Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện Ngắn - Bình Nguyên Lộc

26 trả lời, 144 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 23:07:03 bởi Thanh Vân>
Mục lục

Lời đầu sách

KÝ THÁC

Rừng mắm
Hạ bệ
Ba con cáo
Ba sao giữa giời
Ăn cơm chưa
Pì pế Hán
Cho tay này lấy tay kia
Hồn ma cũ
Người đờn ông đẻ.
Lầu 3 phòng 7.
Kẻ chiến bại
Rung cây dừa
Đồng đội
Người tài xế điên.
Nắng chiều.
Đôi bạn mắc hoa vông
 
* * *
NHỮNG BƯỚC LANG THANG TRÊN HÈ PHỐ CỦA GÃ BÌNH NGUYÊN LỘC.
 
Những hàng me Sài Gòn.
Sông Ông lãnh.
Quà đêm trên sông Ông lãnh.
Mả cũ bên đường.
Có những xác diều.
Khóc bạn chim.
Lọ sứ cổ
Âm thanh bí mật
Giải phẫu tâm thần
Lan đam mê
Văn nghệ đứng đường
Nước Tàu muôn thuở
Hui Nhị Tỳ I
Hui Nhị Tỳ II
Thần thánh Sài Gòn
Chùa chiền, đền miếu
Phố của thành phố.
Vắng bóng bia đá, thì hỏi bia miệng
 
CUỐNG RÚN CHƯA LÌA
Căn bệnh bí mật của nàng
Con Tám cù lần
Chiêu hồn Nước.
Bà mọi hú.
Lửa Tết.
Thèm mùi đất
Câu dầm
Phân nửa con người
Chiếc khăn kỷ niệm
Bám níu.
Ma ném đá
Mấy vụ quật mồ bí mật
Về làng cũ
Những đứa con thương của đất mẹ
Hương hành kho.
Bán ngôi nhà cổ
Những ngôi mả tổ

Truyện Ngắn  Bình Nguyên Lộc  
 
*   *   *   *
Lời đầu sách
 
Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc
Nhà xuất bản Trẻ xuất bản
2-201 -  2-2012

Lời đầu sách

Bình Nguyên Lộc (bút danh của tác giả Tô Văn  Tuấn) là một nhà văn lớn của Việt Nam, thuộc vào ba nhà văn đã sáng tác nhiều nhất của cả nước. Nguiễn Ngu Í (trong Sống và viết với..., Nxb Ngèi Xanh, 1966) gọi ông là một trong tam kiệt bên cạnh Hồ Biểu Chánh và Lê Văn  Trương. Với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ mà theo tác giả tiết lộ chỉ riêng  thể loại  truyện  ngắn đã hơn 1000 tác phẩm, hầu hết đều mang đậm phong vị Nam bộ với bối cảnh và nhân vật là những tiền nhân trên đường mở nước vào Nam.

Có người cho rằng, nhà văn đã lấy tên của quê hương mình làm bút danh: Bình nguyên là   đồng bằng, cái bằng phẳng phì nhiêu hiền hòa của  quê hương. Lộc là Nai, tên một loại thú  hiền lành đẹp đẽ. Và  hình ảnh  của  ông  trong  kí  ức  bao  người  thân  quen  là  người  có mái  tóc  với đường  ngôi  rẽ giữa  muôn  thuở  và  nhất  là  cặp  mắt  rất hiền mà tinh nghịch sau cặp kính gọng vàng biểu tỏ một vẻ trí thức mà giản dị. Văn Bình Nguyên Lộc cũng mang một nét riêng rất gần gũi và an nhiên như vậy.    Ông làm Nai hiền trong cuộc rong chơi chữ nghĩa. Ông sáng tác nhiều thể loại và có một văn phong vừa sâu sắc, vừa giản dị; giản dị  đối với những ai chỉ  đọc để gi ải khuây, nhưng sẽ rất sâu sắc nếu độc giả bỏ công suy nghĩ.

Theo  Sơn  Nam,  đọc  sách  Bình  Nguyên  Lộc  không  phải  đọc  một hơi, một giờ, một ngày...  mà   đọc lai rai tháng này qua năm nọ mới thấy được cái hồn sâu lắng  mang  hương  vị quen thân  ngỡ   đã lãng quên. Sơn Nam từng thú nhận ông đã mua một cuốn sách của Bình Nguyên Lộc với giá   đắt gấp 33 lần không chỉ vì mến mộ tác giả mà còn  để  tìm  vài  phút  lâng  lâng  sảng  khoái  khi  đọc được  những  câu “ca dao” bằng văn xuôi kết tinh từ nỗi thiết tha đối với quê hương, đất đai mà   ông ôm ấp trọn cả cuộc đời.

 Sức hấp dẫn với Sơn Nam  ấy  theo  lý  giải  của  Thụy  Khê  là  do  tác  giả   đã  lắng  nghe  và  ghi  lại tiếng động những thực thể xung quanh bằng đôi tai trẻ thơ lần đầu chạm vào âm thanh và cái nhìn khôi nguyên của một nhà thơ vừa khám phá ra vũ trụ. Cho nên ông để ý   đến hành động cỏn con của một thằng bé năm tuổi muốn “nhốt gió”, đến tiếng “trở mình của lá chết”, tiếng "đất hả họng khát nước”, tiếng phổ ky hát “Vách bên trái cà phê không đậm, nhớ lược bằng vợt mới nghe không?”, “Người nầy ba muỗng đường, người kia một muỗng rưỡi thôi” v.v.

Ấy  theo  lý  giải  của  Thụy  Khê  là do tác  giả  đã  lắng  nghe  và  ghi  lại tiếng động những thực thể xung quanh bằng đôi tai trẻ thơ lần đầu chạm vào âm thanh và cái nhìn khôi nguyên của một nhà thơ vừa khám phá ra vũ trụ. Cho nên ông để ý   đến hành động cỏn con của một thằng bé năm tuổi muốn “nhốt gió”, đến tiếng “trở mình của lá chết”, tiếng "đất hả họng khát nước”, tiếng phổ ky hát “Vách bên trái cà phê không đậm, nhớ lược bằng vợt mới nghe không?”, “Người nầy ba muỗng đường, người kia một muỗng rưỡi thôi” v.v... Ông  thường  nói  “văn  tôi  bắt  nguồn  từ  những  cảnh đẹp  với  quê hương  và  xuất  phát  từ  lòng  nhớ  nhung  tha  thiết  của  tôi  với  nó”. Những  cái  nắm  níu  không  dứt  lìa  được  nơi  tâm  khảm  người  thôn dã   đầy ứ mùi, vị, sắc hương khiến người đọc có thể ngửi, thấy, nếm, nghe  tràn  ngập  trên  trang  sách  Bình  Nguyên  Lộc. Đó  là  mùi  đất xông lên sau đám mưa đầu mùa, mùi nước mắm của một trách cá kho, mùi khói đống un lá chết, mùi thơm thảo thụ của lửa, mùi bông bưởi bông sao, mùi củi cây rù rì... Đó là hình ảnh  những  sợi  khói trắng mỏng, ngọn lửa màu xanh của củi bắp phơi khô, là ruộng, là rơm, là rạ, là  trâu bò, là  phân  chuồng,  là cấy gặt để rồi sẽ lại  thấy cây, thấy cỏ, thấy mùa.... mùa ve kêu, mùa lá rụng, mùa cá hội, mùa đuổi chim... Nhắc đến quê l   à vui rạo rực, là quí vô cùng, là thương không biết để đâu cho hết, là nhớ da diết không nguôi được. Lửa reo trong bếp thì vui, nước mưa tràn đồng thì vui; xa đất thấy thèm mùi đất; xa xứ bắt được mùi nước mắm, mùi hương hành kho cá thì xao xuyến cả tâm tình v.v... Những con người ấy đã buộc kết hồn nhiên vào những thói quen, nếp sống hằng ngày nơi làng mạc như cuống rún không thể rời lòng mẹ. Chỉ thương những kẻ dân quê ra chợ mà không “tự nhuộm được màu chợ” nên thương nhớ khôn nguôi chơn trời cũ. Nhưng càng nếm trải nỗi mất mát bao nhiêu càng thúc đẩy con người ta ý thức giữ gìn - giữ làng, giữ   đất, giữ nếp nhà bấy nhiêu.

Và  phải  chăng  việc  lưu  giữ  hình ảnh  con  người  và  những  giá trị  văn  hoá  vùng đồng  bằng  miền  Nam  chính  là  nguồn  mạch  văn chương đó. Nhà văn tìm lại bản lai diện mục của Sài Gòn, thành phố sinh ra từ một dòng sông, chưa kịp có dĩ vãng qua Những bước lang thang  trên  hè  phố  của  gã  Bình  Nguyên  Lộc.  “Con  sông  con  thân mật, đứng bờ bên này hú một tiếng là bên kia nghe liền...
 
Con sông gợi tình, thỉnh thoảng màu nước trong xanh biến ra vàng sậm vì từ lòng  cạn  vẩn  lên  phù  sa  gợi  nhớ  Thuỷ  Chân  Lạp  hoang  vu...  Con  sông đặc  biệt Á đông  với  những  chiếc ghe dùng  làm  nhà,  trên mui chưng vài ba cây cảnh, trước mui một con heo đứng ngơ ngác nhìn bờ, một con gà  muốn cất cánh bay mà ngại chết đuối .” (Sông Ông Lãnh). Sài Gòn của Bình Nguyên Lộc là Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi. Sài Gòn cà phê bít  tất.  Sài  Gòn  “thổ  ngơi  thơm  phức  hồn  ma  cũ”. Thân thiết đến độ “những đêm mưa dầm, ma ở đây chắc không lạnh bao nhiêu, vì  quanh  họ   đông đúc  những  khuôn mặt  thân yêu, tha hồ mà trò  chuyện cho ấm lòng”. Đó là vùng mộ  huyệt chôn người. Chôn  diều  là  nghĩa  địa  treo  chằng  chịt  dây  điện.  Chôn  những  bầy chim  dại dột là lưới giăng trên bãi rác. Sài Gòn qua lăng kính của Bình Nguyên Lộc, âm thanh sự sống vang lên không chỉ giữa phố xá đô h ội nhộn nhịp mà còn len lỏi mãnh liệt ở những lãnh địa ngỡ như không dành cho sự sống. Xin trích lại lời nói đầu in trong bản Thịnh Ký (1966) mà có lẽ do chính Bình Nguyên Lộc viết rất ngắn, nhưng đầy đủ thông tin về văn bản:
Nhà   văn Bình Nguyên Lộc có viết một thiên điều tra phóng sự dài, nhan là "Thám hiểm đô thành", gồm nhiều bài ngắn và  chia ra làm hai phần.

Phần thứ  nhứt, cho đăng báo hằng ngày, kể những chuyện lạ của Sài Gòn mà chưa báo nào nói đến, chẳng hạn như những bài "Ma máy đá", tả cái viện cơ thể học  đầy dẫy xác chết ngâm thuốc của tường Y khoa Ðại học, chẳng hạn bài "Người chuột cống" theo dõi những người phu của ty vệ sinh đô thành họ chun xuống hệ thống cống tối thui và chằng chịt như mạng nhện để vét bùn đất cho thông cống.

Phần thứ nhứt ấy, tác giả   không muốn in thành sách.
Ðây là phần thứ hai mà tác giả đã cho đăng riêng ở các tạp chí (Nhân Loại, Thời Trân, Sáng Tạo, v.v..) không có tính cách xã hội, hoặc "giựt gân" như các bài của phần thứ nhứt mà chỉ nên thơ hoặc  đượm một tý triết lý vụn vặt nào đó thôi.

 Và một Bình Nguyên Lộc nếu còn lưu lại được trong lòng người đọc phải chăng là ở  phong cách lục tỉnh  bình dị và cởi mở, không làm dáng, ráng làm vui, xuề xòa, không lý thuyết như có lần ông đã tâm sự với nhà văn Nguiễn Ngu Í.

Nhà xuất bản Trẻ
02.2012
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 13:42:38 bởi Thanh Vân>
KÝ THÁC

10  truyệN  Ngắn  Bình  Nguyên  Lộc
 
Ký thác

Rừng mắm (1)
 

Tặng họa sĩ Trần Tấn Thành

Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái phút này đây.

Thật là huyền diệu, sự đứng yên một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.
Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước nó lại bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ.
Cộc ngửa mặt trở lên trời để theo ông câu kỳ dị và tài tình ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại.
Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá.
Trong thế giới bùn lầy mà thằng cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn dừa nước.
Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão cò sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.
Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ lên mão kim khôi mà nó đã mê cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trong làng.

Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.

Nhưng không hiểu sao một hôm, tía nó bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi, kéo nhau xuống chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con, rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng này đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô heo.
Nghĩ đến những năm cũ, thằng cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm.

Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui, vẫn còn sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy thường kể chuyện cho cộc nghe, những chuyện đời xưa đẹp như một mái lá, hoặc những chuyện ma, rởn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, cộc cũng thích những người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cánh rừng tràm tối mịt hoặc cánh đồng không bát ngát ở đây. Ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thằng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác này: nóng ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy.
Chưa bao giờ mong mỏi của cộc được thoả mãn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người thì tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng tràm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước.

Hò  ơ...  tháng ba cơm gói ra hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn  hang mai.
 

Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng, chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà hò. cặp vợ chồng này cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là nghe hát, cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về.
Thà là không được ăn, chớ còn ăn một chút xíu thì cái vị của món ăn còn chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nhìn xuồng chèo khuất dạng thì xây lưng tức khắc để chạy lên Ô heo.
Trọn vùng này ông nội nó đã đặt tên là Ô heo. Nhưng riêng trong gia quyến nó thì Ô heo chánh hiệu là một cái gò xa ở tận trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú.
Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một ổ heo rừng.
Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và canh tác của gia quyến nó về sau này đã đuổi thú dữ đi xa. tuy nhiên, đề phòng chúng trở về, ông nội nó đã cấm nó lên Ô heo một mình.
Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì Ô heo có sức quyến rũ của một trái cấm. Nhưng về sau, nó đã gặp người nơi đó.
Đó là vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán.
Đó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cung đình, tóm lại tất cả sinh hoạt của làng mạc mà từ lâu cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi.
cộc chạy qua khỏi ruộng nhà, và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm vì nó chạy dưới nước và dưới bùn mặc dầu lúa đã đến mùa gặt.
Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ.
Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch.gió thổi vô rừng và lửa, như con vật khổng lồ, đã táp một cái vào khối thịt xanh um của biển rừng tràm này. Thành ra ruộng nhà của nó mang một hình tròn kỳ dị, không tròn đều đặn vì không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa.
Cộc nhìn ruộng mình một hơi rồi cười khan lên. Đám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc, đứa trẻ bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp.
Lúa ruộng chín, cây lúa cao quá, ngã rạp xuống để lòi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được này, tía thằng cộc đành cấy lúa giữa những gốc ấy, mãi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. tía nó nói mười năm nữa tràm chết cũng vẫn còn đưa cẳng lên như vậy.
Sau lưng cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết cháy, nhưng “chết nhát’’, cứ mỗi năm chết lần mòn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, căm hận nhìn chiếc chòi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đã lấn đất của chúng, đã sát hại chúng.
Sau đó, rừng tràm dày mịt, chằng chịt những dây bòng bong, dây choại bò từ thân cây này sang thân cây khác.
Thằng cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó khua lên một cái roạch, làm nó giựt mình, nhưng tiếng người trên Ô heo cách đó chừng hai hàng cây giúp nó vững dạ.bình bát, cây rán, mọc xen với tràm, để đi tới đích.
tiếng đờn bà hỏi:
- Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao?
Tiếng đờn ông đáp:
- Thằng Mùi thì qua cho một loi là nhào hớt.
Cộc vẹt cỏ, lá, đi mau đến đó và khi nó chui ra khỏi khối xanh thì hai người có mặt trên gò Ô heo sợ hãi ngồi dang ra xa. Người đàn ông gác cuốc là người quen, người đàn bà nhổ bồn bồn thì lạ hoắc. chị này trẻ đẹp hơn tất cả những chị nó quen biết từ lâu.
Người đàn ông trấn tĩnh lại ngay, ngoắc nó lại mà hỏi:
- Muốn về trển hay không cộc? Muốn thì đi theo chị hai mầy đây, chỉ có một đứa em gái ngộ lắm.
Trong khi thằng cộc mắc cỡ tía tai thì chị đờn bà hỏi anh kia:
- Ở miệt này có người sao anh?
- Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm.
- Quen hay lạ?
- Lạ. họ ở trên Sa Đéc lận

Chị đờn bà an lòng, vui lại được và nói với cộc để mua lòng kẻ đã bắt chợt việc thầm lén của chị:
- Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu một chỗ như vậy. Em có muốn thì phải ở rể thôi.
Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau.

Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Mình trần của nó nổi u nổi nần những bắp thịt rắn như nắn bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng.

Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong của nó. Năm nay nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vậy là xấu đến mức nào và phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm.

Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt:
- Chị không ăn thịt em rể đâu mà sợ. Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa. Làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mày liền. Nói thiệt đó mà.
- Nó muốn trốn để theo qua dữ lắm
- Người đàn ông nói
 - Nhưng nó còn ngại.
- Ngại gì?
- Thì lo sợ cái việc xa xôi, đất lạ đó mà.
- Em nè - chị đàn bà lại hỏi - nhà có mấy người?
- Bốn người.
- Ai với ai?
- Ông nội tôi, tía tôi, má tôi, với tôi.
- Làm mấy công đất?
- Hồi đó bốn công, bây giờ mười công.
- Gặt được mấy giạ mỗi mùa?
- Tám giạ.
Chị đàn bà cười ngất một hơi rồi day lại hỏi nhân tình:
- Trời ơi, ruộng gì mười công đất chỉ gặt được có tám giạ thôi?  
- Người đàn ông không cười, đáp:
- Đất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết.
- Rồi lấy gì mà ăn, em nhỏ?
- Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm.
- Đổi bằng gì?
- Bằng cá khô. Với lại nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. Ở đây rùa nhiều như kiến. Đốt rừng rồi đón trên đầu gió một cái là chúng nó lạch cạch chạy trốn, bắt không kịp lận.
Chị đờn bà tỏ vẻ ái ngại một hơi rồi nói:
- Nãy giờ chị nói chơi đó. Nhưng biết được tình cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị hoặc theo anh đây cũng được.
Chị ta với tay ra sau lưng lấy bầu nước ngọt, mở nút ra rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng.  Chị nuốt ừng ực vài cái rồi nói:
- Em có được ăn chè lần nào không?
- Không, từ năm năm nay rồi. cách đây một ngày đường không có nhà cửa của ai cả, không có quán, tiệm gì hết. Với lại cũng không có tiền.
- Ở Sa Đéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U Minh này?
- Tui cũng không biết tại sao? Ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả?
- Chị cũng không biết. chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở gần cao Lãnh hay không?
- Gần.
- Em có nhớ xoài cao Lãnh hôn?
- Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tui sẽ được ăn ngọt đây. Úy chà! trưa rồi chắc tới bữa cơm, thôi tui về nha anh chị?
- Ừ, về, mai mốt lại lên đây nữa nha?
- Xuồng anh chị ở đâu?
- Dưới kia. Nhổ bồn bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa é mà! Em cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không?
Chuỗi cười của hai người nhân tình ấy đuổi theo sau lưng cộc khiến cho nó trong giây phút không muốn về nhà nữa.
Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi.

Thằng Cộc về tới nhà thì cơm trưa đã dọn xong.
- Mày đi đâu mà tới đứng bóng mới về? - Má Cộc hỏi.
cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, không ai nói với ai lời nào. Những người này, sống biệt tịch ở đây lâu ngày rồi, đã gần biến thành á khẩu vì thói quen.
- Tôi đi lượm lông chim lông ô.
- Lông đâu?
- Mà kiếm hoài hổng có.
- Mồ tổ cha mày, nhiều chuyện.
Chim lông ô đời xưa chớ đời này đâu còn nữa. Mai gặt nghe không? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng cho sớm, đừng đi đâu hết.
Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, không ai nói với ai lời nào. Những người này, sống biệt tịch ở đây lâu ngày rồi, đã gần biến thành á khẩu vì thói quen.

Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi nãy trên gò Ô heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó:
- Nội nè, hồi mới tới, giữa mùa nắng, mình uống nước gì tui quên rồi?
Nó hỏi như vậy vì nó vừa nhìn ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đã ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đã được đào năm năm rồi.
- Uống nước đọng trên lung, trên rừng chớ nước gì.
- Sao mình lại tới đây ông nội?
- Đã nói cho mày biết rồi. trên xứ, mình không có ruộng, làm công khổ cả đời.
- Ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời.
Ông nội thằng Cộc làm thinh. Nó nhìn ông nội nó rồi chợt nhận ra năm nay ông cụ già quá. tóc râu ông cụ đã trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than mình chết ngày nào không biết chừng, thường than mình nhớ mồ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông, nên dòm ra sân để quên.
Bấy giờ bóng bốn nồi rau đã tròn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn thế mà rất nhiều công dụng với gia đình nó.
Để tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đã đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về. Đất ở đây mặn chát dùng không được. hành, ớt, rau răm, rau mồ om được trồng trong mấy vườn cao cẳng đó. Đó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa.
Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà này vào mùa khô. cứ xem bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon.
Nhìn ra sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô hỏi tía nó:
- Năm nay mình gặt cỡ bao nhiêu tía?
- Nhờ ông bà, đất nước, được hăm lăm giạ là ít lắm.
- Cũng chưa đủ ăn.
- Đủ gì mà đủ - má nó nói - nhà mình phải ăn trăm rưỡi là số chót.
- Với lại - tía thằng Cộc trở vào câu chuyện - tại lúa nàng cụm thất gạo lắm. Năm tới tao gieo giống Tầm Vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng là năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó.

Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy gì là xán lạn cả. Trồng ổi cũng phải lâu mới có trái, trong khi đó, nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đình, nhớ hát bội và bị một hình ảnh mới quyến rũ, hình ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn bồn, tức là có duyên lắm.

Con trai làng thấy con gái thường là thế, mà họ còn thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ gì là nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại là không có gì quyến rũ cả. Đứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo mọc ra một chòm đuôi dài trông đến buồn cười.

Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm gì, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại giúp cho nó biết như vậy.
Những cô con gái lớn chưa thấy hình ấy, mà đã có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung.

Thẫn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi nãy và giận dỗi thêm một đoạn khiến ông nội nó giật mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng.
- Ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta.

*  *  *

Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chứ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác lên đầu nọc thường.

Đó là những gốc tràm mà cháng hai chẻ ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng cộc đã trù xa, đốn ở trên cháng hai ấy độ một gang rưỡi, nên bây giờ họ mới có nọc nạng rất tiện để gác lúa.
Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng.
Đủ thứ là cò: cò ma, cò lông bông, cò quắm, cò hương thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Đây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng này; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được ba bốn thế hệ cò rồi.

Má thằng Cộc lội sình tới đầu gối, và lội nước gần tới háng nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết.
Bà ta tằng hắng rồi cất tiếng hò:

Hò  ơ...  Tiếng  anh  ăn  học  làu  thông
Lại  đây  em  hỏi  khăn  lông  mấy  đường.

Hò xong câu ấy, bà lắng đợi chồng bà hò đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ.
- Tía nó sao câm cái miệng, không bắt vậy!
- Hứ, nhiều chuyện nà! già rồi mà còn hò với hát, bắt với ghẹo. Bộ còn trai gái gì đó sao!
Vì vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đã quá mùa hò rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà còn con gái và ngay bây giờ đây tóc đã nhuốm hoa râm rồi, bà cũng có thể hưởng được nếu còn ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ hò đối đáp với nhau.
Thằng Cộc thì xôn xao trong lòng, nhớ lại lời chị nhổ bồn bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng thì ai cũng ưa. Ừ, nó sẽ hò đối đáp với con Thôi. Chậc! Mà nó phải nhờ má nó dạy hò mới được. Nó có nghe hò lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu.
Đến chiều thì xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa ra bờ rạch, còn tía, má nó và nó thì lội nước sình mà về bộ.
Đập lúa và phơi phóng mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ phẳng lì giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng.

Lại  đây  em  hỏi  khăn  lông  mấy  đường!

Câu hò của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, cho dẫu được phép trả lời bằng văn xuôi.
Khăn lông là vật dụng mà nó quên rồi thì còn biết là mấy đường để đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nóp che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da

Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như là bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi.
Hôm ấy dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội thằng cộc long trọng nói:
- Ngày mai ra biển.
Không ai hỏi ra biển để làm gì hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày nó hỏi không kịp đáp.
Con rạch Ô heo trước nhà, nếu có đi trên ấy thì phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà tìm làng mạc sầm uất, chớ xuôi dòng ra biển thì còn nghĩa lý gì nữa chớ?
Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua đi một chuyến lắm, mà không được phép đi.
Chuyến đi đầu đến một chân trời lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả.
Ông nội nói tiếp, dặn mẹ nó:
- Con mẹ trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa và về cho tiện.

*  *  *
Rạch Ô heo nhỏ xíu cho nên tràm ở hai bên bờ giao nhành với nhau được, và phủ kín cả mặt nước.
Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng cộc mới hiểu thấu nghĩa hai tiếng “hang mai” trong câu hát của bọn đi bắt ba khía.
Những nơi ánh sáng lọt vào được thì hai bên bờ, ô rô và cóc kèn mọc đầy.
Nước ròng chảy xiết, xuồng trôi bon bon, tuy vậy, ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới, hầu về kịp nội buổi chiều đó.
Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa.
- Nước đứng rồi - ông nội nói - tức là gần tới cửa rồi.
Họ nghỉ chèo, để xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng chẳng lùi, rồi lấy cơm dỡ trong mo ra ăn.
Không đi thời thôi, đã trót đi, và lúc gần đến đích thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi:
- Ra đó làm gì ông nội?
- Rồi mày sẽ biết.
Họ ăn cơm xong thì nước bắt đầu lớn. Họ chèo nước ngược cho đến quá đứng bóng thì đến một nơi mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển.
Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà không thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, ngoài một chỗ xa tít mù khơi, hai bên bờ rạch cây vẫn mọc xanh um và ở đầu ngoài kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một tấm vách tường xanh như da trời.

- Biển ở đâu, ông nội? - Cộc hỏi.
- Đằng xa kia, xanh xanh đó.
- Sao không ra ngoải, ông nội?
- Không cần.
Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cậm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó.
- Ông nội gọi Cộc lại gần rồi hỏi:
- Con có thấy gì khác lạ không?
- Không, ông nội à?
- Không thấy? Cây ở đây không khác cây sau lưng mình à?
- À... phải rồi.
Cộc nhìn lại thì quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ có bùn, tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bìa lãnh thổ mình.
Hết tràm thì có một khoảng trống nửa bùn nửa đất, trên ấy cỏ ống mọc rậm ri và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.
Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom, chen nhau mà vượt lên cao, cây này cách cây kia không đầy bốn gang tay.
Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa.
Xa, xa lắm, có những cây mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công.
- Nhìn xuống gốc cây! - Ông nội bảo.
Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xoá những đoá hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp.
- Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc?
- Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm  đây.

- Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây ấy bao giờ?
- Con không nghe, vì cây ấy không dùng được để làm gì cả, cho đến làm củi chụm cũng không được.
- Vậy chứ trời sanh ra nó làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy.
- Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hằng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
- Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sanh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?
Thằng Cộc nhìn lại ông nội nó và thương không biết bao nhiêu ông già đã bỏ mồ, bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn ở Ô heo.
Phải, cứ theo dự đoán của gia đình thì nó sắp được hưởng tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều.
Nó nắm chặt tay ông nội nó và thấy ông nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà.
- Ông ôi - nó than - nhưng tràm buồn quá!
- Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới để phụ lực. rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu.
Tràm hết buồn vì sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần...
- Và sẽ có chè ăn?
Ông nội cười ha hả mà rằng:
- Gì chớ chè thì sẽ có lu bù.
- Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm về Ô heo!
- Hai năm nữa người ta sẽ đồn đất Ô heo thuần... Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây.
Ông nói điều này, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ miền trung tràn vào đây đều chịu số phận làm cây mắm cả, từ xứ Đồng Nai nước ngọt tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.
Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua tộ nước rộng hũ đường để làm cầu cho bạn đi sau vào đến nơi có chất ngọt.
Tất cả mấy lớp tiên phuông đầu đều ngã gục như rừng mắm rồi ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn...
- Tía!
Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không và kêu tía nó bằng một giọng thương yêu trìu mến hết sức.
- Thôi nhổ sào đi về cho kịp con nước - ông nội ra lịnh. Ông nội vui vẻ quá, ông bỗng nhớ sực lại những câu hò của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:

Hò...ơ  Rồng  chầu  ngoài  Huế,
Ngựa  tế  Đồng  Nai,
Nước  sông  trong  sao  cứ  chảy  hoài,
Thương  người  xa  xứ  lạc  loài  đến  đây


Trang 29




Chú thích:
  [1] Truyện rừng mắm đã được Nghiêm Xuân Việt dịch ra tiếng Pháp đăng trên tập san Pen club. Bản dịch tiếng Anh do nhà văn J.Banerian ở San Diego dịch đăng trong tập Vietnammese Short Stories.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 14:12:28 bởi Thanh Vân>
Hạ bệ
 

Ông Ích Thành đang thắt cà vạt thì thấy hùng, người con trai độc nhứt của ông cũng sửa soạn để đi đâu đó.
- Con cũng đi nữa sao?
Ông Ích Thành hỏi con mà mắt nhìn mãi vào cái nơ trong gương.
- Con đi học tối ba à...
- Vậy à, đêm nay có buổi học tối à?
- Dạ thưa có.
Ông Ích Thành hơi bực mình, nhưng ông chỉ nhăn mặt một cái rồi bình tĩnh lại mà nói:
- Thôi được. Nhưng sau buổi học, đừng đi chơi đâu hết, phải về cho sớm đặng coi chừng nhà. Má mày, hôm về dưới bà ngoại, có dặn kỹ lắm đó, nói hai đứa ở mới này không tin cậy được đâu. Tao thì đến khuya, tao mới về được.
- Dạ.
Cậu hùng, một thiếu niên mười bảy, nhìn cha ăn mặc, đôi mắt cậu như nói lên tất cả thán phục của cậu. Ông Ích Thành, mặc dầu con buôn, nhưng học rộng, cái gì cũng biết rành mạch.
Ông lại sành ăn mặc lắm, đó là một chi tiết dễ tăng uy tín của ông nơi con mắt bọn thiếu niên.
Hai cha con ra ngoài cùng một lượt với nhau. Ông cha vừa lái xe ra khỏi cửa ngõ thì cậu con cũng vừa thót lên một chiếc tắc-xi.

Nhưng cậu hùng không đi học đêm, mà đi đến hai ba nơi để rủ thêm bạn, rồi mới bảo xe chạy lại một nhà khiêu vũ to kia.

Bọn trẻ vào vũ trường giữa lúc đèn mờ, và bận chọn bàn nên chưa thấy gì hết.

Họ ngồi sát bìa sàn gỗ. Đó là những người con trai sơ-mi bỏ ngoài, áo hở cổ, khác hẳn với những ông đứng tuổi ăn mặc đàng hoàng và có vẻ đi dự tiệc trong bộ lễ phục hơn là đi phiếm du tiêu khiển như họ.

Ngoài sân, khách khiêu vũ giống như những bóng hình trên mặt đèn kéo quân, lũ lượt lướt qua trước mặt họ không biết bao nhiêu lần.

hùng chỉ ngó chăm chỉ xuống sân, nhưng chập chập cậu lại điểm tên: hồng, Liên, yến, Vui, cúc... Ấy, cậu ta đã thuộc lòng những bàn chơn của vũ nữ, thấy là biết của ai ngay, không cần nhìn cao hơn nữa. cùng một lúc với cuộc điểm bàn chơn, cậu thưởng thức bước đi của khách cũng ở nơi đó: có những bước chơn bông gòn, và trái lại có những bước chơn treo chì, cả hai thứ bước đều hay, bước nhẹ làm chàng sảng khoái, bước nặng giúp chàng vui cười.

Hùng quả nhiên bật cười lên, làm cho một hột đậu rang trong miệng cậu bắn vọt ra ngoài.
- Gì mà vui dữ vậy? - Quí hỏi.
- Tao vừa nghĩ ra một điều thật ngộ nghĩnh, là những cô có tên xấu, như tên Vui chẳng hạn, là những cô mang tên thật, còn những cô có tên thơ mộng, toàn mang tên giả cả.
- Ấy thế mà tên hà Đình của em là tên thật đó - cô vũ nữ quen, người miền Bắc, đang ngồi cùng bàn với họ đính chánh như vậy.
- Tôi không nói cô, cô là trường hợp đặc biệt mà....
Bỗng Hùng nín lặng. Cả bọn đều ngạc nhiên nhìn anh chàng lắm lời này. Vẻ mặt kinh hãi của anh ta khiến họ đoán thấy anh ta đang tái mặt trong bóng mờ. Họ nhìn theo hướng ngó của anh ta thì tầm mắt họ chạm phải một đôi giày không có gì đặc sắc, nhưng phủ trên giày ấy, một miếng ống quần màu hơi quen.

Mắt họ leo ống quần, thấy nó to lần lần và ở phía trên nó to quá, cho họ biết rằng người mặc quần ấy là một ông bụng bự. họ chợt hiểu và ngước nhìn lên thì thấy quả đó là ông Ích Thành.

Ông Ích Thành cũng vừa thấy bọn trẻ, cũng ngạc nhiên và kinh sợ, và vội đưa mắt đi nơi khác.
Xuân, Quí và Nhạc vụt cười lên.
- Gì thế các anh? - Cô Hà Đình hỏi.
- Bố con đụng đầu nhau kêu cái cộp.
- Thế à! Ông cụ là ông nào?
- Cái ông cà vạt con trai và giày chó vá kìa.

Hùng nhìn sững cha cậu bấy giờ đã đi xa qua đầu sân bên kia với vũ nữ. Ông cụ nghẻo đầu, làm mùi một cách vô duyên trông buồn cười muốn chết.

Hùng thấy cha cậu già quá, già hơn ngày thường nhiều, giữa đám vũ nữ trẻ trung ấy, và cậu có cảm giác đang đọc một bài thất ngôn bát cú in xen vào một tập thơ tự do. Mà đó là một bài đường luật rất xoàng. Đó không phải là một người cao niên vốn sành ăn chơi, cố vui vớt vát, mà là một ông cụ thật thà, tập tành son trẻ. Nhưng dầu thuộc hạng già nào, ông cụ cũng chẳng coi được, khi vào đây.

Khi ông Ích Thành và vũ nữ trôi trở lại, hùng thấy ông thở hổn hển mà quay, cậu tưởng chừng như nghe hơi thở ồ ồ của cha, một ông cha lỗi lạc mà trước kia cậu thấy làm cái gì cũng trôi chảy, dễ như chơi.
Hồi nãy cậu ta hoảng sợ khi bị cha bắt chợt giữa chốn ăn chơi. Nhưng bây giờ, chẳng những cậu không còn sợ hãi nữa, mà còn có bụng khinh thường ông cụ là khác.
Con người đứng đắn nghiêm trang thế kia, lại cũng chui đầu vào đây à? Nào đâu những lời gia huấn khắt khe, nào đâu những lời khen ngợi của bạn hữu ông cụ và chính của bà cụ nữa, bà cụ luôn luôn tự hào với bạn hữu rằng bà có một ông chồng đứng đắn số một trên đời.

Và từ thuở giờ, cậu quen thấy ông cụ ngồi trên một cái bệ cao nghệu, oai phong lẫm liệt, làm gì cũng thật tài, từ việc lớn cho chí việc thắt cà vạt. hôm nay cái vụng về của ông cụ khiến cậu cảm tưởng như ông cụ bỗng dưng ngã xuống khỏi bệ một cái rầm.
Năm ngoái vào đây lần đầu, cậu cũng đã vụng về. Nhưng con trai vụng về thì xem vẫn được. Đến như cuộc tập sự trái mùa của một bậc cao niên thì nghe nó tủi tủi làm sao!

Một ý nghĩ bỗng làm hùng đau xót vô cùng. cậu nhớ đến những chú chệt già, cả đời cần cù tiện tặn, ăn hàm uỹu và ngủ trên một cái thùng gỗ, đến lúc sáu mươi chợt thấy mình gom được nhiều tiền lắm rồi, nên nghĩ đến hưởng thụ. Nhưng nào có biết đời có gì để hưởng, thôi thì cưới vợ bé vậy, mà cưới một cô thật trẻ. Làm như cái trẻ thơ ấy bù được tất cả những cái mà chú ta không được hưởng.
Hùng đau xót vì nhớ lại cha cậu cũng đã cần cù, tiện tặn để dựng sự nghiệp. Ông cụ không dám hưởng gì cả và bây giờ, chừng như giựt mình tiếc rẻ nên vội vàng chạy lượm mót của trời chăng? Thương lắm ôi!
Hùng lại đau xót mà thấy mình đâm ra xem thường cha, muốn không, cũng không được nữa.
Cậu có muốn hạ bệ ông cụ đâu? tự dưng, ông cụ ngã, có muốn đỡ, đỡ cũng chẳng kịp, có muốn lờ đi cũng đã trót chứng kiến rồi.
Đèn sáng lên. Người nữ ca sĩ trung hoa họ Mạc bắt đầu trỗi giọng và sân gỗ giống như hồ tắm sắp đóng cửa, khách tắm vội lên hết trên bờ.
Hùng liếc nhìn cha thấy ông cụ từ giã bạn rồi đi vòng để ra cửa, tránh xóm cậu đang ngồi.

*  *  *

Bữa cơm trưa hôm đó, đáng lý thì vui vẻ lắm. Bà cụ đi xa mới về, ông cụ lại vừa trúng một vụ có lời to.
Nhưng bà cụ ngạc nhiên lắm khi thấy chồng con như là bỡ ngỡ với nhau. Thằng Hùng hôm nay sao mà có vẻ tự tôn thế? Đó là một thứ mặc cảm mà nó luôn luôn có và không giấu ai được, mỗi lần nó đắc thắng về học hành hay về thể thao.
Tự tôn nhưng lại trốn mắt cha, trong khi ông Ích Thành cứ rình xem cử chỉ của nó, mà lo lắng thì lộ rõ trên mặt ông.
Bà Ích Thành đoán biết có chuyện gì xảy ra ở nhà này lúc bà về quê, và chuyện đó rất là khó nói ra.
Ông Ích Thành rình con rồi nghĩ bụng: “Nó đã bắt chợt mình sống vội, vớt vát mật mỡ ở đời, chắc nó không khỏi triết lý rằng con trẻ phải chơi cho chán chê ra, kẻo già phải hối hận. Như thế thì nguy to, nó mà lấy cái triết lý rẻ tiền ấy làm phương châm thì hỏng. Vậy mình phải cố cứu vãn tình thế mới được.''
Để đánh tan không khí lạnh lẽo, bà Ích Thành hỏi chồng:
- Ông biết bên Vĩnh Xương không?
- Phía bên chồng sắp cưới của con ông hạo hử?
- Ừ, bên đó làm sao, theo ý ông?
- Nghe nói thằng ấy ăn chơi bạt mạng, không ra gì đâu.

Hùng mỉm cười ngạo nghễ, bụng cậu nói thầm câu sau đây, nhưng ông Ích Thành lại nghe rõ mồn một: “Thôi đi ông, ông cũng đi nhảy như ai, thì ông, thằng đó, và tôi đều chung một xuồng với nhau chớ lạ gì mà chê bai người ta, ông lại còn tệ hơn bọn tôi là ông trễ xuồng, cố nhảy nai theo người ta, trông lố bịch quá đi mất!”
Ăn cơm xong, ông Ích Thành nói với con bằng tiếng ngoại quốc:
- Qua bên này bàn giấy, ba có chuyện cần nói riêng với con.
Hùng đoán ông cụ định hối lộ cậu một số tiền, để cậu khỏi méc thót với mẹ sự chùng lén của ông.
Cậu suy nghĩ để lập thái độ. Cậu có thể khai thác bí mật ấy mãi mãi để tống tiền ông cụ, và ông cụ sẽ là mỏ vàng không bao giờ cạn. Làm thế cậu lại có lợi về tinh thần: Cậu được bạn, được người tùng đảng trong cuộc truy hoan, khỏi lo bị quở mắng nếu thi hỏng.
Nhưng cậu không phải là một thiếu niên tệ đến thế, nên cậu định sẽ long trọng hứa bưng kín miệng bình cho cha an lòng, và quyết định từ chối tiền hối lộ

Ông Ích Thành mời con ngồi trước bàn giấy như là tiếp khách làm ăn. Ông cúi đầu nhìn tờ giấy lót bàn màu hường lợt rất lâu, đoạn đột ngột hỏi:
- Năm nay con bao lớn?
Hùng ngạc nhiên hết sức. Sao ông cụ lại to gan thế? Ông cụ hỏi tuổi cậu để cậu phải khai ra rằng cậu chỉ mới mười bảy thôi, để rồi ông cụ chụp lời thú nhận còn trẻ măng ấy mà mắng cậu là còn trẻ mà đã hư thân à?
Hùng quyết chí đương đầu với cha và đáp hơi thách đố:
- Con mười bảy, thưa ba.
- Vậy hà! Thì ra con đã gần thành nhơn rồi.
Ông cụ hỏi thật tình và thật tình ngạc nhiên trước lời khai tuổi tác của con. Ông cứ ngỡ con ông còn bé bỏng như ngày nào và không thấy được rằng nó dùng dao bào của ông mà cạo râu mép từ mấy tháng nay rồi.
- Nè con - Ông Ích Thành nói sau mấy lần do dự - con đã lớn, nên ba kêu con vô đây để cho con biết một việc quan trọng. Ba xem con như một người bạn.
Hùng cụt hứng. Cậu giống như một con dê mới mọc sừng đang dang hai chân trước, gầm đầu xuống, sừng chĩa tới trong một dáng điệu sẵn sàng chờ đợi địch thủ. Nhưng địch thủ lại không tấn công, khiến cậu ta tiu nghỉu.
Câu hỏi mỉa mai của cậu làm cho ông Ích Thành phải bối rối thêm một lần nữa:
- Thưa ba, ba mới nhận ra là con đã lớn từ lúc con vào đây. Vậy sao ba lại quyết nói chuyện quan trọng với con từ hồi ăn cơm vừa xong?
Ông Ích Thành bậm môi vì tức giận, nhưng buồn cười cho mình và cho cái cứng đầu của cậu con trai, nó là hình ảnh trung thành của tánh bướng bỉnh của ông thuở ông còn niên thiếu.
Không đáp lời con, giây lát sau ông nói:
- Ba cho con hay rằng lúc này ba viết báo.
- Vậy hả? Ba viết báo làm chi. Công việc làm ăn không đủ choán hết thì giờ của ba sao?
- Ba bận lắm. Nhưng bây giờ ba có tiền, ba lại đâm ra háo danh.
Hùng cười mà nói thay cha:
- Nên không có dịp tranh cử hội đồng thì ba viết báo vậy.
Ông Ích Thành cũng cười rồi tiếp:
- Quan trọng không phải là ở chỗ viết báo mà ở chỗ viết báo thì dễ bị nguy. Ba viết phóng sự, hay phanh phui chuyện người ta, có thể bị hạ lắm. Ba cần báo cho con biết để...
- Ba sợ lắm thì viết làm chi cho mất công lo.
- Không, ba không sợ lắm, ba chỉ báo cho con biết vậy thôi. Nếu rủi ba có bề gì thì ít ra gia đình cũng rõ ai ám hại ba...
Hai cha con làm thinh giây lâu rồi ông Ích Thành tiếp:
- Độ này ba viết về các tiệm nhảy, nên ba hay la cà ở các nơi đó để thu thập tài liệu.
Nghe câu đó, Hùng bỗng chợt hiểu; cậu buồn cười quá, không cầm được, nên bật cười to lên.
- Sao con lại cười? - Ông Ích Thành ngạc nhiên hỏi.
- Thưa ba, - Hùng đáp sau cơn cười - Ba không cần gì cố cắt nghĩa sự có mặt của ba trong Móng Trời đêm đó. Con đã lớn thì con phải hiểu biết rằng ai cũng có quyền sống riêng cả! Không, con không dám khinh ba đâu, con không đạo đức lắm đâu. Nhưng con thú thật với ba rằng con bớt kính phục ba hơn khi trước. Bớt kính phục nhưng thương hơn vì thấy ba trễ đò và yêu hơn vì thấy ba là bạn của con. Sao con lại bớt kính phục ba thì ba đã biết. Và ba không làm gì được để gây uy tín lại cả. Nếu ai xô ba xuống khỏi bệ, thì ba có thể leo trở lên và người thân của ba sẽ giúp ba trong công việc ấy! Nhưng khi mà chính ba tự hạ bệ, và con đã trót thấy thì không làm sao...
Ông Ích Thành giận tím mặt, đấm xuống bàn một cái rầm rồi hét:
- À, mày lại dạy đời tao hả?
- Thưa ba, con đâu dám. Nhưng ba đã xem con là bạn thì... Thôi con xin phép ba.
Hùng đứng lên, đi ra cửa một nước. Ông Ích Thành cắn môi dưới, lòng đau cái niềm đau ê chề khi ta bị người thân yêu hất hủi.
Thế là hỏng cả! Ông than thầm giây lát sau đó. Nó sẽ đi chơi bạt mạng, không sợ ai nữa mà cũng không sợ lương tâm nó vì lương tâm nó sẽ im đi khi nó đưa cái triết lý tai hại “hái lấy ngày qua” ra.
Ông Ích Thành chống tay lên bàn viết, ôm đầu mà tuyệt vọng.
Thế là hỏng cả! Mình đã tự hạ bệ! Hột kim cương giả, khi đến lúc tự mờ nước chiếu, không trời đất gì làm cho nó chói sáng lại được hết.
Bỗng ông cha vừa mất uy tín, hạ tay xuống, ngước mắt lên. Mặt ông bấy giờ sao lại hớn hở như tình thế thình lình biến chuyển có lợi cho ông? Ông mỉm cười rồi lẩm bẩm một mình: “Hỏng, nhưng chưa hoàn toàn sụp đổ? Nó đã biết nói sự thật ấy thì chắc không bao giờ nó tự hạ bệ trong đời nó. hà... hà... ít ra cuộc gặp gỡ không may cũng cho nó được một bài học hay: tự hạ bệ là hết.”  
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 16:20:51 bởi Thanh Vân>
 
Ba con cáo (1)
 
Tặng V. Th. T. Ph.
 
Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi’’, Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài.
Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đờn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta.
Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn trên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.
Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa loé lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?

Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng mình đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa dòng nước.
Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong lòng.
Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng còn ấm chán.

*  *  *

Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nhì cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ.
Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm lì đó đến muôn thu.
Vì vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn mãn.
Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và vòng vây cứ càng ngày càng xiết chặt lại, người chết không còn lối nào để thoát ra được nữa cả.
Khi vòng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở bìa, thì cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
Người sống cũng biết đau lòng khi phải giẫm lên những gò mả còn mới rành rành (nhiều mộ bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa thì thôi.
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian này chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì!
Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.

Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp mà vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lãnh.

Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ trần hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, thì ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên này bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, vì khu ấy đất trũng mà!

Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng vòng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đổ xuống chỗ trũng hơn.
Thành thử phần nhiều ngôi mộ đã biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không còn làm sao ra đó được nữa.

Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi thì lún đến ống quyển.
Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng biền xa.
Giữa đất thánh còn sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân này.

Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô-dước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy dẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
Hôm ấy những người của vòng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.

Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội sình để ra ngoài đó được. Đi tay không đã không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà?

Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ở đó mà không bàn tới bàn lui gì nữa cả.

*  *  *

Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở bìa đất thánh. Anh đã vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rõ nghĩa địa.

hôm tháng rồi anh bị truy nã ráo riết nên cố tìm một chỗ ẩn núp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài lòng mà gặp hòn đảo này.

Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội sình nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ Bình Sơn của anh.

Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi còn tây thì bất quá họ cũng đứng ngoài mà nhìn vào, hú bậy vài tiếng như hú đò bên kia sông, rồi đò không qua thì thôi. họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ gì.

*  *  *

Từ vòng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. các thứ này giống hệt những hình bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.

Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống, và sẽ chết dần mòn vì thiếu ánh sáng.

Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kìa. Vì thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó mông ra đám rừng thánh giá trắng thì anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta.

Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại dòm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm gì mà lục đục mãi.

Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đã quen với con người rồi nên không có vẻ gì sợ sệt cả.

Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong thần nói chuyện mả huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đã nổi danh trong lịch sử, là cái con đã biến thành nàng tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.

Nhưng anh trấn tĩnh lại được. trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn.

Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái gì đâu.Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mõm ngậm một con vịt.
- A ha, đồng đạo đây mà! - Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm tình ngay với con thú này.
Cái đạo mà anh nói là đạo... chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đã đi ăn cắp gà như chú chồn này vậy.

Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
- Mày cáo thì tao đây cũng cáo, vậy thì là bồ rồi.

Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.

*  *  *

Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
- Đồng nghiệp xuất quân đó đa!

Anh Sáu nhờ cậy con chồn này lắm. có nó ở dưới ấy thì không còn lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.

Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.

Rồi lại nghe nước khua lũm bũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra dòm thì thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.

Anh Sáu thò tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh chìa mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.

Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mõm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề.

Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
- Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ thì đố ai mà dám theo anh vào chốn này. chỗ ở của tụi mình kín số dách.

*  *  *

Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà phê, về tới nhà thì ngạc nhiên hết sức. trên một ngôi mộ cận mộ anh, một chòi lá đã dựng lên rồi. Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà phê, đọc xong trang nhứt của một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng lên xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi thì chậm sao được!

Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nhì lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức vì túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh.

Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ này qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà thì ra hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái vòng rất lớn và rất cong quẹo.

Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, thì anh còn làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha này một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.

Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến đá mộ bia đặt nằm theo lối Âu châu, trên có khắc mấy dòng chữ như sau:

Ci-git:
Alphonse Thomas Nguyễn Văn Nở
décédé en sa 78è année
Priez pour lui [2]

Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà này dùng phiến đá để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót gì trên ấy cả mà lại để lên đó nào là vali, dép... à mà sao lại dép đàn bà?

Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên thì ô này lạ, chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.

Chủ nhơn bà bình tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng.

Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ thì mét chằng, chỗ thì thâm đen sì, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.

Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc thì kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong chòi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
- Có tiền mãi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.

Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp:
- Hỡi cô nữ tướng mã thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la thì đòi tiền mãi lộ ai được. Nữ tướng có giỏi thì bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rõ tài cao thấp.

Nữ tướng cười xòa vì nghe giọng điệu thì biết đã gặp tay đồng điệu. tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi.

Anh Sáu xem qua thì biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xã hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đã tu luyện nhiều năm nên mang được hình người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.

Đầu anh Sáu đụng nóc chòi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống.
- Ở đây không sợ mang tội à? - Anh hỏi đùa.
- Chớ còn anh?
- Tôi thì khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi. Đó là một cái nhà của một người chết đã đi đầu thai kiếp khác rồi.

Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi tiểu giáo đường trước nghĩa địa.

Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác vào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ bằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đã bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đã rã và rớt xuống, cửa sổ gỗ đã bung hết, cửa kính màu đã bể nát, nhưng toàn thể công trình kiến trúc gô-tích ấy vẫn còn mang cái phong độ vĩ đại của thời trung cổ Âu châu.
- Anh thấy không? - Chị ta nói - Nếu mình dám vào trong đó mà ở thì đâu có phạm tội như vầy.
Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi gì cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh.
Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.họ khác nhau ý tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: con cáo chánh hiệu con... cáo thì sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ công an, còn con hồ ly cáo cái thì sợ lính kiểm tục.
Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được mà vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau.

Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đã chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên này.

Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để trò chuyện với nó thì ấm biết bao!

Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu vì hòn đảo của anh ở xa mãi ngoài giữa dòng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc Đêm đông.

“Đêm  đông,  ca  nhi  đối  gương  ôm  sầu  riêng  bóng.”

Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoành giữa gian phòng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh mình.

Mấy cây thủy liễu hiếm hoi đã kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ.

Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi.(3)
Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xã hội loài người.

Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài vòng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự.

Không phải kể chuyện cho khách nghe, hồ ly khỏi phải thi vị hóa buổi thiếu thời của mình, không cần loè ai, con cáo già cũng khỏi phải anh hùng hóa bước giang hồ của hắn.

Họ đánh bài, mà hạ bài cho nhau thấy. Bao nhiêu thúi tha nhơ nhớp trong đời họ, họ phơi cả ra như sau đêm mưa, họ phơi gối trên mồ cho nó bớt âm ẩm khó chịu.

Trời mưa cuối mùa cứ dai dẳng từ ngày này qua ngày khác. con hồ ly ban đầu ăn xôi, ăn bánh mì chả lụa trừ cơm. Mãi rồi nó cũng không còn tiền để mua xôi nữa. Đất Sài gòn, những ngày cuối tháng mà mưa dầm, thì tiền bạc nó cũng sợ lạnh, không hề dám ló ra ngoài. Nó có ló ra, con hồ ly mới ăn nem nướng được, còn nó mà trùm chăn thì chồn cái cũng đành trùm mền mà nhịn đói.

Anh Sáu cũng chẳng thấy đi uống cà phê sáng cho ấm bụng. Cũng chẳng thấy khói thuốc bay ra khỏi mái lều của anh như mọi ngày, và lâu lâu cũng không còn nghe mẩu thuốc vứt xuống ao, tắt kêu xèo một cái.

Cả hai, vì tự ái hão, đều giả đau để nằm nhà. Anh Sáu yên thân hơn, còn dám ngồi dậy lết ra lết vô. còn con hồ ly thì sợ anh Sáu đi ngang qua đó biết mình giả đò chăng, nên cứ trùm chiếu mãi từ sáng đến chiều.

Khó chịu quá, ngộp quá, mà anh Sáu không đi ngang qua lần nào để thấy là nàng ta đang đau ốm thì có tức hay không chớ?
Hết mưa rồi nắng. Anh Sáu ra đi. Ngang qua nhà hồ ly, anh lấy chơn lật chiếu ra thì thấy hồ ly nằm xụi lơ. Nàng đau ốm thật đó, đau một chứng bịnh cổ điển của loài người, là bịnh... đói.

Anh Sáu mau bước nhảy như con khỉ từ ngôi mộ này đến ngôi mộ khác và rốt cuộc ra tới đầu ngõ hẻm trổ ra phố.

Thiên hạ cứ mỗi ngày một khôn ra, cho nên, mặc dầu là cáo già, anh Sáu không còn gạt gẫm ai được nữa.

Anh buồn hiu trở lại đào viên mà ba người bạn đã mặc lặng kết nghĩa với nhau hôm mấy tháng trước.
- Chị đỡ bớt hay chưa?
- Anh hỏi cho có chuyện.
- Có uống mẹ gì đâu mà đỡ bớt.
- Chị nghe trong mình làm sao?
- Không biết. Nhưng nếu ăn được một chén cháo thì khoẻ

Anh Sáu hiểu ngay. Anh lại thở ra, ngồi bó gối bên cạnh một người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày.
Chiều xuống sớm quá và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba.
- Hừ, nó coi vậy mà no đó.

Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh.
Nhưng biết làm sao. Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ.

Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù.

Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma này thầm lặng quá!

Người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày.

Chiều xuống sớm quá và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba.
- Hừ, nó coi vậy mà no đó.

Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh.

Nhưng biết làm sao. Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ.

Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù.

Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma này thầm lặng quá!

Anh Sáu rút cây chĩa ba, lết ra tới trước mả mà ngồi. Anh cúi mặt xuống miếng đất đọng nước, mắt lom lom rình.

Bỗng có tiếng sột soạt do con chồn khua lau sậy, nay đã chết khô rồi. Anh Sáu hồi hộp nghe tim anh đập thình thình trong lồng ngực anh. Lạ! Anh đã giết người, mà nhớ ra là anh đã không nghe mảy may sợ hãi. Cớ sao đêm nay...

Kìa một cục đen đen thò ra khỏi sàn ván. Anh Sáu cầm chĩa ba mà nhắm rồi sực một cái, mũi chĩa đâm chúi xuống trúng ngay cổ con chồn.

Chồn thét lên một tiếng kêu đau, kinh sợ, rồi thôi. Trong bãi tha ma hoang vắng, không một tiếng vang lặp lại tiếng kêu thương của con vật vừa bị bạn phản bội này.

*  *  *

Dân lưu manh vẫn thế. Họ cũng biết xúc cảm, nhưng chỉ xúc cảm vậy thôi. Họ nhỏ trên máu con chồn vài giọt nước mắt rồi thịt nó liền mà không nghe nhờm răng.Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.

Họ chỉ ân hận một vài giây thôi, vì dầu sao, người bạn xấu số ấy cũng chỉ là một con chồn. Ai dư nước mắt mà khóc thú vật cho lâu!

Trời cứ mưa, mưa như cầm chĩnh mà đổ, mưa như một oanh tạc cơ định về căn cứ, đổ rốc hết bao nhiêu bom còn sót lại trên tàu, mưa cho hết ráo nước để rồi khô hạn được trong sáu tháng dài, mưa đêm chưa phỉ lại mưa ngày, mưa cho đến xương kẻ dưới mồ chắc cũng lạnh thấy tủy khô.

Ăn được bữa cháo chồn, hồ ly nghe khoẻ như chị đã đoán. Sáng hôm ấy chị ra đi, căn dặn anh Sáu ở nhà, chị sẽ có tiền, một món tiền khá to, đâu như năm trăm, do một anh tình nhơn hứa biếu và hẹn hôm ấy trao cho vì hôm trước là ngày lương.

Anh Sáu thích quá, muốn ôm lấy hồ ly mà hôn một cái. Nhưng hồ ly dơ thấy mà bắt nôn, nên anh thôi.

Độ lối chín giờ sáng, anh Sáu đang nằm ca sáu câu mùi mẫn:
 Cảnh vị nhân sầu, xơ xác ngọn vi lau, nước triều mênh mông chảy...
thì bỗng nghe tiếng tu hít thổi hoen hoét ở cùng tứ phía, quanh nghĩa địa rồi giây lát sau hồ ly nhảy như khỉ qua các nấm mồ, theo sau chị là hai người đàn ông còn trẻ.
- Trời ơi, anh Sáu kêu, mình đã dại, kể cho nó nghe duyên cớ trốn tránh của mình; nó bán mình mà ăn đây! chồn ơi, chồn mi có thiêng chăng, về mà xem kẻ phản bội mi sắp bị trừng phạt đây.

Anh Sáu bó tay không chống cự. Anh nhìn hồ ly, không oán giận mà chỉ tội nghiệp thôi. hồ ly trốn cái nhìn của anh, ngồi day mặt vô vách lá mà đếm tiền.

*  *  *

Đêm nay, gió sao mà hú nghe ghê rợn hơn đêm nào cả.

Hồ ly giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. gì mà như là anh Sáu ho bên ấy! chị đánh diêm lên để thắp đèn. trời ơi, mới hôm qua đây, anh Sáu còn nằm bên đèn kể lại những bước phiêu lưu của anh! hơi thở của anh, chị còn nghe như văng vẳng. cái mặt xương của anh đậm nét lên dưới ánh đèn, như là còn ẩn hiện mơ hồ trên tấm mộ bia!

Trời ơi! Kéo cuộc đời nhơ nhớp này biết đến bao giờ mới thôi? Đã nhơ nhớp lại đê hèn, bước từ phản bội này qua phản bội khác cho đến một khi kia thì mình chỉ còn phản bội được chính mình.

Hồ ly rùng mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người.
Chị ôm mặt mà khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:
- Trời Phật ơi, chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi sẽ ra khỏi chốn này và ra khỏi vực đen của đời tôi nữa!

Chú thích:
[1]  Câu chuyện xảy ra năm 1954. Truyện Ba con cáo đã được dịch ra tiếng Anh do nhà  văn  Lê  Văn  Hoàn  ở  San  Francisco  dịch  để  dự  thi  truyện  ngắn  quốc  tế  ở  Manila và đã được giải nhất.
[2] Nơi đây yên nghỉ: Ông An-Phông tô Ma Nguyễn Văn Nở, thất lộc năm 78 tuổi. hãy cầu nguyện cho ông
[3] Ý này của P.S và X.V
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 17:02:21 bởi Thanh Vân>
Ba sao giữa giời
 
Tặng T.M.T


Bữa trưa nào xuống trạm ô tô buýt ở xóm Máy Đá, tôi cũng thấy anh Hùng đứng sẵn trên bờ cỏ mà đợi tôi.
Trời nắng chang chang, vậy mà hễ thấy dạng tôi là mặt anh sung sướng và tươi như nhìn thấy trăng lên.
Nếu tôi không kể rõ những điều sau đây, thì khó hiểu sự si mê tôi của Hùng lắm.
Chúng tôi cùng học trường thuốc, và thường ngày vào xóm Máy Đá là nơi có viện cơ thể học để mổ thây ma, những xác người vô chủ.tôi học năm thứ nhì, còn Hùng thì mới qua khỏi năm chuẩn bị và kể như là mới vào học năm đầu.
Trong kỳ đệ nhất tam cá nguyệt của năm đầu ấy, sinh viên tuy chưa được mổ xẻ gì cả, nhưng được đưa vào buồng xác để xem mấy anh lớn làm nghề “đồ tể”, xin lỗi, danh từ này tôi dịch ngay ở một tiểu thuyết Pháp ra.
Đây là giai đoạn thử thách sinh viên. Đoàn cá mới, sẽ vượt Vũ Môn được hay không là do ở đây.

Nhiều anh mới qua khỏi cửa buồng, nhìn thấy xác một bà cụ móm xọm, bỗng đâm hoảng, nhảy nai chạy mất và không bao giờ dám trở lại nữa.

Có anh lấy giấy bọc tay lại trước khi rờ thây ma, anh khác lại nôn oẹ ầm lên khi bụng một xác người mở bung ra dưới một nhát dao mổ, và một thứ nước xanh xanh vàng vàng từ trong đó chảy linh láng ra trên bàn đá trắng.

Hùng thuộc vào hạng chỉ dám đứng lấp ló nơi cửa cho đến giờ về. Tôi là bạn cũ của anh, nên hôm đó, trông thấy mặt anh tái lét đứng dòm vô, tôi chạy ra kéo xển anh ta vào.

Mấy anh lớn ác lắm. Muốn tập cho em út dạn thây ma, họ có những lối đùa nghịch đáng giận. Năm ngoái chúng tôi cũng sợ sệt như vậy lúc mới vào. Họ lấy kẹo cho chúng tôi ăn, lấy thuốc cho chúng tôi hút cho khỏi buồn nôn. Chúng tôi vô tình, mắt nhìn họ làm việc, tay mở kẹo đút vào miệng thì trời ơi, đứa nào cũng mút phải một lóng tay người lạnh ngắt mà mấy ảnh đã gói lại bằng giấy bóng nhiều màu.

Được cái là bị một vố như thế là hết sợ ngay, hết nhờm ngay. Năm nay chúng tôi tới phiên làm anh hai (tức là người anh học năm thứ hai), nên cũng tái bản những trò nghịch ấy. hùng giận họ lắm, chỉ mến một mình tôi thôi vì tôi không nỡ làm anh hoảng.

Trong tiểu thuyết Những người áo trắng của Pháp, thấy nói sinh viên trường thuốc ở Ba Lê đánh giặc với nhau bằng quả tim, buồng phổi, bàn tay, trái tai của thây ma. Sinh viên Việt Nam tôi đứng đắn hơn, trọng xác chết hơn, nhưng không khỏi đùa chút ít, bỏ vào túi quần mấy anh mới vào một bàn tay cùi ngón, để cho họ nhảy lang ba xem chơi.

Hùng chỉ quanh quẩn theo tôi để được che chở, và chỉ yên lòng khi vào viện một lượt với tôi, mặc dầu không phải vào đó là mổ liền. còn phải nghe giảng nữa chớ. Nhưng biết đâu, những anh rắn mắt lại không đón anh ta ngay ngoài sân để gí vào mũi anh ta một cái đầu lâu?
Cái anh chàng tên hùng ấy xem tướng thì cũng hùng dũng lắm đó, nhưng lại sợ ma số dách, và sợ vi trùng còn hơn nữa. Anh thú thật với tôi đêm nào anh cũng chiêm bao thấy toàn đầu lâu và những xác người thiếu tay chân nhảy múa quanh anh. Anh không thể tin được rằng chất fót-môn dùng ướp xác có đủ khả năng sát hết vi trùng trên các xác trong viện cơ thể học. Anh phải dùng mù-soa riêng để cầm lấy những khúc xương đã mòn lẳn trong tay sinh viên từ năm này qua năm khác. Khăn ấy, sau buổi học, được bỏ vào một chiếc túi có quai xách, và về nhà là anh ta nấu tất cả các thứ ấy.

Để cắt nghĩa có một việc đón bạn mà tôi kể lể dài dòng thế là vì... thôi, rồi các bạn sẽ hiểu.

Tôi lại phải nói vòng vo tam quốc về vụ này nữa.

Hùng và tôi là bạn đồng lớp hồi trung học. Bây giờ anh thua tôi một năm vì anh đã rớt tú tài toàn phần một niên khóa. Anh rớt vì anh bận yêu. Anh đã yêu một cô gái con nhà giàu, con của một nhà doanh nghiệp ở Sài gòn.

Anh thi rớt xong, là cô gái bị gả cho con một ông nhà giàu khác. Ấy, cha mẹ cô không hay cuộc tình duyên thầm kín của cô, chứ không phải phụ chú rể hỏng thi đâu.
Mà cô nọ cũng tệ, ngoan ngoãn đi lấy chồng như không có chuyện gì xảy ra cả.
Hùng tức lắm nhưng không làm gì được cô ta, anh trả thù bằng cách cho tôi biết cô ấy trên lưng có ba nốt ruồi mà anh hay nói đùa với cô rằng đó là ba sao giữa trời. Tiếng “giời”, Hùng nói theo giọng Bắc, cho có vẻ Kiều. Hình như cuộc phát giác bí mật thầm kín của một cô gái ấy, hơn một người được nghe. Tôi phải mắng Hùng, anh ta mới chịu nín.
Nhưng sau đó, không rõ vì một lẽ bí mật gì mà Hùng đau tương tư thật sự.

Anh không thích nghề y, nhưng vào đó học, cốt để quên. Sinh viên trường thuốc khổ nhọc hơn ai cả, có ngày vừa học, vừa hành đến mười tiếng đồng hồ, đó là nói sinh viên thường thôi. Nói gì đến bọn nội trú, ngoại trú thì họ làm việc đến cháy nhà bên cạnh cũng chẳng hay. Làm việc như thế, còn trí óc đâu nữa để sầu tình. Hùng quả đã khôn ngoan lắm.

Hôm ấy hai đứa tôi cầm tay nhau vào viện cơ thể học.

Tôi nói:
- Lão giảng viên cao giò bên anh hôm nay có việc nên nghỉ giảng. Chắc các anh qua bên buồng xác ngay.

Nghe nói thế, Hùng muốn trở ra về, nhưng không được nữa: tôi đã nắm chặt tay anh.
Hôm ấy mười mấy chiếc bàn đá trắng đều có người choán. Đó là những kẻ chết đường, không người thừa nhận, nên được đưa vào để... “giúp sự hiểu biết cho nhơn loại”, tôi nói lớn lối theo kiểu anh toàn, nhà đạo đức năm thứ nhì.
 
Mười mấy cái xác bị chất fót-môn (Formol) làm tím đen ra và khô đét lại. Họ nằm đó như hình gỗ, người thì mặt mày bình thản như ngủ, kẻ nhăn ra một cách xấu xí quá chừng.

Anh toàn bước vào một lượt với chúng tôi rồi hét to:
- Nhơn danh thuần phong mỹ tục, xin bà con lật úp mấy xác phụ nữ lại.

Anh Tố cũng hét:
- Nhơn danh thuần phong mỹ tục và thay mặt nữ sinh viên, xin bà con lật úp mấy xác đờn ông lại.
Đó là họ đùa chơi cho đỡ buồn - nhìn thây ma mãi lại không buồn à? - Chớ vào đó là không ai còn nghĩ gì quấy quá nữa cả.

Trong khi các bạn khác xúm nhau mổ sọ để học bộ óc, thì toàn chạy lại bàn chúng tôi lật sấp cái xác dành cho chúng tôi lại. Lật xong, anh nhìn Hùng mà rằng: “Anh phải làm được như vậy mới đủ bản lãnh của một sinh viên trường thuốc, bằng không, về nhà chích dạo cho xong.”

Hùng còn hôi mùi nhà trường trung học nên rất bất bình trước cử chỉ đó. Thấy vậy, Toàn làm tới để trêu tức anh. Hắn đấm lên lưng cái xác và nói:
- Cụ ạ, để cháu tẩm quất cho cụ nhé.

Xác người phụ nữ ấy, cũng như các xác khác không mang tuổi tác nào cả, không rõ được đó là xác già hay người trẻ. Chất fót-môn biến gương mặt họ giống về năm tháng. Nhưng người này tóc quăn, thì chắc cũng ở vào thế hệ sau này khi mà đờn bà ta bắt đầu “phi-dê”.

Bỗng Hùng kêu rú lên một tiếng. Toàn day lại hỏi:
 - Đã hoảng rồi à?

Lạ kỳ thay, anh chàng sợ ma và sợ vi trùng ấy không lùi, mà tiến lại gần thây ma, cúi nhìn xuống lưng người chết.
Tôi bỗng chợt hiểu, nên cũng bước sấn tới nhìn xuống với anh. Tôi không thấy gì cả. Lớp da người chết đen sạm, khó phân biệt được những dấu vết ngày xưa có lẽ là rõ rệt.

Hùng lấy ngón tay trỏ đè lên miếng da dưới xương bả vai, không phải để chỉ cho tôi thấy gì, mà như để chắc ý. Quả thế, bây giờ tôi thấy dạng ba nốt ruồi, đậm hơn màu da một chút xíu.

Hùng lật ngửa xác chết, nhìn sát vào mặt nó. Không, đó là một cái mặt khô, móm và hóp, không thể là ai được cả, dầu người đó là kẻ thân yêu.

Anh Toàn không hiểu, ngước lên hét, vừa hét vừa bỏ đi:
- Bồ của tao đã giác ngộ rồi tụi bây ơi! Sắp đắc đạo rồi đó!

Hùng đứng đó rờ rẫm mặt người chết rất lâu, xỏ tay vào tóc rối của thây ma, như không bao giờ biết nhờm cả.

Tôi nghĩ bụng: “Thôi thế này thì anh sinh viên trường thuốc hóa thành thi sĩ mất. Làm sao khỏi ngậm ngùi khi bắt gặp xác người yêu trong một trường hợp như vậy.”

Nhưng lạ lắm, mặt Hùng không buồn, mà chỉ suy nghĩ triền miên đoạn rồi anh bỏ đó, bước mau qua bàn khác, vác lên vai một cái đùi người, tìm toàn mà hỏi: “Cái lị mô giò chó quảy hôn?”

Toàn cười ha hả và hét, ấy anh ta không nói chỉ hét thôi:
- Hoan hô tinh thần tranh đấu bản thân sợ ma.

Riêng tôi, tôi lại đâm lo: “À, nó không hóa thi sĩ mà hành động như vậy thì đích là nó hóa điên rồi. Nhảy đột ngột từ cái hoảng sợ qua cái lì, phải chăng là phát điên thình lình.”
Bán giò chó quảy không ai mua, Hùng ra về. Tôi không ngăn nữa.

Hùng “cúp cua” đến bốn hôm, mặc dầu có lịnh rất nghiêm là anh nào bỏ thực hành sẽ bị phạt nặng. chúa nhựt, tôi tìm anh ta. Thấy va (1) bình tĩnh như thường, tôi an lòng hỏi:
- Quên rồi chớ?

- Không, anh lầm. Tôi có buồn đâu mà cho là tôi quên. Hay nói đúng ra, tôi chỉ buồn có một phút thôi. Tôi đã cố rờ rẫm cái xác cho thật nhờm ra, để mà ghê tởm, đặng quên. Nhưng rờ được nó, là tôi hết ghê tởm nó nữa. Không ghê tởm được thì vẫn đau khổ, vẫn nhớ. Nhưng qua giây phút kia, tôi không còn đau khổ vì cái chết vất vả của người tôi yêu nữa mà đau một niềm khác anh à. Tôi đau cho cái nghĩa của đời con người liền sau khi chết. Cái xác ấy, rồi sẽ biến thành trăm ngàn mảnh dưới các lưỡi dao, không còn dấu vết gì trên đời này. Mà cả những xác được chôn cất rình rang cũng thế.

Sao lại có sự rỗng không như vậy được? Phút trước đây mạng anh quý biết bao nhiêu, mà phút sau này, xác anh lại là đồ bỏ. Ra cái quý chính là sự sống chớ không phải là thân thể nữa. Có đau hay không cho thân thể của con người!

Đang tha thiết yêu đương, giận ghét, mừng vui rồi suỵt một cái là u u minh minh, là không có gì nữa. Tôi sẽ làm cho sự sống còn hoài, không những đánh bại bịnh tật, mà cả sự già mòn nữa.

Lúc bấy giờ, nhìn hùng, tôi thấy anh ngây thơ lạ. hùng là hiện thân tất cả phấn khởi của tuổi trẻ, cả quyết sẽ làm những việc tày trời và tin chắc sẽ làm được. Nhưng tôi không cười, cố lập nghiêm mà nói:
- Đó là mộng của y sĩ muôn đời.
- Mộng suông không được. Phải biến nó thành sự thật kia.
- Hay lắm. Chúc anh thành công trong việc phản lão hoàn đồng, việc trường sanh bất tử. Có một điều tôi không hiểu là tại sao cô ấy lại chết đường?
- Ấy, hai họ đều là tay chợ đen. Giàu lẹ mà sụp cũng lẹ. Có lẽ cả hai họ đều mạt lụn hết rồi, nên không còn ai tìm xác cô ta nữa.
- Tại sao anh không xin xác về chôn?
- Vô ích, tôi đã nói cái quý chính là sự sống kia mà. Hôm mới vào đây học, tôi công phẫn hết sức về việc dùng xác người như các y khoa đại học trên thế giới đã làm. Nhưng..

Hùng nhìn thẳng vào mắt tôi hỏi:
- Học thuốc, anh có lý tưởng gì không?
- Làm giảm bớt những đau đớn của loài người, chỉ có thế thôi. còn những mộng to, tôi chưa có, và ít lắm phải ba sao giữa giời mới gây nổi những mộng như vậy.
Tôi nói giọng giễu cợt nhưng hùng không thèm đếm xỉa. Anh trề môi rất dài:
- Xoàng, anh xoàng lắm!
Hùng không nói nhiều nữa, để thuyết giáo như hồi nãy. Anh tỏ ra khinh bỉ tôi, một ông lang vườn tương lai.

Tôi không giận, mà trái lại thương cái mộng tuổi trẻ kia, và ngậm ngùi nhớ lại bao nhiêu mộng khác của mình thuở nhỏ không mong bao giờ thực hành được. Tôi siết tay bạn:
- Chúc anh thành công và yêu cầu anh giao mộng ấy lại cho các thế hệ sau, nếu chính anh không toại nguyện.

Chú thích:
[1] Va: anh, ông, từ chỉ đối tượng tiếp chuyện có quan hệ ngang bằng với người nói (Btv)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 17:49:15 bởi Thanh Vân>
Ăn cơm chưa (1)

Hoài niệm hương hồn một người đẹp Bình Dương


Bà sơ(2) rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đọc thấy. Bà dòm mặt tôi đoạn đọc lại một lần nữa.

Tôi đang hồi hộp vì đoán rằng có chuyên không hay thì bà đã nhảy ra khỏi phòng làm cho tôi hốt hoảng đến cực điểm.

Tôi mắc chứng thương hàn, sốt mê man mấy tuần nay, vừa tỉnh lại là chứng kiến sự bối rối của con người áo đen bé loắt choắt ấy, làm tôi ngỡ tôi chết đến nơi.

Nhưng gương mặt tươi cười của bác sĩ Chaput hiện ra nơi khung cửa, giúp tôi an lòng lại ngay. Giờ ấy còn sớm quá, bác sĩ chắc mới đến nhà thương, chưa kịp mặc áo choàng, còn vận thường phục.

Bà sơ theo sau, nói:
- Hắn không còn nhiệt độ nữa, chắc hắn phải lạnh lắm vì sự thay đổi đột ngột này, tôi cho hắn uống potion de Todd, bác sĩ nhé!
- Phải đấy!
Đoạn bác sĩ hỏi tôi:
- Ông nghe thế nào?
- Như vừa tái sanh, thưa bác sĩ.
- Tốt! Mới nghe, tôi hoảng lắm, vì nhiệt độ xuống thình lình, có thể là triệu chứng của sự chảy máu ruột.... nếu ông lén ăn gì.
Tôi cười một cái cười héo hon của con người sốt liên miên hăm tám ngày mà không ăn uống gì cả trong thời gian đó. Bác sĩ dặn thêm, trước khi rời buồng tôi:
- Vài hôm nữa là thèm ăn, nhưng phải nhịn, ăn là lủng ruột ngay. Ngoan lên nhé!

Quên nói rõ là tôi mắc bịnh này trước chiến tranh, vào thuở mà loài người chưa tìm ra thuốc trị thương hàn. Nhà thương cứ để vậy, tiêm thuốc nâng đỡ cho trái tim khỏi lụy, rồi ai kháng chết được thì sống, ai yếu lắm là đi.

Như vừa được tái sanh! tôi nói không quá lố lắm đâu. Vi trùng thương hàn phá rối sinh lý con người một cách kỳ lạ lắm. tôi nghe yêu đời ghê hồn và dòm ra sân của nhà thương tỉnh Bình Dương (bấy giờ là Thủ Dầu Một) tôi thấy khóm bông gừa, thứ bông hèn ấy, sao mà hôm nay đẹp lạ lùng.

Trưa hôm đó, bác sĩ chaput khoe với tôi rằng ở trại bố thí III một con đồng bịnh với tôi cũng vừa khỏi. Ông ta sung sướng về chuyện ấy lắm, vì con bịnh các trại bố thí chết nhiều quá, khiến dân chúng hiểu lầm nhà thương bỏ bê người nghèo khó. Sự thật thì sở dĩ số tử ở đó lên cao theo tỷ lệ vì các con bịnh nghèo thường để thật nguy kịch mới vào nhà thương và khi vào điều trị, không có người nhà theo để săn sóc, nhà thương chỉ vừa đủ người lo thuốc men thôi. Còn những sự săn sóc (rất cần) phải được người nhà lo lấy mới mong lành bịnh.

Tôi yêu đời, và cố nhiên yêu kẻ đồng bịnh vừa khỏi cùng một lượt với tôi. Ba hôm sau, được nuôi dưỡng bằng nước xúp và bột Ý, tôi đã chống gậy đi được, và mục tiêu phiếm du đầu tiên của tôi là trại III.

Kẻ đồng bịnh với tôi là một cô gái trung hoa hai mươi tuổi. Con gái đang thì, cái ngực tất phải to, thế mà tôi trông cô ta xẹp lép như con khô hố. Cái mền cô ta đắp, như dán sát vào chiếu nhà thương.
Người bạn đồng bịnh với tôi, đi không được như tôi, trong cơn nóng sốt không ăn, người nhà tôi có mua sérum glucosé cho bác sĩ bơm vào tôi, nhờ thế mà tôi không suy lắm. Con bịnh nghèo này thì khỏi hưởng món xa xỉ phẩm ấy mà nhà thương không sắm được vì kém tài chánh.

Tuy nhiên nhìn sơ cô gái, tôi cũng thấy là cô ta đẹp lắm. Hoa tàn kia mà còn mang dấu vết thời tươi thắm thay, huống chi đây chỉ là một đoá hoa thiếu nước lọ trong chốc lát thôi...

Cứ theo lời người cùng trại với Á Lìl thì cô ta là một đứa bé “mua”. Chú Xừng Hinh, chủ tiệm chạp phô ngoài chợ, năm xưa về thăm quê quán bên tàu, gặp mùa lụt lội đói kém, đã mua đứa bé ấy ba mươi đồng bạc. Bạc trung hoa với bạc Đông Dương thuở ấy tương đương giá với nhau, thì các bạn biết con bé ấy rẻ là dường nào.

Chú Xừng Hinh cũng khá, xem Á Lìl như con chú, chớ nhiều thằng khác, nó nuôi những con bé “nước lụt” ấy cho đến thời trổ mã, bắt làm lụng cho bù với số tiền mua, rồi lại hưởng luôn chúng nó là khác.

Như chủ nó, Á Lìl là người Triều Châu, phụ nữ Triều Châu để rìa tóc phủ lên trán, xem rất ngây thơ và có duyên. Họ lại đẹp người hơn tất cả các thứ người trung hoa khác. Á Lìl lại là gái dung nhan có hạng trong thứ người đẹp này, nên tình thương kẻ đồng bịnh của tôi bỗng nhiên tăng lên gấp bội, vì tôi mới có hăm ba tuổi.
Nếu như ở ngoài, chắc không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện yêu một ả nô tỳ dẫu là nó đang đẹp lộng lẫy. Nhưng ở đây, nó là con bịnh, đồng hạng với tất cả mọi con bịnh khác.

Một ngày tôi chống gậy xuống trại III đến hai lần, lần nào tới nơi, tôi cũng dừng lại nơi cửa trại để thở dốc một hơi rồi mới vào được.

Á Lìl đoán biết tình cảm của tôi đối với nó, nên lần nào mắt nó cũng sáng lên khi nghe tiếng gậy của tôi nện cồm cộp trên gạch.

Từ năm lên chín mãi đến bây giờ, nghĩa là từ năm bị bán và đưa sang nước “An Nam”, con nô tỳ này chưa được ai nói ngọt với nó lời nào cả. Bây giờ bỗng nhiên có một dân mặc bi-ja-ma riêng, lân la thăm hỏi nó, thì làm sao nó không rưng rưng lệ sung sướng cho được.

Mặc dầu chỉ được uống nước cháo với đường hạ, con ở Á Lìl cứ càng buổi càng hồng hào ra. Con gái dường như có dự trữ trong người những sức mạnh gì nó cứ chực vùng lên, không cần ăn gì cho bổ lắm, họ cũng cứ béo tốt ra.

Má Á Lìl đầy dần lên, trông ngon như hai trái đào ở bảy phủ triều châu mà Á Lìl thường ca tụng với tôi.

Trông Á Lìl, tôi nghĩ ngay đến những phi tần bên Tàu ngày xưa, cũng tuyển lựa trong đám dân “nước lụt” như vậy. Thì ra con gái Trung Hoa ngàn đời vẫn đẹp và vẫn để mà tiếp tế cho các cung tần. Con Á Lìl sẽ làm bé chú chệt già đại phú nào đây, một ngày kia!

Hôm ấy Á Lìl đã ngồi dậy được, nhưng còn phải ăn cháo hoa với hàm-uỹu. Cháo với vị mặn giúp Á Lìl tươi tỉnh hẳn ra. Nó tiếp tôi bằng một bài hát gì đó tôi không hiểu, nhưng rất thích nghe. Cái giọng mũi của người Triều Châu, khi hát lên nghe líu lo rất dễ yêu, nhứt là dễ thương, nghe như là họ khóc cảnh sống lầm than của họ.

Á Lìl cắt nghĩa cho tôi biết rằng bài hát ấy nói đến cái mặt trăng nho nhỏ và tròn tròn. Nó mới giải thích tới đó thì người nhà chú Xừng Hinh mang cho nó một gàu mên cơm. Mắt con A Lìl sáng hơn là khi tôi mới vào thăm nó nữa. Tôi hỏi:
- Nhà đem cơm vào từ bao lâu rồi?
- Ngóa thèm quá, chỉ mới nhắn đem vô lần đầu thôi.
- Lìl không nên ăn cơm vội. Bác sĩ không có dặn gì hay sao?
- Bác sĩ nói tiếng Tây, ngóa đâu có hiểu. Bà sơ biết chút ít tiếng An Nam, dặn đừng cho ăn đồ cứng, ăn thì lủng ruột chết liền.
Á Lìl nói xong cười ngặt nghẹo một hơi rồi tiếp:
- Đời thuở nào ăn cơm lại chết. Chỉ có không cơm ăn mới chết thôi.
- Lìl không hiểu, chớ ruột Lìl đã bị vi trùng làm cho mỏng lắm rồi đó.
Á Lìl lại cười một dây nữa mà rằng:
- Bị thuốc của thằng Tây làm cho mỏng thì có. Thầy biết sao không? Hổm nay ông Tây chích thuốc cho ngóa chết mà ngóa không chết, nên nay ổng bỏ đói cho ngóa chết đó.
Á Lìl nói rồi vừa kéo gàu mên cơm lại, vừa nói:
- Ăn cơm với ngừng (gừng) nấu giấm thì tốt lắm như người An Nam ăn với muối tiêu vậy mà, chết sao được.

Tôi bối rối quá. Hôm ấy có Mẹ Bề trên, người cai quản các bà sơ, từ Sài gòn lên Bình Dương thanh tra, nên bà Louise bận tiếp đón bà Mẹ Bề trên ấy, không còn ai cho tôi cầu cứu để thuyết lý Á Lìl. Các thầy khán hộ thì đã dặn con bịnh cử kiêng xong là nghe tròn phận sự, không theo dõi họ để ngăn cản gì nữa. Còn tôi, tôi ngại một điều, mà cũng chẳng khỏi.

Khi tôi giựt lấy gàu mên cơm, thì Á Lìl giận dỗi trách:
- Cố lứ nói thương ngóa, sao không cho ngóa ăn cơm?
- Vì thương mới không cho ăn.

Thật thế. Nếu Á Lìl chỉ là một cô gái xấu xí, tôi cũng không nỡ để nó tự tử một cách gián tiếp như vậy. Huống chi trong mấy ngày vui mừng tái sanh ấy, tôi lại điên dại mà yêu đứa nô tỳ này.

Lìl cười gằn hỏi:
- Thương gì lại bỏ đói?
- Vì ăn thì chết ngay.
- Đời thuở nào ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi! - Á Lìl lặp lại câu hồi nãy rồi khóc mùi mẫn.

Thật là em nhỏ, mất miếng ăn một cái là khóc bù lu bù loa. Nhưng không sao, tôi sẽ dỗ em nhỏ thì em nhỏ nín chớ gì. Tôi định bụng như thế, nhưng tôi lầm...

Lần đầu tiên, tôi rờ đến Á Lìl. Tôi vuốt tóc trán nó và nói rằng:
- Lìl nín đi, rán nhịn, rồi vài bữa khỏi hẳn, tôi sẽ đưa Lìl đi ăn tửu lầu triều châu Đại La Thiên ở Chợ Lớn, có nhiều món ngon bằng một vạn thứ cơm gừng giấm này. Ở Đại La Thiên có chè thịt heo nè, có cù lao nè.

Nhưng Á Lìl cứ khóc, khóc như mẹ chết không bằng, lâu lắm nó mới nói được trong tấm tức, tấm tưởi:
- Ngóa nhớ tía má của ngóa quá. tía má ngóa vì không có cơm ăn nên chết. tía ngóa chết đi được một tháng thì má ngóa bán ngóa cho Xừng hinh lấy tiền mua gạo cho mấy em của ngóa ăn. Nhưng cả nhà ăn giỏi lắm được mười ngày, chắc rồi cũng chết hết. cơm sao lại giết người? Không cơm mới nguy chớ.

Nghe Á Lìl nhắc tới nguồn gốc nó, tôi đau xót vô cùng. Cơm là giấc ác mộng của người Trung Hoa từ mấy ngàn thế hệ nay, cho đến đỗi họ gặp nhau, chào nhau bằng câu “Ăn cơm chưa?”.

Nhưng làm thế nào cho con bé dại dột này hiểu rằng không cơm thì chết đã đành, mà có cơm lắm khi cũng chết.

Vả, Á Lìl không cả quyết ăn vì thèm nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói của cả nhà nó thì làm sao mà thuyết lý nó được. có lẽ nó đang nhìn cơm mà nói thầm: “Ừ, ngày xưa cha mẹ tao không có mày nên chết, bây giờ gặp mày đây, tao có dung tha đâu! Tao ăn cho sống dai, mặc kệ lũ nó bày điều, đặt chuyện.”

Biết nói làm sao cũng không xong, tôi xách gàu mên mà đi; sau lưng tôi Á Lìl chửi rủa om sòm bằng tiếng Tàu. Nếu nó mà rượt theo được chắc nó một mất một còn với tôi để cướp cơm lại.

Chiều hôm đó tôi trốn luôn, đến sáng ngày sau mới dám chống gậy qua trại III.

Á Lìl vắng mặt trên giường. Thấy tôi ngơ ngác tìm quanh, một bà lão vừa ho sù sụ vừa nói:
- Nó chết đêm rồi thầy à, hồi năm giờ sáng người ta đã khiêng nó xuống nhà xác.
- Trời ơi sao lại chết? - Tôi giậm chơn mà hỏi câu ngớ ngẩn ấy.
Người khán hộ ở đâu sau lưng tôi đáp hộ bà lão:
- Chảy máu ruột!
- Sao lại chảy máu ruột?
- Vì ăn.
- Trời ơi!
Bà lão ho rồi lại nói:
- Thầy giựt cơm của nó mà trốn đi, thì chiều lại người nhà nó đem cơm vô nữa. Nó ăn xong, tối lại thì kêu đau bụng, vằn vọc tới khuya mới chết.
- Sao bà không mời bác sĩ giùm cho nó?
- Có, tôi có cho bà sơ hay, bà có kêu thầy đây.
Bà chỉ vào thầy khán hộ, thầy ta lắc đầu thở ra và giải thích:
- Tôi có tiêm thuốc cho nó, nhưng không gọi bác sĩ...
- Sao lạ vậy?
- Vô ích. Chỉ có sang máu mới có một chút xíu hy vọng cứu nó. Nhưng ai sẽ cho máu nó? còn thuê người để lấy máu(3) thì tiền đâu?
Là con trai, tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to. Đứng tần ngần giây lâu, tôi hỏi bà lão:
- Nó có nói gì hay không bà, lúc nó hấp hối?
- Có. Nó có kêu thầy...
- Kêu tôi? Có nhắn gì hay không?
- Nó kêu khóc rằng: “Thầy hai ơi, té ra quả thật không cơm cũng chết mà ăn cơm cũng chết. Ngóa nghèo dốt, biết đâu. Trước kia tía má của ngóa nghèo nên không cơm, ngày nay ngóa nghèo nên không biết, hai lần đều chết. Thầy hai ơi, ở lại mạnh giỏi nhá!”.

Tôi không còn là con trai nữa, nhưng tôi không khóc tiếc thương một cô gái đẹp. Tôi chỉ khóc vì một gia đình sống không tên không tuổi bị thảm kịch cơm làm tuyệt nòi, chỉ còn một mống thôi. Mống ấy trôi dạt đi xa ngàn dặm qua cái xứ có cơm nhiều này mà lại cũng không thoát khỏi thảm kịch cơm.

Ngày nay, mỗi khi nghe một người Trung Hoa chào ai: “Ăn cơm chưa?” tôi bâng khuâng nhớ lại mối tình yêu đầu và nao nao buồn mối tình thương đầu của tôi.

Chú thích:
[1]   Truyện Ăn  cơm  chưa  đã  được  Nghiêm  Xuân  Việt  dịch  ra  tiếng  Anh  và  tiếng  Pháp.
[2]    Sơ: chữ Pháp phiên âm (Soeur): nữ tu đạo Thiên chúa.
[3] Thuở ấy chưa có ngân hàng máu như ngày nay.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 20:33:09 bởi Thanh Vân>
Pì pế Hán

Tặng Lê Thương(1)

Đêm ấy, vào một đêm cuối năm, thi sĩ Tôn và vài người bạn văn nghệ được chủ nhơn một ban kịch Trung hoa mời đi ăn cơm tàu ở tửu lâu Soái Kình Lâm.

Tiệc tàn đã lâu, nhưng bên ngoài trời mưa, mưa tháng chạp, mấy năm mới rơi xuống một đám, không to, nhưng lạnh quá, nên ai cũng ngại ra về.

Tiếng nhạc Tàu, đại tấu ở một phòng tiệc bên cạnh, nghe ấm lây cả đến buồng của họ, đã bắt đầu lạnh như bên ngoài, lạnh vì câu chuyện về khuya rời rạc bởi ai cũng cạn đề.

Người đãi tiệc lo lắng sợ khách của ông ta buồn, nhưng mặc dầu bặt thiệp bao nhiêu, ông ta cũng không làm cho không khí ở đây linh động trở lại được.

Không có một người tân khách nào có mang áo mưa theo cả vì đang giữa mùa nắng; chủ nhà biết họ ngại dầm mưa ra xe, quyết ngồi lì ở đây, nên cố nặn óc tìm cách giải trí cho họ, nhưng tính mãi mà không tìm được mẹo gì.

Bỗng họ nghe văng vẳng một hơi nhạc khác hẳn, chơi bằng nhạc khí Âu châu. Chủ tiệc mừng rỡ trông thấy.

Hơi nhạc ấy lưu động, và cứ to dần lên.

Họ đoán biết những người chơi đàn đang đi trong hành lang dài, ở giữa những gian phòng của tửu lâu.
Dàn nhạc gồm có một cây vi-ô-lông, một cây ghi-ta tây Ban Nha và một phong cầm gì chưa biết rõ.
Bây giờ dàn nhạc đã đi ngang qua cửa phòng của họ.

Các nhạc công dừng lại, nhìn vô và dạo vài câu nhạc buồn.

Đó là hai người Trung hoa và một cô xẩm.

Chủ tiệc ngoắc một cái thì họ bước vào phòng, đứng khép nép mà đợi.

Thật là đau lòng! Một nhạc sĩ Việt Nam đàn đệm ở nhà hàng thường than số phận tủi nhục của nghệ sĩ, đêm đêm phải đánh đĩ ngón đàn để giúp vui cho một mớ người hành lạc say mê trước ly rượu hay trước một người đàn bà, thờ ơ không biết có tiếng đàn, không biết có một nghệ sĩ nhiều khi thanh cao hơn họ, đang phụng sự họ, để được sống những ngày cam khổ.

Nhưng dàn nhạc nhà hàng của nhạc sĩ kia dầu sao cũng giữ trọn nhân phẩm của nhạc sĩ.

Đàng này... họ như van xin cầu khẩn một buổi nghe đàn.

Trông họ, Tôn bắt nhớ ngay đến những dàn nhạc lưu động ở trung Âu và Đông Âu, rất đáng thương trong vở kịch Anh em Karamazov của Dostoievski do ban kịch CL. Bourrin đã diễn ở Sài gòn độ nào.
Tất cả tân khách trong phòng đều lắc đầu từ chối. Chỉ có Tôn là ái ngại nhìn trân á xẩm cầm cây vi-ô-lông.

Đây là một bông hoa đã về lúc phấn lợt, hương phai, không còn được ai nài nỉ cho nghe tiếng tơ huyền ảo nữa, nên đến phải ăn mày một cuộc nghe đàn.

Ngỡ Tôn thích nghe nhạc lắm, hay thích riêng gì cô xẩm, ông chủ gánh hát nói gì vài tiếng với cô ta.

Tức thì cô trao cho Tôn một quyển sổ con ghi tên các bản nhạc, để chàng lựa chọn, Việt có, Tây có, Tàu phần nhiều.

Tôn lắc đầu trả cuốn sổ lại sau khi lật sơ vài trang.

Thất vọng, cô xẩm cứ kéo liều một bản. Đó là một điệu nhạc Âu Châu mà Tôn đã được nghe, điệu granada. À, thật là mỉa mai: một người đàn bà tàu, đờn một bản Tây cho một người Việt nghe.

Tôn khoát tay lẹ bảo thôi. Rồi hối hận và để khỏi mích lòng á xẩm tội nghiệp này, chàng mỉm cười hỏi:
 - Có biết bản Tàu xưa chăng?

Á Xẩm dứt tiếng đàn, làm thinh suy nghĩ giây lát rồi dạo nhạc.

Bỗng chút Tôn nhớ lại những câu Tỳ bà hành:

Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay,    
Nghe não ruột mấy dây buồn bực.

Một điệu nhạc tàu xưa trỗi lên, tuy không được:

Dây to dường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.

Nhưng cũng đã thấm thía buồn lắm rồi.
Á Xẩm đàn xong bản nhạc Tàu, lãnh tiền ra khỏi phòng thì trời cũng vừa dứt hột.
Vài câu hẹn hò tái ngộ xã giao, với lời cám ơn, rồi chủ đưa khách xuống lầu.
Họ vừa ra khỏi cửa Soái Kình Lâm thì trời bắt đầu mưa lại. Mưa tro rỉ rả thôi, nhưng cũng đủ làm cho họ khổ lắm vì trong khi bao nhiêu khách hàng của cái tửu lâu sang trọng ấy đều lên xe nhà, họ lại phải dầm mưa mà đi cầu bơ cầu bất như một đám tàn binh. Thi sĩ xông pha mưa gió chỉ nên thơ ở đâu, nhưng ở đây thật là tủi thân.
 
Họ đi về phía góc đường tổng Đốc Phương(2) và Đồng Khánh (3) để đón xe tạp xế về Sài gòn.

Khi băng qua đại lộ tổng Đốc Phương, họ chợt thấy á xẩm hồi nãy co ro mau bước, hộp đờn giấu dưới ngực của cô.

Qua mặt á xẩm, Tôn không đừng được, day lại nhìn.

Chợt thấy Tôn, á xẩm ngạc nhiên như tự hỏi:
- Khách đi ăn cao lâu mà cũng dầm mưa về bộ như nhạc sĩ nghèo à?
Bấy giờ mưa nặng hột. Tự nhiên không bảo nhau mà á xẩm và họ đều chạy vội vào núp dưới hàng hiên của một hiệu thuốc bắc đường Đồng Khánh.

Gió từng cơn thổi tạt vào hiên những hạt bụi nước mưa nhiễn bân nó chích vào da mặt họ như những mũi kim đâm nhẹ vào thịt.

Á xẩm lạnh run cầm cập, và bối rối lo cho cây đàn phải bị ẩm, mà mãi không biết giấu nó ở đâu.
Thấy khuôn cửa hiệu thuốc Bắc hủng sâu vô trong, Tôn đưa tay chỉ á xẩm bước vào đó, rồi bỏ hàng hiên và các bạn, chàng cũng vào theo.

Ngoài kia, những chiếc xe huê Kỳ bóng lộn, êm ái lướt qua. Đèn trong xe ấm hiểm, soi sáng nhiều gương mặt thịt đang cóc cần nghệ thuật một cách đế vương.

Không bao giờ Tôn tủi thân nghệ sĩ hơn đêm đó hết. Trong giây phút, chàng nhớ lại nhiều việc rất là không vui. Một người bạn văn, ao ước một cây viết máy EV đã ba năm rồi mà vẫn chưa mua được. Tệ hơn nữa, một thi nhơn muốn có giấy tốt để làm thơ, mà cũng không làm sao mua nổi một ram.

Một luồng gió lạnh thổi qua. Tôn sực nhớ lại á xẩm bên cạnh vì chàng vừa nghe hai hàm răng cô đánh vào nhau giòn như người ta nhảy thiết hài.

Day qua nhìn á xẩm miệng đánh bồ cạp, nách kẹp hộp đờn để sang cho nó đôi chút ấm thừa, một lần nữa. Tôn lại nhớ đến cuộc gặp gỡ trên bến tầm Dương ngày xưa kia.

Cùng một lứa bên trời lận đận.

Câu thơ của Bạch cư Dị trong bài hát tỳ Bà đêm nay sao mà vang dội như tiếng kêu thương của ngàn thu cũ.

Cơn lạnh của ả ca nhi kia, có phải chăng là cơn lạnh của chính chàng, của bao nhiêu là nghệ sĩ khác?

Tôn là một thi sĩ mà tài thơ đang vào độ nảy nở tột cùng. Thế mà chàng đã trải qua những ngày cơ cực, thì còn nói gì vài năm nữa đây, khi thơ sẽ cạn nguồn, lời sẽ hủ lậu, thì thật là “không kẻ đoái người hoài”.

Ngậm ngùi, chàng nhớ lại cảnh đời buồn tẻ của những bạn văn đã về chiều; những ngày chớm nở của họ vui rộn bao nhiêu, thì những ngày tàn tạ lẻ loi bấy nhiêu, buồn như cảnh một vị quan xưa về hưu, ô hô xe ngựa, khách khứa, lễ trình.
Còn nhớ đến chăng mấy bạn văn già, chỉ có những cậu học trò biết người qua tác phẩm, không vồn vã lúc đương thời cũng không thờ ơ khi tàn nghiệp.
 
Người ta mời chàng đi ăn đêm hôm nay chỉ cốt để khoe với thế gian rằng người ta quen với nghệ sĩ, một nghệ sĩ đang lên. Vài năm sau, một nghệ sĩ khác thay cho chàng để đi làm món trang sức cho đám tiệc của những phú ông sính văn nghệ khác.
Tôn tiếc rằng đã không ngông được như thi sĩ Đức Henri Heine, thi sĩ Pháp La Fontaine để từ chối mọi cuộc đưa đón mời mọc của những ông nhà giàu thích ké cái thơm lây của văn nghệ sĩ.
Nhưng chàng hối hận ngay. Dầu sao, các ông nhà giàu này cũng còn biết đến văn nghệ sĩ. còn khối ông nhà giàu khác chẳng coi văn nghệ sĩ ra cái cóc rác gì hết thì sao!
Cùng một lứa bên trời lận đận
Không bao giờ Tôn thấy chàng thân hơn nữa với một người chỉ quen nhau với chàng vì một chuyến đò này.

- Tỳ Bà hành?
Tôn đột ngột hỏi á xẩm như vậy. Ý chàng muốn nói: “Cô có biết bài Tỳ Bà hành của Bạch cư Dị chăng?”, nhưng dốt tiếng Tàu và không chắc á xẩm hiểu câu tiếng Việt rắc rối này, nên mong ba tiếng chữ nho ấy giúp cô ta hiểu.

Á xẩm ngơ ngác nhìn chàng, Tôn lại đổi giọng của ba tiếng trên kia, hỏi nữa:
- Ty Bá hành?
Cô xẩm lại càng ngơ ngác.
- Xý Bá hang? - Tôn lại hỏi bằng giọng mới.
 Xý Bá hang à?
Cô xẩm hỏi gặng nhưng vẫn lắc đầu.
- Pì Pế Hán?  
Nhận thấy á xẩm để tóc rìa phủ lên trán, chàng biết ả ta là người Triều Châu, và nhơn biết giọng đọc của Triều Châu cứ trắc của chữ nho, họ đọc ra bằng và ngược lại, nên Tôn mới đổi giọng cuối cùng, thử một lối đọc mà chàng mong người Triều Châu hiểu.
Thật là may mắn hết sức. Á xẩm hiểu thật, lặp lại câu ngắn của chàng đến hai ba lần, vừa nói vừa cười, vừa gật đầu lia lịa.
- Pì Pế Hán! Pì Pế Hắn! Hò Pì Pế Hán.
Ả ta mừng rỡ hết sức, đã đoán hiểu được câu hỏi của Tôn, vì chàng đã nói đúng tên của bài thơ Tàu ấy bằng thổ ngữ của cô.

Nhưng nỗi mừng chưa trọn, á xẩm bỗng chợt hiểu những ý nghĩ thầm kín của chàng, chợt liên tưởng như chàng đến người ca nhi già gảy đàn tỳ Bà trên vàm sông Bôn cho một thi sĩ lưu lạc nghe. Mặt cô bỗng đượm buồn hơn cái đám mưa nằng nặng ngoài kia.

Á xẩm nhìn Tôn, nhìn chiếc sơ-mi đã nhàu nát, chiếc cà vạt đã ngả màu, và chắc cô cũng đã liên tưởng đến một vạt áo lam hoen bụi viễn tái.

Cô ngâm nho nhỏ những gì mà Tôn đoán hiểu như là:

Kim niên hoan tái phục lai niên.
Mộ khứ triêu lai, nhan sắc cố
......
Môn tiền lãnh lạc,  xa mã hy.

Bỗng Tôn nghe cô ta nấc lên mấy tiếng.
Dưới ánh đèn lờ mờ, vài giọt nước chảy lăn trên má cô. Lệ hay nước mưa?

Pì Pế Hán! Pì Pế Hán!”

Á xẩm thổn thức lặp lại tên của bài thơ Bạch cư Dị đến mấy lần.

Đêm hôm đó, viên tư Mã tưởng tượng của đất Giang Châu không cho lệ thấm lam y vì trong giây phút trấn tĩnh, hắn thấy mình chưa chịu chiến bại như ả ca nhi kia.
 

Chú thich:
[1]   Lê Thương (1911-1996) là một nhạc sĩ tài danh, tác giả Hòn Vọng Phu. Biển sau giông tố...
[2]    Nay là đường châu Văn Liêm.
[3]    Nay là đường trần hưng Đạo.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 21:58:41 bởi Thanh Vân>
Cho tay này lấy tay kia(1)


Thân tặng tiện nội


Bịnh viện Bình Dân một buổi sáng. Giáo sư H. đi đến giường số 17 thì dừng lại. Sau lưng ông, người ta dồn đống như tại một ngã tư phố Sài gòn, xe dồn cục lúc đèn đỏ cháy lên.

Họ đứng sau lưng ông đông trên hai mươi mạng; bốn anh nội trú, tám anh ngoại trú, mười sinh viên thường và hai nữ y tá.

Bác sĩ H. là một giáo sư y khoa lỗi lạc mà thủ thuật đã được nhiều tạp chí chuyên môn Pháp và Mỹ nói đến, nên hễ ông đi thăm bịnh là bao nhiêu người thích tìm tòi học hỏi đi theo đông đủ sau lưng.

Khi họ dồn lại một nơi thì con bịnh không còn biết ai là “bác sĩ thầy” nữa cả. Giáo sư người thấp bé, ăn mặc rất khiêm tốn, cái đầu trọc lóc, thật kém đẹp, kém oai hơn sinh viên nhiều. Ông lại pha trò suốt ngày, khiến người ta tưởng đó là một thanh niên vui tính mới vào học.

Giáo sư quay lại hỏi nội trú Thành, người gác nhà thương đêm rồi:
- 17 mới vào à? Đâu quan sát đâu?

Nội trú Thành lướt tới, tay cầm xấp tài liệu rồi nói như giảng bài, cho tất cả sinh viên đều nghe:
- Người này bị chứng ung thư phổi. Dấu hiệu chánh: đầu móng tay bầm tím và co quắp lại. Những dấu hiệu như: nghẹt thở, gầy ốm nhanh chóng trong mười lăm hôm...
Giáo sư vừa lắng tai nghe phúc trình của anh nội trú giỏi nhất nhà thương vừa bước tới kiểm soát lời anh ta.

Khi Thành phúc trình xong, giáo sư hỏi:
- Phụ giáo đâu?
Lúc ấy, người phụ giáo ở ngoài vừa vào. giáo sư nói:
- Bác sĩ à, cho chuẩn bị để mổ ngay.
- Chuẩn bị rồi, thưa Thầy.
Đường - sinh viên thường, năm thứ nhì - chen tới hỏi:
- Thưa Thầy, liệu cứu hắn được hay không?
Họ trao đổi ý nghĩ với nhau bằng ngoại ngữ, nhờ thế con bịnh không hiểu được nên khỏi sợ sệt.
- Rất có thể thành công - giáo sư khiêm tốn đáp.
Đường lại hỏi thêm:
- Thưa Thầy, bịnh sẽ tái lại hay không?
Giáo sư mỉm cười:
- Nếu nó không tái lại, hóa ra loài người đã chữa ung thư được rồi à? Không, vài năm sau hắn sẽ chết. cố gắng của khoa học là lùi phút chót của con bịnh lại, lâu chừng nào hay chừng nấy.

*  *  *

Giáo sư đã thành công. Không ai ngạc nhiên hết vì ông ấy mổ vững như thợ thiến gà.
Nhưng mấy hôm sau, con bịnh bị nhiễu chứng. Đầu tiên là chứng nghẹt phát quản phổi. Có những giọt máu khô sau cuộc mổ mà con người không làm sao tìm thấy được. Một giọt máu khô ấy theo vết thương mổ, chạy vào phát quản, rồi bị dòng máu đẩy đi. Nhưng một khi kia, gặp nơi phát quản hẹp quá, thế là nó chận ngõ đón truông không cho sự tuần hoàn làm việc.

Lại phải mổ. Mà trước khi mổ phải khó nhọc tìm xem tên phiến loạn phá hoại sự lưu thông ấy trốn chắc chắn nơi đâu?
Hệ thống lưu thông máu huyết vừa được giải tỏa thì con bịnh lại bị nhiễm trùng độc.

Vì mổ mãi nên vi trùng có dịp xâm lăng cơ thể anh ấy, như mở cửa thành cho quân địch vào ấy mà! Một thành phố kiểm soát chặt chẽ bao nhiêu cũng khó ngăn sự len lỏi của ẩn binh. Miệng mổ và dụng cụ được khử độc kỹ lưỡng bậc nào, cũng không chận toàn thể vi trùng đột nhập.
Tất cả nhà thương đều được huy động để săn sóc con bịnh, tất cả dụng cụ, thuốc men đều được sử dụng để đối phó đến hàng chục nhiễu chứng mà hắn vướng phải.

Ở bịnh viện Bình Dân, trại nào cũng là trại do y khoa đại học phụ trách để nghiên cứu cả. Ngoài, người ta không biết, nghe nói học trò đến học thì sợ lắm, ngại họ dùng các con bịnh làm đám đất thí nghiệm. Sự thật thì y khoa đại học cẩn thận hơn cả nhà thương thường, không hề thí nghiệm càn như người ta ngỡ. trái lại sự săn sóc thì châu đáo đến mực kiểu mẫu cho sinh viên noi theo. Còn sinh viên thì phần đông tận tâm, cố gắng để được hành nghề.

Thành thử con bịnh, nhứt là những con bịnh mắc chứng nguy, được họ chiến đấu quyết liệt với thần chết để cướp hắn lại. Bao nhiêu tự ái đều nhảy vào mặt trận: tự ái của ông thầy quyết cho học trò tín nhiệm, tự ái của sinh viên quyết chứng tỏ mình hiểu biết và làm được. Ngoài ra, lương tâm nhà nghề và tinh thần đồng đội cũng tiếp chiến với bao thứ kia.
Sáng sáng, xem biểu đồ nhiệt, họ lặng thinh mà thở dài, hoặc nhảy nhót tưng bừng ôm nhau mà cười nói:
- Ta đã thắng!

Sự thắng bại thật là bất phân. Vài hôm bên tử thần muốn làm chủ tình hình, hôm khác bên đoàn y khoa lấn nước.

Hai đối thủ tranh nhau từng tấc đất, rình rập nhau để chụp lấy sơ hở của bên kia. Bên tử thần cứ lù lù tiến tới trong những bước chậm rãi một cách hiểm ác, chậm rãi mà chắc chắn vì hắn tin không con mồi nào thoát khỏi hắn cả.

Bên đoàn y khoa, hôm thì tấn công ồ ạt, hôm lại dùng chiến thuật du kích để khai trừ từng thằng một, những binh tướng lẻ loi của thần chết như là động kinh, vọp bẻ v.v...

Không giờ phút nào mà cuộc chiến đấu không diễn ra và kẻ chịu đựng nhất trong bọn là các nội trú. Đời y khoa không gì khổ hạnh bằng mấy năm nội trú. trăm dâu đều đổ lên đầu nội trú, đến nỗi mấy anh ấy ăn ngủ đều mặc áo choàng trắng sẵn trong mình, thảo nào mà nhiều vị lương y không khoe bằng bác sĩ mà lại biên lên bảng hiệu: cựu nội trú cho những người ngoài khiếp phục chơi. Nội cái việc thi đỗ vào nội trú cũng bằng là vượt Vũ Môn cấp nhì vậy.

Ngày thứ năm mươi sáu, sốt lui một cách đột ngột.

Tử thần dường như thấy khó thắng, nên nửa đêm rút đi êm thắm và trật tự.

Mười một giờ đêm hôm đó anh nội trú Ân đi soát lại các giường lần cuối cùng để vào buồng ngả lưng một lúc. Anh rờ lên trán anh 17 thì nghe mát lạnh. hoảng hốt và mừng rỡ, anh chạy vào buồng đánh thức bạn đồng khoa dậy:
- Giặc! giặc! tụi bây ơi!
Bọn kia giụi mắt hỏi:
- Bịnh vào à?
- Không, giặc lui rồi.
- Giặc nào?
- Giặc 17.
- Hắn chết rồi à!
- Không, thủy hạ.

Cả bọn đều nhảy xuống giường. Anh tuân hét:
- Đi lấy Potion de Todd mau lên!

Khi nhiệt độ xuống thình lình như thế, con bịnh cũng nguy vì hắn có thể bị nhiễu chứng khác, nên phải cho hắn uống Potion de Todd cho hắn ấm trở lại.

Bọn sinh viên chạy rần rần ngoài trại bịnh, vây lấy con bịnh mà tên đã bị quên mất, và được gọi là 17. 17, cái tên ám ảnh, cái tên khủng khiếp làm cho họ mất ăn mất ngủ gần hai tháng trời này.
Con bịnh vừa tỉnh, ngơ ngác nhìn đám người lạ mặt đang cúi xuống người hắn. Một anh lạ mặt nắm lấy tay hắn để bắt mạch tay.

Từ đó đến sáng, họ lui tới 17 không ngớt, hỏi hắn đủ điều, thật khổ sở cho hắn.

*  *  *

Giáo sư H. vỗ vào bụng 17, nhe răng ra cười mà rằng:
- Vài hôm, anh về, rán mà ăn phở, anh gầy lắm rồi!
Cả bọn sinh viên đều cười rộ lên. Giáo sư H. là người miền Bắc. Họ ngỡ giáo sư quảng cáo cho món ăn quê hương ông nên cười chế nhạo tự ái địa phương của ông ta.
Giáo sư như đoán hiểu, day lại giải thích bằng ngoại ngữ:
- Các anh đừng lầm. Người bình dân này không mong ăn được gan sống, trứng sống hoặc các thú ăn bồi bổ khác. Món ăn bổ nhứt và rẻ tiền nhứt mà hắn có thể hưởng được là món phở. tôi khuyên thiết thực chớ không phải vì tự ái địa phương, mà cũng không đùa.
Con bịnh được cho nằm thêm mười hôm để quan sát lại.

Tất cả đoàn y khoa, ai cũng xem hắn là tác phẩm của họ. Họ đã để bao nhiêu là mồ hôi, là tâm trí vào con người của hắn, nên họ cứ ngỡ là chính họ đã tạo hắn ra.

Vì thế họ đã thương mến hắn như thương mến một đứa con đẻ. Còn sót lại bao nhiêu ngày ở chung với hắn, họ cố thương mến vội vàng để vớt vát được bao nhiêu hay bấy nhiêu những mảnh tình vụn giữa con bịnh và họ.

Vài hôm nữa đây, hắn sẽ trở về làng xa hẻo lánh của hắn và không bao giờ còn nghe ai nói đến tên hắn nữa. còn đâu con người hay ho mà mỗi giây phút mỗi nhắc nhở cho họ tài giỏi, tận tâm và thành công của họ nữa.

Anh nông dân đi đất ấy được mấy cô sinh viên thêu tặng nhiều chiếc khăn tay rất đẹp, sực nức nước hoa.

Mấy anh sinh viên thì tiếp tế thuốc thơm ngon ngoại quốc, anh ta không biết cất đâu cho hết, vì giáo sư căn dặn anh đừng hút thuốc điếu.

Những bữa ăn của anh là những bữa ăn của ông hoàng; phần ăn nhà thương của anh, bọn sinh viên lấy cho công nhân nhà thương hết, rồi thay vào đó nào là gà nấu đậu, cà ri dê, sô cô la... đủ thứ món ngon vật lạ mà họ xuất tiền ra để mua sắm.

Bàn đầu giường của 17, ngày nào cũng được trang trí bằng hoa thơm, một đĩa trái cây, và giường anh được trang trí những cô khách sinh viên xinh xắn hay ngồi xề lại để nói một câu chuyện ngăn ngắn với anh.

Lần lần giường 17 biến thành câu lạc bộ của hai mươi sinh viên trai và gái, nội, ngoại trú và thường. Họ trực họp ở đó trong những phút ngớt việc, họ hỏi thăm công việc đồng áng của anh ta, họ trao đổi tin tức với nhau, kẻ nắm chơn anh, người vuốt tóc anh mà đàm đạo như trong sa lông tân khách vuốt ve một lọ cổ quý.
Còn ba hôm nữa hắn ra nhà thương.

Còn hai hôm nữa...còn một hôm nữa...hôm kế chót họ bu lại đó mà làm thinh, bùi ngùi nghĩ đến sự vĩnh biệt hôm sau: “Bá niên vạn kiếp nan tao ngộ”! Cả đến giáo sư H. Và ông phụ giáo làm việc bù đầu mà cũng tìm cách ghé qua để nói đùa với hắn một vài câu, nói bông lơn ngoài miệng mà lòng ngậm ngùi thương ai.

Hôm sau đó, giáo sư H. đi thăm bịnh, chừa giường 17 lại đặng thăm sau hết để giã từ. Khi ông và đoàn sinh viên tới nơi, con bịnh đã sẵn sàng khăn gói.

Bác sĩ chưng hửng hỏi:
- Về ngay bây giờ à? Thường thường cho về hôm nay thì chiều lại hay ngày sau người ta mới về chớ.
- Thưa bác sĩ tôi nhớ nhà quá.
- Ừ thì về. Nhớ rán mà ăn phở nhé!
Giáo sư bị sinh viên gán cho tục danh là ông “Thầy phở” vì ai ra về, ông ấy cũng căn dặn ăn phở cả.

17 từ biệt từng người đã săn sóc mình, từ biệt từng người những con bịnh khác rồi mang gói ra đi.
Giáo sư H thấy sinh viên trìu mến con bịnh quá, đoán biết tâm trạng họ, nên thấy cần đề cao khoa học để cho tự ái của họ lùi về đúng chỗ của nó. Ông nói:
- Nếu biên sổ tính tỉ mỉ thì con bịnh này đã tiêu phí của công quỹ gần tám mươi nghìn đồng trong non hai tháng trời về tiền cơm, tiền thuốc, tiền công mổ xẻ v.v...

Tuy thế công quỹ không cho hắn bao nhiêu đâu, mà các anh các chị, tuy khó nhọc cũng chẳng cho hắn bao nhiêu. Chính khoa học đã cho hắn tất cả. Từ phương pháp tối tân, dụng cụ mổ xẻ tối tân, đến các thứ thuốc trụ sinh đều là công của khoa học, của phương pháp tìm tòi rất khoa học và của khoa học.
Vừa nói ông thầy lỗi lạc và đám sinh viên vừa theo dõi bằng mắt con người tốt số đã thoát khỏi nanh vuốt của thần chết.

Hắn ra tới vỉa hè, bước xuống phố để băng ngang qua đường hai Mươi. Hắn vui mừng nên đi xăng xái, cúi xuống nhìn lớp nhựa đen, như đang nghĩ đến ruộng nương xa xôi mà hắn rời bỏ mấy tháng nay. Hình ảnh một túp lều tranh bên bờ rạch chắc đang hiện lên, thân yêu hơn bao giờ cả.

Bỗng một chiếc cam-nhông, một sản phẩm của khoa học, từ phía Ngã Bảy lù lù chạy tới, đâm vào hắn. Chiếc bọc gói văng ra xa, còn hắn thì ngã xuống rồi bánh xe nặng đè lên ngực hắn.

Cả đoàn y khoa đều kêu trời lên rồi đứng lặng người, chết sững trước sự bạc bẽo của số mạng.

Chị ngoại trú hương rú lên một tiếng rồi ngất đi trên cánh tay anh Thập, một sinh viên mới vào học, ngơ ngác không hiểu gì cả.

Anh ngoại trú Danh đấm ngực mà kêu:
- Trời ơi, bao nhiêu công của trong hai tháng trời! Thật là vô lý!
Giáo sư H. chỉ thở dài mà nói nhỏ:
- Khoa học đã lấy lại tất cả những gì mà khoa học đã cho.


Chú thích:
[1]   Truyện này do một mẩu chuyện nhỏ ở tạp chí Sélection gợi hứng và viết theo tài liệu chuyên môn của sinh viên H. ở Sài gòn
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2020 22:24:45 bởi Thanh Vân>
Hồn ma cũ


Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa:
Thổ ngơi thơm phức; hồn ma cũ...
B. N. L



Kỳ đẩy xe đạp qua các bờ đất, ra tới ngã ba cầu Kinh thì mặt nhựt mới tô lợt son tàu lên tấm nền trời dựng sau những ngọn dừa nước ở hướng Đông.

Từ đó mà ra Sài gòn, vào giờ đường vắng, chỉ mất mười lăm phút là cùng; Kỳ cũng chẳng có công chuyện gì cần phải làm sớm. Thế mà chàng cũng cứ dậy khuya mà đi như mọi ngày.

Qua đường hàng Sanh, qua đường hàng Bàng, qua đại lộ hai Bà trưng, xuống “Một hình”(1) rồi đổ ra chợ cũ. Kỳ đi thật là lòng vòng, do các nẻo xa nhứt để tới đích.

Chợ cũ còn dụi mắt, trừ các tiệm cà phê. Kỳ sung sướng như về quê nhà và vào ngay tiệm nước ở góc hai phố X. Y.

Chàng ngồi trước chiếc bàn con đặt sát vách, không nhìn ai hết, cốt tránh thấy. Chàng muốn nghe nhiều và ngửi sâu. Ở đây có những tiếng động, những âm thanh, những mùi vị quen thuộc và rất thân yêu mà chàng mến thích.

Ngoài sau bếp, người thợ xíu mại bằm thịt bằng hai con dao tàu, mà hắn hạ lưỡi dao xuống thớt theo một nhịp điệu kỳ lạ, nghe như một khúc nhạc man rợ nhưng vẫn êm tai. Những anh phổ ky hô món ăn hoặc hô số tiền mà khách hàng phải trả, không phải bằng văn xuôi, mà bằng lời hát có ca có kệ đàng hoàng. Khi một người khách đứng lên, hắn hát to cho anh thủ quỹ nghe: “Ạ... a... người đội nón nỉ đen á... à... à... sáu đồng lẻ bảy cắc ạ... a...” Lẽ cố nhiên là hắn hát bằng tiếng tàu, thổ ngữ Quảng Đông nên câu hát thành dài lê thê vì những á... a, á... à, nghe rất thú vị. Có một câu ngắn: “Bạc tẩy tảl tống mùl” mà hắn làm được một bài hát nhỏ, nghê nga đến lúc tách sữa trứng gà bưng ra tới bàn khách, bài hát mới dứt.

Mùi bánh bao hấp từ các xửng dưới lò bốc lên, mùi cà phê rịn ra từ những chiếc vợt đầu tiên trong ngày, tất cả những tiếng và hơi ấy tạo thành một không khí mà Kỳ rất thích.

Ngày nay các tiệm cà phê các chủ phần đông đã đổi mới, không ca hát lăng nhăng nữa, không bằm dao trên thớt theo một nhịp điệu riêng nữa, nên Kỳ chỉ vào tiệm này thôi. chàng đã ghiền không khí ở đây, ghiền cả thời gian nữa; phải ngồi tiệm vào lúc thật sớm như bây giờ mới hưởng đầy đủ không khí một tiệm cà phê cắc chú ngày xưa.

Cho đến cái dơ bẩn của tiệm này chàng cũng yêu, vì đặc tính ấy là một yếu tố không khí kia, thiếu nó không xong. Những anh phổ ky lén cảnh sát, cởi trần ra, chàng thấy là ngồ ngộ, hợp với toàn thể của tiệm nước bình dân này. Ăn mặc đàng hoàng và sạch sẽ, họ sẽ giống những lọ sứ cổ bày trong nhà tranh.
 
Kỳ còn ghiền một yếu tố nữa mà không phải lúc nào cũng đòi hỏi được. Đó là những buổi sáng sớm mưa dầm. Bên ngoài mưa gió lạnh mà ngồi được trước một tách cà phê lên hơi, bên cạnh cái lò chụm trấu thì thú tuyệt vời. Càng thú hơn, khi nghe một anh phổ ky đối đáp với khách hàng:
- Nị không lạnh sao mà ở trần?
- Hà cái lầy pên Tàu lặng lắn (lạnh lắm) qua pên nây lực lắn (nực lắm), khoong pết (không biết) lặng mà..
Nghe câu nói ấy không khỏi nghĩ đến một xứ rét run, và mình cảm thấy ấm hơn trong tiệm này.
 
Kỳ ngồi làm thinh, không kêu món uống. Thế mà anh phổ ky lại hát lên: “Vách bên trái, cà phê không thật đậm, nhớ lược bằng vợt mới, nghe không.” rồi người thủ quỹ kiêm nhơn viên rót cà phê, nhìn chàng một cái đoạn thi hành y theo lời phổ ky dặn dò.
 
Đó là yếu tố quan trọng nhứt của không khí tiệm này. Đây là một tiệm cà phê lâu đời và nhứt là một tiệm cà phê giữ truyền thống của họ nên họ có những người khách lâu năm, rất lâu năm. họ thuộc lòng từ ý muốn nhỏ của mỗi người khách: người này ba muỗng đường; người kia một muỗng rưỡi thôi. còn khách thì không thốt ra lời nào cũng có kẻ bưng tới tay món uống vừa ý.
 
Kỳ lấy muỗng nhỏ dò đáy ly cà phê đen như thuốc bắc: chỉ có độ một muỗng đường cát dưới ấy thôi, thật là đúng sở thích của chàng. Chàng gác muỗng lên miệng dĩa, cúi xuống hớp một hớp cà phê nóng, chấp chấp lưỡi để lắng nghe mùi thơm của nó, đoạn ngước lên, tay giỡn với mấy cái dĩa giò cháo quảy và bánh bao.
 
Chàng phải ngồi đây tới chín giờ mới gặp bạn được thì mặc sức tiêu phí thời giờ. gặp bạn? Ừ, hôm nay Kỳ bị mấy thằng bạn văn bắt ép phải gặp mặt chúng nó tại nhà một đứa. Để làm gì? Để quyết định thái độ về hai chữ ph và f. Nghĩ tới đây, chàng bật cười. Quanh chàng, không ai thèm chú ý đến cử chỉ đó. Khách hàng thức giấc thật sớm đều kỳ dị như thế cả. Đó là những anh hàng phở, uống vội vàng để còn phải về lo hàng mình; những anh Ấn Độ gác đêm cho các hãng tây bận ả ra, ả ra với nhau; những anh soát vé ô tô buýt vừa uống vừa xem chừng đồng hồ tay. Người nào cũng sống riêng với nội tâm của mình, vui riêng, cười lẻ, khóc thầm.
 
Kỳ bật cười vì thấy vấn đề chữ f không làm chết ai, không bỏ đói ai bao giờ, thế mà bọn nhà văn ấy ăn ngủ không được vì nó. Lý lẽ của lũ ấy đưa ra như thế này: viết ph thì đúng với giọng đọc của người Việt khi xưa. Nhưng người Việt ngày nay phát âm sai, đọc ph y hệt chữ f; vậy nên viết f cho đúng theo giọng đọc thời bây giờ và cho gọn. cần phải họp cho đông đủ, thảo luận rồi biểu quyết, rồi thực hành để thiên hạ bắt chước theo.
 
Kỳ không thể từ chối gặp bạn. Nhưng chàng đã nhứt quyết chống lại chữ f. Nghĩ tới quyết định này chàng lại bật cười lần nữa. Thật là quan trọng hóa con tép. Tưởng chống lại lý thuyết nào, ai ngờ chống lại... chữ f tí hon.
 
Tại sao chàng chống lại chữ f chàng cũng không hiểu cho rõ lắm. Nhưng trực giác của chàng nói thầm cho chàng biết rằng viết như thế không ổn.
 
Soát lại công việc hôm đó, chàng nghe yên lòng. chỉ có bấy nhiêu rắc rối đó thôi, rồi an tâm được tới chiều để viết lách.
 
Kỳ nâng ly lên uống một ngụm cà phê còn quá nóng, chưa nốc được một hơi dài. Vả chàng lại mong cho nó nóng mãi như thế này, uống chấm dứt mới ngon. Cà phê uống ở nhà thật vô vị, uống nơi tiệm khác lạt phèo. Ngồi đây mà tận hưởng cà phê và các thứ khác dính líu chặt chẽ vào cà phê này, hay biết bao!
 
Ngày nào cũng thế, chàng ngồi đó như một vị tiên bất tử. Khách hàng hết lớp này đến lớp kia ra vào, y như các thế hệ người kế tiếp nhau mà tàn mọc trên dương thế, còn chàng thì ở ngoại càn khôn mà nhìn những kiếp sống phù du này.
 
Ngộ quá, mỗi giờ khắc, một hạng người khác nhau. Sau chàng là những người làm công các tiệm chung quanh; hết họ, đến những kẻ đi làm; hạng sau cùng là những người không nghề nghiệp, hoặc không thời dụng biểu nhất định.
Khi mà không khí ưa thích lần tan cùng một lượt với đèn tắt, ngày lên, Kỳ mới chú ý nhìn người và vật chung quanh. Những gương mặt của thầy thợ quen mỗi ngày, nhìn mãi không thấy gì lạ mà không có thì không xong.

Cây cối quanh làng ta có khi vướng mắc ta lắm. Nhưng nếu có một hỏa hoạn xảy ra trong làng, mọi vật đều bị thiêu hủy thì ta tiếc những gốc cây quen thuộc biết bao nhiêu! Nó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao.

Hôm nay một thầy lại đem theo một thằng con nhỏ. Thằng bé độ mười tuổi, tay cắp cặp da, chừng như đi học đâu đó mà hôm ấy không người nhà đưa nên người cha mới phải bận bịu như thế, lúc đi làm.

Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chàng phổ ky đem món uống lại nó mới nói:
- Ba ơi, con muốn uống cà phê như ba!
- É, trẻ con không nên uống cà phê.

Người cha vừa nói vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con.

Kỳ bỗng nhiên giựt mình, ngó dáo dác như nghe ngóng cái gì. Không, không có gì cả! Nhưng chàng không an lòng, có cảm giác là tiếng động gì, hình ảnh gì vừa thoáng hiện lại trốn đi và đang lẩn lút đâu đây. Tiếng động ấy, hình ảnh ấy ra sao, chàng không rõ, nhưng cứ tin là nó dễ yêu lắm.

Liền đó, một cuộc săn đuổi ráo riết. Kỳ rượt theo một ấn tượng, một cái gì vô hình, lấp ló đâu đây. Những gì xảy ra quanh chàng, bỗng giờ phút này sao mà nghe thấy rất xa xôi như đã nghe thấy đâu từ kiếp tiền thân.

Thình lình Kỳ ngây người ra: chàng vừa thấy người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống.

cảnh này, chàng đã thấy rồi... trời ơi... lâu lắm... những hai mươi năm về trước. Đó là lối uống trong dĩa của ông ngoại chàng, một ông cụ nhà quê thỉnh thoảng dắt cháu ra chợ để hưởng thú thị thành.

Hình ảnh uống cà phê bằng dĩa này, như bấm vào nút điện, và cả bộ máy được huy động. Những người của dĩ vãng như hồn ma, lũ lượt kéo qua trước mặt chàng.

Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về được trong cảnh náo nhiệt này là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: Thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động, âm thanh; tất cả những thứ ấy khi đủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng.

Bấy giờ Kỳ mới hiểu tại sao chàng lại ưa thích tiệm cà phê này. Hồn ma cũ ngủ yên nơi tiềm thức của chàng. Đó là những hồn ma thương mến. Tiệm cà phê này có gần đủ điều kiện để kêu gọi hồn ma. Gần đủ nhưng chưa bao giờ đầy đủ, nên tiềm thức chàng ngủ quên luôn. Ngủ quên nhưng vẫn giục chàng đến đó, mà chàng không biết tại sao, chỉ hôm nay mới hiểu rõ.

Thì ra tiềm thức đã chủ động nhiều việc trong đời người, trong đời chàng; những việc ta làm, mà vẫn không hiểu vì sao mà làm.

Kỳ lẩn thẩn tìm xem coi do đâu mà chàng ghét chữ f, một tình cảm chàng đang có mà không biết nguyên nhân.

Ngộ! Khi nãy không tìm mà hồn ma hiện đến. Bây giờ đọc thần chú nó cũng chẳng về. Phương trình còn thiếu rất nhiều yếu tố:

Ký ức = thời gian + nơi chốn + màu sắc + tiếng động + âm thanh + mùi vị + hình ảnh.

Chữ f đã dính líu với hình ảnh nào, chàng thật mù tịt. Nên chi Kỳ thôi không thèm tìm biết nữa. Ngày kia, có một cuộc qui tụ yếu tố, tự nhiên chàng sẽ nhớ về chữ f ấy.

Bây giờ, theo dõi những hồn ma yêu dấu thú hơn. Chàng thường theo ông ngoại ra chợ uống cà phê... Chàng ra tỉnh học... Chàng lên Sài gòn... Ma nhiều lắm! Ôi! Mến yêu là những con ma tóc còn dưỡng rẽ, áo quần còn hôi mùi ruộng bùn, cùng nhau ngơ ngác giữa đô thành! Ôi! Bùi ngùi là những con ma giáo sư tóc muối tiêu mà bây giờ hắn đã đi đầu thai kiếp khác rồi.

Ôi! Bối rối là những con ma... Kỳ nghe tê tái nơi lòng, mắt ứa lệ. Bối rối là những con ma thiếu nữ gặp nơi nhà quen, khi ra chơi chúa nhựt, những con ma nó làm cậu học sinh lưu trú ngơ ngẩn suốt tuần. Ôi! Dịu dàng là một con ma áo tím... mà trời ơi!...

Kỳ nhớ lại ngày chàng được bức thư cuối cùng của người bạn tình đầu tiên ấy. Thiếu niên bao giờ cũng dại về tình. chàng đã toan tự tử, nghĩ thật buồn cười. hình như là chàng thuộc lòng bức thư ấy. Đâu nào... à. “Anh không fải là người lý tưởng của em, vậy ta dứt nơi đây là hơn. Dầu sao, em cũng đã thành thật yêu anh trong một thời gian, thì anh không thể nói là em thờ ơ hay fụ bạc được...” 
 
Kỳ ngước lên, cười khà. chàng đã bắt được kẻ trốn tránh, khi đọc lại đoạn thư ấy. Chàng nắm lấy chóp nó và la thầm trong bụng:
- Nó đây rồi!  
Phải, nó đấy; nó viết ph bằng chữ f. Chàng đã ghét giận nó, và giận luôn cả chữ f của nó tự bao lâu rồi.
Kỳ lại cười lớn lên một dây nữa và lẩm bẩm:
- Tụi nó mà biết sự thật về chữ f, chắc tụi nó cười mình dữ lắm.
 
Chú thích:
[1] Một hình: tượng rigault de renouilly do thực dân Pháp dựng ở đường hai Bà trưng ngó ra sông Sài gòn, dân Sài gòn gọi là tượng Một hình. Sau cách Mạng Tháng tám năm 1945 tượng bị đập. Khoảng năm 1960 thời Ngô Đình Diệm cho dựng tượng hai Bà trưng, nhân dân gọi là tượng hai hình vì kẻ điêu khắc nịnh chính quyền đương thời đã cho tượng hai Bà có nét giống hai mẹ con trần Lệ Xuân. Sau đảo chánh 1-11-1963 nhân dân đập phá dựng tượng trần hưng Đạo, nay vẫn còn.


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 10:13:13 bởi Ct.Ly>
Người đờn ông đẻ


Tặng ''Đêm thai nghén'' của Hà Huy Hà.

Hoàng hậu Ái Mỹ lấy ngón tay uốn nhánh dâu để xem nó đủ sức cứng rắn chưa đặng chặt về biếu con trai yêu quy của bà, vì cậu Thái tử tương lai này mơ ước một cây cung vừa dẻo dai vừa bền chắc.

Hoàng hậu chợt thấy một con bướm xấu xí, thân hình toàn một màu trắng mông mốc và yếu đuối như vừa mới nở. Nhưng nó không là mới nở đâu, vì nó đang quằn quại trên một lá dâu, rồi giây lâu đẻ lên đó một mớ trứng vàng.

Đẻ xong, bướm ta dò dẫm bò chầm chậm ra bìa lá, chớp lia lịa hai cánh yếu mềm không đủ sức nâng cái thân hình của nó lên không trung.

Bướm nhìn vực thẳm dưới kia, lảo đảo như say rượu, rồi vô tình hay cố ý không rõ, rơi mình xuống vực.

Bướm rơi xuôi xị như một lá chết, hai cánh mong manh không thèm cựa quậy nữa.

Bướm chết thật rồi.

Hoàng hậu ngạc nhiên quá, nhưng bận chặt nhánh dâu nên không để tâm thêm về cái chết này.

Những ngày sau hoàng hậu quên mất con bướm vắn số, nhưng một hôm, ra thăm lại cây dâu để tìm một nhánh làm cung nữa, thì hoàng hậu thấy những trứng vàng đã nở ra những con sâu lông dài màu đen tương tợ như những con sâu rộm.

Cha nào con nấy, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, sâu này yếu đuối không thua gì mẹ nó là con bướm mốc hôm trước.

Hoàng hậu đoán những vật èo uột này rồi cũng chết mất thôi.

Quả thật thế, hai hôm sau, ra thăm lại thì chúng đã chết sạch chỉ trừ một con.

Hoàng hậu than:
- Trời sanh làm chi những kẻ yếu sức như vầy, ích gì cho ai và chính nó cũng khổ.

Bỗng, kỳ lạ thay, có tiếng nói nhỏ nhỏ phát ra từ con sâu:
- Thưa hoàng hậu, ban đầu trời sanh chúng tôi cũng mạnh khỏe như bất kỳ ai. Nhưng chúng tôi phung phí sức nhiều quá để làm việc, thành ra càng kiếp càng phải ươn yếu như vầy.

Hoàng hậu hơi sờ sợ con sâu sống sót đó, nhưng tánh tò mò mạnh quá nên bà đánh bạo hỏi:
- Nhưng tại sao giống của mi phải phung phí nhiều sức Không lỗi ở trời đâu.
Hoàng hậu hơi sờ sợ con sâu sống sót đó, nhưng tánh tò mò mạnh quá nên bà đánh bạo hỏi
- Nhưng tại sao giống của mi phải phung phí nhiều sức lực quá như vậy. Trên đời, ai cũng làm việc cả, mà có ai khổ đến thế đâu?
- Thưa hoàng hậu là tại công việc chúng tôi khó khăn quá sức.
- À, ra thế! Nhưng cái kiếp của mi đây, chắc không còn làm gì được nữa. Bọn mi yếu quá đi rồi.
- Không, hoàng hậu. Kiếp này làm giỏi hơn kiếp nào hết, vì kinh nghiệm của bao đời đã kết tinh nơi đây, miễn là...
- Miễn là gì?
- Miễn là chúng tôi được nuôi dưỡng châu đáo.
- Nhưng mi làm được cái gì?
- Tôi là nghệ sĩ đây.
- Nghệ sĩ là cái quái gì, ta chưa nghe nói đến lần nào.
- Nghệ sĩ là những kẻ làm ra cái đẹp, đẹp lắm.
- Nhưng đẹp để làm gì? cái đẹp ấy có ích lợi gì chăng mà phải nuôi mi cho uổng công.
- Cái đẹp, riêng lấy nó, cũng đã có ích lợi lắm rồi. Hoàng hậu nấu bếp mệt, hoàng hậu ngồi nhìn giây lát một cái lọ sứ nước men trong, vẽ tranh đẹp, tức hoàng hậu hết mệt ngay, chóng hết hơn là ngồi nghỉ ngơi thường.

Nhưng ngoài vẻ đẹp suông thường ấy, nghệ phẩm cũng còn ích lợi khác, thí dụ ngôi nhà hoàng hậu núp mưa nắng, đôi giày hoàng hậu mang để đỡ đạp gai, đều do nghệ sĩ nghĩ ra kiểu mẫu.
- Nếu quả thế, thì ta nuôi mi đó, mà ta phải làm sao cho mi khỏi chết?
- Thưa hoàng hậu, tuy nói thế, chớ tôi cũng dễ nuôi. Mỗi ngày hoàng hậu cứ chịu khó hái lá dâu này xắt nhỏ ra cho tôi ăn là được. chỉ phải cái tôi ăn nhiều quá. Nhỏ người mà bụng to. tôi ăn cái khối đồ ăn to bằng mười tôi lận.
Thịt nghệ sĩ chúng tôi mềm lắm, nên con gì cũng thích xơi chúng tôi cả. Hoàng hậu có nuôi thì nên bảo vệ tôi. Kẻ thù ghê gớm nhứt của tôi là thằn lằn, rắn mối và các loại ruồi.
Tôi lại èo uột như hoàng hậu đã thấy. Những khi trở trời, thời tiết đổi là tôi mang bịnh ngay. Tôi sợ lạnh, lại sợ nóng. Lạnh, hoàng hậu nhúm lửa sưởi tôi. Nóng, hoàng hậu nên mở cửa cho gió quạt tôi.
Tôi lại không chịu nổi mùi gay gắt. Hoàng hậu có hút thuốc thì nên xa lánh tôi, không thôi tôi lại say mà chết mất.
- Úy cha chả là con cưng; nuôi mi còn khó nhọc hơn là nuôi Thái tử. Nhưng ta cũng chịu khó một chút thử xem mi sẽ làm nên trò trống gì cho biết.
- Hoàng hậu sẽ khỏi tiếc công.
- Vậy ta đặt tên mi là Tằm cho dễ kêu nhé!
- Vâng, đa tạ hoàng hậu.
Hoàng hậu đem Tằm vô cung vào hôm thứ ba sau khi Tằm nở. Cả hoàng cung đều bu lại xem con vật kỳ lạ biết nói tiếng người.
  Các bà thứ phi và cung nữ thấy nó dị hợm quá, sợ hãi không dám lại gần. Tằm cười mà rằng:
- Nghệ sĩ chúng tôi xấu xí như thế mà hiền lắm, tốt bụng lắm đó, thưa quí bà.
- Mày như con sâu rọm ấy, gớm chết - Bà tây phi nói.
- Vâng, bề ngoài thì như vậy. Nhưng lông tôi chạm phải không ngứa đâu mà sợ.
Hoàng đế vào xem và cười ngất:
- Nghệ sĩ là cái quái gì mà tên lạ thế? Mà thân thể thì xấu không thể nói.
Hoàng hậu chỉ mỉm cười không đáp, rồi cắt đặt công việc cho đoàn phi tần: nàng Trúc Liên hái dâu, nàng Trúc Đào xắt dâu, nàng Ngọc Khánh canh gác thằn lằn và ong, ruồi, còn nàng Cẩm Nhung thì giữ vai liên lạc báo tin cho hoàng hậu biết ý muốn và bịnh tật của Tằm. Thật là cả một tổ chức phục vụ như đối với một vì vương.
Các cung nữ phàn nàn nho nhỏ:
- Cưng gì mà cưng quá trứng mỏng như vầy. Bà Đông Phi còn không được săn sóc châu đáo bằng con sâu quỉ này.
  Tằm thỏ thẻ:
- Các chị ơi, các chị đừng phiền. Hãy chịu khó với tôi một lúc rồi các chị sẽ được thưởng công xứng đáng.
- Mi thì còn có quà gì để thưởng chị em chúng ta?
- Rồi các chị sẽ rõ. cái thân thể kiều mị của chị đó, tôi mà tô điểm thêm vào thì nó đẹp như hoa, hoàng đế sẽ yêu các chị rồi cất nhắc các chị lên hàng thứ phi cho mà coi.
- Mi tô điểm làm sao? chị em ta không muốn mọc lông sâu rọm như mi đâu.
- Không mà, các chị sẽ đẹp như tiên nữ ấy! Rồi các chị sẽ thấy mà.
Thúy Liễu trề môi dài ba tấc rồi uể oải nói:
- Thôi ta đi hái dâu cho con nợ này.
- Hãy khoan - Tằm kêu Thúy Liễu lại - Còn sớm lắm. Lá dâu còn ướt sương mà tôi thì sợ nước. Để trưa một chút cho nắng sưởi ráo lá rồi chị hãy hái, nếu hái chiều được càng hay.
- Ý a! Khó tánh dữ vậy à? con cưng dữ vậy à?
Trúc Đào ác tâm lắm. Cho bõ ghét, nàng xắt dâu rồi đổ bừa lên nong, phủ bít Tằm lại cho Tằm ngộp thở mà chết cho rồi. Nhưng lạ quá! Tằm không chết ngộp mà trái lại ăn rất hăng. Nó nhai lá cứ nghe rào rào như mưa rơi trên mái ngói hay nghe gió trộn lá trên cây. Nó nằm dưới đáy nong rồi bắt từ đó mà ăn lên. Nó ăn tợn quá và ăn cả ngày lẫn đêm không nghỉ.
 
Tằm ăn không, ngồi rồi như vậy được ba hôm, kể cả những ngày nó ở ngoài trời thì Tằm đã lớn được sáu ngày. Hôm thứ sáu ấy, mấy nàng cung nữ có phận sự phục dịch nó bỗng không nghe tiếng lá cựa lào rào nữa. Họ cúi xuống sát nong, lắng nghe lâu lắm thì quả nơi đó vắng lặng, không có lấy một tiếng động nhỏ nào.

Ngọc Khánh lật đật bươi lá dâu lên thì thấy Tằm nằm ngay đơ không cựa quậy. Thôi Tằm đã chết rồi! Đỡ khổ nhé! Chết phứt đi để người ta rảnh tay lo việc khác thú vị hơn.

Nhưng cả bọn bỗng sực nhớ lại một điều rồi kinh sợ hết sức. Ừ, hoàng hậu đã giao cho họ săn sóc Tằm. Bây giờ Tằm chết thình lình như thế này thì biết ăn nói làm sao cho trôi.

Chưa chi mà họ đã đổ lỗi cho nhau, lộ tất cả hèn nhát của họ trong cơn nguy biến:
- Tại mày lơ đãng để ong nó bay vô, nó đốt Tằm - Trúc Đào đổ thừa không căn cứ.
- Nếu ong vô thì nó đã thịt Tằm rồi - Ngọc Khánh cãi - Tao chắc tại con Thúy Liễu nó hái dâu ướt. Còn con Cẩm Nhung nữa, Tằm không lẽ vô cớ mà chết. Chắc nó bịnh. Sao mày không báo tin hoàng hậu hay.
Trúc Đào bứt tóc, bứt tai kêu:
- Khổ ơi là khổ! cái đồ mắc dịch ở đâu é! Sống đã làm tội người ta, bây giờ chết lại gieo họa chị em mình. Thôi, ta hãy vào phòng hoàng hậu mà tâu rõ mọi việc.
Hoàng hậu mắng, khi họ báo tin dữ này:
- Chúng bay ăn no rồi lo có mỗi một việc nhỏ mọn ấy mà cũng chẳng xong. Nào, nó đâu rồi.
Hỏi xong, bà bước qua phòng Tằm, bươi lá lên xem cho tận mắt.
Tằm nằm dưới đáy nong, đen thui giữa mớ lá xanh, không cục cựa, nhưng vẫn còn tươi, hoàng hậu nói:
- Nó biết nói tiếng người, chắc cũng là một vị tiên mắc đọa chi đây. Thôi để nó đó rồi ta chôn cất, kẻo tội nghiệp.
Thế rồi ai cũng quên Tằm cả.
Qua hôm thứ tám, hoàng hậu đang ngồi uống trà sớm bỗng con Cẩm Nhung hớt hơ hớt hải chạy vào phi báo:
- Tâu hoàng hậu, Tằm đã sống dậy, mà lạ quá...
- Nó sống dậy à! Tao đã bảo nó là tiên mà, có chết được đâu. Đâu mày kể lại đầu đuôi ta nghe thử coi.
- Bẩm, hồi nãy con sực nhớ lại xác Tằm chưa chôn. Con đinh ninh nó đã thúi rồi, hoặc đã bị thằn lằn xơi mất. Con vào buồng nó xem lại cho rõ thì con kinh khủng hết sức mà nghe nó kêu: “chị Cẩm Nhung ơi! cho miếng dâu!” con chạy lại nong dòm kỹ thì thấy nó cựa quậy và lạ quá...
- Lạ làm sao!
- Nó đã rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt, đẹp lắm.
- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một hoàng tử.
Hoàng hậu đi theo Cẩm Nhung để qua buồng Tằm. Bấy giờ cả bốn cung nữ kia cũng vừa đến nơi.
- Đâu, các chị ơi, cho tôi miếng dâu, tôi đói lắm - Tằm kêu lên khi nghe tiếng cửa mở.
Hoàng hậu bước tới thì thấy Tằm vàng óng, đẹp quá. Tằm kính cẩn chào:
- Lạy hoàng hậu!
- Mi không chết thật à?
- Bẩm con có chết đâu. Con ngủ mà. Con ngủ một ngày một đêm đúng, gọi là ngủ ăn mốt để mà cổi(1) lốt, rụng bỏ lông đen đi, hoàng hậu à.
- Vậy à? Bây ơi, cho Tằm ăn coi nào!
Bây giờ Ngọc Khánh mới dám rờ đến Tằm. Nong cũ đầy dẫy lá dâu xắt héo queo và lông Tằm cũ, trông dơ dáy quá. Nàng nhẹ tay nâng Tằm lên, sang Tằm qua nong khác.
Dâu đã hái về, Trúc Đào xắt nhỏ rải lên nong mới. Tằm ăn còn dữ hơn hôm chưa ngủ và lớn như thổi. Nó thức mà ăn như vậy đến bốn ngày và qua chiều ngày thứ tư, nó kêu mấy nàng cung nữ mà rằng:
- Các chị yêu mến. Bữa trước tôi quên báo tin các chị biết làm các chị phải một phen hoảng hốt. Xin lỗi nhé. Lần này tôi sắp ngủ nữa đây. Tôi ngủ giấc này gọi là giấc ăn hai cũng một ngày một đêm đúng y như bận trước vậy.
- Mày ăn ngủ gì mà lạ đời thế! Thức suốt bốn năm ngày liền, rồi lại ngủ cả ngày cả đêm.
- Ấy nghệ sĩ mà, nghệ sĩ thì làm cái gì cũng khác phàm hết. Ăn rồi nằm, có khi no rồi vẫn thấy cần ăn nữa. Nhiều hành động khác còn bất chấp thiên hạ nữa.

Qua sáng ngày thứ sáu, tức là ngày thứ mười hai, Tằm thức dậy và đòi ăn như séo.
Mấy cung nữ mắng:
- Chỉ được ăn rồi ngủ, chẳng ra cái tích sự gì hết. Mi thật là đồ báo cơm.
- Ấy nghệ sĩ mà!
- Hễ động là xưng nghệ sĩ. Nghệ sĩ hay gừng sĩ gì cũng phải làm việc chớ có đâu mà ăn no lại nằm.
- Các chị không hiểu. tôi nằm tức là làm việc đó.
- Ừ, phải chớ, làm việc nằm... nằm.
- Tôi nằm để tiêu hóa bao nhiêu là tinh anh của trời đất, cũng như nhà luyện thuốc họ nấu thuốc cao vậy mà. Những tinh anh ấy sẽ kết đọng lại nhờ sự làm việc âm thầm đó. rồi một ngày kia, tôi sẽ sản xuất ra một viên ngọc nó là kết tinh của bao nhiêu cái đẹp bên ngoài.
- Mi già mồm, nói nghe như nhà phù thủy, ai mà tin mi được.
Tằm vẫn kêu nóng bức:
- Các chị à, làm ơn mở cửa sổ ra, không tôi chết mất bây giờ.
- Trời chuyển mưa đầu mùa nên nó vậy.
Cửa sổ mở ra, ruồi đánh hơi bay vào.
- Bớ thiên hạ, bớ người ta cứu tôi với - Tằm kinh sợ hét lên và mấy cung nữ phải lấy quạt mà quạt ruồi. Thật là bực mình.

Bốn ngày sau đó, Tằm lại báo tin rằng nó sắp ngủ cái giấc ngủ gọi là “ngủ ăn ba”. Cũng lại một ngày một đêm nữa.
- Ứ hự! - Mấy cung nữ thở dài rồi ngâm mỉa mai:

Ai ơi chớ lấy thằng Tằm,
Ăn rồi nằm lại ngủ hai ba...

Ngủ “ăn ba” rồi lại thức bốn ngày. Bốn ngày cũng chỉ ăn rồi nằm.
Hoàng hậu tới thăm, sốt ruột hỏi:
- Chàng nghệ sĩ ơi, chàng ăn rồi nằm vạ đến bao giờ mới thôi?
- Bẩm hoàng hậu. Nghệ thuật không hối thúc mà làm được. Nó phải hưởng một thời gian cần thiết để mà chín mùi. Tôi dám đâu quên ơn hoàng hậu, và mấy chị cung nữ đã khó nhọc với tôi. Nếu bây giờ tôi sản xuất ngay cho vừa lòng hoàng hậu thì e tác phẩm sẽ non nớt, không đẹp như hoàng hậu trông mong.
- Thôi được, cứ thong thả, ta bền lòng đợi mi.

Lần thức này, trời mưa như cầm chĩnh mà đổ. Tằm kêu lạnh và đòi sưởi lửa.
- Ứ hự! - Mấy chị cung nữ lại thở dài, y như lão già bảy mươi.
Nghệ sĩ mà giống như mèo ướt quá.
Chị trúc Đào nói mỉa:
- Đòi nằm lửa, sao mà giống đàn bà đẻ quá vậy!
- Chị nói đúng đấy - Tằm đáp - tôi sắp đẻ đấy.
- Đàn ông lại đẻ à?
- Vâng, giống nghệ sĩ chúng tôi, nam nữ gì cũng đẻ cả. Hôm nay tôi hoài thai một tác phẩm, cố gắng đến yếu người đi nên mới lạnh. Và sắp đẻ đây. Các chị ôi, sao mà tôi nghe bần thần trong mình, khó chịu quá.
- Hay là mi sợ trời gầm?
- Ấy, sai bét. Người đời ai cũng ngỡ giống Tằm chúng tôi sợ trời gầm. Nhưng mà như thế này. Đầu mùa mưa, thời tiết thay đổi bất thường, nên tôi sanh bịnh. Nhơn có trời gầm, người ta lầm nguyên nhơn, ngỡ tôi sợ ông thiên lôi đó thôi.
Cuối ngày thứ tư, Tằm báo tin sắp ngủ, ngủ giấc ngủ cuối cùng trong đời nó. Nó bảo đó là “giấc ngủ lớn”.
Mấy chị cung nữ xôn xao lên. À, lần ngủ đầu, nó bỗng dưng đẹp ra phết, hoàng hậu đoán nó là tiên. Biết đâu lần ngủ chót này nó sẽ biến ra một hoàng tử xinh trai! Ấy, rồi nó sẽ yêu chị cung nữ nào có công nhiều với nó.
Tức thì họ bu lại rờ rẫm nó, săn sóc nó, hỏi nó cần ăn thêm món gì cho chắc dạ hay không?
Chị trúc Đào cười duyên, hỏi xem nó có vừa ý những mảnh dâu xắt nhuyễn thơm phức, và quạt ruồi cho hoàng tử tương lai.
Nhưng Tằm không để ý đến ai cả, cứ thiếp đi lần lần. Lại một đêm một ngày nữa! Trong suốt thời gian ấy cả hoàng cung bứt rứt nóng lòng muốn biết cái gì sẽ xảy ra.
Hoàng hậu thì tin rằng vị tiên phải đọa ấy sắp hoàn hạn và lần này chắc hiện nguyên hình để về Bồng Lai Thượng giới. Các cung phi lại đinh ninh nó là một hoàng tử có tiên phong đạo cốt giả ra con sâu để thử lòng họ.
Kìa, chàng tiên đã thức và mọi người thất vọng hết sức. Chàng tiên vẫn cứ là con Tằm, và cho dẫu là đẹp rồi, cũng chỉ là một loại sâu thôi.
Mà thiển cận làm sao, chú ta vừa thức là đòi ăn như cưỡng đói. Lần này chú ăn tợn quá. Bao nhiêu cây dâu trong hoàng thành đều trụi lá, mà chú ta vẫn kêu đói.chú nói với các cung nữ:
- Tôi sắp đi xa, nên thức chơi với các chị cho lâu. Ngủ giấc lớn mà. Tôi thức đến bảy ngày rồi mới đi.
- Đi đâu?
Tằm giọng buồn thảm không tả được nói:
- Đi xa lắm, và không bao giờ trở lại nữa.
- Mi còn thiếu chị em ta món quà mi hứa hôm nọ, đi sao được?
- Vâng, tôi nhớ món nợ ấy. Và sắp đẻ ra nó đây.
Tằm ăn no lại nằm, khiến các cung nữ đâm nghi hắn ta là một thằng xỏ lá, gạt người để kiếm bữa.
Ăn không lo, của kho cũng phải hết. Dâu chỉ còn ăn độ vài ngày nữa, nếu hắn không bày trò gì hay thì kệ xác hắn, hắn sẽ đói rã ruột.
Lần thức này Tằm lớn mau lắm. Nhưng lại ít nói năng cựa quậy gì.
- Hắn tìm mưu để trốn chăng? - Các chị cung nữ hỏi thầm - Quỵt hai mươi ngày cơm rồi chuồn! Được, nó mà bò ra khỏi nong, ta bắt vào đánh một trận nên thân!
Qua ngày thứ sáu, lạ quá đầu Tằm đỏ ửng lên
- Hỉ tín, hỉ tín - chị Thúy Liễu reo - Tằm sắp hóa ra hoàng tử đẹp trai đây.
Hoàng hậu nghe tin, đến thăm, và ái ngại hết sức mà thấy Tằm có vẻ đau đớn lắm. Cái màu đỏ ở đầu Tằm, xem như màu máu, và phía dưới đầu, mình Tằm cũng hơi ửng đỏ. Dường như là tằm cố gắng dồn máu lên.
- Tằm ơi, sao thế này?
- Bẩm hoàng hậu, con sắp “chộ”  đấy.
- Chộ là làm sao?
- Nghĩa là con dồn tất cả tinh hoa đã thâu lượm được hôm nay, dồn lại để sản xuất ra tác phẩm nghệ thuật đấy.

Tằm quằn quại như một bà mẹ chuyển bụng, đau đớn cái nỗi đau của con vật sắp lột da hóa kiếp, khiến hoàng hậu thương khôn xiết kể.

Qua ngày thứ bảy. Tằm chộ, phân nửa thân mình đỏ ối và càng quằn quại càng đau đớn hơn bao giờ cả.
Qua ngày thứ tám, toàn thân Tằm đỏ như trái ớt chín cây. Bây giờ Tằm như yên thân và an lòng, vì phần khó nhọc của công việc đã xong.
Hoàng hậu, Hoàng đế, các bà phi, và các đạo binh cung nữ đều tựu đến xem Tằm chín đỏ. Thật là lạ lùng, từ thuở giờ không ai thấy con sâu nào mà biến dạng mau như thế bao giờ cả.
Tằm mệt nhọc cố nói:
- Các chị bẻ cho tôi một chà cây.
Không ai nỡ hỏi vặn Tằm nữa vì Tằm coi bộ đuối sức lắm rồi.
Khi chà cây được đặt vào nong, Tằm thỏ thẻ:
- Tâu Hoàng thượng và Hoàng hậu và quí bà phi, thần xin mời tất cả ra ngoài để thần làm một việc không đẹp mắt bao nhiêu.
- Mi cứ làm đi chớ - Hoàng đế nói - Ai mà chấp nhứt mà mi lo.
Tằm rán sức leo lên chà rồi nói:
- Tôi tẩy trần đây. Tôi phóng tất cả những thứ ô uế trong người tôi ra cho người tôi thanh khiết. Khi chỉ còn tinh hoa trong ấy, tôi mới trình bày tác phẩm nghệ thuật được.
Suốt một tiếng đồng hồ, Tằm phóng uế đầy nong. Xong đâu đó, nó nói:
- Bẩm hoàng hậu, nhớ ơn loài người nuôi nấng tôi, nhớ ơn tri ngộ với hoàng hậu, tôi sản xuất tác phẩm đầu tiên và cuối cùng của tôi đây. tôi cố gắng cho nó hết sức mỹ lệ để đáp ơn mọi người, rồi tôi... rồi tôi...

Tằm nghẹn ngào khóc nức nở không nói ra lời nữa.
Cả phòng đều ái ngại hỏi dồn:
- Rồi làm sao, hỡi Tằm ơi!
Khóc cạn nước mắt Tằm nói:
- Rồi tôi từ giã cõi đời...-
Ồ...!
- Trời...!
- Ai lại giết mi?
 Nhà vua có cả một đạo hùng binh để bảo vệ mi. Không, không ai làm gì mi được đâu.
Tằm tấm tức tấm tưởi nói:
- Không ai giết thần, nhưng thần phải chết. Tất cả tâm lực của thần đã đổ vào tác phẩm này rồi, Thần hóa kiếp chớ không giữ thân thể xưa nữa được.
Thần hóa kiếp và tiếp tục sống. Nhưng Hoàng hậu phải giết thần mới...
- Không, ta khi nào giết mi.
- Hoàng hậu phải giết thần không thời không hưởng được tác phẩm đó. Bây giờ, thần xin trối trăng đôi lời.
- Mi có gì cứ nói ngay ra.
- Bẩm, nơi chà cây này, thần sẽ nhả ra một thứ sợi mường tượng như sợi chỉ bô mà Hoàng hậu dệt mặc bây giờ đây. Sợi của thần bền chắc hơn thập bội, và đẹp hơn muôn phần. Đó là tác phẩm nghệ thuật của thần đó. Thần đã góp khí thiêng của trời đất, un đúc lại trong ruột thần để có chất sợi này.

Hôm nay thần nhả ra lần lần, phủ lấy mình thần. Thần tự nhốt trong đó để che cái thân tàn này hầu hóa kiếp khác.
Bó tơ ấy trong hai ngày hoàng hậu phải bỏ nó vào nồi nước sôi cho thần nóng mà chết đi...Hoàng hậu, các bà phi và cung nữ đều kêu rú lên, khủng khiếp nói:
- Ai lại nỡ...
- Nếu không làm thế, cái kiếp khác của thần, cái thân thể tàn dại biến ra hình thức khác, sẽ cắn rách nó mà chui ra. Thế là tác phẩm của thần sẽ hỏng. Uổng công thần khó nhọc mà không ai hưởng được cả.
Bỏ vào nước sôi luộc xong, Hoàng hậu kéo sợi ấy ra, rồi dệt như dệt bố. Nó sẽ đẹp cho Hoàng hậu xem.

Nói rồi Tằm bắt đầu nhả tơ ra. Đó là một sợi nước dãi vàng, nước nhả ra thì ướt và mềm, một lát là khô cứng lại. Đầu mối tơ móc trên một cành chà, khiến cả bó tơ như được treo lên đó.
Tằm cứ nhả lần, nhả lần và cả phòng bùi ngùi rưng rưng lệ nhìn Tằm trả nợ dâu.
Bó tơ nhỏ hơn cái trứng gà, vàng óng ánh như con ngỗng con mới nở, ngửi nghe thì thơm phức một mùi mới lạ chưa từng nghe.
Hoàng hậu hỉ mũi, lau lệ rồi nói:
- Kệ, hỏng thì hỏng, đừng ai rờ tới bó tơ này hết. Tằm nó kêu ăn kén ở lắm, nên ta đặt bó tơ này là cái kén và quyết để dành làm kỷ niệm.

Nhưng hôm sau đó chị Cẩm Nhung tánh tò mò bất trị, lại hay tin nhảm, bèn lượm kén bỏ vào nồi nước sôi. Chị ta đinh ninh rằng Hoàng tử đẹp trai muốn nhờ Hoàng hậu giúp tay để hiện nguyên hình.
Hoàng hậu không y lời trối, mà nếu không thi hành e tội nghiệp Hoàng tử chăng? Vả lại cũng nên phỏng tay trên thiên hạ để mua lòng hoàng tử. Vậy chị ta làm theo lời Tằm căn dặn.

Xong đâu đấy, chị ta nắm mối tơ mà kéo và quấn tơ quanh một cây que... Khi đường tơ đã dứt Hoàng tử đâu không thấy chỉ thấy một con bọ dị hợm lắm, chết queo vì phỏng nước sôi.
Hoảng hốt chị ta tri hô lên, Hoàng hậu chạy đến cầm con bọ lên mà khóc ròng.

Nhưng chuyện đã lỡ rồi, Hoàng hậu nghĩ nên y theo lời tằm dặn. Tơ ấy ít quá, nên Hoàng hậu nuôi thêm vài lứa Tằm nữa để đủ chỉ mà dệt.
Tấm lụa đầu chỉ có Hoàng hậu, Hoàng đế và chị thợ dệt được xem mà thôi.

Hoàng hậu vuốt mãi sớ tơ mịn, nghe mát tay như là sờ vào một lọ sứ cổ. Hoàng hậu kê sát mũi vào lụa để ngửi mùi tơ thơm ngọt như mùi tàng ong, nghe bắt thèm ăn. Màu vàng óng ánh của xấp lụa đẹp hơn ngũ sắc của tường vân, đẹp hơn mống trời, đẹp hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng uyển.
Hoàng hậu sai thợ khéo nhứt nước may cho mình một chiếc áo. Và lần mặc áo ấy vào nội cung, Hoàng hậu làm Hoàng đế chưng hửng:
- Trời ơi, trông khanh trẻ như một cung phi mới tuyển.

Và từ đó, bà Hoàng hậu bốn mươi lăm tuổi được Hoàng đế sủng ái và xao lãng các bà phi.
Hoàng đế ra lịnh cho thần dân ai cũng phải trồng dâu nuôi Tằm. Và tơ của lứa Tằm đầu của toàn quốc được tập trung về trào, dệt lụa may áo cho toàn thể cung phi, mỹ nữ.
Đêm ấy có dạ hội, các vũ nữ đều mặc xiêm y bằng lụa màu.

Hoàng đế xem họ múa mà mê, không mê vì vũ khúc hay sắc gái, mà mê những tà lụa óng ánh, dịu như cánh bướm.

Hoàng hậu cũng có mặt nơi đó. Nhưng bà cứ đăm đăm ngậm ngùi thương ai không biết.
Hoàng đế trông thấy hỏi:
- Sao hậu không vui với trẫm?
- Tâu bệ hạ, thiếp nhớ chàng nghệ sĩ mà tội nghiệp hắn hoài.
Hoàng đế cười ha hả:
- Ối, khéo dư nước mắt. Nghệ sĩ đó chết là còn nghệ sĩ khác. Cái kiếp của chúng nó là đau khổ rồi chết đi, để lại đồ đẹp cho ta hưởng mà.
Hoàng hậu không cãi lại, chỉ rưng rưng nước mắt thầm.

Chú thích:
 [1] cổi: cởi (bt).
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Lầu 3 phòng 7

Tặng cháu Hinh đang tập tành viết văn

Ục... ục... ục... uột...
Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước ở bồn rửa mặt của phòng bên cạnh. Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị ruột sôi kêu ồn ột. Đáng ghê nhứt là cái tiếng uột sau cùng, kéo dài bất tận.
Ở đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng đế giày nện lên gạch, tiếng nước cầu xí, tiếng đàn vĩ cầm ai mới học, kéo ọ ẹ suốt ngày.

Trên đầu chàng, ở cái buồng từng trên, người chiếm ngụ làm gì mà cứ kéo ghế, kéo bàn mãi cả ngày lẫn đêm, như ma dậy nhà hoang?

Người ta hay tỏ ý chê bai đồng bào thượng trên cao nguyên ở trong những ngôi nhà công cộng dài nhằng, hai ba mươi gia đình chồng chất lên nhau rất là mất vệ sinh. Nhưng cái bọn văn minh này, bày ra buyn-đin để chen chúc nhau trong đó thì cũng thế thôi.

Quỳnh thuê căn phòng số 7 để làm chỗ ẩn thân. Ở nhà, khách khứa đông đảo, người nhà rộn rịp, chàng không thể nào làm việc được.

Với lại con người có đời sống bên trong, luôn luôn mỗi ngày thích dành ra một lúc để quay về sống với chính mình. Những lúc ấy hắn cần được yên thân. Ở đây yên thân nhứt: gia đình, bạn hữu, nào có biết để mà theo quấy rầy chàng.

Ngoài ra, chàng được hưởng thêm nhiều thú khác. Chàng nghe như mình đang du lịch ở những nơi xa, sống cô đơn nơi một buồng khách sạn, cái buồng nặc danh với những bức tường trắng không tranh ảnh, không mang một bản sắc nào. Cái mộng viễn du chưa bao giờ thỏa thế là được ảo tưởng này bù cho.

Chàng lại nghe hay hay, nhớ lại thuở thanh xuân, trốn nhà đi chơi lêu lổng, nay ngủ chỗ này, mai ngủ nơi khác...
Ục... ục... ục... uột...

Lần này Quỳnh không bịt tai nữa, vì chàng thấy chàng rất bất công. Chính chàng cũng đã gây tiếng động khiếm nhã. Mỗi lần đến là chàng đánh máy ầm trời.

Những người ở chung buyn-đin với chàng tò mò tìm biết anh chàng này làm nghề gì, mà mỗi ngày chỉ đến có mấy tiếng đồng hồ thôi, mà hễ đến, là đánh máy liên tu bất tận. Lắm đêm hắn bốc đồng, lên đó vào lúc mười giờ, mở đèn sáng choang rồi đập xành xạch không cho ai ngủ cả.

Ở đây có những công chức cao cấp, những sĩ quan, những thương gia chưa sắm nổi biệt thự. Bề ngoài thì như là không ai thèm chú ý đến ai, nhưng chàng tinh mắt, biết họ cố tìm căn cước chàng, một gã khả nghi. Hắn đánh truyền đơn chăng? chỉ có người quản lý buyn-đin là hơi biết hắn làm gì thôi, vì hắn phải khai sự thật ở đó.
Họ ngạc nhiên là không bao giờ có bạn đến thăm hắn. Lại càng khả nghi hơn nữa.

Nhưng mà rốt cuộc hắn cũng có bạn. Đó là một người bạn gái xinh như các thiếu nữ trong cổ tích. Lần đầu tiên cô bạn ấy lên đây, một viên... gặp cô ta ở chân thang, đã kinh ngạc vì sắc đẹp của cô. Cô bạn leo thang chớ không dùng thang máy. Người ấy không ngại trễ giờ làm việc, leo cả sáu chiếc thang lầu để theo cô ta cho biết cô ta đi đâu.

Thế rồi người ta đồn ầm lên rằng hắn thuê buồng để tiếp nhân tình.

Quỳnh chỉ mong được thế. Nhưng cô ta chỉ là bạn thôi. Đó là một văn hữu mới quen.
Nói văn hữu thì ra suy tôn cô bạn quá. Thật ra thì chỉ là một bạn đọc yêu văn chàng và vốn cũng thích viết văn.

Họ gặp nhau trong một trường hợp kỳ dị hết sức, và chính cô gái đã làm quen trước với chàng. Cô gái thông thạo các vấn đề văn nghệ, biết tất cả văn nghệ phẩm Việt và ít nhiều tác phẩm ngoại quốc nên chỉ trong buổi đầu gặp gỡ, chàng nói chuyện giỏi một cách dễ dàng vì khỏi phải ra ngoài địa hạt của chàng. Cô gái ngỏ ý muốn nhờ chàng chỉ dẫn cho công việc sáng tác. À, còn gì sung sướng bằng. Chàng chỉ mong có bấy nhiêu đó mà không dám đề nghị trước. Chán vạn thằng khác nó dâng công cho gái như vậy và được gái yêu. Chàng khỏi lập công với ai, mà kết quả cũng có thể đi đến đó.

Công việc đầu tiên của chàng là đặt cho bạn một biệt hiệu văn nghệ. Không biết ai đó đã đặt giùm nàng một bút danh rất là sáo: Cô Song Thu. Sao lại có đến hai mùa Thu trong con người nô nức thanh xuân ấy, nơi con người nồng cháy cả một mùa hè sinh lực ấy!
Quỳnh đã dâng bạn một bút hiệu hơi bí hiểm: Cô Long Hoa.

Nhưng mặc dầu là văn hữu, họ vẫn gọi nhau bằng tên cúng cơm, tên mà người ngoài không ai biết cả.
Nàng nói:
- Biệt hiệu của anh là của muôn người, em chỉ thích kêu anh là anh Quỳnh thôi, vì Quỳnh mới là của riêng em.

Công việc đầu tiên của Lệ, tên nàng, là sắm một tấm vải màu phủ mặt bàn, chiếc bàn độc nhứt dùng ăn bánh, đánh máy và ngồi lên đó chơi, mà chàng để trơ trẽn ra đó, không phấn son gì cả.

Cô bạn lại mua tranh, bắt Quỳnh phải treo lên vách.

Cái buồng bây giờ đã có cá tính của nó, chớ không còn là buồng nặc danh của khách sạn hay phòng thuê nữa.
Người ta thấy là đờn bà đã vào phòng đó, hơn thế, một người đờn bà có học, có óc thẩm mỹ và khéo léo tay chân.
Nhưng Quỳnh lấy làm thất vọng. Họ gặp nhau đã sáu lần rồi mà cô bạn xem chừng không vội học sáng tác cho lắm.
Cô bạn nói rất nhiều chuyện mưa, chuyện nắng, mà nói rất có duyên. Quỳnh tuy không phải chỉ biết về văn nghệ không mà thôi, nghĩa là tuy chàng cũng vui được với chuyện chó chẹt ô tô và chuyện đờn bà giựt hụi, nhưng chàng không khỏi bất mãn vì người văn hữu chưa đến. Thân thể y có mặt, nhưng người bạn văn của lúc gặp gỡ thì vẫn chưa thấy bóng hình.

Quỳnh cũng biết thích bạn gái như ai, phương chi đây là một người bạn gái đẹp và thông minh, lại có rất nhiều cảm tình đối với chàng, thì chàng còn mong gì hơn? Nhưng chàng cứ mong hơn. Vì chàng đã dọn lòng để đón một văn hữu chớ không phải để rước giai nhân.

Sao người văn hữu lại không đến? Mỏi mòn nhìn con đường xa gió cuốn bụi hồng, mỏi mòn trông đợi một bóng ngựa viễn phương mang đến người bạn văn trễ hẹn, Quỳnh nhẫn nại tiếp đón mỹ nhơn dầu sao cũng đang có mặt.

Nếu không đợi người kia thì chàng đã yêu người này ngay từ lúc ban đầu. Người đàn bà đẹp chỉ để cho người ta yêu thôi, chớ không dùng được vào việc gì cả. Cô bạn này trời sanh ra làm gì, và đến đây để làm gì, thật là không có lý do, y như là trời đã sanh ra hoa hồng và hoa hồng lại bị cắm vào miệng lọ, chỉ có một lý do nhỏ nhỏ thôi, là làm cho vui mắt chủ nhà.chủ nhà không thuê buồng để tiếp gái đẹp, thuê buồng xong không thèm sắm lọ, thì hoa hồng vào đây có phải là không biết điều lắm chăng?

Nhưng nó đã vào và nó đẹp, chủ nhân đang buồn bạn không đến thì không lẽ lại không nhìn nó.

Nó xinh đẹp ghê hồn khiến chủ nhân cũng đến thấy mình ngốc quá vì đã xem thường nó.

Trời sanh người đàn bà đẹp làm gì nếu không để cho người ta yêu. Quỳnh yêu nàng vậy. Nhưng không dễ dàng lắm đâu. Phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu bị Âu hóa thật sự. Họ đến buồng đàn ông nhưng vẫn tự vệ, nếu bên nam giới không khéo xử thế thì cũng chẳng đi đến đâu được.

Quỳnh đã khéo xử thế. Cuộc đùa giỡn với ái tình gay cấn và cam go quá khiến chàng say mê, say cái say chiến đấu của văn nghệ sĩ, cái gì dễ dàng quá thì không ham, mà chỉ mê mệt đối với sự sáng tạo đau đớn thôi.

Chàng đã thắng. Nhưng trong giây phút ôm thiếu nữ trong tay, chàng bỗng nghe rỗng không trong lòng và quanh mình.

Trời ôi, thật là không có gì cả, cái phút giây mà người ta gọi là thần tiên!
Chàng đã vật lộn với tình cảm, với tư tưởng, đã lao khổ sáng tác, và rốt cuộc đẻ ra được những cái gì bền vững mà chàng thích nâng niu lâu ngày.
Ở đây, chàng cũng đã lao khổ chiếm trái tim một giai nữ, nhưng khi thành công xong, chàng không thấy được cái gì cả.
Chắc thiếu nữ đang nằm trong tay chàng, thầm nói:
- Sướng đấy nhé! Anh đã được em rồi đó, có thích hay không?

Không, chàng không thích, hay có thích chàng cũng chỉ như đứa bé được quà, thích vậy vậy thôi, chớ làm sao mà có được những xúc cảm mê ly của cái phút chấm dứt một văn nghệ phẩm?

Nhưng mà cũng an ủi phần nào. Người văn hữu không đến nhưng người tình này có thể là người văn hữu kia. Văn hữu chậm bước vì nàng cần phải sống cái đã, sống dưới cái vỏ ngoài của người phụ nữ bình thường, sống đầy đủ về tình cảm và xác thịt.

Sống thoả mãn xong, người bạn văn sẽ cởi áo người nhân tình mà thoát ra, và chừng đó chàng sẽ được cả hai.
Quả có thế. Trận giặc ái tình chấm dứt bằng một hiệp ước yêu đương. Lệ bắt đầu học tập. Ông thầy dạy văn làm phận sự rất dễ dàng, vì nàng đã khá thạo kỹ thuật viết.

Quỳnh thấy mình phải dắt bạn bước qua giai đoạn thứ nhì ngay. Chàng nói:
- Viết văn chỉ là một thứ kỹ thuật tương đối dễ học. Nhưng muốn sáng tác, em cần phải có cái gì trong lòng để mà nói ra, bằng không thì giã từ văn chương vậy. Lắm khi đã có cái ấy trong lòng rồi mà nó không cắn rứt mình, không kêu gào đòi chun ra lắm, thì cũng không thể sáng tác được. Em có cái gì trong bụng không?

Lệ vả vào má chàng một cái đau điếng, cười rồi đáp:
- Sẽ có, thằng con của anh chớ gì. Nhưng mà chưa có, đừng có nghi bậy.

Cả hai cười xòa, rồi Quỳnh lập nghiêm, tiếp tục bài giảng:
- Đứng đắn mà. Em có nỗi niềm gì muốn nói ra chăng? Băn khoăn về gì? Thắc mắc vì sao, bứt rứt chuyện chi?
- Không, em không băn khoăn về gì cả. Em chỉ mơ yêu...
- Thế à? Mơ yêu cũng là chuyện có thể nói ra được, miễn là nó hay.
- Nhưng giờ đã yêu rồi, em hết mơ.
- Cũng vẫn cứ được, sự thoả mãn trong tình yêu cũng là một đề tài hay.
- Nhưng em không cần nói ra.
Quỳnh kinh ngạc, nhìn trừng trừng người bạn, giây lâu mới hỏi được:
- Thế sao em lại thích viết văn?
Lệ làm thinh rất lâu rồi cười đáp:
- Khó nói lắm!
- Nhưng mà một văn sĩ tập sự phải nói được chút ít về điều đó.
- Như thế này: Viết văn danh vọng lắm. Như anh, ai cũng biết đến cả. Em cũng muốn được như vậy. Nhưng mà nay học thêm với anh, em thấy là phải khổ thân lắm mới bước tới đài danh vọng được.

Quỳnh bỗng nghe một trận địa chấn quanh chàng. Chàng buông người bạn tình ra, lòng đau xót không tả được.

Người văn hữu đã chánh thức nhắn lời là không đến, không bao giờ đến nữa cả. Hắn chỉ là một ảo tưởng và hắn đã tan trong sương mờ.

Quỳnh nắm lấy cằm bạn, nhìn thẳng vào mắt nàng, nhưng chỉ nói thầm một mình:
- Em bé ơi! Em bé không thích mang nặng đẻ đau, không chịu hoài thai cực khổ và không chịu chuyển bụng rên la, mà em bé lại đòi có những đứa con để đưa em bé lên đài danh vọng...

“Thôi, em bé cứ đi lấy chồng đi, lấy những người đang ở trên cao, hoặc đang có tương lai nhiều. Một sớm một chiều, các báo sẽ nói đến phu nhân X... Nào đó.
Viết văn nào phải để leo lên đâu đâu? Viết để làm gì, lắm khi chính anh cũng không biết. Nhưng đó là những cái thai đã đến ngày, những thằng bé cứ vặn mình đòi lọt ra. Đau như xé cả ruột gan, không muốn cho nó ra cũng không thể được.”

Quỳnh muốn trả ngay căn buồng này. Hồn người văn hữu sai hẹn cứ như còn quanh quất đâu đây. Phải trốn không khí này mà từ bao lâu nay phảng phất tiền hương, tiền vị của người khách mong đợi.

Bỗng có người bước lên thang gác. Đó là tiếng giày đờn bà nó làm cho chàng giật nảy mình, dáo dác nghe ngóng

Không, không trả căn buồng này đâu. Mỗi tiếng động khiếm nhã ở đây đều gợi nhớ những phút giây hồi hộp đợi chờ. Mỗi ần nghe tiếng động, chàng sẽ có dịp đi hành hương trong thời gian, đi về phía bàn thờ thần “Tình Bạn Văn”.
Cây Vĩ cầm của cô hay cậu nào ở buồng số 5 cứ kéo ọ ẹ mãi bản nhạc “Bên sông vắng” của Tạ Tấn.

Nhưng lần này chàng không nghe bực mình nữa. Chàng lẩn thẩn đặt lời cho những nốt nhạc ấy, lời thật của tác giả chàng đã quên từ lâu vì đó là một bản nhạc tiền chiến:

Đêm  nay  tới  bến,  năm  nào  đây,
Tiếng  gió  vi  vu  bên  sông  vắng  tanh,
Ngậm  ngùi  nhớ  đến  con  đò  xưa,  năm  ấy.
Quen  nhau  bởi  một  chuyến  đò  chiều.
Nhớ  người  năm  đó...







Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 11:42:00 bởi Ct.Ly>
Kẻ chiến bại

Gởi T.V.C  để nhớ những ngày của năm 1943

Gõ cửa đến ba bốn hiệp mà không thấy bóng ai, cũng chẳng nghe ai lên tiếng, tôi gọi to:
- Có ông chủ ở nhà không?
- Ai đó, Mạnh hả, đi tuốt xuống đây.
Tiếng anh Thành nghe xa lắm, ở mãi dưới bếp.
Tôi bước vào buồng khách và ngần ngại đứng dòm ra sau.
Thành chắc hiểu ý tôi nên bảo nữa:
- Đi xuống đây mà, nhà không ai hết.

Tôi quen nhiều với anh Thành, mà không là bạn thân với anh ấy, nên tôi chưa xông pha nhà này lần nào cả, vì còn phải giữ lễ với chị Thành.

Hôm nay chắc chị Thành đưa con về quê nghỉ mát nên nhà vắng và anh Thành chắc đang đun nước ngoài sau.

Nhưng đi đến nơi, tôi ngạc nhiên hết sức: anh Thành mặc pi-ja-ma coi có vẻ trai thế kỷ hai mươi lăm, nhưng anh ta lại đang đứng say sưa ngắm một cảnh non bộ đặt giữa sân trong.
- Cha có gắn hòn non bộ trong nhà à? Sao không bao giờ nghe cha nói đến - Tôi hỏi - Sau mấy phút chưng hửng nhìn bạn.
- Các anh hiểu gì mà nói cho mệt, không phải tôi gắn đâu nhé. Mới gắn gì mà rêu đã phủ xanh các gộp đá, mới gắn nó đâu được vẻ cổ kính như vậy. Số là cái ông nào đó trước ở đây- Chừng như lâu lắm, đã tạo nên cảnh thiên nhiên này. Rồi ông đi hay chết mất, bộ giả sơn truyền qua không biết bao nhiêu người, bị bỏ bồ lăn, bồ lóc, bây giờ mới đến tay tôi.

Tôi nhớ thuở tôi còn nhỏ, ông tôi cũng chơi non bộ, nên tôi hơi biết thưởng thức món đó.

Quả thật, hòn núi giả này rất đẹp. Nó đẹp vì đắp khéo. Những phiến đá, những khối xi măng như là vứt bừa bãi lên đó, không tố giác được công trình của tay người. Y như là một khối đá tự nhiên bị nước đào mòn, khuyết đi một cách không lề lối. Nó lại đẹp vì vẻ cổ kính của nó. Năm tháng, gió sương, mưa nắng đã thổi sanh khí vào hòn non bộ ấy, tạo cho nó một sức sống mãnh liệt. Một lớp rêu xanh mịn, mướt lông nhung phủ kín mặt đá và từ mỗi hốc đá, mọc ra từ bao lâu rồi không biết, đủ thứ cỏ rong. Nhìn hòn giả sơn không khỏi nghĩ đến rừng núi thâm u, ngàn năm chưa thấy dấu chơn người.

Tôi theo Thành vào nhà, cái nhà lá nho nhỏ mà anh gọi là thảo lư. Cái tiếng thảo lư này, cùng với mớ tranh tàu treo trên vách khiến tôi thấy Thành có vẻ Tàu lắm, hay có ý muốn thành Tàu lắm, một thứ Tàu đâu hồi cổ sơ, Tàu của thời Xuân Thu, Tàu đầy thơ mộng và đông đúc những tiên.

Tự nhiên anh Thành cho tôi uống trà Tàu. Thường thường anh Thành uống trà hơi ấm thôi, uống cả ly lớn. Nay anh và tôi uống chén nhỏ, nước trà thật nóng.
- Đó, anh phải hớp từng hớp, rồi đừng nói gì, cứ nhìn cảnh rồi suy tưởng.

Lẽ cố nhiên là tôi không nói gì nữa trước người con trai biết ham thích sống ồn, sống hoạt, bây giờ biến thành một ông Tàu ngậm ống điếu dài, hay một nhà nho móng tay dài cũng thế.

Tay nâng ngang môi chung trà xưa mà nét vẽ rất thanh đạm trên men ngà, Thành như chìm trong bồn cá tàu giữa bàn. Cá nhiều màu lượn quanh những thủy thảo mọc lên trên một nền sạn trắng và đá biển, cũng hiểm hóc như hòn non bộ.

Chịu không nổi sự im lặng mãi, tôi nói:
- Anh còn thiếu một món nữa mới thành một ông Tàu hoàn toàn.
- Món gì?
- Chim.
- Phải thiếu chim. Nhưng tôi thấy chim lồng không đẹp nên thôi, không nuôi.
- Nhưng còn những cái này, không ở trong lồng sao? Anh đem nước non, trời biển thu nhỏ lại trong một góc vườn, một bồn kiểng, còn đẹp gì nữa.
- Ậy mà đẹp. Chính vì thu lại được, nó mới đẹp. Mà thu lại là cả một nghệ thuật đấy nhé. Con chim thì thấy nó ở trong lồng thật sự, có cái gì nhơn tạo trong đó, chán quá. Anh coi, như cây tùng và cây chùm nụm ngoài sân kia, nếu tôi trồng dưới đất, nó sẽ lớn. Nhưng nó không đủ sức lớn để thành cây cổ thụ trong rừng sâu.
Bây giờ tôi có ép nó mọc trong chậu, thiếu chất ăn, nó thành cằn cỗi như cây già trên núi. Coi hay lắm
- Bệnh lao phổi có dính dáng gì đến sở thích kỳ dị của anh chăng?
Anh Thành đau phổi đã ba năm rồi, và nhờ khéo chữa nên đã khỏi.
Anh Thành ngả lưng lên ghế cười ha hả:
- Anh lầm to, như bao nhiêu người khác. Tôi vẫn có sở thích này từ lâu rồi, tôi vẫn chơi cá tàu, non bộ, cây cảnh. Tôi chơi từ cái lúc tôi còn đi đánh ten-nít, đi bơi lội kia. Không, cái thú này không phải thú riêng của ông Tàu ủ rũ, hay ông già lụ khụ. Nó vẫn đi đôi được với sự sống ồn, trẻ và hoạt.

Rồi đột ngột anh hỏi:
- Dynamique dịch ra Việt ngữ là gì?
- Tôi dịch không nổi tiếng đó. Anh cứ tạm nói là cường sinh đi.
- Không ổn. Nhưng tạm dùng vậy. Anh có biết dân tộc nào cường sinh hơn dân tộc Nhựt Bổn không? Thế mà họ là những tay chơi cây cảnh non bộ sành nhứt đó.
Phải, bịnh tật làm cho con người ủy mị, nhưng trò chơi này không ủy mị chút nào như nhiều người cứ tưởng và cứ cho đó là món giải trí phong kiến và lạc hậu.
Ở đời có nhiều việc mới xem ngỡ là trái ngược với nhau. Nhưng thật ra nó đi đôi với nhau rất xứng. Ai bảo thủ cho bằng dân Anh? Nhưng có phải là dân Anh làm cách mạng trước nhứt chăng? Ai tin ma cho bằng dân Anh? Nhưng có phải là dân Anh làm việc có phương pháp và suy luận khoa học nhứt chăng?

*  *  *

Trời nóng bức quá. Tôi đòi nước đá.
- Không, anh chỉ được cho uống nước trà nóng, trong thảo lư của một bác Tàu cổ. Ta phải mính đàm cho nó đúng điệu. Cả một nghệ thuật đấy. Như tôi, tôi xem tranh ảnh về Huế thì thế nào cũng không khỏi ngâm bài Nam bường:

Nước non nghìn dặm ra đi...
Mượn màu son phấn đền nợ Ô, Lý.
 
Và bắt thèm bánh lá chả tôm. Ấy, phải có một sự hòa hợp như vậy. Cây sì-cú này (vừa nói anh Thành vừa chỉ chậu sì-cú trên bàn, gần bồn cá), riêng nó, không đẹp đẽ gì, mà thiếu thì không được đâu. Cá tàu phải đi với sì-cú.
 
* * *
Tối hôm đó trời lặng gió. Trong khi cá táp móng nghe bong bóc trong bồn, Thành thắp hai cây đèn cầy, gắn trên hai viên gạch, rồi đem đèn để phía ngoài kia, một cây sau hòn non bộ, một cây khác sau chậu tùng.
Thành như là ở đời xưa hiện về.
Anh ngồi trên ghế bố, nhìn bóng dáng cái núi giả và cây tùng nổi bật lên trước ánh đèn.
Tôi cà rỡn:
- Quả thật là: yêu ngày chưa phỉ, lại yêu đêm.
- Đó mới lòi chỗ dốt của anh nữa. Người ta chỉ nhìn cây kiểng và hòn non bộ như vậy thôi. Ban ngày, con mắt bị xao lãng vì những cái thấy khác. Vả ban ngày cảnh thiệt xung quanh ta lớn quá, khiến ta cứ nhớ ta nhìn núi giả. Giờ đây, ta sẵn lòng quên và được quên sự thật, chỉ thấy hình dáng của núi cao đứng sững trước mặt trời sắp lặn.
- Thi sĩ quá!
- Anh cứ mà chế nhạo, tôi không cần dư luận của ai hết. giống lắm.
- Giống cái gì?
- Giống núi thật.
- Anh có đi chơi núi rồi à?
- Cũng có chớ. Mà việc trèo núi, ở đây, không dính dáng tới chỗ giống hay không. giống là giống hòn núi thật trông đằng xa. Còn chi tiết trên núi, tôi chưa nói đến. Cả trăm hòn non bộ trong nước Việt Nam chưa dễ tìm ra được một hòn như vầy! Anh coi, các mỏm đá không đều, không cân xứng như ở mấy hòn khác, không có vẻ nhân tạo chút nào. Hoàn toàn giống thiên nhiên, nếu chụp ảnh một mình nó, thì tôi đố ai khỏi lầm. Còn cái cây tùng và cây chùm nụm này, nó giống hệt cây cổ thọ.
“Tôi nhớ ông chú tôi hồi đó hay chê dốt những người đem cây chùm nụm uốn thành hình con phụng con công. Theo ông, cây chùm nụm phải có dáng tự nhiên như cây mọc trong rừng. Theo ông, các vườn Tàu, vườn Nhựt với những đường đi cong quẹo, với những xó ngạc nhiên, với những cầu tre bắt ngang suối giả, đẹp hơn vườn Âu châu nhiều.”
“Bây giờ ta lại nói đến chi tiết bộ giả sơn. Nếu không phải là một tay chơi sành lắm thì không thế nào đắp nổi một hòn non như vầy, các hang đá hiểm hóc, ăn sâu vào núi, trông bí mật lạ! Nó trổ ra mặt hồ. Nếu có một chiếc xuồng nhỏ do một người bơi tẻ vào hang thì ta không khỏi nghĩ đến người Đào Nguyên lạc lối. Cái khe nước chảy dưới cầu để đổ ra hồ, có vẻ sống lắm.

Tuy nó cạn, mà tôi dường như nghe nó thầm reo và tưởng nó đang len lỏi, dò lần để tìm về mẹ nó là cái hồ lớn kia, chú tiều phu vai trĩu củi và túp lều tranh đứng co ro đằng xa kia, thật là khéo lựa. Nó nhỏ vừa với sức lớn của núi rừng. Có người dốt, mua ông tiên lớn quá, hoặc cái nhà quá to, trông nó luốt đi, thành ra của họ, hòn non kêu lớn lên luôn luôn: “Ta đây giả, ta đây giả.” Hai ông tiên ngồi đánh cờ trên thạch bàn, gợi những ngày không bợn âu lo. Tôi tưởng như Bạch Hạc đồng tử bay gần đâu đó. Ngôi chùa rêu phủ đứng cheo leo trên sườn núi đẹp vô cùng, không khác gì ở tranh thủy mạc tàu. Tôi rất yêu hình ảnh của nước tàu cổ, nước Tàu với những tửu quán, trà đình, với những nhà ngói sứ mái cong cong, với những văn nhơn bắt gặp thơ đề trên vách một ngôi chùa xưa rêu phủ trong rừng tùng, nét chưa ráo mực mà nàng tiểu thơ đề vịnh đã đâu rồi...”

Nói tới đó, Thành chỉ lên vách đá, tôi nhìn theo thì nhận ra một bức tranh, không, một tấm lụa trên đó viết bằng chữ thảo, một bài thơ tàu:

Khứ  niên  kim  nhật  thử  môn  trung
........
Đào  hoa  y  cựu  tiếu  đông  phong.

Nét chữ bay bướm, tung hoành, đẹp như một bức thủy mạc với những nét vẽ phác.

Tôi nhìn Thành trừng trừng, kinh ngạc trước con người chưa đi tới huế lần nào này mà cứ nói đến những chơn trời xa.
- Hình như anh ưa đi lắm thì phải?
- Tôi hỏi để chắc bụng về ý nghĩ của tôi đối với mâu thuẫn kỳ dị trong con người này.
Thành không đáp ngay, chỉ đặt bàn tay lên vai tôi rồi gởi gắm:
- Các cụ ta xưa, nhứt là những nhà nho lỡ vận, thích non bộ vì họ cố ý gạt gẫm lòng họ trong cảnh nước non trời biển bị thu hình, để nghe như đã tóm thâu trần giới được trong tay họ.
Tôi bỗng chợt hiểu rằng giấc mơ non xa nước lạ của Thành không phải do mộng đi bất toại mà có, mà chính là kết tinh của mặc cảm nhỏ nhoi của đời anh.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 13:06:21 bởi Ct.Ly>
Rung cây dừa


Tặng một thằng bạn ở buyn-đin

Một khối đen đùn lên ở chân trời phía đông nam. Thầy giáo lấy tay che mặt, vì nắng sớm chói loà, để theo dõi cây khói cứ mọc lần lên cao.

Khói mọc lên, tức là một chiếc tàu sắp đến gần bờ, mà khi tàu ở đông nam đến, thì là tàu tuần rồi. Những chiếc tàu ở Pháp qua đều ở tây nam lại.
Gần một tháng nay, không có chiếc tàu nào chạy qua lối đây cả. Nên chi thầy giáo nghe vui rộn lên, như là thấy dáng bạn đằng xa.
Bạn?
Ừ, bạn, bạn, thực đó, mặc dầu thầy giáo biết rõ ở trong nội địa người ta xem tàu ấy và người trên tàu là thù.
Thầy giáo đã hờn một người, rồi hờn luôn cả loài người. Thầy trốn ra đây đã hăm hai năm. Không đứng bộ đinh của làng nào trên nước Việt Nam nữa, thì nước Việt Nam đánh nhau với ai, thầy không mảy may sốt ruột, và không xem “ai đó” là kẻ thù.

Đây là hòn củ tron, nói đúng ra là một đảo trong quần đảo củ tron. Hòn này, thật ra gồm đâu lối hai mươi hòn đảo nhỏ.
Vịnh Thái Lan, phần thuộc hải phận Việt Nam, chi chít những đảo là đảo, như có đứa trẻ tinh nghịch nào hốt đá cuội mà vứt rải trên một cái ao con. Đảo ấy xúm xít lại với nhau từng chùm, thành nhiều bầy đảo riêng mà người dân trong nội địa, để đơn giản hóa, xem mỗi bầy như là một hòn duy nhất và chỉ đặt một tên thôi.
Tại sao lại có sự đào ngũ nước nhà và loài người này? Có gì đâu! Thật trẻ con và buồn cười hết sức, thầy giáo đã thất vọng vì tình mà lại. rõ là:

“Một người làm đĩ, xấu danh đờn bà”

Lời tục không sai.

Một người đờn bà đã phụ thầy, chỉ một người thôi, thế mà thầy oán tất cả giống đờn bà, rồi oán lây cả loài người.

Thầy kêu đời là giả dối, người là xấu xa và đâm ra ngâm toàn thơ yếm thế và mê cảnh làm bạn với hươu nai trong những bài thơ đó.
Ban đầu thầy định vào núi tu, nhưng trên Bảy Núi thì đang lắm ông đạo lăng nhăng, ông đạo Nằm, ông đạo Lết, ông đạo Huế, ông đạo Hù. Vả lại thỉnh thoảng lại có những bà mộ các ông đạo ấy lên hành hương, thì cuộc chung đụng với “những con ác quỷ” làm sao dứt được.
 
Những hòn đảo xa, xanh tím nơi chân trời ngoài kia, có những sự tích huyền ảo đối với người trên bờ, họ truyền miệng nhau mớ chuyện thần tiên ấy từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Nên chi bầy đảo chốn hải giác thiên nhai vốn đã quyến rũ thầy ta từ thuở bé, bấy giờ, khi lòng thầy nát ngướu vì sự phản bội của một người đàn bà, nó lại kêu lên cái tiếng gọi xa xăm và quyến rũ của nó.

Ra tới quần đảo Củ Tron, thầy mới nhận ra là sống một mình không được, hay được mà khổ biết bao nhiêu. Vì thế, thay vì ở biệt tịch trên một hòn hẻo lánh, thầy tá túc nơi một cù lao đông tám gia đình.

Thầy ta bỏ tên cũ, và dân đảo, chờ mãi không nghe thầy xưng tên, mới kêu thầy là thầy giáo, và chức thầy giáo biến thành tên thầy từ đó.

Về vật chất, con người ở đây lùi về đời sống cổ sơ, tự làm lấy mọi việc, ít khi trao đổi hàng hóa với nội địa. Nhưng thứ nhất là về mặt tinh thần. Cùng một nhịp với cuộc sống, họ cũng bỏ rơi lần lần những phiền toái xã giao về tình cảm, về ý nghĩ của một xã hội văn minh. Đời người nhờ thế mà ít bị ràng buộc biết bao.

Cây khói mọc lên cao rồi ngả đầu dưới gió sớm, rồi ống khói tàu nhô lên. Trông từ xa, ống khói và làn khói giống như một cây đuốc mà người cầm còn núp ở đâu dưới hố sâu.

Lần lần cả chiếc tuần dương hạm dình dàng bò lên trên góc biển hình tròn; đó là tế nhận tinh vi dưới hai con mắt biết khoa học của thầy giáo.

Nối đuôi tuần dương hạm là năm chiếc tuần hải ngạn nhỏ, trông như một con heo mẹ ột ệt dắt một bầy heo con.

Còi tàu hú vang lên, xịt khói dày đặc, rồi dừng lại ngoài khơi.
Không trông thấy rõ gì, mà thầy giáo vẫn biết họ đang hạ thủy những chiếc xuồng máy.

Cảnh này độ ba tuần là diễn lại một lần. Lần đầu cách đó mười năm. Thâm ý của hải quân Pháp là dòm ngó trên các đảo hẻo lánh ấy có Việt Minh hay không. Nhưng dân ở các đảo, và cả thầy giáo nữa, lại ngỡ là họ ghé xin nước, xin trái cây.

Không chiếc xuồng máy nào vào bờ mà không mang theo bơ, sữa, súc-cù-là, kẹo bánh. Người dân ở các đảo ngỡ đó là quà trao đổi, nên biếu lại nước suối ngọt, chuối, dừa. Thủy quân Pháp vui lòng nhận quà đó để gây thân thiện. Rồi khi dòm ngó thấy dân chúng chất phác làm ăn, họ trở ra khơi. Nhưng thỉnh thoảng họ vẫn trở lại. Thật là một sự xem chừng kiên nhẫn.

Nhờ thế thầy giáo biết rằng dân ta đã đứng lên kháng Pháp. Lòng trần chưa gội sạch, nên khi nghe tin này thầy nôn nao mấy hôm. Nhưng mà dứt là dứt! Ôi, đau như hôm vĩnh biệt đất liền, quyết tâm quên người yêu và thỉnh thoảng day lại nhìn ngọn cau ngả nghiêng dưới gió. Niềm đau vận nước hôm đó cũng ray rứt như là cuộc phân vân ngày đi. Thật là “linh đinh nửa nước, nửa dầu”. Nhưng thôi dứt là dứt hẳn!
 
Khi chiếc xuồng máy cày mặt biển, lủi gần tới bờ, thầy giáo vội vàng rời chỗ nhắm, trở về xóm để báo tin cho người ta đủ ngày giờ đốn chuối, hái dừa.

Dưới xuồng chỉ có một tiểu đội thôi, nhưng tới tám người lính và viên đội trưởng lên bờ, mà họ lên tay không. Ngày thường thì họ võ trang đến chơn tóc, kẽ răng và ở lại dưới xuồng đông hơn để ngừa nguy biến.

Thầy giáo làm thông ngôn. Bọn thủy thủ cũng chào hỏi vui vẻ như mọi lần, nhưng sắc mặt hơi buồn. Viên đội trưởng nói:
- Tôi đến đây lần cuối cùng để từ biệt các anh.
- Anh đổi đi nơi khác à?
- Không.
- Vậy thì làm sao...
- Hiệp định giơ-ne (Genève), các anh biết chớ?
- Có, có nghe anh nói.
- Sau hiệp định đó, chúng tôi ngỡ còn được ở miền Nam. Nhưng chính phủ anh yêu cầu chúng tôi rút lui toàn diện...
- Vậy hả?
- Bây giờ thì các anh độc lập rồi đó, không còn nói ra nói vào gì được nữa. Anh có về đất liền không, anh giáo? Về mà hưởng độc lập
- Không!
- Thế ra cái chuyện ngày xưa ấy, cái chuyện xui anh trốn ra đây ấy, là chuyện lòng thật sự, quả như anh đã nói? Từ thuở giờ, chúng tôi ngỡ anh nói dối và vẫn xem chừng anh đấy.

Bọn lính thủy cười rần rần; một anh đưa cánh tay ra, trên da có xăm quả tim bị một mũi tên xuyên ngang, máu chảy có giọt mà rằng:
- Đây, tình đau khổ! “ Ẻn” đã đập nát quả tim tôi, vậy mà tôi có thèm đi đâu. Hay nói cho đúng ra, tôi có đi, tôi đi cùng khắp bầu trời, để tìm nhiều “ẻn” khác, và tìm được dễ dàng.

Nhưng thầy giáo vẫn điềm nhiên:
- Thôi vĩnh biệt!
- Vĩnh biệt!
- Vĩnh biệt!
Bọn thủy thủ bắt tay từng người, rồi mang quà trở xuống bờ biển.

Cả đảo đưa họ, rồi về nhà, trừ thầy giáo. Thầy đứng nhìn xuồng cập tàu, nhìn cột sắt đen vẽ nét đứng, nét ngang trên nền trời xanh lơ, và nhất là lắng nghe tiếng còi thét lên trong không gian, gợi nhớ những chuyến đi, những cảnh non xa nước lạ mà thầy mơ từ thuở còn bé, và bây giờ, mặc dầu đã ra đây rồi, vẫn còn mơ cái kỳ ảo của viễn phương.

Dứt là dứt! tuy thế, cuộc hội kiến hôm nay vẫn làm huyên náo lòng thầy giáo như cái tin khởi nghĩa mười năm xưa. Vận nước thịnh suy, hưng, vong triều đại, đó là những điều mà ta khó lòng dửng dưng được, và không thể đặt điều ấy ngang hàng với một câu chuyện tình.
Nhưng thôi, dứt là dứt!

Khi mấy con tàu chỉ còn bằng mấy cái vú cau mà trẻ con thả chơi trên bể cạn, thầy giáo quay lưng đi vào xóm, nhưng không ghé đó, lại đi thẳng ra bãi biển nghịch điểm.

Thầy đẩy xuống nước chiếc xuồng độc mộc nằm phơi nắng trên bãi cát, rồi thót lên ngồi trên đó.

Giữa những cù lao trong quần đảo củ tron là những vuông biển nhỏ im lặng như mặt hồ. Bơi xuồng trên bao nhiêu là hồ ấy, đi từ đảo này qua đảo kia là một cái thú vui vô song nhắc nhở cảnh người xưa chu du năm hồ bốn biển, cảnh từ Thức chèo thuyền chợt gặp Đào Nguyên.

Nhứt là những hòn đảo này là những hòn non bộ thiên nhiên mà trong đất liền, nghe nói ai cũng thèm nhểu nước miếng.

Đảo đá vôi lồi lõm những gộp đá hình thù kỳ dị, những hang non hiểm hóc và những động là là mặt nước trông như cửa động đào; gộp đá vôi thì mỗi gộp mỗi màu, trên ấy mọc lên những cây lùn mà hình dáng lại cằn cỗi như cổ thụ, và tất cả soi bóng, in hình một cách trung thành, đầu lộn ngược, trên mặt biển đang nhạt màu trời và phẳng như gương.

Hạ nhẹ mái giầm, thầy giáo nhìn một sườn non và nhớ lại cái mộng của mình là xây ở lưng chừng sườn non ấy một ngôi chùa mái cong lợp bằng ngói sứ nhiều màu. Ngôi chùa ấy vài năm sẽ xanh rêu, và ngồi ở dưới xuồng trông lên, y hệt như ngắm non bộ để rồi mơ đến hình ảnh nước tàu ngày xưa, nước Tàu cổ kính trong tranh: một ngôi chùa cổ cheo leo trên sườn núi, trong rừng sâu, chiếc cầu đá bắt ngang sơn khê, bên cầu hai tu sĩ tóc dài chảy trắng xuống như thác nước đổ, đang ngồi đánh ván cờ muôn thuở.
 
Thầy giáo bơi xuồng độc mộc từ hòn này qua hòn khác cho đến lúc hoàng hôn nhuộm tím chơn trời và mặt nước.
Mấy lúc này thầy hơi mệt - Đã năm mươi rồi, còn gì nữa! - Nên chỉ làm lấy lệ, cho có mà sống lây lất qua ngày, và cho dư thời giờ đi dạo thả cửa như vầy.

Năm mươi! trời ơi, đã hăm hai năm rồi, thành tiên trong động vắng thì chưa thành, mà lòng vẫn còn xao động mỗi khi một ngọn gió xa thổi đưa sóng đời tới.

Còn sống mấy năm nữa đây, rồi sẽ giã từ hẳn mọi thứ, kể cả đời sống cổ sơ bình dị này? chắc cũng chẳng bao lâu, vì thầy giáo nghe trong người yếu lần. Năm mươi là khúc đường quanh, bước qua là nghe khác nẻo đi vừa bỏ, hễ dang nắng, dầm mưa là nghe muốn ể mình.

Lại còn!... Thầy giáo nghĩ tới đây thì buồn đến muốn nhảy xuống biển cho rồi.

Ở đây người dân sống tập thể trong nhiều điểm: thí dụ cất nhà, đốn gỗ để mổ xuồng, cuốc đất trồng khoai, vân vân... Mấy lúc này thầy nghe yếu trong người nên tự buông tha mình khỏi những khổ dịch vần công...

Người trong đảo ban đầu nhìn thầy bằng những cái nhìn trách móc rồi sau đó, khinh thầy ra mặt. Thì ra cũng còn vướng loài người với những ràng buộc phiền phức.

Đêm ấy thầy giáo nhức đầu như có hai khúc gỗ kẹp hai bên màng tai, rồi ai đó chơi nghịch siết chặt hai khúc gỗ lại. Ác mộng liên miên tới sáng, rồi lên cơn sốt. Rõ ràng là cảm thử.

Ở đây người ta sống như người thượng cổ, hay như người sơn cước ngày nay. Ai có sức khoẻ thì lướt khỏi bịnh tật. Lướt được là đi hết đường đời tới khi đầu bạc. Ai không dẻo dai là chết quay ra.

Nhưng trường hợp của thầy giáo chưa xảy ra bao giờ: Không lăn đùng ra mà chết, cũng chẳng khỏi cơn sốt liên miên.

Người ta đến thăm thầy giáo trong ba ngày đầu, rồi thôi. Một mụ hàng xóm thương tình nấu khoai, phần chia của thầy, cho thầy ăn đỡ dạ trong năm ngày. Nhưng khoai của thầy hết sạch. Người ta nuôi thầy bằng khoai hàng xóm trong nửa con trăng.

Thầy hết sốt nhưng vẫn nằm liệt. Một ông lão còn sõi, nhìn thầy rồi lắc đầu:
- Không thể khỏi. Như là bại xụi ấy mà! Nằm riết đến thúi lưng là chết.
Vậy ra đây là một cái miệng vô ích!
Không giận ghét thầy, người ta vẫn chẳng tới lui nữa. Cái miệng vô ích, kể như chết rồi. Không giết đó là may, ai hơi đâu mà nuôi mãi.

Sau hai ngày vắng khách, thầy giáo bỗng thấy thiếu và thầy bỗng rợn người lên khi nghĩ đến câu chuyện rung cây dừa mà thầy được biết thuở bé, khi đọc địa dư.
Ngoài khơi Thái Bình Dương có những hòn đảo thần tiên mà dân trên đó suốt ngày ca hát vui chơi. Khi một người chủ gia đình trở nên già yếu, họ bắt y leo lên ngọn dừa, rồi áp nhau mà lung lay gốc cây dừa ấy.

Người leo cây, nếu bám chặt được là sẽ sống thêm ít lúc. Bằng rủi tay rơi xuống thì họ cho ngay hắn ta là một cái miệng vô ích, cần phải cô lập một nơi cho chết đói lần mòn.

Rung cây dừa! Thế ra là mình bị họ rung cây dừa đây!

Sống cổ sơ bình dị! Thú biết bao, nên thơ biết bao, mộc mạc thong thả biết bao! Nhưng cũng giống thú vật biết bao! con thú đầu đàn, khi vồ hụt mồi lần đầu là bị đàn coi là hết khả năng, bị thay thế ngay, rồi bị thịt ngay.

Sống cổ sơ bình dị! có làm mới có ăn, già nua là không còn hay ho gì nữa! Xã hội chỉ nuôi những cái miệng hữu ích thôi!
A ha! Đó là một xã hội thú vật, cóc cần tình cảm, cóc cần tình thương đối với lớp “người trái chanh”, lớp người bị vắt hết cả nước cốt trong thời niên thiếu để dâng lên đoàn thể và bây giờ chỉ còn trơ lại cái vỏ khô như xác ve.

Thầy giáo gượng dậy, lết cùng nhà và may sao, tìm được hũ khoai mà mụ láng giềng không thấy. Thầy ăn khoai sống mấy hôm.
Muốn về đất liền lắm, lần này. Nhưng ở đây thì không dung miệng vô ích, còn ở trong ấy thì lại dung quá nhiều miệng vô ích. Không phải miệng lớp già, mà là miệng ký sinh nhân. chán thay, chạy ô mồ, mắc ô mả, bây giờ muốn chạy thầy cả lại ngại mắc thầy con!

Ở đâu hợp lý tưởng bây giờ để được dung thân buổi xế chiều của một cuộc đời tuy lánh mặt nhưng vẫn hữu ích? (Nếu không hữu ích thì cuộc đời ấy hẳn đã phải bị rung cây dừa ngay từ thuở mới ra đây).
Ngày xưa sao mà quyết định quá dễ, dứt tình với người yêu, với loài người như dứt sợi bòng bong đeo trên rào. Bây giờ nó trợn trạo như là xuống không lọt mà lên lại chẳng thông.

Quá nửa đời người rồi, và vào đoạn đường ấy, con người ngại trở bước lắm chăng?

“Mà người, ngày xưa đã từ bỏ tất cả, cả những cái lớn lao, lẽ gì ngày nay lại không dám đánh rơi một khu sống không dung tha tình cảm, một khu sống mà người ta siêng năng để mà sống, như đàn kiến. chỉ có thế thôi! Và như đàn kiến, con nào ngã dọc đường thì mặc thây nó, không ai hơi đâu mà ngừng lại nhỏ cho nó vài giọt nước mắt để cho rối trật tự của đoàn đang đi.
- Mầy phải chọn, thầy giáo Lầu ơi!

Thầy giáo khiển trách mình và bất giác gọi đến cái tên mà hăm hai năm nay thầy bỏ hẳn.
Thầy giật nẩy mình. Tên ấy vang lên như giọng nói của một người thân yêu, dội trở lại với một hình bóng mờ xa của những người biết thương, thương nhiều quá, thương đến cả kẻ thù, đến cả những cái miệng hoàn toàn vô ích.

Lần thứ ba, lòng giáo Lầu huyên náo. Nhưng lần này thầy không thản nhiên được, sau trận dao động đầu tiên.

Tiếng vang của mối tình đến, rồi tan trong gió.
Tiếng vang vận nước thoảng qua, rồi tắt lần trong thờ ơ của người yếm thế.

Nhưng tiếng vang của loài người, của xã hội văn minh lại kêu réo như tiếng còi tàu thỉnh du. còi tàu vẳng đưa lên hình bóng nước non xa lạ, còn tiếng con người lại nghê nga chơn trời cũ, bóng bạn xưa, không thúc giục như còi tàu, nhưng lại thỏ thẻ, nỉ non, dai dẳng như lời mời nhẫn nại của một người nhiều hảo ý và thiết tha đón khách.

Sáng hôm sau, một chú Lỗ Bình Sơn tân thời đầu bù, tóc rối bơi chiếc xuồng độc mộc trở vào bờ, bịn rịn cù lao rung dừa nhưng lại háo hức hơn vì mơ mảnh đất liền biết thương đến con bò già không kéo cày được nữa.




Đăng nhập để trả lời
0
Đồng đội


Tám Tơ khà một cái dài như rắn hổ, đặt tô trà Huế xuống bàn một cái cộp, rồi hỏi:
- Mày liệu làm sao?
Tư Nết gãi tóc, nhăn mặt giây lâu rồi nói:
- Thật tôi không nỡ nào...
- Mày phải nỡ...
- Ngộ không! Anh nói giọng đó thì tôi trả lời dứt khoát với anh cho rồi. Tôi không nhận lời.
- Vậy hà, vậy thì tao cho mày ở tù.
Tư Nết cười ha hả:
- Hứ, thứ trùm trưởng là tay sai của người ta mà cũng làm oai. Bộ mặt của anh mà bỏ tù ai được.
- Bỏ tù mày được. Nè, đêm hôm qua mày biết ai chèo xuồng cho Thầy Hương Quản rượt bối đó không?
Tư Nết giật nẩy mình, mặt tái lét. Hắn ngó quanh quất và rất mừng là quán vắng tanh. Cả chủ quán cũng chạy đâu mất.
- Xanh mặt rồi đó, còn nói cứng nữa thôi?
- Ừ, cho là anh chèo xuồng đi. Rồi sao nữa?
- Tới Vàm Tắt, tao thấy rõ trên xuồng bối có mầy ngồi. Tao theo gần kịp, mà thương mầy có mẹ già bịnh nặng, nên tao lơi giầm, cho tụi bây thoát.
Mồ hôi Tư Nết xuống có giọt. Lâu lắm hắn mới nói được:
- Thôi... anh muốn gì, tôi cũng bằng lòng nghe theo hết.
- Có gì đâu mà khó. Nè, ghe Bình Trước, ghe Tân Uyên do dân chợ là dân cà phê xíu mại bơi nên tao thị như đồ bỏ. Ghe mấy làng khác cũng không có gì đáng ngán. Chỉ còn hơi lo về ghe Tân Đức và rất lo về ghe An Thịt của mày thôi. Dân bơi Tân Đức năm nay đã thành lão tướng hết ráo. Rốt cuộc thì còn lo một mũi An Thịt của mày đó. Tao hỏi thì biết chắc là năm nay mày giữ cây xà bát trên ghe làng này, nên tao mới cậy mày.
- Tôi phải làm gì, đâu anh nói nghe thử?
- Chắc chắn là chỉ có ghe Ba Doi của tụi tao và ghe An Thịt của tụi bây tới mức ăn thua trước. Chừng đó hai chiếc ghe ấy sẽ song song với nhau mà rút. Dân An Thịt của mầy cừ lắm, tụi tao ngán quá. Tụi tao tính đâm đại mũi vào hông ghe An Thịt. Ghe bây cũ quá chắc phải rã, tụi tao ăn chắc. Mà muốn đâm cho được, phải nhờ đến mầy làm nội công. Tụi tao chĩa mũi qua; tụi bây tránh đi, rồi tụi tao làm sao đâm. Mầy giữ xà bát, mầy phải lái làm sao để đưa hông hớ hênh cho tụi tao dễ đâm...
- Chỉ có như vậy hè?
- Chỉ có bấy nhiêu đó mà mày được thưởng mười đồng, còn ăn chia tiền thưởng của ông chánh (1) nữa. Nghe nói năm nay tiền thưởng giải nhứt là một trăm.
Tư Nết làm thinh mà nghe, rồi nín lặng giây lâu đoạn thở ra hỏi:
- Hồi hôm, tới Vàm Tắt anh thấy tôi đang làm gì?
Ý Tư Nết muốn kiểm soát lại coi quả mình bị trông thấy thật sự hay không. Chỉ có mối nguy ấy mới khiến anh phản bội hàng ngũ được.
- Mầy bơi đàng sau, thằng Sang bơi trước mũi. Thằng ngồi giữa tao không biết.

Tư Nết bây giờ mới hoàn toàn chịu thua.
Anh ta lững thững ra khỏi quán, mặt buồn hiu. Luôn sáu năm, ghe bơi An Thịt chiếm giải nhứt trong các cuộc đua. Anh góp phần trong vinh quang địa phương ấy rất nhiều, cho đến đỗi năm nay người ta tôn anh giữ xà bát, tức là giữ cây chèo dài phía sau, thế cho bánh lái ghe, không được phép gắn. Thế mà anh phản bạn thì có đau lòng hay không?

Chuyến đi bối đêm hôm rồi, xui xẻo hết sức. Không lượm được một hột gạo mà còn bị xuồng Hương quản Ba Doi rượt chạy muốn hụt hơi vì bạn của anh lỡ chém một chủ ghe. Tư Nết nhớ lại mẹ đang nóng mê sảng ở nhà, nhớ số tiền đưa trước do Tám Tơ đưa. Thật là quyến rũ.

Mà chèo kéo làm sao! Anh nhớ bạn hữu, ba mươi người, toàn là dân chèo ghe với nhau, người nào cũng lưng cháy nắng, bàn cẳng hà ăn, cực khổ cả năm mới được vài phút vui là tới mức ăn thua trước các làng khác trong tỉnh. Vậy mà năm nay...!

Về tới nhà, anh nghe mẹ nôn oẹ ầm lên, và thấy hàng xóm lăng xăng bên chõng bà cụ. Họ chỉ có gừng và nước nóng để cứu bịnh nguy ngập của bà. Vì thế bà vẫn sốt liên miên.
Tư Nết không bước qua thềm, trở gót và chạy mau đến nhà Tám Tơ. Chưa tới cửa anh đã nói:
- Anh Tám ơi, tôi quyết định rồi, anh đưa trước năm đồng đây coi. Gấp lắm!

Tám Tơ làm thinh lần dây lưng mở hồ bao lấy ra một tấm giấy con công ướt nhẹp:
- Nè, mà hễ nuốt lời thì chết đa nghen!
- hứa rồi mà!

*  *  *

Khúc sông Đồng Nai trước chợ Biên hòa rộng như một cái hồ to, thế mà ghe bơi năm đó thả lềnh bềnh gần chật sông.
Ông tỉnh trưởng là đảng viên của một đảng trụ cột của đệ tam cộng hòa Pháp, nên ông ra lịnh ăn lễ Cát-to-ru-dết(2) thật rình rang.

Ghe làng nào cũng phải có mặt, làng thất mùa, làng bị bịnh truyền nhiễm gì cũng phải tham dự cuộc đua bơi năm đó cả.

Đứng ở bờ sông trước dinh ông chánh mà ngó lên cồn gáo, người xem có cảm giác như lạc vào miền lạ nào. Màu sắc hực hỡ của mấy mươi chiếc ghe mới sơn, với đầu rồng, đầu phụng của nó gợi hình ảnh cuộc nam du của vua nhà tùy, nhắc nhở những thuyền rồng vua Lê, những hành cung của chúa trịnh.

Những đuôi rồng, đuôi phụng, cong quớt lên, lại gợi hình ảnh xứ Thái, xứ Miên, với những chiếc ghe dài hình rắn Na-ra.
Một hồi trống.
Tức thì mấy mươi chiếc ghe chuyển mình, lượn tới để sắp hàng.
Một tiếng súng. Trả lời tiếng súng ấy, mấy mươi chiếc phèng la đánh lên một lượt, rồi mấy trăm tiếng người hô lên một lượt để ra hiệu khởi hành:
- Phèng!
- Hè!
- Phèng!
- Hè!
Tiếng phèng la trên mỗi chiếc ghe bơi, chỉ định thời gian hạ giầm cho dân bơi. Tiếng hè của họ xác định rõ thêm thời gian ấy. Nhờ thế họ hạ giầm ăn rập với nhau, mấy mươi người đều cúi rạp mình xuống một lúc.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Trên mỗi chiếc ghe, mấy mươi người dân bơi giống hệt như người gỗ được cột dính với nhau, rồi một bàn tay bí mật vô hình nào đó giựt dây cho họ cử động.
Mấy mươi chiếc ghe bơi, trông đàng xa như mấy mươi con thủy quái thời tiền sử còn sót lại và thừa lúc biển lặng trời êm, nổi lên để giỡn nước. chúng trườn tới trên mặt sóng như những con giao long hồ Động Đình tả trong truyện tàu ngày xưa, đầu có mồng có mỏ, có vảy, đuôi có rìa.
Xanh, trắng, đỏ, vàng pha trộn với nhau trên màu bạc của mặt nước phản chiếu ánh mai, lóng lánh như cá ngũ sắc trong một chiếc bồn khổng lồ nào.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!

Đua chưa đầy trăm thước mà đã có ba làng rớt lại sau. Đó là những làng chợ mà dân bơi là dân cà phê, xíu mại, y như lời Tám Tơ nói. Họ chỉ dự cho có mặt, và vui lòng ở lại đùa chơi khi bị bỏ rơi.
Bây giờ sông nổi sóng. Mũi ghe rẽ nước vo vo. Giầm chém xuống mặt sông làm bắn nước lên trắng như bọt thác.
Phèng!
- Hè!

Ghe bơi không lướt theo một tốc độ đều đều như thuyền chạy buồm. Hễ giầm hạ một bận là nó vượt một cái, thành ra xa trông tưởng như nó nhảy. Mà nó cũng nhảy thật đó. Sức bơi mạnh quá khiến nhiều chiếc làm bằng gỗ nhẹ, nhảy chồm lên. Có năm, vài chiếc đứt làm hai đoạn, hoặc rã bung ra.
Phèng!
- Hè!

Hai chiếc ghe giữa đi kề sát nhau. Dân bơi bên này dùng giầm mà chém vào tay dân bơi bên kia. cuộc chém trả gây thành một trận thủy chiến tai hại cho cả đôi bên, và cả hai bên đều rơi lại.

Chiếc ghe rồng xanh, không biết anh xà bác lái thế nào mà lật úp xuống. Hai mươi chín người trên ghe đều quăng giầm, rối bíu bu quanh ghe họ để lật nó trở lại, không phải mong theo kịp ai nữa, mà cốt cứu sống anh giầm đốc. Anh này ngồi trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước. Hễ ghe chìm là anh ta nguy.
Phèng!
- Hè!

Bây giờ còn sáu chiếc là mong tranh ăn thua với nhau.Thành thử cuộc đua vô cùng hào hứng trong cái nước rút lớn của họ.
Chiếc này lần chiếc kia một mũi thôi. Họ rút tới như ta so đũa, rán so cho bằng với nhau, để dành sức đặng rút vào phút chót mà tranh giải. Nhưng không làm sao so cho bằng được cả. Sáu chiếc cứ thay phiên nhau mà so le, trờ tới hoặc thụt lùi.
Trên bờ, khán giả la ó vang trời. Có người hăng quá nhảy múa lăng xăng thỉnh thoảng một anh rơi xuống nước, kêu cái chũm.
Phèng!
- Hè!


Chú thich:
[1] Tỉnh trưởng thời Pháp thuộc.
[2] Cát-to-ru-dết: 14 tháng 7 (14 Juillet): Quốc khánh nước Pháp






Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 15:01:06 bởi Ct.Ly>
Đồng đội


Tám Tơ khà một cái dài như rắn hổ, đặt tô trà Huế xuống bàn một cái cộp, rồi hỏi:
- Mày liệu làm sao?
Tư Nết gãi tóc, nhăn mặt giây lâu rồi nói:
- Thật tôi không nỡ nào...
- Mày phải nỡ...
- Ngộ không! Anh nói giọng đó thì tôi trả lời dứt khoát với anh cho rồi. Tôi không nhận lời.
- Vậy hà, vậy thì tao cho mày ở tù.
Tư Nết cười ha hả:
- Hứ, thứ trùm trưởng là tay sai của người ta mà cũng làm oai. Bộ mặt của anh mà bỏ tù ai được.
- Bỏ tù mày được. Nè, đêm hôm qua mày biết ai chèo xuồng cho Thầy Hương Quản rượt bối đó không?
Tư Nết giật nẩy mình, mặt tái lét. Hắn ngó quanh quất và rất mừng là quán vắng tanh. Cả chủ quán cũng chạy đâu mất.
- Xanh mặt rồi đó, còn nói cứng nữa thôi?
- Ừ, cho là anh chèo xuồng đi. Rồi sao nữa?
- Tới Vàm Tắt, tao thấy rõ trên xuồng bối có mầy ngồi. Tao theo gần kịp, mà thương mầy có mẹ già bịnh nặng, nên tao lơi giầm, cho tụi bây thoát.
Mồ hôi Tư Nết xuống có giọt. Lâu lắm hắn mới nói được:
- Thôi... anh muốn gì, tôi cũng bằng lòng nghe theo hết.
- Có gì đâu mà khó. Nè, ghe Bình Trước, ghe Tân Uyên do dân chợ là dân cà phê xíu mại bơi nên tao thị như đồ bỏ. Ghe mấy làng khác cũng không có gì đáng ngán. Chỉ còn hơi lo về ghe Tân Đức và rất lo về ghe An Thịt của mày thôi. Dân bơi Tân Đức năm nay đã thành lão tướng hết ráo. Rốt cuộc thì còn lo một mũi An Thịt của mày đó. Tao hỏi thì biết chắc là năm nay mày giữ cây xà bát trên ghe làng này, nên tao mới cậy mày.
- Tôi phải làm gì, đâu anh nói nghe thử?
- Chắc chắn là chỉ có ghe Ba Doi của tụi tao và ghe An Thịt của tụi bây tới mức ăn thua trước. Chừng đó hai chiếc ghe ấy sẽ song song với nhau mà rút. Dân An Thịt của mầy cừ lắm, tụi tao ngán quá. Tụi tao tính đâm đại mũi vào hông ghe An Thịt. Ghe bây cũ quá chắc phải rã, tụi tao ăn chắc. Mà muốn đâm cho được, phải nhờ đến mầy làm nội công. Tụi tao chĩa mũi qua; tụi bây tránh đi, rồi tụi tao làm sao đâm. Mầy giữ xà bát, mầy phải lái làm sao để đưa hông hớ hênh cho tụi tao dễ đâm...
- Chỉ có như vậy hè?
- Chỉ có bấy nhiêu đó mà mày được thưởng mười đồng, còn ăn chia tiền thưởng của ông chánh (1) nữa. Nghe nói năm nay tiền thưởng giải nhứt là một trăm.
Tư Nết làm thinh mà nghe, rồi nín lặng giây lâu đoạn thở ra hỏi:
- Hồi hôm, tới Vàm Tắt anh thấy tôi đang làm gì?
Ý Tư Nết muốn kiểm soát lại coi quả mình bị trông thấy thật sự hay không. Chỉ có mối nguy ấy mới khiến anh phản bội hàng ngũ được.
- Mầy bơi đàng sau, thằng Sang bơi trước mũi. Thằng ngồi giữa tao không biết.

Tư Nết bây giờ mới hoàn toàn chịu thua.
Anh ta lững thững ra khỏi quán, mặt buồn hiu. Luôn sáu năm, ghe bơi An Thịt chiếm giải nhứt trong các cuộc đua. Anh góp phần trong vinh quang địa phương ấy rất nhiều, cho đến đỗi năm nay người ta tôn anh giữ xà bát, tức là giữ cây chèo dài phía sau, thế cho bánh lái ghe, không được phép gắn. Thế mà anh phản bạn thì có đau lòng hay không?

Chuyến đi bối đêm hôm rồi, xui xẻo hết sức. Không lượm được một hột gạo mà còn bị xuồng Hương quản Ba Doi rượt chạy muốn hụt hơi vì bạn của anh lỡ chém một chủ ghe. Tư Nết nhớ lại mẹ đang nóng mê sảng ở nhà, nhớ số tiền đưa trước do Tám Tơ đưa. Thật là quyến rũ.

Mà chèo kéo làm sao! Anh nhớ bạn hữu, ba mươi người, toàn là dân chèo ghe với nhau, người nào cũng lưng cháy nắng, bàn cẳng hà ăn, cực khổ cả năm mới được vài phút vui là tới mức ăn thua trước các làng khác trong tỉnh. Vậy mà năm nay...!

Về tới nhà, anh nghe mẹ nôn oẹ ầm lên, và thấy hàng xóm lăng xăng bên chõng bà cụ. Họ chỉ có gừng và nước nóng để cứu bịnh nguy ngập của bà. Vì thế bà vẫn sốt liên miên.
Tư Nết không bước qua thềm, trở gót và chạy mau đến nhà Tám Tơ. Chưa tới cửa anh đã nói:
- Anh Tám ơi, tôi quyết định rồi, anh đưa trước năm đồng đây coi. Gấp lắm!

Tám Tơ làm thinh lần dây lưng mở hồ bao lấy ra một tấm giấy con công ướt nhẹp:
- Nè, mà hễ nuốt lời thì chết đa nghen!
- hứa rồi mà!

*  *  *

Khúc sông Đồng Nai trước chợ Biên hòa rộng như một cái hồ to, thế mà ghe bơi năm đó thả lềnh bềnh gần chật sông.
Ông tỉnh trưởng là đảng viên của một đảng trụ cột của đệ tam cộng hòa Pháp, nên ông ra lịnh ăn lễ Cát-to-ru-dết(2) thật rình rang.

Ghe làng nào cũng phải có mặt, làng thất mùa, làng bị bịnh truyền nhiễm gì cũng phải tham dự cuộc đua bơi năm đó cả.

Đứng ở bờ sông trước dinh ông chánh mà ngó lên cồn gáo, người xem có cảm giác như lạc vào miền lạ nào. Màu sắc hực hỡ của mấy mươi chiếc ghe mới sơn, với đầu rồng, đầu phụng của nó gợi hình ảnh cuộc nam du của vua nhà tùy, nhắc nhở những thuyền rồng vua Lê, những hành cung của chúa trịnh.

Những đuôi rồng, đuôi phụng, cong quớt lên, lại gợi hình ảnh xứ Thái, xứ Miên, với những chiếc ghe dài hình rắn Na-ra.
Một hồi trống.
Tức thì mấy mươi chiếc ghe chuyển mình, lượn tới để sắp hàng.
Một tiếng súng. Trả lời tiếng súng ấy, mấy mươi chiếc phèng la đánh lên một lượt, rồi mấy trăm tiếng người hô lên một lượt để ra hiệu khởi hành:
- Phèng!
- Hè!
- Phèng!
- Hè!
Tiếng phèng la trên mỗi chiếc ghe bơi, chỉ định thời gian hạ giầm cho dân bơi. Tiếng hè của họ xác định rõ thêm thời gian ấy. Nhờ thế họ hạ giầm ăn rập với nhau, mấy mươi người đều cúi rạp mình xuống một lúc.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Trên mỗi chiếc ghe, mấy mươi người dân bơi giống hệt như người gỗ được cột dính với nhau, rồi một bàn tay bí mật vô hình nào đó giựt dây cho họ cử động.
Mấy mươi chiếc ghe bơi, trông đàng xa như mấy mươi con thủy quái thời tiền sử còn sót lại và thừa lúc biển lặng trời êm, nổi lên để giỡn nước. chúng trườn tới trên mặt sóng như những con giao long hồ Động Đình tả trong truyện tàu ngày xưa, đầu có mồng có mỏ, có vảy, đuôi có rìa.
Xanh, trắng, đỏ, vàng pha trộn với nhau trên màu bạc của mặt nước phản chiếu ánh mai, lóng lánh như cá ngũ sắc trong một chiếc bồn khổng lồ nào.
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!
Phèng!
- Hè!

Đua chưa đầy trăm thước mà đã có ba làng rớt lại sau. Đó là những làng chợ mà dân bơi là dân cà phê, xíu mại, y như lời Tám Tơ nói. Họ chỉ dự cho có mặt, và vui lòng ở lại đùa chơi khi bị bỏ rơi.
Bây giờ sông nổi sóng. Mũi ghe rẽ nước vo vo. Giầm chém xuống mặt sông làm bắn nước lên trắng như bọt thác.
Phèng!
- Hè!

Ghe bơi không lướt theo một tốc độ đều đều như thuyền chạy buồm. Hễ giầm hạ một bận là nó vượt một cái, thành ra xa trông tưởng như nó nhảy. Mà nó cũng nhảy thật đó. Sức bơi mạnh quá khiến nhiều chiếc làm bằng gỗ nhẹ, nhảy chồm lên. Có năm, vài chiếc đứt làm hai đoạn, hoặc rã bung ra.
Phèng!
- Hè!

Hai chiếc ghe giữa đi kề sát nhau. Dân bơi bên này dùng giầm mà chém vào tay dân bơi bên kia. cuộc chém trả gây thành một trận thủy chiến tai hại cho cả đôi bên, và cả hai bên đều rơi lại.

Chiếc ghe rồng xanh, không biết anh xà bác lái thế nào mà lật úp xuống. Hai mươi chín người trên ghe đều quăng giầm, rối bíu bu quanh ghe họ để lật nó trở lại, không phải mong theo kịp ai nữa, mà cốt cứu sống anh giầm đốc. Anh này ngồi trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước. Hễ ghe chìm là anh ta nguy.
Phèng!
- Hè!

Bây giờ còn sáu chiếc là mong tranh ăn thua với nhau.Thành thử cuộc đua vô cùng hào hứng trong cái nước rút lớn của họ.
Chiếc này lần chiếc kia một mũi thôi. Họ rút tới như ta so đũa, rán so cho bằng với nhau, để dành sức đặng rút vào phút chót mà tranh giải. Nhưng không làm sao so cho bằng được cả. Sáu chiếc cứ thay phiên nhau mà so le, trờ tới hoặc thụt lùi.
Trên bờ, khán giả la ó vang trời. Có người hăng quá nhảy múa lăng xăng thỉnh thoảng một anh rơi xuống nước, kêu cái chũm.
Phèng!
- Hè!
Ghe phụng xanh và ghe rồng vàng bỗng như hai mũi tên bắn mạnh tới.
- Ba Doi với lại An Thịt đó, bà con ơi!
- Rút lên, Ba Doi!
- Rán giữ danh tiếng, An Thịt!
Một chiếc thứ ba, đầu phụng mỏ đỏ, mình nhiều màu, chừng như cũng muốn bắn theo. Đó là ghe tân Đức. Nhưng gắng được vài phút, nó lại trở về hàng cũ.
Cuộc đua đã gần ngã ngũ: Nhứt, nhì về tay An Thịt, Ba Doi, chớ không sai chạy được. Nhưng khán giả càng hồi hộp hơn bao giờ hết. Bạn của An Thịt thì lo lắng An Thịt mất chức vô địch, còn bạn của Ba Doi thì nôn nao mong Ba Doi lên chưn một lần.

Ba Doi và An Thịt nằm trên khúc sông Đồng Nai ở gần ngoài cửa. Sông lớn tập cho họ quen bơi chèo và buộc họ bơi chèo giỏi. Dân hai vùng đó, người nào cũng lưng nách và bắp thịt tay của họ có u có nần.
Phèng!
- Hè!
- Lên con, Ba Doi!
- Ừ đó! Ừ đó! Được đa! An Thịt!
Ghe An Thịt lấn hơn ghe Ba Doi nửa mình. Ghe sau hổn hển rượt theo, coi muốn hụt hơi mà chỉ nhích lên được độ một gang thôi. Đã kém, nó lại không đi đường ngay lối thẳng, mà chĩa xéo mũi vào bờ bên này.
- Ba Doi đổ quạu rồi, coi chừng nó đâm ẩu! - Thiên hạ ó ré lên.
- Đâm làm sao được. Bộ An Thịt người ta dại hay sao. Người ta cũng chĩa xéo như nó rồi hai chiếc cứ song song như cũ, làm sao mà đâm.

Nhưng kỳ lạ thay, ghe An Thịt chẳng những không cho ghe mình đi song song với chiếc ghe gây sự kia, lại còn chĩa mũi qua bờ đối diện, tức là đem hông mình mà dưng cho mũi ghe địch.

Tư Nết ăn tiền, đã trung thành với lời giao ước, đem cả làng nạp mạng cho Ba Doi. Anh nghĩ bụng, bất quá bạn đồng thuyền của anh sẽ chửi anh tan ông nát cha vài phút, rồi rầm một cái là ghe anh lật nhào, rồi mạnh ai nấy lội, không còn dám hả miệng chửi dai hoài. Tuy nhiên anh vẫn nghe nhờm nhờm nơi tay khi cầm xà bát mà nại (3) cho ghe anh chĩa xéo, nhờm nhờm như là cầm dao thọc huyết con heo.
Trừ anh đánh phèng la, cả thuyền đều cắm đầu cắm cổ mà bơi, không còn biết trời đất gì cả. họ chưa kịp thấy sự phản trắc của anh mà cho dẫu thấy họ cũng chẳng làm sao được.
Phèng!
- Hè!
Cả thuyền đều cắm đầu cắm cổ mà bơi. Ba mươi người mà như là một người. Sự duy nhất ấy không phải chỉ ở việc bơi ăn rập và reo hò một lượt với nhau mà cả ở trong lòng họ. Cả làng, cả đội sẽ thắng hay bại, chớ không riêng anh Ất anh giáp nào. Dân làng sống đồng đội từ cái ăn, cái làm, cái chơi cho đến cái khổ, cái chết. Tư Nết đã đồng đội với họ từ vụ lụt lớn, cách đó mười lăm năm, từ vụ thất mùa bảy năm trước, từ vụ cọp rừng Sát chụp tía anh và được cả làng ùa ra cướp lại, thì làm sao bây giờ anh lại thôi đồng đội với họ? Tất cả những ý nghĩ ấy qua mau trong đầu anh.
Phèng!
- Hè!
Hồi hộp lắm. Hai ghe cách nhau gần trăm thước hồi nãy, bây giờ chỉ xa nhau độ hai mươi thước thôi. Cả hai như cố châu đầu lại để chạy về một cái đích chung, vô hình, ở đầu phía trước, và ghe nào chèo mau hơn sẽ bị đâm lủng hông.
Phèng!
- Hè!

Dân bơi hả miệng mà la và cũng để táp lấy những giọt nước sông do giầm phía trước chém bắn lên cho đỡ khát.
Một anh bạn bơi, giọng khàn khàn nói:
- Chết rồi, nó đâm!
- Mày lái cái mắc dịch gì mà kỳ vậy Nết?
- Nết ơi, mày muốn ở tù sao mà đưa hông cho nó đâm?

Câu sau đó là của hương trưởng chi người đánh phèng la.
Tư Nết cười ha hả mà đáp:
- Chính vì sợ ở tù nên tôi mới cho nó đâm. Mà thôi, bà con ơi thà là ở tù?
Ghe An Thịt bỗng quay mũi ngang lại, rồi quay xéo cho đi song song với ghe Ba Doi.
- Hè... è... è!!

Một tiếng hè dài không dứt, thế là An Thịt bứt đi, bỏ Ba Doi xa đến một mình rưỡi, vượt qua khỏi trái nổi neo ở trước đó để làm mức ăn thua.
Ghe Ba Doi tiu nghỉu như mãnh thú vừa vồ hụt con mồi, nhìn nó chạy thoát, lòng đầy căm hận.
Ba mươi chiếc giầm sơn đỏ của ghe An Thịt bỗng đưa cao lên một lượt để chào quan khách trong bờ. Khán giả có ấn tượng như thấy một con rít chạy tới đó rồi ngã lăn đùng ra, đưa mấy trăm chân lên trời.
Tiếng hoan hô ở hai bên bờ sông vang dậy lên.
Tư Nết chỉ hưởng sung sướng chung trong vài giây. Anh nhớ lại chuyện riêng, lẩm bẩm nói:
- Thôi, cũng được. Chắc ở ngoài bà con họ chẳng bỏ má mình đâu.

Chú thich:
[1] Tỉnh trưởng thời Pháp thuộc.
[2] Cát-to-ru-dết: 14 tháng 7 (14 Juillet): Quốc khánh nước Pháp
[3] Nại: nề




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 15:56:56 bởi Ct.Ly>
Người tài xế điên

Tặng Nguyễn Văn Thế

Đã sáu giờ chiều rồi mà người ta chưa nghe gì hết.Thiên hạ sốt ruột hỏi nhau: “Năm nay mấy ổng không dám à?” “Hay là xin phép không được?”.

Có người thạo tin, cắt nghĩa: “Sao lại không dám! Nội cái vụ đường thẻ mà bang huếnh đã lời hai trăm ngàn, thì năm ba ngàn bạc pháo kể gì. Cũng không phải là xin phép không được. Nhưng số là năm nay họ thương thuyết với nhau, kẻ đốt trước người đốt sau, tính giờ mà nói chuyện ăn thua chớ không đốt một lượt như năm ngoái nữa, nghe rùm tai lắm, mà lại có kẻ ăn gian, thỉnh thoảng nín luôn năm sáu phút, khó kiểm soát được. Giờ này họ còn thương lượng, cãi qua cãi lại mãi không rồi.”

Trăng rằm tháng giêng đã ló dạng trên dãy phố ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Hôm ấy là ngày, theo tục lệ người tàu trong tỉnh, thỉnh tào Kê. Không ai biết rõ “thỉnh tào Kê” là cái quái gì. Nhưng chắc chắn là cúng nhiều, kéo nhau đi ngoài đường và “cái đinh” của ngày lễ là đốt pháo đua. Ông cắc chú nào đốt nhiều hơn ông khác là ăn. Không ăn cái gì hết, nhưng được đồng bào của họ phục lắm.

Thật ra chỉ vài ông bang trong tỉnh lỵ mới dự cuộc đua đốt pháo này, vì phải đốt hàng mấy giờ liền, nếu không làm ăn lời to thì đừng mong đua với ai.

Thình lình người ta nghe ba tiếng đại pháo nổ trước sau nhau không quá hai giây.
- À, ra họ đốt một lượt!

Trong những con đường hẹp ở chợ, hai bên đều có nhà phố đứng lên, tiếng pháo bị tiếng dội đôi dồn như tiếng sấm trong thung lũng. Khói thuốc pháo bay mù trời mịt đất, đến đỗi ánh sáng của những bóng đèn đường bị lu mờ bớt dần. Những người đi dạo phố, những khách trong tiệm ăn, muốn nói chuyện với nhau phải hét cho lớn, và kề miệng sát vào tai người nghe mà la. Nhưng không mấy ai còn ở trong nhà, trong tiệm được, vì khói thuốc vào đó, không lối ra, đầu độc cả không khí trong nhà.
Pháo vẫn nổ rền trời.

Mỗi người dự đua, sợ rủi ro ngưng tiếng nổ rồi mang tiếng ăn gian, để ra tới bốn người đốt pháo. Năm ấy có ba ông bang thi đua, thành ra một lượt, đến mười hai tiếng pháo kêu vang.
Những người có con nhỏ, phải mau mau ẵm chúng đi thật xa ra ngoại ô, không khéo thì chúng sẽ bị động kinh hay bị chết ngất mất.

Pháo thi đua nhau mà nổ đinh tai, nhức óc.
Lúc ấy hơn tám giờ.
Tại tiệm sắt của ông bang Sa, một tên người nhà về thưa lại với ông bang đang ngồi uống trà tại ghế giữa.
- Ông bang à! Đằng tiệm gạo của bang Lếnh pháo còn nhiều bằng hai của mình, làm sao?
- Làm sao à? Không sợ mà! Á Lìn à! hón à! Á Quày à, ti mua thêm, coi tiệm nào còn chút lỉnh mua hết tọi. Không lủ thì tivô xóm mua.

Lịnh vừa ra, thì ba bốn chú tửng vội thót lên xe máy đạp đến các tiệm nhỏ ở ngoại ô mà vơ vét. Họ mua không trả giá, nhưng cũng không được bao nhiêu vì các tiệm khác đã vét trước rồi. Cho đến pháo ở các chợ lân cận như chợ Búng, chợ Lái Thiêu cũng không còn.
- Mô tược ít quá ả! - tài phú a-nông bang Sa kêu - tài phú biểu sớp-phơ ti Chợ Lớn mau mau. Nè tiền lây, tài phú mua thêm một ngàn tồng.
Tài phú Nải nhận tiền, chạy ra sau, hối sớp-phơ cho xe ra, rồi thẳng xuống Chợ Lớn.
- Hò... chạy cho mau mau mà! Về tễ, cái lầy ông chủ rầy mà! - chú ta thúc hối.
Thật ra, xe chạy có gió. Nhưng khi qua khỏi chợ Bình Phước thì nó đứng lại.
- Cái gì tó?
- Banh!
- Tời lất ơi! chết ngộ dồi! Dán sửa coi.
Người tài xế không thèm đáp. Anh ta bước xuống, giở máy ra, bấm đèn pin mà rọi, rồi lay quay vặn, mở, và chửi thề.
Bỗng có một ánh sáng đèn pha từ phía trên Thủ rọi xuống.
- Thôi lị ở đây sửa. Ngộ có giang xe lầy đi chợ Lớn.
- Được rồi, được rồi, - người tài xế đáp - khỏi cần quá giang, xe mình chạy được rồi.

Nói xong anh ta rồ máy. Tài phú Nải mừng quá, leo lên xe. Chiếc xe hơi từ trên Thủ xuống đã qua mặt họ và chạy xa rồi.
Máy lại tắt- cái gì nữa tó?
- Banh nữa.
- Na má, cái lị dở quá mà. Ngộ lói với ông chủ cúp tiền lị hà.
- Dở gì, tại xe cũ phải vậy chớ.

Rồi anh ta lại loay quay sửa, vặn, tháo, mở.
Một chiếc xe khác xuống nữa. Lúc ấy đã hơn mười giờ. Tuy là thái bình, nhưng mà người đi chơi đêm bằng xe hơi chỉ đi đầu hôm thôi nên xe này có thể coi là chiếc xe cuối cùng họ gặp.
- Thôi lần này, ngộ hổng thèm đợi lị nữa đâu.

Sau lời nói của tài phú Nải, anh tài xế nhảy lên xe, cho rồ máy và chạy tới.
- Tài phú không đi phải hôn? Tôi đi một mình vậy.
Tài phú Nải do dự vài giây rồi cũng nhảy lên xe.
Xe từ từ chạy tới và bị xe kia qua mặt nữa. Đến giữa cánh đồng chó Ngáp nó lại tắt máy.
Đó là một cánh đồng hoang vắng minh mông, bao la dưới ánh trăng vằng vặc.
Tức quá, tài phú Nải giậm chân rầm rầm:
- Chết ngộ! Mà chết lị nữa mà! chết dồi! Ông chủ thua, mình chết dồi! Á, kỳ quá mà, cái lị muốn phá ông chủ hả?
Anh tài xế cười xòa:
- Hả? Cái lị muốn phá, cái lị nói ti. Ông chủ bỏ tù cái lị coi.
- Xe hư mà - nói xong, anh tài xế lại cười ngất.
- Hứ cái zì mà hư kỳ cục. Cái lị phá ông chủ mà.
Bỗng anh tài xế nghiêm nét mặt lại:
- Tài phú nè! Ông chủ xài lãng quá, mình đi làm gì cho mệt. Ở đây tới khuya, rồi đón xe lên mà về. Tôi đã phá xe hư thật rồi.
- À, rõ ràng mà! Ngộ nói túng quá mà!
Chú Nải vừa nói vừa bứt đầu, bứt cổ đạp rầm rầm trên sàn xe.
- Chết cái lị! chết cái lị. Ngộ tức chết đi thôi!

Chú vừa nói vừa phun nước miếng phèo phèo trợn dọc mắt lên và quýu mười ngón tay như muốn cào muốn xé anh tài xế.
- Hà, ông chủ ngộ thua dồi! Ông chủ ngộ mất tiếng dồi!
Chú Nải ngã ngửa trên nệm xe, đấm ngực ành ành.
- Chú đừng tức. Tôi làm vậy cho đỡ tiền ông chủ mà.
- Tiểu na má lị. Tỡ cái gì, ai cầu lị làm tỡ tốn tiền. Ông chủ lời bằng một tăm cái ló, ông chủ cần gì. Miễn có tiếng thì thôi chớ.
- Cái tiếng đốt pháo nhiều đó không ra khỏi Thủ Dầu Một, ai biết mà ham.
- Thây kệ người ta.
- Thây kệ sao được. hôm trước, nhà Phước Thiện ho lao quyên tiền, ông chủ nói lỗ quá, cho nó một trăm. Sao bữa nay ổng đốt pháo dữ quá vậy. Đốt pháo có ích gì hôn?
- Sao không ích. Đốt pháo, người làm pháo bán chạy, thợ làm pháo mới sống được chớ. Ngộ hỏi nị cái này, nị nói cho trôi. Ông chủ mà không đốt pháo tức thì tiền đó ông chủ có cho ai không? Chắc là không. Vậy đốt pháo tức là cho thợ làm pháo ăn đó. Nị cãi ngộ chỗ đó được không?
Anh tài xế cãi không được.
- Nị cãi không được thì cho xe chạy đi.
Nhưng anh ta vẫn đứng trân trân.
- Nị không cho chạy à? Ngộ đánh nị coi.
Tài phú Nải xốc tới níu đầu anh tài xế.
Nhưng anh ta lẹ tay, rút tay quây xe ra, rồi hăm:
- Nị xáp tới, ngộ đập một cái nát đầu. Ngộ cãi không được mà ngộ tức lắm, không chạy.
- Hà, cái lị tiên dồi, cãi hỏng được, mà hỏng chịu thua.

(Câu chuyện này xảy ra hồi tiền chiến)




Đăng nhập để trả lời
0
Nắng chiều


Tặng Nguyễn Hữu Ngư


Nếu chị Nguyệt không đến nơi thì chắc hai người đã đánh nhau hay ít ra họ cũng trao đổi nhau những tiếng nặng khó lòng lấy lại được, rồi thì anh em sẽ tuyệt giao với nhau.

Cái anh Vinh ấy có một tật đánh chết không chừa, là hay đùa những cái lố bịch của người khác. Anh ta có tài nhận xét những tật nho nhỏ của mọi người, có tài phóng to những điểm kỳ cục ấy lên, nắn cho nó biến thành những hình thù kỳ dị hơn, rồi lại có duyên thầm, trình bày những điều buồn cười ấy một cách ngây thơ như là vô tình mà nói đến nó chớ không cố ý trêu người nào, không cố ý chọc cười ai. Chính cái ngây thơ ác hiểm ấy, cù người ta bất ngờ quá, nên không ai nín cười được.

Nhưng hôm đó chị Nguyệt đến đúng vào lúc mà anh cần bị làm nạn nhân của anh Vinh, và không muốn để chị này thấy bộ mặt nhăn nhăn của mình, anh cần vui tươi lên như là không giận bạn vậy.

Chị Nguyệt xem lại đồng hồ rồi hỏi:
- Sao giờ này mà mấy anh chưa đi?
- Thì đợi chị nãy giờ, đi sao được. Thôi ta đi nè! - Bình đáp rồi giục tất cả mọi người.
Cả năm đồng đứng lên.

Ra đến cửa ngõ, muốn làm lành lại với anh cần, Vinh hỏi:
- Thầy Mười Sáng là người thế nào, anh cần?
Như chợt nghĩ ra điều gì, cần không đáp, mà chụp lấy vai Vinh rồi nói:
- Ừ, cậu có giỏi thì làm cái này. Tôi thách cậu đó. Cậu làm thế nào mà đùa thầy Mười Sáng cho anh em cười ngã nghiêng, ngã ngửa một bữa chơi. Cậu làm được thì tôi phục lăn tài pha trò của cậu. Thầy Mười Sáng là người thế nào à? Cậu hỏi anh Bình thì rõ.

Nói xong, cần hóm hỉnh cười, bụng nghĩ: “Phen này thì cậu chết nhé! Làm thế nào mà đùa được con người đứng đắn ấy! Thế mới biết tài cậu chưa vững đâu nhé, cậu bé ơi, đừng có làm phách.”
Bình vốn là một thanh niên rất thạo về tôn giáo, về các phong trào thần học. Chính anh ta đã rủ anh em đến nhà thầy Mười Sáng hôm nay.
Thầy Mười Sáng! Cả bọn không ai biết rõ thầy ta, trừ Bình. Để trả lời câu hỏi chưa thốt ra mà thế nào cũng phải có của Vinh, Bình kể:
- Thầy Mười Sáng trước kia có theo học ở một trường trung học công lập tại Sài gòn. Không rõ vì lẽ gì thầy ta bị đuổi vào năm thứ ba. trở về tỉnh này nghỉ vài năm, thầy ta đi làm khán hộ. chính trong thời kỳ thầy làm khán hộ ấy mà tôi được quen biết thầy. Thầy đọc sách nhiều lắm, biết rất nhiều việc và rất băn khoăn về nhiều vấn đề. Thầy thường gởi gắm với tôi: “Tôi không hoàn toàn tin nơi khoa học được, vì khoa học chưa giải quyết được những vấn đề lớn, cho đến những bí mật vừa vừa của thiên nhiên mà nó còn chưa khám phá ra nổi. Lấy ngay một thí dụ trong nghề của tôi mà nói cũng đủ thấy khoa học còn bối rối lắm. Bịnh truyền nhiễm, khoa học cho là vi trùng gây ra. Vâng. Nhưng còn “dịch” của các bịnh truyền nhiễm? Ừ, con vi trùng nó truyền bịnh và lắm khi gây ra dịch. Nhưng trước khi có dịch nó trốn ở đâu mà không tác hại? Mà vì sao, tác hại trong một thời gian, nó lại thôi? Ngày xưa, khi loài người chưa biết trừ dịch, dịch vẫn tự nhiên lui như thường, sau vài tháng hoành hành.”

Thầy Mười làm khán hộ được ít năm rồi xin thôi, thí phát đi tu. Nghe nói là thầy ẩn tu ở núi nào đó đâu được ba năm, rồi hạ san, xuống Sài gòn, xin giấy thông hành đi Ấn Độ. “Đi nghiên cứu đạo Phật tận gốc”, thầy nói thế với những người quen biết.

Cái năm đi ấy, thầy được hăm bảy tuổi, và năm nay về là năm lăm đúng.
- Thầy nghiên cứu được gì?
- Số là thầy ta dốt về đạo Phật, không biết nguồn gốc đạo ở đâu nên qua đến nơi rồi nghe lời người xúi biểu, thầy ta lên tây tạng.
- Tây tạng không phải là nhau rún của đạo Phật à?
- Đâu có phải? Tây tạng chỉ là một tôn phái của đạo Phật thôi.
- Nhưng biết đâu tôn giáo ấy lại không quan niệm đúng hơn bọn chánh thống?
- Đúng thế! Thành ra, đi lạc đường mà thầy ta vẫn học được nhiều điều hay. Tôi rủ các anh lại thăm thầy ta hôm nay là để xem thầy biểu diễn phép lạ.

*  *  *

Thầy Mười Sáng sống biệt tịch trong một cái am nhỏ ở khu Bà Lụa, một ngoại ô tỉnh lỵ của tỉnh Bình Dương.

Am cất trên đồi, giữa một vườn cây cổ thụ sầm uất, trông xuống sông nước xanh lơ, khiến khách viếng am không khỏi nghĩ đến những vân am của đạo sĩ trong truyện Tàu.
Thầy Mười Sáng gầy khô đét như một ông lão bảy mươi. Tuy nhiên thầy ta vẫn nhanh nhẹn và có đôi mắt sáng quắc.

Chủ am tiếp khách rất niềm nở, chú ý đến từng người, cả đến cái cậu Vinh liến thoắng làm huyên náo am tiên kia, và làm bận rộn con người trầm lặng đã học đạo từ Tây Tạng huyền bí về.

Sau những câu khách sáo xã giao, bọn trẻ bàn về khoa học và tôn giáo. Thầy Mười nói:
- Khoa học sai be bét hết và còn dốt lắm. Tôi đã thấy tận mắt những thầy Fa-Kia bên Ấn Độ tự chôn sống hàng tháng mà không chết, tôi đã thấy họ đâm vào da thịt mà không làm chảy máu; riêng ở Tây Tạng là nơi tu hành, những thầy tu tay mơ cũng có thể ngồi trần truồng trên tuyết hằng tuần mà không bị cảm lạnh bao giờ. Thật là trái với những luật mà khoa học đã nêu ra.
- Thưa thầy, họ có phép tiên chắc?
- Đúng, họ luyện phép và chính tôi, cũng đã học được vài môn.
Đức nói:
- Hay là đó cũng là khoa học; nhưng khác với khoa học của ta. Ta thử đặt tên khoa học của ta là khoa học A... còn của họ là khoa học B. Cả hai đều đi tìm sự thật mà đi hai nẻo khác nhau, ngày sau A. và B. sẽ gặp nhau chăng?
- Tôi không đáp được. Điều tôi biết chắc là họ và tôi đã làm được những điều mà cái khoa học A. Của cậu cho là không được. Nể lời chú Bình, tôi biểu diễn phép tị hỏa cho các cậu xem.

Bây giờ bọn khách trẻ tuổi mới hiểu được sự có mặt của cả một cái lò rèn giữa am thầy Mười.

Thầy Mười Sáng nhúm lửa ở đống than, còn Bình thì bước lên ghế cao, cầm hai cây thụt ở ống bễ mà thụt.

Hơi trong hai ống bễ sình sịch bay ra, thổi văng lên những mảnh than nát. Mấy đóm lửa mới nhúm, nở lớn lần lần, ăn lấn vào màu đen huyền của than. Màu lửa ban đầu xanh xanh, càng lớn khối, càng ngả sang màu hỏa hoàng, và khi những lưỡi lửa chen than mà mọc lên thì than đã nhuốm màu bạch chảng.

Bình thụt không ngớt tay, lửa cháy đỏ rực khuôn bếp.
Thầy Mười Sáng mặc áo đạo sĩ màu lam có viền trắng ở các rìa. Thầy ta xắn tay áo lên một cách trịnh trọng, đoạn khom lưng cúi mình trên bếp lửa, tay thọc vào đống than cháy đỏ, chọn lấy một hòn than to nhứt và đang cháy tốt nhứt. Thầy ta làm công việc ấy dễ ợt như một cậu bé chọn kẹo. Thầy cầm hòn than đỏ giữa hai ngón tay, rồi đứng thẳng dậy, đặt nó vào giữa lòng bàn tay bên kia.

Bốn thanh niên và một thiếu nữ trố mắt nhìn. họ hồi hộp đợi thầy Mười bị phỏng tay, phải vứt hòn than đỏ, đợi chờ cái ấy mà cứ lo sợ nó xảy ra rồi phải thất vọng. Có thể nào như thế được chăng? Họ tự hỏi như vậy rồi tự bảo rằng thì ra phép tiên, phép màu là điều có thật chớ không ngoa.

Hòn than trên tay của thầy Mười đã sậm màu đen và một lớp tro trắng mỏng đã bắt đầu bao bọc lấy nó. Thầy đạo sĩ nói: “Nguội quá rồi”, rồi vứt hòn than lên đống lửa.
Bình mê xem biểu diễn nên quên thụt lửa, khiến thầy đạo sĩ phải nhắc:
- Chú thụt tiếp đi chớ!
Hai ống bễ lại bắt đầu thở khì khì, và đống than bắt đầu đỏ rực thở dài.

Thầy Mười Sáng bước vào đống than đang cháy, đi tới vài bước, đoạn đứng yên một nơi. Những lưỡi lửa cứ chờn vờn muốn táp lai quần của thầy Mười vốn đã vén lên rồi, khiến thầy ta lại phải vén ống lên thật cao.

Chị Nguyệt há miệng nhìn, mắt mở tròn xoe. trong không khí, phảng phất một mùi huyền bí kỳ lạ, thật thật, hư hư và thầy đạo sĩ kia có vẻ một tiên ông từ đâu thời Xuân Thu hiện về. Năm khán giả trẻ tuổi nghe như mình đang lạc vào cõi tiên, hay vào động quỷ. Thật là không thể tưởng tượng được.

Đứng trên than hồng được ước chừng năm phút, thầy Mười bước xuống mỉm cười đắc thắng.

Bình ngừng thụt, thở ra một hơi dài và nói:
- Mỏi rụng hai tay!
Chị Nguyệt kính cẩn nhìn thầy Mười Sáng giây lâu rồi hỏi:
- Thưa thầy, thầy ăn ở dễ thương cách nào mà mấy ông thầy tu trên ấy truyền cho thầy phép lạ này?
- Những phép này không thể truyền mà được như bùa ngải. Phải bền công luyện tập mới đắc.
- Luyện tập à, thưa thầy? Không truyền được mà phải luyện tập là không phải phép huyền bí nữa rồi, mà là khoa học đó, khoa học B, như tôi đã nói.
Đó là lời của Đức.

Thầy Mười Sáng suy nghĩ giây lát rồi đáp:
- Có thể. Nhưng dầu sao, khoa học của các cậu cũng còn non lắm đối với khoa học huyền bí này.
- Đúng như vậy - chị Nguyệt phê.
Bỗng cậu Vinh lắm lời kia, nãy giờ cứ làm thinh, hỏi lên đột ngột:
- Dạ thưa thầy..

Anh ta mới mở lời mà bao nhiêu con mắt đều quay nhìn anh ta. Thấy gương mặt ngây thơ một cách hóm hỉnh của Vinh, thản nhiên sắp hỏi một câu gì đó, họ đoán sẽ được cười.

Cần lo lắng kẻ nghịch của anh lần này lại thắng nữa. còn Bình thì hoảng hốt lên, sợ những câu pha trò của Vinh sẽ chọc giận người đáng kính là thầy Mười. Nhưng đã trễ quá rồi, không còn ngăn thằng mắc dịch Vinh kịp nữa.
Vinh ngây thơ tiếp hỏi:
- Dạ thưa thầy, chẳng hay cái phép mầu này dùng để làm gì vậy a thầy?
Thầy Mười có vẻ bực mình lắm! Thầy suy nghĩ giây lâu rồi đáp:
- Thí dụ như có đám cháy, tôi đã không hề gì, lại xông vào lửa được để cứu những người còn kẹt trong nhà.
- Thưa thầy, thầy mất đến hăm tám năm trời để làm được một công việc mà bất kỳ anh lính cứu hỏa nào cũng làm được, mà chỉ tốn có hai phút đồng hồ thôi. Trong hăm tám năm trời ấy, cái khoa học non nớt của chúng tôi đã tìm được bao nhiêu là thứ, mà những thứ ấy truyền cho ai cũng được cả, miễn họ chịu bỏ ra chỉ vài năm thôi, để học tập.

Lần đầu tiên trong đời anh ta, con người nổi danh có tài hỏi vặn pha trò để chọc cười ấy đã thất bại, vì không ai cười cả.

Thầy Mười Sáng trố mắt nhìn người khách có vẻ mặt ngây ngô đần độn kia, nổi giận trong vài giây rồi kinh sợ trong mấy phút.

Đoạn thầy ta ngồi phịch xuống đất, ôm đầu mà thở dài. Cả sáu người trong nhà đều im lặng, mỗi người có một ý nghĩ riêng về quan niệm của Vinh.

Lâu lắm người ta nghe thầy Mười Sáng lẩm bẩm:
- Hăm tám năm! hăm tám năm! trời ơi, sự thật đến bạc đầu tôi tìm cũng chưa ra, mà cái phép mầu kia, luyện được sau một phần tư thế kỷ cố gắng, bỗng thấy là hoài công, phí sức lắm rồi.

Bình bước tới, quì xuống trước mặt người đạo sĩ thất vọng để an ủi:
- Thưa thầy, không là hoàn toàn hoài công đâu, vì ít ra, điều ấy cũng giúp người khác thấy rõ là nẻo của khoa học B. Không phải là nẻo nên theo.
- Không! Sụp đổ cả rồi, các cậu ơi! cả một đời tôi, cả một đời bao nhiêu người khác, chúng tôi đã dùng nó làm gì? Chẳng qua là phung phí thì giờ và tâm trí như những kẻ trác táng kia.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2020 22:52:47 bởi Thanh Vân>

Tập truyện

CUỐNG RÚN CHƯA LÌA

Căn bệnh bí mật của nàng
Con Tám cù lần
Chiêu hồn Nước.
Bà mọi hú.
Lửa Tết.
Thèm mùi đất
Câu dầm
Phân nửa con người
Chiếc khăn kỷ niệm
Bám níu.
Ma ném đá
Mấy vụ quật mồ bí mật
Về làng cũ
Những đứa con thương của đất mẹ
Hương hành kho.
Bán ngôi nhà cổ
Những ngôi mả tổ
 
 
Cuốn Rún Chưa Lìa
 
1. Căn bệnh bí mật của nàng

Cư Xá Valmante ngày... tháng... năm...
Anh T...
Những ngỡ không bao giờ còn viết thư cho anh nữa! Chắc anh đã ngạc nhiên trước sự im lặng của tôi dạo sau này, và chắc anh đã hờn tôi, nên tôi cũng chẳng được thư từ gì của anh.
Ngày nào chồng tôi vào nhà thương thăm tôi, tôi cũng hỏi có phong thư nào mà bì màu ngà, trên ấy có in riêng hai chữ N.Đ. hay chăng, chồng tôi lắc đầu. Anh biết, chồng tôi là người Pháp thì anh ấy không có ghen xằng mà thủ tiêu thơ của bạn trai của tôi đâu.
Chắc anh đã hơi đoán được cái gì rồi, khi nghe tôi nói đến mấy tiếng “nhà thương”.

Vâng, tôi vừa ốm khỏi anh ạ! Mà cả nước Pháp đều không biết tôi mắc bệnh gì, cái mới nguy cho chớ!
Không rõ tôi đã hành động, ăn nói ra sao mà chồng tôi phải đưa tôi vào một bệnh viện đặc biệt kia mà sau đó, tôi mới hay rằng đó là bệnh viện La Timone, một nhà thương điên to nhất của miền Nam nước Pháp do giáo sư khoa tâm bệnh B là giám đốc.
Sau nhiều lần khám bệnh cho tôi bằng đủ các phương pháp tối tân, giáo sư B cho rằng tôi thuộc loại con bệnh không cần thuốc men, mà phải được chữa bằng trị liệu tâm bệnh (Psychothérapie), bởi bệnh tâm trí có nhiều loại do nhiều nguyên nhân gây ra.

Thật ra thì tôi không có điên anh T. à, bằng cớ là tôi còn nhớ tới anh và hỏi thăm chồng tôi về thư từ của anh. Tôi chỉ buồn bực, quạu quọ, cau có với chồng tôi và có những lúc tôi ngồi đó mà như đi vắng, chồng tôi nói gì, tôi cũng chỉ ừ hử lấy lệ mà thôi.
Ban đầu anh ấy tức giận lắm, nhưng sau anh ấy đoán rằng tôi mắc bệnh tâm trí nên ảnh hành động theo chiều hướng tin tưởng của ảnh và quả giáo sư B. đã xác nhận rằng tâm thần tôi không được bình thường.

Mỗi ngày tôi “bị” đàm thoại với giáo sư B. một tiếng đồng hồ. Đó là thuốc của ông ấy đấy.
Giáo sư B. chọc cho tôi xì ra những nén tâm, những uẩn khúc của lòng tôi để giúp tiềm thức tôi có cách tháo cũi sổ lồng cho những ẩn ức trong nội tâm của tôi.
Nhưng chính vị y sĩ lão thành, suối râu bạc phơ, sang giàu hiểu biết và kinh nghiệm ấy lại suýt hóa điên vì ông ấy bí tì, chịu rằng không thể biết tôi mang nặng những ẩn ức nào.
Biết rằng bệnh mà không được điều trị thì càng ngày nó càng tiến triển đến nguy kịch; trong trường hợp tôi, có thể đến tình trạng điên loạn, thì còn gì là đời tôi nên tôi nỗ lực để hợp tác với giáo sư B. không hề giấu chuyện lớn, chuyện nhỏ nào cả.

Ông ấy lục lạo trong dĩ vãng của tôi, thám hiểm thuở thiếu thời và thơ ấu của tôi, tìm biết cả cha, mẹ, ông bà, tam đại của tôi nữa, không có xó kẹt nào trong quá khứ của đời tôi từ ba bốn thế hệ qua mà ông không bắt tôi tự phanh phui ra, nhưng thật là không có gì cả: hiện tôi đang sống hạnh phúc với chồng tôi, những dĩ vãng xa hay gần mà tôi để lại nước nhà cũng đều không có gì cho tôi phải xấu hổ thầm hoặc hối hận.

Giáo sư B. hồ nghi rằng tôi không thành thật, và đoán rằng tôi có một bí mật gì lớn lắm mà quyết giấu, nên ông cho một vị bác sĩ trẻ tuổi, giỏi thôi miên, đưa tôi vào một giấc ngủ nhơn tạo mà trong đó tôi phải hoàn toàn khuất phục uy quyền của các ông ấy.
Thế mà tôi cũng không có “cung khai” ra cái gì hết, mặc dầu hai ổng đã hỏi khéo léo tôi bằng trăm câu hỏi hóc búa trong khi tôi mơ màng dở tỉnh dở say.

Tôi và chồng tôi lo sợ lắm, và tôi ngỏ ý muốn tìm bệnh viện cừ hơn và danh y khác hơn.
Nhưng bạn hữu của chồng tôi bảo rằng tôi mà có lên Ba Lê, có đi Đức, đi Áo, quê hương của Freud là ông tổ của khoa phân tâm học đi nữa, tôi cũng chỉ sẽ tìm ra được một giáo sư B. II mà thôi, vì giáo sư B. là một tay cự phách trong khoa tâm bệnh, khét tiếng ở khắp Âu châu và cả bên Mỹ nữa.
Thật là khổ cho tôi.

Giáo sư B. vừa ban bố ơn huệ, vừa bắt buộc vợ chồng tôi điều này là mỗi chiều chồng tôi phải vào nhà thương để đưa tôi đi dạo phố, vì ông thầy thuốc già ấy không còn biết làm gì nữa cả để giúp tôi.
Con phố mà tôi thích nhứt là con phố La Canebière đưa thẳng xuống bến tàu (bến cũ) khung cảnh danh tiếng của ba vở kịch danh tiếng của nước Pháp: Marius, Fany và César, cùng một tác giả, một đầu đề, một câu chuyện.
Chồng tôi cứ tưởng tôi thích nơi đó vì đó là một con phố xưa, mang nhiều dấu vết lịch sử và vang danh trong văn chương Pháp với không biết bao nhiêu là tác phẩm nói đến, nhưng sự thật thì khác, mà mãi về sau, chúng tôi mới biết.

Chồng tôi muốn nói thạo tiếng Việt nên chúng tôi chỉ chuyện trò bằng tiếng Việt mà thôi. Một chiều kia, chúng tôi rảo bước như thường lệ trên vỉa hè, và tôi hỏi chồng tôi:
- À, anh có cho nhuộm lại chiếc áo bị bẩn rượu vang của em hay chưa?
Chồng tôi chưa kịp mở miệng để thốt ra tiếng nào thì thình lình có một lão Tây già ồ, già ghê đi, chỉ kém già hơn vị giáo sư đã chữa bệnh cho tôi mà thôi, lão ta từ đâu không rõ, nhảy đến chận đường vợ chồng tôi mà nói bằng tiếng Pháp:
- Xin lỗi bà, bà làm ơn lặp lại câu mà bà vừa nói với ông.
Vợ chồng tôi kinh ngạc, trố mắt mà nhìn lão Tây già này, không rõ anh ấy nghĩ gì chớ riêng tôi, tôi cho rằng lão ta cũng là thân chủ của bệnh viện La Timone, bệnh lão ta tái phát mà người nhà lão ta chưa kịp đưa lão ta trở vào đó.
Chiều nay sao mà chồng tôi vui tính và dễ tính quá. Anh ấy nói:
- En cứ thoả mãn ông ấy đi.
Tôi y lời chồng, nói lại câu chuyện nhuộm áo bằng ngôn ngữ của mẹ tôi.
Lão ta nghe xong reo lên:
- Đúng rồi, bà nói nghe như hát. Đúng là bà ở xứ ấy mà đến đây.
Nói xong lão ta òa lên mà khóc rấm rứt rất lâu, rồi mới thổn thức giải thích:
- Tôi tin chắc rằng bà là người Việt Nam. Cái lối nói nghe như nhạc ấy, tôi không thể lầm với ngôn ngữ của dân tộc nào khác cả, mặc dầu vì lười, tôi không có học tiếng của bà.
Chẳng nói giấu gì ông bà, tôi đã sống bên ấy suốt ba mươi năm, từ thuở thanh xuân của tôi đến lúc tôi về hưu, vâng, tôi là giáo sư toán pháp ở Lycée Chasseloup-Laubat. Về hưu, tôi vẫn ở lại đó để dạy tư, không phải vì còn ham hoạt động mà vì tôi đã quá quen với những chơn trời ở bên ấy, đã thương mến những chơn trời ấy rồi thì hồi hương, tôi lại nghe mình bỡ ngỡ, lạc hướng.
Nhưng rồi tôi vẫn phải hồi hương vì tôi đã hoảng hốt khi thấy quân đội Pháp triệt thối. Không, tôi không phải là thực dân, nhưng vẫn bị mặc cảm vì một số đồng bào của tôi quả đã tỏ ra không xứng đáng.
Từ ấy đến nay, trên mười năm rồi, tôi nhớ xứ Việt Nam không nguôi, và ngôn ngữ cùng giọng nói của bà mà tôi chợt nghe lúc đi qua đây khi nãy, như bỗng đưa lại hương vị xa xôi của cái đất mà tôi không mong trở lại.
Trời, tôi bị xúc động không biết bao nhiêu, ông bà ơi!
Thình lình tôi nắm lấy tay chồng tôi rồi chạy đi, anh ấy trì lại thế nào cũng không được với tôi.

Bấy giờ, kẻ sợ người điên là lão giáo sư già ấy, chớ không phải là tôi nữa, vì trừ phi nổi cơn điên thình lình mới hành động một cách bất lịch sự với người có tấm lòng như lão ấy, chớ còn một kẻ bình thường, tệ lắm cũng mời lão ta vào quán giải khát để nói vài ba câu chuyện.
Chúng tôi chạy được một thôi đường thì tôi mệt lả người, dừng bước lại để thở hổn hển. Chồng tôi mắng tôi:
- Em thật là điên. Lão ấy bị bỏ rơi như thế, anh nghe tội nghiệp lão quá. Sao em lại sợ lão ta một cách vô lý như vậy?
- Không anh à! Có chuyện quan trọng.

Đến phiên chồng tôi ngỡ tôi điên, nên hơi lo lắng.
- Em nên bình tĩnh. Để anh gọi tắc xi đưa em về bệnh viện.
Ừ, em phải về đó ngay để báo tin với giáo sư B. rằng em đã khỏi bệnh rồi.
Chồng tôi hơi khổ lòng mà thấy bệnh của vợ mình trở nặng thêm.
Khi tôi thấy mặt giáo sư B. tôi chạy ào tới, ôm lão, khóc ra những giọt lệ sung sướng mà rằng:
- Giáo sư ơi, con đã biết bệnh con rồi.
Ông lão ấy nhìn chồng tôi, nheo mắt mà cười hóm hỉnh, tỏ vẻ hiểu cái gì, rồi hỏi:
- Thế à? Có phải là con ghen bóng, ghen gió, và đã được chồng của con giải thích để phá tan ngộ nhận của con hay không?
- Không, thưa giáo sư, con chỉ sầu xứ mà thôi.
Ông lão râu tóc bạc phơ này đưa cả hai tay lên trời rồi reo lên:
- Chúa ơi! Lão thật ngốc quá! Chỉ có thế mà lão không hề nghĩ đến. Đúng là như vậy rồi. Theo hồ sơ thì bà có Pháp tịch, thế nên lão mới quên mất rằng bà gốc người ngoại quốc.
- Nhưng thưa giáo sư - chồng tôi hỏi - sao lúc bị thôi miên, vợ tôi cũng không cung khai ẩn ức đó?
- À, điều đó thì bà ấy nên tự phân tách lòng bả xem sao. Chắc bả sẽ giải thích được điểm kỳ dị ấy.
Giáo sư B. bắt tôi ở lại thêm vài hôm vì người chưa dám chắc rằng tôi đã khám phá ra sự thật.
Nhưng quả tôi vui vẻ, yêu đời trở lại, và rất bình thường trong mọi việc, nên ba hôm sau, ông ấy cho tôi về, không quên căn dặn tôi trở lại khi nào tôi biết được do đâu mà tôi giấu sự thật, cả lúc tôi bị thôi miên nữa.

Một tuần lễ qua, mà tôi chỉ tìm được có một sự thật thôi, nhưng là sự thật khác.
Trên bước đường đi dạo mát với chồng tôi mỗi hôm, hai chơn tôi bất giác tiến về phố La Canebière, vì con phố ấy đưa xuống bến tàu, mà bến tàu Marseille là nơi gần quê hương của tôi nhất, nơi mà tàu bè nhổ neo để đi Viễn Đông, nên tiềm thức tôi xui tôi về nơi đó. Một tuần lễ sau nữa, tôi mới đi viếng giáo sư B.
- A, chào bà - ông ấy reo lên. - Tôi trông vẻ tươi tắn trên gương mặt bà, tôi đoán rằng bà đến để giải thích cái gì, chớ không phải để xin làm thân chủ của tôi.
- Thưa giáo sư, đúng như vậy.
- Nào, mời bà dạy thêm tôi một bí mật của khoa tâm bệnh mà tôi còn dốt.
- Không dám. Nhưng sự thật là như thế này, thưa giáo sư. Sở dĩ tôi đã giấu nhẹm ẩn ức sầu xứ, nhớ nhà, không chịu cung khai ra trong giấc ngủ thôi miên là tại chồng tôi...
- Trời ơi, sao mà chồng bà lại quá gắt gao đến đỗi cấm vợ nhớ nhà?
- Thưa không, nếu anh ấy cấm thì đó mới thật là ẩn ức và tôi đã xì ra rồi, khi tôi bị thôi miên. Nhưng anh ấy không hề ngăn cấm, trách cứ, mà lại thuyết phục tôi.
Anh ấy thuyết phục giỏi đến thế nào mà cả tiềm thức tôi cũng tin rằng tôi không sầu xứ, nhớ nhà, và ẩn ức phải bỏ tiềm thức, lùi vào trốn trong tâm đề (tréfonds) thế nên rất khó mà bắt được nó.
- Giỏi, ông ấy thuyết phục làm sao?
- Thật ra thì chẳng có gì. Nhơn một hôm tôi tâm sự rằng tôi nhớ quê hương lắm, anh ấy hơi hơi ngạc nhiên rồi nói: “Em đã ưng lấy anh, đã nhập Pháp tịch, đã bằng lòng theo anh sang đây thì anh ngỡ rằng em đã cân nhắc kỹ lưỡng rồi, mà hễ chọn xong là dứt khoát”.
- Thưa giáo sư, chồng tôi nói không đúng về sự dứt khoát là không còn nhớ quê hương nữa, nhưng vì tôi ngỡ anh ấy nói đúng nên cố gắng nhiều để tin chồng tôi nên trong thâm tâm, tôi vẫn tin như vậy được. Chính vì thế mà ẩn ức bị đẩy vào sâu hơn chăng?
Vị giáo sư già gục gật đầu, vừa vuốt chòm râu bạc, vừa suy nghĩ, rồi giây lâu, ông nói
- Có những tâm hồn cốt-mô-bô-líc (tính từ Pháp của vị giáo sư già này, tôi xin tạm dịch là tâm hồn đô thị và quốc tế), những người mà tâm hồn như vậy, họ rất thoải mái như cá trong nước khi họ chạy từ thủ đô của quốc gia này đến thủ đô của quốc gia khác, mỗi chỗ họ sống qua vài tháng, không gắn bó với đô thị nào hết, hoặc người của đô thị nào hết nhưng lại rất ưa những người ấy trong một lúc, rồi ra đi, không luyến lưu, cũng không để lại cái gì cả.
Trái lại, có những người trung thành đến trọn đời với những chơn trời quen thuộc, nghiện ngập mùi vị, màu sắc, âm thanh của nơi họ sanh trưởng, một vùng quê hay một thành phố nhỏ. Bà thuộc hạng người thứ nhì, bà khó lòng mà dứt khoát.
Nhưng bà đã truy nã được ẩn ức của bà thì từ đây nỗi sầu xứ của bà chỉ là một nỗi sầu xứ thôi, chớ không còn là một bệnh nữa.
Có những mối sầu không nguôi, nhưng người ta sống với những mối sầu ấy, vui với mối sầu ấy, nói ra thì nghe hơi mâu thuẫn chớ quả con người đã vui được với những mối sầu, những niềm đau mà người ta cất kỹ để được vuốt ve cho đến trọn đời... chẳng hạn như một niềm đau vì tình.
Vị giáo sư già này nói tám tiếng sau cùng, sau một hồi im lặng, rồi ông ngó mông vào khoảng không, vẻ mặt xa vắng vô cùng, khiến tôi không sao mà khỏi nghĩ đến một cuộc dứt tình nào, cách đây mấy mươi năm của một sinh viên y khoa kia.Lâu lắm, ông ấy mới nhớ lại rằng ông đang có khách. Ông cười mà rằng:
- Nhưng, cốt là khỏi bệnh, và chúc bà an vui mãi mãi với gia đình.
Ông đưa tay ra và tôi nghe hơi thương con người đã có một niềm đau ấy cũng như tôi đã thương tôi vì không nguôi được với niềm sầu xứ của tôi.

Vị giáo sư già này nói tám tiếng sau cùng, sau một hồi im lặng, rồi ông ngó mông vào khoảng không, vẻ mặt xa vắng vô cùng, khiến tôi không sao mà khỏi nghĩ đến một cuộc dứt tình nào, cách đây mấy mươi năm của một sinh viên y khoa kia.
Lâu lắm, ông ấy mới nhớ lại rằng ông đang có khách. Ông cười mà rằng:
- Nhưng, cốt là khỏi bệnh, và chúc bà an vui mãi mãi với gia đình.
Ông đưa tay ra và tôi nghe hơi thương con người đã có một niềm đau ấy cũng như tôi đã thương tôi vì không nguôi được với niềm sầu xứ của tôi.

Cây chuối này trồng cạnh cung điện của ông Hoàng xứ Monaco trên con đường đi từ Nice đến Menton.
Cây chuối có chiếc gậy mầu đưa tôi trong phút giây, về quê hương yêu mến ấy, coi vậy mà không huyền diệu bằng cái ao rau muống của bà phán Như Ngọc ở Toulon mà chồng tôi cũng đưa tôi đi xem sau đó.
Vừa trông thấy ao rau muống là nước mắt tôi chảy ròng ròng, nhứt là cạnh ao bà phán lại trồng nào là ngò, rau om, rau răm mà cái mùi Việt Nam của nó “ngàn năm chưa dễ đã ai quên”.
Anh T. nhà quê ơi, rất nhiều lần anh nói với tôi là anh không ưa Đà Lạt, vì phong cảnh Đà Lạt không phải là phong cảnh Việt Nam. Tôi đã chế giễu anh, nhưng giờ, tôi mới thấy là anh hữu lý.
Xin lỗi nhé, người bạn trung thành với nước mắm!
Anh à, đây là tâm sự cuối cùng, một thắc mắc lớn lao của tôi, xin anh nghiền ngẫm.
Không có tâm hồn “cốt-mô-bô-líc” tôi lại lấy chồng ngoại quốc nên niềm đau của tôi khiến tôi thương không biết bao nhiêu những đứa con Việt Nam của những cặp vợ chồng sinh viên Việt Nam, cả chồng lẫn vợ đều Việt.
Vì lẽ riêng gì của họ không rõ, họ không chịu về nước và những đứa con ấy sẽ còn khổ hơn tôi không biết bao nhiêu, khi chúng lớn lên.
Chúng nó sẽ về đất mẹ, và đáng lý vì được toại nguyện, chúng sẽ nhớ không nguôi và một cách ngược đời quê hương của người khác.

Vâng, đúng như vậy. Sách vở dạy chúng phải yêu nước Việt Nam, nhưng lòng chúng chỉ có thể yêu nước Pháp mà thôi. Trí và lòng chúng khó lòng mà đi đôi với nhau được vì yếu tố chánh của tình yêu quê hương, không phải là ý thức vì dòng máu, mà là tình gắn bó vào thuở thiếu thời với những chơn trời quen thuộc, với màu sắc, mùi vị, âm thanh mà tuổi thơ quen thấy, quen nếm, quen nghe.
Sẽ có hằng vạn người Việt Nam mang tâm hồn Pháp, cũng như hiện đang có một phụ nữ Pháp mang tâm hồn Việt Nam là tôi. Thật là oái oăm cho thân phận con người!

Nhưng tôi chỉ là một, không đáng kể. Cái số vạn công dân Việt Nam mang tâm hồn Pháp ấy, sẽ là những công dân bỡ ngỡ, mà đáng ngại nhứt là họ sẽ là những phần tử ưu tú của nước Việt Nam ta. Họ là cháu nội, cháu ngoại của những nhà giàu hiện nay, họ sẽ được đi học tới nơi tới chốn, sẽ là những chuyên viên cần thiết, nếu ngày kia họ chiếu cố đến đất tổ của họ.
Không thể nào hình dung nổi một nước Việt Nam mà cấp lãnh đạo lại có tâm hồn ngoại quốc, không biết nước Việt Nam ấy sẽ giống cái gì, chưa hề có tiền lệ trong lịch sử thế giới.Thân chào anh T. nhé, và xin gởi về xứ Đồng Nai tất cả tấm lòng tôi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2020 22:53:08 bởi Thanh Vân>
2. Con Tám Cù Lần

Mặc dầu nó cù lần, con Tám Cù Lần là hy vọng cuối cùng của tôi(1).
Từ hôm đầu năm tới bây giờ, tôi đã thay đổi người làm năm lần rồi. Tôi nghe nói bên Âu Mỹ, công ăn việc làm nhiều lắm nên người đi ở lấy công rất mắc và chỉ có bực triệu phú mới dám thuê người thôi, nên tôi cũng không khổ lắm mà phải làm một mình đủ thứ việc trong nhà, ngặt trẻ con đông, tôi không làm sao mà quán xuyến cho hết công việc.

Con Tám Cù Lần là đứa độc nhất không biết rằng ngoài gia đình tôi, còn rất nhiều người hoạt động trong đủ thứ ngành, ngành nào cũng cần nhân công, cho đến mấy ông thầu khoán mà cũng tuyển mộ phụ nữ để phụ với thợ nề, tuy họ trả lương không cao hơn tôi, trên hai ngàn đồng mỗi tháng mà không cho ăn, ở, áo quần như tôi, nhưng phụ nữ họ vẫn thích đi làm phu lương thấp hơn là đi ở. Họ không đả động tới nhân phẩm, tới gì hết ráo, nhưng tôi biết rằng ai cũng sợ nội trợ cả, chính các bà nội trợ là tôi đây mà còn sợ, huống hồ gì là người chưa có gia đình: làm nội trợ rất tối tăm và rất buồn, chưa kể nhọc không tưởng tượng được.
Nếu như mấy năm trước thì tôi không thể nào nhận con Tám Cù Lần được.

Các cháu cho nó cái tục danh ấy, và tục danh được trường sanh, vì tả rất đúng con Tám.
Các bạn có bao giờ thấy con Cù Lần chưa? Tôi không có gặp nó trong rừng sâu như đàn ông đã gặp mà chỉ thấy một con Cù Lần người ta bắt về nuôi mà thôi. Nó nhỏ cỡ bằng con mèo, nhưng lông giống màu lông chó phèn. Đôi mắt nó lờ đờ và như lim dim ngủ suốt ngày, có xô đuổi nó, nó cũng không buồn biết tới. Khi nào cần xê dịch lắm, nó mới dời chỗ, mà nó phải bỏ ra một tiếng đồng hồ để đi lối một thước tây. Ấy con Tám là hình ảnh trung thành của con Cù Lần, có kêu gọi nó thì phải đợi mười phút sau mới nghe nó lên tiếng, và đợi thêm mười lăm phút nữa mới thấy mặt nó, mặc dầu nhà tôi, từ trước ra tới sau bếp chỉ dài có mười lăm thước tây thôi.

Nó cũng chẳng biết làm gì hết ráo, trừ lặt rau và rửa chén. Vậy mà tôi quý nó lắm, vì dù sao nó cũng đỡ tay cho tôi phần nào. Chẳng hạn, tôi dạy nó lau gạch trong một tuần lễ thì nó đã lau sạch được nền nhà, một mình nó, khỏi phải kiểm soát nữa. Giặt giụa thì hơi khó thật đó. Nhưng chắc dở lắm nó cũng làm được sau một tháng học tập. Sáu tháng nữa là tôi có thể nghỉ ngơi một ngày vài tiếng đồng hồ.
Người mình cứ tin rằng đi rừng mà gặp con Cù Lần thì ba năm làm ăn ngóc đầu không lên, nhưng ngày mà một người bà con đưa con Cù Lần này tới đây, tôi sung sướng vô cùng. Dĩ nhiên là ngày đó nó chưa mang tên Cù Lần nhưng tôi đã nghĩ ngay đến danh từ Cù Lần lúc thấy mặt con bé thôn nữ quá chậm chạp này.
Bỗng dưng đùng một cái, cái hy vọng cuối cùng của tôi, một đêm kia, xin nghỉ việc.
Tôi choáng váng gần gần như là nghe ba các cháu tỏ ý muốn đoạn tuyệt với tôi. Năm đứa con thơ, mà đứa lớn hơn hết mới có bảy tuổi, đứa bé hơn hết mới được có sáu tháng thì các bạn tính coi.

Thật là tin sét đánh vì con Tám Cù Lần không có tánh ngồi lê đôi mách, không ưa đánh đôi đánh đọ với bạn đồng nghiệp của nó cùng khu phố - Vả lại cũng còn leo heo vài đứa thôi, đứa nào cũng tật nguyền cả - Thì làm sao mà nó biết tin tức về sinh kế ở đô thành hiện giờ mà muốn “thoát ly”. Các bà nội trợ ở xóm này, chắc không ai dụ dỗ nó làm gì, trái hẳn với thói phần đông của các bà, vì ai thấy cái tướng Cù Lần của nó cũng phát ngán, đâu có chuyện quyến rũ một người làm giỏi, hoặc kha khá.
- Mày xin thôi thật sao tám?
- Tôi gạn hỏi nó một cách ngớ ngẩn như vậy, và nó thật thà đáp:
- Dạ thật cô à!- Ai nặng nhẹ mày, ai ăn hiếp ăn đáp mày?
- Dạ, không có ai cô à.
Tôi nghĩ tới các cháu, khi hỏi câu trên. Chúng nó không ác, nhưng chúng nó có thể vô tình làm phật lòng con bé hiền lành n ày.
- Mày thôi để đi làm cho Huê Kỳ hả?
Con Tám ngơ ngác nhìn tôi mà không đáp, và tôi hiểu ngay rằng không phải thế. Không, nó không hề hay biết gì hết về sự đổi thay mấy tháng nay: công việc nhiều, người làm ít. Nó thật thà, dốt nát, và không có đi đâu cả, trừ theo tôi đi chợ rồi về.
- Chớ mày thôi rồi đi đâu, làm gì?
- Dạ, cháu nhớ ốc gạo.
- Nhớ ốc gạo?

Bây giờ tới phiên tôi ngẩn ngơ nhìn nó. Con bé này nó trêu tôi sao mà! Ai lại nhớ ốc gạo!
Kể về thú vật thì chính mắt tôi đã thấy những thằng bé chăn trâu, chăn bò, nhớ trâu bò, khi chủ chúng nó bán những con vật ấy. Chính mắt tôi lại đã thấy những bà cụ ở thôn quê sa nước mắt mỗi lần chú chệt mua heo xách cây cần vòng bằng mây đến bắt chơn cho heo của các cụ té rồi trói gô lại khiêng đi. Người da trắng xem chó là bạn thân, nhưng xứ ta, chó chỉ đứng vào hàng thứ ba trong nỗi nhớ niềm thương của thiên hạ thôi. Và những loài vật được loài người thương nhớ, chỉ có bốn loại ấy, trong xã hội ta. tôi có nghe vài người nói nhớ gà, nhưng họ nói nghe ra không tha thiết lắm. Nhưng ai lại nhớ ốc gạo bao giờ! Loài ốc gạo ở dưới nước, nội cái đặc tính ấy của giống vật đó đủ chỉ rõ rằng ta không có lý do mà nhớ nó. Nó có gần gũi như mèo, hay tệ lắm như chuột đâu. Con dơi coi vậy mà thỉnh thoảng còn vào nhà thăm ta, chớ ốc gạo thì lạnh như nước rạch mà chúng sống trong ấy!
- Theo pháp luật thì mày với tao, cả hai phải báo với người kia hay trước mười lăm ngày, nếu muốn thôi nhau, mày có biết không? - Tôi hỏi.
- Dạ không.
- Không thì nên biết đi. Tao có quyền cho mày thôi việc ngay bây giờ, miễn là phải trả công không cho mày cái mười lăm ngày mà mày được biết số phận, để đi tìm việc khác, còn mày thì không, bởi mày có thể không có việc mà vẫn khỏi đói nhờ 15 ngày lương đó, còn tao thì cỡ tao được nhận tiền bồi thường của mày, tao cũng bị thiệt hại bởi công việc bị ngưng trệ thình lình. Mày hiểu không?
- Dạ hiểu.
- Vậy thì mười lăm ngày nữa mày mới nghỉ việc được.
Tôi không thích giữ một người buồn, nhưng chưa tìm được người, biết sao!

Con Tám Cù Lần nhẫn nại chịu số phận, nhưng nó giống hệt một đứa con gái đau tương tư.
Tôi đưa nó đi Thảo Cầm Viên, đi coi cải lương, đi xem đèn màu Sài gòn ban đêm. Không ăn thua gì cả. Nó mê những thứ ấy thì quả có mê thật đó, nhưng không nguôi được mối tình ốc gạo của nó, khiến tôi đâm nghi rằng nó nói láo, chớ thật ra là nó sầu tình, thằng nhơn tình của nó có lẽ nhắn nó về.
Hồi nó vô làm với tôi, nó nói rằng ở dưới không yên. Tôi tin rằng nó nói thật, và vẫn còn tin. Như vậy sao nó lại cứ nằng nặc đòi về chỗ thiếu an ninh?
- Tại sao chị lại đòi về dưới ấy chị Tám? - Thằng Công, thằng con lớn nhất của tôi hỏi con Cù Lần như vậy.
- Vì tới mùa ốc gạo rồi.
- Tới mùa thì sao?
- Chị phải về để xúc ốc gạo.
- Ốc gạo sống ở đâu chị?
- Ở dưới rạch.
- Làm sao mà xúc chị?
- Thì đợi nước ròng lấy rổ xuống dưới ấy mà xúc chớ làm sao.
- Xúc chi vậy chị?
- Xúc để bán.
- Bán bao nhiêu một con chị?

Tới đây, tôi sực nhớ ra là bà bán rượu lậu ngoài đầu ngõ, bả bán ốc gạo luộc làm đồ nhắm cho bợm nhậu, một đồng bạc có ba bốn con gì đó. Ba bốn con ốc gạo với lại một chén nước mắm chanh nhỏ bằng cái vú cau, mà những một đồng bạc thì kể ra cũng khá được tiền.
Tôi đợi nghe tới, xem con cù Lần cho biết giá cả, và số ốc gạo mà nó xúc được. Nhưng nó chỉ bật cười mà không đáp.
Con tôi không hỏi lại, hỏi câu khác:
- Chị xúc một ngày được mấy con?
- Mấy con thì lấy gì mà ăn. Mỗi ngày chị xúc hàng chục rổ.
- Dữ vậy lận? Mà chị bán bao nhiêu một con chớ?
- Đâu có bán con, bán con gì được. Chị bán rổ.
- Bao nhiêu một rổ?
- Chừng ba đồng bạc.
Tôi ngạc nhiên quá. Như vậy, công nó làm, bọn trung gian ăn hết và nó chỉ kiếm được khoảng ba bốn chục bạc mỗi ngày, đâu có bằng lương tháng có ăn ở và áo quần của tôi.
Hơn thế, mùa ốc gạo kéo dài cao tay lắm là hai tháng mà thôi. Có đáng gì cho nó bỏ một chỗ làm, một nơi tạm trú tốt trong lúc nó đi tìm an ninh?
- Hễ tới mùa ốc gạo là chị phải về hả? - Con tôi lại hỏi.
- Ừ.
- Sao vậy?
- Để bắt ốc.

Con Cù Lần trả lời sai vì nó đần, chớ không phải muốn đánh trống lấp đâu. Nó không phân biệt được hai nghĩa khác nhau của hai câu hỏi: “Về chi vậy?” và “Tại sao tới mùa thì phải về?”
Nhưng con tôi cũng khờ không kém, nên nó thỏa mãn được với câu trả lời ăn trớt đó, và hỏi câu khác:
- Chị về đâu chị Tám?
- Về chợ Bưng.
- Chợ Bưng có vui không chị?
- Vui lắm!
- Vui bằng Sài Gòn không chị?
- Vui hơn.
- Có xi nê không chị?
Con Cù Lần không biết xi nê là gì, nhưng nó đáp bừa:
- Có.
- Chợ Bưng ở đâu chị?
Tôi nín thở, để nghe nó trả lời. Đó là cái chợ xép ở xó quê nào, làm gì mà có xi nê. Nhưng con Cù Lần không bao giờ nói láo, nên tôi tin rằng ở quê hương nó có xi nê, và đợi nghe coi nó cho biết ở đâu, để mình bớt dốt địa lý nước nhà, bởi cái chợ có xi nê ấy hẳn phải quan trọng lắm, tôi không có quyền không biết.

Con Cù Lần mù chữ. Nhưng tôi lại hình dung được rõ ràng cái chợ Bưng, qua lời tả của nó, như là nó đã thấu đáo khoa tác văn, chương miêu tả. Nghe xong, tôi mới hiểu vì sao mà nó nhớ ốc gạo.
- Nè, em biểu xe đò nó ngừng lại ga tân hiệp nha.
- Ừ!
Thằng Công không hề biết ga Tân Hiệp ở đâu cả, nó cũng không hay rằng nhà ga ấy đã được phá hủy rồi vì đường thiết lộ Sài Gòn - Mỹ Tho đã bị bỏ từ lâu, nay nhà ga biến thành một địa danh. Nó cũng chẳng định đi chợ Bưng, nhưng nó nghe lời chỉ nẻo y như là nó muốn xuống dưới ấy một chuyến.
- Ừ!- Đó, con đường đi chợ Bưng ở trước mặt ga Tân Hiệp.
- Xuống xe ở đó rồi đi bộ sao?
- Chớ đâu có xe mà đi, mà có, đi cũng hổng được, vì là đường đất.
- Đi mỏi chân hôn chị?
- Hồi đó thì không, bây giờ thì mỏi.
- Bây giờ chị già rồi, như bà ngoại vậy hả?
Con Cù Lần cười ngất rồi đính chánh:
- Hổng phải. Hồi đó có xe lửa, họ đi buôn bán đông, đi đường chung với nhau vui nên hổng biết mỏi. Bây giờ đường vắng, đi ngán lắm. Mà có cái này, còn ngán hơn.
- Gì?
- Ma!
- Ý, ẹ, ghê quá! Ma trong rừng hả?
- Đâu có. Xứ chị hổng có rừng. Chỉ có bưng mà thôi.
- Bưng là cái gì?
- Là đồng lầy.
- Ma ngoài đồng?
- Ừ, ma ngoài đồng, ma trên gò é. Con đường đất ấy đi ngang qua một cái gò, gò cao, nên họ chôn người chết ở gò cho khỏi bị nước ngập.
- Ma nhiều hôn chị?
- Bao nhiêu cái mả thì bao nhiêu ma.
- Mà có mấy cái mả?
- Có cả trăm cái.
- Ý, ẹ.
- Đi ngang qua đó giấc hừng đông, giấc chạng vạng, và nhất là vào giờ đứng bóng thì ai cũng phải chạy, và ai cũng bị ma rượt theo sau, nó rượt nà, tiếng chơn của nó mình nghe đùi đụi.
Quả đúng như tôi đoán. Cứ theo lời con Cù Lần thì chợ Bưng chỉ là một cái chợ xép, mười giờ đúng là tan chợ. Chợ cất bằng gỗ, lợp lá. Hai bên chợ leo heo vài tiệm tạp hóa. Rồi thì nhà dân.
Nhưng con Cù Lần không ở tại chợ đâu. Nhà nó cất trong xóm trong, phải qua ba con rạch mới tới xóm.
Thằng Công không đồng ý:
- Vậy mà chị nói vui bằng Sài Gòn!
- Ừ, vui bằng.
- Em có thấy gì vui đâu?
- Em hổng biết chớ đi chợ vui lắm, đi ga cũng vui lắm.
- Vui cái khỉ khô.
- Vui chớ. Đi chợ hồi ba giờ khuya, đi qua nhà chị em bạn, hú họ, họ ra vầy đoàn với mình, chín, mười chị, lại hổng vui sao?
- Sao lại phải đi chợ khuya?
- Đi chợ ngoài đường lộ, chớ có phải đi chợ Bưng đâu.
- Sao lại có chợ Bưng mà hổng đi?
- Ở đó thiếu đồ. Mỗi tháng phải đi chợ lớn ngoài đường lộ một lần. Khuya hai giờ, thức dậy nấu cơm ăn, lại hổng vui sao?
- Ăn cơm sao lại vui?
- Nấu cơm vui. Muốn nấu cơm, phải nhúm lửa, mà lửa thì vui.
- Lửa vui?
- Ừ. Ở dưới tối, nên hễ sáng là vui. Ở dưới lạnh, có lửa ấm thì vui. Em mà thấy lửa chiều mưa thử coi.
- Lửa chiều mưa làm sao?
- Chiều mùa mưa, ai làm ngoài ruộng, hay đi đâu cũng về nhà hết rồi ăn cơm ở nhà bếp, quanh lò lửa, đông đủ cả nhà, vui lắm.
- Đã ăn cơm mà còn nấu cái gì nữa?
- Ừ, ở dưới nhà quê luôn luôn nhúm lửa chớ không để tắt bếp như trên này. Mà hễ lửa có là phải nấu cái gì, thí dụ luộc khoai. Còn sang mùa bấc thì lửa ngủ rơm cũng vui.
- Lại một thứ lửa nữa! Nhưng em hổng thấy gì vui hết.
- Vui lắm chớ. Nè, gặt rồi thì phơi rơm ngoài ruộng. Có khi phơi lúa nữa. Phải ngủ ngoài ấy để giữ lúa, giữ rơm. Gió bấc lạnh, năm bảy chị em đốt rơm lên, vui chơi, hò hát, vui lắm mà.
- Hông, lửa đâu có vui - Thằng Công nhất định không nhận quan điểm của con Cù Lần.
- Vậy hả? Em hổng thấy là lửa vui sao? Vậy thì nước vui.
- Nước làm gì mà vui?
- Nó không có làm gì hết. Nó chỉ dâng lên tới thềm là vui, thấy như là mình sung túc.
- Nước ở đâu mà dâng lên tới thềm?
- Ngoài đồng. Bờ nước cũng vui. Em hổng thấy cây bần mọc dựa rạch lúc chạng vạng tối. Đom đóm nó đậu nghẹt các lá cây, các nhánh cây, nó chớp cháy rồi tắt, buồn ghê lắm!
- Buồn, sao chị nói là vui?
- Ừ, buồn mà vui. Chị nghe vui mà được buồn.
- Chị này điên.
- Em hổng biết đâu.

Phải có nghe giọng con Cù Lần nói, mới thấy được lòng thương mến làng mạc của nó, giọng nói còn quan trọng hơn là lời nói nhiều lắm. Lại còn những lúc im lặng nữa. Ta học nhạc Tây phương, đã thấy những sự quan trọng của những chỗ im lặng, thì những lúc con Cù Lần im lặng cũng quan trọng lắm. Tôi nghe và hình dung nó đang nhìn xa về làng nó
Thì ra nó chỉ nhớ nhà mà thôi, chớ không có nhớ ốc gạo khỉ khô gì hết. Nỗi nhớ nhà này được mùa ốc gạo gợi lên, thành ray rứt quá, nó chịu không thấu, khi nó thấy ốc gạo bán đầy các vỉa hè cho bợm nhậu nhắm rượu. Chắc không thể nào nó trở lên đây nữa, sau mùa ốc gạo.

Tôi thấy trước rằng tôi sẽ bùi ngùi nhớ nó, nhớ cái vùng quê mà nó tả, bởi tôi có ở thôn quê, tôi hiểu được nó và niềm thương nỗi nhớ của nó cũng cùng một loại với niềm thương nỗi nhớ của tôi, thuở tôi rời làng lên đây. Con tôi không làm sao mà hiểu được hết, vì chúng nó không biết cái tình nhớ xứ là gì. Đô thị không phải là nơi mà người ta có thể nhớ được, huống chi đô thành Sài Gòn thật kém thơ mộng. Ngày mai, tôi phải cho gia đình ăn ốc gạo một bữa mới được, mặc dầu món ăn ấy rất kém vệ sinh. Con Tám Cù Lần có thể nhớ nhiều kỷ niệm nữa, do ốc gạo gợi ra, sẽ nói thêm cái gì. Mà tôi thì rất ưa Con Tám Cù Lần nghe nó thật thà kể lể những chuyện không đâu mà có mình nó với tôi là hiểu thôi.

Chú thích:
 [1] Lời một người nội trợ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2020 22:53:25 bởi Thanh Vân>
3. Chiêu hồn Nước


Hai tay nhét vào túi quần, hà nện mạnh gót giày trên vỉa hè đại lộ hàm Nghi, miệng ngâm nho nhỏ bài thơ của chính chàng, vừa đăng trên một số báo Xuân năm nay:

Gầy  gõ(1)
Đường  đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập chờn
Chiếc bóng phong sương
Tâm tư lê nặng phố phường,
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ!

Bài thơ dài lắm, nhưng chàng chỉ ngâm tới đó rồi nín thinh để lắng nghe dư âm giọng ngâm của chàng, giọng ngâm mà mấy năm trước đây, đêm nào cũng vang lên trên làn sóng phát thanh của đài Sài Gòn, thử xem nó còn được cái phong độ cũ hay không.

Trăng gầy loáng áo.
Nàng thơ...
Gặp nhau
Thêm mấy dại khờ hồn si.   
Cầm bằng như gió bay đi
Giang hồ, mình lại xa gì với ta!    
Em ngùi son phấn phôi pha
Đời tôi, nghệ sĩ tài hoa phong trần!

Thi sĩ đa cảm, đa tình thật! Tất cả những gì chàng ghi trong bài thơ này, đều là chuyện tưởng tượng cả: Chàng không có gặp cô gái giang hồ đồng tâm nào đang ngậm ngùi cho cảnh phấn lợt hương phai của nàng hết. Thế mà ngâm đến đây, chàng nghẹn ngào mắt rưng rưng lệ.

Thoáng nhìn đã vội bâng khuâng.
Ngược xuôi, đôi kẻ rời chân ngậm ngùi!
Vắng đêm
Lọt nửa tiếng cười.
Nhẹ an trong gió
Ai người chợt nghe?

Hà không còn ngâm tiếp được nữa. Chàng đã khóc mùi, thương không biết bao nhiêu kẻ “cùng một lứa bên trời lận đận”mà chàng đã bịa ra trong bài thơ.
Chàng dừng chân lại trong lúc khóc để chấm khô nước mắt rồi tiếp tục rảo bước. Một nỗi buồn mênh mông, xa vắng thấm vào đáy hồn chàng.
Thế mà chàng lại thích được buồn thật buồn như vậy. Đằng xa kia, chợ hăm chín tết vào lúc mười một giờ đêm vẫn cứ ồn ào, có lẽ còn ồn ào hơn lúc đầu hôm nhiều, để rồi tan vào buổi cuối năm vài tiếng đồng hồ sau đó. Đêm mai, tối lại là không còn gì nữa, vì ai cũng bận việc nhà cửa, sau khi rước ông bà về.
Chàng không về nhà mà chịu được, nhưng phải trốn cảnh náo nhiệt, thả bách bộ trên con phố vắng vẻ này như chàng đã thường đi trong đêm khuya như vậy ở nhiều phố khác.
Năm nay thi sĩ đã ba mươi tuổi rồi, nhưng chưa yêu thật sự bao giờ cả. Những mối tình hời hợt qua đường, không gọi là yêu được. Chàng cứ mơ gặp một mối tình lớn, một mối tình đáng kể như trong tình sử bất hủ của nhân loại, và kéo lê nỗi buồn về đêm của chàng trên các đường phố vắng để nhìn khói hương trầm qua những cánh cửa nửa khép của các lầu hoa mà chàng biết trong đó đang ẩn trú nhiều bậc giai nhân cũng thèm yêu như chàng.

Tâm tư lặng lẽ phố phường
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ

Hà lắng nghe tiếng giày của chàng trong đêm vắng, nhìn bóng chàng đang chuồi trên vỉa hè, bóng đen mà đèn đường đang kéo dài ra, trông ốm nhom và rất yếu đuối...

Gầy gõ
Đường đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập  chờn
Chiếc bóng phong sương.

Đi thơ thẩn, chàng lạc bước tới góc bến Bạch Đằng, bị gió sông lạnh thổi hắt vào mặt, chàng mới hay.
Hà ngước lên nhìn. Bờ sông không còn một bóng người. Bờ sông Thủ Thiêm đen thui và bên phải của chàng, bến thương khẩu leo lét vài bóng đèn ngủ gục.
Bỗng tiếng giày của ai vang lên, và người ấy đi trên vỉa hè bờ sông, từ hướng cầu quay cũ tiến đến đây. Tiếng giày ấy thưa nhưng lại giòn, nện mạnh lên gạch lề đường nhưng nghe không nặng, người bộ hành ấy chắc còn trẻ, khoẻ mạnh, nhứt là đã quen đi giày từ lâu rồi.
A kia, đó là tiếng bước của phụ nữ nó có biệt sắc riêng của nó, biệt sắc ấy có lẽ do cái phần diện tích đế giày đụng chạm với gạch, nhỏ quá, nghe rõ là truy nguyên được căn cước ngay.
Hà day lại thì thấy đó là một người đầm... mà không, đó là một người đàn bà Việt mặc duýp se-rê màu ngà với chiếc bơ-lu-dông đỏ ở thân trên.
- Bò lạc giả! - Hà nói thầm trong bụng như vậy vì thấy người ấy chỉ đi thong thả, lang thang, không có ý định về đâu cả, nên chàng nghĩ ngay rằng ả ta là một cô gái ăn sương. “Bò lạc giả” là tiếng lóng của bọn ăn chơi chỉ hạng gái này, để phân biệt với bò lạc thật là những thiếu nữ ở tỉnh mới lên, còn bơ vơ chưa tìm được nơi nương dựa.
Người đàn bà ấy dong dỏng cao, dáng điệu rất yêu kiều thanh lịch. Mặc dầu không có ý gì, Hà cũng nhìn thử gương mặt xem ả ta sắc diện đẹp hay xấu.
Bấy giờ ả ta đã đi gần tới bên thi sĩ và Hà thấy đó là một thiếu phụ đã quá xuân, trạc ba mươi, mặt hoa đã héo, mặc dầu giỏi hóa trang. Tuy nhiên dấu vết đẹp xưa vẫn còn thấy bóng dáng lờ mờ trên đó.

Ả ta xăm xăm đi lại trước mặt Hà, chàng vừa toan lắc đầu để xua ả thì giật nẩy mình mà nghe một câu tiếng Pháp rất đúng giọng đầm:
- Xin lỗi ông, ông có lửa hay không?
Ả vừa hỏi vừa mở xắc lấy thuốc điếu, lấy cả hai điếu để mời chàng. Thì ra đó là một me Tây. Buồn cười, Hà móc hộp diêm ra và hỏi đùa cũng bằng tiếng Pháp:
- Có lẽ nhớ ổng, nhìn bến tàu cho đỡ nhớ à? Thơ mộng lắm!
Chàng vừa đánh diêm trao lửa, vừa ngâm mấy câu thơ của Sa Giang Trần Tuấn Kiệt.

Rải rác mưa tro mờ bến Chương Dương
Ánh đèn đêm yên lặng chơi vơi buồn.
Tôi khép áo mưa,  
Ngồi trên băng lạnh.
Trông ngóng những con tàu tha hương.
- Không - người đàn bà miệng ngậm thuốc, chìa đầu điếu ra để đón lửa và đính chính - không, tôi tìm cái khác.
- Khách à?
- Không có gì sai hơn. Nhục nhã thay cho kẻ nào nghĩ quấy!
Hà kinh ngạc đến cực độ. Một me Tây, không thể nào biết nổi câu châm ngôn của võ sĩ phái Jarretière hồi thời Trung cổ Pháp ấy, và nói ra rất đúng giọng “Honni soit qui mal y pense”.
Ngượng quá, chàng không biết làm sao chữa được sự lỡ lời, nên ấp úng nói:
- Tôi xin lỗi bà...
- Không hề gì, nhiều người đã lầm rồi, chớ không riêng gì ông. Xin cám ơn chút lửa này.
- Thưa bà, bỏ qua đi cho...
- Đồng ý.
- Và cho tôi hân hạnh được biết quí danh... của ông ở nhà.
- Tên tôi và tên của nhà tôi chắc không nói lên được điều gì bên tai ông. Tôi đang buồn đi lang thang, mà xem ra ông cũng thế, thì ta cùng đi bách bộ một vòng, có lẽ thú hơn.
- Có hân hạnh nào bằng.
- Và xin nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt vậy.
- Càng thích hơn.
Họ băng qua đường để thả trên vỉa hè đá đỏ bên ấy. Người đàn bà hỏi:
- Anh không đi chợ tết sao?
- Khi nãy có đi mấy vòng với lũ bạn, nhưng tôi lại trốn mà tách riêng ra.- tìm hứng hay tìm ai?
- Không tìm gì cả! Đi bậy cho buồn vậy thôi!
- Quái lạ! Ai lại tìm buồn?
- Chớ chính bà không tìm buồn hay sao mà lại ở chốn này. À, khi nãy bà đã bảo rằng bà đang “tìm cái khác”. Nếu không phải là chuyện riêng tư, thì cái khác ấy là cái gì?
- Em không biết nói ra có ích gì hay không? Đã trễ lắm rồi!
- Trễ lắm rồi? Tàu chạy rồi à?
- Không, không thể nào anh hiểu được đâu mà hỏi mất công.
Hà thích ghê, nghe câu chuyện có vẻ mơ hồ như là truyện trinh thám trong các phim phóng đãng bí mật, toát mồ hôi lạnh. Nhưng không muốn quá tò mò, phần lại nghi kỵ, cứ còn ngờ vực người đàn bà này là một gái ăn đêm, khôn khéo toan lừa chàng vào tròng bằng một thủ đoạn siêu đẳng nào, Hà hướng câu chuyện sang nẻo khác.
- Bà có lạnh không?
- Bên ngoài thì không.

Chà, ả ta trường trải lắm đây và có học nữa. Nói như thế tức là ngầm bảo rằng ả ta đang lạnh lòng lắm và cần người an ủi. Thằng nào lơ mơ thì chết với ca-líp này.
Đang buồn, cần bạn, nhưng bỗng đâm sợ, Hà toan từ giã con hồ ly nguy hiểm để rút đi trước khi tai họa xảy tới. Chàng chợt thấy rằng cả hai đều đến trước vũ trường Mỹ Phụng và cô ả đang quẹo lên Hai Bà trưng.
- Sao lại quẹo, thưa bà?
- Em ở đường này, đằng kia.
- Vậy à, thì ra vô tình, tôi đã đưa bà về nhà, đã trót như vậy, tôi xin đưa bà luôn tới cửa, có bất tiện cho bà không?
- Không có gì, nếu việc đó chẳng làm nhọc ông.
Hà đoán người này có lẽ là nhơn tình dài hạn của một Pháp kiều vì phố Hai Bà Trưng đầu dưới sông thuộc khu người Pháp ngày trước. Như vậy, không còn gì hay ho nữa, và sở dĩ chàng đưa ả ta về nhà chỉ vì lịch sự thôi.
Chàng lặng lẽ đi bên cạnh người ấy, không nói, không rằng, nhưng ả ta lại nói:
- Anh có gia đình chớ?
- Vâng!
- Anh ở trong ngành hoạt động nào?
- Ơ... hơ... tôi là tài tử.
- Với nghĩa nào? Cái tiếng Việt ấy có nhiều nghĩa lắm...
- Xin bà hiểu theo nghĩa artiste.
- Vậy à? Thế thì em đã lầm...
- Bà ngỡ tôi là gì?
- Em không ngỡ là gì hết. Nhưng em đã lầm mà cả quyết rằng anh không thể hiểu cái điều anh hỏi em. chính chỉ có những người tài tử mới hiểu em được.
- Nhưng rất tiếc là đã trễ?
Hà hỏi xong, cười to lên, có vẻ nhạo báng ả ta.
- Phải, rất tiếc là đã trễ.
Người đàn bà ấy lặp lại lời hà một cách nghiêm trang như để ngầm đính chánh ngộ nhận của chàng rằng bà ta chỉ làm bộ bí mật vậy thôi, chớ thật ra thì không có gì cả.
Bấy giờ Hà đã nghe mỏi chơn vì đã đi quá xa và quá mau, đường lại cứ dốc lên mãi. Chàng chợt nhớ ra là người đàn bà này đi mau quá sức, chàng chưa thấy cả đàn ông Việt Nam nào mà đi mau đến thế. Chàng lại chợt nhận thấy họ đã đến đại lộ Thống nhất (2) rồi mà xem ra ả ta cứ còn muốn đi nữa.
- Hình như là bà ở xa lắm?
- Đằng kia.
- Xa như vậy lại chỉ đi bộ?
- Bên ấy, em chỉ đi bộ nên quen rồi.
- Bên nào, thưa bà?
- Bên Bọt-đô (Bordeaux).
- Bà ở Pháp mới về?
- Em ở Pháp mới về.
- Nghĩa là...?
- Nghĩa là em có Pháp tịch, sống bên Pháp và về đây để... tìm cái đó.
Thế là đã rõ. Tác phong của người này là tác phong của một cô đầm: dám xin lửa đàn ông ban đêm, đi lang thang một mình trên đường vắng, đi mau quá (theo nhịp sống của Âu châu) và đi bộ giỏi quá (bên Âu châu, những người bậc trung đi bộ trong thành phố hằng năm bảy cây số là thường).
Không còn gì lạ về con người của thiếu phụ này, chỉ còn một chút xíu là... cái đó thôi.
Cái đó là cái gì mà ta tìm trong đêm tối, sợ rằng không ai hiểu cả, và đồ rằng chàng hiểu, nhưng tiếc rằng là đã trễ?
Hà rất hối hận đã chế giễu cái vụ “đã trễ ấy”. Chàng lại lặng lẽ mà đi, và giây lát, tò mò quá, chàng hỏi:
- Nhưng sao lại trễ thưa bà?
- Vì mai, em đã lên đường về Pháp, và có thể không bao giờ trở lại đây nữa.
Thiếu phụ đã dừng chân, đưa tay ra cho chàng bắt và nói bằng tiếng Pháp:
- Cảm ơn và vĩnh biệt!

Hà đã thừ người ra lúc nghe câu trước. Rất đa cảm, chàng hay ngậm ngùi trước mọi cảnh chia ly, cho dẫu là với người mới quen sơ. Chàng cầm tay thiếu phụ nghẹn ngào nói:
- Bà đi thật à? Tôi cứ ngỡ...
Thiếu phụ cười giòn giã:
- Anh cứ ngỡ gặp phải kỹ nữ me tây?
- Xin lỗi bà, ai lại...
- Này, hay mời anh vào chơi giây lát. Đêm nay chắc tôi cũng không ngủ.

Hà xem lại thì đó là ngôi nhà chung cư cửu Long. Khi họ lên tới lầu, bà ấy đẩy cửa một căn buồng hẹp té thì Hà ngạc nhiên hết sức mà thấy buồng trang hoàng như một căn nhà bình dân với nào tranh gà, tranh lợn, tranh tàu trên vách, đặc biệt nhất là một bàn thờ tạm dọn trên chiếc bàn con với gần đủ đồ thờ, bình hương, độc bình, đèn, nhang.
Thiếu phụ cười nói, như để xin lỗi:
- Cục cựa không được. Nhưng không làm sao khác hơn. Đến ở mười hôm, không thể mướn nhà.
- Té ra bà chỉ mới về đây thôi?
- Vâng, rồi mai lại đi.
- Sao bà vội thế?
- Rồi anh sẽ hiểu.

Thiếu phụ rót nước trà từ bình thủy ra hai cái ly bằng lát-tích, thứ rẻ tiền, mua trên vỉa hè hai bên chợ Bến Thành. Nàng ngồi trên giường nhường chiếc ghế độc nhất trong buồng cho khách và nói:
- Đáng lý vì ngày mồng một em mới đi, để được nghe tiếng pháo giao thừa, như hồi năm 1958 mà em đã về một lần như vậy, nhưng nghe rằng năm nay cấm đốt pháo nên em lấy vé ngày ba mươi tết.
- Té ra bà đã về đây một lần rồi?
- Vâng!
- Nhưng bà đã ra đi năm nào?
- Năm 1954.
Hà ngắm kỹ thì quả thiếu phụ này đã có một thời đẹp lắm. Hớp từng hớp trà nóng, thiếu phụ cũng nhìn chàng rồi nói:
- Anh là người khách đầu tiên và cuối cùng của em. Em mừng lắm.
- Hân hạnh cho tôi.
- Thành thật mà nói thì không có gì hân hạnh cho anh. Em chỉ mừng vì được trò chuyện thân mật với một người Việt Nam, chớ không vì cá nhân của anh đâu. Anh đã mua sắm tết chưa?- Đã xong cả.
- Có bánh tét, dưa hấu chớ?
- Có. Các thứ hoa cũng đã mua xong. Tôi mua được một cành mai đẹp lắm.
- Mai thui...
- Không, một cành mai mà họ cắt ngang để bán.

Nhưng thiếu phụ không nghe nữa. Nàng nhìn vào khoảng không, rồi say sưa nói to lên một mình: “Mai thui... ba chặt cành mai vào giữa tháng chạp, ba thui cành ấy nơi bị chặt, ba chặt lá, rồi ba cắm trong độc bình có chứa nước...”
“Thế rồi hăm lăm hoa ra nụ và tối ba mươi nó âm thầm nở. Sáng mồng một là bàn thờ vàng óng. Nó bền và đẹp hơn hoa nở sẵn trên cành bị cắt ngang, rồi... rồi ba...”

Bà ta còn nói gì nữa, nhiều lắm, lầm thầm trong miệng rồi nghẹn ngào không tiếp được. Lâu lắm bà ta chấm dứt trễ muộn câu nói nửa chừng ấy bằng một tiếng nấc.
Như là kẻ đóng trò, hay một con mẹ điên, thiếu phụ thình lình ngước lên nhìn khách rồi cười giòn mà rằng:
- Em chưa già mà đã lú lẫn. Em có làm buồn lòng anh lắm không?
- Không, thưa bà.
- Em đã ba mươi rồi. Không, em chỉ mới ba mươi thôi, nhưng già quá, lòng em héo hắt, bằng cớ là em chỉ sống quay về dĩ vãng thôi. À, anh chắc còn trẻ lắm?
- Tôi cũng ba mươi.
- Tuổi sung sướng! Của anh và của người khác. Trời ơi, sao tôi lại già thế này! tôi chỉ tiếc thương dĩ vãng, không hưởng được những gì đang có trong lứa tuổi tôi. A... hà... ha em lại lẩn thẩn nữa, xin lỗi anh. Em cám ơn anh, đã đến, đã vào đây. Có lẽ em sẽ nhớ anh trọn đời.
- Tôi tên là...
- Đừng, anh đừng nói tên. Anh là người Việt Nam, bao nhiêu ấy là đủ lắm rồi. Em đã gặp một thanh niên Việt Nam, không, em đã gặp quê hương Việt Nam vào một đêm cuối năm, trong đời em.
- Nhưng, bà đi bên ấy làm gì, và về để tìm bà con hay...
- Ông có gan nghe câu chuyện không hay mà khá dài hay không?
- Tôi đoán là hay.
- Đoạn đầu rất xoàng. Đoạn sau, chỉ hay đối với em thôi. Đoạn đầu rất cổ điển mà báo chí sách vở ở đây nói đến khá nhiều rồi, về người khác mà trường hợp giống trường hợp em. Năm đó em học ban trung học Pháp Việt ở Sài Gòn. Nhơn kỳ nghỉ hè, em về quê, một làng hẻo lánh kia, rồi bị một nhóm quân nhân Pháp hiếp.

“Sợ gia đình em thưa kiện, chúng nó phao vu em rồi bắt em đi. Ra tỉnh bị giam một thời gian thì em được thả, nhưng có còn gì nữa đâu để mà quay về. Vừa lúc ấy thì một sĩ quan Pháp phải lòng em và bao em.”
“Em bằng lòng theo nó, vì cũng chẳng thiết làm lại cuộc đời, và một năm sau, đạo quân viễn chinh rút lui, em theo y về bên ấy và được y cưới luôn, rồi em xin vào Pháp tịch.”
“Hai năm đầu em vui được với cảnh lạ, nhưng khi hay tin cha mẹ em qua đời, em bỗng chạnh nhớ quê nhà.”
“Ban đầu chỉ là một nỗi nhớ nhung nhè nhẹ thôi. Nhưng càng ngày lòng sầu xứ càng sâu đậm, em không chịu nổi nữa nên vào cuối năm 1958 ấy, em có dư chút ít, xin thông hành với tư cách du khách về đây, cũng lúc cuối tháng chạp như năm nay.”
“Không thể nào mà anh tưởng tượng nổi sự thèm khát quê hương của một kẻ lìa xứ vĩnh viễn không hy vọng trở về như em. Thèm như là thèm một món cá nướng chấm mắm nêm, thèm hương bưởi, thèm tiếng chuông chùa ngân nga vào buổi hoàng hôn, thèm cảnh cấy mạ vào đầu mùa lúa. Thèm chết đi được là vào lúc gần tết, tức là khoảng đầu năm dương lịch. Nhớ Tết như nhớ nhà, nhớ nước, bởi vì tết là sum họp gia đình.”
“Em chỉ về cho đỡ ghiền vậy thôi, chớ bà con xa gần gì cũng chẳng còn ai, không có lấy một mái tranh để mà vào. Mười hôm lưu lại đất nước nhà năm ấy đã làm cho em thất vọng vô cùng, định không về nữa. Nhưng, rồi lại nhớ và năm nay lại về.”

Hà chợt hiểu vì sao mà tranh tàu bình dân lại treo vách buồng buyn-đin và người thuê buồng lại dọn bàn thờ phiền phức như thế này: nàng muốn tạo lại không khí gia đình đầm ấm mà về tới đây, nàng vẫn nghe thiếu.
Hà nghe nao nao buồn khi nhìn khói nhang mà chủ phòng đã đốt lên lúc nãy. Đêm mai, nhà nhà sẽ ngát hương trầm, nhà nhà sẽ đoàn tụ, trong khi đó thì một người sẽ bay trên vạn dặm trùng dương vì không còn lấy một mái tranh để mà vào, thèm mái tranh quyện khói lam chiều ấy mà không bao giờ được hưởng.
- Thì ra cái đó là...
- ... Là gì chính em cũng không nói ra cho đích xác được. Một vũng ao tù trong thôn xóm chăng? Một chơn trời quen thuộc? Một mùi cá nướng? Một vài tiếng sáo mục đồng? Hay là tất cả những thứ ấy nó họp lại để làm một linh hồn của quê cha đất tổ mà em ngỡ từ bỏ được, nhưng không thể được.
Mỗi đêm, em đi lang thang như vậy qua hết phố này đến phố khác, lắng nghe những tiếng thì thầm bí mật trong không, rình rập mãi một cái gì không biết, nó có thể cho em thoáng thấy cái vô hình mà em tìm, nhưng không gặp..
Bơ vơ quá, đang sống trong Việt Nam mà em nghe rằng mình chỉ đi bên lề nước Việt thôi, không làm sao mà len vào linh hồn của đất nước được.
- Cây cỏ, núi sông vẫn có linh hồn. Nhưng ta chỉ nắm tay được với linh hồn cảnh vật qua trung gian của một linh hồn khác thôi, linh hồn người. Có lẽ bà tìm một linh hồn bầu bạn mà không dè.

Thiếu phụ đặt vội ly trà lên nệm, nhìn sững hà giây lâu rồi nói:
- Ừ, có lẽ đúng, anh nói có lẽ đúng.
- Linh hồn bầu bạn ấy là vật xúc tác của hai linh hồn khác, linh hồn đất nước và linh hồn của chính ta.
- Anh nói có lẽ đúng. Thuở còn con gái, em mơ yêu. Ông hoàng tử đẹp trai của em là một thanh niên Việt Nam, cố nhiên. Rồi, rủi ro của số phận đã xô em vào tình cảnh không hay. giấc mơ thiếu nữ không bao giờ thoả cả, em chưa được yên lần nào.trong giờ khắc năm tàn tháng lụn, chàng thi sĩ đa tình và trơ trọi nhìn lại người đàn bà mà tấm lòng đi lang thang khắp bốn phương trời, đau xót khôn nguôi cái đau mất gốc! Dấu vết hường nhan ngày xưa của nàng đang lặn hụp chìm nổi trong niềm u uẩn triền miên, trong bóng ngày rơi rớt của buổi chiều tà bóng này bỗng đẹp rực rỡ lên, trong cái bừng dậy cuối cùng của tất cả những gì đang hấp hối.
- Thưa bà, tôi có thể là tâm hồn bầu bạn mà bà đang tìm hay không?
Thiếu phụ mắt sáng lên, môi mấp máy, nhưng rồi nàng lại chau mày mà rằng:
- Cám ơn anh đã có lòng. Nhưng xúc động hời hợt trong một phút của anh rồi không đi đến đâu cả. Không thể nào em đủ thì giờ để đợi anh hỏi lại cặn kẽ lòng anh. Đã trễ quá rồi như em đã nói, và anh đã chế giễu vì không tin.

Nhưng cám ơn, cám ơn không biết bao nhiêu. Trong đời em, đã có một lần em suýt vớ được linh hồn đất nước. Có bị dòng đời lôi cuốn đi, một chút xíu may mắn ấy cũng đủ sưởi ấm lòng em trên đường trôi dạt.
- Ngày mai bà đi?
- Vâng, cám ơn và vĩnh biệt
Nhưng bà có thể trở lại...
- Không, chồng em kiếm không được bao nhiêu tiền. Về nước là một xa xỉ phẩm.
Hồn nước Việt Nam đã xuống lầu, ra phố, ngoảnh lại nhìn qua cánh cửa sổ khép nửa chừng, những sợi khói nhang trắng đục từ từ bay lên trần.

Hồn mất gốc mở toát cửa ra, lặng nhìn theo quê hương dần xa, trong khi nó sắp bị cuốn vào dòng đời cuồn cuộn chảy.
Trong đêm lặng, bốn cánh tay giơ lên, vẫy tiễn đưa nhau.
Từ đó, đêm đêm Hà nện mạnh gót giày trên vỉa hè đại lộ Hàm Nghi, dáo dác đón trong gió lạnh, hồn người bạn một giờ nó như còn lẩn quất đâu đây:

Gầy gõ
Đường đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập chờn
Chiếc bóng phong sương
Tâm tư lê nặng phố phường,
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ!

Chàng hay ngước lên những cửa sổ khép sơ mà trong đó biết đâu lại không có một kẻ đang tìm một linh hồn.

Giang hồ mình lại xa gì với ta
Em ngùi son phấn phôi pha,
Thoáng nhìn đã vội bâng khuâng
Ngược, xuôi đôi kẻ rời chân, ngậm ngùi!

Nhưng từ đó cảm xúc của chàng đã có duyên cớ thật. Nghẹn ngào là lệ thảm của chàng không còn là cái nghẹn, là nước mắt tầm phào của một thi sĩ đa tình và giàu tưởng tượng nữa.

Bà mọi hú


Từ vùng Hố Nai, rời con đường thiên lý, mải miết đi về hướng Tây, du khách phải qua rừng rậm, tuy chưa phải là rừng già, chớ cây cũng to và có thú dữ. Rừng này có lẽ hiện nay đồng bào di cư đã phá để làm củi.
Qua khỏi rừng thì một cánh đồng minh mông trải ra tới tận chơn trời, và nơi đó, cánh đồng được viền bằng một khu rừng chồi; sau rừng chồi là làng mạc rồi đến con sông Đồng Nai.

Cánh đồng không mông quạnh này gồm một phần ruộng rừng của dân làng, ngoài xa kia, và phần lớn là đồng đế và lau lách. (Có một khu tên là Đồng Lách) ruộng rừng vì đất khô quá, và vì nai phá lúa, canh gác không xuể nên thường bị bỏ hoang, thành ra cả cánh đồng là một biển lau sậy bằng phẳng và buồn hiu.
Giữa cánh đồng, lạ lùng thay, một trái núi nổi lên, giống một hòn đảo nhỏ giữa biển cả và nhứt là giống một cậu bé đi lạc, ngơ ngác nhìn quanh.
Nói “cậu bé” vì đó là một quả núi tí hon và chỉ cao độ bốn mươi thước thôi. Còn nói “đi lạc” là vì những hòn núi rời, tách ra khỏi khối trường Sơn đi lang thang về phía Nam, chỉ tới mạn Bắc tỉnh Biên Hòa là dừng chơn lại. Cái anh chàng đi xa hơn hết là núi chứa chan đứng sừng sững đằng xa kia, xanh mờ trên nền trời lam lợt. Nhưng anh ta cũng khá dềnh dàng để xứng đáng làm một phần tử trong bầy Trường Sơn chớ có đâu mà lùn xịt và đi xa quá như chú núi nhỏ này.

Tuy nhỏ mà cũng có tên họ đàng hoàng, mặc dầu không được sách địa dư nào nói đến cả. Đó là núi Bà Mọi.
Mắt du khách đang khổ sở nhìn cánh đồng khô cỏ cháy thì rất sung sướng được nghỉ ngơi trên cái xanh mát của hòn núi Bà Mọi này, vì cây cối mọc um sùm trên đó.
Một con đường mòn tương đối dễ lên, đưa tới chót núi và khi ra khỏi con đường tối om ấy, nơi cây cối giao nhành khiến nó giống một hang núi, thì người ta ngạc nhiên thấy trước mặt đứng lên một ngôi chùa cổ rêu phong.
Ấy, người Á Đông ta tin rằng ở rừng núi, chùa chiền mới linh, nên mặc dầu tín đồ ở tận mãi ngoài sông cách đó bảy tám cây số, các sư cũng tìm cách mang vôi gạch đến đây để cất linh tự.
Đỉnh núi bằng và sói sọi không phải vì người ta đốn cây để cất chùa mà vì những tảng đá xanh nổi ngổn ngang trên đó không cho thảo mộc sống được.
Trước sân chùa, sáu phiến đá lớn hơn hết họp lại thành một búp sen đá trông khá giống hoa sen và khá đẹp, và trong lòng búp sen ấy nhú lên một trụ đá tròn, to bằng bắp chơn. Hình như ai đó đã đẽo đá, cắm vào đó để ếm cái gì hoặc để giả làm nhị sen.

Sư trưởng là một người đàn ông còn trẻ, đầu không cạo trọc, ăn nói có vẻ có học và không quê một chút nào. Chúng tôi đi thăm chùa ấy, thuộc làng tân Định năm 1945, giữa mùa nực.

Sự ân cần đón khách của sư trưởng đối với sự keo kiệt về nước uống của ông ta khiến chúng tôi ngạc nhiên.
Đoán biết nỗi khó chịu của chúng tôi, sư trưởng phân trần:
- Các anh tính, từ ngoài sông vào đây phải đi bảy cây số đường rừng, nên một đôi nước lên được chùa này là trở thành quí như nước cam lồ của Phật.

Đoạn, chỉ vào nhị đá của búp sen, sư trưởng nói:
- Búp sen này ấp ủ một dòng nước thần nhưng từ ba trăm năm nay nó đã tắt chảy, thành ra chúng tôi phải nhịn khát dữ lắm.
- Một dòng nước, thưa nhà sư? Tại sao trên núi cao lại có nước, còn ở dưới đồng bằng...
- Ấy, như vậy là sự thường. Có lẽ mạch nước đang âm thầm chảy dưới đất thì tới đây đất nhô lên thình lình, nên nó bị đưa lên cao. Khi đất nhô, đất bị nứt ra nơi trên đầu, cái mạch như một huyết quản bị bể nơi ấy, xoi lỗ Mội (3) mà ra.
Chúng tôi ngạc nhiên hết sức vì sự giải thích của nhà sư rừng nhắc chúng tôi nhớ lại những bài học về địa chất học ở nhà trường.
Chúng tôi nhìn kỹ nhà sư để tìm biết coi ông là người trong giới nào bước vào làng Phật giữa rừng này.
Nhà sư vẫn thản nhiên, và như muốn đánh trống lảng, chỉ vào búp sen mà thêm:
- Các anh thấy sáu cái máng xối đây không? Quả thật thế, từ sau khe đá giữa sáu phiến đá hợp thành búp sen, sáu đường nước giống như sáu sợi dây thòng xuống chơn núi. Dấu nước chảy khuyết đất ngày xưa vẫn còn ràng ràng và những hòn đá cuội giữa các mương bị lột trần đất như nằm lăn lóc đó mà chờ những giọt nước mát không bao giờ chảy qua nữa.
Sáu đường mương ló dạng một quãng rồi mất hút trong cây cối xanh um, trừ cái mương mà người ta dùng làm đường mòn lên núi. chính do con đường nước cũ mà chúng tôi leo đến đây mà không ngờ.
- Đó là sáu con suối từ cái mội này chảy xuống để tưới lên cho mát đất bằng dưới kia.
- Nhưng ai cắc cớ bịt mội bằng cục đá này?
Sư trưởng làm thinh, kéo chúng tôi ra phía sau chùa, chỉ vào một cái miếu đổ:
- Đây là đền thờ Bà Mọi. Chính bà ấy đã làm tắt suối đó.

Khi di cư vào Nam, cách đây trên ba trăm năm, đồng bào ta không phải gặp toàn người Thủy Chơn Lạp như phần đông đã tưởng.
Ở miền Đông Nam Việt, ta chạm phải người Mọi mà bây giờ người ta kêu là người Sơn Cước, mặc dầu danh từ Mọi không có gì xấu hết và danh từ Sơn cước chỉ là danh từ tổng quát không phân biệt đúng bộ lạc nào trong đám Sơn cước cả.
Ta phá rừng, và dân Mọi tìm đủ cách cản trở. Họ không tiếc đất với ta vì đất còn minh mông, họ cũng không xấu bụng với ta vì họ là những người có căn bản tốt.Nhưng họ quyết giữ vững, vì rừng với họ như nước với cá.

Họ sống nhờ rừng vì rừng là cái kho trữ các sinh vật nuôi họ. Họ thương rừng vì rừng là khung cảnh quen thuộc của họ.
Đám người khai phá khu rừng quanh hòn núi nhỏ ấy bị phá phách đủ thứ: nào là mùa màng bị nhổ quăng đi, đi đường rừng bị phục kích bằng tên thuốc v.v...
Người ta rình mò dò dẫm mãi mới biết được kẻ phá hoại là một mụ Mọi già tóc tai bồm xồm, trông rất ghê sợ.

Biết thế nhưng họ không làm gì được mụ ta vì động một cái là mụ biến mất vào rừng sâu.
Người Việt ta chỉ còn một nước là lấn lần vào rừng bằng cách đốn cây, mong rằng đồng bằng sẽ đuổi mụ ta đi nơi khác hoặc rồi mụ ta sẽ chết trước khi họ phá hết rừng.
Rừng già bị gặm ngày một, chậm mà chắc chắn, mãi cho đến ngày kia thì vòng vây đã siết chặt quanh hòn núi như ở nhà quê người ta cạo trọc đầu con trẻ, chừa lại chiếc bánh bèo.
Bấy giờ công tác phá hoại của Bà Mọi tăng lên gấp bội và mang một vẻ bối rối, tuyệt vọng. Người Việt ta chỉ cười hề hề vì họ biết sức một cá nhơn không tài nào phá hủy công việc của hàng ngàn người được.
Nhưng một sáng kia họ ngạc nhiên hết sức mà thấy sáu con suối chảy qua đất mới khai khẩn hình như là cạn bớt đi.
Một người nói không ai tin, nhưng rồi nhiều người quan sát, xác nhận điều đó nên cả đoàn người di cư đều xúm nhau mà rình mực nước.
Nước suối cạn lần thật, y như là đất khô hút lần nó và mãi cho đến chiều hôm ấy thì sáu dòng nước nhỏ cạn queo.
Sông cạn, núi mòn, đó là những hiện tượng họ nghe nói trong sách vở nhưng chưa hề thấy bao giờ. Những người trẻ tuổi và đàn bà hốt hoảng lên, xem đó là một thiên tai và tin rằng trời hại họ, hoặc thần đất, thần rừng phạt tội xúc phạm của họ nên mới cướp mất nguồn sống của họ đi. Những người tuổi tác sáng suốt hơn một chút nên thấy ngay rằng Bà Mọi đã nhúng tay vào vụ đó.
- Phải rồi, - các người trẻ tuổi nghe có lý nên đồng reo lên.
- Chính đây là cái ngón cuối cùng của mụ ta để phá bọn mình.
Rồi họ rùng rùng rủ nhau lên núi để bắt Bà Mọi, chớ không đùa cợt công việc phá hoại vô hiệu quả của bà ta như trước kia.
Nhưng những ông lão ngăn họ lại:
- Các anh dại dột quá. Nếu mụ ta ngăn suối chảy được là mụ ta có pháp thuật chi đó, nên mới yểm nước một cách hiệu nghiệm như vậy. Liệu các anh có đủ tài bắt một người có pháp thuật chăng? Mà đừng nói chi là pháp thuật, nội trước cái tài trốn chui trốn nhủi trong rừng của mụ ta, các anh cũng đã bó tay từ trước đến giờ rồi.

Bây giờ chỉ còn một cách là đốt hòn núi này, mụ ta có tài thánh ra cũng không được. Với lại lá bùa, mụ ta giấu ở đâu mình cũng chẳng biết. Ngọn lửa sẽ đốt rụi tất cả, kể cả lá bùa bí mật kia nữa.
Cả đoàn đồng hoan hô các ông lão, rồi họ vác rựa mà đốn rạp khu rừng mỏng còn sót lại, viền quanh trái núi. Xong đâu đấy, họ nổi lửa lên mà đốt đống cây ấy.
Giữa mùa nắng, cây dầu cháy quanh làm mồi cho cả một đám rừng ngã rạp, lửa cháy rần rần. Thú rừng nhỏ như chồn, thỏ, mang, mển thoát thân chạy vọt ra ngoài đồng trống, nhưng Bà Mọi thì mãi không thấy bóng hình.

Bà ta biến đi chăng? Cả đoàn người Việt di cư nơi vùng đó đã vây chặt quanh núi mà đón mụ ta, vây chặt đến con thỏ cũng ra không lọt, thế mà không thấy tăm dạng người đàn bà dị tướng: hai tai đeo hai ống tre và cổ đeo răng cọp kia.
Đến chiều tối thì lửa đã cháy đến chơn núi. Ngọn lửa bắt đầu leo dốc, ở xa trông thấy nó bò dần lên với những lưỡi lửa vói liếm đầu lá, rồi như níu vào ngọn cây mà rướn mình lên.
Bóng đêm lần xuống là cả một góc trời đỏ rực lên. Bóng dáng của đoàn người Việt di cư nổi lên nền lửa rừng đêm, trông cổ quái như người tiền sử ăn lễ lửa vui vầy.
Lửa leo núi được vài giờ thì người ta nghe tiếng hú dài ghê rợn trên đỉnh núi nổi lên.

Tiếng hú như kêu gọi một cách tuyệt vọng đồng bào sơn dã của mụ đến giải thoát mụ ta. Nhưng mụ có lẽ là người độc nhất của cái sóc này mà dân cư tiêu rụi hết từ lâu vì bệnh hoạn nên tiếng kêu của mụ mất hút trong không khí, không có lấy một tiếng vang nào vẳng lại.
Tiếng hú vang rền từng hồi, hấp hối, rồi lại nấc lên và rốt cuộc chết lần, tắt hẳn, trong ngọn lửa cao ngất trời đã bò lên tới đỉnh.
Hơi hú cuối cùng thê thảm quá khiến đoàn người Việt se thắt lòng lại, quặn đau một niềm bất nhẫn. Những ông cụ già có học Nam sử đều rưng rưng lệ nhớ lại những tiếng kêu thương khác của người hời vong quốc âm thầm khóc điêu tàn của giống nòi.
- Tranh sống! trời ơi! Tranh sống ác liệt thay! - Một ông lão lầm bầm như vậy rồi nước mắt chan hòa.

Hai ngày sau, khi than đã tắt hết, người ta mò lên núi. Sáu dòng suối vẫn tắt nghẹt khiến cho họ nghi là lá bùa bị đè dưới một tảng đá. Họ tìm quanh thì thấy giữa búp sen, cắm ngập ngay mội nước, một cái nút bằng cây gồ.
Cây gồ là một thứ cây hễ thấm nước là nở ra, người Việt ta ngày xưa chưa biết chất cốt mìn, dùng để bắn đá núi. Họ khoét trong đá núi một hàng lỗ sâu rồi trồng những nút ấy xuống đó. Họ tưới nước vài ngày là gồ nở mạnh và đẩy tét hai một tảng đá lớn. (Cách đây vài mươi năm, dân làm đá ở Bửu Long, Biên hòa cũng còn dùng phương pháp ấy).

Nút gồ nở lớn quá, họ cạy mãi để giải thoát mội nước mà không được.
Nước mội lại chứa nhiều chất đá vôi nên ngày lại ngày rỉ ra, tiết chất đá vôi, chất này khô cứng lại và hóa thạch cái nút kia, nên càng không lay chuyển nó được.
Dân phá rừng đành phải cam chịu ruộng khô và để tưởng nhớ một người đàn bà oanh liệt, đã bảo vệ quê hương đến hơi thở cuối cùng, họ cất miếu thờ Bà Mọi trên núi và đặt tên núi là núi Bà Mọi.
- Còn ngôi chùa này - Sư trưởng tiếp - Thì chỉ mới dựng lên độ sáu mươi năm nay thôi.

Chú thích:
[1]  Mượn thơ của hà Liên tử.
[2] Nay là đường Lê Duẩn
[3] Mội: Lỗ nhỏ có nước từ dưới phun lên
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2020 23:04:28 bởi Thanh Vân>
4. Lửa  Tết  


Nỗi khổ của tôi bắt đầu từ hôm píc-níc ấy. Tôi có mang theo bánh mì, lạp xưởng và nước trà nóng đựng trong bình thủy, nên khỏi phải làm việc. Chính anh Minh, ba của con bé Liên của chúng tôi, đã đòi hỏi như vậy, anh ấy cho rằng ăn bánh mì tuy không ngon bằng ăn cơm nhưng anh ấy không muốn thấy tôi cực nhọc cả trong ngày nghỉ cuối tuần nữa.
Chúng tôi câu cá tại bờ con rạch nhỏ, nơi mà chúng tôi cắm trại, trong khi bé Liên đuổi bướm và bắt chuồn chuồn. Thật ra câu cá chỉ là cái cớ để vợ chồng chúng tôi tắm nắng một cách nên thơ vậy thôi chớ hình như là cá nó thù, hoặc nhờm chúng tôi hay sao ấy mà không bao giờ chúng nó cắn câu của vợ chồng tôi. Vả, nếu may mắn (hay rủi ro?) mà được cá thì chắc anh Minh, anh ấy sẽ bối rối ghê lắm vì một mặt anh ấy cưng vợ, một mặt anh ấy tiếc cá, cứ muốn bắt tôi kho hay chiên gì đó.

Ấy, anh Minh hơi gàn gàn, nhưng tôi không dè mà anh ấy lại gàn đậm kể từ hôm đó.
Chẳng, sau hai tiếng đồng hồ làm ông già sông Vị, anh ấy đâm chán và rủ tôi vào xóm. Đi thì đi, bởi tôi cũng nghe da mặt nóng lắm rồi, má tôi rát rân rân lên vì bị nắng đốt nhiều giờ rồi.

Trên con đường mòn ngoằn ngoèo đưa vào cái ấp lớn thoáng thấy đằng kia, chúng tôi gặp một nếp nhà tranh vừa cất xong, chưa ở. Nhà trống trơn và cửa phên tre dựng bên vách hông nhà, cho chúng tôi thấy rõ bên trong: giữa gian nhà giữa, trên nền đất, một lò lửa đã tàn lụn nhưng than còn ngún trên tro. Hai bên lò lửa là một lu nước đầy gần tràn và một khạp gạo đầy nhóc.
Thuở bé tôi ở thôn quê, nên biết rằng đó là những món tượng trưng cho sự đầm ấm và sung túc mà người ta bày ra giữa nhà mới, hăm bốn tiếng đồng hồ trước khi vào ở, để cầu một đời ấm no và vui vẻ về sau.
Anh Minh say sưa nhìn bếp lửa và lu nước rồi nói, như nói một mình: “Ta có danh từ nước lửa, danh từ ấy chỉ hai thứ thiên tai mà ta rất sợ. Nhưng...”

Giây lát sau, tôi đi vào ấp với bên cạnh tôi, một người bạn đời thình lình mắc bệnh á khẩu. Nếu không có bé Liên cái miệng tía lia, cả ba chúng tôi giống một đoàn người đi đưa đám ma mà giữ lễ theo phép lịch sự Âu châu.
Tới đầu xóm, anh Minh nói bằng giọng ra lịnh:
- Từ rày có đi píc-níc, nên mang gạo, mang nồi theo để thổi nấu, cấm nhặt em cho gia đình ăn bánh mì, lạp xưởng hoặc bánh hỏi thịt quay.
Tôi cười mà rằng:
- Trước đây thì cấm thổi nấu, cho đến cơm mo, cơm vắt, làm sẵn ở nhà, anh cũng cấm. Giờ thì... trái hẳn lại. Nhưng không hề gì, em sẽ chiều ý anh.
Anh Minh không chịu vào xóm, đứng đó mà ngắm cái gì rất lâu không rõ, đoạn đưa mẹ con chúng tôi trở về lều. Anh ấy đã vui tươi trở lại và không khí buổi ăn trưa hôm ấy bình thường, nếu không có cái lịnh mới này. Anh ấy nói:
- Thùng dầu lửa ở nhà đã hết rồi chớ? Anh nhớ hình như hôm qua em có dặn anh chở chiếc thùng không lại cây xăng gần nhà để đong thêm mười tám lít?
- Đúng như vậy và chiều nay, về Sài gòn, anh nhớ cho, kẻo mai không có dầu mà nấu ăn.
- Không, không nấu bằng dầu lửa nữa. Chiều nay anh sẽ ghé vựa để mua một tạ than đước với hai cái lò đất nung. Cho cái lò dầu lửa về hưu đi.
Tôi hơi lo. Chồng tôi chỉ làm việc vừa chừng thôi, không hề gặp rắc rối sinh kế hay tình cảm nào, trong họ nhà chồng tôi cũng chẳng nghe nói có người nào điên. Nhưng sao lại có cái lịnh kỳ dị này? Than đước một tạ sáu trăm đồng, nấu chỉ có một tháng là hết sạch. Trong cái thời gian ấy thì nếu đốt lò bằng dầu lửa, chỉ phải tốn có trăm sáu thôi. Nhưng rồi anh Minh đi hái hoa dại cho mẹ con tôi, nên tôi lại an lòng được vì một kẻ hóa điên thình lình, không hề nghĩ đến sự bộc lộ tế nhị của tình thương yêu như thế đâu.
Chiều lại, chúng tôi về tới Sài gòn là đã sáu giờ rồi. Theo chương trình thì chúng tôi đi ăn hiệu, nhưng anh Minh lại đổi chiến lược vào phút chót, có lẽ vì... “lý do kỹ thuật” chăng? Anh bỏ mẹ con tôi tại một góc phố kia, bảo gọi xích lô đạp mà về nhà, còn anh ấy thì phóng xì-cút-tơ đi mua lò đất nung và than đước. Thì ra cái vụ than đước này không phải là lời đùa đâu mà là cả một kế hoạch nghiêm trang. Đã hơn sáu giờ rồi. Vào giờ này mà bắt vựa than họ chở than tới nhà, mà phải chở tốc hành, không thôi tới nửa đêm, dễ thường chưa có cơm mà ăn, thì họ sẽ tính tiền chở gấp ba cho mà coi!

Lại không có gì mà ăn nữa. Má tôi ở nhà, nhưng bà cụ chỉ cần một dĩa cá kho mặn mà thôi. Rồi anh ấy lại kêu là nuốt không trôi! Vào giờ nầy, còn chợ búa đâu để mà mua thịt, mua cá? Rõ khổ! Tôi không ngại phải nấu bữa ăn tối nầy. Đi ăn hiệu là tại anh ấy bày đặt cho tốn tiền chớ tôi đã đề nghị từ lâu là làm sẵn vài món ăn hồi trưa thứ bảy, chiều chúa nhựt về tới nhà, chỉ còn việc hâm lại cho nóng mà thôi. Mà cũng không phải là tôi hâm nữa. Má tôi ăn cơm hơi sớm, ăn xong, bà hâm giùm tôi là kịp lúc chúng tôi về đến nơi.
Anh Minh mới có băm hai tuổi mà đã gàn ra thì sống chung với anh ấy thêm hai ba mươi năm nữa, tôi chịu sao thấu hở trời!
Kỳ lạ nhất là khi má tôi nghe tôi kể chuyện điên của "ông" rể gàn của bà, đôi mắt bà lại sáng lên. Má tôi ở thôn quê không được yên, nên anh Minh anh ấy rước bà lên đây từ ba năm nay. Chú rể quí ấy được má tôi cưng ghê lắm. Anh ấy có nịnh má tôi chăng? Hình như là không vì bà cũng chẳng còn tài sản gì để anh ấy phải dùng thủ đoạn hầu hưởng một phần gia tài lớn hơn phần của người anh cả của tôi. Biết vậy, nên tôi tủi thân lắm, buổi đầu mà má tôi lên đây. Má tôi không cưng anh ấy vì sự nịnh nọt của anh ấy, thì tức là cưng anh ấy vì lòng thương, mà lại thương anh ấy nhiều hơn là thương tôi nữa. Nói thì nói chớ tôi cũng lo tắm rửa cho bé Liên, còn chính tôi thì tôi bỏ tắm chạy lại hiệu chạp phô ở đầu phố để mua trứng vịt, hàm-yũ để phụ thêm với món cá kho muôn năm của má tôi, cho mâm cơm ra vẻ một chút.
Giây lâu sau, xe ba bánh đưa than về và má tôi chạy ra cổng rước than như dân đi tiếp rước quan to, hồi tiền chiến. Chính má tôi đốt lò, quạt than và vo cơm, rồi bà không chịu rời nhà bếp nữa.
Bữa ăn hôm ấy, tôi không vui vì bị giá của tạ than đước ám ảnh. Tôi phân trần với má tôi:
- Má coi! Than mắc tiền bằng ba lần dầu lửa, vậy mà...
Anh Minh cười hề hề, chận lời tôi:
- Có lần em đã nói: "Thôi, em không học may áo đầm cho bé Liên đâu. Mình học chăm thế nào cũng không giỏi bằng thợ mà họ may sẵn bày bán ở các hiệu, còn rẻ hơn là chính mình may lấy nữa. Em đã nói sai."
Má tôi đã phụ họa theo:
- Ừ, con sai lầm. Đâu có phải như vậy.
- Ơ kìa, em nói chuyện than đước kia mà, mắc mớ gì đến áo đầm chớ?
- Than đước, tức là áo đầm đó.
- Ừ, cha con Liên nói có lý. Má tôi lại phụ họa theo anh ấy.
Má tôi đã già nên lẩm cẩm, thì còn nhịn được, chớ anh Minh mà nói chuyện tầm ruồng như thế, là anh ấy sắp đi nhà thương Biên hòa rồi vậy. Tôi kinh ngạc, nhìn anh ấy trừng trừng. Anh ấy lại cười hề hề mà rằng:
- May áo đầm, thật ra, không phải là may áo đầm.
Tôi sợ quá. Rõ ràng là anh Minh hóa điên. Nhưng tôi cũng hỏi:
- Chớ là gì?
- May áo đầm là một qui phạm.
- Qui phạm là gì?
- Là một kỷ luật mà ta cố theo, và kỷ luật ấy luyện cho ta vào cái nếp nội trợ.
- Chớ em không làm nội trợ à?
- Không, em chỉ làm nội trợ miễn cưỡng mà thôi. Em thích đi làm thu ngân viên hơn. Em có óc công nhân, chớ không có óc nội trợ đâu. Ai lại không biết rằng học chăm đến đâu cũng không giỏi bằng thợ, rằng ta hà tiện vải đến đâu, áo may cũng không rẻ bằng áo mua, họ may hằng nghìn cái nên giá vốn rất hạ. Nhưng khi may áo cho con, em sẽ để tấm lòng thương yêu con vào đó, em sẽ cố gắng và sẽ mến được cái qui phạm may áo và ngày kia em được đưa vào nếp nội trợ, em làm nội trợ một cách vui thích, nhớ công việc nội trợ như các cô đào nhớ đèn sân khấu mỗi đêm.
- Chồng con nó nói đúng đó con à. Má tôi ủng hộ anh chồng gàn của tôi và bỏ rơi tôi.
Tôi giựt nẩy mình trước một điều vô cùng mới lạ mà tôi nghe chồng tôi nói lần đầu: may áo, không phải là may áo, mà là một qui phạm nó luyện tính con người. Tôi giựt mình vì đã có lần tôi đã chê nhà binh sao cứ bắt lính mới, tập đi ọt, đơ mãi cho tốn thì giờ, và cậu tôi giải thích: "Đi ọt, đơ, thật ra không phải là đi ọt, đơ. Đó là một qui phạm nó luyện cho các tân binh chịu đựng được kỷ luật nghiêm khắc của nhà binh".
Nhưng dầu vậy tôi vẫn không chịu thua, cố cãi:
- Nhưng may áo đầm, sao lại là than đước được! Anh khéo nói điên!
Anh Minh lại cười, hề hề:
- Bởi vì than đước, thật ra không phải là than đước.
- Nữa, lại cái luận điệu đó nữa.
- Chớ sao, vì luận điệu đó tốt. Em có biết thành ngữ "Ăn lông ở lỗ" hay không?
- Anh đi xa vấn đề quá rồi!
- Đâu có xa. Trước khi loài người "ở lỗ" họ rày đây mai đó. Họ không có đời sống gia đình. Khi họ phát kiến ra LỬA rồi thì họ mới định cư lại, chưa biết cất nhà thì họ tìm hang mà ở, lập gia đình, rồi đêm ngày nhen nhúm lửa thiêng, đời đời kiếp kiếp nuôi nấng lửa để ấm hang, nuôi nấng tình gia đình để ấm lòng. May áo và nhúm lửa là ý niệm gia đình, không may áo, không nhúm lửa, không xong. Anh chợt nhớ ra sự thật ấy khi ta bắt gặp nếp nhà tranh mới cất và chủ nhà nguyện cầu, thề bồi bằng nước, lửa và gạo, nguyện cầu được no ấm, thề bồi nổ lực cho gia đình được no ấm.
- Nhưng, dầu lửa lại không là lửa à? Tôi lại cãi.
- Không. Em đã không thấy má đã dành đốt lò với em đó sao?
- Ừ, tao nhớ lửa lắm, thèm lửa lắm. Má tôi xác nhận.
Chồng tôi diễn thuyết:
- Lửa thiêng của gia đình, phải bốc khói, khói ấy phải quyện lấy mái tranh. Ta ở thành phố, không thể mong hưởng những thứ ấy thì lửa, ít ra, cũng phải nổ lách tách trong lò, và tiết ra mùi cây cỏ. Ở miền Nam ta, có người gọi dầu lửa là dầu hôi, và quả nó hôi thật. Nhưng lửa thiêng của gia đình phải thơm, thơm mùi thảo thụ. Dầu sao nhìn lửa than cũng vui mắt hơn, nghe nó có linh hồn hơn, nó gợi nhớ sự sống hơn. Chiếc áo mà chính tay em may sẽ mang cái bản ngã của em, dầu nó không được đẹp lắm, chớ không nặc danh như những chiếc áo khéo, mua ở hiệu. Chiếc bánh phơ-lăng do chính tay em làm, có cháy khét đi nữa, cũng được hương vị của tình thương của em đối với gia đình, chớ không vô hồn như bánh đết-se của các hiệu ăn sang trọng.
Má tôi nói:
- Tao thì tao thèm nấu bằng củi hơn. Khói củi thơm hơn khói than. Chiếc áo bà ba nầy, tao đã may một tháng mới xong, nhưng...
-...nhưng nó quí ở chỗ nó mang nhãn hiệu "BÀ NGOẠI CỦA BÉ LIÊN"? Tôi hỏi đùa.
Má tôi và anh chồng gàn của tôi đồng cười xòa, rồi má tôi chẫm rãi tuyên truyền cho tôi nghe:
- Nè, củi mỗi thứ mỗi khác đó nhé. Củi bắp phơi khô để làm củi, thì ngọn lửa xanh như lửa đèn cồn. Vỏ măng cụt phơi khô, chụm nó nổ lách tách y như than Cà mau. Củi nhánh sao chết rụng trên vệ đường, nó cháy rụi tỏa ra cái mùi của thời tiết gió bấc về. Còn mầy biết củi gì thơm ngát hay không? Đó là dăm tiện.
- Dăm tiện là gì má? Chồng tôi hỏi.
- Muốn làm những vật dụng tròn như kiểu chơn bàn, chơn ghế kia chẳng hạn, thợ tiện họ đưa cây vào máy tiện, cây nó mới tròn trịa đều đặn được, chớ thợ mộc tài nào mà trau giồi cho nó tròn. Các món đồ tiện, luôn luôn là vật dụng quí nên được làm bằng đủ thứ gỗ quí: trắc, cẩm lai, huỳnh đàn, cho nên dăm tiện nó thơm dữ lắm, thơm cái mùi hỗn hợp của đủ loại gỗ mắc tiền. Lửa củi đã thơm mà hình thù của nó cũng hay lắm. Nó cháy lên, mình thấy được, chớ không vô hình như lửa của các lò dầu lửa đâu. Nhìn ngọn lửa cũng ngộ, nhìn màu lửa còn ngộ hơn. Mà hay nhứt là lửa củi không chết.
Bé Liên ngơ ngác hỏi:
- Lửa cũng chết nữa sao, bà ngoại?
- Sao lại không? Lửa lò dầu, nấu xong bữa ăn là nó tắt liền, vì ta phải tắt nó, kẻo hao dầu. Lửa củi đâu có như vậy. Nấu ăn xong thì người ta vùi củi dưới tro. Tro xốp lắm, nên than củi âm ỉ cháy tối ngày sáng đêm, bước vô nhà bếp thì nghe ấm liền, ấm thật sự, mà cũng ấm cúng nữa. Nhà bếp ở đây lạnh tanh từ đúng ngọ cho tới năm giờ chiều, nhà nào cũng vậy. Bước vào các nhà bếp ở đây, nghe ơn ớn nơi xương sống như là vô nhà hoang chết chủ!
Tôi ao ước từ mấy năm nay một bộ lò điện mà anh Minh chưa đủ khả năng tài chánh để thỏa mãn giấc mơ của tôi. Lò điện tiện và sạch hơn lò dầu lửa nhiều lắm. Nhưng bỗng tôi nghe hết ham cái tiện nghi văn minh đó nữa.
Tôi đã cười đùa chồng tôi vì anh Minh chỉ biết ra lệnh và nói lý thuyết. Má tôi dốt lý thuyết nên bà chỉ tả mà thôi, và quả tôi bỗng nghe thoang thoảng mùi lửa dăm tiện đâu đây, cái mùi vô cùng đặc biệt thường nghe thuở bé, hồi còn sống trong làng.
Má tôi lại nói:
- Ở đây sao mà lạ quá, không có mùi gì hết, hay chỉ có hai thứ mùi, mùi nước hoa và mùi ống cống. Mùi hay lắm. Mùi đất xông lên, sau đám mưa đầu mùa nè, mùi bông bưởi, bông sao nè, mùi củi cây rù rì nè, mùi lúa chín nè, mùi rơm khô nè, mùi phân chuồng nè, mùi rau, đậu tươi nè. Nói tới đây sao mà tao bắt nhớ nhà chịu không thấu nữa! Con Liên, chắc ngày sau, nó đi đâu ở cũng được, vì thành phố không có cái gì làm cho nó nhớ hết.
- Có chớ, bà ngoại! Liên cãi.
- Có cái gì? Má tôi hỏi.
- Có kem nè, có xi-nê nè, có đèn màu nè!
- Rồi cháu sẽ thấy rằng những thứ ấy không gợi nhớ đâu.
- Chớ cái gì gợi nhớ hở bà ngoại?
- Mùi vị khác kia, như mùi khói đống un lá chết vào mùa gió bấc mà người ta un lên để hơ ấm, bởi vì mùi đó còn dính líu tới những cái khác nữa, mà nhiều thứ mới họp lại thành một nỗi nhớ được.
- Thứ nào với thứ nào bà ngoại?
- Nhiều thứ lắm, bà không biết nói ra. à... ờ... thí dụ như lửa Tết, lửa đêm ba mươi nấu bánh tét, quanh lò lửa lớn ấy có mặt đông đủ cả nhà, ai đi mần ăn xa ở đâu, cũng phải về, đông đủ cả nhà mà đôi khi đông đủ cả họ nữa, vì có những bà con nghèo, không gia đình, không nhà cửa, họ xin hưởng ké sự ấm cúng của bất cứ người nào trong họ mà có được một bếp lửa.
- Còn thứ gì nữa bà ngoại?
- Còn lu bù thứ. Cả nhà họp mặt đông đủ thì vui, nấu nướng suốt đêm các món ăn ngon, kể cho nhau nghe chuyện mần ăn của mình ở xa, nhắc lại chuyện ăn Tết ngày xưa của ông bà tổ tiên. Đêm cuối năm gió lạnh lắm, mà quây quần quanh bếp lửa, ấm ghê đi. Nhà có nhúm lửa, nghe như là sung túc, mà nhúm những bếp lửa lớn, nghe càng sung túc hơn. Đó rồi thì ngày mai lại, lửa cháy trong bếp suốt ba ngày ba đêm, không được hạ ngọn phút nào hết, cho nó vui. Ở làng, người ta cất nhà lớn, nhưng cả nhà đều ở sau bếp, không phải sợ nhà trên mòn mà không dám ở, mà vì nhà bếp vui hơn, mà vui hơn là nhờ lửa.
Tôi cãi:
- Nhưng ở đây, chật hẹp như vầy, dầu cho có ghiền khói, ghiền lửa như má, cũng không làm sao mà...
- Ừ, nhưng nấu than cũng tạm an ủi được phần nào.
Chồng tôi nhìn tôi mà cười, đắc thắng.


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.11.2020 22:58:15 bởi Thanh Vân>
6. Thèm Mùi Đất
 
Sau khi tường trình xong về công việc của Ban Trị Sự vừa mãn nhiệm kỳ hôm nay, ngày cuối năm dương lịch 1964, ngày nhóm Đại Hội thường niên, và trước khi bầu Ban Tri Sự mới, với lại trước khi ngồi vào bàn tiệc, cũng thường niên, tổ chức ở sân nhà ông Hội Trưởng của „Hội Tương Tế tỉnh B“ ông Hội Trưởng cao niên, hiền lành, dễ thương của cái „đồng hương hội“ ấy than:
- Bà con cô bác ơi, mấy năm nay Ban Trị Sự khổ sở nhứt, không phải vì vấn đề tài chánh, thường là bài toán bể đầu đối với các hội nho nhỏ như ta, không có cơ sở kinh tài, chỉ đứng vững tương đối và tạm bợ dựa vào tiền niên liễm của anh chị em hội viên, mà khổ sở vì một chuyên lặt vặt mới kỳ cho chớ!
Ông Hội Trưởng nầy và Ban Tri Sự của hội cứ được bầu đi bầu lại mãi, nên ông biết rõ mọi vấn đề như bất kỳ những người có trách nhiệm nào mà giữ chức vụ một cách trường kỳ.
- Về chuyên gì đó a... ông Hội Trưởng?
Một vị hội viên cũng rất cao niên, người ủng hộ tài chánh cho đồng hương hội tỉnh B hỏi như vậy. Ông nầy rất giàu có và nhứt là rất tốt bụng, lần nào hội túng tiền, ông cũng giúp đỡ cho, nếu đó là một số tiền lớn thì ông cho mượn, bằng như hội cần năm ba ngàn, ông luôn luôn tặng không.
- Về cái nghĩa trang é mà! ông Hội Trưởng đáp.
- Sao, nghĩa trang làm sao?
Vị ủng hộ viên nầy cũng gần tới tuổi quay đầu về núi rồi nên ông rất chú tâm đến cái nơi an nghỉ cuối cùng của ông trong một tương lai có lẽ rất gần đây. Ông đoán rằng đây là vấn đề hàng rào dây kẽm gai, chớ không có gì lạ, nhưng vẫn tò mò và nóng lòng biết đích xác ngay sự việc. Ban Trị Sự thấy cái hàng rào ấy rất cần thiết để ngăn ngựa, bò, heo, chó xâm phạm nghĩa địa, nhưng nghe đâu như Ban Trị Sự chưa gom đủ tiền để đúc trụ bê-tông và mua kẽm.
Phía trong chợ ông Tạ có một khu nghĩa trang cho gần hai mươi tỉnh của miền Nam. Non hai mươi nghĩa trang ấy nằm khít ranh với nhau. Tỉnh B quá gần Sài gòn nên chi từ ngày thành phố nầy được thành lập cho tới năm ấy, người gốc tỉnh đó không tậu nghĩa trang riêng, ai có kha khá tiền thì đưa xác người thân về quê, không tốn kém bao nhiêu, ai nghèo lắm thì nằm đất ở nhà chùa ngoại ô nào đó. Nhưng từ những năm có biến cố, việc đưa xác về quê rất bất tiện nên nghĩa trang nầy mới được thành lập, sanh sau đẻ muộn hơn các nghĩa trang khác, nó nằm ở biên khu, không được các nghĩa trang lân cận che chở cho ở tới ba mặt, thường bị thú vật nhà của ngoại ô xa nầy phá quấy.
- Thưa hiền hữu, ông Hội Trưởng đáp, nói cho đích xác ra, thì đó là vấn đề người coi sóc nghĩa trang...
- Vậy à? Tôi cứ tưởng... Còn hàng rào?
- Hàng rào thì đã làm xong rồi. Người coi sóc nghĩa trang mới là bài toán bể đầu. Năm rồi, Ban Trị Sự đã phải thay ba người, mà người cuối cùng cũng lại xin thôi việc, vào dịp Tết ta tới đây, tức là sau hai tháng nữa là phải tìm cho được người mới để thay cho y.
Không ai ngạc nhiên hết. Đời bây giờ, công ăn việc làm quá nhiều, dân tộc ta có đông đúc hơn xưa bao nhiêu, cái yếu tố người cũng cứ tương đối ít, ngoại nhân lại trả lương cao lại rất khó lòng mà giữ công nhân, ngành hoạt động nào cũng mắc phải nạn thiếu người hết. Phương chi khoản thù lao cho một người săn sóc các nghĩa trang nho nhỏ, thật là ít oi thì đó là một chỗ làm không được hoan nghinh bao giờ.
Ông Phán Ty hỏi:
- Tôi nghe nói hội nhà cho y độc quyền đào huyệt để y kiếm thêm chút đỉnh nuôi vợ con, nghĩa là tương đối cũng đã đủ sống ra. Như vậy sao y còn...
Ông Tham sự trẻ tuổi tên là Cần, không đợi ông Hội Trưởng trả lời, cãi lại với người vừa có ý kiến:
- Đủ sống nghĩa là chỉ đủ ăn cơm mà thôi. Y rất chánh đáng mà tham vọng được uống cà-phê, được nhậu la-de như bao nhiêu công nhân khác. Vả lại người công nhân nào thấy phu xích lô đạp kiếm mỗi tháng mười ngàn đồng (1) lại không ham kiếm được tiền nhiều hơn với một nghề khác.
- Thưa quí vi hội viên với lại bà con cô bác, không phải như vậy đâu, ông Hội Trưởng đính chánh. Tất cả đều đòi thôi việc để về xứ.
- À, cái đó thì hơi khó hiểu. Ông kỹ sư Minh nhận xét. Ngỡ họ thôi việc để đi làm phu cho các hãng thầu Huê kỳ thì còn có lý do, chớ còn bỏ chỗ làm để trở về những làng xa kém an ninh mà họ đã phải rời thì thật là kỳ. À, hình như ông Hội Trưởng có cho biết là phải nông dân mới làm nghề đó được hả?
Ông Hội Trưởng xác nhận:
- Ừ, mà nhứt là phải là nông dân chơn ướt chơn ráo mới tới ở thành phố. Thứ nhứt, chỉ có hạng người đó mới nhận một chỗ làm ít lương như vậy, trong khi chờ đợi tìm được chỗ tốt hơn. Kế đó, họ là người không sợ ma. Quanh nghĩa địa là bụi rậm, là chồi cây, là tre gai, là đồng trống, là bóng tối dày đặc về đêm, dân thợ ở thành phố quen sống chen chút với nhau từ lâu ở những nơi sáng trưng đèn điện, đâm ra nhát như trẻ con, sợ ma lắm, phương chi họ lại cất chòi gần ma thật sự, chớ không phải là ma tưởng tượng. Khu nghĩa địa ấy còn có các nghĩa địa khác nữa, như là nghĩa trang của người Ăng lê chẳng hạn, nếu có ma thì ma ở đó đông hằng vạn chớ có phải là một hai con đâu.
Cử tọa cười ồ lên, giây lát sau trận cười dứt, ông ủng hộ viên tài chánh hỏi:
- Nhưng các nghĩa trang khác thì họ giải quyết vấn đề ấy cách nào?
- Dạ thưa ông anh, họ không có vấn đề ấy như ta. Các nghĩa trang khác có đã lâu đời rồi, khiến nghĩa trang đã được bốn thế hệ người chôn trong đó, ở lắm nghĩa trang như nghĩa trang của tỉnh Sa đéc, người coi sóc nghĩa trang cha truyền con nối, họ đâu có xin thôi, còn các nghĩa trang tương đối ít lâu đời hơn, thì cũng đã cao niên lối bốn năm mươi tuổi, người coi sóc lại đã quá già, không tính chuyện đổi nghề vào lúc họ bảy mươi nữa.
- Họ có nói họ về xứ để làm gì hay không?
- Ai cũng nói họ nhớ nhà.
- Khung cảnh ở đó y hệt như ở nhà quê, cũng có tiếng gà gáy khuya, tiếng cu gù trưa, tiếng chim hát sớm và chiều, thì tôi tưởng họ tạm quên được nỗi nhớ nhà sầu xứ chớ?
Người nói ra các ý nghĩ trên đây là một ông giáo sư về hưu, và câu nói của ông có vẻ văn nghệ, tâm lý, triết lý lắm nên cả đại hội đồng đều đồng ý với ông, và vì vậy mà họ càng ngạc nhiên hơn trước, cái nước liều không cần thiết lắm của mấy anh coi sóc nghĩa trang tỉnh nhà trong mấy năm nay. Vâng, đã bỏ làng vì lý do bất an ninh, lại quyết trở về làng trong khi tìm được một nơi không làm cho họ lạc hướng lắm, và sự liều không cần phải liều.
Chỉ có một vi bác sĩ trẻ tuổi là mỉm cười một cách bình thản. Người hội viên nầy hẳn còn sống rất lâu, ông ta vào hội, chắc chỉ đã có đất mà chôn ông, chôn cha gì đó thôi, chớ không phải vì ông ta chút nào.
Cử tọa làm thinh hơi lâu nên người hội viên trẻ tuổi nầy mới dám có ý kiến. Ông ta biết kính lão mà đây là một hội mà đa số hội viên là những ông cụ thất tuần.
- Thưa ông Hội Trưởng, ông bác sĩ Xuân ấy nói, nếu ông Hội Trưởng cho phép, tôi hy vọng sẽ thuyết phục người đó được.
Ông Hội Trưởng cười hiền lành mà rằng:
- Sao lại cho phép? Chính tôi phải yêu cầu bác sĩ giúp cho Ban Trị Sự thoát khỏi cái nước bí nầy ấy chớ.
- Với lại, bác sĩ Xuân thêm, dầu sao rồi tôi cũng cần được phép của ông Hội Trưởng để thực hiện vài điều lặt vặt trong nghĩa đia.
- Bác sĩ trọn quyền hành động.
Vấn đề xem như đã được thông qua, người ta bầu Ban Trị Sự mới và vì Ban Trị Sự cũ làm việc đắc lực trong nhiều nhiệm kỳ liên tiếp nên cuộc bỏ phiếu chỉ là một thủ tục lấy lệ mà thôi.
Thế rồi bao nhiêu người đồng hương ấy, thuộc đủ giai cấp, đủ nghề nghiệp, ngồi lại bàn tiệc tất niên và từ đó cho đến khuya, chỉ còn tiếng cười nói, chớ không ai nêu ra vấn đề rắc rối nào nữa hết.
Không biết sau đó cái ông bác sĩ Xuân ấy đã gạt gẫm anh nông dân chất phác kia thế nào mà rồi anh ta bằng lòng ở lại, không những không xin thôi nữa, mà là năm ấy anh ta cũng không về quê ăn Tết như năm trước đó.
Thường thì những chuyện làm điên đầu, không ai buồn xía vào làm gì, nếu có kẻ đưa lưng ra gánh vác. Trong trường hợp nầy, kẻ ấy là Ban Trị Sự, mà Ban Trị Sự đã không kêu than nữa thì họ an lòng rồi, hơn thế có nhớ tới vấn đề, họ cũng lờ đi, sợ khui chuyện ra, mỗi người lại phải nghe than nữa thì mệt lắm, lại còn có thể được yêu cầu đưa vai ra đỡ phụ thì càng mệt hơn.
Mãi cho tới năm 1966, cũng trong một bữa tiệc thường niên vào dịp cuối năm, ông ủng hộ viên vụt hỏi ông Hội Trưởng giữa hai ly rượu:
- À, tôi chợt nhớ lại vụ người coi sóc nghĩa trang cho hội nhà. Bây giờ người ấy là ai? Có đòi thôi việc vì nhớ nhà như bao nhiêu người trước hay không? Tôi cứ bị cái chết của chính tôi ám ảnh tôi hoài nên tôi quên tất cả mọi chuyện khác.
Ông Hội Trưởng bật cười:
- Nhưng ông anh vẫn sống hoài để uống rượu với người đồng hương mỗi năm một lần. Chúc ông anh sống thêm mười năm nữa.
- Cám ơn ông Hội Trưởng. Dầu sao rồi tôi cũng theo ông theo bà ngày nào đây, nên chi tôi lại ích kỷ, lo trong ấy bị bỏ bê.
- Dạ, không những nghĩa trang không bị bỏ bê, lại còn đẹp hơn bao giờ hệt, đẹp hơn tất cả nghĩa trang của mười mấy tỉnh khác.
Ông kỹ sư Biện xác nhận sự kiện, phụ họa với ông Hội Trưởng, lại trách cứ người trong hội:
- Đúng là đẹp hơn các nghĩa trang khác nhiều lắm. Các nghĩa trang khác, cái nào cũng u buồn, còn nghĩa trang nhà thì rực rỡ màu sắc, nhìn vô đó, ta cứ tưởng đó là một vườn hoa. Bà con tệ lắm, ít có ai vô thăm nghĩa địa, trừ vài người hội viên hiếm hoi nhà có tang ma.
Ông ủng hộ viên tài chánh cười ha hả mà rằng:
- Ai cũng sợ nghĩa địa nhắc nhở cái chuyến đi du lịch không được vui trong đời con người nên nghĩa trang không bao giờ là chỗ ngoạn cảnh của ai được hết.
Ông Hội Trưởng nói lên một sự kiện không hãnh diện cho lắm về các hội viên nói riêng, về loài người nói chung. Sợ chết hình như là ơ... hơ... tuy rất tự nhiên, nhưng đồng thời cũng rất là kém triết lý! Sao lại sợ một việc tự nhiên, không tránh được?
Một ông thư ký về hưu nói nữa:
- Có, các hội viên có vô trong ấy chớ sao không! Đó là những hội viên có mồ mả người thân trong ấy. Chỉ phiền là họ đã hết hội viên rồi. Hễ họ hưởng xong cái quyền lớn nhứt của một hội viên, nghĩa là lấy xong một chỗ nằm cho cha, mẹ, vợ, con, rồi thì họ rút lui êm thắm, không đóng tiền nguyệt liễm nữa.
Ông ủng hộ viên trở lại vấn đề người coi sóc nghĩa trang:
- Nhưng tôi vẫn chưa biết vấn đề nhân công ấy đã được giải quyết một cách vĩnh viễn chưa.
- Thưa ông anh, đã giải quyết ổn thỏa xong từ năm ấy. Cũng vẫn cứ là người cũ.
- Hay lắm, y hết nhớ nhà rồi hả?
- Dạ!
- Ông bác sĩ trẻ tuổi tên gì đó, ông ấy thuyết phục giỏi như Trương Nghi, Tô Tần. Ông ấy đâu rồi? Bà con ta phải thưởng ông ấy mỗi người một ly rượu mới được.
Mọi người đưa mắt sang khắp các bàn tiệc đó tìm kiếm con người có công ấy; nhưng không ai tìm được người đó hết.
Một người tư chức trẻ tuổi lên tiếng:
- Ông Xuân ổng đã đi quân dịch từ hai năm nay rồi.
- Vậy à? Chắc ông ấy ở tiền tuyến xa nên từ hai năm nay, nhớ ra thì ông ấy không có mặt trong hai bữa tiệc cuối năm. Nhưng ông ấy đã nói làm sao mà rồi người coi sóc nghĩa địa bằng lòng ở lại vậy a ông Hội Trưởng?
- Thật ra. thì ông ấy không có nói gì hết với người đó, hay không có nói hơn một câu ngắn.
- Lạ! Chắc cái câu ấy là câu thần chú sao mà!
- Cũng không phải vậy. Ông ấy can thiệp để tôi cho phép người đó trồng bông thọ ngay trong nghĩa trang để bán ở các chợ Tết, qua trung gian các hàng bông hoa. Đó là chuyện tết năm ấy. Sang Giêng lại, thì ông ấy lại can thiệp để tôi cho y trồng đủ thứ bông hoa, nhứt là bông huệ, cần trồng trụ khá lớn cho cây huệ dựa. Bây giờ thì y đã giàu ra, vì bông huệ bán rất được tiền, và nhờ vậy mà nghĩa trang nhà cứ thơm tho, tươi tốt quanh năm.
- Nhưng mà y làm nghề đó, choán chỗ lắm!
- Thưa ông anh với lại bà con, không choán chỗ đâu. Nghĩa trang nhà còn mới, đất trống còn nhiều. Vả lại, bông hoa mềm yếu, rất dễ nhổ bỏ đi mà không gây thiệt hại nặng cho người trồng. Nói thí dụ mà nghe chớ bỗng dưng ta cần chỗ cho một vài trăm huyệt mả, một cách thình lình, thì y cũng sẽ thỏa mãn ta được, vì bứng bỏ bao nhiêu cây bông hoa trong cái diện tích cần ấy, không làm tốn hơn hai tiếng đồng hồ, còn về thiệt hại vật chất và tài chánh thì y chỉ mất lời chớ đâu có bỏ ra bao nhiêu vốn mà phải lỗ. Vả lại, theo tôi thì y cũng sẽ khỏi phải bứng cây cho nhọc xác, cứ để vậy, phu đào huyệt giậm lên đó như giậm lên cỏ, có thể còn sướng chơn hơn là giậm lên cỏ nữa.
- Y khá lên như vậy hèn gì mà y vui lòng ở lại. Dầu sao ông bác sĩ ấy cũng giỏi, chỉ giản dị có thế thôi, mà ta không nghĩ ra được.
- Thưa bà con cô bác, sự thật thì không phải chỉ giản dị như vậy đâu. Đây là một vấn đề triết lý về con người chớ không phải chuyện tiền bạc đâu.
- To chuyện dữ vậy lận sao?
- Dạ. Đó là chuyện lớn thật sự. Ban đầu tôi cũng ngỡ chỉ có như vậy, nhưng sau, một hôm vui miệng, tôi hỏi ông bác sĩ Xuân, ổng nói ra sự thật, tôi mới biết đâu là đâu.
- Vậy sự thật có gì bí ẩn?
- Quả thật, bây giờ kiếm được nhiều tiền rồi thì người coi sóc nghĩa trang đâm ra mê tiền, ta mà có đuổi y đi, y cũng sẽ van nài để ở lại... vì tiền. Nhưng năm ấy thì y không hề ham tiền, không hề xin thôi vì lương thấp. Y chỉ cần thứ khác mà thôi.
- Thứ gì?
- Chính triết lý là ở đó và bí quyết của bác sĩ Xuân ở đó, chớ thật ra ông ấy ăn nói rất dở, không thuyết phục được ai hết đâu.
- Bây giờ thì bà con tôi rất nóng lòng biết cái chuyện ngộ nghĩnh và mới lạ đó.
- Ông bác sĩ Xuân ấy cho tôi biết rằng có một ông bác sĩ ở đâu bên Tây bên Mỹ gì đó tôi cũng không nhớ nữa, hình như tên là bác sĩ Soubiran. Ông bác sĩ Soubiran ấy đã khám phá ra những điều sau đây là dân thợ ở các thành phố, mức sống cao hơn nông dân nhiều, nhưng lại cứ yêu sách đòi tăng lương hoài, và có tăng tới đâu họ vẫn không nghe được thỏa mãn. Lương đủ sống như ở Bắc Âu, họ vẫn đình công đòi tăng lương. Không phải là họ thiếu thiện chí hoặc tham lam hơn thợ nông nghiệp ở thôn quê đâu, mà thật sự họ nghe không có hạnh phúc, lương cao tới đâu cũng không giúp họ có hạnh phúc được, nếu ta không tìm được lối ra thật đúng.
Cái lối ra thật đúng đó là tình yêu nghề của họ. Thợ thuyền, trước khi thành thợ, là nông dân. Họ tới thành phố, không cơ quan nào hướng nghiệp cho họ hết, theo khả năng và sở thích của họ, và họ thành thợ điện hay thợ sơn một cách rất là tình cờ, rất là may rủi.
Người thợ nông nghiệp thì không bao giờ mắc phải cái nạn “ép duyên” đó. Họ yêu đất, yêu mùi đất và họ được yêu cho tới mãn kiếp.
Đất có mùi thật sự, nhứt là đất mới xới, một mùi rất đặc biệt mà mũi họ quen ngửi cho đến ghiền, thiếu thì họ nghe thèm. Họ thấy rằng họ hạnh phúc vì họ được thỏa mãn tình cảm. Tình nhớ xứ, nhớ nhà gồm nhiều yếu tố, mà nỗi thèm mùi đất là một yếu tố quan trọng. Nỗi thèm nầy có khi mãnh liệt như nỗi thèm mùi khói thuốc phiện của những con thằn lằn, những con chuột lắt sống trong buồng của những kẻ hút thuốc phiện, họ thèm và nhớ mùi đất y như là đào hát thèm và nhớ sân khấu, vũ nữ thèm và nhớ đèn màu, và y như là cá thèm và nhớ nước. Cá nhớ nước không phải là một hình ảnh đâu và đừng tưởng là cá không ở được ngoài nước.
Ở các chợ, các hàng cá, luôn luôn để cá lóc trong các rổ thường, loại cá nầy sống được ngoài nước nhiều tiếng đồng hồ liền, nhưng chúng cứ ngáp mãi, y như là ta thèm một điếu thuốc, một tách cà phê.
Vậy họ nhớ nhà, nhớ xứ là nhớ mùi đất ở phần lớn. Tạo điều kiện cho họ trồng trọt được là họ tạm nguôi sầu,và lần lần quen được với môi trường mới.
Và quả đúng y như vậy. Khi tôi gợi ý cho y gieo bông thọ để trồng bán Tết, thì mắt y sáng lên và y tức tốc đi tìm bông giống liền. Hôm sau đó, y dang nắng mà cuốc dở đất một cách sung sướng, chẳng khác nào ếch và ễnh ương mừng mưa mới.
Ông Hội Trưởng kể xong, bao nhiêu thực khách chung bàn với ông, nhìn nhau, lặng lẽ hỏi nhau điều ấy có đúng hay là không. Một hồi lâu, ông giáo Quyền cũng ngứa miệng kể chuyện, nên ông bắt đầu thuật tích cũ trong gia đạo ông:
- Tôi nhớ năm ấy, tôi đang dạy học ở Bến tre. Tôi cưới bà nhà tôi ở tỉnh ấy. Được hai năm thì một cuộc thuyên chuyển đưa tôi lên Sài gòn. Bà nhà tôi chưa có con, và ít công việc nên tối ngày bà ấy cứ ngồi bó gối mà buồn. Bà ấy cứ nài nỉ tôi xin thuyên chuyển trở về tỉnh nhà của bà ấy.
Chợt một bữa kia không biết nhờ gì gợi ý bà nhà tôi đi mua chậu, đi tìm đất, ra đặt mấy cái chậu đất ấy ở sân trong, giữa nhà trên và nhà bếp. Bà nhà tôi trồng rau răm, rau tần dài, hành hương, ớt, không mấy tháng mà sân trong không còn chỗ để chơn nữa vì chậu cứ được sắm thêm hoài, thật là bất tiện. Thuở ấy rau cỏ có bao nhiêu tiền đâu, đi chợ mua hai xu, cả nhà ăn cả ngày không hết mà hai xu chỉ bằng hai đồng bạc ngày nay. Bà ấy lại không còn thì giờ nghỉ ngơi nữa, hễ sáng, vừa bét mắt thì lo săn sóc ba chậu rau không đáng giá đó, trưa cũng vậy, chiều cũng vậy. Vậy, mà kể từ ngày ấy, bà nhà tôi vui vẻ trở lại như hồi vợ chồng tôi mới cưới nhau và không bao giờ tính chuyện đi đâu nữa hết, mãi cho tới bây giờ mà tôi đã có cháu ngoại rồi.
Sở dĩ tôi phải lùi ra ngoại ô xa mà ở, chỉ vì sau đó bà nhà tôi thèm trồng cây lớn để được xới đất nhiều hơn là đất trong các chậu. Ngày nay thì sân nhà tôi không thiếu gì hết, từ cây chanh, cây khế, cho đến cây mít, cây me, nhứt là tôi có được hai cây dừa mà bà nhà tôi nhứt quyết phải trồng, vì quê bà ấy là xứ dừa, trồng dừa cho đỡ thèm hình bóng cây dừa.
Ông ủng hộ viên tài chánh hỏi:
- Nhưng ngày kia, nghĩa trang khá đầy rồi, không còn đất để trồng trọt nữa, ta làm sao giữ được người ấy?
- Ông anh chớ có lo. Nghĩa trang còn nhiều năm nữa mới đầy, bởi hội viên thất tuần như ông anh mà cứ còn khỏe mạnh hoài thì làm sao nó đầy được. Như vậy, y đủ thì giờ già để bằng lòng an phận với công việc của y là gìn giữ nghĩa địa.
 
Chú thích:
(l) Con số của năm 1964.
(Cuống rún chưa lìa)
 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
11. MA NÉM ĐÁ  
 
Cô Hén không may mắn chút nào. Ba ngày tết, chủ cô đi tắm biển, cho cô về quê ăn Tết như mọi năm. Nhưng hôm chiều hăm bảy, cô vừa "đổ bộ" thì tối hăm chín, nhà cậu của cô bị ma ném đá.

Mồ côi cha mẹ, và chịu không nổi mợ dâu, cô Hén trôi nổi lên Sài gòn, đi ở mướn. Bốn năm sau, nhớ xứ quá, và hận cũ đã nguôi, cô mò về làng. Thấy cháu chồng đã khá, đeo vàng đỏ tay, quần là áo lụa, người mợ dâu cũng nể nên quên cái tội nó đã cuốn gói ra đi, tiếp đãi nó như là một đứa cháu thân yêu. Vả mỗi lần về nó không quên mua quà Sài gòn về biếu cậu mợ bộn bàng, nào là cam Tàu, hồng khô, hàng ny-lông màu sắc sặc sỡ cho con của mợ, nên mợ phải xem nó là thượng khách vậy. Cô Hén khỏi làm gì động tới móng tay sơn đỏ của cô, ăn no rồi đi dạo xóm, tới bữa ăn lại về ních một bụng rồi lại đi nữa, đôi bữa không về vì cô ta rất được hoan nghênh ở mọi nơi, ai cũng cầm cô lại ăn cơm hết.

Đi xa về tha hồ nói khoác. Mà cô Hén không nói khoác họ cũng mê tít đi. Nội cái vụ đèn xanh, đèn đỏ, nội cái vụ vòi nước phun lên trời, nội cái vụ thang lầu rạp chiếu bóng mình đứng trên ấy, tự nhiên nó bò lên, mình khỏi phải leo bước nào cả, toàn là chuyện thật, thật đúng trăm phần dầu, nội những thứ huyền hoặc ấy cũng đủ làm cho người làng say sưa như nghe chuyện cổ tích, chuyện thần tiên.

Tối hăm chín, Hén ở nhà để phụ giúp với mợ Tư nấu bánh tét, chớ không lẽ năm cùn tháng tận rồi, nhà ai cũng bận rộn mà cứ ngồi lê mãi.

Hồi bảy giờ rưỡi, thình lình một tiếng đá rơi lên ngói kêu lên chát chúa. Mợ của Hén rủa: "Quân dịch vật, ban đêm mà cũng bắn giàn thun cho bể ngói của người ta hết".

Cậu của Hén cũng có mặt ở dưới nhà bếp, chỉ làm thinh thôi, nhưng châu mày suy nghĩ. Trẻ con bắn giàn thun bằng sỏi nhỏ cỡ bằng ngón tay cái. Sỏi ấy rơi xuống ngói rồi thì lăn đi, kêu rổn rổn, nghe như cả mái ngói đều bể hết, nhưng không sao cả. Trong trường hợp nầy, tiếng chạm rất ngắn, nghe thì đoán biết ngói bể nhưng chỉ bể một vài tấm thôi rồi cái vật rơi ấy nằm yên nơi chớ không lăn xuống dốc mái nhà, chứng tỏ rằng nó nặng lắm.

Không biết bao lâu sau - vì không ai chờ đợi một tiếng đá rớt thứ nhì nữa nên không ai phỏng độ thời gian - bỗng cái tiếng đá thứ nhì ấy lại kêu lên, chát chúa. Mợ của Hén đã thả xong mười lăm đòn bánh tét vào nồi. Lúc bấy giờ đang có mặt hai bà hàng xóm, tới đó để gởi bánh tét vào nồi nhà nầy, theo tục lệ ở thôn quê, người nghèo chỉ gói một, hai đòn, nấu tốn công, tốn củi nên đem gởi vào nồi của các gia đình khá giả. Mợ Tư vội bước ra cửa sau chưởi: "Mẹ tiên nhơn cha, dòng họ cha nó! Đẻ con hổng biết dạy thì đóng trang mà thờ, chớ sao lại để đêm hôm lại còn bắn giàn thun lên nhà người ta!" Mợ Tư chưởi thật to, vì mợ đoán thằng bé bắn giàn thun có thể ở xa, cách năm bảy nhà gì lận, chớ không chưởi đủ cho người khít rào nghe như những lần mợ mất gà.

"... tiên tằng cố tổ bà nội cha bây, ăn no rồi ở không phá làng phá xóm! Mai nầy bây rước ông bà bây về, tao còn chưởi nữa, tao chưởi cho ông bà bây ngồi không yên trên bàn thờ..."

- Thôi!

Cậu Tư nạt vợ rồi nói tiếp để giải thích:

- Không phải con nít bắn giàn thun đâu. Tiếng kêu của ngói bể, là tiếng đặc biệt của đá chọi vô nhà.

Cậu Tư nói như vậy và nghĩ rằng có kẻ chọi nhà cậu, vì lý do gì chưa biết. Nhưng cả nhà đều nghĩ ngay đến ma và ai cũng kinh sợ đến cực độ.

Hai bà gởi bánh tét, không nói không rằng gì, vụt chạy bay đi. Mợ Tư, Hén và bốn đứa con nhỏ của cậu mợ, không ai bảo ai, lật đật đóng các cửa lại rầm rầm, làm như ma sẽ bị cửa đóng vào nhà không được, như loài người vậy, rồi họ xúm xít nhau quanh bếp lửa nấu bánh tét là nơi sáng sủa nhứt nhà bếp. Cô Hén đã rời thôn xóm từ lâu, quen sống trong ánh sáng nên sợ hãi hơn hết, sợ còn hơn mấy đứa bé nhứt, con của cậu mợ cô. Cậu Tư làm thinh, đoạn mở cửa nhè nhẹ, rồi thoát ra ngoài. Mợ Tư gọi cậu một tiếng, không nghe cậu đáp, mợ càng sợ thêm, chạy vội đi đóng cửa, phó mặc cho ma quỉ nó ăn tươi nuốt sống cậu mặc cậu. Ai bảo cậu bướng!

Thình lình đá lại rơi trên ngói. Cả nhà ôm nhau rồi ngã lăn cù. Bấy giờ nghe tiếng xôn xao quanh nhà, khiến mấy đứa bé khủng khiếp khóc ré lên. Nhưng mợ Tư thì yên dạ. Đó là tiếng của người trong xóm, có lẽ do hai mụ gởi bánh tét báo động, họ tụ lại để xem cho rõ thật hư. Đá lại rơi trên ngói, lần nầy đến hai viên một lượt.

- Đó, nó đó!

- Chắc chắn là ma!

- Ừ, chú Tư hiền khô, ai mà oán thù chú!

- Giỏi chọi nữa thử coi!

Tức thì một cục đá rơi xuống ngói.

Bấy giờ cả làng đều có mặt, đèn đuốc sáng trưng. Đàn bà họ sợ ma lắm, nhưng cũng rất ham coi ma. Nhưng để cho chắc khỏi bị ma ăn thịt, họ đốt đuốc lên và đi coi ma đông từng đoàn năm bảy người.

Cậu Tư không thể rình được nữa vì cậu đứng nơi sân, ai cũng thấy cậu hết. Tức mình, cậu vô nhà lấy áo để đi mời ủy viên cảnh sát. Nhưng cậu vừa ra tới cửa ngõ thì gặp ủy viên cảnh sát cũng vừa tới nơi.

- Gì đó chú Tư?

- Có ai chọi đá.

Cậu Tư vừa nói vừa mở cổng và thiên hạ nối gót ủy viên cảnh sát, tràn vào sân. Mợ Tư đã mở cửa nhà trên, thắp đèn sáng lên, ông ủy viên cảnh sát chưa kịp ngồi thì một viên đá lại rơi xuống ngói và ngoài kia thiên hạ lại la rần rần.

- Nó chọi đã bao lâu rồi?

- Độ trên nửa tiếng đồng hồ, non một tiếng.

- Mấy cục hết thảy?

- Gần mười lăm cục.

- Chú có nghi cho ai không?

- Không!

Ông ủy viên cảnh sát bóp trán rồi vụt hỏi:

- Còn con Hén đâu? Nghe nói nó mới về phải không?

Mợ Tư đáp hớt:

- Dạ, nó mới về, đang ở ngoài sau. Dạ, ông cảnh sát, tôi nhớ ra rồi.

- Nhớ gì? Ông ủy viên cảnh sát mừng rỡ hỏi.

- Nó tuổi dần. Hồi nó còn nhỏ, thầy coi nó có số quến ma.

Ông ủy viên cảnh sát và cậu Tư bật cười, trong khi đó thì mợ Tư gọi Hén giựt giọng, giọng hằn học lắm. Ngày tư ngày Tết mà con nhỏ mắc dịch nầy về đây báo hại mợ ăn Tết không yên! Mợ hận nó lắm, quên mất mớ quà nó biếu, mớ quà đã giúp mợ tử tế với nó. Hén lấp ló nơi cửa buồng, ông ủy viên cảnh sát hét:

- Hén, ra đây tao biểu.

Hén ríu ríu vâng lời, mặt cắt không lấy được giọt máu.

- Dạ!

- Hai bữa rày có thằng nào chọc ghẹo mầy và mầy cự hay không?

- Dạ không!

- Nói thật tao nghe, hễ nói láo là tao bắt giam liền. Có hay không?

- Dạ, chắc chắn là không!

Cậu Tư có một người con gái thứ ba đã đi lấy chồng. Thằng con trưởng nam của cậu đã chết lúc sắp cưới vợ. Còn lại ở nhà chỉ có mấy đứa bé xấu như ma.

Ông ủy viên cảnh sát lại hỏi cậu Tư:

- Không ai oán thù vợ chồng chú chớ?

- Quả thật không, ông à.

- Có bao giờ có ai hỏi mua cái nhà nầy hay không?

- Dạ cũng không.

- Kỳ lạ, kỳ lạ !

Hai người đàn ông, không ai tin rằng có ma cả. Nhưng một cậu con trai xồng xộc chạy vào nhà, tay cầm viên đá. Hắn xin bà chủ nhà một miếng vôi ăn trầu. Đó là trò chơi cổ điển mà ai cũng biết cả nên không ai ngạc nhiên và hắn được thỏa mãn.

Hắn bôi vôi trên cục đá rồi trở ra sân, hắn quát lên thật to:

- Nè, ma có giỏi thì vụt trở vào sân cục đá bôi vôi này thử coi!

Nói đoạn hắn tung đá ra thật mạnh. Bao nhiêu người trong sân đều hoảng, chạy đi tìm chỗ núp, mái hiên, tàng cây, v.v... Ai quen thân với chủ nhà thì chạy vô nhà, lúc ấy đã đông nghẹt. Không đầy hai phút đồng hồ thì một hòn đá rơi đánh phịch trên sân đất. Thiên hạ lại đổ ra sân, đèn đuốc sáng trưng trở lại nơi đó. Và kinh dị thay! Người ta lượm được một cục đá bôi vôi mới, vôi còn ướt mèm. Ông ủy viên cảnh sát có học tới lớp nhứt hồi Pháp thuộc, có đọc báo, đọc sách, và từ đầu chí cuối câu chuyện, không bao giờ nghĩ đến ma, thế mà ông cũng bắt đầu nao núng. Bận nầy ma vụt đá vào vách bổ kho, chớ không ném lên mái nhà nữa. Tung đá chạm vào vách kêu ầm dễ sợ hơn nhiều lắm.

Ông ủy viên cảnh sát gục gặt đầu rồi lặng lẽ mỉm cười. Ông suy luận như thế này: muốn vụt đá vào vách, phải vụt ngang. Mà đá nặng, vụt ngang phải đứng gần. Kẻ ném đá thừa dịp thiên hạ vào hết bên trong sân, mới xáp lại gần hàng rào mà làm như vậy được. Trước hắn còn nhát nên đứng xa, và chỉ có thể tung lên cao cho đá rơi xuống ngói thôi.

Ông ta bước ra sân và hô lớn như công khai tuyên bố:

- Rõ ràng là ma! Như vậy vụ nầy không thuộc quyền hạn của tôi nữa. Thôi, tôi đi về đây!

Lời công bố của đại diện chính quyền địa phương nặng cân lắm, nên thiên hạ càng tin rằng đó là ma. Ma cứ tiếp tục vụt đá vào vách bổ kho rầm rầm, hết vách bên tả đến vách bên hữu. Mỗi lần một cục đá bay vào nhà là người hiếu kỳ bu lại giành nhau để đem về làm kỷ niệm, đợi vài hôm coi đá còn hay không, hay cũng là đá ma nữa ? Nếu ma ném đá thâu đêm thì bọn tò mò nầy cũng dám thức suốt một đêm lắm để coi chơi và bàn tán, mặc dầu họ đã mệt mỏi lắm rồi vì bấy giờ cũng gần sang canh hai, tức là trên mười giờ đêm. Từ lúc ông ủy viên cảnh sát ra đi tới giờ, đã non một tiếng đồng hồ và ma làm xôm tụ hơn nhiều, đá bay vào vách tới tấp khiến khách hiếu kỳ đông là thế mà người nào cũng giữ được một cục, không còn giành giựt nhau nữa.

Thình lình nghe ai la lớn ngoài hàng rào:

- Nó đây rồi. Mầy chạy đàng trời không khỏi tao.

Tức thì hàng chục tia đèn bin ngoài kia chỉa thẳng vào nơi phát lên tiếng la ấy. Người ta nhận ra đó là giọng của một anh dân vệ trong làng. Thiên hạ lại đổ xô nhau ra khỏi sân, giành nhau để đi qua cửa ngõ hẹp té. Cậu Tư nhảy rào đi tới nơi trước thiên hạ, vì cậu tức ấm ách, muốn biết mặt mũi "con ma" ấy ra sao và nhứt là muốn biết lý do đã xui khiến nó phá nhà cậu.

Dân vệ do ông ủy viên cảnh sát bí mật điều động và cho đi rình, đã tóm được thằng Ngọt với một cục đá trong tay. Đó là đá xanh trải đường, đường quê lâu đời, nước mưa chảy xiết, gặm mòn đất, để lòi ra hàng trăm, hàng ngàn cục, muốn bao nhiêu, có bấy nhiêu. Cả làng đều kinh ngạc: Thằng Ngọt vẫn được tiếng là một công dân tốt trong đám công dân tốt trong làng, nó siêng năng, giỏi giắn, con nhà tử tế và tương đối khá giả. Nhà nó với nhà cậu Tư lại rất thân nhau. Nó cũng sắp đi hỏi vợ và rất mê con Họn xinh đẹp mà nó sắp hỏi thì không thể bảo rằng nó "muốn" con Hén không được rồi làm xằng. Vả con Hén năm nay đã hăm ba tuổi, lớn hơn nó đến bốn tuổi lận?

Ông ủy viên cảnh sát truyền lịnh giải tán bọn hiếu kỳ, kể cả dân vệ nữa, vì ông muốn điều tra mật, chỉ cho cậu Tư theo ông về công sở thôi.

Thằng Ngọt không sợ hãi, không hối hận, tỉnh khô như thường, có vẻ lương tâm an ổn lắm. Vả ông ủy viên cảnh sát không có hành hung nó mà, trái lại, khi nãy còn ngăn dân vệ toan làm dữ với nó là khác.

Lời lẽ ôn tồn, ông hỏi:

- Cháu nè, muốn nhẹ tội, cháu nên khai thật, tất cả sự thật. Nếu thấy rõ thiện chí của cháu, bác có thế làm êm, tha luôn cháu nữa. Bằng như mà cháu còn dối trá thì bác giải tòa vụ nầy.

Ngọt do dự lâu lắm trong sự im lặng, đoạn trịch thượng hỏi lại:

- Thưa bác ủy viên cảnh sát, cháu không biết bác chú ý tới điều nầy hay không, là từ mấy năm nay, mỗi lần chị Hén về làng, là làng ta mất đi ít lắm là một cô gái?

Ông ủy viên cảnh sát và cậu Tư giựt nẩy mình. Quả đúng như vậy ! Tiếng gọi của thị thành réo rắt lắm, và gái quê, những cô gái nghèo khổ, cực nhọc, cô nào cũng có mộng ra thành cho sung sướng tấm thân. Hén là tượng trưng của xa hoa, của đời sống dễ dàng ở các châu thành lộng lẫy, hơn thế, nó lại quyến rũ gái làng ra đi. Và họ dám đi là nhờ có nó dìu dắt. Những thôn nữ bỏ làng ấy, đôi cô không bỏ hẳn, những cô còn cha mẹ, bà con trong thôn ổ, thỉnh thoảng lại về, nhưng không cô nào còn can đảm lấy những anh nông dân trong làng mà họ đã thấy là cùi đày, lam lũ quá.

- Thưa bác và chú, mấy hôm nay, chị Hén qua lại với con Họn rất thường và cháu cảm nghe như Họn đã đổi thái độ đối với cháu. Cháu phải tự vệ, cho dẫu rồi phải vào tù. Cháu quyết làm cho chị Hén sợ ma, ra đi ngay, trước khi kịp dụ dỗ con Họn, hoặc bị mợ Tư sợ cái tuổi quến ma của chị ấy mà tống cổ chỉ đi ngay. Chỉ có thế thôi.

- Nhưng còn cục đá bôi vôi? Cậu Tư hỏi.

- Thưa chú, đó là việc thách đố ma cổ điển, cháu biết họ sẽ thách như vậy, nên mang vôi theo sẵn trong mình. Họ quên coi hình thù cục đá ném ra, để mà so sánh với cục đá ném vô.

Cả hai người lớn đều nghĩ nhiều về sự hao hớt dân làng và nhìn cậu con trai nầy, thương xót không biết bao nhiêu. Lâu lắm, ông ủy viên cảnh sát hỏi chủ nhà:

- Chú tính sao? Bãi nại được không?

- Được, miễn cha mẹ nó bồi thường thiệt hại cho tôi. Hằng trăm tấm ngói bể chớ ít sao?

- Còn con Hén?

- Xin cho nó ăn Tết. Nhưng tôi sẽ cấm nó ra khỏi nhà.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
7. CÂU DẦM

Viết theo một chuyện cổ tích của làng Tân uyên để tặng những đứa con yêu mến của Tân Uyên đã xiêu bạt khắp mọi nơi sau mùa tiêu thổ 1945.


Tôi ưa đi câu, không phải để được cá bởi vì tôi nặng bóng vía lắm:

Cá không ăn câu, mồ cha con cá dại
Cần câu anh cầm, nghĩ lại con cá khôn.

Cũng không phải theo dấu của ông già sông Vị đợi chờ chúa Thánh rước về làm tướng Tây kỳ.

Đi câu, đối với tôi là những giờ mà lòng được nhẹ bổng không buồn, không vui, lâng lâng như đã thoát trần. Đi câu là những giờ rình một tăm cá hay lơ đãng ngó theo bóng chim thằng chài xẹt mau như sao băng, hoặc xem "từng mây lơ lửng trời xanh ngắt". Đó là những phút hồi hộp nhìn cái phao chìm lần... chìm lần, nghe đầu cần câu nặng nặng. Rồi... roạch một cái, con cá gì đó đã sứt mép còn lưỡi câu thì góa mồi, mồ hôi ngư ông nhỏ giọt... Đi câu là xem những con sông, ngọn rạch, tựa hồ như những con đường biết đi, mang theo hình ảnh của cả một sự sống, một cuộc đời hiếu động. Đi câu là vớt những trái tràm, những bụi cây rù rì trôi từ trên nguồn về để nghe nó kể lể chuyện rừng xanh.

Tôi lại thích đi câu dầm. Vì vậy mỗi lần về quê, tôi về vào mùa mưa để đi câu dầm, tìm lại những cảm giác đã sống qua ngày nào.

Phải nói cho các bạn nghe câu dầm là làm sao chớ. Có gì đâu: vài chục cần câu tre ngắn, đâu cần uốn cong như cây cung, đuôi cần vạt nhọn, nhợ câu ngắn hơn cần một chút, lưỡi thép hơi to.

Ở làng tôi người ta gọi đó là câu cắm, là vì cần câu được cắm dài theo bờ ruộng, có người lại kêu là câu bủa, vì cần nhiều, bủa khắp đồng ruộng. Còn câu dầm của họ thì lại là một cách khác nữa.

Nhưng tôi có cần gì nói trúng một tiếng nhà nghề của địa phương đâu. Câu dầm của tôi là một cuộc đi câu ban đêm, những đêm mưa dầm, phải dầm mưa mà câu.

Ở đây, câu, đối với tôi cũng không phải là bắt cá bằng cần. Đi câu dầm là hứng lấy những hột mưa nhọn hoắt, đón những ngọn gió lạnh quíu tay để được tận hưởng trong tưởng tượng cái cảnh ấm êm, chăn gối nệm bông.

Bơ vơ trong bóng tối, thèm thuồng một ngọn đèn xa... Lắng nghe sự sống bí mật, âm thầm của côn trùng trong cỏ, trong lau... Rùng rợn vì tiếng vạc não nùng như tiếng một cô hồn đau khổ, và tiếng thì thầm của đêm tối, tiếng gió vi vu...

Đó là những thú lạ thường mà người kỳ khôi hay tìm kiếm. Nhưng điều nầy thích hơn hết, là đi câu dầm thế nào cũng gặp ông Ba Sa.

° ° °

Ông Ba Sa là một người thuộc về âm. Ban ngày không ai thấy ông đâu hết, trừ khi ông giúp đám ma, nhà héo, đi cúng chùa, cúng đình. Những lúc hội họp xóm làng như vậy, ông ít nói chuyện với ai, không hiểu vì thói quen sống cô độc, hay vì lẽ gì khác.

Như một con cú ăn đêm, bạn bè với bóng tối, ông Ba chỉ ra khỏi nhà lúc đỏ đèn để đi câu dầm, về mùa mưa. Còn trong những tháng nắng ruộng khô không biết ông làm gì.

Đêm nào tôi cũng thấy ngọn đèn ông Ba leo lét đằng xa. Một khi kia nghe mình hiu quạnh cô đơn quá, cần phải nói với ai một điều gì, hay ít ra cũng cần sự có mặt một "hơi" người bên cạnh, tôi mò lần lại cái đóm đỏ, ẩn hiện như đèn ma đằng kia.

Ông Ba cũng không tìm cách trốn tránh gì tôi, song cái miệng làm thinh của ông thì không ai cạy nổi.

Nhưng tôi đã có những chiếc đũa phép, một điếu thuốc mời, rồi hai điếu, rồi ba, rồi không còn biết là mấy điếu nữa. Trong những lúc như vậy mới biết hút thuốc điếu là sướng.

Cái sức nóng nhỏ mọn của điếu thuốc như thấm nhuần khắp châu thân, nghe như đỡ lạnh mình và lạnh lòng.

Khói thuốc xui người khép nép nhứt cũng phải cởi mở lòng. Lời qua, tiếng lại, ban đầu còn cụt ngủn, xẳng lè lần lần thân mật, có bao nhiêu trút rót ra không tiếc.

Một tiếng sét đằng xa vọng lại, tức thì ông Ba có chuyện Thiên Lôi, chuyện lưỡi tầm sét để nói cho tôi nghe liền.

Ông Ba biết rất nhiều chuyện yêu ma, và ở đây, hoàn cảnh rất thích hợp để gợi sự hãi hùng, rùng rợn.

Nào là chuyện thằng cha đi câu dầm, đêm kia gặp một bà già lạnh quíu, run rẩy bên đường. Động lòng thương, anh ta cõng bà ấy về làng. Nhưng dọc đường nghe càng lâu, càng nặng, nặng quá, đi không nổi. Anh ta ngó ngoái lại thì trời ơi, đó là một cỗ hòm lâu đời, mục nát, hôi tanh...

Lại chuyện anh chàng đi soi ếch, nửa đường có thằng nhỏ xin theo xách giỏ.

Tới khuya, anh ta xem lại giỏ coi được nhiều hay ít... thấy máu chảy ròng ròng, ếch thì con nào con nấy cũng mất đầu, anh ta hỏi lẩy thằng nhỏ:

- Bộ mầy ăn ếch sao mậy?

- Ừ, tôi ăn.

- Bộ mầy là ma sao mà...

Anh chưa dứt tiếng thì trời bỗng chớp lòe, thấy miệng thằng nhỏ dính máu tèm lem, túa lụa, còn lưỡi nó thì le ra dài tới rún...

° ° °

Áo tơi và nón trũm của chúng tôi không đủ che mưa, đỡ gió. Chúng tôi lại hút thuốc cho ấm. Một điếu, rồi hai điếu... rồi ba, bốn, năm, sáu điếu.

° ° °

- Cái thở 1 mà tui 2 còn trai như cậu - một đêm kia ông Ba kể - tôi có thèm câu cắm như vầy đâu. Cá ruộng, một năm có mấy tháng mà bán cũng không bao nhiêu tiền. Hồi đó con sông Đồng nai của mình còn nhiều cá, mà cá lớn, tôi chỉ đi câu xuồng. Một ngày, một đêm, kiếm mạt lắm cũng được năm quan tiền 3.

Tôi cũng biết sát phạt quá, bắt vật trời sanh lắm thì mang tội, song nghèo thì biết tính sao. Thôi thì tới đâu hay đó, nữa chết xuống dưới phải tội nào hay tội nấy. Nhưng tôi "đã xuống dưới" trưởc khi chết, nên từ ấy những nay, tôi dẹp cái nghề câu sông đi.

Ông Ba rút một hơi thuốc dài, rồi cho khói ra lỗ mũi chầm chậm... Đoạn ông thuật tiếp:

- Cậu cũng biết chớ... chợ Tân uyên mình địa thế tốt lắm. Mấy thầy địa lý cắc chú đi du phương, qua đó, thầy nào cũng khen. Nên cái chùa "Ông" 4 sau chợ bị nhà nước bắt dời đi mấy lần, mà "cắc chú" họ cứ rủ nhau xin để lại cho được mới nghe. Trước chợ, con sông, bờ cao ngất.

Nước sông trước chợ lại vận thành xoáy khu ốc, như cố ý dừng lại trước một địa thế linh thiêng. Bên kia sông, ngay chợ, khu rừng cấm Bình hưng trên hòn cù lao Tân chánh, ngó giống tấm bình phong, hay cái tam quan trước chùa chiền. Rừng sầm uất, cây cao, bóng mát đứng trên mé vực cao, nghiêm nghị rọi mình xuống sông sâu. Nếu không có chợ, nhà, người đi ghe thương hồ qua đó không khỏi sởn tóc gáy, vì cái vẻ linh thiêng, tịch minh của nó.

Mấy ông hồi trước thuật rằng: ngay dưới miếng đất cất chợ có một cái hang ăn luồn vô riết tới chùa Ông, tới chỗ cái hồ trên miệng có xây con cá hóa long, cậu biết chớ ?

Một đêm kia, cái nhà sàn của chú Sang, cất dựa mé sông, bỗng đổ sụp. Bao nhiêu của cải, vàng bạc đều đi tuốt hết, còn chủ nhà và vợ con thì, may quá, lội vào bờ được. Chú Sang mướn thợ lặn, định mò vớt của lại. Nhưng cái anh thợ lặn ấy tìm hoài không thấy dấu vết cái nhà, không lượm được lấy một mảnh ngói, một tấm ván nhỏ. Anh ta gặp một miệng hang, ngó vô tối đen như mực. Hang thần được dân làng biết từ đó.

Đó, mấy ông thuật rằng trong hang đó có một cặp cá bóng tu lâu đời thành thần. Hai vị thần nầy đã linh, lại hiền từ, nhơn đức hay phù hộ dân làng.

Cậu thấy không, người trong làng mình phần nhiều có chữ, đất địa có "Mão quan" rõ ràng.

Trong khu rừng cấm trước chợ lại có cặp "cù" cũng tu lâu đời thành thần. Nhưng đó là hai vị thần nhỏ, tướng của thần cá bóng.

Thần Cù rất hung ác, tham lam...

À! Quên cái nầy, mấy ông nói nhỏ cho nghe rằng Thần Cù là cặp rắn, lớn mà ngắn, mồng đỏ, mỏ nhọn... Hễ năm nào dân làng không cúng hối lộ thì năm đó thế nào cũng bị tai họa. Cái chợ hồi trước còn lợp tranh, cứ vài năm lại cháy một lần. Đêm trước khi cháy chợ, dân làng nghe bên rừng tiếng gầm thét vang trời. Bởi vậy, hằng năm làng có lập đàn làm chay trước chợ, để tế Thần Cù và luôn tiện bổ thí cô hồn, các đảng 5.

Mấy ông lại thuật rằng có lần kia, một người câu xuồng, bỏ neo tại bến Trâu, núp dưới bóng một cây nhông. Chỗ ấy rậm rạp, đi thuyền trên sông không thấy được. Khi đương câu, anh ta thấy giữa dòng sông nổi lên một con rùa lớn bằng cái nia. Rùa ngó quanh quất rồi lặn xuống liền, nửa giờ sau, người đi câu được mục kích một cảnh tượng hết sức lạ lùng. Nơi mà con rùa hiện lên hồi nãy, thấy có khói từ dưới nước bay lên. Đó là khói hương trầm thơm ngây ngất, bay tản ra khắp mặt sông. Rồi từ từ nổi lên hai vị thần, một vị nam, một vị nữ, ngồi đối diện trước một bàn thạch. Hai vi thần nầy, đen hắc, đầu đội mão hình đuôi cá, xiêm y rực rỡ những vảy cá ngũ sắc, những vỏ ốc xa cừ. Xem kỹ lại thì thấy thần đương đánh cờ. Chừng đâu được tàn một điếu thuốc bỗng nghe vị nữ thần nói: "Ông nè, ở đây nghe như có hơi phàm". Vị nam thần bèn ngước lên, nhìn quanh, dừng mắt lại phía xuồng câu, nhìn chăm chỉ rồi châu mày, tỏ vẻ khó chịu. Người đi câu còn hoảng sợ thì cả thần và bàn thạch đều chìm một cách mau lẹ.

Một lát sau, nơi khúc sông ấy, máu trào lèn nhuộm đỏ khối nước và thây con rùa ban nãy nổi lình bình. Các ông nói đó là một vụ trừng phạt tên lính dọ đường không kỹ, để mắt tục dòm thấy cảnh thân mật của thần.

Tôi chận ông Ba lại nói: "Tích nầy tới đây tôi đã biết, người nào ở Tân uyên lại không rõ chuyện "Cặp Cá Bóng tu dưới chùa Ông" và chuyện "Cặp Cù gáy cháy chợ". Nhưng rồi làm sao nữa?

Ông Ba kể tiếp:

- Có một khi đó, đương câu, tôi nghe nó rị cần mạnh quá, tôi biết là cá lớn ăn. Cái thứ cá lớn thì không nên kéo lên liền: như vậy chỉ thêm đứt nhợ, gãy cần mà thôi. Tôi cho xuồng chạy theo sức lôi kéo của nó.

Nhưng nó mạnh quá, sợi nhợ căng thẳng muốn đứt ra, tôi phải vừa bơi phụ thêm, vừa hớp nước sông phun cho cá nó mệt. Chạy theo doi Hàn, thì con cá đó đuối sức, thả ngửa trên mặt nước. Con cá nó lớn gần bằng thằng nhỏ năm tuổi lận. Mà điều nầy kỳ quá cậu, nó cứ nhìn tôi, hai mắt nhấp nhái như người ta ra hiệu. Tôi phát sợ lên, bứt dây, rồi thả cho nó trôi đi. Nó mừng quýnh, ngó tôi lần chót rồi lặn mất.

Lúc về ngang xoáy nước, xuồng tôi khi không vùng lật úp. Tôi tưởng phen đó chết trôi rồi, vì chỗ nước vận, tài giỏi như rái cũng không lội nổi.

Nhưng lạ quá, tôi bi nước rút xuống, chìm mà không ngộp, và lại chìm đứng, chớ không đâm đầu xuống như người chết đuối.

Đáy sông không có bùn, không có cát, mà lót toàn bằng đá ong. Tôi chưa hết sảng sốt thì bỗng đâu một con cá he lớn như một con heo nái lội tới trước mặt, rồi... lạ chưa, nói bằng tiếng người rằng: "Chúa tôi sai mời tráng sĩ vào dinh". Dinh nào cà, tôi hỏi trong bụng như vậy, và càng hoảng sợ hơn nữa. Nhưng tôi cũng cứ đi theo cá he...

Làm sao mà tôi đi dưới nước không ngộp, cũng không bị nước cản, nhẹ nhàng, thong thả như đi trên đất liền? Tôi theo cá he vào một cái hang lớn, rộng cỡ mười người chun vô cũng lọt. Thôi tôi biết rồi, hang Thần Cá Bóng đây chớ gì.

Bốn bề hang đều cẩn đá xanh. Hang sáng lờ mờ, xanh xanh như đêm có trăng, sâu vô ước chừng khỏi chợ - quả thật lời truyền khẩu không sai, hang ăn sâu tới chùa Ông - trong ấy tôi thấy một khoảng rộng sáng gần như ban ngày.

Rõ ràng là một vương phủ. Dinh cất bằng đá cẩm thạch, cột chạm rồng cẩn ốc xà cừ, ngói bằng vảy đồi mồi, lâu năm lên nước đẹp chưa từng thấy.

Ngai của Thần Cá Bóng đặt ngay trước thềm bằng san hô và huyền ráp mối lại rất khéo léo.

Thần Cá Bóng ngự trên ngai, bên hữu có Thần Bà, bên tả một vi thần còn trẻ, đứng chớ không ngồi. Vị thần trẻ nầy trên môi mang một vết thương còn mới ràng ràng.

Trước sân, binh tôm, tướng cá hầu hạ đông không biết bao nhiêu mà kể. Còn hương trầm thì phưởng phất thơm, nhạc thần vẳng nghe đâu đó.

Tôi run sợ quỳ trước ngai thần, bỗng nghe thần phán: "Nầy! Người kia, ngươi có biết rằng tội lỗi ngươi chồng chất đầy dẫy không ? Kẻ hầu hạ của ta đã hao hớt nhiều, bao nhiêu binh tôm, tướng cá bị nhà ngươi câu gần hết. Ta đã tâu với Long Vương và đã được phép xử ngươi. Ta định bắt ngươi xuống đây mà trị tội, nhưng chưa kịp thì, may cho ngươi, hồi sớm đây con ta hóa cá đi du hồ, vướng phải lưỡi câu của ngươi, và được ngươi tha cho. Vậy, ơn nầy đền tội ấy, nhưng ta khiến ngươi từ bỏ cái nghề bất nhơn ấy đi".

Nếu ngày mai ngươi còn léo hánh trên sông nữa thì đừng có mong được về với vợ con.

Tôi vưng vưng dạ dạ không ngớt thì Thần tiếp: "Muốn nhà ngươi khỏi thiệt hại điều gì, ta ban cho ngươi một viên ngọc chan chan. Con chan chan sống không bao lâu, nên không mấy con có ngọc, mà hễ có thì quí lắm. Nhà ngươi không được bán, cũng không được khoe với ai. Để nó trong nhà làm của, tự nhiên làm ăn khá. Thôi cho nhà ngươi về.

Tôi lãnh lấy ngọc, cúi lạy tạ ơn Thần rồi theo cá ra khỏi động. Khi lên tới mặt nước thì xuồng tôi đã đậu sẵn tại bến Trâu, khô queo như mới đẩy xuống sông vậy.

Từ ngày ấy tôi bỏ nghề câu, xoay ra buôn bán. Mà quả thật như lời Thần đã dạy, bán món nào lời món nấy, không bao lâu mà tôi cất được một cái nhà ngói khá lớn. Còn con thì đứa nào đứa nấy cũng mập cùi cụi.

Một ngày kia, buồn quá, tôi xách cần ra bờ sông giựt lòng tong chơi. Chiều về, nghe trong mình bần thần rồi đau một trận đau vật tôi gần trót năm. Vợ con tôi nối tiếp nhau mà chết.

Cửa nhà, tôi bán sạch để chạy thuốc và lo việc tang ma. Còn hòn ngọc thì biến mất đi lúc nào không biết.

Nên chi bây giờ tôi chỉ đi câu cắm thôi. Bị một lần tởn tới già. Thứ cá rô, cá lóc nầy là cá ruộng, có phải của thần đâu mà sợ.

Tôi rợn người lên vì lạnh hay vì sợ? Bất giác tôi xách đèn rọi vào mặt ông Ba. Qua những giọt mưa chảy rười rượi theo vành nón trũm, tôi thấy miếng ông già gặp Thần Cá Bóng lẩm bẩm như nói thêm điều gì với ai.


Chú thích:
[1]    Thuở
[2]    Tôi
3    Tiền kẽm hồi Tiền Pháp thuộc
4    Ông đây là ông Bổn Đâu Công, tức Mã Viện.
5    Tục làm chay chợ vẫn còn, cho tới năm 1945 (lời tác giả)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
CHIẾC KHĂN KỶ NIỆM

Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng
(Thu dạ lữ hoài ngâm)


Không biết đi đâu nữa, Bích dừng chân lại nơi bến xe buýt để "xem chiếu bóng". Vâng, chàng thấy rằng cảnh bến xe dễ mê như một cuốn phim nhiều động tác.

Ở Sài gòn mà không có đi xe buýt vào giờ tan sở chiều thì quả thật không đáng mặt là dân Sài gòn. Giờ tan sở trưa, nhiều công nhân nhà xa nên ở lại trung tâm thành phố, còn chiều thì chim phải bay về tổ ấm vậy. Thế nên ở đó xảy ra những trận xung kích những chiếc xe cuối ngày đi về các ngoại ô xa, ngay từ lúc các xe nầy chưa đỗ bến lận. Lúc xe rà thắng, chạy rề rề thì thiên hạ đã nhào lên hãm thành, xáp lá cà với các hành khách sắp sửa xuống xe. Cửa xe hẹp quá, người lên không trôi mà người xuống cũng không lọt, thành thử chiếc xe giống như một con rắn nhỏ mà trợn trạo nuốt một con mồi quá to, bị nghẹn cứng nơi cổ họng. Các con mồi la hét inh tai, thật là vui đối với những kẻ không dùng lối xê dịch nầy, chỉ đứng đó mà ngắm với đôi mắt bàng quan như Bích.

Không gì vui mắt bằng cảnh một cô đã bước tới đất rồi mà đi không được, y như bị đá nam châm hút lại: vạt áo sau của cô ta trải lên bàn đạp và bị đến vài mươi bàn chơn đè lên đó, cô ta vùng vẫy như một con ruồi mắc lưới nhện và như con ruồi, vẫn không thoát được. Những chiếc nón lá vô phước cũng làm vui trò, hễ nó mà rủi ro rơi khỏi đầu người đội là bị ép kêu rôm rốp như bánh tráng nướng và dẹp lại, mỏng như cây quạt xòe. Cảnh trên xe còn vui hơn. Áo rằn ri lập thể đứng gần áo bà ba đứt nút, săn-đan há miếng đạp lên giày da tây bóng lộn; thanh niên ngồi, những cụ già thì phải đứng, trai cao bồi luôn luôn tìm cách chen vào giữa các thiếu nữ hiền lành, và những chiếc nón lá bề bộn và choán chỗ cứ bị người ta rủa mãi.

Bích muốn nhảy lên đi một đoạn đường để được vui thêm, vì chàng biết trên xe còn "lắm điều hay". Chàng lại rắn mắc nên hễ đi xe vào giờ đó là chàng thích lắm. Những lúc xe ngừng lại các trạm, nhả hành khách xuống không kịp, các hành khách ấy hay la lên: "Khoan, khoan, khoan chạy!" Chàng cũng la lên rằng: "Đừng có khoan, lủng xe của người ta bây giờ". Cứ đùa giỡn như vậy mãi cho tới ngoại ô, trạm chót, thì trở về, bằng phương tiện nào cũng được, là qua được một buổi chiều buồn.

Bỗng chàng thấy Tấn ở đâu chạy đến, hớt hơ, hớt hãi, tay ôm kè kè một bọc bằng giấy nhựt trình.

- Đi đâu mà vội mà vàng Chàng hỏi giỡn.

- Trễ rồi, trễ rồi, họ sắp đóng cửa.

Vừa nói, Tấn vừa nhảy vội lên chiếc xe Bình tây đang giựt chạy. Gói giấy nhựt trình rơi xuống đường nhựa, bánh ngọt trong ấy văng ra tứ tung. Bích ngạc nhiên hết sức, vội chụp lấy cái gói rách, và lượm mớ bánh rơi bỏ vào đó, đoạn cũng nhảy lên xe theo bạn chàng.

Cửa xe tự động đóng lại trên người chàng, Tấn phải đưa lưng ra mà đỡ như Hùng Hượt Hải đỡ tấm bửng đá mà Tùy Văn Đế cho hạ xuống để giết anh hùng sau cuộc thí võ, Bích mới khỏi bi kẹt.

Bích thở hổn hển và có vẻ tư lự lắm. "Lạ, chàng nghĩ, thằng Tấn nầy xưa nay ăn uống sang lắm, nay nó mắc chứng gì mà lại mua toàn bánh cắc chú thứ hạng bét như vầy cà?" Giây lát bớt mệt, chàng hỏi bạn:

- Đi đâu vậy?

- Còn mầy đi đâu?

- Đi theo mầy.

Tấn tỏ vẻ không bằng lòng, khiến Bích sanh nghi. Chàng đoán rằng nó có nhơn tình mà cô nhơn tình ấy là một ma-ri-sến nên nó biếu toàn bánh cắc chú và mới giấu giếm bạn bè. Tấn nói, sau mấy phút im lặng:

- Theo làm chi, mầy nên xuống tại trạm ngả sáu Quẹt-Đon.

- Không.

- Ai cho phép mầy đi theo tao?

- Ngộ chưa, tôi có tiền, tôi lấy vé, tôi đi đâu tùy thích tôi chớ.

- Mà đừng có theo tao.

- Bằng cớ nào chỉ rằng tao theo mầy?

Biết bạn là đứa nói liều và làm bướng, Tấn đành làm thinh, nhưng hắn tức lắm! Bích càng sanh nghi hơn, nên càng muốn theo sát hơn.

Ngã Bảy, Máy Đá, Nhà thương Chợ Rẫy. Tấn xuống nơi đây.

"À, Bích nghĩ, thì ra nó đi thăm người bịnh. Có lẽ đó là một người bà con nghèo, nên nó xấu hổ, không muốn cho ai biết cả".

Bích bỗng nghe bạn chàng đáng khinh quá. Chàng không dè mà Tấn có mặc cảm như vậy.

Tấn đi riết xuống trại 7 là trại bố thí. Trước khi bước vào trại, hắn day lại nhìn bạn rồi thở dài.

Bích đoán rằng Tấn mới vào đây lần đầu, vì hắn đi dài theo giữa hai dãy giường để tìm kiếm.

- Đây rồi, hắn nói to lên, sau một hồi lục lạo.

Cả hai đều dừng bước lại trước một cái giường kia. Con bịnh là một người đàn ông trạc năm mươi, để búi tóc, có vẻ là nông dân. Y đang nằm thiêm thiếp mà rên nho nhỏ. Nước da y vàng khè nhưng mũi y thì đỏ như trái hồng tươi chín. Tấn rờ trán người bịnh. Y mở mắt ra rồi nói:

- À, cậu ba ! Sao cậu hay tôi bịnh mà tới thăm?

- Nghe xóm nói. Tôi tìm ông để nhờ ông vét mương. Xóm họ cho biết rằng ông bịnh và vào đây. Ông đau làm sao?

- Quan Thầy nói tôi lớn tim, lớn gan, lớn đủ thứ hết.

- Có lớn lá mía không ?

- À, có.

Không hiểu sao mà cái gì cũng lớn hết.

Hai người thanh niên thì hiểu. Những dấu hiệu đó là dấu hiệu bịnh... rượu và bịnh sốt rét rừng.

- Nầy có bánh, có táo, có xí mụi, ăn đi, Tấn trao gói cho con bịnh và nói như vậy.

- Cám ơn cậu. Quan Thầy cấm ăn cơm, đói lắm !

- Có đỡ không ?

- Có. Nhưng tôi nghe trong người tôi, tôi biết rằng thế nào tôi cũng chết.

Y nói điều đó bằng giọng bình thản, không hoảng hốt, cũng chẳng tủi thân.

- Thôi, rán nằm đây rồi sẽ khỏi chớ gì, Tấn an ủi.

- Không, tôi chắc tôi chết cậu à!

Tấn thở dài mà làm thinh. Hắn đứng nán một lát rồi ra về, hứa sẽ trở lại. Ra tới sân, Bích hỏi Tấn:

- Bà con làm sao?

Tấn làm thinh giây lâu rồi đáp, đáp không ăn thua gì với câu hỏi cả:

- Hắn tên là bảy Rựa.

Chỉ có thế thôi. Luôn nửa tháng, không ai thấy bóng Tấn nơi nào cả. Bích có tìm Tấn mấy lần, nhưng tìm không gặp.

Nhưng một hôm, Tấn lại đích thân đến rủ Bích cùng đi. Một nhiếp ảnh viên theo sau anh con trai kỳ khôi nầy. Bích ngỡ họ đi chụp ảnh lạ nào. Nhưng lên tắc-xi, chàng mới hay là Tấn vào nhà thương.

Người bịnh hôm ấy hư lắm rồi. Hai chơn y thũng, sưng to lên gần bằng hai chiếc gối. Y nằm đó, hả mang ra mà thở. Thấy khách, y chỉ nhìn mà không nói được, mắt rơm rớm lệ. Người thợ nhiếp ảnh bấm nút, đèn cháy lên trong nửa giây đồng hồ, soi sáng gương mặt hấp hối kia một cách bi thảm, ghê rợn như lửa địa ngục rọi vào một hồn ma mới tới xuống Diêm đài.

Hôm sau, Tấn lại rủ Bích đi đưa đám ma người chết. Hòm chưn ngang, bôi đất sét vàng. Từ nhà xác vô tới đất chùa Phước Hiền, vỏn vẹn chỉ có hai thanh niên nầy theo sau tám anh phu đòn, họ khiêng hòm mà chạy như bay. Thế là hết chuyện. Người bà con nghèo của Tấn đã được vùi nong một nấm, rồi Tấn sẽ quên y đi, sau hai mươi bốn tiếng đồng hồ.

Nhưng sau đó, một tháng qua rồi mà Tấn vẫn biệt dạng, khiến Bích lấy làm kỳ lắm. Coi bộ thì hắn không thương người bà con nghèo ấy bao nhiêu, chỉ trông cái đám ma lạnh lẽo ấy thì biết, thì sao hắn lại không nguôi, và như là trốn bởi đang buồn vì tang khó?

Bích tìm thăm bạn. Tấn tiếp khách, lặng lẽ như một ông cụ, lại mở đầu bằng câu chuyện triết lý:

- Bận bịu lắm với tình cảm, với dĩ vãng cũng khổ. Nhưng nếu dĩ vãng tan biến, thì cũng buồn.

Tấn vừa nói vừa kéo hộc tủ lấy ra một bức ảnh, ảnh ông bảy Rựa hấp hối trên giường bịnh.

- Hắn tên là bảy Rựa...

- Biết rồi.

- Tao lớn lên là thấy hắn có mặt trong làng rồi. Không vợ con, không họ hàng thân thích, hắn ăn ở chợ, ngủ ở đình. Ai thuê gì cũng làm, chôn ăn mày, đào giếng, đốn củi, tối ngày chiếc rựa trên vai nên mới mang cái tục danh ấy!

- Té ra không có bà con với mầy?

- Không. Tóm lại, con người ấy không có gì hay ho đối với tao cả.

- Vậy, sao mầy lại...

- Hắn thuộc vào chân trời quen thuộc của tao thuở tao còn bé. Tao thuộc gương mặt hắn như thuộc lòng các gốc cây trong làng. Tao phải nói rõ cho mầy nghe là làng tao tiêu thổ trong thời kháng chiến, cháy không còn một gốc cây. Khi thái bình được vãn hồi, năm 1954, tao về làng thì thấy nó minh mông, trống trải như một sa mạc. Làng tao đã bị xóa, cả trong ký ức của con người nữa. Kể từ ngày ấy tao bỗng thấy những người đồng hương sống sót và trôi giạt xuống đây, quí báu không biết bao nhiêu. Họ gợi được hình ảnh của quê tao, một vùng đất mà tao rất thương yêu. Rồi họ kế tiếp nhau mà chết hết, chỉ còn lão bảy Rựa nầy thôi; lão ta giống một lọ sứ cổ Giang tây, quí chỉ vì bao nhiêu lọ khác đều bể hết, chớ cái đẹp của chiếc lọ ấy không hơn hồi nó mới được chế tạo ra đâu. Nhưng hồi đó, còn hằng vạn chiếc, nó có giá trị gì?

- Té ra...

- Ừ, hắn là chiếc khăn mu-xoa của một giai nữ mà tao cất để làm kỷ niệm một mối tình. Nay khăn rách...

Bích thấy mũi Tấn và mắt Tấn đỏ cả lên.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
BÁM NÍU

Trời hết mưa đã hơn nửa tháng rồi và nắng tháng chín gay gắt như là nắng hè. Thế mà trưa hôm ấy lão Nghiệm đi khắp xóm và hô: "Sửa soạn để đi hứng, bà con ơi".

"Hứng" đây là hứng cá, một động từ địa phương, đặc biệt của miền đông Nam Việt. Ở miền đông Nam Việt, nhứt là trong tỉnh Biên hòa, qua mùa nước lũ, con sông Đồng nai ứa nước nguồn, bờ sông bành trướng ra, xâm lấn đồng ruộng trong xa, cá sông thích lên để đẻ vào mùa ấy, có lẽ trên đó yên ổn hơn ở dưới lòng sông là nước lụt chảy mạnh ghê hồn.

Đẻ xong, chúng bỏ con, bỏ trứng lại, hồi cư để sống đời dọc ngang trong dòng sông rộng. Cá con tự túc trên bờ và khi mùa mưa dứt thì chúng đã lớn bằng đầu đũa rồi. Không biết do năng khiếu nào dìu dắt mà hễ những đám mưa cuối mùa đổ xuống là chúng áp nhau mà "chạy". Chạy tức là đổ xô nhau theo những con đường nước từ đồng ruộng cao chảy xuống các rạch, các sông, để tìm về những khoảng sinh tồn phong phú thực phẩm hơn, y như cha mẹ của chúng.

Dân miền đông, vào những đám mưa cuối mùa ấy, rủ nhau đặt những giỏ mây hoặc giỏ tre đan thật khít mặt, tại các "hiểm đạo" như Quan Công phục Huê dung đạo, và hứng bắt tất cả cá con đi tìm sanh lộ ấy. Họ đặt tên chung cho cá ấy (thuộc đủ loại cá sông ngọt) là cá lạc mạ. Mạ, có lẽ là tiếng "mẹ" nói trại bẹ ra, chớ bấy giờ lúa đã lớn cây rồi, còn đâu mạ nữa để mà lạc. Cá lạc mạ hỗn tạp và nhỏ quá, không có giá trị thương mãi nhưng lại là món ăn rất thích khẩu đối với nông dân nghèo. Mỗi mùa, một nông dân trong một làng quê hứng có cả thúng giạ cá lạc mạ, tức là hằng mấy trăm ngàn con. Họ kho với muối và mỡ, để dành ăn hơn chín mười ngày.

Lão Nghiêm cởi trần tư niên và người ta có cảm giác rằng da lão dày lắm vì lão chịu đựng phong sương đã hơn bảy mươi năm rồi, chỉ bằng loại y phục thiên nhiên ấy thôi. Lão có vó một tộc trưởng của thời xa xưa, rất nhiều kinh nghiệm sống và nhiều khả năng chỉ đạo như một con thú đầu đàn. Nên chi cả xóm, cả làng đều nghe theo lão, mặc dầu không có dấu hiệu trời sắp đổ trận mưa cuối cùng trong mùa, trận mưa cá chạy, trận mưa rơi xuống sau một thời gian khô hạn gạt gẫm vài tuần.

Họ rút từ trên giàn bếp xuống, những chiếc giỏ rất ít dùng ấy rồi ra đi ngay để giành đường nước. Vâng, những đường nước, trong một vùng, chỉ có hạn thôi, mà người hứng cá thì đông, phải tranh nhau mới được một đường, vì theo tục lệ cổ truyền, không ai được phép "đặt trên dòng", khi có người khác đã đặt giỏ họ rồi trên một đường nước nào đó. Nếu không có lệ nầy thì mạnh ai nấy tranh giành, đặt trên người khác, ở một đường nước chảy sẽ có cả ba bốn người giành hứng, làm sao tránh khỏi cãi vã, xô xát, đến xảy ra lưu huyết như chơi.

° ° °

Nếu cá con mới nở có năng khiếu đoán biết đám mưa nào là đám cuối mùa để mà chạy xuống sông, kẻo tháng tới, ruộng khô, chết cháy cả lũ, thì lão Nghiệm, y như cá, cũng đoán được đúng như vậy đó mà rủ thiên hạ đi hứng.

Quả thật xế lại trời mưa như cầm chĩn mà đổ thì tới tối giỏ ai cũng đầy nhóc cá lạc mạ.

Đêm nay, nhà nhà đều vui. Nhà nào cũng kho với mỡ một mớ cá con ấy để cuốn bánh tráng rau sống, chấm nước mắm ớt nhậu chơi, còn dư lại bao nhiêu họ mới kho mặn.

Cá lạc mạ non mềm nên ngon khôn tả và dân nhậu đều thỏa thích đêm đó. Dân quê miền đông họ nghèo, không có tiền mua thịt, mà cá dưới sông bị họ hủy diệt bừa bãi như thế, hằng trăm triệu con mỗi năm, hủy diệt hồi chúng còn là mầm non thôi nên chi rồi họ lại phải nhịn thèm, vì đâu còn cá để mà câu? Nhịn thèm đến cuối mùa mưa khác, chỉ ăn mắm muối qua loa vậy thôi, sau cái đêm linh đình nhậu nhẹt đó.

Tuy nói thế chớ thỉnh thoảng họ cũng kiếm được cá. Đó là vào tiết tháng giêng, tháng hai. Cũng lại lão Nghiệm nữa. Vì sáng hôm ấy, lão ta lại kêu gọi người trong xóm đi tát. "Tát" là danh từ địa phương thứ nhì của miền đông về nghề cá. Tát là tát các vũng trong rừng sâu, bấy giờ đã cạn gần hết nước, sau năm tháng nắng chan chan.

Xóm Gò Rái của lão Nghiệm là một trong năm bảy xóm hẻo lánh của làng Tân định. Đó là một làng khô cằn, một mặt nằm ven sông Đồng nai, nhưng phần lớn đất đai lại ăn sâu vào phía trong rừng, từ đầu thôn ở bờ sông vô đến cuối thôn trong rừng, xa đến mười mấy cây số. Xóm chỉ đông có mười sáu nóc gia, cỡ chiến tranh đi qua đó, hủy diệt hết xóm, cũng không phải là một tấn thảm kịch lớn. Nhưng xóm ấy lại rất cần thiết cho sự tồn tại của làng nầy, nó gồm tất cả các xóm nhỏ mới thành làng được - cũng y như làng Tân định nầy cũng rất cần thiết để thành nước Việt nam, mặc dầu nó nghèo khổ, không làm lợi trông thấy cho nước nhà và cỡ tang thương có lướt qua đó, cả làng sụp đổ hết, có vẻ cũng không sao.

Tát vũng là công việc tập thể cần ít lắm là ba người mới làm cạn thật sự một cái vũng khá lớn và khá sâu trong khu rừng nào đó, sau làng. Nhóm của lão Nghiệm gồm lão, một góa phụ bốn mươi và chú bé Ất, mười bốn tuổi. Chú bé nầy là con của một gia đình sắp sửa bỏ làng, di cư đi nơi khác, vì ở đây sanh sống khó khăn không thể tưởng tượng được. Cha mẹ nó chỉ đợi cúng giỗ ông cố nội nó, vào cuối tháng hai, là bỏ cái chòi tranh gia truyền độc nhứt để di cư.

Lão Nghiệm biết ý cá, biết ý trời mà cũng thuộc nằm lòng các ao vũng trong rừng và thuộc nằm lòng mấy con đường mòn đưa vào các ao vũng ấy. Lão lại biết cả thú rừng thích ao nào mà tránh và khuyên dân làng tránh, vì ao nào thú ưa đến uống nước là ao đó có cọp rình. Họ lên đường hồi cỏ còn ướt sương, thế mà vào tới trong ấy, mặt trời đã lên cao được bốn năm sào rồi.

Vũng mà lão Nghiệm chọn, có tên hẵn hòi. Đó là vũng Mẹ con. Ai đặt tên cho cái nơi mà một năm chưa dễ có người làng đến chơi tới hơn một lần? Có lẽ đó là bọn thợ rừng, họ đặt để làm những cái mốc không gian trên bước đường xuyên lâm của họ. Vũng Mẹ con, như tên nó đã chỉ, gồm hai vũng nằm cách nhau độ ba thước, một vũng lớn và một vũng nhỏ. Lão Nghiệm khôn quỉ, chọn vũng này để có chỗ mà chứa nước của vũng có cá. Các vũng khác, nước tát ra, lại chảy vào, vì đất chung quanh luôn luôn cao hơn, việc tát vũng thành ra một khổ sai tốn sức lao động không thể tưởng tượng được.

Họ làm việc theo lối dây chuyền: ông tộc trưởng xuống tận rún vũng, múc vũng nước bằng gàu rồi mang trao chị góa phụ đứng cách đó độ hai mươi thước, chị nầy lại chuyền gàu cho thằng bé để nó đem nước đổ xuống ao con. Vũng Mẹ, lúc còn trinh, đẹp vô cùng. Nước rừng, nằm yên hằng năm, lắng trong như mắt mèo. Dòm xuống đáy vũng thấy rõ cá lượn quanh những thủy thảo hình dung cổ quái, có cây trông giống như cội tùng già, có cây giống như cây bông cúc, có cây lại mường tượng như một con rít khổng lồ.

Lão Nghiệm đứng nơi triền vũng do dự rất lâu, không nỡ để chân xuống đó mà phá đám sự yên ổn của loài thủy tộc ẩn dật nầy, mà làm vẩn đục khối nước trong leo lẻo, mà đạp gãy bao nhiêu thủy thảo đẹp như cây cảnh non bộ của nhà giàu. Nhưng mà cái ăn tồi tàn cứ nói lên tiếng nói ưu tiên của nó và ra lịnh cho lão phá hoại cảnh thần tiên thu hẹp này.

Xa xa, nghe có tiếng người hú nhau, có lẽ nhóm nào đó đi lạc đường, tìm nhau giữa rừng sâu. Ở đây, chỉ nghe tiếng nước của vũng Mẹ ùa vào gàu và giây lát sau, tiếng nước từ gàu trút xuống vũng Con. Họ lặng lẽ làm việc, dân của cái xóm thưa người nầy gần như là hóa câm hết thảy vì họ không có nhiều dịp lắm để sử dụng cái năng khiếu tốt đẹp nhứt của loài người là ngôn ngữ. Cho đến thằng Ất mà cũng ngậm miệng, một sự lạ ít thấy vì trẻ con ham nói như ham ăn.

Đây là chuyến đi tát đầu tay của Ất, năm kia nó còn bé quá, năm ngoái nó đau ốm trong mùa tát và chỉ mới được tham dự lần thứ nhứt đây thôi, vào một công việc kiếm ăn của dân làng.

Thình lình nó la lên:

- Cá mè! Trời ơi sao lạ kỳ như vầy?

Không ai buồn đáp câu hỏi của nó mà người xa lạ thoạt nghe không thể nào hiểu được.

Chị đàn bà góa bận khiển trách lão Nghiệm:

- Ông múc nước phải coi chừng chớ, để cá chun vô gàu, thì lát nữa phải tát cái vũng Con trở lại để mót cá sao?

Lão Nghiệm giận mình sơ sót một cách không xứng đáng với tài năng của kẻ đầu đàn, nên làm thinh để nuốt hận.

Thẳng Ất lặp lại câu hỏi, không hỏi thẳng người nào, nói to lên như chỉ nói với nó thôi:

- Sao lại cá mè?

Chị đàn bà góa hỏi lại:

- Chớ mầy tưởng cá gì?

- Tui cứ tưởng ta tát cá đồng, nghĩa là cá trê, cá rô, cá lóc. Những cá sông dường như đã bị hứng hết lúc còn là cá lạc mạ kia mà, thím Bảy?

- Không. Không phải con cá nào cũng "chạy" hết trong đám mưa cuối mùa đâu. Có một mớ cố lội ngược dòng để ở lại, thím Bảy giải thích.

- Trời, sao nó ngu quá vậy? Lội ngược dòng đã khổ thân không biết bao nhiêu, lại không được hưởng cái vui chung hội mà chạy với người ta. Tệ hơn nữa, ở lại trong ao tù, chắc phải thiếu ăn và rốt cuộc có thể chết cháy khi ao vũng cạn hết.

Lão Nghiệm đã mỏi tay, mỏi lưng, đứng thẳng lên để nghỉ. Lão nhìn vào rừng trước mặt lão, như không thèm nghe hai người đồng đội nói chuyện với nhau. Chị đàn bà góa bí lối không biết đáp thế nào với thằng bé, mà có lẽ chị ta cũng nghĩ như nó nên cũng đang thắc mắc thầm. Nhưng chị ta không hỏi, vì thằng Ất đã hỏi rồi. Không có người đáp nghĩa là không ai biết đáp làm sao, còn hỏi nữa làm gì! Vả lại dân quê bận sinh kế vất vả quá, không dám thắc mắc nhiều và lâu về bài toán vô ích nào khác hơn là bài toán "ăn".

Lão Nghiệm nhìn rừng lâu lắm, rồi vụt thình lình trả lời câu hỏi của thằng Ất, trong khi thằng bé ngỡ nó đành phải bỏ trôi băn khoăn nầy như bao nhiêu băn khoăn khác của tuổi thơ mà không ai buồn giải đáp dùm nó, trong cái thế giới rừng rú chỉ gồm mười sáu nóc gia mà ai cũng lo chạy gạo trối chết.

- Chắc mớ cá lạc mạ ngu nầy không ngu lắm đâu. Sở dĩ chúng nó không "chạy" vì chúng nó thương yêu cái nơi chôn nhao cắt rún của chúng, cố lội ngược dòng, bám níu để ở lại nơi mà chúng nó chào đời.

- Ở lại để làm gì?

- Không biết để làm gì! Chỉ thương là ở lại thôi!

- Đói chết.

- Đói cũng được, miễn toại lòng thương.

Không ai nói gì nữa và cả ba đều nhìn vào rừng, sau khi nói chuyện cá với nước. Một hồi lâu, lão Nghiệm toan khom lưng múc nước trở lại, nhưng lão lại thôi, nói tiếp:

- Thuở tui còn nhỏ bằng thằng Ất, ông bà tui cũng định bỏ làng đi kiếm ăn nơi khác. Nhưng rồi họ không nỡ đi. Nhiều người khác cũng tính như vậy mà rồi rốt cuộc ai ở đâu cứ ở đó. Họ bám níu vào mảnh đất cằn cỗi nầy mà họ rất cực khổ, không biết để làm gì. Chắc họ thương làng quá, đi không đành. Mà quả có như vậy, bà con ơi! Cái ngày mà ông nội tui quyết định ở lại, tui mừng không biết bao nhiêu, tui chạy đi báo tin lành với các bụi tre ở đầu xóm, với con suối cạnh cuối thôn, và cả ngày ấy, không có gì ăn, tui cũng nghe no tới cổ vì sung sướng

- Tui sắp đi, tui cũng buồn quá! thằng Ất than, nhưng không biết làm sao!

Chị đàn bà góa nãy giờ chưa có ý kiến nào hay, xui dại thằng bé:

- Sao mầy không trốn ở lại?

- Biết có được hay không?

- Dễ ợt. Trốn đi thì ngại đường xa nước lạ chớ trốn ở lại với người cũ, ai bỏ đói mầy mà mầy lo.

- Tui thương đất nầy quá!

- Bám níu, ông bà ta đã bám níu, tao đã bám níu mới còn xóm nầy, làng nầy. Còn làng mới còn nước mình, lão Nghiệm nói.

- Làng nầy nghèo quá, ông ơi! chị đàn bà góa than.

- Ừ, nghèo lắm và ta khổ lắm. Nhưng làng nầy không có không được. Một nước phải gồm rất nhiều làng, làng nghèo, làng giàu, làng nghèo cũng cần lắm chớ bà con!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.11.2020 19:11:26 bởi Ct.Ly>
Đôi bạn mắc hoa vông


Đêm rằm tháng bảy này, trời đã không mưa Ngâu như thường năm mà lại còn nóng bức khó chịu.tuy thế, con đường Hòa Hưng vẫn vắng hoe: ở ngoại ô xa, người ta ngủ sớm như dưới tỉnh.

Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy về phía khám đường. Như giữa truông rừng mà ánh đèn pha hay đuổi thú, ở đây, năm bảy con vật cũng phát nhảy vào lề cỏ.

Đó là những con chó đi hứng mát ngoài đường. Chúng tùng tam tụ ngũ nơi đó để tìm bạn, để yêu đương, để kể lể cho nhau nghe những câu chuyện chó của loài người mà chúng được mục kích, để cãi nhau, tranh nhau một nhơn tình và rất thường khi xâu xé nhau.

Thật là rậm rật như chó tháng bảy!

Khi ánh đèn bật lên thì trên màn bạc tình cờ ấy, hiện ra nhiều trò chó má và khúc phim ngắn kia thật là kém mỹ tục thuần phong.

Từng cặp một, chúng thơ thẩn dưới ánh trăng mờ, chơi vơi trong nguồn ân bể ái. Lại có những anh chàng bị hất hủi, đứng bơ vơ tiu nghỉu; có những anh chàng đang lẽo đẽo theo một bóng hồng; có những cặp nhân tình như giận nhau, đứng cùng nhau mà mỗi người đang nhìn một ngả.

Lạ lắm là trong loài giống này, cái thiếu mà đực lại thừa. Cho nên đây đó vài trận đánh nổi lên, ai cũng cả quyết tranh nhau người ngọc.

Dạ khách là dân tứ chiếng: chó ta, mực, vện, phèn chiếm đa số, nhưng cũng có những béc-giê lai, kiêu hãnh nhưng quả không hùng dũng chút nào, những con chó vá, lai giống tám mươi đời vương, bé loắt choắt mà cứ làm bộ oai. Những con chó tây chánh hiệu mà me tây nào đó đã bỏ lại khi lui về vườn để hoàn lương, ốm tong teo vì thiếu thịt bò, bâng khuâng như nhớ thời oanh liệt.

Ở đây không phân chia giai cấp: chó ghẻ cũng lắm khi may mắn lọt vào mắt xanh của cô nàng, chó rụng lông vẫn ngồi trò chuyện được với chó xù, và cả con chó thọt cũng có bạn.
Những anh chàng gặp đêm xui xẻo chia nhau đi từng nhà mà rủ ren. trong đó còn nhiều cô nàng khuê môn bất xuất: chủ chúng nó không muốn chó họ đùm đề con dại, càng không muốn chó họ trao thân một cách phiêu lưu để rồi đẻ ra những tạp giống mà họ không thích.
Những cô nàng kín cổng cao tường này, đẹp thì không đẹp, nhưng chúng có sức quyến rũ của trái cấm. Thế nên nhiều anh chàng ràng mãi trước ngõ mấy nhà khép cửa phòng thu kia.

Ôi chao là khổ cho các nhà vô phước này. Bên ngoài chàng kêu chàng hú, bên trong nàng hứ nàng hé suốt đêm.

Thật là rậm rật như chó tháng bảy!

Cái nhà khổ hơn hết là hiệu may chức Nữ “chuyên may y phục đàn bà” như tấm bảng trước đó đã nêu lên.

Hiệu may có che cái thảo bạt phía trước. Thảo bạt đóng bằng cửa song, trong ngoài thấy nhau được. Cổng không kín, tường không cao, bọn nó dễ trao lời nhau và cứ xấn vấn trước nhà đó mà rậm rật.

Cô Tư, cô chủ, ban đầu còn la lấy lệ, mãi sau phải lấy củi phang ra bên ngoài và quất con Ma-lên hết mấy roi.
Nhưng chứng nào tật nấy, bọn này cứ nội công ngoại kích, khó chịu quá đi thôi.
Cô Tư đành chịu thua, đi lại giường nằm đọc Liêu Trai để quên chúng nó. Cô tìm dấu đã đánh trên lề tờ sách hồi nãy và đọc thấy con ma ấy đang lên trên lầu. Cô bỗng sực nhớ đến tên cho chó của mình, nên mỉm cười.

Con Ma-lên của cô không phải là ma, cũng không leo lên đâu cả. Đó là tiếng Pháp-me-tây để nói Ma-Đơ-Lên (Madeleine).
Nguyên năm trước, ở xóm có một con mẹ, vợ săn-đá, khách hàng khó chịu nhứt của cô; con mẻ tự xưng là Ma-Lên.

Cô Tư rất không ưa con mẹ ấy, nên đặt tên con chó như thế cho bõ ghét.

Nhưng Ma-Lên bốn cẳng là bạn thân nhứt của cô tư. Tết năm ngoái cô về quê thấy nhà bên cạnh nhà ông ngoại cô, người ta toan đem cả một ổ chó con trấn nước cho chết. Động lòng thương, cô xin con chó tốt nhứt để nuôi.

Không phải chỉ thương chó chết đuối mà thôi đâu, cô thương vì thấy số phận con chó hơi từa tựa số phận cô ở cái chỗ bị người đời hất hủi một cách bất công.

Ở nhà quê, chó tháng giêng hay hóa dại, vì thời tiết nóng quá. Nhơn tháng ấy là tháng hoa vông trổ, người ta lầm lẫn sự trùng phùng ấy với nguyên nhơn bệnh dại, nên gọi bệnh ấy là chứng mắc hoa-vông. chó lợn thì họ còn để sống vì còn cần, chớ chó mới đẻ là họ trấn nước chết hết kẻo chúng nó mắc hoa-vông mà khốn!

Cô Tư năm đó bốn mươi ba tuổi, tuổi Dần. chỉ vì cái tuổi Dần báo hại ấy mà trai đời xa lánh cô, không sợ cô mắc hoa-vông mà sợ cô sát chồng, như trong sách nói.Thuở còn trẻ, ở làng cô cũng được nhiều người coi mắt. Nhưng không đám nào đi tới nữa cả, sau vụ coi thầy, coi tuổi.

Cô tư không đẹp, nhưng có duyên, có giáo dục lại có của. Thế mà cô phải chịu nhìn năm tháng trôi đi, nhìn tuổi tác cô chồng chất lên mãi trong cảnh cô độc lẻ loi.

Cuộc kháng chiến đã đưa cô trôi nổi lên Sài gòn mấy năm nay và cô càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết giữa đô thị đông đúc này.

Người con gái già, khi qua khỏi tuổi khó khăn bốn mươi, bỗng nghe thân thể và lòng bình thản lại. Cái rạo rực tuổi thơ chỉ còn là một ký ức xa xôi. Tuy nhiên bình thản không có nghĩa là vui vẻ được.
Nếu không có Ma-Lên làm bạn, không rõ Cô Tư sẽ buồn đến bực nào. Ma-Lên sạch sẽ, ngoan ngoãn, Ma-Lên trìu mến chủ, ít đi đâu.
Nhưng nó là con gái đang thì, lại không hấp thụ được cái giáo dục tiết chế của con gái loài người, nên nó bắt đầu để cho xác thịt làm chủ nó.

Cô Tư đọc tới chỗ chàng thư sinh vừa gác bút ngước lên thì thấy cô gái áo lam đứng trước mặt mình mà mỉm cười, thì bỗng nghe một tiếng “cảng”, con Ma-Lên đã đánh ngã lọ trầu bà để trên bàn gần cửa song.

Cô tức lắm, cúi xuống đất lượm chiếc guốc mà chọi nó. Ma-Lên hoảng sợ, chạy vô riu ríu nằm dưới chân giường.
Chủ nó nghiêm sắc mặt mà hỏi xẵng:
- Vậy đó hả?

Chắc Ma-Lên chỉ hiểu một phần lời chủ nó thôi, phần trách mắng tội đánh bể cái lọ. Phần kia, nó làm sao nhận thức được lý do chủ cấm đoán nó đi ra ngoài để yêu đương.

Chính chủ nó cũng còn chưa hiểu. Nói đúng ra, Cô Tư vẫn hiểu nhưng không muốn thú nhận.

Những người xấu bụng, hay ganh tỵ trước hạnh phúc của kẻ khác. Cô Tư là người tốt. Nhưng rủi thay, cô lại là gái già. Thành ra cô vẫn xấu một chút xíu về chỗ đó. Trước kia, mỗi lần trang bạn đi lấy chồng, cô bỗng thấy hết thương người bạn đó. Lắm khi đâm ra ghét họ, và thình lình tìm được những lỗi to lỗi nhỏ của họ lu bù.

Lâu rồi, cô quả không còn ganh với ai, vì bạn hữu cô đã thành bà nội, bà ngoại hết cả rồi. Nhưng con Ma-Lên đã đến trong đời cô. Cái ngày mà nó đi song song với con chó Mốc trước nhà, cô bỗng ngậm ngùi nhớ lại tuổi xuân của mình, rồi như trẻ trở lại, cô cả quyết giữ nó, không cho nó “bị hoen ố”. Phải, cô xem cái việc nó yêu đương là hoen ố thân nó.

Mắng Ma-Lên xong, Cô Tư lại tiếp tục đọc sách. Thừa cơ chủ lo ra, Ma-Lên đứng dậy, chạy vòng vòng quanh nhà như gà mắc đẻ. Ngoài kia mấy con chó hàng xóm vẫn đứng đó mà kêu “hựt... hựt... hựt”.

Thấy dạng Ma-Lên trở ra, chúng nó áp tới xung phong vào cửa. Tiếng cào vào gỗ nghe sột sột, tiếng hựt, hựt càng phút càng to.

Bị phá rối giữa lúc ham mê câu chuyện, Cô Tư lần này giận tràn hông.
Cô chạy mau ra ngoài, vặn khóa mở cửa để đuổi chó. Cô mở he hé cửa thôi, rồi đứng chắn nơi đó. Nhưng Ma-Lên chen vào hai chân cô, quyết vọt ra. Mưu toan bất ngờ của con chó khiến cô ngạc nhiên. Cô lấy hai chân kẹp cổ nó lại. Nó dấn tới để vuột, mạnh quá tưởng tượng, như có ai đẩy phụ thêm ngoài sau. Nếu cô tư không khép cửa kịp, thì cô đã ngã sấp vì sức xô của con Ma-Lên.

Đóng cửa xong, cô mệt thở hổn hển, đạp một cái lên đầu Ma-Lên rồi đi vào giường.

Tuyệt vọng, Ma-Lên theo chủ đi vào. Lần này nó buồn hiu hiu, nằm gác mõm lên hai chân trước, ra vẻ nhẫn nại chịu số phận.

Cơn giận nguôi dần, Cô Tư nhìn Ma-Lên rồi thương nó hơn bao giờ hết. Nó mới lớn lên, đầy dẫy sinh lực. Tiếng gọi xác thịt mà nó nghe theo, tự nhiên quá, có gì bậy bạ đâu. Thế mà tại sao nó lại phải bị bắt làm gái già? Đồng loại nó có xa lánh nó đâu, có coi tuổi coi thầy gì để mà sợ nó đâu. Thì tại làm sao bắt nó chịu số phận của một người không may đẻ vào năm Dần?

Cô Tư với tay vuốt lên đầu Ma-Lên, Ma-Lên cảm động ngóc mõm liếm tay chủ, mắt nhìn Cô Tư như nói:
- Tôi không hiểu sao chủ cấm đoán tôi, nhưng dầu sao tôi vẫn thương chủ. Mà... buồn quá chủ ơi!
Cô Tư nghe văng vẳng ai hát:

 “Xưa kia ai cấm duyên bà
Bây giờ bà già bà cấm duyên tôi”

Cô tiếp tục vuốt đầu con Ma-Lên mà không nhìn chó nữa; cô nhìn vào thuở cô hai mươi, xa lắm rồi. Ngậm ngùi thay một thời xuân đã mất! Khoa coi tuổi đã ngăn cô sống tự nhiên như mọi người đàn bà! Rồi nề nếp nhà ngăn cô sống tự nhiên ngoài lễ giáo. Đời cô như còn vơi những nỗi niềm gì, nhưng mà lại đầy ứ những uất khí nó xúi cô xử ác với con bạn mến thương hôm nay. Cô Tư bỗng vụt ngồi dậy, do dự giây lát rồi đứng lên đi ra ngoài.

Ma-Lên cứ bình tĩnh nằm đó, an phận mà chủ đã định cho.
Cô Tư vặn khóa một cái, mở cửa cái két. Chó bên ngoài hoảng sợ vẹt ra.
Cô kêu:
- Ma-Lên! Ra đây.

Ma-Lên như không tin được tiếng kêu của chủ là thật. Nó ngóc đầu, dao dác nghe ngóng, đến chừng chủ kêu lần thứ nhì nó mới chắc bụng, nên uể oải bước ra.Lần này nó không dám hấp tấp. Biết có được đi chăng?
Cô Tư vuốt lên đầu nó mà rằng:
- Đi chơi với chúng bạn cho vui!
Rồi phải xô nó ra nó mới chịu đi cho.




Đăng nhập để trả lời
0