Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đất Nổi Giận- Nguyễn Ái Lữ 🔒

18 trả lời, 141 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2021 18:44:04 bởi Ct.Ly>

Đất Nổi Giận

Nguyễn Ái Lữ

ĐỘNG PHONG xuất bản
Ký sự tiểu thuyết

Ký sự tiểu thuyết của Nguyễn Ái Lữ, do Đông Phong xuất bản năm 2008. Bìa do họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi trình bầy. Một vài truyện của tác giả đã in trong các cuốn trước, nay được nhà xuất bản in gom vào cuốn này để có mạch truyện gắn liền với nhau. Địa chỉ liên lạc: 2216 E 22NU Street Oakland, CA 94606.
*
Để tưởng nhớ em:
Trần Thị Ngọc Trâm (1939-2006)
*
Vạch bóng thời gian tìm chính nghĩa,
 Soi gương kim cổ kiếm danh nhân.
Nguyễn Ái Lữ
 
*
 
 
Chương Một
 
Hà Nội trước những mối lo


 
Hàng cổ thụ trong khu Văn Miếu thấp thoáng ánh nắng chiều. Mỗi lần đạp xe qua đây, Bình có cảm tưởng mình được chiêm ngưỡng khu bảo tàng quốc học thời cổ còn lưu truyền trong một thành phố đã trải qua bao lớp phế hưng. Bên này đường là dãy phố rợp bóng cây bàng rất quen thuộc với con mắt chàng. Tới tiệm giặt ủi cuối phố, chàng gặp bà chị của Hiền đứng trước cửa. Chị có dáng người mảnh khảnh, nước da trắng mịn như cô em.
- Cô Hiền có nhà không chị?
- Có đấy cậu. Sao lâu nay mới thấy cậu lại chơi?
 -Hồi này em bận việc, ít khi được rảnh.
Bà chị biết chàng làm báo. Hà Nội nằm trong vùng quốc gia nên báo chí hoạt đông rất sôi nổi. Chàng để xe đạp ngoài cửa tiệm, bước vào trong sân. Thấy Hiền ngồi đan áo một mình dưới bóng cây hoàng lan, chàng bông đùa hỏi:
- Cô giáo đan áo cho ai thế?
Nàng dừng tay đan, có vẻ ngỡ ngàng nhìn chàng.
- Anh vào nhà ngồi chơi.
Chàng dừng chân trước mùi ngọc lan từ góc sân thoảng ra. Một làn gió nhẹ đưa hương thơm tan loãng vào không gian buổi chiều vàng.
- Cụ có nhà không cô?
- Mẹ em ở trong nhà.
Chàng bước vào căn nhà tôn ba gian. Bà cụ đương ngồi ở tràng kỷ, cô đơn nhìn ánh nắng tà ngoài sân. Bà cụ đã hồi sức sau cơn đau. Nhà cửa thanh bạch, chỉ có hai mẹ con sớm tối bên nhau. Bà chị thì bận rộn với tiệm giặt ủi để cưu mang gia đình. Người ở thành thị vẫn tất bật với cuộc sống trong lúc chiến tranh tiếp diễn ở mạn Tây Bắc và các vùng xa Hà Nội.
- Cháu có chai mật ong biếu cụ.
Bà cụ nhìn Bình, nét mặt cảm động:
- Cậu chu đáo quá. Cậu ngồi chơi. Hiền à, con rót nước mời cậu.
Chàng xin phép bà cụ ra sân ngồi với Hiền. Nàng ôn tồn bảo:
- Em nhận đan áo cho một tiệm trên phố Hàng Bông. Nghe chừng hàng ế ẩm hay sao mà không thấy họ tới đặt hàng thêm. Em định ngưng đan nhưng ngồi buồn lại mang cuộn len ra đan để giết thì giờ.
- Tôi cứ ước mong được bình thản như cô lúc này.
Nàng khẽ mỉm cười, nụ cười có vẻ khiêm tốn như thường lệ.
Bỗng chàng lặng lẽ nói:
- Tôi báo để Hiền biết Pháp đã bắt tay với Việt Minh chia đôi đất nước. Vậy Hiền nghĩ sao, đi hay ở?
Câu hỏi đột ngột của Bình làm nàng băn khoăn suy nghĩ.
- Em phân vân quá. Nếu chỉ riêng em thì dễ quyết định, nhưng còn mẹ em. Cụ không đi đâu nổi.
Dù nàng chẳng nói ra điều này thì chàng cũng đã thông cảm hoàn cảnh éo le của nàng.
- Lúc này mỗi người trong chúng ta có một tâm trạng riêng. Nhiều người đã ra đi và còn tiếp tục đi vì họ thấy miền Nam đem lại nhiều triển vọng cho họ. Cái quý là tự do Hiền ạ.
Trong cái khoảnh khắc ưu tư bất chợt, khoảnh khắc mà cả hai người đều liên tưởng đến sự chia ly, cách biệt không thể tránh khỏi, Hiền muốn thổ lộ với Bình điều mà nàng giữ kín trong lòng là nàng yêu chàng thực nhưng lại không thể bật thành tiếng trước mặt chàng. Cơ hội bộc lộ của con tim nàng đã bị ngăn chặn bởi tác động của thời vận, cũng là sự bất hạnh của một tình yêu chớm nở.
Bình vẫn không ngờ mối tình thầm lặng ấy đã chiếm chỗ trong tâm tư chàng. Nó chỉ bắt đầu từ cái phút chàng gỡ tà áo lụa mầu hồng của nàng quấn vào bánh xe đạp, cho đến khi chàng rủ nàng đi chùa Láng vãng cảnh, nàng luôn giữ vẻ nhu mì, kín đáo, dễ thương, đó là những nét đặc trưng còn lại của thiếu nữ Hà Nội thời 1950.
Chàng nhớ hai người đạp xe từ phố Văn Miếu lên Ngã tư Sở rồi vào chùa Láng. Chùa ở giữa cánh đồng thơm mùi lúa non. Trong cảnh yên tĩnh, trầm mặc của buổi chiều, từ cổng tam quan vào chùa có lối đi lát gạch, hai bên cổ thụ cây cao bóng cả tạo thành bức tranh thơ mộng, hài hòa giữa những đường nét thông thoáng của ngôi chùa cổ kính với thiên nhiên mở rộng.
Ở Hà Nội lâu năm mà lần này Bình mới có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp lãng mạn của chùa Láng bên cạnh cô bạn hiền; mới cảm thụ được hương đồng cỏ nội đánh thức tâm hồn mình bấy lâu nay chỉ mải lo công việc viết lách cho báo chí.
Lúc ngồi trên bãi cỏ, Hiền đã đưa tay ngắt một ngọn đòng đòng để nếm vị ngọt lịm của lúa con gái rồi đưa cho chàng nếm thử. Má hai người chạm vào nhau làm nàng như tê dại cả người. Đó là cái cảm giác hồn nhiên, trong sáng; chất ngọt của tình yêu đầu đời mà nàng được nếm trải cùng với chàng trong khoảnh khắc êm đềm.
Thấy chàng ngồi im như bụt, nàng bất giác hỏi:
-Nhà báo mải suy nghĩ gì vậy?
Chàng mỉm cười.
- Tôi không nghĩ gì cả. Dường như mùi ngọc lan làm cho tôi bâng khuâng từ giây phút này. Mùi ngọc lan bỗng nhiên thơm lạ lùng Hiền ạ.
Nàng thong thả nói:
- Có lẽ em ngửi mùi lan thường ngày nên không có cảm giác mới lạ như anh. Nhưng em cũng thấy lòng mình bâng khuâng từ giây phút này.
- Vì sao thế nhỉ?
- Vì em không hiểu rằng anh có còn tới đây để cùng em thưởng thức mùi lan thơm nữa không?
Bình cảm thấy buồn man mác. Chàng đã nhận được giấy gọi nhập ngũ đợt cuối cùng ở Hà Nội. Quân đội đang cần sĩ quan bổ sung để xây dựng quốc gia miền Nam. Con đường trở lại miền Bắc sẽ không còn là con đường hòa bình với sông núi êm ả, đồng ruộng xanh tươi, mà sẽ là con đường xương máu kéo dài, còn thảm khốc hơn cuộc nội chiến Trịnh -Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ thứ 17.
Hiền chợt nghĩ đến chuyện ở lại. Nàng ít hiểu Việt Minh nhưng nghe cô bạn kể bố cô ta làm tỉnh trưởng Sơn Tây bị Việt Minh sát hại, nàng đã cảm thấy sự bất trắc cho cuộc sống an lành của người dân vùng quốc gia, trong đó có nàng.
Rồi nàng chợt lên giọng:
- Em thấy băn khoăn là khi mình ở lại, cuộc sống có được như thế này?
Bình điềm nhiên nói:
- Nếu ở lại, Hiền phải chuẩn bị tinh thần khi sống dưới chế độ Cộng sản. Chế độ này chủ trương đấu tranh giai cấp nên cán bộ cộng sản chỉ biết nhắm mắt thực hiện các cuộc đấu tố nông dân mà họ gán là địa chủ, phú nông, cả những người không ưa họ trong vùng họ kiểm soát.
- Em có nghe qua nhưng chưa hiểu rõ vấn đề này.
 -Cả những thành phần tiểu tư sản thành thị cũng bị đấu tranh. Cộng sản đem lý thuyết của Mác và Mao ra áp dụng ở Việt Nam để củng cố quyền lực chuyên chính trong tay đảng.
Thời thanh niên của Bình và Hiền đã trải qua một bối cảnh đầy biến động. Nào Thế chiến 2, Pháp đang cai trị Đông Dương thì Nhật vào chiếm cuối năm 1940. Ngày 17 tháng Tư năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật bảo trợ ra mắt dân chúng. Đến ngày 14 tháng Tám 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Năm ngày sau, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, theo sau là Huế và Saigon. Vua Bảo Đại đã phải tuyên bố thoái vị tại Huế ngày 30 tháng Tám 1945, trở thành một công dân thường.
Nắm được chính quyền trong tay, Việt Minh thanh toán các phần tử quốc gia chân chính. Khi quân Anh đổ bộ vào Saigon để tước khí giới quân Nhật ngày 6 tháng Chín, 1945, quân Pháp đã vào theo rồi khởi sự tái chiếm Saigon và toàn cõi Đông Dương. Ở ngoài Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật, ép Hồ Chí Minh lập chính phủ liên hiệp có thành phần quốc gia tham dự. Biết không thể hòa hoãn với cựu thực dân Pháp, [1] sau khi quân Tưởng rút đi, Việt Minh đã phát động cuộc kháng chiến chống Pháp ngày 19 tháng Mười Hai 1946, kéo dài đến 9 năm. Nhờ có sự hà hơi tiếp sức của Liên Xô và Trung Cộng, sau khi họ Mao chiếm Hoa Lục năm 1949, Việt Minh mới có thế thắng Pháp. Dù vậy, dân chúng miền Bắc vẫn phập phồng lo sợ Việt Minh cộng sản trở lại nắm chính quyền. Nghe tin ông Ngô Đình Diệm trở về miền Nam làm thủ tướng, dân chúng miền Bắc, đặc biệt người theo đạo Thiên Chúa rục rịch vào Nam để tránh Cộng sản vô thần.
Trước lúc chia tay, Bình ôn tồn nói với Hiền:
- Tôi không biết nói gì với Hiền thêm. Mong rằng Hiền có đủ nghị lực để vượt qua mọi thử thách.
Nghe xong, nàng cảm động nhìn chàng:
- Cám ơn anh đã quan tâm đến em. Dù ở phương trời nào, em cũng vẫn nghĩ đến anh. Nấu có điều kiện, anh viết thư về cho em.
  - Cô cứ yên tâm, tôi sẽ tìm cách liên lạc.
Tiễn chàng ra khỏi cửa, nàng đứng đợi chàng đạp xe đi một quãng mới quay vào trong nhà.
Trời bắt đầu tối. Ánh đèn vàng vọt hắt xuống mặt đường. Bình đạp xe đi quanh mấy phố trước khi về nhà. Khu bờ Hồ vẫn tấp nập người đi, các phố khác thấy vắng vẻ, lạnh lùng, tối tăm.
Hồi này Pháp dồn quân viễn chinh lên mặt trận Điện Biên Phủ, các tiệm ăn, vũ trường bỗng ế ẩm, vắng khách. Người dân Hà Nội được sống dễ thở từ năm 1948 dưới chính thể quốc gia của cựu Hoàng Bảo Đại; lúc này không thật yên tâm trước tin Việt Minh và Pháp sắp ký hiệp định Genève chia đôi đất nước. Những người có máu mặt, các chính trị gia đã bỏ vào Saigon làm ăn hoặc ra ngoại quốc sinh sống.
Đi qua vũ trường Phénix gần vườn hoa Canh Nông, Bình trông thấy hai tên lính Lê dương[2] say rượu đang la hét om sòm ở trước cửa. Vũ trường phải đóng cửa, chờ quân cảnh Pháp tới bắt hai tên này. Nghe tin tướng De Castries thất trận ở Điện Biên Phủ, lính Pháp ở Hà Nội xuống tinh thần rõ rệt.
Khi về đến nhà, Bình vào trong ngõ thấy căn
nhà dưới cho thuê vẫn mở cửa sổ. Tuyết đang ngồi đọc truyện dưới ánh đèn. Thấy chàng dắt xe đạp đi qua, nàng gọi với:
- Anh Bình ơi.
Chàng đứng lại. Nàng hỏi tiếp:
- Anh đi làm về hả?
Chàng thành thật trả lời:
- Không. Tôi đi thăm cô bạn.
- Lại cô Hiền chứ gì?
Tuyết là y tá ở bệnh viện Phủ Doãn. Giọng nàng có vẻ ghen bóng gió. Nàng mở cửa ra gặp chàng, trao cho chàng cuốn Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng rồi láu lỉnh hỏi:
- Anh còn cuốn nào không?
- Còn cuốn Đoạn Tuyệt của Nhất Linh cô đọc chưa?
- Em đọc rồi nhưng anh cứ đưa cho em mượn lại.
 -Để sáng mai tôi đưa nhé.
- Em muốn đọc bây giờ. Em mất ngủ từ mấy hôm nay.
- Cô có uống thuốc ngủ không?
- Em ngại uống thuốc ngủ. Em phải đọc thì mới ngủ được.
Rồi nàng bước lên căn gác theo chàng. Chàng lại tủ sách tìm cuốn truyện. Nàng ngồi ở ghế, giở cuốn album ra coi thấy tấm ảnh của Hiền đề tặng: “Mến gửi anh Bình”
Lúc chàng trao cho nàng cuốn truyện, nàng liếc mắt bảo chàng:
- Sao mà tình tứ thế?
Chàng không nói, gấp cuốn album lại. Thấy hơi lạnh trong người, chàng khẽ hỏi:
- Cô có mang theo dầu gió không?
- Có. Chắc anh đi đường bị lạnh đấy.
Nàng vội lấy chai dầu trong túi ra xoa lên trán và hai bên thái dương chàng, miệng tủm tỉm cười. Bàn tay nàng nóng ran. Một cảm giác êm ấm lan khắp người chàng.
- Cám ơn cô. Tôi hết lạnh.
Nàng ngồi nán lại trò chuyện với chàng. Hàng ngày bận rộn ở bệnh viện; chăm sóc các con bệnh và hàn gắn những vết thương chiến tranh, nàng cảm thấy tâm hồn luôn căng thẳng. Chưa gặp được người hằng mong ước thì nàng lại tìm đến sách, lợi dụng cả lúc Bình rảnh rỗi để trò chuyện cho khuây khỏa.
Nghĩ đến chuyện vào Nam, chàng hỏi nàng: -Gia đình cô tính sao?
Nàng quả quyết:
- Em đã thuyết phục mẹ em đi. Anh Dũng cũng có giây gọi động viên. Còn anh chị Minh ở lại coi tiệm may. Nghề này không sợ gặp khó khăn gì cả vì ai cũng cần may mặc. Bệnh viện đang thiếu y tá nhưng em không thể ở lại. Buồn lắm anh ạ.
Trong lúc nàng ngồi trên gác thì ở dưới nhà bà mẹ cứ thấp thỏm thức để chờ nàng. Chợt bà ra ngó nhìn lên căn gác, gọi réo:
- Tuyết ơi xuống đi.
Nghe tiếng mẹ, nàng lại gần hôn chụt vào má chàng, rồi nhỏ nhẹ nói:
- Bà cụ sốt ruột đấy. Em đi xuống.
Nàng vừa bước xuống khỏi cầu thang thấy mẹ đứng chờ sẵn. Bà khẽ quở:
- Làm gì trên đó mà lâu thế?
Nàng đỏ mặt nói:
- Mẹ làm như con còn bé bỏng lắm.
Trong lúc đó, từ căn phòng ở góc sân có bóng người con trai ngó theo nàng. Đó là Hải, học sinh cùng ở trọ với người bạn tên Năng. Hải để ý đến nàng từ vài tháng nay, anh chàng cứ tâm ngẩm yêu nàng. Bình thấy hai người đôi lúc chuyện trò với nhau ở dưới sân. Song nàng vẫn cứ lẻn lên gặp chàng vào các buổi tối, có lẽ vì thế Hải đem lòng ghen tỵ nàng mà không dám nói ra.
Mẹ nàng chẳng biết xử trí ra sao. Bà có hai cô con gái; Tuyết đã lớn mà chưa thấy có đám nào hỏi, còn Xuân vẫn đi học. Tính tình bồng bột của Tuyết làm bà lo ngại. Cuộc sống của bà trông cậy vào nàng nhiều hơn cả.
Cũng như nhiều gia đình khác từ các tỉnh tìm đường lẩn trốn về Hà Nội vì Việt Minh ngăn cản dân chúng về tề; gia đình bà đã bỏ hết của cải ở Thanh Hóa, chạy người không ra đây được vài năm tưởng yên ổn làm ăn, bây giờ lại phải chuẩn bị di cư vào Nam một chuyến nữa. Cuộc sống bấp bênh nên tương lai con cái cũng bấp bênh theo.
Bố mẹ Bình thuộc thành phần tiểu tư sản, có nhà ở làng Giảng Võ và phố Văn Miếu. Các cụ vừa đông con cái, vừa tiếc tài sản do mồ hôi nước mắt của mình làm ra nên đành ở lại Hà Nội.Thấy Bình sắp vào Nam, bà mẹ than thở với chàng:
-    Tôi gặp cậu Hòa mấy hôm trước; cậu ấy bảo sắp hòa bình rồi, bà bảo cháu Bình đừng vào Nam nữa, phiêu lưu lắm.
Cậu Hòa là em ruột mẹ chàng. Nghe mẹ vừa dứt lời, chàng thản nhiên nói:
- Con biết cậu ấy có con đi kháng chiến. Con nghi cậu ấy hoạt động nằm vùng cho Việt Minh. Lúc này họ rỉ rả tuyên truyền để cản những ai đem gia đình, của cải vào Nam theo chính quyền quốc gia. Mẹ đừng nghe.
Bà mẹ lặng thinh. Bà biết chàng không thể ở lại Hà Nội vì vướng vào nghề làm báo chống
Cộng, lại thêm lệnh động viên sĩ quan nên bà cũng mong chàng sớm đi thoát, khỏi bị theo dõi.
Chợt bà thẩn thờ bảo:
- Tôi còn thắc mắc một chuyện.
Thấy mẹ nghĩ ngợi, chàng hỏi:
- Mẹ thắc mắc chuyện gì?
Bà hạ giọng:
- Liệu họ có ghép mình vào thành phần địa chủ không? Tôi nghe ở vùng quê có người chỉ có vài sào ruộng cũng bị đem ra đấu tố.
Bà lo là phải. Ngoài ngôi nhà hương hỏa, ông bà đã tằn tiện chơi họ để xây thêm nhà ở trong làng và ngoài phố, sau này chia cho các con ở.
Bình nhớ từ năm 1953, Việt Minh đã rầm rộ phát động phong trào cải cách ruộng đất ở vùng kháng chiến theo kiểu Trung Cộng; đem đấu tố các thành phần địa chủ và cường hào thuộc chế độ cũ. Gọi là địa chủ nhưng nông dân miền Bắc đâu có nhiều ruộng đất đặc quyền đặc lợi như địa chủ ở miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Cái chính là Việt Minh muốn nhân cơ hội này thanh toán cả những người có tư tưởng đối lập, lưng chừng để củng cố chính quyền, tạo khí thế quần chúng trước khi họ lao vào trận chiến quyết liệt với Pháp ở Điện Biên Phủ.
Chàng có ý kiến với mẹ:
- Nhà mình đông, nên chia thành hai ở trong làng và ngoài phố. Chỗ nào mình cũng có người quản lý nhà cửa. Con nghĩ ở thành phố họ không làm càn như ở nông thôn. Hơn nữa nhà mình không thuộc thành phần địa chủ, chỉ là tiểu tư sản thành thị. Nay mai mấy người thuê nhà ngoài phố dọn đi, mình giữ nhà để ở, không cho thuê nữa.
Nghe chàng phân tách, bà mẹ thấy nhẹ bớt mối lo âu. Lát sau bà nhìn chàng hỏi:
- Thế còn chuyện cô Hiền, bây giờ đến đâu rồi?
Chàng chưa hề cho mẹ biết mối quan hệ của chàng với nàng. Thấy mẹ hỏi, chàng bỗng áy náy trong lòng.
- Sao mẹ để ý đến cô ta?
Bà thủng thẳng kể:
- Mấy lần tôi đi phố, gặp cô ta chào hỏi lễ phép lắm. Cô giáo có khác.
Chàng bảo:
- Cô ta ở lại với mẹ. Con cũng buồn cho cô ấy.
Bà chép miệng:
- Nhà cô ấy neo đơn, đi sao nổi. Người nết na như cô ta rồi cũng sẽ có kẻ thương, người mến.
Nghĩ đến tương lai của cậu con, bà dặn dò:
- Cậu vào trong ấy cẩn thận đấy, lúc nào muốn lấy vợ thì tìm gái Bắc mà lấy.
Chàng khẽ cười trước mắt mẹ, nhẹ nhàng hỏi:
- Sao mẹ nghĩ thế?
Bà mẹ trả lời ngay:
- Tôi đọc báo thấy có cô vợ ở Saigon nổi cơn ghen đốt cả chồng. Đàn bà ở trong ấy chắc dữ!
Chàng bảo:
- Đó là chuyện cá biệt. Mẹ đừng quan tâm. Xã hội có người thế này, thế khác, không tránh khỏi.
Bình chợt nhớ sau ngày 23 tháng Chín, 1945, Pháp trở lại tái chiếm Nam bộ rồi đặt tên là “Nam kỳ tự trị”, có người còn gọi là “Nam kỳ quốc ” nghe rất xa lạ với người miền Bắc. Con đường xe lửa Bắc-Nam đã bị cắt đứt, giao thông đường bộ cũng bị gián đoạn suốt những năm kháng chiến, chỉ còn đường biển và đường hàng không nối liền hai miền. Tuy có một cái hố về tâm lý do người Pháp tạo nên, ngày nay miền Nam lại là nơi đất hứa cho lớp lớp người dân miền Bắc di cư vào lập lại cuộc sống.
Trước hôm Bình vào trại lính Ngọc Hà để lên máy bay vào Nam, mẹ chàng đưa cho chàng món quà kỷ niệm của Hiền: chiếc áo len mầu sô cô la gói trong bao nylon vuông vắn. Bà ôn tồn bảo:
-Cậu thấy chưa, cô ấy không quên cậu đâu! Nhớ bỏ vào va ly mang theo để mặc lúc trời trở lạnh. Cầm gói áo trong tay, chàng hỏi bà mẹ:
- Cô ấy đến đây hả mẹ?
- Phải. Cô ấy ngồi nói chuyện với tôi hồi lâu. Dễ thương đáo để.
Khi chàng đến nhà nàng để cám ơn, nàng đi dậy học chưa về, chỉ gặp mẹ nàng ở trong nhà. Bà cụ vui vẻ bảo:
- Cậu cẩn thận quá. Mỗi lần em nó pha trà có tý mật ong cho tôi, tôi lại nhớ đến cậu.
Thấy bà cụ vẫn khỏe, chàng mừng thầm trong dạ. Không tiện ngồi lâu, chàng xin phép bà cụ ra về. Lòng chàng lại thêm bâng khuâng vì không gặp được Hiền lần cuối cùng.
Chiều hôm ấy chàng từ giã gia đình vào trại Ngọc Hà, ngủ lại một đêm đến sáng thì có xe nhà binh đưa chàng và các thanh niên khác ra sân bay Gia Lâm. Chuyến bay Air VietNam từ biệt Hà Nội trong nỗi nhớ thương da diết chưa từng thấy trong đời chàng. Dưới đôi cánh máy bay mầu bạc, phố phường Hà Nội và mặt Hồ Gươm thân quen đang lùi khỏi tầm mắt chàng, cả dòng sông Hồng như dải lụa đào cứ mờ dần giữa tấm thảm làng mạc hai bên bờ. Hà Nội yêu dấu như một kỷ vật vô giá sẽ bị vùi dập vào cơn lũ đỏ, cuốn theo những tro tàn kỷ niệm, những lâu đài tình ái. Đối với chàng, Hà Nội đã thành dĩ vãng. Hà Nội cũng sẽ mãi mãi là một hoài niệm xót xa cho chàng và cho cả những người ở lại.

 
Chú thích:
[1] Ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh đã ký Tạm Ước cho Pháp trở lại Hà Nội, Hải Phòng để rảnh tay đối phó với lực lượng quốc gia.
[2] Lính Pháp Légionnaire




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2021 14:37:48 bởi Ct.Ly>
Chương Hai
 
Saigon trong cơn thử thách
 
 
Sống chết cũng phải đi. Có Chúa che chở.
Ông trùm họ đạo làng Giang Xá ở cách Hà Nội chục cây số, có họ gần với gia đình Bình, đã đưa cả bố mẹ, họ hàng, con cái di cư vào Nam lập cuộc sống mới. Là nông dân ngoan đạo sống quanh quẩn ở xóm làng, chưa từng thấy cảnh đấu tố địa chủ, những người này vẫn quyết tâm ra đi chỉ vì sợ Cộng sản.
Các vùng Gò Vấp, HốNai ở gần Saigon là nơi đặt chân đầu tiên của các đoàn di cư công giáo từ miền Bắc vào. Thật khó tưởng tượng cho người dân di cư lần đầu được đặt chân lên vùng đất trù phú, khí hậu hiền hòa, cuộc sống của đồng bào địa phương khá sung túc vì thiên nhiên ưu đãi.
Cũng nhờ công ơn các chúa Nguyễn đã mở mang bờ cõi đến tận đất mũi Cà Mâu vào đầu thế kỷ thứ 18 (1708), mà dân Việt mới có thêm đất dung thân, ngày nay con cháu mới có nơi lánh nạn Cộng sản. Công cuộc nam tiến của tiền nhân đã đem lại sự phồn vinh và làm giầu thêm nền văn hóa của người Việt ở phương Nam.
Đất nước ta đã phải mang một vết thương lịch sử từ ngày 20 tháng 7 năm 1954, ngày mà con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị được ghi vào bản hiệp định Genève là giới tuyến thực địa tạm thời chia cắt hai miền Nam, Bắc. Trước đó hơn ba trăm năm đã có cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn (1600-1786), gây bao tang tóc cho nhân dân hai miền. Sông Gianh ở Quảng Bình đã là giới tuyến phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài. Biên cương Nước Đại Việt khi ấy mới chỉ tới tỉnh Bình Định.
Cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn ở thế kỷ thứ 17 mang tính tranh chấp giữa hai phe phong kiến, không có chủ nghĩa ngoại lai can thiệp. (1) Còn cuộc tranh chấp ở Việt Nam giữa thế kỷ thứ 20 lại mang ý thức hệ rõ rệt: Miền Bắc theo chủ nghĩa Marx, chủ trương thôn tính miền Nam tự do với sự hỗ trợ đắc lực của Liên Xô, Trung Cộng.
Lúc này cảng Hải Phòng có 300 ngày để dân chúng miền Bắc, kể cả binh lính và gia đình họ tập trung vào Nam trên những tầu chở quân của Pháp và Hoa Kỳ. Đặc biệt người theo đạo Công giáo ở các tỉnh miền Bắc đã ra đi rất đông. Họ vượt biển trên những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé, những chiếc bè nứa mỏng manh tựa chiếc lá tre, bỏ lại phía sau tài sản, mảnh đất thiêng liêng, mồ mả ông cha để tự cứu lấy mình. Họ đã coi thường mọi hiểm nguy, nén nỗi đau thương với ý chí quyết tâm tìm về sinh lộ ở miền Nam tự do.
Thật là hoành tráng và dũng cảm cho một cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam. Theo dõi tin tức trên báo, trên đài, Bình thấy không có thứ văn chương nào, ống kính nào có thể ghi hết thảm cảnh đã diễn ra trong cuộc hành trình lịch sử của người dân miền Bắc chạy trốn Cộng sản.
Sau khi được Quốc trưởng Bảo Đại ở Pháp cử lãnh chức Thủ tướng thay cho ông Bửu Lộc, ông Ngô Đình Diệm đã từ Pháp về nước ngày 25 tháng 6, 1954 sau gần bốn năm sống bôn ba tại Hoa Kỳ. Ngày song thất 7 tháng 7, 1954, ông Diệm chính thức làm Thủ tướng thì chỉ mười ba ngày sau ông đã phải đương đầu với thử thách mới: lo tiếp nhận và định cư khối lượng khổng lồ đồng bào miền Bắc di cư mỗi lúc một đông, dần dần lên tới con số 2 triệu người, một con số kỷ lục chưa từng thấy sau cuộc Đệ nhị Thế chiến 1939-1945.
Phủ Tổng ủy di cư đã được thành lập để thực hiện chương trình quy mô cứu trợ và định cư đồng bào miền Bắc. Các tỉnh miền Tây, miền Đông, và Tây nguyên đã đón nhận người di cư trong tinh thần tương thân, tương trợ, trái với những luận điệu tuyên truyền gây chia rẽ của Cộng sản trước lúc họ ra đi. Đó là cuộc bỏ phiếu Iớn lao nhất bằng chân của đồng bào miền Bắc chống chế độ Cộng sản độc tài.
Thành phố Saigon lúc này sinh hoạt nhộn nhịp, buôn bán tấp nập như một thành phố thời bình. Bộ hạ Bình Xuyên của Bẩy Viễn đóng vai trò cảnh sát khu Saigon-Chợ Lớn, thu về các khoản lợi tức lớn từ các sòng bài, tiệm hút và nhà chứa gái. Ngày cũng như đêm, sòng bài Đại Thế Giới, nhà chứa Bình Khang trong Chợ Lớn tấp nập người ra vào đánh bạc và mua vui, tạo bộ mặt ăn chơi đàng điếm lõa lồ cho một thành phố được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông.
Từ khi bỏ Việt Minh về hợp tác với Pháp, Bẩy Viễn càng lên chân với sự ưu ái của Quốc trưởng Bảo Đại. Hàng tháng y đưa tiền lên Đà Lạt để ngài tiêu dùng bên cạnh người đẹp Phi Yến, vũ nữ Mộng Điệp trong lúc xa Nam Phương Hoàng Hậu ở Huế. Chẳng bao lâu Bẩy Viễn được ngài thăng cấp thiếu tướng, thanh thế càng lên cao.
Nhưng dưới con mắt của Thủ tướng Diệm, sự hiện diện của Bình Xuyên ở Saigon là chướng tai gai mắt, sớm muộn phải có biện pháp giải quyết cùng một lúc với các giáo phái khác như Cao Đài ở Tây Ninh, Hòa Hảo ở Long Xuyên. Tốt hơn là ông cho họ sát nhập vào quân đội quốc gia để thống nhất thành một lực lượng chính quy, tránh tình trạng sứ quân cát cứ.
Khi Bình được đưa vào trường Sĩ quan trừ bị trên đồi Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức, các sinh viên đến trước đã bắt đầu luyện tập theo từng binh chủng. Ở đây nắng chói chang, các sinh viên phải đồ mồ hôi trên bãi tập. Vài ngày sau, Bình và các sinh viên vừa đến được quân xa chở lên trường Sĩ quan hiện dịch Đà Lạt học.
Ở độ cao 1500 mét, Đà Lạt là thành phố đầy thông xanh, sớm chiều lẩn khuất trong sương mù trắng xóa như tranh thủy mặc. So với Sapa thuộc tỉnh Lào Cai cũng ở độ cao 1500 mét, có hoa đào, hoa mận nở vào mùa xuân, Đà Lạt có lợi thế ôn đới trồng được hoa quanh năm, còn gọi là Xứ hoa Anh đào đỏ rực khắp phố phường vào mỗi dịp Giáng sinh.
Ngày cuối tuần không phải trực gác, Bình thuê xe thổ mộ lên thác Cam Ly, nghe móng ngựa gõ đều đặn trên mặt đường chập chờn bóng mát mà lại cứ nghĩ Đà Lạt là thành phố thơ của riêng mình. Ở độ cao chênh vênh, ngọn thác thắng phau cứ ào ào đổ xuống thung lũng rồi biến vào rừng sâu. Gần đó có rừng Ái Ân với đồi thông hai mộ, nơi có lăng ông bà Nguyễn Hữu Hào, thân sinh bà Nam Phương Hoàng Hậu, vợ Vua Bảo Đại. Đà Lạt còn một thắng cảnh là trường trung học Yersin mang tên một bác sĩ người Pháp đã khám phá khu cao nguyên tuyệt đẹp này năm 1893.
Thời tiết ở Đà Lạt mát lạnh, ban đêm Bình phải đắp tấm chăn dạ nhà binh mầu cứt ngựa. Chiếc áo len của Hiền được mặc vào lúc này làm chàng ấm hẳn lên. Hình ảnh nàng đôi lúc đột hiện trong tâm trí chàng, gợi nhớ đến Hà Nội và một khu phố nhỏ đang phải trải qua những ngày đầu đầy sóng gió với Cộng sản từ ngoài vùng kháng chiến về tiếp quản.
Có tối đi hành quân dã chiến về ngả sau trường, chàng ghé vào căng tin của người lính Thượng Radé nghỉ chân.
Người lính Thượng da ngăm đen, mắt trắng bệch, miệng lắp bắp nói:
- Thiếu úy dùng rượu? Có Cognac.
Hắn tưởng chàng cũng thích uống rượu như quân nhân Pháp. Chàng lắc đầu bảo:
- Không. Cho tôi cà phê đen.
Lần đầu được thưởng thức cà phê nguyên chất từ Ban Mê Thuột đưa về Đà Lạt, chàng cảm thấy hương vị nồng nàn chạy ran trong cơ thể. Nó chẳng thua moka tí nào. Ngọn lửa hồng bên cạnh chàng xông lên mùi nhựa thông hăng hắc tựa mùi long não trên đường phố Hà Nội vào mùa hè. Đây là những hương vị đặc biệt của Tây nguyên đang cố sức quyến rũ một tâm hồn xa Hà Nội như chàng.
  Nhờ ly cà phê nóng, chàng cảm thấy ấm bụng khi về phòng ngủ. Anh bạn thi sĩ nằm giường trên cất giọng Huế nhỏ nhẹ hỏi chàng:
- Mới về hỉ? Có thấy lạnh không?
Chàng ngó lên đáp:
- Không. Mình vừa uống cà phê xong. Bạn nhớ Huế hay sao mà chưa ngủ?
Anh bạn nói tiếp:
- Mình đang viết thơ cho gia đình.
- Thế mà tôi cứ tưởng anh làm thơ.
- Chừ còn thì giờ đâu mà nghĩ đến thơ. Lâu lâu mình mới làm cho vui.
- Tôi ước mong có ngày ra Huế ngắm sông Hương núi Ngự đó anh.
- Cũng dễ thôi. Ngoài nớ đẹp lắm.
Nghĩ đến thơ từ của gia đình bị gián đoạn, mà chàng cũng chẳng muốn viết bưu thiếp nhắn tin trong lúc này, chàng khẽ ngâm mấy câu thơ vừa nghĩ ra:
Mịt mù bể Bắc, trời Nam,
Nước non đôi ngả, âm thầm đợi nhau,
Sông Tương xưa đã muộn sầu,
Mà nay Bến Hải còn sầu hơn ai.

Những ngày đi hành quân thám sát địa hình, phải leo lên các đinh núi cao như Pôle Nord hay bước xuống triền đồi, thung lũng, vào tận các thôn lẻ tẻ của người Thượng ở trong rừng, Bình nhận thấy vùng Tây Nguyên có giá trị về chiến lược, kinh tế và nhân văn chưa được khai phá quy củ. Tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, các sắc dân thiểu số thuộc ngôn ngữ Môn-Khơme còn sống dưới dạng du mục và bán khai. Khu vực này còn có tên là Hoàng triều cương thổ, coi như lãnh thổ riêng của Quốc trưởng Bảo Đại, nơi ngài thường tổ chức các cuộc đi săn thú rừng để tiêu khiển, có Ngự lâm quân và người Thượng đi theo để bảo vệ và hầu cận ngài.
Về mặt chiến lược. Tây nguyên đất rộng, người thưa, tiềm năng kinh tế mạnh, nên ông Diệm chú trọng phát triển về ba mặt dân sinh, kinh tế và quốc phòng. Ông đã đưa dân tị nạn lên các tỉnh cao nguyên định cư, khuyến khích họ trồng các cây có năng xuất cao như cao su, trà, cà phê. Ông cũng cho xúc tiến chương trình giáo dục, hướng dẫn đồng bào Thượng định cư, định canh để cải thiện cuộc sống du mục cố hữu của họ.
Quân đội Quốc gia hãy còn non trẻ, lại phải gánh vác nhiệm vụ an ninh trên khắp lãnh thổ miền Nam trong khi Việt Minh còn gài lại các đơn vị vũ trang nằm vùng thuộc Quân khu 5 cũ (Quảng Ngãi, Bình Định) và miền đông Nam Bộ (Gò Công, Bến Tre). Các tiểu đoàn Việt Nam mới từ Bắc vào đang được chấn chỉnh cùng các tiểu đoàn Bảo An ở Trung và Nam Việt. Trước 1954, Việt Minh có 6 đại đoàn ở Bắc Việt, chưa kể các đơn vị biệt lập ở trong Nam. Pháp đã phải dồn quá nửa lực lượng trong số 236.000 quân ở Đông Dương và các tiểu đoàn Việt Nam ra chiến trường miền Bắc mà không xoay chuyển được tình thế. Từ 1950, nhờ Liên Xô, Trung Cộng viện trợ vũ khí dồi dào, Việt Minh mới đủ sức mở mặt trận biên giới Cao-Bắc-Lạng. Tháng Ba 1954, bốn sư đoàn Việt Minh gồm các đại đoàn 308, 312,316,351 và trung đoàn 57 thuộc đại đoàn 304 đã giao chiến với lực lượng Pháp gồm 21 tiểu đoàn ở thung lũng Điện Biên Phủ. Bên cạnh bộ tham mưu của tướng Võ Nguyên Giáp có sự chi đạo của Cố vấn Trung Cộng,[2] Vi QuốC Thanh.
Ngày 7 tháng Năm 1954, sau 55 ngày đêm chiến đấu, trận Điện Biên Phủ đã kết thúc với sự đầu hàng của quân Pháp. Thiếu tướng De Castries và 10.000 quân của ông đã bị Việt Minh bắt làm tù binh.[3] Sau đó Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia đôi đất nước tại vĩ tuyến thứ 17.
Quân đội Quốc gia năm 1954 có 200.000 người do Trung tướng Nguyễn Văn Hinh, một sĩ quan xuất thân từ quân đội Pháp chỉ huy. Ông Hinh nguyên là trung tá chánh võ phòng của Quốc trưởng Bảo Đại, có tư tưởng thân Pháp mà Thủ tướng Diệm lại không ưa Pháp.
So với người Anh, người Pháp kém thức tỉnh trong vấn đề trả độc lập cho các thuộc địa. Phong trào các nước nhược tiểu đòi độc lập đã bùng nổ ngay sau khi Thế chiến 2 kết thúc năm 1945. Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã được thành lập, tạo cơ hội cho các nước hỗ trợ lẫn nhau và góp tiếng nói cho sự tôn trọng tự do và nhân quyền của toàn thể nhân loại. Người Anh đã trả độc lập cho Ấn Độ năm 1947, Hoà Lan (bây giờ gọi là Hà Lan) trả độc lập cho Nam Dương năm 1949. Vài nước Phi Châu cũng đã giành được độc lập trong các năm 1950. Riêng Pháp vẫn cố bám vào Đông Dương và chỉ rời Bắc Việt Nam cuối 1954, để Việt Minh Cộng sản quay lại thông trị nhân dân.

Thất trận ở miền Bắc, quân đội Pháp rút vào miền Nam với hy vọng gây lại ảnh hưởng trên chính trường thuộc địa cũ. Miền Nam còn tồn tại các lực lượng giáo phái võ trang Cao Đài, Hòa Hảo và tổ chức Bình Xuyên đã được Pháp cho thành lập từ năm 1941 theo chính sách chia để trị. Cao Đài có 20.000 quân tại Tây Ninh do Tướng Trịnh Minh Thế chỉ huy; Hòa Hảo có 15.000 quân ở Long Xuyên do Tướng Trần Văn Soái tức Năm Lửa chỉ huy và Bình Xuyên có 25.000 quân tại Saigon- Chợ Lớn thuộc quyền Tướng Lê Văn Viễn tức Bẩy Viễn.
Cuối năm 1940, Nhật đưa quân vào bán đảo Đông Dương trong lúc Pháp đang yếu thế. Quân Nhật đã trang bị vũ khí cho lực lượng Cao Đài. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 14 tháng 8 - 1945, Pháp trở lại tái chiếm Saigon ngày 23 tháng Chín 1945, theo chân quân Anh có nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ Đà Nẵng trở vào; từ Đà Nẵng trở ra do quân của Tưởng Giới Thạch phụ trách. Các lực lượng Cao Đài, Bình Xuyên đã từng hợp tác với Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Vụ Việt Minh giết hại ông Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ đạo Hòa Hảo ở Long Xuyên năm 1947 đã thức tỉnh các giáo phái; từ đó Cao Đài, Bình Xuyên và các phần tử quốc gia đã bất hợp tác với Việt Minh vì họ lộ chân tướng cộng sản.
Ngoài vấn đề lo định cư đồng bào di cư, ông Diệm phải lo đối phó với âm mưu của Pháp và các giáo phái định lật đổ ông. Tuy thất trận ở miền Bắc, người Pháp vẫn muốn bám vào các quyền lợi béo bổ ở miền Nam. Đại tướng Paul Ély, Cao ủy Pháp ở Saigon, không ưa ông Diệm, muốn Quốc trưởng Bảo Đại về nắm lại quyền binh hoặc cử một người thân Pháp thay thế ông Diệm, người đang được sự ủng hộ của Tổng thống Mỹ Eisenhower để ổn định miền Nam.
Tháng 9, 1954, Pháp bật đèn xanh cho tướng Hinh làm cuộc đảo chính ông Diệm, song âm mưu này đã bị cơ quan tình báo Mỹ CIA phát hiện từ trong trứng nước và Đại sứ Mỹ Donald Heath đã cho các giáo phái và Pháp biết là Mỹ sẽ cúp viện trợ cho Việt Nam nếu họ định đảo chính lật ông Diệm.
Âm mưu của tướng Hinh đã bị bại lộ; quân đội dưới quyền ông án binh bất động và các giáo phái cũng lơ là, thế là tướng Hinh đã phải bay qua Paris, trở lại phục vụ cho quân đội Pháp. Qua tháng 10- 1954, ông Diệm cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ giữ chức quyền Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia thay thế Tướng Hinh.
Riêng với các giáo phái, mặc dầu ông Diệm đã dành cho họ chức vụ trong nội các, như Quốc vụ khanh Trần Văn Soái (Năm Lửa); họ vẫn âm mưu chống lại ông vì lo ngại mất các quyền lợi và ảnh hưởng một khi ông Diệm sát nhập quân đội của họ vào Quân đội Quốc gia. Nhất là khi ông Diệm ra lệnh đóng cửa các sòng bài, tiệm hút, nhà điếm trong Chợ Lớn thì Bẩy Viễn tỏ thái độ chống ông Diệm ra mặt. Y đã liên kết với Cao Đài, Hòa Hảo thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia rồi cùng phái đoàn giáo phái tới gặp ông Diệm tại dinh Độc Lập để yêu cầu ông từ chức, sau đó họ sẽ thành lập một chính phủ mới có các thành phần của họ tham gia. Tuy nhiên ông Diệm đã cương quyết bác bỏ yêu sách đoạt quyền ngang ngược này. Ông đã từng ấp ủ kiến tạo một quốc gia độc lập, dân chủ, đoàn kết toàn dân, lo cho dân hạnh phúc nên ông không thể để tình trạng sứ quân lộng hành. Nếu như nhượng bộ các giáo phái, Bẩy Viễn nắm được chức thủ tướng thì miền Nam sẽ rơi vào tình trạng tranh giành quyền lực liên miên, tan hoang nhanh chóng, tạo cơ hội thuận lợi cho Cộng sản nhuộm đỏ nốt phần đất tự do.
Tháng Mười Một 1954, Thủ tướng Diệm đã bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham mưu trưởng thay Tướng Nguyễn Văn Vỹ được cử giữ chức Tổng thanh tra quân đội.
Nắm trong tay quân đội, ông Diệm không còn lo người Pháp gây chuyện, ông cũng muốn Pháp sớm rút khỏi miền Nam vì họ không còn vai trò gì ở đây. Bên cạnh ông Diệm có cố vấn Mỹ, Đại tá Edward Lansdale, người đã tích cực giúp ông trong bước đầu củng cố chính quyền. Phái bộ Cố vấn Mỹ đã bắt đầu huấn luyện và tổ chức các tiểu đoàn khinh quân thành 7 Sư đoàn dã chiến, đồng thời cải tiến Không quân và Hải quân.
Các khoản viện trợ kinh tế, quân sự đã được Mỹ trao thẳng cho chính phủ ông Diệm, không qua tay Pháp theo yêu cầu của họ. Điều này khiến Cao ủy Pháp ở Saigon thất vọng, nhưng họ không thể làm gì được vì chính quân viễn chinh Pháp vẫn phải ngửa tay nhận viện trợ Mỹ để nương náu. Pháp càng bị cô lập thêm trước ảnh hưởng lớn mạnh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Tình hình Saigon cuối năm 1954 tạm lắng dịu sau vài biến cố mà phần thắng đã thuộc về ông Diệm. Tuy vậy vẫn chưa hết những cơn sóng ngầm có thể quậy lên bất cứ lúc nào để thử thách bàn tay lèo lái con thuyền quốc gia của Thủ tướng Diệm. Bên cạnh ông có bào đệ Ngô Đình Nhu, một nhà trí thức thâm trầm, sắc sảo làm Cố vấn đắc lực cho ông. Ngoài ra ông Nhu là thủ lãnh Đảng Cần Lao Nhân Vị, gọi tắt là Đảng Cần Lao, nguyên là một tổ chức chính trị do ông Diệm sáng lập từ trước năm 1954.
Trường Đà Lạt lúc này đã được Pháp chuyển giao cho Trung tá Nguyễn Văn Chuân chỉ huy. Còn vài sĩ quan Pháp làm Đại đội trưởng, chờ bàn giao chức vụ cho các sĩ quan Việt. Giáo trình vẫn theo lối dạy quy ước của Pháp, không đề cập đến chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông mà Việt Minh đã áp dụng triệt để trong chín năm kháng chiến, coi như phương pháp chính để lấy yếu thắng mạnh.

Thấm thoát đã sáu tháng qua. Đà Lạt đang bước vào mùa Giáng sinh. Hoa anh đào bắt đầu nở rộ trên đường phố trong cái lạnh căm căm làm cho má các cô gái tự nhiên ửng hồng không cần phấn son tô điểm. Bình bắt đầu cuộc hành quân lên đỉnh núi Lâm Viên đầy lau lách để kết thúc khóa học quân sự.
Buổi tối cuối cùng ở vũ đình trường, chàng đã trở thành một sĩ quan khi đeo cặp lon thiếu úy một vạch vàng thay cho cặp lon an pha bắt chéo trên vai. Hôm sau chàng được đưa về Thủ Đức làm lễ mãn khóa dưới quyền chủ tọa của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Sau buổi lễ, ông Diệm trong bộ âu phục trắng đã đi đến các bàn ăn bắt tay từng sĩ quan thuộc khóa Vì Dân. Lần đầu tiên chàng được nắm tay ông; người đang cầm vận mệnh của đất nước trong cơn sóng gió. Cái bắt tay giản dị, đầm ấm, nét mặt cởi mở của ông đã gây cho chàng một ấn tượng trước khi chàng lên đường phụng sự lý tưởng chung: Chính nghĩa Quốc gia Dân tộc. Đó là động cơ đã kết hợp các thanh niên từ mọi miền đất nước đứng chung đội ngũ để bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc.

Chú thích:
[1] Năm 1774, Trịnh Sâm cho quân vào chiếm Thuận Hóa và Quảng Nam, các Chúa Nguyễn phải chạy vào Gia Định rồi bị quân Tây Sơn của Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đánh đuổi. Sau đó Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt Trịnh (1786), phò Lê.
[2] Tổng Tập Hồi Ký của tướng Võ Nguyên Giáp, xuất bản năm 2006, tr. 600, 603, 919.
[3] Trong số này có Đại úy Phạm Văn Phú, sau là Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 2, Vùng 2 Chiến thuật.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2021 10:57:01 bởi Ct.Ly>
Chương Ba
Vượt cơn sóng gió
 
 
Bình có mặt ở Huế đầu năm 1955. Trời còn rét đậm, thỉnh thoảng có mưa phùn. Đang quen cái nắng chói chang của đất Saigon, ra đây gặp tiết đông hàn, chàng có cảm tưởng mình đang trở lại những ngày mưa bụi ở Hà Nội. Chỉ thiếu không khí quây quần trong gia đình và những nụ đào tươi mơn mởn buổi đầu xuân. Huế như trầm mình trong cổ tích và giữ vẻ đế đô nghiêm nghị.
Từ Huế, chàng ngồi xe jeep cùng một sĩ quan mới ra trường về Sịa trình diện Tiểu đoàn 31 BVN. Tiểu đoàn đóng trên dải đất cằn cỗi phía bắc phá Tam Giang, nơi biển Đông khoét sâu vào đất liền thành một vũng biển dài, xung quanh bờ nổi lên các xóm chài và cồn cát trắng xóa.
Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Trong thời kỳ nội chiến Trịnh-Nguyễn ở thế kỷ thứ 17, việc đi lại giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong khó khăn vì chiến tranh và đường xá kém mở mang. Dân từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong (Thuận-Hóa) phải qua vùng đất hoang vu, cây cỏ rậm rạp (truông), trộm cướp hoành hành ở Quảng Trị, hoặc phải vượt qua gió to, sóng cả trong phá Tam Giang phía đông bắc Huế. Sau nhờ có các Chúa Nguyễn trị an và mở mang, nên có ca dao:
 Phá Tam Giang ngày rày đã cạn (?),
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm.
Đất Phú Xuân ngày nay đẹp như tranh vẽ với sông Hương, núi Ngự, cảnh trí thơ mộng là nhờ ở lòng yêu nước tuyệt vời của Công chúa Huyền Trân đã đem về cho Tổ quốc ta từ 7 thế kỷ trước.
Hai châu Ô, Lý ngày xưa ấy,
Nhớ mãi Huyền Trân một bóng hồng.(NAL)
Theo lời hứa của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, năm 1306 Vua Trần Anh Tông đã gả em gái là Công chúa Huyền Trân cho Vua Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lý, sau đổi thành Thuận Hoá (Quảng Trị, Thừa Thiên). Biên giới Đại Việt lúc ấy đã mở rộng tới đèo Hải Vân. Năm sau Chế Mân mất, Vua Anh Tông cử sứ giả Trần Khắc Chung và tùy tùng vào Chiêm cứu Huyền Trân khỏi lên giàn hỏa với Chế Mân. Đã có các dị nghị quanh con thuyền vượt biển chở Khắc Chung và Huyền Trân kéo dài mấy tháng mới về tới Thăng Long. Có thể vì Huyền Trân có công lao lớn nên nhà vua đã bỏ qua chuyện này.
Người dân Trị Thiên còn nhớ đất Thuận Hoá trở nên trù phú, văn minh phát triển là nhờ công lao khai phá, di dân lập nghiệp của Chúa Nguyễn Hoàng. Năm 1558, ông được Vua Lê, Chúa Trịnh cử vào trấn thủ đất Thuận-Quảng (từ Quảng Bình đến Bình Định)[1]. Ông là con thứ hai của Nguyễn Kim, thuộc một gia đình vọng tộc ở Thanh Hoá. Sau này kinh đô nhà Nguyễn được đặt tại Phú Xuân (Huế), nơi trung tâm chính trị của cả nước.
Đất Phú Xuân còn là nơi xuất phát cuộc hành quân kỳ diệu và tốc thắng của Vua Quang Trung ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), ra đánh tan 20 vạn quân Thanh ở Thăng Long, khiến Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy, Vua Lê Chiêu Thống; kẻ rước voi về giày mồ, thái hậu và bộ hạ đã phải theo Nghị qua Tàu một cách nhục nhã.
Núi Bân[2] thuộc xã An Cựu ngày nay là nơi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế trời đất trước khi lên ngôi hoàng đế và xuất quân Bắc phạt. Chỉ bốn ngày, đại quân Quang Trung đã tới Nghệ An. Quân mệt thì hai người cáng một để giữ sức bền cho quân. Tới Nghệ An, Vua Quang Trung cho đại quân nghỉ mười ngày để tuyển thêm một vạn quân tinh nhuệ bổ sung cho quân Thuận Hóa, Quảng Nam. Quân số tới trên 10 vạn người và 100 voi trận. Ngày 12 tháng Chạp, Vua Quang Trung tới núi Tam Điệp. Ngày 30, vua mở tiệc khao quân, hẹn ngày mồng 7 tết Kỷ Dậu (1789) vào thành Thăng Long.
  Sau đó 5 đạo quân thủy, bộ của Quang Trung tiến thẳng ra Thăng Long. Nửa đêm mồng Ba tháng Giêng, quân Quang Trung đến vây làng Hà Hồi, gọi loa ầm ĩ khiến quân Thanh hốt hoảng kéo nhau ra hàng. Mờ sáng ngày mồng Năm Tết, Quang Trung tới làng Ngọc Hồi. Binh sĩ đã dùng 60 tấm ván, làm thành 20 tấm mộc, mỗi tấm ghép 3 miếng ván, đắp rơm ướt ra ngoài. Cứ 10 lính khỏe đeo dao ngắn, vác tấm mộc tiến hàng ngang vào đồn, theo sau có 20 binh sĩ cầm vũ khí. Vua Quang Trung cỡi voi thúc phía sau. Quân Thanh bắn ra bị mộc cản, hoảng loạn đầu hàng. [3]
Cùng ngày Đô Đốc Long đem quân vây đánh trại Khương Thượng ở gò Đống Đa, viên Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị đang hân hoan mở tiệc tại thành Thăng Long, được quân Thanh ở Ngọc Hồi chạy về cấp báo các đồn đã bị quân Tây Sơn hạ, y bỏ cả ấn tín, không kịp mặc áo giáp, vội vàng lên ngựa chạy qua cầu phao bắc trên sông Hồng. Quân Thanh chen lấn rớt xuống sông. Cầu đứt, quân sĩ rơi đầy sông làm dòng nước bị nghẽn.[4]
Chiều mồng Năm Tết Kỷ Dậu (1789). Vua Quang Trung đã vào thành Thăng Long, giữa tiếng reo hò của dân chúng, trên chiến bào nhà vua còn khét mùi thuốc súng. Sau đó Vua Quang Trung sai người phi ngựa đem cành đào Nhật Tân vào thành Phú Xuân dâng Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân để báo tin mừng đại thắng.
Nhà Nguyễn với 9 chúa, 13 vua trải dài gần 4 thế kỷ, từ Chúa Nguyễn Hoàng (1558) đến Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30 tháng Tám 1945 sau khi Việt Minh cướp chính quyền. Đây là thời kỳ nước ta đã mở rộng xuống phía nam rồi bị Pháp xâm chiếm và đô hộ từ 1859 đến 1945. Hoàng thành Huế nay bỏ trống. Quốc trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu, [5] hai hoàng tử và ba công chúa đã qua Pháp ở. Đức Từ Cung, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, thân mẫu của Bảo Đại đã ra Cung An Định ở, sau đó bà mua nhà ở An Cựu.[6] Trong khi đó một ngôi nhà cổ xung quanh có vườn tược sum sê kế cận nhà thờ Phủ Cam, nơi thân mẫu ông Diệm và ông Ngô Đình Cẩn, em áp út ông Diệm cư ngụ, các quan chức văn võ ở Huế vẫn thường ra vào để nhận chỉ thị của ông Cẩn, Cố vấn của Thủ tướng Diệm ở miền Trung.
Dải đất miền Trung lọt giữa dãy Trường Sơn và biển Đông, vừa dài vừa hẹp, thiên tai lũ lụt thường xẩy ra gây nhiều thiệt hại cho dân chúng.
Năm 1955, chính quyền đã dẹp các hoạt động chống đối của nhóm Đại Việt ở chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị và Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Quảng Nam nhằm tranh đấu quyền hành cho phe nhóm họ. Nhiều cán bộ Cộng sản nằm vùng đã lần lượt bị các cơ quan an ninh ta phát hiện.
Nhân dân ủng hộ ông Ngô Đình Diệm vì ông là một nhà chí sĩ yêu nước, quê Quảng Bình, sinh ngày 3 tháng Giêng 1901, thuộc gia đình danh gia vọng tộc. Thân phụ là cụ Ngô Đình Khả, Thượng thư triều Vua Thành Thái (1889-1907). Đã có câu ca dao ca ngợi chữ trung của hai vị thượng thư:
Đầy vua không Khả,
Đào mả không Bài.
Thượng thư Ngô Đình Khả đã không ký vào tờ biểu ép Vựa Thành Thái thoái vị do Pháp bầy ra vì nhà vua có tinh thần ái quốc mà Pháp nói vua bị rối loạn thần kinh, không lo nổi quốc sự! Còn Thượng thư Nguyễn Hữu Bài không chịu cho Pháp đào mả Vua Tự Đức làm mất quốc thể. Cả hai vị thượng thư có sĩ khí và tinh thần bất khuất.
Bào huynh là ông Ngô Đình Khôi, Tổng đốc Quảng Nam, đã bị Việt Minh sát hại cùng ông Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Lại của Vua Bảo Đại sau ngày 19 tháng Tám 1945 tại Huế.
Bản thân ông Diệm đã từng là Tri Phủ Hải Lăng, Quảng Trị (1925), Tuần Vũ (Phan Thiết) và Thượng thư Bộ Lại của Vua Bảo Đại (1933), song chỉ bốn tháng sau ông từ chức vì đề nghị của ông thiết lập cơ quan lập pháp đã không được viên Khâm sứ Pháp tại Huế chấp thuận. Sau ngày 19 tháng Tám 1945, ông bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà [7] rồi đưa ra Tuyên Quang giam giữ. Tháng Hai năm 1946, Hồ Chí Minh ra lệnh thả ông; dịp này họ Hồ dụ ông tham gia chính phủ song ông không chịu. Các yếu tố nhân văn, lịch sử và sự nghiệp của dòng họ Ngô Đình cũng như của cá nhân ông Diệm đã tạo uy tín cho ông.
Về Sịa, Bình gặp ông tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Cầm, người Huế, lớn tuổi. Các đại đội trưởng còn trẻ, mang lon thiếu úy, phần đông được động viên từ miền Bắc. Có người mang theo vợ con ở chung với mình trong điều kiện thiếu tiện nghi. Tiểu đoàn không có doanh trại, các đại đội đóng tạm trong mấy túp lều tranh ngoài bãi trống, còn Bộ chỉ huy đóng trong một ngôi đền nhỏ của xã.
Khu vực tiểu đoàn kiểm soát tương đối an ninh, tuy màng lưới Cộng sản còn ém lại trong vùng. Ban 2 đã bắt được nữ cán bộ binh vận Cộng sản giả là vợ binh sĩ để dò la tin tức. Địch không thật tâm mong muốn hòa bình dù đã ký hiệp định Genève.
Bình được cử phụ trách Ban 5, lo công tác giáo dục tinh thần binh sĩ. Tiểu đoàn có cái máy quay tay in báo cho binh sĩ đọc. Ngoài môn bóng đá, binh sĩ không có gì để giải trí. Đa số các tiểu đoàn từ miền Bắc rút vào, còn đang trong giai đoạn chấn chỉnh và tái huấn luyện.
Ban ngày làm việc ở tiểu đoàn, buổi tối chàng về ngủ trong nhà của ông già nông dân. Tiền trọ đã không lấy, ông còn dành cho chàng cái phản ở gian trái để nằm chung với anh bạn sĩ quan. Tuy vậy hàng tháng chàng và anh bạn vẫn biếu ông già một món tiền tiêu. Nhà có hai cô con gái; cô lớn lấy chồng ngoài Quảng Trị, còn cô út bán hàng xén ở chợ Sịa gần nhà.
Thấy chàng và anh bạn sống xa gia đình, lại phải cơm hàng cháo chợ vì tiểu đoàn chưa có câu lạc bộ, ông già ái ngại bảo:
- Hai anh muốn ăn cơm nhà tôi bảo o nấu cho. Đi mô cho cực.
Bình nói thay cho anh bạn:
- Cảm ơn bác. Chúng cháu ăn uống thế nào cũng được, o còn bận bán hàng, chúng cháu không dám phiền ạ.
Ông già cười hóm hỉnh:
- Các anh hiền rứa. Mấy ông quan Tây lúc trước hách dịch, đi mô dân cũng sợ.
Bỗng một sáng chủ nhật, cô gái út nghỉ bán hàng, ở nhà loay hoay nấu cơm mời chàng. Anh bạn đã đổi đi đơn vị khác. Bữa cơm chỉ có chàng và nàng. Chàng pha giọng Huế hỏi:
- Bác đi mô?
Nàng vui vẻ đáp:
- Ba em đi ăn giỗ bên ngoại.
Nhìn vào mâm cơm, chàng khẽ hỏi:
- O làm món gì đây?
Nàng nhí nhảnh đáp:
- Dạ món Huế.
Giọng cô gái nhẹ nhàng và thánh thót, chàng có cảm tưởng như nghe một âm điệu trầm bổng trong bản nhạc êm dịu. Nàng vừa tiếp món ăn cho chàng, vừa kể:
- Món ni là con nuốc ăn với mắm tôm chua. Món nớ là canh sơ mít hái trong vườn nhà em.
Con nuốc trắng ăn vừa giòn vừa mát; mắm tôm chua ăn vừa cay vừa ngọt, còn canh mít vừa bùi vừa thơm, ngần ấy thứ ăn xen kẽ thành một hợp tuyển hương vị đặc biệt bình dân Huế.
Chàng vội khen:
- Ngon hỉ. Tôi chưa được ăn các món ni bao giờ. Cô gái tươi cười để lộ chiếc răng khểnh trông thật xinh.
- Ni là món dễ ăn, chưa phải là đặc sản Huế. Mai mốt em sẽ đãi anh món khác.
Cô gái chợt nhìn ra sân có đôi chim sẻ tìm mồi. Nhà nàng có bụi tre dày, chim về làm tổ kêu rối rít. Không hiểu nàng có xao động vì hình ảnh đôi chim sẻ quấn quýt bên nhau mà mắt nàng nhìn chàng thật sắc, cái nhìn như thấu lòng chàng một ý tình kín đáo.
Bất giác chàng liên tưởng đến hai câu thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Lúc chàng đã quen thuộc với con người và cảnh vật ở Sịa thì chàng lại được thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Khu chiến Thừa Thiên. Thiếu tá Cầm cũng được chuyển về Saigon coi Lữ đoàn phòng vệ phủ Thủ tướng. Sau chàng có ghi lại tình cảm của cô gái Sịa trong bài thơ lưu niệm:
Đời lính phiêu bồng tận mãi đâu,
Rưng rưng đôi mắt biếc u sầu,
Tôi xa xứ Huế, lòng lưu luyến
Theo bước quân hành, một bóng yêu.
Chàng cảm thấy những ngày ở Bộ chỉ huy Khu chiến Thừa Thiên đỡ vất vả hơn ở dưới tiểu đoàn nhưng ở đơn vị vẫn vui hơn vì có lính tráng, bạn bè đông và có dịp di chuyển các nơi xa. Bộ chỉ huy đóng bên hữu ngạn sông Hương, do Trung tá Nguyễn Thế Như làm chỉ huy trưởng. Bộ chỉ huy đã khám phá một hầm chôn vũ khí của Việt Cộng ở Truồi; Khu chiến cho xe GMC chở về Huế chất đầy kho.
Ngày 28 tháng Tư 1955 là phiên trực của chàng tại Bộ chỉ huy. Máy truyền tin cho biết quân Bình Xuyên đã mở cuộc tấn công ở thủ đô Saigon. Bẩy Viễn đã ra lệnh cho thuộc hạ pháo kích vào dinh Độc Lập, nơi Thủ tướng Diệm làm việc. Trung tá Như sốt ruột bảo chàng:
- Anh nghe máy truyền tin xem Saigon động tĩnh ra sao?
Huế vẫn yên tĩnh. Trước đó vài tiểu đoàn đã di chuyển vào Nam để tăng cường về mặt an ninh.
Biết không thể mượn thế các giáo phái ép ông Diệm từ chức, Bẩy Viễn đã liều lĩnh tấn công Quân đội Quốc gia. Y ỷ quân đội Pháp giúp đỡ song Pháp chỉ giúp về mặt tình báo. Các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo không động tĩnh gì cả.
Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc gia gồm đại diện các chính đảng và nhân sĩ họp[8] tại dinh Độc lập ngày 29 tháng Tư 1955 theo lời mời của Thủ tướng Diệm, đã đòi truất phế Bảo Đại nhân vụ Bảo Đại đánh điện gọi ông Diệm qua Pháp, trao quyền lại cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ. Trong cuộc đối đầu với Tướng Vỹ tại dinh Độc Lập tối 30 tháng Tư, có mặt Thủ tướng Diệm, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia và ông Hồ Hán Sơn, đại diện Việt Nam Phục Quốc Hội, ông Nhị Lang, đại diện Mặt trận Quốc gia Kháng chiến Việt Nam đã rút súng lục định bắn tướng Vỹ và nhờ ông Hồ Hán Sơn lột lon Tướng Vỹ, vì ông Vỹ đã theo lệnh Bảo Đại đem 2 tiểu đoàn Ngự lâm quân từ Đà Lạt về Saigon để tước quyền Tướng Tỵ và Thủ tướng Diệm. Nhờ sự can ngăn của ông Diệm, Tướng Vỹ cam kết không làm phản nên ông Nhị Lang đã trả lại lon cho Tướng Vỹ.
Tuy không qua Pháp theo bức điện của Bảo Đại, ông Diệm cũng đã cử em út là ông Ngô Đình Luyện qua Pháp trình bầy với Quốc trưởng những khó khăn mà ông Diệm phải đương đầu và biếu số tiền 700.000 đồng thuộc quỹ đen của Thủ tướng để ngài chi tiêu”[9]
Đại tá Dương Văn Minh được cử làm tư lệnh chiến dịch Hoàng Diệu đã dẹp tan cuộc phiến loạn của Bẩy Viễn ở Saigon, đẩy đám tàn quân Bình Xuyên chạy về Rừng Sát; còn Bẩy Viễn tìm đường trốn qua Pháp. Con trai Bẩy Viễn là Le Paul giấu kho tiền của Bẩy Viễn ở Rừng Sát, toàn tiền 500 đồng đựng trong các sac marin giấu trên cây. Số tiền này được Thiếu tá Trần Hữu Độ, Trung đoàn trưởng 12 thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh tham gia chiến dịch phát hiện, sau đó Đại tá Dương Văn Minh tịch thu không rõ bao nhiêu triệu. Le Paul bị bắn chết trong lúc y chạy trốn”.[10]
Sau vụ dẹp Bình Xuyên, Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Mỹ do Tướng John W. O’Daniel cầm đầu tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của ông Diệm trước những lời chỉ trích của Pháp trong vấn đề ông xử trí mạnh tay với các giáo phái.
Được tin Bình Xuyên bị tan rã, Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc vội trốn qua Cam Bốt, lực lượng Cao Đài cũng bị quân đội quốc gia dẹp tan. Trong khi đó các tín đồ đạo Cao Đài khoảng hai triệu người, Hòa Hảo khoảng một triệu người vẫn tin tưởng vào chính sách tôn trọng tôn giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm.
Thiếu tướng Trịnh Minh Thế thuộc giáo phái Cao Đài đã đem quân về quy thuận ông Diệm trước khi có vụ Bình Xuyên nổ súng. Ngày 3 tháng Năm 1955, trong lúc ông chỉ huy một cánh quân dẹp toán Bình Xuyên trên cầu Tân Thuận, Nhà Bè thì bị bắn hạ. Ông Diệm đã cho cử hành đám tang Tướng Thế một cách trọng thể.
Thủ lãnh quân đội Hòa Hảo gồm các tướng Trần Văn Soái tức Năm Lửa, Lê Quang Vinh tức Ba Cụt phải chạy qua Cam Bốt lánh nạn.
Nhận thấy Quốc trưởng Bảo Đại sống ở Pháp không còn tha thiết với xứ sở và theo quyết nghị của Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng ngày 29 tháng Tư 1955, ngày 23 tháng Mười 1955, ông Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý để dân chúng biểu quyết vai trò của Bảo Đại và bầu vị Tổng thống đầu tiên của nền Đệ nhất Cộng Hòa. Kết quả 98 % phiếu cử tri truất phế Bảo Đại [11]  và bầu ông Diệm làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội đã tích cực tham gia cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm Bảo Đại và ủng hộ ông Diệm trong cương vị Tổng tư lệnh quân đội. Danh hiệu Quân đội Quốc gia sau đó được đổi thành Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Trong cuộc bầu Tổng thống Diệm đã có lá phiếu của Bình. Chàng đã được đổi về Nha Chiến Tranh Tâm Lý ở Saigon trước ngày có cuộc trưng cầu dân ý. Lúc ấy dân chúng và quân đội mong muốn đất nước chuyển sang một thời kỳ mới ổn định về chính trị và kinh tế. Các cơ chế thuộc về dân chủ như Hiến pháp, Quốc hội và nền Tư pháp độc lập đã được Tổng thống Diệm thực hiện để củng cố thể chế Cộng hòa.
Trong năm 1955, quân đội mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do Đại tá Dương Văn Đức làm tư lệnh để dẹp lực lượng võ trang Hòa Hảo tại Long Xuyên. Kết quả Đại tá Lâm Thành Nguyên dẫn một cánh quân Hòa Hảo ra hàng. Năm 1956, sau khi từ Cam Bốt trở về, Tướng Năm Lửa cùng bộ hạ đã ra đầu thú ông Diệm, riêng Tướng Ba Cụt bị binh sĩ của Thiếu tướng Dương Văn Minh bắt tại Thốt Nốt, Cần Thơ ngày 24 tháng Tư, 1956, trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Sau đó Ba Cụt đã bị tòa án quân sự Cần Thơ kết án tử hình, mặc dầu ông đã được các luật sư Lê Ngọc Chấn, nguyên Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng cho Thủ tướng Diệm và luật sư Vương Quang Nhường bào chữa nhưng vẫn không thể cứu vớt được sinh mệnh của ông.
Trước đó, Đại sứ Mỹ, Tướng Lawton Collins không tin rằng ông Diệm có thể đoàn kết các lực lượng quốc gia, nhất là lôi cuốn các giáo phái hợp tác với chính phủ để đương đầu với hiểm họa Cộng sản. Nhưng sau khi ông Diệm thành công trong vấn đề giáo phái, thái độ của Đại sứ Collins đã thay đổi hẳn, cả Tổng thống Eisenhower cũng tin rằng chỉ có ông Diệm là có thể cứu vãn miền Nam Việt Nam nên cần được Mỹ ủng hộ về mọi mặt.
Ngày 28 tháng Tư 1956, Cao ủy Pháp ở Saigon được lệnh rút hết 200.000 quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt vai trò bảo hộ và khai thác thuộc địa của Pháp tại Việt Nam trong ngót 90 năm.
Người Pháp ra đi khiến ông Diệm bớt ưu tư. Tuy xuất thân từ giới quan lại, ông vẫn có lập trường bài Phong, đả Thực và chống Cộng triệt để. Khi còn làm tri phủ Hải Lăng (1925), các phần tử Cộng sản đã bị ông nghiêm trị. Tháng Hai năm 1946, khi ông Diệm được thả từ Tuyên Quang, Hồ Chí Minh đã mời ông tham gia chính phủ để thu phục giới Công giáo song ông từ chối.
Với Pháp, ông cũng đã bất hợp tác khi ông từ chức Thượng thư Bộ Lại (1933). Năm 1950, Bảo Đại lập chính phủ thân Pháp, ông Diệm rời Saigon qua La Mã, rồi sang Mỹ cư trú tại tu viện Maryknoll, thành phố Lakewood, tiểu bang New Jersey. Đến tháng Sáu 1954, ông về nước nhận chức Thủ tướng theo yêu cầu của Bảo Đại.
Trước sau ông Diệm là một chí sĩ yêu nước, có chủ trương đoàn kết các đảng phái, tôn giáo để xây dựng quốc gia Việt Nam tự do và phú cường.

Chú thích:
[1] Triều Hổ (1400-1407) đã chiếm đến Quảng Nam, Quảng Ngãi
[2] Núi Bân còn đàn Viên Khâu do nhà Tây Sơn lập.
[3] Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Ngô Văn Gia Phái, tr 440.
 [4] Sử Thanh lại ghi Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh chặt cầu phao!
[5] Bà Nam Phương mất tại Pháp ngày 14/9/1963 ở tuổi 49.
[6] Đức Từ Cung mất ngày 10/11/1980 tại Huế.
[7] Ông Diệm định ra Huế khuyên Vua Bảo Đại bất hợp tác với Việt Minh. Ngày 30/8/1945, Bảo Đại tuyên bố thoái vị
[8] Theo Phong trào Kháng chiến Trịnh Minh Thế của ông Nhị Lang, ông Nguyễn Văn Minh thuật lại trên báo Saigon Nhỏ ngày 18/4/2008.
[9]Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đai tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.31.
[10] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr. 223, 224, 225.
[11] Bảo Đại mất ngày 31/7/1997 tại Paris, hưởng thọ 84 tuổi.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.11.2021 10:38:07 bởi Ct.Ly>
Chương Bốn
 
Miền Bắc chấn động
 Miền Nam ổn định
 
 
Sau khi nhận được tấm bưu thiếp nhắn tin của Bình, cô em gái ở Hà Nội đã gửi lá thư qua địa chỉ một người thân của gia đình ở bên Pháp để chuyển về Saigon cho chàng. Lá thư đi mất một vòng trái đất, mang theo những tin tức mà tấm bưu thiếp nhắn tin không được phép viết. Bởi thế khi nhận được thư nhà, chàng cảm thấy thật sung sướng và hồi hộp khó tả. Trong thư kể:
Hai căn nhà ở Giảng Võ đã bị ủy ban xã tịch thu cho cán bộ tập kết miền Nam ra ở. Lý do là nhà có con vào Nam theo ngụy. Đội phó cải cách ruộng đất ở xã lại là cậu H, em mẹ! Mẹ buồn về vụ này lắm, nhưng cứ phải cắn răng chịu đựng mà không biết than thở cùng ai.
Miền Bắc đang bước tiếp vào đợt cải cách ruộng đất thật sôi nổi. Nhiều người ở thành thị và nông thôn chưa bị đấu tố trong các đợt trước bắt đầu từ năm 1953, thì nay bị đấu tố, còn tài sản và ruộng đất bị tịch thu. Nhà mình may mà không bị đấu tố.
Đoạn sau, lá thư kể tiếp:
Anh Toàn, bạn anh, đại úy đóng đồn ở Hưng Yên, ở lại với gia đình không chịu vào Nam đã bị đưa đi cải tạo cùng các sĩ quan làm việc cho Pháp trước đây. Đám này đi mút mùa đấy, khó mà được về sớm để làm ăn.
Cô Hiền, bạn gái của anh đã đi lấy chồng là nhà báo. Cô ấy gửi lời thăm anh, nói anh đừng buồn. Cô ấy bảo với em là số cô không được kết duyên với anh, nên cô ấy cũng ân hận. Chắc đến kiếp sau hai người mới gặp lại nhau. Cô ấy hiền mà lãng mạn đáo để.
Tin Hiền lấy chồng làm Bình hơi buồn. Nhưng chàng cũng mong cho nàng sớm có một người chồng để cùng nhau xây dựng hạnh phúc và nâng đở nhau trong thời buổi khó khăn. Cái làm cho chàng bàng hoàng hơn cả là xã hội miền Bắc, trong đó có gia đình chàng đang phải trải qua cơn lốc của chiến dịch cải cách ruộng đất giai đoạn hai kéo dài từ năm 1954 đến năm 1956.
Thư nhà chỉ nói sơ qua tình hình ngoài Bắc, mà thực tế thì còn ghê gớm đến đâu. Trước mắt, bố mẹ chàng mất tài sản ở trong làng do ông cậu lập công với đảng ủy xã. Chính ông ta cản chàng đi vào Nam, bây giờ lại quay ra tố mẹ chàng có con theo ngụy để đội cải cách ruộng đất xã tịch thu nhà của bố mẹ chàng cho cán bộ tập kết ở.
Chàng thấy ông cậu cũng giống ông Trường Chinh, Tổng bí thư đảng Cộng sản đã tố khổ cả bố mình. Đảng Cộng sản đã biến đổi nhân cách từ thiện sang ác, từ duy tâm sang duy vật. Ngay cả nhà thơ Xuân Diệu cũng phải bỏ chất thơ tình lãng mạn để viết theo lệnh máu của Đảng:
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương!
Hàng vạn nhân dân miền Bắc đã bị mất hết tài sản, ruộng đất mà còn bị tố khổ, hãm hiếp, bị giết hại dưới cái mũ địa chủ, phản động. Cán bộ Cộng sản đã lê khẩu súng, lưỡi cầy đi khắp nơi để bắn giết và chôn sống nông dân chỉ có vài ba sào không đủ nuôi sống gia đình, còn thua xa một tiểu nông ở phương Tây có 10 mẫu ruộng tư hữu. Những nông dân thuê người cầy cấy với tình thương bao bọc kẻ nghèo khó cũng bị đấu tố là bóc lột; những người quốc gia chân chính thì bị buộc tội là lưng chừng rồi bị giết. Nông thôn và cả thành thị đã biến thành địa ngục trần gian khủng khiếp, còn man rợ hơn cả thời trung cổ.[1] Tháng Chín 1956, Trường Chinh đã phải nhìn nhận những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất. Đến tháng Mười y từ chức tổng bí thư giữa cảnh điêu tàn, kiệt quệ của miền Bắc!

Miền Bắc cũng đã công bố thành quả của chính sách “Người cầy có ruộng” Trên báo chí và đài để nhân dân học tập. Sau 5 đợt cải cách ruộng đất được tiến hành từ năm 1953 đến năm 1956, Cộng sản đã tịch thu của nông dân trong 3314 xã:
- 81 vạn hecta ruộng đất.
- 10 vạn trâu bò và 2 triệu nông cụ.
Đây chỉ là con số nổi, con số chìm còn lớn hơn nhiều. Theo các cán bộ hồi chánh đã tham gia các đợt đấu tố thì 180.000 nông dân và thành phần lưng chừng đã bị Cộng sản sát hại. Con số này đã bị nhà cầm quyền Cộng sản giấu nhẹm, vì sợ công luận trong và ngoài nước lên án.
Những nông dân từ Thái Bình, Nghệ An vượt biển vào Nam cho biết sau giai đoạn cải cách ruộng đất, nông dân phải tham gia các hợp tác xã nông nghiệp, cùng nhau vần công cầy cấy, thu gặt thóc lúa làm của chung cho hợp tác xã. Tùy theo công điểm của mỗi người mà được chia phần thóc, nhưng nông dân bất mãn vì có sự thiên vị, tham nhũng của cán bộ chủ nhiệm hợp tác xã, y như các cường hào ngày xưa.
Các nông trường, công trường tập thể đều rập theo mô hình kinh tế tập trung. Vì ruộng đất là của tập thể nên nông dân không tha thiết chăm sóc ruộng đồng như của tư hữu; số thóc lúa thu hoạch cứ giảm sút dần. Sự thất bại của hợp tác xã nông nghiệp là sai lầm lớn về kinh tế tập sản.
Trong lá thư viết cho cô em gái cũng gửi qua địa chỉ người thân ở Pháp, Bình kể:
Ở miền Nam, chính phủ đã thực hiện chương trình cải cách điền địa bằng cách mua lại ruộng đất của các chủ điền rồi trao cho các tá điền canh tác. Có điền chủ có tới 500 mẫu ruộng. [2] Với số tiền bán ruộng đất dư thừa, chính phủ khuyến khích các chủ điền đầu tư vào công, kỹ nghệ, góp phần phát triển kinh tế quốc gia. Đây là cuộc Cách Mạng Xanh có tính nhân đạo và công bằng, không gây đổ máu như dưới chế độ Cộng sản!

Từ năm 1955, chương trình một triệu mẫu ruộng của các điền chủ đã được chính phủ cấp phát từng đợt cho các nông dân, tiến tới xóa bỏ tình trạng bất công về ruộng đất giữa chủ điền và tá điền. Những đại điền chủ có ruộng thẳng cánh cò bay ở miệt sông Tiền, sông Hậu đã trở thành các chủ nhân xí nghiệp ở thành phố, thu hút thêm các công nhân có tay nghề chuyên môn và giảm bớt các tệ nạn xã hội, theo chủ trương thăng tiến cần lao, đồng tiến xã hội của chính phủ.
Trong năm 1956 ở Hà Nội lại xẩy ra vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Bình theo dõi báo chí Saigon phản ánh sự kiện một số văn nghệ sĩ miền Bắc chống lại đường lối lãnh đạo văn hóa độc tài của đảng Cộng sản. Nó như trái bom B-52 làm chấn động thần kinh nhà cầm quyền miền Bắc và làm đội ngũ chỉ huy văn nghệ đỏ cũng phải bàng hoàng, lúng túng.
Nhà xuất bản Minh Đức ở Hà Nội đứng ra xuất bản Giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Nhân Văn qui tụ các nhà văn, nhà thơ, giáo sư: Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hữu Loan, Phan Khôi, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường. Nội dung các bài viết đòi trả tự do ngôn luận cho nhân dân, chỉ trích vai trò lãnh đạo độc đoán của đảng trong lãnh vực tư tưởng và văn hóa, như bài: “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của Phan Khôi.
Nhà thơ Trần Dần viết:
Tôi bước đi
 không thấy phố,
 không thấy nhà,
chỉ thấy mưa sa,
trên mầu cờ đỏ.

Nhà thơ Phùng Quán viết:
Giấy bút tôi ai cướp đi
 thì tôi viết thơ trên đá!”
Nhà thơ Lê Đạt viết:
Đem bục công an đặt giữa trái tim người,
bắt tình cảm ngược xuôi
theo luật đi đường nhà nước”.
Các tờ Giai Phẩm, Nhân Văn ra được vài số thì bị đình bản cuối năm 1956, cùng chung một số phận có tờ Trăm Hoa và Đất Mới.
Tố Hữu, Trưởng ban tuyên huấn trung ương đảng đã vu cho nhóm Nhân Văn- Giai Phẩm âm mưu lật đổ chính quyền. Thế rồi các nhà văn trong nhóm Nhân Văn- Giai Phẩm bị đem ra xử trong vụ án ngụy tạo là “gián điệp”, đa số bị tù đầy và bị bao vây kinh tế vì tội chống nhà nước!
Tố Hữu đã từng bị giới văn nghệ đả kích vì ông làm thơ khóc Joseph Stalin, nhà độc tài Liên Xô qua đời năm 1953:
“Thương cha thương mẹ thương chồng,
Thương mình thương một,
thương Ông thương mười”.
Năm 1955, nhà thơ Trần Dần phê bình thơ Tố Hữu thần thánh hóa lãnh tụ đã bị kiểm thảo rồi bị bắt giam ba tháng trước khi lại phải vào tù lâu hơn vì dính líu đến vụ Nhân Văn-Giai Phẩm.
Dân chúng Hà Nội, giới sinh viên, trí thức, kể cả hội Văn Nghệ do đảng Cộng sản kiểm soát đã ủng hộ nhóm Nhân Văn- Giai Phẩm vì họ dám nói lên tiếng nói trung thực của giới cầm bút. Nhân dân miền Nam và các tổ chức văn hóa, văn nghệ, các cơ quan ngôn luận cũng đã tổ chức mít tinh để nhiệl liệt ủng hộ công cuộc đấu tranh của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm miền Bắc.
Trong một buổi thuyết trình trước nhân viên quân cán chính thuộc Bộ Quốc Phòng, Bình đem vụ Nhân Văn-Giai Phẩm ra trình bầy để các cử tọa thảo luận rồi đi đến thống nhất quan điểm là đảng Cộng sản đã chà đạp lên nhân quyền của nhân dân miền Bắc, đi ngược lại Bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp quốc.
Miền Nam ngược lại là mảnh đất hứa cho các nhà văn hóa, văn nghệ hoại động như trăm hoa đua nở mà không bị kiềm chế. Người ta gọi văn nghệ miền Bắc là mô phỏng. Các nhà văn phải phục vụ theo sự lãnh đạo của đảng. Nhà văn muốn viết phải vào trại sáng tác để được cán bộ văn hóa tư tưởng của đảng hướng dẫn về nội dung, sau đó phải đi thực tế tại các nông trường, nhà máy để lấy chất liệu viết.
Vườn hoa văn nghệ đã không khởi sắc vì đảng, chứ không phải văn nghệ sĩ thiếu óc sáng lạo.

Sau khi dẹp xong các lực lượng võ trang giáo phái, chính phủ Ngô Đình Diệm đã chú trọng cái tiến dân sinh ở thành thị và phát triển nông thôn cho ngang tầm thành thị. Đời sống nhân dân được nâng cao và thoải mái như trong thời bình. Tuy nhiên ông Diệm vẫn quan tâm đến việc xây dựng tinh thần quân đội. Do đó một chương trình học tập chính trị đã được phát động sâu rộng trong quân đội cùng một lúc với chiến dịch Tố Cộng được chính phủ phát động trên toàn quốc để phơi bầy chủ trương phá hoại của Cộng sản.
Công việc của Bình ở Nha Chiến Tranh Tâm lý là soạn thảo các tài liệu giáo dục cho quân đội, nhằm xây dựng niềm tin của quân đội vào Chính nghĩa Quốc gia và đả phá chủ nghĩa Cộng sản vô thần.
Những sai lầm của chủ nghĩa Mác trong đường lối kinh tế tập trung và trong đấu tranh giai cấp đã được chứng minh bằng các cuộc đấu tố địa chủ ở miền Bắc. Cuộc tắm máu vĩ đại đã không phân biệt ranh giới nào cả; ngay những người đã đóng góp tài sản cho Cộng sản từ lúc đầu như trường hợp bà Cát Thanh Long, nhà tư sản đã cúng nhiều vàng cho quỹ kháng chiến của Việt Minh vẫn bị giết hại.
Cả hai miền Nam, Bắc đã sôi nổi bước vào cuộc chiến ý thức hệ: chủ nghĩa Quốc gia chống chủ nghĩa Cộng sản, lôi cuốn theo các nhà văn, nhà báo, nhà tư tưởng ở cả hai phía nhập cuộc. Thế giới lúc này bị chi phối bởi lưỡng cực, qua cuộc chiến tranh lạnh; một bên là Mỹ lãnh đạo thế giới tự do, một bên là Liên Xô lãnh đạo khối cộng sản. Hai siêu cường Mỹ và Liên Xô đều có võ khí nguyên tử và đối đầu nhau trong phạm trù gây ảnh hưởng với các nước nhỏ. Nước Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của cuộc chiến tranh lạnh. Ở miền Bắc; Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được Liên Xô, Trung Cộng và các nước Đông Âu ủng hộ. Ở miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa được Mỹ và thế giới tự do ủng hộ.
Do vị trí chiến lược của Việt Nam, Tổng thống Mỹ Eisenhower và kế tiếp là Kennedy đã cam kết trợ giúp Việt Nam Cộng Hoà trong công cuộc chống cộng sản xâm lăng. Tổng thống Kennedy đã từng tuyên bố Việt Nam là “hòn đá tảng của thể giới tự do tại Đông Nam Á”[3]
Chiến dịch Tố Cộng đã mang lại kết quả cụ thể. Đạo luật số 10 năm 1959 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật đã làm tê liệt phần nào các tổ chức cộng sản. Nông thôn được ổn định; dân chúng đi lại làm ăn dễ dàng hơn trước. Một số lớn cán bộ cộng sản đã ra đầu thú với chính phủ để được sự khoan hồng. Trong số có Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo, quê ở Vĩnh Long, nguyên tiểu đoàn trưởng Việt Cộng. Ông Thảo đã được Đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục, bào huynh của Tổng thống Diệm đỡ đầu, nhờ đó ông Thảo được cử làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), một tỉnh được coi là sào huyệt của Việt Minh trong thời kháng chiến chống Pháp.
Cuộc sống ở các thành thị từ miền Nam ra miền Trung phồn thịnh trông thấy. Không chỉ nhờ viện trợ Mỹ đổ vào mà chính phủ có chính sách nâng đỡ các nhà đầu tư ở trong và ngoài nước. Các trường trung và đại học, các bệnh viện được mở thêm. Nền giáo dục được đặt trên cơ sở nhân bản khai phóng và tiến bộ, không bị gò ép như miền Bắc bắt học sinh phải học chủ nghĩa Cộng sản.
Từ ngày đổi về Saigon, Bình ở trọ trong Câu lạc bộ sĩ quan An Đông. Vùng Chợ Lớn có nhiều người Hoa giầu có nhờ ông cha bỏ đất Hoa Lục nghèo khổ tới đây lập nghiệp, nhiều người lấy vợ Việt, có đại lý thu mua lúa gạo từ miền Tây về cung cấp cho đô thành. Các đại gia Hoa kiều vừa có thế lực với các bang Phúc Kiến, Triều Châu, vừa quen lớn với chính quyền vì trong tay họ nắm các ngân hàng và buôn bán với Hồng Kông, Đài Bắc, Tân Gia Ba. Chỉ dưới thời ông Diệm, các nhà hàng, tửu quán, tiệm buôn mới đề bảng hiệu với tiếng Việt ở trên, tiếng Hoa ở dưới, chứ trước kia chỉ có tiếng Hoa như một thành phố của người Hoa. Cái cảm tưởng ấy đã khiến ông Diệm nghĩ đến vấn đề Việt hóa người Hoa ở Chợ Lớn, nơi người Hoa sống tập trung đông hơn cả.
Buổi chiều thứ Bảy, Bình rủ người bạn đi ăn cơm gà ở chợ An Đông. Cũng chỉ là gạo nấu với nước luộc gà mà bát cơm thấy thơm, dẻo và béo. Người Hoa có cách pha nấu gia truyền; các món gia vị, nước chấm của họ thật độc đáo, thích hợp cho từng món ăn. Dù chỉ là các món bình dân trong một quán cóc hay ở tửu lầu, cái mùi vị Tầu không thể lẫn vào đâu và cũng không dễ quên. Ăn xong, anh bạn bảo chàng:
- Tôi mời anh đi nhảy.
Bình mới học nhảy được ít lâu, có dịp chàng sẽ nhảy xã giao trong các cuộc giao tế. Chàng nói với anh bạn:
- Tôi chưa đến vũ trường bao giờ.
- Thế thì đi cho biết.
Hai người lên xe taxi đến vũ trường Lệ Uyển, tiếng Tầu là Lai Yun. Vũ trường này không lớn, nhưng ấm cúng và ít ồn ào. Ánh đèn mầu bên trong hơi tối, từng cặp nam nữ, già có, trẻ có, đang dìu nhau nhảy theo điệu nhạc tango êm dịu. Hai người vừa ngồi vào bàn thì hai cô vũ nữ đến ngồi cạnh, cô ngồi bên anh bạn là cô gái Việt, cô ngồi với Bình là cô gái Việt gốc Hoa, người nhỏ nhắn, xinh xắn.
Bồi bàn bưng nước tới. Lát sau nhạc trổi điệu slow, cả hai cặp ra sàn nhảy. Thấy cô gái nhảy bình thường, không điệu nghệ, uốn éo như các cô vũ nữ chuyên nghiệp, Bình khẽ hỏi:
- Em vào nghề lâu chưa?
Cô vũ nữ mỉm cười đáp:
- Em mới vào nghề. Mẹ em bị liệt hai chân nên em phải đi làm kiếm tiền nuôi mẹ.
- Thế ba em làm gì?
Cô gái e dè nói:
- Ba em bỏ nghề buôn, ở nhà hút.
- Nhảy thế này có nhiều tiền không?
Cô gái lắc đầu.
- Cũng đủ ăn thôi. Em có người chị nhảy ở Grand Monde.
Vũ trường Grand Monde cùng một dãy phố với Lệ Uyển nhưng lớn hơn, nhiều đại gia đến đó vung tiền qua cửa sổ, bắt mối kinh doanh và tiêu khiển bên các mỹ nhân Tầu, Việt đủ cả.
Hết bản nhạc, cô gái vào bàn ngồi, khẽ than: -Hồi này nhiều người Hoa khó làm ăn vì chính phủ cấm mười một nghề. Còn nghề vũ nữ này mà cấm nốt, chúng em không biết làm gì để mưu sinh.
Chàng không để ý đến những nghề mà người Hoa bị Cấm, thực ra chính phủ không bài Hoa Kiều mà chỉ ngăn họ giữ độc quyền về kinh tế, như trước kia người Pháp đã từng ưu đãi họ. Rồi chàng bảo cô gái:
- Em hãy còn trẻ, nên học một nghề mới thì tốt hơn. Nghề này có nhiều cám dỗ. Em đã bị đại gia nào cám dỗ chưa?
Cô gái thật thà đáp:
- Có ông thương gia rủ em đi Lào mà em không đi. Em sợ đi xa.
Một lát sau, hai cô gái có khách gọi ra bàn khác ngồi. Bình và anh bạn rời khỏi vũ trường. Bên ngoài đường phố đã bớt náo nhiệt, nhưng cảnh ăn chơi vẫn kéo dài đến tận khuya.
Chừng vài tháng sau báo chí Saigon đăng tin vũ nữ Cẩm Nhung bị bà vợ ông Trung tá Thức đánh ghen tạt át xít vào mặt, mù cả hai mắt. Dư luận bàn tán xôn xao, thương cho vũ nữ Cẩm Nhung bị hủy hoại nhan sắc và mang thương tật suốt đời. Sau vụ tạt át xít tai tiếng này, chính phủ ra lệnh đóng cửa các vũ trường để tránh các trường hợp tương tự xẩy ra.
Bình chợt nhớ đến cô vũ nữ đã từng nhảy với chàng ở vũ trường Lệ Uyển đêm nào. Không hiểu cô ta đã đổi nghề để kiếm tiền nuôi bố mẹ hay trở thành con thiêu Ihân của các cuộc truy hoan tửu sắc?
Nghĩ kỹ, chàng thấy quyết định đóng cửa vũ trường của chính phủ là hợp lý về mặt xã hội và an ninh. Không những nó tránh các thảm cảnh và tệ đoan xã hội nẩy sinh từ vũ trường, mà còn bảo vệ hạnh phúc gia đình cùng danh dự của các quân nhân, công chức.
Các vũ trường đóng cửa đúng vào lúc cơ quan Cảnh sát Đô thành khám phá kế hoạch khủng bố của Việt Cộng nhắm vào các nơi vui chơi có người Mỹ lai vãng để làm mất an ninh ở thủ đô.
 
Chú thích :
[1] Xem Phụ Lục: Ba Người Khác của Tô Hoài.
[2] Ở Bắc và Trung Phần, điền chủ có tối đa hơn 50 mẫu.
[3] America’s Longest War, George C. Herring, 1979, p 75.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.11.2021 18:01:55 bởi Ct.Ly>
Chương Năm
Đất lành chim đậu


Cưới xong, Bình đưa Ngọc về Thị Nghè ở, trong con hẻm có đông người lao động. Chỉ cách thành phố một con sông nhỏ mang tên Thị Nghè mà khu ngoại ô như biệt lập hẳn, có nhiều nét quê hơn tỉnh. Những con phố thấp, ẩn hiện sau hàng cây phượng vĩ có vẻ khiêm tốn với nhịp sống bình dị. Thị Nghè có cả nhà thờ, chùa, nhà dưỡng lão, trường học và ngôi chợ đông đúc người mua bán. Một cây cầu ván bắc qua sông Thị Nghè vào thảo cầm viên đầy cây cao bóng cả, văng vắng tiếng vượn hú, cọp gầm như ở chốn sơn lâm.
Phía trước nhà chàng có cây trứng cá đang vươn lên mơn mởn, hàng ngày rọi bóng mát lung linh vào hiên nhà. Những buổi chiều đi làm về, thỉnh thoảng chàng thấy Ngọc và cô láng giềng đứng trò chuyện bên cạnh cây trứng cá. Cô đã có mối tình dang dở với một trung úy và có một đứa con trai còn nhỏ ở chung với bà chị độc thân. Lúc trước cô là nữ trợ tá quân đội. Sau khi giải ngũ cô về làm việc cho đài truyền thanh. Thỉnh thoảng ông nhạc sĩ đã có vợ con ghé lại thăm cô, mời cô đi ăn, đi nhảy đến khuya mới về. Có lần Bình nghe tiếng bà chị trách cô ở bên kia vách tường:
-Mày ham ăn ham diện, tật nào chứng ấy.
Cô cũng biết cái tật của mình mà không thể bỏ. Gái một con đương thời xuân sắc; cô chẳng thể dập tắt ngọn lửa lòng trong những đêm dài cô đơn. Cũng có một, hai ông muốn đến với cô song ông nhạc sĩ đã chiếm được trái tim cô bằng ngón đàn tuyệt diệu. Từ đó cô như quên nghĩ đến một điều mà lương tâm cô không cho phép; là xâm phạm hạnh phúc của một thiếu phụ đang sống với ông nhạc sĩ và bầy con. Nhưng tình yêu của cô đã vượt qua cả cái ranh giới đạo đức mà người ta gọi là ngoại tình. Trò chơi này cứ tiếp diễn và ông nhạc sĩ cảm thấy không thể dứt tình với cô, dù ông biết hạnh phúc của ông với người vợ sẽ đi đến chỗ đổ vỡ hoàn toàn.
Hai chị em cô từ Long An lên đây ở đã nhiều năm. Có lẽ trong những lúc trò chuyện với Ngọc, cô đã giải tỏa bớt những ẩn ức về tâm sinh lý của một thiếu phụ đang cần một người đàn ông ở bên cạnh để chia sẻ tình yêu. Có thể nghĩ đến hạnh phúc của Ngọc mà cô muốn lập lại hạnh phúc với chàng nhạc sĩ tài ba, cho dù phải trải qua một cuộc phiêu lưu thứ hai trong đời cô. Riêng đối với Ngọc, cô rất chân tình và cởi mở, đó là bản tính của cô gái miền Nam ở bên cạnh.
Bình kết hôn với Ngọc do bàn tay mai mối giới thiệu. Đó cũng là cái duyên để hai người gặp nhau. Nàng kể khi di cư vào Nam cuối năm 1953, nàng vẫn nhớ cái trại của gia đình ở Ba Bông, Thanh Hóa, nhớ mùa hè chị em rủ nhau vào rừng hái sim và bơi lội trong con sông nhỏ chảy qua trại.
Khi phải rời Thanh Hóa về Hà Nội, ông bố nàng để lại một kho báu đồ cổ chôn ở trại không đem đi được. Nhiều bộ đồ sứ quý giá có niên đại nhà Minh bên Trung Quốc được ông sưu tập, mỗi lần tiếp khách ngoại quốc tỉnh ủy Thanh Hóa phải cử cán bộ đến hỏi mượn để dùng trong bữa tiệc.
Cây thuốc lá Yên Hà ông trồng ở trại thơm có tiếng, tỉnh ủy cũng phải tới nhà đặt hàng trước cả tháng mới có thuốc đãi khách. Thời trẻ, ông là nhà kinh doanh thường lái xe ra Hà Nội giao dịch buôn bán. Vào những năm 1930, cả tỉnh Thanh Hóa chỉ có vài người quyền quý, giầu sang mới có xe hơi riêng đi đây đi đó.
Vào Saigon ông vẫn tiếp tục kinh doanh và làm báo Tuổi Trẻ, Tiếng Dân; tranh đấu cho quyền lợi của người dân thấp cổ bé họng. Ông cũng là nhà thơ với bút danh Trọng Lộc. Đối với bạn bè trong đó có cả các nhà báo, nhà văn như Chu Tử, Lê Văn Trương; ông luôn giúp đỡ họ trong những lúc khó khăn.
Lớp người trí Ihức như ông vốn có tinh thần quốc gia dân tộc nên đã không thể sống với Cộng sản hay dùng thủ đoạn và bạo lực để khống chế nhân dân. Bạn ông, nhà thơ Hữu Loan ở Thanh Hóa, tác giả bài thơ nổi tiếng “Mầu tím hoa sim” đã tham gia nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm chống đảng bóp nghẹt tự do dân chủ. Ông đã can đảm chịu sự trù dập của đảng trong nhiều năm.
Bình còn nhớ cái Tết đầu tiên chàng mới làm quen với Ngọc. Chiều ba mươi trong Chợ Lớn lác đác tiếng pháo nổ. Không khí Tết đã trở lại với mầu mai vàng rực rỡ. Câu lạc bộ An Đông vắng hoe, chỉ còn vài sĩ quan độc thân ở lại. Bất giác chàng nhớ đến mấy câu thơ trong bài “Giây phút chạnh lòng" của Thế Lữ, sao nó giống với tâm trạng của chàng trong lúc này.

“Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran,
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”.

Đang lúc chàng bâng khuâng nghĩ đến mấy cái Tết xa nhà thì có tiếng xe Citroën đỗ trong sân câu lạc bộ. Người gác cửa lên lầu báo chàng xuống có khách. Vừa xuống tới chỗ xe hơi đậu, chàng ngạc nhiên thấy ba của Ngọc đến đón chàng về nhà ông ăn Tết. Đó là cái Tết đầu tiên chàng được chia sẻ không khí đầm ấm của gia đình Ngọc, được sống lại cái Tết gia đình miền Bắc mà chàng hầu như đã lãng quên.

Ngày Ngọc sinh đứa con gái đầu lòng, ba nàng rất mừng. Ông có đông con cái, nhưng đứa cháu ngoại đầu tiên đối với ông cũng thật quý. Ngọc lấy chồng sớm, lại mắn đẻ như mẹ nàng, người phụ nữ miền Bắc có tân học mà vẫn giữ nề nếp gia phong. Ông đem tặng chiếc khăn thêu trải vào nôi cho cháu nằm, nhìn cháu cười khi ông vuốt đôi má.
Có một câu chuyện làm Ngọc buồn mà Bình cứ ân hận mãi. Chuyện đã xẩy ra trước ngày cưới của hai người.
Hồi chàng còn làm việc ở Huế, trong một dịp vào Saigon công tác, khi trở ra chàng gặp cô gái lên Lệ cùng ngồi chung ghế trên chuyến xe lửa ra miền Trung. Khách trên xe không đông lắm. Ra khỏi Biên Hòa, tầu chạy qua những cánh rừng thưa nhạt nhòa ánh nắng. Gió bên đường tạt qua khung cửa sổ làm nàng thỉnh thoảng cứ phải đưa tay lên vuốt mấy sợi tóc phủ xuống gò má trơn không phấn sáp.
- Gió quá cô nhỉ? Để tôi đóng cửa sổ cho bớt gió.
Vừa nói, chàng vừa đứng dậy kéo tấm cửa kính xuống. Nàng quay nhìn chàng, giọng niềm nở:
-Cảm ơn anh.
Chàng ôn tồn đáp:
- Có gì đâu. Tôi sơ ý để cô bị gió từ nãy. Cô về đâu nhỉ?
- Em về Phan Thiết nghỉ hè.
- Quê cô ở Phan Thiết?
- Dạ phải.
- Thế cô làm việc ở đâu?
- Em dậy mẫu giáo ở Saigon.
- Cô có người quen trong đó?
- Dạ. Nhưng em ở trọ một mình.
Ngừng một lát, nàng khẽ hỏi:
- Anh về đâu?
- Tôi về Huế.
- Quê anh ở đó?
- Không. Đơn vị tôi ở Huế. Còn quê tôi ở Hà Nội.
Câu chuyện trở nên thân mật với hai người. Rồi nàng nói tiếp:
- Em chưa biết Hà Nội mà nghe ông chú lúc trước làm việc ở ngoài đó về kể Hà Nội đẹp lắm.
- Phải. Hà Nội có Hồ Gươm và nhiều thắng cảnh. Nhưng tôi nghĩ Hà Nội bây giờ không còn đẹp như trước. Con gái thành thị mặc áo cán bộ bốn túi đi làm lao động, tóc cắt ngắn, nhảy sol, đố, mì. Nông thôn thì tan hoang vì nạn đấu tố kéo dài nhiều năm.
- Em có đọc báo nói về vụ này.
- Thế là cô đã hiểu phần nào thực tế miền Bắc dưới chế độ cộng sản.
Mải trò chuyện, hai người không để ý đến trời đã sẩm tối. Một hồi còi hú lên lanh lảnh, xé tan bầu không khí hiu quạnh của ga Mương Mán.
Tầu đã tới Phan Thiết, từ từ đỗ lại trước sân ga. Chợt nàng đứng dậy bảo:
- Gặp anh nói chuyện vui quá. Khi nào anh vào Saigon, mời anh ghé lại nhà em chơi.
Rồi nàng trao cho chàng tấm giấy nhỏ có ghi địa chỉ của nàng.
- Thế nào tôi cũng có dịp vào Saigon công tác. Chúc cô mùa hè vui vẻ.
- Em cũng chúc anh như thế.
Khi nàng đã khuất sau tấm màn đêm, hình ảnh nàng còn lởn vởn trong tâm trí chàng. Trớ trêu thay hai tâm hồn cô đơn, kẻ Nam người Bắc lại tình cờ gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa. Ý chừng nàng để ý đến chàng nhiều hơn, nên nàng đã vui vẻ trao địa chỉ cho chàng để hai người có cơ hội tái ngộ.
Một lát sau, tầu từ từ chuyển bánh ra Huế. Cột nước cao của thị trấn Phan Thiết mờ dần khi con tầu ra khỏi ga Mương Mán.
Bẵng một thời gian chàng không để ý đến Lệ. Khi đổi vào Saigon, chàng đi làm hàng ngày từ Chợ Lớn qua công viên Tao Đàn đến sở làm ở gần cầu Thị Nghè. Một buổi sáng, chàng bất chợt gặp nàng đang đi trước cửa công viên Tao Đàn. Nàng vẫy tay gọi:
- Anh Bình
Chàng dừng xe vespa lại hỏi:
- Chào cô. Cô đi đâu?
- Em đi dậy.
- Lớp học có xa không?
- Gần lắm. Ở đường Nguyễn Du.
- Sao tôi không thấy có trường mẫu giáo nào gần đó cả.
Nàng cười.
- Không phải trường mà là lớp mẫu giáo tư dành cho các trẻ em trong khu phố.
- À ra thế.
- Trưa chủ nhật này mời anh đến nhà em chơi.
-Được. Tôi sẽ đến.
- Anh nhớ địa chỉ của em chứ?
- Nhớ.
Khi chàng đến địa chỉ của nàng ở đường Đề Thám, nàng dọn sẵn đồ ăn, có đứa cháu gái ở Phan Thiết trọ học phụ nàng một tay. Căn phòng của nàng ở dưới nhà. Trên lầu là khách thuê. Phòng có chiếc gường hai cô cháu nằm, chiếc bàn ăn với bốn ghế đẩu, một bàn viết trên có chồng sách ngay ngắn, một cây đàn guitare treo trên tường và tấm ảnh đen trắng của nàng để ở góc bàn. Phía sau là căn bếp.
Trong lúc ăn, nàng vui vẻ kể:
- Em trọ ở đây đã năm năm rồi, từ đây đi đến lớp không xa.
Chàng tính nhẩm:
- Từ đây đến lớp cũng cả cây số. Cô đi như thế có mệt không? Sao cô không đi xe solex cho nhẹ nhàng.
- Em đi bộ quen rồi. Mỗi lần đi qua Tao Đàn, em thấy thích không khí mát mẻ, còn được ngắm phong cảnh nữa. Nếu đi xe máy như anh nói, em phải chú tâm, lại không được hưởng cái thi vị đó. Chàng gật gù nói:
- Cô có tâm hồn nhà giáo, thích gần thiên nhiên. Nàng mỉm cười. Rồi vui miệng bảo:
- Hè này em mời anh đi Vũng Tầu chơi.
Thấy nàng tỏ vẻ ân cần, chàng nghĩ mình cũng nên đáp ứng ý nguyện của nàng.
- Tôi định mời cô mà rồi chưa kịp nói.
- Em mời anh mới đúng. Mình đi cho vui. Ở đó có nhiều cảnh đẹp tuyệt vời, thích hợp với nhà văn nhà báo đấy.
Đến hè, hai người lại gặp nhau ở Vũng Tầu. Chàng dẫn nàng lên Núi Lớn vãng cảnh chùa rồi xuống bãi Dứa ngắm biển. Bãi có những tảng đá do sóng gió ăn mòn; các đôi trai gái thường ngồi tâm sự dưới bóng mát thùy dương.
- Em thích ngắm mầu xanh ngắt của biển vào lúc chiều, nhìn núi và biển đẹp như bức tranh. Anh thấy cảnh Vũng Tầu thế nào?
- Đẹp. Tôi đã đi Đồ Sơn, Sầm Sơn nhưng ở đây biển có mầu xanh đẹp hơn.
- Cả Saigon ra đây nghỉ mát nên bãi biển lúc nào cũng đông. Hôm nay em không muốn tắm vì đã xế chiều, gió lại lạnh.
Khi ngồi bên cạnh chàng trên xe buýt về lại Saigon, nàng nói tỉ tê với chàng:
- Anh ở trong Chợ Lớn chắc buồn. Nếu anh về trọ chỗ em, cơm nước anh khỏi lo. Còn một căn gác cho mướn, em sẽ nói với chủ nhà dành cho anh.
 Chàng hiểu cái ý nghĩ thầm kín của nàng, điềm nhiên nói:
- Cám ơn cô. Tôi sống nay đây mai đó đã quen rồi. Cô khỏi lo cho tôi. Mình cứ coi nhau như bạn.
Nàng mỉm cười lặng lẽ. Người con gái sống lẻ loi như nàng giữa một thành phố hoa lệ không khỏi khao khát tình yêu. Từ khi gặp chàng trên chuyến xe lửa ra Trung, khát vọng đó càng lên cao trong thâm tâm nàng. Nàng đã mở sẵn cánh cửa lòng để đón chàng, nhưng chàng còn e dè chưa bước vào.
Sau đó chàng bận công việc, không có dịp đến thăm Lệ. Hai năm trôi qua, chàng không còn để tâm đến nàng. Cơ hội lập gia đình chợt đến khi chàng gặp Ngọc. Quen nàng đến cả năm chàng mới lo chuyện xây tổ ấm với nàng.
Sắp tới ngày cưới Ngọc thì Lệ bất chợt đến nhà nàng vào buổi sáng. Ngọc thắc mắc không hiểu vì sao một cô gái Nam không hề quen biết lại đột ngột tới nhà nàng. Hóa ra tấm thiệp cưới của nàng đã được ba nàng gửi tới nhà ông chủ mướn Lệ dạy học. Ba của Ngọc và ông ta cùng chung vốn mua tầu đánh cá nên hai người thân thiết với nhau, cả hai người không ngờ Lệ có quen biết Bình.
Khi mới thấy Ngọc, Lệ rất hồi hộp. Nàng thu hết can đảm để nói:
- Thưa chị, em biếl chị rất ngỡ ngàng khi phải tiếp em thế này. Em có vấn đề cần trình bầy với chị hôm nay.
Ngọc ngắm nét mặt thoáng buồn của Lệ, nói nhỏ:
- Vâng, cô cứ nói.
Lệ tha thiết bảo:
- Em biết chị yêu anh Bình, em cũng yêu anh ấy. Cả hai chị em đều yêu một người đàn ông thật xứng đáng. Em lại quen biết anh ấy từ trước, nên em muốn chị nhường anh ấy cho em.
Ngọc thẩn thờ nhìn Lệ.
- Tôi chẳng hiểu cô nói gì cả.
Lệ khẩn khoản nói tiếp:
- Em sống cô độc đã bao năm rồi. Chị hãy còn trẻ đẹp, tương lai chị còn dài. Chị hãy thương em.
Nghe xong, Ngọc thở dài. Nàng chẳng hề nghĩ đến đám cưới gần kề, nói thẳng với Lệ:
- Tôi không có ý kiến. Cô hãy gặp anh Bình xem anh ấy xử trí ra sao. Anh ấy mới là người mà cô cần trình bầy hơn tôi.
Vừa dứt câu, Ngọc đứng dậy. Lệ cũng lặng lẽ ra về, trong lòng mang nặng nỗi ưu tư vì đã không tìm thấy con đường hợp lý cho mình và cho Ngọc. Nàng cũng cảm thấy ân hận sau khi gặp Ngọc, sợ nàng cho mình là kẻ ác tâm phá hoại hạnh phúc của nàng.
Chuyện gay cấn được Ngọc kể với Bình ngày hôm sau, lúc chàng ghé thăm nàng để bàn việc cưới. Chàng đã giải thích cho mẹ nàng hiểu câu chuyện quen biết Lệ bốn năm về trước, giữa hai người không có tình yêu, chỉ là bè bạn sơ giao. Sau đó, chàng không thấy bóng dáng Lệ trước cũng như sau đám cưới của chàng. Nhưng có lần Ngọc gặp Lệ ở chợ Saigon, Lệ hớn nở khoe:
-Em mới lấy chồng. Anh ấy là kỹ sư hàng không.
Ngọc điềm đạm bảo:
- Tôi mừng cho cô.
Giọng nói của Lệ bỗng nghẹn ngào.
- Em định đến xin lỗi chị. Nhưng sợ chị còn giận em. Chắc chị buồn về em không ít.
Nghĩ đến chuyện cũ, Ngọc khẽ an ủi:
- Tôi hiểu tâm trạng cô lúc ấy. Tôi cũng buồn ghê gớm. Nhưng chuyện đã qua, chúng ta đừng nhắc tới làm gì. Hãy lo cho tương lai.
Ngọc không trách Lệ mà thương hại nàng là đằng khác. Bình đã vô tình để lại cho Lệ một vết thương trong lòng mà chàng không lường được hậu quả. Nhớ lại lời mẹ dặn trước khi chàng vào Nam, chàng thấy mẹ nàng có lý, dù Lệ chỉ là một trường hợp cá biệt đối với chàng.
Sau đó là cuộc sống bận rộn. Nhưng chàng thấy Ngọc đã đem lại hạnh phúc thực sự cho chàng.
Buổi chiều mồng Năm Tết, chàng được lệnh của Thiếu tá Châu, giám đốc Nha Chiến tranh tâm lý cử đi tháp tùng Tổng thống Diệm qua Nhà Bè chúc Tết các vị bô lão.
Trời lúc đó êm ả. Cúc vạn thọ đang nở vàng trong vườn nhà dân. Hai bên đường dân chúng cầm quốc kỳ đón tổng thống. Khi đoàn xe đậu trước sân đình, Tổng thống Diệm mặc áo gấm xanh, đầu đội khăn đóng xanh, quần trắng bước xuống xe rồi vào thẳng trong đình gặp các vị bô lão mặc quốc phục mầu đen hay xanh. Chọn một xã thiếu an ninh, du kích vẫn hoạt động lẻ lẻ, ông Diệm đã không lo ngại cho sự an toàn của bản thân mà muốn chứng tỏ hòa mình với dân, lo cho dân được sống an vui.
Tổng thống nói chuyện với các bô lão về vấn đề duy trì nếp sống văn hóa dân tộc, về việc giữ gìn an ninh cho xóm, ấp, giản dị như một bậc huynh trưởng trong gia đình chứ không phải một ông vua không ngai tiếp xúc với dân chúng.
Ngày thường ông Diệm bận âu phục trắng để làm việc và tiếp khách. Nhưng hôm nay ông hòa mình với dân, thấy tận mắt cuộc sống của dân và chia sẻ những khó khăn của họ, một cử chỉ thân dân chưa từng thấy ở người lãnh đạo quốc gia luôn bề bộn việc nước.
Sau Tết, Bình mời một thiếu úy làm việc cùng phòng về nhà ăn cơm cho vui. Anh ta quê Nghệ An, mới được đồng hóa vào Nha Chiến tranh tâm lý. Nghĩ đến hoàn cảnh cô đơn mà mình đã từng trải qua, chàng muốn có cử chỉ thân ái với anh ta ở gia đình hơn là trong lúc làm việc.
Chàng rót rượu whiskey ra hai chiếc ly rồi quen miệng hỏi:
- Anh uống sec hay đá.
Anh ta ngớ người không hiểu tiếng sec.
- Xin anh cho đá.
- Tôi cũng như anh, chỉ uống rượu có tý đá, nhưng không thường xuyên đâu.
Trong lúc ăn, chàng hỏi anh ta:
- Anh thấy công việc thế nào? Có thích hợp với anh không?
Anh ta nhanh nhẩu nói:
- Làm việc với các anh thì vui. Tôi thấy không có gì trở ngại trong công việc. Mới đầu hơi lạ nhưng bây giờ tôi đã quen.
- Nghe nói lúc trước anh có viết cho đài phát thanh Hà Nội. Anh viết bình luận hay tin tức?
- Tôi viết đủ loại nhưng không chuyên mục nào.
-Rồi anh bỏ trốn vào Nam?
- Vâng. Họ vẫn theo dõi tôi.
- Anh khỏi lo, đã có cơ quan an ninh bảo vệ anh.
Lát sau chàng nhắc một chuyện vui:
- Hồi tôi làm việc ở sở Chiến tranh tâm ]ý miền Trung tọa lạc bên bờ sông An Cựu, thành phố Huế, buổi tôi tôi mở đài Hà Nội nghe:“ Ở trong Nam dân đói phải ăn cả xương rồng!" Tôi buồn cười vì biên tập viên dựng đứng câu chuyện làm thính giả miền Bắc tin là có thật. Còn ở miền Nam nếu có ai nghe được, họ không tin thế đâu, mà họ nghĩ ngược lại. Tôi nghe dân di cư vào kể dân chúng phải xếp hàng đi mua từng mớ rau muống, bìa đậu phụ ở phố hàng Bông trước đây buôn bán sầm uất, bây giờ hàng hóa không có mà bán. Như vậy là dân miền Bắc đói.
Nghe xong, anh ta gật đầu bảo:
- Miền Bắc đang sống trong thời bao cấp. Nhân dân đã phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh chống Pháp, nay lại chống Mỹ, không được ngơi lúc nào. Có hiện tượng dân bất mãn với chính quyền.
- Như vụ Nhân Văn Giai Phẩm.
- Vâng. Ông Nguyễn Hữa Đang và bà Thụy An lãnh án nặng nhất 15 năm tù. Anh biết bà Thụy An?
- Tôi có nghe tên nhà văn nữ này khi tôi còn ở Hà Nội.
Mặt anh ta đỏ gay vì men rượu. Thấy mình được tiếp đãi ân cần, anh la vồn vã nói với Ngọc:
- Hôm nay được anh chị cho ăn bữa cơm gia đình, em cảm thấy ấm áp trong lòng vô cùng.
Ngọc đỡ lời chồng:
- Có gì đâu anh. Anh xa gia đình thì cứ đến với chúng tôi cho vui.
Bình tưởng anh ta sẽ phấn khởi trong công việc nhưng chỉ một tuần sau, anh ta bỗng vắng mặt ở sở. Có tin anh ta đã đào thoát vào bưng với việt cộng. Bình về kể với vợ:
- Anh thiếu úy ăn cơm với mình đã bỏ trốn rồi.
Ngọc tỏ vẻ ưu tư:
- Anh ấy biết nhà mình, có sao không?
Chàng trấn an:
- Chẳng sao đâu. Anh ta bỏ đi là không còn cơ hội quay trở lại. Mình đối xử tốt với anh ta, chắc anh ta phải suy nghĩ. Nhưng cũng cần đề phòng đấy em.
Trường hợp Việt Cộng gài người vào các cơ quan chính quyền và quân đội không phải là hiếm hoi. Nha Chiến tranh tâm lý hoạt động nổi, không có gì để khai thác về chiến thuật nên Việt Cộng rút người đi vì sợ bị lộ tổ chức. Biệt kích miền Nam cũng đã được bí mật thả dù ban đêm ra Bắc hoạt động tình báo chiến và tâm lý chiến; một số đã bị nhà cầm quyền Cộng sản bắt cầm tù.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.12.2021 14:16:58 bởi Ct.Ly>
Chương Sáu
Đất bằng nổi sóng



Tây Nguyên là vùng đất được ông Diệm chú trọng phát triển về dân sinh và quốc phòng. Ông đã cho thành lập Nha Công tác miền Thượng do một sĩ quan quân đội làm giám đốc. Đồng bào Thượng cần được hướng dẫn về các chính sách của chính phủ và cải thiện đời sống nghèo nàn, lạc hậu mà vẫn giữ bản sắc văn hóa của họ.
Các hoạt động tâm lý chiến quân đội cũng đã được tăng cường tại các tỉnh Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột. Quân đội đã tới các buôn làng làm công tác dân vận, phát thuốc chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, những người từng bị bỏ quên trong rừng núi, xa cuộc sống văn minh và dễ bị Việt Cộng tuyên truyền, móc nối.
Bình được cử lên Ban Mê Thuột tiếp xúc với Sư đoàn 23 Bộ binh để nghiên cứu tình hình hoạt động tâm lý chiến. Hồi này quốc lộ 14 không còn an ninh như mấy năm trước. Những khoảng rừng rậm hai bên đường giúp Việt Cộng ẩn náu để ra chặn các xe đò, thu thuế hành khách và tuyên truyền chống chính phủ. Tâm lý hành khách ngại có nhà binh ngồi chung xe đò trên tuyến đường dài xuyên qua rừng núi, nên Bình mặc thường phục để họ cảm thấy an tâm hơn.
Xe lăn bánh lúc chạng vạng tối. Qua khỏi Biên Hòa, đường mỗi lúc một vắng. Những cánh rừng cao su đen sẫm như chứa đầy bí ẩn hai bên đường. Thỉnh thoảng mới thấy nhà dân le lói ánh đèn khi xe chạy qua. Lần đầu tiên đi xe đò ban đêm lên Tây Nguyên, chàng cảm thấy ấm cúng khi trò chuyện với người dân buôn bán ngồi bên cạnh, họ ngược xuôi bất kể đêm hôm để có cuộc sống ấm no. Có lúc chàng cũng cảm thấy hồi hộp khi nghĩ đến những chuyện bất thường có thể xẩy ra cho chuyến xe như gặp thú rừng hay Việt Cộng ở dọc đường. Tuy nhiên bản lĩnh quân nhân đã khiến chàng bình tĩnh trở lại để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Chàng nghĩ thầm:
- Nếu không có Cộng sản thì đất nước mình thanh bình, nhân dân được hạnh phúc biết mấy!
Hành khách xung quanh đã im lặng và ngủ ngay trên ghế ngồi. Bác tài xế cứ phải căng mắt nhìn phía trước và hai bên đường. Giọng cải lương êm ái và ngọt ngào của Thanh Nga từ băng cát xét ở đầu máy giúp bác tỉnh táo hơn trong khi lái xe.
Tới thị trấn Bảo Lộc, xe dừng lại nghỉ ít phút. Vài tiệm ăn còn mở cửa đón hành khách vào ăn uống trước khi họ đi tiếp. Đêm khuya, trời lạnh, sương mù giăng kín núi rừng mà được thưởng thức tô cháo nóng và ly cà phê đen thì tuyệt.
Xe tới thị xã Ban Mê Thuột lúc 4 giờ sáng. Thành phố còn đương chìm trong giấc ngủ yên lành. Ánh đèn điện mầu vàng le lói trên đường phố có mầu hoa phượng đỏ nhắc chàng cao nguyên đã vào hè. Mùa này, phượng nở từ Bắc chí Nam, từ cao nguyên tới miền duyên hải, rực rỡ và xao xuyến vô cùng.
Một vài hành khách rời khỏi xe. Số còn lại đi tiếp lên Pleiku, Kontum. Dù mất an ninh, huyết mạch giao thông 14 lên miền cao không lúc nào ngớt dân chúng di chuyển. Chiếc xe jeep của sư đoàn đã đợi sẵn ở bến xe đón chàng về câu lạc bộ nghỉ ngơi.
Buổi sáng chàng tới bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 đóng trên đồi. Dọc đường, các học sinh Thượng mặc đồng phục xanh trắng đi xe đạp tới trường trông rất ngoan ngoãn. Thế hệ thanh niên Thượng ngày nay đã thấy Tây Nguyên được độc lập, tự do, không còn bóng dáng thực dân Pháp song còn nạn Cộng sản. Vẻ đẹp của Ban Mê Thuột đã thể hiện trong sự hòa hợp giữa thiên nhiên với cuộc sống, giữa người Kinh với người Thượng thiểu số.
Khí trời ở đây mát dịu. Đang ở Saigon ồn ào mà tới thành phố cao nguyên còn giữ vẻ đẹp thiên nhiên, chàng có cảm tưởng tâm hồn mình trẻ lại.
Cuộc tiếp xúc với Phòng 5 Sư đoàn 23 đã cho chàng những nhận xét lạc quan về công tác dân sự vụ ở Tây Nguyên. Người Thượng mến quân đội ở chỗ coi họ như người Kinh và tôn trọng phong tục tập quán của họ. Chỗ nào làm tốt công tác dân sự vụ, có chính quyền vững và hoạt động của các tôn giáo thì Thượng cộng khó bám trụ. Tuy nhiên quân đội còn phải lo bình định vùng lãnh thổ trách nhiệm, và cán bộ dân sự Thượng vận còn rất thiếu thốn, nên nhiều mảng dân cư Thượng còn bỏ trống, không được tuyên truyền giáo dục theo chính sách thăng tiến của chính phủ. Đó là những yếu tố giúp chàng hoàn thành bản báo cáo để quân đội và chính quyền sẽ hoạch định chính sách đúng đắn về miền Thượng.
Trở lại Saigon, chàng thấy các báo đăng tin Việt Cộng sát hại các viên chức hành chánh xã, ấp ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Long An, Định Tường, Kiến Hòa, Chương Thiện, Châu Đốc. Các đơn vị võ trang Việt Cộng cũng tấn công các đồn bốt lẻ tẻ ở địa phương. Về quy mô, Việt Cộng rập theo các hoạt động du kích như Việt Minh đã từng áp dụng trong vùng hậu địch miền Bắc từ 1950 đến 1953. Riêng năm 1958 đã có 700 viên chức xã, ấp bị Việt Cộng sát hại và thủ tiêu, làm hệ thống chính quyền nông thôn ở nhiều nơi bị suy yếu.
Hiệp định đình chiến Genève 1954 đã trở thành tờ giấy lộn. Nền hòa bình mong manh đã bị Cộng sản bóp chết. Máu lương dân lại đổ trên dải đất miền Nam trù phú và yêu chuộng hòa bình. Ngày 28 tháng Tám, 1959, đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết phát động phong trào Đồng Khởi tại miền Nam. Các đơn vị Cộng sản nằm vùng đáng lý phải rút hết ra Bắc theo hiệp định Genève sau ngày 20 tháng Bẩy 1954, đã đồng loạt nổi dậy phá hoại cuộc sống hiền hòa của nhân dân ở nông thôn và thành thị.
Ủy ban kiểm soát đình chiến gồm các sĩ quan Ba Lan (Cộng sản), Gia Nã Đại (Dân chủ) và Ấn Độ ( Trung lập) đã hoàn toàn bất lực trước các cuộc nổi dậy của Cộng sản ở miền Nam. Thời gian quy định tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào mùa hè năm 1956 đã trôi qua vì chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại cầm đầu đã không ký vào bản hiệp định Genève 1954, nên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng không bị ràng buộc bởi các điều khoản của hiệp định. Chính phủ Mỹ cũng đã không ký vào bản hiệp định này. Trên thực tế nếu có cuộc tổng tuyển cử ở cả hai miền thì Cộng sản sẽ sử dụng đạo quân nằm vùng mua chuộc, khủng bố, áp lực dân chúng bỏ phiếu cho chúng thắng thế; một điều rất bất lợi cho phía quốc gia.
Nước Mỹ đang ở trong tình trạng chiến tranh lạnh với Liên Xô. Chính phủ Eisenhower không muốn làn sóng Cộng sản nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam và vùng Đông Nam Á. Lý do đó khiến Mỹ coi Việt Nam Cộng Hòa là một tiền đồn chống Cộng của thế giới Tự Do. Và Mỹ tự thấy có bổn phận phải giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm đứng vững trước cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt, một cuộc xâm lăng quy mô có sự hậu thuẫn toàn diện của Khối Cộng sản Quốc tế.
Để dọn đường cho bộ đội Bắc Việt xâm nhập miền Nam, đầu năm 1959 Cộng sản Bắc Việt đã cử đoàn công binh 559 mở đường mòn Hồ Chí Minh dọc dãy núi Trường Sơn tiếp giáp với Lào và đặt ống dẫn xăng dầu vào miền Nam để sử dụng cho xe cơ giới vận chuyển bộ đội, khí tài, và xe tăng T.54 do Liên Xô viện trợ. Con đường này đã trở thành mục tiêu của máy bay B.52 oanh tạc và các toán biệt kích hoạt động ngày đêm nhưng vẫn không cản được đà xâm nhập của bộ đội Bắc Việt.
Để đối phó với cuộc nổi dậy của Việt Cộng đe dọa nghiêm trọng tính mạng và tài sản của nhân dân, đạo luật số 10/1959 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật đã được Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa thông qua và Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành. Từ khi có luật này, nhiều cơ sở Việt Cộng đã bị nhân dân tố giác và cán bộ Cộng sản bị đem ra xử theo luật pháp.
Tháng Giêng năm 1960, 4 đại đội Việt Cộng đã mở cuộc tấn công vào căn cứ trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Trảng Sụp, cách thị xã Tây Ninh 7 cây số. Lợi dụng sự lơ là của quân đồn trú vào dịp nghỉ Tết, Việt Cộng đã lọt vào căn cứ, lấy đi một số vũ khí ở trong kho.
Đến tháng Chín, đại hội đảng Lao động lần thứ 3 đã ra nghị quyết tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng toàn miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp định Genève 1954 mà chính Cộng sản đã ký kết.
Trong khi đó, không khí chính trị ở Saigon bỗng trở nên căng thẳng do một số chính khách tai mắt đứng ra chỉ trích chính phủ Ngô Đình Diệm.
Đáng chú ý là nhóm nhân sĩ Tiến Bộ, trong đó có những người đã từng cộng tác với ông Diệm nay công khai chống lại ông. Nhóm đã tổ chức họp báo tại khách sạn Caravelle đường Tự Do ngày 26 tháng Tư 1960, lên án chế độ gia đình trị và yêu cầu ông Diệm cải tổ nội các. Bản tuyên cáo chung của nhóm gồm các tên tuổi: Trần Văn Hương (cựu Đô trưởng Saigon), Phan Khắc Sửu (cựu Tổng trưởng Canh nông), Linh mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Văn, Phạm Hữu Chương, Trần Văn Đỗ, Lê Ngọc Chấn ( cựu Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng), Trần Văn Tuyên, Lê Quang Luật, Phan Huy Quát, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Lệ Chất, Tạ Chương Phùng, Lương Trọng Tường, Nguyễn Lưu Viên và Huỳnh Kim Hữu.
Cuộc họp báo của nhóm nhân sĩ Tiến Bộ diễn ra đột ngột, không loan báo trước, nên cơ quan mật vụ của bác sĩ Trần Kim Tuyến, Chánh sở Nghiên cứu Chính trị trực thuộc Phủ Tổng thống đã không kịp trở tay ngăn chặn. Ngoài ra còn có tin đồn đảo chính được loan khiến dư luận thêm hoang mang. Từ lâu các đảng phái đối lập: Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân chủ Tự Do của bác sĩ Phan Quang Đán vẫn ngấm ngầm chống ông Diệm và đòi chia sẻ quyền hành.
Quán cà phê La Pagode trên đường Tự Do, Saigon là nơi gặp gỡ các nhà báo, chính khách, tình báo Cộng sản trong đó có điệp viên Phạm Xuân Ẩn đội lốt ký giả, nhân viên CIA và mật vụ của bác sĩ Tuyến. Đám này thường đến đây mạn đàm, thu lượm tin tức trong và ngoài chính quyền.
Ngày 11 tháng Mười Một, 1960, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù đã làm một cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Tham gia cuộc đảo chính có bác sĩ Phan Quang Đán, Trung tá Vương Văn Đông, phục vụ tại Đại học Quân sự, Đại úy Phan Lạc Tuyên nhà thơ quân đội, chỉ huy tiểu đoàn Biệt động quân ở Tây Ninh kéo về Saigon. Ba tiểu đoàn Dù của Đại tá Nguyễn Chánh Thi bao vây dinh Độc Lập và chiếm đài phát thanh quốc gia. Cuộc đảo chính bị thất bại vì trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh ở Biên Hòa do Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ chỉ huy đã kịp thời về cứu ông Diệm và chiếm lại đài phát thanh. Sư đoàn 7 Bộ binh lúc ấy do Trung tá Huỳnh Văn Cao làm tư lệnh. Đồng thời Đại tá Trần Thiện Khiêm cũng dẫn Sư đoàn 21 Bộ binh từ miền Tây về bảo vệ ông Diệm. Không có cuộc đổ máu giữa đôi bên vì lúc ấy Thiếu tướng Nguyễn Khánh, Tham mưu trưởng liên quân đã vào dinh Độc Lập để dàn xếp nội vụ.
Cuộc đảo chính bất thành vì không được quân đội ủng hộ và phía Mỹ không tán thành. Nhờ có sự dàn xếp trước, Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông đã được Đại úy Phan Phụng Tiên chở bằng phi cơ quân sự qua Cam Bốt tị nạn, Đại úy Phan Lạc Tuyên lái xe qua Cam bốt, sau đó ông theo Cộng sản ra miền Bắc.
Riêng bác sĩ Phan Quang Đán; người đã tham gia chính phủ của ông Diệm, bị bắt giam cùng vài người trong nhóm nhân sĩ Caravelle. [1] Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam ủng hộ cuộc đảo chính cũng bị mật vụ theo dõi. Ít lâu sau, Đại tá Trần Thiện Khiêm được thăng thiếu tướng, giữ chức vụ tham mưu trưởng liên quân.
Trong dịp này, Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrovv đã đề nghị ông Diệm cải tổ nội các để các thành phần chính trị khác tham gia chính phủ và thực hiện bầu cử ở xã, ấp, nhưng ông Diệm đã cho Mỹ biết Cộng sẵn đang nổi dậy khắp nơi, ông không thể thực hiện các đề nghị này theo ý họ.
Trong lúc cuộc đảo chính xẩy ra ở Saigon, Bình cùng phái đoàn Tâm lý chiến đang ở Okinavva thăm các hoạt động của một tiểu đoàn tâm lý chiến Mỹ. Nơi đây đã cung cấp hàng triệu truyền đơn cho quân đội VNCH rải bằng máy bay trên 4 Vùng chiến thuật và đường mòn Hồ Chí Minh để kêu gọi cán binh Cộng sản hồi chánh. Khả năng in truyền đơn của Nha Chiến tranh tâm lý có giới hạn nên đã phải nhờ nơi đây hỗ trợ khi có các  chiến dịch tuyên truyền lớn, nhất là vào dịp Tết.

Bình lại có thêm thiên phóng sự về Okinawa. Đây là hòn đảo của Nhật, do quân đội Mỹ chiếm đóng sau khi đổ bộ lên đảo hồi tháng Tư, 1945. Quân đội Mỹ đã phải chiến đấu ròng rã 2 tháng, chiếm từng thước đất, thiệt hại hơn 7.374 binh sĩ, bị thương 31.807 binh sĩ mới kiểm soát được hòn đảo. Số thiệt hại của Nhật lên tới 100.000 binh sĩ và 80.000 thường dân”.[2]
Ngày đầu tới Naha, thủ phủ của đảo Okinawa, Bình thấy cuộc sống ở đây sôi động, thanh bình và phồn thịnh. Ra tới ngoại ô, các chợ họp đông, ồn ào, không khí bình dân như các chợ ở Saigon. Các gia đình người Nhật sinh hoạt trong những ngôi nhà gỗ giản dị, mộc mạc, mặt sàn thoáng đãng dùng làm nơi tiếp khách, uống trà hay rượu saké, rất ít bàn ghế, đồ đạc và trang trí. Như thế khi có động đất sẽ ít bị thiệt hại vì nước Nhật ở trên vành đai địa chấn phía bắc Thái Bình Dương. Là thành phố bị chiếm đóng, các thanh lâu, tửu quán được mở để quân nhân Mỹ giải trí, đem lại lợi tức cho thành phố. Tuy nhiên dân địa phương vẫn đòi Mỹ trả lại chủ quyền cho họ”[3]

Khó có thể tưởng tượng nước Nhật phục hồi mau chóng sau khi Mỹ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima ngày 6 tháng Tám, 1945, sát hại 130.000 người Nhật và ngày 9, Mỹ lại thả trái bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki, tàn sát 60.000 người Nhật. Hai trái bom nguyên tử của Mỹ đã rút ngắn chiến tranh tại Thái Bình Dương, đưa nước Nhật vốn là đồng minh với Đức, Ý trong phe Trục, tới chỗ chấp nhận đầu hàng Đồng Minh ngày 14 tháng Tám, 1945, kết thúc Thế chiến thứ hai kéo dài trong 6 năm. Đức đã đầu hàng Đồng Minh ngày 8 tháng Năm, 1945 sau khi quân Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô tiến vào giải phóng nước Đức. Ý đã đầu hàng Đồng Minh ngày 8 tháng Chín, 1943, khi liên quân Anh Mỹ đổ bộ lên nước Ý.
Chiến tranh thế giới đã qua đi từ lâu nhưng nhân loại vẫn nhớ đến 6 triệu người Do Thái ở Đông Âu không phân biệt già trẻ đã bị Đức Quốc Xã giết hại tại lò thiêu Auschwitz ở Ba Lan, khi Đức chiếm đóng xứ này. Thế giới ngày nay còn giữ được hai di sản văn chương quý báu về chiến tranh: đó là cuốn nhật ký của Anne Frank và nhật ký của Rutka Laskier. [4] Anne Frank, cô gái Do Thái trốn trong nhà kho của gia đình ở Hòa Lan cùng 4 học sinh Do Thái trong 2 năm, trước khi bị mật vụ Đức bắt cùng với gia đình ngày 8 tháng 4, 1944. Anne và chị là Margot bị đưa về trại tập trung Bergen-Belsen, phía bắc nước Đức. Hai chị em Anne đều chết vì ốm yếu và bệnh hoạn trong tháng 3, 1945. Mẹ của Anne chết ở Auschwitz từ tháng 1 năm 1945, còn người cha được cứu sống ở nơi đây khi hồng quân Liên Xô tới giải phóng Ba Lan. Trong nhật ký của Anne Frank được dịch ra các thứ tiếng, có một câu cô viết rất cảm động: “Mặc dù thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn tin rằng con người thực sự tốt từ đáy lòng”.
Còn nhật ký của Rutka Laskier, cô gái Do Thái viết vào khoảng thời gian trước tháng Tư, 1943. Cô đã tả những nỗi kinh hoàng và cuộc sống khổ sở của cô ở khu lò thiêu Bedzin, Ba Lan, trước khi cô bị chuyển tới Auschwitz và chết ở đó.
Nhắc đến Thế chiến thứ hai, Bình không quên 2 triệu người miền Bắc ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa chết đói năm Ất Dậu, 1945 vì Nhật -Pháp bắt nông dân phá bỏ ruộng lúa trồng đay để phục vụ nhu cầu chiến tranh của Nhật.
Dù ở thế bại trận, người Nhật vẫn còn tiềm năng kỹ nghệ tiên tiến và sự cần cù, nhẫn nại làm việc, nên chỉ một thời gian ngắn họ đã phục hưng xứ sở và phát triển kinh tế vững vàng.
Sau khi chiến tranh kết thúc, nước Nhật đã bồi hoàn thiệt hại cho Việt Nam bằng việc thiết lập đường dây điện cao thế tại miền Bắc và xây bệnh viện đa khoa Chợ Rẩy ở Saigon cho miền Nam.
Khi Bình và phái đoàn tâm lý chiến từ Okinawa trở về Saigon, tình hình đã trở lại bình thường. Tuy đã ổn định được tình thế và giữ vững vai trò lãnh đạo, ông Diệm lại phải đối phó với âm mưu mới của Cộng sản Bắc Việt.
Để đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, Cộng sản đã tuyên bô thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam ngày 20 tháng 12, 1960. Mặt trận gồm một số nhân vật thân cộng: luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, ông Trương Như Tảng và bà Nguyễn Thị Bình. Những người này được Cộng sản sử dụng như một tấm bình phong nhằm che đậy cuộc xâm lăng của Bắc Việt vào miền Nam. Họ chỉ là các con rối trong bàn tay phù thủy của Bộ chính trị trung ương đảng Lao động Việt Nam. Bản cương lĩnh 10 điểm của Mặt trận là một tài liệu tuyên truyền chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và kêu gọi các thành phần quốc gia hòa hợp hòa giải với Cộng sản.
Trước tình hình an ninh ở nông thôn bị suy sụp. trong năm 1961, chính phủ Ngô Đình Diệm đã thực hiện quốc sách Ấp chiến lược trên toàn miền Nam. Ấp chiến lược được xây dựng trên cơ sở tam túc: tự túc tư tưởng, tự túc tổ chức và tự túc kỹ thuật. Ấp có nhiệm vụ thanh lọc cán bộ cộng sản trà trộn trong nhân dân, tách dân ra khỏi địch và tự chiến đấu chống du kích Việt Cộng. Nhân dân tự vệ là lực lượng chính tại xã, ấp. Quân đội sẽ lưu động can thiệp trong trường hợp Việt Cộng mở cuộc tấn công quy mô vào xã, ấp.
Đây là công trình nghiên cứu của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, dựa theo mô hình Ấp chiến đấu chống Cộng sản Mã Lai của Đại tá Robert Thompson, một chuyên gia du kích người Anh đã hợp tác với chính phủ Mã Lai trong việc tiểu trừ cộng sản dọc biên giới Mã Lai và Thái Lan.
Chỉ một thời gian ngắn, Ấp chiến lược đã làm bật rễ các cơ sở cộng sản nằm vùng, cắt đứt nguồn tiếp tế nhân vật lực từ nông thôn cho các du kích quân cộng sản trong vùng.
Trong khi đó, Tổng thống John F. Kennedy lên cầm quyền ở Mỹ năm 1961 đã phải đối phó với Cộng sản nổi dậy ở Lào và Việt Nam, với tình hình căng thẳng ở Bá Linh do Liên Xô gây ra và ở Trung Mỹ, Fidel Castro đưa Cuba vào quỹ đạo của Liên Xô.
Ở miền Nam Việt Nam, Bắc Việt đã đưa thêm 4000 quân xâm nhập. Tháng Chín, 1961, một trung đoàn Việt Cộng đã mở cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Phước Thành, cách Saigon 88 cây số về phía bắc. Tỉnh mới thành lập, nằm sát với Chiến khu Đ của Việt Cộng, do một tiểu đoàn Địa phương quân trú đóng. Trong lúc kháng cự với cộng quân, thiếu tá tỉnh trưởng đã hy sinh.
Tình hình Việt Cộng gia tăng phá hoại miền nam Việt Nam khiến Tổng thống Kennedy đã phải đặt vấn đề phái quân đội Mỹ qua bảo vệ an ninh cho miền Nam. Ông đã cử Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đến Saigon gặp Tổng thống Diệm để cam kết sự hỗ trợ của Mỹ cho Việt Nam Cộng Hòa chống Cộng sản xâm lược.
Sau đó phái đoàn Tướng Maxvvell D.Taylor và Cố vấn tòa Bạch Ốc Rostow qua gặp Tổng thống Diệm để đưa đề nghị gửi 8000 quân Mỹ thuộc lực lượng tiếp vận, y tế, công binh và bộ binh yểm trợ cho dân chúng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, song ông Diệm đã từ chối đề nghị này. Ông chỉ nhận thêm Cố vấn Mỹ ở các đơn vị để huấn luyện và gia tăng khả năng chiến đấu của quân đội.
 Từ 1961 đến 62, số cố vân Mỹ tăng từ 3.205 lên 9.000 người cho Quân đội VNCH, thêm 300 máy bay chiến đấu cho Không quân và một số thiết vận xa cho các đơn vị bộ binh [5]
Ngoài ra, Phái bộ Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ đã yểm trợ chương trình rải thuốc khai quang dọc các trục lộ có rừng rậm để Việt Cộng không thể ẩn núp tấn công vào các đoàn công voa quân đội và làm gián đoạn lưu thông dân sự.
Sự kiện ông Diệm chỉ nhận viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ (675 triệu đô la cho tài khóa 1962-63) mà không nhận quân đội Mỹ qua tham chiến bên cạnh quân đội VNCH, chứng tỏ nhà lãnh đạo quốc gia luôn giữ vững lập trường chính nghĩa của VNCH trong công cuộc chống Cộng sản xâm lược. Điều này khiến Mỹ không được hài lòng, nhất là phái diều hâu đang nắm ưu thế.
Năm 1962, tòa Đô chính dựng tượng Hai Bà Trưng tại công viên bến Bạch Đằng, dân chúng lại công kích tượng hai Bà sao giống mặt hai chị em bà Ngô Đình Nhu, tức bà Trần Lệ Xuân và chị là bà Trần Lệ Chi, phu nhân Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu. Sau đó tượng hai Bà Trưng phải bỏ.

Bà Trần Lệ Xuân thuộc gia đình quý phái ở Hà Nội, thân phụ là luật sư Trần Văn Chương, Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, thân mẫu là Quan sát viên VNCH tại Liên Hiệp Quốc. Trong vai trò dân biểu cùng Ông Ngô Đình Nhu, bà đã đưa ra luật bảo vệ gia đình và xã hội, trong đó có khoản cấm ly dị [6].  
Bà đã lập Hội Phụ nữ Liên đới, Đoàn Thanh nữ Cộng Hòa theo sau Đoàn Thanh niên Cộng Hòa do ông Nhu sáng lập. Bà là người đưa ra mốt áo dài hở cổ làm các bà lớn và các thiếu nữ đua mặc. Mốt áo này trẻ trung, mát mẻ, Ngọc cũng đã mặc, nhưng phụ nữ vẫn muốn giữ vẻ kín đáo của chiếc áo dài. Với vai trò gần như Đệ nhất Phu nhân, bà đã không tránh khỏi bị dư luận bình phẩm.

Chú thích:
 [1] Trong số này có cả Luật sư Lê Ngọc Chấn bị giam giữ tới sau ngày đảo chính 1/11/1963 mới được thả.
[2] Trước khi quân Mỹ đổ bộ lên Okinawa, quân Nhật ép hàng ngàn thường dân tự sát tập thể vì sợ quân Mỹ hành hạ.
[3] Năm 1972, Mỹ đã trả Okinawa cho Nhật, chỉ còn các căn cứ quân sự trên đảo.
[4] Anne Frank 15 tuổi; Rutka Laskier 14 tuổi
[5] America’s Longest War, George C. Herring, 1979, p 86.
[6] Dư luận đã chí trích luật này; bởi nó cũng đã phát xuất từ ý đồ của bà Nhu muốn ngăn cản phu quân bà Trần Lệ Chi ly dị với bà vì bà có người yêu Pháp. Karnow 1997, p 280-284 và Wikipedia, the Free Encyclopedia, 1/9/2008.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.12.2021 15:49:25 bởi Ct.Ly>
Chương Bảy

Buổi sáng không bình yên


Gia đình Bình dọn về đường Lê Văn Duyệt. Căn gác gỗ ở trong hẻm chỉ đủ cho hai vợ chồng chàng và mấy đứa con nhỏ. Con hẻm chật, ngoắt nghéo, vừa vặn một chiếc xích lô đi lọt. Nhà cửa sát vách nhau ở hai bên hẻm; hàng xóm có thể nghe động tĩnh nhà bên cạnh. Cảnh sống hang ổ cứ nghĩ mà ấm cúng, sớm tối có nhau; gia đình nào cũng đông con cái, giọng Nam, giọng Bắc nghe như chỉ một giọng, nhất là đám trẻ.
Chàng ở lọt giữa hai gia đình công chức từ Bắc di cư vào. Nhà bên cạnh có cô con gái điên vì thất tình. Đêm tối cô cười, khóc, la hét nghe thật thương tâm. Phía trước mặt có một gia đình lao động nghèo, người miền Nam, mấy mẹ con sống trong căn nhà tôn chật hẹp. Bà mẹ mắc bệnh lao. Lính, công chức, dân lao động ra đường ngó nhau bằng con mắt bình đẳng và thân thiện. Hầu hết họ quen mặt nhau. Việt Cộng nằm vùng có muốn trà trộn cũng khó.
Ở đầu hẻm, sáng nào cũng thấy một nồi bắp luộc bốc khói. Hơi lửa, hơi bắp phả vào khí trời nghe rất quen thuộc với người dân trong hẻm. Một cô gái phụ mẹ luộc bắp bán cho khách qua đường để đổi lấy miếng cơm nuôi gia đình mỗi ngày.
Ban đêm vẫn có tiếng người quẩy đôi thùng nước từ cái máy công cộng vào trong hẻm. Sột soạt, óc ách, tiếng chân chạy uỳnh uỵch trên nền xi măng nghe rõ mồn một. Quá khuya thì mọi tiếng động tạm yên để rồi lại rộ lên vào khoảng ba, bốn giờ sáng. Đó là cuộc sống thầm lặng của con hẻm.
Quanh đi quẩn lại Ngọc đã sinh cho Bình ba cô con gái và một cậu con trai. Nhà ở thuê. Lương quân nhân thiếu hụt, chàng phải viết báo thêm cho nàng trang trải nhưng vẫn chưa đủ.
- Em đừng buồn nhé. Anh biết lương anh không đủ nuôi em và các con.
- Em đâu có buồn. Thấy đêm nào anh cũng thức khuya viết bài làm em lo cho anh. Muốn giục anh đi ngủ cho khỏe lại sợ anh viết chưa xong nên em cứ nằm đợi.
- Anh hiểu. Mấy năm trước kinh tế còn khá, dần dần khó khăn thêm vì tình trạng chiến tranh.
- Hay là em đi làm. Em có cô bạn ở ngân hàng muốn rủ em đi làm mà em chưa muốn nói với anh.
- Em đi làm thì có tiền thêm, nhưng lại phải thuê người trông trẻ, lo cơm nước. Chắc gì họ chu đáo bằng mình. Thời buổi này đâu có thể tin ở người làm. Rồi có lúc anh đi công tác bất thần, em lại phải ở nhà trông con. Đúng cái khó bó cái khôn.
 -Vì thế em cứ đắn đo. Đành ở nhà làm nội tướng cho anh vậy.
- Phải thế, em ạ. Mỗi gia đình có một hoàn cảnh.
Chàng không biết nói gì hơn trước sự chịu đựng, hy sinh của vợ. Nàng đã dành cả tuổi thanh xuân cho công việc nội trợ và gia đình mà không đòi hỏi gì ở chồng, cũng không nghĩ đến những mơ ước riêng cho mình.
Cuộc sống cứ thế xoay vần trên đôi chân hai người. Đôi chân nàng mềm yếu và đôi chân chàng chai đá với đôi giầy trận nặng nề. Cả xã hội cùng chịu đựng những khó khăn, mất mát và đau thương kéo dài.

Buổi sáng ngày 27 tháng Hai, 1962, sau ly cà phê ấm bụng, Bìmh đi xe gắn máy đến sở làm. Chàng vẫn quen đi trên đường Hồng Thập Tự, qua dinh Độc Lập đến Nha Chiến tranh tâm lý làm việc.
Vừa tới sở, chàng bỗng nghe thấy tiếng nổ lớn phía dinh Độc Lập. Lúc ấy mới 8 giờ sáng. Mọi người đang tới sở làm. Chắc Tổng thống Diệm khởi sự làm việc. Hai chiếc máy bay khu trục Skyraider do phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái vừa ném bom xuống dinh Độc Lập, nơi làm việc và trú ngụ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông bà cố vấn Ngô Đình Nhu song không xẩy ra thương vong. Góc phải của Dinh bị trúng bom, hư hại nhẹ.
Viên phi công Nguyễn Văn Cử đã bay thoát qua Cam Bốt. Chiếc máy bay của phi công Phạm Phú Quốc bị Hải quân bắn hạ trên sông Nhà Bè. Sau vụ này, ông Diệm và gia đình ông Nhu đã dời về dinh Gia Long gần với dinh cũ. Việc sửa chữa, cải tiến dinh Độc lập theo mô hình mới giao cho Cục Công binh thực hiện, có thể kéo dài tới một hai năm.
Theo kết quả điều tra của Nha An ninh quân đội, Nguyễn Văn Cử có thân nhân là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đây không phải là hành động đơn phương của hai phi công mà đằng sau họ có sự hậu thuẫn của đảng phái chống ông Diệm nhằm lật đổ ông.
Tuy nhiên không có tổ chức nào đứng ra nhận trách nhiệm về hành động mưu sát này và Bộ Tư lệnh Không quân đã phải lãnh trách nhiệm trước vị Tổng tư lệnh là Tổng thống Diệm. Trong buổi lễ của Không quân tại bến Bạch Đằng, Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, tức nhà văn Toàn Phong đã phải tạ lỗi với Tổng thống Diệm về vụ này.
Ít lâu sau có sự thay đổi chức Tư lệnh Không quân. Phi công Phạm Phú Quốc bị Nha An ninh quân đội bắt giam, sau đó được ông Diệm khoan hồng [1]. Cách xử sự của ông Diệm chứng tỏ cái Đức của người lãnh đạo tối cao muốn thu phục nhân tâm để đối phó với nạn Cộng sản xâm lăng hơn là gây rạn nứt trong hàng ngũ quốc gia. Về tình hình Ấp chiến lược, cuối năm 1962 đã có 3.500 ấp được hoàn thành, 2000 ấp đang trên đà xây dựng. Ngân khoản lập ấp trích trong số viện trợ của Chính phủ Mỹ dành cho Chính phủ VNCH. Việc gom dân lập ấp vừa tạo an ninh cho dân, vừa là cơ hội để chính quyền địa phương cải thiện kinh tế và xã hội cho nông thôn.
  Tuy nhiên, việc thực hiện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và các vùng sâu có phần chậm chạp vì dân chúng ở lẻ tẻ, rải rác nhiều nơi. Họ đã bám rễ với thửa ruộng, mảnh vườn của mình, nay lại phải dời đến nơi đất mới để lập ấp với hai bàn tay trắng thì họ tỏ ra bất bình. Với họ, việc thích nghi với cuộc sống mới cần phải được giải thích và việc cải thiện kinh tế, xã hội cũng cần phải có thời gian. Trong khi đó Cộng sản tuyên truyền Ấp chiến lược là nơi giam hãm dân chúng nhằm mục đích làm cho dân bất mãn với chính quyền, song song với việc chúng đánh phá các thôn ấp hẻo lánh để giành quyền kiểm soát dân. Nhiều nơi, tổ chức của ấp còn lỏng lẻo, du kích Việt Cộng còn lén lút ra vào hoạt động phá hoại.
Thời gian 1961-62, nước Mỹ bớt chú tâm đến Việt Nam để chuyển hướng đối phó với Cuba ở sát nách Mỹ. Liên Xô muốn biến Cuba thành một tiền đồn Cộng sản ở Trung và Bắc Mỹ. Dưới thời Tổng thống Eisenhower, nước Mỹ đã cắt đứt các quan hệ ngoại giao với Cuba. Qua thời Tổng thống Kennedy, Castro vẫn là cái gai trước mắt mà ông muốn nhổ.
Kế hoạch của CIA là hỗ trợ 1400 lính biệt kích gồm những người Cuba tị nạn tại Mỹ đổ bộ lên Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) để khơi mào cho dân chúng Cuba nổi dậy lật đổ chế độ độc tài Fidel Castro. Ngày 17 tháng Tư năm 1961, các toán biệt kích đổ bộ lên Vịnh Con Heo, bị quân đội của Castro chống cự và bao vây bắt gần hết đám trong 2 ngày; dân chúng Cuba cũng không thấy nổi dậy như dự tính.
Đến tháng Mười 1962, Mỹ lại phải đương đầu với cuộc khủng hoảng hỏa tiễn của Liên Xô ở Cu ba. Lúc đó, Khushchev, Chủ tịch Liên Xô và Castro thỏa thuận để Liên Xô đặt hỏa tiễn trên đất Cuba hòng bắt chẹt Mỹ không mở cuộc tấn công đổ bộ Cuba.
Ngày 22 tháng Mười, Tổng thống Kennedy tuyên bố trên đài truyền hình yêu cầu Liên Xô phải rút hết hỏa tiễn ra khỏi Cuba. Đồng thời ông Kennedy cho lệnh phong tỏa biển Caribbean (Caraïbes) bằng tầu chiến và máy bay B-52 mang bom nguyên tử. Quân đội Mỹ trên khắp thế giới cũng được lệnh báo động.
Trước áp lực của Mỹ, Khushchev đồng ý rút hỏa tiễn ra khỏi Cuba và yêu cầu Mỹ không được tấn công nước này. Ngoài ra, Khushchev đòi Mỹ rút các hỏa tiễn đặt ở Thổ Nhĩ Kỳ nhắm vào lãnh thổ Liên Xô. Mỹ chỉ chịu điều kiện thứ nhất và bác bỏ điều kiện thứ hai. Cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba đã được giải quyết êm thấm nhờ sự cương quyết của Tổng thống Kennedy trong việc đối đầu với Liên Xô.
Cuối năm 1962, sự căng thẳng giữa Mỹ và Liên Xô trong cuộc chiến tranh lạnh được hạ giảm nhờ những mâu thuẫn sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Cộng trong vai trò giành quyền lãnh đạo khối Cộng sản Quốc tế. Liên Xô theo chủ nghĩa Xét lại [2] , còn Trung Cộng cứ nhất mực theo chủ nghĩa giáo điều Mác Xít [3] Sự xích mích giữa hai cường quốc Cộng sản đã làm rạn nứt khối cộng sản và gây hoang mang cho các nước chư hầu. Cộng sản Bắc Việt đã phải đi dây giữa Trung Cộng và Liên Xô để khỏi làm mất lòng hai nước đàn anh đang viện trợ mạnh mẽ về kinh tế, quân sự cho Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Bước qua năm 1963, trận đánh cấp tiểu đoàn đầu tiên giữa Việt Cộng và Quân đội VNCH đã diễn ra tại Ấp Bắc, Định Tường ngày 2 tháng Giêng, 1963. Hai tiểu đoàn Việt Cộng 514 Mỹ Tho và 261 chủ lực Miền đã bố trí tại khu ruộng và kinh rạch có lùm cây để giao chiến với 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh, tiểu đoàn 8 Dù được trực thăng vận tới trận địa, tiểu đoàn Địa phương quân Tiểu khu Định Tường, đại đội thiết vận xa MI 13 thuộc SĐ 7 BB, pháo 105 ly tại Chi khu Cai Lậy và phi cơ khu trục yểm trợ.
Trận đánh kéo dài từ sáng đến chiều tối. Địch bị bao vây và bị tấn công từ trên đầu nên tổn thất rất nặng nề; số còn lại phải tháo chạy lúc chập tối. Bên ta có 80 chiến sĩ hy sinh, 5 trực thăng bị bắn hạ. Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng ở Ấp Bắc với chiến thuật trực thăng vận, tạo yếu tố bất ngờ khiến địch hoảng sợ và bị động.
Ông Diệm muốn phô trương chiến thắng Ấp Bắc cho dân chúng và quốc tế biết, nên Nha Chiến tranh tâm lý đã tổ chức một cuộc triển lãm tại Tòa Đô chính Saigon, có sa bàn trận đánh, các hình ảnh giao tranh và một số vũ khí tịch thu của Việt Cộng tại Ấp Bắc. Trước công viên Tòa Đô chính là khu trưng bầy các vũ khí của quân đội VNCH đã sử dụng trong trận đánh Ấp Bắc gồm pháo 105 ly, thiết vận xa M. 113, phi cơ khu trục Skyraider.
Triển lãm thu hút giới thanh niên tới coi các hình ảnh hào hùng của quân đội VNCH, từ đó họ cảm thấy hăng say nhập ngũ để bảo vệ nền độc lập và tự do của nước VNCH non trẻ. Đây cũng là dịp để quốc tế thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu cao của quân đội VNCH trước các đơn vị chủ lực Việt Cộng.
Lần đầu tiên chiến thuật trực thăng vận đã tỏ ra hữu hiệu trên chiến trường du kích vì tính cơ động nhanh và tấn công chớp nhoáng. Các trực thăng chở những toán quân nhỏ bay là là trên ngọn cây làm Việt Cộng ẩn núp trong hầm hố lo sợ. Khi bị phát hiện, địch khó có đường thoát thân và trở thành mục tiêu bị bao vây, tiêu diệt.

Lúc này ở bên Pháp, Tổng thống Charles De Gaulle vận động lá bài trung lập hóa miền Nam Việt Nam; các lực lượng Mỹ sẽ rút đi và hai bên Nam, Bắc Việt Nam trao đổi văn hóa với nhau. Đề nghị của De Gaulle không được các giới liên hệ quan tâm, nhất là Mỹ. Ngoài ra có tin ông Cố vấn Ngô đình Nhu tìm cách thương lượng với Bắc Việt để giải quyết cuộc chiến ở miền Nam. Đây có thể là đòn chính trị của ông Nhu để người Mỹ khỏi ép buộc ông Diệm vào cái thế lệ thuộc Mỹ hoàn toàn cả về mặt quân sự lẫn chính trị.[4]
Về mặt tôn giáo, Tổng thống Diệm phải đương đầu với vụ Phật giáo bùng nổ giữa năm 1963, phát xuất từ vụ treo cờ Phật giáo. Theo thông tư của Phủ Tổng thống chỉ thị cho các Tỉnh, Thị, thì việc treo quốc kỳ và cờ các tôn giáo trong các ngày lễ đạo được quy định thống nhất và thi hành trên toàn quốc. Quốc kỳ được treo trước cổng các cơ sở tôn giáo, ngay chính giữa cổng theo kích thước đã định; cờ các tôn giáo hoặc đoàn thể treo thấp hớn. Bên trong các cơ sở tôn giáo, cờ tôn giáo và đoàn thể được treo tự do.
Nhưng sự việc xẩy ra ở Huế đã không đúng với thông tư về việc treo cờ của Phủ Tổng thống. Đầu tháng Năm, 1963 có lễ Ngân Khánh 25 năm thụ phong Giám mục của Đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục, bào huynh của Tổng thống Ngô Đình Diệm, giáo dân đã treo cờ Vatican la liệt ở Huế, song chính quyền thành phố đã không can thiệp có thể vì nể nang uy tín của Đức Tổng giám mục Thục đang coi địa phận Huế”.[5]
Đến ngày 8 tháng Năm có lễ Phật Đản ở Huế, Phật tử treo cờ Phật giáo khắp nơi thì tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên lại nhắc nhở thông tư về việc treo cờ các tôn giáo trong các ngày lễ đạo. Việc này khiến các Phật tử phẩn nộ, cho là chính phủ không công bằng trong việc treo cờ. Đã có những dư luận khiến bên Phật giáo quy kết chính phủ có vấn đề kỳ thị Phật giáo và ưu đãi Công giáo.
Trên thực tế, chưa có vấn đề gì cụ thể để chứng minh chính phủ có thái độ hay chính sách thiên vị tôn giáo, dù bản thân ông Diệm là người công giáo và Đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục có uy tín từ khi ngài còn ở địa phận Vĩnh Long.
Trong buổi lễ mừng Phật Đản tại chùa Từ Đàm, Thượng tọa Thích Trí Quang tuyên bố chính phủ thiên vị trong vấn đề tôn giáo và đưa ra vài yêu sách; cụ thể là được tự do treo cờ Phật giáo và bình đẳng giữa Phật giáo và Công giáo. Buổi tối, Phật tử biểu tình trước đài phát thanh Huế vì đài đã không tường thuật buổi lễ và bản yêu sách của Thượng tọa Thích Trí Quang ở chùa Từ Đàm.
Theo lệnh của ông Nguyễn Văn Đẳng, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, Thiếu tá Đặng Sĩ, Phó tỉnh trưởng Nội An đã cho binh sĩ đến giải tán cuộc biểu tình. Một tiếng nổ lớn bất thần làm 8 người lớn và trẻ em chết. Thiếu tá Đặng Sĩ sau đó bị biệt giam tại Nha An ninh quân đội. Tại đây ông nói: “Binh sĩ không bắn." [6] Riêng tiếng nổ làm chết người, dư luận cho là có bàn tay CIA nhúng vào để làm ông Diệm mất uy tín, vì chất nổ không phải của quân đội VNCH. [7]
Sau đó phong trào Phật giáo đấu tranh lan nhanh vào Saigon.

Buổi sáng ngày 11 tháng Sáu, 1963, Ngọc vừa đưa con đến xin học tại trường Aurore, đường Phan Đình Phùng, lúc quay về trước tòa Đại sứ Cam Bốt thấy đám đông Phật tử, Tăng, Ni vây quanh Thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi tự thiêu trên mặt đường nhựa. Ngọn lửa bốc cháy một lát thì người gục xuống, riêng trái tim của Thượng tọa vẫn còn y nguyên mới nhiệm mầu!
Nhân vụ này, tuần báo TIME đã chạy hàng tít:
Thượng tọa Thích Trí Quang, người làm rung chuyển chế độ Ngô Đình Diệm!
Vụ Phật giáo bị xé to nằm trong ý đồ của Mỹ muốn hạ ông Diệm.
Ít ngày sau, nữ sinh Quách Thị Trang dẫn đầu đoàn biểu tình trước chợ Saigon đã bị Cảnh sát bắn chết. Saigon u ám hình ảnh tự thiêu, biểu tình của Phật giáo, Cộng sản đã nhúng tay vào vụ này.
Ngày 7 tháng Bảy 1963, nhà văn Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam đã tự tử tại nhà riêng trước ngày có phiên tòa xử ông và các nhân vật hỗ trợ cuộc đảo chính hụt ông Diệm ngày 11 tháng Mười Một 1960. Ông có viết trong di chúc: “Đời tôi để lịch sử xử”. Đó chính là tiết tháo của ông. Các ông Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng và cụ Nguyễn Hải Thần thuộc Việt Cách đã từng tham gia chính phủ Hồ Chí Minh tháng Một, 1946. Sau khi ký Tạm ước ngày 6 tháng Ba 1946 cho phép Pháp trở lại Bắc Việt để hòa hoãn với Pháp, ông Hồ quay ra đàn áp các phần tử quốc gia để củng cố chính quyền cộng sản; bởi thế các ông Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh và cụ Nguyễn Hải Thần đã phải qua Trung Hoa lánh nạn.
Nhà văn Nhất Linh, người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn đã nổi tiếng từ những năm 1930 với trường phái lãng mạn xã hội. Trong cuốn tiểu thuyết luận đề Đoạn Tuyệt, ông đã mạnh mẽ đả phá cái phong hóa cổ từng đè nén người phụ nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội.
Mâu thuẫn đã xẩy ra giữa Loan, vợ của Thân, và mẹ chồng. Hai người này đứng về phe bảo thủ ức hiếp Loan đủ điều. Trong lúc Thân nghe mẹ đánh Loan, chàng ngã chúi vào con dao rọc sách nàng cầm trong tay, gây ra cái chết bất ngờ cho chàng. Ra tòa, Loan đã thắng. Tiếng nói đòi bình đẳng và giải phóng vai trò người phụ nữ bị áp chế đã thắng. Nhà văn Nhất Linh đã nêu cao tư tưởng cách mạng văn hóa vào lúc cái cũ, cái mới xung đột nhau ở đầu thế kỷ thứ 20.
Sau đám tang ông Nhất Linh, tình thế ở Saigon vẫn sôi động các cuộc biểu tình của Phật giáo.
Đêm 20 tháng 8, 1963, cảnh sát và Lực lượng đặc biệt trên toàn quốc được lệnh khám xét các chùa, bắt đi một số tu sĩ bị nghi là có liên hệ với Cộng sản[9].
Vụ này Mỹ cho là ông Nhu chỉ đạo. Trong bức điện tín gửi Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk ngày 29 tháng 8, 1963, Đại sứ Cabot Lodge viết:
“We are launched on a course from which there is no respectable turning back: the overthrow of the Diem government” (Chúng tôi khởi sự tiến hành công việc không thể lui bước được: lật đổ chính phủ ông Diệm.)
Sau đó trong bức điện gửi ông Lodge ngày 17 tháng 9, 1963, toà Bạch Ốc muốn ông Diệm cải tổ nội các, đưa ông Nhu ra khỏi Saigon, song ông Diệm vẫn giữ lập trường cố hữu bởi ông Nhu là cố vấn ruột thịt của ông. [10]. Rõ rệt Mỹ đã trù tính thay thế ông Diệm giữa dòng, như Mỹ đã làm với ông Jacobo Arbenz Guzman, Tổng thống Guatemala ở Trung Mỹ năm 1954 [11]”
Cũng bởi bất đồng với ông Diệm, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đã xin từ chức và gọt đầu như sư. Ông bà Trần Văn Chương cũng từ bỏ các chức vụ ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn và Liên Hiệp Quốc.
Tháng 10, 1963, ông Diệm đã cử bà Ngô Đình Nhu qua Mỹ giải độc vụ Phật giáo song không gây được thiện cảm với công luận Mỹ”.[12]
Vào thời điểm này, có một vài tướng lãnh nổi bật với vai trò trọng yếu trong các biến cố đã và đang xẩy ra. Người được hai ông Diệm và Nhu tin cẩn trong lúc này là Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Tham mưu trưởng Liên quân. Quyền Tổng Tham mưu trưởng là Trung tướng Trần Văn Đôn. Tướng Khiêm xuất thân thiếu úy năm 1946 tại Đập Đá, Huế; sau đó ông về phục vụ Vệ binh Nam phần năm 1948. Ông được thăng cấp dần qua các chức vụ đảm nhận. Ngày 11 tháng 11, 1960, Đại tá Trần Thiện Khiêm đưa Sư đoàn 21 Bộ binh từ miền Tây về cứu Tổng thống Diệm trong vụ đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Năm 1962, Đại tá Khiêm được ông Diệm thăng cấp thiếu tướng và cử giữ chức Tham mưu trưởng Liên quân. Từ đó ông có thế và được lòng tin của hai ông Diệm, Nhu. Ông có chân trong Cần Lao và Đại Việt.
Nắm được cơ hội thuận tiện, Tướng Khiêm đã đề bạt Thiếu tướng Nguyễn Khánh làm Tư lệnh Quân đoàn 2, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh trực thuộc Quân đoàn 3 đóng gần Saigon. Những chức vụ quan trọng kể trên nằm trong phe cánh của ông Khiêm để củng cố địa vị của ông và sẽ hữu dụng khi có đại sự.
Trung tướng Dương văn Minh, xuất thân thiếu úy quân đội Pháp năm 1946, trường Hạ sĩ quan Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông có công dẹp loạn Bình Xuyên ngày 28 tháng Tư, 1955 và có liên can đến việc tịch thu kho tàng của Bẩy Viễn tại Rừng Sát. Ông được Tổng thống Diệm thăng chức thiếu tướng ngày 23 tháng Mười, 1955 và lên trung tướng ngày 1 tháng Hai, 1957. Năm 1963, ông làm Cố vấn quân sự Phủ Tổng thống.
Thiếu tướng Tôn Thất Đính, xuất thân thiếu úy Phú Bài, Huế năm 1949, được coi là con cháu ông Diệm và được cử làm Tư lệnh Quân đoàn 3 và Vùng 3 Chiến thuật, gồm cả Biệt khu Thủ đô.
Ngoài ra Đại tá Đỗ Mậu được ông Diệm cử giữ chức giám đốc Nha An ninh quân đội đã lâu mà chưa được lên tướng, do đó ông có vẻ bất mãn, mặc dù ông nhận mình là con cháu ông Diệm.
Tướng Đính và Đại tá Mậu thuộc nhóm Quân ủy Cần Lao được thành lập từ năm 1955 gồm một số sĩ quan gốc miền Trung, trong đó có Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân khu 1, Đại úy Lê Quang Tung, Đại úy Nguyễn Văn Châu. Năm 1963, ông Tung lên Đại tá làmTư lệnh Lực lượng Đặc biệt, ông Châu lên Trung tá làm Giám đốc Nha Chiến tranh tâm lý một thời gian trước khi đi làm tùy viên quân sự cho tòa Đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn.
Tổ chức Quân ủy Cần Lao trong quân đội nhắm kết nạp các cấp chỉ huy và quân nhân chính là để tạo sự trung thành của họ đối với chế độ của Tổng thống Diệm. Quân ủy Cần Lao không có hệ thống quy mô, không chi phối toàn thể quân đội. Khác với hệ thống Quân ủy trong quân đội Cộng sản miền Bắc đóng vai trò Chính ủy nhắm thi hành và kiểm soát các mệnh lệnh khắt khe của Đảng từ trên xuống. Từ năm 1957, mặc dầu ông Diệm đã có chỉ thị cấm hoạt động chính trị trong quân đội; Quân ủy Cần Lao vẫn hoạt động ngầm.
Vấn đề đảng phái trong quân đội rất phức tạp vì ngoài Đảng Cần Lao còn có Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng ngầm thâm nhập các tướng lãnh và sĩ quan. Sự trung thành với ông Diệm là dấu hỏi trong số các tướng lãnh được ông tín nhiệm mặc dầu họ là Cần Lao và tự nhận là con cháu ông Diệm để cầu lợi và tiến thân.
Nhất là khi người Mỹ mua chuộc họ để khuynh đảo chính quyền, khó có thể tin họ sẽ sống chết vì ông Diệm. Trường hợp Đại tá Đỗ Mậu suýt bị ông Nhu bắt giam vì âm mưu chống ông Diệm, đã được ông Diệm thương tình bỏ qua là một sự kiện đáng quan tâm [13]
Quân đội VNCH lúc này đã lớn mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Lục quân có 4 Quân đoàn và 4 Vùng chiến thuật, 8 Sư đoàn Bộ binh, 1 Lữ đoàn Nhảy Dù, 1 Lữ đoàn Thủy quân lục chiến, Các tiểu đoàn Biệt động quân, các đơn vị Lực lượng đặc biệt, Pháo binh đơn vị và Pháo binh diện địa, Thiết giáp, Công binh, Địa phương quân và Nghĩa quân, Nhân dân tự vệ các xã, ấp.
Không quân có 7 Phi đoàn, Hải quân có 5 Hải đoàn và 1 Hải lực. Với đà tăng trưởng tiếp tục không ngừng trong các Quân, Binh chủng theo mục tiêu hiện đại và tiên tiến, Quân đội VNCH xứng đáng được toàn dân tin tưởng trong sứ mạng bảo vệ đất nước.

Chú thích :
[1] Ông Diệm đã từng khoan hồng cho Hà Minh Trí, người đã ám sát hụt ông tại Ban Mê Thuột.
[2] Chủ nghĩa Xét lại = Trong lịch sử từ Chủ nghĩa phán xét lại được dùng trong từ điển Cộng sản để mô tả những chống đối các dự định sửa đổi, hay từ bỏ những lý thuyết cách mạng cơ bản .
[3] chủ nghĩa giáo điều Mác Xít= Chủ nghĩa Marx hay Mác-xít (phiên âm từ Marxist) là hệ thống học thuyết triết học, lịch sử và kinh tế chính trị dựa trên các tác phẩm của Karl Marx (1818–1883)
 [4] Theo bài phỏng vấn của ông Minh Võ với ông Cao Xuân Vỹ đăng trên báo Thời Luận ra ngày 29/9/2007 tại Los Angeles; ông Vỹ có theo ông Nhu ra quận Tánh Linh (Long Khánh) đi săn, ở đây ông Nhu gặp kín Phạm Hùng (thuộc Trung ương Cục Miền Nam, tác giả ghi) hơn tiếng đồng hồ. Nội dung cuộc nói chuyện không được tiết lộ.
[5] Đức Tổng giám mục Ngô Đinh Thục về phụ trách địa phận Huế năm 1961.
[6] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Dinh Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.I82
[7] Theo cuốn Ngô Dinh Diệm, Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở, cựu Trung tá Nguyễn Vân Châu ghi: Đại úy James Scott, liên hệ với CIA, cố vấn Tiểu đoàn 1/3, Sư đoàn 1 thú nhận về việc này. tr. 189-190
Sau ngày 30/1/64, Tướng Nguyễn Khánh đưa Thiếu tá Đặng Sĩ ra tòa Mặt trận xử chung thân để lấy lòng Thượng tọa Thích Trí Quang (Viet Nam, our Nightmare, Marguerite Higgins, ch. Vi)
[8] Trong cuộc phỏng vấn của luật sư Lâm Lễ Trinh với ông Dương Văn Hiếu trên báo Thời Luận ngày 6/10/2007, Ông Hiếu nói Thượng tọa Thích Trí Quang làm việc cho Cộng sản. Ông Hiếu nguyên là trưởng đoàn Công tác đặc biệt miền Trung chuyên lo phản gián Cộng sản thời ông Diệm.
[9] Thượng tọa Thích Trí Quang đã trốn vào tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn sau đêm 20/8/1963. (Tài liệu tổng hợp)
[10] Vietnam and America, Grove Press,New York 1995 p 227-30
[11] Vì ông ta đã quốc hữu hóa Công ty Mỹ United Fruit.
[12] Bà Nhu ví nhà sư tự thiêu như “ heo quay'’ ( Vietnam and America, Grove Press, New York, 1995, p. 219: Mme Nhu publicly ridiculed the Buddhist suicide as “barbecue”). Sau vụ đảo chính 1/11 /63 bà Nhu từ Mỹ qua Rome rồi qua Pháp cư trú.
[13] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tống Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.97




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.12.2021 17:41:50 bởi Ct.Ly>
Chương Tám

Thảm sát và rối loạn


 Sẵn có một chuyến bay quân sự về Saigon, Bình đi theo về nghỉ phép. Hai năm ở tỉnh nhỏ Phước Thành, chàng mới đi phép hai lần, dù chỉ cách Saigon hơn 80 cây số. Đường bộ từ tỉnh về Saigon thiếu an ninh, Việt Cộng trong Chiến khu Đ thường bung ra hoạt động để bảo vệ hành lang xâm nhập của quân Bắc Việt. Mỗi lần có đoàn xe quân đội di chuyển phải có đơn vị đi mở đường từ sáng sớm để tránh bị phục kích. Nhưng từ khi có Bộ chỉ huy Biệt khu phụ trách an ninh cho ba tiểu khu vùng đất đỏ: Phước Thành, Phước Long, Bình Long, thì hai tỉnh Phước Long, Phước Thành tuy mới thành lập được vài năm đã đông vui hơn trước. Vùng này có các đồn điền cao su lớn, ít ruộng, rừng rậm, đất hoang thì nhiều.
Thấy chàng về, Ngọc mừng rỡ hỏi:
- Chừng nào anh về hẳn?
- Anh chờ người lên thay. Giấy tờ có rồi mà chưa thấy người đâu cả.
- Chắc họ ngại lên chỗ đó.
- Hồi trước anh đâu có ngại. Lệnh bảo đi là đi. Thế mà cứ vào hang cọp lại bắt được cọp. Bây giờ Phước Thành đã thay da đổi thịt. Quân tới đâu, dân theo đến đấy.
Công việc ở bộ chỉ huy nhỏ khá bận rộn. Bận nhất là tình báo và tác chiến. Thứ đến ấp chiến lược và tâm lý chiến yểm trợ cho ba Tiểu khu. Bình coi phòng 5, phụ trách thêm một trung tâm huấn luyện tâm lý chiến dành cho các đoàn thanh niên nam nữ tuyên vận từ các tỉnh miền Tây gửi lên thụ huấn. Đây là chương trình yểm trợ đặc biệt của Mỹ dành cho chương trình Bình định tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Từ y phục đen kiểu nông dân đến vũ khí cá nhân đều do Mỹ trang bị, nhưng công tác chính của đoàn là tuyên truyền dân vận và địch vận ở nông thôn. Biệt khu còn có đoàn văn nghệ và các toán chiêu hồi, dân vận đi công tác lưu động các Tiểu khu. Cứ xoay vòng như vậy mà mau hết thì giờ.
Có các hoạt động tâm lý chiến, tinh thần binh sĩ ở nơi tiếp cận với địch thêm phấn chấn. Trận đánh của Tiểu đoàn 37 Biệt động quân tại xóm Sình với lực lượng Cộng quân đông hơn đã cho thấy tinh thần binh sĩ vượt trội. Địch vây hãm đồn Địa phương quân ở xóm Sình từ tối rồi phục kích chờ ta vào. Mờ sáng, Tiểu đoàn 37 Biệt động từ
Bình Cơ bất thần đánh bọc hậu địch, không cần gọi pháo binh Tiểu khu và Trung đoàn 48 có mặt trong vùng yểm trợ. Trận đánh kéo dài chừng vài chục phút, địch vội rút vào rừng với một số thương vong. Bên ta cũng có tổn thất nhân mạng.
Sau trận thư hùng, tình hình trong vùng tạm lắng dịu, chỉ còn những hoạt động du kích lẻ tẻ của địch. Vùng Chiến khu D sẽ còn những trận thử lửa mới vì Cộng quân từ miền Bắc vào theo ngả Trường Sơn rồi đi qua hành lang này tỏa ra các mật khu ngày càng đông. Địch thường di chuyển vào ban đêm để tránh B.52. Vì thế pháo 105 ly của Tiểu khu cứ phải rót đạn cầm canh cả đêm vào các tọa độ có dâu hiệu địch di chuyển. Máy bay Hỏa long thả trái sáng ban đêm và máy bay chụp không ảnh luôn bay quan sát để dò tìm các vị trí của Cộng quân trong vùng.

Rời nơi đất lửa về thăm nhà, chàng yên lòng thấy Ngọc vẫn chăm sóc con cái đầy đủ, các đứa trẻ vẫn ngoan ngoãn tới trường dù chỉ có mình nàng xoay xở mọi bề. Tính nghỉ phép ba ngày với vợ con nhưng được hai ngày chàng lại xách ba lô lên Phước Thành. Ngọc vờ vẫn hỏi:
- Sao anh vội lên thế? Có cô nào đợi phải không? Nghe nói chỗ anh ở có nhiều cô ca sĩ lắm mà.
- Em lại nghi anh rồi. Anh lên vì công việc bề bộn. Các cô ấy đi hát cho lính nghe, nay đơn vị này, mai đơn vị khác, chẳng hề gặp anh bao giờ.
- Em đoán vậy thôi. Anh ở thêm một ngày có sao đâu.
- Thôi anh phải đi. Hai ngày phép là đủ.
Sau khi chàng đi khỏi, Saigon có tin đảo chính lật đổ ông Diệm.Tình hình biến chuyển thật mau lẹ vì đó là một kế hoạch do Mỹ chủ động.
Trước khi cuộc đảo chính xẩy ra ngày 1 tháng Mười Một, 1963, CIA đã bí mật họp các tướng lãnh tham gia đảo chính tại phòng một nha sĩ [1].
Điều này chứng tỏ CIA đạo diễn cuộc đảo chính và đương nhiên có sự chỉ đạo của Nhà Trắng.
Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng là Trung tướng Dương Văn Minh. Các thành viên gồm: Trung tướng Trần Văn Đôn, quyền Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH, Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng, Thiếu tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân đoàn 3 kiêm Vùng 3 chiến thuật, Trung tướng Lê Văn Kim, Thiếu tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.
Vai trò then chốt của cuộc đảo chính là Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Với chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân, ông điều động các đơn vị đảo chính và ngăn chặn các đơn vị có thể tới cứu ông Diệm. Các tư lệnh trung thành với ông Diệm: Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt và em là Trung tá Lê Quang Triệu đã bị phe đảo chính hạ sát. Đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh Không quân bị bắt giữ. Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, Trung tá Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống được mời lên Bộ Tổng tham mưu họp rồi bị giam giữ.
Nghe tin đảo chính, ông Diệm gọi điện thoại cho Tướng Khiêm chiều ngày 1, mời các tướng lãnh vào dinh Gia Long họp với ông, song các Tướng Đôn, Minh không trả lời. Ông gọi Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn 4 nhưng Tướng Cao lúc ấy hành quân ở Cà Mâu, đường dây không liên lạc được. Lúc 4 giờ 30 chiều mùng 1, ông điện đàm với Đại sứ Lodge hỏi thái độ của Mỹ về cuộc đảo chính, ông Lodge trả lời: Không biết[2].
Ông Lodge còn nói: “Người trong cuộc đề nghị đưa hai anh em ông ra khỏi nước nếu ông chịu từ chức”, ông Diệm không trả lời “Thể diện quốc gia không cho phép ông bỏ nước ra đi vào lúc quốc biến!”

Đúng 1 giờ 30 trưa, Conein vào Bộ Tổng tham mưu, mang theo máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với tòa Đại sứ Mỹ và một bao tiền là 3 triệu bạc Việt Nam [3]. Số tiền sau đó được chia cho các tướng: Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang [4]. Trước đó, đài Phát thanh đã bị Thiết giáp chiếm mà một đại đội của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống tái chiếm không được. Có 2 đại đội Thủy quân lục chiến từ Tây Ninh về vây sau thành Cộng Hòa, nơi Lữ đoàn Phòng vệ đóng quân. Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham mưu trưởng Lữ đoàn cử một đại đội bộ binh có thiết giáp tháp tùng ra vây đám binh sĩ TQLC. Sĩ quan chỉ huy đơn vị này cho biết họ đang hành quân ở Tây Ninh thì được lệnh về Saigon để bảo vệ Tổng thống vì lính của Lữ đoàn Phòng vệ làm phản [3].
  Sau khi biết mình bị cấp chỉ huy lừa, họ theo lệnh Thiếu tá Duệ, rút quân ra đóng tại sân vận động Hoa Lư. Sự việc được Tham mưu trưởng Lữ đoàn báo cáo với ông Diệm và ông ra lệnh “Cố tránh đổ máu.” [4]
Lữ đoàn Phòng vệ đã dự tính tới bao vây Bộ Tổng Tham mưu để bắt các tướng lãnh đảo chính song ông Diệm không đồng ý.[5]
Trong thâm tâm, ông không muốn quân đội phải đổ máu vì ông; đó chính là cái Đức cao cả, là chữ Tín và chữ Dũng của một bậc đứng đầu quốc gia trong lúc nguy kịch. Ngay cả trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11, 1960 của Đại tá Nguyễn Chánh Thi, ông Diệm đã tránh gây đổ máu cho quân đội bằng sự dàn xếp ổn thỏa, khoan hồng cho những sĩ quan chủ mưu hại mình.
Lúc 1 giờ, Sư đoàn 5 Bộ binh pháo kích vào thành Cộng Hòa gây vài thương vong cho binh sĩ Lữ đoàn. Khi binh sĩ Sư đoàn 5 tới bao vây Dinh Gia Long, gọi loa phóng thanh kêu hai ông Diệm, Nhu ra hàng, nhưng hai ông đã rời khỏi dinh Gia Long vào lúc tối và được ông Cao Xuân Vỹ chở bằng xe hơi vào Chợ Lớn trú ẩn tại nhà thờ Cha Tam. Do đó đã không xẩy ra cuộc chạm súng giữa quân của Sư đoàn 5 Bộ binh và quân của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống.

Sáng ngày 2 tháng Mười Một, ông Diệm cho Đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên báo cho các tướng đảo chính ông ở nhà thờ Cha Tam, muốn gặp các tướng lãnh để trao quyền lãnh đạo quốc gia cho họ. Các tướng đảo chính liền cử một đoàn xe thiết vận xa M. 113 do Thiếu tướng Mai Hữu Xuân dẫn đầu vào nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn đón hai ông Diệm, Nhu về Bộ Tổng Tham Mưu. Tháp tùng đoàn xe có Đại tá Dương Ngọc Lắm, Đại tá Nguyễn Văn Quan, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa, Thiếu tá Phan Hòa Hiệp và Đại úy Nguyễn Ngọc Nhung, sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh.
Thoạt thấy xe M. 113 đến đón mà không phải là xe dân sự, hai ông đã ngần ngừ nhưng rồi phải lên chiếc xe thiết vận ngồi chung với Đại úy Nhung. Khi đoàn xe về tới nửa đường, Đại úy Nhung đã hạ sát hai ông bằng súng lục và dao găm. Lệnh từ đâu mà Đại úy Nhung lại ra tay thảm sát hai ông Diệm, Nhu? Ai cũng hiểu đó là mật lệnh của Trung tướng Dương Văn Minh.
Khi đoàn xe về tới Bộ Tổng tham mưu, Thiếu tướng Mai Hữu Xuân đã báo cáo ngay với Trung tướng Dương Văn Minh vắn tắt bằng tiếng Pháp: “Mission accomplet” “Sứ mạng đã hoàn thành!”  Ngoài ra Thiếu tá Nghĩa có nhúng tay vào vụ thảm sát hai ông không? Theo Thiếu tá Vũ Quang (sau lên đại tá, hiện ở Hoa Kỳ) kể lại với Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ thì: “Mắt anh thấy Thiếu tá Nghĩa vừa đi vừa lau bàn tay đẫm máu vào báo cáo với Trung tướng Minh [6]

Xác hai ông được mai táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Saigon. Thế là kết thúc cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm ở tuổi 62 (ông Diệm sinh năm 1901 tại Quảng Bình) và bào đệ Ngô Đình Nhu ở tuổi 53 (ông Nhu sinh năm 1910)
Với số tiền 3 triệu bạc của Conein mà đem chia cho 8 tướng lãnh trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào cuộc đảo chính ông Diệm thì quá rẻ, lại thêm tai tiếng. Sau đó Hội đồng Quân nhân Cách mạng cử Trung tướng Trần Văn Minh đến Dòng Chúa Cứu Thế gặp Cha Toán để thu lại số tiền lương và phụ cấp của ông Diệm để dành là 2.800.000 đồng mà ông Võ Văn Hải, Chánh văn phòng đã gửi Cha Toán giữ hộ cho tới khi ông Diệm về hưu [7].
Chỉ huy trưởng Biệt khu Phước Bình Thành là Trung tá Đỗ Văn Diễn, con nuôi ông Diệm, về Saigon áp ngày đảo chính để đeo lon đại tá song không kịp, phải trở lên Phước Thành; ít lâu sau ông mất chức. Bình thấy ông buồn rầu và lo nghĩ.
Nhân dân miền Nam thương tiếc ông Diệm vì xuyên suốt cuộc đời ông là sự hy sinh cao cả, là tấm gương thanh liêm, chính trực. Ông sống giản dị, mực thước, siêng năng xem lễ và thân dân.
Nhiều người còn nhớ sau khi dẹp tan các nhóm võ trang giáo phái, đem lại bộ mặt bình yên cho miền Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã được Hoa Kỳ đón tiếp trọng thị trong cuộc viếng thăm ngày 7 tháng Bảy 1957. Tổng thống Eisenhower đã đích thân ra tận máy bay chào đón ông. Đó là một vinh dự lớn cho ông vì trong bốn năm cầm quyền, Tổng thống Eisenhower chỉ đón tiếp thêm Vua Saud của Saudi Arabia. Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ cũng đã dành cho ông Diệm sự trang trọng khi lắng nghe bài phát biểu quan trọng của ông về tình hình Việt Nam. Ông đã được Đức Hồng Y Spellman đón tiếp tại New York và thị trưởng Wagner đã ca ngợi ông là “một nhân vật lịch sử, một trong những nhân vật lớn của thế kỷ thứ 20”. Ông cũng biểu dương chính phủ của ông Diệm như một sự kỳ diệu về chính trị (a political miracle) [8]
Nhân dân Mỹ vui mừng chào đón ông Diệm trên các đại lộ ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn và New York, vì họ thấy miền Nam Việt Nam đã vươn dậy từ chiến tranh và tuyệt vọng để trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Có những người chưa biết Việt Nam trên bản đồ thế giới thì nay họ chú ý đến Việt Nam, một tiền đồn của Thế giới Tự do tại Đông Nam Châu Á.
Trên cương vị đồng minh, ông Diệm cũng chỉ muốn Mỹ viện trợ về quân sự và kinh tế để Việt Nam Cộng Hoà đủ sức tự cường trước cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt, chứ không muốn Hoa Kỳ đưa quân qua miền Nam Việt Nam và can thiệp các vấn đề nội bộ. Đó là điểm mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và ông Diệm, đưa đến sự đổ vở không tránh khỏi.

Các tướng lật đổ ông Diệm vì quyền lợi cá nhân lại đưa đất nước vào tình thế rối loạn, vì thật sự họ không đủ bản lĩnh và uy tín để lèo lái con thuyền quốc gia vượt cơn nguy khốn. Họ thiếu cả nhãn quan chiến lược để dự đoán khi đồng minh bỏ rơi thì vận mệnh của đất nước sẽ ra sao?
Theo lời tường thuật của Tướng Maxvvell D. Taylor, khi được tin hai ông Diệm, Nhu bị thảm sát, Tổng thống Kennedy “đã đứng bật dậy, bước tới trong phòng với cái nhìn xúc động và kinh hoàng hiện trên mặt mà tôi chưa từng thấy bao giờ [9]
Tổng thống Ngô Đình Diệm là người đã được các chính phủ và nhân dân Mỹ kính trọng, nhưng ông đã không ngờ phải lãnh cái chết tức tưởi vì không tuân phục Mỹ; cảnh ngộ thật oái oăm. Không riêng ông Kennedy kinh hoàng, cả Mao Trạch Đông cũng bàng hoàng về cái chết của ông Diệm. Hồ Chí Minh dù là đối thủ cũng phải kính nể ông Diệm vì uy tín lãnh đạo và lập trường quốc gia chống Cộng của ông đã có tiếng vang trên khắp thế giới.
Sau cuộc đảo chính ông Diệm, chính phủ quân nhân được thành lập do tướng Dương Văn Minh làm Quốc trưởng, ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên Phó Tổng thống thời ông Diệm giữ chức Thủ tướng. Các tướng lãnh khác được cử giữ các Bộ quan trọng. Chính phủ Dương Văn Minh đã bãi bỏ các Ấp chiến lược và đoàn thể Thanh niên, Thanh nữ Cộng hòa. Nông thôn lại bỏ ngỏ cho Việt Cộng xâm nhập hoạt động trở lại; đó là một sự sai lầm về chiến lược mà ông Diệm đã dầy công nghiên cứu và xây dựng.
Chỉ sau cái chết của hai ông Diệm, Nhu hai chục ngày, vào ngày 22 tháng Mười Một, 1963, Tổng thống Kennedy đã bị Lee Harvey Osvvald, 24 tuổi, nhắm bắn lúc 12 giờ rưỡi trưa trong lúc ông cùng vợ; bà Jacqueline và Thống đốc Tiểu bang Texas ngồi trên xe mui trần đi thị sát thành phố Dallas. Hai ngày sau, Oswald bị chủ quán hộp đêm là Jack Ruby bắn chết tại căn hầm của trạm cảnh sát. Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson lên thay thế làm Tổng thống Mỹ thứ 36.
Ngày 8 tháng Chín, 1964, Trung tướng Dương Văn Minh lập Thượng hội đồng quốc gia gồm 16 nhân sĩ để cố vấn cho Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực. Ông Phan Khắc Sửu được bầu làm Chủ tịch Thượng hội đồng quốc gia.
Ít lâu sau, Trung tướng Dương Văn Minh đưa ông Ngô Đình Cẩn, em áp út ông Diệm, cố vấn chính trị miền Trung ra tòa án quân sự Saigon xử. Ông Diệm còn em út là ông Ngô Đình Luyện, Đại sứ ở Anh lúc xẩy ra đảo chính. Ông Cẩn được Tòa Lãnh sự Mỹ ở Huế cho máy bay đưa về Saigon giao tướng Minh xử. [10] Ông bị giam ở khám Chí hòa và bị bệnh nặng. Về việc Tướng Nguyễn Khánh đòi tiền thế mạng ông Cẩn, cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ có kể: “Sau này anh Tuyên là em của Đức Cha Thuận, là cháu của Tổng thống Diệm, kể với tôi rằng ông (tức Tướng Khánh) cho người liên lạc với gia đình đòi một số tiền để giữ mạng sống cho ông Cẩn, số tiền là 80 triệu (?). Nếu đủ sức thì cả dòng họ đóng góp để lo nhưng nhiều quá thì chạy đâu ra.”[11]

Phiên tòa do Đại tá Nguyễn Văn Đức, Giám đốc Nha Quân pháp làm Chánh thẩm; trong số các phụ thẩm có Đại tá Đặng Văn Quang, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa.[11]
Ông Ngô Đình Cẩn đã bị xử bắn ngày 9 tháng Năm 1964, ở tuổi 53, ông sinh năm 1911. Như thế cả ba anh em ông Diệm đều bị chết một cách thảm thương!
Trung tướng Khiêm tuy có công trong cuộc đảo chính nhưng không được Trung tướng Minh giao chức vụ quan trọng, lại đưa ông đi làm Tư lệnh Quân đoàn 3 vào tháng 12, 1963.
Một hôm Bình thấy Tướng Khiêm lên Bộ chỉ huy Biệt khu thì lấy làm lạ, vì chẳng bao giờ có ông tướng ở Quân đoàn 3 nào chịu cất bước lên đây. Ông Khiêm lên giải quyết việc một tiểu đoàn Biệt động quân xin đổi ra Quảng Ngãi vì tiểu đoàn hoạt động ở Phước Thành đã lâu. Đa số binh sĩ người miền Trung nên ông cũng đồng ý. Giữ họ ở lại mà tinh thần họ xuống thì chiến đấu sẽ không có hiệu quả.
Giữa ông Minh và ông Khiêm có những mâu thuẫn ngầm từ sau cuộc đảo chính. Đó là nguyên nhân để ông Khiêm có những toan tính mới trong việc tranh giành quyền lực. Nội bộ các tướng lãnh vẫn có những nghi kỵ lẫn nhau chỉ vì vấn đề quyền lợi. Tướng Khiêm chờ cơ hội hạ Tướng Minh và các Tướng Đôn, Xuân, Kim, Đính.
Thế rồi cơ hội đã đến. Nhân dịp một nhóm nhân sĩ đề nghị với Tướng Dương Văn Minh cử Trung tướng Lê Văn Kim, Tổng tham mưu trưởng QLVNCH làm thủ tướng thay thế ông Nguyễn Ngọc Thơ vì tình hình chiến sự gia tăng, cần một vị tướng lãnh có khả năng giữ cương vị này.
Nghe tin này, một số sĩ quan Đại Việt móc nối với Tướng Khiêm làm một cuộc chỉnh lý để đưa Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, lãnh tụ Đại Việt ở Pháp về làm thủ tướng. Tướng Khiêm cũng thuộc Đại Việt, nhưng ông không dám làm, lại móc nối với Trung tướng Nguyễn Khánh, Tư lệnh Quân đoàn 1 và Vùng 1 Chiến thuật. Cờ đến tay, Tướng Khánh đồng ý vì có sự hậu thuẫn của Tướng Khiêm đang nắm Quân đoàn 3. Trung tá Lucien Conein (CIA) cũng đã gặp Tướng Khánh ở QĐ1”.[12]
Ngày 30 tháng Giêng, 1964, Tướng Khánh cùng Đại tá Nguyễn Chánh Thi [13], Tư lệnh phó Quân đoàn 1, Đại tá Dương Ngọc Lắm tiến hành cuộc chinh lý; bắt giam các tướng lãnh đương quyền: Đôn, Xuân, Kim, Đính cùng với Tướng Nguyễn Văn Vỹ và hai trung tá Trần Đình Lan, Lâm Ngọc Huấn mới ở Pháp về. Các sĩ quan này bị Tướng Khánh cho là ngả theo chính sách trung lập hóa miền Nam mà Tổng thống De Gaulle vẫn cổ súy bấy lâu nay. Riêng Tướng Dương Văn Minh bị giam lỏng tại nhà. Tổng hành dinh của Tướng Khánh đặt tạm tại Bộ tư lệnh Lữ đoàn Dù của Đại tá Cao Văn Viên.
Dịp này, Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, người đã hạ sát hai ông Diệm, Nhu cũng bị bắt giam tại Lữ đoàn Dù. Sau đó có tin Thiếu tá Nhung đã treo cổ tự tử bằng dây giầy. Cái chết của sĩ quan này có vẻ bí ẩn nhưng đó cũng là cái nghiệp ông phải trả cho hành động sát hại hai ông Diệm, Nhu.
Việc bắt giam các tướng trung lập được tiến hành êm thấm, Tướng Khánh thay Tướng Minh trong chức Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Quốc trưởng và nắm cả chức Thủ tướng. Tướng Khiêm được Tướng Khánh bổ nhiệm làm Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng QLVNCH(Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) để bù lại cái công đồng mưu tương ứng. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn được cử giữ chức Phó Thủ tướng Đặc trách Bình định.
Ngày 28 tháng Năm 1964, Tướng Khánh triệu tập hội đồng tướng lãnh thuộc Hải, Lục, Không quân: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Cao Trí, Đỗ Mậu, Dương Ngọc Lắm, Chung Tấn Cang họp tại Đà Lạt để xử các tướng trung lập, song tra vấn mãi cũng không có đâu ra chứng cớ cụ thể nên các tướng này được trả tự do. Phải đợi sau ngày 13 tháng Chín 1964, các ông này mới được về nhà vì Saigon lại có biến.
Về mặt quân sự, một biến cố mới xẩy ra đã đưa đến việc Mỹ khởi đầu oanh tạc Bắc Việt. Ngày 2 tháng Tám 1964, chiến hạm Maddox của Hải quân Mỹ đi tuần tại Vịnh Bắc Việt bị 3 chiếc khinh tốc đĩnh Cộng sản Bắc Việt tấn công bằng thủy lôi.[14]
Tổng thống Johnson trình ngay nghị quyết Vịnh Bắc Việt lên Quốc hội Mỹ cho phép trả đũa Bắc Việt bằng quân sự. Sau đó phi cơ Mỹ trên các hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi Vịnh Bắc Việt đã được lệnh oanh tạc các mục tiêu quân sự và cơ sở hậu cần của Bắc Việt; nguồn tiếp viện quy mô cho Việt Cộng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Nam.
Ngày 16 tháng Tám 1964, Tướng Khánh triệu tập cuộc họp các tướng lãnh tại Vũng Tầu rồi đưa ra bản Hiến Chương Vũng Tầu nhắm củng cố địa vị quốc trưởng của mình, bầu quốc hội lâm thời, song đã bị sinh viên và dân chúng biểu tình phản đối. Sau đó Hiến chương Vũng Tầu bị thu hồi và các tướng lãnh cử một Tam đầu chế gồm Tướng Minh làm Quốc trưởng trở lại, Tướng Khánh làm Thủ tướng và Tướng Khiêm giữ chức Tổng tham mưu trưởng QLVNCH.
Vì bất mãn với Tướng Khánh thao túng chính quyền, đưa quốc gia đến chỗ rối loạn, ngày 13 tháng Chín 1964, Trung tướng Dương Văn Đức, Tư lệnh Quân đoàn 4 đã đưa quân về Saigon với danh nghĩa biểu dương lực lượng chống vụ thả “các tướng Đà Lạt ” song để hạ Tướng Khánh.
Tham gia cuộc biểu dương có các Tướng Lâm Văn Phát, Dương Ngọc Lắm, Đại tá Huỳnh Văn Tồn và Trung tá Dương Hiếu Nghĩa. Nhờ Tướng Kỳ, Tư lệnh Không quân hỗ trợ, Tướng Khánh đã dẹp cuộc biểu dương và bắt giam các tướng tá trong cuộc.
Vụ này có Tướng Khiêm hà hơi để chơi lại ông Khánh vì ông Khiêm đang ở cương vị Tổng tham mưu trưởng lại để xẩy ra cuộc biểu dương lực lượng từ Vùng 4 về Saigon mà không can thiệp.
Ba tướng: Minh, Khiêm, Khánh được thăng cấp đại tướng vào cuối năm 1964. Sau khi chỉnh lý, Tướng Khánh cũng đã thăng chức từ một đến hai cấp cho các Tướng lãnh trẻ để tạo vây cánh như Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân, Trung tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Thủy quân lục chiến. Riêng Tướng Nguyễn Văn Thiệu, sau ngày 1 tháng Mười Một 1963 đã được Hội đồng quân nhân thăng từ đại tá lên thiếu tướng, về làm Tham mưu trưởng liên quân. Sau đó ông Thiệu giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4 và được thăng trung tướng đầu năm 1965.
Vì Tam đầu chế lủng củng; dân chúng biểu tình chống Tướng Khánh độc tài nên ngày 24 tháng Mười 1964, ông Phan Khắc Sửu được Thượng hội đồng quốc gia bầu làm Quốc trưởng thay Tướng Dương Văn Minh.
Ngày 27 tháng Mười 1964, cuộc họp ở Vũng Tầu giữa Tướng Khánh và các Tướng Kỳ( Không quân), Cang ( Hải quân), Khang (Thủy quân lục chiến) và Đống (Nhảy dù) đã quyết định đưa Tướng Khiêm ra khỏi nước; Tướng Khánh trở về làm Tổng tư lệnh quân đội. Do đó Tướng Khánh đã cử Tướng Khiêm đi làm đại sứ tại Mỹ tháng Mười 1964 vì sợ ông Khiêm làm cuộc đảo chính.
Đầu tháng Mười Một, Tướng Khánh cử Tướng Minh đi làm đại sứ tại Thái Lan.
Sau khi Tướng Khánh rời chức Thủ tướng về làm Tổng tư lệnh quân đội, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu đã cử ông Trần Văn Hương làm Thủ tướng và lập nội các mới ngày 30 tháng Mười 1964. Nội các mới bị sinh viên và Phật giáo biểu tình phản đối, sau đó ông Hương đã để một số tướng lãnh tham gia chính phủ. Tuy nhiên phía Phật giáo vẫn chống đối nội các của Thủ tướng Hương và đòi có sự cải tổ.
Thượng hội đồng quốc gia đã không áp lực được ông “già gân” Trần Văn Hương trong vấn đề này, nên sinh ra cuộc khủng hoảng chính trị.
Tướng Khánh lại ra tay can thiệp; giải nhiệm nội các và giam lỏng Thủ tướng Hương ở Vũng Tầu ngày 27 tháng Giêng 1965. Thượng hội đồng quốc gia cũng bị Hội đồng quân lực giải tán vì lý do bất lực.
Sau khi bãi nhiệm Thủ tướng Hương, Tướng Khánh đảm nhiệm vai trò thủ tướng để chờ người thay thế. Mãi đến ngày 16 tháng Hai 1965, Hội đồng quân lực mới cử ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng. Chức Quốc trưởng vẫn do ông Phan Khắc Sửu đảm nhiệm.
Sau khi Đại tướng Khiêm đi làm đại sứ tại Mỹ, một âm mưu đảo chính Tướng Khánh lại manh nha vào đầu năm 1965 và vai trò đảo chính của Đại tá Phạm Ngọc Thảo lại xuất hiện trên chính trường.
Bản thân Phạm Ngọc Thảo là cấp chỉ huy tiểu đoàn Việt Cộng, khi về hồi chánh đã được Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục cai quản địa phận Vĩnh Long giới thiệu với Tổng thống Diệm. Y được cử làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) cuối năm 1957, nơi ở Việt Cộng nằm vùng chuẩn bị đồng khởi. Ông Thảo đã né không đụng tới chủ lực vùng mà chỉ thanh toán thành phần du kích, binh vận lẻ tẻ để che mắt chính quyền.
Trong một bữa ăn tại Cercle Tím trong Chợ Lớn có Thiếu tướng Nguyễn Văn Quan, người đã phụ giúp Trung tướng Dương Văn Minh trong việc liên lạc kêu gọi các đơn vị ủng hộ cuộc đảo chính ông Diệm ngày 1 tháng 11, 1963, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham mưu phó kiêm trưởng phòng 3 Sư đoàn 25 Bộ binh đóng ở Đức Hòa, Long An, Thiếu tá Lê Hoàng Thao, nguyên Phó tỉnh trưởng nội an Kiến Hòa dưới quyền Đại tá Thảo, đang là Trung đoàn trưởng trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh đóng ở Đức Hòa, Long An, Thiếu tá Hồ Văn Phàn, một thiếu tá Thiết giáp và một thiếu tá Địa phương quân. Cuộc họp bàn về việc lật tướng Khánh để Mỹ có cớ hỗ trợ việc thành lập một chính phủ mới”.[15]
Ngày 19 tháng Hai, 1965, cuộc đảo chính lật Tướng Khánh đã xẩy ra tại Saigon. Tham gia có Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh, một đại đội Bảo an, một đơn vị trường sĩ quan Thủ Đức và vài xe thiết giáp. Trung đoàn 49 do Thiếu tá Thao chỉ huy đã vào chiếm Bộ Tổng tham mưu và phi trường Tân Sơn Nhất mà không gặp sự kháng cự nào. Quân đảo chính đã không bắt được tướng Khánh tại tư dinh bến Bạch đằng. Lúc đó Tướng Kỳ đã giúp đưa Tướng Khánh lên Đà Lạt bằng máy bay và dọa ném bom phi trường Tân Sơn Nhất khiến quân đảo chính phải rút lui. Sau đó qua sự trung gian dàn xếp của Tòa Đại sứ Mỹ, các toán quân đảo chính đã rút khỏi Saigon.
Ít lâu sau Đại tá Phạm Ngọc Thảo trốn tại Hố Nai đã bị bắt về Nha An ninh quân đội và có tin ông chết vì bị Thiếu tá Hùng Sùi bóp hạ bộ. [16]
Sau vụ đảo chính hụt lật Tướng Khánh, Hội đồng quân lực thấy cứ để ông Khánh nắm quyền sẽ gây thêm rối loạn trong nước và làm xói mòn niềm tin của quân đội, nên đã cử Trung tướng Trần Văn Minh, đương kim Tham mưu trưởng liên quân lên chức Tổng tư lệnh QLVNCH thay Tướng Khánh, và cử ông Khánh đi làm đại sứ lưu động ở nước ngoài ngày 22 tháng Hai, 1965.
Ngày 25, Đại tướng Nguyễn Khánh rời khỏi Bộ Tổng tư lệnh lên đường đi lưu vong, mang theo một nắm đất quê hương đã ghi dấu ấn cuộc đời binh nghiệp lẫn chính trị thăng trầm của ông.
Ngày 14 tháng Sáu, 1965, Thủ tướng Phan Huy Quát giao quyền lại cho Hội đồng quân lực sau 3 tuần lễ khủng hoảng nội các. Nguyên do Thủ tướng Quát muốn thay hai chức bộ trưởng đương nhiệm bằng hai người mới song không được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu chấp thuận.
Chính phủ Phan Huy Quát đã làm được công việc mà Tổng thống Diệm luôn từ khước là để quân đội Mỹ qua tham chiến chống Cộng từ ngày 6 tháng Ba, 1965 và sử dụng hải cảng Cam Ranh.
Lúc này Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu là Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng quân lực trong nội các Phan Huy Quát. Do đó có tin ông Nguyễn Văn Kiểu, anh của Tướng Thiệu vận động ông Quát trao quyền lại cho quân đội.
Vai trò của Tướng Thiệu bắt đầu lóe sáng từ khúc ngoặt lịch sử này.

Chú thích:
[1] America’s Longest War, George C.Herring, 1979, p 105.
[2] Vietnam and America, Grove Press, New York, 1995,p 235.
[3] Theo Việt Nam Nhân Chứng của cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, tr. 211.
[4] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr. 159,160.
[5] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.162.
[6] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.170.
[7] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Dinh Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.22.
Theo cuốn Việt Nam Nhân Chứng, nơi 2 trang cuối sách, cựu Trung tướng Trần Văn Đôn viết số bạc mặt 2.390.000 đồng và 6.297 đôla do ông Võ Văn Hải giao cho Trung tướng Dương Văn Minh thì Tướng Minh lấy 6000 đôla và chia cho Tướng Trần Thiện Khiêm 297 đôla. Số bạc Việt Nam được phân phát cho các tướng, tá: Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Trần Ngọc Tám và Phạm Ngọc Thảo. Riêng Tướng Trần Văn Đôn nhận 24.500 đồng. (Tuần báo Thời Báo số 39).
[8] Vietnam and America, New York, 1995, p136.
[9] America's Longest War, George C.Herring, p. 106.“he leaped to his feet and rushed from the roont with a look of shock and dismay on his face which 1 had never seen before. ”(Taylor)
[10] Ông Cẩn được Bộ Ngoại Giao Mỹ cho tỵ nạn, song Đại sứ Henry Cabot Lodge lại giao cho Tướng Minh.
[11] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr. 119, 171. Hiện mộ của ba anh em ông Diệm và bà cụ cố để ở Lái Thiêu.
[12] Một Trời Tâm Sự, cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tr. 210.
[13]  Sau đảo chính, ông Thi từ Cam bốt về được phục hồi cấp bậc Đại tá.
[14] Tài liệu giải mật của Ủy ban An ninh Quốc Gia Hoa kỳ cho thấy không có sự kiện tấn công này! (AFP, 8/1/2008).
[15] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr.l 15.
[16] Đại tá Phạm Ngọc Thảo được Việt Cộng phong liệt sĩ sau ngày 30/4/1975.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.12.2021 14:27:51 bởi Ct.Ly>
Chương Chín
Chiến sự gia tăng
 
 
Ngày Tướng Nguyễn Khánh đi khỏi Bộ Tổng tham mưu, Bình đã được thuyên chuyển về lại Saigon và có mặt trong buổi lễ tiễn đưa một ông tướng từng chọc trời khuấy nước ra đi. Trời hôm ấy vẫn rực rỡ nắng vàng đầu xuân, như không có gì thay đổi về thời tiết hàng năm ở miền Nam.
Trở lại Saigon, chàng vẫn nhớ thời gian ở Biệt khu Phước Bình Thành; nơi rừng sâu, đất đỏ, người dân còn phải đổ mồ hôi, xương máu để giành cuộc sống an lành. Chàng vẫn chưa quên hình ảnh Đại úy trưởng phòng 2 Biệt khu, người bạn ở cạnh phòng đã hy sinh khi chiếc xe jeep của ông bị mìn Việt Cộng gài trên đường vào ấp.
Những chất liệu sống đã giúp chàng viết thành truyện Những Người Không Chết; một huyền thoại về những con người ngã xuống cho miền đất đỏ thấm máu được hồi sinh. Đi về đâu những thanh niên nam nữ tuyên vận miền Tây mà có anh mới ra trường đã phải hy sinh ở quận Tân Uyên, Phước Thành, ngay sau mấy ngày đầu công tác. Trên đường phục vụ chính nghĩa quốc gia, hoài bão của dân tộc, các chàng trai, cô gái đã thoát ly gia đình, quên hạnh phúc cá nhân để lao vào trận địa đấu tranh tư tưởng chống chủ nghĩa Cộng sản. Liệu những hy sinh thầm lặng, những đóng góp tâm huyết của họ có đạt được mơ ước là thấy đất nước tồn tại trong tự do và thanh bình.
Lúc Bình về, căn nhà trong hẻm Lê Văn Duyệt vui hẳn lên. Con cái đã lớn dần theo thời gian. Ngọc vẫn chăm chỉ làm tròn bổn phận người vợ và người mẹ hiền. Chàng cũng sẽ phải góp phần mình để giúp đỡ gia đình sau hai năm xa vắng.
Công việc một trưởng phòng nghiên cứu ở Nha Chiến tranh tâm lý khá bề bộn: soạn thảo tài liệu tuyên truyền, học tập, thảo kế hoạch vận động các trường học yểm trợ cho chiến sĩ tiền tuyến và thương bệnh binh ở hậu phương.
Những lá thư xinh xắn do các em học sinh viết thơm tho mùi mực đã mang theo cả những tâm hồn thơ ngây, trong trắng để thăm hỏi và động viên các chiến sĩ ngoài chiến trường: từ miền địa đầu giới tuyến đến mỏm đất mũi cuối cùng, từ tây nguyên xuống đồng bằng và các hải đảo.
Với những gia đình có con em nhập ngũ, tâm tư họ luôn hướng về những người thân yêu đang chiến đấu ngày đêm để bảo vệ từng tấc đất, từng thôn xóm hẻo lánh. Họ không đòi hỏi gì ở đất nước mà chỉ đem chính xương máu của mình ra bảo vệ quê hương xứ sở.
Cả những thương binh đang nằm ở các quân y viện, họ không nghĩ mình bị bỏ quên vì luôn nhận được những lời khích lệ từ các em học sinh và nhân dân tới thăm hỏi. Mối tình quân dân gắn bó đã trở thành động lực để họ vững lòng đứng dậy tiếp tục cuộc chiến đấu cho quê hương, dân tộc.
Ngày 6 tháng Hai, 1965, Việt Cộng pháo kích vào phi trường Pleiku làm 9 lính Mỹ tử thương, 5 máy bay trực thăng bị phá hủy. Biến cố này dẫn đến việc Mỹ gia tăng oanh tạc miền Bắc, khởi đầu một bước leo thang chiến cuộc mới cho cả hai phía ta và địch.
Ngày 8 tháng Ba, thể theo lời yêu cầu của chính phủ VNCH (Phan Khắc Sửu ), Tổng thống Johnson đã cho Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng để trợ giúp Quân lực VNCH chống Cộng sản xâm lược và bảo vệ tự do cho 20 triệu dân miền Nam. Trong năm 1965 đã có 184.000 quân Mỹ được bố trí trong nội địa VNCH. Sau đó các quốc gia Đồng minh gồm Úc, Tân Tây Lan và Thái Lan, mỗi quốc gia cử 1 trung đoàn bộ binh, Đại Hàn cử 2 SƯ đoàn: Bạch Mã và Mãnh Hổ. Phi Luật Tân và Cộng Hòa Trung Hoa (tức Đài Loan) chỉ gửi các toán dân sự vụ hoạt động tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt chính quyền, Thủ tướng Phan Huy Quát đã trao quyền cho Hội đồng Quân lực đảm nhiệm trọng trách lãnh đạo quốc gia. Hội đồng đã cử Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ tịch ủy ban Lãnh đạo Quốc Gia và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ tịch ủy ban Hành pháp Trung ương từ ngày 19 tháng Sáu, 1965. Tướng Kỳ đã cử các nhân vật thân ông nắm những chức vụ then chốt trong chính quyền.
Kể từ năm 1964, trước đà gia tăng chiến sự và nhu cầu của cuộc chiến về Ý thức hệ: Vì độc lập, tự do của dân tộc chống Cộng sản độc tài xâm lược, Quân lực VNCH đã thành lập Tổng cục Chiến tranh Chính trị (CTCT) từ Bộ Tổng tham mưu đến các đơn vị, thay thế cho hệ thống Phòng 5 không còn thích hợp với tình thế mới.
Tổng cục CTCT dựa theo tổ chức CTCT của Quân đội Trung Hoa do Trung tướng Vương Thăng và phái đoàn sĩ quan từ Đài Bắc qua Saigon thuyết trình, theo yêu cầu của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH. Nội dung CTCT gồm lục đại chiến: Tình báo chiến, Tâm lý chiến, Tư tưởng chiến, Mưu lược chiến, Quần chúng chiến và Tổ chức chiến. Quân đội Trung Hoa quốc gia quan niệm bảy phần chính trị, ba phần quân sự, tức đặt nặng phần hoạt động CTCT hơn cả phần quân sự để đối đầu với hệ thống chính trị trong quân đội Trung Cộng ở Hoa lục. Nhờ vậy quân đội của Thống chế Tưởng Giới Thạch đã trở nên hùng hậu hơn cả thời kỳ còn ở Hoa lục.
Tổng cục CTCT được thành lập sau Tổng cục Tiếp vận và Tổng cục Quân huấn, có nhiệm vụ xây dựng tinh thần chiến đấu vững mạnh cho quân và dân, làm suy yếu tinh thần địch và thắt chặt tình đoàn kết với các lực lượng đồng minh trong mặt trận tranh đấu cho tự do [1]
Khác với quân đội Cộng sản dùng hệ thống chính ủy để nhồi sọ bộ đội bằng chủ nghĩa Mác xít vô thần và đường lối chiến tranh bạo lực của đảng Cộng sản, hệ thống CTCT của quân lực VNNCH lấy chính nghĩa dân tộc và tư tưởng tự do, dân chủ làm cơ sở lý luận và hành động.
Về mặt tổ chức, Tổng cục CTCT có Cục Tâm lý chiến (Tiền nhân là Nha Chiến tranh tâm lý) Cục Chính Huấn, Cục An ninh quân đội, Cục Xã hội và trường Đại học CTCT Đà Lạt có nhiệm vụ đào tạo các sĩ quan CTCT hệ 4 năm để cung cấp cán bộ cho toàn ngành. Tổng cục cũng đã thành lập Biệt đoàn văn nghệ trung ương và 5 Tiểu đoàn CTCT đặt thuộc quyền sử dụng của 4 Vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô.
Ngành CTCT đã suy tôn nhà chiến lược tài ba, nhà văn hóa uyên bác Nguyễn Trãi (1380-1442) làm thánh tổ của ngành. Nguyễn Trãi, một bậc đại công thần đã giúp vua Lê Lợi đánh thắng 20 vạn quân Minh năm 1427 bằng mưu lược đi đôi với quân sự và nghệ thuật tâm lý chiến.
Ở vào thế kỷ thứ 14, nước ta chưa có kỹ thuật ấn loát như bây giờ; Nguyễn Trãi đã phải vận dụng sáng kiến rất tài tình; ông sử dụng truyền đơn lá, cho kiến đục 8 chữ viết bằng mỡ: “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần”. (Lê Lợi là Vua, Nguyễn Trãi là bề tôi) để gây niềm tin trong dân chúng mà ra sức giúp Vua Lê Lợi trong sự nghiệp kháng chiến chống quân Minh. Ông cũng đã sử dụng cả văn thơ để chiêu dụ các tướng Minh ra hàng, lời lẽ rất thuyết phục và có lý, có tình.
Bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi là áng thơ phú bất hủ trong kho tàng văn chương Việt Nam; kể lại 10 năm kháng chiến gian lao, hào hùng của Bình Định Vương Lê Lợi chống quân Minh. Tội ác của quân giặc đã được ghi rõ:
 “Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi,
Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác. ”
Tinh thần nhân đạo của quân dân Đại Việt cũng đã được đề cao:
Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
Đem chí nhân để thay cường bạo
Đó chính là kim chỉ nam cho công tác CTCT của Quân lực VNCH, là tiền đề để kêu gọi và đối xử nhân hậu với cán binh Cộng sản rời bỏ hàng ngũ địch trở về với chính nghĩa quốc gia, theo đúng với Quy ước Genève về đối xử nhân đạo với tù hàng binh địch.
  Sau khi Hội đồng quân lực nắm chính quyền, một Đại hội toàn quân đã được tổ chức tại rạp Rex, Saigon; quy tụ các sĩ quan đại diện Quân, Binh chủng về tham dự để thông suốt đường lối chủ trương của Hội đồng quân lực trong giai đoạn mới. Đại hội đã thể hiện tinh thần đoàn kết nhất trí chống Cộng trong toàn thể quân đội.
Để đánh dấu ngày Quân lực VNCH lãnh trọng trách điều khiển quốc gia, chính phủ quân nhân đã chọn ngày 19 tháng Sáu là Ngày Quân lực hàng năm. Bộ Quốc phòng đã giao cho Tổng cục CTCT lập đề án hướng dẫn các Quân, Binh chủng chọn một vị anh hùng dân tộc làm thánh tổ của ngành mình và xây dựng tượng đài tại các công viên trong thành phố Saigon.
Tượng An Dương Vương (257 trước Công nguyên). Do binh chủng Công binh xây tại công viên trước hội trường Diên Hồng, tức trụ sở của Thượng viện. An Dương Vương đã có công xây thành cổ Loa, một công trình quy mô, cổ kính của người Âu Lạc hiện vẫn được bảo tồn tại huyện Đông Anh, Hà Nội. Tượng An Dương Vương với chiếc nỏ thần cũng được binh chủng Pháo binh dựng tại công viên Ngã Sáu Chợ Lớn.
Tượng Hưng Đạo Đại Vương (1228-1300). Do quân chủng Hải quân dựng tại bến Bạch Đằng. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là vị đại nguyên soái đã có công đánh thắng quân đội Nguyên Mông ba lần xâm lăng Đại Việt vào các năm 1258, 1285 và 1288. Với chiến thắng trên sông Bạch Đằng ngày 9 tháng Tư năm 1288, Trần Hưng Đạo đã làm tan mộng xâm lăng của quân Mông cổ, một quân đội hùng mạnh nhất ở thế kỷ thứ 13 đã chinh phục cả một vùng đất đai rộng lớn từ Nga đến Ả Rập và Trung Hoa. Trần Hưng Đạo đã soạn Binh Thư Yếu Lược để dạy bảo quân sĩ và đề cao tư tưởng toàn dân đánh giặc: “Quân không cần nhiều mà tinh, sức lực lấy ở dân, toàn dân đánh giặc”.
Tượng Phù Đổng Thiên Vương. Còn có tên là Thánh Gióng, xuất hiện vào thời đại Hùng Vương (2879- 258 trước CN), đời vua Hùng thứ sáu. Tượng do binh chủng Thiết giáp dựng tại Ngã Sáu Saigon. Cậu bé Gióng cỡi ngựa sắt phun lửa, tay cầm khúc tre ngà, trông rất uy nghi.
Huyền thoại Thánh Gióng đã làm say mê các thế hệ Việt Nam với niềm tự hào dân tộc anh hùng. Thánh Gióng sinh ra ở làng Phù Đổng, Gia Lâm, nay thuộc Hà Nội. Mới lên ba, cậu Gióng ăn nằm một chỗ, nghe Vua Hùng thứ 6 kêu gọi nhân tài ra đánh giặc Ân xâm lăng nước Văn Lang (vào thế kỷ thứ 17 trước CN), cậu nói với sứ giả về tâu với vua:
Bay về bay đổng vua bay,
Cơm thời bay thồi cho đầy bẩy nong,
Cà thời muối lấy ba gồng,
Ngựa sắt, vọt sắt ta dùng dẹp cho”.
Sau khi được người dân trong làng cho ăn no, cậu bé Gióng uống cạn một khúc sông và trở thành con người khổng lồ. Gióng liền phi ngựa sắt ra trận dẹp giặc Ân; ngựa phi đến đâu, phun lửa đến đó, thiêu đốt cả một vùng hiện nay gọi là làng Cháy. Những vết chân khổng lồ của ngựa sắt giẫm lún xuống thành các ao, hồ trong vùng Quế Võ, Hà Bắc, nơi giặc Ân trú quân. Gióng dùng roi sắt giết giặc Ân; khi roi sắt gẫy, Gióng nhổ từng khóm tre ngà đánh giặc. Ca dao kể lại chiến công hiển hách của Gióng:
Đứa thì sứt mũi, sứt tai,
Đứa thì chết nhóc vì gai tre ngà”.
Dẹp xong giặc Ân, Gióng phi ngựa lên núi Sóc rồi biến lên trời. Vua Hùng phong cho Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Đời nhà Lý cho xây đền thờ Thánh Gióng ở làng Phù Đổng, Bắc Ninh. Hàng năm đến ngày mồng 9 tháng Tư có Hội Gióng rất trọng thể. Đây là thiên anh hùng ca của con Hồng cháu Lạc trong thời kỳ các Vua Hùng dựng nước và giữ nước, một dấu mốc khởi đầu truyền thống tranh đâu kiên cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Tượng Trần Nguyên Hãn. Do binh chủng Truyền tin dựng tại công viên trước chợ Saigon. Tướng Trần Nguyên Hãn đã dùng chim bồ câu đưa tin cho Bình Định Vương Lê Lợi, giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh ra khỏi nước Đại Việt năm 1427.
Tượng Tổ Quốc Không Gian. Là một mũi tên sắt bay vòng lên không gian, do Quân chủng Không quân dựng tại công viên trước tòa Đô Chính”.[2]
Tượng Thủy quân lục chiến. Do binh chủng TQLC dựng nguyên hình một chiến sĩ tại công viên trước Nhà hát thành phố, nơi dùng làm trụ Sở Hạ viện [3]
Tượng Bình Định Vương Lê Lợi (1428-1433). Do binh chủng Địa phương quân và Nghĩa quân dựng tại công viên cuối đường Hồng Bàng, Chợ Lớn để tôn vinh người anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã phất cờ khởi nghĩa trong 10 năm chống quân Minh (1418-1427).
Tượng Vua Quang Trung Nguyễn Huệ (1789-1792). Do Cục Quân vận dựng tại công viên Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn. Với cuộc hành quân thần tốc như xe chạy, cứ hai người cáng một người khi quân lính mệt mỏi, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiến quân từ Phú Xuân ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược vào sáng ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, tức ngày 30 tháng Giêng năm 1789. Trước khi xuất quân, Vua Quang Trung đã cổ vũ quân sĩ nêu cao quyết tâm đánh giặc Thanh:
“Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
Còn nhớ năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Huệ đã dẫn quân Tây Sơn vào Nam đánh tan 2 vạn thủy binh và 300 chiến thuyền của quân Xiêm tại trận Rạch Gầm, Mỹ Tho. Quân Xiêm qua phò Nguyễn Ánh phục hồi ngôi báu nhà Nguyễn, song bị quân Tây Sơn đánh đuổi nên lại phải chạy qua Xiêm (Thái Lan) tá túc. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ chỉ làm vua được 4 năm thì mất.
Tượng ông Phan Đình Phùng. Do Cục Quân cụ dựng tại công viên trước ty bưu điện Chợ Lớn. Ông Phan Đình Phùng làm quan dưới triều nhà Nguyễn, đã giúp phong trào cần vương của Vua Hàm Nghi chống Pháp trong 10 năm (1885-1896). Ông đã cùng ông Cao Thắng chế tạo 500 khẩu súng trường để Nghĩa quân đánh Pháp.
Các tượng thánh tổ Quân, Binh chủng trong Quân lực VNCH đã làm sống dậy các trang sử hào hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam chống ngoại xâm, đồng thời làm tăng thêm vẻ mỹ quan, hoành tráng cho các công viên của Thủ đô Saigon. Đó cũng là dấu ấn về sự hiện diện của Quân lực VNCH trong giai đoạn lịch sử vệ quốc.
Trong thời gian từ tháng Ba đến tháng Sáu 1966, Thượng tọa Thích Trí Quang lại phát động phong trào Phật giáo đấu tranh tại Huế nhằm vận động phật tử và quần chúng biểu tình đòi giải tán chính quyền quân nhân Thiệu-Kỳ, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào công cuộc nội bộ của miền Nam VN. Dân chúng đem cả bàn thờ Phật và bàn thờ gia tiên xuống đường để ngăn cản lực lượng cảnh sát và quân đội đi dẹp biểu tình. Hình thức biểu tình này bị quần chúng chỉ trích vì công khai xúc phạmm đến cả việc thờ cúng, tín ngưỡng và không thể biện minh cho cứu cánh.
 Về phương diện chính trị, các cuộc biểu tình tại Huế đã không gây ảnh hưởng đến chính quyền quân nhân và cũng không giúp cho Cộng sản trong việc lũng đoạn miền Nam. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân đoàn 1 án binh bất động trong lúc thành phố Huế trở nên hỗn loạn và tê liệt.
Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch ủy ban Hành pháp Trung ương đưa 1000 Thủy quân lục chiến từ Saigon ra Đà Nẩng, cùng Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia dẹp các cuộc biểu tình tại Huế và Đà Nẵng. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi sau đó đã phải rời bỏ chức vụ qua Mỹ chữa bệnh. [3]
Phong trào Phật giáo đấu tranh ở Saigon với bàn thờ xuống đường cũng đã bị cảnh sát và quân đội dẹp tan.
Đầu năm 1967, quân đội Mỹ mở cuộc hành quân Johnson City vào Cục R ở Tây Ninh, giáp biên giới Cam bốt, nhằm triệt hạ cơ quan chỉ huy đầu não Việt Cộng. Sau cuộc hành quân, Cục R đã phải dời sâu vào nội địa Cam Bốt.
Về phương diện lập pháp, Quốc hội Lập hiến được thành lập từ năm 1966 đã soạn thảo bản hiến pháp nền Đệ nhị Cộng hòa. Do đó tháng 9, 1967 có cuộc bầu cử Tổng thống và lưỡng viện quốc hội, mở đầu nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Liên danh Tổng thống của hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thu được 35% phiếu bầu; liên danh luật sư Trương Đình Du, người chủ trương thương thuyết với Mặt trận Giải phóng miền Nam chỉ được 17% phiếu bầu.
Mới đầu ông Kỳ ra ứng cử riêng một liên danh song Hội đồng tướng lãnh quyết định ông Kỳ đứng chung liên danh với ông Thiệu để có sự đoàn kết trong quân đội. Tuy đồng sàng song dị mộng; giữa ông Thiệu và ông Kỳ không có sự hòa hợp vẹn toàn vì mỗi người có một cá tính, một tham vọng chính trị riêng. Ông Thiệu thâm trầm, mưu lược; còn ông Kỳ bộc trực và hay bốc đồng. Ông Nguyễn Văn Lộc đã được bổ nhiệm làm Thủ tướng vào thời gian này.
Năm 1968, quân đội VNCH tăng đến 1 triệu người gồm chủ lực quân, địa phương quân và nghĩa quân. Quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã lên đến con số 536.100 người, với kỳ vọng của Tổng thống Johnson sớm đạt được thắng lợi về quân sự để làm yên lòng quốc hội và dân chúng Mỹ.
Trong khi đó Cộng sản Bắc Việt đã nhận 15.000 cố vấn quân sự Liên Xô ở cấp sư đoàn, bộ đội tên lửa, 300.000 bộ đội Trung Cộng lo hậu cần và pháo phòng không và 800 phi công Bắc Hàn lái phi cơ MIG của Liên Xô. Tổng số viện trợ của các nước Cộng Sản cho Bắc Việt lên tới 1 tỷ mỹ kim mỗi năm.
Lúc này hai siêu cường Mỹ và Liên Xô đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh nên Bắc Việt đã được hưởng sự viện trợ dồi dào của khối Cộng sản. Bộ đội Bắc Việt và vũ khí vẫn gia tăng xâm nhập miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh và đường biển bằng các tầu đánh cá ngụy trang, gọi là đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Mỹ đã cho các phi vụ B.52 trải bom xuống đường mòn Hồ Chí Minh để triệt hạ các đoàn quân xa Bắc Việt và đặt máy điện tử dọc đường mòn để phát hiện các cuộc chuyển quân của địch.

Tình hình cuối năm 1967 trở nên sôi động cho cả hai phía. Quân đội Mỹ và VNCH mở các cuộc hành quân lùng và diệt Việt Cộng ở miền Nam, trong khi Bắc Việt chuẩn bị mở các cuộc tấn công để phá kế hoạch bình định của VNCH. Chiến dịch Phượng Hoàng đã làm bật rễ nhiều cơ sở hạ tầng Việt Cộng ở nông thôn; Việt Cộng không thể bám sát dân để vận động một cuộc tổng nổi dậy. Bởi vậy CSBV dốc toàn lực mở cuộc tổng công kích vào dịp Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam để gây tiếng vang trước dư luận quốc tế.
Theo thông lệ hàng năm, đôi bên đều đồng ý hưu chiến trong ba ngày Tết để binh sĩ có dịp xả hơi về thăm gia đình, hoặc ở lại doanh trại đón xuân với tinh thần cảnh giác. Cũng theo thông lệ, Cục Tâm lý chiến (TLC) mở chiến dịch Nguyễn Trãi để kêu gọi cán binh ở bên kia chiến tuyến về hồi chánh trong dịp Tết. Công việc này đã quen thuộc với Bình ở Cục TLC trong nhiều năm. Hàng triệu tờ truyền đơn với cảnh ngày Tết cổ truyền và lời kêu gọi cán binh Việt Cộng trở về với chính nghĩa quốc gia đã được máy bay quân đội rải xuống các mật khu và hành lang xâm nhập của Cộng quân từ Bắc vào Nam. Con số 200.000 cán binh địch từ các mặt trận trở về vào thời điểm này; trong đó có các thượng tá Tám Hà, Huỳnh Cự, nhà văn Xuân Vũ, ca sĩ Đoàn Chính, con nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và ca sĩ Bùi Thiện, đã được sự chú ý của dư luận và là niềm khích lệ lớn cho hoạt động tâm lý chiến và chiêu hồi.
Ngoài ra, công tác binh vận cũng đã được thực hiện tại trung ương và các đơn vị. Nhiều đoàn thể và học sinh thủ đô đã mang quà, thư đến các bệnh viện, đơn vị trong vùng để thăm hỏi chiến sĩ và thương bệnh binh trong những ngày áp Tết.
Trời SaiGon vào xuân có nắng dịu gió êm.
Ngày 30 tháng Giêng, 1968 lại là ngày 30 Tết, chợ hoa Nguyễn Huệ vẫn đông người đi mua sắm. Đại tá Văn Văn Của, Đô trưởng Saigon đã có sáng kiến đưa cả một rừng hoa Đà Lạt, Hóc Môn, Lái Thiêu về giữa Saigon, trên đường Nguyễn Huệ sầm uất để thiên hạ đến vãng cảnh và mua hoa về trưng ba ngày Tết cho vui mắt. Đây cũng là dịp để khách son phấn má hồng đua sắc với thiên nhiên: mai, lan, cúc, trúc, đào, huệ, thủy tiên, cẩm chướng đẹp nõn nà. Saigon như tạm quên hình ảnh chiến tranh hàng ngày chiếu trên tivi để chuẩn bị đón xuân. Chiến tranh như bão hòa với cuộc sống của người dân nông thôn và thành thị.
Vợ chồng Bình cũng chen vào dòng người mua hoa để thấy xuân đã về trong tâm hồn mình. Con người và thiên nhiên lúc này như hòa thành một thực thế. Chợt nghĩ đến Huế mà chàng đã ở trong những ngày đầu quân ngũ 1956, chàng biết Huế đang chìm trong cái lạnh tê tái của mùa đông kéo dài. Nhưng những chợ hoa ở chân cầu Tràng Tiền, trên đường Trần Hưng Đạo, trong chợ Đông Ba và bên Gia Hội cũng đủ đem lại cái vui ngày Tết cho người dân hiền hòa đất thần kinh.
Ngọc chuẩn bị lễ đón giao thừa. Bình cũng ngưng công việc viết hàng đêm. Thời gian như dừng lại ở cái phút thiêng liêng mà mọi người đều lặng lẽ châm nén nhang thành khẩn đón năm mới, trong khi cả bầu khí quyển thủ đô như vỡ ra từng mảnh, rung lên với tiếng pháo mừng Xuân. Hầu như mọi nhà đều đốt những phong pháo ròn rã để tiễn năm cũ đi, đón năm mới về và cầu cho hòa bình đến với mọi người, giàu cũng như nghèo.
Những tràng pháo Xuân chưa dứt thì những tiếng súng lác đác nổ quanh thủ đô, song vẫn khó phân biệt. Sau đó tiếng súng nổ nghe nhiều hơn và chát chúa hơn. Ngọc ngạc nhiên hỏi:
- Đảo chính hả anh?
Bình không nghĩ có đảo chính vì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đang được quân đội hậu thuẫn. Người Mỹ, sau vụ giết Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, đã chán ngấy những cuộc đảo chính liên miên ở xứ này nên cũng chẳng hề bật đèn xanh cho ai làm thêm một cuộc đảo chính gây lộn xộn nữa. Rồi chàng nói:
- Chắc Việt Cộng tấn công.
Nàng bảo:
- Hưu chiến mà anh?
- Cái đó chỉ là ước lệ. Họ thường vi phạm những điều đã cam kết, ngay cả trên giấy trắng mực đen.
Chàng liền mở đài phát thanh nghe tin tức. Hàng đêm chàng vẫn thường thức khuya để viết bài bình luận thời sự cho đài quân đội, thì giờ còn lại thi viết feuilleton ( những truyện nhiều tập) cho nhật báo như một thói quen cố hữu. Lúc này đài quốc gia ở đầu đường Phan Đinh Phùng, gần Cục An ninh quân đội đã hoàn toàn im lặng, khiến cho giả thuyết của chàng có phần đúng. Còn đài quân đội vẫn phát các tiết mục đón xuân như thường lệ, chưa có tin tức gì mới. Tuy nghi Việt Cộng tấn công nhưng chàng vẫn chưa nghe có lệnh lạc gì trong đêm khuya. Sáng sớm mở đài quân đội, chàng nghe Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ kêu gọi quân nhân các cấp trở lại ngay đơn vị vì VC đã mở cuộc tổng công kích trên toàn lãnh thổ miền Nam từ đêm qua.[4] Sao lại có tiếng ông Kỳ mà không có tiếng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu? Hoá ra ông Thiệu đã rời dinh Độc Lập ở Saigon xuống Mỹ Tho, quê vợ ăn Tết.
Trước Tết, tin tình báo quân đội cũng chỉ cho biết Cộng quân có thể đánh phá ở vài địa phương nhưng không quy mô, nên Bộ Tổng tham mưu chỉ cho cấm trại một nửa quân số các đơn vị. Còn tình báo Mỹ có thể đã biết ý đồ của Việt Cộng vào dịp Tết. Tướng William Westmoreland, Tư lệnh MACV, đã cho tăng cường 6000 Thủy quân lục chiến Mỹ ở tiền đồn Khe Sanh, gần khu phi quân sự, sát với biên giới Lào, để đối đầu với hai sư đoàn quân Bắc Việt đang bao vây tiền đồn này. Ý đồ của Bộ Chính trị đảng Cộng sản Bắc Việt muốn biến Khe Sanh thành điểm, hay một trận Điện Biên Phủ thứ hai để buộc Mỹ phải rút quân, như tướng Pháp De Castries đã phải thất bại hồi tháng Năm 1954 tại Điện Biên Phủ. Trong khi đó Bắc Việt muốn biến miền Nam thành một diện để tấn công hỗ trợ cho điểm, sự phân tích tình hình của các nhà quân sự không phải là không có cơ sở, nếu nhìn kỹ vào kế hoạch tấn công của Cộng quân.
Bình ngồi trên xe jeep do tài xế lái vào Cục Tâm lý chiến ở gần cầu Thị Nghè. Con đường Hồng Thập Tự sáng mồng Một Tết vắng hoe. Ánh nắng vừa len lỏi trên những ngọn cây cổ thụ cao vót. Thỉnh thoảng có xe nhà binh, xe hơi dân sự cùng vài chiếc xích lô máy chạy hối hả trên mặt đường. Vào tới sở chàng mới biết Đại tá Vũ Quang, Cục trưởng còn kẹt ở Đà Lạt, cũng như một số vị chỉ huy các đơn vị còn kẹt ở các địa phương chưa về kịp. Cục phó Cục TLC là Trung tá Phan Trọng Thiện cùng các quân nhân bắt tay vào việc phòng vệ cơ sở và thực hiện công tác thông tin tuyên truyền quân đội lẫn dân sự.
Một số phóng viên quân đội dã được cử đi làm phóng sự mặt trận ở Saigon, sau đó ra Huế. Giữa lúc trận chiến đang tiếp diễn ở Saigon, một vài nhà báo ngoại quốc đã bị thiệt mạng trên đường phố trong khi thu hình vào ống kính. Trong những giờ đầu giao tranh, có nhiều thường dân bị thương vong đã được chở vào các bệnh viện trong thành phố. Đồng bào di tản từ các khu vực nóng bỏng: Trường đua Phú Thọ, Bưu điện Chợ Lớn về mạn trung tâm thành phố khá đông. Phía Đài phát thanh quốc gia đang có giao chiến giữa VC và các chiến sĩ Dù. Thủy quân lục chiến Mỹ đang phản công một số VC lọt được vào toà Đại sứ Mỹ. Dinh Độc Lập cũng bị VC tấn công nhưng chúng đã không vào được vòng rào dinh vì có Lữ đoàn phòng vệ cẩn mật.Trung tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị đi họp trên Bộ Tổng tham mưu về, đã họp các Cục để thông báo kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu là phân chia lực lượng địch tại Saigon ra nhiều khu vực để các quân binh chủng truy quét, công tác chiến tranh chính trị cũng theo đó mà góp phần yểm trợ thông tin tuyên truyền cho kịp thời.
Phía Thị Nghè, Hàng Xanh được giao cho Cọp Biển; tức Thủy quân lục chiến. Biệt động quân được điều vào Chợ Lớn chiếm lại ty bưu diện. Cảnh sát dã chiến lùng địch ở chùa Ấn Quang và bệnh viện Nhi đồng. Anh nhà báo Mỹ Eddie Adams đã chụp được ảnh lúc Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia, rút súng bắn một sĩ quan Việt Cộng vì anh này đã nổi lửa đốt nhà dân gần chùa Ấn Quang. Phía Bình Hòa, Gia định, Biệt động quân đang truy quét dịch. Trong phi trường Tân Sơn Nhất, Đại tá Lưu Kim Cương, Tư lệnh Không đoàn 33 đã điều động binh sĩ mở cuộc phản công, đẩy lui địch ra khỏi phi trường trước khi ông hy sinh tại trận tiền. Phía Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Hải quân, Việt Cộng cũng đã bị đẩy lui sau những cuộc giao tranh ngắn.
Qua hệ thống viễn thông, Bình được biết ngoại trừ thành phố Huế bị V C chiếm, các nơi khác từ Quảng Trị trở vào Đà Nẵng, Kontum, Pleiku, Quảng Ngãi, Bình Định và các tỉnh cực nam, tình hình đã sáng sủa trở lại. Cộng quân đã bị đánh bật ra khỏi địa bàn các tỉnh thành và trật tự đã được vãn hồi. Không có một cuộc nổi dậy nào của dân chúng theo VC; dù ở nông thôn hẻo lánh hay ở thành thị, nơi có thợ thuyền và dân lao động sinh sống.
Trong lúc làm công tác thông tin tuyên truyền ở Cục TLC, Bình thấy sự có mặt của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo quân đội như: Văn Quang, Nguyễn Đạt Thịnh, Du Tử Lê, Hà Huyền Chi, Phạm Huấn, Tâm Vũ, Tô Thùy Yên, Đặng Trần Huân, Mai Trung Tĩnh, Lê Huy Linh Vũ, Huy Phương, Huy Vân, Huy Thanh, Tường Linh, Viên Linh, Nguyễn Triệu Nam. Các hoạ sĩ Tạ Tỵ, Hiếu Đệ, cùng các ca nhạc sĩ Nhật Bằng, Nguyễn Hiền, Trần Thiện Thanh, Minh Chánh, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng có mặt.
Nhà văn Đỗ Tốn vài năm trước làm việc ở đây đã qua đời. Nhà văn Mặc Thu và nhà thơ Tô Kiều Ngân đã giải ngũ. Các văn nghệ sĩ ở các đơn vị rất đông. Tất cả đều phục vụ trong ngành chiến tranh chính trị.
Các bài bình luận thời sự, tin tức, phóng sự trên phát thanh, vô tuyến truyền hình, các tấm bích chương dán trên đường phố và các tờ báo quân đội là do công sức của các văn nghệ sĩ quân đội đóng góp. Lúc đó nhật báo Tiền Tuyến đã ra đời, do “Hà chưởng môn” tức nhà thơ Hà Thượng Nhân và nhà văn Phan Lạc Phúc điều hành.
Theo ý kiến chỉ đạo từ trên, Bình đã hoàn thành một cuốn sách về cuộc Tổng công kích của Việt Cộng, ghi lại thời khắc biểu của cuộc tổng tấn công trên 44 tỉnh thành miền Nam. Số tổn thất của đôi bên trong hai tuần lễ đầu được ghi nhận như sau:
VC: 50.000 cán binh, VNCH: 2.300 quân nhân, Mỹ: 1.100 quân nhân, thường dân: 12.500 người.
Sự thất bại của Việt Cộng là trải quân quá rộng, không có nguồn tiếp viện tại chỗ, cán binh lại không thuộc địa hình, vào thành phố bị lạc lõng, khi bị bao vây không biết lối thoát; nhiều cán binh tuổi mới 15,16, thiếu kinh nghiệm chiến trường [5].
Tại cố đô Huế, 4000 người đã bị Việt Cộng sát hại trong các mồ tập thế, sau khi họ được lệnh “đi học tập” nhưng không thấy trở về. [6] Các nhiếp ảnh viên quân đội đã chụp được ảnh những thi thể còn đeo cây thánh giá hoặc tượng Phật ở ngực, nhẫn cưới đeo ở ngón tay. Thành nội Huế được Sư đoàn 1 Bộ binh và Thủy quân lục chiến Mỹ tái chiếm ngày 24 tháng Hai, 1968. Các cung điện và kiến trúc cổ trong thành nội bị thiệt hại nặng nề vì bom đạn.
Ở Khe Sanh, 2 sư đoàn chủ lực Bắc Việt và các trung đoàn biệt lập cũng bị thất bại trong kế hoạch bao vây tiền đồn này. Cộng quân đã không chịu nổi các đột oanh tạc của máy bay B- 52 và hỏa lực hùng hậu của Mỹ. Kế hoạch điểm và diện của Cộng quân đã bị tan vỡ cùng một thời gian. Tưởng cũng cần nhắc đến 4 câu thơ khai lệnh tổng tấn công của Hồ Chí Minh đọc trên đài Phát thanh Hà Nội đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 1968:
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.
Song sự thất bại đã khiến ông Hồ thêm bi quan.
Ngày tết đã qua. Tiếng súng không còn vang trong thành phố Saigon, cuộc cắm trại 100% quân số vẫn được duy trì tại các đơn vị. Tuy mệt mỏi vào lúc thời tiết nóng dần trước khi bước vào mùa mưa, Bình vẫn cảm thấy thư thới tâm hồn mỗi buổi chiều được về thăm vợ con, rồi đến tối lại vào đơn vị ứng chiến. Có những đêm ánh hỏa châu rực sáng cả góc trời Hàng Xanh, trong lúc Thảo Cầm viên gần đó nổi lên tiếng cọp kêu vượn hú thật hoang liêu vô cùng.
Thế rồi ngày 5 tháng Năm, 1968, Việt Cộng lại mơ cuộc tấn công nhỏ vào vùng ngoại vi Saigon, Gia định. Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan đã bị thương trên cầu Phan Thanh Giản khi ông chỉ huy cánh quân gồm cảnh sát dã chiến và quân đội truy lùng Việt Cộng phía trại gà Thanh Tâm.[7] Sau đó tàn quân Việt Cộng rút qua biên giới Cam Bốt để chỉnh đốn đội ngũ. [8]
Ngày 3 tháng Ba 1968, Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc, chỉ còn từ vĩ tuyến 20 trở xuống. Ngày 16 tháng Ba 1968, hai đại đội lính Mỹ hành quân tại ấp Mỹ Lai, Mỹ Khê (Quảng Ngãi) có Việt Cộng ẩn náu, sát hại khoảng 500 thường dân. Năm 1971, Trung úy William Calley, Jr. bị toà án quân sự phạt tù chung thân. Năm 1974, Tổng thống Nixon xét lại nội vụ; Calley chỉ bị quản chế trong ít lâu.

Chú thích:
[1] Trung tướng Trần Văn Trung là vị Tổng cục trưởng lâu năm nhất, từ 1965 đến ngày 30/4/1975.
[2] Tượng đã bị Việt Cộng phá bỏ năm 1975.
[3] Cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi mất ngày 23/6/ 2007 tại Lancaster, Pennsylvania, hưởng thọ 84 tuổi .
[4] Việt Cộng đã ém các toán biệt động và vũ khí trong một số nhà dân tại Saigon; vài cơ sở đã bị Cảnh Sát phá vỡ.
[5] Hội nghị Trung ương thứ 21 của đảng CSVN đã nghiêm khắc kiểm điểm là: “Chủ quan trong việc đánh giá tình hình nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó.  (Báo Quân Đội Nhân Dân trên Internet ra ngày 23/1/2008).
[6] Ngoài viên chức, quân nhân, nhiều tín đồ Công giáo đã bị Việt Cộng giết hại bằng búa; cuốc và súng trong các mồ tập thể.
[7] Cựu Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan mất ngày 14/7/ 1998 tại Burke, Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 68 tuổi.
[8] Tướng Văn Tiến Dũng thú nhận:" Năm 1968 đánh Pleiku vất vả lắm, chỉ chiếm giữ được đài phát thanh thôi, nhưng được ba ngày sau cũng phải rút.” (Đại thắng mùa xuân 1975, tr.87). Vì có mâu thuẫn với Tổng bí thư Lê Duẩn, tướng Võ Nguyên Giáp không nhắc vụ Tết Mậu Thân trong Tổng tập hồi ký




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.12.2021 20:59:39 bởi Ct.Ly>
Chương Mười
Hòa bình mong manh
 
 
Bình cùng phái đoàn CTCT trong đó có Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư lệnh Quân đoàn 4 và Thiếu tướng Phạm Quốc Thuần, Tư lệnh Quân đoàn 3 đi tham quan công tác CTCT tại Đài Bắc vào mùa hè 1969, được Đại tướng Trần Thiện Khiêm đang làm Đại sứ VNCH tại đây tiếp thân mật. Coi bộ ông không được vui với chức vụ khiêm tốn ở đảo quốc này và có ý chờ đợi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa về nước giữ chức vụ quan trọng hơn. Hai ông vẫn thân nhau từ trước.
Tướng Thiệu từ khi được bầu làm Tổng thống đã củng cố quyền lực bằng cách đưa các tướng lãnh thuộc phe mình nắm các chức vụ then chốt trong quân đội và cảnh sát, thay phe thân ông Kỳ. Ông còn lập Đảng Dân Chủ để tạo thêm hậu thuẫn trong chính quyền. Ngày 25 tháng Năm 1968, ông Trần Văn Hương được cử làm Thủ tướng thay ông Nguyễn Văn Lộc. Ông Hương giữ chức vụ này đến tháng Chín 1969.
Vào thời điểm này, một người mà ông Thiệu chú trọng hơn cả là Đại tướng Trần Thiện Khiêm. Điều này cũng dễ hiểu vì ông Thiệu muốn trả cái ơn mà Tướng Khiêm đã dành cho ông được đóng vai trò chính trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng Mười Một, 1963, lúc ấy ông đưa Sư đoàn 5 về lật đổ ông Diệm. Từ đó ông Thiệu mới có cơ hội bay bổng tới chức Tổng thống VNCH. Quả nhiên ông Thiệu đã triệu hồi Tướng Khiêm từ Đài Bắc về làm Tổng trưởng Nội vụ, rồi làm Phó Thủ tướng cho ông Hương. Sau đó Tướng Khiêm lên thay ông Hương giữ chức Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng từ tháng Chín, 1969. Diều đã gặp gió. Tướng Khiêm ngồi ở chức Thủ tướng suốt hai nhiệm kỳ của Tổng thống Thiệu.
Riêng chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH, ông Thiệu giao cho Thiếu tướng Cao Văn Viên từ tháng 10, 1965, tuy không được ông tin cậy bằng Trung tướng Đặng Văn Quang song lại được lòng Phái bộ Viện trợ Quân sự Mỹ (MACV) hơn Tướng Quang. Vả lại Tướng Viên có thái độ ôn hòa, không có tham vọng chính trị. Tướng Viên sau lên Đại tướng, phục vụ suốt hai nhiệm kỳ của Tổng thống Thiệu [1]
Một bước tiến triển mới của tình hình chiến sự sau tết Mậu Thân là các hoạt động quân sự của Việt Cộng lắng xuống mà ta có thể hiểu là địch đang cần thời gian bổ sung quân số, chỉnh đốn hàng ngũ sau những tổn thất nặng nề của cuộc tổng công kích, tổng nổi dậy.
Ngày 31 tháng Năm, 1968, Bắc Việt chịu ngồi vào bàn hội nghị Paris tại Pháp, theo lời kêu gọi của Tổng thống Johnson.
Hội nghị diễn ra tại lâu đài La Celle Saint Cloud ở Paris (vùng Yvelines). Mới đầu Xuân Thủy, đại diện Bắc Việt đòi Mỹ ngưng ném bom miền Bắc, đòi cho Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, được ngồi vào bàn hội nghị. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận MTGPMN là một thực thể chính trị để ngồi vào bàn hội nghị ngang hàng với VNCH, nên đã không cử phái đoàn đi họp vì như vậy là VNCH mất thể diện quốc gia và quốc tế.
Thực tế cái gọi là MTGPMN chỉ là tấm bình phong do CSBV dựng lên để đánh lừa Mỹ và công luận quốc tế. Nhân dân miền Nam lại càng thấy rõ MTGPMN chỉ gồm những phần tử Cộng sản nằm vùng khủng bố nhân dân, giết hại các cán bộ xã ấp, âm mưu lật đổ chính quyền VNCH. Mặt trận bao gồm cả những đơn vị bộ đội BV xâm nhập miền Nam để thực hiện ý đồ xâm lăng của đảng Cộng sản.
Cũng bởi Tổng thống Johnson muốn sớm có giải pháp danh dự để rút quân Mỹ ra khỏi VN, nên ngày 18 tháng Giêng,1969, phía Mỹ đồng ý để MTGPMN tham dự cuộc hòa đàm. Mỹ cũng gây áp lực VNCH ngồi vào bàn hội nghị để cuộc hòa đàm được tiến hành suôn sẻ. Do đó có bốn phái đoàn tham dự cuộc hòa đàm: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) và Mặt trận GPMN do bà Nguyễn Thị Bình cầm đầu phái đoàn.
Ngày 1 tháng Mười Một, 1968, Mỹ ngưng thả bom Bắc Việt. Theo báo chí Mỹ, trong ba năm rưỡi ném bom Bắc Việt, số bom do phi cơ Mỹ thả bằng số bom dùng trong Đệ nhị Thế chiến. Phía Mỹ mất 900 máy bay các loại (con số do BV đưa ra cao gấp 4 lần); phía BV mất 121 máy bay Mig.
Thật bất ngờ, ông Johnson tuyên bố không tái ứng cử tổng thống năm 1969 vì ảnh hưởng cuộc chiến Việt Nam kéo dài mà không mang lại thắng lợi cụ thể như ý ông mong muốn.
Thêm một biến cố nữa là ngày 2 tháng Chín
1969, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước VNDCCH qua đời sau cơn bệnh kéo dài, thọ 79 tuổi. Trọn đời ông Hồ đã phục vụ cho Cộng sản Quốc tế và đem chủ nghĩa Cộng sản vào đất nước ta, gây bao tang tóc đau thương cho dân tộc.
Theo các sử liệu, ông Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành, sinh ngày 19 tháng Năm, 1890 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông rời khỏi nước vào năm 1911, qua Pháp sống nhiều nghề rồi qua Liên Xô học chủ nghĩa Marx -Lenin.
Ngược dòng thời gian, sau khi cuộc Cách mạng Tân Hợi, 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đã lật đổ triều đình Mãn Thanh và thiết lập chính quyền dân chủ đầu tiên ở Trung Hoa, nhiều nhà cách mạng Việt Nam qua Trung Hoa hoạt động để xây dựng các tổ chức yêu nước chống thực dân Pháp, trong đó có các ông Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lãm. Hồ Chí Minh khi ấy mang tên Nguyễn Ái Quốc, cũng có mặt ở Quảng Châu, Trung Hoa năm 1924 để hoạt động bí mật cho Cộng sản Quốc tế và phụ trách Bộ phương Đông, Cục phương Nam.
Tháng Bảy, 1925, Nguyễn Ái Quốc dưới bí danh Lý Thụy hoạt động ở Quảng Đông, đã âm mưu với Lâm Đức Thụ mật báo cho Pháp bắt ông Phan Bội Châu tại Thượng Hải đem về nước giam lỏng ở Huế rồi qua đời ngày 29 tháng Mười, 1940. Mục đích của Lý Thụy là dập tắt thanh thế của ông Phan Bội Châu và phong trào Đông Du cầu học, đồng thời lôi kéo các phần tử quốc gia theo mình dưới danh nghĩa Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, gọi tắt là Thanh Niên.
Ngày 3 tháng Hai, 1930 tại Hương cảng, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp các phe nhóm Cộng sản Việt thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau mỗi giai đoạn, đảng được đổi thành: Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ ngày 6 tháng Sáu 1931 đến tháng Hai 1933, Nguyễn Ái Quốc bị Anh bắt giam ở Hương Cảng vì hoạt động cho Cộng sản Quốc tế. Nguyễn Ái Quốc qua Liên Xô hoạt động vào tháng Bảy 1934. Tháng Năm
1941, Nguyễn Ái Quốc về Pắc Bó, Cao Bằng, hoạt động cho đảng CSĐD, chờ thời cơ cướp chính quyền trong tay Nhật-Pháp. Tháng Tám 1942, Nguyễn Ái Quốc qua Trung Hoa vận động quốc tế hỗ trợ thì bị Tưởng Giới Thạch bắt giam 14 tháng mới thả ra. Người quốc gia còn nhớ danh từ Việt Minh xuất hiện ngày 19 tháng Năm 1941 là do Nguyễn Ái Quốc (2) đã đổi Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của ông Nguyễn Hải Thần thành Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, nhằm thu hút các phần tử quốc gia theo Việt Minh. Sau khi cướp được chính quyền ngày 19 tháng Tám, 1945, ông Hồ và đảng Cộng Sản đã cai trị nhân dân bằng chính sách độc tài đảng trị, bóp nghẹt tự do, dân chủ.
  Qua năm 1969, Tổng thống Richard M. Nixon tuyên bố Việt Nam hóa chiến tranh và rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam; các phi vụ B. 52 cũng đã cắt giảm. Trong khi đó quân đội Đồng minh đã rút khỏi miền Nam. Ông Nixon đã yêu cầu Bắc Việt rút hết quân đội của họ ra khỏi miền Nam để sớm tái lập hòa bình tại đây. Năm 1970 chỉ còn 334.600 quân Mỹ ở miền Nam; giảm hơn 200.000 quân.
 Về phần quân đội VNCH, sau khi đập tan cuộc tổng công kích tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng, qua năm 1970, quân đội đã dồn các hoạt động vào mục tiêu triệt hạ cơ quan đầu não cùng cơ sở hậu cần của CSBV tại biên giới Kampuchea và Lào, bàn đạp để tiếp tế cho Cộng quân ở miền Nam. Tháng Tư, 1970, liên quân Việt Mỹ dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn 3, đã mơ cuộc hành quân Toàn Thắng vào vùng Mỏ Vẹt, Kampuchea, nhằm triệt hạ Cục R, tức Trung ương Cục miền Nam của CSBV, gần biên giới tỉnh Tây Ninh.
Đồng thời Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư lệnh Quân đoàn 4, cũng chỉ huy 4 chiến đoàn bộ binh và thiết giáp mở cuộc hành quân tiễu Cộng sâu vào biên giới Kampuchea để tiến lên tiếp xúc với cánh quân của Tướng Trí. Song Tướng Thanh đã bị ngộ nạn phi cơ trực thăng tại biên giới thuộc địa phận tỉnh Kiến Tường ngày hôm sau của cuộc hành quân. Ông được truy thăng Trung tướng sau tai nạn này. Là một tướng lãnh thanh liêm, hết lòng với nhiệm vụ và luôn ăn chay trường, Tướng Thanh đã được sự kính nể của quân và dân Vùng 4.
Cuộc hành quân hỗn hợp Việt Mỹ gồm 6 sư đoàn đã gây cho Việt Cộng những tổn thất nặng nề. Hơn 11.000 Cộng quân thuộc Công trường 7 tức Sư đoàn 7 VC và các đơn vị biệt lập đã bị hạ. Tướng Nguyễn Thế Bổn, Tư lệnh Công trường 7, Đại tá VươngThế Hiệp, Chính ủy Công trường 7 đều bị tử thương. Liên quân Việt-Mỹ đã thu được 143.000 trái pháo các loại, 199.000 dây đạn cao xạ, 25.000 vũ khí và phá hủy 435 xe tải cùng nhiều kho gạo dự trữ.
Ngoài những vũ khí do Liên xô chế tạo, ta còn thu được những vũ khí, quân nhu, quân cụ, quân y do Trung Cộng chế tạo. Theo ước tính, số lượng vũ khí lớn lao bị tịch thu kể trên đủ cho Việt Cộng sử dụng trong một năm tại chiến trường miền Nam. Một số chiến lợi phẩm trong các cuộc hành quân Toàn Thắng đã được đưa về triển lãm tại sân vận động Hoa Lư gần Thảo Cầm Viên Saigon trong một tuần cho dân chúng và người nước ngoài coi. Cuộc hành quân tạm thời chấm dứt vào tháng Sáu, 1970.
Qua tháng 1 năm 1971, Trung tướng Đỗ Cao Trí đã mở tiếp cuộc hành quân Toàn Thắng nhắm đánh vào Cục R tại Kratie trên đất Miên, cách Lộc Ninh ngót 100 cây số. Lực lượng hành quân gồm các tiểu đoàn Biệt động quân, pháo binh và thiết đoàn họp thành chiến đoàn 5 BĐQ, chiến đoàn 333 BĐQ. Ngoài ra có Lữ đoàn 3 Kỵ binh cùng các đơn vị tăng phái và sự yểm trợ của không quân Hoa Kỳ. Cuộc hành quân đang tiếp diễn thì Trung tướng Đỗ Cao Trí bị tử nạn máy bay trực thăng ngày 23-2- 1971 tại Tây Ninh, ông được truy thăng Đại tướng sau tai nạn này. Đại tướng Đỗ Cao Trí được ca ngợi là vị tướng có tài, đã từng gây cho Cộng quân nhiều tổn thất lớn lao.
Lực lượng hành quân của ta đã phá hủy các cơ sở hậu cần Việt Cộng và gây tổn thất cho hai sư đoàn Cộng quân là Công trường 7, 9 và một trung đoàn đặc công.

Sang tháng Hai, 1971.QLVNCH đã mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Hạ Lào để triệt tiêu các cơ sở hậu cần của CSBV. Cuộc hành quân được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1. Lực lượng tham chiến gồm có sư đoàn 1 Bộ binh, Liên đoàn 1 Biệt động quân, Nhảy dù, Thủy quân lục chiến, Thiết giáp, Pháo binh và sự yểm trợ của không quân Hoa Kỳ.
Trong trận này, hai Sư đoàn CSBV là 306 và 320 đã bị tổn thất nặng nề: 15.000 cán binh địch đã bị hạ trong các cuộc giao chiến và B.52 oanh tạc. Nhiều kho vũ khí, đạn dược và ống dẫn xăng dầu từ miền Bắc vào đã bị phá hủy. Hạ Lào vẫn được CSBV coi là mắt xích an toàn trong hệ thống tiếp vận của chúng vào miền Nam đã bị QLVNCH triệt tiêu.
Về mặt chính trị, tháng Chín, 1971, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lại ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, chung liên danh với ông Trần Văn Hương ứng cử Phó Tổng thống. Vì muốn ngăn cản hai Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh cũng ra ứng cử Tổng thống, ông Thiệu đã vận động đa số dân biểu thuộc phe ông sửa luật bầu cử khiến các ông Kỳ và Minh không hội đủ số chữ ký giới thiệu của các dân biểu nên đã phải rút lui. Kết quả chỉ có liên danh Tướng Thiệu và ông Hương trúng cử. Báo chí và dư luận đã chỉ trích màn ứng cử độc diễn này của ông Thiệu.
Sau khi trúng cử Tổng thống, ông Thiệu vẫn để Đại tướng Trần Thiện Khiêm tiếp tục giữ chức Thủ tướng.

Ngày 17 tháng Hai, 1972, Tổng thống Nixon thực hiện chuyến thăm hữu nghị Trung Cộng. Đây là bước ngoại giao đầu tiên của Mỹ với Trung Cộng kể từ sau khi Trung Cộng chiếm được Hoa Lục năm 1949, đẩy Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan. Qua cuộc hội đàm với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai, ông Nixon ngỏ ý muốn Bắc Kinh dùng ảnh hưởng của mình để thuyết phục Hà Nội từ bỏ ý đồ xâm lăng miền Nam VN. Làm như vậy, Mỹ sẽ rút quân ra khỏi VN trong danh dự.
Sau khi ông Nixon thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN vội vàng sang thăm Mao Trạch Đông, được họ Mao khuyến dụ nên trường kỳ mai phục và rút hết bộ đội BV ra khỏi miền Nam để đổi lấy hòa bình. Có thể đây là chiến lược của họ Mao muốn ngăn chặn bước tiến của CSBV xuống phía Nam và lấy lòng Mỹ. Bắc Việt vẫn chưa quên năm 1954, chính Chu Ân Lai đã ép Bắc Việt nhận vĩ tuyến thứ 17 thay vì vĩ tuyến thứ 16 để đổi lấy sự thỏa thuận của Pháp trong việc chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc.

Tính đến 1972, theo kế hoạch ‘‘Việt Nam hoá chiến tranh”, Tổng thống Nixon đã cho rút 512.100 quân Mỹ về nước, trong tổng số 536.100 quân đã được đưa vào miền Nam VN; số còn lại 24.200 quân sẽ được rút về hết. Trong khi đó cuộc hoà đàm Paris vẫn chưa có tiến triển cụ thể.
Lợi dụng thời gian Mỹ rút gần hết quân số và phong trào phản chiến còn đang sôi động ở nước Mỹ, đảng CSVN ra nghị quyết tập trung 10 trong số 13 sư đoàn chính quy với hỏa lực hùng mạnh do khối Liên Xô viện trợ, mở 3 cuộc tấn công vào Quảng Trị, Kon tum và Bình Long nhằm chia cắt lãnh thổ VNCH thành từng khúc và tiếp sức cho Việt Cộng tổng nổi dậy khi thời cơ thuận lợi.
Ngày 30 tháng Ba, 1972, Bắc Việt tung 5 Sư đoàn 304, 308, 312, 320B, 325 cùng một số trung đoàn biệt lập, pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, xe tăng T54, xe lội nước PT.76, ào ạt vượt sông Bến Hải và vùng phi quân sự tiến vào Quảng Trị. Lực lượng bảo vệ vùng địa đầu giới tuyến có Sư đoàn 3 Bộ binh mới được thành lập trong sáu tháng do Chuẩn tướng Vũ Văn Giai làm Tư lệnh, 3 Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 147, 258, 369, 2 Liên đoàn Biệt động quân 5, 6, Lữ đoàn 1 Thiết Giáp, cùng Địa phương quân và Nghĩa quân Tiểu khu Quảng Trị.
Trước lực Iượng địch đông gấp bốn lần, thị xã Đông Hà, Ái Tử và cổ thành Quảng Trị đã bị Cộng quân chiếm giữ. Quốc lộ 1 từ Quảng Trị về Mỹ Chánh dài ngót 20 cây số đã trở thành Đại Lộ Kinh Hoàng với cảnh tang tóc thê thảm trong đoàn người di tản gồm dân và quân rút lui khỏi Quảng Trị. Pháo 130 ly của Cộng quân có tiền sát viên là bộ đội ngụy trang lính VNCH chỉ mục tiêu, đã bắn thẳng vào đoàn người và xe cộ di chuyển, gây chết chóc cho vô số thường dân, trẻ em, phụ nữ và người già yếu.
Mặc dù ít hơn địch về quân số và hoả lực, các đơn vị VNCH ở Quảng Trị đã giáng trả địch những đòn mạnh mẽ trước khi rút khỏi thị xã. Phía Cộng quân đã bị tổn thất nặng nề: hai Sư đoàn 304, 308 Bắc Việt bị mất quá nửa quân số, nhiều chiến xa địch đã bị phá hủy bởi hỏa lực và chiến xa M 48 của ta
Hơn hai tháng sau, ngày 9 tháng Sáu, 1972, quân đội VNCH đã tái chiếm Quảng Trị. Dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tân Tư lệnh Quân Đoàn 1 và Vùng 1 thay thế Trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Tướng Trưởng được tiếng thanh liêm và có tài dụng binh, đã từng lập nhiều chiến công tại trận tiền.
Lực lượng tái chiếm gồm Sư đoàn Thủy Quâ Lục Chiến, Sư đoàn Dù, Sư đoàn 1 Bộ binh, Lữ đoàn 1 Biệt động quân cùng các đơn vị Thiết giáp, Pháo binh. Ngoài ra có sự yểm trợ của B 52, hải pháo Hoa Kỳ và Không quân VNCH. Trận đánh giáp lá cà với địch đã diễn ra ngay trong các hầm hố và lá cờ vàng ba sọc đỏ đã tung bay trở lại trên cổ thành Quảng Trị. Đám Cộng quân còn lại phải bỏ chạy tán loạn khiến các xe tăng và xe lội nước chồng chất lên nhau chạy không kịp, bị Cộng quân bỏ lại cùng với nhiều khẩu đại bác, vũ khí và xe cộ.
Đầu tháng Tư 1972, tướng BV Hoàng Minh Thảo (đã từng dự trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954) chỉ huy Sư đoàn 320 Bắc Việt và Sư đoàn 2 Sao Vàng tấn công vào thị xã Kontum. Địch bố trí các khẩu pháo 130 ly trên các ngọn đồi có sương mù bao quanh thị xã, bắn dồn dập vào các vị trí quân đội VNCH để mở đường cho xe tăng T54 và bộ binh tiến vào thị xã.
Tại vòng ngoài thị xã, Cộng quân đã vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của Trung đoàn 45, thuộc sư đoàn 23 Bộ binh do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá làm Tư lệnh và chỉ huy cuộc tủ thủ Kontum. Một đơn vị địch vào được thị xã liền bị Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh đẩy lui và truy diệt. Sau đó, Cộng quân đã phái rút lui toàn bộ khỏi thị xã Kon tum, một thị xã nhỏ bé mà Cộng quân cũng phải bó tay!
Tại Bình Long, tỉnh lỵ cách Saigon 90 cây số về phía tây bắc, các trận đánh lớn đã bùng nổ vào đầu tháng Tư, 1972. Mở đầu, Cộng quân bắn hàng ngàn quả đạn pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly vào quân lỵ Lộc Ninh và thị xã An Lộc để yểm trợ cho các Sư đoàn 5,7,9 và một số trung đoàn biệt lập cùng xe tăng T54 mở các đợt tấn công vào hai vị trí này.
Lực lượng phòng thủ của VNCH chỉ có một trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh, Liên đoàn 3 Biệt động quân, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, Thiết đoàn 1 Kỵ binh và pháo 105 ly của Tiều khu. Về sau có thêm Lữ đoàn 1 Dù vào An Lộc. Quân số ta chỉ bằng 1/4 quân số địch nhưng tinh thần chiến đấu rất vững vàng.
Sáng 6 tháng 4, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng và một số sĩ quan đáp trực thăng từ Lai Khê nhảy vào An Lộc để chỉ huy cuộc tử thủ. Sau khi chiếm quận lỵ Lộc Ninh ngày 7 tháng 4, Cộng quân dồn nỗ lực tấn công thị xã An Lộc với chiến thuật tiền pháo hậu xung. Thị xã nhỏ bé này đã phải hứng chịu các cuộc pháo kích dữ dội và các đợt tấn công ồ ạt của Cộng quân từ ngày 13 tháng Tư đến ngày 9 tháng Sáu. Trước tinh thần tử thủ không hề lay chuyển của quân đội VNCH tại An Lộc, Cộng quân đã phải rút lui. Không quân VNCH và B.52 Hoa Kỳ đã hỗ trợ đắc lực cho bộ binh ta tác chiến tại đây.
Đặc biệt dân chúng trong thị xã dù đã phải chịu cảnh chết chóc, nhà cửa bị đổ nát vì đạn pháo của địch, vẫn tỏ ra bình tĩnh và hỗ trợ quân đội chống trả Cộng quân. Nghĩa quân và thanh niên cũng đã gan dạ dùng súng M 72 bắn cháy xe tăng địch trên các đường phố.
Trong khi đó các xạ thủ súng cao xạ và bộ đội Cộng sản lái xe tăng đã bị cấp chỉ huy xích chân vì sợ bỏ chạy. Bộ đội bị ta bắt khai rằng các cán binh trước khi ra trận được chích thuốc kích thích của Trung Cộng để không sợ chết! Đó là hai hình ảnh trái ngược về tinh thần chiến đấu của ta và địch. Ta thì quyết chiến để giữ lấy đất, còn địch thì nao núng về tinh thần.
Trong khi An Lộc còn giao tranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với cương vị Tổng tư lệnh đã bay tới nơi để khen ngợi tinh thần chiến đấu quả cảm của các chiến sĩ QLVNCH.
Cuộc tấn công mùa hè năm 1972 đã đem lại sự thất bại cho CSBV trong mưu đồ chiếm thêm đất để tạo lợi thế trên bàn hội nghị. Cộng quân bị tổn thất 100.000 bộ đội, so với QLVNCH bị tổn thất 25.000 chiến sĩ.

Trong lúc chiến trường ở Việt Nam sôi sục, thì phong trào phản chiến ở Mỹ lên cao. Từ năm 1964, phong trào phản chiến đã khởi sự tại diễn đàn Free Speech (Tự do ngôn luận) của nhóm sinh viên Đại học Berkely, thuộc tiểu bang Califomia; họ đòi Mỹ bất can thiệp vào chiến tranh VN và rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam VN. Thêm vào đó nữ tài tử Jane Fonda qua Hà Nội chụp hình với bộ đội phòng không Bắc Việt đã từng bắn hạ máy bay Mỹ làm cho dư luận Mỹ phẫn nộ.
Phong trào phản chiến được thể lan rộng ra một số trường đại học Mỹ, trợ thủ cho nỗ lực tuyên truyền chống Mỹ của phe CS, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tinh thần chiến đấu của quân đội Mỹ ở miền Nam VN.
Phong trào phản chiến và các cuộc biểu tình của dân chúng Mỹ chống chiến tranh Việt Nam, trong đó có các lời kêu gọi hòa giải với Cộng sản và kích động vấn đề bách hại chủng tộc giữa da trắng và da vàng, đã gây thêm sức ép để Tổng thống Nixon đẩy mạnh chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh[3]
Mặt khác giới truyền thông Mỹ đã thông tin thiên lệch về cuộc chiến VN. Tổng thống Nixon đã nhận xét về giới truyền thông Mỹ như sau:
“Vào thời điểm tôi đã trở thành Tổng thống (năm 1969J, tôi cảm thấy cách thức hướng dẫn và tường thuật cuộc chiến Việt Nam đã làm cho tinh thần và niềm tự tin của nước Mỹ bị suy sụp.” I felt that by the time I had become President the way the Vietnam war had been conducted and reported had worn down America’s spirit and sense of confidence[4]
Ngày 16 tháng Tư, 1972, Tổng thống Nixon cho lệnh tái oanh tạc Bắc Việt và phong tỏa cảng Hải Phòng bằng mìn để áp lực phía Cộng sản rút hết quân BV ra khỏi miền Nam và cuộc hòa đàm Paris giữa bốn bên sớm đi đến chỗ kết thúc. Ngày 8 tháng Mười năm 1972, Lê Đức Thọ và phái đoàn CSBV đưa bản Hiệp định ngưng bắn do họ soạn thảo ra bàn tại hội nghị Paris. Bản hiệp định đề cập đến các vấn đề thiết yếu sau:
-Các bên ngưng bắn tại chỗ.
-Quân ngoại quốc rút hết ra khỏi miền Nam.
-Trao đổi tù binh giữa các bên.
-Thiết lập Hội đồng Hòa hợp Hòa giải ba thành phần (VNCH, MTGPMN và Trung Lập) Hội đồng này có nhiệm vụ tổ chức cuộc tổng tuyển cử tại miền Nam Việt Nam để ấn định thể chế tương lai cho miền Nam.
Tuyệt nhiên không thấy ghi quân Bắc Việt phải rút hết ra khỏi miền Nam VN và ấn định quy chế vùng phi quân sự tại vĩ tuyến thứ 17!
Các cuộc họp kế tiếp giữa bốn bên vẫn không đi đến đâu; phái đoàn Cộng sản vẫn dùng các luận điệu quanh co, lúc thì bảo: “Không có bộ đội miền Bắc ở miền Nam’’; lúc thì bảo: “ Người Việt Nam có quyền đi bất cứ đâu”. Họ không hề đá động đến việc rút quân chính quy Bắc Việt ra khỏi miền Nam.
Ngày 18 tháng Mười, Ngoại trưởng Mỹ, ông Henry Kissinger, người cầm đầu phái đoàn Mỹ tại cuộc hòa đàm Paris đến Saigon gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mang theo lá thư của Tổng thống Nixon thúc giục ông Thiệu chấp nhận hiệp định ngưng bắn và hứa sẽ có phản ứng thích hợp nếu phía Cộng sản vi phạm hiệp định. Sau đó ông Thiệu đã đưa ra bản phản đề nghị cho ông Kissinger bao gồm mấy điểm chính như sau:
-CSBV phải rút hết quân của họ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
- Quyền tự quyết về chính trị của nhân dân miền Nam phải được bảo đảm.
- Vùng phi quân sự tại vĩ tuyến thứ 17 phải được đôi bên tôn trọng.
- Đề nghị 6 tháng sau khi hiệp định được ký kết sẽ có cuộc bầu cử tự do tại miền Nam để bầu tổng thống, có sự giám sát của quốc tế. Về điểm đề nghị này của ông Thiệu có ý tránh cho Hội đồng Hòa hợp Hòa giải 3 thành phần sẽ dễ dàng trở thành một thứ chính phủ liên hiệp khi quân CSBV còn hiện diện ở miền Nam.
Các phản đề nghị trên của VNCH đã được ông Kissinger đưa ra bàn hội nghị ngày 13 tháng Mười Hai cho phía Cộng sản tu chỉnh, song Lê Đức Thọ vẫn tỏ thái độ ngoan cố và không chấp nhận. Sau đó Thọ bỏ về Hà Nội, nói là để tham khảo ý kiến của Bộ chính trị.
Để áp lực CSBV phải trở lại cuộc hòa đàm và sửa đổi các điều khoản theo đề nghị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ngày 14 tháng Mười Hai, Tổng thống Nixon ra lệnh cho các máy bay B.52 từ Thái Lan và Guam chuẩn bị tới oanh tạc các mục tiêu quân sự ở Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 17 tháng Mười Hai, các máy bay Mỹ lại thả mìn xuống cảng Hải Phòng, hôm sau máy bay Mỹ oanh tạc các mục tiêu ở Hà Nội và Hải Phòng. Tướng Võ Nguyên Giáp có kể lại chuyện này như sau: “Chiều ngày 18 tháng 12 năm 1972, chiếc chuyên cơ BH 195 (đây là chiếc chuyên cơ trước đó dành riêng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên được mang ký hiệu BH (Bác Hồ) và ngày sinh của Người (19-5) đưa anh Lê Đức Thọ về nước đáp xuống sân bay Gia Lâm lúc 16 giờ 45 phút. Cũng khoảng thời gian ấy, Níchxơn gửi công hàm như một tối hậu thư, hạn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo những điều kiện của Mỹ. ”[5] về cường độ của các máy bay B.52 thả bom ở Hà Nội, Giáp kể “Đã có lúc căn hầm chỉ huy kiên cố của Tổng hành dinh rung chuyển như động đất [6]
Bom bỏ lạc xuống phố Khâm Thiên, Hà Nội và bệnh viện Bạch Mai. Cuộc bỏ bom B. 52 ở Hà Nội đã làm cho giới lãnh đạo đảng Cộng sản thực sự lo ngại. Như vậy sau khi Mỹ đã giáng một đòn trên không thật đau, CSBV mới chịu nhích thái độ ngoan cố của họ.[7]
Ngày 29 tháng Mười Hai, Mỹ ngưng ném bom phía trên vĩ tuyến thứ 20 tại Bắc Việt, sau khi Lê Đức Thọ đồng ý trở lại bàn hội nghị ngày 8 tháng Giêng để tiếp tục cuộc hòa đàm. Tuy nhiên cuộc hòa đàm vẫn giậm chân tại chỗ vì thái độ ngoan cố trở lại của phía Cộng sản. Mỹ nôn nóng muốn hiệp định sớm được ký kết để đưa các tù binh Mỹ về nước và rút hết quân đội ra khỏi miền Nam nên đã ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận bản hiệp định. Cuối cùng bản Hiệp định Ngưng bắn đã được bốn bên ký ngày 27 tháng Giêng năm 1973. Quân Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam là một sự thua thiệt cho VNCH, một sự nhượng bộ của Mỹ cho CSBV trong ý đồ thôn tính miền Nam.
Trong cuộc nói chuyện với các cán bộ ngành CTCT tại rạp Thống Nhất, Saigon, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ông không tin Cộng sản tôn trọng hiệp định Paris. Ông nói dứt khoát: “Nếu Việt Cộng bắn ta 1, ta phải bắn lại 10." Ông đã có kinh nghiệm chiến đấu với Cộng sản: năm 1952 ông là trung úy Quân đội Quốc gia, phụ tá phòng 3 hành quân tại vùng Hưng Yên, Bắc Việt, nên ông hiểu chiến thuật của Cộng sản.
Trước khi bản Hiệp định Paris được ký kết, Bộ Tổng tham mưu QLVNCH đã có kế hoạch Trần Hưng Đạo chỉ thị các đơn vị cắm quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ dọc các đường ranh do quân đội ta kiểm soát để đề phòng Việt Cộng thực hiện âm mưu lấn đất giành dân.
Năm 1973, ủy ban giải thưởng Hòa bình Nobel Thụy Điển đã trao giải thưởng Hòa bình chung cho Ngoại trưởng Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, kẻ đã coi hiệp định Paris như một đòn bẩy đưa Mỹ ra khỏi miền Nam VN, và coi đó như một lá chắn cho Cộng quân chuẩn bị thôn tính miền Nam. Lê Đức Thọ đã không dám nhận giải thưởng này vì y chỉ là một thành viên trong Bộ chính trị và tự xét CS còn tiếp tục chiến tranh.
Còn với ông Kissinger, chẳng những ông đã mang lại một nền hòa bình thật mong manh cho miền nam Việt Nam; mà ông còn nhượng bộ CSBV để quân chính quy ở lại miền Nam hầu dễ bề thôn tính VNCH. Đây là mặt trái của cuộc chiến VN, một cuộc chiến mà Mỹ đã cam kết hỗ trợ VNCH chống Cộng sản xâm lược đến thắng lợi cuối cùng để bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á[8]
Hơn 58.000 quân nhân Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến và dân tộc Việt Nam đã chiến đấu kiên cường chống Cộng suốt 25 năm không phải để miền Nam dễ dàng mất vào tay Cộng sản.
Ngày 29 tháng Ba năm 1973, các đơn vị Mỹ còn lại rút hết về nước; các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh cũng đã được Hà Nội trao trả cho phía Mỹ. Riêng VNCH đã xúc tiến ngay việc trao trả hết số tù binh cho đại diện Cộng sản ở Lộc Ninh. Trong khi đó số quân nhân và dân sự VNCH bị Cộng sản bắt giữ chỉ được trao trả nhỏ giọt. Số phận của đa số tù binh VNCH còn bị Cộng sản giam giữ vẫn mù mịt trước những lời ngụy biện của đại diện Cộng sản trong Ủy ban quân sự bốn bên họp tại trại David, trong sân bay Tân Sơn Nhất.
Sau Hiệp định Paris, miền Nam lại đứng trước giai đoạn thử thách đầy khó khăn. Mỹ đã phủi tay; nguồn quân viện cho VNCH cạn kiệt trông thấy. Tình hình trở nên phức tạp do các cuộc biểu tình của dân chúng, tín đồ và các nhà báo chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng. Nổi bật là Phong trào Chống Tham nhũng do Linh mục Trần Hữu Thanh lãnh đạo gồm một số dân biểu tham gia. Trong khi đó Cộng quân vẫn vi phạm Hiệp định Paris qua các cuộc tấn công lấn đất giành dân ở Bình Định, Thường Đức thuộc Vùng 2. ở Vùng 3, Việt Cộng lấn chiếm tại Bình Dương.
 Ngọc có người em ruột là Trần Anh Vỹ, thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh đã hy sinh trong trận chống trả Việt Cộng lấn chiếm đất đai ở đây vào ngày 9 tháng 6, 1973.
Tại Bình Long, tiền đồn Tống Lê Chân do Biệt động quân trấn đống đã bị Việt Cộng tấn công, bao vây nhiều ngày song không chiếm nổi. Sau đó ta rút đi vì vị trí nằm sâu trong rừng, trở ngại cho việc tiếp tế và tải thương.
Sau một thời gian làm việc tại Tổng cục Chiến tranh chính trị, Bình được đổi về Trung tâm Thi hành Hiệp định Paris thuộc Phủ Tổng thống để theo dõi việc thi hành hiệp định của các bên liên hệ.
Tại trại David trong phi trường Tân Sơn Nhất, phái đoàn quân sự VNCH luôn thảo luận nghiêm chỉnh việc thi hành các điều khoản về ngưng bắn Và trao trả tù binh, trái lại phía Cộng sản cứ dây dưa cốt kéo dài thời gian. Phía ta đã tổ cáo trước công luận việc Cộng sản thường xuyên vi phạm hiệp định Paris qua các cuộc tấn công lấn đất giành dân trên khắp lãnh thổ VNCH.

Chú thích:
[1] Vì quyền hành tập trung vào Tổng thống Thiệu, Tướng Viên đã nhiều lần xin từ chức mà không được chấp thuận.
[2] Theo sứ gia Pháp Daniel Hémery: Nguyễn Ái Quốc là tên chung của Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành ký trong bản yêu sách của người An Nam gửi Hội nghị Versailles Pháp họp ngày 28/6/1919, sau khi Đức đầu hàng Đồng Minh, kết thúc Thế chiến I. Hội nghị đề cập đến quyền tự cai trị của các dân tộc do Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đưa ra. (Báo Thời Luận ngày 4/10/2007).
[3] Tại các trường đại học Mỹ còn lưu những tài liệu của phong trào phản chiến trong thập niên 1960. (Chú thích của tác giả).
[4] The Memoirs of Richard Nixon, xb năm 1978, tr. 350.
[5] Tổng Tập Hồi Ký của Võ Nguyên Giáp, xuất bản năm 2006, tr. 1143.
[6] Tổng Tập Hồi Ký của Võ Nguyên Giáp, Xuất bản năm 2006, tr. 1150.
[7] Sau này trong cuộc phỏng vấn ngày 29 tháng Giêng 2006, nhân kỷ niệm 33 năm ngày ký Hiệp định đình chiến Paris, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn MTGPMN trong hòa hội Paris có trả lời phóng viên báo Nhân Dân về việc Mỹ cho B.52 ném bom 12 ngày đêm ở Hà Nội vào cuối tháng 12- 1972 như sau:“ Về mặt ngoại giao, chúng ta tuyên bố phản đối thái độ lật lọng, ngoan cố của Mỹ. Mặt khác ở Paris, chúng tôi rất lo. Ngay cả các nước bạn bè cũng rất lo. Vì B.52 là máy bay tối tân nhất lúc bấy giờ với phương tiện phá sóng ra đa và sức mạnh hủy diệt khủng khiếp.
[8] Nhật báo San Francisco ra ngày thứ Bảy, 27 tháng Năm, 2006 đã trích đăng vài chi tiết được Văn khố An ninh quốc gia của trường Đại học George Washington tiết lộ như sau: “Henry Kissinger quietly acknowledged to China in 1972 that Washington could accept a communist takeover of South Vietnam if that evolved after a withdrawal of U.S. troops." Nghĩa là năm 1972, Henry Kissinger đã ngầm cho Trung Cộng biết Hoa Thịnh Đốn có thể chấp nhận Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam nếu việc đó tiến triển sau khi Mỹ rút quân!




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.12.2021 15:57:55 bởi Thanh Vân>
Chương Mười Một
Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa
 
 
Một năm làm việc tại Trung tâm thi hành Hiệp định Paris, Bình cảm thấy mọi việc ngừng trệ, bản hiệp định đã trở thành vô hiệu lực bởi chỉ có Việt Nam Cộng Hòa thi hành mà phía Cộng sản không thi hành, lại vi phạm rất nghiêm trọng. Cùng một số phận với hiệp định Genève 1954, hiệp định Paris 1973 cũng bị CS chà đạp. Nền hòa bình non yếu đang chết dần trong tay CS.
Gia đình Bình vừa trải qua một cái Tết ở căn nhà được quân đội cấp, nằm trong hẻm Ngã Sáu Saigon, nơi có tượng Thánh Gióng cỡi ngựa sắt tay vung khúc tre ngà thời kỳ chống giặc Ân.
Mới đầu năm 1974, tình hình chiến sự đã sôi động khác thường, như báo hiệu một điềm dữ cho miền Nam. Lần đầu tiên trận hải chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Trung Cộng đã xẩy ra tại quần đảo Hoàng Sa.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm duới vĩ tuyến thứ 17; thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.
Trải qua nhiều triều đại nối tiếp, hai quần đảo này vẫn là phần đất bất khả phân của Việt Nam. Trên các đảo Hoàng Sa và Trường sa đều có dựng bia chủ quyền của VNCH và có quân đội đồn trú. Tại Hoàng Sa có đài khí tượng của Việt Nam Cộng Hòa và Địa phương quân canh giữ đảo. Hoàng Sa trực thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam và Trường Sa thuộc địa phận tỉnh Khánh Hoà. Các chiến hạm VNCH vẫn tuần tiễu quanh các đảo này để bảo vệ chủ quyền của mình.
Với tham vọng bành trướng đất đai và biển tại Nam Hải, Trung Cộng đã dòm ngó hai quần đảo này, trước mắt là chiếm Hoàng Sa. Theo các tài liệu và nhân chứng Hải quân VNCH tham gia trận đánh, thì diễn tiến trận hải chiến Hoàng Sa xẩy ra như sau: Ngày 11 tháng Giêng, 1974, Trung Cộng tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Tiếp theo ngày 15 tháng Giêng, Trung Cộng cho các tàu chiến xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân lên 4 đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm gồm Duy Mộng, Quang Hòa, Cam Tuyền và Vĩnh Lạc; các đảo này không có quân ta đồn trú như trên đảo Hoàng Sa.
Ngày 16 tháng Giêng, tàu HQ-16 của VNCH ra Hoàng Sa tăng cường thấy có 2 tàu Trung Cộng ở đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc, trên các đảo thấy có cắm cờ Trung Cộng. Sau đó tàu HQ-4 của ta ra tăng cường. Các tàu ta gọi loa yêu cầu tàu Trung Cộng rời khỏi hải phận. Tàu Trung Cộng ngoan cố nên HQ-4 húc mũi vào tàu Trung Cộng làm hư tháp chỉ huy vì tàu địch thấp nhỏ hơn. Sau đó tàu ta đổ biệt hải lên đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc nhổ cờ Trung Cộng. Thấy vậy, hai tàu Trung Cộng chạy về đảo Quang Hòa và Duy Mộng.
Ngày 17 tháng Giêng, Trung Cộng tăng cường 2 chiến hạm Kronstad tới các đảo Quang Hòa, Duy Mộng; khi gặp tàu ta tới gần đảo Quang Hòa chúng tỏ thái độ khiêu khích. Thấy tình hình căng thẳng, Hải quân VNCH phái thêm 2 chiến hạm HQ-5 và HQ-10 ra Hoàng Sa.
Ngày 18 tháng Giêng, các tàu ta hình thành thế trận đối đầu với các tàu Trung Cộng ở khu vực đảo Quang Hòa. Sáng ngày 19 tháng Giêng, một chiến hạm của ta đã đổ một số biệt hải lên tái chiếm đảo Quang Hòa nhưng không thành công, phải rút ra vì bị quân Trung Cộng áp đảo. Sau đó lúc 10 giờ 25 phút các chiến hạm ta đã nổ súng vào các chiến hạm Trung Cộng. Lực lượng ta có 4 chiến hạm gồm khu trục hạm Trần Khánh Du (HQ4), 2 tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ5), Lý Thường Kiệt (HQ 16) và hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ10). Phía Trung Cộng có 11 tàu gồm 2 chiến hạm Kronstad số 271, 274 và 2 trục lôi hạm số 389, 396. Số còn lại là tàu chở quân và các thuyền đánh cá có võ trang.
Tổn thất đôi bên được ghi nhận như sau: Trung Cộng có 1 chiến hạm Kronstad bị bắn chìm, 2 chiếc khác bị hư hại nặng. Phía VNCH có chiếc Nhựt Tảo bị chìm cùng thủy thủ đoàn, trong đó có Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng và Thiếu tá Nguyễn Thành Trí, Hạm phó. Ba chiếc còn lại bị hư hại về tới Đà Nẵng. 50 thủy thủ và biệt hải đã hy sinh, đa số thuộc tàu Nhựt Tảo. Ngay sau đó, Trung Cộng phái thêm tàu chiến ra tăng cường hải lực của chúng ở Hoàng Sa.
Ngày 20 tháng Giêng. Trung Cộng chiếm trọn các đảo Hoàng Sa. Số quân nhân và 6 nhân viên khí tượng VNCH ở đảo Hoàng Sa bị Trung Cộng bắt giữ được trả về Saigon tháng 3-1974, qua tòa Lãnh sự VNCH tại Hồng Kông. Trận hải chiến Hoàng Sa đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu anh dũng của Hải quân VNCH. Mặc dầu lực lượng không cân xứng, Hải quân VNCH đã giáng cho Hải quân Trung Cộng một đòn quyết liệt, nêu cao hào khí Bạch Đằng Giang.
Phản ứng của Bắc Việt đối với trận hải chiến Hoàng Sa hoàn toàn tiêu cực. Đài Phát thanh Hà Nội đưa ra luận điệu:“ Hai bên thương lượng về Hoàng Sa?” Trong công hàm ngày 14 tháng Chín, 1958 gửi Chu
Ân Lai, Phạm Văn Đồng lúc ấy là Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Cộng, mặc nhiên hiến quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng để đổi lấy sự giúp đỡ của đàn anh trong mưu đồ xâm lăng miền Nam [1]
Nhận xét về khả năng và tinh thần chiến đấu của QLVNCH, các nhà quân sự thế giới đã nhìn nhận quân đội ta có ưu thế về chiến thuật nên đã giành phần thắng trong các cuộc chiến đấu chống quân CSBV.
Ngày 8 tháng Tám 1974, Tổng thống Nixon đã phải tuyên bố từ chức trong nhiệm kỳ 2 vì vụ Watergate. Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu truất nhiệm ông Nixon vì ông không chịu trao các cuốn băng nghe lóm cuộc tranh cử Tổng thống năm 1972 của Đảng Dân Chủ tại khách sạn Watergate, Washington D.C. Trước khi từ chức, ngày 5 tháng Tám, 1974 ông Nixon mới trao các cuốn băng cho Ủy ban Tư pháp Hạ viện. Phó Tổng thống Gerald R. Ford lên nhậm chức Tổng thống thay ông Nixon. Việc ông Nixon từ chức đã ảnh hưởng đến cuộc chiến Việt Nam; các lời hứa của ông với Tổng thống Thiệu là sẽ ra tay can thiệp một khi CSBV vi phạm Hiệp định Paris đã bị chìm vào quên lãng.
 
 
 
Tháng 12/2007, Trung Quốc lập thành phố hành chính Tam Sa tại đảo Hải Nam để quản lý 3 quần đảo trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đã bị thanh niên, sinh viên trong nước và Việt Kiều hải ngoại biểu tình phản đối, mà không thấy nhà cầm quyền CS có thái độ phản đối Trung Cộng.
 
Ngày 6 tháng Giêng, 1975, sư đoàn 3 VC tấn công tỉnh lỵ Phước Long, cách Saigon 100 cây số về phía tây bắc. Lực lượng trú phòng tại thị xã Phước Long với sự yểm trợ của Không quân đã chống trả mãnh liệt các đợt tấn công của Cộng quân. Cuối cùng thị xã bị thất thủ vì quân số địch đông hơn và bên ta thiếu tiếp viện. Bình có người em là Thiếu úy Nguyễn Tiến Bông làm việc ở Tiểu khu Phước Long đã tham gia trận đánh này.
Tướng Võ Nguyên Giáp đã công nhận vai trò chủ yếu của CSBV trong việc tấn công vào thị xã Phước Long như sau: “ Trong hội nghị, các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà kịp thời xin ý kiến của đồng chí Bí thư thứ nhất và Quân ủy trung ương cho phép giải phóng luôn Phước Long (tức sau khi Cộng quân đã chiếm Đồng Xoài), có sử dụng một đại đội xe tăng, một đại đội pháo 130 ly. Anh Ba (tức Lê Duẩn) chấp nhận. Tôi cũng đồng ý. Ngày 31 tháng Mười Hai (1974), Quân đoàn 4 được tăng cường trung đoàn 16 bộ binh, hai tiểu đoàn pháo cao xạ, do Tư lệnh Hoàng Cầm trực tiếp chỉ huy, mở cuộc tiến công vào thị xã [2]
 Tư lệnh Quân Đoàn 3 và Vùng 3 Chiến thuật là Trung tướng Dư Quốc Đống có xin tăng viện để tái chiếm Phước Long song không được Tổng thống Thiệu chấp thuận. Thái độ của ông Thiệu lúc ấy là: “Chờ xem Mỹ có phản ứng gì không! ” Nhưng Tổng thống Ford đã không có phản ứng gì cả! Tướng Đống sau đó xin từ chức.
Năm 1973, Quốc hội Mỹ ra một đạo luật về quyền hạn chiến tranh (War Povvers Act), hạn chế bớt quyền hành của tổng thống trong việc đưa quân đội ra ngoại quốc tham chiến. Theo luật này, Tổng thống được ủy nhiệm đưa quân đội ra ngoại quốc tham chiến không quá 60 ngày, sau thời hạn này phải có sự chấp thuận của quốc hội.
Trong khi đó ngân khoản viện trợ Mỹ tài khóa 1974-75 cho VNCH chỉ còn 700 triệu, so với năm 1973-74 là 1 tỷ đô la. Tổng thống Thiệu xin thêm 300 triệu đô la quân viện đã bị Quốc hội Mỹ từ chối. Đây là sự kiện Mỹ bỏ rơi VNCH để rồi đi đến chỗ thảm bại. Sau đó ông Thiệu qua Âu Châu xin viện trợ song không có kết quả.
Các nguồn tin tình báo tiết lộ trong năm 1974, Bộ chính trị CSBV đưa ra kế hoạch chống phá Hiệp định Paris trong mùa khô hai năm 1975-76. Năm 1975, Cộng sản chú trọng phá công cuộc bình định ở miền Nam, lấn chiếm đất đai miền đông Nam Bộ, nam Tây Nguyên, vùng Trị Thiên và Quân khu 5. Năm 1976, Cộng sản sẽ tiến hành tổng tấn công, tổng khởi nghĩa tòan miền Nam.
Song le những biến cố dồn dập xẩy ra như vụ mất Ban Mê Thuột ngày 10 tháng Ba năm 1975, sau đó là vụ triệt thoái của Quân đoàn 2, Vùng 2 từ Pleiku về Tuy Hòa theo đường số 7 ngày 16 tháng Ba đã tạo thời cơ cho CS đốt cháy giai đoạn và tiến hành tổng tấn công miền Nam mà không đợi đến năm 1976!
Việc Mỹ cắt giảm quân viện cho VNCH đã làm suy giảm tiềm năng chiến đấu của quân đội, giúp cho CSBV liều lĩnh tấn chiếm miền Nam. Tình thế này đã khiến Tổng thống Thiệu đi đến quyết định tái phối trí lực lượng để tăng cường bảo vệ các khu vực đông dân cư ở miền Nam [3].
CSBV cho rằng Mỹ khó trở lại miền Nam bằng bộ binh, còn nếu Mỹ lại sử dụng B.52 chỉ gây cho chúng các tổn thất về người và của cải mà vẫn không giải quyết được tòan thể cuộc chiến.
Đó là những lý do khiến CSBV thay đổi kế hoạch quân sự đã dự trù cho hai năm 1975-76.
Đầu năm 1975, CSBV tập trung 15 sư đoàn tiến chiếm miền Nam, gồm các Sư đoàn chính quy BV và VC hợp thành 5 quân đoàn, chỉ để lại sư đoàn 308 tại Bắc Việt. VNCH có 13 sư đoàn trên 4 Vùng chiến thuật; gồm 11 Sư đoàn Bộ binh, 1 sư đoàn Nhảy dù, 1 Sư đoàn Thủy quân lục chiến, 20 liên đoàn Biệt động quân, 1 liên đoàn Biệt cách Dù, ngoài ra có thêm 500.000 Địa phương quân và Nghĩa quân bố trí tại các Tiểu khu và Chi khu. Về cơ giới ta có 4 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp với chiến xa M. 48, thiết vận xa M.l 13, 1 ngàn khẩu pháo 105 ly và 155 ly do các đại đơn vị và Tiểu khu sử dụng.
Ta lại có Ưu thế về Không quân và Hải quân hơn CSBV. Riêng không quân, ta có 60.000 người, tổ chức thành 6 sư đoàn tác chiến, mỗi vùng chiến thuật được bố trí từ 1 đến 2 sư đoàn, 1 sư đoàn vận tải. Số phi cơ khu trục có trên 500 chiếc, trong đó có loại phản lực A. 37 và F.5, 1000 trực thăng, 150 phi cơ vận tải. Về Hải quân, ta có 40.000 người phục vụ cho 1 hạm đội gồm các tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, trợ chiến hạm, tuần duyên hạm và dương vận hạm; 14 giang đoàn hoạt động trên các sông rạch cùng các lực lượng đặc nhiệm thủy bộ khác đặt trực thuộc các Vùng chiến thuật. Trừ trận hải chiến với Trung Cộng ngoài quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974, lực lượng Hải quân VNCH gần như nguyên vẹn.
Tổng số quân lực VNCH đầu năm 1975 là một triệu rưỡi quân. Qua các trận phản kích quy mô từ Tết Mậu thân 1968 đến mùa hè 1972, ta đã đánh bại mọi nỗ lực của Cộng quân trong kế hoạch xâm chiếm lãnh thổ miền Nam, ngoại trừ vài nơi hẻo lánh đã bị địch chiếm đóng. Đồng thời ta đã gây cho địch những tổn thất nặng nề về quân số và vũ khí.
Nhưng từ tháng Ba 1975, trước áp lực của Cộng quân, ta rơi vào tình thế bị động do sự co cụm về chiến thuật ở Vùng 2 (Tây nguyên) và Vùng 1 (địa đầu), khiến miền Nam bị suy sụp mau lẹ.
  Ngày 10 tháng Ba năm 1975, CSBV tập trung 3 sư đoàn F10, 316, 320, một số xe tăng T54 và pháo 130 ly tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột, cửa ngõ ở Tây nguyên xuống phía Nam. Hà Nội đã cử tướng Văn Tiến Dũng vào trực tiếp chỉ huy trận đánh Ban Mê Thuột. Cộng quân đã gặp sự kháng cự rất mạnh mẽ của Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh và Địa phương quân đồn trú tại Tiểu khu. Lúc đó 2 Trung đoàn 44 và 45 của Sư đoàn 23 đang bảo vệ thị xã Pleiku và Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Phạm Văn Phú làm tư lệnh.
Tại phi trường Phụng Dực đã diễn ra nhiều đợt ác chiến giữa quân của Trung đoàn 53 và cộng quân trong suốt một tuần lễ. Sau khi cộng quân chiếm thị xã Ban Mê Thuột ngày 11 tháng Ba, 2 Trung đoàn 44 và 45 mới được trực thăng vận từ Pleiku xuống Phước An để phản công địch ở Ban Mê Thuật, cùng với Liên đoàn 21 Biệt động quân từ Buôn Hồ về giải cứu song bị cộng quân chận đánh. Bộ Tổng tham mưu cũng đã tăng cường Liên đoàn 6 BĐQ cho Vùng 2 để tái chiếm Ban Mê Thuột song không thành công.
Có thể Thiếu tướng Phạm Văn Phú hoài nghi cộng quân đánh Ban Mê Thuột, dù ông nắm tin tức về vụ này. Ông nghĩ chúng sẽ đánh Pleiku nên ông rút 2 trung đoàn của Sư đoàn 23 về bảo vệ Plei ku, chỉ để lại 1 trung đoàn bảo vệ thị xã Ban Mê Thuột có dân số 100.000 người. Đó là lý do khiến Ban Mê Thuột thất thủ trước cuộc tấn công của 3 sư đoàn CS có xe tăng và pháo binh yểm trợ.
Để đánh lạc hướng tấn công Ban Mê Thuật, ngày 25 tháng Hai, sư đoàn 968 VC đã pháo kích vào sân bay Cù Hanh và tấn công 2 căn cứ của ta trên đường 19 phía tây Pleiku. Từ ngày 4 đến 5 tháng Ba, Sư đoàn 3 VS cắt đường 19 ở An Khê và trung đoàn 25 VS cắt đường 21 ở phía đông Chư Cúc.
Ngày 14 tháng Ba, một cuộc họp tại Cam Ranh gồm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên; Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh của Tổng thống và Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 để bàn về việc cứu Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm viện binh song Đại tướng Viên cho biết không còn quân trừ bị. Do đó hội nghị đã cho phép Tướng Phú được rút quân ra khỏi Cao nguyên để bảo vệ đồng bằng duyên hải và chọn đường số 7 triệt thoái về Tuy Hòa để tạo sự bất ngờ vì đường này lâu nay bị bỏ hoang. Các đường 14 và 19 không thể đi được vì sợ cộng quân phục kích đoàn quân di chuyển.
Tướng Phú cũng đã yêu cầu Tổng thống Thiệu thăng cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2. Sau đó Tướng Phú giao quyền chỉ huy cho Chuẩn tướng Tất rồi về Nha Trang chuẩn bị tổ chức lại Bộ tư lệnh tiền phương Vùng 2. Liên đoàn 22 Biệt động quân lại Kontum cũng được lệnh rút theo Quân đoàn 2. Vì có lệnh của Tổng thống Thiệu không cho các tỉnh trưởng biết cuộc triệt thoái của Quân đoàn 2 nên khi dân chúng tại thị xã Pleiku thấy các gia đình binh sĩ hối hả theo các đơn vị rời Pleiku về Phú Bổn thì sự hoảng loạn lan truyền rộng rãi khiến dân chúng cũng bỏ thị xã đi theo đoàn quân.
Ngày 16 tháng Ba, Văn Tiến Dũng tại sở chỉ huy Tây nguyên điều Sư đoàn 320 bám sát phục kích đoàn quân triệt thoái cùng dân chúng chạy theo, gây cảnh chết chóc tang thương cho trẻ em, người già, phụ nữ vô kể. Xe cộ, khí tài bị phá hủy nằm ngổn ngang dọc đường số 7. Đây là một cuộc rút lui đẫm máu vì thiếu chuẩn bị và đường Số 7 lại bị nghẽn. Thị xã Pleiku đã bị sư đoàn 968 VC vào chiếm ngay hôm đó.
Cuộc triệt thoái của Quân đoàn 2 đã gây sự hoang mang cho Quân đoàn 1. Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 mới đầu ra lệnh tử thủ Huế. Sau đó Sư đoàn Dù được lệnh rút về Saigon; riêng Lữ đoàn 3 Dù về tới Nha Trang được lệnh lên Khánh Dương tăng cường cho Bộ tư lệnh tiền phương Vùng 2 của Tướng Phạm Văn Phú. Sau đó Tướng Trưởng lại được lệnh của Tổng thống Thiệu rút khỏi Huế về tử thủ Đà Nẵng. Dân chúng ở Quảng Trị, Huế đổ xô chạy về Đà Nẵng theo chân quân đội. Tỉnh trưởng Thừa Thiên là Đại tá Nguyễn Hữu Duệ đã lo chuyển bằng máy bay một số đồ cổ của Triều Nguyễn trong Viện bảo tàng Huế vào Saigon để Phủ Đặc trách Văn hóa bảo quản [4]
Ngày 19 tháng Ba, các đơn vị CSBV tiến chiếm Quảng Trị. Ngày 22 tháng Ba, hai sư đoàn BV 324 và 325 bao vây thành phố Huế, chặn đường rút lui của Sư đoàn 1 Bộ binh, Sư đoàn TQLC và các đơn vị khác xuống cửa Thuận An và Đà Nẵng. Ngày 29 tháng Ba, hai Sư đoàn BV kể trên cùng sư đoàn 304 tiến vào Đà Nẵng, ngay sau khi các đơn vị QLVNCH rút vào Nam bằng tàu Hải quân và máy bay vận tải của Không quân. Tướng Trưởng đã rút bằng tàu Hải quân về dưỡng bệnh tại Tổng Y viện Cộng Hòa, Saigon. Sư đoàn 2 VC chiếm Tam Kỳ ngày 24 tháng Ba và Quảng Ngãi ngày 25 tháng Ba.
Ngày 30 tháng Ba, các trận giao tranh đã diễn ra giữa Sư đoàn 22 Bộ binh với sư đoàn 3 VC tại Quy Nhơn, giữa Lữ đoàn 3 Dù và sư đoàn F10, sư đoàn 320 BV tại Khánh Dương. Các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa thất thủ ngày 1 và 2 tháng Tư. Bộ Tư lệnh tiền phương Vùng 2 của Thiếu tướng Phú đã phải rút vào Cam Ranh và Phan Thiết. Phần còn lại của Sư đoàn 22 Bộ binh rút khỏi Bình Định và Lữ đoàn 3 Dù rút về Phan Rang. Ngày 3 tháng Tư Sư đoàn F 10 chiếm Cam Ranh.
Lúc này Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho sát nhập hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận thuộc Vùng 2 vào Vùng 3 để bảo vệ Saigon và đặt Bộ Tư lệnh tiền phương Vùng 3 tại Phan Rang do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư lệnh, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân làm Phó tư lệnh với trên 40 máy bay khu trục. Lực lượng Bộ Tư lệnh tiền phương Vùng 3 gồm Sư đoàn 2 Bộ binh từ Vùng 1 rút về, Lữ đoàn 2 Dù được không vận từ Saigon ra thay Lữ đoàn 3 Dù về Saigon và Liên đoàn 31 Biệt động quân cùng Địa phương quân.
Tại Saigon, lúc 10 giờ sáng ngày 8 tháng Tư, một chiếc A. 37 do Trung úy Nguyễn Thành Trung cất cánh từ sân bay Biên Hòa với chiếC A.37 khác đi làm nhiệm vụ oanh kích cộng quân, đã tự tách rời bay về ném bom và bắn hỏa tiễn xuống dinh Độc Lập. [5]
 Tổng thống Thiệu đang làm việc không bị hề hấn gì. Dinh chỉ bị hư hại nhẹ. Lúc ấy súng phòng không trên nóc dinh đã bắn lên máy bay của Trung, chiếc máy bay này đã bay về phía tây bắc; sau này VC cho biết là sân bay Phước Bình, thuộc tỉnh lỵ Phước Long.
Lúc máy bay oanh kích, Bình đang làm việc tại tòa nhà Trung tâm thi hành Hiệp định Paris, bên cánh phải dinh Độc Lập, cùng với các sĩ quan khác. Tiếng nổ nghe rất gần, mọi người phải tìm chỗ núp sợ còn có tiếng nổ nữa.
Ngày 9 tháng Tư, cộng quân mở cuộc tấn công vào thị xã Xuân Lộc, thuộc tỉnh Long Khánh. Địch huy động quân đoàn 4 gồm 3 sư đoàn: 6,7 và 341, cùng một số đơn vị thuộc quân khu 7 do tướng Hoàng Cầm chỉ huy tấn công vào Xuân Lộc. Lực lượng ta đã đào chiến hào, hố cá nhân, chuẩn bị sẵn thế phòng ngự tại Long Khánh.
Thành phần chiến đấu bên ta gồm có Sư đoàn 18 Bộ binh do Chuẩn tướng Lê Minh Đảo làm Tư lệnh, Lữ đoàn 1 Dù trấn giữ mặt Gia Rai, Chứa Chan, Lữ đoàn 3 Thiết giáp, các tiểu đoàn Biệt động quân, Địa phương quân Long Khánh và các đơn vị Pháo binh trực thuộc. Ngoài ra ta còn có sự yểm trợ của Không quân thuộc Quân đoàn 3 ở Biên Hòa và Tân Sơn Nhất.
Mặc dầu với quân số đông hơn, cộng quân vẫn không chiếm được Xuân Lộc trong mấy ngày đầu tấn công. Các đợt tiến công của địch bị ta đẩy lui; địch có phần nao núng tinh thần trước sức kháng cự mạnh mẽ của ta. Trung đoàn 95 cộng quân bị tổn thất nặng, không còn khả năng chiến đấu phải rút về tuyến sau. Một số xe tăng địch bị các chiến sĩ ta bắn hạ.
Không chiếm nổi Xuân Lộc, quân đoàn 4 CV quay ra đánh Lữ đoàn 3 Thiết giáp và Lữ đoàn 1 Dù ở Gia Rai nhưng cũng bị thiệt hại nặng. Hai trái bom Daisy Cutter có sức công phá mạnh do không quân thả đã tạo thêm tổn thất cho Cộng quân ở Xuân Lộc [6]
Quả nhiên địch đã không ngờ được tình huống tại Xuân Lộc và sức phản kích mãnh liệt của các chiến sĩ bộ binh, nhảy dù và thiết kỵ đã ngăn cản các đợt tấn công ồ ạt của địch.
Sau 11 ngày cầm chân quân đoàn 4 CSBV ở Xuân Lộc, ngày 20 tháng Tư, Sư đoàn 18 Bộ binh rút về Bà Rịa rồi về Biên Hòa. Lữ đoàn 1 Dù rút ra Vũng Tàu bằng tàu Hải quân. Các đơn vị khác cũng rút đi để bảo tòan lực lượng.
Ngày 14 tháng Tư, một số tàu thuyền của hải quân CSBV khởi sự chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Ngày 16 tháng Tư, cộng quân điều động sư đoàn 325, Sư đoàn 3, trung đoàn 25 cùng xe tăng, pháo binh tấn công vào thị xã Phan Rang và phi trường Thành Sơn. Các đơn vị ta với sự yểm trợ của không quân đã gây cho địch những tổn thất nặng nề. Riêng Lữ đoàn 2 Dù đã hạ trên 100 tên địch. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã bị địch bắt trên đường rút về Phan Thiết.
Tiếp theo ngày 19 tháng Tư, một trận đánh hiệp đồng ngoạn mục giữa bộ binh, không quân và hải quân ta chặn đánh quân đoàn 2 CS tiến xuống Phan Thiết trên quốc lộ 1. Đoàn xe của địch đã bị máy bay ta oanh tạc từ trên không và tàu hải quân pháo từ ngoài biển vào rất chính xác, thiêu hủy nhiều xe cộ, khí tài và bộ đội địch trước khi chúng vào được thị xã.
Như vậy không có chuyện quân đội ta bỏ chạy mà không giao chiến như các tin tức thất thiệt đã loan, trái lại lực lượng còn lại của ta vẫn bám sát quân địch trên đường tiến quân của chúng về phía Nam để giáng các đòn quyết liệt.
Sau khi Bộ tư lệnh tiền phương Vùng 3 đặt ở Phan Rang bị cộng quân tràn ngập và các đơn vị ta đã rút khỏi Xuân Lộc, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Đoàn 3 và Vùng 3 đã củng cố lại vòng đai phòng thủ Saigon, từ Long Thành qua Long Bình đến củ Chi. Các đơn vị bảo vệ thủ đô Saigon gồm các Sư đoàn 5, 25, 22, Lữ đoàn 3 và 4 Dù, Lữ đoàn 468 Thủy quân lục chiến, Lữ đoàn 3 Thiết giáp, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, các đơn vị Biệt động quân, Pháo binh, Không quân và Bộ Tư lệnh Hải quân. Riêng Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm tư lệnh vẫn còn nguyên ba Sư đoàn 7, 9, 21 tại Vùng 4.
Trong lúc cộng quân tập trung lực lượng đông đảo quanh Saigon, tình hình chính trị tại thủ đô đã có những diễn biến sau đây:
- Chiều 21 tháng Tư, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên tivi tuyên bố từ chức và trao quyền lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương vốn là nhà mô phạm có lòng yêu nước thương dân. Trong lời tuyên bố, ông Thiệu chỉ trích gay gắt Mỹ đã không giữ đúng lời cam kết trợ giúp VNCH chống Cộng sản xâm lược đến giờ phút cuối cùng. Ông bầy tỏ ý nguyện trở về với quân đội để sát cánh với các chiến hữu chống Cộng sản xâm lược. Câu nói của ông được nhiều người nhắc tới là "Đừng nghe những gì Cộng sản nói, hãy nhìn những gì Cộng sản làm!”, một câu nói lột trần bản chất dối trá của Cộng sản từ trước đến nay.
Tân Tổng thống Trần Văn Hương sau đó kêu gọi MTGPMN và VNCH cùng nhau thương thuyết để đem lại hòa bình cho miền Nam. Ông cũng kêu gọi các chiến sĩ giữ vững tay súng để bảo vệ đất nước đến giờ phút cuối cùng. Tối ngày 25 tháng Tư, ông Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm cùng gia đình đáp máy bay Mỹ qua Đài Loan tị nạn [7].
Trong lúc rối ren, Pháp lại đóng vai trò vận động giải pháp trung lập hóa miền Nam VN.
Đại sứ Merillon ở Saigon theo chỉ thị của Tổng thống Giscard D’Estaing, đã tiếp xúc với các phe lâm chiến, cả Trung Cộng và vài nước Đông Nam Á để bàn về giải pháp trung lập hóa miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên ý đồ này của Pháp đã không thành tựu phía Cộng sản lăm le chiếm nốt Saigon để hoàn thành mục tiêu xâm lăng của họ.
Nội tình khối Cộng sản lúc này có sự rạn nứt trầm trọng giữa Brezhnev, lãnh lụ Liên Xô và Mao Trạch Đông, lãnh tụ Trung Cộng. Brezhnev theo chủ nghĩa xét lại; còn Mao theo chủ nghĩa giáo điều Mác xít. CSBV lúc này lại thiên về Liên Xô nên không được lòng họ Mao, quan hệ giữa đôi bên lạnh nhạt hẳn.
Chiều ngày 26 tháng Tư, nhóm Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và tướng Văn Tiến Dũng trong bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho 5 quân đoàn Cộng sản cùng các lực lượng tăng cường, chiến xa T.54, pháo 130 ly tiến về Saigon để mở cuộc tấn công cuối cùng. Ở trận tuyến phía tây bắc, quân đoàn 3 Cộng sản đã bị Sư đoàn 25 Bộ binh ta chặn đánh từ Tây Ninh về Đồng Dù, trong khi Sư đoàn 5 Bộ binh ta đã chống trả mãnh liệt mũi tấn công của quân đoàn 1 CS ở Bình Dương và Lái Thiêu. Phía đông, quân đoàn 2 CS bị khựng lại ở Long Thành và căn cứ Nước Trong. Tại căn cứ Nước Trong, mặc dầu cộng quân dùng hàng chục khẩu pháo bắn vào trường Thiết Giáp, nơi các sinh viên sĩ quan Thiết giáp và Thủ ĐứC đang thực tập, song các cánh quân địch đã bị ta đẩy lui. Trận đánh diễn ra ác liệt suốt ngày 27 tháng Tư và kéo dài sang ngày 28, có máy bay của không quân ta yểm trợ đắc lực. Tổn thất của địch rất nặng nề về nhân mạng và xe tăng. Tuy không được báo chí tường thuật cặn kẽ vì liên lạc khó khăn; trận đánh Nước Trong đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ ta trong việc ngăn chặn địch tiến về Saigon. [8] Ngày 28 tháng Tư, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng QLVNCH đã đáp máy bay rời khỏi Saigon, sau khi ông đã đệ đơn xin từ chức lên Tổng thống Trần Văn Hương. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận xử lý thường vụ chức vụ của Đại tướng Cao Văn Viên [9].
Vào những ngày sôi động này, Bình vẫn đi làm như thường lệ ở trung tâm thi hành Hiệp định Paris trong khuôn viên dinh Độc Lập. Thực ra các sĩ quan ở đây cũng không nắm được tình hình biến chuyển mau lẹ nên không khỏi hoang mang chờ chung cuộc. Lác đác có người tìm được phương tiện lén đưa gia đình ra ngoại quốc lánh nạn CS. Ai đi được thì cứ đi. Người ở lại không có phương tiện đành chịu chung số phận với quê hương mà mình đã không bảo vệ nổi.
Bất ngờ Khối hành chánh mời tất cả sĩ quan các Khối tới để phát quà của Tổng thống Thiệu gửi tặng. Bình lấy làm lạ nhưng nghĩ rằng đây là những thứ còn lại trong kho dinh Độc Lập được đem ra phân phát cho nhân viên. Mỗi người được 10 ngàn đồng và 1 chai rượu ngoại, loại đắt tiền như: Gin, Bordeaux, Whisky. Không rõ đây là chỉ thị của ông vua không ngai đã ra đi, hay người quản lý dinh đã tự ý đem phân phát các thứ này cho viên chức trực thuộc để lưu lại cái cảm tình của ông Thiệu?
Bình giao số tiền cho Ngọc. Nàng bảo:
- Biết tiêu gì bây giờ. Thôi mua bao cát tránh đạn.
 -Phải đấy. Nhà có con nhỏ. Có pháo kích chẳng biết chạy đi đâu.
Cái ăn chẳng lo mà chỉ lo tránh đạn. Cả Saigon đang lo có vụ Cộng sản tàn sát như Tết Mậu Thân ở Huế khi cộng quân tấn công vào Saigon. Mua được hơn chục bao cát, Bình đem quây quanh cái bàn ăn trong nhà ở Ngã Sáu Saigon để các con nhỏ núp khi có pháo kích. Quả nhiên rạng sáng ngày 29 tháng Tư có trái hỏa tiễn 122 ly rớt nổ ngay khu vực Ngã Sáu Saigon mà không nghe nói có thương vong. Thành phố này thỉnh thoảng vẫn bị Việt Cộng pháo kích, gây thương vong cho một số thường dân.
Từ chiều ngày 28 tháng Tư, Tổng thống Trần Văn Hương [10] đã yêu cầu Quốc hội cho phép ông trao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh để thực hiện việc hòa giải với Cộng sản. Sau đó ông Minh nhận chức Tổng thống và kêu gọi hòa giải, ngưng bắn với MTGPMN, đồng thời ông cũng kêu gọi QLVNCH bảo vệ phần đất còn lại cho đến khi có lệnh ngưng bắn thì nghiêm chỉnh thi hành lệnh này. Ông Minh đã cử Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng tham mưu trưởng QLVNCH, thay thế cho Trung tướng Đồng Văn Khuyên ra đi, rồi lại cử Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh là nội tuyến Cộng sản. phụ tá của Trung tướng Vĩnh Lộc, làm Tổng tham mưu trưởng, thay thế Tướng Vĩnh Lộc từ chức. Ông Dương Văn Minh đã cử ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ Tướng, đồng thời nhờ Thượng tọa Thích Trí Quang ngầm liên lạc với MTGPMN để xin hòa giải song không thành công.


Chú thích:
[1] Ngày 14-4- 1975, Cộng sản Bắc Việt tiến chiếm quần đảo Trường Sa của VNCH. Đến ngày 14-3-1988, Trung Cộng chiếm 7 đảo và bãi đá ngầm tại Trường Sa, đánh đắm 3 tàu Cộng sản Việt Nam làm 74 thủy thủ mất tích. Cuộc đọ súng giữa đôi bên xẩy ra thật ngắn ngủi và không thấy nói sự thiệt hại của Trung Cộng. So sánh hai trận hải chiến trên để thấy rõ tinh thần yêu nước và chiến đấu cao cả của Hải quân VNCH chống quân Trung Cộng xâm lược.
[2] Tổng Tập Hồi Ký của Võ Nguyên Giáp, Xb 2006, tr. 1230,
[3] Theo các tài liệu đã phổ biến của cựu Đại tướng Cao Văn Viên, nguyên Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH.
[4] Theo truyện Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tr. 241. Số đồ cổ gồm 14 thùng bị mất nhiều vào tay cán bộ CS sau 30-4-1975.
[5] Theo Văn Tiến Dũng kể trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, trang 209, thì trung úy Nguyễn Thành Trung là con một cán bộ huyện úy ở Bến Tre đã bị ta bắn hạ, vào Không quân nằm vùng để chờ cơ hội làm nội tuyến cho Việt Cộng.
[6] Trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, xb 1976, tr. 204, tướng Văn Tiến Dũng, tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh thú nhận:
“Trận chiến đấu Xuân Lộc ngay từ những ngày đầu trở nên gay go, ác liệt. Các sư đoàn 6,7, 341 của ta đã phải tổ chức tiến công nhiều lần vào thị xã, đánh đi đánh lại diệt từng mục tiêu và phải nhiều lần đẩy lui các cuộc phản kích của địch. Xe tăng, xe bọc thép của ta một số bị hỏng. Kế hoạch tiến công Xuân Lộc của Quân đoàn 4 lúc đầu chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch. Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh này không phải chỉ trong phạm vi của Xuân Lộc- Long Khánh nữa rồi”.
[7] Ông Nguyễn văn Thiệu sau qua Anh rồi qua Mỹ cư ngụ và mất ngày 29/09/2001 tại Boston, MA, hưởng thọ 78 tuổi.
[8] Có hai tài liệu của Cộng sản nói về trận Nước Trong: 1. Trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân, Xb 1976, tr. 267, tướng Văn Tiến Dũng kể: “ Chúng ngoan cố chống cự và phản kích suốt cả ngày 27. Ta tổ chức liên tiếp nhiều đợt tiến công nhưng chưa giải quyết được. Quân ta vừa đánh lại quân địch trên mặt đất, vừa phải đánh trả máy bay địch lồng lộn trên không oanh tạc bừa bãi. 2. Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh ra ngày 29 tháng Tư năm 2000 thuật lại lời nói của trung tá CSBV Bùi Văn Tùng, nguyên chính ủy lữ đoàn 203 thiết giáp thuộc quân đoàn 2 từ Bắc Giang vào tham dự trận đánh, thì đã có 500 cộng quân bị hạ và một đại đội xe tăng Cộng sản bị phá hủy.
Các con số này chắc chắn còn cao hơn vì Cộng sản không khi nào nói thật số thiệt hại của mình (chú thích của tác giả).
[9] Cựu Đại tướng Cao Văn Viên mất ngày 22/1/2008 tại Fairfax, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 87 tuổi.
[10] Cụ Trần Văn Hương ở lại Việt Nam, từ chối quyền công dân cộng sản và mất ngày 27-1-1982 tại Saigon, hưởng thọ 80 tuổi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.12.2021 17:32:37 bởi Thanh Vân>
Cũng chiều ngày 28 tháng Tư, lúc 15 giờ 40 phút, 5 chiếc khu trục A37 do viên phi công phản bội Nguyễn Thành Trung hướng dẫn đã cất cánh từ phi trường Thành Sơn, Phan Rang tới oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, phá hủy một số máy bay của ta đậu tại đây và máy bay Mỹ di tản người tị nạn. 5 chiếc A37 kể trên do cộng quân chiếm được của ta sau khi chúng tấn chiếm thị trấn Phan Rang.
Ngày 29 tháng Tư, ông Dương Văn Minh đã cử luật Sư Trần Ngọc Liễng, linh mục Chân Tín và giáo Sư Châu Tâm Luân thuộc thành phần thứ ba (trung lập) vào trại David trong sân bay Tân Sơn Nhất, gặp phó trưởng đoàn Cộng sản là đại tá Võ Đông Giang [11] để thương lượng hoà bình và tránh cuộc tấn công vào Saigon gây đổ máu cho dân chúng, nhưng phái đoàn đã thất bại. Hôm sau 30 tháng Tư, khi Cộng quân tràn vào Saigon, phái đoàn này mới được Cộng sản cho ra về
Cũng ngày 29 tháng Tư, các cánh quân thuộc quân đoàn 4 CS tiến từ Quốc lộ 1 về Trảng Bom, Long Bình, Biên Hòa đã bị các lực lượng ta chặn đánh và ngăn cản, xe tăng địch bị khựng lại bởi hệ thống hào chống tăng.
Chiến sự bỗng trở nên ác liệt khi địch tấn công vào sân bay Biên Hòa và Bộ tư lệnh Quân đoàn 3. Ở các vị trí trên, cộng quân đã bị các lực lượng ta chống trả, với sự yểm trợ của phi cơ từ căn cứ Tân Sơn Nhất chặn đánh, gây cho địch nhiều thương vong. Ở cầu Rạch Chiếc, Rạch Cú, Đồng Nai và cầu xa lộ Saigon, địch cũng đã bị chặn lại; phải đánh đi đánh lại nhiều lần mới vượt qua được. Lúc ấy Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh không cho Tướng Lê Minh Đảo phá cầu để xe tăng CS có thể tiến vào Saigon. [12] Hạnh lại không cho mở kho súng chống tăng bằng điện tử (TOW) để bó tay quân đội, nhưng ông đã không cản được ý chí quyết tâm chiến đấu của các chiến sĩ ta.
  Trong khi đó các trận đánh ở ven đô vẫn tiếp diễn ác liệt trong ngày 29 tháng Tư. Các Sư đoàn còn lại của ta gồm: Sư đoàn 25 Bộ binh ở Đồng Dù đã giao chiến với quân đoàn 3 CS, Sư đoàn 5 Bộ binh ở Lái Thiêu đã giao chiến với quân đoàn1 CS và Sư đoàn 22 Bộ binh ở Long An đã chống trả quân đoàn 232 CS. Trung tâm huấn luyện Quang Trung đã ra cản địch, trong khi đó Lữ đoàn 4 Dù đánh chặn mũi tiến công của địch vào xa lộ trước cửa ngõ Hàng Xanh.
Sáng 29 tháng Tư, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tuyên bố trên đài phát thanh Saigon là cơ quan Cố vấn quân sự Mỹ trong phi trường Tân Sơn Nhất phải rời khỏi nơi đây trong vòng 24 tiếng [13]
Trưa ngày 29 tháng Tư, Tổng thống Ford ra lệnh cho các máy bay trực thăng bắt đầu cuộc di tản những người Mỹ còn lại và những người làm việc cho Mỹ cùng gia đình ra hạm đội ở ngoài khơi. Làn sóng người bỏ nước ra đi đã khởi sự từ mấy ngày trước vì họ thấy tình hình rất bấp bênh và lo sợ cuộc tắm máu của Cộng sản khi Saigon bị tấn công. Họ ra đi bằng mọi phương tiện: tàu, thuyền, máy bay, bỏ lại cả tài sản, sự nghiệp đã gây dựng từ bao lâu nay.
Một số tướng lãnh bỏ đơn vị ra đi trong khi quân đội còn chiến đấu đã gây xôn xao, bất bình trong dư luận. Tướng Nguyễn Cao Kỳ hô hào tử thủ Saigon cũng bỏ đi cùng các tướng Ngô Quang Trưởng [14], Vĩnh Lộc, Trần Văn Trung. Vài cao ốc và sân thượng tòa Đại sứ Mỹ ở đường Thống Nhất đã trở thành bãi đáp cho trực thăng chở nhân viên làm việc cho Mỹ đi tị nạn. Cảnh chen lấn đã xẩy ra ở các nơi máy bay bốc người đi.
Sáng ngày 30 tháng Tư, Đại sứ Martin là người Mỹ di tản vào giờ chót, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam trong 20 năm.
Buổi sáng hôm đó cơn nóng nực làm đầu óc Bình căng thẳng. Nắng tháng Tư đổ xuống đường hầm hập. Tuy biết mình đang bị cuốn vào một cơn lốc, một tình thế tuyệt vọng, chàng vẫn lái chiếc xe lambretta đến Trung tâm xem tình hình ra sao. Các sĩ quan đến đây trong chốc lát rồi lặng lẽ rút lui, trong đó có Đại tá Tôn Thất Hùng, người đã vượt thoát trong trận đánh ở Tân Cảnh, sau viết cuốn hồi ký Người về Từ Tân Cảnh, Đại tá Hiệu và Đại tá Quý mới lên lon được 1 tháng, Đại tá Cả, Chuẩn tướng Trực, Trung tâm phó. Riêng Trung tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn an ninh và là Trung tâm trưởng đã ra ngoại quốc.
Trong bàn giấy của Bình còn tập bản thảo ghi những sự kiện vi phạm của Cộng sản trong các lãnh vực trao trả tù binh VNCH và lấn đất giành dân ở khắp nơi. Sự kiện cuối cùng: Cộng sản xâm chiếm miền Nam chưa kịp ghi vì cộng quân đang tấn công ồ ạt vào thủ đô Saigon.
Trước lúc bình minh ngày 30 tháng Tư 1975, các trận đánh ác liệt cuối cùng đã diễn ra từ các ngả dẫn vào thành phố. Ở cầu Bình Phước, Thủ Đức, cộng quân đã bị lực lượng trường Sĩ quan Thủ Đức và Lữ đoàn 3 Thiết Giáp chặn đánh. Những thanh niên Ưu tú sắp trở thành sĩ quan, những chiến binh thiết kỵ già dặn trong binh nghiệp đã anh dũng chiến đấu chống bộ đội CS trước khi họ phải giã từ vũ khí.
Từ sáng sớm, Cộng quân pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, song một số máy bay đã cất cánh di tản qua Thái Lan, ra hạm đội 7 của Mỹ và về Cần Thơ. Tại ngã tư Bẩy Hiền, ngã ba Ông Tạ, Thị Nghè, Lữ đoàn 3 Dù, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, Bộ binh, Thiết giáp, Thủy quân lục chiến đã chặn đánh các cánh quân thuộc quân đoàn 1 và 3 CSBV. Các tay súng và xe thiết giáp đã bắn cháy 6 xe tăng T 54 của cộng quân ngoài cổng sân bay Tân Sơn Nhất, ngăn không cho địch vào Bộ Tổng tham mưu. Lúc địch vào sân bay, các chiến sĩ và phi cơ ta từ căn cứ Trà Nóc, Cần Thơ bay lên đã tấn công vào đội hình địch, gây cho chúng nhiều tổn thất.
Tại Phú Lâm và trường đua Phú Thọ, các chiến sĩ Biệt động quân đã ngoan cường chống trả các cánh quân của quân đoàn 2 và quân đoàn 4 CS. Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô vẫn liên lạc với các cánh quân ta và điều động cuộc chiến; tuy không còn liên lạc hay nhận được lệnh gì từ Bộ Tổng tham mưu.
Trong khi đó tại Vùng 4, các sư đoàn 7, 9 và 21 Bộ binh đang giao chiến với các sư đoàn 4 và 8 cộng quân. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 vẫn cố thủ tại Cần Thơ cùng Bộ tham mưu và các đơn vị dưới quyền. Ông đã nghiêm khắc ra lệnh cho các sĩ quan tỉnh trưởng, chỉ huy trưởng không ai được tự ý rời bỏ nhiệm sở để làm gương cho thuộc cấp.
Tại Bộ Tổng tham mưu trong buổi sáng ngày 30 tháng Tư, viên tướng Pháp Vanuxem, người đã từng chiến đấu với Việt Minh trước năm 1954 tại Bắc Việt, bỗng xuất hiện với mưu tính cứu vãn tình thế. Vanuxem cũng thân đến dinh Độc Lập, nơi nội các Dương Văn Minh đang họp để hiến kế nhưng việc ông làm như công dã tràng.
Trong cảnh hỗn mang, người dân Saigon, kể cả một số quân nhân vẫn ra các bến xe đò và bến tàu tìm đường chạy về các tỉnh hoặc ra nước ngoài.
Rồi những chiếc xe tăng T.54 và bộ đội cộng sản trong bộ quân phục mầu xanh lá cây, đầu đội mũ cối xanh tiến vào dinh Độc Lập. Chiếc cổng sắt chính đã bị xe tăng húc đổ để xe chạy vào bên trong khuôn viên. Điều đáng chú ý là không thấy người dân ở ngoài đường hoan hô bộ đội cộng sản. Tâm tư họ đang nặng trĩu mối lo sợ Cộng sản trả thù, mất công ăn việc làm thường ngày, thất thoát tài sản trong lúc hỗn quân hỗn quan và khó kiếm đâu ra gạo, sữa cho người già lẫn trẻ em cầm hơi.
Lúc 10 giờ 30 phút sáng 30 tháng Tư, qua làn sóng điện của đài phát thanh quốc gia, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội buông vũ khí và các cấp chính quyền bàn giao nhiệm sở cho Mặt trận Giải phóng đến tiếp thu.[15] Theo tường thuật của các đơn vị tham gia các trận đánh tại Saigon ngày 30 tháng Tư, 1975, số tổn thất sơ khởi của phía cộng quân như sau:
1000 cộng quân bị hạ.
30 chiến xa và xe bọc thép bị bắn cháy.
30 quân xa bị thiêu hủy.
11 giờ trưa ngày 30 tháng Tư, Bình ra đứng đầu hẻm số7 đường Nguyễn Trãi quan sát tình hình: xung quanh ngã Sáu Saigon, dân chúng chạy ngược xuôi kiếm thực phẩm tích trữ.
Ông Dương Văn Minh được Cộng sản cho qua Pháp cư ngụ năm 1983. Sau đó ông qua Mỹ cư trú và mất ngày 5/8/2001 tại Pasadena, CA, hưởng thọ 85 tuổi.
Dòng người đi xe gắn máy chạy xen với những chiếc xe tải chở toán quân giải phóng đội mũ tai bèo đi giữ an ninh ngoài đường phố. Saigon lúc này trông thật ảo não và đau xót; cái đau xót của mất mát, tan hoang đang ngấm sâu vào tâm can chàng. Ngày xưa, người dân Việt chắc cũng cảm thấy nỗi đau xót như thế này khi đất nước bị rơi vào tay ngoại bang, tài sản bị chiếm đoạt và thân phận người dân bị đọa đầy. Nỗi đau xót của người dân ngày nay còn lớn hơn vạn lần vì Cộng sản Việt Nam đem chủ nghĩa Mác xít thống trị miền Nam sau một phần tư thế kỷ dân chúng được sống trong tự do và dân chủ.
12 giờ trưa, Bình ở trong nhà đóng cửa lại vì nghe tiếng súng nổ bên phía đường Lê Lai vọng lại. Ngọc và bảy đứa con nàng, đứa con gái út mới 1 tuổi ở trong nhà không dám hé cửa ngó ra ngoài sợ đạn lạc. Tự nhiên chàng cảm thấy ân hận vì đã không liều đem gia đình đi di tản dằng đường thủy trong mấy ngày vừa qua, trong lúc dân chúng Saigon vẫn nhốn nháo đổ ra bến Bạch Đằng và Tân Cảng đi tàu để lánh nạn Cộng sản.
Chàng sợ con đông, có đứa còn quá nhỏ, e không chịu nổi cảnh cơ cực trên đường đi vượt biên nên đã bỏ lỡ cơ hội. Ông trung tá ở xế cửa nhà chàng, làm ngành tiếp vận, đã cho vợ con di chuyển bằng chuyến bay tiếp vận của Mỹ, sáng hôm nay ông và người nhà chạy ra Tân cảng đi nốt. Còn ông bạn trung tá ở đường Lê Lai chiều hôm qua mượn xe và tài xế của chàng đi hỏi tàu hải quân cho cả hai gia đình đi tị nạn, sau đó ông đi mất tự lúc nào, để chàng cứ ngóng đợi ở nhà. Cảnh này cho thấy mạnh ai nấy chạy, buồn là ở chỗ đó!
Lúc 1 giờ chiều ngày 30 tháng Tư, chàng mở cửa thấy có mấy đứa trẻ bu trước căn nhà đầu hẻm bàn tán nhỏ to. Hỏi ra mới biết ông Trung tá Trúc làm ở Bộ Chiêu Hồi đã tự sát cùng vợ và đứa con gái nuôi hơn một tuổi. Chàng cảm thấy đau buồn trước cảnh ngộ của anh chị Trúc và cháu bé. Lúc 11 giờ sáng chàng còn thấy anh Trúc ra đầu hẻm quan sát phố phường với vẻ bình thản, không hề có dấu hiệu sa sút tinh thần. Chàng nghĩ nếu như không có cái ngày đen tối thê thảm này thì vợ chồng anh Trúc vẫn sống những ngày hạnh phúc êm đềm và kín đáo ở trong hẻm với đứa con gái xinh đẹp. Con hẻm này là khu cư xá quân đội, chỉ có mấy gia đình sĩ quan làm việc cho các Phủ, Bộ trung ương nên rất thân thiết với nhau.
Cái chết của Trung tá Trúc còn gây bàng hoàng cho chàng thì hôm sau chàng và Ngọc lại nhận được hung tin: Trung tá Đặng Sĩ Vĩnh, làm việc tại Bộ Tư lệnh cảnh sát Quốc gia đã dùng súng lục tự sát cùng với vợ và 7 người con gồm 2 trai, 5 gái tại nhà riêng khu Ông Tạ vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư. Ông Vĩnh là chú rể của Ngọc. Sau đó thân nhân đã lo việc mai táng gia đình ông Vĩnh tại nghĩa trang Chí Hòa [16].
Mấy ngày sau, tin tức các vị tướng lãnh VNCH, tư lệnh các đại đơn vị đã anh dũng tuẫn tiết trong ngày mất nước 30 tháng Tư 1975 và các ngày sau đó khiến Bình kính phục tận đáy lòng:
- Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.
- Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh.
- Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 và Vùng 2 chiến thuật.
- Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật.
- Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật.
Riêng Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh trưởng Chương Thiện đã ra lệnh cho các đơn vị trực thuộc chống trả cộng quân đến ngày 4 tháng Năm 1975, khi hết đạn dược mới chịu buông súng đầu hàng. [17] Còn nhiều tấm gương hy sinh tuẫn tiết khác của các chiến sĩ thuộc các Quân, Binh chủng mà vì thiếu thông tin liên lạc nên ít người được biết. Có những quân nhân VNCH bị Cộng sản giết hại tại các tỉnh, các vùng xa cũng không được nhắc tới.
Sau đây là con số tổn thất về nhân mạng mà cả hai phía đã nêu trên báo chí sau 20 năm chiến tranh, từ 1955 đến 1975:
Phía Cộng sản đã có 1 triệu bộ đội và dân công tử vong, theo sự tiết lộ của tướng Võ Nguyên Giáp với nữ ký giả Cộng sản Ý Fallaci ở Hà Nội năm 1974. Ngoài ra còn 200.000 cán binh cộng sản đã ra hồi chánh với chính phủ VNCH.
 Về số tổn thất trong tháng Tư 1975, mãi về sau mới thấy Cộng sản cho loan trên báo chí con số 5000 bộ đội tử trận tại miền Nam. Các con số về thương vong của phía Cộng sản còn cao hơn gấp bội.
Phía VNCH bị tổn thất 250.000 chiến sĩ, chưa kể số thương phế binh, thường dân và viên chức các ngành, cán bộ xã ấp đã bị thương vong trước và sau ngày 30 tháng Tư 1975, trong đó có 4000 người tại Huế đã bị Cộng sản giết trong các mồ tập thể Tết Mậu Thân 1968. Riêng con số quân nhân hy sinh do Bộ Tổng tham mưu QLVNCH phổ biến trước khi kết thúc cuộc chiến.
Phía Hoa Kỳ có 58.256 chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. Ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn có bức tường đá hoa cương ghi tên từng chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến cao cả này.
Ngoài ra phải kể hàng trăm ngàn người Việt đã phải bỏ mình trong các cuộc vượt biên trên bộ và trên biển, hàng chục ngàn quân, cán, chính đã phải chết trong các trại lao tù Cộng sản và sau khi được thả ra vì chế độ giam giữ kham khổ kéo dài trong nhiều năm, bệnh hoạn đã không được cứu chữa.

Chú thích
[11] Trưởng đoàn Cộng sản là tướng Trần Văn Trà đã được rút ra ngoài mấy tháng trước để tham gia chỉ huy các trận đánh vào phía Nam và Saigon.(Tác giả chú thích)
[12] Theo các tài liệu CS và của VNCH: Hạnh quê ở Mỹ Tho, được Việt Cộng móc nối nên thường xuyên tránh né các mục tiêu VC mỗi lần có cuộc hành quân. Năm 1968, khi làm Chỉ huy trưởng Biệt khu 44, (Châu Đốc, Kiến Tường, Kiến Phong) Hạnh đã để VC lẩn trốn trong vùng mà không truy quét. Sau Chuẩn tướng Phạm Văn Phú thay Hạnh, dẹp được nhiều mục tiêu VC. Bị An ninh quân đội nghi là thân Cộng nên Hạnh bị Tướng Thiệu cho về hưu tháng 4-1974.
[13] Theo lời kể của cựu Đại tá Phạm Bá Hoa, nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận, nguyên do việc đuổi Mỹ ra khỏi Saigon như sau: “ Trong bữa ăn tại nhà cựu Đại tá Nguyễn Linh Chiêu vào giữa tháng 11,  1991 tại Orange  County, nam California, Đại tá Chiêu kể lại với bạn hữu là nhân chuyến ông sang Paris đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương Văn Minh và cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, đều là bạn thâm giao của ông dung cơm. Đại tá Chiêu có hỏi ông Minh tại sao mới nhận chức tổng thống mà lại ra lệnh đuổi Mỹ thì ông Minh trả lởi là bản văn đuổi Mỹ do Đại sứ Mỹ Graham Martin đưa cho ông và yêu cầu phổ biến.’’(Theo báo Saigon Nhỏ số 649 ra ngày 30/4/2004).
[14] Cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng mất ngày 22/1/2007 tại Washington DC, Hoa Kỳ, hưởng thọ 78 tuổi.
[15] Theo các báo Cộng sản và báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh ra ngày 28 tháng Tư năm 2000, thì sự việc ông Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng Cộng sản diễn tiến như sau: “ Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy lữ đoàn tăng 203 thuộc quân đoàn 2 đã thảo bản văn cho Tổng Thống Dương Văn Minh đọc trên đài Saigon lúc 10 giờ 30 ngày 30 tháng Tư năm 1975; kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng, giải tán các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương và bàn giao lại cho Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Bùi Văn Tùng đã chấp nhận sự đầu hàng của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh ngay lúc ấy”.
[16] Mấy năm sau 9 bộ hài cốt gia đình ông Vĩnh được thân nhân lo hỏa táng rồi đưa về an nghỉ trong ngôi bảo tháp của chùa Vĩnh Nghiêm, Saigon.
[17] Tháng 6-1975, Cộng sản xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân banh Cần Thơ. Ông chỉ yêu cầu được phủ lá quốc kỳ VNCH lên người để tỏ lòng trung thành với Chính nghĩa Quốc gia mà ông đã hết lòng phục vụ.  
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương Mười Hai
 
Đổi đời và tù đầy
 
 
Người đầu tiên đến chiếm nhà ông trung tá ở xế cửa nhà Bình là một cán bộ tên Hưng, người Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954, vừa đem theo gia đình vào đây. Gốc bộ đội giải ngũ, ông hành nghề đông y. Bà vợ người Bắc tên Hòa, mập ú, nói năng có vẻ lanh lợi. Và cô con gái tên Hà, chưa có chồng. Khi vào đây, mỗi người chỉ mang theo chiếc va ly cũ đựng quần áo.
Thoạt nhìn căn nhà được cấp không có vẻ bề thế, nguy nga, bà Hòa chép miệng nói với chồng:
-Nhà thế này mà ông cũng nhận! Ông dễ tính quá. Hai chục năm tuổi đảng mà được cấp nhà cấp bốn.
Ông Hưng bảo:
- Thôi ở tạm. Rồi sẽ tính sau.
- Sao ông không lên ủy ban xin đổi nhà khác.
- Bà để tôi lo từ từ. Nhiều cán bộ còn chưa có nhà ở. Tôi quen mấy ảnh cấp nhà trên thành phố nên họ cho liền. Ở đây là trung tâm thành phố, đi đâu cũng tiện, bà còn đòi gì?
- Tôi cứ nghĩ nhà ở Saigon đẹp, ai ngờ lại xoàng xĩnh thế này. Thế mà lúc trước sĩ quan ngụy cũng ở đây à? Họ có nhiều tiền của lắm mà.
- Bà vẽ chuyện. Trước kia mình ở nhà tập thể thì sao?
- Trước khác. Bây giờ khác.
Ông Hưng lặng thinh trước vẻ mặt kênh kiệu của vợ.
Căn nhà này khi trước còn là nơi mấy bà vợ sĩ quan: vợ ông phi công vận tải, vợ ông quận trưởng quận Tư, vợ ông chủ nhà làm ở ngành tiếp vận và vợ ông làm cơ quan động viên tụ họp lại đánh bài vào lúc các ông chồng đi làm vắng để tiêu khiển. Ngọc ở gần, được mấy bà mời tham gia cuộc vui nhưng nàng bận chăm con cái nên từ chối. Nay thì nó đượm vẻ quạnh hiu với người chủ mới tới.
Sẵn nhà cửa, tiện nghi và một ít đồ đạc còn bỏ lại, họ chỉ việc vào ở, vậy mà vẫn chưa vừa lòng. Trong thành phố, nhiều nhà lớn, nhỏ bỏ không mà vắng chủ đã có đạo quân đông đảo cán bộ các ngành từ Bắc vào chiếm ngụ hết.
Được ít lâu, ông Hòa hay vắng nhà. Bà vợ có lần hạch hỏi ông ta:
- Ông đi đâu vậy?
- Tôi bận việc cơ quan.
- Cơ quan ông chữa bệnh đông y, có khỉ gió mà bận?
- Bà không hiểu. Cơ quan mới biên chế, cái gì tôi cũng phải lo. Tôi là viện trưởng mà.
- Ai chả biết thế. Thế nhân viên không đứa nào lo cho ông à?
- Không tin, bữa nào bà bảo con Hà đưa bà tới viện đông y mà coi.
- Tôi tới chi làm bận mắt ông thêm, chả được tích sự gì. Ở ngoài đó ông cứ ru rú trong nhà. Thế mà vào đây ông lại giở chứng, bỏ nhà đi hoang!
- Bà hay lắm chuyện. Ở đây tai vách mạch rừng, bà hãy cẩn thận đấy.
Bà Hòa nguýt ông chồng, giọng đay nghiến: -Ông sợ thì có. Tôi đâu có sợ ai.
Hồi ở ngoài Bắc trong những năm tháng chiến tranh, kinh tế bao cấp, hai vợ chồng được cấp căn phòng nhỏ trong khu tập thể, cuộc sống thiếu thốn, lương chồng ít ỏi, bà Hòa phải đi bán rau muống, đậu hũ ở ô Chợ Dừa để nuôi chồng con. Lúc ấy người Hà Nội sống bằng chế độ tem phiếu, thực phẩm nhỏ giọt, tiền kiếm không ra.
Biết thân phận mình, ông chồng miền Nam sống hiền hòa, ít giao du với ai, ngoài giờ đi làm, đi họp tổ dân phố, họp cơ quan lu bù, ông lại về hú hí với vợ. Trong tổ thấy vợ chồng hòa thuận nên cứ khen bà Hòa tốt số lấy được ông chồng tập kết. Phường đã đánh giá gia đình bà vào loại gia đình văn hóa, tặng bằng khen cho bà treo ở giữa nhà. Bà có vẻ hãnh diện với tổ lắm.
Hà được ông bố vận động với quận ủy, chỗ quen thuộc, cho vào làm trưởng phòng thuế quận Một, chẳng có chuyên môn gì cả. Lúc mới vào đây trông cô gầy gò, nước da xanh mét, tóc kẹp sau lưng, nay da dẻ hồng hào, tóc uốn, quần áo hở hang, đi giầy mũi nhọn, trông đẹp hẳn ra.
Danh từ đổi đời bắt đầu được loan truyền trong hàng ngũ cán bộ và nhân dân từ Bắc vào tiếp thu miền Nam. Mà đổi đời thật. Từ thắt lưng buộc bụng đến no cơm ấm cật, nhà cửa khang trang, tiền bạc đầy két, lên xe xuống ngựa. Sướng hết chỗ nói. Các cụ nói đúng: no cơm dửng mỡ!
Bình còn nhớ các thây ma bội thực ở nghĩa địa của quân Tàu ốm đói sang tước khí giới quân Nhật ở miền Bắc vào tháng Chín năm 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh. Hình ảnh đó có liên quan đến những cáo phó của nhiều cán bộ chết trẻ đăng trên tờ Saigon Giải Phóng.
Người miền Nam, trái lại; đổi giầu thành nghèo, sướng thành khổ, tự do thành tù đầy, chết trên cạn, trên biển, như từ trên cao rớt xuống hố thẳm.
Từ khi gặp lại bà Huệ, người tình của 21 năm về trước mà ông Hưng đã phải từ giã để ra Bắc, ông cứ nói dối vợ là bận việc cơ quan. Bà Huệ có tiệm may ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, gần viện đông y, có chồng đang ở tù vì móc nối người vượt biên để kiếm chác bị vỡ lở. Gặp lại ông Hưng vào đúng lúc bà cần có tay trong để lo lót với công an giúp chồng được ra tù, bà thấy hồ hởi vô cùng. Bà than thở, chiều đãi ông Hưng đủ thứ mong chắp nối mối duyên xưa đã bị quên lãng.
Một hôm bà Hòa sốt ruột đến cơ quan tìm ông Hưng, bất chợt thấy ông từ tiệm may của bà Huệ đi ra, bà túm lấy ông hỏi:
- Ông đừng chối nhé. Tôi bắt quả tang ông ở nhà con đĩ ngựa này ra. Thế mà ông cứ nói dối quanh với tôi là bận việc ở cơ quan. Bận gì đâu? Ông trốn việc chui vào cái ổ này hoài.
Ông Hưng ngượng tím mặt với vợ và người đi đường đứng lại coi. Ông vươn cổ cãi:
- Tôi vào may bộ quần áo. Bà làm gì vậy.
- Thế thì ông vào đây. Vào đây tôi hỏi ba mặt một nhời.
Vừa nói, bà ta vừa lôi tay ông chồng vào tiệm may. Thấy bà Hòa dữ dằn quá, ở trong tiệm bà Huệ vội lẻn ra cổng sau chuồn mất, để lại cô con gái trông coi cửa hàng.
Bà Hòa cau có hỏi cô gái:
- Có phải ông này may quần áo ở đây không?
-Con không rõ.
- Thế mẹ mày đâu?
- Má con đi công chuyện.
Bà ta trừng mắt nhìn cô gái rồi bảo ông chồng:
 -Thôi được, ông về nhà để cho tôi nói chuyện.
 Ông Hưng dịu giọng:
- Bà muốn gì thì để đến chiều. Bây gờ tôi phải đi làm. Trễ rồi.
- Được. Ông cứ đi làm.
Chiều hôm ấy, ông Hưng về muộn. Khi mới thấy mặt ông, bà Hòa cầm trong tay tấm thẻ đảng của ông, nói lớn:
- Tôi xé tấm thẻ này cho ông coi. Ông đâu còn xứng đáng là đảng viên đảng Cộng sản nữa.
Ông Hưng tái cả mặt, vội ôm chầm lấy vợ, cố giằng tấm thẻ đảng. Bị mất đà, ông ta té xuống nền gạch hoa làm vợ té theo, đè lên người ông. Ông bị dập đầu, máu chảy bên thái dương.
Hàng xóm thấy lộn xộn ở nhà ông bà cán bộ nhưng không ai dám vào can thiệp. Lúc ấy Hà vừa đi làm về, thấy bố chảy máu đầu, vội la lên:
 -Bố làm sao thế này?
Bà Hòa lôi ông chồng dậy, cuống cuồng bảo Hà:
-Mày gọi cấp cứu chở bố mày vào bệnh viện ngay. Tao với ông ấy vừa cãi nhau vì ông ấy bỏ nhà đi theo con đĩ Huệ.
Hà nhìn ông bố, buồn rầu nói:
- Khổ quá. Bố mẹ cứ thế này thì chịu sao nổi.
Rồi nàng gọi điện thoại cho bệnh viện Saigon xin xe cấp cứu. Chợt ông Hưng gượng đứng dậy. Hà hỏi:
- Bố có sao không?
Ông bố than thở:
- Ê ẩm cả đầu.
- Để con lấy băng dán vết thương.
Vừa lúc ấy xe cứu thương tới trước cửa nhà. Anh y tá chả quen mặt ông Hưng, vội dìu ông ra xe. Anh ta nói với Hà:
- Đây là ông thầy chữa bệnh trĩ cho tôi. Chữa trĩ ở bệnh viện mãi không khỏi, tôi phải chạy đến ông.
- Vậy à. Nhờ anh đưa ông đi gấp.
Xe cấp cứu đi khỏi, Hà lấy xe máy chở mẹ vào bệnh viện. Hàng xóm xúm đông trong hẻm, xì xào bảo nhau:
- Lại chuyện ghen tương vợ lớn vợ bé. Thật dửng mỡ.
- Thế vợ bé đâu?
- Nào ai biết. Ông này giấu vợ bé, sức mấy đem về đây cho bà lớn xé tan xác!
- Mẹ kiếp. Từ hồi nào hẻm này đâu có chuyện ghen tương như thế này.
Có tiếng cười khúc khích lẫn tiếng thở dài của người dân trong hẻm đang phải chạy đôn đáo lo cái ăn từng ngày.
Hôm qua ở đầu hẻm, bà bán cháo heo đã bỏ thuốc rầy diệt chuột vào nồi cháo cho ba con nhỏ ăn, cả bốn mẹ con chết mà chưa ai ngó ngàng tới. Dân trong hẻm đang bảo nhau góp tiền lo ma chay cho mấy mẹ con bà ta. Thật đau xót hết chỗ nói.
Sau khi được băng bó vết thương và chiếu điện, ông Hưng chỉ bị thương nhẹ, nhưng phải nằm lại bệnh viện một đêm, sáng hôm sau mới về nhà.
Nhìn tấm thẻ đảng chưa bị xé, ông ta cầm bỏ túi rồi bảo vợ:
- Bà mà xé tấm thẻ này thì tôi bỏ bà luôn.
Bà Hòa bật khóc:
- Ông coi cái thẻ này hơn tôi. Tôi đâu ngờ nông nỗi này. Ông thật vô ơn bạc nghĩa. Có mới nới cũ. Mà mới gì cho cam. Nó là thứ rẻ rách ông đã bỏ từ hơn hai chục năm rồi, thế mà ông còn cứ ôm ấp mãi! Đến nước này mẹ con tôi bỏ về Bắc cho mà xem, để ông tha hồ hú hí với vợ bé.
-Tùy bà. Ở hay đi, tôi không cản.
Thế rồi hai vợ chồng xa nhau thật. Bà Hòa về Bắc được ít lâu, lại vào ở với cô con gái. Còn ông chồng thỉnh thoảng về thăm bà, đưa bà mớ tiền tiêu. Ông vẫn đi lại với vợ bé, chẳng quan tâm đến dư luận đàm tiếu. Sau khi ra tù, ông chồng bà Huệ bỏ nhà đi vượt biên, biệt vô âm tín từ đó.
Vắng mặt ông bố đẻ, Hà mang bồ về nhà; anh cán bộ thuế cùng cơ quan. Ngành thuế béo bở nhất vì các khoản thu ngoài sổ sách. Đến lúc nàng có chửa ba tháng, anh chồng mới chịu làm đám cưới. Tiệc tùng ở nhà hàng và ở nhà kéo dài hai hôm. Ông Hưng đem về một tràng pháo đại dài tới ba thước treo trước cửa nhà đốt để mừng đám cưới của cô con gái rượu.
Nghe tiếng pháo nổ đinh tai nhức óc đến nửa giờ mới dứt, ông thợ sơn ở cuối hẻm nói với vợ:
-Thật điếc cả tai. Sao cái hẻm này bây giờ lắm chuyện ồn ào thế nhỉ.
Bà vợ cười bảo:
- Họ đốt tiền để khoe của đấy, ông biết không?
 -Tiền Hồ có khác. Cả thúng tiền mà giá trị chẳng là bao.
Coi bộ ở mãi trong con hẻm này không đẹp mặt vì chuyện nọ chuyện kia, gia đình ông Hưng dọn đi nơi ở mới, còn căn nhà đang ở được cơi lên ba lầu lộng lẫy cho tây ba lô, khách khứa cán bộ đến thuê phòng giải trí để hốt đôla.
Từ vô sản biến thành tư bản đỏ, đó là bản lý lịch mới của ông Hưng. Còn những cán bộ có quyền chức cao hơn thì giàu đến đâu?
 
Trở lại với tình trạng gia đình Bình.
Ngày 14 tháng 6, 1975, Ủy ban quân quản ra thông báo trên đài phát thanh là các sĩ quan chế độ cũ phải tới trình diện các địa điểm được ấn định trong thành phố để tập trung đi học tập cải tạo, mỗi người mang theo một tháng tiền ăn. Nghe lệnh này, Bình nghi ngờ thời gian đi học tập có thể kéo dài vô hạn định, chứ không chỉ một tháng.
Đây lại là cái bẫy để các cựu sĩ quan đến trình diện cho đông với ảo tưởng học cho xong còn về lại với gia đình. Nhớ đến anh bạn đại úy quân đội quốc gia ở lại miền Bắc sau năm 1954 mà phải đi tù 13 năm, chàng mới cho là mình nghĩ đúng.
Ngọc vừa sắp ba lô, vừa ân cần bảo chàng:
- Đây là bộ quần áo đen của anh mặc trong lúc đi học tập.
Nàng đã phải nhờ cô em gái vào chợ Dân Sinh kiếm được bộ quần áo đen cho chàng. Thứ quần áo quê mùa này bây giờ trở nên hiếm hoi và đắt giá vì nhiều người đi học tập cần mua. Còn bộ nhà binh kaki mầu vàng của chàng, nàng phải thuê thợ nhuộm thành mầu đen cho chàng có đủ hai bộ mặc thay đổi.
Chàng dặn:
- Em nhớ bỏ thêm thuốc cảm, sốt rét và kiết lỵ. Ba thứ này cần lắm đấy.
Thế là nàng lại phải đi mua thêm mấy món thuốc tây ở chợ đen bỏ vào ba lô cho chàng. Số tiền bẩy chục ngàn chàng gửi nhà băng Anh, mới rút ra năm chục ngàn để Ngọc tiêu vặt, nay đã gần cạn. Không biết rồi đây sau khi chàng đi tù biền biệt, nàng sẽ phải xoay xở ra sao để nuôi bảy đứa con? Số tiền của chàng còn lại ở nhà băng coi như mất. Nhiều người bị mất những món tiền hàng triệu đồng gửi các nhà băng không kịp rút ra trước ngày 30 tháng Tư, nay về tay Cộng sản vơ vét.
 
Buổi chiều ngày 14 tháng Sáu là buổi chiều buồn thảm nhất đối với Bình, buổi chiều chàng phải từ giã vợ con để dấn thân vào chốn tù đầy mà không biết có ngày trở về đoàn tụ với gia đình không? Đó là buổi chiều tâm tư chàng có lúc nặng trĩu nghìn cân, có lúc thật trống rỗng khó tả.
Cái cảm nghĩ này không chỉ riêng chàng có mà có lẽ nhiều người đồng cảnh ngộ cũng có. Trong hẻm còn lại ba người cùng đi tù với chàng: một ông đại tá ở dinh Gia Long, một ông trung tá bưu điện và một ông thiếu tá truyền tin, như vậy cũng có người có ta. Chiếc lon thiếu tá thâm niên đến bảy năm của chàng đã vĩnh viễn bị chôn vùi trong ngày 30 tháng Tư. Nhiều huy chương, tưởng lục cũng đã trở thành ký ức. Chàng ra đi với cái nhìn lặng lẽ mà cảm động của Ngọc và mấy đứa con gái. Các con chàng cũng đã hiểu vì sao bố lại phải đi tù, phải xa chúng.
Chiếc xích lô chở chàng tới trường trung học Taberd đường Nguyễn Du thì dừng lại. Chàng bước xuống, trả tiền cho bác xích lô rồi xách chiếc ba lô bước vào trong sân trường. Đã có nhiều người tới trình diện, họ đứng ngồi trong sân, đợi vào văn phòng ghi tên và đóng tiền ăn.
 -Này anh kia, tên gì nhỉ. Không được nói chuyện linh tinh ở chỗ này.
Một chị cán bộ ngồi ở bàn giấy cất giọng chua ngoa với một cựu sĩ quan trẻ đang nói chuyện ở góc phòng với vị tuyên úy Phật giáo thuộc đơn vị cũ. Thấy chị ta lên mặt, nhiều người đứng quanh đó chắc cảm thấy khó chịu mà đành lặng thinh. Chỗ này đã là ngưỡng cửa của nhà tù; không còn mảy may tự do cho người đi tù nữa.
Đóng tiền ăn xong, mọi người được dồn vào các phòng học chờ lệnh. Không ai biết sau đây mình sẽ phải làm gì và đi đâu? Cũng chẳng ai chợp được mắt vì thấp thỏm chờ đợi giờ phút ra đi. Chừng ba giờ sáng, tất cả mọi người được lệnh tập trung ở sân trường để lên những chiếc xe tải mầu xanh mang chữ “Giải phóng” của Trung Cộng.
Trời đổ mưa giữa đêm. Sân trường lạnh và ướt. Đoàn xe rời khỏi trường Taberd chạy theo hướng xa lộ Biên Hòa. Phút chốc Saigon lùi dần về phía sau, ánh đèn chỉ còn là những đốm sáng chập chờn qua màn sương.
Hơn một giờ sau, đoàn xe chạy vào trại Long Khánh. Trại này trước do quân đội Mỹ sử dụng, bỏ hoang lâu ngày nên cỏ mọc cao đến nửa thân người. Mỗi căn nhà tôn chứa 2 trung đội tù nhân, có một cán bộ quản giáo bộ đội phụ trách. Mỗi trung đội cử một người A trưởng để trông coi đội mình.
Hai ngày sau các đội bắt đầu đi lao động. Mới 5 giờ sáng tiếng kẻng đã báo thức, xé tan sự im lặng của buổi ban mai. Mỗi người lãnh một chén cơm với mắm, nuốt vội vàng rồi ra sân nhận dụng cụ. 7 giờ các đội đi phát quang, dọn mìn quanh trại, chuẩn bị đất đai trồng hoa mầu. Trưa về nghỉ một tiếng ăn cơm. Chiều 2 giờ lại đi lao động đến 5 giờ. Ngày nào cũng như ngày nào, trừ ngày chủ nhật được nghỉ xả hơi.
Những ngày đầu, Bình cảm thấy khó chịu khi nghe tiếng kẻng khô khan vào buổi sáng sớm, lôi tù nhân bật dậy như cái lò xo để sửa soạn đi lao động, cũng như tiếng kẻng nhốt chuồng vào lúc chập tối, tù nhân nằm sát nhau như cá hộp trên các tấm ván thùng ghép lại. May sao người nào cũng mang theo chiếc mùng cá nhân, không thì muỗi đốt chịu không nổi.
Tiếng kẻng nghe riết thành quen. Nó đã tạo cho chàng cái phản ứng tâm lý tự nhiên như Pavlov, nhà sinh lý học người Nga đã chứng minh phản ứng có điều kiện ở loài vật. Mỗi ngày chỉ có hai lần kẻng, kẻng sớm: ăn sáng và kẻng tối: đi ngủ.
Vài hôm sau có người kêu đau bao tử dữ dội, được quản giáo đưa đi bệnh xá điều trị rồi bặt tin luôn, không thấy quay về đội. Có người đạp phải mìn, bị cưa chân như chân gà bị chặt, đau ráng chịu. Số phận những người bị bệnh hoạn, tai nạn không biết ra sao. Kẻ ra đi vĩnh viễn được anh em bạn tù chôn ở sau trại, mãi sau này gia đình mới nhận được giấy báo tử của trại gửi về.
Nhờ vài trận mưa đổ xuống, những bãi cỏ hoang đã bắt đầu mơn mởn ngô, khoai. Mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của tù nhân đổ ra ròng rã 5 tháng mới có được hình ảnh xanh tươi mát mắt.
Thỉnh thoảng tù được nghỉ 2 ngày để lên lớp nghe tẩy não và làm kiểm điểm bản thân. Đề tài là đế quốc Mỹ: con bạch tuộc có trăm vòi. Quản giáo đội nón cối đứng trên lớp nói như vẹt. Tù cứ lặng thinh, làm bộ nghe mà chẳng nghe tý nào. Bài học thật nhàm chán và ấu trĩ. Về tổ, mỗi người phải làm bản tự kiểm để truy hỏi lẫn nhau. Cũng chỉ là làm theo yêu cầu của quản giáo đấy thôi. Đã là kẻ ngã ngựa thì ai cũng như ai.
Chiều chiều Bình gặp nhà văn Văn Quang ra sân ngắm mây gió. Có vài văn nghệ sĩ quân đội chàng quen mặt ở tản mác trong các đội, thỉnh thoảng mới gặp nhau trong lúc đi lao động.
 
Cuối năm 1975 có lệnh chuyển trại về Suối Máu, Biên Hòa. Rời đất Long Khánh hiền hòa theo đoàn xe vận tải “ Giải phóng” của Trung Cộng, có người còn nhớ chỉ 6, 7 tháng trước tại đất Long Khánh đã diễn ra cuộc giao chiến thần sầu quỷ khốc giữa quân ta và quân Cộng sản Bắc Việt trong 11 ngày đêm, từ ngày 9 đến ngày 19 tháng Tư năm 1975. Quân đoàn 4 Cộng sản Bắc Việt gồm 3 Sư đoàn chính quy 6,7, 341, được tăng cường một số đơn vị của Quân khu 7, xe tăng, pháo 130 ly đã phải nếm mùi cay đắng khi đụng đầu với thành đồng vách sắt của Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 1 Dù, Lữ đoàn 3 Thiết giáp, Biệt động quân và Địa phương quân thuộc Tiểu khu Long Khánh. Tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh lực lượng Cộng quân đã phải gờm Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh và lực lượng tử thủ Long Khánh-Xuân Lộc.
Đến với Long Khánh bằng hình ảnh những vạt rừng cao su bạt ngàn, những thửa vườn chôm chôm chín mọng của người dân vùng đất đỏ. Giã từ Long Khánh với ký ức trận đánh Xuân Lộc hào hùng năm 1975. Đó là những kỷ niệm in sâu vào tâm khảm Bình trong những ngày đầu đi tù.
Đất đỏ hiền khô mà hãnh diện,
Muốn đời Xuân Lộc vẫn mầu xanh.
Tết đầu tiên ở Suối Máu đến với chàng thật tẻ nhạt và buồn bã. Đó là cái Tết nhớ nhà ghê gớm, dù Saigon vẫn chưa xa xôi lắm, khoảng 30 cây số chim bay. Ban ngày người dân Saigon vẫn đi lại trên con đường lên Biên Hòa, gần chỗ tù lao động; ban đêm ánh sáng thủ đô vẫn le lói một góc trời. Mất xuân, chàng tự nhủ:
Ba ngày Tết, xuân đâu chẳng thấy,
Nhìn quanh mình chỉ thấy kẽm gai,
Tấm lòng ôn cố chưa phai,
Còn xuân, còn đợi một ngày phục hưng.
Lúc này mỗi người có những cảm xúc riêng tư. Buồn ở chỗ ngày tháng trôi đi một cách vô nghĩa, như các cụ đã nói: Nhất nhật tại , thiên thu tại ngoại. Dù sao người tù cũng phải sống cho mình trước hết, như văn hào Solzhenitsyn, một tù nhân nổi tiếng dưới chế độ Liên Xô đã viết.
Ba ngày Tết, tù nhân chỉ được phát mỗi người một chén cơm, thêm một, hai miếng cá kho hay thịt heo nhỉnh hơn ngón tay. Ngày hai bữa trưa và chiều. Ngày thường tù ăn uống kham khổ hơn, có khi chỉ có cơm với canh pha mỡ. Chẳng bù tù cộng sản trước kia được chính quyền miền Nam cho ăn thịt cá ê hề mà vẫn cứ giả đò đòi đấu tranh tuyệt thực trong tù.
Trong ba ngày Tết anh em không phải nghe tiếng kẻng báo thức lúc 5 giờ sáng để chuẩn bị đi lao động.
Bình nhớ lại cuốn truyện Một Ngày Trong Đời của Ivan Denisovich, [1] nhà văn Nga Alexander Solzhenitsyn đã kể lại truyện 11 năm tù đầy, từ năm 1945 đến năm 1956 ở Sibérie của nhân vật Ivah Denisovich, vai chính thay cho tác giả. Nhân vật này là trung úy chỉ huy đơn vị pháo binh thuộc Hồng quân Liên Xô chiến đấu chống quân Đức, rồi bị Đức bao vây bắt làm tù binh.
Khi trốn khỏi trại giam của Đức về lại đơn vị cũ, anh ta bị nghi ngờ làm gián điệp cho Đức. Dù cố biện minh, anh vẫn bị ghép vào tội đã nhận một nhiệm vụ gì đó của quân Đức giao cho. Anh đành nhận cho xong chuyện, bằng không anh sẽ bị xử bắn vì tội ngoan cố. Dĩ nhiên anh ta bất mãn chế độ cộng sản đầy dối trá, song vì sự sống còn của bẩn thân, anh cứ phải âm thầm chịu đựng cảnh tù tội để hy vọng có ngày còn về được tới nhà.
 
Theo tác giả, cứ 5 giờ sáng tù nhân nghe tiếng kẻng báo thức phát ra từ thanh sắt đường rầy xe lửa. Tù nhân Donisovich liền vớ đôi găng tay, xỏ ngay chân vào đôi giầy ống bằng nỉ, nếu không anh sẽ bị chết cóng vì cái lạnh khủng khiếp của Sibérie.
Rồi tù nhân phải vội vã xuống nhà ăn lãnh bát cháo loãng, nếu chậm chân thì chỉ có việc ra chỗ rửa bát liếm chồng bát cho đỡ đói mà thôi. Khi lãnh được miếng bánh mì, anh chỉ ăn một nửa, còn một nửa lấy vải gói lại để dành lúc đói có cái lót bụng. Anh còn phải giữ gìn cái muỗng như một vật thiết thân; nhét kỹ nó vào ống chân giầy khỏi mất, khi ăn cháo còn có cái mà vét chút cháo cặn bỏ vào miệng.
Điều anh tâm niệm là sự sống còn của chính anh, mọi thứ khác không liên quan đến đời sống của tù nhân hãy bỏ qua một bên. Đó là kinh nghiệm thực tiễn nhất của Solzhenitsyn. Đương nhiên không ai bảo ai, tù nhân như Bình cũng có kinh nghiệm dày dặn khi phải va chạm hàng ngày với cộng sản.
Sau khi mãn án, Solzhenitsyn được tòa án tối cao Liên Xô minh oan, được phục hồi binh nghiệp và thăng cấp Đại úy. Ông còn được truy tặng hai huy chương của Liên Xô. Sở dĩ ông được đối xử tốt trở lại vì ông là nhà trí thức có uy tín, được Krushchev lúc ấy là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô gọi ông là Tolstoy thứ hai.
Sau đó ông viết cuốn Quần đảo Gulag; tố cáo chế độ nhà tù man rợ Liên Xô. Mật vụ KGB theo dõi ông, tịch thu bản đánh máy cuốn sách khiến cho cô đả tự viên quá lo sợ phải treo cổ tự tử. Solzhenitsyn đã phải bí mật gửi bản thảo ra ngả Tây phương và bị trục xuất khỏi Liên Xô. Ngày 8 tháng 10 năm 1970 ông được tặng giải thưởng Nobel về văn chương song phải đợi khi ra nước ngoài ông mới lãnh giải thưởng này.
Cuốn Quần đảo Gulag đã được xuất bản năm 1974 và được thế giới đón nhận rất nồng nhiệt.
Nói chung, chế độ nhà tù Cộng sản ở đâu cũng thế cả. Cho ăn đói, nằm lạnh, hành hạ về tinh thần lẫn thể xác. Cùng một khuôn mẫu. Ở đâu cũng nghe tiếng kẻng lạnh đến xương sống, cũng có cảnh tù nhân phải vét sạch chén bát, thậm chí còn bươi móc những thứ gì có thể ăn được từ đất như ốc ma, cóc nhái, từ cây cỏ như rau rừng, trái dại, từ cả chất phế thải của con người như hạt bobo, bắp chưa kịp tiêu hóa để sống sót. Đó là chuyện thường ngày và là chủ trương của Cộng sản đối với tù nhân chính trị.
Trại tù Suối Máu nhỏ, nằm bên con đường nhựa đi Biên Hòa và Hố Nai, trước kia là trại giam tù binh Cộng sản. Buổi chiều mát, anh em không hẹn nhau mà túm năm tụm ba đi quanh quẩn trên con đường đất trong trại, chuyện trò với nhau cho đỡ nhớ những ngày Tết ở đơn vị hay ở trong gia đình đoàn tụ. Các trò giải trí do trại bầy ra để anh em tự biên tự diễn như ca hát, viết bài cho báo tường, xem chiếu phim Việt Cộng và phim gián điệp Đông Âu nhiều tập Trên Từng Cây số. Anh em coi phim để giết thì giờ buổi tối, bớt đi những giờ phút nằm trằn trọc trên nền đất lạnh mà manh chiếu rách không đủ ấm lưng.
Sau ba ngày Tết, các đội lại đi lao động trồng khoai, sắn ngoài trại. Mặt trời Suối Máu đỏ rực như máu. Đất hừng hực lửa. Bàn tay tù cầm cuốc, xẻng cứ chai đá thêm. Bệnh kiết lỵ lan truyền vì ăn ở thiếu vệ sinh. Tù có mang được viên thuốc nào đi thì uống đỡ, còn không xin trại vài viên xuyên tâm liên trị bá bệnh chẳng đi tới đâu.
Trong không khí căng thẳng của trại, có tin hai trại viên cắt rào kẽm gai đào thoát lúc xế trưa. Người chui rào ra trước nhanh chân bám chiếc xe lam vừa chạy tới rồi biến về Hố Nai. Người chui ra sau bị bộ đội gác cổng phát hiện và bắn bị thương. Sau đó có tin anh trốn về Hố Nai bị bắt lại, không rõ thực hư thế nào. Còn anh bị thương thì ba ngày sau bị Việt Cộng đem ra xử bắn phía sau trại. Sự tàn nhẫn ở chỗ tù nhân bị thương không được chữa trị, không được cơ hội sống, mà còn bị Việt cộng đem ra xử bắn để răn đe người khác, trái với Quy ước quốc tế Genève về đối xử tử tế với tù hàng binh và thường dân. Nghĩ về cái chết của người chiến hữu, Bình cảm thấy có sự tương đồng ý nghĩa so với cái chết của Văn Thiên Tường:
Nhân sinh tự cổ thù y vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.
Có nghĩa là:
Tự cổ, người ơi ai chẳng chết,
Hãy giữ lòng son sáng sử xanh.
Văn Thiên Tường [2] là một tấm gương sáng trong lịch sử Trung Hoa. Ông là tể tướng cầm quân chống giặc Nguyên để cứu vãn triều đình Nam Tống và bị quân giặc bắt sau nhiều phen chống cự. Ông không chịu khuất phục quân địch để được hưởng vinh hoa phú quý, cũng không chịu kêu gọi tướng Nam Tống là Trương Thế Kiệt ra hàng nên bị quân Nguyên giết.
Năm 1279, triều đại Nam Tống bị tiêu diệt, Nguyên Thế Tổ tức Hốt Tất Liệt chiếm tòan cõi Trung Hoa và thông trị dân tộc Hán.
Phần lớn tù nhân ở trại Suối Máu thuộc loại tác chiến và chiến tranh chính trị. Nghe tin họ chỉ ở đây tạm bợ, chờ chuyển ra các trại giam miền Bắc xa xôi.
Sau khi Bình đi tù, khu vực Ngã Sáu Saigon trở thành phường 12 thuộc quận Một. Chủ tịch phường là chị đánh móng tay, cán bộ nằm vùng, tuổi chừng 40. Hôm Ngọc lên phường khai báo nhân khẩu để mua khoai mì, chị ta dõng dạc bảo nàng:
- Chị có nhớ tôi không?
Nàng cười đáp:
- Tôi nhớ chứ chị.
- Chị ráng nuôi các cháu, anh ấy đi cải tạo một thời gian rồi sẽ về thôi.
- Cám ơn chị.
- Nhà chị có bao nhiêu nhân khẩu?
- Tám người tất cả.
- Chị thông cảm phường đang gặp khó khăn. Chưa có gạo bán cho đồng bào. Thôi chị về. Khi nào có khoai mì, phường sẽ gọi loa để chị lên mua.
Đúng là đổi đời. Nàng nhớ có lần vào tiệm uốn tóc bên đường Ngô Tùng Châu, thấy chị ta ngồi đánh móng tay cho các khách hàng, nay là bà chủ tịch phường coi mấy ngàn dân trong một khu phố, có cả công an phường, hợp tác xã mua bán. Lớp lao động, cán bộ nằm vùng nay chường mặt trong các bàn giấy để cai quản dân chúng Saigon.
Tòan thành phố không có gạo vì các tỉnh chưa có lệnh đưa gạo về. Các gia đình phải ăn khoai mì thay cơm. Nàng cứ nấu nồi cháo khoai mì cho các con ăn cả ngày. Sức khỏe của chúng sa sút dần vì thiếu chất dinh dưỡng. Có đứa đau ốm, nàng lại phải chạy thuốc thang cho con, không có tiền bạc đưa nó đi bệnh viện.
Lúc đầu nàng nấu nồi xôi bán ở ngoài hẻm để nuôi đỡ các con. Hai đứa con gái lớn phải nghỉ học để phụ nàng. Mấy đứa con nhỏ còn đang đi học. Nghĩ đến chồng đang ở chốn tù đầy, nàng như có thêm nghị lực để thay chồng cưu mang bầy con.
Sau đó nàng đi buôn ít vải và mớ quần áo cũ bán trên lề đường chợ Bến Thành. Mưa nắng đã đành, nàng còn bị công an đuổi, tịch thu quần áo, lận đận vô cùng. Chắc chẳng ai hiểu nổi những nỗi điêu đứng của nàng lúc này.
1 giờ sáng, loa kêu các vợ sĩ quan đi cải tạo ra quét đường. Thế là nàng choàng dậy, tay cầm cây chổi ra đường quét rác. Đường còn mù mịt sương, tấm áo lại phong phanh, nàng run người vì tủi nhục, đành cắn răng chịu đựng. Các bà vợ sĩ quan ở trong thành phố đều phải chịu cảnh ngộ này. Thế mà các bà vẫn can đảm biểu tình trước nhà bưu điện Saigon đòi chồng con về, mặc cho công an dùng xe cứu hỏa phun nước giải tán và bắt bớ, đánh đập.
Cái họa vẫn chưa hết cho người dân miền Nam. Ngày 22 tháng Chín, 1975, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh đổi tiền. Tiền cũ có giá trị đổi ra tiền Hồ mất giá, người dân lại cháy túi, đời sống càng thêm đen tối.
Lúc ấy có tin Đỗ Mười, Phó thủ tướng cho Phạm Văn Đồng được cử vào Nam chỉ huy chiến dịch đánh tư sản mại bản. Saigon vẫn còn những chủ nhân xí nghiệp, nhà băng, cơ sở kinh doanh sản xuất và tư nhân giầu có nhờ kinh tế thị trường. So với miền Bắc, nền kinh tế miền Nam lúc ấy vẫn cao gấp bội, nhất là về mặt lúa gạo sung túc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đó là lý do để Cộng sản Bắc Việt đánh tư sản miền Nam, hạ thấp nền kinh tế cho bằng với mức thấp của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Buổi sáng hôm ấy Ngọc nghỉ bán hàng, thấy chị tổ phó an ninh dẫn một cán bộ phường vào nhà nàng. Chị tổ phó an ninh chẳng ai xa lạ, là vợ một sĩ quan đã đi học tập cải tạo ở gần nhà nàng.
-Chị là Ngọc phải không?
Nàng gật đầu bảo:
- Phải. Có việc gì thế anh?
- Chị được phường cử vào ban kiểm kê tài sản của bọn mại bản. Chế độ làm việc của chị là bám sát các đối tượng, phát giác mọi hành vi tàng trữ giấu giếm của bọn này.
Nàng nghi chị tổ phó an ninh trong vụ cắt cử nàng vào ban kiểm kê. Thời buổi nhiễu nhương này nàng cũng chẳng trách chị ta có tâm địa không được tốt. Chồng đi tù mà chị ta cứ giao thiệp mật thiết với cán bộ an ninh trong hẻm để bới lông tìm vết người khác.
Ngày hôm sau, nàng phải bỏ việc bán hàng để theo ban kiểm kê đi đến các nhà kinh doanh trong phường. Cuộc khám xét tỉ mỉ diễn ra từng nhà, không một xó xỉnh nào, ngóc ngách nào bị bỏ sót. Máy móc, vật liệu sản xuất bị niêm phong, vàng bạc giấu trong nhà, trong người đều bị tịch thu. Có chỗ còn bị đào bới để tìm ra của cải. Người có của bị coi như kẻ có tội trước mắt đám cán bộ tra khảo, hạch hỏi đủ điều.
Chiến dịch đánh tư sản cũng rập theo chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ năm 1953 đến năm 1956, chỉ khác ở chỗ tư sản miền Nam không bị đem ra đấu tố, nhưng nhiều người vẫn phải đi lên phường, lên quận học tập cải tạo trong 10 ngày.
Buổi tối hôm ấy nàng thấy cô em họ xách cái giỏ mây tới nhà nàng. Tưởng gì hóa ra cô ta đem đến gửi nàng một hộp bánh bít qui đựng vàng giấu trong giỏ.
Cô em nói nhỏ nhẹ:
- Chị cho em gửi. Khi nào yên thì em xin lại.
- Bao nhiêu thế cô?
- Một chục lượng.
- Chị sợ lắm. Nếu họ khám nhà thì sao?
Cô em nói khẩn khoản:
- Chị cứ giữ giùm. Em chẳng biết gửi ai ngoài chị.
-Thôi được. Chị giữ mà mất thì em ráng chịu nghe.
Cô em họ có ông bố làm chủ hãng nước mắm ở Phan Thiết. Ngoài của chìm, ông còn tài sản ở Phan Thiết và Saigon cho con cái ăn học. Thiên hạ nhiều người giầu có từ thời ông Diệm có chủ trương phát triển kinh tế. Ngọc nghĩ mình tuy nghèo nhưng vẫn thấy dửng dưng trước đóng tài sản, vàng bạc của những nhà tư sản bị Cộng sản tịch thu ở trước mắt.
Sáng hôm ấy ban kiểm kê đến làm việc tại nhà một bà kinh doanh vàng bạc. Cả trăm cây vàng của bà ta bị cán bộ tịch thu đem đi. Đến trưa, cả đám kéo nhau đi ăn, còn mình nàng ở lại coi nhà. Bà chủ rầu rĩ bảo nàng:
- Cô xem, bao nhiêu công lao, tiền bạc của tôi bỏ ra làm ăn mấy chục năm bỗng ra tro.
- Con biết. Đây là cái nạn chung của bà con mình bác ạ.
Bà ta lại gần chậu lan, nhìn trước nhìn sau rồi nghiêng đáy chậu lấy ra 2 chỉ vàng đưa cho nàng:
-Tôi biếu cô. Để đây chúng sẽ lấy hết cho mà coi.
Nàng cảm động nói:
- Bác mất nhiều quá rồi. Bác cứ giữ mà tiêu. Con mà lấy thì họ sẽ cho con đi tù bác ạ.
- Vậy à. Tôi để vào chỗ cũ. Cô đừng nói gì nhé.
 -Bác cứ yên tâm. Con coi như không biết.
Lại có trường hợp đáng thương hại. Một ông chủ có vựa cá ở chợ cầu Ông Lãnh bầy sẵn một mâm vàng lá ở giữa sân. Ông ta nói với cán bộ kiểm kê:
- Cả sản nghiệp của tôi chỉ có chừng này. Mời các ông lấy đi cho.
- Được. Để chúng tôi kiểm tra.
- Các ông cứ việc kiểm tra. Tôi không hề nói dối.
Họ lục soát một hồi lâu trong nhà ngoài cổng không thấy gì, đành lấy mâm vàng ở giữa sân đem đi. Những của cải này đi về đâu, lọt vào tay ai? Nhân dân không ai được biết, ngoại trừ những cán bộ đảng đang nắm quyền sinh sát trong tay. Tài sản của quốc gia, của nhân dân, họ nắm hết. Dân chỉ việc nai lưng ra lao động sản xuất để họ thụ hưởng.
Sau chiến dịch chảy máu vàng bạc, nhiều người phải bỏ nước ra đi. Thêm mấy đợt vượt biên bán chính thức để công an đứng ra công khai thu vàng bỏ túi, vét nhẫn của cải còn lại của nhân dân. Xí nghiệp, nhà máy đóng cửa, dân lao động thất nghiệp, nông dân phải vào hợp tác xã làm ăn.
Miền Nam đương ở chốn thiên đường bỗng chìm xuống hỏa ngục đỏ.
 
Sau cả tháng đi làm việc không công cho ban kiểm kê tài sản, Ngọc mất ăn mất ngủ, trong người mệt mỏi rã rời. Con cái bị bỏ bê, có gì ăn nấy; nàng chẳng còn thì giờ ngó ngàng tới chúng. Nghĩ lại, nàng thấy thương chúng vô cùng. Nàng vừa xin nghỉ việc thì phường lại cho cán bộ xuống bảo nàng:
- Chị đi kinh tế mới cho chồng về sớm. Phường sẽ giúp phương tiện cho chị đi.
Nàng kinh ngạc bảo:
- Tôi một nách bẩy con, đi kinh tế mới lấy gì mà sống. Tôi không đi đâu cả.
- Chị không đi thì chồng chị còn lâu mới được về. Chị hãy nghĩ kỹ đi.
- Cái đó tôi không biết. Còn tôi và các con nhỏ không đi đâu cả.
Thấy không thuyết phục nổi nàng, cán bộ phường đành bỏ đi. Nàng biết đi kinh tế mới là sẽ mất luôn nhà. Một số người nhẹ dạ đi kinh tế mới, cực quá chịu không nổi, đến lúc quay đầu về lại Saigon thì mất nhà, phải ra vỉa hè nằm. Đau xót biết chừng nào? Vẫn chưa hết chuyện đau lòng. Đứa con gái lớn của nàng tốt nghiệp lớp 12, có lệnh của phường gọi đi làm thủy lợi ở Bình Chánh. Suốt ngày lội bùn, đào mương, không một hột cơm trong bụng, con bé ngất xỉu ngay trên đống bùn lầy, quần áo, mặt mũi lấm bê bết. May có anh thanh niên xung phong trông thấy đem cáng tới rồi hai người chở con bé đến bệnh xá cấp cứu.
Trời tối mịt con bé mới về nhà trong lúc cả nhà nóng ruột không biết chuyện gì đã xẩy ra. Ngọc càng nghĩ càng thêm giận, thêm tủi. Nàng than thở với con:
- Họ muốn đẩy mẹ con mình vào chỗ chết. Nếu mẹ có tiền, mẹ sẽ cho các con đi vượt biên, cứ khổ mãi thế này chịu không nổi.
Nhưng nàng không có cây đũa thần để giúp các con vượt qua cơn hoạn nạn. Đồ đạc trong nhà đã bán đi một mớ, những thứ còn lại không còn giá trị. Nàng phải đi làm chân giữ xe đạp cho phòng thuế quận Một, từ sáng sớm đến tận khuya mới về.
Đang lúc nàng bận bịu với cơm áo thì ông bố chồng vào thăm. Ông đi tàu thủy từ Hải Phòng vào Saigon mất 3 ngày, vì đường xe lửa từ Bắc vào Nam chưa sửa xong. Dáng người gầy gò, tóc bạc, mắt sâu, ông ngỡ ngàng nhìn cô con dâu trưởng. Giây lát sau nàng mới nhận ra ông cụ bố chồng nhờ coi ảnh gia đình và thấy các nét giống giữa hai khuôn mặt ông cụ và Bình.
 -Chào ba. Mời ba vào nhà. Ba đi có mệt không?
 Ông cụ vừa cười, vừa nói:
- Về tới đây là ba thấy hết mệt.
Nàng đỡ cái túi xách quần áo của ông cụ. Vào trong nhà, ông ngồi xuống ghế. Nàng mời ông uống ly nước lạnh. Ông ân cần hỏi:
- Thế anh ấy đi cải tạo bao lâu rồi?
- Dạ, sáu tháng rồi ba.
- Nhà gì mà cũ thế này.
- Nhà quân đội cấp đấy ạ.
- Ba cứ tưởng nhà cao cửa rộng. Ai ngờ lại nghèo thế này.
- Hai vợ chồng con đều nghèo cả. Các cháu lại đông.
Ông cụ vui vẻ nhìn mấy đứa cháu, có đứa là đích tôn cơ đấy. Ông khen:
- Cháu nào cũng khôi ngô. Có cháu nào chịu về Bắc với ông không nào?
Không thấy cháu nào trả lời. Ngọc khẽ hỏi:
- Sao mẹ con không đi cùng với ba?
- Bà ấy vào sau. Ba vào trước xem tình hình ra sao. Cả đời ba bây giờ mới thấy Saigon.
- Hồi máy bay B.52 Mỹ bỏ bom xuống Hà Nội, nhà con cứ lo không biết nhà mình ở ngoài đó có hề hấn gì không?
Ông cụ trừng mắt như lúc có bom nổ:
- Ba nghe rung chuyển cả nhà y hệt trận động đất. Bom bỏ xuống Khâm Thiên gần nhà mình.
 -Vậy là nhà mình ở hai nơi được vẹn tòan. Chúng con cứ cầu Trời khấn Phật gia hộ cho cả đại gia đình được bằng an đấy ba.
Ông cụ cảm động nhìn cô con dâu. Ông mừng trong lòng được thấy cô con dâu thảo, biết lo toan cho con cái trong lúc chồng vắng mặt. Điều ông hơi buồn là không gặp mặt Bình sau hai chục năm xa cách, nhưng ông vẫn hy vọng được gặp lại con vào một ngày nào đó.
Nghĩ vậy, ông an ủi nàng:
- Con cứ yên tâm. Chồng con đi cải tạo chẳng chóng thì chầy sẽ được về. Đừng lo lắng gì cả.
Ở được hai tuần, ông lại khăn gói về Hà Nội.
Thấy cái radio nhỏ để bàn, ông bảo nàng:
- Ba đem cái này về nghe tin tức.
- Dạ. Ba cứ lấy. Đã lâu con không nghe radio.
Nghĩ đến ông cụ cất công từ Hà Nội xuống Hải Phòng để vào Nam thăm con, rồi lại trở về bằng tàu thủy, nàng thấy tình cảm cha con thật thấm thìa. Sẵn có mấy thước vải đen, trắng, nàng biếu ông cụ đem về làm quà cho cả cụ bà.
Lúc đưa ông cụ ra bến Bạch Đằng để xuống tàu sắp nhổ neo, đôi mắt nàng bỗng ngân ngấn lệ.
 
Tháng Mười Một, 1975, Cộng sản tuyên bố hai miền Nam, Bắc thống nhất. Cái gọi là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam được Bắc Việt dựng lên từ năm 1969, do Huỳnh Tấn Phát giữ chức chủ tịch bù nhìn, đã bị giải tán. Từ đó trở đi không còn thấy bóng dáng lá cờ mặt trận nửa đỏ nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng, mà chỉ thấy tòan cờ đỏ sao vàng ngoài đường phố. Cái mặt nạ “giải phóng” đã rơi xuống đất, thay vào đó là bộ mặt búa liềm chuyên chính, độc tài, đảng trị.
Điều này, người dân miền Nam đã biết từ lâu!
 
Chú thích :
[1] Xuất bản năm 1962
[2] Ông sinh năm 1236, mất năm 1283.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.12.2021 19:11:38 bởi Ct.Ly>
Chương Mười Ba


Qua các trại tù miền Bắc
 
 
Qua đầu năm 1976, khoảng 2000 tù nhân trại Suối Máu được chở ra Bắc bằng tàu Sông Hương. Phải gọi đây là Chuyến tàu kinh hoàng vì chứa quá nhiều người, mất vệ sinh, cướp cả mạng sống của tù nhân. Nhiều người vẫn chưa quên Đại lộ kinh hoàng trong mùa hè 1972, Cộng quân đã nã súng vào đoàn người di tản trên đoạn đường từ Quảng Trị đến Huế, gây thương vong cho nhiều phụ nữ, trẻ em và người già.
Chuyến tàu này cũng là một địa ngục trần gian, gây kinh hãi cho tù nhân trong suốt cuộc hành trình ba ngày ba đêm trên biển.
Bình bước lên tàu lúc trời tối đen. Vài người trợt chân rơi xuống sông ở Tân cảng khi mới dò dẫm bước lên cầu thang. Dưới hầm tàu lờ mờ ánh điện và hôi hám là cảnh tù ngồi như nêm cối. Nào ba lô, túi xách, đồ dùng linh kinh chồng chất lên nhau không còn chỗ chen chân. Muốn đi vệ sinh, tù phải bước qua mặt nhau, lách từng bước một. Nước tiêu, tiểu từ chiếc thùng phuy trên boons tràn ra ngoài, rỏ xuống hầm tàu làm mọi người nôn mửa thốc tháo, chịu không nổi.
Tù bị đói. Mỗi người được phát gói mì ăn khô, hoặc chan với chút nước lã công cộng để dễ nuốt. Ngủ cũng chập chờn vì lo lắng, ưu tư. Cứ thế con tàu tiến về hướng bắc mà nhiều người không biết nó đi về đâu, kể cả mấy tay thủy thủ chuyên nghiệp. Có tin một người tù bị ngột thở, đông quá không ai biết anh ta nằm ở chỗ nào và được cứu chữa ra sao. Thôi thì cứ tự thủ lấy thân mình trước tai họa bất ngờ; đường còn dài, phận ai nấy lo.
Thế rồi con tàu cập bến Hạ Lý trong cái nóng hầm hập ban đêm. Ngắm chùm hoa phượng đỏ ủ rũ trên cành, Bình thấy thấm thoát 22 năm đã trôi qua, bây giờ chàng mới gặp lại mùa hè Hải phòng inh ỏi tiếng ve sầu. Hà Nội chắc cũng thế. Lại thấy cảnh phố xá tiêu điều từ những tháng năm cũ; thấy cái nghèo, cái tăm tối của miền Bắc dưới chế độ cộng sản. Anh em tù nhân mệt mỏi, phờ phạc, lại phải xách hành lý cồng kềnh đứng xếp hàng chờ y tá tiêm cho mỗi người một mũi thuốc trừ dịch.
Rồi anh em lại ùn ùn bước lên những toa xe lửa cũ kỹ chở súc vật không có cửa sổ thông hơi, chỉ có một khe hở nhỏ xíu bên hông, gió chẳng lọt vào. Tàu chạy lên hướng bắc suốt đêm, bánh xe nghiến trên đường sắt nghe ken két long cả óc. Sáng hôm sau tàu dừng lại ở ga Yên Bái để anh em nhận khúc bánh mì ăn trong lúc đi đường.
Có tin một người chết ngạt trên toa tàu, nạn nhân là Trung tá Ngô Văn Hùng phục vụ tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Bình gặp anh Hùng khi anh làm trưởng Phòng 5 Quân khu 1 ở Huế, còn chàng làm ở Sở Chiến tranh Tâm lý, gần nhà thờ Phủ Cam. Rồi cả hai đổi về Saigon làm việc. Anh là con người tháo vát, giúp đỡ bạn bè và năng nổ trong công việc. Xin vĩnh biệt anh với bốn chữ Sinh Bắc Tử Bắc. Thế là anh đã được quay về đất Bắc trên chuyến tàu định mệnh. Còn bao kẻ Sinh Bắc Tử Nam ; bao nhiêu thanh niên miền Bắc đã phải bỏ xác ở miền Nam vì cuồng vọng xâm lăng của Cộng sản đã không được qui hồi cố hương như anh.
Thị trấn Yên Bái hiện ra trong cảnh đổ nát hoang tàn vì bom đạn Mỹ. Từ ga cũ, đoàn tù nhân phải đi bộ thật xa mới tới hồ thủy điện Thác Bà. Dọc đường, đám con nít được hướng dẫn từ trước, hễ thấy tù nhân đi qua là ném đá, văng tục, trông thật thương hại. Dăm ba chị du kích lùn tịt đeo súng dài hơn người, đứng nhìn với vẻ dương oai!
Hôm sau các tù nhân xuống phà vượt hồ Thác Bà rồi lại đi bộ theo đường rừng vào thật sâu trong dẫy núi Hoàng Liên sơn. Bốn khu trại giam bằng tre nứa theo thứ tự 1,3,5,7 rải rác từ Tuyên Quang ra Yên Bái đang chờ các tù nhân nhập trại. Bình ở trại 3 dưới chân núi cao, bên cạnh hồ Thác Bà rộng mênh mông.
Rừng ở đây còn nhiều tài nguyên. Vắt cũng nhiều vô kể và khát máu người. Chúng ém dưới đám lá khô, mình chỉ nhỏ bằng đầu que tăm, chờ tù đến là chui vào giầy, vào tất hút máu thật no căng mới nhả ra.
Ngày nào tù cũng phải leo núi lấy tre, nứa về tu bổ các nhà giam. Tiêu chuẩn giao cho mỗi người lấy 50 cây nứa, hoặc một cây vầu dài 18 thước, ai lấy không đủ phải leo lên núi lấy lại. Có hôm Bình lấy đủ 50 cây nứa rồi kéo xuống dốc núi trơn trợt. Sợ bị tai nạn, chàng rút bớt 5 cây ra cho nhẹ. Xuống tới chân núi, gã quản giáo Níu, trung úy bộ đội, liếc nhìn bó nứa của chàng không nói năng gì. Sáng hôm sau hắn nói với đội trước giờ đi lao động, giọng vừa ngọng vừa lắp bắp:
- Chỉ tiêu nà chỉ tiêu, anh lào nàm không đúng nà không được, không biết nao động nà vinh quang.
Hắn nói một hồi rồi bỏ đi. Đội tự động lên rừng chặt cây như thường lệ. Bình biết hắn muốn nhắm vào chàng để cảnh cáo.
Xung quanh trại rào nứa kín mít, một bên là núi, một bên là hồ thế mà trong đội của chàng vẫn có người trốn trại vào ban đêm. Vài hôm sau có tin anh ta bị bắt lại rồi đưa đi đâu không rõ. Địa bàn rừng núi ở đây xa lạ; thổ ngữ không quen, người trốn dễ bị phát hiện khi gặp dân thiểu số ở quanh vùng.
Chỉ trong mấy tháng con đường mòn liên tỉnh Tuyên Quang-Yên Bái đã được tù nhân mở rộng cho xe hơi chạy. Biết bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của tù nhân đã đổ ra trên con đường đất đá gập ghềnh này.
Trước Tết, viên quản giáo bảo tù lên núi lấy măng tre. Măng ở đây ngon có tiếng, nhưng tù không được ăn. Mùa xuân đến với cái lạnh tê tái khắp núi rừng. Trại phát cho mỗi người chiếc áo nỉ cộc tay vẫn không đủ ấm. Ngày đầu năm tù chỉ được ba miếng thịt trâu bằng ngón tay và chén cơm, ngày 2 bữa như thế. Ngày thường tù nhân ăn bắp hột cứng như đá, nhiều hàm răng cứ rụng dần, bao tử bị thủng, lở loét nhưng trại không có thuốc chữa. Trung tá Mùi thuộc Không quân mà Bình quen biết từ khi còn ở câu lạc bộ sĩ quan An Đông, bị loét bao tử sau khi ăn phải trái độc trên rừng rồi được đưa về bệnh xá Tuyên Quang chữa, không biết kết quả ra sao.
Người dân Tầy ở các bản, làng quanh trại có thái độ cởi mở với tù nhân. Sống cuộc đời âm thầm trong chốn rừng núi, họ thấy tù nhân tử tế với họ nên họ coi như ân nhân. Có người đổi quần áo tốt của mình lấy thực phẩm của dân Tầy tại nơi lao động không có quản giáo đi theo. Bữa trước hẹn thì bữa sau có người đem chiếc áo jacket đang mặc đổi lấy gói cơm nếp thịt gà của người Tầy đi đốn củi.
Cái ăn, cái mặc đều có giá trị cho sự sống của con người trong hoàn cảnh quẫn bách. Cũng chỉ vì đói mà ông bạn phụ tá cho Bình ở Cục Tâm lý chiến là Thiếu tá Kiệt đã bỏ mạng ở trại 5. Bệnh kiết lỵ đã cướp đi sinh mạng của ông sau những lần cải thiện cái ăn ở rừng trong lúc ông đi chăn trâu. Sơn lam chướng khí, bệnh hoạn, đói khổ là tử thần của tù nhân.
Ở trại 3 được hơn một năm, chàng phải chuyển qua trại 7, mỗi trại cách nhau chừng một cây số. Có sáng đi phát quang, chàng gặp nhà thơ Hà Thượng Nhân từ trại 5 cũng đi lấy rơm. Trên vai ông gánh đôi quang nhẹ nhàng, nét mặt thản nhiên như không bận tâm đến chuyện tù đầy. Ông lạc quan nói với chàng: “Mình sắp được về”.
Chuyện cứ tưởng mơ hồ mà rồi cũng tới lúc biến thành sự thực vì ở bên ngoài, chính phủ Mỹ vẫn đòi hỏi Cộng sản phải thả các tù nhân chính trị.
Mùa thu, cảnh rừng Việt Bắc chuyển sang gam mầu vàng. Cái buồn hiu quạnh của thu làm Bình nhớ đến bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, trong đó có hình ảnh người cô phụ mong chồng:
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu,
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,..
Lại thêm nỗi nhớ nhà da diết. Bây giờ Saigon đã xa ngót 2 ngàn cây số, thời gian đã là mấy năm mà ngoảnh lại chỉ thấy mây bay, gió thoảng!
 
Cuối thu, đội của chàng bỗng được chuyển đến một khu ruộng bỏ trống để làm gạch. Mới đầu chưa quen nên chàng đóng viên gạch hơi chậm, sau quen tay chàng đóng nhanh hơn. Cả ngàn viên gạch được phơi nắng ít hôm trước khi xếp vào lò. Củi đã có anh em vào rừng chặt đem về đốt. Khi lò gạch vừa nung xong, đội lại được lệnh di chuyển mà không biết chuyện gì đã xẩy ra. Sau chèo mới hé tin các trại tù từ vùng biên giới phía bắc xuống trung du cũng được lệnh di chuyển [1].
Bình lại phải đeo đồ lề cá nhân cuốc bộ cả ngày trời từ Yên Bái về Tuyên Quang để chờ xe. Dọc đường từ Tuyên Quang xuống Phú Thọ, những cánh rừng thông nối tiếp nhau bạt ngàn như cảnh Lâm Đồng, Đà Lạt hiện ra trước mắt chàng. Xe vượt cầu Long Biên, chạy qua vài phố ven Hà Nội rồi xuống Ba Sao, Phủ Lý. Bình bỡ ngỡ, tưởng đâu anh em được chuyển vào Nam nhưng không phải. Ngoài Phủ Lý, nhiều trại đã chuyển về Thanh Hóa, Nghệ An thì dừng lại.
  Trại Ba Sao ẩn mình trong rặng núi đá vôi hiểm trở, có 3 khu: A, B, C giam các tù chính trị. Đám hình sự ở riêng một khu nhà lá. Bình ở khu A, nơi có nhiều khuôn mặt chính quyền cũ, như cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc, một số tổng bộ trưởng trong đó có luật sư Lê Ngọc Chấn, cựu Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm, vài vị thẩm phán, dân biểu, thượng nghị sĩ và lãnh tụ đảng phái. Ngoài ra Tướng Huỳnh Văn Cao, Tướng Nguyễn Chấn Á cũng có mặt.[2] Các ông này được chở ra đây bằng máy bay quân sự, không bị luân chuyển đi các trại từ Nam ra Bắc như đám đông sĩ quan và nhân viên chính quyền cũ.
Quản giáo là các hạ sĩ quan công an mặc quần áo kaki vàng khè, mặt mũi non choẹt. Anh em đặt cho công an cái tên Chèo. Có sáng chèo gái thả bộ xuống con đê dưới đồng để quan sát, vừa để ngắm anh em đang xúc đất nối dài con đê. Bị anh em chọc quê, chị ta buông giọng cong cớn:
- Lày, các anh học tập cho tốt đi nhá. Học đã tốt chưa hả?
Nói xong chị ta đi lên trại, mặt có vẻ ngượng ngùng. Đám chèo nói ngọng đa số xuất thân từ các vùng nông thôn, vùng đất phía nam sông Hồng và từ Thanh Hóa, Nghệ An trở ra.
Khi Bình mới đến có tin cụ Vũ Hồng Khanh, cựu lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng, cựu Phó Chủ tịch kháng chiến ủy viên hội trong chính phủ Liên Việt của Việt Minh năm 1946, bị bệnh nặng sắp được về. ít lâu sau có tin cụ Khanh bị quản chế ở Chèm, Hà Nội. Sau đó có tin bác sĩ Hoàng Cơ Bình được thả về.
Chỗ nằm của Bình rộng khoảng tám tấc, trên nền xi măng có trải tấm chiếu nát mà chàng mang theo mỗi khi chuyển trại. Chỗ nằm hẹp, chàng phải giữ mình để khỏi đụng hai người nằm bên, song chàng vốn nhỏ con nên không làm phiền các bạn đồng sàng. Anh bạn nằm bên trái chàng người Long Xuyên, có thói quen ngồi trong mùng niệm Phật vào mỗi tối. Anh cũng như nhiều người khác, không nhận được tin tức của vợ con từ ngày đi tù. Các thầy, cha tuyên úy quân đội có mặt trong các đội cũng lao động hết mình như anh em. Đức tin của các vị này có phần mạnh thêm, nó giúp các vị đứng vững trong dòng nước xoáy.
Đôi lúc chàng cũng nhớ đến vợ con ở Saigon. Nhớ bằng cách hình dung những khó khăn của vợ con, những khổ nhục trong cuộc sống hàng ngày mà Ngọc không hé lộ trong thơ. Nàng chỉ cho biết sơ qua các con; có đứa đi làm, có đứa còn theo học. Cuối thơ nàng khuyên chàng giữ gìn sức khỏe và an tâm học tập.

Buổi sáng, mọi người choàng dậy sau tiếng kẻng báo thức lúc sáu giờ sáng. Tám giờ, đội của chàng di chuyển đến hiện trường làm đá, đưa đá về xây nhà cho trại giam và cho đội công an trú ngụ. Sườn núi đá vôi phía sau trại đã sạt một mảng lớn qua những nhát búa đập của tù nhân ngày này qua ngày khác. Trừ bộ phận đập đá, tù nhân vác đá phải mang những viên đá nặng trĩu trên vai đi bộ cả trăm thước đến nới xây nhà. Tấm thân gầy của chàng toát mồ hôi, chàng thở không ra hơi, chân như muốn sụm sau vài lần vác đá.
Chàng cũng không thể lựa viên đá nào nhỏ hơn cho bớt nặng vai vì con mắt của công an coi đội luôn theo dõi cách làm việc và năng xuất của từng người để phê bình. Chiếc áo tù vải thô, mỏng, màu xanh da trời mà trại phát cho chàng đã bạc thếch, hai vai sờn vì vác đá. Chàng cảm thấy xương vai minh ẹo xuống, như có thế gẫy làm đôi nếu chàng không dùng cả hai bàn tay nâng hòn đá sắc cạnh lên vai, rồi giữ cho nó thăng bằng đến lúc trút được nó xuống đống đá tập trung. Cái khó là hòn đá đã ở trên vai chàng thi dù có nặng mấy cũng không thể quẳng nó đi được.
Mặt trời càng gay gắt, mồ hôi càng nhễ nhại trên trán chàng. Mùi đá, mùi bụi quyện với hơi nóng trở nên nồng nặc hơn. Cảnh tù nhân vác đá làm chàng nghĩ ra hai câu thơ:
Đội đá nào đâu vá được trời,
Thân mình chẳng vá, vá cho ai?
Trong lúc chàng được nghỉ giải lao trên dốc đá, anh tù hình sự chân dê tạt vào chỗ chàng ngồi. Anh ta làm ra vẻ thân thiện, tỉnh bơ nói:
- Các anh dở. Ngoài này chờ các anh ra giải phóng cơ đấy!
Mới đầu chàng tưởng anh ta nói khích bác mình, nhưng y nói thật. Chàng đã nghe một anh tù khác nói như thế.
- Thì tụi tôi ra giải phóng các anh bằng sự thật. Các anh bị bịt mắt, bịt tai đã lâu rồi!
Nghe xong, anh ta gật đầu bảo:
- Dân ngoài này vẫn nể các anh.
- Cậu nói thì tôi tin. Nhưng còn cậu, sao lại phải vào đây?
 -Em vào tù lần thứ hai rồi. Đói quá thì đi làm bậy.
Anh ta được hưởng chế độ tự quản để chờ ngày ra tù. Đàn dê, ngan, ngỗng và heo do đám tù hình sự chăn nuôi để cung phụng cho viên trại trưởng, một trung tá công an sắp về hưu đãi cấp trên xuống tham quan trại.
Thỉnh thoảng vào ngày chủ nhật, trại cho đám chèo giết heo nấu phở bán cho tù nhân có tiền. Một lon gô phở 10 đồng chỉ thấy lõng bõng nước, vài miếng thịt heo mỏng dính nổi lên, còn bánh phở chỉ là những sợi củ dong chìm tận đáy lon. Tuy vậy món phở vẫn đắt như tôm tươi!
Bình nhìn khuôn mặt non choẹt của anh hình sự. Anh ta chừng hai mươi. Tù hình sự không được phát quần áo đồng phục xanh như chàng, mà có gì mặc nấy. Anh ta ngắm chiếc bi đông nhà binh của chàng, nài nỉ xin: -Anh cho em cái bi đông này làm kỷ niệm.
Chàng lưõng lự nhưng chẳng nỡ làm cho anh ta thất vọng. Cầm chiếc bi đông [3] trong tay, anh ta cảm ơn chàng rối rít rồi vội vàng đi, sợ chèo đến lấy. Những sản phấm của đế quốc theo cách nói của Cộng sản, như chiếc bi đông made in U.S.A, vẫn được anh ta hâm mộ đáo để.
Hết giờ giải lao, chàng trở lại công việc vác đá. Đến trưa chàng được về trại ăn cơm và nghỉ một tiếng, rồi lại đi lao động đến chiều. Bữa trưa chàng chỉ được một nửa lon nhôm bobo dai nhách và chút nước muối nấu với mỡ heo làm canh. Dù đã nghiền bobo trong lon với một khúc cây chặt trong rừng, chàng cũng chỉ nhai được vài miếng để cầm hơi, phần còn lại phải bỏ đi. Chàng có chứng đau bao tử nên sợ ăn bobo, vì vỏ của nó dai như cao su, không tiêu hóa được, chỉ làm khổ thêm bao tử. Mỗi khi khai bệnh, chàng chỉ được bệnh xá phát thuốc muối uống đỡ.
Người tù ốm yếu không sống nổi đã đành; người to lớn có khi cũng tắt thở vì đói. Chính mắt chàng đã thấy một anh khỏe mạnh ở phòng kế bên chỉ còn là cái xác ngay trên chỗ nằm vào buổi trưa vì đói và mất hết sức đề kháng trong cơ thể. Phần bobo của anh còn nguyên vẹn trước mặt.
Trong đội Bình có anh Toan, một bộ đội hồi chánh ở miền Nam được chuyển ra Bắc giam chung với tù chính trị. Cộng sản liệt anh này vào loại tù chính trị để giam lâu mà không xét xử. Anh người Thái bình, gốc nông dân, lao động rất khỏe. Sang tháng Mười, cánh đồng trũng phía trước trại đỏ ngầu nước lũ. Công tác lao động dưới đồng, đào đất làm thủy lợi phải bỏ dở. Tù nhân được chuyển đi làm đá để xây nhà. Đến năm giờ chiều, chèo cho lệnh tập hộp đội về trại thì thấy thiếu anh Toan. Các đội khác cũng chuẩn bị về trại. Đợi một lúc không thấy anh Toan đâu, chèo bắn một phát súng AK chỉ thiên để báo động. Sau đó công an và chó săn tủa đi lùng sục kẻ trốn trại. Chúng để ý những lùm cây rậm rạp trên mặt nước, cả bìa rừng phía sau trại. Trời chưa tối nên chúng đoán anh ta chưa thể đi xa khỏi khu vực trại. Chừng một giờ sau chèo tung tin anh Toan bị bắt lại khi anh này núp trong lùm cây dưới nước. Từ đó không ai nghe tăm hơi anh Toan và cũng không rõ số phận của anh ta ra sao.
Trước đó ít lâu, một đại úy biệt kích trốn đi thoát ngay trong giờ lao động buổi sáng, lúc anh đi lấy nước để nấu cho đội uống rồi lẩn vào rừng mất dạng. Chèo ỷ y không cảnh giác, nên đã không kịp báo động. Có tin anh đã móc nối được dân địa phương giúp đỡ trong lúc đi trốn nên công an không tìm ra tung tích. Còn một vụ trốn trại khác đã xẩy ra nhưng không thành công: Một tù nhân chính trị trốn trại lúc chiều rồi ẩn núp trong núi. Đợi lúc có trăng, anh mò ra suối lấy nước uống thì bị chèo phục kích vây bắt rồi đưa đi biệt giam.
Người ra đi trước Tết là Thiếu tá Dực thuộc Đại học Chiến tranh Chính trị. Anh ở cùng nhà giam với Bình. Buổi sáng đội trưởng đánh thức anh dậy đi lao động, thấy anh nằm bất tỉnh vì đau yếu lâu ngày và kiệt sức. Một trung tá công binh đang xẻ gỗ buổi sáng bỗng gục xuống vì lao lực. Đó là những cái chết tức tưởi mà chàng được thấy tận mắt. Thân xác họ gửi lại nơi bìa rừng hoang vắng, không biết đến khi nào mới được gia đình nhận lãnh.
Cuộc sống của tù nhân dần dà dễ thở vì được nhận quà tiếp tế và thư từ của gia đình. Đám chèo lại cổ cơ hội quan hệ với tù nhân để bán thực phẩm lấy tiền bỏ túi, thỉnh thoảng chèo còn được tù cho hút thuốc lá ngoại, uống cà phê moka, dạy Anh văn và coi tử vi tướng số để biết đường công danh. Ai bảo họ không thích cái ngon, cái đẹp, cái thăng hoa của cuộc sống đã bị những chính sách kìm kẹp của đảng dìm xuống?
Gặp họa sĩ Tạ Tỵ một thời cùng làm việc ở Cục Tâm lý chiến, Bình thấy anh có vẻ trầm ngâm ít nói. Tính anh vẫn thế. Gần Tết anh được người nhà tiếp tế, thế là anh đem đến nhà giam của chàng đưa cho 2 củ khoai tây. Anh vẫn có tình với anh em văn nghệ, ngay cả trong lúc hoạn nạn. Nói về quà, có người nhận được đống quà tiếp tế từ ngoại quốc gửi về mà không dám ăn nhiều, cứ giữ lâu nên bị chuột ăn và hư thối. Cái tâm lý sợ hết, sợ không được tiếp tế đã làm cho con người lo lắng thêm, không chủ động được mình.
Vào dịp Tết, giếng nước chung của trại lại bị cạn. Trại bỏ mặc, không lo nước cho tù tắm rửa. Ngày Tết, anh em được phát chiếc bánh chưng độn nếp với tẻ xinh bằng bàn tay, ăn miếng đầu tiên thấy khô như đá. Đó là chiếc bánh chưng độc nhất chàng được phát sau mấy năm ở các trại giam miền Bắc. Còn thịt trâu chỉ được vài miếng nhỏ xíu như các Tết trước.
Ba ngày tết tù được thả lỏng. Anh em đến các nhà giam thăm nhau, uống trà, hút thuốc, hàn huyên tâm sự cho bõ những lúc bị cấm đi quan hệ linh tinh, theo ngôn ngữ của chèo. Cũng là cơ hội để các chiến hữu được gần gũi nhau, cùng nhau chia sẻ những vui buồn trong đời quân ngũ và chốn lao tù. Ngày mồng một Tết, luật sư Lê Ngọc Chấn, bà con bên vợ qua thăm Bình. Những ngày đông giá buốt ông bị bệnh thấp khớp, phải nhờ người cõng xuống bệnh xá xin thuốc uống. Nhờ gia đình ra tiếp tế, ông hồi phục dần sức khỏe. Ít lâu sau ông được trại thả về.
Ở trại Ba Sao, anh em thường ngày gặp đám tù hình sự đi lao động. Đây là cả một xã hội đen thu hẹp gồm giám đốc, cán bộ, đảng viên, thanh niên vào tù vì các tội phạm tham ô, lừa đảo, trộm cướp và giết người. Đó cũng là cảnh một địa ngục trong một địa ngục không hơn không kém.
Mỗi lần có phái đoàn ngoại quốc tới thăm trại A, tù nhân được lùa vào rừng lấy củi, hoặc vào trại B nhặt cỏ quanh các luống khoai mì để phái đoàn khỏi trông thấy những người tù gầy yếu, bệnh hoạn. Vài anh khỏe mạnh được giữ ở lại trại chơi bóng chuyền để trình diễn cho phái đoàn coi. Những chiếc chiếu cá nhân được dẹp bớt cho chổ nằm của tù được rộng thêm. Nhà bếp được lệnh thổi cơm hay luộc bột mì cho phái đoàn thấy tù nhân được ăn tươm tất. Một vài tù nhân được sử dụng làm cò mồi, túc trực sẵn ở các phòng giam để trả lời phái đoàn khi được hỏi tới. Sau khi phái đoàn đi khỏi, mọi sự trở lại nếp cũ, không có gì thay đổi. Màn trình diễn này là sở trường của Cộng sản cốt bịt mắt thế giới.
Tuy phải sống trong cảnh ngục tù kéo dài, anh em đã san sẻ cho nhau tình thương, cả đến miếng ăn và viên thuốc chữa bệnh. Tinh thần đồng đội vẫn được duy trì ngay cả với những người chưa từng quen nhau trong quân ngũ. Đôi khi phát hiện người làm ăng ten báo cáo cho chèo, anh em đã đập thẳng tay, dù chèo có biết cũng làm ngơ.
Cũng nhờ có tình đoàn kết tương thân giữa các tù nhân mà chiếc radio nhỏ bằng bàn tay của anh em đã được bảo vệ an tòan. Chèo túng tiền tiêu bán chiếc radio này cho một tù nhân; sau đó anh em chuyển cho nhau nghe tin tức thế giới qua đài BBC và VOA.Tin đáng chú ý nhất là chính phủ Hoa Kỳ nêu con số 80 ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà để yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phóng thích. Nhiều người đã tưởng thế giới tụ do bỏ quên mình trong cảnh ngộ hẩm hiu, nên chỉ còn mỗi con đường là tự cứu lấy mình. Nhưng Hoa Kỳ đang bắc cho anh em chiếc cầu hy vọng để thấy mình không đến nỗi bị lãng quên. Vấn đề chỉ còn là thời gian.
Từ đó chiếc radio đã trở thành vật thiết thân của anh em và kế hoạch bảo vệ nó đã được thi hành tuyệt hảo đến không ngờ. Thoạt tiên trại trưởng cho lệnh các phòng biên chế; các đội được xé lẻ nhập thành các dội mối và chuyến phòng. Trong khi các đội được tập trung ra sân trại để biên chế thì công an vào các phòng lục lọi từng túi đồ của anh em để tìm chiếc radio, cả tiền bạc và những thứ khác mà trại cấm sử dụng lén như tài liệu, hung khí. Chèo đã mất cả buổi tìm kiếm mà không thấy chiếc radio ở đâu cả. Dù có ăng ten mật báo, anh em vẫn giấu được chiếc radio mà không bị lộ. Vài ngày sau, chiếc radio lại cung cấp tin tức cho anh em trong trại làm chèo lên ruột, nhưng đành làm ngơ.

Tin chiếc radio lọt tới cấp trên. Bộ Nội vụ cử toán cán bộ điều tra bất thần xuống trại khám xét các đội bị nghi ngờ giữ chiếc radio nhưng cũng thất bại. Đúng là kẻ cắp gặp bà già; anh em có cách giấu chiếc radio mà chèo dùng cả bao nhiêu con mắt lẫn máy dò vẫn không phát hiện ra được. Sau đó Bình không biết chiếc radio đi về đâu và tin tức bên ngoài cũng thưa thớt dần. Chuyện chiếc radio từ đó đã thành huyền thoại.
Anh em tù ở trại B còn tổ chức kỷ niệm ngày Quân lực 19 tháng 6 ngay trong phòng giam làm chèo coi đội hoảng hốt, phải vào khuyên anh em tránh gây ồn ào khiến cả trại chú ý. Phạt cả đội thì chuyện nhỏ hoá ra to, nên chèo đành xuống nước năn nỉ anh em cho xong việc. Tinh thần yêu quân đội của anh em vẫn còn tiềm tàng trong tim óc, mặc dù anh em đã phải trải qua những đợt học tập tẩy não từ ngày mới bước chân vào trại giam Long Giao, Suối Máu, cho đến khi ra miền Bắc vẫn còn phải học tập, kiểm thảo.
Thời gian sau, trại cho phép các thân nhân được thăm viếng anh em tù nhân vào ngày chủ nhật. Các bà đã phải vất vả đi xe lửa từ Nam ra Bắc ba bốn ngày đêm, rồi thuê xe ba gác chở các gói quà từ ga Phủ Lý vào tận trại Ba Sao để trao cho chồng.
Những giây phút gặp mặt thật cảm động, mà có lẽ thơ văn khó diễn tả nổi tâm trạng của người ở chốn lao tù và người ở lại trong cô đơn. Người chinh phụ thời nay còn lận đận hơn cả người chinh phụ thời xưa mà nho sĩ Đặng Trần Côn đã diễn tả trong Chinh Phụ Ngâm do ông viết vào năm 1741:
“Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Gặp nhau tay bắt mặt mừng, lệ như muốn chảy. Bao năm xa cách nhau, chàng ở chốn lưu đầy, thiếp ở tận chân mây, mà 15 phút hội ngộ chỉ khiến con tim đau khổ thêm, nhưng có vẫn còn hơn không.Trại còn ưu đãi cho vài tù nhân đặc biệt cốt gây ảnh hưởng tuyên truyền khi họ sắp được thả, bằng cách cho vợ ra thăm được ngủ lại với chồng một đêm. Trong nha tiếp tân ngoài trại có kê sẵn chiếc giường tre cho hai người nằm bên nhau hàn huyên tâm sự. Có cả chiếu cho họ đắp đở lạnh. Đêm ấy có lẽ là đêm nhớ nhất trong đời tù!
Bình không nghĩ đến vợ con ra thăm mình vì chàng biết vợ con đang ở trong cảnh quẫn bách, có kiếm chác được đồng nào thì ăn cho qua ngày, đâu có nổi tiền đi tàu xe ra thăm mình. Thế nhưng một buổi trưa chủ nhật, chèo vào trong phòng kêu chàng ra gặp thân nhân. Chàng ngạc nhiên không biết ai tới thăm mình,vợ chàng hay bố mẹ chàng ở Hà Nội.
Khi đến nhà tiếp tân, chàng nhận ra hai cụ thân sinh và người em trai ngồi chờ sẵn. Người em trai út được sinh ra lúc chàng ở trong Nam nên bỡ ngỡ nhìn chàng. Vừa mừng, chàng vừa cảm động thấy bố mẹ đã già. Ông cụ là công chức cũ, một tiểu tư sản thành thị trước khi Việt Minh về tiếp quản Hà Nội. Cái thời phong lưu của giai cấp ông nay chỉ còn là cái bóng mờ. Trên mình ông bây giờ không còn bộ vét trắng cho mùa hè, bộ vét nâu cho mùa đông, đầu đội mũ phớt, chân đi giầy bóng, mà thay vào đó là bộ quần áo bốn túi tứ thời mầu rêu nhạt, nhàu nát, chân đi đôi dép nhựa. Sau một thời gian làm việc cho ngành xây dựng, ông về hưu; tiền hưu trí hàng tháng chỉ đủ mua thuốc lá hút. Có lần nhận được lá thư của ông gửi qua Pháp, ông cho biết bị sạn thận, chàng đã phải gửi thuốc cho ông theo đường dây này. Bà cụ nay mặc áo nâu sồng giản dị, thay cho áo phin nõn ngày trước. Cụ rơm rớm nước mắt nhìn đứa con lưu lạc vào Nam, nay lại xuất hiện ở nhà tù này.
Khi ông cụ vào Saigon thăm Bình thì chàng đang ở trại Suối Máu. Mãi sau này Ngọc mới cho ông biết chàng đang ở trại tù Ba Sao. Hai cụ và cậu con út đi xe lửa từ Hà Nội xuống Phủ Lý, mang theo một túi quà nhỏ cho chàng. Lúc đầu trại chỉ cho tù nhận 5 ký quà, sau này trại mới cho nhận nhiều hơn, nhưng không cho nhận tiền mặt.
Cả bốn người ngồi trên chiếc ghế dài, gần chỗ viên chèo ngồi quan sát. Ông cụ ân cần bảo chàng:
- Anh đừng lo gì cả, gia đình anh ở trong ấy bình an vô sự, các cháu đều ngoan ngoãn, còn gia đình ở ngoài này vẫn như thường. Anh cứ yên tâm học tập cho tốt.
Câu nói của ông cụ không chỉ cốt an ủi chàng mà để viên chèo khỏi dòm ngó trong lúc cha con nói chuyện với nhau.
Sau 15 phút gặp gở là cảnh chia tay. Bình xách túi quà đi theo viên chèo vào trại, còn bố mẹ và em chàng đi xuống con đường dốc đá hiu quạnh về Phủ Lý.
Vừa tới nhà trực ngoài cổng trại, viên chèo bảo chàng đem gói quà vào bên trong cho một chèo trực ban khám xét. Gói quà chỉ có một bó rau muống, một gói cá khô, một gói đường thẻ, một gói đậu xanh và lọ nylon đựng mỡ heo, thêm 3 kí gạo. Viên chèo mở từng gói ra xem không thấy gì, lúc y vạch bó rau muống thấy tờ giấy bạc năm chục mầu xanh gấp làm tư.
- Thế lày nà phạm lội quy của trại. Nần sau không cho thăm viếng và nhận quà đấy nhé.
Vừa nói, viên chèo vừa nhét tờ giấy bạc vào túi, rồi bảo chàng ký vào tờ biên bản. Sau đó y cho chàng đem gói quà vào trong trại. Bình nghĩ năm chục đồng tuy nhỏ nhưng có thể mua được nửa cân thịt do chèo đem vào trại bán cho tù theo chế độ ba lợi ích. Không chỉ riêng chàng mà những anh em khác cũng đã bị chèo tịch thu tiền bạc trong những gói quà, họa hoằn mới có người trót lọt.
Chiều hôm đó, chàng có dịp đãi hai người bạn nằm kế bên một bữa ăn tuơi có cơm, rau muống xào và cá kho do chính tay chàng nấu phía sau nhà giam, với vài thanh củi rừng lượm lặt. Thật hãn hữu mới được ăn một bữa no nê như thế.
Thỉnh thoảng vẫn có vụ chèo tịch thu quần áo tốt của anh em đem bán cho dân trong lúc đi lao động. Trong đội Bình có anh đem bán chiếc áo jacket còn tốt cho một tài xế lái xe ủi đất của xưởng đúc gạch dưới đồng.Trời mùa đông rét cắt ruột nhưng anh vẫn cởi áo ra bán lấy tiền cải thiện miếng ăn. Lúc anh vừa cầm tờ giấy bạc một trăm đồng từ tay người tài xế thì viên chèo tiến lại tịch thu cả áo lẫn tiền. Y nhìn hai người, nạt nộ:
- Trại cấm mua bán đổi chác mà các anh vẫn cố tình vi phạm nội quy. Cái này là tang vật đấy nhá. Khỏi chối cãi vào đâu được.
Y hỏi tên hai người rồi lấy bút và sổ tay trong túi áo kaki mầu vàng ra viết. Người tài xế vẫn co ro trong chiếc áo bộ đội xanh rêu đã bạc mầu. Còn anh bạn cũng lạnh không kém vì mất chiếc áo ấm mà anh đã có công mang từ trong Nam ra đây.
Chỉ khi anh em nhận được quà nhiều, có tiền bạc rủng rỉnh mua thực phẩm của chèo bán, anh em tù nhân mới được đối xử dễ dãi hơn, nạn chèo tịch thu đồ của tù cũng bớt đi.
Đã bao năm Bình không còn biết cái rét cắt da của đồng ruộng miền Bắc lúc cuối năm. Bây giờ phải lội ruộng làm cỏ, nhổ mạ cho nông dân trong xã, chàng mới cảm thấy chân tay tê cóng. Người dân vùng Phủ Lý vốn nghèo sẵn, trông vào hai vụ lúa thì không đủ ăn, phải trồng thêm hoa mầu và đi lên tỉnh làm thuê gánh mướn. Cái nghèo này đã phơi bầy trước mắt anh em tù nhân mỗi lần chuyển trại qua các tỉnh miền Bắc, từ thượng du xuống đồng bằng. Dân chúng lơ là với các hợp tác xã nông nghiệp vì lối làm ăn tập thể không có hiệu quả, lại nẩy sinh ra tham nhũng, bóc lột trong lớp cán bộ quản lý kém cỏi, hống hách.
Mỗi lần mùa đông tới lại cướp đi mạng sống của vài tù nhân già yếu, bệnh hoạn ở trại Ba Sao. Anh em lại phải ngậm ngùi đưa tiễn họ ra bìa rừng, xó núi lạnh lẽo không một nén hương. Nghĩ đến họ, chàng nhớ đến đoạn thơ Chiêu Hồn của cụ Nguyễn Du [4] đã tả các linh hồn bơ vơ phiêu bạt khắp bốn phương trời:
Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây,
Hoặc là bụi cỏ bóng cây,
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ”.
Họ là những con đại bàng đã gẫy cánh. Họ ra đi vĩnh viễn trong âm thầm để những người còn lại có cơ hội phục quốc như chàng vẫn suy nghĩ:
Chim bằng thất thế không quên gió,
Tráng sĩ sa cơ vẫn nhớ quê.
Hẹn với non sông ta phục quốc,
Ngàn hoa nở rộ lúc xuân về.
Đã lâu ai cũng tưởng Nhạc Vàng chết theo thời gian. Bất chợt một đêm trăng sáng, Bình nghe giọng hát quen thuộc của nữ ca sĩ Thanh Thúy từ phía cổng trại vọng vào chỗ chàng nằm. Nhớ hồi còn phòng trà ở đường Cao Thắng, Saigon, chàng cùng người bạn đã nghe Thanh Thúy hát với giọng trầm buồn mà nhà văn Mai Thảo gọi là “ Tiếng hát lúc không giờ. ” Thì ra chèo cũng thích nghe nhạc vàng mà mấy ông làm văn hoá đỏ cứ lên án là đồi trụy.
Thế rồi một tin giật gân đến với anh em tù nhân qua sự tiết lộ của chèo. Anh chèo trong ban quản lý đã cuỗm một ít tư trang của tù nhân gửi cho trại rồi chuồn êm xuống Hải Phòng. Không rõ hậu quả của việc này được giải quyết ra sao nhưng anh em hoang mang không rõ chiếc đồng hồ của mình có còn ở lại trại hay đã cất cánh bay theo anh chèo đào ngũ. Cũng chẳng qua sự nghèo túng đã xúi bẩy anh ta làm bậy, nhưng liệu anh ta có thoát khỏi cảnh nghèo và nhà giam đang chờ đợi anh ta không?
Ôi canh chiều tà Ba Sao sao mà buồn hiu hắt! Dẫy núi đá trùng điệp toát lên mầu trắng cô đơn, bầy chim bay về tổ xao xác, bờ lau hiu quạnh, con suối âm thầm. Tâm hồn người tù cũng lạc lõng, đơn côi như dải mây trắng còn vương trên đầu non nhạt nắng.
Trại Ba Sao đã đem lại cho chàng những băn khoăn về thân phận con người Việt Nam bị lạc vào chủ nghiã Mác xít hơn nửa thế kỷ nay. Những điêu tàn của cuộc chiến không chỉ in đậm trong lịch sử, mà còn đọng mãi trong tâm tư mỗi người, không dễ gì mai một trong một sớm một chiều.
Chàng mong rằng một ngày nào đó, trại Ba Sao sẽ trở thành một trường tiểu học với phong cảnh vui tươi cho trẻ em trong vùng Phủ Lý; như thế sẽ tốt hơn là một trại tù lưu cữu. Trại đã có một trường mẫu giáo với hàng cây phi lao cao vút do công sức của tù nhân xây dựng.
Sau này, các em học sinh trong vùng sẽ nhắc đến những dấu ấn của thế hệ tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà đã để lại trên từng kiến trúc và phong cảnh của trại. Họ là những người đã từng chiến đấu dũng cảm mà còn đem hồi sức ra xây dựng lại quê hương tại những nơi thâm sơn cùng cốc và hoang tàn, để quê hương mình vươn lên và đẹp mãi.

Chú thích
[1] Tháng 2, 1979, Trung Cộng tung 30 sư đoàn tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc để “Dậy cho Cộng sản Việt Nam một bài học” vì đã xâm chiếm Campuchia do Polpot lãnh đạo. Cuối năm 1978, Polpot theo lệnh quan thầy Đặng Tử Bình, xua 10 sư đoàn tràn qua biên giới tây nam Việt Nam tàn sát người Việt. Để trả đũa, CSVN chiếm Campuchia trong 10 năm và dựng Hun Sen làm thủ tướng. Lý do khác khiến Đặng Tử Bình trừng phạt Bắc Việt vì phe Lê Duẩn thân Liên Xô, lạnh nhạt với Trung Cộng. Trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài 1 tháng với Trung Cộng, CSVN đã để mất khoảng 800 km2 gồm một số cao điểm dọc biên giới, thác Bản Giốc ở Cao Bằng và phần đất phía nam Ải Nam Quan ở Lạng Sơn.CSVN đã bưng bít dư luận việc mất đất biên giới cho Trung Cộng.
[2] Tướng Nguyễn Chấn Á là cháu cụ Nguyễn Thiện Thuật, một sĩ phu đã tham gia phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỷ 19 rồi chạy qua Tàu sống lưu vong. Tướng Á phục vụ quân đội Trung Hoa lâu năm và được Thống chế Tưởng Giới Thạch cử về Việt Nam làm cố vấn cho Tổng cục Chiến tranh Chính trị Quân lực VNCH, nên ông đã phải đi tù cải tạo sau ngày 30 tháng Tư, 1975.
[3] Bidon (Pháp ngữ): Bình đựng nước nhỏ của nhà binh bằng nhôm.
[4] Thi hào Nguyễn Du (1766-1820), quê quán Nghệ Tĩnh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương Mười Bốn
Trở lại Saigon lưu đày
 
 
Buổi chiều cuối năm rét đậm, mặc dầu có chút nắng. Sau mấy ngày chờ đợi làm xong thủ tục ra trại, Bình và đám tù nhân lên xe rời trại Ba Sao, Phủ Lý để về nhà ga Hà Nội đáp tàu về Nam.
Nhìn lại thung lũng Ba Sao, chàng cảm thấy một nỗi xót xa cho các tù nhân.
Thế là chàng đã có thêm một đoạn đời với những cái tên khó quên: Long Giao, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn, Ba Sao, những cái tên gắn chặt với một chuỗi dài chất ngất kỷ niệm: băng ngàn xẻ núi, đội đá vá trời, ngâm mình làm trâu. Một đoạn đời mà mỗi bước đi là một suy nghĩ, mỗi đêm dài là một trăn trở về hiện hữu và thân phận. Chàng nghĩ cuộc lưu đày vẫn tiếp diễn trên quê hương, nhưng người tù vẫn chưa mất tự do. Tự do vẫn lóe sáng như ánh sao trong đêm tối. Như Sartre đã từng nói khi nọc độc thấm vào tư tưởng ta thì mỗi tư tưởng chính xác của ta là một sự chinh phục trở lại.
Trong khi chờ đợi ở ga Hàng cỏ, Bình gặp lại song thân. Nhà chỉ cách ga vài trăm thước nên chàng nhờ cậu bé đánh giầy về báo tin. Từ ngày đất nước chia đôi, chàng không được nhìn lại dáng vóc yêu kiều của Hà Nội và mầu sắc huyền ảo của những tà áo bay quanh Hồ Gươm. Hà Nội trước mắt chàng lúc này khoác mầu xám của người và vật.
Gần ba chục năm xa cách, các cụ già đi nhiều. Bao nhiêu khắc khoải mong nhớ cũng chỉ thu lại trong vài câu chuyện tản mạn về gia đình. Không ai nhắc tới chiến tranh, tù đầy. Đang khi trò chuyện với hai cụ và cậu em trai vừa ra, chàng thấy vài người bám quanh các người tù hỏi mua đồ. Một chị đàn bà đến gần chàng hỏi:
- Anh có gì bán không?
Chàng nghĩ đến cái gia tài cỏn con: chiếc đồng hồ đeo tay của chàng tuy cũ nhưng vẫn tốt, chiếc mền đỏ của Trung Quốc, chiếc áo dạ cộc tay mặc trên người, hai thứ này của trại phát cho tù đem về. -Đồng hồ một cửa sổ có ngày, mền đã cũ chưa giặt, nếu chị muốn lấy thì tôi để lại với giá hời.
Vừa nói, chàng vừa lột đồng hồ từ tay ra, rồi trao cho chị ta chiếc mền. Chị ta vui vẻ nói:
- Vâng anh để cho em. Tranh thủ lên kẻo tàu chạy.
Chàng hiểu ý nghĩ gấp gáp của chị ta. Hai món đồ này sẽ giúp chị ta có thêm chất liệu để sống. Trông chị thật nghèo. Cầm năm trăm đồng tiền glấy nhầu nát bỏ vào túi, chàng nghĩ có thể mua được vài đĩa cơm lúc đi tàu.
Tám giờ tối tàu chạy. Chàng vẫy tay những người thân còn đứng ở sân ga. Ngồi cạnh chàng lại là một chiến hữu, anh Hải, một họa sĩ làm ở Cục Tâm Lý Chiến. Anh về cùng một chuyến tàu với chàng. Chợt nhớ cái Tết Mậu Thân 1968, cả hai đã bị cắm trại một trăm phần trăm từ sáng sớm ngày mồng Một, trong khi tiếng súng đôi bên còn nổ ở nhiều nơi trong Saigon, Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh. Cả hai đã cộng tác với nhau để có những tài liệu, bích chương, truyền đơn nói lên được tinh thần bất khuất của quân dần miền Nam. Cuộc chiến bằng chữ nghĩa, hình ảnh, âm thanh lúc nào cũng rầm rộ không kém cuộc chiến bằng súng đạn vang rền. Người Bắc, kẻ Nam, cả hai không ngờ còn gặp lại nhau trên chuyến tàu này.
Trong toa tàu lúc ấy chật ních người. Hai người ngồi chung với bộ đội, đám con buôn, dân đi kinh tế mới ở miền Nam. Ánh đèn mờ ảo chập chờn. Tiếng nói ồn ào không ngớt. Khói thuốc bay lên lởn vởn không có lối thoát. Hàng hóa để tràn lan trên lối đi giữa toa. Bình ngất ngưởng theo con tàu lắc lư, chạy rì rì trên đường sắt. Với khoảng hai chục cây số một giờ, chắc phải ba ngày đêm hoặc hơn nữa tàu mới về tới Saigon. Bất chợt cô gái ngồi đối diện với chàng cất giọng Nghệ Tĩnh nằng nặng:
- Các anh có thuốc cảm cho em xin.
Chàng còn vài viên thuốc cảm khi nhận được quà thăm nuôi, liền đưa cho cô ta.
- Cô uống đi, ngày ba viên thôi nhé.
Thấy chàng có mang theo cái bình nhựa đựng nước, cô ta không ngại ngùng nói:
- Anh cho em tí nước.
Chàng trao bình nước cho cô ta uống viên thuốc. Sau đó cô ta mới trò chuyện với chàng. Vừa tốt nghiệp đại học, cô ta được chuyển vào Nam nhận công việc ở Saigon Thủy Cục. Trời lạnh, cô chỉ mặc chiếc áo vải bốn túi mầu xanh đã bạc. Đi cùng với cô ta có gia đình đông người ngồi ở phía sau với ngổn ngang đồ đạc. Lớp di dân kinh tế, cán bộ, bộ đội vẫn dồn dập vào miền Nam để đổi mới cuộc sống nghèo khổ kinh niên của họ tại vùng đất hứa. Hồi còn đi lao động mỗi ngày ở quanh trại Yên Bái, chàng đã gặp người dân Thái Bình, nơi đông dân nhất miền Bắc lên lập nghiệp, nhưng họ vẫn bị nghèo đói nơi đèo heo hút gió; nương rẫy vẫn không nuôi nổi những miệng ăn; không đem lại những manh áo ấm cho trẻ thơ phải cởi trần giữa mùa đông rét mướt. Năm 1954, có hai triệu người từ miền Bắc đã di cư vào Nam tìm tự do. Bây giờ, cuối thế kỷ 20, miền Nam vẫn là vựa lúa, núm vú nuôi lớp dân nghèo từ Bắc vào.
Lúc tàu đậu trước ga Thanh Hóa vào sáng sởm, vài bà già ngồi co ro bán quà bánh, tiếng trẻ rao bán nước trà inh ỏi, đám con buôn tấp nập lên tàu. Nhà ga bị bom phá sập đã được xây lại, mấy gian nhà trông tiêu điều qua lớp sương mù. Lúc tàu chuyển bánh, những vết tích chiến tranh còn ngổn ngang dọc đường. Vài đoạn đường oắt cong queo. Một khúc cầu đổ nghiêng trên sông. Hình như không có cây cầu nào là không bị bom phá sập, không tuyến đường sắt nào là không bị cầy lên.
Đoạn đường từ Thanh Hóa vào Vinh thật buồn với bầu trời lạnh xám. Anh bạn họa sĩ lấy bút chì ra vẽ trên mẩu giấy bằng bàn tay. Chàng tưởng anh vẽ phong cảnh hóa ra anh vẽ chân dung còm cõi của chàng. Cái mũ cối đội trên đầu, hai vết nhăn kéo dài trên má. Đôi mắt nheo lờ mờ. Vẽ xong, anh tặng chàng làm kỷ niệm. Con người vẽ mộc bản tài hoa lúc nào cũng có cây bút chì làm bạn, còn chàng có cây bút không biết viết gì lúc này. Đành suy nghĩ vẩn vơ.
Buổi tối, hành khách đang gật gù ngủ bỗng nghe thấy tiếng cướp. Mọi người thức dậy nhốn nháo. Công an rượt đuổi chẳng thấy cướp đâu. Tàu quá đông người, cướp lẻn đi lúc nào không ai hay. Các túi đồ còn treo ở cửa sổ đóng kín được hành khách tự động bỏ xuống chỗ mình nằm. Có người còn nằm phủ lên đồ đạc của mình cho chắc ăn. Nhưng họ vẫn còn lo nơm nớp cho đến sáng.
Tàu về đến Quảng Trị, trời nắng ấm một chút. Nhớ lại mùa Hè năm 1972, Quảng Trị, Kon Tum, Bình Long đã đi vào lịch sử. Bình nghĩ đến quá trình trưởng thành và chiến đấu của Quân lực VNCH trong 25 năm. Những chiến thắng của quân đội đã được kết tinh bởi tinh thần yêu nước và đoàn kết của quân dân miền Nam. Cho dù miền Nam sụp đổ trong ngày 30 tháng Tư 1975 bởi những lý do ngoài ý muốn, thì tinh thần đó vẫn còn khắc ghi trong lòng người quân và dân.
Tàu càng xuôi về Nam càng thêm ấm. Huế với dòng sông Hương chảy lững lờ như một dải lụa. Đèo Hải Vân vẽ nên bức tranh thủy mặc tuyệt diệu. Bãi biển Phan Thiết phơi mình dưới nắng bạc mênh mông. Sau ba ngày bốn đêm, tàu về tới ga Bình Triệu, Thủ Đức.
Bình chia tay anh bạn từ lúc này để mỗi người đi vào cuộc sống riêng, cũng là cuộc lưu đày thứ hai của mình.
Người đầu tiên chàng gặp là Ngọc, người vợ yêu dấu, nhỏ bé đang đứng đợi ở sân ga, bên cạnh đứa con trai đã đèo mẹ ra bằng chiếc xe đạp cũ kỹ. Như từ cõi chết trở về, chàng xúc động nhìn vợ con. Đôi mắt Ngọc ánh lên một niềm vui, nàng ôm chàng trong giây lát, cố dằn những xúc cảm trong lòng. Hình như bao thương nhớ, tủi hận trong những tháng năm chờ đợi dồn cả vào vòng tay của nàng, vòng tay tuy mềm yếu mà đầy nghị lực.
Rồi hai người lên xe xích lô về nhà. Đứa con trai lên xe đạp đi trước. Bộ mặt phố xá như cũ. Hàng quán mọc thêm nhiều trên các lề đường. Vỉa hè đã được xới lên để trồng những luống khoai lang xơ xác. Xe đạp vẫn đổ xô trên các ngả đường đông người qua lại. Nhìn quang cảnh rất quen thuộc ở xung quanh, chàng cảm thấy dửng dưng như không còn gắn bó với Saigon xa xưa. Chàng bỗng trở thành kẻ lạ mặt trên những đoạn phố xá mà chàng đã đi qua nhiều lần.
Khi chàng bước vào con hẻm đầu đường Nguyễn Trãi Saigon, người lối xóm nhìn chàng với vẻ ngạc nhiên. Ông già gác cổng
vô gia cư đã không còn nữa. Sau ngày Việt cộng vào Saigon, ông chẳng nhận được hạt gạo nào của phường, khóm, nhưng bà con bán hàng ăn ở đầu hẻm vẫn tiếp tục nuôi ông cho đến khi ông mất. Thật chí tình với kẻ nghèo bơ vơ.
Vừa bước chân vào thềm nhà cũ, được thở không khí mát mẻ nơi mình đã ở từ trước, chàng cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, thư thới. Gần sáu năm qua các con chàng đã lớn và chăm ngoan. Ngọc già đi một chút nhưng nàng mập ra, nét mặt tươi lại từ lúc chàng trở về. Đó là phần thưởng tinh thần quý báu dành cho chàng.
Tối hôm đó, bà con đến thăm chàng như mừng một người đi xa về. Chàng được vợ kể chuyện nhà sau khi chàng đi học tập. Trong lúc mọi người ăn bobo thì cán bộ phường tên Sương vào nhà xem gia đình nàng ăn uống ra sao, có miếng thịt gà, thịt heo trên mâm không, nếu có thì bị phê bình kiểm thảo là thành phần tư sản, bóc lột chăng?
Chuyện thương tâm là bà hàng xóm có chồng đi học tập bước sang hỏi nàng:
- Chị có sữa cho tôi mượn một hộp. Lúc này có con nhỏ mệt quá chị ơi.
Nàng đã nhanh chân mua được vài hộp sữa cho đứa con gái mới một tuổi ngay buổi sáng ngày 30 tháng Tư, ngày Saigon thất thủ. Sau đó sữa biến dần trên các quầy hàng và được bán chợ đen. Trẻ em đói sữa thì kêu khóc, còn bà mẹ đói cơm làm sao có sữa cho con bú? Thế là nàng đưa cho bà ta một hộp sữa rồi nói:
- Em biếu chị. Em cũng đang chạy ngược chạy xuôi để kiếm sữa cho con.
Vài hôm sau bà ta lại sang hỏi mượn ít tiền đi chợ. Nàng sợ bà ta không còn gì để ăn, liền đưa cho bà mượn vài chục, mặc dầu nàng kiếm được đồng tiền lúc này rất vất vả.
Có một số cán bộ chuyên đi dụ dỗ các bà có chồng đi tù cải tạo, hứa hẹn lo cho các ông chồng sớm được về đoàn tụ với gia đình. Nhưng tiền mất, tình mất, mà chồng vẫn mịt mù ở chốn lao tù. Cái bẫy này có nhiều bà sa vào, cuộc đời lại thêm một lần đau đớn ê chề, đổ vỡ. Bà hàng xóm cũng là nạn nhân của cái bẫy này. Đôi lúc bà hổ thẹn khi gặp bà con trong hẻm.
Sau lần ông cụ thân sinh ra Bình vào thăm chàng mà không gặp, lần sau cả bà cụ và ông cụ vào thăm lần nữa. Bà cụ kể cho nàng nghe thời đi tản cư về Sơn Tây với những nỗi cơ cực. Ngôi nhà thờ tổ ở Giảng Võ bị đốt. Hoành phi, câu đối, bàn thờ cũng ra tro. Hai năm sau, các cụ hồi cư. Ông cụ dắt các con về trót lọt, nhưng bà cụ gánh đồ đi sau bị du kích bắt giam một tháng mới thả ra. Sau khi Cộng sản về tiếp quản Hà Nội, hai cụ mất hai căn nhà vì lý do có con đi vào Nam theo ngụy. Ở Hà Nội, ông cụ cứ mong mỏi Bình đưa vợ con đi ngoại quốc để tránh gặp những khó khăn mà ông đã phải trải qua với Cộng sản; còn bà cụ thì mong chàng ở lại với đại gia đình.
Bình có người em là Bông ở Mỹ Tho nên hai cụ ghé xuống thăm trước khi về Hà Nội bằng xe lửa. Chú em đã bỏ nhà xuống Hải Phòng đáp tàu Mỹ vào Nam năm 1955, trong thời hạn di cư ba trăm ngày của Hiệp định Genève. Trong trận Việt cộng đánh Phước Long ngày 6 tháng Giêng 1975, chú là sĩ quan ban 3 ở tòa tỉnh đã cùng bộ chỉ huy chống trả cộng quân mãnh liệt, trước khi rút đi vì quân số địch quá đông. Sau đó trong một cuộc phục kích của Việt cộng ở Lái Thiêu, chú em bị thương ở mắt rồi được giải ngũ về Mỹ Tho lập gia đình.
Ít lâu sau có vợ chồng cô em vào nhà Bình ở vài ngày để buôn một ít hàng ra Hà Nội bán. Ngọc kể đêm đầu nằm ngủ trên nền gạch hoa ở phòng khách, chú em rể đã lấy sợi dây cột túi đựng đồ vào chân. Nàng bảo cô em:
- Chú sợ mất đồ hay sao mà phải làm vậy. Ở trong nhà an ninh mà.
Cô em thẹn thùng bảo:
- Nhà em bị mất đồ trên xe lửa Thống Nhất, nên khi nằm ngủ là cột túi đồ vào cổ chân cho chắc ăn. Chắc nhà em sơ ý. Để em bảo.
- Thôi được. Cô để chú ấy ngủ.
Lát sau nghe vợ nói, chồng tháo dây cột đồ ra để ngủ cho thoải mái.
Khi chú em hỏi mua chiếc xe lambretta, nàng bán rẻ cho chú ấy đem lên tàu về Hà Nội. Chiếc xe còn chạy tốt, những lúc không có xe jeep, Bình vẫn đi làm bằng xe này. Sau khi vợ chồng cô em ra về, nàng cảm thấy áy náy, thương hại cho cả hai người. Nàng đã không có gì để giúp đỡ hai người phải lặn lội từ Hà Nội vào đây mua ít hàng tạp hóa đem về bán kiếm chút lời.
 
Nghe vợ kể những chuyện đau lòng, Bình nghĩ cái xã hội cũ đã vỡ thành những tảng băng, và số phận những con người đứng trên những tảng băng đó đều rất mong manh. Nhiều người đã trốn khỏi nước bằng con đường vượt biên, những người ở lại vẫn nhẫn nhục sống trong cảnh nghèo đói, đầy lo âu.
Nhiều người sống bằng lối buôn bán vặt, lấy vỉa hè làm chỗ dung thân. Cà phê, thuốc lá, hàng ăn la liệt trên hè phố. Những đứa trẻ nghèo, mồ côi, đi bới những đống rác nằm ụ trên đường phố, gom nhặt từng cái vỏ chai, lon nhôm, bao ny lon để bán lấy tiền độ nhật.
Cái đói đã đành, cái nhục còn đeo đẳng mãi. Ngọc đã phải cắn răng chịu đựng tất cả. Một giờ sáng nàng đã phải đi quét đường dưới con mắt xoi mói của cán bộ phường. Đi gửi quà cho chồng, nàng phải ngồi xếp hàng từ nửa đêm với các bà vợ sĩ quan trước cửa nhà bưu điện, nghe công an xỉ vả, đánh đập những bà ngồi không ngay hàng thẳng lối. Nàng nghĩ mình phải vươn lên trên tất cả những khổ ải, cả những cám dỗ vật chất có thể đẩy mình lao xuống sâu vực thẳm bất cứ lúc nào.
Mấy người em vợ Bình đã vượt biên qua Mỹ từ vài năm nay, gia đình chỉ còn lại hai ông bà già và vài người con chưa có cơ hội để đi. Cái tâm trạng chỉ muốn đi chứ không muốn ở đã làm cho cuộc sống của nhiều gia đình trở nên bấp bênh; ít người muốn tính chuyện làm ăn lâu dài.
Việc lập gia đình của con cái đến tuổi trưởng thành cũng bị trì hoãn. Cái không khí sống trong gia đình đã nguội đi nhiều; không còn ồn ào, đầm ấm như xưa. Mỗi người đi khỏi nhà là hạnh phúc bị vỡ một mảng. Buồn bã hơn khi một người thân ra đi biệt vô âm tín, để lại nỗi xót xa cho những người ở lại. Nhưng cái chết không còn đáng sợ cho những người coi việc ra đi là một lẽ sống, và làn sóng người vượt biên vẫn cứ nối dài.
Thỉnh thoảng gia đình bên Ngọc nhận được thùng quà của con cái từ Mỹ gửi về. Quần áo, vải vóc, thuốc men sau đó lại được con buôn đến tận nhà mua. Hễ có thư từ, hình ảnh của con cháu gửi về, hai cụ lại chuyển cho mọi người coi. Đó là nguồn an ủi và cũng là động cơ cho những người còn lại đang muốn đi khỏi vòng kìm kẹp.
Trong ngõ Bình ở là cảnh vàng thau lẫn lộn. Đám cán bộ nghèo đến ở các căn nhà sĩ quan bỏ đi nước ngoài, nay đã giầu có trông thấy, trong đó có gia đình cán bộ Hưng một hồi om sòm vì cảnh ghen tương.
Ít lâu sau ông đại tá ở trước cửa nhà chàng được tha về. Ông cũng buồn về thời thế và gia cảnh mà đành sống thầm lặng cho qua ngày. Hai người đàn bà ở bên trái nhà chàng vẫn độc thân; họ chưa muốn lấy chồng nhưng có tình nhân ghé thăm.
Buổi tối, chàng nghe tiếng ông giáo sư hóa học tranh luận với vợ về thánh kinh ở bên phải nhà chàng. Ông nói như giảng bài ở lớp nên âm thanh lọt sang chỗ chàng. Ông bỏ nghề dạy học từ lâu và có lúc đã làm xà phòng ở nhà để bán. Vợ ông khôn lanh nên được vào làm sở thuế. Đứa con trai đã đi bộ đội. Hôm nào bận giảng bài cho con thì ông không bàn với vợ về kinh thánh. Có thể trong kinh thánh còn nhiều điều phải bàn cho sáng nghĩa thêm.
 
Bình chợt nhớ những ngày trước năm 1975, căn nhà chàng ở hoàn tòan im lặng về đêm... Chàng đã dùng hết khoảng thời gian từ chín giờ tối đến nửa đêm để viết bài cho báo và đài phát thanh. Bây giờ không còn thói quen ấy, chàng đọc sách liên miên.
Sau khi chàng đi trình diện công an phường theo chế độ quản chế một năm, thỉnh thoảng công an bất chợt đến nhà chàng vào ban đêm để kiểm tra nhân khẩu. Hễ vắng mặt người nào là bị xóa tên trong hộ khẩu. Chàng vẫn còn bị quản thúc nên không thể đi đâu xa.
Ông tổ trưởng dân phố trước là giáo viên, bà tổ phó an ninh có chồng là sĩ quan đi học tập về đã vượt biên, cũng là tai mắt của công an cả đây. Thỉnh thoảng bà tổ phố an ninh đưa một anh chàng về nhà tâm sự trong đêm khuya vắng vẻ. Cuộc đời không chỉ có một con đường sáng mà còn có những nẻo tắt đầy tối tăm!
Ngoài Ngã Sáu, vài quán ăn đêm vẫn còn nhưng đã từ lâu vắng bóng các đôi trai gái thanh lịch, các vũ nữ và ca sĩ từ các phòng trà ca nhạc ghé vào ăn nhậu. Thay vào đó là dân tứ chiếng, đôi khi một vài gã thương binh bộ đội ăn không trả tiền rồi rút lựu đạn ra hăm dọa làm mọi người hoảng vía.
Vài đứa bụi đời cũng kéo về đây làm ăn, giật tiền bạc của thực khách rồi chạy trốn vào trong ngõ. Có những tiếng la lối om sòm từ ngoài ngõ và tiếng rượt đuổi của công an trong đêm tối. Trong khi đó, đám dân nghiền sì ke và buôn bán ma túy vẫn hoạt động về đêm ở phía sau Ngã Sáu, đầu đường Lê Lai.
Những đứa trẻ bỏ học cũng gia nhập đám bụi đời sống lang thang ở khu nầy, đêm khuya chúng nằm lăn lóc trên vỉa hè, hoặc leo lên mấy chiếc xe tải đậu ngoài đường nằm ngủ. Cảnh tượng này đã quá quen thuộc với người dân khu phố bởi trong đám bụi đời biết đâu lại chẳng có một vài con em họ.
Có đứa ở trong hẻm, con ông quận trưởng cũ, đã bỏ nhà đi với con bồ, thỉnh thoảng về nhà lấy đồ đạc đem đi bán. Khi nhà chẳng còn gì, nó lại sống bằng cách cướp giựt ở ngoài đường. Ở tù về, nó vẫn quen đường cũ vì không có lối thoát; trong khi đám người thất nghiệp vẫn bu bám các quán cà phê vỉa hè như đàn ruồi.
Đàn bà làm đĩ xuất hiện ở chợ Bến Thành giữa ban ngày, trên cả các đường phố vào lúc chập tối. Cái đói, cái khổ đã xô đẩy con người vào những hố sâu vực thẳm để kiếm sống cho qua ngày, nên không ai than trách họ.
 
Tháng Tư đến với những cơn mưa như trút nước, đem lại cho Bình một nỗi lo âu. Căn nhà chàng đang ở trước kia là của quân đội, Cộng sản vào chàng phải thuê lại của Ban nhà đất Quận 1. Nhà đã mục ở đầu hồi, mưa dột ướt sũng khắp nền nhà.
Trong khi chàng tất tả lên quận xin sửa chữa thì mái ngói sập lúc gần trưa nghe như bom nổ. Đứa con trai chàng thoát chết trong đường tơ kẽ tóc; nó vừa bước qua giữa nhà thì mái trút xuống ầm ầm. Những đứa khác không ở trong nhà nên thoát nạn. Chàng phải đi mượn tấm vải bạt của ông chú họ ở Gò Vấp để che tạm mái nhà trong những ngày mưa nắng. Hai tháng sau, mái nhà mới được sửa bằng tôn xi măng.
Thời gian này, làn sóng vượt biên vẫn tiếp tục. Nhiều người đã đi thoát, nhưng cũng có nhiều người không đi được phải vào tù; nhà cửa bị tịch thu. Một số cán bộ, công an cũng vượt biên tìm cuộc sống mới.
Bình mượn của chú em ở Mỹ Tho một cây vàng cho hai đứa con trai đi vượt biên. Lúc tiễn hai đứa ra bến xe theo ông bạn hàng xóm để đi xe đò xuống Cần Thơ, trời lại mưa gió làm chàng buồn bã vô cùng. Rồi từng ngày lặng lẽ trôi qua, chàng chờ đợi tin tức. Vài ngày sau, hai đứa lại lù lù quay về lúc chập tối. Chàng thở phào nhẹ nhõm. Chúng đã phải lội rừng đầy muỗi, lẩn trốn du kích cả đêm không thấy tàu đâu, đành phải quay về.
Đến chuyến sau, hai đứa theo ông anh vợ và người con xuống Rạch Giá. Tàu ra đến cửa sông thì máy hư, bị thuyền công an ra kéo vào bờ. Thế là cả đám bị giam gần nửa tháng mới được thả. Tiền bạc bị công an thu hết. Hai đứa con chàng lại quay đầu về học tiếp cấp phổ thông trung học ở trường Bùi Thị Xuân.
Một buổi sáng Bình chợt nghe tiếng rao bán bánh chưng ở trước cửa nhà. Một người đàn ông gầy gò, cao dong dỏng, đầu đội mũ vải, vừa dựng xe đạp ngay trước nhà, trên tay lái treo lủng lẳng giỏ bánh chưng và ống điếu thuốc lào bằng tre. Nhìn kỹ chàng nhận ra anh Nguyên ở Chí Hòa. Anh vẫn giữ ống điếu thuốc lào là vật kỷ niệm đi tù của anh ở ngoài Bắc.
- Bánh chưng đây.
Vừa rao, anh vừa nheo mắt nhìn chàng với vẻ hài hước. Giỏ bánh chưng vẫn còn đầy, chàng tiếc chẳng có đồng xu dính túi để mua một, hai chiếc giúp anh. Biết hoàn cảnh nghèo túng của nhau, anh lại đạp xe đi chỗ khác, tấm lưng gầy lại gò xuống dưới ánh nắng chói chang.
Nghĩ đến đường dài từ Chí Hòa lên chợ Bến Thành; đến chiếc xe đạp cũ kỹ của anh, chàng không hiểu anh có thể kéo dài công việc này đến bao giờ. Một thời gian sau chàng được tin anh mất ở cư xá Chí Hòa. Nhiều người đi tù về đã âm thầm từ giã cuộc sống lam lũ.
 
Ngọc kể trong lúc chàng đi tù, nàng đi giữ bãi xe đạp trước Sở Thú và trên đường Lê Lợi để kiếm tiền trả tiền thuê nhà và nuôi các con. Chàng không hiểu một tấm thân liễu yếu như thế lại có thể chịu đựng được công việc đầy cực nhọc, dãi dầu mưa nắng suốt tháng này qua tháng khác. Lại còn bị bà bạn ở cùng hẻm ganh tị, lấy cắp vé giữ xe rồi vu oan cho nàng. Trò đời thật bẩn thỉu. Nhưng nàng được minh oan. Cho đến khi chàng về, nàng được thu nhận vào làm chân thu thuế ở chợ cầu Ông Lãnh.
Mới đầu nàng rất ngại công việc thu thuế lẻ, ngại thức khuya dậy sớm, nhưng cái khó bó cái khôn, nàng phải dấn thân vào chỗ chợ búa, giang sơn của các tay anh chị đứng bến, nơi những người nghèo sống hàng ngày với cái mẹt đựng vài quả chanh, trái ớt, bìa đậu, mớ rau. Có gần gũi những người cùng khổ này mới thấy cuộc sống cơ cực của họ.
Từ ba giờ sáng, lúc đường phố còn vắng tanh, chàng đèo nàng bằng xe đạp đến chợ cầu Ông Lãnh để đón các chuyến xe chở hàng đầu tiên về chợ thu thuế chuyến. Ban ngày khi thu thuế lẻ, nàng đã lơ cho những người nghèo chẳng có hàng họ gì đáng giá. Đối với họ, kiếm được đồng tiền là cả một cuộc vật lộn nơi đầu đường xó chợ. Trong khi đó cảnh giầu sang phè phỡn, kẻ hầu người hạ xuất hiện trước mắt họ. Lớp tư bản đỏ càng lên cao thì lớp nghèo khổ càng tụt xuống đáy.
Sau một thời gian làm ở chợ, nàng bị bệnh máu, phải vào Trung tâm Ung bướu chữa trị. Cảm thương sự hy sinh cho chồng con của nàng, chàng viết bốn câu thơ để tặng nàng:
Phong ba chẳng dập thân bồ liễu,
Bão tố không vùi dạ sắt son,
Thương em nét đẹp chưa mòn,
Thương em mình sẽ vẹn tròn nghĩa nhân.
 
Kể cũng may Bình được cậu em vợ giới thiệu vào Chợ Lớn làm chân kế toán cho một tổ sản xuất phụ tùng xe đạp. Cậu rời nơi này để nhận công việc đi giao tiền của Việt kiều gởi về cho thân nhân ở Saigon và các tỉnh. Cậu lanh lợi nên thích hợp với công việc này; một công việc phải di chuyển thường xuyên nên đỡ nhàm chán như khi ngồi ở bàn giấy viết những con số chi thu trên giấy tờ, sổ sách.
Ngày đầu vào Chợ Lớn làm cho ông Sinh, chàng nhớ lại một Chợ Lớn lúc Bẩy Viễn còn tung hoành ngang dọc khét tiếng. Sòng bài Đại Thế Giới, các tiệm hút nằm sâu trong các đường hẻm, các vũ trường Arc-en-ciel, Grand Monde, Lệ Uyển, xóm Bình Khang một thời hoạt động tưng bừng đã chìm sâu trong dĩ vãng.
Chợ Lớn ngày ấy là chốn ăn chơi của các tay hào phú nướng tiền theo kiểu nhất dạ đế vương; của các tay anh chị thảo khấu, đàn em Bẩy Viễn; của các vũ nữ Tàu, Việt rực rỡ phấn son dưới ánh đèn mầu. Chợ Lớn thời Tổng Thống Diệm đã vắng bóng các sòng bài, tiệm nhảy, nhà chứa.
Sau đó Chợ Lớn trở lại nhộn nhịp làm ăn, các vũ trường mở cửa đón các chàng lính Mỹ tới. Một khúc quanh lịch sử đã qua. Lúc này Chợ Lớn tiêu điều sau đợt Cộng sản đánh sập tư bản. Các tửu lầu, khách sạn, nhà máy không còn thuộc tư nhân mà do quốc doanh quản lý. Đời sống đen tối; nhiều người Hoa đã bỏ xứ đi vượt biên. Dọc đường Đồng Khánh chỉ còn vài tiệm bán quần áo, thuốc bắc, tạp hóa và quán giải khát.
Ông Sinh là con cháu của những người Hoa đến lập nghiệp ở đất Hà Tiên. Vợ chồng ông rời Rạch Giá về Chợ Lớn làm ăn, bắt đầu từ sạp vải đến tiệm bán vàng ở chợ Thiếc. Trong đợt Cộng sản kiểm kê tài sản, vốn liếng của ông mất sạch, mấy chục lượng vàng của ông bị tịch thu. Ông còn phải lên phường làm kiểm điểm cả tuần lễ mới được cho về làm ăn.
Một thời gian sau, ông Sinh mượn vốn liếng của bạn bè, lập tổ sản xuất phụ tùng xe đạp. Ông mua cái máy tiện do Quận 11 tịch thu của tư nhân rồi bán hóa giá cho ông. Khoảng một chục thanh niên và lính cũ vào làm việc cho tổ, vừa làm vừa học. Hết làm phụ tùng xe đạp, tổ của ông lại làm phụ tùng máy dệt. Có lúc ông Sinh than với chàng:
- Mình làm tổ trưởng là làm dâu trăm họ.
Chàng tưởng ông nói giỡn nhưng ông nói thật. Trăm dâu đổ đầu tằm. Muốn có hợp đồng, muốn vay tiền ngân hàng, muốn giảm bớt thuế, mỗi cái muốn là phải đáp lễ bằng bao thư tiền. Còn nhiều cái linh tinh khác bất chợt đến cũng phải lo lót cho xong. Lâu lâu ông phải đóng góp cho phường và cho quận. Sau đó mới tính đến nguyên vật liệu, thợ thuyền và phần ông tổ trưởng. Bài toán kinh tế ấy đã trở thành một cái khuôn rập sẵn, cứ thế mà theo.
Tiền lúc ấy mất giá, lạm phát cao, mỗi lần người con trai ông Sinh đi thu tiền hàng từ ngân hàng quận về là phải mang theo chiếc bao tải đựng tiền. Có khi anh ta chở chàng đi theo bằng xe vespa. Cuối cùng người thợ cũng chỉ lãnh được đồng lương đủ ăn ngày ba bữa cơm, anh nào có tay nghề cao thì dư dả chút đỉnh.
Năm nào ông Sinh cũng đốt phong pháo đùng dài ba thước vào sáng mồng Bốn Tết để khai trương lấy ngày và thết thợ thuyền tổ viên một bữa ăn thịnh soạn. Nhưng rồi công việc cứ giảm bớt dần. Cơn lốc đã thổi vào gia đình ông; làm ông chới với một mình. Ông thì hút xách. Bà vợ mèo mỡ với trai. Cô con gái bỏ nhà đi ít lâu rồi cặp kè một anh công an đã giải nghệ. Anh con trai vượt biên tới đảo Pulau Bidong, Mã Lai, để cô vợ trẻ và đứa con trai hai tuổi ở lại trông tội nghiệp.
Ít lâu sau Bình nghỉ việc, chờ giấy tờ xuất ngoại. Chàng không hiểu tổ sản xuất của ông Sinh rồi sẽ đi về đâu, vì chỉ còn vài người thợ và hợp đồng ngày càng ít.
 
Giữa lúc cuộc sống ngột ngạt, nhiều người đã trở thành điên. Không chỉ người điên mới nổi cơn điên, người tỉnh cũng có lúc nổi cơn điên.
Ông láng giềng ở cách nhà Bình vài căn thỉnh thoảng uống rượu say ở đâu về lại đập phá đồ đạc trong nhà lúc đêm khuya. Chàng còn thấy một người đàn ông cầm cục gạch non vẽ hằng hà sa số gà, vịt trên đoạn đường nhựa trước cửa trường đua Phú Thọ, ngày này sang ngày khác. Thỉnh thoảng một người đàn ông, một người đàn bà chạy ra đường không mảnh vải che thân. Tỉnh hay điên, chẳng ai để ý đến họ. Bởi xã hội đã đảo điên thì người điên là chuyện thường tình.
Nhưng nhà thơ điên thì nhiều người biết tới: thi sĩ Bùi Giáng.[1] Giữa trưa nắng gắt, Ngọc đi làm về thấy anh đứng ở đầu hẻm Ngã Sáu; quần áo tả tơi; miệng nói huyên thuyên không dứt; lúc thì vài câu tiếng Pháp; lúc thì đọc thơ, cứ thế anh đi vào các ngõ hẻm. Tập thơ Mưa Nguồn anh đem đến nhà tặng Bình hơn chục năm trước đã không còn, cùng những sách truyện của chàng sau ngày mất nước. Thời gian trước năm 1975, chàng thấy anh vẫn bình thường và tươi ỉinh. Càng về sau anh càng có vẻ ngông cuồng, như thể bất cần đời.
Trong dòng thơ hiện đại, thơ Bùi Giáng đứng ở vị trí riêng biệt; giọng thơ có vẻ kiêu sa, chịu ảnh hưởng của chữ Hán, nên thơ anh đọc thấy kỳ ảo. Nhiều người vẫn thích hai câu thơ của anh trong tập Mưa Nguồn:
Xin chào nhau, giữa con đường
 Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau”.
Và người yêu thơ cảm thấy tính hài hước trong thơ anh:
Ta về ngóng lại mưa sa,
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào”.
 
Trong nỗi buồn của nhà thơ có cả nỗi buồn của thời đại, cùng sự phản kháng của thân phận. Trong thời đại mà tự do của con người bị Cộng sản bóp chết, ngòi bút bị bẻ cong; các nhà văn, nhà thơ có tâm trạng bi phẫn vô cùng, trong đó có Bùi Giáng.
Bên gia đình Ngọc có hai ông chú rể là Lê Ngọc Chấn và Hà Thượng Nhân đã về đoàn tụ với gia đình ở Saigon sau vài năm đi cải tạo ở miền Bắc. Một thời gian sau khi con cái vượt biên qua Pháp, ông Chấn bán nhà rồi cùng hiền thê là nữ sĩ Vân Nương về ở tạm căn gác nhỏ gọi là Lầu Mây của nữ sĩ Mộng Tuyết [2], trên đường Nguyễn Minh Chiếu, trong khi chờ đợi qua Pháp đoàn tụ với các con.
Buồn vì thế sự đảo điên, ông Chấn làm một số bài thơ nói lên tâm tư mình; tâm tư một người đã vào sinh ra tử mấy phen, lúc ông cùng nhóm nhân sĩ ra tuyên ngôn chống ông Diệm tại khách sạn Caravelle, Saigon, ngày 26 tháng 4 năm 1960, sau đó ông bị giam giữ đến năm 1963, và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lại bị Cộng sản đưa ra Bắc giam giữ.
Được thua cũng chuyện thời cơ cả,
Ta luận anh hùng giữa thế gian”[3]
Khi ông Lê Ngọc Chấn mất vì bệnh năm 1986, nữ sĩ Vân Nương đã bầy tỏ nỗi đau thương não nuột, lạng lùng như nhánh lìa cây, như mưa gió hòa theo lệ; cảnh và người cũng chịu một nỗi đau thương sầu thảm theo bóng người đã khuất:
Hương lửa đang nồng chim cất cánh,
Can tràng nghe quặn nhánh lìa cây,
Ngoài kia mưa gió hòa theo lệ,
Trời đất dường như thấu cảnh đây
Bà đã làm nhiều bài thơ thể hiện tình cảm u hoài với quê hương, nỗi buồn xa xứ miên viễn qua tập thơ Mây Viễn Phố khi bà qua Pháp sống với con cháu:
Bốn bề băng giá miền cô tịch,
Nắng ấm nào đâu sưởi chút tình”[4].
Riêng với thi sĩ Hà Thượng Nhân, từ khi ông còn phụ trách mục “Đàn Ngang Cung” của nhật báo Tự Do ở Saigon, người ta gọi ông là “Vua Thơ ’’, bởi không ngày nào là không có thơ châm biếm của ông. Nếu thơ ông in ra phải hằng hà sa số! Ông xuất khẩu thành thơ, ngồi đánh xì phé với bạn bè vẫn làm thơ. Báo sắp lên khuôn, ông vẫn viết kịp bài thơ đưa in. Thơ ông như mạch suối tự nhiên, rộn ràng khí tiết, dào dạt trữ tình.
Trong thời gian ở trại Long Giao, ông làm bài thơ Mưa Long Giao nghe xúc cảm:
Trời có điều chi buồn
 Mà trời mưa mãi thế!
Cây cỏ có chi buồn
Mà cỏ cây đẫm lệ?
Anh thương em từng phút,
Anh nhớ em từng giây...”[5]
Lúc bị biệt giam ở trại Thanh Chương, Nghệ Tĩnh vì tội ngâm thơ cho bạn tù nghe, ông vẫn làm thơ trong đầu:
Ai xưa mạnh nhờ ba tấc lưỡi,
Vén mây mù đạp cưỡi cuồng phong,
Làm cho đất lở trời long,
Giam ta sao nổi mấy vòng kẽm gai?”[6]
Ông phê phán đám cán bộ huênh hoang:
Lớn phè phỡn cười đùa thắng lợi,
Nhỏ lăng xăng ca ngợi công lao”,
Và những kẻ xu nịnh Đảng, quên cả nhân quyền:
Nhân quyền biết ở nơi đâu,
Chỉ nghe bốn phía cúi đầu hoan hô’’ [7].
Sau khi đi cải tạo về, ông vẫn ở đường Trương Minh Ký với gia đình một thời gian rồi qua Mỹ đoàn tụ với các con.
Cuộc lưu đày trên quê hương chỉ đày đọa tấm thân những người không chấp nhận ý thức hệ cộng sản, mà không làm thui chột được tư tưởng tự do và tôn trọng nhân phẩm của họ. Trái lại những tư tưởng ấy đã trổ ra muôn mầu, muôn vẻ, sáng ngời như châu ngọc giữa bể trầm luân.
Để ghi lại ký ức ngày rời khỏi trại giam Ba Sao, Phủ Lý cuối tháng Mười Hai 1980, Bình làm bài thơ Ngày Ra Trại:
Thung lũng đùn mây núi cuốn mây,
Trại tù lạnh xám mấy hàng cây,
Tôi rời Phủ Lý lòng hiu hắt.
Theo bánh xe Iăn lúc cuối ngày.
Hà Nội đây rồi mấy chục năm.
Đường xưa nẻo cũ vẫn âm thầm.
Thời gian như thể lùi muôn kiếp.
Yêu dấu ngày xưa đã nát tan!
Trong lúc tôi chờ trước cửa ga.
Ngậm ngùi tôi thấy mẹ mình ra.
Nửa đời chinh chiến con xa mẹ.
Mẹ vẫn mong con lúc đã già.
Sau lúc tầu đi tôi vấn vương.
Niềm đau gửi mẹ, kiếp thê lương,
Hai hàng phố vắng đèn hư ảo,
Nghe tiếng còi đêm thét não nùng.
Không chỉ lòng tôi bỗng nghẹn ngào.
 Cho tình mẫu tử vẫn ly tao,
Quanh tôi mội lớp người lam lũ,
Dắt díu vào Nam đổi kiếp nghèo.
Mỗi lúc con tàu đỗ trước ga,
Vài ba đứa trẻ sống xa nhà,
Miệng rao tay xách theo bình nước.
 Lẽo đẽo theo hoài những khách xa.
Sau bốn ngày đêm tôi ngất ngư.
Nhìn sông núi cũ thoáng ưu sầu,
 Chiều nay tàu tới ga Bình Triệu,
Ngây ngất tôi chờ đôi mắt yêu.
Em vẫn là em buổi tiễn chân.
Mong ngày sum họp để hàn huyên,
Ôm anh, đôi mắt huyền rơi lệ,
Lệ nói cho anh vạn nỗi buồn.
 
Chú thích
[1] Nhà thơ Bùi Giáng mất tháng 10 năm 1998 tại Saigon.
[2] Nữ sĩ Mộng Tuyết mất năm 2007 tại Saigon.
[3] Trích thi tập Nhớ Một Người Đi của nữ sĩ Vân Nương.
[4] Trích thi tập Nhớ Một Người Đi của nữ sĩ Vân Nương.
[5, 6, 7] Trích thi tập Bên Trời Lận Đận của thi sĩ Hà Thượng Nhân.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương Mười Lăm
 
Đôi bờ trông ngóng
 
 
Gia đình Bình đến Hoa kỳ định cư vào cuối tháng 11 năm 1990, theo chương trình nhân đạo (H.O)[1] của chính phủ Hoa kỳ dành cho những người Việt Nam tị nạn Cộng sản.
Oakland là thành phố phía bắc của tiểu bang California, thuộc miền tây Hoa Kỳ, nơi gia đình chàng cư ngụ ngay từ ngày đầu. Thành phố mang tên Cây sồi được thành lập từ năm 1852, nằm về phía đông của vịnh San Francisco đẹp nổi tiếng. Trạm xe lửa được hoàn thành năm 1869 tại Oakland đã nối liền mạng đường sắt xuyên lục địa từ đông qua tây, đem lại các làn sóng di dân tới vùng đất mới khai khẩn này. Oakland còn có cảng lớn nối đường biển thương mại qua các nước ở ven Thái Bình Dương. Du khách đến Oakland còn được ngắm cảnh hồ Merritt giữa thành phố, công viên Jack London ở bến tàu, nơi nhà văn Jack London đã cư ngụ trong thời trai trẻ để viết văn. Cuốn truyện nổi tiếng của ông: The Call of the Wild (Tiếng gọi của Hoang vu) và nhiều tác phẩm khác của ông được độc giả ái mộ. Ông đã hoàn thành 20 cuốn truyện trước khi mất vào tuổi 40.
Nước Mỹ sau khi giành được độc lập từ tay người Anh năm 1776, lại phải trải qua một cuộc nội chiến từ năm 1861 đến 1865 giữa hai miền Nam, Bắc để giải quyết vấn đề nô lệ da đen. Một số tiểu bang ở Bắc Mỹ chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ, trong khi ở miền Nam duy trì chế độ này để phục vụ các đồn điền của người da trắng. Sau cùng Tổng thống Abraham Lincoln tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1863.
Năm 1850, thung lũng Sacramento ở tiểu bang California phát hiện Núi Vàng, tức Kim Sơn, hấp dẫn dân các nơi đổ về tìm vàng, cả những người dân Trung Hoa cũng tìm cách vượt biển qua đất Mỹ để tìm phú quý. Bước đầu tới xứ sở Núi Vàng, các Hoa kiều đã phải vượt qua nhiều cảnh gian truân. Năm 1851, một số người Hoa đến San Francisco mở tiệm giặt ủi, họ được thương nhân ngoại quốc ở Hồng Kông, Thượng Hải chở đi bằng tàu và phải trả tiền vận chuyển rất cao.
Nhiều người đã phải bán nhà cửa để trả tiền cho các tay chở lậu; đàn bà con gái khi lên đất Mỹ phải làm đĩ để kiếm tiền trả nợ chủ tàu. Có người tới New York đã phải trả tới giá 2.500 đôla vào thời điểm đó cho bọn buôn lậu người mới được cho ra ngoài làm ăn, nếu không có đủ tiền thì phải ký giấy nợ trả dần. [2] Ngoài nghề giặt ủi, người Hoa đi làm đường xe lửa xuyên lục địa, phu phen, và mở các tiệm ăn ở các đô thị.
Đến năm 1882 có luật ngăn cấm (Exclusion Act) người lao động Trung Hoa và Mỹ và cấm không cho Hoa kiều nhập quốc tịch Mỹ. về sau nhờ sự tranh đấu của người Hoa ở Mỹ, luật này mới được bãi bỏ vào năm 1943. Trải qua nhiều năm, cộng đồng người Mỹ gốc Hoa đã trở nên vững mạnh như ngày nay.
Cộng đồng người Mỹ gốc Nhật cũng gặp sự khó khăn trong Đệ nhị Thế chiến. Sau khi quân phiệt Nhật tấn công Pearl Harbor (Trân Châu Cảng) ngày 7 tháng Mười Hai 1941, chính phủ Mỹ đã đưa 120.000 người Mỹ gốc Nhật, trong đó có 77.000 người sinh đẻ ở Mỹ rời khỏi các tiểu bang miền Tây: California, Oregon, Washington đến các trại tập trung ở rải rác miền Tây và các tiểu bang Arkansas, vùng núi non Wyoming, vùng sa mạc tây Arizona. Họ bị nghi ngờ không trung thành với nước Mỹ chỉ vì họ có gốc Nhật. Khi chiến tranh kết thúc ngày 2 tháng 9 năm 1945, các trại này mới được bãi bỏ; những người bị giam giữ mới được trở về chỗ cũ làm ăn.
Năm 1988, Quốc hội Mỹ bỏ phiếu chấp thuận bồi thường cho 60.000 người Mỹ gốc Nhật còn sống sót, mỗi người được 20.000 đô la và lời xin lỗi chung [3].
Cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã không gặp phải những khó khăn như các cộng đồng người Trung Hoa và Nhật, trái lại được chính phủ Mỹ giúp đỡ ngay từ khi di tản qua Mỹ năm 1975, sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản.
Năm 1990, thành phố Oakland chỉ có vài ngàn người Việt, sau tăng lên dần và có khu thương mại của người Việt ở đại lộ International Boulevard, phía đông Oakland. Nơi đông người Việt cư ngụ là thành phố San Jose ở bắc California và Orange County ở nam California. [4]
Khi gia đình Bình đến Oakland đã có nhiều tổ chức, hội đoàn quân, dân, cán, chính sinh hoạt xôm tụ và biểu dương tinh thần chống Cộng cao độ. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia vẫn được các chính quyền địa phương công nhận, mặc dù Hoa Kỳ đã có quan hệ ngoại giao với Cộng sản Việt Nam từ năm 1995.
 
Trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã có những tấm gương phục quốc sáng ngời. Đó là nhóm Lê Quốc Túy, Mai văn Hạnh đã đưa người và vũ khí xâm nhập tỉnh Minh Hải (Cà Mâu) từ tháng 5, 1981 đến cuối năm 1987 mới chấm dứt. Qua các đợt xâm nhập, nhiều người đã bị Cộng sản giam cầm, riêng anh Trần Văn Bá, con cố Dân biểu Trần Văn Văn [5] đã bị Cộng sản tử hình ngày 8 tháng 1, 1985.
Tiếp theo, cựu Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam đã mở cuộc hành quân Đông tiến. Ông đã hy sinh tại Lào cùng một số chiến hữu trên đường về quốc nội tháng 8, 1987.
Cựu phi công Lý Tống thuộc QLVNCH, một chiến sĩ quả cảm, gan dạ trong các phi vụ oanh kích Cộng quân, đặc biệt là phi vụ của nhóm cảm tử Lý Tống đánh sập cầu Dziên Bình tại ngã ba biên giới Việt- Miên- Lào làm chậm bước tiến của Cộng quân vào miền Nam. Tháng 4, 1975, trong phi vụ đánh sập cầu Ba Ngòi gần Cam Ranh để ngăn chặn Cộng quân tiến về Phan Rang, máy bay A 37 của ông đã bị địch bắn hạ, sau đó ông bị tù 6 năm tại Phú Khánh. Năm 1980, ông vượt ngục về Saigon. Năm 1981 ông vượt biên bằng đường bộ đến Singapore, từ đây ông được đi tị nạn tại Hoa Kỳ. Hoạt động nổi bật nhất của ông là đã mưu trí thực hiện hai lần thả truyền đơn trên không phận Saigon kêu gọi dân chúng nổi dậy chống nhà cầm quyền Cộng sản và một lần thả truyền đơn trên không phận Havana, thủ đô Cuba Cộng sản.
Lần đầu, ngày 4 tháng 9, 1992, ông theo chiếc Air Bus 321-200 của Hàng Không CSVN từ Bangkok về Saigon thả 50.000 truyền đơn rồi nhảy dù xuống đất. Ông bị CS giam giữ 6 năm. Sau đó ngày 1 tháng 1, 2000, ông mướn máy bay từ Florida, Hoa kỳ bay qua Cuba thả 50.000 truyền đơn xuống thủ đô Havana, kêu gọi dân chúng lật đổ nhà độc tài Fidel Castro. Xong phi vụ, ông bay về lại Florida an tòan. Cuba đòi Hoa kỳ cho dẫn độ ông về Havana xét xử song không thành công.
Ngày 17 tháng 11, 2000, ông đến Thái Lan thuê một máy bay dân sự và thuyết phục huấn luyện viên Thái Lan cùng ông bay về Saigon thả 50.000 truyền đơn. Khi bay trở lại phi trường Utapao, Thái Lan, ông bị bắt giữ, sau đó bị giam 7 năm. Mặc dầu nhà cầm quyền CSVN đã áp lực phía Thái Lan dẫn độ ông về Việt Nam xét xử, song mưu toan này bất thành. Ngày 3 tháng 4, 2007 ông Lý Tống được trả tự do và trở lại Hoa Kỳ. Ông luôn được sự hỗ trợ nhiệt tình của đồng bào hải ngoại và dư luận quốc tế trong công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam.
Ngược lại có những thành phần quay đầu theo Cộng sản, phản bội lại chính nghĩa mà họ đã theo đuổi như cựu Tướng Đỗ Mậu, cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. (Thời Trần có Trần ích Tắc đứng đầu đám quý tộc đã đầu hàng giặc Nguyên Mông khi chúng xâm lăng Đại Việt lần thứ hai năm 1285; trái lại Tướng Trần Bình Trọng đã khẳng khái khước từ lời dụ dỗ làm vương của giặc: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” để rồi sau đó ông bị giặc giết.) Không có gì mạnh bằng tinh thần quyết chiến của dân tộc Đại Việt đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lăng nước ta.
Trong khi đó ở quốc nội, cả thế giới luôn hướng về những người đấu tranh chống chế độ Cộng sản, đòi hỏi tự do tôn giáo và nhân quyền, trong đó có những người dân thấp cổ bé họng bị chiếm đoạt đất đai, nhà cửa mà không được xét xử theo luật pháp.
Mỗi lần Tết đến, tình hoài hương lại đem đến cho Bình một nỗi buồn man mác:
Rượu chẳng vơi sầu nơi đất khách,
Trà còn gợi nhớ nước non xưa,
Xuân về trống trải đời lưu lạc,
Tết đến làm ta chạnh nhớ nhà.
Gia đình chàng mướn căn nhà ở trên đồi, phía đông thành phố Oakland, từ đó chàng có thể phóng tầm mắt nhìn eo biển Alameda và dãy núi xanh bên thành phố San Francisco.
 
Thời gian qua mau. Mấy đứa con gái lớn đã lập gia đình, mỗi đứa ở một nơi, có đứa ở tận San Diego nên mỗi lần đi thăm con, hai vợ chồng phải đi xe hơi do con lái mất cả ngày đường. Ngọc nhớ lại thời gian ở Saigon, bà con thân thích ở gần nhau nên chỉ cần một cuốc xích lô là gặp nhau. Còn ở Mỹ, chiếc xe hơi thay cho xích lô, xe máy và xe đạp.
Vào tuổi trung niên, Bình bị chứng phong thấp hành hạ sau nhiều năm bị giam cầm tại các trại tù Bắc Việt. Dầu vậy, chàng vẫn dậy thật sớm, khoác tấm áo ngự hàn dầy cộm, rồi ra bến xe buýt để đến ga xe lửa tốc hành. Con tàu vẫn nhanh nhẹn chui dưới lòng vịnh, đưa chàng đến đại học San Francisco để trau dồi những kiến thức mới.
Trong những năm ở Mỹ, đôi lúc Ngọc cảm thấy băn khoăn khi nghĩ đến người con gái còn ở lại quê nhà với chồng con. Nàng vẫn dành tình thương cho người con gái ở xa và gặp hoàn cảnh khó khăn nhất. Lâu lâu không nhận được thư con, nàng không khỏi sốt ruột. Buổi trưa hôm ấy, nàng bỗng mừng khi nhận được thư con. Nhưng sau khi đọc lá thư, nàng tỏ vẻ ưu tư rồi than thở với chồng:
- Tôi phải về thăm cháu.
Câu nói như nghẹn lại, nàng nói tiếp:
- Cháu bị suyễn.
Chàng băn khoăn nhìn nàng:
- Liệu em có đi nổi không?
Nàng bị bệnh tăng tiểu cầu từ hơn mười năm nay, sau những ngày tháng gian truân của một Sài Gòn đỏ trùm lên cuộc đời yếu đuối của nàng. Song nàng thản nhiên đáp:
- Tôi có hỏi ý kiến bác sĩ. Ông ấy bảo không có gì trở ngại để tôi đi xa một tháng.
- Phải đấy. Em về đi. Tình mẹ con, bà cháu lúc nào cũng canh cánh bên em.
Nàng cảm thấy hơn nửa cuộc đời mình gắn bó với đất Saigon như đang thôi thúc nàng trở lại nhìn khuôn mặt đổi thay của nó, nhìn con hẻm đã lưu dấu những bước thăng trầm ngược xuôi của nàng và của các con sau ngày mất nước.
Tháng Năm, 1996. Chiếc xe taxi chở nàng từ phi trường Tân Sơn Nhất về đến ngã tư gần chợ Bến Thành vào buổi trưa.Trong xe có cả vợ chồng con gái và cháu gái mười tuổi ra đón nàng. Bác tài xế không rõ con hẻm ở đầu Ngã Sáu, định chở nàng đến thẳng khách sạn gần đấy thì người con gái nói:
- Tới nhà rồi. Bác đậu lại.
Bác tài xế vừa dừng xe bên lề, vừa nói chữa:
- Xin lỗi tôi tưởng bà không có nhà riêng. Té ra bà có nhà ở ngay đây.
Nàng đỡ lời:
- Đây là nhà con gái tôi. Thành phố bây giờ mọc lên nhiều khách sạn quá. Tôi thấy hoa cả mắt.
Lúc bước vào con hẻm cũ, nàng có cảm tưởng như kẻ xa lạ đang lạc vào chốn này. Vài nhà lầu của tư bản đỏ được dựng thêm cho người ngoại quốc thuê, làm con hẻm kín bưng khuất cả ánh nắng. Những bức tường lát đá đen, đá gan gà óng ánh như phô bộ mặt của một giai cấp mới đang lên; giai cấp giầu đã cách biệt hẳn với giai cấp nghèo còn sót lại trong hẻm.
Riêng căn nhà cũ của nàng vẫn thấp tè và lọt thỏm giữa dãy nhà lầu kiêu ngạo, cho thấy rõ sự cách biệt một trời một vực.
Lúc mới tới sân bay, nàng ngỡ ngàng thấy cô cháu gái lớn bổng khác hẳn hình ảnh hồi cháu mới bốn tuổi, khi cháu theo bố mẹ ra tiễn ông bà ngoại cùng gia đình đi Mỹ. Vừa bước vào nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế, nàng vui vẻ nói:
- Bà không ngờ cháu lớn quá. Mới ngày nào bà còn bồng cháu lên ngắt bông hoa giấy trước cửa nhà. Bây giờ đã lớn thế này, lại càng xinh nữa!
Cô cháu gái cứ quấn quýt bên bà, miệng cười tươi mỗi khi nghe bà nói về mình. Tới lúc lấy thang thuốc bắc từ chiếc túi xách tay ra, Ngọc mới hỏi đến bệnh suyễn của cháu. Cháu nói vẫn còn lên cơn suyễn, mỗi lần nghẹt thở mặt cháu lại tái xanh.
- Đây là thuốc của cháu. Nhiều người bị suyễn ở Mỹ đã dùng thuốc này và thấy khỏi. Rồi bà sẽ gửi tiếp cho cháu uống khỏi hẳn.
Cô cháu cầm gói thuốc, trong lòng thấy ấm áp trước tình thương của bà ngoại tuy đau yếu mà vẫn cất công về thăm mình.
Chợt nhớ trên đường phố, những người đi xe đạp phải đeo khẩu trang ở miệng. Nàng nghĩ đến sự ô nhiễm đang đe dọa nhiều người và ngay cả bản thân cô cháu. Ô nhiễm từ những loại xe nhả khói xăng dầu khét lẹt trên các đường phố đông đúc, từ những nhà máy đang phun khói vào buồng phổi của thành phố và không khí chứa đầy bụi. Làn khói bụi dưới ánh nắng chói chang là mối đe dọa của các mầm non, của những người lao động cực nhọc và những kẻ sống trên hè phố ròng rã ngày này sang ngày khác.
Bất chợt một ý nghĩ thoáng qua khiến nàng thấy xúc động. Nàng nhớ lúc cháu mới bốn tuổi, cái tuổi còn đầy măng sữa đã chứng kiến cảnh chia ly giữa hai bà cháu. Hôm ấy vợ chồng con gái dẫn con lên gặp phái đoàn Mỹ để xin đi cùng bố mẹ diện H.O; nhưng đã phải ở lại vì con có gia đình cần có thân nhân ở Mỹ bảo lãnh mới được đi theo. Thời gian xa cách đã là năm năm. Bây giờ ông ngoại của cháu mới bắt đầu làm công việc này. Rồi nàng nhớ lúc đưa cháu về ngang nhà cô láng giềng ở trong ngõ, cô ta lên tiếng hỏi cháu:
- Cháu đi theo bà ngoại hả?
Cháu vừa mệt, vừa tưng hửng đáp:
- Cháu có giấy tờ đâu mà đi!
Thật đúng cảnh:
Người đi, kẻ ở u sầu,
Cuối trời mong đợi, non đầu ngóng trông!
Ngọc nhớ mãi câu nói buồn bã của cô cháu ngày ấy. Nó như một vết thương đau trong kiếp sống tha hương của nàng. Bao lâu vết thương ấy chưa được hàn gắn, nó vẫn còn nhức nhối trong tâm hồn nàng, cả cháu cũng vậy.
Mấy ngày ở bên cạnh cháu, nàng bảo cô con gái sắc thuốc cho cháu uống, thấy bệnh suyễn của cháu thuyên giảm trông thấy. Ngoài thuốc ra, có thể cái tâm lý vui mừng sum họp với bà ngoại đã giúp cháu thắng được cơn suyễn. Da mặt cháu hồng hào trở lại. Càng ngắm cháu, nàng càng cảm thấy vui trong lòng. Bố mẹ cháu cũng lây cái vui ấy.
Có lúc nàng ôm cháu vào lòng. Mùi tóc tuổi thơ của cháu thơm nồng nàn. Hơi nóng từ bàn tay cháu râm ran. Tim nàng như ngừng đập. Hai bà cháu chia nhau từng nhịp đập con tim của ngày sum họp. Nàng cảm thấy hạnh phúc vô cùng; hạnh phúc tựa bông hoa hồng nhung đỏ được cháu trưng trên bàn học, trong chiếc bình pha lê hình ông, bên cạnh là tấm ảnh của ông bà ngoại mới chụp gửi về cho cháu.
Như món quà mừng bà ngoại về thăm, cô cháu mở ngăn kéo bàn học, lấy ra một xấp giấy khen học trò giỏi từ lớp Một đến lớp Năm. Xấp giấy có cái đã vàng khè vì bụi thời gian, mờ cả chữ.
- Đây là thành tích học tập của cháu. Nàng cầm xấp giấy khen lớn hơn bàn tay, âu yếm nhìn cô cháu nói:
- Cháu học giỏi là bà rất mừng. Sau này qua Mỹ cháu sẽ tha hồ học.
Cho đến lúc này, dù cháu đã mười tuổi, nàng vẫn không quên tiếng hét của cháu lúc mới lên ba, khi cháu thấy chiếc hòm liệm ông nội được đưa vào lò thiêu ở Bình Hưng Hòa, sau lúc tang lễ ở nhà thờ trong Chợ Lớn.
- Sao lại để ông nội trong đó?
Cháu bật khóc, không muốn rời khỏi khuôn viên lò thiêu theo chân mẹ cháu. Cháu đã hiểu sẽ không bao giờ được thấy lại ông nội, người đã buồn vì thế sự đảo điên trong những ngày cuối đời.
Nghĩ đến căn bệnh của mình, Ngọc thấy phải tới thăm ông bác sĩ đã chữa trị cho nàng ở Trung tâm Ung Bướu bên Gia Định. Nàng vừa ra khỏi nhà con gái thì gặp một người đàn ông thấp, mập, trán hói, đang dấn bước để gặp nàng. Gã thân mật nói:
- Nghe tin bà về thăm ai cũng mừng. Chuyện cũ đã qua rồi bà đừng quan tâm làm gì. Cuộc sống đã có nhiều thay đổi đấy bà.
Nàng nhận ra gã cán bộ an ninh của tổ dân phố ngày trước. Nàng cười.
- Tôi có thấy sự đổi mới, ngay trong ngõ này chứ không xa đâu. Nhà cao cửa rộng mọc như nấm. Nhưng còn nhân dân làm chủ thì chẳng thấy đâu!
Gã cán bộ bỗng chưng hửng. Cũng là nhờ đôi má núng nính thịt nên bộ mặt hắn bớt đi vẻ đăm đăm trong thời kỳ tổ dân phố dưới quyền kiểm soát của y còn họp hành lu bù để bà con bình bầu, kiểm điểm lẫn nhau và sau đó là màn đóng tiền bạc cho phường, cho tổ tiêu xài. Căn nhà lầu của gã bây giờ có giá bạc tỷ. Đúng là giậu đổ bìm leo.
Có lẽ vì thấy cảnh nghèo của mình không ai đoái hoài tới; nên ông bán báo sống trong cái xe thùng bằng tôn ở trong hẻm từ mấy chục năm nay thỉnh thoảng lại lẩm bẩm chửi Cộng sản. Thấy ông ta quá nghèo khổ, phải đi lượm bao nylon và lon nhôm để sống, ai cũng để ông ta được yên ổn. Là dân Thái Bình di cư từ năm 1954, ông ta vẫn sống độc thân, mãi sau này mới có cô vợ bụi đời và đứa con gái sống phiêu bạt như ông ở gầm cầu, xó chợ.
Ra khỏi đầu hẻm, nàng không còn để ý đến gã cán bộ an ninh tổ. Nàng thuê xe xích lô đến Trung tâm Ung Bướu gần Lăng Ông, nơi nàng đã vào nằm chữa bệnh cách nay mười năm.
Suốt dọc đường, nàng lại nghĩ tiếp về quãng ngày sôi động nơi con hẻm cũ. Từ nơi đó, cuộc sống của nàng đã tỏa vào chiều sâu của không gian và thời gian. Đây là quãng đời đầy trách nhiệm của cả hai vợ chồng với bầy trẻ bẩy đứa đang tiếp xúc với môi trường xã hội và học đường. Cuộc sống yên ổn chưa được bao lâu thì xẩy ra những cuộc biểu tình của dân chúng quanh chợ Bến Thành chống chế độ tham nhũng của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Con hẻm luôn nằm trong tim bão của lịch sử. Rồi tin Cộng sản tấn chiếm Ban Mê Thuột, Huế, Saigon. Bình minh trong con hẻm không còn đẹp như trước!
- Sao bà Thiếu tá lại phải ngồi thế này?
Hồi tưởng trong ngày đầu ngồi bán mớ quần áo cũ trên vỉa hè, nàng ngửa mặt lên thấy chị cán bộ phường nhìn nàng hỏi móc. Nàng chỉ cười nhạt.
 -Thì có gì là xấu đâu chị?
Phải, nàng vẫn đẹp từ dung nhan đến tâm hồn. Chị cán bộ sượng sùng, lặng lẽ đi khỏi. Đối với nàng, những hình thức xỏ xiên biểu hiện thái độ kém văn hóa của những kẻ háo thắng. Nàng vẫn ngẩng đầu lên cao và cảm thấy vui khi mỗi buổi chiều về có tiền mua gạo cho bữa cơm đạm bạc cho con cái, và hôm sau, hôm sau nữa, cuộc sống cứ thế tiếp diễn.
Khi bác xích lô đỗ xe trước cổng bệnh viện, nàng trả tiền xong, bước vào trong sân. Cơn mưa đêm qua còn đọng lại vũng nước lớn ở giữa sân. Cảnh vật vẫn y nguyên như khi nàng vào đây lần đầu, cách nay đã mười năm. Người bệnh nằm la liệt trong các phòng. Nhìn thấy họ, nàng nghĩ đến hình ảnh những con người đã từng nằm tại đây và nhắm mắt buông xuôi khi nàng còn nằm chung phòng với họ. Có cô gái mới trò chuyện vui vẻ với nàng trong đêm mà hôm sau đã nhắm mắt lìa đời.
Nàng không ngờ mình còn sống đến giờ phút này, còn đến được đây để chứng kiến những bệnh nhân mới. Ý tưởng đó khiến nàng mủi lòng. Khi cô y tá dẫn nàng đến một căn phòng hẹp, nơi ông bác sĩ đầu tiên trị bệnh cho nàng tới ngày nàng rời khỏi nước đang nằm trên chiếc giường nhỏ, thì nàng bỗng xúc động không cầm được nước mắt.
Ông ta vốn gầy nay càng thêm gầy yếu, bệnh não đang rút dần sự sống và trí nhớ của người thầy thuốc chế độ cũ mà đồng lương vẫn không đủ sống đạm bạc. Bên cạnh ông, bà vợ và đứa con gái nhỏ đang ngồi chăm sóc cho ông. Nhưng may ông còn nhớ đến tên nàng, còn nhếch mép để gọi tên nàng làm nàng vô cùng ngạc nhiên.
- Chị Ngọc, bệnh tiểu cầu.
Nói đến đây, ông ta nhìn người bệnh cũ trong giây lát rồi im lặng. Không hiểu ông có nghe rõ những câu nói ân nghĩa của nàng không, nhưng ông khẽ mỉm cười khi nhận gói quà của nàng.
 -Chúc bác sĩ sớm hồi phục.
Câu nói mà ông bác sĩ nhắn nhủ với nàng ngày nào nay được nàng lập lại bằng một giọng nghẹn ngào. Như thoáng hiểu câu nói của nàng, ông ta khẽ gật đầu. Nàng trao đổi vài mẩu chuyện với bà vợ ông bác sĩ cũng là y tá làm trong bệnh viện lâu năm, rồi nàng cáo từ ra về.
Khi tiễn nàng ra cửa, bà vợ ông bác sĩ cười nói:
 -Ông còn nhớ được tên bà làm tôi cũng ngạc nhiên. Bây giờ ông chẳng còn trí nhớ và cũng ít khi nói năng. Ông buồn lắm đó.
Tâm hồn như nặng trĩu, Ngọc từ giã người đàn bà đã từng phục vụ bệnh nhân, nay lại chăm sóc chồng là người đã cống hiến cả cuộc đời cho bệnh nhân mà không cứu nổi mình. Lẽ sống là như thế; nó tồn tại với lương tâm và đạo đức của muôn đời.
Khi đi qua hội trường bệnh viện, nàng bồi hồi nhớ lúc được hội chẩn lần đầu tiên. Nàng ngồi giữa hội trường, trước các bác sĩ từ các bệnh viện được mời tới để hỏi về căn bệnh lạ của nàng. Bệnh tăng tiểu cầu gây đông máu trong cơ thể, làm người bệnh suy nhược dần. Thuốc men điều trị ở bệnh viện không có gì ngoài Vitamin C. Mãi tới khi nàng qua Mỹ mới có loại thuốc anagrelide hydrochloride uống mỗi ngày làm giảm mức tăng trưởng của tiểu cầu trong tủy, sức khỏe của nàng thấy khá hơn đôi chút.
Quay về căn nhà cũ, nàng kể lại chuyện ông bác sĩ nàng vừa tới thăm với vợ chồng con gái.
Người con gái nói thêm:
- Ông ấy nghèo lắm, bệnh nhân ai cũng mến. Có lần con đem tiền của mẹ gửi về biếu, ông ấy cầm tiền mà nghẹn ngào từng câu nói.
Thế rồi cô cháu gái đem đến cho nàng tấm giấy học trò có vẽ chân dung nàng.
- Bà xem cháu vẽ bà có giống không?
Nàng ngắm bức vẽ bằng bút chì của cháu, thấy khuôn mặt nàng có hồn ở trong đó. Nàng nghĩ lúc cháu cầm cây bút chì là lúc cháu tập trung tư tưởng nhớ bà ngoại nhiều nhất. Cháu cũng còn bà nội ở gần, và bà rất quý mến cháu.
Nắm chặt bàn tay của cháu, nàng cảm động nói:
 -Bà sẽ giữ bức họa này mãi mãi làm kỷ niệm.
Cả quãng đời thơ ấu của cháu đã băng qua cuộc sống ly hương của nàng. Cháu đã thu lại khoảng cách bằng bức họa đơn sơ. Đôi khi cháu gửi cho nàng vài câu thơ cảm nhớ. Tình cảm như mạch suối chảy không ngừng. Nhiều đêm ở Oakland nhớ cháu, nàng nghĩ không hiểu cháu đang làm gì ở nhà và ở trường lúc ban ngày của cháu. Có lúc nàng hồi tưởng những buổi trưa đi đón cháu từ nhà trẻ về, trên con đường rợp bóng cây cao. Vết chân quá khứ còn in sâu trong trí nhớ nàng và đường mòn kỷ niệm vẫn cứ dài thêm. Rồi những mùa đông xám ngắt lần lượt trôi qua trên đồi núi Oakland. Mùa của sự giã biệt quê hương ngày nào vẫn chưa đem lại một ngày đoàn tụ của những con chim lạc đàn.
Chợt cô cháu cất tiếng nói bâng quơ:
- Cháu chỉ thấy hình mấy đứa em ở bên đó. Chừng nào cháu mới thấy mặt mấy đứa hả bà?
Nàng nhớ đến mấy đứa cháu ngoại với những cái tên Mỹ: Stephen, Amy, Patrick, Kevin và sẽ còn có những cái tên khác nối tiếp. Nàng ngắm đôi mắt cháu đen lánh, khẽ nói:
- Cứ hy vọng đi cháu. Cứ hy vọng rằng cháu sẽ có ngày ở bên cạnh mấy đứa ấy. Và ở cạnh bà nữa!
Nghĩ đến ngày đoàn tụ để nối lại khúc ruột, nàng hiểu sẽ còn bao khắc khoải mong chờ, bao nhiêu nhớ thương vời vợi. Rồi nàng nhìn lên tờ lịch, khẽ hỏi con gái:
- Có phải hôm nay là sinh nhật của cháu không? Người con gái vội đáp:
- Mẹ nhớ đúng đấy.
- Vậy thì làm sinh nhật cho cháu.
Nhưng cô cháu cười tươi nói:
- Bà còn đang mệt, cháu không muốn bà mệt thêm sau khi bà vào bệnh viện thăm ông bác sĩ. Vả lại bà về thăm cháu là món quà sinh nhật của cháu rồi.
Câu nói của cô cháu làm nàng xúc động trong giây phút.
Sau khi trở về Mỹ chừng nửa tháng, Ngọc nhận được lá thư của cô cháu gái. Ngắm nét chữ nắn nót, tròn trịa, thơm mùi mực tím của tuổi học trò, nàng bồi hồi nhớ lại hình ảnh ngây thơ của cô cháu. Và nàng đọc thật chậm đoạn văn sau đây của cháu viết:
Buổi sáng lúc bà sắp ra sân bay, cháu phải đến trường học. Thấy bà đứng ở cửa sổ, cháu đi qua, khẽ gật đầu chào bà, cố giữ vẻ thản nhiên của cháu để bà đừng buồn. Nhưng khi cháu đi ra khỏi đầu hẻm, ngoảnh lại không thấy bà nữa, cháu mới để hai dòng lệ chảy xuống má cháu nóng bừng. Hồi bà đi cách đây hơn năm năm, cháu còn nhỏ, cháu khóc rất ít. Nhưng bây gờ cháu khóc nhiều hơn vì cháu đã hiểu thế nào là chia ly. Riêng cái gối, cái mền của cháu mà bà đã gối đầu và đắp lên người trong hơn một tháng bà về thăm cháu, mãi đến mười ngày sau, cháu mới để cho mẹ cháu giặt. Cháu muốn dành hơi của bà để mường tượng bà vẫn ở bên cạnh cháu. Và mỗi đêm trước khi đi ngủ, cháu vẫn cầu nguyện cho bà có thêm sức khỏe để lại về thăm cháu..”.
 
Mãi tới năm 2003, cảnh đại gia đình đoàn tụ mới trở thành sự thực. Nhưng những kỷ niệm về cô cháu gái ở Saigon thời còn xa cách là một ấn tượng sâu sắc mà Ngọc khó có thể lãng quên.
 
Chú thích:
[1] Hunuinitarian Operation (H.O)
[2] To Sa ve China, To Save Ourselves, 1992, Renqiu Yu, p. 22
[3] A People and a Nation, 1994, p.834
[4] Thống kê số người Mỹ gốc Việt năm 2000 ở tiểu bang California: Vùng Bay Area gồm Oakland: 9.658 người, San Francisco: I2.874 người, San Jose: 82.834 người. Orange County gồm Westminster: 27.887 người, Garden Grove:36.532, Santa Ana: 19.919 người.
[5] Dân biểu Trần Văn Văn đã bị Cộng sản ám sát trước năm 1975.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.12.2021 11:45:24 bởi Ct.Ly>
Chương Mười Sáu
Thăm lại Hà Nội, cố đô Thăng Long
 
 
Sau gần nửa thế kỷ xa cách, Bình về thăm gia đình ở Hà Nội vào cuối thu năm 2003. Đối với chàng, Hà Nội vẫn là nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nên chàng gạt bỏ mọi băn khoăn qua một bên để có dịp gặp lại những người thân và tìm lại Hà Nội xưa.
Xong thủ tục, chàng bước lên chiếc máy bay Boeing của hãng hàng không China Airlines rời phi trường San Francisco vào lúc gần nửa đêm. Máy bay rộng, có màn hình cho hành khách theo dõi cao độ, giờ giấc, thời tiết, đặc biệt có mũi tên thường xuyên chỉ đường bay theo hướng bắc Thái Bình Dương. Máy bay qua Nhật Bản, đến Đài Loan thì hạ cánh tại phi trường Đài Bắc. Các cô chiêu đãi viên Đài Loan mặc đồng phục xanh dương, váy ngắn xẻ đến đùi, vui vẻ tiếp hành khách suốt chặng đường bay dài.
Khi lên chiếc Airbus nhỏ hơn chiếc Boeing vào buổi sáng để bay từ Đài Bắc về Hà Nội, chàng thấy hành khách phần đông là người Đài Loan qua Việt Nam làm ăn và một số cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan hoặc làm việc ở đó về thăm nhà. Có cô qua ở đợ, săn sóc người già, tháng lãnh 50 đô la, nay phải về nhà vì người già đã vào viện dưỡng lão.
Vài cô chiêu đãi viên Việt Nam mặc áo dài mầu đỏ, quần trắng, phục vụ chuyến bay. Khi bưng đồ ăn cho khách, các cô choàng trước ngực chiếc yếm mầu vỏ mận, thêu hoa văn trống đồng Ngọc Lũ thời Hùng Vương bằng chỉ vàng. Chàng nghĩ nên thay chiếc trông bằng phong cảnh Việt Nam thì hay hơn.
Máy bay về gần Hà Nội, chàng ngó qua cửa sổ tròn thấy sông Hồng chảy quanh co phía dưới, những thửa ruộng khô đã gặt xong và làng mạc san sát nhà lợp ngói đỏ. Phi trường Nội Bài hiện ra trong tầm mắt chàng với tòa nhà mái nâu, đường băng dài nằm giữa cánh đồng, mấy chiếc máy bay sơn mầu xanh đậu ở phía xa.
Bình theo đoàn người vào trong tòa nhà nộp giấy kiểm dịch cho cơ quan y tế, trình thẻ thông hành cho công an ghi nhận, rồi ra chờ lấy hành lý trên băng chuyền tự động, sau đó chàng đem lại quầy hải quan khám xét trước khi đem ra ngoài.
Trời đã quá trưa. Ánh nắng vẫn gay gắt mặc dù vào cuối thu. Chàng lên chiếc xe hơi của cậu em làm ở Công ty Đường thủy để về Giảng Võ, qua cầu Thăng Long, Chèm và Cầu Giấy. Khu vực này trước kia còn là miền quê, bây giờ đã được đô thị hóa, dân các nơi nhập về đông đúc.
Cái đập vào mắt chàng trước tiên là những nhà lầu xây rất đa dạng, kiểu cách quá đâm ra rườm rà, ban công đều ở trên lầu, không gian bị thu hẹp lại nhìn chóng cả mặt, có thể vì chàng đã quen nhìn cảnh quan đô thị và vùng phụ cận thoáng đãng ở Mỹ, nơi đất đai còn quá rộng.
Cảnh xe gắn máy, xe đạp, xe hơi chen nhau trên những con đường có khúc rộng, khúc hẹp làm chàng hoa mắt. Xe hơi còn ít ỏi so với các loại xe gắn máy. 50 năm qua đã có những thay đổi bộ mặt ngoại vi Hà Nội, nhưng tốc độ kiến thiết và chỉnh trang còn chậm vì hậu quả chiến tranh và nghèo.
Trên đường từ Cầu Giấy về Giảng Võ, chàng không còn thấy các di tích lịch sử của những người Pháp đầu tiên kéo quân từ Nam Kỳ ra đánh Bắc Kỳ cuối thế kỷ thứ 19, bị quân triều đình Tự Đức và quân Cờ đen [1] hạ sát: như mộ viên Đại úy Francis Gamier chết năm 1873 tại Giảng Võ, và mộ viên Đại tá Henri Rivière chết năm 1883 tại Dịch Vọng. Đáng lý các di tích này cần được lưu lại để chứng minh lịch sử chống ngoại xâm của quân dân ta thời kỳ đầu Pháp thuộc.
Con đường đê La Thành trước kia hoang vắng nay biến thành dãy phố bán đồ gỗ sầm uất, đặc biệt đồ gụ khảm ốc. Khởi đầu ông chú Bình làm nghề này rồi truyền lại cho con cái, bây giờ cả dãy phố chuyên bán đồ gỗ cho dân thành phố.
Về đến nhà, chàng cảm thấy vui mừng được gặp lại mẹ già 91 tuổi; tuy sức đã yếu, đi đứng khó khăn, nhưng bà cụ vẫn cười khi nhận ra chàng. Cả một dĩ vãng chợt hiện trong tâm khảm; chàng nao nao nhớ lại những kỷ niệm thời thơ ấu nơi chôn nhau cắt rốn có lũy tre xanh bao bọc, con đê cao ngăn đôi cánh đồng bát ngát dẫn đến chùa Láng, đền Voi Phục.
Bà mẹ thời trẻ đã say mê với công việc đồng áng và bán buôn để nuôi con cái ăn học. Rồi những ngày đi tản cư vất vả, những ngày về tề thật gian truân, những ngày cải cách ruộng đất mất nhà cửa, và sự kỳ thị đối với gia đình có con vào Nam theo “ Ngụy.” Ông bố chàng đã bị Pháp bắt năm 1949 vì nghi theo Việt Minh. Ông đã lo toan nhiều cho gia đình và mất năm 1989.
Làng Giảng Võ ngày nay đã trở thành một khu phố của Hà Nội mở rộng tới Sơn Tây.
Mấy ngôi nhà của các em chàng nay đã cơi thêm lầu cao ráo, sàn lát gạch hoa láng, hệ thống giây điện gắn trong tường, nhà có phòng vệ sinh và phòng tắm gắn bình nước nóng của Ý đun bằng điện. Đồ đạc đa số là tủ chè, tủ cá sấu hay rồng bay, sa lông và sập gụ. Miền Bắc hay đùng đồ gụ, còn miền Nam lại dùng đồ cẩm lai.
Đã thuộc về dĩ vãng cảnh phu vệ sinh vào mỗi buổi sáng sớm đi làm công việc đổi thùng đựng chất phế thải của con người tại các tư gia trong thành phố. Như vậy người dân Hà Nội mới được hưởng những tiện nghi vệ sinh vào khoảng 10 năm nay, nhưng như thế không có nghĩa là đồng bộ vì vẫn còn những nhà thiếu tiện nghi, chưa kể đến nông thôn và miền núi có cuộc sống thấp kém hay còn lạc hậu.
Khu vực ngoại ô: Chèm, cầu Giấy, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Thành Công nằm phía tây Hà Nội; trước đây nhà cửa còn thưa thớt và thấp, nay nhà cửa san sát và lên ba bốn lầu. Phố Ngọc Khánh trở thành phố ăn uống tấp nập về đêm như đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn. Nhà cửa chen chúc không còn khoảng trống để thở. Tình trạng này chung cho Hà Nội và các vùng phụ cận đang bung ra với mật độ cư dân cao, trung bình cứ 617 người chiếm một dặm vuông. Dự kiến năm 2020, dân số sẽ lên tới trên 100 triệu người, mật độ sẽ còn gia tăng và nhiều vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc sẽ phải được giải quyết đồng bộ.
Hà Nội 36 phố phường đã có những thay đổi về tên đường và cảnh quan sinh hoạt thờ ixưa cũ. Chàng nhờ cậu em rể đưa đi thăm phố phường bằng xe gắn máy. Theo quy hoạch của thành phố thì vài phố cổ vẫn để nguyên, nhà cửa không được xây cao, đổi mới, mà chỉ có thể trùng tu lại. Nhà ở các phố hàng Ngang, hàng Đào vẫn nhỏ hẹp, mỗi mét vuông đất ở hàng Ngang giá 20 cây vàng, ở Hàng Đào giá 40 cây vàng. Phố hàng Thiếc còn làm các đồ dùng bằng thiếc; nhiều phố khác đã đổi tên, quay ra bán đồ tạp hóa và mở hàng ăn uống, hoặc nhà nghỉ.
Tại phố Bát Đàn có một tiệm phở tiêu biểu cho phở Hà Nội, đậm đà hương vị cũ. Vài cao ốc mới dựng lên ở trung tâm thành phố chưa thay đổi được cảnh quan cũ. Đường Quan Thánh vẫn còn những cây cao bóng cả. Đường Cổ Ngư đã đổi là đường Thanh Niên, cảnh Hồ Tây nay kém thơ mộng bởi các khách sạn, nhà hàng, nhà cao tầng bao bọc quanh hồ. Bánh tôm Cổ Ngư không còn độc tôn mà có thêm các món hải sản. Hồ bơi Nghi Tàm, Quảng Bá đã nhường chỗ cho các cao ốc. Đê Yên Phụ đã biến thành xa lộ, hai bên đường san sát nhà cửa, khách sạn và nhà hàng.
Riêng Hồ Gươm vẫn soi bóng Tháp Rùa, mặt hồ vẫn xanh mầu xanh muốn thủa. Đó đây vài cành phượng vĩ lả mình xuống nước, tạo nên bức tranh thủy mặc tuyệt vời. Bờ hồ lát gạch, dăm bóng liễu rủ gần Tháp Bút Tả Thiên Thanh (viết lên trời xanh), cạnh đó là Đài Nghiên (nghiên mực ) bằng đá. Đền Ngọc Sơn vẫn uy linh giữa hồ lồng lộng mây gió bốn phương. Thời kỳ Đổi Mới có các khách du lịch ngoại quốc và tây ‘‘ba lô ” đi dạo quanh hồ ngắm cảnh. Cũng có vài cặp tình nhân trẻ ra ngồi trên ghế đá để thợ chụp ảnh bấm vài kiểu làm kỷ niệm. Phố Hàng Trống nay có các tiệm bán đồ trang trí và tiệm kem. Không còn cảnh tàu điện kêu leng keng chạy bên bờ hồ. Các thiếu nữ mặc áo bốn túi kiểu Mao mầu rêu, cắt tóc ngắn cũng đã biến dạng.
Buổi tối, chàng và cậu em vợ ra ngồi uống nước ở nhà Thủy Tạ bờ hồ, ngắm dòng ánh sáng xe cộ chạy quanh hồ. Nhà Thủy Tạ còn là nơi trình diễn các vở kịch dân gian cho khách mua vé vào xem. Thời mở cửa đã bơm thêm sức sống cho dân Hà Nội và đưa ánh sáng quảng cáo đầy mầu sắc trở lại các đường phố u ám xưa kia.
Các hàng ăn ngoài lề đường đã bị dẹp, ngoại trừ những con hẻm nhỏ vẫn còn. Ăn tô phở, hay tô miến lươn giá chót là 6000 tiền Việt, khoảng 39 xu Mỹ; còn uống tách trà tươi tốn 200 tiền Việt, khoảng hơn 1 xu Mỹ. Một đô la đổi được 15,500.00 tiền Việt, mức hối đoái này ngày càng tăng thêm. Tiền lương của một bác sĩ 100 đô la một tháng. Lương giáo viên tiểu học 30 đô la một tháng. Bình quân lợi tức mỗi người Việt là 400 đô la một năm [2], với số dân 80 triệu; còn ở mức thấp so với các nước đang phát triển tại Á Châu. Năm 1998, Trung Cộng đạt 750 đô la một đầu người, với dân số trên một tỷ người; Thái Lan đạt 2,160 đô la mỗi đầu người, dân số trên 62 triệu, còn Singapore đạt 30,170 đô la mỗi đầu người, dân số trên 3 triệu người. Các số liệu trên được rút ra từ tài liệu Encyclopaedia Britannica xuất bản năm 2001, đến nay đã có những thay đổi về dân số và lợi tức tính theo mỗi đầu người.
Đồng lương thấp đã khiến cán bộ các cấp, các ngành phải xoay sở kiếm chác thêm và tệ nạn tham nhũng, cửa quyền cũng theo đó phát sinh.
Bộ trưởng, thứ trưởng có cửa hàng ở Hà Nội bán sản phẩm công nghệ ngoại quốc, hoặc ăn hối lộ đương bị điều tra. Chàng được người quen chỉ cho thấy các cửa hàng bề thế của thứ trưởng, bộ trưởng như thứ vải thưa che mắt thánh. Báo chí Hà Nội không ngớt đăng các vụ cán bộ chiếm dụng đất đai của công lẫn của dân ở các tỉnh thành mà đơn từ dân khiếu nại chất hàng đống không được xét xử qua nhiều năm.
Nhân tiện có chuyến xe về Thái Bình, chú em rủ chàng đi thăm huyện Tiền Hải, nơi Dinh điền sứ, nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Công Trứ còn để lại dấu ấn khai khẩn đất hoang vùng ven biển thành hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải năm 1828, thời vua Minh Mệnh. Ông sanh năm 1778 tại Hà Tĩnh, trong một gia đình nho giáo, bố làm quan. Con người ông có thể tóm gọn trong hai vế: hăng say hoạt động cho dân và hưởng lạc tận tình cho bản thân. Ông là bậc tài hoa xuất chúng, lãnh vực nào cũng có ông: dẹp loạn, an dân, khai hoang lập ấp, thật xứng với hai câu thơ mẫu mực cho chí làm trai của ông mà các thế hệ thanh niên xưa và nay vẫn thường nhắc tới:
‘‘ Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông”.
Số ông đào hoa: ông có bà vợ, 12 nàng hầu, sanh tất cả 12 con trai và 14 con gái. Quan niệm chữ nhàn của ông là sự hưởng lạc thanh tao: đàn hát, xướng họa, hoặc ngao du sơn thủy với bầu rượu túi thơ.
Nguyễn Công Trứ đã mô tả thú hưởng lạc của mình sánh với các bậc tài danh ngày xưa bên Trung Hoa:
Thơ một túi gieo vần Đỗ, Lý,
Rượu lưng bầu rót chén Lưu Linh,
Đàn Bá Nha gẩy khúc tính tang tình,
Cờ Đế Thích đi về xe pháo mã”.
Để tri ân công lao lớn của ông, người dân làng Đông Quách, huyện Tiền Hải đã lập đền thờ Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ ngay từ khi ông còn sống.
Đường xuống Thái Bình phải đi qua huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, quê hương Đức Trần Hưng Đạo. Dọc đường, lúa tháng tám mới gặt còn phơi bên lề đường. Thị xã Thái Bình đã được mở rộng, con kênh chảy giữa thị xã được xây kè đá hai bên bờ, song nhiều đoạn vẫn dơ bẩn vì rác rưởi. Đường xuống huyện Tiền Hải nhỏ, chỉ chạy được hai làn xe. Mỗi gia đình ở đây được canh tác một mẫu ruộng, mức thu nhập không bằng làm các dịch vụ, đánh bắt cá, nuôi tôm cua trong các đầm nhân tạo ven biển. Nghề nuôi ong lấy mật ở các xã đã có bước phát triển mới, liên kết với việc trồng cây ăn trái để có hoa nuôi ong.
  Đi sâu vào các cánh đồng đạt 5, 7 tấn một mẫu, chàng thấy những ngôi giáo đường lớn vẫn tồn tại với thời gian, có ngôi đang được xây mới do giáo dân quyên góp hàng tỷ đồng. Thời Gia Long, Minh Mạng đã có chính sách cấm đạo, một số nhà truyền giáo Tây phương đã phải chạy về ẩn náu ở Tiền Hải, một cứ điểm sát biển, lôi kéo theo giáo dân đến lập nghiệp ở đây, do đó các ngôi nhà thờ lớn đã được xây dựng và bảo tồn đến ngày nay, mặc dù có chính sách bài tôn giáo của chế độ Cộng sản. Vào thăm một trạm điều chỉnh cống nước mặn chảy vào các hồ nuôi tôm cua, chàng thấy nhân viên ở đây chỉ treo ảnh Chúa thêu trên tấm vải mầu xanh da trời mà thôi.
Người dân Tiền Hải, ngoài nông nghiệp còn sống bằng nghề đánh cá tại cửa sông Hồng rộng mênh mông, nước đỏ ngầu, hai ven bờ sú vẹt mọc lan tràn khỏi mặt nước. Hàng năm phù sa tiếp tục bồi ra cửa biển; sóng đánh từ ngoài biển ngăn chặn, dồn phù sa lại thành bãi ngầm cho đến khi trồi lên cao thành lớp bãi bồi mới. Người dân địa phương đã ươm sẵn những cây phi lao nhỏ để đem ra bãi bồi mới trồng tiếp nhằm giữ đất, theo kinh nghiệm của tiền nhân truyền lại từ bao đời nay.
Vào một quán ăn ở huyện, chàng được nghe những mẩu chuyện do mấy cán bộ đang trao đổi với nhau. Họ nhắc đến những vụ tham nhũng đã được ém nhẹm, tòa xử chiếu lệ, đến cả vụ công an Quỳnh Côi bị dân bắt giữ vì bênh chính quyền xã tham nhũng mấy năm trước.
Dân Thái Binh vẫn có truyền thống tranh đấu cho nông dân bị ức hiếp. Người dân còn nhắc đến loạn Phan Bá Vành, một nông dân Thái Bình đã huy động nghĩa quân nổi lên chống triều đình Minh Mạng trong 6 năm (1821-1827),vì nông dân bị sưu cao, thuế nặng nên quá cực khổ.
Đặc biệt trong khi chuyện trò, họ đề cập đến cả cái chết của ông Trần Độ, một cựu tướng lãnh và ủy viên trung ương đảng đã mạnh dạn kêu gọi đảng mở rộng dân chủ nên bị đảng trù dập; hai người con của ông Độ là đại tá đã bị cho về hưu. Họ thẳng thắn cho việc làm của ông Độ là đúng đắn, song vì cơm áo dung thân, họ đã không thể làm gì hơn ngoài việc bàn với nhau cho vui miệng trong lúc trà dư tửu hậu.
Ở một chỗ khác, chàng lại nghe cán bộ nói đến việc đi học chính trị để giữ các chức vụ then chốt, đây là điều kiện bắt buộc đối với đảng viên các cấp, kể cả các trường đại học và chuyên nghiệp cũng phải học chủ nghĩa Mác.
Thực tế mà nói, chế độ Cộng sản hiện có ba tầng lớp: trên cùng là lãnh đạo đảng, giữa là cán bộ, chuyên viên, dưới cùng là nhân dân. Lớp trên cùng cố bám lấy địa vị và vây cánh, lớp giữa là thành phần cơ hội chủ nghĩa và thực dụng, còn đại đa số nhân dân chỉ lo làm ăn cải thiện đời sống, không mấy quan tâm đến chính trị. Người dân đã có ý thức bảo vệ quyền lợi, đất đai của họ bằng sự đối chọi với nhà cầm quyền Cộng sản.
Có thể ví xã hội chủ nghĩa như Iớp váng trên bề mặt kinh tế thị trường hiện tại. Trong điều kiện chậm phát triển, nạn tham nhũng ăn sâu, việc tập trung quản lý các phương tiện sản xuất và phân phối phúc lợi cho mọi người như Mác đã dạy chỉ là lý thuyết suông. Thực tế 50 năm qua đã chứng minh cho điều đó: các nông trường tập thể, hợp tác xã nông nghiệp, cơ sở quốc doanh lần lượt bị đào thải.
Việt Nam sẽ phải đi bước kế tiếp: cải tổ về chính trị để theo kịp đà phát triển chung của nhân loại, cũng như Việt Nam sẽ phải dựa vào một cường quốc không phải là người đồng chí Trung Cộng ở sát nách từng ức hiếp mình, hoặc Nga nay chỉ là một bạn hàng, mà là Mỹ để có thể đương đầu với nguy cơ bành trướng của Trung Cộng. Đó không chỉ là dự kiến mà sẽ là cơ sở cho các chính sách đối nội và đối ngoại của Việt Nam trong tương lai [3].
Từ nhận định khách quan đó, việc cải thiện bang giao với Mỹ đi đôi với cải thiện nhân quyền, bước nữa là dân chủ hóa chính quyền, sẽ là những yếu tố then chốt để Việt Nam có thể đồng hành với Mỹ. Thế hệ sinh viên, học sinh hiện thời, trong đó một số đáng kể con em cán bộ và sinh viên tự túc theo học các trường đại học Mỹ từ thập niên trở lại đây, sẽ là động lực chuyển hóa dần chế độ độc tài đảng trị sang kỷ nguyên mới: dân chủ thực sự do dân và vì dân.
Giọt nước thấm dần sẽ làm mòn cả đá! Liên Bang Xô Viết đã phải thay chế độ cộng sản bằng chế độ dân chủ năm 1991 mà không phải đổ máu như cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917 ở Nga đã lật đổ Hoàng đế Nicholas II và thiết lập chế độ cộng sản độc tài do Lenin lãnh đạo.
Có những cán bộ về hưu đã than vãn cuộc sống nghèo túng, đổ lỗi cho các chính sách sai lầm về kinh tế, xã hội, chính trị của đảng trong nửa thế kỷ qua. Cũng không phải ngẫu nhiên mà một cựu đại tá quân pháp đã ca ngợi trước mặt chàng về Tổng thống Roosevelt, người đã cứu nước Mỹ ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế năm 1933 bằng chương trình Hành Động Mới (New Deal) nhằm giúp người dân thất nghiệp có việc làm, người nghèo được hưởng trợ cấp, phúc lợi và chữa bệnh của chính phủ liên bang lẫn tiểu bang. Xu hướng dân chủ tất nhiên là không thể đảo ngược khi nó đã trở thành khát vọng từ bao đời nay của người dân Việt.
Trở lại Hà Nội, Bình tới căn nhà lầu số 37E phố Văn Miếu thăm gia đình cậu em. Chàng bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm cũ trong căn nhà, nhớ đến Hiền, Tuyết trước khi vào Nam năm 1954. Hiền đã có chồng ở Hà Nội, Tuyết có chồng ở Saigon.
Khi vào thăm Văn Miếu, chàng có cảm tưởng như quay về thời cổ đại cách nay 800 năm.
Hàng bia tiến sĩ lưu thiên cổ,
Giếng nước Thiên Quang lộng góc trời. (NAL)
Chàng còn giữ tấm ảnh chụp năm 1952 cạnh tấm bia đá tiến sĩ với anh Song Nhất Nữ và anh Thanh Bình trước khi vào miền Nam. Năm 1956, chàng gặp lại anh Thanh Bình ở Huế; khi cả hai người đã nhập ngũ sĩ quan.
Ngoài cửa vẫn còn tấm bia đá Hạ Mã, nhắc khách tham quan phải xuống ngựa hoặc xe trước khi vào bên trong. Ngày nay khách vào phải mua vé, có tài liệu hướng dẫn và bưu thiếp bán cho du khách làm lưu niệm.
Toàn bộ kiến trúc, cảnh trí khu Văn Miếu vẫn giữ những nét cổ kính, thơ mộng từ ngàn xưa, có thêm phần tôn tạo hai nhà che bia tiến sĩ và nhà Thái Học bị phá hủy năm 1946. Lịch sử Văn Miếu có từ năm 1070; khi Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng đồ án và cho đắp tượng Chu Công, Khổng Tử cùng 72 vị tiên hiền để thờ. Năm 1076, Vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám (Đại Bái Đường hiện nay), tức trường đại học đầu tiên của nước ta tại khu Văn Miếu để đào tạo các hoàng tử và quan lại. Đời Trần đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện (năm 1243). Đến năm 1433, Vua Lê Thái Tổ mở rộng Quốc Tử Giám, cho tuyển chọn con cháu các quan lại và thường dân xuất sắc vào học.
Theo thứ tự, khách sẽ đi vào Văn Miếu Môn, qua khu vườn cảnh đến cổng Đại Trung, rồi đến gác Khuê Văn, hai bên tẩ hữu có nhà bia 82 người đậu tiến sĩ từ khoa Đại Bảo thứ 3, năm 1442 đến năm Cảnh Hưng thứ 40, năm 1779. Ở giữa là giếng Thiên Quang hình vuông có tường hoa bao bọc.
Khách đi tiếp vào cổng Đại Thành đến Đại Bái Đường thờ tiên thánh; nơi đặt tượng Đức Khổng Tử, vạn thế sư biểu và bàn thờ ông Chu Văn An. Đời Vua Trần Dụ Tông (1341-1369), Chu Văn An dâng Thất trảm sớ xin vua chém 7 gian thần song vua không nghe, nên ông bỏ quan về dạy học. Vì cảm mến tài cao học rộng và tính cương trực của Chu Văn An, Vua Trần Dụ Tông đã cho thờ ông tại Văn Miếu sau khi ông mất.
Phía sau là nhà Thái Học, hậu cung có đặt tượng đồng của các Vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thái Tổ đều mới làm để thờ. Các vị vua trên đã có công thiết lập và mở mang Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tạo nơi này thành một biểu tượng muốn đời của Nho giáo.
Thăm lại Văn Miếu, chàng liên tưởng đến một nền nho học cực thịnh trải dài suốt lịch sử Việt Nam, đến những bậc danh nho như: Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Lê Qúy Đôn, Lương Thế Vinh (nhà toán học), Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cũng từ Hán học mà ta đã có các áng thơ văn bằng chữ nôm rất nổi tiếng của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương. Đó là những tên tuổi lẫy lừng, những cổ thụ của nền văn học cổ Việt Nam và là niềm vinh dự của một dân tộc trọng nho giáo.
Rời Hà Nội, Bình thuê xe hơi đi từ lúc sáng sớm đến tỉnh Vĩnh Phú, vượt chặng đường dài hơn trăm cây số. Xe qua cầu Thăng Long bắc trên sông Hồng, qua các thị trấn nhỏ, những cánh đồng lúa và hoa mầu ở dọc đường, tới cây cầu bắc trên sông Lô là vào thị xã Việt Trì. Thị xã chạy dài theo xa lộ được ngăn đôi bằng dải cỏ xanh, hai bên đường là các cửa hàng khá sầm uất. Đến cuối thị xã, xe quẹo bên trái theo con đường nhựa dẫn đến khu đồi núi và rừng già.
Xe dừng tại bãi đậu ngay chân núi Nghĩa Lĩnh. Chàng rủ bác tài xế vào quán nước nghỉ một lát trước khi leo lên núi. Ngày thường có ít du khách đến tham quan đền Hùng, nhưng theo lời kể của cô chủ quán thì vào ngày Giỗ Tổ 10 tháng Ba âm lịch, trên 500 bậc thềm đá từ cổng lên đến đền Thượng ở trên đỉnh núi cao 175 mét đều đông nghẹt người đi lễ.
Mỗi bước trèo non thêm ngưỡng mộ,
Ngàn thu dựng nước các Vua Hùng (NAL)
Phải dùng từ uy linh mới thấy hết vẻ thiêng liêng, cổ kính và hài hoà của quần thể kiến trúc đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, nơi các Vua Hùng đã lập đế đô đầu tiên của nước Văn Lang tại Phong Châu, Việt Trì. Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh nhìn xuống, du khách thấy cảnh bao quát, thơ mộng của vùng trung du Việt Trì. Mười tám đời Vua Hùng đã kế tiếp nhau dựng nước Văn Lang, từ năm 2879 đến năm 258 trước Công Nguyên, với 15 bộ lạc khởi thủy trải dài từ Cao Bằng đến Quảng Trị. Biểu tượng văn hóa thời đại Hùng Vương được lưu truyền đến ngày nay là trống đồng Ngọc Lũ và Đông Sơn với các họa tiết mô tả nếp sinh hoạt sống động và phong phú của nhân dân thời bấy giờ.
Từ chân núi leo lên các bậc đá, Bình tới cổng chính sơn đỏ [4] đứng uy nghiêm dưới bóng thông cao, rồi leo tiếp các bậc đá tới tam quan có gác chuông, trước khi vào Đền Hạ, một ngôi đền ba gian, mái lợp ngói ta, trông đơn giản và cổ kính. Khách vào trong đền, thắp hương, khấn trước bàn thờ các vua Hùng rồi đặt các tờ giấy bạc 200 đồng mới tinh đổi tại quán nước ở chân núi để cầu phước. Đền Hạ có huyền thoại Bà Âu Cơ sanh một bọc 100 trứng, nở thành 100 người con trai; 50 người theo Lạc Long Quân về biển, 49 người theo Bà Âu Cơ lên núi, để lại người con trưởng làm vua xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, Việt Trì, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Bên cạnh đền Hạ có chùa Thiên Quang, bóng cây rừng phủ kín phía sau tạo thêm cảnh u huyền, thanh tịnh cho ngôi chùa cổ.
Rời Đền Hạ, chàng leo các bậc đá bên sườn núi tới Đền Trung. Theo truyền thuyết các Vua Hùng thường mời các Lạc tướng đến đây để bàn quốc sự. Cũng tại nơi đây, Hoàng tử Lang Liêu đã tự mình gói những chiếc bánh chưng, bánh dầy đầu tiên vào dịp Tết âm lịch để cúng tổ tiên và dâng lên vua cha. Ngày nay con cháu Tiên Rồng vẫn trân trọng giữ mỹ tục nấu bánh chưng, bánh dầy vào dịp tết như quốc hồn, quốc túy.
Giữa sân, phía trước đền có đặt một phiến đá tròn làm bàn, xung quanh có 8 phiến đá tròn nhỏ làm ghế cho Vua Hùng và các Lạc tướng ngồi họp bàn việc nước. Khi leo tới đây, có du khách đã thấm mệt nên ngồi vào phiến đá nghỉ, tưởng tượng đến ngày xưa các Vua Hùng đã ngồi như thế dưới trời xanh, cây cao bóng cả để lo cho dân được ấm no hạnh phúc. Hình ảnh ấy thật là đẹp và đầy ấn tượng đối với người dân Việt ở mọi thời đại.
Rời Đền Trung, chàng lại leo thêm các bậc đá lên tới Đền Thượng trên đỉnh núi. Theo truyền thuyết, các Vua Hùng hàng năm tới đây để tế Trời Đất và Thần Nông, cầu cho dân được mùa màng và thái bình. Ở các đền, khách thập phương đều cúng tiền khi dâng hương lễ. Ban quản lý đền sẽ sử dụng số tiền này trong công tác tu bổ kiến trúc và cảnh quan. Bên cạnh đền Thượng có lăng Hùng Vương xây như cái miếu nhỏ hình vuông, mái cong. Vua Hùng thứ 6 đã cho lập đền thờ Thánh Gióng sau khi đánh bại giặc Ân sang xâm lăng nước ta.
Chàng lại theo các bậc đá xuống chân núi, về bên trái có Đền Giếng thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, ngày xưa thường hay soi gương và chải tóc bên bờ giếng. Đây là cái giếng nhỏ xây bằng đá ở ngay giữa đền, đường kính một mét, sâu ba mét, nước trong vắt trông thấy cả đáy. Có những đồng tiền cắc nằm dưới đáy giếng do khách thập phương quăng xuống. Chàng cũng bỏ xuống đáy đồng quarter 25 xu Mỹ làm kỷ niệm. Thế là chữ Liberty trên đồng tiền bằng bạc đã nằm xen kẽ những đồng tiền khác với hy vọng nó sẽ sớm trở thành hiện thực từ nơi đáy giếng của Đền Giếng. Mong lắm thay!
Khi rời Đền Giếng để ra xe, chàng ngạc nhiên thấy bức tường phù điêu mầu trắng ở chân núi đắp hình nổi Hồ Chí Minh đứng giữa bộ đội và dân chúng. Thiết nghĩ từ ngàn xưa, trải qua các triều đại phong kiến, các bậc vua chúa cũng đã không nghĩ đến việc dựng hình tượng của mình ở núi Nghĩa Lĩnh, nơi tôn nghiêm chỉ dành để thờ các Vua Hùng đã có công dựng nước.
Nhớ lại khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ tháng 12 năm 1991, các tượng Stalin, nhà độc tài Đỏ, đã bị dân chúng Nga và các nước chư hầu Đông Âu tự động lật đổ. Cho nên khi lịch sử sang trang, những gì trái với lòng dân sẽ bị đào thải, đó là quy luật tự nhiên.
Cuộc sống ngột ngạt của người dân hiện thời dưới chế độ Cộng sản làm Bình nhớ lại 50 năm trước, người dân cũng đã phải chịu đựng cuộc sống như thế dưới chế độ thực dân Pháp; nghĩa là không có tự do, dân chủ trong đời sống.
 Về quyền bầu cử người đại diện cho mình ở quốc hội và các cơ quan công quyền, người dân vẫn phải bầu các thành viên do Đảng Cộng sản chọn sẵn.
Về báo chí, người làm báo tuyệt nhiên không được chỉ trích Đảng mà phải viết theo đường lối lãnh đạo của Đảng.
Năm 1956 ở Hà Nội lóe lên phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đòi tự do tư tưởng và ngôn luận thì bị Đảng Cộng sản dập tắt. Hiện nay, những người tranh đấu cho nhân quyền ở trong nước đã liên kết thành một phong trào dân chủ rộng lớn là một thách thức mới cho Đảng Cộng sản độc trị.
50 năm trước, nền văn nghệ lãng mạn Tự Lực Văn Đoàn trong đó có Khái Hưng, Nhất Linh là tiêu biểu, và hiện thực xã hội trong đó có Vũ Trọng Phụng là nổi bật, đã bị Cộng sản lên án là đồi trụy. Các tác phẩm của họ, kể cả các sách sử khác đã bị Cộng sản cấm đoán trong nửa thế kỷ ở miền Bắc, nhường chỗ cho văn chương đấu tranh giai cấp và chống đế quốc tư bản.
Các kinh điển của Marx như bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Manifesto of the Communist Party) do Marx và Engels viết từ năm 1847 và cuốn Tư Bản (Capital) do Marx viết từ năm 1867, đã được Đảng Cộng sản áp dụng vào các lãnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế. Hậu quả là chế độ chuyên chế ra đời, gây bao đau thương tang tóc cho dân tộc qua các cuộc đấu tố và sau đó là chiến tranh xâm lược miền Nam.
Lúc này có dịp ghé vào tiệm sách phố Tràng Tiền, chàng thấy văn chương của Tự Lực Văn Đoàn tái xuất hiện trên quầy sách. Cuốn Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng đã được chính thức giảng dạy trong nhà trường cộng sản. Các truyện của Khái Hưng (người đã bị Việt Minh thủ tiêu từ năm 1946), Thạch Lam, Hoàng Đạo, Vũ Trọng Phụng đã được tái bản sau nhiều năm bị chế độ Đỏ dìm xuống đất đen. Như thế đủ hiểu các hạt giống văn chương Đỏ đã bị thui chột, không thể thay thế được những hạt giống Xanh vì bản chất của nó không phản ánh trung thực nguyện vọng của con người và dân tộc Việt Nam luôn khát vọng tự do. Freud đã dùng phân tâm học để chứng minh ý nguyện của con người không thể bị ức chế trong mọi trường hợp. Feodor Dostoyevsky đã mô tả: “ Tự do như một sự lựa chọn không bị ràng buộc, một sự ham thích có lúc trở nên cuồng loạn trong con người”; nhưng ở đây là con người có tự chế.
Cũng có một số tác phẩm của các nhà văn Cộng sản trên quầy sách nhưng ít người để ý vì người viết còn bị buộc dối lòng thì không thể thuyết phục người đọc. Truyện Sông Đà của Nguyễn Tuân viết nhạt nhẽo, không có hồn so với Vang Bóng Một Thời của ông ngày trước. Vài bài thơ của lớp tiểu tư sản còn có thể rung cảm được người đọc, như bài Mầu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Tây Tiến của Quang Dũng, Ai về Bên Kia Sông Đuống của Hoàng cầm. Còn Tố Hữu hiện nguyên hình một thi nô, là cái loa và là mũi xung kích hàng đầu của Đảng Cộng sản trong phong trào chống địa chủ, phản động: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ. Tố Hữu đã tôn sùng nhà độc tài cộng sản Stalin bằng câu thơ: “ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!” và khóc Stalin bằng câu:“ Thương mình thương một, thương Ông thương mười!” Đó là nỗi đau lòng cho những người cộng sản Việt Nam đã đi theo con đường đấu tranh của Mác, phản lại truyền thống đạo lý của dân tộc.
Bình cũng đã có dịp gặp lại những con người thực của Hà Nội. Qua những phút trò chuyện với họ, già có, trẻ có, bên cạnh tách trà hoặc ly rượu suông, chàng cảm thấy họ vẫn chan chứa tình người, tình dân tộc, nghĩa là họ không nói theo thứ ngôn ngữ rập khuôn của cán bộ cộng sản, không ưa gì chế độ ngày càng đầy rẫy bất công, tham nhũng và đồi trụy. Người dân không sợ đối đầu với nhà cầm quyền cộng sản và thẳng thắn chỉ trích những cán bộ tham ô ở bất cứ cấp nào.
Để hiểu thêm tâm trạng của người Hà Nội, chàng làm bài thơ Hà Nội Thu Về, vừa để ghi lại cảm nghĩ của chàng trong những ngày về thăm cô hương:
Hà Nội thu Về
Hà Nội thu về lãng đãng mây,
 Lao xao hè phố lá khô đầy,
Thu về mang cả hồn thu cũ,
Man mác buồn qua ngọn gió may.
Chạnh nhớ ngày xưa ta đã yêu,
Vin cành hoa sữa buổi đầu thu,
Quên sao em nhỉ mùi hương ấy,
Đã ướp hồn ta những buổi chiều?
Giờ vẫn còn nguyên chuyện ước mơ,
Mơ đời hạnh phúc chẳng sầu lo,
Đêm đêm Hà Nội còn thao thức,
Cho cảnh đời nay sống vật vờ.
Chẳng cúi đầu đâu, chẳng điếc câm,
Trong tim Hà Nội máu sôi ngầm,
 Vẫn chờ cơn gió gây thành bão,
Xô hết tàn dư khỏi nước non.
Ước hẹn cùng thu ta sẽ lại,
Nhìn hoa sữa nở đón người xưa,
Dẫu bao thu mất xuân lưu lạc,
Còn lại tình ta chẳng xóa nhòa.

Ngày cuối cùng, Bình tìm đến địa chi của người bạn gái cũ ở phố Văn Miếu. Bà chủ nhà mới cho biết nàng đã về cư ngụ tại chung cư Kim Liên.
Tiệm giặt ủi xưa kia nay là tiệm bán tạp hóa; chàng phân vân không hiểu gia đình người chị của Hiền còn ở đó hay đã đi nơi khác.
Buổi chiều hôm ấy, chàng thuê xích lô đến phố Kim Liên. Khi tới chung cư, bác xích lô dừng xe lại. Trả tiền cho bác xong, chàng bước qua sân gạch, rồi lên lầu tìm căn phòng của Hiền. Chàng gõ cửa, hồi hộp đứng đợi. Bóng cây me chập chờn dưới ánh nắng chiều ngoài lan can làm chàng nhớ lại buổi chiều đi chơi với nàng ở chùa Láng. Thời gian trôi thật mau. Bao nhiêu chuyện bể dâu đã xẩy ra trong đời chàng.
Chợt cánh cửa hé mở. Hiền ngạc nhiên nhìn chàng trong giây lát rồi mỉm cười nói:
- Trời, anh Bình. Mời anh vào nhà.
Chàng theo nàng vào trong phòng. Có đứa cháu gái cúi đầu chào chàng.
Nàng bảo:
- Cháu nội tôi đó.
Cháu gái liền vào phòng bên cạnh coi tivi, để hai người lớn trò chuyện với nhau.
Ngồi xuống ghế đối diện với nàng, chàng vui vẻ gọi nàng bằng cô như hồi xưa:
- Trông cô giáo không thay đổi mấy, vẫn còn nét như ngày nào.
Nàng khẽ lắc đầu.
- Tôi về hưu đã lâu rồi. Còn anh cũng chẳng khác mấy. Con cái ra sao?
- Các cháu đã có gia đình.
- Tôi có hai cháu trai. Một cháu có gia đình rồi. Chàng ngó quanh không thấy chồng nàng ở nhà, khẽ hỏi:
- Anh ấy đâu?
Nàng đáp:
- Nhà tôi đến tòa báo làm việc. Anh còn làm báo chứ?
- Hồi này tôi ít viết báo.
Nàng chế nước sôi vào bình trà rồi rót ra chiếc chén quân mời chàng. Nàng tâm sự:
- Nhà tôi bảo làm báo khổ tâm lắm. Muốn viết theo lương tâm trách nhiệm của mình mà không được!
- Đúng thế. Vì trên anh ấy còn có Đảng.
Đôi mắt nàng tỏ vẻ băn khoăn, nghĩ ngợi.
- Chắc cô không khỏi ngạc nhiên khi thấy tôi về thăm?
Nàng hạ giọng:
- Tôi cũng không ngờ đấy. Mấy chục năm rồi còn gì?
Ngừng một lát, nàng nhởn nhơ bảo:
- Có lúc tôi nhìn qua cửa sổ nhà anh, cứ nghĩ anh còn đứng đó nhìn mình. Tôi thấy khó quên cái hình ảnh ấy. Cho tới khi tôi lập gia đình, tôi vẫn nhớ đến cái cửa sổ nhà anh mới lạ chứ.
Nghe nàng kể, chàng cảm thấy lòng mình trùng xuống. Rồi chàng cất tiếng hỏi:
- Thế bà chị đi đâu? Tôi lại Văn Miếu không thấy bà ấy ở đó.
- Chị ấy đưa gia đình vào Cà Mâu ở anh ạ.
- Thảo nào. Tôi thấy nhiều người miền Bắc vào Nam làm ăn từ sau năm 1975.
Nhấp ngụm trà Thái Nguyên đậm đặc, chàng nói:
-Tôi đã quen vị trà này.
Nàng dịu dàng bảo:
- Nhà tôi cũng thích. Cứ mỗi sáng sớm tôi pha cho anh ấy một ấm trà nóng trước khi đi làm. Ở Mỹ anh cũng có trà này à?
- Tôi có cô em thỉnh thoảng gửi cho ít trà uống vào mùa đông và nụ vối uống vào mùa hè.
Sực nhớ đến cậu bé ngày xưa vẫn đưa thơ cho hai người, chàng cất tiếng hỏi:
- Còn cháu Tuấn giờ ở đâu? Có vào Nam không?
Nàng buồn bã nói:
- Cháu mất ở Hải Phòng vì bom B.52 anh ạ.
Cháu Tuấn là con bà chị của Hiền, lúc nhỏ đẹp trai và nhanh nhẹn như con thoi.
- Tôi thấy thương cháu. Hồi ấy cháu rất ngoan. Chắc cô đã hiểu chiến tranh phát xuất từ đâu?
- Tôi biết. Dân ở đây bất mãn lắm. Nhiều nhà có đến hai, ba con là liệt sĩ. Bằng tuyên dương cứ treo đầy nhà.
Cả hai người đều lặng im. Trong chiều sâu ký ức, chiến tranh như một dấu ấn khó phai mờ dù nó đã chìm vào dĩ vãng. Cậu bé Tuấn là một kỷ niệm khó quên đối với chàng, là gạch nối giữa con tim hai người. Rồi chàng rút ví lấy ra tờ giấy một trăm đô la, ôn tồn bảo:
- Tôi về vội vàng, chẳng kịp mua quà cho các cháu. Vậy Hiền cầm giùm để làm quà cho các cháu và sắm chút hương hoa viếng cháu Tuấn giùm tôi. Ngày mai tôi lại đi.
Nàng nhìn chàng, cảm động nói:
- Anh về là quý rồi. Anh khỏi cho quà. Tôi sẽ đến mộ viếng cháu Tuấn sau. Cho tôi gửi lời thăm chị và các cháu.
Chàng thân mật bảo:
- Cô vẫn dung dị như ngày nào. Bao nhiêu năm qua mà tâm hồn cô không hề thay đổi; vẫn là tâm hồn của cô gái Hà Nội năm 1954.
Nàng im lặng. Miệng khẽ mỉm cười.
Khi tiễn chàng ra ngoài cửa, nàng cẩn thận khóa cửa lại. Hai người đứng ở lan can trong giây phút. Chàng nắm bàn tay nhỏ nhắn của nàng, hồi tưởng lại cái hôn trên má nàng ngày đầu mới yêu.
Hơi nóng từ con tim như đang dồn cả lên đôi má nàng đỏ ửng. Chàng từ từ buông tay nàng ra rồi lặng lẽ bước xuống cầu thang. Trong tâm tư chàng nghĩ sẽ không còn giây phút nào để chàng quay lại gặp nàng, như giây phút này đây đang vội tan vào khoảng cách giữa hai người.

Buổi chiều đã xuống, thật thấp.
Những chiếc lá bàng khô mầu đỏ quạch chạy lăng quăng trên mặt đường nhựa theo cơn gió nhẹ, nghe thật khô khan, buồn tẻ, quạnh hiu. Từ trên lan can, Hiền vẫn đứng yên nhìn theo chàng, đôi mắt nàng thẫn thờ bỗng thấm lệ không hiểu vì sao. Nàng lấy chiếc khăn tay trắng trong túi áo ra lau mắt, cố ngăn lại niềm xúc động đang dâng lên trong lòng. Nàng chờ khi bóng dáng chàng khuất hẳn sau dãy cây bàng trong ngõ mới quay vào trong nhà.

Chú thích:
[1] Quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc là dư đảng Thái Bình Thiên Quốc chống lại nhà Thanh chạy vào miền thượng du Bắc Việt, được Vua Tự Đức dung nạp để chống lại quân Pháp.
[2] GDP/ đầu người Việt Nam năm 2006 là 720 USD, dân số 85,3 triệu, theo báo cáo của Nhà nước.
[3] Do sức ép của Trung Cộng, CSVN đã ký Hiệp ước biên giới năm 1999 nhượng khoảng 800 km2 dọc biên giới trong đó có thác Bản Giốc ở Cao Bằng, phía nam Ải Nam Quan ở Lạng sơn, và năm 2000 ký Hiệp ước Vịnh Bắc Việt nhượng khoảng 12.000 km2 hải phận Bắc Việt cho Trung Cộng.
[4] Ở hai bên cổng có câu đối bằng chữ Hán, đại ý:
Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối,
Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con’’.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương Mười Bảy
 
Tình đất
 
 
Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình”.
Lý Bạch
 Bạn đi theo đường mây,
 Ngày qua, tình khôn rời.
 
Bình muốn nói thêm đôi điều về một làng có kỳ tích lịch sử, cùng mối trăn trở của bà Thành hoàng được thờ ở làng. Cũng như các làng ở nông thôn miền Bắc, quê chàng, làng Giảng Võ đã có từ thời dựng nước cách đây mấy ngàn năm.
Làng kề sát đê La Thành đã được đắp từ năm 1014 dưới triều vua Lý Thái Tổ (1010-1028). Con đê này chạy từ làng Bưởi giáp Hồ Tây, qua các làng Thủ Lệ, Giảng Võ, Thịnh Hào tới ô Chợ Dừa, tạo thành vòng đai bảo vệ phía tây nam thành Thăng Long. Phía đông bắc có tuyến đê Yên Phụ dọc theo sông Hồng, bảo vệ kinh đô chống lũ lụt hàng năm. Dù hệ thống thành lũy, đê điều ở cố đô Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay, đã bị mai một nhiều; người đời nay vẫn thấy công sức vĩ đại của các bậc tiền bối trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Năm 1010, Lý Công Uẩn tức Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra thành Đại La, thấy rồng bay trên thành nên đổi là Thăng Long, nơi hội tụ các yếu tố nhân văn, lịch sử, địa lý, giao thông thủy bộ và nguồn gốc của nền văn hóa, văn minh dân tộc.
Đến năm 1253 nhà Trần lập Giảng Võ đường tại xã Giảng Võ để huấn luyện võ nghệ cho quân sĩ. Năm 1983, khi nạo vét lòng hồ trước sân đình, dân làng đã thu lượm một số giáo, mác, mũi tên bằng đồng, là những vũ khí mà quân sĩ thời Trần đã sử dụng trong ba lần đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lăng Đại Việt vào các năm 1258, 1285 và 1288.
Theo truyền thống văn hoá từ thời dựng nước, mỗi làng ở Việt Nam đều thờ một vị Thành hoàng có sắc phong của nhà vua, để tôn vinh một vị vua chúa, một bậc anh hùng có công lao huyết hãn với dân tộc, hay một danh nhân văn hoá, một ông tổ khai sinh nghề nghiệp tại địa phương. Như làng Á Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh; dân làng thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ là thủy tổ của dân tộc Việt.
Làng Giảng Võ thờ bà Châu Nương, họ Lý, người con gái sinh ra tại làng này, lấy chồng là Trần Thái bảo, [1] làm quan Đốc bộ ở Nghệ An và có công đánh giặc Nguyên- Mông. Bà Châu Nương và cha là ông Lý Quỳnh, đã có công lớn trong việc giữ gìn kho tàng, lương thực của quân đội nhà Trần. Nghe tin chồng hy sinh, bà Châu Nương tuẫn tiết không để lọt vào tay giặc. Sau khi thắng quân Nguyên-Mông lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Vua Trần Nhân Tông đã truy tặng bà chức Quản Chưởng Quốc Khố Công Chúa và cho lập đền thờ bà ở Giảng Võ, Nghệ An và ở làng Đình Bảng, Bắc Ninh (quê nội). Trong đình có treo bức hoành với bốn chữ đại tự: Lý Trần Phương Danh để vinh danh hai họ Lý, Trần và bức hoành: Nữ Trung Anh Liệt để ca ngợi sự nghiệp của bà Chúa Kho.
Cuối thế kỷ thứ 19, viên Đại úy Pháp Francis Garnier đã tử trận tại đầu làng Giảng Võ ngày 21 tháng 12 năm 1873, sau khi y đem quân từ Gia Định ra đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, bị rơi vào cuộc phục kích của quân triều đình Tự Đức do Hoàng Tá Viêm chỉ huy và quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc với vũ khí thô sơ. Thành bị hạ, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương song không chịu cho Pháp băng bó, rồi nhịn ăn chết. Ngày xưa làng có lũy tre dày bao bọc, một bên là đê La Thành, một bên là đầm trũng từ bao đời do dân lấy đất đắp đê, nên quân Pháp từ Hà Nội tiến ra đường đê độc đạo để giải vây đã bị quân ta phục kích và bị nhiều tổn thất. Dân làng đã tiếp tế lương thực, che dấu và cứu thương quân sĩ; một số dân quân đã tham gia chiến đấu với gươm giáo chống lại quân Pháp có súng ống đầy mình. Ngày nay có 12 đám giỗ cùng ngày ở trong làng để tri ân những người dân đã vì nước hy sinh. Sau trận này, Pháp đã rút khỏi Hà Nội để rồi tái chiếm năm 1882, khiến Tổng đốc Hoàng Diệu đã phải tuẫn tiết, song viên Đại tá Henri Rivière cũng đã bị tử trận tại Dịch Vọng năm 1883, trên cầu Glấy khoảng nửa cây số.
Năm 1955, Việt Minh phá bỏ đài kỷ niệm có gắn nửa mặt Francis Garnier bằng đồng đen ở đầu làng, san đê La Thành lấy đất làm nhà dân cư ngụ hai bên đường.
Thời xưa làng có ông đồ dạy chữ nho cho cả tổng. Lúc ông đồ mất, môn sinh kéo về chịu tang cả mấy trăm người. Số nhân khẩu của làng năm 1945 là 1000 người, thời nay dân số tăng gấp bội, số di dân đến cư ngụ khá đông. Cánh đồng làng xanh tươi đã mất từ lâu; làng đã thành đô thị hóa, nhà lầu cất lên nhan nhản, đời sống vật chất có nâng cao trong khi nếp phong hoá lại có chiều đi xuống rõ rệt.
Lần về thăm bà mẹ đau năm 2005, chàng có ghé thăm đình làng, nơi thờ Công chúa Châu Nương. Thăm đình như để tìm lại dấu vết ông cha mình khi xưa vẫn tới đây hội họp với các bô lão và chức sắc trong làng. Đó là thời còn phẩm oản quả chuối; chiếu trên chiếu dưới theo chức vụ và tuổi tác các kỳ mục. Họp hành, tế lễ, phân chia ruộng đất đều ở đây. Hội hè vui chơi cũng có, mà xung đột đổ máu cũng có vì nạn cường hào, chia chác ruộng đất không công bằng.
Qua xuân, ngày 11 tháng Hai là ngày sinh của bà Chúa Kho. Ngày này có lễ hội lớn không chỉ riêng trong làng mà chung cho cả địa phương xung quanh. Các làng xa gần: Kim Mã, Ngọc Khánh, Hào Nam, Vạn Phúc, Cống Vị, Ngọc Hà, Hữu Tiệp đều cử các viên chức nam nữ về dự lễ.
Các cô con gái Giảng Võ lấy chồng ở các làng trên cũng nhớ ngày về dự. Đôi khi người ở Nghệ An, Bắc Ninh về dự lễ đông đảo. Lễ hội có các trò vui dân gian: hát chèo, đánh cờ người, múa rối nước. Hồi nhỏ, chàng được coi múa rối nước trong ao đình, xung quanh bờ ao, hoa đại nở trắng tinh. Ngày nay lễ hội được tổ chức đơn giản vào ngày sinh, kể cả ngày mất của bà Chúa Kho Châu Nương, 20 tháng Bảy âm lịch.
Tới Cổng đình, chàng thấy một bà chặn lại hỏi:
 -Anh Bình còn nhớ tôi không?
Chàng ngẩn mặt trong giây lát.
- Tôi là Lý, chị của Nụ đây.
Chàng nhớ ra rồi. Hồi chàng mới lớn, theo phong tục cũ, bố mẹ chàng muốn dạm hỏi cô Nụ, con gái một gia đình giàu có ở xóm đình. Đó là cái thời còn môn đăng hộ đối, cha mẹ kén chọn vợ tương lai cho con. Hồi đó con tim chàng còn ngây thơ. Mỗi lần cô Nụ có việc đi qua ngõ nhà mình thì chàng lại nhát không dám lại gần hỏi han, chỉ ngó nàng trong giây lát rồi để nàng biến mất. Những mối tình thơ ngây như thế ở làng cũng không hiếm, nên vợ nên chồng cũng có vài đám. Khi lớn lên, không hợp nhau thì lại chia tay. Trước, cha mẹ đặt đâu; con ngồi đấy. Bây giờ con ngồi đâu; cha mẹ theo đấy.
Chàng hỏi người chị vợ hờ:
- Cô Nụ bây giờ có mấy con rồi hả chị?
- Em nó có năm đứa. Có đứa ra đại học rồi.
- Chắc cô ấy không còn nhớ tôi đâu.
Chàng vừa nói dứt câu, bà Lý mỉm cười.
- Thỉnh thoảng chị em tôi còn nhắc đến anh. Có lần anh đi học về qua đình, cô ấy xui tôi ra kéo tay anh vào nhà chơi, thế mà anh lại vào. Nụ nó bạo hơn anh.
Ngày xưa trai trong làng có học hành là được các cô gái để mắt tới. Rồi thời gian trôi qua. Chàng ra Hà Nội học, không còn để ý đến Nụ nữa. Nghĩ lại chàng thấy ân hận để nàng thấp thỏm chờ đợi mãi mới chịu đi lấy chồng.
Trước khi quay đi, bà Lý an ủi chàng một câu:
 -Chẳng qua là duyên số, anh đừng bận tâm đến chuyện cũ nhé.
Chàng bảo:
- Cho tôi gửi lời thăm cô Nụ.
- Được rồi. Tôi sẽ nói.
Bước vào sân đình, chàng thấy ngôi phương đình ở ngoài cùng bị đốt năm 1946, năm có tiêu thổ kháng chiến toàn quốc đã được xây lại theo đúng kiến trúc hồi xưa, nhà vuông, cột lim lớn, hai lớp mái cong trên, dưới đều có rồng chầu bốn góc, bên trong có treo hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Bước vào hậu cung, chàng thấy gian giữa thờ bà Chúa Kho, gian bên tả thờ nhị vị thân sinh ra bà, còn gian bên hữu thấy có tượng ông Hồ.
Chàng mới hỏi ông từ giữ đình, cũng là người trong họ ngoại:
- Hồi trước các cụ chỉ thờ vị Thành hoàng, sao bây giờ lại vẽ vời thế hả bác.
Ông từ có người em là cán bộ bộ đội đã nghỉ hưu, hiện là bí thư xã. Các chủ trương chính sách đều do đảng ủy xã đưa ra; ủy ban nhân dân xã chỉ có việc thi hành.
Ông ta nói nhỏ với chàng:
- Việc này là do trên đề xướng. Chẳng cứ ở làng mình mà nhiều xã khác người ta cũng thờ cả đây.
Chàng hiểu cái chế độ đảng ủy từ trên xuống dưới đã thâm nhập cả vào thánh thần ở đình chùa và tư gia. Chàng chưa kịp nói thì ông từ lật quyển sổ ghi tên khách thập phương đã tham gia đóng góp việc trùng tu ngôi đình.
- Đây anh coi, nhờ các vị hảo tâm mà đình được khang trang như hiện nay.
Chàng góp ý:
- Tôi ở xa về xin cúng chút đỉnh vào việc bảo tồn ngôi đình, dâng hương trước bà Chúa Kho, chứ không cúng cho ma vương lộn sòng đâu nhé. Làm như thế mất cả sự linh thiêng của Thành hoàng đã được vua chúa sắc phong và dân làng tôn kính từ bao đời nay.
Vừa nghe, ông từ vừa lấy cuốn biên lai ra ghi số tiền một trăm đô la của chàng trao. Ông vui vẻ nói:
- Cũng có người nêu ý kiến như anh đấy. Nhưng thôi, chúng tôi ghi nhận lòng thành của anh đối với quê hương bản quán. Dẫu sao anh còn có cái tình nghĩ đến đình. Chúng tôi chỉ làm công việc quản lý do ủy ban giao.
Lúc ấy có hai cô gái đến xin quẻ bài đoán vận mạng tình duyên gì đó. Ông từ quay ra tiếp khách để kiếm tiền từ quẻ bài in sẵn. Chàng chào ông ta ra về, trong lòng băn khoăn không biết đình chùa miếu mạo rồi sẽ đi về đâu dưới cái chế độ nhiễu nhương lắm thầy nhiều ma này.
Lúc về qua nhà ông chú họ, chàng thấy ông ta đứng ngoài cửa vẫy tay bảo chàng:
- Mới về hả. Vào đây chơi.
Chàng nhìn ông chú, cười nói:
- Chú còn mạnh lắm. Chưa đến nỗi nào.
Ông chú nheo mắt, buông giọng thật thà:
- Mạnh gì đâu, cỗ xe đã bị phế thải rồi.
Chàng thấy bên trong căn nhà lầu, đồ đạc khang trang, chẳng thiếu thứ gì, khen ông chú:
- Chú về hưu mà có căn nhà này là yên chí rồi. Ông chú nói ngay:
- Của vợ chồng con Thảo đấy. Lương hưu giám đốc của chú không đủ ăn vài bát phở thì làm gì có nhà. Ngừng một lát, ông chú nói:
- Làng hồi này có máu mặt nhờ một số gia đình có con cái đi xuất khẩu lao động gửi tiền về nhà mua sắm. Cũng có những đứa con gái lấy chồng Trung quốc, Đài Loan, Mỹ. Mắt xanh, mắt đen đủ cả. Sướng ít, khổ nhiều đấy anh ơi.
Nghĩ đến bức tranh của làng, chàng thấy nó là một melting pot hợp chủng. Bên trong những gia đình có những mâu thuẫn về màu da, quyền lợi và cuộc sống.
Chàng hỏi ông chú:
- Thế các em bây giờ làm gì?
Ông chú buồn rầu bảo:
- Được mỗi con Thảo làm cho thương nghiệp, còn thằng Văn coi như bỏ.
- Sao vậy?
Ông chú khựng lại trong giây lát rồi chậm rãi nói:
- Anh là người nhà tôi chẳng muốn giấu, chứ thằng Văn hư vì chơi với đám xã hội đen ở làng nên có lúc tôi muốn từ nó. Có lần nó lấy cả hột xoàn của bà ấy đem bán lấy tiền mua bạch phiến hít, rồi tổ chức lấy trộm xe máy bị bắt, may mà tôi quen anh trưởng công an nên nó thoát ở tù.
Rồi ông chú hỏi chàng:
- Anh có thấy cái hotel ở cạnh làng mình không?
 -Cháu có thấy.
- Của con trai ông Đỗ Mười [2] đấy. Nhiều cô gái làm tiền ở trong đó.
 - Thế công an có biện pháp gì không?
- Bắt đi bắt lại rồi đâu vẫn hoàn đấy.
- Thời buổi này, đồng đô la trên hết.
Nói xong, chàng đứng dậy chào ông chú ra về. Thêm một vấn đề xã hội để chàng suy nghĩ trong lúc đi trên con đường gạch quanh co trong xóm lúc này đã quen thuộc với chàng. Cái yêu, cái ghét, cái giàu, cái nghèo, cái được, cái không đã hiện rõ trong từng gia đình, cả cái tôn ti trật tự, cái giá trị cũ ở làng đã bị đảo lộn. Đó là tác hại của một đảng chuyên quyền.
Trở về nhà chú em, nơi chàng đang ở thăm. Bà mẹ nằm liệt trên chiếc phản có con cháu săn sóc hàng ngày. Tuổi già 94. Cụ chỉ uống sữa cầm hơi, không nói năng được. Nhưng tinh thần còn chút tỉnh táo. Đó là người phụ nữ đã trải qua thời kỳ thực dân, phong kiến và cộng sản, khổ cực nhiều hơn là hạnh phúc.
Bà con đến thăm, cụ chẳng nhận ra ai. Rồi ông thầy tướng số đến bấm xem ngày nào cụ có thể ra đi. Có bà đứng ngoài sân lâm râm khấn vái tứ phương ngũ hành, cầu xin cho cụ sớm ra đi. Vẫn còn cái dị đoan cổ hủ trong nếp sống của người phụ nữ trong làng.
Chiều hôm ấy, bên mâm cơm gia đình, anh chị em được dịp trò chuyện lai rai. Sau bao phen vật đổi sao dời, đây là những giờ phút đoàn tụ quý hiếm bên cạnh một bà mẹ suốt đời hy sinh cho con cái. Nói về sự chịu đựng, hy sinh của phụ nữ Việt Nam, chàng phải mượn thơ của Hồ Dzếnh để ca ngợi:
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi sẽ nạm vàng muốn khổ cực,
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.
 
Đem nạm vàng muôn khổ cực chỉ là một ước muốn của nhà thơ để trân trọng những hy sinh của người phụ nữ lúc còn trẻ cũng như lúc về già.
Đây là bản lược kê các con cụ về phương diện kinh tế, xã hội mà chàng mới thâu thập được. Mấy chú em làm việc cho cơ quan nhà nước đều mập, có đồng ra đồng vào. Chú A đã về hưu, tậu thêm cái nhà cho con gái ở Hà Nội. Chú B đang giữ chức phó giám đốc, có thời kỳ béo bở, cuộc sống khá phong lưu. Chú C tậu nhà lầu ở Saigon cho cô vợ bé ở; hàng tháng chú bay đi bay về như con thoi. Con cái các nhà được ăn học đầy đủ, lần lượt vào đại học. Thời mở cửa có đứa lấy chồng Đài Loan bị lừa mất vốn làm ăn, có đứa lấy Mỹ chẳng được xu nào, rồi bị bỏ rơi. Cuộc sống cứ thế quay đều. Cũng sắp mãn cuộc cả rồi, sổ sách, lời lỗ có thể tính từ bây giờ. Nếu chỉ lấy mức trung bình thì như thế là tạm đủ, cũng cơm no, áo ấm, chức nọ, quyền kia, thậm chí có người tiền vào như nước. Nhưng cuộc sống còn thiếu một thứ thiết yếu mà thiên hạ đã được thụ hưởng từ lâu là tự do. Bao lâu đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm độc quyền trị nước bằng điều 4 Hiến pháp thì vẫn chưa thể có tự do.
Sau lúc chuyện vãn với mấy chú em, chàng đi nằm được một lát thì nghe thấy tiếng người nói lao xao ở ngoài sân. Giờ đã quá nửa đêm. Chú C từ ngoài sân bước vào trong nhà gọi chàng dậy:
-Anh ra tiếp hai anh công an một chút.
Chàng không hiểu chuyện gì, vừa bước ra sân thì một anh công an nói:
- Chúng tôi đến yêu cầu anh khai báo tạm trú. Anh là người nước ngoài cần được bảo vệ!
Chàng cầm tờ khai tạm trú, điền tên và ký, xong trao lại cho anh công an. Hắn nói tiếp:
- Đáng lẽ việc này chủ hộ khẩu phải lo cho anh ngay khi anh mới tới.
Chàng nhớ mình đã khai địa chỉ tạm trú tại sân bay Nội Bài rồi. Nhưng đây là địa phương tạm trú thì chàng phải khai báo lại. Cũng chẳng sao.
- Khi đi tôi có phải khai báo không?
- Khỏi. Anh cứ đi.
Chàng để chú em tiếp chuyện với hai anh công an vì đã khuya, chàng còn đang ngái ngủ. Khi họ đi khỏi, chàng hỏi chú em:
- Có vấn đề gì không?
- Không. Đây chỉ là thủ tục thông thường. Có một anh công an ở làng này.
Chàng tự nhủ:
- Biết đâu họ muốn điều gì đó?
Chàng chưa có “lễ” cho họ hay có thể họ muốn theo dõi chàng nên nói khéo là để bảo vệ chàng. Chàng nghĩ lan man trước khi tìm giấc ngủ muộn trên mảnh đất cội nguồn của mình, mảnh đất mà dân chưa được làm chủ, nay lại thêm lắm thủ tục rườm rà tựa những rễ già, rễ non bám quanh cây đại thụ trên đình.
Sáng dậy, chú C pha cà phê mời chàng.
- Đêm qua anh ngủ được không?
Chàng lắc đầu bảo:
- Không ngủ được.
- Chắc lạ nhà?
- Có thể!
Chàng không muốn nhắc đến hình ảnh hai anh công an đêm qua. Hồi còn ở trại cải tạo miền Bắc thuộc thành phần tù nhân chính trị cũng như khi được trả về Saigon, chàng đã quá quen thuộc các công an áo vàng ăn chặn của tù, vòi vĩnh xin xỏ người đã được hoàn quyền công dân, vì Đảng thiếu chăm sóc họ.
Ý nghĩ của chàng đứt quãng khi thấy một con chim sẻ bỗng sà xuống sân gạch mổ miếng cơm nguội cạnh chậu rửa bát. Chàng nhớ ngày xưa nhà mình có đống rơm ở vườn sau. Sáng ra nắng hè đổ sớm, ông già ở làng bên cạnh đến đặt lưới, chờ cho bầy chim sẻ tới mổ các hột thóc còn sót dưới chân đống rơm là ông ta kéo sập cái lưới. Chim sống nhờ con giun, hạt thóc. Người lại sống nhờ chim. Đúng là trời sinh voi sinh cỏ.
Bây giờ cảnh ông già đặt lưới bẫy chim sau nhà đã thuộc về quá khứ mà lưới người thì luôn chực sẵn bên mình. Chắc chú em không thể đoán nổi cái ý nghĩ tiềm ẩn này trong đầu chàng.
Bỗng trời âm u. Chú em đi căng bạt ngoài sân để khách đến chơi khỏi ướt. Trận mưa đầu mùa trút nước xuống từng đợt không dứt. Cây cối trong vườn tươi tỉnh lại sau cơn mưa. Hương cau, hương ngâu dậy mùi thơm phảng phất trong không khí. Đến quá trưa, trời hửng nắng.
Xế chiều có ông chú trong họ tới thăm. Ông nguyên là đại úy bộ đội về hưu lâu năm, trước có phục vụ trong ngành chính trị bộ đội nên ông nói năng lưu loát, bộc trực. Theo kháng chiến từ năm 1945, cuối cùng ông cũng chỉ leo lên tới cấp Đại úy rồi thôi vì lý lịch của ông ghi đạo công giáo; mà cộng sản vô thần thì không chấp nhận tôn giáo.
Biết Bình đã từng làm báo, lại có lập trường chống Cộng, ông đi thẳng vào vấn đề:
- Cháu ở xa về thăm mẹ trong lúc lâm chung chắc có nhiều điều bối rối. Duy có điều chú muốn nói là xã hội này vẫn có giai cấp bóc lột. Còn bản thân chú không có đất để chôn! Giai cấp bóc lột đang đè đầu đè cổ nhân dân, làm giàu trên mồ hôi xương máu của nhân dân.
Câu chuyện xoay quanh vấn đề giai cấp thống trị trong xã hội đỏ hiện thời, và ông nói chí lý, chí tình. Điều đó không có gì ngạc nhiên cả.
Ngay từ thời Việt Minh đánh địa chủ năm 1953, người dân đói phải sống bằng chế độ tem phiếu thực phẩm nhỏ giọt kéo dài đến cuối năm 1990, sang thời kỳ đổi mới hiện nay, giai cấp cộng sản thông trị vẫn ngự trị và sống phè phởn trên nhân dân. Trong cuốn Tư Bản, Marx viết: Khi giai cấp vô sản đánh đổ giai cấp tư bản và tịch thu mọi phương tiện sản xuất của họ thì không còn giai cấp bóc lột.
 Trong bản Tuyên ngôn Cộng sản do Marx và Engels viết năm 1847 có ghi: Những người cộng sản không có quyền lợi riêng tư và tách rời khỏi quyền lợi của giới Vô sản. Thế mà trong xã hội cộng sản hiện nay, nhà nước cho phép các cán bộ kinh doanh làm giàu, tạo thành một giai cấp kinh doanh bóc lột mà người dân gọi là tư bản đỏ. Giai cấp này không đại diện cho công nhân, nông dân là những người bị bóc lột một cách tinh vi từ trên nửa thế kỷ nay. Cứ nhìn cách họ chiếm đoạt đất đai, nhà cửa của dân, kể cả đất công là tài sản chung của xã hội thì đủ rõ bản chất tham lam của giai cấp bóc lột.
Nạn tham nhũng tràn lan các cấp, các ngành cũng là hình thức bóc lột dân. Cửa quyền và lòng tham không đáy đã làm cho bệnh tham nhũng thêm trầm kha. Nó lũng đoạn cả hệ thống cai trị khiến cho việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân trở thành vô nghĩa. Đơn từ khiếu nại của dân thường gặp các rắc rối hoặc không được giải quyết.
Người cộng sản đang lung túng trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa lắp ghép với kinh tế thị trường, trong khi mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp đang có cơ hội tái diễn. Chủ nghĩa cộng sản đã bị phá sản ngay từ trong giáo điều sách vở cho đến thực tế xã hội hiện nay.
Còn một điều ông chú nói chết không có đất chôn là sự thực đau lòng cho các người già bởi vì đất đai nông thôn đang bị thu hẹp và qui hoạch hóa thành đô thị, thành cơ sở kinh doanh của tư bản ngoại quốc, lấy đâu ra đất để chôn; mà muốn chôn thì dân nghèo không có tiền mua đất chôn mình.
Các ông bà lãnh đạo đảng và nhà nước lúc sống thì giầu sang, khi chết đã có nghĩa địa Mai Dịch nằm một mình một cõi, còn nhân dân phải gửi nắm xương tàn của mình lên tận Bất Bạt, Sơn Tây hoặc biến thành tro bụi rải đi bốn phương.
Trong lúc bà cụ nằm liệt giường gần hai chục ngày, một bà cụ thông gia quê ở Hà Tây tới ở nhà con rể vài ngày chờ đưa đám, thấy bà cụ còn tinh thì tỉ tê nói với chàng:
- Tôi muốn về nhà mà cậu ấy cứ bảo ở lại chờ lúc cụ đi. Về rồi lại phải lên. Thôi cứ bỏ sữa cho cụ đi sớm. Cụ còn uống sữa thì cụ còn tỉnh.
Một ông con giáo sư tiến sĩ về hưu cũng phụ họa:
 -Để cụ uống nước rửa ruột thôi.
Bà cụ thông gia nói tiếp:
- Ở quê tôi có người bị bệnh ết (AIDS) còn đang ngắc ngoải thì người nhà đem ra đồng quây gạch lấp đất ông ạ.
Chàng ngạc nhiên nhìn bà cụ thông gia:
- Thế hả cụ.
- Vâng, họ chôn sống.
Chàng cau mày nhìn chú em tiến sĩ. Thà bà cụ thông gia thiếu suy nghĩ đã đành, một ông con trí thức lại muốn cắt đứt sớm sự sống của bà mẹ thì thật đau lòng. Thế nên chàng phản đối và nói với các cô em gái là cứ để cụ uống sữa trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời cụ.
Một tuần sau cụ mới ra đi thanh thản. Ba chục vòng hoa tươi theo chân cụ về nơi cát bụi, đất của tổ tiên được tạo dựng từ trên bốn ngàn năm, thời các vua Hùng. Có những đứa trẻ ở làng mới sinh ra vào lúc đó. Tre già, măng mọc. Mong sao các thế hệ sau được thấy niềm vui trong cuộc sống tự do và hạnh phúc thực sự, như những đóa hoa bốn mùa nở trên mặt đất quê hương.
Các cụ thường an ủi nhau: Sinh ký, tử quy. Một đời làm mẹ mà để lại tấm gương nhân đức cho con cháu và cho xã hội là một điều trân quý vô cùng.
 
Chú thích:
[1] Quan họ Trần, tước Thái bảo.
[2] Nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản.




0
Phụ Lục
 Đọc Ba Người Khác
 Tiểu thuyết của Tô Hoài
 
 
Sách dày 250 trang khổ nhỏ, nhà xuất bản Đà Nẵng in năm 2006, vừa là hồi ký, vừa là tiểu thuyết. Thời tiền chiến, nhà văn Tô Hoài được biết đến qua các truyện ngắn ông tả những mối tình quê bên giếng nước, đầu đình, dưới những đêm trăng sáng. Nhi đồng được đọc Dế mèn phiêu liêu ký, truyện về con vật dễ thương được Tô Hoài nhân cách hóa để gợi tính hiếu kỳ của tuổi trẻ.
Tô Hoài ở làng Nghĩa Đô, gần Bưởi, cách làng Giảng Võ chỗ tôi ở chừng một cây số, cùng nằm theo tuyến đê La Thành từ Bưởi xuống ô Chợ Dừa, khu vực ngoại thành Hà Nội. Đó là nhờ chất quê bàng bạc đã tạo nên văn chương Tô Hoài.
Từ năm 1946, Tô Hoài theo Việt Minh.Trong lời giới thiệu của nhà XB Đà Nẵng có ghi: “Câu chuyện này có thể được coi là một mảng ký ức trong cuộc đời nhà văn Tô Hoài. Nhà văn Tô Hoài đã từng là Đội phó đội cải cách, Chánh tòa án đội thời kỳ Cải cách ruộng đất”.
Tô Hoài tự giới thiệu trong Ba Người Khác: “Năm ấy tôi ngót ba mươi tuổi. Từ tấm bé chỉ ở thành phố. Đến tuổi đi làm kiếm tiền được chân giữ cửa trông kẻ cắp cho hiệu thịt bòsắp phăng giôngphố Tràng Tiền. Cách mạng thì vào tự vệ phố, đến lúc kháng chiến không còn đội tự vệ nữa, nhưng tự cho mình đã là Việt Minh, tôi đi theo kháng chiến lên Việt Bắc... Không có vốn mở hàng quán, tôi xin vào làm phát hành sách báo. ” (trang 16-17)
Một người không hề biết luật lại đóng vai đội phò chánh án, lê bản án oan nghiệt và hành vi hủ hóa tột cùng của mình đi giết nông dân, hãm hiếp phụ nữ thì không thể tướng tượng nổi! “ Mọi người công tác ở cơ quan, từ cấp dưỡng đến cán bộ chuyên có biết đồng ruộng hay không nhất loạt đều phải đi làm thổ cải. ”(tr.l8)
Đội có 3 người, đội trưởng tên Cự, có tác phong quân sự, (tức là Thượng tá Huỳnh Cự sau này về hồi chánh với Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa), đội phó (Tô Hoài, với danh xưng tôi trong suốt cuốn truyện); một chánh án dâm ô, hủ lậu, và đội viên Đình (cũng là quý dâm dục). Địa bàn của đội là một xã có nhiều thôn thuộc tỉnh Thanh Hóa. Khi mới thấy đội phó vào nhà, anh trưởng thôn Diệc, nghe tiếng đội về, sợ quá, phờ phạc cả người trước mặt đội phó:
“-Lạy anh đội.
- Nhà ta cấy bao nhiêu?
- Chưa được hai miếng
 -Ruộng nhà ai?
- Thưa cấy giẽ thôi”.
Nhà thật nghèo. Nghèo tận đáy. Uống chỉ toàn nước lã. Ăn chỉ vài con tôm cái tép ngoài đìa. Cuộc sống con người đen tối, vật vờ, hoang dã như đêm giữa ban ngày. Thanh Hóa đã kiệt lực!
Đến đoạn đội phó đi bắt đội viên Đình đêm nào cũng hủ hóa với nữ du kích Duyên, em gái cả Cối mà Đình về trú ngụ để tố địa chủ Thìn, bắt gặp Duyên, đội phó liền xơi tái cô này ngay trên bãi cỏ.
Thân hình nóng ran, ưỡn lên, tôi gồng người, dằn xuống. Tôi thở dốc, ngoi lên, hớp từng hơi. Nhưng đến lúc thằng đàn ông sắp nghẹn cổ chết thì con đàn bà rên ư ử, nhũn ra... Cuộc quần thảo không biết còn lồng lộn bao nhiêu lâu nữa. Đến lúc tôi chỉ còn như con chó què, bước xiêu vẹo, lử khử. Lần được về nhà, nằm uỵch xuống chõng thiếp đi ”(tr.67 )
Đó là chân dung của đội phó đi làm cải cách. Đội phó cứ “dăng dện cái Đơm, lại cái Duyên” ( tr 76). Chưa hết, “ Nhà đương vắng, chúng tôi lôi nhau chui vào xó luồn ở vách sau... Duyên đè ngửa tôi ra, như trả thù chứ không phải là đền ơn. ”ị (tr.184). Những đoạn văn dâm bôn này, tác giả kể rất sống động, chẳng cần văn chương bóng bẩy làm gì. Một cán bộ khác, tên Bổn còn có thành tích hủ hóa không kém gì đội phó: “Tổng cộng trong 4 (đợt CCRĐ), đồng chí Bổn đã thông dâm với 8 người ” (tr.83)
Qua trang 91, Tô Hoài lại tả tiếp màn hủ hóa: “Duyên lăn xả vào, cưỡi lên tôi. Đến lúc tôi lử cò bợ, Duyên vẫn quắp không cho giẫy ra”
Thực chất cuộc cải cách ruộng đất chỉ làm theo hình thức để báo cáo lên trên. Có thôn không tìm đâu ra địa chủ, nên Đoàn ủy phê bình chưa đạt chỉ tiêu địa chủ. Đội phải tính chuyện đưa phú nông lên hàng địa chủ để đấu tố cho hả dạ cấp trên. Hãy nghe đội phó lý luận quèn, nhìn nhận cái yếu kém trong nhận thức về cải cách ruộng đất của mình:
Tôi chưa phân tích tìm ra cái đầu cái đuôi địa chủ ở đâu. Chỗ nào có nông dân, có ruộng, tất có bóc lột” (tr.19) “Phải đâu tôi thạo con số mà làm được tòa án. Thật tôi cũng đoán mò”.(tr. 143)
 Tòa phúc tra lôi cả cán bộ Đình trong đội cải cách và là phó phòng tỉnh, ra tra tấn, hành hạ, kết tội hắn là Việt gian, Quốc dân đảng, đã giết 56 người rất man rợ. (tr.98) May mà Đình thoát chết vì có lệnh trên xét lại các án tử hình đã làm bôi bác, cẩu thả để lập thành tích báo cáo.
Đây là phiên xử địa chủ Thìn do đội phó làm chánh án.
‘‘Mày có biết tao là ai không?
Thế nào mà tiếng lão già sắp chết này vẫn nói sang sảng:
- Thưa bà nông dân...tôi không biết..
- Tao đi ở cho cháu mày
-Thế thì tôi không biết thật ạ
-Mày lấy roi cặc bò đánh tao. Đả đảo địa chủ. ”
 Sau đó một loạt tiếng súng tỏa khói xanh um lên. Địa chủ Thìn đã chết. Đội trưng thu trong thôn tịch thu tài sản của Thìn gồm 1 nhà ngói, 1 nhà gỗ ba gian, 1 trâu, 1 nghé, 5 mẫu ruộng, nồi, mâm đồng, cũi bát đĩa, hương án, đồ thờ.(tr. 148)
Đoạn kết, Tô Hoài kể đội trưởng Đại tá Huỳnh Cự đã vào mặt trận phía Nam và ra hàng Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nhắc cả vụ Đại tá Hà (tức Thượng tá Tám Hà) ra hồi chánh miền Nam. Tô Hoài viết: “ Bên ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt thằng phản bội ấy. Một trận đánh chớp nhoáng đột nhập vào cơ quan chiêu hồi của ngụy ở giữa Saigon. Chiến sĩ Võ đã rút dao chém đứt cổ Huỳnh Cự trong đám quân tháo chạy.”(tr. 250)
Không biết Tô Hoài khi ấy ở Hà Nội đã dựng chuyện này vào thời điểm nào, có thật thế không, chứ theo tôi thì hai Thượng tá Huỳnh Cự và Tám Hà là người Nam tập kết ra Bắc từ 1954 theo Hiệp định Genève, rồi lại theo bộ đội Bắc Việt xâm nhập miền Nam. Hơn 200.000 cán binh Cộng sản trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy đã ra quy thuận, cả nhà văn Xuân Vũ, ca sĩ Bùi Thiện, Đoàn Chính, đại úy bác sĩ Sơn v..v... Khi về hồi chánh, hai ông Huỳnh Cự và Tám Hà đã làm việc cho Bộ Chiêu hồi và Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị Quân đội VNCH trong vài năm. Trước ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Saigon thất thủ, Việt cộng đâu có mở được trận tấn công nào "‘chớp nhoáng” vào Bộ Chiêu hồi giữa thủ đô Saigon chỉ để cho tên Võ giết Huỳnh Cự bằng “dao” mà các lực lượng bảo vệ lẫn cơ quan truyền thông đầy ắp ở Saigon không hay biết? Hãy phân biệt giữa tiểu thuyết và lịch sử; vì lịch sử cần có bằng chứng cụ thể liên hệ giữa con người và sự việc trong thời điểm nhất định.
Cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất ở miền Bắc kéo dài 5 đợt từ 1953 đến 1956, giết hại 172.008 người, theo sự tiết lộ của ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Ông Cần hiện ở Moscow, Liên bang Nga. Riêng về công cụ sản xuất, theo báo cáo nhà nước đã công bố trên các sách báo: có 81 vạn hecta ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ của nông dân đã bị tịch thu. Con số thực còn cao hơn gấp bội.
Ở Hà Nội, nhiều người mất nhà cửa, kiện cáo tốn kém mà không đi đến đâu. Đợt cải cách năm 1956, bà mẹ tôi ở Hà Nội không phải là thành phần phú nông, địa chủ, chỉ là dân buôn bán tư sản, cũng bị mất 2 căn nhà.
Biết bao nỗi oan khiên uất hận, bao nỗi đắng cay tủi nhục trong một chiến dịch diệt chủng (genocide) lâu tới 4 năm do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, như Tố Hữu đã hò hét:
Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghĩ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước tơ lòng,
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt!"
Hoặc như Xuân Diệu đã cả tiếng:
Địa hào đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương,
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng hôm nay,
Lôi cổ bọn nó ra đây,
Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi!”
 
Những nông dân chỉ có dăm ba sào ruộng; những phú nông bị đẩy lên hàng địa chủ, chẳng hề có cơ sở pháp lý nào để luận tội; cả những người bị nghi là lưng chừng, phản động đều bị Cộng sản đem ra đấu tố. Thậm chí người đã cúng nhiều vàng ủng hộ Việt Minh ngay từ lúc đầu như bà Cát Thanh Long cũng không thoát khỏi cái án tử hình!
Đến tháng 9, 1956, khi cuộc cải cách ruộng đất hạ màn, Tổng bí thư Trường Chinh mới nhìn nhận sai lầm nghiêm trọng trong chính sách cải cách! Sai lầm hay đóng kịch vuốt ve thì máu nhân dân đã đổ ngập nông thôn; đồng ruộng cũng đã hoang tàn không khác thời trung cổ nông nô bị lãnh chúa thống trị và bóc lột.
Các hợp tác xã nông nghiệp do Cộng sản lập ra sau đó là hình thức dồn nông dân vào làm ăn tập thể, mất quyền tư hữu ruộng đất và bị bóc lột, do đó chính sách này đã bị thất bại từ căn bản.
Thế mà sự thật cũng chỉ được viết ra phần nào rất khiêm nhường trong 250 trang sách của Tô Hoài!
Đây là cuốn sách tự thú những hành vi dâm ô, những sự thiếu hiểu biết của các cán bộ cải cách mà nhân vật chính là Tô Hoài. Cuốn sách gây cảm tưởng ghê tởm cho độc giả muốn tìm hiểu xem tác giả viết gì về cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo hơn 50 năm trước. Cuốn sách tự nó phơi bầy tội ác diệt chủng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến dịch cải cách ruộng đất đẫm máu tại miền Bắc.
Là một nhà văn, Tô Hoài có ân hận về việc mình đã làm không? Có thấy đau xót trước cái chết của những nông dân vô tội không? Tuyệt nhiên không có một chữ nào trong cuốn Ba Người Khác; trái lại tác giả đã tự mãn góp phần vào hồ sơ tội ác của Đảng Cộng sản Việt Nam!
Dưới góc độ lịch sử, đây là tấn thảm kịch lớn đã xẩy ra cho nhân dân miền Bắc; tiếp theo nhân dân miền Nam cũng bị Cộng sản đánh phá tư sản triệt để sau khi chúng chiếm trọn miền Nam năm 1975, khiến cả triệu người đã phải bỏ nước ra đi.
Dân tộc Việt Nam, Bắc cũng như Nam, đã và đang phải gánh chịu những thảm họa lớn lao do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra trong hơn nửa thế ký. Lịch sử vẫn theo dõi từng bước tai ương và hậu quả nghiêm trọng của nó do Đảng Cộng sản gieo rắc cho nhân dân.
Nguyễn Ái Lữ
Tháng 5, 2007
 
***
 
 
Đọc Nhật ký
 Đặng Thùy Trâm
 
Trong các thời kỳ chiến tranh, có vài cô gái viết nhật ký ghi lại hoàn cảnh bức bách, gian nguy mà mình đã phải trải qua từng phút, từng giờ cùng những cảm nghĩ xót xa về thân phận con người, về gia đình và cộng đồng nhân loại mà họ đã từng gắn bó, chia sẻ, trước khi phải nhận những cái chết nghiệt ngã.
Tôi muốn nói đến hai cuốn nhật ký của Anne Frank và Rutka Laskier, trước khi nói đến cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm [1].
Liên quan đến 6 triệu người Do Thái đã bị Đức quốc xã giết hại tại lò thiêu Auschwitz ở Ba Lan trong Thế chiến thứ II, nhiều người trên thế giới còn nhớ đến Nhật ký của Anne Frank, cô gái Do thái đã phải trốn trong nhà kho của gia đình ở Hòa Lan cùng với bốn học sinh Do Thái khác trong hai năm, từ 1942 đến 1944, trước khi bị mật vụ Đức bắt cùng gia đình đưa vào các trại tập trung ở Đức và Ba Lan, rồi lần hồi chết ở đó, trừ người cha của Anne được quân đội Liên Xô cứu sống khi tiến vào giải phóng Ba Lan. Tuy phải đương đầu với bao nỗi khổ đau, nhục nhã, Anne vẫn sáng suốt nhận định về kẻ hành hạ mình với tấm lòng tha thiết yêu thương nhân loại:
“Mặc dù thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn tin rằng con người thực sự tốt từ đáy lòng’’.
Tư tưởng của Anne đã đánh thức lương tâm nhân loại, đánh thức chính cái Tâm của những kẻ đang giết cô và gia đình cô! Tôi thấy Anne đã vượt lên trên mọi thù oán, bộc lộ bản chất thánh thiện và khoan dung của mình đối với Hitler; con người độc tài, tự tôn, khát máu, đã thi hành chính sách diệt chủng rất tàn bạo.
Tiếp theo lại có các lãnh tụ độc tài khác nối gót Hitler như: Mao Trạch Đông giết 70 triệu dân Trung Hoa; Stalin giết 20 triệu người Nga; Kim Nhật Thành giết 2 triệu người Bắc Triều Tiên; Polpot giết 2 triệu người Miên; Hồ Chí Minh giết 1 triệu người Việt trong các chiến dịch đấu tố địa chủ, thành phần quốc gia chống Cộng và xâm lược miền Nam; các lãnh tụ Đông Âu (CS) giết 1 triệu người. Ngoài ra còn có thêm các vụ thảm sát khác trên thế giới vì nạn độc tài.
Không phải ngẫu nhiên mà Đài tưởng niệm 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản đã được dựng tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn ngày 12 tháng 6 năm 2007 để nhắc nhở nhân loại về thảm họa của Chủ nghĩa Cộng sản.
Cuốn Nhật ký của Rutka Laskier, cô gái Do Thái viết từ tháng Giêng đến tháng Tư 1943, cũng đã tự thuật về tuổi thơ trong trắng và những nỗi kinh hoàng cô đã trải qua ở khu lò thiêu Bedzin, Ba Lan, trước khi cô bị chuyển tới Auschwitz rồi chết ở đó một cách thảm thương. Cuốn nhật ký 60 trang này đã được bà chủ nhà Sapinska, nơi Rutka trú ngụ, cất giấu trong 60 năm qua, bây giờ thế giới mới được biết đến.
Trong nhật ký, Rutka viết: “ Niềm tin nhỏ bé của tôi từ bấy lâu nay đã hoàn toàn tan vỡ. Nếu Thượng đế tồn tại, chắc chắn Ngài sẽ không cho phép nhân loại bị quăng sống vào lò thiêu và những em bé bị báng súng đập nát sọ, hoặc bị bỏ vào những bao tải cho hơi độc giết chết.” Thật khủng khiếp! Rutka đã ghi lại tội ác của Đức quốc xã mà người đọc cũng phải rùng mình, ghê tởm!
Cả hai cô gái Do Thái đã để lại cho nhân loại hai tác phẩm kiệt xuất được viết bằng nước mắt, bằng cả sự can đảm đáng kính mà Thượng đế đã dành cho trái tim nhỏ bé của hai cô, đại diện cho hàng triệu con người cùng chung số phận ai oán.
Có người đem ví Nhật ký của Anne Frank với Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Không! Một đằng nói lên tội ác diệt chủng của Đức quốc xã; một đằng biện minh cho đường lối xâm lược Miền Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam để thống trị đất nước.
Trong cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, một nữ bác sĩ trẻ Hà Nội đã tình nguyện vào chiến trường Đức Phổ, Quãng Ngãi để phục vụ thương bệnh binh Việt Cộng trong năm năm, trước khi bị một trung đội của Sư đoàn 21 Bộ binh Mỹ phục kích ngày 22/6/1970, tôi thấy có nhiều vấn đề cần suy tư vì nó liên quan đến cuộc chiến của đôi bên, một cuộc chiến ý thức hệ tuy không còn khói súng mà vẫn tiếp tục trong tư duy của mỗi người Việt Nam ở quốc nội và hải ngoại.
Trong túi vải bạt đeo trên thi thể của cô có hai quyển nhật ký và vài cuốn sách vở do Frederic Whitehurst, một sĩ quan quân báo thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh Mỹ tham chiến tại Đức Phổ lưu giữ suốt 35 năm, đến ngày 30/4/2005 thì được đương sự đem về Hà Nội trả cho gia đình cô Đặng Thùy Trâm bản copy trên CD, bản viết tay hiện vẫn giữ tại Viện lưu trữ Lubbock, Texas.
Phần chính cuốn Nhật ký gồm hai quyển vở viết nắn nót, in thành sách dày 256 trang (không kể một số hình ảnh, các bài tựa và bạt in kèm). Nhật ký được khởi viết từ ngày 8/4/1968, đến ngày 20/6/1970 thì chấm dứt. Hai ngày sau, ngày 22/6/ 70, cô Đặng Thùy Trâm bị bắn chết chỉ cách bệnh xá 50 mét, trên xác cô còn khẩu CKC vừa bắn lại về phía lính Mỹ. [2] Theo hình in trên sách thì cô là một phụ nữ nhỏ nhắn, lúc mất mới trên 27 tuổi. Sách do nhà xuất bản của Hội Nhà Văn ấn hành năm 2007.
Trong hàng ngũ cán binh Cộng sản có nhiều người viết sổ tay, nhật ký, đã bị các đơn vị Quân đội VNCH và Đồng Minh tịch thu; đa số họ là các thanh niên, học sinh có các mối tình dang dở trước khi bị Cộng sản đưa vào B, tức chiến trường miền Nam. Cô Đặng Thùy Trâm cũng có người yêu tên M. là bộ đội miền Bắc xâm nhập Quảng Ngãi tám năm trước (tr.214), nên cô đã tình nguyện vào để gặp lại người yêu, nhưng khi gặp nhau ở Đức Phổ, hai người không hề gắn bó với nhau. Cô thú nhận: “Hạnh phúc trong tình yêu đã không đến với mình” (tr. 106). Thất vọng và cô đơn, cô lao vào công việc điều trị thương binh VC và thường dân ở một bệnh xá giấu trong rừng.
Tĩnh Quảng Ngãi trước đây thuộc Quân đoàn 1 Vùng 1 chiến thuật, do Sư đoàn 2 Bộ binh VNCH phụ trách an ninh lãnh thổ. Năm 1970, có thêm Sư đoàn 21 Bộ binh Hoa kỳ hành quân tiễu trừ Cộng quân.
Trong Nhật ký gọi Việt Cộng là Cánh Nam và quân chính quy Bắc Việt (xâm nhập theo đường mòn Hồ Chí Minh dọc dãy Trường sơn ) là Cánh Bắc. CSBV cũng đã lén chuyển vũ khí vào Quảng Ngãi bằng tàu ngụy trang đánh cá từ Bắc vào gọi là “ đường mòn trên biển Đông.” Các cuộc giao tranh thường xảy ra giữa ta và địch ở các khu vực mất an ninh trong tỉnh [3].
Nội dung Nhật ký xoáy vào các đề tài sau đây:
1.Bệnh xá ở trong rừng, thiếu người, thiếu thuốc men. Cả bệnh xá chỉ có bốn phụ nữ và một nam phụ trách chữa trị các thương bệnh binh ở tuyến đầu đưa về. “8. 4. 68. Mổ mật cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ có vài ống Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng ”(tr.33)
Nhân viên chết dần chết mòn mỗi khi có trận càn, hoặc bom rơi đạn nổ ngay trên đầu họ.
Bệnh xá luôn phải di chuyển, có khi chưa dựng xong ở một nơi lại phải dời đi chỗ khác vì bị ta phát hiện. Trong ba tháng, bốn lần bệnh xá bị đánh phá. Ngày 2/6/70, một loạt bom đã rơi đúng một phòng bệnh nhân, giết chết một lúc 5 người “Một tai nạn bất ngờ nhưng cũng rất bình thường trongc trong chiến tranh.’’ (tr.246)
 
Bác sĩ, nhân viên thường phải chui xuống hầm ngập nước mỗi khi có báo động. Các trận chiến ác liệt đến nỗi chính trị viên bệnh xá cũng phải bỏ thương binh để chạy lấy thân! (tr.253)
2. Cuộc sống rất cô đơn, thiếu tình thương yêu đùm bọc. Đây là phần trọng yếu của cuốn Nhật ký; Đặng Thùy Trâm đã bộc lộ lòng mình trong nhiều trang viết đầy nước mắt:
30.6.68 Mùa thu đến mà lá vàng ngập cả không gian. Chưa bao giờ mình cảm thấy đau khổ và cô đơn đến mức này. ”(tr.57) ở trang 244, Thùy Trâm viết: “ Lòng con xao xuyến xót xa và cũng có những giọt nước mắt thấm mặn yêu thương chảy tràn trên đôi mắt của con. ” Khi nhận được thư mẹ và gia đình từ Hà Nội gửi vào, cô gái viết cảm nghĩ của mình: “ 10.6.70 Mẹ yêu ơi, con hiểu lòng mẹ héo hon, đau xót khi con của mẹ còn phải lăn mình trong lửa đạn, những lá thư của con, của các em gởi đến mẹ chỉ nói lên một phần vạn sự gian khổ ác liệt vậy mà mẹ đã lo lắng như vậy. ” (tr. 249)
Ở một đoạn khác, Thùy Trâm buồn vì sự lạnh nhạt, thờ ơ của những đồng chí ở quanh mình:
4.6.70. Tại sao ta không được thoải mái khi mà tình cảm trong trái tim ta vẫn trong sáng và xanh tươi kỳ diệu. Gặp lại anh và các em sau những giờ phút sống chết cách nhau không đầy gang tấc, lẽ ra ta phải được ôm chầm lấy người thân của mình trong vòng tay siết chặt, mừng vui và cảm động đến rơi nước mắt. Vậy mà tất cả đều phải nén lại chỉ nhìn nhau không nói nên lời. ” (tr.247)
Ngoài ra, Thùy Trâm còn bị các đồng đội ganh tị. Tuy đã được kết nạp vào đảng, được cử chỉ huy bệnh xá mà trong buổi họp kiểm thảo ngày 25/5/70, tức trước ngày bị lính Mỹ bắn non một tháng (22/6/70), đảng ủy phê bình Thùy Trâm là: “Giác ngộ cách mạng tốt, tính tiểu tư sản vẫn còn. (tr.246)
3. Thảm cảnh não lòng giữa người mẹ và đứa con đi bộ đội ở địa phương. Đó là cảnh thương tâm khi người mẹ có đứa con trai 15 tuổi tên Thiện bỏ nhà đi theo VC, mặc dầu người mẹ không cho đi. Năm 18 tuổi Thiện vẫn không được về thăm nhà. Người mẹ phát điên, mạt sát tên thủ trưởng của Thiện. Khi thấy con về, bà ta giữ con ở lại không cho đi. Bà nói: “ Không đi đâu nữa hết. Có chết mày chết ở đây tao cũng thỏa mãn.” Không hiểu sau này số phận của Thiện sẽ ra sao trước tấm lòng của người mẹ thương con đến đứt ruột gan. (tr. 185)
Lại thêm một cuốn sổ nhỏ trong túi áo trước ngực của một bộ đội vừa ngã xuống. Trong cuốn sổ có nhiều kiểu ảnh của một cô gái với nụ cười duyên dáng trên môi. Trước ngực anh ta còn có chiếc khăn nhỏ thêu dòng chữ “Đợi chờ anh.” (tr.133)
4. Tâm tư ám ảnh bởi cái chết lởn vởn và ước mơ được sum họp gia đình; được thấy chiến tranh chấm dứt. Người con gái nào mà không lo sợ trước cái chết bất thần ập tới tại nơi chiến trường rực lửa, có khi bưng bát cơm không kịp ăn đã phải chạy xuống hầm, xuống hố đối diện với tử thần. Nhất là Thùy Trâm chỉ có một thân một mình luôn thấy cảnh máu chảy thịt rơi của các thương binh VC mà sức mình cứu chữa không nổi trong hoàn cảnh thiếu thốn, cực khổ vô cùng.
Trong bài thơ giãi bầy tâm sự của chính mình, Thùy Trâm viết vào ngày 7/1/1970 như sau:
“...Ai biết chăng dù ta có chết,
Cho ngày mai, cho đất nước tự do,..”.
 
“...Ai đau lòng khi bom đạn còn rơi,
Ơi những người thân thiết của tôi ơi,
Giữa chiều nay tôi bay về sum họp,
Tôi hôn những người thân và lệ tràn trong mắt
 Giọt lệ chảy dài thấm mặn yêu thương..”.
(tr.210-211)
Trong chiến tranh, chuyện mất còn là lẽ thường tình. Các gia đình ở hai bên chiến tuyến đều có người hy sinh. Song hy sinh thế nào cho có ý nghĩa nhất lại là một lẽ.
Một điều tôi muốn nói ở đây là Thùy Trâm chưa lý giải nguyên nhân phát xuất chiến tranh, hay cũng chỉ hiểu chiến tranh theo đường lối của đảng Cộng sản là xâm chiếm miền Nam tự do dưới chiêu bài giải phóng dân tộc. Do đó hai chữ tự do cô nêu trong câu thơ chỉ là ảo tưởng trước khi chết và cả sau khi chết. Đất nước này vẫn không có tự do, dân chủ sau khi hòa bình được lập lại từ 32 năm nay, kể từ sau ngày 30/4/1975 miền Nam rơi vào tay Cộng sản khiến hàng triệu người đã phải bỏ nước ra đi tìm cuộc sống tự do nơi xứ người trên khắp năm châu, bốn biển.
Một khi còn chủ nghĩa Cộng sản thì tự do là nhà tù; dân chủ là độc trị. Cái quyền cơ bản nhất của con người đã không có, nhân dân vẫn phải lao vào một trận chiến mới đòi dân chủ, tự do như cây cỏ đòi sinh khí để đơm hoa kết trái cho đời. Cũng bởi lẽ đó, sự mất mát còn đeo đẳng trong tâm tư những người ruột thịt, bạn bè, bao lâu mà ý nghĩa của sự mất mát chưa được giải tỏa thích đáng.
Ngoài vài câu căm thù Mỹ-Ngụy theo khẩu hiệu của Đảng Cộng sản đã nhồi vào đầu óc người dân miền Bắc thời chiến mà bây giờ nó đã đảo ngược hoàn toàn, cuốn Nhật ký của Đặng Thùy Trâm là một niềm tâm sự đắng cay chứa đựng cái ẩn ức nội tâm của cô bác sĩ mới tốt nghiệp trường Y Hà Nội đã nghe Đảng lao vào vòng lửa đạn để chạy theo một khát vọng cháy bỏng bất thành. Cô đã không hề biết đến hạnh phúc của tình yêu và cuộc sống của riêng cô, cả đến tự do của dân tộc.
Những ước mơ tự đáy lòng đó vẫn còn nằm nguyên vẹn trong các trang nhật ký thấm máu của Đặng Thùy Trâm, cho dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Nguyễn Ái Lữ.
Thúng 10, 2007
 
 Chú thích:
 
 
 
Bạt
Đôi dòng tưởng nhớ thơ Nguyễn Ái Lữ
 
Trong cõi nhân gian còn sắc tím,
 Là mầu để nhớ lúc em đi.
Trong nỗi buồn riêng còn xúc cảm,
 Là tình để nhớ mãi muốn đời.
*
Tôi vẫn nợ em một kiếp duyên,
Nợ tình phu phụ mối lương duyên,
Kiếp sau xin trả đền duyên trước,
 Cho trọn lòng yêu, trọn bến thuyền.
*
Dẫu hoa sớm rụng trăng tàn lẹ,
 Mình vẫn trao nhau vẹn chữ tình,
 Nhìn sắc thanh vân mơ mắt biếc,
 Trông đào hoa tưởng má hồng xinh.
*
Còn lại tình thương để nhớ nhau,
Đã thành cốt nhục chẳng xa nhau,
Như con suối đã thành sông biển,
Hạnh phúc ngàn reo tận núi đầu.
*
Tôi vẫn gần em trong phút giây,
 Muôn vàn kỷ niệm vẫn còn đây,
 Thời gian không xóa mờ nhân ảnh,
 Không chết tình yêu với tháng ngày.
 
Nguyễn Ái Lữ
 
 
 
 
 
Nguyễn Ái Lữ
Sinh ngày 8 tháng 5 năm 1933 tại Hà Nội. Cựu Thiếu tá Ngành Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH.
Cử Nhân Khoa Học Xã Hội (Hoa Kỳ).
Hội viên Văn Bút VNCH.
Hội viên International Society of Poets.
TÁC PHẨM VĂN, THƠ ĐÃ XUẤT BẢN:
SÓNG GIÓ, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Phượng Hoàng, Hà Nội, 1952.
ĐƯỜNG TỰ DO, tập tùy bút, nhà xuất bản Tiến Bộ, Huế, 1956.
NGÕ HẸP, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Tin Văn, Saigon, 1958.
ĐI TRÊN NỖ BUỒN, nhà xuất bản Trang, Saigon, 1965, nhà sách Khai Trí, Saigon tái bản 1969.
GIÓ NỔI CÁT BAY, tiểu thuyết, nhà xuất bản Trang, Saigon, 1966.
XUÔI GIÒNG, tiểu thuyết, nhà xuất bản Đời Mới, Saigon,1971.
LỬA HƯƠNG, tập truyện ngắn và thơ, nhà xb Đông Phong, Oakland, 1999
TUYẾT HOA, tập thơ, nhà xuất bản Đông Phong, Oakland, 2002.
MỘT THỜI VIẾT VĂN, tuyển tập văn, thơ, ký sự, nghị luận, nhà xuất bản Đông Phong, Oakland, 2004.
ĐỔI GIÓ, tập văn, thơ, bút ký, phê bình sách của Nguyễn Ái Lữ, nhà xuất bản Đông Phong, Oakland, 2007.
ĐẤT NỔI GIẬN, ký sự tiểu thuyết, nhà xuất bản Đông Phong, 2008.
TÁC PHẨM THƠ ĐÃ THAM GIA:
THƠ VIỆT HẢI NGOẠI, Hội Văn Học Hải Ngoại, Thi Đàn Lạc Việt, 2001.
50 NĂM THƠ & NGƯỜI THƠ, Xuân Thu Lạc Việt Groups, 2007.
 THE SONG OF THE HEART, The International Library of Poetry, Claire stuart Foshee, Editor, Owings Mills. MD. 2002.
THE BEST POEMS AND POETS OF 2002, 03. 04, 05.
The International Library of Poetry, Howard Ely, Editor, Owings Mills, MD, 2002, 03, 04, 05.
THEATRE OF THE MIND. Noble House Publishers, London, Paris, New York 2003.  
THE COLORS OF LIFE, The Internation Library of Poetry Howard Ely, Editor, Owings Mills, MD, 2003.
LABOURS OF LOVE, Noble House Publishers, London, Paris, New York, 2005.
THE INTERNATIONAL WHO’S WHO IN POETRY, Ely, Edition 2006




0