Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nhận định: TỪ ĐIỀU EM CẦN ĐẾN LỤC BÁT THÊM XANH

0 trả lời, 4 lượt xem — Trang 1 / 1

Nhận định:
TỪ ĐIỀU EM CẦN ĐẾN LỤC BÁT THÊM XANH
của Lâm Băng Phương


Trước khi viết nhận định cho tập thơ Lục Bát Thêm xanh, tôi xin giới thiệu với các bạn đọc: Nhà thơ Lâm Băng Phương, cũng là người viết muộn, chủng tử thi ca có trong hồn chị thời còn là sinh viên Văn Khoa, ĐH Cần Thơ, nhưng đi qua thuở sơn hà dịch biến chị lập gia đình cùng anh Nguyễn Ngọc Khiêm cũng là sinh viên trường ĐH Cần Thơ. Chắc độc giả đã biết thời ấy, mọi cảm xúc dường như là xa xỉ. Nếu có, chị cũng chỉ thầm lặng viết cho mình bởi trách nhiệm của gia đình cùng con cái quá lớn lao, cái ăn cái mặc đã chiếm hết thời gian đối phó cuộc sống của chị, mà thời trẻ trung đã cố gắng lãng quên, có thể nói: “Tự cho uống thuốc ngủ con chữ - không đổi được gạo cơm”. Khi cái khó lăm le trong gia đình nhỏ/ Thơ ca ơi! Ngủ nhé ở trong lòng”
Khi tuổi xế chiều, con cái lớn trưởng thành anh chị có nhiều thời gian nghĩ về văn chương, ký ức xưa tràn về như thác lũ và chị bắt đầu chăm bón chủng tử con chữ có linh hồn mà thời trẻ trung cố tình lãng quên vì điều kiện và phương tiện.
Nói như nhà thơ Nguyễn An Bình – Người bạn của cả anh chị Nguyễn Ngọc Khiêm & Lâm Băng Phương: “Biết chị có niềm say mê văn chương khi còn dưới mái trường THPT Cái Bè”. Chính nhà thơ An Bình đã viết lời tựa cho tập thơ đầu tay: Điều Em Cần”(2023).
Từ ấy đến nay, chị chăm chỉ & nỗ lực vượt bật. Tự nhiên có quy luật tự nhiên, khi bắt đầu nhập cuộc với thơ, sự bùng vỡ trong “ý thức ầm ào xả lũ ngôn ngữ thơ” của chị. Thơ chị bắt đầu góp mặt trên các tạp chí: Quán Văn, Sông Quê, Hương Thiền, Ra Khơi, in chung với Dấu Chấm Than Quay Ngang, Vườn Thơ Tao Đàn và sang tận các tạp chí khác ngoài Việt Nam như: Biển Khơi, Chánh Pháp (Mỹ), Cái Đình (Hà Lan), Vuông Chiếu (Canada), Ngôn Ngữ… Điều ấy cho thấy sức viết của chị rất mãnh liệt. Đến hôm nay, năm 2025 chị đã xuất bản 4 tập thơ: ĐIỀU EM CẤN, ĐIỀU EM CÓ ĐƯỢC, TIẾC KHOẢNG TRỜI RIÊNG. Bây giờ là tập thơ thứ tư: LỤC BÁT THÊM XANH.
Nếu như tập thơ đầu tay của chị Điều Em Cần (2023) là dấu son “Kỷ niệm của 45 năm ngày cưới” và “điều em cần rất đơn giản là… bình an” trước cõi đời vô thường mà Lão Tử gọi: Gian nan, gian nan, vi gian nan. Tuy vậy trong ấy, rất nhiều đề tài, có cả thơ chuyển ngữ, nhiều thể loại, hàm chứa triết lý sâu sắc, nhất là sự bình an tâm hồn. Ví như: Sự bình an, rốt ráo con người hiển hiện trong trần gian là tìm về sự bình an, bởi cuộc đời trải dài cùng loài người lúc nào cũng bận rộn với Sinh lão bệnh tử, mãi lẩn quẩn trong đối phó với tứ khổ, sinh diệt làm sao có thể an lạc được. Điều đơn giản ấy thực ra rất gay go, muốn vậy phải buông xả, bỏ đi những rối rắm thị phi, dễ chi làm được nếu không có tu tập, nhưng với chị đã công phu trước nỗi đời chính mình: “Thế tục tranh giành hãy thản nhiên/ Trần gian sướng cực chẳng ưu phiền” (Vô Thường)
Giữa trần gian này chị hiểu chỉ là cõi tạm, đã là cõi tạm thì mọi sự cũng chỉ là phù vân, có đó rồi mất đó, chi bằng trong buổi chiều hoàng hôn đời người – Tuổi hạc đã thất thập cổ lai, chị đã dạn dày đối đãi nhân gian, hiểu nghĩa lý vô thường thế tục, dịch biến càn khôn, chị viết:
Thời gian cố níu tình xuân lại
Kỷ niệm ngừng phai, tuổi hạc còn
Khói phủ ngang đầu thêu ánh bạc
Tre tàn sát đất mọc chồi non
Càn khôn thế sự nhiều thay đổi
Ảo vọng phù vân mãi xoáy tròn
(Cõi Tạm/ trích Điều Em Cần)

Tập thơ LỤC BÁT THÊM XANH trang nhã về hình thức, in trên giấy có ảnh mờ như minh họa cho thơ, khác lạ, có bàn tay design bìa của nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai và cảm nhận ngắn ở trang bìa 4: “Tập thơ này là tiếng vọng của một người đàn bà làm thơ gửi đến những ai từng một lần rung cảm trước ánh trăng, trước mùa, trước lòng mình trong miền tịch yên”, được nhà giáo, nhà văn, dịch giả Nguyên Cẩn viết lời tựa, phân tích chi tiết làm người đọc khái quát được thi phẩm LỤC BÁT THÊM XANH của tác giả Lâm Băng Phương.
Nói như Viên Mai nhà văn, nhà thơ và nhà phê bình văn cổ điển nổi tiếng thời nhà Thanh - Trung Hoa (1716-1797):
“Thơ bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” và ông cũng mạnh dạn đưa ra khái niệm “Tính linh” như sau:
1. Vấn đề tình cảm trong thơ.
2. Vấn đề giữa nội dung và hình thức.
3. Tính sáng tạo trong thơ.
4. Tư chất và đào luyện.
Trong những yếu tố ấy, theo tôi: Đúng, nhưng chua đủ khi người làm thơ thiếu tài hoa sắp đặt con chữ có linh hồn để trở thành thi ảnh, thi tâm bài thơ sẽ hay hơn. Trong dòng chảy xuyên suốt tập thơ của chị đúng là hoài niệm, ngạn ngữ Việt đã nói: “Người già thường sống hoài niệm”, mà theo Henry Miller nói như trong lời tựa của nhà văn Nguyên Cẩn đã nhắc: “Sứ mệnh của con người trên mặt đất này là nhớ”. Nỗi nhớ của chị ùa về từ phía thời gian quá khứ, từ thời áo trắng học trò, đến tình yêu đôi lứa… đến cả dòng sông quê hương và cả tình yêu anh một thời ở quê nhà đến tận bây giờ quá nhiều kỷ niệm, tiềm thức vẫn còn thôi thúc khôn nguôi:
“Dòng sông nỗi nhớ khôn nguôi
Đi muôn phương vẫn ngậm ngùi sông quê”
(Lục bát Sông quê)
Hoặc:
“Sầu nghiêng cho nhẹ cõi lòng…/ Thơ nghiêng/ nghiêng cả cuộc tình… vào xưa” (Nghiêng). Lẽ gì cuộc tình hồng ngày xưa sao hoài nhớ tiếc. Tại mình hay nổi vô tình người dưng, thế mà khi viết thành thơ, chị không trách móc nhưng tiềm thức mách bảo nhớ lại thuở cuộc tình ngây ngô một thời đáng nhớ thật đẹp, kỷ niệm đẹp nào dễ mấy ai quên.
Trong văn chương câu từ rất rõ ràng theo quy tắc văn phạm, ngược lại thi ca rất hàm súc, ý tại ngôn ngoại nên chẳng cần văn phạm lắm, thế nhưng có lẽ chưa ai viết “vỡ câu lục bát, vỡ đêm, trổ ngày”. Mở đầu cho một tập thơ LỤC BÁT THÊM XANH chị có bài thơ mở đầu rất ngộ về đề tựa, tôi thấy lạ bèn đọc xem dụng ý của chị thế nào? Tính chị cẩn trọng, việc gì cũng chu đáo. Trải nghiệm vô thường quá đầy đủ trước trần gian vô biên nên tùy thời mà dụng, tùy cảnh mà dùng: Người làm thơ bản lĩnh mới dám trọn vẹn xuyên suốt tập thơ một thể loại lục bát – Thể thơ thuần Việt chỉ có ở Việt Nam.
Quay lại bài thơ Vỡ câu lục bát thì sao?

Vỡ đêm/ Nguyệt cũng dần tàn
Trổ ngày nắng thả/ ánh vàng đầy vơi.
Sự tuần hoàn của trời đất hết đêm là đến ngày, mặt trời lên sự sống vươn mình cho muôn loài trên khắp tinh cầu, tuy nhiên viết như thế này là một bước nhảy dài của chị trong ngôn ngữ thi ca, vừa mới mẻ, vừa lạ lùng, lại độc đáo.
Chưa hết, “vỡ nguyệt” cũng lạ lẫm không kém, có lẽ một lần ngắm trăng ấy, chị thấy lúc thì trăng leo lên dốc núi thấp cao, lúc thì chìm xuống đáy sông nhuộm vàng lung linh dòng sông như tranh thủy mặc – Thiên nhiên thật kỳ thú rất tài tình, thưởng ngoạn rồi cảm xúc bất chợt, nhưng đầy hình ảnh thơ huyền nhiệm:
“Một mình/ một bóng/ ngắm trăng
Nửa bên tôi khuyết/ nửa trăng em tròn
Nửa trăng/ leo dốc núi non
Nửa trăng/ ngụp lặn đáy sông/ nhuộm vàng”
(Vỡ nguyệt)
Và nữa: Về đêm nhờ ‘rong chơi’ trong giấc ngủ, gối mộng trên hành trình con chữ thi ca, phiêu diêu trong rừng ngôn ngữ thơ, từ đó “Vỡ câu lục bát” lạ lẫm làm cho người đọc đến ngỡ ngàng: “Đêm về/ gối mộng du miên/ vỡ câu lục bát/ phiêu nhiên ngôn từ”.
Chúc mừng chị đã mạnh dạn dùng hình ảnh này đưa vào thi ca.

Còn bao nỗi nhớ cứ từ tốn hiển thị trong Lục bát thêm xanh, nỗi nhớ mẹ - Người khó nhọc và gian nan nhất cho ta hiển hiện cuộc làm người, “nước biển mênh mông không sánh bằng tình mẹ” cơ mà, nhưng lòng con vẫn nhớ hình bóng mẹ ngày nào chênh chao thân cò, mênh mông, bát ngát trong dòng thơ thương nhớ dâng tràn, nghe chị viết để cảm nhận:
“Áo nâu đẫm giọt mồ hôi
Đổi cho tôi cả một đời an vui”
Hay:
“Bước mòn quằn gánh đong đưa
Phận mình thiếu thốn… dư thừa dành con”,
Và rồi thời gian thay đổi mọi thứ, kiến tạo và hủy diệt, mẹ đã ra đi vào cõi vô cùng, xa xăm quá, con dù hiếu chỉ biết thương tưởng lòng rưng rưng nhớ mẹ trong ngậm ngùi nhang khói hương bay và cầm trên tay “đóa vô thường trắng” để người đời hiểu rằng, giờ tôi là kẻ mồ côi mẹ, ôi chao! Thân phận mồ côi dù bao nhiêu tuổi đời cũng thấy mất mẹ là mất cả bầu trời, như bài thơ của Xuân Tiên đọc những dòng này ai cũng cảm động: “Hoàng hôn phủ lên mộ/ Chuông chùa nhẹ rơi rơi/ Tôi thấy tôi mất mẹ/ Là mất cả bầu trời”. Hãy nghe chị viết:
“Rưng rưng mắt lệ u hoài
Đóa vô thường trắng trên tay ngậm ngùi” (Chùm Lục bát Mẹ)
Hoặc:
“Giờ đây Mẹ cõi vĩnh hằng
Ngày của Mẹ… Thắp nén nhang chạnh lòng” (Nén hương ngày của Mẹ)

Bất cứ người nào trên hành tinh nầy đều có tình yêu đôi lứa, đó là bản chất của con người. Người không có tình yêu như cây thiếu ánh mặt trời. Nó là tố chất làm con người hân hoan, yêu đời. Người làm thơ, tình yêu càng phong phú bởi họ biết dùng ngôn ngữ để chuyển tải tính lãng mạn làm thăng hoa tình cảm. Ví như chị viết về một mối tình, nghe thật nồng nàn, xao xuyến:
“Viết về một mối tình thôi
Mà trăm năm vẫn bồi hồi xuyến xao
Viết về hạnh phúc ngọt ngào
Lời thơ chan chứa nông sâu vô vàn”
(Người đàn bà làm thơ)
Còn nữa, “Mộng tình xuân” lãng mạn còn dữ dội hơn, đến nổi yếm nhàu, lệch chăn. Trong giây phút ấy chỉ có tình yêu – Tình yêu lên ngôi, trần gian dẫu sao cũng mặc.
“Hồn xuân mê đắm xuyến xao
Tình xuân xào xạc yếm nhàu, lệch chăn
Ngất ngây đến tận cung Hằng
Giấc đêm ai mới vừa giăng tình này” (Mộng tình xuân)
Trong gia đình, cái cao quý nhất trong nghĩa Tao khang là được hạnh phúc đến đầu bạc răng long, đến cuối cuộc đời còn nắm tay dìu nhau đi trên con đường trần gian, đó là niềm ước mơ của mọi đôi vợ chồng, đạo lý ấy là truyền thống ngàn đời tốt đẹp còn lại trong văn hóa phương đông “Đi đâu cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”. Anh chị Nguyễn Ngọc Khiêm và Lâm Băng Phương đã làm được lúc nào cũng có nhau cho đến bây giờ khi tôi viết nhận định này, thật là diễm phúc và ngưỡng mộ.
Hãy nghe chị viết rất thực tính thủy chung của anh chị đã từng gắn bó nhau trong suốt 46 mùa nắng mưa cùng lên thác xuống ghềnh: “Cõng mưa/ cõng nắng qua sông/ cõng đời lận đận qua truông thăng trầm” trước dâu bể thời gian:
“Tình phu thê, nghĩa Tao khang
Phong sương chẳng ngại, vũ vân dạn dày
Bên Anh – Em có bờ vai
Bên Em – Anh có bàn tay ấm nồng

Bốn mùa xuân hạ thu đông
Mặc đời khép mở đục trong vô thường
Sóng đôi từng bước yêu thương
Cau xanh trầu thắm quyện vương diệu thường”
(Cau xanh trầu thắm)

Thời gian còn lại, anh chị chăm chút tu tập, nhiếp tâm niệm A Di Đà để “dệt thành hiên mây, kết lên mành trúc an nhiên từ giọt sương cuộc đời tinh khiết, hầu ủ thơm hoa cỏ an lạc trước cõi đời vô biên trùng trùng vui buồn trước tục lụy trần gian:
“Vui buồn chìm nổi bể dâu
Hương sen thoảng nhẹ niệm câu Di Đà”
(Niệm câu Di Đà)
Khi một người cứ âm thầm chăm bón ruộng tâm, cần mẫn tưới tiêu chắc chắn hoa tâm sẽ nở ngát hương, lòng đã tịnh, quả vị thiện lành, an lạc ắt sẽ kết trái, đó là nguyên lý bất biến của thuyết nhân quả của đấng toàn giác Thích Ca mà ai tu tập cũng biết, cũng hiểu.
Bây giờ, tuổi đã hoàng hôn chị “dõi theo ngã rẽ khúc quanh/ mà trân quý bước song hành tròn vuông” và nhà thơ Lâm Băng Phương có quyền an hưởng những gì đã gieo từ quá khứ, nhất là niềm vui cùng thơ ca và con chữ có linh hồn, để tâm hồn an lạc, thanh thoát:
“Góc đời là cả vườn thơ
Niềm vui con chữ chạm bờ hoàng hôn”
Chúc mừng chị có thi phẩm mới LỤC BÁT THÊM XANH. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Phạm Ngọc Dũ
Chủ biên Diễn Đàn Nghệ Thuật Sông Quê/ TPHCM


Đăng nhập để trả lời
0