📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Luật Tiến-Hoá & Dịch-Lý (Chương 4)

0 trả lời, 56 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.09.2026 15:43:52 bởi Ct.Ly>
Chương 4

Đất Liền

 

Kỷ Nguyên Paleosoic&Mesozoic (540-65 mya)
 
Cuối thời đại thuộc Kỷ nguyên Pre-Cambrian cách đây hơn 600 triệu năm, đa số địa hình trên trái đất là núi và nước. Chỉ một số diện tích rất nhỏ là đồng bằng, do phù sa trên các núi cao bị nước cuốn trôi xuống và bồi đấp sau những trận mưa bão. Các lục điạ chính còn nằm rải rác ở khắp nơi, cách  nhau xa cả chục ngàn cây số so với vị trí hiện nay. Hơn phân nữa (1/2) các lục địa vẫn còn chìm sâu dưới mặt nước biển. Trong khi đó, hai đại lục châu Phi và châu Á thì còn ở vùng cực Nam của trái đất .

 

Trên mặt đất còn hạn hẹp lúc bây giờ, chỉ mới xuất hiện một số rất ít các loài rong rêu và cỏ dại, chưa có rừng rậm hay những cây cao to lớn như sau này. Lượng nước mưa lũ trong thời kỳ này rất cao, vì chưa có nhu cầu tiêu thụ nước, nhất là có quá ít cây rừng để hấp thu và giữ lại nước. Khắp nơi trên mặt đất đều bị ngập lụt thường xuyên sau những cơn mưa bão. Hàng hàng lớp lớp các loại phù sa từ các vùng núi cao chảy xuống theo các trận lũ, bồi đấp dần các thung lũng và  nâng cao lên từ từ các lớp đất cát thành những đồng bằng hay bình nguyên sau này. Nhờ vậy nên hàng trăm triệu năm sau, những chỗ thấp trũng được nâng cao lên dần, tạo thành những bình nguyên rộng mênh mông cả ngàn vạn dậm. Đổi lại, những rạng núi thật cao trước kia cũng bị sạt lở hay sói mòn, làm cho đỉnh núi tụt thấp xuống dần. Rất nhiều ngọn núi cao đã bị biến mất luôn do những quá trình đồng-bằng hóa cuả cảc thung lũng hay bờ biển.

 

Ngoài ra, từ những sự kiện nêu trên cũng cho thấy vào thời Pre-Cambrian, các ngọn núi chính cao nhất trên thế giới hiện nay như rặng Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya) hay Kilimadjaro đều còn rất thấp, cao chừng vài trăm mét. Nhưng nhờ có chứa nguồn nham thạch núi lửa nên sau mỗi lần phun trào, đã tích luỹ từ từ trên chóp núi và nâng cao lên dần các đỉnh núi như chúng ta thấy hiện nay. Thời tiết và mưa lũ cũng có đóng vai trò bào mòn bớt các đỉnh núi cho đến khi xuất hiện chu kỳ phun lửa kế tiếp.

 

Hiện tượng tạo thành núi và cao nguyên nói trên cũng giải thích luôn tại sao trên mặt Trăng không có các ngọn núi cao như trên mặt Đất.
Lý do như đã giải thích và minh chứng trong chương trước, mặt Trăng có nguồn gốc từ một phần mảnh vỡ nằm phía bên ngoài của trái Đất, nên không có chứa nhiều nham thạch lỏng như trong lòng trái Đất. Bằng chứng trên cũng cho thấy rõ là chưa bao giờ có hiện tượng phun lửa hay có núi lửa hoạt động trên mặt Trăng. Những vủng lồi lõm nếu có trên mặt Trăng là do sự va chạm mạnh của rất nhiều đá thiên thạch bay vào trong mấy tỷ năm qua, do mặt Trăng không có bầu khí quyển bao bọc để che chắn.

 

Đa số các loài cây cỏ chưa xuất hiện trong thời Nguyên Đại này.  Lý do là lớp đất đá trên mặt đất cỏn rất thô sơ với nồng độ nham thạch và muối còn khá cao, chưa có môi trường thuận lợi về dinh dưỡng cho các tế bào thực vật phát triển. Phải mất thêm vài trăm triệu năm nữa để các cơn mưa bão lớn rửa và xoá sạch dần các chất muối mặn, và cho ra thêm nhiều lớp đất cát có chứa phù sa và khoáng chất.

 

Một yếu tố quan trọng khác và hơn tất cả chính là sự đóng góp từ các xác chết động vật đã bị tan rã của hàng triệu con lươn biển lên thám hiểm đất liền. Trong một số câu chuyện thần thoại của phương đông có kể lại những câu chuyện về sự xuất hiện của một giống cây bông hoa mới lạ sau khi có người nằm chết ngay tại chỗ gốc cây, như chuyện trầu cau của Việt Nam, thí dụ. Khoa học ngày nay minh chứng cho thấy đó là những hiện tượng có thật, còn gọi là hiện tượng kết hợp ngoài luồn và đột biến (Mutation) di truyền giữa hai giống tế bào xa lạ khác nhau.

 

Sau cùng, có một sự liên tưởng rất dễ hiểu để so sánh. Nếu loài giun biển (Hải-sâm) có thể tự hào với thành quả vĩ đại khi thám hiểm vào được các hang động xa cách mặt nước chừng một vài mét, thì chắc cũng xứng đáng được ca ngợi, không thua gì những thành công khi con người thám hiểm đặt chân lần đầu lên mặt Trăng! Tuy vậy, không giống như con người khi bắt đầu thám hiểm không gian cách đây hơn một thế kỷ, tất cả loài động vật kể cả con người vào thời cổ đại trước công nguyên, nếu có nhu cầu phải thám hiểm vào những vùng đất mới, chỉ là thuần tuý do bàn năng sinh tồn bắt buộc phài làm, vì bị đói ăn hay do bị săn đuổi, đe doạ đến mạng sống.

 

Ðộng Vật  Hạ Cấp

7.1  Bò sát - Nguyên Đại Cambrian (540-270 mya)

 

Cuộc đổ bộ lên đất liền của loài giun biển (Hải Sâm-Sea Cucumber)
đã mất khoảng chừng hơn 300 triệu năm để hoàn tất trong Nguyên Đại Cambrian từ 540-270 mya, với sự hy sinh thân xác của cả hàng ngàn triệu thế hệ, đã hy sinh lót đường cho những hậu duệ tiếp nối theo sau được thành công. Dù sao, điểm chính cần được làm sáng tỏ ở đây chính là lập luận của hầu hết các sách giáo khoa cho là các giống sinh vật trong thời kỳ Cambrian đã từ dưới biển bò lên và sinh sống ngay liền trên mặt đất, như các loài hải cẩu và các giống rùa.

 

Lập thuyết trên tuy không quá sai, nhưng có thể không hoàn toàn đúng! Thật sự là các giống sinh vật đầu tiên lên sống trên đất liền đã có nguồn gốc xuất phát từ các con sông lớn, dựa trên hai yếu tố chính sau đây:

 

Phải có được bộ phận hô hấp để thở trực tiếp bằng không khí, giống như nhiệm vụ của các lá phổi về sau này. Kế đến và quan trọng hơn hết là cơ thể của loài sinh vật sống lâu được trên đất liền đều phải làm quen với môi trường nước ngọt. Bằng chứng thấy rõ là các sinh vật sống trên đất liền hiện nay đều dùng nước ngọt để sinh sống.

      

Trở ngại thứ nhất khó khăn và tốn kém thời gian rất nhiều, qua quá trình hơn cả trăm triệu năm để chuyển hoá dần từ bộ phận thở bằng cách lọc nước biển qua bộ phận hô hấp toàn dùng bằng khí trời như lá phổi hiện nay. Hãy thử tưởng tượng những con giun biển bị mắc cạn, nằm ngay tại các bờ đất sát mặt nước đang bị chết ngạt vì cố thở bằng không khí, và thỉnh thoảng lại được hồi sinh tạm thời bằng những con nước thuỷ triều lên xuống ngập đầu.

 

Hiện tượng trên đã được lập đi lập lại qua hàng chục triệu năm cho hàng triệu thế hệ của các loài giun biển phài sống gần ngay sát biên giới của nước và đất liền, đã sản sinh ra những thế hệ giun biển mới có khả năng thở luôn bằng khí trời, tiền thân của các con “rắn Biển” hiện nay. Chính vì lý do nói trên nên các loài lươn biển cùng thời tuy năng động và to lớn hơn vẫn không thể lên bờ và sống được luôn trên đất liền.

Trở ngại thứ hai và cũng là minh chứng cho thấy tại sao cơ thể của các sinh vật sống trên đất liền sau này phải được chuyển hoá và thích ứng với đời sống bằng nước ngọt. Đơn giản là vì không có biển hay nước mặn trong đất liền. Nhưng cũng giống như bộ phận hô hấp, không thể thay đổi ngay liền được mà phải cần thời gian chuyển tiếp.

 

May mắn lại đến với các loài giun  biển sống gần ngay các cửa khẩu của các con sông đang chảy ra biển, nên tạo thành một vùng nước lợ pha trộn. Nhờ vậy, các thế hệ giun biển này đã có cơ hội làm quen và tập cho cơ thể thích ứng dần với nước ngọt. Hậu duệ con sót lại của loài giun biển này phải kể tới các loài cá Hồi với khả năng sống được trong cả hai môi trường biển và sông.

 

Trong nguyên đại này, những loài giun biển sống gần các cửa sông cũng có một thay đổi rất ấn tượng về cơ thể. Do phần Đầu phải thường xuyên chịu áp lực nước quá cao chảy ra cửa sông, nên đã được tích luỹ thêm được nhiều các hợp chất vôi, làm cho cứng hơn bộ xương bảo vệ cái Đầu. Ngược lại thì phần phía sau đuôi, do không cần phải đương đầu với áp lực nước nên trở thành nhẹ nhàn và uyển chuyển hơn, biến thành bộ phận vừa giữ thăng bằng cho cơ thể vừa làm mái chèo tạo lực đẩy tiến tới cho các loài giun biển hay hậu duệ sau này là các loài rắn. Đồng thời, cũng nhờ hấp thu nhiều chất vôi từ các loại đá trầm tích gần cửa sông, nên phần xương cột chính mềm như cái nang của loài mực, mới có thể cứng dần lên và trở thành hệ thống xương cốt chính làm sống lưng, bảo vệ các dây thần kinh chuyên tải tín hiệu hay mệnh lệnh từ não bộ cho các loài động vật sau này.

 

Cuối thời kỳ Cambrian, một số các giống lươn biển men theo các con sông đã tiến dần vào sâu trong đất liền, nhưng vẫn còn sống ngay sát gần bên bờ sông, trở thành các loài lươn nước ngọt, thuỷ tổ của các loài lươn đất hay cá trê (Catfish) hiện nay đang sống bên các bờ đất, cạnh ao hồ hay những chổ đầm lầy có nước.

 

Cũng trong giai đoạn hơn hai trăm triệu năm này, hệ thống hô hấp thở bằng khí trời qua hai bên miệng đã được hoàn tất. Khởi đầu bằng nhóm tế bào chuyên hấp thu khí Oxy từ các bọt nước chứa không khí, rồi dần đến các tập hợp mô lớn hơn, sấp xếp chồng lên nhau như hình mang cá ở hai bên miệng, rồi cuối cùng biến dạng thành ra những phế nang phổi giống như hiện nay của các loài động vật cao cấp.

 

Trở lại câu chuyện của các loài lươn khi mới bắt đầu làm những cuộc thám hiểm vào sâu trong đất liền. Không phải chỉ có trở ngại khó khăn, mà còn coi như là một cuộc phiêu liêu quá nguy hiểm và đầy tuyệt vọng. Giai đoạn này đã kéo dài trong vài chục triêu năm với hàng ngàn tỷ các con lươn đất đã chết trong vòng vài ngày vì bị thiếu nước uống. Nhưng cũng đã có bước đột phá kỳ diệu đánh dấu một trong những khúc quanh quan trọng nhất cuả sự tiến hoá xảy ra.



                      





Trong số hàng triệu con giun đất bị chết khô vì thiếu nước trên đất liền, có một số rất ít may mắn đang có mang những cái trứng đã được thụ tinh. Nhờ vô tình được bảo vệ bởi xác chết của các con lươn mẹ, các lươn con nở ra có thể được sống sót thêm một thời gian ngắn, trước khi may mắn gặp được một cơn mưa lũ lớn kéo trôi xuống các ao hổ gần đó. Chu kỳ này đã có thể tái diễn và lập lại trong hàng chục triệu năm, trước khi bộ phận thở bằng khí trời cuả hậu duệ lươn đất là các loài khủng long được thành hình và hoàn tất sau hơn một trăm triệu năm, với hai lỗ mũi nằm ngay trên miệng.

 

Trước đây khi loài lươn còn sống trong nước biển hay ao hồ, để làm nhiệm vụ sinh sản, các con lươn đực chỉ cần xịt ra tinh trùng trong nước và con cái sẽ được thụ tinh khi bơi lại trong vùng nước đó. Môi trường nước đã đóng vai trò bảo vệ rất tốt trong việc sinh sản của các giống sinh vật thời đó. Nhưng ngay sau khi lên sống trên đất liền trong giai đoạn đầu, các loài lươn đất đã gặp phải khó khăn rất nhiều khi lươn đực phóng tinh lên mặt đất hay trong các vùng ao hồ.
Các con lươn cái sẽ có rất ít cơ hội hay thời gian thụ tinh vì tinh dịch đã bị huỷ hoại hay mất đi mau chóng trên mặt đất. Hệ quả xảy ra là trong một thời gian khá lâu, dân số các loài lươn đất bị giảm xuống, do tỷ lệ hay xác xuất thụ tinh rất ít hay quá thấp.

 

May mắn hay tình cờ ngẩu nhiên lại xuất hiện trong thời gian kéo dài hàng triệu năm nói trên, khi có một vài con lươn trong lúc chạy thoát lũ lụt và tìm chổ trú ẩn tạm đã bị cùng đường, nên bị dồn vào sống chung trong những hốc đá nhỏ hẹp. Do phải sống chui rúc trong một không gian nhỏ hẹp và chung đụng đó, nên lươn đực đã phóng tinh bừa bãi trên mình các con lươn cái. Nhờ vậy, vô tình đã giúp cho công việc thụ tinh dễ dàng và thành công hơn những đồng loại khác.
Tiếp tục lập lại giống y hệt như vậy trong hàng triệu năm sau đó với chu kỳ lũ lụt, chạy trốn vào hốc đá và thụ tinh, đã có thể giúp giống lươn đất may mắn này sinh sản và phát triển thành loài bò sát, duy trì nòi giống cho đến khi gặp được thêm một may mắn hiếm có khác. Sự kiện vừa nói trên cũng là lần đầu tiên minh chứng cho thấy ích lợi của việc sống chung trong các tổ chức xã hội.

       

7.2   Lưỡng cư –Lươn Đất- Hai Chân Trước

 

Như đã giải thích trong các chương trước, đây là thời kỳ bắt đầu cho hào thứ 4 của Dịch lý, biểu tượng của phần trên thân thể thuộc về bộ phận tiêu hoá, hay còn ám chỉ chuyện đi tìm thức ăn hay săn mồi để sinh tồn. Vấn đề tìm kiếm thức ăn trên đất liền luôn là một thử thách khó khăn rất nhiều so với môi trường sống dưới nước, nên cơ thể cuả các loài sinh vật quen sống dưới nước cũng cần phài thay đổi và thích ứng với đời sống trên đất liền.

 

Trước đây các giống lươn biển chỉ biết di chuyển theo chiều tiến tởi bằng các động tác dồn nén hay co giản thân mình. Loài lươn mới lên trên đất liền nhờ bộ xương sống cứng hơn nhiều, nên có thể cử động và di chuyển mạnh hơn, bằng các động tác trườn mình qua lại như hình chữ S để tiến tới. Hiện tượng di động trên có được phần nào cũng là do nhiệt năng từ mặt trời tích tụ trên mặt đất, làm cho thân thể lươn đất bị đốt nóng nên phải cựa quậy cho giảm bớt tiếp xúc với mặt đất.

 

Cùng với lý do nói trên, lợi ích nhất trong việc ngóc cao đầu lên của các loài bò sát trên mặt đất là để có được lợi thế quan sát, nhìn xa hơn trong việc săn mồi hay phát hiện ra được sự nguy hiểm sớm hơn.

 

Điểm chính quan trọng trong thời kỳ này là xuất hiện ra hai chân trước. Các loài lươn đất khi trườn mình trên cát, do sự đụng chạm mạnh và cọ xát thường xuyên làm cho lớp tế bào da ngay dưới thân trước bị tổn thương và chai dày ra. Lâu dần lớp da dày ở hai bên hông nói trên trở thành chai cứng và biến thành lớp sụn bên trong, rồi làm thành hai cái vảy lớn ở hai bên. Qua nhiều thay đổi và tiến hoá hàng triệu năm, hai cái vảy ngày càng dài ra và chịu thêm sức nặng cuả thân hình nên trở thành cứng hơn, biến lớp sụn thành bộ xương của chân trước. Cụ thể cho thấy tổ tiên chúng ta đã biết mang giày dép khoản một ngàn năm mà lớp da bàn chân vẫn còn dày lên thấy rõ, trong khi nếu so với cả hàng trăm triệu năm của các loài lươn khi trườn mình trên đất cát.



 

                        





Điều đáng chú ý là trong quá trình thám hiểm và sống luôn trên đất liền kéo dài mấy trăm triệu năm sau thời đại Cambrian, cũng có một số các loài bò sát bỏ cuộc vì nhiều lý do, trở về sống lại với nước hay đai dương. Số động vật hồi cư đó chịu tiến hoá và thay đổi luôn để cuối cùng biến thành các loài động vật lưỡng cư, có thể sống được trong cả hai môi trường đất liền và đại dương. Cụ thể cho thấy ngay sau thời kỳ này, một số lươn đất với hai cái vảy lớn, đã về lại đại dương sinh sống để trở thành thuỷ tổ cuả các giống Hải Cẩu hay Hà Mã sau này.

 

Lý do giải thích trên cũng còn đúng với các giống lưỡng cư về sau này dù đã phát triển cả bốn chân, bao gồm các loài hải cẩu, Ruà và Cá Sấu, v.v.

 

 Trong thời kỳ thuộc nguyên đại IV này, mắt của các giống lươn đất còn rất nhỏ và hẹp, chỉ phát hiện ra được ánh sáng mắt trời hay những hình bóng mờ nhạt trắng đen. Trong khi đó, bộ phận cảm ứng rung động âm thanh của da cũng bắt đầu thành hình. Do phải chịu cảm nhận những rung động thường xuyên kéo dài của lớp da trên đầu, nên các lớp thịt hay tế bào ngay dưới lớp da bị mất dần và thành chỗ trống. Kế là thay đổi bằng nhiều lớp tế bào có đặc tính đàn hồi và chịu đươc độ rung mạnh, trở thành màng da mỏng bén nhạy hơn, gọi là màn nhĩ cho các động vật sau này. Cũng trong quá tiến hóa và thay đổi, hai lớp màn nhĩ đang nằm ngoài gần giữa trán, bị xương sọ cuả các loài khủng long sau này đã phát triển quá lớn xung quanh, đùn đẩy xuống thấp và chìm sâu dần vào phía dưới ở hai bên đầu, trở thành hai lỗ tai. Bộ phận thính giác cũng được phát triển và hoàn thành trong thời đại cuả các giống khủng long sau này.  

 

 8.1   Tiền Khủng Long –Triassic-Jurassic (270-135 mya)

Rắn Mối – Tứ Chi



                         



Đây là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các loài rắn mối to lớn, thuỷ tổ của giống khủng long sau này, được các nhà khoa học tìm hiểu chi tiết và phim trường Hollywoods diễn tả lại khá chính xác theo như câu chuyện trong phim “Jurassic Parks”. Nhưng trước hết, trong giai đoạn đầu cuả thời kỳ này kéo dài khoảng chừng vài chục triệu năm, hai chân sau của các loài lươn đất phải bắt đầu xuất hiện. Động lực để phát triển hai chân sau cũng giống tương tự như hai chân trước. Thoạt đầu, do hai chân trước còn yếu nên khi di chuyển, thân hình còn lại phía sau của lươn đất phải tiếp sức đẩy bằng cách trườn mình qua lại như lúc trước. Hệ quả sau cùng là cho ra hai chân sau, giống hệt như quá trình sinh ra hai chân trước.

 

Một thắc mắc nhỏ cho thấy là nếu quá trình sinh ra 2 rồi 4 chân cuả các loài lươn đất giống như vậy, thì tại sao chúng ta không có các loải thú có 6 hay nhiều chân hơn nửa? Câu trả lời có thể là đã xảy ra đúng như vậy, đã có những loài thú có nhiều hơn 4 chân xuất hiện sau đó vài chục triệu năm. Nhưng có thể vì lý do không hiệu quả để di chuyển hay chạy mau khi săn mồi, hay để tránh bị săn mồi, nên cuối cùng đã bị tiêu diệt hay tuyệt chủng, đúng như lý thuyết về sinh tồn đã đưa ra trong thuyết Tiến Hoá. Bằng chứng là trong các câu chuyện thần thoại cổ cuả cả Đông lẫn Tây đều có nói về các con thú hay giống quái vật có rất nhiều tay chân còn sống sót lại sau hàng triệu năm trong các hang động xa xôi hẻo lánh và biệt lập.

     

8.2 Não Bộ -Hệ Thần Kinh

 

Một vài chi tiết khác đáng chú ý là trong thời đại này, hệ thần kinh và não bộ của loài rắn mối đã được phát triển khá hơn rất nhiều do nhờ tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ngọt từ các dòng sông hay ao hồ. Từ đó, các loài rắn mối đã có thêm cơ hội để thăm dò và tiếp tục tiến vào sâu trong đất liền, bằng cách di chuyển lần dọc theo các bờ sông hay ao hồ.

 

Trong quá trình gần cả hai trăm triệu năm sau, các loài rắn mối đã thay hình đổi dạng, trở thành to lớn và phát triển mau lẹ về thể xác, nhất là bộ phận ngón và các móng chân, giúp rất nhiều cho việc di chuyển mau hơn trên đất liền, biến dạng thành các loài bò sát to lớn hơn. Những con rắn mối to lớn có hình dạng gần giống con kỳ nhông mà một chi nhánh chính, hậu duệ sau cùng cuả những con rắn mối này chính là loài cá sấu hiện đang sống trong các vùng đầm lầy ngập mặn khắp nơi trên thế giới.

 

9.1  Khủng Long - Nguyên Đại Cretaceous (146-65 mya)
 
Bộ Sinh Dục   
Các loài rắn mối mới này cũng gặp phải một trở ngại khác khi phát triển thêm được hai chân sau. Do vì hai chân sau có khuynh hướng nâng bộ phận sinh dục của con cái lên cao, nên thói quen phóng tinh lên mình con cái lại trở thành ít hiệu quả hơn. Do đó, để bảo tồn nòi giống, một trong các loài rắn mối khôn ngoan phải tìm ra được phương cách hữu hiệu hơn để làm cho con cái thụ tinh.  Theo thời gian khi hai chân sau của các loài rắn mối càng phát triển mạnh và dài hơn, nên có thể uyển chuyển thay đổi vị trí cao thấp khác nhau, con cái có thể hạ thấp phía đầu và nâng đuôi cao lên, trong khi con đực thì làm ngược lại là cong đuôi xuống thấp hơn để bắn tinh vào. Nhờ cố gắng muốn làm cho thành công nhiệm vụ giao phối trên, đồng nghĩa với việc phải đưa được bộ phận bắn tinh vào gần hơn, nên có sự co giãn của cơ vòng ngay trên lỗ bắn tinh cuả các con đực.





                      



Tất cả các diễn tiến giao cấu thuần thục nói trên của loài rắn mối đã phải qua quá trình thay đổi từ từ theo tính chọn lọc ngẩu nhiên mất hàng triệu năm. Sau cùng, loài rắn mối nào có bộ phận sinh dục được thành hình, có nhiều cơ vòng mạnh khỏe, nhô ra nhiều và dễ cho thụ tinh hơn, sẽ là giống rắn mối tồn tại và lớn mạnh, biến thành các giống khủng long sau đó.

 
9.2  Trứng  
Nhờ những yếu tố thuận lợi như đã nói trong tiểu mục trước, thêm vào là thay đổi cách giao cấu và nguồn thức ăn dồi dào, các giống rắn mối sắp bị tuyệt chủng lại được phục hồi và phát triển vượt mức để trờ thành các loài khủng long. Tuy nhiên cũng còn có một trở ngại khá lớn nữa đã chận đứng lại sự phát triển lớn mạnh cuả các loài rắn mối mới này trong một thời gian khá lâu.

 

Cho tới thời điểm này, các giống rắn mối sống trên đất liền đẻ trứng ra, còn phài nhờ vào môi trường nước để bảo vệ vì các vỏ bọc trứng quá mềm và dễ bị vỡ khi bị rơi xuống và chạm vào đất đá. Một khi dân số các loài rắn mối phát triển quá nhiều, thì nguồn nước ao hồ trở thành khan hiếm, làm cho hầu hết dân số các loài rắn mối sống trên đất liền gần như bị tuyệt chủng hết, trừ một số ít may mắn được sống gần các vùng có nhiều đá vôi. Các nguổn nước uống có nhiều chất vôi này đã giúp cho lớp vỏ bọc trứng dày và cứng lên, đủ để bảo vệ quá trứng trong một thời gian dài trước khi được nở ra con.

 

Nếu đúng theo các di tích khảo cổ được tìm thấy hiện nay với sự công nhận của các nhà khoa học, khủng long đã là giống động vật có thân xác lớn nhất trên trái đất. Có hai lý do giải thích như sau:



                        



Khủng long là hậu duệ trực tiếp cuả các giống rắn mối đầu tiên sống trên đất liền, nên không có kẻ thù hay mối nguy hiểm trực tiếp nào đe dọa đến sinh mạng, trừ các trở ngại về thiên nhiên. Thứ hai, quan trọng hơn hết là trong thời đại này, nguồn thức ăn từ cây cỏ và các loài rong rêu đều có quá nhiều, không phải giành giật hay đánh nhau để có thức ăn. Nhờ có thức ăn dư thừa và không bị hạn chế, nên thân xác loài khủng long đã phát triển và lớn mạnh gấp nhiều ngàn lần. Theo như ước tính dựa trên những bộ xương hoá thạch tìm thấy, trong vòng tiến hoá và phát triển hơn một trăm triệu năm, các loài khủng long đã tăng trọng từ khoảng vài chục ký lô đến cả hàng chục Tấn như các loài voi ma-mút còn còn sống sót ở Siberia.

 

Cũng nhờ các yếu tố thuận lợi nói trên nên dân số các giống khùng long đã phát triển gần như vượt mức tối đa, đưa đến sự kiện có thể nói là lạm phát hay bùng nổ về dân số cuả cà hàng trăm loài khủng long khác nhau về trong kỷ nguyên này. Hệ quả đưa đến là vào cuối thời đại kỳ này (Jurassic 270-135 Mya), đã có hiện tượng di cư lần đầu tiên của các giống khủng long ra khỏi Phi Châu, tản mác ra khắp nơi trên thế giới.

 

Điều cần nhấn mạnh với bằng chứng rõ rệt, chính là sự trùng hợp gần như chính xác giữa các chu kỳ băng giá (Ice Ages) và chu kỳ di cư của các sinh động vật trên trái đất. Cuối thời kỳ băng giá, thời tiết Phi châu hay các vùng miền gần xích đạo nóng dần lên, tạo ra hạn hán hay thiếu nước lâu dài. Hiện tượng khô hạn có thể đã kéo dài khá lâu làm giảm số lượng cây cối thực vật và cũng làm cho khan hiếm luôn nguồn thực phẩm dồi dào có trước đây. Chiến tranh để dành lấy thức ăn tất nhiên đã xảy ra cho các loài khủng long và hậu quả là một số đã phải tháo chạy ra khỏi Phi Châu vì bản năng sinh tồn.

 

Dựa theo hình D ở đầu chương sách này, các đại lục vẫn còn dính liền và nằm gần với nhau cách đây 160 triệu năm, nên theo dữ kiện của hình E trên, minh chứng cho thấy tại sao trên hai châu Mỹ và châu Úc chỉ có di tích của các loài khủng long hay rắn, đã di cư ra khỏi Phi châu trước đó. Riêng các giống Khỉ hay Dã nhân nguyên thuỷ thì không có mặt khi các hai châu lục đã bị tách ra quá xa bởi hai đại dương.

 

Ngược lại, vào thời kỳ bắt đầu băng giá, hầu hết trái đất bị đóng băng nên cuối cùng chỉ còn các vùng đất gần đường xích đạo là có thể tạm sinh sống được.  Do đó đã có hiện tượng các giống sinh vật từ miền bắc chịu lạnh không nỗi, phài di cư xuống trở lại phương Nam. Chu kỳ lên Bắc xuống Nam này sẽ còn tiếp tục tái diễn hay lập lại rất nhiều lần, kéo dài mãi cho đến hiện nay, thuộc giai đoạn cuối của thời kỳ băng giá tan ra làm trái đất nóng dần lên. 

 

9.3  Bộ Tiêu Hóa  
Thời kỳ trước khi rời khỏi hẳn vùng sông nước, bộ phận tiêu hóa của các loài giun biển chỉ có đơn giản là một ống dẫn thức ăn thẳng từ miệng xuống tới hậu môn. Dọc theo trên thành của nữa ống dẫn đầu tiên, là vô số các tế bào có chứa chất ác-xít để phân huỷ thức ăn cho mau. Sau đó tiếp tục xuống phân nửa dưới là những tế bào sợi li ti chuyên hấp thu lại các hợp chất bổ dưỡng để phân phối đi khắp nơi nuôi cơ thể, cung cấp các nguyên tố cần thiết đã bị mất.

 

Một chi tiết khác là trước khi đổ bộ lên bờ, thức ăn cuả các loài lươn đất đều có độ mềm cao nhờ có tác dụng của nước. Nhưng trên đất liền vì thức ăn khô cứng hơn nhiều, nên bộ phận tiêu hóa đã phải làm việc nhiều hơn nữa. Trước tiên là hệ nước giải thấm nước lảm mềm thức ăn ngay tại miệng. Nên nhớ là trong thời đại này các giống bò sát hay khủng long cũng còn dùng thực vật cây cỏ làm thức ăn chính, chưa biết ăn thịt. Chỉ xảy ra trong kỷ Jurrasic sau khi vụ va chạm mạnh với thiên thạch xảy ra, ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu và làm khan hiếm các nguổn thực phẩm, nên các loài khủng long vì quá đói, phải tìm cách ăn thịt lẫn nhau để sống còn. Từ đó, để thích ứng với nhu cầu ăn thịt, những thay đổi tiếp theo sau của hệ thống tiêu hóa trong nguyên đại này kéo dài gần hơn 200 triệu năm đã hình thảnh thêm một số các cơ quan khác như Bao tử, Gan, Mật, v.v, để giúp tiêu hoá các loại da thịt hay mỡ.

 

Cụ thể thí dụ cho việc hình thành bao tử sơ khai của loài rắn mối sống trên đất liền. Do thức ăn khô cứng khó tiêu, bị tích luỹ lâu ngày ở phần giữa cuả ống dẫn, nên bị lên men căng cứng và trương phình ra. Một số lớn rắn mối đã chết vì lý do trên, nhưng trong số rất ít may mắn thì lâu ngày, phần ống dẫn bị trương phình và mất dần tính đàn hồi, nên phần ruột đó bị dãn ra luôn và có hình dạng gần giống như bao tử của đa số động vật hiện nay.

Thoạt đầu, chỗ phình ra do thức ăn mắc kẹt lại và bị phân huỹ, đã là một tai nạn nguy hiểm làm cho đa số rắn mối chết do không ăn uống được. Nhưng thời gian dài về sau thì cơ thể của một ít rắn mối làm quen dần và phản ứng lại được bằng cách làm cho thức ăn phân huỷ mau hơn để đẩy xuống tiếp, vào được phân nữa ruột còn lại ở dưới và tống ra ngoài sau khi  hấp thu một số nguyên tố hay thức ăn.

 

Cụ thể minh chứng cho hệ thống tiêu hoá nói trên là cách tiêu thụ con mồi cuả các loài Trăn, hậu duệ còn sống sót lại duy nhất của các con lươn đất.

 

9.4  Máu – Ăn Thịt

 

Như đã nói đến trong tiểu mục trước, đây là giai đoạn 3, nguyên đại thứ Tư thuộc biểu tượng của bộ phận tiêu hoá hay bao tử và cái bụng, nên các loài thú như Khủng long đã phát triển đến tột đỉnh về thể xác.  Một trở ngại khác xuất hiện khi các bộ phận cuả thân xác phát triển lớn dần ra, làm cho thức ăn từ các mao dẫn li ti không chuyển kịp thức ăn đến những nơi cách quá xa đường ruột.

 

Theo luật sinh tồn và để giải quyết trở ngại nói trên, cơ thể của các loài bò sát đã phải hoạt động nhiều để tạo ra một áp suất thật cao, đẩy các thức ăn đi mau hơn. Nhưng có một yếu tố khác quan trọng không kém chính là độ chảy lỏng của dung dịch thức ăn.
Càng có độ lỏng cao thì mức thẩm thấu và di chuyển thức ăn càng mau, và sau một thời gian dài thay đổi trở thành dòng chất lỏng mà ngày nay gọi là Máu.

 

Trong thời đại này, máu cuả các loài bò sát chỉ có màu xanh đậm hay xám đen, còn gọi là động vật có máu lạnh, chưa có màu huyết đỏ như loài có máu nóng sau này của những loài động vật cao cấp, kể cả con người. Nhiệm vụ chính của máu là mang chất dinh dưỡng đi nuôi tất cà các bộ phận khác trong cơ thể, qua dạng sinh hoá kể cả các hợp chất dưới dạng kích thích tố hay chất béo.

 

Dù vậy, có nhiều người vẫn còn thắc mắc là trái tim đã được thành hình như thế nảo(?) Trong quá trình hơn mấy trăm triệu năm, bất cứ bộ phận nào trong cơ thể cuả các loài động vật, kể cả con người hiện nay, cũng đều là do nhu cầu cần thiết cho sự sinh tồn hay đời sống ngay tại thời điểm nó xuất hiện. Lý thuyết minh chứng cũng cho thấy không phải muốn là có ngay liền được. Đa số là phải xuyên qua quá trình thay đổi từ từ và luôn được điều chỉnh cho đến khi hoàn hảo, mất cả hàng triệu năm hay lâu hơn nữa.

 

Trong việc hình hành trái tim, thoạt đầu là nhu cầu cần đẩy nhanh máu hay thức ăn hấp thu từ đường ruột, tới khắp nơi trong cơ thể cuả các loài rắn mối ngày càng lớn mạnh. Tuy là nhờ có hai chân trước và hai chân sau nâng cao hay hạ thấp xuống, dung dịch lỏng cuả máu đã có thể di chuyển bằng trọng lực hấp dẫn của trái  đất. Do các loài rắn mối có chân phải thường xuyên nâng cao hay hạ thấp đầu xuống để làm cho máu được lưu thông và khỏi bị nghẹt, nên đã tạo ra nhịp kéo và đẩy cuả máu.

 

Cũng vì nhờ máu thường bị nghẹt lại gần sát cổ họng, trước khi được đưa lên đầu, nên lâu dần các tế bào máu chết bên ngoài đã tạo thành một lớp màng hữu cơ hay bắp thịt bao bọc xung quanh để bào vệ.
Trải qua thêm khoảng vài chục triệu năm thay đổi, bộ máy gồm những cơ bắp thịt đàn hồi để bơm máu làm thành một bộ phận mới thô sơ có tên là Trái Tim. Thêm một vài lần thay đổi và dưới ảnh hưởng môi trường thiên nhiên trong khoảng vài chục triệu năm nữa, trái tim mới có thể đạt tới cơ cấu đơn giản như của loài chim hôm nay. Điều đáng ghi nhận là quả tim chỉ xuất hiện trong cơ thể của các loài động vật có khả năng di chuyển mau lẹ với vận tốc nhanh. Cụ thể thí dụ như các loài chim đều có trái tim nhưng thô sơ và không phức tạp bằng các loài động vật có vú sinh con xuất hiện sau này trong nguyên đại V.

 

10.1  
Hậu Khủng-Long - Kỷ Nguyên Tertiary (65-38mya)
 
Động Vật Sơ Cấp - Hệ Thần Kinh
 

                



                            



Hệ thống giác quan trong các kỷ nguyên đại trước 1, 2, và 3 chỉ tập trung vào xúc giác, ví giác và khứu giác theo thứ tự. Phát triển nhiều và mạnh nhất trong kỷ nguyên này là thính giác hay khà năng nghe và nói (tiếng kêu hú). Các loài động vật chính trong kỷ nguyên này là các loài khủng long hay các loài thú đang phát triển và tiến gần tới xử dụng cả bốn chân, nhất là hai chân trước để giử lấy con mồi, như giống chồn nguyên thuỷ sau đó. Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng về khả năng nghe cho các loài động

vật 4 chân trong thời đại này chính là nhờ sự cố gắng phát ra âm thanh tối đa cuả các hệ cơ vòng trong cổ họng cuả các con thú, bị quá đau đớn vì thương tích khi chiến đấu tranh dành thức ăn.  

 

Cho tới thời đại trước đây (60 mya), các giống khủng long cỏn sống sót sau vụ va chạm thiên thạch chỉ có thể phát ra tiếng gầm gừ hay rống lên để bày tỏ thái độ thích hay không. Trong thời đại sau đó, các hậu duệ khủng long đều có thể phát triển nhiều âm từ khác nhau ra ngoài, nhờ những thay đổi đáng kể cuả các cơ vòm họng chung quanh yết hầu gần thanh quản. Do đó, mỗi tần số âm sắc xuất hiện trong thời đại hậu khủng long này đểu mang theo một tín hiệu nào đó.

 

Gạch Nối Quan Trọng (IDA- 47 mya)

 

Chỉ mới phát hiện trong vài năm nay (2009), một bộ xương hoá thạch của một loài động vật có thân hình gần giống với loài khủng long và chồn, được đặt tên là IDA, có niên đại 

vào khoảng chừng 47 triệu năm.    

           



                                      





Đây là di tích hoá thạch duy nhất được tìm thấy trong khoảng niên đại này (64 – 32 mya), ngay sau kỷ nguyên khủng long và trước thời nguyên đại cuả động vật cao cấp, có vú và sinh con (Mammal). Điều đáng nói là thân xác của con IDA chỉ nhỏ bằng con mèo, quá nhỏ nếu so với khủng long có thân hình ít nhất là vài trăm ký lô vào thời kỳ trước đó.

 

Một bằng chứng hiển nhiên về vụ va chạm mạnh của một thiên thạch khá lớn vào trái đất cách đây khoảng 65 triệu năm. Đám mây bụi khổng lồ lẫn đất đá bắn ra không gian làm bao phủ hơn nữa vòng trái đất, tạo ra hiệu ứng lồng kính làm cho khí hậu nóng hơn bình thường, đã lkhô cạn nhiều nguồn nước, huỷ diệt đa số các cây cối và thực vật  dùng làm thức ăn cho loài khủng long.
Từ sự khan hiếm thức ăn với số lượng khủng long quá nhiều, đã cho ra một số các hậu quả sau:

 
Các loài khủng long phải chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau để dành lấy thức ăn. Đa số các giống khủng long yếu kém hơn đã bị tiêu diệt hay đánh đuổi, bỏ chạy thoát ra khòi lục địa Phi Châu, phân tán ra khắp các châu lục về phương Bắc. Đây là lần đầu tiên một loài động vật sống trên đất liền đã đi ra tản mát khắp nơi trên trái đất. Bằng chứng cho thấy là chỉ có các bộ xương hoá đá cuả nhiều giống khủng long đã được tìm thấy ở châu Mỹ và châu Úc. Chính nhóm khủng long yếu kém nhỏ con   (như loài IDA trong hình 22) đã tiếp tục đi về hướng Bắc, thay hình đổi dạng từ từ trong môi trường sống, để cuối cùng sẽ biến thành các loài động vật cao cấp sau này.  



R
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0