng ngầu phấn của cây ngải cứu. Đây đó bốc dậy mùi thơm của lá mùi gai bị chân ngựa giẫm in một vệt xanh xẫm.
Rên một tiếng khẽ, đang lờ ngờ, Lử bỗng nhổm dậy. Hắn đã tỉnh. Thúc ngựa lên cạnh Pao, hai mắt Lử nheo nheo vằn vằn đo đỏ:
— Pao à? Mày là đứa tốt. Mày tốt thật!
— Xì, vẫn say à, anh Lử?
— Hừm... Tao không như mày. Họ đánh nhau mặc họ...
Dừng ngựa, hai con mắt bỗng như bừng mở, Lử ngây người nhìn Pao. Như lần đầu Lử nhìn thấy Pao. “Thằng Pao đẹp người quá. Con Seo Ly mê nó. Sao nó không cướp con bé? Phải tay mình...”.
Ý nghĩ chợt tắt, Lử giật cương, quay ngựa. Phía sau có tiếng chân ngựa dồn và tiếng người hú dài:
— A Lử! A Lử...
Đục qua màn sương đục, một bóng ngựa đen đang đi tới. Lử quay hẳn lại:
— Seo Cấu ?
— Đi! Đi với tao, A Lử! — Áp sát ngựa vào ngựa của Lử, Seo Cấu hổn hển. Khẩu súng Trung Chính đặt trên hai đùi. Mặt Seo Cấu nhoáng hơi nước mưa.
Pao quay ngựa lại, gọi giật:
— Anh Lử, về thôi.
Hai con ngựa của Lử và của Seo Cấu quẩn thành hai cái vòng tròn nhỏ. Óc Lử quay quay: Thằng Seo Cấu chắc tìm được món gì rồi. Bọn buôn thuốc phiện lậu? Hay bọn lái buôn vải, muối? Hay đám cướp trâu?
— Anh Lử! Về thôi. Làng đang sửa soạn hội nào
sồng cuối năm, về thôi! — Pao gọi.
“Hôm nay cũng mệt rồi...” Lử nghĩ thấp thoáng nhưng hắn bỗng giật mạnh cương ngựa, áp tới cạnh Pao:
— Pao? Pao đi với anh. Một lát rồi về thôi mà.
“Anh Lử đang còn hơi rượu. Lúc này mà bị cảm là không chữa được đâu!”. Pao nghĩ, đành quất ngựa đuổi theo Lử.
Ba con ngựa như ba ngọn gió lồng nối nhau kẻ một vệt trên lưng núi đá xuyên qua rừng gianh, qua rừng cây thành ngạnh. Lát sau tụt xuống một bãi đất bằng, ba con ngựa dừng lại. Đứng ở đây, Pao nhìn thấy con sông Chảy một vệt sáng như ánh thép. Pao có thể nhìn thấy con đường từ sông Chảy ngược lên, ngoằn ngoèo len lách qua núi đồi, in vệt hồng hồng như sợi chỉ thêu.
Phắt xuống ngựa, Seo Cấu vặt một túm cỏ gầm ghè:
— Có hai thằng, chúng từ sông Chảy lên, đi hai con ngựa, Lử à.
— Bọn lái buôn hả?
Pao rùng mình: “Bọn này cướp đường à!”. Pao gọi:
— Anh Lử, không được thế.
Nhưng Lử đã vứt day cương nhảy xuống đất, chạy theo Seo Cấu. Chúng đã thấy mồi: "
Đù a *! Bọn này...". Pao hộc lên một tiếng, nhảy xuống ngựa.
Uốn vòng giống một cái quai chảo, con đường trước mắt Seo Cấu lồi ra rồi hõm vào, chênh vênh bên bờ vực. Hai con mắt Seo Cấu săm soi. Gã đã bắt được tiếng chân ngựa và đã nhìn thấy hai bóng ngựa, một trắng, một xám đang trên đường đi tới. Hai con ngựa bước thủng thẳng. Chủ nó chắc cũng đã thấm mệt. Ngó xuống thấy rõ là họ không có súng, Seo Cấu liền kéo tay Lử chạy lên. Và khi vừa thấy hai bóng ngựa nọ vừa hiện ra ở khúc ngoặt, Seo Cấu cùng Lử liền co chân nhảy ào xuống, đồng thanh hét:
— Đứng lại!
Bật ngửa cổ vì bất ngờ, hai con ngựa một trắng một xám liền quay ngang, chân díu như vướng dây.
Hai tay nâng khẩu Trung Chính, Seo Cấu sấn sổ bước tới trước mặt con ngựa trắng:
— Xuống ngựa! Đây không giết đâu. Có tiền bạc thì bỏ ra!
Kỳ lạ, không đúng như Seo Cấu chờ đợi, hai con ngựa bị chặn đã nhanh nhẹn tản ra hai bên đường. Và người cưỡi trên lưng con ngựa bạch nhổm lên nói rất to: “Đồng chí Kiên! Khoan đã” như can ngăn bạn mình, rồi thúc ngựa tới trước mặt Seo Cấu:
— Các anh là ai mà ra chặn đường chúng tôi?
Chà, đã không chịu xuống ngựa lại ngang nhiên vặn vẹo. Seo Cấu quay lại, Pao vừa kéo Lử tụt vào lùm cỏ bên đường.
Con ngựa bạch lại dấn lên một bước:
— Các anh lui ra cho chúng tôi đi. Chúng tôi là Việt Minh. Chúng tôi lên làm việc với ông tri châu.
Đứng lì tại chỗ, Seo Cấu định giương súng. Nhưng khẩu Trung Chính vừa nâng tới ngang vai, gã đã kêu ối. Và ngã nghiêng vào vách núi.
Đẩy Seo Cấu sang bên, Pao giật khẩu súng từ tay gã, chạy ra giữa đường, giơ hai tay lên cao:
— Các anh đi đi. Chỉ có nó là đứa cướp đường thôi!
Hai con ngựa rình rịch đi tới trước mặt Pao. Người cưỡi ngựa trắng vóc cao, da sạm nắng, nắn rỏi, mặc cái áo vét ka ki xám, đội mũ bê rê đen. Người cưỡi con ngựa xám to ngang, đội mũ cát két dạ, mặt lầm lầm, tay cầm khẩu súng ngắn, chỉ mặt Pao:
— Này, về mà dạy bảo nhau, không thì có bửa võ sợ nhé.
— Đồng chí Kiến!
Người cưỡi ngựa trắng gọi bạn rồi cúi xuống nhìn Pao. Pao nghển lên:
— Các anh là Việt Minh đánh Quốc dân Đảng à?
— Đúng thế. Anh là người H'Mông à? Cám ơn anh đã giúp chúng tôi đánh tên cướp.
Pao gật đầu. Người nọ vẫn nhã nhặn:
— Từ đây đến nhà ông tri châu Hoàng Văn Chao còn xa không?
— Gần thôi.
— Đi đường nào?
— Để tôi dẫn các anh đi.
Pao đi tìm ngựa. Seo Cấu và Lử đã lủi đi từ lúc nào. Lát sau, Pao trở lại. Ngựa Pao đi trước. Bây giờ Pao chưa hay biết, theo sau Pao là ngựa của Lê Chính, trưởng ban cán sự tỉnh và Kiến, ủy viên ban cán sự tỉnh. Họ là một bộ phận của đoàn cán bộ từ vùng xuôi mới lên hiện đóng bản doanh ở bờ sông Chảy. Họ có nhiệm vụ đi đến các vùng thổ ty để tổ chức khối liên kết toàn dân đánh Quốc dân Đảng, giải phóng mảnh đất cuối cùng này của Tổ quốc.
II Nằm giữa thung lũng châu Pa Kha mùa này hoa thuốc phiện đang bung nở đủ các cung màu sặc sỡ, tòa dương cơ của thổ ty Hoàng Văn Chao thoạt nhìn thấy giống như một pháo đài thời trung cổ ở Châu Âu. Vòng tường vi đắp đất nện, cao hơn một mét vây quanh tòa nhà đồ sộ quét vôi vàng khè, bốn bề vuông vức, từng đoạn một lại trổ một lỗ châu mai cho ta cảm giác ấy. Tuy nhiên, đến gần hơn, ta lại nhận ra, nó chính là một công sở, chốn huyện đường uy nghiêm, vì thấy trước cánh cổng sơn đỏ khắc nổi hình rồng cuộn có tên lính chân quấn xà cạp xanh, bồng súng đứng canh và giật mình vì tiếng lợn từ phía trong tòa dương cơ nọ thình lình bật thét, ta lại có cảm tưởng đang đứng trước một trang ấp của một điền chủ nước Tầu.
Tính đa dạng của kiểu trúc càng thấy rõ hơn khi ta theo một vệt đường láng xi măng thoai thoải dốc lên tới cái vọng lâu của tòa nhà, được xây đắp hệt cái đầu một con rồng, với thẻo lưỡi thè lè là vệt đường và hai cầu thang gác uốn vòng hai bên chính là hai cái râu rồng.
Đập vào mắt ta lúc này là mặt tiền của ngôi nhà chính hai tầng cao ngất, trên đỉnh đắp nổi hình lưỡng long chầu nguyệt. Thấp hơn là hai nhành lá ôm hàng con số: 1921, thời điểm hoàn thành việc xây cất. Chữ Nho ngang dọc rất nhiều. Nhưng thời gian đã phôi pha, nay chỉ còn rõ bốn chữ Xuân phong — Thuỵ khí ở hai bên mặt tường khoảng giữa tầng một và tầng hai.
Hai dãy nhà ngang hai tầng, hợp với tòa nhà chính, và cái cổng, thành một vòng khép kín, ôm cái sân gạch đỏ như son, la liệt những bình, chậu, đôn, lọ trồng một thứ hoa nở bồng như cái bánh bao hai mầu hồng, trắng.
Kiến trúc và trang trí trong mỗi gian nhà càng lộ rõ vẻ cầu kỳ đa tạp. Cột nhà tròn đè trên khối đá đế hình bát giác. Vòm cửa đều một kiểu hình bán nguyệt, kẻ gờ, gắn phù điêu con dơi, chùm nho và hoa lá. Tiên sảnh lát đá kẻ chỉ hình hoa tám cánh màu vàng chanh. Tầng trên, nơi đặt điện thờ suốt ngày hương khói, lát ván gỗ quý ngâm dầu luyn bóng như gương.
Khó có thể gọi đúng tên kiểu kiến trúc ngôi nhà này. Tường vi trổ lỗ châu mai kiểu thành quách. Mái nhà cong mô phỏng kiểu cách chùa chiền. Cột tròn như đình làng. Sân thượng, nơi ngắm hoa thưởng nguyệt lại ở cạnh kho lẫn chuồng gia súc, gần nơi gia nhân xay lúa, giã gạo, dệt vải.
Gắn với tòa nhà nọ còn phải kể thêm mấy túp nhà gỗ mới dựng ở khu đất phía trước là nơi ăn ở của tiểu đội lính cơ; một cái hồ nước nhỏ ở sau nhà, giữa có cái quán lục giác mái cong sơn son, nơi quan châu thường đến nghỉ ngơi, chơi bời vui vẻ với các cô gái xòe. Cũng còn phải kể đến một dãy chuồng lợn hơn hai chục gian. Quan châu vẫn trọng nghề gia truyền, vẫn nuôi lợn đàn, nuôi lợn đực.
Dinh thự? Pháo đài? Trại lính? Trang ấp? Phải! Tất cả những tính chất ấy pha trộn, chồng chéo, lấn át nhau trong kết cấu và mỗi chi tiết của khu nhà. Thổ ty Hoàng Văn Chao cùng cô vợ ba mới cưới ở căn buồng trên gác trái. Gác bên phải, xưa là nơi ở của quan ba Phơ-rô-pông, đồn trưởng đồn Pa Kha. Tầng dưới là nơi tiếp khách, hội họp. Hai dãy nhà ngang thì tầng trên là nơi ăn ở của bà cả, bà hai, cậu con cả tên là Hoàng Văn Tưởng, vợ chồng cô con gái cả, cô con gái út, các viên quản lý, vệ sĩ. Tầng dưới là nơi chứa thuốc phiện, da hổ, xương khỉ, xương gấu, thóc lúa, nơi ăn của gia đình, nơi các binh thầu, seo phái, lý trưởng, mù lao
* ăn ngủ, hút sách bài bạc, mỗi khi có việc phải lên châu.
Chủ nhân của tòa nhà, Hoàng Văn Chao, có một bước tiến thân khá kỳ quặc. Có mặt ở đây khi cả vùng này về phương diện hành chính chỉ là một xã đặt dưới quyền cai trị của một lý trưởng người H'Mông tên gọi Giàng Chẩn Hùng, bố Hoàng Văn Chao lúc ấy chỉ là một gã lái lợn người Tày từ Cao Bằng phiêu bạt sang.
Bố Chao là kẻ cực kỳ khôn ngoan. Y gả con gái đầu lòng, chị Hoàng Văn Chao, cho con trai cả của Giàng Chẩn Hùng. Hùng là thủ lĩnh người H'Mông, cầm đầu cuộc kháng Pháp cuối thế kỷ trước lúc này đã già yếu. Con cả Hùng, tức anh rể Hoàng Văn Chao, là Giàng Chẩn Mìn lên thay cha làm lý trưởng. Ông tiếp tục cầm đầu dân H'Mông chống lại sự đô hộ của người Pháp. Tham lam, bất nhân, bất nghĩa, bố Chao và Chao lập mưu nhờ tay Pháp hãm hại Mìn. Mìn chết, không còn con trai, lại bị ép, Giàng Chấn Hùng đành để Chao thay Mìn giữ chức lý trưởng.
Đặc quyền từ tay người H'Mông họ Giàng rơi vào tay cha con Hoàng Văn Chao. Bước hoạn lộ của Chao từ đó như diều gặp gió. Năm 1915, Chao làm lý trưởng. Năm 1921, Chao được Pháp thăng châu úy. Tới năm 1944, y được công sứ Et-các-lát bổ tri châu trông coi cả châu Pa Kha ba vạn dân, hơn một nửa là người H'Mông.
Tòa nhà xây từ năm 1921, năm Chao thăng châu úy. Một thày địa lý Tàu đi tìm đất, chọn lựa cả tháng mới cắm được đất này. Thế đất thật đẹp. Trước mặt là hai dông núi đá, hình hổ ngồi, rồng phục. Bên trái là khu rừng dẻ kín đáo; một con suối từ mạn phải lượn vòng đưa dòng nước chênh chếch vào cửa, đó là điềm báo: của cải tự dưng đội nón mà tới. Lại thử theo lối cổ truyền: mấy hạt gạo đặt xuống đất, úp cái bát lên; để ba đêm liền, mở bát, hạt gạo chỗ nào vẫn ở nguyên chỗ đó, không suy suyển; đúng là đất lành, hẹn sự yên ổn. Lại lập đàn, cúng tế rầm rĩ, mộng báo thấy toàn điều hay, kiểu đất phát tích, hưng vượng là cái chắc!
Tiếp đến việc chọn kiểu nhà. Chao ưng kiểu trang ấp đại địa chủ phong kiến Tàu. Bố Chao muốn dáng dấp chốn công đường. Hai cha con không bên nào chịu bên nào. Nghe nói, bố Chao khi chết không thèm gọi Chao tới dặn dò cũng vì lẽ đó. Quan ba Phơ-rô-pông, dạo đó mới là quan hai, đồn trưởng Pa Kha, cử nhân văn chương, con người am hiểu nghệ thuật xây dựng, góp thêm ý kiến. Cuối cùng, mua một bản thiết kế của một kiến trúc sư người Đức, một bản vẽ kiểu nhà của một kỹ sư người Pháp, đem về, đấu lại, thêm bớt cho phù hợp với hoàn cảnh địa dư, lịch sử của một vùng đất vốn nhiều tao loạn và chủ nhân vốn lắm mưu đồ tham lam.
Tòa nhà được thi công mới thật náo động cả châu. Theo giấy từ châu sức về, dân Tày ở Seo Chải xưa đã từng đùm bọc mấy bố con lão lái lợn, tha hồ mà chạy nhà chạy cửa ra khỏi khu đất đã cắm. Cả một xóm gần trăm hộ bỗng dưng như bị hỏa hoạn phải phiêu bạt vào tận chân núi. Người Dao ở làng Nhuần ven bờ sông Chẩy thì cứ mỗi xuất đinh đóng nạp một cây gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, hoàng đàn, ngọc am. Người Xã ở miền thượng châu vốn có nghề làm đá thì thay nhau mà lên núi Thái Giàng Phố, mỗi trai tráng mức mỗi ngày một phiến đá rộng hai gang, dài bốn gang tay. Người H'Mông vùng Can Chư Sử trừ trẻ con dưới mười ba tuổi còn thì đồng loạt hai tháng phục dịch việc xây cất: thồ đá, đào móng, cuốc đất, san nền... Cây đổ, gỗ đè, đá văng, núi sập; đói khát mệt nhọc, chết khổ chết sở phải đến vài chục mạng người. Thợ nề, thợ mộc thì quan châu kén từ Phủ Giày Nam Định lên. Công việc xem ra có vẻ thư nhàn. Làm công nhật. Quan không thúc ép. Cần chắc, bền. Cần mỹ thuật. Đá hộc làm móng dày hai thước. Chân tường đá xăm, từ đó lên cao hai thước nữa xây đá xô. Con chỉ uốn hình cẩm quy, đẹp như vẽ, yêu cầu rất tỉ mỉ. Quan tỏ ra hào phóng. Sợ thợ phản, thỉnh thoảng lại thưởng cho người làm đẹp một lai thuốc phiện. Lại mở tiệm hút và tổ tôm điếm cho thợ vui, đỡ nhớ quê. Ròng rã hai năm ba tháng mới xây xong. Đám thợ giũ quần áo ra về, đã tưởng được món tiền lớn về giúp vợ nuôi con, nào ngờ quan tính tiền ăn, tiền thuốc sái, bài bạc đã hết ngoẻn, bòn nhặt chỉ còn đủ xuất tàu về. Chà, về được còn may. Vì còn có người có đi mà không có về. Chuyện kín lắm. Mấy người này nghe đâu xây cái hầm sâu cho quan. Một sáng mai trở dậy tất cả đều biến vào vô tăm tích.
Ngày Chao dọn từ căn nhà gỗ kiểu chữ môn tới tòa lâu đài thì mới thật là một ngày hội có một không hai. Công sứ Ét-các-lat, chánh mật thám Đen-mátx, các sĩ quan Pháp đồn trú ở Pa Kha, Pha Linh, Mường Cang, ở tỉnh lỵ, ở các huyện miền Tây đều đến dự. Thổ ty La Văn Đờ ở Pha Linh, Nông Vĩnh Yêng bên Mường Cang cũng sang. Rồi binh thầu, seo phải, mù lao, tổng mán, quản mán, ở khắp các thôn xã trong châu kéo tới dâng quà, chúc tụng. Bò lợn chết như có dịch. Rượu bắp phải vài ba trăm cân. Thật là một dịp hiếm có để quan châu phô trương thanh thế với dân chúng và bày tỏ lòng trung thành với mẫu quốc đại Pháp.
Giờ thì tòa nhà lặng lẽ đứng đây, như một hiện vật câm lặng của lịch sử, muốn thách thức sự bền vững với thời gian và mọi biến cố.
Kiến chống tay trên sườn ngước nhìn tòa nhà như nhìn một đối thủ. Anh khó chịu vì cái vẻ cổ lỗ, già nua của nó, càng bực hơn vì hai cánh cửa từ nẫy đến giờ mặc dù tên gia nhân đã ra, hẹn sẽ vào bẩm báo quan châu, đến hơn một giờ rồi mà vẫn cứ đóng im ỉm.
— Ông Chính! Tôi đập cửa đây. Mẹ nó chứ! Mười lăm phút nữa mà nó không mở, tôi bỏ về ngay!
Chính đứng với Pao ở bờ con suối. Đêm qua, Pao đưa hai anh vào nghỉ một nhà người bạn ở châu lỵ. Nghe tin Việt Minh lên, dân châu lỵ đến trò chuyện với hai anh tới gần sáng.
Chính đang định can Kiến chớ vội nổi nóng thì thấy một người đàn bà giong một con lợn nái đi tới trước mặt mình. Sau người đàn bà nọ, lại một ông già người Xã và một chú thiếu niên, kẻ dắt dây, người đập que đuổi một con lợn nái nữa cũng tiến đến cổng tòa nhà.
— Các bác đem lợn đi đâu đấy?
Người đàn bà Tày mặc áo dài chít khăn đen, lắc đầu không đáp lời Chính. Chính hỏi ông già. Ông già nói tiếng Quan. Chú thiếu niên dịch lại bằng tiếng Kinh ngọng nghịu:
— Con lợn nái cấn, nó đến nhà quan châu lấy đực.
— Sao lại đến nhà quan châu? — Kiến quay ra, cau có.
Ông già bấy giờ mới bật tiếng Kinh, đáp cộc lốc:
— Quan châu không cho dân nuôi lợn đực!
Kiến nghiến răng, mặt đỏ sẫm như bôi phẩm:
— Hừ! Ra thổ ty là như vậy đó, ông Chính!
Nếu chế độ thổ ty là cái cây thì nó là cái cây cổ thụ sâu rễ bền gốc. Cắm rễ đâm ngọn từ trong lịch sử xa xưa, ở những vùng biên cương vắng vẻ, địa vực cách chia, cắt xẻ, nơi quyền năng của các chính phủ trung ương đã giảm thiểu hiệu lực tối đa, loài cây này cứ đâm cành sinh lá, tự do như một thứ cây hoang. Các vua chúa phong kiến trị vì thiên hạ từ lâu rồi đã hiểu ra điều rất giản dị này: quyền uy thế tử con trời của mình chẳng bao giờ có thể làm khiếp sợ những lãnh chúa xưng hùng xưng bá ở những vùng biên ải xa xôi nọ. Lề lối, cách thức cai trị ở những vùng này nhất thiết phải có sự khác biệt với những vùng đông đúc dân cư gần cận kinh đô. Không đặt ra tiết trấn, việc quân sự dân sự ở các châu thượng du, ngay từ thời bấy giờ, cũng đã được triều đình giao thẳng cho các tù trưởng, những lãnh chúa từng địa phương, những thủ lĩnh các bộ tộc. Rồi tiếp đó là khống chế họ bằng các mối giao hảo hoặc dùng cuộc hôn nhân hai chiều mà ràng buộc.
Cây cổ thụ được các ông hoàng bà chúa bụng không muốn mà vẫn cứ phải tưới tắm và tiếp tục vun xới. Nó cứ xúm xuê tươi tốt mặc dù đã có lúc nó bị người Pháp đào tận gốc, trốc tận rễ.
Mùa hè năm 1886, sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt, người Pháp đem quân lên chiếm tỉnh Lào Cai: Lịch sử xâm lược của họ, ngay ở miền núi cao thưa thớt dân cư này, đã đầy rẫy những thất bại nặng nề. Các thổ ty kịch liệt chống lại những kẻ từ xa tới, định tiếm đoạt đặc quyền, đặc lợi của họ. Chật vật mãi, sau mười năm trời ròng rã đánh dẹp, người Pháp mới tạm gọi là chinh phục được các vùng đất của các thổ ty, lãnh chúa địa phương và đặt ra chức quản đạo người Việt để thay thế họ cai trị các vùng đất này. Tiếc thay, bọn quản đạo người Việt này đã tỏ ra không đủ năng lực hoàn thành trách vụ. Công việc hành chính ở những xứ này rơi vào tình trạng trì trệ chưa từng thấy.
Thực tế đó đã khiến các quan chức người Pháp tỉnh ngộ. Hỡi ôi! Họ đã thả mồi, bắt bóng. Họ đã gạt đi một tầng lớp mà nếu họ biết lợi dụng thì sẽ đắc dụng biết bao. Đầu thế kỷ này, chức quản đạo, như cái cây cắm nhầm đất, chết thui, bị nhổ bỏ. Chế độ đạo quan binh — đại diện ở các địa phương là các đồn binh — được thiết lập. Những cuộc thương lượng hết sức khôn khéo tiếp đó của các quan chức Pháp với những kẻ đang phẫn nộ vì thất thế, nhưng vẫn là thủ lĩnh thực sự của các bộ tộc, đã dẫn đến sự tái lập chế độ thổ ty cha truyền con nối có nguồn ngọn từ trong lịch sử xa xưa.
Chế độ phong kiến thế tập phiên thần lại đâm chồi nẩy lộc. Năm 1906, tỉnh dân sự được thành lập. Trên tỉnh có ông tuần phủ người Việt, nhưng chức vị này thực sự là không có quyền hành gì đáng kể, so với các thổ ty giờ đây chính thức được bổ làm tri châu, châu úy, châu đoàn, chánh tổng, lý trưởng. Các ông vẫn là chúa đất cát cứ, vẫn là chủ nô có quyền sinh quyền sát đám dân con như xưa, mặc dù giờ đây, nhiều ông đã biết mặc com-lê, đi giày giôn, cho con đi học ở Hà Nội, lập đội xòe đi công diễn các nơi xa, chăm chỉ việc giao du, tậu ôtô, mở thêm các đại lý độc quyền ở tỉnh, góp cổ phần vào công ty thương mại nọ, hãng nhà thầu kia: nghĩa là mọc thêm ra hai tay nữa để nắm chặt việc buôn bán các hàng hóa thiết yếu và các đặc sản địa phương, dưới sự bảo trợ của các quan chức Pháp. Họ mọc thêm những cánh tay mới, vươn ra xa hơn, bên cạnh hai cánh tay lực lưỡng chuyên thu tô, thu nợ lãi, thu cống vật, bóp nặn đến kiệt cùng người nông nô dưới quyền mình.
Cây cổ thụ ấy mỗi năm một nhiều cành nhiều lá. Bóng nó tỏa ra bốn phương, tám hướng, che rạp cả một khoảng đất rộng, làm còi cớm tất cả sinh vật và đất đai. Dưới bóng nó, tuy cùng một chủng loại thực vật, nhưng mỗi cây, tùy theo thung thổ, lại che trùm những vùng riêng biệt. Thổ ty Hoàng Văn Chao được lương mỗi năm ba trăm tạ thóc do Nhà nước trả, ngoài ra chính thức được cấp công điền mười mẫu, số ruộng này quy định rõ: do dân cấy cày không công cho quan châu. Chao còn được cấp ba mươi trai đinh phục dịch trong nhà, được quyền lập đội gái xòe ba mươi cô.
Trong dương cơ của Chao có nhà tù, phòng xử án, nơi tra vấn. Luật pháp trong tay Chao, được văn bản hóa, với các điều luật chi tiết như: chó cắn seo phái chủ chó bị phạt một đồng, cắn binh thầu tăng lên hai đồng. Ngựa vào ruộng nhà quan, bất kể đã vặt ngọn thuốc phiện nào chưa, cứ theo lệ, phạt hai lạng thuốc và năm đồng bạc. Mỗi năm, mỗi nhà dân trong châu phải góp cho nhà quan một cân thóc, một cân gà, gọi là thóc khách, gà khách; ai chậm nộp, phạt gấp đôi. Thượng ngọn cây, hạ ngọn cỏ là của quan châu. Con gấu bắn được trong rừng, cái mật và hai chân trước nó là của quan. Bắn được con hổ, thì tất nhiên phải nộp bộ xương và bộ da. Cố tình lờ đi là phạm trọng tội. Phạm trọng tội còn là những kẻ dám nuôi lợn đực trong nhà. Hiếm có kẻ nào trọng nghề ông cha như Chao. Ông Chao, bố Chao làm lái lợn và nuôi lợn đực. Chao là quan châu, tất nhiên không thể làm lái lợn, nhưng Chao có quyền cấm tất cả dân chúng trong vùng không ai được phép nuôi lợn đực. Nghĩa rằng là lợn cái của bàn dân thiên hạ muốn sinh đẻ thì chỉ còn có cách đưa đến nhà quan châu, với điều kiện trả công sức con lợn đực một đồng bạc và một nửa số lợn con mới đẻ phải nộp quan.
— Kính chào các quý ngài ạ. Dạ... tôi là tri châu Hoàng Văn Chao... e hèm, dạ... vì đang bối rối việc nhà, có chậm trễ... mong các ngài thứ lỗi... Dạ... Để rước hai ngài vào tiền sảnh ạ!
Tri châu Hoàng Văn Chao mặc áo dài nhiễu, đội khăn xếp rạp mình xuống chào Chính và Kiến rồi ngẩng dậy chắp hai tay, xuýt xoa.
Qua cái vọng đài Chính và Kiến bước xuống vuông sân gạch.
Đó là lúc những hoạt động của khu nhà đang cữ ồn ào nhất. Nắng lên, viên quản lý chân thọt, tập tễnh chạy đi chạy lại thúc các gia nhân đội thóc ra phơi. Trên sân ùn ùn thóc và nhộn nhịp bóng người vào ra. Ầm ĩ tiếng lợn rống ở khu chuồng. Tiếng lính hô tập bồng súng, đi đều ở đâu đó chộn trong tiếng quát tháo của ai đó từ dưới hầm ngầm vọng lên. Đôi tiếng chó sủa và lọt qua những kẽ hở im lặng của ồn ào, nghe thấy tiếng hát của một bầy thiếu nữ chen trong tiếng xa chỉ quay cót két, tiếng go vải giật phừng phừng.
Phòng tiếp khách ở tiền sảnh đặt bộ xa-lông bọc nhung đỏ bốn chiếc, xen kẽ là mấy cái đôn sứ, vây quanh một cái bàn tròn khảm xà cừ, trên có bộ đồ trà cổ màu da lươn.
Kiến khó chịu ra mặt khi ngồi xuống ghế. Phòng tiếp khách của Chao chật chội và nhìn quanh, chỗ nào cũng thấy la liệt đồ cổ. Bầu rượu hoa sen men xanh lam đời Minh. Bình hoa hình cá chép, quai hổ phù đời Thanh. Lọ men ngọc nổi hình song sư đời Khang Hy. Tượng Di Lặc, tượng tiểu thư, mục đồng, ngư ông. Cùng những là hoành phi, câu đối, đôn, lọ chóe, dĩnh lủng củng, lộn xộn tưởng như mới thu thập từ các nơi khác về.
Vật quen mắt nhất với Kiến là cái tủ chè chạm bách điểu, thì lại bị Chao che lấp. Ụt ịt đầy phệ trong lòng ghế. Tướng ngũ đoản. Cái mặt ngắn ngủn. Tóc như sơn đen, bị ép cứng trong cái khuôn khăn xếp. Mặt sùi mụn cóc. Thả hai cẳng chân vừa ngắn vừa như bị phù nề, vừa chạm đất, tay khuỳnh trên tay ghế, Chao liên tục lia con mắt ti hí sang phía Chính.
Chính hoàn toàn là một cực đối lập. Cái áo vét vải ka ki rất vừa vóc người, khép một bộ ngực nở, khuôn hai bả vai rộng. Tóc cắt ngắn hất cao. Gương mặt rám nắng, hơi cháy lên ánh đồng đỏ và hai con mắt sáng quắc, tự chủ, sắc sảo, nhưng nheo lại thì đôn hậu, thấu tình. Có cả sự từng trải, lịch duyệt và tế nhị, trẻ trung toát ra từ con người, trong những cử chỉ của Chính.
Nghiêm trang, nhìn thẳng mặt Chao, Chính nói:
— Ông Chao! Tôi là Lê Chính, đặc phái viên liên Bộ Nội vụ — Quốc phòng. Còn đây là đồng chí Kiến, ủy viên ban cán sự tỉnh. Chúng tôi được sự ủy nhiệm của Chính phủ Trung ương...
Căn phòng như trầm xuống. Và Chính thấy rõ lão già hơi co người lại sau một cái rùng mình rất khẽ. Cái rùng mình giống như để trút bỏ cái vỏ bề ngoài ngờ nghệch giả tạo của Chao.
Bởi vì đã là lúc vào cuộc! Đã đến lúc không thể chờn vờn được nữa rồi. Đây là cuộc đời thực. Đây không phải là một cuộc viếng thăm xã giao thông thường với những lời chúc tụng mơn trớn, vỗ về làm hài lòng nhau. Đây là một cuộc đối mặt, một cuộc đối đầu.
Người bên kia là đại diện cho một lực lượng mới, trẻ trung, mới bước lên vũ đài chính trị, có cả một vùng đất nước đã giải phóng ở phía sau. Kẻ bên này là đại diện cho một thế lực già cỗi đang suy tàn, nhưng hiểu rất rõ lợi thế của mình; hàng thế kỷ uy danh đã khẳng định cả một vùng núi non. Bên kia là ánh hào quang của một ngày mới rạng, nhưng còn non bấy. Bên này là tà dương buổi hoàng hôn nhưng chưa có dấu hiệu lụi tàn. Người từ xa tới, bỡ ngỡ như khách vãng lai. Kẻ mọc từ đất này lên có cái thế của ông chủ lâu đời. Sức trẻ hăng hái và lực lượng già cỗi bảo thủ. Niềm khát khao cao cả thiêng liêng muốn giải phóng cho những kiếp người nô lệ và dục vọng bám giữ những lợi quyền sở hữu thâm căn.
Le lé hai con mắt ti hí dò xét, Chao e hèm dọn giọng rồi cất tiếng:
— Dạ, văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, hôm nay mới tỏ mặt anh tài. Dạ, ngài Lê Chính, đúng là danh bất hư truyền, ngài đã làm tỉnh trưởng hồi năm ngoái. Dạ, về yêu cầu của các ngài thì chúng tôi đã thực hiện từ lâu. Chúng tôi bất hợp tác với bọn Quốc dân Đảng. Một con gà cũng không bán cho chúng. Vừa rồi, được tin có hai thằng lọt vào châu này, tôi đã sai lính đi lùng bắt.
Ngẩng lên, mũi nảy nảy như mũi ngựa, Chao tiếp:
— Dạ, đúng như thế ạ! Quốc dân Đảng là một lũ lợn rừng chuyên gây loạn. Sinh thời, cụ tổ nhà tôi rất căm ghét những kẻ tác loạn ạ. Cụ tổ nhà tôi đã đào hào đắp luỹ, chống bọn phỉ Sần Dìn Pao, Vàng Dìn Mui từ Lưỡng Quảng sang gây loạn. Chính cụ đã liên kết với tướng quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc chống người Pháp đó ạ... Dạ ông cụ lấy chảo gang vỡ, lưỡi cày gãy đúc đạn, làm súng. Quân Pháp cho thám tử dò la. Ông cụ sai lính đè một con lợn ra cho nó kêu toáng lên hàng chục lần. Quân Pháp tưởng là lính của cụ đông lắm. Hị hị...
Nấc lên tiếng cụt lủn, Chao trợn mắt, bỗng tỏ ra vui vẻ khác thường:
— Dạ, các ông châu khác bảo: thế là nhờ con lợn. Đúng là lập thân từ con lợn. Ông cụ tôi xưa là lái lợn, chuyên nuôi lợn đực. Nghĩa là, gốc gác cũng thuộc tầng lớp lao động một nắng hai sương cao quý đấy chứ ạ.
Môi thoảng ánh cười, Chính khẽ gật đầu.
— Ông Chao ạ, tôi rất hoan nghênh ông đã có những lời hay ý đẹp khi nói về tầng lớp lao động. Còn bây giờ, ông đã rõ tình thế đất nước rồi đấy! Giờ đây, vâng lệnh Hồ Chủ tịch và Chính phủ Trung ương, bộ đội ta đang tiến đánh bọn Quốc dân Đảng phản động. Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái đã giải phóng. Chúng tôi yêu cầu ông cùng hợp lực với bộ đội tiêu diệt bọn Quốc dân Đảng ở Lào Cai.
— Dạ, dạ, hợp lực thì xin sẵn sàng ạ! Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã ra lệnh thì có ai dám sai lời ạ!
— Cần phải như thế.
— Chỉ có điều là... trình quý ngài... lính của tôi thì rặt loại ốm o, nghiện ngập... Dạ, con lợn có béo thì lòng mới ngon ạ!
Chính hơi ngả người, khe khẽ cười:
— Khi họ chiến đấu có mục đích thì họ sẽ khỏe lên, ông Chao ạ!
— Dạ, trình ngài, quả là...
— Ông Chao, chúng tôi muốn hỏi, hiện thời ông có bao nhiêu khẩu súng?
— Dạ, ít thôi ạ. Lính dân tộc lại hay táy máy, nên lợn lành thành lợn què nhiều lắm mà.
— Một trăm khẩu, được không? — Kiến quay lại, nóng nảy chen lời.
Chao giãy nảy:
— Làm gì mà nhiều thế ạ. Chỉ có độ dăm chục khẩu là cùng thôi vớ.
— Được rồi, chúng ta sẽ thanh tra lại!
— Dạ, thanh tra làm gì cho mất thì giờ ạ.
— Phải nắm cho chắc lực lượng thì mới ra trận được. Ông Chao ạ, ta cần kiểm lại xem hiện đã có bao nhiêu súng, rồi sau đó ta xuống các bản làng hô hào trai tráng có sức khỏe sung vào đội quân đi đánh bọn Quốc dân Đảng.
— Thôi thì khỏi phải thanh tra. Cứ ghi là một trăm khẩu cũng được, quý ngài ạ! Hèm, còn trai tráng ở đây không đăng lính được đâu ạ. Toàn bọn đầu trâu đuôi cướp cả, hư lắm!
— Ta sẽ chọn lựa những người tốt. — Chính nói.
Chao gãi vành tai:
— Dạ, đông quá, lương phạn đâu cấp cho đủ ạ.
— Ta sẽ bàn cách ông Chao ạ.
Chính ngả hẳn người vào lưng ghế. Hai tay đan nhau, ung dung, tự chủ, lòng Chính đang dâng lên những khoái cảm mới mẻ lạ thường. Anh nhớ tới những cuộc đối mặt với những lý trưởng, chánh tổng, tri huyện, tổng đốc, chánh mật thám trong quãng đời hoạt động cách mạng vừa qua. Ở những cuộc đối mặt ấy, anh là tù nhân, là kẻ mất tự do. Vậy mà ngay cả lúc ấy, anh cũng vẫn còn cái cảm giác như bây giờ; những kẻ đang nắm quyền bắt bớ giết hại anh, chúng già lão, cổ lỗ quá. Còn bây giờ thì tất nhiên là khác hẳn rồi. Anh đã chuyển sang một tư thế mới. Vinh dự và thú vị làm sao, anh đang chứng kiến những ngày tàn suy cuối cùng của Chao và đồng bọn y, tầng lớp thống trị bóc lột cuối cùng của xã hội loài người. Đấu tranh này là trận cuối cùng. Một thời đại mới nhất định sẽ ra đời. Nay mai, con cháu anh làm sao chúng còn được có cơ hội như anh đây, được thấy một lão thổ ty già bằng xương bằng thịt.
Phảng phất một niềm vui sung sướng sâu xa, lại thêm có chút gì đó là sự thỏa mãn, cao ngạo trong giọng nói của Chính.
— Ông Chao ạ. Chính nói — Tham gia đánh bọn Quốc dân Đảng lúc này là cơ hội để mỗi người bày tỏ lòng thành thật đi theo Chính phủ, tôi mong rằng đó cũng là tâm nguyện của ông.
— Dạ... Thưa quý ngài đặc phái viên...
— Tôi cũng xin nói thêm để ông rõ, chúng tôi sẽ thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân ở châu này. Trụ sở sẽ đặt ở ngoài phố. Ông tạm thời vẫn điều khiển công việc hành chính ở châu này. Nhưng, từ nay trong khi làm mọi việc, ông cần xin ý kiến của đồng chí Kiến của chúng tôi. Đồng chí Kiến là chủ nhiệm châu bộ Việt Minh ở đây.
— Dạ thưa...
Chao phắt ngay đầu dậy khi Chính vừa dứt lời. Ngực lão vừa phát ra một tiếng rên rất nặng. Trút bỏ hoàn toàn vẻ già nua, hai con mắt lóe sáng vẻ tinh khôn, lọc lõi, Chao đứng dậy, lắp bắp:
— Dạ thưa... như thế không được ạ!
— ...
— Dạ thưa, như thế không được!
Vừa lúc ấy, như đã hẹn trước, quả đấm cửa ra vào ở bên cạnh Chao, xoay nhẹ một vòng, cửa mở một vòng hẹp và nhanh nhẹn lách vào một bóng đàn ông trẻ. Người đàn ông này trạc hăm lăm tuổi, vóc dáng gày gùa, nhưng chỉnh tề trong bộ com-lê đen tuyền.
— Chào các ngài! Cất tiếng chào Chính và Kiến người nọ nhẹ nhàng bước tới cái đôn sứ cạnh Chao.
Chao quay lại, thở phào:
— Dạ... thưa các ngài, đây là con giai cả của tôi, cậu Hoàng Văn Tường.
Dạ, tôi là Hoàng Văn Tường. Rất hân hạnh được tiếp kiến các ngài.
Chà! Tre già thì măng mọc. Quân tiếp viện đã đến kịp thời. Mặt vênh nhẹ, ngực hơi ưỡn về trước, người tên Tường kiêu hãnh tự giới thiệu và ngồi xuống cạnh Chao. Mũi giày nhọn đập khe khẽ trên nền đá hoa trong khi những ngón tay gõ khẽ khẽ trên tay ghế, Tường tỏ vẻ rất chủ động. Vả đã theo dõi câu chuyện từ nãy rồi, cũng đã đến lúc không cần khách sáo, nên giờ Tường có thể lập tức nhập cuộc.
— Thưa các ngài! — Nhăn nhăn trán, Tường nói, giọng thật điềm tĩnh: Tôi xin phép được tham gia ý kiến như sau ạ. Việc lập chính quyền dân chủ ở châu này, xét về mặt pháp lý thì có thể được. Nhưng đã gọi là dân chủ thì theo tôi rất cần được dân sở tại tán đồng nữa, chứ ạ.
Giang hai cánh tay lực lưỡng trên hai tay ghế, Kiến như sắp đứng vụt dậy. Nhưng Kiến chưa kịp nổi nóng, Chính đã ghé về phía Chao, khẽ khàng nhưng hết sức rành rẽ:
— Ông Chao, chúng tôi yêu cầu việc bàn định chỉ giới hạn trong chúng tôi, các phái viên của Chính phủ với ông, quan chức cũ của địa phương.
Đòn đánh trả đơn giản mà mạnh mẽ làm sao! Tường sa sầm mặt. Chao ngúc ngắc cổ, quay ngang quay ngửa, rồi nhíu mày nhìn Tường, làu bàu.
—
Khỏi dằng, khỏi càn, khỏi kin, khỏi chảng à *.
Đưa tay vuốt cằm nhìn Tường hậm hực không một lời chào bước ra cửa, Kiến hỉ hả như vừa thắng một keo lớn.
Ngoài sân, vàng nắng thu sớm mai ảm đạm như nắng rớt chiều hôm. Nghe trong ồn ào tiếng các gia nhân đi lại trang thóc, có tiếng ai đó kêu thét thất thanh đau đớn vọng lên từ khu hầm ngầm.
Người đàn ông buông vội người đàn bà. Cửa mở, Tường đâm sầm vào như con mồi bị vây, liều mình mở đường thoát thân.
— Hỏng bét! Anh phán Thông! Hỏng rồi!
Vừa rời khỏi chiếc ghế có người đàn bà ngồi, người đàn ông ngoài ba mươi, trán cao, da khô, kính cận lồi đít cốc, đeo cổ cồn, nơ đen, mặc bộ com-lê màu kiến vống, túi trái áo vét thõng một sợi dây đồng hồ vàng, vẻ thơ lại, ngẩng lên, lặng lẽ nhìn Tường.
Tường giậm chân đánh thịch:
— Hỏng rồi, anh phán Thông ơi! Hắn quay ông già như quay chong chóng. Nhiều lúc ông già ngẩn tò te chẳng biết đối phó thế nào. Cuối cùng ông già phải chấp nhận tất cả yêu cầu của hắn. Trời, thế là bọn Vẹm thắng một cú to rồi. Anh phải hiểu, hai thằng chứ hai ngàn thằng Quốc dân Đảng lọt vào châu này tôi cũng có khả năng đối chọi. Nhưng Việt Minh, Việt Minh chỉ cần một thằng đứng chân được ở đây thôi là chúng sẽ ùn ùn nảy nở như nấm sau mưa, cho mà xem.
Cởi phăng cái áo vét, vứt lên ghế, và khi thấy phán Thông ngây ngây mặt như chưa hiểu, Tường lại giậm chân, vò đầu cay đắng:
— Trời! Anh phán Thông, anh có hiểu không, chỉ cần có ba tấc lưỡi thôi mà hắn giành được rất nhiều thứ: lập ủy ban, có lính đi đánh Quốc dân Đảng, mở cửa hàng bán muối...
— Không phải hắn chỉ có ba tấc lưỡi đâu — Phán Thông nhếch mép — Hắn có những cái khác mà cậu không nhìn thấy đấy thôi, cậu Tường ạ.
Cơn uất chưa tan. Tường bước chuệnh choạng, miệng méo xệch:
— Hắn khẽ gạt một cái, tôi ra rìa liền. Trước hắn, ông già nhà tôi chỉ là một cây thịt sống. Trời ơi! Lão già đụt! Lão chỉ lo mất mấy ngàn đồng bạc trắng chôn ở nơi nào đó trong nhà này thôi!
— Hừ...
— Anh có biết không? Cái tên to ngang đội mũ cát-két thì lừ lừ, gầm ghì. Còn cái tên cao cao, rắn rỏi, thì, trời... hắn cứ thong thả, ung dung nói mà mỗi lời như một nhát dao!
— Hừm...
— Anh bảo sao? Tại sao anh lại cười mép? Anh chế giễu tôi à?
Tường loạng choạng, hai tay ấp má, hỏi dồn.
— Hoàng Uyên! Đứng dậy, hai tay đút túi quần, phán Thông khe khẽ gọi người đàn bà đang nhìn ra cửa sổ — Em lấy cho anh Tường cốc nước lạnh. Uống đi! Hừ, cậu đừng chê ông già. Cậu mà đối mặt với hắn thì cậu cũng chỉ là một anh hề! Hắn là ai, cậu có biết không?
— Sao? Hắn là ai? Anh biết à? — Đón cốc nước lạnh, hất mớ tóc rủ xuống trán, ngẩng lên, Tường lắp bắp.
Thông nhếch môi, khô lạnh:
— Biết quá đi chứ! Lê Chính, Vẹm đầu sỏ đó!
— Trời!
— Một cán bộ Cộng sản gộc. Chính hắn, năm ngoái một mình lên giải tán chính quyền bố chính của Nhật, lập chính quyền Việt Minh ở tỉnh này. Chính hắn đã trục xuất tôi ra khỏi tỉnh khi tôi yêu cầu chức chủ tịch phải do người địa phương nắm.
— Còn thằng thứ hai?...
— Nó tên là Kiến, nó sẽ là cố vấn kèm sát từng bước đi của tri châu! Nó là chủ nhiệm châu bộ Việt Minh!
Thấy Tường đặt cái cốc nước đã uống hết xuống bàn, nhấc cái áo vét, Thông giơ tay.
— Cậu định đi đâu? Cậu đừng chê ông cụ. Cộng sản và Quốc dân Đảng, hai đứa tất phải diệt một. Điều đáng ngại không phải là chỗ đi với Cộng sản để diệt Quốc dân Đảng. Mission 5 đã có ý kiến.
— Thật à?
— Phải. Bên Pha Linh, Mường Cang chắc cũng đã nhận được ý kiến của Mission 5. Cái đáng sợ là chúng đứng chân được ở đất này.
Tường xỏ tay vào áo, thọc mấy ngón tay lên tóc:
— Thì chính tôi uất là ở chỗ đó! Ông già dù sao thì cũng ngu. Giá như nghe tôi, bán tất cả ruộng nương đi. Ra tỉnh. Hay về Hà Nội. Ngu quá! Lại khoe gốc gác lái lợn. Lại còn định đem đám hát xòe ra khoe để bọn chúng được dịp đề ra cả loạt yêu sách: giải tán đám xòe, bỏ luật lệ cấm dân nuôi lợn đực. Trời!
— Cậu định đi đâu bây giờ.
— Tôi đi gặp bọn thằng Seo Cấu!
Cửa căn phòng khép lại. Ngồi như gắn sơn trên ghế, Thông lại khô lạnh như thép nguội. Hoàng Uyên mỹ nhân đến thiên thai xứ. Tình nhân những ngày xa xưa. Phút giây tình tứ ái ân. Những lời thỏ thẻ. Vô nghĩa cả rồi! Ôi chao! Mới chỉ là ngày hôm qua, khi Hoàng Uyên xuất hiện đột ngột ở tòa lâu đài này, Tường, Thông và cả Chao nữa đã vây lấy ả. Tường thì liến thoắng nói về Hà Nội. Hà Nội, nơi hắn học bốn năm năm không qua nổi lớp nhất. Hà Nội với hắn là Khâm Thiên, là những xóm bình khang. Hà Nội là Hoàng Uyên. Chao! Hoàng Uyên nhà ở ngõ Sinh Từ, gần nơi Thông trọ học, mười bốn mười lăm tuổi Uyên đã được Thông “bao”, rồi Tường “bao”. Khi Thông rời Hà Nội lên trên này nhận một chức vụ nhỏ ở tòa sứ, bán mình cho phòng nhì Pháp và ra sức lập nghiệp thì ả đã là vợ một ông Tây có vi la, có ôtô riêng. Nhật gây đảo chính, ông chồng Tây chết, Hoàng Uyên lấy lẽ một điền chủ, bị vợ cả ông này thuê bọn nặc nô bắt trói trôi sông, may được cứu thoát. Uyên ơi! Hôm qua, chính ở căn buồng này, Thông còn đọc tiểu thuyết của Nhất Linh, của Khái Hưng cho nàng nghe. Ôi! Vợ Thông đi vắng thì đã có làn mi nàng chớp chớp hắt cái ánh xanh huyền ảo vào lòng Thông. Và Tường, Tường dẫn nàng đi trong đồng hoa thuốc phiện, khoe với nàng rằng đây là ruộng hầu khách, ruộng rải chiếu, ruộng mắc màn, những mảnh ruộng dân Tày, dân H'Mông phải làm công cho nhà Tường. Hai vệt lông mày nàng như hai linh hồn ưa phiêu du cứ cong vếnh lên như hai cánh chim vẫy. Còn lão già Chao thì ngây đờ mặt thịt trước mỹ nhân. Lão cũng mình mình, em em. Còn Tường thì ỡm ờ: "
Mon papa đang muốn kén một tiểu tinh diễm lệ để vui thú cảnh nhàn đấy!”.
Ôi thôi! Tất cả những mê mẩn, cuồng si đã đến lúc tan biến. Hóa ra tình tang, vùng bí ẩn phiêu lưu đâu có phải là cứu cánh cuối cùng. Việt Minh mà lập chính quyền ở tỉnh này thì Thông hết thời rồi. Thông kết thông gia với thổ ty là Thông hiểu cái thế của họ. Thông ranh mãnh hơn hẳn các công chức khác là ở chỗ ấy. Thổ ty! Họ làm chủ ở đây vĩnh viễn thì Thông còn giữ mãi địa vị quân sư của mình. Thông còn kiếm chác được. Thông còn giữ được cái gia sản kếch sù của Thông.
Còn bây giờ, thế là Thông đã gặp lại hắn. Ở sở mật thám Pháp, Thông đã thấy ảnh hắn. Hắn đeo số tù 9033. Hồi đó hắn gầy còm. Thông biết hắn kỹ lắm. Chỉ tiếc sao hắn không bị bọn Lộc bắt khi bọn này làm đảo chính? Hắn rút theo đi đường nào về xuôi? Và bây giờ hắn lên đây, Mission 5 biết chưa?
Ngồi lặng phắc trong tĩnh mịch của gian phòng thoảng mùi son phấn, đã có lúc Uyên tưởng là Thông ngủ, mà thực ra không phải, vì Thông đã nhổm dậy ngay khi Uyên khe khẽ cựa mình:
— Gì đó em?
Hoàng Uyên vừa nhổm dậy và chợt kêu to:
— Họ đã ra kia kìa!
Phắt dậy, Thông bước vội tới khuôn cửa sổ. Hai người phái viên đang đi qua sân. Bọn gia nhân đứng túm tụm trên bờ hè mắt dõi theo họ không giấu nổi vẻ thán phục và thiện cảm.
III Con ngựa hồng non tuổi, chân rất bấy, Pao thả nó ở chân dốc, rồi đi bộ về làng.
Vàng vàng mặt trời, Pao đã sắp tới cổng làng. Cách cổng làng hơn chục bước chân, có một tấm ván gỗ và những túm chân hương, dấu vết lễ tủa cheo của người nào đó có con ốm cầu cúng người qua đường đỡ đầu linh hồn cho đứa trẻ.
Ở cổng làng, chính giữa đường, ai đã đặt một cây cung, xung quanh cắm mấy lá cờ giấy trắng nhỏ bằng bàn tay một. Pao leo lên một cái gò đá. Đỉnh gò có ba nóc nhà. Bùn đen nhẫy khoảng sân rộng, ở đó lù lù hai ngôi mộ mới xếp đá. Một đám trẻ từ sau một ngôi mộ chạy ra. Pao kinh ngạc. Đứa nào cũng trần truồng, da thịt trát đặc bùn đen. Chúng trát bùng để dọa ma. Ma gì? Hay để chữa bệnh? Nhìn chúng Pao bỗng thấy buồn xỉu.
Làng buồn quá! Mười chín năm nay, từ lúc bằng quả bí đao tới giờ biết ngẩn ngơ khi nghe chim mi hót, biết khiến ngựa dữ, sao bỗng thấy làng quen thuộc mà buồn thế! Sau cái cột đá ông tổ dựng năm Bính Thìn khi chuyển cơ ngơi tới đây, là sáu chục nóc nhà xúm xít, xam xám một màu cỏ chết.
Chợt có tiếng hát trẻ con. Pao nhìn sang bên trái. Dưới bóng một cây trám lớn, hơn chục đứa trẻ cũng trần trụi như ong non, mình trát đất, đang đùa nghịch trên bãi cỏ. Bãi cỏ đầy lá chuối, lá dong, cơm rơi vãi. Ba đứa bé đang ngồi trước cái bàn thờ ở gốc cây, hát vang vang: "
Thủ ti pu khai khẩu, lao hủ pu giao câu”
*.
Một đứa khác đang kéo một con trâu trắng ở khu rừng cấm ra, miệng nghêu ngao:
— Cu dung là cào cu hờ cào... tao tốt với mày, tao cho mày ăn tốt, ăn no...
Pao gọi:
— Pùa! Pùa!
Thằng bé dắt trâu ngẩng lên, toét miệng cười.
— Về đi!
Pao nhắc. Thằng bé lắc đầu:
— Anh về đi! Nhà chỉ có bà thôi. Chị Pàng đi lấy nước. Sao anh không về sớm ăn hội nào
sồng?
Hội nào
sồng là hội ăn ước mở vào dịp cuối năm để cúng thổ thần và bàn bạc việc làm ăn mới. Vậy là cái tết H'Mông sắp tới rồi! Gọi Pùa một lần nữa, Pao đi theo đường tắt, qua một chòm ba nhà nữa ở mỏm núi, thì gặp đoàn người đi địu nước ở sông Chẩy đang leo dốc lên. Hun hút dưới sâu kia là dòng sông. Dòng sông hút hết cả nước trên núi. Nước uống. Nước rửa. Nước cho con ngựa uống. Trông vào vai người cả.
Người dòng dòng một vệt ậm ạch nhích từng bậc đá lên. Những ống nước dài đè lên vai.
Cái lù cở đựng thùng gỗ nặng chỉ chực ật ngửa. Hơi thở người à à. Mặt người đang nhòa nhòa. Chiều xuống nhanh. Từ dưới chân núi, vệt người lấy nước vẫn lừ lừ bò lên, dài ra, mờ dần.
Pao tụt từng bậc đá. Người đang ùn ùn lên, hơi thở ra cả tai bùng nhùng ù ù. Pao bỗng gọi, tiếng vang giữa trời:
— Chị Pàng!
Một người đàn bà vừa bước lên một bậc đá. Cái ống nước dài như cây cột nhà lắc lư, bập bềnh. Pao ghé vai đỡ ống nước.
— Chị Pàng! Để em.
— Pao...
Người đàn bà thở phào phào, đứng lại, giũ cái yếm buộc ngoài váy, thít lại khăn rồi đuổi theo Pao. “Chú Pao để tôi...". Chị gọi, tay bám vai Pao: “Pao ơi! Việc của chị...” Mặc, Pao cứ bước. Tiếng chị không thật hơi, không thành tiếng người. Chân Pao còn sức. Ngực Pao còn căng hơi.
Hết dốc, Pao dừng chân. Vai đã ê ê. Anh nghĩ. Nặng thế này sao chị Pàng ta vác được? Đời làm dâu khổ thế!
— Pao, cho tôi thay...
— Em vác, chị dâu nghỉ một tý đi!
Pao nhấc ống nước. Người đàn bà theo sau. Chị đã đỡ mệt. Hơi thở không thào thào hắt ra nữa. Tiếng nói đã ra tiếng người:
— Pao, mấy hôm nay chú đi đâu?
— Em xuống châu.
— Đi thổ thuê à?
Pao đáp:
— Vâng.
Người đàn bà bước lên cạnh Pao, giọng rầu rầu, muốn tâm sự:
— Ở nhà, ông mong chú về quá!
— Anh Lử em về chưa, chị?
— Pao ơi! — Người đàn bà bỗng kêu to, lui lại.
Pao quay ống nước: “Sao mặt chị dâu bỗng thất sắc thế?”.
— Đi chị đâu! Có chuyện gì thế?
Người đàn bà không nói, lủi thủi bước sau Pao. Căn nhà đã hiện ra trước mắt, lòe loe ánh lửa lò.
Bếp lò nhà Pao đã ăn lửa. Lửa thốc ra một luồng đỏ hực như cái đuôi. Lòng nhà năm gian sáng bừng: Pao dựng ống nước ở cạnh bếp, quay ra. Cha Pao,
hố pẩu của dòng họ Giàng, đi đâu? Quanh cái bếp khách ở gian thứ hai, người ngồi chật, cười nói ầm ĩ. Đó là mấy người đi làm cỏ thuốc phiện về, rẽ vào chơi, gặp lão Sếnh, liền ngồi xuống hầu chuyện. Lão Sếnh nghiện, búi tóc tròn bằng nắm tay sau gáy, nổi tiếng bẻo lẻo, mồm miệng trơn như bôi mỡ. Pao đứng cạnh một cây cột.
Lửa ở bếp khách nhao lên những lưỡi dài vàng khè. Mắt lão Sếnh nghiện chập chờn. Bà cụ Xóa ngồi trên thân cây chuối bóc nõn đang thái xoèn xoẹt, bỗng dừng tay. Giọng lão Sếnh lè nhè:
— Đời tao thấy người hóa hổ nhiều lần rồi nhé! Một năm còn trẻ, đi săn bị lạc đường ở dưới bờ sông Chẩy, thấy hai người đang giặt quần áo. Xuống tới nơi hỏi đường thì hóa ra hai con hổ đang giặt bộ da.
— Húi!
— Một lần đi chôn người chết được ba ngày ra mả cúng, tao thấy một cái lỗ ở đầu mả. Tao ngó xuống thì, húi, một con hổ nhảy vọt ra!
— Dà! Có việc gì không?
— Nó chạy vào rừng.
— Sau có gặp không?
— Khoan, một hôm trời sáng trăng, tao hứng chí, lấy khèn ra thổi. Đang mồm thổi, chân nhảy, bỗng ngửi thấy mùi hôi hôi. Ngửng lên, thấy một cô gái đang múa gậy tiền sập sành, sập sành. Rõ con gái H'Mông: váy hoa, khăn hoa, vòng bạc. Tao thích quá! Khèn càng nổi. Bỗng một cơn gió. Tao ngẩng lên. Úi, đứa con gái tụt cái váy. Lòi ra cái đuôi hổ.
— Úi giời !
Đám người quanh lửa lao xao. Lão Sếnh lại kể. Chuyện bố hóa hổ, nhớ con, về làng tìm con. Chuyện chồng hóa hổ, nhớ vợ, đi tìm vợ.
Bà Xóa nghển dậy, nhìn Pao, khẽ khàng:
— Pao à, mày ăn cơm đi!
Pao đi lại cạnh bếp lò. Chiều nay chưa ăn mà bụng Pao lưng lửng. Cổ nghèn nghẹn, không muốn ăn, Pao ngồi lặng. Tiếng lão Sếnh nổi chìm trong ánh lửa.
Bóng tối từ ngoài núi lan vào hiên. Ngoài hiên nhấp nhô một bóng người đàn bà. Chị Pàng từ lúc vác nước về, vẫn ở ngoài hiên. Chị xay ngô. Cái cối đá nặng quá, quay lờ đờ, kêu rù rù...
Nhà cũ, nhà nào cũng dột. Người nghèo ai cũng có nỗi khổ. Khổ nhất là đàn bà H'Mông. Đi nương xa, đi chợ xa, chân bước, tay nối lanh. Giã gạo, chân dận, tay nối lanh. Ống nước đè nặng ê vai cả một đời con gái. Nắng mưa, chài chãi làm cỏ ngoài nương. Chiều, hơi sức đã hết, lại một địu củi cao vượt đầu, còng lưng thồ về. Con ngựa còn được nghỉ, đàn bà H'Mông không được nghỉ: Vác nước, xay ngô, giã gạo rồi là vải. Khuya, gà gáy hai lần rồi, vẫn ngồi ở bếp tước lanh, se lanh. Chim én còn không vội bằng đàn bà H'Mông. Không vội, không có váy cho mình, áo cho chồng. Đàn bà H'Mông không biết ngủ. Chỉ được nghỉ cùng với cái cối ngoài hiên. Chỉ nằm xuống cái giường hẹp chợp đi một canh lại choàng dậy. Cái chõ
đồ máo của ngồi chờ trên trạn kia rồi. Đời đàn bà H'Mông làm dâu, khổ mãi rồi, không còn biết khổ nữa.
Pao ngồi xuống, cạnh bà Xóa:
— Bà ơi, bà nghỉ đi. Bà hơn một trăm tuổi rồi!
Bà Xóa ngẩng dậy. Mặt nhăn nhúm, cái miệng móm hõm cười:
— Mày ăn cơm đi!
— Chị Pàng ăn chưa, bà?
— Mặc nó thôi. Nó là đàn bà, nó là con dâu...
Pao đứng dậy. Pao đi ra hiên, thì thào: “Chị Pàng ơi!". Tiếng cái cối xay nghiến nát tiếng Pao. Người đàn bà nhoai trên càng cối, rồi ngửa ật người, giật cái giằng cối về.
Pao ứa nước mắt. "Chị Pàng ơi, sao đời chị khổ quá! " Đời đàn bà, con gái H'Mông khổ một. Đời chỉ Pàng khổ hai. Có ai khổ như chị không? Người chồng thứ nhất kéo chị về làm vợ, y coi chị như con chó. Y đánh chị không tiếc tay. Cho đến trận cuối cùng, y quấn tóc chị lên xà nhà mà đánh, thì chị bỏ chạy. Chị có tội gì đâu. Chị chỉ xinh đẹp. Chị chạy vào rừng, ngã rập dưới bụi cây. Đàn quạ bay đến. Chị phải đánh nhau với đàn quạ và gượng dậy chạy tiếp. Chị chạy về nhà ông Giàng Ly Trang làm con
gái gầu phàng. Cho tới khi anh cả Pao đến cướp chị về. Ôi chao, tránh vực lại rơi xuống khe.
Anh cả Pao y hệt Lử, hung bạo, tàn ác, ngu muội. Chị càng xinh đẹp, lửa ghen của hắn càng nồng. Nhưng hắn đã chết rồi. Chết tháng trước. Tay hắn nhiều lông. Lão Sếnh nói: "Mày sắp hóa hổ rồi". Hắn cởi quần áo nhảy xuống hố phân lợn, định tắm phân lợn đúng mười ba ngày như lời lão Sếnh khuyên để rụng lông, tụt đuôi trở thành người. Nhưng được hai ngày, cái vết vấp chảy máu ở chân sưng tấy, hắn sốt rồi chết, chết thật bất ngờ. Đời chị Pàng lại khốn khổ. Chị khóc, lại lo cho cái bước đường sắp tới còn rất dài của mình. Chị mới hai mươi tám tuổi đầu.
Pao ngồi xuống cạnh bà. Bà vẫn còng lưng thái chuối. Đám say chuyện lão Sếnh bỗng ào ào đứng dậy.
Bà Xóa ngẩng lên:
— Pao à, mày sang nhà Giàng Ly Trang họp hội đi!
— Bố con đi rồi?
— Mày phải đi. Đi đi, cháu lớn rồi, cháu à!
Pao cầm cái đèn dầu thông phong thủng đi. Ánh đèn nhập nhoạng, tối mù dưới chân.
Pao bỗng dừng lại:
— Ai đấy?
Cái thông phong rơi xuống đất, vỡ tan.
Có một bóng đàn ông đứng ở hiên, sau chị Pàng. Nó đứng sát chị, như vừa ôm hông chị. Nó quay lại, tay lúng túng vắn lại cạp quần, hơi thở hừng hực nóng mặt Pao.
— Anh Lử!
— Hừm...
— Anh về lúc nào?
Lử không đáp. Hai con mắt y đỏ như lửa. Pao nhìn sâu vào vùng hiên tối đen. Đầu chị Pàng vừa gục trên cái giằng cối đá. Cạnh cái cối nằm dài thượt một cỗ quan tài gỗ.
Pao đi qua hiên, bỗng thấy như có con bọ chó bò ở trong người.
Căn nhà Giàng Ly Trang, người năm nay đến phiên làm hủi thầu
* dài bảy gian, tường đất trình, lòng rộng. Cửa chính ở giữa. Cửa sau ở gian bếp. Mái cỏ mới lợp dày hai gang tay.
Người đến họp đã ngồi chật cả gian giữa, gian bên. Hầu hết là đàn ông; khói thuốc sục lên mù mịt quẩn đặc. Mấy bà sà vào cạnh bếp lò tước lanh cùng các cô con gái nhà ông Giàng Ly Trang. Thằng Pùa mười tuổi, em Pao cũng ngồi ở đó với thằng Vảng, con út Giàng Ly Trang, vo vo sợi lanh làm thuốc lào hút nghịch.
Ngồi ở cái bàn trước bàn thờ là
hố pẩu Giàng Lầu, cha Pao, Giàng Ly Trang tức lý trưởng Giàng Súng và lão Sếnh nghiện, năm ngoái làm hủi thầu.
Hai người đàn ông cầm hai thanh gỗ pơ-mu mỏng như lưỡi kiếm cháy đùng đùng từ bếp bước ra. Căn nhà vàng rợi. Tóc người bắt sáng óng ánh như phết sáp ong. Không khí có vẻ trang trọng vì đó là buổi họp cuối cùng của hội nào
sồng, hội ăn ước của làng, mỗi năm tổ chức một lần để cúng thổ thần và bàn bạc công việc làm ăn năm mới.
Pao đưa mắt tìm bạn rồi lách theo ven vách, len lén lom khom bước tới gian bên.
— Ái dà, Thằng Pao!
— Pao, Pao mày đi đâu giờ mới về?
Pao ngồi lọt giữa đám bạn bè đang ồn ào câu chuyện, khe khẽ đáp:
— Tôi xuống châu về!
— Ở dưới châu có nhiều chuyện lạ lắm, người đi chợ về nói có lá cờ đỏ to. Có thấy không, Pao?
Pao nghênh nghênh tai. Hơi thở bạn bè sặc sụa mùi rượu bắp nặng. Mặt bạn bè Pao đỏ dậng. Lửa hai cây đuốc pơ-mu ở gian giữa lấp lánh trong hai con mắt mỗi người.
— Ăn cơm đi, Pao! Trong bếp còn đấy! — Có tiếng ai thì thầm sau lưng Pao.
Pao lắc đầu. Chiều nay làng đã làm lễ cúng thổ thần ở khu rừng cấm đầu làng. Thổ thần thiêng lắm. Năm nào cũng phải làm cúng, mổ một con lợn to. Cúng xong cả làng ăn một bữa chung ở đó. Giờ mới là lúc họp hội bàn bạc.
— Pao xuống bếp uống rượu với tao đi!
Nghe tiếng quen quen, Pao quay lại. Mặt Lử nhờn nhờn ở ngay cạnh Pao. Lử mới vào họp, còn chưa kịp ngồi. Pao lắc đầu:
— Không muốn ăn.
— Thế thì đi với tao đi. Mỗi hộ chỉ cần một người biết ăn biết nói ở đây thôi!
Hơi rượu nồng trạt vào mặt Pao, Pao nhịn thở. Lại nhớ cái buổi rượu ở chợ hôm nọ. Anh muốn nôn, định quay đi thì tay đã bị kéo mạnh.
Vừa lúc ấy, lão Sếnh đã đứng dậy, cạnh cái bàn. Lửa đuốc phụt một lưỡi dài. Đám tóc vẫn búi sau gáy của lão Sếnh buột, thả một dòng dài thượt, ngọn tóc chấm tận khoeo chân. Pao thấy rờn rợn, bỗng nhớ câu chuyện lão Sếnh kể có cô gái múa gậy tiền, váy tụt, thòi ra cái đuôi hổ.
— Bắt đầu bàn thôi! — Lão Sếnh cất tiếng, giọng lè nhè, đẫm hơi rượu — Năm rồi tôi làm hủi thầu theo phiên cắt cử. Vận hạn nhiều quá. Trời phản đất loạn. Hổ về nhiều lần...
Pao đứng tựa vào khung cửa, chưa muốn theo Lử, da thịt lại tê tê, ram ráp. Năm qua, hổ về nhiều lần. Một lần về bảy con, vồ năm người mang đi mất tích. Năm qua, ông trời độc địa, làm mưa đá, bắn đạn trắng xuống, thuốc phiện đang ra hoa chết rập cả. Năm qua, bọn cướp biên giới nửa đêm ập vào làng, bật hồng, nổ súng trận. May mà hội chống cướp của làng, sáu mươi tay súng dưới sự chỉ huy của Lử, kịp thời ứng phó, đánh bật chúng ra khỏi làng. Cả làng chỉ mất có một cái nồi đồng ba mươi của ông lý trưởng Giàng Súng. Cái nồi quý ấy sau cũng tìm lại được. Pao đi chợ biên giới nhận được mặt cái nồi, lấy được về. Năm qua, năm qua có nhiều biến động. Chỉ một năm mà đã đổi thay bao sắc cờ: Cờ tam tài, cờ mặt trời, cờ sao trắng mười hai cánh, cờ sao trắng năm cánh. Quân Chí Thắng. Cướp Voòng Sắt. Thổ phỉ Man di khai sáng. Giặc cờ vàng... Năm qua, nhiều lời đồn đại còn đang vẩn vơ...
Ông hủi thầu Sếnh vẫn kể. Cái giọng khe khé của người nghiện thuốc phiện cứ rền rĩ, lê thê. Ông hủi thầu nghiện hút thuốc bốn mươi năm rồi, bao nhiêu trâu lợn của cải chui vào cái dọc tẩu cả, nghèo xác xơ, ông chỉ giàu chuyện hổ báo, ma mãnh, những chuyện quanh cái bàn đèn, u u ám ám như phủ khói thuốc phiện.
Lý trưởng Giàng Súng ngồi cạnh bàn. Mặt dài như mặt ngựa. Cầm lưỡi mác. Mắt lồi như mắt cá vàng. Con mắt dữ, có cái nhìn chong chóc, móc máy người ta. Vừa nghe dứt lời kể của lão Sếnh, ông liền đập tay xuống bàn, giọng sùng sục:
— Năm qua, người Thổ nó bóp cổ ta. Muối không có mà ăn. Thổ ty Chao là con lợn độc.
— Người Xã có bằng cứt không? Nó đi buôn vải vào làng bán, thả bệnh cho ta.
— Người Kinh ở phố còn thối hơn cứt! Bán phở nó chan nước lã cho ta ăn. Coi ta bằng nhau với con lợn, con trâu.
— Ôi trời, chửi được thì chửi cả ông trời! Sao ông trời ăn ở không đều, làm sập núi, rơi đá chết người dòng họ ta?
Xì xào lầm rầm. Người ta than. Người ta kể. Chuyện như nước đổ vào chỗ trũng. Xoáy tròn to nhất là chuyện về thổ ty Chao. Rồi tới chuyện Quốc dân Đảng. Lơ thơ mấy câu về Việt Minh.
Hố pẩu ngồi tay tì trên bàn. Chòm râu lưa thưa. Cặp mắt sâu hấp háy. Vầng trán rộng có nhiều nét nhăn chết. Hai vành tai to, hơi cụp. Nét nào cũng là nét nghĩ ngợi. Lòng hố pầu ngổn ngang nỗi lo. Quanh hố pầu, tiếng người vẫn rì rào rồi cuộn sục lên. Người ta bắt đầu cãi nhau.
— Loạn to rồi đấy! Theo ai bây giờ? — Một ông già đầu hói bỗng nghển cổ thét.
Chợt im lặng.
— Thổ ty Chao có hơn một trăm tay súng.
— Không theo nó! — Lý trưởng Giàng Súng lại đập tay xuống bàn, hét — Nó là người Thổ!
— Nó có quyền to!
— Kê mông, kê lý. Đường người H'Mông, đường lý. Cứ thế mà đi!
— Theo ông Đờ bên Pha Linh!
— Nông Vĩnh Yêng nhiều súng lắm!
— Ấy dà,
ui i tu tông nhao đua đuố. Làm cây đứng giữa đèo, gió nào mạnh, ngả theo.
—
Pê H'Mông* khổ quá! Có muối nữa là không theo ai cả!
Hủi thầu Sếnh đang ngồi lại đứng dậy, hai tay đập bồm bộp rồi quay lại nhìn
hố pẩu, mời:
— Mỗi quả núi một vị thần. Mỗi làng một người già.
Hố pẩu nói đi!
Hố pẩu ngước mắt. Nói gì bây giờ? Một lời bay ra, một vết dao chặt. Phải chín lần ngắm. Chưa nói được! Chưa nói được! Đuôi con mắt
hố pẩu như một vết khía khim khíp khép.
Có tiếng ngáp rất to. Mọi người cười ồ. Hủi thầu Sếnh ngúc ngắc cái đầu, đuôi dòng tóc quét qua hai khoeo chân:
— Thôi, bàn nhé! Thời buổi trời thảm đất sầu này, trộm cướp tất lắm. Mọi người trong làng cần đồng lòng. Thế này được không: mỗi nóc nhà có một trai tráng, cử một, có hai trai tráng, cử hai. Nhưng phải có súng cầm tay!
— Phải đấy! Có súng cướp nó mới sợ!
Hủi thầu Sếnh gật đầu:
— Mỗi nóc nhà phải sẵn ba bó đuốc to, chẻ nhỏ, để trên gác bếp. Cần lúc nào đốt ngay lúc đó được. Mỗi nóc nhà để sẵn một cái tù và.
— Nghe tù và báo cướp, trai làng phải mau chân tụ họp.
— Phải đấy!
— Ai làm chỉ huy?
— Lử! Giàng Lử?
“Lử! Giàng Lử!” — Lọt đọt tiếng mấy người trai. Lử năm ngoái đã làm chỉ huy. Lại là người tợn, việc gì cũng dám làm.
Hủi thầu Sếnh ngó nghé khắp gian giữa sang gian bên. Người họp đang quây lại từng nhóm, lầm rầm bàn bạc.Hủi thầu Sếnh quay lại nhìn
hố pẩu.
Hố pẩu cắn cắn môi, rồi thở phào:
— Cử Giàng Chín!
— Giàng Chín! Giàng Chín!
Pao thấy dám trai ở trước mình xô đẩy nhau, reo hò. Một người đội cái mũ vải lưỡi trai, tay vòng ôm gối, làu bàu: "Thôi, thôi”. Tiếng reo hò lại tràn lên chen lẫn tiếng cười. Ồn ào, ồn ào mãi.
Bấy giờ hủi thầu Sếnh đã chuyển sang chuyện làm ăn. Cánh trai tráng không ham chuyện ấy. Người già cứ bàn đi. Trâu, ngựa không được thả rông, phải thả vào rừng có hàng rào khi vụ gieo trồng mùa xuân bắt đầu. Gà, vịt, ngan, ngỗng cũng thế. Nhốt lại. Gà mẹ nuôi con không thả không được thì phải buộc dây vào chân gà mẹ để nó không bới được...
— Đi mày, Pao!
Lử từ đâu đã dịch lại gần, bỗng dưng lại kéo tay Pao. Pao co tay níu lại.
Hủi thầu Sếnh tươi cười:
— Hôm nay làng ta ăn nào
sồng. Việc chung bàn thật kỹ đến từng đốt ngón tay. Ai cũng bằng lòng mọi điều. Giặc đến phải cùng đánh. Thù của một người là của mọi người. Đã đuổi cướp là đuổi tới tận nhà nó ở. Còn đối với người làng, không được làm mất lòng nhau. Không được ăn cướp của nhau. Kẻ nào ăn cắp, bắt được cho nó lót quan tài người chết. Hôm nay, ngày ăn ước của làng. Người trên, người dưới, quan to, quan nhỏ, có mặt cả ở đây. Lắng nghe tôi nói những điều mọi người đã bàn bạc. Ở với nhau phải tốt với nhau. Trâu ngựa từ rằm tháng mười mới được thả. Quả dưa trong vườn người nào người khác không được lấy. Lấy của ai cái gì là khinh cha mẹ mình. Cha mẹ mình ăn bữa ngon bữa ngọt, bữa cay, bữa đắng...
Giọng hủi thầu trầm bổng như không phải giọng lão Sếnh. Như hát mà trang nghiêm. Căn nhà im phăng phắc. Pao đứng lặng. Cái buồn, cái lo ám ảnh thoáng tan. Niềm tin ấm áp dâng tỏa lòng Pao.
— Đi Pao!
— Khoan đã!
Pao giật lại cánh tay bị kéo. Hủi thầu Sếnh đổi giọng đứng thẳng người, chắp tay thành kính:
— Năm rồi, tôi làm hủi thầu, việc tốt lành chỉ một, việc hung việc dữ những ba. Năm nay, nhờ tiên tổ, việc tốt lành chắc sẽ nhiều hơn. Từ nay, việc năm tới, theo phiên cắt cử, tới lượt ông Giàng Súng. Vậy xin giao lại!
Vừa nói câu cuối cùng, hủi thầu Sếnh vừa quan lại phía sau. Thủ tục bàn giao chức hủi thầu được thực hiện ngay. Một người đã đứng ở đó từ lúc nào, tay nâng hai cái chân giò cắt từ lúc mổ lợn hồi trưa. Hủi thầu Sếnh cầm hai cái chân giò đưa về phía lý trưởng Giàng Súng. Ông Súng đưa hai tay đón nhận, mặt thưỡi dài hớn hở.
Hai anh em Pao ra ngoài đám nào
sồng khi ông Giàng Súng, hủi thầu năm mới nói những lời chúc mừng sự thịnh vượng cho dân làng trong "nhiệm kỳ" mới của ông.
Trời đêm lạnh đẫm. Sa mù phủ trắng xóa. Trong ánh trăng muộn mằn nhờ nhạt, bóng con dơi chao qua chao lại dưới những cành xoan gầy như những tay khăn vẫy.
Hai anh em Pao đi ngược lối về nhà. Người Pao nóng hâm hấp. Cái cảm giác ấm áp của tình xóm thôn, dòng họ, của mối gắn bó keo sơn những người gần gụi nhập vào Pao từ cuộc họp vẫn dào dạt trong Pao.
Nhưng Pao chợt tách ra khỏi tay Lử, dừng lại. Mái hiên căn nhà Pao kẻ một vệt đen mờ dưới đất. Ở đó, có tiếng người khóc thút thít. Pao bước thêm một bước. Mái hiên đen thẫm. Mờ mờ cái giằng cối thẳng vút một đoạn. Tiếng người khóc bỗng nấc lên. Hình như người đó đang vật vã trên mặt cái quan tài gỗ.
"Chị Pàng!" — Pao khẽ gọi. Nhưng Lử đã quay lại, nắm cổ tay Pao, gắt khẽ:
— Thằng này lạ nhỉ? Đi với tao, có chuyện này hay lắm!
Hơi thở sặc mùi rượu từ mồm Lử lại táp vào mặt Pao. Pao đi, lòng thắc thỏm.
Con đường mờ mờ bóng trăng. Đá nhấp nhô đen như ám khói, Lử khoác tay Pao, Pao nhìn cánh tay áo Lử. Ống tay áo Lử xoạc một đường rách ở gần vai. “Anh Lử dẫn mình đi đâu thế này?" — Pao nghĩ:
— Pao, mày thích có một khẩu súng không? — Lử bỗng dừng lại, quay mặt ghé sát Pao.
Pao dè dặt:
— Có!
— Đi với tao. Hè hè... Lử cười nhạt, chợt im bặt rồi quay ngoắt — Pao này, mày thấy con Pàng thế nào?
Pao giật thót:
— Chị Pàng?
— Ừ thì... Chị Pàng của mày! Vẫn là chị Pàng của mày cơ mà!
Lử cười khí khí và lần này hắn quay lại nhìn thẳng mặt Pao. Pao thấy hai con mắt hắn trắng nhởn tóe lên tia sáng ranh mãnh đến lạ.
— Tao vừa chơi nó xong! Ở trên cái quan tài ấy. Đ.mẹ! Nó khỏe quá. Cào tao rách cả áo!
Pao giật tay ra khỏi tay Lử. Lử đưa tay nắm chỗ tay áo bị rách, nham nhở:
— Tao sẽ lấy nó làm vợ. Nó xinh, nhưng chẳng bằng con Seo Ly của mày đâu. Pao, mày làm sao thế?
Mặt Pao tối sầm. Ngực Pao bỗng như rỗng không. Da thịt Pao lạnh toát.
— Đi, đi với tao, Pao! Mày thích có một khẩu súng không? Đi, đi với tao, Pao! Đi với tao tha hồ tiền tiêu nhé! Thằng Seo Cấu ở bên Phéc Bủng, mày có biết không? Nó nhận đi đánh thuê, cướp thuê. Nó nhận đi với bọn buôn lậu thuốc phiện. Mày khỏe, mày đi với bọn tao thì tốt quá...
Lử liến thoắng, kéo tay Pao. Có cái gì vừa tan nát trong lòng Pao. Pao buồn xỉu. Không còn ngửi thấy mùi rượu ở hơi thở của Lử. Người Pao ngất ngư không hồn vía. Đi cạnh Pao, Lử chỉ cao đến vai Pao. Lử là con thứ hai của
hố pẩu.
Hố pẩu có bốn con trai, rặt con trai. Lử đứng cạnh Pao, không ai bảo là hai anh em. Bốn anh em như chia thành hai dòng khác hẳn nhau, từ vóc dáng đến tính nết. Pao và thằng Pùa, em út, vóc to, đẹp dáng, hồn hậu, thật thà, thương người. Lử và anh Cả đã chết thì choắt người, khôn ngoan, hung tợn, chai lỳ, tự ái và cố chấp. Hai mươi nhăm tuổi, nhưng Lử đã trải đời. Hắn cũng có tài, tháo vát. Hắn cưỡi ngựa thạo, bắn súng giỏi, đối đáp khéo. Bọn trai làng đứa nào muốn kéo cô nào về làm vợ đều nhờ tay hắn. Hắn nổi bật trong đám trai làng. Gần đây hắn chơi bời với đám bạn bè ở các xã lân cận và ngoài phố. Tuy khác tính, nhưng Lử vẫn thích Pao. Hai người vốn gắn bó với nhau từ nhỏ, từ trước tới nay chưa có vết rạn nứt nào trong quan hệ anh em.
Hai người dừng lại. Đã xa Can Chư Sủ. Nhìn lại làng, chỉ thấy lẻ loi các chấm sáng trong màn sương đục.
— Về thôi, anh Lử!
Pao như sực tỉnh, rút tay ra khỏi tay Lử. "Chị Pàng!" Nỗi thắc thỏm cứ ẩn hiện trong lòng Pao.
— Ơ cái thằng này! Đến nơi lấy súng rồi! Mày sao thế. Mày nhắc tên con Pàng, mày thương nó à? Tao có hiếp nó đâu. Tao chơi nó vì trước sau tao cũng lấy nó cơ mà! Hây dà, tục lệ thế rồi, có gì lạ đâu mà...
Lử cau trán. Hắn ôm ngang lưng Pao, đẩy Pao đi.
Chui vào cửa hang, Pao mới biết trong hang có thắp nến. Chừng mười người đã có mặt trong hang, ngồi như măng mọc trên một phiến đá bằng. Một cái bàn nhỏ kê ở sát vách hang, trên bàn đặt một bát hương bên cạnh có ba ngọn nến đang cháy đỏ. Trước bát hương nằm một khẩu súng lục và một thanh gươm tuốt trần. Vách hang sau cái bàn căng một lá cờ giữa có ngôi sao trắng trên nền tròn xanh. Hai bên bàn, dựa vào vách mỗi bên ba khẩu súng trường.
Mới vào, chưa quen với ánh sáng, Pao chỉ nhìn rõ một người mặc áo ka — ki vàng, đeo kính trắng, đứng ở bên trái lòng hang, cạnh cái hốc cắm một cây nến đỏ, tay trái cầm cuốn sổ nhỏ, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn đám người H'Mông rồi lại cúi xuống, hí hoáy vẽ. Đứng ở cạnh bàn, một người thoáng thấy đã ngờ ngợ, tóc thưa, mặt quắt, răng cửa to. Người này thấy hai anh em Pao bước vào thì đi ra, đon đả:
— Chào hai anh! Mời hai anh vào. Buổi khai hội mới bắt đầu thôi.
Pao ngồi xuống sau đám người ngồi trên phiến đá. Anh đã nhận ra một người quen khi người này vừa quay xuống. Giàng Seo Cấu, tên đổi ngựa, thằng cướp đường, người bên Phéc Bủng! Thì vừa lúc phía trước, người ra đón hai anh em Pao, đã cất tiếng nói:
— Tôi xin nói tiếp về chương trình của Quốc dân Đảng. Chính thể chúng tôi xây dựng là tinh hoa của tam dân chủ nghĩa. Về kinh tế, chúng tôi...
"Quái, hình như mình gặp người này ở đâu? Cái giọng của nó..." — Óc Pao nhưng nhức. Một lúc, chợt lóe sáng. Pao nhìn lên. Đúng nó rồi! Pao gặp nó ở dốc Trung Đô, nó cướp của Pao một lạng thuốc phiện. Người Pao như dính lông con sâu róm.
Trí nhớ của Pao không lầm. Triệu Đại Lộc, chính hắn là Triệu Đại Lộc. Lộc đang thuyết trình về tổ chức đảng của hắn. Lộc giới thiệu “Anh dũng phái" nguy hiểm kể chi, hy sinh hết thảy, chỉ được vào không được ra, nguyên tắc độc tài: một người chỉ huy, phái hiệu là cái sọ đầu lâu. Lộc nói về điều kiện để làm một người đảng viên, nhấn mạnh không được huỷ diệt thân thể bằng rượu chè, trai gái. Chà, chà, Lộc nói đến đây thì cái hang bắt đầu xôn xao. Tới lúc Lộc nói: mỗi đảng viên phải đóng nguyện liễm ba đồng thì nhiều người cùng kêu: “Ối” rồi lác đác có người đứng dậy, xin về.
Mặc, Lộc cứ nói, Lộc nói như thèm được nói. Vì đã bao nhiêu ngày Lộc phải câm miệng rồi. Cùng Trọng, Lộc đã vào Pa Kha sau khi được Khanh chỉ cho con đường thoát cuối cùng này, nếu không muốn chết vì một chén thuốc độc bức tử. Nhưng vào đây Lộc chỉ trốn chui trốn lủi. Hoàng Văn Chao sai lính lùng bọn hắn khắp nơi. May nhờ quen đường đất, lại có ít bạn bè cũ, hắn tìm được cái hang ở gần thôn Phéc Bủng này. Bực tức, có lúc Trọng đã chửi hắn. Chửi hắn thậm tệ, nhất là về chuyện cô Dung. Nhưng cũng có lúc Trọng lại vỗ về hắn, gọi hắn là nhiếp chính quan Mác — quýt bảo vệ được điện Ca-pi-tôn, nhưng kết cục lại bị xử tử. Gọi hắn là Ha-ni-ban anh hùng thành Cát-ta-giơ, nhưng rốt cuộc lại bị lưu đầy khốn khổ. Trọng cười cợt hắn, Trọng coi hắn như thằng hề. Vì thực lòng, Trọng chỉ quan tâm đến công việc của mình thôi. Trọng chỉ chuyên tâm vào các bức ký họa, đến chất liệu cho các tác phẩm lớn sau này thôi.
Từ lúc vào hang tới giờ. Lử chỉ nhìn chằm chằm mấy khẩu súng. Nghe thấy tiếng vỗ tay lộp độp, quay lại, hắn mới nhận ra Trọng đã đứng trước bàn và Cấu, thằng bạn mới quen của Lử vừa bước tới, đang đứng trước mặt Trọng.
— Chúng ta hãy cử hành lễ tuyên thệ! — Trọng nói, giọng trang nghiêm, mắt nhìn Cấu — Anh Giàng Seo Cấu, anh đã hiểu rõ thế nào là nhiệm vụ người đảng viên Quốc dân Đảng. Vậy bây giờ, đứng trước bàn thờ biểu hiện linh hồn Tổ Quốc, khí giới này là biểu hiện kỷ luật sắt thép của đảng, vị đại diện này — Trọng chỉ Lộc — là đại diện đảng trưởng, anh hãy tuyên thệ đi!
Cấu đứng đực. Hắn nhớ có một lần hắn cũng đã vào đảng. Dạo đó Nhật mới chiếm phố, đảng Đại Việt kếp nạp hắn. Buổi ấy cũng có một cái bàn thờ hương khói như thế này, nhưng lời lẽ của Đại Việt hùng hồn hơn nhiều. Đại Việt xây dựng quốc gia bành trướng, lập chế độ độc tài kia. Độc tài mới khoái chứ! Tam dân, nghe yếu quá!
“Thôi được. Ông vào, ông sẽ trả thù thằng Tường. Mẹ nó chứ, nó định thuê ông hành hung mấy thằng Việt Minh, mà rồi bố nó sợ vãi đái lại gạt đi”. — Cấu nghĩ.
— Anh Cấu! Anh hãy tuyên thệ đi!
“Ơ kìa! Sao nó không phát súng cho mình? Mất cho nó mười con gà rồi đấy!” — Cấu cau trán, cái sẹo bên má hắn giật giật. Mắt hắn nhăm nhăm khẩu súng lục ở trên bàn.
— Anh Cấu! Anh hãy thề đi!
“Chắc thề rồi sẽ phát súng! Không lẽ súng để không thế kia. Cứ thề đã! Có phải là thề nào
sồng,
thề tăng tù* thề độc chết người đâu mà sợ?”. Cấu mắm môi, bước lên một bước.
Nghe thấy Lộc thở phào, Cấu giơ cao tay trái:
— Nếu tôi làm phản thì súng này bắn, gươm kia đâm!
Cấu dứt lời, Trọng bước tới cạnh hắn.
Thấy Trọng nhấc bàn tay mình lên, Cấu cười hở lợi, chắc mẩm sắp được nhận súng. Nhưng Trọng đã rút cây kim ở ve áo, đâm rất gọn vào chân móng tay trỏ hắn và bóp ngón tay hắn cho máu phòi ra đúng ba giọt để rơi xuống bát rượu.
Hơi rượu bốc lên say say. Cấu chép miệng, ngửa cổ: “Ngon quá!”. Hắn đưa ống tay áo chùi mép. Và chắp tay lại hắn vái bàn thờ một cái thật mạnh.
Bấy giờ, mấy người ngồi ở sau Cấu đã được dặn dò từ trước, đồng thanh hét to:
— Bây giờ theo Quốc dân Đảng rồi!
Cấu ngẩng lên, chờ đợi. Nhưng hắn đã bị Trọng đẩy mạnh một cái lui về phía sau. Ngồi ịch xuống phiến đá, hắn ngơ ngác, như chẳng hiểu điều gì vừa xảy ra.
“Chúng nó làm cái gì buồn cười thế?” — Pao nghĩ. Giật ống tay áo Lử, Pao lom khom bước ra ngoài hang.
— Pao! Pao! Mày về à?
Đuổi kịp Pao ở ngoài cửa hang, giữ được tay Pao, Lử băn khoăn, nhăn nhở.
— Ở lại đi. Nếu nó không phát súng đêm nay, tao sẽ...
“Thằng ăn cướp rủ thằng ăn cướp vào bọn với nhau. Lũ quạ đen cả!” — Pao nghĩ, không đáp quay đi, bước nhanh như sợ Lử đuổi theo giữ lại.
Trăng nhợt như cái vẩy sáp dính trên mỏm núi chè. Pao về tới nhà thì đêm đã khuya. Ngoài hiên, cái cối đã không còn quay, ắng lặng một khối đen đặc. Bà cụ Xóa vẫn còn ngồi tước lanh, lưng còng gập. Bếp gian bên củi cháy héo hắt.
— Mày đi đâu về đấy, Pao?
Pao đi tới bên bà:
— Bà chưa đi ngủ à? Chị Pàng đâu, bà?
— Nó vừa ngồi trong bếp với cái đèn đấy mà. Trai côi sưởi nắng, gái côi sưởi đèn. Khổ thế!
Pao đi vào trong bếp. Bếp lò than đã vạc. Trên bếp có một ngọn đèn tù mù. Cái liềm nằm chỏng chơ ở bãi tro trước lò. Ai vứt ở đây thế? Pao cầm cái liềm, cán còn nong nóng, gài vào vách bếp, rồi đi ra, tự nhiên thấy bồn chồn quá.
— Bà ơi, bố con đâu?
— Bố mày về rồi lại đi. Nghe nói sang nhà ông Pâu. Này Pao, ông Pâu bị ông thổ ty Hoàng Văn Chao thắt cổ suýt chết, có phải không? Dà, ông thổ ty ác hơn con hổ đấy! Năm tao còn khỏe, có một lần đi làm cho ông ấy. Buổi sáng đi lấy nhựa thuốc phiện, có một người ăn cắp một hạt đậu thuốc phiện, bị trói đánh hộc cả máu miệng. Dà! Khổ quá! Trời ơi! Mẹ mua về một quả trứng. Quả trứng nở thành con gà mái. Con gà mái đẻ được mười con. Con bị chuột bắt. Con bị cáo vồ. Con bị mèo tha...
Pao ra cửa. Bà vẫn nói, nói như hát thầm một mình. Chao ôi! Những nỗi khổ của hơn một trăm năm qua trong đời bà hễ cứ khơi lên là lại thành câu hát, câu nọ nối câu kia. Đói, rét, bệnh tật, chết chóc, bị đánh, bị chửi. Sao đời người khổ thế?.
Pao không muốn ngủ. Pao phải sang nhà ông lão Pâu tìm bố, hỏi bố: "Sao em chồng lại lấy được chị dâu?".
Nhà ông Pâu ở cạnh rừng cấm. Bà Pâu mới chết năm ngoái. Con cái không có. Ông lão sống một mình bơ vơ như kẻ mồ côi. Nhà ông Pâu tối quá, nhìn mãi mới thấy lừ lừ một khối than đỏ bằng cái mũ ở tít tịt gian cuối.
Pao bước rón rén, dừng lại ở cái vách ngăn xuống bếp, vì vừa nhận ra cái giọng khàn đặc rất khó nghe của ông lão Pâu.
—
Hố pẩu à! Cái số tôi là cái số chưa về với bà lão được. Tôi nằm mê gặp bà ấy, tôi bảo: "Mình ơi, ta về với mình đây, đôi ta cưỡi ngựa vàng ngựa đỏ đi thăm nương kiệu, nương lanh, đôi ta làm nhà lưng đồi gian ngoài dán giấy bạc, gian trong dán giấy vàng, chuồng lợn ta dán giấy đỏ, ta nuôi đàn lợn đông như ong khoái". Thế mà bà lão nhà tôi trẻ như hồi mới cưới,
hố pẩu à, lại lắc đầu! Hây dà! Sống không có bà lão, buồn quá. Cứ ra trông thấy cái chuồng lợn, lợn rít đòi ăn lại muốn khóc, như thấy bà lão còn như con gái xách cái ống bắng cám ra: “Sùy! Sùy! Con Dín, mày lui ra cho con Mùa nó ăn chứ!". Hố pầu ơi, thế nào mà tôi ngu ngơ quên mất, cả lứa lợn trước, để lọt lại một con đực, không thiến, không thịt không bán.
Ông lão ngừng. Than nổ bép một tiếng, tàn lửa bùng lên như sao trời, Pao nhìn thấy ông lão đang ghé miệng vào bát rượu.
—
Hố pẩu uống đi? Còn sống thì cứ uống! Rượu là bạn ta mà! Đó, cái số tôi không chết,
hố pẩu ạ? Hai đứa mặc áo đen đã quàng dây vào cổ tôi rồi, chúng nó sắp kéo. Tôi nghĩ: “Ừ, chết đi, sắp lè lưỡi ra đây này!”. Ừ tao có tội, tao dám nuôi lợn đực, tao phải chết. Chết về với bà lão. Nghĩ thế mà tự nhiên cái chân lại chạy. Chạy ra tới sân thì ngã vào đống thóc. Ngã vào đống thóc là điềm gì đây? Điềm lạ thật! Hôm ấy nghe nói trong nhà ông Chao có khách là Việt Minh
hố pẩu ạ!
— Ai đấy? — Ông lão Pâu chợt ngẩng lên, nhìn ra gian ngoài.
— Cháu! Pao đây ạ! Cháu đi tìm bố cháu!
Ông lão Pâu đứng dậy, Pao bước tới cạnh cái bếp than. Than hất ánh hồng nhợt. Pao giật mình. Trông ông lão như một bộ xương. Chỗ còn thịt chỉ là cục bìu cổ. Miệng là một cái hốc đen ngòm. Hai chiếc răng cửa còn sót lại vẹo vọ, sắp tụt nốt. Cái mũ vải như lá cao dán sát đầu, chỏm nhòn nhọn.
— Cháu ngồi đây! Cháu ngồi đây Pao à, cháu lớn rồi. Ngồi đây uống qua chiu
* với lão. Thôi chuyện với bố về nhà hãy nói. Giờ ta qua chiu với nhau.
Pao ngồi xuống. Ông lão đã ấn một bát rượu to vào ngực anh. Qua chiu! Rượu chay! Phải, rượu chay uống lúc đêm khuya, giữa những người đang có tâm sự đau buồn, muốn trò chuyện với nhau.
Qua Chiu! Rượu chay! Bát vơi lại đầy. Như câu chuyện không bao giờ hết. Rượu cay rượu nồng. Như đời người nghèo chỉ những cay cùng đắng.
— Tôi khổ lắm,
hố pẩu ơi, cháu Pao ơi! Chuyện khổ nhiều như sao trên trời. Lúc nhỏ mồ côi cha, khi già góa vợ. Không có tiền bạc, đi làm thuê cho người Lô Lô. Không có ruộng nương, đi làm thuê cho người Hán. Ấy thế! Tôi cày cho người Hán, cày cho người Lô Lô. Người ta muốn quỵt công. Người ta bỏ thuốc độc vào cơm. Tôi không hay. Ăn xong đau nhức chín buồng gan, chín buồng tim. Người yêu tôi nghe tin xót xa. Nàng đi tìm cây thuốc lá chi chít...
Thì ra ông lão Pâu từ nói đã chuyển sang bài hát.
Hố pẩu chớp chớp mắt:
— Trời chẳng tối mãi đâu, ông Pâu! Ông Pâu, uống đi! Điều lành còn lại. Điều xấu bay đi nhé!
Ông lão Pâu gật đầu:
— Tôi uống được. Nhưng ăn không được. Răng còn có hai cái. Vì ngã núi một lần. Vì cưỡi ngựa một lần. Hai lần ấy đều là hồi còn chăn ngựa cho ông Giàng Ly Trang. Hây dà! Sao không chết hồi ấy? Hồi chưa lấy vợ ấy! Chết rồi thì không bị phạt nữa. Chó cắn seo phải, ngựa vào ruộng binh thầu. Vay tiền làm ma cho bố không kịp trả... Hê hê... lần nào cũng phạt thuốc phiện và hai ba đồng. Nhiều lắm. Tôi mới tức. Người ta bảo: mua được chức đấy. Tôi đi mua. Giàng Ly Trang bảo: đưa năm mươi đồng đây, tôi mua hộ chức seo phải cho. Hề hế... nhưng mà hóa ra mất,mất sạch!...
Rượu đốt nóng người Pao. Chưa lúc nào Pao uống nhiều như lúc này. Lạ cái, uống càng nhiều, người càng tỉnh. Còn ông lão Pâu thì đã bắt đầu lẫn, chuyện nọ xọ chuyện kia, lúc cười lúc khóc, lại tranh nói một mình. Tránh cái bát không ông lão ấn vào miệng mình, Pao định đứng dậy thì ông lão đã bước tới, đè vai anh xuống.
Ông lão Pâu đi lại cái trạn bát. Một lúc sau, ông bê hai cái bát xi điêu thịt lợn đến đặt dưới đất, nhét đũa vào tay Pao, vào tay
hố pẩu:
— Không đúng là qua chiu rồi. Ăn đi
hố pẩu, cháu Pao! Mày tốt với tôi, mày phải ăn hết! — Ông lão gắp một miếng thịt nạc bỏ vào miệng nhai chậm chạp — Thịt con lợn đực đấy. Tôi chỉ còn mỗi con này. Phải giết nó đi để bán thịt lấy tiền trả phạt. Ăn đi,
hố pẩu! Con lợn này thịt ngọt như thịt lợn rừng nhỉ? Ối, ngon... ngon...
Ông lão ngẩng lên, giọng bỗng lệch nghiêng. Cái miệng chỉ còn hai chiếc răng trệu trạo. Và từ hai hốc mắt, nước đang tràn ra. Ông lão vừa ăn vừa khóc.
Pao ghếch đũa cạnh bát, cổ họng nghẹn ắng, hai cánh mũi ê nhức.
— Có tiếng ai gọi thế nhỉ. Thôi, chào ông Pâu nhé.
Hố pẩu đặt bát rượu bỗng ngẩng lên. Pao đứng dậy, theo cha đi ra cửa. Có cái gì bồn chồn trong dạ Pao.
Đêm như con quạ đen xòa cánh. Trăng đã lặn. Trên cái bậc đá lên nhà ông lão Pâu có một ánh lửa pơ-mu ràn rạt cháy. Pao hốt hoảng gọi: “Bà! Bà!”.
Lưng còng gập, đứng ở bậc đá, bà nội Pao đang nhấc thanh đóm cháy lên quá đầu, mắt đưa đi đẩy lại, giọng tắc nghẹn:
— Bố con thằng Pao đâu? Con Pàng... con Pàng nó ăn lá ngón...
Trời! Có một tảng đá nào lăn từ núi cao choang đúng đầu Pao. Pao loạng choạng. Pao chạy. Chân không thật. Như chạy trong chiêm bao.
Không phải chiêm bao. Thật đây rồi! Giữa nhà, bà nội đã đốt đống lửa to. Thằng Pùa ngồi đó, hai mắt thao láo nhìn. Chị Pàng nằm ruỗi tay, ruỗi chân ở trên đất, cạnh mấy chiếc ghế mây đổ lổng chổng.
Pao chạy bổ tới:
— Chị Pàng ơi!
Rồi ôm đầu ngửa mặt lên trời, nấc một tiếng dài:
— Chết rồi, cái liềm nung lửa... Trời ơi, sao tôi không nghĩ tới... Không cứu được nữa rồi!
Chị Pàng co người, đạp mạnh một cái. Rồi, lật nghiêng, tay nắm chặt, chân giãy và mặt cứ nguội dần, nguội dần. Lá ngón độc đang cắt ruột chị.
— Chị Pàng ơi! — Pao mếu máo giật tay chị Pàng.
— Bế tôi... bế tôi... Pao... Tiếng chị Pàng thều thào nghe xa lắc, Pao cúi xuống, như vô tri vô giác, nâng người đàn bà khốn khổ dậy. Người đàn bà khim khíp mắt. Tóc tuột ngoài khăn xõa dài.
— Pao... Tôi chết đây... Cho tôi cắn Pao một cái nhé! Xoay đầu lại, ghé miệng vào bắp tay Pao, vừa chạm răng vào bàn tay Pao, chị đã khép chặt mắt, đầu giật mạnh ra sau.
Pao đứng sững, hai tay ghì chặt xác chị Pàng, hét một tiếng thất thanh:
— Chị dâu ơi!
Người đàn bà khốn một đời đã chết. Chết trong đau đớn. Chị rướn cong người. Cái cổ hằn cháy đỏ một vệt cháy. Đôi môi rất xinh xám đen. Và làn da nhiễm độc chỉ một lát đã thâm sì.
Bà cụ Xóa hai tay ôm mặt, ngồi ở cạnh đống lửa.
Hố pẩu đứng trân trân nhìn xác người con dâu. Tóc khăn chị Pàng rũ rượi. Hai hàng nước mắt Pao ròng ròng chảy.
— Ối trời! — Pao hộc một tiếng đứt ruột, đặt chị Pàng xuống cái giát nứa dưới đất.
IV Điếu thuốc phiện trên đầu kim đã nở phồng, mòng mọng, đen nhánh. Phóng điếu thuốc vào lỗ tẩu,
hố pẩu Giàng Lầu nghiêng người, tay nâng dọc, hóp má hít. Pập, pập... ro ro... Thuốc cháy. Không một sợi khói. Nhưng
hố pẩu Giàng Lầu đã vội choàng dậy. Ông tìm cái ấm. Và rũ người trên sạp, ho.
“Hay là mình ốm?"
Hố pẩu nghĩ, nhìn ra bóng đêm ngoài sân còn rất đậm.
Hố pẩu ốm thật rồi! Thuốc phiện làm khuây khỏa, lại là thuốc thử xem người ốm hay người khỏe. Hơi thuốc hôm nay đắng ngắt.
Hố pẩu ốm rồi! Hơn sáu mươi, sức đã hao sụt. Đã thế, mấy hôm nay, cái chết của Pàng lại ám ảnh ông, làm ông mãi không hết bàng hoàng. Cái tiếng Pao kêu lúc đặt chị Pàng xuống cái giát nữa vẫn còn văng vẳng bên tai ông. Và cảnh đưa ma trong mưa phùn vẫn như đang ở trước mắt, khiến ông bải hoải, tê bại cả tâm trí.
Đợi cho hết cơn mệt vì trận ho,
hố pẩu mới gượng đứng dậy đi ra bếp lò gầy lại lửa “Ai đấy?" Giật mình,
hố pẩu lùi lại. Bà cụ Xóa vẫn ngồi đó, người tròn một khối vì cái lưng còng, đầu giấu trên gối.
— Bà! Bà không đi ngủ à?
Bà cụ ngẩng dậy, không đáp, đứng lên, chậm chạp ra sàn nước, như cái bóng không hồn.
Lò đã ăn củi, thốc ra miệng lò một luồng rực đỏ hớt lên cao. Tiếng nước trong chảo đồ máo của sôi lục sục, đều đều.
Trời tờ mờ sáng. Con chim chiung của Pao nuôi ở trong chiếc lồng treo trước chuồng ngựa hót một tiếng bạc trong vắt. Con chó lông đen nằm ở ngoài hiên cả đêm, nhổm dậy, uể oải đi về phía chuồng lợn có con lợn ma nuôi vỗ sửa soạn cho Tết H'Mông sắp tới.
Sương bắt đầu động đậy. Nhìn ra, thấy trời trắng đục. Ngọn cây xoán sủ xòe tán như cái ô mờ mờ. Hàng rào cây vông ướt rượt. Hoa cây pằng sua trắng phếch, không mùi vị nở cạnh hàng rào đá, trông buồn như hoa giấy.
Hố pẩu ngồi ở bàn trà, nhìn ra ngoài trời, rưng rưng lệ. Buồn quá!
Buổi sáng mọi khi có buồn bã như thế này đâu. Buổi sáng thường khi Lử dậy là dắt con ngựa hồng ra sân, chải lông cho nó. Lử dạo đó chăm chỉ, chứ không lêu lổng, bợm bãi như bây giờ. Và Pao, Pao mười bảy tuổi, cởi trần, ngực căng nở như cánh cung, cũng từ nhà chạy ra. Trò chơi quen thuộc lại bắt đầu. Pao vỗ lưng con ngựa hồng. Con ngựa brừ brừ vui thích. Bất ngờ, Pao cúi xuống, nắm hai cẳng con ngựa. Con ngựa toại chân, đạp liên hồi. Mặc nó, tay Pao vẫn giữ chặt chân nó. Con ngựa hí sợ hãi. Vẫn mặc nó, Pao hấy một tiếng, giật mạnh, nhấc chân con ngựa lên. Con ngựa đổ ềnh lưng xuống đất. Pao nhoai qua lưng nó. Pao xốc. Pao ôm nó đứng dậy. Con ngựa như thích chí vừa sợ hãi kêu he he. Dạo đó con ngựa chưa đầy tuổi. Và thằng Pùa đứng ở hiên cười hị hị. Pàng ở trong bếp gọi với ra, tiếng lanh lảnh: “Mấy anh em vào ăn cơm, rồi còn đi nương chứ, nắng rồi!”.
Bây giờ, cảnh ấy biến đi đâu? Cái sân trống tuếch, lỗ chỗ dấu chân người đến đưa ma Pàng in trong bùn.
“Pao ơi! Lử ơi!”. Thảng thốt,
hố pẩu cất tiếng gọi. Chẳng có tiếng đáp. Ông nhìn vào bếp. Bà cụ cũng đi đâu rồi.
—
Hố pẩu có nhà không?
Nghe tiếng gọi mình,
hố pẩu Giàng Lầu vội quay lại. Lý trưởng Giàng Súng dáng cao cao, đang bước qua rào đá vây cái sân.
— Vào uống nước, Giàng Ly Trang.
Hố pẩu nâng cái điếu ống đã dịt sẵn thuốc. Nhận cái điếu, thọc tay vào túi lấy bật lửa, lý trưởng Giàng Súng ngồi xuống cái ghế rơm vặn cuộn tròn như bánh pháo cối, khuôn mặt dài nghêu thoáng nỗi bần thần.
Trong làng Can Chư sủ, Giàng Súng thuộc loại giàu có, theo cách diễn đạt của người H'Mông là có ăn có uống, có ăn có mặc. Ông giàu vì nhà có nhiều nương thuốc tốt, lại có nhiều người làm: bốn chàng trai ở rể đều khỏe, thêm nữa lúc nào cũng có gái trốn chồng gọi là
gái dong đến ở, làm không công cho. Đàn trâu của ông đông hai mươi con. Ông lại có người cháu họ xa ở Thải Giàng phố lấy quan ba Phơ-rô-pông. Nhờ vậy, ông còn được giấy đồn binh cho phép đi lại dễ dàng. Ông lợi dụng việc đó, đóng luôn vai ông lái buôn. Ông buôn đủ thứ: từ bánh thuốc lào, tới cái kim. Ông có tiền nên mua được chức lý trưởng cũng dễ. Người làng chẳng quý trọng ông, nhưng cũng chẳng khinh ghét ông. Phần vì gần đến nửa làng đều làm thuê cho ông, từ chăn ngựa, thả trâu tới cày nương thuốc. Lại đều vay tiền của ông. Tính ông khác tính
hố pẩu, bề ngoài cứ lấp lửng, không ra ừ, không ra không, tuy bên trong thì đã khăng khăng.
Hút xong điếu thuốc, Giàng Súng tựa điếu vào vách, đón chén nước
hố pẩu đưa, xuýt xoa:
— Hương chè thơm hứ!
Hố pẩu mới sao à?
Hố pẩu Giàng Lầu lắc đầu:
— Cao chè để dành từ lâu rồi! Chè vụ rồi bị sâu cắn hết. Trời hại quá thôi!
— Dà! Năm qua thật nhiều xui xẻo quá,
hố pẩu à.
— Ờ, cả làng năm rồi...
—
Hố pẩu à, năm nay làm hủi thầu, tôi lo quá! Tôi định bỏ cái chức lý trưởng đấy,
hố pẩu à! Vì sao ư? Vì tri châu Chao nó coi tôi như con chó...
— Này —
Hố pẩu hơi cúi xuống, chòm râu im phăng phắc — Cầm đầu dân phải có một người. Ông đừng bỏ chức ấy. Còn tri trâu Chao ác quá thật! Thì ta phải bỏ nó đi thôi Giàng Ly Trang ạ!
Giàng Súng nghển cổ:
— Bỏ tri châu Chao?
— Ừ, bỏ!
Giàng Súng thao láo hai con mắt. Ý
hố pẩu trúng ý ông lý trưởng rồi. Ông cười nhè nhẹ:
— Vậy thế này nhé,
hố pẩu cho một lời để cả dòng họ theo nào! Ta bỏ tri châu Chao: không đóng thuế, không đi phu cho nó... Nhưng bây giờ bỏ nó thì ta theo ai?
— Theo ai?
Mặt
hố pẩu đăm đăm. Giàng Súng kéo dịch cái ghế lại gần
hố pẩu, đưa tay với ống thuốc:
—
Hố pẩu à! Theo thì phải theo người mạnh. Một năm nay phố châu có bao nhiêu sắc cờ rồi. Mỗi sắc cờ được vài tuần trăng. Chỉ có lá cờ của Phăng-ki
* là lâu nhất!
— Theo Phăng-ki?
— Ông Phô-rô-pông nói: Người H'Mông ta với người Phăng-ki là anh em. Ta là Phăng-ki ở trên núi. Phăng-ki còn mạnh lắm. Giờ họ ở bên Vân Nam.
Mặt
hố pẩu chìm đắm.
“Theo ai? Hừ! Người H'Mông ta khổ thế đấy. Ngày xưa có đất, có ruộng, người H'Mông ta sung sướng hơn. Thua trận người Hán rồi thì phải đi. Đi mãi về phương Nam. Lau mồ hôi rát cả mặt rồi mới tới đất này. Đất không ba thước bằng. Trời không ba ngày nắng. Đó là quê mới người H'Mông ta. Đã tưởng an cư... Vậy mà vẫn khổ, đói, bệnh — hai cái lo đời nào cũng có. Vầu đập rập làm giường ngủ. Váy vá làm chăn. Hạt muối lúc có lúc không. Ông lão Pâu đấy! Mạng người sao rẻ thế? Cây có nấm để trên rừng cũng có nấm. Cây không có nấm ngâm dưới ao cũng không có nấm. Người H'Mông giỏi nhất cũng chỉ làm tay làm chân cho người ta thôi.
“- Bỏ tri châu Hoàng Văn Chao nhưng giờ biết đi lối nào? Hay là nổi dậy như
Giàng Đran,
Chang Tả Dìn,
Sần Suế *. Chỉ có tán dù mới che cán dù. Sao lại theo Phăng-ki? Chỉ có người H'Mông mới biết thương người H'Mông thôi... Nhưng biết ai Giàng Đran, là Sần Suê, là Chang Tả Dìn bây giờ?”
Hố pẩu nghĩ mung lung. Mắt
hố pẩu bồi hồi ánh lửa. Tính
hố pẩu là tính người H'Mông: đã chém là vác, nghĩ tới mình một, nghĩ tới dòng họ hai, ba...
— Giàng Ly Trang à! Không theo Phăng-ki được. Phăng-ki là bố mẹ tri châu Chao đấy! Tôi nghe nói bên Pha Linh đang sửa soạn đón phua thay, đón vua.
— Bên Pha Linh?
— Phải! Bên ấy tri châu La Văn Đờ người H'Mông ta. Nghe nói có ác, nhưng vẫn là người H'Mông ta. Ông Đờ biết vua H'Mông ta sắp ra.
— Vua H'Mông ta sắp ra!
Vua H'Mông, Phua thay H'Mông! Ý nghĩ gì mà vừa nhắc tới đã nức nở trong lòng
hố pẩu thế! Ôi chao, phua thay H'Mông! Người mang kỳ hình kỳ tướng, tai người to bằng cái quạt, ngón tay người bằng quả chuối, vẫy tay người bay vù vù, qua sông rẽ nước, giậm chân cỏ dại thành lúa, lá chuối thành vải, người đem lại phúc lộc mãn đời cho người H'Mông ta. Đời
hố pẩu đã một lần đi tìm Phua thay rồi đấy. Lần ấy có tin phua thay sẽ ra ở Phéc Bủng. Can Chư Sủ giết gà trắng. Và chờ. Chờ, cho đến một hôm Phăng-ki về, bắt một người bên Phéc Bủng. Người này xưng là tiên. Vua vẫn chưa ra. Chưa ra nhưng nhất định sẽ ra chứ! Thời buổi loạn lạc nhiễu nhương này... Người H'Mông chết, lúc liệm còn khâu một hạt gạo ở vạt áo làm lương ăn cho hồn đi tìm vua kia mà. “Vì ta ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nên phải xắn tay áo, băng chín thị thành, đi tìm nhà vua”. Bài hát còn nói vậy với mọi người đó thôi.
Lử leo lên gác chuồng ngựa, đẩy xuống một bó cỏ, cởi dây lạt.
— Seo Cấu, giúp tao cắt nhé!
— Thằng Pao đâu?
— Nó xuống châu từ hôm qua.
— Làm gì thế?
— Chắc nó đi mua súng. Quốc dân Đảng nó cho mày súng chưa?
— Có đếch đâu. Đ.mẹ, tao mất cho nó mười con gà rồi! Này, mày hiếp con Pàng nên nó ăn lá ngón phải không?
— Ai bảo mày thế?
— Đừng giấu tao. Hí hí... Tao có một con xinh nhất Phéc Bủng.
— Đứa nào thế?
Seo Cấu ngồi nhấp nhổm bón nắm cỏ vào lưỡi dao. Hắn chưa kịp đáp lời Lử thì có tiếng ai la ở ngoài đồi.
— Ối họ Giàng ôi! Người Kinh chúng nó hiếp con gái H'Mông!
— Con gái H'Mông bị hiếp, ối làng ôi...ôi...ôi...
Bỏ con dao và bỏ cỏ, Lử và Seo Cấu, chạy ra sân, nhảy qua bờ rào đá. Có một đám người đang tụ lại ở chỗ rừng cấm. Lử hỏi người đứng giữa đám. Người nọ phanh áo, mặt đỏ gắt, nói:
— Tôi đi tới miếu Quan Âm thì thấy một thằng
cheo chi * đang đuổi... Đứa con gái chạy...
Lử thần mặt rồi bất thình lình nghiến răng ken két, giậm chân đánh phịch:
— Chính thằng Kinh ấy nó hiếp chị Pàng tôi! Đuổi ngay, bắt được, cho nó theo đường chết!
Bấy giờ tiếng tù và bắt đầu rúc ti u ti u... ở Can Chư Sủ, báo hiệu có cướp tới làng, như đã ước định ở hội nào
sồng vừa rồi.
Pao cầm cái liềm chạy ngược dốc. Từ châu về Can Chư Sủ đường như đường lên trời. Gió núi đổ như thác cuốn. Ngực Pao đón gió, hứng nắng, đỏ lẫm. Mấy hôm nay, sau khi chôn cất chị Pàng, Pao như người mất hồn, xuống phố châu, đi lang thang vơ vẩn thì gặp lại anh Chính và anh Kiến. Kiến đang cùng mấy người thanh niên ở phố lợp mái nhà trụ sở ủy ban lâm thời huyện, ở cạnh cửa hàng muối của tri châu Chao. Chao đã chịu mở cửa hàng bán muối cho dân. Giờ, Chao được làm chủ tịch châu. Pao đi cắt cỏ về lợp mái nhà. Anh Kiến đi cùng Pao. Pao cứ lầm lì cắt, bó, rồi ghì cỏ vào cái quẩy tấu địu về. Anh Kiến đòi địu thử. Quai mắc vào vai rồi, anh dùng sức ở lưng, ở chân, cố đứng dậy, còn lom khom đã loạng choạng rồi đổ nghiêng đánh uỵch. Pao cười. Đó là cái cười đầu tiên sau ngày chị Pàng chết. Cái cười lại héo ngay. Pao lại im lìm. Anh Kiến hỏi gì chỉ lắc đầu. Lợp xong nhà, cắm một lá cờ trên nóc, lá cờ đỏ ở giữa có ông sao vàng, anh Kiến hỏi: "Đẹp không?", Pao mới đáp: “Đẹp”. Nhìn Pao như dò xét, anh Kiến lại hỏi: “Pao dẫn anh Chính đi Pha Linh được không?", Pao đáp: “Được”, rồi cắp cái liềm đi về.
Pao sốt ruột, mong chóng về tới làng. Làng thì buồn đấy, rặt những chuyện buồn, nhưng xa thì nhớ.
Qua một mỏm núi, Pao đã nhìn thấy làng. Can Chư Sủ ở trong một cái hẻm giữa ba ngọn núi. Nắng trong. Ba ngọn núi như ba ngọn giáo đâm lên trời. Trên đỉnh núi xanh um rừng chè tuyết. Dưới nó, đỏ ửng màu chân hương những nương sèo. Thấp hơn, ngô tháng bảy vàng ngà những ô nương vuông vức. Thuốc phiện ở lẫn trong rừng già, lấm chấm sắc hoa, giữa những khoảng rừng trống.
Pao leo qua quả đồi gianh. Gianh già vàng suộm quấn quýt dải lá. Những cây tông-qua-mu thân đen sì như cháy, gặp gió lồng, rung ào ào như gà mẹ rũ lông.
Bỗng, Pao dừng lại. Phía trước Pao, ở cạnh một bãi đá có mấy chục người đang túm tụm. Pao chạy tới. Toàn mặt người quen. Có cả ông Giàng Súng. Ai cũng cầm gậy, cầm súng, mặt hằm hằm tức giận.
Pao len vào vào đám đông. “Có chuyện gì thế?”. Cái liềm trong tay Pao muốn rơi xuống đất. Trong vòng người, trên một phiến đá bằng, có một cô gái mái tóc hung đỏ rối tung đang ngồi, hai chân quặt về sau, váy hoa chùm quá gối, hai tay ôm mặt, sụt sùi khóc.
Pao gọi, tiếng mất trong gió:
— Seo Ly!
Hai bàn tay như hai cái lá buột rơi, hai con mắt cô gái như vừa hiện ở dưới đáy hồ nước, lóng lánh kinh hoàng.
— Tôi đang cắt cỏ ngựa ở Phéc Bủng... Một người cheo chi nó đến... Nó trêu tôi... Tôi chạy... Nó đuổi theo...
Lử dộng cái báng súng đánh kịch:
— Tôi biết rõ bọn này. Có hai đứa ở trong hang Phéc Bủng. Chính chúng hại đời chị Pàng tôi. Nào, theo tôi, đi bắt! Bắt được, cho nó lót quan tài người chết.
Phiến đá chông chênh, chỉ còn Seo Ly. Người chạy đi cả rồi. Pao đứng, cầm liềm gại gại những móng tay rất dày đã bằng lỳ.
Seo Ly quấn lại vành tóc, như không biết có Pao. Đứng dậy Seo Ly lẳng lặng đi. Pao bước theo sau cô. Nắng chiều vàng ửng. Gió lay những khóm lau đuôi bạc. Chim chào mào bậu trên những cuống bông lau nghiêng ngả, hót vô tư. Cảnh vật giống như buổi đầu xuân năm ngoái Pao sang Phéc Bủng chơi hội
gầu tào *. Hát ở cái mỏm đồi dựng cây nêu treo tấm vải đỏ một buổi rồi về sân nhà chơi cầu lông gà. Đang chơi thì một cô gái tới. Ôi chao! Mười sáu tuổi. Seo Ly như hoa vừa độ nở. Cả đám trai ngẩn ngơ. Pao ngộc nghệch càng ngơ ngẩn. Quả cầu lông gà bay đi bay lại trao duyên, Pao đánh trượt luôn chịu phạt, hai tai bị các cô vò xoắn đến đỏ nhừ. Từ bấy mà sinh mến sinh yêu. Tình yêu tròn như cái dù hồng hai người đội chung ngày đi chợ. Tình yêu êm như tiếng đàn môi Pao nảy những đêm băng qua núi qua rừng, tới tận đầu nhà cô, làm con chim họa mi hót.
Gió càng chiều càng xông xổng, dữ tợn. Seo Ly đang bước, chợt quay lại. Hai con mắt láng nước như hai lá đào run rẩy. Môi chưa tươi màu còn như in dấu tiếng khóc. Trời! Seo Ly, nhỏ bé, yếu ớt quá. Seo Ly là ngọn cỏ trong cơn gió lớn.
Pao ngất ngư như ở trên cỏ, khẽ khàng:
— Seo Ly!
Seo Ly chớp chớp mắt, tiếng nói lướt qua vành môi nhợt:
— Pao... về đi...
Pao như cái cây đứng giữa cơn gió chiều vật vã.
V Quàng cái túi lanh qua vai, Pao bước vào bếp. Bà Xóa đang ngồi thái măng ở đó. Pao đứng sau bà, khẽ mấp máy môi:
— Bà ơi, bà ở nhà, cháu đi đây!
Bà quay cổ lại, khó nhọc. Pao vội đi ra phía trước bà, ngồi xuống, tay nắm tay bà:
— Cháu đi vài hôm rồi cháu về!
— Mày đi, tao ở nhà chết thì sao?
Pao rùng mình. Năm nay, một trăm linh ba tuổi bà bỗng nói tới cái chết. Buổi chôn chị Pàng, bà nói: “Cỗ ván dành cho bà, con Pàng lại nằm vào trước. Pao à!". Bà ra tận mộ chị Pàng, bà khóc với Pao. Bà già, huyết mạch đều suy rồi, liệu bà có qua được nỗi đau buồn này không? Cái chết của chị Pàng sao nặng nề thế, nó kéo theo cái buồn đến chết của nhiều người. Đứng dậy, Pao nghĩ: “Đi nhanh rồi về, vào rừng tìm cây ngọc am, xẻ cho bà cỗ ván mới. Lử không làm thì gọi thằng Pùa đi. Nó dắt trâu kéo", rồi chào bà, đi ra.
Pao ra ngoài nhà tìm
hố pẩu.
Hố pẩu đi sang nhà lý trưởng Giàng Súng, chắc lại bàn chuyện thời thế. Lử đã theo ý
hố pẩu, đi Pha Linh hỏi xem vua H'Mông sắp ra chưa? Thằng Pùa đã đi thả trâu từ sớm.
Pao dắt con ngựa. Qua thăm mộ chị Pàng ở đầu làng rồi đi đến nhà ông lão Pâu. Cứ nhớ tới cái lúc ông lão vừa ăn miếng thịt vừa mếu máo khóc, Pao lại thấy ngùi ngùi, lại hốt hoảng: chỉ sợ ông lão không chịu nổi cay đắng, tự tử chết.
— Cháu đi đâu đấy, Pao? — Ông lão đang ngồi chuốt nan lù cờ, ở cái hiên sáng nắng, thấy Pao buộc ngựa ở cây vông, nghển lên, hỏi.
Pao bước vào cái sân nhỏ đầy rêu:
— Cháu đi Pha Linh.
— Đi một mình à?
— Không, đi dẫn đường cho người ta.
— Người ta thuê cháu à?
— Không! Cháu giúp họ thôi. Cán bộ Việt Minh ấy mà!
Ông lão buông rơi cái nan. Chân co, chân duỗi khẳng kheo. Ngực lép. Cổ dài, cái bìu đầy hốc xương dưới cổ nhún nhún. Ông lão nuốt nước bọt, hai con mắt mờ mờ đưa đẩy, cái miệng ho hó hở hai chiếc răng xam xám:
— Cháu à, Việt Minh có... tốt không?
Pao ngồi xuống thềm:
— Ông ơi, chính họ đã cứu ông đấy?
— Họ cứu lão à?
— Vâng. Lúc ông bị bọn người nhà tri châu thắt cổ, thì Việt Minh họ tới đấy.
— Thế à?
— Chính ông kể đấy, ông quên rồi à?
Bóng nắng đã lan tới hiên. Ông lão buông cái nan, thẫn thờ. Pao dắt con ngựa ra đường.
Nắng phớt vàng màu quả đào chín. Châu lỵ Pa Kha khoanh trên một quả đồi mu rùa. Một con đường xếp đá phiến xanh dẫn lên phố. Cái phố xin xít những nhà đá, nhà gạch, nhà mái tôn, mái cỏ, mái ván, quây một vòng tròn trên đỉnh đồi. Phố mới mẻ lạ. Phân trâu, phân ngựa mọi ngày phơi rải rác, nay đã thu gọn từng đống. Ba bốn người đang lúi húi cọ rửa cái bể hứng nước máng ở giữa phố. Cạnh đó, lò rèn đang phì phụt tiếng bễ. Tàn than li ti như hoa cải bay trên nóc nhà lợp ống vầu. Tiếng rìu đẽo nạng thồ cạch cạch đều đều trong vắng vẻ. Mấy bà già bó chân, đội mũ nhung đang khom lưng đảo bắp, ý dĩ phơi trên những cái nong to.
Con ngựa của Pao vun vút chạy, quặt qua cái miếu thờ Khổng Tử ở đầu phố. Cạnh cây gạo ở bên kia đường mấy người đeo súng tay gài băng đỏ đang đứng lục soát mấy cái bị của một phụ nữ Kinh tóc uốn, mặc áo dài màu xanh cổ vịt.
Con ngựa hí ròn một hơi dài, đổi sang nước kiệu. Đường bằng. Đất gợn sóng. Từ xa, Pao đã trông thấy hai con ngựa: một trắng, một xám, tiến lại. Anh ghìm con ngựa hồng. Hai con ngựa nọ đã vụt tới, quay nửa vòng trước anh.
Bụi đỏ dưới chân ngựa khua rộn bốc lên mờ mờ.
— Chào Pao, Pao đã đến rồi đấy à? — Chính dong con ngựa trắng lại gần Pao. Vẫn cái mũ nồi, cái áo vét ka-ki, bên trong một cái áo len xanh giản dị, bên sườn phình một túi dết màu cỏ, nhưng trên ngựa, trông Chính cao hơn, tươi trẻ hơn.
— Chào anh Chính.
— Ta chia tay thôi, đồng chí Kiến! — Quay lại phía sau, Chính giơ tay.
Kiến giật cương, con ngựa thấp của anh sát lại cạnh con ngựa của Chính.
— Đồng chí Chính! Đồng chí đi một mình, tôi không yên tâm.
— Tôi có cả Pao đây rồi!
Lướt qua mặt Chính ánh mắt trìu mến của Pao và của Kiến.
— Đồng chí Chính! — Kiến cắn môi, khe khẽ. — Đồng chí là thượng cấp, đồng chí có quyền quyết định. Nhưng, tôi vẫn chưa thật thông đâu: Có cần thiết phải một mình một ngựa đến Pha Linh sào huyệt của La Văn Đờ như đồng chí không?
— Cần thiết! Rất cần thiết! — Con ngựa bạch hất đầu, bức bối, Chính nhìn Kiến, rắn rỏi: — Cái chúng ta cần không phải chỉ là mấy tay súng. Đồng chí có hiểu ý mình nói không? Pha Linh không phải chỉ có La Văn Đờ. Pha Linh là đồng bào H'Mông quần chúng của chúng ta.
Kiến chìa tay:
— Thôi được, lên đường bình an!
Nắm chặt tay người đồng chí, Chính chớp chớp mắt:
— Chú ý những điều mình đã nói với nhau đêm qua. Nắm vững sách lược của đoàn thể.
— Tôi nhớ! Thế nào rồi bọn họ cũng phá ta. Tôi sẽ nhẫn nại. Đồng chí mang túi thuốc chưa?
— Có rồi! Nhớ liên lạc với Châu, Đắc ở làng Nhuần. Nhắc Châu tìm đường dây với Tâm ở tỉnh lỵ. Nghe nói đã cứu được Tâm. Tìm ngay! Quên, còn đồng chí người Nhật, Tô-yô-ma ấy mà, bảo Đắc tranh thủ nhờ đồng chí ấy huấn luyện cho bộ đội.
Con ngựa hồng đứng lâu đã cuồng cằng, nhoai cái cổ lờm xờm lông bờm hí một tiếng ngắn. Chính rời Kiến. Kiến giơ tay:
— Chào Pao nhé!
Con ngựa hồng quay ngoắt, Pao không kịp chào, nhún người theo nhịp con ngựa chạy. Con ngựa của Chính đã cách ngựa Pao mấy nhịp phi.
Cô ngựa trắng Chính cưỡi là của ông cu đầu tộc dòng họ Tần, người Dao, ở làng Nhuần nơi đặt bản doanh của Ban cán sự tỉnh, ban lãnh đạo công cuộc giải phóng Lào Cai, thật là cô ngựa hay. Nó hoàn toàn hiểu ý chủ, chiều theo ý thích của chủ. Bốn vó xoải dài, mình chuyển mềm mại, nó chạy mà như bay.
Đường ngược dốc, hun hút. Mây bụi lăn tăn tan trong nắng sớm chứa chan cảm hứng nhuộm vàng từng chóp núi.
Núi đất tiếp núi đá, tưởng như cả đời đi cũng không ra khỏi vòng vây của núi. Lơ thơ bóng cây chè già, vàng ánh sắc búp non trên các tán lá cao. Loáng thoáng hình cây tông-qua-mu rũ rượi lá cành xanh đẫm. Và tràn ra, trong mênh mông là những sườn núi ố vàng sắc gianh già tiếp nối những khoảng rộng xam xám, ngầu ngầu bụi cây rành rành khô xác.
Càng lên cao những ngọn núi càng trơ trụi. Vắng lặng, không một tiếng chim vang. Chỉ có róc rách tiếng nước chảy trong các khe lạch đâu đó và tiếng vó ngựa khua ròn trong mê mải đường trường.
Thấm mệt, Chính cho ngựa đi lững thững để chờ Pao. Nhưng vừa ngoái cổ lại sau, anh bỗng nghe thấy tiếng Pao hú gọi ở phía trước. Thúc ngựa lên, kịp Pao, Pao lại để Chính đi trước. Nhưng chỉ lát sau, Chính lại nghe thấy tiếng Pao và tiếng chàng ngựa hồng trai trẻ hí gọi cô ngựa bạch của anh ở phía trước rồi.
— Pao đi lối nào mà nhanh thế?
— Em đi tắt mà! Anh có mệt không? Còn lên cao nữa đấy!
Đường lên cao dần. Trời xanh nhức như dát bằng ngọc quý. Cây thông xòe cánh bay trên vách đá dựng đứng. Giữa cái khe núi, thấp thoáng những khoảng sâu thẳm màu hoa cà. Trong im lặng như từ trời cao rót xuống, trên những sườn dốc xanh tươi, những làng H'Mông biên giới xúm xít mái phủ rêu đỏ rung rinh trong không khí ảo ảo mờ mờ.
Chính đang đi vào một xứ sở lạ. Khác hẳn cái không khí ngầu ngầu bụi than ở những hầm mỏ. Khác hẳn những vùng đồng chiêm trũng, những vùng núi đá vôi lô xô từng ngọn biệt lập ở Ninh Bình. Khác hẳn những đồng lúa ngọt ngào tiếng hát quan họ vùng Bắc Ninh. Hà Nội ồn ào. Nhà pha Hỏa Lò nóng sôi. Chiến khu Vần thênh thang. Những nơi Chính đã sống, đã qua trong cuộc đời cách mạng hơn chục năm qua, đều không có một nét nào giống với cảnh quan vùng anh đang đi tới đây.
“Ta đi vào nơi chưa biết. Chân đi, mắt nhìn bốn phía, nghe ngóng, chờ đón mọi việc sẽ xảy ra. Một cái vực sâu chờ đón? Không! Ta đâu chỉ là một mình! Đằng sau ta là cả đất nước, đoàn thể....".
Thúc ngựa đi lên cạnh Pao, ý nghĩ vẫn dập dờn trong óc Chính: “Muốn giữ được phong trào, phải có người. Ở đây, sau này cứ mười cây số sẽ phải cắm một cơ sở”.
Đường đổ dốc, quanh co như rắn bò. Đá lăn lốc cốc. Hai người xuống ngựa. Lát sau, có tiếng gì ào ào dội vách núi.
— Gì vậy, Pao?
— Sông Chẩy đấy, anh Chính.
Sông Chẩy! Giữa hai vách đá dựng thẳng như hai vệt chém, phăng phăng chảy một dòng nước xanh đen. Vắt từ bờ này sang bờ kia hơn hai chục mét, một dải cầu đan bằng mây treo trên hai sợi song lớn bằng cổ tay, đang rung rinh nhịp đưa võng.
"Làng Nhuần ở phía dưới kia. Châu ở đó đang lo việc tổ chức cơ sở để giải phóng Lào Cai. Mình tin ở Châu. Như tin ở Kiến. Châu điềm đạm, vững vàng. Năm băm tám, hôm sau là 1 tháng 5 sẽ có cuộc mít tinh lớn, mình đến tòa báo "Tin tức” gặp Châu đã ở đó. Mới độ mười tám tuổi. Từ một cái làng ở Nho Quan lên. Cổ còn đeo cây thập ác. Nhỏ nhắn, chỉ hai con mắt là to. Hôm sau, Châu đi với đoàn phụ nữ mít tinh biểu dương lực lượng ở Đấu Xảo. Bảy năm sau, Xứ ủy giới thiệu: “Bổ sung cho cậu đi giải phóng Lào Cai một nữ cán bộ nhé! Một đồng chí đã được rèn luyện từ cơ sở". Châu đã lãnh đạo nông dân trong các Hội cấy, Hội gặt ở làng quê, trong phong trào khất thuế ở Nho Quan... Trung ương, Xứ đã cho thêm cán bộ lên chưa nhỉ? Mới có mình, Kiến, Châu, Đắc, Bình, mấy thằng. Đắc đã triển khai bộ đội dọc dường sắt chưa? Bình đi miền Tây ra sao? Nhanh lên! Đánh nhanh, thắng Quốc dân Đảng giải phóng Lào Cai rồi chuẩn bị đánh nhau với thằng Pháp. Lâu dài đấy...”.
Ý nghĩ ấy chộn rộn, náo nức trong óc Chính. Lòng cầu mây rập rềnh.
Pao không đi trên cầu. Con ngựa bơi qua sông, anh bám theo nó. Nước chảy xiết, tụt xuống một đoạn, anh phải dắt con ngựa len lỏi qua một đoạn rừng lau mới lên tới cầu bên này.
— Khéo cảm lạnh đấy, Pao à!
— Từ bé, em chưa biết ốm đâu.
Pao nhảy lên ngựa. Con hồng đi trước. Chàng ngựa hồng xem chừng rất biết giữ sĩ diện trước cô ngựa bạch duyên dáng. Chàng ta hăm hở. Rõ là giống ngựa H'Mông tầm vóc nhỏ, nhưng dai sức, đi dốc quen, gặp đất sét dẻo bổ móng rất sâu. Đường lại vòng vèo, xoay mãi, tít mù, chơi vơi.
Lát sau, bỗng nghe thấy tiếng chuông đồng loong coong phía trước, chàng ngựa hồng như nhận được tín hiệu của đồng bọn, bứt ngay lên. Cô ngựa bạch vội dấn vó đuổi theo. Phía trước, Pao đã nhìn thấy những cái đuôi ngựa phất, những bắp chân quấn xà cạp lấm bùn, những cái lu cờ nặng ật ngửa. Anh giật mạnh cương, phăm phăm rẽ lối. Chính rượt theo. Trước họ, một đoàn hơn chục ngựa đang chậm chạp leo dốc. Toàn giống ngựa thồ, tầm thấp, xấu mã, nhem nhuốc. Lưng con nào cũng kềnh càng chảo gang, bàn ăn, bu gà, rọ lợn. Hơn chục người đi theo, mặt ai cũng xanh xám, mệt mỏi. Ba người đàn bà địu con, cầm ô, đi ở quãng giữa. Một ông già đi tụt ở sau tay cầm cái điếu, mắt cứ hênh hếch nhìn lên tốp con trai tóc ướt đầm, xách lồng chim họa mi đi ở phía trước.
Pao ghìm cương ngựa. Ông già cầm điếu nép ở dệ đường.
—
Pê H'Mông mồng há từ? (Người H'Mông ta đi đâu đấy?)
—
Cu lủ nheo Pha Linh! (Tôi dọn đến Pha Linh!)
Dọn đến Pha Linh! Dọn về Pha Linh! Một cuộc chuyển cư? Đất đã nhạt mầu, không nuôi nổi cây bắp nữa, người ngựa lại ra đi? Không! Không phải! Lại một đoàn nữa. Lại một đoàn nữa.
"Cu lủ nheo Pa linh!" — Dọn đến Pha Linh! Pha Linh, hai âm tiết vang ngân nỗi kỳ vọng của bao con người lam lũ!
Trời đã ngả tối. Vắng sương. Da trời tai tái rồi thâm dần. Thấy một xóm nhỏ bên đường, Pao rẽ ngựa vào.
Xóm chỉ có ba nóc nhà, ôm lấy một mảnh đất rộng chừng một sào, lầy lụa bùn phân, ở giữa lù lù hai cái mả cũ. Pao hắt hơi liền ba cái, rùng mình bước vào một căn nhà mở cửa. Vắng lặng. Không còn một đồ vật nào trong nhà. Bừa bãi lông gà, lông lợn trên nền nhà. Một cái chum vỡ lăn lóc ở góc nhà.
Pao ngó quanh. Bỗng Pao giật mình. Có tiếng người rên ở trong buồng. “Chủ có nhà không?". Không có tiếng đáp, Pao bước vào buồng.
Chính cởi cái túi dết, mắc vào cánh cửa; vươn vai, Pao từ cái buồng bước ra.
— Có người hả, Pao?
— Có. Nó ốm.
— Để tôi vào xem.
Pao đứng vơ vẩn ở hiên một lát rồi ra sân tìm cỏ cho hai con ngựa. Trời chóng tối quá. Hai con ngựa nhồm nhoàm nhai cỏ. Ruồi vàng ve ve bay. Tiếng người rên hừ hừ kéo một vệt xám trong bóng đêm nhập nhoạng.
“Chết mất thôi! Đi đến đâu cũng thấy chết. Mình đẻ không trúng mùa ông sấm bố mẹ không đặt trên giường không đặt trong bịch thóc
*, đi làm thuê làm mướn khổ đã đành, những người khác sao cũng thế?”. Pao nghĩ.
Bỗng có tiếng Chính gọi. Pao vào nhà. “Đốt lửa lên, Pao!”. Pao chất củi, nhóm lửa. Lửa cháy ngần ngật, ngọn chệnh choạng. Chính lại gọi: “Pao ơi, châm hộ cái đèn hộp. Lấy hộ cái túi thuốc, hộp tiêm ở trong túi dết!"
Pao vào buồng. Chính ngồi cạnh người ốm. Giờ, Pao mới nhìn rõ: Ông già đen nhẻm, mắt lờ đờ như chỉ còn tròng trắng, bụng trương phềnh.
— Đốt lửa to cho ấm. Nấu ít nước sôi nhé, Pao.
Pao lấy ống bắng ra máng hứng nước. Ống nứa dựng nghiêng. Lửa cuộn réo. Lát sau, nước sôi ọc ọc. Chính ngồi xuống cạnh đống lửa:
— Ông cụ bị sốt rét. Sao người nhà đi đâu hết? Phải tiêm thuốc cho ông cụ, Pao à.
Pao ngẩng lên, hơi thở lạnh toát:
— Cả xóm đi hết rồi.
— Đi đâu?
— Đi đón vua ở Pha Linh. Vua H'Mông sắp ra. Người ta bảo thế. Gà, lợn giết hết để đi Pha Linh.
Chính xách ống nước vào buồng, tiêm cho ông cụ. Anh quay ra, giật mình vì thấy Pao gục trên gối. Pao mệt ngủ ư? Nhưng, Chính vừa ngồi xuống cạnh lửa thì thấy Pao ngửng lên, hai con mắt ngầu đỏ:
— Cán bộ Việt Minh ơi! Vua H'Mông ra, có thực vua H'Mông có phép làm cho người H'Mông sung sướng không?
Đêm ấy, lần đầu tiên Pao nói hết với một người khác những nỗi khổ của đời người H'Mông, từ nỗi sợ ám ảnh truyền kiếp hóa hổ với chuyện chị Pàng, chuyện ông lão Pâu vừa ăn thịt lợn vừa khóc.
VI Mây như khói từ các khe núi phả ra phủ màn huyền bí. Khí trời lạnh tỏa vào tận chân tóc người. Đường độc đạo len lỏi một vệt xám nhờ qua lưng núi này sang lưng núi khác. Người đi, giữa sương khói âm thầm, trong im vắng, một bước chân một lo ngại, hoang mang.
Vương quốc thâm nghiêm của tri châu La Văn Đờ thật khéo chọn nơi đất hiểm để dựng nghiệp. Ở đây, núi dựng thành, vực sâu cắt xẻ, cõi bờ, giang sơn cách biệt riêng một chốn.
Qua một khe hẹp, một bọn trai trẻ trang phục đủ sắc lính Tàu, Tây, Nhật xồ ra chặn lối, hạch sách, xét hỏi, đường bắt đầu thoai thoải đổ dốc. Rồi như có cánh cửa mở, một thung lũng phẳng lỳ, tròn như chiếc nong hiện ra loang loang đủ các sắc màu hoa thuốc phiện. Thuốc phiện ở đây rõ là tốt hơn bên Pa Kha. Đất cao, khi giời giá lạnh và dân H'Mông vốn giỏi canh tác thứ cây này. Cây thuốc to, mập. Cuống hoa to bằng chiếc đũa. Hoa mỗi đóa xòa rộng gần bằng bàn tay người. Và đứng ở giữa thung lũng thuốc phiện này, ngẩng lên, người từ xa lại một lần nữa ngơ ngác, bàng hoàng. Những bản H'Mông trắng phếch mái lá như những chuồng chim treo lơ lửng trong sương, nổi hình trên vách đá xám. Những bản H'Mông trên lưng chừng núi giống cái đai thùng vây quanh thung lũng thuốc phiện, thấp thoáng bóng những cây đào trơ cành khô khốc, xanh xám và không một bóng người.
Trấn Pha Linh nằm trên một ngọn đồi thấp, áp dông núi đá, nhìn xuống thung lũng thuốc phiện, nhìn lên là các làng H'Mông đông đúc trên các sườn núi.
Trấn Pha Linh, thoạt nhìn thì tẻ quá. Chỉ có hai dãy nhà ở hai bên con đường dài khoảng năm chục mét. Dẫy nhà áp núi phần lớn lợp ngói, mái trên chồng mái dưới, trông như cái minh tinh. Ngói là loại ngói Tầu úp lòng máng. Tường đá, xây trát bằng vôi trộn mật, xù xì nhưng chắc chắn. Trước mỗi căn nhà vững chãi ấy là hàng rào xương rồng, loại cây xương rồng dại, cành chắp, gai dài nhỏ như kim châm, hình thù quái gở, nở một thứ hoa cánh dày như múi mít. Dãy phố bên kia gần suối thuần mái cỏ. Cỏ dày hai gang, ép rẹp, mủn mục đen sì, loang lổ một lớp rêu đỏ màu quyết trầu; trên mái mọc ngùn ngụt những khóm dương sỉ, và cỏ dại. Tường nhà là đất nện, mặt tường chi chít dấu bàn tay in màu vôi trắng. Đó là cách đuổi ma: năm nay trước khi vua ra, có thể ma dữ sẽ về hại.
Trấn Pha Linh thường ngày buồn hiu hắt, mấy hôm nay bỗng sầm uất, đông vui khác thường. Đó là vì dân H'Mông, từ những làng xa, mãi bên châu lỵ Pa Kha, châu Mường Cang, và ở tận bên miền Tây, đang ùn ùn kéo về. Người về cùng tiếng ngựa hí dòng dòng, tiếng xe cút kít bánh gỗ lăn ót ét, chen lẫn tiếng lợn rống, dê be, trẻ con khóc, họa mi hót, khèn kêu, sáo thổi. Và lũ chó sở tại được dịp tha hồ sủa ngậu.
Bỏ lại nhà cửa, xóm làng, dồn về đây như chảy hội, như hành hương, đám người này về đại thể có thể chia thành hai loại. Loại thứ nhất, phần lớn là dân H'Mông bên châu Pa Kha, vượt núi Can Chư Sủ và sông Chảy sang đây vì tâm trí đang trong cơn mê mẩn: Vua, phua thay, người trị vì thiên hạ, đấng tối cao, quyền năng như thánh thần, người mưu cầu hạnh phúc cho người H'Mông sắp xuất hiện ở Pha Linh! Vua H'Mông! Người chỉ phất tay là lau thành mía, giậm chân là cỏ thành lúa, thành ngô. Ôi! Viễn cảnh ấm no, sung sướng thế thì sá gì mà chẳng bỏ lại tất cả gia sản, gia súc, mùa màng để tới đây ngóng chờ phúc lạc!
Số thứ hai đông hơn, phần nhiều là dân H'Mông ở các châu Mường Cang và ở các châu bên miền Tây. Người H'Mông vốn chẳng cư trú ở một địa vực chung. Ở lẻ, họ phải chịu đủ nỗi cơ cực của kẻ cô đơn lép vế. Ở Mường Cang, họ vừa đói khổ vừa bị thổ ty Nông Vĩnh Yêng khinh rẻ chèn ép. Những vụ đâm chém giết chóc lẫn nhau giữa bộ tộc này với bộ tộc kia từ trong lịch sử vẫn còn sờ sờ ra đó. Pha Linh là xã lớn, thuần H'Mông. Lại nghe nói quan tri châu La Văn Đờ tốt bụng, ăn ở hào phóng, thương yêu người H'Mông, từ đầu năm đã bỏ lệ nộp
khờ cù, khờ chi *. Vậy thì lá hãy rụng về cội!
Giữa hai đám ấy, nổi lên một bọn trai trẻ cuồng tín, hung bạo, từ lâu âm ỉ cháy ngầm cái dục vong bá chiếm quyền hành để đè đầu cưỡi cổ những bộ tộc khác, được dịp này, nhảy như châu chấu tới Pha Linh. Tới đây là chúng hò hét, lớn tiếng kêu gào xây dựng một nước H'Mông hùng cường, có vua H'Mông anh minh đứng đầu thiên hạ.
Ảo vọng thiết tha trộn lẫn với cuồng si, mê muội. Phố xá lập tức rơi vào cảnh lộn xộn chưa từng. Vài ngày sau đã có mấy vụ chửi nhau, đánh nhau vì trộm cắp, và tranh gái. Được dịp, các quán ăn mọc như nấm. Lèng phân bày từng mẹt lớn. Hơn hai chục chảo thắng cố bốc khói cả ngày lẫn đêm đáp ứng nhu cầu ẩm thực càng lúc càng tăng, vì tình cảnh sảy nhà ra thất nghiệp và nếp sống phóng dật.
Càng rỗi rãi người càng chen chúc ở các quán ăn. Ở đây ruồi bay vù vù từng đám lớn. Ở đây, các chủ quán hớn hở chuyên ra hết hũ rượu này đến hũ rượu khác, miệng không ngớt câu chuyện đãi khách: Phải đấy, các ông các bà, các anh các chị chuyển đến đây ở là đúng lý rồi! Đất này là đất người H'Mông ta. Trước sau thì vua H'Mông cũng ra để cứu giúp dân ta chứ. Đã trông thấy quan lớn La Văn Đờ chưa? To béo, phương phi như Tây, nói được tiếng Tây, vừa ở bên Vân Nam về đấy! Quan vừa làm ma khô cho mẹ xong. Ôi chao! To lắm. Hiếu thảo đúng lý lối người H'Mông ta. Đã biết quan tri châu tính tình thế nào chưa? Rộng rãi, bặt thiệp, không để bụng thù ghét ai. Xưa, quan công sứ Tây cũng vì nể. Súng ống nhiều lắm nhé. Quan giàu vô kể và có cổ phần trong công ty thuốc phiện Việt Điền đấy. Thật là rạng rỡ người H'Mông ta!
Các sảo quán * bên dưới quan cũng tài lắm. Châu Quán Lồ một mắt mà con chim bay, giơ súng, định bắn cái đầu trúng cái đầu, định bắn cái cánh trúng cái cánh. Còn Châu Quán Si em Châu Quán Lồ, rồi sảo quán Thèn Sèn Phà... thì mỗi người một vẻ. Ôi chà! Pha Linh thật kinh đô người H'Mông ta rồi!
Tất nhiên, cũng có chủ quán lúc bình thường chỉ xoay quanh chuyện buôn bán, làm ăn. Thấy người hiền lành mới khe khẽ rỉ tai: Sao lại dọn về đây? Chưa biết La Văn Đờ ư? Khôn khéo lắm. Này nhé: Nhật Bản đến, chạy sang Vân Nam, nhưng lại cho Châu Quán Lồ, tức Lồ Plóa ở lại làm y dũng hương đoàn. Nhật sắp thua, lập tức sai Lồ quay súng bắn Nhật, đón quân Tàu vào. Phăng- ki sắp về rồi. La Văn Đờ thờ Pháp đấy! Còn đánh nhau to đấy. Chết thôi, ông Đờ vừa ra lệnh thu mỗi nhà năm lạng thuốc phiện, năm đồng Đông Dương để mua súng đấy. Mỗi nhà phải hai bó đuốc, hai quả tạc đạn nữa... Sửa soạn đánh nhau rồi! Đánh ai? Chả biết được. Nhưng chắc là đánh người Kinh đấy thôi.
Ngày qua, những phấn chấn ngây thơ vô tội của đám đông dân H'Mông mong ước có được một cuộc sống ấm no, yên lành xẹp dần, xẹp dần. Hy vọng thì còn ở xa. Mà cái đói thì đã xồng xộc tới. Bắp hết. Vòng bạc bán đoạn. Rồi nhẫn vàng, bán nốt. Rồi lác đác có người bán ngựa, bán trâu. Rồi trẻ con ốm đau, đi ỉa chảy cả loạt. Trộm cắp sinh ra từ đói khổ. Người mất quả bí, người mất con gà. Tiếng chửi nhau lẫn với tiếng cúng ma đã lác đác rồi lầm rầm nổi lên ngày qua ngày. Ngày qua ngày, cả ngàn con mắt người cứ ngóng về tòa nhà quan tri châu hiếu nghĩa, nhân đức, hào phóng, phấp phỏng đón đợi và cầu xin.
Thì đây, người của quan châu La Văn Đờ đã xuất hiện. Bé nhỏ, trên lưng một con ngựa đen, tới giữa phố, người này nhổm lên, quay bốn phía, nói to:
—
Pê H'Mông * nghe đây! Ngài La Văn Đờ rất vui lòng tiếp nhận những người cùng da cùng thịt với ngài. Bây giờ, đàn bà con gái, ông già bà cả thì về các làng quanh đây làm ăn làm mặc. Một tháng nữa mới phải đóng thuốc phiện và tiền, như dân sở tại. Còn các trai tráng, tính từ mười tám tới bốn mươi, thì được quan tri châu cho làm lính. Đó là ân nghĩa! Đó cũng là lệnh trên! Ai không theo sẽ bị xử phạt...
Không tách riêng một nơi như dương cơ của các bậc quan phụ mẫu khác, tòa nhà của La Văn Đờ, tri châu đất Pha Linh dựng ngay ở giữa thị trấn, nhìn bên ngoài như ở lẫn với dân chúng sở tại.
Đó là một căn nhà gác hai tầng, khung gỗ, lợp ngói, từ đường cái vào, phải leo chừng hơn chục bậc đá mới lên tới nơi. Hòa đồng vào cảnh quan, tòa nhà không có cái vẻ đồ sộ, phô trương. Nó chỉ nhỉnh hơn nhà mấy người buôn bán giầu có ở phố chút ít. Kiểu cách cũng vậy: nhà hai mái, mái trên uốn hơi vểnh, đo đỏ lớp ngói cổ xếp vẩy tê tê. Vẻ riêng của chốn công đường chỉ hiện hình ở hàng cột hiên tròn, to, sơn đỏ chóe và hai cái đèn lồng bọc lụa đỏ, chữ vàng kim tuyến,buông tua phơ phất ở ngoài hành lang.
Nhìn căn nhà có thể nghĩ: quyền thế của ông Đờ chỉ bằng một góc của tri châu Hoàng Văn Chao bên Pa Kha. Nhưng, nghĩ thế là lầm. Tri châu La Văn Đờ là một thủ lĩnh hùng mạnh bậc nhất ở miền biên giới xa xôi này.
Dòng họ La đến đất Pha Linh này tính tới nay đã tám, chín đời. Thoạt đầu, nó cũng chỉ là một hạt đậu, như bao dòng họ khác. Mãi tới năm 1925, La Văn Sầu, bố Đờ, mới được giữ chức lý trưởng Pha Linh — dạo đó Pha Linh mới chỉ là một xã. Bố chết, Đờ nối nghiệp cha. Trẻ tuổi, xông xáo, gian hiểm, nhưng Đờ vẫn không được người Pháp trọng dụng. Và đó là một sai lầm nghiêm trọng của người Pháp vào những năm ấy. Họ không đánh giá đúng vai trò, ý nghĩa tính cách H'Mông. Họ cho rằng Đờ đơn độc, Đờ chỉ có uy tín trong một dúm người H'Mông ở Pha Linh. Không được thăng châu uý, nhưng Đờ không hề tỏ ra bực dọc. Đờ lặng lẽ xây đắp cơ nghiệp. Đã học hết lớp ba trường tiểu học Pháp Việt ở tỉnh lỵ, là một thanh niên H'Mông thông minh, nhạy cảm, lắm mưu kế và thâm hiểm, Đờ âm thầm cải tổ bộ máy hành chính, lề lối cai trị và thúc đẩy Pha Linh tiến theo một con đường khác hẳn cha ông. Bỏ các lệ nộp khờ cù, khờ chi, cống vật, công không. Sống không cách bức với dân chúng. Mở mang quy mô trồng thuốc phiện. Thu mua thuốc phiện, bán lại cho công ty Việt Điền. Chiêu hiền, đãi sỹ, tập hợp dưới trướng mình cả một lớp thanh niên H'Mông tài năng, giàu nghị lực và hung tợn. Che giấu những thủ đoạn bóc lột không kém triệt để bằng ảo tưởng xây dựng quốc gia H'Mông. Ngấm ngầm chìa tay ra với các thế lực bên ngoài, v.v..., v.v...
Cho đến một ngày kia, do tiếp xúc với thực tế, và nhờ những công trình nghiên cứu về dân tộc H'Mông sặc mùi thực dân, người Pháp bắt đầu tỉnh ngộ thì thế lực của La Văn Đờ đã lớn lắm rồi. Tình báo Tưởng, tình báo Mỹ vội vàng chú ý tới Đờ. Công sứ Ét-các-lát lập tức đề nghị quan Toàn quyền thăng Đờ từ lý trưởng lên tri châu, ngang hàng với các thổ ty ở các châu khác, vốn cắm rễ đã lâu ở các vùng đất sở tại.
Đờ mới từ Vân Nam vội vã trở về Pha Linh. Con người có tham vọng lớn ấy bắt tay ngay vào công việc với một thái độ hết sức tự tin và kín đáo.
Tự tin và kín đáo. Cứ trông vẻ ngoài cũng thấy. To béo, cao lớn, bệ vệ. Hơn bốn mươi, dáng đứng khỏe như một cây pơ-mu lão đại. Mặt tròn, cổ rụt, mắt một mí, thâm trầm, bí hiểm. Cằm béo núc, hơi sệ, nhẵn thín không một sợi râu. Dáng người Đờ như sinh ra là để làm việc lớn.
Bấy giờ là non trưa.
Trong căn buồng trên gác vẫn dành cho các cuộc hội họp quan trọng, đang có cuộc bàn luận sôi nổi giữa các sảo quán hầu cận tin cậy của Đờ. Quanh cái bàn bát giác bằng trúc là Thèn Sèn Phà, Lèng Sì Trà, Châu Quán Si, bộ phận quan trọng trong bộ tham mưu về quân sự, chính trị của Đờ. Họ đang cãi nhau về cách xử tử một tên do thám của thổ ty Nông Vĩnh Yêng mới sa lưới phiên chợ trước. Sảo quán Lèng Sì Trà thích kiểu thắt cổ. Thèn Sèn Phà ưa lối cắt da trán tên tội phạm, lột xuống che mắt rồi bắn. Châu Quán Si đòi cho ngựa kéo.
Hút xong ba điếu thuốc phiện do cô vợ ba người Hoa mới đem từ Vân Nam về tiêm cho, Đờ mới đứng dậy, chậm rãi bước sang căn buồng đang om sòm tiếng cãi cọ.
Nhóm tùy tùng thấy chủ tướng sang, quay cổ lại. Đờ xua tay, điệu bộ rất tây, rồi đứng dịch ra cạnh khuôn cửa sổ. Trong bộ quần áo lanh may đúng kiểu H'Mông, ống quần rộng, Đờ trông giống một pho tượng, oai nghiêm, đường bệ. Nghênh đôi tai nhỏ như hai cái nấm lắng nghe và tay mân mê cái cằm nhẵn, Đờ đứng đó, im lìm mà thẩm lẩm nghĩ ngợi và quyết đoán.
Tiếp nhận được uy lực toát ra từ pho tượng nọ, bọn sảo quán lập tức ngừng cuộc cãi vã.
— Cứ nói chuyện tiếp với nhau đi mà, các sảo quán!
— Na nủ! Nếu bây giờ Việt Minh lên đây?
— À, ra là vậy!
Ra là vậy đấy! Đầu năm nay, phái đoàn quân sự của Pháp đã thành lập ở Côn Minh. Tháng Tư năm nay, Sanh-tơ-ni đã tới cầm đầu phái đoàn này. Năm nghìn lính của họ từ Lào Cai chạy Nhật sang hiện do các tướng Sa-ba-chi-ê và A-lét-xăng-đri chỉ huy. Họ đóng quân ở Mã Pờ, Mông Tự, Vân Sơn. Vân Sơn còn có phái bộ Mỹ... Những ý nghĩ lặn rất sâu, chỉ đôi lúc hiện ra ở cái chau mày, ở cái nhằn môi, ở tiếng thở hắt ra rất khẽ, và ở cặp mắt chốc chốc lại sáng lên quả quyết, tinh khôn của Đờ đã được đám thủ túc tiếp nhận và lập tức họ cùng im bặt; ngước nhìn chủ tướng, họ thành kính đợi chờ.
— Tôi nói, các sảo quán nghe rồi làm nhé!
Đợi cho các sảo quán im lặng chờ đợi một lát nữa, Đờ mới bước gần lại, chậm rãi từ tốn, mỗi câu mỗi chữ nhả ra như một nét chạm sắc bén:
— Giờ là lúc tốt nhất để ta lập nên nước H'Mông thịnh vượng.
Một na nủ H'Mông trong têchơ * H'Mông.
— Chà!
— Đúng thế!
— Một tê chơ H'Mông! Một na nủ H'Mông! Hôm qua gặp người của
hố pẩu Giàng Lầu ở bên Pa Kha sang hỏi, tôi có nói vậy.
— Trời!
— Một tê chơ H'Mông, một na nủ H'Mông! Tôi nói lại.
— Một đất nước H'Mông! Một quan lớn H'Mông! Hay quá!
— Nước H'Mông Tam Miêu ngày xưa đây rồi! Sao
La tả quán * nói hay thế!
Đợi cho tiếng reo của các sảo quán hạ xuống, chìm trong ngẩn ngơ vui sướng, Đờ mới gõ ngón tay vào tay ghế, nhắc các sảo quán bàn việc tổ chức các đơn vị nghĩa binh. Và khi các sảo quán lại ồn ào trao đổi thì Đờ lại ngồi im, lặng lẽ dáng tượng tạc.
“Phải! Hoàng Văn Chao chỉ có một số dõng cũ, Nông Vĩnh Yêng khá hơn. Nó có nhiều sếp cũ, nhiều
choảng pin. Lại có mấy phe cướp quy thuận. Con rể nó là Xì Xám Mần ở quân đoàn của tướng Long Vân. Nếu ta có hai trăm quân, thì chúng chỉ là chuột nhắt! Nhưng Việt Minh? Việt Minh có bao nhiêu quân?”.
Đờ nhíu trán. Và lần này đợi Lèng Sì Trà nói hết ý kiến của mình, Đờ mới đập khẽ tay xuống bàn, giọng chắc nịch:
— Tôi định thế này.
— Xin La tả quán cho lệnh.
— Ta chia làm ba đội. Mỗi ông ở đây chỉ huy một đội. Ông Châu Quán Lồ làm tổng chỉ huy.
— Ua la hồ!
Đờ chống tay đứng dậy. Đám sảo quán vừa reo to đã quay cả nhìn ra cửa buồng. Một ả đàn bà mặt hoa da phấn, tóc vuốt cao búi ở trên đỉnh như cái nậm rượu, áo nhiễu màu xanh óng ánh, đang bước vào, trên tay là cái khay nặng chịch một chai rượu Tầu.
— Mời các sảo quán thăng quan!
—
Đù a! *
— Bà ba sao biết tính anh em H'Mông tôi thế!
— Cảm ơn bà ba nhé! Khá khá...
Căn phòng vỡ ra những tiếng cười, tiếng reo. Rượu mao đài nặng gắt, ngửi đã choáng váng, mê mê.
Thèn Sèn Phà tay nâng cốc rượu, tay che bộ ria mép đen sì, cười cười:
— Tôi cạo bộ ria này còn ai nhận được là Thèn Sèn Phà không? Há há! Châu Quán Lồ đã làm y dũng hương đoàn với người Nhật. Bao giờ cạo được cái vết đó?
Chân trái thọt, Lèng Sì Trà nhảy ra ngoài cái ghế. Vừa tập tễnh nhảy quanh bàn rượu, y vừa nghêu ngao:
—
Lồ Ploá! Tù dìn din...*
— Nói láo! Đập chát cái cốc xuống bàn, Châu Quán Si đột ngột quát to.
— Há há! Hai mắt tỵ nhau, một mắt dễ nhìn mà!
Lèng Sì Trà đay đả. Châu Quán Si gằn:
— Còn anh! Chân bị dao phát ruộng chém còn đau mà cứ nhảy phứa lên bụng vợ, hèn nào không thọt! Đồ thọt!
— Mày giống Châu Quán Lồ anh trai mày, mày là con dê đực, Si ơi!
— Thằng Si rách tai hãy liệu hồn!
— Thằng Thà ăn trộm bị đòn, lưng còn sẹo kia!
— Khá... khá...
Đứng ở cái hiên trên gác, Đờ xoa cằm, tai nghe bọn sảo quán say bới xấu nhau, cười thầm. Tuổi trẻ là con ngựa. Ngựa càng hay càng lắm tật. Không sao! Có hay mới có tật.
Bây giờ, ngoài đường bỗng rộn tiếng vó ngựa.
Một con ngựa cao, nòi Mông Cổ, lông hung sẫm, mặt dữ tợn vừa phi tới trước cửa nhà tri châu. Trên lưng ngựa, lạ mắt quá, phía sau yên buộc hai thanh tre đỡ một chiếc lọng tán tròn xoe tua vàng phơ phất buông rủ. Dưới cái lọng ngồi ngay ngắn một người chột mắt, dáng chắc khỏe như súc gỗ. Người này không xuống ngựa. Và con ngựa thuộc tính chủ, cứ từng bậc đá, từng bậc đá lừng lững leo lên. Tới tận thềm nhà quan châu, người nọ mới nhấc chân khỏi bàn đạp nhảy xuống, rồi hai tay xếch hai khẩu côn ở hai bên hông, bình bịch bước lên gác.
Người nọ, chính là Châu Quán Lồ, tổng chỉ huy “nghĩa binh” mới được quan tri châu La Văn Đờ phong chức.
Lồ cao, to, bắp thịt nình nịch, ngùn ngụt sinh lực. Cái áo lanh rộng, cái quần Nhạt lưng lửng đầu gối, càng tôn cái cơ thể cường tráng, săn chắc của Lồ. Da mặt Lồ đỏ au. Cái mặt sẽ đẹp, nếu như con mắt trái không chột, sâu hoắm một kẽ nứt đỏ lòm.
Vo tròn cái mũ vải sáu múi trong tay, Lồ sải những bước dài. Tới căn buồng đầu hồi gần lối lên gác, Lồ dừng lại. Mũi nhấp nhỉnh như đánh hơi, ngó qua khe cửa, thoáng chút ngần ngừ, rồi hắn cả quyết đẩy cửa, tọt vào. Lát sau nghe thấy từ trong đó vẳng ra tiếng cô vợ ba tri châu cười khanh khách. Rồi tiếp đó, thấy Lồ vừa đẩy cửa bước ra vừa xốc lại cạp quần, con mắt lành sáng như tóe lửa.
Đập khẽ cái tẩu vào lòng bàn tay, Đờ còn đang cúi đầu ngẫm nghĩ, đã thấy Lồ đập gót đứng sững ngay trước mặt.
— Trình La tả quán!
— Kìa, sảo quán mới về. Công việc thế nào?
— Trình La tả quán. Đám dân mới bướng lắm. Tôi trói một đứa, cho ngựa kéo!
— Hừ!
— Đến đầu phố, tôi gặp hai người. Họ là Việt Minh. Họ bảo tôi về báo cho ông Châu biết.
Nghe thấy cái giọng rất vang của Lồ, Châu Quán Si, em Lồ, bỏ lũ sảo quán đang uống rượu, nhao ra:
— Anh Lồ! Gặp Việt Minh ở đâu?
— Ở đầu phố.
— Nhiều hả?
— Một đứa! Một đứa đi dẫn đường là người H'Mông ở Can Chư Sủ.
Đờ bỏ lũ sảo quán, bước theo hàng hiên, tay xoa xoa cằm. Cái quần rộng ống chốc chốc lại phủ kín đôi giày vải đen khâu tay, to bè, bèn bẹt. Ấy là lúc Đờ đứng lại. Ấy là lúc Đờ bộc lộ ra rõ nhất tính nết y. Thâm trầm, độc địa, giàu tự ái và đố kỵ.
“Na nủ H'Mông sao lại phải cúi đầu trước ai? Phải!” Đi được vài bước y lại dừng chân. “Việt Minh! Mày chỗ nào cũng tới được! Mày ghê gớm thật! Nhưng, mày nhớ nhé! Cạnh tao còn có người Pháp, người Mỹ” — Lần này bước tới đầu cầu thang thì y sững lại: “Mình tiếp họ. A Linh nghĩ thế nào? A Linh là của người Pháp hay của người Mỹ?”.
Ý nghĩ dứt mạch, Đờ bước xuống cầu thang, vào buồng cô vợ ba:
— A Linh à! Việt Minh đến, em ra tiếp họ hộ anh!
Lúc ấy ngoài đường chợt vang lên tiếng la hét và tiếng ngựa phi rầm rập.
— Hú! Hú! Nhanh nữa lên! Nhanh nữa lên!
— Hú... Lão già dẻo chân quá. Cho nó chết đi!
— Ngựa thối, chạy nhanh nữa lên! Hú hú...
Một cơn bão những tiếng la hét, reo hò, những tiếng hú tiếng cười cuồn cuộn bốc lên trước cửa nhà quan tri châu. Ấy là lúc con ngựa thực hiện lệnh trừng phạt, kéo theo sau một người đàn ông H'Mông hai tay bị trói quặt sau lưng chạy qua.
Tên lính ngồi trên mình ngựa trẻ tuổi nhơn nhơn cười như đang tham dự một trò đùa. Con ngựa đen, mắt xanh dữ tợn, thì trái lại, nó gằm ghè và chạy không đều chân, nên cứ sau một tiếng “pách” của chiếc roi da quất, lại co cẳng dấn vó nhanh thêm một nhịp, khiến người bị hành xác lại bị giật mạnh, chúi đầu về phía trước.
Cuộc hành hình càng lúc càng thu hút người xem. Bọn lính đứng chật ven đường. Chúng suỵt chó đuổi theo người bị hành tội. Chúng ném cả đá vào ông ta. Hỡi ôi! Người nọ đã sắp kiệt sức rồi thì lũ chó đuổi theo ông ta bị một ai đó ném cho mấy cồ đá, lúc ấy chúng mới chịu bỏ cuộc, buông tha. Con người khốn khổ nọ đâu còn trẻ. Ngoài năm mươi, tóc tết đuôi sam, ông ta vừa chạy theo con ngựa, vừa dùng sức cố níu cái dây buộc bụng mình với cái yên ngựa, như cố ghìm con ngựa lại. Nhưng, sức ông già sao ghìm nổi sức ngựa dữ. Chỉ được một vòng quanh phố, người nọ gần như kiệt sức. Và tới vòng thứ hai, khi con ngựa bị một cú hích, dún hai chân sau, đổi nước chạy thì cùng với tiếng rú kinh hoàng của đám người đứng xem ở bờ đường, người nọ liền ngã rập xuống đất.
Mặc! Tiếng roi quất vẫn nổ rát. Ngựa vẫn bị thúc, lồng lên từng đợt trong bụi đất bốc lên mù mù. Bụi mù mù quẩn đặc vì chân ngựa khua, vì cả cái xác người xấu số nọ nữa. Xác người nọ để lại một vệt máu thâm sì trên mặt đất. Và lũ chó thị trấn không bỏ lỡ dịp thể hiện tính chó rừng hoang dã lập tức phóng ra, tranh giành nhau những miếng thịt rơi của con người xấu số nọ rơi, bết trên đường.
Đứng trước căn nhà tri châu La Văn Đờ, chứng kiến từ đầu cuộc hành quyết man rợ nọ, mặt Pao đã đỏ ứ máu vì tức giận. Ngực Pao thắt nghẹn, nở gồ. Nước mắt Pao ứa chảy. Răng Pao nghiến ken két. Pao sắp nổ tung và khi con ngựa kéo xác người vừa tới trước mặt Pao, Pao liền xông ngay tới, nhảy lên nắm cái dây cương. Con ngựa hất đầu định dựng hai vó chồm lên, cánh tay Pao cháy nắng nổi bắp gò nó xuống. Pao gào cháy cuống họng:
— Dừng ngựa lại! Người ta chết rồi!
Tên lính ngửa người về sau. Pao thấy cái roi da ngoằng một vòng ở trên đầu. Anh loạng choạng. Bên trái trán anh đau rát. Có tiếng ai đó gọi: “Pao! Ra đây!”. Mặc! Pao cứ ghìm cổ con ngựa. Cái roi da lại vung. Pao không tránh vệt roi da. Nhưng ngay lúc ấy, anh nhận ra có đến năm sáu người đàn ông từ bên lề đường đã đổ ra vây lấy con ngựa và tên lính nọ.
Pao buông tay ghìm mõm con ngựa. Tên lính cưỡi ngựa đã nhảy xuống. Nó lách đám đông, tay lăm lăm khẩu súng. Pao né một bên. Nhìn người đứng trước mình, Pao bỗng kêu: “Anh Lử!”. Thì chính người đó đã vung tay đấm mạnh vào mặt tên lính cưỡi ngựa nọ:
—
Chung cao nả!
* Nó là em tao!
Pao sấn lại. Tên lính nọ ngã dưới đất đang lồm cồm bò dậy. Lử chống tay bên sườn. Trông Lử sạch sẽ, gọn gàng và oai vệ. Áo quần ka ki vàng, kiểu lính Tàu. Cái mặt nhỏ quắt vênh vênh, sắt lạnh.
— Đ.mẹ! Không sợ! Pao à, anh đã gặp La tả quán. La tả quán tốt. Cho anh bộ quần áo này. Còn nói: có thiếu thốn gì, cứ bảo.
Chính bước lại cạnh Pao. Anh vừa kịp nói với Pao: “Cẩn thận đấy, Pao!” và trìu mến nắm hai bắp tay Pao thì đằng sau anh có một tiếng người bẩm báo:
— Dạ, thưa La tri châu xin mời ngài phái viên lên tiếp kiến ạ!
Chính quay lại. Tên lính hầu lẻo khoẻo đeo một băng đạn qua vai, đi cạnh Chính.
Chính bước lên bậc đá. Chính đã tận mắt nhìn thấy những khổ đau, chết chóc của người thợ, của người dân cày. Chính đã từng chứng kiến những tội ác man rợ của lũ địa chủ, cường hào, ác bá, bọn quan lại, thực dân ở nông thôn, hầm mỏ, phố phường. Nhưng, chưa ở đâu, như ở đây, tội ác lại man rợ, mạng người bị khinh rẻ đến như thế này.
Người Chính rung lên. Chính không thể yên lặng. Chính không thể quay mặt đi. Chính không thể bắt tay cười cợt với kẻ đã hành hình người dân vô tội một cách tàn bạo như thế, dù chỉ là chốc lát, dù chỉ là với vẻ bề ngoài.
Nỗi căm phẫn của Chính càng bốc lửa khi anh nhìn thấy đứng ở bậc thềm là ả đàn bà môi đỏ choét, hai con mắt nhoi nhói như mắt rắn, trơ trẽn, đĩ thõa:
— Thưa ngài phái viên, quan nhà tôi bị mệt, không tiếp ngài được. Quan nhà tôi... rất lấy làm tiếc...
Chính lùi lại một bước. Yên lặng. Phía dưới, những người vây quanh Pao lúc nãy đang ngó lên.
— Thưa ngài phái viên — Ả đàn bà lại lúng liếng hai con mắt rắn — Quan nhà tôi sai tôi...
Chính nhìn thẳng vào ả đàn bà. Không! Chúng là kẻ có tội. Chúng phải biết điều đó. Sao chúng dám ngang nhiên làm điều phi pháp và bây giờ lại dám xúc phạm Chính?
Mặt Chính đỏ cháy màu đồng thau. Hai con mắt như xói lửa vào ả đàn bà, Chính nói, giọng gay gắt:
— Tôi cũng xin nói để bà báo lại cho ông nhà biết: tôi không thể nói chuyện với ông ấy lúc này. Tội ác mà các người gây ra thật quá ghê tởm. Các người chỉ có thể tồn tại nếu các người kịp thời dừng ngay những tội ác đó lại!
Không cần biết ả đàn bà sững sờ, hoảng hốt đang giật lùi lại vào bậc thềm, Chính quay lại gọi Pao rồi hướng xuống phía đám đông, vung cánh tay, bất ngờ:
— Thưa bà con, anh em người H'Mông! Chúng tôi là Việt Minh, là đại diện của Chính phủ Trung ương lên đây để bàn bạc việc đánh giặc giữ nước, mưu cầu đời sống yên vui, no ấm cho bản làng. Ai là người thương dân lúc này phải cùng với Chính phủ đánh Quốc dân Đảng. Hôm nay, ông La Văn Đờ từ chối tiếp chúng tôi. Việc bàn bạc sau đây có tiếp tục hay không là do ông Đờ quyết định. Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Việt Minh tỉnh gửi lời chào thân ái đoàn kết tới toàn thể đồng bào, và gửi lời chia buồn với đồng bào bị hành tội chết thảm thương vừa rồi. Việt Minh không tán thành một hành động dã man tàn ác như thế!
Dừng lại, máu như dồn về, nóng bừng hai con mắt, tay giơ cao, chém mạnh vào không khí, giọng Chính lai dướn cao lên, vang vang:
— Sinh mệnh của bất kỳ người dân Việt Nam lương thiện, cũng phải được tôn trọng. Kẻ nào xâm phạm tới tính mạng của đồng bào, kẻ đó làm trái hiến pháp, kẻ đó là có tội!
Dưới lòng đường, người tụ lại như đông thêm. Chưa bao giờ có một lời lên án hiên ngang, dõng dạc như thế ở đất này. Trước nay chưa có ai dám đứng trên bậc thềm cao nhất kia mà kết tội quan châu và cúi xuống bày tỏ sự bênh vực, ưu ái với những kẻ khốn cùng như thế.
Hai nắm tay vung cao, giọng nói của Chính chưa bao giờ hào hùng, mạnh mẽ, rắn chắc như giọng của bản tuyên ngôn như thế:
— Thưa đồng bào! Đồng bào là người H'Mông, đồng bào cũng là người Việt Nam, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam đã được độc lập, tự do, người Việt Nam phải được hưởng độc lập, tự do, hạnh phúc. Không một kẻ nào, dù kẻ đó là ai, có quyền đầy đọa, hành hạ, sát hại một người dân Việt Nam. Xin hẹn gặp lại đồng bào. Kính chào đồng bào!
Hai cánh tay Chính chĩa lên trời như hai cánh chim lớn. Chấm dứt cuộc nói chuyện rất đột ngột. Chính cúi xuống chào mọi người rồi quay lại bảo Pao:
— Ta đi thôi, Pao!
Hai người bước xuống bậc đá. Đám đông xê dịch, rẽ ra một lối cho họ đi, ánh mắt nhìn theo họ vừa kính nể vừa ngỡ ngàng. Trong đám đông, khe khẽ những tiếng rên thầm, rồi chợt trào lên một tiếng khóc nức nở.
“Pao ơi! Có phải chính Pao đã chứng kiến cuộc hành sát đẫm máu, thảm thương nọ. Pao đã căm uất, Pao đã tin lời tôi nói đêm qua với Pao? Không một ai có thể cứu được ta, kể cả vua H'Mông, kể cả các quan lớn H'Mông. Chính ta, ta phải cứu ta. Chỉ có những người cùng khổ giác ngộ, đoàn kết lại không phân biệt dân tộc, mới có thể giúp được nhau thoát khỏi cuộc đời lầm than, đua khổ này...”.
Ý nghĩ nọ sục sôi trong Chính khi Chính theo Pao, rập rình trên mình ngựa. Con ngựa bạch vượt lên vì cái thúc chân của Chính. Lòng chính lại như có gió thốc.
“Ta như thế có tả khuynh không? Ta có thiếu sự tỉnh táo không? Không! Với chúng, ta đã nhìn rõ tim gan. Ta cần vạch tội của chúng, chúng phải nhận tội, phải chịu quy thuộc về ta, chịu sự kiềm chế của ta. Cứng rắn và mềm dẻo đều phải đúng lúc. Chắc chắn sẽ có một số quần chúng nghèo khổ người H'Mông đồng tình với ta. Và La Văn Đờ, nếu khôn ngoan đúng như lời người ta truyền, thì thế nào hắn cũng phải tìm đến ta...”.
Con ngựa bạch vùn vụt băng dốc. Người Chính nóng hực. Bỗng, có tiếng Pao gọi:
— Anh Chính! Có ngựa đuổi theo!
Chính dừng ngựa. Hay là bọn Đờ định hành hung. Anh rút khẩu Môde ở bên sườn và bỗng tiếc vô cùng: Sao Pao không có một khẩu súng?
Pao tạt con ngựa vào chân đồi. Pao tính mưu kế gì? Nhưng hai con ngựa nâu từ phía sau đã dồn vó, ào tới. Pao thúc ngựa ra chặn, hét:
—
Pê H'Mông! Chuyện gì thế?
Hai con ngựa nâu được ghìm cương dừng lại. Hai bóng người trai trẻ vừa từ lưng ngựa nhảy xuống. Hai người giống hệt nhau: mặt trái xoan, gò mũi thẳng, mắt dài, u uất. Họ không đeo súng, lưng không có đạn. Họ bước lai phía Chính. Pao giật ngựa tới:
—
Pê H'Mông! Chuyện gì thế?
Hai người trai trẻ nọ không ai bảo ai, cùng lúc quỳ rạp xuống dưới chân ngựa Chính và Pao. Người nhiều tuổi hơn, độ hai mươi, ngẩng lên, môi run bần bật:
— Đa tạ... Đa tạ người có lòng tốt. Tôi là Lù A Seng, em tôi đây là Lù A Tếnh. Chúng tôi là con trai người bị Châu Quán Lồ và La Văn Đờ cho ngựa kéo hành hình. Đa tạ người có lòng tốt! Thù này chúng tôi không quên đâu. Nước sông Chẩy có cạn thì máu trả thù cũng phải đổ... Giờ chúng tôi bỏ Pha Linh, về làng đây... Hẹn gặp! Hẹn gặp!
VII Ba trăm lính quần áo đồng phục xanh sĩ — lâm bóng bẩy, mũ lưỡi trai vải, băng đạn vải vắt chéo qua ngực, chân đất, bồng súng chào theo kiểu nhà binh Pháp, cách nhau khoảng hai mét một, đứng như cọc cắm, rải từ chân núi Hàm Rồng về tới châu lỵ Mường Cang, viền hai bên con đường mới sửa thẳng tắp, băng qua một cách đồng ửng vàng màu đậu tương chín.
Ba trăm lính, đủ hết các cỡ tuổi, từ non choẹt tới tóc hoa râm, phần lớn là
choảng pin * mới được trưng tập. Súng thì đủ kiểu: Anh-đô-si-noa, Mút, Trường Nga, Trường Anh, Gioóp 8... Cách một quãng, lại thấy một người mặc kiểu lính khố đỏ: mũ chào mào, chân quấn xà cạp, lưỡi lê bao sắt thẳng đuột bên sườn, đứng thẳng như cái cột buộc ngựa.
Thật là một cuộc trưng phô lực lượng kỳ lạ, chưa từng có. Là bởi vì ba anh em ông thổ ty họ Nông chỉ quen thu tô thóc lúa, buôn bán đậu tương, có đại lý cửa hàng ở châu lỵ, ở tỉnh lỵ, đã tậu cả một chiếc xe Tắc- xong A-văng, có quan hệ buôn bán với các hãng buôn lớn ở Hà Nội, xưa nay có thiết tha gì lắm với việc nghiệp võ mà nay sao lại sốt sắng tổ chức cuộc tập binh lớn như thế? Và số lính ở đâu ra mà bỗng đông như thế!
Sự kỳ lạ đã bắt đầu khởi nhóm từ tuần lễ nay. Cái phố nhỏ, từ tinh mơ buổi ấy, bỗng náo động hẳn lên. Dân chúng đang mơ màng bỗng choàng thức. “Dân phố nghe đây! Dậy! Dậy để quét dọn nhà cửa, đường phố. Mỗi nhà phải sắm một cái đèn lồng và treo ra cửa. Phái đoàn Chính phủ Trung ương sắp đến thăm châu lỵ ta...". Tiếng loa gọi âm âm trong buổi sáng mùa đông có sương mù dày đặc. Tiếng ai mà nghe quen quá? Tiếng ai mà như tiếng Lù Pin Dìn, tướng cướp vùng Cốc Vi mới về hiệp tác với ông Nông Vĩnh Yêng. Lại có lúc nghe ra tiếng ông sếp Thòn, sếp Hin... Và một sớm nọ, dân phố đã giật bắn mình khi nhận ra cái giọng giật đùng đùng như súng bắn của ông Lý Kiêu Đương, tức ông Một Đương. Ôi! Ông một Lý Kiêu Đương, sấm sét của châu đoàn, thủ túc tin cậy số một của ba anh em thổ ty họ Nông, đội khố đỏ, mới ngày nào đảo chính Nhật Pháp có tin ông Nhật bị bắn chết, mẹ ông đã khóc đỏ cả mắt, lại còn làm ma cho ông và tổ chức phúng viếng hết sức linh đình, giờ có phép lạ gì mà ông sống lại vậy?
Dân phố bỏ hết công việc thu hái đậu, cả tuần lễ liền quét dọn, khơi rãnh, bắc cầu, treo đèn, kết hoa, dựng cổng chào. Rồi dòng dòng kéo về châu lỵ từng đám đàn ông từ các làng người Nùng trong châu. Họ được gọi là
choảng pin, được phát quần áo, ngày cơm hai bữa xong chỉ có mỗi một việc là tập bồng súng chào dưới quyền chỉ huy của chính ông Lý Kiêu Đương bằng xương bằng thịt hẳn hoi.
Cái phố phong quang, đẹp hẳn lên. Vốn nó đã khá xinh xắn, gọn ghẽ. Không luộm thuộm như Pa Kha, cũng không cổ lỗ, bí ẩn như Pha Linh. Mường Cang có phố hắn hoi: một chạy dọc, một chạy ngang, cắt nhau thành hình chữ thập và thuần là nhà gạch, lợp ngói tây, cao ráo, sáng sủa. Hai hiệu buôn to nhất chiếm hai cái nhà gác ở ngã tư, chõ mặt vào nhau. Tất nhiên, ngoài khu phố ấy, sự lầm than vẫn như cái vòng đai thít chặt lấy thị trấn. Ấy là những xóm người Nùng lúp xúp, lầm lụi ở rìa thị trấn, mà dân cũng lại là những người trồng đậu tương cho thổ ty họ Nông, kiêm thêm các nghề đốt than, bện chão, đánh thừng, làm áo tơi, nung gạch, nung vôi.
Cái phố ấy hôm nay loạn mắt vì màu sắc. Phấp phới trên các cổng chào tết lá cọ rừng là những lá cờ lá chuối, cờ đuôi nheo xanh, đỏ, tím vàng, lam, hồng. Đèn lồng treo các cửa nhà như hai chấm đỏ trên má con gái. Từ sáng sớm, tiếng trống của đám múa kỳ lân đã nện thùng thình khiến cả cái phố như bập bềnh trên sóng nước.
Hai con ngựa của Chính và Pao được một đoàn ngựa đi đầu dương hai lá cờ to ra đón. Tiến vào phố, Chính đi đầu. Theo sau Chính là con ngựa tía trên lưng cưỡi một người to béo, vậm vạp như đô vật; người này cầm một cái lọng che nắng cho Chính. Tiếp đó là Pao.
Lạch tạch đùng! Lạch tạch đùng! Pháo nổ ran khi con ngựa của Chính vừa tới ngã tư phố. Trống nổi, thật bất ngờ, một con kỳ lân sặc sỡ, lông lá xồm xoàm, hai con mắt thô lố dữ tợn với cái đuôi dài thượt, từ một cằn nhà bung cửa chồm ra. Theo nhịp trống rền, nó nhảy, nó bầm bập đôi chân, chạy đến rạp mình ba lần lễ lạy quan khách, đoạn tung chân, rung nhạc, hí hởn vờn múa. Trong tiếng hét hầy hầy rất nhộn, chàng Tôn Ngộ Không áo đen buộc tua lông, mặt nạ khỉ, nhảy tâng tâng đùa giỡn, hai tay uốn dẻo, đầu nghênh ngáo ngáo. Đám trẻ con chen tới, ầm ĩ reo hò. Nhất là khi ông Địa đeo mặt nạ to phệnh, áo nhiễu hồng đào trong độn cái rá làm bụng phệ bước ra, chân đảo tay khuỳnh vung vẩy cái quạt giấy.
Chính bỏ mũ nồi, vẫy chào những người dân ra đón mình và xuống ngựa. Cả khách và những người tháp tùng đi giữa hai hàng lính khố đỏ bồng súng chào, tiến đến một tòa biệt thự ở giữa phố. Dân đi đón từ ngã tư à theo đoàn quan khách.
Qua cái cổng rộng, cửa sắt mở lối vừa cho ôtô con vào ra, con đường rải sỏi cuội dẫn qua cái hoa viên tươi mởn các loài hoa, Chính bước tới mặt tiền một tòa biệt thự xinh xắn, kiến trúc kiểu Pháp, nhiều góc cạnh, với những hiên giả, cửa kính, cửa chớp, rối mắt và chật chội.
Lúc ấy, từ trong nhà, chủ mới bước ra. Ba người cả thảy. Ba người đẫy đà, trắng trẻo, hao hao giống nhau, nét mặt đều cởi mở, hân hoan. Đó là ba anh em ông tri châu: Nông Vĩnh Yêng, Nông Vĩnh Xương và Nông Vĩnh Phượng.
Tuy vậy, người ta vẫn phân biệt được từng ông, ấy là nhờ trang phục mỗi người. Ông tri châu Nông Vĩnh Yêng thường khi vẫn com-lê, mũ phớt, giày hai màu như hai ông em. Nhưng hôm nay là ngày đại lễ, nên ông mặc quốc phục: khăn xếp áo the, quần ống sớ trắng, dép Gia Định đế cờ-rếp. Tuy thế, trông ông vẫn không cổ giả chút nào. Vẻ lịch thiệp, hồ hởi vẫn ngời ngợi trên gương mặt mỡ màng chưa đến năm mươi, trên cái miệng rộng cười rất tươi của ông.
Sắp tiến đến vị khách thì ba anh em ông tri châu né người sang một bên. Từ phía sau, một thiếu nữ Nùng, áo hồng viền hoa ở gấu, ở cửa tay, ở cổ, bưng một cái khay đặt tặng phẩm cung tiến phủ mảnh vải đỏ, chân như chân gái xòe, bước lấp xấp, tới trước mặt Chính. Thiếu nữ nhún chân chào và e lệ ngẩng lên, tay mở vuông nhiễu đỏ: Một khẩu súng poọc hoọc trong bao gỗ quang dầu bóng loáng mới tinh, đuôi báng súng buộc tua lụa đỏ. Thật là một món quà tặng rất hợp thời, lại biểu thị được tấm lòng sốt sắng ủng hộ Chính phủ của chủ nhân!
Chính nhận khẩu súng. Ông Nông Vĩnh Yêng bước nhanh tới, hai tay xòe rộng như sắp ôm lấy ông phái viên, rồi nghiêng mình nhã nhặn:
— Rước ngài vào phòng khách ạ ạ ạ.
Chính bắt tay ba anh em ông tri châu. Tiếp đó như một thói quen, không cần sửa soạn, anh nói với ông Nông Vĩnh Yêng như là một sự xin phép, đoạn quay lại, bước ra thềm. Bấy giờ, dân chúng đã tụ tập đông nghịt trước tòa biệt thự.
— Thưa đồng bào châu Mường Cang thân mến! — Đứng dịch ra phía ngoài, đột ngột giơ khẩu poọc hoọc lên cao, Chính lên tiếng: — Tôi là đại diện của Việt Minh, tổ chức của tất cả những người Việt Nam tha thiết với độc lập, tự do của Tổ Quốc, tới đây để bàn với ông Châu, với toàn thể đồng bào việc đánh Quốc dân Đảng giải phóng tỉnh Lào Cai ta. Ông Châu tặng tôi khẩu súng này. Trao súng cho nhau tức là đã bằng lòng theo Chính phủ. Còn đồng bào, đồng bào có tán thành phải đánh Quốc dân Đảng không?
Chưa quen được một vị cấp trên hỏi như thế bao giờ, đám đông chỉ "à" lên một tiếng rồi lao xao, ồn ào, đầy vẻ vui thích.
— Dạ... rước ngài phái viên... — Ông Nông Vĩnh Yêng nhẹ nhàng bước tới cạnh Chính, nói rất khẽ nhưng ngả cánh tay vừa mời mọc, vừa khéo léo cắt đứt câu chuyện của Chính với dân chúng.
Rõ ràng là vẻ xởi lởi có một thoáng sương phủ. Nét mặt hồng hào của ông Nông Vĩnh Yêng thoáng cau lại. Nhưng rất nhanh, ông lại trở lại là con người hiếu khách, vui vẻ, thịnh tình.
Phòng tiếp khách bày biện thật sang. Ở giữa là bộ xa lông bọc da nâu lùn tịt. Áp tường là những chiếc đi-văng cũng bọc da. Trên tường, chính giữa chỉ có một bức truyền thần một ông lão phương phi mặc áo gấm, đội mũ cánh chuồn như một viên quan đại thần, và mặt tường bên, đối diện là một bức lụa vẽ phá cảnh sơn thủy, loại tranh cổ.
Rượu, bia, nước cam quây tròn giữa bàn. Bên rìa bàn là bốn đĩa táo, mỗi quả to bằng nắm tay, màu đỏ chín hoen hoen lan từ cuống ra tới lưng quả.
Không đợi khách hỏi, chủ đã trình bày ngay đời sống và quan điểm của mình. Thật thế đấy! Ông tri châu Nông Vĩnh Yêng ưỡn ngực như để Chính thấy: ông có đeo bài ngà đâu — ba anh em ông nào có ai muốn dấn thân vào quan lộ! Hai em ông là Xường và Phượng thì dứt khoát là không có tướng làm quan. Làm quan là phải ác. Mà ác thì dân không ưa. Vả, làm quan nhất thời, làm dân vạn đại. Con đường doanh nghiệp sung sướng hơn. Vì thời nào cũng cần. Đó, cửa hiệu của ông ở giữa phố, đối diện bên kia là cửa hàng của ông phó châu Lục Đình Hoàng, người Nhắng. Cực chẳng đã năm 1920 ông mới phải ra nhậm chức lý trưởng. Ấy là vì thể theo lòng dân Nùng. Là bởi vì họ Lục, phe cánh ông Lục Đình Hoàng ở Bản Lẩu họ chỉ bênh người Nhắng của họ, họ làm điêu đứng dân Nùng. Năm bốn mươi, ông lên làm tri châu, cũng chỉ là để giữ thế cân bằng với họ Lục mà thôi. Làm quan thì xơ múi gì. Mà buôn bán thì cũng rặt là thua lỗ. Đậu tương mua giúp cho dân, thồ ra tỉnh, chuyển về xuôi bán, tốn kém lắm mà lờ lãi có được bao lăm? Dành dụm mãi mới mua được cái Tắc-xông A-văng thì bọn Quốc dân Đảng nó cướp mất. Nghĩ lắm lúc cũng chán. Hai người em ông cứ khuyên: bỏ cái chức vị này, về Hà Nội mà buôn bán cho khỏe người. Ngặt nỗi, dân Nùng ở đây coi mình như cha mẹ, bỏ họ bơ vơ đi sao đành. Cực lắm, ngài phái viên ạ, trên kia họ La áp xuống, phía dưới họ Lục tấn lên, ở giữa không cứng là chếtvới họ.
Giọng ông Nông Vĩnh Yêng kéo dài, ngân nga, óng mượt. Cái giọng vàng, giọng bạc cứ hết chuyện nọ sang chuyện kia vừa cởi mở, vừa rào đón trước sau. Cho tới khi bữa tiệc dọn xong, chuyện vẫn còn đậm. Và ông đứng dậy, khoác tay Chính thật là thân thiết. Theo một lối đi trải thảm, chủ và khách tiến đến một căn phòng rộng, giữa đặt bàn tiệc. Thật là một bữa tiệc thinh soạn và độc đáo. Ngoài những món thịt lợn, thịt gà, thường thấy ra còn thì la liệt tất thẩy là những món được chế biến từ hạt đậu tương: đậu rán nhồi thịt, đậu trộn trứng rán, tầu phù phá, đậu giá, canh óc đậu, tầu sì, đậu phụ nướng, đậu phụ luộc, đậu phụ nhự... Ông tri châu muốn chứng tỏ mình là người chỉ quan tâm đến chuyện kinh doanh đậu tương và cũng là con người biết thưởng thức tinh tế những giá trị đặc sản địa phương.
Chính không chú ý tới điều đó. Điều đáng lưu tâm hơn là những người dự tiệc. Thật thế, đầy hai dãy ghế là những bộ mặt lạ.
— Thưa ngài đại diện Chính phủ — Ông Nông Vĩnh Yêng đứng dậy, chủ động, và lịch sự — Xin ngài cho phép tôi được giới thiệu với ngài những anh em giúp việc quân cơ trong châu ạ... Dạ, đây là... Dạ, đây là...
Ông Nông Vĩnh Yêng chỉ tay vào người nào, người đó đứng phắt dậy, mặt lạnh như tiền. Này đây là Lù Pin Dìn, đầu múp, vóc dáng đô vật, kẻ đã ra đón Chính. Này đây: xếp Thòn loắt choắt, tai vểnh như tai chuột. Này đây: xếp Hin, ục ịch, lờ ngờ.
Người được giới thiệu cuối cùng, với một vẻ trịnh trọng đặc biệt, là Lý Kiêu Đương, tổng chỉ huy binh lính của châu. Đương có khổ người cao, vẻ mặt khinh khỉnh, hai con mắt gian, trắng dã, hay nhìn trộm, hàm răng vổ chìa hẳn ra ngoài môi.
Chính đứng dậy, bắt tay từng người, dừng lại trước Lý Kiêu Đương, vui vẻ:
— Ông Đương, ông bằng lòng theo Chính phủ Trung ương tiễu trừ bọn Quốc dân Đảng chứ?
Bị hỏi bất ngờ, Đương ngây đơ người, ấp úng. Nhưng Nông Vĩnh Yêng đã vội đỡ lời, thật mềm mại.
— Thưa ngài phái viên, anh em thủ túc của tôi đều đồng lòng cả đấy ạ!
Chính cười, nhìn tất cả mọi người:
— Thế thì tốt lắm! Các anh em chắc cũng biết hiện thời nước ta đã được độc lập. Vị lãnh tụ tối cao của toàn dân ta là Hồ Chủ tịch...
— Dạ thưa ngài... — Nông Vĩnh Yêng lại tỏ ra sốt sắng, cướp lời Chính một cách hết sức dịu dàng — Anh em đều hiểu cả đấy ạ! Dạ, sau ngày lánh nạn Nhật về, anh em mới được tôi chiêu mộ lại. Dạ, anh em hăng hái lắm! Chỉ mấy ngày đã được hơn ba trăm lính. Chúng tôi không như ông La Văn Đờ bắt cá hai tay, cho Châu Quán Lồ ở lại với Nhật. Chúng tôi không như ông Lục Đình Hoàng mời Quốc dân Đảng vào Bản Lẩu. Quốc dân Đảng cử người tới, đòi chúng tôi nộp đậu tương, bạc trắng. Chúng tôi trả lời: “Chúng tao chỉ có sẵn đầu đạn thôi. Muốn ăn thì vào đây!”. Há há há...
Cái bàn tiệc rộ lên một hồi cười theo chủ. Chính gật gật đầu:
— Đó, bọn phản động ngoan cố lắm! Tôi nhớ hồi tháng tám năm bốn mươi lăm, vua Nhật lúc ấy đã đầu hàng Đồng Minh rồi, tôi tới tỉnh Yên Bái gặp bọn Nhật yêu cầu chúng trao toàn bộ vũ khí cho Việt Minh. Chúng đồng ý. Vậy mà chín giờ sáng ngày 19 tháng 8, chúng lại nổ súng đánh ta. Bắt buộc chúng tôi phải đánh lại!
— Chà!
— Nhân đây tôi cũng có để các ông rõ: Tôi đã đến Pa Kha. Thoạt đầu ông Chao có ý khước từ. Tôi nói: tham gia trừ giặc là nghĩa vụ của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Các ông không tham gia thì bộ đội cũng sẽ vẫn giải phóng Lào Cai. Chúng tôi đã đánh cho bọn Nhật phải quỳ gối xin hàng! Chúng tôi nhất định sẽ đánh tan bọn Quốc dân Đảng.
Ôi! Giọng Chính trong sáng và tự nhiên làm sao! Nhưng nghe Chính nói, Lý Kiêu Đương mắt chớp chớp liên hồi. Đương chưa chịu khuất phục đâu. Đương là một tính cách cứng cỏi, là một khát vọng chưa thỏa mãn, là một nhân vật còn đầy bí ẩn, bí ẩn cả với Nông Vĩnh Yêng kia.
Đội khố đỏ đó là cái vỏ bề ngoài của Đương thôi. Còn thực chất, Đương chính là một nhân viên của Phòng nhì Pháp. Năm bốn tư Đương đã chết một lần. Bọn nhà đoan còn đem cả cái mũ vấy máu về phố, rêu rao: đội Đương đi buôn lậu, bị bắn chết đây! Nhưng chết ở đây, mà Đương sống ở Côn Minh, với phái đoàn quân sự Pháp. Và bây giờ thì Đương đã về. Để rồi Đương sẽ là ông chủ ở đất này. Yêng, Xường, Phượng trước sau thì cũng cao chạy xa bay. Cả thằng Xì Xám Mầu cũng vậy thôi. Và lúc ấy thì Thị Cọt sẽ không còn là vợ nó nữa. Chà!
Những ý nghĩ cuối cùng rừng rực trong lòng Đương, khiến y như đột ngột phắt dậy, trợn trừng trợn trạc nhìn Chính:
— Thưa ngài phái viên, tôi sẽ chỉ huy lính đi đánh Quốc dân Đảng. Nhưng ngài phải cho tôi thêm súng đạn.
Chính cười nhè nhẹ:
— Ông Yêng vừa nói là ở đây sẵn đầu đạn để đón tiếp bọn Quốc dân Đảng cơ mà, ông không nhớ ư, ông Đương?
— Ha ha... ngài phái viên thật là có tài nhớ! — Yêng bật cười cố tình, rồi nhướng hai con mắt: — Ông Đương nói là lo xa, vậy thôi chứ, nếu mà thiếu thì chúng tôi sẽ sức cho dân đóng góp chứ đâu dám phiền Chính phủ ạ!
Chính lắc đầu:
— Việc dân đóng góp phải rất hạn chế, ông Yêng ạ! Hiện thời, đồng bào còn rất nghèo, còn rất khổ.
— Thưa ngài phái viên, nếu không có súng đạn thì đánh Quốc dân Đảng bằng tay à?
Nhìn Đương lại vừa nhổm dậy, giở giọng càn rỡ, Chính nghiêm mặt:
— Tôi xin nhắc lại: đánh Quốc dân Đảng là nghĩa vụ của mọi người. Mọi người cần thực hiện nghĩa vụ đó một cách thành thực.
Thấy không khí có vẻ gay gắt, Yêng vội mời tất cả cử tọa nâng cốc, vào bữa tiệc.
Nâng cốc, quay nhìn hai dãy ghế, Chính tươi cười, rồi chạm cốc với Yêng, giọng quả quyết:
— Nhất định chúng ta sẽ giải phóng Lào Cai!
— Dạ, nhất định ạ.
Ran ran tiếng cốc chạm, những tiếng khà khoái trá và lời mời mọc.
— Mời ngài phái viên ạ.
— Cám ơn ông. Tôi rất vui vì các ông đã hiểu ra nghĩa vụ của mình.
— Dạ, thưa...
— Ông có điều gì còn băn khoăn?
— Dạ giải phóng xong thì ta lập Tỉnh chính phủ, chứ ạ? Đặt đũa xuống bàn, miệng nhai, Yêng mắt liếc Chính, tiếp:
— Dạ... chúng tôi nghĩ, chính quyền tỉnh rồi thế nào cũng phải thành lập. Nhưng việc cử người đứng đầu chính quyền nghĩ đi nghĩ lại thấy là khó lắm đấy ạ.
— Xin ông cứ nói tiếp.
— Dạ! Các ngài Việt Minh thì vốn chẳng tham quyền rồi... Hà... Hoàng Văn Chao thanh thế thì to, nhưng lại không được lòng dân... La Văn Đờ tiếng thế uy danh chỉ có với dân H'Mông. Trong tỉnh Lào Cai ta, kể cả các ông thổ ty bên miền tây thì chỉ có... xứ Nùng Mường Cang... dạ xứ Mường Cang này là to là đông dân, nhiều tài lực thôi. Hừ... ngay cái chức quân sự ở tỉnh là xem ra cũng đã thấy là khó chọn. Châu Quán Lồ theo Nhật, lý lịch bất hảo, hữu dụng vô mưu, quá ư độc ác, lòng dân oán thoán vô kể... thì không được rồi. Trong khi đó, ở châu tôi, việc binh bị, ngoài ông Lý Kiêu Đương, không có người thứ hai, ngài phái viên ạ.
Quẩn quẩn quanh quanh, khôn khéo bẻo lẻo, lúc bóng gió xa xôi, khi gành gót nghểnh ngảng, ông thổ ty kiêm nhà phú thương trổ hết tài bắt mối hàng, dẫn khách để giới thiệu với Chính, rằng, chỉ có ông là xứng đáng và cần phải giữ chức tỉnh trưởng còn bộ hạ thân tín của ông là xếp Đương thì là kẻ duy nhất đáng ở địa vị ủy viên quân sự tỉnh.
Nhưng, ông càng da diết và càng toạc móng heo bộc lộ tham muốn bao nhiêu thì Chính lại càng như lảng xa câu chuyện bấy nhiêu. Chính vừa nghe vừa gật đầu lạnh nhạt. Cho tới khi ông Yêng thở đánh phào khoan khoái vì nghĩ rằng mình đã trình bày một cách rành rẽ, tỉ mỉ và hết sức đầy đủ lý sự, thì Chính mới ghé vai ông, thoáng cười, nhẹ nhàng:
— Ông Yêng à, bây giờ mà ta đã vội bàn việc xếp sắp các chức vị trong chính quyền tỉnh thì tôi e là sớm quá!
Biết là bị hớ, nhưng ông Yêng trợn mắt, cười lấp:
— Tôi sợ rằng nước đến chân không kịp nhẩy ấy chứ.
— Tôi ngại rằng chuyện lọt ra lại có người nói ta tham quyền, ham chức tước. Mà...
— Không không... — Ngật cái cổ mỡ màng ra sau ghế, ông tri châu họ Nông lắc lắc đầu, xua tay — Nhảy vào quan lộ, đáo công môn là tôi thực lòng không ưa. Tôi nói ngài phái viên nghe nhé: như tôi là phú thương, đại phú, đại quý, giàu sang mãn đời, tôi còn thiết cái gì. Việc cai trị việc binh bị... nếu có tham gia thì quả là vì lòng dân thúc ép thôi, ngài ạ.
Chính gật đầu:
— Tôi hoan nghênh tấm lòng ấy của ông!
Lấy lại được đà, ông Yêng lấn lướt:
— Ấy đấy, ngài phái viên ạ! Có bàn bạc trước vẫn có hơn chứ! Không phải là việc buôn bán nhất bản vạn lợi đâu. Nhưng có đi có lại vẫn toại lòng nhau. Ví dụ ông La Văn Đờ góp năm mươi quân, ông Hoàng Văn Chao góp năm mươi quân, tôi góp ba trăm. Vâng, ba trăm!...
Ông châu họ Nông buông lửng, chành miệng ông cười hề hề. Ông nhất định mặc cả. Vốn ông nhiều thì lãi ông cũng phải nhiều chứ! Thế ông vững, ông đòi vậy thì là phải chứ. Nhìn ông thổ ty nheo nheo mắt đợi chờ, Chính nghiêng đầu, thản nhiên:
— Tôi vừa ở Pha Linh về. Ở Pha Linh mắt tôi đã tận mắt thấy cảnh ông Đờ tàn sát đẫm máu một thường dân vô tội. Đó là tội ác. Nhưng, dửng dưng trước tội ác cũng là một tội ác... Đứng ngoài cuộc đấu tranh để giải phóng đồng bào khỏi ách Quốc dân Đảng cũng vậy, là một tội ác!
— Đúng như thế đấy ạ!
— Ông Yêng ạ, ông có ba trăm lính. Sắp tới họ sẽ tham gia cuộc chiến đấu đánh bọn Quốc dân Đảng. Ông thử hỏi xem trong ba trăm người lính ấy, có bao nhiêu người đòi hỏi phải được thế này thế khác trước khi tham gia chiến đấu? Tôi chắc là có, nhưng không nhiều. Hay là ông để tôi đi gặp anh em tôi hỏi? Chắc chắn rằng những người ra trận mạc nay mai nghĩ giản dị hơn: họ chỉ vì yêu nước thương nòi mà vác súng lên đường thôi.
Yêu sách bị gạt đi thẳng thừng, lại bị trách cứ nhẹ nhàng, Yêng lảng sang bên, trò truyện với hai người em, lát sau quay lại nhấc chai rượu, rót tiếp cho Chính:
— Dạ, mời ngài phái viên ạ!
— Mời ông, mời các ông!
Yêng nhấp một hớp nhỏ. Há miệng ông khà một tiếng nhỏ. Rượu nặng cháy bỏng, tê đắng cả cuốn họng.
Vây quanh Pao, người Nùng áo rộng, người Hoa áo khuy vải. Những cái tẩu thuốc nghênh nghênh. Những cái nón sơn nghiêng nghiêng. Pao để tay lên ngực, khiêm nhường:
— Tôi là người dẫn đường cho cán bộ Việt Minh thôi!
Mặc, người ta cứ bíu lấy tay Pao hỏi chuyện về ông đặc phái viên, về Việt Minh.
Bỗng có tiếng gọi:
— Anh Pao ơi!
Pao quay lại. Một người trai Nùng, mặc cái áo chàm cũ, cộc tay, vá chằng vá đụp, đang địu một bó cỏ to đứng ở bên đường. Pao ngỡ ngàng: cái mặt tròn sần sùi trứng cá và bậm bụi, trông quen quen. Cái mặt tròn ấy cười, môi hở những chiếc răng trắng nõn, rất tương phản với gương mặt lầm lũi, khổ ải.
— Có nhớ tôi không? Con ngựa bị cảm...
Pao sực nhớ reo:
— Anh Mìn!
Người nọ bỏ địu cỏ. Pao nắm tay anh. Anh giằng ra, nắm tay Pao lắc lắc, rối rít:
— Về nhà tôi đi! Về nhà tôi đi! Gần đây thôi mà!
Nhà Mìn là một cái túp lều gianh trong cái xóm nghèo ở rìa trấn Mường Cang. Cửa liếp đan xộc xệch dán một tờ giấy đỏ có hàng chữ: "Hoan nghênh đại diện Trung ương Chính phủ!".
Mìn đặt bó cỏ đánh ịch ở ngoài sân, đẩy cánh cửa, gọi oang oang:
— Bố ơi, bố! Anh Pao người H'Mông Pa Kha sang đây này!
Bên đống lửa đốt giữa nhà là một ông già gầy gò. Nghe tiếng gọi, ông già bỏ cái dịu đang đan dở, ngước dậy, ngơ ngơ:
— Mìn về đấy à? Nhà ông Châu xuống gọi mày...
Mìn gài cái liềm cắt cỏ vào liếp, bước lại, ghé sát tai ông già, nói to:
— Bố ơi, anh Pao, người chữa con ngựa bị cảm đấy!
Ông cụ ngẩng lên. Gương mặt choắt, đen cháy. Hai con mắt khép nhỏ, nhờ nhờ màu nến. Ông cụ vừa bị điếc, vừa bị lòa.
Đón chén nước Mìn đưa Pao, nói thật to:
— Cháu mời cụ uống nước ạ.
Ông cụ khe khẽ gật đầu, rồi tiếp tục công việc. Những sợi nan trúc chuốt rất kỹ, nhẵn bóng thoăn thoắt đan cắt trong bàn tay như hai cái rễ cây của ông cụ.
— Mìn à, nhà ông Châu xuống gọi mày.
Mìn đang thở khói thuốc lào, lúc lắc cái đầu:
— Ây dà, việc nhà quan, bao giờ hết được!
Pao bỡ ngỡ:
— Anh làm trong nhà ông Châu à?
— Làm. Mà cũng chẳng làm… Lúc cần họ gọi thì đi… Hôm nay anh đến, tôi ở nhà. Anh uống với tôi bữa rượu. Bố ơi!
Ông cụ lại đặt cái địu đan dở xuống, nghênh nghênh:
— Ở phố có gì mà có trống đánh to thế, Mìn?
Mìn nói như hét:
— Đón phái đoàn Chính phủ. Bố có biết Chính phủ không?
Ông cụ lắc lắc đầu.
— Thế mà tao cứ tưởng có đám cưới con ông Châu.
— Đám cưới nào?
— Là như cái đám cưới ông Xì Xám Mần lấy cô Thị Cọt ấy! Này, Mìn, nghe họ nói hình như ông Mần ông ấy về rồi đấy!
— Ai bảo bố thế?
— Lão Tính nghiện ở trong cái lô cốt Nhật ở đầu phố bảo là nhìn thấy ông ấy thò đầu ra cửa sổ ở trên gác.
— Thật à? — Mìn hỏi, đứng dậy như quên khuấy, đập vai Pao — Anh ngồi đây nhé, tôi đi bắt con gà!
Nhưng Pao chưa kịp ngăn và Mìn cũng chưa kịp ra khỏi căn nhà thì ngoài cửa đã có tiếng gắt bẳn:
— Nhà Mìn đâu nhỉ? Quan gọi mấy lần mà không thấy mặt là cớ làm sao?
Mìn mở cửa. Pao giật mình. Người to béo đang đứng trước cửa kia chính là kẻ đã đón Pao và Chính ở tận núi Hàm Rồng. Y cầm một cái gậy to, liên tục dộng kịch kịch xuống đất. Nhận ra Pao, y liền bớt hùng hổ.
Mìn quay lại nhìn Pao như có ý xin lỗi. Pao giục:
— Mìn cứ đi đi!
— Tối tôi về nhé!
Mìn bước ra cửa, ném bó cỏ lên vai, đi.
Căn nhà tự nhiên tụt hẫng xuống. Chỉ có tiếng nan trúc lách cách chạm nhau. Và mưa đã bắt đầu thầm thì rơi trên mái cỏ.
Mưa buông màn xám, thứ mưa đông buồn, u ám buốt giá. Những hạt mưa không chân, lửng lơ bay. Chúng lọt qua kẽ hở, vào nhà. Căn nhà mờ mờ lạnh lẽo.
Pao gọi, tiếng vang trong căn nhà:
— Cụ ơi, cháu đốt lửa nhé!
Ông cụ đặt cái địu đan dở, ngồi thừ. Hai con mắt như chìm nghỉm đâu mất. Chỉ còn hai cái hốc sâu, thâm ngơ ngác:
— Ai như tiếng ông tướng cướp Lù Pin Dìn ấy nhỉ?
— Cụ nói ai? Cháu là Pao, người H'Mông đây mà!
Pao dịch lại gần ông cụ. Ông cụ lắc lắc đầu, lẩm thẩm:
— Chết thôi! Lại kéo về cả đây thì lại đánh nhau. Lại đánh nhau to đấy, cháu người H'Mông ơi!
— Ai đánh nhau, hả cụ?
— Là tôi nói hồi họ Lục ở Bản Lẩu đánh nhau với họ Nông trên này ấy mà!
Hóa ra ông cụ không phải là không biết trò chuyện. Khi Pao đã gầy được đống củi sưởi, lửa cháy lém lém, tỏa ấm khắp căn nhà, thì ông cụ không đan nữa. Ông cụ ngồi thừ, giọng vẳng rất xa:
— Là cái cô Nông Thị Cọt ấy mà, ông Châu đã hứa gả cho cậu Tường bên Pa Kha. Thế mà đùng cái, lại lấy ông Xì Xám Mần. Ông này là quan Tàu mà... à, mà cháu người H'Mông có biết ông Lục Đình Hoàng người Nhắng không? Tôi là tôi gửi ông Nông Vĩnh Yêng hai con mắt đấy… Rồi tôi phải lấy lại...
Pao rùng mình. Ông lão trợn trừng, không còn mắt, chỉ thấy cái kẽ nứt rách ra. Không! Ông cụ không lẫn. Chuyện rời rạc, nhưng chắp nối lại thì có đầu có đuôi. Thì ra họ Lục và họ Nông tranh nhau chức tri châu. Họ Nông được. Họ Lục thua liền tức giận thuê người bắn chết bố Nông Vĩnh Yêng. Yêng vốn thù ông cụ vì ông cụ đã có lần vác dao đến định chém y khi y lấy đất của ông cụ để mở hiệu buôn, được dịp bèn vu ông cụ là hung thủ. Y bắt ông cụ về làm ma tươi cho bố. Trói ông cụ cạnh quan tài bố, đặt một cái đĩa đèn lên đầu ông cụ. Lửa dầu chảy nhầy nhụa xuống trán, vào mắt vào mồm ông cụ...
— Tôi không lòa đâu, cháu người H'Mông ơi! — Ông cụ như sực tỉnh — Tôi nhìn rõ tim gan nó mà!
Pao thấy cay cay hai con mắt. Anh thở dài:
— Cháu nghe anh Chính nói: Việt Minh tốt với người nghèo, người có khổ. Việt Minh hô hào mọi người theo họ.
— Nếu họ tốt thật thì thằng Mìn theo họ đấy!
— Anh Mìn bao giờ về, hả cụ?
— Húi! Còn hết đêm.
— Sao lâu vậy ạ?
— Nhiều việc lắm! Cắt cỏ ngựa, quét dọn, đập đậu, sấy đậu, đóng bao. Ông Châu chở đậu tương đi bán, rồi mua vải, muối về bán lại cho dân mà!
— Ai cũng phải đi à?
— Bằng nhau! Ai cũng phải đi. Không đi không được mua muối, mua vải.
Chuyện đến đây thì ngoài sân có tiếng người nói: "Đây, người đi theo ông phái viên ở trong ấy!". Rồi tiếng người thở è è nặng nhọc cùng tiếng bánh xe quay rù rù.
Pao mở cửa. Ngoài sân có một chiếc xe đạp vừa được đẩy vào. Bâu quanh chiếc xe bê bết bùn là ba người: một người cầm ghi-đông, một người đẩy đằng sau, và một người đỡ một ông già ngồi trên cái đèo hàng. Người cầm ghi-đông, bỏ cái mũ chào mào, lau mồ hôi, ngẩng lên, lo lắng:
— Đây có phải nhà anh Mìn không thế?
— Phải.
— May quá! Cụ phó châu tôi muốn gặp ngài phái viên Chính phủ. Dân họ bảo người đi hộ vệ ngài phái viên vừa đến đây.
Người ngồi trên cái đèo hàng xe đạp là cụ phó châu Lục Đình Hoàng. Hom hem, mặt mũi hốc hác, trông ông cụ như người ốm. Suốt nửa ngày trời ngồi trên xe để ba người đẩy ngược dốc, người cụ ê ẩm, hai bên mông gầy và đôi cẳng tê bại, không cử động được. Người giữ cụ biết vậy, liền ngồi xuống, ghé vai cõng cụ vào nhà.
— Các anh để cụ ở đây nhé, tôi đi tìm anh Chính cho!
Pao nói rồi ra sân.
Đã chờ sẵn ở cửa, khi thấy Chính bước vào, ông phó chậu Lục Đình Hoàng liền sụp ngay xuống đất. Chính vội đỡ ông cụ:
— Cụ… Kính cụ... Cụ đừng làm thế...
— Bẩm bẩm... ngài phái viên...
Cụ phó châu được đỡ lên giường. Cụ cứ nhướng hai vệt mày đã áy trụi nhìn Chính. Nhận chén nước Chính mời, cụ sụp xuống giường, nức nở. Chính lại phải đỡ ông cụ dậy. Ông cụ đưa tay quệt nước mắt, sụt sịt:
— Thưa ngài phái viên... Nghe tin ngài hạ cố tới ủy lạo châu Mường Cang, tôi vội vã lên hầu ngài. Nhưng, người ta ăn ở thất đức lắm, người ta ngăn cản, đuổi tôi ra, không cho tôi được yết kiến ngài. Thưa ngài phái viên, gặp thời gặp thế nên trọc phú, họ chẳng còn biết nhân đức là gì nữa ạ. Là tôi nói cái ông Nông Vĩnh Yêng ấy ạ. Cùng đi thi chức châu úy Mương Cang, tôi thì đỗ, Nông Vĩnh Yêng thì trượt. Vậy mà thế nào nó lại được bổ thẳng lên tri châu. Bề ngoài sơn sớt thế thôi mà bên trong thì bụng nó toàn rắn độc đấy ạ! Thưa ngài phái viên, ngài cứ hỏi ông cụ Mìn ở đây thì rõ ạ! Làm quan gì mà lại tùng đảng với bọn thổ phỉ, xui nguyên giục bị cho nó đi cướp phá làm khổ dân lành? Làm quan gì mà lại mượn tay kẻ bất lương đào mồ rồi giật mìn tung cả hài cốt ông cụ nhà tôi ạ. Thưa ngài phái viên, muôn sự phải lấy dân làm gốc. Sợ đất bản Lẩu thành nơi chiến trận nên tôi đành phải nhận cho bọn Quốc dân Đảng nó vào đóng quân. Nhưng trong lòng tôi vẫn...
Ngừng lại, khịt khịt mũi, cụ phó châu tiếp:
— Thật là núi rồng ngàn xưa đã bị mất, gà kia đã cướp núi phượng hoàng. Thật là khổ vì sông nhiều bãi, nước nhiều quan. Sông nhiều bãi, nước nhiều dòng; nước nhiều quan, nước nhiều loạn ly. Dạ, thưa ngài phái viên. Thật là điêu đứng quá. Hai con cháu tôi tội tình gì mà bọn Man di khai sáng nó giăng lướinó bắt?
Cụ phó châu tìm cái khăn lau mắt. Cụ khóc. Cụ lo. Dân Nhắng Bản Lẩu của cụ sẽ sống chết thế nào? Tướng Long Vân nhắn người sang bảo cụ: Tàu đã ký hiệp ước với Pháp: đất Lào Cai từ nay là của Tàu rồi! Quan ba Cúc ở Côn Minh lại nhắn về: cứ giữ lấy Bản Lẩu, nay mai về, có công sẽ được thăng quan lớn! Có kẻ lại nói: sắp nổ đại chiến thứ ba. Mỹ sẽ thắng, phải theo Mỹ! Năm bè bảy mối, giờ cụ biết theo ai?
Thấy cụ phó châu thổ lộ hết can tràng đã mệt, Chính đề nghị ông cụ nằm nghỉ, anh hứa làm việc xong với tri châu Nông Vĩnh Yêng sẽ đi ngay Bản Lẩu.
Vừa lúc ấy, chó bỗng cắn ngậu trong xóm. Chính gọi Pao ra ngoài sân. Đêm lấm tấm sao nhạt. Pao đứng cạnh Chính. Anh và Chính cao xấp xỉ nhau.
— Pao này! Pao cầm khẩu súng này mà dùng!
Pao quay lại, tim đập rộn. Khẩu poọc hoọc trong bao gỗ còn mới nguyên rung trên tay Pao. Tay Pao nóng dâng. Đầu Pao bừng bừng.
— Đây có phải nhà Mìn không? — Tiếng một người nào trong đêm tối phía trước hắt tới.
Pao đeo khẩu poọc hoọc, bước lên. Một con ngựa có chấm trắng ở trán vừa đi vào sân nhà Mìn.
— Ai đấy?
— Ông phái viên có ở đây không?
— Có việc gì đấy?
Người dắt ngựa ghìm đầu ngựa vào sát bả vai mình, nói, giọng đẫm hơi rượu:
— Tôi là châu úy Lùng Chinh, tên Vàng Đình Tráng. Tôi tưởng ông phái viên qua vùng tôi, nên đã sửa soạn đón tiếp. Nghe uy danh của ông, tôi muốn mời ông về cho người xã tôi được nhìn mặt.
Chợt có tiếng giày bước rất nặng, rồi tiếng chó cắn toang toang. Tiếng một người choang choác: "Ông là gì mà mày cứ nhè ông mày cắn hả? Nhà nào có chó điên đây? Muốn cho nó ăn củ giềng không?". Pao cười thầm: "Người nào mà chó nó cũng ghét thế!". Người vừa nói đi tới, lớn tiếng:
— Ông phái viên có ở đây không?
Chính bước lên, nhìn thấy hàm răng vổ của người nọ:
— Chuyện gì đấy, ông Lý Kiêu Đương?
— Chủ tôi mời ông phái viên về. Ở đây nguy hiểm lắm ạ.
— Ông về nói với ông Yêng, tôi còn đi thăm mấy nhà đồng bào nhé! Đồng bào ta, ta còn không tin thì ta còn tin ai.
Pao đứng, trong bóng đêm, mân mê cái bao súng, lòng mơn man bồi hồi.
VIII "Ghê gớm quá! Ta nói: Một na nủ H'Mông trong một tê chơ H'Mông. Hắn nói: “Các người có thể tồn tại được nếu các người kịp thời dừng ngay những tội ác đó lại". Không! Ta không sợ hắn dọa. Ta sợ cái vẻ ung dung, kiêu hùng, trong hoàn cảnh thân cô thế cô của hắn!. Ta sợ ý nghĩ của hắn. Trời! Ta nói người H'Mông là người H'Mông. Hắn nói: đồng bào ở đây cũng là người Việt Nam".
Suốt hai ngày liền, La Văn Đờ cắn dứt mãi vì những ý nghĩ trên. Thỉnh thoảng đứng ra cửa sổ, nhìn xuống. Đờ lại thấy bóng hình Chính như vẫn còn đấy, trên bậc đá trước tòa dương cơ. Lại như thấy tay Chính vung cao hùng dũng, giọng Chính vang vang. Và những lời Chính nói tràn đầy khí lực lại hiện lên như những nét chạm, nét khắc hằn sâu trong óc Đờ. Lần đầu tiên trong đời, Đờ biết sợ.
Ngày thứ ba, Đờ gọi Châu Quán Lồ tới, thầm thì hồi lâu, rồi cùng Lồ dắt ngựa xuống đường.
Tránh cái bậc đá Chính đã đứng, Đờ ghé tai Lồ:
— Sảo quán đi đi! Nhớ vứt cái nóng nảy xuống suối, nói: ông Châu tôi xin mời ngài phái viên quay trở lại Pha Linh để ông Châu tôi xin ngài thứ lỗi, và hầu chuyện. Nói cho khéo.
Lồ gật đầu rồi quay lại, ngước nhìn lên hàng bậc đá dẫn lên tòa nhà. Chà! Vợ ba La Văn Đờ. Đứng ở bậc đá lưng chừng, ả đang giơ tay vẫy tiễn Lồ. Ả cũng đã tham dự chính sự. Nhận ra cặp mắt nhấp nháy như đánh tín hiệu của ả, thấy phấn chấn hẳn lên, Lồ liền nhảy phắt lên cái lưng trần của con ngựa.
Con ngựa đực màu lửa hí một hơi ngắn và nhún chân. Trên lưng nó, mũ Nhật chum chủm đội đầu, áo dạ sĩ quan Pháp, quần Nhật đáp đũng, đáp đầu gối, hai bên sườn hai khẩu súng sáu, Lồ rộn rực như có lửa bốc.
Gió náo nức tạt vào mặt ngựa, vào mặt Lồ. Qua cái lô cốt đầu phố, con ngựa xoải những bước dài vụt tới khu chợ châu. Người dạt ra hai bên như gianh bị bão lốc. Có tiếng la hoảng. Một đám đông lố nhố vừa hiện ra trước mặt Lồ.
Con ngựa đổi nước chạy, vung tay. Lồ hét:
— Cản đường đi làm việc quan. Có muốn tao cho ngựa xéo nát làm tầu sì không?
— Lồ sảo quán! Lồ sảo quán!
Nghe thấy tiếng gọi mình, Lồ ghì cương, quay cổ conngựa lại.
— Sảo quán cái l... mẹ mày!
— Châu Quan Si bắt được một đứa ăn ở hai lòng!
— Đứa nào? Đâu?
Vừa dừng ngựa, Lồ đã nhìn thấy trên mảnh đất mọi người vừa vây quanh giãn ra, Châu Quan Si ngồi đè lên ngực một người trai trẻ, và hai tay hai nắm đấm y đang liên tục thoi vào mặt người nọ. Thấy anh trai, Si bỏ người nọ, nhảy lên, hớn hở:
— Anh Lồ! Thằng Lềnh này nói: Pha Linh là hạt vừng. Tê chơ H'Mông là hạt cát. Nó nói như Việt Minh. Nó còn dọa đi theo thằng Tếnh, thằng Seng!
— Lui ra! — Lồ hích ngựa.
Con ngựa giật lui, tay Lồ cuộn cuộn cái dây da. Con mắt độc nhất của Lồ đỏ gắt như lửa. Người tên Lềnh, áo rách toạc ở bả vai trái vừa bò dậy đã ngã rập xuống đất.
"Chuých!". Cái roi da trong tay Lồ quay tròn tới tấp mổ xuống mặt người nọ.
Khoái trá, Si nhảy lên, giữ hàm thiếc con ngựa của Lồ.
— Anh Lồ đi dâu?
— Tao về nhà. Tao ra Mường Cang. Cho ngựa kéo xác thằng này...
Cái roi nổ một tiếng đanh gọn trong không khí. Con ngựa bỏ lại Pha Linh về phía sau. Lướt qua Lồ, núi gianh vàng, núi đất đỏ, núi đá trắng, rừng pơ — mu xanh thẫm bao la.
Con ngựa làm Lồ quên khuấy ngay những việc vừa xảy ra. Vả chăng Lồ vốn không quen với những ý nghĩ rắc rối rườm rà. Như con ngựa chỉ quen một việc là cất vó. Con ngựa vượt dốc. Con ngựa lượn bên bờ vực. Con ngựa băng qua suối. Con ngựa lơ lửng bay trong mây.
Người sao, vật vậy. Con ngựa có màu lông rực lửa cũng hung tợn, liều lĩnh như Lồ. Ngoài Lồ, nó cắn, nó đá tất. Kẻ nào rõ mặt hảo hán lừa leo được lên lưng nó thì nó đá hậu, dựng vó, rúc bụi, kỳ cho kẻ đó rơi xuống đất mới thôi. Cũng như Lồ, con ngựa cũng có tính mê gái. Thấy ngựa cái là nó giậm giật, đá vó, hất cẳng, rung bờm, hí hàng thôi hàng hồi và phóng tới.
Chiến mã này vốn là sở hữu của một sĩ quan Nhật. Lồ cướp được khi quân Nhật đầu hàng đồng minh rút về tỉnh. Lồ nhảy lên lưng nó thấy nó ưa ngay. Như tri âm gặp tri kỷ. Tuổi trẻ của Lồ gần nửa thời gian ngồi trên mình ngựa, nhưng chưa con nào chịu được cái sức cương cường của Lồ. Có con Lồ phi đứt ruột chết. Có con Lồ cưỡi một lần, lần sau cứ thấy mặt Lồ là sợ. Con ngựa này hợp với Lồ. Nó phi nhanh, sức lại bền. Chim bay không kịp nó. Bước nhảy của nó rất đều, không lỗi một nhịp. Nó lội bùn giỏi, mà chạy đường đá củ đậu cũng tài.
Trên lưng ngựa, người Lồ rập rình như trong một điệu vũ nhộn nhịp. Mồ hôi toả ra, ẩm cả lần áo lót vải. Lên cơn hứng khởi, bỏ cương, Lồ túm bờm con ngựa, gò lưng, nghiến răng, hích, giật. Cơn hứng khởi xuất thần của chủ, con ngựa hí như phụt lửa sầm sập lao xuống dốc. Thích quá, Lồ rên ầm ầm. Tính Lồ vốn vậy: nóng nảy, hung hăng, liều lĩnh và giản đơn. Lồ chẳng quen nghĩ ngợi sâu xa, vằn vèo. Lồ cũng như ngựa, dễ hăng, chóng bị kích động.
Đường xuống thấp dần. Đã thấy những vệt ruộng dài. Và vầng mặt trời đã lóe sáng gắt gay ở ngay trên đầu người và ngựa.
“Cho ngựa nghỉ một lát rồi ra Mường Cang cũng kịp” — Lồ nghĩ, vừa lúc thấy bên đường có một quán ăn nhỏ.
Cái quán lợp gianh vàng xuộm đứng trơ trọi ở ngã ba đường đi Mường Cang và Pa Kha. Nghe thấy tiếng ngựa hí, chủ quán, một ông già tóc hoa râm, răng hàm trên bịt vàng, mặc áo xám, khuy vải kiểu người Xã, chạy ra khấp khởi mời chào.
Tung cái dây cương qua đầu ngựa cho chủ quán đón, Lồ nhảy phịch xuống đất, cộc lốc:
— Cho ngựa ăn thóc!
Ông già chủ quán chừng như mới ở đâu dọn đến, ngần ngừ:
— Dạ, nhà hàng chỉ có đồ ăn cho quý khách...
Lồ sầm sập bước vào quán, ngồi phịch xuống cái ghế băng, hất hàm:
— Có những món gì?
— Thưa... chi nhục, níu nhục, xà xíu.
— Dọn hết cả lên đây!
Nghe lời truyền, bụng nghĩ có được một ông khách nặng túi, chủ quán liền vội vàng buộc ngựa, nhanh nhảu bước vào quầy. Liếc nhìn khách một lần nữa, thấy con mắt chột hõm sâu, đỏ khé, hàm răng nhọn của hắn, ông già hơi hoảng, nhưng nghĩ giọng điệu hách dịch thế hẳn là quan to, nhiều tiền, nên nhanh nhẹn chui vào bếp. Trong bếp lanh lảnh tiếng nói một người con gái. Tiếng mỡ sủi. Tiếng thịt rán lép bép. Tiếng cái bàn sản chạy sàn sạt. Và mùi hành tỏi bốc dậy, ngạt mũi, tứa nước bọt.
Chỉ một lát, cái bàn ghép bằng hai mảnh ván đã la liệt các đĩa bát, ngồn ngộn những thịt là thịt, đủ các món xà xíu, nướng, rán, quay, hầm, nấu theo kiểu Tàu.
Bưng lên bát nước lèo, đặt xuống bàn, người con gái mặc cái áo đỏ chấm trắng, mặt trái xoan, tóc tết hai bên, mập mạp, chắc lẳn, đi đến quầy hàng, cầm con dao băm ớt.
Lồ ngẩng lên, lướt qua cô gái, buông thõng một câu: “Cho ngựa ăn thóc?”. Rồi nhấc chén rượu và ngập vào những món ăn. Lồ uống rượu như ngựa uống nước. Lồ ăn như đã bị bỏ đói lâu ngày. Cho đến khi bụng không còn một chỗ nào có thể ních thêm một miếng thịt nào nữa, Lồ mới khệnh khạng bước ra cửa.
Đứng khựng ở bậc cửa, Lồ nhìn con ngựa vẫn chưa được ăn, chưa được uống, bỗng quay lại hét to:
— Sao không cho ngựa ăn thóc?
— Dạ, thưa quý khách...
Ông già chủ quán sợ hãi, chạy ra cửa, vừa lập bập thanh minh, đã ngã giụi vào vách liếp.
— Đòm! Đòm!
Hai phát súng sướt qua hai vành tai ông già, phá thủng hai cái lỗ trên tấm liếp sau. Người con gái khiếp đảm, từ quầy hàng bổ ra ôm chầm lấy cha, rú một tiếng kinh hãi.
Con mắt chột như bị xé rách, Lồ giật giọng:
—
Chung cào nả. Mẹ chúng mày! Lồ tả quán nói nắng lànắng, mưa là mưa. Hiểu chưa? Mẹ chúng mày! Đồ Xã phang chân thối!
Đòm! Đòm! Giơ súng, Lồ nhằm cái quầy gỗ nổ liền mấy phát.
Run lẩy bẩy ông chủ quán nghển dậy, thểu thảo. Người con gái vội rời cha bò vào trong buồng, bê ra một sói thóc.
— Quý khách! Quý khách rủ lòng thương...
Lồ tra súng vào bao, mặt lầm lầm nhìn ông già đang chống tay ngồi dậy. Người con gái đã đặt sói thóc trước mõm con ngựa. Hai cái đuôi tóc tết thũng thẵng hai bên. Cái cổ trắng ngần. Tấm lưng mẩy mang căng lằn trong lần áo đỏ.
Lồ bước qua ông già, vào trong quán. Rượu đang cháy ngầm dưới làn da của Lồ. Con ngựa phi trong gan ruột Lồ. Nhấp nhoáng xa gần trước mắt Lồ bóng hình người vợ ba ông Đờ.
“Vợ ba ông Đờ tao cũng chơi!” Lồ chồm tới. Người con gái thét một tiếng, nhào ra cửa sau.
— Ối giời ơi! Bỏ tôi ra!
— Lồ tả quán nói gì được đó, nhớ chưa?
— Ối giời ơi! Các ông, các bà ơi!
— Im! Ông Đờ ta cũng đ... sợ. Im!
Nghe tiếng con gái giãy giụa, kêu thét trong buồng, ông già chủ quán đập đầu xuống đất, gào: "Trời ơi!”. Rồi tựa như được tiếp thêm sinh lực, bật dậy, ông rút con dao bầu, lăm lăm tiến vào. Hai con mắt ông đỏ tía, lác xệch cả hai bên.
Lồ phải bỏ chạy; người cha thương con gái, dám liều mạng cầm đao xông vào buồng. Lồ phải bỏ chạy; con mắt đỏ tía, tia mắt lạc xếch, căm uất của người cha làm Lồ nhớ tới hai cặp mắt đòi trả thù của anh em Seng- Tếnh. Seng và Tếnh đến trước mặt Lồ, khi Lồ đứng cạnh cái xác ông già bị ngựa kéo tơi tả, ném hai con dao xuống đất gằn: “Nhìn mắt chúng tao đây! Mày không tránh được chúng tao đâu!". Có gì đáng sợ hơn, quyết liệt, mê dại hơn là sự báo oán, phục thù!
Lúc nãy thì rượu bốc lên đầu, giờ thì rượu chảy xuống chân Lồ, qua chân ngựa. Con ngựa lồng và quên phắt cái nhiệm vụ đưa Lồ ra phố Mường Cang để gặp đặc phái viên Chính phủ.
Nó đưa Lồ về Lao Pao Chải.
Nhận ra vẻ quen thuộc của cảnh vật chốn quê, bao nhiêu căng thẳng trong đầu óc, trong đường gân, bắp thịt Lồ bỗng chùng dịu hẳn lại. Và hắn như chợt nhớ ra. Thì ra hắn cũng có một xóm quê, có vợ con, gia đình.
Lao Pao Chải nằm ở triền núi bên này của dãy Can Chư Sủ. Từ đây leo nửa ngày dốc tới đỉnh núi, gặp rừng chè của dòng họ Giàng. Đứng đó có thể nhìn thấy thung lũng Pa Kha, vùng đất của thổ ty Hoàng Văn Chao. Lao Pao Chải, hơn tám chục nóc nhà, ở thành hai xóm, xóm họ Ma và xóm họ Châu. Xóm họ Châu là một làng cổ. Nơi đầu làng còn có cái cổng với hai cái trụ đá vuông, gắn một cánh cửa gỗ có dây chằng tự động đóng mở. Qua cái cổng đá, Lồ cho ngựa đi từng bước lững thững. Giờ hắn mới thấy thấm mệt. Rượu đã rã, chân tay gân cốt rời rạc, hay cảnh làng bản quen thân khiến hắn cảm thấy đây là nơi có thể ung dung, thong thả, không cần phải căng gân, bóp óc đối phó với mọi sự bất ngờ? Đất quê như mẹ hiền. Mọi vật đều thân thiết. Những nóc nhà ngoảnh mặt lại cùng một phía, nhấp nhô cao thấp. Đàn ngựa thảnh thơi ăn cỏ, lất phất chùm đuôi tơ mềm mại. Vòm trời ngả tím màu hoa mua. Lác đác bóng con chim câu vẫy cánh bay qua. Cảnh chiều như lặp lại giống như hồi nào Lồ còn ở tuổi thiếu niên ở nhà đi thả ngựa với chúng bạn.
— Seo Lở! Seo Lở về lúc nào thế, Seo Lở?
Seo Lở! Ôi, ấu danh của Lồ thời thơ bé, tưởng đã khuất chìm sau bao tháng ngày xa cách, sao bỗng dưng lại vang lên bên tai Lồ.
Quanh Lồ vây bọc những tiếng reo gọi.
Quanh Lồ lấp lánh những gương mặt thân quen.
Con mắt chột và con mắt lành của Lồ ngây đờ. Lồ chính là Seo Lở ngày xưa đây. Seo Lở về nhất kỳ thi ngựa mỗi năm. Seo Lở mười sáu tuổi biết múa ba mươi sáu điệu khèn, biết từ bài khèn gọi người chết tới bài khèn rủa người, đáng mặt trứ kềnh
*. Seo Lở chọi chim mi giỏi. Và bọn bạn bè đang quây quanh Lồ đây cũng vẫn là những chúng bạn ngày xưa. Kìa, những lồng chim mồi. Kìa, cây khèn vàng óng. Kìa, con quay to cộ. Kìa A Tính, A Tỏa, Seo Chống, Xuân Phủ...
Các bạn Lồ đang đứng dàn hàng ngang trên khoanh đất trắng phếch giữa nền cỏ. Những con quay bằng nắm tay ù ù quay như những cơn lốc nhỏ của tuổi thiếu niên. Những sợi dây lanh văng, rít trong gió, xoắn tít cái lông gà tơ buộc ở đầu dây. Những cánh tay vung. Những bộ mặt hăm hở. Những tiếng reo đắc thắng vang rền:
— Quay đây! Seo Lở chọi quay trúng lắm kia mà!
— Tôi không muốn chơi nữa rồi.
— Làm sảo quán rồi không muốn làm trẻ con nữa a?
— Không phải thế đâu!
— Seo Lở đi, bọn tôi mất con ngựa đầu đàn đấy?
— Vì công việc thôi!
— Giờ, chơi vui cùng chúng tôi đi, Seo Lở.
Giữa bãi cỏ, một bọn trai làng vừa đi bắt ngựa về bắt đầu chơi trò vật cột. Một đứa gọi:
— Seo Lở. Vào giữ cột đi!
Tần ngần, Lồ đứng dậy, tháo bao súng, ném phịch vào khóm mua. Lồ nhớ ra trò chơi này rồi. Phe giữ cột trụ ở giữa. Phe vật cột nhâu nhâu ở xung quanh. Lồ gạt bọn giữ cột, sáp vào, hai tay ôm vòng, áp cái cột vào lồng ngực. Cây cột là một khúc cây sa mu.
— Trèo lên! Trèo lên!
Phe vật cột nhào vào. Chúng chen, lấn, với, nhảy. Chúng đẩy, chúng lay. Cái cột vẫn đứng trơ trơ. Một đứa trèo lên vai bạn, bám vào đầu cột, thả chân đu, níu cái cột xuống. Mặc! Cái cột vẫn như cắm vào cái bệ đá chôn sâu dưới lòng đất. Lại chen lấn, xô đẩy, lay, níu. Tiếng reo, tiếng thở cộm cạm, nhòa nhòa. Lồ ngửa con mắt chột, hồn nhiên — “Các bạn chịu thua chưa?”. Hả hê, Lồ ngả lưng trên cỏ. Cỏ rậm rậm, buồn buồn mảng lưng, ngực Lồ thở phập phồng. Bọn trai làng nhìn ngực Lồ, mấy cái miệng cùng kêu to:
— Ngực Lồ có con rồng kìa!
— Bọn Tàu nó xăm cho đấy! Rửa không sạch được đâu.
— Seo Lở ơi! Seo Lở làm con chim họa mi đi!
Nằm sấp bụng quanh Lồ, lũ trai làng thúc giục Lồ hát. Trời vẫn mây, vẫn sương như buổi nào. Tiếng hát Lồ cất lên vẫn như buổi nào, nhịp nhàng ấm áp:
Hoa nở trên cây rừng
Kết quả trên cây thông
Xưa, cô gái Mỉ còn ở
Thường cùng trai Pằng Dao
Chung lưng trâu qua đèo, vượt khe...
— Không... Seo Lở hát bài khác kia!
— Ừ...
Năm nay không biết chân ta đi dép gì
Mà ta lạc bước đến tận nơi quê xa đất lạ...
— Không phải, bài khác kia!
— Ừ bài này vậy nhé.
Thời xưa chim nhạn đẻ trứng, chim én ấp
Ấp trên ngọn cây thông
Thời ấy con gái làm chồng, đàn ông làm vợ
Thời ấy chim nhạn đẻ trứng, chim én ủ
Ở trên ngọn cây nứa.
Thuở ấy con trai đi làm dâu, con gái ở nhà làm chồng...
— Hi hi... ha ha...
Tiếng cười nắc nẻ, giòn giã như vòng ngọc, vòng vàng reo vui quanh Lồ, quanh Seo Lở. Ôi, tuổi thiếu niên lấp lánh ánh bạc, ánh vàng của Lồ! Năm tuổi, ông nội đã cho Lồ học chữ nho. Sáu tuổi, dắt được con trâu to kềnh đi thả. Mười ba tuổi, qua tuổi ma bắt, nên người giỏi giang: khèn bè dài hơi, kèn lá réo rắt, đàn môi âm vang nhiều điệu, mó tay vào tất cả các công việc trong nhà: cắt cỏ, tắm ngựa, đi nương, chặt cây, săn bắn, việc gì cũng thạo. Mười lăm tuổi phi ngựa không yên cương, rượu một hơi cạn bát lớn. Ôi! Những năm tháng quay đều trong nhịp sống phóng dật, mê man trong hội đa cha có cuộc thi thổi khèn, cưỡi ngựa, leo núi; bồi hồi những đêm trăng đứng ở đầu hồi nhà cô gái đẹp, nảy khúc đàn môi gợi tình; hung hăng tay gậy tay thước kéo đàn kéo lũ đi đánh nhau với lũ trai làng bên, chỉ vì một câu nói khích và cứ thế, cứ thế cuộc sống như sợi dây được nối dài, cho đến lúc bạn bè kéo về cho một cô gái vừa ý nhất thì cuộc đời như có vẻ đã tròn đầy.
Nhưng, cuộc sống luôn có những khúc ngoặt bất ngờ. Cư ngụ ở hai xóm Lao Pao Chải là hai dòng họ. Cùng một ngành H'Mông Hoa, họ cùng một ngày chuyển cư đến đất này. Một ngày nọ, một gã đàn ông họ Châu, trong cơn say, đánh chết vợ mình là người họ Ma. Dòng họ Ma nổi cơn thịnh nộ. Thù riêng thành thù chung của dòng họ, mỗi lúc một thêm thâm sâu. Họ kéo sang xóm họ Châu đập phá, cướp bóc đòi đền mạng.
Một lần ngựa người họ Ma vào ruộng người họ Châu vặt mấy ngọn cây thuốc phiện. Thù xưa trỗi dậy cũng thói hùng cuồng của tuổi trẻ, Lồ dẫn đầu một đoàn trai trẻ sang xóm họ Ma. Cuộc cướp phá đã không được như ý định, Lồ bị người họ Ma bắt, đánh cho một trận thiếu sống thừa chết, hai ngày mới bò được về tới nhà. Đã không được an ủi, Lồ còn bị ông nội nọc ra phết cho năm mươi roi. Uất tức quá, Lồ văng tục chửi ông và đánh ông ngã. Chuyện qua đi. Ít lâu sau một hôm có con quạ ở đâu bay về đậu ở nóc nhà. Lồ đem súng ra bắn. Khẩu súng bất ngờ vỡ nòng. Một mảnh gang xuyên thủng mắt trái Lồ. “Trời hại mày rồi đấy, cái thằng Seo Lở mất dậy kia”. Đã không thương xót Lồ, ông nội lại còn khoái trá vì như được trả thù thằng cháu lếu láo dám đánh cả ông.
Chán nản, tức giận, Lồ bỏ nhà ra Pha Linh. Lúc này La Văn Đờ đang khai triển mưu đồ xây dựng tê chơ H'Mông. Lồ vào làm lính châu. Rồi Lồ thành y dũng hương đoàn, thành sảo quán. Lối sống phóng túng bản năng được nuôi dưỡng trong một gia tộc còn nặng nề thói áp chế gia trưởng gặp đời sống lính tráng, tổng hòa thành nếp sống bợm bãi, liều lĩnh và bạo tàn, không ngờ lại thích hợp với cuộc đời chiến trận triền miên của Lồ.
Lồ khác thằng Seo Lở ngày xưa nhiều quá rồi! Trên mặt hắn họa chăng chỉ còn thấp thoáng vẻ hồn nhiên khi hắn trở lại giữa bạn bè thân quen thôi.
— Seo Lở có hai súng cơ à?
— Ừ, một Tây cho, một Nhật cho.
— Đi đánh bọn họ Ma đi!
— Mai phải đi rồi. Dạo này bọn họ Ma còn dám làm con lợn rừng sang đào củ trộm không?
— Chúng tôi sắm được súng rồi!
— Ừ, giờ phải có súng!
— Ngoài trấn có chuyện gì lạ không?
— Cũng thường thường. Hôm rồi, có phái viên Chính phủ Trung ương về.
— Mình theo họ à?
— Tùy ông Đờ thôi.
— Bọn Mường Cang định đánh mình, hả?
— Bọn Nùng nhát hơn con gián. Một người H'Mông ta đánh ngã mười thằng Nùng.
— Bên Pa Kha tuyển lính đi đánh Quốc dân Đảng đấy!
— Thật à?
— Thật!
— Đánh ai cũng được. Nhưng pê mông phải chỉ huy.
— Thế hả? Hay quá! Sảo quán chỉ huy tất?
Lồ ngồi dậy, chống tay, ngả người. Bọn trai làng đã tản mát ra về. Gió chiều lướt qua ngực Lồ. Đêm nay có lẽ có trăng. Sương chưa buông, trời vẫn rạng rạng. Lồ bỗng ngẩn người.
Mặt trời mọc, mặt trời chiếu mặt trăng
Mặt trăng mọc, mặt trăng soi mặt trời...
Tiếng sáo H'Mông! Ôi, tiếng sáo dọc H'Mông trầm trầm, đầm ấm lúc trời chiều. Điệu sáo nhịp nhàng, buông bắt khập khễnh chơi vơi.
Lồ đứng dậy. Tiếng sáo vẫn bay bay. Lồ nhìn thấy rồi. Tựa lưng vào tảng đá gần cổng làng, một cô gái có cặp chân thon thả, lim dim hai con mắt như say ngủ trong tiếng sáo bay.
Mặt trời mọc, mặt trời chiếu mặt trăng
Mặt trăng mọc, mặt trăng soi mặt trời...
Lồ vòng ra sau tảng đá. Tiếng sáo vẫn mải mê bay lượn. Lồ nhận ra cô gái có tấm lưng tròn, và hai cánh tay cô nõn nà như măng mới bóc.
— Anh Seo Lở! — Nghe tiếng động cô gái quay lại,nhoẻn cười.
Lồ ngồi xuống cạnh cô gái. “Chà, mặt con bé đẹp xinh như cái trứng nhện. Xa làng ít lâu, mà bao đứa lớn lên thành gái xinh, gái đẹp rồi!” — Cơn rạo rực thầm kín nở bừng khe khẽ, hai chân Lồ run run.
— Em thổi sáo hay quá!
— Anh Seo Lở thổi đi!
— Không! Em làm con chim hót đi!
Đôi môi cô gái chúm chím ngậm đầu cây sáo. Tiếng sáo lướt bay êm ả. Tiếng sáo nghiêng ngả mênh mang. Người Lồ nóng dâng. Khắp người hắn rần rật.
— Đừng! Đừng, anh Seo Lở!
Cô gái quẫy. Cây sáo buột rơi. Tiếng cô gái ngàn ngạt. Choàng hai cánh tay lực lưỡng, Lồ bế xốc cô gái, chạy vào bụi lau gần đó. Theo chiều dốc, chiếc khăn trên đầu cô gái lăn những vòng tròn liên tiếp.
Tối mịt, Lồ mới về tới nhà.
Căn nhà dài bảy gian, chỉ có một ngọn đèn ba dây treo ở gian giữa. Những người đến làm thuê cho gia đình Lồ đã về cả. Nhà Lồ có nhiều nương thuốc, mười con trâu, hai mươi con bò và gần ba chục con dê. Mùa làm ăn năm nào cũng phải thuê người làm mới kịp thời vụ, mặc dầu gia đình Lồ đã không ít người làm.
Bố Lồ là binh thầu ở Lao Pao Chải, có hai vợ. Vợ thứ hai trẻ hơn chồng gần hai chục tuổi, bằng vợ hai của Lồ. Lồ là anh cả. Người vợ thứ nhất đã có với hắn hai đứa con trai. Vợ thứ hai hắn mới cưới năm ngoái do một phút mê đắm hơn là do nhu cầu tăng sức lao động cho gia đình.
Hộ thứ ba trong cái đại gia đình này là tiểu gia đình Châu Quán Si — em trai Lồ — hiện ở nhà chỉ có vợ cả với hai đứa con gái. Hộ thứ tư cùng sống trong nếp nhà này là gia đình chú Lồ, một lão thầy cúng, có đến tám nhân khẩu.
Mỗi hộ là một bếp, ngoài phần đất hai mẫu làm chung, còn thì làm riêng. Làm riêng, ăn riêng. Nhưng tất cả mấy chục con người già trẻ, lớn bé trong các gia đình nhỏ ấy đều nem nép phục tùng, chịu sự áp chế độc đoán của ông nội Lồ, lão Lồ Pláy, một lão già tám mươi sáu tuổi, vẫn khỏe như gấu ngựa, làm seo phải ở đất này từ hồi bố La Văn Đờ mới chỉ là lý trưởng Pha Linh.
Lồ đứng ở thềm, chưa vào nhà vì thấy một bóng người đàn bà đứng ở sân rũ rượi tóc, đang vật vã:
— Đù ơi
* thân ruồi ngắn làm ba đoạn, đời người khổ cả ba đời thế này ư?
Lồ nhận ra người đàn bà đó là vợ cả Châu Quán Si. Chị ta lên cơn ghen tức với cô vợ hai Si mới lấy ở ngoài phố; hơn năm nay Si không thèm ngó ngàng gì đến chị và hai đứa con gái.
Lồ định xuống khuyên giải chị ta thì "vụt!", hắn vội né tránh, một thanh củi nặng từ trong nhà, văng ra như một ánh chớp. Người đàn bà rú lên một tiếng sợ hãi, ôm đầu chạy vụt đi.
— Cho mày ăn trứng đi! Tằng chếnh! Đàn bà là cái chõ đồ cơm chứ là cái gì mà mày có quyền gào như chó thế!
Nhận ra tiếng ông nội, Lồ bước vào nhà, khe khẽ chào. Lão già đứng ở cạnh cửa, cao lớn, che lấp cả ánh đèn, tay cầm cái gậy gỗ to, mặt hầm hầm. Chẳng có cái mặt nào to bự và vừa già vừa trẻ như thế. Tóc, lông mày thì bạc trắng. Mà má vẫn căng, cằm vẫn nhẵn. Râu ria cũng sợ lão, không dám chui ra khỏi làn da bì bì đến muỗi, ruồi vàng cũng chê. Tuy vậy đáng sợ nhất vẫn là hai con mắt. Lúc nó tròn như mắt hổ, quăng quắc như mắt thú nổi cơn thèm khát máu người. Lúc nó khim khíp, le lé sắc như hai lưỡi dao nhọn nham hiểm.
Thấy Lồ, lão già quay vào, lảu bảu:
— Mày về đấy hả? Phải giúp tao trị con quỷ cái ấy đi!
— Mặc nó thôi, ông à!
— Không được! Nó làm xấu mặt họ Châu ta.
Lồ nín thinh. Tính ông nội, hắn đã biết.
Ngồi ở bàn, uống hết hai bát nước, Lồ mới ngẩng lên. Lão già vẫn ngồi ở trước Lồ. Bữa cơm đã tới. Vợ hai Lồ, một thiếu phụ nhỏ nhắn, mặt trắng, tròn, lấm tấm tàn nhang, bưng ra một rá cơm, hai cái thìa hai bát thịt chim nấu với măng chua, đặt xuống bàn, liếc chồng, không nói câu nào, quay về bếp ngay.
— Nhà đi đâu hết rồi, ông?
Với tay lấy chai rượu dưới gầm bàn thờ, đặt xuống bàn, lão già tặc lưỡi:
— Đi canh nương thuốc phiện. Dạo này có bọn ăn cắp. Tao bảo bố mày rình bắn chết một thằng, cắt cổ nó treo ở trước thôn họ Ma.
— Họ Ma nó ăn cắp à?
— Ừ, uống đi!
Rượu đổ ồng ộc đầy bát. Lão già nhấc bát, ghé mồm. Ực! Cái bát cạn không còn một giọt. Cổ chai lại nghiêng, đùn bong bóng về phía đít chai. Lồ nâng bát. Hơi rượu ngất ngây. Chao! Rượu H'Mông! Rượu quê, thứ rượu bắp nấu đúng quy cách, nhấp tê môi, tê lưỡi, cháy bỏng cổ họng, đốt lửa trong bụng. A-nít, Mao đài thua rượu này hết! Mới tợp có một hụm mà mắt Lồ đã cay cay như dính khói.
— Uống đi!
Hất hàm vào Lồ, lão già nâng bát rượu. Lão đổ rượu vào miệng, vào cái thùng thì đúng hơn là lão uống. Càng nốc mặt lão càng tái, thứ da tái không nhợt mà tía sáng. Và như là trẻ lại vậy. Trẻ lại như cái thời lão hai mươi nhăm tuổi dẫn đầu bọn trai trẻ chuyển cư tới đất này.
“Dạo đó, ở đây có một thằng seo phải người Nùng. Nhà nó nuôi hai con chó to, dữ như con báo. Đất đâu của nó! Nhưng nó gọi tao lại, bảo: "Này, Pláy, mày phải đánh nhau tay không với hai con chó của tao. Được, mày ở lại; thua, mày dọn đi!”. Thua thì chó nó xé xác ra, chứ còn đi đâu được nữa! Tao về nghĩ. Ức lắm! Lang thang mãi rồi.
Tê chơ * không có. Làm sao cho có tê chơ? Tao đi học võ một lão thày Tàu. Rồi tao đến nhà thằng seo phải: “Đem chó ra đây!”. Không một tấc gỗ. Hai con chó to dữ quá. Răng nó cắn ngập tay tao, đùi tao. Nghiến răng chịu đau. Cần nhất giữ cái cổ họng, hai con mắt. Phải sống để lấy
tê chơ! Ta lừa, tóm được một con, đè ngửa nó ra. Vật lộn mãi, áo rách hết. Hai tay ấn, bóp đến bại cả ngón tay nó mới ằng ặc giãy chết. Con thứ hai thấy thế, cúp đuôi chạy. Tao máu me đầy người. Hơ hơ... Thằng seo phải mấy năm sau sợ tao, bỏ đi, để lại tất cả nương ruộng. Tao được tê chơ. Tao lên làm seo phải!”.
Lão kể chuyện ấy nhiều lần. Lần nào cũng không sai một chữ. Chỗ nào cười cũng thế. Cũng đầy khí sắc như thế. Và cuối cùng, thế nào cũng là:
— Hiểu chưa!
Pê H'Mông tài giỏi. Nhưng
pê H'Mông phải đánh, phải giết bọn chúng nó thì mới có đất mà sống được! Hiểu chưa! Chỉ cần đặt được một chân xuống là mọc như nấm! Nhớ chưa!
Khó có một lão già bảo thủ những quan niệm cổ lỗ về dân tộc một cách hẹp hòi và cố chấp như Lồ Pláy. La Văn Đờ cũng phải nể lão. Với lão, người H'Mông mãi phải là người H'Mông. Người H'Mông cương cường, không chịu theo ai, học ai một ly, một tấc. Làm seo phải mấy chục năm, lão là hung thần cả triền núi này. Người Nùng ở xã bên, nhà nào hắn cũng có nợ một tý máu. Lão không lưu tâm việc ấy. Nơi ngô mọc rậm là đất người H'Mông, cứ việc chiếm!
Trong cuộc sống thường ngày, Lồ Pláy cũng là thần bảo hộ những tập quán không thành văn của dòng họ. Tô pô ụa nào, tu giở tòa nào. Đàn bà nấu cơm, đàn ông ngồi ăn.
Txi yuô tu i tu nheng, tu yuô txi i tu nhù đăng: Bố nợ con một con dâu, con nợ bố một con trâu. Trong gia đình lão là chúa, là phua thay, là hùm beo, là chó sói.
Nảo tsà — ăn năm mới năm nay, Lồ PLáy đã tám mươi sáu tuổi. Tám mươi sáu mà sáng nào cũng đủ năm điếu thuốc phiện liền hút hết khói, dạ dày tiêu hóa một ngày sáu bảy bữa, như cách đây năm sáu chục năm.
Giờ là sau bữa cơm, lão lại uống rượu, uống ở cạnh bếp lửa cùng Lồ.
— Hồi này ở trấn thế nào?
Lồ cắn môi, dè dặt:
— Cũng như mọi khi thôi.
— Người Phăng-ki có về không?
— Chắc là về. Nhưng còn lâu. Ông Đờ bảo tôi làm chỉ huy sai bảo tất cả lính.
— Làm châu đoàn?
— Không hiểu có gọi là thế không?
Dựng thẳng lưng, đập chát cái bát xuống bàn, lão Pláy đột ngọt trợn tròn hai con mắt hổ, reo to:
— Trời! Phải là thế rồi đấy, hỡi thằng Seo Lở ngu dại kia!
Lồ lúng túng:
— Ông Đờ bảo bây giờ: một tê chơ H'Mông, một na nủ H'Mông
— Sao?
— Một quan lớn H'Mông một đất nước H'Mông!
— Thế nào?
Lão Pláy bật đứng dậy. Hai con mắt rừng rực niềm hưng phấn, lão giậm chân hét:
— Trời hỡi, con dê thối kia! Mày... Mày... Sao mày không nói ngay lời La tả quán cho ông biết! Ông lại cho mày năm chục roi bây giờ... Hơ hơ... thằng Seo Lở ngu dại kia ơi! Giờ mày cũng thành tả quán rồi! Một na nủ H'Mông một tê chơ H'Mông. Hay quá! Seo Lở ơi! Cụ tổ nhà ta hài cốt táng núi Nam Lĩnh giờ mới kết phát đấy! Mày sinh năm con khỉ, cùng tuổi cụ tổ mày. Seo Lở ơi, chúc mừng cháu thăng quan! Xa nhà càng chóng khôn là thế! Hai thằng con mày rồi cũng cho nó đi lính đi? Seo Lở, mày phải biết ơn ông vì ông đã chửi, đã đánh mày.
Dừng lại, trút nửa bát rượu vào họng, mặt lại bừng bùng, lão Pláy rít sung sướng:
— Seo Lở ơi!
Pê H'Mông giỏi.
Pê H'Mông đã có Sùng Chử Đà, Vàng Chống Dế, Giàng Nà Lử, Pat Chai, Sùng Mí Chẳng... giờ có thêm La Văn Đờ, Châu Quán Lồ. Seo Lở. Mày phải ơn ông! Mẹ mày! Sao mày không nói cho ông biết chuyện này ngay từ đầu? Mày gan hả? Ông lại cho mấy cái tát bây giờ! Hơ hơ... Trời hại mày con mắt, nhưng cho mày nhiều thứ đấy, Seo Lở ơi!
Lồ cúi nhìn bát rượu nhăn nhăn trán khó hiểu: "Có gì mà ông sướng thế nhỉ? Mẹ nó chứ! Sảo quán hay na nủ thì cũng là thằng Lồ cưỡi ngựa đi theo lệnh ông Đờ!".
— Này, tao hỏi.
— Sao cơ ạ?
— Giờ mày phải có một bọn vệ sĩ!
— Ở trấn có...
"Bốp!" — Mặt Lồ bỗng đổ nghiêng, má trái hắn ê ê. Hắn vừa nhận một cái tát của lão già.
— Ngu! Phải chọn bọn họ Châu ở làng này! Anh em đông tiện bàn bạc! Tao sẽ chọn cho mày! Hơ hơ...
Ngửa cổ, lão Pláy cười. Cười vì ruột gan lão nở nang, mát mẻ quá. La tả quán nói thật là hay! Một na nủ H'Mông trong một tê chơ H'Mông. Hay! Thật hay! Thằng Seo Lở là quan lớn rồi. Nhưng mà... còn phải có phua thay nữa chứ!
Quái, sao trong người lão mấy hôm nay cứ nhộn nhạo làm sao, nao nuốt làm sao. Lưng như sắp mọc bướu. Tai căng rộng ra hay sao mà cứ nhưng nhức. Ngón tay cũng thế. Hay lão sẽ thành phua thay? Thành vua ư? Ấy dà, mộ ông cụ tổ táng tận núi Nam Lĩnh kia mà! Đất nước H'Mông có quan lớn rồi, phải có cả phua thay nữa mới phải chứ?
Tợp một hụm rượu, đặt bát, tai vẫn còn ù ù vì cái tát của lão già, mặt Lồ vẫn rười rượi:
— Làm na nủ tôi cũng lo đấy, ông ạ.
— Mày lo cái gì? Cứ phải thẳng tay! Như tao bóp cổ con chó của thằng seo phải người Nùng ấy!
— Làm việc với ông Đờ nhiều khi khó quá đi! Đang nắng lại mưa. Nay mặc áo này, mai mặc áo khác. Bảo làm y dũng hương đoàn với Nhật rồi lại bảo đánh Nhật! Hôm nay bảo tôi đi tìm ông phái viên Việt Minh!
— Bọn nheo làng
* ấy à?
— Phải! Ông Đờ nói: bằng lòng cho lính đi phối hợp với họ đánh Quốc dân Đảng. Nhưng ngày mai có khi lại đổi ý.
— Hơ hơ hơ... — Lão Pláy bật cười. Nhưng lần này lão ghìm ngay tiếng cười như ghìm cương con ngựa đang phóng và mặt liền đổi sang sắc khí vừa giận dữ vừa tinh quái — Đồ dê thối ngu ngốc kia! Ông Đờ không dại đâu. Hòn dái mày còn to lắm. Khi tao vào đánh nhau với hai con chó dữ của thằng seo phải người Nùng, tao đã phải chịu cho nó cắn, rồi tao lừa miếng nó chứ, mày tưởng...
Lồ ngẩn mặt. Hắn cũng chưa thật rõ ý của ông nội. Nhưng thôi, khuya rồi.
— Này, Seo Lở! — Thấy Lồ lững thững đi vào buồng lão già gọi giật lại — Mày có đi bắt hộ tao con vợ thằng Si không? Mẹ nó chứ! Làm ma nhà họ Châu còn không muốn...
— Cháu mệt...
— Mày mệt thì tao đi! Mẹ nó! Có khi nó chạy sang xóm họ Ma rồi?
Lồ bước vào buồng. Ôm chầm cô vợ hai, mồm sặc hơi rượu, Lồ chúi mặt vào bộ ngực nở căng nóng hập của người đàn bà.
— Về từ chiều, sao không về nhà? Không thèm nhớ đến tôi à?
— Thèm chứ! Thèm cái nấm của em lắm chứ.
— Đi làm nương xa mệt lắm! Mai có ở nhà không?
— Mai phải đi việc quan. Này, cái váy vướng lắm.
— Chỉ thế là nhanh thôi. Kìa, không thế đâu!
Bỗng có tiếng gọi thì thầm ở bên ngoài vẳng vào, Lồ từ trong váy của người đàn bà chui ra, quay mặt ra phía cửa sổ:
— Gì thế?
— Seo Lở có bận gì không? Đi kéo hộ thằng A Giá con Seo Chinh!
— Được!
Lồ quay vào tìm cái áo lanh, tưởng hắn đi thì hắn ngoái ra cửa sổ nói: “Chờ tí nhé”, rồi quay lại, kéo cô vợ hai lên giường.
Đêm khuya nổi cơn mưa. Đá núi đổ ầm ầm. Lồ ngủ như hổ ngủ, không hay biết. Sáng sau, mặt trời rọi tia nắng qua cửa sổ vào buồng, Lồ mới tỉnh. Hắn vùng ngay dậy, đi ra nhà ngoài.
Gian giữa có một người đàn bà bị trói vào cây cột cái. Hai cổ chân xiết ba vòng dây. Hai tay quặt ra sau cũng ghì ba vòng dây. Vòng dây còn quấn quanh ngực, lên tới cổ. Người đàn bà ngoẹo đầu, tóc rối rũ, như đã chết rồi. Trẻ con trong nhà đi ra đi vào, qua chỗ người đàn bà bị trói, thản nhiên như đi qua một cái cột. Năm ngoái, Lồ về nhà cũng có một người đàn bà bị lão Pláy trói bó giò thế này. Người ấy nghe nói bị hủi, lão Pláy bắt về thiêu sống.
Lồ ra sân. Cái sân vàng ửng màu bột ngô. Nắng chếch từ đầu hồi. Ban ngày nhìn căn nhà mới thấy nó to và dài. Nó nằm theo hướng đông-tây, ngọn đòn tay trỏ hết về phía đông. Chuồng trâu, chuồng bò, chuồng ngựa, chuồng lợn, chuồng dê ở phía trái, san sát một vệt dài, cao ráo, chắc chắn. Bên phải là vườn đào, toàn loại đào tơ, gốc cành nhẵn nhụi. Một đường ống gồm các thân trúc lớn, thông mấu lồng nhau hai đầu âm dương, từ trên đỉnh núi sau nhà về, len lỏi qua vườn đào, rót nước xuống cái thùng gỗ thông vàng chươi chưởi. Ngoài khu vườn đào là nơi trồng đao giềng, mùa này trổ búp đỏ chon chót.
Trâu đã thả. Gà vịt tao tác, inh ỏi. Dê đang ra chuồng. Hơn ba chục con lồng ra là nhảy tâng tâng lên cái bờ rào đá cao vượt đầu người, chạy một vòng tròn bao quanh toàn bộ khu nhà mang phong vẻ một trang ấp phú hộ.
Lão Pláy mặc cái áo lanh thô không nhuộm, khuy là dây gai, đang ngồi lấy dầu tây bóp cái chân đau cho con ngựa hai tuổi. Chuồng bên cạnh, một con ngựa đực màu tía bồ quân đang thò cổ ra khỏi gióng, kêu brừ brừ, chân giậm giật. Lão già chửi con ngựa tía một câu, rồi ngoảnh ra sân:
— Seo Lở! Mày ra cho con ngựa tía hộ tao một trận đi? Mẹ nó! Hỗn quá! Tao cưỡi mà nó còn dám húc bụi, suýt nữa thì rơi xuống vực.
Lồ nghĩ: “Ông thì có chịu thua ai, từ con ngựa!" Rồi nhẩn nha đi lại cạnh cái chuồng:
— Con tía mới tậu, hả ông?
— Thằng bố mày đem con nâu đi đổi. Bảo đổi lấy ngựa cái. Uống rượu lại để rượu nó uống người, nhìn không ra, lại rước con đực bất kham này về. Tao giã cho bố mày một trận mà nó vẫn chưa chịu đem đi đổi con khác.
Lồ kéo con tía ra sân. Quả là một con ngựa dữ. Bờm nó dựng như bàn chải. Con mắt nó xanh lét ma quái. Nó chun mình lại, không chịu đi. Lồ kéo mạnh nó mới toại móng trượt theo, tới giữa sân nó đứng chúm trên bốn vó chụm khít, gằm mặt, nhe răng, khịt khịt mũi dọa người.
— Chuýt! — Lồ vung tay. Sợi dây da trâu săn quắt tung lên, loằng ngoằng, bổ xuống, trúng mặt con ngựa.
Bị đòn bất ngờ, con ngựa giật mình, lui lại, rống hực hực. Nó kéo Lồ lùi theo. Lồ lùi theo nó, nhưng cánh tay vẫn vung roi rất dẻo. Cái roi da như có mắt. Nó phất, nó bổ, phát nào trúng phát ấy. Mặt, mũi, mõm con ngựa liên tiếp ăn đòn.
— Chung tủa cảo nả! Mẹ mày! Con hổ tha! Bướng nữa hay thôi?
Một câu chửi. Một tiếng roi nổ. Nhịp nhàng, trúng đích. Chậm, đều, chắc lẳn. Bị đau, con ngựa phản ứng mạnh. Nó quay tròn, tránh đòn. Lồ như cái trụ đá chôn sâu ở giữa sân.
— Đánh! Đánh! Đánh nữa! Đánh cho tiệt nọc giống phản chủ. Lão Pláy đứng ở rìa sân, cứ mỗi chặp roi của Lồ lại gào theo vẻ vừa căm tức vừa khoái trá: Đánh! Đánh! Chết làm thịt, không tiếc!
"Chuých! Pách! Chuých!". Bị một roi trúng mũi, đau quá con ngựa tung hai vó trước lên trời. Nó giựt dây cương, định bổ xuống là xông tới Lồ, nhảy qua rào đá, tế ra ngoài. Nhưng khốn khổ cho nó, Lồ như cái cột đá bền vững ở ngoài cổng làng. Tay Lồ như thép nguội và cuộn thừng làm cương dai hơn da trâu. Con ngựa đành đứng khựng trên đất. Và sau mấy chặp roi nữa, nó liền khuỵu hai chân trước xuống, như kẻ có tội quỳ gối van xin sự khoan hồng.
Lồ vứt cái roi, bước lại cạnh con ngựa, nâng nó dậy, vỗ cổ vuốt lưng nó. Bấy giờ, trẻ con, người lớn tụ tập đầy sân từ lúc nãy xem Lồ dạy ngựa mới dào lên tiếng reo thán phục.
Dắt con ngựa màu lửa ra sân, Lồ chào lão Pláy rồi ra roi.
"Phải nhanh, không là không kịp gặp phái viên!". Lồ nghĩ, sốt ruột, con ngựa không đi qua cổng, theo ý chủ, nó nhảy qua bờ rào đá.
“Nhanh lên!" Miệng giục, gót chân Lồ thích liên tục vào háng con ngựa. Con ngựa đổi nước phi. Trận mưa đêm qua để lại nhiều vũng nước trên mặt đường. Vó ngựa tóe nước ràn rạt.
Đường qua rừng quế. Lá quế xanh đẫm hơi nước. Rừng quế vắng im. Lồ bỗng rùng mình. Hắn vừa ngửi thấy hơi súng hay sao?
— Đoàng! Đoàng!
Lồ rập mình xuống lưng ngựa. Cái mũ dạ Nhật xuống đất. Có hai bóng người thấp thoáng trong rừng. Lồ vừa bị bắn. Ai bắn? Bọn họ Ma căm ghét Lồ, muốn hại Lồ hay là hai anh em thằng Seng, thằng Tếnh rắp tâm trả thù cho cha chúng?
Con ngựa ríu chân. Người đầm đìa mồ hôi, Lồ vung tay tát con ngựa. Đau quá, nhục quá! Lồ suýt chết vì đòn thù! Căm uất và tủi hổ từ Lồ lập tức phải được chuyển qua thân ngựa. Trận mưa đêm qua làm sập núi, lở đường. Mặc! Con ngựa càng lúc càng như rơi vào cơn hoang mê trong nhịp phi cuồng loạn.
Đã xa làng rồi. Đường mỗi lúc một lạ. Thúc con ngựa lao xuống một con dốc đá, Lồ bỗng rùng mình nhận ra con ngựa bị kích động mạnh quá, chân cứ trượt liên hồi, gây cho hắn những cú hụt hẫng xốc xáo cả tim gan.
“Cẩn thận, không nguy hiểm!” Chợt nghĩ lúc con ngựa đã xuống tới lưng dốc, Lồ vội ghì giây cương. Nhưng, hình như là con ngựa và cả Lồ nữa, đã lỡ trớn. Lồ thấy mình như mất trọng lượng, đã bật ra khỏi lưng ngựa, đang lơ lửng ở giữa những đám mây lồng bồng đọng ở trên trời; tai nghe thấy tiếng đá lăn dốc lộc cộc, rào rào.
Phải một lúc sau Lồ mới hiểu. Con ngựa của hắn trượt chân đang sắp lao xuống vực và hắn sắp văng ra khỏi mình ngựa, rơi xuống cái vực sâu hoắm bên đường thì được một người cứu giúp. Người này từ phía trước nhảy tới, dùng cái sức phi thường của mình, níu cái dây cương và ôm chặt cái cổ con ngựa ở ngay bên bờ vực chênh vênh.
Lồ nhảy xuống đất, bàng hoàng, sụp dưới chân người nọ:
— Anh là ai mà anh đã cứu sống tôi? Ơn này...
Người trai nọ cười, cặp mắt xếch loáng sáng:
— Thấy anh sắp rơi xuống vực thì cứu thôi.
— Một hạt là ơn, một thồ là nghĩa. Anh cho tôi đền ơn. Trọn đời không quên. Tôi là na nủ Châu Quán Lồ, tôi có tiền, có bạc trắng, có nhiều thứ...
Người trai nọ thoáng giật mình, lui lại một bước "Con mắt chột! Mình nhận ra nó rồi!". Anh lắc đầu, lòng dạ bỗng bối rối thế nào.
Lồ kéo con ngựa lại gần người trai nọ. Hắn đứng sát bụi cây chi khẩu pấu gai góc ở bên đường, khoắn khỏa:
— Anh tên là gì, ở đâu?
— Tôi họ Giàng, ở Can Chư Sủ.
Lồ reo, thật thà:
— Thế thì gần tôi quá! Tôi ở Lao Pao Chải. Giờ tôi phải ra Mường Cang gặp ông phái viên Chính phủ Việt Minh. Tôi chưa mời anh về nhà tôi được. Nhưng anh nhận cho tôi được kết nghĩa
chỉnh dá *, kết nghĩa anh em với anh!
Lồ nhấc cái bi đông rượu ra khỏi vai. Hắn nhìn người trai trẻ vóc dáng lực lưỡng, càng hớn hở:
— Ta cùng uống với nhau một hợp rượu nào. Hảo hớn phải có bạn chí cốt chứ, bạn!
Người trai nọ đưa bàn tay thô tháp, chai sạn đón bi đông rượu, nhưng ngẫm nghĩ thế nào lại lắc đầu, trả lại, không uống một hớp và kéo lại cái dây da đeo chéo qua bộ ngực rộng của mình.
Lồ hơi lùi lại. Hắn đã nhận thấy khẩu poọc hoọc bao gỗ vàng lấp ló sau lưng người trai nọ.
— Anh muốn tìm ông phái viên Chính phủ thì phải đến nhà cụ phó châu Lục Đình Hoàng. Không thấy thì đến nhà châu úy Vàng Đình Tráng. Nếu vẫn không thấy thì đến nhà lý trưởng Hản Sào Long. Cuối cùng không thấy nữa thì đến làng Nhuần, dưới sông Chẩy.
— Người trai nọ nhìn Lồ, nói rành rọt.
Lồ kinh ngạc:
— Sao anh biết ông phái viên kỹ thế?
Không đợi người nọ trả lời, Lồ đã "à" một tiếng khẽ khẽ, và bỗng nhiên trở nên dè dặt, khép nép lạ thường.