Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bêu đầu Vua Mạc - Hải Âu

30 trả lời, 112 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2020 15:02:54 bởi Ct.Ly>
2- Lọt vào hm bí mật


 
Phủ-Diễn đã lên đèn, nhưng những ánh đèn lốm đốm, yếu ớt, lờ mờ tỏa ra từ các khung cửa lớn nhỏ của mọi căn nhà ngói hay túp lều tranh lụp xụp, không đủ đem lại cho vùng nầy một phần sanh hoạt đầy hoạt động lúc ban ngày. Ở đây, ban đêm, cuộc sống dường như ngừng hẳn lại. Vì chỉ một lát sau là bao nhiêu cánh cửa phên liếp sẽ hạ xuống, hoặc sẽ cài kín mít, thâu về luôn bao vệt sảng thờ ơ, xê động trải ra trên các mảnh đất vàng, để rồi sau cùng nhường cho đêm đen hoàn toàn ngự trị.
Trong không khí đìu hiu, buồn tẻ ấy, sự hiện diện của ba quân nhơn mới đến trên lưng hai con ngựa cao lớn, khỏe rnạnh, không làm cho cho ai chú ý. Ba quân nhơn ấy chính là: Bùi-Văn-Khuê, Lê-Thế-Hùng và tên lính Vương-Bột (đã bị Văn-Khuê bắt được).
 Vương-Bột nãy giờ rất khiếp sợ trước sức mạnh và võ nghệ cao cường của chàng lực sĩ, nên nhứt nhứt đều tuân theo mạng lịnh của chàng không dám mảy may kháng cự hay tìm cách để thoát thân.
Tới trước một căn nhà rộng lớn, Thế Hùng nhận ra đó là quán rượu mà hồi ban mai chàng đã vào đó với hoàng-đế Anh-Tôn và Đặng Ngự-Sử. Vị công tử khẽ hỏi họ Vương:
-   Có phải tửu quán nầy không ?
Tên dọ thám run lập cập đáp :
-    Dạ... chính phải.
Bằng một giọng cảnh cáo đầy hâm dọa, chàng ghé sát tai hầu cận dặn :
- Nhà ngươi phải luôn luôn ở cạnh bên mình ta, không rời một bước, cho đến lúc mà ta cho phép. Phải coi chừng, một cử chỉ phản bội nhỏ nhặt sẽ khiến đầu nhà ngươi rơi khỏi cổ dưới lưỡi gươm của ta nghe chưa.
- Xin tuân lịnh.
Bóng của họ in dài trên thềm đất, khi ba người vượt qua ngượng cửa để bước vào trong tửu quán. Bên trong, gian phòng vắng vẻ, lại càng đìu hiu tẻ ngắt hơn dưới ánh đèn lờ mờ của một ngọn đèn cũ kỹ, treo lủng lẳng giữa nhà.
Vương-Bột giơ tay chỉ thẳng về phía trước mặt và khẽ bảo :
- Đó ! Lính gát đều đứng ở trong đó. Họ chỉ gồm có ba người thôi, một viên đội trưởng và hai binh sĩ.
Theo ngón tay trỏ của tên dọ thám, Bùi-văn-Khuê và Lê- thế-Hùng định thần nhìn kỹ. Hai chàng tráng sĩ trong thấy rõ ba quân nhân đang lấp ló sau khung cửa ăn thông từ gian phòng nầy với nhà bếp ở khít phía sau.
Thế-Hùng bóp mạnh vào cánh tay của Vương Bột để nhắc hắn phải nhớ kỹ tới vai tuồng hắn sắp đóng, tuân theo mạng lệnh của hai người đang điều khiển hắn.
Cả ba tiếp tục tiến tớii, dáng đi và nét mặt hoàn toàn điềm tĩnh như những người quen thuộc.
Vương-Bột, bằng một giọng vui vẻ, bả lả, giả trá và gượng gạo, giả vờ cất tiếng chào hỏi bạn đồng đội :
- Ô kia ! Bác đội Cao vẫn còn đấy à ? Bác chưa đổi phiên canh hay sao ?
Qua khung cửa. ba quân nhơn đang xúm nhau lén lút uống rượu và chuyên gẫu, nghe tiếng động, bỗng giựt mình quay nhìn ra. Viên đội trưởng họ Cao nhận thấy Vương-Bột, bạn y cùng đi với hai người, mặc sắc phục kỵ binh thì hơi yên tâm. Y mỉm cười hơi thong thả đáp :
- Chào bác Vương. Có lẽ khuya nay chúng tôi mới sẽ mãn
phiên gát. Chẳng hay tối nay, bác đi đâu mà tạt qua đây thế ?
- Tới đây để tiếp tay với bác chờ còn đi đâu nữa ! Tôi vừa được lịnh của quan trấn thủ sai đưa hai ông bạn này là hai vệ úy kỵ binh thuộc quyền quan Nguyễn Thái phó tới để phụ lực tăng cường công cuộc canh gát, hầu đề phòng một vụ bắt cóc hay phá hoại có thể xảy ra.

Viên đội họ Cao hơi lấy làm ngạc nhiên :
- Lạ nhỉ ! Chỉ vỏn vẹn có hai cậu bé con ngây thơ yếu ớt, việc gì mà cần phải uy động đến nhiều người canh chừng như thế ? Vả chăng, tôi nghe rằng chỉ nội trong đêm nay là hai hoàng tử sẽ được dời vào an trí tại dinh quan Trấn thủ đễ cho sự giam cầm được chắc chắn hơn. Vậy thì việc gì người ta còn phải làm nhọc công đến bác và hai ông bạn nầy nữa ?
Vương Bột cười xòa :
- Điều ấy tôi không rõ. Tôi chỉ biết lịnh trên ban xuống là bọn chúng mình bắt buộc phải thi hành. Chờ bác thử nghĩ xem ! Vào giờ này ai mà không muốn về nhà, nằm chõng cẳng lên mà nghỉ cho khỏe xác.
Bất đắc dĩ, viên đội họ Cao đành phải mời bạn mình và hai thanh niên mang võ phục kỵ binh bước vào trong. Y hơi khó chịu vì sự hiện diện của hai người lạ mặt mà y tưởng là thuộc hạ của Nguyễn hữu Liên, và khó chịu nhất là y phải bỏ dở tiệc rượu vụng trộm mà y vừa san sẻ với hai tên lính dưới quyền mình.
Vừa vào đến nơi, Bùi-văn-Khuê lễ phép và nghiêm nghị bảo viên đội :
- Thưa đội trưởng, theo ý muốn của quan Thái phó, anh em chúng tôi có phận sự phải canh gát ngay sát cửa hàm để ngừa mọi việc bất trắc. Vậy đội trưởng hãy vui lòng dẫn chúng tôi tới đó.
Tên đội họ Cao không đợi nài nỉ đến hai lần. Vốn rất ghét bọn kỵ kinh của Nguyễn hữu Liên thường quen tánh kiêu căng khinh miệt đối với các binh sĩ địa phương, nên y rất bực bội mỗi khi phải đối diện hay tiếp xúc với chúng. Vì vậy thấy họ ngỏ ý muốn đứng gát ở chỗ khác, y sẵn sàng làm theo lời yêu cầu của họ ngay.
Viên đội dặn dò hai người lính vài lời rồi đưa Vương-Bột cùng hai kỵ binh lạ mặt đi thẳng xuống nhà bếp, rẽ sang tay trái và, do theo một lối đi nhỏ hẹp, ngoắt ngoéo, tiến vào phía cửa hầm.
Tại đây, một ngọn đèn lồng leo lét, trải lên vách tường là xuống mặt đất ẫm ướt, một chút ánh sáng úa vàng, hấp hối.
Viên đội dở một chiếc nón, treo úp trên vách, đọan chỉ vào một cái nút đen hình tròn lớn bằng ngón tay cái, ẩn dưới chiếc nón ấy và cắt nghĩa:
- Khi nào muốn giao tiếp với các tội nhơn, hãy cứ bấm vào cái nút nầy, tức thì cửa hầm sẽ bật mở ra.
Dứt lời, y mim cười, khẽ nghiêng đầu chào rồi toan xây lưng bước đi, thì bị Thế-Hùng chận đường cản lại :
- Khoan đã, đội trưởng đã có lòng tốt thì nhơn thể hãy cho chúng tôi mượn đỡ luôn... cái thủ cấp!
Viên đội ngơ ngác, chưa hiểu sao thì một quả đấm dữ dội đã tung vào mặt hắn với sức mạnh của một trái núi Thái-Sơn từ trên cao gieo xuống.
Hắn ngã ngửa trên mặt đất với một tiếng ‘‘bịch’’ khô khan không khác một thân cây đổ. Thế-Hùng vội rút kiếm ra lia ngang một lát, tức thì đầu và mình hắn đứt lìa làm hai đoạn.
Trước cảnh máu đổ thịt rơi. Vương-Bột toan rú lên một tiếng kêu khủng khiếp thì liền bị Bùi-văn-Khuê lẹ tay bịt lấy mồm hắn và quát:
- Phải im miệng lại, nếu không chúng ta cũng sẽ hoá kiếp cho nhà ngươi đi theo tên đội nầy luôn!
Họ Vương sợ tái mặt, đứng yên không dám cựa quậy cũng
không dám nhìn xác chết cụt đầu nằm sóng sượt dưới mắt mình.
Trong lúc ấy, Lê Thế Hùng chùi lưỡi kiếm trên áo cái thây ma đoạn tra kiếm vào vỏ và hỏi ý kiến bạn:
- Thưa đại ca, bây giờ đến phiên hai tên lính canh đứng phía ngoài nầy chứ ?
- Văn Khuê khẽ gật đầu. Tức thì chàng thanh niên nhảy phóc ra ngoài trong chớp mắt.
Đến gần chỗ hai binh sĩ nồng nặc hơi men, đang gật gù sau cánh cửa, Thế Hùng cất tiếng bảo họ:
- Nầy hai bác, thầy đội Cao nhờ tôi ra gọi hai bác vào có việc cần.
Một tên lính lè nhè phản đối :
- Việc gi gấp thế ? Sao lại gọi một lượt cả hai đứa chúng tôi? Phải để một người ở ngoài nầy canh chừng chớ?
Vị công tử xẳng giọng đáp :
- Tôi không biết! Thầy đội Cao cậy tôi ra gọi giùm. Còn các bác muốn cãi lịnh thì cứ vào trong ấy.
Trước vẻ quả quyết của chàng, hai người lính gác lười biếng vì đã ngà ngà say, đành nặng nề quay lưng cất bước đi.
Thế Hùng lùi lại cho họ tiến lên trước, rồi rón rén nối gót theo sau. Trong bóng tối lờ mờ của con đường đưa tới miệng hầm, hai binh sĩ chếnh choáng lần đi, không ngờ rằng họ đang dấn thân vào nơi tử địa.
Thật vậy, gần đến chỗ mà vừa rồi viên đội họ Cao đã bỏ mình. Lê-Thế-Hùng liền vội vã ra tay, vì không muốn để mất thì giờ quý báu.  
Chàng giơ hai bàn tay cứng như sắt đá của mình thình lình nắm lấy cổ của hai tên lính và cắn răng, siết chặc lại.
Một vài giây đồng hồ qua. Dưới sức mạnh ghê gớm của hai cái gọng kềm cứ càng lúc càng lún sâu vào da thịt ấy, hai tên lính cố vùng vẫy phản kháng, nhưng vô hiệu quả.
Những tiếng è è yếu ớt phát ra từ miệng há hốc với cái lưỡi thè lè, rồi tắt hẳn. Hai đệ tử Lưu-Linh mới đó đã biến thành hai xác không hồn.
Trong khi Vương Bột run cầm cập, Bùi-văn-Khuê khoanh tay đứng lặng nhìn. Chàng rất hài lòng được thưởng thức tài năng xuất chúng và bản lãnh cao cường của bạn.
Vui vẽ, chàng thốt lời khen :
- Hiền đệ đã ‘‘thanh toán’’ công việc một cách cực kỳ êm thắm và mau lẹ! Thật quả không hổ là con giống cháu giòng. Bây giờ chúng ta hãy lo dẹp dọn mấy cái tử thi này đi, trước khi xuống hầm kiếm hai vị hoàng tử.
Dứt lời. chàng xây lại truyền cho Vương-Bột phụ lực với mình để dời ba xác chết đi nơi khác.
Cả hai hì hục mấy thây ma vứt bỏ vào một xó của gian phòng tối tăm bên cạnh. Thế-Hùng hơi lấy làm lạ không hiểu tại sao Văn-Khuê chưa giải thoát liền cho hai hoàng tử mà lại lo dọn dẹp các tử thi là điều mà chàng cho là không mảy may cần thiết. Tuy nhiên lần nầy chàng không dám hỏi lý do vì chàng đã từng nhận biết rõ rằng mọi quyết định của bạn đều bao hàm bên trong một ý gì bí ẩn và thiết thực.
Bùi-văn Khuê không chú ý đến sự thắc mắc của Thế-Hùng.
Sau khi dời xong ba cái tử thi và chùi xóa sơ sài các dấu vết để lại trên mặt đất, thay vì nghĩ đến việc xuống hầm giải thoát cho hai đứa bé bị giam cầm, chàng bỗng day qua hỏi Vương Bột một câu rất vui vẻ khiến Thế Hùng một phen nữa phải lấy làm ngạc nhiện và khó hiểu :
- Nầy Vương-Bột, nhà anh ở gần đây hay xa?
Không dám dối trá dưới lưỡi kiếm sắt bén và lợi hại của hai tráng sĩ, tên dọ thám của viên trấn thủ Trịnh tam Miêu đáp:
- Thưa tráng sĩ, nhà tôi ở cách đây lối hơn trăm thước.
- Tốt lắm ! – Văn Khuê vừa tiếp vừa thân mật vỗ vai họ Vương - Hiện thời anh có mấy cháu? Chúng ăn chơi mạnh khoẻ cả chứ?
Đến lượt Vương Bột trố mắt ra nhìn kẻ đối thoại. Hắn lấy làm lạ, tự hỏi vì sao chàng lực sĩ lại tò     mò hỏi thăm về nhà cửa, gia đình và  sức khỏe của con cái mình. Hắn nghĩ rằng: ‘‘Âu là nên nhơn dịp nầy kể lể rõ gia cảnh nghèo khó của ta cho họ nghe, may ra họ sẽ rủ lòng thương mà tha ta ra khỏi móng vuốt của họ chăng?’’
Nghĩ thế, hắn nhỏ nhẹ đáp, giọng tha thiết như kẻ van lơn:
- Cảm ơn tráng sĩ có hảo tâm hỏi đến. Gia đình tôi là cả một gánh nặng, mà tôi phải cưu mang: cả thảy là sáu đứa con, đứa lớn nhứt chỉ mới mười ba tuổi và đứa bỏ nhứt chưa đầy tám tháng... Tôi cúi xin nhị vị tráng sĩ nghĩ đến tình cảnh của tôi...
Bùi Văn Khuê gạt ngang :
- Hay lắm, hay lắm ! Anh không cần phải nói nhiều. Bây giờ anh hãy cho chúng tôi mượn lập tức... hai đứa con của anh. Bạn tôi đây sẽ theo anh về tận nhà và sẽ đưa anh trở lại đây với hai đứa trẻ trạc tuổi hai vị hoàng tử bị giam trong hầm này.
Vương-Bột biến sắc, toàn thân run bần bật như một chiếc lá trước cơn gió lốc. Thế Hùng cũng vừa chợt hiểu ra ý định của bạn và hết sức phục thầm.
Để giải thích cho bạn hiểu rõ thêm, Văn Khuê ghé sát tai vị công tử thì thầm:
- Chúng ta sẽ đem lại hai đứa con của Vương Bột đến đây để đánh tráo lấy hai vị hoàng tử mà chúng ta sẽ giấu đi nơi khác, thế rồi tha hồ cho viên trấn thủ Nghệ An rước chúng đi.
Trong khi Thế Hùng gật đầu tán đồng mưu kế của bạn, thì bên cạnh chàng Vương-Bột sụt sùi, khóc lóc van lơn:
- Xin nhị vị tráng sĩ thương tình.Nếu quả tôi có tội thì nhị vị cứ trừng trị một mình tôi cũng đủ, và xin mở lượng bao dung tha thứ cho lũ con tôi vì tôi mà bi tội lây...
Vừa mếu máo, hắn vừa chắp tay vái lạy không ngớt.
Cử chỉ và nỗi đau xót thành thực của một người cha đang khốn khổ làm cho hai thanh niên không đè nén được nỗi cảm động. Bằng lời lẽ ồn tồn, Bùi văn Khuê cố an ủi tên dọ thám :
- Đây là một việc vạn bất đắc dĩ hoàn toàn ngoài ý muốn của chúng tôi. Anh em chúng tôi không hề chủ tâm muốn làm liên lụy đến anh và các con anh trong vụ này, nhưng vì quyền lợi tối trọng của quốc gia. chúng tôi phải cứu sống để bảo vệ sanh mạng và an ninh cho hai hoàng tử. Một trong hai vị ấy sẽ lên ngôi báu để phục hưng lại cơ đồ sụp đổ của nhà Lê.
Riêng về trường hợp của anh, tuy đối với chúng tôi anh là tay sai của kẻ gian ác, hại dân nhưng nếu anh biết hối cải bỏ tà theo chánh, sốt sắng giúp đỡ chúng tôi trong nhiệm vụ thiêng liêng này, thì tội lỗi của anh chẳng những sẽ được tha thứ mà chúng tôi sẽ còn tìm cách an toàn cho anh và luôn cả gia-đình của anh nữa.
Vương Bột chăm chú lắng tai nghe và rưng rưng ứa lụy. Lần đầu tiên trong đời mình, hắn cảm thấy những lời lẽ ồn hòa trang nghiêm của chàng lực sĩ đang thấm thía, đã ‘‘đi thẳng’’ vào cõi lòng hắn, với một mãnh lực thúc đầy cám dỗ gì rất huyền bí, vô hình. Đồng thời hai mắt hắn sáng lên trên một khuôn mặt ủ rũ vừa thấm tươi trở lại, biểu thị tâm trạng quả quyết của một người vừa được cảm hóa, được giác ngộ đang hân hoan tiếp đón lần thứ nhứt cái chân lý rực rỡ sáng tỏ mới đột ngột đến với mình.
Xúc động, tên dọ thám thình lình quỳ xuống, ôm lấy vạt áo của Văn Khuê :
- Thưa tráng sĩ, nhờ tráng sĩ ra ơn chỉ giáo, bây giờ tôi mới rõ đâu là nẻo quấy đường ngay. Tôi rất hối hận vì đã lầm lạc đi phụng sự phường gian ác hại dân hại nước. Vậy từ nay, tôi xin hăng hái chuộc tội bằng sự hy sinh. Tôi xin tráng sĩ cho phép hy sinh tánh mạng của lũ con tôi, miễn sao cho quyên lợi của đất nước được cứu vãn, ngai vàng nhà Lê được phục hồi,
Chàng lực sĩ đỡ Vương-Bột đứng dậy và thân mật vỗ về:
- Hay lắm! Anh đã biết hối cải, đó là điều tôi rất mong mỏi và thành thật ngợi khen. Tôi rất hiểu tấm lòng hăng hái của anh đối với nghĩa cả. Tuy nhiên chúng tôi không đòi hỏi ở anh sự hy sinh quá nhiều. Các con anh mà chúng tôi tạm mượn đỡ rồi đây sẽ trả đủ cho anh. Điều cần nói là sau khi nhiệm vụ này hoàn thành, anh và trọn gia đình anh sẽ phải đi nơi khác thật xa, để tránh hậu họa.
Thôi nãy giờ câu chuyện cũng khá dài rồi, chúng ta phải gấp rút bắt tay vào việc, vì theo lời viên đội đã nói, chỉ nội trong đêm này, Trịnh Tam Miêu sẽ cho người tới đây đem dời hai hoàng tử vào an trí trong dinh trấn thủ.
Vậy, từ phút nầy, chúng tôi hoàn toàn đặt tín nhiệm vào lòng trung thành của anh và tin chắc rằng anh sẽ không để cho chúng tôi thất vọng.
Vương Bột chắp hai tay xá tạ ơn:
- Nhị vị tráng sĩ cứ yên lòng. Kẻ hèn mọn nầy nguyện đem hết tâm trí để báo đáp ân sâu và chuộc tội mình dù có phải tan xương nát thịt cũng không từ...
Văn Khuê vui vẻ ngắt lời :
- Được rồi, anh cứ sửa soạn đi cùng với bạn ta về nhà đem hai con anh đến đây. Nhưng trước hết, anh chịu khó chờ chúng ta cải trang lại một lần nữa nhé, vì lúc này sắp đóng vai tuồng mới, còn vai tuồng kỵ binh của anh em chúng tôi đã kết thúc rồi.
Nói đoạn chàng hất hàm ra hiệu cho Thế Hùng. Trước cặp mắt ngạc nhiên của họ Vương, hai chàng hiệp sĩ trút bỏ rất nhanh bộ nhung trang kỵ binh đang khoác trên mình, rồi thay thế vào bằng bộ võ phục mà họ đã lột của hai người lính canh bị Thế Hùng bóp cổ chết. Chỉ trong nháy mắt, cả hai đã nghiễm nhiên biến thành hai binh sĩ địa phương của dinh Trân thủ Nghệ An. Sự thay hình đổi dạng cực kỳ tài tình và mau lẹ của họ khiến cho một tay dọ thám chuyên nghiệp như Vương Bột cũng phải lắc đầu thán phục.
Sau khi nhận lãnh những lời dặn chót của bạn, chàng thanh niên dũng sĩ dẫn Vương Bột ra đi, để lại một mình Bùi văn Khuê giữa căn phòng vắng vẻ chìm trong bóng tối lờ mờ với mùi tử khí âm u rợn người thoang thoảng xông lên từ gian buồng kế cận.
Chàng lực sĩ đưa mắt nhìn lại một lượt nữa để xét kỷ tình hình của gian phòng kỳ lạ ăn thông với cái hầm bí mật mà chàng sắp dấn bước vào.
Không có dấu vết gì khác khả nghi, ngoài cái nút đen lớn cỡ đầu ngón tay cái giấu sau một chiếc nón trên vách mà viên đội đã chỉ khi mới đưa chàng vào đây.
Công việc thứ nhất của Văn Khuê là lại gần bức vách ấy giở chiếc nón lá lên và cẩn thận làm y theo lời dặn của viên đội xấu số. Quả nhiên, khi ngón tay trỏ của chàng vừa ấn mạnh xuống thì ngay chính giữa hầm, một cái nấp ván vuông vắn, mỗi bề dài lối hai thước ta, thình lình bật lên và mở hoác ra.
Văn Khuê lật đật bước tới, cúi đầu nhìn xuống... Một cảnh tượng thương tâm bày ra trước mắt chàng: Dưới đáy hầm ẩm thấp và u uất như một ngục tù, hạng bét, trong ánh sáng leo lét hấp hối của một ngọn đèn dầu phọng gần tàn, 2 cậu bé ngây thơ ôm chầm lấy nhau khóc nức nở đến gần như không ra tiếng..
Do theo một cái thang bằng gỗ cũ kỹ, đã gần mục, cứ lung lay và chuyển răng rắc dưới sức nặng của mỗi bước chân, Bùi- văn-Khuê rón rén lần mò leo xuống tận đáy hầm. Hai mắt chàng lanh lẹ liếc nhìn khắp tứ phía, để đề phòng những nguy cơ bất ngờ có thể xảy ra. Nhưng không, chàng không thấy dấu hiệu gì khác lạ.
Hầm này, chỉ là một hầm giam thường, chắc không gồm có những cơ quan tự động bí mật như những hầm lợi hại ghê gớm khác mà chàng đã biết qua.
Vả chăng nếu có, thì viên đội bị hạ sát hay là. Vương-Bột đã báo trước với chàng rồi. Như vậy, Văn-Khuê có thể yên tâm về điều đó.
Trái với sự dự liệu của mình chàng lực sĩ không được niềm nở tiếp đón khi vừa mới đặt chơn tới mặt đất. Hai cậu bé ngước lên nhìn chàng với bộ mặt kinh sợ, hãi hùng. Văn-Khuê chợt nhớ rằng chàng đang khoác trên mình bộ nhung phục của binh sĩ địa phương nên không gây được chút thiện cảm nào trong lòng của hai hoàng tử bé nhỏ và vô phước ấy.
Dưới cặp mắt bỡ ngỡ của chàng lực sĩ, hai đứa bẻ ấy không khóc nữa. Trên khuôn mặt ngây thơ của chúng, vẻ sợ sệt thiểu não đã nhường chỗ cho sự nghiêm nghị, lạnh lùng.
Đứa lớn tuổi nhứt vụt đứng phắt dậy, đưa vạt áo gạt vội hai dòng lệ long lanh trên má, đoạn nhìn chòng chọc vào Văn- Khuê, thốt ra những lời hậm hực đầy phẫn nộ :
- Tên lính này muốn gì nữa đây? Các ngươi lại muốn ép chúng ta phải dùng thứ cơm tù tội và các món ăn có bỏ thuốc độc của các ngươi à? Chúng ta quyết không ăn đâu ! Thà là chúng ta đành nhịn đói mà chết. Các ngươi tàn ác lắm. Các ngươi dám xúc phạm hành hạ chúng ta, các ngươi nhẫn tâm bắt phụ vương của chúng ta dẫn đi đâu mất. Hãy trả lại phụ vương cho chúng ta mau lên. Rồi đây trời đất sẽ trừ diệt các ngươi không còn một mống cho mà xem.
Biết là cậu bé lầm, chàng lực sĩ chỉ mỉm cười, chờ cho cậu ta tuôn ra một hơi cho hả giận, đoạn ôn tồn bảo :
- Kính hoàng tử, tôi xuống đây không phải để ép buộc hay uy hiếp chư vị hoàng tử như những tên lính khác của Trịnh Tùng mà chính là để giải cứu chư vị thoát khỏi cảnh giam hãm u ám nầy. Xin hoàng tử để ý : bộ võ phục binh sĩ địa phương tôi đang mặc chỉ là một lớp cải trang để dễ đột nhập vào đây...
Cậu bé nhíu mày, lắc đầu, tỏ vẻ ngờ vực :
- Thôi đi ! Nhà ngươi đừng tìm cách lừa dối chúng ta nữa. Phụ vương ta đã bị bắt, Đặng Ngự sử cũng vậy, còn công tử Lê thế Hùng thì bị các ngươi đầu độc mất rồi. Còn gì đâu mà giải cứu anh em chúng ta... trừ khi phụ Vương chúng ta may mắn được quỷ thần phò hộ, thoát hiểm trở lại đây...
Dứt lời, không đè nén được nỗi xúc động, cậu bé ôm mặt khóc òa, khiến em cậu cũng khóc theo.
Tuy vốn tánh sắt đá, cứng cỏi, Văn Khuê cũng không khỏi mủi lòng trước nỗi đau xót vô hạn đang dè nặng lên hai đứa trẻ thơ. Chàng thong thả bước lại gần cậu bé, và thân mật tìm cách vỗ về an ủi :
- Xin hoàng tử bớt bi thương. Hiện thời hoàng tử ngờ vực hảo ý của tôi cũng phải. Song lát nữa sẽ có người làm cho hoàng tử thay đổi ý kiến và tin chắc rằng mục đích của chúng tôi đến đây chính là để giải thoát nhị vị hoàng tử ra khỏi hang hùm và móng vuốt của lũ tôi tớ Trịnh Tùng.
Giọng nói thân mật, điềm đạm và đượm đầy vẻ quả quyết của chàng lực sĩ khiến cho cậu bé ngạc nhiên, chăm chú nhìn chàng, hơi phân vân lưỡng lự.
Trước vẻ thành thật rõ rệt đang tiết ra từ lời nói cũng như từ cử chỉ của người đối thoại, cậu bé có cảm tưởng rằng mình hơi vững dạ hơn lúc ban đầu. Tuy nhiên mối hoài nghi còn lởn vởn trong tâm trí trí cậu bé không phải vì thế mà tiêu tan hẳn.
Thình lình, Bùi văn Khuê và hai hoàng tử đều ngẩng đầu lên, nhìn về phía miệng hầm. Họ vừa chợt nghe tiếng động, những bước chân mỗi lúc mỗi gần.
Rõ ràng có người tiến rất mau vào căn phòng ăn thông với hầm bi mật nầy.
Chàng lực sĩ lật đật giơ hai tay nắm lấy hai cậu bé và kéo chúng theo mình tới sát bức vách kế cận để phòng ngừa mọi sự bất trắc. Tại đây, chàng ra dấu cho chúng yên lặng và chàng cau mày chăm chú lắng tai nghe.
Bỗng Văn Khuê thở ra nhẹ nhõm. Chàng đã nhận được tiếng nói quen thuộc của bạn mình từ trên cao vọng xuống hầm sâu.
Đồng thời, qua khung vuông  cửa miệng hầm, một khuôn mặt nữa kế tiếp xuất hiện.
Đó là Lê thế Hùng và Vương Bột. Chàng lực sĩ cả mừng cất tiếng hỏi :
- Ủa, sao hiền đệ trở về đây sớm thế ? Mọi việc đều lo xong rồi chứ?
- Xong hết cả rồi, thưa đại ca.
Vừa đáp, Thế Hùng vừa đặt chân lên bực thang gỗ để leo xuống hầm. Nối gót sau chàng là Vương Bột, đang lính quính dẫn theo hai đứa con trai của hắn.
Văn Khuê ngắm nghía hai đứa bé vừa đến. Chúng xấp xỉ trạc cỡ tuổi của hai hoàng tử. Trong bộ áo quần vải nâu thô kịch quê mùa, chúng có vẻ nhớn nhác sợ sệt đáng thương.
Trái lại, Vương Bột, cha chúng thì biểu lộ sự hoan hỉ hài lòng của một người đang sung sướng làm một việc hy sinh cao quý do chính mình đã tự do lựa chọn.
Nhác thấy Thế Hùng, vị hoàng tử lớn nhứt nhảy chồm tới ôm chầm lấy chàng mừng rỡ reo lên:
- Ô kìa! Lê tráng sĩ còn sống và còn trở về được đây ư? Thế mà chúng tôi cứ ngỡ tráng sĩ đã thiệt mạng sau khi bị bỏ thuốc mê. Còn phụ vương của chúng tôi và Đặng Ngự sử hiện đang bị giam cầm ở đâu, tráng sĩ có biết không!
- Dạ ! Kính tâu hoàng tử...
Ứa lệ vì cảm động. Thế Hùng âu yếm nhin cậụ bé ngây thơ, toan đem tất cả sự thật bi thương thuật lại hết cho cậu nghe, nhưng vừa mở miệng thốt ra được mấy tiếng thì chàng bỗng ngừng bặt lại. Mắt chàng vừa gặp phải tia mắt lạnh lùng nghiêm nghị của Bùi văn Khuê. Tia mắt ấy có ý nghĩa một lời căn dặn vô cùng khẩn yếu:  ‘‘Không nên tiết lộ điều gì ráo, về cái chết thảm khốc của hoàng đế Anh Tôn, vì làm thế sẽ bất tiện cho kế hoạch đang thực hiện.’’
Hiểu rõ ý bạn, chàng thanh niên giả vờ hơi lưỡng lự, cau mày như cố nhớ lại một địa điểm nào đó mà mình vừa quên mất, rồi tiếp rất nhanh:
- Kính thưa Hoàng tử... Thánh thượng và Đặng Ngự sử đã bị giặc đem xuống làng... làng gì nhỉ ? À phải rồi, làng Cẩm Giang, cách đây không xa lắm. Chinh tôi đến đây là để hộ giá chư vị Hoàng tử đi tìm ngài...
Gương mặt của cậu bé sáng rực lên như bông hoa hé nở, đầy  hân hoan và hy vọng chứa chan. Cậu xây lại bảo em mình:
- Ồ, nếu vậy thì hay quá ! Em ơi chúng ta sắp gặp mặt phụ vương.
Đoạn nắm lấy vạt áo trước của Thế Hùng, cậu bé thúc giục
- Tráng sĩ hãy dẫn chúng tôi đi lập tức. Chúng tôi không thể ở lạí cái hầm ghê gớm u ám này lâu hơn nữa.
Nỗi sung sướng, sự tin tưởng tràn trề của vị Hoàng tử khiến cho Thế Hùng cảm thấy lòng mình se lại. Chàng tự lấy làm khó chịu, hổ thẹn với lương tâm, vì lần đầu tiên trong đời mình, chàng đã mở miệng dối gạt một đứa trẻ ngây thơ mà, với tư cách của một thần tử, chàng có phân sự phải tôn kính và bảo vệ. Nhưng đây là một trường hợp bắt buộc và tối cần thiết.
Anh hồn của vua Lê phảng phất đâu đây sẽ thấu rõ và chứng giám cho cõi lòng chàng.
 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.10.2020 20:40:57 bởi Ct.Ly>
3 - Náo động trong dinh Trấn-Thủ


Nhờ mựu mô khéo sắp đặt, công cuộc đánh tráo đã diễn ra rất êm ái và mau lẹ.
Nóng ruột đi tìm cha, hai Hoàng tử sẵn sàng tuân theo mọi điều chỉ bảo của Văn Khuê, Thế Hùng và ngoan ngoãn trao đổi y phục sạch sẽ sang trọng của mình với y phục nâu sòng lam lũ của hai đứa bỏ nghèo nàn.
Chỉ một lát sau cái hầm bí mật của phe đảng Trịnh Tùng đã âm thầm đổi khách. Hai Hoàng tử đi theo Thế Hùng và Vương Bột đến một nơi trú ẩn kín đáo tạm thời, tại một vùng hẻo lánh xa xôi, để lại Văn Khuê với hai đứa con của họ Vương, giữa một khung cảnh ghê sợ và hoàn toàn lạ mắt.
Thời khắc nối tiếp nhau tuần tự trôi qua.
Trong khi chàng lực sĩ đang cố an ủi, dỗ dành hai đứa trẻ vừa đua nhau khóc vang lên cùng một lượt trong hầm tối, thì phía trên thình lình có tiếng động rộn rịp của nhiều bước chân đi.
Biết chắc đó là binh sĩ trong dinh Trấn thủ đang kéo đến nơi, Văn Khuê không cần dùng thang, tức tốc phóng mình lên khỏi miệng hầm, và tất tả chạy đi đón chúng.
Việc xảy ra thật quả đúng như chàng chờ đợi.
Một chiếc kiệu phủ kín sau một bức màn dầy tiến sâu vào trong tửu quán đã bắt đầu hạ xuống giữa đám quân nhân đi kèm theo hộ tống. Người đi trước là một viên vệ úy trạc bốn mươi tuổi, hình vóc dong dỏng cao, diện mạo và điệu bộ rất hách dịch.
Chợt thấy chồng lực sĩ đang gọn gàng trong bộ nhung phục binh sĩ địa phương, hắn tưởng lầm là một lính canh, bèn hất hàm hỏi :
- Ta vâng lịnh quan Trấn thủ đem kiệu đón hai vị Hoàng tử vào an trí trong dinh. Vậy viên đội trưởng chỉ huy sự canh gác ở đây đâu rồi ?
Văn Khuê giả vờ khép nép đáp:
- Thưa vệ úy, ông ta vừa mới bước ra ngoài, cách đây độ vài phút.
Viên vệ úy bỉu môi tỏ ra dư hiểu tật xấu của người bạn đồng đội :
- Hứ ! Y lại đi kiếm thêm rượu đế để nhậu chứ gì. Canh gác mà dám bỏ bê phận sự như thế ắt không khỏi bị ngồi tù rục xác.
Đoạn hắn dõng dạc nối lời:
- Thôi được, bây giờ không có y, anh hãy xuống hầm dẫn hai Hoàng tử lên đây, không nên để chậm trễ vì quan Trấn thủ ra lịnh phải thi hành gấp. Anh thông thuộc đường lối chớ?
- Vâng !
Chàng lực sĩ vừa đáp vừa hấp tấp chạy trở vào, nhảy xuống hầm đưa hai đứa bé của Vương Bột lên và giao chúng cho viên vệ úy.
Trong bóng tối, tên này không cần chú ý đến những đứa trẻ thơ tội nghiệp, lúng túng và ngượng nghịu trong bộ quần áo mới xúng xính đang khóc sướt mướt.
Hắn truyền cho toán binh thuộc hạ ẵm hai cậu bỏ lên kiệu rồi hạ lịnh ra đi.
Văn Khuê ngỏ ý muốn theo luôn về dinh và được viên vệ úy chấp nhận.
Thế là tối hôm ấy, chàng lực sĩ lọt vào dinh Trần thủ Nghệ An một cách rất dễ dàng.
Mới vào cuối giờ Dậu, viên Trấn thủ Nghệ An Trịnh tam Miêu đã sửa soạn đi nghĩ sớm sau một ngày khó nhọc vừa trải qua.
Khó nhọc vì hôm ấy, bao nhiêu biến cố quan trọng đã dồn dập xảy ra ngay trên khu vực thuộc quyền ông cai trị. Nào là Hoàng đế Lê Anh Tôn và Đặng Ngự sử bị hạ sát, treo xác trong vườn mía, nào là đoàn kỵ binh của Thái phó Nguyễn hữu Liên bị đánh tan và tướng Trương Bảo bỏ mạng trong cuộc giao phong. Sau vụ cướp tù xa cực kỳ táo bạo ấy, viên Trấn thủ đã tức tốc gởi viện binh đến nơi rồi hợp với đám tàn quân của Hữu Liên lùng khắp chốn nhưng không tìm ra dấu vết của thủ phạm.
Tối đến, trở về dinh, ông cũng chưa yên thân. Ông còn phải chờ tiếp xúc với tên dọ thám mà ông đã gởi đi dò xét ở Phủ Diễn và các vùng kế cận.
Ngoài ra theo lịnh của vị Thái phó họ Nguyễn, ông còn phải cho dời 2 vị Hoàng tử vào an trí tại trong dinh mình để việc giam giữ cho được vững chắc hơn.
Khi chiếc kiệu chở hai Hoàng tử vào đến nơi, ông chỉ giơ tay sẽ khoát tấm màn lên, liếc nhìn qua một lượt rồi truyền lịnh đem hai tù nhơn bé tí hon ấy vào nhốt trong một căn nhà tối tăm chật hẹp ở phía sau dinh. Đoạn ông uể oải bước vào buồng riêng ngả mình xuống bên cạnh một bàn đèn á phiện, đặt trên một sập gụ bóng loáng kê sát vách.
Trong phòng, một mỹ nhơn đang chờ sẵn bên cạnh bữa tiệc của ả phù dung, mỹ nhơn là một trong những hầu thiếp xinh đẹp của viên Trấn thủ và đã được ông nịch ái hơn hết, nhờ có tài đàn rất hay và nhất là nhờ ở tại tiệm á phiện khéo léo của nàng.
Thật vậy, việc tiêm thuốc và hầu thuốc cho Trịnh tam Miêu là cả một nghệ thuật mà nàng đã tỏ ra vô cùng điêu luyện. Và chính vì lẽ đó mà viên Trấn thủ rất hài lòng khi được thưởng thức những điếu do chính tay nàng làm ra.
Cho nên, ngay từ khi chân đặt vào phòng này, thoạt tìm thấy trở lại ánh lửa chập chờn của ngọn đèn dầu phộng và gương mặt hoa của nàng ái thiếp, bao nhiêu nỗi nhọc nhằn, mệt mỏi của ông đều tiêu tan hết.
Cô vợ bé đon đả tiếp đón ông bằng một nụ cười tình tứ rồi nũng nịu hỏi :
- Tối nay sao quan lớn về trễ thế ?
Tam Miêu vươn vai đáp, sau một cái ngáp dài:
- Ôi cho ! Bận việc quá ! Và toàn là những việc tầy trời khiến ta phải tốn công, nhọc trí, ròng rã gần suốt ngày, mà mãi đến bây giờ cũng chưa yên nữa.
Nàng hầu thiếp hơi ngạc nhiên. Vừa nghiêng mình xuống bên cạnh bàn đèn nằm đối diện với chồng để làm thuốc, nàng vừa tò mò hỏi :
- Tại sao quan lớn bảo đến bây giờ mà cũng chưa yên? Vì lẽ gì vậy?
Viên Trấn thủ cau mày, giải thích:
- Có gì đâu ! Bao nhiêu việc khó khăn trọng đại đều giải quyết xong, chỉ còn trường hợp của thằng Vương Bột.
Quái lạ thật ! Cái thằng khốn kiếp nầy được phái đi tới vườn mía thám thính từ hồi chiều đến giờ này, gần khuya rồi mà cũng chưa thấy dẫn xác về để báo cáo.
Người thiếu phụ phỏng đoán :
- Hay là hắn đã ngộ nạn rồi chớ gì?
Tam Miêu lắc đầu:
- Ta không tin như thế, vì ta biết Vương Bột vốn lanh lợi và khôn ngoan lắm. Nếu có kẻ to gan lén vào vườn mía cướp tử thi của nhà vua chăng nữa, thì hắn cũng không dại gì mà đương đầu can thiệp.Hắn có đủ thì giờ phi ngựa về đây báo tin cho ta hay hầu đối phó chứ !
Nàng hầu thiếp lại tiếp:
- Nói đến chuyện thây ma, em mới sực nhớ ra. Quan lớn nhỉ, em không hiểu vì sao xác chết của vua Anh Tôn và của lão thần nào đó lại không được đem đi tẩm liệm mà cứ phải treo tòn ten mãi mãi trên cành cây?
- Đó là do lịnh của chúa Trịnh - viên Trấn thủ đáp - Ngài muốn trừng phạt tên hôn quân và lão già phản nghịch một cách cho thật xứng đáng. Những thây ma ấy rồi đây sẽ làm mồi cho diều, quạ, ruồi lằn.
Dứt lời, ông đưa tay tiếp lấy ống điếu do vợ trao cho, đoạn kê miệng vào một đầu mà kéo một hơi dài ro ro rất nhịp nhàng...
Thình lình nửa chừng ông buông rơi ống điếu, vùng ngồi dậy, rú lên một tiếng kêu khủng khiếp.
Cô vợ bé của ông cũng rú theo.
Một luỡi dao bén dài hai tấc, từ trên nóc nhà ném xuống, cắm phập vào giữa bàn đèn! Phía chuôi dao, có cột một mảnh giấy trắng với vài dòng chữ vắn tắt...
Mặt xanh như tàu lá, Trịnh tam Miêu vùng ngồi dậy và từ trên sập gụ, nhảy choàng xuống đất, nép mình vào sau tấm cửa phòng, há họng tri hô lên inh ỏi:
- Quân bây đâu ! Có thích khách núp trên mái nhà, hãy vây bắt nó mau lên!
Tiếng la của viên Trấn thủ làm cho mấy chục gia nhân trong dinh hốt hoảng. Bỏ dở công việc đang làm chúng rần rộ túa hết ra ngoài để tìm kiếm kẻ ám sát bí mật đã to gan lẻn vào nơi ‘‘cấm địa’’.
Đồng thời, tin nầy làm chấn động khắp các trại quân lính phía sau. Chỉ trong nháy mắt hàng trăm quân sĩ đã ào ào kéo ra sân để tiếp xúc với các gia nhân, truy tầm hung thủ.
Tiếng chân giậm thình thịch, tiếng người hò hét nổi lên từ tứ phía, khiến viên Trấn thủ bắt đầu đỡ sợ và hơi vững dạ. Bây giờ ông mới dám xô cửa, bước ra ngoài, để chứng kiến cuộc vây bắt sôi nổi của kẻ thuộc hạ mình.
Xung quanh dinh, vô số bó đuốc nối tiếp nhau bừng cháy kết thành một vòng lửa đỏ, sáng rực trời, soi tỏ rõ khắp mọi nơi.
Dưới ánh đuốc, bao nhiêu cái đầu đều chăm chú hướng về phía nóc nhà, cố xoi bói lục lọi qua đêm tối, để khám phá cho ra một bóng người bí mật.
Nhưng không ai thấy gì hết.
Giữa sự huyên náo hỗn độn, có tiếng đề nghị:
- Chúng ta hãy bắc thang leo lên mái nhà tìm kiếm thử xem! Có lẽ ‘‘hắn’’ đang ẩn núp trên ấy.
Tức thì nhiều người hưởng ứng tán thành rối rít:
- Phải đó ! Đem thang lại đây mau lên!
 
Chỉ trong khoảnh khắc, non một chục cái thang tre cao nghệu đã được dựng lên áp vào vách. Nhiều binh sĩ, với võ khi giắt sẵn bên lưng, hăng hái giành nhau nườm nượp leo lên, quyết truy nã cho kỳ được tên thích khách.
Song lạ thay, cuộc lùng xét sôi nổi, rộn rịp ấy không đem lại kết quả mà người ta chờ đợi. Trên mái nhà trừ đám sĩ tốt dự cuộc vây bắt ra, tuyệt nhiên không có lấy một bóng người.
Tất cả đều kinh ngạc tự hỏi : ‘‘Ô hay! Thế kẻ mưu toan ám sát quan Trấn thủ đã biến đi đàng nào rồi mà không một ai nhận thấy và hay biết. Phải chăng ‘‘hắn’’ có thuật tàng hình nên mới lọt qua khỏi bao nhiêu cặp mắt của người hiện diện.’’
 
Người kinh dị hơn hết là Trịnh tam Miêu không thể tìm ra được lời giải đáp cho việc kỳ lạ và hoàn toàn bí mật trên đây. Ông khiếp sợ đến tái mặt lại. Cái ý nghĩ về một hiểm họa vô hình phảng phất đâu đây, làm cho ông nôn nao bồn chồn, run lẩy bẩy như một chiếc lá trước cơn giông tố.
Thất vọng, và khó chịu, viên Trấn thủ ra lịnh cho thuộc hạ ngưng mọi cuộc tìm kiếm rồi xây lại bảo một viên vệ úy hộ tống mình trở vào phòng.
Tại đây, ông mới sực nhớ lại lưỡi dao ghê gớm lúc nãy, suýt nữa đã kết liễu tánh mạng của ông.
Con dao ấy kể cả cán lẫn lưỡi dài chừng hai tấc, vẫn còn cắm phập giữa bàn đèn á phiện. Ở đàng cán dao, cột tòn ten một mảnh giấy trắng nhỏ kèm theo, trên có ghi rõ vài dòng chữ nguệch ngoạc đang còn tươi nét mực.
Tò mò, viên Trấn thủ đưa tay nhổ ngọn dao lên, đoạn giơ mảnh giấy nho ra đọc.
 
‘‘Trịnh tam Miêu ! 
‘‘Ta kỳ hẹn cho nhà người trước giớ Tý đem thi hài Hoàng đế Lê Anh Tôn và Đặng Ngự Sử khâm nlệm và chôn cất cho tử tế. Nếu bất tuân thì sanh mạng của nhà ngươi sẽ bị tiêu diệt dưới lưỡi dao này.’’
Ký tên  HIỆP SĨ ÁO ĐEN.
 
Mồ hôi hột toát ra đầy trán, Tam Miêu buông rơi mảnh giấy và con dao xuống trên sập gụ. Những lời vắn tắt mà ông vừa đọc, làm cho ông đã rối trí lại càng thêm băn khoăn và rối trí thêm.
 
Tác giả bức thơ với cái tên  ‘‘Hiệp sĩ áo đen’’  kỳ lạ là ai ? Tại sao người ấy lại buộc ông phải lập tức cho chôn cất tử thi nhà vua và vị lão quan họ Đặng, nghĩa là đòi hỏi nơi ông một việc hết sức khó khăn, không thể nào thi hành nổi ? Người ta dư biết rằng, là phe đảng của Chúa Trịnh, viên Trấn thủ tất nhiên phải luôn luôn hành động theo ý muốn và chỉ thị của Trịnh Tùng.
Ấy vậy mà lần này, ông bị tác giả bức thư trên kia ra lịnh cho ông phải làm ngược trở lại. Đó quả thật là một điều hết sức cam go. Giữa hai đàng sự nguy hiểm đều tương tự như nhau vì đều đưa tới cái chết cả. Nhưng mặc dầu sợ, ông phải lựa chọn sau một hồi phân vân, lưởng lự;
Ông không thể phản bội chúa Trịnh, bởi ông biết chắc chắn rằng làm thế, ông sẽ bị trừng phạt một cách tàn khốc gớm ghê. Còn với chàng ‘‘Hiêp sĩ áo đen’’, ông chưa có bằng cớ gì để tin rằng lời hăm dọa trong lá thơ kia có thể biến thành sự thật.
Rốt cuộc, sau khi cân nhắc kỹ, ông không muốn bận tâm tới mảnh giấy và con dao nói trên nữa. Trước khi cho phép viên vệ úy Iui ra, viên Trấn Thủ dặn dò hắn phải truyền cho binh sĩ canh phòng cẩn mật khắp bốn bề và tại các ngõ ra vào.
Đoạn ông đóng chặt cửa lại ngã mình trên mâm đèn, hồi hộp đợi chờ cho hết giờ Hợi qua giờ Tý.
Trong khói thuốc nha phiến nồng ngát bao trùm lấy khắp gian phòng, bên cạnh bàn tay búp măng, ngà ngọc dịu dàng giỡn múa trước ánh đèn dầu phộng, viên Trấn thủ quên tất cả sự lo âu, ghê gớm vừa rồi đã dày vò ông, đã làm cho thần kinh ông căng thẳng !
Dưới sự mơn trớn của ả phù dung, mối hăm dọa của nguy cơ dần dần nhạt mờ đi trong tâm trí. Trịnh tam Miêu lần hồi thiêm thiếp bên cạnh khay đèn sau khi đã hút liên tiếp luôn mười mấy điếu.
* * *
Thì giờ trôi qua mau trên giấc mơ êm ái của tên tham quan ô lại. Thình lình cặp mắt đang lim dim của ông vụt mở ra. Có tiếng la thất    thanh vang lên bên ngoài rồi liền đó, như một luồng gió mạnh,    một  tên lính vạm vỡ xô cửa, tất tả chạy vào phòng cấp bảo :
- Bẩm quan lớn ! Có thích khách nhảy lên nóc nhà. Chính tiểu tốt vừa trông thấy rõ ràng.
Viên Trấn thủ run như cày sấy, vội vàng ngồi nhỏm dậy. Nàng ái thiếp của ông cũng thế. Cả hai thất sắc, đồng một lượt nhìn lên trần nhà. Họ chưa kịp nhận thấy gì, thì ‘‘độp’’ mội cái, một lưỡi dao nữa không rõ từ đâu bay đến, lại cấm phập ngay giữa bàn đèn á phiện.
Trịnh tam Miêu rú lên khủng khiếp và đưa hai tay ôm lấy cổ. Người vợ bé của ông ta hét lớn hơn, mặt tái như gà bị cắt tiết, và tri hô inh ỏi...
Lúc ấy gia nhơn và binh sĩ, đã nối đuôi nhau, đổ xô vào đầy nghẹt trong phòng của viên Trấn thủ.
Họ xúm lại đở Trịnh tam Miêu ngồi thẳng dậy trên sập gụ. Được kẻ thuộc hạ đông đảo bao quanh lấy mình, viên quan bây giờ mới hoàn hồn. Tuy nhiên mặt ông vẫn xanh méc, hơi thở ông vẫn hổn hển và mồ hôi ông toát ra như tắm.
Trong khi ấy, thì các nữ tỳ trong dinh cũng lo săn sóc nàng ái thiếp của ông vì quá kinh sợ nên gần như bất tỉnh, và vực nàng sang gian buồng kế cận.
Viên vệ úy đã được giao phó trọng trách bảo vệ tánh mạng của Trịnh tam Miêu, lăng xăng chạy ra chạy vô, hăng hái hoạt động hơn hết thảy : Một mặt y lo điều khiển cuộc săn sóc cho hai vợ chồng vị Trấn thủ, một mặt là chỉ huy cuộc vây bắt thủ phạm đang tiến hành ráo riết ở bên ngoài.
 
Nhưng lần nầy cũng như lần trước, cuộc vây bắt sôi nổi không đem lại kết quả mà người ta mong mỏi. Tin ấy vừa đưa vào phòng thì một niềm thất vọng nặng nề tràn ngập lòng viên vệ úy và Trịnh tam Miêu. Đồng thời với nỗi thất vọng, một sự kinh khủng vô biên, bắt đầu len lỏi vào trong trí óc của những người hiện diện, sự kinh khủng đối với một nguy cơ ghè gớm mà không ai biết là do đâu ra, từ đâu đến.
Bức màn bí mật hoàn toàn bao quanh lưỡi dao và bức thơ hăm dọa kèm theo là một bài toán đố bí hiểm đã làm cho người ta nghẹt thở.
Lần nầy nữa, không thể nào tìm ra thủ phạm, mọi người lại đành quay trở về với lưỡi dao thứ nhì đang còn cắm phập chính giữa bàn đèn. Cũng vẫn loại dao ấy, cũng vẫn mội mảnh giấy cột nơi chuôi dao!
 
Viên Trấn thủ sực nhớ ra lúc nầy đã sang giờ Tý tức là giờ đã kỳ hẹn trong thơ trước.
Kv hạn ấy đã không tuân theo, liệu ông có thoát khỏi sự trừng phạt đã báo trước hay không ?
Trịnh tam Miêu run sợ, đưa mắt ra lịnh cho viên vệ úy thay thế mình để quan sát con dao thứ hai và đọc bức thơ, vì ông không còn đủ can đảm để sờ mó đến thứ võ khí mà ông tin chắc rằng sẽ kết liễu tánh mạng mình một cách dễ dàng.
Sau khi xem xét qua lưỡi dao mới, viên vệ úy trao mảnh giấy cho vị Trấn thủ đọc. Cũng vài dòng vắn tắt và nguệch ngoạc mà nét mực còn tươi, cũng tên ký giống hệt như trước chứng tỏ rằng tác giả hai vụ này chỉ là một người :
 
‘‘Trịnh Tam Miêu !
‘‘Giờ Tỳ đã qua và nhà ngươi đã tự ý lựa chọn lấy cái chết. Tuy nhiên vì lòng nhơn đạo ta chưa nỡ xử tử nhà ngươi vội. Ta gia ơn cho nhà ngươi thêm thời hạn nửa giờ nữa để suy nghĩ kỹ và định đoạt. Sau đó công lý của Trời và loài người sẽ làm phận sự. Lúc ấy nhà ngươi có hối tiếc cũng trễ rồi.
HIỆP SĨ ÁO ĐEN 
 
Viên tham quan không còn hồn vía nào nữa. Mảnh giấy nầy là một bản án tàn khốc sắp thi hành. Ông chỉ còn nửa giờ nữa để mà sống, để mà chờ cái chết đến với ông từng phút, từng giây...
Mà phen này, thì đã hiển nhiên rõ rệt lắm rồi. Ông sẽ không tài nào thoát khói lưỡi dao bí mật kia, lưỡi dao do một bàn tay vô hình sai khiến.
Trong khoảnh khắc cõi hư vô tối tăm u ám của thế giới bên kia lờ mờ thoáng hiện ra, làm cho ông kính sợ đến rỡn tóc gáy. Bản năng tự vệ lôi ông trở về với lòng ham sống, dầu là sống thêm vài ngày cho đến lúc sẽ rơi đầu dưới hình phạt của chúa Trịnh Tùng. Rốt cuộc, lòng luyến tiếc cuộc đời vinh thân phì gia, thuốc phiện, hầu non, rượu ngọt v.v...đã toàn thắng trong sự phân vân xấu xé đã diễn ra dưới sọ dừa của vị tham quan.
Thế là Trịnh tam Miêu truyền cho viên vệ úy phái quân lính tức tốc tới vườn mía giữa đêm khuya lo việc khâm liệm và mai táng thi hài vua Lê Anh Tôn và Đặng Ngự Sử.
* * *
Mặc dầu bạn đọc đã có thể đoán lấy mà tìm hiểu, nhưng thiết tưởng cũng nên nói rõ ra đây tất cả chi tiết về vụ bàn tay vô hình đã hai lần gieo khủng khiếp trong dinh viên Trấn thủ.
Con người bí mật kia là ai ? Và người ấy đã hành động tài tình khôn khéo cách nào mà khiến cho thầy trò Trịnh tam Miêu, từ chủ tướng đến sĩ tốt đều sửng sốt và kinh hồn táng đởm.
Xin thưa : Đó không ai khác hơn là Bùi văn Khuê; trá hình làm binh sĩ địa phương đi theo hộ tống hai Hoàng tử giả, để lọt vào đây như trên kia chúng tôi đã nói.
Từ trước, Bùi văn Khuê đã dự định bắt buộc viên Trấn thủ Nghệ An phải đem chôn cất tử tế thi hài của nhà Vua và Đặng Ngự Sử mà chúng đã có giả tâm đem bêu thây trong vườn mía. Muốn đạt mục đích ấy, chàng lực sĩ phải dùng đến thủ đoạn hăm dọa và cảnh cáo.
Sau khi lọt vào dinh nầy, Văn Khuê để ý dò xét từ các ngõ giao thông qua các căn phòng của Tam Miêu cho chí các cách thức nghi lễ quen dùng.
Thế rồi, đợi cho đêm gần khuya chàng mới chuẩn bị ra tay. Điều may mắn hơn hết là trong dinh Trấn thủ, quân lính rất đông đảo lại thường hay đổi phiên nhau luôn, nên sự hiện diện của một người lạ mặt như chàng ít ai bận tâm lưu ý đến.
Yên trí rằng chàng chỉ là một bạn đồng đội, một vài người trong số họ sẵn sàng cắt nghĩa cho chàng nghe tất cả những điều mà chàng tò mò tìm hiểu. Nhờ đó chàng biết rằng cứ tối đến là Tam Miêu luôn luôn có mặt trong căn phòng giữa của hắn tại trung dinh, nơi đây, hắn sẽ yên tĩnh bên cạnh bàn đèn thuốc phiện.
Thấy xung quanh mình, lính tráng đã bắt đầu lăn ra ngủ, tiếng ngáy khò khò vang lên từ khắp xa gần, Văn Khuê rón rén đứng lên, rút ra hai mảnh giấy mà chàng đã đem sẵn theo mình rồi từ từ bước lại phía một cái kệ nhỏ kê gần lối cửa ra vào của trại lính, trên đó có một nghiên mực và một cây bút lông của ai vừa mới viết xong, nhưng chưa kip dẹp đi.
Chàng lực sĩ cả mừng, chụp lấy cây bút, chấm mực, rồi húy hoáy vạch lên trên khi mảnh giấy những dòng chữ vắn tắt đoạn chàng rút trong túi ra một ngọn liễu diệp phi đao, buộc trong mình hai tờ giấy vào chuỗi dao bằng một sợi dây, rồi lẳng lặng xô cửa bước ra khỏi trại.
Dưới ánh đèn dầu, hiu hắt lờ mờ, toàn thể đám binh sĩ nằm
xếp từng hàng dài đã ngủ say như chết. Không một ai còn thức và chú ý đến cử chỉ lén lút bí mật của chàng.

Văn Khuê lách mình ra ngoài, chàng cả mừng nhận thấy bóng đêm dầy đặc ở đây rất thuận tiện cho cuộc hành động sắp tới của mình. Tuy nhiên chàng vẫn cẩn thận nhìn khắp bốn bề để đề phòng có người theo dõi.
Khi biết chắc trừ phi mình ra, không còn một người thứ hai nào khác, lẩn quẩn đâu đây, chàng hiệp sĩ nương theo các bóng cây rậm rạp, lần mò vòng ra phía sau nhà bếp là nơi mà mái ngói thấp hơn hết.
Tại đây chàng nhún chân nhẫy phóc lên mái nhà rồi nhẹ nhàng, chậm rãi đi ngược trở lên. gia tâm tìm kiếm căn phòng ở trung dinh, nơi viên Trấn thủ Trịnh tam Miêu đang an nghỉ.
Cuộc tìm kiếm này không kéo dài lâu. Vì liền đó, trước mặt chàng, phảng phẩt hơi khói thuốc phiện xông lên nồng ngát. Văn Khuê vội bước nhanh lại chỗ đang phát ra những tiếng ro ro, đều đặn. Chàng nằm sấp xuống, áp mình dính liền vào mái nhà như một con thằn lằn trong điệu bò rình mồi và đưa tay khẽ đẩy một miếng ngói, liếc mắt nhìn xuống.
Một cảnh tượng âm cúng và sang trọng hiện ra dưới mắt chàng khiến chàng mím môi, cau mày lại.
Đây rồi, Trịnh tam Miêu nằm ngửa mình trên sập gụ, đôi mắt lim dim mơ màng, sau khi đã say sưa với điếu thuốc phiện mà nàng ái thiếp xinh đẹp vừa hiến dâng cho hắn.
Chàng lực sĩ nghiến răng bảo thầm:
- Chà ! Hạnh phúc nhỉ? Bây giờ ta cho mi hoảng vía một phen chơi.
Tức thì tay trái chàng nhẹ nhàng rút ra 1 miếng ngói trong khi tay mặt nhàng lanh lẹ phóng qua lỗ trống, ngọn phi đao có kèm sẵn bức thơ.
Kế đó, chàng đặt miếng ngói lại y chỗ cũ. Khi tiếng rú bắt đầu cất lên từ trong gian phòng của viên Trấn thủ, thì Văn Khuê đã từ trên nóc nhà quăng mình sang một nhánh cây cao rậm rạp cách đấy chừng vài thước. Chàng chưa kịp tuột xuống thì từ trong dinh, bọn gia nhơn, nghe tiếng cầu cứu của chủ, đã rần rộ xô nhau, túa ra ngoài. Rồi tới phiên binh lính trong trại, vừa vùng tỉnh giấc, cũng mắt nhắm mắt mở, loạng choạng ùa ra theo.
Thấy chúng chạy ngang, chàng liền êm ái buông mình nhảy xuống rồi nhập bọn ngay với chúng. Trong khi hỗn loạn, vả lại chàng cũng mặc võ phục giống hệt như các binh sĩ khác, nên không ai chú ý đến chàng. Đó là chưa kể chàng cũng chạy lăng xăng, cũng la lối hò hét như để dự vào cuộc vây bắt và truy tầm thủ phạm.
Vai tuồng tài tình khôn khéo mà chàng vừa đóng đã giúp chàng diễn xong êm thắm màn thứ nhứt. Bây giờ chàng lại phải lo chuẩn bị màn thứ nhì sẽ khởi diễn vào khoảng bắt đầu giờ Tý tức là kỳ hạn ấn định rõ trong lá thư cảnh cáo đã gởi cho viên Trấn thủ Nghệ An.
Lẽ tự nhiên, Bùi văn Khuê không thể tái diễn một lần nữa hành động vừa rồi của mình, vì hiện thời, binh sĩ trong dinh Trấn thủ đã đề phòng cẩn thận. Viên vệ úy được giao phó trọng trách bảo vệ tánh mạng của Trịnh tam Miêu đã cắt đặt lối hai chục tên lính, thường trực canh gác khắp bốn mặt và mắt luôn luôn hướng lên mái nhà để xem chừng động tịnh.
Trước tình thế ấy, chàng buộc lòng phải tìm một mưu kế khác.
Giờ Tý đã đến mà Văn Khuê vẫn chưa nghĩ ra được phương pháp gì ổn thỏa để gởi luôn lưỡi dao và bức thơ cảnh cáo thứ hai đã viết sẵn của chàng.
Thình lình, một tia sáng vụt xuyên qua óc người lực sĩ.
Văn Khuê cương quyết và lẳng lặng bước ra khỏi trại rồi thong thả tiến lới gần một binh sĩ đứng canh ở phía trước thềm toan gợi chuyện.
Thấy chàng lực sĩ, tên lính hơi ngạc nhiên khẽ hỏi:
- Ô hay ! Bác nầy sao không ở trong trại mà ngủ cho khỏe xác, lại ra đây làm gì thế ?
Văn Khuê cũng đáp lại rất nhỏ, vừa đủ cho kẻ đối thoại nghe:
- Tôi nằm thao thức mãi không nhắm mắt được, nên định ra đây hiệp lực với các bác để truy bắt thủ phạm. Vừa nói chàng vừa dáo dác nhìn lên nóc dinh như cố tìm kiếm một bóng dáng bí mật nào đang ẩn nấp ở đó.
Tên lính nhìn chàng một cách thương hại và bảo:
- Bác vừa mởi nhập ngũ hay sao mà trông khờ khạo thế ? Có ai cần đến bác giúp đâu ? Không phải phiên canh, cũng không phải phận sự mình thì hãy trở vào trại mà nghỉ đi. Nếu lẩn quẩn ở đây rủi viên vệ úy trông thấy, ắt là sẽ bị trừng phạt nặng.
Văn Khuê giả vờ như không chú ý đến lời khuyên của tên lính. Chàng vẫn ngước mắt lên trời đăm đăm nhìn qua bóng tối dầy đặc, mịt mù. Đột nhiên chàng reo lên như vừa phát giác được một sự gì kỳ lạ :
- Kìa kìa ! Thích khách đây rồi, hãy vây bắt lấy nó.
Miệng vừa la, tay chàng vừa chỉ rối rít lên phía mái nhà
như chính mình đang thấy rõ ràng.
Tiếng kêu của chàng làm cho mấy chục tên lính canh hoảng hốt tưởng thật, ùn ùn đua nhau chạy quanh tìm kiếm, cả viên vệ úy chỉ huy đám lính cũng mắc mưu, nhảy tót ra ngoài sân, chăm chú đưa mắt nhìn lên...
Trong khi ấy, thừa lúc hỗn độn, Văn Khuê đâm đầu chạy thẳng một mạch vào dinh và lọt vô phòng của viên Trấn thủ như một luồng gió.
Và như trên kia đã nói, gã binh sĩ vạm vỡ đã thình lình đột nhập vào buồng riêng của Trịnh tam Miêu chính là Bùi văn Khuê vậy.
Như chúng ta đã thấy với dáng điệu hấp tấp và sợ hãi, lúc ấy, Văn Khuê vừa lớn tiếng cấp bảo, vừa giả vờ giơ tay chỉ chỏ lên mái nhà khiến hai vợ chồng viên Trấn thủ trúng kế, ngẩn nhìn theo. Nhơn cơ hội ấy, chàng lực sĩ lẹ làng rút dao ra phóng lên mặt mâm đèn á phiện.
Cử chỉ ấy, thoáng diễn ra, trong khoảnh khắc của một lằn chớp, nên không ai nhận thấy. Giữa sự kinh hoảng, viên tham quan cứ đinh ninh rằng cũng như lần trước, võ khí bí mật nầy đã từ trên cao gieo xuống,
Thế rồi, trong không khí hỗn loạn bao trùm lấy dinh Trấn thủ, mọi người, kể từ Tam Miêu cho đến người lính chót, mải khủng khiếp và kinh dị trước một hiện tượng kỳ bí mà họ không sao hiểu nổi, nên không còn dư thì giờ để chú ý tới gã binh sĩ lạ mặt là Bùi văn Khuê.
Cho tới khi chắc chắn rằng kẻ bộ hạ của Trịnh Tùng vì sợ chết, rốt cuộc phải làm theo ý muốn của mình, chàng lực sĩ lẻn ra khỏi dinh, cũng chẳng ai hay biết...
Nhiệm vụ đã hoàn thành xong, chỉ một lát sau, Văn Khuê đã có mặt tại một túp lều tranh ở vùng ngoại ô Nghệ An, nơi hẹn hò giữa chàng và Lê thế Hùng cùng Vương Bột.
Chàng lực sĩ kể lại cho hai họ Lê, Vương nghe rõ đầu đuôi công tác của mình, rồi kết luận:
- Bây giờ chúng ta phải rời khỏi tỉnh này, để tránh sự truy nã của kẻ thù. Và đi lần sang khu vực của Chúa Mạc. Tại đó ta sẽ tùy cơ liệu định. Nếu Chúa Mạc quả tình biết trọng dụng kẻ hiền tài, thì anh em ta cũng không ngần ngại gì mà không hiệp tác để dựa vào binh lực hùng mạnh của người mà đánh ngã chúa Trịnh, hầu diệt một đại họa cho nước, cho dân và luôn thể báo phục mối thù không đội chung trời.
Thế Hùng và Vương Bột đều gật đầu tỏ ý tán thành, chợt thấy vị công tử đang liếc nhìn họ Vương một cách ái ngại, Văn Khuê hiểu ý, hướng về Vương Bột tiếp lời:
- Về trường hợp của hai cháu, xin Vương huynh cứ an tâm. Trước đây, tôi đã hứa sẽ lo cho số phận của các cháu được an toàn, và tôi quyết giữ trọn lời hứa ấy. Đây các bạn hãy nghe, tôi đã sắp đặt mưu kế để giải thoát các cháu một cách rất êm ái như vầy.
Dứt lời, chàng kề sát tai Thế Hùng và Vương Bột mà thì thầm rất khẽ.
Cả hai chăm chủ nghe và cả mừng, khen lấy khen để không ngớt miệng :
- Hay lắm! Hay lắm! Bùi đại ca quả là một bực cao kiến phi thường, mới nghĩ ra được một diệu kế như thế.

 
Trang 85
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.09.2020 13:46:21 bởi Thanh Vân>
Trong hầm tối om, họ phải đưa tay sờ soạn để tìm kiếm. Xúc giác cho họ biết, mặt đất ở đây ẩm ướt, lầy nhầy toàn những rêu xanh. Đồng thời, một mùi hôi tanh khó chịu bốc lên đến gần nghẹt thở. Như sực nhớ điều gì, vị công tử cất tiếng hỏi bạn:
- Đại ca có đem theo vật dẫn hỏa đấy chứ?
- Có sẵn đây - chàng lực sĩ đáp.
Nói xong, chàng rút trong mình ra một cây bùi nhùi mà chàng đã cẩn thận đem theo từ Phủ Diễn, và châm lửa đốt.
Ánh lửa loé lên, soi sáng tất cả cảnh ghê rợn của chốn ngục tù nầy. Đây là một cái hang, bốn bề khép chặt bằng những vách đá kiên cố, không hy vọng gì có thể phá vỡ để thoát được.
Nhưng, điều khiến cho họ Bùi lấy làm lạ hơn hết là thấy bạn vẫn kẹp cứng trong cánh tay chú tiểu đã bị chàng thộp óc lúc còn ở trên miệng hầm.
Như hiểu ý bạn, vị công tử nhẹ nhàng buông tay cho chú tiểu rơi xuống đất và bảo:
- Tên khốn nạn nầy may ra có thể giúp ích cho chúng ta, miễn là nó chưa chết.
Chú tiểu chưa chết thật. Nói cho đúng hơn, chú chỉ chết khiếp và suýt chết vì nghẹt hơi trong khi cổ chú bị khép chặt trong bàn tay của Thế Hùng như một gọng kềm. Nằm trên mặt đất, chú tiểu bắt đầu sẽ cựa quậy, từ từ mở mắt ra và sửng sốt nhìn quanh.
Thốt nhiên, hắn rú lên:
- Chết rồi ! Rắn độc ! Rắn độc sắp bò ra kìa kìa.
Tiếng hét kinh hoàng của chú tiểu khiến Bùi văn Khuê định tâm nhìn lại chỗ mình đứng: Xung quanh vách đá kiên cố đều phủ kín rêu xanh, nhưng phía dưới chân tường, đã nứt nẻ lộ hai khoảnh to như hai chiếc hang sầu thẳm, đen ngòm. Mắt chú tiểu láo liên nhìn về phía hang, kinh sợ.
Họ Bùi chụp tay Thế Hùng kéo ngược ra sau, lưng sát vào tường. Như hiểu ý bạn, vị công tử tay nắm chặt lấy chuôi gươm, sẵn sàng nghênh địch...
Dưới hầm sâu, mùi tanh hôi càng lúc càng nồng nặc. Chú tiểu mặt xanh lét, không còn chút   máu, tay chân run bây bẩy, không bò dậy được. Hắn ú ớ gọi:
- Rắn độc... Mãnh xà Hoa... Kìa... Nó... bò ra kìa...
Có tiếng gì như tiếng ống bễ lò rèn, thổi phù phù, nghe thật rợn người. Từ trong một hang đá, một chiếc đầu rắn to lớn vọt ra, rồi cất cao lên khỏi đầu hai chàng dũng sĩ. Cả hai kinh hồn đứng sát vào nhau, hai tay kiếm đưa thẳng ra trước, phòng thân.
Chú tiểu đã ngất lịm đi vì sợ. Riêng Bùi văn Khuê và Thế Hùng đã từng xông pha nhiều trận, từng coi cái chết không ra gì, từng gặp bao nhiêu chuyện kinh tâm táng đởm mà còn thấy kinh hãi trước một con quái vật.
Mãnh xà không biết dài bao nhiêu thước, thân tròn to hơn chiếc khạp da bò lốm đốm điểm hoa láng nhầy, chói óng ánh dưới ánh lửa bập bùng của cây bùi nhùi...
Biết gặp phải một kẻ thù quái dị và vô cùng nguy hiểm, Bùi văn Khuê liền cẩn thận cắm chặt bùi nhùi cháy xuống đất để rảnh tay chống mãnh xà.
Trên kia, rắn độc như vừa ra khỏi cửa hang, chưa quan sát được mọi vật trong hầm. Nó vẫn thở phù phù, đầu lắc lư, đưa qua đưa lại, thân mình vẫn dính chặt trong hang, không đoán được còn bao dài nữa đến khúc đuôi.
Thế Hùng khẽ thúc vào hông bạn:
- Đại huynh phải đề phòng cẩn thận. Con mãnh xà linh nầy rất nguy hiểm.
Họ Bùi không chú ý đến lời bạn. Chàng đang nghĩ cách nên đối phó thế nào cho có hiệu quả, và đồng thời, chỉ trong giây phút, chàng cũng dự liệu tất cả nguy cơ có thể xảy ra.
Thế Hùng lại nghĩ khác, chàng quyết một trận thư hùng với rắn rồi có chết cũng cam tâm.
Chàng nhốm mình định phóng lên phía trước, nhưng họ Bùi đã nắm chặt tay bạn, ngăn lại:
- Hiền đệ đừng nóng lỡ việc, chúng ta không nên dùng sức.
Mãnh xà lúc ấy như bắt đầu thấy rõ những khách lạ trong hang, đúng hơn là những miếng mồi ngon của nó. Miệng nó càng phun hơi độc ghê sợ hơn và nhanh như chớp, chiếc đầu kinh tởm kia phóng mạnh về phía hai chàng.
Bùi văn Khuê và Thế Hùng, vội nhảy vẹt qua, mỗi người mỗi góc hầm. Đầu mãnh xà hụt mồi ngon, xắn vào vách đá đánh ‘‘độp’’ một .tiếng lớn. Bị đau, nó càng hung hãn hơn. Hơi độc từ trong miệng nó tuôn ra mỗi lúc càng nhiều, Thế Hùng cảm thấy choáng váng.
Trong tình thế khẩn cấp nầy hai chàng dũng sĩ cùng nghĩ là phải hành động gấp rút.
Họ Bùi chợt nhớ ra vật gì. Chàng lẹ làng đưa tay vào túi moi ra một cái ống sáo nhỏ, đưa lên môi. Một tiếng kêu lanh lảnh phát ra... Thế Hùng kinh dị vô cùng. Từ lâu, đặt hết tin tưởng vào tài trí của người bạn đã từng cứu chàng thoát chết, tin tưởng ở mỗi hành động của họ Bùi đều đưa đến một kết quả tốt đẹp, nhưng đến việc này thì thật quá điên rồ. Giữa lúc mãnh xà hoa phun hơi độc, tung hoành mãnh liệt để giết hại người, đã không chống trả bằng kiếm báu để tìm đường thoát thân, đằng này họ Bùi lại ngang nhiên trổi sáo…
Nhưng Thế Hùng xiết bao kinh dị. Chàng không ngờ, thực là kỳ lạ. Mãnh xà tự dưng bớt hung hăng và nó quay đầu về phía Bùi văn Khuê, đôi mắt lờ đờ...
Thế Hùng đứng ngẩn ngơ, mồm há hốc trước một trò chơi quái dị. Họ Bùi vẫn ung dung trổi khúc nhạc tiêu hồn: tiếng tiêu càng réo rắt bao nhiêu, mãnh xà càng đờ đẫn bấy nhiêu- Thế Hùng bỗng giật mình. Chàng thấy Bùi văn Khuê giậm chân tức tối, mắt nháy lia như ra dấu bảo chàng mau ra tay hành động.
Thế Hùng chợt hiểu, vội xách kiếm phóng mình tới chém ngang con mảnh xà. Một tiếng phụp rợn người, chiếc đầu rắn độc gục xuống, thân nó quằn quại, giẫy giụa kinh hồn, máu đen xẩm tanh hôi tuông xối xả. Họ Bùi ngưng tiếng sáo, xông vào bồi thêm vào đầu mãnh xà nhiều lát kiếm. Quái vật lần lần bớt giẫy giụa rồi chết hẳn.
Bùi văn Khuê và Thế Hùng đã bình tâm lại. Cả hai, cẩn thận không cho máu thấm vào mình vì không hiểu chất độc mạnh đến độ nào.
Thế Hùng bước đến lay gọi chú tiểu; hắn chết giấc nằm trong một góc hầm nên không chứng kiến được cảnh chiến đấu ghê rợn vừa qua. Vị công tử phải giựt tóc mai hắn mới tỉnh lại. Đằng kia Bùi văn Khuê đã mồi thêm một cây bùi nhùi khác, ánh sáng tỏ hơn. Chú tiểu đã tỉnh hẳn, ngơ ngác nhìn quanh, bỗng hắn rú lên một tiếng thất thanh:
- Mãnh xà... hoa !
Nhưng khi thấy rõ rắn độc đã bị giết, hắn mới hoàn hồn lồm cồm bò dậy, nhìn hai chàng dũng sĩ...
Bùi văn Khuê bước tới nắm cổ hắn:
- Muốn sống chỉ đường cho bọn ta thoát khỏi chốn nầy, bằng không ta sẽ lấy đầu mi như mãnh xà kia...
Chú tiên run bây bẫy:
— Trăm lạy ngài ! Tội nghiệp ! Đừng giết.đỀ tôi chỉ 16i ra. Ở đây có bai miệng hang ăn luồng ra bờ sông cầm, nhưng mỗi hang đều có một con mãnh xà ản ngữ...
Thế-Hùng chăm chú nhìn hai miệng hang. Con mãnh xà vừa chết nằm bít hễt một miệug hang không lồm sao qua được. Hang bên kia đen ngòm, ghê rợn. Theo lời chú tiểu, thì chắc chắn còn một con rắn độc nằm bên trong. Bùi văn Khuê lại nghĩ khác, chàng cho rằng: chú tiểu này định dọa hai người mắc kẹt nơi đây để chờ bọn đồng đảng tiếp cứu.
Họ Bùi quát lớn:
- Đừng láo! Hãy dẫn đường cho chúng ta đi. Chần chờ ta giết ngươi tức khắc...
Chú tiểu kinh hãi:
- Xin nhị vị đừng nóng giận. Thực tình dưới hầm nầy có đến hai con mãnh xà hoa hung tợn. Nếu ra bây giờ thật khó thoát chết.
Bùi văn Khuê càng nghi ngờ hơn; chàng nhứt định thoát bằng con đường hang rùng rợn đó, nên không nói thêm lời nào, đẩy cổ chú tiểu tiến lên trước, bắt buộc chui vào hang... Cây bùi nhùi vẫn cháy sáng trên tay họ Bùi, Thế Hùng xách kiếm đi sát vào bạn, để phòng bất trắc...
Đường hang khúc khuỷu, khá rộng, mùi tanh hôi nòng nặc như bên kia hầm, chứng tỏ nơi đây là chốn ra vào của loài quái vật. Thỉnh thoảng, hai chàng dũng sĩ lại bước nhắm trên những đống xương khô, trắng đục của bao người xấu số đã chết ở
đây....
Họ Bùi bỗng thấy buồn man mác và càng căm giận bè lũ gián điệp họ Trịnh, đã cố tâm thiết lập nơi nầy để hãm hại người lành. Sự tức giận làm tăng thêm sức mạnh của bàn tay đang đặt trên cổ chú tiểu khiến cho hắn phải la oái lên đau đớn... Thế Hùng kinh lạ nhìn bạn và chừng như hiểu được sự biến chuyển tình cảm trong lòng bạn khi bước qua những đống xương tàn.
Vị công tử lặng lẽ cái đầu. Đoàn người đi mỗi lúc mỗi mau nhưng không kém cẩn thận, vì từ đây ra đến bờ sông Cẩm là cả một đoạn đường dài.
Bỗng chú tiểu đứng hẳn lại la thất thanh:
- Mãnh xà kia kìa!
Bùi văn Khuê và Thế Hùng vừa kịp nhìn thấy một đống gì đen ngòm, Iởm đởm hoa, thì ‘‘ào’’ một tiếng như gió đập vào cửa, một chiếc đầu rắn kinh tởm phóng ngược về phía hai người.
Họ Bùi buông chú tiểu cùng Thế Hùng nhảy vọt ra sau. Mãnh xà mổ ngay vào mình chú tiểu, chú hét một tiếng đau đớn té nhào xuống đất... Như một cuộn dây to lớn, rắn độc luồn mình quấn chặt lấy kẻ bạc mạng. Chú tiểu quằn quại trong vòng dây rắn, cứ mỗi lúc càng siết mạnh hơn: Xương chân tay gẫy kêu răng rắc bắt lạnh mình. Máu miệng y trào ra, mắt trợn trừng. Rắn độc uốn khúc, đưa lần thây chú tiểu xuống phía đuôi và nó bắt đầu nghĩ đến hai miếng mồi còn lại...
Thế Hùng kinh hãi trước sức giết người kinh khủng của mãnh xà và chàng thấy mất tin tưởng vào ống sáo của Bùi văn Khuê.
Chàng thối lui ba bước giữ thế thủ khi con rắn phóng tới giữa lúc họ Bùi đưa ống sáo lên môi. Bản nhạc thần, huyền hoặc lại trổi theo cung bậc bổng trầm như thu hồn rắn độc.
Nhạc điệu của ống sáo có một sức mạnh lạ lùng. Mãnh xà như đờ đẫn đôi mắt hiền lành nhìn Bùi lực sĩ.
Thế Hùng, như một mũi tên, phóng tới, lia ngọn kiếm ngang đầu quái vật. Chiếc đầu kinh tởm lăn long lóc dưới đất, thân mình rắn quật quờ, máu đen sẫm tuôn tràn như dòng suối nhỏ.
Hai chàng tráng sĩ nhẹ nhàng vọt qua mình rắn và dẫn mình vào trong hang sâu. Cây bùi nhùi trên tay Bùi văn Khuê tắt ngầm, bóng tối lại phủ dầy. Hai ngươi đành phải dừng lại, đánh lửa đốt cây khác để soi đường.
Đường đi ngoắt ngoéo nhưng xa thẳm, không biết còn bao xa nữa mới đến bờ sông Cẩm. Nóng nảy vô cùng và muốn thoát khỏi đường hang nầy cho thật mau, nhưng hai dũng sĩ cũng đành phải chịu vì hang đá tối om, thiếu ánh lửa bùi nhùi, họ như kẻ mù đi đêm...
Họ đi âm thầm dưới hang sâu, qua nhiều dặm đường, Bùi văn Khuê phải thay không biết mấy lượt bùi nhùi, mỗi lần như vậy chàng lo lắng hơn lên. Đống bùi nhùi mang theo từ Phủ Diễn đã vơi đi nhiều và sắp hết. Không khéo phải mò mẫm trong bóng tối là một điều hết sức nguy hiểm.
Lê thế Hùng không hiểu rõ nỗi lo lắng của bạn, nhưng chàng không kém nôn nao để ra khỏi đây. trở lại ngôi chùa cổ hoang tàn, sửa trị bọn gián điệp của chúa Trịnh một phen cho bỏ ghét.
Họ Bùi bỗng reo lên một tiếng. Chàng dừng lại, dang tay hít lấy không khí. Mùi tanh hôi ghê tởm của hang Mãnh xà đã loãng mất, nhường chỗ cho không khí trong lành, mát dịu. Gió lành lạnh, xua đuổi hơi nóng bức của hang sâu.
Bùi văn Khuê gọi vang Thế Hùng
- Chúng ta đã thoát nguy rồi hiền đệ, gió lạnh báo hiệu đã gần đến ven sông Cẩm. Hai người sấn tới phía trước, mặc cho ánh lửa bùi nhùi tắt ngấm đi. Cũng may là đường hang đã bắt đầu ngay thẳng chứ không khúc khuỷ như trước nên chỉ trong một loáng hai người đã ra tới cửa hang.
Thế Hùng đứng dừng lại, hình như có gì lành lạnh dưới chân. Chàng kinh ngạc gọi Bùi văn Khuê:
- Đại huynh! Nước ở đâu tràn ngập thế nầy?
Họ Bùi để chân đến  mặt nước, từ lúc nãy nhưng chưa vội nói. Chàng đang suy tính một phương kế thoát khỏi miệng hang vì nước sông      Cẩm đã ngập mất lối ra.    
Đây là một sự nguy hiểm không ngờ trước được, miệng hang ăn luồn xuống dòng sông, muốn ra chỉ có một cách là lặn xuống nước để trồi lên.
Thật là một chuyện may rủi, nếu từ đây ra miệng hầm còn chừng một trăm dặm thì sức người làm sao lặn tới ! Bùi văn Khuê lo ngại vô cùng. Chàng quay sang nhìn bạn. Thế Hùng đang cặm cụi đánh đá đốt bùi nhùi. Ánh lửa rọi sáng hang sâu. Hai người cùng thấy rõ trước mặt một vùng nước lặng lờ, trên đầu đá chồm phủ bít bùng.
Thế Hùng kinh hãi:
- Chúng ta bị giam ở đây ư?
Bùi văn Khuê lặng lẽ gật đầu rồi ngồi xuốngi bên bạn.
Một lát sau, chàng đứng lên tuốt bỏ mọi thứ cần thiết, lột áo quần bên ngoài, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi rồi nhảy ùm xuống nước.
Thế Hùng gọi với theo :
- Kìa ! Đại ca đi đâu đấy?
Từ dưới nước, Bùi văn Khuê trồi đầu lên nói vọng lại:
- Hiền đệ chờ đó để tôi dò thử đường ra.
Thế Hùng chỉ kịp thấy bọt nước tung tóe lên rồi họ Bùi mất dạng.
Chàng trở lại chỗ ngồi yên lặng.
Thời khắc qua mau, Bùi văn Khuê vẫn biệt tăm dưới nước. Thế Hùng bồn chồn lo ngại vô cùng: không biết họ Bùi đã gặp phải tai nạn gì? Chàng muốn lặn theo tìm bạn để giúp đỡ trong lúc nguy nan nhưng ngại họ Bùi quay về không gặp sẽ lo lắng cho mình nhiều hơn.
Bỗng có tiếng nước khuấy mạnh dưới kia, Thế Hùng vui mừng đứng lên đón bạn. Bùi văn Khuê vừa ra khỏi mặt nước liền nằm sải tay xuống thở dốc. Đây là lần đầu tiên Thế Hùng thấy bạn mệt mỏi như vậy.
Họ Bùi nói:
- Từ đây ra đến sông Cẩm, phải lặn gần một dặm đường. Hang đá hốc hiểm vô cùng... Tôi đã ráng hết sức mới lên được... mặt nước.
Nghỉ mệt một lúc, chàng tiếp:
- Trời trên kia đã hừng sáng, hiền đệ đủ sức lặn qua nổi hay không?
Thế Hùng hơi lo ngại. Chàng nhớ là còn phải đèo thêm tất cả đồ cần thiết, nhưng trong giờ phút nầy không còn cách nào khác hơn. Ở đây rồi cũng chết mòn mỏi mà thôi.
Chàng nói với bạn:
- Cứ liều đi đại ca. Đệ không quen lặn xa, nhưng chắc không đến nỗi nào.
Bùi văn Khuê đứng lên, dồn đồ vật vào bọc, cuộn lại cho chắc rồi nhảy tùm xuống nước. Thế Hùng vội vã nối gót theo bạn.
Trời khuya, nước lạnh như dao cắt ruột, hai người tay ôm bọc, nhoài mình lội đi một lúc, lấy hơi lặn sâu tận đáy hang. Họ lần qua những hốc hiểm lởm chởm đá nhọn, cẩn thận lắm mới khỏi trầy tay, xể mặt.
Hiểu rõ phần nào đường ra, Bùi văn Khuê lội phăng phăng, thỉnh thoảng ngừng lại chờ Thế Hùng đang theo sau, một cách mệt nhọc.
Hai người đi dưới đáy nước thật lâu mới đến cửa hang. Bùi văn Khuê nắm vai Thế Hùng chỉ thẳng lên, ra dấu bảo đã đến dòng sông Cẩm. Bây giờ chỉ cần vọt mình lên là trồi khỏi mặt nước.
Thế Hùng đã đuối sức lắm rồi. Bùi văn Khuê phải dìu bạn ra khỏi cửa hang lấy đà vọt lên. Hai người từ từ trồi khỏi mặt nước. Thế Hùng đã mất hết cảm giác, tứ chi rũ liệt, mắt lờ đờ như sắp lịm đi. Họ Bùi quăng hai bọc đồ vào vai, một tay đỡ lấy mình bạn, một tay đùa nước cố bơi vào bờ.
Sông Cẩm bình lặng trong buổi hừng đông. Gió lao xao qua những hàng cây rũ lá ven bờ, nghe như những tiếng thì thầm
Chỉ có tiếng chim ríu rít trên cành là còn gây được cảnh sống động của thiên nhiên. Bùi văn Khuê đã lôi bạn được vào bờ và đặt Thế Hùng nằm dài trên bãi có. Chàng tưởng chừng như chỉ có mình và bạn giữa cảnh trời rộng sông dài.
Qua những ngày chiến đấu không ngừng luôn luôn phải đương đầu với bọn trinh thám Trịnh Tùng, hết rơi giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp quân binh lại bị chụp vào lưới rồi lọt xuống hầm sâu để chống chọi với mãnh xà quái dị, Bùi văn Khuê cũng thấy thấm mệt. Chàng nằm xuống cạnh Thế Hùng và thiếp đi lúc nào không biết.
 

 
Thế Hùng chợt tỉnh dậy và cảm thấy ê ẩm khắp thân mình. Chàng nhớ rõ đã cùng bạn trầm mình xuống đáy nước để thoát khỏi hang sâu, sao bây giờ lại nằm đây... ? Thế Hùng ngồi nhổm dậy và khi thấy họ Bùi thiêm thiếp giấc nồng bên cạnh, chàng khẽ mỉm cười ; chàng chợt hiểu nhờ bạn cứu thoát một lần nữa giữa lúc ngất lịm đi dưới đáy sông. Vị công tử khẽ nhắc chiếc bọc kê vào đầu cho bạn làm gối và trong lúc tình cảm bộc phát đậm đà, Thế Hùng đã nghĩ rằng không bao giờ chàng làm phật lòng họ Bùi.
Nắng sáng đã trải trên ngọn cây, nội cỏ, xuống mặt sông phẳng lặng, phản chiếu một màu vàng ánh lên bầu trời xanh biếc... Có tiếng gì như tiếng vó ngựa dồn dập trên đường. Thế Hùng kinh hoảng vội lay gọi Bùi văn Khuê. Chàng lực sĩ tỉnh dậy ngay và chụp lấy thanh bảo kiếm, cả hai chạy biến vào bụi rậm cạnh con đường mòn dọc theo dòng sông Cẩm.
Từ xa, hai kỵ sĩ đang cúi mình trên lưng ngựa phi nhanh về phía hai chàng. Chú ý nhìn kỹ, đấy là hai nhà sư mặc áo chẽn màu đà, đầu chít khăn sụp xuống tận ót. Không nói không rằng, Bùi văn Khuê nhảy vọt lên một ngọn cây, cành lá um tùm rồi lần xuống những cành cây vươn ra giữa đường. Vừa kịp hiểu ý bạn, Thế Hùng vội liệng gói đồ vào bụi rậm và sẵn sàng tiếp ứng. Cả hai đều đoán chắc bọn sư hổ mang này cũng là bè lũ trinh thám của Trịnh Tùng.
Đôi ngựa chạy song song trên đường mòn khô trắng. Hai nhà sư không ngờ trước được những gì sắp xảy đến cho mình. Vó ngựa vẫn đều đều qua nơi mai phục của hai chàng tráng sĩ. Như một con diều hâu đớp lấy đàn gà từ trên cành cây cao ngất. Bùi văn Khuê lao mình xuống ôm chầm lấy hai nhà sư rồi lăn luôn xuống đất.
Bị chụp bất thình  linh, hai nhà sư nhào lăn xuống đất, đôi ngựa kinh hoàng chồm                  dậy hí vang   lên. Nhưng Thế Hùng đã xuẩt hiện, chụp lấy hai cương ngựa, lôi hai con vật đêm buộc vào trong bụi rậm.
Ngoài kia, họ Bùi đã lẹ làng phóng tới đánh vào cằm một nhà sư một thoi như trời giáng, khiến người ngất lịm đi. Nhưng người kia đã lồm cồm bỏ dậy, rút đoản đao hét vang như sấm:
- Giỏi cho tên cướp đường khốn nạn, mi không biết oai danh của những ‘‘hung thần’’ đây sao mà dám trêu chọc.
Bùi văn Khuê cả cười:
- Những ‘‘hung thần’’ hay những ‘‘con chó săn’’ của Trịnh Tùng. Ha ! Ha ! Thật là một lũ chuột mượn oai hùm.
Nhà sư giả hiệu nhảy vào huơi đoản đao chém tới. Họ Bùi né sang một bên rồi nhanh nhẹn đá thốc vào bụng gã. Không đỡ nổi miếng đá ác hiểm, tên gián điệp của chúa Trịnh lăn tròn mấy vòng rồi ngã ra bất tỉnh.
Thấy Bùi văn Khuê trừ được hai đối thủ, Lê thế Hùng vội vã dắt ngựa ra và hai người cùng lên yên theo con đường cũ trở lại chùa hoang, nơi sào huyệt của những nhà sư trá hình hiểm độc.
Cảnh vật ban ngày ở hai bên vệ đường càng điêu tàn thảm khóc. Nơi đây, ngày xưa có lẽ là những làng mạc sầm uất, bây giờ còn lại những mảnh vườn hoang, những thềm nhà đổ,những cột kèo cháy xám, hậu quả của họa lửa binh.
Hai vị tráng sĩ không còn thì giờ để nhìn cánh vật. Họ mải miết trên đường đi, mong cho mau đến nơi để trừng trị quân tàn ác đã dùng độc kế, suýt chút nữa làm vong mạng cả hai.
Đến lối rẽ quanh co mà đêm rồi họ đã đi qua, Bùi văn Khuê và Thế Hùng càng cẩn thận hơn. Vừa thoáng thấy nóc chùa hoang, cả hai đều xuống ngựa, đem giấu vào bụi rậm rồi lẳng lặng tiến vào chùa.
Qua những mương vườn khô cạn, hai tráng sĩ đến bên hàng rào tre và nhón gót phóng mình qua nhẹ nhàng như chiếc lá rơi.
Sân chùa vắng vẻ lạ lùng, chỉ nghe tiếng gió rít qua cánh cửa chùa loang lở... Chợt phía trong am tự vang lên một chuỗi cười ghê rợn: tiếng cười lanh lảnh làm cho họ Bùi nhớ đến giọng cười của nhà sư hiểm ác đêm qua đã dùng cơ quan bí mật đưa chàng và Thế Hùng xuống hầm sâu. Bùi văn Khuê cảm thấy tức giận vô cùng ; chàng ra dấu cho Thế Hùng cẩn thận rồi bò lần đến cửa chùa nhìn vào trong.
Gian trước vắng vẻ thê lương, những bàn thờ Phật không đèn nhang, hương khói, đổ nát ngang tàn. Từ gian phòng bên, tiếng cười sặc sụa vẫn vang lên từng chập.
Lại có tiếng la khóc thảm thiết của thiếu nữ. Thế Hùng khẽ thúc vào hông bạn:
- Làm gì có đàn bà giữa nơi hoang phế này?
Bùi văn Khuê lắc đầu không hiểu.
Giọng sư ông giả hiệu hôm qua lại lè nhè:
- Nào cô em hãy lại gần đây... Ta vừa làm xong việc của Bình an Vương giao phó, đưa lũ chúng xuống hầm sâu cho đôi mãnh xà phanh thây thì ta liền nghĩ ngay đến cô em... Chứ ai nửa đêm trường phải đuổi ngựa hằng mấy mươi dặm cho cực thân... Phải không nhị vị hiền đệ?
Bùi văn Khuê, qua khe cửa, khẽ liếc nhìn vào. Trên một sạp gỗ, lên gián điệp của chúa Trịnh đang cùng hai nhà sư trá hình khác chè chén say sưa bên cạnh một cô gái run sợ vì khiếp đảm. Bỗng hắn đặt mạnh chén rượu xuống sạp, rồi nhìn qua cửa sổ, mở ra con đường mòn mà hai tráng sĩ vừa mới đi vào. Bùi văn Khuê và Thế Hùng đều rút kiếm ra chuẩn bị nghinh chiến, cả mấy tên kia cũng lạ lùng về thái độ của bạn...
Nhà sư cất tiếng giận dữ :
- Thế là nghĩa lý gì ? Hai thằng khốn nạn sai đi tí việc từ rạng đông đến bây giờ vẫn biệt dạng. Hừ! Lại la cà ở xó nào rồi; về đây rồi hắn biết tay ông...
Hắn chưa kịp nói thêm một lời nào nữa thì từ bên ngoài hai bóng đen đã phi mình đến bên sạp gỗ tiếp theo một chuỗi cười ghê rợn của họ Bùi:
- Hai ông đã về đến đây rồi. Nhà sư ạ ! Hà hà...
Cả bọn kinh hoàng trước một việc quá sức đột ngột, nhất là tên gián điệp hiểm ác. Mặt gã tái mét lên vì giận cho cơ mưu bại lộ kế độc bị phá tan tành. Còn bọn kia quá sợ hãi, trố mắt nhìn, chúng tưởng chừng hai họ Bùi, Lê từ một thế giới xa xăm nào mới trở về. Nhưng tiếng hét của gã sư hổ mang làm cho chúng giật mình, chụp lấy vũ khí và vây đánh hai tráng sĩ Bùi, Lê.
Tên gián điệp cất tiếng lè nhè:
- Kìa... lũ oắt con, đã thoát nạn không tìm đường chạy trốn, lại trở lại đây nạp mạng nữa ư?
Thế Hùng không nói thêm một lời nào, hươi kiếm chém sả vào đầu hắn. Tên nầy đưa đoản đao lên. Sau một tiếng kẽng chát chúa, Bùi văn Khuê đã đoán được phần nào tài nghệ của nhà sư. Chàng quát bảo Thế-Hùng:
- Hiền đệ sang đây đùa giỡn với hai gã chó chết kia, còn tên này hãy để cho ta.
Họ Bùi muốn thanh toán gấp bọn trinh thám đội lốt nhà sư ở cảnh chùa hoang vắng này để ra đi cho kịp thì giờ vì chàng lo ngại hai tên trinh thám bị cướp ngựa lúc nẩy, khi tỉnh dậy sẽ cấp báo cho bè lũ Trịnh Tùng và Nguyễn hữu Liên kéo quân đến đây càng rắc rối hơn nữa...
Nhưng thấy bạn vẫn một mực muốn xử tội lên gián điệp, chàng cũng chiều lòng. Chàng áp đảo hai tên kia vô góc phòng và chỉ một loáng. Bùi văn Khuê đã đưa chúng về địa phủ. Đoạn chàng xây qua giúp Thế Hùng.
Nhà sư giả hiệu cũng thuộc vào hàng tinh thông kiếm pháp.
Hơn mười hiệp qua, hắn không nhường tài Thế Hùng. Họ Bùi chú ý thấy hắn tuy giao đấu với Thế Hùng nhưng cặp mắt hắn thỉnh thoảng nhìn lên trần nhà, chỗ một chiếc đèn treo ba ngọn. Chàng nghi ngờ có cơ quan bí mật nào đây vì thấy dường như hắn cố dụ Thế Hùng đến đó.
Vừa nghĩ ra một kế, họ Bùi muốn biết sự xét đoán của mình có đúng hay không, chàng hét to lên:
- Thế Hùng ! Mau ra khỏi phòng!
Không rõ chuyện gì, nhưng nghe tiếng la của Bùi văn Khuê, Lê công tử liền bỏ vòng chiến nhãy vọt ra ngoài. Trong kia họ Bùi phi mình lên chém đứt sợi dây treo ngọn đèn rồi nép sát vào tường. Một chuyện hết sức đột ngột xảy ra: từ trên sà nhà một tấm lưới vụt rơi xuống chụp ngay nhà sư giả hiệu quấn chặt lại. Hắn ta hét vang trời, cố sức vùng vẫy và dùng đoản đao rọc lấy tấm lưới.
Họ Bùi cười khanh khách nhảy tới dùng thế cướp lấy đoản đao và lanh như cắt chụp lấy sợi dây treo đèn lúc nẩy, chàng buộc vào tấm lưới, rút tên gián điệp hiểm ác treo lên sà nhà. Hắn hầm hừ la hét, nguyền rủa hai chàng thậm tệ...
Thiếu nữ lúc nãy, quỳ lạy kêu van:
- Xin nhị vị tráng sĩ cứu giùm cho. Nguyên thiếp ở với cha mẹ buôn bán tại huyện bên cạnh, nửa đêm hôm qua bị tên ‘‘hổ mang’’ nầy đến bắt cóc đem về đây...
Họ Bùi nhìn thiếu nữ, thương hại:
- Thôi được, từ giờ phút này cô đã được giải thoát rồi. Cô hãy mau chân rời khỏi nơi đây mà trở về nhà.
- Dạ dạ ! cảm đội ơn tráng sĩ... Thiếu nữ lạy tạ, rồi thoát chạy đi một nước.
Bị Ireo lơ lửng trên sà nhà, tên gián điệp gầm thét vang ầm, nguyền rủa chán rồi xoay qua hâm dọa... Bùi văn Khuê không thèm đáp, băng mình ra vườn, ôm củi chất quanh chùa. Thế Hùng hiểu ý nên vội vã tiếp tay cùng bạn. Họ muốn thiêu luôn cảnh chùa hoang tàn này để cho bọn trinh thám của Bình an Vương không còn dùng làm sào huyệt hãm hại người lành được nữa...
Họ Bùi đánh đá đốt vài cây bùi nhùi rồi phóng hỏa đốt chùa. Lửa hồng mạnh ngọn gặp gió thổi lồng lộng chẳng mấy lúc bốc lên cao.
Tên gián điệp hiểm ác giẫy giụa trong đống lửa cháy ngất trời. Hắn đã tự tạo những cơ quan hiểm độc ám hại mọi người thì phải chết vì những sáng kiến mới lạ của hắn. Đó mới đúng với luật quả báo.
Hai tráng sĩ Bùi, Lê vội vàng từ bỏ cảnh chùa, lên ngựa ra roi nhắm hướng Thăng Long trực chỉ...
Đi một đoạn đường dài, quay lại hai người còn thấy ngọn lửa cháy đỏ trời, tiêu diệt một sào huyệt ghê tởm của bè lũ trinh thám Trịnh Tùng, đã từng dùng làm nơi sát hại bao nhiêu công thần của nhà Lê. từ bao lâu nay. Nghĩ đến đây, Lê thế Hùng buồn bã nhìn xuống đất. Chàng nhớ đến cha mình là Thái Quận Công Lê cập Đệ và cậu là Ngự sử Đặng Phương cũng vì trung với vua Lê mà bị bọn gian thần giết hại. Bây giờ cùng bạn lên đường sang Thăng Long, nơi xưng hùng của Chúa Mạc, không biết cuộc đời xoay hướng thế nào? Rồi đây sẽ ra sao ? Có còn ngày trở về trả thù họ Trịnh được hay chăng ? Trên yên ngựa, giữa đường trường vạn lý, Thế Hùng vẫn miên man với bao nhiêu câu hỏi thầm trong cân não.
 
 
 
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2020 14:53:10 bởi Ct.Ly>
CHƯƠNG 5
NGƯỜI ĐẸP THÀNH THĂNG LONG
 
Dinh thự Đề đốc hộ thành Nguyễn Quyện nguy nga đồ sộ nằm giữa một vườn cây rậm rạp. Những con đường vào nhà rộng rãi, lát đá hoa, luôn luôn có người quét dọn.
Nguyễn Đề đốc góa vợ, chỉ có một mụn con gái là Ngọc Lan tiểu thư, sắc đẹp khuynh thành, đã làm mê mệt bao nhiêu vương tôn công tử ở Thăng Long.
Trái hẳn tánh tình sâu hiểm, mưu mô của cha, Ngọc Lan rất bình dị hiền lành. Suốt ngày nàng chỉ ở trong dinh thự hay vườn hoa học tập chữ nghĩa thánh hiền hoặc thêu thùa vá may. Đôi khi nàng cũng tập tành cung kiếm.
Ngọc Lan lại chuộng thi phú, ưa cầu kỳ nhưng lúc nào nét mặt của nàng cũng đượm một vẻ buồn u ẩn… Mọi người đều cho rằng đời nàng chứa chan hạnh phúc: Trẻ đẹp, giàu sang, nhiều tài hoa lại được nuông chiều. Riêng Ngọc lan, nàng hiểu nàng nhiều hơn hết…
Đề đốc Nguyễn Quyện là một người tham lam, nham hiểm, một mặt mà hai lòng: làm quan tại triều đình nhà Mạc, y lại còn tư thông với bè lũ Trịnh Tùng và Nguyễn Hữu Liên. Dinh thự của y chính là nơi lui tới của bọn trinh thám họ Trịnh.
Ngọc Lan là gái còn nhỏ tuổi, nhưng nàng hiểu việc làm bất chánh của cha nàng. Ông hiệp tác với quân Trịnh không vì một lý tưởng cao đẹp nào mà chỉ vì vàng bạc. Nàng rất chua xót khi hiểu rõ tâm địa của cha… Sự giàu sang tột cùng như thế nầy không đủ cho cha nàng ư? Tại sao ông lại muốn giàu thêm mãi dầu phải làm những việc phản trắc đê hèn.
Hơn hai hôm nay, sau buổi thi tuyển dũng tướng ở võ trường về, Ngọc Lan chú ý thấy cha luôn luôn tức giận. Mỗi chuyện nhỏ nhặt nào ông cũng la hét ầm lên. Nàng không hiểu được chuyện gì đã xảy ra ở võ trường khiến cha nàng uất giận đến thế. Một điều lạ lùng hơn là Tôa Tạo tướng quân, kẻ tâm phúc của cha nàng từ mấy hôm nay cũng không thấy léo hánh đến dinh thự này. Trái với mọi lần, không ngày nào là vắng bóng y.
Nàng ghét cay ghét đắng tên vũ phu sàm sỡ ấy nhưng thấy cha tỏ ra yêu thích hắn, nàng cũng giả vờ làm ngơ, mặc cho hắn dở trò trêu ghẹo. Gần đây nàng thấy cha mình có ý định gả nàng cho Tô Tạo, Ngọc Lan đau xót vô cùng. Nàng định bụng thà chết chớ không bao giơ chịu kết duyên với tên khốn kiếp ấy.
Buổi chiều xuống vội vàng, một ngày nữa sắp đi qua, Ngọc Lan thẫn thờ trở vào dinh. Nhất là trong những buổi hoàng hôn im lặng như thế này, nàng cảm thấy lẻ loi, cô độc, thiếu mất tình thương hay nguồn an ủi…
Sống ở đây, giữa những người tâm hồn khác lạ với mình, Ngọc Lan cảm thấy như ở giữa một sa mạc cô liêu…
Nàng không có ai để thố lộ tâm tình sâu kín, chỉ biết chôn vùi ngày tháng trong sử sách kiếm cung không biết mình sống để làm gì và tương lai sẽ ra sao?
Bỗng Ngọc Lan giật mình chú ý: một đoàn người đang âm thầm từ ngoài cổng đi vào. Họ lặng lẽ như những bóng ma không gây nên một tiếng động nào. Nàng vội nép vào góc tường nhìn thật kỹ và khẽ thở dài: Đây là những tay sai tâm phúc của cha nàng, cũng là những vị hung thần ở thành Thăng Long. Nàng nghe mấy con hầu nói lại chúng thường nghinh ngang ở ngoài phố, hãm hiếp dân lành, đánh đập họ mỗi khi có ai chống cự lại chúng.
Ngọc Lan hơi lấy làm lạ hôm nay không biết có chuyện gì khẩn cấp, cha nàng cho vời bọn “hung thần” đông đủ ấy tới đây. Nàng rất lo lắng vì mỗi lần quan Đề Đốc Hộ thành họp bọn chúng lại là ít ngày sau thế nào cũng xảy ra những vụ lạ lùng.
Ngọc Lan rón rén bước vào dinh. Không hiểu tại sao bỗng dưng nàng thấy tỏ đến thế. Tuổi đã lớn khôn rồi, Ngọc Lan nghĩ rằng đã đến lúc mình phải hành động chút gì để cản trở sự tàn ác của cha họa may về sau nầy còn có cách cứu vớt được người…
Bọn tâm phúc của Đề đốc Nguyễn Quyện tiến thẳng đến một gian phòng rộng lớn, đèn thắp sáng choang, cửa mở sẵn như chờ đợi họ đến…
Ở giữa phòng, trên một sập gụ, Đề đốc Nguyễn Quyện đang ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Bọn người vừa vào cúi đầu thi lễ, rồi mỗi người tìm chỗ để ngồi chờ lịnh.
Qua khe cửa, Ngọc Lan nhìn thấy có cả tên Tô Tạo vũ phu. Nhưng một điều khiến nàng lấy làm lạ, là hắn không hí hởn tự đắc như thường ngày tới đây, mà lẳng lặng thu hình ngồi im trong một góc phòng không thốt một lời nào.
Đề đốc Nguyễn Quyện bỗng ngước mắc nhìn mọi người rồi chậm rãi cất tiếng:
-        Ta vời các ngươi tới đây đêm nay để bàn một việc quan trọng cần phải thi hành cấp bách, kẻo lại gặp phải những trở ngại không hay cho chúng ta. Hai tên khốn nạn Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng đã thoát khỏi lưới bủa vây của các thám tử ở Tây Đô và lọt vào Thăng Long từ mấy hôm nay.
Ngừng một phút, khẽ liếc nhìn Tô Tạo đang cúi gằm mặt xuống, Nguyễn Quyện tiếp:
-        Chúng đã vào Thăng Long tự đắc nghinh ngang dám khinh thường các anh hùng trong thiên hạ, đánh chết Thiên linh Hổ, “vật ngã đệ nhất lực sĩ Thăng Long thành”, chiếm quyền Đại tướng Kỵ binh thiện chiến của nhà Mạc.
Nguyễn Quyện cố nhấn mạnh tiếng “vật ngã đệ nhất lực sĩ Thăng Long thành” với một giọng gay gắt khiến Tô Tạo không chịu đựng nổi, vội đứng lên:
-        Bẩm… quan Đề đốc ...
Nguyễn Quyện quát lớn:
-        Im ngay! Nhà ngươi đã không tròn nhiệm vụ đừng nhiều lời vô ích…
Tô Tạo ngồi xuống một cách bực tức. Từ lâu, hắn được Nguyễn Quyện vị nể nên luôn luôn có sự ganh ghét ngấm ngầm trong bọn tay sai của Đề đốc. Gặp dịp này mọi người đều hả dạ. Nguyễn Quyện vốn rất thạo về khoa tâm lý nên trong việc nầy ông ta đối xử tàn tệ với Tô Tạo là cốt dùng bọn kia cho đắc lực hơn trong sứ mạng sắp sửa thi hành.
Viên Đề đốc tiếp lời:
-        Hiện tại, chúng ta có thêm hai kẻ thù vô cùng lợi hại. Họ Mạc được hai tên ấy về phụ giúp càng gây thêm khó khăn cho bọn ta. Một mặt ta muốn cấp tốc báo tin này cho Bình An Vương và quan Thái phó Nguyễn Hữu Liên được biết. Mặt khác ta cần bàn với các ngươi một kế hoạch trừ khử hai tên khốn kiếp ấy càng sớm càng tốt.
Trong phòng lại im lặng. Đứng sát vào kẹt cửa, Ngọc Lan tiểu thư chú ý từng lời nói, từng cử chỉ của cha. Nàng chợt hiểu vì sao mấy hôm nay Đề đốc lại tỏ ra nóng giận bất thường. Chưa biết rõ Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng là hạng người nào nhưng Ngọc Lan cảm thấy mình có cảm tình đối với họ.
Có lẽ vì họ đã hạ được tên Tô Tạo vũ phu đáng ghét mà nàng mến họ chăng? Hay vì họ đối lập với những hành động bất chánh của cha nàng mà nàng cảm phục? Ngọc Lan không còn đoán xét được ý tưởng của mình, đầu óc nàng quay cuồng vì những câu hỏi không rõ rệt.
Bỗng nàng giật nẩy mình. Từ trong phòng, tiếng cha nàng quát lanh lảnh:
-        Các ngươi! Tại sao tất cả đều câm họng hết vậy? Không một ai có ý kiến gì trong tình thế nầy sao?
Bọn “hung thần” tâm phúc của Đề đốc đều tỏ vẻ luống cuống. Một lúc sau, Trương sát thủ, một tên hiểm ác không kém gì Tô Tạo, đứng lên:
-        Bẩm Đề đốc, sai người về Tây Đô báo tin cho Bình An Vương là việc dễ, nhưng trừ khử hai tên Văn Khuê và Thế Hùng, tiểu tướng thấy cần phải suy nghĩ cho kỹ càng. Hiện nay Chúa Mạc rất tin dùng bọn chúng, ta khó thể tìm cách phao vu để hạ ngục chúng như bao nhiêu người khác…
Trương sát thủ ngừng lại một chút rồi nói nhỏ hơn:
-        Theo ngu ý của tiểu tướng, chúng ta còn có cách khác để giết chúng nó hết sức bí mật.
Nguyễn Quyện hỏi lại:
-        Nghĩa là sao?
-        Bẩm Đề đốc, nghĩa là phải phục kích giết chúng, hay là đánh thuốc độc!
Ngọc Lan rợn người! Nàng không dè cha nàng và bọn tâm phúc lại tàn ác, vô nhân đạo đến thế. Họ bày trò giết người như bày trò chơi.
Giờ phút nầy, Ngọc Lan mới thấy rõ sự cách biệt tâm hồn giữa nàng và phụ thân nàng. Bấy lâu, vì phận sự làm con, nàng vẫn im lặng để mặc cha hành động và chỉ đau khổ ngấm ngầm. Nhưng giờ đây, nàng không còn đủ can đảm ngồi yên để nhìn cha mỗi ngày mỗi đi sâu vào con đường tội lỗi: giết hại những kẻ hiền tài trung trực, chỉ vì lòng tham vô đáy trước bạc vàng.
Với một quyết định rõ rệt trong đầu, Ngọc Lan càng chú ý lắng nghe mưu mô của tên Trương sát thủ…
Ngọc Lan vô cùng thất vọng. Tên “hung thần” kia đã khòm sát xuống to nhỏ với viên Đề đốc và nàng chỉ thấy cha, nét mặt hân hoan, khẽ gật đầu truyền lệnh:
-        Thôi, các người giải tán. Có cần gì ta sẽ gọi sau.
Đợi cho mọi người ra gần hết, Đề đốc kêu Tô Tạo:
-        Tô tướng quân, ở lại ta bảo.
Tô Tạo ngước nhìn lên, thoáng vẻ vui mừng. Từ lúc nãy đến giờ, hắn muốn xin Đề đốc cho hắn đoái công chuộc tội nhưng do dự mãi hắn chưa dám mở lời, không ngờ Nguyễn Quyện lại gọi đến. Hắn cảm thấy như mở cờ trong bụng.
Ngọc Lan vẫn không rời chỗ núp. Nàng không nhìn Đề đốc và Tô Tạo nữa mà chỉ kê tai sát vào kẹt cửa để nghe cho rõ hơn…
Bên trong Nguyễn Quyện không ngờ có người thấu rõ mưu mô của mình và định tâm phá vỡ để cứu người hiền.
Người ấy không ai khác hơn là con gái của chính ông ta: Nguyễn Thị Ngọc Lan.
Sau một ngày huấn luyện quân sĩ mệt nhọc nơi vũ trường Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng mới về dinh yên nghỉ. Lãnh ấn tướng xong, hai tráng sĩ Bùi, Lê được chúa Mạc ban cho một dinh cơ khá rộng rãi trong nội thành. Hai chàng liền bắt tay vào việc tập luyện đội Kỵ binh tinh nhuệ, cố gây cho họ một tinh thần chiến đấu mạnh mẽ để mai sau đương đầu với quân Trịnh.
Qua mấy ngày huấn luyện, Bùi Văn Khuê mới nhận thấy quan lính nhà Mạc rất rời rạc, thiếu chỉ dẫn nên tỏ ra thiếu kỷ luật, và do đó khó điều khiển. Chàng nghĩ rằng mình cần phải tập luyện họ gấp rút, tạo uy tín với họ để mai sau còn dùng được nhiều việc. Bởi thế cả hai đều tận dụng hết khả năng của mình để dạy cho đoàn kỵ binh từ thuật cỡi ngựa đến bắn cung, đấu kiếm. Sự tận tâm và lời khuyến khích nồng nhiệt của hai tráng sĩ Bùi, Lê khiến quân sĩ hết lòng học tập.
Chỉ trong vòng mấy ngày mà sự tiến bộ của quân sĩ đã được nhận thấy rõ rệt. Ai ai cũng mến phục hai tráng sĩ Bùi, Lê mà họ đã từng mục kích tài nghệ siêu phàm.
Nhất là đội kỵ binh thiện xạ dưới quyền điều khiển của Tô Tạo lại càng mến phục hơn. Hằng ngày họ sống dưới quyền của một chủ tướng hung hăng tàn nhẫn, họ chỉ sợ hãi mà không yêu kính. Ngày nay Tô Tạo lại dưới quyền của Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng nữa nên họ cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều. Họ luyện tập cỡi ngựa bắn tên vì yêu thích chứ không vì sợ hãi, cho nên mọi người tấn tới mau là phải.
Hai tráng sĩ Bùi, Lê đều cảm thấy vui mừng vì không ngờ mình đã chinh phục lòng cảm mến của quân sĩ nhanh chóng như vậy. Hai người thấy được trước sự dũng mãnh của đoàn kỵ binh thiện chiến khi ra trận.
Đêm nay, cơm nước xong, hai chàng bắc ghế ngồi ngoài hành lang uống trà trò chuyện. Ngoài kia, mấy người lính tuần vẫn qua lại trước cổng.
Bùi Văn Khuê, trong một phút mơ màng, lim dim đôi mắt cố hình dung lại bước đường đã qua từ khi rời khỏi Tây Đô. Chàng nhớ kỹ là hai anh em chàng đã trải qua liên tiếp những ngày chiến đấu gian nguy với muôn ngàn trở lực mới đến địa vị ngày nay.
Chàng chợt xây lại nhìn Thế Hùng. Vị công tử họ Lê có vẻ buồn rõ rệt. Họ Bùi lấy làm lạ khẽ hỏi:
-        Hiền đệ sao thế?
Thế Hùng đáp:
-        Đệ nghĩ đến phụ thân và con đường phục thù của chúng ta có lẽ còn xa lắm…
Bùi Văn Khuê an ủi:
-        Hiền đệ cứ hay nghĩ vẩn vơ. Việc gì cũng có cái thời gian quyết định của nó, chúng ta không thể hấp tấp được. Muốn kéo quân vê Tây Đô hỏi tội Trịnh Tùng, ít nhất ta cũng phải có một lực lượng hùng mạnh, một thanh thế vững chắc chứ.
Chàng chưa dứt lời thì đột nhiên, Thế Hùng vùng đứng dậy đá hất chiếc ghế của bạn đang ngồi rồi tự mình cũng lăn tròn xuống đất. Bị té khá đau, họ Bùi chưa hiểu Thế Hùng bày trò gì, chợt một tiếng “phập”, chàng ngước nhìn lên một lưỡi dao sáng loáng ghim phập vào bực cửa.
Thế Hùng ngồi nhỏm đậy nhìn ra ngoài vòng rào. Bọn lính đang la vang dậy và đuổi theo một kỵ sĩ đang cúi rạp mình trên lưng ngựa.
Chàng trở vào, đã thấy Bùi Văn Khuê đang gỡ lưỡi dao và mở một bức thư cột ở chuôi dao.
Bùi Văn Khuê khẽ đọc:
Nhị vị tráng sĩ nhã giám,
Rất đường đột gởi thư này hầu hai vị nhưng hoàn cảnh bắt buộc, kẻ này không làm sao khác hơn được.
Dù chưa biết nhau, nhưng rất cảm mến tài nghệ và tánh tình; xin báo tin gấp rút, hiện nay có một tổ chức đang lo mưu hại lén. Nhị vị cần thận trọng nhiều hơn. Sẽ tận tình giúp đỡ.
                                                            Kính bút
                                                            DẠ - HƯƠNG
Bùi Văn Khuê lẩm bẩm: “Dạ Hương, Dạ Hương!” là ai nhỉ. Ở Thăng Long nầy người nào lại có cảm tình đặc biệt với bọn ta đến thế?
Thế Hùng chụp lấy bức thơ, nhìn nét chữa rồi đáp:
-        Nét chữ mềm mại, chứng tỏ người viết là một thiếu nữ, thêm cái tên Dạ Hương càng làm cho chúng ta tin chắc tác giả của nó là một trang “liễu yếu đào thơ”
Rồi chàng lẩm bẩm:
-        Thế nầy thì lạ thật. Người này thuộc vào hạng người nào? Muốn giúp bọn ta sao lại không ra mặt. Tổ chức nào toan ám hại bọn ta?
Hai người nêu ra vài câu hỏi mà không tài nào giải đáp được.
Chợt Văn Khuê quay sang hỏi Thế Hùng:
-        Tại sao hiền đệ biết có người phóng dao mà né tránh?
Thế Hùng chỉ tay ra ngoài cổng dinh, đáp:
-        Trong lúc đại Huynh nói chuyện, đệ nhìn ra ngoài, thoáng thấy một kỵ binh đang phi ngựa đến. Ngang cổng dinh, người ấy dừng ngựa và nhanh như chớp phất tay áo lên. Đệ thoáng thấy một lằn sáng bay vào, nên vội vàng đá hất chiếc ghế của đại huynh vì đoán chắc thế nào cũng có ám khí.
Bùi Văn Khuê buông mình nằm dài xuống ghế. Cái tên “Dạ Hương” nghe êm ái lạ thường, thanh thoảng như hương đêm gợi cho Bùi nhớ đến một hình ảnh xa vời chỉ gặp một đêm rồi xa cách.
Liên tiếp trải qua những ngày chiến đấu gian nan, ít khi chàng được rảnh rang suy nghĩ hay nhớ tưởng đến ai. Gặp những chiều yên lặng như thế này, người dũng sĩ gạt bỏ sang bên những chuyện vó ngựa, kiếm cung, để đắm tâm trí mình vào những phút mơ màng êm ái.
Cái đêm bị vây chặt giữa Tây Đô, có lẽ suốt đời họ Bùi không quên được. Hình ảnh dịu dàng của nàng hầu thiếp, Trịnh Tùng: Nguyễn Thúy Loan đã gắn chặt trong tâm hồn chàng.
Bùi Văn Khuê đã cố xua đuổi, cố khinh ghét nàng để khỏi bận lòng, nhưng không thể được. Những hành động chân thật của nàng đã biểu lộ một tâm hồn cao quý, sống trong bùn nhưng chẳng vấy bợn nhơ!
Bùi Văn Khuê thở dài, chàng không ngờ mình lại có thể yêu Thúy Loan đến như vậy. Có lẽ đấy là một mối tình tuyệt vọng nên khó phai lạt trong lòng người… Sức lực của chàng, tài trí của chàng có xuất quỷ nhập thần đến đâu cũng không sao thay đổi được cuộc đời Thúy Loan, đem nàng ra khỏi bàn tay đẫm máu của Trịnh Tùng để tạo cho nàng một đời sống yên lành hạnh phúc. Chàng cảm thấy uất ức, oán hận vô cùng. Tại sao hai người không thể gặp nhau sớm hơn một chút, đời nàng chưa lấm bụi phù hoa… Ngay bây giờ… Bùi Văn Khuê không dám nghĩ đến nữa!
Chàng không chắc rằng ở nơi Tây Đô xa vời kia, Thúy Loan có những phút nghĩ đến mình. Nàng sống trong lầu vàng điện ngọc, bên cạnh một chúa tể quyền thế nhất thời, nàng còn nhớ chi đến một kẻ lang bạt kỳ hồ, chiếc thân rày đây mai đó…
Bùi Văn Khuê cảm thấy buồn bã vô cùng. Có ai ngờ một trang dũng tướng, từng vào sanh ra tử, từng làm khiếp đảm quan quân hai triều Trịnh, Mạc mà cũng có lúc xót xa vì một mối tình u ẩn.
Tiếng nói của Lê Thế Hùng lôi Bùi Văn Khuê về thực tại:
-        Đại huynh có nghĩ rằng ai là kẻ thù của bọn ta chăng?
Bùi Văn Khuê đáp:
-        Không đích xác lắm, nhưng tôi ngờ Tô Tạo đang mưu mô hại anh em ta. Hiền đệ không chú ý rằng đã hai ngày, Tô Tạo đều vắng mặt ở võ trường, không đến để luyện tập đội Kỵ binh thiện xa. Hắn cáo bệnh nhưng tôi biết chắc vì hắn bất phục anh em ta.
Lê Thế Hùng gật đầu, biểu đồng tình. Ngoài kia hoàng hôn xuống chầm chậm, ánh trăng lan dần trên những ngọn cây.
Lê Thế Hùng mở miệng toan nói, chợt nín bặt. Chàng vừa nghe tiếng gì như tiếng một cành cây khô gãy rụng ngoài sân. Chàng ngờ vực là có kẻ gian đến dọ thám, vội vàng chụp lấy chuôi kiếm rút ra khỏi vỏ, nhảy vọt ra ngoài.
Bùi Văn Khuê cũng vội đứng lên, băng mình theo bạn.
Từ trên một ngọn cây cổ thụ, một bóng đen nhảy chuyền sang nóc dinh thự, sau khi biết mình đã lộ hành tung.
Ánh trăng thượng tuần đủ soi rõ kẻ gian phi. Hắn bịt một miếng vải đen lên mặt trùm đến tận ót, nhưng dáng điệu nhanh nhẹn đủ chứng tỏ hắn là một tay võ nghệ tinh thông.
Không vội tri hô lên, sợ quân sĩ làm ồn, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng cùng chia nhau quyết vây kẻ lạ mặt. Thế Hùng nhảy lên ngọn cây leo thoăn thoắt rồi chuyền qua mái nhà rượt theo bóng đen. Bùi Văn Khuê băng mình ra đường cái đón chận đầu.
Biết có người theo đuổi, tên gian phi càng chạy nhanh hơn! Qua hết những dãy nhà dinh thự của hai tráng sĩ Bùi, Lê, hắn lại phi mình đeo vào những cành cây đại thọ rồi chuyền đi như một con vượn. Phút chốc hắn đã đến vòng dinh bên ngoài, rồi nhún mình nhảy vọt ra đường. Chân vừa chấm tới đất, hắn vội rút kiếm ra, nhìn trước nhìn sau. Con đường vắng vẻ lạ thường, hắn nhắm hướng, và lao mình vùn vụt.
Trên kia, Lê Thế Hùng đã đến vòng dinh bên ngoài. Chàng thấy Bùi Văn Khuê đứng khuất trong ven tường, nhưng lẳng lặng nhìn kẻ gian ung dung qua trước mặt. Chàng không hiểu vì sao họ Bùi điềm nhiên cho kẻ kia tẩu thoát. Chắc có sự gì đây. Lê Thế Hùng nhẹ nhàng buông mình xuống đất rồi chạy đến bên bạn.
Bùi Văn Khuê khoát tay bảo bạn đứng im rồi nói nhỏ:
-        Chúng ta đừng bắt vội tên gian phi nầy, mà hãy theo cho đến sào huyệt của nó xem ai đã chủ mưu đương đầu với bọn ta.
Lê Thế Hùng hiểu rõ ý bạn nên lẳng lặng chờ đợi. Bóng đen vừa khuất ở đầu đường thì Bùi Văn Khuê đã rời chỗ núp rượt theo. Lê Thế Hùng chạy sát bên bạn để phòng khi tiếp ứng…
Bóng đen đằng trước cứ chạy thoăn thoắt qua những con đường vắng vẻ trong nội thành, qua những dinh thự bỏ hoang đổ nát của những triều đại xa xưa chưa kịp thời sửa chữa… Thỉnh thoảng hắn lại dừng chân nhìn trước, nhìn sau xem có ai theo dõi mình chăng? Mỗi lần như vậy Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng đều cẩn thận núp mình vào gốc cây cổ thụ hay ven đường.
Kẻ gian phi bỗng dừng trước một cổng dinh thự to lớn rồi lặng lẽ xô cửa đi vào. Bùi Văn Khuê bấm tay Thế Hùng bò sát lại ven tường bao vòng dinh, rồi phóng mình lên, bám chặt vào tàn cây bên trong vươn ra ngoài…
Hai chàng nhẹ nhàng lần vào trong, giữa lúc bên ngoài đoàn lính tuần cũng vừa đi tới. Tiếng đá sỏi nghe rào rạo dưới chân đoàn người ngựa đi qua.
Hai tráng sĩ Bùi, Lê khẽ nhìn nhau dưới ánh trăng rồi chuyền lần vào trong Dinh. Bùi Văn Khuê rất ngạc nhiên, không hiểu được dinh thự của ai mà to lớn thế nầy. Đây có lẽ, là nhà riêng của một thượng quan cực phẩm triều Mạc. Nhưng vì lý do nào thù oán hai anh em chàng?
Dinh thự im lìm vắng vẻ, cửa đóng kín mít, không hiểu kẻ gian lúc nãy đi vào bằng lối nào?
Bùi Văn Khuê kề tai bảo nhỏ Thế Hùng:
-        Hiền đệ ngồi đây xem động tịnh ra sao? Chờ lúc nguy hãy ra mặt tiếp ứng tôi… Bây giờ tôi lên trên nóc Dinh dò xét.
Thế Hùng gật đầu ưng thuận. Bùi Văn Khuê nghiên mình nhảy phóc qua mái dinh, chớp mắt không còn thấy tăm dạng chàng đâu nữa. Chàng bước chầm chậm ra phía nhà sau, thỉnh thoảng lại bò rạp xuống cho đoàn lính canh khỏi trông thấy.
Bùi Văn Khuê bỗng dừng lại. Chàng chợt nghe có tiếng thì thầm ở dưới kia. Nhẹ nhàng nằm sát xuống, chàng khẽ gỡ một miếng ngói. Miếng ngói vừa rút ra, họ Bùi thấy hiện trước mắt một gian phòng lộng lẫy: tràng kỷ, sập gụ bóng loáng, đồ đồng sáng choang… Chàng không ngờ đây là phòng riêng của Đề Đốc Hộ thành Nguyễn Quyện, người đang chủ mưu hại chàng và Thế Hùng…
Thoáng thấy Đề đốc và Tô Tạo cùng một người nữa mặc đồ đen mà họ Bùi đoán chắc là kẻ gian phi lúc nãy vào nhà chàng, họ Bùi chợt hiểu. Chàng hơi bất ngời là tại sao Đề đốc lại gây oán cùng chàng…
Dưới kia, gã mặc võ phục đen đang thuật lại cùng Đề đốc những việc mới xẩy ra:
-        Bẩm Đề đốc, tiện tướng y lời, ráng vào được trong vòng dinh của chúng nó, bất ngờ có người đi ngựa ngang qua, phòng vào dinh một lưỡi đao kèm theo một phong thư làm cho chúng đâm ra đề phòng cẩn thận…
Đề đốc Nguyễn Quyện kinh ngạc hỏi tới tập:
-        Người lạ mặt đó là ai?
Tên gián phi chậm rải đáp:
-        Bẩm Đề Đốc, tiểu tướng không biết rõ. Nhưng theo lời Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng bàn tán với nhau mà tiểu tướng đã rình nghe được, thì thơ ấy ký tên là Dạ Hương.
Nguyễn Quyện và Tô Tạo đều lẩm bẩm:
-        Dạ Hương! Dạ Hương là thằng quái nào ở đâu nhỉ?
Nằm trên nóc dinh, Bùi Văn Khuê khẽ mỉm cười. À, thì ra tên khốn kiếp nầy đã rình dinh chàng lâu lắm nên hắn mới biết và nghe rõ cả. Bùi Văn Khuê không hành động cấp tốc. Chàng hiểu rõ tại sao viên Đề đốc lại còn thù ghét chàng. Không lý ông ta lại đố kỵ với một kẻ quyền tước nhỏ hơn. Việc nầy chắc có uẩn khúc gì đây. Chàng quyết tìm cho ra manh mối. Bùi Văn Khuê bỗng rợn người: một lưỡi dao thình lình từ đâu bay tới cắm phập xuống giữa bàn trong gian phòng. Đề đốc Nguyễn Quyện ngã nhào ra phía sau né tránh Tô Tạo và viên võ tướng mắc đồ đen đều đứng lên rút khí giới chờ mọi bất trắc.
Bốn bề vắng lặng, không nghe một tiếng động nào. Tô Tạo và viên võ tướng vôi chạy ra ngoài, la hét:
-        Có thích khách! Có thích khách!
Quân lính rần rộ kéo ra, lục soát trong vòng dinh. Bùi Văn Khuê rất e ngại. Chàng lo lắng Thế Hùng quá bực tức, núp đâu đó làm càn cũng nên… Nhưng không, chàng vừa định ngồi dậy thì có bàn tay của ai nhè nhẹ đặt vào vai… Bùi Văn Khuê hoảng hốt quay lại. Thì ra đó là Thế Hùng.
Vị công tử khẽ mỉm cười, bảo bạn:
-        Ngoài kia, thấy lính tráng rần rộ, đệ ngờ đại huynh đã bại lộ nên vội vã đến đây…
Bùi Văn Khuê thuật sơ qua cho bạn hiểu rõ tình hình:
-        Có người bí mật vừa phóng dao xuống nơi hội họp của Đề đốc Nguyễn Quyện và bọn Tô Tạo…
Thế Hùng kinh ngạc thì thầm bên tai bạn:
-        Đúng Đề đốc Nguyễn Quyện âm mưu hại chúng ta rồi ư? Đệ cũng đã nghĩ như vậy! Đã có lần Tiểu Lý Quảng nói với đệ, Tô Tạo là tên tay sai đắc lực của hắn…
Chàng ghé mắt nhìn xuống dưới, Đề đốc Nguyễn Quyện đã hoảng hồn và dang gỡ bức thư buộc ở chuôi dao ra đọc cho hai tên Tô Tạo và người mặc võ phục màu đen cùng nghe:
Đề đốc nhã giám,
Vì lợi ích chung của dân chúng, Đề đốc nên sớm quay lại đường ngay lẽ chánh, giải tán bọn “hung thần” ấy đi và bỏ việc hãm hại tôi hiền của Chúa Mạc…
Đề đốc không sớm ăn năn sẽ lụy vào thân
                                                            DẠ HƯƠNG
 
Nguyễn Quyện xé toạt bức thơ và cả giận quát tháo ầm ầm:
-        Tên khốn nạn nào đây dám cả gan khuyên dạy cả ta nữa ư? Bắt được nó ta sẽ bầm xác nó ra mới hả lòng.
Bùi Văn Khuê ghé sát vào tai bạn thì thầm:
-        Lại “Dạ Hương” nữa! Con người bí mật đã vào đây trước bọn ta rồi.
Nhưng, Thế Hùng chợt nhìn thấy sự lạ dưới kia, vội kéo bạn sát xuống:
-        Đại huynh nhìn xem có người đang nép mình trên máng xối kia kìa…
Bùi Văn Khuê lạ lùng nhìn theo tay bạn. Chàng thấy một người mặc toàn màu đen, đầu chít khăn xanh, mặt bao trùm bằng một miếng vải màu hồng nằm khuất trên máng xối, giữa hai mái nhà giap lại, im lặng dò xét từ hành động của Đề đốc Nguyễn Quyện.
Họ Bùi chú ý nhìn người bí mật, thân hình mảnh khảnh càng gây cho chàng thêm ngờ vực trong lòng. Có phải Dạ Hương là người bí mật này chăng? Thoáng một chút chàng có ý định tìm biết kẻ lạ là ai mà có những hành hung lạ lùng đến thế…
Dưới kia, Nguyễn Quyện vẫn la hét ầm ĩ. Đề Đốc nạt luôn cả bọn Tô Tạo:
-        Sao không đi tìm bắt kẻ gian… Còn ngồi trơ mặt ra đó. Nó còn lẩn quất trong dinh thự nầy chứ ở đâu…
Bọn Tô Tạo kinh hồn cùng chạy vụt ra ngoài truyền lịnh cho quân sĩ tăng cường thêm và cố lục soát cho thật gắt.
Nguyễn Quyện vẫn đi đi lại lại trong phòng bực tức:
-        Dạ Hương! Dạ Hương quân khốn nạn tự dưng xen vào công việc của ta. Hai tên đối thủ lợi hại Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng chưa trừ khử được lại sanh thêm một kẻ thứ ba, nguy hiểm hơn vì hắn biết rõ cả mưu mô của mình. Đề đốc tức giận đến cực độ, nhưng trong lòng không khỏi lo sợ… Chuyện thông đồng với Chúa Trịnh, lỡ thấu tai chúa Mạc Mậu Hiệp thì ông khó toàn mạng.
Bùi văn Khuê hết sức ngạc nhiên. Chàng thấy rõ kẻ bí mật lồm cồm ngồi dậy sửa lại chiếc khăn trùm kln trên khuôn mặt rồi buông mình xuống giữa phòng.
Chân vừa đụng đất và không để cho Đề Đốc kịp thấy mình, người bí mật vội huơi kiếm chém bứt đi ngọn đèn treo lủng lẳng giữa gian phòng rồi vọt mình ra sân mất dạng.
 
 
Đề Đốc la hét ầm ĩ :
— Bắt thích khách ! Bắt thích khách ! Quân sĩ ùn ùn xách đèn chạy tới chỉ thấy đèn đuốc, bàn ghế ngã lăn. Đề đốc Nguyễn Quyện nép mình dưới tràng kỷ, toàn thân run bần bật.
Trên kia Bùi văn Khuê vừa thấy người bí mật chém bứt ngọn đèn, chàng đoán được anh chàng kia muốn thoát thân, vội khều bạn chạy dọc theo mái nhà ra đón ở phía cửa. Chàng tin tưởng người kia thế nào cũng theo các tàn cây cổ thụ mà thoát khói vòng dinh.
Nhưng bọ Bùi đã đoán lầm. Chàng và Lê thế Hùng ngồi đợi thật lâu vẫn không thấy bóng hình kẻ lạ mặt đâu.
Dưới kia quân sĩ càng lục lạo từng bụi cỏ, ven tường, trong hòn non bộ... nhưng chỉ hoài công vì kẻ bí mật đã mất dạng...



Lục soát mãi vẫn không tìm ra thủ phạm, đoàn lính tuầu đâm nản, tắt đuốc dần đi, trong dinh trở lại cảnh yên lặng bình thường.

Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng chỉ chờ có thế. Hai người vừa toan chuyền mình lên các cành cây để  ra ngoài thì bất ngờ bị bại lộ.
Đoàn lính canh đang lục soát dưới kia, có người bỗng nhìn lên mái ngói thấy thấp thoáng hai bóng người. Hắn vội la hỏng lên :
— Thích khách trên mái nhà ! Thích khách !
Các đồng đội của hắn vội vàng báo động lên rồi chia ra bủa vây khắp các lối. Quân sĩ ùn ùn kéo ra chật cả vòng dinh, đèn đuốc thắp sáng một gốc trời...
Bùi văn Khuê lo ngại bảo Thế Hùng :
— Thế này thì nguy rồi. Nếu chúng ta lộ mặt ở đây vào giờ nầy, chẳng qua ra hai kẻ gian mà thôi. — Mai đây giữa triều trả lời làm sao với Chúa Mạc ? Chi bằng hiền đệ và ta bao mặt lại để thoát vòng vày !
Thế Hùng khen phải, liền lấy khăn trùm kín cả mặt mũi.
Họ Bùi nhìn xuống dưới kia. Quân lính càng lúc càng kéo đến đông đảo. Đề đốc Nguyễn Quyện và bọn Tô Tạo đang đứng nhìn lên rồi quát gọi quân sĩ lấy cung tên ra để nhắm bắn kẻ gian.
Trong lòng Đề đốc không một chút gì ngờ vực hai kẻ trên kia là Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng.
Thấy nguy cơ sắp xảy đến Bùi văn Khuê lôi Thế Hùng chạy vòng qua bên kia mái ngói để tìm lối thoát thân, nhưng không ngờ ở đấy cũng dày đặc quân lính, gươm giáo sáng ngời.
Vừa thấy dạng hai chàng, binh sĩ la hét ầm ĩ. Quân lính bên kia lại ùa sang. Tô Tạo luôn luôn là kẻ hăng hái nhất- Thấy hai bóng ngựời lúng túng trên nóc nhà, hắn hô quân xạ tiển. Sự hùng hổ của hắn hôm nay trước mặt Đề đốc Hộ thành. Có lẽ để chứng tỏ cho Đề đốc thấy rằng hắn luôn luôn là kẻ đắc lực nhất...
Hiểu rõ tâm địa của tên vũ phu ngu xuẫn kia, Bùi văn Khuê liền nghĩ ra một kế cuối cùng, chàng bảo nhỏ với Thế Hùng :
— Hiền đệ rán giữ mình đừng để bị tên của quân địch ; bao giờ ta hét to lên, phải tức khắc giả bộ bi thương ngã lăn xuống mái ngói kia cho khuất dạng...
Thế Hùng tuy chưa hiểu rõ ý bạn thế nào nhưng cũng gật đầu ưng thuận.
Ngay lúc ấy, từ dưới kia hằng nghìn mũi tên tới tấp bay lên. Văn Khuê và Thế Hùng vội vung kiếm bọc lấy thân mình. Tên bay đến mình hai chàng như gặp phải một bức tường kiên cố, rơi lả tả xuống mái ngói.
Quân lính nhà Mạc vẫn không nản lòng : bắn đi đợt tên nầy, chúng lấp vội loạt tên khác, và cứ thế tên tung ra như mưa...
Liệu chừng không kham, họ Bùi ra hiệu cho Thế Hùng lui dần rồi bất ngờ hét lên một tiếng lảo đảo nhào xuống lăn tròn trên mái ngói... Thế Hùng rán chống đỡ một lúc rồi cũng giả bộ bị thương, té xuống mái nhà...
Quân lính của Đề đốc vui mừng reo hò ầm ĩ. Nhất là Tô Tạo, dương dương tự đắc như chính tay hắn đã hạ được hai địch thủ.
Và không đợi quân lính bắc thang leo lên điệu cổ kẻ thù. Tô Tạo vội nhún mình nhảy vọt lên một cành cây rồi chuyền lên mái ngói...
Thấy rõ hai kẻ gian bịt mặt nằm thiếp giữa hai mái nhà, Tô Tạo khẽ mỉm cười thỏa thích, nhưng hắn cũng cẩn thận rút kiếm ra, cầm tay.
Dưới kia quân lính đang dùng thang leo lên để tiếp tay với Tô tướng quân, Bùi văn Khuê nằm im lìm như chết nhưng chàng theo dõi từng cử động của tên vũ phu ngu xuẩn...
Hắn đến bên Lê Thế Hùng. dùng kiếm hất thây chàng  ra xem đã thực chết hay chưa. Hắn dí mủi kiếm thật mạnh vào hông Thế Hùng nhưng chàng tráng sĩ họ Lê vẫn can đảm chịu đau, trư trư như một xác người không còn cảm giác...
Đợi cho hắn vừa khom xát xuống toan gỡ chiếc khăn bao mặt, Thế Hùng vùng dậy, hai tay chụp vào cổ hắn, lộn nhào đi một vòng. Bị vật bất ngờ, Tô-Tạo té sấp trên mái ngói.
Hắn toan bò dậy thì hai lưỡi kiếm của Văn-Khuê vá Thế- Hùng đã kề ngang tận cồ khiẽn cho hắn, đành thiỉc thủ, không dở trò gì được nữa.
Tô Tạo chợt hiểu là mình mắc kế. Hắn nhìn cho rõ hình dáng hai kẻ thù nhưng không tài nào phân biệt được vi khuôn mặt của họ trùm kín mít.
Bùi văn Khuê cũng hiểu rõ Tô Tạo cố đoán xét hai chàng nên vẫn giữ sự im lặng. Chàng khóa ngược hai tay Tô Tạo ra phía sau rồi rút trong mình một sợi dâỵ, chàng trói thúc ké hắn lại...
Đến bây giờ, Thế Hùng mới biết rõ ý định giả bị tử thương của bạn : Bùi văn Khuê thấy Tô Tạo là kẻ vũ phu hung hẳng hơn nửa đang lúc hắn muốn lập công với Đề đốc Nguyễn  Quyện, nếu hai chàng bị thương chắc chắn hắn sẽ lên mái nhà trước tiên để bắt địch thủ lập đầu công, Chàng định dùng Tô Tạo làm bình phong để thoát hiểm..
Giữa lúc ấy, quân lính đã dùng thang leo được lên mái nhà và hò reo vang dậy, nhưng khi thấy Tô Tạo bị trói thúc ké mặt mày nhăn nhó đứng trước mặt hai người lạ trùm kín mặt cầm kiếm sáng ngời, thì họ hết reo hò.
Họ Bùi thấy đến lúc cần phải hành động. Chàng dí mũi kiếm vào hông Tô Tạo, xua hắn đi trước... Trong tình thế này quân lính buông xuôi khí giới, lơ láo nhìn không dám nhúc nhích.
Vừa đến mí mái nhà. Bùi văn Khuê liền cặp ngang mình Tô Tạo nhảy xuống đất giữa sự kinh ngạc của quân lính và Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện...
Đề phòng bất trắc, Bùi văn Khuê nhấc bổng Tô Tạo đưa ra phía trước, Lê thế Hùng đi hậu tập, day lưng bước lùi, tay cầm kiếm thủ thế.
Bọn quân lính muốn ùa vào bắt ‘‘kẻ gian’‘ nhưng ngại cho tánh mệnh Tô Tạo, chúng chỉ đứng hai bên dương oai diệu võ, la hét vang rền. Chính quan Đề đốc trước tình thế này cũng không biết xử trí làm sao đành uất ức đứng lặng xem hai kẻ gian ung dung ra khỏi vòng vây của quân sĩ...
Riêng Tô Tạo càng căm giận và nhục nhã hơn... Hắn không hiểu được hai kẻ gian phi thuộc hạng nào mà xem thường oai danh Đề đốc, khinh thường quân lính đến thế.
Trong đầu Tô Tạo một mối ngờ vựt thoáng qua... Vì lý do nào hai kẻ gian phi vẫn nín lặng không nói một lời ? Họ thuộc vào hạng người nào ? Quen thân hay xa lạ với quân lính mà bịt mặt mũi, câm miệng như hến ? ...
Một tia sáng lóe lên trong óc họ Tô. Hắn tin quyết hai kẻ gian phi là Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng. Muốn chắc chắn như ý mình xét đoán, Tô Tạo cố vùng vẫy la hét để cho kẻ gian buộc lòng phải lên tiếng thì hư thiệt tự khắc biết ngay.
Nhưng đã quá trễ, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng đã thoát khỏi vòng vây, ra đến cổng Dinh. Vừa thấy tên vũ phu vùng vẫy, họ Bùi vội quay tít hắn đi một vòng rồi liệng thẳng vào đám quân sĩ đang ồ ạt theo sau. Chúng kinh hồn thối lui và luống cuống đỡ cái thây nặng trĩu của họ Tô. Thừa lúc ấy Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng nhảy vọt ra ngoài đường mất dạng...
Từ trên lầu dinh thự của quan Đề đốc, một thiếu nữ lặng lẽ đi vào phòng. Nàng ấy là Ngọc Lan tiểu thư, con gái yêu của Đề đốc Nguyễn Quyện. Nàng đã chứng kiến cuộc xô xát vừa qua và thầm cảm phục tài trí của hai chàng tráng sĩ.
Qua cơn ồn ào hỗn loạn, không khí lặng lẽ của gian phòng kéo tâm hồn Ngọc Lan trở lại sự bình tĩnh thường ngày...
Những hành động táo bạo ngày qua lần lượt diễn lại trong đầu nàng, Từ khi hiểu rõ những hành động của cha, những mưu mô xếp đặt để hãm hại Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng,  nàng không hiểu một sức mạnh nào, không biết phải chăng là sức mạnh lương tri, đã thúc đẩy nàng bắn thư vào nhà hai tráng sĩ Bùi, Lê…Mới vừa đây, nàng lại cả gan hâm dọa cha nàng bằng một bức thư với cái tên ‘‘Dạ Hương’’ bí mật.
Ngọc Lan thẫn thờ đến bên giường, úp mặt xuống gối khóc nức nở. Bắt đầt từ nay, đời nàng sẽ luôn luôn đau khổ vì sự va chạm giữa tình cảm cha con và lương tri của con người hiểu biết lẽ phải.

£

Hai tráng sĩ Bùi, Lê thoát đi rồi, Tô Tạo mới lồm cồm bò dậy. Hắn đau điếng khắp thân mình nhưng nét mặt vốn cố giữ vẻ trầm tĩnh, la hét bọn lính dùng ngựa đuổi theo.
Đề đốc Nguyễn Quyện cũng vừa ra đến nơi, mặt đằng đằng sát khí. Ông chỉ vào Tô Tạo mà mắng :
— Trăm lần như một, cũng chính nhà ngươi làm hỏng việc của ta. Nếu ta không nghĩ công lao từ trước, cho quân xạ tiễn vào kẻ gian thì nhà người bỏ xác. Cút đi và dừng bao giờ cho ta thấy mặt.
Tô Tạo, gục đầu xuống, nghe lời trách mắng. Một lúc sau chờ cho Đề đốc bớt cơn thịnh nộ, hắn mới thưa :
— Bẩm Đề đốc, trong lúc bị hai kẻ gian uy hiếp, tiểu tướng có ngờ một việc, xin thưa Đề đốc rõ.
Nguyễn Quyện lắng nghe rồi cau mày hỏi :
— Nhà ngươi ngờ việc chi ?
— Bẩm Đề đốc, tiểu tướng ngờ hai kẻ gian lẻn vào dinh thự của ta vừa rồi chính là Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng.
Đề đốc vô cùng kinh ngạc hỏi tới tấp :
— Nhà ngươi nói sao ? Hai tên khốn nạn ấy dám cả gan đột nhập vào dinh thự của ta ? Để làm gì ?
— Bẩm Đề đốc, tiểu tướng nhận xét kỷ càng lắm. Cả hai tên đều dùng khăn bao mặt và suốt thời gian chúng trói tiểu tướng, không hề nghe chúng thốt ra một lời nào!
Đề đốc Nguyễn Quyện suy nghĩ lung lắm và ngài không tin được lời quả quyết của Tô Tạo... Bình thường ngài chỉ cho hắn là kẻ vũ phu vô mưu thì làm gì trong việc nầy hắn có đủ sức nhận xét hai kẻ địch thủ lợi hại mà chính ngài còn phải e dè. Tuy nhiên lời hắn vừa thốt ra cũng khiến ông ta chú ý.
Ông nghĩ rằng Tô Tạo muốn bày ra việc này để làm ông quên hẳn tội trọng của hắn vừa qua. Ý tưởng ấy càng làm cho Đề đốc tức giận bội phần. Ông muốn hét to lên và tống cổ hắn đi cho khuất mắt nhưng suy đi nghĩ lại, ông thấy như vậy sẽ bất lợi nhiều hơn. Vì ngoài những chuyện thầm lén hảm hại người hiền trong triều Mạc mà ông đã từng bàn định riêng với hắn, Tô Tạo còn biết rõ Đề đốc có thông đồng với Bình an vương Trịnh Tùng với trách nhiệm bảo trợ cho đoàn trinh thám của Tây đô.
Nguyễn Quyện không nói thêm một lời nào khác nữa, nhưng trong lòng Đề đốc đã có một sự khinh ghét tên vũ phu Tô Tạo. Ông lặng lẽ đi vào dinh trong lúc Tô Tạo vô cùng vui sướng vì sự khám phá mới mẻ của hắn đã làm vừa lòng Đề đốc tức nhiên địa vị của hắn không chút gì bị lung lay.
Hắn quay mặt về phía lầu của Ngọc Lan tiểu thơ khẽ mỉm cười, Trong lòng hắn đang sắp đặt muôn ngàn mưu kế...
Sáng hôm sau, quân lính đang luyện tập nơi võ trường đều kinh ngạc về sự có mặt của Tô Tạo. Cả hai tráng sĩ Bùi, Lê cũng lấy làm ngạc nhiên. Hai chàng không ngờ hắn còn tới đây để luyện quân như bao nhiêu tướng chỉ huy trong đoàn kỵ binh của Chúa Mạc.
Mạc mận Hiệp tổ chức đoàn kỵ binh thiện chiến của mình thành từng đội rất có quy củ. Vì từ trước tới nay thiếu người chỉ huy tài giỏi và đứng đắn nên đoàn kỵ binh thiện chiến không lập được công trang mà thôi chớ phương pháp tổ chức của chúa Mạc thì có nhiều chỗ rấl đáng khen.
Đoàn kỵ binh được chia ra nhiều đội, mỗi đội giao cho một tướng chỉ huy, ví dụ : Đội kỵ binh thiện xạ giao cho Tô Tạo đảm trách, đội kỵ binh trinh thám cho Hoàng quốc Mục; đội kỵ binh xung phong đánh bằng trường kiếm cho Tiểu kỳ Vân v.v...
Tất cả các đội kỵ binh hợp lại đặt dưới quyền của đại tướng Bùi văn Khuê và phó tướng Lê thế Hùng...
Từ trước, Tô Tạo cậy thế lực của Đề đốc Hộ thành coi các bạn ngang quyền tuớc như cỏ rác, trong lòng mọi người đều có sự oán ghét ngấm ngầm nhưng chưa có dịp bộc phát mà thôi vì ai cũng nể oai Đề đốc. Cho đến khi Bùi văn Khuê chấp chưởng quyền đại tướng, tuy không nói ra nhưng mọi người đều thỏa mãn vì từ nay họ sẽ bớt bị Tô Tạo cậy quyền thế lấn áp.
Trong lúc mọi người cùng kinh ngạc vì sự có mặt của hắn Tô Tạo vẫn ngang nhiên đi vào, nét mặt lộ vẻ hân hoan như vừa khám phá đươc một chuyện gì bí mật...
Vẻ hân hoan của hắn càng làm cho quân sĩ lạ lùng không ít vì từ trước đến nay, đến võ trường Tô Tạo rất tàn nhẫn và cau có. Hắn coi việc luyện quân lính không phải là phận sự của mình cho nên hễ càng mệt thì càng la hét, đánh đập dữ dội...
Tô Tạo bước qua chỗ Bùi văn Khuê đang ngồi bàn luận với các tướng chỉ huy như chỗ không người. Hắn đi thẳng đến chỗ đội kỵ binh xạ tiễn.
Lê thế Hùng tức giận đứng lên toan cho hắn một bài học thì Bùi văn Khuê đã gạt ngang :
— Hiền đệ để mặc ta.
Chàng quay sang các tướng đang ngồi quây quần xung quanh khẽ hỏi :
— Các ngài thấy rõ thái độ bất kính của tướng quân Tô Tạo, theo ý các ngài nghĩ sao?
Mọi người đều lộ vẻ bực tức nhưng không ai thốt ra mội lời nào. Bùi văn Khuê biết rằng các tướng đều sợ họ Tô báo thù hèn hạ nên không hỏi thêm.
Chàng nói
- Tôi hỏi thế để được rõ thái độ của các ngài mà thội chứ tôi cũng không bắt buộc các ngài phải biểu lộ ý tưởng của mình bằng lời nói. Tô Tạo ỷ mình có vây cánh quyền thế ư ? Rồi các ngài hãy xem tôi xử trí với y.
Bùi văn Khuê liền truyền quân đi mời Tô Tạo đến tức khắc. Tô Tạo bụộc lòng đến nhưng nét mặt hắn không vui, trái lại Bùi văn Khuê vẫn tươi cười và niềm nở đón chào:
- Kìa Tô tướng quân ! Hãy vào ngồi đây, bản chức có câu chuyện muốn bàn với tướng quân.
Tô Tạo rất ngỡ ngàng trước thái độ của họ Bùi. Từ lúc nãy, khi nghe quân hầu đến mời, Tô Tạo đã chuẩn bị trước những lời nói, nhưng hành động nếu xảy ra xô xát. Hắn không ngờ Bùi văn Khuê lại đối xử nhã nhặn đến như vậy. Trong lòng hắn càng ngờ vực hơn và hắn tự hỏi :
— Có phải chăng vì bại lộ việc đêm hôm rồi ở Dinh Đề đốc mà họ Bùi nể mặt ta chăng ?
Tự hỏi thầm như thế rồi Tô Tạo lại tin tưởng rằng hắn đang thắng thế. Không nói mội câu nào và vẫn với vẻ mặt tự đắc, hắn ngồi xuống ngay trước mặt họ Bùi...
Văn Khuê vẫn cố dằn sự tức giận. Chàng hỏi Tô Tạo :
— Bản chức và chư tướng ở đây đang bàn đến vấn đề kỷ luật trong binh đội của chúng ta. Có một đoạn chúng ta chưa thỏa thuận với nhau hẳn. Bản chức muốn phiền tướng quân cho ý kiến.
Tô Tao lắng nghe hết sức chăm chú. Bùi văn Khuê chậm rãi tiếp lời :
— Nếu có một quân sĩ nào bất tuân thượng lệnh giả bệnh không đi tập luyện, cluing ta nên xử thế nào ?
Bỗng dưng thấy mình trở nên quan trọng Tô Tạo khẽ lên tiếng:
— Phạt tù!
Bùi văn Khuê cả cười :
— Đồng ý với tướng quân, nhưng lần đầu tiên bản chức nghĩ cũng nên châm chước cho kẻ ấy nhờ, nên chỉ xử án treo mà thôi.
Họ Bùi lại hỏi tiếp :
— Nhưng nếu quân sĩ kia vẫn chứng nào tật nấy. Gặp quan trên không chào, nghinh ngang xấc xược, tướng quân bảo nên xử trị cách nào ?
Như say mê vì được họ Bùi trọng đãi còn được thăm hỏi ý kiến để trị quân, Tô Tạo trả lời rắn rỏi :
—  Nên căng nọc y ra mà đánh vài ba mươi trượng.
Bùi văn Khuê khẽ gật đầu :
—  Bản chức rất đồng ý với tướng quân, tưởng hai mươi trượng cũng đủ là một bài học hay cho hắn.
Rồi thình lình chàng vùng đứng lên, thét bọn vệ sĩ :
—  Quận đâu, căng nọc tướng Tô Tạo ra cho ta.
Bọn vệ sĩ kinh hồn không dám nhúc nhích. Họ Bùi phải thét thêm lần nữa :
—  Mau y lịnh, đứa nào bất tuân ta chém bay đầu.
Chúng vừa áp vào thì liền bị Tô Tạo đã vung tay đánh ngã lăn ra. Lê thế Hùng cả giận, nhảy vọt ra sân, dùng một thế võ bí truyền vật Tô Tạo té nhào xuống đất. Đám vệ sĩ xúm vào trói hắn lại.
Bùi văn Khuê chậm rãi bước đến bên hắn điềm nhiên bảo :
— Chính tướng quân đã vi quân lệnh, bất kính cẩp trên, rồi tự mình làm luật buộc tội mình thì còn kêu than với ai được nữa.
Tướng quân ở dưới quyền ta, nếu trị không được, làm sao ta trị binh sĩ?
Chàng thét bọn vệ sĩ đánh Tô Tạo hai mươi trượng giữa sự kinh sợ của mọi người.
Mọi người đều sợ nghiêm lệnh đã đành, lại còn sợ thay
cho tính mạng của Bùi văn Khuê vì từ nay chàng đã ra mặt đối đầu với Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện.
Văn Khuê truyền bọn vệ sĩ mở trói cho Tô Tạo. Hẳn cảm thấy ê ẩm khắp thân mình, lòng thù hận đã lên đến cực độ.
Hình phạt không có nghĩa gì nhưng sự nhục nhã trước quân lính là điều đáng kể. Họ Tô không ngờ hôm nay y phải hổ thầm đến thế này. Khi bước vào võ trường, Tô Tạo rất hớn hở vì ý định sẽ làm cho Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng kinh hoảng về sự phát giác hành tung bí mật của họ đêm qua tại dinh Đề đốc Hộ thành...
Lòng tin tưởng thái quá vào sự quyết đoán của mình làm cho Tô Tạo khinh thường địch thủ và nghinh ngang trước mắt họ...
Bị đòn đau rồi họ Tô mới sực nhớ đến mình còn dưới quyền họ Bùi nhiều cấp bực, Bùi văn Khuê có thể dùng quyền lực của chúa Mạc ban cho mà xử cực hình thì mình khó thể trở về dinh cầu cứu với Đề đốc Nguyễn Quyện.
Hắn lồm cồm ngồi dậy nhìn họ Bùi và Lê thế Hùng, cố dằn lòng khẽ nói :
— Tội trạng khinh thường cấp trên bị xử thế nầy, còn tội nửa đêm trèo tường vào nhà quan Đại thần phải xử thế nào cho xứng ?
Nói xong hắn cười gằn bước ra khỏi võ trường... Các tướng ngơ ngác nhìn theo không hiểu Tô Tạo định nói những gì.
Riêng Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng lặng lẽ nhìn nhau thông cảm. À, thì ra vì nghi ngờ hai chàng là kẻ gian đã lẻn vào dinh Đề đốc mà Tô Tạo dám xấc xược đến thế. Chắc chắn hiện giờ Đề đốc Nguyễn Quyện cũng đã ngờ vực hai người. Bùi văn Khuê đã đề phòng trước việc ấy nhưng vẫn băn khoăn không hiểu vì sao Nguyễn Quyện lại đem lòng thù hận hai chàng, có lẽ còn một nguyên nhân quan trọng hơn sự đối kỵ vì lòng tin yêu của Chúa Mạc ?...
Chàng nhất định phải tìm ra duyên cớ.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Qua những giải đồng không mông quạnh, những làng mạc xơ xác, điêu tàn vì binh lửa đã đi qua, hai tráng sĩ Bùi, Lê đến Thăng Long, đất nhà Mạc, vào một buổi bình mình tươi đẹp.
Thành phố tưng bừng như ngày hội, dân chúng tấp nập như kiến cỏ. Họ hì hục đào cuốc suốt mấy dặm bao quanh cổ thành...
Hàng vạn con người, cuổc xuổng trong tay, móc đất đắp thành lũy. Họ hát ca vang dậy cả một góc trời.
Bùi văn Khuê bảo nhỏ với Thế Hùng :
- Hiền đệ thấy không? Mạc mậu Hiệp quyết phòng thủ Thăng Long đến cùng, đã ra lịnh cho dân chúng đào ba lần hào, đắp ba từng lũy, quân Trịnh Tùng có thiện chiến đến đâu cũng khó mà phá được thành.
Thế Hùng cất tiếng lo ngại:
- Đệ không tin tưởng như đại huynh, họ Mạc có đắp thêm mười từng lũy, đào mười lần hào cũng khó thắng họ Trịnh. Đệ chắc chắn như vậy.
Họ Bùi kinh lạ nhìn bạn:
- Hiền đệ nói như vậy là ý gì?
Thế Hùng chậm rãi đáp:
- Họ Trịnh dùng trí còn họ Mạc dùng sức người thì làm thế nào thắng được. Đại huynh nhớ rõ, từ khi chúng ta qua khỏi Sơn Nam và vào đến Thăng long, có một ai đến tra xét hay cật vấn chúng mình không? Một kinh đô đang chuẩn bị chiến tranh mà thả lỏng cửa thành làm sao thắng được. Hơn nữa Trịnh Tùng còn cả một đội trinh thám vô cùng lợi hại dưới tay. Không biết chừng đâu chúng đã tổ chức những cơ quan bí mật cùng khắp Thăng Long rồi cũng nên... Họ Mạc lo đào hào đắp lũy chỉ là phí công vô ích...
Bùi văn Khuê cho lời bạn là đúng. Thật ra chính chàng cũng chưa nghĩ đến việc đó. Vừa nói chuyện hai người đã vừa tiến vào nội thành lúc nào không hay. Thành Thăng Long đẹp đẽ, đường sá ngay thẳng, rộng thênh thang, hàng phố chưng bày đẹp mắt.
Bụng đã thấy đói, họ Bùi liền rủ bạn vào một tửu quán có lầu để dễ bề quan sát thành phố. Họ đi thẳng lên lầu tìm một nơi gần cửa sổ trông thẳng xuống đường. Một tên hầu bàn bước tới cúi chào thật lễ phép. Sau khi kêu thức ăn, họ Bùi bèn hỏi hắn:
- Kinh thành hôm nào cũng rộn rịp như vậy?
- Dạ thưa không ! Chỉ mới tháng trước trở lại đây, Chúa kêu gọi xây lại cổ thành Đại La để phòng quân Trịnh, mới có vẻ tấp nập thế này. Nhị vị tráng sĩ từ xa mới đến đây ư?
Bùi văn Khuê nghiêm trang đáp:
- Vâng! Chúng tôi từ Sơn Nam tới.
- Nếu vậy thì may mắn vô cùng. Nhị vị còn ở chơi lâu chứ? Ồ, thành phố về đêm còn vui vẻ hơn nhiều. Để hai vị dạo thử Thăng Long một đêm cho biết sự náo nhiệt khác thường.
Tánh tình vui vẻ khôn ngoan của tên hầu bàn làm cho hai họ Bùi, Lê vui thích, nhưng Bùi văn Khuê không khỏi ngờ vực trong lòng vì cặp mắt láo liên của hắn trông không có vẻ thật tình.  Nhưng chàng cũng cho rằng đấy có lẽ sự xảo quyệt của kẻ buôn bán mà thôi.
Bỗng từ dưới kia đường có tiếng xôn xao, tiếng người la vang, và các cửa tiệm đua nhau đóng cửa rầm rầm. Kinh ngạc, Bùi văn Khuê cùng Thế Hùng đến bên cửa sổ nhìn xuống. Đường phố thoảng chốc trở thành hỗn loạn, người ta chạy ùn ùn đổ ra phía ngoài thành.
Không lý giặc từ trong cung, điện đánh ngược trở ra? Mà quân sĩ đâu không thầy ứng phó? Tiếng kêu khóc của đàn bà, trẻ con chạy đạp lên nhau nghe thảm thiết...
Một lúc sau, đường phố vắng tanh như ngày loạn lạc. Không ai dám hé cửa ra đường. Tên hầu bàn lúc nãy trở lên bảo Bùi văn Khuê và Thế Hùng :
- Nhị vị tráng sĩ an lòng! Không có chi đáng ngại, con Thiên linh Hổ của nha Chúa xổng chuồng chạy ra phố, nên dân chúng hãi hùng đến thế.
Bùi văn Khuê lấy làm lạ:
- Một con hổ dữ xổng chuồng mà tướng sĩ của chúa Mạc không trừ khử được ư? Phải để cho dân chúng kinh hoàng như vậy sao ?
Tên hầu bàn khẽ đáp :
- Tráng sĩ đừng lấy làm lạ, ‘‘Thiên linh hổ’’ là một con vật quí nhất của chúa Mạc. Nó xổng chuồng thì tìm cách bắt sống nó lại chứ không được dùng vũ khí. Nó mà mệnh hệ nào thì kẻ trừ khử được nó cũng khó toàn tánh mạng.
Bùi văn Khuê hơi tức trong lòng, chàng hỏi gằn lại:
- Như vậy, chúa Mạc để mặc tình cho con hổ ấy giết hại dân lành ư?
Tên hầu bàn khẽ gật đầu:
- Mỗi lần hổ xổng ra, ít nhất cũng đến mười mạng người làm mồi cho nó.
Bùi văn Khuê nghiến răng đứng dậy :
- Không thể được ! Ta phải can thiệp để hạ con cọp dữ ấy!
Chàng chưa dứt lời, từ dưới kia đường phố vang lên một tiếng gằm long trời chuyển đất.
Bùi văn Khuê và Thế Hùng bước tới bên cửa sổ. Dưới kia một cảnh tượng kỳ di hiện ra trước mắt: một con hổ Mun, sắc đen huyền to lớn, bằng một con bò mộng, đuôi dài phết đất, đang hầm hừ nhe nanh dọa một tốp lính tuần lấp ló xa xa.
Họ Bùi đoán chắc đó là con ‘‘Thiên Linh Hổ’’ của chúa Mạc mậu Hiệp. Chúa sơn lâm bước chậm rãi trên đường như người đi dạo phố, chỉ thỉnh thoảng quay lại nhe nanh dọa nạt bọn lính tuần theo sát không buông...
Bùi văn Khuê từ trên lầu cao nhẹ nhàng phóng mình xuống đất giữa sự kinh ngạc của mọi người. Bọn lính tuần hét vang lên:
- Tên kia ! Chạy mau, bộ ngươi muốn tự tử ư ?
Viên tướng chỉ huy cuộc rượt bắt ‘‘hổ’’ vội rẽ đám lính sang bên để nhìn rõ họ Bùi... Hắn e ngại Bùi văn Khuê dùng đến vũ khí mà ‘‘Thiên linh hổ’’ có chết đi hắn sẽ bị tội lây...
Thế Hùng thấy bạn nhảy xuống, sợ bạn gặp nguy cũng vội vàng phóng mình theo. Chân chàng vừa chấm đất thì đã nghe tiếng họ Bùi quát to:
- Hiền đệ lui ra, có sá gì con hổ đói nầy mà hiền đệ bận tâm cho nhọc xác.
Thế Hùng không biết làm sao đành phải nép mình vào mái phố chờ đợi lúc nguy ngập sẽ vào tiếp tay với bạn.
Bao nhiêu cặp mắt hướng về phía con hổ và họ Bùi. Bao nhiêu trái tim đều hồi hộp lo âu. Từ trên lầu các phố đã thấy đông nghẹt những người chen chúc nơi cửa sổ ra hành lang hoặc leo tận trên nóc lầu để nhìn cuộc tranh hùng kỳ dị giữa người và ác thú.
Hổ đã dừng hẳn lại, tức giận nhìn kẻ điên rồ đang đứng cản đường. Cặp mắt long lanh sáng quắc của nó chiếu thẳng vào miếng mồi ngon tự dưng mang đến nạp.
Bùi văn Khuê thản nhiên nhìn thẳng vào mắt nó. Chàng đang nghĩ đến những thế võ có thể khuất phục Thiên linh Hổ dễ dàng. Hổ kia ý chừng có linh cảm là kẻ địch của mình không phải tay vừa, nên thay vì phóng tới để kết liễu cuộc đời họ Bùi, nó lại thối lui nhiều bước rồi thu mình ngồi xuống,
Bùi văn Khuê cũng ngạc nhiên không ít. Chàng chưa hiểu hổ kia định dở trò gì? Nó không tấn công chắc đang bày ra thế thủ hiểm độc chứ cặp mắt chàng không đủ sức khuất phục nó mau mắn như vậy. Chàng từ từ bước lên chầm chậm. Bất ngờ, hổ vọt ra phía trước, hai chân chụp lên đầu chàng. Lẹ làng, họ Bùi hét lên một tiếng, thụp mình xuống cho qua lần hổ chụp rồi đánh thẳng một quyền vào hông hổ. Sau một tiếng ‘‘phịch’’ nặng nề, hổ lật ngang mình rơi xuống vệ đường.
Bị đau, con vật gầm thét dữ dội. Đôi mắt giết người của nó đỏ ngầu. Nó vẫy đuôi, rồi xông thẳng vào mình Bùi văn Khuê chụp lấy chụp để.
Trước sự hung hăng của hổ, Bùi văn Khuê càng trổ tài né tránh. Chàng cố sức vờn nhau với hổ càng lâu càng hay để cho nó mệt nhừ mới dễ dàng ra tay bắt sống.
Bọn lính tuần và dân chúng đã phục tài chàng tráng sĩ lạ mặt. Họ đã bớt lo cho tính mạng của chàng nhưng cũng không khỏi hồi hộp. Mỗi lần thú dữ tấn công. Họ kinh ngạt vô cùng và không hiểu Bùi văn Khuê đã dùng những thế võ nào để thoát hiểm dễ dàng.
Viên tướng chỉ huy cuộc đuổi bắt Thiên linh Hổ rất vui mừng vì có người trị được hổ nhưng không khỏi lo ngại như hổ. Không khéo chàng tráng sĩ kia lỡ tay, Thiên linh Hổ vong mạng càng nguy khốn hơn.
Hắn e dè cất tiếng bảo họ Bùi:
- Tráng sĩ ! Nhẹ tay với kẻo giết chết Thiên linh Hổ thì tai họa vào mình đấy.
Dân chúng đứng xem cười ầm lên trước một việc quá trớ trêu: không sợ người bị hổ giết mà đi lo người giết hổ. Nhưng khi nhớ đến lịnh truyền của Chúa Mạc, ai cũng lo giùm họ Bùi.
Chàng tráng sĩ vẫn quần thảo với hổ từ hiệp nầy sang hiệp khác. Chàng không cố ý tấn công để giết hổ nhưng chàng thấy mình khó tránh lâu được vì hổ kia quá dũng mãnh. Nó cứ chụp thẳng vào mình họ Bùi từng đợt một, không thấy sút sức đi một chút nào.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2020 20:07:51 bởi Thanh Vân>
Trịnh Tam Miêu trằn trọc mãi không sao chợp mắt được. Ông ta trải qua một đêm trăng với bao nỗi lo sợ, hồi hộp, băn khoăn chưa từng có trong đời ông.
Sau khi sai quân đi chôn cát thí hài của nhà vua và của Đặng Ngự sử xong, viên Trấn thủ tự thấy hối hận vô cùng.
Đây là lần thứ nhứt mà ông dám nghịch lại mạng lịnh của chúa Trịnh. Ông biết chẳng sớm thì muộn, ông cũng không thoát khỏi bị rơi đầu, bị kết tội là phản bội, là đã công khai đương đầu với triều đình. Danh từ ‘‘triều đình’’ nầy, nói cho đúng ra, chỉ là một bức binh phong để che đậy cái uy quyền ghê gớm độc tài của Trịnh Tùng.
Cũng may là sau vụ cướp tù xa táo bạo gần Phủ Diễn, đoàn kỵ binh bị đánh tan, võ sĩ Trương Báo bị giết, Thái phó Nguyễn Hữu Liên hoảng sợ, cùng một nhóm tàn quân cấm đầu chạy thẳng một mạch về Tây đô. Nhờ vậy, hiện giờ, tội trạng của Trịnh Tam Miêu chưa bị ai hay được, trừ ra vài kẻ thuộc hạ trung tín của ông ta. Tuy nhiên, viên Trấn thủ cũng dư hiểu rằng chỉ trong vài ngày thế nào vụ nầy cũng đổ bể vì ban dọ thám của Trịnh Tùng đều có tai mắt khắp nơi.
Cái ý nghĩ những cực hình, những trừng phạt gắt gao của thượng cấp sắp đến với ông, làm cho ông kinh hãi đến cực độ. Bất giác, viên Trấn thủ đem lòng oán hận kẻ khuất mặt là Đặng Ngự sử, đã dẫn đường chỉ lối cho hoàng đế Anh Tôn ra lánh nạn ở đây, để giao tai họa cho ôngn trên vùng đất do ông cai trị.
Trời gần sáng mà Trịnh tam Miêu vẫn chưa kiếm được cách giải quyết gì khác hơn, mới mẻ hơn, để cố gắng cứu vãn một phần nào tình thế khủng hoảng này.
Tiếng gà gáy kế tiếp nhau rộn rã nổi lên từ các vùng quanh báo hiệu bình minh sắp đến. Đầu nặng, mắt hoa, tâm hồn dã dượi, mặt mũi bơ phờ, viên Trấn thủ cố gắng ngồi dậy trên sập gụ.
Thình lình, từ phía ngoài, viên vệ úy Trịnh Cảnh (có phận sự bảo vệ tánh mạng của Tam Miêu như trên đã nói) tất tả đẩy cửa bước vô, nghiêng mình kính cẩn :
- Bẩm đại nhơn! Có vợ Vương Bột xin vào yết kiến đại nhơn để tường trình việc quan hệ.
Viên Trấn thủ hơi giựt mình, cau mày khó chịu:
- Ô hay! Thế Vương Bột ở đâu nhỉ? Có lẽ hắn bị bắt cóc hay mất tích rồi chăng ? Thôi, cứ cho vợ hắn vào đây!
Viên vệ úy tuân lịnh lui ra và một lát sau trở vào với một thiếu phụ quê mùa, ăn mặc nâu sồng, lam lũ.
Trịnh tam Miêu chưa kịp hỏi, thiếu phụ đã oà ra khóc :
- Bẩm lạy quan lớn, nhà tôi đi mất từ trưa hôm qua đến nay, không thấy về, có lẽ đã ngộ nạn hay bị giết rồi. Xin quan lớn sai người đi tìm kiếm giải cứu giùm cho nhà con. Con rất đội ơn quan lớn vạn bội.
Viên Trấn thủ nghiêm sắc mặt:
- Chị đừng rối rít, hoảng hốt lên như thế ? Chồng chị đi làm công vụ nặng nhọc về nhà chậm trễ là việc rất thường. Vả chăng nếu có xảy ra sự gì nguy hiểm cho chồng chị, thì đã có bổn chức lo liệu, không cần chị phải đến đây nhắc nhở.
Giọng quở trách của Trịnh tam Miêu cũng không làm bớt được nổi đau khổ của vợ Vương Bột.
Qua nước mắt lã chã dầm dìa, thiếu phụ vẫn mếu máo nức nở:
- Trăm lạy quan lớn, ngàn lạy quan lớn, xin quan lớn soi xét cho con nhờ. Vì nếu chỉ có thế thì con đâu dám đường đột xin phép đến đây làm nhọc lòng quan lớn, Bẩm qụan lớn, số là vừa rồi một tai họa nữa đã xảy tới cho gia đình con. Có một người đàn ông vạm vỡ mặc đồ đen đeo mặt nạ, đang đêm dẫn chồng con về nhà. Chính mắt con trông thấy rõ ràng hai tay chồng con bị trói chặt miệng bị nhét đầy giẻ.
Viên Trấn thủ rụng rời, vì chợt nhớ đến người hiệp sĩ áo đen đã ký tên trong bức mật thơ, bèn ngắt ngang lời thiếu phụ :
- Chị nói thế nào? Người đàn ông ấy đeo mặt nạ, bận đồ đen à?
Thiếu phụ gật đầu tiếp:
- Bẩm quan lớn, chính thế. Thoạt trông qua, con thoáng hiểu rằng hắn buộc chồng con đưa hắn về đây, chắc sắp có chuyện gì tai biến xảy ra. Mà quả thật vậy. Hắn lăm lăm cầm nơi tay một con dao lo bản sáng ngời hăm doạ chồng con và cả nhà không ai được la, rồi, ôi chao ôi ! Hắn bắt luôn hai đứa bé còn thơ dại dẫn đi một lượt với chồng con và biệt tích,
Trịnh tam Miêu sửng sốt :
- Nhưng tại sao người ấy lại bắt hai đứa con của chị? Để làm gì chứ?
- Bẩm quan lớn! Con cũng ngơ ngác không hiểu, Nhưng trước khi ra đi, hắn có để lại cho con một mảnh giấy.
Dứt lời, thiếu phụ rút trong túi áo ra một mảnh giấy và run run cầm dâng lên.
Một tên lính lệ đứng hầu gần đó, tiếp lấy bức thơ, trao lại cho viên Trấn thủ.
Mảnh giấy chứa vài dòng chữ vắn tắt như sau nầy:
‘‘Chúng ta tạm mượn đỡ hai đứa con của chị trong một thời gian để đánh tráo lấy hai Hoàng tử. Chị cứ yên tâm. Rồi đây mẹ con chị sẽ trở lại đoàn tụ như cũ.  
‘‘HIỆP SĨ ÁO ĐEN’’
 
Vừa đọc qua, mồ hôi của viên Trấn thủ toát ra như tắm. Đó không phải là vì cái tên ‘‘ Hiệp sĩ áo đen’’ đã nhắc lại cho ông những giây phút khủng khiếp nhứt trong đời mình, mà là vì một phát giác cực kỳ nghiêm trọng. Thì ra bây giờ ông mới biết hai đứa bé hiện ông đang giam cầm trong dinh không phải là hai Hoàng tử mà chính là con đẻ của vợ chồng Vương Bột.
Bàn tay run run của Tam Miêu buông rơi mảnh giấy từ lủc nào mà ông cũng không hay biết. Lại thêm một tai họa ghê gớm nữa rơi xuống đầu ông.
Chúa Trịnh Tùng và Thái phó Nguyễn hữu Liên sẽ căm giận đến bực nào, nếu họ biết được tin ông đã để cho hai đứa con trai của vua Lê Anh Tôn trốn thoát ?
Viên Trấn thủ tái mặt, thét gọi kẻ tả hữu:
- Quân bây đâu! Hãy xuống dẫn hai đứa bé bị giam lên đây cho ta !
Hai tên lính dạ rân và lập tức rời khỏi hàng ngũ. Một lát sau, chúng trở lên với hai phạm nhơn bé tí hon.
Mới thoạt trông thấy con mình, vợ Vương Bột oà ra khóc nức nở, vì quá sung sướng và cảm động. Hai đứa bé tiều tụy và ngơ ngác vì vừa trải qua một đêm kinh hoàng, cùng mừng rỡ nhìn ra mẹ chúng, nên cất tiếng gọi rối rít:
- Má ơi ! Chúng con đây má ơi! Má cứu chúng con với!
Trịnh Tam Miêu điếng người, sững sờ như một kẻ mất hồn. Quả đúng rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Hai đứa nhỏ này thô kịch từ diện mạo cho đến cử chỉ, chính là con của vợ chồng họ Vuơng. Còn hai Hoàng từ đã bị tráo đổi trước khi ông sai quân đến đón tại Phù Diễn.
Viên Trấn thủ hầm hầm gọi viên vệ úy đã được giao phó phận sự trên đây, đoạn chỉ vào hai đứa bé mà thét:
- Thế nầy là nghĩa gì? Bổn chức truyền cho nhà ngươi bắt hai Hoàng tử về đây, tại sao nhà ngươi lại nhè đi rước hai đứa con của Vương Bột? Mắt nhà ngươi đui à? Quân gian đã đem tráo các tù nhơn từ hồi nào mà nhà ngươi không biết?
Viên vệ úy sợ hãi, áp úng:
- Kính... bẩm đại nhơn... Tiểu tướng xin cúi đầu chịu tội. Tiểu tướng đã sơ ý không xem xét kỹ nên mới mắc mưu của kẻ địch. Vả chăng xưa nay tiểu tướng chưa hề được biết mặt các vị Hoàng tử nên không thể nhận diện được. Vậy mong đại nhơn rộng lượng dung thứ cho tiểu tướng được nhờ.
Trịnh tam Miêu rất lấy làm khó nghĩ. Câu trả lời của viên vệ úy xét ra vẫn có lý, vì khi mới đem các tiểu phạm nhơn về dinh nầy chính ông cũng đã lầm.
Cũng như viên vệ úy, trước đây ông chưa hề được thấy rõ mặt mũi hai con của vua Lê Anh Tôn, thì biết làm thế nào để phân biệt rõ là chơn hay giả.
Tuy nhiên, để biểu dương oai quyền của mình đối với kẻ thuộc hạ, ông đấm tay lên bàn thình thịch và quát mắng không ngớt mỉệng:
- Đồ mù! Đồ khốn kiếp! Mi giết ta rồi! Ta kỳ cho mi nội ngày hôm nay phải tìm ra hai Hoàng tử đem về đây lập tức.
Viên vệ úy khúm núm:
- Dám bẩm đại nhơn! Tiểu tướng xin tuân lịnh, quyết nỗ lực bắt quân gian để chuộc tội, và đồng thời báo thù cho các bạn đồng đội đã bị giết một cách thảm thương.
Tam Miêu ngạc nhiên ngắt lời:
- Nhà ngươi bảo ai bị giết ?
Viên tướng đáp:
- Bẩm đại nhơn, tảng sáng hôm nay, tiểu tướng vừa được tin rằng viên đội Trần Mộc và hai binh sĩ có phận sự canh gác hai Hoàng tử tại tửu quán ở Phủ Diễn đã bị hạ sát một cách tàn khốc và giấu thi thể trong một phòng tối, khít bên cạnh hầm giam. Do đó, tiểu tướng mới biết rằng phe địch đã đánh tráo các Hoàng tử trước khi tiểu tướng đến nơi. và tên lính lạ mặt đã đem hai đứa bé giao lại cho tiểu tướng bỏ lên kiệu đưa về đây chỉ là một kẻ gian trá hình...
 
Vị Trấn thủ há hốc mồm, giương cặp mắt tròn xoe, trước
những phát giác mới mẻ này của viên vệ úy. Ông còn đang sửng sốt, thì hắn lại tiếp:
- Thưa đại nhân, còn một điều này rất quan trọng mà tiểu tướng xin phúc bẩm gấp để đại nhân rõ. Ấy là tên lính lạ mặt nói trên đã lén đi theo tiểu tướng để hộ tống chiếc kiệu về đây. Như vậy nó đã lọt vào trong dinh này, và tiểu tướng chắc rằng chính hắn là kẻ đã hai lần ném phi đao hăm dọa đại nhân và ký tên ‘‘Hiệp sĩ áo đen’’ trong mảnh giấy.
Trịnh tam Miêu rụng rời, kinh dị. Ông ngửa mặt lên trần nhà thốt ra mấy tiếng chán nản và tuyệt vọng:
- Trời hỡi trời ! Thế mà nhà ngươi đợi mãi tới bây giờ mới nói ra thì còn gl là tánh mạng của ta!
Dứt lời, ông xây lại dõng dạc hạ lịnh:
- Hãy đóng chặt cổng dinh lại và truyền cho hết thảy binh sĩ và giai nhân hầu hạ trong dinh ra sắp hàng đủ mặt để bổn chức đích thân kiểm điểm từng người một.
Trong khi chờ đợi thi hành mạng lịnh gắt gao nầy, viên Trấn thủ giao trả hai đứa nhỏ lại cho vợ Vương Bột dẫn về nhà.
Thế là một phen nữa Trịnh tam Miêu trúng kế của Bùi văn Khuê.  
 

 
Trời đã tối hẳn khi Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng thúc ngựa tiến vào vùng ngoại ô Tây đô.
Ánh đèn bắt đầu nhóm lên từ các căn nhà lụp xụp nối tiếp nhau thành hai dãy dài, trải ra những vệt sáng lung linh trên con đường chật hẹp.
Thấy Thế Hùng có vẻ hơi do dự, một lần nữa, Văn Khuê lại tìm lời khuyến khích bạn :
- Hiền đệ chớ ngại. Chúng ta đã cải dạng làm lái buôn cẩn thận và khéo léo như thế nầy, thì chắc là bọn tay sai của Trịnh Tùng sẽ khó lòng mà nhận diện ra được,
Vừa nói, chàng vừa cúi xuống ngấm nghía cái áo thâm dài xốc xếch của mình đang phủ lên một chiếc quần trắng màu cháo lòng xăn lên gần tới gối. Tất cả đó, đi đôi với chiếc khăn bịt xéo trên đầu và gói hành lý mang theo kè kè sau lưng ngựa, đã biến họ thành hai chú lái thô kịch từ nhà quê vừa ra tỉnh.
Chàng lực sĩ ra dáng đắc ý, nhưng vị công tử mỉm cười:
- Xin lỗi Đại ca, tiểu dệ không dám chối cãi rằng điều
nhận xét mới rồi của đại ca là không đúng, nhưng nó chỉ đúng riêng về trường hợp của Đại ca mà thôi. Vì ở Tây đô này, người ta ít biết mặt Bùi Văn Khuê, chỉ  trừ ra Nguyễn hữu Liên và bọn kỵ binh còn sống sót sau trận đánh cướp tù xa ở Phủ Diễn. Còn về phần Thế Hùng thì khốn nỗi, bởi đã từng lưu ngụ tại đây quá sáu năm rồi, nên khó tránh khỏi bị chúng nhận diện.
Chàng thanh niên nối theo câu nói của mình bằng một chuỗi cười hồn nhiên, rồi tiếp:
- Nói thế chứ, tiểu đệ không e sợ đâu đại ca ạ ! Vì ai dại gì có dịp đi ngang Tây Đô mà không ghé lại để thám thính tình hình ? Vả chăng anh em chúng ta đã thành công vẻ vang trong việc giải thoát hai vị hoàng tử và gởi gấm vào một nơi kín đáo, đã buộc tên tham quan Trịnh tam Miêu phải chôn cất thi hài hoàng đế Anh Tôn là của một bậc trung thần, đã trả lại cảnh đoàn viên cho gia đình Vương Bột và dắt dẫn hắn đi sang đường ngay nẻo chánh thì ít nhứt bây giờ đây, chúng ta cũng phải được hưởng những giờ phút mạo hiểm ngay giữa kinh thành này mới xứng đáng là cái phần thưởng tinh thần của kẻ trượng phu anh hùng chứ? Có phải thế không đại ca ?
Văn Khuê gật đầu, vui vẻ tán đồng
- Hay lắm, hiền đệ quả thật không hổ với câu ‘‘con dòng cháu giống’’. Ở dưới suối vàng, hẳn quan Thái quận công cũng rất tự hào có được một người con anh dùng như hiền đệ.
Lời khen tặng của chàng lực sĩ, cùng một lúc với việc đặt chơn trở lại đất Tây đô, vô tình đã khêu gợi lại đống tro tàn dĩ  vãng và nhắc lại cho vị công tử cái chết thảm khốc của song thân chàng, cái chết đã lưu lại cho chàng một mối thù không đội trời chung.
 
Trong phút chốc, bị kích thích mạnh mẽ vì ý nghĩ rửa hờn, báo phục, Thế Hùng bèn đề nghị với bạn:
- Hay là nhơn cơ hội nầy, tiểu đệ muốn lẻn vào phủ Chúa thích khách Trịnh Tùng một phen xem sao.
Văn Khuê vội gạt đi:
- Không nên, lúc này chưa phải là lúc thi hành được việc đó, anh em chúng ta chỉ có hai người, không thể nào đương đầu lại với hàng muôn hàng vạn hùng binh của chúa Trịnh ngay trên khu vực thống trị của nó được. Vậy chúng ta nên ẩn nhẫn đợi chờ, rồi sau khi nương dựa vào thế lực của chúa Mạc, sẽ nghĩ đến sự thi hành chí nguyện của mình cũng chẳng muộn. Tôi dám chắc rằng tới lúc ấy, chúng ta sẽ đạt tới kết quả một cách chắc chắn ...
 
Chưa dứt lời, chàng lực sĩ đột nhiên ngừng lại về một cái liếc mắt ra hiệu của Thế-Hùng. Chàng thấy vị công tử đang chăm chú nhìn một tấm giấy trắng lớn hình chữ nhựt, bề cao bằng một cánh tay, dán trên một bức vách xám cũ kỹ, phía trước mặt.
Văn Khuê cũng nhìn về phía ấy. Dưới ánh đèn lờ mờ của một ngọn đèn lồng treo kế cận, chẳng nhận thấy trên giấy 2 bức chân dung họa bằng những nét khả tỉ mỷ. Một bức là Thế Hùng, in hệt như khuôn đúc, còn bức kia chính là của chàng, trông không giống lắm, vì có lẽ họa sĩ đã nghe người ta thuật lại rồi mương tượng mà vẽ ra, trước khi sửa đi sửa lại nhiều lần.
Bên cạnh hai bức chân dung ấy, người ta đọc mấy giòng chữ như sau :
‘‘ Đây là hai tướng giặc, một đứa tên Lê Thế Hùng con của phản thần ‘‘ Lê cập Đệ’’  còn một đứa nữa không tên, đã làm loạn chống triều đình giết hại rất nhiều binh sĩ. Nếu ai bắt đặng chúng thì sẽ được 500 nén bạc. 
 
Thì ra đó là một trong những tờ cáo thị kêu gọi dân chúng góp sức vào sự truy nã Bùi văn Khuê và Lê công tử, dán khắp các ngả đường giữa Tây đô.
Bùi văn Khuê bật cười:
-  Trịnh Tùng gọi hai anh ta là giặc cướp vì chúng ta là đối lập của hắn; nhưng hắn quên chính hắn là tên ăn cướp thiệt thọ. xứng đáng với danh từ ấy. Nó đã cướp từ hạnh phúc cho đến nhà cửa. manh áo miếng cơm của dân chúng. Một ngày kia công lý sẽ đem phơi bày ra trước mắt thiên hạ cái tội ác tầy trời của hắn và ngày ấy người ta sẽ biết kẻ cướp là ai.
Thế Hùng gật đầu tán thành lời phê bình của bạn và tiếp:
- Nhưng nhiệm vụ của chúng ta là phải giúp công lý sáng tỏ bằng cách cố gắng lật đổ uy quyền của Trịnh Tùng và chấm dứt một chế độ áp bức, tàn nhẫn, bất công đang đè nặng lên cuộc sống của toàn dân. Tiểu đệ xin thề quyết sẽ không bao giờ xao lãng cái nhiệm vụ ấy.
Vị công tử vụt ngưng nói khi chợt thấy một toán lính tiến tới trước mặt mình. Qua những dấu hiệu trên những trang của họ, Thế  Hùng nhân ra đó là đoàn Kiêu binh ở trong phủ Chúa. Dường như chúng đang thừa hành một phận sự gì khẩn cấp nên hăm hở, mải miết đi không thèm nhìn đến hai chàng hiệp sĩ.
Văn Khuê đưa mắt để hỏi:
- Chắc Trịnh Tùng phái quân hộ vệ của hắn đi bắt cóc ai đấy. Mỗi lần hắn xử dụng tới bọn Kiêu binh thì tất nhiên đó phải là một cuộc bắt bớ quan trọng.
Hai người dấn mình vào một con đường phố rộng rãi và vượt qua hai dãy nhà ngói cao ráo, sạch sẽ gồm toàn là những hiệu buôn của người Việt xen lẫn với người Huê Kiều.
Bỗng nhiên từ xa, văng vẳng đưa lại những tiếng hát hòa nhịp cùng tiếng đàn phách nhặt khoan, bỗng trầm. Đó là giọng hát thảnh thót, lanh lảnh của những ca nhi Trung quốc. Đồng thời. Trước mắt họ, một tửu lầu sang trọng và độ sộ với ánh đèn rực rỡ hiện ra, mỗi lúc mỗi gần.
Thấy bạn chăm chú hướng về phía ấy, Lê thế Hùng giải thích:
- Đây là Hoàng hạc Lâu. một tiệm cao lâu khách trú lớn nhất và nổi tiếng tại Tây đô vì có nhiều món cao lương mỹ vị và nhiều ca nhi tuyệt sắc.
Văn Khuê mỉm cười pha trò:
- Hiền đệ bình phẩm một cách thành thạo lắm chắc hẳn trước kia hiền đệ đã từng đặt chân tới đây nhiều lần rồi thì phải. Các bậc vương tôn công tử có khác. Hôm nay đến phiên kẻ quê mùa là Văn Khuê nầy cũng muốn bắt chước vào đây đóng vai khách quí một phen chơi.
Họ Lê cũng cười:
- Đại ca đùa đấy chứ?
Chàng lực sĩ nghiêm nghị:
- Không, tôi nói thật đó! Chúng ta hãy dừng ngựa, vào đây đánh chén, vì tôi thấy bụng đói lắm rồi.
Thế Hùng cản lại:
- Ấy chết, tiểu đệ xin can đại ca! Chúng ta nên chọn mộl tửu quán khác, có vẻ trung bình hơn. Vì Hoàng hạc Lâu là nơi lui tới của một số đông những người tai mắt ở thủ đô, và những người ấy hầu hết đều biết mặt tiểu đệ.  
Văn Khuê vẫn không đổi ý :
- Đành là thế, nhưng nếu chúng ta không liều lĩnh dấn mình vào những chỗ quan trọng như vậy thì làm sao có thể dọ thám nghe ngóng được những tin quan trọng. Theo ý tôi, thì tôi rất mong được gặp một vài tay sai có uy thế của chúa Trịnh. Vả chăng nếu xảy ra bất trắc thì chúng ta sẽ liệu thế mau lẹ rút lui chớ có sao đâu!
Dứt lời, họ đã đến trước cửa tửu lầu. Văn Khuê dừng ngựa nhảy phóc xuống đất. Vị công tử bất đắc dĩ cũng làm theo.
Hai tráng sĩ cột dây cương vào một thân cây bên vệ đường rồi mỗi người xách gói hành lý riêng của mình, thong thả bước vào trong tiệm.
Tửu lầu vào giờ ấy, đông nghẹt những khách thuộc hạng tài tử, phong lưu, xênh xang trong những bộ y phục đắt tiền, gồm toàn lụa là, the gấm. Từng dưới, không còn lấy một bàn trống.
Văn Khuê còn đương ngơ ngác nhìn thì Thế Hùng đã nắm tay chàng, kéo tuột thẳng lên lầu và bảo:
- Lên trên nầy thanh vắng hơn, và may ra còn hy vọng thâu thập được những tin tức quan hệ. Vì các khách thượng lưu và hào phóng nhứt thường thường đều dành chỗ riêng trước ở trên lầu, để tự do yến ẩm và thưởng thức giọng hát cung đàn.
Lên tới nơi, hai người lựa xong một chỗ ngồi khít bên cửa sổ, có thể trông xuống đường cái rất rõ ràng. Họ Bùi và vị công tử đặt hai gói hành lý xuống bàn. Trong khi chờ đợi tiểu nhị, họ liếc nhìn khắp xung quanh.
Đúng như lời của Thế Hùng đã nói, trên lầu rất vắng khách. Trừ hai viên võ quan sang trọng ngồi xuống uống rượu và đàm thoại với nhau ở bàn kế cận ra thì không còn một ai khác lạ. Đám ca nhi đã kéo xuống đàn hát ở dưới lầu.
Lúc hai tráng sĩ mới thoạt tới nơi, hai viên võ quan đều ngửng đầu lên một lượt và tò mò nhìn họ. Có lẽ tưởng đó chỉ là hai gã lái buôn quê kịch và ngờ nghệch không đáng lưu ý, nên hai viên tướng ấy lại cúi xuống tiếp tục thì thầm với nhau một câu chuyện gì bí mật.
Một trong hai viên võ quan nói:
- Cuộc thảm bại bất ngờ ở Phủ Diễn vừa rồi là một vố hết sức đau đớn mà quân ta chưa bao giờ gặp. Nó đã làm tổn hại rất nhiều đến uy tín và thanh danh của Bình an Vương nên vừa hay tin, ngài đã nổi cơn lôi đình dữ dội. Chỉ suýt nữa là địa vị của quan Thái phó đã bị lung lay vì chính ông ta là người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Chúa tuy có tiếc viên hộ tướng Trương Báo nhưng bất mãn nhửt là
ở chỗ trọn một đoàn kỵ binh hùng dũng đã phải bó tay trước một lên giặc vô danh, ngang nhiên giết binh chém tướng, cướp đoạt tù xa, hoành hành như ở chỗ không người.
Viên võ quan thứ nhì hé một nụ cười mai mỉa:
- Tay vô địch võ nghệ cao cường như Trương Báo mà còn phải bỏ mạng trong nháy mắt huống hồ là đoàn kỵ binh! Nhưng theo ngu ý của tôi, vụ thảm bại vừa rồi chẳng qua là do sự khinh xuất của quan Thái phó và tánh kiêu căng hợm hĩnh của Trương tướng quân mà ra cả. còn tướng giặc chắc không đến nổi xuất chúng như người ta đã ca tụng và kinh sợ thái quá đâu. Nếu gặp tay đệ đây, dầu không dùng sức đệ cũng dùng mưu hạ nó dễ như bỡn.
Viên võ quan thứ nhứt không ngăn được chuỗi cười bật ra.
- Thôi đi ! Tôi xin can. Ông bạn của tôi mới nếm có hai chén mà đã chếnh choáng rồi. Nếu bác ngứa ngáy muốn bắt giặc thì cứ việc trổ tài mà lãnh năm trăm nén bạc thưởng, còn tớ đây xin chịu.
Nhơn đây, tớ xin mách nhỏ cho bác biết, một tin hết sức quan trọng mà bác nhớ phải giữ kín nhé!
Thấy kẻ đối thoại gật đầu, ông ta lại tiếp, giọng nói hạ thấp hơn:
- Hồi chiều này, lúc còn đang hầu trong phủ, tôi được chứng kiến một cuộc thịnh nộ ghê gớm của Bình an Vương. Ngài vỗ bàn, đập ghế rầm rầm trong phòng riêng, vửt liệng đồ vật xuống đất kêu loảng choảng và lên tiếng nguyền rủa viên Trấn thủ Nghệ An là Trịnh tam Miêu không ngớt miệng. Một lát sau, thấy ngài hầm hầm bước vào nội dinh, tôi bèn tò mò hỏi thăm viên tướng hầu cận là Lê Cầu mới biết rõ nguyên do như thế nầy: Trước đó vài phút có tình báo viên về báo cáo cho ngài hay rằng hai vị Hoàng tử con vua Anh Tôn mà Thái phó Nguyễn hữu Liên đã gởi cho viên Trấn thủ Nghệ An giam giữ, đã mất tích thình lình từ đêm hôm qua.
Viên võ quan thứ nhỉ hết sức kinh ngạc.
- Hai Hoàng tử mất tích bí mật rồi à? Chắc đó cũng là thủ đoạn của tên cướp lạ mặt kia và của thằng bé phản nghịch Lê Thế Hùng chớ gì?
- Dĩ nhiên là thế - vị võ quan kia đáp.
- Và đó chính là điều làm cho Bình an Vương hết sức lo âu. Vì những biến cố vừa xảy ra đã chứng tỏ rằng tên giặc lạ mặt ấy là một trong những đồ đảng còn sót lại của phe Lê cập Đệ. Chúng đang ráo riết hành động để mưu lập một Hoàng tử lên làm vua nối nghiệp nhà Lê và sẽ chuẩn bị dấy binh đánh lại triều đình. Như vậy chúng sẽ trở nên một hiểm họa không nhỏ, bên cánh hai mối hiểm họa lớn lao là chúa Mạc ở mặt Bắc và chúa Nguyễn ở mặt Nam. Vi chúng nó sẽ đoạt mất của Bình an Vưưng cái danh nghĩa tôn phù nhà Lê mà xưa nay ngài vẫn thường khoa trương để che mắt thiên hạ.
 
-   Vậy quan huynh có biết Ngài định sẽ đối phó bằng cách nào chăng? Ngoài việc truy nã hai tên thủ phạm chắc ngài đã huy động toàn ban trinh sát phải đi lùng kiếm khắp nơi. cho ra hai Hoàng tử hầu đem về lập làm vua kế vị cố hoàng đế Anh Tôn.
Viên võ quan thứ nhứt lắc đầu:
- Không phải vậy. Vì nếu chờ cho tới lúc làm ra được các Hoàng tử mất tích, thì biết đến bao giờ ? Vả chăng để nước nhà một ngày không vua ắt sẽ gây lắm nỗi dị nghị hoang mang trong dư luận. Bởi thế, tôi nghe đâu ngài Bình an Vương đã khởi sự thi hành một biện pháp khẩn cấp. Ngài đã phái một đoàn kỵ binh tức tốc tới làng Quảng Thi, huyện Thùy Nguyên rước Hoàng tử thứ ha là Duy Đàm lới lên 6 tuổi con của hà thứ phi họ Trần đem về cung, hình như đoàn kiện binh ấy mới lên đường vừa rồi.
Viên võ quan nói tới đây bỗng ngừng lại vì chợt thấy ba tên tửu bảo trong tiệm bước lên lầu. Một đứa tiến tới trước bàn của anh em Bùi văn Khuê để hỏi hai ông ‘‘lái buôn già’’  ấy muốn dùng các món ăn gì. Trong khi đó hai tửu bảo kia lo ra tay lau chùi sắp đặt lại gọn ghẽ một cái bàn lớn kèm theo nhiều chiếc ghế ở chính giữa gian phòng, ý hẳn là dành riêng cho mộl quý khách nào vào bực đệ nhứt sang trọng tại Tây đô.
Có lẽ đoán biết trước vị quý khách sắp đến là ai và muốn tránh khỏi bị khuấy rối trong sự yên tĩnh mà họ đã chọn lựa, hai viên võ quan bèn mời nhau cạn chén đoạn kêu tiểu nhị tinh tiền, rồi lật đật đứng dậy, dắt nhau xuống lầu.
 
 
¥
 
Thế Hùng và Văn Khuê tuy không rõ tên họ và chức vị của hai người ấy, song nãy giờ, ngồi chăm chú lắng nghe cuộc đàm thoại bí mật của họ, hai hiệp sĩ cũng chán hiểu rằng đó là hai nhơn vật khá trọng yếu trong số thuộc hạ của Trịnh Tùng.
Đợi cho họ xuống khỏi thang lầu, họ Bùi ghé tai bảo nhỏ bạn:
- Chúng ta vào đây, quả là không đến nỗi uổng công. Vừa rồi lão kia đã tiết lộ với đồng liêu của hắn rằng Trịnh Tùng mới sai người đi rước Hoàng tử thứ năm là Duy Đàm, tại huyện Thùy Nguyên. Dám binh sĩ đi rước mà anh em ta gặp lúc nãy giữa đường, đích thị là đoàn kiêu binh ấy.
Vậy phen này, chúng ta lại thử phá hỏng một phen nửa kế hoạch của tên đại gian hùng!
Lê thế Hùng gật đầu:
- Đại ca nói chí phải. Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này. Phải làm cho Trịnh Tùng lâm vào cảnh bế tắc, khiến nó rơi mặt nạ xuống trước dân chúng mới được.
Thôi anh em ta dùng qua loa vài món tạm no lòng rồi chuẩn bị ra vùng ngoại ô chận đón bọn kiêu binh.
Trái với sự hăm hở, nôn nao của bạn, Bùi văn Khuê vẫn giữ vẻ bình tĩnh và mỉm cười:
- Hãy thong thả ngồi đánh chén cho thật no say đã. Bây  giờ chỉ mới cuối giờ Dậu. Bọn Kiêu binh dầu có nhanh chơn lắm thì cũng quá khuya nay mới có thể trở về Tây Đô. Ấy là chưa kể một vài trở ngại mà chúng có thể gặp tại Thùy nguyên hay ở dọc đường...
Chàng nói chưa dứt lời, thì từ phía dưới lầu bỗng có những tiếng xôn xao, huyên náo. Cả hai giựt mình dứng dậy, nghiêng đầu qua cửa sổ, nhìn xuống đường. Họ thấy một đám người ngựa lố nhố đang dừng chân trước tửu quán. Đi đầu là một gã thiếu niên sang trọng, trạc mười chín, hai mươi tuổi, to béo phục phịch, đầu chít khăn vàng, mình mặc áo cẩm bào màu lam, lưng đeo trường kiếm, trông hách dịch bệ vệ trên lưng ngựa.
Trong tửu lầu, những tiếng xì xào chạy dài một lượt trên khắp cửa miệng của mọi người:
- Ngài Thấ tử !
Hai viên võ tướng cao lớn lực lưỡng tùy tùng hai bên, vội vàng nháy phóc xuống ngựa và xúm lại nâng đỡ gã thanh niên hạ mã. Đoạn họ thong thả bước vào trong tiệm. Sau lưng họ, có mười tên sĩ tốt được lịnh theo hầu, còn lối mấy chục tên còn lại thì đứng chờ trước quán.
Có tiếng bàn ghê xê dịch sột soạt ở từng dưới, báo cho hai tráng sĩ biết rằng tất cả khách khứa ngồi trong tửu lầu đều đứng lên một loạt, cung kính chào mừng gã thiếu niên mới tới.
Trước vẻ ngạc nhiên của Bùi văn Khuê, Lê thế Hùng cắt nghĩa:
- Thằng trai trẻ mập mạp ấy là Trịnh Tráng, con trai của Trịnh Tùng đấy.
Họ Bùi cau mày:
- Thế à ! Mà này hiền đệ, tại sao người ta lại trọng vọng nó thế nhỉ ?
Thế Hùng mỉm môi:
- Trọng vọng nỗi gì ! Ở Tây đô nầy, thiên hạ đều nơm nớp sợ uy thế của cha nó. Chớ thật ra, trong tâm, người ta thống mạ, nguyền rủa cha con nó không tiếc lời. Vì thằng Trịnh Tráng này được cha nó nương chiều, nên lâu nay từng tác oai, tác phúc và làm khổ lương dân không phải ít.  tẵt nhiên là phải sợ lây đến nó.
 
Nói đến đây, chàng tráng sĩ bỗng ngừng lại, xây lưng nhìn một tên tiểu nhị đang xồng xộc chạy lên lầu, tới trước mặt mình vẻ mặt hớt hơ hớt hãi.
- Thưa nhị vị quý khách, chủ nhơn tôi xin mời nhị vị xuống tạm dưới lầu an tọa, vì trên này phải dành riêng cho ngài Thế tử. Xin nhị vị xuống gấp cho.
Bùi văn Khuê quắc mắt nhìn tên phổ ky:
- Ô hay ! nếu lầu này để dành riêng cho kẻ khác thì tại sao chủ tớ nhà ngươi lại không cho khách hay trước ? Đợi đến bây giờ, chúng ta đang ăn uống dở đang như thế này, nhà ngươi lại buộc chúng ta phải dời đi là cớ làm sao?
Thái độ hơi bướng bỉnh của Văn Khuê làm cho viên chủ tiệm vừa tất tả chạy lên sau rất lấy làm lo sợ. Ông ta gạt tên phổ ky sang một bên, rồi gãi đầu, gãi tai, cố gắng giải thích:
- Xin nhị vị tha lỗi cho, sở dĩ vừa rồi chúng tôi không kịp thông báo với nhị vị là vì ngài Thế tử đến thình lình quá. Vậy xin nhị vị...
Chàng lực sĩ cắt ngang:
- Như vày, đó chính là lỗi củu Thế tử chớ đâu phải lỗi của chú mà chú lo lắng rối rít cho mệt xác. Theo lẽ công bằng, bất luận ai, dầu là vua chúa chăng nữa, hễ muốn đặt mâm cỗ tiệc tùng hay muốn dành riêng một phòng, hoặc trọn căn lầu cho mình thì phải dặn trước. Nếu không, tửu lầu có quyền để các chỗ trống cho khách tứ phương. Và khách tứ phương có quyền xử dụng những chỗ trống ấy. Như trường hợp của chúng tôi chẳng hạn, chúng tôi có quyền ngồi ở đây. Tuyệt nhiên không sợ ai đuổi xô hoặc uy thế gì buộc chúng tôi phải dời đi nơi khác hết.
Sự lập luận cường ngạnh của Bùi văn Khuê khiến lão chủ tiệm người Tàu bất mãn. Nhìn lốt y phục lái buôn quê mùa của hai người đang khoác trên mình, lão có ý khinh thường. Vả chăng, những tiếng bước chân nện thình thịch trên các bậc thang, báo hiệu rằng Trịnh Tráng và đoàn tùy tùng của y sắp sửa lên lầu, lại càng làm cho lão thêm lính quýnh. Lão buông ra một câu nói sỗ sàng:
 
- Nầy nhé! Thấy hai bác quê mùa, không thuộc tục lệ của chốn kinh kỳ nên tôi đã dùng những lời lẽ ôn tồn để khuyên bảo mà hai bác không thèm nghe, lại còn giở lý sự ra nữa.Rồi đây có mất đầu thì đừng oán trách nghe không?
Dứt lời, lão toan trở gót quay đi nhưng liền bị bàn tay hộ pháp của chàng lực sĩ thộp lấy ngực, nắm lại. Văn Khuê quát lên:
- Cha chả ! Lão già khốn kiếp nầy lại dám hổn xược với khách à? Chúng ta phải cho mầy một bài học mới được.
Nói xong, chàng giở hổng lão chủ tiệm lên dang tay hầm hầm toan ném xuống thang lầu.
Sợ cơn thịnh nộ của Bùi văn Khuê sẽ gây thành án mạng và nẩy sanh ra chuyện bất thường có thể làm bại lộ tông tích của hai chàng hiệp sĩ giữa chốn kinh thành, Lê thế Hùng vùng đứng dậy, nắm lấy cánh tay bạn, cản lại :
- Xin đại ca bớt nóng, dung tha cho hắn một phen. Cái bọn phú thương ngoại kiều ngu muội nầy đều như thế cả, chấp nhứt chúng mà làm gì !  Vả chăng sắp đến giờ chúng ta phải lên đường rồi!
Bùi văn Khuê nhìn bạn hiểu ý. Sắc mặt vẫn còn giận dữ, chàng buông tay ra. Lão chủ quán nãy giờ bị chàng giỡ hổng lên, tứ chi co quắp, theo đó lăn nhào xuống sàn lầu với một tiếng ‘‘thịch’’ nặng nề.
Sau một phen khiếp vía, lão chủ quán được tha, hì hục lồm cồm bò dậy và quên cả đau đớn đâm đầu chạy thẳng một mạch xuống lầu.
Nhưng đến cầu thang, thì hắn vội dừng lại, vì gặp Trịnh Tráng và đoàn tùy tùng đang rần rộ bước lên. Nối gót chúng là bọn ca nhi và nhạc công với đờn địch kèn sáo kè kè bên nách.
[sub] [/sub]
 Trịnh-Tráng bệ vệ tiến đến trước bàn tiệc sang trọng dành sẵn cho mình, rồi liếc nhìn khắp một vòng gian phòng rộng rãi của Hoàng hạc Lâu. Bỗng tia mắt hắn ngừng lại trên hai người ‘‘lái buôn giả’’ và sa sầm xuống.
Trịnh Tráng cau mày, day lại quát hỏi chủ tiệm:
- Ồ hay ! Tại sao nhà ngươi lại cho hai tên nhà quê thô kịch và lạ mặt này leo lên lầu để làm bẩn mắt ta?
Lão chủ quán chỉ đợi có giây phút ấy để mượn tay người trả mối căm thù vừa rồi đối với chàng lực sĩ. Lão khúm núm, chắp tay lại mà bẳm rằng:
- Kính bẩm Thiên tuế, xin Thiên tuế tha lỗi cho tôi nhờ. Chính lúc nãy, khi chợt hay tin Thiên tuế ‘‘ngự’’ tới đây để làm vinh dự cho Hoàng hạc Lâu, tôi đã đích thân lên nài nỉ yêu cầu hai gã nhà quê nầy nên lập tức xuống nhà dưới để tránh chỗ cho tôi được hầu hạ Thiên tuế. Thì chúng nhứt định không nghe, lại còn thốt lời hỗn xược và hung hăng giở thói vũ phu, khiến suýt nửa tôi phải táng mạng.
Nghe dứt lời. Trịnh Tráng hai mắt đỏ ngầu, giơ tay chỉ thẳng về phía Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng mà thét lớn:
- Ái chà ! Hai thằng chết bầm nầy từ xó đồng ruộng nào mò lên tới kinh đô mà dám to gan lớn mật, cãi lịnh của ta à? Tạ tướng quân đâu! Hãy bắt trói cổ cả hai đứa lại, giải về tống giam vào ngục thất cho ta.
Viên võ tướng đứng bên tả Trịnh Tráng, tác người cao lớn, nước da ngăm ngăm đen, tướng mạo hung dữ, tên là Tạ bảo  Sơn cúi đầu, tuân lịnh, rồi hăm hở tiến thẳng đến trước bàn của hai chàng lực sĩ.
 

 
Từ nãy tới giờ, Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê vẫn ngồi lặng yên. Cả hai, nhứt là họ Bùi, đã ân hận rằng, họ không sớm rời khỏi tửu quán để tránh một cuộc đụng chạm nẩy lửa bất ngờ và chắc chắn bất lợi cho họ. Vì sự hiện diện bí mật của họ tại Tây đô có thể vì đó mà bị phát giác và Trịnh Tùng ắt sẽ huy động tất cả binh mã của y để vây bắt họ.
Nghĩ thế, nên vừa rồi, Cả hai đã cố dằn lòng tự ái của mình, đã cố nhịn nhục, không trả lời câu sỉ mạ của Trịnh Tráng, mong rằng hắn sẽ để cho họ thoát ra khỏi Hoàng hạc Lâu một cách yên thân. Nhưng không, Trịnh Tráng quyết bắt họ để hạ ngục, để trừng trị cho thoả tánh kiêu hãnh, độc ác tham tàn của hắn. Thế là, rốt cuộc, việc đã dĩ lỡ. Hai tráng sĩ chỉ còn có cách chuẩn bị hầu liệu bề đối phó với tai họa đột ngột xảy ra đến cho mình.  Khi thấy Tạ bảo Sơn hăng hái tiến tới trước bàn họ, cả hai chàng Iái buôn giả đều đưa mắt cho nhau và trầm tính đợi chờ.
Viên võ tướng của Trịnh Tráng dừng lại cách chỗ họ ngồi chừng một bước, rồi lên tiếng dõng dạc truyền:
- Hai thằng quê mùa, mọi rợ này! Chúng bây đã nghe ngài Thế tử phán những gì rồi chứ? Hãy mau mau đứng dậy đưa tay ra mà chịu trói!
Nhưng Văn Khuê và Thế Hùng vẫn ngồi yên không nhúc nhích, trừng trừng nhìn lên viên võ tướng.
Tạ bảo Sơn cả giận, trợn cặp mắt tròn xoe :
- Ô hay! Chúng bây giả điếc à? Có lẽ chúng bây đã đến lúc tận số rồi thì phải!
Dứt lời, hắn giơ tay toan thộp lấy cổ của Lê thế Hùng, song không ngờ chàng dũng sĩ đã vụt đứng phắt dậy, lẹ làng đón bắt lấy tay hắn, vặn ngược trở lại. Viên võ tướng họ Tạ đau đớn quá, chưa kịp kêu lên một tiếng, thì đã bị Thế Hùng phóng chân tống cho một đá, văng ra xa cách hơn năm thước, và ngã nằm sóng sượt trên sàn gác.
Việc xảy ra nhanh chóng như một lằn chớp, khiến mọi người hiện diện, kể từ Trịnh Tráng, đám vệ sĩ, lão chủ quản cho chí bọn ca nhị và nhạc công đều vô cùng kinh dị. Không ai ngờ rằng một gã lái buôn quê mùa trẻ tuổi lại có thể cho viên dõng tướng hầu cận của vị Thế tử ‘‘đo ván’’ một cách dễ dàng như trở bàn tay.
 
Nóng lòng trả thù cho bạn, viên võ tướng đứng bên hữu Trịnh Tráng là Hà song Thạch không đợi lịnh của vị Thế tử, tuốt gươm xông tới...
Lanh như cắt, hai chàng tráng sĩ đồng một loạt, rút hai thanh đoản kiếm giấu trong mình ra, lăm lăm cầm sẵn nơi tay, thủ thế.
Bùi văn Khuê xây qua bảo Thế Hùng :
- Hiền đệ cứ để mặc ta xử trí với lũ này.
Chàng vừa dứt lời, thì Hà song Thạch đã sẵn đến trước mặt chàng, nghiến răng trèo trẹo :
- À! Thì ra thằng súc sanh này tình nguyện nạp mạng chết thay cho thằng kia. Được lắm!
Một lát gươm từ trên cao vụt bổ xuống, tiếp theo liền câu nói hăm dọa ấy, Văn Khuê điềm nhiên sẽ nghiêng mình sang một bên, rồi tung kiếm lên gạt mạnh lưỡi gươm của họ Hà. Hai thứ khí giới chạm nhau trong một tiếng ‘‘xoảng’’ đinh tai, chát óc.
Tuy Văn Khuê không vận dụng hết sức bình sanh, nhưng cánh tay viên võ tướng của Trịnh Tráng bỗng nhiên bủn rủn và tê buốt, cơ hồ muốn buông rơi võ khí. Kinh hoảng, hắn toan rút vội thanh gươm của mình về nhưng không kịp. Chàng lực sĩ lanh tay đã chém quật trở lại một lát, khiến thanh gươm của Hà song Thạch rời khỏi tay hắn và bay vẹt sang một bên.
Thấy hai dõng tướng của mình, kẻ bị đánh ngã, kẻ bị tước khí giới, Trịnh Tráng sợ hãi cuống cuồng, vội thúc gọi binh lính mau mau xông vào trợ chiến.
Mười tên vệ sĩ hiện diện, hiệp với đám binh lính rần rộ từ dưới đường kéo lên lầu, tức thì hăm hở kéo tới, quyết bao vây hai chàng tráng sĩ.
Ngay lúc ấy Tạ Bảo Sơn viên võ tướng của Trịnh Tráng
đã bị Thế Hùng đá ngã lúc nãy cũng lồm cồm đứng dậy, tuốt gươm ra khói vỏ, nhảy sổ đến chém đầu Bùi Văn Khuê để giải cứu cho bạn.
Chàng lực sĩ cau mày lùi lại phía sau một bước, và đứng ngang hàng với Thế Hùng. Chàng trỏ thẳng mũi kiếm vào mặt địch thủ, dằn mạnh từng tiếng mà thét rằng:
- Hởi lũ lang sói kia, hãy ngừng tay mà nghe ta nói đã. Chúng ta với các người vốn vô can, không thù oán, nhưng tên ranh con Trịnh Tráng, ỷ thế cậy quyền gây ra sự xung đột đẫm máu nầy. Biết rằng các ngươi chỉ là một bọn tay sai, vô trách nhiệm, nên từ nãy đến giờ chúng ta không nỡ giết. Vì chúng ta những kẻ có lương tâm, nhơn đạo chớ không phải khát máu người như cha con họ Trịnh tàn bạo kia đâu. Vậy các ngươi nên biết nghe lời nói phải trái mà lui ra, đừng buộc anh em chúng ta phải mang tiếng nhúng tay vào một cuộc sát sanh mà chúng ta không hề muốn.
Hai viên tướng Tạ bảo Sơn, Hà song Thạch và nhứt là các binh sĩ hơi phân vân do dự trước câu thuyết phục hùng hồn của chàng lực sĩ. Sự thật không phải chúng do dự vì biết nghe ‘‘lời nói hợp lý’’ mà chính là vì chúng vừa được ‘‘nếm’’ thử, hoặc được chứng kiến tài nghệ và sức mạnh phi thường của hai gã lái buôn.
Trong khi ấy, bị xúc phạm và bị thống mạ, Trịnh Tráng mặt tái ngắt, giận run lên, quát vang truyền lệnh:
- Phải hạ thủ hai tên cướp ấy cho ta. Đừng để cho chúng trốn thoát. Mau lên! Phía dưới đã có quân triều đình kéo đến tiếp ứng và vây chặt cả rồi.
Qua cửa sổ, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng liếc mắt nhìn xuống đất. Quả đúng như lời Trịnh Tráng, binh sĩ triều đinh có tới hằng mấy trăm người, đang tấp nập giàn ra trước cửa Hoàng hạc Lâu và chận hết lối ra vào.
 
Nghe tin có quân cứu viện, không đợi thúc giục tới hai lần, Tạ bảo Sơn lướt tới, lưỡi gươm quyết tử chiến với Văn Khuê. Đồng thời, Hà song Thạch, sau khi mất võ khí, đã   tiếp  lấy một cây dao do một tên lính     trao cho, cũng chồm tới tấn công chàng lực sĩ.
Với  một cái liếc mắt ra hiệu, cuộc phản công giữa hai chú ‘‘lái buôn giả’’ đã            được cắt đặt rõ rệt : Bùi văn Khuê phải đương đầu một lượt với hai viên võ tướng của Trịnh Tráng, còn Lê thế Hùng thì phải đối phó với đám vệ sĩ, quân lính và phải đánh thủng vòng vây để mở một lối ra.
Chàng lực sĩ kết thúc phân sự của mình một cách cực kỳ nhanh chóng. Không đầy hai phút giao phong, họ Bùi chém Hà song Thạch dứt phăng cánh tay bên hữu và đâm Tạ bảo Sơn một kiếm xuyên từ trước ngực ra đến sau lưng. Hai viên tướng của Trịnh Tráng kế tiếp nhau rú lên hai tiếng kêu khủng khiếp, rồi ngã vật xuống trên vũng máu.
Riêng phần mình. Lê  thế Hùng thi hành phận sự rất có phương pháp.Thấy bọn vệ sĩ hè nhau tràn tới chàng xách luôn hai cái ghế đẩu mà chàng cùng Văn Khuê vừa ngồi thẳng tay ném mạnh vào đám đông, khiến chúng phải dang ra. Hết ghế, đến chén, dĩa. bình rượu, lọ bông v…v... nối tiếp nhau bay vùn vụt lên đầu lên mặt, vào mình bọn lính hầu cận của Trịnh Tráng như mưa bão, gây thương tích, máu me đầm đìa khiến chúng không dám xáp đến gần. Sau cùng, chàng xách hổng chiếc bàn bằng gỗ rất nặng và rất dày lên, dùng nó làm chiếc mộc để hộ thân rồi lao mình tới trước, vung kiếm tấn công tới tấp để phá vòng vây.
Sau lưng chàng, Bùi văn Khuê vừa được rảnh tay, cũng nổ lực tả xung hữu đột, để vạch một con đường máu hầu đưa họ thoát ra khỏi lầu Hoàng hạc.
Trong nháy mắt, tửu điếm danh tiếng nhứt của Tây đô vụt biến thành một bãi chiến trường mà cảnh máu chảy thịt rơi chồng chất trên bao nhiêu tan tành, đổ nát.
 
*
Được mục kích tận mắt cái chết thê thảm của viên dõng tướng họ Tạ, và trước nguy cơ thình lình kề sát bên mình, Trịnh Tráng kinh hoảng cắm đầu, lùi một mạch xuống thang lầu, sai người tức tốc phi ngựa về Phủ Chúa cấp báo với cha là Trịnh Tùng và yêu cầu phải thêm binh tiếp viện.
 
Trang 111
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2020 20:39:14 bởi Thanh Vân>
Nhưng, như chúng ta đã thấy, trước khi tên này đến tại cửa Bình an Vương, các quân sĩ triều đình ở các vùng quanh đã tự động tấp nập kéo tới để hiệp lực với đám vệ binh của vị Thế tử, hầu vây bắt hai gã lái buôn ngỗ ngược và vô cùng lợi hại.
Trên lầu, cuộc chiến đấu càng lúc càng trở nên khốc liệt. Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng trổ hết thần oai, tiếp tục đánh bạt đối phương và gieo chết chốc khắp quanh mình.
Bọn vệ sĩ của Trịnh Tráng, ban đầu còn hăng, bây giờ đến khiếp vía dang ra, và dầu dầu thụt lùi về phía cầu thang, mong tìm đường trốn, tránh.
Hai chàng hiệp sĩ mừng lắm, cố đánh tới để mở một lối thoát thân.
Hai lưỡi kiếm lấp lánh vung đến đâu, là những địch thủ chậm trễ hay vướng chân đua nhau ngã gục ra ở đó.
Chỉ trong khoảnh khắc, Văn Khuê và Thế Hùng đã làm chủ được tình thế trên lầu nầy, vì hầu hết đám quân lính hiện diện đều bị dồn, bị hất xuống từng dưới.
Hai tráng sĩ ra dấu cho nhau, toan phóng mình rượt theo xuống nhưng bỗng cả hai đồng cau mày ngừng lại. Ngoài kia, trên đường cái và gần phía cửa, có tiếng vó ngựa rộn rịp, tiếng hò hét xôn xao huyên náo lạ thường.
Văn Khuê và Thế Hùng lo lắng nhìn ra, họ thấy vô số ngọn đèn lồng, sáng rực như sao sa. Dưới ánh đèn ấy hằng ngàn Kiêu binh của Trịnh Tùng điệp điệp trùng trùng, ồ ạt tràn vào Hoàng hạc Lâu như thác chảy.
Bùi lực sĩ lẩm bẩm:
- Nguy rồi, anh em ta khó lòng thoát khỏi bằng ngõ này! Nên tìm lối khác là hơn.
Ý nghĩ ấy cũng là ý nghĩ của họ Lê.‘‘Tìm lối khác’’, phải, nhưng lối nào bằng cách nào? cả hai, giữa cuộc giao phong mê mải, chưa có thì giờ để giải đáp câu hỏi ấy.
Hiện tại họ chỉ biết đành tùy cơ ứng biến và đương đầu với những làn sóng của đối phương đang cuồn cuộn từ dưới dâng lên.
Thật vậy. gạt ra hai bên đám binh thối lui vừa bị Văn Khuê và Thế Hùng đánh bại, toán thứ nhứt của đoàn Kiêu binh đổ xô vào cửa tửu lầu như một trận phong ba.
Viên tướng đi đầu mặt đen như lọ chảo, râu quai nón xồm xoàm, thân hình to béo vạm vỡ, hai tay cầm hai cây chùy đồng to tướng, xăm xăm nhắm hướng thang lầu tiến tới. Đó là Kim Ngô tướng quân Thái Ngột, người vừa được Trịnh Tùng cất nhắc lên địa vị thống lãnh đội cảm tử quân thay thế cho Trương Báo bị tử nạn tại Nghệ an.
Thái Ngột có sức mạnh phi thường. So về võ nghệ, hắn có phần lấn át cả Trương Báo, song chỉ vì tánh tình nóng nảy, và thô lỗ nên trước đây, ít được chúa Trịnh tin dùng.
Chính lúc còn sanh tiền, hai anh em Trương Báo và Trương Hổ đều phải kiêng nể họ Thái và nhứt là khiếp sợ trước cặp chùy đồng của hắn. Vì cặp chùy lợi hại ấy, trong một cuộc thí võ hồi năm trước đã vô tình đánh vỡ đầu một địch thủ, nát ngấu như tương. Tuy nhiên trong cuộc thí võ ấy do sự thiên vị của ban giám khảo hoàn toàn hành động theo ý muốn của chúa Trịnh, chức quan quân tức là võ trạng rốt cuộc lọt vào tay Trương Báo, khiến Thái Ngột hết sức bất bình.
Vừa đây, nhờ hai anh em họ Trương kế tiếp nhau bỏ mạng nên ngôi sao bấy lâu lu mờ của Ngột bỗng bừng sáng trở lại. Hắn được Trịnh Tùng giao phó cho những trọng trách quan trọng về công cuộc bảo vệ an ninh trong phủ và được phải đi can thiệp những vụ khẩn yếu hay nguy cấp.
Như vậy tối hôm ấy, sau khi có tin của Trịnh Tráng phi báo về, Thái Ngột được lịnh của Bình an Vương tức tốc dẫn vài bộ tướng và đoàn Kiêu binh rần rộ kéo đến Lầu Hoàng Hạc.
Theo lời chỉ dẫn của những người đứng trước cửa và ở nhà dưới Thái-Ngột xách cặp song chùy hăm hở nhảy phóc lên thang lầu. Sau lưng hắn là ba viên tùy tướng và đoàn Kiêu binh.
Vượt được chừng năm sáu chục nấc thang, họ Thái ngước mắt nhìn lên. Bỗng nhiên, y sửng sốt dừng chân lại.
Y vừa nhận ra được người đứng trên lầu là ai.
Thái Ngột buột miệng reo lên như người bất ngờ mới phát giác một chuyện tân kỳ :
- Ồ kia ! Lê Thế Hùng!
Rồi hắn quay lại hô to:
- Bớ quân sĩ! Tên lái buôn nầy chính là Lê Thế Hùng, thằng con trai của gian thần Lê Cập Đệ cải dạng. Nó chính là tên phiến loạn mà triều đình đang gia tâm truy nã. Hãy bắt lấy hắn cho kỳ được, và bắt luôn cả tên nghịch tặc đồng lõa với hắn nữa.
Trên lầu, thấy mình đã bị nhận diện, bị bại lộ hình tích, Thế Hùng biến sắc, cảm thấy cuộc phiêu lưu mạo hiểm của mình sắp đến đoạn kết thúc rồi.
Đứng bên cạnh bạn, Bùi Văn Khuê cũng không giấu nổi sự hồi hộp, lo lắng. Chàng hỏi nhỏ Thế Hùng:
- Viên tướng nầy là ai thế? Hắn biết mặt hiền đệ à?
Vị công tử đáp:
- Vâng, trước đây tiểu đệ đã từng gặp gỡ hắn vài lần. Hắn là Thái Ngột một tay bộ hạ lợi hại nhứt của Trịnh Tùng hiện thời. Phen này phải đối đầu với hắn và bại lộ cơ mưu, tình cảnh của chúng ta đã khó khăn lại trở nên nguy kịch thêm.
Để nâng đỡ tinh thần không được vững vàng của bạn, chàng lực sĩ tỏ ra vẻ hăng hái và quả quyết lạ thường. Giọng rắn rỏi và nghiêm nghị, chàng nói:
- Dầu sao đã có tôi, hiền đệ chớ nên thất vọng, và bi quan vội. Chúng ta cứ rán cầm cự được lúc nào hay lúc ấy. Tôi đã có kế thoát khỏi vòng vây rồi.
Thế Hùng chưa kịp hỏi bạn đó là kể gì thì Thái Ngột đã phóng mình tới trước chàng.
Đồng thời, cặp chùy đồng của hắn vung lên và cùng một loạt gieo xuống đỉnh đầu chàng với sức nặng ngàn cân khủng khiếp.
Lẹ làng, vị công tử nhảy trái sang một bên rồi, quay gươm lại chém ngược xuống bả vai bên hữu của hắn. Nhanh như cắt, Thái Ngột, sau khi đánh hụt và hơi mất thăng bằng, đã gượng lại kịp, thu cặp song chùy về, và hất mạnh một chiếc qua phía mặt, đón lấy lưỡi kiếm của Thế Hùng.
Một tiếng ‘‘keng’’ chát chúa nổi lên do sự chạm giữa đồng và thép, Lê thế Hùng cảm thấy cánh tay mình hơi tê buốt dưới trọng lượng khác thường của võ khí đối phương. Mũi kiếm thép chang e dè chờ đợi một miếng đòn thứ nhì, đang hứa hẹn ác liệt và gớm ghê hơn nữa.
Thái độ thận trọng và cử chỉ tự vệ của chàng thanh niên làm cho Thái Ngột càng thêm phấn khởi. Vênh váo và tự đắc hắn tưởng chừng sắp nắm chắc phần thắng trong lay, sau một cuộc thi oai sơ sài đã làm cho địch thủ kinh tâm nể mặt. Hai cặp chùy đồng, hắn lại chồm tới, điệu bộ hung hăng như quyết ‘‘ăn tươi nuốt sống’’ cho được kẻ thù.  
 
* * *
 
Hành động phách lối của Thái Ngột đã làm cho Bùi văn Khuê rất ‘‘ngứa mắt’’ khó chịu. Tuy nhiên nãy giờ chàng bận chận đón lũ Kiêu binh đang khởi sự tràn lên lầu, sau lưng chủ tướng của chúng.
Công việc sau này chàng lực sĩ rất êm ái nhẹ nhàng không khác nào như một chàng khổng lồ đùa giỡn với lũ trẻ thơ. Một tốp đầu tiên vừa nhô lên, liền bị chàng phóng chân đá lăn nhào xuống, khiến đứa nầy té chõng lên đứa kia, kêu la inh ỏi. Thấy không nguy hiểm gì lắm đến tánh mạug, tốp thứ hai tức thì hè nhau sấn tới. Để cho chúng khiếp đảm, họ Bùi buộc lòng giơ gươm vẹt ngang, hớt đứt luôn một vài thủ cấp.
Máu đào phun ra tung toé giữa những tiếng rú thất thanh. Như những trái dừa khô chín rụng, một số đầu lâu rơi xuống dưới những tiếng ‘‘thịch’’ nặng nề.
Tuy đối phó với lũ Kiêu binh, nhưng Văn Khuê cũng đủ thì giờ để theo dõi cuộc giao phong bắt đầu khởi diễn giữa Thái Ngột và bạn mình. Nhơn đó chàng đã có dịp nhận định qua tài nghệ viên tướng  ‘‘số một’’ của Trịnh Tùng cùng sự bối rối vào hơi nao núng của bạn.
Muốn giải quyết tình thế mau lẹ, chàng thấy phải thay đổi vai tuồng với Thế Hùng, vì mỗi giây phút qua vòng vây bên ngoài, xung quanh Hoàng hạc lâu, càng chặt chẽ thêm và càng hãm hai người vào một cảnh bế tắc mỗi lúc mỗi thêm nghiêm trọng. Trong Tây đô bấy giờ náo động lên như một chảo dầu đang sôi sùng sục. Từ phố nầy qua phố khác những tiếng hô ‘‘ bắt giặc’’ vang dậy, chạy dài khắp các nẻo đường...
Văn Khuê lớn tiếng bảoThế Hùng:
- Hiền đệ nên thay thế ta trị bọn chuột lắc này, còn thằng khốn kiếp kia, hãy để cho ta.
Đề nghị nầy, nếu được vị công tử tiếp đón một cách khoan khoái, thì đó cũng là một sự khiêu khích nặng nề đối với Thái Ngột. Vừa rồi, liếc thấy chàng lực sĩ đánh lui và chém chết đám Kiêu binh dưới quyền điều khiển của mình, họ Thái căm giận vô cùng, song vì bận giao chiến với Thế Hùng, nên chưa rảnh tay để can thiệp. Thái Ngột nghĩ bụng rằng một lát nữa, sau khi hạ thủ xong họ Lê, hắn sẽ quay sang giết luôn Văn Khuê một cách dễ dàng. Ấy thế mà, bây giờ đang so tài dang dở với Thế Hùng, hắn bỗng bị Văn Khuê gọi mình là ‘‘thẳng khốn kiếp’’.
Thật vậy lời mà chàng lực sĩ họ Bùi vừa thốt ra trên đây là một lời thống mạ khiến hắn tức đến lộn ruột. Thái Ngột gầm lên như một con hổ dữ, thình lình bỏ Thế Hùng, múa tít cặp song chùy, xông tới đánh nhầu với Văn Khuê.
Thấy cuộc thay đổi vai tuồng đã thực hiện mau lẹ theo ý muốn của mình, họ Bùi cả mừng, giao việc phòng thủ thang lầu lại cho bạn, đoạn vận dụng hết sức bình sanh, quyết đối địch với viên thượng tướng của Trịnh Tùng.
Một trận thư hùng quyết liệt và ngoạn mục khởi sự nhóm lên trên lầu tửu điếm, khiến cho bao nhiêu người hiện diện đều phải ngừng tay, nín thở, bao nhiêu cặp mắt ngơ ngác đều phải chăm chú nhìn theo.
Có thể bảo đây là một cuộc va chạm giữa hai sức mạnh phi thường mà thiên hạ chưa từng bao giờ chứng kiến. Cặp chùy đồng của Thái Ngột bay vù vù trên đầu, trên vai Bùi văn Khuê trong khi lưỡi kiếm của chàng lực sĩ vi vút vạch những lằn chớp lấp lánh trước mặt và quanh mình đối thủ.
Giữa những tiếng võ khí đụng nhau chan chát, làm bật ra những tia lửa kinh hồn, hai họ Thái, Bùi lăn xả vào quyết tử chiến với nhau, khi qua khi lại, lúc tới lúc lui, lanh lợi thoăn thoắt như hai cái bóng.
Cuộc hỗn chiến ác liệt giữa Thái Ngột và Bùi văn Khuê kéo dài mãi, hết hiệp này sang hiệp khác, mà vẫn chưa phân thắng bại. Cả hai đương hồi sung sức, càng đánh càng hăng quyết nỗ lực thi thố hết tài nghệ của mình, và xử dụng tất cả những miếng đòn hiểm độc để mong hạ thủ đối phương.
Trận giao tranh, như trên đã nói, đang diễn ra sôi nổi trên từng thứ nhứt của lầu Hoàng hạc, có thể vì với một cuộc thi võ đài ngoạn mục       và ghê rợn vào bực nhứt. Vì từ phía dưới lầu, hằng vạn quân        của  triều đình, trong số có xen lẫn       một  phần
dân chúng hiếu kỳ, đều dường như quên lãng cả phận sự của họ và biến thành những khán giả chăm chỉ và say mê.
Thật vậy, hằng vạn cái đầu ngước lên không biết mỏi, hằng vạn cặp mắt đăm đăm theo dõi cuộc so tài giữa hai địch thủ xứng đáng, cuộc so tài mà họ mới được mục kích lần đầu tiên trong đời mình. Hùm xám Tây đô đương đầu với sư tử Nghệ An.
Mười hiệp kế tiếp nhau vùn vụt trôi qua. Hiệp thứ mười một khởi diễn liền bằng những vố tấn công ồ ạt như bão táp của Thái Ngột. Cặp chùy đồng trong tay viên mãnh tướng của Trịnh Tùng đảo lộn, reo vù vù trong không khí, và nhiều lượt va chạm một cách tuyệt vọng vào lưỡi gươm thép kiên cố của Bùi văn Khuê.
Thấy mình đã trổ hết bao thế lợi hại mà đối thủ vẫn không hề nao núng, Thái Ngột rất lấy làm bực tức và căm giận vô cùng. Tuy nhiên trong thâm tâm, hắn không khỏi ngạc nhiên và thầm thán phục tài nghệ của Bùi văn Khuê. Song vốn tánh nóng nảy và tự phụ, hắn không dằn nổi sự phẫn nộ khi nhận thấy các thế công của mình liên tiếp bị phá vỡ một cách thảm thương.
Một lần nữa, trước cặp song chùy bị đánh bật trở về làm cho hắn suýt nguy khốn đến tánh mạng, Thái Ngột điên tiết, hầm hầm thét lên một tiếng như xé không gian rồi lại lăn xả vào kẻ địch.
Nếu tánh nóng nảy là một nhược điểm có hại cho đấu pháp của họ Thái thì ngược lại, sự bình tĩnh đã giúp cho Văn Khuê chiến đấu một cách sáng suốt và vững vàng. Vả chăng, ngoài sức mạnh mà chàng có thừa để đối phó với sức mạnh của viên tướng của Trịnh Tùng, chàng lực sĩ vô địch của đất Nghệ An, về phương diện bản lãnh và tài nặng, có phấn lấn át hơn đối thủ.
Vốn là một tay kiếm thuật xuất chúng, lỗi lạc và nhứt là có óc khoa học, nên ngót mười hiệp vừa qua, thay vì tận lực biểu diễn hết những chỗ tuyệt diệu tinh túy của mình để cả thắng, Văn Khuê chỉ giao chiến cầm chừng và gia tầm dò xét, nghiên cứu những sở trường và sở đoản của đối phương. Sau khi nhận ra vài chỗ hơ hỏng sơ sót nơi tánh tình và trong đấu pháp của Thái Ngột, bây giờ chàng mới sẽ phóng ra loạt đòn tấn công quyết liệt.
Hiệp thứ mười một vừa chấm dứt, thì hiệp thứ mười hai bắt đầu bằng sự quật khởi đột ngột của con sư tử Nghệ An. Vừa né mình tránh khỏi đựợc một ngọn chùy, Bùi văn Khuê tức thì chồm tới lẹ như chớp, chém mạnh xuống bả vai mặt của địch thủ một lát kiếm nặng nề. Một mảnh chiến bào bị hớt bất ngờ với một mảnh thịt rớm máu, tung ra trong không khí.
Thái Ngột gầm lên như một con hổ dữ bị thương. Đồng thời, dưới lầu, những tiếng xì xào chạy dài trên muôn cửa miệng của vô số binh sĩ đang hồi hộp đóng vai tuồng khán giả.
Vùng vằn hăm hở, không đếm xỉa đến dòng máu từ vai tuôn linh láng xuống cánh tay, xuống ngực và bụng, viên dõng tướng của Trịnh Tùng lại lao mình tới giơ cao cạp chùy đồng, giáng thật mạnh xuống đầu lực sĩ.
Đấu pháp đã hỗn loạn của hắn, vì sự hung hăng phẫn uất gần như điên cuồng nầy, lại càng trở nên hỗn loạn thêm.
Thừa cơ hội ấy, Văn Khuê áp dụng một thế võ hiểm ác và táo bạo. Không thèm trành né như trước nữa, lần này chàng nhảy xổ tới áp sát vào mình của Thái Ngột trong khi cặp song chùy mới kịp sa xuống nửa chừng.
Vì chàng lực sĩ tiến đến quá gần, nên hai quả chùy đồng rơi quá xa và đánh hụt mục tiêu khiến họ Thái mất thăng bằng, luống cuống suýt ngã chúi về phía trước. Lanh như cắt, Bùi văn Khuê gạt phang hai cánh tay cầm võ khí của đối phương trong khi đầu chàng cúi xuống, húc mạnh vào chính giữa mặt của Thái Ngột.
Bị tấn công bất ngờ, viên dõng tướng của Trịnh Tùng hộc máu mũi, lảo đảo té ngửa ra đàng sau, thì tiếp luôn đó, một lưỡi kiếm vụt gieo xuống, cắt đứt lìa cánh tay tả của hắn văng xuống đất.
Những tiếng hét khủng khiếp vang lên từ đám người đang xôn xao, lố nhố dưới lầu.
Trên lầu, Thái Ngột ngã trên vũng máu; mặt kinh tởm và đầy sát khí đang cố sức vùng vẫy để lồm cồm ngồi dậy. Hắn vẫn không chịu thua mặc dầu vừa cụt mất một cánh tay.
Không khí trong lầu Hoàng hạc bây giờ dấy lên như một cơn bão loạn. Biết rằng đám binh sĩ đứng lố nhố dưới đất tất thế nào cũng sắp liều chết tràn lên lầu để cứu Thái Ngột vừa bị đánh ngã, Bùi văn Khuê quyết hành động gấp.
Chàng nhảy phóc đến, một chân đạp lên ngọn chùy đồng duy nhất còn nắm trong tay của địch thủ khiến họ Thái không tài nào dở cái võ khí ấy lên được. Giữa lúc đó, mũi kiếm của chàng thọc vào cổ của kẻ thù.
Những tiếng rên rỉ cuối cùng hắt ra từ đôi môi đã tái nhợt của viên dũng tướng, Thái Ngột loạng choạng té ngửa ra và tắt thở giữa vũng máu đào...
*
 
Từ dưới lầu, tiếng gào thét tung lên như sấm sét giữa một trời giông tố. Đoàn ưu hình, bị kích thích đến cực độ trước cái chết đột ngột thảm thương của chủ tướng, chúng bắt đầu hè nhau tràn lên lầu như những đợt sóng hung hăng.
Lê Thế Hùng sau một hồi được rảnh rang, bây giờ lại phải ra tay đối phố.
Đứng chận đón đường sẵn tại thang lầu, chàng giơ cao thanh kiếm, lăm lăm toan chém xuống đám người sắp nhô lên, thì Văn Khuê chợt bảo chàng rằng:
- Quân địch đông đảo quá, chúng ta không thể phí sức kháng cự lại lâu hơn nữa. Đã đến lúc phải chạy thoát thân.
Dứt lời, chàng lực sĩ ôm thi hài của Thái Ngột ném mạnh
xuống đầu đám binh sĩ của Trịnh Tùng đang liều lĩnh leo lên trước nhứt.
Bọn nầy bị sức mạnh của cái xác chết, thình lính phóng lên mình chúng đều cả kinh buông tay té ngửa ra phía sau, đứa này ngã chồng lên đứa kia, nối tiếp nhau lăn nhào xuống dất như những trái cây chín rụng.
Nhưng loạt ưu binh nầy ngã, loạt thứ hai đã khởi sự hùng hổ leo lên, Văn Khuê thản nhiên chờ cho chúng vượt quá nửa cầu thang và gần đến nơi, thì chàng dùng lưỡi kiếm chặt đứt phăng đoạn cầu thang nối liền với từng lầu thứ nhứt.
Sau một tiếng ‘‘rắc’’ cầu thang bị tách rời, đổ ập sang một bên, quăng luôn bọn lính gồm trên mấy chục tên, nằm la liệt ngổn ngang đầy mặt đất.
Nhưng đoàn ưu binh, trùng trùng điệp điệp, vẫn nhứt quyết không chịu buông tha hai chàng hiệp sĩ.
Mất cầu thang, chúng bèn xử dụng tới những cuộn dây gai đầu có móc sắt để leo lên lầu. Một bọn chạy đi lấy câu liêm để giựt cho hai vị anh bừng từ trên lầu cao té xuống.
Thừa lúc chúng đang lăng xăng, Văn Khuê thúc giục bạn:
- Hiền đệ hãy theo ta, chúng ta sẽ leo lên mái nhà rồi tùy liệu tìm phương tẩu thoát.
Chàng nói đoạn, lao mình vào phía trong, nhún chân nhảy lên bực cửa sổ. Thế Hùng cũng làm theo. Trong chớp mắt cả hai người bíu lấy cánh cửa rồi cất mình trèo lên cao.
Áp ngực sát vào bức vách, họ Lê bảo chàng lực sĩ:
- Đại ca cứ đạp lên vai tiểu đệ mà lên trước rồi sẽ kéo tiểu đệ theo sau.
Văn Khuê gật đầu cho là phải. Hai chưn dùng vai của Thế  Hùng làm bàn đạp, chàng vươn mình, hai tay nắm chặt lấy được cái rui nhà rồi lanh lẹ đu mình, và chỉ trong chốc lát chàng đã nằm gọn gàng trên mái ngói. Kế đó, chàng chỉ còn đưa hai tay kéo Thế Hùng leo lên sau.
Tấn trò xiếc tài tình trên đây diễn ra rất mau lẹ trước hàng vạn cặp mắt ngạc nhiên của đám binh sĩ triều đình bất lực. Khắp tứ bề, những tiếng hô hoảng hỗn độn vang lên inh ỏi:
- Bớ anh em ơi ! Hai thằng nghịch tặc đã leo lên mái lầu rồi!
- Hãy coi chừng, đừng để cho chúng trốn thoát.
Vài tên ưu binh sực nhớ ra, vội vàng đề nghị:
- Mau mau lấy cung tên bắn cho chúng nó rơi xuống.
Nhưng những người khác cản ngăn:
- Khoan đã! Các bạn đồng đội của chúng la đang leo lên lầu truy đuổi. Nếu ta đứng dưới nầy nhắm bắn địch thủ thì ắt không khỏi sẽ trúng nhầm họ và gây nhiều trở ngại hệ trọng cho quân ta. Chi bằng chỉ giao cung tên cho những người lên được trên lầu thì hơn.
Đề nghị sau này được toàn thể ưu binh tán thành. Lúc ấy, nhờ dùng dây gai có móc sắt ở đầu mũi, lối ba chục binh sĩ đã trèo lên được trên lầu. Sau lưng chúng, vô số binh sĩ khác đeo sẵn cung tên trên vai lần lượt đua nhau nối gót leo lên. Nhưng khi tới khung cửa sổ, nơi Văn Khuê và Thế Hùng vừa rồi đã do đó mà vượt lên mái nhà một cách dễ dàng, thì không ai dám mạo hiểm cả.
Trọn một lũ đứng ngơ ngác lặng nhìn nhau tự hỏi thầm trong đám chúng có kẻ nào dám tình nguyện liều lĩnh thử một phen xem ra sao cho biết.
Rốt cuộc, không ai dám thử và thật ra cũng không biết xoay trở cách nào để bắt chước hai chàng hiệp sĩ.
Nhận thấy đứng đó cũng không ích gì, vì mái ngói đã che khuất, không cho chúng thấy hình bóng của hai gã lái buôn lợi hại kia nữa, cả bọn đành bảo nhau kéo xuống lầu kêu mọi người túa hết ra ngoài đường cái, nổi đuốc lên sáng rực, rồi đưa nhau giương cung lắp tên mà bắn vãi lên nóc Hoàng hạc Lâu.
Hằng trăm mũi tên thi nhau bay vèo trong không khí nhưng hình như không một mũi nào trúng đích. Vì dưới ánh đuốc tỏ như ban ngày, mọi người không ai nhận thấy một bóng nào trên mái lầu Hoàng hạc cũng như trên các nóc nhà lân cận.
Hằng ngàn cặp mắt trố ra tìm kiếm, xoi bói khắp nơi. Thiên hạ đều kinh dị tự nhũ thầm: ‘‘ Lạ thay! Hai tên nghịch tặc đã biến mất tự hồi nào’‘?
Trong lúc ấy áp bụng vào mái gói như loài bò sát, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vận dụng cả hai tay lẫn hai chân, lần lần di chuyển trên nóc lầu Hoàng hạc.
Vì nóc lầu cao, và vì mái ngói uốn cong theo kiến trúc cũ kỹ thời xưa, nên ánh đuốt hừng cháy rực rỡ từ mặt đất, không thể nào soi sáng đến tận phía trên.
Nhờ thế, và lần nương theo bóng tối, hai chàng hiệp sĩ không sợ bọn ưu binh của Trịnh Tùng trông thấy.
Tuy nhiên, không phải do lẽ ấy mà họ đã tự coi là vừa thoát được hiểm nghèo. Vì liền đó, hàng trăm mũi tên thi nhau bắn tủa lên, khiến Văn Khuê và Thế Hùng phải cẩn thận đề phòng, nép mình xuống sát hơn nữa để tránh.Như vậy, dưới trận mưa tên dữ dội trên đầu họ, cả hai tiếp tục bò đến tận mút mái kia, thì ngừng lại.
Tại đây, những khó khăn mới khởi sự hiện ra. Hai chàng hiệp sĩ do dự phân vân vì họ phải vượt qua một khoảng không để nhảy xuống một mái nhà lân cận thấp hơn và cách xa đó chừng năm sáu thước.
Nên biết rằng lúc bình thường gặp trường hợp nầy, Văn Khuê và Thế Hùng sẽ trổ tài phi thân vượt qua dễ như bởn. Nhưng ở đây, họ lại phải đối phó với hai trở lực hết sức lớn lao: Một là khoảng không phân cách 2 mái nhà không ngớt bị vô số mũi tên từ dưới đất bắn lên vi vút. Băng qua các rừng tên đạn ấy là làm một việc cực kỳ mạo hiểm vì không thể nào tránh khói bị trọng thương. Hai là mái nhà mà họ định đáp xuống sẽ rất bất lợi
vì thấp hơn khiến ánh đuốc dưới đất có thể soi thấu, và do đó, họ sẽ dễ dàng trở nên cái đích cho một cuộc xạ kích ráo riết của quân sĩ triều đình.
Trong nháy mắt, hai chàng hiệp sĩ đã ước lượng được hai mối hiểm nguy vừa kể rõ trên đây. Ước lượng xong, họ quyết định liền.
Văn Khuê bảo Thế Hùng .
- Cũng may là chúng chỉ bắn có một phía chớ không phải hai. Như thế chúng ta cố thể vượt qua bằng cách vừa nhảy vừa múa gươm vùn vụt để che chở lấy thân mình. Đến khi đáp xuống rồi chúng ta sẽ liệu.
Chàng thanh niên gật đầu khen phải.
Sau một cái liếc mắt ra hiệu của họ Bùi, cả hai một loạt vùng đứng dậy. Đồng thời hai thanh kiếm trong tay họ bắt đầu quay tít về một phía như chong chóng, gieo muôn ngàn ánh bạc lấp lánh trong bóng tối mập mờ. Hai thanh kiếm ấy, kể từ giờ phút đó, đã biến thành hai bức tường kiên cố để bảo vệ họ một cách đắc lực và ngăn cản không cho một mũi tên nào qua lọt.
Văn Khuê và Thế Hùng nhún chân cùng một lượt như hai chiếc én nhẹ nhàng, buông mình nhảy xuống mái nhà kế cận.
Tức thì, như họ đã chờ đợi trước từ dưới mặt đất bỗng tung lên những tiếng la inh ỏi:
- Bớ anh em ơi! Xem kìa, hai tên cướp đây rồi!
- A ha! Chúng nó đang từ nóc tửu lầu phi thân qua nóc nhà bên hữu. Hãy nhắm về phía ấy mà bắn bớ anh em!
Những tiếng hô trên đây chìm trong muôn tiếng hò hét hỗn độn của đám binh sĩ triều đình. Bao nhiêu bó đuốc đều cố gắng đưa cao lên. Bao nhiêu mũi tên bay vù vù đều đổ dồn về một hướng.
 
Trên mái nhà thấp, nơi họ vừa đặt chưn xuống, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng biết rằng mình đã trở nên cái mục tiêu cho cuộc tấn công tới tấp bằng cung tên, nên luôn luôn tiếp tục múa kiếm vùn vụt như chớp nhoáng vạch thành một vòng tròn hào quang óng ánh che kín họ từ đầu chí chân, khiến hàng ngàn mũi tên và chạm vào đó đều bị đánh bật ra tán loạn.
Thủ đoạn oanh liệt trên đây khiến cho toàn thể ưu binh của Trịnh Tùng và dân chúng hiếu kỳ đứng xen phía dưới đều phải tắm tắc khen thầm.
Ngoài việc tự vệ chống lại cuộc xa tiễn, trước mặt hai chàng hiệp sĩ nầy, bây giờ những trở lực đã giảm bớt. Các mái nhà xấp xỉ đều nhau và nằm san sát cái nọ liên tiếp gần khít với cái kia, sẽ giúp họ dễ bề thoát thân.
Vững dạ với ý nghĩ ấy, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vừa bình tỉnh đỡ tên đạn, vừa kéo nhau chạy. Lanh lẹ như những con vượn, họ thoăn thoắt chuyền từ nóc nhà nọ qua nóc nhà kia.
Nhưng đồng thời, ở dưới đất, đám quân sĩ cũng rùng rùng đuổi theo, giăng lưới bủa vây ra khắp các mặt và trên khắp các nẻo đường. Ấy là chưa kể cuộc xạ kích càng lúc càng tăng gia thêm mãnh liệt.
Để tránh khỏi bị theo dõi, hai chàng hiệp sĩ rời bỏ dãy nhà dài theo lề đường cái mà quay vào phía trong, nơi nhô lên những mái ngói lúp xúp của các căn nhà nhỏ hẹp. Họ mong tìm thấy ở đó một ngõ hẻm sẽ cứu thoát họ ra khỏi trùng vây.
Nhưng họ phải thất vọng mà nhận ra rằng, bất luận là ở ngõ hẻm nào, bất luận là tại ngã tư, ngã ba nào, đâu đâu quân của Trịnh Tùng cũng gian ra đông nghẹt, và đâu đâu họ cũng bị đón chào bằng những lời hò hét và những loạt tên dầy đặc tua tủa như mưa.
Rốt cuộc, chỉ vì rủi ro vấp chân, suýt té, Lê thế Hùng không kịp đề phòng bị hai mũi tên hay tới cắm phập rất sâu vào Iưng và bên vai trái của chàng.
Tuy vị công tử cắn răng chịu đau, không thèm thoát ra một tiếng suýt xoa nhưng Văn Khuê ở bên cạnh, chợt trông thấy kịp, liền vội vàng kéo bạn nằm sát xuống để lo tìm phương giải cứu.
Chàng lực sĩ đưa tay thong thả rút mũi tên ra. Từ nơi hai vết thương, máu tươi theo cái mũi tên trào ra linh láng. Văn Khuê chưa kịp tính đến việc xé một vạt áo để tạm băng bó cho bạn, trên đầu chàng cuộc xạ kích lại tiếp diễn dữ dội hơn.
Chàng vội vàng khom mình xuống, dìu Thế Hùng lần tiến tới.
Nhưng nửa chừng, họ Bùi bỗng lo lắng ngừng lại. Chàng nghe rõ phía trước có tiếng reo hò càng lúc càng gần của đoàn ưu binh. Trong khi đó thì hai vết thương của bạn chàng ra máu quá nhiều. Giữa cơn nguy cấp và bối rối, chàng lực sĩ cau mày dáo dác liếc nhìn tứ phía, rồi như vừa nẩy ra một quyết định gì táo bạo, chàng thình lình ghé vai cõng Thế Hùng đứng lên, rồi lần theo mái ngói, nhảy phóc xuống một căn nhà nọ ở dưới chân mình.
Một tiếng hét thất thanh tiếp đón Bùi văn Khuê. Đó là tiếng hét của một bà lão, ăn mặc nâu sòng, dáng chừng là một vú già hoặc người ở trong căn nhà lạ mà chàng vừa đáp xuống.
Mặt tái xanh, toàn thân run cầm cập, bà lão đứng sửng gần chết điếng. Bà la toan hét to lên một lần nữa rồi xây lưng bỏ chạy, nhưng liền bị chàng lực sĩ cản lại.
Tuy nhiên những tiếng la, tìếng động vừa xảy ra đã làm cho những người ở nhà trên chú ý.
Vì liền đó, có tiếng chân người tất tả chạy xuống và đồng thời, ánh một ngọn đèn lồng càng lúc càng gần, chiếu sáng về phía Bùi văn Khuê.
Trên vai vẫn cỏng bạn bị thương, chàng lực sĩ buông bà lão ra, và hồi hộp đợi chờ. Trước mặt chàng, trong khuôn cửa hình chữ nhựt vừa xuất hiện hai người đàn bà phục sức rất phong lưu sang trọng.
Người đi trước là một bà cụ dung mạo phương phi, hiền hậu, trạc độ ngũ tuần.
Người đi sau là một thiếu phụ hay thiếu nữ chừng ngoài hai mươi tuổi, hìnnh dáng tầm thước và nhan sắc xinh đẹp lạ lùng.
Văn Khuê nghĩ bụng: ‘‘ Có lẽ đó là hai mẹ con gia chủ’’. Nhưng ý nghĩ nầy cũng không làm chàng bớt lo một chút nào. Vì thoạt trông qua, vẻ đài các trang nhã trong cách bày trí, chàng có thể đoán mình đang ở trong một ngôi nhà quyền quý. Nếu đây là một chỗ ngụ của một triều thần thuộc về phe của Trịnh Tùng, thì chàng và Lê thế Hùng phen nầy ắt khó lòng thoát hiểm. Song Văn Khuê hơi lấy làm lạ tự hỏi tại sao không thấy một người đàn ông nào trong nhà chạy ra. Không lẽ ở đây chỉ vỏn vẹn có ba phụ nữ mà chàng vừa được gặp.
Qua phút kinh ngạc đầu tiên, bà cụ và nàng thiếu phụ diễm lệ dường như đã tìm thấy lại sự bình tĩnh. Dừng chân trong khuôn cửa, bà cụ vừa đưa cánh tay hơi run run, nâng cao ngọn đèn lồng để soi tỏ kẻ lạ mặt đối diện với mình, vừa nghiêm nghị cất tiếng hỏi:
- Gã kia, sao giữa lúc đêm hôm khuya khoắt dám to gan dám leo tường lẻn vào đây? Nhà ngươi có phải là kẻ gian phi, định giở trò cướp bóc chăng?
Chàng lực sĩ cau mày, tuy khó chịu, nhưng không chấp trách câu nói trên đây của bà cụ. Chàng dõng dạc và lễ phép đáp lại để phá tan một hiểu lầm :
- Xin lỗi cụ, cụ lầm rồi, tôi không phải là gian nhân hay đạo tặc, cụ cứ xem người bạn bị trọng thương mà tôi cỏng trên vai này thì biết. Thưa cụ, hẳn cụ đã nghe những tiếng hò hét xôn xao của quân sĩ triều đình vang dậy ngoài kia chứ ? Tôi xin thú thật với cụ rằng tôi và bạn tôi chính là những kẻ đang bị họ lùng bắt đó. Chúng tôi bị coi là phản loạn vì vừa rồi đã dám đương đầu và đánh tan lũ thuộc hạ của Trịnh Tráng và bọn ưu binh. Rốt cuộc, quả bất địch chúng, anh em tôi phải nhảy lên mái nhà tìm đường thoát thân. Chẳng mai nửa chừng, em tôi trúng tên trọng thương, tôi buộc lòng phải đáp xuống đây xin ẩn núp nhờ chốc lát để cấp cứu.
Điều phát giác bất ngờ trong câu trả lời trên đây của Văn Khuê làm cho gia chủ vô cùng khủng khiếp. Thì ra người lạ mặt đang đứng trước mặt bà còn nguy hiểm gấp trăm, gắp ngàn lần một kẻ gian phi, vì người ấy chính là kẻ thù của chúa Trịnh của đoàn ưu binh, một tên phản nghịch mà quân sĩ triều đình đang lùng kiếm. Ấy vậy mà vào giờ nầy, kẻ ấy lại đột nhiên có mặt trong nhà mình!
Mồ hôi bà cụ toát ra đầy trán vì kinh sợ đến cực độ. Bà xua tay lia lịa. miệng ấp úng gần như nói không ra tiếng :
-  Trời ơi ! Các anh định đến đây gieo họa cho tôi à ? Nếu đức Bình an Vương biết được rằng tôi chứa chấp các anh thì nhà cửa sự nghiệp nầy sẽ tan nát ra tro và cái đầu bạc của tôi cũng lìa khỏi cổ. Vậy các anh hãy đi ngay, đi lập tức! Tôi van các anh đừng chậm trễ ! Nhược bằng không, tôi buộc lòng đi báo nhà chức trách bắt các anh.
Bà cụ vùng vằng toan nói nữa, nhưng bị người thiếu phụ xinh đẹp đứng bên cạnh cản lại. Bằng một giọng ôn tồn chậm rải, nàng cất tiếng oanh nhỏ thỏ thẻ :
- Thưa mẹ, những lời mẹ phân giải rất là chí lý, song đây là một trường hợp hết sức khẩn bách, vì con nhận thấy rằng người tráng sĩ này đang nóng lòng tìm một chỗ trú ẩn để săn sóc cho bạn trọng thương, sắp nguy đến tánh mạng, Vậy con thiết tưởng, vì lòng nhân đạo, mẹ con ta nên giúp đỡ họ một phen.
Bà cụ quay lại, trừng mắt nhìn con gái và gắt gỏng:
- Ô hay, con nói nghe dễ dàng quá! Lỡ may chuyên nầy đổ bể, liệu triều đinh sẽ có nhơn đạo với chúng ta không?
Vẫn bình tỉnh, thiếu phụ âu yếm nhìn bà cụ và đáp:
- Thưa mẹ, con chắc rằng sẽ không xảy chuyện đáng tiếc như thế đâu. Vả lại, nếu vạn nhứt sự cứu giúp này có rủi ro bị phát giác chăng nữa, thì con sẽ dùng thế lực của con để bảo vệ
cho gia quyến, xin mẹ cứ yên tâm.
Thái độ cương quyết của cô gái khiến bà cụ lặng thinh và đồng thời cũng làm cho Bùi văn Khuê rất mừng thầm và cảm phục. Không những cảm phục mà thôi, chàng lực sĩ còn rất ngạc nhiên về một cử chỉ mà chàng không ngờ lại có thể có ở nơi một cô gái yêu kiều như thế. Nhứt là vừa rồi họ Bùi nghe nàng nhắc đến hai tiếng ‘‘thế lực’’. Văn Khuê lấy làm lạ, không hiểu nàng muốn nói đến ‘‘thế lực gì’’.
Vả chăng trước hết thân thế nàng ra sao? Nàng là ai? Tên nàng là chi ? Ngôi nhà nầy của vị quan nào? v…v... Ngần ấy câu hỏi đều là hoàn toàn bí mật đối với Văn Khuê. Chàng lực sĩ chỉ biết rằng thoạt đầu, trong một cái liếc mắt thoáng qua, thiếu phụ đã chinh phục được ngay lòng thiện cảm của chàng, Về phần chàng có lẽ cũng thế, vì chàng nhận thấy từ nãy tới giờ, người đẹp đã chăm chú nhìn chàng, ngấm nghía từ đầu chí chân, và có lẽ đã để ý đến cái tướng mạo quắc thước hiên ngang của một trang anh hùng dõng sĩ.
Văn Khuê muốn thốt vài lời để tạ ơn nàng vì đã rộng lượng cho mình tạm tá túc giữa cơn nguy biến, song chàng ngượng nghịu, không nói được. Chàng chỉ đành lặng lẽ trao đổi cùng nàng một cái nhìn thành thật, chứa chan cảm động và tri ân.
Có lẽ đoán biết được ý nghĩ ấy cũng như nỗi lòng thầm kín của chàng lực sĩ, thiếu phụ mỉm cười nhỏ nhẹ bảo chàng:
- Tráng sĩ cứ đem nạn nhơn xuống nhà dưới mà săn sóc thuốc men. Tại đó có giường chiếu sẵn sàng để cho người bịnh nghỉ ngơi. Chúng tôi sẽ đem đến cho tráng sĩ tất cả những thức cần dùng khác, ở đây rất kín đáo, nhờ từ người nhà đến tôi tớ đều hiếm hoi, vỏn vẹn chỉ có hai mẹ con tôi và một vú già. Vậy sự hiện diện của quý vị sẽ không sợ bị tiết lộ. Xin tráng sĩ cứ an lòng.
Dứt lời, nàng gọi người vú già dặn dò rất kỹ, rồi dẫn Bùi văn Khuê xuống nhà dưới, nơi tiện lợi nhứt để cho chàng bắt tay vào công cuộc điều trị hai vết thương nặng của Thế Hùng.
Trong phòng kín, chàng lực sĩ yên tâm săn sóc cho người bạn đồng sanh đồng tử vớí mình.
 
Công cuộc điệu trị các vết thương diễn ra mau chóng và dễ dàng, nhờ có đủ các phương tiện thuận lợi. Với môn thuốc bột gia truyền quí giá mà chàng không quên đem theo mình với nước sôi, vải trắng do chủ nhà ân cần cung cấp, chỉ trong nháy mắt, Văn Khuê đã nhanh nhẹn chùi rửa, xức thuốc và băng bó các thương tích của nạn nhân.
Lê thế Hùng ngất lịm đi vì mất máu nhiều bây giờ đã lần lần hồi tỉnh. Nằm trên một chiếc giường gỗ êm ấm, chàng từ từ mở mắt ra nhìn bạn như muốn dọ hỏi nhưng bị chàng lực sĩ xua tay gạt đi.
- Hiền đệ hãy nằm nghỉ cho khoẻ khoắn đã. Rồi đây ta sẽ thuật chuyện cho hiền đệ nghe...
Nhưng thật sự thì Bùi văn Khuê cũng chẳng biết gì hơn bạn mình để thuật chuyện như chàng vừa hứa hẹn. Người thiếu phụ xinh đẹp vừa rồi là ai ? Chủ nhà này thuộc hạng người gì ? Đó là hai câu hỏi mà chàng đang băn khoăn mong chờ được giải đáp.
Giờ đây rảnh rang, ngồi trong phòng kín, chàng lấy làm bực bội khó chịu và có cảm tưởng như chính mình đang bị giam cầm. Chàng lực sĩ nghĩ vẩn vơ và không khỏi nhếch mép mỉm
cười. Thiệt không còn gi oái oăm mai mỉa cho bằng lúc này, chàng đành phải phú thác số phận, tánh mạng của mình và của bạn trong bàn tay của ba phụ nữ mà chàng chưa hề quen biết.
Người con gái diễm lệ và hai bà lão kia có ác tâm gì đối với chàng chăng? Họ sẽ có thể hoặc nhẹ dạ non lòng, hoặc vì độc sâu nham hiểm, đi tố giác với nhà chức trách sự hiện diện của chàng và Thế Hùng để lãnh những phần thưởng to tát mà mọi người đều ham muốn?
Văn Khuê phân vân lo lắng, song chỉ một lát sau chàng lại yên tâm, vì chàng sực nhớ lại những lời đã thốt ra của người thiếu phụ và sự can thiệp của nàng khi bà lão yêu cầu chàng phải đi lập tức.
Họ Bùi tin ở lòng tốt của người đàn bà đẹp vì tấm lòng tốt đó đã cố dịp được tỏ ra bằng sự thi ân của nàng đốí với chàng. Văn Khuê không cần tìm hiểu xem bên trong thiếu phụ ấy có nhắm một dụng ý thầm kín gì không? Và lạ thay! Không hiểu vì sao chàng rất nóng lòng muốn gặp mặt thiếu phụ ấy, muốn tiếp xúc với nàng ? Phải chăng là để hiểu rõ về cái cảnh tù túng tạm bợ đang giam hãm chàng trong hiện tại?
Thình lình, dòng tư tưởng trên đây bị gián đoạn. Chàng lực sĩ chợt nghe có tiếng động nhè nhẹ của bước chân người mỗi lúc mỗi gần rồi cánh cửa phòng ở trước mặt chàng từ từ hé mở.
Dưới ánh sáng của cây đèn bạch lạp, chàng thấy người vú già hiện ra trong khuôn cửa, với trên tay một mâm đầy rượu và thực phẩm nóng sốt đang bốc khói lên nghi ngút. Khệ nệ tiến đến gần cái bàn gỗ kê chính giữa gian phòng, mụ thong thả đặt mâm cơm xuống bàn rồi lễ phép chắp tay ngỏ lời với Văn Khuê:
- Kính thưa tráng sĩ, tiểu chủ nhân tôi xin mời tráng sĩ dùng tạm bữa cơm sơ sài thanh đạm này cho đỡ đói lòng!
Ba tiếng ‘‘tiểu chủ nhân’’ nhắc cho chàng lực sĩ, liên tưởng đến người thiếu phụ mỹ miều xinh đẹp, một nữ cứu tinh, đã thâu hút trọn vẹn cảm tình và lòng quý mến của chàng.
Bùi văn Khuê vội vã đứng dậy, thành thật và nhã nhặn xin phép khước từ :
- Chết nỗi - chàng nói - Chúng tôi đâu dám quấy nhiễu và vượt quá giới hạn như vầy. Trong khi lỡ bước được quý chủ nhân thương tình cho dừng chơn tạm tá túc ở đây, còn giúp đỡ các phương tiện để săn sóc kẻ bị thương ngộ nạn, đối với ơn nặng ấy chúng tôi đang bối rối không biết lấy gì đền đáp thì nay lại thêm được khoản đãi cơm nước trọng hậu như hạng quý khách, quả thật chúng tôi áy náy vô cùng, vì tự thấy mình không có gì xứng đáng để thọ lãnh ân huệ ấy. Vậy xin lão bả bẩm lại với chủ nhơn cho phép chúng tôi được từ nan...
Người vú già lắc đầu cười và vui vẻ pha trò:
- Không được đâu! Xin tráng sĩ cứ dùng cơm thiệt tình rồi sửa soạn an nghỉ vì đêm đã khuya rồi. Tráng sĩ nên biết rằng ‘‘Tiểu chủ nhơn tôi vốn không thích những người hay khách sáo. Vả chăng, tráng sĩ hẳn chưa quên rằng lúc nãy khi tráng sĩ mới từ trên trời ‘‘rơi’’ xuống nhà nầy, làm cho chúng tôi kinh sợ gần chết đìếng đi thì tráng sĩ có quấy nhiễu ai đâu, và có khách sáo chút nào đâu !’’
Câu nói diễu cợt và hóm hỉnh ấy khiến cho chàng lực sĩ phải bật cười.
Rốt cuộc, Văn Khuê phải nhận, mặc dầu chàng thấy bụng còn hơi no sau buổi tiệc đã dùng với Thế Hùng tại Hoàng hạc  Lâu. Chàng nhận là vì chàng không muốn làm trái ý ‘‘tiểu chủ nhơn’’, người thiếu phụ xinh đẹp và dễ yêu, đã không sợ hiểm nguy có thể xảy đến cho nàng, mà vẫn sốt sắng lo hậu đãi những ‘‘người khách bất đắc dĩ’’ từ không trung sa xuống.
vú già xin kiếu, lui ra, để lại chàng lực sĩ trong gian phòng với mâm cơm thịnh soạn và người bạn bị thương nằm thiêm thiếp ngủ.
Lặng lẽ ngồi ăn và rót rượu uống một mình, Bùi văn Khuê bâng khuâng nghĩ ngợi miên man. Chàng phác họa ra trong trí óc một kế hoạch thoát ly mà chàng định nội đêm nay sẽ đem ra thi hành.
Theo như kinh nghiệm mà chàng đã từng thâu hoạch với thứ thuộc gia truyền hết sức hiệu nghiệm này, thì chỉ trong vòng hai giờ đồng hồ, hai vết thương của Thế Hùng có thể híp miệng và hết đau đớn ngay. Lúc đó, vị công tử có thể rán sức lên đường theo Văn Khuê để thoát thân ra khỏi Tây đô. Lẽ tự nhiên là chàng sẽ tránh hết thảy mọi cuộc chạm trán và luôn luôn phải được Văn Khuê chở che, bảo vệ.
Như thế Văn Khuê còn phải chờ ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ nữa, trong gian phòng kín đáo này.
Ngoài ra còn một sự chờ đợi nữa, gần như hão huyền mà đợi lúc chàng chỉ hơi thoáng nhận thấy lờ mờ, không rõ rệt. Ấy là sự chờ đợi... bóng giai nhân.
Nhưng lúc ấy Văn Khuê cảm thấy như có một luồng gió mát êm, dịu dàng phe phẩy lướt qua tâm giới.
Thình lình chàng nghe ở ngoài kia, có lẽ tận trước sân của ngôi nhà nầy, nổi lên những tiếng quát tháo xôn xao ầm ĩ.
Tiếp theo đó là những tiếng đấm cửa rầm rầm. Chàng lực sĩ cau mày, bỏ đũa vùng đứng dậy. Từ nhà trên một bóng người vội vả chạy xuống và qua khung cửa thoáng hiện ra trước mắt chàng. Đó là nàng thiếu phụ diễm lệ mà nãy giờ chàng đang ước mơ được gặp lại dung nhan.
Thiếu phụ bước vào phòng dường như mang theo với mình cả một vùng hương thơm phảng phất. Nét mặt nàng không có vẻ hốt hoảng nhưng hơi lo lắng và nghiêm nghị.
Cố giữ thái độ điềm tĩnh không phù hạp chút nào với trường hợp nguy ngập lúc nầy, nàng ôn tồn bảo với Bùi văn Khuê một tin quan trọng:
- Xin tráng sĩ tha thứ cho sự đường đột của thiếp. Bên ngoài, quân triều đình hiện đang kéo đến nơi và đập cửa đòi vào xét nhà. Trong lúc cấp bách, thiếp vừa nghĩ ra một kế mọn. Ấy là mời nhị vị tráng sĩ vào tạm ẩn núp trong kho lúa ở trong nhà bếp kế cận nầy. Nơi đó kín đáo hơn nhiều và chắc chắn là bọn ưu binh sẽ không để ý tới.
Văn Khuê nghiêng mình kính cẩn đáp:
-   Anh em chúng tôi đội ơn tiểu thư... à quên nương nương nhiều lắm. Chúng tôi xin hoàn toàn vâng theo mọi sự định đoạt của nương nương.
Sự xưng hô hơi lúng túng của chàng lực sĩ không khỏi làm cho thiếu phụ mỉm cười:
- Xin tráng sĩ đừng gọi thiếp là tiểu thơ vì thiếp không phải con quan. Vả chăng, thiếp đã có... đôi bạn.
Nụ cười chúm chím trên cặp môi son duyên dáng ấy nửa chừng, thình lình biến mất. Vì phía trước, sau một hồi im lặng, những tiếng quát tháo và dộng cửa ầm ầm, bỗng trở lại mãnh liệt gấp bội phần. Dưới sức mạnh của hàng chục bàn tay, bàn chân vạm vỡ và cứng rắn đang xô đạp dữ dội, ngươi ta nghe rõ cánh cửa lớn chuyển răng rắc, cơ hố gần sụp đổ.
Nhanh như cắt, Bùi văn Khuê vội chụp lấy cây gươm đeo lủng lẳng bên sườn, tuốt ra khỏi vỏ và trừng trừng nhìn về phía trước. Cử chỉ ấy chỉ là một sự đề phòng tự nhiên, một hành động do bản năng tự vệ, nhưng nó không khỏi làm cho thiếu phụ kinh hãi, lo sợ rằng tánh nóng nảy của chàng lực sĩ sẽ làm hư hỏng mọi sắp đặt toan tính của nàng.
Vì vậy, nàng chụp lấy cánh tay mặt của họ Bùi, cản ngăn và khẩc khoản:
-   Ấy chết ! Tráng sĩ cất võ khí đi. Nên cẩn thận kẻo lỡ công chuyện thì nguy to.
Dứt lời, nàng rút tay về, mặt ửng đỏ vì bẽn lẽn và hơi hối hận rằng trong một lúc quá hấp tấp và lo ngại nàng đã vô tình vượt qua hàng rào ‘‘nam nữ thọ thọ bất thân’’ của nền lễ giáo và luân lý nghiêm khắc Đông Phương.
Vẻ ngỡ ngàng, sự thay đổi trên diện mạo của người đẹp không lọt qua khỏi cặp mắt Bùi văn Khuê. Như nàng, chính chàng lực sĩ cũng vừa trải qua những giây khắc bối rối rung động, những cảm giác êm dịu thư thái, cảm giác ấy lướt qua mau, bây giờ chàng lực sĩ trở về với sự bình tĩnh và sực nhớ rằng mình cần phải tuân theo ý muốn của nàng thiếu phụ và đối phó với tình hình nguy cấp hiện thời.
Ngoan ngoãn, chàng tra thanh gươm vào vỏ ngỏ lời tạ lỗi với mỹ nhơn, rồi xin phép nàng, trước khi đến lay gọi Lê Thế Hùng thức dậy.
Vừa mở mắt ra, Thế Hùng rất ngạc nhiên được mục kích trong gian phòng nầy sự hiện diện bất ngờ của một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp. Chàng chưa kịp hỏi thì đã bị Văn Khuê thúc giục:
- Hiền đệ hãy ngồi lên và ôm chặt lấy cô ta. Anh em ta phải dời sang một căn buồng khác vì lẽ ưu binh của Chúa Trịnh sắp vào đây lực xét.
Đoạn hướng về phía thiếu phụ, chàng tiếp để giới thiệu với bạn:
- Nương nương đây chính là ân nhân của chúng ta. Hiền đệ làm lễ yết kiến đi.
Vừa gượng ngồi dậy, chàng công tử toan cúi đầu chào thì thiếu phụ vội cản lại:
- Thôi ! Xin quí vị đừng khách sáo thái quá, không nên. Thời giờ gấp rút lắm rồi. Nào! Xin mời nhị vị hãy đi theo thiếp.
Dứt lời, nàng xoay lưng bước ra, chàng lực sĩ cõng bạn lên vai, cùng nối gót theo nàng.
Thiếu phụ vói tay lấy một ngọn đèn lồng treo gần đó, rồi tiến lên trước dẫn đường. Họ không phải đi xa lắm. Vòng qua nhà bếp và bỏ một căn nhà nhỏ hẹp dùng làm chỗ nghĩ ngơi riêng cho gia nhân, trong chốc lát họ đã dừng chơn trước cái kho lúa cửa đóng kín mít.
Gọi là ‘‘kho lúa’’ cho to chuyện chứ thật ra đây chỉ là một gian phòng chứa đầy lúa gạo mà các nhà giàu thời bấy giờ thường có thói quen tích trữ sẵn để đề phòng những vụ mất mùa và loạn lạc. Người thiếu phụ đẩy cửa bước vào và giơ cao ngọn đèn lồng lên để soi sáng buồng trước đó đã chìm trong nóng tối âm u, dầy đặc.
 
Văn Khuê cõng bạn bước vào sau, liếc nhìn khắp tứ bề rồi đặt Thế Hùng nằm xuống trên một đống lúa ở phía bên tả, un Iên cao gần tới ngực.
Đoạn chàng quay lại cười, bảo mỹ nhân:
- Thưa nương nương, chỗ nầy quả là một nơi ẩn núp rất tốt và rất tiện. Lát nữa nếu bọn tay sai của Trịnh Tùng có vào đây khám xét thì anh em chúng tôi sẽ trốn xuống phía dưới hoặc chui vào mấy cái bao gạo kia để tránh cho chúng không trông thấy.
Thiếu phụ chưa kịp trả lời thì một tiếng ‘‘ầm’’ dữ dội vang lên từ phía ngoài, báo hiệu cánh cửa lớn vừa bị xô ngã và sụp đổ.
Biến sắc, nàng vội dặn dò Văn Khuê và Thế Hùng vài lời chót:
- Lũ ưu binh đã phá xong cửa và đã bắt đầu tràn vào nhà rồi, thiếp phải chạy ra lo đối phó với chúng. Vậy nhị vị tráng sĩ hãy yên tâm ẩn mình tại đây và xin nhớ nên hết sức giữ gìn, thận trọng.
Dứt lời, không chờ cho Văn Khuê đáp, nàng đã thoăn thoắt xách lòng đèn bước ra, đóng chặt cửa kho lại, rồi hối hả chạy lên nhà trên.
Còn lại trong kho với bóng tối mịt mù bao phủ quanh mình Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng cố lặng yên lóng tai nghe ngóng. Bây giờ giữa gian phòng kín, như hai kẻ bị cầm tù, họ chỉ còn biết nhờ thính quan để tìm hiểu và theo dõi những việc quan trọng sắp định đoạt tánh mạng của họ.
Thiếu phụ kiều diễm mảnh mai kia, sẽ làm thế nào để đương đầu với bọn ưu binh ?
Lũ tay sai của chúa Trịnh kia sẽ khám phá ra được chỗ trú ẩn bí mật này chăng?
Hai câu hỏi ấy khơi sự hiện ra và quay cuồng trong đầu óc của hai chàng hiệp sĩ. Tuy nhiên người băn khoăn và lo lắng hơn hết chính là Bùi văn Khuê.
Vì ngoài số phận của mình, của bạn mình, họ Bùi còn bận tâm về số phận của vị nữ cứu tinh, của người đàn bà đẹp đã vì chàng mà nát tan nhà cửa và rồi đây biết đâu sẽ không vì chàng mà nguy hại đến sanh mạng, đến hạnh phúc gia đình.
Bỗng nhiên, chàng giựt mình sửng sốt. Chàng vừa nghe rõ tiếng la hét the thé của thiếu phụ đang quát mắng nguyền rủa đám binh sĩ của Trịnh Tùng.
Quả đúng như sự nghe ngóng của Bùi văn Khuê bên ngoài, việc xảy ra biến thành một vụ bất ngờ cho mọi người và nhất là đám binh sĩ của Trịnh Tùng.
Vì sau khi phá tan cánh cửa lớn, bọn này hùng hổ, tràn vào nhà như một lũ hùm beo. Chúng gồm lối trên 20 đứa, tay lăm lăm cầm mỗi đứa một thanh mã tấu và mặt mày dữ tợn như những hung thần.
Vào nhà, chúng xô ngã, đá đổ, đập bể tất cả những chướng ngại gì mà chúng gặp, và độc ác thay, cho đến bà lão chủ nhân và mụ vú già đang đứng run như cầy sấy cũng không được chúng dung tha. Bất đếm xỉa tới tuổi tác của họ, chúng hất cả hai té nhào xuống đất rồi ào ào toan túa vào phía trong để tiếp tục phá phách và lục soát.
Giữa lúc ấy, nàng thiếu phụ từ nhà dưới tất tả chạy lên.
Thoạt trông thấy một người đàn bà đẹp đang hầm hầm tiến thẳng tới trước mặt chúng, bọn Kiêu binh lấy làm ngạc nhiên, bèn dừng bước lại.
Không ai bảo ai, cả lũ đồng trố mắt ra nhìn nàng một cách vừa thèm muốn vừa tò mò.
Nhưng chúng càng kinh ngạc hơn khi thấy thiếu phụ nổi cơn thịnh nộ, cất giọng lanh lảnh mắng nhiếc chúng một cách tối ư thậm tệ:
- Ô hay! Bọn đầu trâu mặt ngựa, bọn cẩu trệ này! Ai cho phép chúng bây đến đây phá hủy nhà ta? Hành hung mẫu thân ta? Chúng bây là quân cướp bóc, quân sát nhân, một lũ người tán tận lương tâm không hơn gì loài cầm thú. Rồi đây chúng bây sẽ phải đền tội một cách xứng đáng!
Sự giận dữ nhuộm hồng khắp gương mặt của thiếu phụ càng làm tăng thêm bội phần vẻ mỹ miều kiều diễm của nàng.
Viên đội chỉ huy đoàn ưu binh, sau một phút đứng ngây người ra như tượng gỗ để ngắm nghía nàng, bây giờ thình lình như chợt tỉnh, vì sực nhớ rằng mình đang bị nàng nặng lời nhục mạ.
Hắn điên tiết lên và nghiến răng trèo trẹo:
- A, con bé nầy to gan thiệt! Dám trêu ghẹo và nguyền rủa đến chúng ông nữa à? Có lẽ ‘‘con’’ đã đến lúc tận số rồi ‘‘con’‘ ạ!
Dứt lời,hắn quay lại toan truyền cho thuộc hạ bắt trói thiếu phụ nhưng không hiểu nghĩ sao hắn bỗng đổi ý, trở lại tươi cười nham nhở một cách rất khả ố và bảo nàng:
—- Cô bé kháu khỉnh kia ơi ! Lão gia đây định trừng trị ‘‘em’’ thật nặng về cái tội nói năng hỗn xược, song vì thấy ‘‘em’’ xinh đẹp và dễ yêu quá nên tạm tha cho làm phước đó. Vậy bây giờ ‘‘em’’ nên ngoan ngoãn dẫn lão gia đi lục xét trong nhà nầy để xem hai tên phản tặc của triều đình có ẩn núp tại đây chăng?
Vừa nói hắn vừa vã lả bước lại, toan nắm lấy tay thiếu phụ nhưng liền bị nàng ném vào mặt một tiếng quát đột ngột:
- Dồ khốn kiếp! Bộ mi đui mù hay sao nên không biết ta là ai à?
Viên đội ngừng lại, hai lay chống nạnh, cất lên một chuổi cười sằng sặc rồi thốt giọng mỉa mai, kiêu hãnh:
- Là ai à? Lão gia đây không cần biết hay không thèm biết đến. Nhà ngươi đừng tưởng lão gia đây lại đi run sợ trước thế lực của bọn tiểu thơ đài các xoàng xỉnh như nhà ngươi. Nhà ngươi nên hiểu rằng đoàn ưu binh bách chiến này trên đầu chỉ biết có Bình an Vương và Thái phó Nguyễn hữu Liên, còn ngoài ra bất kỳ ai, dầu là quan lại của triều đình hay ngay cả vua Lê nữa, chúng tớ đây vẫn coi thường mà.
Câu nói trên đây phản chiếu rất đúng cái tâm lý của toàn thể ưu binh về thời bấy giờ.
Vốn được Trịnh Tùng biệt đãi và đã lập được nhiều công trong việc chinh chiến cũng như trong việc cũng cố uy quyền độc tài của Chúa Trịnh, chúng hay cậy thế làm càn, a dua theo chủ để hiếp đáp lương dân và xâm phạm đến những người, những bực triều thần thuộc phe đối lập.
Trịnh Tùng tuy biết rõ những hành động ngang tàn ấy song vẫn làm ngơ, dung túng cho chúng tha hồ tự tung tự tác. Bởi lẽ ấy trong công cuộc lục soát khắp thành phố đêm nay để lùng bắt hai chàng hiệp sĩ, bọn ưu binh lại được một dịp hoành hành, thẳng tay phá nhà cửa của dân lành không chừa bất luận tư dinh của một vị quan lớn nào mà chúng không tự do xông xáo.
Thảng hoặc có vị đại thần nào phản đối thì chúng quắc mắt trả lời : ‘‘Chúng tôi thừa lịnh của Bình an Vương’’. Như chúng ta đã thấy, ngôi nhà trên đây có thiếu phụ xinh đẹp, đã bị chúng xâm phạm, mặc dầu chúng đã dư biết rằng chủ nhơn ngôi nhà sang trọng ấy hẳn thuộc về hàng thượng lưu quý phái. Hơn nữa viên đội vô lễ chỉ huy tốp ưu binh kia, vẫn không chút sợ sệt lùi bước trước những lời nguyền rủa và dọa nạt của mỹ nhơn. (Hắn nghĩ rằng bất quá nàng chỉ là một cô gái con quan và như thế, hắn vẫn có quyền chọc ghẹo mà không lo bề trên quở phạt).
Một lần nữa viên đội toan sấn tới, giơ bàn tay vạm vỡ, thô lỗ của mình, chụp lấy vai người thiếu phụ, thình lình bị một tên lính nắm lấy vạt áo sau của hắn cản lại:
- Ấy chết ! Đội trưởng hãy khoan ! Tôi nhớ ra người đàn bà này là ai rồi?
Viên đội trưởng cặp mắt tròn xoe, xây lại nhìn kẻ thuộc hạ :
- Ô hay! Nhà ngươi bảo sao? Nhà ngươi nhớ ra người đàn bà nầy là ai rồi à? Nhưng ta nói rằng dầu nó là công chúa con của vua Lê đi nữa, ta cũng bất kể mà!
Trái với thái độ tự đắc và khinh khỉnh của viên đội, tên lính rành chuyện tỏ vẻ rất lo lắng và nghiêm nghị. Như đê cố cứu vãn một sự lỗi lầm rất quan trọng và nguy hiểm mà chính hắn cũng có dự vào, hắn tiếp rất nhanh:
- Phải! Tôi nhớ rõ đã gặp người đàn bà... à quên phu nhơn đây hôm kia khi tới phiên tôi được cắt cử vào hầu hạ trong phủ Chúa. Quả đúng như vậy. Đây chính là Nguyễn phu nhơn, ái thiếp của Bình an Vương. Chết rồi ! Đội trưởng ôi !
Viên đội điếng hồn, biến sắc, đầu choáng váng, toàn thân lảo đảo như muốn ngã.
Đồng thời, phía trước hắn, tiếng cười của thiếu phu vụt nổi lên, lanh lảnh ghê rợn như những lời gay gắt tuyên án tử hình:
- Phải đấy! Một đứa trong bọn bây chưa đến nổi mù hẳn nên nhận được ta, nhưng đã chậm lắm rồi! Chính ta là Nguyễn phu nhơn đây, tối nay ta đã mục kích tận mắt tất cả những hành động vũ phu tàn bạo đốn mạt của lũ khốn kiếp là bọn chúng bây. Ngày mai, ta sẽ thuật hết với Bình an Vương và đầu của chúng bàâ ắt sẽ phải rời khỏi cổ!
Bỗng nàng ngừng lại, rồi bằng một giọng hách dịch, quát hỏi kẻ đối thoại:
- Nhà ngươi tên là gì? ở trong cơ binh nào?
Viên đội run rẩy, vẻ mặt thiểu não, ấp úng đáp:
- Bẩm phu nhơn, kẻ hèn mọn nầy là Đội trưởng Huỳnh Như, trong cơ binh thứ ba, thuộc quyền chỉ huy của quan Nguyễn Thái phó.
Thiếu phụ cắt ngang:
- Được rồi! Bây giờ chúng bây cứ việc làm phận sự. Ta cho phép bọn chúng bây được tự tiện lục xét khắp nơi trong nhà nầy, thử xem tư thất của ta có chấp chứa bọn phản tặc của triều đình, kẻ thù của đức Bình an Vương chăng?
Câu nói sau này, nàng thiếu phụ nhấn mạnh bằng một giọng mai mỉa, khiến cho lũ ưu binh càng thêm lạnh mình khiếp đảm.
Viên đội sợ hãi đến cực độ, lẽ tự nhiên là không còn dám nghĩ đến việc lục soát để truy tầm ‘‘thủ phạm’’ nữa. Vả chăng, ai lại điên rồ đến nỗi đi xúc phạm đến tư gia của nàng ái thiếp của chúa Trịnh để rồi phải rước lấy sự trừng phạt hết sức ghê gớm, nặng nề?
Trái hẳn với vẻ hống hách, nghinh ngang lúc nãy, bấy giờ trông viên đội tiu nghỉu như mèo bị cắt tai.Hơn thế, hắn còn tỵ tiện tự hạ mình, chấp hai tay vái nàng thiếu phụ như... tế sao, van lơn khẩn khoản nàng không ngớt miệng!
-   Trăm lạy phu nhơn, ngàn lạy phu nhơn, kẻ hèn mọn nầy vì ngu muội, có mắt như mù, lỡ xúc phạm đến tôn nhan, nay biết ân hận thì sự đã rồi. Vậy cúi xin phu nhơn rộng lượng hải hà dung thứ cho một phen.
Thiếu phụ bĩu môi, cười lạt:
- Thì ra bọn chúng bây chỉ biết làm ác mà lại trốn tránh khi phải đền tội! Chúng bây quả là một lũ hèn nhát. Tuy nhiên, đối với hạng người khiểp nhược như chúng bay, ta cũng lấy lòng khoan dung nhơn từ mà tha thứ cho một phen. Ta sẽ bỏ qua không phúc bẩm lại vụ nầy với Bình an Vương. Nhưng một lần nữa, ta cảnh cáo cho mà biết: Từ rầy về sau, nếu ta thấy chúng bây còn tái diễn thói hung hăng, hiếp đáp, xăm phạm đến bá tánh lương dân, thói nào tật nấy không chừa, thì lúc đó, ắt là chúng bây không còn toàn tánh mạng nữa, nghe chưa?
Viên đội, và lũ ưu binh cả mừng đưa mắt nhìn nhau sung sướng như những kẻ sắp chết đuối vừa được cứu sống.
Đồng một loạt, chúng reo lên:
- Đội ơn phu nhơn! Vạn tạ phu nhơn. Chúng tôi xin hứa
sẽ không bao giờ dám quên những lời vàng ngọc phu nhơn vừa căn dặn.
Dứt lời, chúng lăng xăng chia nhau, đứa thì lo dọn dẹp lại các đồ đạc trong nhà đã bị chúng đập bể và phá phách, đứa thì lo nâng bà cụ và mụ vú già đã bị chúng xô ngã ngồi dậy.
Thiếu phụ dường như vẫn chưa nguôi cơn giận và không dằn nổi sự bất mãn trước vẻ sốt sắng và thái độ ăn năn giả trá bề ngoài của chúng, bèn xua tay gạt đi:
- Thôi được! Chúng bây cứ để đó cho ta rồi lo cút khỏi nhà này cho mau! Ta không còn muốn thấy mặt của chúng bây nữa. Chúng bây nhớ dặn những đứa khác: Nếu tên ưu binh nào còn bén mảng đến đây thì liệu hồn.
Không dám cãi lời, chúng dạ rân một tiếng, chắp lay xá thiếu phụ luôn mấy xá, rồi lấm lét đưa mắt ra dấu cho nhau, trước khi rút lui theo thứ tự.
Bọn quân sĩ của Trịnh Tùng đi rồi, nàng thiếu phụ vội vã bước lại phía bà lão (đã được bọn ưu binh vực lên đặt nằm trên chiếc trường kỷ). Nàng đưa tay sờ trán mẹ và lo lắng hỏi thăm:
- Thưa mẫu thân! mẫu thân có sao không?
Bà cụ lắc đầu, ồn tồn đáp:
- Không sao cả con ạ! Mẹ chỉ bị chúng xô ngã sơ sài      mà
thôi. Cũng may là con ra can thiệp kịp, nếu không thì tất cả đồ đạc trong nhà nầy đã bị chúng phá tan tành hết rồi !
Giơ tay chỉ đống sành đổ nát ngổn ngang trên sàn nhà bà cụ chép miện tiếp:
- Kìa con xem ! Cái lọ độc hình cổ quý giá nhất mà phụ thân con để lại, bây giờ đã ra thế đấy, tức quá ! Chính mẹ đã đoán trước việc nầy và bảo con rồi. Con coi lại có đúng không? Chứa chấp những hạng người nguy hiểm kia là một mối họa, mà chúng ta tự rước vào mình Con thử nghĩ, nếu   như chúng không nhận ra được con nhân vật trọng yếu trong phủ Chúa, thì không biết sự tai hại sẽ đến thế nào?
Thiếu phụ cúi đầu làm thinh giây lâu, như để chăm chú nghe kỹ và nhận lãnh những lời giáo huấn của mẹ già, rồi thỏ thẻ giãi bày:
-   Thưa mẫu thân, con xin cam chịu lỗi. Nhưng con thiết nghĩ, đây là một trường hợp đặc biệt mà chúng ta phải để lòng bác ái, và tình nhơn đạo lên trên. Chúng ta phải làm phúc cứu người, không cần biết họ là bọn người gì, chỉ biết đó là kẻ cô thế, sa cơ ngộ nạn. Vả chăng, hai gã nam nhi đang ẩn tránh trong nhà chúng ta, tuy bị buộc tội là ‘‘phản tặc của trào đình’’, nhưng sự thật, theo con mắt nhận xét của con, thì họ là những kẻ thù riêng của chế độ hà khắc, độc tài của Chúa Trịnh.
Như vậy, cái cảnh ngộ của họ cũng tương tợ như cảnh ngộ của con, vì chính con đây cũng là nạn nhơn của Trịnh Tùng, cũng bị hắn dùng quyền thế uy hiếp bắt lấy làm hầu thiếp, khiến con phải uổng phí một đời xuân xanh, tan vỡ những hoài bão thiết tha về tương lai hạnh phúc. Con cũng căm hờn oán hận Trịnh Tùng, nhưng trót lỡ sanh làm phận nữ nhi, nên đành bó tay không làm gì được.Hôm nay, nhân được phép về thăm nhà, gặp dịp may cứu giúp được hai kẻ địch của họ Trịnh, tức là kẻ đồng hội, đồng thuyền với mình, lòng con sung sướng như vừa được gián tiếp báo thù và làm vơi đi mỗi căm hờn đang luôn luôn đè nặng trên tâm trí.
Giọng nói thành thật và chứa chan xúc động của thiếu phụ làm cho bà lão hơi hoảng sợ. Bà liếc mắt lo ngại nhìn ra phía cửa ngoài mấy lượt, rồi xua tay bảo nàng:
- Thôi đi ! Con đừng nói nữa ! Con làm mẹ hồi hộp quá. Ở đây tuy nhà ta kín đáo, nhưng mà tai vách mạch rừng nếu có người thứ ba nghe được thì nguy hiểm cho mẹ con ta biết là chừng nào.
Bà lão vừa dứt lời, thì bỗng sau lưng có tiếng chân rón rén. Cả hai mẹ con biến sắc, đều giựt mình quay lại.
Thì ra, quả thật một người thứ ba đã rình nghe rõ những
điều bí mật và quan trọng mà thiếu phụ vừa thốt ra trên đây.
Thiếu phụ suýt rú lên một tiếng kêu kinh khủng. Trước mặt nàng, nghiễm nhiên đứng sửng một viên tướng ưu binh, trẻ tuổi diện mạo hung ác, không biết đã độn nhập vào đây từ lúc nào, mà chẳng ai hay.
Viên tướng ưu binh nầy chắc đã nghe rõ tất cả những điều bí ẩn mà nàng vừa thốt ra, chắc đã biết rõ việc nàng chứa chấp hai chàng tráng sĩ.
Thế là hành động của nàng hoàn toàn bị tiết lộ. Toàn thân của mỹ nhơn muốn run lên khi nàng chợt nhận ra kẻ lạ mặt đang đối diện với nàng, và nhìn nàng chòng chọc với một nụ cười kiêu hãnh và đắc thắng.
Tuy nhiên, là một người lanh trí và quả quyết, thiếu phụ trấn tỉnh lại ngay, giả vờ ngạc nhiên và nghiêm giọng quát hỏi:
- Ô hay ! Tướng quân là ai? Ai cho phép tướng quân bí mật độn nhập vào nhà nầy, và với tư cách gì?
Hai tay khoanh trước ngực, với dáng điệu hiu hiu tự đắc, gã lạ mặt mai mỉa đáp:
- Kính chào phu nhơn. Hẳn phu nhơn đã quên rồi nên không nhớ ra tiểu tướng là ai chớ. Vậy xin tự giới thiệu lại: tiểu tướng là Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch, con của quan Thái phó Nguyễn hữu Liên.
Viên tướng tưởng rằng nghe xưng hô danh hiệu của mình, thiếu phụ sẽ phải nao núng và kiêng nể. Không ngờ nàng vẫn giữ thái độ nghiêm nghị lạnh lùng. Nàng cười lạt:
- À, té ra tướng quân đây chính là Nguyễn công tử. Như vậy công tử lại càng phải có tư cách lễ độ hơn nữa để xứng đáng là con một vị đại thần chứ! Đàng này công tử đã cư xử một cách trái ngược hẳn chẳng khác gì phường tiểu nhơn, vả lại đang đêm lẻn vào nhà đàn bà con gái, thử hỏi công tử có dụng ý gì? Rồi việc này đến tai Bình an Vương thì sẽ tính sao ?
Những lời bắt bẻ và buộc tội trên đây của người thiếu phụ tuy chỉ là một cách thị oai để tìm kế hoãn binh và đủ thì giờ gỡ rối, nhưng cũng làm cho Nguyễn Bạch hơi chột dạ. Hẳn dư hiểu rằng dù sao nàng cũng là một ái thiếp đang được chúa Trịnh thương yêu, và hắn phải dè dặt hết sức khi phải đương đầu với thế lực của nàng. Vì vậy, Nguyễn Bạch tự thấy cần phải giải thích sự hiện diện của mình trước khi ra tay hành động gấp để bắt quả tang một vụ chứa chấp quan hệ hầu lập đại công.
- Hãy khoan, xin phu nhơn đừng dùng lời vu cáo vội, vì vu cáo không che đậy, giấu giếm được sự thật đâu. Phu nhơn muốn biết mục đích gì đã khiến tiểu tướng buộc lòng bí mật đặt chân vào đây ư? Giản dị và rõ rệt lắm. Này nhé, trước đây non một giờ đồng hồ đã xảy ra một vụ đại náo khủng khiếp ở Hoàng hạc Lâu. Hai tên phản nghịch là Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê, sau khi giết thác đại tướng Thái Ngột và nhiều binh sĩ của triều đình đã nhảy lên nóc nhà và thừa đêm tối, chuyền từ mái này qua mái kia tẩu thoát. Không ai có đủ thủ đoạn cao cường để rượt theo chúng, trừ phi một mình tiểu tướng đây mà thôi. Tiểu tướng đã mạo hiểm đuổi chúng từ trên nóc Hoàng hạc Lâu, song vì chúng có thuật phi hành rất mau lẹ, nên gần đến đây thì mất dấu.
Trong lúc đang vơ vẫn tìm kiếm trên mái nhà này, tiểu tướng được chứng kiến vụ xung đột giữa phu nhơn và toán ưu binh vào lực xét. Tiểu tướng nhảy xuống toan can thiệp, không dè tình cờ nghe những lời quan hệ do chính miệng phu nhân đã thốt ra.
Những lời ấy tố giác rằng phu nhơn là một kẻ - xin phép cho tiểu tướng dùng danh từ thích đáng- đã phản bội Bình  an Vương, đã che chở những kẻ nghịch của Ngài. Sự thật phát giác hiển nhiên như thế, bây giờ liệu phu nhơn còn hống hách, buông lời nguyền rủa, còn chối cãi tội lỗi được nữa không?
Ngừng lại một lát, ngắm nghía thiếu phụ đang đứng sững như một pho tượng, mặt xanh ngắt không còn chút máu, Nguyễn Bạch mỉm một nụ cười nham nhiểm xoa hai tay ra dáng khoan khoái vô cùng. Và vẫn với giọng giễu cợt, châm biếm của kẻ thắng thế, hắn tiếp:
- Thôi, lần này ‘‘kẻ vô lại’’ là tiểu tướng đây xin khuyên phu nhơn đem hai tên phản nghịch mà phu nhơn đang chứa chấp ra nạp cho rồi. Để tiểu tướng đi gọi thêm binh sĩ vào bắt chúng trối lại giải về phủ Chúa cho Bình an Vương định đoạt.
Dứt lời, hắn hăm hở toan bước thẳng ra phía cửa thì thình lình bị một bàn tay vạm vở nắm chặt lấy vai hắn mà kéo lại. Đồng thời một tiếng quát dõng dạc, chỉ vừa đủ nghe, vang lên bên tai hắn như một lịnh truyền:
- Nhà nguơi đừng hòng ra khỏi đây vô ích!
Nguyễn Bạch giựt mình quay lại. Người thiếu phụ cũng,ngước mặt lên. Cả hai đều ngạc nhiên khi nhận ra người có bàn tay vạm vỡ vừa xuất hiện đột ngột kia không phải ai khác hơn là chàng tráng sĩ họ Bùi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2020 20:36:10 bởi Thanh Vân>
Phải, người ấy chính là Bùi văn Khuê. Nguyên trước đó, chúng ta đã biết, Văn Khuê vẫn kín đáo ẩn núp trong kho lúa với Lê thế Hùng, theo như lời khuyên dặn của nàng thiếu phụ.
Tại đó, chàng đã nghe rõ và theo dõi tất cả những việc xảy ra ở nhà trên, nhứt là vụ xung đột giữa nữ ân nhân của chàng và bọn ưu binh đã kéo vào phá phách và đang lục soát. Những câu đối đáp trao đổi giữa hai bên, đã giúp cho Bùi văn Khuê biết được điều mà chàng khát khao muốn biết: ấy là thân thế của nàng giai nhơn.
Quả thật là một sự phát giác đột ngột và bất ngờ! Chàng hiệp không ngờ rằng kẻ cứu tinh đang giúp mình trong cơn hoạn nạn lại chính là nàng ái thiếp tin yêu của chúa Trịnh, kẻ thù bất cộng đái thiên của chàng và bạn chàng. Và, tự nhiên, không hiểu vì sao, một mối thất vọng âm thầm dâng lên tràn ngập lòng người hiệp sĩ. Giấc mơ, một giấc mơ êm ái nhưng quá ngắn ngủi và quá hiếm hoi trong đời một khách múa kiếm giang hồ, bỗng vụt biến tan đi trong nháy mắt vì phải va chạm với thực tế não nùng...
Văn Khuê đang cố tìm hiểu đích xác nguyên do nỗi buồn thoáng qua, vơ vẩn của chàng thì bỗng nhiên chàng nghe có tiếng chuyển động răng rắc rất khẽ trên mái ngói. Lỗ tai vốn quen phân biệt của chàng nhận rõ được ngay đó là tiếng những bước chân đang từ trên đầu chàng dời lần về phía nhà trên.
Đoán chắc đó là một tay dọ thám của Trịnh Tùng đang đi truy tầm dấu vết của mình, Văn Khuê bèn ra hiệu cho Thế Hùng cứ nằm yên đó mà chờ đợi, còn chàng thì lần mò ra ngoài để dò xét tình hình.
Cánh cửa kho lúc ấy đã bị khóa chặt. Văn Khuê phải leo vách và chỉ trong chốc lát, chàng đã đu mình trên chiếc rui nhà rồi bíu lấy mái ngói mà từ từ bò lên...
Dưới ánh sáng mơ hồ của muôn sao lấp lánh, chàng nhận thấy đàng kia, một bóng đen đang lay hoay di động. Sợ hắn để ý đến chàng, họ Bùi bèn thu mình nằm sát xuống, hầu dễ bề quan sát và theo dõi hắn.
Chàng thấy cái bóng đen ấy nằm yên như đang nghe ngóng và rình rập. Nhưng thình lình, hắn rời bỏ chỗ ấy, vùng đứng dậy và nhón chân nhảy xuống đất rất nhẹ nhàng. Văn Khuê tức thì tiến lên thêm một chút nữa đễ xem thử hắn sắp giở thủ đoạn gì...
Thấy cái bóng đen bước nhanh về phía thiếu phụ đang đứng đàm đạo với thân mẫu nàng, Bùi Văn Khuê bắt đầu hơi lo ngại cho tánh mạng của nữ ân nhân mình. Không thể nán chờ lâu, hơn nữa chàng cũng vội rời khỏi mái ngói, nhón chơn nhảy xuống đất và nhẹ nhàng rón rén nép sát vách hành lang mà lần tới.
Dưới ánh đèn, bây giờ chàng lực sĩ mới nhận ra được hình dáng của kẻ lạ mặt. Bộ võ phục sang trọng mà hắn đang khoác trên mình chứng tỏ đó là một viên tướng ưu binh có thanh thế.
Khi hắn vừa dừng lại trước mặt nàng thiếu phụ và khởi sự lên tiếng hăm dọa nàng thì Văn Khuê đã lặng lẽ ẩn mình sau một bức màn nhung gần đó. Thành thử chàng đứng cách xa Nguyễn Bạch chỉ có vài bước mà hắn tuyệt nhiên không hề hay biết.
Thế rồi chàng tráng sĩ chờ cho đến lúc ra tay. Ấy là lúc mà viên tướng ưu binh toan bước ra ngoài kêu gọi viện quân để hiệp lực với hắn vào bắt hai  người lánh nạn.
Như trên đã nói, Nguyễn Bạch chưa kịp quay đi thì thình lình bị Bùi văn Khuê vụt nhảy xổ ra nắm chặt lấy vai hắn giữ lại.
Giựt mình, hắn ngoái cổ liếc nhìn và vô cùng kinh dị. Biết rằng mình phải đối đầu với một địch  thủ cực kỳ lợi hại, một địch thủ vừa oanh liệt chém binh giết tướng tại Hoàng hạc Lâu, Nguyễn Bạch không dám nghĩ tới sự kháng cự mà chỉ lo tìm phương tẩu thoát. Vì vậy, hắn cố vùng một cái rồi lẹ tay rút thanh kiếm ra khói vỏ và quay lại chém nhầu chàng lực sĩ.
Hắn định chém bừa một lát trước khi co giò chạy song Văn Khuê đã tiên đoán được ý định ấy của hắn. Bởi thế khi tay chàng vừa buông vai hắn ra thì đồng thời chàng cũng lách mình sang một bên để né tránh rồi thuận tiện, chàng phóng chân đá tạt ngang vào hông hắn lẹ như chớp.
Không kịp đề phòng, Nguyễn Bạch té nhào sang một bên, Văn Khuê thừa thế nhảy tới, một cái đá thứ nhì của chàng tiếp liền, khiến thanh kiếm do viên tướng ưu binh đang cầm tức khắc rời khỏi tay hắn và văng ra xa non mười thước.
Vì đau đớn và có lẽ cũng vì muốn tri hô cho người ngoài nghe tiếng để vào tiếp cứu, Nguyễn Bạch há họng ra toan rú lớn, nhưng chàng lực sĩ lẹ làng đã nhảy chồm lên mình hắn, trong khi hai đầu gối và chân chàng đè nặng lên bụng và ngực hắn, thì bàn tay chàng bụm chặt lấy miệng cậu con trai của Thái phó Nguyễn hữu Liên. Một cuộc vật lộn diễn ra, song sau một phút đồng hồ kháng cự ngắn ngủi, viên tướng ưu binh trẻ tuổi cam khuất phục trước sức mạnh phi thường của đối thủ.
Bị nhiều quả đấm liên tiếp và dữ dội như búa bổ rơi xuống giữa mặt, giữa trán và trên đỉnh đầu mình, Nguyễn Bạch kiệt sức, nằm thoi thóp mê  man. Tuy nhiên, lo ngại rằng lát nữa hắn có thể tỉnh lại và tri hô lên làm náo động tới bên ngoài và vùng kế cận, Văn Khuê yêu cầu người thiếu phụ ra gài chặt cửa lại.
Nàng ái thiếp của chúa Trịnh làm theo ý muốn của chàng lực sĩ rồi quay bước trở vào. Từ nẩy đến giờ nàng đã được chứng kiến cuộc chiến đấu sôi nổi và mục kích tận mắt sự toàn thắng quá dễ dàng của Bùi văn Khuê.
Nàng có dịp được thưởng thức và thán phục tài nghệ tuyệt luân cùng sức mạnh vô song của chàng tráng sĩ.
Nhưng điều làm cho thiếu phụ vui mừng hơn hết, sung sướng hơn hết và cảm động hơn              hết ấy là việc chàng vừa giải cứu cho nàng khỏi một tình thế nguy kịch, hiểm nghèo. Ví thử Văn Khuê không can thiệp kịp để Nguyễn Bạch chạy thoát thân ra ngoài, tất nhiên sự chứa chấp bi mật của nàng sẽ bị tiết lộ, và nàng sẽ không tránh khói bị cha con Nguyễn hữu Liên tố giác với Trịnh Tùng vụ âm mưu phản bội của nàng.
Như vậy, từ địa vị của một kẻ chịu ơn chàng lực sĩ kia bây giờ đột nhiên biến thành ân nhân của nàng, vì hiện chàng đang nắm được trong tay kẻ thù ghê gớm đã hăm dọa làm tan tành đổ vỡ số phận nàng vậy.
Phải làm sao đối phó với kẻ thù ghê gớm ấy?
Muốn loại hẳn ra khỏi phạm vi tác hại thì phải làm thế nào?
Đó là hai câu hỏi mà chính thiếu phụ đã tự đặt ra và đó cũng là vấn đề cấp bách mà Bùi văn Khuê đang chờ nàng định đoạt. Thật vậy, sanh mạng của viên tướng ưu binh nầy không phải tùy thuộc ở chàng lực sĩ mà chính là tùy thuộc ở một lời nói, một dấu hiệu nhỏ của khách giai nhơn.
Thấy lời nói và dấu hiệu kia chậm đến, thấy thiếu phụ đang ngần ngại, do dự, Văn Khuê bèn thúc giục nàng:
- Thưa phu nhơn, tôi mong được biết quyết định của phu nhơn về tên Nguyễn Bạch. Hẳn phu nhơn cũng dư biết rằng nếu để cho hắn sống sót ra khỏi nhà nầy thì ắt là tai họa Iớn lao sẽ xảy tới cho phu nhơn. Vì vậy. chúng ta buộc lòng phải giết hắn để giữ cho mọi bí mật quan trọng khỏi bị tiết lộ. Đó là một sự vạn bất đắc dĩ. Chẳng hay phu nhơn nghĩ sao?
Thiếu phụ đưa mắt nhìn chàng tráng sĩ và khẽ gật đầu tán thành. Trong hai tia mắt gặp nhau, dường như dạt dào một niềm thông cảm. Nàng bảo Bùi văn Khuê:
- Tráng sĩ dạy chí phải. Đây là một trường hợp vạn bất đắc dĩ. Giữa hai bên, kẻ thù và ta phải một người mất, một người còn. Ta cần phải chọn lựa, phải quyết định. Nhưng đây nào phải chỉ riêng vì chúng ta. mà là vì tiền đồ của quốc gia đang ngửa nghiêng dưới bàn tay sắt của chúa Trịnh, vì đời sống tương lai của dân chúng, đang lầm than, đau khổ trước bao nhiêu áp bức bóc lột, hà khắc của cha con Thái phó Nguyễn hữu Liên nên chúng ta phải ra tay trừ hại. Vậy thiếp xin tráng sĩ cứ chiếu theo công lý mà tùy tiện làm phận sự. Còn thiếp là phận nữ nhi, chân mềm tay yếu luôn luôn vẫn run sợ trước cảnh máu đổ thịt rơi.
Bùi văn Khuê đáp vắn tắt:
- Phu nhơn sẽ được hài lòng.
Dứt lời, chàng giơ bàn chân đè lên cổ của viên tướng ưu binh để chận đứt hơi thở của hắn. Một lát sau khi chàng rút chân về, thì Nguyễn Bạch chỉ còn là một xác không hồn.
Vốn không quen chứng kiến những cảnh giết chóc ghê rợn, thiếu phụ mặt tái méc, lo lắng hỏi chàng lực sĩ:
- Bây giờ phải làm cách nào để phi tang tử thi nầy? Vì để trong nhà ắt không tránh khỏi bị phát giác.
Văn Khuê điềm tĩnh trả lời:
- Phu nhơn chớ lo. Tôi đã có cách giải quyết rất mau chóng và rất gọn. Xin phu nhơn cho phép tôi vắng mặt chừng vài phút đồng hồ. Đến khi tôi trở lại tức là công việc hoàn thành.
 
Giữa sự ngạc nhiên của mỹ nhân, chàng cúi xuống, xốc cái thây ma của Nguyễn Bạch đặt lên vai, đoạn bước nhanh xuống nhà bếp. Tại đây, chàng dừng lại một cái sân rộng, nhún chân nhảy lên mái ngói và mất hút vào trong bóng tối.
Vừa đi, Bùi văn Khuê vừa nghĩ thầm: ‘‘Ta phải đem vứt xác chết cho thật xa để bọn ưu binh không chú ý đến vùng nầy và sẽ không bố trí cuộc canh phòng nghiêm nhặt, bất lợi cho sự thoát thân của chúng ta về sau’’.
Vượt qua chừng vài mái nhà, như sực nhớ ra điều gì quan trọng, chàng lực sĩ bỗng dừng bước lại rồi đặt cái thây ma của Nguyễn Bạch nằm ngửa xuống. Đoạn chàng lột bộ binh phục của hắn ra và khoác vào mình, sau khi đã trút bỏ bộ áo quần lái buôn mà chàng đang mặc. Công việc thay đổi nầy diễn ra rất nhanh, gần như trong nháy mắt.
Bây giờ, dưới lốt cải trang mới, Bùi văn Khuê đã nghiễm nhiên biến thành một viên tướng ưu binh. Chàng lại cúi xuống nâng cái tử thi đặt lên vai rồi tiếp tục tiến trên các mái ngói và qua bóng đêm u ám.
Nhận thấy mình đã rời cách xa nhà của mỹ nhơn chừng vài trăm thước, chàng lực sĩ bèn dừng lại. Dưới chân chàng, cạnh nóc một ngôi nhà trên đó chàng đang đứng là một cây bàng to, cành lá sầm uất rườm rà, mọc bên lề một con đường hẻm tối om.
Chuyền qua thân cây kia, là một việc quá dễ dàng đối với chàng. Văn Khuê chỉ cần giơ tay vịn lấy một nhánh cây bền chắc, rồi đu mình leo sang.
Chàng cố ý đặt cái xác chết của Nguyễn Bạch nằm trên cành cây để khỏi liên lụy đến ai và nhứt là để khỏi bị phát giác sớm. Vì vậy chàng mới chọn lựa chỗ vắng vẻ nầy.
Nhưng sau khi bỏ lại cái thây ma nằm vắt ngang trên mấy nhánh cây, Bùi văn Khuê toan quay về chỗ cũ, thì bỗng nghe phía dưới có tiếng động.
Giựt mình, chàng vội ngồi thu hình lại, nín thở cúi xuống nhìn xem. Trong đêm đen, cặp mắt tinh anh của chàng cũng phân biệt được hình dáng một tên vu binh đang xăm xăm tiến tới. Đó là một tên lính lẻ loi, có lẽ đã lạc lối sau cuộc truy nã sôi nỗi vừa rồi. Tay hắn cầm đoản đao và dáng đi của hắn rất hấp tấp.
Văn Khuê bỗng nẩy ra môt ý. Chàng đang cần tìm một bộ võ phục ưu binh nữa để cho Lê thế Hùng dùng làm lốt cải trang. Như vậy tên lính sắp đi qua đây là một cơ hội tốt đối với chàng.
Họ Bùi thận trọng liếc mắt nhìn khắp tứ bề. Chàng không thấy một bóng người nào trừ phi tên lính nói trên. Dưới mắt chàng con đường hẻm đen ngòm như mực và vắng ngắt đến ghê rợn, quả thật là một trường hợp rất thuận tiện.
 
Đợi cho tên ưu binh vừa tới nơi, chàng lực sĩ tức thì buông tay và rơi lên trên mình hắn. Bị bắt chợt thình lình, tên lính không kịp đối phó. Hắn bị Văn Khuê vật ngã nhào xuống đất và đồng thời, bị hất văng ngọn đao mà hắn đang cầm. Hắn toan kêu cầu cứu nhưng một bàn tay vạm vỡ đã đè lên miệng hắn.
Tên lính vùng vẫy tay chân, chống lại kịch liệt nhưng vô hiệu. Một cái thoi như thiên lôi giáng gieo xuống đầu hắn, chấm dứt mọi sự kháng cự và làm cho hắn hôn mê bất tỉnh.
Chàng lực sĩ lật đật lột bộ quần phục của nó ra như chàng làm lúc nẩy khi đoạt lớp nhung trang nơi tử thi của Nguyễn Bạch. Kế đó chàng kéo hắn lại, bỏ nằm trên một đám có hoang bên lề đường.
Văn Khuê nghĩ bụng rằng ít ra, lối một giờ sau, tên lính nầy mới hồi tỉnh lại và chàng rất yên lòng vì lần nầy đã tránh khỏi phải giết thác một người vô tội.
Đoạt được điều mình dự tính, họ Bùi lật đật bỏ trở lên mái ngói, rồi thoăn thoắt theo đường cũ, quay về nhà người thiếu phụ.
Tại đây. ngước đầu nhìn lên, nãy giờ nàng ái thiếp của chúa Trịnh đã nóng ruột trông chờ. Thoạt đầu, thiếu phụ giựt mình kinh sợ vì tưởng là một viên tướng ưu binh.
Nhưng sau nhận ra đó là Văn Khuê trá hình, nàng mỉm cười mừng đón người lực sĩ. Nàng thấy chàng đã đúng hẹn. Chàng chỉ vắng mặt trong vài phút đồng hồ và trở về bình yên với trên tay một bộ võ phục vừa đoạt được.
Không đợi người đẹp lên tiếng hỏi, Văn-Khnê ‘‘báo cáo’’ ngay với nàng về nhiệm vụ của mình
- Thưa phu nhơn ! Tôi vừa thi hành xong điều đã hứa với phu nhơn. Xác Nguyễn Bạch đã bị ném tại một nơi cách đây rất xa. Phu nhơn sẽ không còn phải lo ngại gì về chuyện ấy nữa.
Bằng giọng nói thành thực và với nụ cười duyên dáng phảng phất trên môi, thiếu phụ đáp:
- Thiếp rất đa tạ ơn nặng của tráng sĩ nếu như không có tráng sĩ, tánh mạng của thiếp và luôn cả số phận của gia đình thiếp sẽ phải lâm nguy.
Họ Bùi vội gạt đi:
- Ấy ! Chết nỗi ! Nương nương...à quên, phu nhơn dạy quá lời! Chính anh em tôi đây mới là kẻ chịu ơn trọng của phu nhơn và cũng là một kẻ suýt nữa đã gây cho phu nhơn thảm họa tầy trời.
Mỹ nhơn cười xòa, khôi hài:
- Nếu thế thì tráng sĩ và thiếp, cả đôi bên đều mang ơn lẫn nhau. Như vậy, giản tiện hơn là chúng ta xí xóa đi, nghĩa là hai đàng không ai chịu ơn của ai nữa cả.
Văn Khuê vẫn giữ vẻ nghiêm nghị:
- Thưa phu nhơn, kẻ hèn mọn không dám nhận lãnh cái vinh hạnh ấy. Thôi xin phu nhơn cho phép tôi vào thăm xem bịnh tình của em tôi ra sao vì đã sắp đến lúc mà chúng tôi phải lên đường.
- Tráng sĩ cứ tự tiện.
Dứt lời, thiếu phụ theo gót họ Bùi đi thẳng về phía kho lúa, nơi Lê thế Hùng đang nằm hồi hộp đợi chờ.
Trong bóng tối, Thế Hùng bắt đầu cố duỗi hai tay, hai chơn và khẽ cứ động. Chàng rất lấy làm lạ, cảm thấy trong mình khỏe khoắn dễ chịu và sự đau đớn, nhức nhối vừa rồi nơi vết thương đã biến đi đâu mất.
Vị công tử sung sướng nhận thấy mình đã bình phục nhờ món thuốc gia truyền quý giá và công hiệu của Bùi Văn Khuê. Khó chịu vì đã bị bó buộc phải nằm yên gần trót một giờ đồng hồ, Thế Hùng từ từ ngồi dậy trên đống lúa. Chàng cố lắng tai nghe nhưng không phân biệt nổi những tiếng động xa xôi, hỗn độn bên ngoài. Sự vắng mặt hơi lâu của Văn Khuê làm cho chàng lo ngại bứt rứt và liên tưởng đến những nguy cơ đang phảng phất đâu đây.
Thình lình, chàng vùng đứng lên, rút lẹ thanh kiếm đeo bên lưng ra khỏi vỏ trong điệu bộ của người giữ thế thủ. Chàng vừa chợt nghe có tiếng những bước chân đều đều đang tiến về phía kho lúa một lúc mỗi gần. Thề rồi một ánh đèn lóe lên và càng lúc càng sáng tỏ.
Tiếng bước chân ngừng lại trước kho trong khi các tia sáng nhảy nhót khởi sự xuyên qua các khe cửa nhỏ. Kế đó Thế Hùng nghe rõ tiếng chìa khóa lách cách quay trong ổ khóa.
‘‘Ai mở cửa ?’’ Vị công tử hồi hộp tự hỏi như thế và trả lời: ‘‘Có thể là chủ nhân của nhà nầy, và cũng có thể là bọn ưu binh. Vậy ta cần phải hết sức đề phòng trong trường hợp phải đương đầu với quân sĩ của Trịnh Tùng’’.
Nhưng mối lo lắng trên đây của chàng tiêu tan ngay khi cánh cửa kho dần dần hé mở, nhường chỗ cho Bùi văn Khuê và người thiếu phụ tuyệt sắt bước vào.
Thấy Thế Hùng tay cầm gươm, trong dáng điệu oai phong lẫm liệt của một kẻ sẵn sàng chiến đấu, cả hai đều sửng sốt. Họ tưởng chờ gặp trong kho lúa này một bịnh nhơn yếu đuối đang nằm tĩnh dưỡng không ngờ họ lại phải đứng trước một chiến sĩ lành mạnh và hăng hái khác thường.
Văn Khuê lên tiếng trước nhứt tỏ sự ngạc nhiên của mình:
- Ô hay! Hiền đệ đã bình phục chưa mà dám cử động và đứng dậy như thế?
Thế Hùng vội tra gươm vào vỏ, vui vẻ đáp:
- Thưa đại ca, đệ đã khỏe nhiều, và các vết thương đã lành hẳn, không còn gì đáng lo ngại nữa.
Đoạn xây về phía mỹ nhơn chàng tiếp:
- Xin ân nhân thứ lỗi cho về cử chỉ thất lễ vừa rồi của kẻ chịu ơn nầy.
Thiếu phụ mỉm cười:
- Công tử cứ tự nhiên. Sá gì việc nhỏ mọn ấy mà công tử phải bận tâm.
Rồi nàng quay qua phân bua với họ Bùi sau khi đã ngắm nhìn kỹ Thế Hùng:
- Lê công tử quả thật là xứng đáng giòng giõi của một vị khai quốc công thần. Hèn chi lời tục vẫn thường nói: ‘‘Hổ phụ sinh hổ tử’’.
Lời phê bình trên đây làm cho hai chàng tráng sĩ rất đỗi kinh ngạc, nhứt là Lê thế Hùng.
Chàng không hiểu vì sao thiếu phụ lại biết rõ tông tích của mình và tự hỏi sự phát giác nầy có sắp gây cho chàng những hiểm nghèo quan trọng gì chăng ?
Họ Bùi tuy không nghĩ như thế, song không khỏi lấy làm lạ về chỗ thông thạo của mỹ nhơn. Chàng giả vờ bảo người thiếu phụ:
- Xin lỗi phu nhơn, có lẽ phu nhơn đã nhìn lầm anh em chúng tôi.
Mỹ nhơn cất tiếng cười dòn dã, trong như tiếng suối reo:
- Thiếp nhìn lầm ư? Thôi xin nhị vị tráng sĩ đừng giấu thiếp nữa. Nay nhé, để thiếp nói cho mà nghe: ngay từ khi nhị vị đặt chơn xuống đây, thiếp đã rõ nhị vị là ai rồi. Nhị vị chính là kẻ thù không đội chung trời của chồng thiếp, tức Bình an Vương Trịnh Tùng vậy.
Những tiếng cuối cùng buông rơi khỏi cửa miệng của thiếu phụ khiến Lê thế Hùng giựt mình biến sắc, song Bùi văn Khuê vẫn thản nhiên vì chàng đã nghe lốm được sự bí mật ấy lúc nãy, khi chàng đứng rình viên tướng ưu binh Nguyễn Bạch.
Sau khi ngẫm nghĩ giây lát, thiếu phụ lại tiếp:
- Tuy nhiên như nhị vị tráng sĩ đã thấy, mặc dầu là người của chúa Trịnh, nhưng thiếp không hề tán thành hay phụng sự chánh sách khắc nghiệt bạo ngược của kẻ độc tài, đã gây ra biết bao nhiêu điêu đứng khốc hại cho lê dân. Vì nghịch cảnh khiến xui từ bấy lâu nay thiếp đành dấn thân vào một cuộc đời tù hãm, nhưng luôn luôn thiếp vẫn tự nhủ rằng mình có phận sự phải tận tâm giúp đỡ những trang anh hùng nghĩa sĩ đang đứng bên hàng ngũ của dân chúng bị bốc lột, bị áp bức để chống lại cường quyền. Đó chính là một cách để thiếp cố chuộc tội lỗi của mình vậy.
Giọng nói chân thành và cảm động của mỹ nhơn cũng như dung nhan diễm lệ của nàng quả thật có một mãnh lực chinh phục vô hình đối với hai chàng hiệp sĩ. Nhìn nàng, nghe nàng giải rõ những nỗi u uẩn, trái ngược của lòng, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng cảm thấy bâng khuâng, bùi ngùi vô hạn.
 
Đồng thời, họ không giấu được một niềm kính trọng xen lẫn mến thương đối với nàng, người thiếu phụ kỳ dị có một tâm hồn thanh cao, khẳng khái, mà đây là lần thứ nhứt, họ được gặp trên bước đường phiêu bạt giang hồ.
Trong khi nhị vị công tử đứng sửng sờ trước những tiết lộ hết sức bất ngờ, thì họ Bùi ngỏ lời với nàng:
- Anh em chúng tôi xin thành thật khen tặng phu nhơn. Lòng tri ân của chúng tôi tặng thêm nặng nề sâu xa hơn khi biết rõ cảnh ngộ éo le mà phu nhơn vừa bày giải. Bây giờ đây, trước khi xin phép từ giã lên đường, anh em chúng tôi rất mong mỏi được phu nhơn cho biết quý danh để về sau mãi mãi ghi vào tâm khảm kỷ niệm không phai mờ của một ân nhân, một cứu tinh, và hơn nữa một người cùng chung chí hướng...
Mân mê tà áo một cách uyển chuyển và duyên dáng, thiếu phụ đáp:
- Tráng sĩ đã có lòng hỏi đến, thiếp đâu dám từ nan. Nhưng thiếp yêu cầu quý vị một điều là xin đừng nhắc nhở đến vấn đề ân nghĩa nữa. Tiện thiếp họ Nguyễn tự là Thúy Loan, xuất thân con nhà danh giáo. Phụ thân thiếp trước đây làm quan đến chức tri phủ, bị kẻ gian dèm pha nên bị lưu đày, phải bỏ mình nơi chốn rừng thiêng nước độc. Bơ vơ không nơi nương tựa, mẹ con thiếp đưa nhau trở về Tây đô tìm kế sanh nhai, không ngờ lại gặp lũ tay sai của Trịnh Tùng dòm ngó. Thấy thiếp có chút nhan sắc, chúng bắt thiếp đem nạp cho chủ chúng. Thế là từ đó thiếp bắt đầu một cuộc sống thừa, tủi nhục kéo dài cho đến ngày nay.
Nói đến đây, hai giọt lệ bất giác rưng rưng hai bên khóe mắt của người thiếu phụ...
Ngừng một lát, Thúy Loan (tên nàng thiếu phụ) tiếp:
- Kiếp sống thừa của thiếp càng âm u khó thở hơn vì kể từ ngày đặt chân vào trong phủ Chúa, mắt thiếp phải mục kích rõ bộ mặt thật kinh tởm của Trịnh Tùng, có thể bảo con người đó là hiện thân của Bạo tàn Gian ác. Quanh năm suốt tháng cùng với một bọn tay sai xu nịnh, Trịnh Tùng chỉ lo bày mưu thiết kế để diệt trừ những bực trung thần, giết hại đức Vua tự tiện thi hành việc phế lập, hạ lịnh đầu độc kẻ mầy, thắt cổ kẻ kia, gây ra biết bao nhiêu, tội tày trời trong cung cấm... Trước cảnh tượng ấy, thiếp tuy sống trên bạc vàng nhung lụa, mà vẫn có cảm tưởng rằng mình đang đắm chìm trong một cảnh địa ngục ghê rợn, hãi hùng. Tại đó dường như phảng phất vô số oan hồn, cứ đêm đêm hiện lên đòi mạng. Phẫn uất vì bị kích thích, đôi khi thiếp cũng muốn lợi dụng địa vị của mình, toan liều một thác, hạ thủ Trịnh Tùng để vì nước vì dân trừ hại, song, khốn nỗi, thiếp chỉ là một nữ nhi, chơn yếu tay mềm, thiếu hẳn can đảm và nghị lực.
Ấy là chưa kể hiện thời thiếp còn bị những kẻ xung quanh dò xét, nghi ngờ. Điều may mắn là tối nay, xin phép về đây thăm mẹ già, thiếp hân hạnh được hội ngộ cùng nhị vị tráng sĩ mà thiếp đã nghe danh và rất tán thưởng lòng yêu nước cùng những thủ đoạn siêu quần xuất chúng. Vậy thiếp cầu mong rằng nhị vị sẽ sớm thành công trong việc lật đổ họ Trịnh và phá tan cái ách chuyên chế đang đè nặng lên toàn dân... Về phần thiếp, thiếp xin cam đoan rằng, từ này về sau, bất luận gặp cơ hội nào mà nhị vị cần đến, thiếp xin luôn luôn sẵn sàng góp chút sức hèn của mình vào nhiệm vụ chung...
Bùi văn Khuê lễ phép và ôn tồn đáp:
- Những điều phu nhơn vừa thốt ra có giá trị của những lời chỉ giáo mà anh em chúng tôi xin thọ lãnh. Bây giờ đã đến lúc mà chúng tôi xin giã từ phu nhơn để ra đi. Lẽ tự nhiên là chúng tôi sẽ không thể nào quên được cái ân sâu của một vị nữ cứu tinh mà chúng tôi mong sẽ có ngày báo đáp...
Nàng Thúy Loan hơi ngạc nhiên:
- Ô hay ! Nhị vị tráng sĩ định khởi hành sớm thế à? Sao không đợi đến khuya hãy đi, ít nguy hiểm hơn.
Vả chăng Lê công tử hình như chưa được khóe khoắn lắm.
Họ Bùi mỉm cười:
- Đa tạ lòng tốt của phu nhơn. Anh em chúng tôi không sợ hiểm nguy vì đã có sẵn lốt cải trang này rồi.
Vừa nói chàng vừa giơ tay chỉ bộ nhung phục ưu binh đang khoác trên mình.
Lê thế Hùng vội vã nối lời bạn:
- Riêng tôi, nhờ ơn phu nhơn cho tạm nghĩ tại đây và nhờ thần dược của đại ca tôi, nên hai vết thưong đã lành hẳn. Vậy đã tới lúc anh em chúng tôi tự thấy không còn dám quấy nhiễu phu nhơn hơn nữa. Thôi, chúng tôi xin cúi chào phu nhơn ở lại bình an.
Văn Khuê cũng nghiêng mình, tiếp:
- Và chúng tôi xin kính gởi lời chào từ biệt và tỏ lòng tri ân cùng lịnh mẫu.
Lòng bâng khuâng, man mác, người thiếu phụ đáp lễ lại hai chàng tráng sĩ.Nàng cảm thấy hơi nghẹn ngào vì không cầm giữ được họ lâu hơn và luyến tiếc những giây phút hội kiến quá phù du, ngắn ngủi.
Một áng mây buồn đột nhiên giăng qua vầng trán của nàng. Thẩn thờ, Thúy Loan buông rơi mấy tiếng:
- Thôi thiếp cũng chúc nhị vị lên đường gặp nhiều may mắn và hy vọng rằng dịp tái ngộ sẽ không xa.
Giọng nói run run vì xúc động của nàng như thoáng xen một vài tiếng nấc. Thiếu phụ từ từ ngước mặt lên. Đôi mắt của nàng gặp gỡ một lần cuối đôi mắt của Bùi văn Khuê. Hai người nhìn nhau yên lặng, sự yên lặng bao hàm biết bao lời trao đổi chứa chan.
Nhưng Thế Hùng đã nắm tay bạn thúc dục, kéo chàng lực sĩ trở về với thực tại:
- Nhanh lên đại ca. Kể từ lúc tiểu đệ bị thương, chúng ta đã mất nhiều thì giờ quý báu lắm rồi.
Như chợt tỉnh, Văn Khuê bèn trao bộ võ phục ưu binh đã đoạt được cho vị công tử. Đoạn cả hai từ giã Thúy Loan lần chót rồi dẫn nhau bước ra giữa sân. Tại đó, họ nhảy lên mái nhà và lẫn mình vào trong đêm tối...
 
* * *
Khác hẳn lệ thường, tuy đã hết giờ Hợi qua giờ Tý, mà tất cả đèn đuốc trong phủ Chúa đều sáng rực như ban ngày. Trước cửa và xung quanh phủ, các vệ sĩ dàn ra canh gác rất nghiêm nhặt, làm thành một bức hàng rào gươm đao tua tủa, khiến người ngoài trông thấy phải lạnh mình.
Trong phủ. từng hồi, những tiếng quát nạt lại vang như sấm chuyển, xen lẫn với tiếng vỗ bàn ầm ầm và tiếng đồ đạc bị hất đá, xô đẩy.
Đó là những tiếng quát the thé của Bình an Vương, những tiếng quát mà người ta thường nghe mỗi khi vị chúa tệ của Tây đô nỗi cơn thạnh nộ.
Tuy nhiên, đây là lần thứ nhứt mà trận lôi đình của ông đã lên đến cực độ. Trước vẻ khủng khiếp, run sợ của tất cả thuộc hạ hiện diện trong Phủ, Trịnh Tùng vừa hầm hầm gào thét, vừa vùng vằng chạy qua chạy lại như một con hổ dữ bị thương.
Ông ta đấm thình thịch gần nát mặt bàn và xô ngã, ném bể bất cứ vật gì mà ông ta gặp.
Tất cả các võ quan và binh sĩ đứng hầu hai bên, kể cả Thái phó Nguyễn hữu Liên, đều lặng lẽ cúi mặt hứng lấy cơn giận giữ ghê gớm đang trút lên đầu họ.
- Các ngươi có biết không? Chúa Trịnh hét- Cả lũ các ngươi chỉ là phường ăn hại. Thật uổng phí cho ta đã tốn bao nhiêu công của để tập luyện cho các ngươi, làm nở mày nở mặt các ngươi bằng cách gia ban tước nầy, phẩm nọ. Ấy thế mà các ngươi đành bỏ tay bất lực trước hai tên phiến loạn nhái con là Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê để cho chúng ngang nhiên đại náo kinh thành, chém binh giết tướng như ở chỗ không người thì còn gì thế thống của ta, của triều đình nữa! Nầy! Hãy chổng tai lên mà nghe, nếu ví thử hai tên giặc kia có lẻn vào đây mà thích khách ta, chắc các ngươi cũng sẽ chỉ giương mắt ếch lên mà nhìn, có phải vậy không?
Dứt lời, Trịnh Tùng lần lượt nhìn khắp mọi người như muốn ăn tươi nuốt sống cái đám thủ hạ kém cói, bất tài ấy và lặp lại:
- Có phải vậy không? Hởi lũ khốn kiếp?
Lẽ tự nhiên, không ai dám đáp lại những lời nguyền rủa đay nghiến, ray rứt của Trịnh Tùng. Một bầu không khí nặng nề, khó chịu bao trùm lấy đám đông người, đầu cuối gầm, đang đứng sửng như những pho tượng gỗ.
Bỗng nhiên, bên ngoài, tiếng vó ngựa lộp cộp vọng vào, phá tan cảnh trầm ngâm, im lặng ngắn ngủi vừa rồi. Đó là những trinh sát viên có phận sự theo dõi cuộc hành binh truy nã, đang lần lượt đem tin tức về phi báo.
Thoạt thấy họ, bao nhiêu cặp mắt đều hướng nhìn ra. Vẻ hồi hộp, trông ngóng hiện rõ trên các khuôn mặt sa sầm và mệt mỏi.
Trịnh Tùng là người nóng nảy, nôn nao muốn biết kết quả
cuộc truy đuổi hơn ai hết thảy. Không đợi chờ hai thám tử vượt qua ngưỡng cửa và đặt chưn vào phòng, ông đã lớn tiếng quát hỏi :
- Thế nào ? Quân ta đã nắm cổ được hai tên phản nghịch đó chưa ?
 
Một trinh sát viên đáp:
- Bẩm thiên tuế, chưa. Hai tên giặc ấy, sau khi giết thác tướng Thái Ngột đã rời khỏi Hoàng hạc Lâu và nhảy lên mái nhà tẩu thoát.
Chúa Trịnh nghiến răng, giậm chơn thình thịch:
- Cha chả! Chúng nó tẩu thoát rồi à? Tại sao lũ ưu binh ăn hại kia lại để cho chúng thoát thân? Tại sao không có lấy một đứa nào nhảy theo kịp lên mái nhà để bắt chúng?
Viên thám tử run sợ, vội thưa:
- Dạ, bẩm Thiên tuế, có. Trong khi quân ta từ dưới mặt đất, mở cuộc xạ kích ráo riết, thì một mình Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch phi thân lên mái ngói, quyết theo dấu vết của hai tên phiến loạn.
Nghe nhắc đến mấy tiếng ‘‘Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch’’, Thái phó Nguyễn hữu Liên giựt mình, biến sắc. Đồng thời, ông linh cảm thấy một nguy cơ ghê gớm xẩy đến cho đứa con yêu dấu của mình.
Vị Thái phó không còn lạ gì tài nghệ của Bùi văn Khuê mà ông đã từng chứng kiến trước đây tại Nghệ an, trong vụ cướp phá tù xa khiến Trương Bảo phải bỏ mạng.
Trương Báo và Thái Ngột, là những tay anh hùng vốn nổi danh siêu quần, bạt tụy mà còn bị họ Bùi hạ thủ một cách dễ dàng, huống hồ là một gã thiếu niên võ nghệ còn non nớt như Nguyễn Bạch.
Quả lo lắng cho sự dại dột, liều lĩnh của con mình, sự liều lĩnh sẽ đưa đến một cái chết không tránh khói, chỉ suýt nữa, Nguyễn hữu Liên đã quên, không chú ý đến lời khen của chúa Trịnh. Vì lúc ấy, Bình an vương đang hăm hở phán rằng:
- Hay lắm! Các ngươi đã thấy? Nguyễn công tử, con trai của quan Thái phó đây, thật đáng làm gương cho hàng vạn kẻ khiếp nhược, tham sinh húy tử.
Đoạn xây về phía viên thám tử, Trịnh Tùng hỏi tiếp:
- Rồi sao nữa? Cuộc truy nã hiện đang tới đâu rồi?
Gã trinh sát viên ấp úng, bối rối:
- Bẩm Thiên tuế, thừa lúc đêm tối, hai tên phiến loạn đã mất hút vào trong bóng đen nên không tài nào theo dấu chúng được nữa...
Chúa Trịnh gầm lên:
-   Nhà ngươi bảo sao? Chúng nó mất dạng rồi à? Thế còn Nguyễn Bạch?
- Bẩm Thiên tuế - viên thám tử đáp - Nguyễn tướng quân cũng đã mất tích luôn. Liền theo đó, quân ưu binh đã nỗ lực tìm kiếm và mở cuộc khám xét tại khắp các ngôi nhà ngay trong vòng kế cận đó.
Bình an Vương hầm hầm nét mặt:
- Cuộc lục soát ấy có thâu hoạch được mảy may kết quả gì không?
- Bẩm, quân ta tuyệt nhiên không nhận thấy dấu vết gì hết. Chẳng rõ hai tên giặc ấy đã làm thế nào để thoát thân trong khi binh sĩ triều đình đã bao vây khắp bốn mặt thành? Không lẽ hiện thời, chúng còn ẩn núp trên các mái nhà? Thât là khó hiểu.
Trịnh Tùng thở hắt ra, ném thẳng một câu vào mắt kẻ đối thoại :
- Đối với lũ khốn kiếp như chúng bây, cái gì mà chẳng khó hiểu ? Thôi! Cút ngay cho khỏi bẩn mắt ta.
 
Bị mắng oan, hai viên trinh sát lặng lẽ và lủi thủi bước ra như hai cái bóng, vẻ mặt nhẫn nhục và đành phận của họ chứng tỏ rằng họ đã quá quen với tính bất thường và bất công của vị chúa tể Tây đô.
Khi họ đi rồi, chúa Trịnh bèn hỏi Nguyễn hữu Liên:
- Theo ý quan Thái phó thì hai tên phản nghịch Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê đã trốn thoát khỏi kinh thành chưa? Và bằng cách nào?
Hữu Liên suy nghĩ một lát và đáp:
- Bẩm Thiên tuế, ty chức đoán rằng chúng có thể thoát khỏi bằng cách trá hình làm thường dân hay binh sĩ. Căn cứ vào thủ đoạn của chúng mà xét thì ngày giờ nào chúng còn ở ngoài vòng pháp luật, tất nhiên chúng còn tiếp tục gây rối quan trọng cho Triều đình. Vì Vậy, tới tối hôm nay, nếu Thế Hùng và Văn Khuê chưa sa lưới, thì điều khẩn yếu mà chúng ta phải lo để phòng là việc rước đệ tam Hoàng tử Duy Đàm từ huyện Thùy Nguyên về đây.
Chắc Thiên Tuế, còn nhớ rằng chính hai tên giặc đó đã cướp mất hai hoàng tử con của vua Anh Tôn, tại Nghệ an hôm nọ. Lẽ tất nhiên, hôm nay, chúng cũng sẽ không tha hoàng tử thứ ba. Vả chăng, sự xuất hiện bất thần của chúng ở Tây Đô đúng vào lúc Thiên tuế phái quân đi nghinh đón Thái tử Duy Đàm là một hành động cố ý, đã được trù tính trước, chớ không phải là chuyện tình cờ.
Chột dạ, Trịnh Tùng lo lắng, gục gặt đầu:
- Ừ nhỉ! Quan Thái phó không nói thì ta quên mất. Chắc Văn Khuê và Thế Hùng liều lĩnh đột nhập kinh thành là để phá hỏng kế hoạch ‘‘tôn quân’’ của chúng ta. Vậy, bây giờ phải làm thế nào?
Nguyễn hữu Liên đáp:
- Bẩm, không khó lắm! Xin Thiên tuế cứ gấp rút hạ lịnh cho đoàn quân đi đón đệ tam Hoàng tử phải thình lình thay đổi lộ trình và giờ phút khởi hành tại huyện Thùy Nguyên. Lẽ tất nhiên, sự đảo lộn chương trình đó sẽ làm cho hai tên phiến loạn kia phải lạc lối và rốt cuộc, chúng hết phương phá hoại.
Chúa Trịnh mỉm cười, khen ngợi:
- Hay lắm ! Thật là diệu kế.
 
 
 
Trang 163
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.09.2020 09:38:50 bởi Thanh Vân>
Qua những giải đồng không mông quạnh, những làng mạc xơ xác, điêu tàn vì binh lửa đã đi qua, hai tráng sĩ Bùi, Lê đến Thăng Long, đất nhà Mạc, vào một buổi bình mình tươi đẹp.
Thành phố tưng bừng như ngày hội, dân chúng tấp nập như kiến cỏ. Họ hì hục đào cuốc suốt mấy dặm bao quanh cổ thành...
Hàng vạn con người, cuổc xuổng trong tay, móc đất đắp thành lũy. Họ hát ca vang dậy cả một góc trời.
Bùi văn Khuê bảo nhỏ với Thế Hùng :
- Hiền đệ thấy không? Mạc mậu Hiệp quyết phòng thủ Thăng Long đến cùng, đã ra lịnh cho dân chúng đào ba lần hào, đắp ba từng lũy, quân Trịnh Tùng có thiện chiến đến đâu cũng khó mà phá được thành.
Thế Hùng cất tiếng lo ngại:
- Đệ không tin tưởng như đại huynh, họ Mạc có đắp thêm mười từng lũy, đào mười lần hào cũng khó thắng họ Trịnh. Đệ chắc chắn như vậy.
Họ Bùi kinh lạ nhìn bạn:
- Hiền đệ nói như vậy là ý gì?
Thế Hùng chậm rãi đáp:
- Họ Trịnh dùng trí còn họ Mạc dùng sức người thì làm thế nào thắng được. Đại huynh nhớ rõ, từ khi chúng ta qua khỏi Sơn Nam và vào đến Thăng long, có một ai đến tra xét hay cật vấn chúng mình không? Một kinh đô đang chuẩn bị chiến tranh mà thả lỏng cửa thành làm sao thắng được. Hơn nữa Trịnh Tùng còn cả một đội trinh thám vô cùng lợi hại dưới tay. Không biết chừng đâu chúng đã tổ chức những cơ quan bí mật cùng khắp Thăng Long rồi cũng nên... Họ Mạc lo đào hào đắp lũy chỉ là phí công vô ích...
Bùi văn Khuê cho lời bạn là đúng. Thật ra chính chàng cũng chưa nghĩ đến việc đó. Vừa nói chuyện hai người đã vừa tiến vào nội thành lúc nào không hay. Thành Thăng Long đẹp đẽ, đường sá ngay thẳng, rộng thênh thang, hàng phố chưng bày đẹp mắt.
Bụng đã thấy đói, họ Bùi liền rủ bạn vào một tửu quán có lầu để dễ bề quan sát thành phố. Họ đi thẳng lên lầu tìm một nơi gần cửa sổ trông thẳng xuống đường. Một tên hầu bàn bước tới cúi chào thật lễ phép. Sau khi kêu thức ăn, họ Bùi bèn hỏi hắn:
- Kinh thành hôm nào cũng rộn rịp như vậy?
- Dạ thưa không ! Chỉ mới tháng trước trở lại đây, Chúa kêu gọi xây lại cổ thành Đại La để phòng quân Trịnh, mới có vẻ tấp nập thế này. Nhị vị tráng sĩ từ xa mới đến đây ư?
Bùi văn Khuê nghiêm trang đáp:
- Vâng! Chúng tôi từ Sơn Nam tới.
- Nếu vậy thì may mắn vô cùng. Nhị vị còn ở chơi lâu chứ? Ồ, thành phố về đêm còn vui vẻ hơn nhiều. Để hai vị dạo thử Thăng Long một đêm cho biết sự náo nhiệt khác thường.
Tánh tình vui vẻ khôn ngoan của tên hầu bàn làm cho hai họ Bùi, Lê vui thích, nhưng Bùi văn Khuê không khỏi ngờ vực trong lòng vì cặp mắt láo liên của hắn trông không có vẻ thật tình.  Nhưng chàng cũng cho rằng đấy có lẽ sự xảo quyệt của kẻ buôn bán mà thôi.
Bỗng từ dưới kia đường có tiếng xôn xao, tiếng người la vang, và các cửa tiệm đua nhau đóng cửa rầm rầm. Kinh ngạc, Bùi văn Khuê cùng Thế Hùng đến bên cửa sổ nhìn xuống. Đường phố thoảng chốc trở thành hỗn loạn, người ta chạy ùn ùn đổ ra phía ngoài thành.
Không lý giặc từ trong cung, điện đánh ngược trở ra? Mà quân sĩ đâu không thầy ứng phó? Tiếng kêu khóc của đàn bà, trẻ con chạy đạp lên nhau nghe thảm thiết...
Một lúc sau, đường phố vắng tanh như ngày loạn lạc. Không ai dám hé cửa ra đường. Tên hầu bàn lúc nãy trở lên bảo Bùi văn Khuê và Thế Hùng :
- Nhị vị tráng sĩ an lòng! Không có chi đáng ngại, con Thiên linh Hổ của nha Chúa xổng chuồng chạy ra phố, nên dân chúng hãi hùng đến thế.
Bùi văn Khuê lấy làm lạ:
- Một con hổ dữ xổng chuồng mà tướng sĩ của chúa Mạc không trừ khử được ư? Phải để cho dân chúng kinh hoàng như vậy sao ?
Tên hầu bàn khẽ đáp :
- Tráng sĩ đừng lấy làm lạ, ‘‘Thiên linh hổ’’ là một con vật quí nhất của chúa Mạc. Nó xổng chuồng thì tìm cách bắt sống nó lại chứ không được dùng vũ khí. Nó mà mệnh hệ nào thì kẻ trừ khử được nó cũng khó toàn tánh mạng.
Bùi văn Khuê hơi tức trong lòng, chàng hỏi gằn lại:
- Như vậy, chúa Mạc để mặc tình cho con hổ ấy giết hại dân lành ư?
Tên hầu bàn khẽ gật đầu:
- Mỗi lần hổ xổng ra, ít nhất cũng đến mười mạng người làm mồi cho nó.
Bùi văn Khuê nghiến răng đứng dậy :
- Không thể được ! Ta phải can thiệp để hạ con cọp dữ ấy!
Chàng chưa dứt lời, từ dưới kia đường phố vang lên một tiếng gằm long trời chuyển đất.
Bùi văn Khuê và Thế Hùng bước tới bên cửa sổ. Dưới kia một cảnh tượng kỳ di hiện ra trước mắt: một con hổ Mun, sắc đen huyền to lớn, bằng một con bò mộng, đuôi dài phết đất, đang hầm hừ nhe nanh dọa một tốp lính tuần lấp ló xa xa.
Họ Bùi đoán chắc đó là con ‘‘Thiên Linh Hổ’’ của chúa Mạc mậu Hiệp. Chúa sơn lâm bước chậm rãi trên đường như người đi dạo phố, chỉ thỉnh thoảng quay lại nhe nanh dọa nạt bọn lính tuần theo sát không buông...
Bùi văn Khuê từ trên lầu cao nhẹ nhàng phóng mình xuống đất giữa sự kinh ngạc của mọi người. Bọn lính tuần hét vang lên:
- Tên kia ! Chạy mau, bộ ngươi muốn tự tử ư ?
Viên tướng chỉ huy cuộc rượt bắt ‘‘hổ’’ vội rẽ đám lính sang bên để nhìn rõ họ Bùi... Hắn e ngại Bùi văn Khuê dùng đến vũ khí mà ‘‘Thiên linh hổ’’ có chết đi hắn sẽ bị tội lây...
Thế Hùng thấy bạn nhảy xuống, sợ bạn gặp nguy cũng vội vàng phóng mình theo. Chân chàng vừa chấm đất thì đã nghe tiếng họ Bùi quát to:
- Hiền đệ lui ra, có sá gì con hổ đói nầy mà hiền đệ bận tâm cho nhọc xác.
Thế Hùng không biết làm sao đành phải nép mình vào mái phố chờ đợi lúc nguy ngập sẽ vào tiếp tay với bạn.
Bao nhiêu cặp mắt hướng về phía con hổ và họ Bùi. Bao nhiêu trái tim đều hồi hộp lo âu. Từ trên lầu các phố đã thấy đông nghẹt những người chen chúc nơi cửa sổ ra hành lang hoặc leo tận trên nóc lầu để nhìn cuộc tranh hùng kỳ dị giữa người và ác thú.
Hổ đã dừng hẳn lại, tức giận nhìn kẻ điên rồ đang đứng cản đường. Cặp mắt long lanh sáng quắc của nó chiếu thẳng vào miếng mồi ngon tự dưng mang đến nạp.
Bùi văn Khuê thản nhiên nhìn thẳng vào mắt nó. Chàng đang nghĩ đến những thế võ có thể khuất phục Thiên linh Hổ dễ dàng. Hổ kia ý chừng có linh cảm là kẻ địch của mình không phải tay vừa, nên thay vì phóng tới để kết liễu cuộc đời họ Bùi, nó lại thối lui nhiều bước rồi thu mình ngồi xuống,
Bùi văn Khuê cũng ngạc nhiên không ít. Chàng chưa hiểu hổ kia định dở trò gì? Nó không tấn công chắc đang bày ra thế thủ hiểm độc chứ cặp mắt chàng không đủ sức khuất phục nó mau mắn như vậy. Chàng từ từ bước lên chầm chậm. Bất ngờ, hổ vọt ra phía trước, hai chân chụp lên đầu chàng. Lẹ làng, họ Bùi hét lên một tiếng, thụp mình xuống cho qua lần hổ chụp rồi đánh thẳng một quyền vào hông hổ. Sau một tiếng ‘‘phịch’’ nặng nề, hổ lật ngang mình rơi xuống vệ đường.
Bị đau, con vật gầm thét dữ dội. Đôi mắt giết người của nó đỏ ngầu. Nó vẫy đuôi, rồi xông thẳng vào mình Bùi văn Khuê chụp lấy chụp để.
Trước sự hung hăng của hổ, Bùi văn Khuê càng trổ tài né tránh. Chàng cố sức vờn nhau với hổ càng lâu càng hay để cho nó mệt nhừ mới dễ dàng ra tay bắt sống.
Bọn lính tuần và dân chúng đã phục tài chàng tráng sĩ lạ mặt. Họ đã bớt lo cho tính mạng của chàng nhưng cũng không khỏi hồi hộp. Mỗi lần thú dữ tấn công. Họ kinh ngạt vô cùng và không hiểu Bùi văn Khuê đã dùng những thế võ nào để thoát hiểm dễ dàng.
Viên tướng chỉ huy cuộc đuổi bắt Thiên linh Hổ rất vui mừng vì có người trị được hổ nhưng không khỏi lo ngại như hổ. Không khéo chàng tráng sĩ kia lỡ tay, Thiên linh Hổ vong mạng càng nguy khốn hơn.
Hắn e dè cất tiếng bảo họ Bùi:
- Tráng sĩ ! Nhẹ tay với kẻo giết chết Thiên linh Hổ thì tai họa vào mình đấy.
Dân chúng đứng xem cười ầm lên trước một việc quá trớ trêu: không sợ người bị hổ giết mà đi lo người giết hổ. Nhưng khi nhớ đến lịnh truyền của Chúa Mạc, ai cũng lo giùm họ Bùi.
Chàng tráng sĩ vẫn quần thảo với hổ từ hiệp nầy sang hiệp khác. Chàng không cố ý tấn công để giết hổ nhưng chàng thấy mình khó tránh lâu được vì hổ kia quá dũng mãnh. Nó cứ chụp thẳng vào mình họ Bùi từng đợt một, không thấy sút sức đi một chút nào.
Họ Bùi lo ngại. Nếu không ra tay hạ nó, có lẽ chàng lại mệt trước nó thì nguy. Chàng nghĩ đến một thế võ từ lâu lắm không dùng đến chắc tiện lợi trong lúc này. Thế võ bí hiểm, chàng đã được một ông thầy Tàu, đi mãi võ ngày xưa, truyền dạy.
Thế võ nầy không dùng đến chân tay. Võ sĩ vận dụng hết sức lực lên đầu cho thật cứng rắn để đánh kẻ địch những miếng bất ngờ. Con hổ chỉ dụng thế nhảy bổ lên đầu để vồ lấy người. Né tránh mãi cũng không ăn thua gì, dùng quyền đánh như lúc nẫy rất khó khăn vì bị đau một lần hổ tỏ ra khôn hơn. Họ Bùi chỉ thấy còn một cách dùng đầu đội vào bụng cọp. Chàng tin tưởng chỉ vài miếng đòn đau, hổ sẽ bớt hung hăng và chàng sẽ bắt sống nó dễ dàng.
Vừa nghĩ xong, Bùi văn Khuê thực hành ngay. Đợi cho con ác thú nhảy choàng tới, đưa hai chân ra trước, chàng liền ngồi xuống, vận dụng hết sức lực lên đầu, rồi thình lình nhảy vọt lên đội mạnh vào bụng hổ.
‘‘Con ác thú’’ gầm lên một tiếng đau đớn, lộn nhào bốn năm vòng, giẫy giụa một lúc máu trào ra miệng rồi lịm dần đi...
Tất cả mọi người đứng xem bên ngoài đều vô cùng kinh dị. Một sự im lặng nặng nề đè lên khắp công chúng. Chính Bùi văn Khuê cũng không ngờ thế võ ấy lại ghê gớm đến như vậy. Chàng vội vàng đến bên cạnh hổ xem sao. Con vật của chúa Mạc mậu Hiệp đã tắt thở, mắt nó trợn trừng như uất giận.
Đoàn linh tuần đã vây quanh Bùi văn Khuê và mãnh hổ. Dân chúng ùa đến mỗi lúc mỗi đông.
Viên tướng chỉ uy đoàn lính tuần nhìn thấy hổ rồi nhìn họ Bùi :
- Anh kia! Tài anh đã dùng không nhầm chỗ rồi. Ta đã nói trước là không được giết nó, anh không nghe nên bây giờ phải mắc tội với Chúa.
Họ Bùi cãi:
- Tôi nào có ý định giết chết nó đâu ? Chẳng qua là một sự rủi ro.
Viên tướng cả cười:
-   Tất cả mọi người ở đây đều hiểu rõ là anh không cố ý giết ‘‘Thiên linh hổ’’. Nhưng lịnh Chúa dạy rằng kẻ nào giết chết cọp yêu của của Chúa thì phải đền mạng. Vì nghiêm lịnh đó mà bao nhiêu người phải làm mồi cho hổ rồi, anh biết chăng?
Họ Bùi thở dài nhìn xuống đất. Chàng buồn rầu không phải vì sợ chết nhưng bao nhiêu hy vọng mang theo từ Tây Đô ra đây phút chót tiêu tan. Vì sanh mạng dân lành, chàng ra tay đả hổ, không ngờ mang họa vào mình lại còn hư hại đến việc lớn... Ước vọng cùng Thế Hùng ra Thăng Long quy phục nhà Mạc để một ngày kia diệt trừ Chúa Trịnh Tùng, trả thù cho bao trung thần của nhà Lê chắc chắn sẽ khó lòng thực hiện được, vì ngày nay chàng bỗng dưng trở thành kẻ thù của Mạc mậu Hiệp.
Viên tướng chỉ huy lại cất tiếng:
-       Vậy phiền anh chịu trói để ta dẫn về triều. Bùi văn Khuê hết sức phân vân trong tình thế cấp bách nầy. Chống lại bọn lính tuần, thoát khỏi nơi đây là điều hết sức dễ dàng. Chàng chỉ cần dùng đến võ lực là bọn chúng sẽ chạy tán loạn hết. Nhưng xét cho cùng, như vậy không bao giờ chàng còn thấy được mặt Chúa Mạc. Phải liều vậy họa may còn cứu vãn được tình thế chút nào chăng?
Chàng bình thản đưa tay cho chúng trói, không nói thêm một lời nào.
Dân chúng đã khâm phục tài nghệ xuất quỷ nhập thần của Bùi văn Khuê, trong hoàn cảnh này, ai nấy đều tỏ vẻ mến thương chàng, cả đến toán lính tuần cũng cảm mến tài đức của họ Bùi người mà chúng biết rằng chỉ vung tay lên, chúng cũng đã ngã lăn ra hết.
Vừa nói xong, chưa kịp dẫn đi, đoàn lính tuần đã nghe một tiếng thét kinh hồn. Từ trong đám đông, một người nhảy vọt ra, tay cầm đoản kiếm, miệng quát lớn:
- Khôn hồn mở trói ra, bằng không ta bầm xác chúng bây ra tức khắc.
Toán lính đều rút vũ khí ra nghinh địch. Viên tướng chỉ huy tức giận nhìn kẻ lạ mặt rồi như lạ lùng, sắc mặt của hắn thay đổi từ giận sang vui mừng. Hắn bước tới vài bước nhìn kẻ lạ mặt cho rõ hơn rồi reo lên:
- Ồ kìa ! Lê Công tử. Công tử đến Thăng Long từ bao giờ?
Kẻ lạ mặt ấy chính là Lê thế Hùng. Từ lúc nãy đến giờ chàng yên lặng chứng kiến trận thư hùng giữa Bùi văn Khuê và mãnh hổ, lo ngại vì bạn đã dùng thế hiểm độc hạ sát con vật yêu quý của Chúa Mạc. Chàng không hiểu vì sao Bùi văn Khuê lại lẳng lặng chịu trói, không kháng cự với tốp lính tuần? Đến lúc bắt trói họ Bùi thì Thế-Hùng không còn tự chủ được nữa. Chàng rút kiếm xông vào quyết giải vây cứu bạn.
Không ngờ tên tướng chỉ huy đoàn lính tuần lại nhìn mặt được Thế Hùng. Tiếng reo mừng của hắn làm cho vị công tử chú ý và, chỉ trong chớp mắt, chàng nhớ ngay tên đội trưởng Tiểu lý Quảng ngày xưa đã từng hầu dưới trướng của cha chàng là Quận Công Lê cập Đệ
Chàng cũng đổi giận làm vui:
- Kìa, Lý Quảng tướng quân còn nhìn được tôi ư?
Lý Quảng cười hà hà, chạy đến bên chàng:
- Trời! Có đời nào Lý Quảng này quên được công tử.
Hắn nắm chặt hai vai Thế Hùng một cách trìu mến, giữa sự ngạc nhiên đến cực độ của đoàn lính tuần. Phút vui mừng gặp gỡ đã qua, Lý Quảng bỗng hỏi Thế Hùng:
- Thái Quận công vẫn mạnh hả công tử?
Thế Hùng cúi đầu nhìn xuống đắt, gương mặt rầu rầu.
Lý Quảng kinh ngạc hỏi dồn dập:
- Công tử ! Có việc gì đã xảy ra cho Quận công rồi ư ?
Thế Hùng nhìn lên đau xót:
- Phụ thân tôi đã bị Trịnh Tùng ám hại mất rồi, luôn cả đức vua Lê Anh Tôn và quan Ngự sử Đặng Phương.
Lý Quảng buột miệng kêu lên:
- Trời ơi ! Quân Trịnh tàn ác đến thế là cùng !
Lê thế Hùng ngắt ngang lời hắn:
- Câu chuyện còn dài, để rồi tôi sẽ thuật cho tướng quân nghe. Chúng ta nên lo vấn đề hiện tại. Người vừa đánh chết mãnh hồ là Bùi văn Khuê, vị ân nhân mà cũng là người bạn kết nghĩa của tôi. Tướng quân có liệu cách nào cứu anh ấy thoát hiểm họa được chăng ?
Vui mừng gặp lại chủ cũ. Lý Quảng quên phăng câu chuyện rắc rối hiện tại. Bây giờ câu nói của Thế Hùng đã kéo hắn trở về thực tế.
Lý Quảng cảm thấy bối rối vô cùng, một bên là chủ cũ, một bên là nghiêm lịnh của Chúa Mạc, gã không biết phải liệu định thế nào cho ổn thỏa cả đôi đường.
Nhưng Bùi văn Khuê cất tiếng giúp hắn qua khỏi cơn bối rối:
- Lý tướng quân đừng lưỡng lự gì cả. Cứ mang bọn ta vào nạp cho Chúa Mạc là êm chuyện.
Lê Thế Hùng ngạc nhiên nhìn bạn:
- Đại huynh nghĩ thế nào mà lại bảo như vậy?
Bùi văn Khuê trấn an lòng bạn:
- Hiền đệ cứ an tâm. Ta đã nghĩ kỳ rồi. Chỉ có cách ấy chúng ta mới dễ dàng ra mắt Chúa Mạc, miễn Lý tướng quân biết nghĩ đến bọn ta mà tâu giùm vài lời.
Nói những câu sau cùng, họ Bùi liếc nhìn Lý Quảng. Viên tướng nhà Mạc khẽ mỉm cười:
- Nhị vị tráng sĩ an Lòng. Dù sao vẫn còn có tôi.
Lý Quảng sai quân mở trói cho họ Bùi, rồi mời hai tráng sĩ lên ngựa vào triều bệ kiến Chúa Mạc mậu Hiệp, Lê Thế Hùng cùng bạn vào ra mắt Chúa Mạc nhưng trong lòng không khỏi hồi hộp lo âu. Lỡ ra Mạc mậu Hiệp vì tiếc con hổ quý, hạ lịnh xứ tử họ Bùi thì không làm sao trở tay cho kịp...
Qua cửa Hòa bình và Cung nội, thay vì đưa Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vào triều, Lý Quảng dẫn họ đến diễn võ trường nơi. chúa Mạc mậu Hiệp đang thử tài các tướng.
 
Võ trường rộn rịp, quân sĩ đứng vòng quanh, cờ xí rợp trời tiếng kèn thúc giục vang lên inh ỏi. Trên khán đài bao quanh võ trường chính. Chúa Mạc và các quan trong triều, đang ngồi xem các tướng trổ tài.
Lý Quảng dẫn đoàn người ngựa đến trước khán đài. Chúa Mạc ra lịnh ngưng cuộc thi võ. Chúa Mạc nhìn họ Lý và hai kẻ lạ mặt ngạc nhiên hỏi:
- Lý Quảng! Đã đem ‘‘Thiên linh Hổ’’về chưa. Hai gã kia là ai vậy ?
Giữa lúc ấy Bùi văn Khuê và Thế Hùng đã xuống ngựa. Họ cúi đầu nhìn xuống đất và sẵn sàng chờ đợi cơn thịnh nộ của nhà Chúa.
Lý Quảng vòng tay trước Mạc mậu Hiệp:
- Tâu Chúa Công, ‘‘Thiên-Iinh-Hổ’’ không may thiệt mạng
rồi.
Chúa Mạc bỗng đứng phắt dậy hét lớn:
- Thiệt mạng rồi ! ‘‘Thiên linh Hổ’’ chết !
Sự tức giận đã làm cho đôi tay Chúa run run, cặp mắt đỏ ngầu, đôi mắt mấp máy như chực truyền lệnh trảm tử kẻ đã vi phạm nghiêm lệnh của mình. Tất cả các quan văn võ hiện diện đều im thin thít. Giờ phút này tánh mạng của con người như một sợi chỉ mành ...
Lý Quảng đã mất hết sự bình tĩnh, nhưng khi nhớ đến hai tráng sĩ Bùi, Lê và phận sự mình phải làm để đáp nghĩa xưa, hắn rạp mình xuống trước khán đài :
- Lạy Chúa công, bớt cơn thịnh nộ để cho tiểu tướng tâu rõ nguồn cơn. Đây là một sự rủi ro không ngờ trước được. Thiên Linh Hổ xông ra, gây náo loạn khắp cả hoàng thành, tiểu tướng dẫn quân tuần cảnh rượt theo, chưa làm gì được thì tráng sĩ đây tới kịp chặn đường, không ngoài ý muốn bắt nó giúp Chúa công. Thần xin thề không dám nói ngoa, tráng sĩ chỉ dùng tay không đả hổ. Hai bên quần thảo một lúc, tráng sĩ kia dùng đến cách đánh bằng đầu vào bụng hổ. Thật rủi ro ! ‘‘Thiên linh Hổ’’ ngã lăn ra chết.
Trước câu chuyện lạ lùng ấy, cả vũ trường xôn xao bàn tán. Không một ai tin nhất là các tướng của Chúa Mạc đều cho là chuyện bịa đặt để gỡ tội...
Giữa lúc Chúa Mạc chưa nguôi cơn giận thì quân sĩ đã khiêng xác Thiên linh Hổ vào đến nơi. Mạc mậu Hiệp thân hành xem xét thấy con hổ yêu mến của mình. Khắp thân thể Thiên linh Hổ không có lấy một vết thương nào chứng tỏ đã bị giết không bằng vũ khí. Lúc ấy, Chúa Mạc mới để ý nhìn qua kẻ tội phạm.
Bùi văn Khuê nghĩ rằng đã đến lúc mình phải nói một đôi lời. Chàng quỳ xuống trước mặt Mạc mậu Hiệp và nói:
- Tâu Chúa công, thực tình tiểu tướng không cố ý sát hại ‘‘Thiên linh Hổ’’, chẳng qua vì gặp sự rủi ro.
Nhà Chúa chăm chú nhìn họ Bùi. Một ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu ông. Mất ‘‘Thiên linh Hổ’’ ông lại được thêm một tướng tài như gã lực sĩ nầy cũng không uổng lắm. Nhưng ông nghĩ cần phải thử tài họ Bùi xem sao. Nhưng người chợt nhìn thấy Lê thế Hùng vẫn đứng ngang nhiên không nói một lời, Chúa Mạc hất hàm hỏi:
- Gã kia là ai vậy?
Thế Hùng cúi đầu thi lễ. Chàng chưa kịp đáp, Lý Quảng đã cướp lời tâu:
- Lạy Chúa công, đây là Lê công tử, con trai của chủ cũ tiểu tướng ngày xưa là Thái Quận công, Lê Cập Đệ vì bị Trịnh Tùng hãm hại giết cả gia đình nên phải bôn đào tị nạn...
Chúa Mạc mậu Hiệp ngạc nhiên:
- Trịnh Tùng hãm hại Lê cập Đệ rồi ư?
Thế Hùng quỳ xuống:
- Tâu Chúa công. Quả đúng như vậy. Chẳng những thế, Bình an Vương Trịnh Tùng lại giết luôn đức vua Lê Anh Tôn cùng cậu của thần là Ngự sử Đặng Phương...
Thoáng một giây, Chúa Mạc nghĩ rằng mình đã gặp may. Ông cúi xuống đỡ Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng đứng dậy.Ông chắc chắn đã được thêm hai tướng tài để đối đầu với Trịnh Tùng...
Mạc Mậu Hiệp cất lời nói với họ Bùi:
- Tráng sĩ đừng ngại về con ‘‘Thiên linh Hổ’’ chẳng qua vì nóng giận ta nói thế đấy thôi. Từ nay, tráng sĩ và Lê công tử hãy ở đây giúp ta.
Dứt lời nhà vua liền mời hai tráng sĩ Bùi, Lê lên khán đài. Cử chỉ chiêu đãi kẻ tội phạm như hàng thượng khách đã làm phật lòng một số đông võ quan hiện diện. Họ không ngờ đó chỉ là cái thuật dụng người của Chúa Mạc mà thôi.

Bây giờ, quan Đề đốc Hộ thành Thăng Long Nguyễn Quyện bèn gọi giựt Tiểu Lý Quảng đến trước hàng ghế của bọn tướng lãnh mà trách:
- Tướng quân muốn làm nhục bọn ta chăng? Hai tên chết đói đó ở đâu lại đưa về đây để lòe Chúa thượng bằng những chuyện bịa đặt như vậy?
Tiểu Lý Quảng uất ức vô cùng, nhưng chỉ cúi đầu làm thinh.
Đằng kia, thoáng nghe lời khinh miệt của Đề đốc Hộ thành, Lê thế Hùng nhổm dậy, nhưng họ Bùi nắm tay kéo lại, ra dấu nên nhẫn nhục.
Tô Tạo, tướng lãnh vào hàng vô địch của Chúa Mạc thấy vậy, cất tiếng cười nhạo báng:
- Hà! Hà! Thằng bé con kia hợm mình, còn thằng to đầu lại quá hèn nhát thì làm cái trò gì được.
Lê thế Hùng không còn chịu đựng được nữa. Chàng quyết đứng lên dạy cho chúng một bài học về cách đối xử ở đời. Biết tánh nóng nảy của bạn, Bùi văn Khuê thúc mạnh vào hông rồi bảo nhỏ:
- Hiền đệ cần nhẫn nhục nhiều hơn nữa. Gây sự với chúng không có lợi gì cả mà còn có thể hại đến việc lớn.
- Bọn chúng khinh miệt chúng ta như vậy mà Đại huynh chịu đựng được ư ?
- Hiền đệ thật hay nóng sằng. Nếu đánh nhau với bọn tướng lãnh nhà Mạc, Chúa Mạo mậu Hiệp chắc chắn sẽ bênh vực chúng mà hiếp bọn ta. Có ai đi chặt bỏ chân tay mình vì những kẻ xa lạ đâu?
Lê thế Hùng tức tối vô cùng nhưng trước những lời nói hữu lý của bạn, chàng đành phải nghe theo.
Riêng về Chúa Mạc mậu Hiệp, tuy cặp mắt nhìn ra ngoài kia vũ trường, nhưng vẫn luôn luôn chú ý đến hành động và cử chỉ của hai tráng sĩ. Chúa Mạc thầm khen thái độ mềm dẻo của Bùi văn Khuê : Mạc mậu Hiệp cũng biết hàng tướng sĩ bất khuất và ganh tị việc Bùi - Lê được hậu đãi, nhưng cần gì, nếu họ Bùi là kẻ kỷ tài thì rồi đây họ cũng bắt buộc phải phục tùng.
Chúa Mạc không hiểu vì sao mới gặp lần đầu, ông ta đã có một sự tin tưởng ở tài năng và sự tận trung của Bùi văn Khuê. Đối với Lê thế Hùng, chúa Mạc chỉ xem thường thôi, không để ý nhiều lắm, dù người được biết Lê công tử là con của Thái Quận Công Lê cập Đệ, một vị công thần đáng trọng của nhà Lê.
Bỗng dưới vũ trường, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên inh ỏi. Quân lính ở vòng rào phía ngoài vẹt ra hai bên. nhường lối cho một đoàn kỵ sĩ, vai mang cung tên chậm rãi đi vào. Và khi đến trước khán đài, họ kính cẩn cúi đầu. Chúa Mạc vẫy tay đáp lễ.
Đoàn kỵ sĩ rời khán đài, thúc ngựa ra giữa vũ trường, xếp thành một hàng dài, ngay thẳng. Mỗi người lấy cung ra lắp sẵn lên, cũng nhìn về phía trước đợi chờ.
Chúa Mạc khẽ gọi Bùi văn Khuê đến bên mình rồi chỉ xuống đoàn kỵ sĩ, nói :
- Đây là những tay thiện xạ được tuyển chọn kỹ càng trong binh đội và trong dân chúng. Tuy không được phong tước nhưng ta rất tin yêu và trọng đãi họ. Quyền điều khiển nhóm kỵ sĩ thiện xạ này, ta đã giao cho tướng quân Tô Tạo, một lực sĩ vô địch ở Thăng Long thành.
Bùi văn Khuê khẽ liếc nhìn viên tướng chỉ huy đoàn kỵ
binh thiện xạ. Hẳn không ai khác hơn là kẻ vừa sĩ nhục hai chàng.
Họ Bùi bỗng hỏi Chúa Mạc:
- Tâu chúa thượng, cuộc thi bắn tên giữa các kỵ sĩ lão luyện này cốt ý để làm gì?
- Ta muốn chọn một vị phó tướng để tiếp tay với Tô Tạo
Họ Bùi thấy nôn nao trong lòng. Chàng cố bình tĩnh để hỏi:
- Tâu chúa thượng, điều kiện được tuyển chọn như thế nào, xin cho tiểu tướng được biết.
Chúa Mạc khẽ mỉm cười:
- Tráng sĩ muốn dự thi ư? Có khó gì. Cứ thắng được kẻ giải nhất của đám kỵ sĩ thiện xạ nầy, ta sẽ phong chức ấy ngay.
Bùi văn Khuê hết sức vui mừng:
- Cảm đội ơn chúa thượng!
Ở dưới kia, cuộc thi bắn tên bắt đầu. Ba hồi trống, ba hồi chuông vừa dứt, tất cả mọi người đều nhìn về phía một vệ sĩ mặc quân phục màu đỏ, tay cầm chiếc lồng... Một tiếng pháo lịnh nổ vang lên, hắn mở nắp lồng đưa lên cao.
Từ trong lồng, một con chim én vọt bay lên không. Sau một tiếng pháo lệnh thứ hai, hằng trăm mũi tên bay rẹt theo. Dưới tầm mắt của những tay thiện xạ kỳ tài, chim kia không thoát được: một mũi tên xuyên qua cổ họng, chim én bổ nhào xuống đất, giữa tiếng hoan hô ầm ĩ.
Đám kỵ sĩ thiện xạ vẫn ngồi im lim trên lưng ngựa, lòng hồi hộp vô cùng. Giờ phút này cũng chưa rõ ai đã bắn rớt chim bay. Anh vệ sĩ áo đỏ lúc nẩy lại hiện ra. Hắn lượm con chim én lên và đọc to tên họ của kỵ sĩ trúng tuyển được khắc sau đuôi mũi tên:
- Nguyễn Oai...
Tiếng hoan hô lại nổi lên vang dậy. Nguyễn Oai ra khỏi hàng ngũ đám kỵ binh rồi phóng ngựa đến trước khán đài để ra mắt chúa Mạc.
Mạc Mậu Hiệp ban khen chàng kỵ binh may mắn và phán rằng:
- Điều kiện trở thành Phó tướng đoàn kỵ binh thiện xạ còn phải qua lần thử sức đua tài, hẳn tướng quân còn nhớ chứ ?
Nguyễn Oai nhảy xuống ngựa cúi đầu :
- Tâu chúa thượng, tiểu tướng nhớ rõ.
Nói xong, Nguyễn Oai bước đến một chiếc đỉnh đồng to lớn nặng có hơn ngàn cân, đặt trước khàn đài.
Hằng vạn cặp mắt đều quay về phía hắn. Nguyễn Oai chăm chú nhìn chiếc đỉnh cao lớn hơn thân người của y, từ từ ngồi xuống, rồi hai tay nắm lấy một chân đỉnh, nhắc bỗng lên. Chiếc đỉnh hơi động đậy một chút rồi lên theo hai tay Nguyễn Oai.
Tiếng vỗ tay hoan nghinh lại vang trời dậy đất.
Nguyễn Oai từ từ hạ đỉnh đồng, nét mặt hơi thoáng mệt. Chúa Mạc mỉm cười loại nguyện và phán to giữa vũ trường:
- Nguyễn Oai, sau khi bắn tên và cử đỉnh, tỏ ra xứng đáng được chọn giữ chức phó tướng chỉ huy đoàn kỵ binh thiện xạ.
Tiếng hoan hô lại vang lên như sắm dậy. Chúa Mạc phải đưa tay ngăn lại và tiếp lời:
- Nhưng... để cho công bình hơn, ta truyền lịnh cho khắp ba quân tướng sĩ và cả trong dân chúng - những cấp bực cao hơn không nói làm gì - ai tỏ ra bất phục cứ vào xin thử tài thử sức...
Khắp vũ trường im phăng phắc. Mọi người lắng đợi một chuyện lạ xảy đến vì chắc chắn cuộc chọn Phó tướng hôm nay sẽ thêm phần hào hứng.
Chúa Mạc khẽ quay lại nhìn họ Bùi, thầm hỏi : Bùi văn Khuê đang gặp cảnh khó xử, bây giờ bước xuống vũ trường thi thố tài năng, chàng thấy e ngại lắm. Như vậy chẳng khác nào đi tranh giành một chức nhỏ với Nguyễn Oai hay sao ? Chi bằng nhơn dịp này chàng và Thế Hùng trổ tài cho chúa Mạc và các tướng thấy thì tốt hơn. Bởi vậy Bùi văn Khuê đang chuẩn bị những lời lẽ phân trần cho mọi người hiện diện hiểu rõ để khỏi hiểu lầm hai chàng tráng sĩ.
Đằng kia Mạc Mậu Hiệp cất tiếng hỏi:
- Thế nào Bùi tráng sĩ? Có định thi tài chăng?
Bùi văn Khuê chỉ chờ có thế. Chàng khều tay Thế Hùng rồi đứng lên, tiến ra trước khán đài.
Chàng nói :
- Tâu Chúa thượng. Trước khi thi thố tài năng, tiểu tướng xin Chúa thượng được phép nói vài lời trước khán quan.
Suy nghĩ một lúc, Chúa Mạc phán:
- Được ! Ta chấp thuận lời yêu cầu của tráng sĩ.
Thế Hùng lo ngại nhìn bạn. Chàng không hiểu họ Bùi định
bầy trò gì đây. Các tướng lãnh của chúa Mạc đều quay nhìn Bùi văn Khuê lạnh lùng như chờ đợi một lời súc phạm hay một sự sơ xuất nào đó, để phản đối gây chuyện lớn.
Bùi văn Khuê cũng hiểu rằng sự có mặt của mình và Thế Hùng tại vũ trường hôm nay không gây được một không khí cảm tình. Các tướng lãnh đều có vẻ khinh miệt hoặc hằn học vì sợ hai chàng chiếm mất phần nào lòng tin yêu ‘‘của chúa Mạc’’. Đã từng lưu lạc giang hồ, sống ở trà đình, tửu điếm, qua nhiều cung cấm, nha môn, họ Bùi hiểu rõ việc ấy, Sự ganh ghét chỉ do lòng đố kỵ mà ra, chỉ cần mềm mỏng và khéo léo một chút sẽ gây được cảm tình ngay.
Bùi văn Khuê bước ra trước khán đài, cúi đầu thi lễ:
- Trước khi thi thố tài mọn giữa đây, tôi xin có vài lời thưa cùng các vị tướng lãnh và tất cả khán quan để tránh những hiểu lầm không lợi. Chúng tôi là những kẻ lưu lạc vì bè lũ Trịnh Tùng mưu toan ám hại, nên mới tìm đường ra Thăng Long để quy phục Mạc Triều; không may lại lỡ giết chết Thiên Linh Hổ, nhưng nhờ nhà vua rộng lòng tha tội chết và còn chiêu đãi trọng hậu. Muốn được Chúa thượng tin dùng và quý quan văn võ nghĩ tình nâng đỡ giúp, anh em chúng tôi không còn cách nào hơn là được trổ tài trước mắt quý ngài. Và một điều chúng tôi xin thanh minh trước là chúng tôi không tranh lấy chức Phó tướng chỉ huy kỵ binh thiện xạ của tướng Nguyễn Oai....
Cử tọa im lìm một lúc, rồi tiếng vỗ tay hoan hô bỗng nổi lên dậy cả một gốc trời. Bùi văn Khuê liếc nhìn về hàng tướng lãnh thấy không khí bớt nặng nề hơn: nhiều người vỗ tay, có kẻ gật đầu, tỏ dấu hài lòng...
Những lời lẽ ôn tồn, khiêm nhượng của chàng đã chinh phục được cảm tình của hầu hết khán quan. Chỉ riêng có Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện và Tô Tạo là tỏ vẻ bất mãn ra mặt, nhưng vì nể chúa Mạc, họ chưa dám hành động gì.
Bùi văn Khuê khẽ gọi Thế Hùng rồi hai người phi thân nhảy vọt xuống giữa vũ trường.
Họ Bùi kêu người lính mặc võ phục đỏ lúc nãy đến bên mình bảo nhỏ mấy câu. Vệ sĩ nầy chạy vụt đi. Một lát sau, y cùng hai đồng bạn khiêng ra một chiếc lồng to lớn nhốt đầy chim én.
Hai tráng sĩ Bùi, Lê mượn hai chiếc cung của đoàn kỵ binh thiện xạ và hai bó tên. Bùi văn Khuê liền ra dấu cho tên lính cứ thả một lần hai chim én lên không trung... Chim vừa vỗ cánh, hai cánh cung vừa giương lên là hai con chim gục đầu lao mình xuống đất. Tên lính cứ thả chim, hai tráng sĩ cứ giương cung, một lúc đã có một đống xác chim nằm ngổn ngang dưới đất. Không có một con nào thoát được hai tay thiện xạ kỳ tài...
Trong lồng chim, phút chốc không còn một con nào. Hai tráng sĩ Bùi, Lê quay đầu cúi chào Chúa Mạc và tất cả công chúng. Tiếng vỗ tay hoan hô một lần nữa lại vang lên. Mạc Mậu Hiệp mỉm cười sung sướng, ông không ngờ hôm nay may mắn lại thâu dụng được những viên tướng tài xuất chúng.
Đợi cho phút sôi nổi của khán giả lắng xuống, Bùi văn Khuê liền bảo nhỏ với Thế Hùng:
-  Hiền đệ giúp ta! Chúng ta cần phải cho vua quan nhà Mạc biết tài hơn nữa...
Hiểu ý bạn, Thế Hùng vội moi trong túi lấy ra một miếng vải trắng buộc vào đuôi một mũi tên rồi bắn thẳng lên không trung. Mũi tên bay vút lên không, vạch một lằn trắng trên nền trời xanh biếc. Tiếp liền tay, Bùi văn Khuê lại bắn theo một mũi tên với một tốc độ mau hơn. Thoáng chốc, mũi tên của Bùi văn Khuê đã ghim đúng vào đuôi mũi tên có buộc vải trắng của Thế Hùng.
Tiếng hoan hô lại vang trời dậy đất. Tất cả công chúng và quân sĩ đều đứng thẳng lên,            reo  mừ ca ngợi.
Quân sĩ đã lượm mũi tên có buộc vải trắng lúc nãy, dâng lên Mạc Mậu Hiệp. Chúa Mạc cũng   cảm phục tài thần tiễn của Bùi văn Khuê mũi tên ấy đã tét làm đôi rất đều đặn. Giữa lúc ấy Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng đã đến bên cái đỉnh đồng ngắm nghía.
Họ Bùi khẽ bảo bạn:
- Nhường cho tiểu đệ trước đấy.
Thế Hùng không đáp, nhẹ nhàng ngồi xuống, nhắc bổng chiếc đỉnh đồng rồi chạy thẳng đến trước khán đài, nơi chúa Mạc đang ngự. Tất cả khán giả đều kinh hồn về thần lực của Lê công tử. Chính Chúa Mạc cũng không ngờ Thế Hùng tài giỏi như vậy vì ngôi sao của Bùi văn Khuê sáng quá nên làm lu mờ phần nào tài nghệ của chàng thiếu niên tráng sĩ. Nếu không có họ Bùi, chắc chắn Lê thế Hùng nổi bật hơn cả trong buổi diễn võ hôm nay.
Công chúng lại hoan hô nhiệt liệt làm cho Thế Hùng càng thêm phấn khởi. Chàng cố sức nâng cái đĩnh đồng, chạy hết một vòng quanh vũ trường giữa tiếng reo hò như dạy giặc.
Bùi văn Khuê khoan khoái nhìn bạn. Nhờ có dịp này chàng biết rõ tài nghệ của Thế Hùng hơn, chàng càng thấy yêu tha thiết người bạn kết nghĩa, đã từng sống bên nhau qua những giờ phút gian nguy.
Lê Thế Hùng đã đặt chiếc đỉnh đồng lại chỗ cũ, mặt không hề đổi sắc. Chàng ngó Bùi văn Khuê, rồi mỉờ hường lại đại huynh.
Văn Khuê bước tới bên bạn, cất tiếng khen:
- Khá lắm ! Hiền đệ đã làm cho vua tôi nhà Mạc nể mặt chúng ta.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.10.2020 22:24:42 bởi Thanh Vân>
Nói xong, chàng đưa một tay ra nắm chân chiếc đỉnh đồng. Cả võ trường im phăng phắc, chú ý đến cử chỉ của họ Bùi.
Bỗng Văn Khuê hét lên một tiếng kinh thiên động địa, nhắc bổng chiếc đỉnh đồng lên quay tít một vòng rồi liệng thẳng lên không. Võ trường náo động trước sức mạnh dị thường của chàng dũng sĩ. Công chúng nhớn nhác kinh dị nhìn chiếc đỉnh đồng đảo lộn trên không rồi từ từ rơi xuống. Bùi lực sĩ vẫn điềm nhiên đứng nhìn lên, không tỏ vẻ gì lo ngại nhưng khi đỉnh đồng rơi xuống gần tới nơi thì họ Bùi bỗng nhún mình nhảy vọt lên cao chụp lấy một chân đỉnh rồi nhẹ nhàng đặt vào chỗ cũ.
Toàn thể võ trường như loạn lên vì tiếng la hét hoan nghinh inh ỏi. Chúa Mạc rời chỗ ngồi chạy thẳng xuống khán đài.
 Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng quỳ xuống thi lễ.
Mạc Mậu Hiệp đỡ hai chàng dậy khen tặng hết lời :
-   Thật là trời nhỏ phước xuống cho ta mới được các khanh về giúp đỡ... Từ nay ta phong cho Bùi tráng sĩ chức Đại Tướng chỉ huy Kỵ Binh thiện chiến của ta và Lê tráng sĩ làm Phó tướng.
Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng cúi đầu lạy tạ ơn Chúa Mạc.
Mạc Mậu Hiệp vui vẻ quay bước trở lên khán đài cất tiếng dõng dạc:
- Sau khi hai tráng sĩ Bùi, Lê thi tài, thi sức, trước mặt quân binh và các quan các tướng, ta sắc phong cho Bùi, Lê chức Đại tướng và Phó tướng chỉ huy Kỵ binh thiện chiến. Lệnh truyền giữa đây có ai bất phục, ta cho phép thử tài sức với hai người mới thật công bình.
Các tướng lãnh đều im lặng tỏ vẻ hài lòng. Chỉ riêng có quan Đề Đốc Hộ thành Nguyễn Quyện và Võ vệ Tướng quân Tô Tạo là không vừa ý.
Đề đốc nói nhỏ với Tô Tạo :
- Chúa thượng phong chức như vậy thật bất công. Chúng ta đã từng vào sanh ra tử để bảo vệ ngai vàng nhà Mạc mới lên đến địa vị ngày nay. Hai tên kia vừa chân ướt chân ráo tới đây, một sớm một chiều đã nghiễm nhiên thành Đại tướng.
Tô Tạo biểu đồng tình :
- Ngu hạ cũng trộm nghĩ như thượng quan.
Quan Đề đốc Hộ thành lại nói khích :
- Theo tôi xem, hai tên nầy võ dũng vô mưu, chỉ rành bắn tên và có sức mạnh, chứ võ nghệ chưa chắc đã tinh thông, lão luyện. Nếu không cho chúng một trận nên thân chúng lại tưởng trào thần nhà Mạc hết người.
Chàng lực sĩ vô địch ở thành Thăng-Long, Tô Tạo cảm thấy như mình bị sĩ nhục nặng nề. Chàng quắc mắt đứng lên nhìn về phía Chúa Mạc và hai tráng sĩ Bùi, Lê rồi cất tiếng :
- Tâu Chúa thượng ! Hạ thần không dám mạo muội phản đối lại lệnh phong tước của Chúa thượng. Nhưng trước khi hai tráng sĩ Bùi, Lê nhậm chức, thần muốn xin thử tài với một trong hai người để cho quân sĩ biết rõ tài nghệ của những người sẽ cầm vận mạng của họ.
Chúa Mạc vui vẻ chấp thuận lời đề nghị của TôTạo. Riêng Bùi văn Khuê thấy rõ lòng đố kỵ hèn hạ của y. Chàng bảo nhỏ với Thế Hùng:
- Tiểu đệ hãy nhường tên nầy lại cho Đại huynh dạy hắn một bài học bớt kiêu căng...
Thế Hùng gật đầu, tuân lời. Ngay lúc ấy, chúa Mạc vừa quay nhìn lại và phán hỏi:
- Thế nào nhị vị tráng sĩ ? Có bằng lòng thử tài với Tô tướng quân không ?
Bùi văn Khuê vội vã tâu:
- Tâu Chúa thượng, tiểu tướng xin tuân lịnh.
Chàng vừa dứt lời, Tố Tạo đã rời khán đài nhảy xuống võ trường. Tiếng hoan hô của quân lính nhà Mạc cũng vang trời dậy đất.
Họ Bùi nói thầm:
- Tô Tạo rất được lòng quân sĩ ? Hay vì sợ oai hắn mà quân lính tỏ thái độ hoan nghinh bắt buộc như vậy !
Chàng phân vân và hơi lo ngại : nếu mình thắng Tô Tạo sẽ mất lòng quân sĩ chăng? Nhưng giờ phút này không còn thối lui được nữa ! Có mất cảm tình của quan quân nhà Mạc cũng đành vậy. Ít ra chàng cũng cho kẻ quá kiêu ngạo một bài. học đích đáng để về sau y bớt khinh thường anh hùng trong thiên hạ.
Văn Khuê nhảy vọt xuống võ trường và lần nầy chàng không được tiếp đón bằng một tiếng hoan hô nào.
Công chúng đều có một vẻ mặt lạnh lùng khác lạ không như lúc nãy. Chỉ riêng có Chúa Mạc Mậu Hiệp là mỉm cười để khuyến khích chàng.
Thái độ khán giả ở võ trường càng làm cho Thế Hùng kinh ngạc hơn. Chàng quay nhìn khắp nơi và thấy Lý-Quảng đang lặng lẽ đi về phía chàng.
Vừa đến bên Thế-Hùng, Lý-Quảng nói :
- Tô Tạo là một lực sĩ dũng mãnh nhất ở Thăng Long này.Hắn rất hung hăng và vô nhân đạo lại thêm dựa vào Đề Đốc Hộ thành Nguyễn Quyện nên thế lực mạnh mẽ lắm. Trong trào nhà Mạc ai cũng nể trước tánh vũ phu của hắn mà không muốn gây sự. Quan nhỏ thì bị hắn hãm hại, quan to thì không muốn bứt dây động rừng: hại hắn làm sao khỏi mích lòng Đề Đốc Hộ Thành Nguyễn Quyện. Nhị vị tráng sĩ nên thận trọng nhiều hơn.
Thế Hùng hỏi Lý Quảng:
- Tô Tạo và Nguyễn Quyện có họ hàng với nhau ư ?
Lý Quảng mỉm cười :
- Không ! Tô Tạo gắm ghé làm con rể nhà họ Nguyễn nhưng Nguyễn ngọc Lan tiểu thơ có khi nào để ý đến hắn đâu.
Đề đốc Nguyễn Quyện hiểu rõ việc ấy, nhưng ông ta vẫn làm ngơ, cốt ý để dùng kẻ vũ phu làm tay sai đắc lực.
Ngoài kia, tiếng trống, tiếng chiêng bỗng nỗi lên vang dậy báo hiệu cuộc tỉ thí bắt đầu.
Bùi văn Khuê bước đến trước mặt Tô Tạo cúi đầu thi lễ. Tô Tạo, vẻ mặt đầy sát khí, không đáp lễ mà còn nói :
- Những kẻ sợ chết mới lấy lòng kẻ địch. Đừng khách sáo vô ích, hãy tỏ ra mình là kẻ biết võ nghệ !
Bùi văn Khuê, trước những lời vô lễ ấy, chỉ mỉm cười, nhưng bên trong sự tức giận đã lên đến cực độ. Chàng quyết tâm sẽ cho hắn hiểu rằng trên thế gian còn có lắm người tài.
Chiêng trống vừa dứt, Tô Tạo không nói không rằng, phóng mình đánh thẳng vào mặt họ Bùi. Bất thình lình Văn Khuê không đỡ kịp nện vội vàng hụp đầu xuống. Hụt tay, Tô Tạo không gượng lại được, choàng lên mình họ Bùi Văn Khuê như cây pháo thăng thiên, vận dụng toàn lực lên đầu nhảy phóc lên. Thế võ nầy lúc nãy chàng đã giết chết Thiên linh hổ. Đầu Văn Khuê trúng mạnh vào ngực Tô Tạo làm cho hắn bắn vọt lên cao hằng mấy thước, Tô Tạo là một tay lực sĩ vào hàng thượng thặng, phần luyện nội công cũng khá cao nên bị một miếng đòn hiểm độc vào ngực hắn té xuống đất loạng choạng một lúc rồi gượng đứng dậy được ngay. Bùi văn Khuê hơi gờm tài kẻ địch. Lâu rồi chàng mới gặp được một đối thủ xứng đáng. Tô Tạo lại bắt đầu tấn công. Hắn khôn ngoan hiểu rằng họ Bùi lanh lẹ nên muốn nhập nội cho thật gần dùng sức lấn áp Văn Khuê.
Tô Tạo không ngờ Văn Khuê rất sở trường về môn đánh quyền và đánh vật. Tô Tạo càng nhập sát vào mình chàng càng ưa thích hơn. Họ Bùi quyết cho hắn ‘‘đo đất’’ vài lần cho bõ ghét. Đợi Tô Tạo đánh tới, chàng né mình qua, không tấn, khóa chặt hai chân tréo của hắn rồi xè cứng bàn tay chàng đánh mạnh vào ót đối phương một miếng như trời giáng... Tô Tạo bổ nhào mấy vòng, nhủi đầu xuống cỏ.
Võ trường xôn xao chấn động. Công chúng đâu đứng đấy chăm chú nhìn. Chúa Mạc cũng kinh hoàng trước một thế võ lạ kỳ từ xưa đến nay chưa từng thấy. Tô Tạo vẫn nằm liệt dưới đất không ngồi dậy được.
Bùi văn Khuê cúi đầu chào khắp mọi người không một tiếng vỗ tay reo mừng vì toàn thể công chúng còn nghĩ đến sự trả thù ghê gớm của Đề đốc Hộ thành Ngnyễn Quyện nếu một khi Tô Tạo chết đi. Mọi người đều phục tài Bùi văn Khuê và đều lo ngại cho tính mạng của chàng từ nay về sau khó lòng bảo toàn được...
Lính tuần đã vào giữa võ trường để khiêng thây Tô Tạo nhưng Bùi văn Khuê khoát tay đuổi ra. Thái độ của chàng đã làm cho nhiều người bất mãn. Họ không hiểu được họ Bùi muốn gì, đã đánh chết người mà không cho khiêng đi nữa ư ?
Chúa Mạc cũng lấy làm lạ. ông ta phán hỏi :
- Kìa, Bùi tráng sĩ đã thắng, cớ sao chưa cho đem Tô tướng quân vào...
Chúa Mạc bước xuống khán đài, các quan lặng lẽ theo sau. Bùi văn Khuê quỳ xuống tâu rằng :
- Tâu Chúa thượng, Tô tướng quân nào đã thiệt mạng mà Chúa thượng lo ngại. Tiểu tướng xin cứu tỉnh Tô tướng quân tức khắc.
Chàng khoát tay gọi lính đem một vò nước ra, Bùi văn Khuê đổ nước vào mặt Tô Tạo rồi lấy tay xoa bốp hai bên ót. Một lúc sau Tô Tạo thở ra rồi cựa mình, giữa sự kinh ngạc của Chúa Mạc và các quan.
Tô Tạo duỗi thẳng chân tay rồi ngồi nhỏm dậy, nhớn nhác như vừa qua một cơn ác mộng. Thấy chúa Mạc cùng các quan đứng bao quanh ; y sực nhớ lại những chuyện đã xẩy ra. Tô Tạo bẽn lẽn cúi đầu, nhưng trong lòng y dãy lên một sự căm thù ghê gớm. Tô Tạo thề rằng sẽ giết chết họ Bùi để rửa cái nhục hôm nay.
Không lý ngồi mãi nơi đây, Tô Tạo cúi chào Chúa Mạc và các quan rồi bước khỏi võ trường, đi thẳng. Vừa thấy hắn bước đi, quân lính và dân chúng chợt hiểu và khi Bùi văn-Khuê và Lê Thế Hùng được đưa lên khán đài để chúa Mạc phong tước, tiếng vỗ tay và hoan hô vang lừng như sấm dậy một góc trời.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
10. Cung đàn lỗi nhịp 

 

 
Thời gian chầm chậm trôi qua... Ngọc Lan vẫn ngồi
khóc.
Thế Hùng vẫn im lặng kính trọng sự đau khổ của người thiếu nữ đáng thương kia.
Bỗng chàng cất tiếng buồn bã :
- Tiểu thư đừng khóc nữa. Việc đã lỡ rồi, có than khóc cách mấy, quan Đề đốc cũng không sống lại được kia mà. Bây giờ tiểu thơ nên lo việc tống táng.
Ngọc Lan nín khóc, quay nhìn Thế Hùng với đôi mắt vô cùng ngơ ngác. Nàng không đáp lại mà còn khóc thảm thiết hơn. Thế Hùng không khỏi ngạc nhiên trước thái độ kỳ lạ của Ngọc Lan... Vì cớ gì nàng làm thế? Lời nói vừa rồi phát ra do tấm lòng thành thật của chàng, có lý nào đã làm phật ý nàng?
Chàng bâng khuâng tự hỏi như thế, và chưa tìm được lời giải đáp, thì Ngọc Lan đã thốt lời qua những tiếng nức nở, nghẹn ngào:
- Phó tướng còn nhục mạ thiếp làm gì nữa. Lo việc ‘‘ma chay’’ cho phụ thân thiếp ư ? Đã có người lo rồi, ngài ạ: Chúa Mạc sẽ đứng trông no, người đưa đám sẽ là tướng sĩ trong triều; nghĩa địa sẽ là một cánh rừng hoang dại nào đó ; mồ chôn là bụng của hùm beo thú dữ trong rừng sâụ. Như vậy không đủ lắm sao ?
Tưởng Ngọc Lan vì quá đau khổ mà thành điên dại, Thế Hùng gọi thất thanh:
Ngọc Lan tiểu thơ! Ồ hay, tại sao tiểu thơ lại nói như
thế ?
Thiếu nữ bình tĩnh đáp:
- Không ! Phó tướng đừng hiểu lầm thiếp cuồng trí. Thiếp vẫn tĩnh và nhìn rõ mọi việc bằng một cặp mắt sáng suốt vô cùng. Thiếp hiểu chắc chắn hơn ai hết là tất cả đều tiêu tan, không còn cứu vớt gì được nữa... Danh dự, tài sản rồi đến sinh mạng cũng không bảo toàn được. Tội phản quốc, trời ơi còn gì nhục nhã hơn !
Ngọc Lan lại khóc. Thế Hùng chợt hiểu. Vì quá thương nàng, chàng đã quên mất tội trạng của Đề đốc Nguyễn Quyện. Hiện giờ đối với Chúa Mạc mậu Hiệp, Đề đốc là kẻ phản quốc, nếu chiếu theo luật nước thi hành, không biết chừng phải tru di tam tộc, tịch thu tài sản, thân thể quăng vào rừng cho hùm beo xé xác...
Như vậy thực ra mới đúng với tội ác của Nguyễn Quyện từ bao lâu nay, nhưng còn Ngọc Lan, nàng có tội tình gì? Đáng lý ra nàng phải được phong thưởng, mới xứng đáng với lòng trung trực khí khái của nàng. Nàng đã không theo cha mà chống lại những hành động bất chánh của cha nàng. Thế Hùng cảm thấy mình có phận sự phải bảo vệ nàng dù luật nước có khắt khe đến đâu, chàng cũng quyết liều mình chống lại để Ngọc Lan thoát khỏi những cực hình, giữa lúc nàng có công hơn có tội.
Thế Hùng liền nói với Ngọc Lan:
-  Tiểu thơ đừng buồn khồ nữa. Dù sao cũng còn có chúng tôi. Luật vua phép nước có gắt gao đến đâu cũng không thể hành hạ người vô tội... Lòng trung trực của Tiểụ thơ rồi sẽ được thẩm xét minh bạch.
Ngọc Lan lắc đầu:
- Phó tướng không hiểu được lòng thiếp. Thiếp có bao giờ sợ chết đâu ? Nhưng từ nay dù có sống cũng bằng thừa.
Đất nước này không thể dung nạp những đứa con của kẻ phản quốc. Người ta hất hủi và khinh rẻ hạng người ấy như những kẻ bị cùi phong...
Thế Hùng bỗng nắm chặt lấy tay Ngọc Lan gằn giọng:
- Tiểu thư ! Đừng nói nữa ! Đừng nói những chuyện quá khổ đau chỉ thêm chua xót lòng nhau !
Cử chỉ quá đột ngột của Thế Hùng làm cho Ngọc Lan kinh dị. Trong thoáng chốc nàng cảm thông được tình thương yêu đậm đà của Thế Hùng đối với nàng... Ngọc Lan cảm động vô cùng, Trong giờ phút nguy biến này nàng mới hiểu được tấm lòng đáng quý của chàng thanh niên anh dũng kia... Lần thứ nhất trong đời, Ngọc Lan thấy lòng mình rung động. Nhưng cái hiện tại đau buồn không cho phép nàng nghĩ đến tình yêu. Ngay đến sự sống của chính mình, nàng cũng không chắc còn giữ vẹn được chăng ?
Nàng vội rút tay lại. Thế Hùng giật mình mới chợt nhớ ra mình quá sỗ sàng. Trong khi tình cảm quá dạt dào, trước hoàn cảnh đau thương của người mình quý mến, chàng quên khuấy đi Ngọc Lan là một thiếu nữ đương xuân và giữa chàng và nàng chưa hề có một lời gắn bó...
Chàng bỡ ngỡ cúi đầu xin lỗi.

- Tiểu thư thứ tỗi cho...
Giữa lúc ấy tiếng ngựa rộn ràng gần đến cổng Dinh. Bùi văn Khuê và Hoàng quốc Mục sau khi tận diệt bọn ‘‘hung thần’’ kéo đoàn kỵ binh thiện chiến đến đây để vấn tội Nguyễn Đề đốc.
Quân canh bỗng thoạt trông thấy đều kinh hồn chạy vào cấp báo. Hắn vừa xô cửa bước vô, thấy Đề đốc chết nằm sống soài dưới đất thì hồn phi phách táng, đứng run lẩy bẩy nhìn Ngọc Lan không nói ra lời.
Ngọc Lan phải hỏi đến ba bốn lần liên tiếp :
- Chuyện gì thế ? Chuyện gì thế ?
Quân canh vẫn còn run bần bật :
- Bẩm... bẩm... tiểu thư... có... kỵ binh... đông... lắm...
Ngọc Lan vội đứng lên, gương mặt dàu dàu. Nàng biết trước đấy là quân sĩ của họ Bùi.
Người lính canh vẫn còn đứng đợi lịnh truyền của Ngọc Lan. Thỉnh thoảng y liếc nhìn tử thi của Đề đốc, máu đỏ nhuộm đầy trước ngực. Y lấy làm lạ vì Ngọc Lan không phát lệnh, mà cứ tới, lui phân vân suy nghĩ, giữa lúc ngoài kia, đoàn kỵ sĩ  đã đến nơi: Cho họ vào hay chống cự lại, tiểu thơ phải ra lịnh sớm không thì nguy đến nơi rồi.
Chính Lê thế Hùng cũng lấy làm ngạc nhiên không kém về thái độ của Ngọc Lan. Nàng muốn gì trong hoàn cảnh nầy ? Chống cự với Bùi văn Khuê để rồi chết theo cho tròn danh nghĩa ư? Chàng không tin rằng Ngọc Lan quá nông cạn đến như vậy ! Nhưng ít ra nàng phải có một quyết định rõ rệt cho quân sĩ hành động chứ ? Chàng toan cất tiếng hỏi thì Ngọc Lan đã dừng chân, ngước đầu lên truyền lịnh:
- Nhà ngươi truyền mở cổng rước Đại tướng vào và triệu lập tất cả tướng sĩ trong dinh tới đây cho ta dạy việc.
Người lính canh vâng lệnh lui ra đi, Lê thế Hùng mới ngạc nhiên hỏi :
- Tiểu thư làm thế là có ý gì?
Ngọc Lan đáp :
- Tiện thiếp cần minh oan cho một số tướng sĩ. Tuy phục dịch ở đây, nhưng họ không hề dính dáng đến hành động của phụ thân thiếp.
Thế Hùng gật đầu khen phải:
- Tiểu thư làm vậy rất đúng nhưng chắc Đại huynh tôi cũng đã nghĩ trước như vậy rồi.
Bên ngoài, đoàn kỵ binh của Bùi văn Khuê đã giàn ra bao vây dinh thự của viên Đề đốc.
Họ Bùi lo sợ Nguyễn Quyện thừa cơ trốn thoát vào Tây Đô thì việc lớn càng rắc rối hơn nhiều. Chàng không ngờ ông ta đã tự sát để đền tội với Chúa Mạc.
Bùi Văn Khuê vừa toan cất loa kêụ gọi Đề đốc nên bó tay chịu tội thì cổng Dinh bỗng mở rộng. Một kỵ sĩ tiến ra đem lịnh Tiểu thư Ngọc Lan mời Đại tướng nhập dinh.
Thoạt tiên, Văn Khuê rất lấy làm kinh ngạc và thầm lo Nguyễn Quyện đã trốn đi rồi. Chàng quay sang Hoàng quốc Mục :
- Tướng quân cứ cho đoàn kỵ binh vây chặt và chọn cho tôi hai mươi tên vệ sĩ giỏi nhất đi theo để phòng bất trắc.
Bùi văn Khuê qua khỏi cổng Dinh lại càng kinh ngạc hơn. Quân sĩ gươm dáo sáng ngời, chỉnh tề đội ngũ như chờ đợi để rước chàng. Họ đưa họ Bùi vào phòng Đề đốc để gặp Ngọc Lan. Chàng vừa bước vào cửa phòng thì hai mươi vệ sĩ đã bố trí canh phòng cẩn mật xung quanh.
Thoáng thấy Thế Hùng, Bùi văn Khuê hơi yên dạ. Chàng toan cất tiếng hỏi liền bắt gặp tử thi của Đề đốc nằm dài dưới đất và kế bên đó Ngọc Lan đang ủ rũ ngồi khóc thảm thương. Thế Hùng đứng lên đón bạn và nói:
- Đại huynh đến trễ mất rồi ! Đề đốc đã rút gươm tự xử lấy. Tiểu thư Ngọc Lan đã cố cản ngăn nhưng không kịp.
Đằng kia, Ngọc Lan càng khóc nức nở hơn. Bùi văn Khuê đứng sững sờ không thốt nên lời. Hành động ăn năn hối hận của Đề đốc Nguyễn Quyện thoát ra ngoài sự dự tính của chàng.
Một ý nghĩ vừa thoáng nẩy lên trong óc họ Bùi. Chàng lần vào túi trong, tìm bức mật thư của Đề đốc, mân mê trong tay cau mày suy nghĩ. Chàng tự nhủ thầm :
- Nguyễn Quyện tự xử vì muốn bảo toàn danh dự cho gia đình, nếu bây giờ đem tố cáo việc này ra càng làm tủi nhục cho Ngọc Lan hơn, con người tận trung tận hiếu... Nàng có tội tình gì mà phải chịu sự tủi nhục đến mãn đời...
Đề đốc đã chết, tố cáo ra chẳng lợi ích gì cho ai cả, mà chỉ gây thêm khổ sở cho Ngọc Lan.
Nghĩ cho thật chính chắn, Bùi văn Khuê ung dung đưa bức thư lên ngọn bạch lạp đốt đi. Lửa bắt giấy cháy sáng, làm cho Ngọc Lan và Thế Hùng giựt mình kinh ngạc. Nhứt là Ngọc Lan, nàng rất lạ lùng về thái độ của họ Bùi. Phi tang bức mật thư tư thông của cha nàng gởi Chúa Trịnh, Bùi văn Khuê muốn trả ơn cho nàng chăng?
Ngọc Lan cất tiếng hỏi:
- Tại sao Đại tướng lại đốt bức thư ấy đi?
Bùi văn Khuê chậm rãi đáp:
- Giữ lại cũng chẳng lợi ích gì. Đề đốc đã ăn năn tự xử, tức nhiên người đã đền lại tất cả những tội lỗi đã làm, tố cáo ra cho Chúa Mạc biết chỉ thêm phiền mà thôi !..,
Ngọc Lan thầm cảm tạ cử chỉ cao thượng của Bùi văn Khuê vì biết rằng chàng nghĩ đến mình mà hành động như vậy. Riêng Lê thế Hùng, không khỏi cảm thấy hơi ngại. Vì khi Chúa Mạc hỏi đến những việc đã xảy ra trong đêm nay rồi mới trả lời làm sao cho ổn thỏa.. Cuộc bạo động của bọn ‘‘hung thần’’ làm náo loạn cả kinh thành, giờ phút này có lẽ Chúa Mạc và các quan trong triều đã hay hết. Hơn nữa Đề đốc Nguyễn Quyện đã chết, rất khó lòng mà ém nhẹm, để qua mặt chúa Mạc.
Lê thế Hùng khẽ hỏi họ Bùi:
- Đại Huynh đã nghĩ cách nào để trả lời với chúa Mạc chưa ? Trong việc này, tiểu đệ thấy khó mà giấu được vì hoàng thành đều chấn động, quân sĩ chết cũng nhiều...
Họ Bùi cố trấn tĩnh mọi người :
- Hiền đệ cứ để mặc ta. Bây giờ tiểu thơ nên truyền cho quân sĩ lo tẩm liệm Đề đốc, cần nhất không được tiết lộ việc Đề đốc tự tử...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2020 14:57:00 bởi Ct.Ly>
11.Bức thơ vĩnh biệt
 
 

 
 
THẬT đúng như lời dự đoán của Thế Hùng, cuộc bạo động của bọn  ‘‘hung thàn’’ đã làm xao xuyến cả hoàng thành. Từ trong nội điện, Chúa Mạc vội vã đốc xuất quân sĩ ồ ạt kéo ra tiếp ứng. Nghe quân cấp báo, nhà vua tưởng chừng quân Trịnh tấn công thình lình nên trong lòng lo sợ không cùng. Nếu nửa đêm chúng đánh úp Thăng Long như vầy thì làm thế nào trở tay cho kịp.
Nhưng liền đó có tin về báo : loạn quân đã bị tướng Bùi văn Khuê đánh bại tan tành và họ Bùi đang xua quân đuổi nà theo.
Chúa Mạc hơi yên lòng nhưng ông cũng không hạ lịnh dừng binh vì ông muốn đến ngay dinh thự Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện xem thử cớ sao Đề đốc không cản ngăn quân nghịch mà lại để cho Bùi văn Khuê phải ra tay.
Lần thứ nhất. Chúa Mạc cảm thấy trong lòng hơi ngờ vực viên Đề đốc, con người từ bấy lâu được nhà vua rất tin dùng. Phận sự của Đềđốc là hộ vệ thành trì, bảo toàn an ninh cho nhà vua, quân thần và dân chúng. Tại sao Nguyễn Quyện lại điềm nhiên để mặc cho loạn quần tàn phá dinh thự của Bùi văn Khuê, giết hại quân sĩ ? Chúa Mạc tức giận vô cùng, ông tưởng chừng như Nguyễn Quyện đã lợi dụng lòng tin yêu của mình để lãng xao phận sự.
Đoàn quân của Chúa Mạc kéo đến dinh Đề đốc thì gặp phải đoàn Kỵ binh thiện chiến của họ Bùi. Hoàng quốc Mục được quân cấp báo có Chúa thượng giá lâm vội vào báo tin cho Bùi văn Khuê ra nghênh tiếp.
Mọi người đều lo sợ, nhứt là Lê thế Hùng. Chàng hiểu rõ bọn chàng đang đứng trước, một tình thế rất khó xử và có thể nguy hiểm đến tánh mạng.
Nếu cố tình giấu nhẹm việc Nguỵễn Quyện thông đồng với chúa Trịnh để cứu Ngọc Lan mà Chúa Mạc khám phá ra được, hai người sẽ khó thoát tội khi quân, và án tử hình... Còn tiết Ịộ tất cả, thực tâm Thế Hùng không thể làm !... Hình ảnh Ngọc Lan đã in sâu vào tâm khảm chàng. Nàng đã gieo vào lòng Thế Hùng một niềm yêu tha thiết.
Bùi văn Khuê bỗng cất tiếng căn dặn mọi người :
- Chúa Mạc có cật vấn điều chi cứ để mặc tôi trả lời. Mọi người nhất nhất phải thi hành đúng theo lời tôi chỉ dẫn đừng ai tiết lộ điều chi sẽ nguy hiểm lắm đấy.
Hoàng quốc Mục khẽ liếc nhìn Bùi văn Khuê, ngạc nhiên không ít nhưng vẫn cúi đầu vâng lịnh. Lần này là lần đầu tiên họ Hoàng thấy Bùi văn Khuê làm một việc mờ ám, để qua mặt vua Mạc.
Hoàng quốc Mục hơi phật ý, nhưng nhờ lòng kính nể đối với họ Bùi quá nặng, nên chàng cũng thử chờ xem.
Mọi người đều kéo ra ngoài vòng dinh để cung nghinh thánh giá... Chúa Mạc mậu Hiệp xuống ngựa nhìn thấy Bùi văn Khuê thì hết sức ngạc nhiên hỏi:
- Lạ này ! Đai tướng không đuổi theo loạn quân ư ? Làm gì cho quân sĩ tụ tập trước cổng dinh Đề đốc thế này ?.. Đề đốc đâu rồi, không ra nghinh tiếp ?
Nhà vua hỏi dồn liên tiếp, không ai kịp trả lời được câu nào. Người chợt nhìn thấy Ngọc Lan tiểu thơ đang đứng buồn ủ rũ lại càng ngạc nhiên hơn :
- Kìa Nguyễn tiểu thơ ! Lịnh nghiêm đường đâu ?
Ngọc Lan loan đáp, nhưng chợt nhớ đến lời dặn của Bùi văn Khuê, nàng chỉ gục đầu nức nở. Chúa Mạc lạ lùng kinh dị quay sang hỏi Bùi văn Khuê :
- Có chuyện gì xảy ra thế Bùi tướng quân ?
Họ Bùi thấy đã đến lúc mình lên tiếng để cho mọi người thoát cảnh khó xử hiện tại, chàng tâu :
 -  Tâu Chúa thượng. Bọn ‘‘ hung thần’’ ở rừng Độc Vạn quá lộng, dám ngang nhiên vào giữa Thăng Long a9ánh cướp. Đêm nay chúng vây đánh dinh thự hạ thần và còn sai người đến đây ám Sát qụan Đề đốc...
Chúa Mạc kinh hoảng :
- Đề đốc Nguyễn Quyện bị giết rồi ư? Sao từ nãỵ khanh không bảo cho trẫm biết ! Bây giờ Đề đốc ở đâu ?
Bùi văn Khuê vội đáp :
 -  Tâu chúa thuợng, hiện thi hài Đề đốc đã được khâm liệm và đang còn quàn trong Dinh.
Chúa Mạc Mạu Hiệp truyền lịnh cho đoàn tùy tùng đi vào rồi cùng Bùi văn Khuê bước thẳng đến phòng riêng của viên Đề đốc.
Đến bây giờ. Thế Hùng  mới hiểu được dụng ý cho liệm thây Đề đốc của bạn vì họ Bùi lo sợ nhà vua nhận thấy vết thương ‘’tự tử’’ ở cổ họng sẽ đâm ra nghi ngờ chăng ?
Ngọc Lan lẽo dẽo theo sau. Lòng nàng chìm trong một cơn sóng gió. Nàng thấy mọi người cùng xót xa, thương cảm cho cái chết của cha nàng, nhất là Chúa Mạc. Nàng lấy làm khổ sở lắm và thầm cảm ơn anh em Lê thế Hùng, chẳng ngại hiểm nguy, đã cố giúp nàng đến kỳ cùng, để cứu vớt thanh danh của gia đình nàng, giúp nàng còn đủ nghị lực sống dưới ánh sáng mặt trời.
Tuy nhiên. Ngọc Lan vẫn cảm thấy một sự chua xót não nề, mỗi cử chỉ mến tiếc, mỗi hành động trang nghiêm của mọi người khi đến gần linh cữu cha nàng. Nàng cảm thấy, một niềm tủi nhục dâng lên tràn ngập cõi lòng ! Nàng thử nghĩ, nếu một khi những người có mặt nơi đây hiểu rõ hành động bán nước hại dân, thông đồng với Chúa Trịnh của cha nàng liệu họ sẽ nguyền rũa đến bực nào ?

Chúa Mạc đã đến bên linh cữu Đề đốc Nguyễn Quyện, mặt đuợm buồn trước cảnh sinh ly... Ông khẽ quay lại truyền lệnh cho các quan :
 -  Để làm vinh dự vong linh của bậc công thần, ta truyền lịnh cử hành quốc táng. Trong ba hôm thành Thăng Long phải đượm màu tang chế, cấrn nhặt tất cả các cuộc vui chơi các nơi, ai trái lệnh luật hình phân xử.
Một tiếng thét vang lên làm cho mọi người cùng kinh ngạc :
— Tâu Chúa thượng, không nên...
Ngọc Lan đã bước đến quỳ xuống khóc nức nở. Lệnh truyền của chúa Mạc đã vượt ra ngoài sức chịu đựng của nàng, lương tri của nàng bắt buộc nàng phải cản ngăn, không nên để cho quân thần cùng dân chúng phải chịu tang một kẻ đã phản lại họ, đã từng phen chà đạp lên tài sản và sinh mạng của họ. Tang tóc này chỉ có riêng mình nàng chịu mà thôi. Nàng là con của Đề đốc, thể xác linh hồn nàng do Đề đốc đào tạo, hun đúc nên và chỉ riêng nàng phải chịu những hậu quả của cha để lại... Nàng không dám than van với ai cả ! Nhưng bắt buộc cả thần dân trong ba ngày ngưng những cuộc vui vì cái chết của kẻ phản bội là quá lắm!
Bùi văn Khuê hiểu rõ nỗi đau khổ của Ngọc Lan nên rất lo sợ cho nàng !... Nếu lỡ ra vì quá xúc động, nàng bộc lộ tất cả sự thật thì nguy ngập vô cùng. Chính Chúa Mạc và các quan cũng lấy làm lạ. Người phán hỏi :
— Kìa khanh ! Việc gì thế ?
Ngọc Lan càng khóc thảm thiết và qua những tiếng uất nghẹn, nàng cất tiếng :
— Tâu Chúa thượng, thần thiếp rất cảm đội ân đức của Chúa thượng ban bố cho phụ thân thiếp, tưởng như vậy nơi suối vàng phụ thân thiếp cũng hả dạ lắm rồi, nào dám mong gì hơn nửa... Thần thiếp chỉ xin Hoàng thượng một điều là đừng kéo dài thêm những ngày tang chế, chỉ gây thêm nỗi đau thương trong lòng thiếp mà thôi !
Dứt lời, Ngọc Lan lại khóc. Mạc Mậu Hiệp lấy làm ngạc nhiên, nhưng trước những lời thống thiết của Ngọc Lan, ông cũng đành bãi bỏ quyết định vừa rồi và ông quay sang khẽ nhìn Bùi văn Khuê như dò hỏi.
Thấy họ Bùi cũng lặng thinh, chúa Mạc nghi ngờ hơn. Ông cho rằng trong cái chết của Đề đốc có một bí ẩn gì đây mà Bùi văn Khuê còn giấu giếm.
Mạc mậu Hiệp là người rất đa nghi. Phải khôn khéo như Đề đốc Nguyễn Quyện mới qua mắt được nhà vua.
Tuy nhiên, sự đa nghi ấy không đáng ngại, vì ngoài ra Mạc mậu Hiệp lại là người rất quang đại. dầu ai có lỡ lầm mà biết ăn năn chuộc lỗi, ông cũng sẵn lòng tha thứ ngay.

Ông hạ lịnh cho đoàn tùy tùng lên ngựa trở về, giữa lúc ngoài kia trời đã hừng đông.

¥

Những ngày tang chế qua rồi, dinh Đề đốc im lìm trong cảnh thê lương ảm đạm. Quân canh buồn ủ rũ, ngồi thẩn thờ bên cổng, không buồn chú ý đến khách qua đường hay những ai lảng vảng đến gần Dinh... Họ buồn không phải vì tiếc nhớ Đề đốc Hộ thành mà vì không hiểu mai đây dẹp bỏ Dinh này họ sẽ bị thuyên chuyển về cơ ngũ nào, có nhàn hạ được như bây giờ hay lại vất vả nhiều hơn nữa...
Nhưng thật ra, sự buồn nản của họ làm sao so sánh được với nổi đau đớn tủi nhục của Ngọc Lan. Suốt ngày, nàng nằm trong phòng không buồn ăn uống, hay tiếp chuyện cùng ai cả...
Não cân nàng quay cuồng như trong cơn bão to không ngừng. Tư tưởng chán nản cứ ám ảnh mãi tâm hồn nàng thúc giục Ngọc Lan đi đến những sự giải quyết táo bạo và nông nổi... Đã bao lần nàng muốn vào triều thú nhận tất cả tội lỗi của cha để chúa Mạc phân xử rồi tha giếl mặc tình, chứ sống như thế này, luôn luôn nàng phải chịu sự hồi hộp bâng quơ. không biết ngày nào đây Chúa Mạc khám phá ra được sự thật, thì nàng còn mặt mũi nào nhìn Chúa và ăn nói làm sao. Biết đâu nhờ sự thú nhận của nàng mà những tổ chức dọ thám của chúa Trịnh Tùng sẽ được phanh phui ra tất cả.
Nàng đứng dậy toan mặc áo vào triều nhưng chợt nhớ đến hai anh em Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê, nàng lại ngồi phịch xuống giường. Chợt nghĩ đến hai vị ân nhân, Ngọc Lan mới thấy rõ quyết định của mình bỗng dưng mà đưa cả hai vào vòng tù tội... Việc này đổ bể ra, hai chàng khó thoát khỏi tội khi quân sẽ bị xử tử đúng theo luật hình.
Ngoc Lan ôm chặt lấy đầu lăn lộn trên giường lẩm bẩm :
- Trời hỡi trời ? Sao ta cứ mãi ràng buộc trong một tình thế khó xử như thế này!
Nàng lại khóc, vì trong giờ phút này chỉ có nưóc mắt là làm vơi đuợc niềm hận tủi.
Im lặng sống đường hoàng, ngoài sự hiểu biết của chúa Mạc và dư luận về tội ác của phụ thân mình, Ngọc Lan không thể kéo dài cuộc đời như vậy được. Lương tri của nàng không cho phép. Mà thú tội cho cha là điều nàng không thể làm vì nó sẽ hại đến nhiều người. .
Ngọc Lan chỉ còn thấy có một con đường, một lối thoát duy nhứt : nàng phải ra đi... Đi thật xa, đến những nơi nào mà không ai biết được tung tích và hành động của nàng.
Nàng sẽ hiến thân cho đồng loại cứu giúp người cô thế, an ủi nhưng tâm hồn đơn độc bị đời hất hủi, đuổi xô... Nàng quyết vì đời mà hàn gắn những đau thương cho xã hội loài người...
Ngọc Lan đứng phắt dậy, mặt trầm lặng u hoài. Nàng vừa quyết định xong một việc có ảnh hưởng quan trọng đến tương lai của nàng.
Nàng đã nghĩ kỹ lắm rồi và không còn cách nào hơn cho vẹn nghĩa vẹn trung. Nàng cảm thấy trong lòng thêm phấn khởi trước một chân trời mới đang rộng mở, đón bước chân khách giang hồ.
Ngọc Lan thở dài khoan khoái. Nàng bước lại án thư cầm viết thảo mấy hàng, gởi hai tráng sĩ Bùi- Lê...Xong rồi nàng tom góp hành trang và một ít tiền bạc đợi trời sụp tối, bèn ra khỏi dinh, lên đường đến một nơi vô định.
*
Ngọc Lan đi xa rồi, đi xa lắm rồi... Đã hơn hai ngày qua, bước chân của nàng giẫm đến nưi đâu? Nàng không ngờ giữa chốn đế đô còn có một người theo dõi bước đi của nàng, qua rừng dài, sông sâu, núi cả... Một tấm chân tình chưa thố lộ, một chữ ‘‘đồng’’ chưa tạo đã gẫy đôi rồi.
 Thế Hùng thẫn thờ như kẻ mất hồn, khi đọc bức thơ đầy nước mắt của Ngọc Lan :

‘‘ Nhị vị tráng sĩ Bùi, Lê nhã giám,
Bức thư này đến tận tay hai vị thì thiếp đã đi xa lắm rồi... Thiếp đi vì không còn có thể sống được trong tình thế hiện nay. Thiếp cứ thấp thỏm tưởng chừng như mình là kẻ tội lỗi trốn lánh cực hình.
‘‘Đã bao lần thiếp toan vào triều thú tội với Chúa thượng để nhẹ bớt phần nào sự xao động trong tâm hồn, nhưng thiếp không làm được.
Bây giờ thiếp chỉ còn có một cách là phải đi xa… Thiếp sẽ sống một cuộc đời mới ở một chân trời xa lạ nào đó mà thiếp còn có can đảm nhìn thẳng vào mặt mọi người, không chút hổ thẹn…
Tuy nhiên dù ở chân trời góc bể, thiếp vẫn hằng nhớ đến nhị vị ân nhân đã thực lòng giúp đỡ thiếp qua những giờ phút đau buồn nhất của cuộc đời’’…
Kính bút
NGỌC LAN


Bức thư vắn tắt ,mà quân canh vừa mang đến cho Lê thế Hùng, như một lưỡi dao sắc bén đâm thẳng vào trái tim chàng.
Nàng đi rồi ư?
Thực là không ngờ trước được ! Đi giữa lúc mà hình bóng nàng đã in sâu vào tâm khảm Thế Hùng, giữa lúc chàng chưa
thố lộ được một lời tâm tình nào cả... Bao nhiêu mộng đẹp xây đắp trong lòng phút chốc rã tan... Cánh chim đã cất lên và mang theo hồn chàng tráng sĩ họ Lê. Chàng lặng người đi trong nhiều phút cho lòng bình thản lại... Yêu Ngọc Lan, chàng đã yêu đến mức tột cùng, chỉ chờ một cơ hội, là chàng sẽ nói thẳng với nàng. Sau những ngày tang chế, chàng thấy Ngọc Lan quá u buồn, khổ sở nên chàng ẩn nhẫn đợi chờ... Không ngờ Ngọc Lan lại vô tình cất bước ra đi, ‘‘giết chết’’ một tấm chân tình mới nhóm...
Bùi văn Khuê nhìn Thế Hùng trong giờ phút thất vọng này mà liền nghĩ đến đời mình. Thực không ngờ cả hai đều gặp phải một tâm trạng như nhau yêu say mê những ‘‘nàng tiên’’ mà cuộc đời không dành riêng cho họ. Thế Hùng yêu Ngọc Lan trong một hoàn cảnh hết sức oan trái cũng như Văn Khuê đem đặt tất cả mối tình đầu cho Nguyễn Thúy Loan, người ái thiếp của Trịnh Tùng thì có bao giờ họ được toại nguyện.
Nhưng, họ Bùi là con người dạn dày sương gió, tình yêu có mãnh liệt đến đâu, nghị lực của chàng cũng đủ sức vượt qua, chớ đối với Lê thế Hùng hoàn cảnh nầy có hiệu lực của một tiếng sét đánh ngang tai.
Bùi văn Khuê thương bạn, nhưng không lý lại xen vào chuyện tâm tình mà bạn chưa hề thố lộ với mình... Chàng cố nói xa nói gần để tìm lời khuyên nhủ dần dần, lôi Thế Hùng ra khỏi một hoàn cảnh dễ sinh chán nản; thúc đẩy, nung sôi lòng cừu hận cũ để cho họ Lê còn đầy đủ tinh thần để chiến đấu với kẻ thù.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.10.2020 20:05:57 bởi Ct.Ly>
12. Chúa Mạc nghi ngờ

 

 
 
NGỌC LAN đi rồi không phải chỉ riêng lưu lại hoài nghi trong lòng Chúa Mạc.

Cái chết của Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện có nhiều bí ẩn mà Chúa  Mạc không biết phanh phui từ đâu để tìm ra manh mối. Người tin tưởng hai anh em Bùi, Lê thực dạ phụ giúp nhà Mạc nhưng trong việc này Mạc mậu Hiệp ngờ vực Bùi văn Khuê cố ém nhẹm một điều gì. Ông chỉ linh cảm như vậy thôi chứ không dám quyết đoán chắc chắn để làm tội một tướng tài mà trời đã dành cho cơ nghiệp Mạc triều.
Nhưng đến hôm nay, bỗng dưng Ngọc Lan, con gái yêu của Nguyền Quyện, sau ba ngày tang lễ của cha, lại rời dinh thự đi biệt tích không một lời tâu lên Chúa thượng hay một bức thơ cáo lỗi.
Việc nàng bí mật ra đi phải có một nguyên nhân chánh đáng. Cha nàng chết rồi, sự nghiệp to lớn của ông, còn lại tại sao Ngọc Lan không chịu thừa hưởng mà bỏ đi một cách âm thầm như vậy ?
Chúa Mạc hết sức ngờ vực và lần đầu tiên, nhà vua
lo sợ một âm mưu giữa triều đình, do những người tin cẩn tự xưa nay nhúng tay vào!
Mạc mậu Hiệp đứng lên đi bách bộ trong phòng, cau mày suy nghĩ. Ông lẩm bẩm một mình :
- Phải tìm cho ra manh mối chuyện nầy mới được!
Phải hiểu rõ nguyên do vì sao Đề đốc Nguyễn Quyện chết chứ không tin rằng bọn ‘‘hung thần’’ rừng Độc Vạn có thể lén vào dinh hạ sát ông ta cách dễ dàng như vậy? Còn ba quân tướng sĩ ở đâu ? có lý nào để chúng ngang nhiên hành động vậy sao?
Tại sao Ngọc Lan lại ra đi không một lời tâu lên nhà vua, bỏ lại tất cả sản nghiệp đồ sộ của cha nàng ?
Chúa Mạc phân vân với bao nhiêu câu hỏi trong đầu. Đã nhiều lần, ông muốn truyền gọi Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vào chầu để bắt buộc hai người tâu rõ sự thật nhưng ông không tin lắm vì nếu cả hai tráng sĩ Bùi, Lê đang âm mưu hại ông thì chẳng khác nào ‘‘bàn chuyện giữ nhà với kẻ cướp’‘ !
Sự ngờ vực đã làm cho Chúa Mạc mất cả tin tưởng ở những kẻ xung quanh...
Bỗng, như chợt nhớ ra một điều gì, ông thở ra khoan khoái. Chúa Mạc vùng nhớ lại chính đêm hôm đó, giữa lúc bọn ‘‘hung thần’’ bạo động đoàn kỵ binh thiện chiến của triều đình dưới quyền điều khiển của Hoàng quốc Mục có dự trận đánh. Như vậy tất nhiên họ Hoàng biết rõ nhiều bí ấn bên trong cái chết của Đề đốc Hộ thành. Nhưng chúa Mạc chỉ lo sợ một điều là Hoàng quốc Mục lại về phe với Bùi văn Khuê thì cũng như không. Tuy vậy, ông cũng sai quân triệu họ Hoàng lập tức ứng hầu vì ông nghĩ rằng Hoàng quốc Mục đã từng trải bao năm thờ Chúa dù sao cùng ít nguy hiểm hơn những kẻ khác.
Nhận được lịnh triệu cấp bách, Hoàng quốc Mục vội vã vào triều, trong lòng không khỏi lo sợ bâng quơ... Một viên tướng nhỏ như chàng, rất ít khi được hân hạnh nhà vua nói đến và cho bệ kiến.
Như vây lần nầy được lịnh truyền, chàng phập phòng lo ngại chắc có chuyện không may xảy đến. Xét lại hành động của mình mấy lúc gần đây họ Hoàng thấy rõ mình không làm điều gì phạm pháp... Mọi công việc chàng đều thi hành đúng theo phận sự !...
Chàng chỉ ngại có một chuyên mà mình có liên can vào là âm mưu phản trắc của Đề đốc Nguyễn Quyện.
Hành động của hai tráng sĩ Bùi, Lê để cứu vớt danh dự cho Ngọc Lan, chính chàng cũng cho là hợp lý nhưng dù sao đó cũng là một hành động khi quân, đổ bể ra không thoát khỏi bay đầu...
Tuy nhiên, chàng tin tưởng rất nhiều vào sự khôn khéo của hai tráng sĩ Bùi, Lê. Họ đã hành động theo lương tri chứ không vì một cái lợi cỏn con nào thì dù có xảy ra sự gì, chàng cũng không đến đỗi ân hận lắm...
Nhưng luật lệ từ nghìn xưa để lại, lòng trung nghĩa đối với nhà vua, đôi khi cũng dày vò tâm hồn Hoàng quốc Mục. Dù sao, chàng cũng cảm thấy mình có tội : vì một nghĩa cử mà dấn mình vào một sự dối gạt chúa, đối với Hoàng quốc Mục kể như đã quá nhiều rồi...
Cho nên hôm nay, được lệnh Chúa Mạc truyền gọi vào triều cấp tốc, Hoàng quốc Mục như cảm thấy sự lành ít dữ nhiều...
Chàng đến điện lại được lệnh cho vào phòng của Chúa. Hoàng quốc Mục càng lo sợ hơn.
Chúa Mạc ngồi trên sộp gụ, tựa lưng vào chiếc gối thêu hoa, chợt thấy họ Hoàng bước vào quỳ xuống đợi lệnh, người phán hỏi :
- Tướng quân có đoán được ta gọi tướng quân vào đây về việc gì chăng ?
- Tâu Hoàng Thượng, hạ thần nào có thấu rõ được điều đó.
Hoàng quốc Mục khúm núm trả lời. Chúa Mạc lại truyền :
- Tướng quân hãy bình thân và nghe ta hỏi đây. Từ trước đến nay, tướng quân tỏ ra là người trung trực, nên việc này ngoài tướng quân ra thực ta không còn biết hỏi ai nữa. Tướng quân phải nói thật nguyên do vì đâu Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện đã bỏ mình? Ta thật không tin người bị quân gian ám hại!
Hoàng Quốc Mục run sợ vô cùng, thân mình lạnh toát hết nhưng mồ hôi đổ hột đầy trên trán. Chàng tự bảo thầm:
- Thôi chết rồi. Phen nầy thì toàn gia tru lục.
Đến giờ phút nầy, chàng không thể do dự được nữa. Phải thú thật tất cả, chờ Chúa Mạc suy xét, rồi tùy người tha giết mặc lòng.
Trên kia, Chúa Mạc lại cất tiếng hối thúc:
- Thế nào tướng quân ? Tại sao Đề đốc chết, tướng quân giấu giếm luôn cả ta nữa ư?
Hoàng quốc Mục vội ngước đầu lên, hoảng sợ:
- Tâu... Tâu Hoàng Thượug, hạ thần xin tâu rõ mọi việc. Quan Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện là người đã thông đồng với Chúa Trịnh từ bấy lâu nay...
Chúa Mạc kinh ngạc đứng phắt dậy:
- Im ! Nhà ngươi bảo sao? Quan Đề đốc thông đồng với giặc? Không! Ta không tin.
Hoàng quốc Mục run sợ vô cùng, chàng lắp bắp tâu lên:
- Tâu Hoàng.. . Thượng... sự thật như vậy. Hạ thần có đủ bằng cớ, hiện hạ thần còn giam giữ một tên dọ thám của Chúa Trịnh và có cả bức mật thư của quan Đề đốc gởi cho Trịnh Tùng nhưng...
Hoàng Quốc Mục biết mình lỡ lời, nín bặt khiến Chúa Mạc kinh lạ vô cùng.
Ông hỏi vặn lại :
- Nhưng... Thế nào ? Bức mật thư ấy đâu ?
Hoàng quốc Mục sợ hãi đáp :
- Tâu Hoàng Thượng, đại tướng Bùi văn Khuê đã đốt mất rồi.
Chúa Mạc càng nghi ngờ hơn :
- Bùi văn Khuê đốt bức thơ ấy để gỡ tội cho Nguyễn  Quyện ?... Nghĩa là cả họ Bùi cũng làm phản nữa sao?
Quốc Mục vội trấn an nhà vua:
- Tâu Hoàng Thượng, Bùi Đại tướng vẫn hoàn toàn trung thành với bệ hạ. Nhưng sở dĩ Đại tướng đã buộc lòng phi tang bức thư là vì một lẽ khác. Xin bệ hạ để cho hạ thần tâu rõ đầu đuôi.
Số là, quan Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện tư thông với Trịnh Tùng từ lâu lắm rồi, nhưng trong trào không ai hay biết. Chẳng rõ Đề đốc đã lãnh bao nhiêu vàng bạc của Tây Đô để đỡ đầu cho bọn gián điệp của Trịnh Tùng lén lút hoạt động tại đây. Càng ngày hoạt động của chúng càng tăng gia để chờ khi có chiến tranh thì chúng sẽ làm nội công phá thành trì... Đề đốc còn tổ chức cả một đội ‘‘Hung thần’’ ở rừng Độc Vạn với một mục đích ám muội.
Chúa Mạc hầm hầm:
- Hừ gớm ghê thật! Ta không ngờ Nguyễn Quyện lợi dụng lòng tin yêu của ta để phản bội ta như vậy. Nhưng tại sao các ngươi không sớm tâu lên cho ta được rõ.
Hoàng quốc Mục buồn rầu nhìn xuống đất :
- Tâu Chúa Thượng, Nguyễn Quyện rất được lòng tin cẩn của Chúa thượng, trào thần không ai dám tấu trình vì sợ Chúa thượng không tin, tức nhiên phải kết thù với Đề đốc. Mà nếu đã thế thì sớm muộn gì cũng bị bọn ‘‘Hung thần’’ tiêu diệt cả gia đình. Riêng về tiểu tướng, thì tiểu tướng chỉ biết bộ mặt[sub] [/sub]thật của Nguyễn Quyện từ lúc bắt được tên dọ thám của Trịnh Tùng mà thôi...
Nhà vua chợt nhớ đến bức thư và hành động kỳ lạ của Bùi văn Khuê liền hỏi :
-  Còn Bùi văn Khuê? Vì lẽ gì họ Bùi phi tang bức thư
ấy?
- Tâu Chúa thượng, đừng nghi ngờ đại tướng, rất oan uổng cho người. Chẳng qua là việc bất đắc dĩ phải làm. Trong chuyện nầy còn có thêm một người nữa là Ngọc Lan tiểu thơ....
Chúa Mạc kinh ngạc hỏi:
-  Ngọc Lan? Nàng con gái yêu của Nguyễn Đề đốc đấy ư?
Hoàng quốc Mục chậm rãi đáp :
- Vâng! Tâu Hoàng thượng, chính nàng. Ngọc Lan không như cha, nàng rất trung trực và chí hiểu. Cho nên từ bấy lâu nay, nàng sống trong tình thế khó xử : theo cha là phản Chúa mà trung với Chúa lại bất hiếu với cha.
Chúa Mạc chép miệng:
-  Tội nghiệp cho nàng!
Hoàng quốc Mục tiếp :
- Tâu Chúa Thượng hoàn cảnh của nàng thật đáng thương! Nhưng Ngọc Lan ngoài những biệt tài về cầm, kỳ, thi, họa nàng lại là một nữ hiệp anh thư sành cung kiếm... Cho nên trước những việc làm bất chánh của cha, nàng âm thầm hoạt động chống lại những mưu mô hiểm độc, giúp đỡ những nạn nhân của cha nàng và bí mật gởi thư khuyên nhủ.. Nhưng Đề đốc vẫn theo con đường cũ đã đi không hề biết ăn năn sửa lỗi... Gần đây, Đề đốc lại ra mặt đàn áp hai tướng Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vì mật lệnh của chúa Trịnh mà cũng do lòng đố kỵ... Ngọc Lan đã mấy lần bí mật thông tin.
Chúa Mạc lẩm bẩm:
-  Thật không ngờ.
Ngừng một lát, Hoàng quốc Mục tiếp :
- Tâu Chúa thượng, lúc ban đầu, chúng thần cũng không rõ Ngọc Lan ngầm giúp, nhưng đến lúc tiểu tướng bắt được tên dọ thám và phát giác ra bức thư tư thông với chúa Trịnh của Đề đốc thì Ngọc Lan mới lộ diện trước sự kinh ngạc của mọi người...
Chúa Mạc ngắt lời:
- Ta hiểu rồi, nhưng vì sao Nguyễn Quyện bị giết?
- Tâu Hoàng Thượng, Đề đốc tự xử, sau khi biết rõ bọn ‘‘hung-thần’‘ bại trận chứ nào có bị ai giết đâu ?
Chúa Mạc gật đầu cau mày suy nghĩ giữa khi Hoàng tướng quân kế tiếp :
- Trước tình trạng ấy, Bùi Đại tướng thấy Ngọc Lan tiểu thư quá khổ sở và hơn nữa Nguyễn Đề đốc đã tự xử rồi, người nghĩ rằng đem công bố sự phản quốc của Đề đốc cũng bằng thừa và chỉ tội cho con người trung hiếu vẹn toàn như Ngọc Lan tiểu thư, phải gánh lấy tất cả những nhục nhã do cha nàng đã gây nên...
Chúa Mạc mậu Hiệp ngồi im lặng trước một việc vô cùng trọng hệ, đòi hỏi nhiều suy nghĩ trước khi quyết định. Trong vụ này, Chúa Mạc cảm thấy mình cần phải khéo léo lắm mới khỏi ân hận về sau; không khéo người lại tự mình chặt bỏ đi những bộ hạ chân tay cần thiết... Nếu chiếu theo hình luật thì Bùi văn Khuê, Lê thế Hùng. luôn cả Hoàng quốc Mục đều mắc tội khi quân, tội đáng chém đầu! Nhưng xét về ‘ tình’’ thì cả ba đều có lý.
Mạc mậu Hiệp là một người đa nghi nhưng rất khôn khéo và rộng lượng. Đề đốc Nguyễn Quyện vừa mất, ngày nay Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng chính là hai tướng nhờ cậy của Chúa Mạc. Bắt tội để giết họ đi là một điều thất sách vô cùng. Hơn nữa chủ tâm của Bùi, Lê nào muốn dối gạt Chúa Mạc. Đó chẳng qua là một chuyện bất đắc dĩ mà thôi.
Suy đi nghĩ lại cho kỹ càng, Chúa Mạc thấy mình cần phải làm ngơ trước việc này...
Người đang cần được các tướng trung thành để đương đầu với quân Trịnh. Nếu thẳng thắn thi hành theo luật định sẽ gây bất mãn trong hàng ngũ các tướng, tinh thần quân sĩ giảm đi nhiều... Biết đâu về sau này, khi hiểu rõ sự rộng lượng của chúa Mạc, hai tướng Bùi, Lê càng cảm đội ân đức hơn !
Hoàng quốc Mục thuật dứt câu chuyện, im lặng đợi chờ cơn thịnh nộ của Chúa Mạc nhưng họ Hoàng vô cùng ngạc nhiên vì Chúa Mạc vẫn im lìm suy nghĩ, ông như mơ màng nghĩ đến một chuyện gì xa xôi lắm...
Ông khẽ quay lại bảo Hoàng quốc Mục:
- Tướng quân đã truyền hỏi tên dọ thám của chúa Trịnh chưa?
Họ Hoàng vội đáp:
- Tâu Hoàng Thượng, hắn đã cắn lưỡi tự tử vào giữa đêm hôm nay rồi !
Chúa Mạc nhủ thầm :
- Trịnh Tùng khéo dùng người. Bọn dọ thám của hẳn đều gan dạ như nhau, thật khó mà hỏi dò được điều gì trong quân cơ của chúng...
Rồi Mạc mậu Hiệp tự nghĩ nểu bây giờ khởi động can qua là một điều hết sức bất lợi. Ông lo lắng vô cùng và lần thứ nhứt từ khi lên ngôi, Chúa Mạc thấy rằng mình đã sai lầm rất nhiều khi chỉ nghĩ đến việc phòng thủ mà không nghĩ đến thế công...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2020 15:44:08 bởi Ct.Ly>
13. Tại Tây Đô Chúa Trịnh nổi cơn thịnh nộ
 
 
 
LUÔN mấy ngày liên tiếp, tin dữ từ Thăng Long bay về tới tấp làm cho Bình An Vượng Trịnh Tùng vô cùng tức giận: nào là tên dọ thám biệt phái ra Thăng long bị bắt, bức mật thư bị lộ, đoàn ‘‘hung thần’’ tan nát, Đề đốc Nguyễn Quyện tự sát và bao nhiêu tổ chức dọ thám ở Thăng Long bị Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng tiêu diệt gần hết... Còn bao nhiêu đều trốn chui, trốn nhủi vào rừng: cơ sở ở Thăng Long hầu như tan vỡ.
Thật không ngờ, chỉ trong vòng mấy ngày, sao cái chết của Nguyễn Quyện, bộ máy dọ thám của Trịnh Tùng cố gắng tổ chức từ mấy năm nay hư hỏng tất cả. Bình an Vương nổi cơn thịnh nộ la hét ầm lên trong cung điện.
Công việc thứ nhứt của ông là truyền quân hầu triệu Nguyễn Hữu Liên tới bàn kế hoạch đối phó. Trước cơn lôi đình của chúa Trịnh, vị Thái phó cứ ngồi im lìm như suy tính một điều gì. Nguyễn Hữu Liên biết rằng trong giờ phút này, mình bàn thêm vô chỉ bằng thừa và chưa chắc gì Trịnh Tùng đã nghe.
Phục dịch lâu năm dưới quyền của Bình an Vương, Nguyễn hữu Liên biết rõ tính tình của ông hơn ai hết. Khi thất bại, ông ta chỉ cần một người lẳng lặng ngồi nghe để cho mình được trút tất cả những uất giận tràn đầy... Nếu không khéo léo mở miệng bàn vô hay cản ngăn chẳng khác nào lửa chế thêm dầu. Trong những trường hợp đó Bình an Vương lại càng tức giận hơn, đôi khi còn gieo tai họa bất ngờ lên đầu kẻ nào dám ngang nhiên chống lại bằng lời nói...
Dư biết như thế nên Thái phó Nguyễn hữu Liên chỉ cần lẳng lặng nghe, chờ đợi cho Trịnh-Tùng qua cơn thịnh nộ sẽ khuyên nhủ vài lời rồi đệ trình một kế hoạch khác tinh tế hơn có nhiều may mắn được ông ta vui lòng chấp thuận.
Chính do chỗ biết được tính tình của nhà Chúa mà Thái phó Nguyễn hữu Liên rất được Bình An Vương vừa lòng nên mỗi chuyện gì ông cũng đòi Thái phó ứng hầu. Trịnh Tùng hiểu Nguyễn hữu Liên là người túc trí đa mưu, thiên biến vạn hoá, có thể nghĩ ra nhiều diệu kế chuyển bại thành thắng.
Nhưng lần này, mặc dầu chúa Trịnh đã dứt cơn thịnh nộ, không hiểu sao vị Thái phó vẫn ngồi im lìm không nói một lời. Bình an Vương hơi lấy làm lạ. Nguyễn hữu Liên đã thúc thủ trước tình thế này rồi ư ?
Trịnh Tùng chán nản thở dài. Muốn khởi chiến tranh với chúa Mạc từ mấy tháng nay, Bình An Vương đã chuẩn bị đầy đủ binh ròng tướng mạnh, chỉ chờ đợi gom góp tất cả những tài liệu về công cuộc bố phòng tại Thăng Long của đoàn dọ thám, là sẽ khởi thế công. Nhưng bây giờ thì không còn hy vọng gì đánh lòn vào hậu tuyến của giặc. Sau vụ này, chắc chắn Mạc Mậu Hiệp và bọn Bùi văn Khuê càng canh phòng cẩn mật hơn, khó mà tổ chức đội gián điệp đi sâu vào trong hàng ngũ chúng!
Bình An Vương chán nản vì mình đã thúc thủ mà Thái phó Nguyễn hữu Liên cũng không hơn gì. Thái phó vẫn ngồi lặng yên như pho tượng, tâm hồn như gởi ở đâu. Bầu không khí trong phòng yên lặng nặng nề.
Không còn chịu đựng được nữa, Bình An Vương cất tiếng hỏi:
- Thế nào ? Quan Thái phó không nghĩ ra được một kế hoạch nào trước tình thế này ư? Chúng ta đành bó tay chờ ngày họ Mạc tràn vào phá tan thành lũy, đốt mả ông cha, chà đạp lên đầu lên cổ sao ? Việc gì mà quan Thái phó cứ ngậm miệng như bình thế? Ta vời ông đến đây để nhờ tài thao lược, trí thông mình của ông chứ có phải vời ông để cùng ngồi ủ rù với ta cho vui đâu?
Thái Phó Nguyễn hữu Liên lật đật tâu lên :
- Xin Thiên tuế đừng nóng giận, hạ quan đã nghĩ xong kế hoạch, nhưng nó đòi hỏi nhiều sự hy sinh mới thành được việc lớn! Do đó hạ quan không dám vội tâu trình và chỉ đưa ra khi nào thiên tuế cần đến, không còn cách nào khác nữa...
Bình an Vương lấy làm lạ hỏi:
- Quan Thái phó nói gì lạ vậy ! Đòi hỏi nhiều hy sinh à ? Có gì là quan hệ đâu ! Muốn thắng quân nhà Mạc, có tốn hao hằng vạn quân sĩ cũng có làm sao? Sinh mạng con người không kể thì nói làm gì một chuyện ‘‘hy sinh’’, thực quan Thái phó nghĩ vơ vẩn quá. Mà ai hy sinh? Hy sinh bằng cách nào?
Nguyễn hữu Liên trầm ngâm mội lúc rồi nói :
- Muốn thắng quân nhà Mạc, ty chức biết rằng Thiên tuế không tiếc gì cả, nhưng việc này đòi hỏi một sự hy sinh của... Thiên tuế mới thành công được.
Bình an Vương kinh ngạc nhìn Thái phó:
- Của ta ư? Ta phải hy sinh? Mà hy sinh vật gì? Tiền bạc, đền đài hay đất dai ? Quan Thái phó cần nói mau cho ta rõ.
Nguyễn hữu Liên đáp:
- Thiên tuế nên nghĩ kỹ. Vì một sự cần thiết cấp thời, chúng ta sắp sửa gây chiến với chúa Mạc, nên phải dùng đến ván bài này : gây mâu thuẫn trong hàng ngũ chúng, làm lũng đoạn tinh thần quân sĩ chúng, quân ta mới thắng dễ dàng được.

Rồi Hữu Liên cúi sát vào tai chúa Trịnh :
- Bẩm Thiên tuế, thần nghĩ nên dùng ‘‘Mỹ nhơn kế’’
Bình An Vương cau mày lặp lại :
- Mỹ nhân kế? Dùng như thế nào? Thái phó nói ngay đi. Ai sẽ được chọn là mỹ nhơn ở Tây Đô?
- Bẩm Thiên tuế - Hữu Liên đáp -hàng ngũ quân dọ thám của ta ở Thăng Long hầu như tan rã, muốn tổ chức lại cho được như xưa phải cần nhiều thì giờ. Mà hiện tại chiến tranh sắp bộc phát, chúng ta không có cách nào để hiểu rõ lực lượng của địch quân, là điều tối nguy hiểm. Thần nghĩ ta nên bí mật phái một mỹ nhơn cho len lỏi sang hàng tướng lãnh của giặc, cố làm cho chúng say mê rồi tìm biết tình hình, thông tin về đây cho ta rõ...
Bình an Vương nhìn Nguyễn hữu Liên mỉm cười thán phục. Trong giờ phút nầy đối với ông ta Thái phó nghĩ ra được kế ấy kể cũng thật tài. Nhưng Trịnh Tùng lo ngại hỏi liền :
- Nhưng hiện nay hàng ngũ dọ thám của ta đều tan nát hết làm thế nào cho mỹ nhơn lẻn vào đất giặc được.
- Thiên tuế không ngại, Ty chức có một kế rất trung thành, hắn là người Minh Hương, hiện làm chủ một dạ điếm ở Thăng Long, nơi mà bọn tướng sĩ nhà Mạc thường hay lui tới. Ty chức sẽ tìm cách gởi mỹ nhơn ra đến đấy là yên việc.
Một mình nàng có thể giúp ta bằng một đội dọ thám đắc lực. Ty chức đã nghĩ kỹ kế hoạch để thi hành, miễn rằng mỹ nhơn là một người cứng rắn nhiều mưu lược.
Bình an Vương khẽ hỏi Nguyễn hữu Liên:
- Thái phó định chọn ai để thi hành kế hoạch ấy.
Nguyễn hữu Liên lại im lặng. Ông ta thấy rất khó nói ra tên họ của mỹ nhơn đã được ông lựa chọn khiến cho chúa Trịnh kinh ngạc vô cùng:
- Kìa, tại sao Thái phó không đáp câu hỏi của ta?
Nguyễn hữu Liên vội thưa :
- Bẩm Thiên tuế, ty chức thấy khó nói trước việc này, nhưng ty chức đã xét kỹ : ngoài nàng ra, không ai còn có thể thi hành được mênh lệnh của Thiên tuế giao phó !
Trịnh Tùng bực dọc :
- Trịnh Thái phó thử nói ra xem ai là người cần thiết để lãnh sứ mạng.
Nguyễn  hữu Liên lại nhìn Trịnh Tùng một lần nữa rồi đáp :
- Bẩm Thiên tuế, đây chỉ là ý nghĩ của ty chức nếu có điều gì phạm thượng xin Thiên tuế tha cho, ty chức chỉ vì sự lợi dân ích nước mà thôi...
Trịnh Tùng cả giận nạt lớn lên :
-  Thái phó thật lạ kỳ, ta truyền nói ra ngay tên mỷ nhơn phải thi hành sứ mạng.

Nguyễn Hữu Liên rất khôn khéo. Ông ta cố ý làm cho Bình an Vương phải tức giận lên và đòi hỏi được biết rõ tên mỹ nhơn, thì công việc mới dễ dàng...
Ông chậm rãi đáp :
- Bẩm Thiên tuế, người đủ tài, sắc, đủ mưu lược để giúp ta chiến thắng quân nhà Mạc, ty chức thiết tưởng ngoài Nguyễn Thúy Loan nương nương ra thì không còn ai đảm nhận nổi vai trò này...
Bình an Vương ngồi thừ ra trước câu nói táo bạo của Nguyễn Hữu Liên. Ông quả không ngờ vị Thái phó lại dám để ý chọn ngay người hầu thiếp yêu quý nhất của ông để thi hành một sứ mạng khó khăn như vậy.
Phái Nguyễn Thúy Loan ra Thăng Long, vào giữa lòng quân giặc với vai trò gián điệp, thực Bình An Vương không bao giờ nghĩ đến. Ông thấy khó xử vô cùng. Ở đời, bất cứ một việc gì, thuần về lý trí rất dễ dàng giải quyết nhưng đây thuộc về tình cảm.

Phái Thúy Lan đi, ông tin tưởng rằng nàng sẽ thành công dễ dàng mọi việc nhờ tài trí mưu lược và sự khôn ngoan xuất chúng của nàng.
Nhưng mà, Bình An Vương cảm thấy xót xa nhiều lắm !
Dù là một vị Chúa tể quyền uy tám cõi, nhưng Trịnh Tùng vẫn có trái tim, biết rung động trước cái đẹp, biết thương yêu gìn giữ vẽ mỹ miều của một hương sắc đang lên... Hương sắc ấy chỉ riêng ông hưởng tài hoa ấy chỉ mình ông thưởng thức... Bây giờ, vì một sự cần thiết cho quân cơ, ông phải ‘‘hy sinh’’ con người ấy ư?
Trịnh Tùng tưởng tượng một ngày nào đây, cánh hoa phải rơi trên con đường gió bụi, một mình lặn lội giữa một kinh thành xa lạ, sống phập phồng trong sự hăm dọa từng giờ, từng phút của quân thù. Rủi hở hênh một chút cũng đủ làm quỷ không đầu...
Bình An Vương bỗng quay lại nhìn Hữu Liên:
- Không ! Không thể được ! Thái phó không tìm được người nào khác chăng ?
Nguyễn Hữu Liên khẽ thưa:
- Bẩm Thiên tuế ! Việc này ngoài Nguyễn Thúy Loan nương nương ra, không còn ai đảm nhận nổi. Ty chức đã tìm kiếm khắp mọi nơi, đắn đo thật kỹ mới dám trình lên... Nếu mà... Thiên tuế không chấp thuận, kế hoạch này đành bỏ dở. Mong Thiên tuế suy nghĩ cho tận tường.
Trịnh Tùng bỗng dưng bị dồn vào một tình thế hết sức khó khăn : Ưng thuận là bóp nát trái tim mình mà từ chối thì làm sao tạo được uy thế ở Thăng Long và việc cử binh đánh Mạc đành sẽ phải hoãn lại tới ngày nào nữa?
Tâm trí rối như tơ vò, chúa Trịnh đứng lên đi qua, đi lại trong phòng cố tìm một phương cách giải quyết cho hợp tình, họp cảnh, song vẫn vô hiệu. Rốt cuộc, ông đành cân nhắc giữa ái tình và quyền lợi, xem bên nào nặng hơn... Thái phó Nguyễn hữu Liên cứ im lặng đợi chờ.
Sau cùng, Chúa Trịnh ngước đầu lên truyền phán:
- Thôi ! Quan Thái phó hãy về Dinh an nghĩ. Tôi cần suy xét lại và hỏi qua Thúy Loan xem sao...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.10.2020 19:28:58 bởi Thanh Vân>
6.Người kỵ sĩ bí mt 

 
\/IÊN Đề đốc ngồi trước án thư tức bực gã kỵ sĩ đem thơ từ Tây Đô ra vẫn đứng im lìm chờ lệnh. Tô Tạo ngồi thu mình trong góc phòng không dám nói một lời.
Nguyễn Quyện hét lên :
- Ngồi một nơi mà truyền lệnh... Không biết thế nào sự khó khăn khi thi hành. Bình an Vương tưởng ta là Chúa tế ở Thăng Long thành muốn bắt ai bắt, giết ai thì giết ư ?
Dứt lời, ông đứng lên xé toạt bức thư:
- Tìm cách xử tử !... Tìm cách xử tử ! Bộ chúng nó là hai con nhái hay sao? Nếu đã giỏi tại sao Bình an Vương không giết hai thằng khốn nạn ấy từ Tây Đô ? Để cho chúng nó ra Thăng Long rồi bắt ta phải thủ tiêu chúng ?
Nguyễn Quyện ngồi phịch xuống, cử động ấy từ từ làm cho ông la bớt tức giận. Những thoi vàng óng ánh, những hạt kim cương chói sáng bỗng hiện lên trong óc... Nguyễn Quyện cảm thấy mình vô lý, nếu tên kỵ sĩ về tâu lại thái độ giận dữ của mình có thể mất lòng chúa Trịnh... Bình an Vương có ngờ đâu chỉ mới mấy ngày mà Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng đã thu phục được cảm tình Chúa Mạc một cách dễ dàng và còn chiếm được địa vị tối quan trọng trong binh quyền nhà Mạc.
Đề đốc Nguyễn Quyện thấy cần phải viết một bức thư kể hết tình hình ở Thăng Long để cho Bình an Vương thấy rõ sự khó khăn hiện tại của ban trinh thám.
Ông cúi xuống án thư cầm bút. Dòng chữ đậm lần lượt tố giác tâm tình của một kẻ phản Mạc vì tiền.
Trong phòng, sự yên lặng vẫn kéo dài hết sức nặng nề... Gã kỵ sĩ liên lạc vẫn im lìm, còn Tô Tạo không dám thốt ra lời nào nhưng chú ý từng hành động của viên Đề đốc.
Thất bại nhiều lần, bị hai tráng sĩ Bùi, Lê làm nhục luôn luôn. Tô Tạo như con mèo bị cắt đuôi, lúc nào cũng ủ rũ ngồi trầm tư mặc tưởng, hắn đang suy tính một kế hoạch phục thù ghê gớm nên dù Đề đốc có đối xử tàn tệ đến đâu hắn cũng phải theo để chờ đợi một ngày nào đó mượn oai hùm rửa nhục.
Riêng Nguyễn Quyện, sự tin yêu đối với Tô Tạo không còn nữa. Ngày xưa sở dĩ ông ta mến chuộng hắn vì Tô Tạo còn dùng được, bây giờ gặp hai con hùm xám Bùi, Lê, Tô Tạo đã trở thành kẻ vô dụng.
Đêm nay có thám tử Tây Đô mang mật thơ của Trịnh Tùng ra Thăng Long, Tô Tạo tin tưởng là tài mình sẽ có dịp dùng để chuộc lại lỗi vừa qua... Nhưng thấy Đề đốc nạt nộ ầm ầm trong lòng hắn càng chán nản hơn...
Nguyễn Quyện đã viết xong. Ông ta truyền cho tên kỵ sĩ đến gần bảo nhỏ :
- Nhà ngươi lập tức mang thư này về Tây Đô, dâng Iên cho Bình an Vương tường lãm. Được lệnh gì mang gấp ra đây cho ta...
Dứt lời, ông kéo hộc tủ lấy ra mười lạng bạc đưa cho tên kỵ sĩ và nói :
- Đây, ta thưởng công ngươi!...
Tên kỵ sĩ nhận lấy tiền cúi đầu cảm tạ rồi từ từ ra cửa, nhảy phỏc lên ngựa phi ra khỏi cổng.
Nguyễn Quyện vội quay nhìn Tô Tạo nghiêm sắc mặt. Ông truyền :
- Người cấp tốc đuổi theo tên kỵ sĩ, hộ vệ hắn ra khỏi biên giới rồi trở về.
Tô Tạo vâng lệnh, cấp tốc đi liền.
Thật không hiểu tại sao bỗng dưng Đề đốc cảm thấy lo ngại trong lòng. Ông sợ bức thư kia lọt vào tay kẻ nào khác lỡ chúa Mạc trông thấy thì ông khó tránh cái chết thảm thương. Cho Tô Tạo đi bảo vệ kẻ đem thư ra khỏi ranh giới, ông cảm thấy hơi yên dạ được phần nào.
Viên Đề đốc có ngờ đâu từ lúc ông đọc thơ chúa Trịnh cho đến lúc gã kỵ sĩ ra đi, không một hành động nào của ông mà không qua cặp mắt của một kẻ bí mật, mặc toàn màu đen, nằm trên máng xối...
Đợi cho Tô Tạo vừa ra khỏi công dinh, người bí mật nhẹ nhàng chỗi dậy, bò lên nóc nhà phóng qua các cành cây rậm rạp, rồi chuyền nhanh ra khỏi vòng dinh. Một tiếng huýt sáo lanh lảnh, từ trong bụi rậm, một con tuấn mã cao lớn, sồng sộc chạy ra. Người bí mật từ trên cành cây nhảy choàng qua mình ngựa ra roi. Con tuấn mã chồm lên phi nhanh như gió...
Đường Thăng Long về đêm vắng vẻ, chỉ nghe tiếng đá sỏi kêu rào rạo dưới vó câu. Người bí mật thúc ngựa mỗi lúc mỗi nhanh, cặp mắt luôn luôn trông chừng ra phía trước. Qua khỏi những đường phố lặng lẽ, kỵ sĩ đã ra khỏi ngoài thành và đến những dãy đồng không mông quạnh.
Y chợt gò cương chăm chú nhìn xa xa, thấp thoáng bóng Tô Tạo đang ruỗi ngựa trên đường. Kỵ sĩ lấy làm khó nghĩ. Nếu bây giờ vượt qua Tô Tạo để đuổi theo tên mang thơ, làm thế nào Tô Tạo khỏi sinh nghi.
Kỵ sĩ bí mật còn đang phân vân thì có tiếng gươm đao chạm nhau phía trước làm vang động cả đêm khuya, khiến y vô cùng kinh ngạc. Đằng kia. Tô Tạo biết sinh biến vội vàng thúc ngựa chạy tới cấp tốc... Kỵ sĩ cũng không bỏ lỡ dịp đuổi theo liền.
Xa xa, dưới sườn đồi, chỗ tiếng binh khi chạm nhau, thấp thoáng hai kỵ sĩ đang quần ngựa đấu gươm... Hai lưỡi kiếm sáng ngời lấp lánh dưới ánh trăng ngà bọc lấy hai người. Tô Tạo quyết chắc là kẻ mang thơ đang bị chận đường, Hắn vội vã thúc ngựa đến tiếp ứng... Quả đúng như lời xét đoán. Vừa thoáng thấy Tô Tạo, tên mang thư cho Bình an Vương Trịnh Tùng kêu la cầu cứu :
- Tô tướng quân. Mau mau giúp tôi một tay!
Kẻ địch thủ của hắn, cả cười khanh khách:
- Ha ha ! Tô tướng quân nào ? Mi mớ rồi chăng ? Đồ quân dọ thám khốn nạn. Đấy là Tô Tạo. tướng chỉ huy kỵ binh thiện xạ nhà Mạc, bạn đồng ngũ của ta... Ha ! Ha ! Nhà ngươi tới số rồi. Mau xuống ngựa chịu trói cho mau!

 
Tô Tạo cũng vừa đến không nói một lời nào, xông vào tiếp ứng. Hắn bỗng chồn dạ, kẻ đang đánh nhau với tên mang thơ không ai khác hơn là Hoàng quốc Mục,          chỉ huy đoàn kỵ
binh trinh thám của chúa Mạc ! Thế này thì nguy đến nơi
rồi. Tô Tạo không còn cách nào giấu bộ mặt phản chúa của hắn. Nhưng đến nước này không còn cách nào khác được. Hắn quyết lòng hạ sát cho được Hoàng quốc Mục để giữ kỹ sự bí mật.
Thấy Tô Tạo xông vào, Hoàng quốc-Mục lên tiếng :
- Tô tướng quân, mau tay tiếp ứng bắt tên do thám
của Trịnh Tùng, hắn đã lọt vào địa phận ta đêm rồi, tôi cố theo dõi nhưng lạc dấu. Không ngờ lại gặp được hắn trên đường về.
Tô Tạo nhanh như cắt, nhảy vào vòng chiến. Kèm ngựa sát bên Hoàng quốc Mục rồi chém sã xuống một dao... Hoàng quốc Mục hoảng kinh né sang bên :
- Ô! Kìa tướng quân !...
Tên do thám của Trịnh Tùng cất tiếng cười nhạo báng:
- Ha ! Ha ! Gặp Tô tướng quân, ta với mi kẻ nào tới số?
Hoàng quốc Mục chợt hiểu. Chàng tức giận không cùng, mắng Tô Tạo :
- À, thì ra nhà ngươi là quân bán dân hại nước, làm tôi nhà Mạc mà lại đi thông đồng với quân Trịnh, ta quyết lấy đầu nhà ngươi giữa đêm nay...
Lưỡi kiếm trên tay Hoàng quốc Mục càng quay tròn lấp lánh. Chàng đánh một lượt với hai kẻ định lợi hại nhưng không chút sờn lòng. Tô Tạo càng đánh ráo riết hơn. Tình thế bắt buộc hắn phải cố gắng hạ cho được Hoàng quố­c Mục không thì tất cả cuộc âm mưu phải vỡ lỡ một cách vô cùng tai hại.
Người kỵ sĩ bí mật đã đến, chứng kiến cuộc đánh nhau từ nãy giờ, nhưng chàng chưa vội ra mặt. Chàng muốn thử tài của Hoàng quốc Mục một lần xem sao.
Đằng kia, Hoàng quốc Mục cùng chiến đấu hăng hơn, nhưng chàng cảm thấy sức mình giảm lần vì riêng một mình Tố Tạo tài nghệ đã có phần lướt chàng huống chi lại thêm tên do thám chúa Trịnh.
Nhưng vì lòng quyết tâm lột mặt nạ kẻ bấy lâu đã lừa cả Chúa Mạc và quân thần để phụng sự cho Trịnh, nên Hoàng quốc Mục mới rán chiến đấu như vậy. Nhưng sức người có hạn, dù chàng có muốn thắng cũng không thể được. Từ lúc này trở đi, kiếm pháp chàng bắt đầu rối loạn không còn áp đảo được hai địch thủ. Hoàng quốc Mục quay về cố thủ để chống đở những miếng đòn hiểm độc vô cùng.
Bỗng một tiếng thét kinh động cả đêm khuya :
- Ngừng lại!
Cả ba người đều lạ lùng dừng tay. Từ trong bụi rậm, kỵ sĩ bí mật phi ngựa ra, tay cầm kiếm sáng loáng, mặt trùm một mảnh vải đen.
Tô Tạo cả giận thét :
- Nhà ngươi là ai mà can thiệp vào đây?
Tiếng đáp lại của kỵ sĩ bí mật, khàn khàn không đoán được kẻ ấy vào độ bao nhiêu tuổi.
- Ta ở trên trời xuống đây ! Và muốn trừng trị kẻ gian ác!
Tô Tạo cả giận quay đầu ngựa để đánh với kỵ sĩ bí mật, bỏ mặc Hoàng quốc Mục cho tên dọ thám của Bình An Vương.
Hoàng quốc Mục vui mừng không xiết kể, chàng không ngờ lại có người tiếp cứu. Dù chưa biết rõ kẻ vừa đến là ai, nhưng chàng thầm cảm ơn trong dạ.
Bên kia, người kỵ sĩ bí mật cười lên khanh khách:
- Mãi đến bây giờ mới được thử tài cùng Tô tướng quân.
Tô Tạo rợn người. Giọng nói của kẻ lạ mặt không còn khàn khàn như lúc nãy và nghe quen thuộc lạ lùng. Người này là ai? Hắn cố tìm trong trí nhớ một giọng nói gần giống như vậy, nhưng không tài nào tìm ra được. Hắn đứng sững sờ giây lâu, khiến cho người lạ mặt phải lên tiếng :
- Kia ! Tô tướng quân muốn nạp mình khỏi phải giao chiến ư ?
Tô Tạo giựt mình, lòng tự ái bị va chạm. Hắn hét lớn một tiếng, thúc ngựa xông vào, chém mạnh vào đầu người kỵ sĩ bí mật. Kỵ sĩ né mình sang một bên nắm chặt dây cương rồi thúc ngựa chạy vòng, bao quanh lấy Tô Tạo... Lưỡi kiếm trên tay chàng nhanh nhẹn chém bổ từng chập vào mình họ Tô. Tài điều khiển ngựa của kỵ sĩ thật có một không hai.
Ngựa mỗi lúc càng chạy nhanh vùn vụt, áp đảo ngựa của Tô Tạo không còn biết đường tấn thối,lúng túng như ở giữa vòng vây, Tô Tạo cảm thấy luống cuống trước một địch thủ giao phong kỳ lạ.
Kỵ sĩ lại cất tiếng cười ghê rợn và bảo Tô Tạo:
- Mau xuống ngựa chịu trói cho rồi!
Tô Tạo bị áp đảo trong một vòng tròn, hươi kiếm chém loạn xạ, vì không còn phân biệt được địch thủ ở hướng nào. Bỗng ngựa của Tô Tạo hí lên một tiếng kinh thiên động địa, chồm lên, vì bị lưỡi kiếm của người kỵ sĩ bí mật chích mạnh vào mông... Tô Tạo hoảng sợ kềm chặt dây cương nhưng không còn kịp nữa... Kẻ lạ mặt phóng vào mông nó một mũi kiếm thứ hai, ngựa chồm lên, tung hai chân sau, hất Tô Tạo té nhào xuống đất...
Không để mất thì giờ, người kỵ sĩ bí mật, thừa cơ hội, thình lình rời khỏi lưng tuấn mã của mình nhảy bổ xuống và đè lên bụng họ Tô. Một cuộc vật lộn ác liệt và ngắn ngủi diễn ra. Chỉ trong nháy mắt, Tô Tạo đã bị người ấy tước mất khí giới, sau những quả đấm ‘‘ thôi sơn ‘‘ nhừ tử khiến hắn gần bất tỉnh. Lanh như cắt, người kỵ sĩ rút trong mình ra một sợi dây gai, trói chặt hai tay và hai chân của đối phương lại.
Đằng kia, Hoàng quốc Mục thấy người lạ mặt đã đánh ngã Tô Tạo, càng nỗ lực ráo riết hơn. Tên dọ thám của chúa Trịnh Tùng hơi chồn dạ... Hắn thấy cơn nguy cơ sắp đến muốn tìm đường bôn tẩu nên đánh bạt một đường kiếm rồi quay ngựa chạy. Hoàng quốc Mục vội nhìn về phía người kỵ sĩ lạ mặt, chưa kịp nói lời gì thì thấy kỵ sĩ ruổi ngựa đuổi theo tên dọ thám, kỵ sĩ còn quay đầu dặn lại :
- Hoàng tướng quân trông chừng Tô Tạo, để tôi bắt tên dọ thám ấy cho. giọng nói rất quen thuộc khiến Hoàng Quốc Mục nghi ngờ.
Chàng xuống ngựa đến bên Tô Tạo đang bị trói nằm queo dưới đất. Hắn căm giận nguyền rủa và hăm dọa không ngớt.
Hắn bảo Hoàng quốc Mục :
- Không mở trói cho ta, nhà ngươi sẽ bị lụy vào thân, nơi đây quan Đề đốc sẽ không tha những kẻ xấc láo dám chạm đến thủ hạ của ngài...
Quốc Mục nhìn hắn khinh bỉ:
- Tội thông đồng với giặc của mi đáng xử lăng trì. Không lo thân còn tìm cách hăm dọa kẻ khác! Đồ khốn kiếp!
Tô Tạo cười gằn :
- Ta thông đồng với giặc ? Bằng cớ đâu mà nhà ngươi dám đặt điều như vậy? Tội ngươi vô cớ bắt người rồi mới xử làm sao?
Hoàng Quốc Mục hơi lo ngại trong lòng. Nếu người kỵ sĩ bí mật không bắt được tên do thám, thì chàng khó lòng tránh khỏi bị Đề Đốc hãm hại. Nguyễn Quyện sẽ tâu với Chúa Mạc là vô cớ mình bắt trói Tô Tạo. Rồi đây biết lấy gì làm bằng cớ để phân trần.
Hoàng quốc Mục lo lắng vô cùng. Trong thời buổi khó khăn, kẻ gian ác lại có đủ uy quyền hãm hại người trung trực. Tôi trung nhà Mạc cứ chết lần đi một là vì khẳng khái không thần phục Đề đốc; hai là ra mặt chống lại nhưng thiếu uy lực. Còn một số khác, muốn yên thân nên chỉ làm ngơ.
Thấy Hoàng quốc Mục ra chiều nghĩ ngợi, Tô Tạo cho rằng họ Hoàng đã xiêu lòng nên càng ‘‘tấn cồng’’ mạnh mẽ hơn:
- Nhà ngươi nên thả ta ra thì mọi việc đều yên xuôi cả không chừng lại được Đề đốc tin dùng nữa là khác.
Hoàng Quốc Mục chú ý những lời nói sau cùng và như chợt tỉnh cơn mê, chàng mở to mắt nhìn Tô Tạo :
- À, thì ra cả Đề đốc cũng thông đồng với quân Trịnh ư?
Biết là mình lỡ lời, Tô Tạo vội nín bặt nhìn sang chỗ khác. Hoàng quốc Mục đến bên hỏi hắn :
- Tô Tạo! Ta không ngờ chủ tớ mi lại khốn nạn đến thế! Ăn cơm nhà Mạc, đi phản lại tiền đồ nhà Mạc. Rồi đây chúng bây không thoát tội tử hình... Ta dù chức nhỏ, không đủ quyền lực chống lại Đề đốc nhưng ta thề sẽ lột bộ mặt phản nước, phản dân của hắn,
Tô Tạo gục đầu yên lặng. Hắn ra chiều suy nghĩ lung lắm. Bây giờ hắn mới cảm thấy nguy cơ về phần mình. Đề đốc sai đi theo hộ vệ tên do thám đã không làm tròn phận sự lại còn để bại lộ cơ mưu.
Dù không bị Chúa Mặc xử hình, hắn cũng khó thoát bàn tay đẫm máu của Đô đốc Hộ thành Nguyễn Quyện.
Suy tới nghĩ lui Tô Tạo vô cùng lo lắng. Sau cùng, ý hắn đã quyết chí có cái chết mới thoát được sự dày vò ghê gớm. Không cần phải thốt thêm lời nào, Tô Tạo lặng lẽ cắn lưỡi tự tử.  Hắn co quắp mình lên gục đầu xuống, máu trào ra khoé miệng.
Hoàng Quốc Mục kinh hãi, khom xuống đỡ lấy đầu hắn. Tô Tạo đã tắt nghỉ tự lúc nào.
Quốc Mục ngồi xuống, lòng rối như tơ vò. Trong tình thế này, chàng thật vô cùng khó xử. Người bí mật vẫn biệt dạng không thấy tăm hơi... Nếu người ấy không bắt được tên do thám thì thật là nguy hiểm. Lấy bằng cớ nào mà nói rằng Tô Tạo là kẻ phản chúa! Hắn vừa tự tử chết đi thật là tai họa cho chàng.
Hoàng quốc Mục đứng lên đi qua, đi lại nóng ruột vô cùng. Bỗng có tiếng ngựa, dập dồn mỗi lúc mỗi gần. Từ xa người bí mật đang ruỗi ngựa về, bên hông ngựa còn đèo theo tên do thám của Trịnh Tùng đang bị trói thúc ké phía sau lưng. Hoàng quốc Mục vui mừng không kể xiết, vội cúi chào người bí mật:
-   Thật không biết lấy gì đền đáp ơn tráng sĩ. Nếu không gặp người, không biết làm sao đánh bại được kẻ gian.
Người bí mật cả cười :
- Có gì đâu mà Hoàng tướng quân nói nhiều lờí quá đáng như vậỵ... Chúng ta cùng chung một mục đích, diệt trừ kẻ gian ác, thông đồng với quân Trịnh thì dù muốn dù không, cũng phải giúp đỡ lẫn nhau.
Giọng cười đều đặn và câu nói úp mở của người bí mật càng làm cho Hoàng quốc Mục ngạc nhiên. Chàng ngước lên chăm chú nhìn, nhưng không làm sao đoán xét được vẻ mắt của người kia, sau làn vải dầy che khuất.
Khách lạ lại cười:
- Hoàng tướng quân nghĩ gi mà ngẩn ngơ như vậy. Đã bắt được kẻ gian còn chờ gì không đem về triều cho Chúa Mạc xử tội.
Bỗng khách lạ nhìn sang Tô Tạo và kinh ngạc ngồi thụp xuống bên gã. Chàng ngồi thừ người ra mội lúc rồi lẩm bẩm :
- Hắn đã chết rồi ư ? Việc này càng thêm rắc rối !
Chàng quay sang Hoàng quốc Mục:
- Tướng quân liệu định thế nào?
Quốc Mục buồn rầu nhìn xuống đất:
- Chuyện này ở ngoài sự dự đoán của tôi. Không ngờ nhờ một dịp may mà tôi khám phá được tổ chức trinh thám của chúa Trịnh, trong đất Mạc. Tuy nhiên, quyền lực của tôi không đủ sức chống với quyền hành của quan Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện.
 
 
Người bí mật khẽ ngẩng đầu lên:
- Sao tướng quân được biết?
- Vừa mới rồi, Tô Tạo đã lỡ lời nói rõ sự bí mật.
Người khách lạ gật đầu:
- À, thì ra vì thế mà hắn tự tử cho yên chuyện. Tôi đã biết rõ mặt thật của Đề đốc từ lúc ban chiều.
Nói xong câu ấy, người bí mật vội lột chiếc khăn đen bao mặt, Hoàng quốc Mục vui mừng reo lên :
- Kìa ! Thì ra là Phó tướng Thế Hùng.
Lê thế Hùng mỉm cười :
- Đội trinh thám của Trịnh Tùng đã len lỏi đầy dẫy trong hàng ngũ quân ta, nên khó phân biệt được người ngay ; kẻ gian. Bây giờ đã hiểu rõ tướng quân là bực trung thần của Chúa Mạc, từ nay ta sống chết có nhau.
Hoàng quốc Mục hỏi .
- Về việc này Phó tướng liệu định thế nào?
Lê thế Hùng ra chiêu suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Không ngờ Đề Đốc Nguyễn Quyện, quyền cao tước cả như vậy, lại là phường phản bội. Việc nầy chúng ta cần tìm đầy đủ bằng cớ xác thật mới mong lột được bộ mặt xảo quyệt của hắn. Nếu lôi thôi sẵn quyền binh trong tay lại được lòng tin yêu của chúa thượng, hắn trở trái làm mặt bọn ta khó thoát chết một cách oan uổng.
Hoàng quốc-Mục sẽ gật đầu rồi nói:
- Đề đốc Nguyễn Quyện là người tàn ác xưa nay, bây giờ tiểu tướng mới hiểu rõ vì sao hắn cứ tìm cách hảm hại các vị trung thần của nhà Mạc.
Rồi như ngậm ngùi, Hoàng quốc Mục tiếp hỏi :
- Không hiểu tại sao, Đề đốc lại có người con gái dung nhan kiều mỵ, tánh tình khả ái như Ngọc Lan tiểu thư được?
Lê thế Hùng khẻ hỏi :
- Ngọc-Lan tánh tình trái ngược với cha ư ? có phải nàng chính là người mà thiên hạ đồn là Tô Tạo đã đeo đuổi mãi đó không ?
- Chính phải, Ngọc Lan giỏi cả cầm kỳ thi họa, tánh tình đoan trang không hay se sua trang điểm. Nghe đâu nàng cũng là tay tinh thông võ nghệ.
Có lần nàng đi ra ngoài thành dạo chơi, bị mội bọn côn đồ xúc phạm. Ngọc Lan một mình tay không đánh chúng ngã lăn chiêng, gây chấn động thành Thăng Long một dạo... Tên đầu đảng bọn côn đồ chính là Trương sát Thu, hiện nay cũng là một bộ hạ thân tín của quan Đề đốc...
Tuy chưa biết mặt Ngọc Lan nhưng Lê thế Hùng cảm thấy mình có rất nhiều cảm tình với nàng thiếu nữ đáng thương ấy...
Không hiểu rồi đây, trên đường đời vạn nẻo, hai người có lúc nào bước chung nhau một đoạn đường chăng ? Chứ tự dưng, Thế Hùng cảm thấy rung cảm bâng quơ...
Lê thế Hùng nín lặng một lúc lâu, tay sờ vào túi áo trong tìm lại bức thư của Đề đốc gởi cho Trịnh Tùng mà chàng đã lấy trong mình tên dọ thám lúc nãy. Chàng muốn mang bức thư về đưa Bùi văn Khuê để hai anh em cùng bàn qua ý kiến đối phó với Đề đốc Nguyễn Quyện.
Lê thế Hùng quay lại truyền cho Hoàng quốc Mục đem tên dọ thám lên ngựa buộc ngang một bên hông và nói :
- Tướng quân mang tên dọ thám này giam vào ngục rồi đến dinh ta để cùng bàn chuyện cơ mật với Đại tướng Bùi văn Khuê. Nhớ kỹ là đừng thố lộ chuyện này cho quân sĩ biết. Rán thận trọng mới lột được mặt nạ của Nguyễn Đề đốc.
Hoàng quốc Mục vâng dạ. rồi lên ngựa nhắm nội thành Thăng Long trực chỉ.
Còn lại một mình với thi hài của Tô Tạo, Lê thế Hùng hết sức phân vân... Chàng muốn đem Tô Tạo về Thăng Long để làm bằng cớ, nhưng xét kỹ nếu trên đường về gặp quân tuần tiễu làm sao khỏi lôi thôi lộ chuyện ! Chàng vội kéo thây Tô Tạo vào trong bụi rậm cho khuất rồi lên ngựa trở về.

 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2020 20:55:43 bởi Ct.Ly>
14. Tình xưa sống dậy
 
 

 
 
ĐÊM lững lờ trôi...Ánh trăng buồn nhạt, chập chờn tỏa xuống hành lang, gió trong vườn ngưng thổi, cây cối im lìm như say giấc ngủ triền miên. Thúy Loan vẫn còn thức. Nàng không hiểu vì cớ gì mà đêm nay nàng cứ trằn trọc, thao thức mãi...
Mấy hôm liền, Chúa Trịnh bận luô, ít đến gặp nàng, nhưng không vì thế mà nàng cảm thấy lẻ loi, cô độc.
Từ bao lâu nay, nàng sống với Chúa Trịnh không tình, không nghĩa thì tha thiết gì những giờ phút gần nhau.
Nàng ví mình như thân cá chậu chim lồng ; sống trong lầu vàng điện ngọc mà tâm hồn bị đày đọạ như trong cảnh ngục tù.
Thực không có gì khổ sở hơn làm ngược lại chính lòng mình! Không vui vẫn cố cười cợt lả lơi, không buồn vẫn cứ phải giọt châu tầm tã... Phải khóc cho ra người yêu dấu, nũng nịu, cợt đùa cho đẹp dạ người. Nàng cứ phải làm ra mặt yêu đương giữa lúc trong lòng lạnh nhạt không cảm thấy một chút hương vị của ái tình.
Chịu đựng nhiều quá rồi, sống mãi như thế này, nàng không làm thế nào sống được nữa ! Đã bao lần muốn thoát ra khỏi bốn bức tường thành kiên cố, nhưng nàng không biết rồi đây mình sẽ phải về đâu?
Nàng biết chắc rằng trốn thoát ra ngoài, nàng cũng không làm sao qua khỏi móng vuốt Chúa Trịnh. Chừng ấy nàng sẽ không còn là người ái thiếp của Trịnh Tùng mà chỉ là một kẻ tử tù, chờ giờ hành quyết.
Đã có biết bao nhiêu nàng hầu trẻ đẹp vì không chịu nổi kiếp đời tẻ nhạt trong chốn thâm cung đã liều mình trốn ra ngoài để rồi chịu cực hình cho đến chết.
Đối với Trịnh Tùng, tình yêu và thù hận đi đôi... làm trái ý ông ta chỉ là tự mình ký án tử cho mình. Cái người mà đêm hôm nào chúa Trịnh tỏ dạ yêu thương, nâng niu trìu mến, chỉ sơ hở một điều gì cũng đủ biến thành xa lạ mà thôi.
Thúy Loan vẫn biết vậy nên càng được Trịnh Tùng nâng niu, nàng càng dè dặt. Nàng khôn khéo đối xử khiến chúa Trịnh vô cùng đẹp dạ.
Ánh trăng khuya mờ nhạt trải xuống khu vườn một màu trắng sữa. Gió thoang thoảng như ru cây cỏ chìm vào giấc ngủ triền miên... Thúy Loan lần ra phía hành lang đứng lặng nhìn trời khuya, buồn bực...
Trong những đêm sâu, lặng lẽ như thế nầy, một mình nằm trong phòng không quạnh quẽ, nàng mới cảm thấy được tất cả cái bơ vơ trống lạnh của đời mình. Nàng thấy thiếu thốn nhiều lắm... Thiếu một tấm chân tình để ấp ủ nàng cho khỏi lẻ loi...
Bỗng dưng, Thúy Loan thấy nhớ tha thiết đến một hình ảnh dường như đã vùi sâu trong ký ức: Một chàng thanh niên mà đêm nào đột ngột đến với nàng giữa cuộc vây bắt của đoàn ưu binh.
Nét mặt khôi ngô, giọng nói chân thật hiền hòa, dáng diệu hiên ngang ấy đã gieo vào lòng Thúy Loan một mốị cảm tình mật thiết... Cặp mắt long lanh sáng của người ấy đã nhìn nàng và không giấu giếm được tình yêu vừa phát lộ... Nàng tưởng chừng cuộc đời nàng đã bắt đầu sang một giai đoạn khác, nhưng không ngờ chàng lại từ
giã ra đi, đột ngột như khi đến...
Thúy Loan đã qua những ngày buồn dã dượi nằm trong cung cấm mà tâm hồn hằng mải mê theo dõi bước người xa...
Thế là hết. Thúy Loan lặng lẽ thở dài. Hạnh phúc có bao giờ trở lại hai lần đâu?
Nàng cũng rụt rè nên không dám bộc lộ tâm tình, còn chàng trong lòng còn bận bịu bao nhiêu việc, dám đâu nghĩ đến tình riêng.
Thúy Loan hiện rõ việc làm của Bùi văn Khuê, nên thuở ấy ngoài tình yêu, nàng còn một tấm lòng cảm phục. Nàng biết rằng họ Bùi đang làm một việc nguy hiểm vô cùng, chống lại quyền uy của Chúa Trịnh để cứu dân chúng khỏi cảnh lầm than, đem hằng vạn con người thoát vòng áp bức mà trong số ấy có cả nàng... Chàng ra đi rồi, nàng thầm van vái cho chàng thoát khỏi lưới rập của Bình An Vương... Nhưng từ ấy tới nay, tin chàng vắng bặt, không biết hiện giờ còn mất thế nào? Nàng âm thầm chịu đựng cơn lo lắng dày vò, chứ nào dám thố lộ cùng ai.
Một bóng người nhè nhẹ bước vào phòng. Người ấy đảo mắt nhìn quanh và bắt gặp Thúy Loan đang thẫn thờ trước hành lang, liền bước ra theo...
Thúy Loan không hay biết gì hết. Tâm hồn nàng vẫn chìm trong giấc mộng xa xưa. Thỉnh thoảng nàng lại thở dài ảo não.
Một tiếng nói cất lên phá tan bầu không khí lặng yên.
- Nhớ ai mà buồn vậy, ái phi?
Thúy Loan hoảng hốt quay lại và nhìn ra Chúa Trịnh đang đứng phía sau, nàng phủ phục dưới chân:
- Xin Thiên tuế tha tội cho thiếp đã chậm cung nghinh.
Trịnh Tùng vội đỡ nàng lên cười ha hả:
- Kìa ! Ái phi có lỗi gì đâu. Tại sao ái phi run rẩy thế nầy ? Ồ, tay chân ái phi lạnh ngắt như đồng! Ai biểu đứng ngoài sương làm gì.
Trịnh Tùng dìu nàng vào trong, Thúy Loan vẫn chưa hoàn hồn. Giữa lúc nàng đang tưởng nhớ đến Bùi văn Khuê, không ngờ Trịnh Tùng lại đến một bên tự bao giờ mà nàng không biết.
Nàng lo sợ Chúa Trịnh đoán xét được những ý tưởng trong đầu nàng. Lần lần tỉnh lại và thấy rõ sự vồn vã của Trịnh Tùng, Thúy Loan rất yên dạ.
Nàng nũng nịu:
-  Chúa thượng vào không cho thiếp biết, làm thiếp hết... hồn.
Trịnh Tùng nhìn nàng say đắm. Bỗng nhớ đến việc vừa bàn với Thái phó Nguyễn Hữu Liên, ông buồn dàu dàu, nhìn ra vườn.
Thúy Loan ngạc nhiên nhìn Chúa Trịnh. Chính nàng mới thật không hiểu vi sao đang vui. Chúa Trịnh lại trở nên tư lự u buồn, chắc không phải vì nàng làm phật ý; có điều gì lo lắng cho Chúa Trịnh đây chăng?
Nàng quỳ xuống bên cạnh Bình An Vương:
- Chúa Thượng có điều gì lo nghĩ mà thiếp xem thần sắc không được vui.
Giọng nàng đầm ấm ngân lên trong đêm vắng lặng.
Bình An Vương cúi xuống nhìn khuôn mặt trái soan đẹp mịn màng dưới ánh sáng dịu dàng của hàng bạch lạp.
Trịnh Tùng buồn bã nói:
- Ái phi ngồi lên đi. Lòng ta đương rối như cuộn tơ vò chưa có cách gì gỡ ra được. Nhìn thấy mối tình tha thiết của ái phi ta càng khó nghĩ hơn.
Thúy Loan từ từ đứng dậy rồi ngồi xuống bên Chúa Trịnh.
Lần thứ nhất, từ khi về với Bình an Vương, Thúy Loan mới chứng kiến một việc trái với lệ thông thường. Chúa Trịnh đang gặp phải chuyện gì khó khăn khiến ông phải đến đây với tất cả bứt rứt và đau khổ? Chuyện chánh trị giữa triều đình hay quân cơ mà lại đem nói với nàng ?
Bỗng Chúa Trịnh âu yếm đặt tay lên vai nàng, hỏi nhỏ :
- Ái phi ! Nàng có thương ta thật lòng chăng?
Dù đối với người mà nàng không yêu nhưng sao bao ngày gần gũi và trước một lời nói chơn thành đầy xúc động. Thúy Loan phải nói ngược lại với lòng mình:
- Chúa Thượng ! có lẽ Chúa Thượng nghi ngờ lòng thiếp chăng?
Trịnh Tùng gục đầu xuống lẩm bẩm :
- Ta hiểu rồi ! Ta hiểu rồi ! Chính trong lòng ta còn dội lên một niềm yêu tha thiết thì nói chi nàng.
Lời ấy giúp Thúy Loan hiểu rõ tình yêu của Chúa Trịnh riêng đối với nàng hơn. Thì ra, từ lâu lắm, Trịnh Tùng đối với nàng không như đối với bao nhiêu hầu thiếp khác.
Phát giác mới lạ nầy không làm cho Thúy Loan mừng vì từ nay nàng sẽ  tạo  được rất dễ dàng, một uy thế trong cung nội; mà trái lại còn làm cho nàng chua xót hơn !
Xét kỹ lại lòng mình Thúy Loan thấy rõ tình ỵêu của nàng đối với chúa Trịnh chỉ là một sự gượng ép mà thôi. Tinh yêu giả dối ấy phát sanh do sự kinh sợ uy quyền.
Mới vừa đây, nàng thoảng thấy cảm động trước tình yêu chân thật của Trịnh Tùng nhưng nó chỉ phớt qua như cơn gió thoảng trong vườn.
Hơn nữa, ngày nay Thúy Loan không còn làm chủ lòng nàng được nữa. Nó đã ‘‘bay’’ xa lắm rồi; nó đã theo chân người lữ khách một đêm nào gặp nàng trong lúc ngẫu nhiên.
Nhưng dù sao trước hoàn cảnh này Thúy Loan cũng cảm thấy không thể lãnh đạm được trước những cử chỉ của Trịnh Tùng.
Nàng ngước mặt lên hỏi:
- Chúa Thượng, có điều gì lo nghĩ xin cứ nói xem thiếp có thể giúp đở được phần nào chăng?
Trịnh Tùng nhìn nàng cảm động:
- Ái phi nên hiểu rõ tình yêu của ta đối với ái phi. Ta không bao giờ muốn rời ái phi một phút nào đừng nói chi đến hằng bao nhiêu năm tháng. Nhưng trước tình thế này, ta khó nghĩ lắm.
Thúy Loan ngạc nhiên hỏi dồn dập tới :
- Chuyện gì vậy Chúa Thượng?
Trịnh Tùng chậm rãi đáp :
-  Ái phi hãy bình tĩnh nghe ta nói. Từ bao lâu nay
la chuẩn bị một cuộc tấn công vào đất Mạc. Và muốn nắm chắc phần thắng lợi, ta đã cho toàn đội dọ thám len lỏi vào Thăng Long để dò xét, tổ chức nhiều đội ngũ trong lòng quân giặc. Những đội ngũ nầy chỉ chờ đợi đến lúc ta xua quân tấn công sẽ làm nội ứng phá thành nhà Mạc. Nhưng bất ngờ, bọn Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng...
Trịnh Tùng nín bặt và hơi kinh dị vì thoáng thấy mặt Thúy Loan đổi sắc.
Ông vội hỏi :
- Ô hay ! Ái phi sao thế?
Thúy Loan giựt mình. Biết mình vụng về, nàng vội trấn tỉnh ngay :
- Tâu Chúa Thượng, thiếp thấy hơi xây xẩm mặt mày...
Chúa Trịnh đở nàng nằm xuống rồi nói :
- Có lẽ ái khanh bị nhiễm sương rồi đấy ! Để cho gọi lươhg y vào chẩn mạch...
Thiếu phụ ngăn lại:
- Chúa Thượng chớ nhọc lòng. Thiếp nằm một lúc là khỏi ngay. Xin Chúa Thượng kể tiếp câu chuyện lúc nãy.
Trịnh Tùng ngồi xuống bên Thúy Loan nói tiếp :
- Hai tên khốn kiếp Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng độ nào phá rối Tây Đô, bị quân ta đánh đuổi chạy ra Thăng Long đầu hàng họ Mạc. Chúng quyết tâm truy nã và phá vỡ tất cả những tổ chức dọ thám của ta,.. Hiện nay ngoài vài địa điểm lẻ loi quân ta không làm thế nào hiểu được tình hình quân Mạc. Mà như vậy thật là bất lợi nếu ta khởi cuộc tấn công vào Thăng Long. Ta thật bối rối vô cùng. Vừa đây, quan Thái phó Nguyễn Hữu Liên đề nghị dùng mỹ nhơn kế mới dễ dàng lọt vào đất Mạc. Ta phân vân chưa biết tìm ai thì Nguyễn Thái phó khuyên ta nên ngỏ ý nhờ ái phi thi hành nhiệm vụ khó khăn này... Lòng ta thật khó nghĩ vô cùng...
Trịnh Tùng nói thêm nhiều lắm. Ban đầu Thúy Loan rất kinh ngạc nhưng về sau nàng không còn để tâm nghe nữa. Nàng lim dim mắt thả tâm hồn theo cơn mộng bất ngờ. Nàng thấy lòng mình rộn lên một niềm vui không bờ bến: Nàng sắp đươc thoát ly khỏi cảnh trói buộc nầy.
Đồng thời, Thúy Loan tự nhủ thầm :
- Thế là họ Bùi đã thành công trên đất Mạc và cừu xưa chàng có hy vọng trả được rồi.
Nhưng Thúy Loan thấy e ngại vô cùng. Chuyện nầy được phái đến Thăng Long nàng sẽ đi với phận sự của Trịnh Tùng giao phó; dù muốn dù không, nàng cũng trở nên kẻ thù nghịch của họ Bùi, liệu tâm tình rồi đây có cởi mở được không?
Bỗng Thủy Loan giật mình vì câu nói của Chúa Trịnh:
- Phải không ái khanh ? Ái khanh nghĩ thế nào về đề nghị của quan Thái phó?
Nàng kinh hoảng vì từ lúc nãy đến giờ nàng có chú ý xem Chúa Trịnh nói những lời gì đâu.
Nàng ấp úng thưa :
- Vâng. Số phận của thiếp hoàn toàn tùy Chúa Thượng định đọạt.
Trịnh Tùng đặt hai taỵ lên vai Thúy Loan lẩm bẩm:
- Nhưng làm thế nào ta xa ái phi cho được mà bắt buộc ta phải hy sinh. Đừng hòng ai cướp được người yêu của ta.
Thúy Loan chăm chú lóng tai nghe và bàng hoàng lo ngại. Trịnh Tùng đã quyết định không đồng ý cho nàng ra Thăng Long rồi ư?
Thúy Loan cầm lấy tay Trịnh Tùng nói bằng giọng tha thiết:
- Tâu Chúa thượng, trong giờ phút này, thiếp mới hiểu rõ lòng Chúa thượng đối với thiếp và chắc Chúa thượng cũng rỏ tình yêu của thiếp. Thiếp chỉ mong cho cuộc đời đừng sóng gió để được mãi mãi ở cạnh bên mình, hầu hạ phục dịch Chúa thượng đến mãn đời.
Bình an Vưo,ng đỡ nàng lên :
- Ái phi hãy ngồi lên đi. Đừng nghĩ lẩn thẩn như vậy. Bao giờ nàng lại không ở bên ta...
Chúa Trịnh lại thẫn thờ nhìn ra vườn ngự. Trong não cân ông diễn ra một sự dằng co Sôi nổi giữa quyền lợi và tình yêu... Thực ra trong thâm tâm, ông không bao giờ có ý định xa Thúy Loan vì sắc đẹp diễm kiều, tánh tình khôn ngoan của nàng đã làm cho ông vô cùng luyến ái. Cho nên, mới thoạt nghe Nguyễn hữu Liên đề nghị ông phản đối ngay. Đến lúc vào đây thấy tình yêu của Thúy Loan đối với mình, Trịnh Tùng càng thấy khó mà ‘‘hy sinh’’ nàng cho việc lớn.
Nhưng càng suy đi tính lại, càng nghĩ đến ngày tiến đánh Thăng Long gần kề, Chúa Trịnh thấy bứt rứt không yên. Không hy sinh nàng, biết lấy ai dò xét quân tình Chúa Mạc, tạo sự lủng củng trong hàng ngũ chúng bây giờ ? Sự tiến quân tấn công Thăng long không còn chậm trễ được nữa; tướng sĩ, lương thực đã chuẩn bị lâu rồi, đình hoãn là nguy hại không lường được.
Đêm lặng lẽ trôi qua, Thúy Loan đã mệt mỏi. Nàng giả vờ thiêm thiếp giấc nồng. Nàng chỉ mong thoát khỏi cung cấm của Trịnh Tùng bằng mọi cách; gặp dịp nào nàng cũng không từ bỏ, nhưng thấy Chúa Trịnh tha thiết giữ nàng, Thúy Loan cũng không nói gì hơn!
Chỉ riêng Trịnh Tùng đang gặp phải một cơn sóng gió trong lòng. Càng nghĩ đến quyền lợi của mình, đến sự cần thiết phải tiêu diệt bè lũ Chúa Mạc, ông thấy nhẹ lần tình yêu đối với Thúy Loan. Và tự dối lòng mình, Chúa Trịnh nghĩ rằng cần phải nghĩ đến việc lớn trước đã... Thúy Loan có thể vì Chúa mà ra Thăng Long vài ba năm rồi lại trở về sống mãi bên ông.
 
Nghĩ được đến đây, Chúa Trịnh hơi yên dạ như vừa tìm ra được một lối thoát. Ông định lay gọi Thúy Loan để nói với nàng những ý nghĩ của mình, nhưng Chúa Trịnh cảm thấy ngại ngùng.
Trịnh Tùng đứng lên đi qua đi lại trong phòng suy nghĩ. Ông rất bực dọc vì tại sao đối với Thúy Loan ông không thể dùng được cái uy quyền tuyệt đối: chỉ truyền lịnh và không ai có luyện được phép cãi lại. Với Thúy Loan, ông cảm thấy khó khăn khi phải dùng đến quyền lực này...
Vừa mới tỏ cho nàng Ihấy rõ tình yêu của mình bỗng dưng lại đổi ý phái nàng vào đất giặc thì Thúy Loan sẽ nghĩ thế nào? Chúa Trịnh rất áy náy. Việc thay đổi quyết định hay nghiêm lệnh đột ngột xảy ra rất thường trong triều đình cung điện nhưng đối với Thúy Loan, Chúa Trịnh bị tình yêu chi phối
rất nhiều, ông bắt buộc phải đối xử êm dịu và thật thà hơn.
Thúy Loan lần nầy đã thiêm thiếp ngủ say, và nàng không nghĩ rằng sự khôn khéo của nàng từ bao lâu nay đang lam khổ lòng Chúa Trịnh...




Đăng nhập để trả lời
0
7- Dạ Hương xuất hiện


 
 
Thế Hùng vừa khuất dạng, thì từ trên một cành cây đại thọ um tùm, một người vận toàn màu đen buông mình xuống đất và nhanh như cắt chạy vụt về phía bụi rậm chỗ giấu thây Tô Tạo. Người ấy cúi xuống lấy tay sờ vào ngực Tô Tạo bỗng kinh hoàng rút lui lại : Máu từ khóe miệng trào ra cho biết họ Tô đã cắn lưỡi tự sát.
Người ấy thở dài, vội sốc thây Tô Tạo lên vai, bước ra khỏi bụi rậm, rồi  đưa tay lên miệng làm ống loa hú dài một tiếng. Tức thì một con tuấn mã hí vang lên đáp lại, rồi xồng xộc tiến đến gần bên cạnh chủ. Người mặc võ phục đen khẽ gật đầu ra dáng hài lòng. Người ấy đặt Tô Tạo nằm ngang trên yên, rồi nhảy phóc lên ngựa ra roi, nhắm hướng Dinh viên Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện trực chỉ.
Thăng Long về khuya im lặng lạ thường không một bóng người lai vãng. Ngựa phi nhanh như gió, kỵ sĩ không buồn nhìn mọi vật xung quanh, hình như chỉ quyết định đến Dinh Đề đốc để thi hành việc gì mà thôi.
Người ấy không tiến thẳng vào cổng rào mà cho ngựa chầm chậm bên ven tường. Bỗng kỵ sĩ xuống ngựa lôi thây Tô Tạo luôn xuống đất rồi đuổi ngựa đi… Kế đó, kỵ sĩ dìu bên ven tường tìm một ngách nhỏ thông vào trong Dinh... Điệu bộ lanh lẹ của người bí mật chứng tỏ đó là kẻ quen thuộc đường đi nước bước, đã từng ra vào cửa ngách nầy.
Kéo thây Tô Tạo qua khỏi vòng Dinh, người ấy lặng yên nghe ngóng.
Bốn bề vắng ngắt như tờ. Nhưng trong phòng Đề-đốc, đèn vẫn thắp sáng.
Cúi mình xuống quảy thây Tô Tạo lên vai, người bí mật chạy biến mình vào dãy hành lang huớng về phòng viên Đề đốc.
Vào giờ nầy Nguyễn Quyện vẫn còn ngồi bên án thư xem sách. Không hiểu sao từ lúc tên dọ thám của Bình an-Vương ra về, ông không yên dạ, dù có Tô Tạo đuổi theo hộ tống, Đề đốc cũng còn thấy lo sự bâng quơ. Phải chăng ông lo ngại bọn Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng phá vỡ tổ chức gián điệp mà ông đã dầy công thiết lập bấy lâu.
Đường từ đây ra Sơn Nam thì ngại nhiều nguy hiểm chứ đến Sơn Nam rồi dư đảng càng đông không gì đáng lo ngại. Cớ sao Tô Tạo vẫn chưa thấy về ? Hay là hắn lại đưa tên dọ thám ra khỏi biên giới ? Có lý đâu họ Tô khờ khạo đến như vậy, miễn thấy tên dọ thám qua khỏi vùng cấm địa thì lập tức trở về báo tin lành cho ông hay như mọi lần.
Viên Đề đốc đặt ra nhiều câu hỏi rồi tự giải đáp lấy, cho nên đầu óc ông cứ quay cuồng luôn. Tuy dạng ngồi xem sách mà Nguyễn Quyện nào có để tâm trí vào những dòng chữ kia đâu. Trong đầu ông chỉ thấy lờ mờ hình ảnh một kỵ sĩ đang ruỗi ngựa trên đường thiên lý...
Một tiếng động mạnh trong phòng, Đề đốc kinh hoàng ngẩng đầu lên, một thây người nằm sóng sượt giữa phòng, máu trào lênh láng...
Đề đốc vội nhảy ra khỏi án thư, cất tiến toan gọi quân canh nhưng bộ mặt của tử thi làm cho người không thốt nên lời. Nguyễn Quyện quỳ xuống bên tử thi lầm bầm:
- Tô Tao ! Tô tướng quân !
Trong não của Đề đốc dấy lên một cơn bão tố kinh hoàng. Vì sao Tô Ta6o bị giết ?
 
Còn số phận tên dọ thám ra sao ? Và bức thư của ông gởi cho Bình An Vương Trịnh Tùng đã bại lộ rồi ư? Điều làm cho ông lo sợ hơn hết là tại sao kẻ giết Tô Tạo lại đem thây quăng và dinh ông. Nếu hắn không biết rõ vụ âm mưu thì đâu có hành động như vậy ? Lòng Đề đốc như tơ vò, chính ông hiện tại cũng không biết phải hành động ra sao. Ông toan gọi quân canh đòi Trương sát Thủ đến bàn chuyện thì người chợt thấy trên ngực của Tô Tạo có ghim một lá thư mà từ nãy giờ, quá bối rối, ông không để ý đến.
Đô-đốc vội vã xé thơ ra :
 
Nguyễn Đề Đốc nhã giám. 
Đã một lần, kẻ này đã gởi thư khuyên Đề đốc nên quay về đường ngay lẽ chánh, vì kẻ này đã đoán được những nguy cơ sắp xảy đến cho Ngài, mà đây là một bằng cớ.
 Những âm mưu của Đề đốc giúp Bình An vương Trịnh Tùng sớm muộn gì cũng bị phát giác. Đầu đêm hôm nay, tên dọ thám của Trịnh Tùng đã bị bắt và Tô Tạo mà Đề đốc sai theo hộ tống vì bại lộ cơ mưu nên đã cắn lưỡi tự tử. Kẻ này chợt đi ngang qua, thấy thây nằm bên bụi rậm vội mang về đây cho Đề đốc hiểu rõ mọi việc.
Tình thế đã nguy ngập lắm rồi, Đề đốc nên sớm liệu định, mau vào triều chịu tội cùng Chúa Mạc họa may được nhẹ tội một phần nào.
Kẻ nầy chỉ là khách bàng quan, không dính dáng đến cái chết của Tô tướng quân. Đề đốc đừng chứng nào tật nấy sẽ không mong gì thoát khỏi tội chết.
Những lời thành thật mong Đề đốc nghiệm suy .
Kính thư,
 DẠ-HƯƠNG
 
Nét chữ mềm mại lả lướt, lời lẽ tuy tha thiết ân cần nhưng không kém phần nghiêm khắc... Đề đốc ngẩn ngơ không biết
cái tên ‘‘Dạ Hương’’ là ai mà đã hai lần gởi thơ khuyên bảo... Trong giờ phút này, tuy chưa nhận hẳn những lời lẽ của bức thư kia là đúng nhưng tư tưởng của ông, một phần nào, đã thấy lung lay... Ông vò nát bức thư trong tay, không nói một lời và cứ lặng thinh suy nghĩ.
Đề đốc bỗng dừng lại, quát gọi quân canh đòi Trương sát Thủ đến cho mình dạy việc...
 Nằm nép mình trên máng xối, dò xét từng cử động của Đề đốc từ nãy giờ, Dạ Hương, người bí mật vừa mang thây Tô Tạo về đây, khe khẻ thở dài. Thái độ hung hăng chưa dịu bớt đi chút nào của Nguyễn Quyện, trước những nguy cơ sắp xảy đến làm cho Dạ Hương thấy rõ Đề đốc vẫn còn ngoan cố... Cái chết của Tô Tạo chưa đủ sức làm cho ông sáng mắt ra. Đề đốc còn tin tưởng vào quyền lực của ông tại triều Mạc. Chưa chắc, Mạc mậu Hiêp lại tin lời tâu của những kẻ toan hãm hại ông, và không lý vì một bức thư không xác đáng Chúa Mạc sẽ truyền lệnh chém đầu một vị đại thần?
Hiểu rõ chắc chắn tư tưởng hiện tại của Nguyễn Quyện.Dạ  Hương thấy như mình đã hoàn toàn tuyệt vọng. Giờ phút nầy, thật không còn lời lẽ nào có thế khuyên can Đề đốc được nữa rồi.
Giữa lúc ấy,Trương sát Thủ bước vào phòng Nguyễn Quyện. Chợt thấy tử thi của Tô Tạo nằm sóng sượt dưới đất, họ Trương kinh hoàng thối lui lại rồi nhìn lên Đề đốc Nguyễn Quyện như dò hỏi. Hắn nghi ngờ Đề đốc đã giết chết Tô Tạo nhưng không hiểu vì lý do gì ? Tuy bình thường hắn không ưa gì Tô Tạo nhưng trong giờ phút này, hắn cũng cảm thấy chua xót trong lòng...
Từ lâu theo giúp Đề đốc, hắn ít dám dò xét hành động của ông. Cho đến bây giờ hắn mới dám nghĩ Đề đốc là kẻ ‘‘ hết xôi rồi việc ‘‘ !
Trong cặp mắt kinh ngạc có pha lẫn một sự tức giận của Trương sát Thủ, Đề đốc hiểu ngay những ý tưởng trong đầu hắn, Ông vội giải thích:
- Trương tướng quân hãy vào đây. Ta có việc cần bàn với tướng quân. Tô Tạo vừa bị giết chết !
Trương sát Thủ hỏi hấp tấp :
- Thưa thượng quan, ai giết ?
-  Ta không hiểu được: Theo lời trong thư thì hắn tự tử mà chết...
Đề đốc nói xong, đưa thư cho Trương sát Thủ xem. Hắn cầm lên đọc rồi lẩm bẩm :
- Dạ Hương ! Dạ Hương ! Hắn muốn gì ? Giúp đỡ bọn ta ư ? Sao hắn không cứu Tô Tạo trong cơn nguy? Hắn viết thư để khuyên Đề đốc thú thật với Chúa Mạc, thật là kẻ điên rồ? Nhưng kể ra hắn cũng hết sức can đảm mới dám mang xác chết vào dinh trong đêm tăm tối.
Đề đốc chận lời Trương sát Thủ .
- Thôi ! Trương tướng quân nên nghĩ đến việc hiện tại là hơn. Trước tình thế nầy tướng quân nghĩ ta nên hành động như thế nào?
Trương sát Thủ im lặng một lát rồi hỏi :
- Bầm thượng quan, theo ý kiến thượng quan ai đã giết Tô Tạo, để đoạt bức thư của thượng quan ?
Đề đốc đáp :
- Bản chức nghi là Bùi văn Khuê vẫn thường theo dõi hành động của chúng ta. Tô Tạo cho biết chúng chính là hai kẻ gian đã đột nhập vào Dinh nầy hôm nọ.
Rồi Đề đốc thở dài :
…Một điều thật nguy khốn vô cùng là chúng hiện đã bắt được tên dọ thám, thì bằng cớ rành rành, làm thế nào chúng ta chối cãi được.
Trương sát Thủ nói:
- Theo ý tiểu tướng, nếu chính Bùi văn Khuê chủ mưu hại ta thì nội trong đêm nay là phải gấp rút cho đội ‘‘hung thần’’ đến phá tan Dinh thự của hắn, thả tên dọ thám, tìm lại bức thơ, phi tang đi là yên chuyện.
Đề đốc suy nghĩ lung lắm. Ông bỗng cất tiếng lo ngại :
-   Ta cũng đã có nghĩ như nhà ngươi, nhưng anh em của Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng không phải là kẻ tầm thường. Trái lại chúng đều là hạng vũ dũng đa mưu, một mình có thể dịch nổi hằng trăm người... Ta chỉ sợ chưa trừ được chúng, lại mang thêm một trọng tội...
Trương sát Thủ bực tức đứng lên:
- Bẩm thượng quan, việc nầy xin thượng quan giao cho tiểu tướng chịu trách nhiệm, nếu thất bại, tiểu tướng xin lấy cái chết để đáp đền ơn tri ngộ.
Đề đốc Nguyễn Quyện suy nghĩ thêm một lúc rồi gật đầu ưng thuận. Ông dặn dò thêm :
- Nhà ngươi bảo bọn ‘‘hung thần’’ bao mặt cẩn thận và mặc toàn màu đen... Đừng hớ hênh để lộ tung tích thì nguy lắm đấy.
Trương sát Thủ vòng tay lại, cúi chào :
- Xin thượng quan cứ an lòng ! Tiểu tướng xin từ giã.
Hắn bước ra cửa phòng, lên ngựa ra roi, phóng một mạch
về rừng Độc Vạn, nơi sào huyệt của bọn ‘‘hung thần’’. Bọn ‘‘hung thần’’ đây toàn là những kỵ binh tinh nhuệ được Nguyễn Quyện đặc biệt chiêu đãi và chỉ để dùng trừ khử các phe đối lập.
Nguyễn Quyện còn nghĩ cao xa hơn... Người luyện tập, bổ sung thêm mãi cho đội ‘‘hung thần’’, với ý định sau nầy sẽ biến chúng thành đội tiền phong làm nội ứng phá thành nhà Mạc cho quân Trịnh tràn vào, nếu một khi có đại chiến... Bọn ‘‘hung thần’’ dùng cánh rừng Độc Vạn làm sào huyệt vì rừng ấy có tiếng là nhiều hùm beo thú dữ nên ít ai dám léo hánh tới.
Trương sát Thủ đi rồi, Đề đốc trở vào phòng ngủ nhưng trong lòng vẫn không yên. Ông qua lại, tới lui với muôn ý nghĩ hoang mang phức tạp trong cân não. Hạ lịnh cho bọn ‘‘hung thần’’ tàn phá dinh thự Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng tức là ông đã đánh ván bài chót …Nếu thất bại ông đành phải ra mặt chống Chúa Mạc, trốn vào Tây đô phe Bình an Vương. Nhưng không biết có thoát được chăng, một khi Mạc mậu Hiệp đã hiểu rõ lòng phản trắc của ông ? !...
‘‘ Phóng lao rồi phải theo lao’’, Nguyễn Quyện hiểu rõ là mình không còn hành động khác hơn được nữa. Phải chờ đợi kết quả cuộc tàn phá dinh thự hai họ Bùi, Lê của bọn ‘‘hung thần’’ rồi sẽ hay.
Tuy nhiên, ông cũng truyền lệnh cho bọn hầu thiếp trong Dinh, thu gọn đồ tế nhuyển, tiền bạc ngọc ngà để phòng khi bất trắc. Một lát sau, Đề đốc trở vào giường, định ngủ một giấc để an tĩnh tinh thần...
Vừa toan đặt mình xuống, ông rất kinh ngạc lạ lung vì     một  lưỡi dao sáng     loàng đã cắm  phập trèo  mặt      bàn
tự  bao giờ. Trước đầu mũi dao lại    có kèm   theo một
phong thư, giấy trắng tinh...
Đề đốc vội vàng ngồi nhổm dậy. Gian phòng hoàn toàn im lặng. Rút mũi dao lên, Đề đốc mở thư ra xem. Vẫn nét chữ mềm mại, lời văn sáng sủa, nghiêm trang, nhưng giọng văn có phần quyết liệt hơn trước:
 
Đề đốc nhã giám,
Kẻ này không ngờ Đề đốc lại kém suy xét đến như vậy. Đã không tự mình quyết định được mọi việc, Đề đốc lại nghe lời khuyên bảo sai lầm của phường vô lại, dùng bọn ‘‘hung thần’’ trừ khử hai tướng Bùi, Lê, không khác nào tự đặt đầu mình trước lưỡi dao của dao phủ. Đề đốc tự buộc mình vào một cuộc âm mưu bạo động rành rành dù sau có hối hận ăn năn cũng khó thoát cực hình.
Đến giờ phút này vẫn còn kịp thì giờ cản ngăn bọn  ‘‘hung thần’’ bạo động, Đề đốc đừng chần chờ, hãy rút mật lệnh lập tức, cho máu quân sĩ khỏi phải đổ oan thêm nữa…
Mấy lời chân thành, Đề đốc nên nghĩ kỹ.
 
DẠ HƯƠNG
 
Đề đốc nằm vật mình xuống nệm. Trong lòng ông, cả một sự dằng co ghê gớm đang diễn ra lời lẽ trong thư của Dạ Hương rất xác đáng, chính vì chổ ấy càng làm cho Đề đốc khó nghĩ nhiều hơn... Bạo động để chống lại chúa Mạc là nước cùng phải làm. Nếu có phương pháp khác, ông không dại gì thi hành! Nhưng thú tội với Mạc mậu Hiệp có chắc thoát cực hình chăng? Ít nhứt chúa Mạc cũng tịch thâu hết tất cả tiền bạc, dinh thự, đất đai của ông hiện có ! Mất hết những tài sản ấy, thà chết đi còn hơn...
Nghĩ đến đây ông không còn phân vân do dự nữa. Ông thấy cần phải bạo động đến cùng rồi đến đâu sẽ hay...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2020 16:15:14 bởi Ct.Ly>
8 - Ngọc Lan tiểu thư ra mặt


 
 
Dinh thự Bùi văn Khuê im lìm trong đêm khuya, bọn lính canh đang ngồi thầm lặng trước cổng dinh, không hàn chuyện gẫu với nhau nữa.
Trong phòng họ Bùi, đèn thắp sáng choang, ba người đang xúm quanh một chiếc bàn bí mật đàm thoại với nhau. Đây là Bùi văn Khuê, Lê thế Hùng và Hoàng quốc Mục.
Sau khi được Thế Hùng thuật rõ tất cả những hành động ám muội của Đề đốc Nguyễn Quyện và việc Tô Tạo tự tử trên đường xuống Sơn Nam, Bùi văn Khuê cau mày suy nghĩ. Từ trước khi hiểu rõ Nguyễn Quyện mưu toan ám hại anh em chàng, họ Bùi đã đem lòng ngờ vực. Chàng tin tưởng rằng Nguyễn Quyện định hại hai người vì một lý do nào khác chứ không phải vì đố kỵ như mọi người đã tưởng...
Hôm nay, lý do ấy đã tỏ như ban ngày... Chàng không ngờ bè lũ Trịnh Tùng, Nguyễn hữu Liên lại cay độc đến như vậy. Sự khám phá ra Nguyễn Quyện là bè lũ trinh thám của họTrịnh không làm cho họ Bùi vui mừng cho lắm, mà lại còn lo ngại hơn... Chàng không hiểu được bọn chúng đã hoạt động từ lúc nào giữa Thăng Long mà Chúa Mạc không hay biết gì hết.
Trừ khử Nguyễn Quyện không phải là chuyện khó vì có đủ tất cả bằng cớ không chối cải được, nhưng phá tan được những tổ chức trinh thám của Trịnh Tùng ở Thăng Long phải cần nhiều ngày giờ. Trong giờ phút này trước sự đe dọa của Trịnh Tùng, chưa biết trận giặc giữa đôi bên sẽ phát khởi vào lúc nào mà trong nội thành Thăng Long, bọn trinh thám của Chúa Trịnh
vẫn ngang nhiên hoạt động, làm nội công hay phá vỡ những cơ cấu phòng thủ của quân nhà Mạc thì thật là bất lợi.
Tiếng Lê thế Hùng bỗng cất lên, phá tan sự im lặng nặng
nề :
- Đại ca nghĩ sao ? Chúng ta cần toan tính gấp rút kẻo lại rơi vào kế hoạch của Đề đốc thì nguy hiểm vô cùng. Hắn có thế lực, chúa Mạc rất dễ tin, chúng ta bị đảo lộn ván cờ thì ức lắm đấy.
Bùi văn Khuê ngước mắt nhìn lên, khẽ đáp:
- Dù cho Nguyễn Quyện có ba đầu sáu tay cũng không phải thoát khỏi tội. Nội bức thư thông đồng với Chúa Trịnh đủ cho hắn bay đầu. Ta lo nghĩ nhiều về tổ chức trinh thám của Bình An Vương, đã búa rập ở Thăng Long, chứ không phải về cách đối phó với Nguyễn Quyện.
Chàng ngước lên khẽ trách Hoàng Quốc Mục :
- Ta không ngờ đội thám tử của Hoàng tướng quân lại tệ hại đến như vậy. Giữa Thăng Long mà bọn trinh thám chúa Trịnh hoạt động như chỗ không người.
Hoàng quốc Mục cúi đầu nhìn nhận lỗi. Lê Thế Hùng vội đỡ lời :
- Đại ca trách vậy cũng phải, nhưng Hoàng tướng quân lãnh một chức nhỏ làm thế nào dám đoán xét hành động của một thượng quan. Huống chi Nguyễn Quyện từ trước đến nay hung tợn vô cùng, ai ra vẻ đối lập với hắn làm sao sống được. Bây giờ nhắc lại việc cũ tưởng cũng không lợi ích gì. Ta nên hiệp nhau bàn định phương pháp đối phó gấp rút mới kịp thời..
Bùi văn Khuê nói:
- Sáng mai vào giữa trào, ta trình bức thư của Nguyễn Quyện lên Chúa Mạc mậu Hiệp là xong đời tên phản tặc. Nhưng còn bè lũ của hắn, chúng ta chưa tìm cách nào trừ khử đựợc,
Lê thế Hùng nói :
-   Đại ca không lo lắm . Bắt được tên đầu giộc thì tất cả mọi tổ chức của chúng đều tan rã.
Bùi văn Khuê phì cười :
- Hiền đệ đừng tưởng như vậy mà lầm... Nguyễn Quyện chẳng qua chỉ là tay sai của bọn chúng chứ dễ gì hắn rõ được tất cả những tổ chức của quân Trịnh. Chúng cần dựa vào thế lực Nguyễn Quyện trong một giai đoạn nào đó thôi.
Có tiếng gì như tiếng nhánh cây khô gãy rụng ngoài hè. Lê Thế Hùng vội thổi tắt phụt ngọn bạch lạp, rồi băng mình ra ngoài hiên nhanh như một lằn chớp. Hiểu được mánh khoé truy bắt kẻ gian của bạn, Bùi văn Khuê vội đốt đèn lên rồi lầm bầm :
- Lạ này, đêm nay tại sao đèn cứ tắt mãi thế.
Rồi chàng và Hoàng Quốc Mục cứ bình tĩnh bàn tiếp câu chuyện đang bỏ dở làm như không một mảy may gì chú ý đến tiếng động bên ngoài.
Ra đến ngoài hiên, Lê thế Hùng lần theo hành lang. Chàng nép mình sát vào tường cho khỏi thấy bóng, rồi nhìn khắp xung quanh, lắng tai nghe ngóng.
Bốn bề vắng lặng, cảnh vật như cũng ngủ thiếp trong đêm sâu... Chàng chợt thấy một bóng đen chuyền mình từ trên cành cây đại thọ qua máng xối, rồi bò sát trên nóc nhà. Lê thế Hùng nhẹ nhàng phi thân lên mái ngói thấp của gian nhà bếp rồi bò theo bóng đen.
Thỉnh thoảng bóng đen lại dừng một chút nghe động tĩnh xung quanh, rồi bò tiếp xuống gian phòng, đèn thắp sáng choang của Bùi văn Khuê...
Khẽ gỡ một miếng ngói lên xem rồi nhanh như chớp, bóng đen rút trong tay áo một lưỡi dao mỏng như lá lúa phóng
thẳng xuống giữa bàn, nơi họ Bùi và họ Hoàng đang bàn chuyện.
Lưỡi dao từ nơi tay vừa thoát bay đi, bóng đen đã nhảy vọt chuyền mình từ mái nhà này sang mái nhà khác... Nhưng
bóng đen không ngờ mình đang bị Thế Hùng theo đuổi, vừa dừng chân lại, bóng đen đã bị Thế Hùng ôm chặt ngang lưng, lăn tròn xuống đất...
Thế Hùng kinh ngạc vô cùng vội buông tay ra vì bóng đen là một thiếu nữ mảnh khảnh mềm mại. Bóng đen bất ngờ bị chụp ngã lăn mấy vòng đau điếng. Y hoảng kinh vì đã lộ hành tung, thừa lúc Thế Hùng buông tay, vội rút kiếm ra thủ thế...
Giữa lúc ấy, từ trong phòng Bùi văn Khuê và Hoàng quốc  Mục chạy ùa ra, trên tay họ Bùi còn cầm một lá thư.
Thế Hùng cũng đã rút kiếm ra để cự địch nhưng Bùi văn Khuê lại thét lên :
- Hãy khoan hiền đệ ! Người này chính là Dạ Hương, ân nhân của chúng ta.
Lê Thế Hùng lạ lùng kinh dị trước sự phát giác bất ngờ. Dạ Hương là đây ư ? Rõ ràng nàng là một trang liễu yếu đào thơ, không còn nghi ngờ gì nữa. Họ Lê bàng hoàng ngây ngất trước thiếu nữ bí mật mà mẫu người mảnh khảnh rất đúng với óc tưởng tượng của chàng, đối với cái tên ‘‘Dạ Hương’’ rất đẹp...
Giữa một hoàn cảnh bất ngờ, chính Dạ Hương cũng lúng túng. Nàng không biết  mình nên hành động thế nào cho phải lẽ. Tiến tới để ra mắt hai tráng sĩ Bùi, Lê ư ? Thực là khó! Mà thối lui, trốn tránh lại càng bất tiện hơn...
Nàng còn đang phân vân thì Bùi văn Khuê đã đến gần cúi đầu thi lễ :
-   Kính chào nữ ân nhân ! Xin mời ân nhân vào tại dinh để chúng tôi được hân hạnh hầu chuyện...
Dạ Hương không làm khác được nữa vội cúi đầu thi lễ. Lê thế Hùng bước đến gần hơn và chăm chú nhìn cho rõ mặt nàng. Khuôn mặt trái soan đều đặn trắng xinh, bị che khuất hết đôi mắt bằng một miếng vải đen mỏng...
Bùi văn Khuê bước trái sang bên, vòng tay mời Dạ Hương :
- Xin mời ân nhân đi vào.
Dạ Hương vội đáp lời, quên mất ý định cần phải im hơi, lặng tiếng :
- Không dám, xin mời đại tướng đi trước, Giọng nàng trong trẻo cất lên khiến Bùi văn Khuê vô cùng kinh ngạc.
Chàng tự nhủ thầm :
- Thì ra Dạ Hương chính là một thiếu nữ tài trí có thừa ư ? Nàng thuộc vào đẳng cấp nào trong xã hội ?
Lòng họ Bùi bỗng dưng có một sự mong mỏi lạ kỳ. Ước gì Dạ Hương lại là người mà chàng hằng mơ tưởng; tên Nguyễn thúy Loan phút chốc trở về gây cho chàng một sự ngờ vực bâng quơ. Có phải Thúy Loan đã đội lốt người bí mật theo sát bên chàng để giúp đỡ trong việc mưu toan diệt trừ Chúa Trịnh Tùng?
Chàng bước chầm chậm và khẽ liếc nhìn Dạ Hương đang bước theo sau. Con người mảnh khảnh, tướng đi yểu điệu, nhẹ nhàng kia càng làm cho chàng liên tưởng đến một hình bóng đã qua trong cuộc đời.
Dạ Huơng lẳng lặng theo mọi người vào Dinh nhưng trong lòng nàng nổi lên một cơn sóng gió vô cùng mãnh liệt. Nàng đứng trước một tình thế cần phải quyết định ngay. Trong bức thư vừa gởi cho Bùi văn Khuê, kèm theo lưỡi dao lúc nãy, nàng kể rõ sự bạo động của Đề đốc Nguyễn Quyện và bảo họ Bùi phải gấp rút đề phòng... Làm như vậy là do sự thúc đẩy của lương tri chứ thật ra Dạ Hương cũng chưa rõ hậu quả sẽ ra sao? Đoàn ‘‘hùng binh’’ bị tiêu diệt, cha nàng sẽ lâm vào cảnh ngộ nào? Luôn luôn Dạ Hương nghĩ rằng: việc làm phải của nàng ngày nay biết đâu sau này sẽ vớt vát được phần nào tội lỗi của cha. Nàng chỉ hy vọng vậy thôi chứ không tin tưởng lắm vì, hơn ai hết, nàng hiểu rõ tội trạng tầy đình của Đề đốc...
 
 
Bây giờ, sự lộ dạng của nàng đêm nay lại càng rắc rối hơn. Trước sau, nàng cũng phải nói rõ nàng là ai, vì cớ gì lại thường giúp đỡ hai tráng sĩ Bùi, Lê. Chừng ấy, nàng khó thể từ chối việc khai tung tích. Suy đi nghĩ lại. Dạ Hương cho rằng không chừng việc rủi lại hóa may ! Không biết chừng, nàng sẽ tìm được một phương kế để lôi kéo phụ thân nàng về đường ngay lẽ chính.
Mới gặp hai tráng sĩ Bùi, Lê nhưng không hiểu sao Dạ Hương tin tưởng rằng họ là những người trí dũng có thể giúp được nàng thoát khỏi tình cảnh khó xử này : không bất hiếu với cha mà vẫn toàn trung với chúa.
Mọi người đã vào đến phòng khách. Bùi văn Khuê khẽ mời Dạ Hương :
- Xin mời... cô nương ngồi.
Dạ Hương mỉm cười đáp lễ:
- Xin vâng !
Nàng nhẹ nhàng ngồi xuống ghế. Lê thế Hùng đứng nhìn ngẩn ngơ. Mặt hoa trắng mịn, dưới ánh đèn sáng càng nõn nà tươi tắn hơn. Đôi môi son hé cười để lộ hàm răng đều đặn trắng trong. Nhưng đôi mắt nàng, bị che khuất dưới làn vải mỏng không đoán được sẽ huyền diệu đến độ nào ?
Để phá tan bầu không khi trang nghiêm giữa những người không hẹn mà gặp, vào một trường hợp quá đột ngột, Bùi văn  Khuê cất tiếng :
- Từ trước đến nay, cô nương đã có lòng kín đáo giúp đỡ mãi đến bây giờ chúng tôi mới may mắn được diện kiến, mong mời cô nương nhận nơi đây lòng biết ơn thành thật của chúng tôi.
Dạ Hương khẽ đáp :
- Có gì đâu, mà Đại tướng quá lời, đấy chẳng qua là những hành động thông thường của những kẻ có lương tri mà thôi.
Rồi như sực nhở một điều gì, Dạ Hương buồn bã tiếp :
- Biết đâu mai kia tiện thiếp sẽ có thể gặp những cảnh nguy biến khác khiến Đại tướng và chư vị lại phải nhọc lòng lo nghĩ...
Lê thế Hùng nhận thấy mình cần xen vào câu chuyện để xin lỗi Dạ Hương về cái thế vật bất ngờ lúc nãy trên nóc Dinh:
-   Xin cô nương thứ lỗi cho những hành động vừa qua ! Vì không hiểu rõ là người ân, nên kẻ nầy đã vô tình phạm đến cô nương.
Thiếu nữ khẽ quay đầu nhìn Thế Hùng, hơi bẽn lẽn và đáp:
- Lê tướng quân bận nghĩ làm chi một chuyện nhỏ nhặt như vậy. Từ lâu được nghe danh tướng quân nhưng đến hôm nay mới được thấy hổ uy.
Dạ Hương bỗng nhiên nghiêm sắc mặt hỏi họ Bùi:
-   Đại tướng đã đọc xong bức thơ rồi chứ ? Đại tướng nghĩ thế nào?
Bùi văn Khuê suy nghĩ một lúc rồi nói:
-   Thực tôi không ngờ Đề đốc Nguyễn Quyện lại tàn bạo đến như vậy. Hèn chi từ bao lâu nay, trong triều nhà Mạc không một ai dám chống lại quyền lực của ông ta. Trong tình trạng nầy, chúng ta cần hành động cấp thời, nghĩa la phải thi hành gấp rút hai việc : một là cho quân đi bắt Đề đốc tức khắc để chờ chúa Mạc trị tội, hai là phải động binh kịp thời đối phó với bọn ‘‘hung thần’’.
Hoàng quốc Mục từ nẫy giờ vẫn nín lặng ngồi trong góc phòng, bỗng lên tiếng:
- Đại tướng nên nghĩ lại. Bắt Đề đốc không phải là chuyện dễ. Vào được trong Dinh là cả một sự khó khăn. Không làm thế nào tránh khỏi sự xô xát với quân canh. Như vậy sẽ bất lợi vô cùng vì không có lệnh chúa Mạc, nếu quân tuần cảnh nội thành tiếp ứng, chúng ta sẽ lâm nguy và còn mang tội nặng nữa là khác.
Bùi văn Khuê gật đầu khen phải rồi nói :
- Vậy thì chúng ta chỉ cần kíp lo phòng thủ để đối phó với bọn ‘‘hung thần’’ mà thôi. Còn việc Đề đốc phải chờ sự quyết định của chúa Mạc ! Ta chỉ sợ nếu đêm nay bọn ‘‘hung thần’’ bị tiêu diệt, sáng mai, Đề đốc sẽ trốn khỏi Thăng Long chúng ta còn bắt tội ai được nữa.
Lê thế Hùng đáp:
-   Theo tiểu đệ, ta cần bí mật lẻn vào dinh, bắt giam Nguyễn Quyện trước đã. Chứ đợi lệnh chúa Thượng thì Nguyễn Quyện sẽ có đủ thì giờ trốn đi nơi khác.
Chàng nói dứt lời khẽ liếc nhìn Dạ Hương và Lê thế Hùng vô cùng kinh ngạc vì thấy người thiếu nữ bí mật kia buồn ủ rũ lạ thường. Nàng gục đầu xuống không nhìn mọi người nữa.
Lê thế Hùng ra dấu cho Bùi văn Khuê nín lặng. Mọi người cùng chăm chú nhìn Dạ Hương. Nàng cúi đầu sát xuống hơn nữa, đôi vai rung rung như đang nức nở nghẹn ngào, cả ba tráng sĩ cùng ngơ ngác nhìn nhau. Hành động của Dạ Hương quá lạ lùng, thoát ra ngoài sự dự đoán của mọi người.
Tại sao nàng lại khóc giữa lúc đang bàn định phương cách diệt trừ bè lũ phản nước hại dân?
Nàng xúc động việc gì?
Bùi văn Khuê nghĩ thầm có lẽ gia đình nàng là nạn nhân của Đề đốc và bọn ‘‘hung thần’’ ‘nên trong giờ phút này, nàng nhớ tới nỗi đau đớn ngày xưa mà cảm xúc như vậy.
Lê thế Hùng bỗng ngồi xuống bên Dạ Hương khẽ hỏi:
- Cô Nương... có điều gì phật ý chăng ?
Dạ Hương càng khóc nức nở. Mọi người cùng im lặng, kính trọng sự đau khổ trong lòng người thiếu nữ đáng quý mến kia. Dạ Hương bỗng ngước mắt nhìn lên, đôi má còn đằm đìa nước mắt. Và như vừa quyết định xong việc gì, nàng nghiêm sắc mặt nói chậm rãi, giữa sự kinh ngạc của ba tráng sĩ Hoàng, Bùi, Lê :
- Trong giờ phút nầy, tôi không còn đủ sức giấu giếm gì được nữa. Tôi đã lâm vào một hoàn cảnh hết sức khó xử mà từ bấy lâu nay, sự va chạm giữa tình cảm gia đình và lương tri của con người hiểu biết lẽ phải, đã dày vò tâm hồn và thể xác tôi. Tôi đã sống trong một tình thế mà bắt buộc mình không có quyền nghĩ đến ngày mai.
Dạ Hương đứng phắt dậy, đưa tay lên đầu, gở chiếc khăn bao mặt để lộ cặp mắt sáng trong và mái tóc đen huyền lòa xòa xuống vừng trán thanh xuân.
Hoàng quốc Mục kinh ngạc kêu lên:
- Ô! Ngọc Lan tiểu thơ !
Dạ Hương mà cũng chính là Ngọc Lan tiểu thơ, cô con gái yêu của Đề đốc Nguyễn Quyện, điềm nhiên đáp :
- Vâng, chính là tôi, con gái của Nguyễn Đề đốc.
Nàng lại nghẹn ngào, khóc nức nở.
Bùi văn Khuê khẽ nhìn Lê thế Hùng, bắt gặp đôi mắt của bạn đang đắm đuối nhìn Ngọc Lan trong sự đau khổ tuyệt vời...
Họ Bùi cúi đầu suy nghĩ ; Từ chiều đến giờ, nhiều chuyện xảy ra quá đột ngột, khiến chàng cũng đâm ra ngơ ngẩn mất nhiều phút, không quyết đoán liền được là phải hành động như thế nào cho phải lệ. Dạ Hương, người nghĩa hiệp ân nhân của hai chàng là một thiếu nữ trẻ đẹp ! Thiếu nữ ấy lại chính là con gái kẻ thù bất cộng đái thiên với hai chàng. Người thiếu nữ ấy đang ngồi khóc kia khóc cho hoàn cảnh ngang trái của mình.
Dù nàng không thốt ra một lời nào, nhưng Bùi văn  Khuê cũng đoán được tất cả nỗi khổ sở trong lòng nàng từ bao lâu nay. Chắc nàng đã phải nhìn cha cứ đi sâu vào con đường tội lỗi... Khuyên can cha không được, mà chống lại hay phản bội cha, nàng không thể làm.
Cho đến phút nầy, con người đã đi đến chỗ tuyệt vọng, chỉ còn cách lấy nước mắt để làm tan bớt những nỗi đau khổ trong lòng,
Bùi văn Khuê cất tiếng :
- Tiểu thơ đừng khóc nữa. Thời giờ cấp bách lắm rồi, tiểu thư cần nói rõ hết mọi việc để chúng ta tìm một phương cách cứu vãn tình thế họa may còn kịp chăng ?
Ngọc Lan khẽ ngước nhìn lên, nét mặt vô cùng đau khổ.
Nàng nói :
- Hết rồi Đại tướng ạ ! Tiện thiếp không còn hy vọng gì nữa. Bao nhiêu sự rán sức của thiếp ngày nay như bọt nước trôi sông... Thiếp đã cố sức khuyên lơn nhưng cha thiếp vẫn theo con đường cũ... Hơn nữa, bên người còn cả một lũ ‘‘hung thần’’ chuyên thúc đẩy người làm những chuyện bạo ngược hung tàn… Ngày nay, đã đến đoạn đường cuối cùng của cha thiếp, bao nhiêu cơ mưu bại lộ, sớm muộn gì ông cũng đền tội trước trào đình... Thiếp đã kiệt lực rồi chỉ dành phó mặc cho tình thế đẩy đưa...
Lê thế Hùng vô cùng cảm động trước hoàn cảnh của Ngọc Lan. Chàng nhìn nàng bằng đôi mắt chan chứa cảm tình.Chàng nói với tất cả sự thành thật trong lòng:
- Tiểu thơ đừng chán nản như vậy, dù sao cũng có chúng tôi. Đã không hiểu được hoàn cảnh nhau thì thôi... chứ còn...
Lê thế Hùng bỗng nín bặt. Chàng liếc nhìn Bùi văn Khuê, thấy mặt bạn đăm chiêu ra vẻ suy nghĩ nhiều lắm.
Ngọc Lan nhìn Thế Hùng kinh ngạc. Nàng không hiểu sao Thế Hùng lại bỏ lửng câu chuyện giữa chừng, nàng nửa như muốn hỏi, nửa ngại ngùng.
Thế Hùng chợt quay Iại bắt gặp đôi mắt đẹp long lanh dường như còn đang ngấn lệ. Lòng chàng rạo rực khác thường và trong phút chốc Thế Hùng cảm thấy đời mình từ nay sẽ dính chặt với đời nàng, cái đau đớn của nàng là cái đau đớn của chính mình vậy.
Chàng nói không cần suy nghĩ và chàng tự hiểu trong lòng, dù có gặp trở ngại gì chàng cũng liều chết san bằng:
- Tiểu thơ cứ an lòng, dù sao chúng lôi cũng đã hiểu rõ cô nương là người tận trung với chúa; tội ác của Đề đốc dẫu nhiều, Chúa Thượng cũng sẽ nghĩ tình mà châm chế phần nào. Thế Hùng này xin thề sẽ giúp đỡ tiểu thư qua khỏi tình cảnh khó khan ngày nay.
Ngọc Lan cảm động khẽ đáp :
- Xin đa tạ ơn tướng quân.
Bùi văn Khuê bỗng nói :
- Hiền đệ có một tấm lòng quý hóa lắm ! Nhưng ‘‘tấm lòng’’ không chưa đủ mà cần phải nghĩ đến phương pháp để thực hành. Hiện tại Đề đốc đã hạ lịnh cho bọn ‘‘hung thần’’ tại cánh rừng Độc Vạn nội đêm nay sẽ đến đây phá nát Dinh thự, tàn sát chúng ta và cố lấy lại cho đặng búc thư thông đồng với quân Trịnh. Cánh rừng Độc Vạn cách Thăng Long rất xa và chúng chỉ có thể đến đây, giỏi lắm là tàn canh tư. Chuyện cần làm tức khắc là phải chận dừng bước tiến của bọn ‘‘hung thần’’ còn những việc kia sau này sẽ liệu.
Rồi nhìn Ngọc Lan, họ Bùi tiếp lời :
- Chẳng phải mình Thế Hùng mà cả chúng tôi cũng đều sẳn sàng giúp đỡ tiểu thơ vì chúng tôi hiểu rằng tiểu thơ là người tận trung tận hiếu.
Ngọc Lan cảm động cúi đầu. Hoàng quốc Mục bỗng đứng lên nói với Bùi văn Khuê :
- Xin Đại tướng cho tôi thêm vài ý kiến họa may có giúp ích được gì chăng! Việc chận đứng bọn ‘‘hung thần’’ mong Đại tướng giao cho tôi lo liệu. Tiểu tướng sẽ huy động toàn thể đoàn kỵ binh thiện chiến nghênh dịch thì chắc chắn chúng sẽ rã tan. Đại tướng không ngại lắm. Riêng tiểu thư Ngọc Lan, tiểu tướng trộm nghĩ tiểu thư nên cấp thời trở về Dinh ra mặt khuyên giải Đề đốc một lần cuối cùng. Biết đâu tình cha con sẽ làm cho người trở lại đường ngay lẽ chánh.
Nhưng trái với tất cả sự dự đoán của mọi người, bọn ‘‘hung thần’’ từ cánh rừng Độc Vạn như một trận cuồng phong kéo thẳng đến Thăng Long rồi âm thầm vây chặt vòng Dinh của Bùi văn Khuê, không một ai hay biết.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
9. Kẻ ác đền tội

 

 
 
Bỗng nhiên tiếng tù và báo động lanh lảnh nổi lên, quân canh vừa nghe động tịnh và kinh hồn vì một đoàn quân lạ mặt thình lình kéo đến vây chặt bên ngoài.
Bùi văn Khuê vùng đứng lên cùng mọi người bước ra khỏi phòng. Khi hiểu rõ tình hình, chàng bảo:
- Bọn ‘‘hung thần’’ bắt đầu công phá dinh thự của ta, mau mau hạ lịnh nghinh địch.
Hoàng quốc Mục lên tiếng :
- Đại tướng và Phó tướng cố sức chống cự với bọn chúng để tiểu tướng tìm cách thoát ra ngoài, dẫn đoàn kỵ binh thiện chiến đến đây rồi chúng ta trong đánh, ngoài đánh, chúng sẽ không còn đường chạy thoát.
Họ Bùi gật đầu ưng thuận nhưng chàng không khỏi lo ngại cho Hoàng quốc Mục giữa lúc này biết họ Hoàng có ra thoát được chăng ?
Chàng vội vàng hỏi Quốc Mục:
- Tướng quân định thoát ra bằng cách nào?
Quốc Mục kinh ngạc hỏi :
- Ồ ! Đại tướng không biết được con đường bí mật của Dinh thự ư?
- Con đường bí mật nào?
- Dinh thự của chúng ta, dinh nào lại không có ! Chính dinh của Tiểu tướng cũng có một con đường hầm ăn thông ra ngoài. Đấy là sáng kiến của Tiện đế triều Mạc, làm vậy để bảo vệ công thần.
Bùi văn Khuê có vẻ hơi lo lắng. Thật sự, vừa mới nhậm chức, chàng nào hiểu được bên trong dinh thự cách kiến trúc như thế nào.
Chàng thét gọi quản gia cấp tốc ứng hầu để hỏi rõ con đường bí mật ấy.
Quản gia thưa rằng :
- Bẩm Đại tướng, thật quả có một đường hầm phía trước hòn non bộ, nhưng vì lâu quá không dùng đến tôi cho dồn rác vào đấy.
Hoàng quốc Mục vội nói :
- Thôi được rồi ! Quản gia dẫn ta đến đó xem sao.
Chàng xây qua cúi chào Bùi Văn Khuê rồi vội vã đi. Giữa lúc ấy bọn ‘‘hung thần’’ khởi sự tấn công ráo riết. Đồng thời chận khắp các ngã đường, phòng quân tiếp ứng rồi ồ ạt phá cổng Dinh. Từ bên ngoài, tên lửa nã vào tới tấp...
Ngọc Lan và Lê thế Hùng đã rút kiếm ra, ngừa khi bất trắc. Trong đám ‘‘hung thần’’, Ngọc Lan chợt thấy tên Trương sát Thủ đang đứng điều khiển cuộc tấn công. Nàng vội vàng lấy khăn trùm lên mặt để khỏi lộ hành tung. Đến phút nầy Ngọc Lan đã quyết định. Nàng sẽ giúp hai tráng sĩ Bùi, Lê chống với bọn ‘‘hung thần’’ độc ác.
Cuộc tấn công của chúng mỗi phút càng thêm mãnh liệt, khiến quân canh bên trong đã thấy nao núng. Bùi văn Khuê vội vàng cởi áo ngoài, nhảy phóc ra sân hét vang lừng để nung chí đoàn thuộc hạ của mình.
Tên lửa từ ngoài tiếp tục bay tới tấp. Bọn ‘‘hung thần’’  bắt thang leo qua vách. Quân canh liều chết, hất thang hoặc từ trên liệng đá xuống, nhưng hết tốp này đến tốp khác, chúng cứ từng chập leo vào.
Cửa Dinh chính giữa chịu đựng cuộc yểm bách nặng nhứt và sau một hồi quân lính chống cự mãnh liệt đã bị bọn ‘‘hung thần’’ phá vỡ. Chúng tràn vào như nước vỡ bờ. Đi đầu vẫn là tên Trương sát Thủ.
Lê thế Hùng và Ngọc Lan vội cản đầu chúng. Hại lưỡi kiếm trên tay họ bay vù vù khiến cho bọn hung thần khiếp đảm dừng cả lại.
Trương sát Thủ cả giận lăn xả vào quyết giao đấu với hai người.
Thế Hùng liền bảo Ngọc Lan:
- Tiểu thư trông chừng bọn kia còn để tên khốn nạn nầy mặc tôi.
Ngọc Lan nhảy ra khỏi vòng chiến và hướng về bọn ‘‘hung thần’’. Nàng vung kiếm không ngừng. Chúng vừa đỡ vừa thối lui khiến Trương sát Thủ đang giao chiến với Thế Hùng phải bực tức hét lên:
- Bọn hèn nhát, sao không tiếp tục tiến lên?
Trước kiếm pháp kỳ diệu của Ngọc Lan,bọn ‘‘hung thần’’ chợt sững; chợt nghe tiếng hét thúc giục của Trương sát  
Thủ, chúng như  chợt  tỉnh cơn mê cố sức cầm cự... Bọn đứng xa, lấy cung tên nhắm vào mình Ngọc Lan xạ kích dữ dội.
Giữa lúc ấy, Bùi văn Khuê sau khi đi một vòng dinh thúc đẩy quân sĩ tích cực hơn trong việc phòng thủ, liền quay về cửa chính. Chàng xông vào phụ lực với Ngọc Lan. Bọn ‘‘hung thần’’ càng yếu thế lần, chúng lui dần, lui dần ra cửa. Và chúng càng kinh hồn hoảng vía hơn khi nhận thấy ngoài vòng dinh, chúng đang bị bao vây. Đòan kỵ binh thiện chiến của chúa Mạc do Hoàng quốc Mục cầm đầu đang rượt và tàn sát bọn sát nhân ác độc, từ xưa đến nay đã hãm hại biết bao vị trung thần cô thế và lương dân vô tội.

Bùi văn Khuê cả mừng vội hò to lên cho Lê thế Hùng được biết:
- Hiền đệ, cố gắng lên, Hoàng tướng quân đã kéo binh đến tiếp ứng kia rồi.
Trương sát Thủ thấy bọn hung thần không đánh thẳng được vào dinh lại nghe tin có quân nhà Mạc tiếp ứng, rụng rời cả tay chưn.
Hắn chém loạn xạ vài nhát kiếm rồi toan tìm đường tẩu thoát; nhưng đã trễ quá rồi, Lê thế Hùng hét lên một tiếng phóng mạnh lưỡi kiếm vào yết hầu của gã. Một tiếng ‘‘phụp’’ rợn người, máu tươi vọt ra như suối, Trương sát Thủ bổ nhào xuống ngựa.
Ngoài kia bọn ‘‘hung thần’’ đã rối loạn hàng ngũ, mạnh ai nấy chạy tìm đường thoát thân.
Thấy rõ bọn ‘‘hung thần’’ đã tan nát cả hàng ngũ, Ngọc Lan dừng tay rồi như nhớ ra một việc gì cần phải làm cấp tốc, nàng vội biến mình trong đám loạn quân, không kịp từ giã hai tráng sĩ Bùi. Lê một lời nào cả.
Khác hẳn sự ồn ào kinh động của cuộc hỗn chiến bên dinh Bùi văn Khuê, dinh thự Đề đốc Nguyễn Quyện im lìm như say ngủ trong đêm.
Trời đứng gió, hàng cây cổ thụ lặng vươn mình, in bóng lên nền trời lấp lánh đầy sao.
Ngọc Lan về đến cổng dinh, vội chạy vụt vào, không cần liếc nhìn tên lính gác đang ngủ gật cạnh bờ tường. Nàng thấy trong phòng cha còn le lói ánh đèn. Đô đốc gục đầu ngủ thiếp trên án thư, ngọn bạch lạp trên bàn đang cháy dở.
Ngọc Lan rón rén đến gần bên cha. Nàng với tay khẽ gỡ chiếc khăn bao mặt rồi cất tiếng gọi cha, trong tiếng thổn thức nghẹn ngào:
- Phụ thân ơi ! Tỉnh dậy đi phụ thân !
Đề đốc bàng hoàng sực tỉnh và kinh ngạc vô cùng khi nhìn thấy Ngọc Lan, trong võ phục gọn gàng đứng kế bên, nước mắt đầm đìa. Ông hỏi dồn dập:
- Kìa Ngọc Lan ! Chuyện gì thế con?
Ngọc Lan vội ngồi phịch xuống ghế, khóc nức nở:
- Phụ thân còn hỏi làm gì nữa ! Tất cả những lời cầu khẩn của con, phụ thân đều bỏ ngoài tai cho nên ngày nay mới đến nổi này!
Đề đốc càng kinh dị hơn:
- Ngọc Lan ! Con nói gì ta không hiểu !
Thiếu nữ bỗng nghiêm sắc mặc nhìn cha :
- Thời giờ vô cùng cấp bách, con không làm sao thuật cho phụ thân nghe tất cả được. Phụ thân mau trốn đi thôi, bọn ‘‘hung thần’’ đều bị quân Triều đánh rã tan. Trương sát Thủ đã tử trận.
Đề đốc kinh hồn té ngồi xuống ghế, lòng ông rối như tơ vò. Thôi rồi! Bao nhiêu mưu định phút chốc tiêu tan, bức mật thư không lấy lại được mà còn mang thêm trọng tội. Giờ phút này ông mới cảm thấy những lời khuyên nhũ của Dạ Hương, con người bí mật, là đúng lý.
Đề đốc, bỗng nhìn con gái vô cùng kinh lạ :
- Ngọc Lan ! Tại sao con thấu rõ những hành động của ta? Ai nói cho con biết việc bọn ‘‘hung thần’’ bị đánh rã tan? Ngọc Lan con, nói mau đi!
Rồi ông nhìn con với cặp mắt dò xét nửa như ngờ vực, nửa lo âu.
Ngọc Lan cảm thấy chua xót vô cùng nhưng trong giờ phút nầy, nàng không làm sao giấu giếm được nữa. Nàng quỳ xuống bên chân Đề đốc khóc nức nở:
- Lạy cha ! Đứa con bất hiếu cúi đầu chờ cha xử tội.
Đề đốc vội đỡ nàng lên hỏi :
- Ngọc Lan ! Con đã làm gì, nói rõ cho ta nghe mau !
Ngọc Lan nhìn cha cay đắng:
- Cha ơi ! Từ bấy lâu nay con vẫn theo hành động chống Chúa Mạc của cha, và đã nhiều lần bí mật cản ngăn cha, hoặc gởi thư khuyên nhũ. Con làm thế với ý định mong cha sớm trở về đường ngay lẽ chánh, nhưng bao nhiêu lời của con đều không được cha đoái nghĩ đến. Cha cứ nghe lời lời Chúa Trịnh Tùng và đi sâu vào đường tội ác... Cha ơi ! Con chính là Dạ Hương đây.
Đề đốc mở to hai mắt nhìn con rồi nói to lên như gào thét :
- Dạ Hương ! Dạ Hương chính là con! Trời hỡi trời !.
Ngọc Lan gục đầu khóc thảm thiết, nàng tưởng chừng trong sự tức giận đến cực độ, Đề đốc có thể giết chết nàng đi được.
Nhưng nàng đã lầm. Chính tâm trí Đề đốc đang bị một sự hối hận ghê gớm dày vò.
Ông lặng lẽ ngồi trầm ngâm như pho tượng. Sự phát giác ra Ngọc Lan chính là Dạ Hương không làm cho ông tức giận hay oán trách nàng mà lại làm cho ông tự giận mình từ lâu bị vàng bạc của quân Trịnh làm hoa mắt không nhìn rõ được đâu là lẽ phải.
Chính con ruột của ông ở kế cận đã dùng mọi cách khuyên nhũ mà ông nào chịu nghe. Ngày nay. sự thất bại của bọn ‘‘hung thần’’  càng làm cho ông thấy rõ được chân lý : gian tà không khi nào thắng được chánh nghĩa. Ông giận mình và cảm thấy thương con; càng suy nghiệm những lời khuyên nhủ trong thư, ông mới thấy mình đã lầm lạc quá xa rồi... Chúa Trịnh đã dùng vàng bạc mê hoặc để ông làm lũng đoạn tướng sĩ nhà Mạc. Ông đã làm và từ bấy lâu nay Ngọc Lan đã âm thầm chịu khổ vì những hành động bất chánh của ông.
Đề đốc vẫn ngồi im lìm theo đuổi nguồn tư tưởng xô bồ, hỗn độn phát sanh giữa lúc tâm hồn bấn loạn.
Ngọc Lan vô cùng bối rối. Nàng lo sợ cha quá giận mình mà cứ chần chờ ở đây. Quân sĩ của Bùi, Lê kéo tới thì khó toàn tánh mạng.
Nàng đánh liều giục cha:
- Tội con bất hiếu, cha tha giết mặc tình nhưng tình trạng hiện tại vộ cùng cấp bách, mong cha lên ngựa thoát  khỏi Thăng Long càng sớm càng tốt.
Đề đốc cúi xuống nhìn con đáp:
- Con lầm rồi ! Ta nào giận con đâu ! Cha đã lầm lạc quá nhiều. Ngày nay cha đã biết hối hận ăn năn, con đừng buồn nữa.
 Rồi người đứng dậy bước đến bên án thư thì thầm như tự nói với mình:
- Trôn đi ư? Không ! Ta không làm như thế được nữa. Ta chỉ còn cái chết để đền tội với Chúa và rửa nhục cgo tông môn.
Dứt lời ông rút kiếm ra đâm thẳng vào ngực.
Ngọc Lan kinh hoảng hét lên :
- Cha ! Cha ơi ! Đừng làm vậy...
Nhưng đã trễ quá rồi, Đề đốc quỵ xuống lịm dần, Ngọc Lan nhảy tới ôm chầm lấy thây cha, kêu khóc thảm thiết.
Nguyễn Quyện còn phều phào:
 - Ngọc... Lan... con !
Rồi ông nghẽo đầu sang bên chết hẳn.
Ngọc Lan quá đau xót, không còn tự chủ được nữa, vội chụp lấy chuôi kiếm rút ra khỏi vỏ, đưa thẳng lên cuống họng loan tự hủy mình chết theo cha...
Nhưng thình lình, một tiếng ‘‘keng’’ chát chúa vang lên, đồng thời lưỡi kiếm của nàng cũng văng rạ tận góc phòng. Lê thế Hùng đã đứng đấy tự bao giờ mà nàng không hay biết.
Chàng nhìn Ngọc Lan và nói với tất cả tấm lòng tha thiết:
- Tiểu thơ! Tại sao tiểu thơ lại hành động như vậy? Tiểu thơ chết theo quan Đề đốc gẫm có lợi ích gì đâu?
Ngọc Lan không đáp. Nàng úp mặt vào thi hài cha mà khóc nức nở; khóc cho cuộc đời cô độc từ đây.
Thế Hùng nhìn nàng vô cùng chua xót. Họàn cảnh của nàng hiện tại nào khác chi chàng ! Những tâm hồn khổ sở thường dễ cảm thông nhau.
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2020 22:48:11 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Winwinapple
 
 
  
CHƯƠNG 1 - CUỘC PHỤC KÍCH BẤT THÀNH 
Chương 2  Lọt vào hầm bí mật R
Chương 3  Náo động trong dinh Trấn Thủ R
Chương 4  nguyễn hữu Liên dâng kế mật R
- Chương 5 - Người đẹp thành Thăng Long  
- Chương 6 - Người kỵ sĩ bí mật R
- Chương 7 - Dạ Hương xuất hiện  R
- Chương 8 - Ngọc Lan tiểu thư ra mặt R
- Chương 9 - Kẻ ác đền tội R
- Chương 10 - Cung đàn lỗi nhịp R
- Chương 11 - Bức thơ vĩnh biệt  R
- Chương 12 - Chúa Mạc nghi ngờ  R
- Chương 13 - Tại Tây Đô chúa Trịnh nổi cơn thạnh nộ R
- Chương 14 - Tình xưa sống dậy
- Chương 15 - Ra đi cho vẹn đôi đường
- Chương 16 - Người bí mật xuất hiện ở Tây Đô
- Chương 17 - Lão lái đò kì dị
- Chương 18 - Trong ngục thất
- Chương 19 - Giải thoát tù nhơn
- Chương 20 - Cái chết của bà lão
- Chương 21 -  Hương cũ... người xưa
- Chương 22 - Lá thư của Thúy Loan
- Chương 23 - Bí mật trong cung nhà Mạc
 
 
* * *
 
 
 
 
BÊU ĐẦU VUA MẠC
Tiểu thuyết dã sử võ hiệp 
HẢI AN
 
VÀI HÀNG CẢM NGHĨ
Chúng tôi rất vui mừng khi thấy truyện dã sử “Bêu đầu vua Mạc” của tác giả Hải Âu được xuất bản thành sách.
Đối với chúng tôi, Hải Âu là một bậc đàn anh thuộc vào lớp nhà văn, nhà báo đã đi trước về loại tiểu thuyết dã sử ở miền Nam.
Hồi còn cặp sách đi học, lúc rảnh rỗi, luôn luôn tôi đã theo dõi một cách say mê những tiểu thuyết của Hải Âu như: “Bóng người đàn bà”, “Cửu trùng Đài”, “Gươm tráng sĩ” v.v…
Tác phẩm của Hải Âu có nhiều đặc điểm mà những tác giả chuyên về dã sử đồng thời với ông khó vượt qua.
Ngoài lối bố cục phân minh, Hải Âu còn tỏ ra thận trọng lối hành văn. Các tình tiết hầu hết đều gây cấn, hấp dẫn chứng tỏ tác giả đã chịu khó suy nghĩ, bắt buộc trí tưởng tượng của mình làm việc, phối hợp chặt chẽ với các sử hiệu đã tra cứu, sưu tầm công phu, tận nguồn, tận gốc.
Ngoài ra, mỗi tác phẩm của Hải Âu đều mang một sắc thái riêng biệt, không bao giờ trùng nhau, tuy rằng luân lý chỉ có một: CHÁNH NGHĨA THẮNG GIAN TÀ.
Bây giờ xin mời bạn đọc thưởng thức “Bêu đầu vua Mạc” truyền dài đã làm sống lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến cố bất ngờ về thời Trịnh Mạc tranh hung, mà ngay từ trang đầu, sẽ làm quý bạn ngạc nhiên, say mê và thích thú.
                                                                                                          Thủ Đô 10.6.1966
                                                                                                          NGỌC LINH


 
CHƯƠNG 1
CUỘC PHỤC KÍCH BẤT THÀNH
 
Người kỵ mã lơ đãng đưa mắt nhìn hai bên lề con đường vắng mà chàng vừa vượt qua và ghì cương cho ngựa đi chậm lại
Vào cuối giờ Tuất của một đêm đông gió lạnh, vùng ngoại ô Tây Đô đã thưa thớt bóng người. Ánh đèn phần nhiều đã tắt hẳn trong những căn nhà cửa đóng kín mít, đang đắm say trong giấc ngủ triền mien.
Một luồng gió bấc lướt qua, rít lên trong các mái tranh, trong kẽ lá, khiến chàng kỵ mã cảm thấy lành lạnh, đưa tay sửa lại chiếc khan quàn lòa xòa trên cổ.
Đến trước cổng một dinh thự lớn, cách đó chừng mười thước, chàng từ từ rẽ ngựa tiến vào, thì thốt nhiên, nửa chừng, chàng kềm ngựa dừng lại, đưa mắt dáo dác tìm quanh. Người kỵ mã lấy làm lạ không thấy tên lính canh đứng gác trước cổng như thường lệ. Chàng cau mày, đón chừng có lẽ tên lính đã bỏ bê phận sự, và càu nhàu tỏ vẻ bất bình.
Nhưng khi chàng thúc ngựa đi thẳng vào giữa sân thì một sự bất ngờ đã chờ chàng ở đó.
Sau một tiếng hô lớn: “Nó đây rồi!”, tức thì một đám rừng người, nãy giờ nấp sẵn trong bóng tối, vụt nhảy xổ ra, ào ào vây kín lấy chàng.
Người kỵ mã giựt mình, sửng sốt. Chàng ngơ ngác nhìn những bó đuốc nối tiếp nhau bừng cháy, soi tỏ khắp từ bề. Đến lúc ấy, chàng nhận thấy rõ mình đang bị khép chặt giữa một hàng rào binh khí.
Trong nháy máy, chàng đã thoáng hiểu tình hình: Chàng đang rơi vào trong tay của quân sĩ triều đình. Theo lịnh của Bình an Vương Trịnh Tùng, họ vừa đến đây bắt cha chàng tức Thái quận Công Lê Cập Đệ và mẫu thân chàng để hạ ngục, trong khi chàng vắng mặt. Bây giờ, chúng chờ đến lượt chàng.
Một viên vệ úy to béo, mặt mày hung tợn chỉ huy đoàn quân gồm lối vài trăm người giơ mũi gươm chỉ thẳng vào phía chàng rồi xây lại hỏi một tên gia nhơn trong dinh đang bị trói đứng run cầm cập:
-          Có phải đó chính là tiểu chủ của nhà ngươi tên Lê Thế Hùng chăng?
Tên gia nhơn, một nô bộc trung thành của nhà họ Lê tái mặt như gà cắt tiết, ấp úng đáp:
-          Bẩm tướng quân, phải, chính đấy là… Lê công tử …
Dứt lời, hắn hướng về phía chàng kỵ mã khóc òa:
-          Công tử ơi! Tướng công và phu nhơn vừa bị bắt cách đây hơn nửa giờ!
Người kỵ mã tức Lê Thế Hùng, xua tay lạnh lùng đáp lại:
-          Ta biết rồi!
Nhưng tên gia nhơn vẫn còn ôm mặt nức nở. Viên vệ úy tống cho hắn một đạp lăn nhào xuống đất rồi hung hô tiến tới bên cạnh Thế Hùng, dõng dạc thét lớn:
-          Thừa lịnh của Bình An Vương, ta truyền cho nhà ngươi hãy lập tức hạ mã mà chịu trói.
Thế Hùng vẫn thản nhiên ngồi yên trên lưng ngựa, mắt đăm đăm nhìn thẳng vào trong dinh. Với hai mươi tuổi xuân, nhưng chàng có một hình vóc cao lớn đi đôi với một khuôn mặt quắc thước, khôi ngô, đầy kiêu dõng hiên ngang của con nhà tướng. Không chút bối rối, trước sự hăm dọa của võ khí và của viên vệ úy, chàng bỉu môi, cười gằn
-          Các ngươi muốn bắt ta à? Được lắm! Nhưng trước hết ta muốn biết ta phạm tội gì đã chớ?
Thái độ ngạo mạn của chàng làm cho viên vệ úy đùng đùng nổi giận. Hắn trợn cặp mắt tròn xoe và quát vang như sấm:
-          Cha! Thằng nhải con nầy giỏi thật, dám to gan bướng bỉnh và lý sự với bản tướng quân? Nhà ngươi muốn biết nhà ngươi phạm tội gì à? Lát nữa nhà ngươi sẽ rõ tại phủ Chúa. Bây giờ phải nạp mình mau lên! Nếu chậm trễ, ắt sẽ không còn tánh mạng.
Lê thế Hùng liếc mắt nhìn cái rừng gươm đao tua tủa dựng xung quanh và nhíu mày suy nghĩ. Chàng tự hỏi thầm: “Ta chỉ có hai tay không, thì phải làm sao đối phó lại với bọn nầy?”
Thình lình, chàng đổi ra vẻ mặt tươi cười, day về phía viên vệ úy, thong thả đưa hai tay ra và ôn tồn bảo:
-          Đây! Nhà ngươi cứ việc trói đi!
Viên tướng thuộc hạ của Trịnh Tùng thở ra, nhẹ nhõm. Hắn đương lo ngại rằng chàng kỵ mã ngang tang kia sắp sửa kháng cự và gây cuộc xung đột hỗn loạn, thì không ngờ Thế Hùng lại chịu tuân lời, ngoan ngoãn hiến mình. Mừng thầm, hắn vênh mặt nhìn kẻ đối thoại thốt ra một câu đầy tự phụ và thỏa mãn:
-          Ừ, có thế chớ! Trước sau gì rồi thì cũng bị bắt. Phản kháng làm chi cho mất công!
Vừa nói, hắn vừa rút chiếc còng ở trong túi ra, giơ lên toan khóa hai tay chàng trai trẻ. Để khỏi phí thì giờ, hắn không buộc chàng phải xuống ngựa như trước nữa.
Với vẻ mặt nhẫn nhục, Thế Hùng hơi nghiêng mình qua một bên, ung dung và sẵn sàng chờ trói. Song, khi hai bàn tay của viên vệ úy vừa nâng chiếc còng lên ngang tầm tay chàng, thì đột nhiên, lanh như cắt, chàng chụp lấy cánh tay mặt của hắn vặn ngược trở lại.
Viên tướng rú lên một tiếng thất thanh, buông rơi cây gươm mà Thế Hùng đã vội vàng đoạt lấy. Thuận tiện, chàng đâm luôn cho hắn một mũi trúng vai, rồi xách bổng hắn lên, đặt nằm ngang trên mình ngựa.
Việc xẩy ra đột ngột và lẹ như chớp nhoáng. Trước cảnh tượng ấy, bao nhiêu binh sĩ đều kinh hoảng, rung rung áp đến và tri hô lên inh ỏi.
Nhưng, đã dự định sẵn, Thế Hùng không có ra vẻ gì nao núng. Chàng nắm chặt lấy một chân của viên vệ úy đang vùng vẫy, nhắc bổng hắn lên, rồi quay tít như người ta xử dụng một môn võ khí.
Mưu mẹo ấy đã đem lại cái kết quả cấp tốc mà chàng mong mỏi: Quân lính của Trịnh Tùng lính quýnh và khủng khiếp, sợ làm nguy hại đến tánh mạng viên chủ tướng của mình, nên không dám xông vào xáp chiến. Chúng xô nhau dang ra, mặc tình cho chàng kỵ mã tung hoành.
Thế là, với món khí giới bằng xương và bằng thịt múa men không ngớt nơi tay, Lê Thế Hùng tiến tới đâu là phe địch lui dần tới đó.
Không gặp một trở lực nào, chàng thanh niên phóng ngựa ra cổng dinh, giữa những tiếng hò hét vang trời dậy đất.
Thấy toán binh sĩ ùn ùn toan rượt theo mình, chàng giơ cao viên vệ úy, ném tung vào đám rừng người, rồi phi ngựa biến mất vào trong đêm tối…!
Thế Hùng phóng ngựa như bay, không còn phân biệt rõ phương hướng nào nữa. Sau lưng chàng, xa xa vẫn còn văng vẳng tiếng reo hò inh ỏi của đoàn truy binh.
Mặc dầu vừa thoát hiểm, chàng thanh niên không khỏi phập phồng lo ngại. Vì chàng dư hiểu rằng chàng vừa làm kinh động cả một vùng Tây đô lặng lẽ và lát nữa, quân của chúa Trịnh trùng trùng điệp điệp, sẽ bủa giăng ra khắp tứ bề để đón chận chàng.
Nhìn lại quãng đường hẻo lánh vừa vượt qua, Thế Hùng bắt đầu hơi vững dạ. Đây là con đường đưa tới vùng ngoại ô, nơi chàng định tìm đến để từ biệt cậu ruột chàng là quan Ngự Sử Đặng Phương và hỏi thăm vài điều quan trọng.
Thật ra thì chàng thanh niên chưa hiểu rõ lắm về nguyên do sự tai biến bất ngờ vừa xẩy đến cho gia đình mình. Từ trước tới nay, chàng chỉ lưu ý nhận xét, nghe ngóng, để tìm hiểu lấy chớ tuyệt nhiên, bình nhựt phụ thân chàng không hề tiết lộ với chàng một lời nào. Có lẽ ông nghĩ rằng tuổi chàng còn non trẻ lại ham đua chơi phóng túng với bạn bè, sợ e khó lòng giữ vẹn những chuyện mật nhiệm tối ư quan hệ.
Nhưng những chuyện mật nhiệm trọng đại ấy là gì? Đã hơn một tháng nay, Thế Hùng mang máng nhận thấy cha chàng đang sắp đặt một công cuộc âm mưu to tát: ấy là âm thầm giúp đỡ hoàng đế Lê Anh Tôn để lật đổ và diệt trừ oai quyền hống hách ghê gớm của chúa Trịnh-Tùng. Vì đã nhiều lần, biệt dinh của phụ thân chàng biến thành nơi hội hiệp bí mật của các nhân vật thuộc phe đảng Cần Vương. Và để tránh sự tò mò của con trẻ mỗi khi có cuộc nhóm họp như thế, Thái quận Công Lê Cập Đệ đều cho chàng được phép đi chơi xa.
Tuy nhiên trong khi nhứt nhứt tuân theo lời cha, Thế Hùng chẳng phải vì đó mà không quan tâm đến đại sự. Trái lại, chàng rất để ý lo lắng và đã tiên liệu tất cả kết quả khốc hại của công cuộc đương đầu với một thế lực vô cùng nguy hiểm là chúa Trịnh-Tùng.
Rốt cuộc, đúng như chàng dự đoán, kết quả ấy đã xảy ra. Vì có những tay do thám đắc lực của Trịnh-tùng, nên âm mưu nói trên đã bị phát giác. Phụ thân chàng bị bắt và có lẽ sẽ bị xử tử nay mai. Chính chàng vừa đi thăm bạn trở về, suýt nữa cũng sa vào tay đối phương và khó thoát khỏi bỏ thân trong ngục thất.
Đang bâng khuâng suy nghĩ, say sưa vì tốc độ ghê hồn của con ngựa ô phi thân vùn vụt trong đêm tối, chỉ chốt lát, Thế Hùng đã thấy hiện ra trước mắt cảnh ngoại ô phía nam của Tây Đô, đìu hiu, vắng lạnh và liền đó tư dinh của quan Ngự sử Đặng Phương, khiêm tốn nhô lên khỏi rặng hàng rào dâm bụt cao gần tới đầu người.
Chàng thanh niên gò cương, dừng lại trước cổng dinh đang hé mở, rồi dè dặt tiến vào. Đến giữa sân, chàng êm ái xuống ngựa, cột con vật vào một thân cây gần đấy, đoạn thoăn thoắt bước tới trước dinh, toan kêu cửa.
Cửa dinh đóng bịt bùng, kín mít. Thế Hùng tưởng cậu ruột chàng và cả gia đình đang ngủ say. Nhưng chàng rất lấy làm lạ. Thế Hùng thoáng nghe thấy những tiếng xì xào rất nhỏ, nhìn như nhiều người nói, từ bên trong văng vẳng đến tai chàng.
Chàng nhíu mày tự nhủ thầm: “Phải chăng đây cũng là một cuộc nhóm họp bí mật?”
Tự nhiên, Thế Hùng chợt nhớ ra rằng vị Ngự sử họ Đặng cũng là một nhơn vật thuộc phe đảng của chàng, song nhờ tình quyến thuộc đi lại giữa đôi bên và nhứt là nhờ xử trí rất thận trọng và khôn khéo, cậu chàng bấy lâu nay ít bị bọn tay sai của chúa Trịnh để ý và ngờ vực. Tuy vật mới rồi, cuộc âm mưu đã bị đổ bể. Tất nhiên, chẳng chóng thì chầy, Ngự sử Đặng Phương cũng sẽ bị chung số phận với phụ thân chàng.
Ý nghĩ ấy khiến chàng nhận thấy phải cần kíp phi báo ngay hung tin vừa xẩy ra cho cậu chàng biết mà liệu đề phòng.
Thế Hùng đưa tay gõ khẽ vào cánh cửa. Ba tiếng gõ vừa dứt thì lạ thay, những tiếng xì xào bên trong thình lình im bặt. Rồi một lát sau, ngọn đèn ở chính giữa nhà được thấp sáng lên.
Chàng thanh niên sốt ruột vì phải chờ đợi hơi lâu. Nhưng kìa, có tiếng chân người nặng nề chậm rải, mỗi lúc mỗi tiến đến gần. Sau cùng, qua khe cửa, một câu hỏi nghiêm nghị và dõng dạc đưa ra:
-          Ai đấy? Ai kêu cửa giữa đêm hôm khuya khoắt thế? Có việc gì?
Thế Hùng nhận ra đó là tiếng của cậu mình, chàng vội hạ giọng đáp, vừa đủ cho bên trong nghe rõ:
-          Thưa cậu, cháu Thế Hùng đây.
Cánh cửa từ từ hé mở và một cánh tay gầy gò thò ra nắm lấy tay chàng, lôi tuốt chàng vào trong.
Khi cửa đóng ập lại sau lưng mình thì Thế Hùng đã đứng đối diện với Đặng Ngự sử, một văn quan nho nhã, ốm yếu, lụng thụng trong một bộ thường phục bằng vải trắng, hơi làm cho chàng lạ mắt.
Mừng rỡ và ngạc nhiên, Đặng Phương ôm chầm lấy cháu. Cảm động, chàng thanh niên vội lên tiếng trước để báo tin:
-          Thưa cậu, phụ thân cháu vừa bị bắt.
Vị Ngự Sử gật đầu:
-          Ta đã biết việc ấy rồi. Suốt tối nay, ta sai gia nhơn đi tìm cháu khắp nơi mà không gặp. Chẳng hay cháu làm sao thoát hiểm được mà tới đây?
Thế Hùng vắt tắt thuật lại cho cậu mình nghe đầu đuôi mọi việc vừa xảy ra. Chàng nói xong, viên Ngự sử thân ái đập lên vai chàng và bảo:
-          Hay quá, cháu đến đây thật là một dịp may. Cậu muốn cháu giúp cậu một tay trong việc hộ giá thánh thương ra khỏi Tây đô nội đêm nay.
Chàng thanh niên kinh ngạc, chòng chọc nhìn cậu:
-          Hoàng thượng bí mật xuất ngoại à?
-          Phải – Đặng Phương đáp – Hoàng thượng xuất ngoại để trốn tránh sự ám hại của Chúa Trịnh Tùng. Hiện ngài và các vị hoàng tử đang tạm trú trong nhà sau của ta. Để ta dẫn cháu xuống đó bệ kiến thánh thượng, trước khi chuẩn bị lên đường
¬
Một lát sau, tại nội dinh Đặng Ngự sử, lần thứ nhứt trong đời mình, Lê thế Hùng, được hân hạnh làm lễ bái yết Lê Anh Tôn Hoàng đế. Chàng vừa dập đầu quỳ mọp xuống, tung hô vạn tuế, thì nhà vua cho chàng đứng dậy và phán báo
-          Khanh hãy bình thân. Vừa thoạt thấy Khanh, trẫm rất đau lòng nhớ tới lịnh nghiêm một vị trung thần đã vì trấm mà phải sa vào tay kẻ địch…
Thế Hùng từ từ đứng dậy. liếc trộm nhìn lên. Chàng bắt chợt nơi khóe mắt của nhà vua, long lanh đôi ngấn lệ.
Vị Hoàng đế chỉ trạc lối tư tuần, dáng người tầm thước, mảnh khảnh trong lớp ao lương đen dài phủ trên mặt chiếc quần vải trắng. Tuy nhiên bộ y phục đơn giản mộc mạc dùng để cải trang khi xuất ngoại ấy cũng không giấu giếm nỗi chơn tướng của một bực đế vương.
Chơn tướng ấy bộ lộ ra rõ rệt trên gương mặt xương đầy vẻ cao quý oai nghi, với hai lổ tai to vuông vắn và nhứt là với đôi mắt sáng bén như gươm, lõm vào giữa hai quầng thâm, chứng tỏ như đêm trường không ngủ đầy lo âu và toan tính.
Bên cạnh nhà vua là hai vị hoàng tử hay nói đúng hơn hai cậu bé trắng trẻo, mủm mỉm xấp xỉ trạc tuổi nhau. Đứa lớn hơn chưa đầy mười hai và đứa bé nhất cũng không trên mười tuổi. Chúng lẳng lặng ngồi dựa vào nhau, nhìn khắp mọi người với một vẻ ngơ ngác và sợ sệt đáng thương.
Thế Hùng chắp hai tay trước ngực, kính cẩn và yên lặng đứng chờ. Chàng chợt thấy nhà vua day lại nói nhỏ với Đặng Phương:
-          Dung mạo của lịnh điệt trông giống hệt Lê Quận Công như khuôn đúc. Thật là “hổ phụ sanh hổ tử”; Cũng cặp mắt ấy, cái miệng ấy cùng những vẻ hào hung hiên ngang ấy của khách trượng phu, Khanh tin chắc rằng chúng ta có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của lịnh điệt chứ?
Đặng Ngự sử gật đầu:
-          Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần tin chắc rằng Thế Hùng có thừa tài sức để bảo giá. Và nếu cần, có thể đương đầu với lực lượng hùng hậu của Trịnh Tùng.
Dứt lời, ông đem chuyện thoát hiểm vừa rồi của Thế Hùng vắn tắt thuật lại cho nhà vua nghe. Vị hoàng đế không ngớt ngắm nghía chàng thanh niên từ đầu chi chân tấm tắc ngợi khen:
-          Hay lắm! Như vậy trẫm đã yên dạ được một phần rồi.
Đoạn, ông xây sang phía Đặng Ngự Sử:
-          Thôi bây giờ chúng ta nên cấp tốc sửa soạn lên đường.
Chúng ta chỉ vừa bí mật rời khỏi hoàng thành cách đây một giờ đồng hồ. Nếu chậm trễ, bọn do thám của Trịnh Tùng sẽ khám phá ra sự vắng mặt của trẫm tại nội cung và sẽ đổ xô đi truy nã thì e khó tránh được sự trở ngại hiểm nghèo.
-          Bệ hạ dạy chi phải – họ Đặng đáp – Kẻ hạ thần đã cho chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng rồi, chỉ còn đợi lịnh bệ hạ.
Viên ngự sử nói chưa hết câu, bỗng nhiên ngừng lại và nín lặng. Ông vừa thoáng nghe tiếng ngói chuyển răng rắc trên đầu mình. Ông ngước mắt nhìn lên mái nhà. Hoàng đế Anh Tôn và Thế Hùng cũng giựt mình nhìn theo. Cả ba đều hồi hộp, phập phồng lo sợ.
Tiếng chuyển động càng rõ rệt hơn trong không khí tịch mịch và vắng lặng. Đích thị rồi, quả có người đang di chuyển trên mái nhà, và kẻ bí mật nào đó không thể là ai khác hơn gián điệp của chúa Trịnh.
Không kịp nghĩ đến việc xin phép nhà vua và cậu ruột mình, Thế Hùng tuốt thanh kiếm ra khỏi vỏ, và lanh như cắt, nhảy tót ra khỏi phòng. Vì đã quen thuộc đường lối tại dinh này, chàng đâm đầu chạy thẳng một mạch xuống nhà bếp, rồi nhẹ nhàng mở cửa, lẻn ra ngoài.
Đêm tối, lại càng tối hơn vì khu vườn gồm toàn cây cối rườm rà, sầm uất bao quanh ngôi nhà của viên ngự sử.
Chàng thanh niên êm ái cất mình nhảy phóc lên trên một cành cây khế, rồi như con vượn, chuyền từ cành nọ đến cành kia. Đến một mức khá cao ngang tầm với nóc nhà, chàng ngừng lại đưa mắt tìm tòi, bới móc qua bức màn đêm âm u, dày đặc.
Bỗng chàng thoáng thấy trước mặt mình, một bóng người đang đang lom khom bò trên mái nhà với hai tay, hai chân tương tợ như con vật đi bằng bốn cẳng. Cái bóng ấy tiến về phía chính giữa mái ngói, rồi nằm sát xuống, giống hệt một con thằn lằn trong điệu bộ rình mồi, đang để ý dò xét và nghe ngóng.
Không để mất thì giờ, từ trên cành cây, Thế Hùng đu mình phóng sang mái ngói.
Hai chân chàng vừa chấm xuống mái, tuy rất nhẹ nhàng, những cũng đủ cho cái bóng đen nghe được tiếng động.
Tức thì hắn vùng dậy, xây mặt trở lại, và trong chớp mắt hai võ khí trong tay hai đối thủ, bắt đầu va chạm nhau, chát chúa, loảng xoảng, trong sự im lặng giá lạnh của không gian.
Thế Hùng cương quyết lột mặt nạ tên do thám bí mật của Trịnh Tùng nên hăm hỏ tấn công như mưa bão. Vả lại tài nghệ lỗi lạc và nhứt là sức mạnh tích ứ trong người thiếu niên, khiến chàng đưa ra những miếng đòn cực kỳ ác liệt ngay lúc đầu đã khiến đối phương phải kinh khiếp rụng rời.
Thật vậy, chưa đầy một phút giao tranh, cái bóng đen kia đã tê buốt cả cánh tay và đấu pháp trở nên rối loạn. Một lát gươm của Thế Hùng vụt chém xả xuống bả vai hắn giữa lúc đang lúng túng, khiến hắn không đỡ nổi và không né kịp.
Bóng đen khẽ rú lên một tiếng kêu đau đớn và lăn nhào từ trên nóc nhà xuống đất.
Tức thì Thế Hùng cũng buông mình xuống nhảy theo bén gót.
Vốn chỉ muốn bắt sống đối thủ, đề tìm xem nó là ai, nên chàng thanh niên không xuống tay liền, sau khi hai chân chàng vừa chấm đất.
Trước mặt chàng, kẻ lạ mặt đang lăn lộn trên bãi cỏ, một tay ôm chặt lấy vết thương. Thanh gươm của hắn văng ra xa, cách đó chừng năm thước.
Thế Hùng bước tới, một chân đạp lên bụng hắn, một tay dí mũi kiếm vào cổ hắn thét lên:
-          Mi tên gì? Ở đâu? Ai sai mi đến đây dọ thám? Nói mau! Nếu chậm trễ, ắt làm quỷ không đầu dưới lưỡi kiếm này!
Kẻ lạ mặt ú ớ, thốt không ra tiếng. chẳng rõ vì hắn quá đau hay vì cố ý muốn lặng thinh. Ngay lúc ấy, một vùng ánh sáng chập chờn, từ phía sau chiếu tới, mỗi lúc mỗi gần. Thế Hùng xây lại thì thấy Đặng Ngự Sử, tay xách một ngọn đèn lồng từ nhà bếp, rón rén bước ra với vẻ hoảng hốt hiện rõ trên dung mạo.
Chàng thanh niên giơ tay vẫy cậu đến nhanh và ra hiệu cho ông biết rằng kẻ địch đã bị chàng đánh ngã. Vị lão quan khi ấy mới hơi vững bụng. Ông tới sát bên cạnh cháu mình, giơ cao ngọn đèn, soi tỏ xuống người lạ mặt đang nằm yên hai mắt nhắm nghiền trên thảm cỏ. Từ vết thương bên vai hữu hắn máu tuôn ra linh láng, đẫm ướt gần hết thân trước của bộ nhung phục màu xám tro mà hắn đang mặc trên mình.
Đặng Ngự Sử bỗng buột miệng kêu lớn:
-          Ô kìa! Trương Hổ, tay bộ hạ lợi hại của chúa Trịnh.
Thế Hùng nhíu mày, ngạc nhiên hỏi lại:
-          Thưa cậu, có phải Trương Hổ nổi danh là Tiểu Võ Tòng, đã từng bí mật sát hại nhiều vị trung thần, theo lịnh của Trịnh Tùng?
-          Chính nó – Vị lão quan đáp.
Chàng thanh niên nghiến răng, cười gay gắt:
-          Nếu thế thì quả đã đến lúc tận số của tên nầy rồi. Chúng ta còn do dự gì mà chưa kết liễu tánh mạng nó để trả thù cho bao nhiêu trang trung liệt.
Dứt lời, chàng thọc mạnh mũi kiếm vào cổ tên do thám. Những tiếng rên rỉ cuối cùng đưa ra đồng một lúc với tia máu vọt phun lên, kẻ lạ mặt đã thành một thây ma không cử động.
Thế Hùng cảm thấy khoan khoái và hả dạ vì chính tay mình đã diệt trừ được kẻ thù lợi hại phe đảng của phụ thân chàng.
Trái lại Đặng Ngự Sử rất lấy làm bối rối lo ngại trước vụ án mạng vừa xảy ra tại tư dinh của ông.
Ông đưa mắt nhìn khắp tứ bề, rồi nắm lấy tay chàng thanh niên kéo vào nhà vừa đi vừa bảo:
-          Chúng ta phải lo hộ giá khởi hành ngay từ bây giờ vì Trịnh Tùng đã theo dõi và biết rõ dấu vết của nhà vua. Vả chăng cháu vừa hạ thủ một tay tùy tướng đắc lực của nó, chắc chắn là họ Trịnh sẽ không để yên chúng ta đâu.
Thế Hùng gật đầu tán thành điều nhận xét của cậu mình. Hai người bước vào nhà. Vị lão quan vắn tắt thuật lại cho Hoàng đến Lê Anh Tôn nghe việc tên dọ thám Trương Hổ bị giết. Nhà vua hết sức kinh dị, càng thúc giục rối rít:
-          Chúng ta lên đường chớ! Các khanh còn chờ gì nữa. Nếu chúng ta chậm trễ, quân của Trịnh Phủ sẽ kéo đến bao vây dinh nầy trong chốc lát.
Đặng Ngự sử nghiêng mình kính cẩn:
-          Xin bệ hạ cứ yên tâm kẻ hạ thần đã lo liệu đâu đấy sẵn sàng rồi. Dứt lời, ông lên tiến gkhex nói tên lão bộc đang đứng chực sẵn ở phòng bên cạnh, ra lệnh khiêng mấy bao hành lý bỏ lên xe.
Thế Hùng rất lấy làm lạ thấy trong dinh vắng vẻ, ít người. Chàng tò mò hỏi:
-          Thưa cậy, chẳng hay mợ, các em và gia nhơn trong nhà đi đâu vắng hết?
Vị lão quan thản nhiên đáp:
-          Ta đã cho mợ cháu và các em về quê, từ ba hôm nay. Còn gia nhơn thì ta đuổi hết vì chúng không thể tin cậy được. Chỉ trừ ra tên lão bộc trung thành nầy được ta giữ lại, vì hắn đã thề quyết rằng thà chết chớ sẽ không bao giờ tiết lộ sự bí mật.
Chàng thanh niên rất thán phục hành vi và sự thận trọng của cậu mình. Trước kia chàng không hề ngờ rằng một vị văn quan già yếu, mảnh khảnh như thế lại có thể dám đương đầu với oai quyền hống hách táo bạo, tầy trời.
Đương đêm, một mình lẻn vào tận hoàng cung, bí mật đưa rước nhà vua và các hoàng tử về tư thất mình trú ngụ, rồi đồ mưu thiết kế đưa vua xuất ngoại để tránh khỏi nanh vuốt của lũ gian thần. Hành động gan dạ ấy quả thật là phi thường, hiếm có.
Tên lão bộc vừa sắp xong các bao hành lý rồi trở vào, thì Đặng Ngự sử xây lại mời vua Anh Tôn và các vị hoàng tử ra xe.
Lê thế Hùng được lịnh tiến lên trước để quan sát dọn đường và phòng ngừa mọi sự bất trắc.
Một lần nữa vị Hoàng đế thấy cần phải căn dặn kỹ hai người bạn đồng hành:
-          Các khanh nên nhớ rằng trong lúc hoạn nạn, và kể từ giờ phút nầy, mọi sự xưng hô và lễ nghi phiền phức nên bãi bỏ để tránh sự nghi kỵ của người ngoài. Các khanh cứ tự do xưng hô với ta như là bạn thân và coi ta như thế. Vả chăng, sự thật thì chẳng những các khanh xứng đáng là bạn của ta và hơn thế, là ân nhân của ta nữa.
Vị lão quan và chàng thanh niên rất cảm động, đồng cúi đầu phụng mạng.
Đám người lướt xuống thềm rẽ sang phía tả đi quanh co trong khu vườn rậm rạp để rồi cuối cùng đến một lối đi nhỏ hẹp, khúc khuỷu ở phía sau dinh. Lối đi này ăn thông ra con đường quan lộ.
Đầu lối đi, ngay ở cổng sau, Thế Hùng lấy làm lạ chỉ thấy vỏn vẹn có một chiếc xe ngựa chất đầy rơm rạ, cao nghều nghệu.
Một lát sau khi Đặng Ngự Sử ra hiệu cho chàng tới phụ lực với ông, đỡ nhà vua và bồng hai hoàng tử lên xe, rồi giúp họ khỏa lấp rơm rạ kín mít trên mình họ, chàng thanh niên mới hiểu ra mưu mô thần diệu của cậu ruột mình.
Ë
Giờ khởi hành đã đến. Đặng Ngự Sử vội cởi bỏ chiếc áo dài lượt thượt, chỉ còn khoác trên mình một manh áo rách màu nâu mà ông đã mượn của tên lão bộc. Ông cũng không quên chụp lên đầu mình một chiếc nón lá rách tơi tả để cho sự trá hình được thiệt hoàn thành.
Lanh lẹ không kém một thanh niên còn trai tráng, vị lão quan nhảy thót lên xe, ngồi phía trước cầm cương, trong khi Thế Hùng cũng phóc lên yên ngựa.
Dưới ánh sáng mơ hồ của muôn sao lấp lánh, một lần chót, Đặng Ngự Sử quay đầu nhìn lại để vĩnh biệt trong luyến tiếc, nếp nhà thân yêu cà người lão bộc trung thành.
Đoạn ông ra roi quất mạnh. Bốn bánh xe từ từ lăn và những vó ngựa vỗ dồn dập trên con đường mòn khúc khuỷu. Đến đường cái, các con vật khởi sự tăng gia tốc lực, chỉ trong nháy mắt, chàng kỵ mã và chiếc xe chở những người tị nạn đã biến mất vào trong bóng tối mịt mù.
Ra đến ngoại ô, họ rẽ về phía nam, thẳng nhắm hướng Nghệ An trực chỉ. Thình lình trên con đường vắng vẻ hiu quạnh, Thế Hùng chợt thấy một đám binh sĩ lố nhố gồm chừng mười mấy người. Đó là một trong những đoàn tuần quân của Chúa Trịnh có phận sự đi canh phòng mỗi đêm khắp trong vùng ngoại ô của Tây Thành.
Đặng Ngự sử tuy hơi hồi hộp lo lắng, nhưng cũng bình tĩnh cho xe tiếp tục tiến lên.
Ông cẩn thận xây lại dặn khẽ nhà vua ngồi nấp dưới đống rơm:
-          Quân canh sắp đến nơi. Xin nằm sát xuống và nhớ đừng cựa quậy.
Từ dưới đống rơm có tiếng văng vẳng đáp lại:
-          Được rồi!
Thế Hùng như tiên cảm thấy chuyện chẳng lành. Chàng thúc ngựa đi song song và khít bên cạnh chiếc xe, bàn tay mặt để sẵn nơi chuôi kiếm.
Chỉ còn vài chục thước nữa, khi khoảng cách biệt phân chia đôi bên đang được thâu ngắn lại rất nhanh thì một ngọn đèn lồng bỗng dơ cao lên giữa lộ. Bọn tuần quân của Trịnh Tùng, lẹ như chớp, đã giăng ngang trên đường cái thành một dãy hàng rào để cản lối đi.
Ngự sử Đặng Phương vội ghì cương ngựa lại. Đồng thời Lê Thế Hùng cũng bắt chước cậu mình.
Trước mặt họ là một tốp người võ trang bằng đoản đao, bận nhung phục vải màu xanh, đầu đội nón nhỏ vành. Rời khỏi hàng ngũ của chúng, viên đội chỉ huy cao lớn và vạm vỡ bệ vệ bước ra, dõng dạc thét hỏi:
-          Ê, xe chở gì đó? Cớ sao chạy giữa đêm hôm khuya khoắ như vậy?
Lê Thế Hùng rất bực tức trước sự cản trở bất ngờ nầy, và nhứt là trước điệu bộ kiêu căng, hợm hĩnh của viên đội. Trái lại, Đặng Ngự sử vẫn giữ vẻ mặt điềm nhiên. Ông dịu giọng và thong thả đáp
-          Thưa đội trưởng, xe nầy chở rơm rạ đưa về tàu ngựa. Chúng tôi là gia nhơn của quan Thái phó Nguyễn hữu Liên.
Năm tiếng “Thái phó Nguyễn Hữu Liên” làm cho viên đội trưởng hơi giựt mình. Nguyễn Hữu Liên là một bực thượng tướng tay chơn của cháu Trịnh Tùng, có oai quyền hống hách “chém trước tâu sau” khiến khắp Tây đô đều phải khiếp sợ. Ngự sử Đặng Phương vốn rành tâm lý, nên đã khéo lựa cái tên ấy để gạt và dọa bọn lính tuần.
Viên đội đưa tay mân mê bộ râu cá chốt của mình, nhe răng mỉm cười, để làm quen và chữa lỗi về bộ tịch hách dịch vừa rồi của mình:
-          À, té ra là xe của người nhà quan Thái phó mà chúng tôi không hay! Thôi mấy anh đừng phiền nhé! Chúng tôi là lính tráng chỉ biết thi hành phận sự. Vả chăng, tối nay vừa xẩy ra vụ con trai của Thái quận Công Lê Cập Đệ, đại náo kinh thành, giết tướng sĩ của triều đình nên theo lịnh trên, chúng tôi buộc lòng phải tra xét nghiêm nhặt.
Dứt lời, hắn liếc nhìn qua Đặng Ngự sử, Lê thế Hùng, liếc nhìn đống rơm, và giơ tay toan ra lịnh cho phép chiếc xe tiếp tục đi.
Thốt nhiên từ dưới đống rạ, một tiếng ho nhẹ nổi lên, tiếng ho không cầm giữ được của một đứa bé đang bối rối vì ngạt thở. Rồi nối theo đó là một chuổi ho dài sù sụ.
Vị lão quan và chàng thiếu niên giựt mình vì thấy cơ mưu bại lộ, trong khi viên đội rất đổi ngạc nhiên. Đoán chắc trong xe có sự bí mật, hắn bèn leo lên, thò một tay vào bới móc đống rơm để tìm kiếm nguyên do các tiếng động mới rồi.
Thế Hùng thấy cần phải hành động gấp để sớm thoát khỏi cơn nguy biến đột ngột do sự rủi ro của một hoàng tử nhỏ tuổi gây ra. Lanh như cắt chàng tuốt gươm chém phăng viên đội đứt làm hai đoạn.
Bọn lính thấy kẻ chỉ huy của mình bị hạ sát bất ngờ và ghê gớm như thế, bèn cả giận rút đoản đao ra, áp lại quyết vây đánh Thế Hùng.
Khinh thường chúng, chàng thanh niên không tỏ chút vẻ gì quan tâm, nao núng. Chàng xây lại bảo nhỏ Đặng Ngự sử:
-          Thật là một việc vạn bất đắc dĩ. Cháu phải giết sạch lũ nầy, vì nếu để một tên sống sót thì hắn sẽ phi báo cho Trịnh Tùng truy ra dấu vết của chúng ta.
Nói xong, từ trên lưng ngựa, chàng nhảy xổ vào đám đông như một con diều hâu đáp xuống giữa đàn gà con táng đởm. Thế rồi, lưỡi kiếm của chàng bắt đầu quay tít, vù vù bổ xuống hàng chục ngọn đoản đao, kêu chan chát.
Lưỡi kiếm ấy xê động đến đâu, quân địch ngã rạp ra tới đó. Chỉ trong khoảnh khắc, con đường thiên lý đã chan hòa dưới máu đào linh láng, và xa gần, lăn lóc vài thủ cấp bị đứt lìa rải rác bên cạnh mười mấy các xác chết nằm ngổn ngang của đám tuần quân.
Trận chém đâm kết thúc. Thế Hùng lại lên ngựa. Đoàn người sau một hồi gián đoạn đầy nguy ngập, lại gấp rút tiếp tục cuộc viễn trình.
¬
Viên cai ngục kính cẩn cúi rạp mình xuống trước một người to béo phục phịch mặc áo gấm xanh, đầu bịt khan đen, đang vượt qua khung cửa của đề lao hấp tấp bước ra ngoài.
Như sực nhớ điều gì quan hệ, người ấy dừng chơn nghiêm nghị bảo nhỏ anh cai ngục:
-          Nhà ngươi phải nhớ kỹ, đừng hờ hỏng để tiết lộ sự bí mật nầy. Do lịnh của Bình An Vương, hễ ai bất tuân thì sẽ bị chém đầu tức khắc.
Hai tay chấp trước ngựa, viên ngục quan khúm núm gật đầu lia lịa:
-          Dạ, quan lớn cứ tin cậy ở kẻ hèn mọn nầy. Từ trước đến nay, luôn luôn kẻ tiện nhơn vẫn hết sức lo tròn phận sự.
Lặng thinh không đáp, người to béo đi thẳng về phía một tên quân giữ ngựa đứng chực sẵn kế đó chừng 10 thước. Ông giơ tay tiếp lấy dây cương của tên lính lễ phép dâng trao, rồi nhảy thót lên yên. Con ngựa bắt đầu phi nước đại, băng mình qua một khu vườn rậm rạp để ra đường cái, rồi vùn vụt tiến về cửa hoàng thành.
Như đã quen thuộc và nhận biết rõ người đang ngồi trên lưng ngựa, bọn lính gác lập tức dang ra hai bên để nhường lối đi. Người cao lớn vượt qua rất nhanh, rẽ qua phía trái tức là ngõ vào phủ Chúa.
Trong nháy mắt, con vật đã ngừng lại trước một tòa biệt điện nguy nga rộng lớn, với lối kiến trúc cổ kính tráng lệ và kỳ xảo nhứt của thời bấy giờ.
Người to béo vội vàng xuống ngựa và hất hàm hỏi một tên lính thị vệ đang khoanh tay đứng nghinh đón mình ở trước sân:
-          Đức Bình an Vương đã đi nghỉ chưa?
-          Bẩm đại nhơn, chưa – tên thị vệ đáp – Ngài còn thức và ngồi chờ đại nhơn trong điện. Để tiện tốt vào phi báo có đại nhơn đến yết kiến.
Người to béo xua tay:
-          Không cần. Nhà ngươi cứ để mặc ta!
Dứt lời, ông tất tả bước lên thềm và xăm xăm một mạch tiến thẳng vào trong phủ. Đến trước gian phòng khách sáng trưng dưới hàng chục ngọn đèn bạch lạp, người to béo chưa kịp dừng chân thì một chuỗi cười lanh lảnh dòn tan nổi lên, khiến ông hơi giựt mình, đứng sựng lại cúi đầu thi lễ.
Chuỗi cười đó là của chúa Trịnh Toàn đang ngồi xem các công văn và những giấy tờ bí mật sau một chiếc án thư:
-          Hà hà hà… quan thái phó đấy à? Mời ông vào đây. Tôi chờ ông từ nãy đến giờ…
Người to béo không ai khác hơn là Thái phó Nguyễn Hữu Liên, cánh tay mặt của chúa Trịnh, rón rén bước vào và thong thả ngồi lên trên mặt chiếc ghế bành trước án thư mà Bình an Vương vừa chỉ. Trịnh Tùng vẫn cười ha hả tiếp:
-          Thế nào? Về nhiệm vụ mà ta ủy thác, quan Thái phó đã làm xong rồi chứ?
Nguyễn Hữu Liên chỉ đợi hỏi đến câu ấy là nhanh nhẩu đáp:
-          Bẩm thiên tuế, kẻ ty chức đã thi hành lịnh trên một cách kín nhẹm hoàn toàn. Sauk hi bị ty chức ép uổng phải uống thuốc độc, hai vợ chồng lão Thái quận công Lê Cập Đệ đã trút inh hồn trong ngục thất. Liền đó, ty chức rời khỏi đề lao phi ngựa đến đây, và không quên dặn dò viên ngục quan phải hết sức cẩn thận đừng để tiết lộ sự bí mật.
Trịnh Tùng đưa tay mân mê bộ râu mép lơ thơ mỉm cười đắc ý:
-          Được lắm, thế là rồi đây dự luận sẽ tưởng rằng lão già ấy tự tử mà thác. Có ai dám ngờ la do bàn tay của chúng ta đâu.
Ngừng một lát, họ Trịnh bỗng nhìn thẳng vào mặt của kẻ đối thoại và hỏi:
-          À, nầy quan Thái phó có hay tin vua Anh Tôn vừa lén lút trốn khỏi hoàng cung để xuất ngoại rồi chăng?
Nguyễn hữu Liên sửng sốt:
-          Quả thật vậy ư? Chẳng hay thiên tuế đã cho người đi theo bắt lại nhà vua chưa?
Bình an Vương ngả người ra cười khanh khách:
-          Bắt y làm gì? Y tự ý bỏ ngai vàng ra đi, tức là trúng kế của ta đó. Nếu y còn tại vị mãi, ta không thể truất ngôi y hay ám hại y mà không làm xao xuyến nhân tâm. Tuy nhiên, dầu Lê Anh Tôn đi tới đâu, luôn luôn đều có thám tử củ ât theo dõi y từng bước, và rồi đây, đến lúc thuận tiện ta sẽ kết liễu tánh mạng y không muộn.
Nguyễn Hữu Liên gục gặt đầu, tỏ vẻ thán phục cao kiến của Trịnh Tùng. Ông toan lên tiếng hỏi, thì bỗng tên lính thị vệ từ ngoài xồng xộc chạy vào phi báo:
-          Bẩm thiên tuế, có một nhơn viên trong ban trinh sát xin vào hầu thiên tuế để phúc trình việc quan hệ.
Bình an Vương dõng dạc phán:
-          Cho vào!
Một lát sau, một viên vệ úy, dáng người tầm thước, nước da ngăm ngăm đen, bước vào phòng, khép nép vái chào Chúa Trịnh và Thái phó Nguyễn Hữu Liên, rồi khoanh tay lặng yên chờ lịnh.
Trịnh Tùng ngước nhìn lên, quắc mắt hỏi:
-          Vua Anh Tôn và hai hoàng tử đã lìa khỏi dinh của lão Ngự sử Đặng Phương chưa?
-          Bẩm rồi ạ - Viên thám tử đáp. – Họ dùng một chiếc xe ngựa chất đầy rơm để tỵ nạn. Nhà vua và hai hoàng tử núp dưới đống rơm. Nhưng trước đó đã xẩy ra một việc đáng tiếc. Phó tướng quân Trương Hổ đã bị một người trong bọn họ đâm chết, trong khi đang núp trên mái nhà của Đặng Phương để thám thính.
Mặt Trịnh Tùng đỏ phừng vì cơn thịnh nộ lên tới cực điểm. Ông đấm thình xuống án thư và thét:
-          Ái chà! Té ra bọn chúng lộng thật! Vậy nhà ngươi có biết kẻ đã sát hại Trương Hổ là đứa nào không?
-          Dạ có – viên vệ úy thưa – thủ phạm đã giết chết Trương tướng quân là Lê Thế Hùng cháu ruột gọi Ngự sử Đặng Phương bằng cậu. Vào phút chót, Thế Hùng đến nhập bọn với họ Đặng và tình nguyện đi theo hộ giá cho vua Anh Tôn.
Nguyễn Hữu Liên xen vô:
-          Có phải Thế Hùng là con trai Lê Cập Đệ, cách đây chừng một giờ, đã đánh tan đám binh sĩ triều đình có phận sự đến vây bắt hắn và làm kinh động cả một vùng phụ cận kinh thành đó chăng?
Trịnh Tùng nghiến răng:
-          Phải rồi, chính thằng ranh con khốn kiếp ấy đó; chỉ vì ta sơ ý, khinh thường không thộp cổ nó trước nên mới nẩy sanh ra những vụ rắc rối, bất ngờ nầy!
Viên thám tử nối lời:
-          Nhưng thưa thiên tuế, rắc rối hơn nữa là khi chiếc xe rơm bí mật vừa ra khỏi ngoại ô, nhắm Nghệ An thẳng tiến thì gặp một tốp lính tuần chận lại xét hỏi. Chính Lê Thế Hùng đã múa gươm giết sạch đám tuần quân, luôn một hơi mười bốn mạng…
Trịnh Tùng đứng phắt dậy, cặp mắt tròn xoe, đôi lông mày dựng ngược:
-          Cha chả! Thằng con trai của Lê cập Đệ, miệng còn hơi sữa, mà dám to gan coi thường uy thế của ta à?
Được rồi! Đã đến lúc nó phải đền tội xứng đáng cùng một lượt với tên hôn quân và thằng giặc già họ Đặng kia.
Dứt lời, chúa Trịnh xua tay ra dấu cho viên thám tử lui ra, rồi nghiên mình về phía trước, ghé sát bên tai của Nguyễn Hữu LIên, nói thì thầm những gì, không ai nghe rõ, chỉ thấy vị thái phó luôn gật đầu vâng, dạ.
Một lát sau, tiễn đưa Hữu Liên ra khỏi cửa phòng, Trịnh Tùng còn dặn dò thêm:
-          Ông phải thi hành xong nhiệm vụ gấp rút nội trong ngày mai. Đừng quên rằng chúng ta cần sớm rảnh tay về việc nội bộ để lo đối phó với một mối hiểm họa, càng ngày càng bành trướng là Mạc Mậu Hiệp.
Trời vừa tờ mờ sáng thì chiếc xe rơm vượt qua ranh giới, chia đôi Tây đô và tỉnh Nghệ An.
Hoàng đế Lê Anh Tôn và Ngự sử Đặng Phương đều không khỏi mừng thầm vì họ vừa thoát khỏi Thanh Hóa, một khu vực cực kỳ nguy hiểm.
Nãy giờ, trên con đường thiên lý, nhờ có bóng đêm dày bao phủ, nên nhà vua không sợ ai chú ý nữa. Ông và hai hoàng tử đều trồi đầu ra khỏi đống rơm, để được hít thở không khí tự do.
Đến một khoảng lộ gồ ghề, lổm chổm đầy sạn đá, giữa lúc nhà vua và Đặng Ngự sử đang âm thầm bàn bạc với nhau về cách xử trí khi tới Nghệ An, thì thình lình chiếc xe vấp phải một hòn đá và lật nhào sang một bên, sau một tiếng “rắc” dữ dội.
Anh Tôn hoàng đế và hai cậu bé rú lên, kinh hãi. Vị lão quan thất sắc, cố sức ghì dây cương lại nhưng vì sẵn trớn quá mạnh, con ngựa cứ lôi trân chiếc xe trên mười mấy thước.
Thế Hùng giữ phận sự hộ tống bèn lập tức can thiệp phụ lực với ông để bắt con vật phải ngừng lại.
Trừ Đặng ngự sử ra, ba cha con nhà vua ngồi trên xe đều văng xuống đất và bị trầy trụa sơ sài. Công việc thứ nhứt của Thế Hùng là lo đỡ những người bị thương dậy và lấy bùi nhùi châm lửa đốt lên để quan sát cho rõ ràng tai nạn bất ngờ nầy.
Thì ra đây là một sự rủi ro: Bánh xe bên tả vì đã cũ và hơi lỏng lẻ, nên thình lình tung ra, gãy làm hai đoạn.
Mọi cố gắng sửa chữa đều vô ích, vì giữa đường tìm đâu ra gỗ và những dụng cụ cần thiết.
Sau khi loay hoay xem xét một hồi lâu, đám người bị nạn đành lắc đầu thất vọng trước chiếc xe, đột nhiên trở nên vô dụng.
Anh Tôn hoàng đế thở dài, bảo Ngự sự Đặng Phương và chàng thanh niên dõng sĩ:
-          Thôi, bây giờ chúng ta chỉ còn có cách là lên hết trên lưng ngựa để thong thả vào địa phận Nghệ An. Tới đây chúng ta không còn sợ bọn tay sai của Trịnh Tùng đuổi nữa.
Đặng Ngự sử tỏ vẻ lo ngại:
-          Nhưng đến Nghệ An, phải hết sức đề phòng mới được
Nhà vua gạt đi:
-          Khanh khỏi phải lo điều đó, vì viên trấn thủ Nghệ An tên là Võ Tuyển vốn là một kẻ trung thần thuộc vây cánh của chúng ta. Y sẽ tiếp rước chúng ta nồng hậu. Và sẽ đắc lực giúp chúng ta một tay trong việc mưu đồ đại sự.
Vị lão quan không dấu được nỗi vui mừng:
-          Nếu vậy thì hay lắm. Chỉ sợ rằng mới đây Trịnh Tùng đã âm thầm thay thế viên trấn thủ ở xứ nầy mà giấu kín, không phúc bẩm với bệ hạ.
-          Không có lẽ
Nhà vua vừa đáp vừa nhìn về phía chân trời, mặt bâng khuâng tư lự. Bất giác ông rung mình sực nhớ lại cái bánh xe gẫy suýt làm ông và hai hoàng tử bỏ mình. Đối với ông, cái bánh xe gẫy đột ngột là một triệu chứng rất xấu, điềm báo trước một biến cố ghê gớm đang chờ ông.
Tuy nhiên, là người gan gốc, vị hoàng đế xua đuổi liền những ý tưởng đen tối vừa qua đến ám ảnh mình. Ông xây lại mỉm cười, ôn tồn bảo các bạn đồng hành:
Trời sắp sáng rồi, chúng ta hãy đi tìm một cái quán cơm nào gần đây để ăn lót lòng, rồi sau sẽ liệu.
Hai cậu cháu vị lão quan cúi đầu phụng mạng. Đặng Ngự sử cởi lên lưng con ngựa đã dùng để kéo xe và đưa tay dìu vua Anh Tôn lên ngồi phía sau. Trong lúc ấy, Thế Hùng cẩn thận lấy dây vải đai ngang mình hai vị hoàng tử rồi đem đặt tất cả lên lưng ngựa.
Thế rồi, bỏ lại chiếc xe hư, họ nhắm một thôn xóm, thấp thoáng xa xa sau lũy tre xanh mà tiến tới.
¬
Những nếp nhà tranh lơ thơ, rải rác hai bên con đường làng, bắt đầu lần lượt xuất hiện dưới ánh nắng rực rỡ của bình minh.
Không cần phải lựa cho lâu, vì ai nấy đều đói lả và mỏi mệt sau một cuộc hành trình gần một đêm đầy gian lao, vất vả, nhóm người tỵ nạn, dừng bước trước một tửu quán đầu tiên mà họ gặp.
Quán rượu này tuy không rộng rãi lắm nhưng có vẻ sạch sẽ, gọn gang, nhứt là với cái mái ngói đỏ ao mới lợp, nổi bật lên giữa đám nhà lá xa gần. Hình như đó là quán rượu đứng vào bực nhứt của vùng này.
Thế Hùng nhảy xuống ngựa rồi đỡ hai vị hoàng tử xuống theo trong khi, ở bên cạnh, Đặng Ngự Sử và vua Anh Tôn cũng vừa đặt chân xuống đất.
Sau khi lên tiếng gọi người giúp việc trong quán để nhờ họ trông nom giùm hai con ngựa, ba người lớn dắt hai cậu bé thong thả bước vào tửu quán.
Trừ chàng thanh niên dũng sĩ ra, nhà vua và vị lão quan hơi có vẻ lo ngại và bỡ ngỡ. Họ đi thẳng vào phía trong để tìm một chỗ kín đáo, đồng ý ngồi xuống xung quanh một chiếc bàn kê góc trái, tận trong cùng.
Chủ quán, một anh chàng trạc ba mươi tuổi, cao lớn vạm vỡ, kính cẩn bước ra chào khách. Đôi mắt luôn luốn láo liên nấp dưới đôi lông mày rậm xếch ngược lên, và đôi vành môi thâm đen hơi mím lại của hắn tố cso rằng đó không phải là một người lương thiện.
Ngự sử Đặng Phương liếc nhìn hắn và không ngăn được ý tưởng ngờ vực thoáng qua. Nhà vui trái lại, dường như không để ý đến điều ấy vì ông thản nhiên bảo chủ quán:
-          Nhà ngươi có món điểm tâm gì ngon hãy đem lên đây.
Chủ quán nhỏ nhẹ đáp:
-          Thưa quý vị từ phương xe mới đến nên chưa rõ, chớ ở vùng quên hẻo lánh nầy làm gì có tiệm bán các món điểm tâm. Vì hết thảy dân quê đều ăn lót lòng buổi sáng tại nhà trước khi đi làm hay ra đồng cày cấy.
Đặng Ngự Sử hơi chột dạ về mấy tiếng “quý vị từ phương xa mới đến” do tên chủ quán thốt ra song hoàng đế Lê Anh Tôn thì không hề lấy làm lạ lắm. Ông cho rằng không riêng gì, tên chủ quán mà bất cứ ai cũng có thể đoán được họ là khách viễn phương khi nhận thấy cát bụi của dọc đường đang rành rành phủ đầy trên áo họ.
Riêng Thế Hùng lại nghĩ đến chuyện khác. Chàng đưa mắt lơ đãng nhìn quanh. Quá đúng như lời tên chủ quán vừa nói, trong quán lúc ấy rất vắng vẻ, không có khách khứa nào khác hơn là nhóm người tỵ nạn đang ngồi tại bàn nầy.
Bụng đói như cào, chàng ngẩng mặt hỏi chủ quán:
-          Thế ở đây nhà ngươi chuyên bán những gì?
-          Dạ, cơm và rượu
Thế Hùng cả mừng cười ha hả:
-          Vậy nhà ngươi còn chờ gì mà chưa dọn ra.
Sợ người cháu trẻ tuổi và nông nổi của mình vì vô ý vượt quá giới nghi lễ đối với nhà vua, Đặng Ngự Sử vội xen vào bảo chủ quán:
-          Được rồi, nhà ngươi hãy sửa soạn cho chúng ta một bữa ăn với cá thịt cho thật ngon, dầu đắt tiền bao nhiêu cũng được. Miễn là phải dọn gấp, vì chúng ta có việc cần kíp phải đi ngay sau khi dùng cơm xong.
Tên chủ quán nghiêng mình:
-          Quí vị sẽ được vừa lòng.
Dứt lời, hắn quay quả xuống bếp ra lịnh cho gia nhơn. Một lát sau, hắn trở lên với một bình rượu và ba chén nhỏ nơi tay. Hắn vừa thong thả đặt các vật lên bàn vừa nói:
-          Đây là rượu hâm nóng, thứ nhứt của tiệm tôi, xin tam vị dùng thử một vài chén cho ấm lòng trong khi chờ đợi các món ăn bưng lên.
Với một nụ cười xã giao, tên chủ quán lần lượt rót đầy ba chén rượu rồi từ từ lui xuống nhà sau.
Đôi mắt của Thế Hùng như dán chặt vào cái chén nhỏ màu xanh lợt đang đặt trước mặt mình. Chàng không giấu được sự thèm thuồng trước hơi men thoang thoảng bốc lên.
Chàng thanh niên, mà cơ thể dồn ứ sức mạnh dồi dào và nhựa sống chợt nhớ lại những ngày vui tươi yên ấm vừa qua ở Tây thành, bên cạnh các bạn đồng trang lứa đã cùng chàng rẻn luyện võ nghệ, kiếm cung. Men rượu hôm nay đã nhắc chàng chạnh nhớ lại những buổi biểu diễn quyền thuật sôi nổi, những buổi múa đao ngoạn mục dưới trăng, trong một không khí tưng bừng của tuổi thanh xuân đầy hoan lạc.
Đoán biết ý của Thế Hùng, hoàng đế Anh Tôn mỉm cười bảo chàng:
-          Hiền điệt đi đường mệt nhọc nhiều, hãy uống trước đi, không cần phải đợi chúng ta.
Đặng Ngự Sử cũng nối lời:
-          “Đại ca” đã cho phép, cháu cứ việc tự tiện.
Chàng thanh niên mừng rỡ, ngỏ lời cám ơn nhà vua và cậu mình, rồi chầm chén đưa lên miệng nốc một hơi.
Chàng vừa uống cạn, thì đến phiên nhà vua và vị lão quan mời nhau nâng chén.
Đột nhiên họ dừng tay lại, biến sắc: Họ thấy Thế Hùng choáng váng, mặt mày phờ phạc, ngã gục xuống trên mặt bàn, mềm nhũn như một cái xác không hồn.
Trong nháy mắt, Đặng Ngự Sử và vị hoàng đế đã thoáng hiểu rõ sự thật, một sự thật kinh khủng ghê hồn: Thế Hùng người bảo vệ đắc lực cho họ đã bị đầu độc, hay bị bỏ thuốc mê, và chủ quán nầy chính là ổ sào huyệt của bọn tay sai Chúa Trịnh.
Hai người sợ hãi, đưa mắt lặng nhìn nhau. Không ai bảo ai, cả hai chúa tôi đồng ném mạnh ly rượu đang cầm trong tay xuống đất, và đưa tay nắm lấy chuôi thanh đoản kiếm giắt sẵn bên mình, che giấu dưới lớp áo ngoài.
Quả thật nhà vua và vị lão quan đoán không lầm, vì, kia kìa! Tên chủ quán đã từ từ bước lên, nhưng lần nầy, với một dáng điệu kiêu căng, ngạo nghễ vô cùng khả ố. Hắn khởi sự vứt bỏ chiếc khăn quê mùa lòng thòng đang bịt trên đầu, như kẻ gian ác để rơi mặt nạ, và mở phanh áo ra như muốn khoe bộ ngực căng phồng với những vết xâm chằng chịt.
Hắn đứng chống nạnh, nhìn thẳng vào mặt vua Anh Tôn và vị Ngự sử mà cười sằng sặc:
-          Bệ hạ và quan lớn đây kể ra cũng có tài cả itrang và đóng kịch đấy chứ, nhưng không htoast khỏi cặp mặt của chúng ta đâu!
Giọng mai mỉa và đay nghiến trên đây làm cho vị hoàng đế nổi giận trừng trừng nhìn hắn và quà:
-          Đồ súc sanh! Mầy là ai mà dám buông ra những lời vô lễ như vậy? Hay là mầy cậy thế là tay sai của Trịnh Tùng?
Bị chạm nặng đến lòng tự ái tên chủ quán mặt đỏ phừng vì câm tức, cũng hầm hầm đáp.
-          Ừ, phải đó, ta là tay sai của chúa Trịnh và đang có phận sự thộp cổ tên hôn quân hèn nhát, nửa đêm bỏ kinh thành chạy trốn. Các ngươi đã muốn biết, sẵn đây ta cho biết danh hiệu của ta.
Ta chính là Cấm vệ tướng quân Trương Báo. Anh ta là Tiểu Võ Tòng Trương Hổ, hồi hôm đã bị cái thằng khốn kiếp Thế Hùng kia sát hại một cách thảm thương. Hôm nay ta muốn ăn tươi nuốt sống hắn lập tức, để trả thù, nhưng tiếc rằng ta không có quyền. Vì ta chỉ được lịnh bỏ thuốc mê cho hắn để rồi nhốt hắn vào cũi, đem áp giải hắn về Tây Đô cho Bình An Vương trị tội.
Được biết rằng Thế Hùng chỉ uống nhằm thuốc mê mà chưa bị đầu độc, Đặng Ngự Sử hơi mừng thầm cho số phận của cháu mình, vì ông nghĩ rằng Hùng chưa chết, tất thế nào rồi đây, chàng cũng còn hy vọng gặp được cơ hội để thoát thân.
Tuy nhiên, riêng về tánh mạng của ông, của nhà vua, ông rất lấy làm lo lắng, vì không có cách gì để tự bảo toàn. Cả hai chúa tôi đều là những nho sĩ văn nhơn già yếu làm sao đối phó nổi một tay chủ tướng vặm vỡ, có sức mạnh muôn người không địch như Trương Bào.
Thấy vị hoàng đế vẫn chưa nguôi giận trước thái độ lỗ mãng và khiêu khích của Trương Báo, Đặng Ngự Sử nắm lấy tay nha fvua kéo đi và dắt luôn hai Hoàng tử, toan bước ra khỏi quán.
Trương Báo không bước tới cản họ lại. Hắn chỉ bỉu môi, khoanh hai tay trước ngực nhìn theo và bảo bằng một giọng thách đố:
-          Các người đừng hòng thoát khỏi đây vô ích. Hãy lo nạp mình đi cho rồi, vì ngoài kia, binh sĩ của chúng ta đã bao vây khắp bốn bề.
Vị lão quan và vua Anh Tôn giật mình nhìn ra. Quả đúng như lời hắn, trước cổng quán, vô số quân lính thuộc đội vệ binh của Trịnh Tùng, không rõ xuất hiện từ hồi nào đang giăng ra như dãy hàng rào dày đặc, với một rừng gươm dao, tua tủa, sáng ngời.
Đồng thời, ở phía sau cái “hàng rào” ấy, một viên tướng to béo phục phịch vừa xuống ngựa. Đám dông binh sĩ tức thì dang ra, tách thành một lối đi, để cho viên tướng ấy hách dịch và bệ vệ tiến vào:
-          Trời ơi! Nguyễn Hữu Liên!
Vị hoàng đế và Đặng Ngự Sử kinh dị, thốt ra mấy tiếng ngắn ngủi trên đây rồi đứng sửng sờ như hai pho tượng.
Viên tướng to béo và phục phịch ấy chính là Thái phó Nguyễn Hữu Liên, chậm rãi đến trước mặt nhà vua, nghiêng mình thi lễ:
-          Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần vưng lịnh của Bình An Vương tới đây xin rước thánh giá hồi loan…
Chán rõ mưu mô nham hiểm của viên Thái phó, vua Anh Tôn quay mặt đi, làm thinh không đáp.
Bằng một giọng nghiêm nghị và lạnh lùng, Nguyễn Hữu Liên lại tiếp:
-          Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần được lịnh của thượng cấp phải thi hành gấp rút, không thể trì hoãn được. Vậy xin bệ hạ miễn chấp.
Dứt lời, ông xây lại phía sau, dõng dạc hô to:
-          Quận đâu! Hãy rước thánh thượng và nhị vị hoàng tử lên kiệu…
Không dằn được nỗi căm tức đã lên tới cực độ, Ngự sử Đặng Phương chỉ thẳng mặt Hữu Liên mà mắng rằng:
-          Thằng phản tặc, mầy đường đường làm đến chức Thái phó đại thần, vậy mà không biết lo báo đáp giữ dạ trung thành, lại nọ nhẫn tâm đi theo phò một kẻ đại gian ác để hãm hại quân vương.
Lời nguyền rủa đó có hiệu lực của một gáo nước lạnh dội lên đầu Nguyễn Hữu Liên. Mặt ông ta tái méc, toàn thân run lên vì thạnh nộ, trông ghê gớm như một con thú dữ bị thương.
Xấu hổ với đám sĩ tốt của mình, Hữu Liên tuốt gươm ra, day về phía Đặng Ngự Sử, xỉa xói và hăm dọa:
-          Lão già, gàn dở và hỗn láo kia, hãy câm mồm lại! Nội cái tội mưu đô fpharn nghịch và cám dỗ nhà vua cũng đủ cho mi rụng đầu rồi. Này, ta bảo cho mà biết! Ta chỉ còn tạm gởi cái thủ cấp mi trên cái cổ mi chừng vài giờ nữa thôi!
Nói đoạn, ông ta hất hàm hạ lịnh cho Trương Hổ:
-          Trương tướng quân, hãy trói quách Đặng Phương lại và giữ hắn tại đây để chờ bổn chức định đoạt!
Sau một tiếng “dạ”, Trương Hổ đã nhảy sấn đến như một lằn chớp lẹ chân đá trúng cánh tay mặt của vị lão quan. Tức thì, thanh đoản kiếm cầm trong tay ông văng tuốt ra xa.
Đặng Ngự Sử chưa kịp phản ứng lại, thì một vòng xích sắt đã cột lấy hai bàn tay gầy gò, khẳng khiu của ông và siết chắt lại.
Đồng thời, từ phía ngoài, chầm chậm tiến vào một chiếc kiệu sơn son thếp vàng với hai hàng binh sĩ mang giáo dài sáng loáng, oai vệ đi kèm hai bên.
Khi tới trước mặt hoàng đế Anh Tôn, sáu người phu khiêng lực lượng từ từ hạ kiệu xuống, trong khi đám lính có phận sự hộ tống, cúi rạp mình cung kính vái chào.
Nguyễn Hữu Liên chắp hai tay tâu nhà vua, giọng lạnh lùng như một lịnh truyền:
-          Kính thỉnh bệ hạ và nhị vị hoàng tử lên kiệu.
Vua Anh Tôn nhíu mày nhìn viên Thái phó một cách khinh bỉ, như muốn phỉ nhổ vào mặt hắn cho đã giận. Thấy mình cô thế giữa một số đông địch thủ hùng mạnh vây kín chung quanh, đã vây lại mất hết kẻ tay chưn trung tín, nhà vua không còn hy vọng kháng cự nữa. Ông đành cùng với hai con bước lên kiệu với một niềm uất hận mênh mang…
Hình ảnh cuối cùng này là một kỷ niệm đau đớn, mà lát nữa đây, nhà vua xấu số, sẽ mang luôn xuống dưới tuyền đài…
¬
Vừa chợt tỉnh dậy, Thế Hùng hết sức kinh ngạc thấy mình nằm chèo queo trong một cái cũi, hai tay và hai chân bị trói bằng dây xích sắt.
Chàng đưa mắt nhìn xem tứ bề, suy nghĩ một hồi và sực nhớ ra nơi đây là cái tửu quán ở Phu Diễn mà cậu ruột chàng và nhà vua đã ghé vào để dùng cơm, sau một cuộc hành trình chạy nạn vất vả.
Thoạt đầu, chàng lấy làm lạ về sự giam cầm của mình, sự vắng mặt của hoàng đế Anh Tôn và Đặng Ngự Sử nhưng, lần lần trí thông minh đã giúp chàng hiểu rõ.
Đầu chàng nóng bừng lên dưới sức mạnh của một cơn thanh nộ dấy lên như bão táp. Vì đây là lần thứ nhứt mà chàng thanh niên dõng sĩ ngang tang của xứ Tây đo, xưa nay vốn quen tung hoành trong không khí tự do, đột nhiên một sớm phải lâm vào cảnh chim lồng cá chậu.
Khó chịu và bực bội đến tột cùng, Thế Hùng cựa quậy mạnh như muốn phá tan tất cả những vật đang kềm hãm, trói buộc mình. Sự vùng vẫy của chàng đã làm cho xiềng xích khua rổn rảng, và toàn cái cũi kiên cố chuyển kêu răng rắc.
Những tiếng động khiến một toán binh sĩ đứng gác trước cổng quán lật đật chạy ùa vào. Chúng chỉ vào cũi và bảo nhau:
-          Kìa, anh em ôi! Thằng Thiên lôi bị thuốc mê đã tỉnh dậy rồi.
Một tên lính tò mò hỏi:
-          Tại sao lại gọi nó là Thiên lôi?
-          Vì nó chỉ đụng sơ tới ai là người ấy bỏ mạng tức thời, không kém gì bị Thiên lôi đả vậy.
Một tên lính thứ ba đề nghị:
-          Chúng ta phải đi phi báo ngay với Nguyễn đại nhơn và Trương tướng Quân biết rằng hắn đã tỉnh dậy rồi.
Tên lính thứ nhứt ngắt lời:
-          Không cần. Bây giờ gần đúng ngọ rồi. Nguyễn đại nhơn và Trương tướng quân cũng sắp lên đường về Tây đô và ra lịnh cho chúng ta áp giải cái cũi nầy đi theo về nộp cho chúa Trịnh.
Tên lính thứ hai có vẻ tò mò, hạ thấp giọng xuống hỏi ban đồng đội:
-          Tại sao người ta không giết quách cái thằng nầy (chỉ Thế Hùng) tại đây, mà còn giải hắn đi xa làm gì, cho chúng mình phải nhọc xác? A nầy, nghe đâu hồi sáng nầy vua Anh Tôn đã bị thắt cổ chết tại Vườn Nứa ở Tây bắc Phủ Diễn rồi phải không?
Tên lính thứ nhứt tức thì trợn mắt, đưa ngón tay trỏ lên miệng:
-          Suỵt. Đã có lịnh cấm nghiêm nhặt không được tiết lộ các sự bí mật, bộ anh quên rồi sao? Dại mồm dại miệng ắt không khỏi bay đầu một cách oan uổng, nghe chưa?
Những câu nói thì thầm sau cùng giữa hai tên lính nầy tuy rấ tkhex, nhưng cũng đủ lọt vào tai chàng thanh niên bị giam trong cũi. Mấy tiếng “Vua Anh Tôn bị thắt cổ chết” làm cho chàng giựt mình, rởn óc. Thì ra trong lúc chàng mê man bất tỉnh, quân địch đã kế tlieexu tánh mạng nhà vua và cậu của chàng rồi. Riêng phận chàng, chúng để chàng còn sống, ấy là do ý muốn của Trịnh Tùng, muốn đích thân hành phạt chàng một cách hết sức nặng nề về tội chàng đã giết thác tướng Trương Hổ, một viên vệ úy, một đội trưởng và ngót năm mươi binh lính của Triều đình.
Uất tức quá, Thế Hùng muốn gầm thét lên hoặc dơ chân đạp tung cái cũi coh đã cơn phẫn nộ, nhưng chàng không làm, vì biết rằng vô ích.
Thình lình chàng nghe có những tiếng bước chân nện thình thịch trên mặt đất và liền đó, thấy hai người mặc võ phục sang trọng từ trong bước ra, một người có tuổi to béo phục phịch, và một thanh niên cao lớn, vạm vỡ. Ấy là Thái phó Nguyễn Hữu Liên và Cẩm vệ tướng quân Trương Báo. Cả hai vừa thi hành xong mạng lịnh của Chúa Trịnh: bí mật hạ sát hoàng đế Anh Tôn và Ngự sử Đặng Phương tại hai địa điểm khác nhau, mà chỉ riêng họ và vài kẻ trung tín biết rõ mà thôi.
Mấy tên lính gác, đứng cạnh chiếc cũi giam chàng dõng sĩ chợt thấy bóng của chủ tướng, đều sợ hãi đứng sang một bên, răm rắp cúi đầu chào.
Trương Báo quắc mắt nhìn chúng, nghiêm nghị hỏi:
-          Các người có phận sự canh phòng trước cổng, tại sao lại kéo vào đây làm gì?
-          Bẩm tướng quân, chúng tôi vừa nghe có tiếng động khác thường, bèn kéo nhau chạy vào xem thì mới hay là tên tù nầy vừa tỉnh dậy, vùng vẫy và cựa quậy hết sức dữ dội.
Vừa đáp, hắn vừa giơ tay chỉ vào cái cũi.
Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo đưa mắt nhìn Thế Hùng đang ngồi trung cũi, mặt ngoảnh về hướng khác.
Trên đôi vành môi thâm đem của họ Trương, thoáng hiện một nụ cười đắc thắng và hiểm ác. Hắn nghinh ngang đi vòng sang phía tả, tiến đến trước mặt Thế Hùng để đối diện với chàng.
Hai tay khoanh trước ngực, hắn hất hàm hỏi người bị cầm tù:
-          Thằng khốn kiếp kia, mầy có biết ta là ai đây không?
Thấy chàng dõng sĩ làm thinh không thèm đáp, hắn tiếp:
-          Hạng ranh con miệng còn hôi sữa như mầy, hơi biết múa men đôi chút võ nghệ hẳng cũng đã từng nghe oai danh lừng lẫy của Cẩm vệ tướng quân Trương Báo vô địch anh hùng của xứ Tây đô chớ?
Lối xưng danh kiêu căng, tự phụ nầy khiến cho Thế Hùng liếc mắt nhìn kẻ đối thoại với một cái bĩu môi khinh bỉ rồi lại nhìn về phía khác.
Thái độ miệt thị ấy khiến Trương Báo rất căm giận. Hắn nghiếng răng gằn giọng:
-          Hồi hôm, trong khi sa cơ thất thế, anh ruột ta đã phải bỏ mạng dưới lưỡi gươm của mi tại Tây thành. Giờ đây ta quyết phanh thây xẻ thịt của mi để phục thù, nhưng ta phải buộc lòng chờ lịnh. Thiệt tức, cha chả là tức!
Vừa nói hắn vừa giậm chưn thình thịch trên nền đất. Chưa hả giận, hắn tuốt gươm ra, luồn tay qua song cũi, dí mũi gươm vào chính giữa trán của Thế Hùng.
Vài giọt máu thấm đỏ trên vừng trán của chàng thiếu niên. Thế Hùng vẫn im lặng thản nhiên, không nhúc nhích.
Sợ Trương Báo lỡ tay trong khi quá nóng, Thái phó Nguyễn Hữu Liên liền sấn tới kéo hắn lùi lại và bảo:
-          Ô hay! Tướng quân đã quên mạng lịnh của Bình An Vương rồi à? Ngài đã dạy rằng không ai được đụng chạm tới tánh mạng của con trai Lê Cập Đệ trước khi đem nộp nó tại Phủ Chúa. Nếu tướng quân sơ xuất một tý, thì bao nhiêu công khó của tướng quân sẽ thành công dã tràng, mà trái lại, tướng quân còn phải chịu trọng tội là khác nữa.
Dứt lời, vị Thái phó lôi tuột Trương Bảo bước ra ngoài và cấ ttieesng oang oang hạ lịnh cho đám lính gác:
-          Hãy ra bảo toàn thể binh sĩ túc trực ngoài kia lo chuẩn ibj lên đường và kêu thêm mười mấy đứa vào đây phụ lực với chúng bây để áp giải tù xa.
Mấy tên lính vậng mạng, tất cả chạy đi thi hành lời truyền phán.
Một lúc sau, chúng trở vào với mười mấy tên quân nữa, xúm lại hì hục khiêng cái cũi lên vai và đưa thẳng ra ngoài cổng quán.
Tại đó, chúng hiệp sức nâng cũi đặt lên trên một chiếc xe ngựa rộng lớn và trống trải, đã chực sẵn bên lề đường.
Trong cũi, Lê Thế Hùng vẫn ngồi yên như một pho tượng với những giọt máu tươi loang loáng chảy từ vết thương nơi trán xuống sống mũi và hai bên mái. Cơn biến cố đã xảy ra tàn khối và đột ngột đến nỗi chàng dũng sĩ cảm thấy choáng váng cả đầu óc, không còn biết đau đớn gì. Chàng cũng không hiểu tại sao hôm nay chàng lại có thể đi đến mức chót của sự nhẫn nhục như thế nầy, chịu đựng mọi lời nguyền rủa, khinh miệt của kẻ thù mà không hề mảy may phản động lại.
“Hùm thiêng khi đã sa cơ...”! Trong cảnh bất lực của kẻ bị giam cầm, chàng chỉ đành ngồi thúc thủ lặng thinh, quan sát nghe ngóng và tìm phương gỡ rối.
Chàng thanh niên chú ý nhứt đến những cử chỉ và mọi lời trao đổi giữa hai viên tướng tay sai của chúa Trịnh Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo, lúc cả hai chưa khởi hành liền mà còn day mặt về phía nam như ngóng trông ai. Thỉnh thoảng họ lại liếc mắt nhìn về phía cái cũi.
Thình lình, Thế Hùng nghe chung quanh mình có tiếng xì xào: “Kìa, quan trấn thủ Nghệ An đã đến tiễn chào quan Thái phó”
Liền đó, từ sau lưng chàng, một đoàn người thúc ngựa lướt tới trong một đám bụi mù. Đó là một toán lính địa phương với một viên quan mặc trào phục đi đầu. Viên quan nầy, tác người nhỏ thó, mặt xương xương, choắt lại, nước da tai tái chửng tỏ rõ ràng y là một đệ tử của nàng Tiên Nâu.
Viên quan ấy không ai khác hơn là Trịnh tam Miêu, một người thuộc họ hàng vây cánh của Trịnh Tùng vừa được bổ nhậm đến Nghệ An mấy ngày để thay thế cho vị Trấn thủ cũ là Võ Tuyễn bị giáng chức và hạ ngục một cách bí mạt.
Vừa tới trước mặt Hữu LIên và Trương Bào, Trịnh Tam Miêu vội lật đật xuống ngựa, cúi đầu thi lễ. Sauk hi hỏi han qua loa vài câu theo phép xã giao, viên Trấn thủ bèn cầu chúc cho hai vị quý khách được thượng lộ bình an.
Thái phó Hữu Liên và tướng Trương Báo vui vẻ ngỏ lời cám ơn va fchusc lại bằng vài câu hoa mỹ. Trước khi chia tay, vị đại thần ân cần mấy lượt dặn dò Tam Miêu:
-          Quan Trấn thủ phải để ý săn sóc và canh phòng hai hoàng tử mà bổn chức vừa ủy thác. Rồi dây Bình An vương sẽ cho biết quyết định của Ngài về hai thằng nhỏ ấy. Chúng ta phải cần thi hành đúng theo mạng lịnh của chúa, nếu sơ sót ắt sẽ không tránh khỏi bị nghiêm phạt.
Hai tay chắp trước bụng, Trịnh Tam Miêu khúm núm đáp:
-          Ty chức đã nhớ kỹ, xin đại nhân cứ yên lòng…
¬
Từ giãn viên Trấn thủ, đoàn hộ tống tù xa, gần non một trăm binh mã, đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo, rộn rã khởi hành dưới mưa phùn của một trưa đông lạnh.
Do ý muốn của vị Thái phó, đoàn người đi vòng qua chợ Phủ Diễn, để dọ nẻo khác vắn tắt hơn, ra khỏi địa hạt nầy, nhắm Tây đô trực chỉ.
Hôm ấy, nhơn gặp buổi chợ phiên, nên trong chợ và ở các đường phố kế cận, công chúng vùng nầy tụ họp mua bán rất đông đảo.
Lẽ tự nhiên, đoàn kỵ binh từ Kinh thành mới tới, dưới lớp nhung trang rực rỡ màu xanh viền đỏ, đang oai nghi hùng hổ vượt qua đó, được mọi người đặc biệt lưu ý, và tấm tắc khen thầm.
Song điều mà thiên hạ lưu ý nhứt chiếc tù xa, do hai con ngựa khỏe mạnh và cao lớn kéo.
Trên xe có một cái cũi nhốt phạm nhơn rất kiên cố với những chấn song bằng sắt to gần bằng cổ tay.
Hiếu kỳ, một số khách qua đường nam nữ, và đông nhất là trẻ con, không hịu bỏ lỡ một cơ hoojit tốt, xô nhau chạy theo sau toán binh mã, để nhìn cho tận mắt kẻ tù phạm bị giam ngồi trong cũi. Vai cô gái quê mủm mỉm, thoạt thấy Thế Hùng vội buột miệng kêu lên:
-          Nè, các chị! Gã tù nhân nầy trông trắng trẻo và khôi ngô quá! Không rõ y phạm tội gì mà bị bắt thế kia! Thật tội nghiệp quá.
-          Ừ, rõ tội nghiệp nhỉ? Vài thiếu phụ khác cũng tán đồng và không giấu thiện cảm của họ đối với người tù phạm có dung mạo khả ái mà họ không quen biết.
Như thế, trọn chợ Phủ Diễn đều xôn xao lên. Lần lần, như dưới ảnh hưởng của một chứng bịnh truyền nhiễm, đa số bạn hàng và những người mua, bỏ dở cuộc buôn bán đang tấp nập, rung rung nối gót, những kẻ tò mò, chạy theo đoàn binh sĩ để được mục đích tận mắt nhân vật bị nhốt trong chiếc cũi, bỏ lại một phân nửa ngôi chợ và các đường phố gần trống trơn.
Các vùng kế cận và xung quanh đó cũng vậy. Thậm chí trên một mảnh đất vuông cách chợ lối hai mươi thước hằng trăm khan giả gồm đủ hạng nam, nữ, già trẻ, bé, lớn bao quanh và mê mải theo dõi một chàng thanh niên lực sĩ đang biểu diễn tuyệt hay, cũng đua nhau rút lui khi thấy đoàn quân lính đi qua.
Chàng lực sĩ cau mày, hơi bực mình vì cá ihafng rào dày đặc khan giả bỗng nhiên trở nên thưa thớt và tan vỡ trước mặt mình. Nhưng khi chàng hiểu rõ nguyên nhơn thì chàng không còn tức giận và ngạc nhiên nữa. Chàng liền ngừng tay vội vã cho lưỡi kiếm sáng nhoáng của mình vào vỏ. Rồi cũng như mọi người, chàng tất tả phóng mình, rượt theo đám người hiếu kỳ đang lũ lượt kéo nhau đi sau toán quân hộ tống đông đảo như trẩy hội.
Đó là một gã đàn ông trạc ba mươi tuổi, hình vóc tầm thước nhưng lực lưỡng, vừng trán rộng, nét mặt gân guốc, lưỡng quyền cao, cặp mắt sáng long lạnh và tóm lại, thoàn thân tiết ra một vẻ gì oai nghi quắc thước.
Từ trước hồi mặt trời còn đứng ở đĩnh đầu ròng rã suốt một giờ đồng hồ, chàng thanh niên nầy đã trổ tài múa kiếm tuyệt vời trước một số công chúng càng đông, đã nhiệt liệt thán phục chàng không ngớt. Bộ võ phục màu xám tro phủ đầy bụi đường và nơi sườn, nơi cổ cũng rách như ở khuỷu tay, tố cáo rõ rệt rằng đó là một thanh niên nghèo. Và một bằng chứng khác nữa về sự thiếu thốn vật chất là chàng đang phải dùng nghề mãi võ hàng ngày để làm kế sanh nhai độ nhựt.
Dân chúng ở vùng nầy không biết tông tích của chàng, tên họ chàng la fchi và từ đâu đến. Chỉ biết rằng, từ vài hôm nay, cứ mỗi buổi sáng, vào khoảng giờ Tỵ, nhằm lúc chợ Phú Diễn họp, là chàng đến miếng đất bên cạnh, múa kiếm, hiến công chúng những cuộc biểu diễn vô cùng linh động để đổi lấy những món tiền khiêm tốn. Thoạt đầu, thiên hạ tưởng đó là những tay lực sĩ Trung Hoa mãi võ, vẫn thường đi miền nầy sang miền nọ, chuyên bán những món thuốc Bắc mà họ đưa từ bên Tàu sang. Nhưng sau thấy đó là một tráng sĩ người Việt biểu diễn môn võ Việt thuần túy và tỏ ra có nghệ thuật rất cao cường và nhứt là một sức khỏe tuyệt luận, dân chúng Phủ Diễn rất hoan nghinh, nên đồn đãi với nhau và không bỏ qua một cơ hội hiếm có, khéo đến xem và khen ngợi.
Nên biết rằng trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, cảnh loạn ly bao trùm hầu hết giang sơn đang làm mồi cho những cuộc phân tranh, xâu xé đau thương: Chúa Mạc thì ngự trị ở Thăng Long và miền Bắc, chúa Nguyễn làm bác chủ ở miền Nam, trong khi chúa Trịnh và vua Lê mắc kẹt giữa hai khối phải tạm đặt kinh thành tại Tây đô (Thanh Hóa). Cảnh loạn lạc ấy, lẽ tất nhiên, khiến lòng người nơm nớp lo sợ từng giờ từng phút, và thấp thỏm đề phòng cơn bão tố có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.
Không còn ai bình tĩnh lo đến việc trau dồi học vấn để thi cử. Mọi thanh niên trai tráng ở thị thành cũng như ở trong các thôn xã, đều đua nhau học võ để tìm một ít bảo đảm cho sự hộ thân khi bất trắc xảy qua. Xu hướng ấy, tâm trạng ấy đã cắt nghĩa vì sao dân chúng có cái tinh thần chuộng võ và ham mê, dự khan những cuộc diễn võ bất cứ là tầm thường hay xuất sắc.
Như trên kia đã nói, chàng lực sĩ, sau khi thấy khan giả đột nhiên bỏ chạy đi xem đoàn truy binh của Nguyễn Hữu Liên đang rầm rộ áp giải chiếc tù xa, chàng cũng phóng mình như bay chạy theo, để được thỏa mãn tánh hiếu kỳ như họ.
Nhờ rất khỏe mạnh và lanh lợi, chàng không phải khó nhọc lắm khi vạch một lối đi giữa đám rừng người. Trong nháy mắt chàng đã vượt tới ngay hàng các xe tù và thoăn thoắt bước đều song song bên cạnh.
Điều chàng chú ý trước nhứt là kẻ tội nhơn tẻ tuổi đang ngồi yên lặng trong chiếc cũi, đôi mắt đăm đăm nhìn về phía trước, mơ màng, xa xôi như chìm đắm trong cõi vô hình.
Gương mặt bình thản và nhẫn nại của tù nhơn có một vẻ gì rất đáng mến và đáng kính nể. Cũng như mọi người hiện diện, chỉ mới thoạt tiên, chàng lực sĩ đã có cảm tình với Lê Thế Hùng ngay, và cảm tình ấy đã làm cho chàng có linh khiếu rằng đây là một vụ bắt bớ bất công hay oan uổng.
Từ lâu, chàng đã từng nghe trong dân gian, những tiếng đồn về chánh sách hà khắc, tàn độc và nham hiểm của Trịnh Tùng. Chính chàng đã từng nghe thuật lại nhiều lần những hành động chuyên quyền của chúa Trịnh để lấn áp vua Lê, và do đó một cuộc xung đột thầm lặng đã diễn ra giữa hai phe, ngay tại kinh thành, cũng như ở các biên trấn xa xôi, và nhứt là tại triều đình, cung cấm. Kết quả: phe trung thần ủng hộ nhà vua tức là phe yếu hơn, đã bị lần lượt diệt trừ, khiến hàng ngã rã rời tan vỡ…
Một số các quan lớn nhỏ, hoặc bị cách chức hoặc bị hạ ngục, hoặc bị ám sát v.v… chỉ vì đeo đuổi mục đích bảo toàn, củng cố ngôi báu cho hoàng đế Lê Anh Tôn và đối lập với chúa Trịnh Tùng.
Vụ bắt bớ, áp giải đang xảy ra trước mặt chàng phải chăng cũng là do một nguyên nhơn tương tợ? Chàng lực sĩ mãi võ tự hỏi như vậy và đã tìm ra câu trả lời một cách lờ mờ. Chàng phỏng đoán rằng kẻ phạm tội bị nhốt kia hẳn không còn ai khác hơn là một bầy tôi trung nghĩa của vua Lê đã rủi ro sa lưới kẻ thù. Tự nhiên, cái ý tưởng can thiệp để cứu nguy cho người thất thế bắt đầu nẩy mầm ra trong trí óc chàng lực sĩ.
Cái ý tưởng ấy càng lúc càng trở nên mạnh mẽ. Khi đoàn binh mã vượt qua chợ chừng một trăm thước và ra khỏi khu phố thì hầu hết đám người hiếu kỳ đều bắt đầu dừng bước và dần dần tản mác. Chỉ còn chàng lực sĩ và lối vài người nữa là vẫn lẽo đẽo đi theo bên cạnh chiếc tù xa. Tánh tò mò hơi thái quá và lòng kiên nhẫn của họ khiến Thế Hùng ngồi tỏng cũi, cũng phải lấy làm lạ.
Kẻ tù phạm day mặt sang phía hữu, liếc nhìn chàng lực sĩ lần đầu tiên, bốn con mắt chưa hề bao giờ quen biết nhưng dường như, đã âm thàm trao đổi với nhau bao lời tâm sự.
Chàng lực sĩ muốn đánh bạo hỏi nhỏ Thế Hùng một câu hay giơ tay ra hiệu, nhưng chưa dám, vì chàng nhận thấy mấy tên lính đi trước thỉnh thoảng lại ngoái cổ nhìn lại như để ý dò xét từ cử chỉ của chàng.
Mà thật vậy, thái độ của chàng rất đáng khả nghi vì một lát sau, trên khoảng đường vắng vẻ chỉ một mình chàng là người dong ruỗi theo đoàn kỵ binh, còn mấy người kia chậm bước đành rớt lại.
Sự hiện diện khó hiểu của chàng, bởi vậy, rốt cuộc đã làm cho cả đoàn kỵ binh lưu tâm kể cả hai người chỉ huy là Thái phó Nguyễn Hữu Liên và Cẩm vệ tướng quân Trương Báo.
Biết mình bị chú ý, chàng lực sĩ toan vội vàng cẩn thận tách ra xa và không dám theo sát họ như trước nữa. Nhưng chàng chưa kịp thi hành ý định ấy thì thình lình nghe một tiếng hô dõng dạc của Trương Báo vang lên trong không khí.
-          Đứng lại!
Chỉ trong nháy mắt, đoàn binh sĩ răm rắp làm theo lịnh truyền của chủ tướng. Đồng thời, viên Cẩm vệ tướng quân quảy ngựa chạy vòng ra phía sau và sấn tới trước mặt chàng lực sĩ.
Ngồi trên lưng ngựa, Trương Báo trợn cặp mắt tròn xoe, quát to như sấm.:
-          Thằng thất phu kia, mi tên họ là gì? Tại sao mi cứ lẽo đẽo chạy theo chúng ta từ nãy giờ? Để thám thính phải không? Phải khai rõ cho mau, nếu chậm trễ, ắt phải bay đầu dưới lưỡi gươm nầy.
Tuy bị bắt chợt một cách đột ngột, chàng lực sĩ không có vẻ gì sợ sệt trước thái độ hống hách đầy hăm dọa của họ Trương. Chàng chống nạnh, chòng chọc nhìn hắn và ngang nhiên đáp:
-          Nhà ngươi không có quyền hỏi tên họ ta: nhứt là bằng một giọng vô lễ, lỗ mãng của phường thất giáo. Về phần ta, ta có quyền tự do muốn đi đâu thì đi, không ai có thể ngăn cản ta được.
Trương Báo đùng đùng nổi cơn thạnh nộ, tuốt gươm ra khỏi vỏ, chỉ thẳng vào mặt kẻ đối thoại:
-          À, thằng nầy to gan thật. Dám kháng cự và xấc láo với bản tướng quân thì mất mạng đừng trách nghe chưa?
Vẫn bình tĩnh, chàng lực sĩ cất tiếng cười khanh khách:
-          Hề, hề được lắm, nếu nhà ngươi muốn giở võ lực ra, thì ta đây cũng sẵn sàng cho nhà ngươi một bài học đích đáng. Nầy có giỏi thì xuống đây thử tài với ta một chuyến chơi.
Trước câu nói khiêu khích ấy, Trương Báo thét to lên một tiếng kinh hồn, rồi lẹ như cắt, hùng hổ nhảy phóc xuống ngựa.
Khi chân vừa chấm đất, viên Cẩm vệ tướng quân đã lia gươm chém vụt tới như một tiếng set từ trên không đánh xuống.
Chàng lực sĩ né sang một bên tránh khỏi rồi tuốt kiếm ra nghinh địch. Thế là một trận đấu kiếm vô cùng sôi nổi bùng nổ trước hàng trăm cặp mắt của binh sĩ vừa kinh ngạc mà cũng vừa ham thích say mê.
Kẻ kinh ngạc hơn hết là Lê Thế Hùng bị xích ngồi trong cũi và luôn cả Nguyễn Hữu Liên nũa.
Trước một việc bất ngờ như thế, vị Thái phó không nghĩ đến sự can thiệp. Ông yên trí rằng với tài nghệ quán chúng mà nhiều người đã biết, rồi đây, chỉ trong khoảnh khắc, viên danh tướng đắc lực của chúa Trịnh, sẽ đánh ngã đối thủ như trở bàn tay. Vả chăng không lý một tay anh hùng cái thế, vô dịch của xứ Tây đô mà lại không hạ nổi một kẻ tầm thường lạ mặt.
Chẳng riêng gì Nguyễn Hữu Liên, toàn thể binh sĩ hiện diên ở đó cũng đều nghĩ như vậy. Nhưng những ý tưởng ấy, chỉ một lát sau, là phải thay đổi. Hiệp thứ nhứt đã gần dứt mà trận giao phong tỏ ra bất phân thắng bại.
Vị Thái phó hơi bắt đầu lo lắng khi chợt thấy mồ hôi toát ra ướt đầm trên trán của Trương Báo. Viên Cấm vệ tướng quân có vẻ mệt nhọc vì đã phải vận dụng rất nhiều sức mạnh và nhiều miếng hiểm độc để tấn công không hở tay nhưng rốt cuộc, đều bị đối phương phá hỏng. Trong lúc ấy chàng lực sĩ chỉ giữ thế thủ, thoăn thoắt tới lui xoay trở, né, gạt một cách rất êm ái, nhẹ nhàng, nét mặt chàng hết sức tự nhiên và bình thản.
Thái độ khinh thường ấy, khiến Trương Báo nổi giận vô cùng. Nên, khi hiệp thứ hai vừa khởi sự, hắn gầm lên một tiếng rồi nhảy chồm tới, vung kiếm chém ngang từ tả sang hữu, với ý định quyết lấy cho được đầu kẻ nghịch.
Chàng lực sĩ lùi lại một bước, ngồi thụp xuống tánh khỏi lát kiếm, đoạn lẹ như chớp, vụt đứng dậy phóng ngay mũi gươm vào cánh tay trái của họ Trương. Viên tướng của Trịnh Tùng, hót hoảng vội nghiên mình né, nhưng một mảnh nhung phục đã bị hớt đứt tung bay xuống đất.
Nguyễn Hữu Liên thấy trận đấu đã sắp đền hồi bất lợi, không dằn được sự hồi hộp, nôn nao khó chịu, ông cất tiếng hô lớn, truyền lịnh cho binh sĩ:
-          Quân đâu! Hãy bũa vậy khắp bốn mặt yểm hộ cho Trương tướng quân, để hạ thủ tên giặc khốn kiếp này, mau lên!
Linh nầy không chờ chạm phải lòng tự ái của Trương Bảo và làm cho hắn đang câm giận lại càng điên tiết thêm. Bị mất thể diện trước ba quân, hắn quên cả tôn ty trật tự đối với một bực đại thần.
Mặt đỏ phừng, hắn vừa đánh với đối thủ vừa thét lớn để phản đối lại ý muốn của Nguyễn Hữu Liên:
-          Quan Thái phó cứ để mặc tôi, tôi không cần quân lính yểm hộ, chỉ một mình cũng đủ giết được tên nầy.
Chàng lực sĩ không khỏi bật cười, trước sự kiêu căng của một kẻ không tự biết mình. Lợi dụng sự mất bình tĩnh của Trương Báo, chàng nhứt quyết kết thúc mau lẹ trận hỗn chiến để còn lo đối phó với Hữu Liên và đám quan quân.
Nghĩ thế, chờ cho lưỡi kiếm của họ Trương gần giáng xuống đỉnh đầu mình, chàng lực sĩ dùng hết sức bình sanh đưa gươm lên gạt phăng ra.
Sau một tiếng “keng” chát óc, thanh kiếm của viên tướng Trương Báo thình lình bị hất tung lên trên không khí.
Những tiếng la thất thanh buột vọt ra từ cửa miệng của mọi người. Chính cả Trương Báo cũng rất kinh dị, nắm chặt lấy bàn tay tê buốt và bủn rủn của mình, bàn tay vô địch vừa bị tước mát khí giới một cách cay chua, nhục nhã.
Việc kế liền đó xảy ra nhanh chóng quá, nên không ai đề phòng hay phản động lại kịp. Như tên bắn, mũi gươm của chàng lực sĩ, cắm phập vào giữa ngực của viên Cẩm vệ tướng quân và xuyên ra tới sau lưng. Một tia máu phun lên. Họ Trương ngã vật xuống, như một khối nặng trên bãi cỏ.
Nguyễn Hữu Liên cả kinh hô quân xông vào giáp chiến. Binh sĩ triều đình tuy đông đảo có đến hằng trăm, nhưng ai nấy, kể cả vị Thái phó đại thần vừa được mục kích rõ rệt tận mắt sức mạnh phi thường và tài nghệ tột chúng của chàng lực sĩ, nên không ai dám tận tình hang hái xông vào để rước lấy cái chết như viên dõng tướng họ Trương. Vì vậy, một vòng vây miễn cưỡng đã được giăng ra, để rồi tan rã mau lẹ dưới lưỡi gươm của chàng tráng sĩ. Mặc dầu những lời hò hét thúc giục, truyền lịnh của Hữu Liên, đoàn binh sĩ táng đởm, vừa bị mẻ đầu, sứt tai, gãy tay, què giò v.v. cứ đạp bừa lên nhau mà chạy.
Chúng bỏ cả phận sự, ném cả võ khí, để lại chiếc xe tù, mạnh người nào nầy cắm đầu cắm cổ chạy tán loạn để thoát thân. Bỏ đám quan quân, chàng lực sĩ xây qua tìm giao chiến với Nguyễn Hữu Liên.
Vị Thái phó, thấy chàng đến gần, hoảng sợ không dám cự địch, quay ngựa phóng như bay về hướng Bắc.
Chàng lực sĩ không thèm rượt theo mà lật đật quày phắt trở về với chiếc tù xa đang nằm chơ vơ giữa lộ.
Tại đây, chàng được tiếp đón bằng một nụ cười khả ái, nụ cười tri ân của người tù phạm tẻ tuổi đối với một vị cứu tinh xuất hiện bất ngờ.
¬
Chàng lực sĩ chưa kịp cất tiếng hỏi thì, sau hàng song sắt Lê Thế Hùng đã hớn hở cất tiếng chào mừng:
-          Kính chào tráng sĩ. Tôi rất đội ơn được người ra tay giải cứu, và thành thật khen tặng tráng sĩ, vì từ xưa đến nay trong đời tôi, tôi quả chưa bao giờ trông thấy một bực kỳ tài như thế. Lúc nãy được chứng kiến tận mắt, tráng sĩ trổ thần oai tiêu diệt trong nháy mắt lũ lang sói của Trịnh Tùng, tôi tuy bó tay ngồi trong cũi này, nhưng lòng cũng nôn nao khoan khoái như chính mình đang dự chiến bên cạnh tráng sĩ vậy.
Sau một chuỗi cười thẳng thắn, sang sảng như tiếng chuông đồng, chàng lực sĩ đáp:
-          Túc hạ quá khen. Tôi bất quá cũng như bao nhiêu kẻ khác, chỉ biết làm nhiệm vụ của một người trai đất Việt, giữa thời ly loạn nhiễu nhương: ấy là can thiệp vào những chuyện bất bình trong xã hội, cứu người cô thế, trừ kẻ hung tàn.
Ngừng một lát, chàng tiếp:
-          Tiện đây tôi xin phép được hỏi túc hạ một đôi điều mà tôi rất nóng lòng muốn biết: ấy là quý danh tánh và nhứt là nguyên nhơn gì khiến túc hạ sa vào tay đám kỵ binh của chúa Trịnh?
Thế Hùng vui vẻ xưng tên họ của mình và vắn tắt thuật rõ đầu đuôi mọi việc đã xảy ra từ hồi khuya. Chàng lực sĩ chăm chú lắng tai theo dõi câu chuyện, mặt hầm hầm đầy nội khí khi nghe kể đến những thủ đoạn tàn ác và ám muội của bọn Trịnh Tùng, Trương Báo và Nguyễn Hữu Liên.
Như chợt nhớ ra chuyện quan trọng, chàng vùng nói:
-          Chết nỗi! Xin công tử tha lỗi. Nãy giờ ham hỏi chuyện, tôi quên cả việc lo tháo cũi để đem công tử ra. Chúng ta phải hành động gấp, vì rất có thể Nguyễn Hữu Liên sẽ trở lại đây với binh cứu viện của viên trấn thủ Nghệ An, để trả thù.
Thế Hùng gật đầu:
-          Tráng sĩ dạy chí lý. Nhưng hiện giờ mở cái cũi nầy có hơi bất tiện vì chìa khóa của nó ở trong tay Nguyễn Hữu Liên.
Chàng giang hồ lực sĩ mỉm cười:
-          Không sao! Công tử chớ lo, tôi đã có cách.
Dứt lời, chàng nhỏ thót lên tù xa, giơ hai bàn tay vạm vỡ, nắm lấy hai song sắt trước mặt mình rồi nghiến răng kéo ra theo hai chiều ngược hẳn nhau.
Dưới sức mạnh phi thường của chàng, hai thanh sắt cứng ngắt bỗng nhiên cong vòng lại như một vật gì mềm dẻo lạ lùng, để lộ ra một lỗ hổng khá lớn, vừa đủ cho một người chui lọt, trong khi toàn thẻ chiếc cũi chuyển lên nghe răng rắc.
Như vậy, chàng lực sĩ không cần phải mất công phá chiếc cũi thêm nữa. Chàng chỉ đưa hai cánh tay qua lỗ hổng lớn giữa hai thanh sắt vừa bẻ cong, nhẹ nhàng ôm lấy người bị giam, và từ từ kéo ra.
Đoạn chàng dìu Thế Hùng bỏ xuống tù xa, đặt ngồi trên thảm cỏ và tìm cách cởi trói cho vị Công tử.
Nhưng, cũng như chiếc cũi, xích sắt cột nơi tay và nơi chân của Thế Hùng đều bị khóa chặt, không dễ gì mở ra được. Chàng lực sĩ cầm lấy hai tay của chàng thanh niên, nâng lên, day qua, trở lại để ngắm nghía chiếc xích sắt, rồi bảo:
-          Công tử ráng chịu đau một tí nhé!
-          Dạ, thưa tráng sĩ, không sao.
Thế Hùng vừa đáp xong, thì sợi dây xích bắt đầu xoay rổn rảng một vòng nghịch hướng vớ inhau, khiến hai cổ tay chàng cũng phải xoay theo.
Rồi thình lình, sợi xích sắt tung ra làm hai đoạn với một tiếng “rắc” dòn tan, chát chúa trong hai bàn tay gân guốc của chàng lực sĩ.
Chàng thanh niên hết sức kinh dị, giương cặp mắt sửng sốt nhìn ân nhân mình không chớp. Chàng rất lấy làm thán phục sức mạnh phi thường của người giang hồ mãi võ mà chàng được gặp lần thứ nhứt trên đời. Thật vậy, bẻ cong song sắt, bẻ gãy xích sắt, đối với chàng lực sĩ kia, chỉ là một trò đùa, tương tợ như lấy đồ trong túi. Càng lạ hơn nữa, là sau khi làm xong những công việc ấy, chàng vẫn thư thái không tỏ ra chút vẻ gì mệt nhọc.
Như vậy, vẫn thái độ ung dung và bình thản ấy, người lực sĩ tiếp tục bẻ gãy nốt sợi xích sắt nơi hai chưn của Thế Hùng, hoàn toàn giải thoát cho chàng thanh niên.
Tìm thấy lại sự tự do yêu quý, Thế Hùng rất mừng rỡ và cảm động, toan sụp lạy tạ ơn kẻ cứu mạng cho mình, thì chàng lực sĩ đã vội vàng ngăn lại, thân mật đặt tay lên hai vai Thế Hùng, chàng ôn tồn bảo:
-          Công tử ạ, chúng ta nên dẹp qua một bên những lễ nghi khách sáo không được tự nhiên và không phù hợp với những tâm hồn trai trẻ, đầy nhiệt huyết. Hôm nay, chúng ta, hai bạn giang hồ đồng chí hướng, tình cờ gặp gỡ nhau và cảm mến nhau. Ấy thật là một cuộc hạnh ngộ may mắn cho cả hai bên. Vậy tôi có điều nầy thành thật xin đề nghị: Nếu công tử không chối từ, chúng ta sẽ kết làm anh em, đồng sanh, đồng tử với nhau có được hay chăng?
Ý kiến ấy được Thế Hùng nhiệt liệt hoan nghênh. Chàng sung sướng ôm chầm lấy người lực sĩ:
-          Ồ, nếu thế thì còn gì quý báu bằng. Tôi đang mơ ước được gần tráng sĩ để học hỏi võ nghệ cao cường và đức tánh hào hùng nghĩa liệt của tráng sĩ, nay đột nhiên được ân nhân hạ cố nhận làm anh em, quả thật là một việc quá sức tưởng tượng của tôi.
Không giấu được nỗi vui mừng, chàng lực sĩ hỏi người đối thoại:
-          Công tử tuy còn trẻ mà đã tỏ ra là người có chí khí khác thường. Vậy chẳng hay niên kỷ của công tử năm nay được bao nhiêu?
-          Dạ, tôi mới được hai mươi tuổi. Thế Hùng đáp.
Chàng lực sĩ mỉm cười:
-          Công tử thua tôi tới tám tuổi. Tôi họ Bùi tự là Văn Khuê, vốn xuất thân từ một gia đình bần nông, ở Tổng Yên trường phủ Hưng Nguyên, trấn Nghệ An nầy. Nếu công tử không ngại về chỗ bất đồng đảng về giai cấp, phân chia sang hèn, thì xin cho phép tôi được nhận công tử là em nuôi…
Chàng chưa nói dứt, đã bị Thế Hùng ngắt lời:
-          Chết nổi! Xin tráng sĩ đừng chấp nệ về thành kiến sai lầm ấy. Được phép tôn tráng sĩ làm anh đó là một vinh hạnh hết sức lớn lao đối với hạng thiếu niên tài hèn sức mọn như tôi. Nhơn tiện, từ nay, tôi cũng xin phép tráng sĩ thôi gọi tôi bằng hai tiếng “công tử” nữa. Đã là anh em, chúng ta nên đổi lại cách xưng hô cho tự nhiên và thân mật.
Bùi Văn Khuê cười xòa, tán thành:
-          Phải đấy! Phải đấy công tử… ủa quên hiền đệ nói rất chí lý…
Ngừng một lát, đưa mắt nhìn khắp một lượt chung quanh chàng lại tiếp:
-          Đáng lẽ chúng ta phải mở một tiệc rượu để long trọng ăn mừng cuộc kết nghĩa giữa anh em ta ngày hôm nay, song vì thì giờ cấp bách, nên buộc lòng phải hoãn lại một ngày khác.
Hiện thời, chúng ta phải lập tức lánh khỏi nơi nầy nếu không muốn phải chạm trán với đám quân cứu viện của Nguyễn Hữu Liên sắp kéo tới đây, và luôn thể, đi tìm xác của Hoàng Đế Anh Tôn, của Đặng Ngự Sử và dấu vết của hai vị hoàng tử hiện đang bị bọn chúng bắt giam.
Thế Hùng gật đầu đồng ý, nhưng chàng nhíu mày suy nghĩ và lẩm bẩm:
-          Điều hơi khó, là không rõ chúng đã hạ sát nhà vua và cậu ruột em tại chỗ nào?
-          Có khó gì! Bùi Văn Khuê đáp – chúng ta cứ tra hỏi bọn lính của Trịnh Tùng bị trọng thương còn nằm rải rác gần đây, tất nhiên thế nào cũng có đứa biết!
Dứt lời, chàng cúi xuống đất, lượm thanh gươm của Trương Bảo (đã bị tử trận) trao cho họ Lê và dắt vị công tử tiến đến bên cạnh một tên kỵ binh đang đưa tay ôm chặt lấy vết thương rớm máu nơi hông nằm dãy dụa trên la trên đám cỏ.
Chợt thấy hai tráng sĩ lại gần, hắn khiếp đảm, run cầm cập chắp tay lạy lia lịa, xin dung mạng.
Bùi Văn Khuê dí mũi kiếm vào cổ hắn, nghiêm nghị quát:
-          Nếu mi muốn được sống thì phải khai rõ sự thật: Bọn Nguyễn Hữu Liên đã giết thác Hoàng đế và Đặng Ngự Sử và giấu xác tại đâu? Còn hai vị hoàng tử hiện bị chúng giam giữ ở nơi nào? Hãy khai mau.
Tuy vết thương nơi hông rất sâu đã khiến máu ra quá nhiều song bản năng tự vệ vẫn còn rất mạnh nơi con người hoi hóp mà vẫn còn tham sống.
Tên lính ấp úng đáp, qua hơi thở thều thào:
-          Dạ… thưa… tráng… sĩ tôi… tôi… có… có… biết… việc… ấy… vì tôi có… theo hộ tống… chiếc kiệu chở nhà vua đi.
Chàng lực sĩ giục:
-          Không được kể dài dòng. Phải nói mau và vắn tắt, chúng ta không thể chờ đợi lâu.
Tên lính mệt nhọc từ từ đưa tay chỉ về hướng tây và uể oải tiếp:
-          Nhà vua bị thắt cổ chết hồi sáng nay tại vườn mía ở đằng kia, cách xa đây chừng năm trăm thước. Quan Ngự sử thì bị giết chết tại chỗ khác nhưng thi hài cũng đem đến vứt bỏ tại đó. Còn riêng hai vị hoàng tử hiện bị giam giữ tại một cái hầm bí mật trong quán rượu nơi mà nhà vua đã vào nghỉ chơn hồi ban mai và sa vào cạm bẫy.
-          Được rồi!
Bùi Văn Khuê vừa buông rơi hai tiếng trên đây vừa ấn mạnh mũi kiếm vào cổ tên Kỵ binh của chúa Trịnh. Thêm một tia máu vọt phun lên. Tên lính chết không kịp trối.
Thế Hùng hơi lấy làm lạ, nhìn bạn hỏi:
-          Vừa rồi, đại ca đã hứa dung mạng cho hắn nếu hắn chịu khai rõ sự thật kia mà?
Văn Khuê cười khanh khách:
-          Hiền đệ quá thật thà đến đổi quên cả việc đề phòng mọi hiểm nghèo sẽ xẩy ra cho chúng ta. Này nhé! Nếu để cho tên lính nầy sống thì lát nữa khi bọn Hữu Liên trở lại, hắn sẽ thuật rõ cho chủ tướng hắn biết việc tra gạn nầy, và do đó, quân nghịch sẽ dễ dàng đoán ra hành động của chúng ta và tìm cách vây bắt hay cản trở chúng ta vậy. Vì lẽ ấy tôi buộc lòng phải xuống tay để diệt trừ mối hậu hoạn.
Lê công tử gật đầu khen phải.
Chàng lực sĩ tiếp:
-          Bây giờ hiền đệ hãy phụ lực với ta lột nhung phục của hai tên lính tử thương nẩy ra.
-          Để làm gì vậy đại ca? Thế Hùng tò mò hỏi.
Văn Khuê đáp rất nhanh:
-          Để dành vì sắp cần dùng tới. Rồi đây hiền đệ sẽ biết.
Dứt lời chàng cuối xuống nâng thi hài của tên lính vừa chết ngồi lên và nhờ Thế Hùng lẹ tay cởi hết lớp nhung trang kỵ binh đang khoác trên mình của nạn nhơn.
Xong, cả hai lại đi tìm một tử thi của một người lính khác nằm kế đó, và cũng làm y hệt như trên. Đoạn, với hai bộ võ phục vừa đoạt được, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng leo lên hai con ngựa vô chủ mà đám quân bại trận đã để lại trên bãi chiến và ra roi quất mạnh.
Trong chớp mắt, hai con vật quăng mình phi nước đại, nhắm hướng tây trực chỉ, đem theo hai chàng hiệp sĩ mà bóng dáng hiên ngang, kêu dõng khuất dần sau đám bụi mù trời…
¬
Dưới nắng chiều tà đang phủ lên cảnh vật màu vàng héo úa và bệnh hoạn, khu vườn mía hoang phế hẻo lánh ở phía tây Phú Diễn hiện ra như một đám rừng con rậm rạp um tùm.
Hai tráng sĩ phải xuống ngựa, buộc hai con vật vào một gốc cây gần đó, rồi cùng nhau len lỏi tiến vào trong sườn. Chung quanh họ, không một bóng người. Tiếng sột soạt của cành lá dưới bước chân đều đều của họ, có âm hưởng khô khan, tức tưởi nghe rờn rợn như từ một thế giới âm u nào vọng lại.
Trầm ngâm lặng lẽ, cả hai vừa đi vừa dáo dác nhìn khắp mọi nơi. Họ không phải tìm kiếm lâu vì kia kìa! Trước mặt họ, một cái thây ma đã hiện ra, cổ cột vào một cành cây cao, treo tòn ten lơ lửng.
Đó là xác chết của Lê Anh Tôn Hoàng đế. Mặt tái nhợt, tóc rũ rượi, lười thè ra, đàu nghẽo về một bên, tay chơn co rút lại, nhà vua chết đi đã lưu lại cho đời một hình ảnh khủng khiếp đau thương; gần đó, kế dưới chân cái thây ma chết treo là một thi hài khác, lưng tựa vào gốc cây, hai chân dang ra, hai tay buông thỏng, đầu gục xuống như sắp ngả về đằng trước. Ấy là xác chết của Ngự sử Đặng Phương. Khác với nhà vua, vị lão quan đã bị đầu độc mà thiệt mạng trước khi bị đem vứt xác tại đây.
Tuy vốn là những tay anh hùng gan dạ phi thường, nhưng hai chàng tráng sĩ không khỏi rung mình trước một cảnh tượng vừa kinh khủng, vừa đau xót ấy. Nhứt là Thế Hùng, không thể nào cầm lòng được trước tình cốt nhục và nghĩa chúa tôi. Chàng òa lên khóc rồi phục xuống trước hai cái tử thi mà nức nở.
Bùi Văn Khuê cũng từ từ quỳ xuống sụp lạy sau lưng bạn để san sẻ nỗi bi ai. Chàng liếc nhìn hai kẻ chết oan rung rợn và âm thầm đo lường tất cả niềm thống khổ, bao la, và ngọn lửa hận cừu đang sung sục bốc cháy trong lòng bạn.
Thật vậy, họ Bùi đoán không lầm. Không còn gì làm cho Thế Hùng đau đớn, oán hận bằng cái cảnh tượng vô cùng khốc liệt đang phô bày ra trước mặt chàng. Vị công tử nhớ lại người cậu ruột thân yêu trung hậu đã dám từ bỏ một cuộc sống xa hoa phú quý để được trọn đạo thần tử đối với quân vương. Chàng nhớ đến vị vua nhơn từ, bình dị, mà trong cảnh gian lao chàng đã được gần gũi và cảm mến. Sau hết những ý nghĩ ấy khiến chàng liên tưởng đến phụ nhân chàng: Thái quận công Lê Cập Đê, người đã can đảm đứng lên vận động đánh đổ thủ đoạn độc tài khắc nghiệt và hung tàn của chúa Trịnh, và đã sa cơ lọt vào tay kẻ nghịch trong khi chí nguyện chưa thành. Thế Hùng đoán chắc rằng song thân chàng ắt đã phải bỏ mình trong ngục thất tại Tây đô. Tự nhiên một mối căm hận vô biên tràn ngập lòng người thiếu niên dũng sĩ.
Như điên như cuồng, vị công tử thét lên một tiếng và vùng đứng dậy. Chàng day về hướng bắc, giậm chơn trợn mắt, nghiến răng sỉa sói vào cõi hư vô:
-          Trịnh Tùng! Ngày nào ta còn sống, ta quyết phải trả cho xong mối thù bất cộng đại thiên nầy.
Hiểu rõ tâm sự của bạn, Bùi Văn Khuê vẫn lặng im, để cho bạn tự do trút hết nỗi lòng uất ức; một lát sau, thấy trời sắp hoàng hôn, chàng toan giục Thế Hùng ra đi, thì bỗng nghe phía sau có tiếng sột soạt.
Họ Bùi quay phắt lại nhìn. Một bóng người khả nghi, nãy giờ hình như đã lảng vảng rình rập đâu đây, thình lình cắm đầu chạy vùn vụt về hướng Nam. Người ấy khoác trên mình một bộ áo quần vải nâu lam lũ của nông phu và đội 1 chiếc nón lá to vành phủ gần kín mặt.
Ngạc nhiên và ngờ vực, Văn Khuê tức thì phóng mình rượt theo hắn như tên bắn. Chỉ trong chớp mắt, chàng đã ở sát sau lưng người lạ mặt.
Biết là bị theo dõi gần kịp, người nầy vội dừng chân day lại và trong lúc xuất kỳ bất ý, rút cây đoản đao giấu sẵn trong mình, chém thẳng vào mặt chàng lực sĩ.
Văn Khuê thản nhiên, khẽ nghiêng mình sang một bên né tránh rồi co chân vụt đá thốc lên ngay cùi chỏ cánh tay mặt của hắn. Gã kia rú lên một tiếng thất thanh. Cây đoản đao rời khỏi bàn tay tê buốt của hắn, bay tung lên trên không lộn hai vòng rồi sa xuống đất, cách đó chừng vài thước.
Mất khí giới, kẻ lạ mặt khiếp đảm, lính quýnh toan bỏ chạy thì liền bị bàn tay lực lưỡng của chàng lực sĩ lẹ làng thò ra thộp lấy cổ áo của hắn và ghì chặt lại. Thế rồi, sau khi hắn cố vùng vẫy, dãy dụa một cách vô hiệu quả, bàn tay của Văn Khuê đã nhắc bổng hắn lên khỏi mặt đất, như một cậu bé tinh nghịch xách hỏng con mèo lên để nô đùa.
Hoảng vía trước sức mạnh khác thường của chàng lực sĩ, kẻ lạ mặt run cầm cập, chấp hai tay lạy không ngớt, như tế sao:
-          Xin tráng sĩ tha chết, xin tráng sĩ dung mạng.
Họ Bùi trừng mắt quát hỏi:
-          Mầy làm nghề nghiệp gì? Ai sai mầy đến đây thám thính? Nói mau. Nếu gian dối ta chỉ quật cho mầy một cái là đủ tan xương nát thịt, nghe chưa?
Hai tay hắn vẫn vái lịa như cái máy:
-          Dạ… dạ… xin tráng sĩ buông tôi ra, tôi sẽ nói, tôi xin nói.
-          Được!
Bàn tay Văn Khuê từ từ hạ thấp và êm ái đặt kẻ lạ mặt xuống đất. Đồng thời tay trái của chàng tò mò nắm lấy vạt áo ngoài của hắn mà giựt mạnh. Một manh áo rách toang, để lộ ra phía dưới, bộ binh phục của một quân nhơn.
Bị lộ tẩy, tên nông phu giả hiệu, mặt xám như gà cắt tiết, lật đật khúm núm cung khai sự thật:
-          Xin tráng sĩ thương tình, tôi là Vương Bột, lính trong cơ binh của quan trấn thủ Nghệ An được lịnh trên sai tới đây trá hình làm dân quê để thám thính.
Hễ gặp ai đến đây khóc điếu nhà vua, thì tôi phải lập tức chạy về phi báo cho quan quân kéo đến vây bắt.
Chàng lực sĩ bật cười, mai mỉa:
-          Lũ thầy trò nhà ngươi xoàng như vậy mà hòng gì bắt được ai?
Chàng ngừng lại giơ tay vẫy Thế Hùng đang tất tả chạy tới và bảo rằng:
-          Nầy hiền đệ, bây giờ chúng ta mới hiểu tại sao bọn Thái phó Nguyễn Hữu Liên và viên trấn thủ Nghệ An là Trịnh Tam Miêu không chịu đem mai táng thi thể của nhà vua và của Đặng Ngự sử đã bị chúng sát hại một cách thảm thương. Một là vì ác tâm, hai là chúng muốn dùng hai thây ma ấy làm cạm bẫy để lôi cuốn chúng ta và tất cả những người htuoojc phe đảng Cần Vương vào đó. Mưu kế của chúng kể ra cũng khá thâm độc. Nhưng chúng ta có cách đối phó. Chúng ta sẽ buộc thằng Trịnh Tam Miêu phải theo ý muốn của chúng ta.
Dứt lời, Văn Khuê day lại hỏi tên do thám vừa bị chàng bắt được:
-          Nhà ngươi biết rõ cái hầm bí mật trong tửu quán là nơi giam cầm hiện thời của hai vị hoàng tử chớ
Vương Bột rất đổi kinh ngạc không hiểu tại sao chàng lực sĩ nầy lại có thể thấu đáo một chuyện bí ẩn như thế, thấu đáo hơn cả những người lính thân tín nhứt tỏng dinh viên trấn thủ Nghệ An. Thấy khó lòng giấu giếm, vì giấu ắt sẽ nguy đến tánh mạng, hắn đành ấp úng đáp:
-          Thưa tráng sĩ, tôi biết rõ cái hầm ấy. Chính hồi xế chiều, tôi đã được phái đến đó để đem các thức ăn cho hai hoàng tử bị giam.
Văn Khuê tỏ vẻ hài lòng. Chàng lại hỏi:
-          Hiện giờ, nơi ấy do ai canh giữ?
-          Dạ, do một viên đội và hai tên lính. Ba người nầy đang có phận sự canh gác rất nghiêm nhặt các ngõ ra vào của tửu quán nói trên. Nghe đâu, chỉ nội tối nay, hai hoàng tử sẽ được dời tới dinh quan trấn thủ.
Văn Khuê cả mừng:
-          Tốt lắm, vậy lát nữa, nhà ngươi dẫn chúng ta tới đó. Ngươi sẽ giới thiệu với ba người lính gác rằng chúng ta là thuộc hạ của Thái phó Nguyễn Hữu Liên được lịnh đến phụ lực với họ để tăng cường cuộc đề phòng cho thiệt châu đáo và cẩn thận.
Tên do thám lưỡng lự và lo ngại:
-          Vâng, nhưng nhị vị tráng sĩ không khoác trên mình bộ nhung phục của kỵ binh thì làm sao đánh lừa được lính canh.
Chàng lực sĩ mỉm cười:
-          Nhà ngươi đừng lo, chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cả rồi.
Nói đoạn, chàng lấy ra hai bộ võ phục vệ quân đã đoạt được và giắt sẵn bên mình, trao cho Lê Thế Hùng và bảo:
-          Đã đến lúc chúng ta nên cải trang để tiện bề hành động.
Vị công tử gật đầu tán thành và đưa tay tiếp lấy bộ nhung trang và chàng lanh lệ mặt vào mình cùng một lúc với Văn Khuê. Thế là chỉ trong khoảnh khắc, hai chàng tráng sĩ đã nghiễm nhiên biến thành hai kỵ binh của Chúa Trịnh.
Dưới nắng chiều dần tắt, cánh đồng quê hẻo lánh với khu vườn mía hoang vu ghê rợn, từ từ đi vào trong bóng hoàng hôn.
Bùi Văn Khuê đưa mắt cho bạn và ra lịnh cho tên lính theo mình. Cả ba cùng bước về phía hai con ngựa buộc sẵn nơi thân cây.
Chàng lực sĩ nắm lấy cánh tay tên do thám của Trịnh Tam Miêu, nhắc hỏng nó lên, đặt trên lưng ngựa, trước mặt mình. Thế Hùng cũng nhảy thót lên yên.
Chàng lực sĩ ra dấu. Hai con vật tức thì lao mình trong bóng tối.
 
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.10.2020 13:56:08 bởi Ct.Ly>
15. Ra đi cho vẹn đôi đường
 
 

 
 
ĐÊM lần về sáng, Thúy Loan bỗng giựt mình tỉnh giấc. Nàng ngạc nhiên thấy Chúa Trịnh vẫn đi đi lai lại trong phòng, suy nghĩ, đăm chiêu... Trí thông minh giúp cho nàng xét đoán được những gì đã xảy ra bên trong lòng Chúa.
Nàng lẩm bẩm một mình :
- Tội cho Chúa Trịnh, vừa muốn giữ ta, mà cũng vừa muốn chiếm lấy Thăng Long !... Trằn trọc không ngủ được là phải lắm...
Giả vờ như không biết điều gì hết, Thúy Loan ngồi dậy nũng nịu với Bình an Vương :
- Chúa thượng, tại sao Chúa thượng chưa đi nghỉ? Trịnh Tùng quay lại nhìn nàng không đáp. Vừa mới thức dậy, tóc lòa xòa xuống má, mắt sáng long lanh tạo cho Thúy Loan một vẻ đẹp kỳ diệu như mơ. Trịnh Tùng nhìn nàng say đắm và nghĩ đến một ngày nào đó nàng phải xa mình, một thân ra tận Thăng Long để cợt đùa với các tướng lãnh của họ Mạc, ông thấy lòng mình như se thắt lại.
Nhưng làm sao, trong giờ phút cấp bách này, cho vẹn cả đôi đường: Người yêu không mất mà quân thù phải rả tan... Thúy Loan lại làm mặt hờn dỗi:
- Chúa Thượng sao vậy? Sao không trả lời câu hỏi của Thiếp? Thiếp giận rồi đấy...
Nàng vùng vằng xây mặt vào trong, ấm ức khóc. Những giọt nước mắt giả tạo cứ luôn tràn xuống má làm đảo điên lòng Chúa Trịnh...
Bình an Vương ngồi xuống bên nàng nói nhỏ:
- Ái khanh ơi ! Đừng khóc nữa, ta khổ sở lắm rồi. Suốt đêm ta không ngủ được, nàng còn hành tội ta nữa ư?
Thúy Loan lau khô nước mắt nhìn Trịnh Tùng.
Bình an Vương cảm thấy mình cần phải quyết định cấp tốc, không thể chần chờ nữa. Có xa nàng một vài năm mà chiếm được Thăng Long cũng không hối tiếc gì.
Trong giờ phút này họ Trịnh hết sức khôn khéo. Ông cố sức giấu giếm những ý tưởng biến đổi trong tâm trí và vẫn giữ vẻ tha thiết đối với nàng để có thể gợi được tình cảm của Thúy Loan mà dùng nàng cho được việc.
Chúa Trịnh ngước nhìn nàng và nói trong sự buồn khổ tuyệt vời:
- Ái Khanh, đêm ngày ở trong cung cấm, có biết đâu đến những biến chuyển bên ngoài... Ta hiện gặp nhiều khó khăn trong việc đối đầu với quân nhà Mạc. Chúng ý lợi thế nên thường khuấy rối quân ta. Để trả thù chúng và giữ bền cơ nghiệp là phải chiếm cho được Thăng Long, phá tàn quân Mạc...
Nguyễn thúy Loan rụt rè hỏi :
- Quân binh của ta không đủ sức đương cự với quân nhà Mạc hay sao?
Chúa Thượng Trịnh Tùng khẽ đáp:
- Nhà Mạc đã sẵn nhiều tướng giỏi, lắm cơ mưu, nay tại thêm bọn Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng ra giúp sức, nên ta e ngại vô cùng... Sớm muộn gì chúng cũng sẽ tấn công quân ta lần nữa. Ta thực chưa biết liệu định thế nào bây giờ?
Thúy Loan lặng yên suy nghĩ. Trong những lời của Chúa Trịnh nàng thấy bộc lộ rõ rệt nỗi sợ hãi đối với Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng. Tự dưng nàng cảm thấy thích thú âm thầm hơn lúc nào hết, thích thú biết rằng họ Bùi, người mà nàng cảm phục đã làm cho một kẻ uy quyền tột chúng như Bình An Vương Trịnh Tùng phải khiếp đảm. Và nàng càng cảm thấy mến Bùi văn Khuê hơn.
Trong lúc ấy, bên tai nàng, Trịnh Tùng vẫn tiếp lời:
- Xa nàng lòng ta như chết ! Nhưng biết làm sao trong tình thế này?
Như trên đã nói Thúy Loan muốn nhân dịp này, mượn cớ để thoát ra ngoài cung cấm... Nhưng dù sao nàng cũng thấy bồn chồn e ngại khi tuân lệnh của Trịnh Tùng. Ra Thăng Long thi hành nhiệm vụ gián điệp biết nàng có thoát khỏi lưới của tướng sĩ nhà Mạc chăng?
Nhất là Bùi văn Khuê con người mà nàng rất vị nể, kính yêu, hiểu lầm nàng thì tai họa vô cùng.Nhưng dù sao, thoát khỏi nơi đây vẫn hơn, Thúy Loan nghĩ thầm như vậy. Nàng vội quỳ tâu:
- Chúa Thượng nghĩ rất phải ! Việc quốc gia là trọng. Hy sinh tình yêu của ta trong vài năm mà thành việc lớn thì cũng nên làm. Nếu thiếp thành công, quân ta chiếm được Thăng Long thì dù thiếp có chết cũng cam.
Được lời như cởi tất lòng. Chúa Trịnh rất vừa ý. Nhưng ông vẫn giữ vẻ mặt u sầu như sắp mất một bảo vật gì, không còn tìm lại được.
Bình an Vương buồn bã thốt lời:
- Ái Khanh đừng nói như vậy. Dù sao rồi chúng ta cũng sẽ tái hợp sau khi chiếm được Thăng Long. Hãy nhìn ta đi ái khanh. Nàng có hiểu được lòng ta yêu thương ái khanh đến bực nào chăng? Ta xa nàng thật vô cùng chua xót, nhưng nghĩ cho kỹ, không còn cách nào khác hơn được nữa.
Thúy Loan cũng giả vờ lộ vẽ bùi ngùi. Nàng cố làm ra mặt đau thương :
- Tâu Chúa thượng ! Thiếp hiểu rõ tình thương của Chúa thượng đối với thiếp, nên thiếp cảm mến vô cùng; cho đến đời đời kiếp kiếp, thiếp không làm sao quên ơn được. Dù rồi đây có ngọc nát vàng tan...
Chúa Trịnh ngắt lời:
- Kia ái phi ! Sao ái phi cứ nói gở mãi thế ? Ngày gần nhau sẽ không xa lắm đâu ! Miễn ái phi cố hoàn thành nhiệm vụ cho mau chóng...
Bên ngoài, ánh bình mình đã lên, trong khi sương sớm loảng tan dần...
* * *
Liên tiếp cả tháng trường bận rộn vì công việc trừ khử dư đảng bọn ‘‘hung thần’’ ở rừng Độc Vạn và phanh phui những tổ chức gián điệp của Chúa Trịnh ở Thăng Long. Lê thế Hùng cũng tạm quên được vết thương lòng. Biết rõ nỗi khổ tâm của bạn, nên Bùi văn Khuê vẫn thường an ủi chàng...
Từ khi Ngọc Lan bỏ đi rồi, họ Bùi cố tìm cách cho bạn lảng quên sự tiếc nhớ trong công việc hằng ngày: hết chiến đấu với bọn ‘‘hung thần’’ lại len vào sào huyệt phe dọ thỏm địch.
Nhưng lần lần ‘‘hung thần’’ đều bị tiêu diệt, những tổ chức dọ thám bị phá vỡ tan tành. Lê thế Hùng trở về cuộc sống bình thường thì nỗi tiếc nhớ bâng khuâng lại nổi dậy.
Tự chàng cũng hiểu là họ Bùi cố giúp chàng thoát khỏi nỗi khổ lòng và chính chàng cũng quyết tâm quên đi; nhưng làm thế nào được, một khi hình ảnh người thiếu nữ yêu kiều, đáng mến kia đã in sâu vào não cân chàng...
Có nhiều lúc lòng buồn dã dượi, Thế Hùng tự giận thay cho tình cảm mềm yếu của mình. Chàng vùng đứng dậy chạy ra võ trường cởi ngựa, múa kiếm, bắn tên.
Cố làm sao cho quên bẵng đi hình ảnh của Ngọc Lan.
Nhưng làm thế nào được ! Những đêm khuya vắng lặng một mình, chàng cảm thấy mong nhớ nhiều hơn... Sự trống trải của cuộc đời, làm cho chàng đau buồn cả tâm hồn. Trong lòng ngổn ngang trăm nỗi :Thù xưa chưa trả được lại đèo
thêm một nỗi hận lòng...
Tâm hồn Thế Hùng bị xáo trộn rất nhiều mấy lúc sau này, làm cho con người chàng phờ phạc hẳn đi...Thù cha canh cánh bên lòng không biết đến bao giờ trả được?!
Bùi văn Khuê, ngày đêm cùng các tướng rèn luyện binh sĩ rần rộ, Mạc mậu Hiệp lo chuẩn bị lương thực, mộ thêm tân binh, bổ sung thành nhiều đội ngũ... Cuộc tấn công chưa biết đến bao giờ mới thực hành ?
Lê Thế Hùng tự nghĩ trong lòng như vậy, cho nên gặp lúc Ngọc Lan ra di, tâm hồn chàng bị khủng hoảng trầm trọng.
Khổ thay ! Đối với Bùi văn Khuê, là người chàng kính trọng nhiều nhất, mà Thế Hùng cũng giấu nhẹm những tư tưởng buồn nản của mình...
Bùi văn Khuê vẫn thường chú ý đến hành động của bạn. Nhưng mấy lúc sau này thường mắc việc quân cơ, chàng ít trò chuyện lâu với Thế Hùng.
Cho đến một buổi sáng, quân hầu vào phòng cấp bảo với chàng rằng Lê Phó tướng đã bí mật ra đi và có để lại một bức thư dành cho Đại tướng.
Bùi văn Khuê kinh ngạc vô cùng, bốc thư ra xem mà lòng rối như tơ vò… Tại sao Lê Thế Hùng bỏ đi? Vì quá thương nhớ Ngọc Lan ? Hay phiền muộn điều gì ? Những dòng chữ cứng rắn của Thế Hùng hiện lần ra trước mắt:

Đại huynh nhã giám,
Tiểu đệ rất khổ lòng mà phải ra đi không báo trước cho Đại huynh được một lời. Thực tiểu đệ biết mình lỗi lắm !
Nhưng, khổ nỗi, tiểu đệ không làm thế nào hành động khác hơn.. Nếu nói ra chắc chắn Đại huynh sẽ cản ngăn không cho đệ ra đi, và cũng như bao nhiêu lần trước, đệ lại nhẫn nhục đợi chờ cơ hội…
Đại huynh ơi : Đệ đã quá sức kiên tâm, dẳn thù hận xuống tận đáy lòng trong bao lâu nay, để khỏi làm phiền Đại huynh !


 Nhưng mà thù cha sôi sục mỗi ngày một nung nấu hơn lên, đệ không còn can đảm đợi chờ được nữa…
Đệ xin nói mau để Đại huynh rõ là Đệ quay về Tây Đô, sống trong lòng giặc để tìm cách phục thù. Và Đệ tin tưởng phen này. Đệ  sẽ thành công.
Kể như vậy cũng tạm yên về phần Đệ. Riêng về Đại hunh đã gặp được thời cơ. Sau khi phục thù xong, Đệ sẽ quay về.
Dù ở xa xôi, Đệ vẫn hằng tưởng nhớ đến Đại huynh.
Ngu đệ bái bút
LÊ THẾ HÙNG.

Đọc xong thư Bùi Văn Khuê than thở nhìn ra ngoài trời.
Chàng không giận Thế Hùng nhưng nghĩ càng thương bạn nhiều hơn. Thế Hùng đã hành động sai lầm vì tâm hồn chàng quá yếu đuối, không chịu nổi một sự xáo trộn tình cảm như sự ra đi của Ngọc Lan...
Bùi văn Khuê đoán xét được tất cả. Chàng thấy rõ Lê thế  Hùng không dám nói thật lòng mình: sự thất vọng này xô đẩy đến sự chán nản khác…
 Việc trở về Tây Đô của Lê thế Hùng, không làm cho Bùi văn Khuê e ngại lắm vì chàng tin tưởng ở tài trí của Thế Hùng. Nhưng điều khiến chàng hơi lo là sự liều lĩnh của bạn ; nhất là trong lúc tâm hồn họ Lê đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng. Họ Lê dám liều làm những việc chấn động Tây Đô và do đó không chắc chàng thoát khỏi sự bủa vây của bè lũ Trịnh Tùng.
Bùi văn Khuê cảm thấy lòng buồn vô hạn. Cuộc đời đơn độc của chàng từ khi gặp được Lê thế Hùng đã thấy bớt lẻ loi. Luôn luôn chàng tự nhận là mình có trách nhiệm với Thế Hùng, lo lắng cho bạn từ chút.
Chàng không ngờ, bao nhiêu lâu sống gần nhau mà Lê thế Hùng không cảm nhận được tình thương mến đậm đà của chàng mà lại hành động một cách đột ngột như vậy...
Trong đoạn chót của bức thơ, Lê thế Hùng đã viết một câu khiến chàng không được vừa ý. Chàng không ngờ Lê thế Hùng có thể hiểu lầm chàng đến như vậy: ‘‘Gặp được thời cơ để lập công đanh’’? Thật là điên dại! Chàng có bao giờ tha thiết đến cái chức Đại tướng của Chúa Mạc ban cho đâu?
Là một giang hồ dũng sĩ, chàng sống với một chí hướng khác hơn.
Chàng sở dĩ nhận tước vị của Chúa Mạc phong là nghĩ nhiều đến Thế Hùng...Muốn tận lực trong việc phục thù cho bạn. Nào ngờ Thế Hùng đã nghĩ lầm về chàng. Tuy nhiên, Bùi văn Khuê đã tự trách mình không tìm cách giải bày rõ ràng ý định mình cho bạn biết và thẳng thắn khiển trách sự yếu đuối của Thế Hùng.

Bây giờ thật là rắc rối. Thế Hùng đã bỏ đi rồi. Chàng lại bị bận rộn với phận sự ở đây, không thể cùng bạn chắp cánh tung trời sống chết cho có nhau... Bỏ mọi việc đang làm thì thật là công dã tràng xe cát... Với lực lượng tinh nhuệ của quân Mạc ngày hôm nay chàng tin tưởng  rằng với sự điều khiển của mình chàng sẽ chiến thắng quân Trịnh dễ dàng...
Còn bỏ Lê thế Hùng xông xáo một mình trong đất giặc chàng cũng không yên dạ.
Phải tìm một cách nào cứu được bạn?




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.10.2020 18:46:50 bởi Ct.Ly>
16. Người bí mật xuất hiện ở Tây Đô

 

 
ĐÊM tối vội vàng trùm xuống Tây Đô. Thành phố bắt đầu rộn rịp vui chơi, các hàng quán tửu lầu đông nghẹt những người.
Riêng khu vực hoàng thành, phủ chúa là im lặng như tờ... Trên những tường thành kiên cố, bóng tối trải lên một màu đen thê thảm.
Trước phủ chúa, đoàn tuần binh vừa vượt qua, vó ngựa rào rạo quanh bờ hào một lúc rồi mất hẳn, trả lại sự tĩnh mịch cho đêm sâu...
Cổng phủ vừa khóa chặt, bọn lính canh cũng đã đổi phiên gác về đêm. Họ quây quần bàn chuyện vặt ban ngày, và vì thế hơi bất cẩn trong khi canh gác.
Giữa lúc ấy, một bóng đen âm thầm lội qua hào sâu. Kẻ liều mạng này không ai khác hơn là Lê thế Hùng, người tráng sĩ oai dũng đã mang một mối hận không đội chung trời với chúa Trịnh.
Rời bỏ Thăng Long một cách đột ngột như ta đã biết, chàng bí mật về Tây đô tìm nhà một người lão bộc trung thành ngày xưa của phụ thân chàng. Gặp lại những người thân thích, lòng chàng không khỏi bùi ngùi xúc động, nhưng khi nghe kể hết
nhưng hành động tàn ác của Trịnh đối với dòng họ chàng, Thế Hùng thấy lòng uất hận vô cùng.
Chàng được biết Trịnh Tùng đã hạ lệnh tịch thu tất cả sản nghiệp của phụ thân chàng. Ngoài ra, chúa Trịnh còn sai giết chết một số bà con quyến thuộc của chàng hoặc đày họ lên miền quan tái.
Lê thế Hùng đau xót vô cùng, lòng cừu hận càng nung nấu hơn lên. Chàng quyết lòng trả cựu thù, nhưng nhìn lại sức mình hiện tại, Thế Hùng nghĩ chỉ còn có một cách là liều mình vào thích khách chúa Trịnh.
Tình yêu buổi đầu tan vỡ làm cho Lê thế Hùng gần như mất định hướng. Nỗi thất vọng khiến chàng hóa ra liều lĩnh hơn lúc nào hết và hành động không cần suy xét hay bàn tính với ai nữa. Xa Bùi văn Khuê, chàng mất hẳn những lời khuyên răn xác đáng của bậc đàn anh. Thế Hùng tuy biết vậy, nhưng còn làm sao khác hơn được nữa ?!
Chàng đợi chờ cho đêm đến là khởi sự ra tay... Thế Hùng tin tưởng phen này mình sẽ thành công và cứu giúp dân chúng khỏi bàn tay đẫm máu của Trịnh-Tùng. Nhưng chàng nghĩ lầm, Trịnh Tùng dù bị giết đi, con cháu nhà Trịnh vẫn còn nắm quyền hành trong tay thì không có gì lay chuyển được cơ nghiệp của họ Trịnh.
 
Lội qua khỏi những hào sâu lạnh buốt, chàng thanh niên lặng lẽ leo lên bờ đứng sát vào tường, nghe ngóng. Bốn bề im lặng như tờ … Chàng thấy hồi hộp  trong lòng. Im lặng như tờ… Chàng thấy hồi hộp trong lòng. Im lặng một lúc, Thế Hùng nhìn lên thành cao vọi, cố tìm lấy một phương kế lọt vào trong. Chàng chắc chắn trên đầu tường có một hàng miểng chai bén nhọn, sợ sẩy một chút có thể nguy hiểm tính mạng.

Trời tối quá, không nhìn thấy được các cành cây chỉa ra ngoài, rất khó liệng móc lên, buộc dây leo vào. Chàng đang suy tính, chợt rờ đụng những hàng dây leo sát vách tường.
Những dây này có lẽ đã lâu đời lắm rồi, nên to lớn bằng cườm tay. Thế Hùng vui mừng không xiết kể. Chàng vội vàng, nắm lấy dây kéo thử ; dây chắc lắm, rễ ăn sâu vào phía bên trong, nên cái thân thể to lớn của Thế Hùng đeo lên không thấy lay chuyển một chút nào, Thế Hùng soát lại khí giới đeo bên mình rồi lần lần phăng dây lên khỏi mặt thành.

Cành cây rậm rạp phía trong toả xuống càng làm cho mặt tường càng đen tối hơn. Những ai đứng dưới không làm sao trông thấy phía trên được.
Thế Hùng không dám đặt chân trên mặt tường, cố phóng mình đeo lên một cành to lớn và đưa mắt quan sát khắp xung quanh.
Trong phủ Chúa đèn thắp sáng như ban ngày, nhưng giữa những khoảng nhà giáp nhau, Lê thế Hùng chú ý thấy mình còn có thể núp được. Chàng lần theo thân cây xuống đất. Chân vừa chấm mặt đất, Thế Hùng kinh hồn nhảy vụt vào một hẻm nhỏ, dán sát người vào tường.
Từ đằng xa, một đoàn lính, gươm tuốt sáng ngời đang nhịp nhàng tiến tới. Rất may là họ không trông thấy Thế  Hùng và vẫn ung dung đi tuần tiễu quanh vòng thành. Đợi cho họ qua khỏi, Thế Hùng lần đường nhỏ, nép mình trong bóng tối, nhắm hướng những dãy lầu cao trực chỉ...
Đêm cứ trôi qua, tiếng mỏ cầm canh xa xa vọng lại đều đều... Tiếng hát của một cung nữ từ trên lầu cao buông rơi du dương thảnh thót. Tiếng tơ đồng ai oán hòa theo... xen lẫn với tiếng cười khả ố nỗi lên từng đợt.
Thế Hùng ngước mắt nhìn lên lầu cao sáng chói ánh đèn, nơi phát ra hai âm thanh trái ngược. Chàng nhìn trước, ngó sau rồi phóng mình đeo lên một cành cây rắn chắc, chuyền qua những tàn rậm rạp về phía mái lầu... Chàng hành động nhẹ nhàng và lanh lẹ, không lay động lá cành, khiến lũ quân canh dưới kia không tài nào đoán được có người đã lọt vào vùng tử địa.
Vụt một cái, chàng thanh niên đã nhảy sang mái ngói. Chàng vận toàn màu đen, nằm sát vào mái ngói đen sẫm rêu phong rất tiệp màu... Tuy nhiên Thế Hùng cũng nằm im một lúc xem động tịnh ra sao, tiếng đàn hát vẫn véo von, tiếng cười đùa cợt vẫn vang lừng.
Chàng đứng vụt dậy chạy thoăn thoắt trên nóc nhà, nhắm hướng có tiếng hát ca mà đến, vì chàng tin tưởng ở nơi đó, Chúa Trịnh đang vui say cùng cung tần mỹ nữ. Đến nơi, Thế Hùng nằm sát xuống, dở ngói nhè nhẹ ra xem... Mùi phấn hương và cao lương mỹ vị thoang thoảng bay lên.
Phía dưới, Thế Hùng nhìn thấy rõ Chúa Trịnh Tùng đang ngồi chính giữa, một bên là Thái phó Nguyễn hữu Liên, bên kia là một thiếu nữ đẹp tuyệt trần mà thoáng nhìn sơ qua, Thế Hùng đã nhớ ra ngay.
Chàng buột miệng kêu lên nho nhỏ:
- Ô kìa ! Nàng hầu thiếp của Trịnh Tùng!
- Phải rồi ! Chàng không làm sao lầm được. Sực nhớ ra rằng Thúy Loan biết rõ mặt thật của mình, Thế Hùng vội vàng lấy khăn đen trùm lên mặt cẩn thận.
Thế Hùng nào ngờ, buổi tiệc này chính là buổi tiệc của Trịnh Tùng tổ chức để tiễn đưa người ái thiếp sang đất giặc... Và chính đêm nay là đêm cuối cùng của Nguyễn thúy Loan ở Tây Đô.
Tiếng đàn hát vẫn ngân lên đều đều, chúa Trịnh Tùng say khướt lả lơi, kẻo đầu Nguyễn thúy Loan sát vào mình, giọng lè nhè:
- Ái khanh ơi ! còn đêm nay là tiễn biệt... Đêm nay là của hai ta...
Thế Hùng thấy rõ Thúy Loan cúi đầu như né tránh mùi rượu sặc sụa của Trịnh Tùng. Chàng vụt nhớ đến Bùi văn Khuê. Nếu giờ phút này họ Bùi chứng kiến được cảnh nầy chắc không khỏi đau lòng. Riêng Lê Thế Hùng, càng nhìn bộ mặt của Trịnh Tùng, càng sôi gan lên không chịu được nữa... Chàng rút lưỡi dao sáng quắc trong mình, dơ thẳng cánh tay nhắm ngay Trịnh Tùng toan phóng tới...
Bất đồ một một tiếng thét vang rền giữa đêm trường lặng lẽ:
- Thích khách ! Thích khách !
Lê Thế Hùng vừa phóng lưỡi dao bay đi thì Trịnh Tùng chợt nghe tiếng la đã để ý đề phòng.
Thấy một lằn chớp sáng từ nóc nhà bay xuống, họ Trịnh vội lăn mình xuống đất. 
Thật không ngờ !  Chính Lê Thế Hùng cũng không ngờ, giữa vòng Phủ Chúa, còn một cái đài thật cao, có lính canh cẩn thận. Tên lính gác đài từ lúc nãy đã chú ý đến một bóng đen lù lù trên mái lầu nên hắn cố theo dõi dò xét bằng đôi mắt cú vọ của hắn … Mấy lần hắn toan báo động nhưng thấy bóng đen vẫn im lìm, hắn e ngại mắt mình quáng gà, nhìn không đúng mà báo động sai giữa lúc Chúa đang vui đùa thì nguy mạng…Hắn ẩn nhẫn chờ đợi cho đến lúc Lê Thế Hùng dở ngọn dao lên chớp sáng, hắn mới tin chắc là mình trông không lầm…
Tiếng hét vang lên giữa đêm trường lặng lẽ làm náo động cả Phủ Chúa !

Cung tần, mỹ nữ quá kính hãi kêu thét ầm ĩ... Quân lính được tin báo động ồ ạt kéo ra, nhìn lên nóc lầu rồi vây quanh chặt chẽ... Trong phòng của Chúa Trịnh, mạnh ai nấy chạy náo loạn cả lên...
Riêng Nguyễn thúy Loan vẫn bình tĩnh. Nàng lặng lẽ thoát ra ngoài chạy vụt về phòng riêng của mình, khóa chặt cửa lại... Trong giờ phút này, nàng không muốn ở gần bên Chúa Trịnh vì biết đâu đang hăng say chém giết, kẻ thích khách làm gì phân biệt được giả chơn, đôi khi có thể hại đến sinh mạng của nàng cũng nên...
Vì không muốn chết một cách vô lối, Thúy Loan thoát ra khỏi chỗ hỗn loạn đó là phải...
Trước tình thế này, Lê thế Hùng đã thấy rõ nguy cơ xảy đến cho mình, lưỡi dao ám sát Chúa Trịnh đã không trúng đích lại còn làm lộ hành tung bí mật của chàng.
Quân sĩ mỗi lúc càng kéo đến đông đảo, bao chặt quanh Phủ Chúa.
Thế Hùng vội rút kiếm ra để phòng thân.
Dưới kia quân Trịnh đã bắt đầu bắn tên lên tới tấp. Thế Hùng múa kiếm vùn vụt che chở khắp thân mình rồi lăn tròn trên mái ngói về phía bên kia lầu. Vừa ngồi nhổm dậy, chàng thất kinh hồn vía vì quân Trịnh như đàn kiến cỏ đang dùng thang dây ồ ạt leo lên. Chúng la hhét vang trời:
- Thích khách. Nó đây rồi...
Lúng túng ở giữa, Thế Hùng không còn biết thoát chạy đường nào được nữa. Thế là hết! Thù cha không trả được lại còn gây lụy vào thân. Chàng bỗng nhớ đến Bùi văn Khuê, đến những lời khuyên ngăn của bạn mà đến giờ phút này, Thế Hùng mới thấy là xác đáng.
Chàng không sợ chết nhưng chỉ buồn vì mối thù không trả được mà thôi !
Quân Trịnh đã ồ ạt bò lên đến nóc lầu. Chúng đổ xô về phía Thế Hùng như nước vỡ bờ.
Thế Hùng nghĩ rằng trước sau gì mình cũng chết nhưng chàng quyết chiến đấu đến kỳ cùng dù có bỏ xác cũng cam tâm. Ít nhứt chàng cũng làm cho chúa Trịnh  phải một phen kinh hồn táng đởm.
Chàng thối lui ra phía sau đợi cho bọn quân sĩ chạy ùa tới liền phóng mình ngang qua đầu chúng và sa vào giữa đám đông ra sức tả xung hữu đột. Quân Trịnh bất thình lính bị chém giết, hoảng sợ chạy tán loạn.
Chỉ trong nháy mắt, dưới lưỡi kiếm của chàng, thây quân Trịnh ngổn ngang trên mái ngói. Chúng kinh hồn hoảng vía, mất cả hăng hái rồi lui dần, lui dần, để rốt cuộc tập trung lại một nơi thủ thế.
Lê thế Hùng chỉ chờ có vậy thôi.
Chàng dùng hết sức mình phi thân nhảy vọt lên có hằng mấy chục thước, biến mình vào những tàn cây rậm rạp rủ xuống mái lầu. Quân Trịnh ùa đến đấy là không còn thấy tâm dạng chàng đâu nữa, chúng lùng kiếm khắp mọi nơi nhưng dễ gì tìm kiếm, một khi mà Thế Hùng đã thoát khỏi vòng vây.
Trịnh Tùng tức giận la hét ầm ỹ. Ông ta giận là phải, vì ngay tại Phủ chúa mà tướng sĩ, quân binh tinh nhuệ không vây bắt nổi tên thích khách, ngang nhiên và xông xáo chém giết như chỗ không người.
Trịnh Tùng truyền lệnh canh phòng nghiêm nhặt khắp phủ, không chừa một chỗ trống nào có thể để cho thích khách thoát ra được... Bên trong quân sĩ phải lùng kiếm suốt đêm, từ lùm cây, bụi cỏ phải tìm cho ra kẻ thù nguy hiểm ấy.
Lệnh chúa truyền ra, cả tướng sĩ đều kinh hồn khiếp vía. Chúng đốt thêm đuốc Sáng rực cả một góc trời, phân ra từng toán, lùng khắp các ngã: chúng không chừa một ngọn cây hay đám cỏ nào mà không tìm kiếm...
Nhưng chỉ hoài công, kẻ thích khách đã biến đi đàng nào không biết.

* * *
Đêm đã khuya lắm rồi, không khí ồn ào bớt dần đi. Quân binh tướng sĩ đã tận lực trong việc lùng kiếm quân gian nhưng không ngờ hắn không có cánh mà bay. Dù sợ oai Chúa Trịnh, sợ bị tội ngày mai chúng cũng đành thúc thủ, phó mặc cho sự rũi may...
 Tuy tức giận đến cực độ nhưng Chúa Trịnh cũng rất ngạc nhiên, không hiểu kẻ thích khách đã thoát khỏi bằng cách nào mà tài tình như vậy. Ông ta đâm ra nghi ngờ kẻ gian chính là một người trong Phủ. Hắn chỉ cần thay đổi y phục thì có ai biết được hắn... Nghĩ đến đấy Chúa Trịnh tức giận vô cùng ! À, thì ra trong Phủ Chúa cũng có nuôi phường phản phúc... Người hạ lịnh cho bọn dọ thám bí mật theo dõi vụ này, tìm cho ra tên thích khách đêm nay.
Đêm khuya dần, sự yên lặng đã hoàn toàn trở về trong phủ Chúa.
Nguyễn Thúy Loan vẫn còn thức, nhưng nàng không ra khỏi phòng. Sự ồn ào dưới kia không làm cho nàng nhắm mắt được.
Chính nàng cũng lo nghĩ nhiều về kẻ thích khách. Hắn là hạng người nào mà tài tình, gan dạ đến như vậy: một mình dám lẻn vào Phủ Chúa hành thích Bình An Vương? Hắn có phép tàng hình cũng chưa chắc thoát khỏi lưới của quân sĩ.
Nhưng trái lại, hắn ngang nhiên thoát chạy, đi trước mắt mọi người mới thật đáng sợ. Thúy Loan nghe con nữ tỳ vào phòng thuật lại việc người lạ mặt đã thoát vòng vây mà không khỏi kinh ngạc và phục thầm.
Thúy Loan không biết rõ kẻ thích khách ấy là ai, song không hiểu tại sao nàng lại mong mỏi cho hắn thoát được vòng tai nạn: nếu để quân sĩ Trịnh-Tùng bắt được thì còn trông gì thấy được ánh sáng mặt trời.
Thúy Loan ngồi nhỏm dậy, trong phòng quá oi bức, nàng muốn bước ra hành lang lầu để hít lấy không khí mát rợi của đêm khuya, cửa vừa mở từ dưới kia vườn, hương hoa đêm thoang thoảng dâng lên dìu dịu... Thúy Loan thẩn thờ nhìn xuống đất, mơ tưởng đến một chuyện gì xa xôi lắm. Nàng có ngờ đâu, sau lưng nàng, một bóng đen lặng lẽ bước vào phòng và biến mình trong bóng tối...
Bóng đeo ấy là Lê thế Hùng, kẻ đã to gan một mình dám xông vào Phủ chúa.
Bị quân Trịnh ruồng bắt ráo riết, Thế Hùng nhắm ở mãi trên những tàn cây rậm rạp không xong, nên vội chuyền mình đi lần về phía sau, tới những dãy nhà chìm trong bóng tối chợt thấy một hành lang, chàng buông mình xuống đó và ngồi thu hình im lặng một hồi lâu. Có tiếng lục đục ở trong phòng, chàng khẽ liếc nhìn và thấy rõ Thúy Loan còn thức.
Lê thế Hùng nửa vui mừng, nửa sợ hãi vì chàng không hiểu được Thúy Loan ngày nay như thế nào? Nàng còn là người thiếu phụ đã gặp ngày xưa chăng?
Ngày xưa xa lắm rồi! Biết đâu thời gian đã thay đổi lòng người?
Lúc gặp được hai chàng ở Tây Đô dạo nọ, Thúy Loan là một thiếu phụ mới tiến cung, cuộc đời trong trắng chưa lấm bụi phù hoa... Từ đấy nhưng nay không chừng gấm vóc lụa là đã thay đổi hẳn lòng người?
Nhưng, trong giờ phút nầy, Thế Hùng không có quyền đắn đo nữa. Dù sao, chàng cũng phải nhờ tới Thúy Loan để thoát khỏi phủ Chúa Trịnh.
Muốn thế, trước tiên chàng phải dò xhét xem con người Thúy Loan ngày nay như thế nào? Rồi mới tìm cách ứng phó!
Thế Hùng còn đang suy nghĩ, bỗng giật mình đứng nép sát vào tường vì Thúy Loan đi thẳng ra phía hành lang. Nàng vừa mở cửa bước ra ngoài là Lê Thế Hùng đã nhanh nhẹn lách vào trong phòng.
Chàng nhìn trước, nhìn sau tìm một chỗ kín để ẩn mình. Vào được chốn này, chàng chắc chắn tướng sĩ của Trịnh Tùng không làm sao lùng kiếm được! Trừ phi Thúy Loan hay biết mà phi báo thôi. Thế Hùng vẫn hy vọng là Thúy Loan sẽ cứu chàng thoát khỏi hang hùm...
Gió ngoài kia bỗng nổi lên vùn vụt, trời như sắp chuyển cơn dông.
Cánh cửa phòng đập mạnh đánh rầm một cái, Lê Thế Hùng vội vàng biến mình sau bức màn phủ xuống cạnh giường ngủ của Thúy Loan. Ngoài hành lang, Thúy Loan cũng thấy lạnh nên trở vào phòng khép kín cửa lại.
Nàng vừa bước lên giường nằm xuống là bên ngoài trời đổ mưa rào.
Tiếng trống dưới cổng Phủ dập dồn đổ sang canh năm, Thúy Lọan hơi thấy mỏi mệt trong người.. Nàng mới thiu thỉu ngủ bỗng giật mình choàng tỉnh dậy, hình như có người lù lù đứng trước mặt nàng...
Nàng mở to mắt nhìn, kinh hoảng, toan la lên thì bóng đen đã tiến đến gần nàng.
Thúy Loan cố định tâm trở lại để đối phó trước cơn nguy biến.
Nàng thoáng hiểu rằng kẻ lạ mặt chính là người vừa vào đây toan hành thích Trịnh Tùng. Nếu vậy giữa nàng và hắn nào có sự thù oán gì mà nàng phải lo ngại.
Thúy Loan dõng dạc hỏi:
- Nhà ngươi muốn gì?
Kẻ lạ mặt, trùm khăn kín mít, khẽ cười gằn :
- Hừ ! Bấy lâu nay, nương nương đã học được cái giọng ‘‘trên nước’‘ ấy rồi ư ? Nương nương không còn là Thúy Loan ngày xưa nửa sao?
 Thúy Loan lạnh toát cả người. Ai mà biết rõ tên nàng thấu đáo quãng đời dĩ vãng của nàng ?
Nàng vội hỏi:
- Người là ai ! Làm thế nào biết rõ tên ta?
Thấy người lạ mặt khẽ thở dài, không đáp, Thúy Loan hơi ngờ vực trong lòng. Nàng hồi hộp trả lời câu hỏi vừa rồi:
- Không! Không! Thúy Loan chẳng bao giờ thay đổi. Người là ai, nói mau cho thiếp biết. Có phải người là Bùi tráng sĩ chăng?
Người lạ mặt thui thủi lui hai bước và biết nàng lầm lẫn nói ngay :
- Không ! Thúy Loan đừng tưởng lầm, Bùi văn Khuê ngày nay là một vị Đại tướng tại triều nhà Mạc. Người ở mãi tận Thăng Long...
Thúy Loan đã đoán được người đối diện của mình là ai :
- Nếu vậy, tráng sĩ là Lê Thế Hùng, bạn thân của họ Bùi. Nhưng mà...
Thúy Loan không dám nói hết lời, nàng liếc nhìn Lê thế Hùng như dò hỏi rồi tiếp :
- Nhưng mà vì lẽ gì tráng sĩ lại đây?
Lê thế Hùng lúc ấy mới lột tấm vải đen trên mặt xuống nghiêng mình thi lễ và khẽ nói:
- Câu chuyện còn dài, không thể nói ra được... Bây giờ việc cần kíp là mong nương nương giúp tôi thoát khỏi chốn nầy...
Thúy Loan cúi đầu đáp :
- Việc ấy tráng sĩ khỏi phải lo ngại. Nhưng thiếp muốn biết rõ tại sao tráng sĩ một mình lại lẽn vào hành thích Chúa Trịnh ? Tráng sĩ nói mau đi, chúng ta không còn thì giờ gặp nhau được nữa!
Lê thế Hùng kinh ngạc nhìn nàng:
- Nương nương không thể trốn ra ngoài Phủ Chúa một giây phút nào ư?
Tôi hẹn một nơi ở ngoài thành và cho người đón.
Thúy Loan vội nói :
- Thiếp đang bắt đầu một nhiệm vụ rất cam go do Chúa Trịnh giao phó... Mai này thiếp sẽ ra Thăng Long!
- Ra Thăng Long ?
Lê thế Hùng kinh ngạc vô cùng. Chàng hỏi lại:
- Nương nương ra Thăng Long để làm gì? Và bằng cách nào?
Thúy Loan thuật rõ đầu đuôi ý định của Trịnh Tùng dùng nàng nơi đất Mạc để thi hành phận sự gián điệp thay cho đoàn quân dọ thám bị rã tan...
Nàng kết luận:
- Thiếp nhận nhiệm vụ này là muốn tìm đường thoát khỏi chốn giam cầm nghìn năm này.
Lê thế Hùng trầm ngâm suy nghĩ. Chàng không ngờ việc liều lĩnh của chàng vào đây lại giúp chàng biết được một chuyện vô cùng hệ trọng.
Chàng nhìn Thúy Loan dò xét:
- Nương nương đến Thăng Long rồi có định tìm anh em chúng tòi chăng ?
Thúy Loan bẽn lẽn nhìn xuống đất:
- Tại sao tráng sĩ lại hỏi như thế? Tráng sĩ vẫn còn ngờ vực lòng thiếp ư?
Lê thế Hùng hấp tấp nói:
- Không! Không! Xin nương nương chớ hiểu lầm! Nếu không tin nương nương làm sao tôi có can đảm đứng đây để trò chuyện ! Nhưng tôi hỏi thế là muốn hiểu rõ lòng nương nương.
Chàng bước đi trong phòng tỏ vẻ suy nghĩ:
- Tuy nhiên nương nương đến Thăng Long trong giờ phút này thật hết sức nguy hiểm. Qua những cuộc khám phá tổ chức dọ thám của Chúa Trịnh, sự canh phòng ở Thăng Long đã trở nên cẩn mật vô cùng... Không chắc gì Đại ca tôi lại khỏi ngờ vực nương nương ?
Thúy Loan khẽ đáp:
- Thiếp cũng lo sợ như vậy, nhưng còn biết cách nào hơn để thoát khỏi nơi tù hãm này. Thiếp định liều một chuyến xem sao? Không lẽ ngày nay, Bùi tráng sĩ không còn nhận ra thiếp nữa ư?
Lê thế Hùng lắc đầu nói:
- Có bao giờ Đại ca tôi lại quên được nương nương. Nhưng người chỉ là một viên tướng của Chúa Mạc, mọi việc gì cũng phải thi hành theo lịnh nhà vua. Nếu Mạc Mậu Hiệp nghi ngờ nương nương là một điều hết sức nguy hiểm...
Bỗng Thế Hùng nín bặt. Chàng nghe như có tiếng động trước cửa phòng. Thúy Loan kinh hồn, tung chăn nhảy xuống đất.
Nàng nói hấp tấp trong hơi thở dập dồn:
- Chết rồi... Trịnh Tùng...
Lê thế Hùng cũng lo sợ không kém! Chàng hỏi nhỏ Thúy Loan:
- Bây giờ làm thế nào? Trong phòng nương nương có chỗ nào ẩn nấp được không?
Thúy Loan nhìn trước nhìn sau, rồi lắc đầu:
- Thật là nguy: Phòng nầy trống trải quá, biết trốn vào đâu ?...
Có tiếng người bước đến bên cửa, Thúy Loan thổi tắt phụt hàng bạch lạp.
Cửa phòng vụt mở, có tiếng hỏi của Trịnh Tùng :
- Ái khanh ! Ái khanh đã nghĩ rồi ư ? Sao đèn tắt hết vậy...
Trong phòng yên lặng như tờ. Trịnh Tùng quay ra ngoài gọi :
- Thị nữ ! Mang đèn đến cho ta.
Bọn thị nữ dạ vang rền, mang đèn từ phòng bên chạy sang
Trịnh Tùng cầm lấy đi thẳng đến bên giường ngủ của Thúy Loan... Nàng nằm thiêm thiếp trên giường như ngủ say sưa. Chăn gối xô lệch, áo quần xốc xếch, tóc phủ lên khuôn mặt trái soan mịn màng. Bình an Vương đặt ngọn bạch lạp xuống bàn toan ngồi xuống bên mình Thúy Loan và đánh thức nàng dậy hàn huyên trong một đêm cuối cùng... Nhưng không hiểu nghĩ sao ông lại thôi; có lẽ ông lo sợ vẻ thùy mị quyến rũ của Thúy Loan làm cho ông không đủ can đảm xa hẳn nàng mà có hại cho việc lớn.
Trinh Tùng lẩm bẩm một mình:
- Trước sau gì ta cũng phải xa nàng, tội gì ta làm khổ ta thêm ! Đã nhất quyết hy sinh nàng cho việc tái chiếm Thăng Long, ta không nên tiếc nữa!
Chúa Trịnh quay nhìn Thúy Loan lần cuối cùng rồi lui ra cửa: Ông nhìn khắp gian phòng như luyến tiếc một cái gì, không bao giờ còn thấy được... Gian phòng nầy phải bỏ đi vì mai kia vắng bóng hình của Thúy Loan, nó chỉ gợi cho ông một sự thương nhớ bâng quơ... Tất cả mọi thứ ở đây phải thay đổi hết, đừng giữ lại một vật gì đã chứng kiến tình yêu của ông đối với Thúy Loan... Chúa Trịnh bước ra khỏi phòng, cõi lòng tan nát. Bóng người vừa khuất, cửa phòng vừa khép là Thúy Loan đã nhảy xuống giường … Trống ngực nàng vẫn đánh thình thịch.

Thật vô cùng may mắn. Nàng không hiểu Lê thế Hùng đã trốn ở đâu mà tài tình quá như vậy. Lúc Chúa Trịnh đến trước cửa phòng, nàng vội thổi tắt đèn đi rồi nhảy lên giường giả vờ ngủ... Nàng thổi đèn là muốn cho Thế Hùng lợi dụng bóng tối trốn thoát đi, nhưng nàng chỉ hành động đột ngột
cắp bách như vậy thôi, chứ có biết rằng Thế Hùng phải trốn vào nơi nào.
Khi Chúa Trịnh bước vào phòng, nàng hồi hộp vô cùng và tin chắc thế nào Lê thế Hùng cũng bị bại lộ... Nào ngờ Chúa Trịnh lại ra khỏi phòng, không hay biết gì hết.
Nàng mừng lắm vội đốt đèn lên để báo tin lành cho họ Lê nhưng nào thấy bóng dáng chàng đâu! Thúy Loan lo sợ vô cùng. Nàng sục sạo dưới gường, dưới ghế, sau bức màn hay kẹt tủ đều tuyệt nhiên không thấy... Nàng tin rằng chàng chưa thoát khỏi nơi đây !...
Nàng khẽ nhìn ra phía hành lang và một ý nghĩ chợt đến :
- Không chừng Lê thế Hùng đang trốn ngoài ấy.
Nàng bước ra ngoài cúi đầu nhìn xụống và bắt gặp Thế Hùng đang đánh đeo dưới hành lang lầu.
Thúy-Loan vui mừng không xiết kể, liền ra dấu cho chàng leo lên. Có lẽ trong lúc cấp bách không tìm phương chạy được; Thế Hùng đã nghĩ ra cách ấy. Không ngờ vì núp sâu dưới đó, không nghe được tiếng động ở trên, nên Trịnh Tùng đi lúc nào, Thế Hùng chẳng hay biết cứ đánh đeo chịu trận
Thúy Loan không ra có lẽ chàng phải đeo ở đấy suốt đêm, chờ hôm sau quân sĩ đến mang đi...
Lê thế Hùng vừa leo lên khỏi lan can lầu, Thúy Loan chạy đến mừng rỡ... Nàng nói mau
- Bây giờ, tráng sĩ phải trốn đi ngay, đừng chần chờ: nguy hiểm lắm... Trời cũng sắp rạng đông rồi.
Lê thế Hùng vội hỏi :
-Tội sẽ đi liền, nhưng xin nương nương cho biết bao giờ nương nương sẽ ra Thăng Long?
- Sáng mai, khi mặt trời lên...
Thế Hùng lẩm bẩm :
- Nương nương đi bình an! Nếu gặp Đại ca tôi xin nương nương đừng nhắc đến chuyện này.
Thúy Loan đáp:
- Thiếp xin vâng ! Nhưng, đến bao giờ tráng sĩ sẽ trở lại Thăng Long?
Lê thế Hùng trầm ngâm suy nghĩ, nét mặt dàu dàu. Chàng nói:
- Tôi chưa định đến bao giờ ! Có lẽ là sau khi trả xong mối cựu thù... Khi Thế Hùng nhắc đến mối cựu thù, Thúy Loan thấy cặp mắt chàng vụt sáng long lanh. Nàng thoáng thấy hiện ra hình ảnh Chúa Trịnh, một đêm nào ngã gục xuống mái lầu mà khẽ rùng mình.
Duới kia, Lê Thế Hùng khẽ dặn dò lần nữa:
 -  Nương nương rán bảo trọng thân thể, và đừng cho Đại ca tôi rõ chuyện nầy. Thôi kính chào nương nương.
Thúy Loan chưa kịp đáp lễ thì chàng đã dún mình, nhảy vọt lên biến vào tàn cây rậm rạp trước lầu.
Sau một đêm ruồng bắt, tướng sĩ trong phủ đã mỏi mệt lắm rồi. Lại thêm, trời sắp sáng nên họ cũng cẩu thả trong việc canh phòng.
Lên đến ngọn cây, Thế Hùng ngồi thu mình một lúc nghe ngóng động tịnh. Dưới chân chàng, nhiều tốp lính nằm ngang, dọc ngủ say sưa trên thềm đá, hay dưới đường sỏi... Chỉ có một vài tên ngồi canh gác, nhưng chúng cũng ngủ gà ngủ gật, trông thật buồn cười.
Thế Hùng cảm thấy mình cần phải cẩn thận nhiều hơn, lỡ sơ sảy một chút mà bầy kiến kia chỗi dậy có thề nguy hiểm lắm... Vừa nghĩ thế chàng xoay mình, toan chuyển đi nơi khác, bất ngờ lại đạp nhầm một nhánh cây khô, nghe đánh ‘‘rắc’’ một tiếng. Nhánh cây rơi xuống đất Thế Hùng kinh hoảng thu người lại, chờ đợi sự nguy hiểm xảy đến cho mình...
Nhưng, may mắn làm sao, nhánh cây không rơi vào mình một tên lính nào nằm dưới đất mà lại rớt xuống mặt cỏ...
Thế Hùng mừng rỡ vô cùng không dám chần chờ thêm một phút nào nữa, chàng chuyền mình đi trên các nhánh cây rậm rạp... Bọn lính dưới kia canh phòng cẩn mật, nhưng chúng có ngờ đâu ‘‘kẻ gian’’ đang ung dung đi trên đầu chúng để ra khỏi dinh...
Thế Hùng đến gần mặt thành đầy dẫy những miếng chai lổm chổm. Chàng cẩn thận vượt qua rồi tuột theo hàng dây leo xuống đất.
Chàng vừa đến mặt đất không ngờ bị tên lính gác phía ngoài nhìn thấy bóng, và tri hô lên inh ỏi. Lê thế Hùng biết rõ cơ nguy, vội phóng mình lội cấp tốc qua khỏi hào sâu...
Bọn lính trong phủ, đã choàng tỉnh đậy và cũng chụp lấy khi giới chạy ùa ra cổng dinh. Tiếng la hét vang dội cả một góc trời:
- Bắt thích khách ! Nó đang chạy kia, kìa !
Đuốc lại bật cháy sáng rực lên, tiếng người la hét, tiếng chân rần rộ, đánh thức Chúa Trịnh Bình an Vương vội vã xuống lầu, đốc xuất tướng sĩ đuổi theo.
Bên ngoài, Thế Hùng vừa lội qua bờ bên kia thì có tiếng quân Trịnh nhảy ùm xuống nước. Chàng chạy vụt đi một đổi cho khỏi vùng cấm địa... Đến chỗ giấu ngựa, Lê thế Hùng huýt sáo lên... Con tuấn mã từ sau bụi rậm chạy ra. Chàng thoát lên phi nước đại. Bọn lính Chúa Trịnh đã lội qua bờ hào và chúng chỉ còn kịp thấy cái lưng của Thế Hùng đang cúi rạp mình trên mình ngựa, sải về phía chợ Tây Đô.
Đứng trên lầu cao, Thúy Loan nhìn rõ cảnh tượng. Nàng rất thầm phục tài trí của Thế Hùng và vui mừng đã thoát khỏi móng vuốt của Trịnh Tùng.

*
Cả kinh thành chấn động vì tin kẻ lạ mặt, nửa đêm lẻn vào Phủ chúa, toan thích khách Bình an Vương và thóat thân trước mắt ba quân như chỗ không người.
Luôn mấy ngày liên tiếp, thành Tây Đô được canh phòng nghiêm nhặt. Từng đoàn quân sĩ án ngữ các ngã tra xét khách qua đường hay vào lục lạo những hàng quán đông người.
Thành phố về đém bớt phần rộn rịp vì ai cũng sợ tay bay họa gởi, giữa một thời nhiễu nhương khó phân biệt ngay gian.
Tuy nhiên các dạ điếm, tửu lầu vẫn mở cửa đón khách tứ phương đến viếng Tây Đô. Mấy đêm nay kinh thành không được náo nhiệt bằng lúc bình thường, nhưng khách cũng ra vào không ngớt.
Chính những nơi này, bọn thám tử của Trịnh Tùng càng hoạt động ráo riết hơn. Chúng chia nhau đi lảng vảng bí mật dò xét từng người. Hễ có một người lạ mặt nào bước lên lầu một tửu điếm, là chúng tức tốc làm hiệu cho người theo sát một bên.
Nhưng chúng chỉ hoài công, vì kẻ thích khách như chim trời cá nước, biết đâu mà tìm...
Đêm này qua đêm khác, sự tra xét nghiêm nhặt, không đưa đến một kết quả nào. Thái phó Nguyễn hữu Liên bèn thay đổi chiến lược. Ông nghĩ rằng, càng tra xét ráo riết thích khách càng sợ hãi, rút mãi vào nơi ẩn trú thì làm thế nào tìm ra được.
Bây giờ, ông cho dẹp hết những toán lính tuần thành, canh gác thờ ơ như lúc bình thời, để kẻ thích khách tưởng lầm là Chúa Trịnh không còn chú ý đến nữa, sẽ thò đầu ra ngay. Trong lúc đó, ban dọ thám phải hoạt động tích cực hơn lên trong khắp cả Tây Đô.
Mưu mô của Nguyễn hữu Liên thật tài tình. Hắn đánh nhằm yếu điểm của Lê thế Hùng...
Sau khi thoát ra khỏi Phủ chúa, Lê-thế Hùng tới ẩn nấp trong nhà người lão bộc cũ, không hề dám bước ra ngoài. Quân Trịnh càng tra xét gắt gao khách đi đường, chàng càng trốn kỹ hơn...
Nhưng, bốn năm ngày sau, cuộc tra xét rời rạc dần rồi dứt hẳn. Thế Hùng hơi ngạc nhiên.
Chàng thầm nghĩ là quân sĩ của Trịnh Tùng chỉ là phường báo cơm làm cho lấy có mà thôi chứ nào có thực tâm trong việc tìm bắt chàng...
Thế Hùng nóng ruột vô cùng. Chàng muốn thoát ra khỏi chỗ ẩn để dò xét tình hình, xem quân Trịnh bàn tán thế nào về hành động của chàng và dò xem Thúy Loan đã đi Thăng Long chưa?
Mấy lần Thế Hùng toan đi đều bị người lão bộc cản ngăn:
- Công tử không nên vội vàng ! Phải nán ở nhà ít hôm cho thật yên đã. Bây giờ công tử chường mặt ra thế nào cũng bị chúng bắt. Bọn dọ thám của Trịnh Tùng nhan nhản ngoài phố, sơ hở một chút là làm mồi cho chúng.
Thế Hùng nấn ná được một hôm, đợi người lão bộc có việc đi khỏi, chàng liền thay đổi y trang ra phố.
Trời về chiều, đường phố rất rộn rịp, Thế Hùng len lỏi đi vào giữa chợ, tìm một tửu điếm sang trọng, ngồi nép mình trong góc, tai lắng nghe khách ăn trò chuyện xung quanh...
Tửu điếm này rất đông khách từ sớm tới chiều,ít khi vắng, nên cũng chẳng ai để ý tới chàng.
Tên hầu bàn vừa đến, chàng kêu vài món qua loa cho có lệ, để che mắt bọn thám tử Trịnh Tùng mà chàng dư biết là lẩn quẩn ở đây rất nhiều.
Bỗng Thế Hùng lạnh toát cả người. Chàng chú ý nhìn một khách lạ ngồi trước mặt mà lòng hồi hộp vô cùng... Khách là một thanh niên mảnh khảnh, mình vận toàn màu xanh, đầu cũng chít khăn xanh... Khách ngồi trước mặt chàng, nhìn ngang ra cửa nên không trông thấy chàng.
Thế Hùng càng hồi hộp hơn, chàng toan đứng dậy đến gần bên khách lạ để hỏi vài lời, nhưng chợt nhớ trường hợp của mình lúc nầy nhìn người quen là bất lợi...
Chàng quay sang định gọi tên hầu bàn, bất đồ nhìn thấy cặp mắt cú vọ của một tên vận y phục đen ngồi cạnh thang lầu ! Hắn nhìn chàng và dò xét từng cử động. Thế Hùng biết chắc hắn là một thám tử của Trịnh Tùng nên càng thận trọng hơn.
Chàng không nhìn hắn và chỉ trông thẳng về phía trước... Tuy vậy, luôn luôn chàng để ý đến thái độ của tên dọ thám.
Từ dưới lầu, bỗng bước lên ba tên khác vạm vỡ, cũng mặc toàn màu đen. Tên dọ thám chỗ cầu thang, vội chạy đến thì thầm vào tai tên đi trước, rồi cả bốn đứa cùng nhìn lườm lườm về phía Lê thế Hùng...
Thế Hùng nghĩ thầm là chúng muốn gây sự chi đây. Chàng rút một chân lên thủ thế, tay mặt đưa vào trong áo, thăm chừng lưỡi kiếm sắc bén mà chàng đã cẩn thận giấu vào mình trước khi đi...
Bốn tên dọ thám bước lần đến chiếc bàn của Thế Hùng, giữa sự lo sợ của mọi người trong dạ điếm... Nhiều người rời chỗ ngồi bỏ đi nơi khác vì không muốn chứng kiến những cuộc xô xát tương tự như vậy... Chủ dạ điếm lo lắng lộ ra nét mặt, theo sát sau lưng bốn thám tử nhưng không dám hé răng.
Ông ta thầm hy vọng Lê thế Hùng là người lương thiện làm ăn, để tránh một vụ xung đột rất bất lợi cho công cuộc thương mãi của mình.
Thế Hùng vẫn điềm tĩnh trước sự hăm dọa vì kể ra bốn gả kia không có gì là đáng sợ đối với chàng... Chàng chú ý thấy rõ người mặc áo xanh phía trước vẫn ngồi điềm nhiên ở đấy, không tỏ ra vẻ gì lo ngại...
Vừa lúc ấy bốn tên dọ thám cũng đến trước bàn. Tên đầu bọn hất hàm nhìn Thế Hùng hỏi:
- Anh kia ! Đứng dậy cho ta hỏi vài lời...
Thế Hùng khẽ ngước nhìn lên:
- Các anh muốn gì?
Tên đầu bọn nhìn mấy tên kia rồi quát lớn:
- Ta bảo mầy đứng lên nghe chưa ? Có lẽ mầy không biết mấy ông hả?
Thế Hùng làm bộ ngạc nhiên:
- Ủa lạ ! Tại sao các anh hung hăng vô lễ như vậy! Mấy anh là ai thì mặc mấy anh chứ!
Tên đầu bọn không còn chịu đựng được nữa, đưa tay chụp vào ót Thế Hùng toan kéo lên và nói:
-  À ! Thằng này ngang tàng thiệt!
Nhưng hắn rất kinh ngạc vì Thế Hùng vẫn ngồi yên lặng như một tảng đá, mặc cho hắn xoay qua, xoay lại cách nào cũng không dựng đứng chàng lên được.
Chàng khẽ quay lại, dùng tay phải đánh bật tay hắn ra một cái đau thấu mây xanh. Tên đầu bọn la ‘‘oải’’ lên một tiếng rồi ôm chầm lấy cánh tay ngồi phịch xuồng đất.
Chỉ một loáng thôi, tay hắn sưng vù lên trông thấy phát sợ. Hắn đau nhức vô cùng nhưng cố bậm môi chịu đựng...
Hắn la thét các bạn:
- Xông vào vật ngã nó đi cho tao, bọn bây còn chờ gì nữa...
Thấy bạn bị một miếng đòn đau, ba tên kia cũng giật mình, nhưng không lẽ thối lui còn chỉ là mặt mũi. Chúng liền ùa vào đấm đá Thế Hùng...
Đã đề phòng sẵn, đợi một tên lao mình tới, Thế Hùng liền phóng cho một đá té nhào xuống cầu thang. Hai tên còn lại vừa xáp vào một lượt bị chàng chụp lấy hai đầu cho cụng vào nhau năm, sáu lần dữ dội và nằm quay ra chết giấc…
Quan khách ở trong dạ điếm đều kinh hồn hoảng vía, kéo ùn ùn xuống lầu. Chủ dạ điếm hồn phi phách táng, chạy ra chạy vào:
- Trời đất ơi! Tráng sĩ ! Tráng sĩ hại tôi rồi !Chút nữa chúng kéo tới đây, phá tan nát hết thi còn chi là sản nghiệp của tôi...
Tên đầu bọn thừa lúc lộn xộn đã bò xuống thang lầu trốn mất. Trong dạ điếm trống trơn chỉ còn gã chủ nhơn, Lê thế Hùng và người khách áo xanh.
Thế Hùng cũng thấy hối hận. Chàng đánh bọn khốn nạn ấy được rồi, nhưng làm sao bảo vệ được dạ điếm khỏi bị tàn phá? Chàng cảm thấy mình quà nông nồi, nếu có Bùi-văn-Khuê chắc chẳn không xảy ra những chuyện như thế này.
Bỗng có tiếng cười trong trẻo cất lên, tiếp theo một câu hỏi chế diễu:
- Tráng sĩ giỏi thật, đánh ngã một lúc bốn người, nhưng liệu có thoát khỏi bị Chúa Trịnh treo cổ hay không đã:
Lê thế Hùng nhìn người áo xanh và mỉm cười đáp:
- Chuyện đó không cần thiết lắm! Chỉ buồn một điều là người quen lại làm mặt lạ trong giờ phút nguy hiểm này...
Chàng thư sinh áo xanh vội đứng lên nhìn thẳng vào mặt Thế Hùng, không giấu được sự cảm động:
- Không ngờ tráng sĩ còn nhớ đến tôi!
Thế Hùng lại gần kẻ đối thoại, hạ thấp giọng
-       Mới đây mà đã quên nhau làm sao được! Ngọc Lan nghĩ rằng tôi là hạng người thế nào?
Không cần nói, bạn đọc hẳn cũng đoán biết rằng người khách áo xanh ấy chính là Ngọc Lan tiểu thơ bằng xương, bằng thịt dưới lốt cải trang. Nàng thiếu nữ can đảm ấy, đã rời bỏ Thăng Long một sớm, để lại cho Thế Hùng một nỗi buồn thương vô hạn nay bỗng dưng lại xuất hiện trong một dạ điếm ở Tây Đô...
Thế Hùng phân vân lắm. Giữa lúc ấy Ngọc Lan khẽ bảo chàng:
- Chúng ta nên gác chuyện cũ sang một bên rồi sẽ nói sau. Bây giờ phải tìm cách rời khỏi nơi nầy. Ở đây bọn dọ thám Trịnh Tùng sẽ kéo đến hành hung để trả thù. Chúng ta đương đầu không có lợi càng gây thêm nhiều tai hại cho dạ điếm bất ngờ bị họa lây...
Thế Hùng khen phải và hai người toan bước xuống thì đã nghe tiếng ồn ào trước cửa dạ điếm. Tiếng cửa tiệm lân cận đóng rầm rầm, tiếng người rần rộ chạy trên đường phố.
Ngọc Lan vội đến bên cửa sổ nhìn xuống. Nàng lo lắng vô cùng, vì phía dưới bọn dọ thám Trịnh Tùng kéo đến đông nghẹt, vây chặt trước cửa dạ điếm ngăn cản không cho khách ra vào...
Nàng quay sang bảo Thế Hùng:
- Chết rồi! Chúng cố tình bắt phó tướng nên đã chận mất lối ra. Bây giờ thì không tránh được cuộc xô xát...
Thế Hùng thò tay vào áo trong rút lưỡi kiếm ra nói :
- Tiểu thư ngại gì một bọn ranh con! Cứ để đó mặc tôi.
Ngọc Lan lắc đầu:
- Phó tướng đừng vội khinh thường bọn chúng. Đây không phải là lũ ‘‘hung thần’’ rừng Độc Vạn đâu nhé ! Mà đây là cả một đạo quân tinh nhuệ, tiên phong cảm tử của Trịnh Tùng : thời bình thì làm dọ thám khi ra chiến trận lại đi đầu...
Tay nào cũng võ nghệ khá... Năm mười tên hay vài ba chục tên, ta còn đàn áp được! Chúng nó hằng trăm, hàng vạn, Phó tướng liệu cự địch lại chăng?
Thế Hùng lặng lẽ nhìn Ngọc Lan. Sự điềm tĩnh trước cơn nguy biến càng làm tăng vẻ đẹp oai dũng của bậc nữ nhi, từng dấn thân vào vòng tên lửa.
Thế Hùng càng cảm phục sự sáng suốt của nàng hơn.
Chàng hỏi:
- Bây giờ, theo ý tiểu thư, ta nên hành động cách nào?
Ngọc Lan không đáp vội nắm lấy tay Thế Hùng chỉ lên mái ngói. Giữa lúc ấy bọn dọ thám Trịnh Tùng khởi sự rần rộ kéo lên thang gác.
Nhanh như cắt, hai người nhảy vọt lên lan can lầu rồi uốn mình đu lên mái ngói. Thấy kẻ địch trốn chạy, bọn ưu binh ùn ùn tràn lên lầu, đi đến đâu đập phá đến đó. Trong phút chốc, dạ điếm tan hoang, không còn một chiếc ghế nào nguyên vẹn.
Thấy Thế Hùng và Ngọc Lan đặt chân lên mái ngói, bọn ưu binh la hét vang rền. Chúng tức tốc đem thang đến và từng tốp ồ ạt leo lên...
Thế Hùng đợi cho chúng lên gần tới, chàng cứ thuận tay đưa từng chiếc thang xuống đất, lôi luôn cả bọn té lăn nhào đập đầu chảy máu.
Nhưng đúng như lời Ngọc Lan đã nói. Quân Trịnh kéo đến mỗi lúc càng đông: hết tốp này sang tốp khác.
Mải bận chận đứng cuộc tấn công của ưu binh phía sau mái ngói bên này, Ngọc Lan và Thế Hùng  không ngờ phía bên kia chúng cũng đang tuần tự trèo lên và trong phút chốc, vây chặt phía sau lưng họ.
Trước nguy cơ ghê gớm Ngọc Lan cũng rút kiếm ra và cùng Thế Hùng quyết một trận sống còn với chúng... Họ sát lưng vào nhau mà chiến đấu, mỗi người xây mặt sang một bên vừa chống đỡ cho mình, vừa bảo vệ cho bạn.
Biết rõ cơn nguy đã đến với hai người, Thế Hùng khẽ bảo Ngọc Lan:
- Tiểu thư liệu đường trốn khỏi nơi đây, cứ để mặc tôi chống cự với bọn chúng! Tiểu thư đừng chần chờ nữa.
Ngọc Lan đáp, giọng chân thành:
- Phó tướng đừng nói thế! Trong giờ phút này có chết thì cũng chết cả hai. Tôi thề là không bao giờ xa tráng sĩ !...
Lê thế Hùng cảm động vô cùng. Lần thứ nhất trong đời chàng hiểu rõ lòng dạ Ngọc Lan đối với chàng. Thì ra nàng cũng không đến nỗi vô tình như bấy lâu chàng tưởng.
Thế Hùng cảm thấy phấn khởi hơn lên. Chàng cảm thấy yêu đời và thích sống hơn...
Lưỡi kiếm trên tay chàng bay vù vù, áp đảo đoàn ưu binh khiến chúng không tài nào lấn hơn được một bước.
Bên kia, Ngọc Lan cũng trổ hết tài mình, đưa ra những đường kiếm tuyệt kỹ làm cho quân Trịnh ngẫn ngơ, đứng tần ngần chịu chết.
Một lúc sau, vì kinh hoang quá, chúng lui dần, không còn hăng hái như trước nữa... Gặp dịp ấy, Thế Hùng vội thét bảo Ngọc Lan:  
-        Tiểu thư thoát mau đi !
Ngọc Lan cũng cất tiếng
- Tráng sĩ đi trước, tôi cản hậu cho.
Thế Hùng tức bực nói thêm:
- Con người gì mà ngang ngạnh quá!
Nhưng đồng thời chàng lại cảm thấy thương mến nàng nhiều hơn. Chàng tiến dần dần đến sát bên Ngọc Lan nói nhỏ:
- Bây giờ chúng ta phân ra làm hai mà chạy, chúng sẽ khó đuổi theo. Đêm mai. tiểu thư nhớ đúng vào lúc canh hai chờ tôi ở bến đò Mân Kiện ở phía Bắc Tây Đô, tôi sẽ đến đó.
Ngọc Lan nhìn chàng với đôi mắt tha thiết rồi đáp:
- Xin y hẹn. Bây giờ thì chia tay.
Nàng nói xong, như cây pháo thăng thiên nhảy vọt lên cao qua khỏi một nhóm địch quân, rồi chạy vùn vụt trên nóc nhà.
Bọn ưu binh sửng sốt, ùn ùn đuổi theo, nhưng trong phút chốc không còn thấy tăm dạng nàng đâu nữa...
Giữa lúc ấy, Thế Hùng cũng nghĩ đến chuyện thoát thân. Thấy bọn chúng đổ dồn về phía Ngọc Lan, chàng liền phóng một đường kiếm nhanh như chớp, phá vòng vây, rồi như chiếc én liệng, phi thân hạ xuống một mái nhà thấp hơn.
Thấy vậy nhiều tên ưu binh vội đuổi theo bén gót. Thế Hùng cả giận chém ngược lại một lát kiếm khiến chúng kinh hoàng thối lui hoặc nhảy đi nơi khác... Trống chơn, Thế Hùng chuyền đi nhanh như chớp, phút chốc đã thoát khỏi vòng vây. Chàng tìm cách đáp xuống đất rồi ung dung nhập bọn vào khách qua đường trong đêm khuya mà cắm đầu thẳng một mạch về nhà lão bộc. Chàng kêu cửa người lão bộc chạy ra thấy chàng hết lời trách cứ... Thế Hùng chỉ cười không đáp.
Người lão bộc hỏi :
- Công tử đi bình an chứ? Tại sao coi có vẻ mệt nhọc, phờ phạc quá như vậy?
Thế Hùng nằm dài xuống ghế đáp:
- Cháu vừa làm chấn động Tây Đô... Quân ưu binh đang rần rộ truy nã giữa kinh thành.
Người lão bộc lắc đầu :
- Không ngờ công tử ham gây sư như thế này, thực ra có lợi gì đâu ? Công tử càng làm cho chúng cẩn thận hơn vì chúng biết là công tử còn lảng vảng tại đây.
Thế Hùng ngồi lên nắm lấy tay người lão bộc:
- Bác ơi ! Bác đừng nói nữa. Cháu nằm mải ở nhà tù túng quá làm sao chịu được ; cháu tuy làm ồn ào bất lợi nhưng cũng có cái may gặp được Ngọc Lan tiểu thư...
Chàng đứng lên đi lại trong phòng, vẻ khoan khoái, hài lòng.
Người lão bộc già khẽ hỏi :
- Ngọc Lan nào? Có phải tiểu thư con gái quan Đề đốc Hộ thành Nguyễn Quyện mà công tử thường kể cho tôi nghe đó chăng?
Thế Hùng đáp:
- Chính nàng đó! Cháu không ngờ nàng ở đây, và cháu còn rõ được lòng nàng đối với cháu. Bác ơi ! Nàng cũng không đến nỗi vô tình với cháu giữa lúc nguy biến, nàng quyết liều chết ở liền bên cháu, chứ nhứt định không bỏ đi dù cháu đã thúc giục mấy lần.
Người lão bộc già cũng thấy vui lây câu chuyện của Thế Hùng. Ông cảm thấy yêu thương chàng gấp bội.
Và ông bùi ngùi nhớ đến người chủ cũ Quận công Lê cập Đệ, người mà ông được gần gũi từ lúc thiếu thời, chẳng may bị Trịnh Tùng hãm hại chết đi, làm cho cả một gia đinh ly tán.
ông thương Lê Thế Hùng nhiều lắm vì chính ông đã giữ chàng từ lúc còn thơ dại. Ông thường xem Thế Hùng như chính con ruột của ông.
Lê Thế Hùng cũng thương mến ông với một thứ tình chơn thật, phát ra tự đáy lòng.
Chàng biết rõ ông có thể dám chết vì chàng, cũng như chàng dám liều chết vì ông. Tình yêu kính của Thế Hùng đối với người lão bộc già có pha lẫn cả tình gia bộc.
Chàng nói vài lời để trấn an lòng người lão bộc:
- Bác đừng lo ngại cho cháu cả. Cháu hứa với bác sẽ thận trọng nhiều hơn nữa...
Người lão bộc nhìn chàng, thân mến:
- Công tử rán bảo trọng lấy thân thể... Tướng công chẳng may thất lộc rồi, chỉ còn có mình Công tử mà thôi... Đừng xông pha lắm có mệnh hệ nào thì khổ cho lão vô cùng...
Thế Hùng bước đến nắm chặt lấy tay lão cảm động:
- Bác an lòng, cháu xin ghi nhớ lời bác dặn.

*
Bên đò về khuya lặng lờ như mặt nước trên sông, Bốn bề vắng ngắt, chỉ nghe tiếng chèo khuấy nước của lão lái đò.
Lưa thưa vài người rời bến sang sông. Ông lái lại đưa tay chèo, tới lui với cử động hằng ngày không thay đổi... Trên khuôn mặt lạnh lùng của ông nổi bật sự buồn nản của một kiếp sống điều hòa gần như máy móc.
Đầu canh hai vừa điểm, một bóng đen lẩn quất ở bờ sông, gần bến đò Mân Kiện...
Người lái đò đã cập bến đợi khách về khuya, ông chú ý nhìn bóng đen rồi cất tiếng hỏi:
- Ông khách ơi! Có sang đò không, kẻo khuya rồi.
Khách lạ có vẻ lúng túng, nhìn trước nhìn sau rồi cất tiếng giọng trong trẻo đều đều:
- Bác lái ơi ! Tôi còn đợi một người bạn cùng sang đấy bác ạ ! Có còn kịp không hở bác?
Người lái đò vội đáp:
- Không sao ! Tôi còn đưa khách đến canh tư mới nghĩ lo gì.
Bến sông lại chìm trong yên lặng:
Bóng đen đi tới đi lui, chép miệng lo lắng ;
- Sao đến bây giờ vẫn chưa đến ? Hay là... Thế Hùng... đã bị bắt rồi?
Bóng đen ấy là Ngọc Lan. Nàng y hẹn với Thế Hùng đợi chàng đầu canh hai ở bến đò nầy. Nàng rất lo ngại không hiểu vì sao mãi đến bây giờ Thế Hùng vẫn chưa đến... Một mình thân gái đứng đây quá lâu, nàng cũng thấy bất tiện vô cùng, mặc dù nàng đã cẩn thận cải trang làm tu mi nam tử.
Canh hai đã qua lâu lắm rồi mà Thế Hùng vẫn biệt vô âm tín... Bỗng từ phía Tây Đô, một đoàn kỵ mã rộn rịp tiến về phía bến sông. Ngọc Lan giật mình vội tìm chỗ núp. Đoàn người ngựa chạy qua bến đò rồi rẻ sang con đường khác nhanh như một trận cuồng phong.
Ngọc Lan rời khỏi nơi ẩn tránh. Hành động của nàng không lọt qua cặp mắt của lão lái đò. Lão nghi ngờ bóng đen trước mặt là một kẻ gian phi đang bị tầm nã nên mới có những hành động lén lút lạ lùng như vậy.
Lão lo sợ vô cùng, không biết kẻ gian phi toan tính gì đây mà cứ lẩn quât tại chốn nầy.
Lão nghĩ rằng thừa lúc đêm khuya, biết đâu sẽ dở trò tàn bạo, thì lão kêu cứu làm sao cho kịp. Suy đi nghĩ lại một lát, lão nhất quyết đi báo với linh canh gần đây.
Ngọc Lan nào ngờ nàng đang lâm vào tình thế nguy hiểm vô cùng. Lão lái đò đã chèo đi báo với quân lính mà nàng cứ tưởng hắn sang sông... Nàng vẫn cố chờ đợi. Canh hai đã gần tàn mà Thế Hùng cũng không thấỵ đến...
Bỗng có tiếng động phía sau lưng nàng, một bóng người vụt nhảy tới... Ngọc Lan kinh hoảng thối lui hai bước thủ thế.
Bóng đen lên tiếng :
- Thế Hùng đây? Có phải tiểu thơ đó chăng?
Ngọc Lan vui mừng không xiết kể, nàng biết chắc là Thế Hùng vẫn bình an, nhưng nàng cũng cất tiếng trách móc :
- Dữ không ! Tráng sĩ hẹn với thiếp từ canh hai mà mãi đến bây giờ...
Không đế nàng dứt lời, Thế Hùng vội vàng xin lỗi và nói rõ lý do vì sao chàng đến trễ. Chẳng qua vì người lão bộc cứ tìm cách hết sức cản ngăn chàng. Sau cùng chàng đã phải giải thích nhiều điều hơn thiệt mới thoát đi được.
Nghe xong. Ngọc Lan càng trách hơn :
- Tráng sĩ chắc không nghĩ rằng thiếp còn lo sợ gấp đôi phần... Thân gái, giữa đêm, ngồi nơi vắng vẻ đến suốt canh thâu! Giọng nàng buồn như muốn khóc, càng khiến Thế Hùng bối rối.
Chàng bước gần đến bên Ngọc Lan nói nhỏ:
- Tiểu thư đừng giận. Chẳng qua là sự bất đắc dĩ mà thôi. Chứ tôi hiểu lầm, hiểu những giờ phút mong đợi, lo âu. Tôi đã từng sống cảnh ấy rồi tiểu thư ạ.
Ngọc Lan biết Thế Hùng muốn ám chỉ việc nàng đột ngột rời bỏ Thăng Long, giữa khi chàng bắt đầu xây dựng mối tình đầu...
Nàng cảm động lắm và thấy như mình mềm yếu hẳn đi trước mối tình chân thật của con người mà nàng vốn sẵn cò cảm tình từ buổi hội ngộ ban đầu.
Nàng cúi đầu nhìn xuống đất và nói nhỏ một câu gần như bâng quơ :
- Đã biết vậy sao còn đến trễ...
Thế Hùng nhìn nàng, lòng tràn ngập yêu đương. Chàng biết rằng đã đến lúc cần thổ lộ tất cả nỗi lòng thầm kín, ôm ấp bấy lâu…
Chàng khẽ gọi:
- Ngọc Lan ! Ngọc Lan !
Thiếu nữ im lặng, trong lòng hồi hộp vô cùng. Nàng biết chắc là Thế Hùng sắp nói ra những lời gì rồi mà nàng cũng hiểu rõ lòng mình không còn dửng dưng được nữa...
Nhưng bỗng nhiện nàng lo sợ bâng quơ. Một cuộc đời mới bắt đầu không biết rồi đây sẽ ra sao? Thế Hùng có giữ được lòng yêu tha thiết mãi chăng? Hay nửa chừng tan vỡ để khổ lụy cho chàng?
Sự yên lặng quá lâu của Ngọc Lan làm cho Thế Hùng hơi e ngại. Chàng thấy mình cần phải dè dặt, hơn nữa trước thái độ khó hiểu của người yêu.
Chàng lại lên tiếng, và lần nầy không dám lộ vẽ thân mật:
- Ngọc Lan ! Cô không nghe tôi hỏi ư?
Ngọc Lan chợt ngẩng đầu lên, đôi mắt long lanh nhìn chàng với nét cương nghị lạ thường. Thế Hùng tiếp lời, xoay sang câu chuyện khác:
- Tiểu thư vào đây tự bao giờ ? Và định làm gì?  
Hơi bất ngờ câu hỏi, nhưng Ngọc Lan cũng nhỏ nhẹ đáp:
- Thiếp vào hơn tháng nay và chỉ mới tìm hiểu để biết qua tình hình quân Trịnh.
Thế Hùng hỏi gằn lại:
- Để làm gì thế Ngọc Lan?
- Để làm gì ư? Để tìm cách phá tan mưu chước quân Trịnh, để phục thù lòng nham hiểm của chúng đã làm cho cha thiếp phải bỏ mình, để chuộc tội với chúa Mạc, để không hổ mặt khi nhìn lên dân chúng Thăng Long.
Thế Hùng nhìn nàng bằng đôi mắt cảm phục, trong lúc Ngọc Lan chăm chú nhìn chàng hỏi lại:
-  Thế tráng sĩ, chàng vào đây để làm gì?
Cặp mắt nàng sắc quá! Nàng nhìn Thế Hùng như xoi bói tận tâm can.
Chàng mỉm cười để làm dịu đôi mắt biếc :
- Tôi ư? Tôi vào đây cùng mục đích với tiểu thư, nhưng cam go nhiều hơn!
Ngọc Lan hỏi dồn:
- Nghĩa là thế nào?
Thế Hùng đáp:
- Nghĩa là tôi không thể chờ đợi ngày quân Mạc tấn công Trịnh Tùng được nữa. Tôi quyết vào đây để thích khách Trịnh Tùng để trả hận cho cha tôi.
Ngọc Lan nhìn xuống đất như suy nghĩ điều gì rồi hỏi:
-  Bùi tráng sĩ có hay biết việc này chăng?
Thế Hùng lắc đầu :
- Đại ca tôi chắc chắn là không bằng lòng, nhưng làm thế nào? Tôi không còn chịu đựng được nửa ? Tôi không thể sống bình lặng để đợi chờ... đợi chờ... ngày này sang tháng khác...
Ngọc Lan thầm đoán câu nói của Thế Hùng. Hình như nó có một ẩn ý gì! Tại sao chàng đột ngột rời Thăng Long trong lúc ba quân tướng sĩ đang tích cực luyện tập chờ ngày phát pháo khai thành? Mà chàng lại ra đi khi nàng vừa mới tách khỏi kinh đô nhà Mạc?...
 ‘‘Đợi chờ... Đợi chờ...’’ Câu nói như vừa xót xa vừa trách móc làm cho Ngọc Lan nghĩ ngợi nhiều lắm ! Một ý nghĩ bỗng hiện đến với nàng:
- ‘‘ Có phải chăng Thế Hùng đã ra đi vì sự trống trải của cõi lòng? Chàng định đi tìm kiếm mình chăng ?’’
Tư tưởng ấy làm cho Ngọc Lan bạo dạn hơn. Nếu thật thế, nàng có thể tin tưởng ở tình yêu tha thiết của Thế Hùng.
Nàng khẽ nói:
-  Tráng sĩ quá liều lĩnh và không chắc thành công. Nếu chàng ở lại Thăng Long có lẽ ích lợi nhiều hơn... Vào đâv rồi, tráng sĩ cũng không thực hành được ý định...
Thế Hùng khẽ rùn vai :
- Tôi biết mình liều, nhưng làm thế nào khác hơn đươc... Tôi chán nản lắm rồi.
Ngọc Lan tỏ vẻ ngạc nhiên :
-  Tráng sĩ chán nản? Tại sao thế ?
Biết mình lỡ lời Thế Hùng im lặng, nhìn ra dòng sông tối đen như mực, thở dài... Chàng cảm thấy khó khăn lắm khi phải giấu quanh, giấu quẩn mối tình đối với Ngọc Lan. Thà nói thẳng ra ngay, dù nó có đau khổ cũng chỉ một lần.
Chàng quay nhìn thẳng vào mặt Ngọc Lan rồi trầm tỉnh :
-   Ngọc Lan! Tiểu thư hãy nghe tôi nói, Tôi không còn muốn giấu giếm điều gì nữa đối với tiểu thư... Nó chỉ làm cho tôi bớt hăng hái trong việc đối đầu với quân Trịnh. Tôi thú thật với Tiểu thư là tôi... rất cảm mến Tiểu thư từ lúc gặp gỡ ban đầu... và đã bao lần toan thổ lộ ra rồi lại thôi I
Chàng nín lặng một phút, chăm chú nhìn người thiếu nữ rồi tiếp:
-  Đến lúc Ngọc Lan đi rồi, tôi mới thấy rõ lòng mình đã nặng yêu đương. Tôi không làm sao dối lòng được nữa. Tôi đã tìm hết cách để quên, liều mình trong những cuộc chiến đấu cam go với bọn ‘‘hung thần’’ rừng Độc Vạn, bọn trinh thám của Trịnh Tùng, nhưng khổ thay ! Hình ảnh Ngọc Lan cứ lẩn quẩn mãi bên tôi...
Ngọc Lan ngẩng lên nhìn Thế Hùng cảm động:
- Tráng sĩ ! Thiếp nào có xứng đáng gì mà tráng sĩ phải bận lòng như vậy. Thật không ngờ thiếp có diễm phức ấy.
Thế Hùng tha thiết hơn:
- Ngọc Lan! Nàng đã hiểu rõ lòng tôi yêu nàng và mong gá nghĩa cùng nàng. Ngọc Lan có chấp nhận tình yêu của tôi chăng ? Nàng cứ thành thật trả lời dứt khoát hôm nay.
Dù không được nàng yêu; tôi chỉ khổ một lần, chứ cứ kéo dài mãi thế này...
Không chờ chàng nói hết, Ngọc Lan đã e lệ đáp:
- Tráng sĩ ! Có bao giờ thiếp quên tráng sĩ đâu?
Rồi nàng bẽn lẽn cúi đầu.
Thế Hùng cầm lấy tay nàng toan nói những lời tha thiết mà chàng dự định trong lòng tự bấy lâu.
Bất ngờ một tiếng cười ghê rợn nổi lên trên bờ sông vắng.
Thế Hùng giựt mình xây lại thấy lố nhố trên bờ nhiều bóng người mình trần trùng trục, gươm đao sáng ngời, đang ào ào lướt tới vây chặt lấy hai người...
Tiếng cười lúc nãy lại vang lên:
- Ha ! Ha ! Không ngờ lại gặp bọn bây tại chốn này.
Biết là gặp biến, Thế Hùng và Ngọc Lan vội rút kiếm ra đề phòng. Bọn người lạ mặt cứ lù lù tiến tới.

Thế Hùng bỗng cất tiếng hét lên:
- Bọn người kia ! Ta với chúng bây không thù oán, cớ gì lại gây sự với ta...
Tiếng cười lúc nẫy lại cất lên, mỗi lúc gần hơn, làm cho Thế Hùng chú ý đến bộ mặt hiểm ác của tên đi đầu hôm qua, đã hành hung với chàng trong dạ điếm. Thế Hùng chợt rõ đây là bọn dọ thám của quân Trịnh vẫn theo dõi hành động của chàng. Nhưng một điều rất lạ là không hiểu ai đã cấp báo cho chúng biết.
Ngọc Lan chợt nhớ ra tên lái đò lúc nãy ở bên sông đã chèo thuyền đi mà không thấy trở lại. Nàng độ chừng hắn có liên lạc với bọn dọ thám cũng nên.
Nàng khẽ hỏi Thế Hùng :
- Bây giờ, chúng ta nên hành động cách nào?
Chàng dũng sĩ đáp:
- Đến nước này chỉ còn tìm cách thoát thân, chứ hành động cách nào nữa em!
Chàng ghé sát vào tai Ngọc Lan nói rõ nơi chàng đang ở, và bảo nàng cùng chia ra, thoát chạy hai đường rồi sẽ gặp lại sau. Ngọc Lan gật đầu đồng ý.
Giữa lúc ấy, bọn dọ thám đã xông vào đánh chém tới tấp... Hai người vừa đỡ vừa nhìn nhau, ra dấu chỉ lay.
Thế Hùng còn nghe văng vẳng tiếng Ngọc Lan:
- Chàng cố bảo trọng thân thể, đừng lo cho thiếp.
Chàng chưa kịp trả lời nàng thì quân Trịnh đã ồ ạt vây chặt lấy hai người. Phút chốc Ngọc Lan mất hút trong đám đông hỗn loạn.
Thế Hùng căm giận quân dọ thám cực độ; lưỡi kiếm trên tay chàng quay tít không ngừng. Thây ngã ngổn ngang khắp chốn, nhưng bọn dọ thám như say máu cứ tràn vào hết tốp này đến tốp khác.
Thế Hùng bị vây chặt, nổ lực tả xông hữu đột, mồ hồi ướt đầm cả áo, vẫn không thoát ra được... Sức chàng cứ yếu dần đi mà địch quân vẫn không hề nao nủng. Chúng cứ tiếp tục xông vào.
Giữa lúc nguy cấp, Thế Hùng vẫn nhớ đến Ngọc Lan. Chàng không hiểu nàng đã thoát khỏi vòng vây chưa hay cũng đang lâm vào tình trạng nguy ngập như chàng? Thế Hùng hết sức lo lắng cho Ngọc Lan.
Nhưng bây giờ thì không có cách nào biết được tin tức của nàng nữa ! Hiện tình thế của chàng đang nguy ngập... Sớm muộn gì cũng bị bắt hay bị giết mà thôi... Lưỡi kiếm trên tay Thế Hùng bắt đầu rời rạc dần. Bỗng một tiếng hét vang lên át tiếng võ khí chạm nhau rang rảng :
- Tên khốn nạn kia, hãy khoanh tay chịu trói, đừng chống cự nữa mà uổng mạng.
Lời kêu gọi ấy giúp Thế Hùug hiểu rõ ý định của bọn dọ thám: chúng định bắt sống chàng chứ không định giết chết chàng... Chắc chắn đây là nghiêm lệnh của Thái phó Nguyễn hữu Liên. Hắn định bắt sống kẻ có gan làm chấn động Tây Đô, toan ám sát Trịnh Tùng một cách bí mật, để điều tra cho thật kỹ, xem bè đảng của nó còn những ai nữa? Nguyễn hữu Liên tin tưởng rằng kẻ ấy, một thân một mình không bao giờ dám hành động gan dạ đến như thế!...
Thế Hùng đã đuối sức lắm rồi! Trong tình cảnh này chàng buộc phải chọn hai cách: một là chịu chết hai là bị bắt sống...
Trước đây vài giờ, Thế Hùng có thể dám liều chết cho rạng mặt kẻ làm trai. Nhưng bây giờ chàng đã thấy yêu đời hơn, chàng thấy mình cần phải sống, dù trong cực hình khổ nhục; miễn còn hy vọng có ngày thoát ra được với ánh sáng mặt trời để tìm thấy Ngọc Lan, người mà chàng đã đặt hết tất cả tình yêụ thương tha thiết.
Quyết định xong, Thế Hùng vung kiếm bao phủ khắp thân mình rồi hét lớn lên:
- Bọn bây lui ra xa... Ta bằng lòng chịu trói!
Chàng lo ngại bọn ‘‘dọ thám’’ đứng gần, thấy chàng buông khí giới, hành hung bất kể thượng lệnh thì nguy hiểm vô cùng. Đấy cũng là kế thăm dò nghiêm lệnh của thượng cấp chúng có thật chăng?
Nếu có lệnh bắt sống chàng tức nhiên tên đầu bọn dọ thám sẽ truyền cho bọn chúng lui ra xa. Bằng ngược lại nếu chúng vẫn tiếp tục đàn áp, thì chàng sẽ liều thế khác.
Tiếng hét vang dội của Thế Hùng cũng làm cho tên chỉ huy địch nghĩ ngợi. Đúng như nghiêm lệnh của Thái phó Nguyễn hữu Liên thì phải bắt sống bất kỳ kẻ nào bị nghi là quân gian tế, để tiện việc tra xét... Nhưng tên nầy là kẻ võ nghệ tinh thông, sơ sẩy, hắn có thể thoát chạy như chơi...
Suy đi nghĩ lại một lúc, hắn hạ lệnh cho bọn thuộc hạ lui ra xa vì tin tưởng rằng đối thủ đuối sức khó mà tráo trở được...
Bọn ưu binh vừa được lịnh, lui dần ra, nhưng vòng vây vẫn hết sức chặt chẽ. Tên chỉ huy quát lớn:
- Hãy quăng bỏ khí giới rồi đưa tay chịu trói! Bằng không chúng ta không chấp thuận.
Thế Hùng nhìn khắp chung quanh chân tay rời rã không còn sức chiến đấu được nữa.Chàng chỉ còn một nguồn hy vọng cuối cùng là Ngọc Lan thoát khỏi vòng vây và đang băng mình trong đêm tối. Chàng buông kiếm xuống, gục đầu chờ đợi, giữa lúc ngoài kia bọn ưu binh ùa vào trói chặt lấy chàng lôi đi.
Tiếng la hét ồn ào lần lần im bặt. Dòng sông trở lại cảnh im lặng bình thường. Trên một cành cây rậm rạp cách đây không xa, một bóng người nhẹ nhàng buông mình xuống đất, dõi mắt trông theo bọn ưu binh vừa bắt mất Thế Hùng !
Bóng đen ấy là Ngọc Lan. Nàng thoát được vòng vây trong lúc náo loạn nhưng không nỡ rời bỏ Thế Hùng. Đã bao lần muốn xông vào để tiếp sức với chàng nhưng liệu cũng không làm gì được, nàng đành nán đợi để tùy cơ ứng biến. Đến lúc nàng biết rõ chúng chỉ muốn bắt sống Thế Hùng thì nàng hơi yên dạ và hy vọng tìm được cách giải thoát cho người yêu... chứ bây giờ có xông vào đánh với chúng cũng chỉ nạp mạng chớ chẳng lợi ích gì !...
Bọn chúng đem Thế Hùng đi rồi. Ngọc Lan thấy lòng đau xót vô cùng. Tình yêu vừa thố lộ, hai người lại phải rẽ phân... Chàng bị quân Trịnh bắt rồi có liệu chịu nổi cực hình để chờ nàng giải thoát được không? Nhưng mà giải thoát bằng cách nào?
Ngọc Lan thấy mình bối rối vô cùng và chính trong những phút lo lắng nầy nàng mới cảm thấy tình yêu của nàng đối với Thế Hùng sâu đậm hơn nhiều… Phải liều chết giải thoát được chàng, nàng thề vời lòng mình như vậy...
Nhưng ý muốn là một chuyện khác. Nàng biết hành động thế nào đây khi ở giữa Tây Đô nầy nàng chỉ là kẻ tứ cố vô thân.
Bỗng dưng Ngọc Lan nhớ đến người lão bộc thân tín của Thế Hùng. Nàng quyết đến nơi thật gấp để bàn định với lão, họa may có kế gì chăng?
Nàng nhìn trước nhìn sau một lượt, rồi biến thân vào trong bóng tối...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.10.2020 20:41:59 bởi Ct.Ly>
4 - Nguyễn hữu Liên dâng mật kế


 
Theo đề nghị của Thái phó Nguyễn hữu Liên chúa Trịnh bèn truyền cho một trinh sát viên phải tức tốc phi ngựa thẳng tới huyện Thùy Nguvên tìm gặp nhóm ưu binh có phận sự đi rước Hòang tử Duy Đàm để dặn dò phải thay đổi giờ khắc khởi hành và đi ngả đường khác mà về Tây đô.
Viên thám tử vừa cúi đầu tuân lịnh bước ra khỏi phòng thì Trịnh Tùng quay lại bảo Nguyễn Thái phó:
- Sự tiên liệu của chúng ta rất là quan trọng và cần kíp, song chúng ta cũng không nên bác bỏ các giả thuyết này là: hai tên phiến loạn kia đang bị truy nã ráo riết, có lẽ không dám nghĩ tới việc bắt cóc Hoàng tử mà lo tẩu thoát về hướng Nghệ An. Vậy đồng thời ta nên phái một đoàn quân tinh nhuệ ra chận đón chúng ngay trên con đường nối liền thủ đô và xứ Nghệ.
Nguyễn hữu Liên trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Bẩm Thiên tếu, lời Thiên tuế vừa phán rất là chí lý. Chính ty chức cũng đã nghĩ tới một vài giả thuyết tương tợ như thế. Nhưng theo ngụ ý của ty chức thì, thay vì chạy trốn trở về Nghệ An tức thì đi xuống phía Nam, Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê có lẽ sẽ chạy lên phía Bắc.
Chúa Trịnh cau mày, ngạc nhiên hỏi:
- Quan Thái phó bảo thế nào? Chúng sẽ tẩu thoát về hướng Bắc tức là về hướng Thăng Long à? Và để làm gì?
Vị đại thần lễ phép gật đầu và chậm rãi xác nhận:
- Vâng! Chính thế. hai tên phản tặc ấy đang định tới Thăng long đầu hàng họ Mạc, hầu mượn binh lực của Mạc mậu Hiệp để trả mối thù không đội chung trời. Đó là mối hậu họa không nhỏ cho chúng ta về sau vậy.
Sự phát giác nầy làm cho Trịnh Tùng khẽ giật mình và lo ngại. Ông không ngờ rằng hai chàng tráng sĩ lẻ loi cô độc kia lại có thể phá hoại kế hoạch của mình gieo cho mình biết bao nhiêu buồn phiền bực bội, mất ăn mất ngủ, và hơn nữa suýt làm oai quyền hống hách của một bực chúa tể như ông phải lung lay.
Bây giờ đây hai kẻ ấy lại có thể lọt sang bên hàng ngũ đối phương để tăng thêm vây cánh, nanh vuốt cho phe địch. Không nói đến hậu quả tai hại mà một sự hiệp tác như thế sẽ đem lại về sau. Chỉ nội lòng đố kỵ của ông đối với chúng, đối với Chúa Mạc cũng làm cho ông phải căm tức, phải ngấm ngầm đau đớn.
Với giọng quả quyết, ông đưa ra một giải pháp mà ông cho là gọn nhứt để đối phó:
-   Trong trường hợp hai tên phiến loạn ấy chạy về Thăng Long thì chúng ta cứ phái thêm một đội quân nữa tiến lên phương Bắc để phục kích chận đường...
Nhưng Nguyễn hữu Liên dường như không tán thành biện pháp trên đây. Viên Thái phó bày rõ quan điểm của mình :
- Bẩm thiên tuế, theo thiên kiến của ty chức thi cả một đạo binh chưa chắc đã làm gì nổi hai tên giặc ấy huống hồ chỉ một đoàn quân. Như vậy, đối với chúng ta không nên dùng võ lực mà chỉ dùng mưu trí. Ty chức xin Thiên tuế hạ lịnh cho vài trinh sát viên đắc lực, khả tinh thông võ nghệ, khẩn cấp ra bờ sông Cẩm chực sẵn, rồi theo đúng kế như vậy mà thi hành.
Dứt lời, vị đại thần bước gần đến chúa Trịnh, ghé tai thì thầm những gì không ai nghe rõ, chỉ thấy nhà độc tài luôn luôn gục gặt đầu tỏ vẻ đồng ý.
Liền đó, Nguyễn hữu Liên trở lại giọng nói bình thường như trước để cắt nghĩa thêm về đề nghị của mình:
- Bẩm Thiên tuế, ty chức tin rằng với kế mọn nầy, chúng ta sẽ có nhiều may mắn thành công. Vả chăng Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng chắc chắn sẽ vượt qua sông Cẩm, vì đó là con đường ngắn nhứt từ đây đưa thẳng tới Thăng Long.
Mưu mẹo của vị Thái phó những lời ông ta vừa thốt ra chỉ trong chốc lát đã xua đuổi được cái không khí khó thở vừa đè nặng lên trên phủ Chúa. Vẻ tức giận, cau có thình lình biến mất trên nét mặt của họ Trịnh, và nhường chỗ cho sự tin tưởng hài lòng.
Trịnh Tùng chọn hai viên tướng xuất sắc nhứt trong ban dọ thám của mình và hoàn toàn đặt dưới quyền sai khiến của Nguyễn hữu Liên để thực hành mật kế.
Bỗng nhiên giữa lúc ấy, có tin báo thái tử Trịnh Tráng đã kéo quân về và xin ra mắt.
Chúa Trịnh sốt sắng và mừng rỡ truyền cho vào. Câu hỏi đầu tiên của ông là về sức khỏe của con và về kết quả cuộc truy nã đang diễn ra ráo riết giữa Tây đô.
Trịnh Tráng. mặt mày phờ phạc, quần áo xác xơ, không phải là vì đã giao phong, xáp chiến với ai, mà chỉ vỉ bị lôi cuổn mấy phen vào giữa đảm ba quân ồ ạt và hỗn loạn.
Tuy vậy, vốn là một kẻ kiêu căng hợm hĩnh, Trịnh Tráng không ngần ngại thuật toàn những chuyện dối trá, bịa đặt để tự khoe mình là một đấng anh hùng, dám oanh liệt xông pha trong vòng gươm đao, tên đạn.
Tin là thật, Trịnh Tùng khoan khoái khen lấy khen để con không ngớt miệng:
- Hay lắm! Con ta quả là một trang hào kiệt đáng làm gương cho tướng sĩ noi theo, nhưng nầy con, rốt cuộc quân ta có thộp đầu được hai tên phản nghịch ấy không?
- Dạ không! Trịnh Tráng đáp - hai tên giặc ấy đã mất tích một cách kỳ lạ. Chính con dẫn binh lính đi truy nã khắp nơi lục soát khắp mọi nhà nhưng tuyệt nhiên không gặp.
Nhưng vừa rồi, trước lúc trở về đây con chỉ gặp tại một đường hẻm nọ, một cái xác nằm vắt ngang trên cành cây.
Hai tiếng xác chết khiến cho Chúa Trịnh, vị Thái phó và mọi người đều lóng tai chăm chú nghe, đoán chắc rằng có lẽ là thi hài của một trong hai thủ phạm.
Nóng nảy muốn biết,Trịnh Tùng hỏi dồn:
- Xác chết của ai thế con?
Liếc nhìn về phía Nguyễn hữu Liên, Trịnh Tráng trả lời:
- Đó là xác chết của công tử Nguyễn Bạch, người bạn can đảm và thân mến của con.
Vị Thái phó rụng rời trước tin sét đánh ấy. Mặt tái ngắt, ông té xỉu trong tay của các viên võ tướng đứng xung quanh...
 

 
Không còn cảnh gì mỉa mai trào lộng cho bằng cảnh hai chàng tráng sĩ tự do ung dung đi giữa Tây đô trong khi toàn thể binh sĩ của triều đình, điệp điệp trùng trùng đang ráo riết bủa vây khắp nơi để quyết truy nã họ cho kỳ được.
 
* * *
Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng không bị ai nhìn mặt, mặc dầu đã nhiều phen, hai chàng lẫn lộn chen lấn giữa đám quân thù. Ấy là nhờ hai bộ võ phục ưu binh đang khoác trên mình đã hoàn toàn biến hẳn cả hai thành ra những quân nhơn không còn phân biệt được trong một biển người mênh mông bát ngát.
Văn Khuê cười thầm, ghé tai bảo khẽ bạn:
- Giá anh em chúng ta cứ đi dạo thế nầy suốt đêm cho tới sáng chắc chắn cũng không hề bị ai phát giác.
Nhưng vị công tử dường như không tán thành sự đùa cợt không nhằm chỗ đó. Chàng nghiêm nghị bảo nhỏ họ Bùi:
- Thưa đại ca, tiểu đệ thiết tưởng bây giờ chẳng phải là lúc pha trò nữa. Chúng ta nên lo tìm cách sớm thoát khỏi Tây đô, và điều cần yếu trước nhứt là phải có hai con ngựa.
Chàng lực sĩ mỉm cười:
- Việc ấy không khó. Ta cứ lựa xem trong số ngựa của binh sĩ Trịnh Tùng, con nào vừa mắt hơn hết thì chiếm lấy, rồi ra roi phóng nước đại là xong.
Họ Lê can:
- Không nên như thế, phải cẩn thận đừng gây náo động khiến chúng lại chú ý tới mình.
Văn Khuê vẫn cười kéo tay bạn tiếp tục bước tới:
- Hiền đệ chớ ngại, cứ bắt chước làm theo ta, rồi mọi việc đâu đó sẽ yên ổn.
Họ đi ngang trước một tiệm buôn lớn đang bị bọn ưu binh vây kín và lục soát. Từ trong tiệm những tiếng quát tháo dọa nạt ầm ỹ vẳng ra ngoài, xen lẫn với tiếng la hét của gia nhân đang bị khảo.
Hai chàng tráng sĩ, lẽ cố nhiên không lưu tâm đến các cuộc lục soát và tra khảo như thế, lúc ấy đang diễn ra tại nhiều nơi khắp thủ đô. Họ chỉ để ý tới mấy con ngựa đang bị cột vào một thân cây trước tiệm, thỉnh thoảng lại thay phiên nhau hí lên một hơi dài. Đó là ngựa của các viên đội trưởng hay vệ úy của ưu binh đang chỉ huy cuộc khám xét bên trong.
Văn Khuê và Thế Hùng bước lại gần.Trong bóng tối họ thấy một tên lính đứng cạnh gốc cây có lẽ có phận sự canh giữ ngựa. Chàng lực sĩ thì thầm ra lịnh:
- Hiền đệ hãy sẵn sàng. Chúng ta khởi sự ra tay.
Dứt lời, chàng mạnh bạo tiến tới, thản nhiên tháo mở dây cương, rồi nhảy tót lên lưng một còn ngựa cao lớn nhứt. Vị công tử cũng bắt chước làm theo, cả hai giả vờ như không lưu ý đến tên lính đứng gác đang trố mắt ngạc nhiên nhìn họ.
Thoạt đầu, tên nầy toan dằng lại sợi dây cương và toan cất tiếng phản đối, nhưng chợt nhìn thấy bộ nhung phục võ tướng ưu binh của Văn Khuê hắn hơi giật mình. Tuy nhiên, hắn cũng ấp úng và lễ phép tìm cách ngăn cản:
- Xin lỗi tướng quân, có lẽ tướng quân đã trông lầm! Đây là ngựa của Trương vệ úy và con kia (vừa nói vừa chỉ vào con vật mà Thế Hùng đang cỡi) là của Hoàng đội trưởng.
Thay vì quắc mắt, nổi cơn thịnh nộ như một kẻ bề trên hống hách, cậy thế, ỷ quyền Bùi văn Khuê chỉ nghiêm nghị và lạnh lùng bảo:
- Không! Ta không lầm. Vì cần gấp để truy đuổi một kẻ lạ mặt đang chạy về hướng Bắc nên sẵn gặp đây, ta mượn tạm hai con ngựa nầy trong chốc lát rồi đem về trả ngay. Nhà ngươi nhớ thưa lại với Trương vệ úy như thế.
Thái độ nhã nhặn, giọng nói ôn tồn của chàng lực sĩ càng làm cho tên lính tin lời và kính nể chàng hơn. Vả chăng hắn nghĩ rằng, nếu ở vào địa vị hắn, viên vệ úy chủ tướng của hắn cũng không thể làm khác hơn và rốt cuộc cũng không tránh khỏi phải tuân lịnh một bực võ quan cao cấp.
Tuy thế, tên lính vẫn không giấu gếm nỗi bất bình đối với Lê thế Hùng vì họ Lê chỉ khoác một bộ nhung phục của một binh sĩ thường như hắn.
Hắn nghĩ rằng, với tư cách của một anh lính quèn, Thế Hùng không có quyền được tự tiện leo lên ngựa của một viên đội trưởng. Vì thế, hắn vội nhảy tới nắm lấy vạt áo của chàng thanh niên mà ghì lại.
Nóng lòng vì đã mất quá nhiều thì giờ, chàng công tử bất giác hầm hầm nổi giận. Chẳng nói chẳng rằng, chàng ngoái đầu lại, giơ tuy chộp lấy ngực tên lính xách hổng lên và đặt ngang bên lưng ngựa, trước mặt mình.
Cách giải quyết mau lẹ này khiến cho Bùi văn Khuê nhìn bạn bật cười. Đoạn hai chàng hiệp sĩ ra roi, thúc ngựa phi nước đại...
 
Bị bắt cóc thình lình, tên lính toan vùng vẫy tri hô cầu cứu, nhưng không kịp.Miệng nó vừa há ra thì một quả đấm của họ Lê liền gieo xuống làm gãy luôn hai hàm răng máu tuôn lai láng. Đau đớn quá, tên lính bất tỉnh nằm thiêm thiếp
Trong sương khuya gió lạnh, hai con ngựa vùn vụt phóng đi song song như hai mũi tên bay.
Như sực nhớ ra một điều quan trọng. Thế Hùng đột nhiên hỏi bạn :
- À, còn việc giải thoát cho đệ tam Thái tử Duy Đàm có lẽ đại ca quên rồi chăng?
Họ Bùi lắc đầu:
- Không ! Ta không quên, song ta đã xét kỹ rằng dầu có giải thoát cho hoàng tử Duy Đàm chăng nữa, ta cũng không thể phá hoại được kế hoạch của Chúa Trịnh. Vì trong khi vắng mặt chúng ta, Trịnh Tùng vẫn có thể tìm những nhân vật trong vòng hoàng thân quốc thích của nhà Lê mà đặt lên ngôi báu để làm bức bình phong che đậy cho những thủ đoạn tàn bạo, độc tài của hắn. Vậy, bây gìờ tốt hơn là ta nên dẹp qua việc ấy sang một bên để lo đạt tới mục đích mà chúng ta đã vạch: ra Bắc hà để phò giúp chúa Mạc, hầu sau này mượn binh lực của người để trả mối thù bất cộng đái thiên.
Thế Hùng trầm ngâm không đáp. Hai con ngựa vồ nuốt khoảng đường thiên lý dài thăm thẳm, chẳng bao lâu đã đưa hai tráng sĩ đến bờ sông Cẩm.
Dưới vòm trời, bàng bạc sao thưa, dòng sông Cẩm giăng ra mênh mông, đen ngòm, như chứa đầy bí mật.
Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng gò cương, dừng ngựa khi đến trước bờ sông. Trong sương khuya, cảnh vật hiện ra trước mặt họ như phủ một vẻ ma quái âm u, rùng rợn.
Công việc thứ nhứt của chàng công tử là xách tên lính ưu binh còn nằm bất tỉnh trong tay mình ném mạnh xuống sông.
Sau một tiếng ‘‘bõm’’ rõ rệt giữa cảnh vắng lặng, mặt nước tung toé và xao động trong giây lát rồi im hẳn. Đáy sông sâu, như một cái mồ, đã lặng lẽ đón lấy gã binh sĩ xấu số của Trịnh Tùng đang ngủ yên giấc ngàn thu.
Thấy cử chỉ dọ dẫm vừa rồi của mình, tuyệt nhiên không gây ra một phản động lực gì, họ Lê xây lại hỏi bạn:
 
- Chắc chắn là ở bờ sông này, không có lấy một bóng người vì nếu có, thì tiếng động vừa rồi của cái xác chết ném xuống nước, cũng đủ làm cho họ phải giựt mình và chú ý. Không có người, không thấy một chiếc thuyền nhỏ nào đậu gần đây, thì lát nữa chúng ta sẽ làm sao để sang sông nhỉ?
Chàng lực sĩ không đáp câu hỏi của bạn. Lầm lì, chàng nhảy thót xuống ngựa, rồi đi lần xuống chỗ thấp nhứt của bờ sông. Lê Thế Hùng cũng làm theo.
Cả hai trầm ngâm, hết nhìn phía tả lại day qua nhìn phía hữu, bốn mắt cố tìm kiếm bới móc nhưng vẫn không thấy gì qua bóng đêm mập mờ và qua đám sương mù dày đặc.
Để cố đánh tan nỗi thất vọng mà chàng đoán chừng đang nhóm lên trong óc bạn, Lê Thế Hùng bảo:
- Trước đây. tôi vẫn thường đi qua vùng nầy, và tôi nhớ, có thấy nhiều nhà chài lưới ở gần sát bên sông, vậy mà tại sao hôm nay lại vắng ngắt như thế nầy. Hay có lẽ các nhà ấy đã dời đi và tự tập ở đàng kia chăng? Chúng ta hãy bước lại đó xem thử. Nếu gặp họ chúng ta sẽ nhờ họ chèo thuyền đưa chúng ta qua bên kia bờ một chuyến.
Dứt lời chàng kéo tay họ Bùi dắt đi. Cả hai cùng dắt ngựa chậm rãi tiến theo ven bờ sông. Bên tai họ gió lạnh thổi vi vu, thỉnh thoảng lại rít lên trong các khóm cây xào xạc, như những lời rên rỉ, nức nở của oan hồn.
Sương mù vẫn mênh mông, dày đặc xung quanh họ. Vượt qua chừng hơn năm mươi thước rồi, mà họ vẫn chẳng thấy gì hơn, giữa lúc sự chán nản bắt đầu xâm chiếm tâm trí họ thì
Thình lình chàng lực sĩ reo lên:
- Kìa! Hiền đệ trông kìa ! Hình như có một con thuyền đang lướt đến!
Vừa nói, họ Bùi giơ tay chỉ về phía trước mặt. Thế Hùng nhìn theo. Chàng nhận thấy hình dáng lờ mờ của một chiếc thuyền tam bản lớn với hai bóng người ngồi, kẻ trước mũi kẻ sau lái, đang từ từ đến gần và ghé sát vào bờ.
Cả mừng, Văn Khuê vội chạy lại cất tiếng hỏi:
- Nầy hai bác, hai bác có thể chở giúp anh em chúng tôi sang sông ngay bây giờ được không?
Người ngồi đàng mũì - mà hai chàng lực sĩ không thể thấy rõ vì trời tối và vì sương mù càng dầy, bắt đầu đứng lên trước, vừa phụ lực với người kia để sắp lại tấm lưới, vừa đáp bằng một giọng uể oải
- Hai ông lầm rồi, chúng tôi không phải lái đò, chúng tôi là dân chài lưới mà!
Lời từ chối của gã này không làm cho họ Bùi thối chí, chàng năn nỉ:
- Đành vậy, nhưng hai bác cũng có thể gắng giúp đỡ cho kẻ lỡ đường như anh em chúng tôi, mà chở giùm một bận qua sông chớ ! Đối với công khó ấy, chúng tôi sẽ xin hậu tạ.
Gã kia vẫn lắc đầu:
- Chịu thôi! Chúng tôi đi đánh cá từ xa về đây đã mệt nhọc lắm rồi, cần phải nghỉ ngơi chốc lát để sáng sớm tinh sương phân phát cá cho người nhà đem ra chợ bán. Xin hai ông kiếm thuyền khác vậy.
Vốn tánh nóng nảy, chàng lực sĩ đắt đầu bực mình, nhưng cố đè nén cơn giận.
Chàng nghĩ thầm rằng dùng võ lực lúc này không lợi mà có một cách là hết sức khẩn khoản hắn và hứa hẹn thưởng công cho hắn một số bạc quan trọng để thử xem sao.
Với giọng ngọt ngào, chàng tiếp:
- Này bác, bán một buổi cá chả được bao nhiêu tiền đâu! Bác cứ chở chúng tôi sang sông tôi sẽ tặng bác năm chục lượng bạc.
Đề nghị trên đây của Văn Khuê dường như vẫn không được gã dân chài kia tiếp đón một cách sốt sắng, nồng nhiệt lắm. Đó là điều khiến Lê Thế Hùng rất chú ý và ngạc nhiên. Vì một người ngư phủ nào khác ắt không thể hững hờ được trước một số tiền lớn lao như thế, số tiền mà vị tất họ có thể kiếm nổi trót tháng làm việc lao lực nhọc nhằn?
Vả chăng ngay từ ban đầu khi gặp gỡ chiếc thuyền lạ này, họ Lê đã nhận thấy một vài dấu hiệu khả nghi: Hai người ở trên thuyền, tự xưng là dân chài lưới, nhưng cử chỉ của họ có vẻ vụng về, chậm chạp, không thông thạo một chút nào. Ấy là chưa kể, dưới ánh sáng le lói của một ngọn đèn đỏ treo sau lái, chàng thấy da họ không ngăm ngăm đen như tất cả bao nhiêu người chuyên về nghề hạ bạc. Hơn nữa tại sao một thuyền đánh cá lại ghé vào đây, vào một bờ sông vắng ngắt, tuyệt nhiên không có lấy một nếp nhà nào của chài lưới?
Lê thế Hùng lặng yên tiếp tục quan sát để chờ xem những mối ngờ vực nói trên có được xác nhận thêm nữa chăng?
Trong khi đó thì sau một giây lát suy nghĩ, gã kia nhận lời chở hai tráng sĩ sang sông.
Hắn truyền cho người phụ của mình đứng đằng sau lái thâu gọn các dụng cụ và số cá câu được lại một nơi để dư chỗ rước hai vị khách và hai con ngựa xuống thuyền.
Văn Khuê hớn hở và tin cậy thúc giục bạn:
- Hiền đệ hãy xuống trước đi, rồi đến lượt ta.
Họ Lê gật đầu, nhưng ghé tai bảo nhỏ chàng lực sĩ:
- Đại ca hãy coi chừng cẩn thận.
Dứt lời, kéo theo con ngựa, chàng đặt chân xuống chiếc thuyền đang khởi sự chồng chành dữ dội như muốn lật.
Thuyền từ từ tách bến ra khơi, như một bóng ma lướt đi trên sóng nước.
Gió lộng thổi và hơi sương khuya bắt đầu thấm lạnh, khiến hai tráng sĩ phải xốc lại ngay ngắn chiếc áo đang khoác trên mình để che kín cổ và ngực.
Văn Khuê kéo Thế Hùng cùng ngồi xuống với mình và bảo:
- Thuyền lắc lư, dao mạnh quá. Hiền đệ nên tạm ngồi xuống đây mà nghỉ cho đỡ mệt, sau một đêm...
Chàng toan nói ‘‘sau một đêm chiến đấu mạo hiểm’’ nhưng biết mình suýt lỡ lời, sợ hai gã lái đò kia nghe được, nên chàng vụt ngừng lại.
Vừa ngồi xuống xong, Thế Hùng rỉ tai bảo thầm bạn:
- Tiểu đệ xem hai tên ngư phủ này có vẻ khả nghi quá.
Họ Bùi ngạc nhiên, hỏi khẽ lại:
- Khả nghi à? Khả nghi ở chỗ nào?
Vị công tử đem những điều mà chàng đã nhận xét thì thầm kể hết cho bạn rõ. Sau hết chàng tiếp:
- Vả chăng, hiện giờ tiểu đệ thấy lòng nôn nao bứt rứt dường như tiên cảm có một sự gì bất trắc sắp xảy ra. Để rồi coi, trực giác của tiểu đệ không lầm đâu đại ca ạ.
Giọng nói quả quyết của họ Lê làm cho chàng lực sĩ lo ngại Chàng liếc nhìn về phía hai gã lái đò và mặc dầu đêm tối không giúp cho chàng phân biệt rõ diện mạo chúng, Văn Khuê cũng bắt chợt thấy chúng đang chụm đầu lại to nhỏ với nhau. Dường như chúng cũng rất chú ý đến cuộc trao đổi ý kiến kín đáo vừa rồi giữa hai chàng tráng sĩ.
Bình tĩnh, họ Bùi bảo nhỏ bạn:
- Hiền đệ xét đoán rất hữu lý. Tuy nhiên ta cứ chờ thử coi chúng định giở trò gì rồi sẽ ra tay cũng chẳng muộn,
Vị công từ tỏ vẽ không tán thành thái độ khinh xuất ấy:
- Không nên, chúng ta cần phải ra tay trước, kẻo đến lúc
nước tới chân thì không kịp.
Thật vậy, chàng vừa dứt lời thì cả hai tráng sĩ đều giựt mình kinh ngạc. Sau một tiếng ‘‘vút’’ như hơi gió, từ phía sau lái, chỗ hai gã ngư phủ đang đứng, một vật gì vừa tung lên và rơi ập xuống trên mình Văn Khuê và vị công tử.
Trong một cử chỉ tự vệ, hai họ Lê, Bùi không ai bảo ai, đều đứng phắt dậy và đều đặt tay mình lên chuôi kiếm.
Thì ra nhờ có xúc giác họ mới biết đây là tấm lưới mà hai gã lái đò kia đã dùng để chụp lên mình họ, nhưng có điều nó không phải là lưới câu thường vì sợi nó rất to và rất chắc.
Đồng thờỉ, một chuỗi cười ghê gợn cất lên giữa một vùng sóng nước bao la và tiếp theo là một giọng nói oang oang như lệnh vỡ
- Hai tên phản tặc kia, phen nầy chúng bây lọt vào lưới của Bình an Vương rồi. Hãy chuẩn bị mà chịu chết.
Khi Văn Khuê biết mình trúng kế phe nghịch và hối hận vì đã không nghe lời đề nghị của Thế Hùng thì sự đã trễ rồi. Trước đây, chàng không ngờ rằng bọn tay sai của Trịnh Tùng lại có thể nghĩ ra một mưu kế lợi hại và lạ kỳ như thế.
Thay vì đánh úp, tấn công sau lưng chàng một cách bất ngờ - những toan tính mà chúng biết chắc rằng sẽ thất bại - bọn bộ hạ của Chúa Trịnh đã xử dụng một tấm lưới đặc hiệt và hơn nửa đã đóng vai tuồng của kẻ chài lưới một cách khôn khéo và rất công phu.
Tấm lưới ấy quả là lợi hại thật, vì liền sau khi chụp lên mình hai chàng tráng sĩ, nó ngăn cấm tất cả mọi phản động lực của nạn nhơn.
Thế Hùng và Văn Khuê cố hết sức vùng vẫy dử dội, tay hất, chân đạp liên miên nhưng vô ích. Toàn thân họ rốt cuộc vẫn chịu lúng túng trong lưới vướng víu, khó chịu đang bó chặt hai người lại với nhau.
Giữa cơn bối rối ấy một tia sáng vụt xuyên qua khối óc của vị công tử. Chàng bảo nhỏ bạn:
- Đại ca hãy rút gươm ra.
Nhưng chàng chưa nói dứt câu thì tấm lưới đã bỗng giựt nhanh, vật cả hai gã nhào xuống ván thuyền.
Ngay cầm hai ngọn đao mà hai chàng      tráng sĩ nhận thấy lưỡi thép lấp lánh trong bóng tối.
Một trong hai đứa quát to một cách đắc thắng:
- Hai thằng giặc kia ! Đừng hòng thoát thân vô ích. Nầy hãy mở mắt ra xem ta hóa kiếp lũ bây.
Đoạn, cả hai giơ cao võ khí lên, nhắm Văn Khuê      và Thế Hùng đang lăn tròn, lính quýnh trong lưới mà đâm xuống.
Trong giây khắc quyết định ấy, vị công tử bất lực, chỉ còn đành nhắm mắt lại mà chờ chết, nhưng chàng lực sĩ nằm kế cận vẫn chưa thất vọng. Choàng cánh tay ôm chặt lấy bạn, chàng chuyển hết thần lực thét to lên một tiếng như sấm, rồi lanh như cắt vùng lăn mình sang một bên để tránh mũi đao của địch thủ.
Không ngờ tiếng thét đó khiến hai con ngựa kinh hoảng, phóng mình nhảy chồm tới phía hai tên dọ thám của Trịnh Tùng.
Do sự bất ngờ ấy, hai lưỡi dao sát nhân, thay vì đâm trúng mục tiêu, lại phóng nhầm hai con ngựa đang chòm tới.
Bị thương thình lình, hai con vật lồng lộn, cất tiếng hí dữ dội và lăn nhào lên mình hai tay dọ thám của Trịnh Tùng, xô chúng ngã vật xuống và khiến cho chiếc thuyền lắc lư, đảo mạnh gần muốn lật.
Thừa cơ hội ấy, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng thoát khỏi tai nạn đầu tiên, nhưng vì đã dùng sức quá nhiều và theo đà của chiếc thuyền đang nghiêng hẳn về một bên cả hai xây một vòng rồi rơi ùm xuống nước.
- Nguy rồi đại ca ôi!
Vị công tử một tay ôm chặt lấy bạn, một tay sờ soạng, miệng thốt ra câu nói tuyệt vọng và ngắn ngủi trên đây. Đồng thời nước sông tràn vào mồm, vào mũi khiến chàng gần ngộp thở. Hai mắt chàng nhắm nghiền lại- không thấy gì nữa cả.
Tuy nhiên, tình thế chưa đến nỗi quá nguy ngập, như họ Lê đang lo ngại. Vì cạnh chàng, Văn Khuê khẽ reo lên một cách đắc thắng :
- Không sao đâu hiền đệ. Tôi đã nắm được thanh gươm
rồi!
Thật vậy, sau một hồi mò mẫm tìm kiếm khó khăn dưới tấm lưới bó chặt lấy mình, chàng lực sĩ đã đặt tay trở lại lên trên chuôi thanh kiếm mà chàng vẫn đeo sẵn bên hông.
Họ Bùi rút gươm ra khỏi vỏ, và lựa chỗ thuận tiện, chàng bắt đầu rạch đứt một đoạn giây lưới chằng chịt vừa với tầm tay mình.
Trong nháy mắt, từ trên xuống dưới, lưới đứt tung ra một khoảng dài to tướng và trả lại tự do cho hai chàng tráng sĩ đã bị nó giam hãm trước đây.
Cả mừng Văn Khuê kéo bạn, lách mình lọt ra ngoài. Một lần nữa, họ lại thoát hiểm nhưng còn cần phải ráo riết đề phòng, vì chắc chắn địch thủ vẫn chưa chịu buông tha họ.
Vốn là những tay bơi lội khá, họ rất yên tâm, nhứt là bây giờ thân mình họ không còn bị kềm hãm và tay chân họ được thong thả hoạt động.
Công việc thứ nhứt của hai chàng tráng sĩ là rủ nhau lội ra cách chỗ nầy chừng mười thước để tránh một sự chạm trán bất thần với kẻ thù...
Họ lặn hụp một cách rất nhanh và lặng lẽ, cố không gây tiếng động khả nghi, có thể làm cho đối phương chú ý.
Nhưng ‘‘đối phương’’ lúc ấy ở đâu ? Hai tên dọ thám của Trịnh Tùng cải trang làm ngư phủ, vừa rồi đã đâm hụt hai chàng, hiện thời ra sao? Chúng đang ở trên thuyền hay đã lội xuống nước tiếp tục mở cuộc truy nã?
Để biết rõ những điều này. Văn Khuê và Thế Hùng nhẹ
nhàng trồi lên khỏi mặt sông để quan sát dưới ánh sao thưa càng mập mờ và hư ảo hơn qua lớp sương khuya. Họ đã thấy gì?
Chiếc thuyền đánh cá trống trơn, vô chủ, đang bồng bềnh, trôi dạt theo ngọn thủy triều lần về hướng mà hai chàng đang đứng. Cạnh đấy chừng vài thước hai con ngựa và hai bóng người đang vẫy vùng trên mặt sông, ném bọt nước tung tóe ra khắp bốn bề.
Hai bóng người ấy chính là hai gã lái đò giả hiệu, trinh sát viên của Trịnh Tùng. Số là vừa rồi, sau khi giết hụt hai chàng hiệp sĩ, và vô tình đâm trúng nhầm hai con ngựa đang chồm tới, chúng bị hai con vật này đè lên mình và dẫy đạp dữ dội. Trong lúc bối rối, chúng bèn nhảy xuống nước. Tức thì, hai con vật cũng nhảy theo, gây ra trên mặt sóng một cuộc xáo động, sôi nổi.
Dưới sông, hai tên dọ thám mới chợt nhớ đến hai anh em Văn Khuê và Thế Hùng trước đây đã bị chúng cuốn vào trong tấm lưới. Nhưng không thấy hai tráng sĩ ở trên thuyền nữa, chúng cả kinh bổ ra tìm kiếm khắp nơi, không đếm xỉa tới hai con ngựa bị thương đang lặn hụp giữa dòng.
Chính lúc ấy là lúc hai họ Bùi, Lê đang nổi lên để quan sát tình hình, như trên kia đã nói.
Sau vài giây suy nghĩ, chàng lực sĩ quyết định :
- Chúng ta không nên ở mãi dưới nước vì trong trường hợp này, giao phong với quân giặc là một điều thất lợi. Vả chăng con sông nầy rộng lớn, chúng ta sẽ đuối sức nếu phải ra tài bơi lội để vượt qua.
Chi bằng anh em ta cứ trở lại chiếm lấy chiếc thuyền của giặc. Nếu chúng tấn công, chúng ta sẽ liệu cách đối phó.
Nhân tiện chúng ta sẽ cứu luôn con ngựa đã gíup cho cuộc thoát thân.
Thế Hùng gục gật đầu khen:
- Đại ca dự liệu rất chí lý.
Hai chàng tráng sĩ không phải khó nhọc lắm vì chiếc thuyền không chủ đang xuôi dòng, từ từ trôi về phía hộ.
Văn Khuê và Thế Hùng êm ái, đưa tay tiếp đón nắm lấy mạn thuyền nhẹ nhàng leo lên, mắt không rời hai tên dọ thám của Trịnh Tùng đang vẫy vùng, lục lạo một cách thất vọng hết chỗ nầy sang chỗ nọ.
Bỗng nhiên, một trong hai đứa này dừng lại. Hắn vừa khám phá ra sự hiện diện của hai chàng tráng sĩ trên chiếc thuyền. Mừng rỡ, hắn reo lên:
- Chúng nó đây rồi!
Dứt lời, hắn quăng mình về phía chiếc thuyền. Tên đồng nghiệp của hắn cũng lội theo.
Một hai, rồi ba cái sải tay nữa... chúng đã xáp đến gần. Cả hai đứa rút ra hai con dao to bản, sáng ngời...
Bùi văn Khuê, ghé tai bảo nhỏ Thế Hùng:
- Vừa rồi, chúng ta bị mắc mưu, nhưng bây giờ sắp đến phiên chúng nạp mạng. Tuy nhiên muốn hạ thủ chắc chắn bọn nầy, chúng ta nên áp dụng một kế mọn. Đó là giả vờ đuối sức nằm vật ra trên thuyền. Như thế hai tên ấy mới dám mon men đến gần, và sẽ rơi vào tầm tay của chúng ta.
Ý kiến trên đây được vị công tử tán thành. Tảng lờ như không chú ý đến hai gã dọ thám của chúa Trịnh đang xăm xăm bơi tới, hai chàng tráng sĩ tỏ ra uể oải mệt nhọc, cũng ngả lưng xuống chiếc thuyền đang lắc lư xáo động.
Trong cơn hăng hái, hai tên thuộc hạ của Trịnh Tùng đã quên phứt rằng chúng sắp phải đối phó với hai bậc anh hùng cái thế trước đây mấy giờ đã từng giết hại biết bao binh tướng của triều đình và làm rung động kinh thành. Bây giờ sắp đến gần thuyền, chúng sực nhớ lại và không khỏi giựt mình thon thót.
Nhưng, mặc dầu biết trước kết quả khốc hại của cuộc chạm trán sắp xảy ra, cả hai đứa cũng không dám nửa chừng lui bước vì chúng đã trót lỡ nhận những mạng lịnh khắc nghiệt của chúa Trịnh trước lúc lên đường : ‘‘Một là thành công, hai là chết !’’.
Trong khoảnh khắc, không hẹn mà nên, hai tên dọ thám lặng nhìn nhau bối rối, chúng nghĩ thầm: ‘‘Phen này chỉ có cách liều chết, không còn phương pháp nào khác nữa’’. Thế rồi cùng một lượt, chúng nhô đầu lên rất cao khỏi mặt nước, để quan sát một lần chót trước khi quyết định.
 
Một tia hy vọng bỗng lóe ra trong óc chúng, hai tên thuộc hạ của chúa Trịuh vừa chợt thấy Văn Khuê và Thế Hùng nằm sóng sượt trên thuyền gần như mê man, bất tỉnh, sau một cuộc vẫy vùng gian khổ dưới sông đã làm cho hai chàng kiệt sức.
Cả mừng, một tên dọ thám bảo tên kia:
- May quá, chúng ta nên thừa lúc này cấp tốc tấn công thì nắm chắc ngay phần thắng.
Dứt lời, không sợ sệt do dự nữa, chúng ngậm ngang lưỡi dao nơi miệng, đưa hai tay bíu lấy mạn thuyền, và cất mình nhanh nhẹn nhảy lên.
Thấy hai tráng sĩ vẫn nằm yên không cử động, chúng yên trí rằng sự dự đoán của chúng là hoàn toàn đúng. Hơi vững bụng, hai đứa rón rén bước lại bên cạnh Văn Khuê và Thế Hùng, giơ cao hai lưỡi dao, toan chém bổ xuống.
Nhưng, hai tiếng rú thất thanh bỗng cất lên, tiếp theo hai tiếng ‘‘huỵch’’ nặng nề, Hai tên tay sai của Trịnh Tùng chưa kịp thi hành thủ đoạn đã bị hai cái đá bất ngờ vụt quất ngang mình như sét đánh, ném chúng lộn nhào xuống ván thuyền như hai thân cây bị đốn.
Đồng thời, hai họ Bùi, Lê đã vùng trở dậy và lẹ như cắt, nhảy chồm lên ngồi trên mình chúng, tước khí giới của chúng liệng xuống sông.
Rút kiếm ra chỉ thẳng vào một tên, chàng lực sĩ quát hỏi:
- Lũ khốn kiếp nầy... Có phải chúng bây vâng lịnh của Trịnh Tùng và Nguyễn hữu Liên tới sông nầy để lập mưu ám hại chúng ta phải không? Hãy khai ngay, nếu chúng bây muốn lúc chết mà còn giữ vẹn thân thể.
Gã dọ thám chắp tay van lạy không ngớt và xin thú thật:
- Bẩm tráng sĩ, chúng tôi chính là tay sai của Chúa Trịnh và đã tuân lịnh thượng cấp để làm cái công việc cực kỳ gian nan, nguy hiểm nầy: Tôi là Chưởng vệ Trương Giản còn anh kia là Vệ úy Lê song Vân. Thái phó Nguyễn Hữu Liên đã bầy mưu buộc chúng tôi cải trang làm dân lái đò và xử dụng tấm lưới đặc biệt để bắt nhị vị tráng sĩ. Nhưng lòng trời bao giờ cũng tựa người ngay, nên kế hoạch trên đây không thành tựu.
Câu nói nịnh bợ sau đây khiến Bùi Văn Khuê bật cười mai mỉa:
- Ha, ha, chờ cho đến lúc nầy ngươi mới biết đến ‘‘lòng trời’‘, ‘‘ai ngay ai gian ‘’ thì đã muộn. Sự thật sở dĩ chúng bây thất bại cũng chỉ vì lũ chủ tớ chúng bây chỉ là một bọn bất tài, vì kém thông mình. Hơn nữa cũng chỉ vì thằng Trịnh Tùng và bè lũ chúng bây đã đi ngược ý nguyện thiêng liêng của dân, đã công nhiên dày xẻo lên dân chúng tiếp lục gây mãi những hành vi phản dân, những sự đàn áp, bạo ngược, táng tận lương tâm, nên tự nhiên anh em chúng ta phải buộc lòng vì dân, đứng lên chống lại, để một sớm đạp đổ cường quyền, cởi gỡ cái ách tham tàn của phường độc tài đại gian đại ác,
Ngừng lại, nhìn sang phía Thế Hùng, chàng lực sĩ lại cất lên một chuỗi cười sằng sặc và tiếp:
- Hiền đệ ngẩm mà xem ! Nếu thày trò lũ mầy mà biết ‘‘có trời’’  ‘‘có dân’’, biết nghĩ đến đồng bào. thì chúng ta đã tránh được ba nỗi gian truân khó nhọc, và hai tên chó chết này cũng không đến nỗi rước lấy cái hậu quả thảm khốc như ngày nay.
Dứt lời, chàng dí mũi gươm vào cổ tên dọ thám. Bên cạnh, Thế Hùng cũng làm theo. Hai tia máu vọt lên. Hai tiếng thét ngắn ngủi. Thế là rồi đời hai lay sai của chúa Trịnh.
Công lý của loài người đã làm nhiệm vụ trong khi đêm u ám, dòng sông Cẩm đen ngòm vẫn lạnh lùng trôi...
Loại xong địch thủ, hai chàng tráng sĩ cảm thấy lòng nhẹ nhàng khoan khoái vì vừa thoát khỏi hiểm nghèo. Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng lo vớt hai con ngựa từ dưới nước lên rồi tiếp tục cho thuyền vượt qua sông Cẩm.
Trong sương khuya, chiếc thuyền từ từ lướt đi giữa một khung cảnh lung linh mờ ảo nửa hư nửa thật. Tiếng mái chèo đều đều vỗ sóng là những tiếng động duy nhất vang lên trong không khí tĩnh mịch đang bao trùm suốt một giải sông bát ngát bao la.
Nhìn chàng lực sĩ ngồi đầu mũi, trổ tài chèo, vị công từ không khỏi ngạc nhiên và thán phục bạn. Thì ra, bất luận về môn gì, họ Bùi cũng tỏ ra mình là một tay thông thạo, quả xứng đáng với danh nghĩa và tư cách của một trang hiệp sĩ giang hồ.
Hơn một giờ sau thuyền đáp vào bờ. Văn Khuê và Thế Hùng dắt ngựa bước lên trên cạn. Đồng thời họ thận trọng dò xét, nghe ngóng khắp tứ bề nhưng không nhận ra sự gì khác lạ.
Cũng như bên kia sông, bên nầy bờ đìu hiu và vắng vẻ lạ lùng. Xa xa, thấp thoáng hình dáng mơ hồ của vài túp lều tranh, ý chừng là của dân chài lưới đang say sưa trong giấc ngủ.
Hai tráng sĩ nhảy lên lưng ngựa, tìm lối ra quan lộ, rồi ra roi quất mạnh, nhắm hướng bắc mà thẳng tiến.
Giờ Hợi sang giờ Tý, rồi giờ Sửu. Vó câu dồn dập, hai con vật thi nhau vồ nuốt con đường thiên lý cứ kéo dài ra thăm thẳm, như vô tận. Để tránh mọi sự lưu ý của kẻ lạ mặt, hai họ Bùi - Lê chỉ cúi gầm đầu phóng đi mà không trao đổi với nhau một lời nào.
Khi hai người vượt qua những cánh đồng ruộng thênh thang vắng lặng, thấy con ngựa của Thế Hùng hơi chậm bước,
Văn Khuê ghì cương lại cho hai bên cùng tiến song song với nhau. Chàng xây qua hỏi bạn:
- Thế nào, chỗ vết thương của hiền đệ bây giờ ra sao? Hiền đệ có cảm thấy trong mình mệt nhọc gì chăng?
Sự ân cần săn sóc của bạn khiến vị công tử rất cảm động. Chàng lắc đầu gắng gượng tươi cười đáp:
- Không ! Cám ơn đại ca, tiểu đệ vẫn khoẻ khoắn như thường, duy bụng có hơi đói.
Lê thế Hùng đã nói dối ít nhiều. Sự thật, hiện thời chàng đang đói lả vì từ sau khi bị thương tại Tây đô đến giờ’, chàng chưa có lấy một hột cơm vào bụng.
Sực nhớ ra điều nầy, Văn Khuê vùng kêu lên:
- Chết nỗi ! Ta quên phứt rằng hiền đệ chưa ăn uống gì trọn sáu bảy tiếng đồng hồ vừa qua, sau khi bị trúng tên mất máu khá nhiều và mới rồi lại còn phải trải qua một phen gian lao trên sóng nước. Thôi ! Bây giờ ta hãy tạm ghé vào một nhà thường dân nào gần đây để hỏi mua một vài thức ăn để lót lòng.
Vị công tử gật đầu đồng ý, nhưng hơi dè dặt:
- Đại ca nên cẩn thận, vì chúng ta đã lãnh nhiều bài học lắm rồi.
- Cái đó đã đành - chàng lực sĩ đáp - Anh em ta luôn luôn đề phòng và tùy cơ ứng biến.
Từ đó trở đi, trên con lộ dài dằng dặc đưa thẳng tới Thăng Long, qua sương đêm và bóng tối, bốn con mắt bắt đầu chia nhau xoi bói lục lọi hai bên vệ đường.
Nhưng tuyệt nhiên họ không tìm thấy một nóc nhà thường dân nào cả. Văn Khuê và Thế Hùng hơi thất vọng và lấy làm lạ.
Họ lấy làm lạ cũng phải, vì không ai ngờ rằng một vùng đồng quê như thế nầy lại có thể biến thành một khu vực hoang vu tẻ lạnh.
Số là từ ngày biến cuộc bùng nổ giữa hai phe Trịnh, Mạc, tất cả những địa hạt nằm kế cận các ngả giao thông giữa Tây đô và Thăng Long đều đắm chìm trong cảnh đao binh. Nhà cháy, người chết, gia súc bị chiếm đoạt. Ngoài họa khói lửa ra còn nạn cướp bóc hoành hành do ly loạn gây nên, buộc lương dân phải bỏ phế mảnh vườn, thửa ruộng thân yêu, lìa khỏi nơi cắt rún chôn nhau, tìm đường tị nạn.
Bởi lẽ ấy,                     tối hôm nay, hai chàng tráng sĩ đã thất công trong công việc đi tìm kiếm một cái mái nhà ấm nho nhỏ, khiêm tốn của người dân quê.
Vị công tử nản chí vì quá mỏi mệt và quá đói trong khi họ Bùi cũng khởi sự nhận thấy mình đang bị một cơn khát dữ dội dày vò.
Đột nhiên hai mắt chàng sáng rực lên. Văn Khuê ra dấu cho bạn và thình lình kềm ngựa lại. Chàng vừa thoáng thấy ở phía bên tả, cách đó chừng vài chục thước, ánh sáng yếu ớt của một ngọn đèn đang le lối, chập chờn, xa xa trong đêm tối.
Chỉ về hướng ấy, chàng lực sĩ reo lên:
- Chúng ta gặp rồi, kìa kìa hiền đệ hãy xem !
Cả mừng, Thế Hùng vươn cao mình trên lưng ngựa để nhìn thật kỹ. Khi biết chắc đó là một ánh đèn không thể lầm lẫn được, hai chàng tráng sĩ thúc ngựa tiến đến gần.
Họ không mất thì giờ lắm để tìm một lối đi chật hẹp, quanh co, đưa họ tới chỗ có ánh sáng nói trên.
Nhưng hai con ngựa vừa dừng gót, hai họ Lê, Bùi không khỏi ngạc nhiên và nhận thấy mình đã đóan sai. Đây không phải là một nếp nhà tranh của nông dân như nãy giờ họ vẫn yên trí, mà là một ngôi chùa cổ, khá rộng rãi, với cái bề ngoài hoang phế, cỏ mọc rêu phong, nhô lên sau một hàng rào tre thấp, cằn cỗi và xơ xác.
Vị công tử ngờ vực, lẩm bẩm :
- Lạ nhỉ? Tại sao lại có thể có một ngôi chùa cổ đứng trơ trơ, cô độc giữa một vùng mênh mông, vắng ngắt như sa mạc? Hay lại là một sự bí ẩn gì nữa đây?
Thấy bạn hay hoài nghi, Văn Khuê gạt đi:
- Bí ẩn hay không bí ẩn, cái đó rồi chúng ta sẽ liệu sau. Chỉ biết bây giờ chúng ta đang bị bao tử dày vò, thúc giục Vậy, anh em ta cứ vào. Biết đâu, sẽ gặp kẻ tu hành từ bi, bác ái, sẵn sàng tiếp đãi chúng ta nồng hậu.
Dứt lời, chàng nhảy xuống ngựa, Thế Hùng cũng làm theo. Cả hai ung dung bước thẳng tới trước cửa chùa, gõ mạnh...
Hai người lắng tai nghe ngóng. Có tiếng nói thì thầm bên trong và tiếng guốc kéo lê trên sàn đất mỗi lúc mỗi gần. Một lát sau, cửa chùa từ từ hé mở.
Một chú tiểu hiện ra. Chợt thấy hai chàng tráng sĩ, chú giương to đôi mắt ngơ ngác nhìn lo lắng, rồi vội chắp hai tay đưa lên trước ngực:
- Mô phật ! Kính chào nhị vị, quý khách. Chẳng hay đêm hôm khuya khoắt, nhị vị đến đây có điều gì dạy bảo nhà chùa?
Câu nói khôn ngoan, văn vẽ trên đây khiến Thế Hùng rất chú ý đến chú tiểu. Chàng càng chú ý hơn khi nhận thấy nét mặt lanh lợi, già dặn của kẻ tu hành và nhứt là cái khăn nâu sồng che phủ đầu chú một cách rất kín đáo.
Chàng lên tiếng đáp thế cho bạn:
- A-di-đà Phật, anh em chúng tôi là những kẻ lỡ đường, lương thực vừa hết nên đi qua đây đánh bạo xin vào nhờ lượng từ bi của sư cụ.
Chú tiểu cúi đầu khiêm tốn:
- Được quý khách chiếu cố, đó là một điều vạn hạnh cho cửa thiền nầy. Xin quí vị tạm chờ tại đây để tiểu tăng vào bẩm với sư ông.
Dứt lời chú tiểu thoăn thoắt bước đi. Thừa lúc ấy, vị công tử xây lại bảo họ Bùi:
- Chùa này không có sư cụ, mà chỉ có sư ông. Chúng ta hãy đợi xem sư ông ra thế nào ? Hay cũng là hạng tu hành khả nghi như chú tiểu nầy.
Văn Khuê không ngăn được sự ngạc nhiên. Chàng vội hỏi:
- Thế nào? Hiền đệ cho rằng gã thanh niên vừa rồi là một chú tiểu giả hiệu à? Lấy gì làm bằng cớ?
- Tiểu đệ chỉ ngờ vực thôi - Thế Hùng đáp - chớ không dám quả quyết. Muốn chắc chắn lát nữa chúng ta cứ lột cái khăn nâu bịt đầu của hắn ta, tức khắc sẽ thấy cái đầu ấy trọc hay không?
Cái ý nghĩ ngộ nghĩnh nầy làm cho chàng lực sĩ suýt bật cười, mặc dầu chàng đang băn khoăn lo ngại.
Nhưng chú tiểu nọ đã trở ra. Vẫn hai tay chắp trước ngực, chú nghiêng mình trịnh trọng :
- Sư ông xin thỉnh nhị vị vào thiền phòng.
Theo gót chú tiểu, hai họ Bùi, Lê bước vào trong chùa.
Dưới ánh ngọn đèn sáp lung linh, cảnh chùa bên trong phô bày ra tất cả sự điêu tàn, thê lương của nó. Tại bốn góc cửa các bức tường vôi bụi bặm và lở lói, vô số tấm lưới nhện to nhỏ đua nhau giăng đầy. Trên tường, các bức tranh vẽ cảnh Thập điện Diêm vương đã chuyển sang màn vàng úa và rách nát tả tơi. Còn tượng Phật, chao ôi ! cái thì xiêu vẹo, cái thì bị mọt ăn gần như sụp ngã, trên bàn thờ, trên bệ...
Tất cả sự đổ nát, sự vô trật tự của chốn nầy, phủ dưới một lớp bụi dày của thời gian, chìm trong một bầu không khi ẩm ướt và khó chịu, tố giác rõ ràng đây là một ngôi chùa bỏ hoaug.
Ấy thế mà tại sao giữa khung cảnh nầy lại có kẻ tu hành ăn vận sạch sẽ, gọn gàng, khuya sớm tụng kinh nương nhờ cửa Phật.
Giữa người và cảnh là cả một sự mâu thuẫn cách xa.
Sự mâu thuẫn ấy còn rõ rệt hơn khi Văn Khuê và Thế Hùng khởi đầu được sư ông tiếp kiến.
Xúng xính trong lớp áo cà sa rộng, một nhà sư trạc bốn mươi tuổi, từ trong phương trượng bước ra. Vóc người cao lớn, vạm vỡ nước da hơi ngăm ngăm đen sư ông từ diện mạo cho đến cử chỉ, không có chút vẻ gì là con người đã được thấm nhuần đức độ, bác ái từ bi cả.
Sự nghi kỵ tăng dần trong óc hai chàng tráng sĩ, Văn Khuê và Thế Hùng chưa kịp vái chào, thì hòa thượng đã cất giọng ồ ồ, Cố làm ra dáng niềm nở và ân cần mời mọc:
- A-di-đà Phật, bần tăng rất sung sướng được tỉếp nhị vị quý khách từ xa xôi có lòng chiếu cố đến cảnh chùa cũ kỹ nầy. Xin mời nhị vị vào thiền phòng tạm dùng một bữa cơm chay của nhà chùa khoản đãi,
Tuy ngờ vực, nhưng bụng đói của Thế Hùng và cơn khát của chàng lực sĩ không thể dửng dưng trước sự quyến rũ của một bữa cơm chay đang chờ đợi họ. cả hai liếc mắc dò hỏi ý kiến nhau và cùng khẽ gật đầu.
Đoạn quả quyết, họ bước theo nhà sư, tự nhủ thầm rằng họ sẽ cẩn thận đề phòng và sẽ liệu tùy cơ ứng biến.
Khác hẳn bên ngoài, căn phòng phía trong chùa trông sạch sẽ ngăn nắp hơn, dường như đã được những bàn tay chăm chỉ nào lau chùi dọn dẹp, thu vén khá kỹ lưỡng. Chính giữa phòng, một chiếc chiếu vuông đã trải sẵn. Chú tiểu khệ nệ bưng lên một mâm đồ chay có lẽ vừa hâm nóng xong, khói lên nghi ngút và đặt xuống chiếu.
Nhà sư cười hề hề, đắc ý và vẫn với giọng ồ ề :
- Mô Phật ! Xin mời nhị vị quý khách ngồi vào chiếu tạm dùng chút cơm chay cho đỡ đói lòng.
- Xin đa tạ sư ông.
Hai tráng sĩ cùng đáp một lượt và cùng ngồi xuống. Như đã y hẹn từ trước, họ ngấm ngầm phân công để cho việc quan sát được dễ dàng và đắc lực. Lê Thế Hùng có phận sự xem xét kỹ từ chén cơm, các món ăn trước khi gắp và đem lên miệng, trong khi đó Bùi văn Khuê giữ nhiệm vụ liếc nhìn khắp quanh mình để dò xét và ngừa bất trắc.
- Xin nhị vị cứ tự tiện.
Nhà sư thốt ra mấy tiếng trên … rồi rút lui ra khỏi phòng, để lại chú tiểu, dựa lưng vào vách, khép nép đứng hầu và chờ sai bảo.
Thoạt đầu, hai họ Lê, Bùi đều hơi yên dạ. Họ ăn uống rất ngon lành.
Chàng lực sĩ vừa đưa chén nước lạnh lên miệng nửa chừng toan uống thì thốt nhiên chàng bổ nhoài sang một bên.
Trên mặt chén nước chàng vừa thoáng thấy bóng một lưỡi dao sáng chói vụt chém xuống đầu mình.
Đó là lưỡi dao chú tiểu đang tấn công chàng trong lúc xuất kỳ bất ý.
Theo đà lưỡi dao vừa chém hụt, chú tiểu ngã chúi về phía trước, chưa kịp đứng dậy thì đã  bị Thế Hùng, lẹ như chớp, nhảy chờm sang và đè lên trên mình hắn. Một bàn tay của vị công tử kẹp chặt lấy tay cầm võ khí của địch thủ mà vặn ngược lại.
 
Chú tiểu đau quá, hét lên một tiếng thất thanh và buông rơi lưỡi dao.
Lúc bấy giờ, Văn Khuê vùng đứng phắt lên, vẻ mặt đầy nộ khí. Nhìn kẻ vừa ám sát hụt mình một cách bất ngờ, chàng lực sĩ không giấu nổi sự căm tức đang sôi sùng sục như lửa cháy. Chỉ suýt nữa, nếu chàng không lanh mắt, tánh mạng chàng đã không khỏi lâm nguy.
Hầm hầm, Văn Khuê thộp lấy đầu chú tiểu đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng trong tay họ Lê. Cử động quá mạnh ấy không dè làm cho vành khăn bịt đầu của kẻ địch tụt xuống rơi lòng thòng và lạ thay ! để lộ ra một cái sọ dừa đầy tóc đen láy của thường dân.
Dưới đôi mắt ngạc nhiên, chàng lực sĩ nhìn hắn chòng chọc và quát lớn:
- Quân khốn kiếp, té ra chúng bây dám giả mạo kẻ tu hành để giở thủ đoạn sát nhơn tàn ác. Tên sư ông trá hình vừa rồi hẳn cũng là một đồng lõa của mầy phải không ? Hắn đâu rồi! Bảo hắn phải lập tức tới đây mà nạp mình nếu không anh em ta sẽ phá tan sào huyệt của chúng bay nghe chưa ?
Không chờ cho chú tiểu giả hiệu kia trả lời, họ Bùi nóng nẩy nhảy xô về phía cửa phòng toan đi lùng bắt sư ông. Nhưng cánh cửa lúc ấy đã đóng chặt, cả giận, chàng lực sĩ định co chân đạp mạnh cửa vỡ toang thì thình lình, một chuỗi cười lanh lảnh ghê rợn nổi lên, khiến chàng ngừng lại.
Chuỗi cười nầy phát ra từ trên đầu bức tượng cao, ngăn cách căn phòng mà hai tráng sĩ đang đứng với một gian buồng kế cận Văn Khuê và Thế Hùng nhận được ngay giọng rất quen của nhà sư đã mời họ vào đây.
Sau chuỗi cười gay gắt ấy là những lời hăm dọa mà họ mới được nghe lần thứ nhứt:
- Hà hà ! Hai tên phản nghịch đang bị triều đình truy nã kia ơi! Chúng bây đừng hòng thoát thân ra khỏi phòng nầy vô ích. Chúng bay đã lọt lưới của Bình an Vương rồi.
Ba tiếng Bình an Vương và sự phát giác trên đây khiến hai chàng tráng sĩ giựt mình. Thì ra quả đúng như lời dự đoán của vị công tử, ngôi chùa này chính là một cạm bẫy ghê gớm của Trịnh Tùng và Nguyễn hữu Liên.
Không ai bảo ai, hai họ Lê -Bùi đồng ngước mắt nhìn lên.Họ thấy rõ ràng khuôn mặt hiểm ác của nhà sư và nụ cười ranh mảnh thoáng qua trên môi thâm nhợt.
Giọng nói mai mỉa đều đều của kẻ giả mạo tu hành lại tiếp:
- Này hai tên cướp kia, sau khi mời chúng bay ăn uống no nê, bây giờ tao lại cho chúng bay xuống yên nghĩ dưới... hầm sâu cho khoẻ xác nhé !
Hắn vừa dứt lời, trong khi Thế Hùng và Văn Khuê chưa kịp phản động thu lại, thì hai chàng tráng sĩ bỗng cảm thấy, dưới chân mình, mặt đất chuyển động và sụp xuống. Chỉ trong khoảnh khắc cả hai bị ném xuống hầm.
Việc trên đây diễn ra rất nhanh khiến hai họ Lê - Bùi không đủ thì giờ để nhận định nguyên do tai nạn vừa xảy tới clio mình. Sự thật nơi họ đã đứng và nơi dùng cơm trong phòng nầy không phải là một nền đất như họ lầm tưởng mà chỉ là một tấm ván vuông không lồ phủ khéo léo dưới một lớp đất nên dễ lừa dối thiên hạ.
Tấm ván vuông ấy ăn thông với một cơ quan điều khiển đặt ở phía ngoài. Vì vậy nhà sư chỉ cần nhấn một cái nút nhỏ trên vách bên ngoài, tức thì tấm ván lật xuống một cách đột ngột, hất mạnh những người đứng trên đó xuống dưới hang sâu trước khi lộn trở về vị trí của nó, để lấp kín lại miệng hầm.
Sau cái té bất ngờ từ bảy, tám thước cao, Văn Khuê và Thế Hùng choáng váng đua nhau lồm cồm ngồi dậy.
 
trang 189
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.10.2020 13:34:11 bởi Thanh Vân>

17. Lão lái đò kỳ dị


 
ĐÊM về khuya. Thành phố Tây Đô im lìm trong giấc ngủ.
Chỉ riêng mình lão Trần Tính là không tài nào nhắm mắt. Thế Hùng đi rồi người lão bộc bắt đầu hồi hộp lo âu ! Tâm linh như báo trước với ông một chuyện chẳng lành sẽ xẩy đến cho chàng, nhưng biết làm sao ? Ông đã hết lời can mà chàng vẫn không nghe thì ông chỉ còn biết đợi chờ sự rủi may xẩy tới rồi sẽ tìm đường ứng phó.
Đêm càng về khuya, lòng già càng khoắc khoải... Thế Hùng đã làm gì ở đâu mà vẫn không thấy trở về? Chàng đã lộ hành hung, nên đang bị vây hãm hay đã bị giết chết? Muôn ngàn giả thuyết hiện lên trong óc khiến người lão bộc Trần Tính cứ băn khoăn ra vào, vô cùng sốt ruột.
Một tiếng động nhẹ ngoài cổng rào, khiến ông ngẩng đầu lên, Trần Tính vui mừng xô cửa ra, ngỡ rằng Thế Hùng đã về. Nhưng ông rất ngạc nhiên vì trước nhà ông, một thanh niên nhỏ, ốm yếu, đầu chít khăn võ sinh, lặng lẽ đi vào... Đến trước mặt ông, thanh niên cúi đầu thi lễ:
- Thưa lão bá, chẳng hay đây có phải là nhà của Trần lão chăng?
Dù thanh niên nầy có tỏ ra vẻ điềm đạm, nói năng hòa nhã, nhưng nét mệt nhọc, lo lắng vẫn không qua được mắt Trần Tính. Ông hơi ngờ vực trong lòng nhưng giờ phúl này không thể giấu giếm được nữa. Biết đâu chừng đây là một tin quan trọng mà ông đang chờ đợi.
Trần Tính chậm rãi mời người thanh niên lạ mặt vào nhà:
- Tráng sĩ hãy bước vào tệ xá rồi chúng ta hãy đàm đạo.
Đợi khách ngồi yên, Trần Tính khẽ hỏi:
- Đêm hôm khuya khoắc thế nầy, chẳng hay có điều gì quan trọng mà tráng sĩ tìm đến lão?
 Có lẽ chắc chắn kẻ đối diện của mình là Trần Tính, người lão bộc trung thành của Thế Hùng, chàng thanh niên lạ mặt vội nói:
- Nguy lắm rồi lão bá ôi! Lê Công tử chẳng may bị bọn dọ thám của Trịnh Tùng bắt được rồi!
Trần Tính hoảng kinh:
- Tráng sĩ nói sao? Thế Hùng bị bắt? Ở đâu? Và từ bao giờ ?
Thanh niên đáp:
- Công tử vừa bị bắt ở bến đò!
Trần Tính thở dài nhìn xuống đất. Những điều dư đoán của ông đã thành sự thật. Nhưng vẫn còn may là Thế Hùng chưa có mệnh hệ nào! Ông chợt ngước nhìn chàng thanh niên hỏi:
- Tráng sĩ là ai? Làm sao biết lão ở đây mà đến báo tin?
Thanh niên đứng lên mở chiếc khăn võ sinh bịt trên đầu xuống để bung ra cuộn tóc dài khiến cho lão Trần Tính thêm kinh dị. Người lạ mặt nói:
- Cháu là Ngọc Lan đây ! Chắc lão bá đã nghe Lê công tử nói đến cháu. Trước khi bị rơi vào vòng vây, công tử có bảo cháu đến đây tìm lão bá. Không ngờ nửa chừng chàng bị bắt...
Ngọc Lan rơm rớm nước mắt nghẹn ngào khiến Trần Tính cũng bùi ngùi trong dạ. Ông nhìn Ngọc Lan và nói thầm:
- Người đẹp đẽ, hiền lành như thế này mà Thế Hùng không thương yêu sao được.
Cử chỉ và lời nói của Ngọc Lan đã bộc lộ được sự thành thật trong tình yêu của nàng đối với Thế Hùng, nên lão bộc Trần Tính rất vừa lòng và cảm thấy rất thương hại nàng!
Ông muốn nói vài lời để an ủi Ngọc Lan nhưng thật ra chính ông cũng đang rối, lo sợ vô cùng. Thế Hùng bị bắt đi làm sao tránh khỏi những cực hình ghê khiếp của quân Trịnh! Liệu chàng có chịu đựng nổi chăng ? Hay lại bỏ xác trong tù ngục?
Trần Tính cũng cố giữ vẻ bình tĩnh và bảo Ngọc Lan :
- Tiểu thư cứ an lòng, rồi chúng ta sẽ định liệu! Phương kế để cứu sống công tử sau, Thế Hùng là người trí dũng càng gặp nguy hiểm càng sáng suốt hơn! Chắc chắn sẽ không hề hấn gì đâu, tiểu thư đừng lo sợ lắm !
Ngọc Lan ngước nhìn người lão bộc.
Nét cương nghị, phương phi của ông làm cho nàng tin tưởng nhiều hơn... Nàng cảm thấy bên nàng từ nay luôn luôn sẽ có một sự hộ trợ vững bền của con người nhiều kinh nghiệm ở đời...
Nàng hiểu vì sao Thế Hùng vào Tây Đô lại chạy đến đây để nhờ lão bộc Trần Tính giúp đỡ...
Ngọc Lan còn đang suy nghĩ thì Trần Tính đã lên tiếng hỏi:
- Tiểu thư có chắc chắn là Lê công tử bị quân dọ thám Trịnh Tùng bắt được chăng?
Ngọc Lan ngồi xuống và từ từ thuật lại những chuyện xảy ra ở bến đò Mân Kiện, luôn cả mối tình thầm kín giữa nàng với Thế Hùng. Nàng thuật cặn kẻ mọi việc rồi kết luận:
- Cháu nghi ngờ lão lái đò ở bến sông đã bí mật báo tin cho quân Trịnh!
Lão bộc Trần Tính ngạc nhiên:
- Làm sao tiểu thư biết được ?
Ngọc Lan đáp:
- Vì từ khi nói chuyện với cháu xong, lão biệt dạng rồi lúc sau, quân Trịnh ồ ạt kéo đến vây chặt lấy hai cháu.
Trần Tính trầm ngâm suy nghĩ. Lòng lão rối như tơ vò! Bây giờ phải làm thế nào để cứu Thế Hùng thóat tay quân địch? Lão không quen một người nào trong dinh Phủ Chúa thì biết làm sao để dò la tin tức của chàng?
Ngọc Lan chợt hỏi:
- Lão bá định liệu thế nào?
Trần Tính lắc đầu:
- Tôi khổ sở vô cùng! Tôi hết lời can gián mà công tử chẳng chịu nghe, đến nước nầy thật khó lòng cứu vãn. Quân Trịnh canh phòng nghiêm nhặt ngày đêm. Có lọt được vào dinh cũng phải một mất, một còn ! Chúng ta chỉ có hai người sức yếu thế cô, làm sao phá được ngục tù của địch.
Ngọc Lan mặt buồn dàu dàu nhìn xuống đất, một nỗi tuyệt vọng vô biên tràn ngập cõi lòng.
Thế là hết ! Nàng đặt tất cả hy vọng sự sáng suốt của lão bộc Trần Tính, không ngờ lão cũng đành thúc thủ như nàng.
Trần Tính nhìn Ngọc Lan ái ngại. Lão sợ nàng hiểu lầm lòng yêu thương của lão đối với Thế Hùng nên vội nói:
- Tiểu thư nên biết rằng tôi ngày nay, ngoài Lê công tử ra, không còn một ai là quyến thuộc. Tất cả tình thương của tôi đều trao hết cho Thế Hùng. Nếu chẳng mai cậu ấy có mệnh hệ nào, thật lão khó lòng sống được...
Ngọc Lan nhìn người lão bộc trung thành, rơm rớm nước mắt:
- Cháu hiểu lắm! Xin lão bá biết cho lòng kính trọng của cháu đối với lão bá. Nhưng trong hoàn cảnh này chúng ta phải tìm cho được một phương kế cứu Thế Hùng, chớ không lý khoanh tay để chàng chịu chết.
Hai người cùng lặng yên nghĩ suy. Bốn bề tịch mịch. Đêm cứ dần đi về sáng.
Bỗng Ngọc Lan đứng phắt dậy, giã từ người lão bộc:
- Lão bá ở lại, cháu xin phép đi đây.
Trần Tính kinh ngạc đứng lên giữ nàng lại:
- Khoan đã tiểu thư, đi đâu mà vội ! Tiểu thư định làm gì bây giờ ?
Ngọc Lan cả quyết:
- Cháu đã tìm được kế vào trong dinh Chúa Trịnh rồi sau đó sẽ hay!
Và không đợi Trần Tính nói thêm lời nào, Ngọc Lan thoăn thoắt bước ra cửa rồi mất hút trong bóng đêm dày đặc.
Ngọc Lan trở lại bến đò Mâu Kiện tìm đến nhà của lão lái đò bí mật. Như trên đã nói, nàng nghi ngờ lão này đã thông đồng với quân dọ thám của Trịnh Tùng và đã mật báo cho họ bắt Thế Hùng. Nếu thật vậy, nàng sẽ có cách vào được trong phủ Chúa.
Đến Mân Kiện, nàng cẩn thận nép mình vào một gốc cây dò xét tình hình. Bốn bề vắng vẻ. Vào giờ nầy tìm nơi trú ngụ của lão lái đò là một việc hết sức khó khăn ?
Biết nhà riêng của lão ở đâu mà tìm?
Bỗng Ngọc Lan chú ý đến một ngọn đèn le lói trên sông. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: hay người lái đò ở luôn trên thuyền? Nàng nhìn trước, nhìn sau rồi tiến dần ra phía bờ sông chỗ có ánh đèn.
Một chiếc thuyền trơ vơ trên sông lặng về khuya... Ngọc Lan càng tin tưởng ở sự xét đoán của mình. Thuyền cắm trước bến đò Mân Kiện, có chiếc cầu bắc ra một khúc sông...
Ngọc Lan lần lần bước xuống cầu... Nàng bỗng dừng lại, rợn người vì thoảng nghe có tiếng thì thầm từ trong khoang thuyền đưa ra. Nàng đến sát hơn và nghe văng vẳng câu chuyện trao đổi giữa một người đàn ông và một người đàn bà.
Giọng người đàn bà gắt gỏng, cằn nhằn:
- Người ta không thù, không oán, căn cớ ông lại đi mật báo với quan quân đến bắt người ta cho đành !
Giọng người đàn ông thấp hơn có vẻ hối tiếc :
- Tôi nào có ngờ... Tôi thấy nó cứ thập thò trong bóng tối, ngỡ là kẻ gian nên đến cho thằng Hoài biết để nó bắt lãnh thưởng, dè đâu biến thành to chuyện như thế nầy.
Người đàn bà bất bình, dằn mạnh :
- Thằng Hoài, thằng Hoài! À, cái thằng cháu khốn nạn của ông ỷ thế làm trong phủ Chúa rồi hống hách với mọi người. Động một tí là chạy đến mách với nó bắt người này, người nọ! Ông liệu hồn, dân chúng hiện nay rất oán nhà họ Trịnh và bọn tôi tớ của họ lắm rồi. Có ngày họ sẽ xé xác cậu cháu ông mà liệng xuống sông thì đừng có than trời trách đất!
Người đàn ông tức giận:
- Ơ !con mẹ này ! Tao làm gì mà mày tru tréo tao như vậy. Nó làm trong Phủ Chúa mặc nó, việc gì đến tao mà họ xé xác tao.
Người đàn bà cười gằn:
- Không làm gì ! Ông tưởng dối gạt tôi được à! Ai đã xui nó tố cáo vợ chồng chú Ngâu để lãnh thưởng ?
Một tiếng suỵt nho nhỏ trong thuyền:
- Suỵt! Mẹ mầy nói khe khẽ vậy. Tại thằng Ngâu gây với tao chứ !
Người đàn bà càng lớn tiếng :
- Nó gây sự với ông rồi ông lại trả thù thầm lén hèn hạ vậy à? Trời ơi là trời, ông tàn nhẫn chi lắm vậy ông!
Trong khoang thuyền yên lặng. Bên ngoài Ngọc Lan đã đoán hiểu tất cả. Thì ra lão lái đò này đã có nhiều thành tích hãm hại người hiền, nhờ thế lực của tên Hoài, cháu ruột hắn đang làm dọ thám cho Trịnh Tùng. Nhưng ngườ vợi lại là người ngay thật, luôn luôn phản đối những việc làm ám muội của chồng ..
Ngọc Lan thấy đã đến lúc mình cần ra mặt để dọa nạt lão lái đò ấy, tìm một phương kế lọt vào Phủ Chúa cứu Lê Thế Hùng.
Nàng tuốt kiếm ra bước xuống thuyền. Thuyền tròng trành khiến hai vợ chồng người lái đò kinh hoảng lồm cồm bò dậy hỏi:
- Ai đó ! Ai xuống đò giờ này! Cho người ta ngủ với chớ!
Ngọc Lan vẫn nín lặng, chân dậm rầm rầm xuống ván khoang. Người lái đó tức giận tràn hông, vội chui ra cửa mui xem kẻ nào ngang ngạnh đến như vậy. Không ngờ hắn vừa ló đầu ra ngoài thì Ngọc Lan đã nắm chóp, đưa kiếm vàọ yết hầu lão. Lão kinh hoảng, chân tay run lẩy bầy, mắt láo liên, cố nhìn kẻ đang hành hung với mình là ai!
Miệng lão lải nhải van xin:
- Lạy ngài, cháu có làm gì đâu mà ngài giết. Ngài cần vật chi cháu xin dâng tất cả.
Ngọc Lan cả cười. Nàng không ngờ lần nầy lão cũng lại tưởng lầm nàng là kẻ cướp.
Nàng cất tiếng quát:
- Quân khốn nạn, không biết ta là ai ư?
Người vợ trong khoang biết có biến vội vàng chạy ra phía sau toan la lên tiếp cứu. Ngọc Lan hét:
- Bà lão kia I Bà la lên một tiếng thì ta cho chồng mụ về chầu Diêm chúa ngay. Ta đến đây để trị cái tánh ham chỉ chọc của y giùm bà mà bà không cám ơn ta hay sao ?
Người đàn bà kinh ngạc nhìn Ngọc Lan, còn lão lái đò càng run sợ hơn vì lão đã nhớ lại giọng nói lúc đầu hôm, mà lão đã nghe thốt ra từ trên bến sông. Nếu vậy thì lão đã tới số rồi còn gì.
Lão nghĩ: chỉ còn có một cách là van xin cầu khẩn, họa may còn cứu được mạng sống.
Trong giờ phút nguy biến này, lão thấy những lời khuyên bảo của vợ là đúng lý. Ở đời làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ. Bây giờ lão không hiểu phải van lạy cách nào nhưng lão cũng liều một bận xem sao! Lão chưa kịp cất tiếng thì Ngọc Lan đã hỏi:
-  Lão đã nhớ ta là ai chưa ?
Người lái đò run sợ:
- Bẩm... bẩm... tráng sĩ, tôi nhớ ra rồi... lúc đầu hôm... tráng sĩ muốn sang sông.
Ngọc Lan cười gằn :
-  Hừ! Ta muốn sang sông mà lão lại cho ta vào Phủ.
Người lái đò chối leo lẻo:
-  Bẩm... bẩm... Tráng sĩ, cháu nào biết việc gì đâu?
Ngọc Lan cả giận :
- Lão còn chối nữa hả? Ai báo quân dọ thám đến bắt anh em ta ? Nói mau không ta giết tức khắc.
Dứt lời, Ngọc Lan đưa lưỡi kiếm vào yết hầu kẻ đối thoại. Lão hoảng hốt cầu khẩn:
- Trăm lạy tráng sĩ... Nghìn lạy tráng sĩ... để cháu nói.. Vâng ! Chính cháu đã phi báo với quan quân.
Ngọc Lan càng dí mủi kiếm mạnh hơn vào cổ họng lão
- Tại sao lão cố tình hại bọn ta...
Người lái đò vội phân trần:
- Bẩm... tráng sĩ ! Cháu nào biết tráng sĩ là ai đâu mà cố tình hãm hại? Cháu thấy dáng điệu khá nghi, ngở là quân gian nên vội vàng phi báo không ngờ...
Ngọc Lan nói :
- Gặp ta thì lão đã đến ngày tận số! Ta quyết giết lão cho bớt phường vô lại chuyên hãm hại người lương thiện...
Người lái đò hoảng vía:
- Trăm lạy, ngàn lạy tráng sĩ tha chết cho cháu, cháu thề sẽ tìm cách cứu người bạn của tráng sĩ ra ngay...
Người vợ sợ Ngọc Lan hạ tay giết chồng mình cũng bước ra quỳ lạy van xin:
- Tráng sĩ tha chết cho chồng thiếp, thiếp thề hết lòng giúp tráng sĩ trong việc này...
Ngọc Lan đỡ người vợ dậy, nói nhỏ vào tai:
- Chị đừng nhọc thân, ta không giết chồng chị đâu! Ta dọa cho hắn sợ mà bỏ tật cũ...
Người vợ hơi kinh dị nhìn Ngọc Lan và chợt hiểu, vẻ vui mừng lộ ra nét mặt.
Ngọc Lan quay sang phía chồng chị:
- Ta không hành hạ vợ anh vì nàng vô tội. Riêng anh, đã cố ý hại người thì phải chết.
Lưỡi kiếm trên tay nàng lại một phen dí sát vào cổ họng gã.
Gã run lên bần bật, lạy như tế sao, mồ hôi rịn đều trên trán :
 - Trăm lạy, ngàn lạy tráng sĩ, tôi lỡ dại một lần, tuyệt hậu không còn dám nữa. Mong tráng sĩ rộng lòng tha thứ kẻ biết ăn năn hối cải.
Ngọc Lan suýt bật cười vì những lời ngây ngô của kẻ hèn nhát, nhưng nàng cố giữ nét mặt nghiêm khắc để xem hắn có thực lòng hối cải chăng?
Nàng gằn giọng:
-  Tha chết cho lão để rồi lão tìm cách hãm hại ta nữa ư?
Người lái đò nhìn Ngọc Lan một cách đau khổ:
- Tráng sĩ tha chết, tôi ngnyện kết cỏ ngậm vành, báo đáp ơn sâu! Có bao giờ tôi lại nghĩ đến việc hãm hại người ân nghĩa
Vợ người lái đò đã thấy đến lúc mình phải nói vài lời xin tội cho chồng và để bảo đảm cho Ngọc Lan tin tưởng nơi lời hứa của lão.
Mụ nói :
- Tráng sĩ nghĩ tình tôi mà tha tội cho chồng tôi, Nếu sau này có chuyện không hay xảy ra, tôi xin chết để đền tội.
Người lái đò nhìn vợ, cảm động. Lần thứ nhất trong đời, lão mới cảm thấy được tình thương nồng mặn của vợ mình.
Ngọc Lan mỉm cười, tra kiếm vào vỏ và nói:
- Được rồi, ta nể lời bà mà tha chết cho lão này. Hiện tại ta rất cần sự giúp đỡ của hai người để cứu bạn ta thoát khỏi vòng tù tội, không biết hai người có sẵn lòng giúp ta chăng?
Lão lái đò vội vã đứng lên :
- Tráng sĩ cứ dạy bảo, vợ chồng tôi sẵn sàng, để chuộc tội... Nhưng...
-   Nhưng... thế nào ?
Người lái đò gãi tai, dè dặt:
- Nhưng tôi vẫn tò mò, không hiểu tráng sĩ thuộc vào tổ chức nào, mà bọn quânTrịnh có vẽ sợ sệt lắm thế?
Ngọc Lan cả cười hỏi lại:
-  Sao lão biết?
Người lái đò chậm rãi đáp:
- Đêm hôm nay, trước khi kéo nhau đi, họ đã bàn định rất cẩn thận và chính thằng Hoài cháu của tôi, nó cũng nói là hai tráng sĩ thuộc vào hạng chọc trời, khuấy nước, dám khinh thường cả Bình an Vương.
Ngọc Lan đoán rằng tên Hoài muốn ám chỉ việc Thế Hùng đã ngang nhiên vào hành thích Chúa Trịnh Tùng rồi lại thoát ra ngờ ngờ trước mắt ba quân.
Ngọc Lan nghĩ không cần thiết phải giấu giếm nữa. Nàng ngồi xuống cạnh mạn thuyền rồi nói:
- Hai ông bà ngồi xuống đây, nghe tôi nói rõ việc nầy. Người vừa bị bắt đi, chính là công tử Lê thế Hùng, con trai của Quận công Lê cập Đệ, vị trung thần nhà Lê đã bị Trịnh Tùng ám hại !
Hai vợ chồng người lái đò cũng hoảng hốt la lên một lượt :
- Trời ơi! Nếu vậy nguy rồi!
Người vợ bỗng quay sang nắm lấy chồng khóc nức nở, trước sự kinh dị của Ngọc Lan.
Vợ người lái đò bù lu bù loa :
- Ông ơi là ông ơi ! Bây giờ làm sao? Công tử có mệnh hệ nào thì tôi giết chết ông! Trời ơi là trời, chồng ơi là chồng !
Mụ khóc kể liên miên càng làm cho người chồng tái mét cả mặt mày và Ngọc Lan sửng sốt.
Một lúc sau, nàng nắm lấy tay bà lão cất tiếng hỏi :
- Việc gì vậy ? Hai ông bà có liên hệ gì với công tử Lê Thế Hùng ?  
Người vợ nín khóc, quay sang nói với Ngọc Lan:
- Tráng sĩ không biết, chính hai vợ chồng tôi ngày xưa ở hầu hạ cho Lê tướng công gần trọn mười năm, từ lúc Lê công tử còn nhỏ dại, cho đến lúc gặp tai biến trong nhà, mới ra chèo đò thế này. Mà bây giờ chồng tôi lại nỡ đành..
Gặp đúng chỗ thương tâm, mụ lái đò khóc nức nở. Người chồng chết đứng, không nói được nửa lời, cứ nhìn vợ như van lơn.
Trước tình thế ấy Ngọc Lan lại phải đỡ lời cho người chồng :
- Không ! Bà đừng nghĩ vậy ! Chẳng qua là do sự vô tình mà ra. Bây giờ chúng ta phải cần hợp sức với nhau để cứu Lê công tử chứ ngồi đây trách móc mãi cũng chẳng giải quyết được gì!
Người lái đò đến lúc nầy mới mở lời được:
- Tráng sĩ nói phải, xin nghĩ kế để chúng tôi thi hành gấp rút ! Dù có chết đi để cứu mạng công tử tôi cũng quyết liều mình.
Bà vợ ngước lên nhìn chồng, vẽ hài lòng.

Liên tiếp mấy hôm, mụ Hà, vợ người lái đò, nhờ tên Hoài đưa vào được bên trong vòng Dinh chúa Trịnh để bán rượu thịt cho quân lính. Mụ để ý dò la tin tức Thế Hùng và được biết chàng đang bị giam trong ngục thất dành chọ các phạm nhơn sắp bị án tử hình.
Ngọc Lan được tin, lòng nóng như thiêu, như đốt, nhưng không tìm được cách nào giải thoát được người yêu.
Ngục tù kiên cố lại thêm quân sĩ canh phòng nghiêm nhặt ngày đêm, đến như những người trong Phủ, vô phận sự cũng không được quyền lai vãng tới.
Bắt được kẻ gian phi, không ngờ chính là Lê thế Hùng, Chúa Trịnh và Nguyễn hữu Liên lòng mừng khấp khỏi. Thực là một điều may mắn vô cùng: một kẻ thù nguy hiểm từ bấy lâu nay đã trêu gan, đày đọa hai người ăn ngủ không yên, bỗng dưng vì một sự ngẫu nhiên mà sa lưới.
Bị khảo tra đánh đập cách mấy Lê thế Hùng cũng nhứt định không khai, nhưng Trịnh Tùng vẫn tin rằng bè lũ của chàng còn lẩn quất bên ngoài. Chứ không lý nào một vị Phó tướng đường đường như Thế Hùng, một mình một thân vào đất giặc... Ông nghi ngờ không chừng Chúa Mạc đang bủa vây lưới trinh sát cùng khắp Tây đô rồi thì nguy hiểm vô cùng. Mà biết đâu được ! Tại sao ban gián điệp Trịnh đủ sức len vào Thăng Long làm mưa làm gió mà quân nhà Mạc lại bỏ lửng Tây đô. Ý nghĩ nầy làm cho Trịnh Tùng lo ngại rất nhiều, dù Nguyễn hữu Liên đã mấy lần cam đoan với ông là không thể có việc quân Mạc bí mật đột nhập vào thành...
Tuy nhiên Trịnh Tùng vẫn không tin và chính ông đã đích thân đến tận nhà ngục, chứng kiến, quân lính tra khảo Thế Hùng rất nhiều lần, mong phanh phui được chút ít manh mối gì thêm, nhưng Chúa Trịnh chỉ hoài công vì Thế Hùng vẫn ngậm miệng như bình, trước những cực hình vô nhân đạo...
Chàng ngất đi mấy lần nhưng nhất định không nói, mà cũng chẳng rên than, khiến bọn quân sĩ Chúa Trịnh phải lắc đầu cảm phục...
Một điều rất đáng lo ngại và cứ ám ảnh Trịnh Tùng luôn nhưng ông không dám hé răng cho Nguyễn hữu Liên biết, ông nghi ngờ Bùi[sub] [/sub]văn Khuê đã lẽn vào được Tây đô và đã tổ chức tại đây một đội dọ thám cho quân Mạc! Luôn luôn Trịnh Tùng lo sợ sự xuất hiện của họ Bùi vì sau bao lần đối đầu, ông hiểu rõ tài nghệ xuất quỷ nhập thần của viên tướng ấy và khi nghẹ họ Bùi về đầu Mạc mậu Hiệp, ông đã tiên liệu tất cả hiểm họa sẽ đến với mình...
Phải người hầu thiếp thân yêu, Nguyễn Thúy Loan sang đất giặc, Trịnh Tùng chỉ có một hy vọng là làm sao nàng gây được sự lủng củng giữa hàng ngũ lãnh đạo nhà Mạc và nhất là giữa Bùi văn Khuê và Mạc mậu Hiệp. Hai kẻ ấy hợp tác chặt chẽ với nhau là cả một mối lo cho Chúa Trịnh. Ngày Nguyễn Thúy Loan ra đi, Trịnh Tùng đau xót vô cùng nhưng nghĩ đến việc lớn ông đành bấm bụng cắt đứt tình chăn gối. Tuy vậy nhiều đêm qua, ông vẫn thao thức nhớ nhung!
Chúa Trịnh hy vọng ngày cử đại hùng binh diệt Mạc đến, để sau được tái ngộ Thúy Loan, nhưng thật ra hy vọng ấy rất mỏng manh vì có ai đi bắt cánh chim trời... Đôi khi ông tự an ủi:
- Thôi, đành vậy, miễn sao nàng thành công được trong sứ mạng của nàng.
Nếu Chúa Trịnh hiểu được mối cảm tình của Bùi văn Khnê đối với với Nguyễn Thúy Loan, chắc chắn ông sẽ kỳ vọng nhiều hơn vì như thế họ Bùi sẽ khó tránh rơi vào cạm bẫy do ông sắp đặt.
Tuy nhiên, không hiểu sao Trịnh Tùng vẫn nghi ngờ Bùi văn Khuê đã có mặt tại Tây đô? Mấy đêm nay, ông cho tăng cường sự canh phòng trong soái phủ vì lo ngại họ Bùi đột nhập vào cứu Thế Hùng hoặc ám sát mình.
Trịnh Tùng càng tin hơn khi nghe bọn thuộc hạ báo cáo rằng còn một tên nữa đã trốn thoát. Nhưng ông hơi ngờ vực vì tên ấy, theo lời dọ thám lại là một người mảnh khảnh có vẽ ốm yếu, song võ nghệ tuyệt luân...
Bùi văn Khuê không thể là con người mảnh khảnh ốm yếu kia được. Bao nhiêu lần giáp chiến với chàng, bọn thuộc hạ của Trịnh Tùng đã nhận rõ hình dáng của họ Bùi: Một người cao lớn, vạm vỡ, sức mạnh địch trăm người...
Sự phân vân cứ bứt rứt mãi lòng Chúa Trịnh. Ông hạ lệnh cho bọn dọ thám tích cực truy nã kẻ gian phi còn lại.
Riêng về Lê Thế Hùng, dù không khai một lời nào chàng cũng bị Chúa Trịnh lên án tử hình và tội phản quốc. Tuy nhiên Trịnh Tùng không cho giết vội, biết đâu Thế Hùng còn có thể giúp ích cho ông nhiều việc khác nữa!
Giữa lúc ấy, bên ngoài Ngọc Lan đang dự định một kế hoạch để cứu Thế Hùng. Chính mụ Hà càng ngày càng được tín nhiệm đối bọn lính tuần trong Dinh nên việc ra vào của mụ càng dể dàng hơn. Mụ bắt đầu bán chịu rượu thịt cho những đứa không tiền để khi ra vào có lỡ trễ giờ giấc chúng cũng làm lơ …Lần lần sự canh gác, xét hỏi đối với riêng mụ rất cầu thả. Thấy mụ bước vào cổng dinh, họ chỉ cúi chào hoặc hỏi qua loa:
- ‘‘ Kìa bà Hà đi sớm nhỉ ?’’
Hoặc hỏi cẩn thận hơn:
- ‘‘Hôm nay bà bán gì đó ?’’
Nhiều kẻ thấy mụ vào lại lảng tránh, không dám nhìn mặt, nói gì đến chuyện hỏi han bởi họ thiếu tiền mụ hoặc vay nợ rồi cứ khất lần hồi mãi...
Bao nhiêu tiền bạc xuất ra trong việc mua bán có tổ chức nầy đều là của Ngọc Lan. Nàng quyết dùng tiền để cho mụ Hà mua chuộc cảm tình của họ hầu có dịp sẽ dùng đến...
Suy tính kỹ càng rồi, nàng quyết cứu Thế Hùng thoát khỏi ngục tử hình, bằng kế hoạch riêng. Tuy rất nguy hiểm, nhưng nàng vẫn thi hành, vì ngoài kế hoạch ấy ra, nàng không còn biết cách nào khác nữa.
Cứ mỗi ngày qua nghe mụ Hà về thuật lại những nỗi khổ hình mà Thế Hùng phải chịu, nàng đau xót vô cùng. Nhưng sức yếu thế cô, nàng nghĩ rằng mình không nên vội vàng, hấp tấp, có thể làm hỏng kế hoạch rồi chính bản thân nàng cũng khó vẹn toàn, ấy là chưa kể còn hại lây đến vợ chồng lão lái đò.
Mụ Hà lần lần làm quen được với bọn gác ngục tử hình. Đã mấy lần Mụ trốn qua vùng cấm địa để mang rượu bán cho họ, bất cần nghiêm lệnh của Trịnh Tùng. Bình an Vương hạ lịnh: kẻ lạ mặt nào lảng vảng sang chỗ giam cầm tử tội thì phải chịu trừng trị như bị tội dọ thám... Mụ Hà cũng vẫn biết rõ điều đó nhưng mặc, mụ cứ tin tưởng vào lòng những người lính mà mụ đã mua chuộc.
Kẻ nào tỏ vẻ không bằng lòng hoặc cự nự điều gì là mụ cứ lo lót vài ve rượu hay một cân thịt là yên chuyện., Mỗi lần lẻn sang ngục tử hình là mụ Hà dò xét từ đường đi nước bước, chỗ nào có lính gác chỗ nào không, để về thuật lại cho Ngọc Lan rõ. Chỉ trong vòng mấy hôm, Ngọc Lan đã vẽ xong bản đồ ngục tử hình theo lời thuật lại của mụ Hà. Nàng biết được chỗ giam Thế Hùng ở phòng chót hết, muốn đi vào phải qua bảy người lính gác.
Lọt vào địa phận Phủ Chúa rẫt dễ dàng, nhưng sang ngục thất dành cho các tử tù và dẹp luôn cả bảy tên lính gác để cứu Thế Hùng là cả một sự khó khăn, không lường trước được sự hiểm nguy có thể xảy ra. Sức lực, tài nghệ của Ngọc Lan có thể hạ bảy tên lính gác dễ dàng nhưng lỡ ra, chúng báo động rùm lên, quân Trịnh đổ xô vào tiếp ứng thì một mình nàng làm thế nào đương cự lại.
Ngọc Lan suy nghĩ nát óc vẫn không tìm ra một giải pháp nào ổn thỏa. Nàng bỗng nghĩ đến mụ Hà, đến những bầu rượu, những cân thịt tươi.
Một ý kiến nẩy ra trong óc nàng, Ngọc Lan vội gọi mụ Hà và hỏi:
- Bà có cách nào biết được tên bọn lính sẽ gác của ngục đêm mai chăng?
-  Dạ được, nhưng tráng sĩ biết để làm gì?
Ngọc Lan đáp:
- Để xem bà có quen hết bọn chúng hay không? Vì tôi định đêm mai...
Mụ Hà cướp lời:
- Tráng sĩ định cứu Lê công tử vào đêm mai ư?
- Phải! Đêm mai là đêm ba mươi, trời tối đen, chúng ta sẽ dễ dàng hành động. Nhưng điều cần là mụ phải quen hết những người lính gác ngục để dễ bề hành động.
Mụ Hà suy nghĩ rồi lẩm nhẩm đọc tên bọn lính gác đêm mai. Đoạn mụ nói:
- Được rồi, tráng sĩ an lòng ! Bọn chúng bảy đứa mà đã hết năm tên thiếu nợ của tôi rồi...
Ngọc Lan vui mừng nói :
- Nếu vậy thật may mắn vô cùng. Tiểu sinh cần bà phụ lực giúp tiểu sinh một lần cuối cùng để cứu Lê công tử.
Mụ Hà chân thành đáp:
- Tráng sĩ cứ dạy, dù có chết tôi cũng nguyện hy sinh, miễn sao Lê công tử thoát nguy là đủ.
Ngọc Lan vô cùng cảm động. Nàng móc túi ra một gói thuốc bột trắng nhỏ đưa cho bà lão :
- Bà hãy pha bột này vào rượu, sẵn sàng để đêm mai dùng đến. Đây là một thứ thuốc mê rất công hiệu, uống vào một lúc là ngã lăn ra ngủ như chết. Bà cố làm sao phục rượu cho cả bọn ngủ mê hết, chúng ta mới dễ bề hành động.
Mụ Hà tiếp lấy gói thuốc mê, lo ngại:
- Bảy tên quân canh không kể làm gì, nhưng chìa khóa phòng giam ở trong tay tên Ngục trưởng thì chúng ta làm sao giải thoát được Lê công tử.
Ngọc Lan đáp:
- Bà cứ an lòng. Việc đó để mặc tiểu sinh lo liệu. Bà cứ thi hành đúng theo kế hoạch. Bảy tên ấy quỵ rồi, rán kéo thây chúng vào chỗ khuất là xong chuyện. Nhớ cẩn thận bà nhá, công trình của chúng ta từ bao lâu nay, chỉ đem áp dụng trong lúc này.
Ngọc Lan bỗng nín bặt. Ngoài kia, sạp ghe có bóng ông lão Hà vừa bựớc xuống. Dù biết rằng ông hối cải ăn năn nhưng trong những chuyện bí mật giữa mụ Hà và Ngọc Lan thường bàn riêng nhau, cả hai đều cẩn thận không cho ông tham dự.
Lão lái đò cũng biết người lạ mặt và vợ mình chưa tin hẳn lòng mình, nên ông cũng buồn mà lảng dần... Ông không tỏ vẻ gì bất mãn đối với sự ngờ vực của hai người, nhưng thâm tâm ông cảm thấy nhiều chua xót. Đáng lý ra, ông phải là người được trông cậy và tích cực lo lắng trong việc này; bày kế đánh lừa quân dọ thám của Trịnh Tùng đối với ông không khó lắm. Nhưng cả hai người đều còn nghi ngờ, ông cũng không muốn làm họ bận tâm thêm giữa lúc cấp bách này.
Thấy lão Hà lầm lì suốt ngày không nói cứ đi vắng luôn, Ngọc Lan càng lo ngại hơn. Đã mấy lần, nàng nói với bà lão về việc này, bà để tâm dò hỏi thì ông bảo rằng ‘‘buồn đi chơi giải muộn’’.
Tuy không nói ra, nhưng Ngọc Lan rất sợ mình bị phản phúc, nàng đâu có ngờ chính vì nàng xét đoán lầm người và đối xử sai nên mới có chuyện ngờ vực này... Công việc lo cứu Lê thế Hùng nàng vẫn tịếp tục nhưng trong lòng nàng thường lo sợ phập phòng.
Thực ra có khó gì nếu lão Hà cố tâm hại nàng! Ông chỉ cần nói với tên Hoài vài tiếng thì tất cả sự cố gắng của nàng và mụ Hà bấy lâu chỉ là công đã tràng xe cát... Và biết đâu chính nàng cũng không thoát khỏi lưới của Trịnh Tùng...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.10.2020 21:35:11 bởi Thanh Vân>
18. Trong ngục thất

TRỜI tối như mực. Không gian như chìm đắm trong một bức màn đen thê thảm.
Mây nặng kéo về bao phủ từ khởi hoàng hôn.
Tại phủ Chúa, đèn trong ngoài sáng rực như sao sa. Gặp những đêm đen tối như thế này, bọn lính càng cẩn mật hơn trọng nhiệm vụ.
Đêm càng về khuya, trời càng lạnh. Gió vùn vụt thổi về làm xao động cành lá trong vườn... Bọn lính gác cổng Dinh run rẩy trong lớp áo mỏng. Giờ này mà được ở nhà thì phải biết, nhậu chơi vài ly rồi lăn quay ra ngủ, thực ‘‘sướng hơn tiên’‘.
Đấy là mộng, còn thực là chúng phải ủ rũ ngồi đây, đưa mình hứng gió lạnh phũ phàng...
Bỗng từ xa, một bóng người lảng vảng nhởn nhơ với một ngọn đèn cầm ở trên tay! Bọn lính canh chú ý thấy bóng đèn cứ đi thẳng vào hướng cổng dinh chầm chậm, nhịp nhàng. Một tiếng quát xé sự tĩnh mịch của đêm khuya:
- Ai! Đứng lại !
Tên lính gác cầm giáo nhảy tới chận ngang đường.
Một tiếng ‘‘suyt’’ cất lên với tiếng nói quen thuộc của mụ Hà:
- Kìa, Tất, em không nhìn ra ta ư?
Tất, người lính canh cũng là một người khách nợ của bà Hà, vội vàng đổi thái độ:
-  Ủa, bác đi đâu khuya khoắt thế này?
Bà Hà tắt phụt ngọn đèn rồi nói nhỏ:
 - Đừng làm ồn I Bác thấy trời khuya lạnh lẽo, biết rằng mấy cháu đói nên có nấu một nồi cháo vịt đây.
Tên lính mừng rỡ, nhưng vẫn lo ngại:
- Cảm ơn bác ! Trời này ăn cháo vịt thì phải biết, nhưng thằng trưởng toán này khó chịu lắm bà ạ ! Sợ nó làm khó không cho bác vào đâu ?
Bà lão Hà nói dồn:
- Đứa nào vậy? Nó mới đổi tới đây ư? Được, không sao, cứ dẫn bác tới đó...
Trong kia thấy hai người thì thầm trong bóng tối rất lâu, viên Trưởng toán bước ra hỏi:
- Kìa anh Tất, làm gì lâu vậy? Ai đó, sao không lên tiếng ?
Bà Hà và Tất lặng lẽ đi vào. Bọn lính canh vừa thấy dạng bà lão đã reo mừng:
-  Ồ, bác Hà!
Sự tiếp đón hoan hỷ của chúng làm cho viên Trưởng toán lạ mặt chú ý. Ý rất ngạc nhiên không hiểu vì sao mọi người đềụ có cảm tình với bà lão này.
Y vừa toan hỏi thì bà lão đến nơi cúi đầu thi lễ:
-  Xin chào đội trưởng.
Viên đội sững sờ, nghiêng mình đáp lễ nhưng không quên hỏi :
-  Bà lão là ai? Làm gì đêm khuya lảng vảng đến đây?
Lính Tất thấy đã đến lúc mình cần lên tiếng giúp bà lão :
-  Dạ thưa đội trưởng, bà này là mợ ruột của anh Hoài bên đội ưu binh từ lâu vẫn bán thức ăn cho anh em quân sĩ trong Phủ Chúa nên mọi người đều quen mặt. Rượu của bà ngon có tiếng, đội trưởng ạ!
Nói xong, lính Tất liếc nhìn mấy vò rượu và nồi cháo vịt bên chân mụ Hà. Bọn lính gác cổng cũng bu quanh như chờ lịnh viên đội là nhảy vào làm vài ly rượu cho ấm lòng lúc đêm
khuya.
Chính viên đội cũng thấy khó cầm lòng trước sự quyến rũ của hơi men nồng nặc mà mụ Hà đã cẩn thận dở nấp vò rượu cho lên hơi...
Tuy nhiên, nhớ đến phận sự của mình, y gạt đi:
- Không được! Bà lão bán ban ngày chứ vào giờ này rủị quan trên bắt gặp ta phải bị quở! Rầy rà lắm, thôi bà đem đi nơi khác,
Miếng mồi đã đưa tận môi, bỗng dưng bị giựt lại, bọn lính gác đều lấy làm bất mãn. Tên Tất lên tiếng cố làm cho viên đội thay đổi ý kiến:
- Đội Trưởng không biết, chứ trong Phủ này ai còn lạ gì mụ Hà. Mọi người ai cũng từng nhắm qua rượu ngon của mụ... Chỉ trừ Chúa thượng ra, dầu gặp ai cũng không sao cả!
Rồi hắn ngó dáo dác xung quanh, nói nhỏ hơn:
- Đến như quan Thái phó Nguyễn hữu Liên mà có lần còn mua cả một vò rượu.
Nghe nói đến chuyện quan Thái phó còn biết mặt bà này, viên đội có vẻ yên lòng.
Y ngẫm nghĩ một lát rồi bảọ:
-  Thôi! Hãy dẫn bà ta vào chỗ khuất kia rồi hãy ăn uống!
Bọn lính được lệnh vui mừng tíu tít và không chú ý đến một bóng người đứng cạnh ven tường lúc nào không ai biết vừa đeo mình lên hàng dây leo, thoăn thoắt phăng lên mặt tường, rồi lần mình trên những tàn cây rậm rạp.
Nghe một tiếng động rất nhỏ trên ngọn cây, mụ Hà biết chắc là Ngọc Lan đã vượt qua tường vào một cách yên lành. Bà liền ngồi xuống múc cháo, rót rượu cho bọn lính canh, cố làm nhanh nhẹn để vào ngục cho kịp giờ hành sự. Bà không quên lấy vò rượu chưa tẩm thuốc cho bọn lính nầy uống vì sợ chúng uống nhằm thứ kia rồi ngã lăn ra ngủ sẽ đổ bể hết kế hoạch.
Khổ nổi mấy tên quân canh cứ uống nhây nhưa không thôi, hết đứa nầy đến đứa khác.
Bỗng có tiếng rần rộ trên đường sỏi, đoàn lính tuần thành hăm hở đi tới khiến bọn lính canh sợ hãi trở về chỗ canh gác.
Bà Hà cũng vội vàng thâu gọn đồ đạc lại núp sát vào bụi rậm. Đợi cho đoàn người đi qua, bà mới tìm cách lẻn dần qua phía nhà ngục.
Đêm càng khuya, khu cấm địa càng vắng lặng đến thê lương... Mụ Hà đi chập chững lang thang một mình như vào chỗ chết. Không khí rờn rợn bao quanh nhưng bà nhứt định không sợ. Ỷ tưởng cứu Lê Thế Hùng ra khỏi ngục hình làm cho mụ không còn nghĩ gì khác nữa... Mụ nhất định làm tròn phận sự mà Ngọc Lan đã giao phó, dù có chết cũng cam lòng. Đời mụ, mụ không kể làm gì, tuổi đã gần kề miệng lỗ, hối tiếc chi những ngày sống cuối cùng, miễn sao cứu được Lê Thế Hùng để chuộc tội cho chồng và đối với chủ cũ khỏi mạng tiếng là phường phản phúc...
Bỗng có tiếng động phía trựớc mặt. Bà Hà kinh hoảng đặt nồi cháo và rượu sang một bên, ngồi thụp xuống nhìn lên xem xét. Một bóng đen lù lù tiến tới. Một giọng nói thều thào:
- Bà Hà ! Bà Hà đó phải không ?
Nghe được tiếng quen quen, mụ Hà hết sức vui mừng :
- Tráng sĩ ! Tráng sĩ đã vào được rồi ư?
Ngọc-Lan từ từ nắm chặt lấy tay bà lão dặn dò:
- Mọi việc đều yên ổn tất cả, bà cứ yên lòng. Tôi đã tìm ra cửa phòng giam Lê công tử và chỗ ở của viên ngục trưởng.
Mụ Hà hỏi tiếp :
- Tráng sĩ đã khởi sự hành động chưa?
Ngọc Lan đáp:
- Chưa ! Tôi chỉ dò xét đường tiến, thối để liệu định. Khi bà hạ xong bọn lính gác ngục rồi tôi mới ra tay.
Nàng siết chặt cánh tay bà Hà rồi nói:
- Giờ phút quyết định đã đến rồi, bà rán tận tâm để cứu Lê công tử, ơn này tôi xin ghi lòng tạc dạ.
Có tiếng nói từ trong nhà ngục vẳng ra. Ngọc-Lan vội hấp tấp dời chân.
Trong nhà ngục, cửa vụt mở, để lọt ra ngoài một thứ ánh sáng vàng héo úa.
Mụ Hà tiến đến gần hơn. Một người cao lớn, từ trong bước ra, đi vội vàng như có chuyện gì cấp bách lắm.
Nhìn ngay được kẻ ấy, mụ Hà lên tiếng gọi :
- Chú Phiên ! Chú Phiên !
Gã đàn ông dừng lại, pgơ ngác. Tiếng mụ Hà văng vẳng như từ chốn xa xăm nào...
Gã quay phắt đầu lại. Vừa khi ấy, mụ Hà đã đến cạnh bên. Gã sợ hãi nhìn dáo dác hỏi nho nhỏ :
- Trời ! Chừng nầy, đi đâu vậy bà cố?
Mụ Hà cười khì khì, rồi thản nhiên nói:
 - Bây hổng đói sao? Tao có nấu cháo đem vào đây! Có rượu nữa!
Vẻ hoan hỷ bộc lộ trên khuôn mặt tên Phiên. Hắn không cần suy xét lý do về sự có mặt của mụ Hà, quay nhìn vào bên trong rồi ngoắt tay ra dấu cho mụ theo sau.
Hắn là một bợm nhậu khét tiếng ở ngục này, nên lúc này gặp mặt hắn, mụ Hà vui mừng lắm. Phiên xô cửa bước vào, còn làm hiệu cho mụ đứng đợi bên ngoài...
Sương bắt đầu thấm lạnh vào tấm thân già nua tuổi tác. Mụ Hà run lẩy bẩy, nhưng cũng cố gắng bậm môi chịu đựng để thi hành nhiệm vụ khó khăn. Mụ khẽ liếc nhìn vào trong, xem tên Phiên đang làm gì?
Nhà ngục dài thăm thẳm, đuốc thắp từng khoảng một, sáng rực lên. Bà chú ý thấy Phiên đang đi chầm chậm trong nhà ngục, thỉnh thoảng hắn lại ngừng bên một người lính gác thì thào. Khi tên ấy gật đầu tỏ vẻ bằng lòng, hắn lại cất bước đi... Cứ như vậy, hắn tiếp tục từ đầu bên này sang đến đầu bên kia.
Mụ Hà thầm đoán là Phiên đang ‘‘vận động’’ cho mấy tên lính ăn ‘‘cháo vịt’’.
Bỗng mụ kinh hoảng, vì từ phía bên kia, sáu tên lính gươm giáo sáng ngời, vừa đến với một viên quan bệ vệ, đi chầm chậm xem xét từng phòng giam... Tên Phiên cũng hoảng vía đứng ngay thẳng, không dám nhúc nhích. Bà Hà thầm đoán đó là ngục trưởng đi quan sát.
Chúa Ngục đến bên tên Phiên thì dừng lại không hiểu quở trách thế nào mà bà Hà bỗng nghe một liếng hét vẳng lên:
- Trở về chỗ gác, khốn nạn!
Rồi tên Phiên từ bên kia chạy sồng sộc về phía mụ. Đến gần cửa ngục, hắn chụp ngọn giáo đứng chết trân ngó lên trần nhà, miệng nói lắp bắp:
- Bà cố ơi ! Trốn mau đi, quan coi ngục tới kia rồi...
Mụ Hà gần chết lạnh bên ngoài, không còn chạy đi được nữa... Bà liều ở lại rồi ra sao cũng mặc!
Bên trong, viên Ngục trưởng cứ đi từ từ hết phòng này sang phòng khác, sáu tên lính phía sau bước đều đều, chậm chạp.
Mụ Hà lo ngại cho kế hoạch sắp đặt bị vỡ lỡ. Thân bà có chết cũng không ngại gì nhưng từ nay chắc không làm sao cứu được Lê công tử. Mụ bỗng nhớ đến Ngọc Lan người tráng sĩ mà Mụ đã thầm khen hết lòng vì bạn, không biết giờ phút này đang ở đâu. Và có hiểu chăng kế hoạch sắp bị hư hỏng ? Mụ thầm mong cho người chạy thoát, để tiếp tục công việc cứu Thế Hùng.
Giữa lúc ấy, viên Ngục quan cứ tiến từ từ ra phía cửa. Sự sợ hãi đã đến mức tột cùng, Mụ Hà cũng rán lui dần vào hốc tối, ngồi xuống, và thầm van vái phật trời. Sương xuống mỗi lúc càng nhiều, trời rét căm căm, mụ Hà cảm thấy mình không còn sức chịu đựng được nữa: quai hàm như cứng lại, tay chân đờ đẫn...
Bỗng mụ nghĩ ngay đến vò rượu. Phải rồi, tại mụ không dùng rượu để trấn bớt cái lạnh buốt của sương đêm ? Chưa lần nào nhắm tới rượu, nhưng trong giờ phút nguy hiểm nầy, chỉ có sức nóng của nó họa may mới cứu mụ khỏi chết cóng... Mụ sờ soạng cầm lấy vò rượu run rẩy đưa lên môi hớp một ngụm... Một luồng máu nóng như xâm nhập lấy toàn thân mụ rồi tỏa dần như đánh bạt hơi lạnh của khí trời, của sương đêm ra khỏi các đường gân, sớ thịt.
Bên trong, viên Ngục trưởng và sáu tên lính đã đến bên cửa. Tên lính Phiên hồn phi phách táng, nếu rủi mụ Hà có bị bắt, thì gã cũng sẽ bị quở trách nặng nề.
Viên Ngục quan bước đến trước cửa rồi khựng lại. Sáu tên lính cũng đứng im lìm như những tượng gỗ, không dám nhúc nhích.
Mỗi cử động gì của viên Ngục quan đều không qua được mắt của Ngọc Lan. Từ lúc nãy đến giờ, nàng nằm im lìm trên mái nhà giam, hé ngói nhìn xuống xem xét... Thấy viên Ngục trưởng đi quan sát, ngay giờ phút này nàng biết rằng kế hoạch đã gặp phải khó khăn... Mụ Hà chắc không đủ mưu mẹo qua được mắt y.
Nàng hơi lo ngại trong lòng, vì nếu lỡ dở tất cả thì chắc còn lâu nữa mới có cách cứu Lê thế Hùng hay là không bao giờ cứu chàng ra được nữa? Ý nghĩ sau cùng làm cho Ngọc Lan đau đớn xót xa... Nàng bực tức vì sức yếu thế cô, đành bó tay nhìn người yêu chịu chết trong ngục tử hình...
Ngọc Lan bỗng nghĩ tới mụ Hà.
Kế hoạch bị trở ngại, gặp lúc viên Ngục trưởng khảo soát các phòng giam, mụ làm sao vào được. Từ nãy giờ, không biết số phận mụ ra sao? Chắc chắn mụ không chịu đựng nổi sương đêm lạnh buốt.
Nàng chỗi dậy, bò lần xuống mái nhà giam và bắt gặp mụ Hà đang thu người, im lìm trong hốc tối, không động đậy.
Giật mình, Ngọc Lan vội buông mình nhảy xuống bên cạnh mụ.
Đang chập chờn vì hơi men, mụ Hà choàng tỉnh, mở mắt nhìn quanh. Một bàn tay chụp lấy vai mụ, khiến mụ kinh hãi run lẩy bẩy.
Có tiếng thì thào quen thuộc:
- Đừng sợ! Tôi đây!
Nhận ra tiếng Ngọc Lan mụ Hà hết sức vui mừng và tin tưởng lúc nào ‘‘chàng tráng sĩ’’ cũng lẩn quẩn bên mình, sẵn sàng cứu giúp...
Mụ mở miệng toan nói, nhưng Ngọc Lan bỗng bụm tay chặt lại...Có tiếng động trước cửa ngục. Cánh cửa từ từ mở, một thứ ánh sáng vàng úa lọt ra ngoài... Ngọc Lan nép sát mình vào hốc tối, chăm chú nhìn.
Viên Ngục trưởng và sáu tên lính võ trang từ từ hiện ra, trên tay mỗi người đều cầm theo một ngọn đuốc... Ánh sáng cứ lan dần, trải dài ra trên thềm gạch...
Ngọc Lan chắc rằng tên Ngục trưởng sau khi đã xem xét bên trong ngục thất bây giờ định đánh một vòng ngoài, xem động tĩnh ra sao. Nàng e ngại vô cùng. Nếu hắn mở vòng đi bên mặt thì nàng và mụ Hà không tránh khỏi phải xuất đầu lộ diện, chừng ấy bao nhiêu công trình sắp đặt đều tan như bọt nước bên sông.
May mắn làm sao viên Ngục quan lại rẽ sang bên trái. Ánh đuốc xa dần, bóng tối trở về như cũ...
Ngọc Lan vội hối mụ Hà đứng dậy. Nàng bảo:
- Bà lão đi vào mau lên và cố sức thi hành cho tròn nhiệm vụ.
Mụ Hà loạng choạng bước đi, vì hơi men đã thấm vào mình. Mụ lo lắng vô cùng, không biết mình còn đủ trí óc sáng suốt để phục rượu cho bảy tên lính gác ngục hay không?
Nhưng rốt cuộc mụ cũng quả quyết xô cửa bước vào. Kẻ mà mụ gặp đầu tiên, là Phiên... Hắn còn đang đứng nghiêm trang để gác phòng khi viên Ngục trưởng trở lại. Bất ngờ hắn thấy mụ Hà bước vào cửa nguc thì hắn hồn phi phách táng, vội chạy đến bên mụ cự nự:
-  Trời ơi ! Cố ơi là cố ơi! Ngục trưởng trở lại bây giờ!
Mụ Hà giựt mình lắp bắp:
- Làm sao... bây giờ... tao lạnh... gần chết đây nè...
Tên Phiên hoảng hốt, bối rối nhưng thấy mụ Hà trong tình cảnh ấy, hắn không nỡ đuổi ra... Cấp bách quá, hắn đành mang mụ Hà vào giấu trong một gian phòng giam bỏ trống,
Hắn vừa trở lại chỗ đứng thì chợt nghe tiếng chân rộn ràng trước cửa ngục.
Viên Ngục trưởng và sáu lên lính trở vào nhà giam. Mặt y vẫn hầm hừ không đổi sắc, bọn lính theo sau vẫn im lặng. Ngục trưởng nào ngờ, giữa chốn cấm địa này lại có mặt mụ Hà!
Đợi cho họ kéo nhau qua khỏi một lát, lính Phiên mới buông giáo xuống, mở cửa phòng giam, đem mụ Hà ra... Mấy tên lính cũng đã tựu quanh, cắt phiên canh chừng... viên Ngục trưởng.
Đến giờ phút này mụ Hà cảm thấy bình tĩnh lạ thường. Mụ không còn thấy mệt mỏi hay ngây ngất vì rượu nữa. Mụ chỉ còn biết có mỗi một việc phải làm gấp là hạ bảy tên lính này, cho Ngọc Lan dễ bề cứu Lê công tử.
Mụ múc cháo ra cho cả mọi người, nhưng tên Phiên đã nạt :
- Không! Đưa rượu nhậu sơ sơ đã! Thèm quá mà Cố.
Mụ Hà cười hì hì:
- Mây ghiền lắm hả Phiên?
Một tên lính cướp lời:
- Rượu mà không ghiền, thì ghiền cái gì hả bà?
Mụ Hà tự nhủ thầm:
-  Được, bây ghiền, tao cho bây ngủ sớm chứ gì!
Mụ xây qua nhắc lấy vò rượu có tẩm thuốc mê, rót vào bảy chén lớn.
Phiên lấy bớt một chén nói:
- Còn thằng Hưng gác phía đằng kia, chút nữa hãy rót, bay hơi hết thì nhậu ngon lành gì!
Câu nói của lính Phiên làm cho mụ lo ngại! Sáu tên lính này uống rượu xong ngã quay ra ngủ, tên Hưng tức khắc biết ngay. Hắn sẽ giết mụ hoặc báo động ầm lên.
Mụ suy tính mãi, nhưng mụ không tìm được cách nào cho lính Hưng cùng uống một lúc. Bọn lính đã cầm chén lên sắp uống mụ Hà rót một chén nữa và nói:
- Để tao mang rượu đến cho thằng Hưng, bọn bây tham uống một mình...
Tên Phiên cả cười :
- Chà ! Làm gì Cố thương thằng Hưng quá vậy! Bộ định gả con gái cho nó ư?
Cả bọn đều cười rộ lên vì câu nói khôi hài mà họ cho là y vị lắm. Mụ Hà không chú ý đến lời bông đùa ấy, mụ hấp tấp mang rượu đến cho tên sau cùng, sợ không còn kịp nữa.
Thuốc ngấm rất mau, rủi ro bọn kia ngã lăn ra ngủ khi tên Hưng chựa uống thì bao nhiêu công lao sẽ như dã tràng xe cát...
Mụ Hà xa dần bọn lính. Chúng cứ uống đều đều hết chén này đến chén khác, không cần có đồ nhắm hoặc ăn cháo trước.
Lính Hưng đứng gác phía đầu kia, nghe tiếng cười đùa càng lúc càng lớn, bỗng quay đầu nhìn lại bắt gặp mụ Hà đang lom khom bưng rượu đến. Hắn hơi ngạc nhiên về cử chỉ quá sốt sắng của mụ nhưng cũng vội vàng chạy tới để đón lấy chén rươu.
Hắn vừa mở miệng toan cảm ơn mụ Hà, bỗng đứng khựng lại. Đằng kia, bọn đồng bạn của hắn đang kế tiếp nhau ngã lăn xuống đất.
Thoạt chứng kiến cảnh tượng ấy, Hưng đã hiểu rõ mọi việc. Hắn xông tới chụp lấy tay mụ Hà quát lớn:
- Hay cho mụ khốn kiếp này dám lẻn vào đây để thuốc quân lính à?
Mụ Hà quay lại thấy bọn lính đều ngã gục tất cả, thì giựt mình kinh hãi nhưng mụ vẫn còn cố cãi lý... Dụng ý của mụ là kéo dài thời gian cho Ngọc Lan thi hành xong kế hoạch bên phòng viên Ngục trưởng:
- Mầy đừng nói điên! Ai thuốc bọn bây làm gì? Này Hưng, mày liệu hồn, thằng Hoài nó sẽ bầm nát mặt mầy ra, đừng có học thói phao vu vô lý. Tao giết bọn bây lợi ích gì cho tao mới được chứ? Nè bà nói cho biết còn thiếu tiền bao nhiêu mang ra trả, đừng mong quỵt bà mà tan xác !
Lính Hưng hơi do dự trước thái độ cứng rắn của mụ Hà, nhưng cảnh tượng trước mắt mà y vừa mục kích khiến y không còn nghi ngờ gì nữa. Cương quyết, y nắm lấy mụ Hà, lôi đi sềnh sệch về phía các đồng bạn. Lính Hưng xem xét kỹ rồi mới tri hô lên. Dù sao y vẫn còn nể tên Hoài, cháu mụ Hà. Gây sự với Hoài, một nhơn viên đắc lực trong đoàn ưu binh là điều mà y không dám.
Khi đến nơi, lính Hưng ngồi xuống lôi từng tên, lay gọi. Chúng nằm thiêm thiếp say sưa trong hơi men nồng nặc. Lính Hưng chắc chắn là cả bọn đã bị thuốc mê, không còn ngờ vực gì nữa.
Ngay lúc ấy, mụ Hà vội xô hắn ra và khập khiểng chạy về phía cửa.
Hắn thét lên một tiếng:
- Đứng lại!
Rồi hắn phóng mình đuổi theo, cây giáo sáng ngời chỉa thẳng về phía trước. Mụ Hà run lẩy bẩy. Mụ nghĩ rằng giờ cuối cùng của đời mình đã điểm. Mụ không ân hận gì, nhưng chỉ tức là phận sự chưa hoàn thành được...
Không biết rồi đây, Ngọc Lan có tìm cách nào giết bọn chúng, để cứu Lê thế Hùng chăng? Mụ nhắm nghiền mắt lại, đợi chờ lưỡi hái của Tử thần.
Bỗng một tiếng ‘‘keng’’ vang lên. Mụ Hà bàng hoàng mở mắt. Ngọc Lan đứng đấy tự bao giờ. Nàng đang mỉm cười nhìn mụ nói nhỏ:
- Khá khen bà lão đã làm xong nhiệm vụ ủy thác. Còn tên nhai tép nầy để mặc tôi.
Lính Hưng, sau một thế đánh bất ngờ của địch thủ bị tê buốt cả tay muốn tìm đường tẩu thoát để báo động. Hắn thối lui từ từ, rồi toan chạy vụt đi, để tri hô cầu cứu.
Trước tình thế này, Ngọc Lan đành phải hạ thủ hắn. Nàng lẹ làng xông tới, kết liễu cuộc đời hắn bằng một lát kiếm cắt đứt đầu hắn lìa khỏi cổ, đoạn nàng lôi tử thi hắn vào một xó tối. Đằng kia mụ Hà cũng đang lom khom kéo mấy cái thây người, bị thuốc mê, nằm say như chết, vào trong phòng giam trống mà tên Phiên đã giấu mụ lúc nãy.
Ngọc Lan đến bên cạnh mụ Hà hỏi:
- Bà lão không việc gì chứ ?
Mụ Hà gật đầu:
- Tráng sĩ đừng lo ngại cho thân già này, hãy mau mau đi cứu Lê công tử.
Ngọc Lan đáp:
- Tôi đã tính kỹ rồi, bây giờ chỉ còn vào uy hiếp tên Ngục trưởng để lấy chìa khóa phòng giam Lê công tử là xong.
Nàng nhìn ra phía cửa nhà ngục, thấy cửa bỏ không, nên bước ra gài chặt cửa lại cẩn thận. Nàng bảo mụ Hà:
- Bà lão tạm lánh vào phòng nầy chờ tôi một lát.
Dứt lời, nàng vụt chạy qua phía cửa bên kia, mất hút...
  • * *
    Căn nhà của viên Ngục trưởng trú ngụ nối liền với khám đường, Chúa Trịnh cho xây cất như vậy để cho Ngục trưởng lúc nào cũng phải để tâm đến nhà ngục ấy nhiều hơn vì chốn đó sẽ giam giữ những kẻ chọc trời khuấy nước trước khi mang ra hành quyết tại pháp trường.
    Giữa nhà ngục và nhà riêng của Ngục trưởng chỉ cách nhau một mảnh vườn cây ăn trái, do công lao của các tù nhơn vun quén từ trước đến giờ.
    Ngọc Lan thoát ra khỏi nhà nguc liền phóng mình vào bụi rậm nghe ngóng. Phía trước mắt nàng là hàng rào. Nhà viên Ngục trưởng có ba tên lính canh đang ngủ gật dưới ánh đèn. Có lẽ chúng ngủ đã lâu lắm rồi.
    Ngọc Lan thấy không cần bận tâm với ba tên lính ấy làm gì. Phải vào nhà viên Ngục trưởng bằng con đường khác mới mong thi hành nhanh chóng mọi việc. Để mụ Hà một mình bên nhà giam, nàng lo ngại vô cùng. Lỡ ra mụ tự ý lẻn ra đi và để cho lộ chuyện thì rất uổng công phu sắp đặt.
    Nàng lách mình từ bụi này sang bui khác, đến sát bên hàng rào rồi nhẹ nhàng, phóng vào trong.
    Bốn bề im lìm vắng vẻ. Ngọc Lan thầm đoán tất cả gia đình viên Ngục trưởng đều say ngủ trong đêm khuya... Xét kỹ địa thế, nàng thấy chỉ có cách nhảy lên nóc nhà, trổ nóc xuống là vào trong dễ dàng hơn cả, chứ nhà nầy cửa kín tường cao khó phá hoặc leo vào mà không động tịnh.
    Nghĩ xong, Ngọc Lan vội nhún mình nhảy vọt lên mái ngói, nhẹ nhàng như con én liệng... Bóng nàng chỉ vụt thoáng qua như một vệt đen dưới ánh sáng lung linh của những ngọn đèn trước cổng nhà.
    Ba tên lính vẫn say mê trong giấc ngủ triền miên, không ngờ có người đang đột nhập vào nhà viên Ngục trưởng...
    Ngọc Lan bò chầm chậm trên mái ngói. Bỗng nàng dừng lại rồi khẽ dở một miếng ngói liếc nhìn xuống phía dưới, luôn tiện tìm xem nơi đâu là phòng ngủ của viên Ngục trưởng.
    Trong nhà, dưới ánh sáng lờ mờ, chia làm ba gian.
    Nàng chú ý thấy gian bên trái có nhiều mùng và nhiều tiếng ngáy văng vẳng đưa lên, Ngọc Lan chợt hiểu là gia đình Ngục trưởng ngủ chung trong một nhà, như vậy sẽ khó khăn cho hành động của nàng hơn vì khó tránh chọ cả nhà khỏi thức! Tức nhiên, nàng không thể bắt buộc Ngục trưởng đưa chìa khóa trong vòng êm thắm được ! Chúng mà ré lên kêu cứu là cả một chuyện chẳng lành. Không lẽ tàn sát hết đàn bà con nít vô tội nữa ư?
    Ngọc Lan thấy rằng mình không thể làm như vậy được. Dù chồng và cha họ là kẻ thù của nàng đi nữa, nàng cũng không đang tâm giết hại những kẻ vô can.
    Nàng ngồi thừ người ra một lúc để tìm một phương kế khác!
    Trở về nhà giam phá cửa phòng ư? Nàng đã xem kỹ lắm rồi! Muốn phá cửa phòng giam Lê Thế Hùng, phải cần nhiều ngày giờ và nhiều dụng cụ. Khóa làm sát theo cửa không thể dùng kiếm chém bứt đi được.
    Ngọc Lan bỗng vui mừng sờ tay vào túi như tìm vật gì. Nàng lấy ra một gói nhỏ cầm nơi tay suy nghĩ. Đây là một thứ thuốc mê nàng mua ở Thăng Long của một ông thầy Tàu giỏi về bùa chú. Thuốc này chế bằng ba chất:
    - Hột cà dượt của Tàu tục gọi Thiên tiện Tử.
    -  Lá cà dược của ta.
    - Và con Ban miêu
    Ba chất ấy đã phơi khô, trộn lẫn nhau và gói trong miếng giấy bùa, chỉ cần đốt lên để cho gió thổi bay vào nhà là tất cả sẽ mê như chết.
    Nàng mua gói ‘‘mê hồn hương’’ ấy đã lâu chưa có dịp dùng đến.
    Trong tình thế này, Ngọc Lan muốn dùng thử xem sức công hiệu của nó thế nào? Nàng lấy bùi nhùi rồi đánh lửa lên đốt gói hương ‘‘mê-hồn’’ cho khỏi loãng dần trong nhà, xuyên qua lỗ hổng của mái ngói.
    Một lúc sau, Ngọc Lan nghe văng vẳng phía dưới nhà nhiều tiếng hắt hơi rồi im phăng phắc. Nàng nghĩ thầm rằng khói ‘‘Mê hồn hương’’ đã lan khắp gian phòng và tất cả mọi người dưới ấy đều mê man.
    Nàng rút chiếc khăn tay quấn bít miệng và mũi, để khi vào phòng lấy chùm chìa khóa cửa viên Ngục trưởng, khỏi bị ảnh hưởng của thuốc mê.
    Ngọc Lan gỡ thêm nhiều miếng ngói rồi chui đầu qua, buông mình nhảy xuống. Chân vừa xuống đất, nàng đã vội lùi vào một góc nhà đề phòng bất trắc.
    Tuy đã dùng khăn bịt kỹ miệng mũi, nhưng nàng còn sợ khói ‘‘mê hồn’’ thâm nhập vào mình, ngất xỉu ở đây thì thật nguy hiểm vô cùng. Nàng nhìn trước nhìn sau rồi toang các cánh cửa sổ trong nhà.
    Đoạn Ngọc Lan nhón gót đi lần sang gian nhà ngủ của viên Ngục trưởng, chỗ có nhiều mùng nhất mà nàng đã thấy lúc nãy khi còn ở trên mái ngói.
    Ngọc Lan rảo mắt nhìn quanh một lượt, thấy viên Ngục trưởng đang nằm thiêm thiếp trong một chiếc mùng rộng lớn.
    Nàng đến gần, và trong phút chốc đã lấy được chùm chìa khóa trong mình viên chúa ngục trong khi hắn vẫn thiêm thiếp không hay biết gì hết.
    Nàng bỗng cảm thấy xây xẩm mặt mày, rũ liệt cả tay chân. Biết chắc rằng ‘‘mê hồn hương’’ ‘bắt đầu thâm nhập vào hơi thở của nàng. Ngọc Lan kinh hoảng vội phóng mình ra cửa sổ thoát đi...
    Ngọc Lan đứng lại một lát để định tỉnh lại tâm thần, tay nắm chặt chùm chìa khóa và lưỡi kiếm. Nàng nhìn trước nhìn sau xem động tịnh, rồi chạy vụt sang phía nhà ngục như một mũi tên.
    Cửa nhà ngục hé mở, cẩn thận nàng xô bật cửa ra rồi mới bước vào. Ngục thất lặng lẽ như lúc nãy, máu tên lính bị giết còn động vũng trên nền. Nàng thầm đoán là tình thế không có gì thay đổi nơi đây, nên chạy đến bên phòng giam bên lính canh để gọi mụ Hà tiếp tay.
    Ngọc Lan chưa đến cửa phòng thì mụ Hà từ trong đã chạy ra, trên mặt lộ nét vui mừng. Mụ hỏi tới tấp:
    - Tráng sĩ ! Tráng sĩ đã về đó ư? Già lo sợ quá! Tráng sĩ có lấy được chìa khoá chưa?
     Ngọc-Lan đưa chùm chìa khóa lên trước mắt cho mụ xem rồi nói:
    - Có đây rồi, bà lão đừng sợ. Chúng ta sắp sửa thành công.
    Nàng lại hỏi:
    - Thế nào? Bọn lính vẫn mê luôn chứ?
    Mụ Hà gật đầu :
    - Cả bọn như chết không hay biết gì cả?
    Ngọc Lan tỏ vẻ hài lòng, dẫn mụ Hà đến trước cửa phòng Lê Thế Hùng. Lòng nàng bỗng dưng hồi hộp lạ kỳ. Từ đêm hôm đến giờ, bận rộn nghĩ đương đầu với quân Trịnh, nàng ít nghĩ đến người yêu. Đến giờ phút này, sắp sửa cứu chàng ra, Ngọc Lan thấy mình nôn nao nhiều lắm !
    Chàng có còn đủ sức để đi chăng? Chàng có bị hành hạ đến mất cả trí giác không? Nếu chàng không nhìn được mình rồi mới làm sao?
    Những ý tưởng băn khoăn ấy ám ảnh tâm trí nàng. Tay nàng hơi run lên khi đưa chìa khóa vào ổ. Cửa phòng giam từ từ mở: một mùi tanh nòng nặc đưa ra, Ngọc Lan xây mình chụp lấy ngọn đuốc cắm trên vách, rọi vào gian phòng. Một cảnh tượng đau lòng bầy ra trước mắt nàng...
    Gian phòng ẩm ướt, bầy nhầy. Trên một ổ rơm, Thế Hùng nằm thiêm thiếp khuôn mặt hốc hác xanh xao, rướm máu khô từng khoảnh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.10.2020 10:37:09 bởi Thanh Vân>
 
19. Giải thoát tù nhơn
 

NGỌC LAN quá đau đớn, xót thương, nắm ngọn đuốc vào vách phòng, rồi ôm chầm lấy Thế Hùng:
 - Anh ! Anh !Trời ơi ! Làm sao chúng hành hạ anh đến nông nỗi này?
Nàng úp mặt vào ngực người yêu, khóc tức tưởi. Thế Hùng mở mắt lờ đờ như mất cả trí giác, phều phào:
 - Bây giết tao đi! Bây giết tao đi... đừng hành hạ nữa!
Ngọc Lan ôm chặt người yêu lay gọi:
- Anh ! Trời ơi! Ngọc Lan đây. Anh đừng nói lảm nhảm nữa !
Mụ Hà đứng cạnh bên ngoài phòng giam, cũng chạy vào ôm lấy Thế Hùng khóc thảm thiết. Mụ quá thương xót không còn đủ can đảm đứng nhìn chàng trong cơn mê loạn.
Mụ rên than nghe đứt ruột:
 - Công tử ơi là công tử ! Bọn quân tàn bạo nó hành hạ đánh đập công tử đến tàn nhẫn thế nầy sao ? Cũng tại chồng tôi...
Nhưng chỉ trong chốc lát, cố dằn cơn đau đớn, Ngọc Lan trấn tỉnh được lòng mìnn, cố nắm tay mụ Hà nói:
- Bà lão đừng khóc nữa. Ta cần thoát khỏi chốn ngục hình gớm ghiếc này trước đã, chứ ở đây mãi chắc khó tránh khỏi hiểm nghèo!
Sau khi vận dụng hết sức bình sanh, giơ gươm chém mạnh nhiều lát, làm đứt phăng sợi xích sắt đang cột chặt vị công tử vào vách tường, nàng đứng dậy, dìu Thế Hùng lên theo rồi vác bỗng chàng qua vai, ra cửa phòng giam. Tay nàng lăm lăm cầm thanh kiếm đề phòng khi bất trắc, mụ Hà lẽo đẽo theo sau...
Cả bọn vừa ra đến cửa ngục, bỗng nghe bên ngoài có tiếng xôn xao, vang dậy.
Ngọc[sub] [/sub]Lan dừng lại chú ý nghe, rồi kinh hoàng bảo mụ Hà:
- Chết ! Lính tuần đã rõ nhà của viên Ngục trưởng vừa bị đánh thuốc mê. Chúng kéo vào đây ngay bây giờ thì nguy lắm.
Mụ Hà càng lo sợ, cuống quít lên:
 - Bây giờ phải... làm thế nào... tráng sĩ?
Mụ mếu máo như muốn oà lên khóc, khiến Ngọc Lan phải gắt:
-  Bà lão đừng cuống lên như vậy, chả ích lợi gì đâu? Phải giữ bình tĩnh để tôi liệu.
Nàng đặt Thế Hùng xuống đất cố lay gọi, và hy vọng chàng tỉnh lại thì cả bọn mới dễ dàng tẩu thoát.
Ngọc Lan chợt nhìn thấy hai tay chàng còn kẹt trong một chiếc còng sắt. Lúc ấy nàng mới thấy được sự sơ ý đáng trách của mình. Bận bịu khóc than thương cảm làm gì mà đến việc mở còng tay cho người yêu, nàng cũng quên khuấy đi mất. Nàng đặt Thế Hùng nằm dài xuống rồi lấy trong mình ra xâu chìa khóa đã đoạt của viên Ngục trưởng. Nàng tìm một chìa khóa nhỏ và lần mở khóa chiếc còng để giải thoát Thế Hùng.
Ngoài kia, tiếng xôn xao của quân Trịnh, mỗi lúc mỗi gần hơn.
Ngọc Lan lòng rối tơi bời. Nàng cúi xuống ôm chặt lấy Thế Hùng lay gọi :
- Anh !... Anh ơi ! Hãy tỉnh dậy.
Thế Hùng giẫy giụa, miệng vẫn phều phào trong cơn mê sảng.
Ngọc Lan quá đau xót, nắm chặt lấy hai vai chàng lắc mạnh:
- Thế Hùng ! Tỉnh lại, Ngọc Lan vào cứu anh đây.
Như nhận được tiếng người yêu, Thế Hùng dần tỉnh lại rồi, cặp mắt lờ đờ dáo dác, từ từ mở ra. Chàng nhìn Ngọc Lan, chăm chú một lúc như cố định tĩnh tâm hồn, rồi nắm chặt lấy tay nàng:
- Ngọc Lan... Ngọc Lan... Làm sao em vào... được nơi đây?...
Ngọc Lan vui mừng đến ứa nước mắt. Nàng đỡ Thế Hùng đứng lên nói:
- Câu chuyện còn dài, em sẽ thuật sau. Bây giờ tình thế cấp bách lắm. Quân Trịnh sắp đến đây để vây bắt chúng ta. Anh liệu có còn đi được chăng?
Thế Hùng cố đứng thẳng người nhưng chân tay vẫn còn hơi run. Chàng dựa vào vách nhà ngục, yên lặng không nói.
Ngọc Lan biết chàng rất khổ sở vì không giúp được nàng trong tình thế nguy biến này nên vội quay đi để nghĩ đến một phương thế khác.
Mụ Hà lòn tay đở Thế Hùng :
- Công tử hãy vịn vào vai mụ mà đi.
Lê thế Hùng hơi ngạc nhiên nhìn mụ Mà rồi bỗng nắm chặt lấy vai mụ:
-  Kia bà Hà ! Có cả bà đến đây nữa ư?
Mụ Hà cố bậm môi cho khỏi bật thành tiếng khóc, nhìn Ngọc Lan lo ngại.
Khi thấy Thế Hùng vừa tĩnh, mụ muốn nắm lấy chàng kể lể, nhưng ngại mình làm hư hỏng kế hoạch đang thi hành. Mụ cố sức đè nén tình cảm để chờ đợi khi thoát khỏi nơi đây sẽ mặc tình kể lể bao điều tâm sự...
Mụ nghẹn ngào nói với Lê thế Hùng:
- Còn... nhiều... chuyện lắm ! Phải thoát khỏi nơi này trước đã...
Đằng kia, Ngọc Lan như chợt nghĩ ra điều gì, mặt tươi hẳn lên. Nàng đến bên Lê thế Hùng nói :
- Chúng ta đến lúc phải liều! Anh nghĩ có thể dùng được tất cả đám tù tử hình đang bị giam giữ ở đây không ?
Lê thế Hùng đáp:
- Được lắm chứ ! Ở đây, ai cũng điều kính nể anh... Em nên mở khóa gấp rút, còn việc khuyến dụ họ tiếp tay với mình em khỏi phải sợ...
Ngọc Lan y lời, lấy xâu chìa khóa chạy vụt đi mở từng phòng giam tử tù. Bất ngờ được thả ra, đám tử tù hết sức kinh ngạc.
Họ bu quanh Thế Hùng nhốn nháo, tay vẫn còn bị còng... Nhiều tiếng cất lên hỏi:
 - Chuyện gì thế công tử! Bọn mình được ân xá ư?
Lê thế Hùng ra dấu cho họ đừng làm ồn rồi mệt nhọc bảo:
- Anh em đừng làm náo động ! Phải chuẩn bị gấp rút để vượt ngục !
Đám tử tù sửng sốt :
-  Vượt ngục ! Vượt ngục! Bằng cách nào?
Thế Hùng chậm rãi đáp:
- Chúng ta là tử tù ở lại cũng phải chết ! Thà chiến đấu với quân Trịnh một phen, để tự giải thoát rủi có chết cũng cam lòng ! Anh em nghĩ sao ?
Nhiều tiếng biểu đồng tình. Ngọc Lan cũng vừa mở xong cửa những phòng giam rồi nàng chuyền chìa khóa đi cho họ mở khóa còng giúp nhau...
Nàng đến đứng bên Lê thế Hùng rồi bắt đầu ngỏ lời với các tù nhơn :
- Anh em hãy yên lặng nghe tôi nói. Quân Trịnh trong phủ rất đông mà chúng ta lại không có khí giới. Trước tiên, chúng ta cần phải cướp cho được khí giới, mới mong thoát khỏi nơi này.
Cả bọn lao nhao:
- Cướp bằng cách nào? Khí giới ở đâu mà cướp?
Ngọc Lan đưa tay ra dấu cho mọi người im lặng. Nàng toan nói tiếp bỗng nghe tiếng ồn ào trước cửa ngục.
Mọi người cùng nghĩ là quân Trịnh sắp ùa vào, trên mặt ai ai cũng có vẻ lo lắng.
Riêng Ngọc Lan vẫn giữ thái độ bình tĩnh. Nàng bỗng nghĩ ngay đến một kế rồi bảo mọi người vào núp trong các phòng giam chờ nghe hiệu lịnh là ùa ra.
Ngọc Lan chỉ giữ lại sáu người lực lưỡng bảo vào phòng bên lột quần áo của bọn lính canh mặc vào và cầm luôn cả võ khí của chúng mang ra... Nàng sắp cho họ đứng gốc im lìm từ đầu nầy đến đầu kia rồi dặn kỹ càng là khi nào nàng hành động mới được ra.tay...
Ngọc Lan lại lấy quần áo của tên lính Hưng lúc nãy khoác vào mình, rồi đứng sát bên cửa ngục.
Giữa lúc ấy, bên ngoài có tiếng kêu cửa cấp bách:
- Mở cửa ! Mở cửa mau lên!
Ngọc Lan chần chờ đợi cho chúng động vào cửa mới mở toan ra.
Từ bên ngoài, quân Trịnh ùa vào, khí giới sáng chói dưới ánh đuốc bập bùng. Chúng ngạc nhiên dừng cả lại vì không ngờ cảnh tượng trong ngục hình vẫn trang nghiêm, quân canh chỉnh tề đứng gác. trái với sự dự đoán của chúng.
Lúc nãy, bọn lính tuần Dinh vừa ngang qua nhà viên Ngục trưởng thì bỗng thấy các cửa sổ mở toang ra một cách lạ kỳ. Sanh nghi chúng vào xem và ngửi phải chất ‘‘mê hồn hương’’ Nhiều đứa nhảy mũi ngã quay ra mặt đất. Viên chỉ huy kinh hoàng liền sai người chạy phi báo với Chúa Trịnh.
Trịnh Tùng vội vã đến nơi, nhưng trước mùi ‘‘hương mê hồn’’ nồng nặc không dám tiến đến gần... Ông truyền cho phá các cửa bên ngoài để ‘‘mê hồn hương’’ bay tản hết ra ngoài... Một lúc lâu, quân lính mới vào được phía trong và đem cả gia đình Ngục trưởng đi ra.
Trịnh Tùng nghi ngờ có kẻ gian vào lấy trộm đồ đạc của Ngục trưởng nhưng soát lại thật kỹ thì dường như cả nhà không một vật gì bị mất.
Chúa Trịnh hơi ngờ vực. Kẻ gian xông thuốc mê vào nhà Ngục trưởng không trộm đồ đạc thì để làm gì? Ông nghĩ lại kẻ gian dù có tài tình đến đâu cũng khó lọt vào soái phủ êm ái như vậy được... Trong việc này, Chúa Trịnh nghi ngờ có kẻ làm nội ứng.
Bỗng một ý nghĩ thoáng qua, Trịnh Tùng quay lại bảo quân sĩ lục tìm xâu chìa khóa các cửa phòng giam, trong mình viên Ngục trưởng. Quân sĩ tìm kiếm một lúc không ra, Trịnh Tùng đoán chắc là kẻ gian định phá ngục.
Ông xua quân sĩ chạy ùa vào và cả bọn lại ngẩn ngơ trước sự trang nghiêm của nhà ngục. Quân sĩ trở ra báo cáo tự sự, chúa Trịnh càng ngạc nhiên hơn.
Bên trong, tốp lính vừa vào chừng như còn nghi ngại điều gì, bèn lần bước dọc theo nhà ngục xem xét các phòng giam, không buồn hỏi đến những tên lính canh. Bọn ưu binh của
Chúa Trịnh luôn luôn như vậy: được Chúa tin yêu chúng khinh thường tất cả những người khác đội ngũ, không hạ mình trò chuyện, hoặc có gây sự thì chúng hung hăng đánh đập chẳng tiếc tay... Lần nào hễ có chuyện ấu đả xảy ra là y như Chúa Trịnh bênh vực bọn chúng.
Do đó. chúng hống hách tỏ ta khinh thường quân lệnh mà chỉ riêng nể sợ một mình Trịnh Tùng...
Ngọc Lan hơi lo sợ lúc ban đầu. Nếu chúng gạn hỏi điều nầy, điều nọ, tức nhiên nàng bắt buộc phải trả lời, thì bao nhiêu công việc đều vỡ lỡ ra hết. Cũng may là bọn ‘‘ưu binh’’ của Trịnh Tùng quen thói, xem thường đám quân canh cứ rầm rập đi vào nhìn ngược, nhìn xuôi xem xét.
Ngọc Lan mừng thầm. Nàng tin tưởng phen này sẽ ‘‘tặng’’ cho Trịnh Tùng một vố bất ngờ và cho bọn ưu binh bớt hung hăng phách lối.
Đợi cho một phần trong bọn chúng vào nhà ngục, Ngọc Lan lẹ làng đóng cửa khám lại. Nghe một tiếng rầm vang động và tiếng then cài ‘‘rẹt’’ ngang, sáu người tù đứng gác vội trở giáo đâm nhầu...
Từ trong các phòng giam, bọn tử tù đổ vô cướp khí giới, sức mạnh như cuồng phong, vũ bão. Bọn ưu binh bất thình lình trở tay không kịp, đành chịu chết hay bó tay cho kẻ cướp giựt mất gươm giáo...
Bên ngoài, Trịnh Tùng nghe tiếng cửa ngục đóng nặng nề rồi nghe tiếng gươm giáo chạm nhau, biết có biến phía trong nên hô quân xông vào phá cửa ngục để tiếp ứng.
Những cửa khám rất kiên cố, mặc cho bọn ưu binh công phá, nó vẫn trơ trơ không hề suy suyển.
Phía trong nhà ngục, đoàn tử tù đã hạ được hết bọn ưu binh và người nào cũng cầm chặt khí giới trong tay.
Ngọc Lan hết sức vui mừng vì đoạn đường khó khăn đã vượt qua. Nàng chợt nhìn thấy Thế Hùng đứng giữa đám tử tù, tay lăm lăm cầm khí giới, sức lực dường như đã hồi phục lại.
Nàng lách khỏi mọi người đến bên chàng hỏi:
- Anh !... Anh liệu sức có chạy thoát được chăng?
Thế Hùng trấn an lòng người yêu:
- Em đừng lo ! Sức anh còn hạ được mười địch thủ.
Tuy chàng nói thế nhưng Ngọc Lan vẫn lo sợ. Nàng giao phó cho hai người tử tù lực lưỡng biết võ nghệ theo sau hộ vệ cho Thế Hùng và mụ Hà.
Kế đó, nàng cất tiếng lên nói với đám tử tù, giữa lúc bên ngoài tiếng động cửa vẫn ầm ầm vang động:
- Các anh em, chúng ta vừa qua một đoạn đường. Còn một trận quyết liệt nữa mới thoát khỏi nơi đây ! Tất cả chung ta phải đồng tâm cố gắng mở một con đường máu để ra khỏi phủ Chúa. Phải nhớ rằng ở lại nơi đây rồi cũng chết, thà chúng ta chiến đấu đến hơi thở cuối cùng rồi có chết cũng cam lòng.
Bọn tử tù đều hô to câu ‘‘quyết tử’’ gươm giáo đưa lên cao như tuyên thệ một lời.
Ngọc Lan thấy rõ được ý chí của họ lòng mừng khấp khởi. Nàng tin tưởng vào phút quyết định cuối cùng mà phần thắng lợi phải về hẳn phe nàng.
Nhưng nếu thất bại thì sao ?
Ngọc Lan không dám nghĩ thêm, nhưng nàng quay nhìn Lê Thế Hùng với tất cả niềm yêu tha thiết. Dù sao đi nữa nàng cũng trọn tình, trọn nghĩa với chàng.
Ngọc Lan bỗng khoát tay cho mọi người im lặng rồi đưa ra ý kiến:
- Hiện thời bọn ưu binh bên ngoài đang hùng hổ muốn xông vào tiếp cứu đồng bạn. Vậy chúng ta nên hành động thế này để đở phần chém giết.
Hãy gom tất cả lại phía trước cửa ngục: ưu binh tiến vào từ từ, ta lập tức hạ ngay còn như chúng ùa vào như nước vỡ bờ thì cứ im lặng đợi lúc thuận tiên cùng tuôn ra cửa chính... Phải cố đi sát vào nhau, đừng rời rạc sẽ bị tiêu diệt.
Nói xoug, nàng ra lệnh đập phá mấy ngọn đèn chong và dập tắt những ngọn đuốc trên vách. Cả bọn gom hết về phía trước cửa ngục. Ngọc Lan nắm chặt lấy tay Thế Hùng rồi truyền lệnh gở then cài...
Bọn ưu binh đang phá cửa bên ngoài, bỗng thấy cửa mở bật ra nên kinh hoảng thối lui.
Nhà ngục im lìm phăng phắc làm cho Trịnh Tùng cũng phải lạ lùng. Thế là nghĩa lý gì? cả một đám ưu binh của người bị tàn sát hết rồi ư? Bây giờ cho quân sĩ xông vào biết đâu sẽ rơi vào hiểm địa.
Chúa Trịnh bỗng quay lại truyền:
- Đốt đuốc lên rồi hãy tiến vào giết sạch chúng. Tất cả anh em bây đều bị sát hại còn chần chờ gì nữa mà không phục thù.
Lời truyền phán của Trịnh Tùng như có sức mạnh thúc đẩy lòng chiến đấu của đám ưu binh. Chúng lập tức đốt đuốc lên, ồ ạt kéo đến cửa ngục.
Mấy tên đi đầu khôn ngoan, liệng đuốc vào trong để soi đường.
Ngọc Lan lo ngại vô cùng. Nàng ra hiệu cho mọi người nép sát vào vách, để chúng khỏi thấy được bóng dáng...
Nhờ ánh đuốc sáng chói, bọn ưu binh bên ngoài trông rõ đống xác người ngỗn ngang dưới đất và sự vắng vẻ lạnh tanh, đến rợn người...
Chúng chần chờ mãi không dám vào, khiến Chúa Trịnh bực tức hét vang:
- Đồ khốn nạn, bây còn đợi gì mà không xông vào bắt hết bọn chúng cho ta!
Một tên vừa qua khỏi cửa thì một ánh kiếm lóe lên, đầu hắn lìa khỏi cổ, lăn lông lốc.
Sự im lặng nặng nề lại trở lại trong nhà ngục, cả bọn ‘‘ưu binh’’ kinh hoảng thối lui trước một sức mạnh ‘‘vô hình’’. Quân nghịch có bao nhiêu người? Chúng núp ở đâu mà hành động chớp nhoáng như vậy?
Những bó đuốc liệng vào lúc nãy lần lần tắt ngấm, nhà ngục lại chìm trong bóng tối hãi hùng. Bọn ‘‘ưu binh ‘‘ nhốn nháo nhìn viên đội trưởng. Hắn cũng không biết làm cách nào để bắt kẻ gian khi mà chúng đã chiếm lợi thế hơn? Không lý bao vây như thế này chờ sáng!
Chính Ngọc Lan ở bên trong cũng lo sợ như vậy mà thôi. Nếu chúng cứ bao vây chờ sáng thì tình thế của phe nàng rất nguy khốn, bỗng dưng trở thành những từ tù bị giam lỏng của Bình an Vương ! Phải tìm cách thoát khỏi phủ Chúa trong đêm nay, giữa lúc bóng tối còn tràn đầy khắp nẻo. Chứ sáng ra, mặt nào rõ mặt nấy thì lực lượng của nhóm nàng còn mong gì chống nổi binh hùng tướng mạnh của Trịnh Tùng...
May mắn cho Ngọc Lan và Lê thế Hùng là Trịnh Tùng rất nóng nảy muốn bắt liền kẻ gian để trị tội. Nhưng đến giờ phút này Chúa Trịnh mới thấy rõ sự hèn nhát của bọn ‘‘ưu binh’’: Chỉ có vài kẻ gian mà đã sợ hãi thối lui.
Trịnh Tùng cả giận quát lớn:
- Cứ ồ ạt xông vào tàn sát chúng, còn chần chờ gì nữa!
Không dám chần chờ, bọn ưu binh ùa vào như thác lũ, bít mất cửa ngục tử hình. Như đã định trước kế hoạch thoát thân, Ngọc Lan, Thế Hùng và đám tử tù im lìm rồi bất đồ đánh bứt ngang hông bọn ưu binh, giành lấy cửa ngục tràn ra hùng hổ như bầy thú dữ xổ chuồng... Bọn ưu binh đi đầu không quay lại kịp, bọn đi sau bất ngờ bị uy hiếp cũng trở tay không kịp vì sợ đâm nhầm đồng đội...
Chúng lúng túng, chần chờ một lúc thì phe Ngọc Lan đã thoát khỏi vòng vây chạy ra phía công Dinh.
Trịnh Tùng thấy quân gian phản công bất ngờ và đông nghẹt như một đoàn hùng binh thì kinh dị vô cùng. Ông cùng bọn hộ vệ thối lui vào Phủ, hạ lệnh động binh khắp các ngả vây bắt quân gian...
Tiếng trống đổ liên hồi, tiếng chiêng vang dậy đất, quân Trịnh hò reo tở mở, từ các cửa Dinh rầm rộ kéo sang cổng chính giữa lúc phe Ngọc Lan chạy đến sát mặt thành. Quân canh cổng chính đổ xô ra cản ngăn: một trận thư hùng quyết liêt diễn ra, máu người loang trên mặt đất.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.10.2020 15:01:09 bởi Thanh Vân>
20. Cái chết của bà lão

 

NGỌC LAN lo sợ vô cùng. Lệnh báo động của Chúa Trịnh Tùng đã ban hành, chỉ phút chốc chúng sẽ bao vây khắp nẻo, làm thế nào thoát ra cho được. Nàng biết rõ lực lượng của bên nàng nên lòng rối như tơ vò: họ chỉ là bọn tử tù ô hợp, không thông kiếm pháp, liều chết đánh bừa để thoát thân, không sớm muộn cũng làm mồi cho đoàn quân thiện chiến. Thế Hùng đã thấy mệt mỏi lắm rồi, mặt chàng xanh nhợt đi khiến Ngọc Lan phải luôn luôn theo sát bên chàng...
Giữa lúc nguy ngập ấy bỗng dưng bọn ưu binh lộ vẽ xôn xao rồi từ phía Tây Nam của Phủ Chúa, ngọn lửa, cất cao lên ngùn ngụt.
Tiếng la ‘‘cháy’’ vang dậy cả một góc trời. Bọn ưu binh từ các cửa vừa kéo đến cổng chính dừng chân cả lại nhìn ngọn lửa bắt đầu lan tràn dữ dội. Chúng hãi hùng và độ chừng quân gian còn rất đông, đang đánh úp Phủ Chúa.
Trong lúc bối rối ấy, thì từ trên lầu ‘‘bát giác’’ tiếng trống lại liên hồi thúc giục, lệnh truyền tiếp ứng phía Tây Nam.
Thật ra, chính Trịnh Tùng cũng kinh hoàng. Ông không ngờ quân gian đã lén được vào soái phủ như chỗ không người. Lòng ông rất phân vân. Ông không hiểu chúng từ đâu đến, cướp nhà ngục, đốt kho Iương, làm những chuyện kinh thiên động địa, cốt ý để làm gì? Hay là đội dọ thám của Chúa Mạc đã lọt vào giữa Tây đô.
Trịnh Tùng hạ lệch cho tất cả đội ‘‘ưu binh’’ tiếp ứng quay về giúp sức quân giữ kho lương vì ông dự đoán là chúng áp dụng kế ‘‘điệu hổ lỵ sơn’’: giả vờ cướp ngục chứ thực ra cố đánh chiếm nơi khác quan trọng hơn.
Trịnh Tùng có ngờ đâu mình đã xét đoán lầm một cách tai hại.
Và cũng nhờ thế mà Ngọc Lan, Thế Hùng cùng cả bọn tử tù mới có hy vọng thoát thân.
Thấy quân Trịnh ùa sang phía Tây Nam để tiếp giữ kho lương, Ngọc Lan hết sức vui mừng. Nàng vội hô to lên, đốc xuất đám tử tù:
- Rán lên các anh em! Phải quyết chiến trong trận cuối cùng này, mới thoát ra được.
Nghe tiếng của Ngọc Lan, đám tù nhân càng thêm hăng hái. Họ lăn xả vào chém giết, khiến bọn quân canh phải kinh hãi vẹt đường. Nhưng chỉ một giây, quân canh chấn chỉnh ngay hàng ngũ, phản công quyết liệt, vây chặt những người nổi dậy.
Ngọc Lan cảm thấy nguy. Nội quân canh cổng chính mà còn khó bề thắng được thì nói chi đến bọn ưu binh... Nếu chúng không bận rộn về đám cháy ‘‘kho lương’’ thì dầu có mọc cánh cũng khó thoát ra được.
Giữa lúc Ngọc Lan bối rối chưa biết quyết định thế nào bỗng có tiếng la vang;
- Tráng sĩ! Tráng sĩ! Mau đem Công tử thoát thân, đừng chần chờ nữa vô ích. Còn tôi thề chết nơi này!
Cả đám tử tù đều 10 tiếng lao nhao:
- Tráng sĩ! mau thoát đi thôi!
Ngọc Lan bùi ngùi cảm động nhưng biết làm sao trong giờ phút nguy biến này. Nàng đành nhìn họ một lần cuối cùng rồi quay tít ngọn kiếm trên tay, bảo vệ cho Lê Thế Hùng và mụ Hà ra phía cổng Dinh.
Thấy nàng toan thoát thân, bọn quân canh càng đổ xô vào đánh ráo riết hơn nhưng chúng chạm vào Ngọc Lan như chạm phải bức tường đồng.
Ngọc Lan cứ tiến từ từ ra cổng chính, Thế Hùng và mụ Hà tuần tự theo sát bên nàng. Nhưng khi Ngọc Lan đến cổng phủ thì nàng lo sợ vô cùng, cổng phủ đã đóng chặt tự bao giờ.
Ngọc Lan quay nhìn ra phía sau, đám tử tù đang gặp thế nguy cứ bị giết chết lần hồi. Ngọc Lan đã nghĩ đến giờ cuối cùng của nàng và Lê Thế Hùng.
Một tiếng vang lên:
- Tráng sĩ! Tôi vĩnh biệt!
Ngọc Lan kinh hoàng quay nhìn lại mụ Hà đã trúng thương ngã vật xuống bên cạnh. Thế Hùng cúi xuống toan đỡ lấy mụ nhưng bọn quân canh ồ ạt xông vào khiến cho Ngọc Lan một phen chống trả mãnh liệt.
Nàng kéo tay Thế Hùng :
- Anh... Anh nên thận trọng ! Phải thoát ra trước đã!
Thế Hùng riu ríu nghe theo người yêu vì chàng biết sức đã kiệt quệ lắm rồi, tuy nhiên chàng cũng quay lại nhìn người lão bộc trung thành đã vì chàng mà thiệt mạng.
Ngọc Lan rất thương tiếc mụ Hà nhưng trong giờ phút này nàng đành bậm môi cất bước... Không thể chần chờ thêm nữa vì tinh thế đã đến lúc nguy kịch lắm rồi. Biết không thể nào thóat ra bằng cổng chính, Ngọc Lan nhắm hướng những lùm cây để mong nhờ bóng tối thoát thân... Hình như hiểu rõ ý định của nàng, bọn quân canh càng đốt thêm nhiều đuốc, nhưng chúng chưa kịp làm sáng tỏ tất cả vườn cây bên trong thì Ngọc Lan và Lê thế Hùng đã nhảy vọt lên các tàn cây rậm rạp trong vườn lẩn mất.
Quân Trịnh tức bực vô cùng chúng đổ xô đến vây quanh vườn cây rồi chia nhau sục sạo từng gốc cây một, nhưng chúng vẫn không tìm ra hình bóng hai kẻ gian. Chúng có ngờ đâu Ngọc Lan và Lê thế Hùng là những kẻ tái nghệ tuyệt luân, ở trên ngọn cây họ đi nhanh như vượn, chỉ một loáng đã đến sát mặt tường bên ngoài. Và giữa khi quân canh rần rộ vây chặt vườn cây, Ngọc Lan đã dìu Thế Hùng nhảy xuống đất thoát chạy trong đêm tối.
Chạy một đỗi xa, Ngọc Lan dừng lại dìu Lê thế Hùng cho nằm xuống vì thấy chàng không còn đủ sức bước đi được nữa. Nàng chưa kịp nói một lời nào bỗng nghe có tiếng chân người chạy phía sau. Ngọc Lan kinh hoàng chụp lấy chuôi kiếm đưa lên thủ thế.
Trời đất đen như mực, không thể nhìn thấy xa được, nhưng Ngọc Lan cũng nghe rõ tiếng chân người thình thịch mỗi lúc một gần. Tiếng chân lẻ loi, cấp bách, dồn dập trong bóng đêm dầy làm cho nàng càng hồi hộp lo âu... Quân Trịnh đuổi theo chăng ? Không có lý! Nếu quả là bọn ưu binh, chúng phải đi bằng ngựa và từng đoàn chứ có đâu một tên như vậy?
Ngọc Lan đoán chắc biện thời quân Trịnh cũng đã rần rộ ra khỏi khu vực của soái phủ, ráo riết tầm nã nàng và Lê Thế Hùng, nhưng vì, có lẽ, lạc hướng nên chúng không theo kịp đó thôi.
Tiếng chân lạ đã đến sát bên nàng và Ngọc Lan nghe rõ tiếng thở hào hển của người vừa đến.
Bỗng nàng rợn người vì một tiếng ngã ‘‘phịch’’ bên đường và tiếng rên siết não nùng:
- Hừ... hừ... ôi... chắc chết!
Ngọc Lan giật nẩỵ mình. Tiếng ai nghe như tiếng của ông lão Hà.
Nàng bảo nhỏ vào tai Thế Hùng:
- Anh nằm yên, đừng động đậy, để em lần đến xem ai vừa ngã quỵ bên đường.
Thế Hùng đã đuối sức lắm rồi, chàng sắp sửa mê thiếp đi, nhưng khi nghe tiếng Ngọc Lan văng vẳng bên tai, chàng cũng rán đáp, giọng phều phào:
- Vâng !... Em... cứ đi...
Ngọc Lan rời người yêu, bò lần tới trước. Nàng nghe hơi thở của người lạ cứ mòn dần mòn dần... Nàng đến sát một bên mà y vẫn không hay biết. Y chỉ nằm yên nói lầm thầm như khấn vái một mình:
- Công... tử tha tội... mình ở lại bình yên... tôi... chết... mất...
Ngọc Lan kinh ngạc vô cùng. Rõ ràng là tiếng lão Hà, không còn ngờ vực được nữa! Nhưng lão đi đâu giờ này mà lại ngã quỵ ở đây? Nàng đặt tay vào mình lão lay gọi:
- Lão Hà! Lão Hà ! Tỉnh dậy đi!
Người lạ choàng dậy bàng hoàng, toan lồm cồm ngồi lên trốn chạy, nhưng sức đã kiệt quệ, nên lại dành quỵ xuốug.
Ngọc Lan nắm chặt hai bàn tay lão gọi tha thiết hơn:
- Lão Hà đừng kinh sợ, tôi là người đi cứu Lê công tử đây!
Nghe rõ mấy tiếng sau cùng, người lái đò Mân Kiện hết sức vui mừng :
- Kìa... tráng sĩ!
Hai bàn tay lão Hà siết chặt lấy lay nàng. Ngọc Lan lạ lùng hỏi ông:
- Lão đi đâu giờ này mà phải té quỵ nơi đây?
Lão Hà nín lặng không đáp. Một lúc lâu mới phều phào:
- Tội đã đi theo tráng sĩ và mụ nó vào trong Phủ Chúa!
Ngọc Lan ngạc nhiên đến cực độ, hỏi dồn dập:
- Lão đã vào trong soái phủ, để làm gì trong đêm nay? Tại sao không cho tôi biết?
Lão Hà sau khi mệt nhọc thở dài, cố gắng thốt hết tất cả những sự bực tức khổ sở trong lòng từ mấy ngày qua:
- Tráng sĩ và mụ nó có tin lòng lão đâu mà lão dám xen vào việc của hai người bàn định. Lão đi đi, về về như một bóng ma, nhưng luôn luôn lúc nào lão cũng theo dõi việc làm của hai người.
Như đêm hôm nay, khi hai người sửa soạn đi rồi thì lão nối gót theo sau, làm cách gạt bọn quân canh là kiếm mụ Hà về gấp, mới lọt được vào trong Dinh. Lão lần qua ngục tử hình và chứng kiến hết tất cả.
Ngọc Lan rất kinh dị:
- Trời! Sao lão hành động liều lĩnh như vậy?
Như có dịp để trút hết nỗi lòng, lão Hà say sưa nói:
- Liều lĩnh ư ? Không đâu tráng sĩ ạ! Lão đã suy nghĩ kỹ lắm rồi. Lão thấy mình cần phải hành động dù có chết cũng cam lòng miễn sao tráng sĩ và vợ lão hiểu rõ tấm lòng chân thật của lão... Tráng sĩ ơi! Tráng sĩ có bao giờ hiểu được nỗi khổ tâm của kẻ bị ngờ oan... Nhất là khi vợ không còn tin lòng mình nữa, xem mình như một kẻ phản bội thì có ai chịu đựng được chăng?
Ngọc Lan không ngăn được sự cảm động. Nàng nhận thấy trong mấy ngày qua mình đã tỏ ra quá khắt khe với lão Hà. Cũng chính vì nàng mà mụ Hà đối xử với ông như vậy!  Nhưng biết làm sao? Hoàn cảnh đã đưa đẩy nàng đến chỗ phải ngờ vực vì việc này có liên quan mật thiết đến đời sống của Thế Hùng và của chính nàng.
Ngọc Lan bỗng hỏi:
- Nhưng tại sao đến lúc đánh nhau dữ dội, lão không tìm cách thoát thân còn chần chờ làm gì cho bị họa lây?
Lão Hà cười nhạt :
- Như vậy nghĩa là tráng sĩ không hiểu rõ ý định của lão. Lão trốn vào phủ chúa là quyết tâm giúp đỡ hai người trong cơn nguy biến mà đến lúc ấy lại bỏ đi ư? Tráng sĩ ơi ! Lão đã thề cứu cho được Lê công tử để chuộc lỗi trước, nên lão phải liều mình.
Ngọc Lan hơi ngờ vực hỏi tiếp:
- Lão đã hành động thế nào?
Lão Hà chậm rãi đáp:
- Chính lão đã phóng hỏa đốt kho lương làm cho bọn ưu binh phải toán loạn.
Ngọc Lan cả mừng rú lên:
- Trời ! Lão đã hành động như vậy ư? Ta biết lấy gì đền đáp ơn sâu của lão...
lão Hà thong thả đáp:
- Lão chỉ mong tráng sĩ và mụ nó hiểu được lòng lão là đủ lắm rồi! Nhưng mà... Mụ nó và Lê công tử ở đâu hở tráng sĩ?
Ngọc Lan khổ sở vộ cùng. Nàng sợ nhất phải trả lời câu hỏi ghê gớm này và từ nãy giờ nàng đã mong mỏi cho nó đừng đến. Báo tin cho lão là mụ Hà chết thật ra không khác nào một cực hình đối với nàng.
Thấy nàng lặng im do dự, lão Hà sinh nghi hỏi tiếp:
- Tráng sĩ !... nhà tôi và Lê công tử hiện giờ ở đâu? Hai người đã chạy trước rồi ư?
Ngọc Lan ấp úng đáp:
- Vâng !
Rồi nàng bắt sang chuyện khác:
- Nhưng mà... ông bị thương ở đâu?
Lão Hà không nghĩ rằng Ngọc Lan nói dối lão nên lão chỉ cho nàng vết thương rất nặng ở trên đầu... Nàng đưa tay dò xem thấy bẻ một đường đứt ngang, may mắn là lưỡi kiếm chưa động đến óc.
Giữa lúc ấy bỗng nghe lão Hà hét lên một tiếng : ‘‘Ối’‘ vang dội rồi như sắp ngã đi. Ngọc Lan kinh hoàng ôm sốc đầu lão lên gọi :
- Lão trượng ! Lão trượng, tỉnh dậy đi...
Đằng kia, Thế-Hùng đang nằm chập chờn, chợt nghe một tiếng la kinh khủng rồi tiếng Ngọc Lan kêu gọi cấp bách, chàng cố sức lết tới để xem chuyện gì đã xảy ra.
Thế Hùng vừa đến là lão Hà cũng vừa tỉnh. Nghe tiếng chàng hỏi Ngọc Lan, lão rất hân hoan :
- Kìa công tử... Công tử đã bình yên trở về, lão... vui mừng lắm !
Lão quá cảm động đến khóc tức tưởi như một đứa trẻ...
Bỗng dưng lão hỏi Thế Hùng:
-  Ủa lạ này ! Nhà tôi đâu không thấy đến cùng công tử?
Lê thế Hùng lặng người đi không đáp. Tâm linh như báo cho chàng biết một chuyên nguy hiểm sắp xảy ra. Chàng cảm thấy có bàn tay Ngọc Lan nắm chặt lấy cánh tay chàng như giữ cho chàng được thêm bình tĩnh...
Lão Hà đã nghi ngờ lắm rồi! Lão chú ý đã hai lần hỏi đến mụ Hà, cả hai đều không đáp có phải chăng mụ đã bỏ mình trong trận chiến đấu với quân Trịnh rồi ư ?
Lão hỏi dồn dập như van lơn, cầu khẩn :
- Công tử ! Công tử ! Tội nghiệp đừng giấu lão nữa ! Hãy nói thật ra đi. Nhà tôi đã chết rồi phải không?
Câu nói của lão hòa trong tiếng nấc gợi lên một niềm chua xót đau thương khiến Ngọc Lan không cầm được nước mắt. Đến giờ phút này, nàng thấy không còn có thể giấu giếm gì được nữa, cứ nói thật ra và sẵn sàng chờ đợi những hậu quả không hay xảy đến. Tuy nhiên, nàng vẫn nói nữa úp, nữa mở một lần cuối họa may còn cứu vãn được tình thế chăng?
Nàng đở đầu lão lên cao rồi nói :
- Lão trượng nên tịnh dưỡng, để chúng cháu mang về nhà… rồi sẽ gặp... lão bà...
Lão Hà bực tức hét lên:
- Tráng sĩ! Đừng dối lão nữa !... Nhà tôi đã chết rồi... phải không?
Ngọc Lan không có can đảm nói dối lần thứ hai nàng ngoảnh mặt đi để che giấu giọt lệ rưng rưng nơi khoé mắt.
Lão Hà lạnh cả chân tay, miệng phều phào:
- Nhà tôi... chết... rồi ! Nhà tôi chết đi... mà không thấu được... tấm lòng trung kiên của tôi...
Ngọc Lan quá cảm xúc, nghẹn ngào nói:
- Lão trượng yên lòng, chính lão bà đã hiểu rõ tấm lòng của lão trượng nhiều lắm!
Nhưng, lão Hà không còn đáp lại lời nàng nữa! Lão nấc lên mấy tiếng, rồi hắt ra hơi thở cuối cùng.
Thế Hùng đưa mắt nhìn người yêu, lòng đau như cắt chỉ vì chàng mà cả hai vợ chồng người lão bộc thân tín phải thiệt mạng trong một đêm.
Nhưng chàng vẫn cố dằn lòng để an ủi Ngọc Lan :
- Thôi em ! Đừng buồn nữa, chẳng qua là số mệnh mà thôi.
Ngọc Lan bùi ngùi nói nhỏ :
- Tội nghiệp cả hai vợ chồng đều vì chúng ta mà bỏ mình. Em nhớ mãi ngày này, tức là ngày hy sinh cao quý của họ.
Nàng xây lại nói với người yêu :
- Bây giờ thì chúng ta đi!
Thế Hùng đỡ nàng đứng lên hỏi:
- Em định sẽ về đâu?
Ngọc Lan suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Em nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta phải trở về Thăng Long! Ở đây không sớm thì muộn cũng sa vào lưới của Trịnh Tùng... Không biết anh nghĩ thế nào?
Lê thế Hùng ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
- Anh cũng đang muốn quay về đất Mạc để giúp đỡ Bùi đại huynh trong việc luyện quân chờ ngày tiến đánh Trịnh Tùng rửa hận.
Sau bao lần thất bại, anh mới hiểu rằng một thân, một mình không thể nào làm nên chuyện được. Song anh vẫn lo ngại, không biết đại huynh có tha thứ lỗi lầm buổi trước hay không?
Ngọc Lan phát biểu ý kiến:
- Em tin Bùi đại huynh sẽ không hẹp lượng với anh đâu! Tuy không được may mắn gần người nhưng em cũng hiểu được phần nào đức độ đáng mến của đại huynh. Chúng ta nên về Thăng Long là phải anh ạ!
Thế Hùng gật đầu tán thành rồi hai người biến mất trong đêm tối, nhắm hướng Thăng Long trực chỉ...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.10.2020 11:41:20 bởi Thanh Vân>
21. Hương cũ... người xưa



MẤY hôm nay, thủ đô Thăng Long tưng bừng náo nhiệt: liên tiếp trong ba ngày Chúa Mạc mở cuộc duyêt binh vĩ đại.
Dân chúng rất vui mừng vì liên tiếp mấy ngày họ được dịp vui chơi thỏa thích. Từ các vùng quê xa tắp, thiên hạ ùn ùn kéo về xem cuộc duyệt binh.
Thăng Long thay đổi hẳn bộ mặt hằng ngày. Hàng quán mọc ra chơm chởm khắp nơi, các tửu lầu, tửu điếm đông nghẹt những khách... Những gia đình ở xa, có con sung vào đội ngũ được dịp xem con tập trận, ai mà lại không vui... Họ kéo nhau ra thủ đô từ trước mấy ngày, một là vui chơi cho biết kinh thành, hai là nhìn con cho hả dạ.
Đêm vừa xuống thì thủ đô bừng lên rộn rịp: tiếng người đi lại trên hè phố, tiếng cầm ca, tiếng hát xướng trên các tửu lầu, hòa lẫn với tiếng vó câu, lạc ngựa rộn rã trên đường, tạo thành một âm thanh hỗn loạn...
Nhưng, xa hẳn cảnh huyên náo ngoài kia của dân chúng, trong một dinh thự trang nghiêm, Bùi văn Khuê trầm lặng một mình bên cạnh hồ sen, dưới ánh sáng dịu dàng của những ngọn đèn lồng màu xanh thẳm...
Từ khi Lê thế Hùng bỏ đi rồi, chàng sống như một cái bóng... Ngoài những sự giao tiếp trong triều chàng không thích giao du với ai cả; lủi thủi trở về Dinh sau một ngày luyện quân tập trận, chàng đọc sách hay ngồi trầm mặc hằng giờ bên hồ..
Tên tuổi vang dậy và lối sống gần như quái dị của chàng là những đầu đề mà các triều thần thường đem bàn tán với nhau trong những buổi trà dư tửu hậụ...
Người còn trẻ lại quyền cao tước trọng, sống âm thầm trong bốn bức tường dinh thự, xa hẳn những cuộc giao du, thì làm sao khỏi bị người ta chú ý đến. Nhất là những vị lão quan có con gái, gần đến tuổi cập kê, lại càng kiếm cách làm thân với chàng, mong một ngày kia kén được chàng rể quý... Nhiều công nương, tiểu thư cũng thầm mong mỏi mắt xanh chàng ghé đến một hôm nào.
Nhưng họ Bùi nào buồn chú ý đến ai, chàng sống âm thầm như người có tâm sự buồn không nói được...
Chúa Mạc Mậu Hiệp rất nể chàng vì Bùi văn Khuê chính là cái gương sáng trong hàng tướng sĩ của ông. Song đôi khi thái độ thẳng thắn của họ Bùi cũng làm phật ý ông nhưng nghĩ đến tài năng và công khó của chàng, ông đều tha thứ hết.
Trái lại Bùi văn Khuê càng gần gũi nhiều với Chúa Mạc chàng càng thấy nhiều điều bất đồng, tuy nhiên chàng không dám thốt ra nói một lời nào cả.
Trong những giờ lúc chán nản ấy, chàng bỗng nhớ đến Thế Hùng .. Càng nhớ chàng càng giận bạn nhiều hơn. Không biết từ bao lâu nay, xông vào đất giặc, Thế Hùng đã làm nên công trạng gì chưa? Hay đã nạp mạng cho kẻ địch? Mỗi lần nghĩ đến đó họ Bùi cau mày khó chịu. Chàng muốn xua quân vào hỏi tội Trịnh Tùng, nhưng sao bao lần tâu xin, đề nghị của chàng cũng không được Chúa Mạc chấp thuận.
Bùi văn Khuê chủ trương đánh bất thình lính, khiến quân địch trở tay không kịp. Ngược lại Chúa Mạc muốn chuẩn bị sẵn sàng, thị oai trước đã rồi tiến đánh cũng không muộn gì.
Ý kiến tuy bất đồng nhưng là phân bầy tôi, họ Bùi phải buộc lòng tuân theo...
Lần nầy cũng như bao nhiêu lần trước, sau một ngày điều khiển hàng vạn quân lính tập trận thị uy chàng trở về Dinh, lòng chán nản vô cùng.
Đối với công việc chung. Bùi văn Khuê không còn thấy hăng say, hào hứng như lúc đầu. Chàng chỉ làm cho tròn phận sự.
Tuy nhiên khi đứng trước ba quân, tướng sĩ, dòng máu chiến binh vẫn còn sùng sục sôi trong huyết quản, chàng điều khiển muôn binh thay đổi trân đồ mau lẹ như chớp nhoáng, khiến chúa Mạc rất hài lòng.
Nhưng khi bóng chiều đổ xuống, binh sĩ tan hàng ngũ, chàng lại lủi thủi về Dinh.
Chàng mượn cớ mệt nhọc, cáo thác hết những yến tiệc linh đình do Chúa Mạc tổ chức để khoản đải các hàng tướng lãnh... Cho rằng họ Bùi buồn nhớ Lê thế Hùng, nên Mạc mậu  Hiệp cũng không để ý.. Song các hàng tướng lãnh điều nghi ngờ sự bất mãn của chàng ! Song không ai thốt ra môt lời nào. Chỉ riêng có Hoàng quốc Mục là thường gần gũi với Văn Khuê nên hiểu rõ chàng hơn.
Bao giờ cũng vậy khi yến tiệc xong rồi họ Hoàng sang Dinh Bùi văn Khuê trò chuyện giúp chàng khuây khoả nỗi sầu.
Hoàng quốc Mục biết rằng chàng buồn nhớ bạn và bất mãn nhà vua. Chàng cố ý muốn thoát ly khỏi cảnh chán nản này, nhưng vẫn còn phân vân chưa quyết. Bỏ Mạc Triều tìm kiếm Thế Hùng, biết sau nầy còn giữ được địa vị quan trọng như hôm nay chăng?
Rồi khi cần phải đương đầu với Trịnh Tùng, lấy đâu ra binh hùng tướng mạnh? Mà ở lại thì trong sự hết sức băn khoăn: không biết Thế Hùng vào Tây đô còn, mất thế nào? Thêm vào đó sự bất đồng ý kiến giữa chàng và chúa Mạc càng lúc càng sâu thêm. Chàng chỉ sợ một ngày nào đó, chàng không kiềm giữ được lòng mình ra mặt chống báng lại thì hậu quả sẽ còn tai hại nhiều hơn...
Đêm nay, Bùi văn Khuê cảm thấy lòng buồn hơn lúc nào hết. Hoàng quốc Mục lại bận việc đi Sơn Nam, nếu không đến được, chàng đành một mình ngồi ủ rũ, nhìn cá đớp trong hồ sen.
Ngoài kia thủ đô vẫn náo nhiệt trong đêm dạ hội tưng bừng. Tiếng ồn ào vang dội vào tận nơi đây.
Bùi văn Khuê bỗng ngẩng đầu lên suy nghĩ rồi lẩm bẩm một mình:
- Tại sao ta không đi viếng kinh thành đêm nay thử xem? Biết đâu sẽ chẳng khuây khỏa được nỗi lòng !
Từ lâu lắm rồi, bỏ mình trong việc quân cơ, chàng gần như mất cái thú phiêu lưu... Sẵn dịp này chàng thấy mình cần chen lẩn trong dân chúng, dò xét thử lòng dạ họ đối với nhà Mạc thế nào?
Chàng đứng lên, vào nhà thay đổi y phục màu đen, đeo võ khí, rồi ung dung ra đi như một tay kiếm khách giang hồ. Chàng nhảy vọt lên những tàn cây rậm rạp trong vườn chuyền mình ra khỏi vòng dinh, không cho quân canh hay biết.

* *
Đường phố đông đảo, đèn sáng như sao, các cửa tiệm đều mở toang ra trong đêm dạ hội.
Bùi văn Khuê lẩn trong đám người lũ lượt trên hè phố tiến vào cổng chợ.
Lòng lâng lâng, họ Bùi cũng cảm thấy vui lây cái vui hồn nhiên của một thời xa vắng mà bỗng dưng chàng tìm thấy lại được trong một chuyến du hành bí mật. Một sự so sánh thoáng hiện lên trong óc chàng giữa con người lưu lạc ngày xưa và con người quyền tước hôm nay: Bùi văn Khuê cảm thấy một sự cách biệt xa vời. Thật ra chàng thấy thích thú hơn nếu trở lại cuộc đời sóng gió ngày xưa.
Bỗng từ phía trước, dân chúng ùn ùn chạy ngược trở lại- Họ chen lấn xô đẩy, chà đạp lên nhau để dẹp đường. Bùi văn Khuê rất ngạc nhiên giữa đêm đại hội, ai dám ngang nhiên làm náo động giờ phút vui đùa của dân chúng giữa Kinh đô ?... Chính chàng cũng bị xô đẩy té ngã nghiêng trên lề đường. Tiếng mẹ lạc con, chồng lạc vợ gọi nhau ‘‘ơi ới’’ tiếng trẻ con khóc dậy lên như giữa một buổi loạn ly.
Bùi văn Khuê tức giận vô cùng. Chàng lật đật chen ra tới trước nhìn xem. Từ xa một đoàn người rần rộ kéo đến. Mấy tên kỵ sĩ đi đầu, cứ ra roi quất vào mình dân chúng để dẹp đường. Người người kinh sợ tránh xa, nhường bước.
Mặc dân chúng đổ xô nhau chạy, chúng ngang nhiên ngồi trên mình ngựa cười đùa hí hởn như giữa chỗ không người.
Bùi văn Khuê chú ý nhìn bọn người vừa đến cố tìm hiểu xem là ai mà có vẻ ngang tàng như vậy. Chàng thấy gần mười tên đi đầu dẹp đường, kế đến hai tên cao lớn phục sức sang trọng ngồi trên lưng hai con ngựa kim, phía sau đó mười tên khác đi tập hậu. Bùi văn Khuê hết sức ngạc nhiên vì dáng điệu và nét mặt của hai tên đi giữa, chàng không phân biệt được chúng thuộc vào hạng quan lại nào trong triều!
Bỗng một tiếng thét vang lên:
- Trời ơi ! Chết tôi rồi! Mấy ông ơi!
Mọi người đều giật mình, dừng chân nhìn lại; một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt họ. Một bà lão té nằm sóng sượt trước chân ngựa của gã kỵ sĩ đi đầu... Hắn gắt gõng ầm ĩ rồi bổ roi tới tấp xuống mình bà lão:
- Đồ khốn nạn, đã bảo tránh đường, còn lẩn quẩn trước đầu ngựa làm gì?
Bà lão quá đau đớn nhưng cũng rán gượng ngồi dậy lết đi, tránh những ngọn roi tàn bạo của kẻ vũ phu.
Trước cảnh tượng ấy, Bùi văn Khuê không còn chịu đựng được nữa. Chàng phóng mình tới ôm sốc bà lão lên và thuận tay chàng nắm lấy chiếc roi đang bổ xuống vun vút, lôi tên kỵ sĩ tàn ác rời khỏi mình ngựa.
Tiếng reo mừng vang dậy. Mọi người đứng xung quanh đều thỏa mãn vì kẻ ác bị trừng trị. Đoàn kỵ sĩ thấy đồng bọn bị nguy vội phóng tới, bao quanh kẻ lạ mặt. Nhất là người trẻ tuổi mặt hiểm ác ngồi trên ngựa, rất bực tức la hét ầm ĩ:
- Tên khốn kiếp nào đó, muốn chết hay sao dám vuốt râu hùm?...
Bùi văn Khuê đã đỡ được bà lão dậy và nhờ những người đứng xem kế cận đưa bà đi nơi khác. Vừa quay mình lại chàng bỗng nghe lời xấc xược kia nên quắc mắt nhìn lên cười gằn:
- À, bọn bây ỷ chúng hiếp cô giữa chỗ đông người. Bây không sợ tội hay sao chứ?
Cả bọn cười rộ lên:
- Ha ! Ha ! Tội à ? Ai bắt tội bọn ta? Nhà ngươi chăng? Ha! Ha !
Bùi văn Khuê cố giữ vẻ điềm tĩnh nhưng trong lòng cơn giận đã sôi lên sùng sục.
À, thì ra bọn nay dám khinh khi cả luật pháp triều đình ! Chắc có lẽ chúng dựa vào một thế lực nào to lớn lắm! Con vua cháu chúa gì đây chăng! Chàng cố dằn lòng để tìm hiểu tận tường những hành động hống hách, của bọn người cậy quyền thế áp bức dân lành.
Đợi cho chúng dứt tiếng cười, chàng chậm rải nói:
- Nếu chính ta bắt tội chúng bây rồi mới làm sao?
Một tiếng quát vang lên :
- A ! Tên nầy láo, dám xấc xược với các ông !
Tên trẻ tuổi, thúc ngựa tới, hươi thương đâm nhầu vào mình Bùi văn Khuê. Nhanh như chớp, họ Bùi đưa tay ra phía sau, rút thanh trường kiếm múa lên một vòng sáng chớp bao quanh thân mình. Cây thương của chàng trẻ tuổi chưa đâm được vào mình Bùi văn Khuê đã bị đánh bạt văng đi mất. Tê buốt khắp cả cánh tay, gã ấy kinh hồn, hô bọn thủ hạ xông vào trợ chiến.
Nhưng Bùi văn Khuê không muốn chần chờ nữa. Chàng vội nhảy vọt lên nắm đầu hai tên ngồi trên lưng ngựa lôi xuống đất.
Bọn thủ hạ kinh hoảng liều chết xông vào đánh giải nguy. Họ Bùi buộc lòng phải tạm bỏ hai tên kia một bên để hươi kiếm chống trả với hằng hai mươi ngọn trường thương.
Thừa dịp ấy hai tên nọ, cũng thuộc vào hạng tinh thông võ nghệ, cố sức thoát được ra ngoài, vẹt đám đông trốn mất. Bọn thủ hạ thấy chủ tướng trốn chạy, nên đâm loạn đả vài đường thương rồi cũng quất ngựa chạy theo như một lũ chuột.
Bùi văn Khuê không đuổi, ung dung tra kiếm vào vỏ, từ từ bước đi giữa tiếng hoan hô vang trời dậy đất của dân chúng đứng bu quanh...
Tuy nhiên có nhiều người hiểu rõ lai lịch của bọn người hống hách nên tỏ vẻ lo sợ giùm cho sinh mạng của họ Bùi:
- Tráng sĩ trốn mau đi thôi ! Đừng ở đây thêm giờ phút nào nữa. Bọn chúng sẽ trở lại ngay bây giờ. Nếu chúng bắt được thì đừng hòng sống sót.
Bùi văn Khuê đứng dừng lại cảm ơn mọi người có lòng lo lắng cho chàng, rồi hỏi:
- Thưa quí vị, chẳng hay bọn vừa rồi thuộc bè phái nào mà ngang tàng như vậy?
Mọi người đều trố mắt nhìn chàng kinh ngạc, một lúc sau. mới có nguời rụt rè nói :
- Thì ra tráng sĩ là người ở xa mới đến đây, nên không rõ oai quyền của ạnh em Kiều Công tử. Cả một cái chợ này ai ai cũng đều khiếp vía kinh oai.
Bùi văn Khuê lại hỏi :
- Chẳng hay nhị vị công tử ấy là con cái nhà ai mà ghê gớm như vậy?
Như gặp phải một câu hỏi khó trả lời, nhiều người lo sợ lãng dần. Người đối diện với Bùi văn Khuê khẽ liếc nhìn quanh rồi nói nhỏ:
-  Anh em Kiều Công tử tên là Kiều kỳ Giang Kiều kỳ-Hải, đều thuộc dòng dõi quan đại phu Kiều kỳ Diệu. Cả hai vốn là em vợ của Thượng tướng Mạc ngọc Liễn, uy quyền vào bực nhất Thăng Long nên chẳng hề biết nể sợ ai!

Bùi văn Khuê lẩm bẩm một mình :
-  À ra thế !
Chàng không ngờ Mạc ngọc Liễn có thể dung dưỡng cho hai tên em vợ hà hiếp dân chúng, xem thường luật pháp triều đình.
Hằng ngày gặp nhau tại triều, Bùi văn Khuê thầm mến phục họ Mạc là người cao kiến điềm đạm, không xua nịnh nhà vua. Nhưng gặp phải câu chuyện này họ Bùi thấy băn khoăn nhiều lắm.
Không có lý biết rõ hành động ỷ thế lộng quyền của hai đứa em vợ mình mà Mạc Ngọc Liễn vẫn làm ngơ?
Chàng định bụng gặp nhau sẽ hỏi câu chuyện nầy cho rõ ràng hơn.
Bùi văn Khuê cúi chào, cảm ơn người khách lạ rồi bước đi lần theo lớp người cuồn cuộn đổ ra phía ngoài thành xem dạ hội hoa đăng, tổ chức trên sông.
Nhưng, chàng đi được chừng mười bước bỗng có người đập vào vai chàng rồi có tiếng oanh thỏ thẻ bên tai:
- Bùi tráng sĩ ! Xin người dừng chân cho thiếp được hầu chuyện.
Bùi văn Khuê rất đổi ngạc nhiên. Ai lại biết rõ tên họ của mình nhứt là dưới lốt cải trang khó nhận hiện thời. Chàng dừng chân, quay đầu lại, bắt gặp khuôn mặt nõn nà, trong sáng của một thiếu nữ mảnh khảnh trong bộ y phục màu hồng tha thướt.
Nàng e lệ thi lễ rồi nói:
- Xin mạn phép làm phiền tráng sĩ. Có người muốn hầu chuyện với tráng sĩ ở trên kia lầu.
Nàng vừa nói vừa chỉ tay lên một dạ điếm sang trọng, đèn đuốc sáng ngời, nơi đó tiếng đàn sáo, ca xang dịu dặt…
Bùi văn Khuê ngước nhìn và chợt nhớ đây là tửu quán mà lần đầu tiên khi đến Thăng Long, chàng và Thế Hùng đã bước vào. Chính cũng trên cái lầu ấy chàng đã buông mình xuống đánh con hổ quý của Chúa Mạc.
Họ Bùi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Nàng thiếu nữ này là ai mà biết rõ tên họ của chàng? Ai ở trên dạ điếm kia lại muốn cùng chàng trò chuyện?
Bùi văn Khuê phân vân lắm. Phải chăng đây là quỷ kế của bọn anh em nhà họ Kiều? Nhưng sá gì phường nhải ranh ấy! Chàng sốc lại áo choàng, tay nắm chặt chuôi gươm, bước theo người thiếu nữ lạ mặt, không hỏi thêm một lời.
Vừa bước đến cửa dạ điếm, chàng kéo sụp chiếc khăn trùm đầu xuống khỏi trán cho mọi người bên trong khỏi để ý đến chàng. Cũng may là lúc ấy khách hàng bận ăn uống vui chơi không quan tâm đến những người mới đến.
Nhưng khi Bùi văn Khuê vừa bước lên khỏi cầu thang thì tên chủ quán đã nhận ra ngay. Hắn nhớ liền vị quí khách, đã xuống tay hạ Thiên linh Hổ độ nào và đã được Chúa Mạc tin dùng, bấy lâu nay vang lừng tên tuổi. Hắn toan chạy đến thi lễ thì người thiếu nữ áo hồng đã chận ngay hắn lại, bảo nhỏ vào tai mấy lời làm đôi mắt hắn vụt sáng lên.
Hắn lấm lét nhìn đi nơi khác rồi lẫn mất vào trong đám đông bọn tiểu nhị.
Bùi văn Khuê rất ngạc nhiên. Cử chỉ lạ lùng của người thiếu nữ càng làm cho chàng không hiểu nàng thuộc vào hạng người nào, uy quyền ra sao!
Chàng còn đang suy nghĩ thì thiếu nữ đã bước đến bên cạnh nói:
-  Tráng sĩ hãy theo tiện thiếp vào phòng trong.
Bùi văn Khuê do dự nhìn thẳng vào mắt nàng. Thế nầy nghĩa là làm sao? Một cuộc âm mưu sâu độc và hiểm ác đang đợi chàng chăng?
Biết chàng e ngại, thiếu nữ mỉm cười:
-  Tráng sĩ đừng ngại, không ai dám hại ngài đâu?
Bùi văn Khuê hơi túng túng vì kẻ đối diện đã đoán được ý mình. Trong giờ phút này, chàng thấy rằng mình không còn do dự được nữa. Cứ đến nơi rồi sẽ tùy cơ ứng biến.
Chàng tin tưởng ở tài sức của mình có thể vượt khỏi mọi hiểm nguy.
Qua khỏi dãỵ hành lang dài, người thiếu nữ áo hồng đưa họ Bùi vào căn phòng tráng lệ, bày trí đẹp như một cảnh nhà quan. Mùi hương thoang thoảng bay quanh khiến Bùi văn Khuê hơi bàng hoàng ngây ngất.
Chàng tự hỏi thầm:
-  Đây là đâu? Hương hoa trong vườn hay hương sắc của giai nhân ?’’
Thiếu nữ áo hồng cất tiếng êm dịu mời chàng ngồi bên chiếc bàn đầy hoa quả.
Nàng nói:
- Phiền tráng sĩ ngồi chơi, tôi vào bẩm lại với chủ nhơn tôi.
Và không kịp cho chàng hỏi thêm một lời nào, thiếu nữ biến mình sau bức mành trúc họa cảnh thiên thai.
Bùi văn Khuê từ từ ngồi xuống ghế. Chàng lẩm bẩm một mình :
-  Giai nhân có lẽ là con nhà quyền quí!
Tiếng đàn sáo bên ngoài dạ điếm vẫn văng vẳng đưa vào. Chàng còn đang say sưa ngây ngất với hương diu dịu, nhạc u huyền, bỗng nghe từ phía sau, tiếng mành trúc lay động nhẹ nhàng.
Văn Khuê quay đầu nhìn lại, thẩn thờ, tuởng chừng như mình đang sống trong mơ. Trước mặt chàng, giai nhân vừa xuất hiện, đẹp tuyệt trần trong màu áo xanh lam mát dịu...
Vừa thấy mặt nàng, họ Bùi kinh ngạc vụt đứng phắt dậy
- Trời !Thúy Loan !
Giai nhân mỉm cười rất tự nhiên, phô ra hàm răng trắng nuốt và đều đặn :
- Vâng, chính thiếp! Đã bao nhiêu lâu rồi mà tráng sĩ - à quên - đại nhơn có nhớ đến thiếp ư?
Bùi văn Khuê sửng sờ giây lâu không nói được. Cử chỉ ấy giúp Thúy Loan đoán được lòng chàng, bao lâu nay vẫn hằng mơ tưởng đến nàng.
Thúy Loạn bồi hồi cảm động, ngước mắt long lanh nhìn người bạn một đêm nào đã gặp thoáng qua trong giây phút nguy hiểm. Nàng nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện với họ Bùi rồi cất tiếng mời :
- Đại nhơn hãy ngồi xuống đi. Câu chuyện còn dài.
Bùi văn Khuê liền hỏi:
- Nương nương ra đây tự bao giờ? Vì sao lại rời bỏ Tây Đô ? Còn Chúa Trịnh?
Thúy Loan đảo mắt nhìn quanh, ra dáng e ngại một sự gì rồi hạ thấp giọng:
- Xin đại nhơn nói khẽ chứ. Vì ở đây tai vách mạch rừng.
Bùi văn Khuê hơi ngạc nhiên, vì thái độ của nàng. Một lát sau, Thúy Loan giả vờ rót nước mời chàng. Khi họ Bùi đưa tay bưng chén trà thì thừa dịp ấy nàng bí mật trao cho chàng một mảnh giấy xếp nhỏ. Văn Khuê tiếp lấy mảnh giấy. Đồng thời một mối hoài nghi lởn vởn trong trí óc chàng. Chàng nhủ thầm:
- À ! Thì ra bọn dọ thám Trịnh Tùng vẫn âm thầm hoạt động! Và tửu quán này là sào huyệt của chúng chăng? Ta cần phải dò xét nhiều hơn để tóm cổ cho được hết bọn chúng.
Nhưng chàng không khỏi phân vân trước tình thế hiện tại. Thúy Loan đang đóng vai trò gì đây? Nàng vẫn còn là người tốt như xưa hay qua bao ngày sống trong lầu vàng, điện ngọc, lòng nàng đã biến cải hẳn rồi?
Bùi văn Khuê bưng nước lên uống mà lòng rối như tơ vò. Chàng không biết mình phải đối xử với Thúy Loan như thế nào đây?
Dạ điếm của ai ?
Nàng đến Thăng Long với nhiệm vụ gì?
Còn lá thư nhỏ này chứa đựng bên trong những tiết lộ gì bí mật?
Chàng phân vân trước bao nhiêu câu hỏi trên đây mà chàng chưa tìm ra được lời giải đáp.
Trong lúc ấy Thúy Loan bằng một giọng mà nàng cố làm ra vẻ thản nhiên, bắt đầu kể chuyện. Nàng bịa đặt ra việc trốn thoát khỏi phủ Chúa Trịnh để rời Tây đô lánh mình ra Thăng Long. Rồi, không để cho chàng ngắt lời, Thúy Loan bắt qua hỏi thăm tin tức của chàng kể từ ngày hai đàng cách biệt nhau.
Văn Khuê hiểu rõ dụng tâm của nàng. Ấy là nàng cố làm lạc dấu những kẻ đang rình rập xung quanh đây để lóng nghe cuộc đàm thoại giữa hai người.
Vì thế chàng cũng chỉ trả lời cầm chừng những câu hỏi của Thúy Loan, rồi đứng dậy xin cáo từ ra về, trong lòng nôn nao muốn sớm được biết rõ nội dung lá thơ bí mật mà chàng vừa tiếp nhận.
Chàng đứng lên nói với Thúy Loan:
-  Nương nương cho phép lui gót vì hôm nay tôi còn nhiều phận sự phải làm. Lúc nào rổi rảnh xin đến gặp nương nương
Thúy Loan hình như cũng mong mỏi như vậy nên vui vẻ đáp:
- Đại nhơn cứ tự tiện, thiếp còn ở đây lâu.
Nàng vừa nói vừa mỉm cười ý nhị.
Bùi văn Khuê cúi chào quay đi. Từ trong bức mành trúc, thiếu nữ áo hồng lúc nãy vội bước ra để tiễn chàng xuống thang lầu.
Sau bức mành, Bùi văn Khuê thoáng nhận thấy một bóng người đàn ông lực lưỡng, mặc toàn màu đen.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.10.2020 19:26:35 bởi Thanh Vân>
22. Lá thư của Thúy Loan



BÙI văn Khuê vừa bắt đầu bước xuống lầu dạ điếm, thì bỗng nghe có tiếng la inh ỏi:
- Nó kia rồi ! Bắt lấy nó anh em ơi!
Thiếu nữ áo hồng kinh hoảng nắm tay họ Bùi định lôi chàng rẽ vào một ngã tắt. Nhưng Văn Khuê bình tĩnh kéo nàng đứng lại, bảo nhỏ vào tai:
- Đừng lo sợ ! Bọn chúng không làm gì được tôi đâu ! Cô hãy trở lên lầu, không nên lảng vảng nơi đây có thể hại đến tính mạng.
Thiếu nữ khẽ liếc nhìn chàng rồi chạy vụt lên thang, giữa khi bọn côn đồ ồ ạt tràn tới. Đi đầu là hai anh em Kiều Kỳ Giang và Kiều Kỳ Hải. Chúng xách kiếm hùng hổ tiến lên muốn ăn tươi nuốt sống họ Bùi.
Văn Khuê khoanh tay trước ngực, thản nhiên nhìn bọn chúng hỏi lớn :
- Chúng bây muốn gì:
Giọng nói của chàng vang lên sang sảng khiến cả bọn dừng chân lại. Kiều Kỳ Giang quắc mắt nhìn chàng:
- Các ông đến hỏi tội mi đây. Mi từ đâu đến, tại sao dám ngang nhiên xúc phạm tới chúng ta và làm náo động kinh thành?
Họ Bùi cười lạt:
- Quân khốn kiếp! Ai làm náo động kinh thành? Ta hay là chính chúng bây?
Nổi giận trước câu đáp kiêu hãnh của đối phương, hai công tử họ Kiều liền hươi kiếm xông vào toan hạ thủ họ Bùi nhưng một tiếng thét nổi lên :
- Hãy khoan!
Hai chàng họ Kiều quay đầu lại. Một gã nho sinh ốm yếu vội bước đến, bảo nhỏ vào tai chúng mấy cáu hình như hắn đã nhận diện được họ Bùi.
Kiều kỳ Giang biến sắc nhưng Kiều kỳ Hải có vẻ bực tức không tin.
Thấy chúng chần chờ tiến thối lưỡng nan, Văn Khuê cười thầm trong bụng. Chàng muốn yên lặng, để chọc phá bọn này một phen cho bỏ ghét, nhưng chợt nhớ đến lá thư của Thúy Loan, chàng nóng lòng trở về Dinh.
Chàng cất tiếng hỏi :
- Thế nào? Chúng bây còn muốn gì nữa?
Kiều kỳ Hải còn nhỏ tuổi vốn hiếu thắng, tiếp tục múa kiếm xông tới chém họ Bùi.
Kiều kỳ Giang thấy em ra tay, không biết tính sao, cũng liều xông vào trợ chiến.
Gã nho sinh giựt mình hét lên:
- Nhị vị Công tử, coi chừng xúc phạm đến Đại tướng... Nghe đến hai tiếng Đại tướng, bọn bộ hạ đều kinh hồn hoảng vía. Từ nãy đến giờ chúng đã hoài nghi nhưng chưa dám quyết. Bây giờ biết rõ rồi, chúng vội đua nhau rút lui có trật tự.
Một lúc sau chỉ còn có gã nho sinh ở lại với anh em họ Kiều. Hai tên nầy, thấy đám tùy tùng đã rời bỏ chúng mà tẩụ thoát, nên đều giựt mình khiếp sợ.
Cả hai lật đật buông khí giới rồi cùng với gã thư sinh, đến trước trước mặt Bùi văn Khuê, cúi đầu xin tạ tội,
Gã nho sĩ đỡ lời cho chúng, cố sức nài nĩ, van lơn:
- Trăm lạy Đại tướng, ngàn lạy Đại tướng, nhị vị công tử của tiện nhân này trót lỡ dại một lần xin Đại tướng mở lượng bao dung mà tha thứ cho. Cúi xin Đại tướng nghĩ tình của Mạc
tướng công.
Bùi văn Khuê hất hàm hỏi hắn:
- Đây là con cháu của Mạc tướng công à?
Gã thư sinh cả mừng xoa hai bàn tay nhanh nhẫu đáp
- Bẩm vâng.
Họ Bùi nghiêm nét mặt, đưa mắt từ từ nhìn kỹ chúng từng đứa một, rồi bằng một giọng ôn tồn, nhưng không kém phần cương quyết, quở trách chúng rằng:
- Các ngươi tuổi còn nhỏ đáng lẽ phải lo ráo riết dùi mài kinh sử, tập luyện võ nghệ để chờ có ngày ra tay giúp nước, giúp đời, nhứt là trong cảnh loạn ly binh lửa hiện nay. Chớ ai lại cậy quyền ỷ thế, hống hách ngang tàng, hiếp đáp người nghèo, dọa dân lương thiện, gây nên những chuyện bất công vô đạo, mà kết quả là rước lấy sự khinh bỉ căm thù, và làm xấu xa nhơ nhuốc đến thanh danh của cha ông. Thôi, lần nầy ta cũng vì tình Mạc tướng công mà tha cho, nhưng lần sau nếu các ngươi còn tái phạm thì ta quyết sẽ không dung thứ.
Dứt lời, không để ý đến hai công tử họ Kiều, mặt mày tiu nghỉu, đang cùng với gã thư sinh chắp tay lạy tạ ơn mình lia lịa như tế sao, Bùi văn Khuê rảo bước vùn vụt đi. Chỉ trong nháy mắt đã mất hút vào đám biển người đang cuồn cuộn chảy trên các đường phố tưng bừng rộn rịp của kinh thành *
Về đến dinh công việc thứ nhất của Bùi văn Khuê là đóng kín các cửa phòng rồi hấp tấp lại ngồi trước án thư, dở bức tâm thư của Thúy Loan ra đọc.
Dưới ánh đèn bạch lạp, một mảnh giấy vuông vắn, màu vàng nhạt, được giăng ra trên hai bàn tay đang run lên vì xúc động. Văn Khuê hồi hộp xiết bao khi được nhìn thấy lần đầu tiên những dòng chữ thân mến của người yêu. Đó là những dòng chữ tuy nhỏ li ti, nhưng nét dáng rất mềm mại, uyển chuyển như rồng bay, phượng múa, và hơn nữa gợi lên trong trí chàng, hình ảnh của những tiên nữ yêu kiều; lả lướt, trong một vũ khúc nghê thường.
Và dồn hết cả tâm hồn vào đó, chàng hăm hở đọc nhanh:

 ‘‘Bùi Đại nhân nhã giám,
 ‘‘Qua cuộc hội kiến vừa rồi giữa chúng ta. chắc đại nhân cũng đã nhận thấy tất cả nỗi khó khăn hiện thời của thiếp.

Điều mà thiếp đã không thể trực tiếp thố lộ với đại nhơn, vì e tai vách mạch rừng. Thì giờ đây thiếp xin nôm na trình bày hết lên trên mặt giấy này, để đại nhơn tường lãm.
Trước hết, thiếp cần thú thật rằng sở dĩ thiếp mạo hiểm dấn thân ra Thăng Long phen nầy, chính là do mạng lịnh của Chúa Trịnh.
‘‘Theo lời khuyên của Thái phó Nguyễn hữu Liên, Chúa Trịnh ủy thác cho thiếp tham gia vào việc tổ chức lại hệ thống gián điệp và gây chia rẽ hàng ngũ Chúa tôi nhà Mạc, Tìm thấy có cơ hội thoát ly, thiếp liều lĩnh nhận lời.
Khi đặt chân tới Thăng Long, thiếp mới thấy, ngoài con mắt dò xét của ban trinh thám nhà Mạc, thiếp phải lo đối phó với bọn gián điệp mà Trịnh Tùng đã bí mật phải đi để theo dõi thiếp.
Nhưng, cũng còn may là tại đây thiếp được gặp lại đại nhân, người mà thiếp đã hân hạnh hội diện Tây đô, trong một đêm hỗn loạn không thì bao giờ quên được.vậy, thiếp mạo muội thảo mấy dòng nầy để cầu cứu bàn tay tế độ của đại nhân.
Xin nhắc lại: tánh mạng thiếp hiên thời đang bị đe dọa nghiêm trọng từ giờ, từ phút. Mong đại nhân hiểu rõ tấm lòng thành thật của thiếp mà không còn lầm hoài nghi thiếp như trước nữa.’’
Tiện thiếp THÚY LOAN

 kính bút.

Xem xong bức thơ, Bùi văn Khuê nghe rõ quả tim mình dồn dập đập mạnh trong lòng ngực. Chàng vừa trải qua những trạng thái tâm hồn rất phức tạp và sôi nổi lạ lùng: Khi thì ngờ vực băn khoăn, lúc thì bồi hồi thương cảm, chưa biết phải hành động thế nào?
Thình lình có gả lính canh báo tin rằng Phó tướng Lê thế Hùng đã trở về !
Họ Bùi lại một phen kinh ngạc. Lòng mừng phấn khởi, chàng tất tả chạy ra mở cửa, rồi đôi bạn cũ đã rơi vào trong cánh tay nhau. Qua phút cảm xúc, Bùi văn Khuê kéo bạn vào phòng riêng hỏi han mọi việc từ ngày vị công tử đột ngột rời khỏi Thăng Long. Thế Hùng lần lượt thuật hết tất cả những gian nguy ghê gớm mà chàng đã trải qua, và sự can thiệp của Ngọc Lan, cứu thoát chàng ra khỏi ngục tù khủng khiếp của Chúa Trịnh. Thế Hùng cũng cho biết hiện Ngọc Lan còn ẩn náu tại vùng ngoại ô để chờ xem tình thế.
Bùi văn Khuê trầm ngâm giây lát rồi trao thơ của Thúy Loan cho Thế Hùng xem.
Thế Hùng xem xong, mừng quá, vội thúc giục ‘‘người anh cả’’ mau mau đi cứu Thúy Loan, không nên chậm trễ. Họ Bùi còn do dự, Thế Hùng quả quyết:
- Một con người có tâm hồn cao thượng như Thúy Loan không thể là con người tráo trở và phản bội. Chúng ta không nên hoài nghi nàng. Ấy là chưa kể anh em ta còn phải có phận sự đền đáp ơn nàng, và về phần của đại ca, đại ca còn phải trả một ‘‘món nợ cảm tình’’ đối với Thúy Loan, món nợ mà chỉ có riêng nàng và đại ca là biết rõ.
Nghe lời phân giải của bạn, Văn Khuê dặn Thế Hùng ở lại nhà nghĩ ngơi, để một mình chàng tức tốc đến quán ‘‘Chiêu Anh’’ cứu Thúy Loan.

 * * *
Đêm đã khuya, nhưng Thúy Loan vẫn trằn trọc mãi trên giường, không sao ngủ được. Nàng băn khoăn không rõ Bùi văn Khuê có còn ngờ vực nàng không mà chưa thấy đến. Một phần lo sợ bọn gián điệp Trịnh Tùng biết được sự liên lạc giữa nàng và Bùi văn Khuê thì chắc là nàng khó thoát khỏi bàn tay đẫm máu của chúng được. Hết suy nghĩ vẩn vơ, nàng lại lắng tai nghe ngóng, rồi áo não thở dài...
Đột nhiên, Thúy Loan giựt mình, ngồi nhổm dậy, vì nghe có tiếng gỏ cửa rất khẽ. Thúy Loan gọi Thu Hồng ra mở cửa.
Nhưng thình lình, con thế nữ kinh dị lùi lại, vì trước mặt Thu Hồng, một người đàn ông vạm vỡ diện mạo hung ác, đầu bịt khăn đen, bên hông đeo lủng lẳng một thanh đoản kiếm. Người khách lạ ngang nhiên đi thẳng vào phòng.
- Ồ kìa ! Quách tướng quân...
Thúy Loan vừa nhận ra đó là một viên võ tướng trong đội ưu binh, kiêm phó trưởng ban dọ thám của Trịnh Tùng. Sau phút kinh ngạc. Thúy Loan đã tìm lại được sự bình tĩnh. Nàng hỏi Quách phi Bưu :
- Tướng quân đã có mặt tại Thăng Long từ bao giờ.
- Bẩm từ hôm qua, nghĩa là cùng một lượt với nương nương.
Thiếu phụ lại hỏi :
- Hình như Chúa thượng phái tướng quân đi theo để bí mật dò xét ta có phải không ?
Viên võ tướng điềm nhiên trả lời:
- Nương nương đoán có phần đúng. Chúa thượng phái tiểu tướng theo nhắc nhở nương nương thi hành nhiệm vụ.
Thúy Loan hơi bất bình gắt:
- Nhưng nào ta đã làm gì trái với sứ mạng đâu mà tuớng quân phải nhắc nhở và can thiệp.
Quách phi Bưu lạnh lùng, hách dịch:
-  Thưa nương nương, có chớ ! Xin nói ngay, tiểu tướng muốn biết rõ cuộc hội kiến vừa rồi giữa nương nương và viên Đại tướng của Mạc Triều? .
 Hằn học và mai mỉa, Thúy Loan bảo hắn:
- Ta không trả lời câu hỏi thiếu lễ độ của tướng quân. Hơn nữa, việc gặp gỡ tướng Bùi văn Khuê là một khoản quan hệ có dự liệu rành trong kế hoạch mà ta phải thi hành. Tướng quân không có quyền dùng những lời lẽ trịch thượng để sách hạch ta ?
Quách phi Bưu mỉm môi và nhún vai đáp:
- Kế hoạch của quan Nguyễn Thái phó không hề dự liệu việc nương nương bí mật... trao thơ cho phe địch. Và trong thơ ấy, nương nương đã viết những gì, phải lập tức giải thích cho tôi rõ?
Sự phát giác bất ngờ trên đây của hắn có hiệu lực của một tiếng sét nổ ngang đầu đối với Thúy Loan ! Mặc dầu nàng đã tiên đoán và đề phòng tất cả mọi hiểm nguy mà nàng phải trải qua, nhưng nàng không dè rằng Quách phi Bưu lại có thể mục kích được việc nàng kín nhẹm trao thơ cho Bùi Văn Khuê.
Tuy nhiên, bây giờ số phận sắp được định đoạt, nàng không còn cần gì nửa. Thúy Loan cau mày nhìn hắn rồi đáp bằng một giọng thách đố:
- Ta không thèm giải thích gì với nhà ngươi hết. Ta muốn xem nhà ngươi định dùng uy quyền gì để bắt buộc ta!
Quách phi Bưu ném ra một chuỗi cười khả ố và ghê rợn:
 - Hà... hà... ! Được lắm ! Hẳn mi cũng biết qua luật lệ gắt gao về gián điệp chứ?Lưỡi gươm của ta sẽ thi hành luật lệ ấy để trừng trị những quân phản bội!
Dứt lời, hắn rút thanh đoản kiếm ra chỉ thẳng vào mặt Thúy Loan.
Người thiếu phụ tái mặt. Toàn thân nàng run lên. Nàng chỉ còn có một cách cuối cùng là liều chết. Nàng liền la lên và đuổi Quách phi Bưu ra khỏi phòng.
Quách phi Bưu chồm tới, lăm lăm võ khí trong tay:
- Con tiện tỳ! Mi muốn chết thì ta cũng sẵn lòng hóa kiếp cho mi !
Nói xong, hắn giơ cao thanh gươm lên...
Thình lình cánh cửa sịch mở, và từ bên ngoài, một bóng người vụt lao mình vào như một mũi tên, chụp lấy cánh tay cầm võ khí của hắn vặn ngược lại.
Bị bẻ tay bất ngờ, viên tướng ưu binh phải buông rơi thanh kiếm. Với một thế vật rất lanh lẹ, người lạ mặt đã ôm choàng ngang lưng hắn và ném hắn lăn nhào xuống sàn gạch một tiếng ‘‘thịch’’ nặng nề. Quách Phi Bưu thấy ê ẩm khắp mình. Hai mắt hắn hoa lên. Nhưng liền đó, hắn định thần lại, toan lồm cồm ngồi dậy. Hắn bắt đầu nhận ra kẻ đánh hắn không ai khác hơn là Bùi văn Khuê, nên hắn càng tức giận hơn. Hắn chống tay sửa soạn đứng lên. Đồng thời, cặp mắt của hắn vẫn nhìn chừng Bùi văn Khuê, lo sợ chàng xông vào chém hắn bất thình lình.
Họ Bùi điềm tĩnh bảo hắn:
- Ta cho phép nhà ngươi đứng dậy lượm thanh gươm công khai chiến đấu với ta để chứng tỏ ta không phải người hay đánh lén.
Quách Phi Bưu, trong tình thế này, không còn có cách xử trí nào hơn, mặc dầu hắn cũng đã có phần khiếp sợ họ Bùi. Hắn cầm gươm chuẩn bị sẵn sàng.
Văn Khuê bảo Thúy Loan và Thu Hồng lùi vào trong tránh hiểm nghèo. Thừa lúc Bùi văn Khuê chưa tuốt gươm ra khỏi vỏ, họ Quách phóng mình tới, vận dụng hết sức bình sanh hươi kiếm chém bổ một lát thật mạnh xuống đầu đối thủ. Văn Khuê lách mình sang một bên, né khỏi. Đánh hụt, họ Quách liền xây lại, lia gươm qua phía hữu, chém ngang lưng kẻ địch. Bùi văn Khuê nhảy vọt lên cao, vượt quá tầm võ khí của viên tướng ưu binh. Đồng thời, một chân của chàng vươn ra, bất ngờ đá tạt vào đầu đối phương khiến Quách Phi Bưu phải chúi nhủi qua một phía. Họ Bùi không thèm hạ thủ hắn trong lúc sa cơ, sẵn sàng chờ hắn một lần nữa. Quách Phi Bưu đứng dậy giận dữ, gầm lên như hổ bị thương, xông vào chém kẻ địch. Văn Khuê đưa kiếm lên đỡ. Một trận so kiếm ác liệt diễn ra sôi nỗi và quyết liệt. Tiếng va chạm chát chúa của hai võ khí đang vùn vụt di chuyển sáng ngời và lấp lánh dưới ánh đèn.
Đánh nhau không đầy hai hiệp mà viên tướng ưu binh kiêm Phó trưởng ban dọ thám của Trịnh Tùng đã mệt thở hồng hộc và toát mồ hôi ra như tắm. Hắn lùi dần, định liều đánh một đòn chợt may ra có thể tìm phương tự giải cứu được chăng. Quách liền lùi về phía một cái bàn dài rồi thình lình, chụp lấy bàn ấy vụt ném mạnh lên mình kẻ địch. Bùi văn Khuê toàn thân ra hứng lấy cái bàn đè ập nghiêng lên mình. Viên tướng ưu binh cả mừng và không bỏ lỡ cơ hội hắn liền nhảy vọt theo, phóng mũi kiếm về phía trước đâm thẳng vào hông họ Bùi đang trống trải dưới mặt bàn. Chỉ chờ có thế, lẹ như chớp, Bùi văn Khuê dời chiếc bàn qua một cách tài tình. Mũi kiếm của Quách phi Bưu cấm phập rất sâu vào mặt bàn, không sao rút lên được. Biết trúng kế họ Bùi, viên tướng ưu binh đang bực tức và lúng túng bị Văn Khuê vung tay gạt mạnh chiếc bàn, khiến hắn phải té nhào. Văn Khuê lẹ làng nhảy phóc lên ngồi chễm chệ trên bụng hắn, và những quả đấm thôi sơn của họ Bùi tới tấp nện xuống mặt hắn như mưa.
Bất ngờ, từ bên ngoài, có hai tên.bộ hạ của họ Quách nhảy vào múa kiếm chém Bùi văn Khuê. Thúy Loan thấy kịp la hoảng lên, Bùi văn Khuê buộc lòng bỏ Quách phi Bưu, vung gươm đối địch với bộ hạ của Phi Bưu. Văn Khuê vừa đánh vừa lo ngại còn nhiều tên gián điệp vây bên ngoài. Riêng hai tên bộ hạ của Bùi văn Khuê quyết tâm cứu chủ tướng, nên đánh rất hăng. Thừa lúc không ai để ý, họ Quách lồm cồm ngồi dậy, rồi vụt chạy ra phía cửa tìm đường tẩu thoát. Thấy họ Quách đã thoát được, hai tên bộ hạ cũng tìm cách tháo lui. Trong lúc sơ xuất, một tên bị Bùi văn Khuê chém gần đứt lìa cánh tay mặt. Hắn rú lên một tiếng, buông gươm, lăn lộn trên vũng máu. Giữa lúc ấy ở phía cửa phòng, có một mũi tên nhô ra khỏi bóng tối, chỉa thẳng về hướng chàng dũng sĩ. Thình lình có người từ phía sau đưa tay đỡ ngược mũi tên lên nên khi tên gián điệp, một bộ hạ khác của họ Quách, vừa bật cung thì mũi tên bay xẹt lên ghim sâu vào trần nhà. Đồng thời một cuộc vật lộn sôi nổi bắt đầu giữa hai người lạ mặt ôm nhau lăn tròn từ trong bóng tối ra giữa phòng. Bùi văn Khuê và tên dọ thám đồng dừng tay xây lại nhìn.
Bùi văn Khuê mừng rỡ reo lên:
- Hiền đệ !
Phải, người gạt mũi tên của tên gián điệp chính là Lê thế Hùng e ngại Bùi văn Khuê bị hại đến nơi ngồi núp bên ngoài chờ khi hữu sự tiếp tay với họ Bùi. Lê thế Hùng vươn mình đứng dậy, tay kẹp lấy cổ tên địch và đánh vào hông hắn, khi buông ra thì hắn chỉ còn thoi thóp. Tên bộ hạ đánh cùng Bùi văn Khuê lúc nãy, và tên bị họ Bùi chém trọng thương, nhìn ngược nhì xuôi tìm đường chạy trốn.
Chàng dũng sĩ họ Bùi thấy vậy, đem lòng thương hại quát bảo mau mau rời khỏi ‘‘Chiêu Anh’’ lập tức. Mấy tên gián điệp mừng rỡ dắt dìu nhau tập tểnh bước ra khỏi phòng.
Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng cũng thu xếp đồ đạc hối hả Thúy Loan và Thu Hồng mau rời khỏi ‘‘quán Chiêu Anh’’ về dinh Bùi văn Khuê tạm trú, kẻo bọn Quách phi Bưu sẽ lên đến hãm hại lôi thôi.
Ban đầu, Thúy Loan còn do dự, sau khi nghe Thế Hùng phân tách lợi hại, nên nàng đành nhắm mắt đưa chơn, giao phó mạng sống mình cho người anh-hùng họ Bùi chở che bảo bọc.
* * *
Với những ngón tay trắng nuốt và xinh xắn, Thúy Loan nhẹ nhàng đưa mũi kim đi thoăn thoắt trên mảnh lụa hồng. Nàng làm công việc ấy rất đều đặn, gần như một cái máy, nhưng tâm trí vẩn vơ, nghĩ ngợi đâu đâu.
Hơn mười ngày trú ngụ tại tư dinh họ Bùi, đối với nàng là những ngày chứa chan hạnh phúc. Từ địa vị một vương phi cao sang, ngày nay Thúy Loan đổi hẳn sang địa vị của một người nội trợ tầm thường.  Nhưng nàng rất sung sướng và tự hào, vì nàng đã yêu và đã gặp được một bạn trăm năm lý tưởng.
Tuy nhiên, tuần trăng mật chưa dứt, họ Bùi và Lê thế Hùng bỗng nhận được lịnh của Chúa Mạc phải đem binh ra trận để đối phố với quân Trịnh đang rần rộ kéo tới cửa Thiên-Quan (Ninh-Bình) với mục đích tiến đánh Thăng Long.
Sáng hôm nay, trong lúc Thúy Loan đang may vá và nghĩ miên man thì thình lình có người lính canh chạy vào báo tin rằng Đại tựớng Bùi văn Khuê có phải người về trao một bức thư riêng cho nàng.
Thúy Loan mừng rỡ, reo lên:
- Ồ ! Thế à? Vậy người ấy đâu, nhà ngươi cứ cho vào đây.
Nhưng, chợt nhớ điều gì, Thúy Loan kêu vội người lính canh:
- Hãy khoan, nhà ngươi có biết mặt người cầm thư chăng hoặc có quen biết trước nhau chăng?
- Thưa phu nhơn, tiểu tốt không được biết người ấy là ai, và cũng không hề có quen trước, vì quân sĩ đông đảo lắm, lại chia nhiều đội ngũ, khó mà biết hết được.
Thúy Loan bán tin bán nghi, hỏi tiếp:
- Kẻ đưa thư hình dáng ra sao!
- Bẩm phu nhân, kẻ ấy cao lớn, vạm vỡ. Hơn phân nửa khuôn mặt xạm đen bị che khuất sau vòng khăn phủ kín tới quá nửa đầu.
Dè dặt hơn, Thúy Loan cho gọi thể nữ Thu Hồng ra tiếp xúc với kẻ đem thơ.
Tên lính toan bước ra khỏi phòng để đi gọi Thu Hồng thì liền bị một quá đấm như Thiên lôi giáng từ bên ngoài tung vào giữa mặt, khiến hắn té nằm sóng sượt bất tĩnh trên sàn gạch. Đồng thời, một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, lù lù tiến vào nhìn tròng trọc vào mặt Thúy Loan và gằn giọng:
- Đừng kêu con Thu Hồng làm gì cho mất công. Con thể nữ ấy đã bị trói chặt nằm chèo queo trong xó bếp rồi.
Dứt lời, gã đàn ông đưa tay kéo trật cái khăn bịt đầu về phía sau, để bộ mặt hung ác và quen thuộc.
Thúy Loan vội vàng lui lại, rú lên kinh hải:
- Quách phi Bưu !
- Ừ ! Phi Bưu là ta đây!
Thúy Loan nghe bên ngoài, phía cổng dinh, có tiếng người đang vật lộn nhau huỳnh huỵch. Nàng toạn la lên để kêu cứu thì bị Quách phi Bưu chận lai :
- Con tiện tì ! Đừng kêu la vô ích. Tất cả lính canh đều chịu chung số phận như con Thu Hồng rồi.
Người thiếu phụ không còn hồn vía nào nữa.
Nàng nhận thấy lúc này nàng đang sa vào tay kẻ thù và hoàn toàn cô độc, mặc dù trước khi chia tay ra mặt trận Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng có bảo nàng yên tâm, khi hữu sự sẽ có Ngọc Lan tiếp cứu. Bây giờ biết Ngọc Lan có hay biết tai nạn này cho cho nàng chăng, và Ngọc Lan là người thế nào, nàng chưa từng biết qua tài nghệ.
Không để mất thì giờ, Quách phi Bưu truyền lịnh cho bọn thuộc hạ trói chặt Thúy Loan lại, bịt mắt nàng bằng một tấm vải đen dày. Xong đâu đấy, chúng lôi Thúy Loan tấn vào trong một chiếc kiệu mà chúng đã cho thuê trước.
Chỉ một lát sau, đoàn người và chiếc kiệu từ từ rời khỏi tư dinh Bùi văn Khuê, tiến ra đường cái. Không ai chú ý đến họ và chiếc kiệu vì bọn gián điệp của Chúa Trịnh đều mặc toàn võ phục của quân nhà Mạc, trông rất gọn ghẽ, do họ Quách oai vệ cỡi ngựa đi đầu như một võ tướng của Mạc triều. Thỉnh thoảng chúng lại liếc nhìn nhau mỉm cười, sung sướng tự bảo rằng mình đã đóng kịch táo bạo này quá dễ dàng.
Khi chiếc kiệu đều gần chợ, sắp sửa rẽ sang một con đường vắng, thì bỗng có một chàng kỵ sĩ thình lình thúc ngựa vượt qua đoàn người rồi vụt quày lại chận đường viên tướng ưu binh. Đoàn người đều phải dừng bước, vì chàng kỵ sĩ kia đã ngang nhiên và sừng sững đứng chận mất lối đi.
Bị cản trở bất ngờ, Quách Phi Bưu rất kinh ngạc và lo sự cơ mưu bại lộ. Hắn tuốt gươm, trợn cặp mắt tròn xoe nhìn chàng thanh niên, hầm hầm quát lớn:
- Thằng nhãi con nầy! Sao mi dám nghinh ngang cản đường chúng ta! Mi muốn giở trò cuớp cạn phải không?
Chàng thanh niên điềm nhiên cất giọng lanh lảnh:
- Sự thật quân cướp chính là bọn nhà ngươi! Chính bọn ngươi đã công khai bắt cóc người và khiêng đi ngờ ngờ trong kiệu. Bởi thế ta mới chận bọn ngươi lại đây để hỏi cho ra lẽ.
Câu đáp dõng dạc của chàng thanh niên và sự tiết lộ nầy khiến cho đám đông người đứng xem chung quanh vô cùng kinh dị. Quách Phi Bưu cũng sửng sốt. Hắn nghĩ mà vẫn không hiểu chàng thanh niên nhỏ thó kia là ai, vì sao lại biết rõ hành động bí mật của bọn chúng. Viên tướng ưu binh giận run lên. Mặt hắn xám ngắt lại. Tuy nhiên, hắn cố tránh một cuộc xung đột giữa Thăng Long để cơ mưu củạ chúng không bị đổ vỡ.
Một lần nữa, hắn lại lên tiếng hăm dọa, hy vọng làm cho chàng trẻ tuổi kinh sợ mà rút lui và cho người chung quanh lầm lạc:
- Thằng súc sanh kia ! Mày bị loạn óc hay say. Ta đường đường là một võ tướng của Triều đình, sao mi dám xúc phạm tới ta?
Chàng thanh niên cả cười
- Chà giỏi thực ! Nhà ngươi đừng có hòng bịp được ta. Chúng bây chớ đừng tưởng rằng chỉ cần khoác lốt binh phục cải trang bề ngoài là có thể che mắt được thiên hạ sao?
Để xem ngươi là ai, ta thách ngươi hãy dở tấm màn che phủ trước chiếc kiệu kia lên để cho mọi người thấy rõ sự thật bên trong?
Thái độ cương quyết của chàng thanh niên khiến Quách phi Bưu bội rối và khó xử. Đã đến mức chót rồi không còn cách nào khác hơn là dùng võ lực để giết phứt chàng thanh niên nhỏ thó kia.
Thấy Quách phi Bưu đang lúng túng và sợ hãi, thì thình lình tấm màn che trước kiệu bị tung ra và người thiếu phụ tay chân bị trói đang từ trên kiệu lăn nhào xuống đất.
Cảnh tượng bất ngờ này khiến những người đứng xem rú lên, sửng sốt. Viên tướng ưu binh hoảng hốt và bối rối vô cùng.
Thế là xong. Tình thế không phương cứu vản được nữa rồi. Không nhịn được nữa, Quách phi Bưu thúc ngựa chồm tới, vung kiếm chém mạnh vào mình chàng trẻ tuổi.
Người thanh niên né mình sang một bên rồi đưa gươm lên nghinh địch.
Trận hỗn chiến bắt đầu bùng nổ. Đám đông dân chúng vội chạy đang ra xa đứng nhìn trận đấu hiếm có giữa thành Thăng Long.
Quách phi Bưu vừa đánh, vừa kinh dị trước tài nghệ và sức mạnh phi thường của chàng tuổi trẻ. Mặc dù cố gắng kết thúc trận đấu càng mau lẹ càng hay, Quách phi Bưu vẫn không đàn áp được đối thủ. Ngược lại, chính họ Quách đã mấy phen suýt mất mạng dưới đường kiếm cực kỳ lợi hại của kẻ thù.
Một lát sau, Quách phi Bưu mệt thở hồng hộc, mồ hôi thắm ướt chiến bào.
Họ Quách bèn dứt ngang cuộc giao phong, thoát ra ngoài vòng chiến, giao cho vài tên thuộc hạ cầm cự cản đường chàng thanh niên. Đoạn Quách phi Bưu lật đật lôi Thúy Loan đặt lên lưng ngựa phi nước đại về hướng Nam. Chàng thanh niên cấp tốc phóng ngựa đuổi theo, chận hắn lại đánh. Viên tướng ưu binh cả kinh, dừng ngựa lại đưa gươm đỡ những đòn tấn công của địch thủ. Vì vướng víu Thúy Loan trên lưng nên Quách phi Bưu day trở chậm chạp. Sau mấy lần chống đỡ, Phi Bưu bị chàng thanh niên đâm một gươm lăn nhào xuống đất. Thấy chủ tướng bị đánh ngã, bọn thuộc hạ họ Quách xông vào tấn công chàng kỵ sĩ. Trận chiến đang dữ dội, bỗng có tiếng nạt sang sảng từ phía trước:
- Hãy dừng tay cả lại. Các người không biết có thánh thượng ngự giá đến nơi à?
Chàng thanh niên lạ mặt và bọn dọ thám đều giựt mình lo sợ, ngưng cuộc giao phong và hướng nhìn về phía trước. Hàng ngàn ngự vệ quân đang rần rộ giăng ra thành hai hàng dài dọc theo lề đường báo hiệu rằng Chúa tể đất Thăng Long chỉ còn cách họ không đầy trăm thước. Đi trước là một vị lão tướng trạc ngũ tuần, râu dài, mình mặc giáp trụ màu trắng, cỡi ngựa kim, tướng mạo oai phong lẫm liệt. Chính vị lão tướng này mới rồi đã ra lệnh cho hai phe ngừng đánh. Chàng thanh niên nhìn kỹ lão tướng ấy rồi lẩm bẩm ‘‘Hoàng thúc Mạc kinh  Chỉ’’. Thấy hai phe ngưng cuộc giao tranh, lão tướng Mạc kinh Chỉ lại truyền ném bỏ khí giới và phải khai rõ danh tánh mỗi người đôi bên.
Mấy tên gián điệp thấy nguy, ra hiệu nhau quây ngựa tẩu thoát, Mạc Kinh Chỉ cho ngự vệ binh đuổi theo.
Giữa lúc ấy chúa Mạc cũng từ từ cho ngựa tiến đến nơi. Mạc Kinh Chỉ vội tâu:
- Tâu bệ hạ, có một đám người dám kéo nhau ra đây hỗn chiến, làm ngăn trở cuộc ngự du.
Mạc Mậu Hợp cau mày chăm chú nhìn, chỉ thấy chàng thanh niên cúi đầụ phủ phục. Sau gã thanh niên nầy, một viên tướng mặc quân phục nhà Mạc bị trọng thương, nằm rên la bên cạnh một thiếu nữ tay chân bị trói, miệng bị nhét giẻ và đôi mắt bị bịt kín lại.
Mạc Mậu Hợp và Hoàng thân Mạc Kinh Chỉ không nhận ra được ai cả, vội truyền lịnh mở trói cho thiếu phụ, lấy giẻ trong miệng ra và tháo bỏ tấm vải bịt mắt nàng. Đoạn Mạc Mậu Hợp quay lại tra hỏi chàng thanh niên đang quỳ dưới đất:
- Gã kia! Nhà ngươi tên họ là chi, và từ đâu đến đây? Tại sao dám gây chuyện làm trở ngại cuộc ngự du của trẩm.
Gã thanh niên dập đầu lạy rồi từ từ ngước mặt lên...
Chúa Mạc chăm chú nhìn chàng. Bỗng nhiên, ông ngẩn người ra rồi bất giác kêu lên:
- Ô kìa ! Nguyễn tiểu thơ.
Phải, chàng thanh niên ấy không ai khác hơn là Ngọc Lan cải trang để cứu Thúy Loan. Thấy nhà vua đã nhận ra mình Ngọc Lan rất lo lắng, khép nép tâu lên :
- Cúi lạy Chúa thượng, thần thiếp tội đáng muôn thác, xin Chúa thượng mở lượng hải hà dung thứ cho một phen.
Nhà vua mỉm cười quay sang nhìn Mạc kinh Chỉ. Ông rất đắc chí về sự phát giác của mình.
Đoạn ông ôn tồn phán bảo Ngọc Lan:
- Trẫm cho phép tiểu thơ hãy bình thân. Còn tiểu thơ có phạm lỗi hay không, sau đó sẽ xét. Bây giờ, trước hết, tiểu thơ hãy vắn tắt trả lời những câu hỏi của trẫm : Vì lý đo nào tiểu thơ lại nhúng tay vào vụ xung đột lưu huyết này ? Còn kẻ lạ mặt bị thương nằm dưới đất và người đàn bà bị trói kia là ai.
Không dám trái ý vua, Ngọc Lan từ từ đứng dậy và kính cẩn tâu bày nguyên nhân đã khiến nàng phải cải dạng nam nhi để can thiệp vào cuộc bắt cóc táo bạo của bọn gián điệpTây đô giữa kinh thành.
Và nàng tiếp :
- Tâu bệ hạ, gã đàn ông đã bị thần thiếp đánh gã kia là một viên tướng kiêm gián điệp lợi hại của Trịnh Tùng, còn người thiếu phụ bị chúng bắt cóc và bị trói chính là... Bùi văn Khuê phu nhơn.
Sự phát giác của Ngọc Lan làm cho nhà vua và vị hoàng thân hết sức kinh dị. Chúa Mạc hướng nhìn về phía Quách phi Bưu rồi lại hỏi người thiếu nữ :
- Tên gián điệp này đã có mặt tại Thăng Long từ bao giờ?
Ngọc Lan đáp :
- Tâu bệ hạ[sub]p[/sub] thần thiếp không được biết đích xác lắm. Có lẽ chưa đầy nửa tháng.
Nhà vua gật đầu
- Được rồi. Để trẫm cho bắt hắn đem về tra xét thì lòi ra sự thực ngay.
Dứt lời, ông xây lại truyền cho kẻ tả hữu :
- Các ngươi hãy khiêng gã bị thương kia, đem về ngục thất tạm giam riêng vào một chỗ, lo điều trị thuốc thang cho hắn bình phục đã, rồi sẽ hay.
Đám ngự vệ quân vội vàng tuân lịnh. Mạc mậu Hợp lại tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở nửa chừng với Ngọc Lan:
- Vừa rồi - nhà vua nói - tiểu thơ bảo rằng người đàn bà bị bọn dọ thám địch bắt cóc là vợ của Đại tướng Bùi văn Khuê. Lạ thật, họ Bùi lấy vợ từ lúc nào mà trẩm không hay? Và vì lý do nào Bùi phu nhơn lại bị bọn gián điệp Tây đô bắt? Chúng muốn trả thù nàng hay muốn gián tiếp trả thù Bùi văn Khuê ?
Tuy hiểu rõ tất cả uẩn khúc bí mật trong vụ nầy, nhưng Ngọc Lan không dám tiết lộ với nhà vua. Nàng dè dặt đáp :
- Tâu bệ hạ, thần thiếp chỉ biết có một việc là can thiệp để giải cứu Bùi phu nhơn, thể theo lời yêu cầu của Đại tướng Bùi văn Khuê trước khi cầm quân ra trận mà thôi.
Mạc mậu Hợp mỉm cười hóm hỉnh, tỏ vẻ hoài nghi :
- Thôi được. Nếu tiểu thơ không trả lời nỗi những câu hỏi vừa nêu ra, thì trẫm cũng sẽ có cách để tìm hiểu lấy. Dầu sao, nhờ có cuộc xung đột lưu huyết hôm nay, mà Trẫm mới được biết rõ tài nghệ và lòng dũng cảm của tiểu thơ. Trẫm thành thật khen ngợi vì vừa rồi, chính tiểu thơ đã lập nên một công trạng không phải nhỏ: ấy là đánh ngã được lên dọ thám lợi hại của Trịnh Tùng.
Ngọc Lan ngượng nghịu và rón rén đáp:
- Bệ hạ rõ lòng thương mà tha chết cho, như thế kể cũng đã là may cho thần thiếp lắm rồi. Quả thần thiếp không còn dám cầu mong gì hơn nữa.
Câu trả lời của Ngọc Lan, lần này dường như không còn được Chúa Mạc lưu tâm đến. Vì nhà vua đang bận ngước mắt lên, đăm đăm nhìn về phía trước, vẻ sửng sốt hiện rõ trên mặt rồng.
Mạc mậu Hợp vừa nhìn thấy một thiếu phụ cực kỳ diễm lệ đang từ từ tiến về phía mình, khoan thai và uyển chuyển giữa hai tên ngự vệ quân.
Nhà vua kinh ngạc đến cực độ, trước nhan sắc mê hồn, lộng lẫy, có một không hai của người thiếu phụ. Ông tưởng chừng như mình đang ở trong một giấc mơ và tự nhủ thầm: ‘‘ Lạ quá ! Suốt trong đời ta, ta chưa hề thấy một người đàn bà xinh đẹp như thế này bao giờ !’’
Mạc Mậu Hợp còn đang bâng khuâng suy nghĩ thì giai nhơn đã sắp bước tới gần. Vừa đi, nàng vừa xây qua hỏi nhỏ một người lính ngự vệ:
- Vị mặc áo hoàng bào ngồi trên lưng ngựa kia là Chúa thượng có phải không ?
Người lính gật đầu.
Thúy Loan bắt đầu bước chậm lại, đồng thời dáng điệu nàng trở nên trịnh trọng hơn, tỏ ra nàng là người đã từng giao thiệp và ra vào nhiều ở các nơi đền đài cung điện, những nơi quyền quý cao sang.
Khi vừa tới ngang hàng với Ngọc Lan, nàng bèn dừng lại, thong thả phủ phục xuống, làm lễ bái yết nhà vua và tung hô vạn tuế.
Vốn là một kẻ hiếu sắc, Chúa Mạc chăm chú ngắm nghía nàng từ đầu chí chân, lòng say sưa, ngây ngất như một chàng nghệ sĩ đang đứng trước một bức tranh tuyệt tác.
Nghe giọng oanh lảnh lót của nàng, nhà vua hơi giựt mình, vội vàng truyền phán:
- Trẫm miễn lễ cho phu nhơn. Phu nhơn hãy bình thân và chuẩn bị trả lời những câu hỏi của trẩm.
Tuân lịnh, Thúy Loan từ từ rón rén đứng lên.
Mạc Mậu Hợp tiếp:
- Vừa rồi, nhờ có lời tâu bày của Ngọc Lan, tiểu thơ trẫm mới được biết rằng phu nhơn đây là nội tướng của Bùi tướng quân. Họ Bùi là một bề tội quý mến của trẫm, cho nên hôm nay trẫm chú ý đến trường hợp của phu nhơn kể cũng không phải là một việc lạ. Trựớc hết phu nhơn hãy giải thích cho trẫm rõ vì sao bọn gián điệp của Trịnh Tùng đã bắt có phu nhơn? Chúng hành động như vậy là cố nhắm mục đích gì?   
Thúy Loan vô cùng bối rối trước câu hỏi của nhà vua. Nàng không ngờ tai họa vừa rồi đã xẩy đến cho nàng lại đưa tới một kết quả rắc rối như thế này. Lẽ dĩ nhiên là nàng không dám tâu rõ sự thiệt vì sợ sẽ tiết lộ cho người ngoài biết về quá khứ của nàng, về vai tuồng quan hệ mà nàng đã đóng khi mới đặt chân tới địa phận Thăng Long. Bởi vậy, nàng buộc lòng phải thận trọng, phải chối, cho đến khi nào câu chuyện bị vỡ lỡ rồi sẽ hay...
Quyết định như thế rồi, nàng đáp:
- Tâu bệ hạ, thần thiếp không hiểu nguyên nhơn vì sao bọn gián điệp kia lại bắt cóc và ngược đãi thần thiếp một cách tàn nhẫn như vậy? Thần thiếp đoán rằng có lẽ chúng muốn gián tiếp trả thù chồng thần thiếp trong khi chúng không còn có cách gì khác hơn để hại chàng...
Chúa Mạc mỉm cười khẽ gật đầu:
- Lời phu nhơn tâu cũng có lý.
Nhà vua ngẫm nghĩ một lát, rồi như chợt nhớ ra điều gì, ông vội hỏi:
- Này phu nhơn! dường như phu nhơn là người sanh trưởng tại miền trong, ở Tây đô thì phải?
Thúy Loan hơi lo ngại, cúi đầu đáp:
- Tâu bệ hạ, bệ hạ dạy rất đúng. Thần thiếp vốn nguyên quán ở Tây đô.
Chúa Mạc cả cười, đắc ý:
- Trẫm chỉ nghe qua giọng nói của phu nhơn là đã biết rõ ngay. Thế phu nhơn đã từ Tây đô ra đây hồi nào? Có lẽ mới trong vòng độ nửa tháng phải không?
Người thiếu phụ bắt đầu hồi hộp, trước câu hỏi tò mò của nhà vua. Tuy vậy, nàng cũng đánh bạo trả lời :
- Tâu bệ hạ, phải. Thần thiếp chỉ mới có mặt tại Thăng Long hơn mười ngày thôi.
Mạc mậu Hợp phán:
- Thế nghĩa là phu nhơn đã tới đây cùng một lượt với bọn dọ thám của Trịnh Tùng...
Thúy Loan biến sắc. Nàng biết rằng chúa Mạc nghi ngờ nàng và đang cố tìm cách để buộc nàng phải khai rõ sự thật. Nàng vội cãi:
- Tâu bệ hạ, nếu quả có thật như thế, thì cũng chỉ là một sự tình cờ.
Nhà Vua đưa tay lên mân mê mấy sợi râu mép, cười ranh mảnh:
- Nhưng sự tình cờ ấy kể cũng hơi lạ. Phải không phu nhơn?
Dứt lời ông ta xây lại bảo Mạc kinh Chỉ:
- Nhờ có trận xung đột đẫm máu hôm nay, chúng ta mới khám phá thêm một cuộc âm mưu nữa của bọn gián điệp Tây đô. Vụ nầy rất quan trọng, Trẩm xin ủy thác cho Hoàng thúc công việc điều tra để tìm hiểu rõ sự thật.
Ngoài những kẻ phạm tội, thiết tưởng Hoàng thúc nên mời luôn cả những người chứng là Ngọc Lan tiểu thơ và Bùi phu nhơn đến Tòa Tam pháp để lấy lời khai, vì những lời khai của họ rất cần cho công cuộc điều tra. Và trong thời gian thẩm vấn, kể từ giờ phút này, Bùi phu nhơn cần được lưu giữ tại hoàng cung cho tới ngày Đại tướng Bùi văn Khuê từ mặt trận trở về, Như vậy, tánh mạng và sự an ninh của nàng mới được hoàn toàn bảo vệ.
Mạc kinh Chỉ nghiêng đầu phụng mạng.
Dặn dò vị Hoàng thân xong nhà vua xây lại mỉm cười khẽ gật đầu chào tạm biệt Thúy Loan và Ngọc Lan tiểu thơ rồi ra hiệu cho đội ngự vệ quân theo mình, tiếp tục cuộc ngự du…

Riêng Thúy Loan, nàng rất lo sợ từ khi nghe Chúa Mạc lên tiếng quyết định về số phận của nàng. Viện cớ là để bảo vệ an ninh cho nàng, nhà vua đã hạ lịnh lưu giữ nàng tại hoàng cung.
Thế là từ đây, nàng sẽ bị cầm tù trong tay của Mạc mậu Hợp có lẽ cho đến khi nào chồng nàng là Đại tướng Bùi văn Khuê  thắng trận hồi trào.
Nhưng sự thật, chúa Mạc muốn gì mà thi hành một biện pháp hơi lạ lùng như vậy?
Hiện thời, Thúy Loan không hiểu nổi?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.10.2020 23:07:21 bởi Thanh Vân>
Bí mật trong cung nhà Mạc
 
 
THÚY LOAN uể oái buông mình ngồi phịch xuống giường. Nàng đưa hai tay ôm lấy đầu và cảm thấy tức bực, khó chịu vô cùng.
Hôm nay là ngày thứ hai kể từ khi nàng bị giam lỏng trong hoàng thành của Chúa Mạc. Căn phòng xinh đẹp và trang hoàng lộng lẫy mà nhà vua đã dành riêng cho nàng, đối với Thúy Loan, có vẻ âm u, ảm đạm như chốn lảnh cung.
Đã hai bữa nay, kể từ lúc đặt chân vào đây, Thúy Loan cảm thấy mình hoàn toàn mất cả tự do. Đã thế, mỗi ngày hai bận, nàng lại còn bị ‘‘mời’’ đến Tòa Tam pháp để trả lời những câu hỏi của hoàng thân Mạc kinh Chỉ và của viên quan đô sát được ủy thác nhiệm vụ tra xét vụ án gián điệp nầy.
Như thế, cứ mỗi lần từ Tòa Tam pháp trở về, người thiếu nữ rất mệt mõi, cả thể xác lẫn tinh thần.
Thúy Loan không hiểu tại sao Mạc mậu Hợp lại cho thi hành một biện pháp kỳ dị như vậy đối với nàng? Vì nhà vua quá nghi kỵ nàng chăng? Dầu sao thì nàng cũng đường đường là một vị phu nhơn, vợ của một viên Đại tướng lẫy lừng danh tiếng của Triều đình. Ở địa vị ấy, nàng phải được hưởng một sự đối đãi hợp lẽ và xứng đáng hơn, chớ lý nào lại cứ bị cật vấn mãi và bị giam lỏng tại chốn này? Hay là...
Người thiếu phụ đang băn khoăn với nhiều ý nghĩ phức tạp và mâu thuẫn ấy, thì bỗng nghe tiếng cánh cửa phòng xịch mở. Ngẩng mặt nhìn lên, nàng ngạc nhiên thấy một thiếu nữ nhanh nhẹn bước vào, theo sau có một viên Thái giám già, trạc độ ngũ tuần.
Đây là lần đầu tiên, một hoạn quan của nhà Mạc đặt chân vào phòng nầy, Thúy Loan tiên cảm rằng sắp có một việc gì quan trọng xẩy ra.
Nàng chưa kịp hỏi: Con thế nữ đã vội lên tiếng :
- Bẩm phu nhơn, có lịnh của Chúa thượng.
Cô vừa dứt lời thì lão Thái giám tiếp liền:
- Thưa phu nhơn, chính thế. Chúa thượng truyền cho hạ quan triệu thỉnh phu nhơn tới điện Long An để ngài hỏi thăm nhiều điều hệ trọng về vụ gián điệp.
Thúy Loan lo lắng nghĩ bụng : ‘‘Mạc mậu Hợp lại muốn gì nữa đây ? Tại sao ông ta giao phó vụ nầy cho Mạc kinh Chỉ tra xét mà nay lại còn đòi ta tới ?’’
Thấy người thiếu phụ còn đứng sững vẻ mặt trầm ngâm, tư lự, viên Thái giám già thúc giục:
- Xin phu nhơn mau mau chuẩn bị đi theo hạ quan. Chúa thượng đang nóng lòng chờ đợi.
Thúy Loan hơi giật mình. Nàng vội vàng sửa lại mái tóc, khoác thêm một chiếc áo ngoài vào. Đồng thời, nàng cất tiếng hỏi:
- Từ đây đến điện Long An chừng bao xa?
Lão Thái giám đáp :
- Độ vài trăm thước.
Chuẩn bị xong, Thúy Loan lẳng lặng theo lão Thái giám bước ra khỏi phòng. Nàng được mời leo lên một chiếc kiệu đưa nàng thẳng tới điện Long An, là nơi chúa Mạc đang ngự.
Khi kiệu vừa ngừng lại trước điện, lão Thái giám nãy giờ lẽo đẽo theo sau, vội vàng tiến lên, vượt qua bậc tam cấp, để vào báo tin cho nhà vua.
Một lát sau, lão lại tất tưởi chạy ra, kính cẩn nói với người thiếu phụ đang thong thả từ trên kiệu bước xuống:
- Chúa thượng truyền cho phu nhơn vào bệ kiến.
E ngại, Thúy Loan đặt chân lên bậc tam cấp và chậm rãi theo viên hoạn quan già. Nàng đi ngang qua hai hàng vệ sĩ, taỵ cầm gươm trần sáng nhoáng đứng canh gác, trông rất lễ nghi và lạnh lùng như những bức tượng đồng.
Qua một đãy hành lang ngắn, mà trên sàn gạch đều trải toàn thảm nhung, sau cùng lão Thái giám dẫn nàng tới trước một gian phòng cực kỳ lộng lẫy, với cửa ngõ cùng các cây cột đều chạm trổ bằng rồng phượng rất tỉ mỉ và nổi bật lên một màu vàng chói lọi.
Trước phòng, một viên Thái giám trẻ tuổi khoanh tay đứng chờ sẵn. Vừa thấy người thiếu phụ,y vội cúi đầu lễ phép thưa:
- Xin mời phu nhơn cứ vào, Chúa Thượng đang chờ phu nhơn trong điện.
Nói xong, hắn đưa mắt ra hiệu cho lão hoạn quan già lui ra ngoài rồi đích thân thoăn thoắt dẫn đường cho Thúy Loan và mở cửa bước vào phòng.
Trong phòng Mạc mậu Hợp chễm chệ ngồi trên một chiếc ngai, rực rỡ dưới lớp hoàng bào mà ông vẫn còn mặc sau lúc lâm triều.
Nhà vua tiếp đón mỹ nhơn bằng một nụ cười tình tứ thoáng nở trên môi, khiến Thúy Loan vừa thoạt trông qua, đã hơi lấy làm lo vì nhận thấy ở đó, một triệu chứng chẳng lành.
Rón rén, nàng phủ phục xuống tung hô vạn tuế, đúng như nghi lễ phải tuân theo của một thần tử đối quân vương
Ngay lúc ấy, nàng nghe giọng sang sảng của nhà vua cất lên:
- Vương Thái giám ! Trẫm cho phép nhà ngươi luị ra. Và nhớ lời trẫm dặn vừa rồi nhé!
Nếu có ai xin vào tâu trình việc gì thì trả lời họ rằng hôm nay Trẫm rất đa đoan công việc, không thể tiếp kiến bất kỳ ai, dầu là Hoàng thúc chăng nữa! Nhớ rõ chưa?
Gã Thái giám lật đật đáp :
- Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần xin phụng mạng.
Dứt lời, hắn chắp hai tay lia lịa xá nhà vua, rồi từ từ thụt lui ra khỏi phòng sau khi đã khép chặt cánh cửa lại rất cẩn thận.
Lời dặn dò trên đây của chúa Mạc càng khiến người thiếu phụ thêm lo lắng cho số phận mình. Nàng tự hỏi thầm : ‘‘Tại sao nhà vua lại quyết định hôm nay không cho phép bất luận ai vào bệ kiến? có lẽ Mạc mậu Hợp định ở mãi trong điện nầy với ta chăng ? Ồ! Nguy quá ! Tai họa gì lại sắp xảy ra nữa đây?
Trong phòng nầy, chỉ có một mình ta với nhà vua, ngoài ra, không còn một người thứ ba nào khác nữa ! Thế là nghĩạ lý gì? Phải chăng Chúa Mạc đã có dụng ý mờ ám khi cho triệu ta tới đây để rồi cầm giữ ta lại với y trong ngôi điện kín đáo và vắng vẻ này ?
Thúy Loan còn đang phân vân với những ý nghĩ trên đây, thì chợt nghe nhà vua phán :
- Phu nhơn hãy bình thân.
Rồi chỉ một chiếc ỷ, bọc da hổ rất đẹp, đặt trước mặt mình ông thân mật tiếp:
- Phu nhân hãy xích lại gần và ngồi xuống đây để nghe trẫm hỏi!
Người thiếu phụ không dám hoàn toàn cãi lịnh vua. Nàng từ từ tiến tới vài bước rồi đứng sững lại, hai mắt vẫn cúi gầm nhìn xuống đất, không dám ngước lên.
Mạc mậu Hợp cả cười :
- Kìa ! Trẫm cho phép phu nhơn an tọa. Phu nhơn chớ ngại, vì đây là một đặc ân mà Trẫm dành riêng cho nội tướng của một vị đại thần. Phu nhơn thử nghĩ xem; Bùi tướng quân há không phải là một bưc trọng thần và một danh tướng của Trẫm hay sao ?
Thúy Loan lễ phép khước từ:
- Tâu bệ hạ, thần thiếp được bệ hạ cho phép đứng chầu như thế này kể cũng là một vinh dự to tát lắm rồi.
Quả tình thần thiếp không dám lỗi đạo vua tôi. Vả chăng nếu không lầm, thì hiện nay thần thiếp là kẻ có tội, hay nói cho đúng hơn, là một kẻ bị tình nghi trong vụ án gián điệp đang được tra xét hiện thời.
Chúa Mạc đắm đuối nhìn nàng, nhìn cặp mắt biếc như chứa đựng cả một bầu trời trong vắt. Nhìn cặp môi son chúm chím hữu duyên đang mở ra trên hai hàng răng đều đặn trắng như ngô.
Trong khỏanh khắc, nhà vua có cảm giác như một người say và đồng thời không còn tự chủ được mình nữa. Trong lời nói cũng như cử chỉ của ông, bắt đầu lộ vẻ suồng sã, lả lơi, khiến cho thiếu phụ càng thêm kính sợ.
Mạc mậu Hợp bước xuống ngai, từ từ tiến đến trước mặt nàng. Ông cười đả đớt vừa thân mật bảo:
- Ô kia ! Trẫm đã ân cần mời mãi mà tại sao phu nhơn lại cứ từ thế? Trẫm có việc cần phải hỏi ý kiến và bàn định với phu nhơn lâu lắm. Nếu phu nhơn không chịu an tọa thì trẫm cũng quyết đứng tại đây để đối diện với phu nhơn vậy.
Toàn thân Thúy Loan run và khiếp sợ nghĩ thầm :‘‘ Trời ơi !Mạc mâu Hợp sắp sửa giờ trò rồi. Nếu sẽ xâm phạm đến mình ta, nắm lấy tay ta thì ta biết làm thế nào để đối phó bây giờ ?’’
Nhưng, hễ nàng lui một bước thì nhà vua lại tiến lên thêm một bước. Người thiếu phụ kinh hãi, liếc nhìn về phía sau thì thấy cánh cửa lớn đã đóng chặt rồi. Chung quanh nàng, ngôi điện rộng mênh mông, với những con rồng vàng khổng lồ chạm trổ nhan nhản nơi các cột, đang dang nanh, gợi vuốt ra tròng trọc nhìn nàng, đầy hăm dọa.
Thúy Loan nghĩ thầm : ‘‘Ta chạy trốn ư? Nhưng chạy làm sao cho thoát khi cánh cửa duy nhứt của phòng này đã gài kín lại rồi. Hay tri hô cầu cứu ? Cũng không thể được, vì sẽ chẳng có ai nghe tiếng la của ta, và dầu có nghe chăng nữa, thì cũng chẳng có ai dám đặt chân vào đây để can thiệp. Ấy là chưa kể rằng xử trí như thế ta sẽ làm cho chúa Mạc nổi giận và ghép ta vào tội khi quân hết sức nặng nề. Chỉ bằng ta cứ thử nhượng bộ y một chút rồi sẽ liệu...’’
Nghĩ vậy, nàng vội cất tiếng:
- Tâu bệ hạ, thần thiếp xin tuân lịnh của bệ hạ và xin sẵn sàng ngồi xuống để nghe bệ hạ phán dạy.
Mạc mậu Hợp cả cười, khoan khoái:
- Ờ, có thế chứ ! Ai lại cứ để Trẫm phải nài ép mãi!
Dứt lời, nhà vua lùi lại, chỉ vào chiếc ỷ bọc da hổ và bảo :
- Nào ! Phu nhơn hãy an tọa đi ! Thấy phu nhơn ngồi Trẫm mới yên tâm cùng ngồi để đàm đạo được, ở đời dầu là một kẻ sắt đá đến đâu chăng nữa, cũng không thể đành lòng ngồi yên nhìn một trang sắc nước hương trời như phu nhơn đứng ủ rũ thế bao giờ !
Thúy Loan rất khó chịu trước lời tán tỉnh, hoàn toàn mất hẳn vẻ đứng đắn, xứng đáng với tư cách của một bậc quân vương. Tuy nhiên, nàng bắt đầu thấy bớt lo, vì đã tạm đẩy lui được hiểm họa: Mạc mậu Hợp không còn đứng sừng sững trước mặt nàng như trước nữa mà đã trở về an tọa trên ngai, trong khi chính nàng cũng đặt mình ngồi xuống trên chiếc ỷ, chỉ cách nhà vua chừng vài bước.
Vẻ lúng túng, ngại ngùng của Thúy Loan khiến nhà vua hơi phì cười :
- Trông phu nhơn không được tự nhiên lắm. Phải chăng phu nhơn có điều gì không vui, không vừa ý. Hay là vì Trẫm đối đãi với phu nhơn không được bằng... Trịnh chúa ở Tây đô?
Nghe nhắc đến hai tiếng ‘‘Trịnh Chúa’’, người thiếu phụ giựt mình, rụng rời tay chân. Nàng nghĩ thầm : ‘‘ Chết rồi ! Nhà vua đã biết rõ quá khứ của ta !’’.
Mạc mậu Hợp lại tiếp tục ngắm nghía Thúy Loan và như đọc được tư tưởng của nàng, qua vẻ mặt bối rối và đáng yêu kia.
Ông mỉm cười và bảo:
- Chắc phu nhơn lấy làm lạ khi nghe Trẫm nói đến Chúa Trịnh.
Mặc dầu, tại tòa Tam pháp, phu nhơn không hề khai rõ việc này, nhưng Trẫm cũng biết đích xác rằng trước đây, ngày còn ở Tây Đô, phu nhơn chính là một vị vương phi rất được sùng ái của Trịnh Tùng.
Lời phát giác trên đây của Chúa Mạc khiến người thiếu phụ sững sờ, gần như chết điếng đi trên chiếc ỷ. Nàng chỉ cúi gầm đầu xuống đất không đáp một lời.
Nhà vua nhìn nàng hơi ái ngại, nhưng đồng thời, ông ta cũng rất mừng thầm vì vừa đánh trúng vào ‘‘chỗ nhược’’ của nàng. Phải, Mạc mậu Hợp biết rằng Thúy Loan rất lo sợ dĩ vãng của nàng bị tiết lộ, và do đó, nàng sẽ bị coi là kẻ đã đóng một vai tuồng quan trọng trong vụ gián điệp này. Vì thế nhà vua mới quyết nắm lấy chỗ yếu điểm ấy để dọa nàng hầu dễ bề ép uổng nàng về sau, theo ý muốn.
Như bạn đọc đã có thể đoán đựợc ngay từ buổi đầu tiên gặp gỡ, trong cuộc ngự du vừa rồi, Chúa Mạc đã phải say sưa trước nhan sắc lộng lẫy mê hồn của Thúy Loan. Và khởi liền từ đó, ông đã sắp đặt sẵn một chương trình để chiếm đoạt quả tim nàng cho kỳ được. Chính bởi lẽ ấy, mà ông ta đã buộc người thiếu phụ phải tới tòa Tam pháp cung khai và nhứt là, cầm giữ nàng tại Hoàng cung, để có cơ hội được gần nàng.
Cơ hội ấy, hôm nay đã đến, và Mạc mậu Hợp, một hôn quân đa tình và hiếu sắc, trong những giờ phút sa ngã đắm đuối của đời mình, đã hầu quên cả đại sự, cả Bùi văn Khuê, và cả nghĩa vua tôi. Vốn là một kẻ gian ngoan xảo quyệt, ông ta cố tìm đủ cách để chinh phục … giai nhân. Biết không thể dùng uy quyền, dùng những lời tán tỉnh đường mật để cám dỗ, để lay chuyển được lòng nàng, ông xay qua dùng sự đe dọa. Và Mạc mậu Hợp đắc ý nghĩ rằng có hy vọng sẽ thành công với phương pháp cuối cùng này.
 Thấy người thiếu phụ vẫn cúi đầu làm thinh,nhà vua lại tiếp :
- Này phu nhơn! Trẫm không hiểu tại sao Trịnh Tùng lại có thể hành động một cách xuẫn ngốc và lạ lùng như thế ? Có được bên mình một bực mỹ nhơn tuyệt sắc, vậy mà không biết thương hương tiếc ngọc, không biết luyến giữ một bảo vật quý nhứt của trời ban, lại nỡ phải đi xa, bắt phải thi hành một sứ mạng cực kỳ nguy hiểm. Tại sao ở đời lại có hạng người tàn nhẫn đến như họ Trịnh ? Nếu Trẫm được ở vào địa vị của y, thì chao ôi! Trẫm sẽ yêu quý phu nhơn đến bực nào ! Trẫm sẽ nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa...
Vừa sợ hãi, vừa bực mình, khó chịu vì giọng cợt nhả trên đây, Thúy Loan vùng ngước mắt lên, nghiêm trang nhìn thẳng vào mặt nhà vua :
- Tâu bệ hạ, thần thiếp cúi xin bệ hạ giải thích cho thần thiếp rõ vì sao bệ hạ đã biết được dĩ vãng và thân thế của thần thiếp, và có bằng cớ gì chứng tỏ rằng thần thiếp là một nữ gián điệp của chúa Trịnh Tùng?
Mạc mậu Hợp cười khanh khách
- Ồ ! Có gì lạ đâu. Sở dĩ Trẫm biết rõ ấy là do lời cung khai của tên Quách phi Bưu. Hắn đã thú nhận hết cả tội lỗi... Lời khai của hắn đã được ghi trên tám trang giấy lớn, trong đó có nhiều khoản nói rất đầy đủ về trường hợp của phu nhơn.
Mặt Thúy Loan xám ngắt lại. Nàng cảm giác như vừa nghe một tiếng sét nổ ngang đầu. Thì ra, Quách phi Bưu, sau khi bị bắt đã khai hết với Hoàng thân Mạc kinh Chỉ và viên quan Đô Sát. Tuy nhiên, việc hắn cung khai cũng chỉ là một sự thường.
Duy có điều nguy hiểm và tai hại ấy là hắn khai gian để trả thù và để trút cả tội lỗi cho nàng. Trong tình trạng ấy, người thiếu phụ thấy cần phải tự biện hộ để đánh tan mối ngờ vực trong lòng nhà vua. Nàng nói :
- Tâu bệ hạ, tên Quách phi Bưu vốn có một mối thâm thù đối với thần thiếp. Chính vì thế mà hắn đã bắt cóc thần thiếp để đem thủ tiêu.
Do đó, những lời cung khai của hắn về thần thiếp chỉ là những lời khai man trá nhằm mục đích trả thù một cách ty tiện và hèn hạ. Vậy xin bệ hạ đừng nên xét thần thiếp qua lời khai của họ Quách.
Chúa Mạc cười hóm hỉnh:
- Phu nhơn hãy yên tâm. Trẫm không hoàn toàn tin vào lời khai của hắn đâu. Tuy nhiên những lời ấy vẫn có thể trúng được một phần nào. Ví dụ như việc phu nhơn được Trịnh Tùng ủy thác cho sứ mạng ra đây để tổ chức một hệ thống gián điệp. Việc ấy, chắc phu nhơn phải nhìn nhận là có chứ?
Thúy Loan nghiêng mình đáp:
- Tâu bệ hạ, điều ấy quả có thật, nhưng đó là một mệnh lịnh mà thần thiếp không hề thi hành bao giờ.
Thần thiếp chỉ lợi dụng cơ hội để thoát ly khỏi cung điện của Trịnh Chúa và khỏi Tây đô, hầu ra đây tìm gặp ý trung nhân là Bùi văn Khuê và lập lại cuộc đời.
Nhà vua gục gật đầu, mỉm cười nhắc lại:
- Lập lại cuộc đời! Hay lắm! Như vậy nghĩa là phu nhơn đã vượt gian lao nguy hiểm ra tận Thăng Long cũng chỉ vì yêu Bùi tướng quân. Kề ra họ Bùi có diễm phúc lớn thật. Trẫm cũng ao ước được tốt số như chàng...
Dứt lời không tự đè nén được nữa, Chúa Mạc vùng đứng lên bước tới bên cạnh thiếu phụ, chểnh choáng như một người say...
Thúy Loan hồn vía lên mây. Toàn thân run lẫy bẫy, nàng cũng đứng vội dậy, miệng ấp úng:
- Tâu bệ hạ, xin hệ bạ hãy suy nghĩ lại... và giúp cho thần thiếp tránh được tội khi quân, phạm thượng.
Dầu sao, bệ hạ cũng nên đoái tưởng đến Bùi văn Khuê là một tôi trung của bệ hạ...
Mạc mậu Hợp cười một cách trơ trẽn:
- Hề! hề ! Phu nhơn cứ nhắc nhở mãi đến họ Bùi. Chớ còn Trẫm đây lại không biết yêu phu nhơn bằng Văn Khuê hay sao? Phải biết rằng địa vị của phu nhơn là ở nơi đền vàng điện ngọc chớ không phải ở nơi dinh thự tầm thường của một triều thần. Tại sao phu nhơn lại không làm lại cuộc đời với Trẫm mà nỡ đi chôn vùi số kiếp, chôn vùi một áng hương trời sắc nước bên cạnh một gã võ biền quanh năm chỉ biết có trận mạc, kiếm cung?
Nói đến đây, nhà vua từ từ giơ tay toan âu yếm đặt lên vai Thúy Loan. Cử chỉ suồng sã nầy, tiếp theo giọng nói lơi lả của ông ta khiến người thiếu phụ vô cùng kinh hãi.Nàng lật đật lùi lại để tránh và lớn tiếng cảnh cáo, qua hơi thở hổn hển:
- Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ không giữ gìn, thì thần thiếp quyết đập đầu tự tử tại đây để bảo toàn danh tiết !
Trước thái độ cứng cỏi và liều lĩnh của Thúy Loan, nhà vua hơi ngạc nhiên, và bất mãn. Từ hổ thẹn đổi ra thành căm giận, ông ta cười gằn nhìn nàng:
- Phu nhơn đừng đem cái chết ra để hăm dọa Trẫm ! Nên để cái chết ấy mà đền tội gián điệp vì phu nhơn sẽ khó tránh được án tử hình.
Người thiếu phụ rất lấy làm lạ. Nàng xẳng xớm phản đối :
- Tâu bệ hạ. Thần thiếp không hề làm gián điệp và không thể can tội ấy được. Đó chỉ là lời vu khống hoàn toàn của kẻ đã khai gian cho thần thiếp.
Chúa Mạc lạnh lùng bảo :
- Phu nhân không nên chối nữa. Trẫm đã khám phá ra nhiều điều bí ẩn trong vụ án gián điệp quan trọng này mà cả phu nhân lẫn Bùi văn Khuê đều có nhúng tay.Trẫm sẽ triệu họ Bùi từ mặt trận về đây để xét hỏi cho ra manh mối...
Thúy Loan hết sức kinh dị. Vừa uất ức, vừa lo sợ cho chồng vừa tức giận đến cực độ, nàng không còn giữ lễ tôn kính đối với nhà vua nữa.
Nàng hậm hực :
- Bệ hạ có bằng cớ gì chứng tỏ rằng Bùi văn Khuê có liên can đến vụ gián điệp? Nếu không, thì đó là một biện pháp bất công đối với một trung thần dũng tướng, đã hết lòng tận tụy với Mạc triều. Tâu bệ hạ, ở đời sự bất công, rốt cuộc sẽ trở thành vô cùng tai hại cho người đã gây ra nó.
Bị chỉ trích, bị chạm nặng đến lòng tự ái. Mạc mậu Hợp không dằn được cơn thịnh nộ:
- Ái chà, giỏi thực ! Phu nhơn dám vô lễ và dám xúc phạm đến Trẫm à ? Được lắm ! Để rồi sẽ biết...
Dứt lời, ông vỗ tay ba tiếng và quát gọi:
- Vương Thái-giám!
Tức thì, cánh cửa phòng như một cái máy, vụt mở toang ra, nhường chỗ cho gã Thái giám xồng xộc tiến vào, tới trước mặt nhà vua, cúi đầu chờ lịnh.
Giơ tay chỉ Thúy Loan. Chúa Mạc hất hàm truyền
- Nhà ngươi dẫn ngươi này ra giao cho vệ sĩ đem tống giam vào lãnh cung lập tức !
Gã Thái giám cúi rạp mình xuống:
-  Hạ thần xin phụng mạng.
Đoạn hắn đứng thẳng người lên. Xây qua phía Thúy Loan, đưa mắt ra hiệu cho nàng đi theo hắn...
Chỉ còn lại một mình trong điện, nhà vua thở dài, chán nản.
Ông chán nản vì ông vừa thất bại trong kế hoạch chinh phục quả tim của mỹ nhơn. Tuy nhiên, vốn là một kẻ si mê đến điên cuồng, ông vẫn chưa chịu lùi bước, và vẫn còn nuôi hy vọng. Đồng thời, những ý tưởng đen tối cũng đã nẩy mầm trong khối óc ông. Mạc mậu Hợp phác ra trong trí một dự định vô cùng táo bạo : ấy là tìm phương hảm hại Bùi văn Khuê để được tự do chiếm đoạt Thúy Loan.
Thế là nhà vua, nghe theo những dục vọng mù quáng và điên rồ, đã quên cả đại sự, quên cả nghĩa chúa tôi, quên rằng cơ nghiệp nhà Mạc đang vì mình mà lung laỵ, gần sụp đổ tan tành...
Tất cả đó, than ôi, chỉ vì sắc đẹp !

 ★

Trong sương mù buổi sáng,một kỵ sĩ phi ngựa lướt như bay trêu con đường thiên lý, từ thủ đô Thăng Long đưa đến Tốt Lâm.
Tốt Lâm là nơi mà hiện quân Mạc đang hạ trại và ở cách mặt trận chừng vài dặm.
Khi chàng kỵ sĩ đến nơi thì mặt trời đã lên cao. Chàng vội buộc ngựa vào một thân cây rồi nhanh nhẹn bước tới tự giới thiệu mình với một người lính gác đứng trước cổng trại:
- Tôi là một vệ úy trong đội ngự vệ quân từ thủ đô đến đây có việc khẩn cấp.
 Người lính gác ngắm nghía chàng kỵ sĩ trẻ tuổi và xinh trai từ đầu chí chân không tỏ ra vẻ gì ngờ vực, đoạn cất tiếng hỏi:
-  Vệ úy muốn gặp ai ? Nguyên soái Mạc ngọc Liễn hay là...
- Không, tôi muốn hầu chuyện gấp với Đại tướng Bùi văn Khuê.
Hơi ngạc nhiên, người lính canh đáp:
- Bùi Đại tướng đã nhận được thánh chỉ triệu về trào từ chiều hôm qua rồi, Vệ úy không biết hay sao ?
Chàng kỵ sĩ giựt mình, biến sắc:
- Thế à ! Vậy còn phó tướng Lê thế Hùng? Ông nầy hiện còn có mặt tại đây chứ?
Người lính gật đầu:
- Phó tướng Lê thế Hùng thì có.Phó tướng ngụ tại căn trại số 3, phía tận trong cùng. Xin mời vệ úy cứ vào.
Chàng kỵ sĩ hấp tấp tiến tới trước căn trại mà người lính vừa chỉ. Chàng lên tiếng gọi thì liền có người ra mở cửa. Người đó chính là Lê thế Hùng.
Họ Lê trố mắt nhìn, sửng sốt:
- Ô kìa ! Ngọc Lan ! Em đi đâu đây? Thật may quá ! Anh đang mong mỏi gặp em để hỏi thăm một việc quan trọng. Nào, em hãy bước vào trong nầy, chúng ta cùng đàm đạo.
Vào trong, vừa an tọa xong, Ngọc Lan (vì chàng kỵ sĩ ấy chính là Ngọc Lan trá hình) liền bắt dần vào chuyện:
- Chính em phải đích thân đến đây cũng là vì một việc tối quan trọng. Việc ấy liên can đến Đại tướng Bùi văn Khuê.
Thế Hùng lấy làm lạ:
- Nhưng Bùi đại ca vừa được lịnh của Chúa thượng triệu về Thăng Long từ chiều hôm qua rồi...
Người thiếu nữ thở ra:
- Em cũng vừa nghe người lính gác ngoài kia thuật lại như thế. Thật là khổ ! Chỉ vì em chậm trễ mất mấy tiếng đồng hồ mà hư hỏng cả công chuyện...
Vị công tử rất kinh ngạc và lo lắng. Chàng hỏi dồn:
- Có biến cố gì tại kinh sư thế em ? Tại sao Chúa thượng lại xuống chỉ triệu hồi Bùi đại ca một cách gấp rút như vậy? Và vì nguyên nhơn nào em vừa bảo rằng công chuyện hư hỏng cả rồi.
Ngọc Lan liền kể lại cho Thế Hùng nghe đầu đuôi mọi việc đã xảy ra, từ lúc Thúy Loan bị bọn Quách phi Bưu bắt cóc cho đến khi vụ gián điệp đổ bể và người thiếu phụ bị Chúa Mạc bắt cầm giữ tại hoàng thành rồi bị tống giam vào lãnh cung.
Sau cùng, Ngọc Lan thêm:
- Nhưng điều đáng lo ngại nhứt là việc nhà vua xuống chỉ triệu Bùi Đại tướng về trao. Vì theo tin tức mà em vừa nghe ngóng được thì chắc chắn phen này Đại tướng sẽ bị hạ ngục.
Thế Hùng, giương to hai mắt lên, vô cùng kinh dị:
- Em báo thế nào? Bùi đại ca sẽ bị hạ ngục à? Vì lý do gì? Vậy mà anh cứ tưởng rằng đại ca được nhà vua gọi về vì một nguyên nhơn nào khác.
Ngọc Lan chép miệng
- Bùi Đại tướng bị tinh nghi là có liên can vào vụ gián điệp Tây Đô. Nhưng đó chỉ là một cớ do nhà vua đưa ra mà thôi. Còn sự thật thì...
Đến đây, nàng ghé miệng sát bên tai vị công tử, thầm tiếp :
- Sự thật thì Chúa Mạc muốn tìm cách hãm hại Bùi Đại tướng để chiếm đoạt Thúy Loan, vì nhà vua rất say mê nhan sắc của nàng.
Lê thế Hùng rụng rời tay chưn. Chàng lẩm bẩm:
- Trời ơi! Không ngờ nhà vua lại cư xử một cách kỳ dị và bất công như thế đối với một kẻ trung thần...
Ngọc Lan vội ngắt lời chàng:
- Nhưng bây giờ không phải là lúc ngồi đây để bình phẩm hay than thở nữa...Anh nên lập tức cùng em trở về Thăng Long. May ra chúng ta sẽ còn gặp Bùi Đại tướng để báo tin cho chàng biết mà kịp đề phòng. Trong trường hợp Đại tướng bị hạ ngục chừng đó, chúng ta sẽ lo tìm phương giải cứu.
Vị công tử gật đầu, đứng lên:
- Em nói chí phải. Để anh vào yết kiến Nguyên soái Mạc ngọc Liễn xin nghĩ ít hôm rồi theo em trở về kinh sư. Anh không thể nào yên tâm trong khi Bùi đại ca ngộ nạn một cách oan ức và vô lý như vậy được.
Dứt lời, chàng dặn Ngọc Lan ngồi đợi mình giây lát, rồi tất tả ra đi. Không đầy dập bã trầu, Thế Hùng đã quay trở lại và tuyên bố:
- Xong rồi ! Lời yêu cầu của anh đã được Mạc Nguyên soái chấp thuận. Thôi, hai anh em ta mau mau chuẩn bị lên đường.
Thế là chỉ trong khoảnh khắc, rời khỏi dinh trại của quân nhà Mạc tại địa phận Tốt Lâm, hai thanh niên kỵ sĩ ra cho ngựa phi nước đại, nhắm Thăng Long trực chỉ. Băng mình trên khoảng đường vạn lý, và say sưa với tốc lực ghê hồn, cả hai đều quyết về tới nơi cho thật sớm, với hy vọng mong manh sẽ gặp được Bùi văn Khuê...
Nhưng, hỡi ôi! Hy vọng ấy không thành sự thực, vì họ Bùi vào giờ ấy, đã có mặt tại thủ đô và sắp sa vào cặm bẫy của kẻ thù.
Nguyên Bùi văn Khuê, sau khi nhận được chiếu chỉ triệu hồi khẩn cấp của nhà vua tại Tốt Lâm liền từ giã các vị tướng lãnh và Thế Hùng rồi tức tốc lên ngựa về kinh. Mặc dầu chưa hiểu ra nguyên do sự triệu hồi này, nhưng chàng cũng đoán rằng nó không ngoài việc quốc gia đại sự. Vì thế dọc đường, chàng rất bình thản và yên tâm.

Song, tảng sáng sớm, khi tới Thăng Long, họ Bùi lật đật tạt vào tư dinh mình để thăm người yêu quý của chàng là Thúy Loan trong giây lát, thì một sự ngạc nhiên chờ chàng đó.
Cái dinh thự, trước đây là một tổ uyên ương ấm áp, ngày nay bỗng trở nên tiêu điều, hoang vắng lạ thường. Trước cổng không còn bóng một tên lính canh nào nữa. Dường như họ đã được lịnh rút đi đâu hết tự hồi nào.
Sửng sốt, vị Đại tướng thúc ngựa tiến vào trong sân. Người thứ nhứt và cũng là ngựời duy nhứt mà chàng gặp là con thể nữ Thu Hồng, đang từ trong dinh tất tả chạy ra tiếp đón chàng. Trên nét mặt hắn, họ Bùi không còn nhận thấy vẻ hớn hở tươi tắn như thường ngày.
Văn Khuê chưa kịp xuống ngựa và cất tiếng hỏi thì con thể nữ đã òa ra khóc:
- Tướng công ơi ! Phu nhơn con đã bị giam giữ tại Hoàng cung từ mấy hôm nay rồi.
Vị Đại tướng vô cùng kinh ngạc. Chàng trợn mắt nhìn tròng trọc vào con thể nữ, hỏi dồn:
- Ô hay ! Tại sao phu nhơn lại bị cầm tù tại nội cung? Ai đã đến đây bắt bớ phu nhơn và bắt từ lúc nào?
Con Thu Hồng bèn thuật lại cho chàng nghe đầu đuôi mọi việc đã xảy ra kể từ lúc Quách phi Bưu và bọn dọ thám Tây đô đột nhập vào đây cho đến khi Thúy Loan bị chúa Mạc triệu đến tòa Tam Pháp cung khai rồi bị lưu giữ luôn tại Hoàng thành không cho về nữa.
Bùi văn Khuê rất lấy làm lạ. Chàng gạn hỏi con thể nữ:
- Vì sao nhà ngươi biết được rành mạch như thế ?
- Bẩm tướng, công - con Thu Hồng đáp - đó là do Ngọc Lan tiểu thư sơ lược kể lại cho con hay. Hôm qua, tiểu thư có bảo với con rằng tiểu thư sắp vào Tốt-Lâm tìm tướng công để báo một tin quan trọng. Chẳng hay tướng công gặp nàng chưa?
Họ Bùi lắc đầu:
- Ta chưa gặp. Nhưng thôi được, để ta vào cung ngay bây giờ bệ kiến Chúa thượng, hỏi Ngài về vụ này cho ra lẽ.
Dứt lời, chàng ra dấu cho con thể nữ lui vào, rồi quày ngựa trở ra, thúc con tuấn mã chạy thẳng một mạch đến Hoàng thành.
Bùi văn Khuê biết rằng vào giờ này, phiên chầu đã bãi lâu rồi, không thể nào tìm gặp chúa Mạc tạị triều nữa vì ông ta đã trở về nội cung. Nhưng muốn vào Hoàng cung không phải là một việc dễ. Phải có lịnh của nhà vua, và sự chắp nhận của viên Chưởng vệ Hộ thành.
Họ Bùi hy vọng rằng mình sẽ được phép vào vì chàng đã có sẳn trong tay bức chiếu chỉ triệu hồi khẩn cấp của chúa Mạc. Sở dĩ chàng nóng lòng muốn được nhà vua tiếp kiến không phải vì tờ chiếu chỉ ấy mà chính là vì chàng muốn hiểu rõ sự thật về vụ án gián điệp và nhứt là về số phận của Thúy Loan.
Một lát sau, Bùi văn Khuê đã dừng ngựa trước cửa chánh của Hoàng cung. Chàng nhắn với lính canh vào bẩm với viên Chưởng vệ Hộ thành rằng có Bùi Đại tướng từ mặt trận trở về xin vào bệ kiến nhà vua.
Môt binh sĩ vâng lời bước vào trong rồi trở ra trong khoảnh khắc. Liền đó, viên Chưởng vệ đích thân bước ra, kính cẩn vái chào họ Bùi và lễ phép trả lời:
- Thưa Đại tướng, Chúa thượng hiện đang vào chầu Thái hâu tại Ngọc ninh cung. Ngài có dặn hạ quạn rằng hễ Đại tướng đến đây thì cứ mời Đại tướng lại ngay tòa Tam pháp Tại đó, đã có hoàng thân Mạc kinh Chỉ thạy mặt Chúa thượng tiếp kiến Đại tướng để thảo luận về việc cơ mật.
Hơi bực mình, vì không được gặp nhà vua, Văn Khuê liền thốt lời cám ơn, rồi từ giã viên Chưởng vệ Hộ thành, quày ngựa chạy thẳng về phía tòa Tam pháp.
Đến nơi, chàng xuống ngựa, buộc con tuấn mã vào một thân cây gần đó, rồi xăm xăm tiến vào ngôi nhà trang nghiêm, đồ sộ dùng làm nơi xét xử những vụ án quan trọng ở Thăng Long.
Thoạt trông thấy chàng, hoàng thân Mạc kinh Chỉ đang ngồi sau án thư, vội vàng đứng dậy, ngỏ lời niềm nỡ chào mừng:
- Kìa ! Bùi tướng quân đã về đấy à? Bản chức được lịnh của Chúa thượng chờ tướng quân tại đậy từ lâu. Tướng quân vẫn mạnh khỏe chứ? Nào, xin mời tướng quân ngồi!
Bùi văn Khuê nghiêng mình thi lễ rồi ngồi xuống trên chiếc ghế, đặt trước án thư và nói :
- Bẩm Hoàng thân, tiểu tướng vừa mới nhận được chiếu chỉ khẩn cấp tại Tốt Lâm nên vội về đây. Chẳng hay Chúa thượng có điều gì trọng yếu ban dạy vậy?
Mạc kinh Chỉ vuốt chòm râu bạc, mỉm cười:
- Có gì đâu, chỉ vì một vụ án gián điệp vừa mới khám phá mà Chúa thượng xét thấy cần phải hỏi qua ý kiến của tướng quân đó thôi.
Văn Khuê hơi giựt mình. Chàng vội hỏi:
- Thưa hoàng thân, hình như tiện nội đã bị bắt giữ, vì bị tình nghi có liên can vào vụ này.
Kinh Chỉ lắc đầu:
- Không phải. Bảo rằng Bùi phu nhơn bị bắt giữ là sai hẳn sự thật. Nàng đã được mời vào tạm ngụ tại Hoàng cung trong khi chờ đợi tướng quân trở về. Đó là một đặc ân của Chúa thượng để bảo vệ an ninh cho nàng một cách hiệu lực vì tính mạng nàng đang bị bọn dọ thám của Trịnh Tùng hăm dọa. Vậy tướng quân hãy yên tâm. Bây giờ tướng quân đã về đây, sự biện bach của tướng quân sẽ làm sáng tỏ mọi uẩn khúc và số phận của phu nhơn sẽ không còn có điều gì phải lo ngại nữa.
Lời giải thích xuôi tai và khôn khéo trên đây đã đánh tan được mối ngờ vực của Bùi văn Khuê. Ngay lúc ấy, vị hoàng thân xây lại truyền kẻ tả hữu bưng ra hai chén rượu đặt lên trên án thư. Đoạn Mạc kinh Chỉ vui vẻ và ân cần mời khách:
- Tướng quân mới đi xa về chắc trong mình còn mệt. Vậy mời tướng quân hãy cùng bản chức cạn chén này, rồi chúng ta sẽ tiếp tục cuộc đàm thoại.
Bị nài ép mãi, họ Bùi không thể chối từ. Không chút hoài nghi chàng giơ tay cầm lấy chén rượu đưa lên môi, uống cạn một hơi. Nhưng sau khi vừa đặt chén xuống một lát, chàng thấy hơi bàng hoàng, khó chịu lạ thường. Thuốc mê pha trong rượu đã bắt đầu ngấm vào cơ thể chàng. Mắt hoa, đầu nặng. Văn Khuê có cảm giác như chung quanh chàng, mọi vật đều tự quay cuồng đảo lộn.
Chàng cố sức nhóm mình toan đứng dậy nhưng để rồi ngã vật ra sau lưng ghế mà thiêm thiếp, mê man...
Mạc kinh Chỉ cả mừng, vội truyền cho thuộc hạ dùng xiềng xích trói Bùi văn Khuê lại, rồi bỏ chàng lên một cỗ xe ngựa phủ kín bịt bùng và chở vào tận Hoàng thành. Đồng thời, ông cũng tức tốc vào nội cung để cấp báo tin này chọ Chúa Mạc...

 * * *

Khi Ngọc Lan và Thế Hùng ra tới kinh sư thì Bùi văn Khuê đã bị hạ ngục. Vị tiểu thơ hay tin này chỉ còn biết dậm chân than tiếc và tự trách mình đã quá chậm trễ nén mới ra nông nỗi.
Tuy nhiên, nàng không chịu bó tay một cách dễ dàng. Sau suốt một ngày dò la tin tức, được biết rõ chỗ giam của Thúy Loan và của họ Bùi, nàng bèn tìm đến nhà riêng của Bích Đào, một con thể nữ cũ rất trung tín của nàng ngày trước, hồi cha nàng còn sống. Bích Đào hiện nay là một cung nử, phục dịch tại cung của bà Thái Hậu. Hắn rất được Thái Hậu tín nhiệm và thường được phải ra ngoài phố để mua các thứ thực phẩm đắt giá đem vào Hoàng cung. Như vậy phen này, nàng có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của hắn.
Trời vừa sẫm tối, Ngọc Lan đến nơi thì cũng vừa gặp lúc con Bích Đào từ trong thành nội ghé về nhà. Người cung nữ rất mừng rỡ gặp lại chủ cũ, liền vui vẻ rước vào nhà đàm đạo và giới thiệu với cha mẹ mình. Sau vài câu chuyện hàn huyên, Ngọc Lan bèn đem việc vợ chồng Bùi văn Khuê bị bắt ra nói với Bích Đào và yêu cầu người cung nữ tìm cách giúp mình.
Bích Đào ngẫm nghĩ giây lâu rồi đáp:
- Em từng mang ân nặng của Tướng công và tiểu thơ từ lâu, và chưa có được cơ hội nào để đáp đền. Hôm nay, gặp dịp này, em xin tình nguyện giúp tiểu thơ cho trọn nghĩa tớ thấy dầu phải chết chăng nữa, em quyết chẳng từ nan...
Dứt lời, người cung nữ ghé sát tai Ngọc Lan thì thầm: ‘‘ Bây giờ, tiểu thơ nên làm như vầy... như vầy...’’
Ngọc Lan nghe xong, gật đầu khen lấy khen để :
- Hay lắm ! Thật là diệu kế, khuya nay ta sẽ đem thi hành liền.
Một lát sau, trước khi người thiếu nữ từ giã ra về, Bích Đào vào nhà trong lấy ra một bộ y phục trao cho nàng, dặn dò thêm vài lời cần thiết rồi tiễn nàng ra tận cửa.
Khấp khởi mừng thầm, Ngọc Lan đi thẳng về nhà riêng của mình tại vùng ngoại ở Thăng Long. Tại đây nàng thay y phục và khoác vào mình bộ quần áo cung nữ mà Bích Đào vừa đưa cho nàng mượn.
Ngọc Lan tự ngắm nghía nhiều lần trong kiếng và rất lấy làm hài lòng với lớp cải trang mới mẻ của nàng, sữa soạn xong nàng phủ lên người một chiếc áo choàng, rồi cỡi ngựa đến ngay tư dinh của Bùi văn Khuê để tìm Lê thế Hùng đang trú ngụ tại đó.
Thế Hùng rất ngạc nhiên khi trông thấy Ngọc Lan xuống ngựa và thoăn thoắt bước vào dưới ánh đèn. Chàng buột miệng kêu lên:
- Ô hay ! Sao tối nay em lại bỗng dưng biến thành một cung nữ xinh xắn, mỹ miều như thế? Tài tình thật ? Em đã kiếm ở đâu ra bộ y phục vừa vặn nầy, và để làm gì đây?
Ngọc Lan mỉm cười thuật lại đầu đuôi việc gặp gỡ Bích Đào và vắn tắt cho chàng biết mưu kế mà khuya nay nàng sẽ đem ra áp dụng.
Thế Hùng đăm đăm, âu yếm nhìn nàng, vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt. Chàng bảo:
- Đó là một hành động cực kỳ mạo hiểm. Em phải hết sức thận trọng mới được.
Người thiếu nữ vẫn lạc quan. Nàng đáp:
- Anh khỏi lo. Em sẽ tùy cơ ứng biến. Vả chăng đến lúc đó, sẽ có anh bên cạnh để ủng hộ em kia mà!
Vị công tử hơi hoài nghi:
- Điều cần biết trước nhứt là chúng ta có thể lọt nỗi vào cung không đã.
Ngọc Lan quả quyết:
-  Em tin chắc chúng ta sẽ thành công.
Thế Hùng bật cười :
-       Thì anh cũng cứ tạm tin như thế, trong khi chờ đợi..
Và họ chờ đợi cho đến khuya, đến giờ xét là thuận tiện để ra tay. Trong khoảng thời gian đó, Ngọc Lan lo chuẩn bị.
Theo lời chỉ dẫn của Bích Đào, nàng đi mua sắm một số thực phẩm và trái cây quý, bỏ vào một cái bao bằng gấm rất đẹp (cũng do người cung nữ cho mượn) để lát nữa đem vào nội cung.
Đến quá giờ Hợi, Ngọc Lan, tay xách bao thực phẩm cùng với Thế Hùng đi bộ về phía cửa Tây. Khi sắp tới trước cửa thành, người thiếu nữ ra dấu cho chàng dũng sĩ dừng lại và nép mình sau một thân cây kế cận. Còn nàng vẫn tiếp tục và thản nhiên bước tới.
Cửa thành lúc ấy, đóng kín mít như bưng. Hai bên là bức tường đá xám đứng sững vươn mình trong bóng tối, trông có vẻ ghê rợn và đầy hăm dọa với những mảnh chai nhọn lòm chỏm phía trên đầu. Người ta có cảm tưởng đó là những nanh vuốt của loài yêu quái.
Ngọc Lan nhìn lên chòi gác cao vút trên mặt thành thì chỉ thấy bóng lờ mờ của ngọn đèn lồng. Dưới ánh đèn, hiện ra vài cái đầu nghiêng ngửa của vài người lính canh, dường như đang ngủ gật.
Ngọc-Lan nhớ lại những lời dặn dò của người cung nữ. Nàng nghĩ thầm :‘‘ Con Bích Đào bảo rằng tại cửa Tây này là nơi hắn quen ra vào, bọn lính canh thường có tật lén lút uống rượu rồi ngủ say vùi vào lúc đêm khuya. Quả đúng như vậy. Cứ nhìn cảnh tượng đang diễn ra trên chòi gác thì biết rõ. Ngoài ra, Bích Đào còn dặn ta nên nhớ kỹ cái tên ‘‘bác đội Oai’’ tức là tiểu đội trưởng Lê Oai, kẻ chỉ huy đám lính có phận sự canh gác tối nay’’.
Lầm bầm như thế rồi, Ngọc Lan đánh bạo ngẩng đầu lên, cất tiếng lanh lảnh gọi:
- Bác đội Oai ! Bác đội Oai !
Trên chòi gác, có tiếng cử động rất chậm chạp. Kế đó, một cái đầu bù xù từ từ thò ra ngoài tìm kiếm và có tiếng hỏi vọng xuống:
- Ai đó? Ai gọi tôi đấy?
Giọng nói lè nhè và kéo dài, tỏ ra đó là của một người say vừa chợt tỉnh. Người đó chắc là đội Oai. Ngọc Lan vội đáp:
- Tôi ! Tôi là cung nữ Bích Đào đi mua thực phẩm cho đức bà Thái Hậu về đây. Bác hãy mở giùm cửa thành cho tôi vào!
Giọng lè nhè của đội Oai trở nên gắt gỏng :
- Trời ơi ! Sao cô Bích Đào lại về khuya thế? Báo hại người ta vừa chợp mắt thiêm thiếp chưa được một lát đã bị kêu giựt dậy ngay...
Dứt lời, đội Oai gắng gượng đứng lên. Chuếnh choáng anh ta lần mò bước xuống chòi.
Chỉ một lát sau, Ngọc Lan nghe có tiếng khua lịch kịch sau cửa thành, Nàng biết rằng đội Oai đang hý hoáy mở cánh cửa nhỏ vuông vắn trổ nơi cửa lớn. Đó là một lối đi riêng chỉ vừa một người chui qua lọt và dành cho các lính canh cùng những kẻ phục dịch trong Hoàng cung có phận sự ra vào thường ngày
Mở cửa xong, vẫn với giọng lè nhè và sặc sụa hơi men, viên đội bảo:
- Cô Bích Đào ! Xin mời cô vào lẹ đi cho!
- Ngọc Lan nhanh nhẹn vác bao gấm, lách mình qua cái khung vuông và lọt vào trong rất gọn gàng. Đội Oai, với tay kéo cánh cửa xuống rồi gài chặt lại. Trong khi đứng lên, anh ta loạng choạng giả vờ đụng vào vai người thiếu nữ.
Ngọc Lan lliền gắt :
- Ô kìa ! Bác đội Oai! Tại sao bác lại cợt nhả như thế? Thật bác không đứng đắn một chút nào!
Viên tiểu đội trưởng cười nham nhở:
- Xin lỗi nhé ! Tôi vô ý chạm nhằm một tý mà cô đã làm ầm lên. Thế còn cô đi về khuya khoắt như thế nấy, khiến tôi phải chờ chực để rước cô vào và mất cả giấc ngủ, nào tôi có nói một tiếng nào để phàn nàn trách móc cô đâu!
Đến đây, anh ta bỗng dừng lại, nhướng mắt lên, định thần nhìn kỹ vị tiểu thơ, rồi xoa hai tay bảo :
- Ô lạ nầy ! Tại sao tối nay, cô Bích Đào trông có vẻ khác hẳn...
Ngọc Lan giật mình. Nàng tưởng rằng Đội Oai vừa khám phá ra nàng không phải là Bích Đào. Nhưng không, chẳng có việc gì đáng lo, vì một kẻ say như anh ta thì khó mà phân biệt được nàng rõ ràng, nhứt là dưới ánh đèn lồng lờ mờ từ xa chiếu tới !
Vị tiểu thơ trở lại yên tâm khi nghe viên đội tiếp :
- ... Thật vậy, trông cô Bích Đào tối nay xinh đẹp quá, đẹp rực rỡ, mặn mà... Thảo nào cô về trễ như thế này, có lẽ vừa ra phố, có hò hẹn gì đây ?...
Ngọc Lan nghiêm nét mặt:
-  Chỉ nói bậy.. Tôi không hò hẹn với ai cả.
Viên đội thở ra, nhẹ nhõm
- Nếu thế thì may cho... tôi quá!
Tuy đã đoán được thâm ý của anh ta, Ngọc Lan cũng giả vờ ngạc nhiên hỏi :
- Ô hay ! Sao bác lại bảo là may cho... bác ?
Đội Oai cười khoan khoái:
- Ý tôi muốn nói rằng nếu cô không hẹn hò, hứa hẹn với ai hết, thì may ra tôi có... nnhiều hy vọng !
Ngọc Lan không khỏi bật cười. Nàng nhìn anh ta rồi đổi ra giọng ôn tồn, thân mật và bảo rằng:
- Bác tán tỉnh có duyên lắm. À, này bác đội! Người như bác kể ra cũng đáng… được hy vọng. À, này bác đội ! Bây giờ tôi muốn nói với bác một câu chuyện quan hệ, một chuyện riêng trước khi vào cung.
Viên đội sung sướng quá. Anh ta mừng rối rít lên cơ hồ như không đứng vững nữa :
- Cô cứ nói đi, cô Bich Đào ! Tôi xin sẵn sàng nghe !
Người thiếu nữ đưa mắt ngó quanh rồi ngẩng mặt nhìn lên chòi gác và khẽ hỏi :
- Nhưng ở đây chỉ có một mình bác với tôi thôi chớ ? Còn trên chòi gác, đám lính canh còn thức hay ngủ?
Viên đội vội đáp:
- Chúng say mèm và ngủ mê hết cả rồi. Còn dưới đây, chỉ có hai chúng ta mà thôi.
Ngọc Lan gật đầu :
- Thế thì tốt lắm.
Dứt lời, nàng đặt cái bao gấm xuống đất, bắt đầu mở ra và tươi cười tiếp:
- Bác đội ơi ! Chắc bác không ngờ là tôi có cảm tình riêng với bác nhiều lắm ! Để tỏ cảm tình đặc biệt ấy, vừa rồi ra phố, tôi có mua một món quà để đem về đây tặng bác. Nào, đố bác biết đó àa món quà gì?
Đội Oai mừng rỡ, cười híp cả hai mắt lại. Anh ta không dè hôm nay anh lại có thể được diễm phúc lớn lao nhứt trong đời anh. Để trả lời câu hỏi của người đẹp, viên đội cúi thấp xuống nhìn váo cái bao gấm đựng thực phẩm, để cố tìm xem món quà tặng mà nàng thiếu nữ vừa nói là vật gì.
Nhưng, liền đó, lẹ nhự chớp, Ngọc Lan bỗng đang cánh tay, vụt giáng mạnh xuống đỉnh đầu viên đội một quả đấm thôi sơn, khiến anh này không kịp đề phòng, ngã gục xuống, nằm bất tĩnh trên mặt đất.
Ngọc Lan vội vàng kéo viên đội lại sát vách thành rồi hất anh ta vào trong một xó tối. Đoạn nàng liếc nhìn chung quanh để xem xét động tĩnh. Thấy bốn bề vẫn vắng lặng, nàng mừng thầm, lật đật lại phía sau cửa thành hý hoáy mở được cánh cửa nhỏ vuông vắn mà vừa rồi, nàng đã lách mình qua đó để lọt vào.
Mở xong, nàng giơ tay ngoắt Thế Hùng đang ẩn mình sau một thân cây, cách đó hơn hai mươi thước. Thấy nàng ra hiệu, chàng dũng sĩ vội vàng nương theo bóng tối, tiến đến gần. Chỉ trong phút chốc, chàng đã vượt qua khung cửa vuông và vào được trong thành.
Cánh cửa nhỏ lại đóng sập xuống y như cũ. Ngọc Lan chỉ vào viên đội đang nằm bất tỉnh trong xó tối và ghé tai Thế Hùng bảo nhỏ:
- Anh hãy mau mau lột lấy bộ võ phục của đội Oai mà khoác vào mình.
Vị công tử lật đật làm theo lời nàng, trong khi người thiếu nữ nhớn nhác nhìn tứ phía để canh chừng. Chỉ nháy mắt là Thế Hùng đã cải trang xong, và nghiễm nhiên biến thành một viên tiểu đội trưởng có phận sự gác tại Hoàng cung. Chàng tới gần hỏi khẽ Ngọc Lan:
- Bây giờ chúng ta lên chòi gác chứ?
Vị tiểu thơ gật đầu:
- Phải, anh hãy đi trước, em theo sau. Chúng ta cứ y theo lời chỉ dẫn của con Bích Đào mà thi hành.
Cả hai khởi sự rón rén leo lên các bực thang.
Thế Hùng sẵn sàng đặt tay nơi chuôi cây đoản kiếm giấu trong mình phòng ngừa bất trắc. Nhưng, khi thoạt lên tới nơi, chàng và người thiếu nữ không còn lo ngại nữa. Vì họ được chứng kiến một cảnh tượng khá... khôi hài : Bốn gã lính canh, người nằm chèo queo, kẻ tựa đầu vào vách đang đua nhau ngáy khò khò, bên cạnh những miếng khô mực rơi bừa bãi và những chén rượu lăn lóc, ngửa nghiêng.
Công việc của đôi thanh niên nam nữ, nhờ đó trở nên rất dễ dàng, mau chóng.
Thế Hùng và Ngọc Lan vội chia nhau xé áo của họ, làm giây trói chặt tay chưn từ người một, và làm dẽ nhét đầy vào miệng họ. Vậy là xong. Bây giờ vị công tử và người thiếu nữ lật đật đưa nhau xuống chòi. Tại đây, cả hai cũng dùng phương pháp như trên để trói Đội Oai và làm cho y không thể nào kêu cứu được.
Trở ngại đầu tiên đã vượt qua rôi, Ngọc Lan và Thế Hùng bèn bắt đầu thực hành giai đoạn thứ nhì của kế hoạch đã ấn định. Lần theo ven tường và các bóng cây rậm rạp, cả hai đi thẳng về phía nhà ngục, nơi mà con Bích Đào cho biết là Bùi-văn-Khuê hiện đang bị giam cầm.
Vào giờ ấy, viên cai ngục đã đi ngủ từ lâu. Trước cửa ngục chỉ có hai tên lính đeo gươm đứng canh, vẻ uể oải và mệt mỏi. Ngọc Lan khẽ bảo chàng dũng sĩ
- Em giao hai tên lính ấy cho anh ! Còn em lãnh phận sự xông thuốc mê vào phòng viên Ngục trưởng.
Dứt lời, nàng dừng lại và lách mình vào trong một bụi cây, trong khi Thế Hùng cứ ung dung tiến tới trước mặt hai tên lính.
Tưởng lầm đó là một viên đội, hai người lính đồng ngước lên chào chàng và không giấu được vẻ ngạc nhiên. Vị công tử gật đầu đáp lại rồi rút trong túi áo ra một tờ giấy giả mạo đầy nghẹt những giòng chữ cùng ấn son, đỏ loét, đưa ra trước mặt họ và nói:
- Đây là lịnh mời của Hoàng thân Mạc kinh Chỉ về việc giam giữ Bùi văn Khuê.
Ngỡ là thật, hai tên lính vội chụm đầu lại, cúi xuống xem. Thừa dịp ấy, Thế Hùng bèn thả rơi mảnh giấy, thình lình chụp lấy đầu hai gã nầy, cụng vào nhau rất dữ dội. Vì chàng dùng sức quá mạnh, nên khi buông thả họ ra thì cả hai đều choáng váng, bất tỉnh, ngã vật xuống như hai cái xác không hồn.
Giữa lúc ấy, chàng bỗng ngửi thấy thoang thoảng mùi ‘‘mê hồn hương’’ đang lan ra trong không khí. Chàng biết rằng Ngọc Lan đã bắt đầu xông thuốc mê. Thế Hùng vội rút chiếc khăn tay ra che kín mũi và miệng lại rồi đi lần về gian phòng kế bên
nhà ngục nầy, tức là chỗ trú ngụ dành riêng cho viên Ngục trưởng.
Tại đây, chàng gặp người thiếu nữ đứng trước cửa, với một chiếc khăn tay bịt kín mũi và miệng như chàng. Ngọc Lan đang đợi cho khói thuốc mê tản dần rồi mới bước vào phòng.
Một lát sau, cả hai đẩy cửa tiến thẳng vào buồng của viên cai ngục.Thấy người nầy nằm dài trên giường và đã ngủ mê như chết, chàng dũng sĩ và vị tiểu thơ tha hồ lục soát khắp mọi nơi. Rốt cuộc, họ tìm ra xâu chìa khóa giấu trên đầu giường dưới chiếc gối của viên Ngục trưởng,
Cả mừng Ngọc Lan lấy xâu chìa khóa rồi vội vã kéo Thế Hùng đi tắt qua nhà ngục. Tại đây, vị công tử dơ tay với lấy một ngọn đèn lồng treo trên vách, hạ thấp xuống để soi tỏ rõ, hầu giúp cho người thiếu nữ mở cửa buồng giam.
Tiếng chìa khóa bắt đầu quay và khua lắc cắc trong ổ khóa. Chỉ trong khoảnh khắc, cánh cửa đã mở toang ra. Ánh đèn rọi vào, chiếu sáng khắp nhà ngục và ngay lúc ấy vị tiểu thơ và chàng dũng sĩ trông thấy Bùi văn Khuê,
Họ Bùi hai tay bị còng, hai chân bị xiềng bằng một sợi xích sắt cột chặt vào tường, đang ngồi gục đầu trong một xó. Nghe tiếng động, viên Đại tướng vội ngẩng đầu lên, ngạc nhiên và chóa mắt trước ánh đèn.
Lê thế Hùug cảm động vội kêu lên:
- Đại ca ơi! Tiểu đệ đã đến đây này!
Dứt lời chàng trao ngọn đèn cho Ngọc Lan rồi chạy lại ôm chầm lấy Văn Khuê.
Vừa mừng rỡ vừa sửng sốt, họ Bùi lần lượt nhìn Thế Hùng rồi nhìn người thiếu nữ, tưởng chừng như mình đang còn ở trong giấc chiêm bao. Một lát sau, chàng mới nghẹn ngào hỏi:
- Hiền đệ và tiểu thơ đã làm thế nào mà vào được chốn này?
Vị công tử vắn tắt kể lại cho Văn Khuê nghe mưu kế mà chàng và Ngọc Lan đã đem ra áp dụng. Đoạn chàng tiếp:
- Bây giờ, phải lo giải thoát cho đại ca trước đã. Xong rồi, chúng ta sẽ kéo sang lãnh cung để cứu chị Thúy Loan.
Viên Đại tướng gật đầu khen phải. Thế Hùng vội lấy xâu chìa khóa, lựa một chìa rất nhỏ, rồi cúi xuống loay hoay ướm thử, và chỉ trong phút chốc, mở được chiếc còng sắt kiên cố đã khóa chặt hai tay của họ Bùi.
Văn Khuê cả mừng bảo vị công tử:
- Thế là được rồi. Còn sợi dây xích đang xiềng nơi chưn này thì hiền đệ cứ để mặc ta giải quyết. Hiền đệ không cần phải nhọc công nữa.
Dứt lời, chàng chồm mình tới cố tìm cái đỉnh ốc nhỏ nằm ở nơi chỗ ráp mối của hai đầu dây xích chắp vào nhau. Nhưng vì kiếm không ra, chàng nóng ruột, bèn giơ hai tay nắm lấy sợi dây, dùng hết sức bình sanh giựt đứt tung ra làm hai đoạn, dưới cặp mắt vô cùng kinh dị của Ngọc Lan.
Việc bẻ gãy xích xiềng, đối với họ Bùi chỉ là một trò đùa, khi mà hai tay chàng được rảnh. Lấy lại sự tự do rồi, bây giờ chàng nhanh nhẹn đứng lên bảo Thế Hùng và người thiếu nữ:
- Nào ! Chúng ta hãy mau mau sang lãnh cung !
Thấy chàng nóng nảy và hăm hở muốn đi cứu người yêu, vị công tử vui sướng nhìn bạn, không ngăn được sự cảm động. Nhưng Ngọc Lan vừa sực nhớ ra một điều gì quan trọng, vội cản ngăn:
- Khoan đã ! Đại tướng không thể ra đi như thế này được. Cần phải cẩn thận cải trang làm lính canh hầu dễ bề hành sự và phòng khi bất trắc phải đối phó với quân thù.
Văn Khuê và Thế Hùng đều gật đầu đồng ý. Vị công tử bảo họ Bùi :
- Ngọc Lan nói rất chí lý. Trong khi tiểu đệ và nàng đều trá hình hết, thì đại ca cũng phải cải dạng để dễ đánh lừa binh sĩ và bọn người phục dịch trong hoàng thành. Vậy để tiểu đệ ra lột bộ võ phục của một trong hai tên lính gác đang nằm bất tỉnh ngoài kia, đem vào cho đại ca thay đổi nhé !
Dứt lời chàng bước nhanh ra phía trước ngục thất, nơi mà chàng đã đánh ngã hai người lính canh, ngay từ lúc mới tới đây.
Bỗng nhiên Thế Hùng giật mình dừng lại. Chàng chợt thấy một tên lính, có lẽ vừa hồi tỉnh, đang gắng gượng lồm cồm ngồi dậy và cố lết qua một bên, hình như định lay gọi tên kia.
Lanh trí, chàng dũng sĩ liền nhảy chồm tới, phóng mạnh một quả đấm vào đầu hắn, khiến gã lính gác lại ngã vật xuống trên đám cỏ.
Ngay lúc ấy Ngọc Lan và Bùi văn Khuê cũng vừa bước ra. Thế Hùng ra dấu bảo hai người phụ lực với mình, kéo thẳng hai gã lính canh vào trong nhà ngục. Tại đây chàng cởi bộ y phục của một tên rồi trao cho họ Bùi.
Trong khi viên Đại tướng lo khoác lên mình lốt y phục cải trang, thì vị công tử quay sang bảo người thiếu nữ :
- May quá. Nếu vừa rồi anh không ra kịp thì hành động của chúng ta suýt đã bị đổ bể, vì một trong hai tên lính gác này bắt đầu hồi tĩnh lại. Vậy, bây giờ, muốn cho chắc chắn hơn chúng ta phải áp dụng phương pháp để đối xử với đội Oai.
Ngọc Lan khen phải. Đoạn nàng tiếp tay với Thế Hùng, xé áo quần của một người lính canh để làm dẻ và nhét vào đầy mồm cả hai tên. Kế nàng lấy còng và xích sắt (trước đó đã dùng trói Bùi văn Khuê) để trói chặt tay chân chúng.
Làm xong công việc nầy, vị tiểu thơ và chàng thanh niên rất lấy làm yên dạ. Họ lật đật rời khỏi nhà ngục với bọ Bùi, lúc đó đã nghiễm nhiên biến thành một người khác hẳn, dưới lốt trá hình.
Trong đêm đen, ba người lẳng lặng đi như những bóng ma. Ngọc Lan tiến lên trước dẫn đường. Nàng cẩn thận, bước rón rén, cố tránh không gây nên một tiếng động nào có thể tố giác sự hiện diện của họ tại hoàng thành.
Nhờ có lời chỉ dẫn rõ rệt và tỉ mỉ của người cung nữ, nên vị tiểu thơ không đến đỗi bỡ ngỡ lắm trên lối đi đưa tới lãnh cung. Vả chăng chỗ giam này chỉ ở cách xa ngục thất không đầy hai trăm thước.
Dọc đường, Ngọc Lan thì thầm khẻ bảo Thế Hùng và họ Bùi:
- Hồi tối, con Bích Đào có cho em biết rằng lãnh cung cũng thuộc về quyền cai quản của viên Ngục trưởng. (Tên này đã bị chúng ta xông thuốc mê và hiện thời đang ngủ say li bì) Ấy là một điều rất tiện lợi vì chúng ta có thể dùng xâu chìa khóa đã mở cửa ngục thất vừa rồi để lát nữa mở cửa lãnh cung.
Chàng thanh niên hỏi nhỏ:
- Theo con Bích Đào thì sự canh phòng tại lãnh cung ra sao?
Người thiếu nữ đáp :
- Sơ sài hơn trước ngục thất. Chỉ có một tên lính gác thôi. Có lẽ người ta nghĩ rằng đối với tù nhơn đàn bà thì không sợ xảy ra nạn vượt ngục.
Ngừng một lát, nàng lại tiếp:
- Tuy thế, anh em ta cũng không nên khinh xuất, coi thường, vì con Bích Đào có dặn cần phải đề phòng gắt bọn lính tuần thường hay lai vãng mấy nơi nầy.
Văn Khuê gật đầu:
- Tiểu thơ chớ lo, anh em chúng tôi sẽ hết sức lưu tâm điều đó.
Chỉ còn lối năm mươi bước nữa, trước mặt họ đã lù lù hiện ra một ngôi nhà dài và thấp lè tè, khó phân biệt rõ trong bóng đêm nhô lên sau một dãy bụi cây rậm rạp: Đó là lãnh cung.
Ngọc Lan ghé sát tai Thế Hùng nói thì thầm những gì mà Văn Khuê đang đi phía sau, không tài nào nghe rỏ. Chàng chỉ thấy vị công tử gật đầu lia lịa. Rồi Ngọc Lan thình lình bước nhanh lên, quả quyết tiến thẳng tới trước lãnh cung.
Họ Bùi hiểu rằng người thiếu nữ tình nguyện lãnh nhiệm vụ đối phó với tên lính duy nhứt canh gác tại căn nhà giam nầy…
Chàng đang nghĩ ngợi và đưa mắt quan sát thì bỗng bị Thế Hùng nắm lấy cánh lay, kéo chàng ngồi thụp xuống sát vào trong bụi rậm.
Giữa lúc ấy, đàng kia, Ngọc Lan thoăn thoắt bước đến gần người lính đang cầm gươm đứng gác trựớc lãnh cung.
Người lính hơi ngạc nhiên khi thấy một cung nữ xuất hiện tại đây, vào giờ nầy. Hách, dịch, anh ta cất tiếng hỏi ;
- Cô kia, đêm hôm khuya khoắt mà đi đâu thế? Cô không biết đây là một nơi nghiêm cấm hay sao?
Ngọc Lan nhìn y, mỉm một nụ cười tình tứ rồi nhỏ nhẹ nói :
- Thôi mà, chúng ta là chỗ quen biết với nhau cả, sao anh làm mặt lạ với tôi như thế? Đêm nay, tôi từ trong cung ra đây, định nhờ anh chút việc...
Nghe thiếu nữ tự xưng là người quen, anh lính gác cau mày cố nhớ ra, nhưng anh cũng không thể nhận biết nàng là ai. Tuy nhiên dưới ánh đèn lờ mờ nhìn thấy Ngọc Lan đẹp quá, lại được nghe giọng nói thảnh thót, nũng nịu củạ nàng, người lính bắt đầu xiêu lòng và đổi hẳn thái độ.
Anh ta ôn tồn hỏi:
- Cô muốn gởi thơ từ hay món ăn cho một cung nhơn bị giam ở đây phải không ?
Vị tiểu thơ gật đầu :
- Chính phải.
Người lính gác tiếp:
- Cô nên biết rằng lúc này, luật lệ tại lãnh cung rất nghiêm nhặt, chớ không còn dễ dàng như lúc trước nữa nhứt là kể từ ngày có một nữ gián điệp quan trọng bị cầm tù. Bởi vậy, nếu viên cai ngục mà biết được việc tôi giúp cô bí mật tư thông với nữ tội nhân, thì chắc chắn là tôi sẽ bị trừng trị hết sức nặng nề.
Ngọc Lan nài nỉ:
- Anh đừng ngại! Tôi đã nghĩ đến điều đó. Để đền bù công khó của anh, tôi có đem theo đây để biếu anh vài nén bạc.
Nghe nói đến tiền, người lính gác cười híp cả hai mắt lại. Nhưng, sợ mỹ nhơn khinh mình, anh ta giả vờ từ chối:
- Chết nỗi ! Ai lại thế. Tôi đâu dám nhận tiền của cô.
Thiếu nữ cười đáp ngay:
- Không phải tiền của tôi mà là của đức bà Nguyên phi Anh cứ vui lòng nhận đi. Đức bà sẽ biết ơn anh nhiều lắm.
Mấy tiếng ‘‘ Đức bà Nguyên phi’’ làm cho người lính gác giựt mình. Anh ta giương to hai mắt lên nhìn Ngọc Lan và hỏi:
- Té ra bà Nguyên phi sai cô đến đây à?
 -  Vâng - Vị tiểu thơ đáp.
Người lính tiếp:
- Nếu thế thì tôi xin sẵn lòng giúp cô lập tức. Vậy cô có thơ từ hay thực phẩm gì cứ đưa đây cho tôi. Cô nhớ nói rõ tên nữ phạm nhơn. Lát nữa tôi sẽ đem trao lại cho họ.
Ngọc Lan nài nĩ thêm:
- Cám ơn anh. Nhưng anh có thể cho phép tôi được gặp mặt kẻ nữ tù để nói vài lời không?
Người lính ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu:
- Thôi cũng được, cửa lãnh cung tuy bị khóa chặt và chìa khóa do viên cai ngục giữ, song tôi sẽ đưa cô sang mé bên tả. Tại đó có một cửa sổ nhỏ có song sắt, cô có thể đứng đấy tiếp xúc với người quen bị giam bên trong. Nào ! Cô hãy đi theo tôi, mau lên !
Dứt lời, anh ta rời khỏi chỗ gác và ra hiệu cho vị tiểu thơ theo mình. Cả hai đi vòng sang bên trái lãnh cung và dừng lại trước một cửa sổ cao gần quá đầu người. Trái hẳn với đàng trước nhà giam, chỗ họ đang đứng chìm hẳn vào trong bóng tối và ở gần sát đám bụi rậm, trong đó Thế Hùng và Văn Khuê đang núp.
Người lính giơ tay toan đẩy cánh cửa sổ thì thình lình chàng công tử từ trong bụi vụt nhảy ra ôm choàng ngang lưng hắn và vật hắn nhào lăn xuống đất. Gã lính canh kinh hoảng, chưa kịp la lên thì bàn tay của họ Lê đã chụp lấy miệng hắn và bịt cứng lại. Thế rồi, trong khi Thế Hùng kềm giữ hắn Ngọc Lan và Văn Khuê chia nhau nhét dẻ và trói chặt tay chân tên lính trước khi ném hắn vào bụi rậm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»