Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hòm Đựng Người - Nguyễn Triệu Luật 🔒

8 trả lời, 107 lượt xem — Trang 1 / 1
 
HÒM ĐỰNG NGƯỜI
Nguyễn Triệu Luật
Lịch Sử Tiểu Thuyết
 
 
HÒM ĐỰNG NGƯỜI, LỊCH SỬ TIỂU THUYẾT, TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TRIỆU LUẬT. Y BẢN CỦA NHÀ XUẤT BẢN TÂN DÂN IN Ở HÀNỘI NĂM 1937, TÁI BẢN TRONG VIỆN VĂN NGHỆ
HIÊN SÁNG TÁC CỦA XUẤT BẢN BỐN PHƯƠNG, NHÀ IN RIÊNG CỦA B.P. ẤN LOÁT XONG TẠI SÀIGÒN THÁNG X NĂM M CM L V,
NGOÀI NHỮNG BẢN PHÁT HÀNH, CÒN MUỜI BẢN ĐẶC BIỆT BẰNG GIẤY NGỌC CỐT; BÌA
GIẤY BĂNG CƠ, NĂM BẢN ĐỀ N.T.L, I ĐẾN N.T.L. V ĐỂ TRUY NIỆM TÁC GIẢ, NĂM BẢN ĐỂ THỐN TÂM THIÊN CỔ VI ĐẾN THỐN TÂM THIÊN CỔ X ĐỀU CÓ ẤN SON TRIỆN NÔM CỦA XUẤT BẢN BỐN PHƯƠNG.
Friday, August 4, 2017
 
 
 
 
 
 
 
Lời nói đầu
TIỂU-THUYẾT này nguyên báo Nhật-Tân đăng-tái, ký lẩn dưới bút-danh Phất-Văn nữ-sĩ. Khi ấy: con tầm rút ruột hồ xong, báo đã chuyển sang kỳ khác ; ngòi bút còn đương chạy trên tờ giấy, chú thợ in đã đến giục bài. Văn viết chạy theo đà ngựa phi nước gấp, còn sức đâu mà trau-truốt câu văn. Thế mà bạn làng văn duyệt đến, có người lại đem lời tán-thưởng thật-thà. ý chừng để tưởng-lệ khuyến- khích cho ngày một hơn vậy.
Vì thế : nay duyệt lại tập sơ-cảo, sửa lại những chỗ rườm, đem in lại vào một tập Phổ Thông Bán- Nguyệt-San, [1] ngỏ hầu tạ những ai trước kia đã gia công kiểm-điểm kỹ-càng.
Nhân dịp, soạn-giả muốn nói qua đến cái quan- niệm về lịch-sử tiểu-thuyết để phá một cái lầm chung.
Chép những chuyện thuộc sử, những dã-sử phụ- thuộc vào sử, việc ấy là việc thuộc sử gia, Những cuốn truyện diễn nghĩa như Tam-Quốc-Chí, Tây- Hán Chí, Đông-Chu Liệt-Quốc, những bộ bút-lục như Tùy -Ẩn- Mạn – Lục, Tang. Thương-Ngẫu-Lục, Vũ- Trung-Tùy-Bút-Lạc đều chép những việc thuộc sử cả. Những bộ ấy, đều là những bộ ‘’dã-sử’’, ‘‘ tiểu- sử’’, ‘‘ngoại-sử’’, giống như những bộ Récits des Temps Mérovingiens của Augustin Thierry. Những bộ ấy, đều làm tài-liệu cho sử cả. Chép những chuyện ấy, ít nhiều phải theo phương-pháp của sử- gia mà Phương-pháp học đã định rõ.
Trái lại, viết “tiểu thuyết lịch sử” (roman historique) cần theo phép của Sử-học, không cần có chuyện, thật. Tác- giả chỉ phải tưởng-tượng ra một chuyện ‘‘ có thể có’’ ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời-đại ấy. Mục-đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời-đại. Những tiểu thuyết ‘‘ Notre-Dame de Paris’’, Quatre-vingt-treize’’ của Victor Hugo, ‘‘Les Filles d'autrefois’’ của Léon Daudet, đều là bịa-đặt cả, nhưng đọc truyện đó, ta thấy cả thời đại hồi vua Louis và hồi Đại Cách mệng sống lại” .
*
Cuốn HÒM ĐỰNG NGƯỜI này là một lịch- sử tiểu-thuyết. Không biết soạn-giả có làm sống nổi thời-đại vua Lê chúa Trịnh hay không, nhưng bản- tâm sơ-ý là thế.
Du-Lâm, Juillet 1937
NGUYỀN TRIỆU-LUẬT
 
Chú thích:
[1] Phổ Thông Bán-Nguyệt San, số II, ngày 1er-X-37 Tân- Dân Hànội.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.04.2022 10:01:22 bởi Thanh Vân>
Phần I

Bức thư ở cõi chết gửi về
 
 
VỀ đời vua Lê, chúa Trịnh, ở phía Nam- thành Thăng-Long, vào chỗ sinh-tử ông quận Tống- Khê bây giờ, có biệt thự một vị quan già.
Hai trăm sáu mươi sáu năm trước đây, năm 1671 vào khoảng trời cuối đông, một thiếu  niên công-tử từ cửa Nam-thành một mình lững-thững tìm lối đến biệt thự ấy. Dân trong xóm có người nhẹ miệng hỏi:
‘‘Chầu tìm nhà ai ?’’ [1] thì người ẩy nói: ‘‘Không, tôi đi chơi đây thôi, chẳng tìm nhà ai cả’’.
Rồi lại cử cắm đầu đi ; thinh-thoảng ngước mắt nhìn cổng những nhà trong xóm.
Người dân nhẹ miệng kia lấy làm lạ, bàn nhỏ với người làng : ‘‘ Trông dáng rõ là người đương tìm-tòi, mà hỏi thì lại bảo chẳng tìm nhà ai! Đại- Hành Hoàng-đế vô tự, hay là người này lại can dự gì vào chuyện dựng vua mới đây’’. Dân làng có người nói: ‘‘ Mà dễ phải đấy ! Kể người khả- dĩ nối ngôi được cũng nhiều. Thần-Tông Hoàng- tử, Duy-Hội hiện nay ở trong phủ Chúa.
‘‘ Duy-Hợp là con bà Trịnh-Phi, là cháu ngoại họ Trịnh cũng có thể nối ngôi Hoàng-để lắm. Hai Hoàng tử đều nhỏ bé cả, bè đảng còn chán’’.
Một người nữa nói:
— Ông nhầm to ! Trịnh-Phi sanh ra Hoàng-tử Duy-Hợp, có phải là người họ Trịnh ở Sóc-Sơn đâu mà Hoàng-tử là cháu ngoại nhà Chúa ! Trịnh- Phi là người họ Trịnh ở Đông-Khối, huyện Gia- Định kia mà.
Người kia cãi lại:
— Thế sao vua Thần-Tống lâm băng, lại gọi chúa vào tận ngự-sàng mà dặn-dò, mà gửi lại đứa con còn ở trong thai?
Người kia lại nói :
— Thi đứa con ấy (tức là Hoàng tử Duy Hợp) chúa cũng nuôi trong phủ như Hoàng-tử Duy-Hội chứ có bỏ đâu, hiện nay hai người cùng ít tuổi cả, thì nhà chúa tất dựng người hơn tuổi.
Một ông lão nói:
— Nước có vua lớn là phúc cho xã-tắc, nhưng nhà chúa cần gì mà ông bảo dựng người hơn tuổi.
— Hơn tuổi, ông tưởng là trưởng quân đó à? Hoàng-tử Duy-Hội dẫu hơn tuổi Hoàng tử Duy-Hợp, nhưng cũng mới 11 tuổi thôi, ông này mới mê ngủ chứ.
*
Mặc câu chuyện gái lo thành đổ, ta thử xem người thiếu-niên công-tử kia đã đến biệt-thự kia chưa.
Loanh quanh mấy vòng, người ấy đứng trước cái cổng rêu phủ đã hồ khắp, trên còn tờ-mờ mấy chữ ‘‘Tiến-sĩ-môn’‘. Người ấy tự hỏi: ‘‘ Hay là Đặng tri-phủ dọn nhà về quê cả rồi mà cái nhà này bỏ hoang ?’’
Giá khi ấy quyển Kiều có rồi, thì chắc người thiếu niên, công-tử kia phải nhớ đến câu:
Lè-sè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy.
Không ! Cổng ‘‘Tiến-sĩ môn ‘‘ tuy rấp, nhưng vẳng nghe còn có tiếng người, nhà chưa phải là nhà bỏ không, cảnh trong kia chưa phải là cảnh én liệng lầu không. Nhưng làm sao vào được. Quanh tường muốn dò xem nhà này ra vào cổng nào thì hai đầu cuối tường, mây mái, bìm-bìm mọc chắn lối. Còn đương dùng dằng ngẩn ngơ thì có tiếng hỏi sau lưng:
— Thế mà lúc nãy Chầu bảo rằng đi chơi, không tìm nhà ai đấy.
Ngoảnh lại thì ra người nhà quê nhẹ miệng hỏi mình lúc trước.
Chưa kịp trả lời, người nhà quê lại tiếp:
— Chầu muốn vào nhà quan Hoàng Đặng [2] chăng ?
Nhà quan Hoàng bây giờ đi lối cổng Nam, không đi lối cổng Bắc này nữa. Từ năm ông Chiêu[3] con người mất, người xin về trí-sĩ, người bỏ cổng này có đi dến đâu; cách đây mười ba hay mười bốn năm gì đó... vì phải đem cô cháu gái tiến cung, người có cho mở cổng này một lần rồi từ đó đóng tịt.
Người thiếu-niên công-tử nói:   
— Thế nào cổng Nam đi lối nào già chỉ giúp tôi?
— Ở đây không có lối vì cuối tường đường đã lấp rồi không có lối quanh nữa. Muốn vào cổng Nam, Chầu lại phải đi trở ra vòng theo Giám, qua cửa chùa Huyền-Linh đến toà Khâm thiên có cái ngõ con, Chầu theo cái ngõ ấy đi thẳng vào thì đến cổng nhà quan Hoàng.
— Cảm ơn già vạn bội;
— Không dám.
Đôi bên chào nhau rồi người thiếu-niên công- tử quay ra, đi đến phía cổng làng. Đi được vài bước người nhà quê lại nói với:
— Cạnh tòa Khâm có hai ngõ, tôi dặn kỹ kẻo Chầu lại nhầm, một ngõ ở phía Tây tòa Khâm, ngõ ấy vào chùa Thiên-Bảo. Một ngõ ở phía Đông, đi sát cạnh đài Toàn-cơ Ngọc-Hành, ngõ ấy mới là ngõ vào nhà quan Hoàng. Chầu nhớ kỹ kẻo nhằm đường.
Theo lời người kia dặn, người thiếu niên công tử đi đến cạnh đài Toàn cơ Ngọc-Hành. Đi khỏi đ.ài Toàn-cơ, ngõ đi ven cạnh một cái đầm. Gió chiều thổi mạnh, hơi lạnh dưới đầm tạt vào mặt, giá như nước giội. Kéo chiếc vạt áo cừu phủ đầu, chàng gắng sức bước đi. Bờ đầm, một dãy đào nở sớm tiết ánh xuống hồ một vùng đỏ nhạt, pha với những cành liễu la-đà trước gió như muốn khoe xanh cùng nước đầm, cảnh ấy thi nhân không bao giờ nở rảo bước lướt qua mà không ngắm nghía. Nhưng vị thiếu niên công-tử kia cứ cúi đầu đi, không đề ý gì đến đào đỏ liễu xanh, nước chiều gió gợn gì cả. Không phải là chàng sinh-trưởng nơi giàu sang mà tính tình chàng tục; không phải chàng sợ rét mà chàng cụt hết hứng của nhà nho.
Làm thơ, ngâm thơ, ngắm cảnh nên thơ, cái đó là món dùng xa – xỉ của tâm hồn những lúc nhàn rỗi.
Hiện chàng có việc bận lòng, những cái ấy chàng không để ý. Quanh một vòng đầm, chàng đến một cái cổng, xây vừa tầm, không to không nhỏ, trên cổng đề 4 chữ đại tự ‘‘ Tình vũ bất quan’’. Hai bên cột cổng nề đôi câu đối:
Hà tấp nhập sơn, nghệ cúc, tài lan, tự gia biệt thú.
Túng nhiên Xuất hộ, lá thư, cố tửa, diệc ngã sinh nhai [4]
Lúc nãy đi trên con đường bọc đào liễu xan- xát, cạnh đầm, cảnh thi-nhân ấy chẳng bỏ qua, mà tới đây, chàng lại xem câu đối, chẳng phải là chàng đã trút được gánh nặng bên lòng mà thưởng câu đối ấy, nhưng chỉ là một cách tìm nhà kín đáo.
‘‘ Bế môn tình vũ bất quan tâm ‘‘ (Đóng cửa ngồi nhà kệ thây mưa gió). Người không có cảnh ngộ như ông Hoàng-giáp Đặng Phi-Hiển, sao lại có giọng nhạt nhẽo với đời được như thế?
‘‘ Hà tất nhập sơn, nghệ cúc tài lan, tự gia biệt thú ; Túng nhiên xuất hộ, lá thư cô tửu, diệc ngã sinh nhai’’ ; người không thanh-bạch, không hay chữ, không cao-khiết như ông Hoàng sao làm nổi câu đối ấy, sao còn nổi tính-tình thi-nhân ấy ?
‘‘ Rấp Tiến-sĩ môn phía Bắc đóng cửa phía Nam, chẳng là nhà ông thì còn là nhà ai ? ‘’
Nghĩ bụng như thế, chàng không cần hỏi thăm ai nữa, tay đẩy cửa miệng lên tiếng gọi :
— Ai hầu trong nhà ra tôi hỏi?
Một người lão-bộc chạy ra mở cửa hỏi:
—Chầu đến có việc gì; có cần lắm không? Quan tôi đã dặn rằng không cho ai vào cả.
— Già vào nói rằng: Có người ở Quả-Thịnh- lăng trong Thanh ra xin vào hầu.
— Vâng Chầu cứ đứng đợi ở đây để tôi vào bẩm quan đã.
Vị công-tử gật đầu, người kia vội chạy vào. Lúc ấy công-tử mới để ý ngắm biệt thự ấy.
Cách cổng vào chừng một trượng có cái hồ tròn, cử lấy mắt mà đo, hồ ấy ngang dọc chừng hai mươi trượng rộng đến linh mẫu, giữa hồ có hai hòn giả sơn, mỗi hòn cao đến hai ba trượng. Bên cạnh hai hòn giả sơn có chiếc cầu ngòng- ngoèo luồn vào giữa, một đầu cầu chìa ra bờ hồ đối với cổng, một đầu nối với bờ bên kia. Hai bên ven hồ, có hai con đường vòng tròn; đôi bên đường mọc đủ thứ cây: Hồng-vi, Tử-vi, Thủy- tùng, Dương-liễu...
Công-tử ngắm bất-giác buột mồm than:
‘‘ Nhà thế này, cảnh thế này, mà chỉ có ông lão ngót tám mươi tuổi ở, trời sao độc địa thế?’’
— Quan tôi truyền rước Chầu vào ngay cho quan tôi hỏi chuyện.
Công tử chỉ chiếc cầu đá hỏi:
— Ta đi qua lối này qua hồ rồi vào có được không?
— Xưa kia thì vẫn đi lối ấy cả. Nhưng nay không đi đến, rêu bám đầy cả, trơn lắm, không đi dược, vả trời rét chẳng nên đi trên mặt nước.
— Thế già đi trước ta theo sau.
Hai người rẽ sang tay phải, vòng theo bờ đông hồ mà đi. Vừa đi, tên lão bộc vừa chỉ hai hòn giả sơn vừa nói:
— Đây kia, dưới cây liễu ở hòn núi lớn chỗ ấy là chỗ xưa quan lôi vẫn đánh cờ với ông Chiêu cùng cô Cháu... đắm thuyền ở đó.
Nói đến đây tên lão bộc sùi sụt khóc.
— Cô Cháu nào?
— Cô Ấu-Mai chứ ai ! Ở nhà, chúng tôi chỉ gọi là cô Cháu thôi. Thuở nhỏ cô ấy tên là Cháu, bây giờ cũng vẫn gọi là cô Cháu thôi. Tên Ấu Mai chỉ dùng để khai bút thôi.
‘‘ Tôi gọi tên Ấu-Mai, nghe như tên người lạ. Nên chỉ gọi là cô Cháu. Chao ôi! thà cô cứ chết cùng với ông Chiêu ngày trước cho nó xong, sống làm gì khổ nhục thế này !...’’
Nói đến đây tên lão-bộc lại thổn thức.
Công tử lại hỏi:
— Đắm thuyền, người lớn chết, trẻ con sống, cũng lạ đấy nhỉ.
— Có trời đó, thưa Chầu! Cô tôi vớ được chiếc rễ si, ông tôi nắm phải miếng đá có rêu, tuột tay...
Hai người đang mải nói chuyện thì đã tới cửa nách nhà hành-lang trái đông. Trên hè, Đặng tri phủ đã đứng đợi sẵn. Trông thấy người thiếu niên công tử, Đặng tri phủ vòn vã:
— Công-tử đấy ư ? Thế mà lão phu cứ nghĩ là ai ! Ra công-tử cũng chịu khó trèo đèo lặn suối vào tận Thanh-Hoa đó ư? Lão-phu nghe tên lão bộc vào nói, cứ nghĩ là người nhà Chiêu [5] ở trong Thanh sai ra.
—Tiểu sinh vào Thanh từ tháng trước cùng với quan Tông Nhân-Lệnh, để dự lễ Ninh lăng Đại-Hành Hoàng-đế.
— Công-tử hãy vào thư phòng này đã, rồi hãy nói chuyện.
Theo chân Đặng tri-phủ, công-tử vào phòng. Phân ngôi chủ khách xong, Đặng tri-phủ hỏi:
—Công-tử ở Thanh ra có thư-từ gì không? Nhà Chiêu ở trong ấy có được mạnh-khỏe không? Có năng được đi lại với con Cháu không?
— Lệnh tức [6] độ này yếu lắm. Tiểu-sinh e rằng...
— Làm sao ? công-tử thấy thế nào? Nó lại chết nốt à?
—Thưa không can chi... Bệnh khí nặng mà thôi ... Có thư đây xin đại nhân xem thì rõ, bất tất phải nói nhiều. Bây giờ đã xế chiều, đại-nhân cho tiểu sinh về kẻo trễ, cửa thành đóng lại phải ngủ ở ngoài... mà ngủ ngoài thành giữa lúc này cũng ngại.
— Phải bây giờ đã sang giờ Thân đã lâu rồi, công-tử cũng nên về.
Người thiếu niên công-tử đưa thư rồi, đứng dậy cáo từ. Đặng tri phủ nói:
— Lão phu mệt lắm, không tiễn công-tử được, xin miễn chấp.
— Tiểu sinh không dám, đại-nhân cứ ngồi.
Đặng tri-phủ, gọi người lão-bộc:
— Đồ Nam! già tiễn công-tử ra tận tòa Khâm-thiên nhé!
Đỗ sinh đồ từ năm còn trẻ, lật đật mấy khoa không làm được cái Cống-sinh (7) chán đường công danh, Đồ-Nam về hầu ông chú họ đã được ngoại 20 năm. Chính tên ông là Đặng Văn-Khuê, song về người ở vùng Nam, nên vẫn gọi là Đồ-Nam.
Người nhà Đặng tri phủ tai-quái, mỗi lần gọi tên Đồ-Nam vẫn cười để ngụ-ý thô tục. Có khi họ lại lộ hẳn ý thô mà đùa Đồ-Khuê rằng:
— Vùng Nam-Hạ [8] đồng chua nước mặn, thảo nào ‘‘Đồ’’ đen, đen từ nước da cho đến thi cử.
Đồ Nam phát cáu:
— Thế ông nhà trước chẳng là Đồ-Nam là gì? các chú đừng hỗn.
Lũ người nhà lại cười ngặt, cười nghẹo.
— Nhưng ông nhà đỗ Nhị-giáp rồi thì là Hoàng-Nam. Già thì chỉ già đời làm Đồ-Nam thôi !
Hai tiếng Đồ-Nam, bởi vậy lão ta rất ghét. Mỗi lần chủ nhà gọi đến, lão ta như người muốn giận, Đặng tri-phủ thì vô-tình không biết, vẫn cho rằng gọi người cháu già như thế là nhã, chẳng nỡ réo cái tên bao giờ, Đồ-Nam nghe gọi đến cái tên ‘‘ bia cười’’ ấy đứng tần ngần mãi, không thưa, khách thì đã bước xuống hè. Tiếng Đặng tri phủ lại giục:
— Kìa Đồ Nam, già tiễn chân công-tử đi.
Đồ-Nam miễn cưỡng theo sau chân khách.
*
Theo lệ thường, tối nào Đặng tri-phủ cũng xem sách đến quá nữa đêm mới đi ngủ. Hơn ba mươi năm nay, trừ những ngày có việc về lễ nghi tế-tự, chưa đêm nào ông bỏ quyển sách trên tay. Đốt trầm xem sách, uống chè tàu hãm văn, công việc ấy làm cho ông thành cái đồng-hồ.
Tối đến lũ người nhà bảo nhau.
— Ông đã gây lư trầm: cuối giờ Dậu rồi.
— Ông gây lò đun nước: đầu giờ Tuất rồi.
— Nước ông xơi ba tuần rồi: khuya nhỉ! đã đến cuối giờ Hợi rồi.
— Khói trầm đã nhạt: khuya lắm rồi, đến giữa Tý rồi đó: Ông sắp đi nghỉ.
— Đèn phòng sách tắt: sang giờ Sửu đó.
Chúng lấy ông làm cái đồng-hò đúng lắm. Giá chúng có chịu khó bật bùi nhùi xem giọt rồng thì cũng chỉ sai nửa khắc mà thôi.
Tối hôm ấy, theo lệ thường, ông cũng gây lư trầm. Lư trầm ông gây bao giờ ngọn khói cũng lên thẳng như chiếc đũa, cao chừng ngót thước, khói mới tỏa ra, lư trầm để trên cái kỷ con dài chừng thước bảy, rộng chừng thước mốt, cao chừng sáu tấc; cạnh lư trầm, một chiếc lọ Giang Tây, cắm cành hoa lan bạch-ngọc đầu mùa, cạnh chiếc lọ, xếp một tập ‘‘Đường, Tống thi thuần’’ mà đêm đêm ông vẫn ngâm nga.
Hôm ấy, ông không xem sách. Ngồi trên sập, tựa khuỷu tay phải vào chồng sách, ông ngả người ra dáng uể-oải. Dáng ấy ít khi ông có, vì là ông nhà nho cao-khiết, đức-hạnh danh vọng, không bao giờ ông lại tỏ nọa-khí ra ngoài. Ông thường bảo học trò con cái : ‘‘ Người ta, ngồi ra ngồi, nằm ra nằm không nên nửa ngồi nửa nằm uể-oải ‘‘ Nọa-khí trạo chi’’ [9] Có thế mới giữ được mình thẳng-thắn trong lòng mà đối với người khác không đến ‘‘linh nhân khí nỗi.’’[10] . Hôm ấy ông không ‘‘trạo-chi’’, được nữa, tất là có việc gì làm đổ lòng ông. — Việc làm đổ lòng ông, một người hơn ba mươi năm vẫn giữ gìn từng ti, chắc là việc to lắm; Hôm ấy ông không ‘‘ linh nhân khí nỗi’’, vì ông ngồi một mình trong thư trai chẳng có tân khách nào cả, nhưng ông khiến lũ người nhà thấy ông khác thường mà e sợ, qua cửa phòng, chúng phải nín hơi rón gót.
Bức thư ông cầm ở tay ông mở ra, gấp vào đặt xuống kỷ, cầm trên tay hàng bao nhiêu lần. Đọc rồi lại đọc, xem rồi lại xem, hàng trăm lần chưa thôi. Mỗi lần đặt thư xuống, một tiếng thở dài lại làm tan ngọn khói trầm đương lên thẳng.
Trí ông bây giờ bị tê-liệt, nghĩ không ra mối manh gì nữa. Đi ngược dòng thời gian, ông hồi tưởng lại từ ngày còn trẻ đến giờ.
Tuổi ông năm nay đã bảy mươi-chín, kể từ năm lên mười là năm bắt đầu có trí thức. Việc đời ông trải đã ngót bảy mươi năm, nghĩ lại việc bảy mươi năm mà cũng chẳng có gì. Lạ thay! thời-gian đối với ông như nước chảy qua cột cầu bằng đá. Đi ngược dòng thời gian bảy mươi năm, trí ông cứ trôi tuồn-tuột, vướng lại năm quãng ông nhớ nhất. Năm quãng ấy là năm cái mốc cắm giới hạn cho đời tâm tư trí tuệ ông.
Những ông già quá mà bị nỗi đau khổ quá sức đánh mạnh vào tâm-tư, thường có trạng thái linh hồn như thế. Dò đến tận đáy lòng, gọi hết những cuộc đời dĩ-vãng, cũng như đi vào cái nhà bỏ không chơ-vơ có một hàng cột, giá không có hàng cột ấy, có khi ông quên cả cái nhà. Hàng cột ấy có năm :
1)  NămMậu-Thìn niên-hiệu Vĩnh-Tộ thứ mười, đời vua Lê Thần-Tông, nhà Chúa vào năm thứ sáu, đời Thanh Đô Vương Trịnh-Tráng. Năm ấy ông đỗ đầu Nhị giáp Tiến-sĩ xuất-thân. Khoa ấy Nhất-giáp Đình nguyên là ông Thám-hoa Giang Văn-Hoa ở Hoàng-Hóa. Năm ấy ông sinh con gái đầu năm, đỗ cuối năm.
2)  Năm Đinh-Hợi, niên hiệu Phúc-Thái thứ năm, đời vua Lê Chân-Tông, nhà chúa vào năm thứ hai mươi-nhăm đời Thanh Đô-Vương Trịnh Tráng, cậu Chiêu cả nhà ông sinh con gái đầu lòng, tức là cô Ấu-Mai.
3)  Năm Quí Tỵ niên-hiệu Thịnh-Đức nguyên- niên đời vua Lê Thần-Tông, nhà chúa vào năm thứ ba mươi mốt đời Thanh. Đô-Vương Trịnh Tráng, cậu Chiêu cả nhà ông chết đuối ở hồ Tĩnh Tâm, trong Nhật-Thiệp-viên của ông.
4)  Năm Đinh-Dậu, niên-hiệu Thịnh-Tức thứ năm đời vua Lê Thần-Tông, nhà chúa vào năm cuối đời Thanh Đô-Vương Trịnh-Tráng là năm đầu đời Tây -Vương Trịnh-Tạc, cháu gái ông bị đem tiến vào cung làm cung-nhân.
5)  Năm nay, năm Tân-Hợi, tháng mười vua Huyền-Tôn băng, tháng 11 triều-thần đem di-hài vua về Thanh-Hóa, táng ở Quả Thịnh lăng, cháu gái ông cũng phải theo Tử cung Đại-Hành Hoàng- đế vào ở Sơn-lăng...
Sờ đến cột thứ tư ông giùng mình, sờ đến cột thứ năm ông lạc trí không hiểu đứng đâu hay ngồi đâu nữa.
Lặng người một lúc, sẽ lấy tay xếp lại miếng trầm cháy dở, ông mở phong thư ra đọc lại.
Thư rằng:
‘‘ Cháu bất-hiếu Ấu-Mai cúi đầu trình tổ-phụ đại-nhân xét cho: cha cháu bất hạnh mất đi, cướp công cha mẹ, để lại cho ông có một mụn cháu gái, cháu lại bị cái nợ tiền-thân truyền lại, vướng mình vào hoàng-thất vương-gia, đem tấm thân vào làm đứa nô-tỳ trong Nội-điện, kiếp nào gỡ ra, nay lại vào ở -Sơn-lăng giữ hương-khói Tiên-đế đến già đời thật là đem thân dìm xuống bể thẳm, cháu đành chết ở đây thôi.
‘‘ Ông hoàng Duy Lễ là người rất tử-tế. Khi cháu ở trong hoàng cung thường được ông săn sóc cho, ông nên đãi ông ta tử tế. Khi cháu theo Tử-cung Tiên-đế vào đây, ông cũng trông nom, cháu ước sao được gặp ông để cảm tạ ơn lân- hương tích-ngọc và xin ông trông-nom hộ ông già mẹ góa rồi cháu xin chết. Sống cũng thừa thôi. Mười gái bằng không, ông chẳng nên tiếc cháu làm gì. Sống ôm cái mả khô, cháu không sống được.
‘‘ Cháu chỉ oán trời sao riêng hại nhà ta. Đạo trời thật vô tri. Đặng Bá Đạo không con, còn nói gì nữa !’’ [11]
Chú thích :
[1] Tiếng cổ dùng để gọi người sang trọng. Câu Kiều :
Rằng vâng lịnh-chi rước chầu vu qui.
[2] Nhỉ giáp Tiến sĩ gọi là Hoàng giáp. Thời xưa những ông Đại khoa dù làm nên khanh tướng thiên hạ vẫn lấy khoa bảng mà gọi.
[3] Con ông đại khoa gọi là Chiêu.
[4] Chẳng cứ đi đâu, sửa cúc, vun lan, ở nhà riêng thú ; Có khi ra cửa, đeo bầu, mượn sách, thôi cũng qua ngày.
[5]. Con ông nghè.
[6] Lệnh-tức là tiếng gọi con dâu nhà người theo phép lịch sự.
[7] Đời Lê, Sinh đồ là Tú Tài, cống sinh là Cử Nhân.
[8] Hà-Nội, Hưng-Yên trước là Sơn nam thượng ; Nam-Định, Thái-Bình là Sơn nam hạ.
 [9] Có khi lười gắng lên.
[10] Khiến người ta phát chán.
[11] Câu nói Ấu-Mai dùng điển ở Tấn Thư : Đặng bá Đạo chạy giặc cùng vợ, con trai và cháu. Đến lúc cùng, liệu thế hai đứa con và cháu không sao bảo toàn cả đôi được bàn với vợ rằng : ‘‘Em ta mất sớm chỉ có một con, lẽ không nên để mất giống. Ta nên bỏ con là hơn. May ra thoát thân, sau này ta lại đẻ. Sau Đặng bá Đạo thoát nạn, nhưng chung qui không có con nữa.’’.  Người bấy giờ thấy thế nói rằng: ''Thiên – Đạo vô tri, sử Đặng Bá Đạo vô nhi’’.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.04.2022 23:39:56 bởi Thanh Vân>
II

 
Đã tội tình gì ?


 
Ở Quả Thịnh lăng, nông nỗi lại càng ngao ngán.
Mỗi ngày hai lần sớm tối, bọn cung-nhân áo trắng theo sau ông Tông Nhân-Lệnh, từ điện Kiền Long đến đền thờ ở lăng làm lễ chiêu-tịch. Dưới những cây cao ngất, bóng tối che hồ khắp các đài tạ, ở một nơi tĩnh-mịch đầy khí chết, lũ cung- nữ, trắng toát cúi đầu sắp hàng từ từ tiến bước đi, nom tựa một lủ oan-hồn hiện lên muốn đến tận nhà mồ kêu oan cùng ông vua nằm dưới kia, xác thịt đã sắp tiêu mà còn dìu đến tận Sơn-lăng một đoàn cung-nga thể-nữ.
Người tham chẳng bờ-bến nào cả. Ở đời, đến làm vua là giầu-sang hết đất rồi. Giầu có bốn bể, sang làm Thiên-tử mà cũng chưa đủ! Sung-sướng bao nhiêu tiếc đời bấy nhiêu. Vì thế Tần Thủy- Hoàng, sai Từ-Phúc vượt Đông-Hải tìm thuốc trường-sinh. Hán Vũ-Đế sửa cung Cam-toàn, xây đài Thông-Thiên để hứng nước Cam-lộ đều là kéo dài cái đời lầu vàng điện ngọc, cung-nữ hàng nghìn, bàn ăn đẫy trượng cả. Đánh nhau với hai chữ sinh-tử chẳng xong, bọn họ mới tính đến cái kế cuối cùng : Ăn không xong đạp đỗ. Xây lầu điện cho họ ở không đủ, họ lại bắt làm lăng chứa cái xác khô. Hàng nghìn con gái chết lịm trong cung chưa chán; họ lại đem bọn ấy đem chôn sống ở Sơn-lăng.
*
Trừ những lễ-nghi phiền-phức ra, bọn cung- nhân không phải làm gì cả. Những lúc nhàn rỗi, hoặc ngồi ở hiên Nam điện Kiền-Long, hoặc đi rong trong lăng, dưới những bóng thông reo, ven những bờ ao đài-tạ, câu chuyện họ nói với nhau toàn là những lời buồn bực uất ức oán-vong, than vãn. Những tiếng rì-rầm áo não ấy hòa với tiếng gió reo cành thông, nước đánh hồ sen, chim kêu trong bụi, nghe như một cung đàn sầu thảm, bi-ai. Nghe kỹ thì mỗi câu chuyện là một thiên thảm-sử.
Đây là chuyện bà Tiệp-Dư họ Tạ :
Tôi bị tiến vào cung năm Nhâm-Thân để hầu bà Thái-Hậu. Khi đó vì vua Thần-Tông hiếm hoi chưa có con, nên cho tuyển thêm cung-phi nhiều lắm. Năm tôi bị tiến vào cung tuổi mới mười ba nên chỉ được làm thể -nữ hầu bà Thái-Hậu họ Trịnh thôi.
‘‘ Đến năm mười-chín năm Mậu-Dần, được thăng lên làm cung nga, năm ấy tôi vừa mười chín. Đến năm Quí-Vị được thăng làm Tiệp - Dư, năm ấy hai - mươi-bốn tuổi.’’
Bọn cung-nhân nghe đến đó khẽ cười.
— Lên đến Tiệp-Dư, là được hầu-hạ Quân- vương rồi đó...
Bà Tiệp-Dư cau lông mày, nói:
— Các chị còn trẻ đừng bông đùa nhảm thế. Để tôi nói nốt cho mà nghe. Năm ấy là năm Quí- Vị, niên-hiệu Dương-Hòa thứ chín. Tôi được thăng Tiệp-Dư hôm rằm tháng chín, thì đến hai-mươi xảy ra một việc to. Vì việc ấy, đức Thần-Tông, phải nhường ngôi cho đức Chân-Tông, mà tôi thì phải giam ở linh-ngữ bên phủ Liêu mất hai tháng : Sáng hôm hai mươi, không biết có việc gì. Thanh Đô Vương vào chầu vua sớm. Đi đến nhà tả-vu điện Long-Đức, gặp tôi, Thanh Đô-Vương liền xuống kiệu sấn lại nắm tay, hỏi:
‘‘. — Danh-hoa khuynh quốc chừng này mà bỏ liều thân trong này ư?
‘‘ Tôi cố giật tay ra mà nói rằng:
‘‘—Vương-Thượng không nên lỗi đạo làm tôi đến thế.
‘‘ — Ta hỏi đùa mày đó thôi, mày làm gì mà kiêu hãnh thế. Vua mày cũng ở tay ta mà thôi, mày đừng giở ra lắm trò nữa !
‘‘ — Quyền ở Vương - Thượng cả, Vương- Thượng muốn làm gì chẳng được. Thần thiếp chỉ là đứa đàn-bà, chỉ biết tận trung mà thôi, không biết có quyền thế nào khác Hoàng-Thượng cả.
‘‘ Việc ấy sau rầm-rĩ cả lên, chắc là chúa Thanh Đô-Vương trót làm nên tìm cách tế tát đi thì phải, nên cuối tháng ấy bắt đức Thần - Tông phải nhường ngôi cho đức Chân - Tông, lên làm Thái - Thượng - Hoàng ở riêng cung.’’
Một người cung nhân lại hỏi:
— Còn bà thì sao ?
— Còn tôi, nhà chúa bắt về phủ Liêu giam trong Linh - Ngữ hai tháng rồi lại cho về cung cũ mà hầu đức Chân -Tông chứ không được theo đức Thần -Tông về cung riêng. Năm năm sau, năm Mậu - Tý, đức Chân - Tông thăng hà, tảng ở Hoa- Phố lăng. Tôi chắc “mười phần là phải ở Hoa- Phố lăng. Tôi cũng mong như thế, vì bấm đốt nửa đời người rồi, chẳng muốn giây vào việc đời làm gì nữa.
—Năm ấy, bà bao nhiêu tuổi mà kêu là quá nửa đời người.
— Năm ấy tôi hai mươi chín. Hai mươi  chín kể ra thì còn trẻ, nhưng sống trong cung cấm như cây mọc trên chậu sứ, sao bằng cây trồng ngoài vườn.
‘‘ Năm ấy Thần-Tông Thượng-Hoàng lại về ngôi cũ. Nhưng vì việc mấy năm trước, ngài cũng không dám gần tôi nữa. Tôi sống thừa trong cung cấm từ ngày ấy đến nay. Bây giờ được ở Sơn-lăng cùng các chị, tôi tự lấy làm sung-sướng vô cùng. Kể tuổi đã năm mươi hai rồi, sờ lên đầu điểm hai thứ tóc, thôi thế cũng xong một đời...’’
Bà Tiệp Dư họ Tạ nói đến đấy thở dài một tiếng thực dài, cái thở dài ấy dường như đem hết bao khí sầumuộn bi thương trong bốn mươi năm trời tuôn ra.
Một nguời cung-nữ khác lại nói:
— Bà còn may-mắn hơn tôi. Số phận tôi lại lạ lùng khắt-khe lắm nữa... Nguyên là tôi bị tuyển vào cung để hầu đức Thần - Tông thế nào lại hóa ra làm cung-nhân đức Huyền-Tông đây. Tôi bị tiến cung năm Nhâm-Dần. Tôi ở Thanh-Hóa từ tháng tám đi. Lên đến kẻ chợ [1] thì vua Thần-Tông phải bệnh rồi mất, vua Huyền-Tông lên nối ngôi.
‘‘ Năm ấy, tôi mới mười bốn tuổi. Sang năm sau, nhà chúa khiến bốn ông Quận Trạc, Quận Phổ, Quận Cương, Quận Giao vào trong nội-cung coi bốn vệ quân thị-vệ. Vua Huyền-Tông khi đó mới lên mười, bọn cung-nhân là đồ chơi cho bốn đức ông ấy cả. Tôi bị tuyển đến hầu Quận Trạc. Tấm thân gái yếu rốt chặt trong cung, lại rơi vào tay những đứa có quyền thế, thôi thì còn phải nói gì nữa. Kể năm thấm-thoát là chín năm rồi. Thôi còn chi nữa mà mong. Đời người đến thế là xong một đời.’’
Một người cung-nhân bây giờ mới lên tiếng:
— Bà Tiệp-Dư đã già rồi không kể, tôi không dám nói, nhưng các chị còn biết mặt vua, chúa. Tôi mới thực khổ, cũng là vào ở trong cung, mà suốt mười Iăm năm không được nom thấy vua, chúa gì cả, thật tuyệt-nhiên không. Tôi là con nhà gia-thế cháu ông Hoàng-Giáp mà cũng phải chịu rước đắng cay như thế, nghĩ càng tủi-nhục trăm phần.
‘‘ Nhà tôi lúc đỏ, thì đỏ như son tàu, mà lúc đen thì đen hơn bùn ao. Cổ-nhân nói rằng : Phúc bất trùng-lai, họa vô đơn chí, lúc ấy ngẫm ra đúng lắm. Đen nhất cho tôi là lúc nhà tôi thịnh thì tôi không được biết, chi đẻ ra để biết lúc suy, để khổ sở  cay đắng về việc nhà về thân-thế,
‘‘ Năm thầy tôi sinh tôi, ông tôi đã ngót năm mươi. Giữa năm đẻ tôi là ông tôi làm quan vì cương-trực bị giáng chức. Hồi đó ông tôi đang làm quan Ngự-sử, hai năm trước là năm Ất-Dậu niên- hiệu Phúc - Thái thứ ba, chúa Trịnh Thanh Đô  Vương, muốn phong con trưởng Tây - Vương bây giờ lên Thái - úy, Tây Quốc - Công, ông tôi làm Ngự-sử cho là phận-sự phải nói, liền làm phiếu tấu đệ vào phủ chúa nói rằng:
‘‘ Vương- Thượng đã một mình coi hết cả việc nước lẽ đạo thần-tử đã có chỗ khó rồi. Nay lại phong cho Vương-Trưởng-Tử, làm Thái-úy Tây Quốc-Công, mở phủ riêng, cho coi hết quốc gia trọng sự. Các Vương - Tử, mỗi người trấn một trấn to. Như thế là Vương - Thượng lấy nước làm của riêng đó. Vả lại Thái -úy lên cao quá tôi e các Vương Tử khác có ngày làm loạn’’.
‘‘ Lời lẽ ông tôi nói cũng phải lắm. Ngờ đâu Thanh Đô-Vương nổi giận, cách tuột ông tôiđuổi về. Quả-nhiên đến tháng năm, năm ấy bọn Trịnh- Lạc, Trịnh-Sầm nổi loạn thật. Đến năm Đinh-Hợi là năm đẻ tôi Thanh Đô - Vương nghĩ lại cũng hối, nên mới khôi-khục cho ông tôi, nhưng giáng xuống làm Tri-phủ, sung ngay vào chức kinh- thành phủ thừa.
‘‘Đến năm Nhâm-Thân, niên-hiệu Khánh-Đức thứ tư đời vua Lê Thần-Tông. Thày tôi lấy chân Sinh-đồ và Ấm-sinh đi thi hội. Đáng lẽ được đỗ, vì đã vào chính-trúng-cách đã vào điện thi rồi, ngờ đâu chỉ phạm húy một chữ, mà không những không đỗ mà lại bị chung-thân không được thi nữa. Lúc bấy giờ chúa Tây đang làm Thái-úy quyền - thế to lắm, và được chúa Thanh-Đô yêu lắm. Chữ ‘‘ Tây’’ là chữ phong tước chứ phải có là tên đâu mà lở phạm vào thì bẻ hành, bẻ hẹ, làm tội làm tình người ta thế...’’
Đến đó bà Tiệp-Dư họ Tạ vội gạt đi.
— Chết! chị liều lĩnh quá ! Ai nghe tiếng thì có khốn không ? Từ rầy thì nói là đoái là đoài nhé!
Vâng Tây-hồ, gọi làĐoáihồ, trấn Sơn Tây gọi là trấn Đoài, tôi cũng biết thế, nhưng nghĩ tức lắm không chịu được.
— Thì chị hãy nén cái tức đi mà nói nốt câu chuyện đã nào.
Thở dài một tiếng thật mạnh, người cung nhân lấy vạt áo lau nước mắt rồi nói tiếp:
— Thày tôi hỏng thi năm trước thì năm sau, chết, chết đuối các chị ạ. Chết đuối ngay cái hồ đào ở nhà. Thày tôi buồn, chiều chiều cùng tôi lên chiếc thuyền độc mộc bơi trong hồ sen, quanh hòn giả-sơn chơi. Một hôm bất ý, thuyền vướng phải chiếc rễ liễu mọc ngầm, dưới nước trôi lên chọc vào đáy thuyền. Thuyền lật. Tôi vớ được chiếc rễ si, leo lên cầu được nên sống. Thày tôi vớ phải hòn đá có rêu, tuột tay xuống...
Nói đến đây người cung-nhân nức-nở khóc... Bà Tiệp-Dư họ Tạ kiếm lời an-ủi:
— Thôi chị ạ! Cùng là số đoạn-trường, khách một thuyền ai cũng như ai. Chị em ta đây hẳn kiếp trước ăn cắp chuông chùa, ăn trộm của Phật nên phải đền bồi đó. Cùng lứa vô-duyên cùng phường bạc-mệnh, ta lại gặp nhau ở giữa chỗ chết này, tôi tưởng chẳng nên buồn duyên tủi phận cho lắm vì buồn tủi cũng thừa mà thôi, mà lại thêm gợi cho chị em cùng số những nỗi đau lòng...
Nói đến đây bà Tiệp-Dư họ Tạ bất giác cũng sụt-sùi hàng lệ. Rồi thì cả bọn cung-nhân đều mặt ủ mày chau, âm-thầm lặng-lẽ. Trong khi ấy một người cung-nhân, cứ đứng tựa gốc cây thông cười ha hả.
Tiếng cười ở giữa chỗ buồn, tiếng ấy một là ngạo đời, hai là rồ dại. Đối với bọn cung-nhân khi bấy giờ, thì là gồm cả ngạo và rồ. Cùng cảnh với người mà người khóc ta cười, thế là rồ. Người đương có chuyện buồn, mà ta đem tiếng cười phá đám, thế là ngạo.
Vừa ngạo vừa rồ, còn ai dung được, một người cung nhân khác lên tiếng mắng:
— Chị kia rồ dại hay sao mà cười như xổ ruột ra thế, chị lấy cảnh này làm vui sướng lắm sao?
Người cung-nhân kia lại cười nói:
— Bà Tiệp-Dư, cùng các chị giọt ngắn, giọt dài thì có ích gì không? có lẽ tôi rồ thật, nhưng cái rồ của tôi các chị học được cũng hay.
— Nói đứng-đắn, lúc này không phải lúc đùa, bọn ta chẳng nên đùa cợt.
— Thì đứng-đắn vậy cho các chị bằng lòng. Tôi thì bất cứ gặp việc gì, tôi cũng phải vội cười ngay vì sợ chẳng cười đi thì sau lại phải khóc về việc ấy. Đời này toàn trò đáng khóc, ta lấy tiếng cười mà đón đề lấp trước đi. Đời ta là bài trường- hận-ca, ta hát phăng khúc trường lạc-ca, cho ảt tiếng sầu thương đi. Các chị muốn khóc thì cứ khóc đi. Khóc sao cho hết kiếp đoạn-trường thì cứ khóc. Còn tôi, xin phép bà Tiệp-Dư và các chị tôi cười và hát một khúc.
Người cung-nữ vỗ nhịp hát:
Luân-Vương lắm nỗi lạ thường
Nén sầu, nuốt thảm, nuốt thương ta cười,
 Cười, thôi nhé! Ai đừng rũ-rượi.
 Bóng thiều quang có đợi mình đâu..
Can chi chuốc thảm mua sầu
Đời chi để nhuộm những màu khóc thương!
Hát xong người cung-nữ lại vỗ tay cười. Khi đó, cả bọn cung-nữ chú mục vào người ấy ai ai cũng hồ như khuây những nỗi đau ruột xót lòng. Bà Tiệp-Dư nói:
— Thôi để chị Ấu-Mai kể nốt chuyện chị ấy cho chị em nghe đã. Mấy câu, mấy điệu bông lơn của chị Tố-Hà mà hay đó: chị Ấu-Mai đã ráo lệ rồi kia.
Tố-Hà lại vỗ tay cười:
— Các chị cứ rồ dại cả như tôi mà hay đó!...
Bà Tiệp-Dư gạt đi:
— Thì im cho chị ấy nói nốt nào!
Ấu-Mai lại nói:
— Thày tôi chết năm hai-mươi-sáu tuổi. Năm ấy tôi mới lên bảy, ông tôi thì sáu mươi mốt. Bọn thuật số họ khéo nói dựa. Năm trước, thày tôi mắc tội ‘‘Phạm trường qui’’, họ tán là tại năm tuổi thày tôi; năm sau, thày tôi mắc nạn, họ lại tán năm tuổi ông tôi. Năm nay là năm tuổi tôi giá chết quách cũng xong !...
Tố Hà nói:
— Chị này nói năng la-cà quá. Mặc kệ lũ thuật số, chị hãy nói nốt chuyện chị đã nào!
— Tôi bị tuyển vào cung năm Đinh-Dậu niên-hiệu Thịnh - Đức thứ năm, đời vua Thần - Tông. Năm ấy vì Chúa Thượng bây giờ[2] mới nhập thừa Vương thống [3]. Vua Thần-Tông cùng trạc tuổi với chúa, thuở bé chơi với nhau. Năm đức Kính-Tông, mưu với Trịnh-Xuân định giết Triết-Vương [4], đáng lẽ thì đức Kính-Tông cùng các hoàng - tử đều bị giết cả.
Khi đó đức Thần - Tông mới mười-bốn mà Chúa Thượng, bấy giờ mới mười-ba. Đức Thần- Tông khi đó là Thái-tử mà Chúa Thượng là cháu đích-tôn của Triết-Vương.
Chúa thượng tuy tuổi còn nhỏ nhưng thông- minh lắm. Khi đảng Trịnh-Xuân là Văn-Đốc hành- thích hụt Triết-Vương ở Tam-kỳ rồi bị bắt ; mưu vỡ ra, Triết-Vương cho chúa Thanh-Đô vào nội -điện ép vua Kinh-Tông tự-ải và bắt hết các Hoàng- tử về phủ Liêu.
‘‘ Chiều hôm ấy, Triết - Vương đi rong chơi trong vườn ngự-uyển với Chúa Thượng. Triết Vương hỏi Chúa Thượng rằng:
‘‘ — Mày chơi với thằng Lê-Duy-Kỳ, mày có biết bố nó định giết tao không?
‘‘— Bẩm cháu có ngờ đâu như thế. Bụng người ta mỗi người một khác, bố con cũng chẳng cứ là bụng dạ ruột gan.
‘‘— Mày lấy gì làm chắc?
‘‘— Bẩm chú Thái Bảo - Xuân cháu mà còn mưu thế Vương-Phụ được, thì bố con đã lấy gì làm thân! Cứ cháu trộm nghĩ thì việc này Vương- phụ không nên trách Lê thị. Ròi từ trong xương ròi ra. Vương-phụ có làm to-tát ra lắm, cháu sợ mua xấu với thiên-hạ. Các Hoàng-tử còn nhỏ dại cả phỏng có tội gì?
‘‘Triết - Vương nghe động lòng bảo Chúa Thượng rằng:
‘‘— Cháu cầm cái kim-bài này vào ngay linh- ngữ gọi Thái-tử Duy-Kỳ ra đây, nếu là đứa khá thì ta cũng dung cho.
‘‘— Khi đức Thần-Tông ra. Triết-Vương hỏi rằng:
‘‘— Thái-tử có biết số phận Thái-tử ra sao không?
‘‘— Phá sào chi hạ, an hữu hoàn noãn [5], tôi tự hiểu bất-tất Vương-Thượng còn phải hỏi làm gì.
‘‘— Thái-tử muốn xin ta gì chăng?
‘‘— Tôi chi muốn xin được theo hoàng-khảo xuống suối vàng thôi!
‘‘ Vì thế Trịnh-Xuân được tha, các Hoàng-tử thoát nạn, đức Thần-Tông lên nối ngôi.”
Bà Tiệp-Dư hỏi:
— Bằng ấy việc thì quan hệ gì đến việc chị bị tiến cung mà chị nói?
— Quan-hệ lắm chứ. Đức Thần -Tông thoát nạn vì Chúa - Thượng bây giờ nên đối với chúa có cái ơn khắc xương ghi dạ. Vì thế, năm bấy giờ Chúa-Thưọng lên ngôi Chúa, đức Thần-Tông mới kén lấy ba-mươi-sáu con gái nhỏ đẹp, tuổi lên mười đến mười hai vào cung tập lục-dật[6] để mừng, đội vũ-nữ [7] ấy ở luôn trong cung đến năm đức Huyền-Tông lên ngôi, thì ba mươi nhăm người được thải ra mà riêng mình tôi phải ở lại để hầu Thái-Hậu vì trong bọn, tôi được Thái - Hậu yêu nhất. Thế mới hay rằng: được kẻ quyền thế yêu cũng là một cái vạ. Thế rồi từ năm ấy đến năm nay, trước sau kể đến mười lăm năm, trải hai triều vua, sống mờ sống ám, sống tủi, sống nhục, trong nội-điện cho đến bây giờ : Đem ra đây chôn sống với đứng quân-vương mình không biết mặt mũi ra sao?...
Tố-Hà hôi bông:
— Năm mới tiến vào cung, chị còn bé mà vua đã già thì sống mờ, sống ám, chứ khi đức Huyền- Tông lên ngôi thì là Thiếu-niên Thiên-tử, với tuyệt-sắc giai-nhân, chị còn ân-hận gì. Mờ ám là tại chị chứ!
Ấu-Mai lườm Tố-Hà mà không nói gì.
Bà Tiệp-Dư nói:
— Tính tuổi ra thì khi đức vua Huyền-Tông lên ngồi, ngài mới lên mười, mà chị Ấu-Mai đã mười-bảy rồi. Kịp khi ngài lớn thì chị lại già quách rồi.
Tố-Hà vẫn đùa:
— Năm nay chị ấy mới hai mươi nhăm già gì mà già ? À phải! Đức vua năm nay mới mười tám thôi nhỉ. Người mười tám tất coi người hai mươi nhăm là già, nhất là người ấy lại là vị Thiếu-niên Thiên-tử. Nhưng tôi trông chị Ấu-Mai chỉ vào trạc mười chín, đôi mươi thôi, ngài cứ dùng tạm cũng được.
— Chị chỉ đùa láo thôi, chỗ này không phải chỗ đùa.
 •
Một buổi chiều, ven hồ Thúy-Vi, dưới bóng cây liễu bỏ mành tựa vào chiếc lan can trúc, hai người cung-nữ đương đứng thẩn-thơ.
Hồ Thúy-Vi mùa ấy tàn sen, nước ngâm trong vắt. Điểm mặt hồ chỉ có ít lá thông già rơi rụng lúc trời cuối đông, vài bông hoa hồng-mai mới nở đầu mùa. Hôm ấy trời nổi gió bấc, lá thông, hoa hồng-mai, xô cả về phía hai người đứng, dường như muốn đem cái cảnh hoa trôi gió thổi, ghẹo khách hồng-nhan. Trên đầu lá liễu từng chùm bỏ thõng xuống la-đà trước gió, vẩy nốt mấy giọt nước mưa còn dính lại từ trận mưa hôm trước, tựa lũ đàn bà gội đầu thõng tóc ra phơi. Thỉnh- thoảng một chùm lại đập vào mặt hai người cung nhân, trút mấy giọt nước mưa trên má. Giọt nước ấy điểm trên hai khuôn mặt buồn tênh, trông tựa như những làn nước mắt.
Bên kia bờ, dãy thông ào ào reo theo gió, thiết- tha như khúc nhạc não-nùng. Trời dần - dần tối lại, toàn cảnh cây hồ đài tạ, một khắc một mờ. Một lúc, từ từ trăng ở phía đông lên, lọt qua mấy ngọn thủy-tùng mà chiếu xuống hồ; Trăng buổi ấy là trăng ngàn ngậm sương, lạnh lùng hiu-quạnh, chẳng có vẻ mát mẻ êm đềm như độ giữa thu,
— Chị Tố-Hà, sáng hôm nay, chị có người nhà vào thăm đấy ư?
— Không! có người nhà người cửa nào vào đâu. Tôi quê tại Vườn-Cam, ở Cao-bằng mà chúng ta mới từ kinh vào đây từ tháng trước, đến nay tính ra chưa đầy tháng rưỡi, thì nhà tôi đã kịp vào đâu mà thăm... Chị Ấu-Mai còn hơn tôi một điều là khi bước ra đi, người nhà được biết ngay. Tôi thì còn chán! Bây giờ chưa chắc đã biết.
— Biết cái gì chứ, biết cái khốn nạn này thì càng muộn, tôi tưởng càng hay. Nhưng từ kinh lên Vườn Cam, tôi tưởng, chậm lắm chỉ trong một tháng là tin tới thôi, kể từ ngày đi là hôm mồng hai tháng trước, tính ra đến nay đã là một tháng mười hai ngày rồi, sao tin lại chưa tới?
— Tôi có quen thuộc ai ở kinh đâu, tôi làm gì có tiền mà thuê người lên Cao Bằng báo tin.  Khi tôi biết đích là tôi phải vào ở Sơn lăng, tôi không biết làm thế nào mà báo tin lên Cao-Bằng cho người nhà tôi nữa. Cho tới hôm hai mươi-tám tháng mười mà tôi cũng chưa biết làm ra thế nào được. Tôi đã tính liều không cho người nhà biết nữa. Thôi thì liều như cha mẹ tôi không có tôi là con, nghĩ thế rồi tôi cứ việc sắp quần áo để đợi ngày theo Tử-cung Hoàng-đế vào Ninh-lăng, chẳng nghĩ-ngợi gì cả.
‘‘ Đến hôm mồng hai, nhắm mắt cứ đi. May sao đi đến cung [8] Hà-Hồi, gặp một người làntrước làm lính thú [9] ở Bắc Bố - chính khi đó được lệnh thải hồi về quê, nhân đó mới nhờ mang tin về nhà hộ.’’
— Hôm đóng ở Hà - Hồi là hôm mồng ba, từ hôm đó đến nay may ra người ta cũng đến Vườn- Cam rồi.
— Chưa! anh ta bảo với tôi rằng: về kinh còn phải vào trại trong phủ Liêu, chờ lệnh, không biết chừng mấy ngày mới được lệnh về hẳn quê. Sớm là mười ngày, chậm là một tháng, có khi họ quên đi thì đến vài bốn tháng. Thế chị đã có người nhà vào thăm chưa?
— Mẹ tôi vào ở Thanh, từ ngày chúng ta theo Tử-cung Đại-Hành Hoàng-đế vào đây, nhưng cũng chưa vào thăm được, vì tôi chắc còn phải xin phép tòa Ngự-sử và phủ Tông-nhân.
Ngửng lên trông trăng đã nháp nhô thò lên ngọn cây Thủy-tùng, Tố-Hà bảo Ấu-Mai:
— Trăng lên rõ rồi, ta về đi. Đứng mãi trời sương, lỡ bị cảm thì thiệt thân!
 — Ở nơi này, chị còn giữ gìn kỹ lưỡng thế à?
— Ở đâu cũng thế, gặp cảnh-ngộ nào cũng thế. Mình chẳng thiết thân mình, thì còn mong ai thiết đến? Thôi về đi?
  Nói đoạn, hai người cùng về.
Về tới trại-cung, bà Tiệp-Dư, cùng các cung- nhân còn thức cả, mọi người hỏi:
— Sen và Mai một hoa ở nước, một hoa ở cạn, sao mà đi đâu cũng díu đôi thế? Đi đâu mà rét run cả người lên thế ? [10]
—Từ chiều tôi đã thấy hai chị đứng tựa lan-can hồ Thúy-Vi. Trời rét thế mà đứng ngắm nước, tôi cũng chịu hai chị thực, gàn guộc có một.
— Có hai chứ!
Tố-Hà nói:
— Thì trong lòng ta đến ngoài da đều lạnh lẽo cả. Đứng hóng mát ngoài hồ giữ phù ngồi so rét với các chị, tôi tưởng cũng thế mà thôi.
BàTiệp-Dư nói: .
— Mai là ngày rằm phải làm lễ sớm đó: Các chị ai vào buồng nấy đi ngủ cả thôi, đừng chuyện trò la cà mãi nữa. Còn được nói chuyện đến già ở đây, tôi chỉ sợ các chị hết chuyện thôi!
Mọi người đứng dậy ai vào phòng nấy.
*
Ngoài-trăng đông lạnh-lẽo, chiếu tỏ xuống mặt hồ bóng loáng như gương, lạnh-lùng thê-thảm
Trong ba trăm cung-nhân như tù bị xử-tử, giam-hậu, đương vật mình quằn-quại, với đêm gió bấc hơi sương.
Ngoài gió ngàn thổi mạnh, xan-xát hơi may, thổi nghiêng khóm trúc là-là, vuốt mạnh lá thông thành tiếng. Trông khóm trúc như người tội-nhân cúi đầu van ngọn cuồng phong. Nghe tiếng thông reo như tiếng rên-rĩ oan-thảm của chốn Sơn-lăng lạnh-lẽo.
Trong tiếng thở dài hòa với tiếng tay đập xuống giường tựa như tiếng, như bộ của người hấp-hối chán-nản tiếc đời.
Trăng chiếu trai-cung, như muốn soi rõ cái mồ chôn hàng trăm người còn sống xác mà chết lòng, gió lọt kẽ cửa, như muốn chia buồn cùng bọn má hồng mệnh-bạc.

  Chú thích:
[1] Kinh đô, tiếng cổ.
[2] Tức là Tây-Vương- Trịnh- Tạc (1657 — 1682)
[3] Lên nối ngôi Chúa.
[4] Trịnh-Tùng tức là Bình An-Vương khi chết rồi miếu hiệu là Thành Tổ thụy là Triết Vương.
[5] Dưới cái tổ vỡ, còn cái trứng nào lành.
[6] Xưa thiên-tử dùng bát-dật, chư-hầu dùng lục dật ba mươi sáu người vũ nữ thành sáu hàng sáu người là lục-dật.
[7] Vũ nữ. vũ là múa, nữ là con gái dung để múa
[8] Đời xưa chia đường ra từng cung, đến mỗi cung có nhà để ăn nghỉ nếu đi việc công thì có ngựa trạm để đổi, tức như Tây là relais, Cung có cung dài cung ngắn, cung dài, đi một ngày đường, cung ngắn đi nửa ngày.
[9] Lính đóng nơi biên địa li lính thú. Khi đó Trịnh, Nguyễn phân tranh, châu Bố chính là địa đầu.
[10] Tố Hà là Sen trắng, Ấu Mai là Mai non.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.04.2022 09:19:05 bởi Thanh Vân>
III
Mẹ con gặp gỡ
 
 
Ở xóm cửa Tây thành Thanh-Hóa, dường như mới xảy ra việc gì tai dị.
Trước đây hai tháng, có người từ Bắc vào thuê nhà. Dân trong xóm ai cũng thì-thào bàn lẫn với nhau:
— Thuê mần chi ? Từ Bắc vô Nam, thuê nhà mần chi, buôn bán thì ở bến Ngư, từ Bắc vô Nam, thuê nhà nơi hẻo lánh mần chi?
— Năm hết tết đến rồi, tính-toón chi thì cũng chờ sang năm mới, vội chi mà lật đật.
— Mà cả nhà lại chỉ có một anh già chừng bốn năm-mươi với một đứa con gái vào trạc mười tám đôi mươi. Quân này mèo mả gà đồng chi đây !
Trẻ con nỏ bảo thằng kia thì chỉ dưới bếp, mà con nọ thì cũng chỉ nằm ở trái hiên, còn cái nhà trên năm gian ngày ngày, chúng nó lau quét mà không ở đến, thế mới càng kỳ ngộ. Không biết chúng nó thuê nhà mà làm gì?
— Từ hôm họ thuê nhà, ngày nào cũng đi sắm giường, sập, ghế bàn kê chỉnh-đốn. Nhà có hai mống thì mua bàn đồ-đạc mần chi?
— Mà tên tuổi là gì cũng không ai biết nữa!
— Người ta chỉ thấy anh chàng gọi con bé kia bằng em; con bé gọi anh chàng kia là bác. Em gì bác gì thì không biết. Hay là hai anh em? Hai anh em, thì đem nhau vô đây ở lẫn mần chi?
— Thằng cha tính khi cũng lạ: hàng xóm làng giềng chẳng buồn làm quen với ai cả. Chỗ hàng xóm có người nhẹ dạ, nhẹ miệng hỏi -han chuyện-trò, thì anh ta chỉ cười nói ậm-ừ cho qua. Có người dễ tính vào chơi thì anh ta tiếp đãi cũng tử-tế, nhưng anh ta cứ ngồi lì, nửa lời nói cũng tiếc. Hẹn sang chơi thì nhận lời hẳn hoi, nhưng chẳng vào nhà ai cả. Có trách thì chối là bận. Con bé kia cũng thế, đi chợ, đi búa luôn, ra ao vào làng cũng luôn mà đố ai cậy miệng cho nó nói một câu dài hơn năm tiếng. Nó là con gái, nó it nói là phải, nhưng anh kia là đàn ông mà cũng ít lời thì lạ quá !
— Lạ gì ! người ta một mình ở nơi xa lạ thế là phải chứ, các ông các bà chỉ khéo tia tách bép- sép xằng !
— Ấy chỉ lạ vì ở đồng đất nước người có một mình mà thôi. Họ hình như có cái gì bí hiểm chứ chẳng không. Hay là lại đức ông nào thất-thế mà định vào đây tìm chân-nhân [1] nơi rừng xanh!
Trong hơn mười hôm trời, hai người ấy, luôn luôn làm câu chuyện đầu lưỡi của xóm ấy. Giữa lúc chế -độ gia-tộc còn nồng nàn, giữa lúc người mình còn chưa dời nhà cửa được thì hai người ấy có lẽ cũng đáng để người ta tò mò căn-vặn.
Mươi hôm sau, nhà ấy lại thêm năm người nữa: hai người đàn bà, ba người đàn ông. Hai người đàn bà một người trạc ngoài 40, khăn sô áo gai, một người trạc ngót năm mươi, quần sồi áo vải. Ba người đàn ông một người trạc ngoài ba mươi, hình dõng thanh tú có vẻ con nhà; một người trạc ngoại năm mươi, hình thù thô lỗ, rõ ra một người mộc-mạc quê mùa; một người nữa cũng trạc ngoại ba mươi dáng rong rỏng cao, mặt bé mắt bé nước da xam xám.
Hàng tỉnh khi đó lại càng để ý lắm.
Luôn mấy năm nay, năm nào cũng có việc tai-dị,  nên hơi có việc gì bất cứ lớn hay nhỏ mà khác thường một tí là dân cũng để ý, cho như là cái kết quả của mấy trưng triệu trước kia. Tháng tư năm kia có nhật-thực rồi thì trời làm hạn hán suốt mấy tháng hè không mưa, nhà chúa cho quan về duyệt lại hộ-tịch, bắt dân đi lính thủ. Tháng ba năm ngoái, Khâm-thiên giám báo có hỏa tinh đi vào địa phận Nam-đẩu. Pháp-tinh đi vào địa-phận Thái-vi mà rồi năm tháng liền không mưa trận nào. Lại tháng tám năm nay có nhật - thực thì tháng mười vua mất. Thực ra thì nhật-thực, Hỏa -tinh, Pháp-tinh, chẳng có quan hệ gì đến trời mưa nắng cùng người sống chết, nước trị loạn cả, nhưng dân Á-Đông như thế, việc gi cũng cho là có điềm trời cả. Các điềm trời tự dân, dân cũng không biết nổi, khéo sinh-sự chỉ tại mấy anh chiêm-tinh hão-huyền.
 
Cái gia đình bảy người Bắc này... vô Nam lúc năm cùng tháng hết, ở giữa xóm hẻo lánh lạnh lùng, khiến cái dân luôn ba năm, óc nhồi toàn điềm trời vạ đất, phải để ý như trẻ bé một nhà kiện-tụng gặp khách lạ đến nhà. Lại lạ hơn nữa là sau ngày Ninh-lăng mấy ngày, nhà ấy tấp nập già trẻ trai gái ở Bắc vào. Rồi từ ngày ấy thỉnh thoảng lại có một chàng thiếu niên năng lui lời ân cần.
Chàng thiếu niên ấy. Ngay hôm Tử - cung Hoàng-đế tới tỉnh Thanh đã thấy đến đó một bận.
Hôm chúa cùng bách quan trở về Kinh thì Hàng xóm năng thấy chàng đến chơi từ sớm mãi đấy đến tối mới trở về. Có kẻ tò mò theo chàng xem ở đâu thì thấy chàng ở dinh quan Thừa-chính. Mươi hôm sau thấy chàng mất mặt. Dò ra thì chàng ra Bắc rồi...
*
Gia đìnn ấy, có lẽ độc-giả cũng đoán ra rồi. Đó chính là gia đình bà Chiêu Đặng Thụ - Ấm con dâu ông tri-phủ Đặng Phi-Hiển, mẹ nàng Ấu -Mai, đang khóc than với bóng buồn-tủi cùng cây trong Quả-Thịnh lăng.
Hai người vào thuê nhà trước, người đàn ông là một người lão-bộc nhà họ Đặng theo hầu Đặng tri-phủ từ ngày mới đỗ; đứa con gái là em họ anh ta, cũng theo hầu bà Chiêu từ ngày mới lên mười trước dùng để trông coi Ấu-Mai khi nàng còn nhỏ, sau ở lại hầu bà. Còn năm người vào sau thì một người là bà Chiêu, một người là em trai bà Chiêu, một người là vú nuôi Ấu -Mai, một người là bố Ấu-Mai. Người đàn-ông trạc ngoài ba mươi nước da xam-xám, mặt choắt, mắt nhỏ là đầy tớ Đặng tri-phủ mới dùng được giăm bảy năm nay, nhưng nhanh-nhẩu thạo việc lắm, nhà có việc gì quan trọng cũng phải có anh ta, anh ta người Mường ở Thiên-Quan (nay là Nho-Quan) họ Kiều, tên Cảnh, có sức đi một ngày trăm dặm, một tay cất tạ nghìn cân, xuống nước lội như cá, lên cây leo như hầu, cách trăm bộ bắn xuyên qua lá liễu, ngoài trăm tầm tiếng gọi thấu qua rừng. Từ ngày vào hầu nhà họ Đặng, một mực chuyên cần kính-cẩn, thực-thà có một, đơn-sai chẳng hề. Khi mới đến ở, bà Chiêu cùng lão già Đồ-Nam vẫn có ý nghi-kỵ, thường nói với Đặng tri-phủ rằng:
— Thằng Kiêu-cảnh xem tướng mặt chuột kẹp, môi thâm da thiết-bì, dáng đi như con cáo, mắt liếc như mắt lang. Chắc không phải đứa tử-tế. Nuôi ong tay áo, sau có việc nào, hối sao cho kịp. Vả chăng nhà nó với nhà ta kể ra cũng có chút thù, nó xem ra Ià đứa tiểu nhân, chúng con lấy làm ngại. Phương ngôn có câu rằng : ‘‘Mở mương Mường chạy lên rừng, ta biết Mường chạy ta đừng mở mương.’’
Đặng tri-phủ nói:
— Ta xem ý nó rất trung-hậu, chẳng việc gì mà ngại. Chúng con chỉ tỳ vào cái mặt xấu của nó mà đoán già đoán non thế, chứ người xấu nhiều khi lại là người có bụng tốt, mà những kẻ mặt sáng như gương, đẹp như ngọc, nhiều khi lại xấu- xa lạ thường. Cái đẹp ngoài nhiều khi lừa-dối mà cái tốt trong lại phải cái xấu ngoài che mất. Trời hoặc có ý ‘‘đố toàn’’ (ghen cái trọn vẹn), hoặc có ý bày ra trong ngoài trái nhau để luyện cái trí suy-xét của người ta chăng? Cho hẳn nó là bụng xấu đi nữa, ta có thể lấy độ lượng ta, ta dồi tâm tính cho nó. Vả lại ‘‘Tướng mạo bất như tướng tâm, hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt’‘. Nghĩa là: xem tướng ngoài mặt chẳng bằng xem tướng trong lòng, có lòng mà không có tướng thì tướng theo lòng mà sinh, có tướng mà không có lòng, thì tướng cũng theo lòng mà mất.
‘‘Chúng con ngẫm mà xem, cứ để tâm xét mà xem cái thằng này rồi khá.’’
Hai tháng trước đây, biết đích là cháu gái phải lên ở Sơn-lăng, Đặng tri-phủ cho già Thông cùng con Thúy-Hồng vào Thanh thuê nhà trước để cho nhà Chiêu cùng người nhà vào tiện việc đi lại thăm hỏi trông nom Ấu-Mai.
 
Thời giờ thấm thoát đã gần đến tết. Năm Tân-Hợi sắp qua, năm Nhâm-Tuất sắp tới. Những năm trước kia, nhà còn thịnh thì tết này bà Chiêu phải duc-dịch sắm sửa từ đầu tháng chạp, Thúy- Hồng thấy năm nay đã hai mươi nhăm tết rồi mà chủ nhà chưa đá động gì đến cả, liền hỏi:
— Bẩm mợ hôm nay đã hai mươi nhăm tết rồi, mợ chưa mua bán gì ư? Từ nay đến tết, chợ còn có hai phiên hai mươi sáu và ba mươi, mai mợ cho chúng con đi mua bán.
Bà Chiêu thở dài:
— Thôi! Tết với nhất gì, vui gì mà tết. Mợ từ ngày góa bụa, em nó lại vất vả những buồn bực mà quên cả ngày tháng, còn lòng nào mà nghĩ đến ngày tư ngày tết nữa. Thôi!
— Bẩm mợ, dù tết nhất chẳng ăn uống vui vẻ gì, nhưng cũng phải làm mâm cơm cùng cậu con và trữ đồ ăn ba ngày tết.
— Ừ thì mai đem năm quan quí đi, liệu mà mua bán rồi liệu mà làm.
Ra ngoài tết. Hôm tết Nguyên-tiêu, Đồ-Nam ở Bắc vào, cả nhà mừng rỡ, bà Chiêu vội vã hỏi:
— Đã được phép tòa Ngự chưa? Đã được phép phủ Tông chưa? Già vào từ hôm nào?
— Phép xin được rồi, nhưng đàn - ông chỉ được hai người vào thôi.
— Được, mai tôi vào trình giấy tòa Thừa- chinh rồi đến hai mươi này tôi cùng cậu nó, vú Mai và con Thúy Hồng vào thăm em.
Thúy Hồng nói:
— Tất cả quần áo chăn màn cùng các đồ lặt vặt khác con tưởng phải một hòm chân lớn.
*
Ở xóm cửa Đông-thành Thanh Hóa cũng mới có một người ở Bắc vào ở. Người ấy có một thầy một tớ. Cả ngày chỉ đọc sách ngâm thơ tuyệt nhiên không đi đến đâu cả. Một hôm người ấy đương đứng tựa cửa trông trời thì một đứa trẻ con đến hỏi:
— Cháu có quen ai là Thúy Hồng không?
— Có, em hỏi gì?
— Có người đi qua phố này mượn tôi đưa thư này cho Chầu. Đứa bẻ thò tay vào túi áo lấy ra bức thư. Người kia vội vàng cầm lấy. Tay bóc thư, miệng gọi người nhà cầm tiền cho đứa trẻ, rồi thủng-thỉnh vào trong nhà. Đứa trẻ được tiền chạy ra phố anh em ngoài phố:
— Có cô con gái mượn tớ đưa thư cho ông gì mới đến, ông ta cho tớ mười trinh Hồng Đức.Chắc ông ta là con vua cháu chúa gì nên mới rộng rãi thế.
Vào trong nhà mở thư ra, mặt người ấy tươi như trời mờ ám vừa được trận gió quét mây. Thư rằng:
‘‘ Vũ Lăng-Hầu văn kỷ tiền nhã giảm:
‘‘ Sớm tối ngày hai mươi thế nào Chầu cũng phải ở Quả-Duệ hôm ấy chúng tôi theo hầu mợ tôi vào thăm chị Ấu Mai. Chừng cuối giờ Thìn chúng tôi sẽ tới. Chầu chợ sẵn ở đường vào Quả-Thịnh lăng, chúng tôi có cách cho Chầu được vào thiên thai, gặp người xưa, hẹn ước cũ’’.
THÚY-HỒNG đốn thư.
Hôm mười chín, ở nhà bà Chiêu, lũ đầy  tớ cũng bận rộn về sắp sửa quần áo để đưa vào cho Ấu Mai, trong hòm dưới xếp những đồ nặng như nồi, sanh, bát đũa, lọ cắm hoa, nghiên mực, chấn chỉ, trên mới xếp chăn màn gối áo bút giấy, tất cả, chật một chiếc, hòm chân. Xếp xong, bõ Mai và già Thông thử chăng dây luồn đòn ống khiên thấy nặng nói:
— Từ đây vào Quả-Thịnh lăng đường đi ba thôi dài, hai ta khiêng hòm này thì khướt,
Thúy-Hồng nói:
— Đã có bác Kiêu-Cảnh, nếu nặng quá thì bác ấy đỡ một tay. Còn được nặng nữa kia...
Mọi người đưa mắt nhìn nhau cười, già Thông mở nắp hòm, hỏi:
— Đầy nghìn-nghịt thế này có họa muỗi.
Thúy-Hồng lại cười. Vú Mai gắt:
— Chị Thúy-Hồng chỉ cười tràn thôi. Chị tính làm sao ? Đầy thế này, thì... trời thu xếp được.
— Thu xếp cái gì?
— Thu xếp cái đầu lâu chị, cười ti-toét mãi.
— Đến tối mợ đi ngủ tôi sẽ nói.
Một tiếng ở ngoài cửa hỏi vào.
— Các người bàn tán gì đấy.
Chúng quay lại nhìn thi là bà Chiêu. Con Thúy- Hồng vội nói:
— Dạ bẩm không...
— Bẩm mợ còn thức ? Xin mợ đi nghĩ dưỡng sức, mai vào Sơn-lăng.
Nghe hai tiếng ‘‘ bẩm không’’ gọn-ghẽ bà Chiêu cho là chúng nó chuyện nhảm riêng gì không quan hệ không hỏi lại nữa quay gót lên nhà trên.
Một lúc bọn người nhà lại nói chuyện, lần nầy tiếng nhỏ lời vắn tắt.
 Vú Mai.— Thế nào mợ nghỉ rối!
Thúy-Hồng.— Mở hòm ra lấy hết bát đĩa nồi nêu sanh chảo giấu vào trong buồng nhà ngang.
Già Thông.— Thể chị ấy lấy gì mà thổi nấu.
Thúy-Hồng,— Già nghĩ mẩn quá! Thế từ hôm Ninh lăng đến hôm nay thì dễ chị ấy ăn gạo sống cả đấy!
Già Thông.— Ai chẳng biết thế nhưng nếu đem được Vũ Lăng-Hầu vào thì có nồi niêu thổi cơm riêng có lẽ tiện hơn.
Thúy-Hồng.— Tôi ở lại Quã-Duệ ngày ngày thổi cơm đưa vào... Tôi nói nốt cái cơ mưu Gia- Cát cho mà nghe. Tôi bẩm mợ mua nồi sanh là có ý lắm, nếu đồ-đạc không nhiều mà mang hòm to người ta sinh nghi. Lại tệ nhất là phải giấu mợ nữa! Những chuyện ngoài luân-thường như thế là mợ ghét lắm. Mợ có hay đâu rằng: tình có luân- thường nào trói nổi. Tôi đã bão Vũ Lăng Hầu chờ sẵn ở con đường từ Quả-Duệ vào làng. Hòm còn thừa một chỗ vừa người nằm... Già hiểu chưa ? Vú hiểu chưa ?...
 
Nói câu ấy Thúy-Hồng đưa mắt nhìn hai người tủm-tỉm cười, hai người tỏ ý hiểu.
Thúy-Hồng.— Đánh thức bõ Mai dậy. Bõ ấy lắm cái ngờ nghệch lắm, phải dặn trước mới được.
Bõ Mai.— Đã ngủ đâu.
Thúy-Hồng.— Việc quan hệ đến tính mệnh người bõ dậy cho, đừng uể-oải thế.
Đõ Mai dậy.
Thúy-Hồng.— Mai Bõ cùng già Thông khiêng hòm phải có ý đấy, lúc nào cũng phải nhớ rằng hòm rất nặng đấy nhé! Đừng có thấy nhẹ mà nhấc bổng lên mà hỏng cả đấy. Thẳng cha Kiêu-Cảnh tôi không tin chút nào.
Già Thông.— Thế nào đâu?
Thúy-Hồng.— Tôi đã lừa nó phố ngủ tối nay rồi.
Vú-Mai.— Làm sao mà lừa được nó thế?
Thúy-Hồng.— Chuyện nhảm, hỏi làm gì? Lừa người đàn ông đương độ thì khó gì...
Hôm sau cơm nước xong, cả nhà đi vào Quả Duệ để một mình Kiêu-Cảnh ở lại giữ nhà. Thúy-Hồng đi trước nửa giờ để báo tin cho Ấu-Mai biết trước và nói sẵn với quan coi lăng. Vào tới Sơn-lăng, trình giấy phép tòa Ngự tòa Tông xong, bà Chiêu cả nhà được vào phòng riêng của Ấu-Mai. Mẹ con thầy trò mừng-rỡ mà rỏ lệ.
Ấu-Mai nói:
— Mẹ cầm như con chết sài, chết đẹn từ thuở nhỏ, còn trứng nước, mà đừng nghĩ gì đến con nữa. Từ rầy mẹ đừng vào thăm còn nữa! Cảnh nhà có vui thì sự hợp mặt mới là vui, cảnh nhà mà nghịch thì càng trông thấy mặt nhau càng sầu khổ, đã chẳng được đoàn viên vui vẻ thì chẳng thà mặt khuất còn hơn là lòng đau, giá năm lên bảy mà con cứ chết với thầy con lại hóa xong.
Than đỏ vùi tro, vẫn âm-ỷ cháy, bỗng chốc vô tình lại bới ra. Ngọn trào trong lòng bỗng chốc lại đầy vơi lên xuống, khiến cả nhà trông nhau như nghẹn lời. Nửc nở một hồi, bà Chiêu lau nước mắt:
— Con hãy gắng ở Sơn-lăng phụng sự Tiên đế, ba năm mẹ sẽ có cách xoay-xỏa cho con được về hầu ông với mẹ.
 
— Xoay-xỏa thế nào được. Phép nước như thế, làm sao vượt được.
— Ông nhà có quen ông Xuân Trường Bá ở Vân-Điềm, ông ta con nhà công thần được Chúa- Thượng trọng dụng, có thể giúp ta được. Hiện ông ta đang sung làm Thái phó trong phủ Liêu để dạy các vương - tử.
— Vâng, nếu lo được, thì không khác gì đem người ở dưới mả lên mà cải tử hoàn sinh.. Nhưng tiền đâu mà lễ người ta?
— Nếu ông ta giúp thì chắc được, chỉ sợ ông ta không chịu giúp thôi.
Nhà ấy làm quan rất thanh liêm, không ăn tiền đút của ai bao giờ, người ta mấy đời đỗ đại-khoa, phong tước Quận-công, có thái-ấp để nuôi quân, mà vẫn thanh bạch thì còn thiết gì tiền nữa.
— Vâng! Thử cố lo chạy xem sao... Nếu hết ba năm mà con không được ra thì con chẳng sống làm gì nữa.
Chuyện vãn lan-man, từ trưa cho đến quá giờ. Thấy bóng nắng đã xế, quan coi lăng vào giục:
— Trời mùa đông chóng tối, các người về kẻo không kịp. Mà Đặng cung-nhân thì liệu sắm sửa để làm lễ buỗi chiều đó.
 
Bất đắc dĩ bà Chiêu cùng cả nhà đều đứng dậy ra về, cả Ấu Mai đi tiễn. Ra đến gần cửa, Thúy-Hồng lùi lại, nói:
— Xin mợ cùng cả nhà ra trước, con ở lại một lát, chị con dặn một vài điều.
Tựa vào gốc cây Thủy-tùng, Ấu-Mai hỏi:
— Việc ấy thế nào em?
— Xong xuôi cả, hiện ở trong ấy.
Ghé tai vào Ấu-Mai, nói nhỏ:
‘‘Liệu chẳng chết ngạt đó !’’
Ấu-Mai cười. Thúy-Hồng cũng cười hỏi:
— Chị ở trong này có được kín đáo không?
— Trong này trước kia còn phải ở trong trai-cung thì hai người chung nhau một phòng. Nhưng mấy hôm nay vừa làm xong mấy dãy nhà thì cứ hai người ở một khu riêng. Em đã trông thấy đấy: mỗi khu rộng độ nửa sào, một cái nhà ba gian hai buồng; một cái nhà một gian hai chái làm bếp nước, chị ở chung với một người cung-nhân, người Cao-Bằng tên là Hoàng Tố-Hà.
— Thế chị có thể thu-xếp với người ta cho ổn chuyện ấy được không ?
— Được... thôi em về !
— Chị ở lại, em về. Em ở luôn trong này để ngày vào thăm chị nhé, còn cơm nước thì sao?
— Cơm nước thổi riêng cũng được. Chị vẫn ăn riêng, thổi riêng với chị Tố-Hà.
— Nồi niêu đâu, mượn của chị ta à?
— Mượn của bà Tiệp-Dư, bà ấy đã ngoại năm mươi, được phép ra phố.
— Mợ cũng sắm sữa đủ cho chị xong vì có ‘‘Đức ông’’ nên em phải để lại. Để em mang vào sau cho. Thôi chị ở lại.
*
Về tới nhà riêng, Tố-Hà đã sắm-sữa quần áo xong, đương đứng ở hiên đợi.
— Chị mặc áo nhanh lên, quan Lăng-Giám đến giục hai lần rồi.
Khoác vội chiếc áo trắng, Ấu-Mai cùng Tố-Hà lên điện Kiền-Long dâng lễ buổi chiều. Khi về, Ấu-Mai bảo Tố-Hà:
— Em có một điều cần phải nói với chị và nhờ chị giúp cho.
— Điều gì thế?
— Nói ra cũng khó... Chị có thể thề với em rằng dù đến chết chị không sai lời hứa thì em mới dám nói.
— Thì hửa gì mửi được chử ?
— Chị hứa rằng, không khi nào chị tiết- lộ những lời em sắp nói với chị.
— Ừ thì tôi hứa với chị.
—…..
— Thế nào nói đi, tôi với chị, chị còn ngại gì, hay chị còn nghi tôi. Nếu thế thì thôi vậy, tôi cũng không muốn giữ những điều bí-hiểm của ai trong lòng làm gì.
— Không ! em phải nói với chị.
— Thế thì nói đi.
Ấu-Mai lại lặng-yên hồi nữa, mí mắt chớp nhanh trong mòng-mọng những giọt lệ muốn tuôn ra, mà nàng còn cố gượng hãm lại.
Tố-Hà nói:
— Có điều gì oan -ức quá thế mà cứ thỉnh thoảng lại giọt vắn giọt dài. Ở đây ai cũng một lứa đầu xanh, ngậm oan nuốt tủi cả. Quên đi mà thôi! can chi cứ thế ! Tôi đây dễ sướng hơn chị hay sao? Nếu tôi cũng như chị thì cả ngày chỉ ôm nhau khóc mà chết
—Không... không... em khóc, em lại có nỗi khổ tâm khác. Trừ chị ra, em không biết tỏ cùng ai.
— Thì nói đi chứ ?
Ấu-Mai lại ứa nước mắt ràn rụa, hai tay nàng cầm lấy vạt áo Tố-Hà. Tố-Hà nói:
— Chị làm trò gì thế, bảo sao cũng chẳng nghe, cả ngày những khóc cùng mếu,
— Chị thề cùng em đi !
— Việc gì mà to tát thế... Thì tôi xin thề. Tôi mà làm tiết lộ những lời chị nói cùng tôi, cùng việc kín của chị, nguyện chịu cực hình của Trời và người.
Ấu-Mai quì xuống đất, nói:
— Nếu thế thì chị có lòng thương em hết sức.
Tố-Hà đỡ Ấu-Mai lên:
— Chị làm gì mà quá thế. Cùng một cảnh ngộ thương nhau là thường. Thôi ta cũng về thôi, trời nhiều sương lắm rồi.
Hai người cùng dắt nhau về.
Chú thích :
[1] Chân nhân đúng như chữ chín chúa.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.04.2022 11:25:30 bởi Ct.Ly>
IV
 
Thề xưa Ước cũ
 
 
HÔm nọ đông cả các bạn đoạn trường, trong khi nói chuyện em còn bỏ sót một đoạn trong chuyện em. Đoạn ấy là gốc nỗi đau lòng ngày nay. Trong ba mươi sáu người con gái lựa vào cung để tập lục-dật múa mừng Chúa Thượng hôm nọ em nói là ba mươi nhăm người được thải về, mình em phải ở lại trong cung hầu đức Thái-hậu.
— Chị nói dối chỗ ấy chăng? Chị cũng được thải hẳn.
— Không, em không nói dối. Em không được thải về, phải ở lại trong cung thật. Nếu được thải về, thì sao nay lại phải ở đây cùng chị, chị cứ để em nói nốt! Tuy có phải ở lại, nhưng mỗi tháng hai lần được về nhà, mỗi lần hai ngày. Một hôm em được phép về nhà khi muộn, ra vừa khỏi cửa thành thì trời nhá nhem tối. Đi đến chỗ cửa Giám thì gặp hai đứa côn đồ đe dọa. Em chắp tay lạy chúng nó xin chúng nó tha cho.
‘‘ —Lạy các ông, tôi không có tiền bạc gì trong mình cả, xin các ông tha cho.
‘‘ Lòng chúng nó thật như đá, kêu van thế nào nó cũng không tha, cứ một niềm hùng hổ !
‘‘ — Chúng mày ở cung điện mặc tơ lụa mà lại không có tiền à? Thế dễ những đứa ngủ xó chợ ăn đầu ghế như chúng tao có tiền chắc. Liệu đấy: tiếc tiền thì chúng ông cho xuống suối vàng mà tiêu tiền cho chán. Xuống đấy Diêm-Vương lại xây cung điện cho mà ở. Chúng mày tài đức gì mà hưởng thụ nhiều thế. Ăn nhiều chưa biết nghẹn à, mà còn tiếc?
‘‘ — Lạy các ông, tôi thật không có vàng ngọc tiền nong gì trong người cả. Nếu có xin biếu các ông ngay.
‘‘ — À ! con này gớm thật, mày không muốn đưa để chúng tao lấy.
‘‘ Nói đoạn, chúng nó sấn đến một đứa ôm chặt lấy em, một đứa lần từ đầu đến gót chân. Lần một lúc chúng nó không thấy gì càu nhàu nói với nhau:
‘‘ — Mình phải hôm đen, nó chẳng có gì cả.
 Một thẳng nói:
‘‘ — Lột lấy bộ cánh nó cho nó bõ công. Lột hết, lột trần truồng nó ra cho nó hết cái mẽ cao quí. Ái-chà! bà là thân ngọc ngà, thì cứ phô thân ngọc ngà ra cũng đủ quí, can chi phải thắng bộ tịch lắm... Bà chửi chúng tôi là đạo tặc, là quân bất nhân phi nghĩa, bà muốn chửi thế nào mặc bà, nhưng bây giờ bà ở trong tay chúng tôi.
‘‘ —Nghe giọng chúng nó nói quả quyết, em sợ quá ù té chạy. Chửa được hai bước, thì một bàn tay sắt nắm vào tay em co lại, tưởng như rập hết mất xương. Rồi chúng nó bắt đầu lột áo. Em hết sức chống cự, áo rách cả. Chúng nó gắt:
‘‘ — À, bà lại làm rách chiếc áo của chúng tôi rồi. Được rồi bà xem.
‘‘ Chúng nó đương vừa văng tục vừa hành hạ em thì bỗng thấy một tiếng quát to làm cho chúng bỏ em ra:
‘‘ — Hai thằng kia định bốc lột người đấy à?
‘‘ Em trông ra thì đằng đầu đường, thấy bóng một người chạy lại. Em vội lấy chiếc áo rách phủ lên vai.
Một thằng bảo người kia:
‘‘ — Thôi đi anh, mỗi người một nghề, không việc gì đến anh, anh mặc xác chúng tôi.
‘‘ — Tôi không mặc anh thì sao?
‘‘ — Anh không mặc thì thiệt đời anh, chứ anh dọa gì chúng tớ.
 Nói đoạn, hai thằng xông đến đánh người kia, chúng vừa xông tới thì em nghe bịch ! bịch ! hai tiếng đứa nào đứa ấy ngã xiêu ngã vẹo. Một lúc chúng nó hoàn hồn đứng dậy ôm đầu chạy thẳng. Người kia quay lại hỏi em:
‘‘ — Cô đi đâu mà gần đến tối lại qua lối này?
‘‘ — Đa-tạ ông có lòng nghĩa hiệp, cứu tôi khỏi bị nhục ở trong tay quần đạo tặc. Tôi là cung-nhân trong Nội, hầu đức Thái-Hậu, được phép về thăm nhà.
‘‘ — Nhà cô ở đâu, mà gần tối còn dám đi về?
‘‘ — Nhà tôi ở phường Bích-Câu gần đây.
‘‘ — Tôi xin đưa cô về tận nhà.
‘‘ Em nửa muốn ông ta đưa về, phòng sự bất trắc xảy ra giữa đường, nửa e trai, gái gần tối đi với nhau thiên hạ bàn tán, chưa biết nên nhận lời hay không thì ông ta lại nói:
‘‘   Nam nữ thụ thụ bất thân,[1] cô ngập ngừng là phải. Nhưng lễ phép ấy, cũng có khi phải tòng quyền. Nhân mệnh, trí trọng, tôi chẳng giữ được lễ nữa thì hà tất cô phải quá cầu chấp.
‘‘ — Vâng ! Ông đi trước tôi xin theo sau.
‘‘ Đi đường, ông ấy mới nói ông ấy là ông Hoàng-tử bị thất-thế. Vua Thần-Tông khi truyền ngôi cho vua Chân-Tông tiến lên làm Thượng-Hoàng được một người con trai đặt tên là Duy-Lễ, khi Thần-Tông lại về làm vua, ngài đã toan lấy ông Hoàng Duy-Lễ lên làm Thái-tử. Nhưng vì bà Thái-hậu họ Trịnh nhất định không nghe, khi ấy vua Huyền-Tông cùng các Hoàng-tử chưa có cả, mà vua Thần- Tông lại hiếm, dựng Hoàng-tử cũng là phải, thế mà Thần-Tông Thái-hậu nhất định không nghe. Thái-hậu lại là con cháu Văn-tổ Nghị-Vương, nên vua không dám trái ý. Mãi đến năm Đức Huyền-Tông sinh, Thái-hậu mới cho Thần -Tông nhận Hoàng-tử Duy-Lễ làm con.
‘‘ Em cũng kể gia đình cùng thân thế em cho ông ấy nghe thì ông ấy chép miệng nói rằng:
‘‘ Con mẹ Trịnh Thị-Hành (tên Thái-hậu) nó ác-nghiệt quá, Hoàng-Khảo [2] tôi không biết quí gì mà lấy nó. Trước nó lấy Cương Quận-công Lê-Trụ, đã được bốn con. Sau Trụ mưu trừ họ Trịnh, bổ nó là thằng Trịnh-Tráng mới lôi nó về đem vào cung tiến Hoàng-Khảo tôi. Giá không có nó thi tôi lên ngôi quí chứ còn gì đến thằng ranh Duy-Vũ (tên vua Huyền-Tông), mà không có nó thì cô đâu phải uổng hoài xuân xanh trong cung-cấm mãi thế. Tôi với cô kể ra thế là bị một đứa cùng làm hại. Hôm nay trời xui gặp nhau, hoặc là ông tơ có ý gì chăng?
‘‘ — Đức ông dạy quá lời, tôi thân phận bọt bèo, dám đâu đương lời yêu quá đáng.
‘‘— Cô đừng gọi tôi như thế, cô cứ gọi tôi là Tô-Xuyên cư-sĩ có lẽ tôi thích và có ý thân hơn. Hay là Trời không cho tôi làm Thiên-tử để gặp cô chăng? Nhan sắc cô thế thì Vạn-Thăng [3] đem đổi cũng vừa.
‘‘ Đến cửa, em đã cáo-từ xin về và mời ông ta trở lại, nhưng ông ta nói:
‘‘ — Áo cô rách cả thế kia, nếu cô về một mình, tất người nhà nghi là cô đã ra ngoài lễ phép. Tôi xin vào hầu chuyện thì ai ai cũng rõ cho.
Em cúi đầu không nói gì rồi gọi cửa. Cửa mở hai người cùng vào trong nhà, người lão bộc cùng lũ đầy tớ nhà em thấy em áo rách, theo sau một người đàn ông không hiểu ra sao cả, con Thúy-Hồng nó mủm mỉm cười mà trông. Tới chỗ ông em ngồi, ông Hoàng Duy-Lễ kể hết tình đầu. Khi kể chuyện, ông em thấy trai gái liền bước cùng vào, không buồn mời ngồi nữa. Kể hết chuyện, ông em vội tay vớ chiếc khăn quấn lên đầu, chân đứng dậy mời ngồi.
‘‘Đa tạ thầy có lòng nghĩa hiệp, không gặp thầy, cháu tôi bị ô nhục rồi. Mời thầy ngồi chơi.
‘‘Ông Hoàng ghé ngồi ngay cùng sập với ông em, cụ chừng tỏ ý như bất mãn mà hỏi rằng:
‘‘ — Thầy là ai?
‘‘ — Tôi là Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ.
‘‘ Nghe biết năm chữ tước và tên, cụ mới dịu nét mặt xuống mà cười. Cái dịu mặt ấy có ý rằng: Ừ có thế chứ, ta là đại-khoa xuất thân khi nào đối tọa với thằng tầm bậy.
‘‘ — Chết nỗi! Chầu là trong câm-chi, Ngọc-diệp [4], Chầu thuộc kệ nào?
     Vũ Lăng-Hầu cười:
‘‘ — Kể ra tôi còn hơn tuổi Hoàng -Thượng bây giờ.
‘‘ — Tôi hiểu rồi. Chầu là... Chầu là ngoại quán ở Thượng-Phúc?
‘‘ — Vâng! huyện Thượng-Phúc, làng Vũ-Lăng. Hoàng-thượng bây giờ chẳng nỡ giết nên tôi được phong Vũ-Lăng-Hầu.
Ngồi đàm đạo về văn thơ chữ nghĩa một lúc, hai người rất là tương đắc. Em còn nhớ trong buổi chuyện thơ văn ấy Vũ Lăng- Hầu có đọc một bài thơ hay của ông:
 ‘‘Đạo khuất cam bần tiện
‘‘Thì gian niệm đệ huynh
‘‘ Giang thôn xưởng lô quán
‘‘ Phong Nguyệt tự cao thanh.
‘‘ Bài thơ ấy, ông đem bắt Vũ Lăng-Hầu đọc đi đọc lại đến năm sáu lần, rồi ông em cũng đọc đi đọc lại. Đọc được mỗi câu, cụ lại rung đùi đắc chí, khen ngợi vô cùng. Vì bài thơ mà câu chuyện đang ở chỗ chữ nghĩa văn thơ, lần lần điểm việc đời, việc nước, việc thời thế, cùng thân-thế hai người. Em thì mải nghe chuyện cũng quên cả vào thay áo. Thấy thế ông em bảo:
‘‘ — Ấu-Mai cháu vào nhà trong chứ!
‘‘ Vũ Lăng-Hầu được dịp nói theo:
‘‘ — Lệnh-nữ-tôn cũng là người có văn cốt lắm thì phải, nghe thơ nhảm của tiểu-sinh mà cũng có ý thích.
‘‘ Ông em nói đỡ:
‘‘ — Phải! cháu nó cũng võ-vẽ ít nhiều.
Em vội vàng vào trong buồng. Thay áo xong, em ra đứng tựa cửa buồng nghe nói chuyện, vì không hiểu tại sao em sinh mến Vũ Lăng-Hầu ngay từ hôm ấy. Câu chuyện ông em với ông ta đến độ quay hẳn sang mặt thời thế.
‘‘ — Chầu kể cũng là người thanh-cao, và có hiếu mục lắm, chứ không thì cái việc Hôn Đức-Hầu Nghi Dân có thể xảy ra được chứ... [5]
‘‘ —Tiểu-sinh không thiết phú quí gì cả. Tiểu-sinh chỉ mong sao lúc nào trong tâm tư cũng thảnh thơi rồi nay đây mai đó, bạn cùng non thanh nước đẹp, gửi mình vào cõi mộng hồn thơ, thế là hơn. Nghĩ được một câu đắc-ý, như cởi ruột nở gan, ngắm được một cảnh đẹp mắt, như tắm thần gội trí. Cái thú lương-thần mỹ-cảnh, bầu rượu túi thơ nó nhẹ nhàng thú vị lắm. Làm vua thì thế này còn có thú vị gì? Nhưng sao đại nhân lại ví tôi với Hôn Đức-Hầu?
‘‘ — Ví với Hôn Đức-Hầu thì sao, Chầu? Hôn Đức-Hầu cũng như đức Lê Thánh-Tông thôi. May ai, người ấy được, được thì chết được thờ ở Thái Miếu, có miếu-hiệu, được đời sau gọi là ‘‘liệt thánh’‘ mà thua thì nào đại nghịch bất đạo, nào tiếm-thiết, trăm thức kể xấu. Tôi ví Chầu với Hôn Đức-Hầu phỏng có là sao hở công tử... Ấy chết ! Tôi nhỗ-nhã quá, Chầu thứ cho.
‘‘ — Được đại nhân cứ gọi tôi là công tử, tôi thích hơn. Tôi cũng không ưa cái tiếng bệ vệ quá.
‘‘ — Kể ra... Kim-Thượng cũng là người nhân từ hiếu-hữu lắm chứ địa vị như công-tử mà được toàn đến giờ, lại được ở trong hoàng thành cái đó cũng lạ.
‘‘ — Lạ gì ! Kim-Thượng bây giờ kể danh nghĩa thì là Thiên-tử, nhưng sự thực chủ nước là Đại nguyên-súy (trỏ chúa Trịnh). Phú-hữu tứ - hải [6] thì mới lo sợ chứ có nghìn xã lộc thương-tiến thì ai thèm tranh mà gay gắt lắm. Nhưng nói tiêu tội Hoàng-huynh tôi cũng là người biết thương người, biết yêu anh em.
 Ông em nhìn vào cửa buồng thấy em vẫn đứng đó ông em bảo:
‘‘ — Cháu muốn nghe chuyện thì cho ra ngoài này ngồi hẳn hoi mà nghe. Công-tử đây là ân-nhân của cháu, cháu nên coi như bậc phụ-chấp. Ra ngồi mà hầu chuyện hẳn -hoi, đứng nghe lỏm như thế là vô-lễ.
 Vâng lời, em ra ngồi ở chiếc đôn sứ bên cạnh sập.
Vũ Lăng-Hầu đứng dậy, nói:
‘‘ — Xin phép đại-nhân cho tiểu-sinh về.
‘‘— Về thế nào được. Bây giờ đến giữa giờ Dậu rồi, còn gì nữa mà về. Tôi đã bảo người nhà làm rượu đánh chén trông giăng đêm nay ở chiếc nhà thủy-tọa trên hồ...
‘‘ Chẳng mấy khi được gặp, xin công-tử ở chơi với tôi đêm nay.
‘‘ Nhìn em, ông em nói tiếp:
‘‘ —Xin công-tử tha lỗi cho và đừng cười nhé. Tôi vốn yêu con cháu lắm, tôi ngồi đâu vẫn cho cháu ngồi hầu. Vì cháu phải ở trong cung nên mỗi lần được về nhà, không cho nó dời được mấy lúc. Cho nó ngồi hầu công-tử, điều đó đối với lễ-nghi khi phạm, nhưng công-tử có cái ân cứu cháu thì tôi cũng coi như ruột thịt vậy... Công-tử tha cho và đừng cười lão-phu nhé!
‘‘ — Không dám, tiểu-sinh hầu chuyện đại -nhân lạm cho nối chuyện văn-thơ lại được lệnh-nữ-tôn đây là bậc nữ-trang Tô-Bạch ngồi nghe còn thú gì hơn nữa.
‘‘ Đến đó, tên người nhà bẩm rằng, rượu sắp xong, ông em nói:
‘‘ — Nào mời công-tử đi xơi rượu... Cả con cháu ta cũng cho phép ra đó ngồi hầu.
‘‘ Em theo chân ra nhà thủy-tạ.
‘‘ Trước mặt sen hồ đưa hương lại, trên đầu ánh trăng lọt qua cành liễu chiếu vào, trong nhà thủy-tạ ông em và Vũ Lăng-Hầu hơi men đưa giọng, chuyện nở như pháo ran.
‘‘ Tiếng cười như ngạo-nghễ cùng đời bỉ-tục.
‘‘ — Thấy em cứ chắp tay nghiêng mình ngồi yên, Vũ Lăng-Hầu khi đó chén quá hơi say bèn hỏi đùa rằng:
‘‘ — Tiên-nga ngồi lỳ ra không nói gì, hay là có ý khinh tôi là tục-tử. Dẫu sao, người cũng nên điểm một nụ cười cho cái cảnh giăng trong gió mát.
‘‘ Rồi quay lại nói với ông em:
‘‘ — Đại-nhân ạ: Thử dạ duy khả đàm phong nguyệt, minh thi mạc cảm ngọa sơn-hà [7] phải chăng đại-nhân? Lệnh-nữ-tôn có ý cười tôi là người phóng-phiếm đó, nên riêng mình ngẫm-nghĩ, mặc người cười nói, mà lặng ngắt không thèm nói một câu!
 Em vội thưa:
‘‘ — Thưa ông, tôi được ngồi hầu bực trên đâu dám nói leo vô-lễ... Vả tôi cũng không có chuyện gì.
‘‘ — Người đàn-bà con gái thường thì mới phải giữ lối e-dè thế, chứ đã là thi - nhận thì phải khoáng đạt một chút.
‘‘ Ông em bấy giờ xem ra say quá rồi, chỉ ngồi ậm ừ thôi.
‘‘ Em nghĩ thầm rằng : ‘‘ Ta im mãi cũng không tiện mà nói thì dây cà rà dây muống, kéo dây đến bao giờ, chi bằng lúc này ta tỏ tài cho họ biết, liền đáp rằng:
‘‘— Tôi đương nghĩ diễn nôm bài thơ của công- tử, vì chưa xong nên chưa muốn nói.
‘‘ — Thế bây giờ xong chưa?
‘‘ — Xong rồi!
‘‘ — Đọc đi.
‘‘ — Ô hay công-tử làm gì mà như người thúc quân thế!
‘‘ — Thấy ông ta say rượu, ăn nói quên cả lễ-phép em phải kiếm cớ để lui:
‘‘ — Tôi đọc xong thì công-tử phải im.
‘‘ — Vâng! Vâng ! Vâng! Thần phụng mệnh...
‘‘ Tôi dịch bài ‘‘ Đạo khuất cam bần-tiện’’:
‘‘ Đạo đã bị khuất, chừ, giầu sang chẳng thèm.
 Thì đã hiểm-nghèo, chừ, còn có anh em, Nhà kết cỏ gianh, chừ, chen cùng lau sậy.
Trăng trong gió mát, chừ, ta thanh-cao thêm.
‘‘ — Hay đó, nhưng sao tôi làm thơ ngũ- ngôn, cô lại diễn ra điệu sở-từ.
‘‘ — Tại ngồi trên mặt hồ, tình-tứ man-mác thì câu nói dài, nên tôi dịch lướt-thướt điệu sở- từ.
 Vũ Lăng-Hầu đăm đăm nhìn em mà không nói, cái sức ngăn được lời nói của người say rượu; nó là cái sức chẳng vừa. Nói thật-thà cùng chị thì Vũ Lăng-Hầu mê em từ hôm ấy mà em cũng...’’
Tố-Hà nói:
— Cũng mê Vũ Lăng-Hầu từ hôm ấy chứ gì?... Việc quái gì mà chị thẹn, việc ấy cũng là việc thường mà thôi, giai-nhân tài-tử chừng ấy mà chẳng mến nhau, thì cũng uổng công Tạo-hóa đã thêu dệt ra mình, ô kìa, nước mắt chị ráo rồi kia. Cho hay là cái gió-tình, vuốt sầu nén thảm mặt mình như chơi!
— Để em nói nốt, làm gì mà chị cợt-nhả thế?
‘‘ Thế rồi từ đó mỗi tháng đôi lần, Vũ Lăng- Hầu đến chơi, đôi bên trông thấy nhau mừng như hai người cách nhau hàng năm trời. Trên hồ Tĩnh-Tâm nhiều phen ân trao, ái đổi ; dưới góc Thủy-tùng đòi đoạn non chỉ bể thề.
‘‘ Em ân-ái như thế, đời cho là có tội lắm đó. Nào những chưa thông mối lái, trước đã riêng thề, nào những phụ đấng Quân- vương dám yêu thầm dấu trộm, nào những con nhà gia-thế, dám bỏ liều thi-lễ khuôn xưa. Nhưng riêng em, em không cần gì những điều nói đó cả.
‘‘ Em là người trời sinh ra có tình, em phải có tình, cái đó không có tội gì cả.Em cũng là người đủ yêu ghét mừng giận như ai, cũng đủ tâm-can tỳ-phế như ai, không lẽ trời đã sinh ra mà trời lại nở bắt em phải nén những yêu ghét mà ép mình làm đống thịt chạy thây đi. Thượng-Đế chí nhân, em chắc không khi nào ý ngài lại thế. Bắt em như thế chỉ là cái đời thô-tục khả bỉ này mà thôi. Cổ nhân nói rằng : ‘‘ Bực thật cao quên tình, bực hạ ngu không biết tình là gì, tình chính là ở bọn chúng ta’’.
‘‘ Thiên-hạ họ cho tình là tội ác, hoặc họ ngu xuẩn quá ngoài hai cái ‘‘ Thực’’, ‘‘Sắc’’, họ chẳng biết gì cả, tức là bọn ‘‘bất cập tình’‘ hoặc họ cũng có tình đó, nhưng lại muốn ăn ở theo cái khuôn sáo vô-lý, cho tình là môn tà-dâm. Em đa-tình chị có cho là phải không. Em cứ theo cái tình trời phú cho, đem chữ ái làm bông hoa cho cuộc đời. Chị có cho làm phải không?’’
— Phải lắm! người tài hoa như chị, khác nào như cây đàn, cần phải rung-động. Nếu bỏ không thì vô-ích cho cây đàn, vô-ích cho đời hơn khúc gỗ, khúc gỗ còn đem đóng bàn ghế đồ-đạc, chứ cây đàn bỏ không là một vật chuế.
— Ông em biết ngay em từ thuở còn thơ-ấu, biết chắc sau này em chắc khác gái thường. Ngay từ lúc mới lên sáu, em đã có thi-tứ ngay, chưa học hành gì cả mà những bài Đường-thi ông em dạy
học thuộc lòng, em đã muốn tìm ra nghĩa. Em còn nhớ một hôm em đi ngoài hiên đọc lẩm-bẩm một mình câu thơ:
‘‘ Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa,
‘‘ Dạ bạc Tần-hoài cận tửu gia.
‘‘ Thương nữ bất tri vong quốc hận,
‘‘ Cách giang do xướng hậu đình-hoa.
 Ông em gọi hỏi rằng:
‘‘— Mày thử đoán xem bài thơ ấy nghĩa là gì?
‘‘ Cả bài thơ chỉ hiểu được nghĩa hơn mười chữ dễ, đã đọc qua như: Hàn, thủy, nguyệt, dạ, cận, tửu, gia, nữ, bất tri, hậu, đình, hoa. Thế mà em cũng cố hiểu bài thơ ấy ra một nghĩa của em.
Nghĩa ấy, hồi ấy em cho là đúng, là phải là chắc-chắn lắm. Em cắt nghĩa cho ông em nghe rằng:
‘‘ Hơi trời lạnh như nước, giăng tỏ như gương.
‘‘ Nhà có bữa tiệc, đông người uống rượu đêm giăng.
‘‘ Ta là con gái chẳng biết uống rượu,
‘‘Ta chạy ra sau nhà ta hái bóng-hoa.
 ''Bài thơ kia có vần, cháu biết không? sa, gia, hoa là vần đấy. Bài thơ nghĩa như cháu nói đó, nhưng cháu nói không có vần ; giá có vần thì cũng là thơ.
‘‘ — Ông để cháu nghĩ.
‘‘ Đi vòng một lượt vườn em lại vào bẩm ông em.
‘‘ — Ông, cháu đặt đã có vần rồi!
‘‘ — Đọc ông nghe.
‘‘Em đọc :
‘‘ Hơi trời lạnh lẽo bóng trăng soi,
‘‘Uống rượu đông người ai cũng cười.
‘‘ Gái bé rượu cay không uống được,
‘‘ Sau nhà ra hái cánh hoa chơi.’’
Tố-Hà nói:
— Hiểu trẹo nghĩa đi như chị, nghe lại có thi vị hơn. Tôi tiếc cho chị sinh vào đời loạn, làm đàn-bà một nước nhỏ, giá sinh sang bên Tàu, thì chẳng làm gì Thái Văn-Cơ. Nhưng câu chuyện tình của chị còn thế nào nữa, chị nói nốt đi, chứ cứ thơ- thẩn mãi thì đến sáng mai cũng chưa hết chuyện.
— Vâng ! dần-dà rồi em cũng nói hết. Em hãy nói hết đoạn trước đã. Ông em vẫn nói rằng:
‘‘ — Ông con cái không có ai cả, chỉ có cháu là di-tích chút máu-mủ lại về sau. Sau này cháu nên người, ông cũng có chút khuây-khỏa. Ý ông em cũng định kén cho em một người chồng xứng đáng, rồi thì cháu rễ cũng như cháu trai. Nào ngờ đâu, năm em mới mười một tuổi bị tiến cung làm đứa múa bài bông đem tấm thân cửa các phòng khuê ra múa may hát xướng để mua cười cho lũ tượng gỗ trong hoàng thành cùng lũ khỉ leo dây bên phủ Súy [8] . Năm vua Huyền-Tông lên ngôi xong, ông em vẫn định vận động để em được về nhà, nhưng vì ông em là người cương-trực, chỗ quyền thế không quen, bạn đồng liêu cũng hờ hững thành ra chưa biết lo chạy vào đâu. Chị còn lạ gì nữa, người con gái đã bị tiến vào cung mà không được vua ra ân thải-hồi thì chung -thân là một vật trong cung, như cái chậu sứ, như cái lọ độc- bình vậy.’’
Tố-Hà hỏi :
— Năm vua Huyền-Tông lên ngôi chị bao nhiêu tuổi?
— Mười bảy.
— Mười bảy, hoa đương phong nhị, giăng đương độ rằm mà lại đem vùi vào xó tối, hoặc bị mây mờ, còn gì thương tâm hơn nữa ! Tôi vừa ví chị với cây đàn: cây đàn lên vừa độ dây mà đem bỏ xó, còn gì đáng giận hơn nữa !
 — Vì thế mà trong sự âu-yếm của em với Vũ Lăng-Hầu ông em rất là rộng lượng. Chị tính con cháu một Đại -khoa mà công-nhiên tiếp và nói chuyện với một người đàn-ông việc ấy dung được không. Mẹ em thường phàn nàn với ông em về việc ấy lắm:
‘‘ — Mỗi lần con Ấu-Mai ở trong Nội ra, ông Hoàng Duy-Lễ lại đến, rồi hai... hai người cứ tự nhiên quá như thế, con e thiên hạ họ chê cười.
 Ông em nói:
‘‘ — Ta không phải là không biết, nhưng ta chiều nó đến thế, không phải là không có cớ. Số ta chẳng may ra sao, có một chồng con là con, mà chẳng may chồng con mất sớm đi, để lại có một mụn con gái. Vô phúc nó phải hãm vào cảnh sống như chết, có bằng không. Như thế cũng như là ta không có nó nữa. Nó là đứa thiên-tư dĩnh-ngộ, mà phải chìm vào ‘‘bể thẳm không bờ, nếu cái gì ta cũng cấm-đoán nó nốt, thì ra như là ta đây không biết thương người nữa, vào bè với trời xanh và những thói tục hủ-lậu, mà giết chết đến cả tính tình nó nữa hay sao? Nhà Chiêu con phải biết nghĩ như thế mới được... Vả ông Hoàng Duy-Lễ con xem đó, cũng là người thanh-cao lịch-sự. Trong cành vàng lá ngọc mà được một người như thế hiếm lắm đó. Ý ta định gỡ cho con Ấu-Mai ra ngoài nơi cung cấm mà cùng ông ta kết tóc xe tơ.
‘‘ Mẹ em nghe ông em nói đủ lẽ đủ tình, trong bụng mẹ em cũng chắc cho là phải lắm. Song trò thế, đàn bà không khoát-đạt, thường lấy những lời ta phẩm-bình làm quan trọng nên ngoài miệng vẫn nói:
— Dẫu sao con coi thế vẫn không vừa mắt.
‘‘ Miệng tuy nói thế, nhưng khi ông Hoàng ra chơi thì mẹ em lại âu-yếm lắm, cứ mặc chúng em cứ tự-nhiên trò chuyện.’’
Tố-Hà nói:
— Thôi thế là tôi đủ hiểu mối tình của chị rồi, chị bất tất phải tỏ bày nỗi lòng lắm làm gì nữa. Chuyện ấy thì có gì mà chị bắt tôi phải thề thốt. Tôi cũng là người đủ tính tình như chị, chứ có phải là gỗ đá đâu. Đồng bệnh tương-liên, có lẽ nào tôi lại đem khoe câu chuyện của chị mà chị phải căn-vặn đến điều mới cho nghe?
— Không ! chị chưa rõ hết. Còn có điều quan trọng hơn câu chuyện tình ấy. Điều ấy nếu lộ ra thì ít là mười mạng chết oan, vì thế em bắt chị phải thề.
— Chuyện gì mà mười mạng chết oan?
Ấu-Mai cúi đầu nghĩ-ngợi. Tố-Hà lại hỏi:
— Chị còn ngờ tôi chăng ?
— Không ngờ, nhưng dẫu ngờ cũng phải nói.
—Em hỏi chị: chị em ta bây giờ có phép âu-yếm ai nữa không?
— Âu-yếm trong lòng có ai moi ruột ra mà biết mà cấm đoán.
— Thế ngộ ngay nơi này, em mang ông Hoàng Duy-Lễ vào thì có tội gì không?
— Nếu thế thật thì chết cả nhà cũng có chứ chẳng mười mạng. Nhưng mang thế nào được ông ta vào? Chị định mang ông ta vào chăng?
— Hiện Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ ở trong buồng kia rồi, chị có tin không?
 Tố-Hà lắc đầu :
— Vô-lý !
— Có lý lắm.
- Đâu?
— Em xin nói ngay chị rõ: Trong hòm đựng quần áo đồ đạc, mẹ em mang vào hôm nay, có Vũ Lăng-Hầu nằm ở trong.
Tố-Hà ngẩn người ra một lúc rồi nói:
— Nếu thế thì chị chẳng bắt thề tôi cũng giấu kín, vì nếu lộ ra thì tội vạ cả đôi.
— Ai phân-biệt rằng người của chị, quan trên chỉ biết tôi với chị ở cùng một nhà, dắt trai vào chung. Tiên-Đế thăng hà chưa đến ngày tốt khốc mà lũ cung-nhân thờ phụng ở Sơn-Lăng gian dâm bậy bạ, tội đến voi xé chứ chết mà thôi à? Chết cả nhà chị, chết cả nhà tôi, chứ chết riêng gì hai chúng ta thôi chắc? Nếu chỉ hai chị em mình chết thì tôi chẳng lo sợ gì lắm, vì chị được trông thấy người cũ mà chết, thì chị cũng hả dạ. Mà tôi vì chị bỏ mạng, tôi cũng cam-tâm. Chị em mình thế này thì quá chết chứ! Thà cứ chết mà thoát nợ đoạn trường còn hơn. Một việc có thế chết hai gia-đình, tôi nào dám lộ.
— Nếu thế thì, xin phép chị em cho ông ấy ra nói chuyện ! Rồi từ nay, đêm ông ấy ngủ nhà ngoài chị em ta ngủ buồng bên tả; ban ngày ông ở buồng bên hữu cả ngày.
— Vâng xin chị vào mời đức-ông ra.
Ấu-Mai vào buồng. Một lúc Vũ Lăng-Hầu ra, nghiêng mình chào Tố-Hà mà rằng:
— Tôi là một đứa si-tình chẳng quản hiểm- nghèo len lỏi vào tới đây. Lại được quí nương có lòng rộng rãi giữ tiếng kín cho tôi được cảm ơn van bội.
— Không dám! tôi là con nhà hèn hạ được tiếp một người cành vàng lá ngọc như Chầu, riêng lấy làm có phúc to lắm rồi dám đâu khoe ơn gì nữa !...

Chú thích :
[1] Trai gái từ cái trao tay chẳng được thân.
[2] Còn sống gọi là phụ, chết rồi gọi là thác.
[3] Vạn Thăng là vạn cổ xe vua, có vạn cỗ xe là Thiên -Tử .
[4] Chữ câm khi ấy chưa phải kiêng, chưa đọc là kim, húy Triệu tổ nhà Nguyễn.
[5] Lê Nghi-Dân là con hoang vua Lê Thái-Tôn. Đời vua Lê Nhân Tông hắn mưu với loạn đảng giết Lê Thái Hậu cướp ngôi vua sau bị phế phong là Hôn Đức Hầu.
[6] Giầu có bốn bể.
[7] Đêm nay chỉ nói chuyện giăng gió; mai kia ai dám nằm quèo vái Núi Sông.
[8] Tức phủ Liêu chúa Trinh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.04.2022 11:46:00 bởi Thanh Vân>
HÒM ĐỰNG NGƯỜI
II


 
V
 
Oan xưa theo mãi
 
 
TRÊN xóm Vườn-Cam thuộc tỉnh Cao Bằng, có nhà ông Hoàng-Trịch, ông vốn là con cháu họ Mạc sau nhân vì họ Lê rấy lên, muốn tránh cái vạ sát-Iục, ông thân-sinh ra ông đem lấy nét ngang chữ Mạc lên trên và thêm vào ở giữa chữ viết một nét sổ con, mà đổi sang họ Hoàng. Trịnh-Tùng năm xưa đem họ-hàng nhà Mạc ra giết, ông cụ càng căm lắm. Đối với họ Trịnh ông có cái thù ‘‘chẳng đội trời chung’’ chí ông vẫn muốn giết họ Trịnh để báo thù nhà. Già đời không toại chí, ông để hy vọng vào con. Chữ Trịch, ông đặt tên con là có ý ấy. Bộ thủ là tay để bên chữ Trịnh thành chữ Trịch là ném. Tay kia mong sau này sẽ giết họ Trịnh nọ.
Ông Hoàng Trịch từ ngày chịu lời giối-giăng cuối cùng của cha luôn luôn vẫn để tâm đến việc mưu trừ họ Trịnh, nhưng giận về thời thế chẳng chiều, nhân-tâm lại muốn quên họ Mạc, nên ngày đêm ân-hận không cùng. Ở đời, ai cứ luôn luôn để tâm đến việc gì, thì dù kín-đáo trầm-tĩnh đến đâu, cái việc ấy cũng có lúc lộ ra lời ăn tiếng nói, nét đi, đường đứng. Quan địa phương đã nhiều khi để ý đến cái thái độ khả nghi ấy của ông, nhưng vì chưa tìm ra manh mối gì nên vẫn mặc đó, chờ khi việc phát ra rồi trị cũng vừa.
*
Một hôm vào độ trung tuần tháng tư, về một buổi chiều, khi trời oi-ả, Hoàng-Trịch ngồi trong nhà buồn chạy ra ngoài trại, đi vòng quanh đồi hóng mát. Đến chỗ cuối đồi, ông nghe thấy tiếng người thì-thào bên kia suối. Nắp vào bụi lau ông lắng tai nín hơi nghe, thì ồ này lạ, rõ là tiếng con gái ông đương nói chuyện với ai. Nén lòng giận, ông cố nghe cho hết câu chuyện trên bộc trong dâu:
—... Cha tôi có việc gì lo nghĩ lắm. Anh là người thông minh, anh có đoán ra không?
— Tôi biết lắm, nhưng không thể nói được trừ ra...
— Trừ ra thế nào?
— Trừ ra tôi được coi như là người một nhà.
— Anh vẫn đi lại nhà tôi luôn. Cha mẹ tôi coi anh cũng gần là người nhà rồi đó, anh cứ nói đi.
— Gần thì chưa nói được... Phải coi thật là người nhà thì mới nói được. Mà vị tất ...
Đến chỗ ấy, tiếng nói nhỏ dần. Bụng ông bấy giờ càng bối rối. Ông tự nghĩ : Quái cái thằng Cao Trường-Bộ nó biết tâm sự ta chắc. Nếu vậy thì cũng nguy cho ta. Nghe những lời nó nói thì là nó biết rõ lắm rồi. Nó lại bảo con bé rằng nó có được coi như hẳn người nhà thì nó mới chịu nói. Hay là mai ta thử gọi đến. Hứa gả con Tố-Hà cho nó mà hỏi nó xem, nó có chịu nói không... ?’’ Nghĩ vậy ông liền quay gót trở về. Về tới nhà, trời vừa sẩm tối. Chờ mãi đến lúc trăng lên Tố -Hà mới về, ông hỏi:
— Con đi đâu mà mãi bây giờ mới về?
— Con đi thăm mấy nương chè ở đồi bên kia xem bao giờ được hái.
— Thăm nương chè, sao lại đứng ven suối Đá Cóc ?
Tố-Hà chưa kịp tìm câu chống chế thì ông lại hỏi giồn:
— Thằng Cao Trường -Bộ nói chuyện gì với con thế?
— Thưa không! Vì anh ấy năng đi lại nên gặp không lẽ mần-thinh, nên có nói chuyện một đôi câu thôi, chứ anh có nói gì với con đâu.
— Con cũng đến tuổi rồi, việc ái-ân thầy cũng dung thứ cho. Nhưng cứ như mấy lời con nói với nó, mà nó nói với con lúc chiều ở bờ suối thầy nghe như quan hệ to đến công việc của ta. Điều ấy con đừng giấu nữa.
Ông là người rất nghiêm trong việc trị - gia, những thói thì thầm trai gái thế chẳng khi nào ông lại có dung. Hôm nay ông lại rộng bụng đối với việc nói chuyện với trai của Tố -Hà thế là vì câu chuyện nửa kín nửa hở lúc chiều của hai người làm ông phải để tâm nhiều quá mà quên mất cái nghiêm đối với con gái trong việc thuờng nhật ông vẫn cho là trái lẽ, trái gia-giáo.
— Chúng con vẫn đoán là thầy có điều gì nghĩ ngợi sâu xa lắm. Nhưng anh ta có chịu nói gì đâu?
— Thầy hiểu rồi. Nếu nó có thể giúp được ta việc ấy thì thầy cũng gả con cho nó. Để mai thầy gọi nó đến thử ướm thử xem sao?
Sáng ngày mai, Cao Trường-Bộ đến, Hoàng-Trịch hỏi rằng:
— Ông là con cháu quan nhà Mạc ông có nghĩ gì đến nhà Mạc không?
—Nghĩ thì cũng có nghĩ, nhưng biết làm thế nào! Khi số nhà Mạc hết rồi ai làm sao vãn hồi lại được.
— Nếu nói thế thì hèn quá, như cuối đời nhà Hán, nếu Gia -Cát Vũ -Hầu cũng nghĩ như ông thì làm gì có nhà Hán ngót năm mươi năm ở đất Thục.
— Vũ -Hầu cố cưỡng thì thế, chung quy cũng đến bất đắc chí ở Trung nguyên mà thôi. Huống chi họ Mạc lấy nước do điều bất chính mà nay không ai có tài như Vũ - Hầu thì cái việc cát cứ một vùng Cao -Bằng tôi e rằng cũng là việc khó.
— Họ Trịnh giờ tôi coi như là vận trời mở cho đó. Ông tính chuyện về họ Mạc phục thù, chuyện ấy hay lắm, nhưng việc ấy không làm được. Thì, thế, cơ ba điều coi như bất lợi cho ta cả, làm thế nào được. Cứ tôi xem thì Mạc Kinh-Vũ bây giờ hiện ở Cao Bằng, chẳng bao lâu cũng đến có cái vạ diệt môn như Mạc Kinh-Chi năm xưa thôi.
— Lời ông nói rất là hợp lẽ, nhưng người cùng máu mủ với họ Mạc không thể nghĩ như ông được. Vì tình xương trắng máu đào thì dù cưỡng thì-thế mà chết tôi cũng không từ.
Cao Trường-Bộ nghe câu ấy ngẩn người ra một lúc mà rằng:
— Ông là con cháu chúa Mạc chăng? Nếu thật thế mà ông nói với tôi thì ông hớ to, vì tôi không phải con cháu họ Mạc...
— Thì ông xu-viêm phụ-nhiệt mà theo thằng Trịnh-Tạc để tố-cáo tôi chăng?
— Không phải thế, nhưng nói ra có điều hớ lắm. Tâm sự một đời vì một câu nói kháy đem phun cả ra, cơ hỏng việc của ông là ở chỗ đó. May mà phun ra với tôi...
— Khi nào tôi lại có hớ... Tôi nói với ông vì tôi coi ông như người nhà... mà ông có thể là người nhà được nữa. Câu chuyện ông hôm qua với con em Tố-Hà ở bờ suối; tôi biết hết cả rồi...
Cao Trường-Bộ cười mà nói rằng:
— Nhưng ngài định thế nào với họ Trịnh? Ngài theo chúa Kinh-Vũ ở Cao-Bằng chăng?
— Không! tôi định ngầm nuôi thế-lực ở đây để chờ dịp... Khi nào xong việc tôi sẽ gả con em cho.
— Thì tôi làm Phụ-mã ! to tát nhỉ?
— Không, tính gì việc hưởng phú quí to tát đến như thế. Tôi chỉ cần có một đạo quân, lừa nhà Trịnh đem quân lên đây, cất lên đánh một trận để mở lối sống cho mình ở bảy châu trên này… Uống
được máu một thằng họ Trịnh đủ hạ giận cho tôi rồi, tôi chết nhắm được mắt rồi. Còn như việc diệt nhà Trịnh tranh lại cơ-đồ, việc ấy tôi cũng biết là không làm nổi.
*
Từ đó Hoàng-Trịch cùng Cao Trường-Bộ ngày ngày mộ quân nuôi ngựa, kết liên với thẩy các chủ động Mán, Mường. Không ngờ công việc làm chưa đầy một năm thì ở Cao-Bằng Mạc Kinh-Vũ nghi là có ý ngầm nuôi thế lực, để tranh đoạt ngôi vua, cho quân lên Vườn Cam bắt cả nhà Hoàng-Trịch và Cao Trường-Bộ về Cao-Bằng; rồi theo đó, một năm sau, nhà Trịnh sai bọn Đinh Văn-Tả lên đánh Mạc Kinh-Vũ. Cả nhà họ Mạc bị giết. Cao Trường- Bộ cùng Hoàng-Trịch chạy lên miền Vạn-Lĩnh. Hoàng Tố-Hà thì bị bắt đem về làm cung-nhân hầu vua Lê Huyền-Tông (Việc ấy xảy ra năm Đinh-Vị niên hiệu Cảnh-Trị thứ năm, lịch Tây năm 1667).
Năm ấy Tố-Hà mới hai mươi tuổi ở trong cung được hơn ba năm thì vua Huyền-Tông mất, nàng phải theo bọn cung phi vào Quả-Thịnh lăng.
Thật ra nàng cũng chẳng biết nhà cửa ở đâu, hiện nay ai còn ai mất. Câu nàng nói với Ấu-Mai rằng gặp người lính thú nhờ đưa tin về nhà là nói dối. Thật ra nàng chỉ nhờ người ấy về Cao- Bằng dò xem cha mẹ cùng người yêu nàng còn mất thế nào.
Nàng gặp người đồng quận thì cũng nhờ liều may ra người ta giúp được chăng, chứ thật ra nàng thất vọng đến cùng cực rồi. Vậy chẳng để tâm gì đến việc nhờ ‘‘cầu phong’’ ấy cả.
Chuyện nàng đến đây tạm dừng bút chép mà nói đến câu chuyện của Ấu-Mai và ông Hoàng Duy-Lễ.
*
Tế-Hà muốn cho bạn khỏi ngượng ngập vì mình xin vào phòng nghỉ sớm:
— Chầu cùng chị Ấu-Mai xa cách đã mấy năm trời, câu chuyện chắc phải dài, em xin phép vào phòng nghỉ trước.
Ấu-Mai đỏ mặt không nói gì, ông Hoàng Duy- Lễ cũng có vẻ bẽn-lẽn. Tố-Hà hiểu ý, không đợi trả lời, cứ quay vào phòng.
Dưới đây trích dịch một đoạn lời cung ở tập hồ sơ bản án ở tòa Tam-pháp đời chúa Hoàng Dương-Vương Trịnh-Tạc xử việc ‘‘Dâm loạn ở Quả-Thịnh lăng’’ đoạn ghi câu chuyện tối đầu của cập uyên- ương xấu-số.
... Con Tố-Hà vào phòng xong rồi, cặp gian dâm mới bắt đầu nói chuyện. Câu chuyện thô bỉ, xin phụng ghi đúng sau này:
Ấu-Mai.— Anh vào đây có những ai biết.
Duy-Lễ.— Chỉ có già Thông bõ Mai cùng con Thúy-Hồng biết thôi. Nhưng cớ sao em lại hỏi câu ấy trước, em lại bụng dạ mà lo kỹ-lưỡng đến thế ư ? Năm năm gặp nhau mà câu đầu của em lại nói những việc đâu đâu... Anh không bằng lòng thế.
Ấu-Mai.— Vâng! anh trách thế em cũng xin chịu, nhưng em bị nhiều điều đau khổ quá rồi nên tính hóa thế. Lúc nào em cũng coi như là có người rình mò làm hại, lúc nào cũng hình như ác thần nấp sẵn sau lưng... Nhưng thôi có anh đây, em vui mà quên cả mọi điều.
Duy-Lễ.— Phải ! Vui đi thôi, quên đi thôi, em. Đời là một trò hề của con Tạo. Thấy tấn hề vui, ta hãy cùng vui, đừng nghĩ chi đến cái lòng bất nhân của Tạo-Vật đã đem ta làm một cuộc bông đùa. Chỉ nên biết rằng, trong tấn hề, con Tạo khiến đôi ta sắm vai hề đa tình gian truân thôi thì... trời đã bắt thế biết làm sao?
Ấu-Mai.— Phải đó, anh nghĩ thế phải đó. Ở đây chị Tố-Hà ý cũng thế. Chị ta bảo rằng: Bất cứ việc gì ta cũng phải vội cười ngay đi không thì sau lại khóc ngay về việc ấy. Ở đời được một người bạn trai như anh và người bạn gái như chị Tố-Hà thì dù giữa cơn giông tố ba đào, em cũng giữ được tâm hồn bình tĩnh... Em ở đây chỉ luôn luôn nhớ đến anh và nhà. Anh ngồi trước mặt em rồi, nỗi nhớ anh đã vợi, em muốn hỏi anh tin tức ở nhà. Hồi trước, anh mang thơ của em ra phải không?
Duy-Lễ— Phải ! Mà nói đến đấy anh lại nhớ đến một câu chuyện lạ quá.
Ấu-Mai,— Chuyện gì?
Duy-Lễ.—Hôm anh ở trong hoàng-thành mang thư ra đến ‘‘Tiến-sĩ môn’’. Thấy cổng rấp, người làng họ nói rằng:
— Từ năm ông Chiêu nhà mắc nạn, từ năm cụ Hoàng nhà về trí-sĩ, Tiến-sĩ môn vẫn bỏ không ai đi đến. Cách sáu bảy năm trước đây, anh cùng em ở trong Nội ra vẫn đi cổng ấy mà. Sao lại có sự lạ thế?
Ấu-Mai, tủm-tỉm cười.— Lạ cho anh chứ có lạ cho ai. Đến ngày em được phép ở trong cung về thì người vẫn chực sẵn để mở cửa. Cửa ấy trong bao nhiêu năm chỉ có anh và em đi thôi.
Duy-Lễ.— Lại thế kia à? Thảo nào mà độ tháng trước anh đến trông nó tiều tụy như chỗ bỏ hoang. Hay là vắng em anh trông cái gì cũng xấu?
Ấu-Mai.— Anh nói quá, em đi đến đâu xấu-xí đến đó thì có...
Từ đây trở xuống, chuyện ông Hoàng cùng con Ấu-Mai đến đoạn ái-ân. Câu chuyện khơi-mào cho những việc quá việc ‘‘vẽ lông mi’’ [1] . Xin bỏ qua.
Tố-Hà từ hôm đó mất hết vẻ vui mọi ngày, Ấu- Mai thì lại vui cười hơn trước. Bà Tiệp-Dư cùng các cung nhân ai cũng lấy làm lạ. Có người nói:‘‘ Hay là khối vui của Tố-Hà nhảy sang bụng Ấu- Mai, mà nỗi buồn của Ấu-Mai lại chạy từ Ấu-Mai sang bụng Tố-Hà. Bạn-bè chơi với nhau thân, nhiều khi có những chuyện truyền lòng đổi dạ ấy.’’
Có người nói: ‘‘ Không phải ! cứ tôi xét thì Tố- Hà là người không có bản-lĩnh gan-góc gì cả. Khi mới đến đây, cố làm ra vui vẻ đó thôi. Cái vui vẻ gượng ấy chẳng bao lâu tất mất. Ấu-Mai mới thật là người có gan-góc, nên khi đã nhận hết nỗi khổ, khi đã trông cảnh mình hết mọi mặt, chị ta mới quyết vui cười mà chịu số phận một cách thản nhiên. Thức lâu mới biết đêm dài, mới biết người thức giỏi. Mới chập tối chẳng nên tin ai.
Có người lại nói: ‘‘ Không phải thế, việc đời không thể lấy triết-lý suông mà đóan được. Mình cứ lấy triết lý suông, có khi quên cả người ta. Biết đâu rằng: trong cách cử chỉ của hai người mỗi người không mới nẫy ra cái ý mới trong cõi lòng’’.
Chị em bạc mệnh chốn Sơn-lăng chỉ chăm chú để ý vào Tố-Hà cùng Ấu-Mai, hai người thật cũng có vẻ khác người lắm. Việc thay đổi dáng điệu của hai bông hoa ấy, không những để cho chị em cùng phận chốn Sơn-lăng phải để tâm nghĩ ngợi mà đến tận ngày nay, độc-giả duyệt đến chỗ này có lẽ cũng muốn tìm ra manh mối. Cớ sao Ấu-Mai đang buồn thành vui? Cớ đó chắc ai cũng hiểu rồi. Còn Tố-Hà, cớ sao đang vui hóa buồn? Nàng ở lâu chốn Sơn-lăng, cái buồn nơi mồ sống hồng nhan ngày một ăn sâu vào óc, đuổi cái nết vui bình-tố đi mà vào làm mặt nàng đầy thu khí, giọng nặng sầu bi chăng ? Cùng lứa đầu xanh, nàng thấy Ấu-Mai vẹn thề xưa ước cũ, nàng cũng nhớ đến người trước duyên xưa của nàng mà nàng buồn chăng?
Một phần cũng vì đó. Chỉ có một phần vì đó mà thôi, nếu chỉ vì gợi mối tình cũ mà buồn thì nét mặt kia chỉ có dáng âm thầm ngẩn ngơ là cùng thôi, chứ không bao giờ đến nỗi cau có khốn nạn, lúc mặt tối sầm như trời sắp nỗi cơn giông tố to, lúc mặt nhăn trán bóp như trong lòng có nỗi thống khổ gì kịch-liệt lắm nó vặn ruột moi gan.
Thật ra, mấy hôm sau, khi ông Hoàng Duy- Lễ vào ở trong Sơn-lăng, ngày nào đêm nào trong óc nàng cũng như gió bão. Trong trận gió bão ấy, gió khi thổi Nam, lúc thổi Bắc, lúc lại quấn vòng tròn như trận lốc ngoài khơi, cuốn hàng trượng nước cao mười tầm rồi thả ra những bọt ngầu trắng xóa ; mưa khi tạnh, khi xa, khi phơi phới như bụi tỏa khắp vùng trời, khi dồn dập như làn nước thác chảy xiết sườn non.
Chẳng chịu liều như anh chàng kia, giầy hơi lấm thì rấn bừa vào bùn cho lấm hẳn, nàng vẫn cố sức che mưa, che gió bằng một mái nhà gianh lung lay hồ đổ.
Trận bão trong tâm tư ấy, ta cũng lấy cái đo mưa đo gió mà ghi vào ký-tuyến-đồ.
Thoạt đầu, nàng nhớ đến câu chuyện ái-ân ở bờ suối ven rừng đất Vườn-Cam, đến cái vẻ quân tử nghĩa hiệp của Cao Trường-Bộ, đến những lời thề trừ kẻ thế-thù họ Mạc của người nàng muốn xẻ ân, chia ái, gửi thịt, trao xương. Nàng lại hồi tưởng đến cơn gia biến khi xưa, một nhà ruột thịt lìa tan, người Nam kẻ Bắc... Nàng nghĩ mãi, nhớ mãi, nghĩ mãi cái cuộc đời không sao mà có được, nghĩ mãi đến người nàng không biết sống chết ra sao. Nghĩ đến một việc tuyệt không hi vọng gì, nó tựa như người mong mát mẻ ở giữa mùa hè.
Trước còn gắt trời nóng, rủa gió nóng, sau càng quạt, càng oi-ả, càng nhúc nhích, càng bức bối, rồi cũng đến vứt quạt ngồi lì, cam chịu nỗi mồ hôi nhễ nhại. Lúc ấy là lúc đành. Đã là đành thì cười xuê cho gọn cuộc đời, khóc than chẳng tránh số trời được nao!
Rồi thì nàng trông thấy Ấu-Mai còn ông, còn mẹ, còn người đoái hòai hỏi han tới, còn được vẹn nguyên đôi chút với người ngày xưa, còn có hi-vọng mà lo chạy thoát thân sau ba năm hương khói chốn Sơn-lăng, mà nàng thì nhà không, cửa không, cha mẹ không có, họ hàng cũng không. Những cái nàng thấy và nỗi thất vọng của nàng nẩy ra trong óc nàng mấy câu hỏi. Cùng là lứa đầu xanh xấu số mà sao số ta lại đến xấu vô cùng? Không còn hi vọng gì nữa? Ta đương độ trẻ trung, ta cũng có quyền được sung sướng chứ. Biết đâu ! Cha mẹ ta còn thì biết đâu? Cao Trường-Bộ còn thì biết đâu? Còn nước còn tát, can chi ta lại yên trí rằng : còn có mình ta trên trần ? Phải đi tìm, phải đi tìm cha mẹ, phải đi tìm người đã cùng ta thề thốt đến điều... Nhưng chim lồng không dễ cất mình bay cao, biết làm sao mà thoát khỏi cảnh này bây giờ? Người ta quyền thế có, cha mẹ có, mà còn khó mong thoát khỏi chốn này, huống hồ mình.
Từ đó định ý của nàng là thoát khỏi Sơn-lăng, ý ấy đêm ngày luẩn quẩn ở trong trí, không lúc nào dời ra. Tuy rằng: nghĩ nát óc chẳng ra kế gì thoát thân, nàng cũng vẫn bị cái ý ấy nó vây bọc tâm hồn. Thành ra ngoài đã bị cái chế-độ ‘‘lấy người sống làm vật tuẫn táng’’ nó giam cùm, trong lại bị cái định ý nó bao bọc nàng, từ đó như bị nhốt trong hai lần ngục tối.
Thoát thân !...Làm sao mà thoát được thân?..
Có mấy tiếng ấy mà ngày nào, giờ nào, khắc nào nàng cũng đem ra làm câu hỏi gắt gỏng với số phận, với trời xanh, với khối óc đã nặng trề sầu thảm. Hốt-nhiên một hôm, trí nàng bật ra một tia sáng mới: Tia sáng ấy, chói lọi như một tia chớp, nàng nhắm mắt lại, không dám nhìn nữa. Nàng mới nghĩ ra một cách thoát thân là: lập công với quan trên. Công gì? Tố giác việc kín của Ấu-Mai.
Nghĩ tới mấy lời ấy, nàng rùng mình ghê sợ, phải gạt ngay vào xó tối trong tâm tư. Nhưng ác thay, hạt giống gieo vào đất tốt mầu, nó cử nẩy nở nhanh lạ thường, không sức gì cản được. Cái ý ‘‘bán bạn cầu tự do’’ gieo ở óc nàng Tố-Hà, được tấm lòng đối với người xưa tình cũ làm mầu bón, nó cứ lần lần nẩy nở. Qua mười lăm, mười sáu ngày, ý ấy mọc thành hình hẳn hoi, không dùng cách gì thui chết đi được. Song, nàng vẫn còn cố chống chọi với tấm lòng vị kỷ, đê hèn ấy cho đến cùng. Một đêm, nàng tự xẻ khối óc ra làm đôi, một nửa làm quan tòa buộc cái tội trái lời thề, trái lời thề với người bạn thân, một nửa làm thầy cãi hộ biện cho cái phải vị kỷ của nàng.
—Tố-Hà ! Mầy phải nhớ ơn cha mẹ, ơn ấy không thể sao quên được. Tội gì mà vì chút tình bằng hữu mới mẻ, bỏ người sinh ra mầy, cơm nặng áo dày cho mầy!
— Tố-Hà mầy nhẫn tâm giết người để tìm bố mẹ à? Mà bố mẹ mầy đã chắc gì còn sống ! Tình bằng hữu tuy mới, nhưng là người còn sống ; bố mẹ dẫu là ơn đầy sông bể nhưng là người không chắc đã còn. Mầy giết mấy mạng người, mầy giết một gia đình để đi tìm lũ người có lẽ chết rồi ư?
— Bố mẹ tôi, tôi chưa biết đích là đã chết, tôi không được nghĩ là chết. Nghĩ như thế có khác gì rủa bố mẹ hay không? Làm con mà rủa bố mẹ, còn tội nào to bằng?
— Tố-Hà, nếu như bố mẹ mầy chết trong đám loạn quân năm nọ rồi, bây giờ mầy giết cả nhà bạn để đi tìm, tìm đâu cho ra. Mà con chim lạc tổ mầy định nương tựa vào đâu mà sống?
— Nương tựa vào đâu? Tôi chẳng cần nương tựa vào đâu cả. Cho hẳn là cha mẹ tôi chết rồi, ra ngoài có bị thân gái bơ vơ với bị chôn sống ở nơi này, hai đường, đường nào cũng thế cả.
— Hai đường, một đường ở lại chốn này, một đường ra ngoài mà bơ vơ, hai đường mầy coi như nhau, nhưng ở lại, mầy không phải làm một việc gì bất nghĩa, mà bước chân ra đi, mầy phải bán tính mệnh một nhà, cam tâm làm con người bất nhân phi nghĩa, hai đường mầy chọn đường nào hơn ?
— Đã chắc đâu là bố mẹ tôi chết rồi.
— Quân nhà Lê lên Cao-Bằng phá tan họ Mạc giết cả nhà Mạc Kính-Vũ, mầy bị bắt về đây. Họa loạn lớn thế mà mầy chắc là cha mẹ mầy còn sống sót được à?
— Cái đó cũng có lẽ... Cha mẹ tôi, anh em tôi đều là máu mủ họ Mạc, có lẽ đều bị giết hại cả rồi, cái đó cũng có lẽ... Nhưng Cao Trường-Bộ thì có máu mủ gì với họ Mạc mà bị nạn ấy. Tôi phải đi tìm người cũ của tôi, người đã cùng tôi non chỉ bể thề. Một lời đã ước đến chết không quên.
— Nhưng giết chết hàng trăm mạng, mầy nhẫn tâm à?
— Chết thế nào đến trăm mạng được. Việc vỡ ra chỉ chết Ấu-Mai và vài đứa đầy tớ nhà Ấu-Mai mà thôi.
— Đổi một người bạn lấy một người chồng mà cũng vì tình thế bắc buộc chứ nào tôi có nhẫn tâm phụ ai ?
— Mầy thử tưởng tượng: một ông lão tám mươi con cái không có, một người đàn bà góa chồng, đứng vậy nuôi con mười bảy, mười tám năm trời, nếu Âu-Mai bị mầy đem ra đưa vào lưỡi phạng của quân đao phủ thủ. Mầy nhẫn tâm giết một nhà đổi lấy người chồng ư? Người chồng ấy, chưa chắc phụ bạn rồi mầy đã gặp được. Cho rằng bán bạn đi mà có gặp được chồng thì rồi mai sau đây, mỗi khi mầy đứng cạnh chồng mầy, chồng mầy lại phải nghĩ đến cái cớ gian ác mầy đã làm, chắc mầy hối hận vô cùng. Đời như thế còn gì thú vị?
— Nếu chỉ vì cái thú gối chăn thì tôi đây đâu có nào phụ bạn. Thân này bỏ đi từ ngày bỏ đất Cao-Bằng, còn dám biết xuân là gì nữa. Nhưng sở dĩ muốn tìm Cao Trường- Bộ là muốn cùng chàng gánh vác cái việc ‘‘Tiêm Cừu’’ đã ước cùng nhau trong rừng Vạn-Lĩnh kia, vì máu mũ một họ tôi, thì phụ ai tôi cũng phụ. Nếu cha mẹ tôi lại bị hại vì quân họ Trịnh rồi, thì cái thù ‘‘ chẳng đội trời chung’’ thế nào tôi cũng phải báo...
Nghĩ đến đấy, Tố-Hà quả quyết ngồi vùng dậy, mài mực cầm bút viết vào tràng áo mấy chữ ‘‘Phụ mẫu chi thù, vật dữ cộng đái thiên [2]’’ Nàng phải viết vào tràng áo cho luôn luôn phải nhắc đến cái thù to tát ấy, muốn lấy mấy chữ ấy làm cái lối ‘‘tự kỷ mặc thị’’ của khoa học thôi miên.
Sáng hôm sau, lúc rửa mặt, Ấu-Mai trông Tố -Hà nét mặt rầu rầu ngấn nước mắt còn in trên má, đuôi con ngươi mầu thấy đỏ hoe, liền hỏi rằng:
— Trong ít bữa nay, em thấy chị điềm đạm khác trước, nhiều lần toan hỏi, nhưng lại thôi. Hôm nay, em trông chị như có điều gì buồn bã lắm thì phải. Chị có điều gì nên nói với em, hoặc giả em có cách gì làm khuây cho chị chăng?
Tố-Hà cúi đầu, nói:
— Tôi nhớ nhà... có thế thôi.
— Sao trước chị vui mà nay chị buồn?
— Ấy cứ một mình nghĩ ngấm mãi thì cái buồn xưa nó lại kéo đến...
Nói đến đây, Tố-Hà cúi đầu xuống, tay mân mê cái khăn, im lặng không nói gì. Giữa lúc ấy một ngọn gió thổi bay vạt áo trước, lộ chiếc vạt con, Ấu-Mai nhìn rõ mấy chữ ‘‘ Phụ-mẫu chi thù, vật dữ cộng đát thiên’’ vội hỏi xoắn xít:
—Chị có mối lo to thế kia mà không cho em biết.
Tố-Hà bỗng vứt khăn xuống chân, hai tay bưng mặt rít lên như người hóa dại:
— Tôi phải nhẫn tâm, trời ơi! Tôi phụ hết, tôi phụ hết cả mọi người! Tôi chẳng nghĩ gì cả.
Nói xong, chạy thẳng vào trong buồng đóng chặt cửa lại. Ấu-Mai cũng hoảng hốt chạy vào trong nhà.
Ba hôm sau, gặp ngày rằm, bọn cung nhân phải đến cung Kiền-Long làm lễ sớm. Lễ xong, mặt trời mới lên khỏi ngọn thủy-tùng, khi về nhà riêng, trông đồng hồ mới vào đầu Thìn.
Tố-Hà bảo Ấu-Mai :
— Chị chịu khó hôm nay xuống bếp thổi cơm một mình, tôi mệt xin phép chị tôi nghỉ.
Làm cơm xong, Ấu-Mai mời Tố-Hà ra ăn, Tố-Hà cũng chối.
Ngày hôm nay nàng bỏ bữa cơm sáng, nằm mê man cả ngày. Ấu-Mai ngồi bên cạnh giường vuốt ve săn sóc.
— Bệnh chị chắc là tâm bệnh... bệnh ấy ở đây chẳng làm gì ra thuốc mà chữa, có một cách diệu nhất là chị cứ cố yên tĩnh. thần trí lại, đừng nghĩ ngợi gì cả, coi việc đời như đám phù vân cả. Chị mà cố được như thế, thì bệnh phải lui...
— Sao chị biết bệnh tôi tại tâm?
— Mấy chữ chị viết ở vạt áo, mấy lời chị nói sảng hôm nọ, bằng ấy cái chứng cớ lại chẳng đủ làm chứng cho cái tâm bệnh của chị ư?
— Hôm nọ tôi nói sảng gì thế?
— Chết nỗi, thế chị quên rồi à?
— Vâng, tôi chẳng nhớ gì cả. Thế tôi nói những gì thế?
—Những câu lảm nhảm cả.
Tố-Hà cố gạn hỏi cho ra những cầu nàng nói sảng hôm nọ. Ấu-Mai thì cố hết sức giấu giếm. Cái giấu giếm ở bụng hai người có ý nghĩa khác nhau. Ấu-Mai thì sợ Tố-Hà vì nghĩ tới việc cũ - việc nàng chưa được biết, nhưng đóan chắc là quan-hệ to lắm - mà phát bệnh điên. Đối với một người sắp có thể hóa điên được, thì diệu-kế nhất là không nhắc lại một li một tí gì những việc đã xảy ra. Vậy Ấu-Mai im đi là vì thương Tố-Hà. Tố-Hà thì cố hết sức hỏi xem câu mình nói có quan hệ lắm không, có ‘‘phản’’  cái ý-nghĩ yêu ác của nàng vừa nghĩ ra mấy hôm nay không ? Cố gạn mãi không được, nàng cầm chắc là câu nàng nói sảng đã lộ hết mưu mô bất nhân của nàng... Nghĩ đến đấy nàng lại gục đầu xuống ngủ.
Sáng hôm sau, Ấu-Mai thấy Tố-Hà dậy thật sớm mặc áo ra đi rồi... ngày một ngày hai không thấy nàng trở lại.
*
Đây lại nói chuyện bốn mươi năm về trước, hồi Đặng Phi-Hiển, sau mấy tháng tập việc ở kinh, được bổ đi làm Tri-phủ, phủ Thiên-Quan, thuộc trấn Thanh-Hoa ngoại.
Hồi đó ở vùng từ bến đò Gián-Khẩu đến vùng Lạc-Thủy vẫn có một đảng cướp rất to, đảng ấy có khi cướp ở đò dám dìm xuống đáy sông Hoàng- Giang, xác người có khi trồi đến vướng cả chân núi Thúy, có khi đảng ấy lại to gan, dám đem quân phá phủ để cướp kho. Trước quan phủ Đặng, hai quan phủ đã bị cách vì bọn cướp ấy. Khi quan phủ Đặng mời đến, nha-lại cũng đã bẩm quan rõ sự tình ấy. Đặng nói:
— Tôi cũng đã rõ cái tình thế ấy lắm và đương nghĩ cách trị bọn đó cho đến tiệt nọc.
Thầy lại -mục thưa :
— Trị đến tiệt nọc thì khó lắm, vì đảng cướp ấy thế lực nó to lắm. Từ xưa đến nay các quan trị đã nhiều phen rồi.
— Lối trị của các quan như thế, thì có khác gì ném bùn xuống ao. Cứ thấy giặc phá ở đâu, thì mới đem quân đến đánh, đó chỉ là lối đau đầu xoa đó, chẳng ăn thua gì cả. Cứ ý tôi, phải dò cho ra những tay đầu đảng tụi này mà trị cho thật nghiêm thì tự nhiên vùng Hoàng- Giang này được yên, nhổ có phải tìm đến góc mà trị, chứ cứ phát hớt trên mặt, nào có ăn thua gì. Không những không ăn thua gì, mà cỏ mọc lại càng thêm khoẻ.
Quả như lời ông nói: trong sáu tháng sau ông dò được cái nhà đứng làm trùm cho các trộm cướp một vùng. Nhà ấy, hạng trai khoẻ lực lưỡng, có đến non trăm, hạng đàn bà con gái dùng làm người thông tin tức, cũng được vài chục. Chủ nhà ấy là một tên lý - trưởng đã từ dịch, họ Kiều tên Thạc, nhà y bọc ngoài hai lần hào, ba lần lũy, lối vào đều có thả chông. Khi đồ đệ y tề tựu cả ở nhà thì ngày ngày mổ trâu mổ bò ăn uống ‘‘rầm-rĩ’’.
 
Kẻ chép chuyện đây dùng hai chữ ‘‘rầm rĩ’’ là dùng chữ vuốt đuôi sau khi đã biết thừa tỏ rõ, chứ dân gian hồi ấy, vùng ấy đố ai có thấy động tĩnh gì khác thường. Lúc nhà ấy mổ trăm trâu khao nghìn quân, với lúc nhà ấy chỉ có một thầy một trò, ngồi canh cái trại mười mẫu, hai lúc cũng bình tĩnh như nhau, Kiều-Thạc chẳng cần phải xê xích khỏi nhà một bước, mà bao nhiêu đám cướp to nhỏ suốt một vùng giáp giới ba trấn, phần lợi lớn vẫn vào kho nhà ấy cả. Cách y tổ chức giỏi đến nỗi rằng : Trên vua chúa cùng các quan từ bao đến giờ không dò ra được manh mối, dưới các đồ đảng một tơ một hào không dám ăn chận trước. Đặng Tri-phũ phải dùng đến cái kế mỹ nhân, mới cho lọt đôi tai của phủ- nha vào trong trại của Kiều -Thạc. Người con gái dùng làm mồi câu hổ dữ ấy, là một đứa con gái quê ở làng ông, ông mua đem đến phủ, cho ở ngoài phố, vì sắc đẹp, Kiều -Thạc ta quyết cướp cho được. Vào ở trong trại, người con gái ấy khéo dùng sắc đẹp, dùng mánh khóe mà khám phá trong một tháng hồ hết cơ quan của Kiều Thạc.
Một hôm, Đặng Tri – phủ được tin của người con gái ấy ra bảo rằng :
— Tới ngày kia tên Kiều - Thạc phải hơn trăm tên cướp đến phá phủ để cướp kho, ở trại tối nay chỉ có nó và vài tên đầy tớ thôi. Canh hai, chúng bắt đầu đi. Lệnh ông [3] cho lính chực sẵn ở cổng trại khi nào ở trong có đuốc soi làm hiệu thì cứ kéo ồ theo ngọn đuốc mà vào, chắc là bắt sống được Kiều-Thạc. Còn việc giữ phủ ở lệnh - ông định liệu.’’
Tiếp được tin, Đặng Tri -phủ bí mật cho chuyển hết của kho ra ngoài thành phủ. Cả đồ đạc cũng cứ ban đêm dọn cả ra ngoài. Đúng ngày hôm ấy, phủ chỉ còn là xác thành không.
Một mặt ông báo trình lên quan trấn, bí mật lấy thêm quân, chập tối hôm ấy, ăn mặc giả làm nông phu, kéo đến đóng cạnh trại tên tướng giặc.
Đúng đầu canh hai thì cửa trại mở to, quân giặc kéo ra. Hôm ấy là ngày hai mươi mốt, trăng lúc bấy giờ chưa lên, bên quân Đặng Tri -phủ ở chỗ tối nhìn ra rõ mồn một.
Chúng đi cách trại chừng nửa tiếng thì thấy ở trong lũy thấp thoáng có người soi đuốc. Đặng Tri-phủ nhìn theo thì một lúc ngọn đuốc vạch to lên trên không chữ nhập, bèn cứ theo ngọn đuốc kéo vào. Vào được tới nơi bắt hết già trẻ nhà tên Kiều-Thạc trói gò cả lại đem về phủ.
Đi đến giữa đường thì trăng lên, Đặng Tri-phủ nói:
— Ta đi nhanh thì có lẽ quân giặc còn ở trong phủ cả.
Nói về đạo quân của giặc đến cướp phủ, khi đến thì không phải đánh mà vào được trong phủ thành. Vào tới trong, vội vàng tới kho để khuân bạc, còn đương hùy huỵch khiêng những gỗ đá chận trên kho thì vang trời bên ngoài thành đã có tiếng quan quân đánh vào. Át cả tiếng reo hò, một liếng loa lanh lảnh:
— Bọn giặc! chúng bay nhìn kỹ: tướng mầy là thằng Kiều-Thạc quan trên đã bắt được. Chúng mầy đứa nào muốn còn đầu thì nên hàng cả, không thì chỉ trong chốc lát, nắm xương không còn.
Chúng trèo lên mái nhà nhìn ra, thì trên đầu ngọn tre, rõ ràng Kiều-Thạc bị treo tóc, đương giãy giụa như con thú dữ mắc bẫy, dưới nghìn bó đuốc soi tỏ như ngày, không còn nghi ngờ gì nữa. Thấy chủ đã bị bắt, chúng đều hàng cả.
Khép vào án, Đặng Trí-phủ đem chém tất cả già trẻ lớn bé nhà Kiều-Thạc, hơn bảy mươi mạng, đồ đảng của y hơn ba trăm mạng. Từ đó trong vùng được yên.
Con trai nhỏ Kiều-Thạc, tên gọi Kiều-Cảnh khi đó hiện đương ở chơi bên họ ngoại ở chốn khác nên thoát nạn. Sau Kiều-Cảnh vì không biết nương tựa vào đâu cho qua ngày, ở bên quê ngoại thì bên quê ngoại sợ nỗi cháy thành vạ lây, liền liều về phủ Thiên-quan, vào tận phủ-nha nộp mình. Đặng Tri-phủ thương vì trăm mạng chết đi còn trông vào có một hòn máu sót ấy làm người cúng vái, liền dung cho ở coi cái trại cũ làm ruộng, làm vườn kiếm ăn. Vì thế y cũng tạm yên thân.
Được mấy năm Đặng Tri-phủ bổ đi chỗ khác. Sau đấy vài mươi năm, không hiểu nghĩ ngợi thế nào, Kiều-Cảnh lại đến nhà Đặng Tri-phủ xin ở.
*
Lại nói đến việc trong Quả-Thịnh lăng: Ấu- Mai thấy Tố-Hà đi mãi chưa về, băn khoăn nghĩ mãi không hiểu duyên cớ vì đâu. Tự nhiên nàng thấy trong bụng buồn bã vẩn vơ.
Nỗi buồn ấy, nàng hỏi mãi không biết tự đâu đưa lại. Đương khi vào ủ ra ê, thì thấy con Thúy-Hồng vào thăm, mặt mày ngơ-ngác:
— Chị Mai ơi ! có lẽ sắp có tai vạ chứ chẳng chơi đâu ! em lo lắm…
Vừa nói, Thúy-Hồng vừa thở hồng hộc. Đợi Thúy-Hồng hết thở, Ấu-Mai nói:
— Cái gì? em vừa nói gì? Cái gì mà tai vạ, làm sao mà như người mất hồn mất vía thế?
— Chị ơi ! Thằng cha Kiều-Cảnh trốn đi mất sáu hôm nay rồi, em lấy làm lo lắm. Nói đổ sông đổ bể, lỡ nó biết việc ta mà đi tố thì chết.
Ấu-Mai nghe đến đó chột dạ, song vẫn nói cứng:
— Không, nó bết đâu! Không sợ... mà lạ quá! trong này chị Tố-Hà cũng đi vắng chừng sáu, bảy hôm rồi.
— Sao chị lại bắt chuyện chị Tố-Hà vào chuyện thằng Kiều-Cảnh ?
— Ồ nhỉ... cũng là ngẫu nhiên đó mà thôi.
Hai chị em đương nói chuyện thì bỗng thấy lính vũ-lâm vào cổng, áo nỉ đỏ ngòm, theo sau một vị quan ngồi chiếc võng đào, đầu che hai lọng. Đó là quan Lăng-giám đến khám chỗ ở của Ấu-Mai. Tới nhà riêng Ấu-Mai, quan Lăng-giám nói:
— Có kẻ tố-cáo với ta rằng : Mi chứa trai trong nhà này, có không?
Ấu-Mai nghe nói, tái hẳn mặt đi, không đáp được nữa. Viên Lăng-giám quay lại bảo lính:
— Chúng bay vào khắp các phòng, giường, hòm, chăn xem !
Lũ lính vâng lịnh; trong chốc lát, Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ đã bị chúng lôi cổ ra.
Viên Lăng-giám hỏi Vũ Lăng-Hầu:
— Thằng kia, mầy tên là gì ? người ở đâu?
Vũ Lăng-Hầu ngước mắt nhìn lên xà nhà mà không thèm đáp.
— À thằng này to gan thật! Mầy dám cả gan vào trộm chốn này, bây giờ mầy lại làm bộ với tao à?
Vũ Lăng-Hầu nói:
—Tao làm trái phép nước, đành chịu chết, nhưng tao không phải nói năng gì với mầy!
— Lính đâu ! trói cả chúng nó vào cho tao!
Lính vâng lệnh, trói trật-cánh- khỉ Vũ Lăng- Hầu, Ấu-Mai cùng Thúy-Hồng, đoạn lại lấy dây thừng dài trói cả ba người vào một xâu. Viên Lăng- giám cứ thế giải cả ba người sang tòa Thừa-chánh để đợi ngày giải kinh, giam ở tòa Ngự-sử.
Giải sang tới tòa Thừa-chánh, đương giữa buổi hầu, quan Thừa-chánh-sứ đương đăng đường xử việc.
Viên Lăng-giám vào, cho lính giữ các tội nhân dưới hè, rồi lên cổng đường nói:
— Năm hôm trước, một người cung nhân đến tố cáo với ty-chức một việc dâm loạn xảy ra ở nhà riêng người cung nhân họ Đặng. Đã hơn nửa tháng nay, ty-chức không tin, giữ đứa tố cáo lại ở cang Kiền-Long rồi cho người đến chỗ ở riêng người cung nhân ấy dò la. Khi dò đã được đích xác rồi, ty chức đến khám, bắt được quả tang, liền cho giải cả sang đây, chờ lệnh quan lớn xét xử.
Quan Thừa-chánh nói:
— Sao lại có việc lạ thế, sáng hôm nay tôi cũng vừa tiếp chiếu chỉ, bắt kê hết tên cung nhân dưới ba mươi tuổi, hiện đương ở trong Quả-Thịnh lăng.
— Thưa kể để làm gì?
— Để đến sau ngày lễ tốt-khốc Tiên-đế thì cho thải về cả. Người cung nhân ông bắt được quả tang mắc tội loạn dâm ấy, tuổi chừng bao nhiêu?
— Bẩm tôi chưa tra rõ, nhưng cũng trạc hai mươi bốn, hai mươi nhăm gì đó.
— Thế liệu chừng cái số cung nhân dưới ba mươi tuổi ở Sơn-lăng có độ mấy người?
     —Bẩm độ năm, sáu người, mà trong số đó chắc phải có người cung nữ họ Đặng, người cung nữ họ Hoàng là người ở chung một nhà với người họ Đặng, là người đi tố với ty-chức các việc dâm loạn kia.
— Thế thì trời hại chúng nó, ông cho chúng nó lên trên này để tôi hỏi.
Sau một tiếng gọi, lính dắt một lũ người lên hè. Quan Thừa-Chánh trông thấy Vũ Lăng-Hầu, sửng-sốt mà rằng:
— Chết nỗi l Đức ông ở trong cành vàng lá ngọc mà cũng mắc vào cái tội ô-uế này ư?
Vũ Lăng-Hầu:
— Kể ra thì cũng chẳng ô-uế gì, đại-nhân nói lầm to!
— TôỊ nói lầm! Đức ông nói lạ! Đức ông vào tận lăng Tiên-đế, làm chuyện gian dâm, điều đó tôi bảo là ô-uế, còn dè dặt lời nói lắm đó, Đức- ông lại ban là tôi lầm.
 
— Đại-nhân chỉ biết có một việc giữ phép nước mà thôi, tôi phạm phép nước thì tôi chịu tội. Còn như nói là ô-uế thi vị-tất... còn có việc ô-uế hơn việc tôi làm.
— Thế là việc gì thế, tâu Đức-ông?
— Sống làm hại gần trăm gái non vô tội, chết đi lại đem hàng trăm người vô tội dìu đến ấp đống xương mục dưới đất. Cái thói dâm-ô đến lúc nằm dưới đất đen, có lẽ còn ô-uế bằng vạn cái tính háo sắc thường của tôi!
Quan Thừa-chánh quát:
— À quân này láo, mầy nói lý sự với tao à? Lính đâu tống cổ chúng nó xuống cả trại.
Quan Thừa-chánh lại bảo viên Lăng-giám:
—Cho ông về, ông giải con bé cung nữ đi tố cáo việc ấy sang đây để lấy cung.
Dưới trại, ba người bị giam ở phòng ông Hoàng Duy-Lễ cùng Ấu-Mai bị cùm. Ở phòng thứ ba, Tố-Hà được biệt đãi không phải cùm xích gì cả. Dòm qua khe bức tường ván Ấu-Mai thấy Tố- Hà ngồi trong phòng bên cạnh liền lên tiếng gọi:
— Chị Tố-Hà, chị còn nhớ lời thề chứ?
Gọi ba lần Tố-Hà không đáp, Ấu-Mai liền nghĩ bốn câu thơ đọc sang cho nghe rằng:
Giăng thanh còn đó chiếu bên mành,
Nỡ phụ nhau chi một chút tình.
 Thề thốt những gì xin nhớ lại,
 Ở ăn chẳng sợ có giời xanh.
Đọc xong thơ cũng không thấy Tố-Hà trả lời. Ấu-Mai nằm xuống thở dài, bụng nghĩ rằng : ‘‘Mình nói gì với nó cũng bằng thừa mà thôi. Con người bất nhân đến thế nói làm gì nữa! Âu là số mệnh hẩm hiu thì mình cam chịu, kêu gào trách oán ai cũng là vô-ích.’’
Chiều hôm ấy, đến bữa cơm, tên ngục lại mang cơm vào, tháo cùm ra, bảo Ấu-Mai rằng:
— Cô giam ở phòng cạnh có gởi cho cô mảnh giấy, tôi để dưới trôn bát ấy.
Khi tên ngục-lại ra, Ấu-Mai móc trôn bát lấy ra một mẩu giấy. Mở ra trông rõ bốn dòng chữ Tố-Hà viết, thì là một bài họa lại bài thơ đọc ban trưa.
Em vì nghĩa cũ chút tình mành;
Cốt nhục thù kìa một mối tình.
Vàng ngọc tiếc thân đem dấn bụi,
 Hồng-trần phụ những mắt ai xanh.
‘‘Sau đây xin có thư dài bộc bạch can trường nay tạm hãy xin họa lại bốn câu thơ của chị’’.
Ấu-Mai xem thơ cười sằn sặc mà rằng:
— Mầy có can trường gì nữa mà nói bộc bạch? Chẳng qua là số tao chẳng ra gì thì tao gặp mầy, mầy còn nói khéo nỗi gì nữa? Tao mắc nạn này dù có chết cũng cam tâm, tao chỉ thương cho mầy vị tất đã thoát nổi chốn Sơn-lăng mà thôi!
Tối hôm ấy Ấu-Mai có lệnh triệu lên công đường hỏi cung. Lên tới nơi, quan Thừa - chánh nói:
— Tôi là bạn với ông Chiêu sinh cô ra, vẫn có ý che chở cho cô đó, ở Kinh cụ nhà hết sức vận động, trong phủ Chúa, đã được Chúa tâu Kim- thượng ra ân thải hết những cung nhân hiện ở Sơn-lăng mà chưa đầy ba mươi tuổi. Nếu không xảy ra việc này thì còn non một tháng nữa, đến tuần tốt-khốc Tiên-đế thì cô được ra; Chiếu chỉ hiện tôi đã tiếp được đây. Nay xảy ra chuyện này, thì ơn trên không trông mong gì nữa. Việc lại dính đến Vũ Lăng-Hầu là người chúa-thượng vẫn ghét, khó lòng mà toàn vẹn được.
— Nếu thật không sao thoát được nạn thì xin đại-nhân gọi mẹ tôi ở ngoài phố vào đây, tôi được trông mặt mẹ già rồi xin tự liệu ngay trong ngục, bất-tất phải giải tôi về kinh nữa.
— Không nên! Việc con Tố-Hà nó tố cô, chỉ có viên Lăng-giám và tôi biết mà thôi, tôi sẽ liệu thu xếp với ông ta bỏ hết lời cung của con Tố -Hà thì có thể thoát được tội, ở nơi biên-trấn này, quyền ở cả tôi; vậy cô hãy tạm ở đây cho đến ngày tốt-khốc Tiên-đế.
Ấu-Mai phục xuống đất lạy tạ mà rằng:
— Nếu đại-nhân thương được đến như thế thì thật là đại-nhân cứu được tính mệnh một nhà, ơn ấy, biết trời bể nào ví được. Nhưng còn Vũ Lăng- Hầu thì sao?
— Nếu muốn cứu cô thì phải cứu cả Vũ-Lăng- Hầu, cả con Tố-Hà... tóm lại phải coi như không có chuyện gì cả. Để sáng mai, tôi vào tận Sơn-lăng, thu xếp cùng viên Lăng-giám, cùng bảo lũ cung nhân nó quên rằng có việc ấy đi; cô hình như cũng được chị em yêu quí thì phải.
— Vâng!
— Thế thì được, công việc thế nào chiều tối mai tôi nói cho hay. Thôi, bây giờ cô hãy tạm vào nhà trong, nghĩ với các em. Vũ-Lăng-Hầu tôi cho lính đưa ra ngoài phố, giao cho một người lại- mục phải giữ.
Ấu-Mai vào trong nhà rồi, quan Thừa-chánh lại gọi Tố-Hà lên trách mắng và bảo lẽ hơn thiệt và bắt vào trong nhà ở riêng một phòng.
Chiều hôm sau, quan Thừa-chánh thu xếp ổn hết cả mọi việc, mọi người đều hi-vọng thoát nạn cả, thì đến sáng hôm sau, bỗng có phi-kỵ ở kinh mang trát của toà Ngự-sử bắt phải lập tức giải Vũ-Lăng-Hầu Lê Duy-Lễ, cung-nữ Đặng Ấu-Mai và Hoàng Tố-Hà về kinh ngay để cứu cái án dâm loạn ở Quả-Thịnh lăng.
Chú thích:
[1] Đời Hán. Trương Xưởng làm quan Dõan đất Kinh-Triệu ở nhà, có khi trong phòng, vẽ lông mi cho vợ. Tiếng phao lên đến tai vua. Vua hỏi, Trương đáp: Tôi nghe ở trong buồn khuê, việc riêng của vợ chồng, còn có việc quá việc vẽ lông mi.
[2] Kẻ thù của mẹ cha chẳng có thể đội chung trời cùng.
[3] Cho tới trước hồi Bảo hộ dân gian gọi phủ huyện là lệnh ông. Chứ quan lớn chưa bị đem xuống gọi các quan nhỏ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.04.2022 10:28:52 bởi Thanh Vân>
VI
Tại tòa Ngự -Sử
 
 
THẾ nào? đầu đuôi thế nào, mầy phải nói cho thật rõ. Mà nói cho thật thà đừng thêm bớt gì, đừng ghét người mà nói vu thêm, đừng vì tình riêng mà nói nhẹ bớt chuyện, sau này hỏi cung lại lần thứ hai ở Đại-lý-tự, nếu cung mầy mà tiền-hậu bất-nhất thì mọt gông!
— Vâng ! con xin thật tình khai cả.
— Từ câu này trở đi tao bắt đầu tự vào cung, ăn nói, cho đúng mực.
— Vâng !
— Tình-ý thế nào mà mầy đoán là có việc gian ?
— Bẩm hôm con hầu bà Chiêu vào...
— Ai biết bà Chiêu nhà mầy là ai. Phải nói rằng: hôm theo chủ con là vợ góa ông chi… chi... đó...
— Hôm con theo chủ con là vợ góa ông Chiêu Đặng Thụ-Ấm vào Thanh, đi đường con thấy con Thúy-Hồng nói nhỏ với lão già Thông rằng: Chỉ có cho vào hòm quần áo là mang vào được.
— Hôm qua mầy nói là con Thúy-Hồng cùng lão già Thông vào Thanh thuê nhà trước kia mà?
— Vâng ! con quên mất. Khi vào tới Thanh, con thấy nó nói nhỏ với nhau như thế, con lấy làm lạ quá, không hiểu chúng nó cho gì vào hòm. Từ hôm ấy con vẫn để ý, đến hôm mười chín con thấy con Thúy-Hồng nó rủ con ra ngoài phố chơi, rồi nó bảo con rằng:
‘‘— Anh sinh trưởng ở đất đồng rừng. Chắc không biết thú trai thanh, gái lịch ở Tây -Kinh, anh có muốn biết không?
‘‘ Con trả lời có thì nó đưa con vào một nhà đào nương ở phố cửa Tiền. Đến cửa, nó đưa cho con một lạng bạc, chỉ nhà mà bảo con rằng:
‘‘ — Anh cứ vào kia, khác có người tiếp đãi chiều chuộng anh. Anh ngủ ở đấy cũng được, anh cầm tiền đây, sáng mai trả tiền cho người ta.
‘‘ Con bảo nó rằng:
‘‘ — ... Thế còn chị, chị ghét tôi à? Nó cười mà bảo con :
‘‘ — Thì anh hãy vào chơi đấy, lấy chỗ quen, để sau này rồi tôi cùng anh sẽ lấy chỗ hẹn hò cùng nhau. Sau này…anh nghe chưa…?’’
— Mầy có tình với nó à?
— Vâng... Vả cũng là lẽ thường.
— Làm sao nữa, nói nốt đi.
— Hôm ấy, con lấy làm nghi lắm, nên nó về được độ nửa tiếng, con lại quay về, lẻn vào cổng sau, nấp ở sau nhà dưới nghe xem chúng nó bàn nhau những gì. Con vừa để tai nghe thì thấy con Thúy-Hồng nói đến câu:
‘‘ Mợ có hay đâu rằng: tình có luân thường nào trói nổi. Tôi đã bảo Vũ Lăng-Hầu chờ sẵn ở con đường Quả-Duệ vào Lăng. Hòm còn thừa một chỗ vừa người nằm... già hiểu chưa ?’’
‘‘ Nghe tới đó, con lại ra nhà đào nương, ngủ một mạch đến sáng hôm sau, trời chưa tan canh, con đi vào Quả-Thịnh lăng thật sớm. Đi đã được một thôi, con lại nghĩ bụng rằng : ‘‘ Đi suốt đêm sáng không về thì người nhà họ sinh nghi, con lại về nhà. Về tới nhà, cơm nước họ vừa làm xong, con cùng lũ người nhà ăn cơm.’’
— Mầy bỏ chỗ ấy đi. Ăn cơm hay uống nước, việc ấy không quan hệ gì đến lời cung cả.
— Con phải nói cho có đầu đuôi hẳn hoi Cơm nước xong, họ sắp sửa gánh hòm cáng đi, để con ở lại coi nhà.
— Thế mầy ở lại nhà?
— Con phải nhận lời ở lại coi nhà, nhưng khi họ đi khỏi chừng rập miếng trầu, con lẻn theo lối tắt, đến làng Quả-Duệ trước, nấp ở trong miếu đầu cổng làng để chờ.
— Mầy đi sau, sao đến trước được.
— Sức con đi gấp mười người thường. Từ Thanh ra đây con chỉ phải đi có ba ngày mà thôi,
— Được rồi, sao nữa ?
— Con chờ được độ hơn một tiếng. Thấy con Thúy-Hồng đi trước, đến gốc cây đề trước miếu hú ba tiếng thì một người con trai ở sau cái bệ vôi thờ thần chui ra. Giữa lúc ấy, lão già Thông và con Vú Mai khiêng hòm vừa tới, người con trai chui vào hòm, chúng nó đậy nắp lại hẳn hoi rồi khiêng hòm đi vào lối Sơn -Lăng.
‘‘ Một lúc lâu nữa, con mới thấy già trẻ lớn bé nhà bà Chiêu đi qua. Biết đích là chúng nó đem Vũ Lăng-Hầu vào cho con Ấu-Mai, con liền về. Mươi hôm sau, con xin phép về thăm mộ bố mẹ con ở Thiên-Quan, rồi thẳng đường ra Kinh vào đây trình quan lớn việc dâm loạn ấy.’’
Câu chuyện kể trên là chép lúc quan Ngự-Sử hỏi cung thằng Kiều-Cảnh; thế là việc ở trong Thanh, con Tố-Hà làm phản, quan Thừa-Chánh đã bịt đi được rồi, mà việc hãy còn thấu đến tận Đế-Kinh.
Quan Ngự-Sử chép hết lời cung xong, vuốt râu đắc chí nói rằng:
— Được... được... phen này ta mới có dịp báo thù thằng Đặng Phi-Hiển.
Nguyên viên Ngự-Sử bấy giờ là người trong họ Trịnh. Tên là Trịrth-Kha là anh em thúc bá với Chúa Nghị-Vương Trịnh-Tráng. Lúc ông Đặng Phi-Hiển làm Kinh-thành phủ-thừa, một hôm đi bắt đám đánh bạc ở phường Đồng-Xuân, bắt được Trịnh-Kha là nhà chủ gá, Trịnh-Kha thấy lính phủ kéo vào, nói với Đặng Phi-Hiển rằng:
—Tôi là anh em thúc bá với Chúa-Thượng, ông nên nể mặt Chúa-Thượng mà tha cho tôi.
— Tôi chỉ biết anh là Chủ-Thổ gá bạc, không biết anh em thúc bá với Chúa-Thượng là ai cả!
Nói rồi ông cứ cho lính trói giải về phủ Doãn. Phủ Doãn thấy là họ nhà Chúa, liền giải sang phủ Liêu.
Chúa Trịnh liền đem Trịnh-Kha ra đánh thị-nhục [1] ở giữa phủ để làm gương cho con cháu.
Từ đó Trịnh-Kha thầm oán Đặng Phi – Hiển. Sau y thi đỗ Hương-Cống được bổ làm quan. Trèo mãi thang hoạn lên tới Ngự-Sử.
Tiểu-nhân đắc-chí, phen này y cố dụng tình báo thù cho bõ nỗi căm hờn chứa hàng mấy chục năm.
Vì thế nên lấy cung xong, một mặt Trịnh-Kha làm án ngay để đệ sang Đại-lý-tự, một mặt làm trát cho vào Thanh bắt ngay bọn Ấu-Mai giải lên Kinh. Y làm như thế, là có ý nắm chắc lấy việc, không khiến ai có thể len vào làm lấp-láp đi được. Chính ra, cứ theo thủ tục thì bao nhiêu việc xảy ra ở các trấn, quyền lấy cung, làm án phải do tòa Thừa-chính làm, khi xong hết rồi mới phải gởi về bộ Hình. Bộ Hình khi tiếp được án, việc có quan trọng lắm mới phải đem ra tòa Tam-Pháp. Đây viên Ngự-sử làm thẳng ngay án chép làm ba bản, một bản gửi sang Đại-lý-tự, một bản gửi sang bộ-hình, một bản gửi sang hình -phiên bên phủ Liêu, lấy cớ rằng việc can thiệp đến một vị Hoàng-thân, xảy ra ở giữa Lăng Vua, phải đem ra Tam- Pháp xử ngay.
Quan Thừa -Chánh trong Thanh -Hóa trấn
 Cũng biết thế là trái phép, lạm quyền, nhưng vì việc cũng to vả viên Ngự-Sử lại là họ nhà Chúa, nên cũng phải thuận-thụ mà cho áp giải cả bọn tiến Kinh ngay, khi bọn Vũ Lăng-Hầu giải ra tới tòa Ngự-sử rồi, Trịnh-Kha đem giam ngay vào ngục, trong tòa Ngự-sử. Rồi ngay đêm ấy cho lính gọi Đặng Tri-phủ vào tòa Ngự-Sử. Vào đến nơi, Trịnh- Kha mời ngồi hẳn hoi rồi hỏi khảy rằng:
— Quan Hoàng bây giờ mạnh khỏe chứ, quan lớn còn nhớ cái đám bạc năm xưa ở phường Đồng- Xuân đó chứ? Bây giờ quan lớn đã biết thằng Trịnh-Kha này là ai chưa?
Đặng Phi-Hiển cười nhạt mà rằng:
— Tôi vẫn nhớ ông là chủ sòng bạc năm xưa là người đã bị đinh trượng thị-nhục ở phủ Liêu năm nọ.
Trịnh-Kha cũng cười nhạt, cái cười cũa quân tiểu nhân đắc chí nó lạnh lùng khe khắt nghe mà rùng mình.
— Tôi bấy giờ mới được biết ông là quan cương trực... cương trực lắm... Bây giờ tôi lại biết ông cũng là người dối Vua lừa Chúa nữa.
— Ông nói càn! Tôi không phải là người ngồi ứng đối nhảm với ông. Thôi, xin vô phép.
Nói xong, Đặng Tri-phủ đứng dậy ra về không thèm chờ nữa. Trịnh-Kha đứng dậy kéo áo ngọt ngào mà rằng:
— Ông cũng vô tình chứ chẳng dụng tâm khi quân [2] nào...
‘‘ Ông hãy rán ngồi, tôi xin thưa hết câu chuyện’’.
Đặng Tri-phủ vùng vằng quay lại nói:
— Anh bảo thế nào là khi quân?
— Tiểu-sinh nói có bằng cớ hẳn hoi, bỗng dưng đâu dám nói hỗn với bực tiền-bối.
— Anh bảo thế nào là bằng cớ?
— Thì hãy mời đại-nhân ngồi chơi đã nào.
Đặng Tri-phủ lại trở lại ngồi, Trịnh-Kha nói:
— Đại-nhân cho người mang trai vào Quả-Thịnh lăng cho cháu gái phải không?
— Trai nào?
— Đại-nhân cứ giả ngây mãi. Ở Quả-Thịnh lăng mới xảy ra một việc dâm Ioạn mà thủ phạm là Đặng Ấu-Mai cháu nội đại-nhân, cung-nhân Tiên-đế và ông Hoàng Duy-Lễ, tước Vũ-Lăng-Hầu, là thứ huynh [3] đức Huyền-Tông. Đại-nhân đã rõ chưa ?
Nghe dứt câu, Đặng Phi-Hiển tái hẳn người đi. Cố nén lòng, ông còn hỏi với một câu:
— Có chứng cớ gì đích xác hơn nữa không ? Hay chỉ là bày một lời đồn nhảm.
— Đây, xin đại-nhân đọc kỹ tập giấy lộn này.
Trịnh-Kha đưa cho Đặng Phi-Hiển tập án tòa Đô vừa thảo xong. Đặng Phi-Hiển cúi đầu giở từng tập một xem cho bằng hết. Xem xong ông giao trả Trịnh-Kha, đứng dậy xin cáo từ.
— Vâng! tôi hiểu rõ lắm rồi. Tôi xin chết, thế là xong hết, không phải bàn tán lôi thôi gì cả.
Ra khỏi cửa, đã xuống thềm rồi, ĐặngTri-phủ lại quay lại hỏi:
— Tôi muốn đối chất cùng kẻ tố cáo có được không?
— Kẻ đối chất thì không phải việc, nhưng đại-nhân muốn thì cũng được. Đại-nhân muốn đối chất ngay hay là để đến mai?
— Ngay bây giờ.
— Vâng! Thế hãy xin mời đại-nhân ngồi chơi lát nửa.
Trịnh-Kha liền gọi tên lính bảo rằng:
— Mầy xuống dưới trại gọi thằng Kiều-Cảnh lên đây.
Nghe thấy hai tiếng Kiều-Cảnh, Đặng Tri-phủ kêu lên rằng:
— Thôi, tôi làm hại con cháu tôi rồi.
Một lúc, lính dẫn Kiều-Cảnh lên, Đặng Tri-phủ trông thấy, trỏ mặt mắng rằng:
— Thằng kia, tao phụ gì mầy, mà mầy lập tâm hại tao? Năm sáu năm trời mầy ở với tao, lao có đãi mầy điều gì tệ không? Mầy là con đứa đạo tặc, tao đã dung cho không làm tội, ơn ấy mầy quên à?
Kiều-Cảnh nói:
— Ông giết cả nhà tôi chưa chán tay hay sao? Thù ấy tôi lại quên được sao? Ông khéo kể ơn xằng gì... ? Giết cha mẹ anh em người ta mà lại còn mở mồm ra kể ơn. Ông lão này gớm thật, Ăn nói không biết ngượng mồm nữa. Cháu gái ông đem trai vào trong Sơn-lăng, dâm loạn bậy bạ giữa nơi thờ phụng Tiên-đế. Ông dạy con cháu như thế mà còn dám mở mặt trông thấy thiên-hạ, tôi cũng chịu cho cái mặt ông dầy!...
Đặng Tri-phủ nghe vừa buồn vừa tức, không nói lại được câu nào, quay gót ra ngay, cảm động quá, ông run hết cả chân tay đi không, vững nữa, Trịnh- Kha cho hai tên lính dìu ra đến ngoài cổng để ông lên võng khiêng về. Đặng Tri-phủ ra khỏi rồi, Trịnh-Kha lại quay lại bảo Kiều-Cảnh rằng:
— Sang bên Hình-Phiên mầy phải khai là việc đưa lão Hoàng Duy-Lễ vào Sơn-lăng, cả nhà con mẹ Chiêu Đặng Thụ -Ấm cùng bàn tính cả. Mà mưu mô ngay từ khi đức Tiên-đế mới ninh-lăng. Mầy phải đặt lời ra mà khai rằng: Lão Hoàng Đặng Phi-Hiển, con dâu lão, và cả nhà bàn tính sẵn ngay từ lúc còn ở Kinh. Từ việc vào Thanh thuê nhà trước cho đến bỏ người vào hòm lừa quan Lăng-giám, đều tính toán trước cả.
— Nhưng không đúng như lời con đã biết thì làm thế nào?
— Mầy còn tính chất mường mán chân thật thật! Nếu mầy cứ khai đúng sự thực thì có phải tội, chỉ tội con Ấu-Mai và mấy đứa đầy tớ mà thôi. Mà ‘‘ Trị gian bất tố dữ tội đồng’’ [4] , thường mầy cũng phải tội lây cũng có.
— Con có báo đấy chứ!
— Nhưng mầy không báo ngay.
— Thế thì làm thế nào, trời ôi!
Kiều-Cảnh vừa nói vừa nước mắt chạy quanh. Trịnh-Kha vỗ-về rằng:
— Thế thì mầy phải khai như tao vừa bảo xong. Nhà nước trị được nhiều người rồi thì mầy thoát.
Hình quan họ hay khát máu người lắm. Mỗi khi có án gì ra mà họ trị tội không được nhiều, máu khát của họ chưa thỏa thê, họ vơ quàng vơ xiên mà trị tội. Mầy đem cả nhà họ Đặng Phi-Hiển ra hiến máu thì họ mới đỡ khát. Đã khát, rồi họ mới thôi cho, không vơ quàng xiên nữa.
— Xin vâng!
— Vả lại mầy đối với lão ấy có cái thù to thế kia mà!... Nếu chỉ làm tội cái đứa nhãi ranh sao cho xứng với cái thù to của mầy?
— Xin vâng!
Hôm sau lính phủ Đô dẫn Kiều -Cảnh sang Hình-phiên bên phủ Chúa.
*
Mấy hôm sau, ở tòa Đô (tòa Ngự-Sử) lại có cuộc hỏi cung những người đồng phạm. Trước tiên hỏi Ấu-Mai:
— Con kia, những ai bày mưu cho mầy đem trai vào Sơn-lăng?
— Việc ấy chỉ có tôi và con Thúy-Hồng thôi.
— Chỉ có hai đứa thì mầy làm thế nào được. Vô lý.
— Tôi ở trong Sơn-lăng biết thế nào được việc ngoài.
— Thôi cho mầy xuống trại.
Ấu-Mai xuống, lính lại gọi Thúy-Hồng lên:
— Những đứa nào đồng mưu với mầy?
— Công việc ở tôi cả. Vì tôi hầu chị tôi từ thuở nhỏ, thấy chị tôi mắc cái họa sống cũng như chết, nên tôi thương chị tôi mà lập mưu cho ông Hoàng Duy-Lễ vào Sơn-lăng.
— Việc này cả nhà mầy bàn với nhau, từ hôm sắp Ninh-lăng Tiên-đế, mầy nói láo gì?
— Tôi làm, tôi chịu tội chết, ngoại giả không dính dáng đến ai cả.
—Thằng Kiều-Cảnh nó đã khai cả, mầy còn chối à?
— Nó nói láo, vì nó có thù cũ với chủ- nhân tôi, nên cố ý vu hãm để làm hại cả nhà chủ tôi. Những quân phản chủ ấy không thể tin được.
— Những đứa trung thành với chủ để làm việc phi-lễ như mầy thì tao phải tin hay sao?
— Tôi có tội, tôi xin chịu tội, bất tất phải căn vặn lôi thôi nữa.
— Liệu đó! sang bên Hình-phiên còn được nát thịt vì cái thói gan góc xằng ấy nữa cũng có, ở đây tao chỉ lấy lời hỏi tử tế mầy lại không chịu.
— Đánh tôi đến chết, thì tôi cũng chỉ nói thế mà thôi, thân tôi có thể đem ra băm chém được, lòng tôi không có thể cướp được. Tôi tuy thân phận là tôi đòi, nhưng cũng biết sĩ nhục tín nghĩa một đôi phần ... chẳng như ai đâu!...
— Chẳng như ai? Mầy nói chẳng như ai?
— Tôi nói chẳng như người tiểu nhân khác...
— Mầy bảo ai là tiểu-nhân?
— Tôi bảo những người tiểu-nhân, là tiểu-nhân.
— Chỗ này là chỗ mầy cãi lý với tao đấy hẳn? ...
— Thì nào tôi cãi lý sự gì? Quan lớn vặn tôi, bắt tôi nói những lời tôi không thể nói được, rồi quan lớn bẻ hành, bẻ hẹ, nhưng tôi bảo ai là tiểu- nhân... rồi quan-lớn lại bảo là lý sự...
Biết rằng không thể dụ được nữa. Trịnh-Kha bèn cho Thúy-Hồng xuống dưới trại mà cho gọi Vũ Lăng-Hầu lên. Lên tới nơi, Trịnh-Kha vồn vã hỏi:
— Đức-ông sao lại nhảm nhí như thế .
— !
— Sao đức-ông lại hạ giao như thế?...
— !
— Đức-ông chắc thừa rõ phép nước…? Ô hay ! Sao tôi hỏi đức-ông ba lần, đức ông không buồn đáp thế?
— Đưa giấy bút đây ta tưởng khai cả, bất-tất phải hỏi-han gì cả.
— Ngộ tôi chỉ muốn hỏi mà làm cung lấy thì đức-ông nghĩ sao?
— Đưa giấy bút đây !
— Tôi đã có nha-lại viết hầu đức-ông, đức- ông không phải viết. Đức-ông phải rõ rằng : Hiện bây giờ đức-ông chỉ là người phạm phép nước, mà tôi là quan Ngự-Sử.
— Cái chức Ngự-Sử của mầy, mầy tưởng là to lắm đó.
‘‘ Ta tuy có phạm phép nước, nhưng cũng chưa phạm đến tội ‘‘ Thập ác’’ [5] chiếu theo quốc điển ta còn được theo bát-nghị [6] mầy đừng có láo !’’
— Tội thế mà không là đại ác? Anh là con hoang, chắc đâu anh được theo bát-nghị !
 Vũ Lăng-Hầu nhổ đánh toẹt một cái mà không thèm trả lời: Trịnh-Kha giận lắm, rú lên như con thú dữ bị người ta trêu ghẹo.
— À ! Anh láo thật ! Cành vàng lá ngọc giả mà cũng hợm thế à? Này tôi đây thì nói thật: cành vàng lá ngọc thật cũng chẳng ăn ai, huống hồ là giả...
Nói dứt câu, Trịnh-Kha vùng vằng đến sập nẳm ngả xuống, tay chống hàm, mắt lừ-lừ nhìn Vũ Lăng-Hầu, vừa hầm hầm vừa cảu nhảu: Vàng ngọc giả mà cũng phết lắm. Chẳng biết vàng ngọc thật thì gớm đến đâu!
Mỗi tiếng cảu nhảu hình như thêm một ít giận dữ vào khối óc, nên một lúc ngồi phắt dậy thổ ra mấy tiếng rất nhanh:
— Ngay Hoàng-đế nhà mầy cũng chỉ là thằng thơ-lại cho nhà Trịnh tao mà thôi !
Câu này kể ra gồm đến hai mươi chữ, song lúc khí đầy tức ruột, hắn buôn tuột ra như thế chỉ có năm sáu tiếng, câu nói trơn tuột, giọng cụt lủn ấy chỉ giằn xuống ở chữ nhà một hơi mạnh.
Trong lúc vô tình, hắn gọi họ Trịnh hắn là Nhà, tỏ ra rằng bình-nhật hắn vẫn coi cơ  nghiệp hoàn toàn của họ Trịnh cả.
Vũ Lăng-Hầu chẳng thèm nghe rõ xem hắn nói là những gì nữa, nhưng trông bộ điệu, nghe giọng nói, cũng thừa biết Trịnh-Kha nói điều hỗn lắm. Một tiếng nhà giằn giọng xuống đủ làm cho ông hiểu:
— Con cháu thằng Trịnh-Tùng gớm thật! Đồ loạn thần tặc tử, mầy phải biết tay tao !
Vũ Lăng-Hầu xông lại toan lấy cái xích sắt ở tay đập vào mặt Trịnh-Kha thì hai tên lính lôi xuống trại ngay.

Ngày hôm sau, ở tòa Đô-lại có cuộc thẩm vấn lại. Lần này, Trịnh-Kha chỉ hỏi Thúy - Hồng mà thôi.
— Thế nào? Con nhận đi chứ ! Thế nào thì việc cũng lộ cả rồi, con còn giấu làm gì nữa. Cái án này cốt tử là việc dâm-loạn trong Quả-Thịnh lăng. Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ, cùng cung-nhân Đặng Ấu-Mai đều bị bắt quả tang ở một nhà trong Sơn- lăng, việc thế là việc hiển nhiên rồi, còn chối cãi làm sao nữa?
— Ừ thì việc cũng chỉ có thế, can chi ông cứ căn vặn lôi thôi mãi cho nó dài câu chuyện ra. Việc kết cục. Chỉ có Vũ Lăng-Hầu chết, chị Ấu- Mai chết, tôi chết thế là cùng, chứ còn gì nữa.
— Còn nữa chứ con... Chẳng nhẽ Vũ-Lăng- Hầu độn-thổ vào Sơn-Lăng ? Chẳng nhẽ ông có phép tàng hình che mắt quan Lăng-giám mà vào được? Tất phải có mưu mô, tất công việc phải định trước, tất phải có người đồng phạm.
— Tôi mưu, công việc ở tôi cả, đồng phạm cũng chỉ có tôi...
— Con có trăm tay hay sao mà làm được bằng ấy việc.
— Thôi... ông cứ khép án, đến phải lăng-trì, xử-tử là cùng, bất tất phải nói lắm nữa.
— Bất tất... hai chữ bất tất của nó mới gọn ghẽ làm sao! Con chịu chết, bất tất cái đó còn phải nói nữa. Nhưng việc không có đầu đuôi, thì văn án làm ra thế nào ? Con cứ khai ra, tội gì đứa ăn ốc, con phải đổ vỏ… Thế nào... con... con nói đi. Mưu bàn từ bao giờ, những ai dự bàn. Vào Thanh đầu đuôi thế nào?
— Thôi ông đừng hỏi nữa, vô-ích. Tôi chết thì thôi, chứ thề không bao giờ hại ai.
— Con có làm hại ai, người ta làm người ta chịu tội, chứ con có làm hại ai?
—……
— Phải con nên nghĩ kỹ, nên cân nhắc lợi hại mà xem.
-      ……
— Con còn trẻ trung, tội gì mà hứng lấy than đỏ lửa hồng.
—      …..
— Thế nào, con nghĩ đã chín chưa?
—      …..
— Phải đấy, con nghĩ chín rồi, khai đi nhé.
Một lúc lâu lắm nữa, vẫn không thấy Thúy-Hồng trả lời làm sao, sốt ruột, Trịnh-Kha gắt giọng:
— Làm gái mãi, nói đi?
Thúy-Hồng liếc mắt nhìn, Trịnh-Kha thấy đôi mắt nhìn, tự nghĩ có lẽ Thúy-Hồng đã dìu dịu muốn xiêu lòng mà vì mình đổi giọng nên nàng lại quay lại thế cũ chăng.
Nghĩ thế, y đến tận nơi, tay khẽ vuốt má Thúy-Hồng.
—Trời ơi! quốc sắc thiên hương chừng này mà tự hãm mình vào trong lưới tội, chẳng biết bụng dạ nghĩ ra thế nào?
Thúy-Hồng thấy Trịnh-Kha hết ngọt đến sẵng, lại hết sẵng đến ngọt, tự nghĩ rằng: ‘‘ Thôi thì mình đã liều thân, còn nghĩ ngợi gì. Mình cự tuyệt ngay thằng này cho nó dứt cái câu chuyện cù nhầy, lẵng nhẵng. Tai phải nghe giọng nói khả- ố, mắt phải trông đứa tiểu nhân nó làm trò nỡm mãi thế này, khổ hơn là bị ‘‘chết chém’’. Nghĩ thế nàng quắc mắt lên, nói:
— Thằng kia ! mầy đừng nghĩ mầy rung chuyển được bụng tao. Tao tuy là đứa tôi đòi nhưng không tiểu nhân như mầy!
— À, con này mới hỗn chứ !... Lính đâu, tống cổ nó xuống trại.
*
Là thứ huynh hai vua. Vua Huyền-Tông vừa mới mất, xương còn đương mục trong Sơn -lăng. Vua Gia-Tông hiện đương ôm hờ ngôi báo, Vũ Lăng -Hầu hết sức vin điều lệ Bát -nghị, chẳng phải là mong thoát khỏi tội chết, nhưng chỉ muốn thóat khỏi cái hình nhục-khổ trước khi chết. Bọn hình quan, sau cùng, họ cũng động tâm, nên họ miễn cho ông không phải tra tấn gì, chỉ phải giam để chờ ngày thành án.
Bị liên can, bắt giam tất cả bảy người : Đặng Phi-Hiển, vợ ông Chiêu Đặng Thụ-Ấm, Đặng Văn-Khuê, tức Đồ-Nam, Trần-Văn-Điền tức bõ Mai, Bùi-Thị-Vinh tức vú Mai, Lê-Trần-Thông tức già Thông, Vũ Thúy-Hồng. Sang Hình-phiên mỗi người bị giam riêng một nhà. Không thể sao thông tin-tức cùng nhau được.
Cứ theo cung của thằng Kiều-Cảnh, Hình-quan cũng thừa để ghép án rồi. Nhưng vì Trịnh -Kha muốn ghép thành cái án ‘‘cả nhà mưu việc dâm loạn’’ mà giết cả nhà ông Đặng Phi-Hiển cho bõ ghét. Muốn ghép thành cái án ấy, tất phải khiến bọn bị cáo khai như ý Trịnh-Kha đã dỗ Thúy-Hồng. Vì thế cả bọn bị tấn. Theo phép thời ấy, tội nhân phải chịu ba kỳ tấn, mỗi kỳ cách nhau 5 ngày.
Kỳ thứ nhất, kết quả: Đặng Phi-Hiển, Đặng- Văn-Khuê, Trần-Văn-Điền sức không chịu nỗi, chết hai ngày sau khi bị tấn; vẫn chưa ai chịu theo hình quan mà khai thêm gì.
Kỳ thứ hai kết quả : Bùi-Thị-Vinh; bà Chiêu Đặng Thụ-Ấm chết trên bàn lửa; Lê-Trần-Thông cắn lưỡi tự tử, vẫn chưa ai chịu theo Hình-quan mà khai thêm gì.
Kỳ thứ hai chỉ còn có Ấu-Mai và Thúy – Hồng thôi.
Thúy-Hồng, tất cả hình -quan và ngục- lại đều cho là gan góc nhất, nên phải chịu đủ các cách tra tấn.
Nói riêng những sự đau -khổ nàng phải chịu cũng đủ cho kẻ viết những dòng này phải ghê sợ. Ngọn bút, ví nó có tâm hồn, chắc nó phản khảng chẳng chịu cho soạn giả đây dùng viết những lời máu sa thịt rụng như thế,
*
Ngày thứ nhất: Hình roi kim.
Roi kim dùng bằng sợi mái già, xung-quanh đầu roi ghép toàn kim thép. Đàn bà chịu tấn roi khác đàn ông ở chỗ đàn bà không phải nằm, mà phải quì cho khỏi gục sấp xuống, hai tay chống xuống đất, bị buộc chặt vào hai cái cọc, đóng thật chắc. Dưới hàm cũng có một cái cọc đỡ. Sợ kẻ chịu hình khi bị đau rập hàm vào đầu chiếc cọc, bọn ngục- lại, họ để một cái gối bông vào giữa hàm và đầu chiếc cọc. Quần phải chật cho hở hai mông ra. Làm sao họ chẳng vật sấp ngay xuống đất mà lại bắt ngồi cái dáng khốn nạn thế?
Vì, cứ theo ý bọn hình quán cổ, kẻ chịu hình là đàn bà thì làm như thế trông nó đỡ nhỗ nhã khó coi. Chao ôi ! đánh người, đánh người đàn bà đến máu chảy thịt rơi, chưa đủ nhỗ nhã khó coi hay sao mà còn khéo bày trò xấu hổ như thế cho nó thêm ghê mắt ghê tai? Cũng có khi người đàn bà được nằm: người nào bụng mang dạ chửa. Sợ để quì mà đánh có hại đến thai, bọn hình-quan nhỗ nhã vậy mà bắt người kia nằm sắp xuống, bụng chửa để lọt vào cái hố đào sẵn, bốn chân tay có bốn cọc, buộc chặt ngang mình một đoạn dây vắt qua, hai đầu thiết chặt vào hai chiếc cọc đóng sát cạnh sườn.
Hình ấy nếu chẳng hại đến thai thì Vú Mai đã chẳng bị trụy thai mà chết !
— Xong chưa?
Tiếng viên hình-quan thét giục, làm lũ ngục- lại luống cuống, khi đóng nhát cuối cùng lên chiếc cọc, ghì tay phang nhỡ một nhát vồ vào vai người mệnh bạc.
— Bẩm xong !
— Đầu roi đâu, cứ việc đi !
Tên lính chuyện môn việc cầm roi tấn — vẫn gọi là Đầu roi — vội vàng cầm roi đến đứng sau Thúy-Hồng. Roi giơ cao lên, đánh bạt một cái vào mông bên trái, từ tả sang hữu; roi lại giơ cao lên, đánh cái thứ hai vào chỗ cũ, mũi roi đi từ hữu sang tả; roi lại đi cao lên lần thứ ba bổ mạnh vào hai vết trước, khi cái roi thứ ba cất lên, một miếng thịt bắn ra, theo một dòng máu chảy xuống đất. Trừ Hình-quan ngồi giám tấn và tên Đầu roi, mọi người đều nhắm mắt lại.
— Thế nào! Con kia, mầy có chịu cung không?
Thúy-Hồng ngẩng đầu lên:
— Tao không nói sai để vu oan cho người khác được.
— Được. Đầu roi. . . làm nốt ba roi nữa đi.
Roi lại nâng lên ba lần, mông bên phải lại mất một miếng thịt, Thúy-Hồng vẫn không chịu cung gì. Hình-quan sai lấy thuốc dấu dịt vào hai chỗ thương. Cho khiêng Thúy-Hồng vào nhà giam để đợi hôm sau lại tấn. Thúy-Hồng khiêng đi, ngục-lại dẫn Ấu-Mai vào. Cũng hình ấy, cũng lời nói ấy. Thôi ! còn nói làm gì nữa: cầu đoạn trường bao dịp, hai thầy trò cùng phải qua.
Ngày thứ hai: Hình kìm-chín, nghĩa là kìm nung đỏ sẵn, trong lò bao giờ cũng có ba chiếc kim nung đỏ sẵn, để thay đổi. Hôm nay Thúy-Hồng phải cởi trần. Đương độ tháng hai, trời còn rét, khi cởi áo ra Thúy-Hồng run bật cả người. Tên Đầu kìm tay cầm chiếc kìm đỏ rút trong lò ra:
— Cô rét, gọi là có cái này sưởi ấm hầu cô.
Nói dứt tiếng, mũi kìm cập vào má bên phải. Mọi người nghe một tiếng xèo-xèo rồi thì mùi thịt cháy bay ra, ngửi ghê ghê như mùi tóc đốt. Máu thịt Thúy-Hồng làm nguội hẳn chiếc kìm đi. Tên Đầu kìm lại đổi kìm mà kẹp mũi thứ hai, cứ thế cho đến mũi thứ mười.
Mùi thịt chảy lựng cả ra sân. Khách qua đường tuy không trông thấy, chỉ ngửi mùi khét lọt ra đến ngoài thành rào, cũng biết là ở trong đang có người bị tấn. Thúy-Hồng, lưng má đã điểm đủ mười điểm đen mà vẫn nghiến răng nhắm mắt nhất định không chịu nói gì. Khoa sinh-lý học và tâm-lý-học bây giờ dạy ta rằng, hàn thử cảm giác mạnh nhất là ở lưng và ở má. Bọn ngục-lại mấy trăm năm trước họ chẳng cần phải có tân-học như ta mà họ cũng biết lẽ ấy. Có người hỏi chúng nó rằng: Vì sao hình kim chín lại ở má và ở lưng thì chúng nói rằng:
— Cái lưng chịu rét yếu, tất chịu nóng cũng yếu. Thử kìm xem có nóng không, chúng tôi vẫn giơ lên sát má, cái má là cái biết nóng nhiều nhất.
Bọn ngục-lại lại dìu Thúy-Hồng vào nhà giam. Ấu-Mai ở nhà giam khác lúc đó lại được dẫn ra cạnh lò lửa. ..
Ngày thứ ba : Hình kìm sống : Nghĩa là hình kìm lạnh, hôm nay hình-quan và nhục-lại nhỗ nhã hơn hôm đầu : bị trói vào chiếc ghế dựa, quần Thúy-Hồng phải vén đến gần hông. Đùi non kia hôm nay, được quen chất sắt lạnh chiếc kìm. Hình kìm sống đau đớn hơn hình kìm chín nhiều lắm. Kìm chín kẹp vào tuy thịt có bị cháy, nhưng đồng thời thịt bị chết, cảm giác thần kinh bị hư hỏng, người ta cũng không thấy đau nữa, mỗi miếng kìm chín chẳng qua chỉ như một miếng bỏng to mà thôi. Kìm sống thì vặn vào thịt tươi, trong khi mũi kìm nhai thịt, máu đào ròng ròng chảy, miếng thịt vẫn sống nguyên, thần kinh vẫn còn nguyên, mà chịu hết cái đau đớn xé ruột xé gan. Chịu hai miếng đầu, Thúy-Hồng còn cắn lợi mà gan lỳ không rằng không nói, đến miếng thứ ba, thứ tư đôi hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Từ miếng thứ tư đến miếng thứ sáu, Thúy-Hồng rú lên như con lợn bị chọc tiết trên bàn mỗ. Từ miếng thứ bảy đến miếng thứ mười, Thúy-Hồng không đủ sức kêu nữa, trên cổ chỉ đưa ra một tiếng khừ- khừ như con lợn bị chọc tiết, nhát cuối cùng, máu chảy ra đầy chậu, chỉ hậm hừ mấy tiếng mà thôi.. Xong mười mũi kìm sống, hình-quan sai đi lấy ngay thuốc dấu dịt vào mười chỗ bị thương, lấy nước lã vỗ vào mặt cho nàng tỉnh lại rồi hỏi rằng:
— Thế nào, mầy còn gan nữa không?
Thúy-Hồng cố gượng nói được mấy tiếng:
— Giết chết tôi đi !
— Lính ! vực nó đi !
Để trói nguyên cả ghế, lũ lính khiêng Thúy- Hồng đi. Khi lũ lính khiêng gần khuất hàng rào, viên hình-quan lại dặn với:
— Chúng mầy phải nhớ cùm xích và đóng hàm thiếc miệng hẳn hoi không thì nó tự tử.
— Vâng, chúng con bao giờ cũng nhớ.
— Ấy! hễ để tù chết trong ngục trước khi thành án thì chúng mầy phải thay đó.
Thúy-Hồng vào, Ấu-Mai lại ra.. .
Ngày thứ-tư: Hình đai. Một chiếc đai sắt vòng bán nguyệt nối vào nhau. Chỗ nối nhau, khi tấn hai tên lính kìm kép chặt lại. Khi kẹp chặt lại hai chỗ nối lại, đai sắt nhỏ vòng lại thiết chặt vào trán gáy kẻ chịu hình. Ba mũi đanh liền vào đai ăn sâu vào thái dương và trán. Khi Thúy- Hồng mới bị đai thiết đau lắm nhưng cũng cắn răng không chịu cung gì. Khi đó nàng nhớ tới hôm trước có được nghe hai tên ngục-lại canh nàng nói với nhau rằng: ‘‘Cái nghề bị tấn, nếu máu không ra được, đau vô cùng vì không sao ngất đi được.’’ — ‘‘ Thế muốn ngất đi được cho khỏi đau thì làm thế nào ?’’ — ‘‘ Làm cho máu chảy ra ; tùy đấy, cắn tay, cắn môi..’’   Nàng nghĩ đến đó bèn nói với tên hình-quan:
— Đau lắm rồi, nới tay ra, tôi xin xưng, Cởi tay tôi ra cho nó đỡ ngạt, tôi xin cung hết.
Lũ ngục lại nhìn viên hình-quan có ý hỏi: ‘‘ Quan dạy thế nào?’’ Sau cái gật đầu, lính nới tay kìm và cởi trói. Hai tay được tự do rồi, vòng đai đã nới, đầu mũi đanh chỉ còn ăn vào thịt độ một hạt vừng. Thúy-Hồng liền lấy tay xoay đai cho ba mũi kim rạch thái dương và trán. Máu chảy ra, nàng ngất đi. Viên hình-quan thấy thế bảo lính:
— Nó đánh lừa ta rồi. Thôi chúng bây khiêng nó vào.
Khi Thúy-Hồng đã khiêng vào, khi Ấu-Mai lại bị dẫn ra, viên hình-quan nói:
— Thôi ta quên mất, mỗi kỳ tấn có ba ngày thôi, kỳ này ta làm quá mất một ngày, quá mất một hình. Thôi! dẫn con Ấu-Mai vào.
Quay sang người lại-muc ngồi bên cạnh, nhếch mép cười gằn, viên hình-quan lại nói:
— Thầy cũng phải bận oan thêm một hôm, mà con Thúy-Hồng cũng phải chịu thừa một hình tấn. Thôi, kỳ sau làm hai ngày thôi, hai hình thôi… Cũng phải! Con Thúy-Hồng là đầy-tớ, nó chịu đau hơn chủ nó một hình cũng phải.
Nghỉ mấy hôm, lại đến kỳ tấn thứ hai.
Ngày thứ nhất: hình kẹp tay.
Hai miếng tre đực, một miếng để trên lòng bàn tay, một miếng để trên mu, hai đầu có dây buộc nối với nhau. Dây một đầu buộc chặt, một đầu buộc lỏng. Đầu lỏng, dây thừa một đoạn. Chỗ thừa ấy: khi tấn, tên ngục-lại cho chiếc que sắt vào xoay. Que càng xoay, dây càng chặt, hai miếng tre càng kẹp vào năm đầu ngón tay. Xương kêu răng rắc, hòa với tiếng rú của Thúy-Hồng nghe như khúc nhạc của quỉ sứ dưới âm cung, mười ngón tay máu đọng to thêm ra, trông tựa mười quá phù-quân chín. Thúy-Hồng vẫn không chịu xưng thú gì. Lính lại dẫn nàng về nhường chỗ cho Ấu-Mai ra chịu thảm hình.
Ngày thứ hai : Hình nêm chân.
Hình này dùng những phiến tre rộng chừng một tấc. Những phiến tre ấy có lỗ sâu dây, nối lại cùng nhau. Ngục-lại đem ấp những phiến tre ấy quanh ống chân người chịu hình rồi lấy dây tam-cố thật bền buộc lại. Khi tấn, ngục-lại lấy những miếng gỗ nghiến — là thứ gỗ vừa dẻo thớ, vừa chắc nhất — thuôn-thuôn đầu nhỏ đầu to vào giữa dây tam-cố và những miếng tre bọc ống chân. Đầu thuôn-thuôn xuống dưới đầu to ở trên. Đoạn họ lấy búa giọt mạnh vào đầu miếng nêm.
Nêm vào bao nhiêu thì những miếng kẹp thiết vào bấy nhiêu. Hai chân Thúy-Hồng bị tụ máu to lên như người phù, đau buốt đến xương, nàng vẫn răng cắn mạnh vào môi cố chịu nhịn không kêu. Thấy nàng không kêu tên ngục lại nói:
— Con này chịu tấn quen rồi, chịu hơn trăm nhát búa trên đầu mười sáu miếng nêm mà gan cóc tía vẫn y như cũ. Xin tha để kỳ sau đổi hình.
Viên hình-quan nói:
— Ừ ! hãy tha cho nó mà điệu con chủ nó ra đây.
…..
Nghỉ mấy hôm lại đến hình tấn thứ ba.
Ngày thứ nhất: hình kẹp vú. Hình này sơ sài lắm chỉ có miếng tre chẻ đôi, chỗ đốt có dính lại, cho kẹp vào đầu vú. Sức miếng tre đực kẹp lại, đầu vú bẹt hẳn lại như miếng trầu nhá nhỏ. Khi hình-quan xem ra Thúy-Hồng chịu đau đã nhiều lắm rồi y lại sai lính bỏ kẹp mà cho nàng về chỗ cũ.
Khi lính dẫn Thúy-Hồng vào rồi, Hình-quan truyền:
— Thôi cho con Ấu-Mai vào, mai cho chúng nó nghĩ không tấn nữa.
— Kỳ này quan lớn làm sơ sài quá thế.
— Không đâu! Phải cho chúng nó nghĩ mươi hôm cho chúng nó lại hồn đã, rồi tôi khác có cách... Thôi, cho thầy về... Từ nay thầy cứ ở nhà giấy không phải đến nữa.
— Bẩm tấn thế là xong.
— Xong hay không mặc tôi... Hôm nào cần tôi lại gọi.
Viên mục-lại, đứng dậy chào để về.
— Thầy vào bảo viên ngục-giám đến đây tôi bảo.
— Xin vâng ! Lạy quan lớn.
Một lát tên ngục-giám đến.
— Quan lớn truyền gọi con có việc gì?
— Hai đứa nữ tù ở Quả-Thịnh-lăng, thầy phái săn sóc thật tử tế. Đồ ăn thức uống tươm tất. Thuốc dấu phải trông nom luôn luôn. Khi chúng khỏi hết các vết thương rồi, thầy phải gọi thầy thuốc đến cho chúng uống mấy thang thuốc bổ. Khi nào thầy thấy chúng bình phục hẳn,khoẻ mạnh hẳn như thường thì thầy lại đến đây nói với tôi.
 — Xin vâng.
— Thôi thầy về… Nhớ kỹ nhé: phải trông nom như vợ con thầy đó.
Tên ngục-giám lấy làm lạ, về càu nhàu với anh em ngục-tốt:
— Khéo! Chính sự mới lạ chứ. Bắt chiều tù như mẹ trẻ. Ấu-Mai và Thúy-Hồng ở trong ngục tự nhiên được cung phụng tử tế, cũng cho là họ vỗ về cho khoẻ mạnh, đủ da thịt chịu một kỳ tấn nữa, mà kỳ tấn sau đây chắc là dữ dội gớm ghê hơn nữa. Được ba hôm, các vết thương khỏi hẳn, ăn uống thấy ngon, đến chiều hôm thứ tư lính vào ngục, Thúy-Hồng cười hỏi rằng:
— Hôm nay hình gì thế bác quyền?
— Không, chẳng có hình gì cả, án tử hình như xong rồi, quan trên truyền đưa cô sang giam cùng một chỗ với Ấu-Mai. Thôi ! như thế cũng đỡ buồn !
Thúy-Hồng sang tới chỗ Ấu-Mai, trông thấy trên má Ấu-Mai có vết sẹo liền hỏi:
— Chị cũng phải tấn à? Mấy lần?
— Bảy lần rồi mà chưa chắc đã thôi...
— Em chịu tấn tám lần... Nhưng hình như thôi rồi thì phải vì em vừa nghe thấy ngục-tốt nó nói chị em mình sở dĩ được gần nhau là để đợi ngày tòa Tam-pháp đăng đường.
—Nếu thế càng hay ! Chị em ta chuyến này chắc chết.
— Trông thấy nhau, được ở cạnh nhau rồi chết, còn gì sung sướng cho bằng.
Khi ở chung, hai người vẫn được ưu đãi như trước, cơm nước sang trọng như bữa cơm nhà quan, thỉnh thoảng lại được uống thuốc bổ cho lại sức nữa. Hỏi viên giám-mục, vì lẽ gì được hậu đãi thì y trả lời:
— Quan trên truyền rằng cô dẫu có tội, dù theo phép nước phải tra tấn, nhưng thế nào cô cũng là cung-nhân của Tiên-đế nên phải hậu đãi.
Như thế được mươi hôm.
¥
— Quái! chị ạ, sao hôm nay họ chậm bưng cơm lên thế?
— Ừ, bây giờ đã quá Ngọ rồi. Mọi hôm chỉ cuối Dần đầu Tỵ thôi. Em thử ra sân xem bóng nắng xem.
Thúy-Hồng ra sân nhìn bóng rồi nói :
— Quá Ngọ thật rồi... Đói quá !
Nói xong, Thúy-Hồng rũ rợi ra cười:
— Chị em mình bây giờ lại thành ra tham ăn, kỳ ngộ thật!...
— Ừ nhỉ ! Chị em mình bây giờ lại đâm ra háu đói thế nhỉ?
Nhìn ra ngoài sân, Thúy-Hồng vỗ tay:
— Cơm kia rồi !
Tên ngục-lại đem cơm đến đặt xuống giường:
— Hôm nay vì ở nhà giam tù bên trại kia mới thêm sáu trăm tù mới. Anh em chúng tôi bận quá, quên mất bữa cơm của hai cô. Khi nhớ ra thì đã quá trưa. Thổi thì lâu quá, vì thế hôm nay hai cô xơi cơm rang vậy.
Ấu-Mai nói:
— Cũng được, có làm sao...
Ấu-Mai vừa buông đũa buông bát, chưa kịp đứng dậy thì đã có tên ngục-lại đến:
— Có lệnh trên truyền đòi hai cô đến ngay.
Thúy-Hồng bảo Ấu-Mai:
— Chị uống nước đi, đợi em và nốt miếng cơm rồi cùng đi.
Tên ngục-lại nói:
— Quan truyền áp giải hai cô đến ngay.
— Vâng, uống ngụm nước rồi tôi xin đi.
— Bây giờ còn đi tìm nước, thì bao giờ mới đi.
Nói đoạn tức khắc lôi đi. Thúy-Hồng phải bỏ dở bát cơm đang ăn. Đến công đường hình-phiên, hai người đã thấy hình-quan cùng viên-lại già ngồi đó. Hình-quan nói:
— Hai cô ngồi kia, tôi hỏi câu nào, nói cho rõ ràng để thầy lại-mục tự vào cung...
— Quan lớn còn phải hỏi gì thêm nữa.
Viên hình-quan vừa cười vừa nói:
— Hai có cứ nói thật. Có phải việc đem Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ vào Quả-Thịnh-lăng là mưu bàn từ trước không, mà ông cô là quan Hoàng-Đặng cũng biết trước việc phi lễ ấy mà cứ bằng lòng cho người nhà cứ việc mà làm không?
— Việc không có như thế, chúng tôi không thể nói như thế được. Quan lớn đã biết đó, dù bị đau-đớn đến thế nào, tôi cũng không thể nói sai được. Ý các quan là muốn hảm-hại cả nhà tôi mà cố ghép vào tội đó thôi.
— Hai cô cứ nghĩ cho kỹ, lát nữa tôi ra, tôi sẽ liệu. Hình-quan vào nhà trong, mặc chị em Ấu-Mai ngồi một mình trong phòng sơ thẩm.
Một lúc hai người thấy khát nước, khát lắm. Ấu-Mai nói:
— Ăn cơm rang mà không uống nước thì khát chết mất.
__ Khát thật chị ạ. Lần này khát lắm, khát khô cả cổ.
Trước còn thỉnh thoảng nói với nhau về nỗi khát sau mệt quá, không nói được nữa. Muốn nuốt nước bọt cho đỡ khô cổ mà nước bọt cũng không có.
Chừng đến giờ Mùi, viên hình-quan lại ra, theo sau có một thầy lại-mục già. Hình-quan hỏi:
— Thế nào, hai cô đã nghĩ chín chưa?
Ấu-Mai cố gượng nói với thầy lại-mục:
— Thầy làm ơn cho xin chén nước, chúng tôi khát lắm...
Viên lại-mục gọi với ra ngoài.
— Có tên lính nào ngoài ấy, rót hai bát nước to vào đây.
Tên lính đem hai bát nước vào để ở bàn viên lại-mục.
Hình-quan nói:
— Nước đây, các cô nói đi, cung đi thì được uống.
Nghe đến đấy, hai người mới biết thứ hình tấn mới, chưa từng biết, chưa từng ngờ tới, chưa từng nghĩ ra.
Cái đau khổ của hình này hơn cả hình kìm sống, hình kìm chín, roi kim, kẹp tay, nêm chân. Các hình khác dẫu có đau, song chỉ đau một phần trong thân thể; hình này thì toàn thân thể chịu đau khổ, mà chịu một cách vô hình, vô ảnh. Các hình khác dẫu có đau, nhưng còn mong vì đau quá ngất đi mà giải thoát được; hình này thì mỗi phút thêm một nỗi đau, càng lâu nỗi đau càng thấm thía. Ai cũng từng nghiệm rằng : Ăn cơm rang hay khát nước. Chị em Ấu-Mai nhịn nước từ giờ Ngọ đến giờ Dậu đằng đẵng trong bốn giờ — theo bây giờ là tám giờ — thì cái khát ấy nó đến độ nào ! Lúc đó gan, ruột, phủ tạng, gân-thịt... hình như nắm bỏng bị rang lửa phồng cả lên mà khô khan hết sức. Muốn nuốt nước bọt để đỡ khát, thì lưỡi miệng môi, hàm như nắm gạch già nung lửa, còn đâu có nước mà mong ! Cùng kế, hai chị em cắn môi uống máu mà cũng chẳng ăn thua gì, vì máu mình đã vào phủ tạng mình, tựa như múc nước ao, lại đỗ xuống ao. Khoa sinh-lý học bây giờ dạy rằng, khát là vì ở máu thiếu nước, người ta tiêm nước vào mạch máu có thể làm cho hết khát, người ta lại thử đổ nước vào miệng rồi lại cho chảy ra ngay dưới cổ hầu thì nước qua miệng đến hàng thùng mà mồm vẫn ráo. Liếc nhìn lên bàn viên lại-mục thì hai bát nước vẫn đầy ăm-ắp. Muốn kêu một tiếng, xin một ngụm nước mà nói chẳng ra hơi, cố gượng chỉ nói được một tiếng:
— Nước.
— Nói đi, cung đi thì được uống. Giấy bút đây viết đi.
Hai người lắc đầu.
Đến đầu trống canh hai không moi thêm được điều nào, Hình-quan lại cho hai chị em Ấu-Mai vào ngục.

Chú thích:
[1] Đánh thị-nhục nghĩa là đánh cho nhục chứ không cần đánh đau, Khi đánh đít cho lót.
[2] Nói dối Vua.
[3] Tuổi nhiều hơn nhưng là con dòng thứ là thứ huynh.
[4] Biết gian không báo thì chịu cùng tội với đứa gian.
[5] Mười tội lớn nhất như: mưu phản, mưu đại-nghịch giết vua, mưu bạn.. vân vân.
[6] Tám trường hợp có thể khiến giảm-đằng tội, thân với vua, người cũ của vua, là người hiền, là người năng vân…vân…
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.04.2022 19:11:40 bởi Thanh Vân>
VII
 
Tòa Tam-Pháp
 
 
CHƯƠNG trên đã nói là sở dĩ Trịnh-Kha cố buộc tội cả nhà ông Hoàng dự mưu đem Vũ Lăng-Hầu vào Sơn-lăng là vì muốn buộc tội cả nhà vào mà giết. Nay, trừ hai thầy trò Ấu-Mai cả nhà đều chết cả rồi, thì họ còn tra tấn cố bắt cung sai sự thật để hại ai? Nguyên quan coi hình phiên bên phủ Liêu là người chân trắng xuất thân, bình nhật vẫn ghét những người khoa-bảng, y chỉ cố hãm ông Hoàng vào tội, để tên ông ở bia tiến-sĩ bị đục đi mà thôi. Báo thù đến cái vong linh người đã chết — đã chết vì cái đòn tấn bi thương — ở cái danh-vọng hão huyền, cái óc viên Hình-quan kia thật đen quá mực Tàu !
Việc lấy cung thế là xong. Chỉ còn đợi ngày bộ hình, Đại-Iý-tự Đô-sát viện cùng quan coi hình- phiên bên phủ Liêu họp nghị rồi đem ra xử thôi. Trong lúc hợp-nghị, hết thảy ai cũng dựa theo ý Trịnh-Kha mà ghép tội cả, duy có quan Đại-lý tự- khanh bấy giờ là ông Xuân Trường-Bả tỏ ý trái một chút mà thôi:
— Những đứa gian-dâm, lẽ tất nhiên là phải trị tội, cái ấy đã đành rồi. Song, bằng vào mấy lời cung của một tên đầy tớ cũ mà ghép ông Đặng Phi-Hiển vào tội, bạn nghịch khi-quân, điều đó tôi thiết tưởng quá lắm.
Trịnh-Kha nói:
— Việc chúng nó làm kín trong nhà thì làm sao cho ra nhiều chứng được.
— Nhưng, đứa khác có cung không?
— Nó không cung gì, nhưng tôi, tôi đã có cách ghép vào tội.
— Cách gì?
— ‘‘ Thiết khẩu kiên bất cung sưng...'' [1] chữ luật Hồng-Đức các quan chắc biết cả.
— Đành rằng thế. Nhưng Đặng Phi-Hiển đã quá cố trong lúc tấn-cúc rồi thì làm chi mà phải ghép vào tội nữa cho nó nhục vong linh người đã qua...
 
— Đem trai vào Sơn-lăng cho cháu gái thế, có là phạm đến Cửu-thiên chi linh Tiên-đế không?
Trịnh-Kha giở đến chữ ‘‘ Cửu thiên chi linh’’ của Tiên-đế ra tức là lôi một Thần Thánh bất khả xâm phạm ra, khiến quan Đại-lý tự-khanh dù có biết ông Đặng Phi-Hiển là oan cũng không dám nói nữa. Ngoài ông ra, quan Thượng-hình thì sợ uy Trịnh-Kha là họ nhà chúa, quan Hình-phiên thì là người chân tay y rồi án ấy làm gì không được như ý y.
Thế là việc án từ xong cả, chỉ còn đợi chiếu chỉ của Vua cùng huấn-từ của Chúa là tòa Tam- pháp đăng đường.
¥
Ngoài cổng bộ hình hai lá cờ đỏ trên thêu hai chữ : ‘‘ Tĩnh-Túc’’ cắm hai bên. Rồi từ cổng đi vào thẳng vào công đường, đôi bên cũng cắm hai hàng cờ ngũ hành bát quái. Xen lẫn với cờ, hai hàng lính mặc áo nỉ đỏ cầm mã tấu, roi, quất, hèo hoa, thiết lĩnh làm tăng thêm vẽ nghiêm trọng một chốn công môn. Sắc đỏ thường vẫn là sắc vui mừng mà để vào nơi này trông nó có vẻ dử tợn ghê gớm, tưởng như sắp có việc máu chảy thịt rơi.
Dưới bực hè công đường, hai viên tả hữu Phòng-thành [2] mũi gươm chống đất, đứng lừng lững như hai ông hộ pháp. Trên bức hè, cách giọt ngói chừng hai thước, một chiếc bình phong khung ngà căng gấm giữa thêu hai chữ ‘‘ Thu- quan’’ trong bình phong ngay chỗ giáp khuôn cửa giữa, một bộ bát bảo đầu sắt sáng loáng như gương.
Trong phòng ba chiếc sập kê trên ba chiếc bực gỗ. Sập giữa sơn son thếp vàng, trên giải chiếu cói cạp điều, vì người sắp ngồi đó đỗ đại- khoa. Hai sập bên, sơn đen thếp bạc, chiếc tay phải giải chiếu cạp điều, chiếc bên trái giải chiếu cạp xanh, vì người bên trái không phải chân đại-khoa. Cạnh mỗi chiếc sập hai tên lính đứng sẵn tay cầm quạt lông trắng. Giữa phòng kê một chiếc bàn dài đôi bèn kê đôi hàng ghế.
Từ trong phòng đến ngoài cổng im phăng phắc không có một chuyện trò gì. Dân sự qua đường không dám nhìn lâu sợ phải tù tội, chỉ dám liếc qua rồi cắm đầu rảo cẳng bước mau, đi cách trăm bước mới dám khẽ bảo nhau:
— Hôm nay tòa Tam-Pháp đăng đường xử việc loạn dâm ở lăng Quả-Thịnh.
— Nhanh lên ! một lát nữa thì không ai được qua cửa nữa. Đúng giữa giờ Mão, ba hồi trống dài từ trong bộ Hình vang ra. Ứng hồi trống ấy, ba hồi chiêng bên giám-ngục-ty giục ngục-lại dẫn tù sang tòa Tam-Pháp. Một lát, giữa hai dãy cờ đỏ khé, viên giám-ngục dẫn một giây ba tù nhân Vũ-Lăng- Hầu, Ấu-Mai và Thúy-Hồng. Vào tới hiên thoát dây xiềng xích, Ấu-Mai và Thúy-Hồng ngồi dựa lưng vào lan can, Vũ-Lăng-Hầu đặc-biệt ngồi trên chiếc ghế đẩu. Nhìn sang hè gian bên phải, Thúy-Hồng trông rõ Kiều-Cảnh, Tố-Hà và viên lăng-giám.
Đúng đầu giờ Thìn, một hồi trống từ sân trong công đường vang ra. Tiếp theo hồi trống ấy, tiếng trống con bong bong mỗi lúc một gần, một gấp một to : Các quan đăng đường. Hai cánh cửa bên tả, bên hữu mở rộng, mọi nguời đứng im như tượng gỗ. Từ bên cửa tả bước ra một người râu dài mà bạc chân đi đôi giày chấn hoa, mình mặc áo địa màu lam, đầu đội khăn nhiễu tam-giang, từ từ tiến lên ngồi sập giữa, đó là quan Hình-bộ thượng-thư, Tham-Tụng, Lê-Hạo. Từ cửa bên hữu, một người mặc áo chẽn gấm màu cổ-đồng lên ngồi ở sáp bên tả. Từ cửa bên tả, một người mặc áo địa lam ra ngồi sập bên hữu. Vị ngồi sập bên hữu là quan Đại-lý tự-khanh Xuân-Trường-bá Nguyễn-Lâm. Vị ngồi sập bên tả là quan Đô-sát viện Tả-đô Ngự-sử Trịnh-Kha. Theo sau hai vị ấy tám viên thị-lang chủ-sự, tư-vụ lại mục đến hai hàng ghế quanh chiếc bàn kê giữa ; theo sau tám người ấy, mấy tên lính bưng ba chồng hồ-sơ-tử tập đặt trên ba chiếc sập và bút mực giấy để ở trên bàn.
Sáu tên lính đứng cạnh sập cầm quạt phe phẩy trên đầu ba quan đầu tòa Tam-Pháp.
Tĩnh-túc được một lúc, quan Thượng-hình truyền:
— Cho gọi bị cáo vào đây. Gọi Lê-Duy-Lễ trước.
Vũ Lăng-Hầu Lê-Duy-Lễ vào cúi chào.
Quan Thượng-hình hỏi:
— Cứ theo lời cung của tên Kiều-Cảnh, thị Tố-Hà và viên lăng-giám thì ông cũng bàn mưu với cả nhà Đặng Phi-Hiển để vào Sơn-lăng thông gian với Cung nữ Đặng Ấu-Mai việc đó ông có nhận không?
— Tôi nhận việc vào Sơn-lăng tư thông với Đặng Ấu-Mai còn việc dự vào việc bàn mưu, tôi không nhận xin cho tôi đối chất với những người nguyên-cáo kia.
Cho gọi vào Kiều-Cảnh.
— Có, chủ tôi cùng Vũ Lăng-Hầu bàn mưu với nhau việc ấy từ ở ngoài bắc; bàn ở chiếc Thủy-tọa trên hồ Tĩnh-Tâm, mưu ấy không ở Vũ Lăng-Hầu nhưng Vũ Lăng-Hầu có được biết.
— Tri-gian bất báo, dữ tội đồng biết chưa?
Vũ Lăng-Hầu nói:
— Xin nghe nốt mấy lời cung của Tố-Hà và viên lăng-giám.
Tố-Hà nói:
— Tôi chỉ biết việc từ lúc Vũ Lăng -Hầu vào Sơn -Lăng còn việc từ trước không rõ.
Viên lăng-giám nói:
— Ty -chức cũng không biết hơn Tố-Hà điều gì.
Vũ Lăng-Hầu nói:
— Đó, các quan nghĩ xem Đặng Phi-Hiển có can dự gì vào việc này.
Quan Đại-lý tự-khanh nói:
— Cho cả hai bị cáo vào đối chất nữa.
Vào tới nơi, Ấu-Mai và Thúy-Hồng vẫn khăng khăng một mực như cũ, nhất định không chịu nhận là ông và mẹ có dự mưu. Cuối cùng Ấu- Mai nói:
— Xin các quan cho đòi ông và mẹ tôi cùng hết cả gia-nhân nhà tôi tới đây đối chất.
Quan Thượng-hình nói:
— Ông mầy, mẹ mầy cả lũ gia-nhân nhà mầy đều chết cả trong ngục rồi còn đâu mà gọi ra đây.
Ấu-Mai nghe dứt câu, rú lên rằng:
— Trời ơi ! Cả nhà tôi chết oan rồi ! Hình-luật đâu mà thảm khốc đến thế nầy, trời hỡi trời !
Dứt tiếng nàng ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. Thúy-Hồng nước mắt ràn-rụa, cố níu nàng lên.
Quan Hình bộ Thượng-Thư truyền:
— Thôi cho ra cả,
Mọi người ra. Các quan nghị tội.
Quan Thượng-hình — Cứ như thế thì chỉ khép tội Lê Duy-Lễ, Đặng Ấu-Mai và Vũ Thúy-Hồng mà thôi, các quan nghĩ thế nào?
Quan Đại-lý — Ý tôi cũng thế.
Quan Tả-đô —Ý tôi khác. Luật Hồng-Đức có nói rằng: ‘‘ Nếu tội nhân tấn-cúc thế nào cũng không chịu xưng, cứ một mực ‘‘thiết khẩu kiên bất cung xưng’’ thì cứ việc ghép tội theo lời cung của các nguyên cáo hay bị cáo.
Quan Đại-lý — Đây nguyên cáo và bị cáo, trừ tên Kiều-Cảnh ra, có đứa nào cung xưng rằng mưu gian dâm khởi lên tự ông Đặng Phi-Hiển đâu.
Quan Tả-đô — Nếu cứ tìm đủ chứng cớ thì tôi e rằng : một trăm cái án, thối đến chín mươi chín cái, trong việc án ngục : có cái tình ngay mà lý gian, phải thấu tình cho người ta thì kẻ vô cô, người vô tội mới thoát được tội , có cái lý ngay, mà tình gian, phải hiểu lẽ đó, thì phép nước mới được rõ rệt. Cứ ý tôi, việc này lý ngay mà tình gian, mưu một việc trái phép thế, công việc làm lại chu đáo thế, lũ trẻ con như Vũ Lăng-Hầu Duy-Lễ, Ấu-Mai, con Thúy-Hồng, lũ hạ ngu như gia- nhân Đặng Phi-Hiển không làm nổi được.
Các quan nghĩ thế ?
Quan Đại-lý — Vâng, khép thế cũng được.
Quan Tả-đô — Ý quan Thượng-hình thế nào?
Quan Thượng-hình — Ý tôi cũng thế.
Quan Tả-đô — Xin các quan cho điền vào bản án rồi gọi tội nhân vào tuyên án.
Hai vị gật đầu.
Bắt đầu tám người ngồi bàn dưới cắm đầu viết.
Một lát trống rung ba hồi. Ba hồi trống rung báo trước việc tuyên án tiếng gấp mà ngắn, nghe như tiếng kêu hả dạ của ác thú miệng ngoạm được mồi. Hết ba hồi trống rung, tất cả nguyên cáo, bị cáo đứng sấp hàng trước cái bàn kê giữa, cúi đầu nghe viên thị-lang Tào-hình [3] giõng-giạc đọc án.
‘‘ Thừa Thánh-chỉ ngày mồng một tháng tư năm Dương-Đức nguyên niên, do nội-các cung-lục.
‘‘ Thừa ý-chỉ Đại nguyên-súy Thượng-sư Thái-Phụ Tây-Vương, ngày mồng một tháng tư năm Dương-Đức nguyên niên do Thị-nội phiên cung lục.
‘‘Hình-bộ, Đô-sát viện Đại-lý-tự họp thành Tam- Phap-ti xét việc tên Đặng Phì-Hiển, Lê Duy-Lễ, thị Đặng Ấu-Mai, Vũ Thúy-Hồng và đồng-phạm là lũ các tên, Đặng Văn-Khuê, Trần Văn-Điền, Lê Trần- Thông, và lũ các thị, Bùi Thị-Vinh, Lê Thị-Liễu [4] về việc thủ mưu giúp sức cho tên Lê Duy Lễ, cùng thị Đặng Ấu-Mai dâm loạn trong nhà riêng của nhà nước làm ra cho cung nữ ở Quả -Thịnh lăng. Cứ lời cung của các nguyên cáo là viên Lăng giám Trịnh Đống, tên Kiều-Cảnh, cung nữ Hoàng Tố-Hà thì việc dâm loạn dích xác là có và bị bắt đương trường ở nơi nói trên. Cứ lời cung của nguyên-cáo Kiều-Cảnh thì mưu ấy do tội-nhân Đặng Phi- Hiển, Hoàng-Triều Vĩnh-Tổ thập niên, Mậu-thìn khoa Nhị-giáp Tiến-sĩ xuất thân, thủ xướng mà có dự biết là tất cả bọn đồng phạm, trừ con Đặng Ấu- Mai ở trong Sơn-lăng, phụng-sự Tiên-đế.
 
‘‘ Lại cứ luật Hồng-Đức điều một trăm bốn mươi, thiên mười lăm, mục hai mươi nói rằng: tội nhân nào tra tấn đến đâu cũng một niềm thiết khẩu kiên bất cung xưng thì cứ một lời cung của nguyên  cáo làm bằng.
‘‘ Nghĩ theo đúng quốc-pháp tội nhân nặng nhẹ tùy theo công việc phải chịu những hình sau này:
‘‘Đặng Phi-Hiển bị tội giảo (thắt cổ).
‘‘ Lê Duy-Lễ phải tội lăng trì xử tử.
‘‘Bọn Đặng Văn-Khuê, Trần Văn-Điền, Lê Trần Thông phải tội xử tử kiêu thủ (bêu đầu) ba ngày.
‘‘ Đặng Ấu-Mai phải tứ mã phanh thi.
‘‘ Vũ Thúy-Hồng, phải tội voi dầy.
‘‘ Lê Thị-Liễu, Bùi Thị-Vinh phải xử tử.
Nhưng nghĩ:
‘‘ Đặng Phi-Hiển đã bị Thiên-Chu, [5]  phải đục bia Tiến -sĩ ở Văn-Miếu, và tước tên trong Hoàng- triều Đăng-khoa-lục. Bọn đồng phạm là những tên... và những thị đã bị Thiên-chu, miễn cho tử thi không phải chịu hình...’’ .Ngày hôm ấy là ngày mười hai tháng tư năm Nhâm-Tý, niên hiệu Dương-Đức đầu đời vua Lê Gia-Tông-Mỹ Hoàng-đế tức là năm thứ mười sáu đời Hoàng-tổ Dương-vương Trịnh-Tạc. Lịch tây vào năm 1672.

Chú thích :
[1] Miệng sắt cố gan không chịu xưng.
[2] Như chức cảnh sát trưởng một đô thị bây giờ vậy.
[3] Mỗi bộ chia ra mấy Tào.
[4] Tức bà Chiêu Đặng Thụ-Ấm.
[5] Bản án tử hình mà chết trước khi thành án hay trước khi hành hình.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.05.2022 20:40:14 bởi Ct.Ly>
VIII
 
Vùi dập cánh hoa
 
 
KHÁCH làng chơi ngày nay xuống phố Khâm-Thiên chắc cũng nhận thấy rằng: ở Hànội đi xuống, theo đường ga xe lửa, đi đến chỗ gần giữa phố rẽ vào tay phải, có cái ngõ con đi vào chùa Liên-Hoa. Về thời chuyện này xảy ra, ngõ ấy ở cạnh tòa Khâm-thiên-giám. Có hai ngõ, một ngõ ở phía tây tòa Khâm là lối đi vào chùa Thiên-Bảo, một ngõ ở phía đông, đi sát cạnh đài Toàn- cơ Ngọc-Hành là lối đi vào nhà ông Hoàng-giáp Đặng Phi-Hiển. Ngõ con ngày nay đi vào chùa Liên-Hoa tức là cái ngõ phía tây, mà chùa Liên. Hoa ngày nay phỏng chừng cũng làm trên cố-chỉ chùa Thiên-Bảo. Ở góc đông bắc chùa Thiên-Bảo có cái tháp chuông cao hai trượng, từng trên cùng để cái chuông đồng cao năm thước, miệng rộng ba thước, dầy hai tấc, nặng hai vạn năm nghìn bảy trăm cân. Chuông ấy đúc từ hồi nước ta còn thuộc nhà Minh.
Trên lưng chuồng, đề năm tháng theo lịch nhà Minh: Đại Minh Vĩnh-Lạc thập-bát-niên, tuế tại Canh Tý, đông thập nhị nguyệt, sóc, tạo (1420). Năm ấy là năm Lê Thái-Tổ Cao hoàng-đế đánh được tướng nhà Minh là Lý-Bân ở Thi-lăng rồi lùi về đóng ở Lỗi-Giang. Chuông ấy do một bọn sư ở Bắc-Hà quyên tiền đúc ra để cầu nguyện cho công việc vá trời lấp bể của Bình-Định -Vương chóng thành. Khi đúc, dùng đến hai vạn năm nghìn cân đồng và bảy trăm cân vàng. Vì đúc giữa lúc quân Minh còn đô-hộ ta, nên niên-hiệu phải đề theo lịch nhà Minh. Nếu ai được lên tận gác chuông, chui vào trong chuông thì chắc thấy một dòng chữ: Long phi Trùng-Quang thập-lục niên, tuế tại Canh-Tý, đông thập-nhị nguyệt, sóc, tạo (1420). Vì sau vua Lê Thái-Tổ đuổi được quân Minh, bình-định được nước, thiên-hạ cho là chùa ấy, chuông ấy thiêng lắm, nên ai có điều gì cũng đến đó thỉnh chuông cầu-nguyện.
Linh ứng như vàng treo là câu tục-ngữ khẩu truyền đời ấy. Câu ấy nghĩa là: cầu đến chuông vàng treo chùa Thiên-Bảo là linh-ứng nhất. Sau dùng rộng mãi nghĩa ra thì bất-cứ ai nói câu gì linh-ứng, trời đất có điềm gì linh-ứng... thiên-hạ đều gọi là linh-ứng như vàng treo.
Đến năm Mạc Đăng-Dong cướp ngôi nhà Lê, liền bắt hòa-thượng chùa Thiên-Bảo phải hủy quả chuông ấy đi. Mạc Đăng-Dong bắt hủy quả chuông ấy có ý sợ Trời Đất lại giúp cho nhà Lê trung-hưng chăng, sợ dân gian lại cầu nguyện cho nhà Lê khôi phục lại cơ nghiệp cũ chăng. Tuy có lệnh bắt hủy, nhưng dân gian vẫn có ý muốn giữ. Bởi thế nên mới giấu quả chuông xuống dưới bệ thờ Phật. Sau khi nhà Lê trung hưng, quả chuông ấy đem treo dưới nhà Tổ, tháp kia vẫn để không đó. Từng trên cùng, từ ngày không có chuông, vẫn để trống bốn mặt, không có tường, cửa gì cả. Rồi lâu ngày do thói cẩu-thả, ngói rơi gần hết, không đủ để che nắng mưa nữa.
Lại còn nỗi, chuông thiêng thì gác treo chuông cũng phải thiêng, nên vì sợ ma, sợ quỉ, sợ thần chuông, sợ cái vô lý... ít ai dám lên gác chuông ấy nữa. Nhiều người thời đó quả quyết nói rằng : ‘‘Đêm khuya có tiếng chuông từ ngọn tháp vàng treo ra’‘. Lại có người nói rằng: Chính mắt tôi trông thấy nửa đêm có người áo trắng quần trắng ngồi trên gác ấy đánh vào chỗ treo chuông cũ, nghe lanh-lảnh rõ tiếng đồng ngân’’. Hòa thượng chùa ấy cũng nói rằng: ‘‘Mỗi khi thỉnh chuông ở nhà tổ thì chính chỗ thỉnh chuông không thấy kêu mà ở trên gác chuông cũ kia thì tiếng nghe rõ mồn-một’’. Vì thế không ai dám nhìn nhận chữa chạy gì đến gác chuông ấy nữa. Dầm mưa dãi nắng mãi, suốt từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài chiếc tháp, đều bi rêu mọc phủ hồ kín. Những chỗ khe đá khe gạch, cày cối mọc ra tua tủa. Nhà chùa sợ cái tháp ma kia sẽ đuổi mất kẻ tu hành, người lễ bái, nên xây bức tường ngăn chiếc tháp ra ngoài địa giới.
. . . . . . .
Vào buổi sáng trung tuần tháng tư, trời chưa rõ mặt, có người đàn bà chạy hốt hoảng ở ngõ Tây xóm Nam làng Văn-Chương, vừa thở vừa kêu như người bị con thú dữ đuổi:
— Ối làng nước ôi! Cứu tôi mấy!... Ma, Ma... con lạy ngài.
Chú tiểu Hương trong chùa đó đương thấp hương ở nhà tổ, nghe kêu gào cũng vứt cả nắm hương cầm tay chạy đi rủ các tiểu bạn ra cửa chùa xem có việc gì. Hòa-thượng tủm tỉm cười:
— Phải rồi... chắc là người nào đi chợ sớm, qua dưới chân tháp Vàng Treo thấy con ma trắng nó gọi... Các con ra xem; nếu người ta sợ quá thì các con bảo người ta hãy vào chùa nghĩ cho hoàn hồn đợi trời sáng hẳn hãy đi.
— Ôi trời ôi ! tôi chết mất, bạch cụ...
Cửa Tam -Quan vừa mở, bốn chú tiểu đã nghe tiếng người ngã, tiếng ngã nặng như cây thịt hết hồn đổ sụp xuống. Bốn chú vội chạy ra thì thấy cách cửa chùa chừng mười lăm bước, một người đàn bà đầu tóc rũ rợi nằm sóng soài trên mặt đất. Quang, gánh, thúng, tiền, tung-tóe mỗi thứ một nơi.
Vỗ nước vào mặt, một lúc người ấy mới tỉnh dậy, nét mặt còn in vẻ sợ, vừa thở hổn hển vừa ngơ ngác trông các chú tiểu, vừa tiếng dài tiếng vắn :
— Con cắn rơm… cắn... cỏ... con lạy ngài...
— Không chúng tôi ở trong chùa ra đây. Đừng sợ, chị xã!
— Con là người... buôn bán lương thiện. Ngài tha... ngài tha cho con...
— Không! Tiểu Hương đây, đừng sợ.
Nhìn kỹ bốn người:
— Kìa... chú Hương, kìa các chú. Các chú cứu tôi với... Con ma ở tháp Vàng Treo nó vừa toan bóp cổ tôi...
— Không! Đừng sợ! Đứng lên thu quang gánh tiền nông rồi vào chùa với chúng tôi.
Chú Hương nâng người kia dậy, chú Trà nhặt quang gánh, chú Diệu nhặt tiền nông vung vãi, chú Thủy dìu người ấy vào trong nhà Tổ.
Hòa Thượng hỏi:
— Thế nào? Chị Xã thấy gì mà sợ quá thế?
— Bạch cụ, hôm nay phiên chợ Bằng, con đi chợ sớm, qua ngõ đây. Khi đi dưới chân tháp Vàng-Treo con đã có ý đi sát cạnh tòa Khâm cho đỡ sợ. Con lắng tai nghe thấy trên tháp có tiếng hát nho nhỏ. Con sợ quá nhưng cũng cố gượng bước đi. Con nghĩ rằng ma dẫu thiêng nhưng chẳng lẽ con người lương thiện... lại làm chết con. Vừa đi con vừa khấn: ‘‘Lạy ngài tha con, con là người lương-thiện’’. Con đương khấn thì bỗng trên tháp có tiếng gọi: ‘‘Chị xã Bủng! đứng lại tôi hỏi’’. Con liếc mắt nhìn lên thì thấy trên gác chuông có con ma quần trắng, áo trắng, đầu phủ khăn trắng, đương vừa vẫy vừa gọi con. Hết hồn, con ù-té chạy, vừa chạy vừa kêu thét rầm rĩ. Con định chạy vào chùa, nhưng gần đến tam-quan sợ quá ngất người đi, ngã xuống không biết gì nữa..’’
Hòa-Thượng, trong khi nghe vẫn tủm tỉm cười, lũ tiểu thì chú nào chú ấy, đứng nấp sau lưng Hòa-Thượng cả, mà đứng thật sát vào nhau. Nụ cười vẫn giữ trên môi, Hòa-Thượng nói với mọi người.
— Phải, có ma thật ! Con ma ấy mới đến ở tháp chuông chiều tối hôm qua. Già đây đương sắm sửa đèn hương tụng kinh giải thoát cho nó đây.
Các con đi đèn hương đi thôi, lấy sẵn bộ kinh Thủy-Sám để ở chiếu lễ. Lúc nào các con sắm sửa xong thì lên bạch lại ta và mang cho ta chiếc áo cà-xa.’’
Xã Bủng nghe Hòa-Thượng nói, vẫn chưa hết sợ:
— Vâng, bạch cụ, cụ tụng kinh giải thoát oan hồn cho nó để đi nơi khác, kẻo nó quấy nhiễu dân làng. Bạch cụ, cụ có mua quần, áo, bánh đa, thanh bông hoa quả để cúng cháo thì cụ cứ giao cho con.
— Không, ta có cúng ma đâu mà mua những thứ ấy.
— Bạch cụ, con tưởng cụ cúng con ma ở tháp chuông?
— Không, người đấy, có phải ma đâu!
— Người! Cụ nói cho con khỏi sợ... Rõ con trông là ma.
— Không, người đấy. Người ấy nay mai sắp chết. Ta đây muốn tụng kinh giải thoát cho đến ngày người ấy chết, trước cầu cho chùa ta được yên lành, sau là phổ độ cho người xấu số. Người ấy phải chịu tội ‘‘phơi thây’’ ở cạnh chùa ta, ta phải tụng kinh cầu yên cho thầy trò ta. Người ấy chết vì nghiệp chướng tiền duyên, ta muốn cầu cho vong linh người ấy được giải thoát mà sang Tây phương tĩnh độ [1].
— Nguời ấy là ai, bạch cụ ? Tội phơi thây là tội gì?
— Người ấy là con gái ông Chiêu Đặng Thụ- Ấm nhà quan Hoàng Đặng.
Xã Bủng sửng sốt người lên mà rằng :
— Cô Cháu ! cô Cháu quan Hoàng Đặng ! Thảo nào mà biết tên con. Tội nghiệp ! Thế cô ấy tội tình gì thế, bạch cụ?
— Tội tình gì thì miệng nhà sư già này cũng không được nói ra. Nói ra, lời nói ô-uế, sư già này sợ mất quả phúc tu hành trong bảy mươi năm trời đi. Đừng hỏi nữa.
Tiểu Hương xuống bạch:
— Bạch Cụ, xong cả rồi.
Hòa-Thượng đứng dậy:
— Thôi chị đi chợ,
Tiểu Hương mặc áo cho thầy, cầm gậy trúc đưa vào tay thầy. Hòa-Thượng tay chống, tay vịn vào vai tiểu Hương từ từ ra cửa lên Tam-Bảo. Xã Bủng thấy trời đã sáng hẳn, cũng bái từ Hòa Thượng để đi chợ.

Trên gác chuông Vàng-Treo, Ấu-Mai thức đến gần sáng mệt quá thiếp đi, nằm phục xuống sàn, ngủ. Chợp mắt được chốc lát thì một làn gió lạnh lại đánh thức dậy. Nhìn ra bốn phía trời còn tối, trên đầu lác đác còn vài ngôi sao.
 
Nhìn khắp bốn bề để nhận xem chỗ mình bị nhốt bây giờ là chỗ nào, mà xung quanh đêm tối mò-mò như bưng lấy mắt.
Họ mang ta đến chốn nào đây? Bốn ngựa phanh thây! Sao họ lại mang ta đến chỗ như cái tháp thế này? Hay là họ còn giam ta ở đây để làm nhục ta lần nữa rồi mới cho ta chết đây... Được rồi, được rồi, khi nào ta lại chịu chết khốn khổ như thế. Sẵn tháp cao đây, gieo mình xuống một cái là thoát nợ đoạn trường. Nhưng khoan đã, đợi sáng xem chốn này là chốn nào đã.
 
Một lát tiếng gà gáy báo sáng rộn khắp mọi nơi, trước mặt lờ mờ bóng nhà cửa cây cối đã dần dần thoát màu tối ban đêm. Dưới bóng sáng lờ mờ, nàng nhận rõ ra nơi nàng chôn nhau cắt rốn.
— Kia cái đầm trước cổng ‘‘Tình-Vũ Bất- Quan’’ kìa cái hồ ‘‘Tĩnh Tâm’’, kia cái thư trai ông ta vẫn đọc sách... Nơi xưa còn đó mà nào đâu những cảnh ngày xưa, những người ruột thịt? Kìa ai kia, trông như chị Xã Bủng người làng. Hay là ta lên tiếng gọi hỏi chơi, gọi là được chuyện trò với người đồng hương, người biết ta từ thuở nhỏ dại.
Vừa lên tiếng gọi to mấy tiếng: Bác Xã, bác Xã ! Bác Xã Bủng ! thì bác Xã Bủng đã rú lên mà chạy.
— À ra bây giờ ta đã là ma rồi! Chưa chết mà đã là ma! Thế thì ta phải chết! Không ai thèm nhận ta là người nữa thì ta phải chết ! Chết là phải, sống không ruột thịt thân thích, sống làm sao được. Vâng, tôi xin chết, tôi không dám sống. Tôi xin làm ma, tôi không dám làm người. Tôi xin chết ngay dưới chân tháp này, tôi chẳng đợi bốn ngựa xé thây. Tôi xin chết mà ! tôi xin làm ma mà ! Vừng đông đã rạng rồi kia, thôi ta phải sớm tính thân ta đi thôi !
Nàng đi ra bao lan, nhìn xuống đất, nhìn lên trời:
— Trời cao đất dầy, xin chứng minh cho tôi.
Trèo lên lan can, nàng giơ chân bước vào chỗ không...
— À ! cô định tự tử à? Cô định tự tử để thoát hình phạt của nhà nước à?
Một cánh tay rắn như sắt nắm lấy tay Ấu-Mai, lôi nàng vào. Tức khắc nàng bị trói ngay vào chiếc cột, miệng bị đóng hàm thiếc.
— Thôi nhé ! cô cứ ngồi yên đây nhé. Cô muốn chết, cái đó cũng không khó gì, cô giằn lòng đợi mấy hôm nữa thì cô được chết. Đi đâu mà vội thế ? Xuýt nữa chúng tôi chậm chân, cô gieo mình xuống chân tháp mà chết thì chúng tôi phải đền mạng. Thôi, cô nghỉ.
Nói xong, tên lính trèo thang xuống.
Đêm hôm qua, lúc đem Ấu-Mai lên gác chuông y quên không trói và buộc hàm thiếc, gần sáng, giật thức nhớ ra liền chạy đến ngay. Tới nơi, thì vừa vặn.
 
Lúc ấy vào độ tháng tư, trời đương độ nóng nực. Người ngồi trong nhà còn nóng thay nữa là ngồi trên chiếc tháp lộ thiên, thì không khác gì người bị rang vậy.
Ngày phải chịu nắng đốt người, đêm phải hứng hết sương gió, nàng phải cảm. Phải cảm mà vẫn phải phơi nắng phơi sương. Phải cảm như thế lại là may vì không biết đói là gì nữa. Nếu khỏe mạnh thì còn phải chịu lửa cơ đốt ruột nữa vì không ai cho ăn uống gì. Người ốm nóng như hòn than, cơm tuy không thèm, nhưng nước thì thèm lắm. Trời hạ nắng mới, chang chang hai ngày liền không lúc nào dịu cả. Trưa hôm thứ ba trời mưa rào một trận to. Nàng mừng lắm, muốn lê ra chỗ giọt ngói há mồm hứng giọt nước mưa, nhưng bị trói không sao lê ra được, nàng đành ngậm miệng vào áo hút giọt nước mưa thấm đẩm vào mình. Uống được ngụm nước, người tỉnh táo hơn lên một ít, nhưng được một lúc, mưa tạnh, trời lại nắng. Mặc bộ quần áo ướt chảy nước ra mà phải nắng, hơi bốc lên ngùn ngụt như chiếc trõ sôi. Sốt kịch quá, đến chiều nàng ngất hẳn đi. Một luồng gió buổi tối lại đánh thức nàng dậy. Sờ xung quanh chỗ nằm, tay nàng đập phải một đống gì lù lù bên cạnh. Mở mắt ra nhìn thì là một người. Nàng cố hết sức chỉ hỏi được một tiếng:
— Ai?
— Em, em Tố-Hà đây, em lại chịu tội cùng chị đây.
Dưới bóng trăng, nàng nhận rõ là mặt Tố-Hà. Mệt quá, nàng không nói gì cả, nhắm mắt nằm yên. Giá nàng khoẻ mạnh còn đủ sức để nói thì thế nào cũng mắng Tố-Hà mấy câu, song nàng ốm quá, không còn sức đâu nói được nữa. Tố Hà sờ người nàng từ đầu đến chân:
— Trời! nằm phơi nắng phơi sương ba ngày rồi, người nóng như lửa, cơm nước một giọt một hạt không có thế này! Tội giết người đến thế này là cùng.
‘‘Dạ, thưa chị, em đến đây để thú tội cùng chị, rồi em xin chết trước mặt chị để chuộc cái tội kia. Thưa chị, ngay sau khi em tố cáo chị là em hối hận ngay, song sự đã trót rồi, biết làm sao được. Thôi, chị coi em như con yêu tinh quỉ sứ thù chị kiếp trước, kiếp này theo chị mà giết hại chị đó.
‘‘ Em hối, em hối vô cùng, xin chị tha thứ cho. Chị có tha thứ cho em thì chết đi em mới nhắm mắt được. Em xin nói hết chuyện trong ngục tù cho chị nghe. Khi lên tới Kinh, ông Hoàng Duy-Lễ được giam bên phủ Chúa, em được ở nhà quan Hình-Tào Thị-Lang. Khi án ngục thành rồi, người ta thả em ra, em vội vàng đến hỏi ông Ngự-sử Trịnh-Kha xem ngày nào chị phải hành hình, thì ông ta nói chị còn phải chịu hình phơi nắng trên tháp Vàng Treo này ba ngày ba đêm rồi mới đem hành hình. Em vội vàng tìm đến đây, lừa lúc đêm mượn thang nhà chùa trêo lên đây cùng chị. Chị ơi! em đem cái chết đền bù nghĩa chị em, chị có nhận cho không?
Ấu-Mai lắc đầu.
— Em xin chết cùng chị, chị có bằng lòng không ?
Ấu-Mai gật đầu.
Tố-Hà cởi trói cho Ấu-Mai, ẵm lên lòng:
— Vâng, chị nên chết ở đây, mà em cũng nên chết ở đây. Hai chị em cùng gieo mình xuống đây mà chết.
Ấu-Mai gật đầu, cố dùng hết sức hỏi :
— Vũ Lăng-Hầu...? Thúy-Hồng...?
— Hôm qua em xin phép vào ngục thăm ông, vào tới nơi thì biết tin ông đã tự xử ở trong ngục rồi. Em Thúy-Hồng cũng mất hôm qua ở trong ngục. Nó ốm mà chết, có lẽ vì tuyệt vọng.
Ấu-Mai ứa hai hàng nước mắt.
Tố-Hà cũng không cầm được lệ.
— Ông dùng dây lưng tự-ải trong ngục tối hôm trước. Sáng hôm sau em vào thì ông đã quá cố rồi. Ông có để lại một bài thơ, tiếc rằng em chỉ được xem qua, không nhớ hết được, chỉ nhớ được một câu thôi:
Phụ mình chi nữa, riêng phụ hoa.
Ấu-Mai mỉm mép cười.
Tố-Hà nói:
— Thôi, đôi ta chết thôi chứ?
Ấu-Mai gật đầu.
Tố-Hà ôm Ấu-Mai ra lan can, trèo lên, quăng mình xuống.
*
Xóm Khâm-Thiên bây giờ, phủ ngoài một nước mã hào nhoáng xa hoa, mà thật ra chỉ là cái mồ lớn lấy tiếng đùa cười, giọng hát xướng, lòng dục vọng, chôn sống hàng trăm nghìn đóa hoa vô tội. Những người bị chôn sống ở đó, có kẻ biết mình bị lục trầm [2] tâm-tử [3] ; có kẻ vô tâm, tưởng mình còn có thể cười cợt vui đùa...
Hai trăm năm mươi chín năm trước đây, cũng ở đấy, Ấu-Mai và Tố -Hà đã uổng một đời tài hoa.
Xưa là mồ chôn chết, nay là mồ chôn sống hồng nhan,hay là ‘‘Tạo hóa lại khéo ra tay xếp đặt’’ ?
Août - Octobre 1933
 
Chú thích :
[1] Tĩnh độ: mặt chữ là tĩnh thổ, nhưng ở kinh phật phải đọc là tĩnh độ.
[2] Đắm cạn. Ở giữa đất cạn mà chết đuối, thành ngữ đó dùng để tỏ ý rằng : nỗi thống khổ của người đời do người gây nên, chẳng phải trời làm ra.
[3] Chết lòng.Chỉ còn sống cái xác, còn cái lòng chết rồi. Thành ngữ ấy, một là chỉ con người vô sĩ hết sức, không đoái đến việc tự cứu mình nữa.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0