Diễn Đàn » Thơ Đường

Thơ Đường xướng họa

0 trả lời, 457 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2021 08:41:01 bởi THƠ NGÃ DU TỬ>
Thơ Đường xướng họạ
Thưa các anh chị trang thơ Đường. 
Từ lâu, tôi ít để ý đến trang thơ Dường. Hôm nay nhân việc giới thiệu 12 bài thơ Đường mà vô tình tôi thấy trên trang ấy đề khuyết danh, vì vậy tôi chuyển lên trang này để các bạn đọc chơi và biết luôn. Mong các anh chị hoan hỉ cho.
 
12 THẮNG CẢNH QUẢNG NGÃI
 Theo Non Nước Xứ Quảng của Phạm Trung Việt, thời trước 1975 và NXB Thanh niên 2003.
Trước đây, từ năm 1750 cụ Đạm Am Nguyễn Cư Trinh khi nhậm chức ở Quảng Ngãi vào thăm đã vịnh 10 thắng cảnh:
1. Thiên Ấn niêm hà (Ấn trời đóng trên sông)
2.Thiên Bút phê vân (Bút trời vẽ mây)
3. Long đầu hý thủy (Đầu rồng giỡn nước)
 4. La Hà thạch trận (Trận đá La Hà)
5. Cổ Lũy cô thôn.
6. Thạch Bích tà dương (Bóng chiều thạch Bích)
7, Hà Nhai vãn độ  
8. An Hải sa bàn (Mâm cát An Hải)
9. Liên Trì dục nguyệt (Nguyệt tắm ao sen)  
10. Thạch cơ điếu tẩu (Lão câu gành đá)
Người đời sau thêm 2 thắng cảnh nữa:
11. Vu sơn lộc trường
12. Vân phong túc vũ.
Mới đây, tình cờ tôi có xem trên trang: nuiansongtra.net có 12 bài thơ luật Đường của thi sĩ Phạm Thiên Thư và cuối trang ghi khuyết danh (Chưa có tác giả) người cung cấp cho nuiansongtra.net là anh Lê Văn Công, Tôi lấy làm lạ vì tôi đã họa 12 bài thơ đó, tài liệu do anh Vũ Anh Sương chuyển cho tôi từ năm 2005.
Không ngờ ông vua lục bát Việt lại làm thơ luật Đường rất hay với nhiều thi ảnh đẹp, Tuy nhiên có lẽ người cung cấp dữ liệu về thắng cảnh Quảng Ngãi không chính xác chăng? nên ông viết một số thắng cảnh chưa đủ, đúng với tên gọi chính của nó như trong Non nước xứ Quảng của Phạm Trung Việt, ví dụ: Thạch bích tà dương thì Phạm Thiên Thư tạm dịch (Đá xanh nắng quái), Chữ thạch bích là vách đá chứ không phải đá xanh; Thạch cơ điếu tẩu (Máy đá chim bay) là Lão câu gành đá, v v. Có tiêu đề thắng cảnh không đúng ví dụ Giang Phong túc vũ tôi chỉnh cho đúng Vân Phong Túc Vũ. Thi sĩ Phạm thiên Thư không biết cũng chẳng sao vì ông chỉ làm thơ khi liên tưởng, đâu phải người bản địa hay khảo cứu Quảng Ngãi, tôi nghĩ vậy nên họa lại với những tâm sự của tôi khi mới về thăm quê nhà Quảng Ngãi trở vào Sài Gòn năm 2005.
 
1.Bài xướng: THIÊN ẤN NIÊM HÀ (Ấn trời đóng trên sông)
 
Vuông vức in xanh núi Ấn trời
Đóa hoa sớm tối bốc mù hơi
Bốn phương quần tụ mây làm tổ
Một nét thơ đề sông hướng khơi
Cong vắt chùa xưa dầm nguyệt dãi
Lô nhô tháp cổ lạnh sao rơi
Có thầy đào giếng khơi dòng nước
Biến mất vào Thiên Ấn độ đời
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa, tất cả đều y đề
THIÊN ẤN NIÊM HÀ (Ấn trời đóng trên sông)
 
Lưu lạc nhiều năm giữa đất trời
Quê nhà biền biệt chẳng tăm hơi
Mây vươn đỉnh biếc chiều xuân hẹn
Trăng rụng dòng trong sóng nước khơi
Cổ Lũy cô thôn mùa lúa trĩu
Niêm Hà Thiên Ấn tứ thơ rơi
Ngày nay Du Tử về quê quán
Thảo mấy vần thơ để lại đời
Ngã Du Tử
 
2. Bài xướng: THIÊN BÚT PHÊ VÂN (Bút trời phê mây)
 
Đất núi lên trời ngọn bút lông
Viết mây năm sắc gió phiêu bồng
Văn chương điệp điệp non hồng ngọn
Phù thế phiêu phiêu liễu biếc lòng
Đầu Phật ai chôn hằn nhật nguyệt
Nóc chùa trời lấp nếp rêu phong
Phê Vân Thiên Bút mây cuồn cuộn
Trời có hay đâu bút nặng lòng
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa:
 
Điểm lại chữ tâm bằng bút lông
Trăm năm soi xét gánh tang bồng
Bút trời cặm cụi tô mây rựng
Mực ngọc ung dung thảo mấy dòng
Chốn cũ rợp đường tà áo lụa
Đồng xanh lộng gió ngọn nghinh phong
Phê Vân Thiên Bút ta còn nợ
Đất mẹ quê cha trọn tấm lòng
Ngã Du Tử
(Không hiểu sao ông lại dùng vần chính 2 chữ “lòng”, tôi thấy vậy bèn đổi một chữ cho đẹp ra)
 
3.CỔ LŨY CÔ THÔN
Bài xướng:
 
Một dãy Trường Sơn trấn ải biên
Còn viền dương lạnh gác bên triền
Cô Thôn trúc lặng sương nhòa khói
Cổ Lũy thành trơ gió thoảng nền
Buồm cá nâu vênh bờ bến đậu
Đàn cò trắng nổi cụm tùng lên
Cô thôn Cổ Lũy hư mà thực
Dù chỉ nghe qua cũng chạnh niềm
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa:
 
Gió lùa mây lợp phía trời biên
Cao hứng về ngang đậu cuối triền
Mặt nước lững lờ soi dưới bến
Dáng ai vàng võ bước qua nền
Làng xưa thôn lạnh sầu mắt ứa
Ngày mới Em buồn ngóng nước lên
Về lại Cô Thôn thăm Cổ Lũy
Lòng tôi đau đáu biết bao niềm
Ngã Du Tử
 
Bài xướng:
 
4.THẠCH BÍCH TÀ DƯƠNG 
 
Nách đá cao xanh trải nắng tà
Lơ thơ cổ thụ lối vàng hoa
Đôi dòng suối nhỏ phơi râu bạc
Một nhịp cầu ngang bắc lược ngà
Thoang thoảng gió vào thơm cửa động
Líu lo chim hót lạnh sơn ca
Tà Dương Thạch Bích còn mây trắng
Tiên nữ xa rồi nhạn vẫn sa
 
Bài họa: (Vách đá chiều hôm)
 
Ngày xuân vàng rựng bóng non tà
Soi bắp ven sông rợp sắc hoa
Cố quận làng văn tìm bạn cũ
Đô thành cơm áo thếch tình ngà
Thanh bình Thạch Bích tà dương nhuộm
Lãng đãng Nghĩa Hành ánh nguyệt ca
Lâu lắm quê nhà ngang trước mặt
Mắt tràn giọt lệ chợt trầm sa
Ngã Du Tử
 
5. HÀ NHAI VÃN ĐỘ
Bài Xướng :
 
Khói sóng ven sông tỏa ráng điều
Bến đò đôi cụm đá xiêu xiêu
Hắt hiu cầu uốn nhòa sông nước
Róc rách dòng tuôn lạnh thủy triều
Một chiếc đò ngang sầu quạnh quẽ
Dôi dòng khói nhẹ bếp cô liêu
Hà Nhai Vãn Độ vàng hoa nở
Thoang thoảng đò ơi, lá rụng chiều
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa : Hà Nhai Vãn Độ
 
Ai đứng bên sông rực áo điều
Bóng dài đất Mẹ đỗ liêu xiêu
Chiều yên mộng cũ lâng hồn nước
Tim nhớ quê xưa lộng sóng triều
Bến đợi tình neo sao lặng lẽ
Người về nhịp gõ bớt hoang liêu
Nghìn sau ai biết mình tâm sự
Vãn độ Hà Nhai nợ ít nhiều
Ngã Du Tử
 
6. LA HÀ THẠCH TRẬN (Trận đá La Hà)
 
Bài xướng :
 
Nghìn trước Sơn Tinh trấn Thủy Tinh
La Hà thạch trận đá bày binh
Sóng xô hai mũi mây giăng lưới
Đá dựng ngàn chòm đất giải đinh
Trận thế thiên thu hoa trắng bãi
Núi sông muôn thuở nước thanh bình
Về thăm di tích con diều đậu
Rúc lạnh trời cao tiếng ốc linh
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa :
 
Tư Nghĩa ta về buổi nắng tinh
Cảnh xưa còn lại mấy hàng binh
Tan tành trận đá ngùi thương tích
Khô khốc đồng ngô tội tráng đinh
Mãnh đất hoang tàn sông cạn kiệt
Cả trời đau xót …dạ yên bình ?
La Hà thạch trận vàng son cũ
Văng vẳng còn nghe vọng tiếng linh
Ngã Du Tử
 
7.AN HẢI SA BÀN 
 
Bài xướng:
 
Biển cát vàng bên biển rất xanh
Đồi cao mây trắng xếp xây thành
Dã tràng giăng đón trùng dương lại
Sóng cát bay mờ ngọn gió quanh
Đêm dưới thuyền trăng neo nửa mặt
Ngày trên xe lửa đẩy nguyên vành
Sa bàn An Hải trần duyên hợp
Bóng mát thùy dương lá mấy nhành
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa: (Mâm cát An Hải)
 
Ôm trọn quê nhà biển rất xanh
Trùng dương vẫy nước sóng va thành
Một bờ An Hải sa bàn chạy
Hai đỉnh Phượng Hoàng mây lượn quanh
Bến mỏi thuyền yên phơi ý vọi
Trời quang gió nhẹ đón trăng vành
Đồi dương cát trắng hồn thơ dậy
Kết ngọc là sương đọng lá nhành
Ngã Du Tử
 
Bài xướng:
8.LIÊN TRÌ DỤC NGUYỆT 
 
Trên nổi hồ mây dưới đáy mây
Lá sen lam biết nguyệt chan đầy
Sao khuya xuống đậu đôi viền lá
Vạc lạnh về đưa mấy võng cây
Lác đác đài hương vàng cánh đậm
Lơ thơ nhành liễu biếc tơ gầy
Liên Trì dục nguyệt trăng đưa lối
Một chiếc thuyền con rẽ khói mây
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa: (Trăng tắm ao sen)
 
Một vùng biêng biếc mấy tầng mây
Bàng bạc trời sen mặt nước đầy
Hoa trắng lã hồn linh khóm lá
Trăng xuân giăng mộng thức tàng cây
Hồ êm cảnh nhuộm màu trăng lạ
Chim lạc trời xa mỏi cánh gầy
Dù viếng một lần thôi cũng đã
Liên Trì dục nguyệt khói sương vây
Ngã Du Tử
 
Bài nầy không hiểu sao thi sĩ viết có hai chữ mây trong vận chính khi họa tôi bớt một chữ cho đẹp ra
 
Bài xướng:
9. LONG ĐẦU HÝ THỦY (Đầu rồng giỡn nước)
 
Rồng xanh xuống rỡn nước sông Trà
Nước tỏa đầu rồng – sóng vãi hoa
Lớp lớp đá cao soi đáy biếc
Long lanh cát trắng nhuộm dương tà
Mây nghiêng Thiên Ấn in vàng đậm
Gió vọng Sa Kỳ động sóng xa
Hý Thủy long đầu gieo nhật nguyệt
Sông Trà Khúc nổi cuộn yên ba
 
 
Bài họa: LONG ĐẦU HÝ THỦY
 
Chiều rọi nghiêng nghiêng sóng nước Trà
Mặt sông lấp lánh nước thành hoa
Ông câu bận rộn xâu tay lưới
Đàn cá tung tang giỡn nắng tà
Ai thúc trống dồn trong gió lướt
Sông chờ mây đụn phía trời xa
Long Đầu Hý Thủy rồng thôi giỡn
Quảng Ngãi ta về muộn tháng ba
 
Bài xướng:
 
10.THẠCH CƠ ĐIẾU TẨU 
 
Vách đá cao cao mây tiếp mây
Chõm xanh oằn xuống nhánh thông gầy
Chiều về cò trắng như hoa rụng
Sáng lại sương hồng tựa khói vây
Róc rách dòng trong khe cá biếc
Chênh vênh cầu uốn nhịp tre gầy
Thạch cơ điếu tẩu ai qua đó
In bóng sườn non chiều nắng bay
 
Bài họa: THẠCH CƠ ĐIẾU TẨU
 
Thạch Cơ Điếu Tẩu nước vờn mây
Đá dựng thành non sắp khá dày*
Đâu đó hoa rừng thơm ngát tỏa
Xung quanh con nước lượn vòng vây
Chim bay về tổ dăm chấm phá
Chiều giấu vào đêm một nét gầy
Ai đó ngồi câu thời vận lỡ
Tháng năm hồn nước gội sương bay
Ngã Du Tử
 
Có lẽ thi sĩ vô ý chăng nên bài thơ cũng có 2 chữ gầy ở vận chính tôi họa có chỉnh lại tí cho đẹp.
 
Bài xướng:
11. VU SƠN LỘC TRƯỜNG
 
Trên đỉnh Vu Sơn ngọn cỏ xanh
Khe rêu vàng đẫm nguyệt chia vành
Hoa neo ngọc lại hai bờ mộng
Hưu cõng sao về mấy nét tranh
Một tiếng “tác” ngân sương lác đác
Đôi bờ lá rụng nước chòng chành
Vu Sơn trường lộc hưu quần tụ
Thấp thoáng sao rừng gió uốn quanh
Phạm Thiên Thư
 
 
Bài họa: VU SƠN QUẦN LỘC
 
Trùng trùng điệp điệp cả màu xanh
Ồ dãy núi non nắng liếm vành
Xối xả thác ào tung bọt nước
Rì rào gió giỡn tắp đồi tranh
Vài con nai nhảy lùa mây bạc
Một tiếng lá rơi sóng nước chành
Ai nhớ Vu Sơn quần lộc nhỉ?
Ta còn canh cánh mộng hồn quanh
Ngã Du Tử
 
Bài xướng :
12. GIANG PHONG TÚC VÕ 
 
Núi dựng, sông xanh vắt một tờ
Dập dồn ngựa sóng cuộn bờm thơ
Dòng xuôi sàn sạt mài gươm đá
Gió thổi hiu hiu bọt vẫy cờ
Lác đác hoa rừng về góc biển
Cao cao tùng bách trải đồi tơ
Giang Phong Túc Vũ sông thành nhạc
Đậu chiếc đò trăng gác mái chờ
Phạm Thiên Thư
 
Bài họa: VÂN PHONG TÚC VŨ
 
Quê quán bao năm trắng nửa tờ
Chạnh lòng thi sĩ tỏ vần thơ
Địa linh anh kiệt vang hồn nước
Túc Vũ Vân Sơn lộng bóng cờ
Mai mốt trăng về gieo đỉnh mộng
Trăm năm người nhớ mẫy cung tơ
Lời thơ, ý nhạc là muôn thuở
Còn với non sông một chữ chờ
Ngã Du Tử
 Ảnh Phạm nhà thơ Thiên Thư và Ngã Du Tử tại buổi ra mắt tác phẩm ông tại Sài Gòn
 
📎 142075094_366...9508515_n
Đăng nhập để trả lời
0