Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

NGỰA THÁI (THAI HORSE) - William Diehl (HẾT) 🔒

59 trả lời, 128 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.08.2020 12:34:02 bởi Ct.Ly>


NGỰA THÁI
(Tiểu thuyết)
 
Tác giả: William Diehl
Người dịch: ANH TUẤN và QUỐC TUẤN
Dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THAI HORSE của WILIAM DIEHL
Xuất bản: CORGI BOOKS, 1988.
 
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG, 1997
Đánh máy: hoi_ls
 
 
 
 
Nhiều người lướt nhanh qua những năm dài 
của cuộc sống để nhẹ nhàng chìm xung 
một ngôi mộ êm ả, chẳng hề biết đến 
những góc cạnh của cuộc đời.
Họ sinh ra không phải để chứng kiến 
những điều xảo trá, sự bạo lực 
và nỗi kinh hoàng. 
 
JOSEPH CONRAD
   (Nhà văn Anh)
 
 
 
 
 
Việt Nam
1972
 

TIỂU HẮC MÃ RỤNG CÁNH (BLACK PONY DOWN)

 
Gần như hắn không cảm thấy cú đập, nhưng hắn nghe thấy nó. Tiếng gầm bị nghẹt lại lắc nhẹ cần lái, và nhìn ra ngoài hắn thấy đầu cánh phải máy bay vỡ vụn, bay lả tả. Một lát sau, cái tiếng, quen thuộc và khủng khiếp của đạn 50 ly cắm rào rào vào thân máy bay phía sau hắn, các đầu đạn xé rách chiếc máy bay hai máy OV-10.
Thình lình máy bay bắt đầu đổi hướng, rồi quay chệch sang hướng đối diện. Máy bay hơi nghiêng về phía bên cánh còn tốt và rơi tụt hẫng xuống khoảng ba chục mét. Cody vật lộn với chiếc máy bay, cố giữ nó thăng bằng. Hắn bấm nút vô tuyến: “Mayday... Mayday (1)... Đây là Chilidog 1 gọi Corkscrew. Tôi bị trúng đạn và không còn kiểm soát được”...  Tiếng nói đặc biệt trầm tĩnh, gần như là cam chịu. Điều duy nhất cho thấy sự bối rối là giọng nói của hắn. Nó bị rung lên vì sự lay động dữ dội của máy bay, giống như âm thanh nổi để quá nhiều tiếng trầm.
Bọn chúng đang ở quá thấp nên không thể nhảy dù. Cody luôn luôn chơi cái kiểu như thế - bay sát ngọn cây. “Hãy xuống đến mức nào mà các anh có thể nhìn thấy tròng trắng của mắt họ”, Cody luôn nói với cấp dưới của mình như thế. Từ dưới chiếc dù của tán lá xanh mướt, hỏa lực chết chóc ở mặt đất đang nhai nghiến chiếc máy bay tiêm kích hai máy. Đạn 50 ly ghim rào rào vào thân máy bay.
“Ôm chặt nhé!” - Hắn bảo tay xạ thủ. Chẳng có tiếng trả lời. Cody xoay người trong buồng lái nhìn về phía sau. Rossiter nằm gục trong ghế, tấm chắn bảo vệ thủng nhiều lỗ, mặt bị bắn bay mất. Nhưng Cody không có thì giờ để mà buồn cho chàng trai trẻ này, hắn sắp mất chiếc máy bay. Rừng già lao nhanh về phía hắn, gần hai trăm mét phía trước mặt hắn là dòng sông và sang bờ sông bên kia là hắn thoát. Hắn biết rằng hắn không bao giờ tới đó được.
Trước khi bộ tư lệnh trả lời, tên phi công lại gọi. “Đây là Chilidog 1... Nửa dặm về phía Bắc điểm - kiểm - tra Charlie... Tôi đã xuống độ cao 150 mét”. Chuyên viên vô tuyến trả lời tức khắc.
“Chilidog 1, anh có thể vượt qua sông được không?”
“…Đang thử...”
Chuyên viên vô tuyến đổi tần số và gọi cấp cứu:
“Cấp cứu, đây là Corkscrew. Tôi có một chiếc Black Pony (Tiểu Hắc Mã) đang bay cách nửa dặm về phía Bắc - điểm - kiểm tra Charlie, chừng 200 mét trong vùng Ấn Độ... Anh rõ chứ?
Câu trả lời đến ngay tức khắc.
“Corkscrew, đây cấp cứu... Chúng tôi nghe rõ... Đã cho một chiếc Huey lên đường...”
“ Chilidog 1, chúng tôi có một chiếc Huey trong vùng. Anh có thể giữ độ cao bay về hướng dòng sông không?”
“Không... Tôi đang đi vào...”
Sự truyền tin đột ngột dứt.
“Cứt! Chúng ta mất hắn” - Gã chuyên viên vô tuyến lầm bầm. Hắn quay sang người phụ tá: “Mời hoa tiêu đến đây ngay, Wicker, ngay tức thì!”
Gã phụ tá, trước kia là thủy thủ có khuôn mặt hồng hào, quay vụt lại chộp lấy điện thoại...
 
Chiếc máy bay thình lình lại giật mạnh, cần lái trở nên vô dụng. Cody đang cố gắng để kiểm soát nó với các bàn đạp điều khiển bánh lái đuôi, nhưng điều đó cũng vô ích. Chiếc cánh tốt của máy bay bốc lên cao rồi máy bay từ từ quay vòng. Cánh rừng xanh ngắt lao về phía hắn khi máy bay ngửa bụng lên trời. Cody tông mạnh cần lái về phía trước trong cố gắng cuối cùng để điều khiển, và mũi máy bay đột ngột ngóc lên. Đuôi của nó quệt lên các ngọn cây, vỡ tan thành từng mảnh, rồi con tàu màu đen gẫy răng rắc rơi xuống tấm thảm xanh rì phía dưới. Cody đẩy cần lái về phía trước cho xa ngực hắn ra, và ôm sát người vào bảng đồng hồ kiểm tra, hai cánh tay che mặt. Hắn nghe tiếng máy bay vỡ vụn chung quanh, tiếng kim khí rền rĩ khi các cây rừng xé nó ra tan tác. Rồi tất cả đều ngưng lại - một lực xô hắn về phía trước. Tất cả dường như được treo lơ lửng tức thì, Cody, người treo dốc ngược, nhìn thẳng xuống mặt đất ở phía dưới hắn khoảng 6 mét. Máy bay giờ chỉ còn là một khối hư hỏng cong queo chung quanh hắn. Hắn nhìn về phía Rossiter người xạ thủ của hắn. Hai cánh tay gã trẻ tuổi lòng thòng rũ xuống.
Tấm chắn bảo vệ đã văng mất một nửa, còn dính lủng lẳng ở mấy cái rãnh khớp của nó. Cody đập lòng bàn tay vào nó làm nó văng ra rơi xuống rừng cây. Hắn ngửi thấy mùi khói.
Hắn bắt đầu tự nói với mình, nói liên chi hồ điệp “Phải ra khỏi đây. Phải ra khỏi đây”. Hắn tháo dây nịt an toàn, cố đu người ra khỏi máy bay và buông mình xuống mấy cành cây. Mùi khói càng nồng nặc hơn, và thình lình hắn thoát được ra khỏi máy bay cong người lọt ra ngoài. Hắn với lấy một cành cây, cảm thấy nó đập vào lòng bàn tay rồi vuột đi. Người hắn bị quay tròn nên chân hắn đã ở phía dưới. Giống như lúc nhảy dù, hắn suy nghĩ trong lúc người rơi nhanh xuống đất: “đầu gối khép lại và co lên, lăn tròn người khi đáp...”.
Nhưng hắn đã đáp sai và khi đụng đất thì hắn nghe thấy tiếng xương đầu gối vỡ, cảm thấy cơn đau sâu thẳm trong chân bừng lên, lan xuống tận mắt cá chân. Hắn kìm lại tiếng kêu đau đớn giữa hai hàm răng. Mồ hôi toát đẫm trên da.
Hắn ngẩng nhìn, dòng sông còn cách hắn khoảng 20 mét đang lấp lánh dưới ánh mặt trời buổi sớm. Hắn đứng lên và điên cuồng chạy khập khiễng về phía đó. Hắn biết rằng địch đang ở đầy rẫy chung quanh, nhưng có thể hắn sẽ gặp may. Rồi từ phía sau hắn, ở trên cao, hắn nghe thấy tiếng xì xì và một lát sau tiếng “ùm” đục khi bình xăng nổ. Hơi nóng từ vụ nổ tràn xuống bao lấy hắn, nhưng hắn cứ tiếp tục chạy cà nhắc về phía dòng sông, kéo lê chiếc chân bị thương. Hắn không nhìn lại đằng sau. Rồi hắn nghe tiếng “xạch, xạch” quen thuộc của một chiếc trực thăng từ phía trái đang bay ngược dòng sông đến.
“Ôi! Lạy Chúa, đến đây em cưng”, hắn nghĩ.
Chỉ hai mươi mét nữa là thoát.
“Corkscrew, đây cấp cứu 1. Chúng tôi đã nhìn thấy chiếc Black Pony.”
Chiếc Huey treo lơ lửng cách mặt sông 6 mét. Trong khoang chiếc trực thăng, Harley Simmonss, một xạ thủ trẻ tuổi, chăm chú nhìn vào rừng lá dầy đặc tìm kiếm dấu hiệu của sự sống. Tiếng viên phi công vang lên trong ống nghe: “Thế nào Simmonss, có nhìn thấy gì không?”
“Tôi đang quan sát, đại uý, tôi đang quan sát...”
Tiếng nổ làm hắn im bặt. Cảnh tượng lần lượt diễn ra như sau. Đầu tiên làn sóng chấn động của vụ nổ cuộn lên xuyên qua cây cối, rồi chiếc Black Pony vỡ tan ra, sau đó là quả cầu lửa màu cam sáng chói bùng lên trời. Vài giây sau tiếng đạn rít lên cắm vào thân trực thăng cách đầu Simmonss chỉ vài ba tấc.
“Bọn địch đang bắn chúng ta kìa!” Simmons hét vào máy vi âm.
“Thế còn người mình tìm thì sao?” Viên phi công hét lại.
Rồi Simmons nhìn thấy Cody: hắn đang đi khập khễnh dưới màn lửa hướng về phía bờ sông. Hắn gần đến đây rồi, có lẽ cách khoảng 8 hay 10 mét nữa thôi. Nhưng trước khi Simmons kịp báo cáo thì một tràng đạn khác cắm phập vào khung cửa đang mở của chiếc trực thăng làm nó vỡ ra. Mảnh vụn rơi rào rào trên nón sắt của Simmons. Y nghe tiếng rít của đạn 9 ly veo véo cách tai y vài phân, và nỗi sợ hãi dội sâu vào lòng y như một ánh chớp. Chiếc máy bay trong rừng lại nổ lên lần nữa và lửa điên cuồng bốc lên xuyên qua các ngọn cây. “Hắn ta không thể tới được” - Simmons tự nói với mình trong khi đạn lại bắn vãi vào chiếc Huey. Y đành nói dối: “Tôi chả thấy gì cả, đại úy, chúng ta đang bị bọn cướp đập phía sau nè!”
Viên phi công nghiêng bụng trực thăng về phía cánh rừng và xoay vòng, bay trở lại hướng xuôi dòng sông.
Simmons yếu ớt khuỵu gối xuống. Y run rẩy toàn thân. Ôi! lạy Chúa, y nghĩ, tôi đã làm gì thế này...
Nhưng y sợ quá chẳng thốt nên lời. Y nghe tiếng viên phi công nói trong loa: “Corkscrew, đây cấp cứu 1...chúng tôi đã mất dấu anh ta...”
Cody gần đến bờ sông thì một tràng đạn súng máy từ phía bên phải làm hắn giật mình. Hắn nằm rạp xuống đất và bò về phía bờ nước. Chiếc Huey lơ lửng cách mặt sông khoảng 30 mét. “Ở đây này, à đây này!” - hắn la thầm. Hắn bắt đầu đứng lên, đưa tay vẫy chiếc trực thăng và hãi hùng nhìn nó quay đi, bay trở lại theo hướng xuôi dòng.
“Không, - hắn than với mình - không, không... tôi ở đây nè!”
Hắn gào lên tuyệt vọng. Hắn đứng lên, định sẽ nhảy xuống nước và bơi về phía an toàn ở bờ bên kia, đúng lúc đó thì trời tối sụp xuống chỉ còn ánh lửa của chiếc máy bay vỡ tung cháy sáng rực. Hơi nóng phả xuống, phủ lên hắn như một tấm mền. Hắn che lấy mặt và ngã xuống đất, co người cố chống chọi với ngọn lửa nóng dữ dội trên các ngọn cây tỏa xuống và trong khi các hỏa ngục thiêu nóng lưng và chân hắn, hắn vẫn tiếp tục bò về phía dòng sông.
Còn ba mét nữa là thoát thì hắn kiệt sức buông xuôi.
Tên chỉ huy xộc vào hầm vô tuyến, mặt đanh lại lạnh lùng.
- Cái quỉ quái gì thế, Wicker? - Hắn cáu kỉnh hỏi.
- Chúng ta vừa mất một cánh chim, thưa thiếu tá, - gã chuyên vô tuyến trả lời đau khổ.
Hai vai tên chỉ huy xệ xuống. Hắn lắc đầu:
- Mẹ kiếp! - Hắn hộc lên. - Ai thế?
Gã chuyên viên vô tuyến ngập ngừng một giây:
- Chilidog 1, thưa ngài, Đại úy Cody.
Tên chỉ huy nhắm mắt lại một lát, hai bên hàm bạnh ra vì nghiến răng quá chặt.
- Chúa ôi! - Hắn than vãn. Và một lát sau hắn mới nói - Thôi được, gọi cho tôi, Tổng hành dinh ở Sài Gòn. Tôi phải báo cho “Ông già” biết, chúng ta vừa mất đứa con của ông.



(1) Mayday: tín hiệu xin cấp cứu của Hàng không.
 


 
 
 
 
 
📎 Scan-150924-0018|Scan-150924-0019
0
Trung Mỹ
1985
 

LOS BOXES

 
Hành trình bắt đầu từ khúc sông rộng chảy mãnh liệt, nhưng dần dần rừng già nhiệt đới lấn chiếm nó nên đến bây giờ, sau bốn ngày đường, khúc sông nằm giữa thủ đô Madrango và cái tiền đồn trơ trọi cách thủ đô 160 dặm đã biến dạng chỉ còn là một dòng suối nhỏ xíu. Chiếc tàu sông cũ kỹ, nứt nẻ vì mưa nắng, và được điều khiển bởi một thuyền trưởng chỉ hơi tỉnh táo, chạy xình xịch yếu ớt hết vài dặm khó khăn cuối cùng. Cây cối và dương xỉ bật tanh tách hai bên be thuyền và quẹt rèn rẹt vào các cửa sổ. Chiếc tàu già nua rên rỉ chống chọi với các bụi cây. Hành khách duy nhất là một gã mập ú kỳ lạ, khuôn mặt khôn ngoan bọc những lớp mỡ, đôi mắt xanh nhợt, miệng nhỏ xíu và cái mũi nhọn mất hút trong những lớp thịt. Hắn ngồi trên một chiếc ghế thấp, nhồi bông, cũ kỹ ọp ẹp gần mũi tàu, hai chân xếp bằng tròn, cằm xệ, một cái nón trắng sụp xuống ôm sát lấy chân mày hắn, hai bàn tay mềm có ngấn của hắn nắm chặt chiếc ô trắng che cho hắn khỏi ánh mặt trời đang thiêu đốt. Bộ quần áo trắng của hắn ngắn ngủn và chật, ố mồ hôi, hai cổ tay áo sơ mi không cài bay phất phơ vì chẳng vừa với cổ tay khổng lồ của hắn.
Hắn là Randall Wilfred Pratt III ở đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ (U.S. State Department) tại Madrango. Trên giấy tờ Pratt trông đẹp trai, một người tốt nghiệp danh dự của trường Harvard mà bố là người đóng góp chính và người thương thuyết có lợi thế cho đảng đang cầm quyền, đồng thời cũng là người tin cẩn của Tổng thống, về con người thì Pratt là một sự phiền toái cho mọi người, một chướng ngại vật cùng đến với đống hàng hóa, với các quà biếu và các giấy chứng nhận. Bị tống về cái xứ Trung Mỹ bé xíu và bất ổn định, hắn được dấu kín đáo và chỉ được dùng đến khi có chuyện không hay nổi dậy. Công việc này thật là mỉa mai vì nó chẳng đòi hỏi gì đến ngoại giao cả.
Trong hai ngày hắn cứ ngồi như thế, toàn thân thu lại, chờ đợi và canh chừng giây phút đầu tiên nhìn thấy cái nơi rất hoang dại, rất tàn nhẫn kinh hoàng nổi tiếng, mà kể cả các quan tòa kết án đày người ta vào vực sâu của nó cũng phải thì thầm khi nói đến nó. Mỗi giờ trôi qua nỗi lo âu của Pratt lại lớn dần lên cho đến khi nó trở thành một tiếng thét chỉ chờ để phát lên, một tiếng thét không thể nào kìm được.
Con tàu già cỗi bứt ra khỏi rừng cây dừng lại, và cái “nơi” đó sừng sững như một bóng ma trước mắt họ: một pháo đài bằng đá chằng chịt dây leo, phủ kín rêu xanh ẩm ướt, và bị cánh rừng vây chặt bóp nghẹt lấy. Pratt bị “sốc” quá mạnh, kinh hoàng thét to lên, tiếng thét chói tai làm tên thuyền trưởng giật mình, nhổm dậy ngay tức thì. Pratt vội lấy lại bình tĩnh, quay lại với vẻ khó chịu, xua bàn tay mập mạp để chặn lại niềm xúc động. Hắn lôi từ trong túi ra một chiếc khăn tay và giận giữ lau mồ hôi trên mặt.
“Lạy thượng đế, - hắn nghĩ, - Hatcher có còn sống hay không? Và nếu còn, thì hắn có còn đủ sức khỏe để làm một cuộc hành trình như thế này không?”
 
 
 
0
HATCHER
 
Christian Hatcher đã ở đó ba năm, hai tháng và 27 ngày - nói cho chính xác là 1183 ngày. Chẳng có ai ở Los Boxes (Những Cái Hộp) biết tên thật của anh, và điều đó chẳng có gì lạ. Không một ai ở Los Boxes biết tên thật của bất cứ người nào. Bị đày vào đây là bị đày vào sự quên lãng.
Không có chuyện thoát ra khỏi Los Boxes. Nó lù lù hiện ra như một bóng ma giữa rừng già, vây quanh bởi hai trăm dặm rừng mù hơi nước, vừa chết chóc, vừa xanh tươi, một thiên đường ngọc bích mà trên chiếc áo choàng xanh che phủ nền đất lổm ngổm những rắn độc, báo và heo rừng, điểm xuyết nhiều đầm cát lún, nhiều loại dây leo mọc cực nhanh trong khu rừng nóng bức màu mỡ này mà một người có thể bị chúng quấn nghẹt thở ngay trong giấc ngủ. Chẳng có đường mòn nào ở đây cả, rừng cây ngốn gọn chúng trong vài giờ.
Dây leo già hàng thế kỷ đan chằng chịt quanh cái pháo đài đổ nát và hình như là giữ nó không bị sụp xuống. Bên trong có 212 phòng đục trong đất đá, mỗi phòng rộng chừng ba mét vuông và cao khoảng hai mét được thắp sáng bởi một ngọn đèn điện duy nhất - điện do một máy phát già cỗi chẳng đáng tin cậy tí nào cung cấp. Cửa có song sắt gần như là những ngách nhỏ trên tường, vừa đủ rộng cho một người chui qua. Kẻ thù duy nhất ở đây là thiên nhiên. Chẳng ai có thể nhớ tại sao cái pháo đài này được dựng lên, nhưng nó đà được dùng làm nhà tù chính trị từ hơn một thế kỷ nay, sống từ chính quyền nhu nhược này đến chính quyền nhu nhược khác, ở Madrango tên của nó được thì thầm trong sợ hãi.
Chẳng có sổ sách ghi tên tuổi hay ngày tháng đến. Một người tù mới đến chỉ đơn giản được chỉ định cho một hộp và con số của hộp trở thành căn cước của anh ta.
Ba năm, hai tháng và hai mươi bảy ngày trước đây, Hatcher đã trở thành số 127.
Luật lệ ở Los Boxes cực kỳ đơn giản: anh làm công việc của anh, anh không bao giờ được nói chuyện với một người tù khác. Thế thôi.
Không ai từ chối lao động cả, lao động là cách duy nhất để được ra ngoài, mà ở ngoài thì có không khí trong lành và được cử động. Những người nào cứng đầu từ chối hay chống đối thì bị giam vào hộp của họ và bị bỏ quên.
Nếu một người tù nào nói chuyện với người khác, lính canh chỉ việc cắt lưỡi anh ta.
Ở đây không có cơ hội vi phạm luật lệ đến lần thứ hai. Los Boxes thiết thực một cách tàn bạo.
Lính canh chỉ có sáu người - đã từng là tù nhân. Khi có ai rời đi hoặc bị điên, hoặc chết vì bị giun sán, thì họ được thay thế bằng tù nhân. Những lính canh là tù nhân đưa lên không tốt hơn mà cũng chẳng xấu hơn những lính canh bình thường. Và mặc dù được trang bị vũ khí, họ cũng chỉ dùng để tự vệ hoặc để săn bắn đôi khi gặp con mồi.
Vượt ngục ư? Vượt ngục là chết. Những người thử trốn trại không bao giờ bị đuổi theo cả. Lính canh cười thầm và chờ đợi. Khi những người chạy trốn nhận ra sự vô ích của việc đi trốn và quay lại, họ bị giam trở lại vào trong hộp, được nuôi ngày hai bữa, rồi chìm trong quên lãng.
Thoạt đầu Hatcher thất vọng và chán chường không thể tưởng nổi. Giống như một nhà thơ không có giấy hay một diễn giả không có tiếng nói, Hatcher không có cách gì để biểu thị cơn thịnh nộ của mình. Chỉ có một quan toà thao thức không ngủ, tàn nhẫn là lương tâm bầu bạn với anh. Không thể tránh được việc đánh giá liên miên về những hành động của mình, cơn giận của anh xoay ngược vào trong, và theo năm tháng trường hợp bắt giữ anh cùng những quan điểm chính trị đằng sau nó đã hòa lẫn với nhau trở thành sự lơ đãng bình thản.
Anh có phản bội lại một điều ủy thác không? Sự hoài nghi có cướp đi của anh khả năng phán đoán mọi ý nghĩa không? Đây có phải là cái giá anh phải trả cho tính dễ dãi, cho lòng kiêu ngạo cao độ không? Sự thẩm tra xuôi rồi ngược kéo dài vô tận. Anh. đi ngủ với những câu hỏi trên môi và thức dậy chẳng có câu trả lời, vì cho đến cả những ký ức của anh cũng rối bời thành hư ảo.
Cuốn lịch của anh là những vạch trên tường đất, đồng hồ là một cái bóng lướt ngang nền nhà. Chỉ có giấc mơ tự do giữ cho anh sống, và sau ba năm nó đã thu lại thành một tia nhỏ hy vọng, hơi đủ để khuyến khích anh vượt ngục.
Đầu tiên, Hatcher nghiêm túc xem xét việc vượt ngục. Anh đã từng sống sót sau năm tháng ở trong vùng nước độc mù hơi của Laos và Cambodia, và đã trở về để kể lại chuyện ấy. Anh đã từng dẫn hai người của phi hành đoàn ra khỏi khu rừng phía Nam Madrango khi chiếc máy bay chở vũ khí của anh rơi xuống, mặc dù một người đã chết vì bị rắn cắn ngay trước khi họ thoát.
Như vậy, hồi ức đã giúp anh khỏi phát điên - hồi ức và giấc mơ trốn thoát. Không cần hấp tấp. Anh sẽ làm dần từng bước. Anh nghiên cứu nhà ngục một cách thận trọng cho tới khi anh thuộc lòng từng chi tiết. Anh ghi nhớ từng cái hốc, từng vết nứt trên tường, nghiên cứu các con đường mòn trong rừng và lập ra các kế hoạch trốn kỹ càng,anh vẽ tất cả lên vách và trên nền để có thể ôn lại. Cửa sổ xà lim thì dễ ăn. Thời gian đã làm vỡ gạch vữa chung quanh các chấn song sắt. Một ít công sức với những que cây mà anh đã lén mang vào có thế làm nó long ra. Từ phía ngoài anh thận trọng quan sát mặt ngoài nhà tù. Nó xưa cũ và mục nát. Leo vách tường thẳng đứng lên đỉnh của thành lũy này đối với anh chỉ là một cơn gió thoảng. Anh đã học được bài học đó ở Cirillo.
Đó là một ngày anh không thể nào quên và nó cứ diễn đi diễn lại trong đầu anh.
Hatcher bám vào vách đá như thế nó là một thỏi nam châm mà anh là cục sắt trong khi gió thổi như xé quần áo và kéo giật các ngón tay rướm máu của anh. Giá có thể được thì anh đã đào được một cái lỗ trong vách đá và bò vào đấy. Anh đang sợ cứng người. Lúc đó anh mười bảy tuổi.
Nó không phải là một trái núi - không cách gì anh có thể gọi nó là một trái núi. Nó là một ngọn giáo. Một ngọn giáo thanh mảnh cao chừng ba mươi mét có đỉnh bằng phẳng và vách dựng đứng, nép vào chân dãy núi xanh, cách Boston ba giờ đường. Đó là một ngày tháng Chín ấm áp, trời trong và thời tiết đột ngột xấu đi.
Cirillo đang ở cách anh khoảng ba mét phía trên đầu, đang nhích lên từng phân như một một con nhện trên vách đá. Cirillo chẳng có hành trang dụng cụ gì cả. Không dây thừng. Không búa đẽo. Chỉ có một bình nước và một tí nhựa thông nhỏ cột ở dây lưng phía sau. Leo tự do - anh ta gọi như thế - và cách duy nhât để bắt đầu là thực hiện nó.
Trước khi bắt đầu, Cirillo đứng nhìn lên vách đá.
- Cái này có vẻ tốt, - anh ta nói, - không quá cao đối với người mới tập.
- Ông bảo tôi leo lên đấy à? Hatcher hỏi với giọng bồn chồn sợ hãi.
- Phải, hãy bắt đầu ở đâu đó.
- Tôi chẳng biết bắt đầu ở đâu cả, - anh nói.
- Đúng rồi, - Cirillo trả lời - Phải có gan một tí. Cirillo đã đặt sẵn một túi nhựa thông khác ở chân vách đá.
Rồi Cirillo sờ các ngón tav lên mặt vách đá thẳng đứng cho đến khi tìm thấy một khe nhỏ. Anh ta thọc các ngón tay vào túi nhựa thông, thổi bớt nhựa dư, và bắt đầu mò mẫm đường lên, leo bám từ bàn này đến bàn tay kia, từ bàn chân này đến bàn chân nọ. Trông anh ta giống như một con cua khổng lồ khi anh ta leo cao trên sườn đá bằng các ngón tay và ngón chân, lợi dụng các khe nứt và các mỏm đá để rút người lên. Gã con nít nhìn anh ta trong nỗi kinh hoàng.
- Ông khùng quá, - đứa nhỏ nói.
- Ừ, hừ...
- Điều gì sẽ xảy ra nếu ông không tìm được khe nứt nào nữa?
- Rơi xuống.
- Hay, hay quá! - Hatcher nói.
Cirillo vẫn tiếp tục, hai cánh tay đầy bắp thịt nổi cuồn cuộn trong khi anh ta cần mẫn tìm đường leo lên vách đá. Hatcher nhìn và bắt đầu thấy khó chịu. Anh bước đến gần vách đá và đưa tay thử sờ lên trên mặt của nó, cảm thấy các mỏm lồi, các khe nứt và các cái gờ nhỏ xíu. Cuối cùng, anh nhặt túi nhựa thông lên, cột nó vào dây lưng và bắt chước Cirillo, bắt đầu chịu đau đớn để leo lên vách.
- Đừng vội vã và đừng nhìn xuống. - Cirillo trầm tĩnh nói. - Mặt đất chả có chạy đi mất đâu.
Hatcher đã bắt đầu leo lên, các đầu ngón tay đau buốt, các đầu ngón chân đau buốt, bao tử đau buốt. Một giờ sau anh ở độ cao khoảng mười hai mét trên sườn núi, bám chặt lấy ngọn giáo như một đứa trẻ mới được tìm về, ôm chặt lấy mẹ.
Cirillo gần đến điểm cụt, một cái gờ trên sườn đá nhô ra ngoài trên đầu anh ta.
- Tôi không thể đi xa hơn nữa, - giọng của Hatcher run run, - chẳng có gì để víu vào cả.
- Phía bên trái của mày, nhỏ ạ! - Cirillo hét lại. - Xa hơn tí nữa... cao hơn vài phân... Đấy!
Các ngón tay rướm máu của Hatcher tìm thấy một cái rãnh trong đá gần đủ sâu để nhét một móng tay vào.
- Không đủ! - Anh la lên, vẫn bám chặt, mắt nhắm nghiền.
- Nó lại rất đủ cho tao, Cirillo hét, - mà ngón tay của tao thì to gấp đôi ngón của mày.
Hatcher thọc, các ngón tay vào, cào bụi đất ra khỏi cái gờ nhỏ xíu, làm thành một cái khe vừa đủ sâu để từ từ kéo người lên khoảng mười lăm phân nữa. Sự sợ hãi làm miệng anh đắng như ngậm mật.
Thời tiết bắt đầu tồi hơn. Mây bay trong ngọn gió lạnh cắt da mang theo hơi ẩm của mưa.
Gió thổi mạnh hơn, quật liên hồi vào người anh. Anh cảm thấy các ngón tay run rẩy.
- Trời trở xấu đấy, nhỏ ạ! - Cirillo hét. - Nhanh lên, cứ tiếp tục leo đi.
- Không thể...
- Cứt bò! Chưa gì đã cuống đít lên, không leo lên thì chắc chắn mày sẽ thành vũng bùn đây.
- Cứt! - Đó là tất cả những gì mà Hatcher có thể thốt lên. Mấy ngón tay của anh tuột da và chảy máu, còn mấy ngón chân thì đau chưa từng thấy. Hai cánh tay run lên vì gắng sức. Mồ hôi làm anh cay mắt và ngứa ngáy hai bên khóe miệng.
Anh đang bám lấy cuộc sống yêu quý. Những giọt mưa đầu tiên bắt đầu đập liên tục vào mặt Cirillo, và nỗi sợ hãi cũng bắt đầu gặm nhấm anh ta. Nhưng anh ta không thể để cho thằng bé biết điều đó.
Cirillo đang ở trên chỗ tảng đá nhô ra ngoài. Anh ta rướn người dùng một bàn tay lần từ từ ra đến mép đá, cố vươn người ra thật xa cho đến khi thận trọng nắm được mép đá và mò kiếm một chỗ bám cho các ngón tay. Mấy đầu ngón tay đau buốt của anh ta đã tìm thấy một rãnh nhỏ. Anh ta thọc tay vào đây, chắc chắn rằng nó sẽ giữ được cả thân người, xong rồi thả người đung đưa dưới mỏm đá. Anh ta treo người ở đây bằng cánh tay trái, nhìn xuống phía thằng bé đang bám lấy vách, nép sát người vào đấy như một mảng rêu.
Cirillo đổi tay. Treo người bằng cánh tay phải, vươn cánh tay trái về phía thằng bé:
- Nào, leo lên, gần hai mét nữa tao sẽ nắm được mày.
Hatcher nhích lên từng phân, liếc nhanh về phía Cirillo, rồi nhắm mắt lại sờ soạng tìm một chỗ bám khác. Cuối cùng đầu anh đụng vào tảng đá nhô ra ngoài. Không còn chỗ nào để bám leo lên nữa.
- Nắm lấy tay tao, nhỏ! - Cirillo nói.
Hatcher nhìn anh ta qua đôi mắt kinh hoàng, ngó sững các ngón tay đang nhúc nhích mời anh.
- Hãy tin tao, - Cirillo nói.
Thằng nhỏ chưa bao giờ tin ai trước đây cả. Nó bắt đầu nhìn xuống mặt đất.
- Đừng nhìn xuống, - Cirillo ra lệnh. Hatcher đưa tay ra rất chậm chạp, vươn về phía cánh tay vạm vỡ của tay cảnh sát. Anh cảm thấy những ngón tay sần sùi của Cirillo, cảm thấy bàn tay anh ta trượt qua lòng bàn tay anh, cảm thấy những ngón tay mạnh mẽ của anh ta nắm lấy cổ tay anh.
- Rồi! - Cirillo nói, - Buông người ra!
- Cái gì?
- Làm ngay đi, tao chẳng thể treo ở đây mãi đâu. Thằng nhỏ nhắm mắt lại, nuốt ực và buông bàn tay kia ra. Nó tức thì cũng treo lơ lửng giữa không khí, chẳng có gì ở phía dưới nó khác hơn là khoảng không. Cirillo nghiến răng và từ từ nâng cái sức nặng chết người của thằng bé lên.
- Được rồi, - Cirillo thì thầm, - hãy ôm lấy cổ tao. Hatcher vươn tay kia ra ôm lấy cái cổ vạm vỡ của Cirillo, còn anh ta co tay kéo người lên trên gờ đá.
“Thượng Đế toàn năng”, Hatcher thì thầm trong khi Cirillo trườn người lên mép gờ đá và lăn vào an toàn. Hatcher nằm úp mặt xuống, hơi thở của anh thổi bay từng luồng bụi đất nhỏ ra xa miệng. Tim anh đập mạnh đến nỗi răng anh đau buốt. Rồi đột nhiên anh bắt đầu cười lớn đầy kích động:
- Mẹ kiếp! - Anh nói. - Chúng ta còn sống! Chúng ta... mẹ kiếp!... còn sống!
Anh đã đối đầu và đã đánh lừa được Thần Chết, một kinh nghiệm mới và quyến rũ cho anh.
- Tôi đã thành công! - Thằng nhỏ nhìn về phía rừng la lớn và tiếng nó vọng lại - Tôi đã thành công...
- Hãy nhớ điều này, nhỏ ạ! - Cirillo nói, - mày không thể xuôi tay trong cuộc đời. Xuôi tay là mày chết ngắc. Mày nắm một việc, mày phải làm. Mày không được kéo cái gì lại cả, phải đẩy tất cả đi tới. Đừng để lại cho mình những thứ linh tinh gì cả.
Hatcher quay sang Cirillo sốt sắng nói: “Chúng ta hãy làm lần nữa đi!”. Cirillo mỉm cười trả lời nhẹ nhàng: “Chúng ta còn phải leo xuống”.
Đúng vậy, Hatcher nghĩ, vượt những bức tường cũ kĩ này chỉ là chuyện trẻ con. Xuyên rừng già mới là phần gay go. Rồi mùa mưa đến, bộ mặt của nhà tù trở thành một mặt sông nhầy nhụa bùn lầy bẩn thỉu. Những ngày mưa dầm trở thành những tuần mưa và rồi những tháng mưa. Mỗi ngày trôi qua việc leo vách càng trở nên khó tin hơn. Anh vẽ những bản đồ trên sàn, cố gắng ghi nhớ các phương hướng và các khoảng cách của cuộc hành trình ngược dòng sông. Và cuối cùng anh đành chấp nhận một sự thật là: nếu thiếu một trong ba vũ khí - la bàn, bản đồ và sự thông thuộc khu vực - thì việc chạy trốn chỉ là tự tử. Rồi khi mùa mưa kéo dài, đòi hỏi này mờ nhạt dần đi.
Và thế là anh tự đặt cho mình một kỷ luật hàng ngày: tập thể dục để giữ cho cơ bắp không bị teo lại; tập luyện tinh thần để phòng ngừa nổi điên, vì rằng trạng thái điên và tỉnh cứ từ từ ghép lại thành một.
Để làm chậm lại tình trạng nổi điên, anh nghĩ về những người đàn bà mà anh đã quen. Đôi khi có những cái tên thoát khỏi trí nhớ của anh và anh phải liên kết chúng với những việc xảy ra trong đời anh. Để nhớ lại anh thử dựng lại chuyện tình đầu tiên của anh hồi ở trường trung học. Tên nàng là gì nhỉ? Haley? Anh nhớ lại lần đầu tiên chạm vào tay nàng trong băng sau chiếc xe Chevy của Cirillo, anh đã mò mẫm, cảm thấy người nàng mềm nhũn ra và như nẩy lên khi anh sờ sẫm, di chuyển bàn tay lên ngực nàng, những mầm non vừa mới nhú. Anh bàng hoàng, còn nàng đầy xúc cảm. Sau lần đầu, sự sôi nổi của họ đi dần tới mức điên cuồng. Họ làm việc ấy ở mọi nơi, trong bóng tối ở bao lơn của rạp chiếu bóng duy nhất của thành phố, cuộn tròn trong chăn giữa khu rừng xanh ngát ở Massachusetts, và có một lần, vào buổi trưa đã muộn, trong phòng chứa đồ của nữ sinh ở trường trung học thường bỏ trống suốt ngày. Tiếng thiếc kêu rột rẹt của cửa phòng chứa đồ cứ vang lên một nhịp đều đặn vì họ đứng dựa vào đây mà quằn quại trong niềm sung sướng cực độ của đam mê tuổi trẻ.
Rồi anh lên đại học và nàng yêu điên cuồng một tay đô vật ở trường trung học.
Sự mất mát của thời thơ ngây ám ảnh ký ức nóng bỏng của anh. Đầu óc anh lang thang tự do ngược dòng thời gian, trở lại các ngõ hẻm ở Boston, nơi Cirillo đã tóm anh. Khi ấy Hatcher là một đứa trẻ mồ côi cứng cỏi, láu cá, sống ngoài đường, và Cirillo là một viên cớm vừa cứng rắn vừa ngay thẳng đã nắm lấy anh và thay đổi cuộc đời anh mãi mãi. Chính Cirillo đã buộc anh phải vào trung học, đã thách đố anh không những leo vách mà còn phải tỏ ra cừ nhất, và cuối cùng đã sắp xếp cuộc gặp gỡ ở Annapolis, tại đó Harry Sloan đã phát hiện ra khả năng của anh. Nỗi dày vò của Hatcher là anh không còn có thể hình dung ra cuộc sống không có sự lừa đảo ấy, không thể nhớ lại được cái giây phút chính xác lúc anh đánh đổi của cái gọi là “người chiến sĩ trong bóng tối”. Với cõi lòng tan nát, Hatcher giống như nhiều người đàn ông và đàn bà trong những điều kiện còn ít tuyệt vọng hơn, đã phải thét lên một cách vô vọng mong làm sống lại cái giây phút ấy và thay đổi số phận của mình.
Lúc đầu, căm thù là tất cả những gì Hatcher giữ trong lòng. Ngồi trong hộp lúc đêm khuya, anh hình dung ra mỗi loại cực hình có thể tưởng tượng ra được mà anh sẽ bắt Harry Sloan phải chịu. Nhưng theo thời gian, anh bắt đầu nhìn khác đi, đổi hướng sự trách móc về phía người khác. Nhưng cuối cùng bao giờ nó cũng trơ lại như cũ: Sloan đã phản bội anh, đã gây dựng cho anh và đầy anh vào chỗ dở sống dở chết này.
Cirillo đã cứu giúp Hatcher, còn Sloan đã hủy diệt anh.
Nhưng sợi dây liên quan cũng khó mà cắt đứt. Sloan đối với anh còn hơn là một người bạn. Hắn đã từng là người thầy sáng suốt và tin cậy của Hatcher, đã giới thiệu Hatcher với những tay lão luyện trong tất cả các lãnh vực có thể tưởng tượng ra được, hợp pháp và bất hợp pháp - từ bẻ khóa đến giết người, đã dạy anh làm cách nào để sống sót trong những điều kiện tồi tệ nhất. Thật là mỉa mai biết bao, chính Sloan đã chuẩn bị cho anh sống sót được ở Los Boxes.
Đúng thế, Sloan đã thực hiện những lời hứa của hắn. Bài hùng biện của hắn đã hứa hẹn nào phiêu lưu, nào tình ái lãng mạn, điểm thêm những từ như “người yêu nước”, “bổn phận” và “quê hương”.
Ừ, thì đã có nhiều thứ của cả hai loại đó thật, đã có nhiều cuộc vui chơi khoái tỉ ở Tokyo, Singapore, Manila.
Rồi Hong Kong và Bangkok.
Anh luôn luôn nghĩ đến cả hai nơi ấy cùng một lúc, nhớ lại Cohen và những buổi cuối tuần khi anh bay từ Bangkok sang Hong Kong để tránh xa trong phút chốc địa ngục của những trận đánh trên sông.
Và căn phòng đặt biệt của anh tại Peninsula ở Kowloon, chỉ để chia xẻ với Daphne.
Chúa ơi, Daphne! Ký ức mới đẹp làm sao! Nàng còn sống không? Có còn đẹp như xưa không? Daffy, anh đã gọi nàng như thế, và cái tên đó rất hợp với nàng.
Rồi còn Sam, còn Joe Cockroach (con gián), còn Ts’e K’am Men Ti, hang ổ bí mật của bọn gian tặc Tàu. Rồi còn Tollie Fong, trong băng Tam kết giết người, đã nguyền lấy máu Hatcher vì anh đã giết cha hắn, cậu hắn và bốn tay gangster tin cẩn nhất của hắn.
Anh chẳng bao giờ có thề quay trở lại Hong Kong và Bangkok nữa. Quá nhiều hồn ma. Quá nhiều kẻ thù. Quá nhiều những cuộc chia tay thầm lặng.
Vì thế mà Hatcher luôn luôn nghĩ đến Sloan với những cảm giác lẫn lộn. Mối quan hệ giữa thầy và trò cũng sâu xa như giữa cha và con. Trong nỗi thống khổ, cảm giác của anh về Sloan cũng dao động luôn luôn. Ngày hôm nay anh nghĩ về Sloan với tình cảm nồng nàn, ngày mai anh lại rủa cho hắn xuống địa ngục.
Điều cuối cùng anh nhận ra là không thể xác định chính xác thời điểm mà ý nghĩa của đời anh thay đổi. Lúc anh gặp Sloan anh còn trẻ và dễ có ấn tượng, dễ bị thu hút bởi nụ cười ở khắp nơi của Sloan, dễ bị quyến rũ bởi những lời hứa hẹn dịu dàng của hắn. Điều mà Sloan làm hay nhất ấy là xoay như chong chóng trước mặt anh các hình ảnh của những thế giới huyền bí bằng tài hùng biện của hắn. Cuối cùng thì Hatcher đành phải gánh trách nhiệm về tình trạng của anh hiện nay, về nơi anh đang ở - một căn nhà do chính anh tạo nên.
Đời sống ở Los Boxes trở thành sự tự hành xác để hối lỗi của Hatcher.
Rồi một đêm anh nghe có tiếng cào tường. Mới đầu anh tưởng là một con gián hay một con chuột cống, nhưng sau đó một chiếc que nhỏ thọc xuyên qua tường, xoay xoay một lát, rồi rút về.
“Xịt! Xịt!”
Hatcher nghiêng người, áp tai sát vào cái lỗ nhỏ xíu,
Anh nghe thấy một giọng nói, một giọng nói già nua, khàn khàn vì đã lâu không dùng đến:
- Một hai mươi bảy?
 
 
 
0

MỘT HAI MƯƠI SÁU

 
Hatcher không muốn trả lời và cũng không thể trả lời. Sự khủng hoảng thần kinh và nỗi sợ hãi chặn lại mọi câu trả lời. Nếu đó là một tên lính gác thử anh thì sao? Anh chả dại mà mạo hiểm để bị cắt lưỡi. Anh tựa vào tường, tai áp vào cái lỗ, lắng nghe.
Tiếng thì thầm khàn khàn lại vang lên:
- Một hai mươi bảy?
Miệng anh khô lại vì sự ngờ vực. Anh ngồi một lát rồi ho lên.
- A! Rất tốt! Rất khéo! - Giọng nói thì thầm bằng tiếng Tây Ban Nha - Tôi là một hai mươi sáu. Tôi đã quen với người ở trước anh nhiều năm. Anh ta là một phóng viên ở xứ tôi. Một nhà báo nổi tiếng. Dâu xanh và giun sán đã giết anh ấy.
Lạy Chúa, anh đã nghe thấy một tiếng nói, một tiếng nói thân thuộc, dường như làm chậm lại cơn nổi điên của anh, và cuối cùng Hatcher tự hỏi mình “Cái lưỡi có ích gì nếu ta không dùng nó?”
- Tôi ở đây. - Anh thì thầm đáp lại, và ngay tức thì với phản ứng tự nhiên, anh nhét nắm tay vào mồm.
- Ôi! - 126 thì thầm - Một sự cứu giúp.
- Tôi là Hatcher, tên ông là gì?
- Không quan trọng, không quan trọng. - 126 nói bằng tiếng Anh không chuẩn. - Ở đây không có ân xá, không có tha thứ, không thể trốn thoát. Tôi là một hai mươi sáu. Tôi sẽ vĩnh viễn là một hai mươi sáu. Còn anh là một hai mươi bảy.
- Ông đã ở đây bao lâu rồi?
- Từ khi Thượng Đế sinh ra loài gián.
- Tại sao ông vào đây?
- Do một tin tưởng sai lầm là vì lợi ích của đất nước.
- Tôi cũng thế, - Hatcher nói.
- Để thích hợp với sự lừa dối đó là ghi nhớ lấy nó mãi mãi. Tại sao tôi ở đây, tại sao anh ở đây? Điều đó chẳng còn quan trọng nữa. Ngay bây giờ kể cả tòa án cũng đã quên chúng ta rồi. Và nếu chẳng có ai quan tâm đến thì có gì quan trọng đối với chúng ta đâu! Thật đơn giản, đó là một sự lừa dối!
- Nó làm tôi phải suy nghĩ về nó. Nó đưa tôi vào thế bí.
- Không thể nào thanh minh được cho ai, khi mà ta đang căm thù họ. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều là những sản phẩm của những sự xấu xa do chính chúng ta gây ra.
- Tôi e rằng tôi không thế đồng ý là như thế. Con quỷ của tôi có tài hùng biện lắm kia.
- Thế à, - 126 trả lời. - Hãy chỉ cho tôi con quỷ nào không như thế. Hãy quên căm thù đi, nó sẽ làm cho anh điên đấy.
Có lẽ chẳng có cách nào khác nữa. Thế là trong những năm tháng nối tiếp, Hatcher quyết định rằng nếu như anh còn gặp lại Sloan, anh sẽ tha thứ cho hắn. Tha thứ, nhưng không bao giờ tin hắn nữa. Anh biết Sloan quá rành, đủ để biết rằng Sloan sẽ lại phản anh nữa nếu hắn biết điều đó có lợi cho hắn.
Những bài học của Hatcher thật đau đớn. Anh đã quên phứt rằng trong địa ngục của Los Boxes, luật lệ không bao giờ thay đổi. Một hôm anh đang làm việc ở bìa rừng, làm đất cho một trong những vườn rau mênh mông vây quanh chỗ ở, thì một con heo rừng bất thình lình từ một lùm cây thấp phóng ra húc anh. Nó to lớn, mập ú, hôi thối với cặp nanh cong vút và đôi mắt điên dại, nó khịt mũi, khật khưỡng cái đầu hất hất lên chạy về phía anh. Hatcher đỡ cái húc đầu tiên bằng cây cuốc đâm thẳng vào mõm nó, nhưng con vật chỉ lùi vài thước rồi lại lao vào. Hatcher kêu thét lên gọi lính gác trong khi đỡ cặp nanh, heo bằng cái cuốc. Cặp nanh to có thể dễ dàng móc lòi bao tử anh ra, xé rách chân, dâm toạc cổ họng anh.
Một tên lính canh xuất hiện nhưng chẳng hề có ý bắn con vật. Hắn đứng cách đó khoảng mười lăm mét nhăn răng ra cười.
- Bắn nó đi! - Hatcher thét lên, và tên lính tức khắc phản ứng.
- Im lặng! - Tên lính quát.
Con heo rừng lại tấn công. Lần này Hatcher vung cuốc một vòng rộng và phập lưỡi cuốc vào chiếc cổ dày của con heo. Cán cuốc giập và gẫy đôi. Con heo rừng rống lên đau đớn, lùi lại và bắt đầu xoay vòng.
- Vì Chúa, xin hãy bắn cái con chó đẻ ấy đi! - Hatcher vừa thét vừa lùi lại.
- Im lặng! - Tên lính gác vừa ra lệnh, vừa chạy về phía anh.
Con heo rừng chạy vòng, khịt mũi, điên cuồng gõ móng lộp cộp trên đất và phóng về phía anh lần nữa. Hatcher chẳng có gì đế thủ thân. Anh bắt đầu chạy vắt giò lên cổ. Rồi anh nghe thấy tiếng súng nổ và tiếng rống đau đớn của con heo rừng. Một tên lính gác khác ở bên kia cánh đồng hạ súng xuống. Hatcher quay lại, thấy con heo rừng nằm nghiêng một bên cách đó khoảng ba mét, mấy chân ngắn cào cào không khí, cái đầu giật tới giật lui trong cơn giãy chết.
Tiếng thở phào thoát nạn của Hatcher bị dập tắt ngay bởi một báng súng của tên lính gác đầu tiên thúc mạnh vào cổ họng anh. Anh lảo đảo lùi lại, ôm chặt lấy cổ, cảm thấy các tĩnh mạch và bắp thịt vỡ nát và máu trào ra khỏi miệng. Anh quì sụp xuống trên hai đầu gối, nghẹn thở.
Tên lính gác cúi xuống anh.
- Im lặng! - Hắn lặp lại, rồi xoay lưng bỏ đi.
Đêm hôm ấy, 126 đã bảo anh:
- Anh may mắn còn giữ được lưỡi đấy.
- Tôi căm thù thằng ác ôn đó. - Hatcher đau đớn trả lời. - Tôi sẽ giết nó khi nào có dịp.
- Không, đừng nghĩ đến điều đó. Căm thù rất dễ xảy ra ở đây và căm thù giết chết tâm hồn. Anh phải học thương yêu một cái gì đó, như một người đàn bà, quê hương của anh, hoặc bất cứ cái gì. Không có tình thương, đời sống vô nghĩa. Thương yêu ở đây có nghĩa là cười, là khóc, là cảm nhận mà không được tiếp xúc. Không có xúc cảm, 127 này, anh sẽ trở thành một người máy.
Điều ấy đúng, Hatcher nghĩ, mặc dù lúc còn tuổi thanh niên lòng căm thù đã ngự trị trong anh.
- Tại sao nói chuyện lại bị cấm hở, 126? - Hatcher thì thầm yếu ớt.
- Nói chuyện là mầm mống của nổi loạn.
- À! Có ý nghĩa đấy.
- Trong tình trạng nguyên thủy, tất cả mọi việc ở đây đều có ý nghĩa, 127 ạ!
- Ở ngoài ông làm gì? - Giọng vỡ vụn của Hatcher hỏi.
- Tôi là giáo viên. Một người thầy. Anh có thầy không?
Hatcher suy nghĩ giây lát và trả lời:
- Tôi có hai người.
- À! Thế họ đã dạy anh gì nào?
Hatcher nói:
- Một người đã dạy tôi ý nghĩa của danh dự.
- Còn người kia?
- Hắn dạy tôi đừng biết đến nó.
126 đã già đi trong Los Boxes và có thể sẽ chết ở đây. Trong một phút điên cuồng ông ta đã thử bỏ trốn, nhưng hai ngày ở trong rừng là tất cả những gì mà ông ta có thể chịu đựng được. Bây giờ thì ông ta bị nhốt vĩnh viễn trong hộp số 126 và để giữ lấy sự sáng suốt của mình ông ta không ngừng suy ngẫm, triết lý.
- Nói chuyện là phân bón cho bộ óc, - ông ta bảo với Hatcher. - Nếu không có ai để nói, hãy tự nói với chính mình.
Cũng có cả những lời khuyên thực tế:
- Điều này rất quan trọng: anh vạch tên và tuổi lên tường để khỏi quên mất căn cước của anh. Nên biết rằng, không có ai quan tâm đến điều đó đâu. Đối với tất cả những người khác, anh là 127. Hãy quên đi cái gì xảy ra bên ngoài các bức tường, nó chẳng còn quan trọng gì đâu. Chỗ này là thực tại của anh. Để sống sót được, điều quan trọng nhất là phải thực tế.
- Sao rắc rối thế? - Hatcher hỏi lại.
- Vì hy vọng là chìa khóa để mở cửa vào thiên đường, - 126 trả lời.
Ông ta trở thành người thầy của Hatcher. Mỗi ngày, khi Hatcher từ những cánh đồng chung quanh nhà tù Los Boxes trở về là lại có những bài mới để học.
- Khi anh ra ngoài, đừng ăn dâu xanh. Những quả xanh đó sẽ giết anh. Hãy thủ dâm hằng ngày, nó sẽ giữ cho những xúc cảm của anh tồn tại. Hãy quên đi những quan điểm chính trị trong nỗi dằn vặt của anh. Những nhà chính trị là những con sâu đục phá tâm hồn. Chúng ngả nghiêng theo gió và làm cho anh nổi giận, mà nổi giận sẽ trở nên điên cuồng, và điên cuồng là nấc thang trước cái chết.
Đừng lãng phí thời gian để suy nghĩ đến trả thù. Sự trả thù làm cho hèn yếu. Nó đòi hỏi hành động, mà hành động là kẻ thù của tư duy và là bạn của ảo tưởng, ở đây ảo tưởng sẽ dẫn đến điên cuồng.
- A!... Khó thực hiện quá!
- Rồi nó sẽ dễ hơn. Tha thứ cho kẻ thù còn hơn là đón nhận sự điên cuồng.
- Anh sợ cái gì nhất, 127?
Hatcher suy nghĩ một lát, cuối cùng nói:
- Sự hèn nhát.
- Thế thì khi nào anh còn sống, anh chẳng có điều gì để sợ cả. Chỉ có những kẻ hèn nhát mới tự giết mình khi trốn đi mong thoát khỏi nơi này. Nếu anh bị bệnh, hãy tự chữa lấy. Nếu không chúng nó sẽ giết anh để ngăn ngừa khỏi bệnh lây lan, dù bệnh anh là bệnh gì. Ở đây không có bác sĩ.
Đừng để mất ý thức về tính hài hước của anh. Sự hóm hỉnh nuôi dưỡng tâm hồn. Nếu tâm hồn đói khổ, lương tâm cũng thế, mà lương tâm là người bạn đường duy nhất của anh.
Đừng ăn thịt heo. Nó được nấu nướng tồi tệ. Nó sẽ đưa giun sán vào bụng anh đấy!
- Cám ơn ông, 126.
- Về cái gì?
- Về cái tôi đang học ông.
- Tôi là một thầy giáo. Đó là niềm vui cho tôi.
 
Rồi đến họ nhà Nấm (Mushroom People).
Đầu tiên Hatcher chỉ nghĩ là 126 đang rơi vào một trong những ngày ông ta nổi điên. Tất cả bọn họ đều có những ngày nổi điên.
126 bảo anh ngắn gọn trước khi chết:
- Hãy tìm những chùm hoa nấm, những chùm to đang nở dưới bóng mát của những cây cao. Vặt nhỏ chúng ra và trộn với thức ăn, đừng bao giờ ăn không. Họ nhà nấm thuận tiện đấy nhưng nếu anh ăn không các chùm đang nở thì chúng sẽ tuột khỏi tay.
Hatcher chả hiểu gì 126 đang nói trong lúc mê sảng cả.
- Đã đến lúc nói lời từ biệt.
- Không!
- Tôi đã ở đây mười hai năm rồi, anh bạn thân ạ! Đã hai năm nay tôi không được nhìn thấy mặt trời và thở không khí trong lành. Đủ lắm rồi. Thêm vào đó, tim tôi đã mòn mỏi. Nó cứ loạn nhịp luôn.
Hatcher van nài:
- Nhưng tôi cần ông.
- Dù sao... - ông ta ngừng lại. - Tôi sẽ nhớ anh 127 ạ.
- Chẳng bằng một nửa tôi nhớ ông.
126 cười:
- Tốt. Anh chưa mất tính khôi hài.
Đầu tiên anh phát hiện ra chúng khi đang cào xới một khu đất mới để làm vườn. Những cây nấm to, màu vàng chói, rực sáng như những viên ngọc trong bóng râm dày đặc, ẩm ướt. Anh hái một cây, vặt nhỏ ra và nhét vào các túi áo. Đêm ấy anh rắc các mẩu vụn đó vào đĩa rau bằng thiếc được đút qua khe hở dưới cửa xà lim. Vị của nó thơm như xạ lẫn với mùi giấy bồi, át hẳn các vị khác.
Nằm trên chiếc nệm rơm, anh nhìn chòng chọc lên trần nhà, tự hỏi tại sao 126 lại dặn dò anh về các chùm hoa nấm này. Có lẽ chúng cung cấp một số chất bổ hay chất khoáng cần thiết để giữ cho xương anh khỏi tiêu thành cát bụi chăng?
Một bóng thầy tu mờ ảo như sương khói chợt hiện lên trong góc phòng giam in xuống những cái bóng mờ sáng, một cái gì bắt đầu như một ảo ảnh rồi kết thành hình thù bằng xương bằng thịt, đứng trong góc như thể chờ lệnh. Anh sợ hãi thì thầm:
- Ông là ai? Ông muốn gì?
Nhưng họ nhà Nấm không bao giờ trả lời, không bao giờ nói. Họ chỉ bầu bạn với anh, và khi anh biết tin cậy họ, anh tiếp chuyện họ như tiếp những người khách đến thăm, bày tỏ nỗi buồn tẻ hằng ngày của anh.
Đôi khi anh nhảy với họ, quay tròn và uốn éo một điệu nhảy Ireland điên cuồng trong hầm giam bằng đất của anh. Anh ôm ấp hôn hít đàn bà và đấm đá đàn ông. 126 đã hết, chỉ còn họ nhà Nấm là những người bạn duy nhất của anh.
Có những ngày Hatcher tỉnh táo, có những ngày anh bỏ cả nhiều giờ đánh bạn với họ nhà Nấm, nhảy múa, hát ca, hôn hít, kể lại bất cứ mẩu chuyện nào mà anh nhớ hoặc dựng lên. Anh kể cho họ nghe những chuyện cười để giữ cho cái ý thức hài hước của anh còn sống, hát những bài ca cho họ nghe vì âm nhạc, nuôi dưỡng tâm hồn.
Khi anh khám phá ra họ nhà Nấm, anh không còn cần đến 126 nữa. Và nếu cái vạch mong manh giữa sự sáng suốt và sự điên dại được xác định thì phải nói Hatcher thực ra đã điên trong những năm ở nhà tù Los Boxes. Phải mất thêm hai năm anh mới thoát khỏi ấn tượng về những điều thô bạo, mất cả tính người anh đã kinh qua, để tự nhận với mình rằng chẳng có cái lỗ nào trên tường xà lim cả, và cũng chẳng có 126 nào ở phía bên kia thường nói chuyện với anh cả. Phải mất hai năm Hatcher mới nhận ra rằng 126 là nội tâm của chính mình.
 
 
0

MADRANGO

 
Chiếc tàu mỗi tháng đến một lần, mang theo đồ tiếp tế cũng như rượu whiskey và gái điếm cho bọn lính gác. Còi tàu buồn bã rúc lên ba hồi báo hiệu khi nó đến gần khúc quanh cuối cùng của con sông. Chẳng có ai lao động bên ngoài khi con tàu đến. Khi con tàu vang lên, các tù nhân nhanh chóng bị lùa trở lại các hầm giam. Họ không được phép nhìn thấy những người đàn bà, mặc dù những người ở mạn nam của nơi trú ngụ giết người này đôi khi cũng thoáng nhìn thấy họ qua các khe nứt nhỏ, hẹp, trên tường. Chiếc tàu luôn luôn ở lại ba hôm rồi đi. Một số tù nhân bao giờ cũng nổi khùng vào dịp này. Như những con chó động đực, họ nằm dài trong phòng giam và hú lên trong đau khổ. Hatcher ở mạn phía bắc của công sự này. Anh chưa hề nhìn thấy một con mái nào kể từ khi anh đến đây. Nhưng khi gió thổi đúng chiều, anh có thể ngửi thấy mùi nước hoa của họ, mùi giới tính của họ, kể cả mùi cay nồng của rượu, thế là anh cầu cứu họ nhà Nấm và ở trong tình trạng điên khùng suốt ba ngày.
Lần này con tàu đến vào lúc sắp chạng vạng tối. Các tù nhân đã vào hết và bữa ăn chiều đang được phân phát thì còi tàu rền rĩ phía bên sông. Hatcher bối rối. Anh kiểm tra ngay tức khắc tấm lịch thô sơ được vạch trên tường. Chuyến tàu đến thăm kỳ vừa rồi mới cách đấy có mười sáu ngày. Có thể bọn chúng sẽ đến mỗi tuần một lần, cho bọn lính gác thêm một suất gái và rượu. Có thể bọn chúng đang mang tới một nhân vật đặc biệt, một vị tai to mặt lớn nào đấy.
Hatcher đang ăn cơm, anh kéo trượt một hòn đá ra khỏi tường và thò tay vào đấy, móc ra một cái túi nhỏ đựng những cái nấm kỳ diệu. Anh bóp vụn một cái và rắc lên những gì còn lại của bữa ăn. Anh nhai thật kỹ các miếng dai nhách, biết rằng nó càng dễ tiêu bao nhiêu, thì anh càng có phản ứng nhanh hơn tốt hơn bấy nhiêu.
Khi ăn xong, anh đốt một điếu xì gà làm bằng lá cọ bóp nát nhét vào cành tre. Khói thuốc cay gắt làm nóng rát mũi và phổi anh. Anh nằm ngửa và chờ họ nhà Nấm. Bên ngoài tiếng sấm rền vang trên trời và anh có thể nghe thấy tiếng những giọt mưa đầu tiên lộp độp trên tường phía ngoài. Một cơn gió mát luồn qua cái khe nhỏ trên tường làm anh dễ chịu. Màu nâu đất của phòng giam bắt đầu thay đổi, sáng lên hơn, anh nhắm mắt lại thì các hình dạng hiện lên và nhảy múa sau mí mắt anh. Anh bắt đầu cười khúc khích một mình và bao tử anh bắt đầu cồn cào ở sâu bên trong.
Họ đang đến. Anh gần như nghe thấy tiếng họ lẻn vào hành lang chật hẹp dẫn về phía xà lim của anh, và anh tự hỏi không biết ai trong họ nhà Nấm sẽ đến thăm anh đêm nay. Điều ấy thật cũng chẳng quan trọng, vì anh yêu tất cả bọn họ một cách nồng nàn. Họ chưa bao giờ có vẻ thật hơn. Anh có thể nghe thấy họ ở phía ngoài xà lim, nghe tiếng cửa rền rĩ mở ra. Một người trong bọn họ đá vào bàn chân anh. Anh cười ré lên với sự chờ đón trước.
- Một hai mươi bảy! - Một cái giọng lè nhè trong cổ bằng tiếng Tây Ban Nha gọi.
Họ nhà Nấm trước đây chưa bao giờ nói với anh. Anh mở một mắt và thận trọng, chăm chú nhìn ra ngoài. Một tên lính canh đang đứng trước mặt anh.
- “Đến đây!” Tên lính nói. Hắn cúi xuống, kéo Hatcher đứng lên, và dẫn anh ra ngoài cửa. Một ngọn gió lạnh, ẩm nước mưa, thổi xuống cầu thang và than vãn lùa qua các hành lang. Hatcher không dại gì mà hỏi tên lính canh đưa anh đi đâu. Nhưng các tai nấm anh đã ăn đang tác động vào anh. Anh cố đi thẳng, nhưng cứ lảo đảo phải dựa vào tường trong lúc họ leo lên cầu thang. Họ dừng lại ở bậc trên cùng, tên lính canh đập cửa. Cửa vụt mở. Ánh sáng chói lòa mắt anh, anh lảo đảo lùi lại, mắt nhấp nháy. Anh hé mắt nhìn chòng chọc về phía đầu trên cái cầu thang thứ hai. Trong ánh sáng trắng dịu như hào quang là thân hình đồ sộ của một người đàn ông, một con voi trong bộ đồ trắng ôm một cái cặp trước ngực bằng cả hai tay. Ánh sáng trắng đổi sang đổ, rồi vàng, rồi vỡ ra thành từng mảnh vụn như những mảnh kính màu bị bể.
- Ông Hatcher, - người xuất hiện trong bộ đồ trắng nói. - Tôi đến để đưa ông về nhà.
Hatcher ngã dựa vào tường và đứng tựa vào đây một lát, rồi sụp xuống ôm hai gối và bắt đầu hú lên như một con sói.
- Hắn chả nói mẹ gì cả từ khi mình lôi hắn ra khỏi cái hốc địa ngục hôi thối như chuồng lợn ấy, - Pratt nói với tên thuyền trưởng. - Hắn chỉ nằm dài ra đó nhìn chòng chọc lên trần.
Tên thuyền trưởng đang đứng phía trên gã trong phòng lái được lợp bằng cây, nhìn chăm chú xuyên qua màn mưa tầm tã, nhún vai:
- Hầy, thế ông muốn như thế nào, thưa ông? Hắn chưa hề nói chuyện với một người nào trong ba năm nay. Ông muốn hắn nhảy lên nhảy xuống, hát bài “Star-Sprinkled Banana” (Quả chuối rắc sao) hay là gì nữa?
Pratt lắc đầu và rót một ly rượu mạnh khác. Gã cởi áo ngoài ra và kéo cà vạt xuống. Mưa luồn qua các khe nứt trên vách ngăn, nhỏ giọt xuống bàn. Mồ hôi làm cho chiếc áo sơ mi và quần trắng của gã thành màu cháo lòng. Một người đàn ông điên nhìn chòng chọc lên trần, một tên thủy thủ mù chữ với hàm răng rỉ xanh và hơi thở thối như chó rừng, và một cơn mưa giông có thể đánh đắm con tàu bẩn thỉu này trước khi họ ra đến sông cái. Thế là đủ với gã rồi. Khi trở về gã sẽ điện cho ông bố và vù khỏi Madrango. Mặc xác công việc, mặc xác Bộ Ngoại Giao, mặc xác Hatcher và nhà tù Los Boxes cùng cái thuyền giống như cái chậu mục nát và rò rỉ này. Gã ực cạn ly rượu và rót ly khác.
- Có phải Sloan cử anh đến không?
Một giọng nói đau khổ làu bàu sau lưng Pratt. Gã nhổm dậy và xoay người trên ghế. Hatcher ở trần đang đứng ở cửa ra vào dẫn xuống phía dưới, như một bóng ma sông, đôi mắt xanh nhấp nháy điên loạn trong hai quầng thâm trũng sâu, đôi cánh tay gầy guộc như hai cán chổi, mái tóc rối bời, bẩn thỉu xoã xuống bờ vai, bộ râu rậm rũ xuống che phần lớn bộ ngực gầy trơ xương của anh. Đất bùn hằn rõ ở các nếp nhăn trên trán anh.
Pratt nhìn sững anh chẳng thốt nên lời.
- Có phải Sloan cử anh đến không? - Hatcher lại làu bàu bằng cái giọng thì thào khàn khàn sâu thẳm.
- Như tôi đ...đ... đã bảo anh, ơ...tôi đến từ tòa đại sứ ở Madrango, - Pratt ngập ngừng nói. - Ông đại sứ đã sắp xếp ch... ch... cho...
- Có phải Sloan cử anh đến không?
- Vâng... tôi nghĩ rằng Sloan cũng tham gia vào việc sắp xếp này, ông ấy...
- Tắm được chứ? - Giọng Hatcher mệt nhọc hỏi.
- Tắm được chứ? - Pratt lặp lại, và nhướng chân mày lên cùng với câu hỏi.
- Bơm nước “pị” gẫy, thưa ông, - tên thuyền trưởng trả lời.
- Bơm nước “pị” gẫy. Bơm nước “pị” gẫy, - Pratt nhại lại.
Hatcher quay lưng đi lên boong tàu. Tên thuyền trưởng gọi với sau lưng anh.
- Gió “tang” thổi mạnh lắm, thưa ông.
- Ôi! Lạy Chúa! - Pratt làu bàu và đi theo Hatcher. Gã đứng ở cửa lên boong tàu, nhìn người cựu tù nhân bò ra boong rồi nằm ngửa mồm há ra trong khi mưa đổ xuống người anh.
- Hắn bảo phải coi chừng gió, - Pratt la lên. - Chúng tôi không muốn bây giờ lại mất anh, sau khi đã làm mọi chuyện, phải thế không?
Hatcher không trả lời. Dang tay như cánh đại bàng trên boong, anh ngủ lịm đi thật say trong khi mưa gió vẫn thi nhau quất vào tấm thân gầy gò của anh. Cuối cùng, tên thuyền trưởng buộc chặt tay lái và bò đến gần anh, quấn một sợi dây quanh người anh và cột một đầu vào lan can tàu.
- Ông canh chừng anh ta nhé, - y nói với Pratt rồi trở lại phòng lái.
Ngày hôm sau, trời trong sáng, gió Đông Bắc hây hây thổi.
- Dừng tàu lại. - Giọng Hatcher lạc đi gọi viên thuyền trưởng. Y vội kéo cần ga về phía sau cho con tàu chạy lui. Phía đuôi tàu, máy tàu quạt nước sôi sùng sục.
- Cái quỷ quái gì xảy ra thế? - Pratt hỏi.
Hatcher không trả lời. Anh cởi phăng chiếc quần dài rách tơi tả và nhảy xuống sông.
- Ôi! Lạy Chúa! Ở đây nhiều cá sấu lắm. - Pratt nói lắp bắp. Gã bắc tay làm loa và hét gọi Hatcher khi anh nổi lên. - Sông này có cá sấu đấy, ông Hatcher!
Hatcher xoay lại nằm ngửa và thả nổi. Pratt ngồi trên chiếc ghế nhồi bông đã hỏng, hai tay ôm lấy đầu, lẩm bẩm một mình.
- Chết tôi rồi, Hatcher đâu?
- Ôi, tôi hết sức buồn, thưa ngài, hẳn một con cá sấu đã ăn thịt hắn rồi.
Mười phút sau, Hatcher nhanh nhẹn leo lên tàu. Pratt đưa cho anh một chiếc khăn bông có nhãn hiệu Mỹ thêu ở một góc. Hatcher nhìn nó chòng chọc một lát rồi bắt đầu lau người. Pratt nói:
- Tôi có mang một số quần áo mới cho ông, để ở dưới khoang, có thể vừa hoặc quá rộng đấy.
Hatcher đã lau người xong, vắt chiếc khăn lên vai, đứng trần truồng trước mặt Pratt chờ đợi.
- Ô vâng! - Pratt chạy tót đi, nhanh hết mức mà một người đàn ông quá mập có thể chạy được, mồm nói:
- Phải, tôi đi lấy mấy bộ quần áo đó ngay. Cùng có, ơ... ơ, một con dao cạo, một bàn chải đánh răng và kem. Có, ơ… ơ..., cả nước hoa nữa...
Quần dài thì cỡ lớn hơn hai số và tay áo sơ mi cộc thì dài lòng thòng ngang các lóng tay anh, nhưng sạch sẽ, thơm tho. Hatcher ngắm nhìn mình trong gương. Đã hơn ba năm chẳng nhìn thấy mặt mình. Bây giờ đã cạo râu sạch sẽ, mái tóc được cắt bằng kéo đến ngang vai và chải chuốt. Hai má và mắt anh lõm sâu, anh đã sụt khoảng mười lăm ký nhưng thế là còn may. Anh có thể đã chết. Anh có thể đang cùng chia nhau các tai nấm với 126 ở thiên đàng. Anh xắn tay áo lên cao hơn khuỷu tay và quay trở lại boong tàu. Pratt nói:
- Vâng, tôi phải nói trông ông có vẻ hạng nhất thưa ông, đúng là hạng nhất.
Hatcher nghiến răng nói:
- Thuốc lá?
Pratt vội vàng mò trong cặp của gã.
- Vâng, thưa ngài, vâng, thưa ngài, có ngay đây. - Gã đưa cho Hatcher một gói Dunhill. - Tôi nghĩ ngài thích loại này.
- Thế à? - Hatcher nói, nhìn gói thuốc chằm chằm. Anh xoay gói thuốc qua lại hai ba lần mới tìm ra cách bóc vỏ bọc ngoài. Anh đốt một điếu, kéo một hơi sâu, và ho gần chết. Gương mặt anh chuyển sang đỏ tía và anh há hốc mồm ra mà thở.
- Đưa hai tay lên đầu! - Pratt hét lên và cầm hai tay Hatcher nâng lên.
Cuối cùng Hatcher ngừng ho, ngồi xuống be tàu. Anh nhìn điếu thuốc một lát rồi ném qua mạn tàu.
- Chúng ta có một số trái cây tươi, phó mát hảo hạng, rượu vang, ơ... gà xắt lát và thịt bò nướng. Cũng có bia, nước ngọt Coca-Cola trong tủ lạnh. - Pratt nói, cười lo lắng và thêm. - Đây đúng là chiếc du thuyền cũ kỹ.
Hatcher nhìn Pratt chòng chọc như dò hỏi và cứ nhìn như thế cho đến khi gã mập bắt đầu cảm thấy khó chịu, rồi anh bảo:
- Coca-Cola, Hừ! Sloan đã làm thế nào đế xếp đặt việc ân xá tôi?
- Hờ, cũng không đúng là ân xá.
- Ông muốn nói gì? - Anh thì thầm, giọng hăm dọa.
- Ông thấy đấy, thưa ông Hatcher, Madrango hiện tại đang trải qua một cơn hỗn loạn khủng khiếp. Đã có một cuộc đảo chính quân sự và vị tổng thống mới lên là Garazzo.
- Garazzo! Hắn đã đày tôi lên đó.
- Ô, đúng đấy. Ông biết chứ, có một cuộc bầu cử dân chủ ngay sau khi ông đi khỏi, Garazzo và phe cánh của ông ấy bị Venzio lật đổ. Nhưng, cách đây khoảng bốn tuần, Garazzo thắng lại được và... ông ấy lại lên làm tổng thống. Dù sao, ông ấy đã xếp đặt cho ông thoát.
- Thoát? - Đôi mắt của Hatcher lấp lánh trông nguy hiểm.
- Đó thực sự chỉ là hình thức, - Pratt vội vàng nói.
- Họ sẽ không có ý định giam giữ ông nữa hoặc dùng bất cứ một kiểu gì giống như thế. Tôi muốn nói, cũng không một ai sẽ biết việc ông đã ra khỏi đây, ông hiểu tôi muốn nói gì chứ?
- Sloan đâu?
- Ông sẽ gặp ông ấy khi đến Washington.
- Washington?
- Đúng, chúng tôi sẽ nhanh chóng đưa ông ra khỏi xứ này ngay, vâng... ông ấy đang chờ gặp ông.
Hatcher lại nhìn hắn chòng chọc. Anh nghi ngờ có một âm mưu gì qua gương mặt của gã, qua các lớp mỡ dường như che dấu các điểm yếu của gã. Một bộ mặt ngắn ngủn nhô ra từ một cái đầu to, mập. Anh làu bàu với Pratt:
- Làm thế nào anh lại dính vào chuyện này?
- Tôi là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, - Pratt nói, cố ý nhấn mạnh với vẻ tự hào về điều ấy.
- Có nhiều điều không bao giờ thay đổi, - Hatcher thì thầm.
Họ có thể nhìn thấy những cột khói đen bốc lên từ thành phố khi họ còn cách xa đây khoảng hai mươi dặm.
- Nó đang cháy! - Viên thuyền trưởng nói, tay chỉ về phía thượng nguồn.
- Nó đang cháy! - Pratt nhại lại, lắc lắc đầu. Gã đứng dậy, nhìn qua mũi tàu về phía thủ đô, rên lên:
- Lạy Chúa tôi, chắc có cuộc phản công vào thành phố, khu vực ấy đang bốc cháy.
- Chúng ta làm gì bây giờ? - Hatcher lo lắng càu nhàu.
- Tôi sẽ tìm cách liên lạc vô tuyến với tòa đại sứ. - Pratt nói và biến xuống phía dưới. Hatcher tiếp tục nhìn các tháp khói đen khi họ đến gần thành phố hơn. Anh có thể nghe thấy những tiếng nổ và tiếng súng. Khi Pratt quay trở lại, gã mỉm cười:
- Họ sẽ phái một chiếc trực thăng ra cầu tàu. Nơi đó hiện đang ở trong tay phe ta. - Gã nói vẻ kích động. - Họ sẽ bốc chúng ta bay thẳng vào tòa đại sứ.
- Tại sao anh làm tất cả các việc này cho tôi? - Hatcher hỏi.
- Tôi, tôi thực sự không biết, thưa ngài. Họ chẳng nói cho tôi nghe điều ấy. Họ chỉ bảo xuống đây cùng với các giấy tờ, đút lót cho tên cai ngục và mang ông về. Nếu như ông muốn biết sự thật thì, thưa ông Hatcher, họ chả bao giờ nói với tôi điều gì cả.
- Tôi thả các ông xuống và biến nhanh nhé. - Viên thuyền trưởng gọi to về phía họ.
- Ờ, được. Anh biến nhanh đi, - Pratt đáp.
Khi đến gần cầu tàu họ nhìn thấy chiếc trực thăng, kiểu chở được bốn hành khách, đang bay xẹt qua các nhà kho dọc theo bờ sông rồi treo lơ lửng phía trên bờ, làm xáo động mặt nước sông. Pratt đứng lên giơ tay vẫy. Viên thuyền trưởng đưa con tàu cặp nhẹ nhàng vào cầu tàu rồi hét to:
- Bây giờ các ông lên đi, chúc may mắn, thưa các ông.
Pratt lẹ làng leo lên lan can tàu, và khi gã vừa leo qua thì một quả pháo nổ tung cách đó khoảng năm mươi thước, làm vỡ toang một góc của toà nhà cao. Một người đàn bà trần truồng chạy xuống đường, đầu tóc đang bốc cháy. Một chiếc xe jeep nằm bẹp trên các bánh xe xẹp lép, đang cháy dữ dội, cái xác cháy thành than của người tài xế vẫn còn ngồi sau tay lái. Pratt ngừng lại, gương mặt hiện lên vẻ hãi hùng.
- Nào đi! - Hatcher hét lên và đẩy gã lên bến tàu. Con tàu rú lên lùi ra giữa sông.
- Chúa ơi! Hãy nhìn xem kìa, thật là khủng khiếp, khủng khiếp... - Pratt kêu rú lên trong khi trực thăng bay lướt qua và đậu xuống cách đó khoảng sáu mét. Hatcher chạy đến mở cửa máy bay. Một tay lính thủy trẻ, đang sợ chết khiếp giúp anh leo vội lên thang. Đằng sau anh, Pratt lạch bạch chạy qua bến tàu đến trực thăng. Viên đại úy, phi công nhìn gã kinh hoàng:
- Chúa ơi, chúng ta không thể bốc thêm hắn, quá tải rồi, - viên phi công la lên. - Đóng cửa lại, hạ sĩ!
- Vâng! - Viên hạ sĩ đáp và sập cửa lại.
Bị bỏ rơi trên bến tàu, Pratt gào lên khi gã thấy cửa máy bay sập lại. “Không! Không! Các anh không thể bỏ tôi ở đây”. Gã gào lên, đập vào bên hông trực thăng. Chiếc trực thăng rùng mình và nâng bổng lên trong khi Pratt vẫn liên tục đấm ầm ầm vào bên hông. Rồi gió bắt đầu quất ào ào vào người gã, bụi đất bắn rào rào, làm xót hai mắt gã, và trực thăng cất bổng lên. Pratt quì gục xuống gối, hai tay ôm lấy đầu, bắt đầu nức nở không kìm được.
Hatcher và tay lính thủy trẻ chăm chú nhìn xuống gã đàn ông to lớn cho tới khi gã nhỏ dần, nhỏ dần... Một tiếng nổ khác vang lên đằng sau gã và một phần bên tàu vỡ sụp, nhưng Pratt không nhúc nhích. Gã quì như một vị Phật, co người lại vì sợ, không sao nhúc nhích được.
- “Thật là sự điên khùng!”, tay lính thủy trẻ la lên và Hatcher bắt đầu cười lại lần đầu tiên. Anh đã bầu bạn với sự điên khùng quá lâu đến nỗi hình như nó hoàn toàn bình thường đối với anh.
 
 
0
Bangkok
SÁU THÁNG SAU
 

QUA VÙNG MALAYSIA

 
Từ trên cao họ có thể nhìn thấy xe Mercedes màu xanh đậm đang nhích từ từ qua các đường phố đông đúc của Bangkok. Nó có vẻ như chẳng định đến một nơi nào cả. Nó chạy như bò, giảm tốc độ khi qua các hẻm, chạy ngoằn ngoèo qua các đường phố, rồi cuối cùng dừng lại.
Hẻm chật hẹp và đầy người. Mặc dù ngày còn sớm, nhạc đã vang lên ầm ĩ từ một hộp đêm gần đây cộng thêm với tiếng người nói ồn ào, tiếng kèn xe và tiếng động hỗn tạp của một thành phố to lớn, đông đúc.
Một gã Tàu to lớn bước ra khỏi chiếc Mercedes đi vào hẻm này. Khuôn mặt hắn hồng hào, có một vết sẹo nhỏ chạy dài suốt một bên mặt. Hắn lách qua dòng người đang trôi đều đều tới trước một cô gái bé nhỏ, gầy gò, trông đáng thương quấn trên đầu một dải khăn lụa. Một em bé sơ sinh đang rúc vào lòng nàng. Nàng đi chân không, bùn đất đóng đầy hai bàn chân chai sạn, gò má hõm sâu và đôi mắt trũng đủ để nói lên tình cảnh nàng. Đó là một cô gái trẻ, một trong hàng ngàn gái điếm, là dân Lào từ miền Đông Bắc Thái Lan tới. Bố nàng đã bán nàng đi làm điếm từ lúc tuổi mười hai. Nàng đã sinh một đứa con và bây giờ không kiếm sống được, đang dần dần chết đói. Có hàng trăm người như nàng. Có hàng bao nhiêu trẻ sơ sinh không muốn ra chào đời mỗi tuần.
Người tài xế chiếc xe Mercedes, gầy gò, thấp bé mặc bộ đồ làm việc màu xám, đứng tựa vào xe hút thuốc, nhìn gã cùng đi đang nói chuyện với cô gái bé nhỏ bồng đứa con. Gã to lớn với khuôn mặt sẹo cúi xuống nói nhẹ nhàng với cô gái, hai bàn tay gã chắp lại đằng trước. Cô gái lắc đầu. Gã đàn ông rút ra một xấp giấy bạc dày, cầm sát vào người và đếm vài tờ đưa cho cô gái, nhưng cô vẫn lắc đầu. Hắn đếm thêm tiền, gập các tờ giấy bạc lại kẹp ở hai ngón tay giữa và chìa thẳng về phía cô gái. Nàng ngập ngừng nhưng vẫn lắc đầu. Gã đàn ông mặt sẹo thọc tay vào túi áo, lấy ra một gói bột trắng. Hắn kẹp nó vào xấp giấy bạc rồi đặt vào tay nàng. Người tài xế thấy gã to lớn kia bế lấy đứa bé và quay trở lại xe. Y giữ cửa xe đã mở sẵn chờ hắn.
Mũi kim lấp lánh cắm phập vào vết sơn mài xanh thẫm. Khách hàng là một người Tàu lực lưỡng đang độ trung niên, nhiều nhất là ba mươi tuổi. Khi mũi kim xuyên vào da cánh tay, hắn chẳng hề nhăn mặt cũng không chớp mắt. Hắn cởi trần, ngồi trên một cái ghế kiểu cổ chạm trổ tinh vi, nhìn thẳng về phía trước không mảy may xúc động. Tay hắn giơ ra, cánh tay ngửa lên. Một người Tàu già quì trên chiếc gối màu hồng ngọc cúi xuống cánh tay của gã trẻ, xâm cái công trình nghệ thuật của ông ta lên cánh tay gã. Ông già không dùng loại kim xâm chạy điện hiện đại mà xâm theo lối cũ lên mặt da các hình ảnh bằng những động tác nhanh nhẹn khéo léo. Ông già làm nhanh nhưng rất cẩn thận, xâm lên làn da hình một lưỡi dao mỏng màu xanh lá cây có con rắn màu đỏ tía quấn quanh, cái đầu màu vàng của nó ló ra gần chuôi dao.
Khi ông già làm xong, ông ngả người ra sau ngắm nghía đánh giá công trình của mình, vẻ hài lòng, ông ta gật đầu với khách và gã trẻ cúi xuống nhìn hình lưỡi dao. Đó là một tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, toát ra một vẻ đe dọa. Nụ cười thoáng hiện trên vẻ mặt khó hiểu của gã trẻ. Hắn đứng dậy đi ngang qua phòng đến trước tấm gương to có khung thếp vàng, đứng lạnh lùng ngắm hình ảnh mình. Một thoáng tự hào hiện lên trên nét mặt hắn. Hắn quay trở lại người nghệ nhân già, nói: “Tuyệt đẹp” và cúi chào người thợ xâm, ông già chào lại. Hắn khoác lên người một chiếc áo lễ màu đỏ chói thêu hình nổi màu vàng và đi sang phòng bên cạnh. Phòng này được trang hoàng lộng lẫy bằng những đồ cổ Trung Quốc, những đồ mỹ nghệ và các tấm thảm phương Đông. Phía bên kia phòng qua các cửa sổ rộng có thể nhìn thấy thành phố Macao nằm ngay dưới chân tòa nhà này.
Một ông già ở độ tuổi bảy mươi đang đứng cạnh bồn cá biển, bóp vụn bánh thả vào bồn. Ông ngừng lại nhìn gã trẻ tuổi vừa bước vào phòng, phủi tay, ngắm nghía các hình xâm một lúc lâu rồi gật đầu công nhận: “Lại một tác phẩm nghệ thuật nữa.”
Ông già cúi đầu cảm ơn người thợ xâm già, người thợ lễ phép chào lại và ra đi. Ông già là thủ lĩnh của một dòng họ Tàu đầy quyền lực nổi tiếng với cái tên White Palms (Bạch Thủ), nắm quyền kiểm soát các nhóm tam kết Chiu Chao, mười bốn toán vô lại mạnh nhất của giới giang hồ. Một cuộc đụng độ đã làm ông ta què chân và chấn động thần kinh nên ông ta quyết định thoái vị. Gã trẻ tuổi tên là Tollie Fong, đêm nay sẽ trở thành San Vương mới, người chúa đảng, mà các trưởng nhóm tam kết đều biết.
- Đúng là một ngày vui, - ông già vừa nói, vừa cho cá ăn. - Bố của anh sẽ rất tự hào về anh, tôi cũng vậy. Tôi chẳng nghĩ ra một người nào xứng đáng hơn anh để làm San Vương của nhóm White Palm Triad (Tam Bạch Thủ).
Họ đang đứng bên cạnh một bể cá nước mặn to, chứa khoảng bốn trăm lít. Ông già bóp vụn tôm khô trong tay, rắc vào bồn cá, nói:
- Bây giờ thì tôi đã có thể dùng thời giờ để chơi với cá.
Những con cá rất đẹp, sặc sỡ màu cầu vồng, lượn ra lượn vào giữa chùm san hô ở dưới đáy. Trội nhất là một con cá thần tiên màu xanh da trời, to cỡ cái bánh một dollar, có cái mõm dài thượt. Ông già tiếp:
- Trong năm mươi năm qua chúng ta đã là những người đáng gờm nhất trong các nhóm tam kết. Bây giờ điều quan trọng hơn bao giờ hết là không được tranh chấp.
Khi các mẩu tôm chìm xuống, những con cá khác tụ lại chung quanh. Con cá thần tiên xanh tấn công chúng, xông vào làm chúng tản ra rồi phóng qua lộn lại trong bồn. Con cá thần tiên dọn sạch vùng đó rồi uể oải bơi vòng quanh bồn đớp các mẩu tôm còn nổi lơ lửng.
- Đừng bao giờ để lộ sự yếu đuối cho bất cứ ai thấy. - Ông vừa nói vừa rắc một ít thức ăn cho cá vào lòng bàn tay rồi thọc tay vào bồn. Con cá thần tiên thận trọng bơi vòng quanh một lát rồi phóng tới, giật một mẩu thức ăn và lùi lại. Qua làn nước, Tollie Fong nhìn thấy cái hình xâm trên cánh tay vị San Vương già. Nó giống y hệt cái của hắn, cũng ở chỗ ấy và dĩ nhiên, bởi cùng một nghệ nhân tạo ra, chỉ có khác là khi đó cả hai người còn rất trẻ.
- Không lộ cho gia đình, cho vợ, cho anh em, kể cả tôi nữa, nhưng nhất là không bao giờ lộ cho kẻ thù thấy. Thôi, thế là đủ rồi. Trong khi lão nghệ nhân đang hoàn thành cái tác phẩm kỳ diệu của lão trên cánh tay thì người của anh ở Bangkok gọi điện về. Tôi đã mạn phép nhận điện vì lúc ấy không thể để anh bị quấy rầy.
Fong hăm hở nói:
- À, tốt. Hắn nói gì thế?
- Hắn nói khu vườn đã được trồng. Mùa gặt hái sẽ làm vào đêm nay.
Hai mươi dặm về phía Đông Kangar gần Padang Besar, nơi con đường xe lửa chạy xuyên từ Thái Lan sang Malaysia, bố già Kilhanney thận trọng lái chiếc xe tải nhỏ theo con đường lậu sụp lở. Ông chỉ còn cách trạm gác biên giới khoảng một dặm thì mưa thình lình đổ xuống - thời tiết ở miền Nam Thái Lan như vậy đấy. Các tia chớp ngoằn nghèo trên nền trời, và các tàu lá cọ bị gió xô đẩy quẹt rào rào lên kính chắn gió. Kilhanney cảm thấy buồn cho những người đàn bà ngồi phía sau. Chẳng có vải bố để phủ sàn, mười tám người lao công nép sát vào nhau để chống lại cơn giông. Kilhanney chẳng biết chắc chắn việc gì đang xảy ra và ông cũng không muốn biết. Nhiệm vụ của ông là đến gặp một chiếc máy bay tư nhân ở Songkhla rồi đón mười tám người lao công chở đến biên giới Thái Lan - Malaysia.
Con đường bố già đi vòng xuống để tránh trạm gác rồi lại vòng lên xuyên qua ba mươi dặm rừng già để trở lại đường cái, tiếp tục chạy lên phía Bắc bán đảo Thái Lan về phía Bangkok. Trạm biên phòng chẳng khác mấy với một trạm hải quan chỉ có hai người gác.
Trước lúc rạng đông, mười tám người đàn bà, trong đó có mười hai người địu con trên lưng, sẽ vượt qua đường ranh giới không thấy rõ được phân chia hai nước Thái Lan và Malaysia. Với giấy phép làm việc, họ sẽ kiếm được mười dollar một ngày dù lao động ở nông trường cao su hay giúp việc nhà cho tầng lớp quí tộc giàu có. Bên kia biên giới, một chiếc xe tải khác đã chờ để chở họ đi làm. Đó là việc diễn ra hàng ngày, chẳng có gì khác thường cả.
Chỉ trừ có việc đây không phải là những em bé bình thường. Cả đám trẻ đều chỉ mới được chừng sáu tháng tuổi. Tất cả đều mới được mua trên các đường phố ở Bangkok vài giờ trước đây. Tất cả đều mới bị giết chết trước khi máy bay cất cánh bay đến phi trường Hao Yai.
Kilhanney chẳng biết gì về chuyến hàng chết mà ông đang chở. Những người đàn bà dường như im lặng một cách khác thường khi ông đón họ, nhưng lúc đó ông nghĩ có lẽ do thời tiết. Ông ngừng xe ngay trước rào cản ở biên giới và nhảy ra ngoài. Cơn mưa đã ngớt đi được chốc lát, chỉ còn những hạt mưa nhỏ nhè nhẹ rơi đều đều, nhưng các lằn chớp vẫn xé nền trời và loang loáng trên khu rừng rậm vây quanh họ.
Kilhanney bước về phía sau chiếc xe tải và hạ tâm bửng xuống, ông giúp những người đàn bà leo ra, đặc biệt là những người địu con trên lưng. Những người đàn bà hấp tấp chạy trên con đường nhỏ sình lầy về phía trạm gác với tấm giây phép làm việc cầm sẵn trong tay.
Hai người gác nép mình trong cái trạm biệt lập nhỏ bé để tránh mưa. Kilhanney quay trở lại xe và nhìn theo đám đàn bà đang tiến gần đến bọn lính gác biên giới. Chỉ còn phải làm những thủ tục thông thường. Lính gác Malaysia rất thân thiện và thích ve vãn đùa cợt những người đàn bà này.
Lúc một người đàn bà sắp bước qua tên lính gác thì cánh tay của đứa con bà tụt ra khỏi cái địu và đong đưa thõng thẹo. Bà ta vội vã bước nên không biết rằng đứa bé đang tuột ra và đầu nó đã ló ra khỏi cái địu. Khi bà đi ngang qua người lính gác, anh ta chặn bà lại, mỉm cười, đưa tay ra đặt đứa bé lại. Nhưng khi vừa đụng tới nó anh ta rợn cứng người. Đứa bé lạnh ngắt. Người đàn bà hoảng hốt bỏ chạy, và đứa bé văng ra khỏi cái địu rơi vào tay người lính.
Anh ta ôm đứa bé dưới mưa, hét gọi người lính kia:
- Đứa bé này đã chết! Giữ bà ta lại!
Người đàn bà vội chạy trở lại chiếc xe tải. Rồi tất cả các bà có địu con bắt đầu chạy. Người lính gác thứ hai kiểm tra đứa trẻ trên lưng một người đàn bà khác. Anh ta đứng dưới mưa, tay ôm một đứa bé đã chết khác, thét lên:
- Đứa bé này cũng chết rồi!
Đám đàn bà chạy toán loạn. Họ bắt đầu chạy quay trở lại chiếc xe tải, và lính gác bắn chỉ thiên nhiều phát để giữa họ lại. Kilhanney chợt hiểu. Ông gài mạnh số xe, và với các bánh xe ngập sâu trên đường đất nhão nhoẹt, ông lái vụt đi.
Kilhanney lái như một người điên, chiếc xe tải nặng lướt nhanh trên con đường trở về trơn nhẫy. Chiếc xe gầm lên trong cơn giông dữ dội mang Kilhanney đang điên cuồng nhìn đăm đăm qua kính chắn gió mà các làn nước mưa quất lên lốp đốp. Nỗi sợ hãi làm miệng ông khô cứng.
“Ôi! Lạy Chúa!” Ông cứ lặp đi lặp lại mãi. Rồi thình lình con dường phía trước ông nổ bùng sáng rực lên một tia sét xé toang bầu trời và đánh gục một trong những cây cao như tòa tháp. Ánh sáng chói làm Kilhanney lóa mắt trong chốc lát. Ông dụi mắt và thấy con dường hình như biến mất, chỉ còn lại rừng rậm trước mặt. Ông bẻ ngoặt tay lái. Các bánh xe trườn trên sỏi lổn ngổn, trên mặt đường sụp lở và,trên nước. Chiếc xe tải lao ngang vào rừng, đâm sầm vào một bờ đất và dừng lại.
Kilhanney choáng váng. Kính chắn gió vỡ nát. Ông mò mẫm tìm tay nắm cửa kéo lên, và khi cửa xe bật mở, ông văng xuống một cái rãnh đầy nước. Mưa lạnh làm ông tỉnh lại. Ông ngồi lên nghỉ một lát, rồi hối hả leo lên bờ rãnh trơn tuột và cắm đầu phóng vào rừng.
Ông chạy điên cuồng xuyên qua rừng trong khi các cành cây và tre quất đen đét vào người ông, xé rách quần áo ông, làm ê ẩm mặt ông. Ánh chớp biến rừng rậm thành cơn ác mộng lúc ẩn lúc hiện. Dây leo to như con trăn mọc ngoằn ngoèo trên mặt đất và quấn nghẹt lấy các cây da xà to lớn. Lại một tia sét khác ngoằn nghoèo xẹt ngang trên đầu. Trong ánh sáng trắng lẫn xanh dễ sợ của nó, Kilhanney nhìn thấy một tượng Phật bằng đá khổng lồ, đổ nát vì thời gian và thời tiết, đang giận dữ nhìn ông xuyên qua các cành lá, khuôn mặt và thân tượng thấp thoáng sau lớp lớp rừng cây rậm rịt. Kilhanney thét lên hãi hùng vập vào một thân cây. Rồi tim đập thình thịch trong ngực, ông cắm đầu chạy trong cơn giông bão.
 
Cái chỗ đó trông giống như phòng quay phim cao bồi miền Tây, một căn phòng lớn bừa bộn với bàn ghế lổng chổng đây đó cùng với những đám mùn cưa trên nền nhà. Các bóng đèn xanh nhạt treo trên trần trông như những cái phễu úp. Trần thấp, lù mù, lạnh lẽo, đầy mùi bia cũ và hành tây. Quạt trần rù rì quay chậm chạp cho không khí lưu thông. Đây là một nơi có vẻ như lạc lõng, ở cuối gian phòng, một quầy rượu bằng gỗ sồi cũ kỹ và sứt sẹo vì các trận đánh nhau, nằm dài hết chiều rộng của gian. Nó đã từng là một quầy rượu tuyệt đẹp có thanh gác chân bằng đồng gắn nhiều ống nhổ dọc theo suốt chiều dài. Ở phía trên quầy, một tấm gương cũng trải dài theo hết chiều rộng của quán rượu. Chính giữa quầy, là hàng chữ cao cỡ ba tấc khắc theo hình vòng cung cái tên “Tom Skoohanie”, và ở phía dưới chạy cong theo chiều ngược lại để làm thành một hình tròn và hàng chữ “The Galway Roost, 1877”.
Phía trên tấm gương, một cái đầu bò rừng cũ kỹ, dơ dáy, một con mắt duy nhất bằng cẩm thạch nhìn trừng trừng vẻ hiểm ác, con mắt kia che kín bằng một miếng vải đen. Gần chính giữa tấm gương có một lỗ đạn của loại súng cỡ lớn.
Trên một bức tường của quán rượu treo những bức ảnh chụp cũ kỹ, vàng ố và những bức vẽ các tay cao bồi nổi tiếng, những thổ dân da đỏ và các tay cướp.
Trong một góc gần quầy rượu, một cái hộp nghe nhạc (1) hiệu Wurlitzer còn mới nguyên đang thì thầm bản “‘Surfin” của ban nhạc “The Beach boy’s”, ở phía đối diện của gian phòng, cao trên nền nhà hai bậc là một phòng nhỏ hơn có che một tấm màn kết bằng những quả cầu thủy tinh lấp lánh. Nhiều người đang chơi bài trên một trong hai cái bàn đặt ở một góc kín đáo, trong khi ở góc bên kia hai người đàn ông đang thụt bida trên chiếc bàn bọc nỉ đỏ. Ở cuối cái phòng được ngăn ra này, ngồi trong một chiếc ghế nhồi thật căng bên cạnh cây đèn sàn có chụp viền hoa hòe, là một người đàn ông vạm vỡ trong bộ đồ trắng, tóc của ông ta chỉ có một nhúm đã bạc, chiếc cằm chẻ nhô ra trên chiếc áo sơ mi trắng đeo cà vạt đen. Trước mặt ông ta là chiếc bàn nhỏ để một cái hộp sắt lớn và một chai vang đỏ. Ông ta đang đọc sách. Khi đọc hết một trang, ông ta nhúng ngón tay vào ly rượu vang đang cầm, liếm rượu trên ngón tay và lật trang sách bằng ngón tay đó.
Gần ông ta nhất là một gã đàn ông cao gầy với bộ râu mép đã bạc hình ghi đông xe, ngồi ở cuối quầy rượu, đang tán gẫu nho nhỏ với một gã da đen cao trông lịch sự trong chiếc áo thun ba lỗ màu đen, ngoài khoác áo da, quần bò, giầy bốt cao bồi và một cái áo cao bồi to đến tắm trong ấy được. Một chiếc lông két màu đỏ, vàng và xanh lá cây được cắm vào vành nón. Cái báng khẩu súng lục to lòi ra dưới tấm áo khoác của gã cao, và trong khi nói hắn cứ liên tục liếc nhìn về phía người đàn ông vạm vỡ mặc bộ đồ trắng. Trong phòng chính chỉ có một người, bộ tóc dài vàng hoe, đang ngồi khom lưng trên quầy rượu.
Tiếng điện thoại reo lên đâu đó trong phòng phía sau, rồi tắt ngay. Gã phục vụ đi vào một cửa, khuất mặt trong vài giây rồi lại xuất hiện. Gã ngoắc ngón tay gọi người đàn ông cao, người này liền đi vòng ra sau quầy và trước khi bước vào phòng giấy phía sau, hắn móc ra khẩu súng lục to như khẩu pháo đưa cho gã phục vụ. Hắn bước vào phòng giấy, đóng cửa lại đằng sau lưng.
Vài phút sau hắn trở lại. Gương mặt hắn nghiêm nghị, và giận dữ, các bắp thịt ở hai bên hàm bạnh ra. Hắn bảo gã phục vụ:
- Tôi phải đi, hãy bảo Ngài đóng cửa nhà băng lại cho tới khi tôi trở về.
- Việc gì thế?
- Kilhanney đã tự tử. - Hắn nói sẵng và cáu kỉnh bước ra khỏi quán rượu.
Khi bước ra ngoài hắn gác sang một bên tình thế gay go và thình lình bị bao phủ bởi cuộc sống về đêm ở khu vực hộp đêm Patpong đang ở vào lúc nhộn nhịp nhất. Tiếng nhạc và tiếng nói chuyện huyên náo vang lên trong đêm. Hắn ra dấu gọi một chiếc “tuk- tuk,” một loại xe ba bánh gắn máy hình như đã giải quyết được nạn giao thông tắc nghẽn ở Bangkok. Gã tài xế người Thái nhỏ con cho nổ máy chiếc xe bé xíu và vọt về phía người đàn ông cao này. Hắn chui vào chiếc xe hai chỗ ngồi chật chội, bình thản nói:
- Sam Peng, chỗ vừa qua khỏi đường Tri Phet.
Chiếc xe nhỏ hai chỗ ngồi lao xuống một ngõ hẻm vắng vẻ ở Yawaraj, khu vực người Tàu ở Bangkok, rồi giảm tốc dộ dừng lại. Từ trong bóng tối một gã Tàu, lưng khòm chạy ra từ một khung cửa và leo vào ngồi cạnh người đàn ông cao.
Một giọng nói người Á Đông thì thầm:
- Cái gì xảy ra thế?
- Theo tôi hiểu thì bốn đêm trước Kilhanney đã đáp chuyến xe lửa đi miền Nam và lái xe đưa một nhóm nữ lao công ra trạm biên giới gần Kangar. Mười hai bà mang theo trẻ con còn bé. Tất cả các đứa bé đều đã chết ngạt và trong thân thể mỗi đứa đều có nhồi vào ba ki lô bạch phiến Trung Quốc.
Gã Á Đông xì một tiếng nhẹ nhưng chẳng nói gì.
Gã cao nhún vai nói:
- Bọn giết trẻ con. Nhưng thật tinh khôn. Quỉ ơi! Anh có thể mua một đứa bé trên đường phố Bangkok với giá năm mươi dollar. Chuyên xảy ra hàng ngày trong tuần.
- Chuyện này đã xảy ra như thế nào?
- Wol Pot.
- Mẹ kiếp! Mẹ kiếp, tại sao ông ta lại giấu anh chuyện này?
- Tôi không biết. Kilhanney nói với Max rằng Wol Pot lợi dụng ông ta để đánh chuyến hàng này. Ông ta chẳng biết gì về những đứa trẻ. Max nói rằng: Bố già nghĩ mình có thể thành công, trở về và quên đi, nhưng chuyện đám trẻ con làm ông ấy phát khùng. Khi ông ta đến chỗ Max, ông ta là một người điên nói lảm nhảm. Sáng nay ông ta ra bờ biển, bơi ra ngoài khơi và chẳng trở lại. Thi thể ông ấy đã giạt vào bờ cách đây khoảng một giờ.
Hai gã ngồi im lặng trong lúc xe chạy qua các khu nhà. Cuối cùng gã Tàu nói:
- Tôi tự hỏi không biết Wol Pot đã bảo chúng nó là bao nhiêu?
- Tôi đoán là càng ít càng tốt. Thật quỉ quái, chúng ta lại là con chủ bài của hắn.
- Con chồn ti tiện ấy nhẽ ra phải giết từ lâu rồi.
- Phải, anh đã hiểu điều tôi nói. Chậm còn hơn là không bao giờ. Có lẽ chúng ta có thể dựng lên một chuyện sao cho chúng nó sẽ lôi Wol Pot ra cho chúng ta, - Gã cao nói.
- Để thực hiện điều đó, ý kiến anh thế nào?
- Thai Horse (Ngựa Thái), - gã cao nói.



(1) Jukebox: máy phát nhạc khi bỏ đồng xu vào và chọn bản.
 


 
 
 
0
NƯỚC MỸ HIỆN TẠI
 

BIRD

 
Trong các hồ sơ được phân loại cẩn mật của cảnh sát quốc tế được gọi là Holy Ghost Entry (Danh Mục Ma), chỉ được dùng cho những người được giữ bí mật ở mức nhất và nhì, thì người bay - không biết là đàn ông, đàn bà hay một nhóm người - chỉ đơn giản được biết đến dưới mật danh “Bird” (Chim). Các báo cáo được coi là tối mật vì không một người có thẩm quyền nào ở châu Âu và châu Mỹ muốn cho báo chí đánh hơi thấy mật danh này. Đặc biệt họ không muốn cho “Bird” - hay báo chí - biết họ đã liên kết các công việc của Paris và Chicago lại.
Nhưng dẫu sao thì “Bird” cũng đã biết được điều ấy. Vào ngay lúc anh ta đang bay cách sàn nhà khoảng 2 mét trong phòng trưng bày tranh của các họa sĩ Pháp phái Ấn tượng ở Cuộc triển lãm Mỹ Thuật Quốc Tế.
Bên ngoài, trên đường 64 cuộc sống vẫn trôi. Tối thứ hai: các bà vợ hoặc các ông chồng đều vội vã đi về nhà với chồng hoặc vợ mình. Họ ra về từ sở làm, từ nhà người yêu, từ một buổi chiếu phim ban ngày, từ một cuộc họp bàn kinh doanh hay từ một ly rượu uống vội trên đường về nhà.
Người quản lý cuộc triển lãm Mỹ Thuật đã về sớm nên người gác đêm đã ăn gian một tí và đóng cửa vào lúc 6 giờ kém 5. Trong tiếng đồng hồ cuối cùng chỉ còn lại một người khách, một anh chàng lạ lùng với bộ râu rậm màu đỏ thu mình trong chiếc áo mưa bằng vải dầu bóng lộn màu vàng chói. Hình như anh ta đã tới nhà bảo tàng lúc nào không hay. Ít nhất người gác đêm đã nghĩ thế.
Nhưng “Bird” chưa ra khỏi nhà triển lãm. Anh ta ẩn mình trong cái buồng nhỏ để chổi ngoài hành lang và chờ đợi cho người gác đêm làm những công việc thường lệ: khóa cửa, mở các chuông báo động và các mắt điện, bấm hàng chữ số hệ thống điều khiển các bộ phận cảm ứng trên sàn, kiểm soát 8 cái màn ảnh theo dõi từng phòng của nhà bảo tàng. Rồi ông ngồi xuống xem chương trình ti vi và ăn một trong hai cái bánh mì cặp thịt vợ ông luôn luôn làm sẵn cho ông. Đêm nay có món ông thích nhất là sa lát gà, với một lát dứa được phết mù tạt cay. Ông ta có thể say sưa với các món này.
“Bird” đợi cho đến khi người gác đêm vừa tới giai đoạn ấy, hoàn toàn bị thu hút bởi cái bánh mì cặp thịt và tin tức của đài truyền hình, mới rời chỗ ẩn, đi chừng 3 mét xuống hành lang đến một phòng nhỏ chứa các hộp điều khiển, tắt các công tắc của chuông báo động ở cửa sổ và các con mắt điện. Anh ta bỏ qua bộ phận cảm ứng trên sàn. Nó quá rắc rối, khỏi nhọc lòng, và hơn nữa, nó chẳng phải là việc cần tính toán vì anh ta chẳng bao giờ đi gần sàn nhà cả.
Mạch của “Bird” đập nhanh khi anh ta lần đường lên mái nhà. Anh ta khoái sự thách thức. Chế ngự khoảng không - anh ta gọi như thế - và công việc càng khó bao nhiêu thì mạch anh ta càng đập nhanh bấy nhiêu. Thắng lợi gần như chẳng đáng nói nhiều bằng việc thực hiện nó. Anh ta đã giấu bộ đồ nghề trên mái nhà hai ngày trước đây, bằng cách trình giấy chứng nhận giả đi thanh tra phòng cháy cho nhân viên an ninh gác ban ngày, rồi cứ tự nhiên đi kiểm tra toàn bộ cao ốc mà chẳng hề bị quấy rầy. Anh ta đã giấu bộ đồ hành nghề - một cái túi nhựa đen nhét đầy cái mà anh ta gọi là “những thứ cần thiết”- vào trong lỗ thông hơi. Việc này dễ như ăn bánh, quả là quá dễ. Việc bảo vệ chẳng chặt chẽ đến như thế và người gác đêm cũng không bao giờ ngờ rằng nhà bảo tàng lại bị “chôm” quá sớm đến thế, ngay khi vừa đóng cửa.
Anh ta cởi bộ râu và áo mưa ra, nhét chúng vào bao, bôi đen mặt, rồi “bắn khóa” cửa sổ trên nóc nhà bên trên căn phòng tranh phái Ấn tượng Pháp. Xiết một cái kẹp lớn bằng nhôm vào thành cửa sổ, anh ta xỏ một sợi dây ny lon chịu được lực khoảng 500 ki lô vào các khoen ở cái kẹp và các khoen ở sợi dây nịt chắc khỏe buộc vào người, rồi tụt xuống.
Bây giờ anh ta đang bay bên trên sàn nhà khoảng hơn 2 mét, gần vách tường phía Nam nên ống kính truyền hình không thể nhìn thấy, sợi dây bảo hiểm cột ở lưng. Dùng đầu làm con dọi, người xoay quanh, có khi đậu dốc ngược, có khi chân ở dưới, “Bird” đang sống giữa các hoạ sĩ Monets và Manets, Cassatts, và Signacs, Gauguins, Van Goshs, Sisleys, Cezannes và Renoirs (1).
“Đẹp quá - “Bird” nghĩ - Còn ai nữa làm việc trong không khí huy hoàng đầy sáng tạo này?”
Anh ta đang thong dong bay lơ lửng một vòng, thưởng thức các tác phẩm treo trên các bức tường, thì đôi mắt anh ta chợt nhìn thấy một cái ghế dài ở giữa phòng. Một con mèo nằm dài trên ghế.
“Bird” lạnh cứng người. Những ion trong không khí đông cứng lại. Tất cả mọi vật đều lạnh cứng, trừ con mèo vẫn nằm ngủ yên lành.
Nếu con mèo đó mà nhảy, “Bird” nghĩ, thì các bộ phận cảm ứng ở sàn sẽ báo động ngay cho ông gác già mất.
Anh ta vừa đong đưa lủng lẳng ở đầu dây treo vừa nhìn con mèo. Một con mèo to sọc xám. Anh phải cử động chậm chạp, lặng lẽ, hy vọng không đánh thức con vật dậy..
“Bird” từ từ hất đầu tới rồi lui, điều khiển người tới gần bức tường. Anh ta thọc tay vào túi đồ nghề, lấy ra hai ống giác, rồi đu người vào tường nhẹ nhàng gắn ống giác lên đó, dùng chúng để giữ cho người đứng yên.
Anh ta dùng một cái khóa hơi để vặn tháo từng cái khung một, nhấc lên một bức Monet, một bức Cezanne và một bức Renoir rồi kéo chúng ra, cẩn thận bọc từng bức bằng một mảnh vải, quấn chúng thật chặt, rồi đút vào một cái ống đeo trên vai đã được cột chặt vào lưng cho khỏi đong đưa. Anh ta tháo hai ống giác, đẩy người ra xa tường trở lại khoảng không, đầu dốc ngược xuống đấy.
Con mèo xoay nằm ngửa, vươn người, mở mắt ra và nhìn chòng chọc vào con chim to nhất nó chưa từng thấy trong đời.
“Bird” chằm chằm nhìn lại.
Đôi mắt mèo trợn tròn. Nó bật đứng dậy, lưng cong lên và nhìn anh gầm gừ. Đừng nhảy, “Bird” nghĩ, tao van mày, đừng nhảy.
Nhưng con mèo nhảy ngay xuống sàn.
Các bộ phận cảm ứng lập tức hoạt động mở chuông báo động đặt cạnh màn ảnh theo dõi trong văn phòng. Người gác giật bắn mình vì tiếng chuông kêu, chằm chằm nhìn vào màn ảnh, nhưng vì con mèo đang đứng ngay phía dưới ống kính thu hình nên người gác không thể nhìn thấy nó trên màn ảnh. Căn phòng hiện ra trống trơn.
- “Mẹ kiếp!”, ông già lầm bầm trong hơi thở. Ông mở bao súng lục bước xuống hành lang, đứng một lát ngoài khung cửa hình vòng cung dẫn vào phòng lớn, rồi rút súng ra, đưa cả hai tay, nắm khẩu súng nhảy bổ vào phòng thiết kế theo kiểu để thu hình. Con mèo vọt qua ông chạy ra hành lang.
- “Mẹ kiếp, mày!”, người gác hét.
Người gác đút súng vào bao, đi vài bước vào phòng và đứng chống nạnh nhìn quanh một lát.
“Bird” đang lơ lửng ngay trên đầu ông ta, cách chừng ba tấc.
- Mày đúng là đồ chó đẻ, làm tao đứng tim, - người gác nói to. - Đây là lần thứ hai trong tuần này mày làm tao sợ vãi đái.
“Bird” nín thở. Nếu người gác nhìn lên thì hiển nhiên họ sẽ mặt đối mặt. Nhưng ông già không nhìn ,lên, chỉ liếc qua căn phòng một lần chót rồi quay ra hành lang, miệng gọi “Kitty, Kitty!”
“Bird” thở phào nhẹ nhõm. Anh ta được đặt tên rất đúng.
Anh thù mèo.



(1) Tên các họa sĩ nổi tiếng của Pháp.
 


 
 
 
0

SLOAN

 
Lúc ấy là 4 giờ 28 phút khi Stenhauser rời văn phòng ở tầng thứ 28 của hãng bảo hiểm Everest nằm trên đường 57 Đông, đi thang máy xuống tầng thứ hai, đi bộ xuống tầng dưới và ra ngoài bằng cửa phòng cháy ở mặt Tây.
Sloan đang ở trong tiệm cà phê trên đường 57 nằm giữa Đại lộ số 2 và số 3. Đó là một vị trí thuận tiện cho hắn. Qua các kính cửa sổ, hắn có thể nhìn thấy 3 mặt của tòa nhà cao tầng Everest. Mặt thứ tư là mặt phía sau, ở cuối một ngõ cụt đổ ra Đại lộ số 3.
Không cần biết Stenhauser đi lối nào cả, Sloan vẫn có thể nhận thấy anh ta. Sloan rút ra một quyển sách nhỏ màu đen và ghi chú, như hắn đã làm trong ba hôm vừa qua. Rồi hắn đi theo người đàn ông thấp nhỏ.
Tên của Stenhauser được xếp vào trong máy điện toán của Sloan suốt hai năm nay. Cho đến cách đây ba hôm, hắn vẫn còn chẳng biết tí gì về Fred Stenhauser, anh ta trông ra sao, có đặc điểm gì không. Hắn chỉ biết nghề nghiệp của anh ta thôi. Điều đó thật chẳng cần phải biết trước. Những cái tên trong tủ hồ sơ của Sloan giống như những trương mục tiết kiệm và Sloan rất giỏi về khoản này, về khoảng tích cốc phòng cơ. Hắn cũng là người kiên nhẫn kinh khủng. Sloan không bao giờ hấp tấp, hắn có thể chờ đợi mãi mãi. Hay ít nhất cũng cho đến lúc hắn chuẩn bị xong xuôi. Bây giờ hắn đã sẵn sàng bỏ tiền vào một trong các trương mục, cái trương mục mang tên Stenhauser.
Theo dõi tên Stenhauser rất dễ. Anh ta chính xác cũng như Sloan kiên nhẫn. Anh ta luôn luôn rời phòng trước 4 giờ rưỡi một tí. Anh ta luôn luôn dừng lại uống một ly rượu Martini, chỉ Martini thôi - ở quán rượu Bill’s Safari trên đường 56. Anh ta luôn luôn về nhà lúc 6 giờ và 6 giờ 10 lại ra đường với con chó nhỏ luôn miệng sủa.
Đời sống đối với Stenhauser là một lễ nghi. Anh ta mặc bộ đồ lớn có ve áo kép cao và có sọc vuông, áo thun ở trong áo vét tông, và một cà vạt kiểu cọ màu mè. Cứ đều tăm tắp, anh ta đi tỉa tóc vào lúc 8 giờ 30 mỗi sáng thứ ba ở tiệm hớt tóc Regis, mỗi sáng đều ăn bữa sáng hệt như nhau bao giờ cũng ở một quán cà phê trên đường 57, luôn luôn- đọc tờ Wall Street Journal, bắt đầu từ trang sau rồi mới đến trang trước, luôn luôn đi nghỉ phép ở Cape Cod. Tất cả những gì Stenhauser làm anh ta luôn luôn làm lại y hệt.
Kể cả một điểm lập dị nhỏ của Stenhauser cũng có thể đoán trước được, là trong khi anh ta theo cái nghi lễ này hết ngày nọ sang ngày kia, thì hiếm có khi nào anh ta rời văn phòng bằng cùng một cửa hay đi cùng một đường đến quán Bill, hoặc đi cùng một đường từ quán Bill về tới căn nhà bằng đá hoa cương của anh ta trên đường 74. Làm như thể anh ta đang chơi một trò chơi, làm như thể có ai luôn bám theo anh ta và cách đi của anh là để lẩn tránh họ. Sloan khoái sự mỉa mai trong ấy. Bây giờ có một người đang theo dõi Stenhauser, thế mà anh ta cũng chẳng hay biết gì.
Ngày hôm ấy, Stenhauser - một người thấp, mảnh mai, trong độ tuổi 30 với cặp mắt có hai mí nặng nề như mắt ếch, đi về phía Đông đến Đại lộ số 2, rồi rẽ về phía nam đến đường 56, quẹo phải đi qua hai chung cư đến quán Bill’s Safari. Anh ta đi nhanh nhẹn, luôn luôn nhìn xuống đất phía trước, dường như sợ giẫm phải vật gì.
Sloan quyết định tiếp cận anh ta ở trong quán Bill’s Safari. Quán rượu không bao giờ quá đông khách, đó là lý do chủ yếu để Stenhauser ghé uống một ly vào buổi chiều ở đây. Mặc dù cách tranh trí có hơi nặng nề với các tàu lá kiểng và đầu thú nhồi, quán rượu lại nhỏ bé nhưng được cái ít khách và người phục vụ thì pha rượu Martini ngon tuyệt.
Khi Stenhauser từ Đại lộ số 2 rẽ sang đường 56, Sloan băng qua đường và theo bén gót anh ta. Hắn vượt qua Stenhauser, chờ cho đến khi gã đàn ông thấp này đến gần quán Bill’s, mới bước vào vài giây trước anh ta, nhởn nhơ cho tới lúc Stenhauser đã treo xong áo khoác và tìm được một chỗ ngồi ở quầy rượu. Sloan đến ngồi cạnh anh ta. Stenhauser làm ra vẻ không biết đến hắn, ngồi đọc tờ Art World trong khi người phục vụ pha một ly rượu Martini tuyệt hảo đem đặt trước mặt Stenhauser, rồi quay sang Sloan.
- Ông dùng gì?
- Một ly bia hơi! - Sloan nói và nhìn sang Stenhauser bắt chuyện. - Tôi thấy anh thích rượu gin Bombay hơn gin Beefeater.
Stenhauser, nhìn hắn chằm chằm dưới cặp mi nặng nề, lộ vẻ hơi khó chịu.
- Đó là do ý người pha rượu, - anh ta nói bằng một giọng mũi gần như là một tiếng rên, - vả thực ra tôi cũng không chắc đã phân biệt được hai thứ này.
- Nhưng anh thích rượu gin pha loãng.
- Phải nói là tôi không thích gin nguyên chất. - Stenhauser lơ đãng nói trong khi lật các trang tạp chí.
- Tôi cũng nhận thấy anh ưa thích nghệ thuật.
Stenhauser gõ lên bìa quyển tạp chí bằng ngón tay run rẩy, nói ngắn gọn:
- Kinh doanh và thú vui.
- Không đùa chứ, - Sloan nói. - Ngành của anh là ngành gì?
- Ngành của tôi, nếu anh muốn gọi nó như thế, là bảo hiểm.
- Bảo hiểm nhân mạng, liên đoàn...
- Hiện tại tôi là người dàn xếp các vụ khiếu nại, - Stenhauser nói và quay sang tập trung vào tờ tạp chí.
- Không đùa chứ, - Sloan nói một cách nhiệt tình. - Nhưng làm thế nào nó lại liên quan với Thế Giới Nghệ Thuật.
Gã đàn ông nhỏ thó đặt tờ tạp chí lên quầy và thở dài, nói:
- Tôi là một chuyên viên. Tôi chuyên trách việc tìm lại các tác phẩm nghệ thuật bị đánh cắp.
- Hê, nghe thú vị đấy. Và có lợi, đúng không? - Hắn nháy mắt với Stenhauser.
- Ừ thì..., tôi chưa chuẩn bị xong để về hưu nếu đó là điều anh muốn nói.
- Chưa xong.
Sloan nói và hớp một ngụm bia không nhìn anh ta.
Đôi mắt của Stenhauser nhíu lại. Tay này bắt đầu làm anh ta bực mình. Gần như là hắn đang theo dõi anh. Stenhauser quan sát hắn. Gương mặt hắn dạn dày sương gió và cứng cỏi, có một vết sẹo nhỏ dưới mắt phải, thân hình vuông vức như một cái hộp, và vạm vỡ. Mái tóc đen như than được cắt ngắn thật sát, mặc áo thể thao gần chật căng. Stenhauser hình dung ra hắn là một kẻ hoạt động ngoài trời. Chắc là một gã thợ săn chứ không phải thợ câu. Hắn có cái vẻ cứng cáp của thợ săn; thợ câu có nét Mỹ quan hơn. Chắc là hắn tập tạ hàng ngày. Một kẻ mê thể thao và uống bia. Không sáng sủa lắm, Stenhauser nghĩ. Anh ta mở đầu:
- Thế còn công việc của ông, ông... ơ...
- Sloan, Harry Sloan. Tôi là người tọc mạch.
- Thám tử à?
- Không, chỉ là người tọc mạch thôi, - Sloan nói, dẫn dụ anh ta, từ tốn giăng cái bẫy lấp lánh cho con mồi của hắn.
Stenhauser cười khúc khích:
- Hay lắm. Thật buồn cười. Đó là chuyện mà mấy tờ tạp chí tầm phào hay bàn tán, đúng không? Tôi cho rằng tất cả chúng ta ít nhiều đều thóc mách.
Sloan nghiêng người về phía Stenhauser nói rất chân thành
- Ừ, nhưng chẳng giống tôi đâu. Tôi dừng lại cách khoảng chừng này - hắn giơ hai ngón tay lên cách nhau khoảng một phân, - chừng này với việc nhìn trộm.
Stenhauser có vẻ ngạc nhiên:
- Thế nhưng người ta phần lớn không chịu chấp nhận chỉ như thế, - anh ta nói và hớp một ngụm rượu martini khác.
- Tôi thích nghiên cứu con người. Tôi cảm thấy tôi phán đoán rất giỏi về tính tình con người.
- Thật thế à?
- Thí dụ như anh. Tôi cá rằng anh là người rất chính xác.
- Chính xác... hừ... - Stenhauser suy nghĩ trong giây lát. -Tôi cho rằng đúng. Trong công việc của tôi, ăn lương thì phải chính xác.
- Tôi chắc phải như thế. Anh chẳng để lầm lỡ. - Sloan nghiêng người lại gần anh ta hơn, để cho cái lưới giăng thêm chắc:
- Anh có giao dịch với bọn tội phạm không?
- Đó là việc tôi làm. - Gã đàn ông nhỏ thó hãnh diện nói. - Tôi nhận thấy rằng tôi trông thì không có vẻ đáng nể lắm nhưng tôi nói ngôn ngữ của họ. Tôi có thế rất cứng khi cần thiết.
Sloan nói:
- Tôi có thể đoán được điều đó.
- Anh đoán được, hở?
- Nhất định rồi. Tôi đánh cá anh là một tay thương lượng ranh ma. - Đó là mánh khóe xưa nhất của Sloan, đánh vào tính háo danh. Cách này chưa bao giờ thất bại.
Stenhauser vẻ hơi ngạo mạn, gục đầu nhưng không có ý kiến gì.
Hắn đã cắn câu, Sloan nghĩ và nói:
- Tôi cũng có viết lách đôi chút. Tôi muốn kể lại vài trường hợp của anh, những việc gay go ấy. Anh có thể kể cho tôi nghe đôi ba việc chứ?
- Ờ, tôi..., điều đó thì hãnh diện đây, nhưng... ờ..., phần lớn công việc của tôi đều rất bí mật.
- Tôi không muốn nói đến người thật. Anh biết đây, chỉ cần vài chuyện trong số đó thôi. Anh càng biết nhiều thì bài viết càng xác thực.
- Đúng thế. Thôi, có thể để một dịp khác. Vài phút nữa tôi phải đi.
Sloan tươi cười như là đang tợp một ngụm bia, nói:
- Này, tại sao chúng ta không vừa đi vừa nói chuyện cho tới đường 74.
Stenhauser ngạc nhiên nhìn hắn không nháy mắt:
- Làm thế nào anh biết.. Tôi không về nhà. Tôi đã lấy vé đi xem hát.
- Thật xấu hổ. Con chó của anh sẽ vỡ thận đấy.
Stenhauser nghiêng người sát vào Sloan, và rít hai hàm răng, nói:
- Anh còn muốn cái chết tiệt gì nữa hở?
- Hatcher.
- Hatcher?
Sloan gật đầu: - “Hatcher”.
- Người ta cho rằng hắn có liên quan đến tôi à?
- Christian Hatcher, thưa ông Stenhauser. Tôi chỉ muốn anh ta, thế thôi. Một địa chỉ, một số điện thoại. Tôi sẽ biến khỏi cuộc đời anh như thế này. - Hắn bật ngón tay.
- Tôi nghĩ anh nên biến đi, - anh ta cũng bật ngón tay, - dù cho anh là người quái quỉ nào chăng nữa.
- Chẳng có gì xảy ra cả, trò chơi đã chấm dứt, thưa ông Stenhauser. Nó sẽ chẳng tiếp tục được nữa đâu, tôi muốn nói cái trò nghệ thuật ranh mãnh ấy, và tôi biết rằng ông biết tôi đang muốn nói đến cái gì. Bây giờ tôi chỉ muốn nói chuyện với Hatcher, thế thôi. Chẳng phải đấu đá gì to lớn cả. Quỷ thần ơi! Chúng tôi là bạn cũ. Tôi đã một lần đưa anh ta ra khỏi một trận ẩu đả tồi tệ đấy.
- Sự thật đấy à?
- Đúng vậy.
- Nghe này, tôi chẳng biết Hatcher nào cả, nhưng nếu tôi có quen một tên Hatcher nào đấy, tôi sẽ chẳng nói gì cho anh biết hơn là cái tên lót của hắn. Tôi sẽ chẳng nói cho anh nghe cỡ giầy của hắn, tôi sẽ chẳng nói cho anh... Tôi chẳng nói cho anh nghe cái con mẹ gì về hắn. Tôi không thích anh. Tôi không thích cái kiểu cách của anh, cái câu chuyện điên khùng của anh. Rõ chưa?
Sloan gật đầu một cách nghiêm chỉnh. Hắn ve vấy một ngón tay trước mũi Stenhauser.
- Tôi có thể nói anh sắp sửa cứng đầu đấy, - hắn nói một cách từ tốn, nhẫn nại như muôn thuở, miệng vẫn cười. - Điều đó xấu lắm.
- Thật à?
- Thật đấy. Sự cứng đầu sẽ mua về cho anh, ồ, tôi không biết, ít nhất là 10 năm tù. Thêm nữa họ sẽ lấy hết từng xu anh có. Cái điều tôi nói đó bây giờ xẩy ra nhiều lắm.
- Tôi chẳng biết ông đang nói cái quỉ quái gì, ông... Sloan, đúng không?
Sloan gật đầu:
- Nghe này, tại sao chúng ta không cùng thả bộ lên tới đường 74. Có thể tôi sẽ làm sáng tỏ tất cả việc này cho anh. Sẽ không có ai chú ý đến ta, và dù sao anh cũng phải về tới đó để cho con chó của anh đi “tè” chứ, đi xem hát hay không cũng thế thôi. Và trong trường hợp anh cần có sự thuyết phục nhiều hơn thì chúng ta cũng có thể tán gẫu về Paris, Chicago, New York.
Họ ngồi đó, đâu mắt với nhau. Stenhauser là người ngó xuống đầu tiên. Anh ta nói gần như thì thầm:
- Quỉ tha ma bắt! Nếu anh cam đoan không bức bách tôi ở dọc đường thì có lẽ tôi sẽ chuồn khỏi tay anh đấy.
Bên ngoài, một ngọn gió xuân bất chợt thổi ngang thành phố. Họ đi đến đại lộ Madison và hướng về phía Bắc. Stenhauser chẳng nói gì cả. Anh ta nhìn xuống đất trong lúc bước đi, hai tay thọc sâu vào túi áo khoác. Sloan tươi cười, nói:
- Anh biết không, có lẽ tôi hơi cứng đối với anh. Có lẽ Hatcher đã đổi tên. Có thế anh biết hắn qua một cái tên khác.
Stenhauser chẳng nói gì. Anh ta bước vội vàng, mắt vẫn nhìn chằm chằm xuống phía dưới mỗi bước đi.
Sloan nói tiếp:
- Hắn dùng cùng một kỹ thuật trong cả ba vụ. Tôi biết cái kiểu của hắn. Treo từ trần nhà xuống bằng một sợi dây, ống hút gắn trên tường khi hắn gỡ các bức tranh. Hắn chẳng khi nào đi gần sàn nhà, chẳng phải bận tâm đến các mắt điện, các bộ phận cảm ứng trên sàn, đại loại như thế. Và thằng chó đẻ ấy luôn luôn để lại một cái gì nho nhỏ để nhử cho cảnh sát lần theo. Thằng Hatcher thân thiết của tôi không thay đổi tí nào.
Stenhauser đột ngột ngẩng lên, nhìn Sloan chằm chằm trong khi họ vẫn bước. Sloan nói tiếp:
- Vụ lọt vào Tòa Đại sứ Iran ở Washington, trước vụ bắt con tin cũng thế. Hắn luôn luôn để lại cái gì đó. Mấy cái thứ ma quỉ sẽ đánh lạc hướng, bởi vì hắn luôn luôn vô hiệu hóa hệ thống báo động nhưng không bao giờ bỏ rơi người làm việc đó cả, anh biết tại sao không?
Bước chân của Stenhauser bắt đầu cuống lên.
- Bởi vì để vô hiệu hóa hệ thống này đòi hỏi phải có sự hiểu biết từ bên trong. Trong trường hợp tôi nói, Hatcher có một người nội ứng, nhưng hắn không muốn cho đồng bọn của hắn bị lộ vì thế mà hắn để lại một cái gì nho nhỏ. Bây giờ, ở đây hắn cũng áp dụng cùng một xảo thuật cũ. Ma quỉ ơi! Tôi đã chú ý đến hắn ngay từ vụ đầu tiên, cái vụ ở Paris ấy. Đúng là một kỳ công! - Sloan cười thích thú.
Stenhauser dừng lại. Anh ta xỉa một ngón tay về phía Sloan.
- Anh điên rồi, anh biết không? Tôi chẳng biết anh là ai và cái trò đùa của anh là gì, nhưng con người anh được nhồi nhét đầy thứ thối tha.
- Tôi chưa nói đến những thứ ngon lành. Này nhé, đây là cái cách mà tôi hình dung ra nó đã được tiến hành. Hãy cho rằng có người nào đó gỡ một bức tranh Picasso ra khỏi một nhà bảo tàng.
Nhà bảo tàng chẳng thiết hưởng một triệu dollar tiền bảo hiểm mà họ muốn giữ được tác phẩm. Họ muốn lấy lại nó trước khi nó được đưa lên một du thuyền Arab nào đó vượt Địa Trung Hải. Do đó họ mở một cuộc thương lượng. Hãng bảo hiểm trả 15 phần trăm mà chẳng hỏi han gì. Hãng bảo hiểm có lợi là chỉ phải trả 150 ngàn dollar mà đáng ra phải chi một triệu, còn nhà bảo tàng thì lấy lại được bức họa của mình, mà thằng ăn trộm yên trí đi với tờ giấy kiểm dịch không bệnh tật.
Stenhauser chẳng phải là người gan dạ. Việc của anh ta là cung cấp tin tức và thương lượng. Chưa bao giờ anh ta và “Chim” bị tóm cả. Bây giờ sự sợ hãi bắt đầu gặm nhấm tâm can anh ta. Anh ta dè dặt nói:
- Chẳng có gì bất hợp pháp trong việc tôi làm cả, Sloan. Tôi thương lượng, chắc hẳn rồi. Nhưng nó hoàn toàn hợp pháp. Nó tiết kiệm được phí tổn vì chẳng mời cảnh sát dính vào. Nó tiết kiệm được tiền cho công ty bảo hiểm. Nạn nhân thì lấy lại được đồ vật của họ. Mọi người đi tới một kết thúc vui vẻ.
Lại lừa dối, nhưng không hay lắm, Sloan nghĩ và cười khúc khích một mình. Miệng vẫn cười, hắn lắc đầu:
- Tôi không phản đối điều đó, - hắn nói với một cái nhún vai. - Nhưng để tôi cho anh xem một kịch bản mới. Một tên trộm đánh vào Viện bảo tàng Louvre và lấy đi số hàng đáng giá 12 triệu dollar. Tay dàn xếp bước vào, bình thản hỏi thăm lòng vòng, làm một cuộc thương lượng. Công ty bảo hiểm gồng mình trả 1 triệu 8, nhưng tiết kiệm được 10 triệu 2 trong việc nhùng nhằng này, viện bảo tàng thì lấy lại được các bức tranh. Bây giờ, giả sử có một anh chàng ma lanh làm việc trong một công ty bảo hiểm đến gặp tay “chôm chỉa” này và bảo “Này anh bạn, tôi có thể cho anh biết nơi nào có đồ mỹ thuật, khi nào thì hệ thông an ninh của nó sơ hở tôi sẽ dàn dựng cuộc mua bán và chúng ta chỉ việc chia đôi cái bánh”. - Sloan ngừng lại - “Khéo đấy chứ?”
- Tôi biết anh đang hướng về đâu với câu chuyện này, và tôi xin nói với anh ngay là anh thật đần độn, - Stenhauser nói gay gắt.
Sloan vẫn tiếp tục nói, từ tốn, nhỏ nhẹ, làm như Stenhauser chưa bao giờ thốt lên lời nào.
- Tôi đoán rằng hai đứa anh đã chia nhau gần 4 triệu dollar trong vòng hai năm gần đây, Stenhauser ạ! Không những anh sẽ bị bọn cớm trên khắp thế giới bò theo đít anh mà anh còn sẽ bị bọn săn tin ngồi vào lòng anh mỗi khi anh lấy ra một món tiền. Tất cả những gì tôi phải làm là báo cho bọn họ biết anh đã làm những gì cho đến nay. Dù họ có chứng minh được hay không, thì họ cũng sẽ làm cho cuộc đời anh sẽ rất khốn nạn đấy...
Gã đàn ông này là ai? Stenhauser tự hỏi. Từ trước đến nay anh ta chưa bao giờ có một mảy may ý nghĩ nào về việc giết người, về bất cứ hình thức nào xâm phạm đến thân thể một người khác, nhưng bây giờ, trong khi đang đi ngược đại lộ Madison, anh đã có những ý nghĩ đen tối nhất vo vo trong đầu.
- Tôi biết anh đang nghĩ gì, - Sloan nói như đọc được ý nghĩ trong đầu Stenhauser. - Quên nó đi, anh chẳng có gan và có tài để làm việc đó đâu.
Miệng Stenhauser khô lại.
Sloan lắc đầu:
- Chẳng có lý do nào để phải lo âu cả. Tôi không muốn làm cho cuộc đời anh khốn nạn. Tôi chỉ muốn Hatcher.
- Nhưng tôi đã bảo anh...
Sloan cắt ngang anh ta. Đôi mắt hắn trở nên lạnh lùng, mất vẻ tình cảm, nhưng nụ cười vẫn còn. Stenhauser chợt rùng mình sởn gai ốc. Sloan nói nhỏ nhẹ:
- Thôi đi, anh bạn thân mến! Anh sẽ phải nói cho tôi nghe cái gì tôi muốn biết, ngay bây giờ, nếu không tôi sẽ đập anh nặng đến mức anh tưởng là trời đang mưa đá đấy. Suy nghĩ đi! Dù sao anh cũng đã xong việc rồi. Anh có muốn giữ lại những gì anh đã kiếm được, tươi cười suốt trên con đường đi tới nhà băng, hay anh muốn thật nhiều phiền muộn?
Stenhauser nhìn ngược nhìn xuôi con đường. Anh ta co người sâu hơn vào trong áo khoác và nhìn chòng chọc xuống chân Sloan. “Hắn sẽ giết tôi” - Stenhauser thì thầm.
- Tuyệt nhiên không.
- Anh không...
- Biết hắn ư?- Sloan nối tiếp câu nói. - Tôi đã làm ăn với hắn từ lúc anh còn đang đi học cơ.
Stenhauser bước ra xa Sloan. Anh ta thả bước trên lề đường, nhìn các ngọn đèn vàng trên tháp Trump. Anh ta đã mơ ước làm chủ một căn hộ ở đây, một thiết kế giá một triệu dollar với tất cả các đồ bài trí, và bây giờ gã lạ mặt này - người mà mới nửa giờ trước đây anh ta chưa hề biết - rình cướp đi ước mơ đó. Cơn giận sôi sục lên trong lòng, nhưng Stenhauser đủ tinh khôn để biết rằng mình chẳng làm gì được cả. Sloan đã nắm được anh ta và đang siết chặt. Cuối cùng Stenhauser nói:
- Tôi không biết hắn ở đâu. Tôi chưa bao giờ trông thấy hắn. Cũng chẳng biết tên hắn cho đến khi anh nói ra. Tôi liên lạc qua một điểm chết, một điện thoại giao liên.
Sloan, mỉm cười, bước đến và vỗ lên vai anh ta.
- Thế cũng đủ tốt rồi, - hắn nói.
- Nhưng anh là người quái quỉ nào thế? - Stenhauser cay đắng hỏi.
- Anh được gì trong việc này?
- Điều ấy chẳng liên quan gì đến cái công việc khốn kiếp của anh cả, - Sloan vẫn trả lời từ tốn và hợp lí như xưa nay.
 
 
0

GINIA

 
Anh nằm trên sàn, cằm tựa lên hai mu bàn tay, nhìn con cá đuôi lửa màu vàng rực phóng ra phóng vào đám san hô, miệng đớp tìm mồi. Một lát sau, nàng bơi vào khung kính ở đáy thuyền. Kéo theo những bong bóng nước phun từ bình lặn, mái tóc đen dài dập dờn đằng sau.
Nàng cũng trần truồng như con cá nàng đang săn đuổi.
Cặp mông cứng, tròn lẳn như cọ xát vào nhau, khi nàng liên tiếp đập đôi chân dài, săn chắc, lên xuống như hai lưỡi kéo, trườn người vòng theo đám san hô nhỏ, đuổi bắt con cá. Nàng có gương mặt đẹp mê hồn và những mảnh da trắng hình tam giác xinh xắn, nơi mà bộ đồ tắm hai mảnh đã che không cho ánh nắng soi vào, càng làm cho thân hình nâu nhạt của nàng quyến rũ hơn.
Một tạo vật làm cho ta phải sửng sốt đến run rẩy.
Anh quan sát từng cơ bắp phập phồng trên người nàng, mỗi phân vuông của làn da rám nắng, hiểu rằng nàng biết anh đang ngắm và cả nàng lẫn anh đều rất thích thú với sự nhìn trộm này. Anh cảm thấy người bắt đầu căng cứng, mạch máu đập mạnh ở thái dương.
Tấm kính rộng khoảng 2 thước vuông gắn ở đáy thuyền là vật thật sự đã giữ anh ở lại trên du thuyền. Nó được đặt trong cabin chính ẩn dưới một tấm thảm phương Đông sang trọng. Khi ấn một cái nút, một ô ván trong thân tàu trượt lùi lại và 4 ngọn đèn pha cực mạnh gắn ở mỗi góc của khung cửa kính bật sáng. Kết quả là một quang cảnh ngoạn mục dưới biển hiện ra.
Nàng đang cầm một cái ống bằng nhựa dài khoảng hơn 6 tấc trông giống như một cái ống chích lớn có đường kính khoảng 10 phân và có pit tông ở đầu. Nàng đang ở phía sau con cá, từ từ đưa cái ống về phía đó, rồi thình lình kéo pit tông về phía sau hút con cá vào trong ống, ở đó có một van đóng nhốt nó lại. Con cá phóng lên xuống theo thân ông, bối rối bởi thành ống nhựa mờ đục đã nhốt nó. Nàng quay lại khung cửa kính và hãnh diện uốn éo thân hình.
“Làm hay lắm!”, anh nói to bằng một giọng khàn khàn gần như là thầm thì. Anh chống người lên trên một cùi chỏ và ngoắc ngoắc một ngón tay về phía nàng, ra hiệu cho nàng đến gần hơn; nàng bơi đến gần cửa kính, xoay người bơi ngửa và dạng hai chân ra như trêu ghẹo anh. Anh cúi xuống áp môi lên cửa kính và nàng từ từ trườn qua làn nước, nổi lên áp sát người vào đấy, đầu tiên là đôi gò ngực, rồi đến bụng, rồi đến cặp đùi áp sát vào. Anh hơi hé miệng, thè lưỡi liếm trên mặt kính dầy khoảng hơn 2 phân, và nàng bắt đầu uốn éo người trêu chọc anh khi anh cúi đầu xuống ngực nàng, chuyển xuống chiếc bụng phẳng, săn cứng và rồi xuống xa hơn nữa, tới chùm lông xoắn vào nhau đang ép sát cách mồm anh chừng hai phân. Rồi nàng vụt biến đi.
Anh nằm đó, nhìn đàn cá phóng ra phóng vào đám san hô, lòng mơ tưởng đến Ginia. Anh gặp may. Nàng vui tươi, đẹp và ưa khoái lạc. Hai người đã yêu nhau gần một năm nay.
Chính Cirillo là người đã tìm ra hòn đảo này. Và cũng chính do ông và bà vợ ông là Millie mà Hatcher đã đến đây ở ngay sau khi ra khỏi nhà tù Los Boxes. Anh đã rời những người Sloan cử đến cứu anh, quá giang xe từ Miami đến nhà Cirillo vào lúc nửa đêm với hình hài của một bộ xương, mắt trũng sâu, ướt nhẹp đến đầu gối vì phải lội qua các vùng lầy. Gia đình Cirillo chẳng hỏi câu gì; họ chỉ chăm sóc anh cho phục hồi sức khỏe, trông nom lo lắng và hiểu rằng cần phải xoa dịu đầu óc và thân thể bị vùi dập của anh.
Sau những năm ở nhà tù Los Boxes ra là thời gian thần kinh bị chấn thương chẳng khác mấy với lúc đang ở trong đó. Những cảm giác của anh đã trở nên quá chai đá, quá ngờ vực và phức tạp, nên anh đã trải qua những tháng đầu cô độc, lạc lõng dưới đáy của quá khứ, cố tìm một chỗ để bám rễ, một cái gì đó để kéo anh trở lại với đời thực. Vật hay nhất mà anh đã tới là một con thuyền thả rong trên biển, nằm phơi nắng, ngốn thức ăn ngon và rượu vang, đọc sách đều đều, và làm tình với đàn bà vào mỗi lúc có thể thuyết phục được - đàn bà da trắng, da đen, da đỏ, đàn bà có chồng, không chồng, đàn bà khôn ngoan, đàn bà ngu dại, đàn bà già và đàn bà trẻ.
Sau rốt anh đã trở lại hòn đảo. Hatcher đã thấy yêu mến chốn này, yêu mến đầm lầy ngăn cách hòn đảo với phần còn lại của thế giới, và chính hòn đảo phì nhiêu với cuộc sống mới đã hồi phục lại tinh thần anh sau những năm ở tù. Nơi đây đã trở thành tổ ấm thật sự đầu tiên của anh. Cái góc ngăn cách với thế giới này quả là nơi trú ẩn hoàn hảo của anh.
Có những dư luận về anh - người đàn ông lạ lùng, trầm mặc có giọng nói vỡ vụn và đôi mắt u ám, ngồi uống rượu mạnh đêm này sang đêm khác ở quán rượu Murphy. Rằng anh là một tay buôn lậu ma túy mới được tha, rằng anh là một tay buôn ma túy chưa bao giờ bị bắt, rằng anh là một tay nghiện ma túy đang tìm bạn ghiền trên hòn đảo hẻo lánh này, rằng anh đã ở tù 20 năm vì tội giết người vợ không chung thủy. Tất cả những chuyện tưởng tượng được thêu dệt bởi những cái lưỡi mềm rượu của các bà mà anh không quen và của các ông mà vợ của họ bị anh quyến rũ.
Anh cười khi nghe chuyện, thấy được tâng bốc bởi cái thân thế đã trở thành bí ẩn và đầy huyền thoại, rồi dần dần những cư dân trên đảo đã chấp nhận anh, anh lôi cuốn được họ bởi tính hài hước, tính độc lập và tính trung thực của anh đối với họ. Điều đó cứ từ từ lộ ra không phô trương, không phách lối. Bây giờ anh là một người trong bọn họ và những câu chuyện cũ đã được gác sang bên. Giống như nhiều người đã trốn tránh một quá khứ ba chìm bảy nổi, tìm nơi ẩn dật trên mảnh đất nhỏ bé cách xa bờ biển tiểu bang Georgia khoảng bốn cây số này, quá khứ của anh vẫn là điều bí ẩn.
Ginia đã để ý anh chừng đôi ba tháng trước khi anh đến với nàng. Nàng không hỏi câu nào, anh cũng thế, dù anh biết rằng nàng là người sinh ra trên đảo, đã tốt nghiệp hạng danh dự ở trường Wharton, đã từng là một trong những người môi giới kính nể nhất ở phố Wall, đã lấy một luật sư giàu có, rồi vào dịp sinh nhật lần thứ ba mươi của nàng, đã vứt bỏ tất cả và trở về đảo lập một hãng môi giới nhỏ. Đó là tất cả những gì gã Murphy nói, và anh chưa hề hỏi nàng điều gì về việc ấy cả, cũng như nàng chưa bao giờ hỏi gì về anh. Dường như họ không có quá khứ mà chỉ có tương lai.
Phải qua hai tháng anh mới mời được nàng đến ăn cơm chiều, một bữa cơm do anh tự nấu và phục vụ cách bờ biển khoảng 2 cây số trên con thuyền ở một nơi mà từ đó đã trở thành vùng biển có đá ngầm ưa thích của họ. Họ ngồi trên sàn thuyền ăn bữa chiều, ngắm các sinh vật dưới biển đang nô đùa qua cửa kính ở đáy thuyền và uống nhiều rượu vang, rồi cuối cùng hai ngày sau nàng mới rời thuyền mà chẳng biết gì về anh hơn lúc mới lên, trừ những sở thích của anh về đồ đạc, quần áo và nghệ thuật, tất cả mọi cái đều tuyệt vời. Nàng cũng chẳng biết anh làm gì để sống, từ đâu đến, đã làm gì trước khi tới đảo, kể cả việc anh đã lập gia đình chưa, có con chưa, bị cảnh sát truy tìm hay đang chết lần mòn vì một cơn bệnh nan y. Đến nay họ yêu nhau đã 9 tháng, nàng cũng chưa biết. Và nàng cũng chẳng cần. Anh là một người tình dịu dàng, một người có kinh nghiệm, ân cần, không hấp tấp, quan tâm đến những ý muốn của nàng, không biết sợ, hóm hỉnh, và nàng cũng đáp lại như thế. Tình dục vần còn là một niềm vui chứ không phải là bổn phận. Anh không bao giờ nổi giận, không bao giờ phê phán ai, và anh đối xử với nàng kính nể lạ thường. Như thế là đủ để dễ chịu cho nàng rồi.
 
Lúc đó vào khoảng trưa, chiếc máy bay phản lực của hãng Lear rít lên trên hòn đảo, nghiêng cánh ngoặt về phía đông, vòng ra ngoài khơi Đại Tây Dương rồi lướt trở lại hòn đảo lần thứ hai. Sloan quan sát hòn đảo khi viên phi công cho máy bay lượn vòng quanh nó. Nó có hình dạng như đảo Manhattan, nhưng sự giống nhau chỉ có vậy thôi, không hơn. Dài khoảng 20 cây số và rộng khoảng gần 4 cây số, nó gần như là một dải đất liền nhỏ hẹp ba mặt bị bao quanh bởi đầm lầy mênh mông còn phía Đông là Đại Tây Dương.
Một làng nhỏ bé nằm ở phía Nam của đảo, bến cá của làng chạy thẳng ra biển khoảng 100 thước như một ngón tay chỉ về hướng tiểu bang Florida. Một ngọn hải đăng xưa cũ sơn màu trắng dường như đang canh giữ khu vực buôn bán gồm ba khu nhà vuông vức, vây quanh bởi các cây sồi rêu phong che kín phần lớn các căn nhà trong đất liền ở đầu phía Nam. Những căn nhà bằng vải dầy và gỗ trải qua nhiều sương gió xếp hàng dọc theo bờ biển như những người lính gác, đương đầu với Đại Tây Dương tính khí thất thường.
Ở phía cuối gió là một trung tâm buôn bán và cái bến thuyền xinh đẹp lát gỗ hồng đào mới xây, ở đây, có nhiều du thuyền neo giữa các thuyền buồm nhỏ và thuyền đánh cá. Một phi trường nhỏ nằm ở phía Bắc ngôi làng, và phía Bắc phi trường - nửa phần trên của hòn đảo - là rừng rậm không có người ở. “Ta có thể đi bộ qua vùng không có người ở của hòn đảo này trong vòng một giờ”, Sloan nghĩ.
Một người đàn ông cao, ẻo lả như cọng cỏ, đội một cái mũ trưởng toán nhăn nhúm đứng trên chiếc xe chở nhiên liệu chạy đến chiếc máy bay của hãng Lear đang gầm lên và dừng lại gần dãy nhà khách thấp hình tròn.
- Có chỗ nào để mua thức ăn nấu ở nhà ngon không?- Sloan hỏi lúc đang bước xuống máy bay.
Người đàn ông, dường như dừng lại khoảng 10 giây, nhìn hắn chằm chằm rồi nói:
- Thử tìm ở tiệm Birdie trong làng xem.
- Tôi có thể thuê taxi chứ?
Ông ta lại suy nghĩ khoảng mười giây nữa.
- Taxi chả ra ngoài này.
- Vậy làm thế nào tôi đến đó được?
Người đàn ông với cái mũ rúm ró suy nghĩ một lát rồi nói:
- Ông có thể đi bộ khoảng mươi mười lăm phút, - lại im một lát, - hoặc ông có thể mướn xe ca trong này.
- Hiện giờ tôi đang đi tìm một người bạn. Có thể anh biết hắn chăng, Christian Hatcher.
Nửa phút sau:
- Không biết!
- Anh nói tiệm Birdie à?
- Ừ hứ.
Đó là một ngày đẹp trời, nhiệt độ khoảng 27°C và một ngọn gió mát từ bờ biển thổi xào xạc qua các lùm cây.
- Ta sẽ đi bộ.
Hòn đảo, một mảnh đất của nước Mỹ đẹp kỳ lạ và cổ kính y như một bức tranh của họa sĩ Rockwell chỉ thay đổi chút ít sau hai chục năm trường, vẻ duyên dáng của nó quyến rũ các du thuyền to lớn từ Miami và Charleston đến. Mỗi tuần họ đến một hai lần, neo tàu ở bến và ở đấy qua đêm. Những người du ngoạn, mà dân địa phương gọi là các hành khách, vui vẻ đổ xuống bến cá và sục vào các tiệm rồi quay về tàu nghỉ đêm. Sáng ngày hôm sau họ mới ra đi.
Khi Sloan đứng nhìn ngôi làng nhỏ xíu, miệng hắn hoác ra cười. Đây đây à? Hắn nghĩ. Hắn phải làm ra vẻ tự nhiên và suy nghĩ thận trọng khi đi hỏi. Hắn đi xuống bến tàu - ở đó dân địa phương đang bắt cua, câu cá hoặc đang tắm nắng - nhìn các thuyền đánh tôm đi lại, các con bồ nông to lông nâu đang phóng mình xuống nước tìm mồi.
Roland Smithh, người tự cho mình là thị trưởng không chính thức của hòn đảo, sáng nào cũng ra bến tàu trong bộ đồ thể thao, thắt cà vạt và gài một đoá hoa tươi ở ve áo để đi lòng vòng. Ông ta vuốt ve lũ chó, đi bộ với trẻ con, tán tỉnh với mọi phụ nữ trên 16 tuổi, và từ tốn đi lên nhà Birdie để ăn sáng và tán gẫu với dân địa phương. Nụ cười trên môi ông ta không bao giờ tắt và ông ta sống trên đời chỉ để vui vẻ. Ông đã đến hòn đảo này 10 năm trước đây trong dịp nghỉ phép cùng với vợ và bà vợ đã gục xuống chết ngay trên bãi biển vì một cơn đau tim. Smith, anh thợ lắp cửa sổ của một cửa hàng tổng hợp ở New York, đã gởi một bức thư xin nghỉ việc cho ông chủ và ở lại vĩnh viễn trên hòn đảo này.
Sloan nhìn ông ta đang dạo quanh bến tàu và công viên gần đấy, tươi cười tán chuyện. Sloan nhận ra ngay tính hay tán chuyện của người hắn vừa gặp. Hắn rảo bước đến rào công viên, ngồi trên băng ghế chờ Smith vui vẻ đi qua. Ông ta mỉm cười nói:
- Xin chào! Thật là một ngày đẹp trời phải không?
- Tuyệt vời! - Sloan nói cùng với nụ cười trên môi.
- Tôi rất yêu hòn đảo này, - Smith nói, đó là câu chào hỏi du khách mẫu mực của ông.
- Rất đẹp, - Sloan đồng tình.
Smith lơ đãng hỏi:
- Ông đang nghỉ phép ở đây à?
- Vâng, đại loại thế. Tôi đang đi tìm một người bạn cũ. Chúng tôi là bạn thân với nhau từ hồi còn ở trong quân đội. Nhưng tôi mất địa chỉ của hắn và không tìm thấy tên hắn trong niên giám điện thoại.
- Có thể anh ta đã dọn đi, - Ông thị trưởng hờ nói.
- Có thể ông biết hắn, Chris Hatcher ấy mà? Tôi nghĩ là tôi làm hắn ngạc nhiên đấy...
- Có thể anh ta chẳng thích những sự ngạc nhiên.
Smith nói vui vẻ, nụ cười của ông ta chỉ hơi nhạt đi, rồi ông ta gật đầu và lững thững bỏ đi.
Sloan lang thang ra vào các cửa hiệu, bắt chuyện bằng cái lối tươi cười dễ thương, rồi cuối cùng mới mon men tới câu hỏi chính. Không một ai nói “Tôi không biết hắn” hoặc “Tôi chưa bao giờ nghe nói đến hắn”. Họ chỉ nói chung chung, lờ đi câu hỏi và chỉ trả lời đại khái như: “Có rất nhiều người ở trên hòn đảo cổ xưa này” hoặc “Ông nói ông từ đâu đến?”
Một thị trấn nhỏ đặc thù - Sloan nghĩ - mọi người trên đảo đều vừa kín tiếng vừa vui vẻ. Nhưng Sloan được trời phú cho cái tính kiên nhẫn vô hạn. Hatcher phải ở đâu đó trên hòn đảo này. Một người nào đó trên hòn đảo này phải biết Hatcher, chỉ còn là vấn đề thời gian cho đến khi có ai đó thú nhận. Sloan vào tiệm Birdie, đó là một nhà hàng vui vẻ, kín đáo tỏa mùi rau cải tươi và thức ăn biển, thực đơn được ghi trên một tấm bảng đen to treo trên tường. Hắn tìm một bàn gần bên một nhóm đàn ông, họ trông có vẻ như cùng cánh.
Khi mới đặt chân tới đảo, Hatcher đã chọn cho mình cuộc sống ẩn dật, tránh gặp mọi người và sống cô độc trên thuyền. Người bạn duy nhất của anh là Cirillo. Nhưng dần dần anh trở nên gần gũi với những người dân ở đây. Họ chẳng chỉ trích ai, nồng hậu, và giúp đỡ nhau một cách mộc mạc hồn nhiên. Giống như Hatcher, họ đã trốn ra đảo, bỏ lại sau lưng những ký ức xấu xa, những sự nghiệp sụp đổ hoặc những sự ngược đãi của một cộng đồng giả dối.
Tất cả những người đàn ông ngồi ở bàn kế bên đều là bạn của Hatcher. Một người to lớn có mái tóc bạc và bộ râu rậm bạc trắng trông giống như ông già Noel được những người kia gọi là Bear. Còn người mảnh khảnh, trầm lặng, có hàm râu muối tiêu đâm cả vào ngực, đang đọc một quyển tiểu thuyết đóng gáy bìa cứng trong khi ăn, một người khác nữa có khuôn mặt dịu dàng đang ghi vội những vần thơ vào một cuốn sổ tay nhàu rách. Sloan lắng nghe họ chuyện trò, hy vọng kiếm được ra manh mối. Nhưng hắn chả thâu lượm được gì, mặc dù rõ ràng họ là dân trên đảo.
- Chưa bao giờ tôi được ăn ngon như thế này từ khi tôi rời nhà, - Sloan vui vẻ nói.
- Đúng đấy, - Bear trả lời.- Và chắc là rẻ.
Họ nói chuyện với nhau thân thiện trong suốt bữa ăn. Cuối cùng Sloan bật ra câu hỏi và cũng được trả lời mơ hồ như trước.
- Chắc hẳn sớm muộn gì hắn cũng đến ăn ở đây thôi, - Bear nói. Mọi người đều thế mà. Sloan vẫn không nản. Hatcher không có tên trong sổ bộ của thị trấn hoặc trong niên giám điện thoại. Không có đăng ký xe hơi. Nhưng vì Hatcher đang sống trên đảo này, anh là hải quân đã xuất ngũ, anh yêu biển cả, nên rất có thể là anh đang sống trên một con thuyền. Tiến trình loại bỏ dần các sự kiện cuối cùng đã đưa Sloan đến bến giữ thuyền.
Lúc này thì cả làng đã biết rằng hắn đang đi tìm Hatcher.
Hắn thử bắt chuyện với Cap Fendig, người điều hành bến thuyền.
- Tôi đang đi tìm một người bạn cũ, Chris Hatcher. Chúng tôi đã ở trong quân đội cùng nhau.
- Đó là một sự kiện.
- Anh ta rất giỏi lái tàu nên tôi nghĩ có lẽ anh ta có một chiếc thuyền ở đây.
- Ừ, đây là chỗ giữ thuyền. - Fendig bỏ đi lên cầu tàu. Sloan nói với theo:
- Tên anh ta là Chris Hatcher.
- Anh ta chẳng phải sinh ra ở đây. Tôi đã sống cả đời ở đây, chẳng có ai tên đó sinh ra trên đảo này.
- Không, anh ta mới tới ở đây được độ một năm rưỡi.
- Ồ!
Câu chuyện chấm dứt.
Sloan thay đổi chiến thuật. Hắn lại gần cậu bé đang bơm xăng. Hắn tỉnh bơ, vui vẻ hỏi:
- Giờ nào thì Chris Hatcher về?
- Chẳng bao giờ biết được. - cậu bé trả lời.
Trúng rồi! Sloan nghĩ.
- Anh ta sống trên tàu à?
- Cháu không biết, - cậu bé trả lời và lẻn vào trong trạm xăng nhỏ.
Sloan trở lại bến thuyền uống một li bia, rồi quay lại cầu tàu chờ đợi.
Hồi còi tàu cao vút kéo Hatcher trở lại thực tế.
- Ôi lạy Chúa! - Anh càu nhàu, đứng dậy, xốc lại những chỗ phồng lên dưới bộ quần áo tắm xộc xệch của anh rồi đi lên, thận trọng nhìn chòng chọc qua vách khoang thuyền.
Một chiếc thuyền đánh tôm tên là Breeze - E dừng lại kề bên, máy thuyền chạy rì rì trong khi con thuyền nhè nhẹ lắc lư trên biển lặng. Thuyền trưởng, một người cao gầy, dày dạn với hàm râu muối tiêu cắt tỉa gọn gàng, đang đứng ở phía đuôi tàu. Ông ta bắt hai tay làm loa hét to: “Gã ấy lang thang khắp đảo hỏi kiếm anh. Đã tới quán Birdie, tiệm Murphy, bến thuyền. Kể cả dò hỏi ông già Rolan”.
- Hắn muốn gì? - Hatcher hét lại bằng giọng khàn khàn nghe nửa như tiếng gầm gừ, nửa như tiếng thì thầm.
- Hắn bảo hắn là bạn cũ của anh trong quân đội.
Hatcher lúc lắc đầu:
- Trông hắn ra sao?
- To con, trông như cái chậu đựng tôm hùm ấy, hai vai thật rộng. Trông có vẻ gần bốn mươi rồi. Rất thân mật. Ăn nói nhẹ nhàng và lúc nào cũng cười. Có một sẹo nhỏ trên má.
- Bạn của anh à?
- Tôi không nói thế. Ông đã nói gì với hắn?
- Chả nói mẹ gì cả!
- Cám ơn, Bob.
- Có gì đâu. Đang câu cá à?
- Đại loại thế!
- Gặp lại sau nhé!
Bob vẫy tay, trở lại sàn lái và ấn ga cho thuyền chạy ra khơi.
Hatcher nghe có tiếng động sau lưng, anh quay lại, thấy Ginia đang nhìn anh qua lan can tàu.
- Chuyện gì thế? - Nàng hỏi.
- Bob. Ông ta bảo có ai đang hỏi về anh ngoài phố. Em biết dân trên đảo thế nào rồi, đôi khi họ che chở anh thái quá!
- Em nghĩ thế là tốt, - nàng nói. Và từ bên chiếc thang dây bước qua lan can giữa, qua chiếc khăn bông trên ghế quấn quanh người như chiếc xà rông. - Thật dễ thương khi biết bạn bè lo lắng cho anh nhiều đến thế.
- Ừ hứ. Hãy xem con cá kia đã.
Nàng với qua lan can, lấy cái ống đưa cho anh. Anh đưa nó lên gần mắt, quan sát:
- Con này to đấy. - Anh nói.
- Anh nhìn đuôi nó xem. Chúng mình giữ nó lại nhé?
- Tất nhiên rồi.
Anh cầm cái ống xuống phòng chính, ở đó 6 con cá khác họ bắt được sáng nay vẫn đang bơi lượn vòng quanh thăm dò cái bồn cá chứa được khoảng 400 lít nước. Anh đứng nghiêng người trên bồn cá, mở cái van trong ống, con cá màu vàng bơi ra và lập tức bắt đầu tìm hiểu giang sơn của nó giữa đám san hô và tảo biển ở đáy bồn.
- Đẹp quá! - Nàng nói sau lưng anh. Hai cánh tay nàng ôm quanh hông anh. - Bơi lội làm em “nổi hứng”. - Nàng ghé sát vào tai anh nói.
Không quay lại, anh đưa hai tay ra sau luồn dưới chiếc khăn bông và vuốt ngược lên mặt bên trong của cặp đùi nàng. Nàng hơi ngửa người ra sau cho hai bàn tay anh thêm rộng chỗ, và luồn hai bàn tay nàng qua thắt lưng chiếc quần tắm chật căng của anh.
Nàng nói:
- Mọi cái đều làm anh “nổi hứng”.
Anh quay lại, kéo chiếc khăn bông ra, hai tay nhẹ nhàng vuốt dọc theo lưng nàng xuống đến cặp mông mềm mại, kéo nàng về phía anh.
- Mông em lạnh ngắt, - giọng anh thì thào bên tai nàng.
- Nhưng trái tim nóng hổi.
Nàng nhón chân lên, dang hai chân ra một tí và ép sát vào anh, mái tóc rậm của nàng phủ quanh vai anh, rồi nàng ngậm một núm vú của anh và bắt đầu mút. Cái giọng riêng của anh thì thầm:
- Được một lúc rồi đấy.
- Đúng. - Nàng cười rúc rích. - Ít nhất cũng phải hai tiếng đồng hồ.
Nàng nghiêng người và thì thầm vào tai anh: “Mở hệ thống lái tự động đi”, rồi nắm tay anh kéo về phòng ngủ của thuyền trưởng.
 
 
0

THUỞ XƯA

 
Chiếc thuyền đẹp thật sự, bóng loáng và phần nổi trên mặt nước của sườn thuyền rất ít nên nó giống như một chiếc thuyền đua hơn là một chiếc du thuyền. Phòng lái thấp rộng, phía trước kính chắn gió là mũi thuyền thon, dài khoảng trên 4 mét, 4 máy dầu 750 sức ngựa đang réo ùng ục sau đuôi thuyền. Thân thuyền dài, thon có một phòng chính rộng là phòng ngủ của thuyền trưởng với một chiếc giường khổ lớn, một chỗ ở nữa rộng đủ cho hai người khách và một nhà bếp tiện nghi vừa lòng một ông đầu bếp hạng sang.
Sloan chỉ nhìn thấy vẻ ngoài thuyền nhưng hắn đã không nén được huýt sáo khe khẽ khi chiếc thuyền lướt êm ả trên làn nước về phía hắn.
Phải biết kiềm chế những xúc cảm gay gắt nhất, 126 đã có lần cảnh cáo Hatcher về chuyện yêu thương và thù hận. Hatcher đã yêu thương Sloan như anh ruột mình và cũng căm thù hắn như một kẻ tử thù. Bây giờ khi đến gần bến cảng nhìn thấy Sloan lần đầu tiên sau 7 năm xa cách, lòng anh tràn ngập những xúc cảm lẫn lộn.
Mối quan hệ thầy trò cũng khó cắt đứt như môi quan hệ cha con: 126 đã bảo anh điều đó và đúng như vậy thật.
Anh muốn trả đũa Sloan về việc hắn đã phản bội anh, nhưng anh lại có phần sung sướng khi gặp cái thằng chó đẻ ấy. Cơn cuồng nộ bắt đầu nổi lên trong lòng anh khi thuyền đến gần bến cảng. Cuồng nộ với Sloan. Cuồng nộ với chính bản thân anh vì đã không căm thù hắn nhiều hơn nữa. Điều khó tha thứ nhất chẳng phải là 3 năm ở nhà tù Los Boxes mà chính là việc Sloan đã phản bội anh.
Hắn đang làm quái quỉ gì ở đây thế?
Anh quay sang Ginia, nói:
- Có nhìn thấy cái gã to con đang đứng cạnh trạm neo tàu không?
- Ừ hứ.
- Hắn đang tìm anh đây.
- Bạn hay thù? - Nàng nói hồ hởi.
- Hãy nhảy xuống khi chúng ta cột thuyền xong, đồng ý chứ? Bọn anh có chuyện cần nói.
- Vẫn có cái trò chơi - rồi - chạy ngày xưa ấy hở?
- Ừ. - Anh hôn lên má nàng. - Anh sẽ gọi điện thoại cho em sau. Móc chặt sợi dây cột buồm cho anh.
- Yên trí. Về ăn tối chứ?
- Có thể.
Nàng nghiêng người qua và hôn thật mạnh lên môi anh.
- Nhớ lấy cái này, ngay cả trong trường hợp anh muốn chơi trò lính thủy với bồ anh.
- Hắn chẳng phải bồ.
Sloan nhìn Hatcher từ từ đưa con thuyền to vào bến đậu, hắn nhìn Ginia nhảy xuống bến, cột sợi dây mũi thuyền, rồi quay lại gởi một nụ hôn gió cho anh, nhìn nàng đi lên cầu tàu về phía mặt trời đang lặn, ánh nắng xuyên qua chiếc váy mỏng bằng sợi màu trắng soi rõ đôi chân thon dài của nàng. Sloan vui vẻ bước xuống cầu tàu và đứng dưới cầu thang của con thuyền, nhìn lên phía anh.
- Cũng được một lúc rồi, Hatcher, - Sloan nói với nụ cười muôn thuở và nghĩ bụng: trông hắn tốt tướng thật, rám nắng, đầy đặn, tóc rậm hơn tóc mình. Quỉ thần ơi, trông hắn đẹp trai hơn bao giờ hết.
Hatcher nhìn lại Sloan trừng trừng và chẳng nói gì.
- Được phép lên tàu chứ thuyền trưởng? - Sloan hỏi trong tiếng cười. Thấy Hatcher chẳng trả lời, Sloan vẫn nặng nhọc trèo lên thuyền.
“Xấc láo như thuở nào đến giờ”, Hatcher nghĩ.
Sloan chìa tay ra cho Hatcher, anh làm như không biết. Ngược lại anh đột ngột quay lưng và đi xuống khoang. Sloan đứng yên một lát, nắm tay lại, bực tức thổi vào đấy rồi quyết định đi theo anh. Hắn ngạc nhiên thấy cabin chính rộng rãi và lịch sự đến thế. Các bức vách được gắn gương khung đồng và khung gỗ giá trị, đồ đạc trang trí sang trọng màu xám, sàn trải một tấm thảm phương Đông. Một chiếc bàn rộng đủ cho tám người ngồi ngăn cabin chính với các phòng riêng phía trước. Sloan không nén được, lại huýt sáo khe khẽ lần nữa, còn Hatcher thì làm như không nghe thấy, đi lại quầy rượu, rót cho mình một ly rượu vang đỏ và ngồi xuống. Anh không mời Sloan gì cả, cuối cùng gã đàn ông lực lưỡng này đành ngồi xuống đối diện với anh. Hắn nói:
- Trông anh phát tướng thật, Chris. Chưa bao giờ thấy như thế.
Tâng bốc hay quá, Hatcher nghĩ, và anh vẫn không nói lời nào.
Sloan lại nói:
- Anh có nhiều bạn bè hài hước thật, chẳng có ai trong bọn như chịu nhận rằng có biết anh. - Hắn cười rúc rích. Hatcher chỉ nhìn hắn chằm chằm.
- Rất vui khi gặp lại anh, - Sloan nói, cố làm ra giọng thành thật.
Không một câu trả lời. Cứ tiếp tục như thế đi, Hatcher tự nói với mình. Gương mật anh sầm xuống, nhưng anh vẫn không mở miệng. Sloan thở dài và nhìn Hatcher hớp một ngụm vang. Miệng hắn đang khô lại. Quỉ thật, có lẽ mình thử đi thẳng vào vấn đề.
- Này, tôi đã gặp bao nhiêu khó khăn để móc anh ra khỏi Madrango, thế mà anh cũng chả thèm vác mặt lên Washington cảm ơn tôi.
Hãy cảm ơn là tao chưa giết mày, Hatcher nghĩ, nhưng anh vẫn không nói gì.
Sloan nắm tay lại và đưa lên môi, thổi nhè nhẹ vào đấy. Hắn mỉm cười, nói chậm rãi.
- Tôi phải thú nhận rằng hơi căng thẳng khi xuống đây. Tôi đã nghĩ rằng còn có cơ may anh không tống cổ tôi đi. Tôi có thể hiểu điều đó, Hatcher thân mến, thật sự tôi hiểu. Nhưng, anh biết đấy, tại sao lại vứt bỏ hết thảy đi chỉ để trả thù, đúng không?
Hatcher chẳng nói gì, nhưng những tia hận thù trong đôi mắt xanh của anh bắn ra như những tia lửa điện.
- Anh biết không, bọn làm việc bên tình báo vẫn còn bàn tán về anh, - Sloan tiếp tục nói huyên thuyên. - Tôi đã bảo bọn chúng rằng anh là người giỏi nhất trong nghề, ý tôi muốn nói đối với bất cứ công việc gì, anh bạn trẻ ạ, dù là việc gì đi nữa. Không ai tin tôi cho tới khi anh biến mất ở trạm bán xăng ở Miami. Không có gì ngoài quần áo trên người. Không tiền, không căn cước, chẳng có gì cả, vậy mà anh bỏ đi đấy. Tôi phục anh thật, việc ấy đã được thực hiện xuất sắc. Ba năm ở nơi ấy, anh vẫn không mất tính nhạy bén.
Hatcher chẳng nói gì.
Sloan đứng lên và đi loanh quanh trong ca-bin, nhìn các đồ vật, quan sát chúng thật kỹ, miệng vẫn nói bằng cái giọng êm ả và trơn như mỡ của hắn.
- Tôi phải mất 16 tháng để lần ra dấu của anh. Tôi cũng chẳng tung người đi sục sạo hay làm bất cứ việc gì kiểu như thế, mà chỉ mở to mắt và dỏng tai lên nghe ngóng.
Mày nói nhiều quá, Hatcher nghĩ, mày luôn luôn nói nhiều. Hatcher hớp một ngụm rượu vang khác, chòng chọc nhìn Sloan qua mép ly.
- Anh thật sự đã làm họ xôn xao, - Sloan tiếp tục huyên thuyên. Biết Cảnh Sát Quốc Tế gọi anh là gì không? Chim. Mẹ kiếp! Tay bay cừ nhất trong nghề, tôi luôn luôn biết điều ấy. Dĩ nhiên tôi chẳng nói bất cứ điều gì với ai cả. Chả phải việc của tôi. Tuy nhiên, tôi phải nói cho anh biết, anh đúng là một người định hướng giỏi.
Hatcher không cắn câu. Anh vẫn nhìn Sloan chằm chằm. Sloan đặt chiếc cặp lên lòng, mở khóa và bật nắp ra. Từ chỗ Hatcher ngồi, anh không thể nhìn thấy bên trong chiếc cặp, nhưng anh biết chính xác nó được xếp đặt ra sao. Bìa kẹp hồ sơ, tất cả đều được dán nhãn và sắp xếp ngăn nắp. Một lịch bay đầy đủ của các hãng hàng không. Quyển sách đen nhỏ của hắn, cuốn thánh kinh giúp hắn hành nghề. Và trong các túi đặc biệt ở trên cùng chiếc cặp là 2 khẩu súng ngắn, một khẩu 357 Python và một khẩu H&K 9 ly. Máy nạp đạn nhanh và tạp chí nằm trong các túi giữa hai khẩu súng.
Sloan không bao giờ thay đổi. Nếu điều ấy được việc thì hắn cứ giữ như thế mãi. Sloan lấy ra một xấp báo chí.
- Nghe cái này này, đây là mẩu tin trên tờ The Times Chủ Nhật tuần rồi. “Thị trường quốc tế buôn bán đồ mỹ nghệ ăn cắp chỉ đứng hàng thứ hai sau thị trường buôn bán ma túy thế giới”. Theo mẩu tin này, Hatcher, những vụ ăn cắp đồ mỹ nghệ đã tăng lên gấp đôi kế từ năm 1981. Chỉ trong năm qua đã có 493 vụ, 4150 tác phẩm nghệ thuật đã bị lấy cắp.
Vẫn không có lời bình luận nào đáp lại.
- Chính cái vụ ở Paris đã đẩy tôi tìm đến anh, - Sloan nói, và ngoác miệng cười như hãnh diện về việc ấy. - Rồi khi anh đánh vào phòng triển lãm ở Chicago và Stenhauser là người bố trí vụ này thì tôi đã tổng hợp lại. Thủ thuật ở New York xưa kia đã phơi bày sự việc.
Vẫn không có tiếng trả lời. Hatcher hớp một ngụm rượu vang khác và tiếp tục nhìn chòng chọc... Anh đang nhớ lại chuyện 126 đã có lần nói về sự trả thù. Ông ta đã nói, đó là điều thấp hèn và lãng phí thời gian. Có một điều mà Hatcher đã học được trong nhà tù Los Boxes là phải chú ý đến cơ hội.
- Cái vụ ở Paris hứng thú, hay hơn cái vụ chúng ta đã làm ở London thời đó. - Sloan tiếp tục.
Hắn ngừng lại một lát. Hatcher vẫn chẳng nói gì cả.
- Cũng một mẻ đấy chứ, anh bạn. Riêng cái bức Monet đó đáng giá trên ba triệu. Năm bức nữa mười hai triệu. Tôi đã không biết rằng anh biết nhiều chừng ấy về các bức tranh hiếm, bồ thân mến ạ!
Chẳng có tiếng trả lời!
- Tôi đoán rằng Stenhauser đã chỉ điểm cho anh món gì phải chộp, đúng không?
Không trả lời.
- Dù sao anh cũng đã dính vào cái vụ ở Paris, cái kiểu làm mà nay anh vẫn đang tiếp tục ấy. Tôi sẽ giúp anh một tay cho cái kiểu làm ăn ấy. Tôi đoán anh mới làm có 3 vụ, - hắn dừng lại, nhún vai. - Rồi ai chịu thiệt thòi? Công ty bảo hiểm, đúng không?
Sloan cười khúc khích. Hắn đưa hai bàn tay ra, ngửa lòng bàn tay lên như một nhà ảo thuật sắp sửa diễn trò.
Vẫn không có lời phê bình. Sloan thở dài và nhìn lên trần. Hắn thấy khó chịu.
- Anh đã thay đổi, Hatcher. Anh luôn luôn đối đáp giỏi về tất cả mọi chuyện cơ mà. Anh đã từng là một người nói rất hay.
Hatcher thình lình đứng dậy, bước ba bước dài qua căn phòng và đấm Sloan một cú nhanh, mạnh vào ngay quai hàm. Gã đàn ông to con văng khỏi ghế bắn ra đằng sau, té lộn cổ xuống và đụng đánh rầm vào vách.
“Mẹ kiếp.” Hắn rống lên, chùi máu ở khóe miệng và vụt nhìn lên khi Hatcher cúi xuống hắn.
- Tao có quả đấm này để thay lời, - Hatcher thì thầm.
- Chúa ơi, - Sloan thốt lên.- Cái gì đã làm anh ăn nói như thế?
Hatcher không trả lời. Anh rửa ly rượu vang, đặt lên kệ trên đầu và kéo cửa xuống. Rồi anh bỏ đi lên trên. Sloan từ từ đứng dậy, tay xoa bóp hàm. Hắn đến tủ lạnh, mở tủ lấy ra một lon bia. Hắn khui nắp hộp, uống một hơi dài và áp lon bia lạnh vào hàm. Chợt bốn động cơ khỏe nổ vang và con thuyền bắt đầu chuyển động. Sloan chạy vụt lên trên. Hatcher đang cho con thuyền dài 15 mét lùi ra khỏi bến.
- Anh làm cái quỉ quái gì đấy?
Anh lái con thuyền lượn một vọng hẹp rồi hướng mũi ra biến, từ từ lướt qua kênh đào. Khi con thuyền đã ra ngoài biển khơi anh ấn cần ga tới trước và tiếng gầm của máy tàu đổi điệu. Tiếng máy trầm trầm hòa nhịp với tiếng vỗ của đại dương trong khi chiếc du thuyền nhỏ tăng dần tốc độ và bắt đầu nhảy từ ngọn sóng bạc này sang ngọn sóng bạc khác.
Sloan xoa hàm với lon bia lạnh:
- Anh vẫn chưa quên cách đấm. - Nụ cười cửa hắn từ từ trở lại. - Thật quỉ quái là tôi đã đoán tôi sẽ nhận được nó.
Hatcher quay lại đứng dàn mặt với Sloan và gay gắt hỏi:
- Có phải mày định tống tiền không, Harry?
Sloan có vẻ căm phẫn:
- Đời nào!
- Vậy chứ mày làm gì ở đây? Đừng nói với tao mày đến đây xin lỗi. Tao sẽ cho mày ăn đòn nữa đấy.
- Anh biết tôi mà Hatcher thân mến. Tôi, ờ.!., tôi biết tích cốc phòng cơ chứ. Tôi luôn luôn nghĩ rằng sớm hay muộn gì... - Hắn bỏ câu nói lơ lửng đấy.
-Sao?
- Vì bây giờ làm là để cho mai sau.
- Anh đã đưa tôi vào nghề, anh là đồ chó đẻ.
Sloan nhún vai:
- Anh làm những gì anh có bổn phận làm.
- Để bảo vệ một thằng ăn bám say sưa, hả?
- Cứt, ở đây toàn là vấn đề chính trị. Chúng ta đang cứu lấy đất nước.
- Cứu khỏi cái gì, chuột và gián à? Và tôi đã thành vật hy sinh.
- Toàn bộ sự việc đã trở nên chua chát. - Sloan tiếp tục nói bằng giọng chân thành - Anh có nhiệm vụ bị bắt giam ở Madrango. Nhưng rồi đất nước loạn ly trước khi tôi có thể trở lại đón anh ra. Sau đó tôi được biết chúng nó chuyển anh sang nhà tù Los Boxes. Thành ra đó là một điều không may, tôi xin nói rõ để anh biết.
- Một điều không may! - Anh thì thầm với cái giọng tan nát.
- Tôi luôn giúp đỡ anh khi có thể được, anh bạn trẻ ạ, - Sloan nói.
Hatcher ấn ga thêm tý nữa. Máy tàu gầm lên, mũi tàu hất cao lên thêm một chút. Cuối cùng Hatcher nói:
- Còn gã mập lùn ra sao rồi?
- Pratt hở? Bọn nổi loạn giữ hắn đôi ba tháng. Hắn sụt mất đi 20 kí và đã bỏ Bộ Ngoại Giao.
- Tôi tự hỏi không biết ai là kẻ tốt hơn?
- Hắn đã cứu anh ra, đúng không?
Hatcher gầm gừ qua hai hàm răng nghiến chặt:
- Ngài đại sứ yêu quí của chúng ta, Craig, đã giết chết một người đàn bà và đứa con bằng chiếc xe Mercedes của ông ấy, tôi chịu tội thay, vào nhà tù Los Boxes, rồi hai tháng sau chính quyền sụp đổ và Craig cũng bị đá đít ra ngoài. Hay thật!
- Hatcher, anh đã ở trong nghề đủ lâu để biết rằng sự việc thay đổi nhanh như thế nào. Điều chết tiệt là tôi đã không quên anh. Thế nào, tôi có quên anh hay không?
- Trong ba năm vừa rồi hả?
- Sự tính toán thời gian như thế không đúng đâu. Hatcher lắc đầu tức giận nói:
- Khi họ ban ân thì anh nối đít xếp hàng chờ. Anh còn muốn cái chết tiệt gì, hở?
- Tôi có một vụ đánh quả. Một vụ không ai có thế “đánh” được như anh.
Hatcher có vẻ kinh hoàng, gầm lên:
- Vứt mẹ nó đi.
- Hãy nghe tôi...
- Tao không bị ràng buộc gì cả.
- Tôi không thấy như vậy.
- Tao chả thèm biết mày thấy nó thế nào.
- Tôi nắm được thằng bạn Stenhauser của anh về mọi mặt, - Sloan nói nhỏ nhẹ, nhưng hàm ý đe dọa - Tôi đã khai thác nó, anh có thể lãnh 20 năm khổ sai.
- Mày luôn luôn tưởng tượng quá xá đây!
- Hãy xem ai đang nói đây.
- Tao không xem. - Hatcher cáu kỉnh nói - Tao làm.
Mỉm cười, Sloan nghiêng người sang và nói nhỏ nhẹ:
- Chicago, Paris, New York... Tôi chả mơ đâu, anh bạn ạ. Hãy để tôi trình bày cho anh nghe. Họ sẽ đập anh một, hai, ba vụ riêng rẽ nhau vào những lúc khác nhau. Ba trọng tội, ba thành phố khác nhau, và nước Pháp thực sự xúc động về những tác phẩm mỹ thuật của họ. Tôi nghĩ anh sẽ lãnh ít nhất 15 năm tù và họ sẽ lấy tất cả những gì anh đã kiếm được. Do đó họ sẽ chẳng đi tìm cái kho tàng anh giấu ở Panama, Grand Cayman hay Thụy Sĩ đâu. - Hắn cười một nụ cười giả dối nhất.
- Nhưng họ sẽ lấy chiếc thuyền của anh và tất cả những gì bày ra trước mắt. - Hắn nháy mắt.
Hatcher nhìn chằm chằm vào hắn một lát rồi nói thẳng thừng:
- Tao nghĩ là tao sẽ xỉ vả cái sự can thiệp này.
- Có lẽ tốt hơn anh nên xỉ vả Stenhauser trước.
- Còn mày làm gì, Sloan, bắt cái gã con hoang tội nghiệp ấy khuất phục à?
- Tôi chỉ dọa hắn một tí thôi. Hắn chả phải cỡ như anh, dễ uốn nắn lắm.
- Cũng dễ như việc mày tống tiền ấy à?
Cơn giận của Sloan bắt đầu nổi dậy, nhưng hắn tự kiềm chế.
Hắn vẫn cười, nói nhỏ nhẹ chân thành.
- Thôi, thôi, tôi đã lầm. Này nhé, anh làm cho tôi cái việc nhỏ này rồi anh sẽ không bao giờ nhìn thấy tôi nữa. Tôi chỉ còn là chuyện đã qua. Anh quên rằng tôi đã dạy anh mọi điều anh biết, Hatcher. Tôi đã quên hết tất cả, về...
Hatcher thình lình bẻ tay lái gấp về bên phải, rồi lại quay ngược lại. Chiếc thuyền thoạt đầu ngoặt gấp sang một bên rồi nhanh chóng quặt ngược lại. Sloan bị bắn ra sau, đâm sầm vào vách. Lon bia văng khỏi tay hắn gió cuốn băng đi, rồi con thuyền lại chuyển qua hướng khác làm hắn quờ quạng lao đầu tới trước, loạng choạng cố lấy lại thăng bằng, rồi ngã quì gối trước cửa phòng lái. Hatcher kéo ga cho thuyền chạy lùi, rồi lại nhấn mạnh ga cho thuyền lao tới, thế là Sloan không gượng lại được, một lần nữa lại mất thăng bằng, lao cắm đầu vào phòng lái, bay đến giữa phòng rồi ngã lộn cổ xuống. Hắn lạng quạng ngồi dậy và bắt đầu đứng lên, nhưng con thuyền lại ngoặt sang bên lần nữa và hắn lại đâm sầm ngay vào một tấm gương treo trên tường. Hắn thở hồng hộc còn tấm gương thì vỡ nát vì bị hắn húc vào. Sloan ngã xuống sàn trong tiếng loảng xoảng của những mảnh gương vỡ bắn ra chung quanh.
Phía trên, Hatcher trả hết ga về. Chiếc thuyền dừng lại đứng yên trong làn nước. Anh nhảy ra khỏi ghế của thuyền trưởng chạy xuống thang tới cabin. Sloan đang quì gối, quờ quạng tìm chiếc cặp của hắn trên sàn.
Hatcher lao nhanh tới vồ lấy chiếc cặp, móc ra khẩu 357. Anh ném chiếc cặp sang bên. Bìa kẹp hồ sơ rơi ra và những gì đựng trong đó tung tóe ra sàn.
- Mẹ kiếp nó, - Sloan mở mồm, và cảm thấy nòng thép lạnh sát ngay dưới mũi. Hatcher đứng trước hắn dí khẩu súng lục Magnum vào môi trên hắn.
- Mày đã dạy tao những gì mày biết, tốt lắm, - cái giọng nẩy lửa của anh gầm gừ. - Điều phiền toái là mày đã ngừng học hỏi còn tao thì không. Hăm dọa tao, mày thật là đồ chó đẻ.
- Anh hiểu sai hết rồi, - Sloan nói, nụ cười của hắn đã biến mất. - Hãy nghe tôi nói đây.
Hatcher lắc đầu nghĩ: Sloan không bao giờ chịu bỏ cuộc.
- Con chủ bài của mày là cái mồm leo lẻo của mày. Mày có thể thuyết phục một con quỉ dữ trở thành hiền lành. Mày trói buộc nó bằng những lời lẽ ưa thích nhất của mày: nhiệm vụ, lòng yêu nước, đồ chết tiệt, mày bán lòng yêu nước như thầy phù thủy bán mỡ rắn ấy.
- Lòng yêu nước thì có sao nào?
Hatcher không thèm biết đến câu hỏi này, anh nói:
- Điều phiền cho mày là, Harry ạ, mày tính toán thật ghê tởm. Lần đầu hai với hai là bốn. Lần tới, nó bằng bảy, bằng mười hai, bằng tám mươi hai hoặc có thể bằng bất cứ cái gì mày muốn nó phải bằng. Mẹ kiếp! Mày nghĩ mày có thể mưu hại tao hai lần trong một cuộc đời à?
- Hãy nghe một tí...
- Câm mồm! - Hatcher quát, đôi mắt long lên.
Sloan tự nghĩ, nếu ta qua khỏi được một hay hai phút sắp tới, ta sẽ thoát. Đó là một sự liều mạng có tính toán khi đối diện với Hatcher. Vì thế, Sloan câm họng. Hắn dựa lưng vào ghế và Hatcher lùi lại vài bước, giơ thẳng tay cầm súng ngắm vào điểm giữa hai mắt Sloan. Nụ cười trở lại trên môi Sloan. Hai tay hắn dang rộng ra hai bên, hắn nói:
- Tôi mong rằng chúng ta có thế nói chuyện thân tình với nhau.
- Lạy Chúa, - Hatcher khịt mũi - Mày lại có mưu kế gì khác đây.
- Anh có nghe tôi không? Hãy cho tôi 10 phút rồi tôi sẽ rời nơi đây vĩnh viễn.
Hatcher ngắt ngang lời hắn. Cái giọng thì thầm gay gắt của anh đã thay đổi:
- Đã có lúc, Harry ạ, cái điều duy nhất giữ cho tao sống được, đó là tưởng tượng ra cái giây phút này đây. Cái điều giữ cho tao sống được, sống để tưởng tượng xem ra sao lúc tao bóp nghẹt mày. Ngay lúc này mày chỉ còn cách cái chết có một ngón tay trên cò súng.
Nụ cười trên môi Sloan nhạt đi một tí nhưng vẫn còn.
- Thôi được, vậy thì cái gì ngăn cản anh nào? - Sloan nói không hề sợ hãi.
Hatcher không để ý đến câu hỏi, nói tiếp:
- Mày sẽ rời nơi đây mãi mãi, được thôi. Tao có thể giấu xác mày dưới đám san hô, cá sẽ rỉa hết thịt mày trước khi xác mày nổi lên. Không một ai biết được cái gì đã xảy ra với mày.
- Anh có thể làm việc đó, nhưng anh sẽ không làm đâu, - Sloan nói và lắc đầu một cách tin chắc.
- Tao đã làm từ việc tồi tệ đến việc tử tế nhiều hơn mày. Mẹ kiếp, mày nên hiểu là tao đã từng làm việc cho mày.
- Anh tưởng tôi không biết anh đang chăm chút cho sự giàu có trên một vùng dài 4 cây số à? - Sloan nói, và trong một thoáng dường như giọng hắn đượm buồn. - Hãy nhìn quanh xem, tôi có vào đây với một toán lính theo sau lưng không? Tôi có vào đây với cả đống súng ống chĩa ngang chĩa dọc không? Mẹ kiếp, không!
Sloan đã suốt đời nghiên cứu các gương mặt, biết nhận ra những nét thay đổi nhỏ nhất: sự thay đổi chỉ lờ mờ của một bắp thịt, một cái nháy mắt gần như không nhận thấy, một cái mím môi nhẹ nhàng nhất, sự thay đổi bất chợt của ánh mắt. Tất cả những cái đó cho hắn biết rằng trong một khoảng khắc đã có một điều gì đó thay đổi. Điều đó giống như khi ta đi câu mà cá đã cắn câu ở đầu dây. Đã đến lúc quấn dây vào. Hatcher giỏi che giấu những cảm xúc của anh, nhưng nó vẫn có, Sloan cảm thấy được. Ta đã nắm được nó, hắn nghĩ. Chúng ta đã qua được cái phần gây gổ dễ nổi nóng nhất. Hắn nghiêng người về phía Hatcher và đôi mắt hắn lấp lánh trong khi hắn bồi thêm câu kết:
- Tôi đến đây vì một sứ mệnh nhân từ, anh bạn ạ!
Hatcher nghĩ, thối thật, hắn lại bắt đầu rồi đây. Bây giờ hắn đang uốn ba tấc lưỡi, để lại giở trò lừa gạt đây. Sloan tiếp tục nói:
- Thôi chúng ta không vờn nhau nữa nhé? Vì anh là tay cứng và tôi cũng vậy, chúng ta không cần phải chứng minh cho nhau thêm nữa, tôi biết anh, Hatcher. Tôi hiểu anh biết rằng tôi đến đây không phải để tắm nắng, vì thế anh phải rất thắc mắc. Tại sao anh không bỏ cái vật ấy xuống mà nghe tôi nói đã trước khi anh làm một việc điên dại nào đây?
Hatcher thở dài. Anh hạ súng xuống ngang đùi. Khẩu súng đu đưa lỏng lẻo trong tay anh, chĩa xuống sàn vào một điểm giữa hai chân của Sloan.
- Thôi được, hãy nghe cái sứ mệnh nhân từ đã. - Anh cười gằn. - Chắc phải là việc thượng thặng.
 
 
0

CODY

 
Sloan thu lượm các bìa kẹp hồ sơ trên sàn và xếp thứ tự lại. Hắn vứt một tập lên lòng Hatcher, nói:
- Hãy đọc cái này.
Đó là hồ sơ công vụ của Đại úy Murphy Roger Cody, Hải Quân Mỹ. Murph Cody. Hatcher chưa nghe nhắc đến cái tên này kể từ khi Cody chết ở Việt Nam lâu lắm rồi. Hatcher hỏi:
- Chuyện này là thế nào đây? Cody đã trở thành chuyện dĩ vãng 15 năm nay rồi.
- Đúng ra là 14 năm.
- Mười bốn hay mười lăm thì có khác gì nhau. Hãy đọc hồ sơ đi rồi ta sẽ bàn.
Hatcher mở tập hồ sơ 01 ra. Chẳng có gì khác các hồ sơ bình thường. Mở đầu là lúc Cody vào học U.S. Naval Academy (Trường Hải Quân Mỹ) năm 1962, và kết thúc đột ngột khi chiếc phi cơ hai máy OV - 10 của anh ta bị rơi và bốc cháy trong một phi vụ thường lệ tìm - diệt gần Bình Thủy trong vùng châu thổ sông Mekong ngày 13 tháng 4 năm 1972. Cody được thuyên chuyển về Light Attack Squadron 6 (phi đội cường kích nhẹ số 6) thuộc Lực Lượng Tuần Tiễu Trên Sông của Hải Quân (Naval Riverine Potterrol Forces), và đã thâm nhập vào xứ này tháng 7 năm 1971, 9 tháng sau thì mất tích. Có hai bằng khen hoàn thành công vụ xuất sắc và một giấy đề nghị thưởng huân chương Navy Cross (Hải Quân Thập Tự) đã được phê chuẩn khen thưởng sau khi chết.
Những báo cáo phụ gồm có một cuộn băng ghi buổi thẩm vấn hai người lái chiếc máy bay kèm với Cody, tay pháo thủ của chiếc trực thăng Huey đi cứu Cody và người chuyên viên vô tuyến; một báo cáo mật của Uỷ Ban Điều Tra Tai Nạn Hàng không (MIA) đề tháng Jaimieg năm 1978 xác nhận không tìm thấy dấu vết nào của Cody, một cuộn băng của Ban thanh tra và một giấy khai tử chính thức vào năm 1979; một báo cáo của một ủy ban khác khi xác định được vị trí rơi của máy bay vào năm 1981, nói rõ rằng xương bị cháy thành than được tìm thấy tại chỗ nhưng không thể xác định được - có thể đó là những mảnh xương còn sót lại của Cody, hoặc lẫn lộn của cả hai.
Lời ghi chú duy nhất về cha của Cody nằm trong hồ sơ công vụ dưới hàng chữ “quan hệ gia đình”. Nó chỉ ghi “‘William John Cody. Đại Tướng, Quân đội Hoa Kỳ”. Không phải lão Buffalo Bill Cody, tư lệnh tất cả các lực lượng trên chiến trường Việt Nam. Một báo cáo láo, sặc mùi quan liêu.
Có hai tấm hình, một tấm đen trắng đã mờ cũ là tấm hình cuối cùng của Cody chụp mặc binh phục Hải Quân và một tấm hình 12 x 19 cm chụp anh ta cùng với vợ và hai đứa con nhỏ trước một cây thông ngày lễ Giáng Sinh. Ngày đề phía sau là Giáng Sinh năm 1971, lễ Giáng Sinh cuối cùng của anh ở nhà.
Còn có một số tin tức cắt ra từ báo chí, trong đó có một tin rao vặt trên tờ Thời Sự San Francisco (San Francisco Chronicle) cho hay người vợ góa của Cody, Joan, đã thành hôn với một Phó Đô Đốc, hai năm sau, khi có tuyên bố chính thức là Cody đã chết. Những thông tin lạnh lùng, nặng nề và cũng chẳng có bao nhiêu.
Hatcher ngắm nghía hai tấm hình. Anh nhớ lại hình ảnh Cody cao lớn và cứng rắn với nụ cười dễ dãi, một người đàn ông ưa thích vui chơi cũng nhiều như là ưa thích gái.
Những tấm ảnh đã kích động ký ức của Hatcher mà thời gian đằng đẵng hai chục năm qua đã làm nó phai nhạt. Những sự việc lờ mờ nhảy múa trong óc anh, những cuộc vui chơi linh đình hình như là khó nhớ lại nhất, rồi đến những sự việc khác, còn những cảnh tượng có Murph Cody tham gia thì hiện lên rất rõ ràng. Một mặt, Cody là một sinh viên năm thứ hai hung bạo, một vóc dáng to lớn trên võ đài quyền Anh, đấm địch thủ không ngừng, dồn một tay đàn em vào dây bao quanh võ đài, đập những cú vũ bão vào ngực, vào đầu của thằng bé cho đến khi Hatcher và một thành viên khác trong đội phải nhảy lên đài lôi anh ta ra. Mặt khác, Cody lại là kẻ biết hối lỗi, ngay tối hôm đó đã đến bệnh viện, khóc xin lỗi vì đã đánh người lính mới trẻ tuổi gẫy hai xương sườn và sương gò má và ngồi bên cạnh anh ta suốt đêm.
Anh cũng nhớ lại nỗi sợ hãi của anh khi còn là lính mới của Cody, người nổi tiếng là kẻ hắc búa hành hạ ra trò đám lính thủy mới vào.
- Anh đã gặp hắn khi nào? - Sloan hỏi.
Hatcher suy nghĩ một lát trong khi những kỷ niệm xưa dồn dập trở lại. Ký ức trống rỗng như một căn phòng không có đồ đạc và lờ mờ những bộ mặt câm không có tiếng nói. Rồi, những kỷ niệm dần dần hiện rõ ra khi trí nhớ của anh sắp xếp lại các đoạn đời riêng rẽ của mình.
- Ngày đầu tiên là ở trường Annapolis, - anh trả lời. - Tôi sẽ chẳng bao giờ quên ngày đó...
Tháng 8 năm 1963. Một ngày nắng chói và nóng nực. Hatcher và nửa tá lính thủy khác xếp hàng thẳng người như khúc cây, lưng tựa sát vào tường trong hành lang của phòng ngủ tập thể. Đó là ngày đầu tiên của họ ở trường Annapolis, tất cả đều hoang mang và lo sợ. Hai khóa sinh đàn anh đã tập họp họ lại và giới thiệu cho họ bài đầu tiên về sự khắc nghiệt áp đặt lên một người lính thủy khóa sinh mới vào trường.
Trong hai người đó kẻ ác độc nhất là một sinh viên sĩ quan Hải quân luôn luôn cười giễu cợt tên là Snyder.
Snyder căm ghét tất cả các khóa sinh lớp dưới. Vì chính bản thân hắn cũng đã bị dần cho mềm người ra trước kia, nên hắn chẳng tội gì châm chước cho họ.
Người khóa sinh năm thứ hai kia hầu như chỉ đứng nhìn. Anh ta cao lớn, nở nang và đẹp trai mặc dù có những nét sắc sảo và hiếu chiến trên mặt làm cho anh ta có vẻ già hơn tuổi. Anh ta đứng trong tư thế duyệt binh, không rời mắt khỏi Hatcher.
Snyder dằn bước trước chàng sinh viên sĩ quan hải quân đang khiếp sợ, nói:
- Hãy nhìn những con giòi này xem, hãy nhìn quanh tụi bay, bọn giò bọ! Vào giờ này năm tới sẽ chỉ còn hai đứa trong bọn bay qua được lớp này.
Hắn dừng lại trước Hatcher:
- Mày là một thằng con nít, hử. Tại sao một thằng bất tài như mày lại vào được trường Annapolis nhỉ?
Hatcher chăm chăm nhìn thẳng, chẳng biết phải trả lời sao.
Khuôn mặt của Snyder chỉ cách mặt của Hatcher vài phân.
- Sao thế, giòi bọ, mày có nói được không? - hắn hét.
- Thưa ngài, có! - Hatcher kinh hãi trả lời.
- Mày có phải là giòi bọ không?
- Thưa ngài, phải!
- Mày còn kém giá trị cục cứt chó nữa, phải không?
- Thưa ngài, phải!
- Tao không thể nghe mày được!
- Thưa ngài, phải!
- Thôi, cút khỏi phòng lớn. - Snyder hét.- Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên. Ngay tức khắc! - Và hắn cười ngất khi thấy họ xô đẩy nhau chạy về phòng.
Một phút sau tay sinh viên sĩ quan cao lớn xuất hiện ở cửa phòng Hatcher.
- Tất cả mọi người đi ra trừ Hatcher. - Anh ta càu nhàu và cả bọn chuồn ra hết. Hatcher đứng thẳng như một pho tượng trong bộ đồng phục mới, cằm rụt vào xương quai sanh. Cody dứng rất gần nhưng không nhìn anh. Anh ta nhìn chằm chằm qua cửa sổ ra ngoài sân, nói:
- Tên tao là Murph Cody. Mày gọi tao là ông Cody.
- Vâng, thưa ngài.
- Tao nghe nói mày là một đứa trẻ sống ở hè phố. Đúng không, bọ?
- Dạ, thưa ngài, tôi...
- Chỉ nói đúng hay không!
- Đúng, thưa ngài!
- Nghe nói mày vô địch quyền Anh đạt danh hiệu Đôi Găng Vàng ở Boston. Đúng chứ!
- Đúng, thưa ngài.
Cody đảo nhìn qua anh.
- Hạng trung?
- Vâng, thưa ngài.
- Mày đừng có giương mắt ra mà có thế đấm gió đấy bọ ạ!
Cody nói rồi đi ra khỏi phòng.
Lễ Tạ ơn, 1963. Một ngày lạnh lẽo, gió thổi khắc nghiệt. “Đấm vào tường đi bọ!” Snyder rống lên khi Hatcher vừa từ phòng ăn đi ra và người khoá sinh lớp dưới này biết ngay được tình thế.
Bao nhiêu lính mới đã gục trước sự hành hạ không ngừng của Snyder, Cody và của những sinh viên sĩ quan khác. Tuy thế Hatcher cảm thấy Cody đang để ý tới anh một cách ngộ nghĩnh. Hatcher đã làm cho tất cả bọn họ ngạc nhiên. Trong khi những lính mới khác bị gầy sút đi vì thời khóa biểu khắc nghiệt và sự hành hạ thì Hatcher lại có vẻ khỏe ra qua những tháng thử thách. Vào mùa đông anh biết rằng anh có thể qua được cái năm đầu gay go đó nếu Snyder không ép buộc anh phải đối đầu.
Snyder có những kế hoạch khác.
- Hatcher là của tao, - Snyder hênh hoang nói toạc ra.
- Tao sẽ bóp nát nó. Nó sẽ cút khỏi đây trước lễ Giáng Sinh.
Hắn liên tục châm chọc Hatcher, trong phòng tắm của sinh viên lớp dưới, ngoài sân chơi, trong hành lang, những lời chỉ trích của hắn luôn luôn tỏ ra phỉ báng và nhục mạ. Cuối cùng thì việc ấy đã đến với Hatcher.
Ngay lúc này hắn lại gây gổ.
- Học viện này là dành cho những đấng nam nhi bọ ạ! - Snyder gầm từ. - Mày không phải là nam nhi, mày có biết thế không, bọ?
- Biết, thưa ngài.
- Tao sẽ coi việc loại mày ra là việc của tao. Mày sẽ chỉ là chuyện đã qua. Mày không xứng đáng làm sĩ quan trong Hải quân chỉ dành cho những đấng nam nhi.
Hatcher không nói một lời.
- Mày muốn thành sĩ quan không, bọ?
- Muốn, thưa ngài.
- Thế thì thật là khôi hài. Mày không cha không mẹ, đúng thế không? - Hatcher không trả lời. Anh cảm thấy máu nóng dồn lên mặt.
- Mày có nghe thấy tao hỏi không?
Vẫn không có tiếng trả lời.
Snyder tiến đến gần Hatcher đến độ hơi thở hẳn nóng hổi trên mặt anh.
- Mày biết người ta gọi một kẻ không cha không mẹ là gì không, bọ?
Hatcher nhìn chăm chăm ra phía trước. Anh cố giữ cho người khỏi run lên vì giận.
- Trả lời đi! - Snyder đòi hỏi.
- Có thể nó không biết câu trả lời, Snyder, - Cody nói. Hatcher vẫn nhìn thẳng phía trước; Snyder bước né sang bên và Côdy bất chợt nhìn chằm chằm vào hắn, nói:
- Có thể nó không giỏi đến mức trả lời được câu hỏi như thế từ hồi nó còn đi học cơ.
- Đúng không, bọ? - Snyder càu nhàu. Cody lặp lại:
- Thế nào bọ, đúng không?
- Thưa ngài, đúng, - Hatcher nói.
Snyder nghiêng người sang Cody và nói nhỏ:
- Nó là của tôi, Cody. Vào lễ Giáng Sinh nó sẽ là thịt cho chó ăn, - hắn cười khúc khích và bước đi.
- Chút xíu nữa là mày thua ở đây rồi đấy, bọ, - Cody nói gay gắt. - Tao đang chú ý đến mày. Bây giờ hãy nghe kỹ đây! Mọi người đều tưởng rằng đến giờ phút này mày đã bị gạt bỏ, nhưng mày đã làm cho bọn tao phải để ý đến mày, vì thế đừng để bị loại. Snyder đang tìm cách khiêu khích mày, và nếu nó đạt được, mày phải ra đi. Mày đã chịu đựng được tới giờ này, hãy cố mà chịu đựng. Vài ba tháng nữa mày là sinh viên năm thứ hai thì không một ai dám lộn xộn với mày nữa.
- Ông ta có điều gì thù ghét tôi, thưa ngài?
- Hắn là thằng háo danh. Hắn nghĩ rằng mày không xứng đáng với tăm tiếng của nơi này.
- Ngài có nghĩ thế không, thưa ngài?
- Điều người khác nghĩ không quan trọng gì hết, điều đáng nói là những gì tao nghĩ. Và phải nhớ là, chúng ta chưa hề có buổi nói chuyện này, - Cody làu bàu rồi bỏ đi.
 
- Anh và Murph Cody đã rất thân thiết với nhau trong một thời gian phải không? - Câu hỏi của Sloan kéo Hatcher trở về thực tại. Anh nhìn chằm chằm vào hắn mấy giây rồi nói:
- Phải... chúng tôi đã cùng học ở Annapolis. Tôi không gặp anh ấy nhiều sau khi chúng tôi tốt nghiệp. Anh ấy vào không quân còn tôi thì vào ngành tình báo. Nhưng tại sao? Tại sao lại chú ý đến Cody?
- Anh biết thế nào rồi. Ngài đại tướng không bao giờ nguôi nỗi buồn về cái chết của anh ta. Tôi đoán ông ấy chỉ muốn xem xét lại toàn bộ sự việc.
Hatcher nhíu mắt. Sloan đang nói dối và anh biết điều ấy. Nhưng chẳng phải âm sắc của giọng nói hoặc vẻ mặt của Sloan làm cho anh nổi giận.
- Đừng chọc cáu tôi, Harry. Chẳng phải anh tìm ra dấu vết của tôi rồi đến thẳng nơi đây để tán gẫu về Murph Cody. Anh tưởng tôi đã trở nên đần độn kể từ lúc tôi gặp anh lần chót à?
Sloan chắp hai tay lại ra vẻ biết lỗi. Nụ cười càng mở rộng hơn khi hắn gặp trở ngại. “Nào, xin hãy bình tĩnh. Hãy kể cho tôi nghe thêm vài phút nữa, đồng ý chứ?”
Hatcher dịu xuống. Anh đang tò mò và cũng chẳng mất mát gì khi theo đuổi cái trò chơi này dù cho nó là cái gì đi nữa. Anh kể tiếp:
- Được, hồi đó tôi đã ở Annapolis một thời gian dài, khoảng từ 1963 đến 1967. Tôi đã dự lễ cưới của Cody. Lúc ấy là năm...
- Sáu mươi chín, - Sloan nói và chỉ vào tập hồ sơ. - Nó nằm trong ấy.
- Rồi tôi không gặp lại anh ấy nữa từ khi về đội.
- Tại sao?
Hatcher ngừng một lát rồi nói:
- Chúng tôi đã cãi nhau. Dù sao thì đầu tiên cũng là do Cody thô bạo, khoái hành hạ người khác. Dường như anh ta muốn người ta phải trả ơn anh ấy. Cody rất thích được trả ơn. Có lẽ điều ấy có liên quan đến việc anh ta là con trai của Buffalo Bill.
- Sao lại như thế được? - Sloan thúc giục.
- Này, anh biết không, Polo phải tiến bộ. Theo tôi còn nhớ thì ngài đại tướng không tha thứ cho bất cứ sự chểnh mảng nào.
- Anh ta chơi Polo à?
- Tôi đã gọi anh ta là Polo (1) hả? - Hatcher ngạc nhiên trả lời. - Chúa ơi, tôi cũng chả hề nghĩ đến cái tên đó, tự nhiên nó tới. Polo là một biệt danh, viết tắt của từ Polaroid (nghĩa là: phim cực nhạy). Cody nhớ rất tài, có thế nhớ như chụp lại mọi điều: mặt mũi, tên tuổi, công thức toán, bất cứ cái gì người ta đã nói đến. Vì vậy mọi người trong nhóm cũ ở học viện gọi anh ta như thế.
Anh lại ngừng lời khi những hình ảnh mới hiện ra trong trí nhớ.
- Này, anh ấy là một người tốt, rất thành thật, thích quậy một tí... Hatcher nhìn lại tấm ảnh gia đình Polo chụp vào lễ Giáng Sinh. Hình như người đàn ông trong tấm ảnh chụp lễ Giáng Sinh có vẻ nhỏ hơn và buồn hơn tay Cody mà anh còn nhớ. Rồi Hatcher nhớ lại những ngày nghỉ lễ Giáng Sinh vào cái năm thứ nhất ấy - ...và yêu đàn bà.
Lễ Giáng Sinh, 1963. Tuyết rơi nhẹ, đủ để gọi là lễ Giáng Sinh Trắng (White Christmas) và làm cho việc xa gia đình Cirillo lần đầu tiên của Hatcher trở thành một sự đau buồn. Hatcher thu người chống lại cơn gió, băng ngang qua sân cỏ, đầu cúi thấp. Hết tiền và chẳng có chỗ nào để đến, anh nghỉ lễ Giáng Sinh ngay tại học viện cùng với một số các khóa sinh sĩ quan khác. Trong khi băng ngang sân cỏ giá lạnh, anh nghe có tiếng la hét và tiếng gì như là đồ đạc bị rơi đổ.
Lạy Chúa, Hatcher nghĩ, có hai thằng đang đánh nhau. Anh chạy vào phòng ngủ của sinh viên năm thứ hai và leo lên lầu hai. Tiếng ầm ĩ vang lên từ phòng của Cody.
Trong phòng là một quang cảnh bừa bãi. Sách vở, giấy tờ, quần áo vứt lung tung khắp sàn. Cody đang ở trong cơn điên cuồng, loạng choạng đi quanh phòng, la hét, chửi thề, nước mắt đầm đìa. Anh ta nhấc chiếc ghế tựa quay về phía cửa sổ và định ném ra ngoài. Hatcher vội nhảy vào phòng chụp lấy chiếc ghế. Cody quay lại, khuôn mặt giận dữ đỏ dừ vì say.
- Mày làm cái quái quỉ gì đây, bọ!
- Trời đất! Ngài sẽ bị phiền phức đấy, thưa ngài. Viên sĩ quan trực nhật nhất định sẽ nghe thấy!
- Kệ xác thằng cha sĩ quan trực do thám ấy, bọ!
Hatcher nhìn qua cửa sổ. Viên sĩ quan trực nhật đang chạy băng qua sân dưới làn tuyết về phía nhà ngủ này.
- Bỏ mẹ! - Hatcher nói.
Anh vội đặt chiếc ghế xuống và chạy gấp quanh phòng xếp lại đồ đạc, gom giấy má để vào góc bàn, ném vội quần áo vào trong tủ và đóng cửa tủ lại.
- Mày nghĩ gì về việc mày đang làm hả bọ? - Cody hỏi.
- Sĩ quan trực nhật đang lên đây đấy, - Hatcher nói. -Nếu ông ta bắt được ngài đang say rượu trong phòng thì ngài sẽ bị đuổi đấy, thưa ngài.
- Phải, thế đấy, - Cody lè nhè trả lời. - Hãy dạy cho tất cả bọn chúng một bài học.
- Tất cả ai cơ, thưa ngài?
- Hãy lo việc của mày.
- Vâng, thưa ngài.
Hatcher nghe tiếng cửa trước của nhà ngủ mở ra và đóng lại.
- Ông ấy đang lên đấy, - Hatcher lo sợ nói.
- Chúng ta đang nói về ai đấy?
- Viên sĩ quan trực nhật khốn nạn, thưa ngài.
- Mặc xác hắn.
Hatcher vội nắm lấy Cody và lôi anh ta về phía phòng tắm, Cody cằn nhằn:
- Cái quái quỉ gì thế...
Hatcher đẩy anh ta vào phòng tắm và mở vòi hoa sen. Anh quay ra đóng cửa lại rồi đi đến tủ đựng đồ của Cody lấy ra đôi giày và bộ đồ đánh giày. Anh đã nghe tiếng viên sĩ quan trực nhật tiến lại gần phòng. Anh hốt hoảng bắt đầu đánh giày thì vừa lúc viên sĩ quan trực nhật đấm cửa.
- Ông Cody?
Hatcher ra mở cửa.
- Mày đang làmgì ở đây đấy, bọ? - Viên sĩ quan trực nhật hỏi, mắt nhìn Hatcher chằm chằm.
Hatcher giơ chiếc giầy và mảnh vải ra, nói:
- Tôi đang đánh giầy cho ông Cody, thưa ngài.
- Cody đâu?- Viên sĩ quan trực nhật hỏi, lách qua Hatcher bước vào phòng. Từ sau lưng ông ta, Hatcher nhìn thấy một chai Vodka đã khui nắp ở trên sàn ngay dưới chân giường. Hatcher hết sức thận trọng từ từ đi đến bên giường và buông rơi chiếc giầy, đợi cho nó vừa đụng sàn thì anh đá ngay cái chai vào gầm giường. Viên sĩ quan trực nhật quay phắt người lại, Hatcher rập chân đứng nghiêm. “Rất tiếc, thưa ngài, - anh lắp bắp, - tôi làm rơi chiếc giầy.”
Ngay lúc đó cửa phòng tắm mở và cái đầu tóc ướt đẫm của Cody ló ra ngoài. Anh ta quấn một chiếc khăn bông ngang vai.
- Cái gì thế? - Anh ta hỏi nghiêm nghị.
- Nghe như có một cuộc quậy phá ở đây, Cody, - Viên sĩ quan trực trả lời.
- Cái rađio đấy, - Cody nói. - Tôi đã tắt rồi. Trở lại đánh giầy đi, bọ. - Anh ta đóng sầm cửa lại.
- Vâng, thưa ngài!
Viên sĩ quan trực nhật cáu kỉnh đi ra, ông ta nói lúc bỏ đi:
- Chỉ được vặn nhỏ thôi!
Cody ra khỏi phòng tắm. Chiếc khăn bông vẫn còn quấn ngang vai và đầu tóc ướt đầm. Nước giỏ xuống ướt chiếc áo choàng tắm. Anh ta bước vào phòng và nhìn quanh, mọp người trên hai tay và hai gối, với vào gầm giường để lấy chai vodka. Anh ta ngồi bẹp trên sàn, lưng dựa vào giường, mở nắp chai rượu và bắt đầu cười vang:
- Suy nghĩ nhanh thật, bọ, đúng là ứng phó rất tài. Uống đi!
- Tôi không dám nghĩ đến...
- Ngồi xuống và uống mẹ nó một hớp đi, bọ! - Cody nói hồ hởi và đưa cho anh cái chai. Hatcher ngồi xuống sàn cạnh anh ta, tợp một hớp, và rùng mình.
- Mày đúng là một trường hợp cá biệt, bọ ạ! - Cody nói, gần như vểnh môi lên. - Tao đang để ý đến mày. Mày có một thái độ tốt, khôi hài thật. Mày gọi đấy là gì, lối xử thế của bọn đầu đường xó chợ à?
- Tôi cho là vậy.
- Mày cho “cái gì” là vậy?
- Thưa ngài.
- Phải! - Anh ta tợp một ngụm khác và đưa cái chai lại cho Hatcher. - Ô…ng già t...ao bảo lính l... là lính, bọ ạ! Mọ... i người đều yêu mến Buffalo Bill Cody.
- Vâng, thưa ngài.
- Thế thì, cút, - Cody nói với một cái khoát tay mơ hồ. Anh ta nhìn chăm chăm xuống cái chai. Mày có nghĩ tao sẽ là đ...ô đốc không?
- Có phải đó là chức vụ ngài muốn đạt được không, thưa ngài?
- Có phải ở đây mọi người đều quan tâm đến cái đó không? Đây là Học viện Hải Quân Hoa Kỳ, bọ. Tất cả chúng ta đều có nhiệm vu..ụ trở... thành Đô Đốc trước khi về hưu, m... ày không biết điều đó à? Thế thì tại sao mày lại có mặt ở đây? Mày phải cố... cố gắng để được n...ể... ể trọng? - Anh ta líu lưỡi cười khúc khích và đưa lại cái chai.
Hatcher tợp một ngụm vodka khác, bắt đầu thấy chuếnh choáng.
- Tôi thích đại dương, - sau cùng anh nói, tay đưa trả chai rượu cho Cody.
- Tôi thích đại dương, - Cody cười gằn lặp lại. - Chúa ơi, hắn vào Annapolis chỉ vì hắn thích đại dương lạnh lẽo. Thế thì, bọ, mày thích đại dương nào nhất?
Hatcher khúc khích cười:
- Tôi thích tất cả các đại dương, chừng nào chúng còn nước.
Cody cười to.
- Th... ậ... t khôi hài. Nhưng không được rồi. Mày chưa nổi, bọ ạ. Phải n...ổi bật lên, đ...ó là một trong những việc ta phải làm ở đây, phải trở nên một ngôi... ngôi sao s...s..a sáng.
- Ngôi sao s…s...sáng, thưa ng..ài. - Tiếng cười của họ biết thành trận cười khoái trá.
- Ngôi sao s... s... sáng, - Cody nói qua tiếng cười ngất.
- Ngôi sao s... sáng, - Hatcher lặp lại.
- Tại sao mày lại giúp tao việc này hở bọ? Tao đã quay mày kinh khủng cơ mà. Có phải vì tao đã khuyên mày cách đối xử với Snyder không?
- Có lẽ.
- Trong hồ sơ, tao chẳng dành cho mày đặc ân nào cả, Hatcher, tao là một thằng cơ hội, chắc hẳn là thằng bợm mình nhất trong đám. Năm tới tao sẽ là đội trưởng đội quyền Anh. Hiện nay Snyder là võ sĩ hạng trung duy nhất của bọn tao, nhưng Snyder có cái hàm dễ vỡ. Một cú đấm mạnh, chính xác là hắn sẽ ngồi bẹp xuống đất. Tao muốn có một đội thắng, bọ ạ, và tao cần có một võ sĩ hạng trung để làm việc đó, vì thế tao phải bám sát mày cho tới những trận thi đấu vào mùa xuân, để xem ngón nghề của mày thế nào.
Hatcher nhún vai nói:
- Phải, đó cũng là một lý do tốt. - Sau khi ngừng một lát anh nói thêm. - Nhưng ông và Snyder hạ nổi tôi cũng còn khó đấy.
Cody nhìn anh với vẻ ngạc nhiên, rồi tựa lưng vào giường đặt cái chai lên đầu gối.
- Mày cũng hiểu biết đấy, tao nghĩ là mày nói đúng. - Anh ta đưa lại cái chai cho Hatcher. - Thế mày làm quái gì ở đây, bọ? Sao không về Boston nghỉ?
- Tôi không đủ tiền. Vả lại những người mà tôi thật sự muốn gặp đang đi trượt tuyết ở miền Tây.
- Không đùa chứ? Tao cũng vậy, bọ ạ, chả có chỗ nào để đi. Ông già tao đang ở đâu đó tận miền Viễn Đông, còn bà già thì đang du lịch ở vùng biển Caribbean. Nhưng mà có khác quái gì đâu. Chỉ là một ngày khác thôi, đúng không?
Anh ta uống một hơi dài và đưa chai cho Hatcher.
- Nhưng phần chính cũng tại con đào của tao. Ngọt ngào, dễ thương tên là Cassie. Cô ta đã quyết định thành hôn với một luật sư. Mày có thể tin không, nàng chịu thành hôn với một trong những người hút máu người ấy. Nàng đã quyết định không chịu làm vợ thuỷ thủ.
- Ừa, anh chẳng thể trách nàng điều ấy được.
- Có lẽ mày nói đúng - Cody bảo. - Nàng cũng không muốn đợi thêm 3 năm nữa để thi môn thể thao ưa thích của nàng. - Cody cười rũ lên và nâng chai rượu Vodka lên như thể chúc nàng, nói:
- Thôi, cho qua đi cả thể thao lẫn Cassie!
Anh ta uống một ngụm và đưa chai cho Hatcher.
- Tôi hiểu chuyện ấy, - Hatcher nói. - Đào của tôi đã bỏ rơi tôi để theo một thằng đô vật. Có thể nói là sỉ nhục. Cổ nó rụt lại và bắp thịt rắn chắc từ gót chân đến đỉnh đầu. - Anh giơ cái chai lên. - Thật là ngu đần!
- Mày sẽ làm gì vào đêm giao thừa, bọ?
- Chả làm gì hết!
- Có bao giờ thấy Times Square (Quảng Trường Thời Đại) vào đêm giao thừa chưa?
- Thưa ông Cody, tôi chẳng có tiền mua vé xe buýt để đi xem mấy người biểu diễn!
- Được rồi, tiền chẳng phải là vấn đề đối với tao. Để tao lo, chỉ chớ có nói với ai rằng Cody và thằng bọ Hatcher đã đi nghỉ cuối tuần cùng nhau. - Anh ta nháy mắt, cười to rồi tợp một ngụm - Chúng ta sẽ ở lại một khách sạn lịch sự, kêu phục vụ tại phòng có thể còn kiếm được hai nàng cô đơn. Và đúng nửa đêm, chúng ta sẽ xuống hòa vào đám dân địa phương này, - Cody giơ cái chai lên. - Xin chúc mừng dân địa phương.
Thế là sinh viên sĩ quan Murph Cody và thằng bọ Christian Hatcher đi tới New York đón năm mới.
Từ lúc bước lên xe buýt họ gọi nhau thân mật là Murph và Hatcher. Việc kiếm mấy nàng lẻ loi chẳng khó khăn gì, nhưng việc chọn lọc mới là vấn đề. Các quán rượu đông nghẹt, có những cuộc vui trong các phòng đông tràn cả ra hành lang và có nhiều cuộc vui ngay trên đường phố. Tình yêu thương anh em lai láng khắp nơi. Thỉnh thoảng khi dịp may đưa đến gặp được hai nàng lẻ loi, Hatcher và Cody sẽ bốc thăm bằng cách mỗi người dấu một bàn tay ra sau lưng, xòe vài ngón rồi chìa ra. Nếu tổng số các ngón tay mà lớn hơn 7 thì họ lại tiếp tục đi. Họ đã thành công trước lúc tối. Các nàng là bạn ở chung phòng. Helen, người cặp với Murph, là phóng viên nhiếp ảnh cho một tạp chí tin tức. Đào của Hatcher, Linda, là người đưa chỗ trong một nhà hát ở khu Broadway. Cả hai đều được điểm 8. Và cả hai đôi cùng ngủ chung phòng, vì thế có thêm một cảm giác kích thích do phải cố giữ cho đừng quá lộ liều vì mỗi cặp chỉ nằm cách nhau khoảng một thước.
Vào lúc 2 giờ sáng chuông điện thoại vang lên chát chúa. Helen nghe điện. “Chào mẹ, chúc mừng năm... cái gì?... Ô, không! Khi nào?... Ôi, lạy Chúa! Mẹ, con sẽ đến đó càng sớm càng tốt. Vâng, vâng...”. Nàng gác điện thoại và ngồi ở mép giường, người run rẩy nức nở, Cody ngồi dậy choàng chiếc chăn lên vai nàng.
- Việc gì xảy ra thế? - Anh ta hỏi.
- Anh của em... bị tai nạn xe... tai nạn xe... rất nặng. Em phải đến thẳng nhà thương. Họ không nghĩ là... không nghĩ là...
- Nào, nào, mặc quần áo vào. Anh sẽ đưa em đi.
- Ở tận ngoài ngoại ô Queens.
- Nào, mặc quần áo đi. Anh chả cần biết ở đâu, em không thể đi một mình được.
Cody là một gã ưa chiều chuộng gái thực sự. Cái điệu bộ ngang tàng của anh ta biến mất khi gặp các nàng, và thay vào đó là sự dịu dàng làm Hatcher hết sức ngạc nhiên. Bấy giờ Cody sốt sắng thu xếp để đi đến bệnh viện ngay. Khi họ đi rồi Hatcher và Linda nằm cạnh nhau trên giường, cái tin đụng xe vẫn còn xúc động nên việc làm tình có vẻ như quá đam mê và lông bông. Họ nằm đấy rất lâu, Hatcher thiu thiu ngủ, thức dậy, rồi lại thiu thiu ngủ. Trời vừa mờ sáng thì có tiếng chuông kêu cửa.
Linda ngồi bật dậy trên giường, thì thầm:
- Lạy Chúa, ai thế nhỉ?
Hatcher chập choạng đi ra cửa, nhìn qua lỗ kính.
- Murph đây mà. - Anh nói và mở cửa. Cody đứng ở cửa kẹp cái nón ở nách, nói:
- Chắc anh muôn biết tin anh của Helen, tôi nghĩ là sẽ qua thôi.
- May quá! - Hatcher nói.
- Tôi không biết số điện thoại, vì thế tôi không gọi về cho các bạn được.
- Đúng thế, chúng tôi rất vui khi biết tin này.
- Hừm...
- Gì thế?
- Tôi cảm thấy không muốn trở về đây một mình. - Anh ta trầm ngâm nói.
Linda, thu người trong chiếc áo choàng tắm, đi ra cửa đứng bên cạnh Hatcher.
- Nào vào đây, - nàng nói và kéo Cody vào phòng. Hatcher và Linda leo lên giường nhìn Cody cởi quần áo chỉ còn mặc quần lót. Khi anh ta ngồi ở mép giường bên kia đang cởi tất, thì Linda nhìn Hatcher rồi quay sang Cody nói:
- Này, anh thủy thủ, hãy qua đây nằm, chiếc giường này ấm sẵn rồi.
Cody mỉm cười, nhìn Hatcher đang ra hiệu gọi anh sang, rồi đi vòng qua và chui vào nằm cạnh Linda. Thế rồi Hatcher và Murph mỗi người một cánh tay ôm lấy Linda và họ cùng chìm vào giấc ngủ.
Khi nhớ lại đêm đó, Hatcher nghĩ: “Lạy Chúa, có bao giờ cuộc sống lại thật giản dị và trong trắng như thế? Có bao giờ tình bạn và tình yêu lại gần nhau như đêm đó?”
Rồi sáng hôm sau họ ra xe buýt trở về, đột ngột Hatcher lại trở thành “bọ” và họ làm như chuyến đi chơi đó chưa hề có.
Mùa xuân 1964. Trời vẫn còn se lạnh nhưng cách đó khoảng 100 cây số ở Washington các cây anh đào đang nở rộ, khách du lịch chụp hình đông nghẹt trên các con đường đi dạo và trong công viên. Ở học viện, Hatcher đang rảo bước qua sân nghĩ ngợi: “Còn hai tháng nữa, chỉ còn hai tháng nữa là cái khốn khổ này sẽ chấm dứt”.
Bỗng cái giọng bây giờ đã quen thuộc gọi to “Bọ!”
Hatcher lập tức đứng lại, cằm rụt vào, mắt nhìn thẳng phía trước. Cody đứng bên cạnh anh.
- Đấu thử ở phòng tập thể dục, 3 giờ ngày mai. Hãy có mặt ở đấy.
- Vâng, thưa ngài!
Hatcher đến phòng tập sớm, đấm bao trong 15 phút, giãn gân cốt, thích thú ngửi mùi cồn và dầu nóng Ben Gay quen thuộc ở đấu trường. Rồi Snyder xuất hiện, hung hăng như mọi khi.
Cody, chỉ còn vài tuần nữa sẽ là trưởng đội, điều kiển trận đấu. Khi người ta gọi đến hạng trung, Cody biết chắc là Hatcher và Snyder sẽ đấu với nhau.
- Ba hiệp, - anh ta nói. - Người thắng ra nhập đội, người thua đi ra đống xương. Nhưng hoàn toàn theo lệnh tôi, không đánh xấu. Hãy bắt tay nhau rồi ra đấu.
Anh ta kiểm soát đôi găng của Snyder, vỗ vai hắn, rồi đi qua góc của Hatcher và nghiêng người kiểm soát giây cột găng, nói thật nhỏ: “Tao đã bảo mày hàm nó dễ vỡ lắm. Nó có cú đấm móc tay trái như một quả thuỷ lôi. Nó sẽ tìm cách sáp lại để thụi mày bằng tay trái. Đấm vờn trong hai hiệp đế làm nó chậm đi, di chuyển sát vào và giữ phía trên bên trái cho nó không đấm được. Một cú chính xác vào bất cứ chỗ nào từ cằm đến tai là mày hạ nó đo ván”.
Đó là lời khuyên đúng đắn. Hatcher bám phía bên trái của Snyder, liên tục đấm và di chuyển, nép sát người vào phía trái của Snyder nên hắn không thế sử dụng thoải mái cánh tay được. Hai lần anh bị những cú đấm mạnh, chính xác nhưng đều tránh được và phản công thật nhanh bằng những đòn phối hợp của riêng anh. Anh nhanh hơn Snyder và anh nhanh chóng nhận ra mình trội hơn. Snyder là một đối thủ vững vàng, thận trọng vờn quanh đối thủ tìm một khe hở để chọc vào. Hatcher không cho hắn cơ hội. Rồi Snyder di chuyển. Hắn tiến sát vào, phóng tay phải ra và rồi phóng tay trái lên rất mạnh. Hatcher hứng quả đấm vào vai, và kia ngay trước mắt anh là cái hàm dẹp và xấu xí của Snyder. Hatcher tung một quả đấm nặng tạt thẳng qua vai Snyder vào đúng ngay hàm phía dưới tai. Anh cám thấy sức mạnh của quả đấm dội ngược theo tay anh lên đến vai, nhìn thấy cặp mắt của Snyder đảo lia lịa không kiểm soát được, nhìn thấy đôi chân hắn mềm ra như bún. Snyder quay nửa vòng và ngã vật xuống sàn.
Cody băng qua võ đài, nhìn chằm chằm vào thân hình quằn quại của Snyder một lát, rồi gật đầu với Hatcher. “Chào mừng, gia nhập đội”, anh ta nói với nụ cười khoái trá.
Ngày lễ tốt nghiệp năm 1964. Ngoài phòng của Hatcher dường như thường xuyên có tiếng chân rầm rập của các sinh viên sĩ quan chạy đi chạy lại qua sân để chuẩn bị quần áo cho lễ duyệt binh. Hatcher đang sửa soạn lại nón thì Cody xuất hiện ở khung cửa, khuôn mặt diều hâu nghiêm nghị sáng ngời.
- Được rồi, các anh vẫn còn là bọ cho đến sau lễ duyệt binh. Mọi người ra ngoài trừ Hatcher.
Những người ở chung với Hatcher vù ra khỏi phòng. Hatcher đứng nghiêm trước mặt Cody, nhưng lần đầu tiên anh nhìn thẳng vào mắt của người khóa sinh lớp trên, một hành động bị cấm đối với các lính thủy học năm thứ nhất.
- Này bọ, mày có biết con chim “Floogie” là chim gì không? - Cody hỏi.
- Thưa ngài không.
- Chim “Floogie” là một con chim kỳ lạ bay theo những vòng tròn đồng tâm nhỏ dần hoài cho tới khi nó biến mất luôn, từ lợi điểm này nó bắn đồ thối tha vào địch thủ của nó. Đó là chim “Floogie” đấy, bọ ạ. Xong nhé! Thưa ông, ông đã qua một thời gian nhọc nhằn, nhưng nhờ Thượng đế chả có gì bẻ gẫy ông được. Bây giờ ông là một con chim “Floogie”, ông bạn ạ, và ông có thể bắt đầu bắn đồ thối tha vào địch thủ.
- Vâng, thưa ngài!
Cody lấy ra từ dưới áo choàng một chai rượu vodka. Một nụ cười toe toét nở rộng trên gương mặt diều hâu nghiêm nghị. Anh ta đưa cái chai cho Hatcher.
- Xin mời ông trước, ông Hatcher. Mừng đón ông lên tàu.
Và trong hai năm tiếp theo anh ta và Hatcher là hai người bạn và đồng đội không thể chia lìa.
 
... - Dù sao Cody cũng đi trước tôi một năm, - Hatcher nói với Sloan. - Anh ấy vào thẳng Không Đoàn Hải Quân (Navy Air Corps) khi tốt nghiệp. Tôi thì vào ngành tình báo. Chúng tôi không gặp nhau sau đó, nhưng chúng tôi vẫn giữ liên lạc. Rồi vào năm 1969 anh ấy nhờ tôi đến đưa khách mời vào chỗ cho đám cưới của anh ấy.
- Rất sang, tôi nghe nói thế.
- Giới thượng lưu ở thủ đô, đặc thù của tiệc tùng ở Washington, đại biểu quốc hội, Thượng nghị sĩ, đô đốc Hải Quân, Đại tướng, những diễn viên lớn của Đài truyền hình, tất cả bọn họ đều có mặt ở đấy.
- Trông vợ hắn thế nào? - Sloan hỏi.
- Mẫu người tuyệt mỹ, lạnh lùng, một người đàn bà tuyệt đẹp, ăn mặc trang điểm tuyệt vời. Có đầy đủ các điều kiện, học hành đến nơi đến chốn, kiến thức phong phú, đàng hoàng, rất đàng hoàng.
- Và anh không thích cô ta?
- Không phải, tôi nghĩ rằng nàng không thích chúng tôi. Những bạn học cũ của anh ấy ồn ào quá. Cha của nàng là một Thuỷ sư Đô Đốc, anh đã biết loại người ấy, - Hatcher nghĩ lại các ngày ấy, một sự trưng bày đồng phục và các người lắm mồm. - Tôi nghĩ Polo không hạnh phúc với cuộc hôn nhân này.
- Điều gì làm anh nghĩ thế?
- Tôi không biết. Hình như hôm ấy anh ta cáu kỉnh ghê gớm. Còn hơn là Cody ngày xưa thích hành hạ người khác ở học viện. Tôi chẳng hiểu tại sao anh ta lại như thế. Vào thời điểm đó anh ta đã làm đúng mọi việc. Tốt nghiệp học viện, vươn lên qua học tập bay, cưới con gái của một đô đốc.
- Giống như hắn điền vào các chỗ trống của một tờ mẫu vậy. - Sloan hói.
- Rất đúng. Tôi chẳng hiểu quái quỉ làm sao anh ta lại vào Giang đoàn dòng sông Nâu (Brown River Navy).
- Hắn tình nguyện.
- Không đùa chứ? Hùng hổ cho đến cùng!
- Bố vợ hắn cố ngăn việc ấy nhưng theo tôi hiểu thì Cody nhất quyết, - Sloan nói.
- Thật là một hành động đáng vứt vào sọt rác, - Hatcher nói.
- Dù sao thì việc đã rồi, - Sloan nhún vai. - Và anh không gặp lại hắn nữa từ sau lễ cưới à?
- Một lần. Ở căn cứ Không Quân San Diego. Tôi đi kiểm tra an ninh, còn anh ấy đang đóng ở đấy.
- Chắc ngay trước khi anh về đội?
- Ừ. Tôi đã tuyên bố xin thôi công tác... Đại khái là chúng tôi đã cãi nhau.
- Về chuyện gì?
- Cần phải biết à?
- Tôi nghĩ rằng không.
- Tôi chẳng bao giờ gặp lại anh ấy sau lần đó. Và tôi tin chắc là không thể gặp được anh ấy bây giờ.
- Đừng quá tin chắc như vậy. - Sloan nói và nụ cười nhăn nhở của hắn trông ranh mãnh.
- Anh định nói gì? - Giọng thì thầm của Hatcher hỏi.
- Cứ cho là tôi báo cho anh biết, tôi đã được tin Murph Cody còn sống.
- Ở đâu? Anh ây là tù binh à?
- Hắn tự do như gió lồng lộng ấy. Ở Bangkok.
Hatcher hơi giật mình khi nghe địa danh này.
Bangkok. Nơi anh đã cuốn gói đi và gạt nó sang bên mãi mãi.
- Loại tin tức đó thế nào?
- Tôi tin tưởng.
- Anh chưa trả lời câu hỏi. Nguồn tin này có đáng tin cậy không?
- Một chính trị gia nghiệp dư người Thái muốn sang Mỹ miễn phí và muốn được cấp hộ chiếu cho biết. Theo tin tức của chúng tôi thì Cody đang bị theo dõi, vì thế hắn chạy trốn.
- Ai theo dõi?
- Băng Bạch Thủ (The White Palms). - Sloan nói.
- Đó là băng làm ăn ở Macao. Bọn chúng đang làm gì ở Bangkok? - Hatcher hỏi.
- Đấy là nguồn tin. Anh thì đã xa nơi đó một thời gian dài. Các băng Tam kết khốn kiếp ấy bây giờ có mặt khắp nơi.
- Thằng cha đó chơi trò gì đấy? Thuốc phiện à?
- Chúng tôi không chắc. Chúng tôi nghi hắn là người liên lạc của băng Bạch Thủ. Nhưng chúng tôi chưa tìm hiểu sâu việc ấy vì có những lý do nhất định.
- Những lý do nhất định nào? - Hatcher thì thầm hỏi, mặc dù anh đã biết câu trở lời thế nào rồi. Nếu Murph Cody còn sống ở Bangkok và đã im hơi lặng tiếng bao nhiêu năm nay thì phải có một lý do. Và nếu bên ngành quân báo không biết lý do thì điều ấy không hay cho Cody.
- Đừng làm bộ khù khờ, - Sloan nói. - Hắn đang làm cái quái gì ở Thái Lan? Ý tôi muốn nói nếu hắn còn sống, tại sao hắn không lộ diện?
Hatcher có thể nghĩ ra rất nhiều lý do, nhưng chẳng có lý do nào tốt cả.
- Có thể anh ấy bị mất trí nhớ. - Cuối cùng anh nói.
- Ừ, và cũng có thể tôi là nữ tài tử Doris Day nữa? - Sloan trả lời.
- Có khả năng như thế. Anh ấy có thể bị mất trí nhớ.
Cũng có khả năng Cody là một cộng tác viên, hay một kẻ phản bội hay một kẻ đào ngũ, hoặc anh ta dính líu vào việc buôn bán ma túy, sát nhân, buôn nô lệ da trắng hay một tội nào đó trong bao nhiêu trọng tội mà Hatcher có thể nghĩ ra.
Sloan rõ ràng cũng nghĩ những điều như thế trong đầu. Hắn nói:
- Tôi chẳng nghĩ ra được cách nào hay để làm sáng tỏ việc này, nếu nó có thật. Khởi đầu có thể nói đến việc đào ngũ. Nếu hắn chưa bị giết thì hắn vẫn còn thuộc về Hải Quân Mỹ, cả linh hồn lẫn thể xác.
- Cái thắc mắc là tại sao anh ấy lại lặn mất ở nơi ấy? - Hatcher nói - Điều tôi muốn nói là nếu anh ấy không bị giết và không ở Hà Nội thì anh ấy ở nơi quái nào?
- Mà ở nơi nào cũng thế thôi, bên Hải Quân tin chắc hắn đã chết trong chiến đấu.
- Có thể đó là cách thoát thân của anh ấy.
- Hay là cái bẫy của hắn.
Hatcher chậm rãi gật đầu:
- Nếu là cái bẫy của anh ấy thì có liên quan gì đến tôi?
- Không một ai biết Thái Lan bằng anh, Hatcher. Anh biết những kẻ tốt và những kẻ xấu, và anh đã làm việc với cả hai phía. Tôi không thể để cho bên quân báo làm việc này vì mọi người ở Lầu Năm Góc sẽ biết chuyện trong vòng một tiếng đồng hồ. Việc này không thể đưa ra công khai. Nếu Cody còn sống và bị dính vào việc nào đó không đàng hoàng, thì cần phải cân nhắc đến tiếng tăm của Ông Già.
- Không đàng hoàng, - Hatcher lầm bầm và cười gằn. Rất khéo, Harry.
- Anh đã rõ, - Sloan tiếp tục. - Chúng tôi cần người biết vùng đất ấy và biết giữ im lặng. Không một ai tôi quen lại giỏi hơn anh về mặt giữ im lặng. Ông bạn xưa ạ! Ngoài ra, anh còn là một điều tra viên đương thời hết chỗ chê, tôi có thể nói như thế.
- Thời của tôi chưa hết cơ à, và đừng gọi tôi là bạn xưa của anh. Thế còn cái quái quỉ chúng ta ấy là ai thế?
- Khoảng nửa tá những người trong ban tham mưu cũ của Buffalo Bill, gã Thái đó tên là Wol Pot, hắn đã đến Tòa Đại sứ ở Bangkok thương lượng việc này. May mắn là tùy viên sứ quán lại là Porter, một trong những sĩ quan thừa hành cũ của Cody.
- Windy Porter ấy à?
- Ừa, anh nhớ hắn chứ?
- Mang máng thôi.
- Hắn phỏng vấn Pot. Ngay tức khắc hắn đánh giá được tình hình, giữ Pot lại và gọi tôi. Tôi đi tìm vài ba người cũ ở thành phố S lại, cùng bàn luận vân đề. Cuối cùng chúng tôi phải đến báo cho Ông Già biết.
- Tại sao? - Hatcher hỏi giọng thì thào.
Sloan nhìn trừng trừng vào mắt anh.
- Bởi vì Buffalo Bill đang hấp hối vì bệnh ung thư, Hatcher ạ. Ông ấy khó lòng sống được hết năm nay.
Điều đó làm Hatcher sững người. Anh nén lòng mường tượng ra Đại Tướng Buffalo Bill Cody đang bị các loại vi trùng nào đó sinh sôi nảy nở rỉa rói nội tạng ông.
- Tất cả chúng ta đều yêu mến Ông Già, đồng ý chứ? - Sloan nói, giọng của hắn khô lại. Hắn ngừng một lát, khó khăn nuốt nước bọt rồi mới tiếp tục. - Ông ấy nhờ chúng tôi giúp đỡ. Nếu con ông ấy còn sống, ông ấy mong được nhìn thấy nó một lần trước khi chết.
- Nếu anh ấy đang kẹt thì sao?
- Vì thế tôi cần anh, Hatcher, - Sloan nói, giọng vẫn còn run - Nếu hắn bị lún sâu trong bùn thì Porter chẳng thể lo được. Hắn là một thằng cớm già hết xài. Vấn đề là Đại Tướng muốn gặp Cody ở đâu đó. - Bất cứ nơi nào. Hawaii, Tokyo, Sydney. Bất cứ nơi nào Cody muốn. Chẳng cần ai phải biết việc ấy xảy ra.
- Một chuyến đi như thế chắc sẽ giết chết Ông Già mất. - Hatcher nói.
- Dù sao thì cái thời trai tráng của ông ấy cũng hết rồi. - Sloan nói với vẻ cam chịu. Có điều là chuyện này phải được thực hiện thật mềm dẻo bởi người nào biết việc, có thể lăn lộn với nó, dù cho nó biến chuyển như thế nào, thuyết phục thằng bé rằng chúng ta chẳng phải đến để bắt tội hắn, chúng ta chỉ muốn mang đến cho Ông Già một niềm an ủi cuối cùng.
- Anh ấy chẳng còn là thằng bé. Năm nay anh ấy 42 tuổi rồi.
- Hãy sang Thái Lan kiếm hắn, nếu hắn ở đó, - Sloan nói như chuyện đương nhiên phải làm. - Hoặc là để cho đầu óc của Ông Già được nghỉ ngơi...
- Thì phải chứng tỏ anh ấy đã chết, - giọng Hatcher chua chát.
- Ừ. Bằng cách này hay cách khác.
Hatcher cười lớn vì câu ấy:
- Hải quân đã tìm kiếm dấu vết của Cody trong 14 năm, - anh nói, - và anh muốn tôi đi Bangkok, thành phố có 5 triệu dân, để moi cho ra anh ấy, dễ thế à!
- Chẳng ai đi tìm Cody cả. Chừng nào mà Hải Quân còn cho là hắn đã chết. Nhưng anh, quỉ thần ơi! Anh bạn thân mến ạ, anh là người giỏi nhất mà tôi đã từng có trước nay.
- Giỏi cứt gì, Harry.
- Anh có tài, Hatcher, - Sloan nói, Chúng tôi sẽ giao Wol Pot cho anh. Chúng tôi sẽ giao Windy cho anh. Anh biết Cody. Anh thông thuộc lãnh thổ. Và anh biết giữ im lặng dù cho có việc gì xảy ra. Anh đã chứng tỏ điều đó ở Madrango. Tất cả những gì tôi muốn anh làm là đi sang đó, kiếm Cody và bố trí cuộc gặp mặt. Hoặc báo cho tôi biết hắn đã chết. Quỉ thần ơi, anh còn có cả tay Flitcraft để dùng nữa.
- Flitcraft vẫn còn trong danh sách hả?
- Hắn là nhân viên số 1 của tôi.
Hatcher tự rót cho mình một ly rượu vang khác và mân mê tập hồ sơ một lúc lâu. Cuối cùng anh nói:
- Anh biết tôi không thể trở lại đó.
- Nào, nào, đó là... cái gì? Chuyện cách đây đã tám, mười năm ấy à?
- Năm chục năm cũng chả quan trọng gì.
- Anh nhận một nhiệm vụ, tôi hỗ trợ cho anh tất cả những gì anh cần. Tôi cũng còn một số tay đấm cừ ở bên đó.
- Trao đổi cái gì với gã Thái này, tên hắn là gì nhỉ?
- Wol Pot. Này nhé, tôi chả cần biết anh làm gì với cái gã mật báo nhỏ bé ấy. Nếu hắn làm phiền anh, hãy bẻ cẳng hắn, treo cổ hắn lên giá, rút móng tay hắn ra. Tôi đếch cần.
- Vẫn là Harry ngày xưa!
- Đó là chuyện do chính mồm Wol Pot nói ra. Hãy bắt hắn phải chứng minh.
- Đó không phải là điều tôi muốn nói. Hắn đã lấy được hộ chiếu chưa?
- Nếu hắn chịu nói, tôi nghĩ tôi có thể giải thích được đôi điều cho hắn.
- Phải thẳng thắn hơn thế nữa. Nếu hắn tìm ra Cody, tôi phải biết tôi có thể cho hắn cái gì.
- Nếu hắn tìm ra Cody, chúng tôi sẽ bảo vệ và đưa hắn ra khỏi Thái Lan.
- Anh chắc chắn chứ?
- Tại sao anh quan tâm thế?
- Nếu tôi đã hứa điều gì, tôi phải giữ lời.
- Được. Thế thì anh sẽ thực hiện vụ này chứ?
Hatcher nhìn hắn trong nhiều giây. Anh đặt khẩu 357 lên bàn.
- Giá tiền sẽ là 236.600 dollar.
- Cái gì?
- Hai trăm dollar một ngày cho mỗi ngày tôi đã nằm trong cái hang chuột đó.
- Nói thật đi, ông bạn!
- Thật như đếm, Harry.
- Tôi đào đâu ra đống tiền đó?
- Hê! Hãy nhớ đây là Hatcher nhé. Anh có những trương mục từng vùng riêng trên khắp thế giới. Panama, Thụy Sĩ, quần đảo Bahamas. Và có thể anh còn để dành cho nhiều nơi khác nữa. Chua đấy!
- Anh là người giầu có, Hatcher.
- Đây là tiền bồi thường thiệt hại để trừng phạt. Cái giá của nó là 236.600 dollar. Không mà cả. Chấp nhận hoặc bỏ.
Sloan cố hết sức nở một nụ cười. Đôi mắt hắn lại lấp lánh:
- Phải nhiều hơn nữa, đúng không? Tôi có thể nhìn thấy điều đó trong mắt anh, bạn ạ. Anh đánh mất sự nhạy bén. Anh đánh mất sự bình tĩnh ngày xưa rồi. Cuộc sống quá dễ dàng. Quỉ thần ơi, khi anh đã cắn câu, anh cứ cắn mãi.
Những gì Sloan nói có một phần đúng. Nhưng không phải cái cảm giác hối hả làm người ta dễ thay đổi có thể cuốn hút Hatcher trở lại cuộc sống cũ, trở lại những nơi mà anh đã thề là không bao giờ quay lại nữa, trở lại với những người mà anh không bao giờ nghĩ là anh sẽ gặp lại; rồi lại làm việc cho Sloan, người mà có lần anh đã nghĩ là phải giết đi. Nhưng chính vì Cody, người đã từng đối xử với anh còn hơn là một người bạn, Sloan chưa bao giờ làm được như thế, còn Cody luôn luôn chân thật với anh.
- Tôi chấp nhận chuyến đi vì Murph Cody và Ông Già, thế thôi. Chẳng có quan hệ gì giữa anh và tôi cả. Nếu Cody ở đó, tôi sẽ tìm ra. Nếu không, tôi sẽ báo cho anh biết. Và nếu anh còn trở lại đây lần nữa, tôi sẽ vứt anh cho cá ăn.
Sloan nghiêng người lại gần anh hơn, hàm răng giả bóng loáng, đôi mắt xám lấp lánh.
- Anh hiểu đấy, tôi nghĩ rằng anh đứng đắn. - Hắn nói.
Hatcher mỉm cười đáp lại không một nét vui.
- Cứ nghĩ thế đi. Mạng sống của anh có lẽ tùy thuộc vào đây.



(1) Môn thể thao cưỡi ngựa chơi bóng bằng gậy.
 


 
 
 
0

CHUẨN BỊ

 
Vào lúc nhá nhem tối, nghe Hatcher gọi điện, Ginia trở lại tàu mang theo một giỏ đan dùng đi cắm trại. Nàng mở giỏ lấy các thứ ra trong khi Hatcher đưa thuyền qua kênh đào ra biển khơi chạy dọc theo bờ.
- Rau cải tươi trộn dầu dấm của tiệm Birdie, súp nghêu làm ở nhà, tôm ướp lạnh và cua nhồi của tiệm Crab Trap. Anh muốn ăn sớm hay muộn?
- Ngay bây giờ. Anh đang đói lả.
- Thế còn ông bạn ở quân đội của anh thì sao?
Anh nghiêng người sang và hôn lên cổ nàng.
- Đi rồi, - Hatcher lẩm bẩm và câu chuyện này được bỏ qua. Nàng hiểu tốt hơn không nên hỏi “Đi đâu?”. Nếu anh muốn cho nàng biết, anh sẽ kể. Rõ ràng là anh không muốn. Nàng hài lòng thấy khách lạ đã đi và Hatcher là của nàng buổi tối nay.
Nàng xuống dưới khoang, chọn một chai rượu nho đỏ trong tủ rượu, mở cho xả bớt hơi. Nàng hâm nóng thức ăn trong lò và đặt bàn. Rồi nàng mở radio vặn nho nhỏ.
- Hê, - nàng gọi vọng lên,- anh để máy điều khiển tự động và xuống ăn chứ? - Xong rồi, - tiếng anh trả lời. Nàng nghe thấy máy tắt, tiếng neo rơi xuống nước, rồi một lát sau anh xuất hiện ở phòng khách.
- Anh quyết định thả neo một lát. Chúng ta đang ở ngoài khơi đảo Sapelo. - Anh nói và thò tay vào đĩa rau trộn dầu dấm nếm thử.
- Hãy lưu ý đến kiểu cách của anh kìa, - nàng càu nhàu.
- Ngon quá! - Anh nói và rót cho mỗi người một ly vang đỏ. Họ cụng ly chúc mừng trong im lặng. Anh chồm người tới, hôn nàng thật nhẹ, nếm các vị thơm nồng của rượu nho trên môi nàng.
- Cám ơn, - nàng thì thầm, rồi để tán chuyện, nàng hỏi: - Anh quen Jimmy Cirillo bao lâu rồi?
- Lâu lắm rồi.
- Anh gặp chú ấy ở đâu?
- Trong một ngõ hẻm ở Boston.
- Ngõ hẻm à?
- Ừa. Anh đang cạy cửa một cửa hiệu, còn chú ấy là cớm.
- Anh đang đùa em đấy à?
- Không hề. - Hatcher ngả ra sau và nhận thấy anh sắp nói ra vài bí mật về gia đình. Anh cảm thấy thoải mái khi nói ra điều ấy.
- Ông già anh là một kiến trúc sư không giỏi lắm. Ông đã tự bắn vào đầu trong phòng tắm của Câu lạc bộ nam giới ở Boston vào một buổi trưa. Lúc ấy anh 10 tuổi. Ba năm sau mẹ anh bỏ theo một người, ừm,... quỉ thần ơi, anh cũng không quen, không hề thấy người đàn ông ấy. Dù sao, anh đã rơi vào chỗ bế tắc. Lúc đó anh mới 15 tuổi. Anh là một trong những tay trộm đêm lành nghề nhất ở Boston.
- Tại sao, Hatcher yêu quý, em không hiểu nổi, - nàng sửng sốt nói.
- Đó chỉ là vì sự sinh tồn, - Hatcher mỉm cười.
- Thế Jimmy đã làm gì khi bắt được anh? - Ginia tìm hiểu.
- Chú ấy tháo quân hàm và dây đeo súng ra cho khỏi phạm luật, cẩn thận đặt xuống lề đường và đét vào mông anh đến rướm máu.
Ginia bật dậy, nàng bịt tay vào miệng cười sặc sụa.
- Và cũng chưa hết. Chú ấy tìm cho anh một việc làm, thực ra chú ấy đã tìm cho anh ba việc, và cả ba lần anh đều bỏ ngang. Vì thế một đêm chú ấy túm được anh, lại đẩy anh vào cái ngõ ấy, tháo quân hàm và dây nịt súng rồi lại đét vào đít anh nữa. Rồi chú ấy bảo “Tao sẽ cứ tiếp tục quất vào đít mày cho đến khi nào mày chịu giữ một công việc và thôi chọc tao phải đánh”. Và đấy là khởi đầu của một tình bạn tuyệt đẹp.
- Chú ấy đã tạo ra anh ngày hôm nay, - nàng nói với vẻ tự hào pha chút giễu cợt.
- Ừ, - Hatcher nói và trân trọng thêm, - nhưng cái gã ở trên bến tàu cũng có nhúng tay vào nữa.
- Hắn bắt anh làm gì?
- Trở thành Đô đốc Hải quân.
- Hả?
- Đó là một chuyện khác.
Họ ăn nốt bữa chiều trong im lặng. Hatcher không có tính vừa ăn vừa nói, nhưng nàng cảm thấy như có điều gì đang đe dọa. Nàng biết trước là anh sẽ ra đi dù anh chưa nói ra điều ấy.
- Anh phải đi một thời gian.
- Ừ... hứ .... nhưng một thời gian có nghĩa là thế nào, Hatcher? Một tuần, một tháng, mười năm? - Nàng hỏi một cách vô tư.
Anh mỉm cười chồm tới và dịu dàng đặt lòng bàn tay lên má nàng, trả lời:
- Lâu hơn một tuần, hy vọng ít hơn một tháng.
- Em có thể làm gì cho anh không?
- Gọi điện thoại cho John Rogers ở ngân hàng báo anh phải đi gấp. Anh đã chuẩn bị một giấy ủy quyền cho em để em có thể điều hành thị trường chứng khoán và các tài khoản của anh. Nếu vì bất cứ lý do gì anh cần tiền, hãy chuyển tài khoản ở ngân hàng vào trương mục rút tiền của anh.
- Anh tin em đến thế cơ à? - Nàng ngạc nhiên hỏi.
Anh mỉm cười với nàng đáp:
- Tin tuyệt đối.
- Khi nào anh đi?
- Sáng mai.
Nàng cười với anh, nhưng nàng đã bất đầu cảm thấy nhớ nhung khi anh vắng mặt.
- Thế thì đừng lãng phí thời giờ, - nàng nói. - Anh có thể ngủ trên máy bay.
Anh cầm tay nàng lúc nàng đứng lên và kéo nàng sát vào anh.
Anh cởi hàng nút chiếc áo trắng nàng mặc, phanh áo ra, hai tay vuốt quanh sườn nàng và kéo nàng lại gần hôn lên cái bụng rắn chắc của nàng. Rồi mở dây lưng, kéo khóa quần xuống, cởi chiếc quần jeans của  nàng ra. Anh ghì chặt nàng hơn, hai bàn tay lướt xuống mông, nâng nhẹ nàng lên, cho hai ngón tay cái trượt qua mép chiếc si líp và bắt đầu xoa nhẹ nàng bằng cả hai ngón cái, cảm thấy người nàng căng lên.  Anh bắt đầu gặm nhấm thật nhẹ trong khi hơi thở nóng hổi của anh mơn trớn nàng. Anh nhấm nháp nàng, cảm thấy hai bàn tay nàng ghì đầu anh vào mạnh hơn. Nàng nhón chân lên, ngửa đầu ra sau, ngồi lên mép bàn và gác một chân lên vai anh. Hơi thở nàng dồn dập hơn, các bắp thịt căng cứng, nàng bắt đầu lắc cho mông quay tròn. Nàng có cái thói quen gợi tình tuyệt vời này làm cho Hatcher điên cuồng lên. Lúc nàng sắp đạt đến cơn sướng ngất người, nàng bắt đầu đếm nho nhỏ, gần như nhỏ hơn hơi thở, hổn hển giữa các lần đếm: một... hai... ba... bốn... ư hư...,ư hư... ôi… năm...sáu, bảy ... ư hư , ..ư hư ... tám, chín, mư...ời... chúa ơi, ôi!
Lưng nàng cong lên và nàng dán chặt người vào miệng anh, căng cứng người trong mươi, mười hai giây, rồi vẫn thở hổn hển nàng thư dãn người, chúi tới trước, hai tay ôm lấy đầu anh, kéo anh đứng lên, tìm môi anh, bắt được nó và bắt đầu hôn anh ngấu nghiến.
Anh bế nàng lên và đem nàng vào chiếc giường cỡ lớn ở trong phòng ngủ, nhẹ nhàng đặt nàng lên giường vừa cởi quần áo vừa hôn nàng. Rồi anh trườn lên giường bên cạnh nàng, kéo nàng sát vào anh. Nàng gác một chân lên hông anh và kéo anh sát lại.
“Chúa ơi!” anh thì thầm khi nàng bao lấy anh, thắt các cơ bắp lại, hút anh vào sâu hơn, sâu hơn, sâu hơn nữa.
Vẫn còn mệt đứt hơi, nàng thì thầm “Một tháng hở?” và anh trả lời cũng mệt đứt hơi “có thể chỉ... đôi ba tuần...”.
Nàng nằm nghiêng một bên, thiu thiu ngủ. Hatcher nhẹ nhàng tụt xuống giường kéo mền lên đắp cho nàng và bắt đầu chuẩn bị hành lý. Đã có một thời cái túi xách hiệu Gurkha của Hatcher luôn luôn được chuẩn bị sẵn để ra đi bất cứ lúc nào - hai bộ đồ lớn, một áo khoác và quần dài, nửa tá áo sơ mi, đôi cà vạt, thêm một đôi giày và quần áo lót cùng bộ đồ cạo râu. Những thứ cơ bản. Không có gì thừa. Và anh nhanh chóng trở lại thói quen chuẩn bị cho chuyến đi.
Trong khi Ginia đang ngủ, anh đẩy một tấm ván trên vách ngăn ở đầu giường, mở một cái tủ khóa an toàn xây trong vách và lấy ra một hộp sắt nhỏ. Anh mang nó ra cabin chính và kiểm tra lại bên trong. Anh lấy ra một phiếu tiền gởi ngân hàng 50.000 dollar, một chi phiếu du khách 20.000 dollar và 10.000 dollar tiền mặt. Anh không bao giờ dùng thẻ tín dụng vì dễ để lộ dấu vết. Anh cũng lấy ra hai hộ chiếu, một hộ chiếu Mỹ còn hiệu lực, tấm kia là hộ chiếu Pháp giả. Cả hai tấm đều ghi anh là nhà báo và phóng viên truyền hình tự do. Xong, anh trả chiếc hộp về chỗ cất giấu.
Khi quay trở lại phòng chính, anh lấy một chiếc cặp bằng nhôm hiệu Halliburton từ trong tủ chứa đồ mang vào. Rồi mọp người xuống, anh bò qua một khung cửa nhỏ dưới gầm chiếc thang dẫn lên phòng lái để chui vào một khoang hẹp dưới sàn tàu phía sau. Một cái hộp không thấm nước được thiết kế trong vỏ tàu. Khi Hatcher mở ra thì một ngọn đèn tự động bật sáng. Bên trong là một ô nhỏ đựng súng đạn: 2 khẩu súng ngắn 357, một khẩu súng ngắn H&K 9 ly, một khẩu M-16, một khẩu tiểu liên Uzi 9 ly. Có rất nhiều băng nạp đạn sẵn cho mỗi thứ vũ khí. Ngoài ra còn có 4 cuộn dây khoảng 3 thước mỗi cuộn. Những cuộn dây này thực ra là chất dẻo C-4. Một vũ khí được gói trong cái túi Hefty màu xanh lá cây. Hatcher lấy cái túi đó, 2 cuộn C-4, đóng cửa và khóa khoang lại, rồi quay về ca-bin chính.
Anh trải một tấm khăn lên bàn ăn, lấy thứ vũ khí để trong túi ra đặt lên tấm khăn. Đó là một khẩu Aug, súng trường tự động dài khoảng 4 tấc, ống ngắm có khả năng cho nhận ra mục tiêu ngay tức thời, phần ổ đạn và hệ thống cò súng bằng nhựa cứng loại đặc biệt không bị han rỉ. Khẩu súng hoàn toàn không thấm nước. Tất cả các loại vũ khí khác mà Hatcher quen thuộc, từ khẩu M-16, Uzi đến Mac-10 đều dễ bị hơi ẩm lọt vào nòng súng và sẽ nổ tung nếu nước lọt vào. Nhưng khẩu Aug thì không. Nó thật sự có thể bắn ngay khi vừa nhấc từ dưới nước lên.
Ký ức của anh lại bắt đầu khuấy lên, một thứ đau đớn đã quen từ lúc ở nhà tù Los Boxes. Anh gọi nó là sự đau đớn bởi vì anh đã sớm học được ở Sloan rằng ký ức chỉ có giá trị cho một việc duy nhất: tham khảo. Nhưng bây giờ, nhìn chăm chăm vào khẩu Aug, anh nhớ lại lần đầu tiên anh sử dụng súng.
Sloan đã điều một phi cơ bay ngược dòng sông đến điểm hẹn Boston, một điểm neo trên sông Chu gần một làng nhỏ. Chiếc trực thăng bốc Hatcher và đưa anh trở lại một căn cứ tiền phương trong vùng châu thổ sông Mekong. Sloan đang đợi anh với chai rượu mạnh mà hắn vớ được cho đêm nay.
- Tôi gặp một vấn đề, - Sloan nói qua ly rượu gin. - Có một thằng cha người miền Nam làm việc cho chúng tôi tên là Di Tran. Hắn là một tay tình báo tốt. Vợ hắn, mẹ hắn và hai đứa con nhỏ đều đã chết trong chiến tranh vì thế hắn có điều kiện làm việc nhiều. Hắn là đường dây mật của chúng tôi từ 6, 7 tháng nay. Tin tức rất đáng tin cậy.
Sloan ngừng một lát, úp hai tay lên bàn, nói:
- Hắn đã biết có sự trục trặc, nhưng hình như hắn làm ra vẻ không biết đến sự trục trặc đó, - Sloan xòe các ngón tay ra, ngắm các ngón tay trong nhiều giây rồi tiếp tục, - khoảng một tuần trước hắn tiếp xúc với Swing Man (Người Đu) và xin một điểm hẹn. Chúng tôi đã gặp hắn và hắn trao cho chúng tôi cuộn băng này.
Sloan đút cuộn băng vào máy và bấm nút phát. Một giọng đàn ông cao và nhỏ đượm vẻ sợ hãi “Hôm qua tôi vừa nhận được tin một người Mỹ bán tin tức cho tàu nghiên cứu vũ trụ. Hắn đã đưa tên của ba điệp viên người Việt hoạt động ở miền Bắc cho Shadow Brigade (Lữ Đoàn Bóng Tối). Một trong số đó là tên tôi. Tôi sợ rằng chỉ trong thời gian ngắn họ sẽ khám phá ra tên thật của tôi. Tôi phải báo cho hai bạn tôi biết mối đe dọa đối với họ trước khi tôi chạy trốn. Xin sắp xếp buổi gặp mặt cho chúng tôi ở điểm hẹn Boston sau hai ngày nữa. Thứ tư. Lúc mặt trời lặn. Nếu quá hai tiếng đồng hồ không thấy tôi, các ông có thể coi là chúng tôi đã bị bắt. Người Mỹ này đã trả 10.000 dollar cho mỗi cái tên. Hắn hứa sẽ bán thêm cho họ nữa. Tên hắn là Norgling. Tôi ngưng, các bạn”.
Hatcher vụt ngẩng lên khi nghe đến cái tên Norgling.
- Anh có biết tên Norgling này là ai không?
Sloan gật đầu:
- Hắn đang nói về Chick Norgling! Hắn cũng ở trong đội như anh. Làm nhiệm vụ đưa người qua lại.
- Vì thế hắn biết tin đó?
- Và cả các mật mã, bản đồ, các bản tin tổng quát và tin tức cơ bản về đội, - Sloan nói - Bây giờ thì anh hiểu tại sao chúng tôi bảo vệ bí mật của từng cá nhân trong tổ chức này. Norgling cũng chỉ giống như những người còn lại trong các anh, hắn chỉ biết những người liên lạc trực tiếp với hắn.
- Có nghĩa là anh... - Hatcher nói.
Sloan từ tốn gật đầu. Hatcher nói tiếp.
- ... Phải loại hắn trước khi hắn bán thêm bất cứ tin tức gì cho họ.
- Tôi không thể cho bắt hắn mà chỉ dựa vào cái đó, - Sloan nói, hất đầu về phía máy cassette. - Phải để hắn bào chữa chống lại tiếng nói trên băng. Không có chứng cứ hậu thuẫn, ông Chánh án Tòa án Quân sự sẽ cười vào mũi tôi.
- Thế còn gã Di Tran?
- Chúng tôi đã cho một trực thăng vào đón nhưng không thấy hắn xuất hiện ở điểm hẹn. Chúng tôi phải cho là hắn đã chết.
- Thế thì thằng Norgling sẽ làm bể hết toàn bộ chương trình của anh.
Sloan nhìn xuống hai bàn tay vài giây nữa, gục gặc đầu rồi nhìn lên Hatcher.
- Chúng ta sẽ tính đến hắn. Tôi sẽ bố trí để hắn gặp anh ở một nơi nào đó. Hãy bảo hắn là có một công tác cần đến hai người. Khi hắn lộ diện, hạ hắn ngay. Có thể ở phía thượng nguồn.
- Không. Có quá nhiều tai mắt trên sông. Chúng ta sẽ thực hiện ngay tại Sài Gòn. Khách sạn Công Chúa. Tôi hạ nó, anh chôn nó.
- Khá công bằng.
Bảy giờ tối ở lầu 4, khách sạn Công Chúa. Nếu Norgling nhạy bén, nếu hắn nghi ngờ điều gì, hắn sẽ đến sớm để Hatcher bị bất ngờ. Hatcher quá rành cái trò ấy.
Quả nhiên Norgling đã đến từ 7 giờ kém 15. Thấy cửa phòng Hatcher mở hé, hắn nới lỏng áo choàng, thọc tay vào nách nắm báng súng, rồi thận trọng bước vào.
Phòng ngủ không người. Hắn nghe tiếng nhạc vọng ra từ phòng tắm.
- Xin chào! - Hắn nói to.
- Ở trong này - hắn nghe thấy tiếng Hatcher trả lời. - Đóng giùm cửa lại nhé.
Norling đóng cửa lại và từ từ tiến lại gần phòng tắm. Hatcher đang ở trong bồn tắm, đầu dựa lên thành bồn, trầm mình trong bọt xà phòng. Có một chai rượu vang đỏ trên sàn bên cạnh bồn tắm và ly rượu còn một nửa. Còn một cái ly khác trên bệ rửa mặt.
Hatcher nhìn lên và mỉm cười.
- Norgling?
- Phải.
- Xin lỗi, tôi không đứng dậy được. Hãy cầm ly và kéo ghế lại.
Anh có thể nhìn thấy mặt Norgling dịu xuống. Các bắp thịt ở miệng dãn ra, nụ cười đến dễ dàng, toàn thân hắn thư thái hẳn.
Một thằng thật tài tử, Hatcher nghĩ.
Trong lúc Norgling đang rót rượu vang, Hatcher nói:
- Cái thằng quỉ nào đã bán ba người bạn lấy 30.000 dollar hử?
Norgling phản ứng tức khắc. Hắn buông rơi chai và ly rồi thọc tay móc súng. Nhưng Hatcher đã vung tay phải ra khỏi bồn tắm. Khẩu Aug nằm trong tay anh khạc đạn, khi vừa ra khỏi nước, bọt xà phòng bắn tung tóe ra khỏi nòng súng trong lúc các đầu đạn vạch một đường từ bụng Norgling lên đến ngực rồi xoáy một vòng nhỏ. Chín phát đạn trong vòng chưa đến một giây - chín phát trúng, bốn phát ngay tim. Thân Norgling ngã dập vào bức tường lát, không khí xì “phào phào” ra khỏi phổi hắn. Hai chân hắn khuỵu xuống. Hắn gục thẳng xuống trong tư thế ngồi xổm trên cái chai vỡ nát và ngã sang một bên.
Hatcher nhảy ra khỏi bồn tắm trước khi Norgling ngã hẳn xuống. Anh mở tủ đựng khăn, lôi ra cái bao đựng xác màu xanh lá cây mà anh đã dấu trước đó, nắm lấy tóc Norgling, nâng xác hắn lên trong tư thế ngồi và trùm cái bao lên đầu hắn. Rồi anh để hắn ngã ngửa ra kéo cái bao trùm xuống hết và kéo khóa lại. Anh lăn xác hắn vào góc phòng tắm, mặc quần vào, quét sạch cái ly bể và lau khô rượu vang bằng chiếc khăn bông rồi đem giặt trong bồn tắm. Xong anh đến máy điện thoại, quay số.
Khi nghe giọng trả lời ở đầu kia, Hatcher nói “Đến mang hắn đi!” rồi gác máy.
Đấy là một trong số ít lần Hatcher biết ai là nạn nhân của anh và tại sao anh hành quyết hắn. Thông thường thì chỉ là sự vâng lời mù quáng. “Hãy làm đi”, Sloan nói và Hatcher hành động. Chẳng phải chỉ làm, mà còn chấp nhận nó, tin tưởng vào nó. Nhưng bây giờ khi nhìn lại, Hatcher nhận thức được anh có thể đã bị lợi dụng. Có thể Norgling là một kẻ cứng đầu và họ muốn khử hắn đi, họ cũng có thể tạo ra cuộn băng giả và v.v....
Cũng có lẽ đó là 126 đang thì thầm bên tai anh, khơi dậy những ý nghĩ mà Hatcher không bao giờ khơi động, không bao giờ còn muốn khơi dậy nữa.
Anh quay ổ khóa số chiếc cặp Halliburton và mở ra, một miếng xốp dầy cắt vừa khít đặt trong lòng chiếc cặp. Trong đó có một máy quay video 12 ly, hai hộp pin, hai ống kính quay xa 400 ly và 200 ly, một giá đặt trên vai để gắn máy quay, 4 cuộn băng trắng hiệu VHS và nhiều dây nối được cuộn lại cẩn thận và cột bằng dây nhựa dẻo.
Tất cả đều là để ngụy trang.
Hatcher lau chùi khẩu súng thật kỹ, rồi nhanh chóng tháo ra làm ba mảnh. Anh nhét nòng súng vào trong bản lề hình ống của chiếc cặp được thiết kế đặc biệt và vặn một cái nắp nhỏ che đầu bản lề. Anh mở nắp máy quay video giả, đặt vào đấy bộ cò súng và đóng lại. Rồi anh tháo mặt kính của ống kính 400 ly ra, nhét khẩu súng vào đấy. Hai băng đạn bằng nhựa, mỗi cái chứa 30 viên, được nhét vào hai hộp pin rỗng ở máy quay vidéo giả. Anh cũng có một nòng súng ngắn, dài khoảng một tấc, dùng để biến khẩu tiểu liên thành súng lục. Anh dấu nòng súng ngắn vào ống kính 200 ly. Tất cả thiết bị đặt vừa vặn vào cặp, nặng không đến 10 ki lô.
Chiếc cặp cũng có một cái túi ẩn không thấm nước nằm dài theo túi thật, được dán bằng keo vào phía trong của nắp. Anh lột nó ra, để vào đấy tiền, giấy tờ và hộ chiếu giả. Hatcher dán túi ẩn lại và vứt vào trong túi thật nhiều cặp hồ sơ, rồi đóng cặp lại, xoay núm ổ khóa 5 số.
Tháo ra làm ba phần và được giấu vào những chỗ kín trong cặp, khẩu Aug không sợ bất cứ loại máy rà soát nào phát hiện. Khi ráp lại, nó là một trong những thứ vũ khí giết người thuật lợi nhất trên đời, một khẩu súng giết người không giật và hãm thanh. Tiếng nổ to nhất cũng chỉ bằng tiếng cò súng nổ. Nó bắn chính xác trong vòng 450 mét. Đó là vũ khí duy nhất Hatcher mang theo. Đạn dược có thể tìm ở bất cứ nơi nào trên thế giới, chẳng trở ngại gì.
Anh trở vào phòng ngủ, nhanh chóng xếp đồ vào túi hiệu Gurkha, kéo khoá lại và mang ra phòng khách, rồi anh trở lại phòng ngủ.
Ginia vẫn còn ngủ. Anh đăm đăm nhìn nàng.
Quá khứ lại đè nặng lên anh. Cái mà người Tàu gọi là “Song tự tri” cửa sổ nhìn vào mình, đã được mở ra. Những hồn ma nào đang đợi ở bên đó để dày vò tâm trí anh? Hatcher đã tưởng Hong Kong và Bangkok chỉ còn là chuyện dĩ vãng. Nào vùng thượng nguồn sông và hang ổ của băng Ts’e K’am Men Ti. Nào băng Bạch Thủ và băng Chiu Chao. Tollie Fong, Sam-Sam và White Powder Mama (Bà Trùm Bạch phiến). Bà Lau Mập, rồi Cohen.
Bangkok.
Và Daphne.
Những cái tên anh đã cố quên mà không được.
Anh cố xua chúng đi, nhưng chúng đều là quá khứ của anh, là nội dung cuộc đời anh.
Sloan đã trở lại như quỉ dữ bò ra khỏi địa ngục, đưa một ngón tay dài, xương xẩu về phía anh, ngoắc anh trở lại những nơi âm u mà cả 126 cũng chưa nói đến, những nơi được gieo rắc hận thù và chết chóc. Việc trở lại đó thực sự chẳng gắn bó gì nhiều với Sloan, hoặc với những cái tên mà hắn moi lên. - Buffalo Bill và Murph Cody. Đã đến lúc phải trở lại, đã đến lúc phải làm cho xong những chương dang dở của đời anh. Đã tới lúc phải thanh toán hóa đơn.
Anh ngồi xuống giường và bắt đầu xoa lưng cho Ginia. Nàng thức giấc và xoay người nằm sấp. Anh lấy một ít dầu nhờn và bắt đầu xoa bóp cho nàng. Trong một thoáng anh đã nghĩ rằng anh sắp phải xa nàng. Ý nghĩ ấy làm anh khó chịu vì xa xôi là phải nhớ nhung. Hatcher chưa bao giờ nhớ nhung ai trong cuộc đời anh. Nó không hợp với nghề anh. Nó có thề làm cho lơ đãng, và điều ấy có thể nguy hiểm, nó làm rít lên những tiếng động nhẹ xa xưa, đẩy anh ra khỏi bóng tối rơi vào vùng sáng ánh mặt trời, nơi mà anh biết không phải là chỗ của anh.
Một lần Sloan đã nói:
- Những sự gắn bó có thể gây ra tai họa, chúng làm cho anh lầm địa điểm và sai giờ.
Buồn cười là, biết bao lần ý kiến của 126 và Sloan đã trái ngược nhau. Điều mà ông bạn 126 thường hay nói là gì nhỉ? Một người đã quên không còn biết khóc nữa thì đã chết ở trong lòng.
Anh xua đuổi ý nghĩ, xoa bóp vai nàng, xoa lên đến cổ, rồi xoa dọc theo hai cánh tay ra đến đầu ngón tay và kéo từng cánh tay cho thẳng ra, anh bôi kem lên, rồi xoa hai bên sườn xuống tận hông. Nàng rên rất nhỏ và hơi dạng chân ra. Anh đặt một chân vào giữa hai chân nàng, kéo nàng xuống sát chân mình và cúi xuống, bắt đầu xoa bóp lại cổ nàng. Nàng thì thầm:
- Anh chóng về nhé!
 
 
 
0

CIRILLO

 
Hatcher đợi ở bãi đậu xe của hồ bơi thuyền, lắng nghe các con chim đêm ríu rít âu yếm nhau trong bóng tối, giọng hót của chúng vang trên đầm lầy phẳng rộng. Đã quá nửa đêm và con đường đắp dẫn vào đất liền như vắng vẻ. Cách mười cây số về phía bên kia đầm lầy, những ngọn đèn của khu Brunswick nhấp nháy như đom đóm. Anh còn một nhiệm vụ phải làm xong trước, khi lên đường. Anh đã từ biệt Ginia và bây giờ anh đang chờ đợi trong bóng tối, chiếc cặp đặt cạnh chân.
Một cặp đèn pha xuất hiện ở xa phía dưới con đường đắp và từ từ lớn dần khi chiếc xe đến gần bến cảng. Nó quẹo ra khỏi mặt đường nhựa hẹp hai chiều nối liền hòn đảo với giải đất liền. Chiếc xe cảnh sát màu nâu chỗ đậm chỗ nhạt nghiến bánh xào xạo trên lối xe ra vào và dừng lại cạnh Hatcher. Cánh cửa bật mở.
Hatcher chăm chú nhìn viên sĩ quan cảnh sát vạm vỡ mặc đồng phục màu nâu, cấp hàm trung úy màu vàng lấp lánh trên cổ áo sơ mi, ủi hồ cứng. Jim Cirillo là một người lực lưỡng, da rám nắng, mái tóc đen đã ngả màu tiêu muối vì thời gian và ánh nắng. Đôi tay khỏe mạnh đặt hờ trên tay lái.
- Cậu lại muốn ăn đòn vì lẩn quẩn rình mò đấy à? - Giọng sâu lắng của ông kéo dài.
- Ừa, - Hatcher cười nhăn nhở trả lời.
Anh leo lên ngồi cạnh viên cớm. Cirillo cài số và lái ra khỏi bãi, quay trở lại qua chiếc cầu cất lên đảo. Những cây sồi cao lớn với những đám phong lan bám lơ lửng trên không như cái nhũ đá xám xịt che thành vòm trên các đường hẹp. Đây là giờ của Cirillo. Ông là người hoạt động về đêm, ban ngày thích ngủ và đi câu cá. Xe lặng lẽ chạy trong vài phút. Cuối cùng Hatcher nói giọng ồm ồm:
- Sloan đã tìm tôi.
- Thế thì sao? Cậu chả nợ nần gì hắn, - Cirillo nhún vai trả lời.
- Đúng.
- Nếu có thì chính hắn nợ cậu.
- Ừa.
Hatcher thầm nghĩ, mình nợ chú Jimmy rất nhiều. Cirillo là người cha thứ hai, người thầy, người bạn tin cậy đã từng sắp xếp cho mình được vào Học viện Annapolis.
Một con nai đực nhỏ chỉ hơi lớn hơn con chó giống Đan Mạch phóng vụt qua đường trước mặt họ và biến vào rừng cây. Hatcher nói:
- Sloan nhờ tôi làm cho hắn một vụ.
- Không bịp chứ? - Cirillo khịt mũi, cho xe chạy chậm lại và rọi đèn pha vào cửa sổ một cái chòi nhỏ bán mồi câu. Hài lòng vì chỗ ấy vẫn yên ổn, Cirillo tiếp tục lái đi.
- Tôi sẽ phải làm vụ đó, - Hatcher nói bằng cái giọng mất tiếng lạ lùng của anh.
Cirillo lái xe chạy một lát rồi nói:
- Được.
- Một bạn đồng học của tôi ở Học viện Annapolis được cho là đã bị chết ở Việt Nam năm 1973. Nhưng hình như người ta thấy anh ta còn sống ở Bangkok. Thật là một hoàn cảnh xúc động.
- Và cậu là người duy nhất có thể tìm ra anh ta?
- Tôi là người duy nhất biết anh ấy và tôi được Sloan tin tưởng.
- Cậu có tin hắn không?
- Không bao giờ nữa.
- Cậu tin câu chuyện này à?
- Đủ để khám phá ra.
- Có rất nhiều ma quỉ ở bên đó đang chờ được moi lên. - Cirillo nhỏ nhẹ nói.
- Đúng thế.
- Đó chỉ là một phần câu chuyện phải không, Hatcher thân yêu?
Họ yên lặng cho xe chạy. Hatcher suy nghĩ về câu hỏi và nói:
- Đó chỉ là một phần. Phần nữa là tôi đã mất liên lạc quá lâu.
- Nguy hiểm là ở chỗ còn một người đàn bà thật quyến rũ đang chờ ở đây.
- Ừa. Vả lại chú là người đã giới thiệu tôi cho nàng.
Lái xe xuyên qua dưới các đám phong lan treo lơ lửng trên đầu, Cirillo nhớ lại cái hôm ở trên núi.
- Hôm ấy cậu khá thật, - ông nói. - Nói thực, tôi không bao giờ nghĩ cậu qua được. Đó là cái ngày tôi quả quyết là cậu có thể trở nên một nhân vật lỗi lạc nào đó.
Hatcher đã học được ở Cirillo ý thức về nghĩa vụ và bổn phận, nguyên tắc về danh dự, nhưng một nguyên tắc dễ bị khai thác bởi một kẻ như Sloan. Cái mỉa mai là Cirillo về Đội chống trộm cắp của Boston gần đúng vào thời gian mà Sloan kết nạp Hatcher. Giống như những con thiêu thân, cả hai bị cuốn vào trong mạng lưới của sự hung bạo đã định hướng cho cuộc đời họ trong những năm sau này. Bây giờ cả hai đều đến hòn đảo này để thoát khỏi những công việc ấy.
Hatcher phá tan sự im lặng mơ màng của cả hai:
- Tôi cần phải kiểm tra lại khẩu Aug để chắc rằng nó thuộc loại A-1.
- Cậu cần một khẩu Aug để đi tìm một gã ở Bangkok à? - Cirillo nói, rõ ràng là rất ngạc nhiên.
- Tôi có rất nhiều kẻ thù trên đường từ đây đến Bangkok.
- Vậy hãy dàn hòa với họ đi.
- Đó là một ý nghĩ hay, - Hatcher nói. - Chỉ có một cách duy nhất là dàn hoà với một số trong những người này.
- Thế thì tôi nghĩ cậu phải làm điều đó thôi.
- Tôi không hy vọng làm được, - Hatcher nói. - Chú sẽ trông hộ chiếc thuyền chứ?
- Tôi đã nhận được chìa khóa. Tôi sẽ liên lạc với cậu bằng cách nào?
Hatcher suy nghĩ một lát rồi nói.
- Khách sạn Đông Phương ở Bangkok. Chỉ cần gởi một,bức điện cho tôi.
- Được, - Cirillo ngừng giây lát rồi thêm. - Cậu chưa bị chùng gân tí nào đối với việc làm ăn này chứ, nhỏ?
Hatcher suy nghĩ hồi lâu rồi lắc đầu:
- Tôi nghĩ rằng chưa.
 
 
0

BUFFALO BILL

 
Ở Washington trời đang mưa, trận mưa dầm dề xối xả đổ xuống từ bầu trời lạnh lẽo, xám xịt như khảm các giọt nước mắt lên mặt đá đen của đài Tưởng Niệm. Nước mưa đọng lại trong các khe chữ đục vào đá, tràn ra ngoằn ngoèo chảy xuống nền huy hiệu trong Constitution Gardens (Vườn Hiến Pháp). Ở đấy, kỷ niệm về những người ngã xuống đã được dựng lên: một trái tim màu tím đỏ, một lọ hoa cúc, một bức ảnh rách tả tơi hình một chiếc xe 56 - Chevy đã được phục hồi hoàn hảo, một chú gấu bông bây giờ đã ướt đẫm.
Thời tiết xấu không làm nản lòng những người viếng thăm. Nhiều người, đứng im như những pho tượng nhìn đăm đăm phiến đá mài rộng lớn, tìm kiếm, khám phá, đưa tay ra sờ lên dòng tên của những người chị, người con, người yêu, những người cha, người chồng, những người bạn thân nhất hoặc những người bạn học, nói những lời từ biệt lúc trời đất cũng như than khóc cùng với họ.
Hatcher biết nhiều tên trên tấm bảng nghiêm trang đó. Anh đã từng chiến đấu nhưng không phải ở Việt Nam; là nhân viên dân sự, anh đã làm nhiều việc dơ bẩn mà ngay cả giới quân sự cũng không chấp nhận hoặc nói đến. Không có huân chương hay bằng khen, kể cả hồ sơ lưu trữ cũng không có cho loại công việc anh làm, nhưng anh đã ở đó, đã làm công việc của anh, đã nhìn thấy bạn bè và đối phương chết theo những cách vô nhân đạo, xấu xa, ghê tởm, không thể tả hết được, chúng khác hẳn với những cách mà con người ta có thể lìa bỏ cõi trần.
Trước đây Hatcher chưa bao giờ nhìn thấy cái đài kỷ niệm này, chưa bao giờ muốn tìm thấy nó. Nhưng lúc này, nhìn qua màn mưa, anh đã sợ hãi trước vẻ hùng biện chân thật của nó. Lần đầu tiên nó khơi dậy trong anh ý nghĩ rằng anh có thể trở lại mảnh đất ấy với chính những vết thương, những tội lỗi và những hoang mang cũng giống những người khác đã từng bắn giết ở Việt Nam. Trong công tác đặc biệt ấy anh được mệnh danh là kẻ đánh thuê và những kẻ đánh thuê không được dự phần vinh quang, không đi trong hàng quân duyệt binh hay được gọi tên cho nghỉ phép. Đối với họ chỉ có thắng hay bại - hay xác định rõ hơn là: sống hay chết.
Ở đây không có chính trị, không có các cuộc tranh cãi bất tận về những cái được, mất chẳng bao giờ có thể giải quyết của cuộc chiến tranh ở nơi xa xăm ấy; ở đây đơn giản chỉ có một nấm mồ giữa trời và tấm bia ghi tên các tử sĩ mà chắc chắn sẽ chẳng để lại gì hơn là một lời chú thích trong các sách sử ký một trăm năm về sau, một đoạn văn không được phân tích. Lịch sử chỉ đề cập đến một cách thoáng qua những sự kiện mà nó không thể giải thích được.
Anh sẽ không bao giờ nhận ra người chiến binh già nếu không thấy quân hàm bốn sao trên vai ông. Buffalo Bill Cody vẫn còn đứng thẳng, lưng chưa còng, nhưng mười năm qua và các vi trùng đang gặm nhấm nội tạng ông đã hủy hoại cơ thể ông, biến ông thành một người hốc hác, mắt trũng sâu với nỗi đau đớn hằn sâu trong mỗi nếp nhăn trên mật. Chiếc áo mưa nhà binh càng làm nổi bật tấm thân gầy gò của ông nhắc cho người ta thấy rằng cả những huyền thoại cũng đều mai một.
Ông chính là một huyền thoại. Trong khi những quân nhân tai to mặt lớn khác đều bị tiêu tan vì tai tiếng ở Việt Nam, thì Bill Cody vẫn nổi lên, thanh danh không bị tổn thương. Một nhân vật chính, một vị tướng dù sao cũng còn giữ được phẩm giá giữa thời đại hỗn loạn. Bill Cody đã trở thành một gương mặt quân sự có thể chấp nhận được trong cuộc chiến ở Việt Nam. Dè đặt, gần như khắc kỷ, ông tránh lộ diện và ông được mọi người chung quanh ngưỡng mộ, một người đàn ông bình thường đã mất một đứa con trai cho cuộc chiến tranh này và hình như đã mang lại sự ôn hòa cho những nỗ lực, điên cuồng khác. Bây giờ ông đang đứng đây, giữa một người đàn ông lưng còng xuống vì những gian khổ trong chiến tranh và một người đàn bà với đứa con trai nhỏ đang nhìn vào bảng tên. Không ai chú ý đến ông. Nơi này là như thế. Ai cũng như ai thôi.
Hatcher buồn rầu nói:
- Ông ấy trông già như đã trên trăm tuổi.
- Có thể như thế, - Sloan trả lời, - ông ấy may ra còn sống được 6 tháng nữa.
- Chúng ta cứ phải đứng ở đây dưới trời mưa thế này à? - Hatcher hỏi.
- Một phút nữa ông ấy xong việc. Nghi lễ chẳng bao giờ thay đổi.
Hatcher co người lại trong tấm áo mưa, nhìn vị tướng, và thầm ngạc nhiên về khả năng xuất sắc của Sloan trong việc lừa dối. Hôm qua Hatcher đã suy nghĩ về việc giết hắn. Ngày hôm nay Hatcher đang đứng trong mưa, xa nhà khoảng 1400 cây số, nghĩ cách thực hiện một công việc mà anh không cần, không muốn và không tin tưởng. Một trăm năm về trước, Hatcher suy nghĩ, có lẽ , Sloan đang bán thuốc rong đằng sau một chiếc xe ngựa hay bán lưỡi cuốc ở khu cầu Brooklyn. Hiện tại thì hắn bán những thủ đoạn nhơ bẩn qua các chuyện phiêu lưu tưởng tượng, qua lòng yêu nước, quyến rũ bọn trai gái trẻ mắt cứ giương lên mà đi vào những cuộc chiến mờ ám, để trở thành những kẻ sát nhân, phá hoại, buôn bán súng ống, nói dóc, phá két sắt, kể cả đánh thuê, mà hắn tán là tất cả đều vì sự vinh quang của lá cờ tổ quốc. Hatcher đã gặp Sloan vào lúc anh còn ngây thơ và đã chuốc phải sự dối trá này.
Viên tướng đã xong buổi lễ và bắt đầu trở ra đường. Hatcher và Sloan nhìn vị tướng chậm chạp leo lên các bậc thang, tựa người nặng nề vào chiếc gậy như muốn tránh sự giúp đỡ của viên phụ tá, một thiếu tá trẻ có cử chỉ đúng là của trường Võ bị West Point.
- Ông ấy không biết gì về chuyện tiền bạc anh đòi, - Sloan nói, gần như qua hơi thở, - điều ấy chỉ nói riêng giữa anh và tôi thôi.
- Ông ấy có biết gì về tôi không? - Hatcher hỏi.
- Có.
- Và ông ấy đồng ý?
- Ông ấy tin vào sự xét đoán người của tôi.
Hatcher cười nhạt:
- Ông ấy biết anh bao lâu rồi?
Vị tướng đến chấm dứt cuộc trao đổi. Trông gần, ông có vẻ bệnh hoạn hơn là lúc ở xa. Nước da ông xám xịt, đôi mắt kèm nhèm không còn sinh khí đã mất đi ánh lửa từng làm giật mình người khác kể cả trong ảnh. Nhưng ông vẫn đứng thắng, và dù cho đau đớn, ông không để lộ ra ngoài.
- Rất vui vì anh đã làm xong chuyện, Harry, - ông nói và quay sang Hatcher. - Chắc anh là Christian Hatcher. Rất mừng được gặp anh.
Ông đổi cây gậy sang tay trái và bắt tay Hatcher, một bàn tay xương xẩu nhưng nồng nhiệt.
- Rất sung sướng, thưa đại tướng - Hatcher nói.
- Anh đã phục vụ tốt ở Viễn Đông, - Bill Cody nói, - Sloan đã nói cho tôi biết về anh.
- Xin cám ơn, thưa ngài.
Người chiến binh già có vẻ giật mình khi nghe giọng nói đã bị khản của Hatcher. “Chúng ta đi trú mưa chứ?”. Ông nói, nhanh chóng che giấu sự ngạc nhiên. Viên phụ tá giữ cửa xe sau mở sẵn và họ lên chiếc xe Limousine. Hatcher ngồi ở ghế sau cùng với Sloan và Bill Cody. Ông già rùng mình vì mưa và lạnh, viên phụ tá vội phủ một chiếc mền lên chân ông.
- Cám ơn, Jerry, - Bill Cody nói. Viên phụ tá đóng cửa lại, để ba người ngồi riêng với nhau ở băng sau.
- Chẳng còn đủ thịt trên bộ xương này để chịu được lạnh nữa, - Bill Cody than thở rồi vội nói - Thế nào ông, đại tá Sloan bảo đã lôi ông vào chuyện rắc rối của chúng tôi.
Hatcher gật đầu.
- Ông nghĩ thế nào?
Hatcher nói:
- Quân bài hay nhất của chúng ta là gã người Thái, Wol Pot. Nếu hắn nói thật và Murph còn sống, tôi có thể tìm ra anh ấy.
- Anh nói nghe khá chắc ăn, - Bill Cody nhận xét.
- Tôi xin nói rõ là “nếu con trai ngài còn sống”.
Vị tướng gật đầu:
- Thế theo cảm tính, anh thấy thế nào?
Hatcher lắc đầu:
- Chưa thể nói gì cả. Hồ sơ khá mù mờ.
- Phải. Chẳng có gì nhiều để suy xét thêm. Rất tiếc.
- Có thể có vài điểm định hướng trong ấy, - Hatcher nói.
- Anh cũng hiểu là cần phải kín đáo, - Bill Cody nói, đó là câu khẳng định chứ không phải một câu hỏi.
Hatcher lại gật đầu. Ông tiếp tục:
- Và cũng cần làm gấp việc này.
- Vâng, thưa ngài.
- Theo như tôi nhớ, hai đứa các anh rất gần gũi nhau khi ở học viện.
Hatcher lại gật đầu:
- Chúng tôi cùng ở trong đội quyền Anh. Anh ấy tốt nghiệp trước tôi một năm. - Anh ngừng một lát rồi nói thêm. - Anh ấy rất được, thưa đại tướng. Một con người vững vàng.
- Tốt. Tôi cảm thấy thoải mái hơn khi biết anh quen nó và thích nó.
- Ngài và tôi đã gặp nhau một lần, - Hatcher bất chợt thì thầm, - ở tiệc cưới của Murph.
Vị tướng nhìn Hatcher thật chăm chú, nhưng chẳng nhận ra được gì qua cặp mắt mờ yếu của ông.
- Thời gian đã lâu quá rồi. Tôi e rằng trí nhớ của tôi không còn như xưa nữa. Quỉ thần ơi, tôi cũng không còn nhớ được gì để viết thư về nhà nữa.
Vị tướng nhìn Sloan giây lát rồi quay trở lại Hatcher:
- Tôi có thể hỏi riêng anh một câu được không?
- Dạ được, - Hatcher nói.
- Tại sao anh nhận công việc này?
Hatcher không biết phải trả lời như thế nào. Anh suy nghĩ một lát rồi nói.
- Một lần có người bạn hỏi tôi có phải là người yêu nước không. Lúc ấy tôi không biết chắc. Bây giờ có lẽ tôi đã hiểu ra được.
- Chẳng có gì là yêu nước trong vụ này cả. - Vị tướng nói một cách xa xôi.
- Tôi thích nghĩ rằng có, - Hatcher nói.
Bill Cody mỉm cười, một nụ cười mơ màng tàn héo đượm nỗi đau buồn.
- Đó là một câu nói rất tử tế, ông Hatcher. Cảm ơn.
Vị tướng già hướng đôi mắt kèm nhèm về phía Hatcher, nhìn chăm chú người đàn ông cao lớn này trong nhiều giây để nắm chắc rằng ông sẽ đặt câu hỏi tiếp theo một cách đúng đắn.
- Tôi biết anh đã rời khỏi đội và quay về làm công việc cá nhân.
- Vâng, thưa ngài.
- Tệ quá, - ông nói. - Anh đã từng là một người lính tốt, Hatcher.
- Cám ơn ngài.
- Có phiền khi cho tôi biết tại sao anh bỏ đi không?
Sloan liếc nhanh sang Hatcher, nhưng anh lờ đi như không biết.
- Tôi đã mất sự nhạy bén, thưa đại tướng. - Hatcher nói dối.
Bill Cody nhìn anh chăm chăm trong nhiều giây, cuối cùng nói với một nụ cười nhăn nheo:
- Thế thì hãy hi vọng rằng anh sẽ lấy lại được.
- Vâng, thưa ngài.
Ông quay sang Sloan.
- Hình như anh đã tìm cho chúng tôi một người giỏi, Harry, y như mọi khi.
- Cám ơn ngài, - Sloan nói, vẻ hài lòng rõ ràng. - Vậy thì chúng ta đi tới chứ?
Buffalo Bill Cody nhìn Hatcher và lặp lại câu hỏi:
- Thế nào ông, chúng ta đi tới chứ?
Hatcher gật đầu, cái giọng bị khản đặc của anh trả lời:
- Chúng ta đi tới!
 
 
0

NHỮNG DI VẬT CỦA NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

 
Chỗ ấy chẳng giống bất cứ nhà bảo tàng nào trên thế giới. Nó được gọi là MARS, tên tắt của Nhà Bảo Tàng và Lưu Trữ Vật Khảo Cổ Địa Phương (Museum and Archaeological Regional Storage Facility), và nó nằm trong một tòa nhà trệt bằng phẳng cách Washington khoảng 80 cây số về phía Nam trong một làng nhỏ ở tiểu bang Maryland. Hatcher phải mất một giờ rưỡi để lái chiếc xe hơi Chevy mướn xuống dưới đó.
Viên giám đốc là một người đàn ông trẻ, khoảng 40 tuổi mặc dù khó mà đoán được tuổi ông ta. Ông mặc áo vét tông màu xanh da trời giống như sinh viên nội trú. Tóc vàng, để râu hàm, giọng nói nhỏ nhẹ, ông ta là con người mà nhiệm vụ đã mang lại cho ông nỗi buồn da diết, vì xung quanh nơi đây là tâm trạng nhớ nhung, đau xót và lo lắng. Ông ta đưa cho Hatcher một đôi găng tay vải trắng.
- Chúng ta đeo cái này vào để đừng sờ mó vào các hiện vật làm hư hỏng đi. - Ông ta bảo Hatcher và mơ hồ chỉ về phía một cái túi ni lông đựng hai vỏ sò nhỏ giống hệt nhau, có gắn một mảnh giấy ghi vắn tắt: “Em yêu anh, Charley”.
- Các đồ vật được phân loại theo chức vụ, cái kệ gần nhất là nơi đặt các di vật của anh ấy, - Ông ta nói và dẫn Hatcher xuống một hàng kệ dài bằng kim loại màu xám cao đụng trần nhà.
Rất nhiều người khi đến bức tường kỉ vật về Việt Nam dường như bị tình cảm hoặc lương tâm bắt buộc đã tặng lại nơi đây một cái gì đó, đế lại một kỉ vật của chính họ. Những đồ vật đủ các loại của người thân, giống như những di vật của lịch sử được những người trông coi thu thập thêm hàng ngày về kho, lựa ra, phân loại và lưu trữ. Nó ghi lại những mảnh đời tan nát. Bộ sưu tập nói lên những tình cảm rất khác nhau: nỗi đau lòng, sự hài hước, lòng thương cảm; và được xác định hoàn toàn bởi nỗi xúc cảm - tình yêu của một đứa trẻ dành cho người cha nó chưa hề biết mặt, sự lo âu khắc khoải của những ông cha, bà mẹ cô đơn, sự đơn chiếc của một người tình trong đêm và tội lỗi đã mắc của một anh bạn thân còn sống sót. Thất vọng, buồn phiền, tự hào, giận dữ, tất cả đều ở đó, trên những cái kệ bằng kim loại giống nhau màu xám đặt trong phòng lưu trữ. Đây là nỗi đau của những người đang sống.
Các đồ vật bọc trong những bao ni lông, không có lời giải thích. Bóng chày - bản đồ - cờ xí. Rất nhiều, rất nhiều những lá cờ - biểu tượng truyền cảm nhất và bị lăng mạ nhiều nhất của chiến tranh. Hatcher đi ngang một vật và nhìn thấy những nét chữ ghi vội vàng trên một mẩu giấy trắng: “Người gửi: Kenny, đứa con rể mà bố mẹ chưa bao giờ gặp”.
Những lời ghi “Hỡi các bạn, tôi cầu mong cho con cái của chúng ta không bao giờ phải đi ra chiến trận. Còn nếu phải đi thì chúng sẽ ra đi với tất cả lòng dũng cảm và thái độ đường hoàng chứ không phải như chúng ta hiện nay”. Những bức thư, có một số còn dán kín. Những bài thơ “Dâng lên cha tôi, người đã chết hai tháng trước khi con chào đời”.
Những kiểu mẫu máy bay đồ chơi, nón sắt, phù hiệu quân đội, huy chương, chương trình khiêu vũ của trường trung học và sổ học trình của đại học, lương khô, giầy trận, một phong kẹo 6 miếng hiệu Miller, những tấm ảnh chụp xe hơi và nhà cửa, những đứa trẻ con chưa bao giờ nhìn thấy bố, những người bố chưa bao giờ được gặp con. Đó là những di vật còn lại của những người đã chết.
Hatcher hỏi khi đi theo người trông coi xuống dãy kệ đặt những vật tưởng niệm:
- Anh đã ở Việt Nam bao giờ chưa?
- Đã. - Câu trả lời cụt lủn để chặn không cho hỏi thêm.
Rất dễ kiếm những kỉ vật riêng biệt nhờ mã số đơn giản mà họ đã ghi để phân loại cái kho tàng nhỏ mà họ hàng, người yêu và bè bạn đã để lại đây. Người đàn ông dừng lại, cúi xuống nhìn một mã số nói:
- Đây là những kệ của anh ấy. Nếu có vật gì thì nó phải ở đây. - Ông ta nói rồi bỏ đi để Hatcher ở lại tìm kiếm. Trên chiếc kệ là một con gấu chơi bẩn và đã sờn cũ, bên cạnh là cây gậy đánh banh có một vết nứt, một tấm hình chụp hai thiếu niên có vẻ tự mãn đang đứng bên cạnh chiếc xe Thundebird màu đỏ rượu chát. Còn có một bó hoa nhỏ đã khô héo buộc bằng một dải băng trắng, một nhẫn cưới được khâu vào dải băng của vòng hoa tang hình quả tim màu tím.
Hatcher tìm được hai dòng chữ.
Dòng thứ nhất ghi: “Bố của chúng con, đại úy Murph Cody, Hải Quân Mỹ. Người gởi: các con yêu quí của bố, Keith và Sharon”. Mảnh giấy được đính vào một tấm ảnh chụp hai đứa trẻ trông có vẻ buồn trước tuổi.
Bên cạnh là một mảnh giấy khác ghi: “Cám ơn về tất cả mọi thứ, Polo. Và tạ ơn Chúa về Thai Horse. Jaimie”. Nó được gắn vào một chiếc mũ nồi màu xanh lá cây. Chẳng còn gì khác nữa.
Polo.
Đó là tiếng mà người tên là Jaimie này dùng gọi anh ấy, Polo. Vậy là cái biệt danh này vẫn còn dính với Cody. Khôi hài thật, Hatcher nghĩ, mình chưa bao giờ nghĩ anh ấy thích nó. Nhưng nó bày tỏ một điều về anh ấy. Dòng chữ này gởi cho Murph Cody. Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Đó có phải là lời vĩnh biệt của một kẻ nào đó biết rằng anh ấy đã chết?
Hay là lời cảm ơn của một kẻ nào đó biết anh ấy còn sống?
Và còn điểm liên quan đến Thai Horse. Theo Hatcher, điều ấy chỉ nói tới một điều duy nhất là: heroin Thái Lan, bạch phiến Trung Quốc.
Có phải Cody cung cấp heroin cho những người của anh ta? Có phải anh ta và cái người tên là Jaimie này cùng chung nhau trong việc buôn lậu nào đó? Đây có phải là loại thư đã mã hóa không? Hatcher lắc đầu một cách vô ý thức. Anh không muốn tin vào điều đó. Thế thì lời ghi đó còn có nghĩa gì khác không? Có thể có lời giải đáp nào khác không?
Suy nghĩ bên lề đã nảy ra nhiều câu hỏi hơn là lời đáp. Cái giọng khàn khàn của Hatcher hỏi người gác:
- Chẳng có cách nào để mò ra dấu vết của người tên là Jaimie này ư?
Người gác lắc đầu, đáp gọn:
- Đấy không phải là việc của chúng tôi.
Hatcher xem xét chiếc nón bê rê. Bên trong viền nón là những chữ đầu “J.S.” Không gì khác nữa. Hatcher lấy ra một quyển sổ nhỏ, ghi lại tất cả những tin tức, có thể nào ghi đúng như thế. Thêm một dữ kiện nữa. Nơi đây đã nhận được chiếc mũ bê rê và lời ghi này 14 tháng trước đây, ngày 4 tháng bảy.
Không còn gì nữa cả. Dù thế nào thì di sản của Murph Cody hình như cũng chấm dứt ở đây với cái văn bia ngắn ngủi này, Hatcher nói với người gác:
- Thôi được, xin cám ơn.
- Vâng.
Hatcher nhìn quanh gian phòng một lần nữa, nhìn những găng tay chơi bóng chày, những cái diều rách tả tơi và các bông hoa.
Anh nghĩ về một đoạn nào đó Conrad đã viết: “... một niềm tin vô tư vào một lí tưởng - một cái gì anh có thể dựng lên quì lạy trước nó, và cống hiến cả sinh mạng cho..”
Rồi anh nghĩ đến những người được thờ cúng ở đây - những người đã bị chết, chôn vùi hay mất tích ở một nơi xa lạ trong cuộc chiến tranh mà đa số không hiểu nhưng cũng không hỏi, để bị tước đoạt tất cả những hi vọng, mơ ước và dường như tưởng là đã hi sinh cho Tổ quốc. Những người bình thường đã trở thành khác thường khi chết đi. Hơi thở lạnh giá của các hồn ma làm Hatcher lạnh gáy và anh không thể nào rời khỏi nơi đó thật nhanh như ý muốn.
 
 
0

MONTANA

 
Hatcher biến mất đêm ấy với chiếc cặp đầy ắp giấy bạc 20 dollar và hồ sơ của Murph, bỏ lại Sloan ngồi chờ anh trong Occidental Restaurant. Sloan đang uống li rượu mạnh thứ ba thì những tiếng chuông thình lình vang lên trong đầu hắn: “Thằng chó đẻ ấy sẽ không trở lại”. Một cú điện thoại nhanh chóng xác nhận nỗi lo ngại của hắn. Hatcher đã rời khách sạn hai tiếng đồng hồ trước. Đúng là kiểu của hắn! Điều ấy làm Sloan nổi giận vì lẽ ra hắn phải biết trước Hatcher sẽ tránh mặt hắn. Cách đầu tiên để Hatcher biểu lộ sự giận dữ đối với Sloan là cắt liên lạc với hắn, tỏ rõ tính tự do hành động của anh làm cho Sloan biết ai là tay cừ hơn.
Thôi được, Sloan nghĩ, chúng ta sẽ xét việc đó. Người phục vụ trưởng hỏi sau khi hắn gác máy điện thoại:
- Ngài gọi thức ăn ngay chứ, thưa đại tá?
- Hủy bỏ.
Sloan càu nhàu. Hắn dúi cho ông ta năm dollar và rời khỏi nhà hàng, đi trong màn đêm mưa gió. Hiểu Hatcher, Sloan biết là phải nhiều tuần nữa mới có tin tức của anh. Hắn trở về văn phòng và cho tìm Zabriskiki. Zabriskiki có thể tìm được bất cứ ai. Vả lại hắn tin chắc Hatcher ra đi với cái tên thật của mình. Quái quỉ, cho đến bây giờ, anh ta vẫn không thay đổi tên. Vả lại, Hatcher không trốn Sloan, anh chỉ bỏ hắn đi. Sloan sẽ phải lần theo anh và phải cho thằng chó đẻ ấy biết thân.
Sáng hôm sau Sloan nhận được báo cáo của Zabriskiki:
- Hắn đáp phi cơ đi Billings, tiểu bang Montana trên chuyến bay về miền Đông đêm qua, nghỉ đêm ở khách sạn Palace, sáng sớm nay đáp chuyến bay địa phương đi Shelby.
- Montana! Nó làm quái gì ở Montana thế?
- Tôi không biết, thưa ngài. Nhưng đó là nơi hắn đến.
- Shelby ở nơi quái nào vậy?
- Cách phía Nam biên giới Canada một đoạn ngắn - gã nhân viên đáp, - chẳng có gì ở đây cả, thưa đại tá, tuyết phủ trong ba tháng. Đó là nơi đến Chúa cũng mất luôn cả giầy đi tuyết ở đấy.
Montana? Sloan kéo hồ sơ của Murph ra và dò lại, đọc từng dòng, tìm kiếm vài điều liên quan đến Shelby, tiểu bang Montana. Nhưng hắn chẳng tìm được gì. Thế thì quái thật, Sloan nghĩ, từ Shelby anh ta có thể đi đâu? Hắn điều Zabriskiki đáp chuyến bay tới Billings, chờ Hatcher quay lại và theo dõi anh.
- Này, Zabriskiki, thằng đó trơn như lươn ấy, hiểu không? Hắn có những mánh khóe mà cậu chưa bao giờ nghe nói tới.
- Có tóm hắn không? - Zabriskiki hỏi.
- Mẹ kiếp, không, hắn không làm gì quấy cả, - Sloan nói. - Tôi chỉ muốn biết hắn định làm cái quái quỉ gì thôi.
Sloan nghĩ, có thế hắn đang chơi trò hai mặt. Có thể hắn đang kiểm tra mình. Sự mạo hiểm trong việc mướn Hatcher là ở chỗ hắn quá thông minh. Nếu Hatcher trở mặt, có thể lâm nguy ngay. Sau thời gian ở nhà tù Los Boxes ra, còn quá sớm để có thể giao phó công việc cho Hatcher.
Chiếc máy bay hai cánh quạt De Havilland lướt trên đường bay hẹp mà các xe hút tuyết đã dọn sạch, ở hai bên đường những đống tuyết lù lù cao hơn cả thân máy bay, tuyết đã chất đống lại trong nhiều tháng. Nhà khách của phi trường là một tòa nhà trệt nhỏ gần như bị che khuất bởi các đống tuyết. Có một nhà chứa máy bay gần đấy, còn hơi nhô lên khỏi tuyết, với một chiếc vợt định hướng gió rách tả tơi bay phần phật trên chiếc cột cong oằn dưới làn gió lạnh ngắt. Đó là tất cả những gì có ở phi trường. Đôi ủng của Hatcher kêu cót két và anh thở ra những luồng hơi nước trông thấy rõ trong khi anh băng nhanh qua sân nhựa phủ đầy tuyết đến cái nhà khách nhỏ, ấm áp, chỉ bằng cỡ một phòng khách rộng.
Một bên phòng là quầy vé hàng không do một người đàn ông gầy trông như đang ngủ gật điều hành, phía bên kia là một máy bán thức ăn uống và một quầy cho thuê xe ô tô riêng và xe taxi do cùng một người đàn ông phụ trách. Ông ta có nước da xám như chì, râu ria xồm xoàm, đầu đội mũ lông và mặc áo len. Chuyến bay tới chỉ hơi làm khuấy lên sự hoạt động trong nhà khách. Cả thảy chỉ có ba hành khách đến.
Hatcher mua một tách cà phê ở máy và chờ cho đến lúc một hành khách mướn xong chiếc xe. Khi ông ta đi khỏi, bước lại gần ông già đội nón lông đang cúi xuống mẫu hợp đồng mướn xe, điền vào cho đủ bằng một mẩu bút chì, hỏi giọng khàn khàn:
- Mất bao lâu để đi tới Cut Bank?
Ông già vẫn tiếp tục làm việc với mẫu hợp đồng, đáp:
- Còn tùy.
- Tùy vào cái gì?
- Tùy mùa trong năm. Mùa hè mất độ 45 phút.
- Thế còn mùa đông thì sao, chẳng hạn ngay bây giờ?
- Hai giờ, nếu ông thuộc đường.
- Ông có biết từ đây tới trạm cỏ khô của nhà nước bao xa không? - Hatcher làu bàu.
Lão già tiếp tục viết, vẫn không ngẩng lên, nói:
- Khoảng 34 cây số, đa số là leo đèo. Ông không quen lái xe trong tuyết, đừng nghĩ đến việc ấy. Cho đến mùa xuân người ta cũng không tìm ra ông đâu.
- Ông cũng là tài xế à?
- Ừa.
- Chở tôi lên đó lấy bao nhiêu?
- Này anh, anh nói nghe cứ như là đi xe đạp trong công viên ấy, - ông ta nói, vẫn tập trung vào cái mẫu hợp đồng.
Hatcher chìa tờ 100 dollar dưới mũi ông ta, nói:
- Còn một tờ khác như vậy nữa khi chúng ta trở về. Tôi sẽ không ở đó lâu hơn một giờ đồng hồ.
Lão già chăm chú nhìn nụ cười khó hiểu của Ben Franklin in trên tờ giấy bạc giây lâu, rồi ngẩng lên:
- Anh chắc phải là người của nhà nước.
- Ông muốn biết tiểu sử thì phải trả giá một tờ bạc kia. - Giọng khàn khàn của Hatcher trả lời trong khi anh hất hàm về phía tờ bạc một trăm dollar.
- Hiểu rồi! - Ông già nói, gấp tờ giấy bạc lại và nhét vào túi áo sơ mi. - Chuyến bay cuối cùng trở lại Billings vào lúc 4 giờ. - Ông ta nhìn đồng hồ. - Chúng ta có 6 tiếng.
- Thế còn máy bay đi Spokane?
- Mỗi ngày một chuyến lúc 2 giờ 30.
- Chúng ta hãy chuyển sang đó, - Hatcher nói.
- Ừ hứ, - lão già nói và đưa tay ra. - Tôi là Rufus Eskew.
- Chris, - Hatcher nói và nắm lấy bàn tay xù xì vết chai của ông già.
- Tốt hơn nên làm cái gì để chống lạnh. - Rufus nói và với tay lấy chìa khóa ở dưới quầy.
Chiếc trực thăng bay là thấp trên cánh đồng cỏ, thả xuống bó cỏ khô đầu tiên. Bầy nai đánh hơi thấy mùi cỏ khô tranh nhau chạy đến. Simmons đứng ở khung cửa máy bay trong bộ quần áo dày cộm, mặt che kín bằng chiếc khăn ấm để chống lại cơn gió lạnh buốt từ cánh quạt trực thăng thổi ào ào vào anh ta và người bạn đồng hành. Đôi mắt anh chăm chú nhìn qua cặp kính mát nằm giữa chiếc khăn ấm và cái nón len phủ sát xuống tận tai. Đôi lông mày đen rậm đứng lại vì băng đóng. Anh nắm chặt sợi dây an toàn vững vàng trên khung cửa chờ cho đến lúc phi công quay trực thăng vòng lại.
Phía dưới họ, bầy nai chạy cuống cuồng ngoại trừ một con nai đực lộng lẫy vẫn đứng tại chỗ, đánh hơi với cánh mũi phập phồng, nhìn chiếc trực thăng bay là thấp trên cánh đồng cỏ đóng băng nằm lọt giữa hai ngọn núi.
- Nhìn cái con chó đẻ ngạo mạn ấy kìa, - Simmons hét gọi người bạn đồng hành ở khoang trước của trực thăng.
- Đúng là một con nai tuyệt đẹp.
Họ đang ở độ cao sáu mét trên cánh đồng tuyết phủ thành đống, Simmons đạp cả hai chân lên bó cỏ to, nặng khoảng 100 kí, đẩy nó ra khỏi cửa. Anh nhìn nó lăn xuống, quay lông lốc, rơi chạm mặt đất và bung ra như một trận mưa rào tuyết và cỏ khô.
- Đến ăn đi, các con yêu quí! - Anh rống về phía đàn thú đang sa vào trận bão bất ngờ vì đang đói khát. Ở phía bên kia, Eddie, người đội trưởng đã ném bó cuối cùng xuống. Ông quay lại Simmons và trỏ ngón tay cái lên trần máy bay. Simmons nghe tiếng ông nói trong máy:
- Xong rồi, hết bom. Đi uống vài li cà phê nóng đã.
Rồi tiếng người phi công trả lời:
- Tôi nghe rõ, thật là một tin thú vị.
Simmons và Eddie đóng cửa máy bay lại, ngồi trước máy sưởi yếu ớt. Luồng không khí thổi ra từ hai lỗ thoát chỉ ẩm hơn gió bên ngoài tí chút. Simmons lấy ra một chai rượu, kéo chiếc khăn ấm xuống nốc cạn một hơi dài. Anh quẹt miệng bằng bàn tay đeo găng rồi đưa chai cho Eddie, run rẩy toàn thân như bị sét dánh. “Ui - aaa! Cái này sẽ giúp chúng ta về tới nhà”. Anh rên lên rồi kéo chiếc khăn ấm che mặt, cất cái chai đi Eddie đã uống xong và ôm hai tay trước ngực, anh sẽ ngủ khoảng 20 phút trong khi trực thăng bay về trạm.
Giọng của viên phi công bỗng vang lên trong máy: “Tôi vừa nhận được điện từ trạm. Có một người đang chờ gặp anh, Simmons”. Simmons nhỏm dậy. Bây giờ à, ai lại rời nhà tới trạm này để gặp anh trong thời tiết như vậy? Anh hỏi viên phi công:
- Tên hắn là gì?
- Tôi không hỏi.
Simmons lo ngại trên suốt quãng đường về. Dù sao thì anh cũng bị bệnh ảo tưởng kinh niên. Nếu gã Lee ở dưới trạm mà không biết là ai thì đó là người quái quỉ nào thế? Anh leo ra khỏi trực thăng, chạy thẳng về văn phòng trong lúc cánh quạt trực thăng còn đang quay. Quái thật, gã này là ai nhỉ?
Simmons quen Rufus Eskew, thế thì chắc là gã ấy muốn gặp mình. Người khách đang đứng bên máy sưởi trên sàn, uống cà phê trong cái tách mà anh ta ôm bằng cả hai tay, cao khoảng 1m 85, tóc đen đã điểm bạc, thân hình như võ sĩ quyền anh. Hãy nhìn nước da rám nắng ấy xem, Simmons nghĩ, gã này chắc ở miền Nam - Los Angeles hoặc Florida. Anh ta mặc một chiếc áo thun cổ trái xoan, quần sẫm bằng vải dày, ống quần nhét vào trong ủng viền lông cừu và mặc một áo khoác lông cừu rất dày. Đeo kính mát. Los Angeles, Simmons khẳng định. Rồi tháo kính ra, Simmons nhìn vào đôi mắt xám lạnh lùng mà anh đã từng gặp. Ở Washington, Simmons tự bảo.
- Ông Simmons, tôi là Hatcher.
Lạy Chúa, Simmons nghĩ, hãy nghe xem.
Hatcher nói tiếp:
- Hãy đến nơi nào đó ta nói chuyện một chút. Đây là chuyện riêng.
Chuyện riêng? Chuyện riêng? Cái quái gì mà chuyện riêng. Simmons chẳng nợ ai một đồng nào. Tiền trợ cấp khi li dị vợ đã trả xong. Kể cả tiền mua chiếc xe jeep cũng đã trả rồi.
- Anh có 20 phút để sưởi ấm đít lên, - viên phi công nói khi những người còn lại trong đội theo anh ta vào đầy trong nhà. - Họ lại đang chất hàng lên cho chúng ta rồi.
- Chúng ta có thể vào văn phòng của chủ nhiệm, - Simmons nói. - Ông ấy đi Helena đôi ba ngày.
Anh dẫn Hatcher vào một căn phòng nhỏ có kê một cái bàn, mặt bàn trống trơn chỉ có mỗi cái máy điện thoại, một tủ đựng sách có cửa kính kiểu cổ lỗ đựng nhiều sách báo và một giá treo nón. Tấm lịch treo trên tường là của Công ti Cung Cấp Cỏ Khô và Thức Ăn Gia Súc ở Shelby. Hatcher nhìn quanh văn phòng và nghĩ bụng vị chủ nhiệm này hoặc phải là người ngăn nắp cực kì hoặc là phải là người làm biếng không tưởng được. Simmons ngồi lên một góc bàn, nói:
- Hãy vớ lấy cái ghế mà ngồi.
Rồi Simmons ngồi xuống. Trông anh có vẻ sợ chết khiếp. Anh vội hỏi:
- Có việc gì thế?
- Tôi làm việc ở Ủy ban quân báo. Chúng tôi đang tổng kết vụ Cody, - Hatcher nói.
- Ôi lạy Chúa, tôi biết mà. Tôi biết đúng là việc ấy. Quỉ bắt nó đi, tôi còn phải trải qua việc đó bao nhiêu lần nữa? Tôi đã ra khỏi cái quân đội khốn kiếp ấy gần 15 năm rồi và họ cứ tổng kết cái vụ Cody mãi suốt từ đó đến nay.
Hatcher ngạc nhiên vì phản ứng của Simmons. Nhưng phản ứng ấy cũng tiết lộ có một điều bí ẩn đây. Dường như nỗi sợ hãi ghê gớm nhất của Simmons đã bùng lên và siết chặt lấy yết hầu anh. Hatcher nhận thấy những biểu hiện ấy và ngay tức khắc anh biết linh cảm của anh là đúng. Điều anh phải làm bây giờ là ép cho Simmons phun ra sự thật. Anh nói:
- Đó chỉ là việc thường lệ thôi, chẳng có lí do gì để khùng lên với tôi.
- Tôi đã ra đây 10 năm rồi, - Simmons nói. - Cố quên đi tất cả chuyện đó. Tôi không cần... - Anh buông lửng câu nói.
- Chỉ cần nêu vài kết luận mơ hồ thôi, - Hatcher nói. - Mất chừng một phút là xong.
- Nhưng tôi nghe nói người ta đã chính thức tuyên bố là Cody chết rồi cơ mà.
- Điều ấy đúng.
- Thế thì còn cái quái gì nữa...
- Vấn đề là có một hay hai điểm chúng tôi cần làm sáng tỏ.
- Tôi không thể nhớ lại được, sự việc đã xảy ra quá lâu rồi, ông bạn ạ. - Simmons nói. - Đã 15 năm rồi. Tôi đã thấy rất nhiều người chết ở Việt Nam. Tất cả bọn họ đều là loại bỏ chạy cả.
- Đây là vấn đề về người chỉ huy máy bay, Cody. Cha của anh ta đã là Đại tướng Tổng tư lệnh của toàn bộ chiến trường đó. Tôi chắc là anh còn nhớ ông ấy, Simmons?
Simmons bắt đầu nổi giận, nhưng đây chỉ là kiểu nổi giận để tự vệ.
- Này, không cần biết tên ông ta là gì, - Simmons càu nhàu. - Tôi không nhớ. Tôi không muốn nhớ. Tôi đã mất 15 năm để cố quên đi tất cả mọi chuyện đó.
- Tất cả mọi chuyện gì?
- Mọi việc xảy ra ở bên đó. Mười hai tháng trong cuộc đời tôi mà tôi muốn... cố làm cho mình tin là không bao giờ xảy ra nữa. Đủ khổ lắm rồi... Vả lại cả bọn họ trông giống y như nhau ở khoảng cách xa như thế.
- Ai?
- Phi hành đoàn bị rơi.
- Xa bao nhiêu?
- Phía bên kia sông. Anh biết đây, chúng tôi bay trên trực thăng Huey của Sea-Air Rescue (Đội Cấp Cứu Hải Không). Khi anh đi cấp cứu, không bao giờ anh ở ngay... trên đầu họ.
- Ừ, đó là một trong những điểm mà tôi muốn anh kể lại - Hatcher nói và lấy một bìa. đựng hồ sơ trong cặp ra, lật những trang trong ấy. Anh để cho câu nói treo lơ lửng, nhìn Simmons đang sa dần vào bẫy. Có nhiều tội lỗi ở chỗ này, anh nghĩ, gã này rất mềm, hắn đã thua nhưng chưa chịu nói ra hết. Anh chờ thêm một lát nữa rồi thì thầm:
- Vấn đề là chúng tôi thấy điểm khác nhau chút ít trong các báo cáo.
- Khác nhau?
- Ừ, chỉ một điểm nhỏ. Trong lời khai ngay sau khi tai nạn xảy ra anh báo rằng chiếc phi cơ đó đụng vào cây và nổ tung ngay tức khắc. Chờ một chút, đây rồi. “Chúng tôi còn cách khoảng một cây số thì máy bay anh ta lật ngược và cả khu rừng dường như nổ tung. Tôi thấy chẳng ai có thể sống sót được”.
Simmons gật đầu:
- Đúng thế!
- Nhưng trong cuộn băng thu lại của Ban Thanh tra năm 1981, anh bảo anh ở gần sát đủ để cảm thấy hơi nóng khi máy bay nổ và anh có thể nhìn thấy không một ai nhảy ra khỏi máy bay. Rồi các anh bắt đầu bị hỏa lực mạnh ở dưới đất tấn công và phải bỏ ý định cấp cứu.
- Chuyện đó thường xảy ra. Thế thì sao?
- Thế thì điều nào đúng? Anh đã ở gần sát đủ để cảm thấy hơi nóng hay ở cách xa một cây số khi máy bay anh ấy lật ngửa?
Simmons quay đi bước về phía cửa:
- Tôi phải đi. Còn phải cho nai ăn.
- Anh còn 15 phút nữa. - Hatcher thì thầm nhỏ nhẹ. Anh quyết định bắn phát súng cuối cùng. - Này, Simmons, tôi chẳng nói mẹ gì hết dù anh đã nói dối Ban Thanh Tra. Bây giờ tôi chỉ muốn biết sự thật. Anh nói cho tôi biết, câu chuyện sẽ chấm dứt ngay tại đây.
Simmons thình lình quay lại, mặt anh đỏ lên vì giận.
- Việc quái gì tôi phải nói dối?
- Viên sĩ quan thẩm vấn ghi trong báo cáo vào năm 72 rằng anh đã tỏ ra sợ hãi. Thực ra, ông ta ghi rằng anh nói ấp a ấp úng. Mọi việc đã qua, anh đã trở về mặt đất nhưng anh vẫn còn sợ hãi như thế.
- Tôi mới sang đó được ba tuần, anh bạn ạ, - Simmons thình lình nói. - Đó mới chỉ là chuyến bay thứ ba của tôi. Chắc chắn tôi đã sợ hãi. Tôi cũng sợ hãi cả trong ngày chót tôi ở bên ấy. Lúc ấy tôi 19 tuổi. Lúc nào tôi cũng sợ hãi.
- Sợ hãi không phải là hèn nhát. - Hatcher nhỏ nhẹ nói.
- Hèn nhát? Đó là điều anh nghĩ à?
Hatcher lắc đầu.
- Đó chẳng phải là điều tôi nghĩ. Nhưng có thể đó là điều anh nghĩ.
Simmons mân mê chiếc nón len trong tay và lắc đầu.
- Người ta chả bao giờ quên nó được. Khủng khiếp là cái xứ ấy. - Anh la lên xúc động mạnh mẽ làm Hatcher phải ngạc nhiên. Anh cảm thấy thương hại Simmons nhưng chưa đến mức bỏ đi.
- Anh thề với tôi là anh đã không nhìn thấy ai ra khỏi chiếc máy bay đó thì tôi sẽ đi ngay, - Hatcher thì thầm. - Nhưng nếu anh nói dối, tôi sẽ biết ngay.
- Đã lâu quá rồi...
- Anh đã không phải tuyên thệ là nói thật, Simmons. Vậy có lẽ anh đã lầm...
- Bây giờ, tôi cũng không phải tuyên thệ.
- Simmons, có thể là Cody đã thoát ra khỏi chiếc máy bay đó không?
- Mọi việc đều có thể xảy ra.
- Anh nghĩ thế nào?
Có tiếng gọi to phía ngoài: “Còn 5 phút, Simmons”.
- Xong ngay, - Simmons hét lại. Anh nhìn lại Hatcher.
- Tại sao họ lại kiểm tra việc này nữa? Mọi việc đã xong rồi cơ mà?
- Có khả năng Cody còn đang ở Cambodia, - Hatcher nói dối. - Trước khi chúng tôi xì ra vụ đó, tôi phải biết chắc rằng anh ấy không chết vào ngày hôm ấy.
- Tất cả đều nằm trong báo cáo. Tôi đã kể cho họ nghe tất cả. Máy bay của anh ấy luôn luôn lao xuống. Đó là một đội bay tự sát, ai cũng biết điều đó.
- Anh muốn nói đến đội bay của Cody?
- Phải, anh ta điên bạn ạ. Điều đầu tiên tôi được nghe khi tôi về Đội Cấp Cứu Hải Không là “Anh ở toán yểm trợ cho Cody”, họ bảo. “Anh sẽ bận hết hơi đây. Tốt hơn là phải biết giữ bình tĩnh”.
Cảnh tượng xưa vụt hiện ra trong đầu Simmons. Anh dụi mắt nhưng nó vẫn còn đấy, bao giờ cũng thế. Bóng một người chạy khập khiễng điên cuồng về phía bờ sông, tuyệt vọng đưa tay vẫy, rồi tiếng nổ bùng lên, đám lửa kinh hoàng tỏa ra bao trùm các ngọn cây. Nhưng viên phi công vẫn cứ chạy, vẫy tay, một bóng ma in bóng trên nền lửa cho đến khi hình tượng này nhòe đi trong óc Simmons.
- Có thể... - Simmons nói.
- Có thể sao Simmons? Có thể Cody không chết, đó là điều anh muốn nói phải không?
Hatcher biết anh đã đẩy Simmons tới, hầu như có thể cảm thấy nỗi đau lòng của anh ta. Đó là một phần công việc, biết được khi nào họ sẽ gục và cứ tiếp tục siết chặt thêm.
- Tôi chưa bao giờ nói anh ấy chết, - Simmons hét. - Tôi chưa bao giờ nói câu ấy cả. Anh ấy có thể thoát ra khỏi nơi ấy mà tôi không nhìn thấy. Họ đang bắn chúng tôi, hỏa lực rất mạnh...
- Đạn bắn sát lắm phải không?
- Đạn chiu chiu bắn vào chiếc Huey chỉ cách mặt tôi chừng một mét.
- Do đó buộc phải chuồn ngay, phải không?
Simmons quay mặt đi. Ngoài kia tiếng rú quen thuộc của máy bay trực thăng vọng đến khi viên phi công nhấn thêm ga.
- Tôi phải đi.
- Thế thì tôi chờ đến lúc anh về.
- Lạy Chúa, anh muốn tôi kể cho anh cái quái quỉ gì?
- Sự thật.
Simmons đập mu bàn tay vào khung cửa đánh sầm, hét lên:
- Chết tiệt! Chết tiệt hết đi! Chết tiệt cả anh nữa!
- Anh luôn bị cắn rứt phải không?
Simmons không trả lời. Hatcher lại nói:
- Hãy lưu ý này, nếu anh đã trông thấy một người chạy ra khỏi máy bay ngày hôm ấy thì có thể chúng ta sẽ tìm ra hắn.
Simmons rên rỉ:
- Đêm đêm tôi vẫn có những cơn ác mộng. Chẳng có gì giúp được tôi. Vợ tôi bỏ tôi… Mọi cái đều trở thành cứt heo cả.
- Có thể việc này sẽ giúp anh quét sạch các giấc mơ đó. - Hatcher gợi ý, nhưng Simmons lắc đầu.
- Vì thế anh tới đây để quên nó đi?
Simmons im lặng gật đầu.
- Và chẳng có hiệu quả gì.
Nước mắt bỗng trào ra từ đôi mắt Simmons. Anh chớp chớp mắt cố kìm lại, nhưng nó cứ từ từ chảy thành dòng trên mặt.
- Tôi cứ suy nghĩ mãi, có lẽ tụi tôi đã có thể bốc anh ấy ra khỏi nơi đó, nhưng chúng tôi đang bị bắn tơi tả, vì thế tôi bảo họ… “Hãy ra khỏi nơi này, tôi chẳng nhìn thấy ai cả”. Mẹ kiếp! Điều đó cắn rứt lương tâm tôi ngay từ khi tụi tôi chưa về đến căn cứ và nó cứ bám riết lấy tôi, tôi không thể giữ được mãi nhưng không thể... nói về việc đó; gặp những người quen bên đó, tôi thấy sợ hãi, anh bạn ạ, tất cả chỉ có thế!
- Vậy là Cody đã thoát ra khỏi máy bay. - Hatcher nói toạc ra.
Simmons đang khóc thầm và cố giấu không để lộ ra. Anh tựa vào cửa sổ, nhìn chiếc trực thăng thổi cuốn lên các đám mây tuyết trong lúc chờ nóng máy. Cuối cùng anh hít một hơi thật sâu rồi thở dài nói:
- Một người trong bọn họ đã thoát.
- Người ta cho rằng đã tìm được những di vật của người xạ thủ ngay tại chỗ, Hatcher nói. - Nhưng không tìm thấy Cody.
Simmons nhìn vào mặt Hatcher, gương mặt anh nhăn nhúm vì đau khổ. Anh hỏi giọng run rẩy vì cảm thấy tội lỗi.
- Cái quái quỉ gì đã xẩy ra với Cody?
Hatcher nhún vai và lắc đầu.
- Nếu khi nào anh tìm ra... - Simmons vừa bắt đầu nói thì có tiếng gọi to từ ngoài trực thăng lần nữa: “ Simmons, anh làm cái quái gì đấy? Chúng ta còn việc phải làm”.
- Tôi sẽ cho anh biết, - Hatcher nói. - Còn điều này nữa, Thai Horse có nghĩa gì đối với anh không?
- Anh muốn nói đến heroin?
- Chỉ có nghĩa thế thôi à?
- Với tôi chỉ có nghĩa đó.
- Cảm ơn. Anh nên đi đi. - Hatcher nói.
Khi Simmons bước ra phía cửa văn phòng, Hatcher đứng dậy và đập nhẹ vào tay anh:
- Hãy nghe tôi một phút, những gì xảy ra bên ấy thì chẳng liên quan gì đến đây. Anh hãy quên nó đi. Đó là một cuộc đời khác. Còn những điều anh đã làm thì có lẽ ai cũng phải làm như vậy. Nếu anh đã bỏ không cứu mạng sống của Cody, thì ngược lại có lẽ anh đã cứu mạng sống của phi công, phi công phụ và của anh. Ba đổi một, đó là sự trao đổi đáng làm.
- Tôi cũng đã nghĩ thế, - Simmons nói. - Nhưng nó chẳng giúp gì cho tôi.
- Lương tâm có thể là một người bạn đường đáng sợ. - Hatcher thì thầm.
- Điều đó cũng chẳng giúp được gì, - Simmons cay đắng nói.
Anh kéo nón xuống thật chặt và rời phòng. Hatcher nhìn qua cửa sổ trong khi Simmons chạy băng qua tuyết đến trực thăng. Anh tự nghĩ, được, như vậy Cody có thể đã thoát ra. Và nếu anh ấy đã thoát ra anh ấy có thể còn sống và như thế có nghĩa là anh ấy chắc chắn không chết.
Vậy thì anh ấy ở đâu 15 năm nay?
 
- Anh đã mất dấu hắn? Anh đã mất dấu hắn? - Sloan nói nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc. - Sao anh lại có thể mất dấu một người ở... hừ, chỗ ấy tên là gì nhỉ?
- Shelby, - Zabriski trả lời. - Hắn không trở lại Billing, thưa đại tá. Hắn đáp máy bay đi Spokane và từ đấy đi Seattle, rồi lại bay đi Los Angeles ngay,
- Bây giờ anh đang ở đâu?
- Los Angeles. Khách sạn Quốc Tế. Hắn vừa đi khỏi đấy sáng nay.
- Đi đâu?
- San Diego.
- San Diego! Quái quỉ. - Sloan ngập ngừng một lát rồi nói - Chờ một phút. Tôi chuyển anh sang đường dây chờ, cứ đợi đấy.
Sloan bấm nút chờ, và quay sang một trong bốn chuyên viên máy vi tính làm việc trong bộ chỉ huy nhỏ xíu của hắn.
- Holloway, tôi cần biết nơi ở hiện tại của hai người bên Hải Quân. Thiếu tá Ralph Schwartz và trung tá Hugh Fraser. Tôi có một người đang chờ trên đường dây liên lạc đường dài. - Sloan đánh vần hai cái tên.
- Xin một phút, thưa ngài, - Holloway nói. Sloan sốt ruột gõ gõ lên bàn và lật xem hồ sơ của Murph trong khi Holloway đánh máy các câu hỏi vào máy vi tính. Bộ chỉ huy điều hành của Sloan gồm ba phòng trong một phòng công sở nhỏ cách Nhà Trắng bốn khu nhà. Có một phòng chờ nhỏ do một viên thư kí phụ trách, phòng làm việc chính, trong đó có bốn máy vi tính nối liền với một mạng lưới điện thoại và vệ tinh, còn phòng riêng của Sloan thì không để bất cứ một thứ tư liệu nào.
Chỉ không đến hai phút người trung sĩ đã tìm ra câu trả lời.
- Ra rồi, thưa ngài, - viên trung sĩ nói. - Fraser đã về hưu được 18 tháng, thưa đại tá. Ông ta là phó chủ tịch của một hãng Hàng không nhỏ ở Seattle. Không có địa chỉ dân sự hiện tại trên giấy. Trên mảnh giây kia... ơ, đây rồi. Ralph Schwartz: bây giờ ông ta là trung tá thực thụ, thưa ngài, chủ nhiệm khoa hướng dẫn không lưu ở Trường Không-Hải Quân San Diego.
- Thế đủ rồi, trung sĩ, cảm ơn. - Sloan nói và bật nút liên lạc trở lại với Zabriski ở Los Angeles. - Xong rồi, tôi đã cho tìm ra. Hãy hủy bỏ việc theo dõi và trở về.
- Hủy bỏ việc theo dõi? - Gã nhân viên ngạc nhiên hỏi.
- Hủy bỏ! - Sloan nói và gác máy. Hắn bắt đầu cười to. Hắn nghĩ: Thằng chó đẻ, nó muốn đùa với ta, chứng tỏ cho ta thấy nó vẫn còn đáng giá. Người đàn ông có cái giọng khàn khàn ấy chẳng cố  tình che đậy dấu vết của mình, anh chỉ muốn biết phải mất bao lâu họ mới bắt kịp anh. Sloan nhìn đồng hồ. 7 giờ tối, ở ngoài bờ biển là 4 giờ chiều. Hatcher đã đi khá nhiều trong 24 tiếng đồng hồ.
Một chuyên viên vi tính khác cắt ngang dòng suy nghĩ của hắn.
- Có một máy vi tính gọi đến, thưa đại tá.
- Từ đâu đấy?
- Căn cứ M.
Người gọi đang dùng một máy vi tính biến điện (computer modem) để gọi. Đó là phương pháp để bảo vệ đường dây điện thoại khỏi bị dò xét. Màn ảnh vi tính trước mặt người chuyên viên hiện lên nhiều câu hỏi cần trả lời.
- Mã số:
- Mã số hàng ngày:
- Mã số hành quân:
- Sự chuyển mức:
- Tên mã số tín hiệu gọi:
- Tên mã hóa của anh:
- Số ưu tiên của anh:
- Kiểm tra giọng nói:
Một câu trả lời không đúng từ bất cứ nơi nào trên đường dây sẽ đưa đến sự cắt liên lạc tức thời và cùng lúc bắt lấy số điện thoại gọi để theo dõi. Các con số và các tên gọi lần lượt xuất hiện trên màn ảnh trong thời gian người gọi trả lời các câu hỏi.
- Ông ta đã qua được phần kiểm tra giọng nói. - Người chuyên viên nói.
- Nối đường dây gọi vào hộp xanh. - Sloan ra lệnh và đi vào phòng làm việc của hắn. Hắn đóng cửa lại, mở khóa một ngăn kéo bàn làm việc. Ngăn kéo chứa một điện thoại có bộ phận đổi tần số của cả hai phía và xác lập một tần số khác trên một đường dây chỉ có hai người liên lạc được với nhau. Có hai bóng đèn nhỏ trên đầu chiếc hộp. Bóng xanh bảo đảm với Sloan rằng đường dây không bị nghe trộm. Nếu bóng màu đỏ sáng lên thì cuộc điện đàm được chấm dứt ngay tức khắc.
Sloan trả lời điện thoại:
- Đây là Moon Racer (Nguyệt Xa).
- Đây là Hound Dog (Chó Săn), thưa ngài. Chúng tôi đang gặp rắc rối.
- Tốt thôi, Hedritchch, chúng ta đang nói chuyện trên đường dây trắng.
- Ông bạn đã đánh thắng chúng tôi một cách dễ dàng, thưa đại tá.
- Vẫn lại chuyện cũ?
- Vâng, thưa ngài. Mọi việc đều ổn chừng nào chúng tôi còn giữ được ông ta ở ngoài hồ, việc đảm bảo an ninh ở đó dễ thôi. Nhưng ông ta quyết định đến những chỗ ăn chơi đêm. Tôi đã nói với ông ta là không thể được và tôi cũng không muốn nhắc lại những gì ông ta đã nói với tôi.
Sloan cười khúc khích.
- Tôi hiểu, tôi đã mang ông ta ra, nhớ đấy. Mấy loại người xứ nhiệt đới đều thế cả. Bầu máu nóng và mọi cái đều như thế.
- Bầu máu nóng của ông ta sẽ tung tóe ra đầy sàn nhà nếu ông ta không cẩn thận. Tôi có được phép ngăn ông ta lại không?
- Không. Ông ta là khách mời của Mỹ, không phải là tù nhân. Việc của chúng ta là bảo vệ ông ta dù cho cực nhọc thế nào đi nữa.
- Ông ấy muốn đến vũ trường Spit Personality dự một buổi dạ hội hóa trang. Chúng tôi không thể đảm bảo an ninh ở chỗ ấy dù có cả một đạo quân Israel giúp sức.
- Khi nào?
- Ngày mốt.
Sloan suy nghĩ giây lát.
- Thôi được, chúng ta đành phó thác cho may rủi thôi. Đừng cho ai biết anh đến đây. Hãy đến vào khoảng 11 giờ, báo cho người quản lí biết anh là ai. Sau đó tìm một góc kín đáo ngồi. Đó là cách hay nhất anh có thể làm.
- Sẽ lộn xộn đấy, thưa ngài.
- Luôn luôn là như thế, Hedritchch.
- Vâng, thưa ngài.
Sloan gác máy. Hắn lấy một điếu xì gà Havana dài từ trong ngăn bàn, rút nó ra khỏi ống đựng và đưa qua đưa lại trước mũi nhiều lần, thưởng thức hương thơm của thuốc lá. Rồi hắn châm lửa và lại nhấc chiếc điện thoại xanh lên. Hắn bấm một số.
- Đây? - Một giọng nói trả lời ngày sau hồi chuông thứ nhất.
- Đây là Moon Racer. Ông ấy có rảnh không?
- Có, thưa ngài.
Lát sau một giọng nói hỏi:
- Moon Racer?
- Vâng! - Sloan đáp.
- Ông đang hút thuốc đấy chứ, Moon Racer?
- Vâng. Ông biết tôi đang hút gì không?
- La Fiera.
- Đúng. Tôi đã tìm được hiệu ấy cho ông.
- Có phải là điều phiền toái mà chúng mình đã bàn luận?
- Vâng. Campon sẽ đến một chỗ gọi là Spit Personality ở Atlanta, tiểu bang Georgia, 11 giờ tối ngày mốt.
- Tức là thứ Tư.
- Phải. Có vấn đề gì không?
- Không có vấn đề gì. Hãy thưởng thức điếu thuốc.
- Tôi cũng định thế.
Sloan gác máy, đóng ngắn kéo và khóa lại. Rồi hắn nhấc điện thoại thường, nói:
- Lấy cho tôi chuyến bay sắp tới đi San Diego.
 
 
0

GÁI ĐÒ

 
Windy Porter ngồi ở chiếc bàn thường lệ trong góc quán Queen’s Pub (Hoàng Hậu), nhìn những người Thái đang cố phóng lên một con diều Chula lớn dài ít nhất khoảng 1m8 và đang gặp khó khăn. Ở đầu bên kia Công viên Sanam Luang, nhiều người đấu diều Pakpao đã phóng lên không những con diều nhỏ một người điều khiển, và đang la hét động viên toán người bên kia.
Khi con diều to hình rồng cuối cùng đã bắt gió, lồng lộn bay lên không, một con diều Pakpao tấn công, bay ngoằn ngoèo về phía con diều to Chula, cố vượt qua nó, bay đến cuối sân của phe diều Chula và thắng cuộc. Diều Chula rất khó điều khiển, nhưng đội chơi diều rất kinh nghiệm, họ cắt ngang đường đi của con diều pakpao, cản dây của nó bằng dây của họ và ép con diều nhỏ phải lao xuống đất. Có rất nhiều tiếng hoan hô và bấy giờ đến lượt phe chơi diều Chula la hét thách thức, còn người trẻ tuổi có con diều pakpao nhặt con diều bị rách lên rồi đi về phía sân của toán mình với vẻ bẽ bàng. Một người chơi diều pakpao khác có con diều màu tím với cái đuôi đỏ lấp lánh, quấn chặt dây sẵn sàng chạy...
- Cá một tờ đỏ là con diều Pakpao thắng, - Porter nói với Gus, người chủ quán, và xòe tờ bạc 100 baht màu đỏ lên bàn.
- Bắt cá. - Người chủ quán, dân gốc Anh trả lời và nhận độ cá 5 dollar.
Tay chơi diều này thấp, vạm vỡ, bắt đầu chạy về phía đội Chula, rồi thả dây cho diều lên cao, lên cao nữa, đến gần 30 mét, mới bắt đầu lái diều về mục tiêu giả, di chuyển như một hậu vệ giỏi đưa bóng lên, kéo con diều màu tím xuống, điều khiển nó tránh xa sợi dây dài của con diều Chula rồi vừa luồn qua dưới con diều hung hãn hình rồng một cái là anh thả ngay dây cho diều vút lên. Anh ta rất giỏi, điều khiển diều xuất sắc, cho diều lao xuống dưới con rồng to khi chúng sắp sửa đụng nhau, giữ nó lại trong một giây rồi thả cho bay lên chỉ quẹt nhẹ vào con diều to một tích tắc, rồi anh ta tiếp chạy đến đích và thắng cuộc.
- Thật là một lối chơi thể thao. - Porter khoái chí hét lên. Hắn quay sang gã chủ quán rồi với vẻ hài lòng, thỏa mãn. - Chỉ cần trừ vào giấy tính tiền thôi, Gus.
Porter thích những trận đấu diều. Hắn rời văn phòng lúc 4 giờ 30, đi bộ khoảng hai cây số qua các đường phố đông đúc của Bangkok cốt để tránh các chỗ tắc nghẽn xe cộ ồn ào, đến quán Hoàng Hậu và bao giờ cũng ngồi ở chiếc bàn trong góc có tầm nhìn quang đãng ra công viên Sanam Luang và ngọn Tháp Vàng lấp lánh trên chùa Sakhet. Porter được điều về Bangkok từ khi chiến tranh ở Việt Nam kết thúc. Hắn thích vẻ đẹp cổ kính của thành phố này và đặc biệt là dân tộc Thái với thói quen phổ biến là nói: “Mai pen rai” có nghĩa là “Không hề gì”. Hắn đã từng là bạn thân của Buffalo Bill Cody trong nhiều năm, vốn là dân Boston chính cống. Một ngày hè năm 1968, hắn bất ngờ bỏ công việc điều hành ở một trong những nhà băng lớn nhất của thành phố để nhận lời đề nghị của Bill Cody giữ một chân trong Ban tham mưu của Buffalo Bill ở miền Nam Việt Nam, hắn đã ra đi để tìm mục đích cho cuộc đời ở một nơi mà đa số người ta đều sợ hãi và muốn tránh xa. Sau mười năm sống trong bầu không khí lố lăng ở Back Bay với công việc nhà băng thấp hèn hàng ngày, mà hầu hết chỉ là từ chối cho vay và tịch thu tài sản của những kẻ không gặp may, Sài Gòn là một luồng gió xuân đối với Porter. Vị đại tướng đã sắp xếp cho hắn về làm công tác cố vấn tình báo cho tòa Đại sứ ở Bangkok khi cuộc chiến tranh mà lúc đầu có vẻ rầm rộ này thất bại. Chuyến về thăm Hoa Kì cuối cùng của Porter cách đây đã mười năm rồi.
Dù xấp xỉ năm chục tuổi, Porter vẫn cắt tỉa tóc mai, nuôi một hàm râu mép thật rậm mà hắn chải sáp hàng ngày, và đã học ngôn ngữ cùng phong tục của Thái Lan. Vì những mục đích thực tế, hắn đã trở thành dân bản xứ. Hắn cũng sùng bái Ông Già và xem công việc ngầm theo dõi Wol Pot của hắn là một trách nhiệm được đặc ân giao phó.
Porter không được huấn luyện về công việc tình báo và theo dõi, nhưng hắn đã cố xoay xở để theo kịp gã cung cấp tên người Thái Lan ấy, mặc dù hắn đã gặp nhiều điều bực bội. Wol Pot đã dời chỗ ở hai lần kể từ lần đầu tiên hắn bàn chuyện Murph Cody với Porter. Rõ ràng hắn hay di chuyển và sợ hãi một điều gì đó. Liệu gã Thái có thể lừa bịp họ không? Nếu thế, làm cách nào hắn biết được về chuyện Murph Cody? Tại sao hắn lại chọn Cody? Và tại sao Wol Pot lại từ chối đề nghị của Porter không vào trong Tòa Đại Sứ ở để được bảo vệ? Rõ ràng là con người này không tin ai cả.
Porter xem đấu diều cho đến lúc quả cầu lửa mặt trời tỏa sáng long lanh từ từ lặn xuống sau Núi Vàng, thoạt đầu phản chiếu ngọn tháp vàng lấp lánh, rồi in bóng nó lên nền trời đỏ thẫm, và cuối cùng hòa cái đường nét hình quả chuông đó vào bóng tối. Màn đêm bắt đầu buông xuống Bangkok, các ngọn đèn bật sáng, khách du lịch rời khách sạn đi tìm các thú vui đêm, còn Windy Porter rời quán Hoàng Hậu, vội vã đi qua vài khu nhà tới công viên Bho Fhat ở bên kia chùa Sakhet, đấy là chỗ hắn thức canh trên cái ghế dài quen thuộc khuất sau các bụi hoa nhài.
Trong đầu, Porter chẳng thắc mắc gì về việc Wol Pot đang sợ hãi một cái gì, sau lần tiếp xúc đầu tiên Wol Pot trở thành thỏ đế. Mới đầu hàng ngày hắn sinh hoạt phóng túng. Porter đã từng theo hắn đến một chiếc thuyền neo trên sông, đến những nơi hắn đột nhập ăn đêm dọc theo các con kênh, đến các ổ gái điếm trên đường Potterpong và đặc biệc là Yawaraj, khu vực người Hoa. Gã con hoang nhỏ con này rất ghiền món ăn nóng của người Hoa. Thế rồi hai hôm trước đây Pot rời phòng ở và biến mất. Porter hoảng hốt. Con chồn nhỏ ấy là người duy nhất hắn biết có thể dẫn bọn hắn đến Murph Cody, nếu Cody còn sống. Hắn đã loan tin đi khắp Thái Lan, đến các tay chỉ điểm của hắn, đến các nơi liên lạc, các bạn bè, và tìm đến vài chỗ dẫn mối, nhưng tất cả đều uổng công.
Thế rồi Porter gặp may. Một nhà sư, bạn lâu năm của Porter, nghe nói Porter đang tìm một người tên là Wol Pot. Ông ta bảo:
- Chắc chẳng ai khác ngoài người đàn ông đã đứng tuổi mới vào tu trong chùa Sakhet, và người ta đã bắt gặp đêm nào cũng bỏ chùa đi. Tư cách thật lạ lùng vì kỉ luật ở tu viện rất nghiêm khắc mặc dù là hoàn toàn tự nguyện.
- Hắn vào tu viện khi nào? - Porter hỏi.
- Mới được hai ngày. Bởi thế mới thấy cách cư xử của gã có vẻ lạ lùng, - nhà sư đáp.
- Khob khun krap, - Porter nói lời cảm ơn nhà sư bằng tiếng Thái. - Tôi xin thầy khoan kỉ luật hắn cho tới khi tôi xác minh lại xem có đúng là hắn không?
Nhà sư đồng ý. Nếu đó là Wol Pot thì hắn ta đã làm một việc táo bạo, Porter nghĩ, nhưng chắc chắn là cách đánh lừa khéo léo. Porter biết rõ các yêu cầu đối với các sư sãi mới vào tu đạo Phật, dòng Khất sĩ. Một trong những cảnh quen thuộc nhất ở Thái Lan là hàng trăm nhà sư vận áo cà sa, đầu cạo trọc, đi trên các đường phố hoặc ngồi tham thiền trong hàng trăm ngôi chùa ở thành phố, trong các tu viện hoặc các chùa chiền, những kiến trúc phổ biến nhất ở xứ này. Lần đầu tiên đến Bangkok, Porter đã bực mình với các sư sãi, họ làm hắn nhớ đến các nhà sư Ấn Độ đã làm cho đa số các phi trường ở Mỹ có một cảnh tượng lạ lùng bởi vô số các chùa chiền của họ. Nhưng trong khi hắn không định hiểu biết các lẽ huyền bí của đạo giáo phương Đông, thì dần dần hắn lại đi tới chỗ chấp nhận và kính trọng những người đã thế phát này.
Trong mùa mưa, vào lúc cuối hạ sang thu, các dãy tu viện này đông nghẹt hàng ngàn chàng trai trẻ. Truyền thống của họ là phải vào chùa tu, có khi hai tuần, có khi sáu tháng, học hỏi đạo hạnh, hãm mình từ bỏ vật chất. Trong thời gian ở đó, họ bắt buộc phải tuân theo 227 điều răn, không được nói dối, nói vô căn cứ, không tà dâm, không uống rượu, không xa hoa và vui chơi lông bông. Vật sở hữu duy nhất của họ là chiếc áo cà sa quen thuộc và một chiếc bình bát bằng đồng mà họ dùng để xin hai bữa cơm hàng ngày mà giới luật cho phép. Sự đi tu của họ là điều tự nguyện dâng hiến, không có gì cấm họ bỏ về bất cứ khi nào họ muốn. Nhưng khi họ còn phát nguyện giữ giới luật thì họ phải tuân theo các yêu cầu. Buổi tối họ tụng kinh trong chùa và đi ngủ lúc mặt trời lặn, thức dậy trước bình minh để ra đường với chiếc bình bát đi xin bữa ăn đầu tiên trong ngày.
Vì cửa chùa rộng mở đối với mọi người và các sư sãi được tự do đi lại từ chùa này sang chùa khác nên nơi ấy thật là một chỗ lí tưởng để ẩn náu, đặc biệt là vào thời gian này, lúc có rất nhiều người vào tu.
Đêm ấy Porter đến ngồi ẩn ở phía bên kia ngôi chùa có mái vòm thếp vàng to lớn chờ đợi. Mặt trời chỉ vừa lặn hắn đã thấy một vị sư áo vàng lẻn ra khỏi chùa. Porter đi theo nhà sư nhỏ thó đang bước đều đặn đến Hua Lamphong - nhà ga chính cách chùa chừng hai cây số, ở đó nhà sư lấy quần áo để trong một hốc tủ khóa của nhà ga và vào phòng nghỉ thay đồ. Khi ra nhà sư đã diện bộ đồ tây, Porter nhận ra ngay tức khắc - đúng là Wol Pot. Gã Thái kêu một chiếc taxi và lộn trở lại Yawaraj, khu vực người Hoa, để ăn tối, trong một cửa hàng nhỏ không bảng hiệu ở khu cũ. Ăn đã rồi hắn thả bộ xuống kênh Klong Phadung, một trong nhiều nhánh của con sông chính Mae Nam Chao Phraya, ranh giới phía Tây của thành phố; ở đây Pot mặc cả giá với cô gái điếm nhỏ xíu, một trong nhiều cô gái đò buôn bán hàng hóa của họ trên những chiếc hang yao, một loại ghe đuôi dài được che kín bằng những tấm phên che. Pot vui chơi một giờ đồng hồ với cô gái trẻ rồi quay trở lại ga xe lửa, thay lại chiếc áo cà sa và về tu viện lúc nửa đêm.
Đó là một buổi hành lễ đối với Pot và Porter thấy khó chịu mặc dù đêm nào hắn cũng đi theo Pot và chỉ ra về khi biết gã Thái này đã an toàn trở về nơi trú ngụ.
Đêm nay Porter hơi bực mình vì hắn đã hi vọng chuyển được việc thức canh đêm của hắn cho một người mới là Hatcher. Hắn không chắc có thể tin vào được Hatcher. Hatcher là người của Sloan. Mà Porter không bao giờ ưa Sloan, không bao giờ ưa những cuộc chiến tranh trong bóng tối hắn làm, phá vỡ cả mọi luật lệ và hoạt động, cái mà Porter cho là thể chế đúng đắn. Nhưng bây giờ là chuyện của Sloan và vì Hatcher chưa ra mặt nên Porter còn phải tiếp tục theo dõi để chắc rằng Pot không lẻn ra ban đêm và biến mất lần nữa, mà lần này thì toi hết công hắn theo dõi bấy lâu.
Nếu Pot đi chơi thì hắn sẽ rời khỏi chùa ngay sau khi mặt trời lặn. Porter châm một điếu thuốc “555” và chờ đợi.
Đường phố im ắng rất ít xe cộ qua lại. Tiếng ồn ào đinh tai nhức óc của thành phố đã lắng xuống. Một bà già hối hả đi lại miếu cô hồn ở ngay cạnh chùa Sakhet, đặt một vòng hoa lài trước bệ cầu nguyện, cắm một bó nhang vào đất và đốt lên. Rồi bà chắp tay lại, vái lạy trong nhiều phút, cầu khẩn sự rộng lượng của thần linh. Porter tự hỏi bà ấy đang cầu xin gì. Thêm một đứa cháu mạnh khỏe? Một mùa bắp tươi tốt? Một vé số trúng?
Dòng suy nghĩ của hắn bị cắt ngang vì Wol Pot đã ra. Cánh cửa bên hông đền chỉ hé mở vừa đủ để Pot lách người qua. Porter dụi tắt thuốc, nhìn gã đàn ông nhỏ thó đang nép mình trong bóng tối, dáo dác nhìn quanh, rồi đi về phía ga xe lửa. Porter bám theo, giữ ở xa một khoảng cách đủ để Pot khỏi nghi ngờ. Hắn tập trung quá vào Pot nên không thấy hai người đàn ông khác cũng đang bám theo gã Thái này.
Họ là người Hoa, nhỏ con và gân guốc, mặc bộ quần áo màu đen mà nhiều người Hoa ưa chuộng. Họ theo Pot đến ga xe lửa, ở đó hắn thay quần áo thường dân rồi đi đến bìa khu Yawaraj. Pot ra khỏi taxi, thả bộ xuống đường Worachak ồn ào náo nhiệt, một trong những phố chính của khu vực người Hoa. Khi hắn rẽ vào những con hẻm ồn ào, chật hẹp của khu vực người Hoa, hai gã người Hoa tách ra, mỗi gã đi bên đường. Pot thả bộ qua các hẻm ngoằn ngoèo sáng đèn nê ông trong hai gã kia vẫn đeo sau hắn. Chỉ đến lúc Pot đi vào một quán ăn nhỏ trong con hẻm nằm trên đường Bowrong thì hai gã Tàu mới nhận ra là còn có Porter cũng bám đuôi Wol Pot.
Một trong hai gã mới khoảng hai mươi tuổi mái tóc dài sấy khô và để một hàng ria mép. Gã kia già hơn, mặt chằng chịt sẹo và dữ dằn. Một vết cắt sắc chia đôi mày phải của hắn, làm con mắt bên dưới hơi bị híp lại. Gã là người cầm đầu và chính gã đã phát hiện ra Porter. Gã đã trông thấy tên Mỹ to con ở trước ga xe lửa và bây giờ lại thấy hắn vừa ra khỏi taxi ngay phía sau Pot. Gã huých tên đồng bọn và hất hàm về phía bên kia đường, chỗ Porter đang giả vờ xem hàng trong tủ kính để tìm Pot trong quán ăn. Khi Pot đã ngồi xuống, Porter vào một quán mì đối diện ở phía bên kia đường, tìm một chỗ ngồi gần cửa sổ phía trước, gọi món ăn trong khi vẫn không rời mắt theo dõi gã người Thái đó.
Hai gã người Hoa đâm ra chú ý đến cả Porter lẫn Pot. Bọn họ lại quyết định tách ra, gã trẻ theo dõi tên Mỹ, còn gã Mắt Sẹo bám sát tên người Thái. Họ chỉ mới theo dõi Wol Pot ngày hôm ấy nên không nắm được thói quen hằng đêm của hắn. Nhưng Mắt Sẹo tỏ ra chẳng kính nể gì hắn lắm. Pot đã lẩn thoát khỏi tay họ thành công và tìm ra chỗ ẩn náu rất tốt, nhưng hắn lại làm đổ bể tất cả vì đã đi ăn ở khu vực người Hoa, nơi hắn dễ bị lộ nhất trong thành phố. Bây giờ thì hình như tên Mỹ cũng đã hiểu được vì sao Pot lại đi trốn. Gã Thái rất khôn ngoan, nhưng hắn cũng tỏ ra vô ý một cách ngu muội.
Pôt lấy ra tờ 100 baht màu đỏ, giơ lên đầu. Cô gái đã trông thấy, nheo mắt nhìn kĩ tờ giấy bạc rồi lắc đầu. Pot ngạc nhiên vì nghĩ rằng cái giá hắn đưa ra là đã rộng rãi rồi. Hắn lại rút ra tờ giấy 500 baht màu tím và giơ lên. Nàng cân nhắc rồi đưa hai bàn tay ra, lòng bàn tay úp vào nhau, rồi từ từ nắm lại. Pot suy nghĩ một lát rồi đưa cả hai tờ tím và đỏ lên. Nàng gật đầu. Cuộc thương lượng đã xong.
Windy Porter nhìn Wol Pot leo qua hai chiếc thuyền để sang chiếc hang yao của cô gái đò hắn mới bắt. Hai người đứng yên trên khoang thuyền một lát, nói qua nói lại, rồi cuối cùng cô gái nhận hai tờ giấy bạc và dẫn Pot vào trong khoang thuyền phía sau được che bằng phên đan.
Nếu Porter đoán đúng thì Pot sẽ ở trong ấy khoảng nửa tiếng. Thoạt đầu Porter chẳng để ý lắm đến một chiếc hang yao khác đang lướt trên mặt nước và cặp nhẹ vào một trong hai chiếc thuyền ở gần đó. Người chèo thuyền nhanh nhẹn bước về phía đuôi thuyền và cột hai thuyền vào nhau. Hắn bước sang chiếc hang yao nói chuyện gì đó với một cô gái điếm. Một số tiền được trao tay. Người chèo thuyền hất hàm về phía cái ổ điếm nổi của Pot.
Porter đánh hơi thấy có điều gì không hay đây. Hắn đột ngột lướt nhanh qua gã người Hoa trẻ đang đi về phía hắn, leo xuống chiếc thuyền và đến sát sau người chèo thuyền. Gã trẻ giật mình vì hắn hành động nhanh đến thế, nhìn chằm chằm vào hắn một lát rồi mới bước theo hắn.
Phía bên trong khoang thuyền có mái phên che, cô gái điếm trẻ bắt đầu trổ tài quyến rũ. Nàng đã cởi chiếc sơ mi, rồi chiếc quần của Pot ra và tự cởi áo váy của nàng. Nàng cọ cặp vú quả đào của nàng lên ngực hắn, trêu chọc hắn, rồi nàng cúi xuống và bắt đầu vuốt ve để kích thích hắn. Nàng đặt một bàn tay lên ngực hắn và nhẹ nhàng đẩy hắn nằm xuống tấm đệm rơm trên sàn. Pot sướng ngây ngất, chẳng biết đến màn kịch đang diễn ra ở phía ngoài cách đây chừng 6 mét. Hắn không cảm thấy chiếc hang yao lắc nhè nhẹ khi Mắt Sẹo thận trọng bước sang.
Porter bước sang chiếc thuyền thứ nhất ngay khi Mắt Sẹo từ đó bắt đầu bước qua chiếc hang yao của Pôt.
“Này!” Porter hét lên, chạy lao đến sau gã. Gã quay lại. Con mắt hư của gã đảo điên cuồng trong hố mắt. Bàn tay gã thò ra ngoài ống tay áo và Porter nhìn thấy ánh thép con dao găm trong bàn tay khi gã Mắt Sẹo phóng đến hắn.
“Lạy Chúa!” - Porter hét lên. Khi Mắt Sẹo đâm, Porter né sang bên và cảm thấy lưỡi dao xướt qua áo, hắn chộp lấy cổ tay gã vặn ra ngoài. Mắt Sẹo bị mất thăng bằng, con dao văng khỏi tay gã. Vì bị vặn người sang một bên, gã vấp phải be thuyền và ngã ngửa xuống sông.
Chỉ một giây sau, Porter cảm thấy đau buốt vì một lưỡi thép lạnh cắm ngập vào một bên lưng, làm hắn bị thương. Hắn quay lại chạm mặt gã Tàu trẻ. Cánh tay của gã trẻ lại vung lên nhưng Porter đã xoay người tránh và con dao đâm xượt sang bên. Phía sau hắn, Mắt Sẹo đã trồi lên mặt sông. Gã nắm lấy be thuyền hang yao và nhún người nhảy lên ghe, chộp ngay lấy lưỡi dao găm văng trên sàn.
Porter đang bận với gã Tàu trẻ không còn thấy được gì khác. Hắn tống một quả đấm khổng lồ vào mặt gã Tàu trẻ, cảm thấy xương mũi gã vỡ vụn ra và nghe thấy gã thét lên đau đớn. Hắn thúc mạnh đầu gối vào giữa háng của gã, và kẻ đã tấn công hắn gập đôi người khuỵu gối xuống. Phía sau hắn, Mắt Sẹo rất thận trọng và cũng chẳng quá hấp tấp đâm một mũi dao vào gáy Porter, cắt đứt dây thần kinh xương sống làm hắn bại liệt.
Porter xoay lại, đã trọng thương, đờ đẫn nhìn Mắt Sẹo, hai cánh tay buông thõng xuống đung đưa vô dụng. Mắt Sẹo đâm lần nữa, vung mạnh lưỡi dao lên thành hình vòng cung hẹp rồi cắm phập đến tận chuôi vào sườn Porter. Gã đàn ông to con gần như mất hết cảm giác. Hắn chỉ nhận thấy như có một vật gì đang ở bên trong người hắn, thấy nó chạy sâu vào lồng ngực hắn. Rồi tim hắn ngừng đập, đôi mắt trợn lên. Mắt Sẹo rút con dao ra và lao vào tên Mỹ to con, đấm hắn ngã nhào xuống sông.
Pot nghe tiếng náo động, cảm thấy chiếc hang yao chòng chành, rồi nghe thấy tiếng rú của đàn bà, rồi lại một tiếng rú khác. Hắn giật nẩy mình, sợ hãi, dường như có một luồng điện vụt chạy qua các dây thần kinh. Hắn bật dậy, quờ quạng tìm quần rồi nghe tiếng cái gì rơi xuống nước đánh ùm một cái thật to. Hắn bò lên nhìn qua khe hở của tấm phên đan thấy gã Tàu trẻ đâm Porter, hắn kinh hãi nhìn thấy Mắt Sẹo trồi lên khỏi mặt nước, tấn công gã to con và đấm hắn văng qua mạn thuyền. Mắt Sẹo quay lại nhìn Wol Pot, con mắt lành của hắn nhấp nháy một cách độc ác.
Pot sợ điếng người. Hắn vặn người, lăn qua ba chiếc hang yao chỉ mặc độc có chiếc quần lót và rơi tòm xuống dòng nước đen ngòm.
Trên bờ, sự náo động của màn bi kịch ngắn ngủi, dữ dội đang lắng dần nhưng vẫn còn nhiều tiếng la hét om sòm. Mắt Sẹo biết gã người Thái lại thoát khỏi tay hắn lần nữa. Hắn nắm lấy ngực áo gã đồng bọn, đẩy gã vào trong chiêc hang yao mà hắn đã trưng dụng rồi quay sang cô gái điếm trẻ. Hắn đẩy ả vào trong khoang phên đan che kín và dí mũi dao vào cổ ả, hỏi:
- Hắn cư trú ở đâu? - Giọng hắn rít lên.
Cô gái lắc đầu, không nói ra lời vì quá sợ hãi.
- Tao phải tìm Thai Horse ở đâu? - Hắn hỏi.
- Ai? - Cô gái ấp úng.
Tên sát nhân hiểu ả này chẳng biết gì hết.
- Cứ khai với cảnh sát đi rồi tao sẽ trở lại rạch mặt mày ra cho đến khi trông mày giống như một mụ già, - hắn dọa rồi nhảy qua chiếc hang yao kia chèo nhanh vào bóng tối.
 
 
0

GÁI LỀU

 
Hatcher đang đứng trong phòng quan sát dõi theo các chiến đấu cơ lướt nhanh như những con chuồn chuồn bạc trên Thái Bình Dương và đáp xuống sân bay của Hải Quân. Một chiếc F-16 nghiêng cánh lúc đến gần, phản chiếu ánh mặt trời buổi sáng lấp lánh trên lớp vỏ máy bay trong chớp nhoáng, rồi lấy lại thăng bằng, bung càng ra vài giây trước khi các bánh cao su lăn rít trên đường băng.
Chiếc phi cơ hình viên đạn lướt nhẹ đến ô đậu và dừng lại, người phi công nhô ra khỏi phòng lái. Ông ta nhỏ người, nhỏ cả mọi chiều - thấp, gầy và nhỏ xương - trông có vẻ bé đi trong chiếc mũ bay, chiếc dù đeo trên lưng, chiếc áo phao nổi, và do cả viên trưởng đội bay đứng cao sừng sững như một người khổng lồ bên ông ta. Viên phi công bước xuống thang, nói chuyện với người trưởng đội bay vài phút rồi đi vòng quanh chiếc chiến đấu cơ chỉ trỏ chỗ này chỗ kia. Khác hẳn với viên phi công Hugh Fraser bay cặp với Cody mà Hatcher đã phỏng vấn đêm hôm trước ở Seattle, viên phi công này có vóc dáng và cử động đầy sinh lực đang nói điều gì với người trưởng đội bay lẽo đẽo theo sau ông, có vẻ phiền muộn và luôn luôn gật đầu tỏ vẻ đồng ý với ông ta.
Hatcher biết phải mất mười hay mười lăm phút nữa viên phi công mới xong việc kiểm tra sau khi bay. Anh gửi lại mảnh giấy cho viên sĩ quan trực các chuyến bay rồi đi xuống, băng qua một khu nhà trên con đường cỏ hai bên được xén tỉa gọn gàng để tới Câu lạc bộ sĩ quan. Vào trong, anh đứng ở hành lang dẫn tới phòng họp. Anh đã vào phòng này một lần cách đây mười tám năm. Trong mức độ mà anh còn nhớ, nó chẳng thay đổi tí nào, kể cả các bàn dường như vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Căn phòng giát gỗ sồi bóng loáng, có mùi xi đánh bóng và sáp đánh sàn. Trên tường treo thành hàng những bức ảnh của những người đã phục vụ ở đây và đã đi nơi khác: tươi trẻ, tóc tai sạch sẽ áo quần chỉnh tề, những chàng trai trẻ lòng hăm hở mặc những bộ đồ trắng tinh đang mỉm cười trong trắng cho đến muôn đời. Ngành Hải Quân không bao giờ thay đổi. Khía cạnh lôi cuốn của ngành này là ý thức trách nhiệm cao, ngay việc đánh bóng bàn ghế đồ đạc cũng là một truyền thống. Đối với Hatcher căn phòng này đượm một nỗi buồn. Ấy thế mà chỉ vài giờ nữa nơi này sẽ trở nên sống động với tiếng cụng li, với những lời chúc tụng cùng các bài hát ca ngợi vinh quang của đoàn bay.
Anh dạo bước vòng quanh sàn nhảy vắng vẻ, gót giày gõ lộp cộp trên sàn gỗ cứng. Thật mỉa mai là bóng ma của Murph Cody đã đưa anh trở lại nơi này, trở lại căn phòng thân thuộc, nơi đã diễn ra một tình bạn với biết bao thử thách gay go, với những trò đùa nghịch lúc vui, lúc buồn, đã được xây dựng trên những lời thề chung thủy và trang trọng, rồi đã kết thúc một cách không ngờ. Trong căn phòng thân thuộc này Cody đã kết liễu tình bạn đó một cách dứt khoát, giống như một viên đạn bắn vào tim cắt đứt sự sống.
Ngày đó Hatcher đã đến dự buổi tiệc với lòng tràn đầy mong đợi hào hứng. Anh đã không gặp Murph một năm kể từ hôm đám cưới bạn anh. Anh đã đến với lòng mong muốn có một cuộc họp mặt xả láng.
Nhưng Cody với cái tính bất thường của hắn đã sỉ nhục và làm cho anh hổ thẹn bằng một cái cách mà vào lúc khác có thể coi đó là một cái tát bọc găng đập vào mặt anh và anh sẽ sẵn lòng chọn vũ khí thách đấu vào sáng sớm hôm sau. Hatcher không bao giờ quên được nụ cười chế nhạo lạnh lùng, những câu nói gay gắt được thốt lên đủ to để làm ngưng lại mọi câu chuyện trong phòng. Cody đặt vào tay Hatcher một ly sâm banh và nâng cao nó lên bằng cái kiểu chúc tụng giễu cợt, nói: “Xin chúc mừng một thằng bọ vẫn còn là một thằng bọ. Xin chúc mừng một thằng bọ được ngành nuôi ăn, nuôi mặc và cho nhà ở, được dạy dỗ nghề nghiệp và bây giờ hắn quay lưng trở lại. Xin chúc mừng một thằng bọ mà tôi đã từng gọi là bạn hiện đang né tránh một cuộc chiến tranh đang xảy ra. Xin chúc mừng một thằng hèn nhát.” Rồi anh ta đổ li rượu nho lên quầy và quay lưng bỏ đi. Vì lời thề giữ bí mật của Đội Bóng Tối (Shadow Brigade), Hatcher đã không trả lời. Mọi cặp mắt đều nhìn theo Cody bỏ ra cửa. Kí ức ác nghiệt về một căn phòng mà ở đó các người anh hùng đã đùa giỡn một cách bình thường.
- Tôi là trung tá Schwartz. Anh đang.. tìm tôi?
Hatcher quay lại nhìn người phi công. Thực tế, Schwartz trông còn có vẻ nhỏ hơn khi nhìn từ xa. Ông ta nói rất nhanh với một kiểu lắp bắp lạ lùng, ngừng không đúng chỗ và nhấn giọng sai âm tiết, như một người cố tránh bệnh nói lắp kinh niên. Chiếc nón và cặp kính bay để lại những vết hằn dưới mắt ông và mái tóc cắt ngắn bù lên như một giọt mực trên sọ. Trông ông chẳng có vẻ gì là người chỉ huy chương trình huấn luyện tại một trong những căn cứ chính của Hải Quân. Trông ông ta giống một thần đồng ở trường trung học hơn.
- Trung tá Hatcher, - Hatcher nói dối, và chìa tay ra. - Ban Kiểm tra Hải Quân.
- Tôi... phải làm gì bây giờ? - Schwartz hỏi với nụ cười cởi mở. Ông ta tấn công Hatcher theo một kiểu khác hẳn với Simmons. Trái ngược với vẻ ngoài luôn luôn thận trọng, Schwartz chẳng có vẻ gì là đắn đo trong lời nói cả.
- Chúng tôi đang kết thúc vài chuyện nhỏ, - Hatcher nói nhỏ nhẹ. - Anh biết Hải Quân thế nào rồi.
Schwartz đáp:
- Sau 18 năm rồi, tôi phải... À, chúng ta có thể vừa làm việc này vừa ăn bánh sandwich không? Tôi đang đói meo.
Sau khi kêu bánh mì thịt và bia, Schwartz hỏi:
- Chuyện về An Khê, Hà Nội hay Cody?
- Đúng là một sự lựa chọn, - Hatcher lẩm bẩm.
- Tôi bị bắn rơi ở gần An Khê, - Schwartz nói. - Tôi làm tù binh gần bốn năm ở Hà Nội, và tôi là một trong những người bay cặp theo Cody. Tôi đã bị hỏi rất nhiều về cả ba việc.
- Đây là chuyện về Cody, - Hatcher thì thầm.
- Này, - người đàn ông thấp nhỏ nói. - Tôi biết anh không phải là người của ủy ban. Hugh Fraser đã điện thoại cho tôi đêm qua. Về phía Hải Quân, vụ Cody đã được khóa sổ. Họ chưa bao giờ nghe nói tới anh.
Trước khi Hatcher có thể nói được điều gì. Schwartz giơ một tay lên.
- Tôi chẳng thấy có vấn đề an ninh nào dính líu vào đây cả, cái mà tôi có thể nói với anh dù sao cũng nằm trong hồ sơ lưu rồi. Chuyện này là thế nào?
Hatcher quyết định nói cho Schwartz biết chỉ vừa đủ để hắn quan tâm và tiếp tục câu chuyện.
- Tôi muốn anh giữ kín cho câu chuyện tin cậy này, - Hatcher nói, dừng lại một tí để tập trung những suy nghĩ của mình lại.
- Cái đó còn tùy, - Schwartz thận trọng nói.
- Anh biết cha anh ấy là đại tướng Bill Cody chứ?
- Dĩ nhiên.
- Ông Bill Cody đang chết dần vì ung thư. Tới lúc này thì người ngoài cũng chưa ai biết và ông ấy thích giữ như thế cho tới khi tin này lọt ra ngoài.
- Ông ấy còn sống được bao lâu nữa? - Schwartz hỏi, rõ ràng là sửng sốt và thật sự buồn khi nghe tin này.
- Có thể 6 tháng.
- Cứt!
- Có điều là Ông Già chưa bao giờ thỏa mãn với cái tin là Cody đã bị chết, - Hatcher khàn khàn nói. - Vì thế họ nhờ tôi kiểm tra lại một lần chót, chỉ vì Ông Già thôi. Tôi đã làm tình báo cho ông ấy ở Việt Nam.
- Anh muốn biết điều gì? - Schwartz hỏi.
- Tôi cũng phần nào quan tâm đến anh ta. Anh có thích Cody không?
Trong khi Simmons và Fraser miễn cưỡng nói ra thì ngược lại Schwartz thao thao bất tận. Người đàn ông thó nhỏ ấy nói huyên thuyên dường như Hatcher đã bấm vào cái huyệt nói của ông ta.
- Chắc chắn. Tôi rất thích anh ta, - Schwartz mở miệng, rồi dừng lại một lát, suy nghĩ lại câu hỏi. - Thế này này, đây chẳng phải là câu hỏi “anh có thích hắn không”, Murph chẳng phải là loại bạn bè dễ thân mật, anh biết đấy. Hắn là, ừ, ừ...
- Khó gần? - Hatcher gợi ý.
- Khó gần, đúng như vậy, - Schwartz nói.
- Khi tôi nói chuyện với Fraser, anh ta cho Cody là loại người phần nào thích cuộc chiến tranh tự tử này, đã đưa người của mình vào chỗ chết không thể tránh được.
- Tôi hiểu, Fraser là một gã lúc nào cũng chua chát, - Schwartz nói. - Tai nạn của hắn chả tránh được.
- Sự thực việc xảy ra như thế nào? - Hatcher hỏi.
- Hắn đang bay đến Forrestal, lúc sắp đến nơi thì máy bay bốc cháy, đành phải hạ cánh xuống biển. Hắn bị gẫy cột sống. Thật là mỉa mai, anh biết đấy, tất cả mong muốn của hắn chỉ là làm nhiệm vụ vận tải. Thành phố đã quyến rũ hắn.
- Ừa, nhưng vụ Cody xảy ra trước đó lâu mà.
- Anh thấy đấy, Fraser là phi công phản lực, hắn mơ giấc mơ vận tải, - Schwartz nói. - Đội bay Hải Quân dứt khoát không phải là lí tưởng của hắn đối với nhiệm vụ vinh quang thời chiến đấu.
- Đội bay Hải Quân à? - Hatcher hỏi. Đó là một từ anh chưa biết đến.
- Đó là tên gọi đội của chúng tôi, - Schwartz giải thích. - Chúng tôi là phi đội duy nhất ở trong đất liền của Hải Quân. Chúng tôi ở đấy chủ yếu là để yểm trợ lực lượng Tuần Tiễu Trên Sông, bảo vệ cho các đoàn vận tải trên sông, các loại bay tới, bay lui rác rưởi ấy mà, nhưng công việc thật sự của chúng tôi là yểm trợ các cuộc hành quân trên bộ. Đó là một nhiệm vụ khó chịu. Tôi cho rằng có điểm đúng trong những điều Fraser nói. Chúng tôi tổn thất rất nhiều. Nhưng tự tử ư? Không bao giờ. Điều ấy ngu như bò, - Schwartz suy nghĩ một phút rồi tiếp. - Nói cho anh nghe, hình như Cody không muốn gần gũi thân mật với ai quá, chẳng ai ưa anh ta. Những gì chúng tôi làm đều là những việc xấu xa nhất. Và nhóm của Cody nổi tiếng... là làm những việc tồi tệ nhất, cũng làm việc nhiều giờ nhất. Không ai muốn vào nhóm anh ta.
- Thế anh có sợ phải vào đây không?
- Chắc chắn có. Nhưng đây là, ờ... một điều không mong đợi, nhiều lời xì xào bàn tán quá, anh biết đấy. Một sự bắt buộc.
- Đồng ý.
- Dù sao Murph đã làm quá, bạn ạ, đúng là làm cả bảy ngày trong tuần, bất kể ngày đêm, suốt ngày, suốt đêm, trời xấu, cả ăn đêm nữa, người ta gọi như thế đấy. Anh ta như, ờ… như điên khùng muốn chấm dứt ngay chiến tranh ấy. Đừng cho tôi là nói xấu, anh ta cũng bay như những người khác. Nhưng tôi đoán Murph đã bay những phi vụ một mình nhiều hơn bất cứ người nào trong đội.
Hatcher hồi tưởng lại cuộc gặp mặt Fraser ở Seattle đêm hôm trước, viên phi công bay cặp với Cody này có một ấn tượng hoàn toàn khác về Cody. Đầu tiên Fraser từ chối nói chuyện với Hatcher. Vụ rớt máy bay đã làm ông ta tàn tật đáng thương. Ông ta đi bằng nạng như một cụ già, và hơi thở sặc mùi rượu vodka bệnh hoạn mà nước hoa xịt cũng không che dấu được, thuốc nhỏ mắt Visine cũng không tan được những sợi gân máu đã bị tổn thương trong mắt ông ta. Vì Fraser từ chối không tiếp chuyện Hatcher qua điện thoại nên anh đã đợi ông ta ở bãi đậu xe của một trong các ngôi nhà vệ tinh nhỏ vây quanh tòa nhà của hãng thuê máy bay Seattle-Tacoma quốc tế mà Fraser là phó chủ tịch. Hatcher cảm thấy thương xót ông ta. Ông đã già đi rất nhiều sau vụ tai nạn. Ông ta rất cay đắng, giống như một ông già bẳn tính, và trong câu chuyện thỉnh thoảng lại bị cắt ngang bởi một chiếc phản lực thương mại to lớn cất cánh. Ông ta đốp chát lại từng câu hỏi.
Hatcher hỏi Schwartz:
- Anh có thích nghe những gì Fraser đã nói không? - Anh lấy từ trong túi ra một máy thu băng nhỏ và ấn nút phát.
Fraser: Tôi rất bận. Anh có 5 phút thôi.
Hatcher: Tôi chỉ muốn nói chuyện một chút về chuyện Murph...
Fraser: Anh nói anh làm việc cho ai?
Hatcher: Ban Kiểm Tra Hải Quân. Chúng tôi...
Fraser: Quỉ bắt Hải Quân đi!
Hatcher: Chúng tôi... muốn kết thúc chuyện này một lần cho xong đi.
Fraser: Thế thì tôi có thể nói cho anh nghe những gì anh còn chưa biết nào?
Hatcher: Anh đã trông thấy máy bay Cody rớt xuống, phải không?
Fraser: Tôi đã nói các anh nghe tất cả chuyện này lúc trước.
Hatcher: Một lần nữa để chấm dứt hẳn.
Fraser (thở dài): Tôi đang bay ở phía cánh trái của hắn, sau hắn khoảng một cây số. Tôi nghe tín hiệu Mayday cầu cứu của hắn và trông thấy máy bay hắn xoay tròn rơi xuống.
Hatcher: Có cơ may nào anh ấy thoát ra được không?
Fraser (hoài nghi): Này, hắn đã làm bốc lửa trên mắt nửa vùng cửa sông Mekong.
Hatcher: Tôi có một báo cáo nói rằng anh ấy có thể... (có một đoạn ngừng lại vì tiếng máy bay phản lực gầm rú) thoát ra khỏi máy bay và chạy về...
Fraser: Bất cứ ai nói với anh điều ấy đều điên cả.
Hatcher: Anh đánh giá anh ấy thế nào? Ý tôi muốn nói là theo tư cách một sĩ quan.
Fraser: Thằng lỗ đít hạng sang muốn gây ấn tượng với ông già nó. Hắn khoái chiến tranh, một sĩ quan chuyên nghiệp điển hình. Hắn thuộc tầng lớp thượng lưu. Hắn chẳng cần biết cái quái gì sẽ xảy ra cho lính của hắn.
Hatcher: Ồ! (phần còn lại của câu nói bị át đi vì tiếng rút của một chiếc phản lực khác)
Fraser: (có phần nghe không được)... Một thằng lính trẻ vô kỉ luật. Xuất thân từ trường Annapolis, cha là nhân vật quan trọng. Hắn không bao giờ uống rượu với bạn bè, không bao giờ đi chơi lang thang. Hắn có một cô “gái lều”, một cô gái tuyệt đẹp. Anh biết không, da mịn màng, răng trắng như ngà, và đôi mắt trong vắt thì anh có thể nhào vào tắm được. Nàng chờ đợi hắn như một cô nô lệ. Khi hắn không bay, hắn nằm dài với cô “gái lều”, quấn lấy nhau suốt ngày.
Hatcher: Nhưng mà, “gái lều” chỉ đáng giá mười xu một...
Fraser: Cô này đúng là thứ xịn, tôi bảo thật cho anh biết không quá 15, 16 tuổi. Chỉ để mắt đến hắn, không một ai khác lọt được vào mắt xanh. Hắn đôi với ả ấy như vợ hắn, như gia đình hắn. Quỉ thật, cái loại “gái lều” Việt Nam!
Hatcher: Rồi nàng ra sao?
Fraser: Khi hắn rụng cánh, tất cả mọi người trong đội hắn đổ xô đến nàng, nhưng nàng không chịu ai cả. Ngày hôm sau, nàng bỏ đi. Biến mất. Nghe này, thằng chó đẻ ấy đã làm cho số người của ta chết còn nhiều hơn cả Việt Cộng làm.
Hatcher: Anh muốn nói đến việc thực hiện công tác của anh ấy à?
Fraser: Thực hiện công việc và thực hiện công việc. Hắn là một tên cuồng loạn, anh đã hỏi thì tôi nói. Hắn thường hét lên: “Đánh cho đúng ngay vào kênh, đánh cho đúng ngay vào kênh!” - Lạy Chúa! Chúng tôi đang... (lại ngưng vì một phản lực cơ cất cánh) phóng xuống các địa đạo như thường lệ. Đã rụng mất một nửa số máy bay do hỏa lực từ dưới đất. Mẹ kiếp! Chúng tôi đã bất ngờ tấn công một đơn vị, đốt cháy vài ghe thuyền, quét sạch vài làng mạc. Ngày mai họ lại trở lại ngay. Giống như khi bước vào vũng bùn, anh kéo chân lên mà không hề biết rằng bùn đã ùa ngay vào chỗ đó. Tất cả những gã này đã thua là vì thế.
Hatcher: Này này, chẳng ai đi chiến đấu lại mong được làm việc trong phòng và phục vụ khách sạn nghỉ mát.
Fraser: Hắn giống như tất cả mấy thằng lợn xuất thân từ học viện quân sự. Tất cả những gì chúng cần là làm sao cho hồ sơ của chúng xem có vẻ tốt để chúng chắc chắn được trở thành Đô Đốc trước khi về hưu. Này, anh có nghĩ rằng bây giờ anh còn ở đây nếu Cody không phải là con trai của một vị Đại Tướng không?
Hatcher: (Im lặng một lát) Không!
Hatcher tắt máy. Schwartz nói:
- Thế rồi, quỉ thần ơi, tất cả chúng tôi đều nổi điên lên sau vài tuần lễ bay với anh ta, tôi muốn nói chúng tôi cứ kéo đi tìm cái kênh đó trong mỗi lần xuất kích. Tôi thường xuyên trở về với ba nhánh cây cắm vào cánh máy bay. Nhưng Cody không thích việc ấy, Fraser đã lầm, Murph không phải là kẻ ưa chiến tranh, mà hoàn toàn ngược lại. Điều làm anh ta bứt rứt là cứ phải điều đám lính đi đánh nhau hết ngày này sang ngày khác. Anh ta đã biết đa số chúng tôi là phi công phản lực rất ghét phải chiến đấu ở một trận địa trên những chiếc máy bay De Havillands già cỗi ấy. Chúng chỉ là... những cái thùng hai động cơ chứa vũ khí - một khẩu 20 li ở mũi, 4 cây súng máy 50 li, những chùm bom. Nhưng chúng tôi đã cày nát cái cửa sông Mekong chết tiệt ấy. Điều lo âu là mỗi người đều có sẵn một viên đạn đề sẵn tên mình trên đó. Chúng tôi bay quá nhiều, sớm muộn thì cũng đến phiên mình. Tổn thất của chúng tôi lên tới 60 đến 65 phần trăm,... một phần ba trong số đó là những người đã mất tích hoặc tù binh chiến tranh. Anh có thể hiểu tại sao nhóm của Cody chẳng được đám phi công coi là nơi đất lành.
Một tiếp viên mang bữa ăn trưa đến cho họ và Schwartz đớp ổ bánh mì thịt như một con thú đói.
- Về mặt nào đó Chúa đã phù hộ tôi (ông ta nói, mồm còn đầy thức ăn). Tôi chẳng cao thêm tí nào khi tôi ăn nhiều nhưng tôi cũng chẳng mập ra (Ông ta lại cắn một miếng). Điều gì đã xảy ra cho Fraser cũng xảy ra cho tôi tuy có nhẹ hơn. Tôi nói cho anh nghe điều này, tôi đã chịu 4 năm vất vả, nhưng tôi đã gặp may.
- Đấy là một thái độ lạc quan, - Hatcher thì thầm khàn khàn.
- Thực sự đấy, - Schwartz nói.
- Chuyện xảy ra như thế nào cái ngày mà Cody rụng cánh? - Giọng khàn khàn của Hatcher hỏi.
Schwartz chẳng cần phải suy nghĩ, cảnh tượng vẫn còn rõ nét trong đầu ông sau bao năm qua. Buổi sáng hôm ấy trời mưa và Cody rất bồn chồn. Có báo cáo rằng quân địch đang hoạt động ở mạn thượng nguồn sông và bộ binh yêu cầu chi viện. Khi thời tiết vừa tốt lên, Cody cho tập hợp gấp. Họ cất cánh quá gấp đến nỗi khi đã ở trên không rồi Cody mới điện cho họ biết tọa độ của vùng đất hành quân. Họ đã bay qua hai lượt, thả bom chùm dọc theo bờ sông, rồi bất chợt ông nghe thấy tín hiệu gọi cấp cứu “May day” của Cody.
Thoạt đầu Cody có vẻ không gặp rắc rối. Chiếc De Havilland của anh ta bay phía trước Schwartz khoảng 1 cây số. Rồi Schwartz nhìn thấy chiếc máy bay chao đảo. Một bên cánh chúc xuống và bắt đầu vỡ lả tả. Anh ta đã bị trúng đạn điều khiển bằng rađa hoặc một loạt hỏa tiễn nào đó, Schwartz nghĩ thầm, rồi thì ôi! Lạy Chúa! Hắn sắp rơi, chiếc máy bay bị mất điều khiển bắt đầu lao xuống và bắt đầu bắn vãi đạn xuống khu rừng phía trước máy bay của Cody, quạt một đường bằng đạn cỡ 20 và 50 li. Lạy Chúa, Schwartz nghĩ, anh ta chỉ còn khoảng 500 thước nữa là đến bờ sông và bên bờ kia đã là đất bạn. Cố lên, cố lên, Schwartz lặp đi lặp lại với mình và tiếp tục bắn vãi đạn vào khu rừng phía trước chiếc máy bay trúng đạn. Rồi giọng nói rè rè trong máy: “... tôi sắp rớt...” và thình lình chiếc máy bay lật ngược như một con thú lớn giẫy chết rồi gần như rơi tõm xuống rừng cây. Tấm thảm cây xanh phía dưới Schwartz đỏ rực lên một đám, và khi ông bay vọt qua cái xác máy bay vỡ tan, lướt trên mặt sông, ông nhìn thấy một chiếc trực thăng Huey của trung tâm tìm kiếm và cấp cứu ở phía dưới ông, đang hướng về chỗ máy bay rớt, rồi rừng rậm dường như nổ bùng lên. Một vòi lửa phụt lên từ chỗ máy bay rớt và ông cảm thấy làn sóng chấn động của vụ nổ tràn qua người. Ông ngoặt gấp, cố bay vòng trở lại, rồi nghe thấy tiếng người phi công của chiếc Huey, “Corkscrew, đây là cấp cứu 1 ... Chúng ta đã mất dấu hắn...”
-. .. Dù sao thì tôi đã bay ngang qua máy bay anh ta và khi bắt đầu quặt lại thì nhìn thấy chiếc Huey cấp cứu bay ngược sông rồi chiếc máy bay của anh ta nổ tung, - Schwartz nói và chấm dứt câu chuyện ông kể.
- Bao lâu sau khi hắn rớt thì máy bay nổ? - Hatcher hỏi.
- Đủ lâu để tôi có thể quay 180 độ.
- Vậy là đủ thời gian để anh ấy có thể thoát ra? -Hatcher thì thầm.
- Murph ấy ư?
- Ừa.
Schwartz nhún vai. “Chắc chắn, tôi nghĩ vậy. Tôi không đồng ý với Fraser. Ý kiến cho rằng Cody có thể thoát ra khỏi máy bay không phải là điên đâu”.
Hatcher nhấm nháp tô xúp của anh rồi thì thầm hỏi:
- Cô bạn gái của anh ấy thế nào khi nhận được tin đó?
- Khó mà biết được cái cách “gái lều” xử sự. Fraser cũng hơi hẫng ở đây. Cơ bản là Cody không thích ông ta. Hoặc có thể anh ta cảm thấy Fraser không thích mình. Gì đi nữa thì Fraser cũng chẳng bao giờ được mời đến họp mặt với Cody ở đó.
- Mấy người còn lại của bọn anh thì được mời chứ?
Schwartz gật đầu.
- Trời ơi, đến đó mỗi lần có dịp, nàng nấu ăn chiều cho hai thằng bọn tôi. Đồ ăn Việt Nam, ngon tuyệt.
- Từ Thai Horse có nghĩa gì đối với anh không? - Hatcher hỏi.
- Anh muốn nói đến heroin à?
- Còn nghĩa gì khác đối với anh không?
- Không. Cái đó liên quan đến…
- Cody có dính líu gì đến ma túy không?
Schwartz có vẻ ngạc nhiên.
- Chắc anh nói giỡn. Murph Cody à? Đến thuốc lá anh ta còn chẳng hút nữa là. Anh định đi đến đâu với câu chuyện này đây?
- Chẳng đi đến đâu cả, chỉ xem lại mọi vấn đề cơ bản.
Câu hỏi về Thai Horse và ma túy đã làm Schwartz choáng váng, và bất chợt ông cảnh giác.
Hatcher nhanh chóng thay đổi đề tài.
- Hãy nói cho tôi nghe thêm về cô gái ấy?
Schwartz ngập ngừng, vẫn còn nghi ngờ, nhưng lòng kính trọng Cody đã thắng. Ông dịu đi.
- Anh biết không, thật buồn cười, tôi đã nghĩ có lẽ Murph yêu Pai.
- Pai?
- Ừa. Tôi nghĩ lại, lúc đó anh ta rất tự hào về nàng, hay phô trương nàng.
Ông ta ngồi im lặng một cách lạ lùng trong một, hai phút, hớp từng hớp bia, rồi nói:
- Anh biết đấy, ba tuần lễ sau tôi bị rơi. Ngay ở phía Bắc Bình Thủy. Trong bốn năm tháng đầu làm tù binh, chúng tôi ở trong những trại chuyển tiếp. Họ thích, như anh biết đấy, chuyển bọn tôi đi rất nhiều chỗ. Cuối cùng họ đưa bọn tôi ra Hà Nội. Dù sao tôi cũng đã nghe đồn về cái trại bên Lào. Nói giống như một đơn vị lưu động, anh biết chứ, người ta đồn họ giữ một nhân vật quan trọng ở bên đó.
- Quan trọng loại nào?
- Đấy, đấy, một nhân vật quan trọng. Tôi nghe đủ thứ chuyện từ Westmoreland đến Bop Hope! Anh hiểu dư luận như thế nào rồi. Dù sao, cho đến khi họ mang bọn tôi ra Bắc, tôi lúc nào cũng nghe nói đến cái trại này. Họ gọi nó là, ờ..., Huie-kui, tức là trại ma, tôi đoán là bởi vì... hình như nó thường xuyên biến mất.
- Cũng chẳng lấy gì làm lạ, khi họ chuyển các trại đi nhiều nơi khác nhau.
- Tôi hiểu. Điều này chưa bao giờ xảy ra cho tôi trước đây. Tôi luôn luôn cho rằng anh ta đã chết, nhưng có thể nhân vật quan trọng đó là Murph.
- Cho tôi một đặc ân chứ trung tá? Hãy giữ bí mật chuyện này. Nếu Cody còn sống, hãy cho tôi may mắn tìm được anh ấy.
Schwartz nhìn Hatcher đăm đăm rồi từ từ gật đầu:
- Anh ta đáng được như thế.
Ý nghĩ của Hatcher quay trở lại cô gái lều. Anh hỏi:
- Ông có thích cô gái của anh ấy không?
- Anh đùa đấy à? Cô ta làm cho mình thấy nữ tài tử Natalie Wood trông như con heo nái ấy, - Schwartz ngưng một phút rồi tiếp. - Anh có muốn nhìn thấy cô ấy không? Tôi có một tấm ảnh cô ấy trong tập dán ảnh của tôi.
Trên đường đến sân bay, mạch của Hatcher bắt đầu đập nhanh, các dây thần kinh kêu ong ong. Bốn mươi tám giờ trước đây, ý nghĩ là Murph Cody còn sống dường như là một trò đùa đối với Hatcher. Bây giờ có một thắc mắc trong đầu anh. Khi Hatcher học về điều tra hình sự, Sloan, thầy của anh, một lần đã nói rằng: “Đừng bao giờ tin vào những bản báo cáo viết. Khi viết, người ta thường có khuynh hướng tỏ ra là mình đúng”.
Anh phải mất 48 giờ đế ôn lại lí thuyết đó nhưng anh hài lòng vì đã ôn lại. Anh suy nghĩ về ba người đàn ông mà anh đã phỏng vấn, mỗi người có cái nhìn khác nhau về Cody, mỗi người bị ảnh hưởng khác nhau do vị trí của họ trong cái ngày định mệnh đầy sự kiện ấy khi Murph Cody mất tích.
Đối với Schwartz, Cody là một anh hùng đã buộc phải tham gia một công việc bẩn thỉu; đối với Fraser, anh ta là một thằng điên ưa thích chiến tranh; đối với Simmons, đó là một hồn ma ám ảnh với nắm tay lạnh lẽo đang bóp ghẹt tim ông ta. Đối với Fraser, việc thoát ra khỏi chiếc máy bay vỡ tung, bốc lửa của Cody là không thể được; đối với Schwartz đó là vấn đề còn nghi vấn; đối với Simmons đó là điều có thực.
Lại còn báo cáo của Schwartz về cái trại ma Huie-kui nữa. Có thể đó là lí do mà Cody không bao giờ tái xuất hiện? Có phải anh đã là tù binh trong bao nhiêu năm nay không; nếu thế, làm cách nào anh đã trốn ra?
Còn một điều khác nữa đang gậm nhấm đầu óc Hatcher. Nếu Murph Cody đã chết thì gã Thái Wol Pot đào đâu ra tên anh? Về Wol Pot, còn nhiều câu hỏi phải trả lời.
Chỉ có một điều duy nhất mà Fraser và Schwartz có vẻ cùng đồng ý là... Pai, cô gái lều của Cody rất đặc biệt. Nhìn vào tấm ảnh mà Schwartz đưa cho, Hatcher cũng phải đồng ý là như vậy. Đó là một tấm ảnh màu, đã quăn góc và phai mờ; trong ảnh, Cody đang đứng trước túp lều lợp tranh của anh, một tay ôm lấy cô gái tuyệt đẹp người nhỏ nhắn, hước da màu nâu nhạt, cằm cúi xuồng, mắt nhìn đăm đăm đầy vẻ huyền bí vào chiếc máy ảnh. Nàng trông có vẻ như còn trẻ con. Nhưng thân thể nàng là thân thể của một cô gái đã đến thì, đôi mắt nàng hình như phản ánh một trình độ hiểu biết thầm kín vượt nhiều so với tuổi nàng. Hatcher nhìn đăm đăm vào đôi mắt đó, cảm thấy chúng giao nhau, và hầu như còn thấy chúng nhấp nháy. Anh cất tấm ảnh vào ví.
Anh nhìn đồng hồ. Trong vòng 12 giờ nữa anh sẽ ở Bangkok. Anh hi vọng Windy Porter sẽ cho anh nhiều câu giải đáp. Làm sao anh biết được rằng gần đúng lúc ấy Windy Porter đang dãy chết trong dòng nước tối tăm của con kênh Phadung Klong, cách đó khoảng tám ngàn cây số.
 
 
0

CON TRĨ

 
Đôi chân con trĩ đó dài khoảng 1,2 mét từ đầu gối đến lòng bàn chân. Nó nhảy nhót qua đám đông và cử động thật uyển chuyển. Cặp cà kheo cao 1,2 mét nâng con chim lêu đêu cao trên đầu đám đông kì quặc đến ba tấc. Nó bước nghênh ngang, cằm đưa ra, đầu húc tới, rồi rụt cổ lại, giấu cằm đi, bộ lông sặc sỡ như cầu vồng được rắc kim tuyến xù ra trên chiếc lưng màu vàng, mặt sơn trắng, đôi môi màu vàng tươi to quá cỡ. Những đường sọc màu xanh được vẽ từ trán qua mắt xuống tận cổ, một bộ lông đầu màu xanh lơ phủ từ trán ra sau, toàn thân được bọc kín trong bộ quần áo lông vũ màu vàng. Chẳng có cách nào đoán được người núp trong bộ giả trang đó là đàn ông hay đàn bà.
Vây quanh nó là một tập hợp kì lạ những sinh vật cao kều khác, đầu nhấp nhô như sóng nhịp nhàng theo điệu nhạc của bài Would I Lie to You Baby (“Anh có nên nói dối em không”) được phát rền rĩ qua nhiều loa phóng thanh lớn. Các tia sáng của đèn chớp trên trần nhấp nháy như những ngọn giáo phóng xuống. Dưới sàn nhảy trong suốt, con cá mập Mako dài chừng 1,8 mét lượn quanh hồ đang bị kích động bởi điệu nhạc.
Vũ hội của các sinh vật hàng năm đã cuốn hút đông người nhất từ trước tới nay về Split Personality, một câu lạc bộ ở ngoại ô Atlanta, một cái tên tưởng như là nơi nghe nhạc. Trên ban công, Spear và Hedritch canh chừng đám đông một cách nghi ngại. Trong một căn phòng đầy ắp những người hóa trang lạ lùng như thế, họ nổi bật lên do cách ăn mặc bình thường - một bộ comple xanh, dù đã tháo cả cà vạt và cởi tung nút cổ áo sơ mi.
- Chúa ơi, ở đây thực sự là điên cuồng. - Spear nói. Anh ta cao hơn bạn, cao khoảng 1,8 mét, tóc hoe vàng, mặt vuông chữ điền có dáng dấp một người chơi thể thao, khoảng bốn mươi tuổi. Hedritch cũng cao khoảng gần như thế, tóc đen đang rụng dần, cổ to như cái bánh xe và cặp tai lớn. Cặp tai rất lớn.
- Thôi hãy bỏ đi! - Hedritch nói, rồi nhìn quanh sàn nhảy chật cứng - Chúng ta không cần cái thứ thối tha này đâu.
Spear đáp:
- Nhưng anh không thể gọi Campon đi và anh biết rõ điều ấy. Ông ta làm tất cả những cái quái quỉ gì ông ta muốn.
- Chuyện này không bảo đảm an ninh đâu. - Hedritch càu nhàu bực bội.
- Ai chả biết thế. Hãy báo những tin không hay cho ông ta. Có lẽ ông ta sẽ nghe lời khuyên của mình.
- Ừ, ông ta phải nghe thôi. - Hedritch trả lời.
Họ quay lưng, đi trở lại qua đám đông tới lối vào ban công. Đôi mắt của con trĩ lấp lánh nhìn theo họ.
Phía ngoài, dòng người đang xếp hàng chờ vào các cửa chính trông ma quái của cái câu lạc bộ uốn quanh một nửa khu nhà này. Chiếc xe Limo đồ sộ màu đen đậu ngay trước cửa. Spear và Hedritch lên ngồi vào băng sau, trong xe ngào ngạt hương thơm của cần sa. Đại tướng Hector Campon trong bộ binh phục ngồi tựa vào một góc xe, ba hàng huân chương lấp lánh trên ngực bộ đồng phục màu xanh đậm, điếu thuốc cần sa cháy đỏ giữa hai ngón tay. Cặp mắt kính đen từ từ quay lại phía hai người.
- Thế nào? - Ông ta hỏi giọng đặc Tây Ban Nha.
- Tin chẳng hay ho gì - Hedritch nói. - Chỗ đó chật nứt vách toàn những bọn điên cuồng mặc hóa trang. Ngài không thể nghe được gì đâu. Bục nhạc và sàn nhảy thì nhấp nháy đèn chớp.
- Đúng là một sự nguy hiểm về an ninh. - Spear nói thêm.
- Buồn cười nhỉ - Campon trả lời, ngồi thẳng lại - vệ sĩ các anh cần phải trở thành các võ sĩ lớn.
Spear nhại lại từng lời. Anh đã nghe nhiều lần câu nói đó. Những cuộc vui chơi xả láng là cách trả miếng của Campon đối với mỗi cuộc khủng hoảng.
- Đại tướng, - anh ta nói - chỗ này còn tệ hơn nữa. Ngài vào trong đó, chúng tôi không thể đảm bảo gì cả.
- Việc của các anh là phải bảo vệ tôi, đừng làm phiền tôi vì những trở ngại của các anh, - ông ta làu bàu - Tài xế! Mở cửa.
Sáu người luôn luôn đi theo bảo vệ Campon từ khi ông ta thoát khỏi Madalena ba tháng trước đây. Spear và Hedritch cầm đầu toán thứ ba làm việc.đó. Ba tuần lễ ở Fort Lauderdale làm Campon buồn phiền. Hai tuần lễ ở Saint Louis ông cũng buồn phiền. Ông ta đã ở Chicago một tháng rưỡi, và hiện tại ông đã ở được hai tuần lễ trên một cái nhà nổi ngoài hồ Lanier, cách Atlanta khoảng 100 cây số về phía Bắc. Hiện nay thì cũng tạm ổn. Di chuyển lòng vòng như thế làm cho khó bảo vệ ông ta. Lực lượng bảo vệ có 10 người gồm 4 tay cận vệ của Campon và những người Mỹ. Cái cần thiết để bảo vệ một kẻ thất thế liều lĩnh chỉ là một toán quân nhỏ. “Sáu người để bảo vệ cho sự điên cuồng nội tâm”, Spear lầm bầm trong khi họ theo Campon leo ra khỏi xe đến chỗ mà ông ta đứng thẳng băng chờ những người chung quanh ông về chỗ ngồi. Ông cao hơn 1,8 mét, nên dễ trở thành mục tiêu, lại thêm các huân chương trên ngực nữa thì không sao mà ngắm bắn trượt được.
Campon nóng tính còn hơn nước sôi. Tổng thống đã làm áp lực để mọi người trong Quốc hội chấp thuận chi 50 triệu dollar yểm trợ cho chương trình của Campon nhằm lật đổ chính quyền cánh tả đã hạ bệ ông ta. Campon mòn mỏi đợi chờ, ban ngày gọi điện thoại cầu cứu bạn bè có uy tín, ban đêm quấy phá, trong khi đó thì quân đội của ông ta, hoặc là phần còn lại của nó, đang còn dầm sương dãi gió ở bên kia biên giới một nước láng giềng. Để loại bỏ những kẻ thù của ông, chính quyền liên bang đã tung ra những tin thất thiệt: nào là vị Đại tướng đang ở quần đảo Bahamas, nào là ông ta đã sang Canada, nào là ông ta đang trốn tránh ở một trang trại miền Tây xa xôi.
Đôi lúc Spear và Hedritch có cảm giác như mình là người dẫn mối cho Campon, kiếm gái đem về, kiểm tra lí lịch của họ, trả tiền cho thú vui nhục dục của ông ta và cho sự giữ bí mật. Nhưng cái hạnh kiểm như vậy lộ ra trước công chúng thì vi phạm tất cả mọi luật lệ.
Thế thì có gì mới lạ đâu? Hedritch ra lệnh cho hai người dưới quyền vào trước, kiểm soát sân khấu phía sau sàn nhảy. Hai người khác hắn cho lên ban công. Spear nhìn quanh nhà mua bán, kiểm soát mái nhà, trong khi Hedritch kiểm soát dòng người vào. Quỉ thần ơi, Spear nghĩ thầm, nếu họ muốn hạ ông ta thì họ sắp thắng rồi. Có điều chắc chắn bọn anh ta không bị ai bám theo, điều đó làm giảm bớt đi một chút những lo lắng. Họ đi về phía cửa ra vào.
- Tên gì? - Người gác cửa hỏi.
- Campon, - viên Đại tướng nói.
Ngón tay của người gác cửa soát bản danh sách rồi dừng lại.
- Vâng, thưa ngài Đại tướng, - anh ta nói và mở sợi dây chắn màu đỏ.
Spear hoảng hốt nhìn Hedritch khi cả nhóm tùy tùng đã vào hẳn bên trong câu lạc bộ.
Hedritch nghi ngờ hỏi người gác cửa.
- Ông ta có giữ chỗ trước không?
- Có, thưa ông, ngày hôm qua. - Người gác cửa trả lời.
- Cứt! - Anh ta càu nhàu lúc họ chạy vội vào theo viên Đại tướng. Họ bắt kịp Campon lúc ông ta sắp vào tới gian chính, một khoang rộng hình bán nguyệt kê bàn san sát đến tận sàn nhảy.
- Thưa Đại tướng, ít nhất cũng xin mời ngài lên lầu - Hedritch khẩn khoản, - ở đó ngài có thể nhìn rõ hơn và chúng ta có thể dạo quanh phòng dễ dàng hơn nhiều.
- Cuộc vui ở là dưới này. - Campon trả lời cộc lốc, rồi theo bốn tay cận vệ như bò mộng vào trong câu lạc bộ. Spear và Hedritch đều bước theo ông ta đi vòng quanh câu lạc bộ, vẻ cuống cuồng, vô vọng khi thấy nhà độc tài đã bị phế truất bước đến mép sàn nhảy, đứng nhìn cuộc vui chơi điên loạn. Ông ta trở thành một mục tiêu ổn định.
- Đúng là một đô thị thối tha, - Spear hét vào tai Hedritch - Cố mà nhìn chung quanh nhé!
Cái nhìn chăm chú của viên Đại tướng quét trên sàn nhảy, dừng lại một lát ngắm người đàn bà mặc bộ đồ trông y như con hươu cao cổ với bộ ngực căng hở cả ra khỏi vành áo kẻ sọc.
Phía trên bà ta, ở xa bên kia sàn nhảy, con trĩ vàng lúc lắc một cách quái đản giữa đám đông, hình ảnh nhòe đi vì ánh đèn chớp nhấp nháy. Nó giơ đôi cánh lông vàng lên, xoay một vòng chậm rãi, nhún nhảy theo điệu nhạc. Campon cười to và vỗ tay hoan hô con trĩ mặc dù khó nhìn rõ nó vì ánh đèn chớp lóe vào mặt ông ta.
Cặp mắt lanh lợi của con trĩ kiểm soát chung quanh vị Đại tướng, hai người trên ban công, hai người phía sau nó trên sân khấu. Nó xoay người chầm chậm, quan sát đủ một vòng quanh câu lạc bộ.
Con trĩ trông thật kì lạ, phơi mình ra rõ ràng nên bọn bảo vệ chẳng ai chú ý đến nó.
Campon lại vỗ tay và khoái chí cười khúc khích nhìn cảnh tượng này. Đó là âm thanh cuối cùng mà ông ta phát ra.
Được che đậy kín đáo dưới cặp cánh lông vũ cột chặt vào tay mình, con trĩ cầm một khẩu Uzi mini có gắn ống hãm thanh! Súng chỉ dài khoảng 3 tấc, nặng chưa đến ba kí, loại tiểu liên có băng đạn 32 viên và có hộp nhựa để chứa vỏ đạn. Con trĩ là một tay sành sỏi. Nó bóp cò 3 lần, mỗi lần nhả 3 viên đạn, theo nhịp nhấp nháy chầm chậm của đèn chớp, đạn bắn lốp chốp vào mục tiêu. Đầu của Campon chúi về phía trước khi tràng đạn 3 viên thứ nhất ghim vào ngực ông, hai cánh tay ông vung ra phía trước rồi ông oằn người ra sau khi hai viên đạn nữa ghim vào đầu. Tràng đạn thứ ba trúng vào người bồi đứng sau lưng ông làm hắn ngã nhào và hạ gục luôn hai tên cận vệ.
Spear và Hedritch sửng sốt khi thấy Campon dường như thình lình bị một cơn xung huyết. Tiếng nhạc vẫn rền vang. Một tên cận vệ lảo đảo và ngã nhào vào người Hedritch.
Ôi lạy Chúa, việc đó đã xảy ra! Hedritch thầm nghĩ.
Con trĩ vẫy hai cánh lông vũ một vòng chầm chậm và bắn một tràng đạn khác vào đám đông. Một phụ nữ trẻ cùng với bồ lảo đảo ngã xuống khi các đầu đạn xuyên người họ. Nàng thét lên. Một người nào đó cũng hét theo. Không ai biết cái gì đã xảy ra. Cuối cùng người đàn bà hét lên: “Tôi bị bắn!”. Hỗn loạn.
Lần tấn công thứ hai làm cho người ta càng náo loạn hơn.
Bọn bảo vệ chẳng biết đạn từ đâu bắn ra. Họ trông thấy cặp trai gái gã gục cách đó khoảng 15 thước. Người con gái bắt đầu la khóc. Campon nằm ngửa trên sàn nhìn trừng trừng vào bóng tối trên cao. Bọn bảo vệ nhất loạt rút súng ra cầm lăm lăm trong tay. Hedritch chạy đến bên Campon, đưa tay sờ mạch cổ. Tiếng la khóc dậy lên trong phòng như một trận bão tràn qua. Mọi người ùa ra cửa. Một cái bàn đổ xuống. Li tách vỡ tan. Sự hốt hoảng bùng lên như một quả bom nổ trong phòng.
Những người bảo vệ trên sân khấu phóng xuống đám đông và chạy về phía nhóm bao quanh Đại tướng. Từ trên ban công hai người bảo vệ kia đăm đăm nhìn gương mặt của vị Đại tướng. Trong cảnh lộn xộn không ai biết đạn từ đâu bắn ra.
Con trĩ ngồi xuồng sân khấu, tháo cặp cà kheo ra và chuồn ra sau một loa phóng thanh to. Nó tháo nắp lưng thùng loa ra, vứt cặp cà kheo và súng vào đấy rồi vọt ra một cửa cứu hỏa gần đấy. Cánh cửa dẫn vào một hầm có nhiều địa đạo dưới sàn nhảy. Con trĩ vừa nhảy xuống thang, vừa giật phăng bộ lông giả và tháo cặp cánh ra. Nó chạy qua một cửa nhỏ vào một gian phòng chứa đầy thiết bị điện. Nó tiếp tục cởi bỏ trang phục, lột bộ áo trùm người màu vàng ra, quơ lấy bao đựng rác giấu đằng sau một bảng điện và bắt đầu nhồi các bộ lông chim vào đấy. Chỉ sau vài giây con trĩ đã trở thành một gã trai trẻ mặc quần bò, áo thun màu xanh. Hắn lấy một chiếc khăn ướt để trong túi đựng rác và lau mặt sạch sẽ. Xong đâu đấy hắn chạy xuống cái mê cung các hành lang chằng chịt rồi chạy lên một cầu thang khác. Khi lên đến phía trên, hắn hé mở cánh cửa nhìn vào nhà bếp. Các nhân viên đó dồn về phía cuối căn bếp rộng với những đồ dùng bằng thép không rỉ, ngó nhìn sang gian phòng chính.
“Lạy Chúa”, một trong những người đầu bếp nói “có ai đó vừa bị bắn!”
Tên giết người lách vào nhà bếp, nhét cái túi đựng rác vào một thùng rác to, luồn một bàn xe lăn vào dưới thùng và đẩy nó ra cửa hậu. Sự náo loạn chưa lan ra đến phía ngoài. Hắn đẩy cái thùng rác vào giữa nhiều thùng rác khác, liếc nhanh đồng hồ rồi lẩn vào bóng đêm. Mất ba phút rưỡi. Không phải là tồi.
 
 
0

CÚ ĐÁNH

 
Gã da đen cao lớn và lực lượng quẹo ra khỏi đường Suriwong qua đường Potterpong hướng về khu Tombstone. Khi màn đêm buông xuống, thành phố Bangkok biến đổi hẳn dường như có một vị thần tai quái đã biến khu vực thương mại ồn ào, đông đúc, cuồng loạn thành một rừng đèn nê ông sáng rực. Các con “cọp cái” ngực trần đi bắt khách trong khu rừng ấy, hành nghề trong các hộp đêm, nhà điếm, phòng tắm hơi xoa bóp và trước cửa các gian hàng. Hứa hẹn đủ thứ và cung cấp phần lớn những gì đã hứa, khu cuồng loạn nổi tiếng Patpong đã tỏ cho du khách châu Âu và Mỹ thấy thái độ, sự phục vụ cho ăn chơi theo cung cách phóng túng lạ lùng kiểu Mỹ của nó.
Patpong là làng dành cho the farang tức là cho khách ngoại quốc, những kẻ đêm đêm tụ họp đông đúc ở đấy để tìm những thú vui nhục dục ở địa phương, xem đó như là một phần sự từng trải của họ trên đất Thái Lan.
Ngoại trừ thỉnh thoảng thốt lên một tiếng “Hừm”, gã đàn ông to con chẳng thèm biết đến những tên ma cô, những bọn câu khách và những cô gái điếm. Tuy thế đa số bọn họ đều biết hắn. Hắn đi ngang qua tiệm Jack’s American Star và quán rượu San Francisco. Ở đây các vũ nữ nhảy go-go ngực để trần trình bày các màn đặc biệt, rồi hắn quẹo vào một đường hẹp, cách xa ánh đèn nê ông, cách xa các loa phóng thanh ầm ĩ và những người bán rong. Đó không phải là một con đường tối, nhưng nó giống thành phố Phoenix hơn là New Orleans. Chẳng phải vì những bảng hiệu kẻ bằng tiếng Anh và tiếng Thái, cũng chẳng phải vì tính chất của những tòa nhà đặc trưng cho nền kiến trúc Thái, cái khu được gọi là Tombstone này có thể bị nhầm với một phố ở một thành phố nào đó miền Tây nước Mỹ. Điều duy nhất thiếu sót là các đường phố đều bẩn thỉu và treo lắm bảng quảng cáo. Thực tế thì nhà nào cũng đặt bảng quảng cáo ở lề đường.
Có thể nói rằng Phòng Hòa Nhạc Langtry (Langtry’s Music Hall), với những vũ nữ Thái và Hoa trần truồng, có vẻ Patpong hơn là khu Tombstone, nhưng nó cũng phục vụ ăn chơi theo kiểu miền Tây đang ngự trị con đường này. Có những tấm hình lớn đã cũ của Lillie Langtry và Eddie Foy bên cạnh những tấm hình màu của các ngôi sao điện ảnh quyến rũ. Cửa ra vào quảng cáo một phim của John Ford.
Bên kia đường là tiệm Pike’s Peak, một tiệm kem mà cách trang trí trông có lẽ khác kiểu miền Tây hơn là quán Roundup, một quán cà phê xây theo kiểu trang trại phục vụ 24 giờ trên 24 chuyên môn bán cà phê, bánh rán và trứng. Rạp chiếu bóng nhỏ chứa 100 chỗ ngồi nằm cạnh một khu nhà gọi là Lâu Đài, chiếu những phim lồng tiếng xa xưa, đủ mọi loại phim từ phim cổ điển cho đến những phim ngắn loại B từ những năm 30, ngày chiếu 4 suất và thay đổi chương trình vào thứ ba và thứ sáu.
Rồi có quán Longhorn, giập theo kiểu miền Tây. Nó trưng bảng quảng cáo bên đường. Có lần một gã người Texas phóng túng đã cột chiếc xe thuê của hắn vào tấm bảng và vài giờ sau say mềm trở ra, đã quên cởi dây lái xe mang theo cả mặt tiền của quán. Chủ quán là Wilkie đã nhận bồi thường 1000 dollar và tự sửa chỉ lấy hết có 346 dollar.
Đêm nay Wilkie như ở trên thiên đàng, chiếc răng vàng lấp lánh ló ra một bên miệng đang cười toe toét. Cái máy phát nhạc đang hét ầm ĩ bài “Mặt trăng xấu đang lên” (Bad Moon Rising) của ban nhạc Creedence Clearwater và quán rượu đầy nghẹt người, hầu hết ở trong số khoảng 500 người Mỹ xa quê hương đang sống ở thành phố này. Một số ít khách du lịch tìm xuống con đường phía sau khu Tombstone, và nếu họ tìm ra thì quán Longhorn hầu như chính là nơi họ đang muốn tìm.
Gã da đen lực lưỡng, hai cánh tay căng như ruột xe trong hai ống tay áo sơ mi sặc sỡ kiểu Hawai, thong thả đi vào quán Longhor ồn ào, gật đầu với Wilkie, leo lên hai bậc thềm, lách qua tấm màn kết bằng những quả thuỷ tinh vào một phòng riêng của quán nổi tiếng với cái tên Hole in the Wall (Lỗ trong tường), một chỗ dành riêng cho khách quen. Ngài đang ngồi trong chiếc ghế tựa dành riêng đọc tờ báo Wall Street Journal. Trên chiếc bàn cạnh ông ta là một chai rượu nho và một chồng thẻ thay tiền để đánh bài Poker.
Hai người đàn ông đang chơi bi-da kiểu 8 quả, và phía trên họ là 6 người ngồi quanh chiếc bàn chơi bài năm lá dưới ánh sáng của ngọn đèn có chụp màu xanh. Gã da đen không tìm hiểu mấy vị khách đánh bài, hắn đã biết họ là ai. Gallagher, Eddie Riker, Potter, Johnny Prophett, Wonderboy và Wyatt Earp. Một bọn người trông lạ lùng, nhất là Wonderboy, hắn trông như một anh hề. Bộ mặt hắn được chia đôi bởi một nét như vạch bằng bút đỏ chạy dài từ chân tóc xuống trán qua sống mũi đến tận cằm. Nửa bên trái mặt hắn bôi đen và nửa bên phải bôi trắng.
Gã đen kéo một cái ghế, ngồi cạnh một gã ốm, đầu đội nón vành phẳng. Hắn có bộ ria mép hình ghi đông và mái tóc bạc trắng, mặc áo sơ mi kiểu miền Tây màu đen, quần jeans và áo gi lê che khẩu Cobra 357 mà hắn gọi là Buntline Special (“Dây buồm đặc biệt”) đeo dưới nách.
- Đã quyết định ai vào danh sách chưa, ông Earp? - Hắn nhỏ nhẹ hỏi, mắt vẫn chăm chú vào các lá bài trên bàn.
- Bắt đầu là Early và tao. Chưa quyết định ai sẽ là người thứ ba. - Earp trả lời.
- Ông không phân biệt đối xử đấy chứ? - Gã đen cười nửa miệng hỏi.
- Lần cuối mày đã đi rồi, Corkscrew. - Hắn đáp.
- Cứt! Tôi là người giỏi nhất ông tìm được và ông biết điều đó. - Corkscrew trả lời với một thoáng tự kiêu.
- Ừa, tao biết - Earp trả lời và nhắc lại cái câu mà hắn đã nghe ít nhất mỗi tuần một lần từ miệng Corkscrew - Tôi đã có lần hạ tất cả những thằng dẫn mối ở Detroit ngay tại đó. Hắn ấn ngón tay cái xuống bàn.
- Nhưng đây không phải là Detroit. - Corkscrew đáp với một nụ cười mỉm, đối lại câu trả lời thường xuyên của Earp.
- Lần tới tao sẽ ghi tên mày vào. - Earp hứa rồi lật con bài tẩy lên cộng với cặp đôi trên bàn là 3 con và hắn thắng.
Earp nhìn chiếc đồng hồ Rolex vàng. Đã 9 giờ. Còn 30 phút nữa là đến giờ hành động.
Hắn nhìn quanh bàn, cho quyết định cuối cùng. Phần lớn họ là những kẻ đã dày dạn.
Cả bọn đều đã chịu đựng nỗi đau xót trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Hắn nói và đứng dậy:
- Ngồi chỗ tao này.
- Ông được bao nhiêu? - Corkscrew hỏi.
Earp đếm các thẻ thanh toán bằng một tay và nói:
- Ba trăm.
- Tôi cảm ơn ông. - Corkscrew nói, lách ngồi vào ghế.
Earp đã đặt kế hoạch cho vụ hành động này rất cẩn thận, y như mọi vụ hắn làm, và hắn cảm thấy thoải mái về toàn bộ công việc. Giữ một toán nhỏ và hành động thật nhanh, đó là phương châm của hắn. Nó đã giúp hắn nhiều năm nay. Hắn tránh ra khỏi vòm sáng đứng vào trong bóng tối, kiểm soát lại những khách quen như hắn vẫn thường xuyên làm.
Người ngồi cạnh hắn lúc nãy là Max Early, mặc áo khoác đi săn màu nâu nhạt phanh ra. Gã không mặc áo sơ mi lót, thân hình đang độ sung sức cũng như gương mặt gẫy góc cửa hắn đều rám nắng - một người làm việc ngoài trời. Khác với những người kia đều cắt tóc ngắn, những lọn tóc màu hung của Early từ dưới chiếc nón săn sờn cũ và nhăn nhúm xõa xuống đến tận vai. Early đứng im lặng khi Earp đứng lên. “Tôi thôi” hắn chỉ nói có thế và gom các thẻ thay tiền lại.
Earp thuộc lòng tất cả các chuyện riêng của họ.
 
Max và thằng nhóc to con Noel cùng với Jimmy mặt đầy mụn đang ngồi trong rừng rậm nhìn chăm chăm xuống cái hốc, trong khi những người khác của đội tuần tra đang lùng sục đám cỏ gần đấy. Trông nó có vẻ hoang sơ. Không có những vết chân mới và Jimmy đang nằm dài trên đất ẩm, áp tai vào miệng hốc trong mười phút mà chẳng nghe thấy một tiếng gì cả.
- Vậy tới phiên ai đây? - Noel nói, hắn là một thằng trẻ tuổi to con người miền Oklahoma. Với tác phong quân sự, hắn có thể lôi lên một người nặng khoảng 120 kí định chui như chuột vào hang ngay khi hắn mói thọc được một chân xuống hang.
- Tao đã đi lần trước. - Jimmy nói, hắn là thằng nhỏ gầy ốm ở xứ San Berdoo.
Early là đứa lớn tuổi nhất. Hắn 26 tuổi nhưng cảm thấy như đã 90 và hắn thấy phải có trách nhiệm đối với hai đứa kia.
- Cứt! Tao sẽ xuống - hắn thở dài - chẳng có ai xuống cái hang này từ một, hai tuần lễ nay đâu. Nhìn kìa, miệng hang đầy mạng nhện.
- Mày biết mấy cái thằng da vàng ấy mà - Noel nói - chúng có thể nằm dưới ấy hàng nhiều tuần lễ.
- Ừ hứ, - Early nói, lắp một băng đạn mới vào khẩu M-16 và lên đạn sẵn rồi kiểm soát lại ngọn đèn pin nhét trong ủng và băng đạn của khẩu Colt 45. Hắn căm thù phải chui rúc vào mấy cái địa đạo này, căm thù nó hơn bất cứ việc gì trong cuộc chiến tranh này, nhưng công việc phải hoàn tất càng sớm càng tốt, thế thì tại sao lại mất thì giờ. Hắn cột tóc ra sau bằng một dải khăn rồi lặng lẽ chui đầu qua miệng hang và tụt xuống căn hầm tối om. Hắn nằm nín thở, lắng tai nghe. Hắn chẳng đánh hơi thấy họ và cũng chẳng nghe thấy tiếng thở nào. Xong rồi, hắn nghĩ, Việt Cộng đã bỏ cái hang này. Hắn bắt đầu đi sâu vào hang, cắn chặt con dao giữa hai hàm răng, đưa khẩu M-16 tới trước và mò mẫm đi trong bóng tối. Các địa đạo này có thể đi mãi không hết, đôi khi ngoằn ngoèo, dích dắc chạy dài tới hai, ba cây số. Hắn ghét bóng tối và cảm giác ẩm mốc, nhưng hắn chưa muốn dùng đèn pin cho đến khi tin chắc rằng địa đạo đã bị bỏ phế.
Mẹ kiếp, một người sống ngoài trời từ miền Utah đến làm quái gì trong cái hố này. Hắn nghĩ.
Rồi hắn nghe thấy một tiếng động rất khẽ đầu tiên.
Một tiếng sột soạt.
Rồi một tiếng rít.
Rồi một tiếng đập cánh.
Và bất thình lình địa đạo sôi động lên với tiếng rít, tiếng đập cánh, tiếng cắn, những con dơi đói, đông hàng đàn vây quanh hắn trong bóng tối.
Early rú lên kinh hoàng. Hắn bắt đầu nổ súng. Hắn bắn hết cả băng đạn, nghe tiếng các đầu đạn cắm phầm phập vào đất, trong khi lũ dơi vẫn tiếp tục lao đến, hắn bắt đầu lùi lại, cầm dao chém loạn xạ trong bóng tối, sờ soạng tìm khẩu súng ngắn. Các sinh vật kêu chiu chít bao quanh, hắn rú lên chói tai trong khi đấm đá loạn xạ trong bóng tối. Nép sát người vào vách địa đạo, hắn bắn hết đạn của khẩu 45 vào bóng tối, bắn một cách mù quáng. Hắn móc ra một băng khác rồi lùi dần qua các lối ngoằn ngoèo của địa đạo ra phía cửa hang. Hắn bị mất phương hướng trong bóng tối và hai bàn tay hắn run rẩy. Dơi bám đầy trên tóc hắn, gặm đôi má hắn. Hắn lắp một băng đạn khác vào khẩu 45 và nhả hết đạn. Rồi hắn rút đèn pin ra, bắt đầu quét quanh địa đạo với hi vọng ánh sáng làm cho chúng sợ bay đi. Cuối cùng hắn cảm thấy luồng không khí mát thổi từ miệng hầm qua người hắn và hắn đưa tay ra phía sau để bám lấy gờ miệng hang chật hẹp. Bàn tay hắn sờ một cái gì mềm và ươn ướt mà đầu tiên hắn ngỡ là bùn. Hắn xoay người lại rọi đèn xem, thằng Noel to con đang buông thòng nửa thân xuống hầm, hai cánh tay còn để trên nền địa đạo. Bộ mặt nát ra như cháo. Máu phun ra thành bong bóng từ lỗ đạn rộng toác dưới mắt và tuôn ra từ mũi và miệng.
“Ôi Thượng Đế! Ôi lạy Chúa!” - Early rú lên trong khi các con dơi tiếp tục tấn công hắn, rồi bay qua hắn để tấn công vào bộ mặt đầm đìa máu của tên lính đã chết. Còn Early, vẫn la hét, điên cuồng bò qua xác người đồng đội đã ngã xuống, hổn hển hớp luồng không khí trong lành thổi xuống hầm, hiểu thật sâu xa rằng trong cơn hoảng loạn hắn vừa bắn chết người bạn thân thiết của hắn...
Eddie Riker - người sẽ nói với bạn một cách rất khiêm tốn - hắn là một phi công nhanh nhẹn nhất trong cuộc chiến tranh chết tiệt ở Việt Nam, là người khai tiếp theo trong cuộc thẩm vấn.
Họ cử một Đại tá nông nổi từ Sài Gòn đến để thẩm vấn Riker. Điều đầu tiên Riker nhận thấy là viên Đại tá này không đổ mồ hôi. Trời nóng đến gần 38°C trong bóng râm và độ ẩm vào khoảng 98 mà áo sơ mi của ông ta vẫn còn hồ cứng, vẫn khô như sa mạc Sahara. Trong khi đó Riker đang mặc quần đùi ka ki và áo thun mà còn ướt đẫm mồ hôi. Viên Đại tá đến dãy nhà lính mà Riker đang bị giữ ở đó, dáng người nhỏ bé kiêu căng, cố gây ấn tượng mình là nhân vật quan trọng, tay xách chiếc cặp da cá sấu và một kẹp hồ sơ nhỏ. Ông ta nói giọng đều đều và chẳng bao giờ nhìn thẳng vào mắt Riker. Suốt cả buổi ông ta nhìn đăm đăm xuống bản báo cáo, gõ chiếc bút chì chậm rãi lên bàn trong khi Riker kể lại câu chuyện. Riker biết hạng người này, y chỉ là một tên luật sư cặn bã ngồi lì ở Sài Gòn, ở ngoài cuộc chiến tranh. Viên Đại tá nói:
- Anh bị kết tội đã xâm phạm thân thể một sĩ quan.
- Tôi biết thế. - Riker nói.
- Tôi muốn nghe anh kể lại việc đó. - Viền Đại tá nói, tay giơ tập báo cáo trước mặt. Chiếc bút chì gõ nhịp tốc! tốc! tốc! Riker biết rằng bất cứ điều gì mình nói cũng chỉ như gió thoảng qua tai viên Đại tá. Đối với những người như vậy thì chiến trận cũng kết thúc như là ta hết giấy vệ sinh lúc nửa đêm thôi.
- Thôi được, - Riker nói. - Trước hết ông phải hiểu rằng tôi là thằng phi công trực thăng nhiệt tình nhất trong đội. Chúng tôi đang di tản những thương binh đang nằm ở vùng sông Ngân 5 tháng nay rồi. Nó chỉ cách đây khoảng 30 phút bằng đường không. Hoàn cảnh thật tồi tệ. Rất nhiều đụng độ và tổn thất nặng nề. Tôi phải bay sáu bảy lần một ngày, điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến chiếc trực thăng Huey. Tôi nói để ông hiểu, với kế hoạch bay như thế, việc bảo trì là cực kì quan trọng.
Tuy thế chúng tôi lại nhận được một thằng Thiếu tá lười biếng đểu cáng - đúng là một thằng trốn việc, ông ơi - phụ trách việc bảo trì. Một thằng chỉ ngồi ám, hắn biết hắn chỉ ngồi chơi khắc vạch lên chiếc gậy gỗ để tính thời gian chuồn. Tất cả những gì hắn lo lắng là chóng chuồn khỏi nơi đây. Còn chúng tôi rớt trực thăng tứ phía, việc bảo trì như cứt ấy. Một buổi sáng nọ tôi đang bay tới để bốc một đám thương binh thì bất thình lình tôi bị chết máy. Tôi đang bay khoảng 180km/giờ, ở độ cao 30 mét thì trực thăng của tôi đột ngột rơi xuống như cái bao đựng xác chết tiệt ấy. Tôi rớt xuống, chiếc Huey lật nhào, các cánh quạt gẫy tung. Nhiều thằng bị bầm nát. Ông có bao giờ nhìn thấy một người bị cánh quạt trực thăng bằm nát không?
Viên Đại tá thở dài nhưng không nhìn lên. Ông ta quay đi, nhìn đăm đăm ra cửa sổ.
- Hãy bám lấy các sự kiện thực tế, Trung úy. - Ông ta nói.
- Đây là những sự kiện thực tế, thưa Đại tá. Nhiều thằng trẻ đang ở dưới ấy chờ được cứu còn tôi thì trực thăng lại rơi xuống và chặt nát chúng ra.
Riker ngưng một lúc đủ để châm một điếu thuốc.
- Còn tôi ư. Kết thúc sự việc tôi bị một vết bầm ở cổ và mắc chứng nhức đầu. Họ bốc tôi bay về căn cứ này và trên suốt đường về tôi đã nghĩ, thằng chó đẻ đó, tất cả những gì đáng ra hắn phải làm là giữ cho trực thăng bay an toàn thế mà hắn chả làm gì ngoài việc khắc chơi lên cây gậy trời tru đất diệt ấy. Công việc khốn kiếp của hắn là thế đấy. Điều đó cứ cắn xé tôi hoài. Khi trở về, tôi đến thẳng cái thằng chán việc ấy, giật lấy cây gậy của hắn và quất mạnh vào cái chỗ mà mặt trời không rọi được tới ấy, rồi tôi bẻ gẫy chiếc gậy và cầm khúc còn lại quất cho hắn một trận tơi bời cho tới khi hắn mềm ra như bún. Tôi định bắn bể mông hắn ra nhưng tôi đã không làm. Tôi chỉ quất roi vào hắn thôi. Rồi tôi gọi điện thoại bảo cho tòa án quân sự và họ cho bắt giữ tôi. Đó là toàn bộ câu chuyện.
- Đó là tất cả những gì anh nói à? - Viên Đại tá hỏi.
- Còn gì nữa đâu? - Riker trả lời.
- Anh không hối hận à? - Viên Đại tá ngạc nhiên nói.
- Hối hận à? - Eddie Riker nói sau một giây suy nghĩ - Vâng, tôi có hối hận. Bây giờ tôi nghĩ, nhẽ ra tôi phải giết chết cái thằng thối tha không đáng giá một chút nào đó. Chỉ có Chúa mới biết được hắn đã nhét đầy bao nhiêu túi đựng xác người.
Lần đầu tiên viên Đại tá nhìn vào hắn. Ông ta có vẻ giận dữ:
- Tôi đề nghị anh phải trả lời trước tòa về tội cố ý đả thương. Anh sẽ được chỉ định một luật sư bào chữa. Anh sẽ được đưa về Sài Gòn để vào khám.
- Thế thì có gì lạ đâu. - Riker nhún vai nói.
Viên Đại tá đóng kẹp hồ sơ lại và tỉ mỉ xếp các thứ vào cặp rồi đứng lên, phủi vài hạt bụi bám vào chiếc quần ủi thẳng nếp.
- Anh phạm vào một tội nặng đấy! - Viên Đại tá càu nhàu.
- Không, thưa Đại tá, cái tôi mắc phải là đã gặp một sĩ quan bảo trì tồi.
Viên Đại tá khệnh khạng đi ra khỏi dãy nhà lính.
Riker nhìn ông ta đi thẳng qua sân và leo lên xe jeep lái đi. Hắn đứng đấy và suy nghĩ. Trời đất ơi, đúng là một sự lãng phí. Là một phi công trực thăng nhanh nhẹn, nhiệt tình nhất ở miền Nam mà mình lại phải ngồi cô độc trong cái túp nhà này trong khi bọn trẻ tuổi đang chết mòn ngoài kia. Thế là hắn bỏ ra ngoài, vớ lấy một chiếc trực thăng đang nóng máy và trở lại với công việc...
Ngồi kế đó là Gallagher, người có dáng đi nghiêng ngả trông buồn cười như cả hai chân đều bị khập khiễng, dường như cả hai bàn chân lúc nào cũng bị đau. Mà chúng bị đau thật. Một quả địa lôi đã bật tung sàn xe jeep của hắn lên đến tận nách. Ngồi cạnh hắn là Johnny Prophett, người đã được nhận giải thưởng Pulitzer, nhưng hắn ở Việt Nam kể ra cũng quá lâu rồi. Bị thua cuộc vào năm 25 tuổi, hắn chuyển qua xài heroin để xoa dịu nỗi đau đã mất đi giấc mộng vàng son của hắn.
Prophett đang ngồi bên lề đường, nguệch ngoạc ghi vài chữ vào quyển sổ báo cáo hắn nhét trong túi vải bạt đeo trên vai. Lưng hắn đau và cổ họng nghẹt đầy bụi. Đã bao nhiêu ngày nay trời không mưa, đường xá cứng như đá và bắt đầu nứt nẻ thành những đường ngoằn ngoèo. Hắn đã lạc mặt trận hai ngày trước, cách đây khoảng bốn mươi cây số. Khi hắn giật mình thức dậy vào buổi sáng sau một đêm đầy ảo ảnh vì bạch phiến, hắn thấy đơn vị hắn đã đi mất. Chả có gì vứt lại ngoài những thứ thường lệ:, các lon rỗng và hộp đạn, những đống tro tàn, tất rách tả tơi và nắp thùng quá củ chẳng đáng bận tâm. Bao giờ cũng thế, họ rời đi như một buổi hội của dân du mục, họ đóng gói vào đêm khuya và chuyển sang thành phố khác.
Hắn đã chạy lồng lên như ngựa và bắt đầu cảm thấy cái đau đớn của sự rút chạy. Những cơn đau ở bụng, sự ngứa ngáy, cơn nhức đầu, mồm khô đắng. Bàn tay hắn run đến nỗi hắn viết thật khó khăn. Hơn nữa, mọi thứ tiếng động nghe cứ giống như nhau cả. Gần hắn không nghe thấy tiếng chiếc xe jeep chạy đến, cho đen khi nó suýt cán lên hắn, hắn mới giật bắn mình nhảy dựng lên rồi loạng choạng lấy lại thăng bằng và đưa một ngón tay cái ra. Hắn nhớ lại cái ngày hắn xin quá giang xe đi Woodstock và cũng thử như thế. Vào lúc hắn tới đây, âm nhạc chỉ còn là một kí ức.
Chiếc xe jeep phủ đầy bụi chạy vèo qua rồi rít thắng dừng lại, làm bụi bốc mù mịt.
- Anh phải cẩn thận chứ. - Gallagher nói giọng người miền Cincinnati - Tôi suýt cán anh bẹp dí.
Prophet khập khiễng đi lại tựa vào chiếc ghế ngồi bắn súng máy.
- Cho quá giang được không?
- Được chứ, nhảy lên - Gallagher nói, đẩy cần số về tốc độ chậm - Anh đi đâu?
- Tôi bị lạc trận tuyến. - Prophet vừa nói, vừa xoa hai cánh tay.
- Cứt. Anh đi lộn hướng rồi. Hành quân phía sau kia. - Gallagher nói, chỉ ngón tay cái qua vai.
- Thế anh đi đâu?
- Tôi định băng ngang qua Cam Ranh. - Gallagher nói.
- Anh làm nghề gì? - Prophet hỏi.
- Coi vài câu lạc bộ ở thành phố S.
- Nghe có vẻ cực đấy.
- Kiếm sống mà. Anh là phóng viên à?
- Ừ hử.
- Tôi quen mấy tên ở Đài truyền hình dưới đó. Hãy lấy lòng bọn chúng, hiểu ý tôi nói chứ?
- Đúng thế. - Prophet nói và gieo mình vào ghế ngồi, hi vọng đường sẽ không có quá nhiều ổ gà. Ít ra hắn có thể tới đấy, xin quá giang một chiếc Huey để trở về phòng tuyến. Hắn đu đưa một chân ra ngoài xe jeep nói:
- Ở Cam Ranh nghe có vẻ vui đấy chứ!
- Tôi sẽ để ý xem sao, - Gallagher nói. - Con đường này đầy lỗ nẻ. Tôi ghét lái xe loạng quạng khi anh cứ đong đưa một chân bên cạnh xe như...
Câu nói chưa ra hết khỏi miệng thì họ cán phải một quả mìn. Gallagher chẳng nghe thấy tiếng nổ nữa, tất cả điều hắn cảm thấy là cơn đau ghê gớm ở dưới chân, như bị một quả bóng chày đập vào, hắn bị bắn tung người lên không, cố gắng nắm lấy một cái gì, bất cứ cái gì, nhưng chả có gì để víu vào cả. Hắn rớt phịch xuống một vũng bùn nghe như tiếng ai đập quả bí rợ bằng một tấm ván. Hắn thở phì ra. Hắn lăn người nằm ngửa ra ngoài vũng sình lầy nhớp nháp, nhìn lên trời và nghĩ thầm, lạy Chúa, lạy Đức Mẹ và Thánh Joseph, hãy thương xót con, đừng để con chết nơi đây.
Phía bên kia đường chiếc xe jeep tan nát nằm chổng ngược, các bánh xe còn quay, sàn xe bay mất. Prophet nằm nghiêng, đờ dẫn nhìn đăm đăm chiếc chân hắn bị kẹt dưới đống sắt vụn. Hắn quên hẳn việc rút chân ra, cơn đau ở chân ghê gớm quá. Hắn nhổm người ngồi lên và dường như hắn nghĩ có thể làm cho chiếc xe lật trở lại được. Rồi hắn ngất đi...
Và còn tay Wonderboy, ngôi sao nhạc rock đã biến thành thủy thủ. Hắn đã để lại phần lớn gương mặt ở vùng châu thổ sông Mekong.
Harswain là một người thấp, ốm như cây sậy có bộ râu mép rậm và mái tóc cứng như lông nhím. Ông vẫn còn mang cây gậy ngắn từ những ngày còn làm Thanh tra khu vực ở đảo Parris. Ông ngồi trên một khúc cây và lấy gậy vạch vu vơ trên đất.
- Mày sẽ biết khi nào nó đến, cậu bé đẹp trai ạ! - Ông ta nói với Wonderboy, - viên đạn có tên mày khắc trên ấy. Mày sẽ gặp nó. Nó sẽ bay vù vù ngang qua cánh đồng và bắn vào mắt mày một giây trước khi xơi tái bộ óc mày.
Ông ta cười to.
Wonderboy cảm thấy lạnh gáy. Nỗi sợ hãi dăng lên trong lồng ngực, ép hai buồng phổi làm hắn thấy nghẹt thở. Đã đến lúc phải khuây khỏa một chút. Hắn làm việc 77 ngày liền, không có giải lao. Sáu mươi ngày đầu đã qua, còn lại 17 ngày nữa. Hắn lắng nghe Harswain và suy nghĩ về viên đạn ấy.
Đó là lúc địch tấn công. Thật là hỗn loạn - mọi người, chạy quanh, loạng quạng kiếm một chỗ núp, chộp lấy vũ khí. Thư nhà vừa gửi tới. Harswain hét với họ như mọi khi.
- Nằm sát xuống. - Ông đang rống lên thì Wonderboy trườn như rắn trên mặt đất, nép vào một thân cây đã bị đốn ngã. Thình lình đất bắn tung lên cách đó khoảng 3 tấc, hắn rúm người nép xuống thân cây, chuẩn bị súng sẵn sàng rồi như một tài tử phim cao bồi hắn xoay người, nhổm dậy, vắt khẩu súng ngang thân cây, nổ 5, 6 phát vào cánh rừng rậm.
Đó là lúc hắn nhìn thấy viên đạn, hoặc nghĩ là đã nhìn thấy nó, cái đầu đạn chì xuyên qua không khí về phía hắn như một hình ảnh quay chậm, xoay tròn đỏ rực như một con ong vò vẽ giận dữ, một cái đầu đạn chì đang rít lên trong không khí.
Hắn ngã ngửa ra mắt nhắm nghiền lại chờ đợi, lắng nghe tiếng nhiều đầu đạn chì xé nát thân cây trên đầu hắn, rồi hắn vứt khẩu súng và quờ quạng bò trên hai tay hai chân bỏ trốn, nức nở vì sợ, khi nghe tiếng Harswain thét gọi: “Trở lại dây, thằng hèn nhát, gan thỏ. Mẹ tổ mày!”. Hắn nghe thấy ông ta bắn một tràng sau lưng hắn và thấy đạn cày tung đất quanh chân hắn, nhưng hắn vẫn không dừng lại. Hắn đứng dậy tiếp tục chạy cho đến lúc không còn chạy nổi nữa. Hắn ngã sấp xuống và nằm bẹp.
Hắn nghe tiếng súng phun lửa gần đấy, cảm thấy hơi nóng dội lại từ đó và hắn ghé nhìn qua đám cỏ rừng. Cái thằng trẻ đó ở cách hắn khoảng 6 mét đang cháy mọi cái trước mặt nó.
Chỗ nấp đó chắc chắn, Wonderboy nghĩ và bò lại sau lưng nó.
Có tiếng ai đó thét lên “Pháo tới đấy!” và hắn nghe tiếng xé gió của quả pháo từ trên trời rơi xuống. Hắn co rúm người lại như một con sên trong vườn. Quả pháo trúng ngay bình xăng của khẩu súng phun lửa làm thằng bé bung lên trong đám lửa khổng lồ quạt trùm lên người hắn. Một giây trước khi ngất đi hắn cảm thấy da trên mặt hắn bắt đầu rã ra...
Cuối cùng là Corkscrew và Potter. Hiện tại chúng là một cặp. Corkscrew và thằng em trai Hammer đã có lần chở gái điếm tại thành phố Mo ở băng sau của chiếc xe Lincoln màu vàng nhạt, còn Potter đang kiếm sống trong một nông trại ở Arkansas, ở đó đất đai cằn cỗi đến mức như hắn nói một cách tế nhị: “Kiến còn phải leo lên cây để làm tình”. Bọn chúng đã may mắn ra khỏi được cuộc chiến tranh và thân nhau còn hơn anh em sinh đôi.
Bọn chúng đã giữ ngọn đồi ở Đăng Bang hai ngày nay, chống lại một nhóm Việt Cộng hình như có mặt ở khắp nơi.
Buổi sáng ngày thứ ba Potter bò xung quanh đỉnh đồi kiểm tra xem ai còn sống sót. Đám lính còn lại của hắn đều đã chết cả. Đạn pháo đã quật ngã hầu hết cầy cối và mưa dã làm các hố pháo đầy nước sình lầy. Các con muỗi nở ra và bay là là trên mặt nước các ao vũng hôi thối. Bấy giờ chỉ còn lại ba người bọn chúng. Potter - gã trồng trọt chân lấm tay bùn nghèo nàn ở Arkansas, Corkscrew và đứa em trai, Hammer của hắn, một cặp ma cô đang sống gấp ở Detroit thì bị bắt đi quân dịch. Tất cả đều là lính bộ binh, có những nét giống nhau như thích chén một trái chuối với li rượu gin.
Potter bò trở lại căn hầm trú ẩn nhỏ mà hắn dựng lên bằng những cây gẫy và bùn đất.
- Chúng ta đã hết sạch mọi thứ - Corkscrew bảo với Potter và Hammer - hết đạn dược, hết thức ăn, hết nước.
- Hết may mắn - Potter càu nhàu tay ôm lấy bụng - tao phải uống li rượu đây, Corkscrew.
Corkscrew nói:
- Bao tử mày chứa đầy mảnh đạn, bồ ạ! Mày mà uống thì mày sẽ chết.
- Dù sao tao cũng chết rồi! - Potter trả lời.
- Cứt bò ấy! - Corkscrew lầm bầm.
Hammer không nói gì. Corkscrew với tay lay thằng em dậy, Hammer quay sang bên và ngã úp mặt xuống một vũng nước.
- Hammer! - Potter thét lên. Hắn nhảy xuống nâng Hammer dậy và lôi gã lên miệng vũng. Nhưng người Hammer lạnh ngắt và đôi mắt đã mất thần.
- Ôi! Trời tru đất diệt tất cả đi - Corkscrew thét lên giận dữ - mẹ kiếp chúng mày, lên đây. Chúng mày muốn cái gì, bọn khỉ đột khốn kiếp, tới đây lấy đi…
Khi đạo quân tiếp viện lên đến trên đồi, Corkscrew đang đứng bên thằng Potter bị thương và xác đứa em trai, tay cầm nòng khẩu súng M-16 đã hết đạn, chờ VC đến...
“Ừ! - Earp nghĩ thầm, - tất cả bọn chúng đều có thể được việc trong lúc gay go, nhưng đêm nay chỉ cần Riker là đủ rồi!”. Hắn gật đầu với gã đội nón săn.
- Tao ra đây! - Riker nói. Gã lột chiếc nón có thêu hàng chữ vàng ‘Home Sweet Home’ (Ngôi nhà yêu quí) ở viền nón và gạt các thẻ thay tiền vào đấy.
Gã đang mặc quần đùi đá bóng vải ka ki và chiếc áo đỏ hở cổ, lông ngực xoăn xoăn lộ ra ở cổ áo. Trong khi mái tóc rậm đen của gã đang ngả sang màu muối tiêu và thỉnh thoảng gã đã phải đeo cặp kính lão mạ vàng để đọc sách thì đôi vai và cánh tay rám nắng của hắn cuồn cuộn những bắp thịt dẻo dai của một người biết giữ cho mình cường tráng. Gã đi ngang qua phòng, đổi các thẻ thay tiền thành tiền ở chỗ người đàn ông ngồi ở cửa mà bọn chúng đều tôn kính gọi là Honorable (Ngài).
Gã Johnny Prophett người ốm, mắt trũng sâu, rời khỏi bàn đánh bạc và kéo Earp vào một góc tối trong phòng nói: “Hãy để tôi đi chuyến này, vui lòng chứ?”.
- Nào, hãy nhìn lại chú mày xem. Hai bàn tay chú mày run đến nỗi không thể pha được một li rượu mà không nhúc nhích cả cánh tay.
- Việc rất nhanh, chỉ uống hết tách cà phê là xong mà!
- Johnny, để lần khác, thế nhé? Tao phải nói thẳng với chú mày. Nếu tao mang chú mày đi làm việc này, chú mày có thế làm cả tụi mình bị giết hết. Có thể lần tới, thôi nhé...
- Tự tôi hại tôi. - Prophett lẩm bẩm, mắt nhìn xuống chân.
- Chắc chắn, đúng như vậy. - Earp nói và vỗ tay hắn.
Earp, Riker và Early rời gian phòng dành riêng, đi qua phía sau quầy rượu, vào văn phòng riêng của Wilkie. Hắn không để ý đến bọn chúng. Văn phòng trông giống như một bãi chứa phế liệu trong nhà. Báo chí, hóa đơn, bìa kẹp hồ sơ và tạp chí chất đống trên bàn giấy, trên ghế, trên sàn nhà và nhét đầy một cái tủ đựng hồ sơ kiểu cũ dựng trong góc.
- Wilkie giữ từng mảnh giấy mà hắn nhặt được trong đời. - Early nói vừa,lắc đầu buồn bã trong khi dưa mắt dò xét cái văn phòng bừa bãi không thể tưởng được này.
- Đây là điều hắn làm. - Earpp trả lời. Hắn mở một ngăn kéo bàn giấy, bỏ khẩu 357 của hắn vào đấy rồi lấy ra một khẩu 9 li có gắn ống hãm thanh. Hắn bật băng đạn ra kiểm tra. Đầy ắp.
Chuông điện thoại reo, một tin báo giọng nghẹt lại gọi đến. Riker nhận ra và trao ống nghe cho Earp.
- Earp đây. ừ... xuất sắc! Xuất sắc! Được, chúng tôi đi đây. Phải thật cẩn thận. Chúc may mắn.
Hắn gác máy và thật chậm rãi xoa hai bàn tay vào nhau.
- Chúng ta gặp may. Nàng đến đó trước hắn. Hắn vừa đặt buồng được 10 phút và nàng đã sắp xếp để thuê căn phòng ngay cạnh.
- Thế là đèn xanh rồi. - Early nói.
- Ừ. - Earp đáp.
- Tôi thấy giống như thả bộ đi dạo ấy. - Riker bảo.
- Có thể. - Earp nhướng mày nói - Thôi đi, chúng ta có 10 phút.
Prophett cũng rời căn phòng dành riêng đi ngang qua quầy rượu vào phòng vệ sinh nam. Hắn ngồi xuống, lấy trong túi ra một hộp nhựa nhỏ đựng ống chích, một cây nến, một chiếc muỗng và một gói heroin. Tay run run hắn đốt ngọn nến, cắm nó trên cái giá kẹp giấy vệ sinh rồi giốc một ít chất bột vào thìa, nấu trên ngọn lửa cho đến khi nó trở thành một chất lỏng trong sủi bọt, các ngón tay bóp ống chích đẩy không khí ra rồi cắm kim hút chất lỏng vào. Hắn vươn cổ tay ra. Mũi kim mày mò tìm một tĩnh mạch cắm vào, rồi ấn sâu hơn. Prophett rùng mình nhè nhẹ, hít một hơi dài và run lẩy bẩy. Một vẻ hài lòng hiện ra trên gương mặt hắn. Hắn nhắm mắt lại và mỉm cười.
Khách sạn Dusit Thani chỉ ở cách đó một đoạn ngắn, đi bộ cũng được, nhưng bọn chúng vẫn đi bằng chiếc xe vận tải nhẹ của Riker và đậu ở phía sau. Riker xuống xe, ở lại bên ngoài ngay gần đấy. Early và Earp lên phòng 429. Nàng đã đợi sẵn. Earp nói:
- Bọn anh cho em 5 phút để tìm biết số lượng hàng. Căng thẳng không?
Nàng lắc đầu.
- Cô gái giỏi. Vậy làm đi.
Nàng rời phòng, leo cầu thang lên lầu 3 rồi theo thang máy trở lại, để đề phòng trường hợp có người theo dõi nghe trộm. Nàng gõ cửa phòng 427 và cửa được mở ra gần như ngày tức khắc bởi một gã Tàu mập, to con, có một vết sẹo xám xịt chạy dọc một bên mặt.
 
- Mrs. Giu?
Nàng gật đầu và gã lùi lại để nàng bước vào phòng, rồi gã liếc nhanh kiểm tra hành lang trước khi đóng cửa. Gã ngạc nhiên. Người đàn bà đẹp tuyệt, nhỏ nhắn, tự nhiên, gần như vương giả trong cách ăn vận. Nàng mặc chiếc áo dài dạ tiệc bằng lụa xanh màu ngọc bích, đeo găng tay trắng. Đôi bông tai ngọc trai có vẻ đắt tiền. Hiển nhiên nàng chẳng có vẻ gì của một người đi giao nhận ma túy.
- Tôi là Mr Sen. - Gã nói - Cho xem hộ chiếu?
Nàng lấy trong bóp ra một quyển sổ nhỏ bìa bọc da và đưa cho gã. Hắn kiểm tra thật kĩ, cố tìm ra những dấu vết giả mạo nhưng chẳng phát hiện ra điểm nào. Nếu nó qua được mắt gã nó sẽ qua được mắt hải quan.
Hộ chiếu ghi nàng là Mrs.Victor Giu, một quả phụ 29 tuổi, sinh tại Bangkok. Nàng đã có thời gian đi du lịch, phần lớn là ở Malaysia, Hong Kong, Philippines.
- Tôi được biết qua giấy thông hành bà là một vũ nữ. - Gã nói.
- Vâng. Chiếc rương hai lớp ấy dùng để đựng quần áo của tôi.
Sen hơi mỉm cười nói:
- Tốt lắm. Một ý nghĩ rất thông minh về chiếc rương ấy. Nó chứa gấp ba lần một chiếc va li quần áo thường. Bà hiểu việc bà phải làm chứ?
- Vâng. Tôi sẽ gởi bốn chiếc hòm đến Seattle. Sau khi tôi làm xong thủ tục hải quan, một chiếc xe Limousine sẽ đón tôi. Khi các chiếc hòm đã được chất lên xe, tôi sẽ được trả nốt phần tiền công còn lại và tự do ra đi.
- Vâng. Thật là giản dị.
Gã lấy ra từ ngăn tủ quần áo một bao thư và đưa cho nàng:
- Đây là vé khứ hồi của bà và 2.795 dollar. Đó là 500 dollar tiền chi phí vặt và một nửa tiền công.
Mrs. Giu nhanh chóng tính ra giá trị của nó.
Sen nói tiếp:
- Chẳng ít đối với công việc làm trong vài giờ.
- Ông quên tính đến sự nguy hiểm. - Nàng vừa nói vừa đứng nhích về phía cánh cửa nối liền hai căn phòng.
Sen nói:
- Chẳng có gì rắc rối đâu! - Gã bị thu hút bởi người quả phụ lịch sự và bắt đầu nói bốc. Hắn nâng một chiếc rương quần áo để nó lên giường và mở ra, giảng giải rằng các vách rương được nhét những bánh bạch phiến nén chặt, gối trong giấy bạc tẩm cà phê. Cà phê làm mất mùi bạch phiến để chống lại lũ chó được huấn luyện tìm ma túy. Cái túi trong va li và nhiều ngăn trong hai lớp chứa các gói nhỏ bột thơm để thanh tra không ngửi thấy mùi cà phê. Trong khi gã tả về các lần vận chuyển, Mrs. Giu tựa lưng vào cánh cửa thông sang phòng kia và bí mật mở khóa, rồi nàng đi ngang qua phòng đến bên chân giường giữ cho Sen khỏi lưu ý đến cánh cửa. Sen nói:
- Chúng tôi chưa mất một lô hàng nào trong sáu tháng nay. Không có gì đáng lo ngại cả.
Gã đang quay lưng lại cánh cửa thông sang phòng bên và đang nói, thì cánh cửa bật mở và Earp nhanh nhẹn bước vào phòng. Sen nghe tiếng động và qua tấm gương của tủ quần áo, nhìn thấy Earp sau lưng gã. Gã đưa tay để rút khẩu súng ở thắt lưng, quay lại đồng thời quỳ gối xuống.
Earp đứng cách gã khoảng ba mét, hai chân hơi dạng ra, cánh tay đã giơ sẵn khẩu súng, Earp bắn phát đầu tiên. Phát súng nổ chỉ nghe như ai đó vừa đóng mạnh cửa. Viên đạn của Earp ghim trúng mắt trái của Sen trong khi gã còn đang rút súng, đẩy bật đầu gã ra sau. Gã té vào giường.
Một cơn đau buốt cháy lên trong đầu Sen. Hai tay, hai chân tê dại, vị mặn của máu trào lên miệng, căn phòng quay cuồng. Gã thấy khẩu súng rớt khỏi tay gã, khi nhìn vào đầu ống hãm thanh và phía sau khẩu súng, hắn thấy một người đàn ông cao với bộ ria bạc đang đứng sừng sững bên phải. Khẩu súng lại khạc đạn và gã thấy căn phòng nổ tung thành hàng trăm màu sắc chói lòa rồi vụt tắt.
Trong khi Sen ngã gục, đổ về phía trước thì Riker chạy ào vào phòng tắm, quơ vội nhiều giẻ lau và khăn bông, chạy vù trở lại, áp chặt các giẻ lau những vết thương đang chảy máu của Sen. Mọi việc làm xong trong 20 giây, Earp lật chiếc rương hai lớp lên mở ra, nói:
- Món này nhét vào thì chật cứng.
- Gã này phải nặng khoảng một trăm kí. - Riker nói trong khi cùng với Earp gắng sức nhấc xác chết lên và cố nhét nó vào rương. Sen nằm nghiêng, hai đầu gối co lại,. đầu gục xuống ngực. Bọn chúng đè nắp rương xuống, khóa lại, nâng một đầu rương lên và dựng nó thẳng đứng.
- Chúng ta sẽ cho bốn người khuân vác đến mang đi. - Earp nói.
Mrs. Giu đi thang máy xuống phòng khách, ra khỏi khách sạn với hai tay không và gọi một chiếc xe lam đang chờ khách gần đấy. Hai phút sau Earp và Riker rời khách sạn bằng cửa hậu, sau khi đã kiểm soát cả hai phòng. Chúng theo cầu thang chữa cháy xuống và chất các chiếc rương lên xe tải.
- Bao nhiêu? - Early hỏi.
Trong khi chúng lái xe vào bóng đêm, Earp ngồi yên vị, mỉm cười nói:
- Ba mươi bảy thỏi.
 
 
0

HONG KONG

 
Hatcher yêu Phương Đông. Anh đã ở đấy nhiều năm trước khi Sloan gửi anh qua Trung Mỹ, nhiều năm ở trên các con sông vắng vẻ, so cựa với Ts’e K’am Men Ti, những tên cướp sông hoạt động ở phía Nam từ Thượng Hải và phía Đông Thái Lan vào đến tận các con kênh Macao của Hong Kong. Anh biết tất cả bọn chúng. Joe Cockroach. Tàu lai Malaisia, có giọng nói Ănglê ngượng nghịu và mặc đồ tơ tằm đặt may khi hắn làm ăn ở các vùng nước hẻo lánh trên sông Jungsian. Harry Tsin, có bằng đại học và có một cái chân giả ở trại tù bên Nhật. Sam-Sam, một kẻ tâm tính bất thường kiểm soát con sông này đòi tiền mãi lộ của bất cứ ai làm ăn ở đấy và lột da bất cứ kẻ nào qua mặt hắn, rồi treo bộ da ngay bên cạnh thuyền hắn để răn đời.
Rồi Cohen, gã Tsu Fi trắng.
Trong khi chiếc máy bay 744 lướt qua vịnh và hướng về phía phi trường Kai Tak, anh cảm thấy trào dâng trong lòng một niềm kích động. Chẳng phải vì Hong Kong là một nơi thích thú đặc biệt - ở đó quá đông người, quá ồn ào, riêng nó đã quá chật chội - nhưng vì đây là một nơi mọi chuyện ở phương Đông bắt đầu, ở đây những kẻ chuyên đổi tiền ngồi chồm hỗm trước bực cửa nhà băng Trung Quốc, còn những người giàu thì xuôi ngược như nước thuỷ triều. Ánh hồng đầu tiên của bình minh ló ra ở chân trời thì vừa lúc máy bay của họ từ phương Nam đến, bắt đầu giảm tốc độ. Shaukiwan, thành phố nổi với những thuyền mành, thuyền tam bản, thuyền thoi lướt êm đềm phía dưới, rồi đến đảo Hong Kong và vùng vịnh, cuối cùng là bán đảo Kowloon (Cửu Long) đối diện với một bến cảng trù phú có những tàu chở hàng từ khắp nơi trên thế giới đến. Các thuyền mành, thuyền tam bảo vây lấy chúng như đàn chó con tìm vú mẹ.
Hatcher có những người bạn thân ở đấy, và cũng có những kẻ thù xưa nữa nhưng anh chả bao giờ nghĩ đến chúng. Đừng bao giờ nhìn lại đằng sau, Sloan đã bảo anh ngay từ lúc đầu.
Lúc ấy là 5 giờ sáng, chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là chuyến bay suốt của anh đi Bangkok khởi hành, chắc chưa phải lúc gặp những phiền phức. Anh sẽ ăn tại một nhà hàng nhỏ mà anh thích cách phi trường vài cây số và lại bay tiếp.
Khi anh tới phi trường, thình lình kế hoạch của anh bị thay đổi. Điều đầu tiên anh nghe thấy khi bước vào phòng đợi là tiếng loa mời.
- Xin chú ý, hành khách vừa đến tên Hatcher, xin mời liên lạc với quầy hướng dẫn của hãng Pan American càng sớm càng tốt...
Anh đến quầy của hãng Pan American đặt gần cổng.
- Tôi là Hatcher - anh bảo với cô gái Á Châu xinh xắn và duyên dáng - cô đã cho mời tôi.
- Mời ông nghe điện thoại ngay đây - nàng vui vẻ nói, tay chỉ vào phòng điện thoại ở cuối quầy. Cô điện thoại viên cũng vui vẻ như thế: “Ông phải gọi số điện thoại đã trả tiền trước ở Washington và xin hỏi trung sĩ Flitcraft”, nàng nói và đọc số điện thoại. Hatcher nhắc lại con số và tìm một điện thoại đã trả tiền để gọi.
- Văn phòng Điều tra đặc biệt, trung sĩ Flitcraft đang nghe - một giọng nói méo mó trả lời từ đầu dây bên kia. Hắn nhanh chóng nghe điện thoại - Ông Hatcher đấy à?
- Phải. - Hatcher nói nhỏ.
- Xin ông cảm phiền cho tôi biết số quân hiệu cũ của ông ở Hải quân, được chứ thưa ông?
- Chẳng hề gì - Giọng Hatcher khàn khàn - số 3146021.
- Rất tốt, thưa ông. Ông cũng đã qua phần kiểm tra giọng nói. Đại tá Sloan nói ông hãy chờ ông ấy ở Hong Kong. Ông ấy đến sau ông vài giờ. Quí ông có phòng cạnh nhau ở khách sạn Peninsula (Bán Đảo), ông ấy sẽ gặp ông ở đấy vào khoảng mười giờ, tùy ông nhận hay không.
 
- Có thế thôi à?
- Thế thôi, thưa ông.
- Cám ơn trung sĩ! - Hatcher nói và gác máy. Mẹ kiếp, anh nghĩ, Sloan đang theo thật sát vụ này. Chuyện này còn quái quỉ gì nữa đây?
Đối với Hatcher, khách sạn Peninsula xác định đặc điểm của Hong Kong. Nó dựng lên thẳng đứng như một cột mốc ngoài mũi bán đảo Kowloon, đối diện với chiếc phà Star Ferry chuyên chở khách vào khu trung tâm trên đảo Hong Kong. Những chiếc xe hơi Rolls-Royce sang trọng dành cho khách xếp hàng dài ngoài cửa trước các xe kéo. Viên quản lí là một người Á thấp bé, mặc bộ áo vét cài chéo màu sẫm, còn người gác cổng cổ lỗ mặc chiếc xường xám truyền thống bằng lụa thêu. Trong góc phòng khách một người đàn bà tóc vàng trông có vẻ là người Thụy Điển đang chơi những giai điệu Trung Quốc trên cây đàn hạc Thụy Sĩ cho những người đến khuya hoặc dậy sớm thưởng thức. Đây đúng là nơi Đông Tây gặp nhau và là một trong những khách sạn sang nhất thế giới. Khách được đối xử như vua chúa.
Khi anh về phòng thì trời đang mưa. Người phục vụ treo xắc quần áo của anh lên, mở quạt trần và TV, biến đi trong một hai phút rồi trở lại mang đến một xô đá.
- Mm goi. - Hatcher nói tiếng cảm ơn và dúi một tờ 5 dollar Hong Kong vào tay anh ta.
Khi người phục vụ đi khỏi, Hatcher tắt TV, mở cánh cửa trượt và bước ra bao lơn. Anh ngủ rất ít trong ba ngày qua, và anh để cho làn gió lạnh của cơn mưa làm tươi mát lại người trong khi ngắm mặt trời đang lên xua đuổi cơn giông ngang qua vịnh. Cơn giông đã đi qua hòn đảo, để lại phía sau những tòa nhà chọc trời và những tháp lồng kính lấp lánh dưới ngọn núi Victoria cao vút.
Anh gọi điểm tâm và bảo người bồi đặt bàn ngoài bao lơn. Trong khi ăn anh nhìn tàu bè ra vào hải cảng, chiếc Star Ferry đang lao về phía hòn đảo, chiếc xe điện Peak Train đang lướt ngược lên sườn núi.
Anh bắt đầu thiu thiu ngủ. Thời gian chờ đợi chuyến bay đang ngấm vào người anh, và vì những lí do mà anh không hiểu ngay được, trí óc của Hatcher len lỏi quay về một đêm tối cách nay đã mười năm. Đêm đó anh đáp xe điện lên núi trong bóng đêm, xe chạy qua các rặng cây đa, vượt qua các căn nhà giàu có. Hình ảnh lờ mờ của Harline đang đợi trên đỉnh núi, một điếu thuốc cháy đỏ giữa đôi môi đang mỉm cười. Hatcher dẫn hắn đi vòng sang ghềnh đá về phía trên và Harline nồng nhiệt chìa tay ra bắt, mồm hầu như đầy nước dãi, giọng nói Ănglê sai bét trong bóng tối: “Rất tốt khi làm ăn với những người mà ta có thể tin được, bồ tèo ạ!”. Lúc đó Hatcher đã vờ làm rơi bao thư, cúi xuống để nhặt nó lên rồi chộp lấy hai đầu gối gã nói giọng Ănglê này làm như anh đang túm lấy hắn, và hất tung gã đàn ông mảnh khảnh ra phía sau làm cho gã rơi xuống vực thẳm cao khoảng 120 thước, tiếng thét kinh hoàng của lụi dần trong bóng tối.
Hatcher giật mình tỉnh giấc và ngồi nhìn ngọn núi Victoria. Điều ấy chui ra từ nơi quái quỉ nào nhỉ? Hôm qua, đó là chuyện xưa, ta không bao giờ nhìn lại, không bao giờ nghĩ lại, không bao giờ quay trở lại trừ khi công việc đòi hỏi, và khi nó đòi hỏi, ta đối phó với nó bằng những phản xạ ngày xưa, tiềm thức của ta cung cấp bất cứ cái gì cần có để duy trì sự sống. Bây giờ, bất thình lình nó đến, nổi lên từ lúc khởi đầu, bám riết lấy anh. Bất chợt anh tự hỏi vì sao anh đã giết Harline. Sloan chưa bao giờ nói cho anh nghe và anh cũng không hỏi.
- Đây là mệnh lệnh. Anh là một người lính thì phải làm việc của lính. Lính không được hỏi. - Sloan đã nói như thế lần đầu tiên khi anh hỏi tại sao. Và bây giờ, lần đầu tiên kể từ khi anh gặp Sloan, Hatcher nghĩ, một người lính không có đồng phục, không có lí lịch, không có giấy chứng nhận hoặc căn cước thì đó là loại lính quái quỉ gì nhỉ? Và bây giờ anh đang ở đây, một lần nữa mối nghi ngờ về Sloan lại gặm nhấm lòng anh.
Ngoài kia trên đảo, những con diều hâu tai đen trước đó đã bay vào trú dưới những tàn cây để tránh mưa, bây giờ đang dang rộng đôi cánh dài 6 tấc bay vút lên cao. Hằng bao nhiêu thế kỉ chúng đã bay lượn bên những ngôi nhà quí phái trên sườn núi với những tài phán (taipan), những người điều hành kinh doanh, những ngôi nhà điểm lốm đốm trên mặt triền núi như những pháo đài nhỏ. Phía dưới là khu vực Trung tâm trải rộng, trái tim thương mại của Hong Kong. Ở đó các tên gangster Tàu vênh váo lên với các chủ nhà băng Ănglê và các tài phán, ở đó các triều đại được dựng lên, các đế quốc thắng và thua, vàng là vua, nguyên tắc ràng buộc nhau là tiền bạc.
Một hòn đảo do các tay buôn lậu và cướp biển dựng lên, Hatcher nghĩ thầm. Chỉ có một điều duy nhất đang thay đổi ở đây là thời gian.
Và khi nghĩ về bọn cướp, đầu óc Hatcher lại ngược dòng thời gian, lần này về Cohen, và một kí ức nữa lại hiện ra trong óc anh. Lần này là một kỉ niệm vui.
Nghĩ về Cohen, Hatcher cảm thấy dễ chịu, vì Rob Cohen là một trong những người đặc trưng làm cho Đông phương đúng là Đông phương, một con người huyền bí, một người Mỹ xa quê hương, và đã trở thành một huyền thoại của Hong Kong. Hatcher là một trong số ít người biết được toàn bộ vở kịch. Họ là những người bạn gần gũi và tin cậy nhau, mặc dù họ đã không gặp mà cũng không nói chuyện với nhau trong nhiều năm.
Mười năm trước đây, khi họ gặp nhau lần đầu tiên, Cohen đã nổi tiếng là vua của các kênh rạch ở Macao, một ông vua khác kiểu, mua hàng lậu rất tài nghệ và chở các ghe hàng lậu qua mặt các trạm Hải quan Hong Kong nhiều chuyến trong một tuần với sự ranh mãnh của một lãnh chúa Trung Quốc.
Từ đó Cohen nổi tiếng là một Tsu Fi da trắng trên sông, mặc dù phải mất một thời gian Hatcher mới hiểu được nghĩa của từ đó. Tất cả những gì Hatcher biết là: nếu bạn muốn biết những bí mật bàn trong phòng kín ở Hong Kong thì người Do Thái thấp nhỏ, gân guốc này - với giọng nói miền Boston và bộ râu lởm chởm, mặc quần áo Tàu, nói ba thứ tiếng địa phương khác nhau, có một khúc trên sông để buôn bán, đã trở thành một người bí ẩn và đáng sợ nhất ở Hong Kong - là người bạn cần đến.
Trước khi họ gặp nhau, Hatcher đã nghe nhiều chuyện về Cohen - những lời đồn đại, những chuyện phóng đại, những chuyện bịa đặt - tất cả những vu khống, tất tần tật đều đúng trong một phạm vi nào đó. Nhưng sự thật đúng đắn còn lạ lùng hơn nhiều những điều tưởng tượng mà những kẻ gièm pha Cohen hoăc những kẻ thù của Cohen có thể bịa ra được. Qua nhiều năm, Cohen và Hatcher đã tiến từ chỗ là những đối thủ đế phải dè chừng nhau để trở thành đôi bạn thân thiết, Hatcher đã dần dần trở nên tin cậy con người đa mưu như truyền thuyết ấy. Đúng lúc này anh dần dần từng bước liên kết câu chuyện lại với nhau.
 
Trở lại năm 1975, văn phòng của Cohen mới là một buồng nhỏ có hai phòng tẻ ngắt, bụi bặm nằm trên một phòng châm cứu ở phố Cat đông đúc, thật ra chỉ là một phòng đợi với hai chiếc ghế ngồi chả tiện nghi chút nào. Trong phòng rất nóng. Chẳng có điều hòa không khí và cái quạt trần có vẻ như đã hỏng từ đời nảo đời nào ấy.
- Ông Hatcher đấy à? Xin mời vào.
Cohen nói bằng cái giọng pha tạp một phần Boston, một phần Ănglê và một phần ê a kiểu tiếng Tàu.
Để gặp anh ta, Hatcher phải nheo mắt đi qua luồng bụi đang nhảy nhót trơng ánh nắng rọi qua cửa sổ. Cohen đang ngồi trong một chiếc ghế dựa thẳng in bóng mặt trời. Bất chợt Hatcher nhớ ra anh ta. Hatcher chìa tay ra nói:
- Chúng ta đã gặp nhau trước đây.
- Phải - Cohen đáp lại bằng một cái bắt tay nồng nhiệt, - hai năm trước, lúc ngược dòng Beijiang vào vùng Chin Chin.
- Gặp Sam-Sam và đám thủ hạ của hắn. - Hatcher gật đầu nói.
Và Cohen cười to rồi gật gù.
- Phải, đúng là một thằng thối tha chưa từng thấy. Hắn sẽ đánh cắp cả đồng tử trong mắt anh và vặn cổ con chó Pháp lông xù của anh trong khi anh còn đang nắm sợi dây xích. Anh có trí nhớ tốt thật, gwai-lo (người ngoại quốc).
- Trí nhớ anh cũng chẳng tồi.
- Lạy Chúa - Cohen nói với nụ cười nhăn nhở, - thật là khoái được nói tiếng Mỹ. Đó là điều duy nhất mà tôi không có. Mấy gã ngoài kia ấy à? Chúng chả biết cứt gì về thổ ngữ cả.
Buổi gặp mặt của họ hai năm trước đây rất ngắn. Lúc đó Hatcher đã bỏ qua người đàn ông dạn dày ấy, coi như chỉ gặp một tên ăn cướp trên sông, quen biết qua đường, chả ích lợi gì, một sai lầm dễ mắc vì chính đêm đó Cohen đã đi chuyến đầu tiên vào nơi mà anh ta gọi là vùng Chin Chin của Trung Quốc.
Trong ba năm Hatcher đã hoạt động trên các con sông vắng vẻ từ phía Đông Thái Lan, qua vùng châu thổ và các đồng bằng cao hơn ở Cambodia rồi hướng lên phía Bắc xuyên qua Lào, Việt Nam và Trung Hoa đến các kênh rạch Macao của Hong Kong. Anh thuộc con sông Irrawaddy, sông Mekong, Áp lục giang và được dân làng chấp nhận - hoặc lờ đi cho. Họ coi anh như là một người lính đánh thuê không tổ quốc và không có lòng trung thành. Anh tránh các đội tuần phòng ở Việt Nam bằng cách ngày ẩn nấp đêm đi, và bằng cách nói tiếng Nga khi bị chặn lại. Anh qua được nhờ sự táo bạo và thái độ ôn hòa của anh. Anh ở đấy để thu thập tin tức, không phải để gây rắc rối, và anh gom góp tin tức bằng cách quan sát nhiều hơn là đi hỏi han.
Đó là việc học cho được các phương pháp bí mật của chúng, đường đi, nguồn cung cấp, điểm lấy hàng và chủ yếu là đường dây liên lạc của bọn chúng với chợ đen ở Sài Gòn. Việc này sau đó đã dẫn Hatcher đến cuộc họp mặt với chúng vào năm 1973. Bọn chúng tự xưng là Ts’e K’am Men Ti, nghĩa là Những Người giữ cổng Bí Mật. Ở đấy thỉnh thoảng anh làm ăn với bọn chúng để nâng cao sự tin cậy của chúng vào anh. Viện cớ là bán súng ống, anh tiếp tục xây dựng đội ngũ mật báo viên, đội ngũ hoạt động trên sông và quan hệ của họ với tầng lớp cặn bã của Hong Kong. Họ biết anh qua cái tên gli Occhi di Sassi, nghĩa là Người Có Đôi Mắt Đá, biệt danh mà một trong số những người tin cẩn nhất trong đội ngũ của anh, người một thời đã là thủ lãnh Mafia tên là Tony Bagglio đặt cho anh.
Đứng trong văn phòng bụi bặm, Hatcher nhớ khá rõ hình ảnh đầu tiên của Cohen hiện ra trong sương mù, một người trông lạ lùng trong chiếc áo xường xám bằng lụa và bộ râu dài, xồm xoàm, đứng ở mũi thuyền thoi, cùng với một người Tàu duy nhất trông vẻ khắc khổ đang cầm tay lái cho chiếc thuyền lướt êm ngược dòng một nhánh sông phủ đầy cây rừng của dòng sông Beijiang, cách Macao khoảng 70 cây số về phía Bắc. Chết thật, Hatcher thầm nghĩ, gã giáo sĩ Do Thái gốc Tàu này làm quái quỉ gì ở trên này nhỉ?
Anh tìm ra điều ấy ngay...
 
 
0

COHEN: 1973

 
Cohen còn nhớ đêm ấy.
Và Hatcher cũng tự nghĩ trong khi lướt trong làn sương mù dày đặc trên chiếc thuyền thoi dài, thon mảnh: một gã Do Thái lịch sự có bằng tiến sĩ quản lí kinh doanh của trường thương mại Harward từ Westchester đến đây làm quái gì nhỉ?
Một chiếc thuyền to xuất hiện bất ngờ làm Cohen giật nẩy mình. Nó là một cửa hàng tổng hợp nổi, chất cao ngất các thùng đựng máy ảnh, máy truyền hình, chén đĩa Trung Quốc và tranh ảnh tôn giáo bị cấm, các cuộn lụa Thái Lan và vải bông Ấn Độ. Những tấm vải bạt nặng nề được phủ lên các kiện hàng để chống mưa.
Han, người cận vệ và lái thuyền của Cohen, hãm ga lại và cho chiếc thuyền thoi tiến chầm chậm đên gần chiếc thuyền to. Cohen có thể cảm thấy mạch tim đập thình thịch ở cổ và hai cổ tay. Miệng anh khô đắng.
Đứng trên sàn trước của chiếc thuyền to là một người trông độc ác, dữ dằn nhất anh chưa từng thấy. Hắn thấp hơn Cohen, chỉ khoảng 1,6 mét, một người phương Đông vóc to như cái thùng tô nô, hai cánh tay cuồn cuộn bắp thịt, đầy hình xăm. Nửa đầu bên phải nhẵn thín. Một vết sẹo do bỏng loang lổ kéo dài từ một cái tai méo mó lên đến đỉnh đầu. Hắn chải mái tóc đen dài còn lại sang bên trái rủ xuống tận vai để mặc cái sẹo trơ ra ở đầu bên phải. Hắn đeo dây nịt súng và một bao súng có hoa văn may bằng tay, dùng đựng khẩu súng máy Uzi được giữ ở ngang đùi theo kiểu cao bồi nước Mỹ. Hắn có ba cái răng cửa bằng vàng. Một trong những cái răng đó, theo lời đồn, là của một tay làm ăn người Anh xấu số đã nghĩ rằng có thể phớt các luật lệ theo tập quán và không được nói ra của vùng sông này, để đối phó thẳng thừng với nhóm Ts’e K’am Men Ti.
Đây là Sam-Sam, tay Đô Vương, chẳng có gì diễn ra trên sông được nếu Sam-Sam không đồng ý. Đống hàng chất sau lưng hắn đều là của cống nộp, thu gom của những người muốn làm ăn với bọn tài phán.
Miệng Cohen càng khô hơn.
Sau lưng Sam-Sam có ít nhất hai mươi người đàn ông khác, tất cả đều mặc áo đen, quần dài ngang gối, đầu cột khăn đỏ của bọn Khmer Đỏ, tất cả đều vũ trang súng Uzi, AK-47s, M-16s và 357 Pythons. Dường như chúng đang chờ một cuộc đánh chiếm. Đằng sau chúng là bọn đàn bà, tất cả đều còn trẻ, đều lạnh lùng, ăn mặc giống nhau, dao găm và súng ngắn dắt ở dải khăn đỏ thắt ngang lưng.
Tất cả các vũ khí dường như đều chĩa thẳng vào bụng Cohen.
Tựa lưng vào chồng thùng gỗ là một người đàn ông da trắng, mái tóc đen không cắt phủ kín tai và gần như quét ngang vai. Hắn cao lớn, đẹp trai trong cái kiểu tóc phủ kín gáy, râu không cạo, mặc quần dài vải ka ki và áo sơ mi. Một chiếc áo ấm màu xanh cột ngang lưng bởi hai tay áo, khẩu súng tự động H&K 9 li đong đưa dưới cánh tay trong bao đeo ở vai, chiếc nón săn rộng vành bạc màu và nhăn nheo vì mưa nắng. Hắn thọc hai tay vào túi quần và cười nhăn nhở. Không, Cohen nghĩ, chẳng phải hắn cười, thằng chó đẻ ấy đang nhìn một cách đểu đáng.
- Bọn chúng trông giống Khmer Đỏ.
Cohen thì thầm với Han. Tay lái thuyền được xem là cận vệ của Cohen đáp:
- Ngụy trang thôi. Ăn mặc như vậy để chả ai làm phiền đến chúng.
Cohen nhanh chóng nhận định tình thế. Anh nhất thời bị hoang mang, lo sợ, nghe được tim anh đang nện thình thịch. Sự chênh lệch khoảng ba mươi chọi hai thì chẳng có tí hi vọng nào dù đụng độ kiểu gì đi nữa. Cohen lập tức hành động. Anh bảo Han:
- Tôi sẽ qua một mình.
- Không tốt. Chúng chẳng biết anh. - Han đáp.
- Tôi có cái này - Cohen nói và xòe tay ra. Trong lòng bàn tay anh là đồng tiền vàng 20 dollar in hình nữ hoàng Victoria - cứ đứng lộ hẳn người ra để chúng khỏi lo lắng. Nếu có trục trặc, thì cả hai chúng ta sẽ chẳng còn sống nữa đâu.
Anh đứng ở đầu mũi thuyền trong khi chiếc thuyền máy từ từ chạy đến gần chiếc thuyền to và anh phanh chiếc áo xường xám ra để tỏ rằng anh không mang vũ khí và thận trọng bước sang chiếc thuyền to.
- Tôi không đến đây để đánh nhau. - Anh nói bằng tiếng Tàu với gã có tướng độc ác. - Tôi đến đây để làm cho tất cả chúng ta đều giàu có.
Gã có tướng độc ác nhìn anh trừng trừng.
Cohen nói:
- Tôi là Cohen.
Gã có tướng độc ác vẫn nhìn anh trừng trừng.
Cohen tiến lên đống hàng lậu, len lỏi qua đám đàn ông và đàn bà, giở một góc trong cuộn lụa Thái lên, sờ thử và gật đầu.
- Hàng tốt - anh nói, rồi quay lại gã độc ác - Đây là những thứ tôi cần. - Anh ta giơ mấy ngón tay lên, đếm và nói:
- Tôi cần máy ảnh Nhật, hiệu tốt. Tôi cần máy casét âm thanh nổi hiệu Sony và Panasonic. Tôi cần lụa Thái, không cần rẻ, loại tốt giống như vậy, và vải bông Ấn Độ, - anh đậy bó lụa lại - Tôi sẽ mua ngọc xanh, không phải loại trắng, và đừng tìm cách nhuộm nó, tôi có thể nhận ra ngay tức thời. Tượng trang trí, tượng thờ, loại của Tàu, tôi sẽ trả giá hời cho tất cả các thứ đó, có bao nhiêu mua bấy nhiêu tùy số lượng các anh có thể mang đến từ vùng Chin Chin xuống hoặc từ vùng Thái Lan sang.
Gã có tướng độc ác đứng chống nạnh, cắn điếu xì gà giữa hai hàm răng. Đầu điếu thuốc cháy đỏ trong bóng tối. Được rồi, Cohen nghĩ, hắn phải chứng tỏ vai trò của hắn ở đây thôi, cứ thúc ép tao một tí xem.
- Chú mày nghĩ chú mày là cái quái gì đấy? - Gã có tướng độc ác hỏi.
- Tôi đã nói với anh rồi, tôi là Cohen.
Gã có tướng độc ác nhìn quanh đám thủ hạ và chúng cùng phá lên cười. Có những tiếng xì xào trong bọn chúng rồi gã có tướng độc ác quay lại Cohen nói:
- Bọn nó nghĩ là tao nên lột da sống chú mày và treo ở một bên thuyền của tao.
Cohen vứt chiếc ví lên bàn:
- Hãy giết tôi đi, tất cả cái mà anh lấy được chỉ là 10 dollar Hong Kong. Tôi không thể nghĩ anh đã là Đô Vương mà lại ngu đần.
Người đàn ông da trắng huýt sáo khe khẽ qua kẽ răng và lắc đầu thật chậm. Đôi mắt của gã có tướng độc ác rực lửa. Hắn cắn chặt điếu xì gà và bàn tay đặt lên khẩu Uzi.
- Chú mày bảo tao ngu đần, gwai-lo, phải mày nói thế không?
- Không, không, tôi bảo tôi không nghĩ rằng anh ngu đần. Nếu anh ngu đần anh sẽ lột da tôi vì 10 dollar. Ngược lại, tôi sẽ làm cho anh giàu to.
- Tao đã giàu to rồi! - Gã có tướng độc ác nói một cách kiêu hãnh.
- Người ta chẳng bao giờ quá giàu.
- Chú mày đối đáp nhanh đấy.
- Người ta sẽ chẳng sống lâu được ở đây nếu đối đáp chậm.
Gã độc ác thích, thú điều ấy. Hắn ngửa đầu ra sau cười thỏa thuê, bọn thủ hạ của hắn dịu xuống.
- Thế chú mày trả tiền gì? - Gã độc ác hỏi.
- Giấy bạc Hong Kong. Nếu anh muốn dollar Mỹ hoặc vàng, anh sẽ không tiện dùng đâu.
- Tại sao tao lại phải làm ăn với chú mày nhỉ. - Tên cướp biển hỏi.
Cohen cầm đồng tiền vàng giữa ngón cái và ngón trỏ. Anh xoay nó qua lại dưới ánh sáng của một ngọn đèn. Đồng tiền lấp lánh trong tay anh ta. Sam-Sam bước lại thật gần, kiểm tra đồng tiền. Gã độc ác hỏi:
- Chú mày từ chỗ Tsu Fi đến à?
Cohen gật đầu.
- Tôi thương lượng cho Tsu Fi. Tôi có rất nhiều dollar và còn nhiều nữa. Chẳng phải ba cái chuyện vớ vẩn như giao thiệp với bọn Ănglê đâu. Anh đối địch với tôi, điều ấy quá thấp hèn, mỗi người đều có sức mạnh, tốt nhất là không xỏ lá, không mất thì giờ. Lí do chính là tôi sẽ nhận hàng cho anh ở thượng nguồn. Tự tôi sẽ chở hàng qua kênh Macao và lo liệu vấn đề Hải quan. Việc anh phải làm là kiếm ra hàng cho tôi.
Người đàn ông da trắng nhẹ nhàng chuyển hướng và nói bằng tiếng Anh:
- Anh gan lì đấy.
- Sao anh biết tôi nói được tiếng Anh? - Cohen hỏi.
- Qua giọng miền Boston.
- Tai anh thính thật. Tôi tên là Cohen.
- Hatcher. - Người đàn ông mặc quần áo ka ki nói giọng thẳng thừng và không phải là không có ý nghĩa. Cũng chẳng phải là không thân thiện, đó là một giọng muốn bảo thẳng rằng: “Đừng lộn xộn với tôi”. Họ bắt tay nhau. Hatcher có đôi mắt lạnh lùng chẳng nói lên điều gì, và anh cố gắng để mỉm cười. “Đây không phải là người chống lại mình”, Cohen nghĩ. Hatcher! Hãy nhớ lấy cái tên đó. Cohen nói:
- Chắc chắn anh không phải là thành phần của đám này?
- Không, chỉ thử kiếm tiền như anh thôi.
- Anh nghĩ tôi hành động ra sao?
- Sam-Sam chưa cắt cổ anh, đó là dấu hiệu tốt. Anh đã bày tỏ với hắn điều gì đấy?
- Trả xuống một tí. - Cohen nói và nháy mắt.
- Thế đồ còn lại của anh đâu? - Hatcher hỏi.
- Phía dưới kia một chút - Cohen thì thầm - mười người và một hòm giấy bạc. Tôi không thích lật con bài tẩy khi mọi việc chưa dàn xếp xong.
Gã độc ác họp ngắn với vài tên thủ hạ của hắn rồi đi lại Cohen.
- Tao là Sam-Sam, Đô Vương của nhóm Ts’e K’am Men Ti. Chú mày bảo tao chú mày muốn gì, chú mày bảo chúng ta buôn bán với nhau hả, được, chú mày và tao làm ăn với nhau, không một kẻ nào khác chen vào.
Cohen mỉm cười và nháy mắt với Hatcher.
- Chúng ta hãy làm ăn với nhau. - Anh nói với gã độc ác.
Hai năm trôi qua trước khi họ gặp nhau trong văn phòng buồn tẻ trên đường Cát. Lúc ấy Cohen vừa trở về sau một chuyến đi xa và đã trở thành một tay Tsu Fi, một trùm buôn lậu của đảo này. Và trong ít năm sau đó anh ta và Hatcher trở thành đồng minh, người này cung cấp tin tức và giúp đỡ cho người kia, cuối cùng họ tin cậy vào nhau như những người bạn.
Hatcher nhìn các ngôi nnà nằm rải rác phía bên kia vịnh gần như bị che khuất bởi cây cối ở gần đỉnh của ngọn núi Victoria.
Hang ổ của Cohen ở đây.
Lạy Chúa, Hatcher tự hỏi, thằng nhỏ con ấy còn sống không?
 
 
0

SONG TỰ TRI (ch’uang tzu-chi)

 
Trong khi Hatcher ngồi nhìn đăm đăm qua vịnh, đôi mắt anh thỉnh thoảng sụp xuống vì quá mệt mỏi, anh bắt đầu cảm thấy hơi choáng váng. Những hồi ức xa xưa đang bừng dậy. Dòng thác những kí ức bất chợt quay về quá khứ, có lẽ trở lại với phương Đông. Những người ở Viễn Đông có linh cảm rất rõ, chẳng những họ tin rằng các linh hồn đi đầu thai mà còn tin rằng các linh hồn hiện về nữa. Hatcher chưa bao giờ chấp nhận những ý niệm đó, tuy nhiên nhiều lúc trong quá khứ những phản xạ của anh, hoặc bản năng, hoặc trí nhớ của anh hay bất cứ tên gì mà chúng được gọi, đã báo trước mối nguy hiểm cho anh.
Bây giờ các phản xạ của anh bất chợt dồn dập kéo đến.
Sloan đang trên đường đến Hong Kong. Hẳn phải có điều gì đó khác hơn là sự thăm viếng bạn bè để hắn tới đây ở cùng chỗ với Hatcher. Lúc trước anh quá mệt mỏi không nhận ra điều đó nhưng bây giờ, ngồi nghỉ ngơi ngủ gà ngủ gật ngoài bao lơn nhìn ra bến cảng, anh cảm thấy rõ ràng: có một việc gì đó không ổn. Sloan còn có lí do nào khác để đến Hong Kong không?
Những người ở Phương Tây có thể gọi đó là hồi ức, là sự tự xem xét nội tâm, là bản năng. Người Tàu hình như luôn luôn có một cách thi vị hơn để diễn tả những điều như vậy. Họ gọi nó là Song tự tri, cửa sổ nhìn vào lòng mình.
Sloan đã luôn luôn nói rằng cứ đam mê theo song tự tri là tự sát, rằng kí ức là những vũ khí tấn công vào đầu óc, làm nhụt chí khí. Chúng là sự lơ đãng, sự mất phương hướng, sự đam mê làm chết người. Sloan có lí, nhưng chỉ trong phạm vi thực tế của riêng hắn, còn đối với anh nếu không có “cửa sổ” thì chẳng có gì để mà bấu víu.
Ở nhà tù Los Boxes, tất cả những gì Hatcher có là song tự tri. Thoạt đầu, Hatcher nhận thấy việc say mê theo nó hầu như không thể làm được, giống như uống một cái tách rỗng không. Nhưng với sự giúp đỡ của 126 anh đã khôi phục được cái phần của quá khứ đem lại cho anh niềm vui sướng. Những giây phút khám phá, sự thưởng thức một loại rượu nho mới, cái hôn phớt qua của đôi môi nồng ấm, sự đụng chạm với một thân thể khác, sự gấp rút của lúc cực khoái, những giây phút ngắn ngủi khi tình yêu là một tiếng nói xa vời, sự vui sướng hình như vô tận và nhất thời anh đã thoát ra khỏi được lòng mong muốn cái chết, những giây phút anh có thể với tới được rồi lại trở về với sự khốn khổ của phòng giam. Cuối cùng chúng đã giúp anh sống được.
Tuy thế, bây giờ Hatcher lại cố giũ sạch chúng đi. Anh quyết định ngủ một giấc ngắn. Còn bốn giờ đồng hồ nữa Sloan mới tới, và trong bốn giờ đó Hatcher có thể lấy lại phong độ sau chuyến bay dài mệt nhọc. Anh vào phòng, cởi quần áo và nằm ngửa trên sàn, nhìn đăm đăm lên chiếc quạt trần và những cái bóng quay tít phía trên nó.
Nằm trên sàn, chờ đợi giấc ngủ đến chứ không cố ngủ, nhìn các lá sách cửa sổ in bóng kẻ sọc trên tường, Hatcher bị cuốn ngược dòng thời gian trở lại với nhà tù Los Boxes, trở lại cái lúc anh bám lấy song tự tri và nhờ nó anh giữ được sáng suốt. Anh đã trở nên đam mê và sau lúc ở nhà tù Los Boxes ra anh đã đấu tranh để giải thoát cho mình khỏi cái thói quen này.
Bây giờ trong khi anh nằm trên sàn, cái cửa sổ đó lại mở ra và ở bên kia cái ngưỡng cửa ma quái ấy là hình ảnh giây phút đầu tiên anh gặp Ginia: một buổi bình minh ánh hồng trải khắp mặt đầm phẳng lặng làm cho mặt nước lung linh như bừng lên những tia lửa trong giây lát.
Phản ứng đầu tiên của anh là phản ứng vật chất. Nàng đang đứng trên bến gần một chiếc thuyền buồm, bận một chiếc quần ngắn và mang một mảnh áo tắm bikini trên ngực, anh đã sửng sốt vì sự tuyệt Mỹ của thân thể nàng đến nỗi quên cả việc chất hàng lên thuyền và không nhận ra mình đang nhìn nàng chằm chằm. Rồi anh nhìn lên và nhận thấy nàng cũng đang nhìn lại anh với đôi mắt thật nâu đến mức gần như đen. Nàng hơi mỉm cười nói:
- Nếu anh lột tất cả đồ trên người tôi ra thì tôi sẽ bị bắt vì tội phô bày thân thể không đứng đắn.
Người cùng đi với nàng là một gã trai trẻ giàu có, yếu ớt vừa tỉnh rượu. Tâm tính hắn cũng run rẩy như hai bàn tay hắn đang mở cuộn buồm chính. Hắn nhìn lên và nói:
- Em vừa nói gì đây?
- Chả có gì, anh yêu quí. - Nàng rên lên khoái trá, và khi hắn quay đi làm việc, nàng lại nhìn chăm chăm vào Hatcher. Hatcher đi thẳng đến bên nàng, nhìn xuống nàng và chậm chạp, lắc đầu, thì thầm bằng cái giọng khàn khàn của anh:
- Cuộc đời sao mà ngắn ngủi đến thế.
Nàng bị mê hoặc bởi lời than thất vọng của anh, nàng mỉm cười rồi cười thành tiếng, gật gù nói:
- Ồ, đúng thế!
Hatcher chỉ gã trai trẻ đang lảo đảo đánh vật với cánh buồm chính. Nàng dịu dàng nói:
- Roger.
Hatcher quay lại phía hắn và hết sức nói lớn: Roger?
Roger ngẩng lên, níu lấy cột buồm để đứng cho vững.
- Roger, cậu sẽ sung sướng biết rằng cậu có thể về nhà - Hatcher nói - về đi ngủ đi. Người đẹp đi với tôi.
- Ai bảo? - Gã Roger khó chịu hỏi một cách yếu ớt.
Hatcher quay lại nhìn nàng và nàng nói:
- Tôi bảo, Roger ạ!
Quả là một ngày chưa từng có. Quả là giây phút lóa mắt khi nàng cởi dây buông nịt ngực, những đầu ngón tay nàng sờ lên, mặt anh. Nàng ngả người hôn lên cổ anh và đôi gò bồng đảo của nàng cọ lên bộ ngực trần của anh. Anh đưa tay lên, lùa những ngón tay vào mái tóc phía gáy nàng, cảm thấy da nàng căng lên khi tay anh đụng vào, cảm thấy hai cánh tay và vai anh nổi gai. Anh vuốt ve nàng và nàng vuốt ve lại anh cho đến khi cả hai đều run lên vì mong đợi. Họ đã hoãn việc đó lại rất lâu dường như vô tận để sờ soạng, thăm dò tỉ mỉ, các bờ môi quện lấy nhau trong tiếng thì thầm, cho đến lúc các ngón tay của anh làm hồn nàng bay bổng và họ run rẩy như trong một trận động đất. Họ không thể đẩy lùi nữa cái giây phút đó. Nàng ghì chặt anh vào người; đưa anh vào động đào. Những tiếng rên rỉ của họ trở thành những tiếng xuýt xoa, thời gian ngưng đọng lại.
Trong bóng tối, anh đưa tay sờ vào không gian run rẩy, cố sống lại giây phút đó, và anh hiểu rằng, anh sẽ không bao giờ khắc phúc được sự đam mê song tự tri. Và bây giờ, bên bờ của giấc ngủ, anh nhận ra rằng chính cánh cửa sổ đó dù chỉ hơi hé mở, cũng đã làm anh thấy bứt rứt. Anh biết có một điều gì đó không hay sẽ xảy ra cũng như anh biết rằng không thể lờ đi bè bạn và các kẻ thù trong quá khứ. Chuyến đi sẽ gay go hơn bất cứ hiểm nguy nào ở phía trước, ở Macao, Bangkok hay ở vùng thượng nguồn sông, điều tốt nhất anh mong mỏi là đóng được cái cửa sổ ấy lại lúc này.
Anh tự nhủ trong đầu sẽ thức dậy vào lúc 11 giờ trưa, khoanh hai tay trên ngực và bắt đầu đếm ngược từ mười trở lên. Anh đã ngủ say trước khi đếm đến bốn.
 
 
0

NHỮNG SỰ RẮC RỐI

 
Anh thức dậy năm phút trước 11 giờ, nằm trên sàn nhìn đăm đăm vào những cái bóng quay vù vù trên trần nhà bên trên cái quạt trần, lắng tai nghe. Từ khi ở nhà tù Los Boxes thính giác của Hatcher rất bén, anh có thể nghe thấy tiếng một con gián bò sột soạt qua sàn. Anh đã nghe thấy tiếng cửa thang máy mở ra và đóng lại, phía dưới hành lang, tiếng chân hai người bước dọc theo hành lang trải thảm, tiếng cửa phòng kế bên mở ra, tiếng lạch cạch va chạm của móc áo trong tủ, tiếng nói chuyện nho nhỏ với anh phục vụ rồi tiếng cửa đóng lại.
Anh biết Sloan rất rõ. Chắc hắn đã gọi bữa ăn trưa - thức ăn nguội và rượu ở quầy phục vụ tại phòng - rồi tắm mát trước khi báo cho anh biết hắn đã đến. Sloan thích rượu và tắm mát.
Hatcher chờ cho đến lúc nghe tiếng người bồi phòng đến rồi đi, tiếng vòi nước được mở ra, bấy giờ anh mới dậy, mặc quần áo và dùng một xâu chìa khóa vạn năng để “bắn” ổ khóa ở cánh cửa giữa hai phòng. Khi anh bước vào phòng Sloan, hắn đang còn ở trong phòng tắm, ngâm nga ư ử một mình.
Hatcher đi ngang qua phòng, thò tay xuống dưới gối lấy ra khẩu 45 của Sloan, tháo lấy băng đạn và bật viên đạn đã lên nòng ra. Anh đặt khẩu súng vào chỗ cũ, đi ngang phòng đến đứng sau cánh cửa phòng tắm. Anh đợi cho Sloan tắm xong. Gã đàn ông to mập trần truồng bước ra vừa đi vừa lau đầu tóc. Hắn lững thững đi tới giường, miệng vẫn ngâm nga một khúc nhạc bâng quơ.
Hatcher nhích nhè nhẹ cánh cửa làm cho nó kêu kẹt một tiếng. Sloan hành động ngay tức khắc: nhích nhẹ sang phải rồi quay phắt lại trước khi nhảy lên giường.
- Quá muộn, anh chết rồi. - Hatcher thì thầm.
Sloan thở dài và bước xuống sàn. Hắn quay lại nhìn Hatcher. Nụ cười nhếch một bên - đặc điểm riêng của hắn - nở rộng trên đôi môi, cũng như trong những lần trước, một bước mở màn cũ rích, một cái trò họ đã từng chơi bao nhiêu năm. Nhưng Sloan đã không hiểu sai điều này, Hatcher đã sớm học được trong cuộc chơi là: không bao giờ để cho tình cảm cá nhân xen vào công việc, nó sẽ làm cho óc suy xét kém sáng suốt. Đó là cách Hatcher bảo cho hắn biết rằng công việc là trên hết, bất kể là Hatcher đã nghĩ thế nào về hắn. Đó không phải là dấu hiệu Hatcher đã tha lỗi cho Sloan hoặc đã tin cậy hắn. Trong bản danh sách những tội không thể tha thứ được của Hatcher thì phản bội là tội nặng cực kì.
Hatcher bước ra khỏi bóng tối vứt băng đạn và viên đạn lên giường.
- Anh chẳng còn nhanh nhẹn như hồi nào nữa. Đã bao nhiêu lần tôi bảo anh là đừng để cái vật ấy của anh ở dưới gối. Nó cũng giống như để một chuỗi hạt xoàn dưới nệm. Đấy là chỗ đầu tiên mà bất cứ ai cũng tìm.
Sloan nạp đạn vào súng và lại đặt nó dưới gối. Hắn nói:
- Một đòn tâm lí!
Sloan ngừng lau tóc, quấn chiếc khăn bông quanh hông, đi vào phòng tắm, rồi trở ra đứng ở lối cửa, chậm rãi chải mái tóc cắt sát.
- Chúng ta gặp một chuyện rắc rối chàng trai ạ!
Hắn nói bình thường, vẫn không thiếu nụ cười trên môi.
- Rắc rối thế nào?
- Có kẻ đã đâm Windy Porter một dao vào đêm hôm kia - Sloan buông gọn - Hắn đã chết.
- Cái gì!
Sloan tiếp tục nói trong lúc bước đến bàn ăn. Căn phòng rộng rãi kê một chiếc giường cỡ lớn, đồ đạc bằng mây và tường dán giấy hoa. Một chậu lan trên đầu tủ quần áo tô điểm thêm màu sắc. Bao lơn được trang trí bằng cây liễu gai màu trắng, nhìn xuống dòng sông. Một chiếc quạt trần khuấy động không khí nóng bức và ẩm.
- Theo lời cảnh sát thì hắn định can một vụ ẩu đả, nếu anh có thể tin tưởng chút nào vào cảnh sát ở Bangkok.
- Thực sự thì việc gì đã xảy ra? - Giọng Hatcher khàn khàn hỏi.
- Tôi chẳng biết. Có thế sự việc đã xảy ra theo cái cách họ nói. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ nắm được toàn bộ câu chuyện khi tôi đến đó.
Sloan rót một tách cà phê và đổ nửa li rượu mạnh vào một li nước. Hắn bỏ một viên đá duy nhất vào li rồi đưa cà phê cho Hatcher.
- Hắn bị đâm ở đâu? - Hatcher hỏi.
Sloan ngập ngừng một lát và vẫn không mất nụ cười, nói:
- Ở cổ. Sát ngay dưới hộp sọ.
- Tuyệt đẹp. - Hatcher càu nhàu - kiểu đâm điển hình của nhóm Tam Kết. Can một vụ ẩu đả, cứt ấy!
- Tôi không nghĩ là nhóm White Palms (Bạch Thủ) dính líu vào vụ này. Chúng nó định nhắm vào cái gì? - Sloan hỏi và nhấp li rượu của hắn.
- Làm sao tôi biết được? - Hatcher trả lời - Tôi đến đây để tìm Cody, bây giờ người đầu mối duy nhất của chúng ta đã chết và hình như nhóm Tam Kết có dính vào. Nghe này, Harry, tốt hơn anh đừng đùa với tôi, tôi đã cảnh cáo anh khi còn ở đảo... - Sloan toét miệng cười.
- Này, dừng có tưởng tượng ra những chuyện tồi tệ như vậy! Chúng ta chưa biết chắc có phải đó là đòn của nhóm Tam Kết hay không. Có thể đấy chỉ là một đòn điên khùng đánh trúng ngẫu nhiên thôi.
- Trong nghề này một việc như thế chẳng thể là đòn điên khùng ngẫu nhiên đánh trúng.
- Ừ, nhưng luôn luôn có ngoại lệ - Sloan nói, thái độ của hắn vẫn ung dung như thường lệ - có một điều tôi chắc chắn là ngoài Porter ra không ai biết điều gì đã xảy ra.
- Họ đã bắt được kẻ giết người chưa?
- Những kẻ giết người! - Sloan sửa lại và lắc đầu.
- Chúng ta có thể cho rằng Porter đang theo đuôi Wol Pot thì việc ấy xảy ra không? - Hatcher hỏi.
Sloan nhún vai nói:
- Ai biết được. Có thế hắn mất dấu Wol Pot. Có thể Wol Pot đã bỏ rơi được hắn. Có thể hắn nghỉ đêm ấy - Sloan nhìn lên nhếch mép cười - theo cách tôi hiểu, hắn bị đâm khi cố can vụ đánh nhau giữa hai tay chơi và con điếm trên một con kênh. Nhưng nếu tôi đoán đúng thì tôi cho rằng, vụ này đã xảy ra khi hắn đang theo đuổi cái thằng du đãng thấp bé ấy.
- Và Wol Pot có dính vào nhóm Tam Kết Bạch Thủ.
- Đó là điều mà bộ phận cho nhập cư nghĩ.
Hatcher nói:
- Như vậy câu hỏi bây giờ là gã Thái ấy còn sống không? Và còn ở về phe ta không? Nghĩa là hắn vẫn cộng tác với ta để bắt đầu lại - anh nhìn ra bến cảng một lát rồi nói thêm - anh có cho đấy là một công việc đơn giản không?
- Nào, nào Hatcher, đừng vội kết luận ngay. Như thế là chúng ta có một lỗ hổng trong chương trình.
- Chúng ta có một người đã chết, đó là cái chúng ta có, và đó là tất cả những gì chúng ta có. Tôi cho rằng nó còn hơn là một lỗ hổng nữa.
- Cứt - Sloan nói - chúng ta đã gặp nhiều khó khăn, một việc như cái chết của Porter không thể bắt chúng ta dừng lại.
- Anh đã gặp nhiều khó khăn - Hatcher nói - còn tôi thì đã ở trong nhà tù Los Boxes.
Sloan thở dài:
- Hãy giữ cho vui vẻ, - hắn nói, vẫn mỉm cười như ông thiện, - vì những ngày xưa thân ái.
- Những ngày xưa thân ái đã hết rồi.
- Lúc ấy tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình.
- Anh đã làm cái mà đám chồn trong hầm tòa Nhà Trắng bảo anh làm.
Slon nghiêng người lại gần Hatcher hơn, các ngón tay hắn ngo ngoe như các ngón tay của một nhà ảo thuật sắp sửa diễn trò, hắn cứ mỉm cười mãi đến nỗi nụ cười dường như đã được in sâu hẳn vào bộ mặt hắn.
- Đó là nhiệm vụ của tôi. Hắn nói trơn tru dứt khoát.
Mặc dù nụ cười của hắn không bao giờ phai và giọng hắn nói vẫn điềm tĩnh, đều đều, nhưng hắn chợt cảm thấy khó chịu. Đã có một thời gian trong tất cả các năm họ làm việc với nhau, hắn chẳng phải giải thích điều gì cho Hatcher cả, khi hắn đưa ra các thông số, Hatcher bằng bản năng hiểu ngay chương trình này. Có phải Hatcher đã bác bỏ toàn bộ khái niệm về đội? Sloan không nghĩ là như vậy. Hắn cho rằng Hatcher chỉ mới cảm thấy bị phản bội. Đôi mắt nhíu lại nhưng nụ cười vẫn còn, Sloan điềm tĩnh nói:
- Anh định thuyết giáo tôi à, anh bạn? Anh sẽ mất công thôi, anh bắt đầu phiền muộn về những điều quấy. Tôi đã dạy anh tốt hơn thế cơ.
- Đôi khi tôi hơi hoang mang về những cái chết tiệt mà anh đã dạy tôi. Vả lại, nó khác ở chỗ có một cuộc chiến tranh ở...
Sloan ngật đầu ra sau và cười như nắc nẻ:
- Vì Chúa, luôn luôn có chiến tranh ở một nơi nào đây. Anh cần một cuộc chiến ư? Rác rưởi, chúng ta đã thấy ở Lebanon, Israel, Iran, Nicaragua, Afghanistan. Chúng ta có cả một siêu thị đầy ắp chiến tranh, xin cứ lựa chọn - Hắn tự rót cho mình một li đầy rượu mạnh và bỏ một viên đá vào đấy - Quỉ thần ơi, chúng ta làm cái gì chúng ta phải làm, Hatcher ạ! Bất cứ lúc nào chúng ta cũng chỉ có hai con đường: làm hoặc không làm. Nếu anh không biết lựa chọn việc sẽ tới, nếu anh không quyết định, họ sẽ xơi tái anh. Anh không có thời gian để nhận ra sự bất đồng ý kiến, đó là cách anh tự giết mình. Tất cả những gì anh có là chấp nhận và phản xạ. Nếu anh không làm điều đó, họ sẽ thực hiện điều đó đối với anh. Có bao giờ tôi chỉ cho anh điều gì khác không? Có bao giờ trong đầu anh nảy ra một câu hỏi về điều đó không?
- Toàn bộ cái sự nghiệp cớm thối tha của tôi đáng đặt câu hỏi, - Hatcher nói. - Thậm chí tôi chẳng thể nói cho ai biết tôi đã làm gì trong chiến tranh.
Vẫn cười khúc khích, Sloan nói:
- Có phải anh muốn viết về những kinh nghiệm chiến tranh của anh không?
- Đấy không phải là điểm đáng nói. Mười sáu, mười bảy năm của cuộc đời tôi đã bị tiêu tan, giống như chúng chưa hề có.
- Anh nghĩ rằng tôi đã phản bội anh và điều đó đang che mờ sự phán đoán của anh.
Sloan nhẹ nhàng nói. Giọng hắn đổi sang thương xót. Sloan có tất cả các nút, ấn một nút, ta được lòng trắc ẩn. Ấn nút khác, ta có lòng nhiệt tình yêu nước. Ấn nút khác nữa, ta được lời tâng bốc. Hatcher còn nhớ lần đầu tiên gặp nhau trong một căn phòng riêng của nhà hàng Phương Tây ở Washington, ở đó Sloan như từ thuở nào đến giờ đã trơ tráo nói như bố người ta, vạch ra những nguyên tắc của cá nhân hắn, mô tả Đội Quân Bóng Tối (Shadow Brigade) như là “một cơ hội hiếm có, một dịp may để làm một việc cần thiết cho Tổ Quốc và việc đó cũng mang lại cho ta sự tự do tư tưởng và hành động mà ta không thể tìm thấy ở các ngành phục vụ khác”. Không cần nói thêm rằng cái “ngành phục vụ” này không có hồ sơ lưu trữ hoặc các hồ sơ này được cất riêng biệt, thậm chí không chính thức tồn tại. Hatcher, đứa trẻ hỉ mũi chưa sạch vừa rời học viện, lòng đầy tự hào, bị đánh trúng điểm yếu, lóa mắt nghe theo những lời đường mật và nhận tất cả mọi việc, không một câu hỏi. Bữa ăn trưa đó đã thay đổi cuộc đời của Hatcher mãi mãi.
- Còn hơn là phản bội nữa, Harry. Quỉ thần ơi, anh đã là thầy của tôi. Anh đã làm được điều đó. Anh đã thực hiện được sứ mệnh và tôi ngưỡng mộ anh về việc đó - Hatcher ngưng một lát, lấy cho mình một tách cà phê - trong tất cả những năm ở nhà tù Los Boxes, tất cả những gì tôi đã nghĩ là: anh đã thí tôi vì một cái ghế nào đó ở Bộ Ngoại Giao. Đó không phải chỉ là việc chịu một hạn tù. Tôi đã tin tưởng anh, Harry, và anh đã làm tôi thất vọng. Giờ đây anh lại vẫn tiếp tục như thế.
- Anh đang thần thánh hóa tôi đấy - Sloan nói và cười khúc khích lắc đầu - Thế cái cách anh dùng để làm việc đó là gì? Đem bọn gian tặc ra tòa về tội cung cấp ma túy cho bọn lính của ta ở Sài Gòn ư? Để cho đám điệp viên hai mặt của chúng ta khiêu vũ trên mộ của mình à? Thỏa ước với nhóm Tam Kết ư? Cứt ấy! Để tôi nói cho anh nghe điều này, anh bạn thân, chúng ta đã học để chiến đấu trong những cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Và đó là cái mà ta sẽ luôn gặp kể từ bây giờ trở đi, những cuộc chiến bẩn thỉu. Thế thì anh không thắng những cuộc chiến tranh bẩn thỉu với những luật lệ công minh. Anh phải bỏ con săn sắt bắt con cá rô.
- Cái kiểu mà họ làm ở Brazil và Argentina ấy à?
Sloan thở dài:
- Anh có hiểu điều phiền muộn của anh không, Hatcher? Anh đang cố đặt ngang hàng đạo đức và chiến tranh. Hoàn toàn không tương hợp được. Nếu số quân đội đã chiến đấu ở miền Nam đều đánh như kiểu chúng ta đã đánh thì chúng ta đã không bị đá đít ra khỏi nơi đó. Và anh hiểu điều ấy. Chúng ta đã học được từ kẻ thù của chúng ta cách làm thế nào để đánh bại được một kẻ thù. Một người lính không cần phải có đồng phục hoặc danh hiệu đẹp đẽ, điều anh ta cần là sự quyết tâm làm tròn nhiệm vụ. Tôi nhắc lại, nếu anh không làm việc đó, nó sẽ được làm để chống lại anh. Theo Harry Sloan, đó là nguyên tắc, nó giữ cho tôi sống được qua một thời gian dài đẫm máu và nó cũng đã được anh thực hiện tốt. Anh đang suy nghĩ quá nhiều đấy, Hatcher. Đã bao nhiêu lần tôi bảo anh rằng, sự suy xét, cân nhắc chỉ có giết người ta thôi.
- Harry, anh là một bằng chứng sống cho thấy rằng, một người có thể nói nhanh hơn là hắn nghĩ.
- Thế này nhé, anh bạn trẻ, khi anh đã đặt đít lên giàn phóng thì tốt hơn là anh nên thực hiện công việc trước khi anh suy nghĩ về nó hoặc là anh toi mạng.
Nhưng rõ ràng là sự đánh giá lại đội quân này của Hatcher làm Sloan lo ngại, vì thế hắn quay trở lại vấn đề.
- Anh làm một việc và thế là xong - Sloan nhún vai nói. - Tại sao lại phải đau khổ về tất cả những việc đó. Anh chẳng bao giờ phải đưa ra những cách giải thích hợp với đạo đức nào cả, chúng đã được làm sẵn cho anh.
- Có thể chính điểm đó. Có thể tôi không nên làm. Có thể cái đó vạch ra một ranh giới.
- Ha! - Sloan nói. -Anh đang nói chuyện với thằng già Harry, nhớ nhé. Anh đang cho tôi một lí tưởng đây à? Còn lâu! Để tôi nói cho anh nghe điều này, chúng ta chẳng bao giờ làm một việc không đáng làm cả. Anh háo hức muốn biết các phương pháp, các tiến trình, dù là cái gì đi nữa, đó là việc của anh. Nhưng đừng làm hỏng một buổi sáng đẹp bằng lí tưởng, đừng đưa tôi khẩu hiệu và biểu ngữ. Lí tưởng của tôi là thực tế, và thực tế là chúng ta chống lại họ. Anh và tôi, chúng ta không thua, bạn ạ! Chữ đó không có trong từ vựng của chúng ta.
- Anh đưa ra những giải quyết nghe hợp với đạo đức, tôi cũng thế. Sự thúc đẩy của tình thế đưa...
- Đúng vậy! Đúng vậy! - Sloan cắt ngang lời anh, đôi mắt hắn lại lấp lánh và sự hăng hái trở lại trong giọng nói - Sự thúc đẩy của tình thế. Chẳng có cách giải quyết nào hợp với đạo đức trong chiến tranh cả, Hatcher ạ, chỉ có thắng và bại. Thượng đế và Tổ quốc. Ngoài ra, tất cá đều là thừa.
- Chúng ta có những nguyên tắc, Harry.
- Đúng.
Hatcher nói:
- Dù sao cái này không phải là về Thượng Đế, về Tổ Quốc như anh nói. Đây là giữa anh và tôi. Đừng có bao giờ đâm sau lưng tôi nữa. Anh mà làm nữa thì tôi sẽ...
- Tôi biết. - Sloan nghiêng người đến gần anh hơn, miệng ngoác ra cười rộng hơn, đôi mắt xám vẫn lấp lánh - anh sẽ cho tôi vào cái chỗ mà cá cũng chẳng thể tìm ra tôi nữa.
Chẳng đáng đi sâu vào đề tài này hơn nữa. Hatcher biết anh đang làm một chuyện vô ích. Sloan là một người không hề tiếp thu những lời sỉ vả, xúc phạm, một người tin tưởng rằng những gì hắn làm là đúng, là cần thiết và được chứng minh là hợp với đạo đức.
- Quên nó đi - Hatcher nói thẳng. - Dù sao tôi cũng không tới đây để làm anh vui lòng. Tôi đến đây để tìm Cody.
Sloan gật đầu, nụ cười của hắn tóp lại thành một nét nhăn nhó.
- Khá đây. Thế thì anh đã làm được những gì cho đến giờ? - Hắn hỏi - có điều chắc chắn là anh đã kéo đám nhân viên của tôi chạy theo phờ cả người.
Trước khi Hatcher kịp trả lời, chuông điện thoại reo vang. Sloan nhìn nó đăm đăm nói.
- Giờ này còn gì nữa đây? - Hắn đi qua phòng đến nhấc máy lên. Hắn xoay lưng lại phía Hatcher trong khi nói. Mái tóc hắn vẫn còn ẩm sau khi tắm và những giọt nước lấp lánh trên chiếc lưng chưa khô của hắn. Máy điện thoại được cắm vào một chiếc hộp nhiễu sóng nhỏ màu đen, ngọn đèn đỏ đang cháy sáng. - Đây Sloan - hắn nói giọng dịu dàng, - S12424. Jack phải lanh lẹ. Jack phải… Được rồi, chúng ta đã thông qua mật khẩu tôi đang nói qua máy nhiễu sóng. Việc gì thế? Hả? Cái gì? Ôi, lạy Chúa, khi nào? Mẹ kiếp nó, Spear, hắn có đến mười người bảo vệ!... Tôi biết tôi đã nói gì... Không, đừng làm thế. Tôi cho rằng giới trung gian biết việc này... tôi hiểu điều đó. ừ hứ... ừ hứ... không, anh cứ bám lấy câu chuyện từ đầu. Hãy để cho FBI lo việc này... Không, đừng để cho CIA, hãy để bọn chúng ở ngoài... Chờ đã, để tôi suy nghĩ.
Hắn quay lại Hatcher, đảo tròn mắt và lắc đầu. Gương mặt hắn có vẻ như đỏ lên mặc dù hắn vẫn giữ cho giọng nói bình thường.
- Không có hình của Cosomil - Sloan nói vào máy -Hãy giữ hắn kín đáo ngay tại chỗ hắn đang ở. Tôi muốn anh xì ra cho giới thông tin cái tin hắn đang trốn ở… ở... Hawaii... không, ở một đảo lớn, Kauai nhỏ quá, ừ... Phải, hãy để bọn chúng chạy lòng vòng tìm hắn ở đấy trong một hay hai tuần lễ... Tốt. Cám ơn, Spear. Nếu tôi nhất thời vắng mặt, hãy hỏi Flitcraft, hắn bao giờ cũng tìm được tôi. - Hắn chậm rãi gác máy.
- Thế này, anh bạn trẻ, tôi gặp một chuyện rắc rối. Quan trọng, quan trọng. Anh có muốn nghe một đầu đề trong tờ New York Times sáng mai không? Campon, con người sắt đá của Madrango đã bị ám sát trong một quán nhạc ở Atlanta.
Mồm Hatcher há ra. Vụ đảo chính của Campon ở Madrango đã cho phép Sloan móc Hatcher ra khỏi nhà tù Los Boxes. Rồi sáu tháng sau khi quân du kích cộng sản đã lấy lại thủ đô. Cuộc nổi dậy này đã dập dình trong nhiều năm.
Sloan kể sơ cho Hatcher nghe vụ ám sát nhà độc tài bị lật đổ của Trung Mỹ. “Người của chúng ta phản ánh lại rằng kẻ sát nhân đã ngụy trang thành một con trĩ”
- Một con trĩ! - Hatcher nói.
- Đó là một buổi vũ hội hóa trang. Ba người khác, trong đó có một người đàn bà vô tội đứng gần đấy bị chết. Còn hai người nữa, kép của bà ta và một người bồi đang ở trong tình trạng trầm trọng ở bệnh viện.
- Bộ phận của anh bảo vệ ông ta à?
- Ừ hứ. Thêm nửa tá người của chính ông ta nữa.
- Ai chịu trách nhiệm ở đấy? - Hatcher nghi ngờ hỏi.
Sloan ngập ngừng một lúc rồi nói:
- Spear và Hedritch.
- Spear và Hedritch!
Hatcher thầm nghĩ “Spear làm cái quái gì khi đang bảo vệ Hector Campon? Anh nhớ lại gã Spear là một gã chơi lướt ván đã hết thời ở California có bộ óc bã đậu.
- Spear, lạy Chúa!
- Đó là mặt ngoài của chúng ta, một sở bảo vệ cá nhân.
- Làm quái quỉ gì mà anh dính vào chuyện này?
- Bởi vì Campon quá nóng tính, Ban An ninh không thể trông nom ông ta được. Những người trông nom có lẽ sẽ la lối om sòm. Vì thế tôi nhận công việc này.
- Nhưng còn Spear? Đầu óc hắn đã ù lì từ hai mươi năm nay trước khi hắn nằm dài quanh quẩn ở bãi biển Santa Monica.
- Ừ, thế thì hắn và Hedritch sẽ đi trông nom các bao đựng thư ở Tomahawk, Wisconsin trong suốt phần còn lại của cuộc đời chúng.
- Nếu anh kết hợp hai bộ óc của chúng lại với nhau thì anh sẽ được một thẳng dở khôn dở dại.
- Này - Sloan nói, gương mặt hắn đỏ lên - đầu tiên tôi nhận được cái thằng tổng thống bị lật đổ này với hai lữ đoàn dầm sương dãi gió ở biên giới Madrango chờ đợi trở về đánh đuổi những người Cộng Sản. Hắn cần vũ khí, cần đạn dược, cần mẽ ngoài, cần cố vấn quân sự, cần tất cả mọi thứ khốn kiếp chỉ trừ sự thôi thúc, vì thế hắn lên thủ đô tìm sự giúp đỡ. Vị nguyên thủ của chúng ta bắt đầu kêu gọi Quốc Hội gia ân. Ông ta đang đi kiếm năm mươi triệu dollar cho Campon và tôi phải làm vú em cho tên ti tiện này trong khi chờ việc này được giải quyết. Ba tuần lễ ở Fort Lauderdale, hai tuần ở St. Louis, một tháng rưỡi ở Chicago, hai tuần trên một căn nhà nổi cách Atlanta khoảng một trăm cây số. Thình lình hắn toi mạng và chúng ta gánh lấy những điều phiền phức lớn.
- Còn Spear và Hedritch?
Sloan kéo cánh cửa mở ra bao lơn của căn phòng sáng sủa, thoáng khí và đứng quay lưng ra cho ngọn gió nhẹ thổi khô người. Hắn tợp một hớp rượu, nhìn Hatcher chăm chăm.
- Tôi có sáu người trong vụ này, bạn thân ạ. Gã Campon này chẳng phải là hướng đạo sinh đâu. Gã đã bỏ xứ ra đi với năm sáu nhà máy giấu giếm ở Thụy Sĩ. Một quỉ sứ cao tay, có đạo đức của một thằng du đãng vỉa hè. Làm tiêu tan mấy đội kiểm tra của tôi ở chung quanh. Spear và Hedritch là những người cuối cùng tôi còn lại. Nhưng - hắn chỉ một ngón tay về phía Hatcher - đó cũng là điều làm cho gã có giá. Gã là vị Đại tướng vĩ đại mà các thủ hạ sùng bái, rất sùng bái. Còn chúng ta thì cần lấy lại Madrango, đó là chìa khóa cho tất cả mọi việc ta đang tiến hành ở Trung Mỹ.
- Thế thì sao anh lại để mất gã?
- Gã chả bao giờ để yên. Gã thích cuộc sống ban đêm, thích gái - Sloan nhún vai. - Điều ấy nhiễm sâu vào gã rồi.
- Vậy kế hoạch Baker là gì? - Hatcher thì thầm hờ hững.
Sloan ngờ vực nhìn Hatcher:
- Ai bảo tôi đã có kế hoạch Baker?
- Anh luôn luôn có kế hoạch Baker, Harry. Điều đầu tiên anh đã dạy tôi là: luôn luôn xác định trước dường rút. Và Madrango là con đẻ của anh ngay từ đầu.
Sloan thở dài:
- Đường rút là Đại tướng Cosomil. Không chói lọi hoặc được lòng dân như Campon, cũng không trẻ như thế, nhưng hắn đã cống hiến cả cuộc đời. Một sĩ quan chiến thuật giỏi. Việc chúng ta phải làm là biến Campon thành liệt sĩ để lính của hắn đứng vào hàng ngũ của Cosomil. Ngay bây giờ hắn được giấu kín - Ferris và Joyner cầm đầu ban chỉ huy và chúng là những tay giỏi nhất của tôi.
Hắn hớp một ngụm khác và lau miệng bằng lưng ngón cái. Hatcher hỏi:
- Anh sắp quay lại Washington à?
Sloan lắc đầu.
- Hiện tại tôi đang chỉ huy vụ này. Bộ Ngoại Giao sẽ nhảy vào vụ này bây giờ. Nhiệm vụ của tôi là bảo vệ Cosomil cho đến khi hắn có thể trở về đó.
- Cũng xong - Hatcher nói - Quốc hội chắc sẽ cho họ mọi sự giúp đỡ mà hiện thời họ cần.
Sloan đi đi lại lại trong phòng nhiều phút. Hắn dừng lại, làm vài động tác thở thật sâu, cuối cùng hắn nói:
- Đó chẳng phải là việc của tôi hoặc của anh. Hãy trở lại công việc của chúng ta.
- Quỉ thật, tôi quên mất chúng ta đang nói gì lúc nãy.
- Anh làm lính của tôi chạy loạn khắp nơi. - Sloan nói khô khan.
- Chỉ là vài buổi tập dượt để lấy lại phong độ thôi.
- Tìm được điều gì không?
- Chả được bao nhiêu.
- Anh đã làm việc thật kinh khủng, - Sloan ngoẹo đầu nói.
- Từ lúc gặp Buffalo Bill, tôi chẳng còn nhiều thì giờ.
- Có nghĩ là tại sao Cody còn ẩn náu không?
Hiện tại, đó là một câu hỏi lạ lùng. Hatcher thầm nghĩ.
- Anh đã đi trước tôi, - Hatcher nói - Tôi còn đang cố tìm xem anh ấy còn sống hay không?
- Thế thì anh nghĩ gì?
- Nếu anh muốn nói tôi đã có những kết luận động trời nào trong vòng 72 tiếng đồng hồ vừa qua chưa, thì tôi trả lời là chưa. Tôi chẳng phải là luật sư, tôi chẳng phải chứng minh điều gì cả. Ở điểm này tôi đang lúng túng. Đôi khi tôi nghĩ Cody còn sống. Đôi khi tôi nghĩ gã Wol Pot này đang chơi xỏ tất cả bọn ta. Vấn đề tùy thuộc vào lời giải của phương trình này.
- Được, thế tại sao anh nghĩ anh ta còn sống?
- Tôi không nói rằng anh ấy còn sống. Tôi chỉ không chắc rằng anh ấy đã chết theo cái kiểu tôi đã bị một lần.
- Tại sao không?
- Vì những tin lặt vặt. Tôi đã gặp một tay xạ thủ mà nay hắn nhận rằng một trong những người ở trong máy bay của Cody chắc đã thoát ra được. Tôi lại gặp một tù binh chiến tranh đặc biệt. Ông ta nói với tôi rằng đã có nghe nói về cái trại tù binh tạm thời mà trong đó có một tù nhân là nhân vật quan trọng, có thể đó là Cody, có thể thôi. Tôi gặp hai phi công bay cặp, một người nghĩ rằng Cody là một tay đi tìm vinh quang điên khùng, người kia nghĩ rằng anh ấy thuộc loại chán ghét chiến tranh. Đó là tất cả những gì tôi thâu thập được. Mấy chuyện rất lờ mờ.
- Nhưng anh có nghĩ là câu chuyện kể của Wol Pot có thể có giá trị không?
- Tôi chưa nói đến điều đó. Đấy là tất cả các ẩn số của phương trình trên. Khi nào tôi hình dung được ẩn số là gì thì tôi sẽ cho anh biết câu trả lời.
Sloan cười khúc khích, nói một cách châm biếm.
- Chơi sát ván đấy hử? Tại sao thế, nếu tôi không hiểu xa hơn, tôi có thể nghĩ anh chẳng còn tin tưởng nơi tôi nữa.
- Hiện giờ tại sao tôi lại không tin anh, Harry? Hàng hóa mua bán của anh đều giả mạo. Giết người và nói dối là nghề nghiệp của anh. Và anh đã qua mặt tôi nhiều lần, có gì để mà tin đâu?
Hatcher ngừng lại, uống một ngụm cà phê. Anh chỉ nói với Sloan những gì anh phải nói với hắn. Anh đã lờ đi vài điều, như mảnh thư của Jaimie gửi cho Polo để ở nhà Bảo tàng ở Washington, dù Jaimie là ai đi nữa. Và cả điều liên quan đến Thai Horse, Thai Horse đối với Hatcher chỉ nói lên một điều duy nhất, đó là bạch phiến. Bạch phiến nguyên chất 99 phần trăm của Trung Quốc từ Tam Giác Vàng đến. Nhưng anh chưa tung việc ấy ra. Sloan đang mải chú ý đến việc tại sao Cody trốn tránh. Điều đó làm nổi bật lên trong óc Hatcher tất cả mọi dấu hiệu nguy hiểm. Hatcher biết chính xác Sloan đang nghĩ gì ngay lúc này. Hắn đang nghĩ, nếu Cody mà sa vào việc gì quá tồi tệ thì tốt hơn là lờ ngay vấn đề này đi. Đối với Sloan, cho tiêu đi là lời giải dễ tìm cho bất cứ bài toán nào. Nhưng hắn chẳng bao giờ la điều ấy. Hắn luôn luôn để cho những từ bẩn thỉu không phải nói ra.
Sloan vứt khăn tắm và bắt đầu mặc quần áo.
- Chúng ta sẽ vào Bangkok xem có thể kiếm được gì không. Hắn nói trong khi mặc chiếc quần đùi đánh bốc màu ô liu và chiếc áo thun lót.
Nhưng cái chết của Porter và việc Wol Pot có thể chuồn mất đã đưa đến cho công việc này một nước cờ mới. Hiện tại đầu óc của Hatcher đang suy ghĩ theo hướng khác, tìm tòi, lựa chọn. Anh bảo Sloan:
- Tôi sẽ gặp anh ở đây sau một, hai ngày nữa. Tôi có vài việc muốn kiểm tra lại ở đây.
- Chẳng hạn như...?
- Tôi sẽ cho anh biết khi tôi làm xong.
Sloan bắt đầu thắt cà vạt. Có tiếng gõ cửa. Sloan nói:
- Chúa ơi, lại cái gì nữa đây.
 
 
0

CÁC NHÓM TAM KẾT

 
Một người đàn ông cao, thẳng như dây cung, với bộ râu mép hình ghi đông xe đang đứng ở lối cửa. Gã mặc một bộ đồ bằng vải lanh trắng tinh. Cớm Hong Kong, Hatcher nghĩ. Gã có cái vẻ ấy.
- Đại tá Sloan? - Gã hỏi. Giọng Ănglê của gã lơ lớ.
- Vâng, sao?
- Thưa ông, tôi là trung sĩ Varney, cảnh sát Hong Kong. - Gã đưa chứng minh thư ra.
- Rất vui lòng, - Sloan nói bằng một giọng ngoại giao nhất - xin mời vào, tôi có thể làm gì cho ông?
Varney bước vào phòng như thể gã vào chầu Nữ Hoàng, gần như hắn nín thở. Gã mỉm cười một cách cứng nhắc với Hatcher nói: “Và hẳn ông phải là ông Hatcher”, gã vừa nói, vừa đưa tay ra.
- Ừ hứ. - Hatcher nói. Họ bắt tay nhau. Varney bước dài đến cửa bao lơn, xem qua phong cảnh rồi quay lại hai tay chắp sau lưng. Gã nói:
- Tôi ở trong một nhóm Tam Kết của khối Cộng Đồng. - Thấy cả Sloan lẫn Hatcher đều không nói gì, gã tiếp tục - Có nhiều cái thay đổi trong vòng sáu, bảy năm gần đây. Tôi nghĩ tôi có thể giúp một tay nếu các ông cần. Tôi bất chợt thấy tên các ông khi chúng hiện lên máy vi tính, ngày hôm qua.
- Máy vi tính à? - Hatcher hỏi.
- Chúng tôi sử dụng máy vi tính đế kiểm soát danh sách các sân bay. Đó là việc thường lệ, ông biết đây, để theo dõi ai đến ai đi. Tôi định gọi điện cho ông thì Đại tá Sloan xuất hiện, vì thế tôi quyết định tiếp xúc với cả hai ông.
Hatcher nói:
- Điều ấy rất đáng để suy nghĩ, Trung sĩ. Nhưng công việc của chúng tôi ở đây chẳng có liên quan gì đến các nhóm Tam Kết cả.
- Vâng, thưa ông, nhưng xem lại kinh nghiệm đã qua của ông với nhóm Silk Dragons (Rồng Lụa) và nhóm Bạch Thủ, chúng tôi chỉ nghĩ rằng ta có thể mở rộng thêm quan hệ xã giao với lực lượng này, phải nói như thế.
- Tôi không nghĩ là tôi sẽ cần đến nó - Hatcher nói và lại nhìn Sloan đăm đăm. - Đại tá sẽ rời khỏi đây hôm nay, còn tôi dự định rời chỗ này ngày mai hoặc ngày mốt.
- Vâng, thưa ông, thế thì hay quá - Varney nói. Gã ngưng một lúc như thể lựa những từ đúng, vừa rướn cổ lên vừa lúc lắc đôi vai. Tên Trung sĩ này có nhiều bọ chét hơn cả một con chó săn miền Nam Georgia. Gã nói tiếp - Chỉ có điều tôi nghĩ tôi phải khuyên ông, thưa ông, trong lúc ở đây, ông có thể gặp nhiều nguy hiểm đấy. Chúng tôi mong ông hiểu cho rằng chúng tôi muốn bày tỏ hết mọi sự lịch thiệp của Sở đối với ông - gã ngừng một lát nữa, mím môi lại rồi nói tiếp - có thể ông muốn có một người hộ vệ.
- Tôi thuộc thành phố cũng khá. - Giọng thì thầm của Hatcher càu nhàu.
- Vâng, vâng. Dĩ nhiên, nhưng...
Hatcher cắt ngang lời gã.
- Này Trung sĩ, tôi chưa bao giờ có quan hệ với nhóm Bạch Thủ và theo tất cả những điều mà tôi biết, thì nhóm Rồng Lụa đã tan rã.
Sloan nhảy vào.
- Điểm chính là ở chỗ đó, Hatcher. Nhóm Rồng Lụa có thể đã tan rã, nhưng nhóm Bạch Thủ thì ờ... ờ... - Sloan đờ người ra một lát.
Varney nói:
- Cho phép tôi nói. Sau khi White Powder Mama (Bà má Bạch Phiến) bị ám sát nhóm Bạch Thủ - ờ, phải nói thế nào - đã thu nhận nhiều thành viên của nhóm Rồng Lụa. Đúng hơn là một sự hợp nhất, thưa ông.
- Có thể đúng. - Hatcher nói, vẫn chỉ lưu ý một cách lơ đãng. Anh biết phần lớn chuyện này và đã từng chiến đấu với nhóm Rồng Lụa khi gã Varney này còn nhảy nhót trong các sân chơi cricket của trường trung học.
- Ông có biết về Tollie Fong không? - Varney hỏi một cách cởi mở.
- Toillie Fong? - Hatcher hỏi, nhướng mày làm bộ không biết.
- Bố hắn là Lee Fong.
Ngay tức khắc trong trí óc của Hatcher vụt hiện lên phi trường Singapore. Lúc chạng vạng tối 1975. Mười hai năm trước đây. Ừ, anh biết Lee Fong, được rồi.
Varney nói với đôi chút văn hoa, ưỡn người ra sau và cười điệu:
- Chúng tôi nghĩ ông nên biết rằng Toillie Fong là thủ lĩnh mới của nhóm Bạch Thủ. Và - gã nói thêm với sự hài lòng rõ rệt - Joe Lung là người số một của hắn ở Hong Kong này. Họ vẫn còn nhớ...
Như vậy đấy, Hatcher nghĩ, trí óc anh quay về với những sự việc đã qua...
 
Từ những ngọn đồi cao, ngồi trên lưng các con ngựa bờm dài, bọn Mông Cổ lướt nhanh đến. Mái tóc đen của bọn chúng bay rập rờn như những cái đuôi heo gớm ghiếc, mặt chúng râu ria xồm xoàm và đói khát, mắt đỏ rực lên vì thuốc phiện. Chúng chặt phá hoặc đốt hết tất cả mọi thứ trên đường chúng đi: ngựa, bò, heo, trẻ con, tất cả trừ đàn bà - đàn bà là phần thưởng quí nhất của chúng. Cướp bóc và chém giết, những tên dã man tàn sát dân chúng Trung Quốc hiền hòa ở các vùng đồng bằng ven biển, dưới chân bảy ngọn núi nơi cư ngụ của bảy con rồng.
Và bảy con rồng đó, trong đời sống là bảy vị Hoàng Đế đầu tiên của Trung Quốc, đang giận dữ quan sát từ nơi trú ngụ trên núi và triệu tập các thủ lĩnh của dân Trung Hoa lên, bày cho họ cách phản công lại, chỉ cho họ các chiến thuật phải dùng, ban cho họ những điều tinh hoa nhất.
Vì thế các tài phán liên kết lại với nhau thành những nhóm ba gia đình một, các trang trại của họ lập nên những hình tam giác, họ dựng lên các bức tường giữa các hình tam giác để đánh trả lại từ mỗi phía khi bọn Mông Cổ tấn công. Và các con rồng đã nói đúng. Dân Trung Quốc cư ngụ ở nơi mà nay là Hong Kong, đã đánh cho bọn man rợ tơi tả và tổng số ít còn lại trở về Mông Cổ báo tin. Bọn man rợ không bao giờ quay trở lại nữa.
Như vậy là trong thế kỉ thứ mười hai, các nhóm Tam Kết đã ra đời và lớn mạnh lên trong 800 năm tiếp theo, mỗi nhóm Tam Kết có nghi lễ riêng, khẩu hiệu riêng, những cái bắt tay bí mật, những bài thơ riêng, những huyền thoại và lịch sử, họ thề trung thành với dòng họ, uống máu ăn thề theo kiểu gọi là Hồng Môn. Quyền lực của họ lớn dần lên cho đến khi họ thành các tầng lớp thống trị Hong Kong và giới kinh doanh Trung Hoa. Những nhà kinh doanh hầu hết đều có danh tiếng và được kính trọng.
Những kẻ độc ác nhanh chóng đi theo, các nhóm Tam Kết ngoại lai chộp lấy quyền lực. Chúng tự xưng là nhóm Chiu Chao.
Lớn lên theo quyền lực có các nhóm: Rồng Lụa, Bạch Thủ, 14K, băng lưỡi Dao Mỏng (Thin Blade Gang,), băng Ngôi Nhà Của Bảy Bàn Tay (House of Seven Hands) và nhiều băng khác. Các băng này điều hành tất cả mọi thứ bất hợp pháp và suy đồi: cờ bạc, đĩ điếm, cho vay cắt cổ, buôn bán nô lệ da trắng, ma túy, buôn lậu, chợ đen - và điều hành với cái nhìn tỉnh táo tàn nhẫn, tập trung vào sự tàn bạo và giết người đến mức chúng bất cần cả luật pháp. Một thứ Mafia của phương Đông.
Các nhóm Tam Kết đứng được 800 năm. Nhóm Chiu Chao được 790 năm. Chỉ cần mười năm là sự thối nát bắt đầu xảy ra.
Các nhóm Tam Kết dữ dằn chia nhau cái thế giới ngầm này, mỗi nhóm lấy phần của mình, và thu lời nhiều nhất trong tất cả các nhóm ỉà giang sơn ma túy của nhóm Rồng Lụa, luôn luôn tìm cách mở rộng, thấy trước với cái nhìn hiểm ác. Trong những năm cuối của thập niên 60 một thị trường màu mỡ nằm chờ ở miền Nam, thế là bọn chúng mang bạch phiến Trung Quốc nguyên chất số 3 từ Tam Giác Vàng của Thái Lan xuyên qua Hong Kong và chở lậu vào Sài Gòn hoặc chở bằng tàu thủy theo dòng sông Mekong vào thẳng miền Nam, ở đấy chúng bán cho bọn lính Mỹ hai dollar một liều để câu cho chúng ghiền. Bà má Bạch Phiến đã trở thành người bạn nâng đỡ linh hồn của bọn lính Mỹ, vị cứu tinh của chúng với những gói thuốc mê quí báu, giúp chúng thoát li khỏi thực tế khốn khổ. Bằng mưu đồ xảo quyệt hắn đã tạo nên một thị trường bạch phiến Trung Quốc mới ở Mỹ, nơi nha phiến nâu của Mexico và Thổ Nhĩ Kì đang làm vua; dùng những lính Mỹ bị nghiện làm cơ sở, những con Rồng Lụa đã vươn qua đại dương đến tận Châu Mỹ. Bà má Bạch Phiến thực ra là Mã Bình Sâm, thủ lĩnh, “Bố già” của các con Rồng Lụa. Bà má Bạch Phiến và tay “đao phủ” Cây Sào Đỏ của hắn - Lee Fong - đồng thời cũng là em trai của hắn, là những người đáng sợ nhất ở Hong Kong, nhiều quyền lực đến nỗi chúng bắt buộc năm nhân viên của Đội Chống Ma Túy ở Hong Kong - họ tự xưng là Hơi Thở Của Rồng (Dragon’s Breath) - phải điều hành sự đi lại trên sông cho chúng, mà chúng gọi là “con đường dài màu trắng”.
Mùa xuân năm 1973, Christian Hatcher nhập cuộc.
Họ đang ở trong phòng sau của Câu lạc bộ Sĩ Quan ở vịnh Cam Ranh, nơi đã trở thành hải cảng rộn rịp nhất thế giới, hũ mật mà từ đó tuôn ra tất cả người và vũ khí cho cuộc chiến tranh không tuyên bố ở Việt Nam. So với phần còn lại của đất nước này thì Cam Ranh là một thành phố của Câu lạc bộ thể thao ngoài trời chỉ trừ lúc bọn công binh về vào lúc nửa đêm là làm lung tung lên đủ thứ. Đối với Hatcher, trong những ngày đó, năm phút được xa xứ sở của bọn mọi này cũng giống như là sáu tháng nghỉ hè.
- Có một việc cho anh. - Sloan nói.
- Ừ hứ. - Hatcher nói. Anh đã từng nghe câu ấy nhiều lần trước đây.
- Chúng ta gặp phải chuyện rắc rối to ở đây.
- Không đùa chứ. - Hatcher cười trả lời.
- Tôi muốn nói về một vấn đề bên cạnh chiến tranh - Sloan nói - Anh biết về bọn Rồng Lụa chứ?
Hatcher gật đầu.
- Anh muốn nói tới Bà má Bạch Phiến à?
Sloan gật đầu:
- Về Mã Bình Sâm và đám buôn ma túy của hắn.
- Chúng mãi mãi lẩn quẩn chung quanh - Hatcher nhún vai trả lời - Bọn chúng là mối lo của Cảnh sát Hong Kong.
- Không còn nữa. Bọn chúng đang nằm trên hồ sơ của chúng ta, anh bạn ạ - Sloan tiếp tục nói - Chúng ta gặp rắc rối nghiêm trọng về ma túy ở miền Nam và đa số đều xuôi theo dòng sông từ vùng Tam Giác đến. Gã Bà má Bạch Phiến này đã trở thành cái nhọt chính ở mông. Hắn thâu được năm thằng tay sai hoạt động trên các con sông chảy từ đất Thái Lan. Đây là bọn cớm cừ của Hong Kong, chúng tự xưng là Hơi Thở Của Rồng. Quả là dữ dằn, cái đám ấy. Buffalo muốn đá đít bọn chúng, cho chúng một bài học.
- Vậy thì sao?
- Vậy thì, anh thông thuộc vùng sông này. Hãy tập hợp lấy hai hoặc ba tiểu đội, lấy hai chiến thuyền, tôi có thể điều cho anh bất cứ người nào anh cần - CRIPS, Seals, Berets, cứ đọc tên ra. Bất cứ thằng dữ dằn nào của tôi đang hoạt động đều thuộc quyền anh. Tôi muốn anh lôi cổ tất cả bọn chúng ra. Tôi muốn cái nhóm Hơi Thở Của Rồng này đi vào dĩ vãng, và thật nhanh.
- Đồng ý - Hatcher nói một cách bình thường - nhưng tôi có một kế hoạch xin đề nghị để lựa chọn.
- Phun ra đi.
- Nếu ta làm theo kiểu của anh thì vỏ bọc của tôi bị vỡ.
- Anh thấy thế nào?
- Tôi sẽ lấy ba thằng giết người giỏi, Molly McGuire, Chet Rodriguez - anh suy nghĩ trong một phút - và Bear Newton. Số còn lại sẽ là người phương Đông. Làm như chúng ta chỉ chặn cướp số hàng bẩn thỉu của chúng. Tôi sẽ điều khiển màn kịch nhưng không làm ầm ĩ. Mẹ kiếp, bọn tôi sẽ đeo mặt nạ, làm cho chúng sợ thụt dái vào. Làm bất cứ kiểu nào khác coi như tôi đi đứt và chúng ta lãnh mười năm tù.
- Tôi cần 24 người, những tên giết người giỏi nhất, mà có thể dùng tiền mua được - Hatcher bảo Cohen Tàu. - Có thể nhận mệnh lệnh, không tranh cãi. Và kín miệng, chúng mà nói một tiếng về bất cứ cái gì trong chuyện này, chúng sẽ mất lưỡi.
- Vụ gì đấy? - Cohen Tàu hỏi.
- Anh chẳng muốn biết đâu.
 
Giống như đi săn vịt, họ loanh quanh trên các vùng nước đọng ở bờ sông và ban đêm mang theo súng máy 20 li, bom tẩm nhiệt, súng Uzi và dao găm K-Bar, họ tấn công các túp lều mà bọn buôn ma túy ngủ ban đêm, tiến hành chiến tranh công khai trên các dòng sông với bọn Hơi Thở Của Rồng đang mang bạch phiến xuôi dòng Mekong. Trong ba tháng, toán của Hatcher đã phục kích hai mươi bốn chuyên ghe chở bạch phiến. Trong ba tháng, bốn trong số năm thành viên của nhóm Hơi Thở Của Rồng đã thấy lưỡi thép lạnh và cái đau buốt của dao găm thọc vào cổ họng, chết nhanh chóng và lặng lẽ trong khi các ghe của chúng và những kiện hàng chết người bị đánh cắp ngay dưới chân chúng, được đưa ngược dòng khá xa và thiêu hủy. Chỉ có một thành viên duy nhất trong nhóm Hơi Thở Của Rổng thoát được các hành động phản công của Hatcher.
Hai năm sau, ở sân bay Singapore. Nhân vật số hai của Bà má Bạch Phiến được mệnh danh là đao phủ Cây Sào Đỏ tức Lee Fong đã uổng công tìm kiếm Hatcher trong gần hai năm trời. Cuối cùng hắn bắt gặp anh, hắn đã theo đuôi anh trong nhiều ngày, chờ đợi đúng lúc để giết anh theo kiểu cổ điển, một mũi dao nhọn cẩn thận đâm vào phía sau gáy, cùng lúc cắt đứt hệ thần kinh và tĩnh mạch cảnh - một hành động để khỏi mất mặt và chứng tỏ cho Bà má Bạch Phiến thấy rằng hắn vẫn còn xứng đáng là nhân vật số hai của nhóm Rồng Lụa.
Hatcher đã sẵn sàng chờ đón hắn ngay từ đầu, biết rằng Fong phải tự chứng minh cho hắn, cần phải tiếp cận để hạ sát, nên Hatcher dễ nhử hắn.
Hatcher đi ra bãi quan sát. Trời đang tối dần và sân bay vắng ngắt. Anh nhìn một chiếc phản lực cất cánh, nghe tiếng cửa mở ra phía sau anh và đóng xịch lại, nghe tiếng chân bước đến gần hơn. Anh ngồi thụp xuống làm như cột lại dây giày. Tiếng chân bước gấp hơn. Chúng ở ngay sau lưng anh. Hatcher xoay người và đồng thời đứng lên nhanh như chớp, đâm lưỡi dao dài 18cm vào phía dưới lồng ngực và thọc ngược lên tim gã Fong, anh nhìn trừng trừng vào mặt hắn, gần đến nỗi anh cảm thấy phả lên mặt mình hơi thở đang chết dần của tên đao phủ của nhóm Rồng Lụa, anh xiết chặt bàn tay gã Fong bằng cái nắm thép cho đến khi anh cảm thây sự sống đã rời khỏi thân thể tên sát nhân này.
- Joi-gin, vĩnh biệt Fong. - Anh nói khi buông hắn ra.
Hai tuần lễ sau, Bà má Bạch Phiến chết trên đường phố Wanchai, bị bắn bằng súng máy khi vừa ra khỏi một hộp đêm. Thời ngự trị của nhóm Rồng Lụa chấm dứt. Nhóm Bạch Thủ lên nắm quyền và để tỏ lòng trắc ẩn, đã thu nhận nhiều thành viên của nhóm Rồng Lụa.
Một người trong bọn chúng là Tollie Fong, con trai của Lee Fong. Hiện giờ, sau 12 năm đã qua, hắn là Cây Sào Đỏ của nhóm Tam Kết Bạch Thủ và sắp trở thành thủ lãnh của nhóm. Là kẻ sát nhân của nhóm Bạch Thủ, Tollie Fong có lẽ là người nguy hiểm nhất của khu vực này. Là thủ lĩnh, quyền lực của hắn thật khủng khiếp. Và thủ hạ số một của hắn ở Hong Kong là Joe Lung, thành viên cuối cùng còn sót lại của bọn Hơi Thở Của Rồng, kẻ duy nhất thoát khỏi các trận đánh du kích của Hatcher.
Cả hai đã thề: bắt gặp Hatcher là giết ngay.
Bọn chúng hoạt động ở vùng ngoại vi Macao.
Tất cả những gì mà linh tính của Hatcher cho anh thấy là: nếu gã Varney này biết anh đang ở Hong Kong thì chắc chắn bọn Bạch Thủ cũng biết.
 
... chặn cướp hàng của họ. - Varney đang nói.
- Xin lỗi? - Hatcher nói.
- Tôi nói, họ có vẻ vẫn còn căm anh về việc ấy, tôi muốn nói đến việc chặn cướp hàng của họ.
Bí mật đã được giữ rất kín. Trong chừng mực mà Varney hoặc cảnh sát Hong Kong, thậm chí là cảnh sát Quốc tế biết thì Hatcher là một tay dữ dằn hiện đang cộng tác với chính quyền. Hatcher biết rằng Varney đến đây không phải để trình bày “sự lịch thiệp xã giao của Hoàng Gia”. Hắn đến đây để đánh giá Hatcher, xem xét anh là một tay tốt hoặc vẫn còn khả năng là một tay bất lương. Điều đó cũng tốt thôi.
Trung sĩ Varney đủ lanh lợi để nhận ra ngay rằng Hatcher chẳng thiết tha chào đón sự giúp đỡ hoặc quan tâm của hắn. Đây là con người nguy hiểm.
- Tôi đề nghị ông nên hết sức thận trọng trong khi ở trên đất thuộc địa này - Varney nói, vừa bước ra cửa - ông vẫn còn ở hàng đầu trên sổ tử của Tollie Fong. Nếu hắn hoặc Joe Lung phát hiện ra ông đang ở Hong Kong, họ sẽ không từ bất cứ cách nào để giết ông. Chẳng cần nói ông cũng rõ, với tư cách là sĩ quan cảnh sát tôi muốn ngăn ngừa chuyện đó.
- Tôi cảm kích trước sự quan tâm của ông - Hatcher nói. - Như tôi đã nói với ông, cả hai chúng tôi sẽ rời khỏi nơi này trong một hai ngày nữa. Tôi sẽ cố giữ để ít lộ diện.
Varney đưa danh thiếp cho Hatcher.
- Nếu ông cần giúp đỡ, xin cứ gọi. Số điện thoại ban đêm của tôi ở phía sau. Tôi xin đoán chắc với ông là chúng tôi sẽ đáp ứng càng nhanh càng tốt. - Tên trung sĩ bước thẳng ra cửa và nghiêng người cúi chào khi đi.
Hatcher thấy ngờ vực và bực bội về cuộc đến thăm vừa rồi.
- Tôi có việc phải làm ở đây, Harry - Hatcher nói. - Tôi dứt khoát không cần cái gã Varney người thẳng như cái que này bò theo sau tôi.
- Nhưng chớ có mò mẫm quanh Macao, đồng ý chứ? - Sloan bảo.
- Đừng lo cho tôi...
- Hãy tránh xa Tollie Fong và bọn Tam Kết.
- Tôi chả muốn đụng đầu Fong và bè bạn của hắn.
- Coi chừng xác anh sẽ nổi lên trong vịnh đấy. Tôi chúa ghét lại phải giải thích chuyện đó.
- Anh thật là tình cảm.
- Anh hiểu tôi muốn nói gì.
- Tôi hiểu chính xác anh muốn nói gì. Và tôi sẽ chẳng kết thúc bằng việc nổi lên ở bất cứ đâu cả.
- Hễ bắt đầu lộn xộn với bọn Bạch Thủ là hầu như anh đã chết.
- Đó chẳng phải là cách đã xảy ra lần trước...
- Cũng đừng nổi máu hung hăng - Sloan nhẹ nhàng nói, Tollie Fong bây giờ là người của nhóm Tam Kết Bạch Thủ và Joe Lung là thủ hạ số một của hắn ở Hong Kong. Cả hai đều thề sẽ khử anh. Chả phải anh đang nghỉ cuối tuần ở Bangkok đâu, tôi sẽ cho người theo chân anh.
- Tôi sẽ gặp anh ở đường Hoàng Gia - Hatcher thì thầm. - Quán Pochana để ăn điểm tâm vào sáng thứ bảy, giờ thường lệ.
- Chắc chắn.
- Một việc nữa. Bảo thần đồng Flitcraft của anh ở Mỹ soát lại trên máy tính của hắn, coi xem có điều gì liên quan đến một trại tù binh chiến tranh ở Việt Nam không, đó là một trại di động. Nó luôn luôn di chuyển lòng vòng. Tôi đoán đó là một trại tạm giữ gần biên giới Lào. Có thể nó được gọi là Ghost Camp (Trại Ma) hoặc một tên gì giông giống như thế.
- Tôi sẽ xem hắn tìm được gì. Tôi sẽ bảo hắn gọi thẳng cho anh.
- Tôi có số điện thoại của hắn. Tôi sẽ gọi.
- Được rồi - Sloan nói sau một lát suy nghĩ. - Phải cẩn thận.
- Tôi chưa bao giờ quên cẩn thận. - Hatcher trả lời.
Hatcher quay lưng đi về phòng và đóng cửa lại sau lưng anh. Anh chẳng màng bắt tay.
Anh bước ra ban công nhìn qua vịnh về phía ngọn núi Victoria và pháo đài trên đỉnh núi của Cohen. Nhiều việc đã thay đổi trong giờ phút cuối cùng. Bây giờ, anh biết rằng anh phải gặp Cohen.
Mỗi người phải trả giá cho tội lỗi của mình, 126 đà có lần nói như vậy.
Câu hỏi trong đầu Hatcher là, ai là người gây ra tội, ai là người đã bị hành tội và ai sẽ phải trả giá?
 
 
 
0

LỰA CHỌN

 
Linh tính của Hatcher đang phải làm việc quá mức. Sloan sẽ có biên bản của cảnh sát về việc đã xảy ra và lí lịch của Wol Pot vào lúc anh đến Bangkok, vì thế chẳng cần phải lo âu về việc ấy bây giờ. Nếu họ đã mất dấu Wol Pot, Hatcher phải xoay sang những cách lựa chọn khác của anh. Nhưng chúng quả là mạo hiểm và cầu may. Câu hỏi mà anh tự đặt cho mình là, anh có nên vứt bỏ kế hoạch và trở về Georgia không? Đột nhiên vụ Cody lại quẹo sang một hướng xấu. Những điều phức tạp ngày càng nhiều. Một người đã bị giết và bây giờ nhóm Tam Kết của Hong Kong có vẻ cũng dính vào. Buổi đi thăm “đồng minh” của Varney lập tức bật sáng thêm nhiều tín hiệu nguy hiểm trong đầu Hatcher. Vụ này không còn là một việc tìm dấu vết đơn giản nữa. Nó đã trở thành tai họa chết người.
Anh nhanh chóng lập một kế hoạch hợp lí cho mình. Nếu cái trại ma ở Việt Nam mà Schwartz đã tả là có thật thì những người ở vùng thượng nguồn sông trong vùng đất Chin Chin phải biết nó. Điều đó có nghĩa là anh sẽ cần đến sự giúp đỡ của Cohen. Hatcher quyết định sẽ lien lạc với người bạn cũ của anh, rồi chờ xem Flitcraft có tìm ra được cái gì đáng chú ý không.
Anh nhìn lên đỉnh mỏm Victoria, lên căn nhà mà anh biết Cohen đang ở đấy, tự hỏi không biết năm tháng có làm thay đổi anh ta không. Anh ta có còn quyền lực như anh ta đã từng có không? Hatcher tự hỏi và có tin gì của Daphne không?
Anh còn có thể tin cậy người bạn nào trong số những bạn cũ của anh không?
Anh quay một số điện thoại mà anh còn nhớ sau bao nhiêu năm trời. Một giọng the thé trả lời bằng tiếng tàu: “Jo sahn.” (chào buổi sáng). Hatcher càu nhàu:
- Trò rẻ tiền, còn quá rẻ tiền nữa khi cứ đóng cái vai thư kí mãi sau chừng ấy năm. Cái giọng nữ cao của anh chả lừa được tôi đâu.
Một lúc im lặng dài, rồi một giọng nói sợ sệt gần như thì thầm.
- Christian?
- À! Anh chưa quên. - Hatcher thì thầm đáp.
- Christian! - Cohen la lên - Chúa ơi, tôi nghe nói anh đã chết.
- Đó là điều anh nghe được qua các tin đồn đại.
- Thượng đế ơi! Tôi không thể tin được điều này. Anh đang ở đây à?
- Ngay chỗ đợi cũ.
- Anh đang cần gì? Anh mà kẹt à? - Cohen hỏi bằng giọng rất tri kỉ.
- Câu chuyện rất dài, mà không, tôi không kẹt. - Ít ra là chưa.
- Mời anh dời đít qua đây. Ngay bây giờ! Thượng đế ơi, chờ tôi báo cho Tiana. Tôi chẳng thể tin được điều này, ông tướng ạ, chẳng thể tin nổi. Hatcher trở về từ cõi chết!
Sự kích dộng của anh Cohen Tàu có vẻ thật, và Hatcher cảm thấy dễ chịu hơn sau khi gác máy. Trong lòng, anh tin rằng Cohen vẫn còn là người bạn trung thực. Nhưng đây là Hong Kong. Lòng trung thành thay đổi nhanh như gió.
 
Joe Lung không bao giờ thức dậy trước buổi trưa. Các buổi tối hắn ở sòng bạc Monitor hoặc đi quanh các hộp đêm khác nhau. Nếu số thu ít ỏi, hắn thường nghỉ qua đêm ở một trong những nhà thổ đa dạng ở Macao. Lung ít khi lên giường trước ba hoặc bốn giờ sáng và cũng ít khi thay đổi thông lệ này trừ khi có việc phải làm.
Hắn cư ngự ở một trong những căn nhà mới mà chúng đã bắt đầu phá hỏng vẻ đẹp cổ kính hằng bao thế kỉ của Macao - thành phố nhỏ bé ở cửa khẩu Trung Quốc.
Hắn xoay người và choàng tay sờ vào người đàn bà nằm cạnh. Nàng có mái tóc vàng hoe, một người đẹp mà hắn đón về đêm qua từ Fire Duck Club (Câu Lạc Bộ Con Vịt Lửa). Lung thích những người đàn bà gwai-lo (nước ngoài), và cô nàng này cuồng nhiệt hơn thường lệ. Nàng ậm ừ trong cổ, xoay người nằm ngửa và vẫn còn ngủ, hắn xoay sang bên ép sát vào nàng, lướt bàn tay trên tấm mền lụa. Hắn bắt đầu đánh thức nàng dậy.
Chuông điện thoại reo vang. Bực mình, hắn rời người đàn bà quay ra trả lời cộc cằn. Người ở đầu dây bên kia nói tiếng Tàu:
- Hatcher đang ở đây. Phòng 512, khách sạn Peninsula..
Lung ngồi bật dậy trên giường. “Không lầm chứ?”, có một sự khẩn trương trong giọng nói của hắn.
- Không lầm. Đúng là Hatcher.
- Hiện hắn có ở đó không?
- Hai (có), nhưng chẳng biết hắn ở bao lâu?
- Mm goi (cám ơn). - Lung nói và gác máy. Mạch máu của Lung đập nhanh. Đã từ lâu Lung không còn hi vọng trả thù Hatcher về việc sát hại đồng bọn của hắn. Rồi Tollie Fong đã thề là sẽ giết Hatcher, vì Fong là chú của hắn nên khả năng tự tay hắn trả thù càng trở nên xa xôi. Hắn nằm lại trên giường, nhìn đàm đăm lên trần nhà, mỉm cười vì Tollie Fong đã đi khỏi thành phố. Thật là một món quà bất ngờ dễ thương khi đâm chết được tên ngoại quốc này trước lúc Fong trở về, Lung nghĩ. Nếu không thì chính bản thân Tollie Fong sẽ thực hiện bản án tử hình này.
Cô gái đó đã đáp lại lời mời của hắn. Nàng bị quyến rũ bởi hình lưỡi dao màu xanh xăm trên cánh tay hắn, bị kích thích bởi thân hình lực lưỡng của hắn, và nàng nhận thấy những cố gắng còn sai sót của hắn cố nói tiếng Anh cho hấp dẫn. Đây là một kinh nghiệm mới mẻ cho nàng, làm tình với một người mà nền văn hóa của họ hoàn toàn khác với nền văn hóa của nàng. Đầu tiên nàng khiếp đảm vì thái độ thô lỗ của hắn, sợ rằng có lẽ hắn sẽ làm những nghi thức hành lạc lạ lùng nào đó của phương Đông và sẽ làm nàng đau đớn. Nhưng đó chỉ là kiểu cách của hắn và sự việc đã trở thành một trong những cái thú tình dục thỏa mãn nhất của đời nàng. Nàng nghiêng người sang và bắt đầu vuốt ve giữa hai đùi hắn. Hắn vỗ vào mông nàng, và bằng tiếng Anh:
- Chúng ta sẽ làm lại sau. Phải đi công việc bây giờ.
Sau khi đưa nàng về khách sạn, Lung tắm nước thật lạnh. Hắn lau khô người, mở ngăn tủ ở góc phòng ngủ, kéo một lưỡi dao dài, hẹp bản ra khỏi cái vỏ bằng da bê mềm. Hắn cột bao dao vào cánh tay trái, che lên cái hình xăm rồi mặc bộ quần áo công nhân truyền thống của Tàu, quần sa tanh đen và áo sơ mi tay rộng. Hắn ngắm nghía mình trong gương, chuyển cái nhìn sang hình trong gương của tấm bia phóng phi tiêu treo trên tường phía sau hắn.
Lung khoanh hai tay trước ngực rồi quay vụt lại, vung tay phải kéo lưỡi dao ra và phóng nó bay ngang phòng. Lười dao bạc xẹt đi trong ánh nắng sáng, trúng ngay tâm điểm đen, ghim ở đây, cán dao còn rung bần bật.
Lung mỉm cười và phát ra một tiếng lầm bầm nhỏ hài long. Cần gì bọn gwai-lo (ngoại quốc) bình phẩm nhỉ? Rèn luyện thì thành thạo thôi à!
 
Hatcher đã gửi những hành lí chính đi Bangkok trước, vì thế anh chỉ còn lại một cái túi nhẹ với vài bộ quần áo thay đổi và những thứ đồ dùng cần thiết cùng với chiếc cặp Halliburton. Anh xách cả hai cái khi rời phòng. Đầu tiên anh đến gian hàng bán rượu vang ở tiền sảnh của khách sạn, một gian hàng bán rượu sành sỏi, và mua một chai vang hiệu Lafite Rothschild ’72 có vẻ đến đúng dịp. Khi rời khách sạn, anh đi bộ vòng sang góc khách sạn và thả bộ trên đường Nathan, xem hàng hóa trong tủ kính đồng thời kiểm tra phía sau lưng nhờ bóng gương phản chiếu của kính. Lúc anh vừa tới công viên Cửu Long cách khách sạn bốn khu nhà thì phát hiện ra chiếc xe hơi đó.
Hai người đàn ông. Một ở trên xe, người kia đi bộ. Một người Á, một người Âu. Trong vòng năm khu nhà họ đổi chỗ cho nhau hai lần. Khá hay.
Hatcher chắc chắn rằng những gã này là người của Varney, và bây giờ anh thấy nghi ngờ gã cớm Hong Kong hơn. Có thể rằng một máy vi tính đã lần ra tên anh. Nhưng sau chừng ấy năm thật vô lí khi họ quan tâm đến anh tới mức như vậy. Bọn cớm trên thế giới đã làm việc gớm thực. Thật rất đáng ngờ khi họ đang “bảo vệ” cho Hatcher mặc dù anh chả yêu cầu.
Anh băng qua công viên, quẹo ngược lại xa lộ Cửu Long đến bến Star Ferry và lên phà, đứng ở phía đuôi, nhìn đăm đăm ra vịnh. Trước sự ngạc nhiên của Hatcher, hai gã đàn ông không theo anh nữa. Gã đi bộ leo lên xe rồi chúng lái xe lên đường Salisbury khi chiếc phà rời bến.
Bọn chúng gớm lắm, Hatcher thầm nghĩ. Ngay bây giờ chúng báo động cho người của chúng ở trên đảo. Một cái đuôi khác đang chờ anh tới đảo. Anh không muốn cho Varney và nhóm Tam Kết biết được anh sắp đến thăm tay Tsu Fi.
 
Joe Lung vào khách sạn bằng cửa dành cho bồi bếp. Nhờ bộ quần áo, người ta dễ lầm hắn với một trong những người lao động đang làm việc quanh khách sạn. Lung đi thẳng lên lầu 5 và im lặng, nhanh nhẹn “bắn” ổ khóa cửa phòng Hatcher. Hắn để cho cánh cửa mở ra trước, đứng thủ thế, rồi nhảy vào trong và đóng cửa lại cũng rất êm ả. Hắn thận trọng bước vào phòng, kiểm tra thật kĩ toàn bộ.
Hatcher không có ở đấy, hành lí cũng không.
Lung đứng ở giữa phòng suy nghĩ. Hatcher đã rời thành phố chăng? Có lẽ lúc này hắn đang trên đường đến phi trường.
Lung đi ra hành lang và vào phòng điện thoại gọi cho quầy tiếp tân hỏi:
- Ông Hatcher ở phòng số 512 đã trả phòng chưa?
- Chưa. - Quầy tiếp tân trả lời.
Tình huống trái ngược này chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến Lung. Hắn là người kiên nhẫn đã quen với các tình huống trái ngược, rất dễ vượt qua chúng. Nhưng có lẽ hắn phải thay đổi kế hoạch. Rõ ràng là công việc này đòi hỏi nhiều chiến thuật khác nhau.
Khi chiếc phà cặp bến, Hatcher lững thững đi xuống và quẹo phải, đi về phía Tây theo đường Connaught dẫn xuống phố. Một luồng gió mát đang thổi và quanh anh là những âm thanh của Hong Kong, tiếng nhạc và kèn xe taxi, tiếng cười và tiếng chuông tàu thủy, tiếng rì rào của các cây đa và tiếng nói chuyện nho nhỏ không lúc nào ngớt.
Anh hành động như một du khách, lững thừng đi qua các hộp đêm của khu Wanchai, ở đấy Suzie Vong đã yêu một tên lính Mỹ và đã chết vì tội lỗi của mình. Nhạc Mỹ ầm ĩ từ các loa phóng thanh ngoài cửa các hộp đêm, các cô gái mặc quần jeans Mỹ và sửa mắt.
Khi anh đến gần khu vực kinh doanh thì số người càng đông cho đến khi anh phải chen lấn vạch lối đi dọc theo phố, thỉnh thoảng lại dừng lại đế kiểm tra phía sau. Lại có hai người đàn ông được phân công theo anh, cũng dùng như cách cũ. Lúc anh đến cái cổng tồi tàn đánh dấu đường Cat nổi tiếng thì anh bị kẹt giữa đám đông cuồn cuộn du khách đang hướng ngược lên còn đường dốc quanh co đầy các cửa hiệu, tìm mua hàng hóa.
Hatcher quẹo vào con đường chính đông đúc, di chuyển theo đám đông vai sát vai. Anh đến gần phòng châm cứu nơi anh đã gặp Cohen lần đầu tiên, nhớ đến cái văn phòng bụi bặm với những chiếc ghế chả tiện nghi chút nào và tính đến việc dứt bỏ cái đuôi. Không, anh nghĩ, thế thì quá lộ liễu.
Thay vì thế, Hatcher khom người, hơi khuỵu gối, cho người thấp xuống để đầu anh nằm dưới mức chung của đám đông, anh tiếp tục đi theo kiểu ấy qua gần một khu phố cho đến khi tới ngang một tiệm bán quần áo nhỏ nằm giữa các cửa hàng khác. Tiệm bán quần áo ngổn ngang hàng hóa nhiều đến mức Hatcher không thể nhìn thấy gì qua cửa kính bày hàng. Anh chuồn vào trong đó thật nhanh.
Cái đuôi mất dấu của Hatcher trong đám đông trên đường Cat. Hắn nghĩ là hắn trông thấy Hatcher chuồn vào một cửa hàng. Hắn đâm đầu chạy tới, dùng cùi chỏ chen lấn người đi đường.
Cửa hiệu nhỏ chất đầy các chồng quần áo jeans và quần áo thể thao. Áo sơ mi và váy dài chất từ sàn lên đến trần và khách mua đứng chen chúc. Trong khi đó thì Hatcher đã đi thẳng qua tiệm ra cửa sau, quẹo vào một con hẻm hẹp ra đường Connaught nhảy lên chiếc xe đầu tiên anh gặp. Anh ngả người ra sau, dấu kín người.
- Ra xe điện, nhanh lên. - Anh bảo gã phu kéo xe bằng tiếng Tàu. Gã chẳng màng quay lại nhìn.
Trở ngược lại đường Cat, gã đàn ông đã theo đuôi anh bước ra cửa sau của tiệm quần áo và nhìn cả hai hướng. Chẳng có dấu hiệu nào của Hatcher. Hắn lấy ra máy bộ đàm và ấn nút, nói giọng chán chường.
- Hắn đã lừa được tôi.
Gã phu xe chạy nhịp nhàng qua đường Connaught đến đường Vườn Hoa và quẹo lên vào cổng của ga xe điện “Núi Victoria”. Hatcher trả tiền và bước xuống, nhìn lại con đường phía sau. Chỉ có xe cộ lưu thông bình thường. Khá xa, khá an toàn, anh nghĩ và leo lên xe điện.
 
 
 
0

NGƯỜI TSU FI DA TRẮNG

 
Từ bao lơn nhà mình trên sườn ngọn núi Victoria, Cohen nhìn chiếc xe điện leo lên sườn núi. Anh đã nhìn thấy Hatcher đến trên xe kéo và lên tàu. Cohen cũng đảo mắt qua suốt con đường và công viên phía dưới để xem có ai đang theo đuôi bạn anh không. Anh chẳng nhìn thấy gì đáng ngờ. Nhưng đối với Hatcher, người ta không thể chắc chắn điều gì, và bây giờ Hatcher lại bất chợt xuất hiện sau bao nhiêu năm qua, Cohen tự hỏi không biết người bạn cũ của anh đang làm gì.
Trí óc của Cohen trôi ngược dòng thời gian trở về một đêm ở mạn thượng nguồn sông lúc tình bạn của anh và Hatcher bắt đầu.
Cohen đang trên đường từ hang ổ của bọn Ts’e K’am Men Ti về với một số lớn hàng lậu thì một chiếc thuyền chở đầy bọn cướp hoạt động trên sông lù lù xuất hiện phía sau anh ta và bắn nhiều phát súng cảnh cáo lên trời. Cohen chỉ có nửa tá thủ hạ. Xét cho cùng thì không ai, không một ai đi tấn công tay Tsu Fi này, một sự kiện không may là anh đã gặp cái đám cặn bã trên sông này. Chúng đã ra lệnh cho hai chiếc thuyền của anh dừng lại.
Rồi Cohen nghe tiếng máy rú to và một chiếc tàu chiến đen như than hiện ra từ trong bóng tối. Nó có hình dáng như một chiếc giang thuyền Mỹ nhưng không mang dấu hiệu. Đứng trên mũi tàu là người đàn ông da trắng mà anh đã gặp ở vùng thượng nguồn sông vài tháng trước đây. Anh moi ra cái tên từ trong trí nhớ: Hatcher. Nhiều tên cướp vũ trang đứng dọc theo thành tàu của Hatcher. Rồi Cohen để ý đến người xạ thủ điều khiển cây đại liên M-60 trong tháp pháo đang mặc một chiếc sơ mi mang những vạch cấp hàm quân đội ở tay áo. Một trung sĩ? Có phải họ là lính Mỹ không, anh tự hỏi. Không có người nào mặc đồng phục. Hatcher mặc quần ngụy trang và mặc chiếc áo màu xanh ô liu, mà bấy giờ mọi người đều mặc như thế. Có một cuộc đối thoại với bọn cướp và mặc dù Cohen không thể nghe thấy Hatcher nói gì, nhưng mọi điều anh nói đã có hiệu quả. Bọn giang tặc đã quay lại, hướng mũi về hướng thượng nguồn sông. Hatcher cặp dài theo chiếc thuyền thoi nhỏ nhưng lịch sự của Cohen. Anh cười nói:
- Chúng ta lại gặp nhau.
- Đúng như thế, anh bạn, đúng như thế - Cohen nói - chẳng phải tôi thắc mắc đâu, nhưng anh từ nơi quỉ quái nào đến thế?
- Chúng tôi ở phía sau anh khoảng hai kilômet trong giờ trước - Hatcher trả lời. - Rồi mấy thằng nhãi ranh đó vụt ra từ một nhánh sông và lao tới phía sau đuôi thuyền của anh. Vì thế tôi nghĩ là chúng tôi nên theo dõi chúng.
- Tôi chịu ơn anh. - Cohen cúi chào nói.
- Tôi sẽ nhớ điều đó - Hatcher bảo. - Lên tàu đi, tôi sẽ đãi anh một li.
Chiếc tàu chiến do Hatcher và các thủ hạ đặt đóng - một chiếc tàu bóng loáng, chạy nhanh, được đóng để chiến đấu chứ chẳng làm gì khác. Nó có những gian chật chội cho thủy thủ đoàn ở, nhưng có một nhà bếp rộng lớn, dồi dào thức ăn, nhiều súng và ụ pháo hơn một chiếc xe tăng, và được sơn màu đen như than. Thủy thủ đoàn của Hatcher gồm một tá lính Mỹ râu ria, thành phần pha tạp như bọn cướp mà anh vừa đuổi đi. Hatcher dẫn Cohen vào chỗ ở sơ sài của anh, một ca bin nhỏ chứa một tủ rượu, một bàn giấy phủ nhiều bản đồ sông ngòi tự vẽ và một chiếc võng cột vào cái đà ngang. Cohen hiểu không nên đặt thẳng bất cứ câu hỏi nào với chủ nhân. Hatcher lấy từ trong tủ ra một chai rượu gin và rót cho mỗi người một li đầy.
- Anh định sẽ đi đâu? - Cohen thận trọng hỏi.
- Trở về Hong Kong để vui chơi một chút. - Hatcher trả lời.
Gương mặt Cohen sáng lên: “À! Tôi rất vui mừng. Hiện nay thì đấy là vùng mà tôi thật sự là thổ công. Anh sẽ là khách của tôi khi anh ở trên đất thuộc địa này. Tôi khẩn khoản đấy”.
Hatcher mỉm cười và nâng li lên.
- Ai có thể từ chối một đề nghị như vậy? - Anh trả lời.
Trong hai tuần lễ tiếp theo, Cohen đã chiêu đãi Hatcher như một ông hoàng. Họ đã chơi xả láng từ Macao đến Cửu Long. Một thời ngọt ngào, một thời để phát triển sự tin tưởng và giao phó cho nhau. Họ trở thành đôi bạn thân thiết. Đối với Cohen đây là người bạn thứ nhất, trong khi đối với Hatcher thì Cohen là người bạn trung thành đầu tiên sau Murph Cody. Cohen chỉ dẫn cho bạn mình về hoạt động của các nhóm Tam Kết ở Hong Kong, trong khi Hatcher thường xuyên cung cấp cho Cohen tin tức về các vị trí tuần tra của các đội kiểm soát Hải quan Anh. Nhưng điều đã kết chặt tình bạn của họ là họ thật sự yêu mến lẫn nhau. Hai kẻ sống cô độc trao đổi cho nhau những tâm sự cá nhân, và tình bạn của họ đã chín chắn một cách lâu dài qua bao nhiêu năm. Trong khi Cohen là tay Tsu Fi có thể đi lại trên các con sông không bị Sam-Sam ngăn cản, anh luôn luôn có cảm giác rằng Hatcher ở đây đó gần quanh sẵn sàng giúp đỡ khi anh gặp chuyện khó khăn.
Rồi, cũng bất ngờ như khi anh xuất hiện trên sông, Hatcher đã biến mất không nói một câu. Những lời từ biệt chẳng phải là cung cách của Hatcher. Hiện giờ mạch máu của Cohen đập nhanh vì nóng lòng mong gặp lại bạn.
Hatcher, cũng thế, bị kích động bởi ý nghĩ gặp lại tay Tsu Fi da trắng. Sau buổi gặp gỡ đầu tiên của anh với người đàn ông thấp nhỏ này, anh đã dò hỏi về anh ta trong những dịp thỉnh thoảng đột nhập vào Hong Kong. Có những dư luận mập mờ về anh ta, nhưng anh chẳng nghe thấy điều gì rõ ràng, trước cái đêm anh uống rượu với một nhóm phóng viên ở quán rượu Godown trên đường Connaught. Đó là nơi tụ tập thường xuyên được ưa thích vì có ban nhạc sống American Dixieland và những chầu nhậu phong phú, một tay cựu phóng viên say túy lúy tên là Charlie Rawlson vụt ngẩng đầu lên khi Hatcher nói đến Cohen. Hắn nói qua li rượu gin Bombay pha chanh.
- Tôi biết anh ta khi tôi còn ở Đại học Harvard với anh ta.
- Harvard! - Một người đặc phái viên của tờ Time kêu lên.
- Một gã lạnh lùng. - Rawlson nói văn vẻ và bắt đầu kể: - Đó là vào những năm 60, lúc ấy Cohen là chuyện để chế giễu ở sân trường. Các anh có thể hình dung ra gã lùn Pê đê ấy chạy vụt qua quảng trường Harvard với chiếc cặp ôm sát vào ngực làm như sợ ai giật mất, giấu mặt sau bộ râu bé xíu, chẳng nói một lời với bất cứ ai. Hắn có thái độ của một con trâu nước lạnh lùng. Ông già hắn là một luật sư tài giỏi ở Westchester hay là gì đó. Và gã Cohen ngày xưa đã làm cha mẹ hãnh diện. Đỗ đầu ở Đại học Princeton, lấy bằng Tiến sĩ quản lí thương mại ở Đại học Harvard. Khi hắn lấy bằng Tiến sĩ, các công ty lớn trong nước xếp hàng để phỏng vấn hắn. Rồi họ phát hiện ra đầu óc hắn chẳng có gờ-ram lịch thiệp xã hội nào cả, một thiên tài khó lòng mở miệng chào hỏi một người lạ. Hắn được miêu tả như có một thái độ lẩn tránh điên khùng. Thực ra hắn chỉ hay mắc cỡ, đó là con người hắn. Từ mắc cỡ như đã được đặt ra để tả Cohen ngày xưa.
- Thế rồi việc gì đã xảy ra? - Hatcher hỏi.
- Cha mẹ hắn quyết định rằng điều mà hắn cần là một cuộc sống du lịch vòng quanh thế giới kéo hắn trở lại với đời sống xã hội. Cha hắn bảo hắn: “Đã đến lúc con phải đi chơi một chút. Hãy tự tìm cho con một cô bạn gái đẹp và hãy xem nửa phần kia của nhân loại sống như thế nào. Nhưng mà ông già có thể đã không nhận thức được những giới hạn trong đó Cohen sẽ thực hiện lời khuyên nhỏ ấy. Đây là điều cuối cùng mà tôi nghe về hắn, đến khoảng một năm trước đây tôi trông thấy hắn yểu điệu đi ra từ một ngân hàng trên đường Connaught, mặc một chiếc áo xường xám bằng lụa đỏ. Hắn leo lên một chiếc Rolls-Royce và lái đi. Chỉ có Thượng đế mới biết điều gì đã xảy ra trong những năm ở khoảng giữa đó”.
Về sau Cohen đã bổ sung những khoảng còn thiếu cho Hatcher nghe.
Trên bao lơn nhà mình, Cohen cũng đang hồi tưởng lại thời xưa, nhớ lại lần đầu tiên trong đời anh nhìn thấy cảnh Hong Kong. Anh ta đã ẩn trong ca bin suốt chặng đường từ San Francisco ra đi, sợ gặp mặt mọi người lạ trên chiếc tàu thủy khổng lồ. Đêm đầu tiên đến nơi, anh ta thập thò lên boong tàu để nhìn quanh và kinh hoàng trước ngọn núi vươn cao như tháp, các ngọn đèn chói lòa của thành phố và các thuyền buồm Trung Quốc vây quanh chiếc tàu thuỷ to lớn với tiếng kêu lạ của trẻ con xin xỏ. Đó là lúc Cohen được người quản lí của chiếc tàu tên là Ringer - một tay dày dặn và cứng đầu - để ý đến, và thật sự thấy tội nghiệp cho Cohen.
- Này, thưa ông, tôi đi ra Khu Trung tâm một mình, ông có muốn cùng đi không?
Cohen tuy căng thẳng nhưng thích thú:
- Đó là khu kinh doanh phải không?
Ringer:
- Vâng, nhưng còn có những cái khác để xem. Tôi nghĩ ông có thể vui chơi khi tới Lầu Phong Lan của Bà Lau Mập.
Cohen:
- Đây là nhà hàng à?
Ringer vẻ láu cá:
- Thì... vâng... Tôi nghĩ rằng ông có thể gọi nó như vậy cũng được.
Quả thực là nhà hàng. Nhà Bà Lau Mập có lẽ là nhà điếm lớn nhất trên thế giới và Ringer dẫn anh ta đến đó, trong lòng tin rằng anh ta tưởng đi lên đảo để ăn trứng tráng và cải xào. Lúc Cohen bước vào cánh cửa hai lớp của nhà Bà Lau Mập thì cuộc đời anh ta thay đổi. Trí tưởng tượng về tình dục của anh ta bùng cháy và một cánh cửa mới mở ra cho Cohen.
Anh ta mỉm cười với mình khi nhớ lại đêm đó. Phòng khách được soi sáng bởi những ngọn nến hồng, và nhạc Tàu được tấu lên ở đâu đó ngoài tầm mắt. Bàn tiệc! Bàn tiệc là một phép lạ ngọt ngào. Mỗi thứ thức ăn quý có thế tưởng tượng ra được đều có ở trên bàn. Trứng cá hồi ở Biển đen, cánh chim sẻ ướp tỏi nấu theo kiểu Quảng Châu, vây cá và canh nấm gia thêm dấm Tàu, vịt Bắc Kinh xắt lát dùng với bánh bao, chả giò nhân thịt heo ướp cà ri và mực, rau cải hấp rượu champagne.
Và những người đàn bà! Cohen đã bị mê hoặc. Tất cả bọn họ được phô bày ra trong ánh nến lung linh, êm dịu, mờ ảo trêu chọc và mỗi người đều có nét độc đáo riêng, mỗi người ăn mặc theo lối của mình, dưới con mắt tán đồng của Bà Mập.
Một em mặc bộ áo ngủ kiểu Pháp nghịch ngợm, một em khác mặc áo lưới mỏng mà bên trong chẳng mặc gì thêm, còn em khác nữa thì mang dây lột tất màu đen và nịt ngực. Có một người đẹp cao lớn của xứ Peru mặc một chiếc áo choàng cao cổ kiểu Nữ hoàng Victoria và chẳng còn gì nữa, một công chúa xứ Nubia mặc áo mỏng manh như sương khói. Bao nhiêu là đàn bà từ những góc trời xa xôi trên quả đất. Những người lai Âu, Á, người Nhật, người Trung Hoa, người Thái Lan, người Ai Cập, người Hi Lạp và người Pháp. Có người Châu Phi và người Do Thái. Có cả một nữ vương của người da đỏ châu Mỹ và một cặp song sinh người Eskimo mà họ gọi là cặp Muckluck, luôn luôn biểu diễn với nhau trong phòng gương.
Bữa tiệc qua đường của mình đúng là một kinh nghiệm đáng ghi nhớ, Cohen mỉm cười suy nghĩ.
Bà Lau Mập là một người cao và mảnh mai như một cô người mẫu nước Pháp, gò má cao và vai rộng, là một vưu vật không sờ tới được trong một nơi mà mọi thứ khác đều được cho hoặc bán.
- Tại sao họ lại gọi bà ấy là Bà Mập? - Cohen hỏi.
Ringer trả lời:
- Bởi vì nơi đây, anh bạn ạ, là nơi mà tất cả dân “mập sụ” của thành phố đều lui tới.
Cặp mắt sành sỏi của Bà Mập lập tức nhận ra Cohen là trai tân và đã chọn một vưu vật hiếm có cho anh. Bà ấy rời phòng và trở lại với Tiana. Cohen lấy làm thích thú với kỉ niệm này, cô bé nhỏ con ấy thấp hơn Cohen, chỉ mới mười sáu tuổi, quấn người trong xà rông, mái tóc nàng được chải thành một búi nhỏ cài hoa phong lan và hoa đỗ quyên, với những rèm tóc đen cắt ngang phủ xuống trán. Nàng mỉm cười với Cohen, một nụ cười dịu dàng nhất mà anh chưa hề thấy, rồi nàng đưa tay ra nắm lấy tay anh dẫn anh lên thiên đàng. Nàng dắt anh lên phòng của nàng và Cohen có thể nhớ lại một cách sinh động từng góc phòng được soi sáng bằng ánh nến, màu sắc của những chiếc gối dựa chất trong một góc, chiếc bồn tắm rộng kiểu xưa với chân bằng đồng ở một góc khác, nhớ lại nàng chọn từng miếng các thức ăn quý bày trên bàn và đút cho anh, trộn lẫn các khẩu vị với một tài nghệ điêu luyện đến mức ăn cùng là một thứ thuốc kích dục.
Rồi nàng chậm rãi cởi quần áo anh ra, xoa bóp từng bắp thịt trên cơ thể anh, sau đó mới đưa tay tháo trâm cài và hoa trên mái tóc đen của nàng để tóc xõa xuống vai. Rồi nàng đứng dậy, tháo xà rông, để nó rơi xuống sàn và đứng đấy cho anh chiêm ngưỡng thân hình nàng trước khi nàng dẫn anh đến bồn tắm, chứa đầy một thứ bùn nóng đến mức anh gần như chịu không nổi, rồi đùa nghịch và xoa bóp làm anh đến phát điên lên. Máu của Cohen chạy rần rật trong huyết quản khi nhớ lại việc ấy.
Cohen không bao giờ rời đi nữa. Không bao giờ trở về tàu hoặc trở lại với bất cứ con tàu nào sau đó. Thế giới của anh ta là Hong Kong và cái lâu đài Victoria ở Wanchai, là nếm mùi đời, học cách nói về tình yêu bằng mọi thứ ngôn ngữ và làm tình bằng mọi phương pháp kì lạ tuyệt diệu có thể tưởng tượng ra được.
Và rồi Cohen khám phá ra một điều khác về chính con người của anh, một mặt của cá tính đã ngủ yên trong hai mươi bảy năm. Anh ta khám phá ra rằng từ trong thâm tâm anh là một kẻ vô lại bẩm sinh, đối với anh một việc làm bất lương còn thú vị hơn nhiều so với sự lên xuống của thị trường chứng khoán của đồng dollar hay hàng hóa. Cohen phát hiện ra nghề buôn lậu, làm môi giới mua bán vàng bất hợp pháp, lừa được tàu hải quan để mang hàng lậu về thuộc địa. Anh ta cũng học được rằng ở thuộc địa của Hoàng Gia tin tức cũng có giá trị như hàng hóa. Anh và Tiana trở thành bạn bè đồng thời là người tình của nhau. Lối sống phương Đông hút chặt lấy anh ta.
Từ người Tàu, Cohen lần đầu tiên nghe nói đến tay Tsu Fi, tức là Old Man Who Bites Like a Dragon (Ông Già Cắn Như Rồng). Họ bảo tay Tsu Fi này liên lạc mật thiết với các tài phán ở Khu Trung Tâm qua các đường dây là các con rối mặc áo lụa. Không một sự bí mật nào lọt khỏi ông ta. Các tay trùm sò trộm cướp có thế lực nhất của phương Tây đều nể sợ ông ta. Cản trở được Tsu Fi, họ nói, là cản trở được cá thánh thần. Trong đầu của Cohen, tay Tsu Fi là người gác cổng của đền thờ bách thần. Được gặp mặt và chia sẻ những bí mật của ông ta trở thành nỗi ám ảnh Cohen. Nhưng tay Tsu Fi khó tính và không tin cậy các gwai-lo (người ngoại quốc).
Một đêm ở nhà Bà Lau Mập, Tiana đã mở cánh cửa vào đền thờ bách thần này. Một khách thỉnh thoảng đến chơi đã tâm sự với Tiana rằng một người đàn bà giàu có đã mướn anh ta giết chồng. Tiana biết rất ít chi tiết nhưng biết tên của người đàn bà ấy trùng với tên của một loài hoa. Cohen kiểm tra trong cuốn sách Toole’s Guide to the Crown (Hướng dẫn vào Vương Quốc của Toole), một cuốn sách tra cứu mới nhất về kinh doanh ở Hong Kong. Và đây:
Hampton-Rhodes Overseas T’ransport, Ltd. (Công ty Vận tải Viễn dương Hampton-Rhodes) - Chủ tịch và Trưởng Ban Quản Trị: Charles Rhodes - Nguyên thủy là Công ty Tàu thủy và Vận tải Hampton - Sáng lập năm 1934, đăng kí: Aberdeen. Sáng lập viên: Jonathan Hampton, chết năm 1978. Thay đổi tên: 1979. Kết hôn với Iris (họ khi sinh là Hampton) - con gái của sáng lập viên: 1975.
Anh ta kiểm tra lại với bạn bè ở các nhà băng trên đường Connaught và đêm ấy nhờ Tiana sắp xếp một cuộc tiếp xúc với tay Tsu Fi.
- Nhưng, Cohen này, ông ta không làm ăn với người ngoại quốc.
- Bảo ông ta rằng người ngoại quốc này có thể làm cho ông ta giàu thêm, - Cohen tin tưởng nói.
Kế hoạch thật táo bạo và đó là một trong những lí do đã lôi cuốn Cohen. Nhưng anh biết kinh doanh, và đó là việc anh rất rành. Đúng là một hành động phi thường nếu gã ngoại quốc này có thể biết được các bí mật của tay Tsu Fi.
 
Văn phòng của tay Tsu Fi nằm ở đường Cat ồn ào, hỗn độn, trên lầu một phòng châm cứu. Tay Tsu Fi điều hành công việc ở hai căn phòng giống nhau từ lúc nào không ai còn nhớ. Tấm biển trên cửa, được viết bằng chữ Tàu, ghi đơn giản “Vương”, và ở phía dưới là “Gia vị”.
Cohen căng thẳng thần kinh nhưng anh biết không thể để lộ điều ấy ra. Sau khi leo lên cầu thang, anh đứng ngoài cửa, hít thở thật sâu, ngậm miệng ngân nga một mình cho mạch máu bớt đập rồi mới bước vào và nhận ra mình đang đứng trong một phòng đợi nhỏ, chẳng lớn hơn tủ đựng quần áo. Qua cánh cửa, anh có thể nhìn vào trong văn phòng của tay Tsu Fi, văn phòng này cũng chẳng lớn hơn bao nhiều. Rõ ràng lão già này chẳng phải đến đây để phô trương.
Tay Tsu Fi ngồi quay lưng ra cửa sổ phía sau một bàn làm việc giản dị bằng gỗ hồng đào, một bàn hầu như còn trống trơn chỉ có một bàn tính ở một bên chiếc điện thoại màu đen kiểu đã cổ. Một chiếc ghế độc nhất được đặt phía trước bàn. Ánh nắng chiếu lấp lánh quanh chiếc ghế của lão và bụi lơ lửng bay trong các tia sáng. Có một tủ kiên cố bằng gỗ tếch trong một góc và một chiếc bàn con trên đặt bộ ấm trà ở phía đối diện. Có thế thôi.
Lão Tsu Fi trông có vẻ già nua, mặc dù thân người lão vẫn thẳng và đôi mắt sáng lấp lánh. Da dẻ lão hoàn toàn không có nếp nhăn và gần như là trong suốt, giống như giấy nến bọc bộ xương mảnh mai của lão. Mái tóc lão bạc trắng và được cắt ngắn, mày râu nhẵn nhụi. Lão nhìn Cohen đăm đăm giây lâu rồi mới đưa tay lên và mời anh ta vào phòng bằng cái ngoắc của ngón tay trỏ. Cohen lại gần bàn và đưa tay ra.
- Tôi là Robert Cohen. - Anh nói bằng tiếng Bắc Kinh hoàn hảo.
Lão Tsu Fi làm ra vẻ không biết có bàn tay của Cohen giơ ra và thay vì cúi bắt tay Cohen lão đưa bàn tay đúng chỗ chùm ánh sáng xuyên qua làn bụi. Lão ngắm nghía cái bóng bàn tay trên sàn.
- Ít ra thì anh cũng đúng hẹn. - Lão nói bằng giọng cao vút và chỉ cho Cohen ngồi vào chiếc ghế trống.
Lão Tsu Fi xếp hai bàn tay lên bàn và nói, “Rồi sao?”.
Cohen hắng giọng. Anh đã tập những gì anh muốn nói và anh tựa lưng ra sau, cố ngồi cho thoải mái trong chiếc ghế thật khó chịu rồi bắt đầu nói:
- Tôi có nguồn tin mà tôi nghĩ rằng có thể có lợi cho cả hai chúng ta. Tôi được cho hay rằng một nhà kinh doanh ở đây sẽ bị ám sát. Vợ ông ta sẽ trả tiền cho việc giết người ấy.
Lão già nhìn Cohen đăm đăm không nhúc nhích một thớ thịt, đôi mắt lão xuyến thẳng vào mắt Cohen.
- Nhà kinh doanh ấy vô tích sự và lười nhác. Ông ta nhậu quá nhiều và lừa dối vợ. Cha của bà ta đã gây dựng nên công việc làm ăn này và đã chết. Công ty đang gặp khó khăn to. Nhưng nếu ông ấy chết đi thì bà ta sẽ thừa hưởng gia sản và nắm quyền kiểm soát Công ty. Không có ông ta cản trở, bà ta sẽ tự do mướn nhân viên mới và tổ chức lại. Tài sản của họ rất lớn. Theo tôi thấy thì có hai điều có thể xảy ra. Hoặc là Công ty sẽ đứng vững trở lại, hoặc là một tập đoàn tư bản nào đó sẽ nắm lấy nó.
- Không thể có một khả năng thứ ba xảy ra à? - Lão Tsu Fi hỏi.
- Ông muốn nói đến phá sản à? Không như thế dâu. Người đàn bà này có những nguồn vốn riêng. Tôi không cho là bà ta sẽ dùng đến những biện pháp cực đoan, trừ phi bà ta có kế hoạch để lấy lại Công ty liền ngay sau.
- Thế việc này có nghĩa gì đối với tôi? - Lão già hỏi.
Cohen mỉm cười chồm người tới.
- Chúng ta? - Anh gợi ý.
- Tôi chẳng có thích thú gì trong việc buôn bán trên giấy tờ của anh, anh Mỹ ạ! Đấy là một trò của phương Tây, tôi không chơi.
- Tôi hiểu điều ấy - Cohen xác nhận - Tsu Fi, nếu chúng ta đợi cho đến lúc cổ phiếu này sụt xuống cứ cho là tám điểm đi, rồi ta đầu tư vào, thí dụ, nửa triệu, cổ phiếu sẽ tăng vọt lên khi sự tổ chức được bắt đầu lại.
- Thế việc ấy cần bao lâu?
- Sáu tháng, có thể bảy.
- Và anh nghĩ nó sẽ lên đến bao nhiêu?
- Tôi đánh giá nó sẽ lên đến ít nhất là hai mươi điểm.
Ngón tay lão Tsu Fi chạy thoăn thoắt trên bàn tính.
Cohen tiếp tục nói mặc dù anh biết rằng lão Tsu Fi đã tính trước anh rồi.
- Hai hoặc hai triệu rưỡi trong vòng sáu tháng. Tôi sẽ theo sát nó mỗi ngày và bán vào thời điểm đúng nhất.
- Và anh muốn gì?
Cohen chồm người tới, mắt sáng lên:
- Một nửa lợi nhuận. - Anh tin tưởng nói.
Lão Tsu Fi cau có nhìn anh ta. Một phút im lặng rồi lão từ từ lắc đầu.
- Không.
- Thôi được, thế thì một phần ba vậy - Cohen tính toán mau lẹ - ông làm ra được hai triệu, tôi được sáu trăm ngàn. Tôi lấy tròn con số năm trăm ngàn.
- Anh cho đi một trăm ngàn dollar rất dễ dàng. - Lão Tsu Fi nói.
- Rất dễ cho đi một số tiền mà người ta chưa có. - Cohen trả lời.
Lần đầu tiên lão Tsu Fi mỉm cười. Gã ngoại quốc này thật kiêu căng nhưng lão Tsu Fi hiểu anh ta. Anh ta rất nhanh trí. Anh ta biết cách làm ăn. Điều quan trọng hơn nữa là tay Cohen này đã chứng tỏ là anh ta biết sử dụng tin tức. Anh ta có thể thảo luận mua bán với sự kiêu căng, mặc dù vậy cần phải cho anh ta một bài học. Có lẽ gã Cohen này có thể mở ra những cánh cửa mới cho lão, những cánh cửa mà lão đã bỏ qua trong quá khứ. Ý tưởng về một cuộc mạo hiểm mới làm máu lão sôi lên.
- Và anh không cảm thấy có nghĩa vụ phải ngăn chặn vụ giết người này hay sao? - Lão Tsu Fi hỏi.
- Đây là chuyện gia đình - Cohen nhún vai như là chuyện đương nhiên. - Hơn nữa, nếu tôi đi báo cảnh sát thì sẽ gây phiền hà cho các bạn tôi.
Lão Tsu Fi gõ gõ cằm, mắt vẫn nhìn Cohen không chớp.
- Khi nào? - Lão hỏi.
- Tôi không biết điều đó, nhưng khi Rhodes chết, cổ phiếu sẽ tụt giá và chúng ta phải sẵn sàng.
- Và nếu chuyện làm ăn trên giấy tờ này không thành thì sao?
Cohen mỉm cười và nhún vai:
- Nếu vậy thì tôi cho là sẽ gặp nhiều rắc rối lắm. Tôi đã chuẩn bị để chấp nhận mạo hiểm.
Lão Tsu Fi gật đầu thật chậm chạp.
- Báo cho tôi biết khi nào anh sẵn sàng, - lão nói. -Tôi sẽ cho anh câu trả lời sau đó.
- Như thế sẽ quá muộn, để tôi đi tìm một người đầu tư khác, nếu ông không đồng ý. - Cohen nói.
- Anh muốn một quyết định tức thời à? - Lão già nói với vẻ ngạc nhiên.
- Nếu ông không thấy thích thú, Tsu Fi, tôi sẽ phải tìm một người khác.
Lão Tsu Fi lại nhìn anh ta đăm đăm, đánh giá người đàn ông trẻ cao ngạo này.
- Thế thì câu trả lời của tôi là không. - Lão già nói.
Điều ấy làm Cohen hẫng người, nhưng anh biết rằng lão già Tàu này đã chú ý đến lời đề nghị. Nếu ta bỏ đi, ông ta có đổi ý hay là bỏ qua luôn ý kiến này? Anh tự hỏi. Cohen bị mắc vào thế kẹt. Lùi bây giờ sẽ là dấu hiệu của sự yếu đuối, và anh chú ý đến việc lấy được lòng tin của lão Tsu Fi hơn là chú ý đến chính việc mua bán này.
- Thế thì tôi lấy làm tiếc đã làm ông mất thì giờ, thưa ông. - Cohen nói và đứng dậy để đi ra.
Lão Tsu Fi lại đưa bàn tay ra luồng ánh sáng và nhìn đăm đăm lên sàn.
- Tạm biệt. - Lão nói.
Cohen quay lưng và đi ra cửa thì thình lình lão Tsu Fi gọi anh ta:
- Ông Cohen, mặt ông bắt đầu xệ xuống rồi đấy. Hãy dừng lại ở dưới chân cầu thang. Tên người đàn ông dưới đó là Ping. Báo với ông ta là tôi nói ông cần vài cái kim.
Cohen theo lời khuyên của lão. Anh ngồi trong một chiếc ghế hớt tóc kiểu xưa trong khi nhà châm cứu thận trọng đâm những cây kim dài, mỏng manh vào các huyệt bí ẩn. Cohen cảm thấy người thư giãn. Anh ta ngồi nhắm mắt trong vòng ba mươi phút. Khi Ping rút những cây kim ra, Cohen mở mắt. Lão Tsu Fi đang đứng trước mặt anh ta.
- Cứ báo cho tôi - lão nói. - Tiền sẽ có sẵn. - Và lão rời phòng.
Cohen chạy theo sau lão. “Thưa ông!” anh gọi khi lão Tsu Fi đang quay lên lầu.
Lão già quay lại và cau có nhìn anh. Cohen lấy trong túi ra một mảnh giấy xếp và đưa cho lão già.
- Tôi, ... ơ..., xin được mạn phép chuẩn bị sẵn một tờ hợp đồng, chỉ để khẳng định sự thỏa thuận của chúng ta. - Anh nói.
Lão Tsu Fi khịt mũi và giật phắt lấy tờ giấy trên tay anh ta. Lão quay lưng và càu nhàu: “Lên đây”. Cohen theo lão lên lầu.
Lão già rút một que diêm đốt cháy tờ hợp đồng, không cần đọc. Đôi mắt lão lấp lánh trong ánh nắng đầy bụi bặm.
- Bây giờ thì anh biết giấy tờ có giá trị thế nào. - Lão nói ngắn gọn - và đừng bao giờ kí tên vào bất cứ cái gì, dấu vết của anh sẽ theo anh tới chết.
Chín ngày sau Cohen và lão Tsu Fi gặp lại nhau, Charles Rhodes đã chết trong một tai nạn xe hơi. Cổ phiếu tụt xuống điểm 5 trước khi Cohen ra quyết định mua.
Sau thông báo là công ty đã được cải tổ, nó nhảy vọt, leo lên trên hai mươi bốn điểm trước khi lấy lại cân bằng. Lão Tsu Fi khoái trá vì đã đớp ngon lành được hơn hai triệu một chút. Cohen vội vàng đến văn phòng trên đường Cat để lấy nửa triệu của anh.
Lão Tsu Fi chìa mười ngàn dollar ra bàn.
- Cái gì vậy, trả công suông à? - Cohen cười hỏi.
- Đó là số tiền trả xứng đáng cho công việc anh đã làm. - Lão Tsu Fi nói.
Cohen nhảy chồm lên, điên tiết:
- Ông là người đã bảo tôi là giấy tờ chả có giá trị chó gì cả. Tôi đã tin ông!
- Lại thêm một bài học - lão già nói. - Đừng bao giờ tin ai cả. - Lão đưa tay lên xem giờ.
- Bỏ tay xuống - Cohen gầm lên. - Ông nợ tôi nửa triệu dollar.
Lão Tsu Fi ngẩng lên nhìn anh ta:
- Anh muốn lãnh tiền của anh hay là anh muốn la hét và than vãn? - Lào già ìiói.
Cohen dịu xuống. Anh ta ngồi trở lại, mắt nhìn chằm chằm vào lão già lừa đảo tài ba.
- Anh còn phải học nhiều về các phương pháp của chúng tôi, anh Mỹ ạ! - lão Tsu Fi nói. - Nhưng anh có tài. Khi anh học hỏi được, nửa triệu dollar sẽ chẳng có nghĩa lí gì.
Và thế là Cohen trở thành người được lão Tsu Fi che chở. Anh mở văn phòng riêng của mình, phòng độc nhất ở ven quận Wanchai có ba máy điện thoại và một máy vi tính. Anh tự mình làm mọi công việc kinh doanh, một bài học khác của lão Tsu Fi: “Đừng bao giờ thổ lộ bí mật với bất cứ ai”. Lời khuyên của lão Tsu Fi trở thành kinh thánh của Cohen. Rồi một ngày kia ông thầy dày dạn kinh nghiệm của anh triệu anh về văn phòng ở đường Cat.
- Đây là lúc anh lên vùng sông rạch Macao. - Lão Tsu Fi nói, Cohen giật mình vì tin mới. Chưa bao giờ xảy đến, cho anh việc lão Tsu Fi phái anh đi ngược sông lên đất Chin Chin.
- Tại sao? - Anh hỏi.
- Không biết có cần thiết phải hỏi không, có lẽ tôi đang cử lầm người, - lão Tsu Fi nói. - Anh là người đàm phán mới của tôi. Anh phải chinh phục được mấy thằng cướp biển Tàu ấy với lòng dũng cảm, không sợ hãi. Đây là việc làm ăn. Cái giá của hàng hóa. Anh khoái tiền, anh Mỹ ạ! Anh đang làm giàu, nhưng nó đòi hỏi một sự khó chịu nào đó.
Lão Tsu Fi đưa cho anh ta một đồng vàng hai mươi dollar mang hình Nữ hoàng Victoria.
- Cái này có nghĩa là anh đại diện cho tôi - lão nói. - Trong quá khứ người của tôi đã làm không tốt các vụ đàm phán. Họ không tin vào các suy nghĩ của họ và họ đồng ý quá nhanh. Anh là một nhân vật quí trong những người đi đàm phán, anh ngoại quốc ạ! Anh phải thực hiên các cuộc thương lượng mới hay hơn.
- Thế thì ta cần phải thêm mật cho ruồi. - Cohen gợi ý.
- Thêm mật cho ruồi? Ruồi nào?
- Đưa đến cho chúng cái gì hay hơn là những kẻ đang làm ăn trên sông đem đến.
- Và điều đó sẽ là gì?
- Tôi đang suy nghĩ. - Cohen nói.
- Nghĩ nhanh đi. - Lão Tsu Fi nói. - Anh đi đêm nay.
Và đó là cái đêm lần đầu tiên Cohen gặp Hatcher.
Cohen trở thành tay Tsu Fi da trắng. Anh ta có thuộc hạ của riêng mình trên sông. Anh ta được bọn Ts’e K’am Men Ti kính trọng và được các tài phán ở Hong Kong nể sợ. Các cuộc tiếp xúc của anh ở miền thượng nguồn sông trên đất Trung Hoa Đỏ thật là không chê vào đâu được. Nhưng phần lới anh buôn bán bằng tin tức. Cohen trở thành ngân hàng hối đoái cho mọi dư luận kinh doanh và dư luận cá nhân ở xứ thuộc địa này.
Nếu có khó khăn lớn, các tài phán lại quay về gặp Cohen.
Họ gọi anh ta là Cohen Tàu.
Anh nâng niu từng giây phút ấy.
 
Khi Hatcher lên đến đỉnh núi, anh thả bộ men quanh đỉnh núi đến đường Albany gần vườn bách thảo. Nhà của Cohen ở ngay rìa của đỉnh núi.
Anh đang chìm sâu vào suy nghĩ, nhưng không quá sâu đến độ không nhận thấy chiếc xe hơi đậu ở đằng xa phía trên anh, ngay lối vào vườn bách thảo và gã tài xế đang theo dõi anh qua ống nhòm.
 
 
0

THỜI CŨ, THỜI MỚI

 
Hatcher đứng trên cánh cổng sắt rộng dẫn vào cơ ngơi trên đỉnh núi của Cohen. Vách tường vây chung quanh cao khoảng hai mét rưỡi. Cánh cổng có lưới sắt một thời đã giữ cổng tòa lâu đài của một viên tướng trấn thủ người Tàu ở Shanghai. Mắt điện và dây rào điện làm tăng vẻ hiện đại cho bức tường mặc dù từ dưới đất nhìn lên thì không thấy được.
Anh ấn cái nút trong tường bên cạnh cánh cổng và một lát sau người gác xuất hiện nhìn anh chằm chằm qua lưới sắt.
- Hai? (Ai?) - Người gác hỏi.
- Ngo hai gli Occhi di Sassi. - Hatcher trả lời, dùng biệt danh ‘the Man With Stone Eyes’ (Người Đàn Ông Với Cặp Mắt Đá) của anh đã nổi tiếng trên sông.
- Deui mju. (Đợi chút.) - Người gác nói. Hắn biến mất trong giây lát rồi trở lại,'nói: - Ho. (Vâng). - cúi người xuống chào khi cánh cổng êm ái bật mở - Cheng nei. (Xin mời ông).
Cánh cổng đóng lại phía sau Hatcher. Anh theo người gác đi xuống con đường ngoằn nghoèo dẫn đến ngôi nhà ẩn phía sau các cây đa và cây thông.
Cohen Tàu đã bài trí nơi ẩn náu này của anh bằng sở thích và sự đam mê, một sự tổng hợp lạ lùng các nền văn hóa phương Đông và tôn giáo, vài thứ từ Trung Hoa, vài thứ từ Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản. Căn nhà trệt sơn trắng trải dài theo rìa một vách núi mà từ đấy nhìn thấy phong cảnh tuyệt đẹp của bến cảng. Những viên ngói cong màu vàng của Trung Hoa lợp trên mái nhà lấp lánh như vàng; hai con kì lân bằng đá cẩm thạch vẻ hung dữ trấn trước mặt tiền của ngôi nhà trắng. Ở một bên của lối đi phía trước là vườn đá Nhật Bản đã được cào xới với lòng chăm sóc vô vàn. Phía bên kia là một vườn hoa rực rỡ với hoa đỗ quyên, hoa hồng và phong lan. Một con naga dài gần hai mét, loại rắn Thái Lan biểu tượng cho sự may mắn tốt lành, nhô cái đầu màu xanh và vàng ra khỏi các chùm hoa, nhe cái miệng độc ác để lộ hàm răng trắng như ngà. Các cây cau, cọ mảnh mai có lá thon thon che bóng mát cho khu vườn.
Tiếng chuông theo gió ngân nga đưa tới hai cánh cửa sơn mài màu vàng và đen, và những cái giầm gỗ tếch chạm khắc tinh vi gọi là ham yon, có nghĩa là “ ngọc hành linh thiêng”, được đặt phía trên con đường vào sảnh chính của ngôi nhà, bởi vì hùng lực của chủ nhân được tin là cất giữ tại đó.
Một cái búa gõ cửa to hình đầu sư tử bằng đồng treo trên cửa báo cho anh biết đã đến nơi. Một người đàn bà nhỏ thó, da dẻ khô héo trông như già cả trăm tuổi và có vẻ Thái Lan hơn là Tàu ra mở cửa. Bà ta ăn mặc giản dị, nhìn chòng chọc vào mắt Hatcher một lúc rồi mỉm cười và cúi chào:
- Mừng đón ông, thưa ông Mắt Đá.
Bà ta lui lại và mời anh vào phòng chính của ngôi nhà, một gian phòng được trang hoàng với đồ đạc sang trọng của phương Tây, đổ cổ phương Đông và thảm Thổ Nhĩ Kì, các cánh cửa theo kiểu Pháp mở ra ban công rộng rãi. Phía xa bên dưới ban công là vịnh và qua vịnh là bên Cửu Long. Phòng ngát mùi hoa tươi. Dường như không có một cái gì thay đổi kể từ lần cuối cùng anh ở ngôi nhà này.
Một lát sau Tiana bước vào phòng, mặc áo lụa dài chấm sàn nhà, mái tóc nàng cài hoa phong lan. Trông nàng chẳng già đi chút nào kể từ lần cuối cùng Hatcher gặp nàng.
- Chào anh, Christian. - Nàng nói, giọng thanh như chuông.
- Nhìn em xem nào - Hatcher nói. - Em trông vẫn như mới mười sáu tuổi. Em không tin ở tuổi đó à?
- Ôi chẳng bao lâu nữa em sẽ già đi gấp ba thôi. - Nàng nói.
- Đừng nói tuổi cho ai nghe, họ sẽ chẳng bao giờ đoán ra đâu - anh nói và đưa cho nàng chai rượu nho - Để dành cái này cho em và Cohen.
- Mm goi, (cảm ơn) - Nàng nói và ôm chai rượu sát vào ngực - Khi nào uống bọn em sẽ nhớ đến anh.
- Và lúc đó anh sẽ cảm nhận thấy. - Anh trả lời.
Nàng đứng yên lặng ngắm nghía anh và cuối cùng gật gật đầu.
- Đây là một ngày vui cho bọn em, Christian... - Nàng nói giọng hơi đau buồn - Robert thường nhắc đến anh hoài. Sau đó bọn em nghe nói anh đã chết và từ đó Robert không bao giờ nhắc đến tên anh nữa. Rồi hôm nay! Thật xúc động. Tất cả những năm qua Robert đau lòng vì nghĩ rằng anh đã ra đi. Em sung sướng thấy anh trở lại vì Robert và vì em.
- Và vì anh nữa. - Anh nói.
- Anh chẳng thay đổi bao nhiêu. - Nàng nói - vẫn còn sôi nổi lắm. Em lấy làm buồn vì... cái này. - Nàng dịu dàng sờ ngón tay lên cổ họng bị thương của anh.
- Quỉ thần ơi, nó chỉ làm cho giọng anh nghe nguy hiểm. - Anh thì thầm qua tiếng cười.
- Anh đúng là nguy hiểm - Tiana nói thật nghiêm túc, nhìn đăm đăm vào mặt anh. Rồi nàng lại mỉm cười.
- Mừng anh trở lại. - Nàng ôm lấy mặt anh giữa đôi bàn tay mềm mại và hôn lên môi anh chưa bao giờ êm dịu như thế.
- Cái đó sẽ mang lại may mắn cho anh trong hai mươi năm tới. - Một giọng nói vang lên sau lưng anh, anh quay lại và nhìn thấy Cohen Tàu đang đứng ở lối cửa.
Thời gian đã điểm màu xám bạc lên mái tóc và bộ râu của anh ta, thêm vài nếp nhăn trên mặt, làm dịu đi những nét khắc khổ quanh mắt, các mặt khác cũng có ít nhiều biến đổi. Anh ta mặc bộ xường xám thường lệ có đính đá quí và mang một lá bùa hộ mạng Thái Lan ở cổ. Anh ta vội vã băng qua phòng và vòng tay ôm lấy ông khách cao hơn ông ta.
- Mẹ kiếp, đúng là một món quà - Cohen Tàu nói nhẹ nhàng. - Nhẽ ra tôi phải biết chẳng ma nào có thể hạ được anh.
- Hãy kín đáo. - Hatcher thì thầm.
Hai người bạn đứng bên anh, ngắm nghía anh, gật gù hài lòng mặc dù mắt họ vẫn nhìn dò hỏi vào vết sẹo trên cổ anh. Hatcher tự hiểu, đưa tay sờ vết sẹo và nhún vai: “Một tai nạn”, anh nói và đưa tay ra cầm lấy lá bùa bằng đồng.
- Dễ thương - Anh nói - Thái Lan phải không?
Cohen gật đầu:
- Đấy là lá bùa của mười vị thần được xem là che chở ta cả phía trước lẫn phía sau - Cohen Tàu nói rồi cười khúc khích. - Một thủ hạ của tôi đã lấy được của một tên cướp Thái Lan đã chết. Đúng là không thiêng đối với hắn.
- Anh sẽ chết lâu rồi mới hết may mắn. - Hatcher nói.
- Em có việc phải làm - Tiana nói và hôn lên má Hatcher - Cohen bắt em phải hết sức nhắc nhở bồi bếp. - Nàng cười khanh khách và nhẹ nhàng rời phòng.
- Tôi ghét nghĩ đến việc anh phải hao tốn để chuộc nàng ra khỏi nhà Bà Lau Mập - Hatcher nói.
- Chả có gì. Nàng là món quà cho một người khách rất tốt - Cohen nói và ôm lấy vai Hatcher - Đến đây. - Anh ta dẫn Hatcher vào phòng khách ở kế bên phòng chính của ngôi nhà. Hatcher đã trải qua nhiều đêm trong căn phòng này, một khoảng vuông vức rộng rãi được trang hoàng bằng màu vàng và màu đen có một cửa sổ cao từ sàn lên đến trần nhìn ra bến cảng phía dưới. Tấm gỗ đầu giường và đồ đạc hoàn toàn giản dị và đều là đồ sơn mài. Áo gối và vải trải nệm bằng sa tanh màu vàng. Hai bên giường là các bể chứa khoảng bốn trăm lít nước mặn rất sinh động với loài cá nhiệt đới muôn màu, trong khi đó phía sau giường, cả bức tường được phủ một tấm tranh lụa Nhật Bản vẽ một chùm hoa đỏ nhỏ xíu. Bức tường đối diện với nó được lồng gương. Đồ mỹ nghệ và tượng nằm rải rác đó đây.
Trên một trong những chiếc bàn ngủ là một con ngựa bằng ngà cao khoảng sáu tấc, hai lỗ mũi phun lửa, đôi mắt được khéo léo che lại, đứng hùng vĩ trên hai chân sau làm như đang phóng lên trời. Một chuỗi ngọc trai đen treo hờ hững trên lưng con ngựa.
Phòng tắm, nhìn thấy qua cánh cửa mở sẵn bên tay phải được xây bằng đá hoa đen với một chiếc bồn tắm to đủ để chứa được một nhóm người, và hoa tươi có ở khắp nơi.
- Anh ở lại bao lâu?
- Tôi sẽ đi vào Thứ Bảy. - Hatcher nói.
Cohen có vẻ quan tâm nhưng không nói gì cả mà chỉ gật đầu, nói:
- Ra đây. Chúng ta đi ra ngoài ngồi nghỉ.
Họ đi ra ban công, ngồi vào trong những chiếc ghế mây, gác chân lên lan can và tựa ra sau, tắm mình trong ánh nắng.
- Giống y như những ngày xưa. - Hatcher nói.
- Dễ chịu hơn - Cohen nói. - Chúng ta đã đủ già để thưởng thức nó bây giờ.
Sung Lo, người giúp việc và cận vệ của Cohen đi pha chế thức uống ở một quầy rượu trong góc. Bao lơn nhô ra ngoài khoảng không trên những cây cột chống dài. Khoảng chục mét bên dưới, sườn núi thẳng dốc mọc đầy dương xỉ và cỏ tranh. Một cây đa to che khuất căn nhà nằm phía dưới khỏi tầm mắt của họ. Một sự im lặng như cõi chết bao trùm chỉ còn có tiếng chuông lục lạc leng keng trong gió.
- Tôi dành một sự ngạc nhiên cho anh - Cohen nói - Tiana và tôi đã cưới nhau.
Hatcher vui mừng, nồng nhiệt nói:
- Đúng là một tin mừng.
- Một bước đi khôn ngoan nhất mà tôi chưa bao giờ làm - Cohen nói. - Còn về phần anh? Chưa bao giờ tìm được ai thế vào chỗ Daphne à?
Nhất thời cái tên ấy bật mở cánh cửa kí ức của Hatcher, một thoáng ngắn ngủi hiện ra hình ảnh lịch sự, đẹp có một không hai của Daphne Chien, nàng mặc bộ đồ của nam giới, chủ nhân của một Công ty sản xuất quần áo jeans, con gái của một người đẹp Malaysia và một ông chủ ngân hàng lai nửa Pháp, nửa Tàu, một sự kết hợp hài hòa.
- Quỉ thần ơi, tôi cố không nghĩ đến nàng. - Hatcher nói, một lời nói dối vô tội vì lúc này anh chưa có thể để tâm đến vấn đề đó. Thay vào đó họ nói về nhà tù Los Boxes, về thời đã qua và về tay Tsu Fi xưa kia.
- Ông ấy chết được ba năm rồi - Cohen nói - Trái tim ông ấy cuối cùng đã kiệt sức. Đó là điều không hay, Christian ạ. Ông ấy gọi tôi đến bệnh viện, bảo tôi rằng: tôi đã làm cho vài năm cuối của cuộc đời ông ấy thêm hương vị. Ấy là lần duy nhất trong đời, tôi thấy ông già nước mắt lưng tròng.
- Thế còn khoản nửa triệu mà ông ấy thiếu nợ anh trong vụ gia đình Rhodes? - Hatcher mỉm cười hỏi.
- Đấy là phần hay nhất, Christian, lão già là tay đóng kịch có hạng cho đến cuối cùng. Có một cái tủ sắt cũ kĩ tả tơi nằm trong góc của văn phòng, trông nó cũng chẳng ra một thứ đồ cổ. Khi tôi đến bệnh viện vào cái đêm trước khi ông ấy qua đời, ông ấy đưa cho tôi chùm chìa khóa văn phòng của ông và cho tôi mã số để mở cái tủ ấy, bảo rằng nó chứa đầy đồ cá nhân, khi ông chết đi, tôi có thể lục xem và vứt đi những gì tôi không cần. Tôi đã làm y như thế. Ngạc nhiên thay! Có nửa triệu dollar bằng các đồng tiền vàng trong ấy - anh giơ một ngón tay lên - và một miếng tinh thể silicon to cỡ móng tay của anh.
- Silicon à?
- Loại dùng trong máy vi tính. Vì thế tôi mang nó đến một người bạn và gắn vào máy vi tính, khi tôi cho chạy chương trình thì nó hiện ra như một quyển nhật kí. Sổ điện thoại, tên họ, lí lịch hầu hết cả các tài phán giàu có trên đảo này và rất nhiều người phương Đông, tất cả những bí mật của Tsu Fi đều ở đây. Christian, bên cạnh mảnh đá nhỏ bé đó nửa triệu bạc chỉ giống như một xô cát. Tôi đã không nghĩ rằng lão Tsu Fi biết đến sự có mặt của máy vi tính.
- Điều ấy làm tôi nhớ lại quá khứ, mọi việc ở trong vùng thượng nguồn sông thế nào? - Hatcher hỏi.
- Đã thay đổi - Cohen nói. - Tôi không còn đi lên thượng nguồn sông nữa.
- Ủa? Tại sao?
- Đa số băng cướp cũ đều đã tan rã cả.
- Hiekaya?
- Đã chết. Và cả Ty San, Joe Cockroach, Jimmy Chow. Tất cả bọn chúng.
- Việc gì xảy ra thế?
- Chúng nó bắt đầu tranh giành, chém giết lẫn nhau. Người duy nhất thoát còn nguyên vẹn là Sam-Sam. Hiện tại hắn có một tay buôn súng làm việc cho hắn, một gã người Iran tên là Batal. Tôi nghe nói hắn đã ở nhóm SAVAK trước khi Vương quốc Shah (Ba Tư) đổ. Một tay đê tiện thực sự, gã Batal ấy. Tên đó còn có một tay sát nhân khác chạy trốn khỏi Haiti và Baby Doc, đã từng ở với nhóm Tontons, tự xưng là Billy Death (Billy Tử Thần).
- Bọn Iran và Tontons đang làm quái quỉ gì ở trên ấy? - Hatcher hỏi.
- Dollar, tôi đoán thế. Bọn chúng là những tay súng mới nhất của Sam-Sam - Cohen Tàu nói - Sam-Sam chủ yếu sống nhờ vào lễ vật cống nạp, đánh đuổi bọn Tàu từ Thượng Hải xuống hoặc từ các tỉnh đến, cướp hàng của bọn họ, chặt chân và treo họ lên cột buồm như một lời cảnh cáo cho những kẻ khác.
- Anh có lo ngại là có thể bọn chúng chơi anh không? - Hatcher thì thầm.
- Không hẳn. Bọn chúng cần tôi - Cohen nói - Tôi vẫn còn tài trợ cho nhiều hoạt động ở trên ấy. Ngoài ra tôi có rất nhiều bạn, những bạn bè chí cốt cả. Đây không phải là Chicago, các nhóm Tam Kết có khuynh hướng hòa thuận với nhau, dù cho có khá nhiều tay của nhóm Chiu Chao vẫn ở trong khu vực riêng của chúng. Một trong những điều mà tôi học được ở lão Tsu Fi là: Không bao giờ nên ăn cả gói, luôn luôn để một phần nhỏ cho kẻ khác - Cohen ngừng lại suy tư một lát rồi nói thêm. - Bây giờ đến anh, anh đã để dấu vết lại ở khắp mọi nơi.
- Đây là một phần của nghề nghiệp.
- Dù thế nào đi nữa anh đã tạo ra nhiều kẻ thù, Christian ạ! Và tôi chẳng hi vọng đây chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao, bởi tôi rất quí anh.
Đấy không phải là một sự chỉ trích, Hatcher hiểu Cohen muốn nói gì. Trong quá khứ luôn luôn có một việc gì đó mà một trong hai người cần đến người kia.
Câu chuyện của họ bị cắt ngang vì sự xuất hiện của Sing, tay cận vệ người Tàu to lớn của Cohen, gã đột ngột im lặng hiện ra trong phòng khách sau lưng họ. Gã hắng giọng, mời Cohen. Cohen qua phòng bên kia, nói chuyện nho nhỏ một hai phút rồi trở lại. Sing vẫn ở lại trong phòng. Tâm trạng của Cohen hình như nặng nề hơn.
- Có chuyện rắc rối à? - Hatcher hỏi.
- Tôi không chắc - Cohen nghiêm trang nói - Anh đang bị kẹt à, Hatcher?
- Sao?
- Chỉ tò mò thôi.
- Chắc tôi cần đến sự giúp đỡ. - Cuôi cùng Hatcher nói.
- Hẳn phải có việc gì thì anh mới trở lại Hong Kong - Cohen nói. - Anh có biết Tollie Fong là thủ lĩnh mới của nhóm Bạch Thủ không?
Hatcher gật đầu.
- Tất cả bọn chúng nghĩ rằng anh đã chết. Ngay lúc mà Fong biết anh ở đây, hắn sẽ tìm cách giết anh. Nếu hắn thất bại, Lung sẽ điều cả cái băng Tam Kết Bạch Thủ chết tiệt ấy truy lùng anh. Bọn chúng sẽ theo anh đến cùng trời cuối đất. Chúng ta đang nói về vấn đề danh dự gia đình, về sự cắt máu ăn thề, về việc giữ thể diện toàn bộ sự việc đó. Có lẽ sẽ hay hơn nếu anh được coi là đã chết.
- Tôi hiểu, hoàn cảnh thực tế mà.
- Thế thì anh hành động giống như anh đã coi thường - Cohen nói. - Đây là đất của chúng, Hatcher ạ. Chừng nào mà anh còn ở trong nhà này thì anh còn an toàn, nhưng tôi sẽ chẳng dám cá một đồng dollar nào cho sự an toàn của anh ở ngoài khu vực này. Tôi quí anh, bạn thân ạ! Và tôi rất không muốn thấy anh rời khỏi nơi đây, nhưng anh không thể ở lại Hong Kong. Có người đã theo dõi anh rồi đấy, bạn thân ạ!
- Ừ. Tôi nghĩ đó là cảnh sát Hong Kong. Một tay trung sĩ tên là Varney liên kết với nhóm Tam Kết đã đến thăm tôi sáng nay. Hắn cho hay rằng tên tôi đã hiện lên máy vi tính của chúng khi tôi làm thủ tục hải quan.
- Anh không tin hắn à?
- Tôi tin phần nói về máy tính, điều đó có thể xảy ra Nhưng cái gã Varney này hình như hơi quá quan tâm đến tôi. Chúng đã theo tôi từ khách sạn.
- Hừm - Cohen trầm ngâm nói. - Tên Varney này chỉ xuất hiện ở phòng của anh thôi à?
- Ừ.
- Tôi không tin ai cả, đặc biệt là ở nơi nào có anh dính vào - Côhen nói. - Tôi muốn quên đi bất cứ điều gì đã đưa anh đến đây. Trở về nhà đi, Hatcher.
- Tôi không thể làm thế.
- Tại sao? Có cái gì đặc biệt trong vụ này?
Hatcher kể cho Cohen nghe toàn bộ câu chuyện của Murph Cody, chấm dứt bằng cái chết của Porter và sự biến mất của Wol Pot.
- Hiện giờ tôi chẳng có một dấu vết dẫn dắt nào ngoài cái trại ma ở Lào. Nếu nó có thật thì phải có ai đó ở vùng thượng nguồn sông biết về nó. Có thể tôi hỏi được một cái tên, một dấu vết dẫn dắt nào đó trước khi tôi đi Bangkok.
- Bangkok! Ở Bangkok còn tệ hơn nhiều - Cohen Tàu nói, giọng cao hẳn lên - Fong dành nửa thời gian để chống những kẻ phản đối gã ở khu Tam Giác Vàng và nửa thời gian còn lại thì nằm dài ở Royal Orchid Hotel (khách sạn Hoàng Gia Phong Lan). Sao anh không đi thẳng đến Macao mà nằm ấp ủ mơ ước trước sân nhà hắn ấy.
- Có năm triệu người ở Bangkok. Tôi có thể tránh xa Fong và đám thủ hạ của hắn.
- Quỉ thần ơi, ngay một tên cớm chết tiệt cũng đã biết anh đang ở đây. Bộ anh tưởng anh có thể lách vào lách ra Bangkok mà không khuấy động gì lên à? Mà anh không có dấu vết dẫn dắt nào khác à?
- Một tấm ảnh của Cody và cô gái lều của anh ấy. Cái câu “Thai Horse” (Ngựa Thái) có nghĩa gì đối với anh không?
Cohen nhìn anh và mỉm cười lần đầu tiên kể từ lúc Sing phát hiện ra nhà này đang bị theo dõi.
- Thai Horse? Tại sao lại hỏi?
- Nó đã xuất hiện ở một nơi nào đó.
- Đến đây - Cohen nói, dắt Hatcher trở lại phòng ngủ. - Anh ta chỉ cái tượng con ngựa bằng ngà bên cạnh giường, nói: - Đó là một con ngựa Thái.
- Bức tượng ấy à? - Hatcher ngạc nhiên nói.
- Đúng thế. Đó là cả một gia tài, Ngựa Thái chính gốc, vào khoảng thế kỉ thứ ba trước công nguyên. Nó đã phải chạy lòng vòng một thời gian dài.
- Thai Horse là gì? - Hatcher hỏi.
Anh tự hỏi mình: Lạy Chúa mảnh giấy để ở đài kỉ niệm Việt Nam nói đến Thai Horse có thể nào lại có nghĩa là một bức tượng một món quà đơn thuần?
- Con ngựa ma thần thoại này - Cohen nói - được coi là của Vua Xiêm đã bị đánh cắp, theo huyền thoại thì nó chở các vị anh hùng Thái về trời sau các cuộc chiến tranh vĩ đại. Huyền thoại nói rằng một tên cướp người Tàu đã đánh cắp con ngựa này và mang nó đến cho vị hoàng đế Trung Hoa đầu tiên để chuộc tội. Họ đặt tên lại cho nó là Ngựa Trời, Thiên Mã. Chính con Thiên Mã đã mang bảy vị hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa lên các đỉnh núi chung quanh khu này. Khi họ chết, các vị thần linh biến họ thành rồng. Khi sự trị vì của triều đại nhà Hán chấm dứt, con ngựa này biến mất và không bao giờ nhìn thấy nữa.
Hatcher thì thầm:
- Anh lấy nó ở đâu?
- Ở một viện bảo tàng đồ cổ ở Bắc Kinh - anh ta nháy mắt nói. - Đừng hỏi tôi đã phải trả bao nhiêu để móc được cái vật nhỏ yêu quí này ra.
Hatcher vuốt hai bên sườn mượt mà của con ngựa bằng ngà đẹp đẽ. Có thể có ý nghĩa nào đó trong một quan hệ khác, chứ không phải chỉ là một pho tượng? Anh tự hỏi. Cuối cùng anh nói “Thế thì chẳng thêm được tí gì vào những điều tôi đã biết, mà nó thật sự là quá ít”.
- Anh có nắm được điều nào mới mẻ không? - Cohen hỏi.
- Tôi có một người đang kiểm tra giúp tôi vài việc ở Washington, - Hatcher nói và nhìn đồng hồ. - Tôi có thể gọi điện cho anh ta bây giờ. Nếu anh ta tìm ra được điều gì, tôi sẽ hành động ngay.
- Hoặc là...
- Tôi sẽ bỏ việc này và quay về.
- Thế thì tôi hi vọng thằng chó đẻ ấy đến cái tên của Cody cũng chẳng tìm ra,- Cohen nói. - Tôi tin rằng thà anh quay về đi còn hơn là chết.
 
 
0

FLITCRAFT

 
Trung sĩ Flitcraft đang chờ ở nơi tiếp tân của phòng máy vi tính trong Lầu Năm Góc thì Trung sĩ Betz đến nơi làm việc. Betz là một người đàn ông cao, bụng bự đang ở vào những năm cuối của tuổi bốn mươi, vừa lòng với công việc dễ chịu và còn gần hai năm nữa mới nghỉ hưu. Những tĩnh mạch ửng đỏ trên đầu mũi xác nhận anh ta ưa thích rượu mạnh. Anh ta và Flitcraft cùng nhớ lại thời xa xưa. Bragg. Triều Tiên. Việt Nam. Betz nhăn mặt nháy Flitcraft, viên Trung sĩ da đen cứng cỏi này luôn mỉm cười và đã xoay xở để ở lại đây làm việc mặc dù anh ta đi khập khiễng phải chống gậy. Flitcraft cũng sắp sửa về hưu. Betz biết rằng Flitcraft đến đây chẳng phải để thăm xã giao.
- Có vài số liệu cho anh sáng nay, Trung sĩ a. - Flitcraft nói và đứng dậy khi Betz bước vào.
- Vâng, được,- Betz nói. - Xuống đây. - Anh ta quay sang bảo cô tiếp tân: - Đưa cho Trung sĩ Flitcraft giấy phép hạng ba.
Nàng với tay vào ngăn kéo lấy ra một thẻ ghi tên màu xanh, ghi số thẻ vào một số nhật kí và đưa nó cho Flitcraft. Nàng biết anh và cho rằng anh đến đưa cho Betz, tin tức đã phân loại để chạy máy vi tính tổng hợp. Tấm thẻ màu xanh chỉ cho phép anh ta đi trong phạm vi những văn phòng chung, một dãy nhà hộp nhỏ không có cửa sổ, qua cửa phía bên trái của phòng tiếp tân. Cửa bên phải đi vào phòng hệ thống máy vi tính tổng hợp và có một lính thủy gác.
Flitcraft theo Betz vào phòng làm việc của anh ta, một căn phòng vuông vức, buồn tẻ vừa đủ chỗ để đặt một bàn giấy, một tủ hồ sơ, một máy vi tính đời cuối và một chiếc ghế khác.
- Anh có vài số liệu cho tôi đây hả, Trung sĩ? - Betz hỏi và nhẹ nhàng mở một ngăn kéo bàn.
Anh ta biết Flitcraft, biết anh làm việc cho một đơn vị đặc biệt chỉ được biết đến dưới cái tên Đội Bóng Tối và là người đáng tin cậy. Vì Flitcraft không có giấy phép loại C-1 nên anh không được phép xem đến các hồ sơ vi tính mật. Flitcraft lấy từ trong cặp ra một chai rượu Dewar’s White Label loại hơn một lít và tuồn nó vào ngăn kéo mà Betz nhẹ nhàng đóng lại ngay bằng đầu gối. Vì văn phòng thường xuyên được giám sát bởi máy video quét khắp nơi nên họ chơi trò hỏa mù này.
- Chúng tôi có vài báo cáo đã phân loại thuộc hạng thấp để đưa vào tổng hợp. - Flitcraft nói và đẩy qua mặt bàn về phía Betz một tập báo cáo mỏng. Betz nhìn chúng, hờ hững lật trang bìa và đọc trên một mảnh giấy ở trang hai: “Hồ sơ phân loại tù binh chiến tranh”. Betz nhìn Flitcraft dường như hỏi “Ai cần?”
Flitcraft nhướng chân mày và nhún vai dường như trả lời, “Ai biết được? Anh biết các vị sĩ quan cao cấp thế nào rồi”. Những cái nhìn im lặng trao đổi giữa hai viên Hạ sĩ quan đã làm lâu ngày trong hệ thống này và hiểu rằng những tin tức được phân loại chỉ cốt để ngăn ngừa các phương tiện thông tin luồn lách vào, nắm tin, đưa tin theo Luật Tự Do thông tin.
Betz mở nắp chiếc hộp nằm trên bàn và kiểm tra một bảng các mật danh và các mật mã. Anh ta viết nhiều tên và số mã lên một mẩu giấy và kẹp nó vào đầu tập hồ sơ. Anh ta để nó sang bên ngay trong tầm mắt của Flitcraft trong khi anh ta điền vào một giấy biên nhận và kí tên.
Flitcraft ghi nhớ ngay lập tức cái bảng mật mã đó:
52- 767- 52116
Sidewinder
9696
Cherry
Monte
Cristo
Zenda
Betz đưa cái biên nhận giả vờ cho Flitcraft bỏ vào cặp.
- Chào anh nhé. - Flitcraft nói. Họ bắt tay nhau rồi Flitcraft rời văn phòng.
Cho đến lúc này mọi việc đều tốt đẹp. Flitcraft đi thẳng tới phòng vệ sinh nằm ở cùng một lầu, bước vào một buồng tiểu và chép lại bảng mật mã đó trước khi quên mất. Rồi anh ta rời Lầu Năm Góc ra gọi một chiếc taxi.
Văn phòng của Shadow Section (Đội Bóng Tối) nằm trong một tòa nhà riêng gần Nhà Trắng. Đối với người quan sát vô tình thì nó chỉ là một công ty liên lạc nhỏ của tư nhân nằm trong một khu vắng vẻ. Rất ít người biết rằng nó là một chi nhánh của ngành tình báo quân sự.
Ở bên trong cái công sở mà ngoài cửa chỉ gắn cái tên Interplex là một dãy máy vi tính và những hệ thống liên lạc nối liền với nhau cho phép ba nhân viên đều mặc thường phục liên lạc với vệ tinh và trao đổi tin tức qua máy vi tính với toàn thế giới. Flitcraft cho chạy máy vi tính với sự giúp đỡ của hai Hạ sĩ quan khác. Cả ba người trong quá khứ đã phục vụ cho Sloan và cả ba đều đã chịu đựng những vết thương mà đáng ra phải dưa ra khỏi ngành vì sức khỏe. Nhưng đại tá Harry Sloan đã bảo vệ nhân viên của mình và ngược, lại, về phần họ, họ hoàn toàn tận tụy làm việc cho Sloan. Họ thà chịu mất lưỡi còn hơn là nói về công việc họ đã làm.
Flitcraft lấy một tách cà phê và ngồi xuống trước một máy vi tính.
Flitcraft đã quen thuộc với các số liệu phức tạp và những mã số thầm lặng cần thiết để liên lạc được với máy vi tính tổng hợp quốc gia, rồi tìm đến những hồ sơ phân loại đặc biệt. Đây là một dãy số và tên cần phải đưa vào nhờ tác động của một máy phụ. Hệ thống này cũng có một dãy mã số tính kép cần phải đưa vào không nhắc lại. Nếu những con số này không được đưa vào, máy vi tính chính lập tức mở máy dò nơi lấy tin trộm. Trong vài giây máy vi tính chính ghi lại số điện thoại và căn cước của máy vi tính nơi hỏi rồi cắt ngay liên lạc với hệ thống này.
Đó là hệ thống kép tinh vi được thiết kế để ngăn ngừa việc lấy tin trộm trong các hồ sơ mật. Ngoài ra mỗi loại hồ sơ riêng lại có nhóm mã số thông qua riêng, được thay đổi mỗi tuần để ngăn cản một lần nữa việc lấy tin trộm.
Flitcraft đưa vào chương trình mẫu cho phép anh ta nhập vào với các máy vi tính khác trên đường dây bình thường. Anh đánh máy con số chung dùng gọi hồ sơ vi tính và một câu hỏi hiện lên hỏi số nhập vào của anh. Anh xem lại cái danh sách mà Betz đã cho. Số nhập vào là 52 - 767 - 52116. Một câu thứ hai lập tức hiện lên yêu cầu cho biết tên mã gọi các hồ sơ tổng quát. Flitcraft đưa vào chữ “Sidewinder”, tên mã để gọi các hồ sơ phân loại.
Bây giờ đến phần dễ bị phạm lỗi nhất vì máy vi tính không hỏi số căn cước của mật mã cho qua; nó chỉ hiện lên câu hỏi “Số Hồ Sơ Riêng”. Nếu không am hiểu về hệ thống chống lấy tin trộm, người ăn cắp tin sẽ đưa vào tên mã được yêu cầu và thế là lập tức gửi đi tín hiệu báo động cho máy theo dõi.
Flitcraft đưa vào số căn cước mà Betz đã cung cấp, 9696, tiếp theo bởi chữ mã “Cherry” và qua được máy dò lấy tin trộm. Máy vi tính lặp lại câu hỏi “Mật mã hồ sơ riêng”, để đáp lại anh đưa vào chữ “Monte”, nó lại được hỏi tiếp lần thứ hai. Anh đưa vào chữ “Cristo”.
Rồi! Anh đang nằm trong hồ sơ Tù binh chiến tranh tổng hợp. Lần bấm tiếp theo anh đánh chữ “Zenda”, thế là bảng ghi tất cả các tên và địa chỉ hiện lên, tiếp theo là hai câu hỏi “Phụ hay chính” cho phép anh đi thẳng vào một hồ sơ riêng hoặc tìm một hồ sơ dưới một chủ đề tổng hợp.
Viên Trung sĩ mỉm cười. Bây giờ việc tìm kiếm bắt đầu.
Trong ba tiếng đồng hồ tiếp theo Flitcraft gõ máy đưa vào những câu hỏi, tìm kiếm những câu trả lời mà Sloan đã yêu cầu lúc ba giờ sáng hôm đó. Anh kiểm tra qua miền Bắc Việt Nam, tại trại tù binh chiến tranh, các trại tạm giam, những báo cáo chưa được kiểm lại, những phi vụ quan sát cá nhân, những báo cáo từ các cuộc điều tra về tù binh chiến tranh. Flitcraft là một chuyên gia trong việc làm sáng tỏ những tin tức mập mờ.
Khi làm xong, Flitcraft đã có một danh sách các trại giam tạm thời - mà không một trại nào có vẻ phù hợp với sự mô tả của Sloan - và nhiều trại tù binh chiến tranh lâu dài. Anh đã thu hẹp danh sách nhiều lần qua các trại loại lâu dài.
Nhưng bốn người tù binh trở về đã báo cáo họ bị giam ở một nơi có vẻ như là cùng một trại tạm giam vào những thời điểm khác nhau giữa 1969 và 1972.
Các vị trí mà Flitcraft  tìm trên bản đồ đều nằm gần biên giới Lào và nói chung chỉ cách nhau chừng 100 kilômét, còn vị trí chính xác thì khó mà xác định được. Cả bốn tù binh đều ở trại không quá vài tuần lễ. Có báo cáo của một đội bay B-52 nói đã nhìn thấy một nơi mà họ tin là một trại tù binh chiến tranh cũng nằm ở vùng đó. Và một báo cáo khác của một phi vụ thám sát trên vị trí ấy hai tuần lễ sau, nói rằng cái trại ấy không còn thấy nữa.
Tuy thế điều đáng chú ý là cả bốn tù binh chiến tranh đó đều báo cáo rằng khi họ đến nơi thì đã có sáu người đàn ông là tù binh ở trại và còn tiếp tục ở lại đây khi họ rời đi. Một người khẳng định rằng đã nghe nói có một nhân vật quan trọng đang bị giam giữ trong trại, và một người khác đã báo cáo về một tin đồn rằng ít nhất có một tù binh lâu dài ở đây “đang cộng tác với Việt Cộng”.
Flitcraft cho kiểm tra về bốn người tù binh này. Một đã chết, một đang ở trong một viện thần kinh, hai người kia đã giải ngũ. Anh lần theo dấu họ và nắm được địa chỉ hiện tại và số điện thoại của họ.
Vì những lý do khác nhau không một tin tức nào được giới quân sự cho là có thể tin được hoặc đáng chú ý. Điều đó có thể hiểu được vì các báo cáo bị tách riêng ra và không thể kiểm chứng, và cũng vì các vị trí hình như đều là những vị trí của các trại giam tạm thời. Nhưng bốn vị trí này là nơi đội bay B-52 nhìn thấy đều nằm bên kia dãy núi Trường Sơn, và tất cả đều nói đến bản Muang nằm cách Sài Gòn khoảng một nghìn một trăm kilômét về phía Bắc.
Flitcraft cũng cho kiểm tra về Murph Cody. Trong giới hạn mà máy vi tính nắm được thì Cody đã chết.
Flitcraft trả lời ngay hồi chuông reo đầu tiên.
- Đây là Hatcher, N 314602. Anh có cần kiểm tra giọng nói không?
- Ông đã được qua, thưa ông. - Flitcraft trả lời.
- Anh có tìm thấy gì không?
Flitcraft hơi hãnh diện nói với Hatcher rằng tin tức anh ta lấy dược cho thấy rằng cái trại ma có thật, nằm trên một mảnh đất bên kia dãy núi Trường Sơn gần bản Muang. Bốn người tù binh được thẩm vấn đã ở đấy vào những khoảng thời gian khác nhau giữa 1971 và 1973, thời gian dài nhất là năm tuần lễ, và cả bốn người đã báo cáo tên các vị trí khá giống nhau cho thấy đó là một trại di động mà Schwartz đã gọi là Huie-kui.
Flitcraft cũng gọi điện thoại hỏi một cựu tù binh chiến tranh đã ở Hà Nội và đã gặp một người tù đàn ông cùng ở trong trại đó một lần. Flitcraft nói: “Anh ta có cảm giác rằng nhiều tù nhân đang được giữ ở đấy theo kiểu dài hạn.
- Có nói gì đến Murph Cody không? - Hatcher hỏi.
- Không, thưa ông, - Flitcraft nói,- Cái tên ấy chưa bao giờ thấy xuất hiện.
- Có báo cáo nào nói rằng có một nhân vật quan trọng ở trong trại giam không?
- Có, thưa ông. Nhưng điều đáng chú ý nhất là họ nói: có nhiều tù nhân được cách ly với nhóm còn lại. Dường như có thể họ là một nhóm ở đấy dài hạn, đại loại là như thế.
- Có biết lý do tại sao không?
- Tôi chỉ có thể biết được tới đó thôi, - Flitcraft nói, -Anh ta bảo có thể họ là những người đã cộng tác, nhưng anh ta đoán vậy thôi.
Vậy thì, liệu đúng được bao nhiêu phần trăm trong việc này? Flitcraft còn đang suy nghĩ, tuy nhiên khả năng cộng tác chắc không phải bàn cãi gì nữa.
- Tôi tự hỏi tại sao Uỷ ban điều tra của quân đội chẳng bao giờ theo dõi các báo cáo này? - Hatcher thắc mắc nói to.
- Tôi chắp nối lại sự việc từ một đống báo cáo rải rác. - Flitcraft nói,- Có nhiều trại chuyển tiếp như vậy và chẳng có cái gì đối chứng để xác định chúng. Sau chiến tranh chúng đột nhiên biến mất.
Có thể không phải thế, Hatcher nghĩ, và nói với Flitcraft:
- Xin cảm ơn. Anh nhảy sang vấn đề khác mất rồi, hãy cung cấp tin đó cho đại tá ở Bangkok. Có lẽ tôi khó có thể đến đó trong vài ngày tới.
- Vâng, thưa ông.
- Việc làm tốt lắm, Trung sĩ ạ.
- Cám ơn, thưa ông. Xin chúc ông may mắn.
Hatcher gác điện thoại. Chả được bao nhiêu tin, anh nghĩ. Nhưng đủ để làm cho chuyến đi lên mạn thượng nguồn sông thành cần thiết.
Chắc phải có người nào đó ở trên ấy đã giao dịch với trại Huie-kui hoặc ít ra cũng đã nghe nói về nó. Hiện tại anh đã có được một cái tên... hay ba cái tên để hỏi.
Anh báo cho Cohen tin mới này và nói:
- Có ai đó ở thượng nguồn sông đã buôn bán với cái trại này không. Tôi sẽ đi tìm họ.
- Quái quỉ! Tôi chả bao giờ nghe nói về nó. - Cohen nói.
- Quỉ ơi, Cohen Tàu, bọn Ts’e K’am Men Ti biết rằng cảm tình của anh là dành cho nước Mỹ. Bọn chúng làm ăn với Tàu, Việt Cộng, bọn lính Mẽo ở Sài Gòn, Khmer đỏ, nhưng chúng không bao giờ nói chuyện đó với một tên Mỹ.
- Anh cũng nằm trong sổ đen của Sam-Sam. Có một điều gì đó không ổn đã xảy ra trong vụ buôn súng hồi trước. - Hatcher uống một ngụm và không trả lời. Cohen lại nói. - Đây, anh chỉ cần trả lời cho câu hỏi đó thôi.
- Hắn đã buôn bán với Khmer Đỏ. Nhiệm vụ tôi là phải chấm dứt hoạt động của cái thằng cha bé nhỏ đó.
- Hắn đã thề cắt lưỡi anh để ăn trưa.
- Cái gã ngoại quốc Hatcher năm xưa sẽ giúp tôi xoay xở được.
- Phải. - Cohen Tàu nói.- Tôi nói với anh cái này... Nếu vận may của gã Hatcher năm xưa hết, thì có lẽ thành phố New York sẽ động đất mất.
- Sẽ thành công mà.- Hatcher nói.- Hãy tin tôi đi.
- Hừm! - Cohen lại lầm bầm. Hatcher đang dấn thân vào rắc rối và sẽ trơ trọi một mình, nhưng vẫn cứng cỏi như mọi khi. Anh ta chẳng thay đổi mảy may. Sing đột nhiên xuất hiện ở lối cửa chấm dứt nỗi lo âu của Cohen. Sing nói:
- Chiếc xe hơi thuộc Island Catering Service (Dịch vụ cung ứng trên đảo) tới.
Cohen quay sang Hatcher:
- Công ty đó là sở hữu của bọn Bạch Thủ. Đến rồi đấy. Đám thủ hạ của Fong đang lùng anh.
- Thế thì tôi nên ra khỏi đây. - Hatcher nói.
- Nói bậy. - Cohen bảo. Anh an toàn ở đây. Thằng Fong chả dám tấn công nhà tôi đâu.
Và sau một lát suy nghĩ, anh nói thêm:
- Chúng ta sẽ tăng cường bảo vệ và mọi việc sẽ tốt đẹp. Đừng lo chuyện đó. Tôi xin lỗi một lát. - Hatcher đứng dậy nhìn qua hàng bao lơn bên cạnh. Nơi ấy cách mặt đất khoảng chín mét, bờ dốc thẳng đứng phủ đầy dây leo và cây dương xỉ.
Ngọn của cây đa cao trên chân móng của ban công khoảng ba, bôn mươi thước và thấp dưới mặt phẳng của ban công khoảng ba thước. Có bốn cây vững chắc đỡ ban công. Những ngọn đèn pha cực mạnh được gắn ở các góc ban công. Vách núi cao tiếp tục đổ xuống hai bên cơ ngơi của Cohen cho tới lúc tán lá chặn ngang tầm nhìn của anh.
- Phía sau trông có vẻ khá an toàn. - Hatcher thì thầm. Tiếng chuông điện thoại cắt ngang cuộc bàn luận về an ninh.
Sing nghe điện thoại và ngẩng lên với vẻ ngạc nhiên. Anh ta che tay lên ống nói, thưa: “Điện thoại gọi cho Người Có Cặp mắt Đá”. “Trung sĩ Varney gọi”.
Mặt Cohen sầm lại:
- Đồ chó đẻ, cái gì bây giờ đây? - Anh ta nhìn Hatcher hỏi, - Anh có muốn nói chuyện với nó không?
- Cứ tìm hiểu xem nó định làm gì.- Hatcher thì thầm.
Sing trao ống nghe cho anh. Anh nói khẽ:
- Hatcher đây.
- Trung sĩ Varney ở cảnh sát Hong Kong đây, - anh nghe giọng nói lắp bắp trả lời. - Ông còn nhớ tôi chứ, thưa ông?
- Dĩ nhiên.
- Sáng nay ông đã khéo léo cho nhân viên của tôi rơi - Varney vui vẻ nói. - Nhưng tôi nghĩ nên báo động cho ông, Joe Lung đã đến phòng ông ở khách sạn. Hiện hắn đang có mặt trên đảo và có nhiều đàn em đi theo.
- Làm cách nào anh tìm ra tôi? - Hatcher hỏi.
- Đoán thôi, thưa ông,- Varney trả lời. - Tôi đoán liều là ông đang ở thăm người bạn của ông, tay Tsu Fi. Điểm muốn nói là chúng tôi có một căn nhà an toàn gần sân bay. Chúng tôi muốn đưa ông về đây ở.
- Tôi sẽ ổn thôi. - Hatcher trả lời.
- Chúng tôi nghĩ có lẽ ông muốn tránh một cuộc chạm trán ở nhà bạn ông. Gã Lung này gớm lắm, thưa ông Hatcher.
- Tôi biết rõ hắn là như thế. - Hatcher đáp. - Anh thấy sao?
- Sau đây một giờ chúng tôi sẽ lẻn vào đấy và đưa ông ra. Tôi sẽ có một đơn vị hỗ trợ đi cùng, chúng tôi đang canh chừng Lung. Tôi nghĩ mọi việc sẽ suôn sẻ.
- Hãy gọi khi anh đến cổng. - Hatcher nói và gác máy.
- Còn thằng ở trên đồi thì sao? - Conhen hỏi Sing.
- Vẫn ở đây.
- Hắn có nghi ngờ là chúng ta đang theo dõi hắn không?
- Tôi nghĩ là không.- Sing nói.
- Anh có bao nhiêu người? - Hatcher hỏi.
- Ba người ở phía trước, một người ở phía sau, ba chúng ta bên trong. - Cohen trả lời.
- Nếu Varney có nhúng tay vào chuyện ấy, chúng sẽ tổ chức trận đánh tại đây, Cohen Tàu ạ! Lung và thủ hạ của hắn chắc sẽ theo sau Varney. Chúng tưởng rằng chúng sẽ tóm được ta một cách bất ngờ.
Hatcher chưa bao giờ thấy Cohen nổi giận như lúc này.
- Chúng sẽ chẳng dám tấn công căn nhà này. - Cohen lạnh lùng nói, nhưng giọng nói đã kém phần cả quyết. Rồi anh nói thêm. - Nếu chúng dám, chúng sẽ được xuống địa ngục.
 
0

BẠCH THỦ

 
Trong một nhà kho ở dưới núi, Joe Lung ngồi sau một cửa sổ, quan sát căn nhà trên đỉnh núi qua ống nhòm hồng ngoại cực mạnh. Trời đang tối dần nhưng hắn nhìn thấy rất rõ ban công phía sau nhà Cohen. Bất chợt hắn trông thấy Hatcher hiện ra ở lan can của ban công một lát rồi biến mất.
- Hắn đây rồi.- Hắn rít lên hài lòng pha lẫn hận thù.
Trong phòng còn có sáu gã đàn ông nữa bên cạnh Lung, tất cả đều mặc quần áo đen. Trừ một đứa ra còn cả bọn đứng yên lặng dựa vào tường trong cái văn phòng nhỏ, hai tay khoanh trước ngực. Gã đứng một bên, tên là Wan How, đã điều tra về căn nhà và rõ ràng lộ vẻ bực bội. Lung nhìn qua phòng về phía gã.
- Mày có điều thắc mắc trong chuyện này à, Wan? - Lung hỏi.
- Đấy là một pháo đài. - Wan trả lời - Từ mặt đất đến ban công ở phía sau cao khoảng hơn chín thước...
- Tao có thể thấy điều đó. - Lung bồn chồn cắt ngang.
- Tường phía trước cao khoảng 2,4m được chăng dây điện ở trên. Máy ra đa đặt ở nhiều nơi trong vườn. Và các cổng thép thì...
- Tao sẽ lo việc đưa chúng ta vào. - Lung nói, - Mày còn điều gì để than thở nữa không?
Sững người vì lời trách mắng, gã Wan ngập ngừng một lát. Gã là một tay cao lớn mới chớm tuổi hai mươi có các ngón tay dài, mảnh mai và nước da trắng, một lực sĩ tuyệt hảo và còn lâu gã mới là một tay hèn nhát. Gã nói nhẹ nhàng, mắt đăm đăm nhìn Lung:
- Hắn là mục tiêu của Tollie Fong.
Đôi môi Lung cong lên giận dữ.
- Hatcher là mục tiêu của tao. Tao đã chờ tám năm trời để có ngày hôm nay. Hắn đã giết bốn người anh em chúng ta trong nhóm Tam Kết, những người anh em của tao. Hắn đã đánh cắp hàng của chúng tao. Đừng có nói với tao rằng Hatcher chỉ là mục tiêu của thủ lãnh.
 
- Hắn đã giết cha Tollie Fong. - Wan trả lời. - Tôi nghĩ chúng ta nên đợi thủ lãnh trở về trước khi...
- Mày đâu có để tâm địa vào việc này, có phải thế không? - Lung nói một cách độc ác. - Mày thấy cái này không? - Hắn tốc áo sơ mi đen của hắn lên: một vết sẹo dài ngoằn ngoèo hằn sâu ngang bụng hắn từ sườn này sang sườn kia. - Thằng ngoại quốc khốn kiếp ấy đã làm tao đổ ruột, nhưng tao vẫn còn sống để tóm nó. Tao có quyền trong vụ giết này, Wan ạ! Tao là người số một của thủ lãnh ở đây. Khi Tollie đi vắng, chính tao ra lệnh chúng ta sẽ làm gì và sẽ không làm gì. Mày hiểu điều đó chứ?
Wan không trả lời, bối rối ngó xuống sàn nhà.
- Tao bảo mày chúng ta sẽ đánh vào nhà đó và sẽ giết hết bọn chúng nó.
Wan nhìn lên hoảng hốt:
- Anh muốn nói giết luôn cả tay Tsu Fi.
- Mẹ kiếp thằng Tsu Fi! - Lung nói, giọng cất cao. - Nó là thằng Mỹ, một thằng ngoại quốc như Hatcher. Nó bảo vệ kẻ tử thù của chúng ta. Tao ra lệnh hãy khử cái thằng Mỹ gốc Do Thái này.
Mấy gã khác chẳng biểu lộ một xúc cảm nào. Bọn chúng đứng yên lặng, bí hiểm, trong khi Lung và Wan How tranh luận về sự thận trọng việc tấn công nhà Cohen.
- Tôi không đồng ý. - Wan nói.- Chúng ta không có mâu thuẫn với tay Tsu Fi này. Nếu chúng ta giết hắn, chúng ta sẽ tạo ra nhiều kẻ thù.
- Kẻ thù làm chúng ta mạnh hơn. - Lung nói. - Mày đang suy yếu đấy. Bởi cuộc sống quá dễ dàng. Tàu lướt cao tốc đi Macao khởi bành ba mươi phút một chuyến. - Lung vẫy tay ra hiệu cho Wan lui.
- Tôi đã tuyên thệ - Wan How nói. - Nếu anh quyết định làm việc này thì tôi sẽ thi hành phần tôi.
Lung nhìn hắn trừng trừng trong nhiều giây rồi chậm rãi gật đầu: “Tốt!”
Lung quay lại cửa sổ và lại nhìn đăm đăm lên ngôi nhà. Khan đã canh chừng ngôi nhà này suốt ngày. Bọn đàn bà đã ra đi. Có năm người đàn ông ngoài Cohen và Hatcher. Ba tên ở khu vực phía trước, tên ngoại quốc và thằng Sing ở bên trong. Một tên tuần tra phía sau.
Có tiếng gõ cửa.
- Keye à? - Gã đàn ông trả lời và mở cửa. Trung sĩ Varney bước vào phòng giấy nhỏ. Lung quay sang hắn với nụ cười như chế nhạo.
- Thế nào? - Lung hỏi gã cớm Ănglê.
- Tôi đã gọi điện.
- Rồi sao?
- Tôi không chắc là Hatcher sẽ đi ra với tôi. - Varney nói. - Hắn là một tay rất thận trọng.
- Thế thì chúng ta không thể mạo hiểm chờ cách đó. Chúng tôi sẽ theo anh vào cổng. Đó là lối duy nhất qua mặt tiền. Bốn người ở mặt tiền, tôi sẽ đem Keye và ba người nữa leo lên ban công ở mặt sau.
- Tôi không thể tham dự vào cuộc sát hại. - Varney vội vã nói.
- Dĩ nhiên là không rồi. - Lung nhún vai nói và còn mỉm cười.
Varney tiếp tục nói:
- Và tôi phải dàn kịch một chút. Người đi theo tôi không dính líu gì đến vụ này. Tôi phải làm cho sự việc có vẻ đàng hoàng.
- Tôi hy vọng rằng anh sẽ không chạy nhanh quá. - Lung nói chậm rãi, đôi mắt hắn mở ti hí.
- Tôi cũng không muốn người của tôi bị thương.
- Thế thì giữ hắn tránh xa bọn tôi. - Lung nói gay gắt, giọng rít lên như tiếng rắn, đôi mắt long lên. - Nếu hắn không giữ được bình tĩnh, hắn sẽ chết, anh hiểu điều đó chứ, anh Ănglê?
- Này tôi sẽ chẳng có ích gì cho anh trong tương lai nếu anh cứ buộc tôi để lộ hình tích ra. - Varney cãi.
- Chỉ cần giữ cho sáng suốt khi việc bắt đầu! - Lung gay gắt nhắc, và Varney hiểu là cuộc bàn luận đã chấm dứt.
Lung hắng giọng, nói:
- Phải, chúng tôi sẽ sẵn sàng khi anh đến. Chỉ cần làm đúng như ta đã thảo luận.
Varney gật đầu và ngập ngừng giây lát rồi đi ra.
Wan hỏi:
- Anh tin tưởng gã Ănglê đó à?
- Hắn nằm trong danh sách trả lương của chúng ta hơn một năm nay. Hắn không đủ sức từ chối chúng ta về vụ này. Ngoài ra hắn là người đã phát hiện ra Hatcher lúc đầu. - Lung quay lại với cặp ống nhòm và không nhìn vào bọn thủ hạ nói thêm. - Hắn sẽ là một mối nguy hiểm lớn sau vụ này. Dù sao thì hắn đã sống lâu hơn thời gian hắn có ích cho ta.
Lung quay lại tên Tàu to lớn.
- Tên Ănglê là của mày đấy, Wan.
Lung chỉ tay về phía hai tên thủ hạ đang đứng im lặng dựa vào tường, nói tiếp:
- Mày mang theo hai tên này và đón Khan ở khu vườn, đi theo gã Ănglê qua cổng và đánh vào mặt trước ngôi nhà. Giết Varney và tên đồng bọn của hắn cùng tất cả mọi người trong khu vực. Cần nhớ rằng Hatcher là một tên nguy hiểm... Nhưng nó là của tao. Nếu mày phải đánh nhau với nó thì chỉ được làm nó bị thương thôi, vì tao muốn tự tay kết liễu đời nó.
 
0
«« « 1 2 » »»