Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chiếc Tủ Chè Mất Tích - Thúy Vũ

12 trả lời, 71 lượt xem — Trang 1 / 1
(Một câu chuyện thiếu nhi từ gần 60 năm trước...)

 
CHƯƠNG MỘT: CÁI TỦ BÍ MẬT  
 
Đà Lạt, một buổi chiều thật êm. Ánh nắng vàng nhảy múa trên những ngọn thông rì rào trong gió. Dãy núi Lang Bian mờ nhạt xa xa. Da trời trong xanh, in hình trên mặt hồ Xuân Hương lăn tăn sóng gợn. Mọi hôm vào giờ này, Đà Lạt luôn luôn khoác lên mình chiếc áo mùa thu, với những ngọn gió lạnh se da thịt, cùng màn sương mỏng thấm dần từng thớ cỏ, ngọn cây. Nhưng không hiểu vì sao hôm nay trời lại đẹp như vậy! Trong khu vườn của Trường Trung học nội trú nữ Thiên Phước, ba cô gái đang ngồi trên cây cầu nhỏ, ríu rít chuyện trò. Dưới chân họ là mặt hồ bán nguyệt nhỏ bé, xinh tươi, lô nhô mấy ngọn giả sơn rêu phủ và những chú cá vàng óng ánh nhởn nhơ bơi lội. Hồ này là một trong rất nhiều cảnh đẹp trong vườn. Các nữ sinh cùng làm cho ngôi trường thân yêu mỗi ngày một đẹp hơn. Họ đã tự tay - với sự hướng dẫn của các vị giáo sư - vẽ kiểu cho những công trình kiến trúc trong vườn; theo đó, vườn được chia ra cho bảy cấp lớp, mỗi cấp phụ trách một khu đất. Các cô nữ sinh đua nhau đi tìm những giống hoa tươi đẹp về trồng trong khu đất của mình. Họ đào những chiếc hồ nhỏ, dựng hòn giả sơn, bắc cầu, thả cá vàng, làm chuồng nuôi chim, đặt ghế đá dưới những bóng cây râm mát, lót sỏi trên lối đi quanh vườn… thôi thì vô số sáng kiến mới lạ được đưa ra và thực hiện trong niềm vui và háo hức.
Chỉ sau mấy năm, khu vườn đẹp đẽ hẳn lên. Bước vào khuôn viên Trường Trung học nội trú nữ Thiên Phước, người ta có cảm tưởng như bước vào một khung cảnh tuyệt vời, ở ngoài mọi lo âu, vượt trên bao nỗi khó khăn, bon chen của cuộc sống.
Từ đó đến nay, bao lớp học sinh đã rời xa mái trường nhưng truyền thống nguyên thủy vẫn được giữ gìn và tiếp nối. Những cô học sinh trường Thiên Phước luôn luôn tìm mọi cách để bồi đắp và phát huy nơi chốn đã in dấu quãng thời gian tươi đẹp nhất của đời mình. Cho nên dù đã rời xa ngôi trường yêu dấu cả vài chục năm, dù đã lớn tuổi, trên vai chồng chất những trách nhiệm của cuộc sống, dù đang giữ địa vị cao trong xã hội, những cựu học sinh Thiên Phước vẫn luôn hướng về chốn cũ và sẵn sàng làm tất cả mọi việc mình có thể để giúp ích cho trường.
 Câu chuyện giữa ba cô thiếu nữ xoay quanh mẫu tin viết trên tờ bích báo của lớp 12A dán tại khu sinh hoạt hiệu đoàn. Theo mẫu tin này thì vào đầu niên học vừa qua, bà Trần thị Phương, trước khi qua đời, có để lại một chúc thư, trong đó bà viết như sau: “Tôi xin tặng cái tủ chè đời Gia Long cho Trường Trung học nữ Thiên Phước. Nếu trong vòng sáu tháng trường không đến nhận, cái tủ này sẽ thuộc về cháu gái của tôi là Nguyễn Thị Năm, hiện đang sống tại nhà tôi ở Sông Pha”. Cho đến nay - vẫn theo mẫu tin này - thời hạn sáu tháng kia sắp hết mà vẫn chưa ai biết cái tủ ấy hiện ở đâu.
Thu, cô gái tóc uốn cao, mắt đen và sáng, trông tinh nghịch nhất đám lên tiếng trước:
- Hai bồ ạ, tôi nghĩ rằng bà Phương nào đó muốn đùa dai trường mình cho vui đấy! Chứ bảo cho người ta cái tủ mà lúc đến nhà không thấy có ở đó. Hỏi người cháu giữ nhà cũng chẳng biết mô tê gì hết.
- Bậy nào! Bồ không biết bà Trần thị Phương là ai sao? Bà ấy là vị Hiệu Trưởng đầu tiên của trường mình đó. Bà đã trông coi ngôi trường trong suốt mười lăm năm; cho đến lúc bị yếu quá mới phải về nhà nghỉ đấy!
Cô gái vừa nói là Minh, một thiếu nữ mảnh mai, để tóc xõa, da trắng môi hồng. Minh nói xong thì cô bạn thứ ba hỏi ngay:
- Thế tại sao bà ấy không cho nhà trường biết chỗ cất cái tủ để mình đến lấy?
Minh quay sang Ngọc, nữ vô địch bóng bàn và nhảy xa của trường, chậm rãi:
- Đây là điều thắc mắc không riêng gì của mình mà còn của Ban Giám đốc nhà trường nữa đấy Ngọc ạ!
Thu vỗ vai bạn:
- Minh à, hình như hồi gần Noel vừa qua, nhà trường có cử ông Hồng đến Sông Pha để tìm xem chiếc tủ ở đâu phải không?
Minh chưa kịp trả lời thì Ngọc đã nhanh nhảu:
- Đúng rồi đó Minh. Ông Hồng, giáo sư cố vấn thể thao và là chồng của bà Liên đấy mà!
Minh gật đầu, mỉm cười: 
- Ông Hồng có đến gặp người cháu của bà Phương để hỏi thăm. Chính người này cũng chẳng biết bà ta để cái tủ ở đâu nữa. 
Thu tỏ ý nghi ngờ: 
- Hay là người cháu gái của bà Phương cố tình giấu cái tủ ấy đi, cho qua thời hạn sáu tháng để giữ làm của riêng? 
Minh đáp:
- Chính thầy Hồng cũng có ý nghi như vậy đó. Thầy ấy đã bỏ ra suốt bốn ngày để tìm khắp trong nhà, ngoài vườn cũng như ở nhà kho mà chẳng thấy tăm hơi gì hết!
Ngọc cười tinh nghịch:
- Theo tôi thì cái tủ cũ kỹ ấy có đáng gì đâu mà nhà trường phải mất công tìm kiếm như vậy?
Minh cũng cười theo:
- Đáng lắm chứ Ngọc. Hai bồ có biết không, hiện nay ở nước mình chỉ còn lại hai cái tủ chè cổ kính thời ấy mà thôi: Một cái là vật gia bảo của ông chủ tiệm bán đồ gỗ Thanh Huy ở đường Tự Do và cái kia là của bà Phương đó.
Thu hỏi vặn bạn: 
- Bồ đã thấy cái tủ ấy bao giờ chưa? 
Minh gật đầu:
- Trong kỳ nghỉ hè năm ngoái, khi tôi về thăm gia đình ở Sài gòn, ba tôi có dắt đi xem một buổi trưng bày đặc biệt của tiệm Thanh Huy đó…
Ngọc cướp lời Minh:
- Tiệm bán đồ cổ thì ngày nào mà chẳng phải trưng bày ra cho người ta xem, có gì là đặc biệt?
Minh ôn tồn giải thích:
- Khoan nào, tôi chưa nói hết mà. Buổi trưng bày hôm đó sở dĩ được coi là đặc biệt vì ông chủ tiệm cho chở cái tủ quý báu được lấy ở Ngân Hàng ra…
Thu và Ngọc cùng hét lên:
- Lấy ở Ngân Hàng ra?
- Đúng thế. Bởi vì ông chủ tiệm sợ để ở nhà, kẻ gian có thể đánh cắp. Cứ xem hôm trưng bày thì cũng đủ biết ông ta quý cái tủ là chừng nào. Hôm ấy người ta đến xem chật ních phòng trưng bày. Cảnh sát phải đến giữ trật tự ngoài cửa tiệm. Phía trong tiệm còn có một hàng rào dây ngăn không cho người xem sờ vào tủ nữa đó. Ba của Minh nói rằng ông chủ tiệm còn xin cảnh sát chìm trà trộn trong đám người đến coi để ngăn ngừa kẻ phá hoại…
Ngọc lại ngắt lời bạn:
- Quí dữ ta! Minh thử mô tả cái tủ ấy cho tụi nầy nghe coi nào.
Minh đưa tay lên vuốt tóc:
- Cái tủ đẹp kinh khủng hai bồ ạ. Tủ làm bằng một thứ gỗ quí chỉ tìm thấy ở vùng rừng núi Việt Bắc. Bốn chân và hai bên hông tủ được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Mặt trước, phía ngoài cánh cửa trên và các ngăn kéo đều có những hình hoa lá, sơn thủy nạm bằng ốc xà cừ. Dưới ánh đèn, những gợn ốc lóng lánh chiếu ra màu sắc kỳ lạ lắm, không biết dùng lời nào để tả hết được.
Thu hỏi Minh:
- Thế Minh có biết lai lịch cái tủ ấy như thế nào không?
Minh nhìn bạn gật đầu:
- Theo lời Ba của Minh thì vào thời vua Gia Long, ở Huế có một người thợ vô cùng tài giỏi. Phải gọi ông ta là một nghệ nhân mới đúng. Bởi vì suốt đời, ông ta chỉ làm cái tủ quí báu đó mà thôi. Một cái để biếu ông Tôn Thất Mân là vị quan đương thời; cái kia thì tặng cụ Trần Phú, ông tổ bốn đời của bà Phương. Hai người này là ân nhân đã cứu giúp ông ta trong lúc nguy khốn. Cảm cái ơn ấy, ông ta đã bỏ ra suốt ba năm để tự tay hoàn thành hai cái tủ, đúng hơn là hai tác phẩm nghệ thuật tuyệt diệu, đem tặng hai người đã cứu giúp mình”.
Ngọc quay sang hỏi bạn:
- Thế hôm trưng bày cái tủ ấy, có nhiều người hỏi mua không?
Minh đáp:
- Có chứ. Tuy ông chủ tiệm không nói gì hết nhưng một người khách ngoại quốc đã đề nghị mua cái tủ ấy với giá 14 triệu đồng. Minh còn nghe nói rằng ông giám đốc Viện Bảo Tàng cũng có ý thuyết phục ông chủ tiệm để lại cái tủ ấy cho chính phủ, hầu trưng bày cho công chúng ngắm xem; nhưng ông ta không chịu đó.
Từ nãy đến giờ, Thu vẫn lặng lẽ theo dõi câu chuyện của bạn. Trầm ngâm một lúc khá lâu, cô mới chậm rãi đề nghị:
- Hai bồ ơi, tôi có ý định này không biết hai bồ có đồng ý không?
Minh và Ngọc nôn nóng hỏi:
- Bồ định làm gì, cứ nói đi xem nào.
Sau vài giây yên lặng, Thu nói:
- Ngày mai thi lục cá nguyệt xong, tụi mình sẽ được nghỉ một tuần. Hay là nhân dịp đó, ba đứa mình cùng đi tìm tông tích cái tủ xem sao. Biết đâu lại thấy?
Ngọc vỗ tay reo lên:
- Phải rồi đó, lâu quá rồi mình không có dịp trổ tài mạo hiểm. Bây giờ sẵn dịp, mình nên phiêu lưu một chuyến. Với lại nghe Minh tả cái tủ, tôi thấy mê quá đi, muốn tự mình đi kiếm để nhìn cho tận mắt.
Minh tiếp lời bạn:
- Tôi đồng ý với hai bồ. Nhưng chẳng hiểu bà Hiệu Trưởng có cho phép mình đi không?
Ngọc hăng hái:
- Bồ đừng lo, tôi sẽ trổ tài ăn nói để bà ấy bằng lòng cho tụi mình đi tìm cái tủ. Vả lại, mình làm việc ấy cho trường mà.
Thu kéo Minh và Ngọc đứng dậy:
- Được rồi, thế là xong. Sáng mai ba đứa mình thi rồi sẽ xuống phòng bà Hiệu Trưởng liền để thưa với bà ấy về việc này.
Ba cô nữ sinh lớp 12A của trường Thiên Phước thong thả bước về phía ngôi nhà dùng làm phòng ngủ và phòng ăn. Ánh nắng chiều đã dần dần phai nhạt. Hai bên lối đi, hàng Mimosa rung rinh theo cơn gió nhẹ những bụi hồng mỉm cười một lần nữa chào các cô trước khi đi ngủ.
Bà Hiệu Trưởng đang chăm chú ghi lời phê trên những tập học bạ xếp thành chồng cao trước mặt. Lúc ấy đã gần trưa, chuông tan học đã reo lên ba hồi dài. Tiếng ồn ào mừng rỡ của các cô học sinh từ mấy dãy lớp vọng lại như tiếng reo của đám trẻ thơ lúc sắp được chia quà. Không mừng rỡ sao được, thi xong có khác gì vừa trút được một gánh nặng. Một tuần lễ vui tươi đang chờ đợi các cô; người sẽ được cha mẹ đón về nhà chơi; người thì sắp tham dự cuộc du ngoạn Nha Trang và Hòn Yến do khối thể thao du lịch của trường tổ chức; người thì sung sướng vì có dịp nghỉ suốt bảy ngày: buổi sáng có quyền thức dậy trễ hoặc nằm suốt ngày trong tuần, trùm chăn ăn đậu phộng rang, đọc truyện, nghe nhạc, viết thư cho bạn ở xa…
Ba cô gái bước nhanh về phòng bà Hiệu Trưởng ở khu lầu đối diện. Cô nào cũng lo lắng không biết phải ăn nói như thế nào khi gặp bà ấy đây. Đến trước cửa phòng, Thu gõ nhẹ ba tiếng lên tấm chắn. Bà Hiệu Trưởng nói: “Cứ vào” và buông bút, mắt rời khỏi chồng học bạ, nhìn ra phía cửa chờ đợi.
Minh, Ngọc và Thu, cặp ôm trước ngực, rón rén bước vào, cùng lên tiếng chào:
- Thưa cô ạ!
Bà Hiệu Trưởng nhỏ nhẹ hỏi:
- Có việc gì thế các em?
Bạo dạn nhất đám, Ngọc nói trước:
- Thưa cô, chúng em muốn thưa chuyện với cô về cái tủ bà Phương để lại cho trường mình.
Khuôn mặt bà Hiệu Trưởng trở nên nghiêm nghị:
- Các em muốn nói gì về cái tủ ấy?
Minh đáp:
- Thưa cô, ba đứa em xin phép cô cho chúng em đi tìm cái tủ ấy.
Bà Hiệu Trưởng tròn xoe mắt:
- Đi tìm cái tủ à? Các em không biết là nhà trường có cử thầy Hồng đi tìm rồi sao?
Minh quay sang nhìn Thu, Thu thưa:
- Dạ chúng em có nghe nói rằng thầy Hồng đi tìm suốt bốn ngày mà chẳng thấy gì hết.
Bà Hiệu Trưởng gật đầu tỏ ý hài lòng:
- Biết thế rồi mà các em còn muốn đi nữa là thế nào?
Ngọc mạnh dạn trình bày:
- Thưa cô, chúng em nghĩ thầy Hồng không tìm thấy cái tủ là vì thầy ấy đi một mình. Nay nếu cô cho phép, chúng em đi ba đứa thì sẽ dễ dàng hành động hơn.
Bà Hiệu Trưởng lắc đầu, mỉm cười:
- Các em biết đó, bà Phương đã làm Hiệu Trưởng ở đây trong suốt mười lăm năm. Bà rất yêu quí ngôi trường. Nhưng mấy năm gần đây, cơn bệnh già đã khiến cho bà lắm lúc giống như người lãng trí. Vì thế tôi cho rằng rất có thể bà ấy đã tưởng tượng ra cái tủ ấy.
Minh nhìn bà Hiệu Trưởng:
- Nhưng thưa cô, bà ấy là dòng dõi của cụ Trần Phú, người được tặng cái tủ chè hồi thời vua Gia Long.
Bà Hiệu Trưởng chậm rãi:
- Có, tôi cũng biết vậy. Nhưng cả trăm năm rồi, biết đâu loạn lạc, chiến tranh đã khiến cho gia đình bà ấy không còn giữ được cái tủ ấy nữa? Cho nên tôi thấy các em có muốn đi tìm cái tủ ấy cũng vô ích mà thôi.
Thu cố nài nỉ:
- Thưa cô, chúng em được biết cái tủ ấy đáng giá hàng chục triệu đồng. Nếu trường mình tìm được thì sẽ có lợi không biết chừng nào. Vả lại chúng em tin rằng bà Phương thực sự có cái tủ ấy và muốn để lại cho trường mình.
Minh tiếp lời Thu:
- Thưa cô, xin cô cứ cho chúng em thử tìm một lần nữa. Dù tìm được hay không thì cũng là dịp cho chúng em thực hành những điều đã học ở trường về cách xử thế và óc suy luận, tìm tòi.
Bà Hiệu Trưởng vẫn còn ngần ngại:
- Nhưng mà các em là con gái. Tôi e rằng không tiện cho các em đi xa suốt mấy ngày như thế đâu.
Ngọc hăng hái:
- Thưa cô, xin cô đừng lo. Chúng em hứa sẽ rất cẩn thận trong suốt thời gian ở đó. Hơn nữa, từ đây đến Sông Pha chỉ có mấy chục cây thôi, chúng em sẽ cố về sớm.
Bà Hiệu Trưởng cuối cùng đành phải gật đầu:
- Thôi được, tôi cho phép các em đi đấy. Nhưng phải hết sức cẩn thận giữ mình nhé!
Ba cô nữ sinh cúi chào, cám ơn bà Hiệu Trưởng rồi quay ra, về phía nhà ăn. Ngọc giục hai bạn:
- Mau lên, kẻo nguội hết thức ăn rồi đó. Với lại mình phải ăn cho nhanh để rồi còn đi nữa chớ!
Phòng ăn có lác đác khoảng hơn mười cô nữa thôi. Thu, Ngọc và Minh đi lại quầy, mỗi người nhận một khay đã múc sẵn thức ăn và cơm. Ba cô đem khay lại một bàn trống, hối hả ăn cho xong. Sau đó, họ vội vàng tiến về khu cư xá giáo sư và nhân viên của trường. Minh nói:
-  Mau lên đi hai bồ. Coi chừng đến nơi, thầy Hồng nghỉ trưa rồi là phiền lắm đó.
Khi họ tiến đến nhà giáo sư Hồng, gia đình ông cũng vừa dùng xong bữa. Ông Hồng vui vẻ mời ba cô vào phòng khách:
- Vào đây các em. Có việc gì không?
Ngọc nhanh nhảu:
- Thưa thầy, chúng em vừa xin phép bà Hiệu Trưởng cho chúng em đi tìm cái tủ. Nay chúng em muốn hỏi thầy nhà bà Năm tại Sông Pha.
Thầy Hồng cười:
- Chà, ba cô sắp sửa trổ tài thám tử đó sao? Mấy tháng trước, tôi có đến đó nhưng lục lọi mãi suốt ba bốn buổi, từ trong nhà cho tới ngoài vườn; thậm chí cả trong chuồng gia súc phía sau nữa, mà cũng chẳng thấy bóng dáng cái tủ đâu cả. Lúc đầu tôi có nghi vợ chồng người cháu gái bà Phương giấu cái tủ. Nhưng rốt cuộc không có bằng cớ nào chứng tỏ họ làm việc đó hết.
Minh hỏi thầy Hồng:
- Thưa thầy, như vậy chẳng lẽ đành chịu mất cái tủ quí báu ấy sao?
Thầy Hồng ngập ngừng một lát rồi nói:
- Nói rằng chịu mất thì cũng hơi buồn đấy. Nhưng chỉ tiếc là bà Phương không để lại một dấu vết gì giúp cho mình tìm kiếm cái tủ ấy hết. Tuy nhiên, các em đã có ý định đi tìm, thử cố gắng một lần chót xem sao.
Thu cầm sẵn trên tay một tờ giấy; cô gái rút cây viết nguyên tử đưa cho thầy Hồng:
- Thưa thầy, chúng em định đi ngay chiều nay. Xin thầy vẽ bản đồ căn nhà đó cho chúng em.
Giáo sư Hồng nhận giấy và viết, vừa vẽ vừa nói:
- Sau khi xe đò chạy ngang Sông Pha chừng hai cây số, các em sẽ thấy một ngôi chùa ngay sườn núi bên trái. Vượt qua đó chừng 500m, các em sẽ gặp một cây cầu; sàn và thành cầu đều làm bằng sắt sơn màu đen. Hãy nói với tài xế cho các em xuống chỗ này. Bước qua lề đường bên trái, các em sẽ gặp một con đường mòn rộng vừa đủ cho một chiếc xe hơi đi. Ngay đầu con đường mòn này có một tấm bảng ghi ba chữ “Trại Thi Phương”. Các em cứ tiếp tục lần theo con đường mòn này thêm chừng một cây số nữa, nhớ đừng rẽ vào mấy đường nhỏ hai bên, là sẽ đến nơi ngay.
Ngọc thắc mắc:
- Thưa thầy căn nhà ấy có dấu vết gì đặc biệt không ạ?
Thầy Hồng tươi cười:
- Trong khu vực đó, chỉ có mỗi một tòa nhà hai tầng của bà Phương mà thôi. Dễ tìm lắm, các em đừng lo lạc đường.
Cám ơn và chào thầy Hồng xong, ba cô gái vội vã về phòng xếp quần áo và các vật dụng cần thiết vào xách tay. Riêng Minh, cô có đem thêm một cuốn Kinh Thánh bìa da mạ vàng khổ nhỏ mà ba má đã mua cho, sau kỳ trại thông công sinh viên học sinh Tin Lành vừa qua.
  Minh là con gái út của ông bà Đức, tín đồ thuộc Hội Thánh Sài Gòn. Tuy là gia đình con của tín đồ nhất là tín đồ sốt sắng như ông bà Đức - nhưng Minh có một cuộc sống tin kính không lấy gì tốt đẹp lắm trong mấy năm gần đây. Ngày Chúa Nhật, thay vì đi nhóm tại nhà thờ, cô thường tham dự vào những cuộc vui của bạn bè. Khi thì xem chiếu bóng, lúc thì dạo phố, vào quán nhạc cho hết giờ. Cuốn Kinh Thánh khổ lớn do chính tay ông Đức xếp vào vali cho Minh trước hôm cô lên Đà Lạt vẫn cứ nằm lẻ loi dưới đáy. Thói quen cầu nguyện do ba má tập cho thuở nhỏ cũng dần dần biến mất. Chính Minh cũng chẳng hiểu vì sao niềm tin kính mấy năm trước có thể biến đi một cách dễ dàng như vậy. Cô gái chợt thấy mình có quá nhiều thắc mắc về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, về những tín điều căn bản của Cơ Đốc Giáo. Những câu hỏi ấy, Minh chẳng biết thổ lộ với ai. Nói ra thì sợ người ta cười: Ai lại mang danh tín đồ mà còn đưa ra những thắc mắc sơ đẳng như vậy? Vì thế, nỗi nghi ngờ mỗi ngày một gậm nhấm thêm tâm hồn cô gái vừa lớn. Minh không thể nào tiếp tục cầu nguyện một cách dễ dàng như trước nữa. Có một cái gì thật nặng nề đè nặng lên người khiến cho Minh cảm thấy vô cùng ray rứt, mỗi khi mở miệng nói hai chữ “Lạy Chúa”. Với lòng nghi ngờ chưa được giải tỏa này còn mà dám thưa chuyện với Ngài sao?
Minh thường đặt câu hỏi ấy cho mình và dùng chính câu ấy làm một lý lẽ để tự trấn an mỗi khi thói quen cầu nguyện trở lại cáo trách nàng.
Chỉ mỗi khi về Sài gòn thăm nhà, Minh mới đi nhà thờ, họp gia đình lễ bái cùng với ba má. Nhưng những lúc ấy, cô làm thế là chỉ cốt cho ông bà Đức vui lòng mà thôi. Vì vậy, lòng cô trĩu nặng một nỗi buồn phiền không duyên cớ.
Nhưng sau kỳ trại thông công sinh viên học sinh Tin Lành vừa qua tổ chức tại Vũng Tàu, mọi sự đã thay đổi hẳn.
Đầu tiên, Minh đến trại chỉ với mục đích duy nhất là tìm vui mà thôi. Nàng dự hết những buổi tĩnh nguyện, học Kinh Thánh từng nhóm, thảo luận, nghe giảng… Nhưng tấm lòng vẫn chai lì, chống lại tiếng nhắc nhở của Đức Thánh Linh. Mãi cho đến buổi tối cuối cùng ở trại.
Hôm ấy, một buổi lửa trại được tổ chức giữa sân. Trong cái lành lạnh của trời đêm, chung quanh đống lửa, mọi người cùng hát với nhau những bài ca tuổi trẻ, thuật lại những ơn phước mình đã nhận được trong thời gian ở trại và sau cùng, nghe lời giảng dạy của một vị Mục sư trí sự đã được mời đến giảng đặc biệt cho các trại sinh. 
Minh ngồi bó gối, mơ màng nhìn đống lửa. Tiếng củi nổ lách tách, những bông hoa đỏ lấm tấm tung bay như một nắm Confetti mà người nào đó vừa rải trong ngày hội. Cô gái thầm nghĩ cuộc tranh chiến chống lại Đức Thánh Linh trong suốt sáu ngày qua đã kết thúc với chiến thắng về mình. Nhưng bất chợt, một câu nói của vị Mục sư vang lên bên tai nàng: “Các bạn đang sống với tâm hồn nặng trĩu, tại sao vậy?”
Minh bắt đầu chú ý lắng nghe. Lời nói của vị Mục sư thật ôn tồn, thân thiết như những lời khuyên bảo của một người cha thương yêu với bầy con lầm lỗi. Minh không ngờ những lời mộc mạc ấy lại là thanh gươm bén, xuyên thấu cõi lòng tưởng như chai đá của mình. Nước mắt ứa ra tự lúc nào, Minh chẳng hề hay biết. Chỉ biết rằng khi vị Mục sư trí sự kêu gọi những người trẻ dâng cuộc đời mình phục vụ Đức Chúa Trời, Minh đã cùng một số bạn bước ra. Tất cả cùng quỳ trên mặt đất, lớn tiếng cầu xin Chúa tẩy sạch mọi ô uế của nếp sống cũ và hứa nguyện dùng tuổi trẻ của mình để hầu việc Ngài hết lòng. 
Khi tiếng “A-men” vừa dứt, con mắt thuộc linh của Minh cũng được mở ra. Nàng nhìn bạn bè và cảnh vật chung quanh, thấy tất cả đều như được khoác lên một ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng của lẽ thật, của tình thương và hy vọng. Ánh sáng phát nguyên từ đồi Gô-gô-tha, nơi Chúa đã xả thân để gánh lấy nhưng vi phạm, làm lỗi, cứng cỏi, nghi ngờ của cô.
Kể từ buổi tối hôm ấy, cuộc sống của Minh thay đổi hẳn. Gánh nặng trong tâm hồn, những buồn phiền không duyên cớ khi trước đều biến mất. Lòng cô tràn ngập niềm vui thích. Minh muốn chia sẻ từng trải ấy cho mọi người cô gặp. Trước hết là ba mẹ nàng. Ông bà Đức đã cảm động đến rơi lệ khi nghe con thuật lại ơn phước kỳ diệu ấy. Việc đầu tiên ông làm là quỳ xuống cảm tạ Đức Chúa Trời và sau đó, đi mua cho Minh một quyển Kinh Thánh bìa da mạ vàng, có dây khóa để đánh dấu ngày con mình quyết định sống cho Cứu Chúa Giê-xu Christ.
Minh cũng định sẽ nói cho Thu và Ngọc biết về sự thay đổi lạ lùng của quyền phép Đức Chúa Trời trên đời sống mình. Nhưng tính nhút nhát đã nhiều phen ngăn cản cô thi hành ý định ấy, dù Thu và Ngọc là hai cô bạn chí thân ngay từ lúc mới bước vào nội trú.
Bộ ba Minh – Ngọc - Thu cùng học một lớp, cùng ở một phòng. Đi đâu, làm gì họ cũng có nhau. Không một cuộc vui nào mà người ta thấy vắng bóng bộ ba Tướng- Sĩ- Tượng này cả. Kể ra thì cái danh hiệu trên mà các bạn đặt cho cũng rất hợp với ba cô gái.
Thu lớn tuổi hơn hai bạn, lại khôn ngoan chín chắn hơn nên thường đóng vai chị hai. Minh học giỏi, thích đọc sách, ưa viết văn, nên cái “Kẻ sĩ” tỏ ra rất xứng đáng với cô. Còn Ngọc thì chẳng oan ức gì khi được thân tặng cái hỗn danh là “Tượng”. Thực vậy, vì vốn dân thể thao, lại là vô địch bóng bàn, nhảy xa, hơn nữa thân hình không lấy gì làm nhẹ nhàng cho lắm, nên Ngọc cũng vui vẻ khi nghe các bạn gọi mình bằng danh hiệu ấy.
Bộ ba này thỉnh thoảng cũng có cãi lẫy giận hờn, nhưng rồi chỉ một lúc là họ làm hòa với nhau ngay. Bản tính Minh vốn nhút nhát, nể bạn bè cho nên cô vẫn chưa tìm được một dịp nào thuận tiện để nói cho hai bạn nghe về sự kỳ diệu xảy đến với mình.
Minh đã sắp xếp trong óc những câu Kinh Thánh, những phần dẫn chứng và cách thức trình bày vấn đề mà cô muốn hai bạn hiểu thấu. Cô cũng cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình sự dạn dĩ để làm chứng về danh Ngài cho mọi người chung quanh. Nhưng từ khi có ý định cho tới lúc bắt đầu thực hiện ý định ấy cũng là cả một chặng đường gai góc. Minh e ngại cũng phải.
Thu có tài hùng biện, lý luận sắc bén, mỗi khi có xảy ra một cuộc tranh cãi nào thì gần như cô luôn luôn là kẻ thắng. Từ đầu năm, học thêm môn triết nên Thu đã chịu khó nghiên cứu rất kỹ các cuốn sách Tâm Lý, Luân Lý, Siêu Hình để luyện cho tài ăn nói của mình được vững vàng hơn. Cô gái lại hay có thói quen là bạ cái gì cũng đọc được hết. Vì thế, ai nói chuyện gì, Thu cũng biết. Từ chuyện cô đào này ly dị chồng, ông ca sĩ kia bỏ vợ, cho đến chuyện chính trị, tôn giáo… bất cứ lãnh vực gì, Thu cũng đều tỏ ra thông suốt. Đối với Thu, tôn giáo là một điều gì hết sức mơ hồ, chỉ thích hợp với ông già bà cả mà thôi. Do đó mỗi lần nghe nói về Kinh Thánh, thiên đàng, sự cứu rỗi… Thu đều nhún vai ra dấu không cần để ý tới.
Khác với Thu, Ngọc là cô gái ruột để ngoài da, bộp chộp nên thường phát ngôn bừa bãi. Nhưng được cái là Ngọc tuy nóng nảy, ăn nói cộc lốc nhưng rất tốt bụng đối với bạn bè.
Hồi tháng trước, khi Minh vừa từ trại thông công trở về một tuần, cô có dịp nói chuyện với hai bạn về sự thay đổi trong tâm hồn mình. Hôm ấy cũng là một buổi chiều. Cả ba vừa học bài xong, nên cùng đi dạo chơi trong lúc chờ bữa ăn tối. Dường như Thu và Ngọc cũng để ý thấy trong mấy ngày vừa qua, nơi bạn mình đã có một sự thay đổi lớn. Thu lên tiếng trước:
- Minh à, từ hôm đi trại về đến giờ, sao tụi tôi thấy bồ đổi khác quá vậy?
Minh ngần ngại một lúc lâu. Nàng bỗng đỏ mặt lên. Tính nhút nhát và cảm giác sợ hãi lại đến xâm chiếm nàng. Minh thầm cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình.
Ngọc thấy Minh yên lặng nên hỏi lại:
- Có chuyện gì không? Nói cho tụi tôi biết với. À, hay tim bồ vương vấn hình bóng của ai rồi phải không?
Đúng lúc đó thì Tuyết từ xa đi tới nhập bọn. Tuyết học cùng lớp với Minh và hai bạn, nhưng bộ ba này không ưa Tuyết lắm vì cô ta hay nghe chuyện rồi đặt điều thêm để kể xấu bạn bè. Thấy Tuyết lân la lại muốn nghe chuyện, ý định của Minh bỗng tiêu tan. Nàng không còn đủ can đảm để nói ra bất cứ điều gì trước mặt Tuyết hết.
Thế là Minh đã bỏ lỡ mất một dịp tiện để thuật lại kinh nghiệm của mình cho Thu và Ngọc biết.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 2: TÒA NHÀ CỔ
Ra khỏi trường, ba cô gái đón xe lam ra bến. Chuyến xe chót đi Phan Rang- Nha trang sắp khởi hành. Bến xe giờ này vắng vẻ hơn so với buổi sáng. Lác đác có mấy bà bưng thúng dạo qua cửa mời khách mua khoai khô, cà rốt hay những khung ảnh và đồ trưng bày làm bằng gỗ thông, vật kỷ niệm của du khách trước khi rời xứ hoa anh đào. Mặt trời tỏa xuống những tia nắng ấm áp. Buổi trưa Đà Lạt không giống buổi trưa Sài gòn. Ở Sài gòn người ta chen chúc nhau giữa dòng xe cộ cuồn cuộn chảy, dưới cái nắng gay gắt, trong không khí nhức nhối của tiếng động cơ, khói và bụi. Trái lại, ở đây, buổi trưa là thời khắc của sự nghỉ ngơi, thư thái. Thư thái ngay cả trong những sinh hoạt của người dân thành phố nữa.
Ba cô gái ngồi đợi chừng mười phút thì xe đã đầy chỗ. Chiếc xe đò từ từ lăn bánh. Ra khỏi thành phố, xe bắt đầu tăng vận tốc. Thu ngồi sát cửa sổ, kề đó là Minh rồi đến Ngọc. Gió lùa vào khung xe, những chiếc khăn choàng của họ bay phần phật. Mấy lọn tóc tinh nghịch ngoáy vào cổ vào mắt, gây cho họ cảm giác buồn buồn thích thú.
Nhà cửa thưa thớt và những hàng thông hai bên đường giật lùi nhanh trước mắt ba cô thiếu nữ. Họ trò chuyện luôn miệng, thỉnh thoảng lại khúc khích cười với nhau. Thu lên tiếng hỏi Minh và Ngọc:
- Đem được cái tủ chè này về rồi sẽ để ở đâu, hai bồ nhỉ?
Ngọc kê nhẹ bạn:
- Gớm, chưa gì hết mà làm như đã có tủ chè trước mắt rồi ấy!
Thu trả đũa liền:
- Đúng vậy, chưa có cái tủ trước mặt nhưng đã có cái bên cạnh rồi!
Biết Thu muốn ám chỉ cái thân hình không lấy gì nhỏ nhắn lắm của mình, Ngọc cáu quá. Nhưng nghĩ mãi không tìm ra câu nào để phản pháo, cô gái đỏ mặt ngồi yên. Minh vội đánh tan bầu không khí chiến tranh đang đe dọa bao trùm:
-  Thôi, thôi, tôi xin can hai bồ đi. Bồ nào cũng không vừa hết. Theo tôi thì tìm được cái tủ, mình sẽ đề nghị đặt nó ở thư viện cho mọi người chiêm ngưỡng.
Minh vừa nói đến đây thì một tiếng nổ vang lên. Chiếc xe lảo đảo. Người tài xế, tay ghì chặt tay lái, chân phải nhồi thắng liên tiếp. Hành khách nhốn nháo cả lên, anh lơ xe trấn an mọi người:
- Xe bể bánh chứ không có gì đâu.
Xe dừng lại sát lề. Người tài xế và anh lơ xe nhanh nhẹn nhảy xuống lấy thùng đồ nghề ra, thay bánh sơ cua.
Thu, Minh và Ngọc đứng ngồi không yên trong lúc chờ đợi. Ba cô hy vọng đến nơi trước khi trời tối. Vậy mà bây giờ xe lại hư, không biết đến bao giờ mới chạy được đây.
Sự lo lắng của họ tan biến ngay khi có tiếng nói lớn của anh lơ xe:
- Xong rồi, mời bà con cô bác lên xe đi!
Thế là chỉ trong vòng hai mươi phút, hai người ấy đã thay xong bánh xe và chiếc xe lại ra sức nuốt trọn quãng đường xa.
Phong cảnh hai bên đường thật mới lạ trước mắt ba cô gái. Nhưng họ cũng chỉ ngắm được một lát mà thôi. Cơn buồn ngủ kéo đến và họ đã tựa đầu vào thành ghế ngủ ngon lành…
Tiếng la “Tốp đi” của anh lơ xe làm Minh giật mình mở choàng mắt. Nàng lay hai bạn dậy, họ ngơ ngác nhìn chung quanh. Vẫn chỉ là màu xanh của núi rừng. Chỉ hơi khác là màu xanh ấy bây giờ thẫm hơn vì nắng chiều đã gần tắt. Ngọc hỏi ông khách lớn tuổi ngồi kế bên:
- Thưa ông, đến đâu rồi vậy?
- Gần tới Sông Pha rồi cô ạ.
Ngọc vui vẻ nói với hai bạn:
- May quá mình thức dậy vừa kịp lúc. Chứ ngủ thêm một chút nữa là có đường về tới Nha Trang luôn.
Ống nước khổng lồ bắc từ đỉnh núi xuống dưới đèo đã hiện ra trước mắt họ. Màu sáng kim loại của ống nổi bật lên giữa màu xanh trùng điệp của cây rừng.
Chiếc xe đã qua khỏi Sông Pha. Ba cô gái chú ý tìm ngôi chùa mà thầy Hồng đã chỉ. Trước mặt họ, về phía trái, ngôi chùa mái ngói cũ kỹ nằm lẻ loi trên sườn đồi. Thu quay lại gọi người lơ xe ở phía sau:
- Ông cho chúng tôi xuống ở cây cầu sắt phía trước nhé.
Khi còn cách cây cầu chừng ba chục thước, người lơ xe la lớn cho xe dừng lại. Chiếc xe chậm dần rồi ngừng hẳn phía bên này cầu. Ba cô thiếu nữ xách hành lý bước xuống, băng qua lề trái.
Vượt qua cây cầu sắt, họ thấy ngay con đường mòn và hai cây cột gỗ thông, trên đầu mang tấm bảng thiếc đã tróc sơn có ghi ba chữ “Trại Thi Phương”. Ngọc reo lên:
- Hay quá! Thầy Hồng chỉ đường như thế này là nhất rồi hai bồ nhỉ.
Thu cũng vui vẻ:
- Dĩ nhiên rồi. Thầy ấy là giáo sư toán mà. Chính xác là phương châm của thầy đấy.
Minh nhìn đồng hồ tay rồi nói với hai bạn:
- Sáu giờ hơn rồi, mình phải đi mau lên kẻo tối khó nhìn đường lắm đó.
Đi được khoảng hai trăm thước, họ gặp một ngã ba. Con đường nhỏ dẫn vào khu rừng trước mặt. Nhớ lời dặn của thầy Hồng, họ cứ men theo con đường đất đang đi.
Khi đến trước ngôi nhà hai tầng duy nhất trong khu vực đó, cả ba dừng lại chờ đợi. Lúc ấy trời đã nhá nhem tối. Bầu không khí chung quanh họ hình như mang một vẻ gì thật huyền bí. Trước mặt ngôi nhà là những bụi cây dại mọc cao ngang đầu người. Sát đó là bờ tường xây bằng đá, cắm cọc sắt lổm chổm. Hai cánh cửa sắt sơn xanh cũ kỹ rộng mở vào một lối đi cỏ hoang mọc tới gần đầu gối. Cuối lối đi là tam cấp đưa lên cửa chính. Cửa tường ẩm ướt vì rêu xanh phủ và cây leo bám vào, lan mãi lên tới lan can trên lầu. Cửa trên bao lơn cũng đóng chặt. Chỉ có bầy dơi chao lượn trên không trước khi lao vào những lỗ trống thoát hơi của trần nhà.
Ngọc tiến tới gõ cửa thật mạnh rồi lùi lại chờ đợi. Một lát sau không thấy gì, cô gái lại gõ cửa một lần nữa. Lần này thì kèm theo tiếng gọi lớn của Thu:
- Bà Năm ơi, cho tôi hỏi thăm với.
Vẫn không thấy ai ra. Bây giờ tới lượt Minh. Cô gái vừa đưa tay lên, toan gõ vào cánh cửa thì bất chợt từ phía sau lưng, tiếng chó sủa vang lên. Ba cô thiếu nữ giựt mình quay lại. Một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi từ ngoài cổng tiến vào, theo sau là hai con chó săn to lớn, dữ tợn. Thấy người lạ, chúng nhảy xổ tới, sủa ầm ĩ. Ba cô gái mặt mũi tái mét, nhảy hết lên đầu tam cấp, nép sát vào nhau. Người đàn ông quát tháo, bảo lũ chó im rồi cất tiếng hỏi:
- Mấy cô tìm ai?
Sau mấy giây định thần, Thu nhìn người đàn ông mà nàng đoán là chủ nhà, trả lời:
- Thưa ông, chúng tôi tìm bà Năm.
Thu vừa nói dứt câu thì từ phía tay mặt của tòa nhà một người đàn bà to béo tiến ra.
Người đàn ông nhìn về phía bà ta:
- Mấy cô này hỏi bà cái gì này.
Người đàn bà to béo vẫn lạnh lùng quan sát ba cô gái từ đầu đến chân. Trông mặt bà ta không có một chút thiện cảm nào hết. Minh đánh bạo hỏi:
- Thưa bà, bà có phải là bà Năm không?
Người đàn bà sẵng giọng:
- Phải, cô hỏi tui làm gì?
Minh luống cuống. Tia nhìn soi mói của bà ta khiến cô không biết trả lời như thế nào hết. Rất may là Thu đã đỡ lời cho bạn:
- Thưa bà, chúng tôi là học sinh trường Thiên Phước ở Đà Lạt. Nhân được nghỉ mấy ngày, chúng tôi định đến đây chơi sẵn dịp đi tìm hoa lan luôn.
Bà Năm cau mày:
- Đến đây chơi, sao không tìm nhà trọ ở ngoài kia mà phải vào trong này làm gì?
Sẵn trớn, Thu nói luôn:
- Thưa bà, chúng tôi nghe nói có giống lan rất quí mọc ở khu rừng bên cạnh đây nên muốn xin bà cho ở trọ mấy ngày để tiện việc tìm kiếm. Chứ trọ ở ngoài kia, mỗi lần đi vào rừng cũng hơi xa một chút.
Bà Năm vẫn lạnh lùng:
- Nhưng mà đây không phải là nhà trọ, làm sao các cô ở cho được.
Ngọc nghĩ ra một lý do nữa:
- Thưa bà, ngoài việc tìm hoa lan, tôi còn kiếm mua cho ba tôi một số đồ cổ nữa.
Mắt người đàn bà sáng lên:
- Ba cô muốn tìm mua đồ cổ à?
Ngọc tiếp tục bịa chuyện:
- Vâng, ba tôi chuyên sưu tập các đồ cổ cho Viện Bảo Tàng Quốc Gia.
Thái độ của bà ta thay đổi hẳn sau hai câu nói của Ngọc. Giọng nói của bà ta trở nên thân mật không thể ngờ được:
- Thế thì hay lắm. Mời các cô vào đây. Đi đường xa chắc các cô mệt lắm phải không?
Vừa nói bà Năm vừa quay gót dẫn họ vào lối đi bên phải ngôi nhà. Ngọc nhìn hai bạn, nở nụ cười tinh quái. Thu và Minh cũng nheo mắt biểu lộ sự đồng tình.
Bà Năm vui vẻ:
- Thực ra thì chúng tôi cũng còn một phòng dành cho khách ở phía sau đây. Ba cô ở chung trong phòng ấy thì vừa vặn lắm.
Họ đi tới một dãy nhà hai tầng toàn bằng gỗ. Một chiếc thang gỗ đặt ngay phía ngoài dẫn lên trên lầu. Dưới chân thang là một chiếc xe Jeep có rờ moọc đã cũ kỹ. Bà Năm chỉ trỏ:
- Đây là nhà kho, còn bên trên là phòng khách. Nào, mời các cô lên xem.
Bà ta vội vã lên thang trước. Dáng đi vốn nặng nề của bà cố sức cho nhanh hơn khiến Minh liên tưởng đến một con vịt xiêm trong khu nuôi gia súc của nhà trường.
Bà Năm mở cửa phòng và mấy cái cửa sổ. Ba cô gái bước vào. Trong phòng kê một chiếc giường rộng có nệm phủ, một tủ áo có gương soi, một bàn viết và hai cái ghế. Bà Năm mở ngăn kéo bàn viết, lấy ra cây nến và bao diêm. Thắp sáng ngọn nến xong, bà nói với ba cô gái:
- Các cô cứ tự nhiên như ở nhà nhé. Bây giờ thì mời các cô thay quần áo và nghỉ ngơi rồi xuống dùng cơm với vợ chồng tôi. À quên, còn nước rửa mặt nữa. Các cô cứ xuống nhà, đi ra sau một chút là gặp cái giếng ngay. Thôi, tôi xuống bếp làm cơm đây. Chừng nửa giờ nữa mời mấy cô xuống nhé.
Ánh sáng ngọn nến cũng đủ để soi cho người ta thấy những câu gốc lồng kính treo trên tường. Có cả thảy bốn câu, chia làm hai cặp treo đối diện nhau: “Vui mừng mãi mãi” đi với “Cầu nguyện không thôi” và “Yêu thương, nhơn từ” kèm theo “Bình an, nhịn nhục”.
Thu, Minh và Ngọc thay y phục, xuống nhà rửa mặt rồi lên phòng nằm nghỉ một lát. Khi họ vào phòng ăn thì thấy các món ăn đã bày sẵn trên bàn và ông bà Năm đang ngồi ở đó. Vừa trông thấy ba cô, Bà Năm liền đon đả:
- A, các cô xuống vừa kịp lúc. Chúng tôi mới ngồi vào thôi. Nào, mời các cô dùng cơm kẻo nguội.
Ba cô gái, vì buổi trưa ăn hối hả, chưa đủ no, lại đi bộ quá nhiều, nên ai nấy đều đói, vừa nhập cuộc là lặng lẽ tấn công ngay! Khi cảm thấy ba cô gái đã có vẻ chậm dần trong nhịp độ sử dụng bát đũa, bà Năm mới chỉ ông chồng, giới thiệu:
- Đây là ông Sĩ, chồng tôi. Ông ấy thứ năm nên người ta thường gọi ông Năm. Còn các cô?
Thu liền mau mắn giới thiệu tên tuổi mình và hai bạn. Câu chuyện giữa ba cô gái và ông bà Năm cũng không đến nỗi tẻ nhạt lắm, nhờ sự gợi chuyện khôn khéo của bà Năm. Bà ta hỏi họ về việc học ở trường, về những chuyện ở Đà Lạt và về gia đình của họ. Dần dần bà mới bắt vào câu chuyện chính:
- Cô tôi có để lại một số món đồ cổ mà tôi chắc các cô sẽ thích lắm. Chắc các cô cũng biết bà Phương, cô tôi, đã qua đời mấy tháng nay và tôi có phận sự coi sóc nhà cửa cho bà ấy.
Minh mỉm cười khẽ gật đầu:
- Vâng, chúng tôi cũng có nghe nói như thế.
Bà Năm vừa định nói câu gì thì ông chồng đã xen vào:
- Sống lẻ loi ở tòa nhà cổ trong vùng đất hoang vắng này kể cũng ngán các cô ạ. Cho nên hễ bán tống được mấy món đồ cổ ấy đi là chúng tôi về Sài gòn gấp.
Bà Năm quắc mắt nhìn ông chồng:
- Này, ông nói gì lạ vậy. Ông không biết rằng những món đồ đó đáng giá lắm sao?
Nói đoạn bà quay sang phía ba cô gái và cười ngượng ngập:
- Mấy cô thấy đó. Nói đến đồ cổ là đàn ông làm như của vứt đi ấy. Tuy nhiên tôi mong mấy cô sẽ thấy rằng những món đồ đó đều là những vật có giá trị hết.
Sau bữa ăn, bà Năm dẫn họ đi một vòng thăm khu trại. Sát bên nhà bếp là phòng ăn và kho dụng cụ, bên trong chứa những vật rất lạ mắt, mà vì trời tối nên họ không nhận rõ là các vật gì. Đi một quãng nữa thì đến khu nhà dành cho các gia nhân. Khu này hiện giờ tối om vì không có ai ở hết. Theo tay bà Năm chỉ, ba cô gái lờ mờ nhận ra vị trí khu chuồng ngựa, bò và heo, cũng tối tăm chẳng kém. Vòng trở về họ đi ngang ba phòng phía sau của tòa nhà cổ. Mấy phòng này ban nãy tối om. Bây giờ chắc ông Năm vừa vào nên đã bật đèn sáng. Bà Năm giải thích:
- Ở đây chỉ có ba phòng này là bà cô tôi mắc điện thôi. Không biết sao bà cụ lại chẳng chuyền điện vào khu nhà kho và phía đằng sau. Tội nghiệp bà cụ, mấy năm về sau này tính tình cụ kỳ lạ lắm. Suốt ngày bà cụ chỉ làm bạn với cuốn Kinh Thánh mà thôi.
Bà Năm bảo với ba cô gái chờ bà vào phòng lấy thêm cây đèn dầu cho họ. Ở ngoài, ba cô bàn nhau về việc trao cho bà Năm một số tiền. Ngọc nói:
- Mình sẽ ở đây ít nhất là bốn ngày. Phải đưa cho bà ấy một số tiền nào để nấu ăn cho mình chứ!
Thu gật đầu:
- Phải đó, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Các cụ đã dạy như vậy mà.
Minh đề nghị:
- Tụi mình cứ đưa tạm cho bà ấy ba ngàn đi. Tôi thấy như vậy cũng không ít quá đâu.
Vừa khi ấy thì bà Năm đem đèn ra. Thu mời bà ta cùng theo ba cô lên phòng. Lúc bà Năm định xuống nhà, Thu nói:
-  Thưa bà, chúng tôi định ở đây ba bốn ngày. Thế nào bà cũng phải tốn kém thêm về chợ búa. Vì thế, chúng tôi xin gởi bà trước ba ngàn để góp vào tiền chợ.
Vừa nói Thu vừa đưa số tiền đã được bỏ vào phong bì cho bà Năm. Bà ta từ chối:
- Đừng làm vậy, các cô đến chơi vài ba ngày có là bao. Các cô cứ giữ lấy mà tiêu.
Minh nói thêm:
- Thưa bà, bà cho chúng tôi được ở đây là quí lắm rồi. Còn số tiền này xin bà cứ nhận đi cho chúng tôi mừng.
Bà Năm miễn cưỡng gật đầu:
- Thôi được. Để tôi viết cho mấy chữ là đã có nhận số tiền này.
Dù ba cô gái bảo là không cần, bà ta cứ nhất định mở ngăn kéo lấy tờ giấy và cây viết để ghi biên nhận cho họ. Khi bà Năm đã đi khỏi, Ngọc mở tủ quần áo lấy màn, chăn, gối ra, dọn giường để sửa soạn đi ngủ. Thu đứng bên khung cửa sổ, nhìn ra khu rừng cây đen kịt phía ngoài. Một lúc cô mới nói:
- Không hiểu sao ở căn phòng này, tôi cứ có cảm giác lành lạnh làm sao ấy?
Minh cười nhạo bạn:
- Sợ ma ở trong rừng chui vào bắt đem đi hả? Thế thì cứ việc đóng các cửa lại cho chặt chứ gì!
Vừa lúc ấy, một cơn gió lạnh lùa vào phòng. Ánh sáng chao đi làm ba cái bóng đen trên vách như đang cử động.
Ngọc nhìn Minh:
- Lâu quá mình mới được hưởng cái thú xài đèn dầu Minh nhỉ. Nhìn bóng của mình in trên vách, tôi lại nhớ đến câu chuyện ‘Thiếu Phụ Nam Xương’.
Minh gật đầu:
- Chuyện ấy buồn quá hả Ngọc?
Thu xen vào:
- Theo tôi thì câu chuyện phải kể như vầy mới đúng: “Ông chồng từ mặt trận trở về, nghe đứa con nói vậy, lòng đau lắm nhưng cũng phải giả vui như thường. Ông ta ở nhà với vợ cho đến tối hôm ấy thì làm bộ có việc gấp phải đi liền. Nhưng kỳ thực ông ta chỉ đi một quãng rồi vòng về núp ở ngoài để rình. Trong nhà người đàn bà đang ngồi khâu vá, đứa con chơi bên cạnh. Khi bà ta khêu tim đèn cho sáng hơn, chiếc bóng của bà trên vách hiện rõ cùng tiếng reo vui của thằng con: A, cha đã về kìa! Vừa reo nó vừa chỉ tay vào cái bóng. Người chồng sung sướng khôn xiết, nhảy xổ vào ôm lấy vợ con. Những giọt nước mắt vui mừng lăn trên khuôn mặt của ông ta. Trong khi ấy thì bà vợ không hiểu gì hết.
Ngọc cười tinh quái:
- Đúng rồi, sự việc đã xảy ra như vậy, nếu ông chồng ấy là bồ đó Thu.
Minh cũng bật cười:
- Kết thúc của bồ có hậu lắm. Nhưng nếu câu chuyện mà kết thúc như vậy có ai truyền tụng làm gì. Khuynh hướng con người vẫn là ưa những câu chuyện có tình tiết éo le, bi thảm mà.
Thu nhắm mắt mơ màng:
- Thu cũng biết vậy đó. Nhưng sao mình vẫn muốn cho hai vợ chồng kia sum họp mãi mãi cơ.
Nói chuyện một lát, Thu đóng cửa lại rồi lên giường trước. Ngọc còn mãi uốn mình làm những động tác hô hấp và thể dục trước khi đi ngủ. Minh ngồi bên ngọn đèn dầu, chăm chú đọc một khúc Kinh Thánh theo bảng đọc lời Chúa trong suốt năm. Mãi tới gần 11 giờ, cô mới lên giường nằm. Hai cô bạn đã ngủ say từ lúc nào không biết. Minh cũng chỉ nằm xoay qua xoay lại một lúc là mí mắt đã nặng trĩu. Một lát sau, trong phòng chỉ còn nghe thấy tiếng thở nhẹ của ba cô gái mà thôi.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG BA
 
Sách bị mất trang, hy vọng sẽ sớm có cách phục hồi được
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG BỐN
 
Sách bị mất 1 số trang đầu chương này.
 
Một vài phút sau, từ dưới nhà kho lại vọng lên một chuỗi âm thanh khác nghe rõ mồn một. Minh lay hai bạn:
- Thu, Ngọc, dậy coi.
Hai cô bạn chỉ xoay quanh phía khác, ú ớ rồi lại ngủ tiếp, Minh phải lay mạnh hơn, vừa lay vừa ghé sát vào tai họ:
- Dậy đi, có ai đang ở dưới nhà kho kìa.
Thu và Ngọc choàng tỉnh, ngồi bật dậy dụi mắt. Ngọc hốt hoảng:
- Đâu, ai đâu?
Thu cũng hỏi dồn:
- Cái gì, cái gì vậy Minh?
Minh ra dấu cho hai bạn giữ yên lặng rồi thì thầm:
- Hình như có người vào nhà kho. Hai bồ có nghe thấy gì không?
Thu gật đầu:
- Phải rồi… À, họ đang khiêng cái gì ra khỏi kho. Mình thử lắng nghe một chút xem?
Từ phía dưới, họ nghe rõ ràng tiếng sàn sạt của một vật nặng bị kéo lê trên sàn xi măng.
Ngọc lẩm bẩm:
- Chẳng biết họ vào ăn trộm cái gì mới được chứ?
Sự sợ hãi đã khiến ba cô gái như bị trói chặt chân tay. Họ nép sát vào nhau. Giữa khi ấy thì có tiếng động cơ xe hơi vang lên ngay dưới chân thang. Ngọc chạy vội ra phía cửa sổ. Nàng kêu lên:
- Họ đi mất rồi.
Ngọc vừa hé mở cánh cửa thì Minh và Thu cũng vừa nhảy tới. Họ chỉ kịp nhìn thấy một chiếc rờ moọc chạy khuất sau lùm cây ngoài cổng.
Thu đề nghị:
- Chúng mình nên xuống gọi ông bà Năm. Chắc chắn có kẻ đã vào lấy trộm một thứ gì trong đó rồi.
Ngọc quả quyết:
- Đúng vậy, tôi thấy rõ ràng có một cái thùng gì ở trên rờ moọc.
Minh gật đầu:
- Ờ, mình phải xuống ngay để ông bà ấy báo cảnh sát mới được.
Ba cô gái khoác vội áo choàng lên người. Ngọc lấy theo chiếc đèn bấm ở dưới gối. Ánh sáng từ chiếc đèn pin cắt một vệt sáng đủ cho họ thấy đường xuống thang gác. Vừa đặt chân xuống đất, họ bỗng đứng sựng lại. Cánh cửa nhà kho mở toang. Những thùng gỗ lớn nhỏ đã được xếp ra một bên. Chắc những người vừa vào đây phải quen thuộc đường lối lắm. Đảo mắt qua một vòng ba cô gái thấy những đồ đạc ban chiều vẫn còn y nguyên. Ngọc hỏi:
- Như vậy thì họ lấy đi cái gì nhỉ?
  Một thoáng yên lặng trước khi Minh kêu lên:
- Trông kìa, phòng chứa thức ăn cho gia súc lại mở toang cửa như thế kia?
Họ bước tới, Ngọc nắm cánh tay Thu, bàn tay cầm đèn pin của nàng run run:
- Kìa, có những vết chân trên sàn nhà đầy bụi này. Chắc chắn họ đã trộm vật gì ở trong đây rồi.
Minh buột miệng:
- Nhưng mà hồi chiều bà Năm bảo rằng trong này chẳng có gì ngoài đồ ăn cho gia súc thôi mà.
Thu mỉa mai:
- Nghe người ta nói cái gì cũng tin như bồ thì hỏng việc đấy. Cũng chỉ vì cái sự ngoan đạo quá, không dám nói dối của bồ, mà chúng ta gặp trở ngại đó.
Ngọc làm trọng tài:
- Thôi đi, chuyện gì cũng cãi được hết. Vào đây mà xem này.
Họ đứng ở ngay cửa phòng, nhìn vào. Ánh sáng soi lờ mờ một khoảng hình chữ nhựt lớn giữa đám bụi dầy trên sàn nhà. Thu nói:
- Vật gì ở trong này chắc phải lớn lắm. Cứ coi cái hình chữ nhựt kia là đủ biết.
Minh nhận xét:
- Chắc là một món đồ nào đó. Nhưng tại sao họ lại phải giấu vào đây?
Thu nói:
- Có thể đây là cái tủ chè mà chúng mình tìm kiếm. Hai bồ thấy đó, chúng mình đã sục sạo khắp nơi, từ sáng đến chiều mà chỉ có chỗ này là mình chưa vào được thôi.
Ngọc chép miệng:
- Thực không thể ngờ được nhỉ!
Thu tiếp tục:
- Tối hôm qua, lúc ăn cơm xong, chắc hai bồ cũng thấy hành động kỳ lạ của ông Năm chứ? Khi vừa nghe bà vợ nói rằng bà ta muốn cho mình xem phòng chứa thức ăn buổi sáng hôm nay. Ông ta biến sắc mặt liền. Sau đó không kịp uống nước, ông ta cáo lỗi rằng phải đi ngay vì có việc bận. Rồi ông ta hấp tấp đi luôn đó.
Minh nói:
- Và bây giờ, ông ta trở lại đem cái tủ đi giấu một nơi khác.
Ngọc thắc mắc:
- Nhưng nếu đấy là cái tủ bà Phương cho trường mình thì tại sao ông ta phải giấu như thế?
Thu giải thích:
- Bồ quên rằng theo tờ di chúc, nếu nhà trường không nhận cái tủ trong vòng sáu tháng thì nó sẽ thuộc quyền sử dụng của bà Năm sao?
Minh suy nghĩ vài giây rồi nói:
- Theo tôi thì không phải người ngoài vào đây trộm đồ đâu. Họ đâu dám cả gan lái xe vào tận đây, cậy cửa nhà kho, mở ống khóa phòng chứa thức ăn gia súc trong lúc chúng mình ngủ ngay trên gác và ông bà Năm ở nhà? Hơn nữa, họ lại thuộc đường đi nước bước đâu có thua gì mình.
Thu nói tiếp:
- Trong nhà này, chỉ có ông bà Năm mới biết ở phòng chứa thức ăn gia súc có gì mà thôi. Cũng chỉ họ mới có chìa khóa mở cửa phòng đó thôi.
Ngọc reo lên:
- Phải rồi, chắc hẳn ông bà ấy đã vào đây khiêng cái tủ đi giấu một nơi nào đó rồi.
Minh nhìn ra phía ngoài cửa rồi nói:
- Hai bồ ơi, chúng mình phải mau mau trở về phòng đi kẻo ông bà ấy bắt gặp mình đang ở trong này là nguy lắm đó.
Thu gọi giật hai bạn lại khi Minh và Ngọc vừa bước vội ra phía cửa:
- Khoan đã, tôi muốn coi kỹ xem còn cái gì nữa ở trong này không?
Ngọc rọi đèn cho hai bạn tìm kiếm chung quanh bốn góc phòng. Nàng vừa cầm đèn vừa run:
- Mau lên đi Thu. Coi chừng họ sắp về đó. Nãy giờ ông bà ấy đi cũng khá lâu rồi.
Thu tức mình gắt lên:
- Giục hoài vậy? Dân thể thao gì mà nhát dữ thế? Để người ta tìm một chút nữa coi nào.
Ngọc và Minh rán nán lại, đầu gối họ cứ run lên từng chặp. Chợt có tiếng Thu reo lên mừng rỡ:
- À, đây rồi.
Vừa nói Thu vừa nhặt một mảnh bìa cứng ở dưới đất lên đưa cho hai bạn xem. Ngọc kêu lên:
- Ồ, một bức ảnh.
Minh thấy tim mình đập mạnh:
- Ảnh chụp cái tủ chè, hai bồ ạ. Đúng là cái tủ chè đã được trưng bày ở đường Tự Do mấy tháng trước đây mà!
Hai tay run run, Thu cầm tấm ảnh lên ngắm nghía:
- Đẹp quá, chụp rõ từng chi tiết một. Nhưng tại sao lại có tấm ảnh này ở đây?
Minh đáp:
- Theo tôi thì họ đem tấm ảnh này về để so sánh với cái tủ chè họ đang giữ xem có phải là hai cái tủ giống nhau hoàn toàn không?
Lật tấm ảnh đó lại, Minh nói tiếp:
- Hai bồ nhìn ngày tháng ghi ở phía sau này. Ngày đó chỉ sau ngày bà Phương mất có một tuần thôi à.
- Như thế nghĩa là thế nào? Ngọc vẫn còn thắc mắc:
- Nghĩa là sau ngày bà Phương mất thì luật sư công bố bản di chúc và ông bà Năm biết ý định của bà ấy về cái tủ chè.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG NĂM: THEO DẤU CHIẾC XE 
Ba cô gái nói đến đây thì có tiếng động cơ xe từ ngoài vọng lại. Họ phóng vội ra cửa, suýt nữa va phải những thùng gỗ ở hai bên. Ánh đèn pha xe hơi quét một chùm sáng ngoài cổng. Thu, Minh và Ngọc đã leo lên hết những bậc thang. Họ nhảy vào phòng, đóng ập cửa lại.
Minh thở hổn hển:
- May quá, mình lên đây vừa kịp lúc.
Ngọc hé cánh cửa sổ chừng một phân, nhìn xuống. Chiếc xe Jeep đã vào đến sân trước. Tiếng máy xe chợt tắt, chiếc xe theo trớn vào sân sau, đến trước cửa phòng ông bà Năm thì dừng lại.
Ngọc nói:
- Không ngờ chúng mình lại ở dưới đó lâu như thế đấy chứ. Nhưng khám phá ra được chỗ họ giấu cái tủ thì cũng thích thật nhỉ.
Thu bực dọc:
- Thích với lại không thích. Bây giờ thì kể như mất cái tủ ấy luôn rồi.
Minh vỗ vai bạn:
- Sao lại sớm thất vọng như thế? Tôi cho là họ chỉ đem chiếc tủ ấy đi dấu quanh quẩn đâu đây thôi.
Ngọc nhìn đồng hồ tay, hoảng hốt:
- Gần một giờ rưỡi khuya rồi. Ngủ đi, kẻo mai không làm được việc gì đâu đấy nhé.
Ba cô gái lên giường nhưng cơn xúc động ban nãy làm cho họ cứ trằn trọc mãi. Tới hơn hai giờ sáng họ mới chợp mắt đi được.
***
Tiếng quát tháo của bà Năm từ dưới nhà vọng lên làm họ choàng tỉnh dậy. Chẳng biết ông Năm đã nói hay làm gì khiến cho bà ta nổi trận lôi đình lên như vậy. Những cơn giận thường xuyên của bà Năm đã khiến ông trở thành một người ít khi dám cãi vợ một điều gì. Trước kia, ông có như vậy đâu. Hồi ấy, mỗi lần hai vợ chồng có chuyện cãi lẫy ông thường giữ cái lý của mình cho đến cùng. Nhưng làm như thế chỉ thiệt cho ông mà thôi. Bởi vì mỗi lần đưa ra một điều gì mà không được chồng đồng ý, bà Năm đều lên cơn nóng giận rất tàn khốc. Bà ta thường nghiến răng, bứt tóc, đập đầu vào tường, hai chân đập xuống đất bành bạch, còn miệng thì bù lu bù loa kể lể những điều mà bà ta gọi là “đối xử tàn tệ” của ông đối với bà. Riết rồi ông Năm đâm hoảng. Dần dần ông đã biết khôn ra. Ấy là hễ khi nào bà sắp sửa nổi cơn tam bành thì ông đều áp dụng chiến thuật “câm như hến” và “bất bạo động” ngay lập tức. Nhờ đó, một cái lườm, cái nguýt, cái trừng mắt của bà Năm bỗng trở nên công hiệu vô cùng - dĩ nhiên là chỉ đối với ông ta mà thôi.
Bây giờ thì ở trên gác, ba cô gái đã sửa soạn xong xuôi trước khi xuống nhà, Thu dặn Minh lần chót:
- Này bồ nhớ cho kỹ nhé. Xuống đó đừng có hở môi cho họ biết rằng mình đã thấy họ lấy gì ở nhà kho ra tối hôm qua nghe. Họ mà biết được là mình chỉ còn có nước trở về trường luôn sáng nay thôi đấy.
Minh gật đầu:
- Được rồi, bồ yên trí. Tôi sẽ không để lộ chuyện ấy ra đâu.
Vừa vào phòng ăn, họ đã thấy bà Năm tươi cười:
- Chào các cô, chắc tối vừa rồi các cô ngủ ngon lắm nhỉ. Tôi có để thức ăn sáng lại cho các cô đây.
Ba cô gái cũng tỏ vẻ tươi cười đáp lại, nhưng không ai nói gì hết. Bà Năm nói tiếp:
- Tôi cứ lo chẳng biết tấm nệm giường trên đó có làm cho các cô đau mình không?
Vừa nói bà ta vừa nhìn từng người một, đôi mắt dò xét một cách thật lộ liễu. Thu nghịch ngợm cười lớn tiếng:
- Cám ơn bà, không sao đâu. Giường nệm ấy êm cũng chẳng kém gì trong khu nội trú của chúng tôi cả. Vì thế chúng tôi vào giường là chúng tôi ngủ luôn một mạch đến sáng, chẳng biết trời đất gì nữa.
Bà Năm thở phào, vẻ khoan khoái lộ rõ trên khuôn mặt phì nộn của bà ta. Với giọng vui vẻ, bà giục cô gái:
- Mời các cô ăn ngay bây giờ đi, kẻo thức ăn để lâu nguội hết đấy. Ông nhà tôi đợi các cô hồi sáng để mở cửa phòng chứa thức ăn gia súc cho các cô xem đấy. Xong rồi ông ấy còn phải đi lo công việc nữa.
Không kịp suy nghĩ, Ngọc buột miệng:
- Thưa bà, khỏi cần mở cửa phòng ấy nữa. Chúng tôi đã….
- Các cô đã làm sao? Giọng bà Năm bỗng nhiên hoảng hốt một cách kỳ lạ.
Thu vội lấy vẻ tự nhiên, tươi cười nói lấp liếm:
- Thưa bà, thực ra chúng tôi đều đã tin chắc rằng trong phòng đó - theo như bà cho chúng tôi biết chiều hôm qua - chỉ có mấy bao thức ăn cho gia súc thôi. Tuy nhiên- vừa nói Thu vừa tặng cho Ngọc một cái đá không nhẹ nhàng chút nào dưới gầm bàn - Vâng, thưa bà tuy nhiên để cho hết thắc mắc, chúng tôi cũng rất muốn được vào xem coi trong đó có những gì. Rồi quay sang Ngọc, Thu nói tiếp:
- Bồ chắc cũng còn nhớ rằng hôm qua, lúc mình ở dưới nhà kho thì căn phòng ấy khóa cửa chứ?
Ngọc hiểu ý, gật vội gật vàng mấy cái:
- Phải rồi, tôi nhớ chứ.
Minh bối rối, chăm chú nhìn vào bát xôi đang cầm trên tay. Nàng không biết phải có cử chỉ nào cho thích hợp lúc này hết. Giữa khi ấy thì từ ngoài sân, ông Năm bước vào, tay xóc xóc chùm chìa khóa giọng nói vui vẻ:
- Nào, mời các cô thám tử xuống kho tìm dấu vết với chúng tôi bây giờ chứ! Tôi sắp có việc bận phải đi đây.
     Ba cô gái nuốt vội miếng xôi còn lại trong bát, đứng dậy theo ông Năm về phía nhà kho. Bà Năm cũng đi theo đằng sau, cách họ chừng mấy bước.
Đến cửa phòng chứa thực phẩm gia súc, ông Năm lại lấy giọng bông đùa:
- Đây mời các vị cứ tự nhiên xem xét.
Minh giật mình, Thu và Ngọc cũng suýt bật lên tiếng kêu khi cánh cửa phòng vừa mở. Đêm rồi, trong phòng gần như trống trơn, chỉ có vài cái thùng nhỏ và lớp bụi dầy trên sàn mà thôi. Còn bây giờ thì hoàn toàn đổi khác. Những máng ăn cho heo, gà xếp đặt thứ tự ở sát vách. Độ mười bao thực phẩm gia súc chất cao trong góc nhà. Lại có cả mấy hộp thuốc trụ sinh dành cho loài vật để trên kệ sát cửa ra vào nữa. Sàn nhà cũng đã được quét thật sạch sẽ, chẳng còn dấu vết chi nữa. 
Ông Năm lấy giọng thật thà:
    - Tất cả chỉ có bằng ấy thứ thôi. Nếu các cô muốn, tôi sẽ khuân mấy bao thực phẩm kia xuống để cho các cô xem phía sau có gì không. Nhưng theo tôi thì góc đó không đủ chỗ để kê cái tủ chè quí báu của các cô đâu.
Ba cô gái đứng yên một hồi lâu, chẳng ai nói câu gì hết. Họ lặng lẽ ngắm quanh căn phòng.
Bà Năm từ nãy đến giờ vẫn đứng ngoài cửa nhìn vào- bỗng bước vào, nhìn xuống đất như thể tìm kiếm một vật nào đó.
Ông Năm hỏi:
- Bà tìm cái gì vậy?
Bà ta ngẩng đầu lên
- Ồ, chẳng có gì đâu. Nói rồi bà đứng thẳng lên, lửng thửng bước ra. Ông chồng đưa mắt dò hỏi, bà Năm làm ra vẻ tự nhiên:
 - Tôi bỏ quên một tấm hình không biết ở chỗ nào mà tìm từ hôm qua đến giờ chẳng thấy. Không biết tôi có làm rơi ở trong này không?
 Ông Năm hỏi lại:
- Ảnh gì vậy hả bà?
Bà vợ lừ mắt nhìn ông chồng:
- Tấm ảnh thường thôi. Ông hỏi làm gì?
Ông Năm bắt gặp tia nhìn đe dọa của vợ, vội vàng lảng đi chỗ khác. Rồi cố lấy giọng thân mật, ông ta quay sang hỏi Minh:
- Thế nào, không có cái tủ trong này chứ cô?
Minh chớp mắt, vội đáp:
- Vâng, thưa ông đúng thế. Chúng tôi cảm ơn ông lắm.
   Ông Năm gật đầu tỏ ý hài lòng. Lúc ba cô gái bước ra, ông ta khóa cửa phòng lại rồi nói:
- Thôi bà và các cô ở nhà. Tôi phải đi công việc ngay bây giờ đây.
Vừa nói, ông ta vừa hấp tấp nhảy lên xe, rồ máy lái ra cổng. Bà Năm cũng quay về phía nhà bếp.
Khi họ đã đi khuất, Minh liền nắm tay Thu hỏi nhỏ:
- Tụi mình nên đi ra ngoài cổng nói chuyện kín đáo hơn là ở đây?
Thu đồng ý:
- Phải rồi, à mà hai bồ có để ý thấy vết bánh xe Jeep còn để lại trước nhà kho thật rõ ràng không?
Ngọc khẽ reo lên:
- Hay quá, như thế thì mình có thể dò theo vết xe của ông Năm để tìm ra chỗ ông bà ấy giấu cái tủ được rồi.
Ba cô gái lửng thửng tiến ra phía cổng. Minh nói:
- Tụi mình cứ từ từ mà đi, như thể như đi dạo mát vậy. Vội vã quá bà Năm sẽ sinh nghi đấy.
Thu gật đầu:
- Đúng vậy, mình phải làm như là đã bỏ ý định tìm kiếm cái tủ chè rồi đó. Công việc của mình bây giờ chỉ là hái hoa và xem phong cảnh thôi.
Tuy nhiên, khi họ vừa tiến tới cổng thì bỗng có tiếng gọi giật lại của bà Năm:
- Các cô ơi, các cô đi có lâu không?
Minh đáp:
- Thưa bà, chúng tôi sẽ về sớm cho kịp bữa ăn trưa.
Thu nói thêm:
- Phong cảnh ở đây đẹp quá nên chúng tôi muốn đi xem cho thỏa thích trước khi trở về trường bà ạ.
Ba cô gái chậm rãi đi cạnh nhau trên con đường đất viền cỏ hai bên. Bấy giờ nắng đã lên, chan hòa ánh sáng trên cành cây, ngọn cỏ. Những đóa hoa dại màu đỏ tươi lẫn trong mấy bụi rậm ở mé đường, tiếng gió reo vui trên những chùm lá rung rinh, thấm vào lòng người một niềm vui mênh mang. Ngọc vừa đi vừa nhìn xuống đất, theo dõi dấu vết do bánh xe Jeep để lại… Một lát, cô gái quay sang hỏi Thu:
- Chẳng biết bà Năm có lén theo dõi chúng mình không nhỉ?
Thu vui vẻ đáp:
- Việc ấy đâu có hề gì? Tụi mình chỉ có mục đích duy nhất là dạo mát, ngắm phong cảnh đẹp thôi mà. Ngừng lại mấy giây, Thu quay sang nhìn Minh rồi tiếp:
- Nhưng đối với “Cựu Nữ Hoàng Bát Phố” của chúng mình thì khác đấy nhé! Ông bà Năm mà có hỏi đi đâu đấy là nàng sẽ khai thật hết tất cả ngay đó. Dĩ nhiên là như thế. Bởi vì mới một sáng một chiều mà nàng đã biến thành bà thánh ngay rồi. 
Minh đỏ bừng mặt sau câu nói của Thu. Nàng cố giữ bình tĩnh trả lời:
- Bồ cứ yên chí, chẳng lẽ tôi lại dại dột như vậy sao? Còn danh hiệu “bà thánh” mà bồ vừa gán cho tôi thì tôi không dám nhận đâu. Chỉ có Chúa mới là Đấng Thánh mà thôi. con người chúng ta thì chỉ dám vươn tới sự thánh khiết, chứ chẳng bao giờ trở thành thánh được đâu.
Thu lảng sang chuyện khác:
- Hay lắm, bồ nói đâu có thua gì mấy ông thầy giảng. Nhưng mà thôi, tụi mình đứng lại coi có bị ai theo dõi không. Bà Năm dám đi lối tắt, theo canh chừng tụi mình lắm đó.
Họ dừng lại nhìn quanh. Không có ai lẩn quẩn gần đó hết. Ba cô gái lại đi tiếp, dấu vết do chiếc xe Jeep để lại vẫn in rõ trên mặt đường. Bây giờ họ đang bước vào khu bìa rừng, gần con đường nhỏ phía tay phải mà họ đã thấy hôm trước.
Tới đây hai đường bánh xe tách làm bốn. Hai đường chạy thẳng về quốc lộ, còn hai đường rẽ tay phải, vào con đường nhỏ gồ ghề dẫn tới khu rừng thưa gần đó.
Thu nhận xét:
- Theo tôi thì ông bà năm đã giấu cái tủ trong khu rừng này, ở đây vừa gần nhà, vừa kín đáo, dễ dàng cho việc ngụy trang, đánh lạc hướng những người đi tìm.
Minh gật gù:
- Có thể lắm. Tôi nghĩ rằng trước đây, khi thầy Hồng đến tìm, họ đã giấu cái tủ vào khu rừng này rồi. Lúc thầy Hồng đi khỏi, họ lại đem cái tủ về cất ở nhà. Chắc họ tưởng nhà trường đã bỏ luôn việc tìm kiếm cái tủ ấy rồi nên mới không đề phòng gì cả. Vì thế, khi chúng ta tới, họ đã cuống quít tìm cách đối phó.
Ngọc nói tiếp:
- Và họ chỉ cần giấu kín cái tủ mấy hôm nữa là xong việc. Thời hạn sáu tháng mà bà Phương đưa ra đã gần hết hạn rồi.
Thu cười, khoác tay hai bạn tiến vào cánh rừng thưa:
- Họ cũng sẽ làm tất cả mọi cách để ngăn không cho chúng ta tìm ra nơi giấu cái tủ.
Thu nói bằng giọng tin tưởng:
- Nhưng nếu chúng ta tìm thấy cái tủ, cùng với bằng cớ chứng tỏ rằng đó là cái tủ thật, thì họ sẽ không thể ngăn cản chúng ta được nữa. Chúng ta chỉ việc phóng về trường, báo cho Ban giám đốc biết mà thôi. Phần còn lại, nhà trường sẽ lo hết tất cả.
Ngọc lo lắng:
- Nhưng mà cái khó là ở chỗ làm sao phóng về trường cho trước thời hạn đó mới được. Họ thiếu gì cách để giữ chúng ta ở lại hay làm chậm trễ ngày về của chúng ta?
Thu suy nghĩ một lát rồi nói:
- Ngoài ra còn một vấn đề khác là làm sao cho bà Hiệu Trưởng và ban Giám đốc tin lời mình để họ tới nhận cái tủ về nữa chứ?
Minh tiếp lời Thu:
- Cũng có thể là trong khi mình chạy về trường để báo tin thì ở đây, ông bà Năm lại chở cái tủ đi giấu một nơi khác nữa không biết chừng. Cho nên có lẽ mình sẽ chỉ để một đứa về báo tin thôi, còn hai đứa kia phải ở lại đây canh chừng cái tủ.
Ngọc lại thắc mắc:
- Ở lại canh chừng à? Nhưng nếu họ dùng võ lực với mình- hoặc tử tế nhất là xua hai con chó ấy ra rượt mình- thì làm thế nào?
Thu hăng hái:
- Không biết. Nhưng bằng mọi giá, mình phải làm sao cho họ không thể di chuyển cái tủ ra khỏi chỗ cất giấu hiện nay mới được.
Thu chưa nói dứt câu thì Ngọc đã hốt hoảng nắm chặt cánh tay Minh. Mặt cô gái tái mét, những ngón tay run lẩy bẩy. Lúc ấy họ đang đi dưới những tàng cây rậm rạp. Chỉ trừ một lối đi nhỏ ở giữa, hai bên là những bụi rậm cao gần bằng đầu người. Minh giật mình quay sang:
- Cái gì vậy Ngọc?
Ngọc vẫn ú ớ, nói không ra tiếng. Thu cuống quít hỏi dồn:
- Ngọc, bồ trúng gió hả?
Bấy giờ Ngọc mới run run chỉ vào một lùm cây phía đằng trước, vừa nói vừa thở hổn hển:
- Có… có ai… ở trong bụi cây kia kìa.
Minh cảm thấy miệng mình khô ran. Sức lực dường như đã biến mất khỏi thân thể nàng. Trong một thoáng, nàng cảm thấy tê liệt, không còn kiểm soát nổi tay chân mình nữa.
Mặt Thu cũng cắt không còn một giọt máu, trán nàng rịn ướt mồ hôi:
- Tôi thoáng trông thấy hắn ta, Ngọc nhắc lại, giọng vẫn chưa hết xúc động. Hắn ta ngồi nép trong bụi rậm, nhìn thẳng về phía tụi mình.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG SÁU: CĂN NHÀ GỖ TRONG RỪNG.
Có tiếng sột soạt trong bụi rậm gần đó. Ba cô gái cứng đơ người ra. Ngọc thét lên:
- Hắn chui ra kìa.
Chỉ ngần ấy tiếng cũng đã quá đủ. Ba cô gái không còn hồn vía gì hết. Họ cùng ré lên rồi ù té chạy bán sống bán chết ra khỏi khu rừng nhiều bóng tối ấy. Tiếng chân rầm rập vang lên khiến họ tưởng có người đuổi theo nên lại càng kinh hãi. Lúc đó họ chỉ nghĩ rằng kẻ rình rập bí mật đó đang cố chặn họ lại trước khi họ về tới nhà ông bà Năm. Hắn sẽ…
Họ ra sức chạy cho tới khi ra đến con đường đất dẫn vào rừng. Đầu gối họ đánh lập cập vào nhau, tim đập thình thịch như muốn chui ra khỏi lồng ngực, miệng thì há hốc ra để hớp lấy không khí, Minh quay nhìn phía sau. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ rằng có kẻ đang đuổi theo họ hết.
Ba cô gái ngồi xuống bờ cỏ ven đường thở dốc. Mãi một lúc lâu sau, Thu mới cất tiếng:
- Theo hai bồ, thì kẻ ấy là ai?
Minh nói:
- Hai bồ có để ý cái lối nhìn của bà Năm sáng nay khi chúng ta vừa ra khỏi nhà không? Rất có thể bà ta đoán biết ý định của tụi mình nên đã lẻn vòng lối trước để theo dõi.
Ngọc phản đối ngay:
- Chắc chắn không phải là bà Năm đâu. Tôi còn nhớ cái khuôn mặt trong bụi rậm lúc nãy là của người đàn ông mà.
Thu hỏi:
- Hay đó là ông Năm?
Ngọc nói:
- Cũng không phải đâu. Cặp mắt hắn ta kỳ lạ lắm. Cặp mặt đó trừng trừng như muốn thôi miên người ta ấy. Ngoài ra hắn còn một đặc điểm nữa. Đó là bộ râu bạc lổm chổm của hắn ta.
Thu cười nhạo:
- Chắc bồ lại tưởng tượng thêm rồi chứ gì? 
Ngọc nói bằng giọng nghiêm trang:
- Có thể là tôi tưởng tượng ra bộ râu. Nhưng cặp mắt đó thì tôi không thể nào quên được. Nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy nó lởn vởn trong đầu đây.
Ngồi nghỉ mệt chừng một lát, họ đứng lên trở về nhà. Thu căn dặn:
- Bây giờ mình cũng phải tỏ ra hết sức tự nhiên, như thể không có gì xảy ra đó nghe. Chúng mình chỉ vừa đi dạo mát về chứ chẳng nghe thấy, nhìn thấy hay gặp một ai hết đâu. Hai bồ nhớ chứ?
Thu nhìn Minh; cô tín đồ của chúng ta nhỏ nhẹ nói:
- Được rồi, miễn là tôi không phải nói dối thì thôi.
Thu bực mình, quay sang phân bua với Ngọc:
- Bồ xem kìa, tôi bảo rằng Minh nó là thánh có sai đâu. Rồi Thu nói cùng Minh:
- Thôi, bồ nên để tôi và Ngọc nói và trả lời ông bà Năm chứ bồ mà mở miệng thì chỉ làm hỏng hết mọi việc vì cái đức tính thật thà ngốc nghếch của bồ thôi.
Trước những lời chỉ trích của bạn, Minh vẫn giữ yên lặng. Họ tiếp tục đi, nhưng cả ba người đều không nói một câu nào cho tới khi về đến cổng nhà.
    Họ vào tới phòng ăn thì vẫn còn sớm. Ông bà Năm thì đang ngồi ở bàn, đầu họ chụm vào, chăm chú xem chung một cuốn sách. Nghe thấy tiếng chân ba cô gái, họ giật bắn người lên. Mặt bà Năm đỏ gay:
- Các cô không biết phép lịch sự là cái gì sao mà bước vào phòng không thèm gõ cửa. Ở trường người ta dạy các cô những gì?
Ba cô gái đâu có ngờ bà Năm lại giận dữ như vậy. Từ hôm mới đến, họ luôn luôn thấy cánh cửa phòng ăn mở rộng nên có buồn gõ làm gì. Bữa nay cánh cửa cũng chỉ khép hờ thôi nên họ cứ tự nhiên bước vào. Thật chẳng may chút nào hết. Mà ngay từ hôm đầu tiên, ông Năm đã bảo họ cứ tự nhiên như ở nhà, bà vợ cũng đồng ý như thế. Bây giờ lại mắng cho một câu đau quá. Tuy nhiên Minh cũng lễ phép xin lỗi:
- Chúng tôi thật vô ý quá. Xin ông bà thứ lỗi cho.
Lời nói dịu dàng của Minh thật có hiệu nghiệm. Ông bà Năm hơi bối rối. Họ ngập ngừng một lát rồi có tiếng ông Năm:
- Chúng tôi chỉ ngồi xem cuốn Kinh Thánh này mà thôi. Ông ta cố tìm chữ để diễn tả:
- Cuốn sách này… thỉnh thoảng… lấy ra đọc… cũng… hay lắm đấy chứ.
Thu nhìn Minh rồi quay sang nói với ông bà Năm bằng giọng đùa nghịch:
- Vâng, cuốn sách đó hay lắm. Nhất là nếu nó được bạn tôi đây giảng nghĩa thì tuyệt vời luôn. Ông bà có điều chi thắc mắc về Kinh Thánh, xin cứ hỏi Minh, bởi vì cô ấy vừa trở thành chuyên viên giảng kinh được vài tháng nay đấy.
Ông Năm hớn hở nhìn Minh:
- Như vậy thì hay quá, cô giảng nghĩa dùm tôi mấy câu này nhé.
Thu lại lên tiếng:
- Dĩ nhiên rồi, ông cứ hỏi đi. Bạn tôi rất sung sướng được có người chiếu cố tới. Cô ấy khoái giảng cho chúng tôi nghe lắm. Nàng là nhà nữ truyền đạo vừa mới vào nghề mà.
Ông Năm ngập ngừng:
- Câu Kinh Thánh làm tôi thắc mắc là…
- Nầy ông, tiếng bà Năm đầy vẻ uy quyền, Tôi cần một ít củi nữa để chất trong bếp. Ông ra sau vườn lấy vào đây cho tôi.
Ông Năm thắc mắc:
- Nhưng tôi vừa mới khiêng vào bếp năm bó hồi sáng, hết cả chỗ ấy rồi à?
Bà vợ trừng mắt:
- Lấy củi đem vào đây. 
Ngừng lại mấy giây bà ta nói tiếp:
- Và nhớ là đừng có nói nhiều như thế.
Ông chồng ngượng ngập bước ra sân sau thi hành mệnh lệnh. Bà Năm cũng đứng dậy lại bên bếp hâm nóng thức ăn đã làm từ trước. Ba cô gái ra ngoài rửa tay chân rồi lên phòng thay đồ bộ.
Khi họ xuống phòng ăn, ông Năm đã làm xong công tác và bà vợ cũng đã bày các món ăn lên bàn. 
Bữa ăn trôi qua một cách lặng lẽ, trong bầu không khí đã có vẻ nhuốm màu căng thẳng.
Trở về phòng, họ lên giường, tiếp tục câu chuyện lúc nãy. Thu nói:
- Bây giờ thì chúng mình đã biết chắc chắn rằng không phải ông bà Năm rình rập mình ở trong rừng hồi sáng. Bởi vì ông ấy đâu có thể chạy về nhà trước mình được?
Ngọc tiếp lời Thu:
- Và như thế thì chắc hai bồ sắp nói rằng tôi chẳng thấy ai hết, chỉ tưởng tượng ra thôi phải không? Tôi không thèm nói dối đâu. Tôi thấy hắn ta cũng rõ như là tôi thấy hai bồ vậy. Chẳng biết hắn là ai mà cố tình ẩn núp như vậy.
Minh cười vui vẻ:
- Hắn ẩn núp như vậy là may đấy. Tôi chỉ sợ là hắn phóng ra đuổi theo chúng mình thì chỉ có nước chết mà thôi.
Ngừng một lát, Ngọc hỏi Minh:
- Bồ có thấy là ông bà Năm đọc gì trong khi chúng mình bước vào không? Ít ra thì bồ với họ cũng giống nhau ở một điểm đấy chứ?
Thu nhếch mép cười ra vẻ coi thường. Cô gái muốn người khác biết rằng mình không thể - và sẽ không bao giờ- dại dột rơi vào sự ru ngủ của tôn giáo đâu - Thu nói trước khi Minh kịp trả lời Ngọc:
Phải rồi đó Ngọc. Cứ thử suy nghĩ một chút, mình sẽ hiểu vì sao ông bà Năm lại chú ý đến Kinh Thánh như vậy. Cuộc sống quạnh quẽ và chẳng dư giả gì cho lắm của họ đã khiến cho họ muốn tìm nơi tôn giáo một điều gì để an ủi. Theo tôi thì Cơ Đốc giáo chỉ quyến rủ được những loại người như thế mà thôi. Đó là những người theo đạo để tưởng tượng rằng họ có trong tay những gì họ thực sự không bao giờ có được trên đời này cả!
Minh nhẹ nhàng trả lời Thu:
- Những Cơ Đốc nhân chân chính không giống như thế đâu. Đời sống theo Chúa đòi hỏi chúng ta phải dâng tất cả mọi điều quí báu nhất cho Ngài. Vả lại sống cho Chúa mang lại hạnh phúc chân thật, chứ không phải chạy theo những ảo ảnh đâu.
Thấy Thu không nói gì thêm, Ngọc nhìn Minh với vẻ thán phục:
- Lúc đầu thì tôi tưởng bồ chỉ nói đùa cho vui thôi, chứ đâu có ngờ bồ lại thay đổi thực sự như thế này.
Minh lắc đầu:
- Không bao giờ tôi dám nói đùa về chuyện vô cùng quan trọng này đâu. Bây giờ thì hai bồ chưa hiểu về sự thay đổi mà Chúa đã thi thố trên đời sống tôi. Nhưng tôi ước mong là hai bồ một ngày kia sẽ biết rằng được làm con cái Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ thì thật không điều chi trên đời có thể sánh kịp. Tôi tiếc là không đủ lời để giải thích điều đó cho hai bồ hiểu. Tôi chỉ biết rằng mình đã xưng tội ra với Chúa và đặt niềm trông cậy hoàn toàn nơi Ngài. Con người của tôi hiện nay không còn giống chính tôi mấy tháng trước đây nữa.
Ngọc nhỏm dậy nhìn sâu vào mắt Minh:
-  Tôi cảm thấy có một sự thay đổi quan trọng trên đời sống của bồ. Thực là sung sướng cho những ai có được niềm tin vững vàng như thế.
Minh nói:
- Ai cũng có thể nhận được niềm tin và đời sống bình an trọn vẹn nơi Đức Chúa Giê-xu.
Thu cắt đứt câu chuyện:
- Tuy nhiên nghĩ đến cái tủ thì thật không sung sướng một chút nào hết. Mình chỉ có hai ba ngày nữa để tìm thôi, sau đó là nhà trường kể như mất cái tủ luôn.
Thu đề nghị:
-  Hay là chiều nay tụi mình trở lại chỗ ban sáng để theo dấu vết chiếc xe Jeep?
Ngọc nói:
-  Mình cần phải như là đã bỏ cuộc luôn rồi mới được. Tôi đề nghị chiều nay mình cứ ở nhà, dạo chơi quanh khu trại cũng đủ rồi.
Thu cười xoay qua nhìn Ngọc:
- Tôi biết rồi. Bồ không dám vào rừng chiều nay vì sợ gặp kẻ lạ mặt với đôi mắt quái đản chứ gì?
Ngọc cũng nhìn lại:
- Được rồi, cứ chọc đi. Tôi muốn bồ gặp hắn ta một lần cho biết.
Trong khi hai cô bạn ngủ trưa, Minh ngồi dậy mở Kinh Thánh ra đọc. Cô xem lại khúc Kinh Thánh đã đọc hôm qua I Cô-rinh-tô đoạn 13. Minh đã suy gẫm và nhận được nhiều bài học quí báu qua khúc Kinh Thánh này. Nhất là mấy câu: “Tình yêu thương hay nhịn nhục… tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, nín chịu mọi sự”. Nhờ những câu ấy, cô đã giữ được bình tĩnh trước lời châm chọc của Thu. Minh thầm cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình có cơ hội thuận tiện để giúp Ngọc và Thu hiểu biết thêm về Ngài.
Minh ngồi ở bàn cho đến lúc Ngọc thức dậy, đến bên cạnh bạn, Minh hỏi:
- Bồ có thấy việc ông bà Năm đang chăm chú xem Kinh Thánh lúc chúng ta trở về hồi trưa là kỳ lạ không? Theo tôi thì họ không phải là loại người thực sự muốn tìm hiểu Kinh Thánh đâu!
Ngọc đáp:
- Đúng rồi, tôi cũng vừa nghĩ như vậy đó. Tôi thấy họ có vẻ bối rối lắm khi chúng ta bất chợt bước vào. Họ làm tôi ngờ rằng phải có một sự liên hệ nào đó giữa cuốn Kinh Thánh ấy và cái tủ.
Thu đã thức dậy từ nãy tới giờ, nhưng vẫn còn nằm trên giường theo dõi câu chuyện giữa Minh và Ngọc. Nghe Ngọc đề cập đến cuốn Kinh Thánh, Thu liền góp chuyện:
- Chắc chắn là có sự liên hệ đó rồi. Hai bồ có thấy cử chỉ kỳ lạ của ông Năm không? Ông ấy định hỏi Minh ý nghĩa một vài câu Kinh Thánh; nhưng bà vợ sợ lộ bí mật, liền sai ông ấy đi khuân củi vào bếp và cấm ông ấy không được bép xép.
Minh đưa ra nhận xét:
- Có thể là bà Phương để lại cuốn Kinh Thánh ấy cho họ đó. Bà cụ là một tín đồ rất trung thành của Chúa, chắc bà cụ đã tưởng rằng có thể giúp họ hiểu thêm về Ngài qua cuốn Kinh Thánh ấy.
Nhìn đồng hồ thấy đã gần bốn giờ, Ngọc rủ hai bạn xuống nhà. Họ đi ra sân sau, nơi có chuồng nuôi gia súc và vườn trồng cây của gia đình bà Phương.
Chuồng ngựa bỏ trống đã lâu thì phải. Cỏ mọc đầy trên sàn, chiếc máng ăn nằm lạnh lẽo, mặc cho bao lớp bụi phủ lên. Mái cũng vỡ nhiều chỗ, để lộ ra mấy khoảng trời xanh phía trên. Hai thân gỗ tròn bắc ngang dùng làm chỗ cột dây cương cũng đã sụp mất một bên. Tất cả dường như luyến tiếc cái quá khứ huy hoàng, khi gia đình bà Phương còn trú ngụ nơi này. Thuở ông Đại- chồng bà Phương- còn sống, ông ấy rất say mê thú cỡi ngựa. Ông đã nuôi hẳn một người giúp việc, chỉ để anh ta săn sóc con ngựa trắng quí báu của ông mà thôi. Hằng ngày ông Đại thường phóng ngựa dạo chơi trong khu vườn thưa gần đó khi những tia nắng sớm mai vừa làm thức giấc những loài cây cỏ, chim muông.
Nhưng đó là chuyện của bốn mươi năm về trước, khi vùng này còn sống trong bầu không khí thanh bình, an lạc. Giờ đây thì chiến tranh, giặc giã đã biến khu trại thịnh vượng của bà Phương thành một nơi gần như hoang phế.
Ông bà Năm sống ở đó với tư cách quản gia cho bà Phương từ sáu năm nay, nghĩa là kể từ khi bà Phương - vì đau yếu, phải về nhà tĩnh dưỡng. Hiện nay họ chỉ nuôi một ít heo, gà, vịt trong mấy chuồng sát bên chuồng ngựa cũ.
Ba cô gái cũng ra xem vườn trồng bắp và khoai của ông bà Năm. Những cây bắp xanh tốt đã cao ngang đầu người, nhú từ cạnh sườn ra mấy trái bắp non râu mềm óng mượt. Vườn bắp trồng được đến năm bảy trăm cây. Khoảnh đất trồng khoai sát bên cạnh cũng tươi mơn mởn những ngọn lá xanh mát mắt.
Minh cúi xuống vốc một nắm đất, tung tung trên tay. Nàng nhìn Thu và Ngọc, đôi mắt chan chứa thương yêu:
- Hai bồ ơi, nhìn nắm đất này, tôi tự nghĩ đến ngày thân xác tụi mình trở thành cát bụi. Hai bồ có bao giờ nghĩ đến ngày ấy không?
Ngọc yên lặng không nói gì, trong lúc Thu nhún vai:
- Ngày ấy nếu đến thì cũng còn xa lắm. Nghĩ làm gì cho mệt óc.
Minh lắc đầu:
- Không, tôi chỉ thắc mắc là hai bồ có ý nghĩ về một đời sống sau khi chúng ta qua đời không?
Ngọc bùi ngùi:
- Nghĩ đến lúc một trong ba đứa tụi mình phải xa nhau vĩnh viễn, thực buồn ghê hai bồ nhỉ?
Minh chớp mắt:
- Giờ phút chúng ta lìa bỏ kiếp sống này, nào có ai đoán biết được? Nhưng khi đã đặt tương lai chúng ta vào trong lòng bàn tay yêu thương của Đức Chúa Trời rồi thì chúng ta sẽ vô cùng vững tâm, dù biết rằng ngay tối hôm nay, chúng ta sẽ rời xa trần gian để bước vào cõi đời sau.
Thu bĩu môi:
- Cõi đời sau là cái gì? Tôi chẳng cần biết. Chết là hết mọi chuyện. Đối với tôi, chỉ có hiện tại là đáng kể mà thôi.
Ngọc với tay nhổ mấy ngọn cỏ lẫn trong đám lá khoai:
- Thu à, bồ quên câu “Sinh ký, tử quí” mà có lần bồ đã giảng cho tôi nghe rồi sao?
 Minh nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay Thu:
- Đúng vậy đó Thu ạ. Cuộc sống trên thế gian của chúng ta chỉ tạm bợ mà thôi. Những nỗ lực vùng vẫy của chúng ta, rốt cuộc cũng chẳng đưa chúng ta đến một nơi nào khác hơn là nấm mồ đang chờ đợi ở cuối con đường này hết. Chính niềm hy vọng, chờ đợi, tin tưởng nơi cuộc sống vĩnh cửu mới giúp chúng ta có được thái độ bình tĩnh tĩnh trước cái chết được.
Ngọc nói bằng một giọng thật chân thành:
- Ước gì tôi có được niềm tin tưởng và hy vọng mà Minh vừa nói đó.
Thu đứng dậy nói lảng qua chuyện khác:
- Thôi, tụi mình ra đằng trước rửa chân tay rồi còn ăn cơm chiều nữa.
Buổi tối hôm đó, trong căn phòng trên gác, ba cô gái đã sắp sửa lên giường ngủ. Minh đang xỏ đôi vớ mỏng thì có tiếng Ngọc - lúc ấy đứng cạnh cửa sổ nhìn ra bên ngoài:
- Minh à, có phải ông bà Năm nói rằng phía trước tòa nhà chưa mắc điện không?
Minh ngước lên:
- Đúng vậy đó Ngọc.
Ngọc gọi Thu và Minh:
- Ê hai bồ, lại đây xem cái này lạ lắm kìa.
Thu và Minh vội bước tới, đứng sát bên cạnh Ngọc. Ngọc khép bớt cánh cửa sổ lại, chừa một khe nhỏ vừa đủ cho ba người nhìn ra mà thôi. Thu cũng với tay tắt luôn ngọn đèn dầu đặt ở bàn.
Ngọc quay sang thì thầm với hai bạn:
- Hình như có ánh sáng nhấp nháy từ mấy căn phòng phía trước phát ra.
Bên ngoài trời tối đen như mực. Tòa nhà cổ trước mặt lờ mờ in những đường nét kỳ dị lên bóng đêm. Tiếng gió hú trong rừng cây phía sau nhà vọng tới nghe rõ mồn một. Hai con chó săn dưới nhà thỉnh thoảng lại tru lên từng hồi ghê rợn.
Ba cô gái nhìn ánh sáng từ những khe cửa sổ phía trước tòa nhà lóe lên rồi lại tắt đi như những tia chớp trong một đêm giông bão. Tòa nhà lại chìm trong vùng tối dầy đặc bao quanh.
Ngọc nói nhỏ:
- Có người đang ở phía trước tòa nhà. Họ mang theo đèn bấm và đang đi từ phòng này qua phòng kia.
Minh nhận xét:
- Chắc đó là ông bà Năm. Ngoài họ ra, đâu có ai dám lẻn vào nhà giữa lúc họ đang ngủ gần đấy.
Thu thắc mắc:
- Không hiểu họ còn đi loanh quanh như thế để tìm kiếm cái gì. Nếu đã đem cái tủ đi giấu hồi đêm hôm qua rồi thì bữa nay còn gì nữa mà lục lọi. Hai bồ có nghĩ rằng tụi mình đã đoán lầm hành động của họ đêm qua không? Hay là cái tủ chè vẫn còn nằm trong tòa nhà này?
Minh gật đầu:
- Đó chính là điều chúng ta sẽ phải tìm cho ra.
Ba cô gái đứng bên cửa sổ quan sát một hồi lâu, cho tới lúc ánh sáng không còn chớp tắt nữa, họ mới lên giường ngủ. 
Sáng hôm sau, họ dậy sớm rửa mặt, thay y phục thật nhanh rồi xuống phòng ăn. Bà Năm đã luộc xong nồi khoai mới đào xong ở vườn nhà chiều hôm qua. Bà ta vớt khoai ra cái rổ tre đã gần tuột vành. Nhìn thấy dáng điệu vội vã của ba cô gái, bà Năm hỏi: 
 
- Các cô định đi đâu sáng nay?
Thu đáp:
- Thưa bà, chúng tôi đi dạo chơi thôi.
Bà ta dò xét:
- Các cô định vào rừng không?
Ba cô gái còn ngơ ngác, chưa biết trả lời như thế nào thì bà ta đã nói tiếp:
    Nầy, tôi bảo thật cho mà biết. Các cô đừng có dại dột lần vào rừng. Vùng này không có yên ổn như các cô tưởng đâu. Nhỡ có chuyện gì bất trắc xảy ra là các cô lại kéo vợ chồng chúng tôi vào vòng rắc rối đấy thôi.
Thu cười thật tươi:
- Ồ, thưa bà, chúng tôi chẳng dám đi sâu vào trong đâu. Chúng tôi chỉ đi vòng vòng rồi tìm chỗ nào có bóng cây để nghỉ trưa thôi.
Bà Năm tròn mắt:
- Các cô không về ăn trưa sao?
Thu đáp:
- Thưa bà, chắc chúng tôi không về kịp đâu. Vả lại đã lâu rồi chúng tôi không được hưởng cái thú ngủ trưa ngoài trời nên muốn thử lại một lần xem sao.
Bà Năm gật đầu:
- Được rồi, vậy thì các cô ngồi đó uống tạm ly cà phê đi rồi chờ tôi gói thức ăn cho mang theo.
Trong khi họ ngồi uống cà phê nóng, bà Năm lấy túi nylon bỏ khoai luộc vào. Bà ta cũng lấy đậu phọng rang giã nhỏ cho vào một cái lọ để họ đem theo chấm với khoai. Rồi mở tủ thức ăn, bà ta lấy ra mấy miếng khô nai, nướng lên và gói vào trong bao giấy cho họ.
   Ba cô gái cảm ơn bà ta rồi bước ra khỏi phòng. Khi họ đi tới cổng ngoài thì nghe tiếng bà Năm gọi:
- Các cô ơi, đợi chút đã.
Họ cùng đứng lại, quay nhìn về phía sau. Thu bảo Ngọc:
- Bồ về xem bà ta muốn gì kìa.
Ngọc chạy về phía phòng ăn. Một lúc sau, cô gái chạy ra cổng, tay cầm một bi đông nước:
- Bà ấy tử tế quá, sợ mình ăn khoai chấm muối vừng khát nước nên bảo mình đem theo cái bi đông này đây.
Ba cô gái quay lại một lần nữa. Họ vẫn cảm thấy bà Năm đứng nhìn theo. Thu nói:
- Bây giờ mình phải giả vờ đi thẳng theo con đường lớn để bà ấy tưởng là mình hướng về quốc lộ. Mình không nên quẹo vào con đường nhỏ dẫn vô rừng hôm qua. Cứ đợi qua khỏi đó một quãng xa rồi mình tìm lối rẽ vào cũng được.
Minh và Ngọc hớn hở ra mặt, Minh nói:
- Bồ tính như vậy được lắm. Nếu có theo dõi thì chắc họ cũng chỉ theo chúng ta đến con đường nhỏ rẽ vào rừng mà thôi. Thấy mình đi qua luôn, họ đâu có cần theo làm gì nữa nhỉ?
    Rời khỏi nhà một quãng xa, họ vẫn thấy bà Năm đứng ở cổng nhìn theo. Mãi đến lúc con đường vòng và lùm cây che khuất họ, bà ta mới quay vào nhà.
Ba cô gái tươi cười bước mau trong nắng ban mai tươi hồng. Cây cỏ chung quanh vừa thức dậy sau một đêm ngon giấc, dường như rộn rã cất tiếng chào mời họ. Khoảng nửa giờ sau, họ đã ra gần tới quốc lộ. Ngọc nhìn phương hướng rồi nói:
- Tụi mình khỏi cần quẹo vào con đường nhỏ này để vô rừng. Chả lẽ chỉ có mỗi một lối ấy mới vào rừng được sao? Tôi thấy là mình có thể cứ tới quốc lộ rồi tìm lối vào rừng cũng được.
Thu và Minh gật đầu tán thành ý kiến đó. Minh chỉ tay về phía con đường mòn nhỏ:
- Như vậy mình sẽ tránh được kẻ có đôi mắt quái dị đã theo dõi mình sáng hôm qua. Có thể giờ này hắn đang núp trong một bụi rậm nào để chờ đợi mình đó. Cho hắn chờ tới chiều luôn.
    Họ đã nhìn thấy cây cầu sắt phía đằng xa. Trên quốc lộ thỉnh thoảng vụt qua một vài chiếc xe đò chở đầy khách. Ba cô gái tiến về phía cây cầu. Cầu bắc ngang một dòng suối nhỏ có lẽ từ trong rừng chảy ra. Họ bước qua cầu rồi cứ men theo con đường suối mà đi. Dòng suối dưới chân họ lặng lẽ xuôi theo những triền đá rêu phủ, nước suối đục lờ đờ, chở mấy cành củi mục trôi êm. Lối đi men bờ xuống thật không dễ chịu một chút nào hết. Có khi họ phải leo qua những tảng đá lổm chổm cao gần bằng đầu người, có lúc họ lại phải đi vòng về phía tay trái vì trước mặt có những bụi cây dầy đặc chắn lối.
Khi đã đi được một quãng xa, họ chọn một chỗ hẹp trên dòng suối và chảy qua bên kia để bước vào khu rừng thưa trước mặt. Ngọc nhắm hướng rồi quả quyết:
- Mình cứ bước đi theo lối này là chắc chắn sẽ tới cuối con đường vô rừng hôm qua.
Kể ra thì lời quả quyết của Ngọc cũng đáng được tin cậy lắm vì cô đã từng là một nữ hướng đạo trong suốt bốn năm liền, trước khi vào nội trú. Ngọc đã có dịp dự nhiều cuộc cắm trại trong rừng cũng như ở miền quê. Những trò chơi lớn, những cuộc tìm kiếm giấu sẵn ở một nơi nào đó, đối với Ngọc không có gì là khó khăn hết. Vì thế, Thu và Minh rất tin tưởng nơi sự tháo vát của cô bạn này. Họ bước theo sau Ngọc, ba cô gái đi thành hàng dọc, men qua những bụi cây rậm rạp, luồn dưới những sợi rễ mọc từ trên cao xuống lủng lẳng trước mặt.
Một phút sau, xuyên qua kẽ lá, họ đã nhìn thấy con đường đất nhỏ mà họ đã gặp hôm qua, vết bánh xe hãy còn in trên mặt đường. Thu bước xuống đường, nhìn quanh rồi nói:
- Hình như đây là chỗ mà mình gặp kẻ núp trong bụi rậm sáng qua.
Ba cô gái để ý nhìn khắp bụi cây gần đó. Chẳng có ai hết. Họ lại tiếp tục lần theo vết  xe vào sâu trong rừng. Thỉnh thoảng Thu nghiêng đầu ngó mấy bụi rậm bên đường, giọng đùa nghịch:
- Có ai trong đó không?
Bỗng Minh kêu lớn:
- Mau lên, nhảy vào bụi cây kia mau, có ai đang đi tới kìa.
    Cả ba cùng hốt hoảng nhảy vào, nằm rạp sau một bụi cây lớn. Tiếng máy xe vọng lại lớn dần và chiếc Jeep xọc xạch của ông Năm từ từ chạy qua chỗ họ đang ẩn núp.
Ba cô gái gần như nin thở. Khi chiếc Jeep đã khuất tầm mắt, Thu mới nói:
- Coi chừng ông ấy quay trở lại đó! Mình cứ nằm yên ở đây đi.
Đúng như vậy. Chỉ chừng năm phút sau, chiếc xe Jeep đã thấy quay đầu trở ra. Lần này thì phóng nhanh, bụi tung bay mù mịt.
Ba cô gái ngồi dậy, nhìn theo chiếc xe Jeep đã khuất dạng ở đằng xa. Minh phủi bụi bám đầy trên người, quay sang hai bạn:
- Chắc bà Năm nghi ngờ mình vào rừng nên đã bảo ông chồng chạy vào chỗ giấu cái tủ xem mình có ở đó không?
Thu gật đầu:
- Như vậy thì chắc chỗ giấu cái tủ không xa đây lắm đâu.
Ngọc hớn hở:
- Và mình chỉ việc theo vết bánh xe là đến chỗ đó ngay.
Họ vội nhảy xuống đường, hăng hái tiến về phía trước. Con đường hẹp dần, cho đến một bờ đất thì bị chặn lại. Những tàu lá trên đầu họ dầy đặc hơn. Tiếng chim rừng ríu rít trong những bụi cây. Thỉnh thoảng một vài chú sáo nhỏ ló đầu ra nhìn rồi lại tụt vào tổ ngay khi ba cô gái bắt gặp tia nhìn tò mò của các chú.
Leo lên trên bờ đất, họ thấy một lối đi nhỏ chỉ vừa cho ba người đi lọt thôi. Lần bước theo lối này, khoảng mười phút sau, họ tới một khoảng đất khá rộng. Ở đây cây rừng mọc thưa thớt, bao quanh một cái hồ nước xanh thẫm. Gần hồ là một căn nhà gỗ nhỏ, có lẽ khi trước làm nơi nghỉ tạm của những bác thợ săn.
Đứng khuất sau một lùm cây và nhìn xuống khung cảnh trước mặt, Thu kêu lên:
- Coi kìa! Vừa nói, Thu vừa chỉ cho Minh và Ngọc thấy căn nhà bên hồ nước.
Minh trầm trồ:
- Không ngờ trong này lại có cảnh đẹp như thế nhỉ? Trông cứ như trong chuyện thần tiên.
Ngọc gật gù:
- Đẹp là cái chắc rồi. Nhưng vào tận trong này mà giấu cái tủ thì mới thật là lý tưởng.
Tim họ đập mạnh hơn khi đến gần căn nhà gỗ. Đây là một căn nhà nhỏ, ghép bằng những thân gỗ được xẻ theo chiều dọc. Ở giữa có cửa ra vào, hai bên là cửa sổ. Tất cả đều đóng chặt. Riêng cửa ra vào được khóa bằng sợi dây xích và cái khóa đồng bóng loáng. Ngọc ngạc nhiên kêu lớn:
- Ủa, căn nhà cũ kỹ như thế này, mà lại khóa bằng ổ khóa mới như vậy!
Thu quan sát kỹ lưỡng ba cửa phía trước. Cô gái lay thử cánh cửa sổ, nhưng hình như người ta đã gài chốt phía trong nên cánh cửa không hề nhúc nhích. Qua một khe nhỏ giữa những thân gỗ, Minh lờ mờ nhận ra trong góc tối một vật có hình dạng quen thuộc. Nàng gọi hai bạn:
- Nè, hai bồ ơi, có lẽ cái tủ chè nằm trong kia kìa. Hình như người ta lấy cái chăn phủ lên trên mặt tủ hay sao ấy.
Thu và Ngọc khom người nhìn vào trong. Thu mừng rỡ:
- Phải rồi, tôi nhìn thấy bốn cái chân tủ. Trông chẳng khác gì bốn cái đầu rắn.
Ngọc tiếp lời Thu:
- Và bốn chân không thẳng góc với mặt đất mà lại xiên xiên!
Minh hớn hở reo lên:
- Như thế thì đúng rồi. Cái tủ mà tôi trông thấy trưng bày ở đường Tự Do cũng giống hệt như vậy đó.
 Trong khi ba cô gái đang mải mê nhìn cái tủ qua khe hở trên vách gỗ thì có tiếng chân người nhẹ nhàng tiến tới từ phía sau. Tiếng chân bước nhẹ nhàng đến nỗi họ không hề hay biết. Một giọng nói khàn đục, run run vang lên:
- Các cô tìm gì thế?
Minh, Thu và Ngọc cứng đơ người như bị điện giật. Nỗi kinh hãi đã khiến họ tê liệt toàn thân.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 7: LÃO GIÀ QUÁI DỊ 
Ba cô gái đứng sát bên cửa sổ, nép vào nhau, người nào người nấy trống ngực đập thình thịch, mồ hôi ướt trán lúc nào không biết. Giữa khi ấy thì giọng nói khàn đục kia lại vang lên:
- Các cô làm gì ở đây?
Giọng nói ấy khàn khàn, run run như ẩn chứa một sức mạnh khiến cho người nghe phải run sợ. Minh hít một hơi dài để tự trấn tĩnh rồi nhìn thẳng vào mắt của kẻ lạ đang đứng đợi trước mặt nàng.
Đó là một lão già lưng còng, tựa trên cây gậy chống. Da mặt lão nhăn nheo, màu nâu sẫm, trông chẳng khác gì một quả táo phơi khô. Đôi mắt lão đục lờ lờ, nhìn xuống cái mũi to và cái miệng móm được bao quanh bằng bộ râu xám khá rậm rạp. Bàn tay xương xẩu, to lớn của lão nắm chặt cây gậy cũng khẳng khiu như thân hình lão. Trong bộ quần áo gai cũ kỹ điểm nhiều mụn vá, con người lão già toát ra một vẻ chịu đựng kỳ lạ. Lão già chăm chăm nhìn ba cô gái:
- Lão đã thấy các cô rình ở đây. Lão gặp các cô ngày hôm qua. Các cô là ai? Các cô muốn tìm kiếm cái gì? Lão không ưa những kẻ hay rình mò đâu.
Thu lên tiếng trước:
- Chúng cháu không rình mò gì hết. Chúng cháu chỉ dạo chơi thôi, tình cờ gặp căn nhà xinh xắn này nên muốn biết bên trong có gì chăng. Chúng cháu không hề có ý làm hại ai hết.
Lão già hỏi:
- Hôm qua các cô đến đây làm gì? Tại sao bữa nay các cô trở lại?
Thu giải thích:
- Chúng cháu định vào rừng tìm ít phong lan. Chúng cháu ở tại nhà ông bà Năm, chắc cụ cũng biết ông bà ấy chứ?
Đôi mắt lão già chợt long lên những tia giận dữ:
- Hừ, bọn chúng à?
Trong sự tức giận của lão ta có pha một vẻ khinh miệt nào đó.
Minh nhìn lão già lễ phép:
- Thưa cụ, chúng cháu là học sinh trường Thiên Phước ở Đà lạt. Nhân dịp nghỉ chúng cháu đến đây chơi mấy hôm.
Vẻ rạng rỡ hiện trên khuôn mặt nhăn nheo của lão già. Đôi môi lão mím chặt trong một vài giây:
- Trường Thiên Phước hả? Có phải là trường nữ có nội trú không? Bà Phương làm hiệu trưởng ở trường đó lâu năm mà. Các cô có biết bà Phương không?
Minh hỏi:
- Thưa cụ, có phải bà Trần thị Phương không?
Lão giả gật đầu một cách thích thú:
- Biết ngay mà. Lão đã đoán ngay rằng các cô ở đó xuống đây mà.
Thu hỏi:
- Nhưng làm sao cụ biết được như thế?
Lão già khoát tay:
- Từ từ một chút. Rồi lão sẽ cho các cô biết sau. Lão còn phải sửa soạn mọi thứ cho sẵn sàng đã.
Ngọc thắc mắc:
- Cụ có quen với bà Phương sao?
Ông già chậm rãi nói:
- Trước đây lão giúp việc cho gia đình bà Phương. Lão sống ở nhà bà ấy gần bốn chục năm rồi. Mãi cho tới khi bà Phương chết, lão mới phải rời khỏi nơi đó.
Minh chép miệng:
- Tội quá, nhưng sao cụ phải rời khỏi nhà bà Phương?
Ông già hạ thấp giọng:
- Vợ chồng Năm Sĩ bảo rằng lão chẳng giúp ích được gì cho chúng hết. Chắc chúng tưởng rằng lão ở đấy sẽ ngăn cản việc chiếm đoạt gia tài của bà Phương để lại. Nhưng lão đâu có cần ở đấy với chúng… Bà Phương có để lại cho các cô cái nầy. Bà ấy dặn lão phải giữ cẩn thận, chờ đến khi có người ở trên trường xuống thì đưa cho họ. Lão đã chờ đợi từng ngày….
Thu nôn nóng cắt ngang:
- Cái gì thế hả cụ? Bà Phương để lại một mảnh giấy hay một món đồ?
Ông già hầu như không để ý gì đến câu hỏi của Thu. Ông tiếp tục kể:
- Chắc chắn là bà Phương không tin tưởng bọn Năm Sĩ. Lão cũng không ưa nổi vợ chồng chúng nó. Bọn chúng hay tới đây rình rập xem lão làm gì. Lão muốn xách gậy đuổi đánh chúng. Chúng không có phép láo như vậy được.
Ba cô gái nhìn nhau một lúc lâu mà vẫn chưa hiểu gì cả. Họ ôn lại những việc đã xảy ra. Trước hết là việc ông bà Năm đang đêm chở cái tủ đi giấu. Kế đó là họ dùng đèn pin sục sạo ở nhà trước trong đêm khuya. Và bây giờ, theo lời ông già, họ lại còn đi rình mò chung quanh chỗ người ta ở nữa. Ba cô gái không thể biết giữa những sự việc đó có liên hệ gì với nhau không?
Chợt có tiếng ông già:
- Các cô phải cho lão biết chắc chắn các cô là học sinh trường Thiên Phước mới được. Nếu không thì lão chẳng nói gì thêm cho các cô được đâu. Và cũng chẳng thể đưa vật đó cho các cô.
Minh suy nghĩ một giây, rồi cho tay vào túi áo, lấy ra cái huy hiệu của trường, đưa trước mặt ông già:
- Đây là huy hiệu của trường Thiên Phước. Chắc cụ cũng thấy bà Phương đeo cái này chứ?
Ông lão cầm lấy cái huy hiệu, xem xét kỹ lưỡng rồi nói:
- Đúng rồi, ít ra cũng phải có cái này chứ. Mấy tháng trước cũng có một gã đến đây xưng là từ trường Thiên Phước đến. Nhưng hắn đâu có gạt được lão. Đàn ông như hắn mà ở trường nội trú nữ sinh làm gì? Lão biết hắn là kẻ giả mạo ngay từ lúc hắn đặt chân đến đây.
Ông già nở một nụ cười đắc chí sau câu nói vừa rồi.
Thu khúc khích:
- Không phải giả mạo đâu cụ ơi. Ông ấy là giáo sư toán, Cố vấn Thể Thao của trường chúng cháu đấy.
Nhưng ông già chẳng nghe Thu nói cái gì hết. Ông ta tiếp tục:
- Chiều nay các cô đến nhà lão nhá! Lão có cái này cho các cô. Lão muốn các cô giữ cẩn thận vì nó quan trọng lắm.
Nói xong lão già quay lưng, chống gậy bước đi. Thu vội vàng hỏi:
- Nhưng nhà cụ ở đâu?
Ông lão chỉ về phía trước mặt:
- Các cô cứ vòng bờ hồ này, qua khỏi mấy rặng cây bên kia là đến nhà lão ngay. Dễ lắm, bên ấy chỉ có một căn nhà gỗ của lão mà thôi.
Khi ông già đã khuất bên kia hồ, Ngọc quay sang bảo hai bạn:
- Lẽ ra tụi mình phải đi theo cụ ấy, chứ để chiều nay tìm có phải mất công không?
Thu xua tay, vừa nói vừa chạy ra phía sau nhà:
- Khỏi cần bồ ạ, hồi nãy nhìn qua kẽ hở, tôi thấy phía sau này có một cái lỗ khá rộng có lẽ để cho chó chui qua. Tôi thấy mình có thể chui qua lỗ ấy để vào nhà xem cái tủ đẹp như thế nào.
Ngọc quay sang Minh, cười lớn:
- Ờ, lâu lâu làm chó một lần cũng đâu có sao hả bồ.
Hai cô gái chạy theo Thu, lúc ấy đang khom mình chui vào trong…
Ba cô gái phải nhắm mắt lại một lúc cho quen với bóng tối bên trong. Thu tiến lại góc nhà, kéo tấm chăn phủ trên mặt xuống. Nàng reo lên:
- Ồ, tuyệt quá.
    Minh đứng lặng người trước món đồ bí mật vừa được khám phá. Đúng là cái tủ mà cô đã thấy trong cuộc trưng bày ở đường Tự Do mấy tháng trước đây.
Ngọc run run miết tay trên thớ gỗ nâu sậm, điểm những hình xà cừ óng ánh. Sự vui sướng như muốn làm nghẹn cổ họng nàng:
- Cái tủ như thế này mà ông bà Năm không muốn giữ làm của riêng sao được?
- Cả cái ngăn kéo này cũng chẳng khác gì ngăn kéo của cái tủ ở đường Tự Do hết. Hai bồ xem kéo ra kéo vào trơn tru không này.
Thu ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Nhưng đâu là bằng cớ chứng minh tủ này là một trong hai cái tủ đời Gia Long? Người ta lại đời nào chịu mua một cái tủ nếu không biết chắc đó là đồ cổ?
Minh gật đầu:
- Bồ nói đúng lắm. Nhưng những người sành đồ cổ chỉ cần nhìn qua là họ biết ngay một món đồ có giá trị hay không à! Vả lại theo tôi thì cái tủ này và cái tủ của gia đình ông Tôn Thất Huy ở Sài Gòn y hệt nhau thôi!
Minh lại mở tiếp mấy ngăn kéo còn lại và hai cánh của lớn ở trên ra. Bỗng nàng hít hít cái mũi, đôi mày nhíu lại:
- Hai bồ có ngửi thấy mùi gì là lạ không?
Thu lắc đầu:
- Không, chả thấy gì hết.
Ngọc nói:
- Tôi cũng vậy. Chỉ có mùi chua chua, mốc mốc của căn nhà gỗ bỏ hoang này thôi.
Minh hít hít mấy cái rồi nói:
- Dĩ nhiên là có mùi mốc rồi. Nhưng tôi còn ngửi thấy mùi dầu là lạ ở trong cái tủ này nữa.
Thu cười lớn:
- Làm sao có mùi dầu được? Bồ phải nhớ là cái tủ này có gần hai trăm năm rồi.
Minh nắm cánh cửa lớn, mở ra rồi đóng vào mấy lượt:
- Tôi cũng biết thế. Nhưng mùi dầu này kỳ lạ lắm. Bà dì tôi có một tiệm bán đồ mộc. Mùi dầu bóng trong tiệm của bà ấy cũng y hệt như mùi dầu tôi ngửi thấy ở đây.
Thu vẫn không chịu tin:
- Bồ chỉ tưởng tượng thôi. Tôi chẳng ngửi thấy mùi gì hết.
Minh lùi lại mấy bước, ngắm nghía cái tủ từ trên xuống dưới:
- Đẹp quá! Nhưng mùi dầu đó vẫn làm cho tôi thắc mắc.
Ngọc nhìn qua kẽ hở phía trước rồi nói:
- Tụi mình nên ra khỏi đây ngay đi. Biết đâu ông Năm lại chẳng đến thăm chừng cái tủ và bắt gặp chúng ta ở trong này?
Minh sắp quay ra thì chợt thấy có một cái thùng gỗ ở hóc bên kia. Nàng tiến lại định mở nắp ra coi có gì bên trong. Vừa mở, Minh vừa nói:
- Dám cái mùi lúc nãy ở trong thùng này xông ra lắm đó nghe.
Ngọc nói:
- Chắc đây là thùng đựng dụng cụ mộc. Lúc trước tôi có thấy bác tôi xài một cái thùng như vầy đây.
Đúng như vậy. Họ thấy đủ bộ đồ dùng để làm đồ mộc: cưa, đục, dũa, êke, khoan, bào, đinh bản lề, lớn nhỏ không thiếu một món nào hết.
Thu thốt lên:
- Chà, chỉ xưởng mộc mới có đủ bằng này món mà thôi.
Giữa lúc ấy, một tiếng độp vang lên trên mái nhà. Ba cô gái xanh mặt, không dám nói một tiếng nào nữa. Chờ khoảng năm phút sau, không thấy gì, Minh thở phào:
- Chắc là một cành cây khô nào rớt xuống mái nhà chứ chẳng có gì đâu! Thôi mình ra khỏi đây đi, kẻo bị ông Năm bắt gặp là nguy đấy.
Minh đậy nắp thùng gỗ lại cẩn thận. Thu cũng phủ tấm chăn lên cái tủ. Nàng khôn khéo kéo tấm chăn lên trên, cho hở ra bốn chân tủ như cũ.
Ba cô gái theo lối cũ chui ra ngoài. Họ cẩn thận xóa hết những vết chân để lại chung quanh căn nhà gỗ.
Lúc ấy đã gần trưa nhưng trong khu rừng vắng vẻ này những tàng lá xanh trên cao chẳng khác gì những chiếc lọng che phủ, khiến người ta tưởng như đang ngồi trong nhà vậy. Hồ nước xanh thẫm trước mặt, phẳng như một tấm gương. Vài đám lau sậy lác đác viền bên mé hồ. Mấy hàng cây cao soi mình trên làn nước không một gợn sóng lăn tăn. Đâu đây những tiếng ríu rít của chim rừng vọng lại lẫn trong gió hiền hòa như ru ngủ; giữa cái không khí tĩnh mịch của buổi trưa êm ả, tất cả tạo cho người ta một cảm giác sảng khoái lạ lùng.
Ba cô gái tìm một chỗ râm mát nhất, thu góp lá vàng chung quanh, phủ lên làm chỗ nghỉ trưa. Thức ăn đơn sơ nhưng họ chưa bao giờ thấy ngon miệng như lần này hết.
Ăn xong, họ cởi áo len, xếp lại làm gối. Chỉ một lát sau, nhạc gió vi vu, tiếng chim hót ngọt ngào đã ru họ vào giấc ngủ êm đềm…
Bừng mắt dậy giữa cảnh sắc tuyệt diệu của thiên nhiên, họ cảm thấy nhựa sống tràn trề trong từng mạch máu. Ba cô gái tiến về phía rặng cây bên kia hồ. Qua khỏi đó một quãng, họ đã thấy căn nhà gỗ nhỏ bé của ông già thấp thoáng sau hàng rào dây leo rậm rạp.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG TÁM: QUYỂN KINH THÁNH BỊ MẤT 
Thu lưỡng lự:
- Tại sao mình phải đi tìm ông ta nhỉ? Đã biết cái tủ rồi, mình chỉ việc về báo cho nhà trường là xong rồi chứ?
Minh giải thích:
- Ồ, như vậy không được. Chúng ta chưa tìm được bằng cớ chứng tỏ rằng đó là cái tủ mà bà Phương để lại cho nhà trường. Làm sao họ có thể tin chúng ta được?
Ngọc tiếp lời Minh:
- Ngoài ra, hai người nhớ rằng bà Hiệu Trưởng là người khó thuyết phục lắm chứ? Mình chỉ nói không thôi, chắc gì bà ấy đã chịu cho người đến đây?
Thu gật đầu ưng thuận:
- Được rồi, vậy thì bây giờ chúng mình chỉ cần tìm bằng cớ, chứng tỏ cái tủ ấy là của gia đình bà Phương thôi. Có thể bà ta đã để bằng cớ ấy lại cho gia đình ông già cất giữ.
Ngọc nói:
- Cần nhất là chúng ta phải hành động mau lẹ, vì kỳ hạn sáu tháng chỉ còn có vài ngày nữa là hết thôi. Nếu chậm trễ cái tủ sẽ đương nhiên thuộc về ông bà Năm và cho dù chúng ta tìm ra bằng cớ thì cũng chẳng có ích gì.
Khi đến gần căn nhà gỗ xiêu vẹo, họ đã thấy ông già ngồi chờ trên một phiến đá trước cổng. Vừa trông thấy ba cô gái ông lão liền đứng dậy ra đón họ. Trông vẻ mặt của ông lão buồn bực khác thường. Đôi mắt lờ đờ hình như sâu hơn, xa vắng hơn. Ông ta lẩm bẩm:
- Mấy hôm trước lấy ra lão còn thấy mà! Chắc chắn vợ chồng Năm Sĩ chứ không còn ai vào đây nữa đâu. Thật là một lũ bất lương!
Minh hỏi ông già:
- Có chuyện gì vậy hả cụ?
Ông ta không trả lời ngay câu hỏi của nàng:
- Lẽ ra khi thấy chúng lẩn quẩn quanh đây, lão đã vác gậy đuổi chúng đi thì đâu có đến nỗi này. Thật tức quá đi!
Thu hỏi với giọng nôn nóng:
- Chuyện gì xảy ra vậy cụ?
Ông lão tiến đến cái ghế dài làm bằng mấy miếng ván thùng ghép lại. Ba cô gái đứng quanh nghe tiếng ông chậm rãi:
- Bà Phương bà ấy bảo lão giữ kỹ cái ấy cho đến lúc các cô tới. Ông già nuốt nước bọt một cách khó khăn. Lão đã giữ hết sức cẩn thận. Lão giấu nó vào một chỗ. Vậy là không hiểu sao bọn chúng cũng rình mò ăn cắp được.
Ba cô gái nhìn nhau, không hiểu gì cả. Cuối cùng Ngọc hỏi:
- Cái ấy là cái gì hả cụ?
Giọng ông lão run run:
- Cuốn Kinh Thánh. Bà ấy đưa cho lão, nói rằng nó quan trọng lắm, đợi khi nào nhà trường cho người đến tìm rồi hãy đưa. Chứ đừng giao cho bất cứ một ai khác. Cũng không được nói cho bất cứ ai biết hết! Thế mà tụi Năm Sĩ lại lấy mất rồi!
Minh thốt lên:
- Cuốn Kinh Thánh sao? Cụ bảo rằng bà Phương nhờ cụ giữ một cuốn Kinh Thánh để trao lại cho nhà trường à?
Ông lão gật đầu một cách khổ sở. Thu nói bằng giọng thất vọng:
- Cuốn Kinh Thánh thì có gì là quan trọng đâu? Bà Phương là người ngoan đạo. Chắc bà ấy muốn nhân dịp này để giảng cho người ta biết về đạo Tin Lành của bà ấy chứ gì?
Ngọc lắc đầu:
- Theo tôi thì mục đích của bà ấy không phải chỉ như vậy đâu. Tôi nghĩ rằng cuốn Kinh Thánh ấy chứa đựng một cái gì quan trọng hơn thế nữa cơ!
Minh nắm chặt tay bạn:
- Phải rồi, Ngọc nói đúng ý tôi đấy. Hai bồ nhớ là hôm trước, vừa về đến nhà là mình thấy ông bà Năm đang đọc cuốn Kinh Thánh chứ? Họ mải mê đọc nên không biết là chúng ta bước vào.
Ngọc tiếp lời:
- Và họ giận ghê gớm khi thấy bị chúng ta bắt gặp.
Ông lão chống cây gậy xuống đất:
- Lão biết mà! Vừa khi thấy mất cuốn Kinh Thánh là lão nghĩ ngay tới vợ chồng Năm Sĩ mà.
Thu nói bằng giọng chua chát:
- Tôi thấy việc này chẳng có gì quan trọng hết. Bà Phương muốn người ta đọc cuốn Kinh Thánh đó. Bà ấy chẳng khác gì Minh đâu… lúc nào cũng muốn cho người ta theo đạo như mình, nên tìm cách để mọi người nghiên cứu kỹ cuốn sách đó mà thôi.
Ngọc nhìn Thu, nghiêm giọng:
- Việc giảng đạo có gì là xấu mà bồ phải gớm ghiếc như thế? Tôi đây tuy chưa phải là tín đồ, nhưng tôi không muốn chế giễu niềm tin của ai hết!
Thu hơi ngượng, liền xí xóa:
- Thôi, thôi, làm gì mà nóng nảy thế. Tôi nói vậy thì nói cứ không có ý chỉ trích hay chế giễu Minh đâu.
Minh vui vẻ:
- Được rồi, không có gì đâu Thu. Bỏ qua hết đi. Bây giờ tụi mình trở lại với công việc. Theo tôi thì cuốn Kinh Thánh ấy không có mục đích giảng đạo đâu. Có lẽ bà Phương muốn cho chúng ta biết một điều gì đó về cái tủ qua cuốn Kinh Thánh ấy.
Thu thắc mắc:
- Nhưng cho biết như thế nào được?
Minh mỉm cười:
- Chính tôi cũng chưa biết. Nhưng đó là điều mà chúng ta phải đoán ra. Bây giờ việc cần thiết là chúng ta phải tìm cách lấy lại cuốn Kinh Thánh đó. Chắc bà Phương có để lại trong ấy một số chứng cớ nào đó về cái tủ. Bởi vì, chính ông bà Năm cũng tin như vậy nên ông ấy mới định hỏi mình ý nghĩa mấy câu Kinh Thánh ấy chứ!
Thu vẫn chưa hết nghi ngờ:
- Có thể lắm. Nhưng coi bộ không dễ dàng gì đâu nhé.
Ngọc nói:
- Được rồi, tôi đã có cách. Hai bồ cứ làm theo lời tôi dặn nhé.
Nói xong, Ngọc liền ghé tai Minh và Thu thì thầm mấy câu. Hai cô gái gật gù, tỏ vẻ hài lòng lắm.
Buổi tối hôm ấy, vừa xuống tới cửa phòng ăn, họ đã thấy ông bà Năm ngồi đợi ở bàn. Ông Năm lên tiếng trước:
- À, bữa nay các cô tìm thấy gì không?
Minh hơi biến sắc, trống ngực nàng đánh thình thịch. Ngọc vui vẻ:
- Chúng tôi đi dạo chơi được nhiều chỗ lắm ạ.
Ông Năm nói:
- May là các cô không bị lạc đó. Chúng tôi không muốn các cô lang thang trong rừng như thế. Chẳng thể đoán được những bất trắc gì sẽ xảy ra. Các cô mà mất tích là chúng tôi cũng liên lụy đấy.
Thu giả bộ không biết gì:
- Thưa ông, chúng tôi chỉ loanh quanh ở mấy nơi gần quốc lộ thôi chứ không dám vào sâu trong rừng đâu. Xin ông bà cứ yên tâm.
Ông Năm nheo mắt:
- Vậy thì chắc các cô đã bỏ ý định tìm kiếm cái tủ chè rồi chứ gì?
Minh đáp:
- Thưa ông, cái tủ chè không có ở đây. Bởi vì nếu có thì chắc ông bà cũng đã tìm thấy rồi chứ.
Ông Năm tỏ vẻ hài lòng:
- Có thế chứ! Nhưng chúng tôi muốn các cô cũng như nhà trường tìm kiếm và tận mắt rằng chúng tôi không hề giấu cái tủ.
    Mọi người bắt đầu dùng bữa. Ăn gần xong thì bỗng Thu ôm bụng nhăn nhó, rên la dữ dội. Ngọc đỡ Thu nằm nghiêng dựa đầu trên ngực cô. Ông bà Năm hốt hoảng:
- Cô ấy làm sao vậy?
Ngọc đáp:
- Không sao đâu! Lâu lâu Thu nó lại lên cơn đau bụng như vậy đấy ạ. Giá bây giờ ở nhà có gừng giã nhỏ khuấy với nước nóng, cho nó uống thì đỡ đau ngay thôi… À, mà hình như phía sau nhà, bên cạnh vườn trồng bắp có một liếp rau thơm, hành ngò. Cô gái quay sang Minh.
- Minh thử ra phía sau coi có củ gừng nào thì đào lên đem vào đây đi!
Minh vừa quay lưng định ra ngoài thì bà Năm đã sốt sắng:
- Phải rồi, ở phía sau có gừng đấy. Nhưng trời tối, cô không biết đường ra vườn đâu. Để tôi ra lấy cho.
Ngọc nhanh nhảu:
- Vâng, như thế thì tốt lắm. Chúng tôi cảm ơn bà nhiều.
Ông Năm cũng đứng dậy múc nước vào ấm, bắc lên bếp nấu.
Ngọc kéo ghế của ông Năm cho xây lưng ra phía cửa, chờ khi ông ta ngồi xuống là cô gái bắt đầu vồn vã hỏi thăm về gia đình ông bà Năm và kể lể những chuyện ở nội trú. Trong khi ấy Thu tiếp tục nhăn nhó và kêu la như chưa bao giờ đau thế, làm ông Năm cũng cuống quít cả lên.
Lợi dụng lúc gia chủ bối rối, Ngọc đưa mắt ra hiệu cho Minh, khi đó đang bắc ấm nước vừa sôi xuống. Minh nhìn quanh như thể tìm cái ly đựng nước. Ông Năm mau mắn:
- Cô qua phòng tôi, ngay trên bàn sát cửa ra vào sẽ thấy khay ly ở đó.
Minh mừng rỡ chạy vụt lên nhà trên. Tới bàn để khay, ly tách, Minh dừng lại, đảo mắt nhìn quanh phòng. Cô gái tự hỏi không biết ông bà Năm để cuốn Kinh Thánh ở đâu. Nàng tiến tới mấy bước nữa như thể bị đồ vật trong phòng thu hút lấy. Lướt mắt qua tủ sách một lượt. Không có. Nghiêng mình trong góc phòng, trên giường, quanh bộ ghế salon cũng chẳng thấy.
Minh toan quay ra thì ngay trên đầu tủ gương, một cuốn sách bìa da cũ kỹ hiện ra trước mắt nàng.
Cô gái tiến lại, với tay cầm lấy. Đúng là cuốn Kinh Thánh mà nàng đã thấy ông bà Năm đọc hôm nọ.
Minh hấp tấp liền tay. Cuốn Kinh Thánh thật cũ kỹ, góc và lưng nhiều chỗ đã sờn. Những lằn gạch xanh, đỏ dưới các câu Kinh Thánh, những dòng ghi chú ở hầu hết các trang chứng tỏ chủ nhân đọc không biết bao nhiêu lần.
Vừa lật, Minh vừa run lẩy bẩy. Tay nàng ướt đẫm mồ hôi, vầng trán và hai vành tai nóng ran lên. Hình như có một cái trống đập liên hồi trong đầu cô.
Đã lật xong từ đầu đến cuối cuốn Kinh Thánh mà Minh vẫn chưa thấy gì hết. Nàng bắt đầu tự hỏi không biết cuốn Kinh Thánh này có điều gì quan trọng liên hệ tới cái tủ chè kia chăng? Phải chăng đây không phải là cuốn Kinh Thánh mà bà Phương để lại, hay là…?
Minh như bị cuốn hút vào những ý nghĩ về cuốn Kinh Thánh, cho nên nàng không hề nghe thấy tiếng Ngọc kêu lớn từ phía phòng ăn:
- Minh ơi, tìm thấy ly chưa? Xuống ngay đi!
  Dĩ nhiên là nàng cũng chẳng thể nghe thấy tiếng chân ông Năm bước vào phòng. Ông ta gầm lên giận dữ:
- Cô làm cái gì vậy?
Tiếng gầm dữ dội của ông Năm khiến Minh như chết đứng. Cuốn Kinh Thánh trên tay nàng rớt xuống sàn.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG CHÍN: MẬT THƯ
Đôi mắt ông Năm long lên:
- Cô vào đây làm gì?
Mặt mũi tái mét, Minh ấp úng:
- Tôi… tôi… xem cuốn Kinh Thánh này.
Vừa nói, Minh vừa cúi xuống nhặt cuốn sách lên, chân tay bủn rủn. Minh cảm thấy trán mình ướt đẫm mồ hôi.
Ông Năm hỏi bằng giọng gay gắt:
- Cô lấy cuốn Kinh Thánh này làm gì? Mà ai cho phép cô mở ra xem?
Trong lúc Minh nhặt cuốn Kinh Thánh lên, một mảnh giấy nhỏ và một trang sách rơi ra ngoài.
Ông Năm lừ mắt:
- Vô ý vô tứ quá chừng đi.
Vừa nói ông ta vừa với tay nhặt trang Kinh Thánh rớt ra ngoài.
Minh vội vã đạp chân lên mảnh giấy nhỏ rơi ra cùng một lượt với trang Kinh Thánh. Nàng kín đáo quan sát xem Ông Năm có để ý không. Nhưng ông ta chỉ chú ý đến cuốn Kinh Thánh mà thôi. Ông ta giựt lấy cuốn Kinh Thánh nơi tay nàng và gắn trang giấy rời vừa nhặt vào chỗ cũ.
Ông Năm lại hỏi:
- Cô tìm gì trong cuốn Kinh Thánh này? Ai cho phép cô đụng vào cuốn sách?
Minh ngập ngừng:
- Tại cuốn Kinh Thánh trông lạ quá, nên tôi muốn coi thử xem sao… Dù sao tôi cũng xin ông tha thứ cho sự tò mò của tôi… Thưa ông, chắc cuốn Kinh Thánh này là do bà Phương để lại cho ông bà phải không?
Ông dịu giọng xuống một chút:
- Của bà ấy chứ còn của ai. Chúng tôi làm gì có sách này ở trong nhà.
Lúc đó, Ngọc cũng đã dìu Thu bước vào phòng. Thu vẫn còn ôm bụng nhăn nhó.
Ông Năm mở cuốn Kinh Thánh ra, giọng ông ta đã bình thường trở lại:
- Nhưng đây là cuốn Kinh Thánh kỳ lạ nhất mà tôi đã từng thấy trên đời này. Tôi chẳng thể hiểu câu này, câu kia ý nghĩa ra sao hết. Tôi với bà ấy đã ngồi đọc cả giờ rồi mà chẳng biết đầu đuôi là gì cả.
Ngọc hỏi:
- Thưa ông, sao lạ vậy? Kinh Thánh thì cuốn nào lại chẳng giống nhau?
Ông Năm lắc đầu:
- Không, cuốn này lạ lắm! Các cô thử nhìn xem. Ông ta mở sách Giăng. Các cô nhìn những dòng chữ mà bà cô tôi gạch dưới bằng bút đỏ. Suốt cuốn Kinh Thánh này, bà ấy gạch nhiều chỗ lắm. Mà tôi thì chẳng hiểu đầu đuôi ý nghĩa ra sao hết!
Trong khi ông ta say sưa nói, Minh lặng lẽ nhét mảnh giấy nhỏ vào túi áo.
Ông Năm tiếp tục, với giọng thân thiện hơn:
- Các cô biết không, tôi đã thức đến một giờ khuya đêm rồi để đọc cuốn Kinh Thánh này đó. Có những điều rất lạ mà tôi chưa từng nghe nói bao giờ. Chẳng hạn như câu: “Chúng ta hết thảy đều như chiên đi lạc”. Dưới câu này có lằn gạch bút đỏ. Không biết sao câu này lại làm cho tôi suy nghĩ nhiều. Tôi tự hỏi:…
Ông Năm nói đến đây thì cửa phòng bật mở. Bà Năm kêu lên bằng giọng hốt hoảng:
- Ô, kìa ông, ông lấy cuốn Kinh Thánh này xuống làm chi vậy?
Ông Năm hoảng hốt quay lại, gấp vội cuốn Kinh Thánh trên tay lại ấp úng:
- Tôi chỉ mở ra… cho các cô này xem thôi.
Bà Năm sẵng giọng:
- Ông phải biết đây là vật mà bà cô tôi để lại chứ? Đâu có thể quăng bậy quăng bạ được.
Ông chồng cố vớt vát:
- Nhưng các cô đây chỉ muốn xem qua thôi mà.
Bà vợ át giọng:
- Xem qua cái gì? Muốn xem thì thiếu gì cái để xem.
Bà ta vừa nói vừa giật cuốn Kinh Thánh trên tay ông Năm. Rồi bà ta đi tới mở tủ áo, cất vào, khóa chặt lại.
Ông Năm ngập ngừng nhìn mấy cô gái. Một lúc sau ông ta mới phân bua:
- Chẳng biết xem cuốn sách ấy có lợi gì không mà cứ xem hoài. Riêng tôi thì chẳng hiểu gì hết. Phải chi cuốn sách dạy đóng bàn ghế thì hay biết bao.
Minh giật mình. Ông Năm vừa nhắc đến việc đóng bàn ghế. Nàng liên tưởng ngay đến thùng đựng dụng cụ trong căn nhà gỗ nhỏ và mùi dầu bóng phảng phất quanh cái tủ.
Minh hỏi một cách hết sức ngây thơ:
- Thưa ông, trước đây chắc ông đã từng làm nghề mộc?
Ông Năm nhìn cô chăm chăm, vẻ nghi ngờ lộ rõ trong mắt ông ta:
- Cô hỏi vậy làm gì?
Minh đáp:
- Tôi vừa nghe ông nhắc đến sách dạy nghề mộc nên tôi liên tưởng ông rành về việc đó.
Ông Năm lắc đầu liên tiếp mấy cái:
- Không, không. Cả đời tôi chỉ biết có trồng cây và chăn nuôi gia súc thôi.
Bà Năm vừa đưa củ gừng cho Minh, vừa bảo ông chồng:
- Thôi, xuống bếp cho cô gái này uống thuốc đi chứ!
Tất cả cùng trở xuống phòng ăn. Minh xắt nhỏ củ gừng, dùng cán dao giã nát rồi bỏ trong ly, rót nước nóng vào, khuấy lên đưa cho Thu. Thu khuấy khuấy một lúc cho bớt nóng rồi đưa lên miệng uống một hơi, trước sự chứng kiến của ông bà Năm. Uống xong ly nước gừng, coi bộ Thu đã tươi tỉnh hơn. Nàng cảm ơn ông bà Năm, rồi vịn vai bạn, trở lên phòng.
Khi cánh cửa căn phòng trên gác khép chặt, ba cô gái ôm bụng nhau cười rũ rượi, bò ra giường mà cười. Ngọc vỗ vai Thu:
- Khá lắm, không ngờ bồ lại có khả năng diễn xuất tài tình như thế đó.
Thu đắc chí:
- Dĩ nhiên rồi. Thu này mà đóng kịch thì ít có ai dám chê lắm.
Minh vỗ vỗ lên bụng Thu:
- Làm khi không được lãnh nguyên một bụng nước gừng. Coi chừng nóng quá, đứt ruột đứt gan bồ ra bây giờ đây.
Thu cười lớn:
- Đừng lo, ông nội tôi bảo rằng gừng là vị thuốc trị đủ thứ bệnh đó. Người không bệnh uống vào thì sẽ khỏi lo bị cảm gió, lại còn thông cổ, hát hay nữa.
Ngọc quay sang Minh:
- Kể ra thì việc bồ dám đột nhập phòng ông bà Năm để tìm cuốn Kinh Thánh cũng đáng mặt nữ nhi lắm đấy chứ.
Minh rùng mình:
- Đáng mặt ở chỗ nào? Lúc ông Năm vào bắt gặp, tôi tưởng chết đến nơi rồi đấy chứ. Mà hai bồ này, hai bồ có để ý lúc ông ấy nhắc đến sách dạy đóng bàn ghế không?
Thu gật đầu:
- Phải rồi, tôi thấy ông ấy cũng đáng nghi lắm. Tự nhiên ông ấy nhắc đến loại sách ấy rồi lúc mình hỏi, ông ấy lại bảo rằng không biết gì về nghề mộc. Tôi chắc rằng ông Năm đã nói dối khi bảo rằng chỉ biết trồng cây với chăn nuôi gia súc thôi.
Ngọc hỏi:
- Nhưng nghề nghiệp của ông ấy đối với mình, có gì là quan trọng đâu?
Minh chậm rãi:
- Chưa biết. Nhưng điều làm tôi thắc mắc là tại sao ông ấy lại phải nói dối như vậy?
Ngọc lại ngồi ở bàn, vặn ngọn đèn dầu cho sáng hơn. Thu và Minh tiếp tục nói chuyện, hai người không để ý là Ngọc nãy giờ chẳng nói một câu nào hết. Mãi một lúc sao, mới có tiếng Ngọc:
- Minh à, câu này nghĩa là gì?
Minh quay lại nhìn. Thì ra Ngọc đã mở cuốn Kinh Thánh của cô ra xem từ nãy đến giờ.
Thu nhếch mép cười:
- A, bây giờ sắp đến lượt bồ rồi đấy hả Ngọc. Bồ mà cũng tin nơi những điều ngớ ngẩn ấy được à?
Ngọc lặng yên không trả lời Thu. Nàng hỏi lại Minh:
- Bồ giảng nghĩa câu này cho tôi coi. Ngọc bắt đầu đọc: “Đức Chúa Giê-xu  phán cùng người rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi. Nếu một người chẳng sanh lại thì chẳng hề thấy nước Đức Chúa Trời”.
Minh nhìn Ngọc dò hỏi:
- Tại sao bồ hỏi tôi câu này?
Ngọc đáp:
- Hồi nãy, lúc ông Năm giở cuốn Kinh Thánh ra cho chúng ta coi, tôi để ý câu này được gạch dưới bằng bút đỏ. Đọc lên nghe lạ quá, tôi chẳng hiểu ý nghĩa ra sao hết.
Minh suy nghĩ vài giây rồi chậm rãi:
- Câu Kinh Thánh này dạy tất cả chúng ta đều phải quyết định một điều liên quan đến Đức Chúa Giê-xu Christ. Theo lời Kinh Thánh, tất cả chúng ta đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Không một ai trong chúng ta có thể tự xưng mình là người công bình hết... Minh ngừng lại một chút, rồi tiếp:
- Cũng như câu Kinh Thánh mà ông Năm hỏi mình hồi nãy đó. Chúng ta bị tội lỗi làm xa cách Đức Chúa Trời, chẳng khác gì những con chiên đi lạc bầy. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mới là Đấng Thánh Khiết, công bình. Ngài đã sai Đức Chúa Giê-xu xuống trần để sống một cuộc đời hoàn toàn thánh khiết trước mặt mọi người.
Ngọc hơi chồm tới trước, chăm chú lắng nghe từng lời Minh nói. Đôi mày nhíu lại, vẻ nghịch ngợm, vui tươi thường lệ đã biến đi đâu mất. Trong khi ấy thì Thu thỉnh thoảng lại đằng hắng, tỏ vẻ sốt ruột lắm, tờ tạp chí trên tay lật qua lật lại sột soạt không biết đã bao nhiêu lần.
Minh tiếp tục nói:
- Nếu đọc tiếp đoạn Kinh Thánh này, chúng ta sẽ thấy rằng phương cách duy nhất để được sự sống đời đời là chúng ta phải tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của đời sống mình. Chúng ta phải xưng tội cùng Chúa và đặt trọn vẹn niềm tin nơi sự dẫn dắt của Ngài.
Ngọc nói với vẻ mặt nghiêm trang chưa từng thấy:
- Hôm nay tôi mới được nghe những lời nói lạ lùng như vậy đó. Trước đây tôi cứ tưởng muốn làm tín đồ Đấng Christ là phải kiêng cữ đủ mọi điều cấm kỵ chứ. Tôi tưởng rằng theo Chúa rồi là cuộc đời chẳng còn vui thú gì nữa.
Minh nói:
- Nghĩ vậy là lầm đó Ngọc. Dĩ nhiên là Cơ Đốc Nhân không nên làm một số điều nào đó. Nhưng theo Chúa không có nghĩa là bị ám ảnh bởi mấy lời cấm đoán như “Đừng làm điều này”, “Không được làm điều kia” đâu. Theo Chúa tức là yêu thương Ngài và hết lòng tin tưởng rằng Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng ta và gìn giữ chúng ta khỏi phạm tội.
Thu quăng tờ tạp chí xuống giường, ngồi dậy hỏi Minh:
- Hồi nãy bồ nhặt được mảnh giấy từ cuốn Kinh Thánh rơi ra. Đâu rồi?
Minh cho tay vào túi áo:
- Chết, nói chuyện nãy giờ nên tôi quên khuấy đi mất. Chắc đây là mảnh giấy ghi chú của bà Năm chứ gì?
Ba cô gái chăm chú nhìn nét chữ viết trên mảnh giấy, Thu nói:
- Đây không phải là chữ của bà Năm rồi. Hai bồ thấy mấy chữ bà ấy viết trên tờ biên nhận hôm trước chứ?
Minh gật đầu:
- Đúng thế. Nét chữ này chắc là của bà Phương. Tôi thấy những chữ ghi chú ở bên cạnh mấy câu Kinh Thánh cũng viết nghiêng nghiêng như thế này.
Ngọc lẩm bẩm đọc trên mảnh giấy:
- Timôthê thứ nhì đoạn 2 câu 20. Như thế này nghĩa là gì vậy Minh?
Minh bước vội tới bàn, chụp lấy cuốn Kinh Thánh. Đôi tay run run của nàng lật vội vàng những trang sách.
Thu nôn nóng:
- Câu ấy nói gì vậy?
Minh bắt đầu đọc:
- Trong một nhà lớn, không những có bình vàng, bình bạc mà thôi, cũng có cái bằng gỗ, bằng đất nữa, thứ thì dùng việc sang, thứ thì dùng việc hèn.
Ngọc hỏi:
- Như vậy nghĩa là gì?
Minh suy nghĩ mấy giây rồi nói:
- Theo tôi thì đây có lẽ là điều mà bà Phương muốn nhờ ông lão quản gia trao lại cho chúng ta. Có lẽ cuốn Kinh Thánh cũ kỹ đó chứa đựng một mật thư cho chúng ta giải đoán. Như thế thì rất có thể câu này có liên quan đến cái tủ đây.
Thu nhìn Minh, hất hàm:
- Tức là làm sao?
Minh chậm rãi:
- Tức là có thể bà Phương muốn cho mình biết rằng cái tủ hiện đang ở trong tòa nhà lớn này đây…
Thu ngắt ngang:
- Kỳ cục vậy? Vợ chồng ông bà Năm đem cái tủ đi giấu ở căn nhà gỗ trong rừng rồi mà?
Minh từ tốn:
- Có thể câu Kinh Thánh đó còn có một ý nghĩa khác nữa. Nhưng khoan đã, mình thử xem câu Kinh Thánh kế tiếp coi!
Ngọc đọc:
- Tê-sa-lô-ni-ca thứ nhất đoạn 5 câu 5.
Minh vội vàng lật ngay đến chỗ chép câu Kinh Thánh này. Nàng đọc một cách chậm rãi:
- Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối.
Thu đưa tay lên gãi mái tóc ngắn:
- Còn câu này thì sao?”
Minh suy nghĩ vài giây rồi nói:
- Câu thứ nhất thì rõ ràng rồi. Cái tủ hiện ở trong tòa nhà lớn. Nhưng tại phòng nào? Phòng nào là phòng có ánh sáng?
Ngọc reo lên:
- Chắc là phòng khách rồi chứ gì. Phòng này mà mở cửa ra thì tràn ngập ánh sáng. Nhất là phòng lại thường được sử dụng lúc ban ngày nữa chứ. Minh thấy tôi đoán như vậy có được không?
Minh gật đầu:
- Ngọc nói nghe hợp lý lắm. Có lẽ mình nên thử tìm kiếm lại ở phòng khách một lần nữa xem sao. À, để coi trên mảnh giấy còn ghi gì nữa không nào?
Minh đưa mảnh giấy nhỏ đến gần đèn hơn:
- Ủa, tại sao mảnh giấy lại rách ở góc này. Lẽ ra còn một câu Kinh Thánh nữa chứ. Nhưng ở sát góc mình chỉ đọc được có mỗi chữ G mà thôi.
Thu hỏi:
- Trong Kinh Thánh, sách nào bắt đầu bằng chữ G?
Minh đáp:
- Nhiều lắm. Có thể là Giăng, Giô-suê, Giê-rê-mi, Gia-cơ, Gióp, Giô-na, Giu-đe. Làm sao mình có thể lật hết các sách này để tìm kiếm được? Tuy nhiên, tôi nghĩ đây là chìa khóa để mở cánh cửa bí mật che khuất cái tủ.
Thu nhún vai:
- Cái đó thì chưa biết được. Nhưng theo tôi thì ở phòng khách, làm gì có chỗ nào lớn một chút để giấu cái tủ vào trong đó. Hơn nữa mình đã biết cái tủ hiện nay ở đâu rồi mà.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG MƯỜI: LẦN RA MANH MỐI
Ba cô gái trằn trọc mãi không ngủ được. Nhưng cũng may là nhờ vậy mà Ngọc sực nhớ ra rằng mình chưa đem cuốn “Kỹ thuật đồ mộc” để lại chỗ cũ. Nàng vội vàng quơ lấy cây đèn bấm lần xuống nhà bếp, trả cuốn sách vào vị trí ban nãy rồi rón rén trở về phòng.
Mãi đến gần ba giờ sáng họ mới chợp mắt được. Giấc ngủ mệt nhọc kéo dài đến hơn 8 giờ. 
Khi họ xuống tới phòng ăn, ông Năm lên tiếng trước:
- Gớm, ba cô làm gì tối hôm qua mà bây giờ trông phờ phạc như vậy? Bộ nhớ nhà không ngủ được sao?
Thu đáp:
- Không có gì đâu ông. Chúng tôi mãi nói chuyện với nhau nên quên ngủ đó thôi.
Bà Năm nhìn ba cô gái:
- Các cô còn định ở lại đây mấy hôm nữa. Chẳng phải là tôi không muốn các cô ở lại đâu. Nhưng tôi muốn biết vậy để còn sửa soạn các thứ cần thiết nữa.
Minh nói:
- Thưa bà, chắc chúng tôi cũng chỉ xin ở lại một vài ngày nữa thôi. Vì thứ hai tới là phải đi học rồi.
Bà Năm thở dài, đưa tay vuốt tóc. Ông Năm đưa ly cà phê cho bà ta rót thêm. Ông hỏi ba cô gái:
- Các cô định làm gì ngày hôm nay?
Minh nuốt nước miếng thật mạnh và hít một hơi dài. Nàng đáp:
- Sáng nay chúng tôi quanh quẩn ở nhà thôi, nhưng buổi chiều chúng tôi muốn trở lại căn nhà gỗ nhỏ trong rừng.
- Căn nhà gỗ nào? Giọng ông Năm hoảng hốt, đôi mắt ông lóe lên những tia giận dữ.
Minh hồn nhiên nói tiếp:
- Thưa ông, căn nhà gần hồ nước đó. Hôm qua đi vào rừng chơi chúng tôi gặp căn nhà xinh xắn ấy. Chúng tôi muốn trở lại thăm căn nhà ấy. À, mà hình như trong đó có một cái thùng gì khá lớn.
Đôi đũa trên tay ông Năm dằn mạnh xuống bàn. Bà Năm cũng gườm mắt ngó Minh.
Ông ta nói bằng giọng tức giận:
- Tôi đã bảo các cô đừng vào rừng mà. Tại sao các cô còn cứ vào? Coi chừng gặp lão già khùng trong đó thì các cô sẽ biết.
Minh vẫn thản nhiên:
- Ồ, ông lão quản gia cũ ở đây chứ gì? Không sao đâu, cụ ấy tử tế với chúng tôi lắm. Cụ ấy có mời chúng tôi đến chơi nữa.
Ông Năm bực bội:
- Nhưng mà tôi không muốn các cô đến gần căn nhà gỗ ấy. Có thể các cô sẽ không yên ổn đâu.
Minh nhún vai:
- Thưa ông, xin ông đừng lo chúng tôi gặp bất trắc, vì chúng tôi sẽ rất thận trọng. Có điều chúng tôi hơi thắc mắc là không biết ai giấu cái thùng gì khá lớn trong đó. Bên ngoài lại có cái ống khóa mới tinh. Thật là một điều kỳ lạ đối với chúng tôi.
Chân Thu khẽ đá vào mắt cá Minh, còn Ngọc thì lừ mắt ra hiệu cho cô. Minh biết ý, không nói gì nữa.
Ông bà Năm đứng dậy. Bà Năm cầm lấy chiếc giỏ nylon ở góc phòng:
- Nếu sáng nay các cô không đi chơi thì ở đây coi nhà giùm chúng tôi nhé. Chúng tôi phải ra chợ mua ít đồ lặt vặt, khoảng mười một giờ sẽ về.
Hai ông bà vội vã bước ra, leo lên xe. Chiếc xe Jeep gầm gừ rồi chồm về phía trước.
Vừa khi chiếc xe khuất ở ngoài cổng, Thu quay sang Minh, giọng nói Thu có vẻ tức giận:
- Tại sao bồ kỳ cục vậy? Nói cho họ biết rằng mình thấy cái tủ rồi để làm gì? Bây giờ họ sẽ dời nó đi chỗ khác, làm sao mình đủ thì giờ tìm kiếm được?
Ngọc nói thêm:
- Thời gian là yếu tố quan trọng lắm đó. Chúng ta chỉ còn 48 tiếng đồng hồ nữa là hết hạn 6 tháng.
Minh chậm rãi:
- Đó chính là điều mà tôi nghĩ. Chỉ còn cách đó mới lừa cho họ ra khỏi nhà, để chúng ta có thể tự do tìm kiếm, giải đoán mật thư và lần ra manh mối.
Thu gật đầu:
- Được rồi, vậy thì chúng mình nên bắt đầu công việc ngay đi. Chẳng biết lúc nào họ sẽ trở về.
Ba cô gái lên phòng khách bằng lối cửa sau. Họ mở toang các cửa sổ và cửa lớn cho ánh sáng tràn ngập căn phòng.
Ngọc nói:
- Chẳng biết bắt đầu tìm ở đâu trước hết cả. Tôi thấy chúng mình đã đoán được hai câu đầu rồi. Rằng cái tủ ở trong phòng khách là phòng nhiều ánh sáng nhất. Nhưng còn câu cuối thật là khó hiểu. Trong phòng này làm gì có phòng cho chú rể hoặc là chốn động phòng của cô dâu đâu?
Họ xem xét kỹ lưỡng vết nứt, sờ nắn từng viên gạch dưới sàn xem có một căn hầm bí mật nào không?
Thu tới gần lò sưởi. Nàng sờ vào những viên gạch đỏ trên bệ:
- Tòa nhà nầy làm tôi nhớ đến tòa nhà của bác tôi ở nhà quê. Bác tôi cũng cho xây một lò sưởi to như thế này. Nhưng ở dưới là hầm để gia đình bác tôi xuống trốn khi ăn cướp hoặc lính Tây sắp xông vào nhà.
Minh reo lên:
- Phải đó. Dám trong lò sưởi này cũng có một căn hầm như vậy lắm đấy. Để tôi chui vào xem nào.
Ngọc và Thu cũng xúm xít bên cạnh trong lúc Minh nắn từng viên gạch xây quanh lò sưởi. Những viên gạch đã bị khói và bụi thấm vào thành một màu xám đậm.
Minh nhờ Ngọc và Thu cõng cô lên để chui vào quan sát phần bên trong ống khói lò sưởi. Bụi và bồ hóng trong nầy còn nhiều hơn ở phía dưới nữa. Minh nhắm mắt, lần mò từng khoảng nhỏ một bụi bặm rơi xuống phủ cả lên mình hai cô bạn đang đỡ nàng bên dưới. Giữa lúc đó tiếng máy xe hơi rì rì từ bên ngoài vọng lại mỗi lúc một rõ hơn.
Thu hốt hoảng:
- Chết rồi, họ đã về!
Ngọc cũng dáo dác nhìn quanh:
- Ông bà ấy về tới nơi rồi! Mình phải chạy mau khỏi nơi đây đi, không thể để họ bắt gặp được.
Chợt Minh kêu lên một tiếng vui mừng. Tay vừa chạm vào một cái chốt có hình dạng như nắm đấm cửa. Nàng vặn cái chốt xuống.
Phía dưới chân Thu, có tiếng kẹt kẹt nổi lên. Minh la lên:
- Lùi ra mau lên, hai bồ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 03.08.2026 23:06>

CHƯƠNG MƯỜI MỘT: CĂN HẦM BÍ MẬT



Ba cô gái nhảy lùi ra một bước. Dưới chân họ, một khoảng tối từ từ lộ ra, rộng dần, rộng dần. Cuối cùng, nắp căn hầm đã được một bộ máy bí mật kéo lên sát tới bức vách trong của lò sưởi.

Chiếc xe Jeep đã vào tới sân. Động cơ rú lên rồi tắt hẳn. Một tiếng xịch khô khan, xe ngừng lại ngay cửa phòng ông bà Năm. Lúc này ba cô gái đã nhảy xuống hầm. Họ đang loay hoay tìm cái chốt để sập cửa xuống. Bây giờ thì tới lượt Ngọc gặp may mắn. Nàng tìm thấy cái chốt ngay bên cạnh cầu thang dẫn xuống hầm. Nắm tay xoay mạnh về bên trái một nửa vòng, Ngọc nghe thấy tiếng kẹt kẹt nổi lên và nắp hầm sập xuống thật khít khao.

Thì ra gia đình bà Phương đã cho làm cánh cửa hầm bằng sắt dầy, phía trên cũng lót gạch y như những phần khác trong lò sưởi. Hai cái chốt trên và dưới được nối liền với cửa hầm bằng một hệ thống dây cáp và bánh xe thật tinh vi. Ở ngoài nhìn vào, chẳng ai có thể nhận ra sự khác biệt nào giữa nắp hầm với ba bức vách chung quanh hết.

Phía dưới hầm, bóng tối phủ dầy đặc chung quanh ba cô gái. Họ nghe loáng thoáng từ bên ngoài vọng lại tiếng kêu the thé của bà Năm:

- Các cô ơi! Cô Minh đâu rồi? Cô Thu ơi! Cô Ngọc ơi!

Bà ta chạy từ phòng này qua phòng kia, vừa chạy vừa lần lượt gọi tên từng người một.

Ba cô gái gần như nín thở. Họ nghe rõ từng hơi thở dồn dập, từng tiếng trống thình thịch trong lồng ngực.

Từ phía trên đầu họ vang lên những tiếng rầm rầm của cánh cửa bị đóng mạnh mỗi khi ông bà Năm rời phòng này qua phòng khác.

Mặt hai người đỏ bừng lên, mồ hôi trên mặt họ chảy xuống từng giọt. Ông Năm vừa xục xạo khắp chỗ, vừa lẩm bẩm rủa sả luôn miệng:

- Chắc chúng còn ở trong nhà này. Va-li và quần áo chúng vẫn còn để nguyên trên phòng. Chắc chúng đang trốn ở chỗ nào đây.

Có tiếng ông Năm:

- Có lẽ chúng đi đường tắt đến căn nhà gỗ trong rừng rồi. Đúng ra ban nãy mình phải dời cái tủ đến một chỗ khác để chúng không thể nào biết được. Chứ bây giờ mà chúng thoát về báo cho nhà trường thì công trình của tôi trong suốt sáu tháng vừa qua cũng vứt đi hết mà thôi.

Bà Năm nghiến răng:

- Vì thế, bằng mọi cách, mình phải làm sao để giữ chúng ở lại đây cho đến tối mai mới được. Khi ấy, cái tủ sẽ thuộc về chúng ta. Tôi và ông sẽ không còn phải lo lắng gì nữa.

Ông Năm nở một nụ cười méo mó:

- Hừ, không còn phải lo lắng gì nữa ngoại trừ làm sao cho mùi dầu bóng bay mất, để giống như cái tủ thật ở đường Tự Do. Chẳng cần lo lắng gì ngoài việc đánh lừa ngay những tay sành đồ cổ nhất trong xứ này nữa. Tức quá! Giá bà với tôi hiểu được những câu bí hiểm trong cuốn Kinh Thánh ăn trộm của lão già thì đỡ biết bao nhỉ?

Bà Năm gật đầu:

- Ờ, phải đó. Lúc kiếm được mảnh giấy nhỏ trong ấy, tôi đã tưởng xong chuyện rồi chứ. Nào ngờ đọc đi đọc lại điên cả đầu lên mà chẳng biết đầu đuôi ra sao hết!

Ông Năm bĩu môi:

- Bà cô của bà thực cuồng tín hết chỗ nói! Chỗ nào trong nhà cũng có những mảnh giấy nhỏ ghi mấy câu Kinh Thánh của bà ấy. Cho nên chưa chắc mấy mảnh giấy nhỏ ấy có liên quan gì đến cái tủ đâu. Tôi cho rằng bức mật thư nằm trong những câu Kinh Thánh gạch dưới bằng bút đỏ. Nếu có thì giờ đọc kỹ những câu đó, có thể mình sẽ lần ra manh mối.

Bà vợ nói:

- Đúng thế. Nhờ thế mình sẽ tìm được bằng cớ chứng tỏ cái tủ có từ đời Gia Long.

Ông chồng tiếp lời:

- Và biết đâu mình lại còn biết được chỗ để cái tủ chè gia bảo của bà ấy? Khi đó, bà với tôi sẽ không còn bận tâm gì tới công trình giả mạo khéo léo của tôi nữa.

Bà vợ ngồi xuống chiếc ghế bành trong phòng khách:

- Tôi với ông đã moi móc khắp xó xỉnh trong trại này mà cái tủ vẫn biệt tăm. Nếu chẳng có tờ di chúc, cũng như nếu không nghe được bà con kể lại thì tôi đã nghi ngờ sự có mặt của cái tủ chè ấy trên thế gian rồi.

Ông Năm nói bằng giọng châm biếm:

- Không ngờ bà cô già của mình lại cắc cớ đến thế! Việc gì mà bà ấy phải bày đặt cho rắc rối như vậy? Muốn để lại cái tủ chè thì cứ bày hẳn ra đây có phải hơn không!

Bà Năm cũng chua cay chẳng kém:

- Chắc bà ấy cũng biết ông là hạng người như thế nào nên muốn làm vậy để nhà trường được cái tủ.

Ông chồng vừa tức giận, vừa xấu hổ. Nhưng ông ta cũng chỉ dám đỏ mặt lên và cắn chặt hàm răng lại thôi. Vài phút sau có tiếng ông la:

- Thôi, mình thử lên lầu và trần nhà xem chúng có trốn trên đó không!

Ba cô gái nghe những tiếng chân sầm sập chay lên thang lầu. Họ ngồi xuống bậc gạch rộng, dựa lưng vào vách. Mùi ẩm mốc khiến cho Thu và Minh nhảy mũi liên tiếp mấy cái. Mắt họ đã quen dần với bóng tối, nhưng vẫn chỉ thấy lờ mờ mấy bậc thang bên dưới thôi. Từ nãy đến giờ, trong lúc vợ chồng ông Năm còn ở trong phòng khách, họ gần như không dám thở nữa. Mấy lần muốn hắt hơi, Thu và Minh đều phải bịt mũi, bịt miệng thật chặt rồi nuốt nước miếng thật mạnh, đầu cúi gầm xuống.

Cổ họng họ như bị thắt lại, đầu gối họ run lập cập. Mồ hôi vã ra đầm đìa trên trán và các kẽ ngón tay. Mãi cho đến lúc những tiếng rầm rập trên thang gác đã lắng, Ngọc mới dám quay sang Minh thì thầm:

- Mình làm sao bây giờ đây? Đâu có thể để cho họ bắt giữ mình được?

Minh lắc đầu:

- Tôi cũng biết vậy. Nhưng mình không thể rời khỏi đây ngay bây giờ được. Ho sẽ bắt được mình trước khi mình rời khỏi tòa nhà này.

Thu tiếp lời:

- Và ngoài ra, mình còn phải xem có cái tủ trong này không nữa?

Ngọc chép miệng:

- Phải chi tụi mình có thể nhìn thấy rõ ràng những thứ ở dưới này nhỉ? Tối quá, có muốn bước xuống vài bậc thang nữa cũng không dám.

Thu đứng bật dậy:

- Đãng trí quá vậy Ngọc? Cái đèn bấm lúc nào bồ chẳng cất trong túi?

Ngọc “à” một tiếng mừng rỡ, móc đèn bấm ra đứng dậy theo.

 Ánh sáng từ cây đèn bấm mở một con đường cho họ đi xuống hết những bậc thang xi măng. Càng xuống dưới, đường đi càng rộng hơn, cho tới lúc họ bước vào một căn phòng nhỏ mỗi bề chừng ba thước. Ở sát vách bên trong, nổi bật lên một đồ vật có hình dạng đồ sộ. Chùm tia sáng soi rõ lớp bụi dày phủ trên vật ấy!

- Minh, xem kìa! Ngọc gần như nghẹn lời sau khi thốt ra câu vừa rồi. Trong một lúc, cả ba người đứng lặng người, không ai nói được một lời nào nữa.

Cái tủ chè trước mặt họ toát ra một vẻ cổ kính, thiêng liêng kỳ lạ, khiến cho họ tràn ngập một nỗi xúc động sâu xa. Mãi một lúc sau, Minh mới lên tiếng:

- Thật là tuyệt diệu! Trông không khác gì cái tủ ở đường Tự Do, cũng như cái trong căn nhà gỗ hết!

Thu sờ lên những đường chạm trổ trên bốn chân và hai bên hông tủ, trầm trồ:

- Cái tủ trong căn nhà gỗ cũng mang những đường nét y hệt như thế này!

Ngọc rọi đèn bấm lên cánh tủ và các ngăn kéo, nói tiếp:

- Và những hình sơn thủy nạm bằng ốc xà cừ này nữa! Cũng là mấy con chim khuyên chuyền trên cành hoa, hai ông tiên ngồi đánh cờ và mấy con rồng uốn khúc giữa đám mây. Nghệ thuật bắt chước mà lên đến mức này là nhất rồi.

Minh kéo thử ngăn tủ trên cùng. Ngăn này mở và đóng thật trơn như có thoa mỡ. Dù đã được làm ra từ gần hai trăm năm nay, mấy ngăn kéo và hai cánh tủ vẫn chắc và khít khao chẳng khác gì cái tủ mà ông Năm vừa hoàn thành hết.

Thu rút khăn trong túi chùi lớp bụi trên những hình chạm xà cừ. Nàng reo lên như một đứa trẻ con:

- Sướng quá! Không ngờ mình lại được may mắn như thế này.

- Suỵt, Minh thì thầm, ra hiệu cho bạn, Nói lớn quá, coi chừng ông bà Năm nghe được thì khốn đấy.

Ba cô gái yên lặng một lúc khá lâu. Cuối cùng có tiếng Thu:

- Bây giờ mình phải tìm xem bằng cớ gì thêm không. Dù biết đây là cái tủ thật rồi, nên có được bằng cớ gì thì lời nói mình vẫn có giá trị hơn chứ?

Họ cẩn thận mở từng ô kéo, tìm tòi từng ngăn nhỏ trên dưới xem có mảnh giấy hay chứng tích gì còn lại không. Nhưng tìm đi tìm lại mãi mà không thấy chi hết.

Tưởng rằng không còn hy vọng gì nữa, ba cô gái đóng hai cánh cửa và những ngăn kéo lại. Bỗng Minh reo lên:

- Ô kìa, có một tấm bảng đồng nhỏ ở ngay dưới cánh cửa tủ. Mình xem thử coi trên đó có khắc gì không?

Ngọc rọi đèn bấm sát vào cánh cửa. Ba cô gái chăm chú nhìn những dòng chữ trên tấm bảng. Minh thở dài:

- Ồ, toàn là chữ Hán thôi, làm sao tụi mình hiểu được?

Thu quan sát tấm bảng đồng thật kỹ rồi nói:

- Có thể đây là lời đề tặng của người đóng cái tủ cho Cụ Trần Phú. Trong những chữ này, tôi chỉ nhận được có mỗi ba chữ “Trần” và “Tiên sinh” thôi. Ngoài ra thì ngày tháng thì hai bồ cũng nhìn vào đây để biết được rằng thời gian gửi tặng cái tủ là năm 1803.

Minh rút cuốn sổ ghi chú và cây viết chì ra. Nàng xé lấy một mảnh giấy:

- Để tôi can ke những chữ khắc này rồi khi về trường báo tin, mình sẽ nhờ thầy Xương xem dùm. Thầy ấy là giáo sư Việt Văn, chắc phải rành chữ Hán lắm.

Ngọc đợi Minh làm xong mới hỏi:

- Bây giờ thì mình phải làm sao đây?

Thu nói:

- Tìm cách trốn ra và về trường báo tin chứ còn gì nữa. Ngừng lại vài giây rồi Thu tiếp:

- Nhưng vấn đề bây giờ là thoát ra ngoài bằng lối nào đây. Ông bà Năm dám thả hai con chó săn để lùng chúng mình lắm đó!

Sự lo ngại của Thu thật không sai chút nào. Ngay lúc ấy có tiếng chó sủa vang lên bên ngoài. Ba cô gái cảm thấy dường như họ chỉ ở cách mặt đất có một vách ngăn mỏng thôi. Quan sát phía trên trần căn hầm thật kỹ, họ nhận ra bốn lỗ thông hơi cỡ 20cm đường kính. Có lẽ bốn lỗ này được nối với phía trên bằng một hệ thống ống hơi đặc biệt, có ngụy trang ở khắp mặt đất. Minh chợt nhớ ra rằng phía bên trái tòa nhà là một bãi đất hoang có rào dây kẽm gai chi chít. Chắc hai con chó hung dữ kia đang sục sạo khắp bụi bờ để đánh hơi người lạ đây.

Khoảng một nửa giờ sau, tiếng chân rầm rập của ông bà Năm vang lên. Họ vào phòng khách một lần nữa. Có tiếng ông Năm:

- Nầy bà, chắc chúng không trở lại căn nhà gỗ đâu. Tôi vừa chạy lại xem xét rồi. Cái tủ vẫn còn y nguyên. Khóa và các cửa sổ đều gài chặt.

Không biết bà Năm nói léo nhéo câu gì mà ông chồng phải phân bua:

- Thôi mà, bây giờ bà trách tôi thì có ích lợi gì đâu? Để thủng thẳng rồi tôi tính mà. Chắc chắn chúng không thể nào thoát khỏi nơi đây được đâu!

Bà Năm vẫn giữ nguyên giọng hằn hộc:

- Ông bảo chúng vẫn còn quanh quẩn trong nhà này. Vậy thì chúng ở đâu? Cả giờ rồi mà cứ lải nhải mãi có một câu ấy không à! Còn hai con chó đâu? Ông đã thả chúng ra để kiếm bọn ấy chưa?

Ông Năm dịu giọng:

- Được rồi, bà cứ yên tâm. Mọi việc để tôi lo cho. Còn hai con chó thì tôi đã thả ra nãy giờ rồi. Chúng nó chạy đằng trời mới thoát khỏi tay tôi!

Nói xong, họ lại tiếp tục đi tìm ở những phòng khác vừa đi vừa réo tên ba cô gái ầm ĩ.

Bây giờ Thu, Minh và Ngọc cùng leo lên mấy bậc thang gần quan sát nắp hầm để lắng nghe động tĩnh. Tiếng chó sủa vẫn vang lên từ phía bên ngoài. Minh giơ tay nhìn chiếc đồng hồ dạ quang. Đã gần 12 giờ rồi. Ba cô gái đã bớt lo sợ, nhưng bắt đầu cảm thấy đói bụng. Chắc giờ này ông bà Năm đang ở dưới phòng ăn. Đợi một lát không còn nghe  thấy tiếng chân và giọng nói của ông bà Năm nữa, Thu nắm chặt cái chốt cửa hầm xoay ngược lại một góc chừng 30 độ. Cửa hầm từ từ hé mở. Hơi mát lùa vào giúp họ tỉnh táo hẳn ra.

Minh nói với Thu:

- Bồ cứ giữ yên cái chốt ở vị trí này đi, để tôi bò ra ngoài xem thử có gì lạ không.

     Cửa hầm hé mở vừa đủ cho Minh chui ra. Nàng khom người chạy vụt lại phía cửa ra vào. Hai con chó săn đã được cột vào cổng ngoài bằng một sợi dây dài chừng ba thước. Chúng đang nhe răng nanh, lè lưỡi, rãi chảy lòng ròng, sẵn sàng chờ đợi những kẻ muốn thoát ra ngoài.

Bỗng hai con chó quay về phía phòng khách sủa vang. Minh vội chui tọt vào hầm. Thu xoay cái chốt trở về vị trí cũ. Nắp hầm hạ xuống kéo theo bóng tối tràn ngập chung quanh.

Minh thì thầm:

- Hết đường chạy rồi. Ông bà Năm cột hai con chó ở ngoài cổng để canh tụi mình. Phải tính lối nào khác mới được!

Thu nói nhỏ:

- Mình phải làm sao báo cho nhà trường biết, muộn nhất là tối nay thì mới kịp được!

Ngọc nhăn mặt:

- Làm sao thì làm, đến tối nay mà chưa có cái gì ăn thì dám bỏ xương chốn này lắm đó!

Ba cô gái lại trở xuống phía dưới. Vừa mệt vừa đói, họ dựa lưng vào vách rồi thiu thiu ngủ lúc nào không biết.

Khi tỉnh dậy, nhìn đồng hồ tay thì Minh thấy đã hơn bốn giờ chiều rồi. Nàng lay hai cô bạn dậy. Cả ba vừa tỉnh ngủ thì cảm giác cồn cào lại đến xâm chiếm bao tử họ. Vi trùng đói như những sợi dây cước cứ tiếp tục thắt chặt cái túi trống rỗng là cõi lòng của họ mà từ sáng đến giờ mới chỉ tiếp nhận có mỗi một bữa ăn vội vã mà thôi.

Mấy năm trước trong giờ Việt Văn, họ đã được thưởng thức đoạn văn tả cái anh chàng Sinh nào đó, bụng đói meo, đứng trên gác trọ ngửi mùi xào nấu thơm phưng phức ở dưới nhà xông lên mà lòng đau như cắt. Họ đâu có bao giờ tưởng tượng nổi cái cảm giác đói nó lại mãnh liệt như thế này. Nãy tới giờ có được uống ly nước nào đâu mà sao họ cảm thấy như có một thứ chất lỏng kỳ lạ thỉnh thoảng lại cuồn cuộn lên trong bụng.

Chợt phía trên phòng khách có tiếng ông bà Năm vọng xuống. Ba cô gái lần lên mấy bậc thang sát nắp hầm để nghe cho rõ.

Giọng nói đầy uy quyền của bà Năm vang lên trước:

- Ông về phòng lấy cho tôi cuốn Kinh Thánh.

Ông Năm ngần ngại:

- Nhưng mình đã đọc mấy lần rồi mà có thấy gì mới lạ đâu?

Bà vợ quát:

- Ông có đi lấy hay không thì bảo!

Có tiếng nói líu ríu gì đó của ông chồng, các cô không nghe rõ. Chẳng biết tiếp theo là mấy phút yên lặng hoàn toàn trước khi ông Năm lại bước vào phòng.

Bà Năm đỡ lấy cuốn Kinh Thánh ông chồng vừa đưa. Bà ta lật qua lật lại một lúc rồi hỏi ông chồng:

- Mảnh giấy nhỏ kẹp trong này đâu rồi?

Ông Năm ấp úng:

- Tôi đâu có biết.

Bà vợ giận dữ:

- Hừ, cái gì cũng không biết! Chiều hôm qua tôi còn thấy nó ở trong này mà? À, có phải tối hôm qua ông đưa cuốn sách cho bọn chúng xem không? Hèn chi mà chẳng mất!

Ông chồng cố bào chữa:

- Tôi đâu có đưa. Bọn chúng lẻn vào mở ra coi đấy chứ! Nhưng mà không hề gì đâu. Tôi có ghi lại những câu ấy ở ngoài lề trang sách cuối cùng rồi.

Bà Năm dậm chân:

- Nhưng vậy thì chắc chắn chúng đã bỏ túi mảnh giấy ấy và giải đoán ý nghĩa các câu đó rồi. Chúng đã tìm được chỗ giấu cái tủ, tại sao tôi với ông lại không tìm ra nhỉ?

Ở dưới hầm, ba cô gái toát mồ hôi. Ngọc run run giọng hỏi Minh:

- Chết rồi, họ đoán được thì sao?

Minh bình tĩnh hơn:

- Đừng lo, họ chắc không hiểu nổi đâu!

   Bà Năm đọc câu Kinh Thánh thứ nhất. Nghe dứt câu ông chồng lẩm bẩm:

- Con của sự sáng… Tôi thắc mắc về hai chữ “sự sáng” này. Hay đây nói về một căn phòng sáng sủa? Trong nhà này, căn phòng nào sáng sủa nhất?

Bà Năm ngập ngừng:

- Dĩ nhiên là phòng nào có nhiều cửa sổ thì phải sáng nhất chứ. Nhưng không biết…

Ông Năm reo lên:

- Chúng ta đang ở trong căn phòng có nhiều cửa sổ nhất đây. Và cũng là phòng sáng nhất nữa.

Bà Năm vò đầu:

- Như vậy mà sao mấy hôm trước mình không nghĩ ra nhỉ? Nhưng còn phần sau nữa. Để tôi đọc thử xem nào.

Ông Năm nói:

- Đọc Kinh Thánh này mà suy nghĩ thì cũng hay đấy chứ. Chẳng hạn như câu có hai chữ “sanh lại”. Tôi chẳng hiểu câu ấy nói gì hết….

Bà vợ ngắt lời:

- Thôi, đừng nói chuyện ấy nữa đi. Ông đã gây ra khá nhiều rắc rối kể từ lúc ông hỏi chúng nó về ý nghĩa mấy câu Kinh Thánh đó đấy nhé!

Ông Năm ấp úng:

- Thì tôi có nói gì đâu? Chẳng qua mấy câu có gạch đỏ ở dưới làm tôi hơi thắc mắc một chút thôi mà.

Bà Năm gắt:

- Thôi, ông im đi! Để cho người ta suy nghĩ một lát.

Nói rồi bà ta liền đi ra khỏi phòng. Ông chồng cũng đi ra theo.

Từ nãy đến giờ, ba cô gái vẫn chăm chú nghe những tiếng nói ở trên vọng xuống. Ngọc ngồi im một lát rồi quay sang Minh:

- Minh à, tôi cũng thắc mắc giống như ông Năm vậy. Bồ biết không, đêm hôm trước tôi thao thức mãi, suy nghĩ đến những điều bồ nói cho tôi nghe về Đức Chúa Giê-xu Christ.

Minh nắm bàn tay cô bạn:

- Tôi rất mừng thấy bồ suy nghĩ về những điều đó. Nhưng suy nghĩ không chưa đủ. Chúng ta còn phải xưng tội mình ra và đặt trọn vẹn niềm tin nơi Chúa là Đấng đã chết thay cho tội lỗi chúng ta. Ngài sẽ gìn giữ chúng ta trên mọi bước đường.

Ngọc hỏi tiếp:

- Nhưng “sanh lại” nghĩa là gì?

Minh dịu dàng giải thích:

- Đó là một việc rất đơn giản. Chúng ta chỉ cần cầu xin Chúa tẩy xóa tội lỗi mình và biến đổi mình thành con người mới trong Ngài.

Ngọc nhíu mày:

- Tôi vẫn chưa hiểu hoàn toàn!

Minh nói thật chậm rãi:

- Đây nhé, trước hết chúng ta là những tội nhân. Kinh Thánh chép rằng tất cả chúng ta đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Một khi đã phạm tội, chúng ta phải trả giá cho tội lỗi mình bằng sự chết của chính chúng ta. Sự chết này không phải sự chết thông thường của xác thịt đâu, nhưng là chết thuộc linh đời đời. Nghĩa là đối với những kẻ không tin nhận Chúa, linh hồn họ sẽ hư mất đời đời nơi địa ngục, sau khi họ lìa bỏ thế gian này để trở về cát bụi. Nhưng khi tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của mình, chúng ta xưng mình là tội nhân cần được Ngài cứu rỗi. Rồi chúng ta sẽ đặt trọn niềm tin nơi Chúa và sống một cuộc đời mới cho Ngài. Như thế là chúng ta đã được “sanh lại” rồi đó.

Ngọc cắn môi không nói lời nào. Minh tiếp tục:

- Cũng giống như chúng ta chợt biết mình đang đi sai đường. Công việc đầu tiên là quay lại và hướng về con đường đưa chúng ta đến nơi phải đến. Tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa cũng chẳng khác như vậy đâu. Trước đây, chúng ta đi theo Satan trên con đường lầm lạc. Nhưng khi biết Chúa chúng ta sẽ quay lại để bước theo Ngài trên lối đi chân thật và bình an.

Ngọc ngập ngừng:

- Nhưng tôi không thể sống một cuộc đời đạo đức được. Tính tôi ham vui và ưa làm những điều mình muốn.

Minh nói:

- Chẳng ai trong chúng ta có thể tự sức mình mà sống cuộc đời tốt đẹp được hết. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta sống theo ý riêng. Khi chúng ta đặt hết niềm tin nơi Chúa. Ngài sẽ giúp chúng ta sống cuộc đời mình phải sống.

Ngọc nói bằng giọng run run:

- Minh… bồ… giúp tôi cầu nguyện đi!

Thu cười:

- Trời đất! Không ngờ có ngày mình lại được chứng kiến cái cảnh lâm ly bi đát như thế này chứ!

Nhưng Ngọc và Minh không còn nghe thấy Thu nói gì nữa. Ngọc bắt đầu cầu nguyện:

- Lạy Đức Chúa Trời, Ngài biết rằng con đã đi lầm đường. Con đã làm theo ý riêng mà không hề nghĩ đến Chúa hoặc làm những gì Ngài muốn con làm. Con biết con là tội nhân đáng bị hư mất đời đời. Cầu xin Ngài ngự vào lòng con và cứu rỗi con.

Buổi chiều hôm đó thực là buổi chiều dài nhất trong đời ba cô gái. Chốc chốc, họ lại bấm đèn xem mấy giờ rồi. Kim đồng hồ dường như chẳng hề nhúc nhích. Từng phút, từng phút chậm chạp trôi qua cùng với cơn đói mỗi lúc một tăng khiến họ bứt rứt thêm.

Đứng ngồi đều không yên, ba cô gái phải kiếm đủ thứ chuyện để nói cho quên cái cảm giác nôn nao càng lúc càng dâng lên cao hơn trong lòng. Thu nuốt nước bọt:

- Chà! Bây giờ mà có phở ở đây thì phải biết. Tôi sẽ ăn liền một hơi ba tô cho hai bồ coi!

Ngọc xuýt xoa:

- Tôi không khoái phở. Chóng ngán lắm! Giá có bà hàng bún chả ở đây thì chỉ riêng phần tôi không cũng phải gần hết nửa gánh rồi!

Minh nhắm mắt lại:

- Ước gì bây giờ có một dĩa bánh cuốn to bằng cái khay nhỉ! Bánh cuốn nhân thịt có rắc một dúm hành phi thật giòn, chấm với nước mắm chanh ớt pha nhiều đường một chút. Nghĩ đến đây thôi cũng đã thấy đau cổ họng rồi! Để bao giờ về Sài gòn tôi sẽ dẫn hai bồ đi ăn bánh cuốn Đakao.

Thu thở dài:

- Cứ ngồi đây mà tưởng tượng thì chỉ thêm thèm thôi. Mình phải tính coi có cách nào không chứ?

Minh gật đầu:

- Được rồi, bồ ráng đợi một chút nữa đi. Tối tối một chút mình làm gì cũng dễ hơn.

Buổi chiều qua dần và bóng đêm đã bắt đầu buông xuống trên vạn vật. Nhưng bên trong căn hầm, vẫn chỉ có màn tối dầy đặc bao quanh. Ba cô gái nhìn cây kim chỉ giờ nhích từng chút một. Tám giờ, tám rưỡi, chín giờ, mười giờ lặng lẽ trôi qua…

Đúng mười hai giờ đêm. Đã đến lúc hành động. Ba cô gái cùng đứng dậy một lượt. Minh xoay cái chốt một phần tư vòng tròn. Nắp hầm hé mở vừa đủ cho nàng chui đầu ra nghe ngóng. Yên lặng hoàn toàn.

Minh bảo Thu mở rộng nắp hầm ra. Ba cô gái bước lên phòng khách, hít không khí mát lạnh của trời đêm cho đầy lồng ngực. Họ rón rén tiến về phía cửa sổ, mở hé một cánh, nhìn ra ngoài:

Bốn bề vắng ngắt. Tiếng thở hổn hển của hai con chó săn từ ngoài cổng vọng vào nghe rõ mồn một. Dưới bầu trời vằng vặc ánh sao, bóng dáng chúng nổi bật lên, toát ra một vẻ đe dọa làm ba cô gái nổi gai ốc khắp người.

Đáng sợ hơn nữa là hai sợi dây cột chúng vào cổng ngoài bây giờ đã được tháo ra để chúng có thể tự do đi lại quanh sân nhà.

Ngọc le lưỡi nhìn Minh:

- Chết rồi, như vầy thì làm sao thoát nổi đây?

Minh vỗ vai bạn:

- Yên chí. Mình nên kiếm cái gì dằn bụng trước đi rồi chuyện đó tính sau.

Thu nêu ra ý kiến:

- Tại sao mình chẳng xuống nhà bếp lục coi có cái gì ăn được không nhỉ?

Nói xong, Thu ra lệnh cho Minh đợi ở hầm rồi cùng Ngọc đi xuống nhà bếp theo lối cửa sổ phòng bên cạnh.

Họ men theo bóng tối ở sát vách tường tòa nhà lớn, cho tới chỗ đối diện với nhà kho thì chạy vụt sang, nép sau chiếc cầu thang dẫn lên căn gác xép. Chờ một lát không thấy ai, họ rón rén bước tới, đẩy cửa nhà bếp.

Sau khi đã gài cửa sổ và cửa ra vào lại, Ngọc bấm đèn pin rọi lên mấy ngăn tủ. Họ tìm thấy sáu củ khoai lang, mỗi củ to bằng bắp chuối, một chai nước lọc và một gói khô nai.

Thu cởi áo lạnh ra, gói mấy củ khoai lại. Ngọc xách chai nước và gói khô nai, hé cửa, nhìn về phía phòng ông bà Năm. Cửa phòng và hai cửa sổ phòng vẫn đóng chặt.

Hai cô gái lách mình qua khe cửa, men theo lối cũ trở lên phòng khách. Minh đón họ ở đầu bậc thang dẫn xuống hầm.

Khi nắp hầm đã đậy kín, Thu mở gói, trao cho Minh một củ khoai:

- Khoai chưa luộc, nhưng ăn vào cũng chẳng chết được đâu.

Ngọc cười, tiếp lời Thu:

- Mà có chết vì đau bụng cũng còn sướng hơn là chết vì đói, Minh nhỉ?

Minh dùng vạt áo, lau cho sạch những hạt cát dính trên vỏ khoai, vui vẻ nói:

- Ăn khoai sống cũng có cái vị ngọt đặc biệt của nó chứ!

Ba cô gái nhai khoai sống rạo rạo. Cơn đói dữ dội lúc nãy bị đàn áp thật mau lẹ. Và trong một thoáng, chỉ còn lại có hai củ khoai mà thôi.

Sau khi mỗi người đã làm một bụng nước no nê, Thu giơ gói khô nai lên:

- Và đây là phần hai chú lính gác cửa.

Minh hiểu ý Thu:

- Nghĩa là mình sẽ dùng gói khô nai này để dụ hai con chó săn đó?

Thu gật đầu:

- Trong lúc chúng tranh nhau gói khô thì mình lẻn ra.

Ngọc thắc mắc:

- Tụi mình đi hết ba đứa chứ?

Minh lắc đầu:

- Không, tôi thấy mình nên để một người ở lại đây canh cái tủ chè chứ!

Thu nói:

- Đồng ý, nhưng ai chịu ở lại đây?

Sau một hồi bàn tán, họ quyết định một cách là bắt thăm để xem ai được đi, ai phải ở lại.

Thu móc trong túi áo ra một đống bạc cắc. Nàng giao hẹn:

- Mỗi đứa sẽ tung đồng tiền này lên một lần. Nếu hai đứa sấp, một đứa ngửa, hoặc hai đứa ngửa, một đứa sấp thì đứa lẻ loi ấy sẽ phải ở lại đây canh cái tủ.

Đồng tiền cắc được gieo lên ba lần. Kết quả là Thu nhận được một bó lúa, Ngọc và Minh gieo trúng mặt có chữ.

Họ sửa soạn lên đường. Nắp hầm được mở ra cho ba cô gái chui lên. Thu xé khô nai ra thành những miếng nhỏ bằng ba ngón tay ghép lại. Cô cũng để ra một miếng lớn bằng bàn tay rồi vo tròn tất cả những miếng ấy cho dễ ném.

Trong lúc Thu mở cửa sổ, bắt đầu quăng mấy miếng thịt nai cho hai con chó, Ngọc và Minh khẽ xoay chốt cửa ra vào phòng khách, hé cánh cửa nhìn ra ngoài chờ đợi.

Hai con chó có vẻ khoái món thịt nai khô lắm. Thu tung ra miếng nào, chúng nuốt chửng miếng nấy. Chúng không ngờ rằng cứ mỗi lần ném một miếng mới, nàng lại ném ra xa hơn. Chúng đã dần dần bị kéo từ cổng ngoài vào đến khu bụi rậm ở hàng rào phía bên trái tòa nhà.

Thu quăng miếng thịt lớn vào giữa bụi cây. Hai con vật cùng xộc vào tìm kiếm. Thừa dịp này, Ngọc và Minh lao vội ra cổng, cắm đầu chạy mải miết cho đến lúc hơi thở của họ gần như tắc nghẽn.

Hai cô gái khuỵu xuống kế bên một gốc cây lớn ven đường.
Đăng nhập để trả lời
1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 03.08.2026 23:05>

CHƯƠNG MƯỜI HAI: THOÁT HIỂM



Thu khoan khoái nhìn bóng hai bạn khuất sau mấy bụi cây phía trước, trong lúc đôi chó săn vẫn mãi sục sạo đằng kia. Tới khi chúng quay ra thì chắc Ngọc và Minh đã chạy được một quãng rất xa, bởi vì hai con chó chỉ đi tới cổng là dừng lại ngay chứ không hề hay biết rằng chúng đã vừa để xổng mất hai tù nhân quan trọng của chủ chúng.

Thu đóng cửa ra vào và cửa sổ lại như cũ rồi bước xuống hầm, vặn chốt. Nắp hầm đóng chặt. Nàng thở phào nhẹ nhõm. Ít ra thì cũng đã xong đến tám phần mười công việc rồi. Bây giờ chỉ còn trông sao cho Ngọc và Minh báo tin kịp về trường nữa là mọi việc kể như hoàn tất.

Thu yên tâm xuống hết mấy bậc thang. Rồi tựa lưng vào vách, nàng thiếp ngủ lúc nào không biết…

Tiếng chó sủa vang phía trên vọng vào khiến cho nàng tỉnh giấc. Thu giật mình nhìn chiếc đồng hồ dạ quang. Đã tám giờ rưỡi. Vậy mà nàng cứ tưởng như mới khoảng 5 giờ sáng.

Thu đứng dậy vươn vai cho tỉnh táo. Chân nàng dẫm phải củ khoai còn lại đêm qua. Thu cúi xuống nhặt lên, vừa gặm vừa nghĩ tới những việc có thể xảy ra.

Giờ này không biết Minh và Ngọc đã về đến trường chưa? Đêm rồi hai cô gái ngủ ở đâu? Ra đi vào lúc đó thì làm gì có xe? Còn nếu chờ xe đò thì sớm nhất là sáu giờ xe mới chạy. Hơn chín giờ mới tới Đà Lạt. Rồi còn từ bến xe về trường nữa. Chẳng biết có gặp bà Hiệu Trưởng và Ban Giám Đốc không? Mà gặp họ rồi, chắc gì họ đã tin và chịu đi liền?

Thu lại trách mình sao quên không dặn Minh và Ngọc kiếm cái điện thoại ở Sông Pha, gọi thẳng về trường cho nhanh chóng hơn. Chẳng biết hai cô bạn nàng có nghĩ ra điều ấy không?

Đang miên man với những ý tưởng ấy thì Thu chợt nghe có tiếng chân và tiếng người nói chuyện từ phía trên vọng xuống. Nàng vội bò lên mấy bậc thang đến sát nắp hầm để nghe ngóng.

Ông bà Năm vừa bước vào phòng. Từ sáng tới giờ, họ đã lục lọi khắp nơi thật kỹ lưỡng. Không một chỗ nào mà họ không xông vào tìm kiếm hết. Mấy củ khoai, chai nước và gói khô nai biến mất đã khiến họ giận tưởng điên người lên được. Ông Năm nói:

- Chắc chúng nó còn ở trong nhà này. Nếu không thì mấy món đó biến đi đâu?

Bà Năm dậm chân:

- Tôi mà bắt được chúng nó bây giờ thì phải biết!

Ông Năm bước tới mở hết mấy cánh cửa sổ ra. Giọng ông ta đầy vẻ hớn hở:

- Mình phải tìm kỹ căn phòng này một lần chót mới được. Đây là căn phòng sáng nhất trong nhà này mà. Thế nào chúng cũng trốn quanh quẩn đâu đây mà thôi.

Bà Năm tin tưởng:

- Chắc chắn chúng vẫn còn trốn trong này, cùng chỗ với nơi giấu cái tủ. Hai con chó mình thả rông suốt đêm, làm sao chúng có thể thoát ra ngoài nổi?

Ông chồng tiếp lời:

- Nhưng chúng có thể lánh mặt mình đến bao giờ! Muộn lắm là tối nay, thế nào chúng cũng phải bò ra. Bà với tôi sẽ ngồi yên ở đây để chờ chúng nó.

Bà vợ gắt:

- Việc gì phải đợi đến tối nay? Mình phải tìm ra chỗ trốn của chúng nó ngay bây giờ mới được. Còn phải giam chúng vào một nơi cho chúng khỏi chạy về trường báo tin nữa chứ!

Bà ta đứng dậy, đi đi lại lại quanh phòng. Rồi chợt vỗ trán, bà ta chỉ tay vào lò sưởi:

- À, phải rồi. Chúng dám trốn ở dưới này lắm đó. Lúc trước người ta ưa làm hầm dưới lò sưởi để trốn cướp đây mà.

    Ông Năm đứng bật dậy như một chiếc lò xo. Ông ta nhanh nhẹn phóng tới, rờ mó từng vuông gạch trong lò sưởi. Bà Năm cũng dáo dác nhìn bốn góc lò và ống khói.

Ở dưới hầm, mồ hôi toát ra ướt đẫm trán Thu. Chân tay nàng run lẫy bẫy. Chết rồi! Ông bà Năm bắt được nàng bây giờ thì chỉ có nước chết mà thôi. Chỉ nội nghĩ đến việc ông bà ấy xuýt chó cho cắn nàng cũng đã khiến Thu nổi gai óc khắp người rồi. Hoặc họ có thể khiêng gạch đá xây bít nắp hầm cho nàng chết khô dưới đó luôn. Nghĩ đến đây Thu cảm thấy lạnh buốt từ đầu đến chân.

Giữa khi ấy thì có tiếng chân giậm thình thình trên nắp hầm. Ông Năm kêu lớn:

- Á à! Sao chỗ gạch này lại có vẻ rỗng như vậy?

Ông ta dậm thêm mấy cái nữa. Nắp hầm làm bằng sắt nên những âm thanh thình thình vang lên khiến tai Thu lùng bùng. Nàng lùi xuống phía dưới để đỡ phải nghe những tiếng chát tai ấy.

Giọng nói của bà Năm vọng xuống:

- Chắc đây là cái nắp hầm. Ông thử kiếm xem có cái nút hay cái chốt nào không?

Yên lặng một lúc lâu, rồi bỗng có tiếng reo mừng rỡ của ông Năm:

- Bà ơi, tới đây coi này. Sao ở trên ống khói lại có một cái tay nắm sắt như vầy?

Ở bên dưới, Thu vội ghì chặt lấy cái chốt mở nắp hầm. Có tiếng ghế kéo lê trên sàn nhà về phía lò sưởi. Ông Năm leo lên ghế, với tay xoay cái chốt. Thu cảm thấy hai tay mình tê dại. Nàng cắn răng giữ chặt, không cho tay nắm nhúc nhích.

Ông Năm ra sức vặn chốt, nhưng nó cứ ì ra đó. Khoảng trống ở trong ống khói lò sưởi quá nhỏ hẹp nên rất khó cho ông ta xoay xở. Trong khi đó thì Thu ở sát bên cái chốt nên nàng được lợi thế hơn.

Có tiếng the thé của bà Năm:

- Chắc chúng nó gài khóa bên dưới rồi. Tôi với ông ra sân coi. Thế nào cũng có mấy cái lỗ thông hơi. Mình cứ nhắm mấy cái lỗ ấy đào xuống là gặp ngay cái tủ thôi.

Hơi lạnh từ trên cây tỏa xuống, gió đêm thổi nhẹ khiến Ngọc và Minh cảm thấy dễ chịu hơn. Minh giơ tay nhìn đồng hồ:

- Gần một giờ rồi. Mình cứ về tới chợ trước đã. Sau đó sẽ tính.

Hai cô gái hăng hái đứng dậy tiếp tục bước đi. Chung quanh họ, cảnh vật như chìm đắm trong bóng đêm mờ mịt. Tiếng côn trùng rả rích từ các bụi cỏ ven đường càng làm tăng vẻ bí mật của trời đêm. Minh nắm chặt tay Ngọc. Lối đi trước mặt họ hiện ra mờ mờ từng khúc ngắn. Những thân cây thấp hai bên đường theo gió lay động trông chẳng khác gì những hình nhân vẫy tay mời gọi. Hai cô gái cắm cúi bước mau. Chẳng mấy chốc họ đã tới đường cái.

Cây cầu sắt hiện ra trước mặt họ. Nước dưới chân cầu dội lên những âm thanh róc rách thật đều đặn. Họ bước qua cầu rồi bắt đầu vừa đi vừa chạy. Tiếng chân thình thịch vang lên trong bầu không khí vắng lặng khiến cho họ thỉnh thoảng quay nhìn về phía sau. Khi đã yên trí rằng ngoài họ ra chẳng còn ai đi trên đường vào giờ này nữa, họ cảm thấy quen dần và hăng hái bước mau.

Tới một khúc quanh, họ vừa đi chậm lại một chút thì bỗng từ phía dưới đường, hai bóng đen nhảy lên cùng lúc với tiếng quát khiến họ rụng rời tay chân.

- Đứng lại!

Hai cô gái không còn hồn vía nào nữa. Trong giây phút họ tưởng mình sắp ngất xỉu đến nơi. Sự kinh hãi khiến cho họ rũ liệt toàn thân. Họ đứng như bị dính chặt trên mặt đường nhựa, miệng há hốc ra.

Hai bóng đen tiến đến gần. Bây giờ thì họ đã nhận ra đó là hai người lính đội mũ sắt, súng dài lăm lăm trên tay.

Minh bình tĩnh lại. Nỗi sợ hãi vừa qua đã nhẹ bớt rất nhiều. Vì khi thấy vẻ hoảng hốt của hai cô gái, người lính chống báng súng xuống đất, dịu giọng hỏi:

- Hai cô đi đâu mà giờ này còn ở đây?

Minh đáp:

- Chúng tôi là học sinh trường Thiên Phước ở Đà Lạt, đến đây để tìm cái tủ chè cho nhà trường. Bây giờ tìm thấy rồi nên phải báo tin gấp về để nhà trường đến lấy.

    Thấy hai người lính vẫn còn ngơ ngác, chưa hiểu nàng nói gì, Minh phải kể lại đầu đuôi câu chuyện, từ lúc ba cô gái bắt đầu rời khỏi trường cho tới lúc tìm thấy cái tủ và chạy trốn ông bà Năm như thế nào. Cuối cùng nàng hỏi hai người lính:

- Hai ông có thể giúp chúng tôi liên lạc điện thoại về trường được không?

Một người lính trả lời:

- Máy truyền tin của chúng tôi chỉ liên lạc được với chi khu thôi. Nếu các cô muốn gọi về trường thì phải nhờ máy lớn hơn mới được.

Hai người lính dẫn Minh và Ngọc đến gặp ông Trung sĩ trưởng toán. Hai cô được biết đây là tiểu đội phục kích của chi khu gởi ra. Sau khi nghe Minh kể rõ đầu đuôi, ông Trung sĩ gọi máy về chi khu trình với sĩ quan trực. Một lát sau, từ phía quận, chiếc xe Jeep phóng tới nơi. Người sĩ quan trực bước xuống. Ông ta vẫn còn trẻ lắm, chắc mới ra trường được chừng vài ba năm nay thôi.

Một lần nữa Minh lại trình bày tất cả cho ông ta nghe. Nàng kết luận:

- Thưa Thiếu úy, kỳ hạn sáu tháng chỉ còn có ngày hôm nay nữa là hết rồi. Hơn nữa, bạn tôi hiện đang kẹt dưới căn hầm cùng với cái tủ. Xin Thiếu úy vui lòng giúp chúng tôi gọi về trường để nội trong sáng nay, bà Hiệu trưởng sẽ đến nhận cái tủ cho kịp.

Ông Thiếu úy gật đầu:

- Được rồi, mời hai cô lên xe. Tôi sẽ liên lạc giúp hai cô.

 Hai cô gái leo lên ngồi chung băng trước. Chiếc xe rú ga rồi chồm nhanh về phía trước mặt, hai chùm tia sáng quét thành một vùng chói chang, soi rõ một khoảng rộng dưới mặt đường. Không đầy năm phút sau, họ đã tới nơi.

Người sĩ quan trực mời họ ngồi ghế, rót nước trà nóng cho họ uống. Rồi ông ta tiến lại bàn, nhấc điện thoại lên:

- Cho tôi Long Thành.

Quay lại phía hai cô gái, ông ta nói sau vài giây im lặng:

- Đà Lạt đang bận. Phải chờ một lát. À, hai cô có biết số điện thoại của bà Hiệu Trưởng không?

Minh rút cuốn sổ tay trong túi ra. lật kiếm từng trang. Mấy giây sau nàng reo lên:

- Đây rồi, may quá. Số 2091, thưa ông!

Ông Thiếu úy lại nhấc ống nghe lên trong lúc hai cô gái nôn nóng chờ đợi từng nét thay đổi trên khuôn mặt ông ta:

- Cho tôi Long Thành… À, Long Thành đấy hả? Cho tôi 2091 đi bồ…

Phía đầu dây bên kia, những tiếng reng reng kéo dài từng hồi đều đặn. Người sĩ quan trao ống liên hợp cho Minh:

- Cô nghe đi, bà ta sắp trả lời đấy!

Chuông reo chừng bốn hồi thì ngưng bặt. Có tiếng nói quen thuộc của bà Hiệu Trưởng:

- Alô, Hiệu Trưởng trường Thiên Phước, tôi nghe đây!

Minh run run giọng:

- Thưa cô, em là Minh đây. Chúng em Thu, Ngọc và Minh đã tìm thấy cái tủ rồi!

Giọng nói của bà Hiệu Trưởng đầy vẻ ngạc nhiên pha lẫn vui mừng:

- Giỏi lắm! Nhưng khuya khoắt như thế này, các em hiện đang ở đâu đây?

Minh đáp gọn:

- Thưa cô, Ngọc và em đang ở trong chi khu Đơn Dương, riêng Thu thì vẫn còn kẹt dưới căn hầm trong nhà bà Phương.

Bà Hiệu Trưởng hốt hoảng:

- Chết! Như vậy có nguy lắm không?

Minh trấn an bà ta:

- Thưa cô, chắc không sao đâu vì hầm ấy có chốt khóa lại được. Nhưng xin cô và các thầy xuống ngay cho. Chúng em mong cô từng phút một đây.

Bà Hiệu Trưởng đáp nhanh:

- Được rồi, để sáng sớm, cô sẽ mời thầy Hồng và vài thầy nữa cùng đi xuống đó. Các em cứ yên tâm nhé.

Ngọc và Minh cảm thấy nhẹ hẳn người đi. Họ nói mấy lời cảm ơn người sĩ quan trực. Ông ta mở tủ, lôi ra một tấm chăn dạ. Rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep đậu ngoài cửa, ông ta nói:

- Hai cô có thể nghỉ tạm ở băng sau cho đỡ mệt. Trông hai cô có vẻ phờ phạc lắm đấy.

Vừa nói ông ta vừa trao tấm chăn cho họ.

Hai cô gái dựa đầu lên lưng ghế, ngủ mơ màng cho đến lúc ông Thiếu úy từ trong phòng bước ra gọi họ dậy. Ông ta nói:

- Hết phiên trực của tôi rồi. Bây giờ mời hai cô ra ngoài kia ăn sáng với tôi.

Ông ta chở họ ra một quán điểm tâm ngoài chợ, đãi họ hủ tiếu và bánh bao. Thức ăn nóng và ngon lành giúp hai cô gái tỉnh táo hơn nhiều. Sau đó họ được đưa trở lại cổng chi khu. Ông thiếu úy dặn mấy người lính gác cho họ ngồi ở đây trong khi chờ xe của nhà trường tới đón.

Trước khi từ giã, hai cô gái cho ông ta biết tên và mời ông ta khi nào rảnh ghé lại trường gặp họ.

Tiếng cuốc xẻng nghe rõ từng nhát một phía trên đầu Thu gần chỗ có mấy ống thoát hơi. Tiếng động mỗi lúc một rõ hơn, cùng với nỗi lo sợ của nàng càng lúc càng gia tăng. Từ nãy đến giờ cũng đã gần ba mươi phút, ông bà Năm ra sức đào xới. Cả một khoảng đất rộng bằng hai cái chiếu, sâu cỡ bốn tấc đã được xới lên. Đất vụn hất tung tóe chung quanh đó. Ông Năm bà Năm mặt mũi đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại, dường như chẳng còn để ý đến bất cứ việc gì xảy chung quanh nữa. Hình ảnh duy nhất trong tâm trí họ bây giờ là cái tủ chè quí giá đang ở cách họ chỉ vài ba lớp đất nữa thôi. Bằng mọi giá, họ phải lấy cho được cái tủ trước khi nhà trường tới nhận. Bởi vì biết đâu một trong ba đứa con gái ấy lại chẳng trốn về từ hôm qua để báo tin cho nhà trường về việc này? Nghĩ đến điều ấy họ lại càng căm tức hơn. Những nhát cuốc tới tấp bổ xuống lòng đất vô tội như muốn trút dùm họ bao nỗi bực bội trong người.

Ở dưới này, Thu có cảm tưởng là căn hầm sắp sụp đến nơi rồi. Đất và bụi theo ống thông hơi xuống, văng tung tóe quanh chỗ nàng ngồi. Mấy lần Thu đã mở nắp hầm, chui ra ngoài. Nhưng cả mấy lần đó, nàng đều phải vội vã chui tọt vào hầm trở lại: hai con chó săn quái ác vẫn nhe nanh, lỡn vỡn ngay dưới cửa ra vào của phòng khách.

Bây giờ nàng chỉ còn mỗi một cách là nép sát vào vách tường bên cạnh những nấc thang dẫn xuống hầm. Ngồi ở đây thì nếu căn hầm có sập thì nàng cũng còn chút hi vọng thoát khỏi những viên gạch đè lên người.

Nhưng giữa lúc Thu đang ở trong tình trạng thập phần nguy khốn ấy thì từ xa xa, nàng nghe văng vẳng tiếng động cơ xe hơi vọng lại. Mừng rỡ, Thu đứng bật dậy. Tiếng máy xe càng lúc càng rõ dần, kèm theo tiếng còi bóp inh ỏi. Không còn nghi ngờ gì nữa, Thu mắm môi xoay mạnh chốt mở nắp hầm.

Vừa lúc ấy thì hai chiếc xe sơn màu trắng có huy hiệu của nhà trường thắng gấp trước cổng. Đôi chó sủa vang, nhưng vừa sủa vừa giật lùi về chỗ ông bà Năm đang đứng, bởi vì những người trên xe đều nhảy xuống một lượt.

Từ chiếc xe Jeep nhảy xuống có bà Hiệu Trưởng, thầy Hồng, ông luật sư, Ngọc và Minh. Bác tài xế và ba ông lao công của trường cũng đã phóng khỏi chiếc xe chở hàng phía sau.

Thu chạy ra ôm chầm lấy Ngọc và Minh, lúc ấy cũng đang chạy về phía cô. Trước cảnh ấy, ông bà Năm ngượng ngùng bỏ cuốc xẻng, quay về phòng của họ.

Minh mời mọi người xuống hầm. Lần này thì thầy Hồng có đem theo cây đèn rọi lớn nên họ bước xuống mấy bậc thang thật dễ dàng. Không đầy nửa giờ sau, cái tủ chè đã được khiêng lên và ràng thật êm ái trên chiếc xe chở hàng. 

Bà Hiệu Trưởng dẫn ba cô gái ra phía sau chào ông bà Năm. Bà ta mở bóp lấy ra tờ giấy 1000 đồng đưa cho bà Năm để bồi thường gói khô nai gần một ký mà ba cô nữ sinh của bà đã “mượn đỡ” trong bếp tối hôm trước. Riêng Thu thì nàng không quên lễ phép nói với ông bà Năm:

- Thưa ông bà, khoảng đất trống ông bà vừa xới lên, chắc là để trồng gì phải không? Nếu ông bà cho phép, chúng tôi sẽ xin bà Hiệu Trưởng một ít khóm hoa hồng thật đẹp để gửi biếu ông bà trồng ở chỗ đất ấy.

Nói xong nàng quay qua Minh và Ngọc nheo mắt. Cái nheo mắt này, có lẽ trong sáu người, chỉ mỗi bà Hiệu Trưởng là không hiểu gì thôi.

Đà Lạt. Cũng một buổi chiều thật êm, hai tuần sau đó. Ba cô gái ngồi bên nhau trên cây cầu nhỏ màu đỏ thắm, bắc ngang mặt hồ bán nguyệt xinh tươi có cá vàng nhởn nhơ bơi lội.

Thu mở đầu câu chuyện:

- Hai bồ biết không, sau khi báo chí đăng tin trường mình đã tìm được cái tủ quí giá ấy, nhiều nhà sưu tầm đồ cổ đã đến tiếp xúc với bà Hiệu Trưởng để xin mua với giá cao lắm đó.

Ngọc xen vào:

- Cao là bao nhiêu?

Thu đáp:

- Mười lăm triệu!

Minh hỏi:

- Bà Hiệu Trưởng trả lời cho họ như thế nào?

Thu nhìn xuống mặt hồ:

- Bà ấy bảo họ đợi một tuần nữa, để còn hỏi ý kiến Hội đồng hướng dẫn và ban đại diện học sinh. Nhưng trước hết, bà ấy muốn tôi hỏi ý kiến hai bồ xem sao.

Minh suy nghĩ mấy giây rồi nói:

- Hai bồ có thấy rằng Thư Viện trường mình nhiều hôm không đủ chỗ cho học sinh ngồi không?

- Theo tôi thì mình có thể bán cái tủ ấy đi rồi dùng tiền để chỉnh trang thư viện và mua thêm một số sách nữa!

Ngọc tiếp lời Minh:

- Ngoài ra mình có thể xin ban Giám đốc cho xây thêm vài sân vũ cầu nữa, chứ hai sân như bây giờ vẫn còn ít quá.

Thu nêu ý kiến:

- Chắc hai bồ cũng đồng ý với tôi là sự tận tụy của bà Phương đối với trường mình thật đáng cảm phục. Hơn nữa, bà lại là vị Hiệu Trưởng đầu tiên, đã góp phần lớn trong công việc xây dựng yêu quí này. Tôi nghĩ rằng mình cần dựng tượng kỉ niệm để ghi nhớ công ơn của bà đối với bao lớp học sinh đã được bà dạy dỗ. Tượng này sẽ được đặt ngay trước cửa Thư viện để chúng ta mỗi ngày đều có dịp chiêm ngưỡng.

Ngọc và Minh đều gật gù trước ý kiến của Thu. Minh nói:

- Hay lắm, lát nữa mình sẽ trình bày những đề nghị này với bà Hiệu Trưởng. Chắc bà ấy và Hội đồng Hướng dẫn sẽ đồng ý với mình như vậy.

   Ba cô gái đứng dậy, thong thả đi về phía nhà bà Hiệu Trưởng. Thu ngước mắt nhìn ngọn cây trước mặt, giọng nàng đầy vẻ hân hoan:

- Không ngờ chuyến đi của mình lại nhiều hào hứng như thế nhỉ! Vừa được chiêm ngưỡng bao nhiêu cảnh sắc đẹp đẽ của thiên nhiên, vừa có dịp mang lại cho nhà trường một món tiền lớn để làm những việc hữu ích. Cũng may là có hai bồ ở bên cạnh để khuyến khích tôi.

Ngọc nhìn Minh, giọng đầy cảm xúc:

- Riêng tôi thì phải cảm ơn Minh nhiều lắm. Nhờ Minh mà tôi đã tìm thấy niềm vui và sự thỏa lòng nơi Đức Chúa Giê-xu Christ. Tôi mong Thu sẽ có dịp tìm biết về Chúa và nhận Ngài làm Cứu Chúa như Minh và tôi đây, để tình bạn giữa ba đứa mình ngày càng thêm khắng khít.

Minh nắm chặt tay hai bạn, mỉm cười sung sướng.

HẾT

 

Sách này được xuất bản khoảng những năm 70; hiện giờ đã tái bản công khai. Hy vọng bạn đọc nào đang ở trong nước có thể tìm được những trang bị thiếu để hoàn tất mục đích sưu tầm, lưu giữ tư liệu.
Đăng nhập để trả lời
2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.08.2026 23:38:45 bởi herohappy>

Cám ơn Huy Trần,



truyện dã dược đăng ở: 

https://vnthuquan.org/TacPham/chiec-tu-che-mat-tich-34575/

Chúc Vui
Đăng nhập để trả lời
0