📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Chị Thanh - Truyện dài của Quang Nguyễn

5 trả lời, 91 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.09.2026 01:54:13 bởi hoatraimua2014>
Chương I: Những Đêm Đông Dài Hun Hút
Mùa đông năm đó, buổi trưa nắng như đổ lửa xuống những tán cây rậm rạp um tùm lá, nhưng đêm về căn nhà của chị Thanh lúc nào cũng mang một không khí u uẩn và lạnh lùng đến rợn gai người. Chị Thanh hai mươi bốn tuổi, sống một mình trong căn nhà tường cũ kỹ sát vách nhà tôi. Đó là một ngôi nhà kiểu cũ với những mảng tường rêu phong bong tróc, nằm lọt thỏm giữa khu vườn hoang sơ đầy cỏ dại. Dù ngôi nhà trông có vẻ hoang sơ, tôi vẫn thích sang đó. Chị Thanh thường ngồi ngoài hiên, tựa lưng vào cánh cửa gỗ đã mục sờn, tay cầm một cuốn sách cũ. Dáng vẻ chị trầm mặc, đôi mắt luôn nhìn về phía chân trời như đang chờ đợi một điều gì đó đã mất. Tôi là Quang, thường gọi là Cu Tí, một đứa trẻ mười ba tuổi, chẳng hiểu gì về biến cố đến với gia đình chị trước đó. Với tôi, chị Thanh là người duy nhất không bao giờ quát mắng khi bọn trẻ nghịch phá. Ngược lại, là người dí dỏm, thường kể chuyện cho bọn trẻ nghe. Chấp nhận cho chúng tôi thoải mái vào vườn hái ổi. Chị là người biết tạo ra nhiều món đồ chơi từ những chiếc lá dừa, cái đồng hồ ngộ nghĩnh, con cào cào dễ thương, mắt kính, dây chuyền cổ, nhẫn đeo tay, trông rất điệu nghệ bắt mắt, vì lẽ ấy lũ trẻ mến chị lắm. Trong số đám trẻ đó, tôi là người gần gũi chị nhiều nhất! Bởi, nhà tôi cách cái vườn nhà chị chỉ một hàng rào râm bụt. Chưa nói tới lúc tôi khoảng bốn - năm tuổi mẹ hay gửi qua nhà nhờ chị trông coi mỗi khi đi làm tới tối về. Chị sống cùng với dì Hạnh là cô ruột của chị. Ngày tôi còn bé dại, mẹ và dì Hạnh cùng với mấy bà trong xóm đi làm công kiếm tiền. Chị ở nhà trông giữ, cho tôi ăn, rồi ru cho ngủ, cứ thế hết năm này sang năm nọ. Đến khi bước sang tuổi mười chín, lúc ấy chị đã học xong trung học phổ thông thì cô Hạnh đi thêm bước nữa, từ đó chị chính thức sống một mình trong căn nhà rêu phong. Nói rõ hơn về gia đình. Cha của chị bác Vượng là sĩ quan quân lực thuộc chế độ cũ. Thím Lã, mẹ chị là giảng viên đại học. Sau năm 1975 bác thím buộc phải đi học tập cải tạo. Khi đó chị vẫn chưa sinh ra đời, Thịnh là người anh cả khi ấy chỉ có vài tuổi, vì vậy dì Hạnh và bà nội phải sang ở trông nom, đồng thời canh giữ nhà cửa. Thời gian sau, hết thời gian cải tạo thím Lã trở về nhà, không còn dạy học mà theo một số người phụ nữ đi buôn để kiếm tiền nhằm thăm nuôi bác đang học cải tạo ở ngoài Bắc. Sau này thím mới sinh ra chị. Người trong xóm thắc mắc, vì sao bác Vượng đi cải tạo mà thím Lã ở nhà lại mang thai chị. Có người từng cải tạo về giải đáp rằng: do bác tuân thủ tốt nội quy, hoặc thím thường xuyên đi thăm rồi biếu quà, cho tiền, nên được chiếu cố, họ chấp thuận cho vợ chồng gặp nhau riêng tư, chẳng biết điều này có đúng không?. Sau này thím biết bác sẽ không về sớm, bởi vì bác là lính cấp cao trong quân đội, thời gian ở lại sẽ lâu hơn so với những người lính bình thường. Thế là thím không đợi về nữa, đành đi trước. Thím dắt theo anh Thịnh cùng với hai người cậu, vượt biển để sang nước thứ ba. Nhưng oái oăm thay, lúc đó chị bị sốt xuất huyết rất nặng nên phải nằm viện, đưa theo chị có thể mất mạng do căn bệnh này chuyển biến phức tạp. Thế là thím Lã đành bóp bụng để chị ở lại cho dì Hạnh nuôi, dặn dò khi nào qua ổn định sẽ đón chị sau. Mãi sau này dì Hạnh mới nhận được thư, thím Lã và anh Thịnh, cùng hai người cậu đã sang Mỹ thành công sau nhiều ngày ở Galang chờ phái đoàn phỏng vấn. Thời gian sau dì Hạnh nhận thêm lá thư khác, bác Vượng đã ra trại cũng đã sang Mỹ đoàn tụ với gia đình, vì sao bác không về đón chị để cùng đi là có nguyên nhân. Bởi vì chị còn quá nhỏ, vượt biển đầy nguy hiểm, để chị ở lại với dì Hạnh sau này sẽ bảo lãnh qua. Nguyên nhân khác là thời gian gấp rút, không thể đợi chờ, có cơ hội thì lập tức đi ngay. Như vậy, căn nhà bây giờ chỉ có hai cô cháu, khi chị hoàn tất chương trình phổ thông thì dì Hạnh lại đi lấy chồng nên giờ chỉ còn lại mình chị. Từ năm mười chín tuổi chị sống lay lắt khép kín tròn năm năm, nhờ vào tình thương hàng xóm và họ hàng nội ngoại. Mẹ tôi thương chị, vì chỉ có một thân một mình, lại gia giáo lễ phép, nhờ vả bất cái gì chị cũng sẵn sàng giúp mà không than vãn hay nề hà. Mẹ có ý bảo chị về nội hoặc ngoại sống cho bớt tủi thân, chị nhất quyết từ chối vì chỉ muốn giữ căn nhà này. Chị sợ đi rồi, người ta sẽ lấy căn nhà của cha mẹ đã xây dựng bằng mồ hôi nước mắt, biết bao nhiêu kỷ niệm của một gia đình vẫn còn hơi ấm. Vì chị nghe những người lớn trong xóm nói, nhà mà bỏ trống sẽ bị tịch thu, nhất là đối với gia đình chị. Thấy chị thường sang chơi cùng tôi, có khi nấu cơm, dọn quét phụ giúp, dạy cho tôi học, mẹ nói với chị rằng:
- Dì cho nó qua đó ở với con. Có hai chị em hú hí cho vui. Dạy kèm cho nó học. Nó học tệ lắm, chỉ có đi chơi là giỏi. Nó qua đó mà lì thì con cứ lấy roi mà quất cho dì. 
Tưởng rằng chị sẽ lắc đầu từ chối. Nào ngờ chị hớn hở đồng ý ngay. Lúc đó tôi chỉ mới có mười ba tuổi đang học lớp bảy, còn chị đã hai mươi bốn cái xuân xanh rồi. Vậy là nhà chị đã có thêm một thành viên mới là tôi. Chị Thanh không chỉ là một người chị hàng xóm, mà còn là hiện thân của một thứ nhan sắc đầy mê hoặc và trắc trở, chị hiền lành lắm. Vẻ đẹp của chị giữa cái xóm nghèo xơ xác ấy giống như một đóa lan rừng nở muộn trong một căn nhà tường cũ kỹ, u trầm. Chị mang một vẻ đẹp rất đặc biệt, vừa có sự đài các của con nhà gia giáo cũ, vừa có nét mong manh như sương khói mùa đông. Với đôi mắt lá liễu, lúc nào cũng như có một lớp sương mờ bao phủ. Ánh nhìn của chị không sắc lẹm nhưng lại sâu thẳm, chứa đựng nỗi buồn của một người sớm nếm trải cảnh gia đình sa sút. Làn da chị trắng mịn như sứ, nổi bật dưới mái tóc đen dài mượt mà lúc nào cũng thoang thoảng mùi hương lá bưởi, lá sả lẫn bồ kết. Đó cũng là các thứ nguyên liệu chị nấu để gội đầu thường xuyên. Chị Thanh có dáng người thanh mảnh, cao gầy. Mỗi khi đi lại trong sân nhà rêu phong, trông chị thoát tục đến lạ kỳ. Dù gia cảnh gia đình lúc đó đang rơi vào biến động, dù tiếng tăm của cha mẹ chị khiến người lớn e dè, nhưng cánh đàn ông trong xóm thì không thể cưỡng lại sức hút của chị. Căn nhà tường cũ kỹ vốn yên ắng bỗng trở nên nhộn nhịp một cách bất thường. Từ anh thợ xây đầu xóm đến gã thanh niên con nhà giàu ở xã bên, ai cũng kiếm cớ đi ngang qua cổng nhà chị. Người thì giả vờ vào mượn cái này cái nọ, người lại mang biếu giỏ trái cây, con cá lóc vừa tát ao lên với lý do cảm thông hoàn cảnh neo đơn. Tôi nhớ có những đêm đông, dưới gốc cây bàng trước nhà chị, mấy anh thanh niên còn đem cả đàn guitar ra gảy, hát những bản nhạc tình dang dở để mong chị một lần ra nói chuyện làm quen. Thấy cảnh này tôi ứa gan muốn chạy ra tặng cho mỗi ông vài đá cho bỏ ghét. Chẳng hiểu lý do gì tôi lại cực kỳ khó chịu khi thấy những kẻ lì lợm này xuất hiện. Tôi biết chị cũng chẳng ưa, bởi từ lúc chưa có tôi vào ở, chị cũng không tiếp chuyện nhiều cùng họ. Nhưng khi có tôi thì chị lại càng gieo hy vọng cho đám đàn ông. Để tôi một mình ngồi bên ngọn đèn dầu, chị thường ra trước cửa chải tóc rồi cười giả lả bông đùa vài câu với họ. Đến khi tôi bực mình ra kéo tay chị mới chịu bước vào nhà đóng cửa lại rồi tỏ ra cau có. 
- Tí làm gì vậy? Té chị bây giờ. - Chị nói rồi nở nụ cười nhìn tôi. 
- Chị có dạy cho em học không? Nếu không em đi về, để chị ở lại tha hồ mà nói chuyện với họ. - Tôi bực mình nói vậy. 
- Có! Mà dạy bài nào. - Chị hỏi. 
- Toán. - Tôi đáp. 
- Cái này đâu phải toán. 
- Tôi nhìn xuống bàn, đúng vậy đây là sách văn học, không phải môn toán. 
- Thì văn học không phải toán. - Tôi nói
- Ủa! Lúc chiều chị dạy văn học rồi mà. 
Tôi im lặng chẳng biết nói gì, chị xoa đầu rồi nói khẽ khàng. 
- Dẹp sách vở vào cặp để mai đi học. Xuống bếp lấy ấm nước râu bắp chị mới nấu lúc chiều lên đây hai chị em mình uống. 
- Uống thứ đó chi vậy? - Tôi hỏi. 
- Để em mau lớn. - Chị nói rồi nhìn tôi cười. 
- Em đã lớn rồi mà. Ở đâu chị có thứ đó? 
- Hồi sáng chị có đi bẻ bắp thuê cho nhà ông Mậu, được trả công hai ngàn. Sẵn đó lấy râu, ra đào thêm rễ cỏ tranh về nấu nước uống cho mát. Chị ráng kiếm thêm tiền để mua ly muỗng, ghế bàn, về bán cà phê cho người ta. 
Tôi xuống bếp lấy xách cái ấm còn nóng hổi rót nước vào hai cái ly sứ mang lên đặt trên chiếc bàn gỗ duy nhất. Chị xoa đầu tôi hỏi khẽ: 
- Lạnh không? 
- Lạnh. Mùa đông mà. - Tôi đáp. 
- Uống đi để ấm rồi ngủ. Lạnh sao khuya nào chị kéo mền đắp cho, em cũng đều đá ra vậy. Tối nay mặc thêm áo vào. 
Nói xong, chị vô buồng lục lọi một lát lấy cái áo dày cui của bác Vượng để lại mặc vào cho tôi rồi cười trêu đùa. 
- Chào đại tá. 
Rồi bỗng nhiên gương mặt chị đanh lại không còn cười nữa. Chị gài cổ áo lại cho tôi, cầm lấy tay bảo thổi tắt ngọn đèn dầu trên bàn rồi vào đi ngủ. Căn nhà chìm vào bóng tối đặc trưng, đêm mùa đông gió lùa vào những khe cửa chị nằm ôm chặt lấy tôi, kéo chăn đắp kín cả hai, tôi nghe chị khóc thút thít. Lúc thì sụt sùi, lúc thì thật lớn. Tôi biết chị buồn vì tủi thân. Đây là đêm thứ ba tôi nghe chị khóc. 
- Chị đừng khóc nữa. Khóc gì mà đêm nào cũng khóc hết vậy. Sao chị nói có em ở đây cái nhà bớt đơn điệu, chị sẽ vui hơn. Vậy mà bây giờ lại khóc. - Tôi nói
Chị im lặng không nói gì, tôi tiếp tục lên tiếng. 
- Còn nghe chị khóc, em sẽ không ở đây nữa. Để một mình cho sợ ma luôn. 
- Nằm sát vào đây, cái tay đừng chìa ra vách mùng, muỗi cắn đó. - Chị nói. 
- Muỗi có răng đâu mà cắn, nó chích. - Tôi nói với lời ngây ngô như thế. 
Bỗng nhiên chị bật cười rồi cốc nhẹ vào đầu tôi.
- Y chang ông cụ non. Ngủ đi, mai chị chở đi học. 
- Để em kể chuyện ma cho chị nghe nghen. Hôm bữa em nghe ngoại của thằng Tửng kể, bây giờ em kể lại cho chị. 
- Thôi! Tối rồi mà ma cỏ gì trời - Chị nói. 
- Mà chị có sợ ma không? 
- Từ lúc cô út Hạnh đi lấy chồng chị sống một mình tới nay là 5 năm. Em nghĩ chị có sợ không? 
- Làm sao em biết được. Ma này ở trong nhà mình luôn đó. 
- Bậy bạ. - Nói xong chị đưa tay bịt miệng tôi lại. 
- Thiệt đó. Ngoại thằng Tửng nói đi ngang nhà chị vào mỗi tối thường nghe tiếng khóc của một người con gái. Bà sợ quá, chạy bỏ đôi dép lào luôn. Ủa! Mà sao em ngủ ở đây 3 đêm rồi không nghe ta? 
Chị cười ngất ngư, tiếng cười rất giòn tan, có lẽ đây là kiểu cười rất hiếm hoi của chị mà tôi đã thấy qua. Tôi hỏi: 
- Chị cũng có nghe hả? 
- Chị có nghe, mà em cũng có nghe luôn. - Chị nói. 
- Lúc nào ta? - Tôi gãi đầu không hiểu. 
- Mới đây. 
- Là chị khóc đó hả. - Tôi suy nghĩ một lát rồi nói. 
- Ừ. 
- Đó! Chị thấy tác hại chưa? Tự nhiên khóc làm gì để ngoại thằng Tửng tưởng ma. 
- Thôi, đừng có giả bộ bịa chuyện. Không muốn tôi khóc thì cứ nói ra đi, còn bày đặt ngoại thằng Tửng. Trông giữ từ lúc ông còn đái dầm lên người tôi. Qua mặt được sao? 
- Thiệt. - Tôi nói. 
Chị kéo đầu tôi sát vào mặt chị, quàng tay ôm rồi nói. 
- Mai tiếp tục gội đầu nghen. Bớt khét nắng rồi đó. Khi nào bồ kết hết, chị sẽ tiếp tục nấu. Đi học nhớ đội nón lên. Mai ăn khoai lang nha, chị nấu sẵn rồi, bỏ vào cặp để tới trường ăn. Ăn tạm ngày mai, qua ngày sau chị ra vườn đào củ mì. 
- Bếp lò xô của nhà mình cạn dầu lửa rồi đó chị. - Tôi nói. 
- Ừ chị biết rồi, do chị lấy ra để thắp đèn cho em học. Mai mốt chị mua thêm dầu. Nước cơm chị chắt ra, bỏ đường vào nên uống nóng, đừng uống nguội, kẻo bị đau bụng. 
- Em biết rồi. Sao nhà mình cửa lại bung gãy hết vậy chị. Mấy năm trước đâu có. Bây giờ gió lùa vào lạnh quá. 
- Do cách đây mấy năm, lúc cô út Hạnh chưa lấy chồng. Chị và út đi vượt biên, sợ bị lộ không dám nói cho ai biết. Cứ khóa cửa mà lặng lẽ đi trong đêm khuya. Lúc đó hai cô cháu bị người ta gạt, mất hết vàng mà không tố giác họ được. Cuối cùng chẳng đi được, không còn tiền nên chị và cô đi làm thuê cho người ta để kiếm tiền trở về. Lúc trở về thì nhà cửa đã bị kẻ gian cạy banh chành. Họ lấy đi một số tài sản, gồm tivi, máy thâu thanh, máy may của mẹ chị. Nói chung cái gì có giá trị họ lấy hết. Chị và cô út về nhà thì không còn gì nữa. Nên bây giờ mới trống trơn, cửa gãy là do vậy. Lúc đó gấp quá nên không kịp gửi đồ qua nhà em. Chiếc xe đạp còn, là vì lúc đó mẹ em mượn đi thồ củi. Cũng may, với lại những kỷ vật của cha mẹ để lại hầu như còn nguyên, vì nó không có giá trị. 
- Chị đừng buồn nha. - Tôi nói. 
- Chị không buồn, vì đó là tài sản mất có thể làm lại. Nhưng vắng em thì chị sẽ buồn thiệt đó. Vì ở đây chỉ có em là bạn, chị xem gia đình em cũng là gia đình của chị. Thật sự chị không dám giao du với ai, vì họ nhìn chị bằng quá khứ của cha mẹ chị. Mà cha mẹ chị có làm gì sai đâu. Chị hiểu những con người ấy họ tát nước theo mưa. Có lẽ họ cũng không xấu, chỉ là bây giờ mọi thứ đã khác, thời cuộc thay đổi. Chị chỉ biết mặt cha qua tấm ảnh còn lại, riêng mẹ thì mang máng trong ký ức, lúc chị còn bé tí bị sốt xuất huyết thì mẹ và anh hai đã rời đi. 
- Vậy em ở đây, chị đừng buồn nữa. Nghe người lớn nói cha mẹ chị rất tốt, thường giúp đỡ những người xung quanh. Địa vị của cải có đầy đủ nhưng chưa bao giờ khinh người. Cha mẹ chị rất đạo đức. Có rất nhiều người ở đây từng là học trò của mẹ chị. Còn cha chị mỗi lần đi công tác về đều mua quà biếu tặng khắp xóm. Vì thế nên lúc bác đi học tập cải tạo, dân ở đây người ta mong về lắm. Họ gom góp lương thực, tiền bạc để gửi mẹ chị đi thăm nuôi đó - Tôi nói. 
- Ừ! Chuyện này thì chị biết. Chị sẽ không buồn nữa. Đã quen với sự khinh miệt ấy rồi, chẳng sao đâu. Em ngoan của chị ngủ đi. Khi nào chị có nhiều tiền sẽ dẫn em đi ăn chè. 
- Thôi! Em không muốn chị vất vả kiếm tiền đâu. 
- Chị đã lớn, phải kiếm tiền mới sống được. Chị cũng từng đi xin việc nhưng vướng lý lịch gia đình nên khó quá. Thôi đành chịu, ai thuê gì làm nấy. Dành dụm để mua dụng cụ bán cà phê. 
- Em thương chị quá. - Tôi nói. 
- Chị cũng thương em. - Chị nói những lời nghẹn ngào rồi ôm chặt tôi hơn. 
- Em thấy tuổi chị, người ta đã lấy chồng hết rồi. Sao chị vẫn chưa chịu lấy chồng? 
- Làm sao chị có thể lấy được, vì còn đợi cha mẹ bảo lãnh qua Mỹ. Nhắc tới lấy chồng mới nhớ: em có muốn chị lấy chồng không? 
- Không. - Tôi đáp thẳng thừng. 
- Ủa sao vậy? Lúc thì kêu chị đi lấy chồng, lúc thì lại không. 
- Vì em ghét chị. - Tôi nói. 
- Sao lúc nãy nói thương chị mà bây giờ lại ghét. 
- Vì chị nói chuyện với những người đàn ông trước cổng. 
Chị xoa đầu tôi rồi cười thành tiếng. 
- Thôi ngủ đi. Ngày mai chị để lửa than dưới gầm giường cho đỡ lạnh. Nằm xích lại đây.  
Hai chị em nằm co ro trên chiếc giường cạnh cửa sổ gió lùa trong buồng chị. Chị ôm tôi để sưởi ấm, rồi êm ái đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng với mùi hương bồ kết từ tóc chị bay sang. Qua một tuần sau đúng vào ngày chủ nhật. Tôi nghỉ học theo chị ra đồng để tát nước bắt cá nơi những cái mương cạn. Mình mẩy lấm lem mặt mày nhem nhuốc, nhìn nhau rồi cười tít mắt. Chưa bao giờ tôi thấy chị vui tới như vậy, cá nheo nhóc trong chiếc gàu. Chị nói bấy nhiêu đó hai chị em ăn cả tuần không hết. Chị đi ra chiếc xuồng ba lá nhờ tôi xô ra để hái bông súng mang về nấu canh chua. Chẳng biết đi đứng ra sao, chiếc xuồng lúc la lúc lắc chị té nhào xuống nước kéo luôn cả tôi theo. Cánh tay và chân của chị đập vào vành xuồng sưng vù tím ngắt. Chị chới với hai tay đập nước liên tục, hóa ra chị không hề biết lội, tôi kinh hồn bơi lại đẩy chị vào bờ cạn. Dìu chị lên trên khô, mặt mày tím tái ho sụt sùi. Chị bước đi khập khiễng, tôi đành cõng chị về. Vậy mà chị vẫn cười như đang hạnh phúc lắm. 
- Cõng nổi không đó. - Chị hỏi. 
- Nổi sao không. Chị ốm nhom như con cò ma vậy mà. Đã không biết bơi sao lại đòi đi hái bông súng. Nếu không có em thì sao? 
- Bởi vậy! Chị sẽ chết nếu không có em bên đời chị. Không riêng gì lần này, mà mãi sau này luôn. 
- Thôi mình về. Có hái thêm bông so đũa không? - Tôi hỏi
- Có! Thêm me chua nữa. 
Khi về chị sinh hoạt rất khó, vì chân và tay đang bầm tím sưng vù. Tôi luộc trứng gà so, bỏ vào chiếc khăn mà lăn cho chị. Chị nhăn nhó rên la, rồi lại cười toe toét. Bữa cơm giản dị của tôi và chị lặng lẽ trôi qua. Tôi lấy xe đạp chở chị đi chơi lòng vòng khắp xóm, hàng ngày chị đều chở tôi, nhưng hôm nay chị bị đau. Hai chị em lên chợ, chị mua một bịch mía ướp lạnh, vài trái cóc đã chẻ ngâm đường. Tôi tự mua một hủ dầu cù là. Thấy tôi mua chị hỏi. 
- Em mua dầu cù là chi vậy? 
- Để về xoa chân, tay cho chị. Bầm tím đó không thấy hay sao? 
- Tiền ở đâu có mà em mua? - Chị hỏi. 
- Tiền mẹ cho đi học, em không ăn. Để dành khi chị cần. 
- Ai dạy cho em vậy? - Chị hỏi. 
- Không ai dạy hết. Tại em không muốn chị khổ. - Tôi nói. 
Chị im lặng khá lâu không nói gì, trên đường tôi hỏi gì chị cũng ậm ừ đáp qua loa. Đến cổng nhà, chị giữ hông tôi, tay run lên bần bật khi thấy trước cổng có người đàn ông đứng đó nhìn vào nhà cạnh chiếc xe đạp tồng tộc. 
- Có chuyện gì vậy chị. - Tôi hỏi. 
- Họ tới để lấy nhà. - Chị nói, giọng có chút hoảng hốt. 
Tôi nhìn kỹ lại thì nhận ra. Đó là ông Giám, một cán bộ xã. Nếu nói tôi ghét mấy ông thanh niên cầm đàn đứng trước cổng nhà trồng cây si, ghét một, thì tên này tôi phải ghét tới một trăm. Cứ mười ngày nửa tháng thì lại đến nhà chị, nói về tình hình của bác Vượng trong trại cải tạo. Nào là đã nhờ anh em chiếu cố, không bao lâu nữa sẽ về. Cái điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại, mục đích duy nhất chỉ là để lấy lòng chị. Lúc nào cũng mang qua hộp bánh, vài bó rau, nhưng chị đều từ chối. Bây giờ cũng vậy, xách theo cái gì đó treo lủng lẳng trên bi đông xe đạp đằng kia. 
- Đó là ông Giám cán bộ xã. - Tôi nói. 
Chị đưa tay vịn ngực thở phào. Nhưng gương mặt cũng còn hoang mang. Khi hai chị em tới, chị bước xuống chào nói, rồi mời ông cán bộ vào nhà. Đây là lần đầu tiên chị mời, trước đó gã tự động vô, lúc ấy chị không dám đứng gần, cứ kiếm cớ ra sân, hoặc ra trước đường mà nói chuyện, vì có một lần gã nắm tay chị định ôm, giả vờ như an ủi, cảm thông với hoàn cảnh. Bây giờ đã có tôi, có lẽ chị không sợ nên can đảm mời thẳng. Gã tiến tới chiếc ghế gỗ ngồi xuống, lột nón quạt phe phẩy.
- Có gì không cán bộ, nhà em chẳng có gì tiếp đãi, cán bộ thông cảm uống nước nha. - Nói rồi, chị nhìn sang tôi bảo xuống bếp rót nước râu bắp cho cán bộ uống. 
Tôi đi xuống lấy nước đúng như lời của chị, nhưng vì ghét tên này tôi đã lấy một ít tro bếp bỏ vào ly rồi mang lên. Gã nhìn tôi cười giả tạo. 
- Thằng cu này con anh ba cạnh nhà phải không? Chà! Mau lớn quá ta. Chú cho tiền đi mua bánh ăn nè - Gã nói rồi cho tay vào túi.  
- Cháu lớn rồi, nên không ăn bánh. Hay là chú cho tiền cháu mua chiếc Honda 67 đi. - Tôi nói. 
- Hai chị em vừa rồi có đi vòng vòng, cũng có mua một ít để tối ăn. - Chị nói rồi nhìn tôi như sợ tôi nhận tiền rồi đi bỏ một mình chị ở lại. 
Gã bày ra đủ trò để tôi đi khỏi, nhưng tôi nhất quyết không đi. Hết cách, gã đành vào chủ đề. 
- Vừa rồi tôi và mấy anh em có đi công tác ngoài đó. Tôi có đến trại cải tạo để thăm đại tá. Đại tá khỏe lắm, cũng sắp về ăn tết với cô Thanh rồi đó. Đại tá có nhắn nhủ tôi, phải thường xuyên tới đây để chăm sóc cho cô vì nhà chẳng còn ai. 
- Vậy gia đình em cảm ơn cán bộ đã cho biết về tình hình của cha. Nghe vậy em cũng mừng. Còn việc chăm sóc thì không cần đâu, vì đã có Cu Tí ở đây rồi. Bây giờ em không còn một mình nữa. - Chị nói. 
- Cô Thanh nói vậy là phụ lòng tốt của cha mình. Đại tá thương cô nên mới lo lắng vậy. Tôi làm sao dám từ chối mà không nhận lời, dẫu sao tôi cũng là học trò của cô giáo Lã mẹ cô. - gã nói. 
Bỗng dưng chị nhìn sang tôi với vẻ hốt hoảng rồi nói. 
- Nhắc tới cô giáo chị mới nhớ. Cô giáo Tí có dặn chị chiều nay hướng dẫn làm bài tập để mai kiểm tra. Lấy bài vở ra chị kèm cho. - Chị nói
- Ừ! Đúng rồi, em cũng quên. Em đi lấy bài đây. 
- Cán bộ ngồi chơi nha. Em phải hướng dẫn cho cu Tí làm bài tập. - Chị nhìn sang cán bộ rồi nói. 
- Vậy thôi, khi khác tôi sẽ ghé. Có mấy quả cam tôi đem qua biếu cô Thanh ăn lấy thảo. 
- Dạ! Không cần đâu cán bộ, em cũng vừa mới mua. - Chị trong buồng nói vọng ra. 
- Vậy chào cô Thanh tôi về nhé. - Gã nói rồi bước ra sân lên chiếc xe đạp mà đi. Có lẽ gã đang khó chịu vì sự xuất hiện của tôi trong chính căn nhà này.  
Hai chị em trong buồng cười khúc khích. Chị cốc vào đầu tôi rồi nói. 
- Ừ! Em cũng quên. 
- Thì chị cũng nói y như thật đó thôi. - Tôi nói. 
- Chị đừng tin ông đó. Nhìn mặt gian quá. 
- Sao lại không tin. Liên quan đến cha chị mà. - Chị nói. 
- Ông đó không đàng hoàng đâu. - Tôi nói hơi lớn tiếng, có pha chút bực bội. 
- Làm gì mà khó chịu dữ vậy. Chị biết, tại chị chọc em thôi. Mẹ chị là giảng viên văn khoa trước 1975. Ông ấy lớn hơn chị có ba tuổi thì làm sao là học trò của mẹ chị được. Chưa chắc ông ấy học bằng em, nói tới đại học thì nghe xa xôi lắm. Còn nữa, cha chị đã ra trại và đang ở Mỹ cùng với gia đình. Thế thì ông ấy đã gặp bằng cách nào?. - Chị nói. 
- Sao chị biết bác đang ở Mỹ. - Tôi hỏi. 
- Đây. - Nói xong chị lấy dưới tấm chiếu một lá thư với nét bút của bác Vượng mà chị đã so sánh qua cuốn nhật ký của ông. 
Nói xong chị đi ra nấu cơm. Tôi cũng theo sau lưng để phụ chị vo gạo, nhóm lên bếp lửa. Tôi bảo chị đi tắm sớm, việc nấu cơm cứ giao cho tôi vì tay chân chị đang đau. Nhà chị trống trải nhưng cái bếp chưa bao giờ nguội. 
- Nhớ lát xoa đầu cho chị với lăn hột gà nha. Còn nữa! Tối nay hai chị em mình đi mua bàn ghế, để bán cà phê. Về sau đừng đuổi người ta nữa. Họ tới uống thì chị em mình mới có tiền. - Chị nói. 
- Đuổi ai? Đuổi bao giờ. - Tôi ngước mặt lên hỏi chị. 
- Còn đuổi ai. Chị biết, chị hiểu. Ai đã từng giả vờ đá trái banh vào mặt người ta. Ai đã nói: “Chị Thanh đang bị bệnh, chị nói ai tới tìm thì cứ đuổi về. Chị ghét nhất những ai rình rập như ăn trộm”. Chị có nói vậy với em bao giờ. - Nói xong chị xoa đầu tôi rồi nghiêng đầu nở nụ cười. 
- Thì lúc đó em tưởng chị bệnh. Với lại chị không thích họ còn gì nữa. - Tôi nói. 
- Chị không thích họ là đúng, nhưng chị không hề nói ra câu đó, đúng hơn là em tự nói để đuổi người ta. Thôi! Ngày mai mình bán cà phê đừng đuổi nữa nha. Nấu cơm xong, đi tắm sớm để lạnh. 
- Vậy chị tắm trước đi. - Tôi nói. 
- Chị chờ em, để chị gội đầu cho luôn. Đổ thêm nước vào ấm đi, để lát tắm.
Chiều tối đó tôi chở chị ra chợ mua 2 cái bàn nhựa, 6 cái ghế nhỏ, và một số đồ linh tinh khác phục vụ cho công việc pha chế. Tôi biết những đồng tiền ấy là chị mượn từ dì Hạnh. Tôi thấy buồn vì chẳng giúp gì được cho chị, ngược lại để chị còn lo cho tôi từng miếng ăn giấc ngủ, hầu như cái gì tôi cũng trước tiên rồi mới tới lượt chị. Những ngày đầu bán cà phê, quả thật thu nhập rất khá. Bọn thanh niên, đàn ông trong xóm kéo nhau uống rất đông. Chỉ có 6 cái ghế không đủ chỗ ngồi, họ phải ra trước sân nhà mà ngồi bệt xuống. Trong một lần đi học về tôi lén nhìn qua hàng rào, thấy chị ngồi lặng lẽ trong nhà mà không ra nói chuyện với khách. Nhưng khi thấy cái mặt tôi xuất hiện thì chị lại tức tốc chạy ra để nói cười với họ, như cố tình cho tôi thấy. Họ thì ngạc nhiên, tôi thì khó chịu nhưng chẳng biết làm gì vì chị đã dặn trước không được bày trò để đuổi khách đi. Rồi một ngày nọ tôi học về, thấy trước cổng có rất nhiều người nhốn nháo xì xào bàn tán. Có một người phụ nữ đang lớn tiếng chửi mắng ai đó, trông thái độ rất hung hãn. Linh tính mách bảo có chuyện chẳng lành vừa xảy ra với chị. Tôi tăng tốc đạp xe, vào sân mới biết thì ra bà này đang chửi chị. Nguyên nhân chính: do chị mở quán cà phê, chồng bà này thường xuyên tới uống mà ít khi chịu ở nhà. Chuyện chỉ có vậy mà cho rằng chị đã dụ dỗ chồng mình. Rồi dùng các lời lẽ nặng nề để lăng mạ. Lôi luôn cả cha mẹ chị ra mà rủa xả. Tôi dựng chiếc xe đạp, chạy vào trong nhà thấy chị ngồi bên bếp lửa ôm mặt khóc nức nở. Lúc này tôi không kiềm chế được cảm xúc của mình. Cầm lấy chiếc đũa bếp chạy ra ngoài cổng, chị nắm giữ chân tôi lại, cơn thịnh nộ của thằng con trai 13 tuổi đang trỗi dậy như vũ bão. Chị đã té ngửa vì không cản nổi hành động này. Tôi ra trước cổng đứng đối diện với bà nọ. Thấy tôi còn nhỏ nhưng có vẻ liều mạng, bà nọ xuống nước, nhỏ giọng lại mà nói với tôi: 
- Liên quan gì tới mày. Không dính dáng gì tới nó thì đừng bênh vực. Em tao làm công an đó. Coi chừng còng đầu luôn cả mày nếu qua lại với nó. Cha mẹ nó là quân bán nước, bây giờ trốn qua Mỹ để ăn bơ thừa sữa cặn. 
- Tôi thương chị. Tôi muốn che chở cho chị! Ai dám đụng tới chị, tôi không để yên. Cút ngay. - Tôi hét to, khiến những người xung quanh cũng phải giật mình, vì xưa giờ tuy tôi có phá làng, phá xóm, nhưng chưa lớn tiếng với người lớn bao giờ. 
Bà nọ đành quay lưng đi, trong nỗi reo hò của những người xung quanh. Tôi chạy vô trong nhà thấy chị nằm đó quằn quại tay vuốt ống chân nhăn nhó. Thì ra lúc chị giữ tôi lại, tôi hắt tay làm chị té nhào, ở dưới nền có cây củi to trúng ngay vết đau cũ. Tôi lao tới ôm chị rồi khóc nức nở. Đỡ chị đứng dậy, dìu ra ghế cho chị ngồi. Lấy dầu cù là thoa vào vùng sưng tím. Tôi lí nhí nói những lời nghẹn ngào đứt quãng. 
- Em xin lỗi chị. Em không cố ý làm chị té ngã để đau. 
- Sao em lại làm vậy. - Chị hỏi với hai hàng nước mắt rưng rưng.  
- Em…em…Em, không để ai bắt nạt chị. 
Chị lau nước mắt, gượng cười rồi ôm tôi vào lòng giữ thật lâu. Chị nói khẽ khàng bên tai. 
- Tắm đi rồi vô ăn cơm. Cái áo trắng dơ rồi, lột ra treo lên sào để mai chị giặt. 
- Chị đừng khóc nữa. Em ở đây sẽ không để ai ngang ngược mà ức hiếp chị. - Tôi nói. 
- Chính những câu nói lẫn hành động này của em mới làm chị khóc đó. Nhưng cái khóc này không phải là nỗi đau mà là niềm vui. - Chị nói. 
- Khóc mà cũng vui nữa hả ta? - Tôi nói. 
Chị cốc vào đầu tôi rồi âu yếm nói khẽ. 
- Thôi, tắm đi rồi ăn cơm để tối lạnh. Chị nói cái này chắc em mừng lắm đây! Có muốn nghe không? 
- Có. - Tôi đáp ngắn gọn. 
- Bắt đầu từ ngày mai không bán cà phê nữa. Nhiều tiền lời rồi. Nghe vui không? - Chị hỏi. 
- Vui cái gì? Lời nhiều hay sao? - Tôi hỏi lại. 
- Vui vì chị không bán cà phê nữa. Đó chẳng phải là điều em rất muốn hay sao. Tính ra bán ngắn hạn mà lời nhiều. Quần áo chị lấy sẵn rồi, lấy nước ấm ở dưới bếp ra mà pha rồi tắm. 
Tôi tắm xong trở ra thì đã thấy cơm chị dọn sẵn trên bàn. Chị luôn vậy, mặc dù chân đau đi không nổi nhưng luôn lo lắng cho tôi một cách tốt nhất. Những khi buồn chị hay bày ra các kỷ vật của cha mẹ để lại, ngắm nghía thật kỹ rồi ôm vào lòng với sự nâng niu đầy trân quý. Trước kia chị Thanh hoàn toàn trở thành một linh hồn bơ vơ trong căn nhà tường bị niêm phong ký ức. Từ khi có tôi sang ở cùng, cái nhà bớt lạnh lẽo, chị cũng tươi tắn hơn, ít khóc, ít buồn, thay vào đó là cười nói, hát ca, kể chuyện cho tôi nghe. Những đêm đông khi ngọn đèn dầu tắt chị ôm tôi rồi thầm thì tâm sự với những niềm bất hạnh đầy buồn bã cào xé. Có khi hai chị em ngồi sưởi ấm bên bếp củi. Chị nhìn vào ngọn lửa đang nhảy múa trong bếp mà thỏ thẻ bên tai: “Người ta ghét căn nhà này vì nó gắn với cha mẹ chị. Nhưng chị còn không biết cha mẹ chị cười hay khóc như thế nào. Chị chỉ biết cha qua hơi lạnh của những mảng tường này, qua bức ảnh chân dung của người đàn ông mặc quân phục và một cuốn nhật ký. Còn mẹ và anh hai thì trong ký ức nhạt nhòa của một cô bé ngây dại chưa biết gì”. Rồi hai hàng nước mắt bỗng giàn giụa như một thói quen. Tôi thương chị Thanh lắm. Cái tuổi mười ba, tôi vẫn ngây ngô, chỉ biết thấy chị khóc thì tôi buồn theo. Tôi ước gì mình thêm vài tuổi thành người lớn để bảo vệ cho chị. Có một lần chị ngủ mớ nói thành tiếng: “Cu Tí ơi! Mẹ đi thật rồi hả? Anh hai cũng đi rồi phải không?" Cha ở trại cải tạo về nhà rồi đón chị đi cùng để gia đình đoàn tụ! À mà thiếu, còn em Cu Tí nữa, chị qua đó mà không có em chị buồn lắm”. Tôi giật mình tưởng đâu chị đang nói chuyện với tôi bằng hiện thực, hóa ra chị đang nằm mơ. Thương chị quá chỉ biết nắm chặt tay. Bởi, biết chị cũng thương tôi, chị đã trông giữ tôi từ lúc tôi còn bé nhỏ kia mà. 
- Sao không thấy bài vở ra mà ngồi ngẫm nghĩ cái gì đó. - Tiếng gọi của chị làm tôi giật mình, những suy nghĩ về chị cũng tan biến mất. 
- Học hoài cũng có giỏi lên đâu. Dốt đặc như me. - Tôi đáp, không thèm nhìn chị. 
- Nãy giờ ăn cơm, chị dọn dẹp, rửa chén, tắm rửa, giặt giũ xong, gần một tiếng đồng hồ thế mà em vẫn ngồi đó không chịu lấy bài vở ra để chuẩn bị học. Ngày mai có Văn Học, lấy bài tập ra nhanh lên. 
- Em buồn ngủ quá. - Tôi đáp. 
- Bị đòn bây giờ. Ngày mai chị ra vườn hái ổi mang ra chợ bán. Sẵn đó chặt vài cây roi để dành mới được. 
- Để em lấy hột gà lăn chân cho chị. - Tôi nói. 
- Thôi khỏi. Lát ngủ rồi lăn sau. Lấy sách văn học ra đây. Nhanh lên còn đi ngủ. 
- Bài đọc thêm thì học làm gì. - Tôi nói. 
- Thì lấy ra cho chị coi. Nếu đúng bài đọc thêm thì tối nay khỏi học. 
Tôi lấy ra cuốn sách cho chị xem qua. Đúng là bài đọc thêm, chị kiểm tra sách vở lại lần nữa rồi im lặng không nói gì. Chỉ bảo tôi đem cất để vào cặp để mai đi học. Đừng vứt lung tung vì chị đã soạn sẵn, đúng theo thời khóa biểu.
- Để em xuống bếp lấy hột gà lăn cho chị. Thấy sưng tím rồi. - Nói xong tôi đi ngay xuống bếp. 
Khi tôi lên, cứ mỗi cái lăn nhẹ chị đều nhăn nhó vì đau. Chị xoa đầu tôi rồi nói. 
- Từ nay về sau mẹ cho tiền em đừng lấy nha. Chị có tiền, chị còn trẻ, còn sức khỏe để đi làm kiếm tiền, chị sẽ thay mẹ cho tiền em đi học mỗi ngày. Với lại, không cần dành dụm đâu. Cứ mua ăn những gì em muốn. Có ăn mới mau lớn. - Chị nói. 
- Thì sau này em cũng sẽ lớn như chị. Hàng ngày đồ ăn chị đã chuẩn bị sẵn nên đâu cần mua gì. Em sẽ dành dụm tiền để chị bớt vất vả. - Tôi nói. 
- Em có thương chị không? - Chị hỏi. 
- Có. - Tôi đáp ngắn gọn.
- Nếu đã thương chị, thì phải nghe lời. Có tiền thì cứ mua đồ ăn, không cần phải để dành phụ giúp chị. Chị đã lớn rồi nên phải đi làm kiếm tiền lo cho em. Em còn nhỏ nên không cần lo cho chị. Chị đã quen vất vả từ nhỏ, không sao đâu. 
- Nhưng em muốn lo cho chị, em không muốn chị vất vả cực khổ nữa. 
- Vậy thì lớn lên đi rồi lo lại cho chị. Còn bây giờ em còn nhỏ. Mà nè! Sao tự nhiên cái mặt buồn hiu vậy? Bộ giận chị hả? - Nói xong, chị ôm lấy tôi rồi lấy tay vỗ nhè nhẹ vào lưng. 
Tôi im lặng trong vòng tay của chị. Chị nói khẽ khàng bên tai. 
- Ngày mai chị đi lấy mủ gòn để về làm nước cho em uống. 
Chị buông tôi ra, lấy chiếc áo mặc vào cho tôi, cài cúc kín mít vì sợ tối ngủ sẽ bị lạnh. Chị đánh vào cái bắp chân của tôi rồi nói. 
- Cái chân này hư lắm nha. Đêm qua ngủ, cứ đạp vào lưng chị. Nói thương mà hai chân cứ đá với đạp vào người. Thôi, thổi tắt đèn dầu rồi đi ngủ. 
Tôi bước tới thổi tắt cái đèn dầu trên bàn rồi leo lên giường nằm cạnh chị. 
- Nằm xích lại đây, sao lúc nào cũng nằm xa chị hết vậy. - Chị nói. 
Tôi nằm gần lại, chị ôm lấy tôi như thường lệ rồi âu yếm nói khẽ. 
- Chị kể chuyện cho em nghe nha. 
- Thôi, chị kể toàn chuyện buồn. Nghe khó ngủ thêm. - Tôi nói. 
- Vậy chị hát cho em đỡ buồn được không. 
- Ừ hát đi. 
Rồi chị say sưa nghêu ngao hát rất thản nhiên, chỉ dừng lại sau câu nói của tôi. 
- Cái giọng gì mà khó nghe dữ vậy. Chị mà làm ca sĩ chắc khán giả chết hết. Thôi, bỏ cái vụ hát hò ra luôn đi - Tôi nói. 
- Khi nào có tiền mua chiếc máy băng cassette về hai chị em mình nghe mỗi đêm khi ngủ. Khỏi hát cho mỏi miệng. Hồi chiều em làm chị sợ quá. Về sau cứ nhịn nhục cho yên. 
- Em không muốn ai bắt nạt chị. Mà làm gì chị sợ dữ vậy. Người sai là họ kia mà. 
- Chị biết, nhưng mình là người yếu thế. Lý lịch gia đình mà họ cho rằng không trong sạch. Nhất là đối với người có chức có quyền chị càng sợ. 
- Làm gì phải sợ. Chị đâu có vi phạm pháp luật.
Chị im lặng ôm tôi rồi kéo chăn đắp kín. Đêm nay lạnh quá, bóng tối đặc quánh bao trùm lấy căn nhà tường cũ kỹ. Cơn gió bấc luồn qua những khe cửa gỗ mục nát, rít lên từng hồi như tiếng vĩ cầm lỗi nhịp. Trong gian nhà trống huếch, chỉ vài cái bàn ghế, không nệm ấm, cái lạnh như những mũi kim châm vào da thịt. Chiếc phản gỗ đen bóng trong buồng, nó là thứ đồ vật giá trị duy nhất còn sót lại, chị đang nằm co quắp ôm trọn lấy tôi. Cơn đau chân khiến chị nhói buốt không thể nhắm mắt, cứ cựa mình liên tục. Tôi nằm cạnh, dù đã khoác thêm mấy lớp áo nhưng vẫn thấy hàm răng mình va vào nhau lập cập.  Chị Thanh khẽ trở mình, tiếng phản gỗ kêu một tiếng khô khốc trong không gian tĩnh mịch. Chị run lên bần bật. Nghiêng mình, kéo đầu tôi sát má chị. Đôi bàn tay gầy khẳng khiu của chị xoa đầu tôi, như thể tôi là khúc củi duy nhất còn sót lại giữa một đại dương băng giá. Tôi cảm nhận được hơi thở nóng hổi nhưng đứt quãng của chị phả bên vành tai. Chị ôm tôi chặt đến mức tôi nghe rõ cả nhịp tim đập thình thịch, gấp gáp vì lo sợ và vì cái rét đêm đông. Tôi nghe cái gò má ẩm ướt, thì ra chị đang khóc.  
- Em đừng đi đâu nhé... Chị sợ lắm. Căn nhà này rộng quá, lạnh quá...Nếu chiều nay mà không có em… – Chị bỏ ngang câu nói. Giọng chị thều thào, tan loãng vào bóng tối. 
Chị hôn thật nhiều vào mặt tôi. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được người khác giới hôn. Trong vòng tay ôm chặt của chị Thanh, tôi ngửi thấy mùi dầu cù là nồng lẫn với mùi vải sờn cũ. Tôi thấy chị giống như một chú chim nhỏ bị bão đánh dạt vào hiên nhà, vừa yếu ớt vừa cần sự bảo vệ. 
- Em chẳng đi đâu hết, sẽ không để bất cứ ai ức hiếp chị. - Tôi nói. 
- Sắp cuối năm rồi. Lạnh quá phải không? Bếp không đủ than để đặt dưới gầm giường. Sáng sớm chị chiên cơm tỏi, ăn xong rồi đi học nha. Chị ở nhà kiếm gì che chắn cửa sổ lại để gió không lùa các khe hở. - Chị nói. 
- Có chiên thì đừng đập trứng gà vào nha. Chỉ cơm, mỡ, tỏi, nước mắm là đủ rồi. - Tôi nói. 
- Ủa sao vậy? Chị vẫn chiên cơm cho em ăn đều có hột gà đập vào mà. - Chị nói. 
- Thôi, để đó luộc mà lăn vết bầm cho chị. 
- Không, chị vẫn bỏ trứng vào. Gà mình sau vườn đẻ trứng nhiều lắm. Em yên tâm chị không tốn tiền mua đâu mà sợ. 
Nói xong chị xoa đầu tôi rồi hôn vào má. Trong ký ức mang máng của tôi lúc còn bé nhỏ trong vòng tay chị, cũng thường hôn như thế này. Nhưng bây giờ có gì đó rất khó để giải thích trong tôi, vừa sợ, vừa rụt rè ái ngại, tóm lại tôi không biết cảm giác này gọi là gì cho thật chính xác. 
- Sao không ngủ đi. Chị cựa mình làm em khó ngủ phải không? 
- Không phải. Tại chưa buồn ngủ.  
- Đang suy nghĩ cái gì, nói chị nghe. 
- Em suy nghĩ sao chị lại biết. - Tôi hỏi. 
- Ai thì chị không biết, riêng em thì chị biết. Bởi, chị đã trông giữ em từ thuở nhỏ. 
- Mà thôi cũng không có gì đâu. 
- Đôi lúc chị nghĩ, không biết nên gọi em là Quang hay là Cu Tí nữa. Bây giờ suy nghĩ của em là người lớn đó, ngập ngừng không nói, trẻ con nó sẽ nói ngay. Thôi ngủ đi mai còn đi học. Ra phía ngoài đi, để chị nằm cạnh cửa sổ che bớt gió lại cho em bớt lạnh. - Chị nói. 
- Thôi. Cứ nằm đó đi. Mà của sổ gãy vài miếng tạo thành khe hở lớn là có người cố tình làm đó nha. Chị có chắn lại thì họ cũng gỡ ra thôi. 
- Ai làm vậy? Sao em biết?. 
- Thì mấy ông rình rập chị chứ ai. 
- Sao em biết? - Chị hỏi. 
- Sáng mai ra em chỉ cho. Nói chị không hình dung ra được đâu. 
- Thì cứ nói đi. 
- Dấu chân dưới đất, đó không phải dấu chân của em và chị. Nó là bàn chân lớn. Trên cửa sổ ngoài cũng để lại dấu tay trên các mảng bụi. 
- Ôi hay quá. Đúng là trụ cột trong nhà. Em thông minh hơn cả chị nghĩ. Mà em có biết mặt họ không? 
- Không, nếu biết thì em đâu có để yên. Chỉ là biết có người cố tình làm. Mà làm vậy thì chỉ có một mục đích duy nhất là rình rập chị thôi. Trộm thì chắc chắn là không rồi, nhà có gì đâu mà trộm. Từ nay về sau có thay đồ thì nên vào nhà tắm. 
- Dạ, em biết rồi ông chồng nhỏ. Ngày mai chị đưa em đi học, khi về sẽ kiểm tra kỹ lại. Hèn gì mấy đêm nay gió ở đâu mà lùa vào quá nhiều. Thôi ngủ đi. Nằm sát vào chị ôm cho ấm.
Đêm đó, giữa căn nhà lạnh lẽo trống trơn, chị cứ thế ôm chặt lấy tôi mà ngủ. Sự va chạm của hai cơ thể cô đơn dưới một mái nhà đã tạo ra một thứ hơi ấm kỳ lạ nó không chỉ sưởi ấm da thịt, mà còn sưởi ấm cả những góc khuất tối tăm nhất trong tâm hồn chị. Những đêm đông dài bất tận, trong gian nhà tường rộng mênh mông và trống trải, ánh đèn dầu tù mù chưa thổi tắt, được đặt trên chiếc bàn gỗ chính là tâm điểm của cả thế giới bé nhỏ giữa hai chúng tôi. Những đêm dưới ánh đèn, bóng của chị đổ dài lên bức tường rêu mốc, mờ ảo và lung linh. Mái tóc dài đổ xuống như một dòng thác đen tuyền, che bớt khuôn mặt buồn bã vì thương yêu gia đình. Căn nhà tường đêm đông đó giống như một ốc đảo biệt lập giữa xóm nhỏ. Ngoài kia người ta rục rịch chuẩn bị Tết, còn ở đây, chỉ có hai chị em co ro nương tựa vào nhau. Nỗi buồn của mùa đông đã biến căn nhà thành một ký ức không thể nào quên, nơi mà sự trống trải về vật chất đã vô tình được lấp đầy bằng một tình thương nguyên sơ và mãnh liệt nhất.
📎 FB_IMG_1790466318146.jpg
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
Chương II: Mùa Xuân Đầu Tiên
Khi những tờ lịch cuối cùng của năm cũ mỏng dần đi, xóm nhỏ quê tôi bỗng trở mình trong một làn sương sớm bảng lảng. Đó là lúc hơi lạnh của mùa đông bắt đầu vơi bớt, nhường chỗ cho cái nắng hanh hao vàng óng như mật ong rót xuống những rặng cúc vạn thọ vừa hé nụ. Gió chẳng còn gắt gỏng mà trở nên dịu dàng, mơn man trên những nhành mai gầy guộc đang rùng mình rũ bỏ lớp lá già để chuẩn bị cho một cuộc khai hoa rực rỡ. Xuân chưa đến hẳn, nhưng cái hơi thở nồng nàn của đất trời đã len lỏi vào từng hơi thở, từng nhịp sống của người dân nơi đây. Cái không khí xôn xao của những ngày cận tết dường như bắt đầu từ chính tiếng rao bán hàng ngoài chợ, người nhộn nhịp hơn, hàng hóa nhiều hơn nhất là các loại bánh kẹo, đèn chớp, tờ liễn, các vật dụng trưng bày trong các dịp tết. Tuy kinh tế thị trường chưa phát triển vượt bậc, nhưng nó vẫn là một thứ tạo dáng để làm nổi bật trong thời điểm của tháng ngày giáp tết. Tiếng các bà các mẹ xôn xao bàn chuyện mua sắm mứt trà, nói chuyện quê, kể chuyện tết, tất cả hòa quyện thành một bản giao hưởng ngọt ngào đầy hoan ca. Mùa xuân đang ở rất gần khi những cơn gió chướng đang hôn lên những vòm lá, hiện hữu trong từng nụ cười và ánh mắt lấp lánh niềm vui của mọi người xung quanh. Trong cái tĩnh lặng của xóm nghèo, mùi khói bếp quyện cùng hương bánh mứt thoang thoảng trong gió như lời mời gọi tha thiết xuân đã sắp gõ cửa từng nhà. Bếp chị Thanh luôn đỏ lửa như một quy luật xua tan cái không gian lạnh lẽo trong căn nhà trống trải. Ngày 21 chị tất bật với mứt dừa, cũng tới nhà tôi mượn cái khuôn gỗ để về làm bánh in. Mặc dù cái nhà quạnh quẽ mấy năm nay, mỗi dịp tết chẳng có một khách nào tới chơi. Vì chỉ có một mình suốt 5 năm qua nên hoàn toàn chẳng tha thiết gì với tết. Cũng không thèm sắm sửa bất cứ thứ gì. Chỉ có sang nhà tôi phụ giúp mẹ dọn dẹp nấu nướng, chơi với tôi rồi lại thui thủi một mình trở về nhà. Năm nay đã khác vì có tôi trong chính căn nhà của chị. Tuy chẳng có gì, nhưng chị vẫn cố gắng tạo cho có không khí mang hồn cốt tết cổ truyền. 
Tôi ngồi bên chị trong gian bếp nhỏ ngày giáp Tết, ngọn lửa hồng như một đứa trẻ tinh nghịch, cứ nhảy nhót reo vui trên từng thanh củi khô. Những đốm lửa nhỏ bắn ra lách tách như tiếng pháo hoa sớm, chào đón bầu không khí xuân đang về rất gần. Cái nồi chị làm mứt đang thở ra những làn hơi trắng xóa tỏa hương ngào ngạt của nước dừa và đường. Khói bếp không còn là những sợi xám xịt mà trở nên mềm mại như dải lụa tiên. Len lỏi khắp căn nhà, quấn quýt lấy bóng dáng gầy gò của chị. Bếp lửa lúc này không chỉ là nguồn nhiệt, mà trở thành người bạn tâm giao, sưởi ấm cả không gian và cả hai tâm hồn đang thổn thức đợi chờ khoảnh khắc chào xuân sớm. 
- Nhìn cái gì trong bếp đó. - Chị nói rồi sờ má, nghiêng đầu cười nhìn tôi. Chị có một thói quen mà tôi để ý từ xưa đến giờ. Mỗi khi chị nói rồi cười thì đều nghiêng đầu sang một bên. Chi tiết này hình như độc quyền của chị mà chẳng một ai có. Chắc chị cũng không biết. 
- Em nhìn thử bao giờ thì ông Táo sẽ nhảy ra vì quá nóng. - Tôi nói. 
Chị véo má tôi rồi nghiêng đầu cười tít mắt. 
- Ông táo là ông này đây nè. - Chị nói rồi chỉ tay vui đùa cùng tôi. 
- Nhà có hai chị em mà làm chi nhiều quá vậy? - Tôi hỏi rồi đưa mắt nhìn vào cái thau bột trắng phảng phất mùi vani chưa nhào nặn. 
- Để em ăn cho mau lớn. Học cho thiệt giỏi. Quên nữa! Lát em ra vườn nhổ gừng để chị làm bánh in. Trưa nay theo chị ra chợ, mua cho Tí cái áo để tết mặc. Áo này cũ lắm rồi. - Chị nói. 
- Áo chị còn cũ hơn của em kia kìa. Thôi, không lên chợ đâu. Chị có mua về em cũng chẳng mặc. - Tôi nói. 
- Chị dành dụm tiền bấy lâu nay chỉ để sắm sửa cho em. Em không mặc thì chị để dành tiền còn ý nghĩa gì nữa. - Chị nói rồi nhìn tôi với đôi mắt đượm buồn. 
- Thì mua cho chị đi. Con gái mà ăn mặc đồ cũ thế này hèn gì không có chồng là phải. 
- Vậy Tí muốn chị đi lấy chồng hả? - Chị hỏi rồi nghiêng đầu cười nhìn vào mắt tôi. 
- Thì trước sau gì cũng phải lấy mà. - Tôi đáp.
- Vậy em đi tìm chồng cho chị đi. 
- Không có quỡn đâu. Tự kiếm đi. Mà cần gì phải tìm, quá nhiều người tại chị chẳng chịu một ai chứ đâu phải không có. 
- Nè, quay sang đây. Nhìn vào mặt chị trả lời đàng hoàng: em có muốn chị đi lấy chồng không? Hỏi nghiêm chỉnh thêm một lần nữa, không giỡn. Để chị biết mà nhận lời người ta. 
Tôi im lặng không nói gì, đứng dậy nói với chị. 
- Em đi nhổ củ gừng cho chị làm bánh đây. 
- Đứng lại, không được đi, trả lời xong rồi muốn đi đâu thì đi. - Chị kéo tay tôi giữ lại rồi kêu tôi ngồi xuống cạnh chị. Chị xoa đầu tôi rồi nói bâng quơ: đã 14 tuổi rồi. Bốn năm nữa em sẽ là ông chủ của căn nhà, luôn cả cái vườn này. Giàu nhất xóm rồi đó nha. Mười tám tuổi đã có tài sản riêng. Từ nay về sau phải thành người lớn, nghiêm chỉnh lại, biết chưa? - Tôi không quá chú ý vào những câu nói bâng quơ của chị. Hai chị em đang ngồi bên bếp lửa thì có tiếng xe máy rồ rồ trước cổng rồi vào tận sân nhà chị. Tiếng nói của ai đó vang lên rất rõ ràng. 
- Cho hỏi có phải nhà anh Vượng đó không? 
Chị giật bắn mình khi nghe người ta gọi đúng tên của bác. Chị nhìn tôi với ánh mắt đầy sợ hãi. Tôi cầm lấy tay chị rồi nói. 
- Để đó em. 
Tôi nhặt lấy cây củi lớn nhất cầm chắc trong tay định bước ra. Chị giật lại nài nỉ. 
- Đừng em… hãy ra ứng xử khôn khéo với họ. Nếu chị thấy tình hình không xong, sẽ chạy tắc qua hàng rào đến cầu cứu cha mẹ em, với hàng xóm quanh đây. Chị nghe chỉ có một tiếng xe máy chắc là họ không đông lắm đâu. Nếu thấy khó quá em cứ kéo dài thời gian, chị sẽ chạy lên nhà thím Tư Hà thông báo. Anh chồng của thím là cán bộ cấp cao. Vợ chồng thím Tư tuy khác chế độ nhưng thương cha mẹ chị lắm. Chị nghe người ta nói cái nhà không bị lấy, không bị đưa đi kinh tế mới cũng là nhờ vợ chồng chú thím can thiệp. Hứa với chị phải luôn giữ căn nhà này, đến khi nào bất lực hết cách thì thôi. Nó là nhà của riêng chị em mình đó. - Chị nói. 
Tôi bước ra phía trước nói oang oang. 
- Phải…phải… ai đó, có gì không?. 
Tôi nhìn lại thấy chị nép sau cánh cửa bếp với gương mặt tái xanh. Trước mặt tôi là một người đàn ông ăn mặc rất bảnh bao, bỏ áo vào quần, đeo kính râm đen. Bên cạnh đó là một người phụ nữ chắc cũng trên 40 tuổi, người phụ nữ tóc ngắn đang cầm một cái túi lớn, tay dắt một bé gái chắc độ 8,9 tuổi gì đó. Người đàn ông vẫn ngồi trên chiếc xe cub. 
- Chú là ai? Đây là nhà ông Vượng. Cháu là con ổng. Có gì không chú?. - Tôi nói.
Bỗng nhiên hai người họ nhìn nhau với gương mặt có chút khó hiểu lẫn hoài nghi. Người đàn ông tháo mắt kính ra để lộ gương mặt đầy sẹo rỗ, cũng có nét can trường. 
- Cháu nói sao. Cháu là con anh Vượng?. - Người đàn ông hỏi tôi. 
- Dạ phải. Có gì không cô chú?. - Tôi hỏi
- Anh Vượng chỉ có hai đứa con. Thằng Thịnh thì đang bên đó. Còn một đứa con gái sau này anh Vượng cũng chưa biết mặt mũi. Sao bây giờ lại lòi ra thêm một thằng con trai nữa. Mà lại có chút xíu thế này?. - Người đàn ông nói. 
- Nhưng cô chú là ai mới được. Cô chú không phải người trong xóm này. Nhìn lạ lắm.
- Con gái của anh Vượng nó tên gì em, anh quên mất rồi?. - Người đàn ông nhìn sang người phụ nữ bên cạnh rồi hỏi. 
- Nó tên Thanh. - Người phụ nữ trả lời.   
- Con Thanh nó có nhà không cháu? - Người đàn ông tiếp tục hỏi tôi. 
- Chú là Lợi. Thuộc người quốc gia ở Mỹ mới về, cháu không cần phải cảnh giác. Chú muốn gặp con Thanh có một số chuyện nói với nó. Sẵn trao cái túi này do gia đình anh Vượng bên đó gửi về. Cái này chú không thể đưa cho cháu được. 
Ngay lập tức chị Thanh chạy ra, nói nhanh vội vàng như sợ người đàn ông sẽ bỏ đi mất. 
- Cháu đây, cháu đây. Cháu là Thanh. Con của ông Vượng bà Lã. Nội cháu là ông Phùng. Ông ngoại là Tiếng. Mời cô chú vô nhà. - Ba người họ bước vào chưa kịp lấy ghế ngồi chị đã hỏi dồn dập. 
- Chú biết tin tức về cha mẹ cháu hả? Bây giờ gia đình cháu sống ra sao?. Họ khỏe không? Cha mẹ cháu có nhắn nhủ gì với chú không? 
- Cháu biết không, chú phải mượn chiếc xe của thằng em vợ, đi hỏi từng nhà mới vô tới được đây đó. Vì chú hiểu cháu rất nôn nóng muốn biết tin về gia đình. Đem tin vui tới cho cháu đây. Anh Vượng với chị Lã, kèm thằng Thịnh, cậu Long, cậu Vũ, có gửi về cho con một số tiền, còn có quần áo, thuốc thang. Cái này mới thực sự quan trọng: đây là giấy bảo lãnh đã được sở di trú Mỹ chấp nhận. Cháu điền thông tin vào, rồi tới lãnh sự quán ở Sài Gòn để nộp hồ sơ. Nộp xong thì đợi họ báo phỏng vấn, đậu rồi sẽ được cấp visa, có khám sức khỏe nữa nhé. Xong hết rồi lúc đó cháu có thể sang Mỹ để đoàn tụ cùng gia đình.  
Nghe xong chị làm rớt luôn cái ly đang cầm trên tay rơi xuống nền gạch làm bể tan nát. Lúc này hình như chị hoàn toàn không biết gì nữa. Tôi đến nắm lấy tay chị, chị nhìn tôi rồi hai hàng nước mắt tuôn trào. Có lẽ hai người đó hiểu được tâm trạng của chị ngay lúc này. Chị ú ớ không nói được lời nào.
- Bình tĩnh đi cháu. Đợi chờ quá lâu rồi phải không? - Người đàn ông nói.
- Dìu con bé cho nó ngồi lên ghế đi cháu. - Người phụ nữ nhìn tôi rồi nói. 
Rồi người phụ nữ nhìn sang người đàn ông mà nói. 
- Cái hoàn cảnh này giống gia đình ông Đức cô bảy Chinh nè anh. Gia đình cũng đi hết, chỉ có con bé Hiếu ở lại. Cũng mòn mỏi đợi chờ. 
- Nhiều lắm. Không riêng gì con bé này đâu. Vợ chồng ông Bình, thằng con trai cũng mới qua đó - Người đàn ông trả lời. 
- Cô chú có thể nói rõ địa chỉ không? Ví dụ cái chỗ phỏng vấn là ở đâu. Rồi cần những gì- Tôi nhìn hai người lạ mặt rồi nói. 
- Cái này thì cháu yên tâm. Cô chú về đây để thăm lại, ăn tết cùng gia đình, tới thanh minh làm lại cái mộ cho ông già, rồi sẽ hướng dẫn từ A tới Z cho con Thanh. Xong hết tất cả, có visa rồi thì chú cũng sẽ đưa nó đi theo luôn. Không cần làm bất cứ thứ gì hết, kể cả vé máy bay.
Tôi nghe xong cười trong niềm vui hân hoan. Thực sự tôi quá mừng! Tôi mừng dùm cho chị. Tôi nắm lấy tay chị, bóp mạnh rồi nói. 
- Nghe chưa? Ngày đợi chờ đây rồi. 
Chị nhìn tôi gật đầu rồi lấy tay lau nước mắt. 
- Cháu bình tĩnh chưa? Bình tĩnh rồi thì chú sẽ nói tiếp. - Người đàn ông nói, chị lặng lẽ gật đầu. 
- Cháu muốn qua được thì phải không dính nợ nần ngân hàng nhà nước. Cũng không có bất cứ tài sản nào. Cái nhà này ai đứng tên? 
- Cu Tí sẽ đứng tên. - Chị lí nhí đáp. 
- Cu Tí là ai đâu? - Người đàn ông hỏi. 
Chị chỉ sang tôi rồi chậm rãi nói. 
- Cái này cháu có bàn bạc với cô út từ lâu rồi. Khi Cu Tí đủ 18 tuổi cô út sẽ sang tên cho nó. 
- Ủa thằng bé này là cái gì với gia đình cháu. - Người phụ nữ hỏi. 
- Dạ, không là gì hết, sát nhà với nhau. - Chị nói.
- Cháu sang tên luôn cho cả người ngoài luôn sao? Nếu cô út đã đứng tên thì đâu có liên quan gì, cháu có thể đi. Cũng đâu cần phải chuyển sang cho thằng cháu này. - Người phụ nữ nói, có vẻ hơi bất ngờ.
- Dạ cháu biết. Nhưng cháu có sự tính riêng về sau này nữa. Với cháu thì nó không còn là người ngoài. - Chị đáp.
- Ừ, ai đứng tên cũng được miễn không phải là cháu thì được rồi. Thằng này coi bộ được đó. Thông minh, khôn khéo, có tính dò xét cảnh giác rất cao. - Người đàn ông nói rồi nhìn tôi cười. 
- Cái này thì cháu có hiểu sơ qua vì trong thư cha mẹ có nói rất rõ. Nó 14 tuổi nhưng khôn lắm chú, rất hiểu chuyện. - Chị nhìn sang tôi rồi nói với người đàn ông. 
- Sống cùng với cháu hả? Nó tết này là 14 tuổi. Vậy cháu năm nay bao nhiêu rồi? - Người đàn ông tiếp tục hỏi. 
- Dạ sống cùng. cháu tết này được 25 - Chị trả lời.
- Con bé nó đặt cọc trước luôn rồi đó anh? Chẳng sao cả, chênh lệch 11 tuổi cũng không gọi là quá, bên kia không thiếu những trường hợp này. Từ từ ở đây rồi người ta cũng sẽ tiến bộ, nhìn thoáng ra thôi. - Người phụ nữ nói cười cùng chị. Chị nghiêng đầu cười rồi ngại ngần gật đầu. Chị nhìn sang đứa bé rồi hỏi người phụ nữ. 
- Con của cô chú hả? 
- Bậy! tuổi này mà con gì nữa. Cháu ngoại đó. Cô năm nay đã 53, chú đã 56 rồi. - Người phụ nữ đáp.
Bây giờ tôi mới ngớ người ra, thì ra lúc nãy chị nói tôi đủ 18 tuổi sẽ có tài sản riêng. Vậy là thời gian qua tôi đi học, chị đã nhiều lần sang bàn bạc với gia đình bên nội về căn nhà và mảnh đất này. Mà tại sao chị lại giao cho người ngoài mà không phải trong họ hàng? Thấy tôi đăm chiêu suy nghĩ, chị nắm lấy tay tôi bóp nhẹ rồi nghiêng đầu cười như muốn nói rằng: đừng thắc mắc mọi chuyện chị đã tính toán trước đó hết rồi. 
- Trong này toàn là tiền đô la. Cháu muốn xài thì đổi sang tiền Việt. Còn quần áo mỹ phẩm là do con vợ của thằng Thịnh nó mua cho cháu. Cứ dùng số tiền này sắm sửa ăn tết cho đầy đủ rồi đi. Qua bên đó rồi không còn như ở đây đâu. Vì vậy cứ hưởng thụ trong thời gian này cho thật ý nghĩa. - Người phụ nữ nói. 
- Anh cháu có vợ rồi hả cô - Chị hỏi. 
- Trời! Bây giờ nó đã là bác sĩ, con ba đứa rồi. Vợ nó là Bích quê Cần Thơ, cũng là bác sĩ. Ngon lành lắm. Cậu Vũ cháu bên đó càng ngon hơn, làm chủ hai cái nhà hàng, có vợ Mỹ. Bây giờ cháu qua đó cũng không khổ cực gì nhiều đâu. Ba mẹ cháu bây giờ đã xin nghỉ hưu, có trợ cấp hàng tháng hẳn hoi. Nói để cháu biết an tâm mà mừng. - Người phụ nữ nói. 
- Vậy mà cha mẹ không chịu về đón cháu? - Chị nói với giọng đầy nức nở. 
- Đừng tủi thân. Bên đó cũng chờ đợi y chang cháu ở đây thôi. Phải ổn định cuộc sống, phải có thẻ xanh. Không phải muốn là có ngay như cháu tưởng. - Người phụ nữ nói. 
- Cái mùi gì mà nó khét dữ vậy ta? - Người đàn ông hít hít rồi nói. 
- Thôi chết, cái nồi chị Thanh làm mứt. Cháy khét rồi. Hên là chú nhận ra chứ không là cháy nhà như chơi. - Tôi nói. 
- Cháy là cháy nhà cháu chứ đâu phải nhà con Thanh mà nó lo. Bốn năm nữa nó sẽ không dính dáng gì tới nữa. Lúc đó nó lạng quạng cháu có thể đuổi ra khỏi nhà, không cho ở. - Người đàn ông nói vui khi nhìn tôi và chị. 
- Có tiền rồi thì ra chợ mua chứ nấu làm gì cho cực. Bây giờ chợ bán đầy không thiếu thứ gì vào mấy ngày tết. - Người phụ nữ nói. 
- Thôi cô chú về đây. Sáng giờ tìm nhà cực quá. Cô chú biếu cháu thêm ít tiền, để ăn uống cho thật thoải mái rồi chuẩn bị qua Mỹ. - Nói rồi người đàn ông móc túi lấy tiền ra, chị từ chối nhưng họ vẫn ép phải nhận.  
- Cô chú ơi. Mùng một lại nhà  cháu chơi. - Chị nói. 
- Ừ…về đây chắc nhậu nhẹt nhiều. Nhưng sẽ ghé cho cháu vui. Cô chú ở xã trên.- Người đàn ông đi ra lấy chiếc máy ảnh treo trên xe chụp từng góc nơi căn nhà của chị. Thấy vậy chị nói. 
- Chú chụp dùm hai chị em cháu với. Cháu muốn có ảnh hai chị em. Cu Tí mau lại đây với chị. - Chị chạy tới hớn hở kéo tay tôi. Tấm đầu tiên chụp trước căn nhà. Rồi nhiều tấm ảnh sau này chụp nhiều chỗ khác nhau. Trước khi chú về chị còn nói.
- Tết chú lại nhà cháu chơi, rồi chụp ảnh tết cho hai chị em cháu nha. Vì tết này hai chị em sẽ mặc đồ mới. 
- Có chắc sau này là hai chị em không đó. - Người đàn ông khẽ cười rồi gật đầu. Đứa bé gái nói bai bai rồi họ nổ xe máy rời đi. Khi cả hai vào nhà chị ôm lấy tôi nói thật lớn. 
- Chị mừng quá. Trong cuộc đời chị chưa bao giờ mừng tới như vậy. Mừng bao nhiêu rồi ngày đi sẽ buồn lại bấy nhiêu. Mà thôi, cuộc đời vốn dĩ là vậy. 
- Đi thì sao lại buồn. - Tôi nói.
Chị nhìn xuống hai tờ tiền của người đàn ông vừa đưa rồi nói khẽ. 
- 150 đô la. 
Chị tiếp tục lục lọi cái túi đồ, bên trong nhiều quần áo, nước hoa, mỹ phẩm, dầu gió, một phong bì dày cộm. Chị hét lên. 
- Chị em mình giàu nhất ở đây rồi. - Nói xong một mạch chị chạy sang nhà tôi, đứng bên hàng rào nói vọng vô. Dặn mẹ tôi tết này đừng mua sắm bất cứ thứ gì, chị sẽ mua cho gia đình tôi. Xong rồi, chạy chị vô nhà nói với tôi: 
- Tí đi qua huyện với chị. Chị em mình chạy xe đạp ra nhà ngoại rồi mượn xe máy để sang huyện. - Nói xong chị cười rồi lấy cái giấy bảo lãnh của sở di trú nâng niu bỏ dưới tấm chiếu như một tấm bùa hộ mạng. 
- Sao không thử quần áo đi, xem vừa không? 
Rồi chị thay những bộ đồ bước ra cho tôi xem. Tôi chỉ biết khen: Đẹp, đẹp lắm. Vừa vặn lại thời trang. 
- Trước tiên chị qua huyện đổi tiền, sẽ mua quần áo đẹp cho em. Không được từ chối, vì mùng một mình phải chụp hình. Còn gì nữa ta...? À! Mua vài xấp vải cho mẹ em, còn, nước ngọt, mứt, trái cây cho cả hai nhà. Đồ ăn thì cận tết sẽ mua sau. Quên nữa, dẫn em ăn chè, mua máy băng cassette để chị em mình nghe mỗi đêm. Rồi còn…ôi chị rối quá. Khi nào nhớ sẽ mua tiếp. Đi nhanh lên. 
Nói rồi chị kéo tay tôi đứng dậy, dẫn chiếc xe đạp ra, đóng hết cửa nẻo rồi đi. Trên đường chị nói huyên thuyên, nào là cảm ơn trời phật, cảm ơn cha mẹ đã không bỏ chị. Chị mừng lắm, tôi cũng mừng không kém chị. Cái mừng của tôi chính là về sau chị sẽ không còn bất hạnh, không còn đơn độc, không còn phải khóc vì nhớ thương gia đình. Qua đến huyện đổi tiền xong chị mua đủ thứ đồ, treo lỉnh kỉnh đầy xe. Chị dẫn đi ăn chè, ăn phở, uống nước ngọt sá xị Chương Dương, những thứ mà trước đây cả tôi và chị chỉ nghe nói chứ chưa dùng qua bao giờ. Đến trưa hai chị em mới về tới nhà. Được chị báo tin sắp đi Mỹ mẹ tôi đã khóc vì mừng, chị ôm lấy mẹ rồi hứa sau này sẽ trở về sống trong chính căn nhà cũ. Mẹ tôi từ chối nhận đồ của chị mua, rầy la hãy để tiền đó mà ăn uống trên đường đi. Chị nài nỉ ép mẹ phải nhận cho chị vui. Tối đó hai chị em vào mùng, chị nằm ôm tôi bên tiếng nhạc phát ra từ máy thâu băng. 
- Sao không nói gì với chị hết vậy. Chị sắp đi em buồn hả? - Chị thỏ thẻ bên tai tôi.
- Không. - Tôi đáp ngắn gọn. 
- Quay mặt qua đây coi. - Chị nói. 
- Thôi! Buồn ngủ lắm rồi. - Tôi nói. 
- Quay mặt qua đây nhanh lên. - Chị nói to tiếng, có phần bực tức. Đây là lần đầu tiên tôi thấy chị không còn nhỏ nhẹ, dịu dàng với tôi. 
Tôi quay sang mặt đối mặt với chị. Chị đưa tay chạm vào mí mắt của tôi. Chị im lặng ôm siết chặt tôi hơn. Rồi chị lại bật khóc. Tiếng khóc hòa lẫn với điệu nhạc buồn phát ra từ chiếc máy cassette, làm cái buồng ngủ thêm ảm đạm thê lương. Tôi ngồi bật dậy, chị hỏi: 
- Đi đâu đó. 
- Tắt cái máy để hết pin. Nghe bấy nhiêu đó đủ rồi. - Tôi đáp. 
- Thôi để đi. Có Pin dự trữ mà. Nghe cho đỡ buồn. - Chị nói. 
- Nghe nó càng buồn hơn chứ đỡ buồn chỗ nào. Bản nhạc gì mà phát ra nghe ảo não, thêm cái giọng khàn đục, da diết nữa chứ - Tôi đáp. 
- Ừ! vậy em tắt đi. Đó là bài Biển Nhớ, ca sĩ Khánh Ly hát. Thôi, nằm xuống đây. - Chị nói
Tôi nằm xuống, chị ghì sát mặt tôi vào mặt chị, rồi choàng tay sang ôm đồng thời kéo chiếc chăn cũ đắp lên người cho cả hai. 
- Còn lâu lắm chị mới đi. Không phải bây giờ đâu. Dù có đi thì một thời gian cũng hồi hương trở về. Lúc đó sẽ không bao giờ đi nữa ở lại đây với em luôn. Còn lâu lắm, đừng suy nghĩ xa xôi. Em cứ thế này thì chị đi không đành đâu. Còn nữa! Lúc chị sắp tới ngày đi thì em đừng ở đây nữa. Chị không muốn thấy em trong lúc đó. Bởi chị biết, thấy em chị sẽ không đi được. - Chị nói.
- Chị cứ đi. Em sẽ đạp xe đi thăm chị. - Tôi nói một câu hết sức ngây ngô. Lúc đó tôi chẳng hề biết Mỹ là ở đâu. Chỉ biết nó là một quốc gia, không phải Việt Nam. 
Rồi chị òa khóc, những giọt nước mắt nhiễu vô trán tôi, chảy dài xuống gò má, nghe âm ẩm đến lòng dạ co thắt.  
- Đừng đi tìm chị. Cũng đừng quên chị. Em tìm không ra chị đâu vì ở Mỹ rất xa, phải di chuyển bằng máy bay. Cứ ở lại nhớ chị, mong đợi ngày chị về. Chỉ sợ lúc về, em không cho chị ở trong căn nhà này như bây giờ thôi. Bởi lúc ấy em là chủ chứ không phải chị. - Chị nói trong những lời chất chứa. 
- Em không đứng tên đâu. Để dì Hạnh đi. - Tôi nói. 
- Thế bây giờ chị hỏi em cái này. Nếu em không đồng ý thì chị sẽ dừng kêu cô út sang tên: Em có mong đợi ngày chị về không? Khi chị về có muốn sống cùng chị trong chính căn nhà này như hiện tại không? 
- Có. - Tôi đáp ngắn gọn. 
- Vậy thì em đứng tên là đúng rồi. 
Tôi nằm im lặng không nói gì. Chị nắm lấy tay tôi rồi nói khẽ khàng. 
- Từ trước tới giờ em có thích gì mà chưa sở hữu được không?. Thí dụ: đeo vàng, đồng hồ, mua một thứ gì đó đã ao ước bấy nhiêu mà chưa thể mua được. - Chị hỏi. 
- Không có. Em cũng như chị, không khác gì nhau. Tiền bạc chỉ cần đủ để duy trì cuộc sống. Không cần những thứ phù phiếm. - Tôi nói. 
- Bấy nhiêu đó chị hiểu rồi. Nói tới nói lui gì em cũng không muốn chị đi. Chị còn biết em sẽ để chị đi, nhưng bụng thì không muốn. Chị cũng hiểu em ở lại buồn lắm, sẽ rơi vào hoàn cảnh của chị trước đây. Nhưng có một điều em sẽ không hiểu….- Chị bỏ ngang nửa chừng không nói tiếp. 
- Em hiểu. - Tôi nói. 
- Em hiểu thế nào? - Chị hỏi. 
- Chị qua bên đó sẽ buồn vì không có em. - Tôi nói. Chị bỗng giật mình buông tay tôi ra ngồi bật dậy nhìn tôi thật lâu rồi nói khẽ. 
- Sao em biết. - Chị sững sờ hỏi.
- Chị nói nhiều lần trong mơ. - Tôi nói. Nhìn sang thấy chị đang gãi đầu lúng túng. 
- Ừ vậy thì em biết rồi đó. Chị cũng như em. Công nhận ông trời khéo sắp xếp thật: Có lẽ trên đời này chỉ có chị và em là hiểu nhau mà không cần nói. Vậy đừng buồn nữa nha, sắp tết rồi đó. Để dành cái buồn này tới lúc chị đi. Ngày mai phụ giúp chị, bắt đầu dọn dẹp nhà cửa trang trí để chuẩn bị ăn tết. Tết nay của chị em mình là lớn nhất đó. - Chị nói rồi cười cùng tôi. 
- Mấy cái rèm buồng được xếp bằng những cái ông hút. Ai làm vậy? - Tôi hỏi. 
- Chị làm. Sao, đẹp không?  
- Ừ đẹp. Còn cái hình con cò đặt trên bàn.
- Đó là xếp từ bài tứ sắc. 
- Đi nhặt từng cái về làm hay sao? - Tôi hỏi. 
- Đúng vậy? Hồi đó trưng trong tủ kính, mà cái tủ ấy đã bị lấy mất rồi. 
- Thôi từ nay về sau đừng làm mấy trò tào lao nữa. Tết này cũng đừng mua sắm trang trí gì nhiều. Phung phí tiền bạc, mà lại chẳng ai ở. 
- Dạ em biết rồi ông chồng nhỏ. Chủ yếu tập trung vào đồ ăn nước uống, vì tết này nhà mình sẽ có rất nhiều người tới thăm. Vợ chồng chú Lợi, nội ngoại, hàng xóm. Chỉ mua vài chậu cúc với hạnh, xong tết thì đem đi trồng. Nói nghe! Lần đầu tiên trong cuộc đời chị dùng son môi, thấy nó sao sao đó, âm ẩm khó chịu. 
- Chị thoa son lúc nào vậy?. - Tôi hỏi. 
- Lúc chiều tối này. - Chị trả lời. 
- Hèn gì cái mặt của em dính toàn màu đỏ. Ban đầu còn tưởng máu, mà không thấy cảm giác đau. Thì ra là thứ này. 
- Im…im…đừng nói lớn người ta biết mắc cỡ chết. Tết này mang dép, không dám mang cao gót, lúc chiều đã té mấy lần. Toàn là những đồ từ xưa đến giờ chưa một lần thử qua. Mùng một ở nhà tiếp khách. Bắt đầu mùng hai mùng ba, chị em mình đi chơi. Phải đi chùa chiền một lần mới được. Thôi ngủ đi rồi mai phụ chị dọn dẹp để 23 cúng ông Táo. 
Chị ôm lấy tôi miệng nở nụ cười rồi thiêm thiếp đi vào giấc ngủ. Một giấc ngủ nhẹ nhàng và hạnh phúc nhất. 
Sáng đó tôi bị đánh thức bởi tiếng lục đục của chị dưới bếp. Tôi ra trước sân hít làn không khí trong sạch của ngày mới ấm áp. Thấy chị nghiêng đầu cười với tôi qua khung cửa sổ giữa làn nắng xuân hanh vàng. Cái không khí lập xuân ấy khiến mọi thứ trở nên hư ảo mà chân thật đến lạ kỳ. Tôi đi tới đi lui ngẫm nghĩ: dù căn nhà vẫn còn trống trải về đồ đạc, nhưng chính cái tiết trời man mác này đã nhen nhóm trong lòng chúng tôi một niềm tin mãnh liệt: Rằng mùa đông đã thực sự đi qua, và dù ngày mai chị có đi xa đến đâu, thì cái nắng lập xuân của căn nhà tường này sẽ luôn là sợi dây kéo chị trở về. Chị ra khỏi bậu cửa sổ, đưa tay chạm vào vai tôi. Đôi bàn tay đã bớt đi cái lạnh lẽo của đêm đông. Chị dắt tôi bước ra khỏi gian nhà tường u trầm, đi sau khu vườn nhỏ đang hồi sinh sau những ngày dài rét mướt. Chị bước đi thật chậm, tà áo xanh bay nhẹ theo mỗi nhịp chân. Chị dắt tay tôi đi dưới vòm cây xoài, nơi những chùm bông li ti bắt đầu tỏa hương dịu nhẹ. Tiếng lá khô xào xạc dưới chân như những bản nhạc nhỏ của đất trời. Chị dừng lại nói khẽ: 
- Ai từng ăn trộm xoài bị bắt gặp vậy ta? Nghĩ lạ đời, một thằng nhóc từng tới đây ăn trộm, nhưng bây giờ nó có thể cấm người khác lẻn vào trộm. Vậy thành ra, trộm cấm trộm. À quên, nói bây giờ thì chưa đúng lắm, phải bốn năm sau. 
- Từ sáng đến giờ trong bếp chị làm gì vậy? Nghe mùi rất lạ giống như sả vậy. 
- Chính xác. Chị nấu gà kho sả ớt để trưa mình ăn cơm. Lâu lắm rồi mới được ăn thịt gà đúng không? 
- Nhắc mới nhớ. Những con gà còn lại tết này nên đãi khách luôn. Vì đâu còn ở đây nữa. - Tôi nói. 
- Hết rồi. Còn bốn con thôi. 
- Mà tự nhiên dẫn em ra đây chi vậy? - Tôi hỏi. 
Tôi lặng lẽ đi bên cạnh chị. Cảm giác lòng bàn tay mình nằm trọn trong tay chị khiến tôi thấy bỗng chốc lớn hẳn lên. Tôi không còn là đứa trẻ chỉ biết chạy sang chơi, mà lúc này, tôi thấy mình như một người đồng hành, cùng chị đi qua những mảnh vườn ký ức cuối cùng trước khi chị rời đi. Chị trả lời. 
- Thì thấy lưu luyến nên đi vậy mà. Mà thôi không nhắc tới chuyện người đi người ở nữa. Tại chị thích ra thế thôi. - Chị nói. 
Chị nghiêng đầu nhìn tôi khẽ cười, nắng xuân xuyên qua kẽ lá đọng lại trên mắt chị những đốm sáng lấp lánh. Trong không gian chỉ có tiếng chim chuyền cành và tiếng gió chướng lay nhẹ mấy cành bưởi, chị dường như đã quên đi nỗi buồn những tháng ngày đơn điệu. Chị chỉ tận hưởng cái nắng ấm áp và sự hiện diện của tôi bên cạnh. Giữa khu vườn đầy nắng sớm len lỏi, chị đứng lại, đối diện với tôi. Nhẹ nhàng vuốt lại mái tóc bù xù của tôi rồi khẽ nói:
- Dù sau này chị có đi đâu, chị cũng sẽ nhớ mãi khu vườn này, nhớ mãi cái nắng lập xuân hôm nay... và nhớ cả đôi bàn tay này chị đã nắm chặt. - Chị nói. 
- Lại nữa. Mới nói không nhắc lại mà bây giờ đã nhắc rồi. 
- Ôi chết! Chị xin lỗi. - Chị nói. 
Mùa xuân đây căn nhà tường như được thay một lớp áo mới, không còn vẻ liêu trai, u uất của những đêm đông trống trải. Một túi lớn từ Mỹ gửi về cùng số tiền hỗ trợ của người thân đã giúp chị trút bỏ được gánh nặng lo toan. Nhưng trên hết, nụ cười của chị rạng rỡ hơn hẳn bởi không còn phải đối diện với sự cô độc, chị có tôi thằng nhóc luôn kề cận như một cái đuôi nhỏ. Căn nhà trống trơn ngày nào giờ đã bắt đầu có hơi người và mùi vị của Tết. Chị tươi tỉnh hẳn lên, đôi gò má bắt đầu hồng hào trở lại dưới nắng xuân. Hai chị em rời vườn trở vào nhà để dọn dẹp. Tôi giúp chị lau sạch những mạng nhện trên trần nhà cao tít, còn chị lấy nước tưới mát rượi cả sân gạch. Chị vừa làm vừa hát khe khẽ, thỉnh thoảng lại tạt nước trêu chọc khiến tôi cũng ướt sũng. 
- Năm nay có tiền, có bánh, có đầy đủ, nhưng vui nhất là có em ở đây với chị. - Chị nói rồi khẽ cười.
- À! mà giao thừa này mình đi đâu chơi đây? - Chị khẽ tựa đầu vào vai tôi, giọng chị ấm áp và bình yên lạ thường. 
- Ở nhà đón giao thừa chứ đi đâu. Sao lại ham đi vậy, có nơi nào bằng ở nhà. - Tôi nói. 
- Đúng là trụ cột có khác nha. Chị hỏi thử em thôi! Lớn thật rồi. Mà sao từ lúc em qua đây ở, chị chưa từng thấy em đi chơi với bạn bè trong xóm như trước kia. 
- Vì em lớn rồi, trừ đi học ra, phải ở nhà để chị không buồn. Em không muốn đi chơi rồi bỏ chị một mình. 
- Vậy sau này chị hồi hương trở về, em đã lớn thêm nữa, có để chị một mình không. - Chị hỏi. 
- Em không biết. - Tôi đáp.
- Sao lại không biết. Thôi, sau này trả lời cũng được. Cái khu vườn sắp tới em tính trồng gì. 
- Không thay đổi. Sao để vậy, nếu cây nào chết thì trồng lại cây ấy, đúng vị trí đó. - Tôi nói. 
- Chi vậy? 
- Để khi chị có về thì thấy kỷ niệm còn nguyên. - Tôi nói. 
- Ôi! Tuyệt vời. Quả là không chọn sai người. - Chị nói xong ôm chặt lấy tôi. 
- Chọn cái gì mà sai. - Tôi nói. 
- Không có gì. Đi vào thay đồ nhanh lên, ướt hết rồi. Xong rồi ra đây ngay chị có chuyện muốn nói. - Chị nói. 
- Có gì vậy chị. - Tôi đã thay đồ bước ra. 
- Đưa bàn tay trái ra. - Chị yêu cầu. 
- Chi vậy? - Tôi nói. 
- Cứ đưa ra cho chị xem. 
Khi tôi đưa bàn tay ra cứ tưởng chị sẽ nắm, nhưng không phải. Chị dùng một sợi chỉ thêu màu đỏ, quấn một vòng ở ngón áp út. Xong xuôi chị lấy sợi chỉ ra rồi cười nói cùng tôi. 
- Chị đã bói xong, năm học này em sẽ được giấy khen. 
- Em mà cũng có giấy khen nữa hả. - Tôi nói. 
- Chị bói thấy vậy. - Chị nói rồi cười nhìn tôi. 
Nói xong chị lấy chiếc xe đạp dắt ra sân. Tôi cứ tưởng như hàng ngày tôi với chị cùng đi, tôi lặng lẽ bước theo, chuẩn bị khóa cửa lại thì chị nói. 
- Em không cần đi, chị đi một mình, ra chợ mua đồ để chuẩn bị tết. Chị sực nhớ ra còn thiếu vài thứ. Ở nhà, lát chị về. Đi hết người ta tới lấy nhà đó. - Chị không nhìn lại cứ đạp xe đi ngay. 
Tôi vào nhà lấy nước lau cái phản gỗ nơi tôi và chị ngủ. Định kiếm gì đó che chắn cái cửa sổ lại vì đã bị cạy bung, nhưng trước đó chị đã nói không cần, vì hè sắp tới sẽ rất nóng nực. Ngày xưa khi dì Hạnh còn ở cùng cái nhà này vẫn có dùng điện. Ngay bây giờ bóng đèn vẫn còn, chỉ là điện đã cắt. Có lẽ chị sống một mình sợ không có tiền đóng tiền điện. Bởi chị luôn nuôi hy vọng một ngày nào đó cha mẹ sẽ bảo lãnh sang, nếu nợ tiền sẽ không được đi. Những người hàng xóm nói: con gái sống một mình nên dùng điện cho nhà cửa sáng sủa, không có tiền đóng người ta sẵn sàng đóng thay cho chị, nhưng chị từ chối. Tôi qua đây sống đã quen với ánh đèn dầu tù mù, cái đèn măng xông treo lơ lửng trên tường đã hết dầu từ lâu. Tuy nhiên mấy hôm nay dầu lửa chị đã mua đầy đủ cả một can lớn, phục vụ cho mấy ngày tết gồm bếp lò xô, đèn dầu, cả đèn măng xông. Tôi ra sàn nước nhìn cái giếng bơm tay, chính cái này đã nhiều lần làm tôi u đầu, chị bơm nước, tôi ngồi ở dưới hứng nước thích thú, khi đứng dậy thì bị chạm vào đầu.  
Chị từ chợ về cười nói hí hửng ở nhà trên. Miệng gọi tôi oang oang. Chị luôn vậy, cứ đi đâu về nhà thì việc trước tiên là tìm tôi. Cứ như tôi là một phần linh hồn chính trong căn nhà này. 
- Mua cái gì vậy? - Tôi hỏi. 
Mua ít rau sống, lát ăn cơm với gà kho sả. Thêm 2 hũ củ kiệu ngâm để mồng một đãi khách. Chị tính ngày 28 sẽ mua thịt, trứng, khổ qua, mấy chậu bông cúc, thêm 2 cây hạnh. Bây giờ mua thì sớm quá. Chỉ mua một ít bánh mứt để mai cúng ông Táo. - Chị nói. 
- Năm nào cũng thịt kho trứng, canh khổ qua. Ngán muốn chết. - Tôi nói rồi nhăn mặt bỏ đi. 
- Ngán cũng phải ăn. Mấy cái đó không thể thiếu trong mấy ngày tết. Mà nè! Đưa bàn tay trái ra…Ừ mà thôi, để tối giao thừa cũng được. - Chị tính lấy trong túi cái gì đó nhưng lại thôi. 
Những ngày tất bật chuẩn bị tết đã xong. Căn nhà cũng không có gì nên cũng chẳng làm quá nhiều việc. Ngày 28 tết chị mua quá nhiều đồ, luôn cả phần cho nhà tôi. Bánh kẹo, mứt, dưa, hạt hướng dương, trà, nước ngọt, thịt, trứng. Chị sang nhà tôi nấu nướng phụ giúp mẹ. Tất cả đã xong một cách chu toàn, để sẵn sàng cho việc đón tết. Đây là mùa xuân đầu tiên trong cuộc đời của chị. 
Đêm giao thừa tôi và chị ngồi bên nhau nói đủ thứ chuyện. Tuy nhiên hai chị em đã cam kết với nhau sẽ không nhắc tới chuyện đi Mỹ, vì nhắc sẽ buồn làm không gian tết chẳng trọn niềm vui. Chị bảo tôi đưa bàn tay trái ra, rồi đeo vào cho tôi một chiếc nhẫn vàng. Tôi trố mắt nhìn chị, chị nói: đây là vật làm tin, chị sẽ quay trở lại. 
- Chiếc nhẫn này sẽ thay thế chị ở lại. Giữ cho thật kỹ, không cho ai, cũng không bán đổi. Vì sau này chị sẽ về lấy lại. 
- Chị mới lên chợ ghé tiệm vàng mua hả. - Tôi nói. 
- Không. Đó là chiếc nhẫn từ lâu của chị. Bây giờ nhờ em giữ dùm, chị về sẽ lấy lại nó. - Chị nói với gương mặt buồn. 
Tôi biết chị nói dối, vì đây là chiếc nhẫn của đàn ông, hoàn toàn mới, sáng bóng. Nhưng chị nói giữ làm tin để chị trở lại lấy thì tôi phải nhận, vì luôn muốn chị sớm hồi hương. 
- Sao nó to quá vậy? - Tôi hỏi. 
- Lúc chị lấy sợi chỉ đo ngón tay thì đúng là nhỏ thật. Chị phải mua to ra vì sau này em sẽ lớn, ngón tay to lên là vừa với nhẫn. 
Tôi nhìn chiếc nhẫn đã được chị quấn một lớp chỉ đỏ cho vừa vặn ngón tay. Thì ra cái hôm chị quấn chỉ vào ngón áp út không phải để bói toán mà là đo đạc kích thước để mua nhẫn. 
- Nếu em thương chị thì phải giữ chiếc nhẫn này cho thật kỹ. Dù có bao nhiêu năm cũng phải giữ. Sau này chị sẽ về lấy lại. Cứ xem nó là chị. - Chị nói, đôi mắt ngấn lệ. 
Tôi không nói gì mắt mở thao láo nhìn lên trần nhà. Chị hiểu tôi đang nghĩ gì nên chuyển sang đề tài khác. 
- Hôm nay ăn bánh tét thấy ngon không? - Chị hỏi. 
- Ngon. - Tôi đáp. 
- Chị biết gói bánh, là mẹ em dạy đó. Mồng một hai chị em chụp hình rồi tiếp khách. Ngày mai đừng ăn lại gà kho sả, vì đó là món cũ. Ăn mấy món trong ngày tết đi. Đồ để mặc mồng một chị đã soạn sẵn rồi. Phải mặc đúng bộ đó. Chị áo dài còn em áo sơ mi quần tây. Thôi, để chị xuống lấy trà bánh hai chị em mình uống đón giao thừa. - Chị nói. 
Đêm giao thừa năm ấy, giữa căn nhà tường vốn từng mang vẻ u sầu, bỗng chốc hóa thành một không gian riêng tư, lãng mạn và ngập tràn hạnh phúc. Đó là một thứ hạnh phúc chưng cất từ những ngày gian khó, ngọt ngào như mật ong rừng và dịu dàng như làn gió xuân vừa chớm. Trong gian nhà tĩnh lặng, hai chị em nói với nhau toàn những chuyện bâng quơ, chuyện nồi bánh lần đầu tiên chị nấu, mẹ tôi khen. Ngoài sân, chuyện nhánh mai nở sớm...nhưng tuyệt nhiên không ai dám nhắc đến chuyến bay sắp tới. 
- Tí... - Chị khẽ gọi, giọng run rẩy.
- Có gì không chị? - Tôi xoay đầu nhìn chị.
Chị nhìn tôi thật lâu, ánh mắt như muốn thu hết hình dáng vào tâm trí, rồi chị lại mỉm cười với đôi mắt buồn bã: 
- Không có gì... em uống trà đi. Nhìn thấy giống mấy ông già xưa dễ sợ.
Cái nụ cười “không có gì” chứa đựng cả một đại dương cảm xúc. Đó là sự kìm nén, là nỗi đau của một người đi không nỡ và người ở lại chẳng yên lòng. Tôi cũng muốn nói, nhưng mới tính mở miệng đã vội khép lại. Ngồi được một lát chị kêu vào ngủ để mai tiếp khách. Tôi chưa buồn ngủ nhưng chị cứ nắm tay kéo đi. Đêm giao thừa nằm cạnh chị giữa căn buồng thênh thang chỉ có hai chị em, sự im lặng không phải là sự trống rỗng, mà là một thứ ngôn ngữ đặc quánh những tâm tư không thể cất lời. Chúng tôi nằm cạnh nhau trên chiếc phản gỗ đen bóng, tấm chăn bông cũ đắp ngang người, nhưng dường như chẳng có hơi ấm nào của vải vóc đủ sức che chở cho hai tâm hồn đang đứng trước ngưỡng cửa của sự chia ly. Bên ngoài, tiếng gió xuân xào xạc qua những rặng cây nghe như tiếng thở dài của đất trời. Trong buồng, ngọn đèn măng xông đã vặn nhỏ, chỉ còn một đốm sáng đỏ quạch như con mắt thức canh đêm thâu. Sự im lặng lớn đến mức tôi nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ từ mái kèo cao vút, tiếng nhịp tim của chị đập đều đặn nhưng có phần hối hả dưới lớp áo bà ba. Mỗi hơi thở của chị phả ra trong không gian se lạnh đều trở nên rõ rệt, như thể đó là sợi dây duy nhất còn kết nối hai chị em với thực tại. Chị nằm nghiêng, quay mặt về phía tôi. Trong bóng tối lờ mờ, tôi thấy đôi mắt chị mở to, lấp lánh như chứa cả một mặt hồ đầy nước. Chị không nói gì, chỉ khẽ đưa tay tìm lấy tay tôi dưới lớp chăn. Bàn tay đan vào tay tôi, siết chặt đến mức đau nhói, như thể nếu buông ra lúc này, người tôi tan biến vào hư không. Có những lúc, chị khẽ mấp máy môi, ngực chị phập phồng như định thốt ra một điều gì đó, một lời dặn dò, một lời hứa, một lời trấn an, hay có lẽ là một điều gì đó đang lớn dần. Nhưng rồi, chị lại nuốt ngược vào trong. Chị sợ nếu nói ra, sự cứng cỏi mà chị cố công gây dựng bấy lâu sẽ sụp đổ hoàn toàn. Tôi cũng vậy, bao nhiêu câu cứ nghẹn lại nơi cổ họng. Tôi muốn nói: “Chị đừng đi, từ nhỏ em đã quen gần chị”, hay "em sẽ buồn nhiều nếu không có chị”. Nhưng nhìn vào cái bóng lẻ loi của chị giữa căn nhà trống, tôi hiểu rằng sự im lặng lúc này là cách duy nhất để tôi bảo vệ, để chị ra đi mà không phải mang theo gánh nặng của sự luyến lưu. Chị áp trán chị vào trán tôi. Trong sự im lặng tuyệt đối của hai người, tôi cảm nhận được một giọt nước mắt nóng hổi từ mắt chị lăn dài, rơi xuống gò má mình.
- Chị khóc nữa rồi đó hả? - Tôi hỏi. 
- Đâu có. Mà sao em không nói gì với chị hết vậy? - Chị nói. 
- Nói cái gì? - Tôi đáp. 
- Năm mới mà không chúc chị câu gì hết sao? 
- Chúc chị nhiều sức khỏe? - Tôi nói. 
- Không dám nói mấy câu sau phải không? Đã lớn thật rồi. Suy nghĩ rất chín chắn. Chúc em học giỏi. Sáng sớm chị lì xì cho. - Chị nói rồi kéo chăn đắp lên cho tôi. 
Một lát tôi nghe hơi thở của chị đều đều, phả vào má tôi đầy ấm áp. Chị đã ngủ! Một giấc ngủ đầy bình an. 
Sáng mùng Một, căn nhà tường vốn trầm mặc bỗng thức giấc trong một bầu không khí xôn xao chưa từng có. Nắng xuân vàng óng như mật rót xuống sân gạch, xuyên qua những làn khói nhang thơm ngát bay ra từ gian thờ chính. ​Tin chị Thanh sắp đi Mỹ đã lan khắp xóm từ chiều ba mươi, nên ngay từ sớm, hàng xóm láng giềng đã xúng xính áo quần mới, kéo sang nhà chúc Tết thì ít mà để nhìn mặt, dặn dò người đi xa thì nhiều. Căn nhà trống trải suốt nhiều năm giờ chật kín tiếng nói cười, tiếng chén đĩa va nhau lách cách và cả tiếng hít hà vị trà thơm nồng. Những bà, những chị trong xóm tay xách nách mang, người cho túi bánh in, người cho hộp mứt. Họ ngồi quây quần trên chiếc những chiếc ghế mới sắm. Người thì nắm tay chị dặn: 
- Sang bển nhớ giữ gìn sức khỏe nghen Thanh, đừng có quên cái xóm nhỏ này. 
Người thì tò mò hỏi về chuyến bay xa nửa vòng trái đất. Chị mặc chiếc áo dài màu xanh thiên thanh màu của hy vọng và bầu trời. Chị cười nói, rót trà, mời mứt bánh với phong thái dịu dàng, nhưng tôi nhận ra trong ánh mắt ấy vẫn phảng phất một nỗi buồn sâu thẳm. Chị cười với mọi người, nhưng luôn đưa mắt nhìn tôi giữa đám đông. Vì chị em chúng tôi đã cam kết với nhau sẽ không nhắc tới chuyện đi Mỹ. Chị lúng túng giữa bao câu hỏi, tôi khẽ lách người qua, đưa cho chị dĩa hạt dưa. Chị chạm liên tục vào tay tôi, như muốn nói: “kệ người ta, đừng để ý, chị chưa có đi đâu”. Vợ chồng chú Lợi đem sang hộp bánh quy bằng thiếc, và sáu chai bia lade. Chị lì xì cho đám trẻ con, chú Lợi thì hí hoáy chụp ảnh. Chụp rất nhiều, chú nói mua phim về chỉ để phục vụ cho mỗi việc này nhằm mang qua Mỹ làm kỷ niệm. Chú còn cho biết hết tết sẽ dẫn chị đi Sài Gòn nộp hồ sơ, đợi phỏng vấn và lấy visa. Chú với cha tôi ngồi uống bia kể chuyện về bác Vượng. Thì ra cái tấm ảnh của bác Vượng mà chị cho tôi xem, người đàn ông ở trần đốt điếu thuốc ngồi cạnh bác Vượng chính là cha tôi. Ảnh chụp lúc đó căn nhà này mới hoàn tất xây dựng. Nhìn người ta xúm xít quanh chị, tôi bỗng cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ. Tôi sợ rằng sự náo nhiệt của ngày hôm nay chính là khúc nhạc dạo đầu cho sự vắng lặng trong tương lai. Ai chúc gì chị cũng đều cười, nụ cười ấy lấp lánh dưới nắng xuân mùng một, đẹp đến mức tôi muốn thời gian dừng lại mãi mãi. Hàng xóm đến rồi đi, mang theo những lời chúc tụng, nhưng chỉ có tôi mới hiểu được sự run rẩy nhẹ nơi bàn tay chị khi nhắc về chuyến đi sắp tới. Có lẽ chị sợ tôi buồn, nên luôn tìm cách đổi đề tài, hoặc tránh né giả vờ không nghe, có khi đáp trả bằng nụ cười mong rằng cho qua. Sáng mồng một, căn nhà tường không còn buồn bã, nhưng nó mang một màu sắc rực rỡ và bồn chồn giống một buổi tiễn đưa. Giữa tiếng cười nói của xóm giềng, tôi và chị vẫn nhìn nhau bằng một thứ ngôn ngữ riêng, thứ ngôn ngữ của hai tâm hồn đã quá hiểu nhau, cùng nhau đi qua mùa đông giá rét và giờ đây đang chuẩn bị đối mặt với một sự xa cách sẽ xảy ra phía trước. Chị bảo tôi phụ dọn dẹp, rồi đóng cửa lại không tiếp khách nữa. Nhưng tôi đã gạt phắt đi, vì không thể mồng một mà lại đóng cửa ru rú mãi trong nhà. Thấy chị dọn dẹp chén bát rồi ủ rũ, tôi hỏi:
- Áo này là áo gì? 
- Áo dài. Vợ anh Thịnh may đó, chẳng biết sao quá vừa vặn luôn. Em thấy đẹp không? Màu sắc là tên của chị luôn đó nha. Thiên Thanh. - Chị nói. 
- Áo dài tức là nó dài. Thế cái quần này gọi là quần gì? - Tôi hỏi. 
- Quần hả…thì quần dài. Ủa mà sao vậy? - Chị hỏi. 
- Thế thì cái đêm giao thừa chị mặc áo gì? - Tôi hỏi. 
- Giao thừa hả…áo bà ba. Mà sao tự nhiên hỏi lung tung vậy? - Chị nói. 
- Tại sao gọi là bà ba, mà không phải là bà 1,2,4,5,6,7,8,9 thậm chí là bà 10. - Tôi nói. 
- Tôi mệt ông quá. Ai mà biết. Cái tên gọi từ xưa đến giờ mà. - Chị nói rồi nghiêng đầu cười nhìn tôi. 
Hai chị em đang nói chuyện thì nghe tiếng gọi từ nhà trên: 
- Chủ nhà ơi. 
Tôi và chị nhìn nhau. Tôi lật đật chạy lên trên, rồi lại chạy xuống nói cùng chị. 
- Rồi! tới nữa…
- Ai vậy em? - Chị hỏi. 
- Thằng thái giám chứ ai? - Tôi đáp. 
- Là ông Giám cán bộ xã đó hả? - Chị hỏi rồi cau mày. 
- Chứ ai nữa. 
- Trời, mới có 14 tuổi mà gọi người lớn là thằng. Em đó nha! Lúc nãy chị đã nói đóng cửa lại, không tiếp khách. Cứ nói mồng một ai lại đóng cửa. Giờ thấy chưa? Thôi lên tiếp khách đi. 
- Ổng tìm là tìm chị chứ đâu phải em. Vậy chị lên sau nha. 
Tôi lên đã thấy gã vẫn đứng ngay bậu cửa, người nồng nặc mùi rượu. Tôi mời gã ngồi rồi rót trà. Gã nói với tôi. 
- Cháu đã lớn rồi, sao không về nhà mà ở cùng với cha mẹ. Đâu phải cháu không có nhà mà lại ở đây. 
- Nhà này là nhà của cháu. Cháu cho chị Thanh ở ké đó chứ. - Tôi đáp rồi đẩy cái dĩa đựng dưa mứt sang phía gã. Thấy gã trơ mắt nhìn tôi tiếp tục nói. 
- Nếu chú còn chưa tin thì một lát chị Thanh lên cứ tha hồ hỏi. Nếu còn chưa tin tưởng chị Thanh thì có thể hỏi bất cứ ai xung quanh đây. 
- Cháu nói sao chứ mới có bây lớn làm sao mà có nhà riêng. - Gã nói. 
Chị Thanh bước lên cười rồi gật đầu chào với gã. 
- Tí nói đúng đó cán bộ. Thực sự đây là nhà của nó. Em chỉ ở ké. 
- Ôi vậy à! Hóa ra đây là đất nhà chú ba. Thế mà nào giờ cứ tưởng của cô Thanh. Tại thấy có hàng rào râm bụt ngăn, nên tưởng hai nhà khác nhau. - Nói xong, gã lại tiếp tục. 
- Hôm nay trông cô Thanh đẹp quá. Chưa thấy cô gái nào trong xóm mà lại mặc áo dài đẹp như cô Thanh. Ôi! nhà cửa nay sắm sửa đầy đủ quá. Năm nay cô Thanh ăn tết lớn ghê, lại mướn cả thợ chụp ảnh. - Gã nói. 
- À! năm nay sắm sửa đầy đủ là do ông chủ nhà này yêu cầu đó. Ông chủ ra lệnh thế nào thì em chỉ biết tuân theo, không dám trái lời. mà thuê thợ chụp ảnh là sao em chưa hiểu lời cán bộ nói? - Chị nói. 
- Hồi sáng tôi tính ghé chúc tết cô, mà thấy quá đông người. Có cả ông thợ chụp ảnh. Tôi thấy chụp cho hai chị em nữa mà. - Gã nói. Thì ra hồi sáng gã có tới đây định vào nhà chúc tết. 
- Thôi! đầu năm Tết nhất. Tôi chúc cô Thanh vạn sự như ý, sức khỏe dồi dào. Sang năm mau lấy chồng nghen cô Thanh. - Chúc rồi, gã đưa cho chị một cặp coca - cola. Chị nhìn tôi như hội ý có nhận hay không, tôi gật đầu. Chị tươi cười cầm lấy nói cảm ơn, và lời chúc lại đầy sáo rỗng. 
- Cô Thanh là người lớn mà lại dưới quyền của một thằng nhóc con hay sao vậy? Phải đợi nó gật đầu mới dám nhận. - Gã nói có vẻ như tức giận. 
- Dạ phải. Em nói rồi mà. Nó là chủ nhà, em chỉ ở ké. - Chị nói. 
- Tết rồi thì theo mấy đứa nhỏ trong xóm đi chơi đi. Trên chợ họ đang chơi bầu cua cá cọp kìa. - Gã nhìn tôi rồi nói. 
- Bất cứ hành vi nào tổ chức ăn thua bằng tiền thì đều là hành vi, vi phạm pháp luật. Cháu đi học nhà trường đã dạy như thế. Cháu là công dân tốt, học sinh tốt, nên không tham gia vào các hành vi đó. - Tôi nói. 
- Mày mới có bây lớn biết cái gì mà nói về pháp luật? - Gã nói. 
- Thế, chú làm cán bộ nhà nước mà không biết một xíu kiến thức nào về pháp luật hay sao?. Nếu có am hiểu thì đâu có xúi giục người khác vi phạm pháp luật. - Tôi nói. 
- Tao thử mày thôi. Mày mà tham gia vào đó, tao cho người còng đầu ngay. - Gã nói đầy vẻ tức giận, giọng hơi lớn. 
- Chú lại nói sai nữa rồi. Hay là không phân biệt được bộ phận trên cơ thể con người. Chẳng ai bị còng đầu bao giờ. Có còng thì còng tay chứ. - Tôi nói. 
Gã nhìn sang chị khẽ cười rồi nói để chữa ngượng. 
- Đúng là trẻ con thật. Ủa nhà cô Thanh có cả bia nữa à? Vậy thì tốt quá, hai chúng ta cùng uống, xem như gặp mặt mừng xuân. - Gã nói rồi chỉ tay vào mấy chai bia Lade hình con cọp mà hồi sáng chú Lợi đã đem sang. 
- Ôi thôi! Em không biết uống. Với lại bia đó là của người ta hồi sáng đem tới, một lát họ tới lấy bây giờ. - Chị nói rồi xua tay. 
- Mồng hai, cô Thanh tới nhà tôi chơi nha. Ba mẹ tôi rất mến cô Thanh đó. Ngày xưa ba mẹ tôi với ba mẹ cô Thanh là bạn rất thân. Ba mẹ tôi nhắc cô Thanh suốt. Chẳng hiểu sao con gái trong xã này ổng bả chẳng thích ai, chỉ thích mỗi cô Thanh. - Gã nói. 
- Dạ, cái này thì em không dám quyết định. Ông chủ nhà đồng ý em mới dám đi. Chủ nhà đã không cho phép mà tự ý, em sẽ bị đuổi khỏi nhà. - Chị nói rồi nhìn qua bên tôi. 
- Cô Thanh cứ nói quá ra, chỉ là một thằng nhóc. Nó đuổi thì sang nhà tôi ở. Tôi lo cho cô Thanh đầy đủ, không thiếu bất cứ thứ gì. - Gã nói. 
- Ôi thôi! Em không dám. Thôi thì cán bộ cứ hỏi ý kiến ông chủ nhà. 
- Hồi sáng khách tới chơi một đống chén còn ở sàn nước chưa rửa. Chị xuống dưới rửa dùm em để lát có khách tới tiếp. Sắp rồi đó. - Tôi nhìn chị rồi nói. 
- Vậy cán bộ ngồi chơi, nói chuyện với Cu Tí nha. Em đi rửa chén bát, vì khách họ hàng sắp tới. - Chị nói rồi quay lưng đi ngay xuống nhà bếp. 
- Thôi cảm ơn chú đã đến thăm nhà và chúc tết. Cháu phải chuẩn bị tiếp khách. - Tôi nói để đuổi gã đi.
Gã không nói gì, tức giận bước ra sân đi ngay. Tôi nghe tiếng cười của chị vọng lên. Chị đang lấp ló sau tấm vách. Chị bước lên che miệng cười tủm tỉm, tay đập vào vai tôi liên tục. 
- Chị bị cái gì đó? Khỉ nhập đúng vào ngày mồng một hả? - Tôi nói. 
- Công nhận. Trụ cột trong nhà có khác. Thông minh, sâu sắc. “Thế, chú làm cán bộ nhà nước mà không biết tí xíu nào về pháp luật. Còng tay chứ ai còng đầu. Không phân biệt được bộ phận cơ thể con người giữa đầu và tay”. Trời ơi, ông chồng nhỏ của tôi giỏi quá. Chị phải tự nhéo cái đùi thật đau để khỏi phải bật cười đó. Ngay cả ông cán bộ gần 30 tuổi đời mà phải câm họng trước lời lẽ của một cậu bé 14 tuổi. Trời phật ơi! Con có phước lớn quá. - Chị nói vẫn không thôi cười.  
- Cười xong chưa? Bộ tính không ăn cơm trưa hay sao vậy?. - Tôi nói. 
- Ừ quên! Mà nè, nào giờ có từng uống bia chưa? - Chị hỏi. 
- Chưa. Bộ chị tưởng bia nó rẻ lắm hay sao mà hỏi câu đó. - Tôi nói. 
- Chị cũng chưa từng. Có bia sẵn, hai chị em mình uống nha. Chỉ được phép uống một xíu thôi. - Chị nói. 
- Uống luôn! Thử xem bia nó ra sao mà người giàu ai cũng uống. - Tôi nói. 
Ban đầu hai chị em nói chỉ uống một ít cho biết, nhưng rồi hết ly này lại rót tiếp ly khác. Đó cũng là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi và chị đã biết tới vị bia. 
- Em nghe chưa? Lúc nãy họ nói nếu chị bị em đuổi ra khỏi nhà thì tới nhà họ ở. Họ lo đầy đủ không thiếu bất cứ cái gì. Không những vậy cha mẹ họ rất quý chị. Bởi, cha mẹ chị là bạn thân của cha mẹ họ. Vậy mai mồng hai chị tới nhà họ nha? - Chị nói rồi xé con khô mực nướng đã cháy xém một cạnh. 
- Ừ đi đi. - Tôi nói. 
- Chị đi thật đó. 
- Có chân thì cứ đi. - Tôi nói
- Nói chơi vậy thôi. Chẳng nơi nào bằng nhà này. Cũng chẳng có người nào như người này. - Chị nói rồi đưa tay sờ vào mặt tôi. 
Cứ thế chúng tôi uống sạch số bia còn lại. Tôi thấy choáng, nhìn cái gì cũng thành hai, chị thì ôm giữ chặt tôi rồi cười nói những điều không rõ nghĩa. Trong cơn say tôi nghe tiếng gọi của chị văng vẳng bên tai: đợi chị…nhất định phải đợi chị. Tôi hết biết trời trăng mây gió gì nữa. Sáng mồng hai, giật mình tỉnh giấc thấy chị còn nằm ngủ bên cạnh, vẫn là ôm chặt, chân gác lên người tôi. Một góc mùng đã đứt dây buộc rơi xuống từ bao giờ, quần áo của tôi và chị đều dơ bẩn. Tôi chẳng biết vì sao hai chị em lại vào được trong buồng mà ngủ. Vậy là từ hôm qua hai chúng tôi chưa tắm, chưa ăn uống. Tôi gọi chị dậy để hỏi. 
- Hôm qua mình say sao bây giờ lại vào nằm đây được vậy chị?. 
- Hai chị em gục tại đó luôn. Hơn ba giờ sáng chị giật mình dậy, dìu em vào, nhưng khó khăn lắm, hai chị em té ngã chẳng biết bao nhiêu lần. Đưa em vào được trong buồng là một cực hình. - Chị khẽ nghiêng mình rồi cười nói. 
- Lúc ba giờ sáng chị đã tỉnh táo hẳn chưa? - Tôi hỏi. 
- Tỉnh, nhưng đầu đau lắm. Bây giờ vẫn còn đau, thôi dậy tắm, lột bộ đồ ra chị giặt luôn. Dơ hết rồi, té ngã nằm sàn nhà lăn lóc. Giặt luôn cả chiếu, mùng, mền, gối vì nồng nặc mùi bia. - Chị nói. 
Nói xong chị dậy thu hết mùng, mền, chiếu, gối để gom đi giặt cùng với quần áo đang mặc. Rồi lại nấu cơm vì hai chị em đói rã rời. Chị nói mùng hai ở nhà, mồng ba sẽ đi chùa, vì hôm qua say nên bây giờ cả hai đều mệt, cần phải ngủ nhiều. Tắm rửa, giặt giũ, ăn cơm xong vào buồng để ngủ. Chị quay sang nhìn tôi nghiêng đầu cười hỏi khẽ. 
- Chị biết hết bí mật rồi nha. Còn nhớ hôm qua nói gì với chị không? 
Tôi giật mình vì chẳng nhớ mình đã nói gì. Mà làm sao nhớ được khi tôi đã say chẳng biết trời biết đất. 
- Ủa! Em đã nói gì. Chị có thể lặp lại không? - Tôi nói trong nỗi hốt hoảng. 
- Không! Chị biết là đủ rồi. Sau này khi chị trở về sẽ cho em biết rằng em đã nói gì trong cơn say đó. Chị biết đó là những lời thật nhất. Vào tới giường em vẫn nói không ngừng. 
- Những lời đó có làm chị buồn không? - Tôi hỏi vẫn còn chút sợ hãi. 
- Không. Ngược lại vui nữa là đằng khác. Thôi ngủ, quá đuối rồi. Về sau sẽ không dám uống bia rượu nữa. Mai mùng ba mình đi chùa. 
Rồi sáng mùng ba, tôi và chị đi chùa. Chị cầu duyên và xin xăm. Chẳng biết quẻ xăm ra sao mà thấy chị vui lắm. Một kiểu như bề trên chấp nhận lời nguyện cầu ấy. Tôi hỏi chị cầu gì, chỉ trả lời: tôi cầu sao thì chị cầu y chang vậy. Tối mùng ba tôi nằm cạnh chị, khi được hỏi lại lần nữa về việc lúc sáng đi chùa chị đã cầu những gì mà trông tinh thần tươi tắn đầy lạc quan. Chị không nói, chỉ ôm chặt lấy tôi, gác chân ngang người, rồi hôn vào má. Bảo tôi giữ im lặng, chị sẽ không nói vì thế đừng hỏi. Chị sẽ gom lại để trả lời trong lần trở lại sau này. 
Mùa xuân đầu tiên của chị kết thúc trong sự mãn nguyện tuyệt đối. Chưa bao giờ căn nhà lại mang một vẻ mặt tươi sáng đến thế. Những mảng tường rêu mốc như được nắng xuân dát vàng, và cái mùi ẩm mốc u sầu đã hoàn toàn bị lấn át bởi mùi tình người thơm nồng, mùi mứt gừng cay ấm và hương tết thanh khiết. Nó không chỉ là sự khởi đầu của một năm mới mà là sự tái sinh của một tâm hồn. Sau những ngày dài dằng dặc chìm trong sự cô độc thiếu vắng hơi ấm gia đình, mùa xuân này hiện lên lộng lẫy, đầy ắp tiếng cười và rạng rỡ nhất trong cuộc đời chị.
📎 FB_IMG_1790549332256.jpg
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
Chương III: Mùa Hạ Ly Biệt
Mùa hè năm ấy nắng đổ xuống căn nhà tường một thứ ánh sáng vàng rực rỡ, lóng lánh như mật nghệ, hầm hập tựa một chảo lửa đang rang nấu dưới chái bếp của chị. Khiến cho không gian rêu phong cũ kỹ bỗng chốc bừng lên một kỳ ảo nổi bật. Đó là một mùa hè oi ả chứa đầy sự tĩnh lặng, cái âm thầm ngủ quên của một vùng quê nông thôn. Nơi thời gian dường như ngưng đọng trong tiếng ve râm ran. Cái sân gạch phơi dưới cái nắng hạ héo hắt, bốc lên mùi đất sau mỗi trận mưa rào bất chợt. Những khóm hoa vạn thọ còn sót lại từ mùa xuân đã tàn, nhường chỗ cho những bụi hoa mười giờ rực rỡ đủ màu đỏ, tím, vàng, thi nhau bung nở ngay sát bên thềm. Cây xoài ngoài vườn tán lá xanh thẫm, đan dày vào nhau như một chiếc lọng khổng lồ, che chở cho bên hông gian nhà khỏi cái nắng gắt cùng cực. Dưới gốc xoài, mặt đất lúc nào cũng lốm đốm những vệt nắng nhảy múa theo từng cơn gió thoảng qua. Căn nhà tường vốn im lìm bỗng trở nên sống động với những âm hưởng đặc trưng của kỳ nghỉ hè. Tiếng cọt kẹt võng đưa của tôi và chị ngoài vườn nhằm trốn đi những cơn nóng đang chụp xuống nơi này. Thứ âm thanh vang dội, có lúc buồn bã, có lúc lại náo nhiệt lạ lùng. Giữa cái thời tiết oi nồng, chúng tôi như hai mầm cây nhỏ nương tựa vào nhau dưới bóng râm cao thượng. Trên cánh võng, chị nằm một đầu, tôi một đầu, hai chị em nằm nghe tiếng máy cassette rè rè phát ra những bản nhạc trữ tình sâu lắng. Chị vừa quạt cho tôi, vừa khe khẽ hát theo điệu nhạc. Chiều hôm ấy, cái nắng mùa hè đang gay gắt bỗng nhường chỗ cho một cơn mưa rào bất chợt. Từng hạt mưa nặng trĩu rơi xuống mái ngói, tạo nên một bản hòa tấu ồn ào nhưng lại vô cùng an yên. Nước mưa xối xả làm mát rượi cả sân gạch đang hầm hập bốc khói, cuốn đi những lớp bụi, để lại một mùi hương ẩm mục đặc trưng của đất. Chị và tôi cùng ngồi ở hiên nhà, trên chiếc ghế mộc mạc, lặng lẽ nhìn ra màn mưa trắng xóa giăng mắc trước mặt. Hơi nước từ đất bốc lên, quyện với mùi lá ướt, tạo nên một cảm giác vừa dễ chịu, vừa man mác buồn. Chị khẽ tựa đầu vào vai, mái tóc còn vương mùi bồ kết nhẹ nhàng chạm vào má tôi. Giọng chị trầm ấm, hòa lẫn vào tiếng mưa rì rào, nghe như một lời thì thầm từ cõi xa xăm: 
- Tí nè! Mai mốt chị đi xa...em phải tự biết lo cho mình. Gặp mưa thì vô nhà liền, đừng như lúc chiều cứ nằm võng ngoài vườn, đợi chị kéo tay lôi mới chịu đi vô. Nói mai mốt chứ còn lâu lắm. - Chị dặn dò tỉ mỉ từng chút một, từng câu từng chữ đều mang theo sự lo lắng đến tột cùng.
Cho tới bây giờ chị vẫn giấu thời điểm chính xác ngày chị đi. Mặc dù nhiều người trong xóm hỏi chị đều trả lời “chưa thấy thông báo kết quả gì”. Chị không muốn nói cho họ một cách cụ thể, chỉ vì sợ tôi sẽ biết rồi buồn. Nhưng chị đã nhầm, tôi đã biết, thậm chí biết luôn chính xác ngày chị đi, kể cả giờ giấc. Đó là những tháng ngày chị thường vắng nhà, cái vắng đó chính là chị và thím Lợi đi Sài Gòn để làm thủ tục sang Mỹ. Đi đi về về đến mấy lần, lần cuối cùng chị trở về hoàn toàn không nói gì, im lặng suốt ngày, chỉ ăn cơm rồi vào buồng nằm. Bữa ấy tôi đã hỏi nhà của thím Lợi, không đề cập ngay tới vấn đề thủ tục vì sợ chị nghe thấy. Hết môn thi cuối học kỳ tôi không về liền mà đạp xe tới nhà chú thím để hỏi về chuyện giấy tờ. Nhờ vậy mà tôi biết chị đã phỏng vấn đậu, đã có visa, còn đúng sáu ngày nữa chị sẽ ra đi. Tôi biết sau này chú thím cũng sẽ nói lại với chị về việc tôi tìm đến nhà để hỏi. Nhưng tôi chẳng sợ, dù sao lúc đó thì chị cũng đã đi rồi. Thím Lợi nói. 
- Nó khóc suốt, đi lên cũng khóc, phỏng vấn xong đậu cũng khóc, mà lên xe về cũng khóc. Dò hỏi mãi mới biết thì ra là nó xa cháu không đành. 
Tôi buồn bã chào thím rồi ra về. Chị cứ giấu tôi, khi hỏi thì cứ nói còn lâu lắm mới đi, cũng có thể không đi. Lúc thì phỏng vấn rớt, khi thì sức khỏe không đạt nên để năm sau. Buổi chiều hôm ấy, cái nắng đổ xuống mái ngói âm dương của căn nhà tường một màu vàng rực, oi nồng và tĩnh mịch. Tôi đi thi về trễ hơn mọi khi, bước chân trần trên nền gạch tàu không gây ra một tiếng động nhỏ. Ngay từ bậu cửa gỗ cũ kỹ, tôi khựng lại, hơi thở bỗng thắt nghẹn khi nhìn thấy bóng dáng chị bên khung cửa sổ. Chị ngồi đó, nghiêng mình đón lấy chút ánh sáng cuối cùng của buổi chiều. Khung cảnh đẹp và buồn đến mức tôi không nỡ bước tới để phá vỡ sự tĩnh lặng ấy. Chị mặc chiếc áo bà ba màu nâu nhạt đã cũ, mái tóc đen dài được bới gọn ra sau gáy, để lộ bờ vai gầy guộc và chiếc cổ cao thanh tú. Ánh nắng rọi nghiêng qua khung cửa gỗ, dát một lớp viền sáng lấp lánh lên làn da trắng xanh, khiến chị trông như một nhân vật bước ra từ những trang cổ tích sầu muộn. Đôi tay chị uyển chuyển, đưa từng đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng trên nền vải lụa trắng. Chị đang tỉ mẩn thêu hai chữ cái “T Q” nằm cạnh nhau bằng chỉ đỏ. Màu đỏ của chỉ nổi bật trên nền trắng như những giọt máu nhỏ xuống tâm hồn người đứng xem. Chị thêu chậm lắm, cứ mỗi mũi kim hạ xuống, chị lại dừng lại một nhịp, mắt nhìn xa xăm ra phía vườn như đang gửi gắm một lời cầu nguyện vào từng thớ vải. Tôi đứng lặng nơi bậu cửa, nép mình để nhìn chị. Từ góc độ này, tôi thấy rõ sự u sầu hằn trên hàng mi dài khép hờ của chị. Chị không biết có người đang quan sát, nên bao nhiêu nỗi niềm chị đều để lộ ra hết. Thỉnh thoảng, chị dừng tay, đưa chiếc khăn tay lên mũi hít hà thật sâu, rồi lại khẽ mỉm cười một mình. Một nụ cười buồn bã, chứa đựng sự lưu luyến khôn nguôi. Có lẽ chị đang tưởng tượng đến ngày không còn ở đây, và chiếc khăn này sẽ là thứ duy nhất thay chị ở lại lau mồ hôi cho đứa em nhỏ. Tôi biết chiếc khăn này là chị dành cho tôi, bởi mấy ngày trước chị có nói, sẽ thêu cho tôi một chiếc khăn tay, để lau mồ hôi khi đi học, lau lên áo sẽ dơ, vết ố giặt rất khó ra. Đứng nép ở bậu cửa, bỗng thấy chị xa xôi quá. Dù chị chỉ ngồi đó, ngay trước mắt tôi thôi, nhưng có một linh cảm vô hình mách bảo rằng chị đang thuộc về một thế giới khác, một hành trình khác mà tôi không thể theo cùng. Lòng tôi nhói lên một cơn. Tôi muốn chạy tới ôm chầm lấy chị, nhưng đôi chân như bị đóng đinh xuống sàn gạch. Tôi sợ nếu mình bước vào, sự dịu dàng này sẽ tan biến, và chị sẽ lại khoác lên mình vẻ ngoài cứng cỏi để che giấu cuộc chia ly. Trong không gian chỉ có một vài tiếng ve sầu ran ran từ xa và tiếng vải sột soạt mỗi khi kim xuyên qua. Bóng nắng trên vai chị dịch chuyển dần, nhưng chị vẫn ngồi đó, kiên nhẫn và lặng lẽ như một bức tượng của lòng thủy chung.
​Chị thêu không chỉ là hai chữ cái, mà đang thêu cả nỗi nhớ và niềm tin vào chiếc khăn tay ấy. Tôi cứ đứng đó, nhìn chị thật lâu, ghi tạc hình ảnh chị bên khung cửa sổ vào sâu thẳm tâm trí mình. Đó là hình ảnh đẹp nhất, dịu dàng nhất và cũng đau đớn nhất về chị mà tôi mang theo suốt cả cuộc đời này. Tôi làm ngã cây chổi tạo ra tiếng động, chị nhìn ra cửa giật mình khi thấy tôi. 
- Sao không vô nhà mà đứng đó. Thi thế nào rồi, có làm bài được không? Mà sao hôm nay về trễ quá vậy? Còn xe đạp đâu? - Chị hỏi quá nhiều câu khi bất ngờ thấy tôi. 
Tôi không dám nói việc về trễ là do lên nhà thím Lợi để hỏi về thủ tục của chị. Tôi đổ lỗi là do xe hư. 
- Xe sao không đem vô mà lại để ngoài cổng? Ra dắt vào rồi đi tắm, chuẩn bị ăn cơm. Quần áo chị đã lấy sẵn trong nhà tắm. Mà khoan đã! Trở lại đây. - Tôi đi được ba bước để ra cổng lấy xe thì chị gọi lại. Tôi lầm lũi bước lại không nhìn chị mà đưa mắt dõi ra ngoài cổng, nơi chiếc xe đạp đang đứng chơ vơ dưới vạt nắng chiều. Chị bỏ chiếc bàn căng khung thêu xuống rồi bước tới đối diện với tôi. 
- Nhìn vào mắt chị. Nói cho chị biết có chuyện gì? - Hai tay chị giữ lấy đôi vai. Rồi xoay đầu tôi lại để bốn mắt nhìn trực diện. 
- Không có gì. - Tôi đáp. 
- Không có gì thì tại sao buồn. - Chị hỏi. 
- Em nghĩ chắc làm bài thi không được. - Tôi nói vậy, không thể cho chị biết về sự thật tôi đến nhà thím Lợi. 
- Sao lại không được. Suốt thời gian qua chị đã ôn thi cho em rất kỹ. Thậm chí mỗi đêm hai chị em thức đến quá khuya chỉ để ôn bài. Chưa nói chị thường xuyên kiểm tra kết quả học lực, thấy môn Văn Học em có thành tích cao nhất so với các môn còn lại. Hôm nay ngày thi cuối cùng là môn Văn Học mà lại nói không làm bài được. Em đang nói dối, nhưng lại quên, ngay từ thuở em còn nhỏ chị đã trông giữ. - Chị nói. 
- Thì chị cũng nói dối đó thôi. - Tôi nói rồi quay lưng bỏ đi ra phía trước lấy xe đạp vào. 
Chị ngồi ngẫm nghĩ gì đó khá lâu, rồi đi vô trong buồng xem lại cái vali chứa đồ đạc đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi. Thấy cái ngăn đựng giấy tờ đã khóa, chị hiểu tôi không thể nào mở ra được mà xem để biết chị sắp rời đi. Đợi tôi vô nhà chị lặng lẽ theo sau rồi hỏi khẽ khàng, cái giọng không còn gắt gỏng như mới đây. 
- Ai nói cho em biết là chị sắp đi. - Chị nói. 
Tôi không trả lời chỉ im lặng quay lưng. Chị chỉ nói vọng xuống rồi tiếp tục ngồi lại thêu thùa. 
- Tắm xong lột bộ đồ ra để đó lát chị giặt, cất giữ nhằm mai mốt đi tổng kết cuối năm học. 
Tôi từ nhà tắm trở ra thì thấy cơm chị đã dọn sẵn trên bàn. Chúng tôi không nói với nhau lời nào. Bữa cơm chiều hôm ấy diễn ra trong một sự im lặng lạ lùng, thứ im lặng không phải vì không có gì để nói, mà vì cả hai đều sợ rằng chỉ cần một tiếng động nhỏ, cái màn ngăn mỏng manh che giấu sự thật sẽ vỡ vụn. Tôi cúi gằm mặt xuống chén cơm, cố nuốt từng miếng thật nhanh để che giấu sự nghẹn ngào. Tôi thấy bóng chị in trên nền gạch tàu, đôi vai gầy ấy như đang gánh cả một bầu trời tâm sự, có luôn cả giận hờn. Thỉnh thoảng, tiếng đũa chạm vào chén vang vọng trong gian nhà trống như tiếng gõ nhịp của đồng hồ đếm ngược. Bên ngoài sân, nắng chiều đã tắt hẳn, chỉ còn lại màu tím sẫm của hoàng hôn đang bao trùm lấy căn nhà. Tiếng ve sầu cũng đã lịm đi, nhường chỗ cho tiếng gió xào xạc luồn qua khe cửa. Tôi buông đũa xuống rồi nói ngắn gọn: “em no rồi”. Chị nhìn theo rồi hét lên: “Trở lại đây”. Tôi quay người đối diện với chị rồi nhìn ra màn đêm đang sập xuống ngoài cửa sổ. Chị không nói “sắp đi”, tôi cũng không nói “biết rồi”. Chị vẫn ngồi nhìn tôi chăm chăm, sự im lặng lúc đó giống như một sợi dây đàn đã căng hết mức, chỉ cần một cái chạm nhẹ cũng đủ để khiến mọi thứ tan tành.
- Ăn uống kiểu gì vậy? Ngồi xuống tiếp tục ăn. - Chị nói trong nỗi tức giận, đôi mắt đỏ hoe. Thấy tôi còn đứng đó. Chị tiếp tục tháo quát: 
- Có nghe nói gì không? Từ trước tới giờ ăn bao nhiêu, thì bây giờ phải ăn y chang vậy. - Chị nói rồi không nhìn tôi nữa, gục mặt xuống chén cơm của mình dùng đũa lùa tới lùa lui. 
Tôi đành ngồi vào bàn tiếp tục ăn cơm, lúc này chị mới cùng ăn, tuy nhiên chẳng ai nói gì. Bữa cơm kết thúc, bóng tối bắt đầu bò vào từ những góc tường rêu phong, lấn át chút ánh sáng tà huy còn sót lại. Chị không thắp đèn măng xông như mọi khi, chỉ thắp một ngọn đèn dầu nhỏ đặt trên chiếc kệ gỗ. Ánh lửa leo lét khiến những chiếc bóng của hai chị em đổ dài trên vách, chập chờn và méo mó. Chị dọn dẹp, tiếng nước chảy trong lu dội xuống sàn xi măng nghe róc rách, buồn bã. Sự im lặng của bữa cơm chiều muộn vẫn còn ám ảnh tôi tới giờ, nó là khúc nhạc dạo đầu cho một cuộc chia ly mà cả hai đều biết nhưng không ai đủ can đảm để gọi tên. Tôi lấy cuốn truyện cũ, ngồi xuống chiếc ghế cạnh ngọn đèn dầu, chị kêu ra rửa tay, rửa mặt, để lát vào ngủ. Tôi nghe tiếng khua chén ngoài sàn nước, chắc chị đang rửa và chuẩn bị giặt giũ. Chị luôn là người chu toàn như vậy, dù tôi đã mười bốn tuổi biết tự lo cho mình, nhưng chị vẫn không để làm bất cứ việc gì. Nếu là những ngày qua, chị đã thắp đèn măng xông bắt tôi phải ngồi vào bàn học, chị sẽ ôn bài để đi thi, nhưng nay chị biết là ngày thi cuối cùng không cần ôn nữa. Chị đi lên thấy tôi ngồi đó cầm cuốn sách đọc chăm chú, chị xoa đầu, ôm lấy tôi, nở nụ cười giọng nhẹ nhàng như mọi khi. 
- Hôm nay thi thế nào? - Chị hỏi. 
- Được! Mà em nghỉ hè rồi đó. - Tôi đáp. 
- Ừ, chị biết rồi. Chị không cần thành tích với kết quả cao. Miễn em đã cố gắng thì được rồi. - Nói xong chị tiến về góc bàn nơi cửa sổ lấy cái bàn căng khung thêu, rồi trở lại phía tôi tiếp tục công việc còn dang dở. Tôi hỏi:
- Chị thêu cái gì đó.?
- Chị thấy em càng ngày càng lớn, càng không nghe lời nên chị thêu hai chữ “TQ”? - Chị nói. 
- Là chữ gì.? - Tôi tiếp tục hỏi. 
- Hai chữ cái “TQ” nghĩa là “tức quá”. Vì em luôn làm chị tức giận. - Chị nói. Nhưng ngẫm nghĩ một lát lại nói khác: 
- Chị nói giỡn thôi: TQ là tên của em đó: Thành Quang. 
Thì ra chị thêu tên tôi trong chiếc khăn tay. Chị nói về sau giữ chiếc khăn tay này cho thật kỹ. Xong xuôi, chị bảo đi vào ngủ, tôi nói chưa buồn ngủ vì muốn đọc cho hết truyện. Chị nhất quyết kéo tay đi, còn nói vào buồng sẽ kể cho tôi nghe về nội dung trong cuốn truyện. Chị lấy chiếc máy cassette đặt cạnh đầu nằm. Đưa cuốn băng vào, chậm rãi như thể đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng. Tiếng rít nhẹ của cuộn băng chạy qua đầu từ vang lên trước khi âm nhạc trỗi dậy. Một bản nhạc vàng của những năm tháng cũ, giọng ca sĩ trầm buồn, da diết cất lên giữa không gian tĩnh mịch: “Người đi có biết chăng trong chiều nay bơ vơ. Nghe lá thu vàng rơi bâng khuâng. Bước chân ai về từng thời gian ngừng trôi. Như quên đêm khuya để gió sương thêu thùa thầm làm ướt áo vai gầy”. Rõ ràng, từng câu, từng chữ, tôi nghe như một bản cáo trạng chuẩn bị tuyên án. Tiếng máy cassette thỉnh thoảng lại có những đoạn rè nhẹ, khiến giai điệu càng thêm sầu muộn. Tôi ngồi bật dậy, chị cũng vậy, hai chị em cùng bó gối trên chiếc giường gỗ lạnh ngắt. Âm nhạc lúc này không còn là giải trí, nó là ngôn ngữ thay cho những lời biệt ly mà không thể nói ra. Chị nhắm mắt lại, đầu hơi nghiêng, như thể đang để mình tan chảy vào từng nốt nhạc. Trong ánh đèn dầu mờ ảo, tôi thấy một giọt nước mắt lăn dài trên gò má chị, bắt lấy ánh lửa rồi vụt tắt khi rơi xuống vạt áo bà ba. Chị không lau, cứ để nó trôi như cái hoàn cảnh sắp sửa hiện thành. Tôi cảm nhận được hơi ấm từ cánh tay chị chạm vào tôi, nhưng cảm giác ấy sao mong manh quá. Giữa đoạn nhạc dạo, chị khẽ nói, giọng chị gần như hòa vào tiếng máy rè: 
- Sau này chị đi, những lúc buồn em cứ bật máy lên mà nghe. Nghe cho đỡ trống vắng.  
- Thôi! Nghe càng buồn thêm. - Tôi nói. 
- Thì đừng nghe băng, nghe đài thôi. 
Đêm ấy, chiếc máy cassette cứ quay đều, quay đều, như vòng quay của số phận sắp đẩy chị về phía bên kia đại dương, để lại tôi một mình với những giai điệu buồn bã này trong suốt mười mấy năm dài đằng đẵng về sau. Tôi buột miệng nói: 
- Nhạc gì mà nghe y chang đưa đám ma. Ai hát vậy chị? - Tôi hỏi. 
- Đó là bài “Hai vì sao lạc” ca sĩ Tuấn Vũ hát. 
- Thôi tắt đi. - Tôi nói. 
Chị đưa tay nhấn nút, xung quanh bỗng im bặt. Trong cơn xúc động tột cùng, chị thầm thì vào tai tôi, giọng nói méo mó vì những tiếng nấc:
- Chị thương em nhất trên đời này, em biết mà phải không? - Chị hỏi. 
- Em biết. - Tôi trả lời. 
- Vậy thì đừng có buồn nữa. - Chị nói. 
- Em đâu có buồn. Đúng hơn là chị buồn, vừa khóc đó thôi. - Tôi nói. 
- Thôi, chị không buồn nữa. Em cũng vậy nha. Mà sao em biết chị sắp đi? - Chị hỏi. 
- Em thi xong thì chạy lên nhà chú Lợi để hỏi về chị. - Tôi nói.
- Sao em biết nhà chú thím mà lên? 
- Thì bữa đi Sài Gòn thím đưa chị về. Khi chị đã vô nhà. Em chạy ra phía trước đón đường thím để hỏi. - Tôi nói. 
- Hèn gì hôm nay về trễ. Sau này không được đi như vậy nữa, học xong phải một mạch về nhà ngay. Hoặc đi phải nói cho người lớn biết. Lúc chiều không có xe, nếu có thì chị đã đi tìm em rồi đó. Thôi nằm xuống. 
Tôi nằm bên chị, chị ôm tôi rồi gác chân ngang bụng. Nói khẽ bên tai. 
- Mai tắm sớm, chị dẫn đi chơi. 
- Thôi, ban đêm muỗi lắm. Ở nhà chui vô mùng nằm, nghe chị đọc truyện còn thấy vui hơn. - Tôi nói. 
- Cái truyện nào chị đọc em cũng chê. Mà bây giờ kêu nghe còn thấy vui hơn. Tối mai đi chơi một lát rồi về. Thời gian qua chị ép học quá nhiều rồi. Bây giờ phải nghỉ ngơi, vui chơi cho nhiều để tinh thần co lại không giãn quá mức nữa. 
Trước khi những cơn bão lòng ập đến, mùa hè của tôi và chị là những chuỗi ngày cuối tuần vàng rực như bông cúc. Khi đó, căn nhà tường không phải là nơi của những tiếng thở dài, mà là “đại bản doanh” của những chuyến phiêu lưu nhỏ bé nhưng lấp lánh niềm vui. Chị dẫn tôi đi chơi bằng chiếc xe đạp cũ. Tôi ngồi vắt vẻo sau lưng im lặng, còn chị thì gò lưng đạp qua những con đường gồ ghề. Gió từ ngoài rạch thổi vào làm tung bay mái tóc dài của chị, những sợi tóc thơm mùi bồ kết thỉnh thoảng lại quẹt qua mặt tôi, nhồn nhột và ấm áp. Chị thường dẫn tôi ra gò cao hái trái trâm. Chị khéo léo leo lên những cành thấp, hái cho tôi những chùm trâm tím thẫm, ngọt lịm và chát nhẹ. Hai chị em cứ thế ăn đến nỗi môi và lưỡi tím ngắt, rồi nhìn nhau cười nắc nẻ giữa cánh đồng lộng gió. Thỉnh thoảng, chị mượn xe máy để dẫn tôi lên huyện. Với tôi ngày đó, huyện là một thế giới thần tiên đầy màu sắc. ​Khi nắng đã nhạt màu, hai chị em lại dắt nhau về ven rạch dừa. Chị dạy tôi cách thắt những con cào cào, con chim bằng lá dừa. Ngón tay chị nhỏ nhắn, uyển chuyển tết từng lá xanh mướt thành những món đồ chơi kỳ diệu. Chị ngồi đó, dưới bóng dừa mát rượi, đôi mắt xa xăm nhìn theo dòng nước trôi lững lờ. Có lẽ trong những ngày cuối cùng êm đềm ấy, chị đã bắt đầu hình dung về cuộc chia ly. Mỗi bước chân chị đi cùng tôi, mỗi món quà nhỏ chị mua, mỗi nụ cười chị trao... đều là cách chị “tích trữ” tình yêu để tôi có đủ vốn liếng mà sống qua những ngày vắng bóng chị. Mùa hè năm ấy, những chuyến đi chơi cuối tuần là mảnh ghép tươi sáng nhất trong bức tranh ký ức của tôi. Để rồi sau này, mỗi khi đi qua những nơi chốn cũ, tôi vẫn như thấy bóng dáng một người con gái gầy gò, gò lưng đạp xe, chở theo cả một mùa tuổi thơ bình yên của đứa em nhỏ trên đôi vai gầy. 
Có một lần, đó là một buổi chiều thứ Tư, còn hai ngày nữa chị sẽ đi, trời lụi nắng mây đen kéo đến ùn ùn, nhanh đến mức hai chị em không kịp đạp xe về tới nhà. Cơn mưa rào miền quê ập xuống, trắng xóa cả cánh đồng, những hạt mưa to và nặng quất rát rạt vào da thịt. Chị vội vàng kéo tôi lao vào bụi chuối cạnh một cái ao rau muống. Rồi nhanh tay nhặt vỏ ốc đã vỡ khứa một tàu lá chuối thật to, tán lá rộng xanh mướt và còn nguyên vẹn chưa bị gió đánh rách. Chị kêu tôi ngồi thụp xuống, rồi cầm tàu lá che lên đầu cả hai. Tàu lá chuối không đủ rộng, chị cứ nghiêng hẳn sang phía tôi, mặc cho một bên vai áo bà ba của chị đã thấm đẫm nước mưa, dán chặt vào làn da trắng xanh gầy guộc. Dưới tán lá xanh rì, không gian bỗng trở nên chật hẹp và riêng tư lạ kỳ. Tôi nghe rõ tiếng mưa rơi “lộp bộp, lộp bộp” trên mặt lá chuối ngay sát đỉnh đầu. Mùi nhựa lá ngái nồng quyện với mùi đất bốc hơi và mùi tóc ướt của chị tạo nên một phong vị mà sau này, mỗi khi ngửi thấy mùi mưa, tôi lại thấy lòng mình thắt lại vì nhớ chị. Chị ôm lấy vai tôi, kéo sát vào người cho đỡ lạnh. Chị nhìn ra màn mưa trắng xóa trước mặt, giọng trầm xuống, tan vào tiếng nước đổ: 
- Sau này nếu có lúc nào em thấy đời mình như trận mưa này, không có chỗ trú, thì cứ nhớ về cái nhà tường của mình. Phải tìm cho mình một “tàu lá”, hoặc bất cứ nơi nào để che chắn, đừng bất chấp đi, để mình bị ướt lạnh, nghe chưa? - Chị nói.
Trời tạnh mưa, hai chị em về. Chị nấu cơm, và nấu thêm nước ấm cho tôi tắm. Khi đã xong chị kêu lại bên bếp lửa ngồi cạnh, rồi chạy đi lấy chiếc lược bằng gỗ chải tóc cho tôi. Chị nói. 
- Tóc đã dài rồi, ngày mai phải đi cắt thôi. 
Chiều đó hai chị em ăn cơm khá muộn rồi vào buồng ngủ. Khi tôi thức dậy đã là sáng thứ năm, nghe tiếng chị lọ mọ dọn dẹp, tiếng chổi quét, tiếng lục đục thu xếp, tôi bước ra khỏi mùng thấy chị đang soạn quần áo cho tôi bỏ vào một cái bọc lớn, cùng thùng giấy bên cạnh đựng đầy sách vở. 
- Dậy rồi hả. Đi ra đánh răng, rửa mặt. Bàn chải và kem chị đã để sẵn ngoài nhà tắm. - Tôi đứng nhìn chị thật lâu, chẳng biết lý do gì chị lại thu dọn quần áo của tôi. Tôi bỏ đi, chị nói vọng xuống. 
- Lát nữa chị chiên cơm cho ăn. Ăn xong rồi đi cắt tóc. 
Tôi đi cắt tóc trở về thì đồ đạc của tôi đã biến đâu hết rồi. Khi hỏi thì chị bảo đã mang hết sang nhà, vì bắt đầu tối nay tôi sẽ không ngủ ở đây nữa. Đúng hơn từ giờ đến chiều là thời khắc cuối cùng tôi được ở cạnh chị. 
- Trời! Cắt tóc xong giống tài tử hết biết. Ra tắm đi, đồ chị đã để sẵn trên sào. Lột bộ này ra lát chị giặt luôn, tóc không à. - Chị nói. 
Tôi bước ra nhà tắm thì gặp một bộ đồ của tôi và chị đang treo trên sào. Tôi tắm xong trở vào gặp chị ngồi bên bếp lửa với gương mặt buồn hiu. Chị khe khẽ gọi tôi:
- Lại đây ngồi với chị. 
Chị kéo tôi vào lòng, tôi nhìn vào bếp những ngọn lửa đang nhảy múa tinh nghịch trong tiếng nổ lách tách. 
- Chị nấu gì đó? - Tôi hỏi. 
- Chị nấu vịt kho gừng, để lát mình ăn cơm trưa và cả cơm chiều. Món này em rất thích ăn còn gì nữa. - Chị nói rồi nghiêng đầu nhìn tôi cười. 
- Sao chị không cho em ngủ ở đây đêm cuối cùng rồi sáng mai chị đi.? - Tôi hỏi. Chị bỗng nhiên khựng lại, quay sang nhìn tôi với đôi mắt đỏ hoe, sắp rưng rưng. 
- Không được. Bởi vì thấy em, chị sẽ đi chẳng nỡ. Ở đây chơi với chị tới chiều, rồi tối về nhà mà ngủ. Ngoan lên! Hãy nghe lời chị. Thôi lên nhà trên đi, ở đây nóng lắm, mới tắm xong đừng để mồ hôi ra. - Chị nói rồi đưa tay sờ vào đầu tôi. 
Nấu xong, chị đứng dậy đi ra nhà tắm, tôi cũng lặng lẽ đi sau lưng. Chị vào giặt bộ đồ lúc nãy của tôi, chị giũ thật kỹ cho tóc rơi ra hết. Tôi đứng sau lặng người nhìn dáng chị ngồi xổm bên thau nhôm. Nâng niu chiếc áo cũ sờn, những động tác rất chậm, chậm tới mức tôi thấy khoảnh khắc như ngừng lại. Đôi vai chị run lên bần bật! Chị khóc. Không phải tiếng khóc gào lên đau đớn, mà là những tiếng nấc nghẹn bị nén chặt nơi lồng ngực. Nước mắt chị rơi xuống lã chã, hòa vào dòng nước xà bông trắng xóa. Tôi thấy chị đưa bàn tay gầy guộc lên quẹt ngang mắt, nhưng càng lau, nước mắt càng chảy, mặn chát và đắng cay như chính định mệnh đang chia cắt hai chị em. Trong làn khói bếp bảng lảng, mùi hương bồ kết từ mái tóc chị quyện với mùi xà bông, tạo nên một thứ vừa quen thuộc vừa xa lạ. Đó là mùi của sự sạch sẽ, của sự chăm sóc cuối cùng mà chị có thể dành cho đứa em nhỏ. Mỗi lần chị vò áo, bọt xà bông trắng muốt lại trào ra, vỡ tan lách tách như những bong bóng kỷ niệm. Mùi vải ướt át, mùi của nắng sớm và mùi của sự lao lực trên đôi vai chị tỏa ra, khiến tôi cảm thấy lồng ngực mình như có ai bóp nghẹt. Tôi biết, đó là lần cuối cùng chị giặt áo cho tôi. 
- Chị lại khóc nữa rồi. - Tôi nói. 
- Không phải, tại khói bếp bay ra cay quá. Bộ này lát chị đem phơi, trưa nay sẽ khô. Chiều nay em tắm rồi mặc. Riêng bộ đồ đang trên người đừng để cho dơ bẩn, vì ngày mai chị không còn ở nhà để giặt nữa. 
Tiếng vò áo của chị vang lên giữa không gian tĩnh mịch. Tiếng nước xối xuống thau nhôm ào ào như tiếng lòng chị đang đổ vỡ. Chị vừa giặt vừa thầm thì điều gì đó, tiếng chị nhỏ như hơi thở, lẫn vào tiếng nước, nghe như một lời khấn nguyện dành cho tôi: 
- Phải học giỏi... phải ngoan... chị đi rồi đừng có ham chơi…quan trọng hơn phải luôn đợi chị trở về.
Chị nâng chiếc áo lên, nhìn nó thật lâu qua làn nước mắt nhòa lệ. Ánh nắng hắt vào, soi rõ những đường chỉ sờn cũ và gương mặt hốc hác của chị. Chiều hôm ấy, chiếc áo được chị phơi lên sào, gió thổi làm nó bay phấp phới như một cánh chim lẻ bạn. Đó là lần cuối cùng tôi được giữ chiếc áo có mùi hương của đôi tay chị, một thứ tình yêu được giặt giũ bằng nước mắt, vắt kiệt bằng nỗi đau và phơi khô bằng tất cả sự hy sinh thầm lặng của một người chị sắp sửa lìa xa. Chiều hôm đó, chị bảo tôi đi tắm rồi mặc vào bộ đồ lúc sáng đã giặt được phơi khô. Chị lấy nó vào để sẵn trong nhà tắm. Xong rồi thì vào ăn cơm! Tôi không muốn đi, tôi muốn thời gian đừng trôi qua. Tôi ước gì có thể dùng đôi bàn tay bé nhỏ của mình để ghì chặt lấy vòng quay của kim đồng hồ, hay níu lấy vạt áo của hoàng hôn để nó đừng tan vào bóng tối. Thời gian lúc đó không còn chảy trôi bình thường nữa, mà nó cứ nhừa nhựa, đặc quánh lại như mật rỉ đường, mỗi giây phút trôi qua đều nặng nề và đau đớn tới xé lòng. Cái nắng chiều ấy có vị chát đắng như trái khổ qua đang nhai sống. Tôi nhìn bóng chị đổ dài trên tường, cái bóng gầy guộc ấy cứ nhạt dần, nhạt dần theo sự lụi tàn của ánh ngày. Tôi cố tình ăn thật chậm, nhai kỹ từng hạt cơm cho đến khi nó nát vụn thành nước, chỉ để kéo dài thêm vài phút được ngồi đối diện với chị. Mỗi miếng nuốt vào đều nghẹn đắng trong cổ, cảm giác như thời gian đang bị tôi nhấm nháp trong sự tuyệt vọng, nhưng càng cố giữ, nó lại càng trôi đi nhanh hơn qua kẽ tay. Tiếng loa phát thanh vang lên rõ mồn một, nghe như tiếng búa gõ vào đầu. Tôi sợ thứ âm thanh ấy, sợ cái nhịp điệu đều đặn tàn nhẫn báo hiệu bóng đêm sắp sập xuống. Chị vẫn im lặng, tiếng va chạm khua khoắng của chén muỗng dưới tay chị nghe như thúc giục, không còn cái âm thanh rộn ràng của những buổi chiều sum vầy cũ. 
- Giả bộ ăn lâu bấy nhiêu đó đủ rồi. Ăn nhanh rồi còn về bên nhà, tối nay đừng ngủ lại đây với chị nữa. - Giọng chị lạnh lùng một cách lạ thường, nhưng cái giọng ấy mỏng manh lắm, như thể chỉ cần một hơi gió mạnh là sẽ vỡ tan.
- Em ở chơi một lát. - Tôi nói. 
- Nói về là về! Chị muốn yên tĩnh. - Chị to tiếng quát tháo. 
Tôi đi chầm chậm ra cửa rồi dừng lại. Chị tiếp tục xua đuổi. 
- Về đi! Còn đứng đó làm gì nữa. 
Từng lời nói của chị như những nhát roi quất vào người. Tôi lủi thủi bước ra cửa, tiếng dép lê trên nền gạch tàu nghe lẹt xẹt cô độc. Khi vừa bước xuống bậc thềm, nghe thấy tiếng chị đóng sầm cửa lại, tiếng then cài kêu lên một cách dứt khoát. Nhưng ngay sau tiếng động ấy, là một sự im lặng chết chóc, rồi đến tiếng nấc cụt nghẹn ngào mà chị không thể kìm nén thêm được nữa ở phía sau cánh cửa gỗ. Tôi biết chị đang đứng ngay sau cánh cửa đó, chỉ cách tôi một lớp gỗ mỏng thôi nhưng lại xa xôi như hai đầu thế giới! Tôi lầm lũi đi về nhà. Trở lại nơi chỗ ngủ cũ mà tôi đã xa cách bấy lâu, thấy quần áo đã được treo thẳng tắp, sách vở cũng được xếp ngay ngắn gọn gàng trên chiếc bàn học. Tôi hỏi mẹ mới biết, thì ra hồi sáng lúc tôi đi cắt tóc, chị Thanh đã mang đồ sang rồi sắp xếp lại tất cả cho tôi. Mẹ nói: 
- Cứ để cho nó đi. Đừng níu giữ khiến nó thêm tủi buồn. Đời nó đã quá khổ rồi. Trong cái xóm này chẳng có đứa con gái nào mà khổ như vậy. Mặt mũi cha mẹ ra sao tới giờ vẫn chưa biết. Cũng mong rằng nó qua Mỹ, cuộc sống tốt hơn, đỡ khổ hơn. Từ nay về sau không cần phải ở lại đó. 
Đêm ấy, trời không chỉ mưa, mà là một trận cuồng phong như muốn xé toạc bầu không khí vốn đã căng thẳng giữa hai chị em. Tiếng mưa đổ xuống mái tôn của nhà tôi nghe chát chúa, rầm rập như tiếng trống trận, át đi cả tiếng lòng đang gào thét của đứa em bị xua đuổi. Chẳng ngủ được, tôi lấy chiếc nón lá của mẹ rồi chạy ra sân băng qua hàng rào râm bụt, những hạt mưa to bản đập vào mặt rát buốt, mang theo vị tanh nồng của đất cát bị xới tung. Nước mưa tràn vào miệng, nhạt nhẽo và lạnh lẽo, thấm vào từng thớ thịt khiến tôi run lên bần bật. Cái lạnh của cơn mưa đầu mùa không thấm thía gì so với cái lạnh phát ra từ cánh cửa gỗ đang đóng then cài chặt chẽ kia, nơi chị đang nhốt mình trong sự cô độc để chuẩn bị cho một cuộc ra đi chưa hẹn ngày về. Tôi nép mình bên ngoài cửa sổ gỗ đã mục sờn đưa mắt vào nhìn chị y chang một tên trộm đang rình rập. Trong căn buồng nhỏ, ánh đèn dầu chao đảo theo từng cơn gió lùa, tỏa ra một mùi hương cũ kỹ, ám ảnh. Đó là mùi của sự kết thúc. Tôi thấy bóng chị in trên vách tường rêu phong, đôi vai gầy rung lên theo từng nhịp nấc bên chiếc vali. Chị ngồi bó gối quay lưng lại phía cửa sổ. Chị không ngủ, chị đang ngồi khóc. Dưới ánh sáng vàng vọt, mờ ảo, dáng chị hiện lên nhòe nhòa sau màn nước mắt và màn mưa trắng xóa. Chị Thanh lúc này trông thật nhỏ bé giữa căn nhà tường rộng lớn. Chị tắt đèn, bóng tối sập xuống nhanh như một nhát dao chém đứt sợi dây liên kết duy nhất giữa hai chị em. Tôi đứng đó, giữa đêm mưa tầm tã, lặng người nhìn căn buồng chìm vào hư không, hiểu rằng kể từ đêm nay, tiếng mưa sẽ không bao giờ còn bình yên nữa. Tôi vẫn đứng đó nhìn vào bên trong căn buồng tối đen như mực. Rồi bỗng nhiên, một tiếng cạch vang lên giữa màn mưa gào thét. Cánh cửa sau mở toang nhanh vội vàng, nhanh tới mức tôi không kịp phản ứng, chỉ đứng chết trân. Chị đội nón lá bước ra, trên tay với một luồng ánh sáng vàng vọt, yếu ớt của ngọn đèn dầu. Chị đứng đó, sững sờ, còn tôi thì chôn chân giữa đất trời tầm tã. Hai chị em nhìn nhau, ngăn cách bởi một màn mưa trắng xóa và một nỗi đau không thể gọi tên. Tôi đứng dưới làn mưa, những giọt nước đổ xuống mặt cay xè. Chị nhìn tôi đầy đầy rẫy sự bàng hoàng và xót xa. Chị không mắng, không đuổi tôi về như lúc chiều. Giây phút ấy, vị đắng của sự xua đuổi nhường chỗ cho vị ngọt đắng của tình thâm, khi cả hai đều hiểu lớp vỏ bọc tàn nhẫn của việc xua đuổi đã hoàn toàn tan nát dưới sức nặng của cơn mưa định mệnh này. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu trên tay chị, gương mặt hai chị em hiện lên nhòe nhoẹt, nửa sáng nửa tối. Nước mưa chảy dài trên trán chị, hòa vào những giọt nước mắt mới nhất vừa kịp trào ra. Hình bóng chị trong bộ đồ bà ba sờn cũ, đứng giữa màn đêm bao la, trông tàn tạ và nhỏ bé vô cùng. Chị bước tới ôm chầm lấy tôi, hai bóng người hòa vào làm một trên nền tường rêu phong nham nhở, một hình ảnh của sự gắn kết tuyệt vọng trước khi bóng tối của cuộc biệt ly nuốt chửng lấy tất cả vào mờ sáng mai.
- Chị đã nói đừng qua đây rồi mà! Sao em không nghe lời vậy? Ướt hết rồi. Về nhà thay đồ rồi ngủ đi. - Giọng chị nhẹ nhàng, có vẻ như an ủi lẫn trách móc.
- Chị đi đâu mà cầm theo đèn dầu vậy. - Tôi hỏi. 
- Chị tính sang nhà em, để xem em ngủ như thế nào. Nào ngờ, vừa mở cửa nhà sau ra đã nhìn thấy em. Thôi về đi. Chị cũng vào thay đồ rồi ngủ để mai đi sớm. Ngày mai thức dậy nếu không thấy chị thì đừng đi tìm. 
Nói xong chị nắm tay dắt tôi đi về nhà, còn chị trở lại căn nhà của mình. Bóng tối đã bao phủ hoàn toàn. Tiếng mưa vẫn đang thét gào như ông trời cũng đang khóc cho cuộc chia ly của nhân sinh đầy đau thương. Hơn mười giờ đêm cơn mưa đã tạnh. Tôi vẫn không thể nhắm mắt được, giống lần đầu, tôi đến nhà chị đưa mắt nhìn vào cửa sổ. Tôi thấy ngọn đèn còn sáng, có nghĩa là chị vẫn đang thức, bởi chị có thói quen ngủ là sẽ tắt đèn. Nhưng lần này, chị đã dùng chiếc mền để che cửa sổ lại từ bên trong vì sợ tôi nhìn thấy rồi buồn tủi. Tôi nhìn vào chỉ thấy cái bóng. Lúc thì nằm, lúc thì ngồi, khi thì trở mình, rồi gác tay lên trán. Tôi lủi thủi trở về nhà, khi mình mẩy đã bị muỗi chích sưng đỏ và ngứa ngáy. 
Sáng đó, hơn bảy giờ tôi choàng tỉnh giữa một cơn ác mộng hay một thực tại còn đáng sợ hơn cả ác mộng. Ánh nắng sớm mai không rực rỡ mà nhợt nhạt như gương mặt kẻ mất hồn, xuyên qua khe liếp rọi thẳng vào mắt. Tôi bật dậy, tim đập loạn xạ như tiếng trống chầu, đôi chân trần cuống cuồng chạy về phía căn nhà tường, băng qua khoảng sân vẫn còn sũng nước và dấu chân chị hôm qua đã bị mưa đêm bôi xóa nham nhở. Tôi đẩy cửa, cánh cửa khép hờ mở toang, hơ hớ đón gió buổi sáng thổi vào lạnh toát. Bước vào trong, đầu tiên tôi nếm được là vị đắng nghét của sự bỏ rơi. Không còn mùi khói bếp nồng nàn, không còn mùi cơm mới. Chỉ còn lại vị của không khí tĩnh mịch, nhạt nhẽo và hanh hao đến lạ lùng. Tôi gọi: “Chị Thanh ơi!”, nhưng tiếng gọi va vào bốn bức tường rêu phong rồi dội ngược lại, vỡ vụn thành những mảnh âm thanh cô độc. Căn nhà tường vốn dĩ là pháo đài của sự chở che, nay chỉ còn lại những âm thanh vô hồn. Tiếng gió lùa qua khe cửa sổ nghe u u, thê thiết như tiếng hú của một hồn ma bóng quế. Không còn tiếng dép lẹt xẹt, không còn tiếng chổi quét, không còn tiếng chị gọi đi học. Sự im lặng lúc này không phải là bình yên, mà là một sự tàn nhẫn tột cùng, báo hiệu rằng thế giới của tôi đã vĩnh viễn mất đi một nửa. Chị đã đi! Chị đã ra đi thật rồi. 
Tôi quỵ xuống giữa gian nhà, bàn tay run rẩy chạm vào mặt phản gỗ chiếc giường ngủ của tôi và chị giờ đây lạnh ngắt và khô khốc, không còn hơi ấm, chẳng còn mùi bồ kết. Chỉ có một lá thư với những đoạn chữ nhòe vì nước mắt của chị rơi xuống, một chiếc cassette, một chiếc khăn tay có chữ TQ, hai tờ tiền, một tờ có màu tím, và một tờ màu xanh, gồm một trăm năm mươi nghìn chị để lại cho tôi nhắc nhở rằng phải tự mình vá víu lấy tương lai. Căn nhà tường rêu phong, nham nhở dấu vết của thời gian, giờ đây chỉ còn là một cái lồng trống rỗng, giam giữ một đứa trẻ đang ôm lấy bộ những kỷ vật mà gào khóc trong sự bất lực đến tận cùng của kiếp người. Tôi run rẩy nhặt lá thư đang nằm lạc lõng trên chiếc giường gỗ. Tờ giấy tập cũ của tôi đã nhăn nheo, bốn góc quăn lại như thể vừa trải qua một trận giông bão. Những dòng chữ nghiêng nghiêng, vốn dĩ rất nắn nót của chị, giờ đây nhòe nhoẹt, xô lệch bởi những vệt nước khô đi để lại những quầng ố vàng xót xa. Mỗi nét chữ như một lời từ biệt được rút ra từ máu thịt:
“gửi Quang của chị
Chị sẽ không gọi em là Cu Tí nữa! Bởi chị biết thời gian tới em sẽ lớn. Khi em cầm tờ giấy này trên tay, chắc trời đã sáng và chị đã đi xa lắm rồi. Đừng trách chị vì đã đuổi em về chiều qua, cũng đừng trách chị vì đã lén ra đi trong lúc em còn say ngủ. Chị sợ chỉ cần nhìn thấy đôi mắt buồn của em, chị sẽ vứt bỏ tất cả để ở lại. Căn nhà tường này từ nay vắng bóng chị, em phải tự mình làm người lớn. Phải tự học, chị sẽ không có bên em để nhắc nhở nữa. Cái nhà này sẽ là của chúng mình về sau, vì vậy phải thường xuyên quét dọn, khu vườn thì đừng để cỏ dại mọc um tùm, nó sẽ hoang tàn thì trông buồn quạnh quẽ lắm. Chị sẽ trở về, nhất định em phải đợi chị, nhất định phải như vậy. Chị để lại tiền và chiếc khăn tay thêu chữ TQ. Hồi đó chị nói vui TQ nghĩa là “tức quá” vì em chẳng chịu nghe lời, vì thế chị thêu hai chữ này, mà không phải đâu, cũng chẳng phải chỉ duy nhất tên em là Thành Quang. Chữ T là tên chị, chữ Q là tên em. Hai chị em mình như hai sợi chỉ thêu cạnh nhau trên một nền vải trắng, dù cách trở nghìn trùng cũng không bao giờ đứt đoạn. Những lúc buồn quá, em hãy bật chiếc máy cassette lên nghe, chị đã thu âm sẵn một đoạn tâm sự cho em rồi đó...Chiếc xe đạp hãy mang về mà đi học. Đừng khóc, cũng đừng buồn. Chị đi là để quay trở về như mình đã cam kết với nhau rất nhiều lần. Tất cả những gì chị làm đều có nguyên nhân, ngay cả việc để em đứng tên nhà. Đợi chị, nhất định phải đợi chị. Chị thương em hơn tất cả những gì chị có trên đời này. Hãy cố học hành cho thật tốt. Hãy nhớ chị, hãy đợi chị, nhưng đừng bao giờ đi tìm chị. Tạm biệt em, chúng mình sẽ gặp lại dù có bao lâu đi chăng nữa”. 
Tôi quỳ rạp xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, đôi tay run rẩy chạm vào chiếc máy cassette cuộn băng đã để sẵn. Nhấn nút Play vang lên khô khốc giữa gian nhà trống. Sau vài giây rè rè của cuộn băng chạy qua đầu từ, giọng chị Thanh bỗng cất lên không phải là giọng nói lạnh lùng xua đuổi lúc chiều, mà là giọng thủ thỉ, nghẹn ngào như đang rót thẳng vào tim tôi. Khào khào, méo mó vì tiếng nấc, mang theo vị mặn chát của một người đang khóc đến cạn nước mắt. Tôi nhắm mắt lại, tưởng như mùi bồ kết trên tóc chị đang thoảng qua đâu đây, ngay sát bên tai, dìu dắt tôi vào một cõi mộng mị giữa ban ngày.
“Chắc giờ này em đang buồn chị lắm đúng không? Đừng tủi... Chị đi lần này không biết bao giờ mới được nắm lấy đôi bàn tay nhỏ xíu, thô ráp của em lần nữa. Nhưng em phải nghe chị, phải sống cho thật tốt. Căn nhà mình tuy cũ kỹ, màu vôi có tróc, tường có thấm, nhưng nó là hơi ấm còn sót lại của cha mẹ chị, cũng của chị em mình”. Tiếng chị dừng lại một nhịp, chỉ còn tiếng gió rít và tiếng mưa đêm qua được thu lại, nghe ầm ào và thê thiết. Rồi giọng chị cao lên, đầy quyết tâm nhưng cũng đầy đau đớn:
“Đợi chị nghe Quang! Dù mười năm, hai mươi năm, hay cả một đời, chị cũng sẽ tìm đường trở về với em. Mỗi khi thấy nhớ chị, em hãy lấy chiếc khăn tay thêu chữ TQ ra mà nhìn. Chị gửi hồn mình vào từng đường kim mũi chỉ đó rồi. Đợi chị... nhất định phải đợi chị”
Hình ảnh chị Thanh hiện ra nhòe nhoẹt trong tâm trí tôi, một người con gái gầy gò đứng giữa trùng khơi, mắt hướng về phía xóm nhỏ. Tôi gào lên trong căn nhà trống: “Em sẽ đợi chị”. Tiếng hét của tôi tan vào bóng tối của gian buồng, chỉ còn lại những vệt nắng sớm soi rõ những hạt bụi đang nhảy múa trên chiếc máy cassette kỷ vật duy nhất còn lưu giữ hơi thở của một người đã đi vào cõi nhớ. Tôi đứng dậy, đôi chân tê dại vì quỳ quá lâu trên nền gạch tàu lạnh lẽo. Ôm chiếc máy cassette và lá thư, chiếc khăn tay vào lòng, chậm rãi bước ra khỏi gian buồng, bỏ lại sau lưng một khoảng trống hoác mà mười ba năm sau cũng chẳng thể lấp đầy. Khi tôi bước ra đến ngưỡng cửa, vị của sự mất mát lan tỏa trong tâm trí, nhạt nhẽo và hanh hao như màu nắng sáng đang hấp hối. Tôi đưa tay nắm lấy cánh cửa gỗ đã nhám sần vôi vữa để khép lại. Cảm giác thô ráp ấy len lỏi vào da thịt, khiến tôi chợt nhận ra rằng từ giây phút này, sự che chở ấm áp của chị đã thực sự lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại mình tôi đối diện với thực tại nghiệt ngã. Tôi bóp ổ khóa và rút chìa ra. Quay đầu nhìn lại gian nhà rêu phong mùi dầu lửa khét lẹt còn sót lại từ đêm qua tạo nên một bầu không khí đặc quánh sự u uất. Tôi không ngoảnh đầu lại nữa. Lầm lũi đi về phía nhà, mang theo giọng nói khàn đặc trong cuốn băng và lời hứa “đợi chị” khắc sâu vào tâm khảm. Sau lưng tôi, căn nhà tường chìm dần vào im ắng và u trầm, ôm giữ lấy những ký ức rách nát của hai chị em, bắt đầu một giấc ngủ dài cho đến ngày người con gái ấy thực sự trở về.
📎 IMG_20260311_203919.png
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
Chương IV: Nhật Ký Người Ở Lại
Mùa hè năm ấy đối với tôi không còn là những trưa hè rực nắng đầy vui nhộn cùng chúng bạn, mà là một mùa dài đằng đẵng của những cơn đau thắt lại mỗi khi bước chân ngang qua hiên nhà cũ. Nhà tôi nằm sát nhà chị, chỉ cách nhau một hàng rào dâm bụt thưa thớt, nhưng khoảng cách ấy giờ đây rộng mênh mông như biển cả ngoài kia. Tôi đứng bên này hàng rào, lắng tai nghe những âm thanh từ phía nhà chị. Chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa nghe u u, thê thiết. Không còn tiếng máy cassette rè rè, không còn giọng nói nhỏ nhẹ ngọt lịm của chị. Tiếng xào xạc phía vườn xa vọng về nghe não nề, đứt quãng, như nhịp tim của một người đang mỏi mòn chờ đợi. Sự im lặng của căn nhà bên cạnh như một khối đá nặng ngàn cân đè nghiến lên lồng ngực tôi trong mỗi buổi hoàng hôn. Có những chiều, tôi qua hàng rào, tay chạm vào bức tường phía sau nhà chị. Cảm giác thô ráp, nhám sần của lớp vôi cũ khiến lòng tôi run rẩy chỉ thấy cái lạnh lẽo của sự bỏ rơi. Trong ánh chiều tà tím thẫm, căn nhà tường hiện lên như một vết sẹo buồn bã trên da thịt của xóm nghèo. Những mảng tường cũ kỹ, nham nhở dấu vết của thời gian cứ ám ảnh tôi trong từng giấc ngủ. Tôi nhìn về phía hành lang đó là khung cửa sổ chị hay ngồi đón lấy ánh sáng bây giờ đóng im ỉm, thầm hỏi chị đang ở phương trời nào?. Một mùa hè rực rỡ đã chết, để lại một đứa trẻ cứ quẩn quanh bên ngôi nhà trống, gom nhặt từng mảnh vụn kỷ niệm rách tươm để nuôi dưỡng một niềm hy vọng mong manh ngày trở về. Không như những mùa hè xưa cũ, hồn nhiên, thích thú, vui chơi cùng chúng bạn. Mùa hè của hiện tại là sự trưởng thành, là nỗi nhớ chị, là những nỗi buồn cứ như màu nắng rực rỡ, chúng không còn reo vui trên những tàu lá chuối mà cứ lặng lẽ rót xuống hiên nhà một thứ màu vàng võ, nhạt nhẽo. Căn nhà tường của chị nằm đó tôi đang đứng đây, mà sao cảm giác như nó đã trôi dạt sang một bờ lục địa khác, xa xăm và mịt mờ. Gió từ trên thổi về, mang theo mùi ẩm nóng và mùi lá khô. Nhưng giữa ngàn vạn mùi vị của quê hương, tôi cứ mải miết đi tìm một mùi hương đã tắt: mùi bồ kết nồng nàn trên tóc chị quyện với mùi nắng gắt trên vai áo bà ba. Mùi bụi bặm của thời gian bắt đầu phủ rêu lên những kỷ niệm. Không gian tĩnh mịch đến mức tôi nghe được cả tiếng một chiếc lá bàng rụng xuống mặt sân gạch tàu, nghe xào xạc như tiếng bước chân chị. Nhưng khi tôi ngẩng đầu lên, chỉ thấy một khoảng không gian trống huếch, đơn độc. Tiếng chim ríu rít nghe vọng lại, thâm trầm từ phía vườn, như nhịp gõ của sự đợi chờ vô vọng. Tôi nhớ tiếng chị gọi “Tí ơi” mỗi khi đi chợ về, âm thanh ấy cứ vang lên trong đầu, rồi tan ra như bong bóng xà phòng dưới cơn mưa đêm, để lại một sự im lặng nhức nhối, thê thiết. Dưới ánh hoàng hôn tím thẫm, căn nhà của chị hiện lên như một bức tranh tàn tạ. Những mảng tường rêu phong đổ bóng dài xuống sân, trông như những cánh tay đen thẫm đang cố níu kéo mặt trời. Tôi đứng đó, bóng dáng nhỏ bé đổ dài trên nền gạch đỏ, tay mân mê chiếc khăn tay thêu chữ TQ đã sờn chỉ, bạc màu. Nỗi nhớ chị Thanh không phải là một cơn bão ào ạt, mà nó như nước rạch lúc thủy triều lên, cứ từ từ dâng cao, thấm đẫm vào từng thớ thịt, từng hơi thở, khiến tôi cứ mãi quẩn quanh bên ngôi nhà trống, giữa một mùa hè rực rỡ mà lòng thì lạnh giá tê tái. 
Những buổi trưa tôi mang võng mắc ở cái vườn nhà chị. Trong lim dim mơ hồ, tôi thấy nắng không còn gắt gỏng mà dịu lại như màu mật ong mùa thu. Từ phía trước cổng, một bóng dáng quen thuộc bước vào. Chị Thanh! Chị bước đi nhẹ nhàng, đôi chân trần chạm trên đất mịn không còn vẻ run rẩy của mùa đông. Chị tiến lại gần nghiêng đầu cười, cả không gian sực nức mùi hương của sự sống. Đó là mùi bồ kết trên tóc chị, mùi nắng mới thơm tho quyện trong lớp áo bà ba phẳng phiu. Không còn mùi ẩm mốc của căn nhà bỏ hoang, không còn mùi dầu lửa khét lẹt của sự ly biệt. Chỉ còn mùi của sự che chở, nồng nàn và ấm áp như hơi thở của mẹ. Chị cúi xuống, mái tóc dài quét qua mặt tôi, mang theo hương vị của những ngày trong căn nhà cũ kỹ, khi hai chị em còn bên nhau giữa không gian nơi này. Chị xoa đầu nói khẽ: “Tí ơi, chị về rồi nè, lát chị nướng củ lang cho ăn”. Tiếng chị vang lên, trong trẻo và ngân nga như tiếng chuông gió, xóa tan sự im lặng thê thiết của gian nhà tường bấy lâu. Chị cười, điệu cười hiền hậu làm đôi mắt chị nhỏ lại, lấp lánh như nắng dưới dòng sông. Không có tiếng nấc nghẹn, không có tiếng mưa rơi chát chúa trên mái ngói. Chỉ có tiếng chim chuyền cành và giọng nói ấm áp của chị rót vào tai tôi những lời vỗ về dịu dàng nhất. Tôi vươn tay ra, chạm vào vạt áo chị. Lớp vải không còn nhăn nheo, hay giòn tan vì nắng cháy, mà mềm mại như mây. Bàn tay chị nắm lấy tay tôi, không còn nhám sần hay lạnh ngắt, mà nóng hổi đầy sức sống. Chị xoa má tôi, cái chạm nhẹ nhàng ấy khiến mọi nỗi đau, mọi sự chờ đợi mòn mỏi bấy lâu bỗng chốc tan biến. Tôi cảm nhận được hơi ấm thực sự, một sự vỗ về khiến trái tim vốn đã vỡ vụn của tôi bắt đầu liền sẹo. Nhưng rồi, cơn gió mạnh làm một nhánh nhỏ cây khô rớt vào người. Tôi giật mình tỉnh giấc. Trước mắt vẫn là căn nhà tường trống rỗng, lặng im đến rợn người. Chẳng có củ khoai lang nướng nào, chẳng có nụ cười hiền hậu cái nghiêng đầu nào ở đây. Chỉ có tôi, một mình dưới cái nắng trưa thiêu đốt. Nắng soi rõ những mảng tường nham nhở, như một lời nhắc nhở nghiệt ngã chị vẫn còn ở nơi đâu đó xa xăm lắm, phía bên kia trời Tây.
Quá khứ đối với tôi giờ đây như một cuốn phim màu cũ, những thước phim nhuốm màu nắng vàng. Những tháng ngày ấu thơ bên chị không chỉ là kỷ niệm, mà là một phần máu thịt, là hơi ấm duy nhất giúp tôi chống chọi lại cái lạnh lẽo của thực tại trống trải. Tuổi thơ của hai chị em nghèo và bất hạnh, là tiếng xẹt xẹt của cây chổi tre chị quét sân mỗi sáng sớm, là tiếng động khi chị xả nước rửa tay cho tôi. Là tiếng khua chén, những buổi cơm đạm bạc. Tôi nhớ tiếng chị gọi lúc còn thơ bé những khi tôi sang nhà. 
- Nay, Cu Tí trốn ngủ trưa đi chơi phải không? Lại đây chị đọc truyện cho nghe.
- Chị Thanh sống một mình mà không sợ ma sao? - Tôi hỏi. 
- Ma ở đâu ra mà sợ. - Chị nói. 
- Cái ông say rượu đi ngang đây suốt nè. 
- Ông đó là người, không phải ma. - Chị nói. 
- Ủa, sao em nghe dì Lan nói ông đó là ma men ta? - Tôi hỏi.  
- Ừ thì cũng đúng. Ma men ý nói những người hay uống rượu. Mà chị cũng sợ mấy người đó. - Chị nói
- Thế rốt cuộc ông đó là người hay ma? - Tôi hỏi.   
- Nửa người, nửa ma được chưa?. 
- Em nghĩ chắc tại ông đó ốm nhom ốm nhách nên mấy dì trong xóm gọi là ma men. 
- Cũng có thể là vậy. - Chị nói. 
- Vậy chị cũng là ma. Vì chị ốm như con cò ma. 
- Mới có bây lớn mà biết dùng đầu óc tạo ra tình huống để đưa người khác vào thế kẹt rồi đó. Chị thấy em còn thông minh hơn cả chị. Đó cũng là lý do chị chỉ thích chơi với em. - Chị nói.
   
- Sao từ hôm qua chị không sang nhà chơi với em. - Tôi hỏi. 
- Em có thèm chơi với chị đâu. Lúc nào chị sang em cũng đã đi chơi với mấy đứa trong xóm rồi. Bỏ chị một mình buồn muốn chết. Chẳng hiểu sao chị lại thích chơi với mỗi mình em thôi. Ngày mai ở nhà đi chiều chị qua chơi với em. Còn nếu chị không qua thì em sang đây nha. Bây giờ nằm xuống đây, chị đọc truyện cho nghe. 
- Thôi, không ngủ đâu. Với lại truyện chỉ có bấy nhiêu đó, đọc đi đọc lại suốt. 
- Cứ nằm xuống. Không nghe truyện thì chị hát. Giống lúc em còn nhỏ chị thường ru cho ngủ. 
- Thôi! Em đi chơi đây. Chị ở đó tự ru tự ngủ đi. 
- Trời nắng không được đi. Mấy đứa kia cũng ở nhà ngủ trưa hết rồi. Nằm xuống ngủ, khi nào dậy chị thắt con cào cào bằng lá dừa cho.  
Đó là những kỷ niệm thuở tôi chưa sang sống cùng chị. Rồi những khi tôi bị mẹ cầm roi đánh, nơi có thể chạy trốn duy nhất chính là căn nhà của chị. 
- Vô buồng lẹ đi. Đừng lên tiếng. - Chị nói. 
- Thằng Tí nó có chạy qua đây không Thanh. - Mẹ tôi hỏi chị, trên tay vẫn cầm cây roi. 
- Dạ, không dì. Lại phá phách nữa rồi chứ gì. - Chị nói với mẹ. 
- Nó mới làm đổ hết cái nồi canh. - Mẹ nói rồi quay lưng về. 
Chị len lén vô buồng gọi tôi ra. Hai chị em nướng củ khoai lang cùng ngồi ăn. Tôi ăn dính đầy miệng, bôi lên mặt đen thui vì nơi vỏ đã cháy khét. Chị cười nói giống ông Táo, rồi dắt ra sàn bếp rửa mặt. 
Đến năm mười ba tuổi tôi qua sống với chị. Tiếng máy cassette chị mua trong dịp sắp tết, mỗi đêm thường phát ra những bản nhạc vàng rè rè, méo mó, nhưng đó là thứ âm thanh xa xỉ và hạnh phúc nhất mà hai chị em từng có. Ngày đó hai chị em bỏ băng vào, ấn nút đỏ để tự thu giọng của chính mình, đến khi mở lại, cả hai cùng cười ngặt nghẽo vì cái giọng không giống ở ngoài. Ngay cả tiếng quát tháo của chị khi tôi nghịch cũng nghe thật êm đềm, không hề chát chúa như tiếng gió lùa qua căn nhà trống hiện tại. Bàn tay chị ngày ấy đã thô ráp vì làm lụng suốt ngày, nhưng khi xoa đầu, tôi lại thấy vô cùng mềm mại, ấm áp. Tôi nhớ cảm giác được chị nắm tay dắt đi trên những con đường làng trơn trượt bùn đất sau cơn mưa, đôi bàn chân nhỏ bé của tôi lọt thỏm trong cái bóng của chị. Mỗi khi trời trở lạnh, chị lại lôi bộ đồ thường ngày của tôi ra, những thớ vải tuy đã cũ kỹ, nhăn nheo nhưng được chị ủi phẳng bằng bàn là than nóng hổi, mặc vào thấy ấm áp đến tận tim gan. Chị không còn là người mẹ, người chị, mà còn là người bạn suốt quãng thời gian tôi còn bé dại đến khi mười bốn tuổi thì chị chính thức rời đi. 
Dưới ánh chiều tà của quá khứ, hình ảnh hai chị em ngồi bên bậc thềm nhà tường hiện lên đẹp như một bức tranh cổ tích. Chị Thanh với mái tóc dài đen mượt, gương mặt hiền hậu lấp lánh dưới ánh nắng hoàng hôn, còn tôi là đứa trẻ nhỏ luôn quẩn quanh bên gấu áo chị. Căn nhà khi ấy không hề trống huếch, tàn tạ mà luôn đầy ắp tiếng cười và mùi thức ăn nồng nàn. Đó là một thiên đường nhỏ bé, nơi mọi giông bão cuộc đời đều dừng lại sau cánh cửa gỗ, nơi chỉ có tình chị em vẹn nguyên, nồng thắm trước khi cơn bão ly biệt cuốn phăng tất cả vào hư không. 
Nỗi buồn của tôi trong mùa hè năm ấy không lặng lẽ tan đi theo hơi nóng, mà nó cứ bền bỉ, nhức nhối và văng vẳng bên tai tựa như tiếng ve sầu rền rĩ suốt những trưa đại hạn. Tiếng ve ấy không phải là khúc nhạc vui của mùa sang, mà là một bản đồng ca của sự tuyệt vọng, cứ ranh rảnh, chát chúa xoáy sâu vào không gian tĩnh mịch của căn nhà tường vắng bóng chị. Nỗi nhớ chị trong tôi cũng chỉ chờ một mùi hương khói bếp hay một bóng nắng đổ ngang thềm là lại bùng lên da diết, dữ dội. Nỗi buồn ấy nham nhở theo từng vòng quay của thời gian. Giữa cái nắng cháy da người, tiếng ve như kết tinh của sự khô khốc, còn nỗi buồn của tôi lại là sự cạn kiệt của những giọt nước mắt, cả hai hòa quyện vào nhau, dệt nên một mùa hè tiều tụy, hoang phế đến rung cảm nao lòng. 
Tôi lủi thủi bước ra phía trước đứng dưới gốc phượng già nơi đầu ngõ, cái bóng của tôi nhỏ thó, đơn độc giữa một vùng nắng lóa. Trên cao, tiếng ve sầu đồng loạt cất lên ranh rảnh, chát chúa, nghe như hàng nghìn cây kim tẩm muối đâm vào thinh không. Tôi ngửa cổ nhìn lên vòm lá đỏ rực như lửa cháy, cảm thấy mình cũng giống như một con ve sầu nhỏ bé đang kiệt sức, cố dùng chút hơi tàn để gào thét tên chị giữa khoảng không vô định. Hương phượng vĩ không thơm, nó có mùi hăng hắc, nồng nặc quyện với mùi nắng cháy bốc lên từ mặt đất khô cằn. Trong cái không khí oi nồng ấy, tôi vẫn mải miết đi tìm mùi hương bồ kết cũ, nhưng chỉ thấy mùi vôi vữa mục sờn từ căn nhà bên cạnh tạt sang. Tiếng ve càng rền rĩ, mùi hương của sự hoang phế càng trở nên rõ rệt, đặc quánh lại xung quanh tôi như một chiếc kén tàn tạ. Nỗi buồn của tôi trong những ngày thiếu vắng chị không ập đến như một trận bão nổi, mà nó tựa như thứ nước rạch lúc thủy triều lên, cứ lặng lẽ, âm thầm tràn qua bãi bồi, thấm dần vào từng thớ đất, rồi cuối cùng bao trùm lấy toàn bộ tâm hồn tôi trong một sự tĩnh lặng lạnh lẽo. Nó là kiểu nỗi đau không khiến người ta phải gào thét, nhưng lại khiến lồng ngực lúc nào cũng nằng nặng, âm ỉ như có một khối đá vô hình đè nghiến lên hơi thở.  
Tôi khác với những đứa trẻ đồng trang lứa trong xóm. Chẳng còn tha thiết với những thú vui tuổi mười bốn. Mỗi ngày viết một trang nhật ký trong những lần nhớ chị. Thượng đế ơi! Sao lại sinh ra người đa cảm, đa sầu. Lại khéo sắp đặt một bi hài trớ trêu. Nhà tôi cạnh nhà chị, tức là sẽ thấy căn nhà ấy mỗi ngày. Thường nghe những người trong xóm kể về chị, làm tôi nhớ chị thêm. Mẹ tôi nói. 
- Nó đi rồi thì lâu lâu qua đó quét dọn. Đừng để cỏ dại mọc che khuất. - Qua đó rồi thì những ký ức về chị lại hiện ra.  
Những tháng năm sau tôi vẫn nhớ chị nhưng không còn da diết dữ dội, đau đáu như lần đầu tiên. Những khi sang nhà, tôi không dám ở lâu, chỉ quét dọn rồi lủi thủi ra về. Sau này tôi nghỉ học rồi gắn bó với ruộng đồng. Một lần dì Hạnh đi công chuyện ở đâu đó rồi ghé gặp tôi để chuyển lời. Dì cho biết nhà dì mới lắp điện thoại bàn. 
- Hôm qua con Thanh có gọi điện về hỏi thăm cháu nhờ chuyển lời giùm. Vậy bây giờ cháu ra sao cứ nói, khi nào nó điện về dì sẽ chuyển lời lại. - Dì Hạnh nói. 
- Cháu đã nghỉ học, ở nhà làm ruộng. Dự tính sang năm sẽ làm hồ sơ lên Sài Gòn làm. Cứ cách mười ngày nửa tháng cháu sang quét dọn. Nhà cháu vẫn chưa có điện thoại. - Tôi nói giọng run rẩy. Nghe tin chị tôi mừng mà muốn khóc.
Thời gian ấy lâu lâu dì Hạnh xuống chuyển lời từ chị. Cũng có khi dì không đi vì điều ấy chưa thực sự quan trọng. Nhất là việc chị Thanh cứ hỏi tôi: Có người yêu, có vợ chưa? Câu này lâu lâu chị gọi về đều đề cập. Câu trả lời mặc định mà dì Hạnh chuyển lời là “chưa”. Tôi được biết, chị bên đó rất bận, vừa đi làm, vừa đi học, chị học ngành luật. Tới năm hai mươi bốn tuổi tôi đi Sài Gòn làm, từ đó không còn biết tin tức gì về chị nữa. Chị có ý định gửi tiền về cho nhà tôi lắp điện thoại, nhưng lúc ấy tôi chẳng còn ở quê.   
Thời gian trưởng thành của tôi không được tính bằng những đốt xương dài ra hay những mùa lúa trổ bông, mà được đo bằng sự lắng đọng của nỗi nhớ, như một lớp phù sa lặng lẽ bồi đắp lên tâm hồn hoang hoải của đứa trẻ bị bỏ lại. Mười năm ấy, nỗi nhớ chị không còn là cơn bão lòng gầm thét, mà đã hóa thành một dòng sông ngầm, âm thầm chảy qua mọi ngóc ngách của đời tôi, mài mòn những góc cạnh xù xì để tôi trở nên điềm tĩnh trước bão giông. Suốt mười năm, tôi đã gột rửa mùi ẩm mốc của căn nhà trống bằng mùi của nỗi nhớ, mùi của những chồng sách cũ và mùi của sự chăm chút mỗi ngày. Nhưng lạ thay, trong những đêm mưa rào, tôi vẫn cố tìm về mùi nắng khét trên vai áo chị, mùi hương bồ kết đã phai nhạt nhưng chưa bao giờ mất hẳn trong tiềm thức. Tôi trưởng thành giữa mùi của sự lao nhọc và mùi của hy vọng một thứ mùi vừa nồng nàn, vừa xót xa, như mùi đất ẩm sau trận mưa dài, báo hiệu một sự hồi sinh từ những gì tưởng chừng đã tàn tạ. Tiếng ve sầu của những mùa hè sau không còn làm tôi thấy nhức nhối hay thê thiết. Tôi đã học được cách lắng nghe tiếng vang của sự im lặng. Tiếng máy cassette cũ kỹ ngày nào giờ đã im lìm, nhưng giai điệu của chị vẫn ngân nga trong lồng ngực tôi như một bản đồng ca không lời. Âm thanh của sự trưởng thành là tiếng bước chân dứt khoát trên nền gạch tàu, tiếng chổi quét sân đều đặn mỗi sớm, và cả tiếng lòng tôi bình thản đến lạ kỳ giữa những ngày giông bão. Nỗi nhớ không còn gào thét, nó chỉ còn là một tiếng vọng thâm trầm, bền bỉ. Bàn tay tôi không còn mềm yếu như buổi chiều ngồi khóc dưới hiên nhà. Nó đã trở nên thô ráp, nhám sần, đầy những vết chai sạn của một người đàn ông gánh vác cả một bến đợi. Khi chạm tay vào chiếc khăn tay thêu chữ TQ nay đã sờn chỉ, bạc màu, tôi không còn thấy sự tơi tả hay cũ kỹ, mà cảm thấy đó là một phần da thịt của chính mình. Sự nhăn nheo của thớ vải không còn gợi lên nỗi đau, mà là minh chứng cho một sự thủy chung bền bỉ qua năm tháng. Cảm giác thô cứng ấy giờ đây chính là sự vững chãi giúp tôi không ngã quỵ trước sự nghiệt ngã của thời gian. Dưới ánh hoàng hôn của năm thứ mười, tôi không còn là đứa trẻ đứng sau hàng rào nhìn về phía biển lớn với đôi mắt đẫm lệ. Tôi đứng đó, cao lớn và lặng lẽ như một ngọn hải đăng tự thân mình thắp sáng. Căn nhà tường còn hiện lên rêu phong, nhưng sạch sẽ, tôn nghiêm. Tôi trưởng thành trong nỗi nhớ chị như một cái cây cổ thụ lớn lên từ mảnh đất đầy vết sẹo, rễ bám sâu vào ký ức, nhưng cành lá vẫn vươn cao, xanh ngắt một màu hy vọng, đợi một cánh chim xa xôi tìm về tổ ấm.
Ngày tôi chính thức rời quê hương để lên Sài Gòn, nắng chiều không rực rỡ mà chỉ là một dải màu vàng võ, nhuốm đầy vẻ hanh hao lên những bóng cây trong vườn. Tôi đứng trước cổng nhà chị lần cuối, lòng trĩu nặng một nỗi buồn không tên, vừa muốn đi để tìm cuộc sống mưu sinh, vừa sợ rằng khi rời đi, sợi dây liên kết duy nhất với chị cũng sẽ đứt đoạn theo làn khói xe mịt mù. Tôi nếm thấy vị chát ngắt của khói bụi đường trường xộc vào cánh mũi, quyện với vị nhạt nhẽo của chén cơm ăn vội lúc chia tay mẹ. Sài Gòn trong hình dung của tôi lúc bấy giờ là một miền đất lạ lẫm, nơi không có mùi cơm chiên của chị, cũng chẳng có vị ngọt thanh của ấm nước râu bắp rễ cỏ tranh. Bước chân lên chuyến xe khách cũ kỹ, vị đắng của sự ly hương ngấm dần vào cuống họng, khiến mọi lời chào tạm biệt đều trở nên vỡ vụn, nghẹn ngào. Trong chiếc ba lô nhăn nheo của tôi, ngoài vài bộ quần áo cũ kỹ, còn có chiếc máy cassette đã hư hỏng và chiếc khăn tay thêu chữ TQ. Tôi cố hít hà một lần nữa cái mùi của căn nhà tường rêu phong, mùi nắng cháy trên những mảng tường nham nhở bong tróc. Đó là mùi hương của cội rễ, của những ngày ấu thơ cơ cực nhưng ấm áp. Tôi mang theo cả mùi dầu lửa leo lét từ những đêm hai chị em thắp sáng, gói ghém chúng lại như một thứ bùa hộ mệnh để đối diện với mùi xăng xe và khói bụi đô thành sầm uất. Tiếng động cơ xe khách nổ máy vang lên chát chúa, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của xóm nghèo. Âm thanh ấy nghe thê thiết hệt như tiếng bản lề rỉ sét của cánh cửa gỗ nhà chị khép lại mười năm về trước. Tôi ngoảnh đầu nhìn lại, tiếng ve sầu mùa hè vẫn kêu ranh rảnh, u u bên tai, như một lời trách móc, cũng như một lời tiễn biệt đầy đau đớn. Tiếng bánh xe lăn trên con đường đất nhầy nhụa sau mưa nghe sột soạt, từng vòng quay như đang kéo rời xa bến đợi bình yên, đẩy tôi vào một thực tại mới đầy rẫy những thanh âm hỗn tạp và náo nhiệt của phố thị. Tôi biết mình phải tự luyện một tinh thần sắt đá để không bị nghiền nát giữa dòng đời tơi tả. Chuyến xe chuyển bánh, hình ảnh căn nhà tường trống rỗng lùi dần, lùi dần rồi biến mất sau hàng me xanh ngắt. Tôi nhìn bóng mình nhòe đi qua ô cửa kính ố vàng, nham nhở bụi đường. Tôi rời quê hương không phải để chạy trốn nỗi đau, mà là để mang nỗi nhớ chị lên một tầm cao mới, để làm lụng, để tích góp và để một ngày nào đó trở về với tư thế vững vàng hơn. Sài Gòn rực rỡ ánh đèn ngoài kia sẽ là nơi tôi thử thách bản lĩnh, nhưng bến đợi cuối cùng vẫn mãi là căn nhà tường cũ kỹ nơi quê nhà, nơi có một người vẫn đang hiển hiện trong từng hơi thở của tôi. 
Chị đi tròn mười năm. Một thời gian quá dài cho sự chuyển biến nhiều thay đổi. Cuộc sống bây giờ đã phát triển rất nhiều. Điện đài, chẳng còn lúc sáng, lúc tối như ngày xưa. Điện thoại di động hiện tại cũng trở nên khá phổ biến. Người ta có thể mang chiếc thẻ nhớ ra tiệm để cài nhạc mà không quan tâm đến chiếc cassette lỗi thời. Tôi thì không, luôn giữ những kỷ vật của chị để lại, mặc dù không còn sử dụng được. Tôi đã có điện thoại trong thời buổi này, nhưng lại không có bất cứ sự liên lạc nào với chị. 
Hai năm ở Sài Gòn, vào những kỳ nghỉ lễ tôi vẫn về quê, ngủ tạm trong căn nhà của chị. Nằm trên chính chiếc phản gỗ năm xưa, vì nhà tôi đông người, chật chội. Nhà chị bây giờ đã có điện, dì Hạnh đã gắn một trang thờ phật bà Quan Âm trên cao. Ánh đèn màu đỏ nhỏ nhoi nơi ấy bật xuyên suốt để tránh trường hợp bị cắt điện. Tuy nhiên những lần tôi về hoàn toàn chẳng gặp dì để hỏi tin tức về chị, hoặc cho số điện thoại của tôi để chị liên lạc. Có thể bây giờ chị đã có nghề nghiệp ổn định, chồng con đầy đủ, vì chị đã ba mươi bảy tuổi đời. Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ về chị, một cái bóng quá lớn che khuất tâm trí tôi.
📎 1789011464303.png
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
Chương V: Mùa Xuân Trở Lại
Năm thứ ba ở Sài Gòn, thành phố bắt đầu khoác lên mình lớp áo rực rỡ của những ngày cận Tết, nhưng đối với tôi, cái náo nhiệt ấy chỉ càng làm nỗi cô độc thêm phần mênh mông. Giữa dòng người hối hả ngược xuôi trên đường phố rợp cờ hoa, tôi thấy mình như một mảnh ghép lạc lõng, tâm trí đã sớm vượt hàng trăm cây số để trở về bên hiên nhà cũ. Sài Gòn những ngày này có vị ngọt lịm của mứt gừng, mứt bí bày bán ở khắp các chợ. Tiếng nhạc xuân rộn ràng ồn ào phát ra từ các loa phóng thanh trên phố không làm lòng tôi vui lên, trái lại, nó nghe chát chúa, nhức nhối hệt như tiếng ve sầu mùa hè năm ấy. Tôi nghe tiếng còi, tiếng xe khách gầm rú ở dọc đường, âm thanh ấy thúc giục như tiếng gọi của quê hương đang vẫy gọi đứa con xa xứ. Ngày hai mươi sáu Tết, Sài Gòn cuộn mình trong một cơn lốc của sự náo nhiệt tàn nhẫn, một thứ âm thanh và màu sắc rực rỡ đến mức làm người ta nhức nhối. Giữa dòng người hối hả ngược xuôi, tôi thấy mình như một mảnh đời rách tươm bị ném vào giữa một lễ hội không dành cho mình. Giữa lòng phố thị, tôi thấy vị chát ngắt của khói xe bám đầy trên môi và vị nhạt hoét của những bữa cơm hộp ăn vội nơi góc công xưởng. Sài Gòn những ngày này đầy vị ngọt lịm của mứt Tết, vị nồng nàn của rượu xuân trưng bày trong các cửa tiệm sang trọng, nhưng trong cổ họng tôi chỉ còn vị mặn chát của mồ hôi và nỗi nhớ nhà da diết. Mỗi khi đi ngang qua những quán ăn nghi ngút khói, tôi lại thèm đến cháy lòng vị giòn rụm của miếng cơm cháy chị nhường ngày xưa một thứ vị giờ đây xa xỉ hơn cả vàng ngọc. Không khí sực nức mùi các chậu bông vạn thọ hương thoang thoảng từ những sạp hàng ven đường, nhưng thứ mùi hương ấy không làm tôi thấy ấm áp mà chỉ thấy nhớ nhà, nhớ cái tết đầu tiên của tôi và chị trong căn nhà tường rêu phong đông đúc người tới thăm vào sáng mồng một. Ngày hai mươi sáu nắng Sài Gòn vàng võ đổ xuống những dòng xe kẹt cứng. Tôi đứng bên lề đường, bóng lẻ loi giữa những tà áo dài rực rỡ lướt qua. Nhìn những gia đình chở nhau đi sắm Tết, tôi lại hình dung về căn nhà tường ở quê giờ này chắc đang đóng cửa im lìm, ổ khóa chắc đã rỉ thêm một lớp, và những dây leo đã bò kín lối vào hoang phế. Sài Gòn rực sáng ánh đèn, trong lòng tôi là một khoảng tối mênh mông, nơi tôi vẫn đang đứng đó, giữa bụi đường và hy vọng mong manh, tự hỏi liệu mùa hè buồn bã ấy bao giờ mới chịu kết thúc? Mùa xuân sắp tới, nhưng tôi vẫn bảo thủ, cứ giữ khư khư cái mùa hè ly biệt trong tâm trí của mình. Giữa cái không gian ngột ngạt, của một buổi làm việc cuối năm tại công xưởng, tiếng chuông điện thoại vang lên như một tia chớp rạch ngang bầu trời tĩnh lặng của lòng tôi. Khi mẹ thốt ra cái tên “Thanh”, cả thế giới quanh tôi bỗng chốc đảo lộn, tim tôi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt rồi đột ngột buông ra, khiến lồng ngực run lên bần bật. Mẹ nói:
- Con Thanh nó vừa về với gia đình. Nó ghé đây dọn dẹp cái phòng cho con cả buổi. Rồi xin số điện thoại, nói rằng sẽ lên Sài Gòn tìm con. Mẹ có nói ngày hai mươi tám con nghỉ tết về quê. Cứ ở lại đây sẽ gặp, nhưng nó dứt khoát không chịu. Nó nhờ con Hà chở ra bến xe cách đây năm phút rồi. - Hà là đứa con đầu của dì Hạnh, em cô cậu với chị Thanh. 
Cổ họng tôi nghẹn ứ, không thể thốt lên lời, chỉ thấy vị của sự sống đang trào dâng, mạnh mẽ và nồng nàn hơn bao giờ hết. Mẹ tôi không hề biết nói chơi! Như vậy là sự thật. Lời nói của mẹ như mang theo cả mùi nắng mới trên những cánh đồng quê hương. Tôi thấy xao xuyến cảm giác như mùi ẩm mục của mười ba năm cô đơn đang bị một cơn gió xuân gột rửa sạch sẽ, chỉ còn lại mùi của hy vọng đang hừng hực cháy. 
“Nó đang lên Sài Gòn tìm con…” câu nói ấy vang vọng trong tâm trí tôi như một bản nhạc giao hưởng hùng tráng, át đi mọi tiếng ve sầu thê thảm của những mùa hè cũ. Tim tôi đập thình thịch, liên hồi, mỗi nhịp đập là một tiếng gọi tên chị. Hai giờ đồng hồ sau! Tiếng chuông điện thoại của tôi vang lên, hiển thị một số lạ hoắc, lần này không còn là sự ngỡ ngàng như lúc mẹ báo tin, mà nó là một thực tại sống động, hiện hữu ngay trong lòng Sài Gòn. Giọng chị qua điện thoại vẫn mang theo cái âm hưởng miền Tây ngọt lịm, nhưng giờ đây pha thêm chút run rẩy của một người vừa vượt hàng trăm cây số để tìm lại mảnh linh hồn đã mất. Cái giọng người con gái hai mươi lăm tuổi ngày xưa ấy đây rồi. Chị hỏi tôi nơi ở, địa chỉ, tên đường. Ba tiếng sau chị gọi điện cho biết, chị đã tới nơi, đang ở trong một khách sạn. Khi chị nói tên khách sạn thì tôi quá ngỡ ngàng, vì nơi đó là bên kia đường, đối diện cái hẻm nơi tôi thuê trọ. Tức là từ trong nhà trọ tôi bước ra đường, trước mặt là khách sạn ấy. Bây giờ đã hơn bốn giờ hai mươi chiều. Đúng năm giờ tôi sẽ ra ca trở về nhà trọ. Lúc ấy sẽ gặp được chị. Đã năm giờ chiều tôi lao về căn phòng trọ chật hẹp. Căn phòng vốn ngột ngạt mùi quần áo cũ và bụi đường nay dường như càng trở nên bé nhỏ trước sự nôn nóng đang bùng cháy trong lồng ngực. Tôi không dám mời chị vào đây, vì cái phòng bề bộn, mọi thứ đều ngổn ngang chưa sắp xếp ngăn nắp một cách đầy trật tự. Tôi hẹn chị ra quán cà phê đầu đường, chị bảo cứ ra trước chị sẽ tới sau. Dưới ánh đèn đường vàng vọt và làn khói bụi mịt mù của chiều muộn Sài Gòn, quán cà phê hiện ra với những ngọn đèn màu lấp lánh. Bước chân tôi chậm lại, lòng trào dâng một nỗi xúc động lẫn hồi hộp mênh mông. Tôi đã soạn ra hàng loạt câu hỏi, hàng tá câu trả lời để khi đối diện mà dễ dàng ứng xử, nhưng chẳng đâu vào đâu. Tôi bước vào tìm một vị trí khá yên tĩnh nơi phía trước. Tôi gọi cà phê và chờ đợi, nhưng rồi! Tôi chẳng thấy chị đâu, mười phút, mười lăm phút, hai mươi phút rồi ba mươi phút. Tôi gọi điện cho chị thì hoàn toàn không có bất cứ tín hiệu nào. Tôi đứng chôn chân giữa cửa quán cà phê, đôi mắt đảo liên hồi qua những gương mặt lạ lẫm. Những tà áo lụa rực rỡ, những tiếng cười nói chát chúa, những mùi nước hoa nồng nặc quyện vào nhau tạo nên một bầu không khí náo nhiệt tàn nhẫn. Tôi thấy vị đắng của sự thất vọng tràn lên cuống họng. Nhìn ai tôi cũng thấy lạ, ai cũng mang vẻ phồn hoa, lịch lãm của phố thị, chẳng có ai mang bóng dáng của người con gái miền Tây với chiếc áo bà ba cũ kỹ năm xưa. Tôi đứng đó, bộ quần áo dù đã cố chọn đẹp nhất vẫn không giấu nổi sự tơi tả, mục sờn của kẻ làm thuê, hoàn toàn lạc lõng giữa những người khách sang trọng. Vị của sự tự ti bỗng chốc mặn chát như muối xát vào hồn. Tôi cố gắng lắng mũi, mong tìm thấy mùi bồ kết nồng nàn hay mùi nắng quê hương, nhưng không gian chỉ toàn mùi cà phê hắc nồng và mùi thuốc lá khét lẹt. Cái mùi ẩm mục của mười ba năm đợi chờ trong căn nhà tường bỗng chốc quay lại, bủa vây lấy, khiến tôi cảm thấy mình như một kẻ tâm thần đang đi tìm một bóng ma của quá khứ. Mọi thứ xung quanh đều nham nhở và xa lạ, chẳng có một dấu vết nào của sự gắn kết. Tôi chợt thấy sợ hãi sợ rằng mình sẽ lướt qua chị như hai người dưng ngược lối trên đường đời ngang trái. 
- Ngồi yên đó đi. Sao cứ đứng lên rồi đi tới đi lui vậy? Chị muốn nhìn lâu thêm chút. - Chị gửi tin nhắn qua điện thoại cho tôi. Tôi gọi lại thì đã có tín hiệu, nhưng tắt ngang không nghe. Gọi lần thứ hai, vẫn như lần trước không có tín hiệu. 
Vậy là chị đang ở đây. Chính xác hơn là trong quán cà phê này thôi. Nhưng ngồi ở đâu, khi bên ngoài và bên trong tấm kính máy lạnh toàn là những gương mặt xa lạ của những bạn trẻ đang say sưa chuyện phiếm. Tôi nhìn một lần nữa, thật kỹ từng người, nhưng chẳng thấy chị trong số đó. Có một người con gái, ngồi một mình bên trong góc khuất của tấm kính, thỉnh thoảng hay nhìn ra tôi, nhưng khi tôi nhìn lại thì người này quay mặt nơi khác. Người này lúc nãy có đi lướt qua tôi để vào quán. Nhưng chắc là không phải chị, vì chị đã ba mươi tám tuổi rồi, còn người này chắc tầm tuổi tôi trở lại. Do cô gái này ngồi nên tôi không thể thấy được vóc dáng và cả tướng đi để nhận diện, lúc đi lướt qua tôi chưa để ý kỹ. Tôi đứng ngẩn ngơ giữa quán cà phê đông đúc, mắt quét qua từng bàn nhưng tuyệt nhiên không thấy ai giống với hình bóng người chị trong trí nhớ dư âm. Mười ba năm trong tâm tưởng tôi, chị Thanh là người phụ nữ lam lũ, mang theo cái vẻ khắc khổ của căn nhà tường cũ kỹ và những trưa hè nắng cháy, những mùa đông rệu rã.
​Nhưng rồi, chính người con gái trẻ trung ấy, đứng dậy tay kéo cửa kính đi về phía bàn nở nụ cười rồi kéo ghế ngồi. Người này đưa tay che miệng cười nghiêng đầu nhìn tôi. Rồi bỗng nhiên lại nấc nghẹn rơi hai hàng nước mắt, nắm lấy tay tôi. Đúng là chị, cái nghiêng đầu cười thì không thể nhầm lẫn. Tôi nhận thấy vị đắng của cà phê, của sự bàng hoàng nơi cổ họng. Chị ngồi đối diện, làn da trắng ngần không một vết nham nhở của nắng gió, đôi mắt trong veo rạng rỡ thay vì vẻ u sầu của ngày cũ. Vị của sự xa lạ bỗng chốc trở nên ngọt lịm nhưng lại đầy hoang mang. Tôi nhìn vào bộ quần áo lịch sự, thời thượng của chị, rồi nhìn lại đôi bàn tay cứng cáp, chai sần như đá và bộ đồ sờn bạc của mình, cảm giác tự ti bỗng chốc dâng lên mặn chát. Chị trẻ quá, trẻ đến mức như thể thời gian đã bỏ quên chị ở một thiên đường nào đó, trong khi lại tàn phá tôi một cách khốc liệt. Chị đẹp và thanh tú đến mức tôi chưa bao giờ dám hình dung đó là người chị mình đang mong đợi. Bàn tay chị mềm mại đang nắm bàn tay chai sần của tôi. Sự tương phản giữa sự mịn màng của chị và vẻ nhám sần khiến tôi muốn rụt tay lại vì sợ làm dơ bẩn chị. Thay vì mùi bồ kết nồng nàn hay mùi khói củi ẩm mục, từ người chị tỏa ra một mùi nước hoa thanh nhã, quý phái. Thứ mùi hương ấy lạ lẫm đến mức khiến tôi lùi lại một bước, cảm giác như mình đang chạm vào một thế giới phù hoa không thuộc về mình. Mọi sự liên tưởng về mùi hương ngày cũ trong tôi bỗng chốc trở nên rách tươm, lạc điệu. Giữa không gian quán cà phê sực nức mùi máy lạnh và hương thơm xa xỉ, tôi thấy mình như một kẻ nhem nhuốc đi lạc vào giấc mơ của người khác. 
- Cu Tí. - Tiếng gọi ấy khiến nhịp tim tôi đập thình thịch mãnh liệt, xóa tan mọi sự nghi ngờ về diện mạo trẻ trung của chị. Cái tên này đã từ lâu rồi chẳng ai gọi. 
Chị vẫn chưa buông tay tôi ra. Bỗng nhiên chị cầm lấy ngón áp út rồi ngắm nghía thật lâu với đôi mắt đỏ hoe. Đó là chiếc nhẫn mà mười ba năm về trước trong đêm giao thừa chị đã đeo vào cho tôi. Bây giờ không còn sợi chỉ đỏ nào quấn quanh. Chiếc nhẫn ấy đã trầy xước, và có vết nứt. Chị dùng tay kéo lên kéo xuống rồi nói thành lời. 
- Mười ba năm nay chẳng lớn được bao nhiêu, vẫn còn rộng một xíu. Chị có nói sẽ quay trở về lấy lại chiếc nhẫn này em có còn nhớ không? Bây giờ chị sẽ chính thức lấy. - Nói xong, chị tháo chiếc nhẫn ra khỏi tay tôi tự đeo vào tay mình. 
Tôi hơi hụt hẫng vì hành động của chị. Nhưng thôi, dẫu sao đây là chiếc nhẫn tôi giữ dùm chị, chị trở về sẽ lấy lại như ngày xưa đã nói là lẽ đương nhiên. Chị đưa tay sờ vào má tôi rồi nói khẽ khàng: 
- Gọi giúp chị một chai Coca - Cola. Chị sực nhớ ra mình quên một thứ trong khách sạn. Chị tới lấy rồi quay trở lại uống nước. Chờ chị chút nha. - Chị nói rồi mang balo bước đi ngay lập tức.   
Tôi thấy chị có quá nhiều thay đổi từ vẻ ngoài đến tính cách. Dẫu biết mười ba năm thì ai cũng sẽ khác, nhưng chị quá khác, khác tới một trời một vực, không như tôi cứ ôm lấy những thứ cũ kỹ. Nhưng thôi! Mỗi con người tính cách khác nhau. Tôi gọi cho chị lon Coca - Cola, đợi chị trở lại. Một lát chị trở lại mỉm cười nghiêng đầu nhìn tôi. Dưới ánh đèn của quán, tôi nhìn sâu vào đôi mắt chị chỉ có đôi mắt ấy là không đổi, vẫn chứa đựng sự bao dung dành cho tôi. Dù chị có trẻ trung, có khác lạ so với căn nhà tường hoang phế ở quê, thì cái nghiêng đầu cười ấy vẫn là chị Thanh độc quyền trong tôi. Hình ảnh hai người ngồi đối diện, một người trẻ trung, rạng ngời và một người sương gió, cũ kỹ tạo nên một bức tranh ngang trái nhưng đầy tình thương. Mọi rào cản về thời gian và nhan sắc bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại sự thật vẹn nguyên: chị đã về thực sự. 
- Bộ không có gì nói với chị hay sao mà cứ ngồi im lặng vậy?. - Chị hỏi. 
- Chồng con chị đâu? - Tôi hỏi. 
- Chồng hả! Chồng thì chị sắp có. Còn con thì về sau sẽ có. - Chị nói. 
- Vậy chị về đây để lấy chồng hay chỉ thăm lại quê hương, rồi mới qua Mỹ lấy chồng.
- Chị về lấy chồng rồi ăn tết luôn. Đương nhiên lấy chồng thì gia đình chị phải cùng về hết. - Chị nói. 
- Chúc mừng chị. - Tôi nói
Tin báo sắp lấy chồng của chị rơi xuống giữa quán cà phê đang rộn rã nhạc xuân đêm hai mươi sáu Tết như một nhát búa nện thẳng vào lồng ngực tôi. Vị của sự đoàn viên vừa mới chớm nở đã bị thay thế bởi vị của sự mất mát. Tôi thấy mình như đứa trẻ bị bỏ rơi lần thứ hai, nhưng lần này nỗi đau nhức nhối hơn vì nó mang vị của sự trưởng thành đầy cay đắng. Ly cà phê trên bàn bỗng chốc trở nên nhạt nhẽo, trôi tuột vào cổ họng nghẹn ứ. Mùi nước hoa thanh nhã trên người chị lúc nãy còn làm tôi ngỡ ngàng, giờ đây lại trở nên xa lạ, lạnh lùng. Nó nhắc nhở tôi rằng chị đã thuộc về một thế giới khác, một mái ấm khác không có tên tôi trong đó. Cái mùi ẩm mục của căn nhà hoang phế ở quê bỗng hiện về, nồng nặc và u tối. Tôi cảm thấy mình vẫn chỉ là gã nhem nhuốc, đứng bên lề cuộc đời rực rỡ và tươi mới của chị. Mọi mùi hương của hy vọng bỗng chốc trở nên khét lẹt, tàn tro. 
Dưới ánh sáng muôn màu, hình ảnh chị Thanh hiện lên quá đỗi xinh đẹp và hạnh phúc, nhưng trong mắt tôi, hình ảnh ấy lại nhòe đi vì một nỗi tủi thân ghê gớm. Tôi hình dung ra cái căn nhà tường rêu phong ở quê, tôi vẫn sẽ là kẻ đứng bên cửa sổ nhìn vào hạnh phúc của người khác. Một nỗi buồn mênh mông, hoang hoải xâm chiếm lấy tâm hồn. Mùa xuân này, tôi sẽ gặp chị, nhưng lại dường như mất chị thêm một lần nữa theo một cách khác, đau đớn và thầm lặng hơn.
- Hút thuốc từ bao giờ vậy? - Chị hỏi, cách nói chuyện của chị cũng không như xưa, gọi trống không. 
- Lâu lắm rồi. - Tôi đáp. 
- Đừng hút nữa. Bỏ đi, chẳng có lợi ích gì cho mình. - Chị nói. 
- Ừ! Em biết. Cảm ơn chị. - Tôi nói. 
- Chị biết em đang nghĩ gì về chị. Chắc chắn em cũng biết, chị đang nói tới vấn đề gì. - Chị nói. 
Chị tới đây tìm em chỉ để báo cho biết sắp lấy chồng thôi hả? - Tôi hỏi với gương mặt buồn bã, tuyệt vọng.
- Báo cho em biết việc chị sắp lấy chồng là phụ thôi. Cái chính chị lấy lại chiếc nhẫn năm ấy. - Chị nói một cách đầy vô tư thản nhiên. 
- Sao chị không ở quê đợi em về rồi lấy. Bộ sợ em không trả hay sao mà phải lên tận đây. - Tôi nói. 
Chị không trả lời mà chỉ khe khẽ cười. 
- Cái này không thể nói tại đây. Phải có không gian riêng tư chỉ hai người. Thôi đi về nè. Mình không có quá nhiều thời gian lắm đâu. - Chị nói, thúc giục tôi phải về. 
- Chị về trước. Lát em về sau. Em muốn ngồi đây một lát. - Tôi nói.
- Ai đã nói thương chị, không bỏ chị một mình, luôn che chở, bảo vệ chị. Thế mà bây giờ…- Chị bỏ ngang câu nói. 
- Chị về khách sạn, còn em về cái phòng trọ thì có liên quan gì nhau mà bỏ một mình với hai mình. - Tôi nói. 
- Khách sạn chị đã trả phòng từ lúc nãy. Chị về cùng em là cái nơi em đang ở đó. - Chị nói. 
- Ủa! Trả phòng khách sạn, chị qua trọ em chơi. Thế thì ông chồng sắp cưới của chị ở đâu?.  
- Ổng ở đây nè. Đi lẹ lên. - Nói rồi chị lấy tay vỗ nhẹ vào má tôi.
- Phòng chật hẹp, với lại bề bộn lắm. Chị đến bây giờ e rằng không tiện, hay để ngày mai. - Tôi nói. 
- Bề bộn thì không cần nói chị cũng biết. Hồi sáng đã dọn sạch cái phòng nhà ở quê rồi. Nhanh lên, còn đi ăn nữa. Đi từ sáng tới giờ chưa ăn gì luôn đó. Bộ có nhốt cô nào trong đó hay sao mà sợ dữ vậy. - Chị nói.
- Cái này thì không có. Chỉ là quá bề bộn, với lại, nó không phù hợp với con người chị hiện tại. - Tôi nói rồi nhìn chị từ đầu tới chân. 
- Như vậy! Từ Mỹ chị về quê, rồi từ quê lên đây để làm gì? Đúng là để lấy lại chiếc nhẫn. Nhưng nó có lý do, không phải tự nhiên. - Chị nói. 
Tôi đứng bên lề đường thẫn thờ suy nghĩ một lát giữa những tiếng còi xe inh ỏi của đêm hai mươi sáu tết Sài Gòn. Chẳng biết chị đến đây gặp tôi ngoài lấy nhẫn ra, còn có lý do gì khác mà không phải ở quê. Giấy tờ nhà mà chị đã nhờ tôi đứng tên ư? Không đúng, đó là thủ tục liên quan đến vấn đề hành chính. Muốn sang tên cũng phải về địa phương chứ?. Với lại tôi đi làm thì mang giấy tờ nhà theo để làm gì. Còn đang suy nghĩ thì chị lay người nói to. 
- Về nhanh lên. Không có quá nhiều thời gian đâu. - Chị hối thúc. 
Tôi đi trước chị lặng lẽ theo sau, hoàn toàn chẳng ai nói lời nào. Khi tôi đưa chiếc chìa khóa vào ổ để mở cửa phòng, đèn bật sáng lên, chị thở dài nhìn tôi lắc đầu. Tôi đứng ngoài vì ngại ngần với những gì bề bộn trước mắt. Chị bước vào nhìn một lượt khắp căn phòng. Hình như chị không chú tâm tới diện tích của nó, chỉ nhìn chằm chằm vào các vật dụng cá nhân của tôi. 
- Sao không vào đóng cửa lại mà còn đứng đó. - Chị nhìn ra ngoài cửa rồi nói cùng tôi.  
Chị lột chiếc balo trên lưng ra đặt xuống nền, ngồi trên chiếc nệm tựa lưng vào bức tường nhìn ra cửa.
- Bộ không muốn cho chị ở đây hay sao mà cứ đứng đó. Vào đây rồi đóng cửa lại. - Chị nói. 
Tôi đi vào rồi bật quạt lên cho chị mát. Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng trọ nhỏ hẹp, đặc quánh và nặng nề đến mức tôi nghe rõ cả tiếng tim mình đập loạn nhịp. Người phụ nữ đang ngồi tựa lưng vào bức tường vôi tróc lở kia, dưới ánh đèn sáng chói chính là chị Thanh, người mà tôi đã gọi tên trong từng hơi thở suốt mười ba năm ròng rã. Vậy mà lúc này, khi chị bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt, miệng tôi lại cứng đờ, như thể đã hóa đá. Chị cũng không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm tôi. Tôi muốn trốn chạy khỏi ánh mắt ấy, không dám nhìn trực diện, cứ như một kẻ hèn nhát đang làm điều gì đó quá tội lỗi bị phát hiện và chờ phán xét. 
- Cu Tí…lại đây. - Chị nói! Giọng phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng. 
Tôi làm theo như một sự máy móc bị lập trình và điều khiển theo ý chị. Tôi bước tới ngồi xuống khoảng cách giữa tôi và chị chỉ cũng một cánh tay. 
- Lại sát đây, làm gì mà sợ chị dữ vậy. - Chị nói. Tôi chưa kịp phản ứng đã bị tay chị nắm lấy rồi kéo vào lòng. 
Chị ôm chặt tôi từ phía sau xoa đầu, sờ má. Chị siết chặt hơn, im lặng giữ mãi như thế thật lâu. 
- Cái gì mà run rẩy dữ vậy. Ngực thì đập như trống trận. Đâu phải lần đầu tiên chị ôm. - Chị nói. 
Đúng vậy, không phải lần đầu tiên chị ôm tôi. Ngay từ thuở ấu thơ lúc mới đi chập chững, cho tới khi mười bốn tuổi. Nhưng đó là chuyện hồi nhỏ, bây giờ tôi đã hai mươi bảy tuổi. Từ lúc trưởng thành, tôi cũng có yêu đơn phương vài người, nhưng chưa bao giờ họ chạm vào người tôi, và tôi cũng vậy. 
- Tại sao năm đó lại nghỉ học. - Bất ngờ chị hỏi, cái giọng phía sau đầu tôi nhưng nghe sao nặng nề quá. 
- Tại em chán học, nghỉ để đi làm phụ giúp gia đình. - Tôi nói. 
- Nếu hồi đó chị ở lại. Chắc chắn sẽ không để em nghỉ học. - Chị nói rồi vươn người tới nhìn tôi với đôi mắt đỏ hoe. Chị tiếp tục hỏi: 
- Ba năm qua ở Sài Gòn, sống như thế này đây hả. - Chị hỏi. 
- Phải. Nhưng em thấy thoải mái. - Tôi đáp. 
- Thời gian tới không cần phải ở đây nữa. - Chị nói. 
- Không ở đây thì ở đâu. Em đã quen với cuộc sống một mình từ trước tới nay như thế này rồi. - Tôi nói. 
- Trước khác với bây giờ. Bây giờ đã không còn một mình. Không cần phải hàng ngày ra các hàng quán ăn uống qua loa cho hết ngày đặng tháng nữa.  - Chị nói. 
- Chị nói gì em không hiểu. - Tôi hỏi lại.
- Em không cần hiểu, chỉ cần trả lời cho chị một câu. Chị muốn biết câu trả lời ngay bây giờ. Đó cũng là lý do chị lên đây để gặp em. - Chị nói. 
- Câu gì? - Tôi đáp. 
- Ngày xưa em đã từng nói. Muốn sống cùng chị suốt đời trong chính căn nhà đó. Nhưng lúc đó em còn nhỏ quá, có thể đó chỉ là lời nói của một cậu bé chưa đủ chín chắn thấu đáo. Bây giờ đã lớn rồi hãy trả lời bằng cái suy nghĩ của người lớn. Quay người lại nhìn vào mắt chị mà trả lời: Có muốn sống cùng chị suốt đời trong chính cái căn nhà ấy không? - Chị hỏi, một sự nghiêm túc đến đáng sợ.
- Có vậy thôi mà phải lên tận đây đó hả? Đương nhiên là muốn rồi. Nhưng chồng chị có cho em ở đó không? - Tôi hỏi. 
- Chồng nào? Người mà lúc nãy chị nói sắp lấy là em đấy. 
Tôi lặng người, nhìn kỹ vào mắt chị để tìm một sự cợt nhả, nhưng hoàn toàn chẳng có. Chị nói tiếp. 
- Bây giờ đã hiểu vì sao ngày xưa chị để em đứng tên nhà chưa? Đó không phải là giữ dùm, vì nếu giữ dùm thì chị có thể đưa cho người trong họ hàng đứng tên. Nhưng cái này nó là của riêng hai chúng ta. - Chị nói rồi nghiêng đầu nhìn tôi nở nụ cười. 
- Ví dụ trong thời gian qua em đã có vợ thì sao? - Tôi hỏi. 
- Đơn giản vậy mà cũng hỏi. Thì chị sẽ không về nữa, cái nhà và mảnh vườn ấy xem như tặng cho em làm quà cưới. Nhưng chị biết chắc chắn em chưa có. Chị có cài cắm ăng ten tình báo nên bất cứ cái gì về em chị cũng biết rất rõ. Thậm chí chuyện nghỉ học rồi lên Sài Gòn đi làm. - Chị nói. 
- Thế suốt thời gian qua Mỹ, chị không lấy chồng hay sao? - Tôi hỏi. 
- Chị phải đi học rồi lấy bằng, xong rồi lại đi làm kiếm tiền. Cũng có vài người ngỏ ý, nhưng chị chưa chấp nhận. Vì sao thì chắc em đã hiểu… 
- Chị đã ba mươi tám tuổi rồi mà trông trẻ quá. Thậm chí em cố tìm hình ảnh ngày xưa mà vẫn không ra. - Tôi nói. 
- Chị phải chăm chút thật kỹ càng, để tương xứng với em. Tránh mọi sự đánh giá từ người đời mặc dù không có gì sai. Nhưng chị không muốn em buồn. - Nói rồi chị mở dây kéo balo lấy cái gì đó trong tay. Rồi nói khẽ với tôi. 
- Chị có nói khi trở về sẽ lấy lại chiếc nhẫn đúng chưa? - Chị hỏi. 
- Đúng, nhưng sao? - Tôi hỏi. 
- Nó cũng giống như căn nhà, được quy đổi bằng hai chiếc nhẫn cưới này. Đưa tay trái, ngón áp út ra, chị đeo vào cho. Rồi đó! Đẹp hết biết. Còn chiếc này em đeo vào cho chị. Xong rồi nhé. Lúc đó em còn nhỏ nên không thể đeo nhẫn trơn. Mà nè! Mười ba năm mới gặp lại, bộ không nhớ hay sao mà chẳng chịu ôm tôi cái nào hết vậy.? - Chị nói. 
- Trông chị hiện tại khác xa quá. Không giống như chị Thanh ngày xưa. - Tôi nói. 
- Dù vẻ ngoài có giống ngày xưa thì chị biết em cũng sẽ không dám ôm. - Chị nói. 
- Ủa sao chị biết kích thước ngón áp út của em mà đi chọn nhẫn. - Tôi hỏi. 
- Chiếc nhẫn cũ mà chị lấy lại, chính là mẫu đo. - Chị nói. 
- Như vậy là chị đã tính trước cách đây hơn mười ba năm rồi hả? - Tôi hỏi.  
- Đúng là như vậy. - Chị nói. 
Chị mở chiếc balo nhỏ, lấy ra một xấp ảnh được bọc kỹ trong lớp vải lụa mềm mại. Khi chị trao chúng vào đôi bàn tay của tôi, cảm giác như mình đang đón nhận cả một gia tài ký ức vừa được khai quật từ dưới lớp tro tàn của mười ba năm đằng đẵng. Tôi cầm những tấm ảnh lên, đôi mắt nhòe đi vì nước mắt. Những tấm ảnh đã mang màu của thời gian được chị bọc nhựa gìn giữ cẩn thận. Hình ảnh trong đó lại hiện lên vẹn nguyên, sống động đến xé lòng. Vị của sự hối tiếc và vị ngọt ngào của tuổi thơ trộn lẫn, tạo thành một cảm giác nghẹn ứ. Tôi thấy vị mặn chát của nước mắt mình rơi xuống mặt phim bóng loáng, nơi đứa bé là tôi với gương mặt hồn nhiên bên cạnh một chị Thanh tóc dài xanh mướt trước căn nhà cũ kỹ được chú Lợi chụp khi lần đầu tiên đến nhà báo tin vui cho chị. Hàng loạt ảnh sau của tôi và chị được chụp quanh căn nhà trong sáng mồng một. Chị mặc một chiếc áo dài màu thiên thanh, bên cạnh là tôi ở ngưỡng cửa mười bốn tuổi. Xấp ảnh cũ nằm gọn trong tay tôi như một lời khẳng định: mười ba năm qua chị chưa bao giờ quên, và tôi chưa bao giờ bị bỏ lại hoàn toàn. Hình ảnh hai chị em trong ảnh và hai chị em hiện tại hòa quyện vào nhau, xóa bỏ mọi ranh giới của thời gian. Căn phòng trọ tạm bợ này giờ đây bỗng chốc trở nên ấm áp như một tổ ấm thực sự. Tôi nhìn chị, nhìn xấp ảnh, rồi nhìn ra phía cửa nơi bầu trời Sài Gòn đang rực rỡ ánh đèn, và biết rằng mai mốt, chúng tôi sẽ mang theo xấp ảnh này trở về, để lấp đầy những khoảng trống mục sờn trong căn nhà tường cũ kỹ bấy lâu nay. Chị ôm lấy tôi, vén tay áo lau nước mắt cho cả tôi và chị. 
- Chị vẫn là chị. Mang hồn của một cô gái ngày xưa bên cạnh một cậu bé mười bốn tuổi trong căn nhà của chúng mình. - Chị nói trong những tiếng nấc nghẹn ngào. 
Tôi đứng im lặng tay cầm xấp ảnh. Nhìn khoảng thời gian năm ấy của tôi và chị. Chị xoa đầu tôi và nói: 
- Tóc dài rồi, ngày mai đi cắt thôi. - Chị nói. 
Nghe qua câu này tôi giật mình sững sờ khi nhớ lại ngày xưa. Hồi đó chị cũng kêu đi cắt tóc, xong rồi chị giặt chiếc áo lần cuối cùng cho tôi. Lần đó chị đuổi tôi về nhà ngủ để sáng mai ra đi. Nhưng đọc được tâm trạng của tôi. Chị cười rồi nói: 
- Không đi nữa. Thôi! Dẹp mấy cái ảnh này đi. Giữ cho thật kỹ để khi chúng mình về già cùng nhìn lại. Luôn cả chiếc khăn tay có thêu chữ TQ và chiếc máy Cassette. - Chị nói rồi đưa ngón tay chỉ về chiếc bàn nhỏ, nơi ấy đang đặt hai kỷ vật mà tôi luôn trân quý. 
Chị buông tôi ra. Đi tới chiếc balo mở ra lấy quần áo, sữa tắm, một chiếc khăn tắm, cùng một cuốn nhật ký. Tôi nhìn thấy rồi sững sờ! Đây là cuốn nhật ký của tôi, đã viết trong khoảng thời gian chị đi. Tại sao chị lại có nó?. Chị lật ra vài trang nhìn tôi rồi cười:
- Có muốn nghe chị đọc truyện không? - Chị hỏi. 
- Thôi đừng đọc. - Tôi nói. 
- Lúc ngồi trên xe từ quê lên đây chị đã đọc hết rồi. Bây giờ chị đang hiện diện sao không ôm như đã viết trong nhật ký. - Chị nói. 
- Để lát đi ngủ. Mà sao trong suốt thời gian hơn mười năm đó chị không viết thư cho em. Chị không nhớ em hay sao? - Tôi nói. 
- Ai nói chị không viết thư cho em. - Nói rồi chị tiếp tục lấy trong balo một xấp thư cũ, đã được dán tem, dán luôn cả bìa, muốn đọc phải xé ra. Chị đưa cho tôi. Tất cả mười tám lá thư. 
Tôi nhìn những cái phông thư ấy, cái tem dán có để ngày tháng năm. Như vậy là đã từ rất lâu. 
- Nhìn đi. Kể từ khi chị qua Mỹ. Vài tháng lại viết thư cho em. Gửi mãi mà đều bị trả lại. Kể từ khi nhà út Hạnh gắn điện thoại bàn, chị không viết thư nữa, mà gọi về nhờ chuyển lời tới em. 
- Cái địa chỉ này đã không còn cách đây lâu lắm rồi. Bây giờ nó là một trường tiểu học, còn bưu cục dời đi đã mười mấy năm. - Tôi nói. 
- Ôi! thảo nào. Thư cứ bị trả lại. Mà thôi, không quan trọng nữa. Chị đang ở đây rồi. - Chị nói. 
- Để em đọc thử xem chị viết gì. - Tôi nói chuẩn bị xé lá thư đầu tiên thì bị chị giành lại. 
- Không được. Đọc ra ngại lắm. Cũng như nhật ký của em. Khi nào không có chị rồi hãy đọc.
- Nhật ký ấy chị đã đọc rồi còn gì. Còn thư của chị em chưa đọc. Ủa mà sao chị có những cuốn nhật ký của em vậy? 
- Chị dọn dẹp phòng cho em. Dẹp luôn cái tủ sách rồi vô tình thấy. Cái tủ ấy cũ mục, chị đem bỏ rồi. Gọn gàng để chuẩn bị ăn tết. - Chị nói. 
- Thôi tắm đi rồi đi ăn. - Tôi nói. 
- Đi mua thêm cái nón bảo hiểm. - Chị trong nhà tắm nói vọng ra. 
- Trước hẻm có bán. - Tôi nói. 
- Lát đi ăn. Chị mua một ít vật dụng để về nấu nướng. 
- Còn có hai ngày nữa về quê thì mua làm gì. 
- Một ngày cũng phải mua. Đừng ăn ở ngoài nữa. Ngoài ra còn mua thêm quần áo, mứt tết, gối, mền để tối nay ngủ. 
Chị tắm xong bước ra trong bộ đồ Pijama màu trắng. Ngồi trước cái quạt gió giũ tóc cho khô rồi nói cùng tôi. 
- Cái buồng của mình trong căn nhà cũ. Ai ngủ mà có máy quạt để đó vậy? 
- Em chứ ai. Những lần về quê đều qua ngủ. 
- Tìm hơi ấm của chị hả? Ai trồng hàng mai ngoài vườn mà giờ vàng rực hết. - Chị hỏi. 
- Ba trồng. - Tôi đáp
- Bàn thờ phật bà Quan Thế Âm treo đó lâu chưa? 
- Cái này không biết, có lẽ dì Hạnh thỉnh ở chùa về rồi treo. Hàng ngày cái đèn nhỏ mở xuyên suốt để không bị cắt điện. 
- Cái giường đó là của hai đứa mình. Tuyệt đối không được để ai nằm lên đó ngủ nha. Chỉ duy nhất hai đứa mình mà thôi. - Chị nói
- Nhà khóa cửa thì ai mà vô. 
- Ngày hai mươi chín đầu giờ chiều cha mẹ sẽ xuống thăm lại nhà cũ. Vì vậy sáng đó mình phải dọn dẹp thêm lần nữa. 
- Bây giờ bác Vượng và thím Lã ở đâu? - Tôi hỏi. 
- Bác nào? thím nào? Từ đó không dành cho con cái trong nhà. Bây giờ phải kêu là ba mẹ. - Chị nói rồi đưa mắt nhìn tôi một cái sắc lẹm. 
- Vậy bây giờ ba mẹ đang ở đâu? - Tôi hỏi. 
- Ba mẹ, vợ chồng anh Thịnh, đang ở nhà nội. Ngay bây giờ đang ăn tất niên đó. Có luôn cả cha mẹ chồng. - Chị nói rồi quay sang nhìn tôi cười.   
Vì cha mẹ chị và cha mẹ tôi là bạn từ thời trẻ cho tới giờ. Ngày đó cả tôi và chị đều không biết mặt hai người. Chỉ biết thông qua các kỷ vật, các tấm ảnh trong căn nhà cũ còn sót lại. Sau khi học tập cải tạo xong cha mẹ chị vượt biên qua Mỹ cho tới bây giờ mới trở về lần đầu tiên. Ngày ấy, nếu chị không bị sốt xuất huyết, có lẽ cũng theo gia đình thì chúng tôi sẽ không có như ngày hôm nay. 
- Ngày hai mươi chín phải ở nhà dọn dẹp, không được la cà quán xá. Vì đó là ngày ba mẹ xuống thăm lại căn nhà, đồng thời ăn tất niên. Ba giờ chiều cúng. Ba mẹ sẽ tới sớm để thăm nhà. Vì thế lát nữa sẽ mua đồ cần thiết để chuẩn bị. - Chị nhìn sang tôi rồi nói. Bỗng nhiên điện thoại của chị reo lên. Do hai tay đang lau tóc nên chị bật loa ngoài, đặt điện thoại lên đùi. 
- Con tới chưa? - Thím Lã hỏi. 
- Con tới lúc chiều. - Chị đáp
- Vậy khi nào hai đứa về?. 
- Ngày hai mươi tám phải không. - Chị nhìn sang tôi rồi hỏi. Tôi gật đầu và nói thêm. 
- Mười một giờ trưa ngày hai mươi tám. Ngày đó được về sớm. 
- Mười một giờ trưa ngày hai mươi tám đó mẹ. Vì ngày đó ông chồng nhỏ của con mới tan sở làm. 
- Ừ, hai con đi cho cẩn thận. Ngày cận tết cảnh sát công lộ nhiều lắm đó. Chồng của con có ở gần phi trường Tân Sơn Nhứt không? - Thím Lã hỏi. 
- Chỗ này có gần sân bay không chồng. - Chị nhìn sang tôi rồi hỏi. 
- Khoảng hai mươi phút. - Tôi trả lời. 
- Cũng hai mươi phút đi xe. Ba đâu rồi mẹ? - Chị trả lời thím Lã đồng thời hỏi lại. 
Đang uống trà với ông sui, cùng mấy ông bạn ngày xưa. Mẹ với mẹ chồng con ngồi ở bên trong. 
- Chồng nào? Nó nhỏ xíu à? Con không chịu. Tự nhiên ba mẹ ép con làm dâu nhà bạn của ba mẹ. - Chị nói rồi nhìn sang tôi cười. 
- Ừ, không chịu thì mẹ khỏi gả. Để lát chị sui lên mẹ nói. - Thím Lã nói. 
- Mà thôi. Lỡ ép rồi. Ép luôn cũng được. - Chị nói. 
- Thôi, tôi mệt cô quá. Còn bày đặt làm giá. Vừa về tới đã mang chạy lên Sài Gòn gặp chồng rồi. Còn giả bộ nói không chịu. Tôi đẻ cô ra kia mà. Ngày hai mươi chín lo nấu nướng, dọn dẹp phụ giúp chị sui. Coi thiếu cái gì thì sắm sửa chuẩn bị nghen con. Bữa đó đông người xuống lắm đó. - Thím Lã nói. 
- Dạ, con biết rồi. Mẹ chồng thì dặn con đừng mua gì hết, vì mẹ đã chuẩn bị sẵn. Mẹ ruột thì kêu mua chuẩn bị đầy đủ. 
Thím Lã cười rồi tắt máy. Chị Thanh nhìn sang tôi rồi nói. 
- Thôi đi ăn rồi mua sắm đồ đạc. Bỏ cái gối với mền ấy đi, cũ lắm rồi. Lát mua cái mới.  
- Sao lúc trong quán cà phê em gọi cho chị mãi mà không được. - Tôi hỏi. 
- Chị cố tình làm vậy. bật chế độ máy bay. Đổi cách xưng hô lại đi. Chị muốn nhìn thấy cách người mình thương nôn nóng đợi chờ. Phụ nữ họ lạ lắm. - Chị nói. 
Đêm hai mươi sáu Tết, Sài Gòn không ngủ, nó cuộn mình trong một cơn lốc của ánh sáng và sự hối hả đến điên cuồng. Tôi chở chị trên chiếc xe máy cũ kỹ, lách qua những dòng người ngược xuôi đông đúc, cảm giác như mình đang chở cả một gia tài ký ức vừa tìm lại được giữa bộn bề phố thị. Tiếng nhạc xuân vang dội từ những loa phóng thanh, tiếng còi xe chát chúa và tiếng người gọi nhau í ới bỗng chốc trở nên mờ nhạt, xa xăm. Trong tai tôi chỉ còn vang lên tiếng chị thỏ thẻ sau lưng, âm thanh trong trẻo, ấm áp kể về những dự định cho ngày trở về quê. Không còn là tiếng băng cassette rè rè, méo mó, giọng nói của chị đêm nay sống động và thực tế đến từng nhịp điệu. Nhịp tim tôi đập thình thịch hòa cùng tiếng động cơ xè xè của chiếc xe cũ, tạo thành một bản nhạc của sự hồi sinh. Chính thức khép lại mùa hè buồn bã, mở ra một mùa xuân của sự đoàn viên dưới mái nhà tường rêu phong cũ kỹ.
Tối đó tôi nằm cạnh. Chị ôm tôi ngủ y chang cái thời gian chị chưa rời đi trong căn nhà cũ. Đêm hai mươi sáu Tết, Sài Gòn ngoài kia như một con thú lồng lộn trong ánh sáng và tiếng ồn, nhưng bên trong căn phòng trọ nhỏ hẹp này, thời gian bỗng ngưng đọng lại thành một khối pha lê trong suốt. Tôi nằm im lìm như một pho tượng đá, để chị Thanh ôm lấy mình từ phía sau. Cái ôm ấy vừa lạ lẫm như một giấc mơ, vừa quen thuộc như hơi thở, khiến lồng ngực tôi rung lên từng nhịp thổn thức.
​Mười năm, tôi đã sống như một cái cây khô cằn giữa sa mạc, rồi ba năm đơn điệu nơi phố thị, nhưng đêm nay, vòng tay chị giống như một cơn mưa rào tưới xuống mảnh đất tâm hồn đang nứt nẻ, hoang tàn. Tôi thấy vị ngọt lịm của tình yêu, tình thân, tình thương len lỏi qua từng thớ thịt, một thứ vị êm đềm như dòng sữa mẹ, xóa tan cái vị đắng mùi cô độc. Căn phòng trọ này dù rách tươm, tạm bợ, nhưng đêm nay nó lãng mạn và thiêng liêng hơn bất cứ tòa lâu đài nào. Bởi vì ở đây, mười ba năm xa cách đã được gói gọn trong một cái ôm; mọi nỗi đau mục sờn đã được khâu vá lại bằng sự hiện diện bằng xương bằng thịt. Tôi nhắm mắt lại, cảm nhận hơi ấm từ lưng chị lan tỏa, và hiểu rằng: Hóa ra, nhà không phải là một địa danh trên bản đồ, nơi có người yêu ta đến tận cùng bão tố thì đâu cũng sẽ là nhà.
📎 FB_IMG_1790768933566.jpg
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
Chương cuối: Mình Về Mái Nhà Xưa Đợi Xuân
Sáng ngày hai mươi bảy Tết, tôi thức giấc khi những tia nắng đầu tiên chưa kịp xuyên qua lớp bụi mờ trên cửa sổ căn gác trọ. Sài Gòn sáng nay bỗng trở nên lạ lẫm đến ngỡ ngàng, không gian chẳng còn đặc quánh mùi khói bụi thường nhật mà trở nên trong trẻo, dịu ngọt như một hơi thở dài sau những ngày gồng mình hối hả. Căn phòng trọ vốn dĩ chật hẹp, nham nhở những mảng tường tróc lở, nay bỗng tràn ngập một thứ ánh sáng vàng mơ, sóng sánh như mật. Ngoài kia, nhịp sống xô bồ đã lùi xa, nhường chỗ cho tiếng chim sẻ ríu rít trên mái tôn nghe trong veo như tiếng khánh. Tôi nằm yên, không dám cử động mạnh, sợ làm vỡ vụn cái khoảnh khắc thiêng liêng này. Gió sớm lùa qua khe cửa, mang theo vị thanh khiết của sương đêm và cả mùi hoa vạn thọ nhà ai vừa bày ra ngõ, nồng nàn và thân thuộc đến xé lòng. Bên cạnh tôi, chị Thanh vẫn đang chìm trong giấc ngủ sâu. Gương mặt chị dưới ánh sáng ban mai nhìn thanh thản và nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được gánh nặng của mười ba năm đằng đẵng. Vòng tay vẫn hờ hững đặt trên vai tôi, hơi ấm ấy âm thầm và bền bỉ như ngọn lửa nhỏ sưởi ấm tâm hồn vốn đã nguội lạnh, khô cằn của gã trai quê hai mươi bảy tuổi. Tôi nhìn mái tóc chị xõa trên chiếc gối mới, mùi hương thoang thoảng quyện cùng mùi nắng sớm tạo nên một thứ hương vị của sự che chở, khiến tôi cảm thấy mình không còn là chàng thanh niên lạc loài giữa thế gian mênh mông, lạnh lẽo. 
Cả đêm hôm qua chị không ngủ. Cứ nằm trêu chọc, hết xoa đầu đến cù lét, liên tục trở mình, ngồi lên lại nằm xuống. Bật đèn sáng trưng lọ mọ dọn dẹp nấu nướng. Tôi thức dậy đã thấy thức ăn chị chuẩn bị từ đêm qua. Còn nóng hổi, vậy là chị chỉ mới ngủ đây thôi. Hỏi ra mới biết, thì ra chị không quen múi giờ. Khi cánh cửa phòng trọ khép lại tôi bước ra đường. Sài Gòn sáng hai mươi bảy Tết hiện ra lộng lẫy và dịu dàng như một nàng thiếu nữ vừa thức giấc. Không còn cảnh kẹt xe ngột ngạt hay tiếng còi xe chát chúa, phố xá lúc này thênh thang, khoáng đạt dưới vòm trời xanh ngắt, có lẽ họ lần lượt rời khỏi thành phố để về quê. Hít một hơi thật sâu, cảm nhận luồng không khí se lạnh, tinh khôi thấm vào lồng ngực. Nắng vàng sóng sánh như mật đổ tràn trên những vỉa hè đầy hoa vạn thọ và cúc đại đóa, tạo nên một dải màu rực rỡ, sống động. Bước chân tôi trên mặt đường nhựa bỗng trở nên nhẹ bẫng, thanh thoát. Đến chiều từ xí nghiệp trở về, đã thấy chị Thanh nấu nướng xong. Tất cả đồ đạc cũ của tôi chị đã mang đi vứt hết. Chị không cho tôi ở đây nữa, vì vậy những cái không cần thiết sẽ bỏ, chẳng cần mang về quê. Cũng đồng nghĩa với việc, tôi sẽ xa Sài Gòn để về quê sống cùng chị. Những người xung quanh dãy trọ hỏi tôi về chị: “Con bé đó là ai vậy? Sinh viên mới chuyển trọ hả? Em gái à? Làm mai tao được không?”. Đại loại những câu nói nửa đùa nửa thật, nhưng họ hoàn toàn không biết chị Thanh đã ba mươi tám tuổi, cũng chuẩn bị lấy chồng, chẳng ai khác chính là tôi. 
Trưa hai mươi tám Tết, nắng Sài Gòn không còn cái vẻ gắt gỏng của những ngày đại hạn, mà trở nên vàng sậm và óng ả như tơ lụa. Tôi dắt chiếc xe máy đã được bảo dưỡng kỹ lưỡng ra khỏi con hẻm nhỏ, chở theo chị Thanh và cả một bầu trời hy vọng phía sau lưng. Chúng tôi rời bỏ khu trọ để lao mình vào cái nắng rực rỡ của con đường thiên lý hướng về quê nhà. Giữa làn khói xe khét lẹt của dòng người hối hả về quê kẹt cứng, mùi mái tóc chị vẫn bền bỉ, nồng nàn tỏa ra ngay sát bên tai tôi. Càng rời xa phố thị, mùi hương ấy hòa quyện với mùi cỏ dại khô nồng, mùi rơm rạ cháy nắng từ những cánh đồng xa xăm vọng lại. Tôi nghe lồng ngực cái mùi nồng hậu, chân chất của đất đai, cảm giác như những phân tử mùi hương ấy đang thẩm thấu vào da thịt, gột rửa đi cái mùi mồ hôi và bụi bặm của kiếp làm thuê lang bạt suốt ba năm. Dưới bầu trời hai mươi tám Tết xanh ngắt không một gợn mây, bóng chiếc xe máy đổ dài trên mặt đường lộ, nhỏ bé nhưng kiêu hãnh. Chị Thanh trong tà áo lịch thiệp, tóc bay trong gió như một nàng tiên vừa xuất hiện từ truyện cổ tích. Tôi, gã tha phương thấp bé, giờ đây đang tựa như một vị thuyền trưởng đưa con tàu chở đầy ký ức về lại bến xưa. Sài Gòn lùi xa sau lưng chỉ còn là một vệt mờ ảo, trước mắt chúng tôi là những hàng dừa xanh, là căn nhà tường trắng rêu phong cũ kỹ, và là cái Tết đầu tiên có đủ đầy hương vị của sự trọn vẹn. Hơn sáu giờ chiều ngày hai mươi tám Tết, mặt trời lặn xuống sau những rặng dừa xa tít tắp, để lại một dải màu tím thẫm pha lẫn ráng vàng phủ lên vạn vật. Chiếc xe máy của tôi dừng khựng lại trước ô cửa gỗ. Căn nhà tường trắng ngày nào giờ đây hiện ra dưới màn chiều chạng vạng như một cổ vật bị thời gian lãng quên, phủ đầy trầm tích và tịch mịch. Giữa cái không khí se lạnh của buổi chiều quê, tôi thấy mùi ẩm thấp của rêu xanh bám chặt vào chân tường, mùi lá khô mục rụng đầy sân sau bao ngày thiếu bàn tay chăm sóc. Thế nhưng, trong cơn gió chiều thổi nhẹ qua hiên nhà, tôi vẫn nghe mùi nhang thơm dìu dịu từ gian thờ tỏa ra, mùi khói bếp nhà ai bên cạnh đang chuẩn bị bữa cơm tối. Những mùi hương ấy quyện chặt lấy nhau, tạo nên một thứ mùi gọi là “nhà”, thứ mùi hương đã ám ảnh tôi suốt thời gian, giờ đây đang vỗ về lồng ngực tôi bằng sự bao dung lặng lẽ. Rồi, thanh âm thiêng liêng nhất vang lên: tiếng chị Thanh ngọt ngào gọi “Mẹ...". Tiếng gọi ấy trong trẻo len lỏi vào từng kẽ gạch, xua tan cái vẻ trầm mặc, u buồn của căn nhà rêu phong. Từ trong nhà, tiếng bước chân của mẹ tôi bước ra. Thì ra mẹ sang nhà thắp nhang trên bàn thờ phật Quan Âm.  
- Kẹt xe hay sao mà về trễ quá vậy? - Mẹ tôi hỏi. 
- Dạ, kẹt xe cả mấy tiếng đồng hồ. Còn ghé quán nghỉ ngơi vì mấy đêm qua con không ngủ được. Ba đâu rồi mẹ? - Chị hỏi. 
- Ổng với thằng Thuận, thằng Hải, thằng Minh chở nhau lên ông sui uống trà rồi. Thôi! Tắm rửa rồi xuống nhà ăn cơm, mẹ đã có nấu sẵn. Gì đâu mà điện cho hai đứa tới lần thứ tám mà không đứa nào nghe máy. - Mẹ tôi nói. 
- Chắc lúc đó tụi con vô quán võng ngủ rồi đó mẹ. - Chị nói. 
- Tắm rửa đi rồi sang ăn cơm. Đồ đạc mẹ đã nói đừng mua, thế mà vẫn mua chất lỉnh kỉnh đầy xe. Ăn cơm nghỉ ngơi sớm, đi cả ngày rồi. Tụi con muốn ngủ nhà nào cũng được. Hai nhà như một thôi. - Mẹ nói. 
- Dạ, con với chồng nhỏ sẽ ngủ ở đây. - Chị nói. 
- Ừ! ngày hai mươi chín anh chị sui xuống thăm nhà. Hai đứa coi dọn dẹp cho kỹ. Thiếu cái gì thì sắm cái đó. Còn nhà bên kia thì không cần, mẹ với mấy đứa dâu chuẩn bị hết rồi. Quan trọng là cái nhà này thôi. - Mẹ tôi nói rồi quay lưng đi về nhà. 
- Mẹ ruột thì kêu sắm sửa bên kia. Mẹ chồng thì kêu sắm sửa bên đây để cha mẹ ruột thấy vui mừng, đủ đầy khi về thăm nhà. Ôi! nhức đầu quá. Đi vô nhà thôi. -  Chị nói rồi nhìn tôi. 
Chúng tôi qua nhà ăn cơm xong thì trở về căn nhà cũ để ngủ. Đêm hai mươi tám Tết, bóng tối trong căn nhà cũ đặc quánh và mang theo cái lạnh se sắt của những ngày giáp Tết. Trên chiếc giường phản gỗ đã lên nước bóng loáng, chị Thanh nằm đó, hơi thở đều đặn và nhẹ bẫng. Có lẽ đi đường xa chị mệt mỏi nên vừa đặt lưng đã ngủ vội. Tôi ngồi tựa lưng vào vách tường rêu, không dám chợp mắt, chỉ để dành trọn khoảnh khắc này để ngắm nhìn người chị đã dành cả thanh xuân để đợi một gã không nghề nghiệp, không học hành tới nơi tới chốn, và hoàn toàn chẳng có một tương lai nào. Đôi bàn tay chị đặt trên ngực, những ngón tay như ngọc ngà, không còn là đôi bàn tay của chị hàng xóm mười ba năm trước tần tảo, vất vả. Nhìn chị, tôi thấy lòng mình vỡ vụn. Tôi khẽ đưa tay định vén một lọn tóc che ngang trán, nhưng rồi dừng lại giữa hư không. Tôi sợ bàn tay chai sạn xấu xí của kẻ làm thuê này sẽ làm bẩn giấc ngủ thanh sạch ấy. Trong sự tịch mịch đến nghẹt thở, tôi nhìn chị, nhìn căn nhà rêu phong này, rồi thốt lên bằng tất cả sự chua xót và yêu thương: 
- Ôi, cái chị hàng xóm của tôi... Sao chị lại cam lòng đợi một kẻ chẳng ra gì như tôi suốt bấy nhiêu năm trời.?
Thanh âm ấy thì thầm, nghẹn đắng, tan vào bóng đêm của ngày hai mươi tám. Căn nhà cũ dường như cũng đang thổn thức cùng tôi, tiếng mọt nghiến gỗ nghe da diết, sầu muộn. Đêm hai mươi tám này, tôi chưa ngủ dù mỏi mệt. Tôi thức để nhìn ngắm lúc chị ngủ cho thật kỹ, để khắc ghi gương mặt này vào sâu trong tâm khảm, và tự hứa với lòng mình: Ngày mai, khi nắng lên, tôi ở nhà, sẽ là người nhóm ngọn lửa đầu tiên trong gian bếp cũ, để khói bếp xua đi cái lạnh lẽo của mười ba mùa đông đã qua. Nhưng rồi, khi tôi thức giấc thì đã thấy chị đang ở ngoài dọn dẹp xong xuôi từ bao giờ rồi. Lạ thay! Không còn mùi khói bếp như những năm hồi đó. Hỏi ra mới biết thì ra cái bếp củi đã bỏ, thay thế vào chiếc bếp ga. Đồng nghĩa với việc sẽ không còn nướng khoai lang, không còn uống nước cơm như ngày xưa lúc tôi sang ở cùng chị. Tôi thấy tiếc về chuỗi ngày ấy, nó chỉ còn trong ký ức của hai người mà thôi. Đành chấp nhận theo cuộc sống hiện đại bây giờ. 
- Dậy rồi đó hả. Ra đánh răng rửa mặt đi. Bàn chải, kem, khăn lau đã để sẵn. Xong rồi vào ăn sáng rồi đi chợ mua đồ. - Chị nói. 
Sáng hai mươi chín Tết, trời trong veo và nắng vàng như rót mật. Tôi dắt chiếc xe máy ra để cùng chị đi chợ. Lòng khấp khởi một niềm vui sướng khó tả mà mười ba năm qua tôi chưa từng nếm trải. Hồi đó chỉ có mười bốn tuổi không hề biết tới xe máy. Nó cũng là thứ xa xỉ khẳng định gia đình có điều kiện kinh tế. Tôi và chị chỉ có một chiếc xe đạp để đi cùng nhau. Cái chợ ngập trong mùi vạn thọ nồng nàn, mùi huệ trắng thanh khiết và mùi bánh tráng nướng thơm lừng khắp các ngõ ngách. Giữa cái rừng hoa rực rỡ ấy, tôi thấy chị là bông hoa đẹp nhất. Những người quen cũ trong chợ, từ bà bán trầu đến mợ bán rau, ai gặp chị cũng dừng tay, trầm trồ:
- Ôi Con Thanh đó sao! Mười ba năm trông vẫn trẻ đẹp, mặn mà thế này? Đúng là nhà có tin vui có khác, sắc mặt hồng hào hẳn ra. - Cũng có người không nhận ra đó là chị. 
Chị Thanh chỉ khẽ cười, một nụ cười e ấp, dịu dàng. Tôi thấy đôi má chị đỏ hồng dưới nắng sớm, ánh mắt chị ngời sáng niềm kiêu hãnh. Cái tin gia đình chị “hồi hương”, dường như đã làm sống lại cả một vùng ký ức của bà con lối xóm. Hết người này tới người khác giữ lại hỏi han về chị, về gia đình, về chuyện của chúng tôi, đến mãi trưa mới trở về nhà. Về đến sân nhà, cái nắng trưa hai mươi chín Tết rải lên nền gạch tàu những vệt sáng óng ả. Chiếc xe máy dựng trước sân, lỉnh kỉnh những giỏ mứt, phong bao lì xì và đặc biệt là hai cặp vạn thọ rực rỡ mà chúng tôi vừa kỳ công chọn lựa ở chợ, còn tám chậu khác họ sắp sửa chở sang. Tôi cùng chị bắt đầu bày biện. Khệ nệ bưng hai chậu vạn thọ đặt dọc lối đi vào cửa chính, một màu vàng rực rỡ, no ấm bỗng nổi bật không gian, tương phản mạnh mẽ với những mảng rêu xanh sẫm trên tường. Tôi nghe vị hăng nồng, mạnh mẽ của lá vạn thọ hòa cùng vị ngọt lịm của nắng xuân. Mùi hương của loài hoa này cũng kỳ lạ lắm, nó không thơm dịu nhưng lại mang mùi của sự sum vầy, của đất đai nồng hậu. Tôi, thấy lồng ngực mình căng tràn nhựa sống, như thể màu vàng ấy đang xua tan đi sự u tối của mười ba năm mùa xuân buồn bã, thiếu vắng. Chị khẽ thốt lên vì quá ưng ý.
- Chồng nhỏ coi, có mấy chậu bông vô cái là nhà mình nhìn khác hẳn, sáng trưng liền hà.
Dưới bàn tay sắp xếp của chị, lối vào nhà như một dải lụa vàng rực. Những mảng tường rêu vốn trông cũ kỹ, nay dưới sắc hoa vạn thọ bỗng trở nên cổ kính, thâm trầm như một bức nền hoàn hảo cho mùa xuân khoe sắc. Căn nhà không còn là nơi trú ngụ tạm bợ của thằng bé hàng xóm mười bốn tuổi, mà đã thực sự trở thành một tổ ấm. Nhìn từ cổng vào, màu trắng của bức tường lấp ló sau những cánh hoa vàng, trông kiêu hãnh và đầy hy vọng. 
Chị kêu tôi đặt hai trái dưa hấu lên tủ thờ. Cái tủ này cũng mới mua lúc sáng người ta mới chở tới. Tuy nhà chưa có ai mất, nhưng vẫn bày ra các vật dụng cần thiết lên bàn cho những ngày tết, tết này sẽ có nhiều người tới thăm, vì cha mẹ chị đã về. Cái tủ thờ khá lớn, không riêng gì cho ngày tết mà còn chuẩn bị cho lễ dạm hỏi ra mắt vào ngày ba mươi của tôi và chị. Mẹ tôi không cho mua nhiều, vì tết xong thì nhà sẽ sửa lại, lúc đó sẽ mua đầy đủ các vật dụng và nội thất sau. 
Xong nhà chị thì lại tới nhà tôi. Chị và mẹ, các chị dâu cũng chuẩn bị đầy đủ để chiều nay cúng tất niên. Mẹ không cho nấu bánh tét, vì đã quá cận ngày. Cái này có thể mua bất kể lúc nào. Chiều hai mươi chín Tết, nắng hanh vàng bắt đầu đổ dài trên mái ngói, biến cả ngôi nhà cũ thành một khối màu hổ phách trầm mặc và ấm áp. Sau một ngày tất bật, tôi ra hiên nhà, kéo chiếc ghế gỗ mộc ngồi xuống cạnh chị. Chị định nói gì đó với tôi, chưa kịp đã reo lên: 
- Cha mẹ xuống rồi. 
Tôi nhìn ra thấy bốn chiếc xe ô tô nối nhau, đang tiến về trước cổng. 
- Sắp biết mặt ông đại tá và bà giáo rồi đó. - Chị nhìn sang tôi rồi cười. 
Tôi có cảm giác sợ sệt, run rẩy khi sắp giáp mặt với cha mẹ chị mà trước đây tôi chỉ nhìn thấy qua các tấm hình cũ kỹ. Buổi chiều hai mươi chín Tết ấy bỗng trở nên rúng động cả một vùng quê khi bốn chiếc xe hơi bảy chỗ từ từ đỗ lại trước cổng ngôi nhà tường trắng. Mười ba người bước xuống, trong đó có người đã biền biệt nơi xứ cờ hoa suốt mấy chục năm dài đằng đẵng. Cuộc hồi hương bất ngờ này khiến không gian rêu phong của ngôi nhà như vỡ òa trong một cảm xúc nghẹn ngào, choáng ngợp. Tôi chẳng biết ai là cha mẹ của chị. Tôi hỏi khẽ vào tai: 
- Ai là cha mẹ. - Tôi hỏi.
- Không biết. Đoán đi. - Chị nhìn sang tôi nói rồi cười. 
Mười ba người này, những người trẻ tôi đều loại bỏ. Nhưng người có tuổi quá nhiều nên chẳng nhận ra ai là ai. Hết cách tôi phải chú ý tới biểu cảm của họ khi lần đầu tiên thấy lại căn nhà cũ. Đúng vậy, một người phụ nữ tuổi khoảng bằng mẹ, rưng rưng nước mắt, đứng bất động mắt nhìn chăm chăm vào căn nhà. Bà có cái dáng thanh tao đài các, cốt cách của người trí thức, nhã nhặn, trông phong thái đỉnh đạc, giáo dưỡng và đức hạnh. Bên cạnh là người đàn ông áo sơ mi xanh, mái tóc đã bạc trắng nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp như một cây tùng. Tôi nhìn thấy ở ông sự uy nghiêm của một vị sĩ quan quân lực chế độ cũ, người từng dạn dày trong khói lửa nhưng vẫn giữ được nét hào hoa, mực thước. Đôi mắt ông sâu thẳm, ánh nhìn vừa sắc sảo, quyết đoán lại vừa chứa chan sự bao dung khi nhìn lại bức tường trắng của kỷ niệm. Đây! thím Lã và bác Vượng. Tôi lại nhớ đến các tấm ảnh đã từng xem qua. Người phụ nữ trong chiếc áo dài ngồi trên một chiếc xe cub và nụ cười như sáng bừng không gian. Đó là thím Lã, một giảng viên đại học văn khoa. Ảnh người đàn ông trong bộ quân phục, cạnh chiếc xe Jeep, và một ảnh ngồi bên bàn làm việc trong một văn phòng của quân đội, chính là bác Vượng. Bây giờ họ đang hiện diện trước mặt tôi, bằng xương, bằng thịt, hai người mà sau này tôi phải gọi là cha mẹ vợ. ​Căn nhà cũ dường như cũng phải nghiêng mình đón chào những người chủ cũ mang đầy khí chất này. Sự hiện diện của họ làm cho những mảng tường rêu không còn vẻ hoang phế, mà trở thành một nhân chứng lịch sử với niềm kiêu hãnh. Tôi nhận ra, chị Thanh có được sự mạnh mẽ và dịu dàng như hôm nay, chính là nhờ được thừa hưởng trọn vẹn sự cương trực của cha và lòng nhân hậu của mẹ. Bất ngờ! Ông quỵ xuống, hai người đàn ông ngay lập tức giữ nách không cho ngã. Giọng của một người phụ nữ nào đó vang lên: 
- Lấy ghế cho ba ngồi. 
Lại một giọng của một người phụ nữ khác vang lên: 
- Út! Mau vô nhà pha nước chanh cho ba uống.    
Tôi chạy vô lấy cái ghế. Chạy ra thấy một người phụ nữ vuốt ngực cho ông, miệng khẽ khàng. 
- Bình tĩnh đi ba…bình tĩnh lại. Đừng quá xúc động. 
Tôi đã biết đây là vợ anh Thịnh. Ngay sau đó chị Thanh mang ra ly nước chanh chìa vào tay tôi, ý nói đưa cho ông. Tôi đưa, ông đón lấy nhẹ nhàng uống nhưng mắt vẫn không rời căn nhà. Giọng của một người đàn ông đeo mắt kính, áo sơ mi trắng vang lên: 
- Ra bớt phía sau để thoáng cho ba dễ thở. 
À! thì ra đây là anh Thịnh. Như vậy là tôi đã biết hết gia đình. Giọng của một ai đó vang lên, nghe rất quen. 
- Già cái đầu rồi mà còn bày đặt nhõng nhẽo. - Thì ra là giọng của cha tôi, cũng chẳng biết ông tới đây từ khi nào. Sau câu nói của cha, tiếng cười của những người xung quanh vang lên. 
Thêm một giọng khác lại vang lên: 
- Cho cục kẹo để nó nín đi mày. Má! lính tráng, nhà binh mà kiểu này thì chết rồi. - Một người đàn ông trông lớn hơn cả cha tôi và bác Vượng. Hỏi ra mới biết, đó là bác Bình. Một viên chức cấp cao của chế độ cũ. Ông làm tới chức Phó Tỉnh Trưởng. 
- Thôi! Mời xuống nhà ăn tất niên. Còn ông Vượng, để lát ổng xuống sau. - Cha tôi nói. 
Những người lớn lần lượt đi khỏi. Chỉ còn một số người ở lại. Bác Vượng lấy ra một tấm ảnh trong túi, vừa nhìn tôi đã tái mặt. Đó là hình ảnh của tôi và chị Thanh, chụp cách đây 13 năm, tại vị trí góc sân hướng vào căn nhà, đúng sáng mồng một của mùa xuân năm ấy.  
- Quang với Thanh đâu. Hai đứa lại đây. - Tôi nghe xong giật mình. Chị Thanh khều tôi rồi ra dấu bảo rằng cha gọi hãy bước tới. 
Tôi khép nép đi tới, đứng bên trái, chị Thanh đứng bên phải. Ông dang hai tay ôm tôi và chị Thanh vào người rồi nói khẽ. 
- Ba là lính, ba hiểu giá trị của sự trung thành. Hai con đã ở đây, chăm sóc và giữ lấy ngôi nhà này, đó là một hành động dũng cảm hơn bất cứ cuộc chiến nào ba từng đi qua. - Ông nói. Tôi cũng mới biết ông có tiền sử bệnh tim, vừa rồi đã mổ. Đó cũng là lý do nội chị Thanh mất mà gia đình không dám cho ông biết, giấu mãi tới giờ này. 
Ông ngưng lại một nhịp rồi nói tiếp: 
- Hai con sửa lại, mở rộng căn nhà này như thế nào ba không cần biết. Nhưng với điều kiện cái màu thì phải làm y chang như ngày xưa. - Ông nói.
Tôi và chị Thanh nhìn nhau chưa biết trả lời thế nào thì một người đứng sau lên tiếng. 
- Vấn đề này thì cứ để con. Cậu, mợ, anh, chị, cứ yên tâm. Con là dân kiến trúc sẽ làm giống y hệt như mong muốn của cậu. - Đó là thằng Dũng, con của dì Hường, gọi bác Vượng là cậu ruột. Dì Hường cũng là người từng đi thăm nuôi bác Vượng rất nhiều lần kể từ lúc thím Lã vượt biên. 
Ông khẽ gật đầu, có vẻ an lòng. Trước khi xuống nhà tôi để dùng tiệc tất niên, hai ông bà đã vào nhà nhìn ngắm kỹ từng ngóc ngách, hai người nói với nhau về những kỷ niệm xưa. Tôi còn hiểu thêm một điều quan trọng nữa, từ lâu hai ông bà đã có tâm nguyện, được ngủ lại căn nhà cũ một lần rồi chết cũng yên lòng. Tâm nguyện ấy, sẽ hoàn thành trong nay mai. Tất cả cùng rời khỏi căn nhà để xuống nhà tôi tham dự bữa tiệc tất niên. Tiệc tất niên chiều hai mươi chín tết gồm ba bàn: đàn ông - phụ nữ - đám trẻ. Chiều nay nhà tôi bùng nổ như một khúc hoan ca, xua tan hoàn toàn cái tĩnh mịch, u uẩn. Chưa bao giờ cái sân nhà lại xôn xao, náo nức và tràn ngập sinh khí đến thế. Ánh chiều soi rõ những gương mặt đang rạng ngời hạnh phúc. Cái mùi của sự đoàn viên đầy ấm áp, niềm vui lớn nhất không nằm ở món ngon vật lạ, mà nằm ở sự hợp nhất của hai gia đình. Khi bữa tiệc lên đến đỉnh điểm của niềm vui, bóng của những người hiện diện đổ xuống sân như một lễ hội hạnh phúc, một hình ảnh vững chãi, gắn kết. Tiếng cười nói từ nhà tôi bay xa ra tận ngõ, khiến bà con hàng xóm đi ngang qua cũng phải dừng lại, trầm trồ về sự hồi sinh kỳ diệu này. Nó đã trở thành một thánh đường của tình thâm, nơi khởi đầu cho một hành trình mới rực rỡ nắng xuân. Chị Thanh ngồi giữa mẹ tôi và thím Lã. Bác Vượng ngồi cạnh cha và bác Bình. Tôi ngồi bên bàn trẻ cạnh thằng Dũng, anh hai, và anh Thịnh. Bàn phụ nữ vang lên tiếng nói của thím Lã: 
- Mới qua được một tháng nó đã khóc nhảy dựng đòi về. Nó nói: con qua đây biết mặt cha mẹ là đủ rồi, cho con về Việt Nam. Dò hỏi: Thế con có thương ai ở đó không mà dứt khoát đòi về không chịu ở lại với ba mẹ. - Thím Lã nói. 
- Đâu mà một tháng mẹ. Có mười chín ngày à. - Vợ anh Thịnh nói.
- Ừ, mười chín ngày. Hỏi có thương ai không mẹ gả mà im lặng không nói gì. Rồi! con cháu của mấy người bạn ở gần đó cũng thích nó, cũng hỏi cưới mà nó trả lời: đã có chồng ở quê nhà rồi. Nhưng hỏi là ai thì không chịu nói. Đến khi thấy nó cầm tấm hình của thằng Lợi chụp lúc về Việt Nam ăn tết, rồi khóc. Hỏi vợ chồng thằng Lợi mới hết hồn. Nó đặt cọc thằng bé trong ảnh từ lúc thằng nhỏ mới có mười bốn tuổi tới giờ.  
Những tiếng cười vang lên, thím Lã tiếp tục nói. 
- Con thương thằng bé này phải không? Nó là con ai? Không chừng bây giờ nó đã có vợ rồi. Biết nó trả lời sao không: Có đâu mà có, một tháng con điện về mấy lần hỏi cô út mà. - thím Lã nói. 
- Gọi về toàn hỏi thằng Cu Tí nó có vợ chưa? Một tháng mấy lần, cũng chỉ một câu đó. - Dì Hạnh cười rồi nói. 
- Cu Tí là cu nhỏ đó phải không. Còn mấy thằng tù cải tạo như bọn già mình áo có chữ CT, là cu to. - Bác Bình nói. Một tràng cười lại vang lên. Tôi nhìn thấy chị Thanh ngượng ngùng gục mặt xuống. Bác Bình tiếp tục nói vui: 
- Hồi đó có một thằng thiếu úy nhảy dù. Sau khi được thông cáo của quân quản trình diện đi học cải tạo. Nghe từ “học” xung phong liền trời, ảnh nói phải để ảnh ưu tiên vì xếp hàng từ sáng tới giờ. Đến khi ảnh vô trại A20, mấy người trong đó chọc: Ê cái thằng giành Cu to. Má! Đi tù mà cũng giành, cũng ưu tiên. - Bác Bình nói làm xung quanh ai cũng cười. 
Thím Lã tiếp tục nói vui cười với những người phụ nữ trong bàn. 
- Hỏi ra mới biết thì ra cái thằng bé trong ảnh là sau lưng nhà mình. Tại mấy đứa đẻ sau này nên không biết. Phải nói: nếu con đã ưng thì mẹ gả, nhà nó với nhà mình thì đâu có xa lạ, nhưng phải ở đây học hành, vì lúc con ở lại cha mẹ chưa bù đắp được gì cho con. Phải hứa vậy nó mới chịu ở mà không khóc đòi về Việt Nam đó. 
- Tính ra hai đứa này có duyên. Nếu lúc đó con Thanh không bị sốt xuất huyết, thì đã đi Mỹ rồi. Nếu vậy thì hai đứa đâu có gặp nhau rồi sống chung một nhà. Hồi đó con Thanh nó ôm ổng đi khắp xóm. - Dì Hạnh nói. 
- Bây giờ nó ôm dính luôn rồi. Hồi đó ôm nó, bây giờ nó ôm lại. - Cha tôi nói. 
- Ngày bỏ nó lại, thằng Thịnh nó khóc chết điếng. Cứ mẹ ơi, em con…em con… Hồi đó tính đợi anh Vượng ra, nhưng lần đi thăm thứ tư ảnh nói: Em cứ dẫn hai con đi trước, đừng lo cho anh, anh không có ngày ra đâu. Anh sẽ qua sau nếu có cơ hội, cuối cùng cũng bỏ một đứa lại. - Thím Lã nói. 
- Nghe con nói. Út lớn hơn thằng Cu Tí tới mười một tuổi lận đó. Nó trẻ nên sẽ không chịu Út đâu. Từ đó về sau chăm chút nhan sắc thường xuyên. Dưa leo đắt giá lắm, nhưng phải mua thường xuyên để đắp mặt mỗi ngày. Sợ thằng Cu Tí nó chê già. - Vợ anh Thịnh nói rồi cười. 
- Anh Vượng trình diện đi hơn một tháng. Gần hai tháng mà chưa thấy về. Ông cha chồng kêu tôi dẫn ra để hỏi. Thì được họ trả lời rằng: Ai nói học cải tạo một tháng. Một tháng là chuẩn bị đồ ăn. Con ông có nợ máu với nhân dân. Ông cha chồng quay sang tôi hỏi: Ủa thằng Vượng nó bịnh gì mà thiếu máu để nhân dân phải hiến nhằm cứu trị. Sao bây không cho tao biết. - Thím Lã cười rồi nói với những người xung quanh. 
- Một trăm thằng nói đều như một. Nói dài, nói dở, nói dai, nóc dóc. - Bác Bình nói.
Thấy tôi ngồi nhậu bên bàn trẻ. Tôi có thói quen uống vào thì hút thuốc liên tục. Chị Thanh từ bên bàn kia đi qua giành lấy bao thuốc lá. Thím Lã khều mẹ tôi rồi chỉ tay về phía hai đứa cùng cười. Nãy giờ mãi liếc mắt sang tôi, rồi lấy điện thoại ra gục đầu bấm. Chị đi tới vỗ vai tôi rồi nói. 
- Ai gọi điện trong kia kìa. Vào nghe đi. 
Tôi lật đật chạy vô lấy cái điện thoại thì thấy cuộc gọi nhỡ chính là của chị. Chị đi theo sau lưng tôi rồi nói. 
- Uống bấy nhiêu đó đủ rồi. Để người lớn nói chuyện. Ngồi đó nghe họ nói mắc cỡ muốn chết. Đi qua nhà. 
- Qua làm gì. Ngồi đây chơi cho vui. - Tôi nói. 
- Qua vợ nói cái này. Không ngồi nữa. Đi…
Tôi lững thững đi theo chị qua nhà. Qua tới nơi chị bàn bạc tới chuyện sửa nhà, và xây thêm. Mở rộng phòng, vì qua tết cha mẹ vợ sang Mỹ để bàn giao nhà cửa và các thủ tục khác liên quan đến tài sản, xong xuôi sẽ về đây sống đến hết đời còn lại. Tôi gật đầu đồng ý. Sáng ba mươi tết lễ dạm hỏi của tôi và Thanh diễn ra khá long trọng và suôn sẻ với sự đồng thuận của hai nhà cùng lối xóm xung quanh. Tối đó cha mẹ vợ đã ngủ lại căn nhà cũ đúng như ý nguyện mà hai người đã mong muốn. Việc cha mẹ vợ chia tài sản, vợ chồng anh Thịnh đã từ chối nhận để nhường lại cho em, vì theo vợ chồng anh, Thanh đã không được chăm lo đầy đủ, chưa thừa hưởng cuộc sống ấm no, thiếu tình cảm gia đình. Với lại kinh tế của vợ chồng anh rất khá giả với ngành nghề bác sĩ. Ngoài ra kinh phí sửa nhà, xây mở rộng, anh chị sẽ lo trọn bộ. 
Sáng mùng Một Tết, bầu trời quê hương trong vắt như một tờ giấy quyến mới, nắng xuân rót xuống sân nhà những giọt vàng tinh khôi và ấm áp. Trong gian nhà chính, khói nụ trầm lan tỏa nghi ngút, tạo nên một không gian linh thiêng và đài các. Tôi và Thanh, lần đầu tiên đứng cạnh nhau trong tư cách một gia đình để thực hiện nghi lễ mừng tuổi cha mẹ sau khi vợ chồng anh Thịnh vừa hoàn tất. Cha ngồi ở chiếc ghế cao, tư thế nghiêm cẩn, đĩnh đạc của một vị sĩ quan cũ, mái tóc bạc trắng được chải chuốt gọn gàng. Cạnh cha là mẹ với bộ áo dài nhung màu tím huế, vẻ mặt phúc hậu, tao nhã của một giảng viên đại học tỏa ra một khí chất sang trọng khó tả. Tôi bưng khay trà và rót mời cha mẹ, Thanh đứng lễ phép khoanh tay, giọng lanh lảnh, ngọt ngào:
- Dạ thưa ba mẹ, đầu năm mới, vợ chồng con xin kính chúc ba mẹ sức khỏe dồi dào, sống đời với chúng con dưới mái nhà này.
Cha mẹ đưa tay nhận trà. Tôi thấy mắt mẹ long lanh, bà khẽ gật đầu, nụ cười hiền từ như một sự xoa dịu tuyệt vời cho những năm tháng nhọc nhằn đã qua. Cha lấy ra hai phong bao lì xì đỏ chót. Rồi lột chiếc đồng hồ dây vàng đeo vào tay cho tôi. Đó cũng là kỷ vật ông giữ suốt đời lính, trải qua các trại cải tạo vẫn còn cho tới giờ.
- Hai đứa con hãy cùng nhau đi hết quãng đời còn lại thật hạnh phúc. Ngôi nhà này từ nay cậy nhờ vào các con. - Cha nói rồi nhìn mẹ cùng cười thật vui. 
Nắng mùng Một đã lên cao, rọi sáng bức tường trắng của căn nhà. Những mảng rêu phong cũ kỹ bỗng chốc trở nên mềm mại, hòa hợp một cách lạ lùng, tình thân đang nở hoa trong sắc xuân của ngày đầu năm mới.
- Thôi! Các con ở nhà có khách tới thì tiếp. Cha mẹ xuống chúc tết anh chị sui, rồi về nội. - Cha nói. 
- Để con lái xe đưa cha mẹ đi. - Anh Thịnh nói. 
- Thôi! Tuổi trẻ bây giờ nhậu nhẹt lái xe tao ớn lắm. Chưa nói cảnh sát công lộ thường xuyên kiểm tra an toàn. Để cha mẹ tự lái xe đi. 
Nói rồi, hai ông bà vào ô tô rời đi. Đợi chiếc xe đi khuất. Anh Thịnh lên tiếng. 
- Mình ngồi không làm gì. Nhậu cho rồi. Để gọi anh hai qua, kêu thêm mấy đứa em mang đàn guitar lại chơi cho vui nhà vui cửa. 
- Bác sĩ mà cái kiểu này thì xong bệnh nhân rồi. - Tôi nói. 
- Anh bên đó làm tối ngày không có rảnh. Bây giờ có dịp thì phải tận hưởng. - Anh Thịnh nói rồi cười khề khà. 
Anh hai tôi sang, đem theo dĩa gỏi khô cá lóc. Anh Thịnh nói thích cái món này. Ban đầu chỉ có ba người nhậu, dần dần mấy đứa em qua mang theo cây đàn. Ngồi nói chuyện vui vẻ bên nhau Thanh kể về những tháng ngày sống cùng tôi trong chính căn nhà này, kể về ngày mồng một năm ấy hai đứa uống mấy chai bia của chú Lợi mang sang mà say quất cần câu. Rồi anh Thịnh nhắc tới gã cán bộ xã tên Giám. Thì ra lúc sang Mỹ, Thanh đã nhắc tới tôi rất nhiều lần, không thiếu bất cứ chi tiết nào, vì thế anh Thịnh biết rõ tận tường. 
- Út! Từ nay về sau có khóc đòi về nữa không?. - Vợ anh Thịnh trêu Thanh. 
- Em đòi về là do em nhớ nhà, chứ đâu phải nhớ nó. - Thanh trả lời. 
- Không nhớ sao nằm mơ gọi. Rồi coi hình khóc. 
- Không phải đâu. Em nhớ nhà. Nó có chút xíu, thì nhớ làm gì. Em cũng đâu có chịu ưng, cái này là do cha mẹ ép. - Thanh nói. Mọi người cười òa lên. 
Tôi uống chỉ mới đúng hai ly Thanh không cho uống nữa. Giục tôi phải đi cùng sang nhà để chúc Tết cha mẹ. Hình thức chúc cũng y chang cha mẹ vợ bên này. Khi trở về nhà vợ, Thanh nói với tôi. 
- Nhớ mồng một tết năm ấy ghê. Đừng uống nữa, để tối nay hai đứa mình uống y chang năm ấy. 
- Tối cha mẹ có về đây ngủ không? - Tôi hỏi. 
- Chắc không đâu. Vì tối ba mươi cha mẹ đã ngủ rồi. Với lại đâu thấy cha mẹ mang đồ gì sang đâu. Chắc là ngủ nhà nội. Ngày hai mươi mốt này cha mẹ với vợ chồng anh Thịnh về Mỹ rồi đó. - Thanh nói. 
- Vậy có theo cha mẹ qua Mỹ luôn không? - Tôi hỏi. 
- Có chứ. Cho đi không? - Thanh hỏi. 
- Cho. Đi đi. 
- Thôi chán rồi! Không đi nữa. Ngày mai mồng hai tới nhà ông cán bộ xã. Mười ba năm trước ổng mời mà chưa có dịp đi. - Thanh nói đùa. Tôi hiểu nên không nói gì.
- À quên! Sao tết này không thấy ổng ghé vậy ta? Hay là chưa nghe tin hồi hương. - Tôi hỏi. 
- Ai biết đâu. Mà lo gì, vài ngày ra xã đăng ký giấy kết hôn là gặp liền. Vô nhà không uống nữa nha. Để tối nay mình uống. Không biết có say giống như ngày xưa không? - Thanh nói. 
- Có say thì lôi vào buồng dùm. - Tôi nói. 
- Hồi đó mười bốn tuổi lôi được. Bây giờ thì để nằm đó luôn. Mè nè! Thấy cha mẹ vợ thế nào? 
- Ban đầu thì sợ, rồi lại thấy gần gũi. Mà ai khó hơn vậy? Chắc là cha. Vì không thấy nói chơi như mẹ. - Tôi hỏi. 
- Cái này thì sai. Mẹ gia giáo hơn. Khó hơn cha. Cha là lính nên cũng có nhiều cái thoáng hơn. 
- Cha mẹ đi học cải tạo bao lâu vậy? - Tôi hỏi. 
- Nghe người lớn nói. Mẹ thì nhanh lắm. Còn cha mười hai năm. Người ta ra thông cáo đi trình diện học cải tạo. Đem theo quần áo, tiền ăn cho ba mươi ngày. Nhưng không phải là một tháng đâu. Cha là sĩ quan với cấp bậc đại tá nên đi rất lâu. - Thanh nói. 
- Ừ thôi, đã là quá khứ. Lát nấu tô mì dùm. Thấy đói rồi. - Tôi nói. 
- Sao không ăn cơm?. - Thanh hỏi.
- Ngán thịt lắm. Mấy ngày đầu thôi, Bây giờ sợ rồi. Mà còn chuyện này nữa. Sau này làm cái nơi cho cha ngồi uống trà ngoài vườn. Còn phía sau thì dựng cái chái để nấu bếp củi. - Tôi nói. 
- Nhớ mùi khói bếp hả? - Thanh hỏi. 
- Phải. Gọi giữ hồn quê cho đúng. - Tôi đáp.
- Cái này được, vợ cũng đã quen với khói bếp than đen, nhọ nồi từ lúc còn bé xíu. Thôi vô nhà vợ nấu mì cho ăn để đói. 
Đêm mồng Một, khi thanh âm náo nhiệt của ngày Tết đã lùi xa, nhường chỗ cho hơi thở tĩnh mịch của thôn quê, tôi và Thanh ngồi lại bên nhau. Dưới ánh đèn vàng vọt hắt ra từ ô cửa sổ đã tróc sơn, không gian bỗng chốc trở nên hư ảo, như một thước phim điện ảnh chậm rãi quay về những năm hồi đó. Tiếng sủi bọt nhẹ của bia trong ly thủy tinh đưa chúng tôi ngược dòng thời gian về cái Tết đầu tiên ấy, mùa xuân của những vụng dại và cơn say bất tận. Thanh nhìn tôi, đôi gò má ửng hồng không biết vì hơi men hay vì ngọn lửa kỷ niệm đang bùng cháy trong lòng. Tôi thấy mình nhỏ bé trước người con gái ấy, không phải vì vóc dáng, mà vì sự bao dung và tình yêu nồng hậu mà chị hàng xóm dành cho một kẻ lãng tử như tôi. Trong cái bảng lảng của hơi men, câu chuyện về những ngày xưa cũ cứ thế tuôn trào. Chúng tôi cười về những lần giận hờn, về những lần tôi chạy thục mạng khi bị cô ấy rượt đuổi, và về cả cái lần cả hai say khướt đến mức nhìn đâu cũng thấy màu hồng của mùa xuân. Hơi bia đêm nay đắng nồng nhưng hậu vị lại ngọt lịm, len lỏi vào từng nhịp thở, làm mờ đi những nếp nhăn của thời gian trên căn nhà cổ, chỉ còn lại hai tâm hồn đang hòa quyện vào nhau. Giữa mùi hương vạn thọ thoang thoảng trong sương đêm, chúng tôi uống không phải để say bia, mà để cùng nhau say lại cái tình đầu giữa không gian hoài niệm đầy dư vị này. Nhưng rồi, Thanh say thật. Trong chiếc phản gỗ bên trong căn buồng. Thanh hỏi khẽ: 
- Sao chồng không say? Hồi đó uống có mấy chai đã say rồi mà.
- Uống có bấy nhiêu đó mà say sưa gì. Hồi đó mới mười bốn tuổi chưa từng biết tới rượu bia. Nhưng từ lúc mười chín tuổi tới giờ thì uống quá nhiều lần, thành ra quen. - Tôi nói. 
- Thôi ngủ, mồng ba mình đi chùa. - Thanh nói. 
- Ừ ngủ đi, nói cái gì mà cười nói suốt không ngừng. - Tôi nói. 
- Còn chưa nói hết. Có biết bí mật của đêm say vào mùa xuân năm ấy, đã nói gì không? 
- Biết rồi! Khỏi nói. - Tôi đáp.
- Tại sao chồng biết? 
- Tối hai mươi tám tôi không ngủ đã lén lấy những lá thư ra đọc. 
- Sao lại tùy tiện đọc thư vậy? 
- Thì cũng tùy tiện đọc nhật ký đó thôi. Ngủ đi - Tôi nói.
Mùa xuân này, giữa tôi và Thanh không còn là khoảng cách của một bờ rào hay mười ba năm đằng đẵng đợi chờ, mà là sự giao hòa tuyệt đẹp của hai tâm hồn đã tìm thấy nhau dưới một mái nhà. Không còn là một khối gạch đá câm lặng gánh chịu mười ba năm cô độc, mà đã thực sự hóa thành một thánh đường của sự tái sinh. Dưới ánh nắng vàng như rót mật của những ngày đầu năm, căn nhà ấy bừng lên một vẻ đẹp tinh khôi, kiêu hãnh, nơi mà mọi vết rêu phong cũ kỹ đã bị xóa nhòa bởi hơi ấm của một đôi tình nhân vừa tìm thấy bến đỗ đời mình. Chúng tôi đã cùng nhau đi qua những ngày mưa phùn lạnh giá, để rồi nhận ra rằng sự ấm áp nhất không đến từ nắng mặt trời, mà đến từ nhịp tim bình ổn của người bên cạnh. Có những tình yêu nồng cháy như mùa hạ, có những tình yêu u buồn như mùa thu, nhưng tình yêu của chúng tôi lại giống như một bản giao hưởng mùa xuân vĩnh cửu luôn tràn đầy hy vọng, tươi mới và bao dung. Thời gian có thể lấy đi tuổi trẻ, nhưng không thể chạm vào sự dịu dàng vun vén dành cho nhau. Khi nhìn lại chặng đường đã qua, điều tuyệt vời nhất không phải là đã đi được bao xa, mà là trong mọi khung hình của cuộc đời, ta luôn có nhau giữa sắc xuân ngập tràn. Mùa xuân năm ấy, năm nay, hay mãi mãi về sau, vẫn luôn là mùa của sự bắt đầu, vì mỗi ngày có nhau đều là sự khởi đầu đẹp đẽ. Trong mùi hương trầm mặc ký ức xen lẫn vị thanh tân của cỏ non, ta nhận ra rằng hạnh phúc sau cùng không phải là những lời thề nguyền văn vẻ, mà là cái nắm tay siết nhẹ khi tóc đã pha sương. Mùa xuân không còn là một khái niệm của đất trời, mà chính là người kia. Khi ta có nhau, mỗi hơi thở đều mang vị ngọt của hoa nở, mỗi bước chân đi qua đều để lại một dấu ấn vàng son của tình yêu đã vượt thoát khỏi sự hữu hạn nơi kiếp người. Đỉnh cao của sự lãng mạn yêu thương không hẳn phải cùng nhau đi đến tận cùng thế giới, mà là sau bao thăng trầm, vẫn có một mái nhà xưa để cùng nhau đợi một mùa xuân ghé qua. 
Tác giả: Quang Nguyễn
📎 FB_IMG_1790808993156.jpg
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0