Hội nhập đừng mất gốc
Tùy bút
Sau suốt thời gian dài đôi cánh mỏi,
con tàu sắt thở phào nhẹ nhõm rồi từ từ hạ cánh. Con tàu đáp nhẹ xuống êm đềm,
không một chút gì giận dỗi, dù rằng đã rong ruổi suốt hơn mười ba tiếng đồng
hồ, xuyên qua cả một rừng mây bao la, rồi lơ lửng giữa bầu trời xanh ngát. Điều
đó tạo cho tôi thêm có niềm tin và một niềm hy vọng khôn cùng, để chuẩn bị hội
nhập vào vùng đất mới, bên cạnh người mới và một xã hội hoàn toàn mới trong suy
nghĩ của riêng tôi.
Tôi bước ra khỏi phi cơ trong một tòa
nhà cao to rộng lớn. Bây giờ đã hơn mười một giờ sáng ngày 21 tháng 10 năm
1985. Bước theo đoàn người tị nạn, vai mang một túi nhỏ, tay xách một túi I.C.M
(Intergovernmental Committee for Migration), tôi đến một căn phòng khá lớn. Nơi
đây tôi và mọi người được nhân viên sở di trú cho làm thủ tục giấy tờ cần
thiết, nhất là giấy I-94 để dùng như một chứng minh thư, như khi thi bằng lái
xe, xin đi học, đi làm, v.v...
Mọi thủ tục hành chính đã qua, tôi
được hướng dẫn ra khu vực lớn hơn để chờ đợi. Chúng tôi mỗi người được cấp phát
một chiếc áo ấm trước khi ra khỏi phi trường Los Angeles. Một số đông được bà
con ruột thịt đến đón về, lần lượt chỉ còn vài ba người lưa thưa vẫn tiếp tục
chờ đợi. Trong đó dĩ nhiên là có tôi. Sau cùng, số người còn lại chỉ mình tôi.
Lúc này trời đã nghiêng bóng, tôi cũng không biết rồi ai sẽ đến đón mình, người
bảo trợ hay một hội từ thiện có tên là U.S.C.C (U.S. Catholic Conference). Đôi
tay lạnh nằm trong túi áo, tôi mãi mân mê tấm giấy nhỏ bên trong mà ai đó đã trao
cho tôi từ Bataan, Philippines, rồi dặn rằng:
-Khi nào đi lạc, hoặc không có ai đón thì đưa giấy này cho cảnh sát.
Trên giấy chỉ có tên và địa chỉ người
bảo trợ tôi cùng với tên hội U.S.C.C và địa chỉ. Có lẽ tại vì người ta sợ tôi
không nói được tiếng Anh – một ngôn ngữ thứ hai mà tôi đã được học ở Bataan,
Philippines hơn bốn tháng.
Đến khoảng hơn 2 giờ trưa cùng ngày
thì có hai người Mỹ phái nữ đến đón tôi trên một chiếc xe van lớn. Họ cười nói
huyên thuyên, xem như không có người tị nạn lẻ loi này bên cạnh. Tôi tự hỏi:
-Đi đâu?
Câu trả lời chưa có, tôi cứ miên man
nghĩ ngợi. Xe đến nơi lúc nào tôi cũng chả hay, thì ra lại là một phi trường
(sau này tôi được biết đó là phi trường Orange County). Tưởng rằng sẽ đi đâu đó
nữa, nhưng không, chỉ là ở đây để tiếp tục chờ. Đến hơn 5 giờ chiều, hai người
cũng có vẻ sốt ruột, rồi một người bỗng quay lại nhìn tôi và nói một câu mà tôi
chỉ hiểu man mán:
-Thân nhân của anh hẹn 4 giờ đến đón anh tại phi trường này. Bây giờ đã
gần 5 giờ 30 rồi mà vẫn chưa đến. Một lát nữa nếu thân nhân anh không tới thì
chúng tôi đưa anh về hội U.S.C.C.
Tôi chỉ lặng cười trong nỗi chua cay
và lo lắng. Nào trách được ai, vì người bảo trợ tôi là người thân quen hàng xóm
ở Việt Nam, chứ nào có ruột thịt gì đâu mà dám trách. Đến hơn 5 giờ 30 một chút
thì người bảo trợ tôi đến. Sau khi nói vài lời với nhau, hai người của hội chào
tôi rồi lên xe van đi vội vã.
Chị V. – người bảo trợ tôi, cùng với
chị của chị là chị L., sau khi tay bắt mặt mừng, chị nói:
-Chị đến trễ vì phải bất ngờ làm thêm giờ.
-Chờ chút thôi, đâu có gì đâu chị. (Tôi trả lời).
Vẫn trong vẻ điềm nhiên, tôi chuyện
trò với chị cho đến khi về tới nhà. Sau khi tắm rửa, chị cho tôi ăn một bữa bún
bò Huế do chị nấu – món mà tôi đã tật thèm từ bấy lâu nay. Đêm về, tôi không
thể nào ngủ được, có lẽ vì không quen với giờ giấc nơi này.
Trong những ngày đầu, chị và chồng chị
thay phiên nhau xin nghỉ việc để giúp đưa tôi đến những nơi như hội U.S.C.C, sở
an sinh xã hội, đi mua vài thứ cần thiết cho cá nhân dùng, v.v... Đây là những
nghĩa ân mà cả đời tôi không quên được qua những giúp đỡ mà anh chị đã dành cho
tôi. Sau đó, tôi phải tự lo lấy cho mình như đi xin lớp học, xin tiền trợ cấp,
lo xin thi bằng lái xe. Tôi cũng gặp nhiều trở ngại về ngôn ngữ nhưng tôi đã cố
gắng vượt qua.
Nơi tôi ở thuộc về thành phố
Huntington Beach, California, còn có nhiều khu rừng cây rậm rạp. Mọi sự di
chuyển của tôi là xe bus. Có khi dưới trời mưa đông lạnh lẽo, với một chiếc áo
khoác không đủ ấm, tôi phải nhảy tưng tưng như khỉ mắc phong, hoặc phải tự phạt
mình thụt dầu ngay trạm xe bus, hay phải vận động như thế nào đó cho bớt đi
phần nào cái lạnh lẽo dưới trời mưa đông. Rồi có lần ngồi trên xe bus, không để
ý trạm xe để xuống nên tôi đã đi lạc ngoài đường suốt ngày vì không biết đường
về. Sau đó, tôi nhờ đến cảnh sát chỉ đường rồi được họ chở về tới nhà.
Sau ba tháng học Anh ngữ tại trường
Saint Anselm’s Immigrant and Refugee Community Center, tôi đến ghi danh tại Lao
Family-Community để xin theo học khóa tháo ráp điện tử, cho thêm một chút dễ
dàng khi đi tìm việc. Vì tôi hiểu biết nhiều về điện tử từ quê nhà nên vào lớp,
thay vì để học, tôi lại được thầy cô nhờ đi dạy cho học viên khác. Việc học nơi
đây cũng làm cho tôi có nhiều suy nghĩ. Ngày xưa nơi quê nhà, khi vào lớp học,
tất cả sự tôn kính của trò với thầy cô giống như sự tôn kính của con với cha
mẹ. Nhưng nơi đây, tôi thấy học trò có vẻ như không tôn kính thầy cô nhiều lắm.
Có phải tại cái xã hội văn minh và bình đẳng của một Hiệp Chủng Quốc là thế?
Sau khi mãn khóa học, tôi được nơi đây
hướng dẫn đi tìm việc làm. Khổ nỗi vì chưa có kinh nghiệm làm việc trên đất Mỹ
cho nên họ trả lương rất rẻ, chỉ trên dưới 3 dollars/giờ. Sau cùng, tôi tự tìm
được một việc với mức lương $4.10/giờ. Trong thời gian làm việc, tôi vẫn cố
gắng tìm kiếm một công việc nào đó khá hơn để còn có thể giúp được cho gia
đình, cha mẹ còn ở Việt Nam. Và tôi đã tìm được việc với mức lương $5.70/giờ,
làm cho hãng Alps (tiền thân là Apple Computer). Nơi đây, tôi đã vừa đi làm vừa
đi học suốt hơn mười năm trời, cho đến năm 1997 khi hãng này dời qua Mexico.
Nhân thời gian này, tôi cũng được họ đưa qua Mexico để huấn luyện công việc cho
người Mexican hơn một năm trời.
Hội nhập vào đời sống nơi xứ người có
lắm điều khó khăn, từ cách ăn mặc, những sinh hoạt ngoài xã hội, công việc làm,
nhất là về vấn đề chủng tộc. Có những người có vẻ như không có thiện cảm với
những người tị nạn, họ có cái nhìn như thù ghét từ kiếp nào. Theo đó thì cũng
có rất nhiều người tế nhị và lịch sự. Tôi hay nghe những người quanh tôi nói:
-Tình cảm ở Mỹ này sao nhợt nhạt quá, qua đây thấy tình cảm con người
không đậm đà như ở quê hương mình.
Tôi không nghĩ thế. Tôi nhớ có lần tôi
cưỡi "con trâu già" của tôi mua với giá $400 dollars trên freeway,
bỗng nhiên nó làm nũng không chịu chạy, nằm ì giữa đường làm tôi đẩy gần chết
mới vào được bên lề. Thấy tôi loay hoay bên con trâu già này, có rất nhiều
người ghé vào thăm hỏi xem tôi có cần giúp gì không. Sau cùng thì tìm ra được
lý do là tại vì hết xăng, thiệt là mất mặt!
Rồi có lần động đất mạnh ở San
Francisco, California, có người tự nhảy từ trên cầu cao xuống dòng nước sâu để
cứu vớt những người rơi xuống đấy, rồi họ cứu trợ nhau trong tình nghĩa của con
người và con người. Như thế thì cái tình của họ sâu đậm lắm chứ, nhất là cái
việc nước Mỹ đã cưu mang hàng triệu người tị nạn đến đây nữa. Bởi thế, nước Mỹ
mới mang cho mình một cái tên hòa đồng là "Hiệp Chủng Quốc". Nghĩ ra
đâu có quốc gia nào có nhiều sắc tộc cùng sinh sống như nước Mỹ đâu.
Nhưng dù có khó khăn trên bất cứ lĩnh
vực nào, những người Việt Nam tị nạn vẫn vượt qua và cố gắng vượt qua, về học
vấn, về khoa học, về kinh tế, về chính trị, v.v... Người Việt Nam luôn luôn tự
hào là sắc dân có nhiều nghị lực, kiên nhẫn, có óc cầu tiến và đã thành công
trên nhiều lĩnh vực. Tôi rất vui và hãnh diện vì tôi là người Việt Nam – một
sắc dân đã có gần bốn nghìn năm văn hiến.
Duy có điều tôi thấy buồn, buồn cho
người Mẹ Việt Nam – một người mẹ đau thương với những người con mất gốc. Tôi
nhớ có lần tôi đi Westminster Mall, California, lúc ấy khoảng cuối tháng 12 năm
1985. Khi gặp những người có dáng dấp giống người Việt Nam là tôi mừng lắm, cứ
tưởng như gặp được một người thân tình mà đã từ lâu rồi xa xôi cách trở. Tôi
không ngại ngùng liền hỏi:
-You’re Vietnamese?
Rồi được họ trả lời:
-No, I’m Korean.
-No, I’m Chinese... v.v...
Khi tôi đến một gian hàng mỹ phẩm,
đang chọn lựa để mua làm quà cho người thương ở Việt Nam, thì có người cũng ghé
vào xem hàng mỹ phẩm. Tôi lại quen miệng hỏi ngay:
-Excuse me, are you Vietnamese?
-No, I’m Japanese.
-Oh, I’m sorry, you look like Vietnamese people.
Chợt tôi nghe có tiếng phát ra từ bên
phía bán đồng hồ:
-Việt Nam thì nhận đại đi, còn bày đặt ta đây là người Nhật. Bộ Việt Nam
xấu lắm hả? Qua Mỹ chưa được bao lâu mà đã mất gốc!
Thế là cô ta bỏ đi một nước không buồn
ngoảnh lại, không để cho tôi được nhìn cô ta thêm lần nữa. Thật đúng là
"nói dốc không xem ngày". Người bạn vừa nói, tuổi độ trên dưới 25,
đến gần tôi rồi hỏi:
-Anh qua Mỹ lâu chưa?
-Tôi qua được hai tháng.
-Anh qua một mình hả?
-Ừ, tôi vượt biên một mình.
-Anh biết không? Cái con nhỏ đó láu cá lắm, nó học chung với em ở trường
Rancho Santiago đấy. Em biết nó là người Việt Nam chứ, vậy mà vào lớp học ai
hỏi cũng nói là dân Nhật. Bộ người Việt Nam xấu lắm sao?
Thêm vài ba câu thăm hỏi nhau, tôi từ
giã người bạn trẻ vì tôi đi bộ cho nên sợ về trễ.
Một chút thoáng buồn cho thân phận
người tị nạn tha hương, một chút thoáng buồn cho người Mẹ Việt Nam có những
người con đang phủ nhận nguồn gốc của cá nhân mình. Vì sao thế?
Đến bây giờ tôi vẫn còn mãi nhớ câu
chuyện trên. Trong cuộc sống và những ngày kế tiếp trong khoảng đời còn lại,
tôi vẫn mong tôi sẽ được mãi là người Việt Nam trên bước đường hội nhập vào
cuộc sống ở xứ người. Tôi luôn mơ ước còn có ngày được trở về quê hương, nơi
chôn nhau cắt rốn. Xin được sống trên quê hương tôi và xin được chết trên quê
hương tôi, trên một đất nước Việt Nam thanh bình và thật sự có một nền dân chủ
tự do cho mọi tầng lớp trong xã hội, và con cháu tôi đời đời vẫn mãi là người
Việt Nam mến yêu.
Quê Hương
Quê hương là một mẹ
hiền
Là dòng sữa ngọt lưu truyền trong tim
Quê hương là một mái hiên
Người đi kẻ ở không phiền trách ai.
Quê hương có một không hai
Từ trong tiềm thức chẳng thay đổi dời
Quê hương có một tình người
Hòa chung nhịp sống đất trời trở trăn.
Quê hương có gốc cội căn
Mà tiền nhân đã nghìn năm đắp bồi
Quê hương tôi một giống nòi
Tổ tiên Âu Lạc muôn đời hùng anh.
Westminster, California
May 26, 1987
Viễn Phương (OVQ)
Tùy bút
Sau suốt thời gian dài đôi cánh mỏi,
con tàu sắt thở phào nhẹ nhõm rồi từ từ hạ cánh. Con tàu đáp nhẹ xuống êm đềm,
không một chút gì giận dỗi, dù rằng đã rong ruổi suốt hơn mười ba tiếng đồng
hồ, xuyên qua cả một rừng mây bao la, rồi lơ lửng giữa bầu trời xanh ngát. Điều
đó tạo cho tôi thêm có niềm tin và một niềm hy vọng khôn cùng, để chuẩn bị hội
nhập vào vùng đất mới, bên cạnh người mới và một xã hội hoàn toàn mới trong suy
nghĩ của riêng tôi.
Tôi bước ra khỏi phi cơ trong một tòa
nhà cao to rộng lớn. Bây giờ đã hơn mười một giờ sáng ngày 21 tháng 10 năm
1985. Bước theo đoàn người tị nạn, vai mang một túi nhỏ, tay xách một túi I.C.M
(Intergovernmental Committee for Migration), tôi đến một căn phòng khá lớn. Nơi
đây tôi và mọi người được nhân viên sở di trú cho làm thủ tục giấy tờ cần
thiết, nhất là giấy I-94 để dùng như một chứng minh thư, như khi thi bằng lái
xe, xin đi học, đi làm, v.v...
Mọi thủ tục hành chính đã qua, tôi
được hướng dẫn ra khu vực lớn hơn để chờ đợi. Chúng tôi mỗi người được cấp phát
một chiếc áo ấm trước khi ra khỏi phi trường Los Angeles. Một số đông được bà
con ruột thịt đến đón về, lần lượt chỉ còn vài ba người lưa thưa vẫn tiếp tục
chờ đợi. Trong đó dĩ nhiên là có tôi. Sau cùng, số người còn lại chỉ mình tôi.
Lúc này trời đã nghiêng bóng, tôi cũng không biết rồi ai sẽ đến đón mình, người
bảo trợ hay một hội từ thiện có tên là U.S.C.C (U.S. Catholic Conference). Đôi
tay lạnh nằm trong túi áo, tôi mãi mân mê tấm giấy nhỏ bên trong mà ai đó đã trao
cho tôi từ Bataan, Philippines, rồi dặn rằng:
-Khi nào đi lạc, hoặc không có ai đón thì đưa giấy này cho cảnh sát.
Trên giấy chỉ có tên và địa chỉ người
bảo trợ tôi cùng với tên hội U.S.C.C và địa chỉ. Có lẽ tại vì người ta sợ tôi
không nói được tiếng Anh – một ngôn ngữ thứ hai mà tôi đã được học ở Bataan,
Philippines hơn bốn tháng.
Đến khoảng hơn 2 giờ trưa cùng ngày
thì có hai người Mỹ phái nữ đến đón tôi trên một chiếc xe van lớn. Họ cười nói
huyên thuyên, xem như không có người tị nạn lẻ loi này bên cạnh. Tôi tự hỏi:
-Đi đâu?
Câu trả lời chưa có, tôi cứ miên man
nghĩ ngợi. Xe đến nơi lúc nào tôi cũng chả hay, thì ra lại là một phi trường
(sau này tôi được biết đó là phi trường Orange County). Tưởng rằng sẽ đi đâu đó
nữa, nhưng không, chỉ là ở đây để tiếp tục chờ. Đến hơn 5 giờ chiều, hai người
cũng có vẻ sốt ruột, rồi một người bỗng quay lại nhìn tôi và nói một câu mà tôi
chỉ hiểu man mán:
-Thân nhân của anh hẹn 4 giờ đến đón anh tại phi trường này. Bây giờ đã
gần 5 giờ 30 rồi mà vẫn chưa đến. Một lát nữa nếu thân nhân anh không tới thì
chúng tôi đưa anh về hội U.S.C.C.
Tôi chỉ lặng cười trong nỗi chua cay
và lo lắng. Nào trách được ai, vì người bảo trợ tôi là người thân quen hàng xóm
ở Việt Nam, chứ nào có ruột thịt gì đâu mà dám trách. Đến hơn 5 giờ 30 một chút
thì người bảo trợ tôi đến. Sau khi nói vài lời với nhau, hai người của hội chào
tôi rồi lên xe van đi vội vã.
Chị V. – người bảo trợ tôi, cùng với
chị của chị là chị L., sau khi tay bắt mặt mừng, chị nói:
-Chị đến trễ vì phải bất ngờ làm thêm giờ.
-Chờ chút thôi, đâu có gì đâu chị. (Tôi trả lời).
Vẫn trong vẻ điềm nhiên, tôi chuyện
trò với chị cho đến khi về tới nhà. Sau khi tắm rửa, chị cho tôi ăn một bữa bún
bò Huế do chị nấu – món mà tôi đã tật thèm từ bấy lâu nay. Đêm về, tôi không
thể nào ngủ được, có lẽ vì không quen với giờ giấc nơi này.
Trong những ngày đầu, chị và chồng chị
thay phiên nhau xin nghỉ việc để giúp đưa tôi đến những nơi như hội U.S.C.C, sở
an sinh xã hội, đi mua vài thứ cần thiết cho cá nhân dùng, v.v... Đây là những
nghĩa ân mà cả đời tôi không quên được qua những giúp đỡ mà anh chị đã dành cho
tôi. Sau đó, tôi phải tự lo lấy cho mình như đi xin lớp học, xin tiền trợ cấp,
lo xin thi bằng lái xe. Tôi cũng gặp nhiều trở ngại về ngôn ngữ nhưng tôi đã cố
gắng vượt qua.
Nơi tôi ở thuộc về thành phố
Huntington Beach, California, còn có nhiều khu rừng cây rậm rạp. Mọi sự di
chuyển của tôi là xe bus. Có khi dưới trời mưa đông lạnh lẽo, với một chiếc áo
khoác không đủ ấm, tôi phải nhảy tưng tưng như khỉ mắc phong, hoặc phải tự phạt
mình thụt dầu ngay trạm xe bus, hay phải vận động như thế nào đó cho bớt đi
phần nào cái lạnh lẽo dưới trời mưa đông. Rồi có lần ngồi trên xe bus, không để
ý trạm xe để xuống nên tôi đã đi lạc ngoài đường suốt ngày vì không biết đường
về. Sau đó, tôi nhờ đến cảnh sát chỉ đường rồi được họ chở về tới nhà.
Sau ba tháng học Anh ngữ tại trường
Saint Anselm’s Immigrant and Refugee Community Center, tôi đến ghi danh tại Lao
Family-Community để xin theo học khóa tháo ráp điện tử, cho thêm một chút dễ
dàng khi đi tìm việc. Vì tôi hiểu biết nhiều về điện tử từ quê nhà nên vào lớp,
thay vì để học, tôi lại được thầy cô nhờ đi dạy cho học viên khác. Việc học nơi
đây cũng làm cho tôi có nhiều suy nghĩ. Ngày xưa nơi quê nhà, khi vào lớp học,
tất cả sự tôn kính của trò với thầy cô giống như sự tôn kính của con với cha
mẹ. Nhưng nơi đây, tôi thấy học trò có vẻ như không tôn kính thầy cô nhiều lắm.
Có phải tại cái xã hội văn minh và bình đẳng của một Hiệp Chủng Quốc là thế?
Sau khi mãn khóa học, tôi được nơi đây
hướng dẫn đi tìm việc làm. Khổ nỗi vì chưa có kinh nghiệm làm việc trên đất Mỹ
cho nên họ trả lương rất rẻ, chỉ trên dưới 3 dollars/giờ. Sau cùng, tôi tự tìm
được một việc với mức lương $4.10/giờ. Trong thời gian làm việc, tôi vẫn cố
gắng tìm kiếm một công việc nào đó khá hơn để còn có thể giúp được cho gia
đình, cha mẹ còn ở Việt Nam. Và tôi đã tìm được việc với mức lương $5.70/giờ,
làm cho hãng Alps (tiền thân là Apple Computer). Nơi đây, tôi đã vừa đi làm vừa
đi học suốt hơn mười năm trời, cho đến năm 1997 khi hãng này dời qua Mexico.
Nhân thời gian này, tôi cũng được họ đưa qua Mexico để huấn luyện công việc cho
người Mexican hơn một năm trời.
Hội nhập vào đời sống nơi xứ người có
lắm điều khó khăn, từ cách ăn mặc, những sinh hoạt ngoài xã hội, công việc làm,
nhất là về vấn đề chủng tộc. Có những người có vẻ như không có thiện cảm với
những người tị nạn, họ có cái nhìn như thù ghét từ kiếp nào. Theo đó thì cũng
có rất nhiều người tế nhị và lịch sự. Tôi hay nghe những người quanh tôi nói:
-Tình cảm ở Mỹ này sao nhợt nhạt quá, qua đây thấy tình cảm con người
không đậm đà như ở quê hương mình.
Tôi không nghĩ thế. Tôi nhớ có lần tôi
cưỡi "con trâu già" của tôi mua với giá $400 dollars trên freeway,
bỗng nhiên nó làm nũng không chịu chạy, nằm ì giữa đường làm tôi đẩy gần chết
mới vào được bên lề. Thấy tôi loay hoay bên con trâu già này, có rất nhiều
người ghé vào thăm hỏi xem tôi có cần giúp gì không. Sau cùng thì tìm ra được
lý do là tại vì hết xăng, thiệt là mất mặt!
Rồi có lần động đất mạnh ở San
Francisco, California, có người tự nhảy từ trên cầu cao xuống dòng nước sâu để
cứu vớt những người rơi xuống đấy, rồi họ cứu trợ nhau trong tình nghĩa của con
người và con người. Như thế thì cái tình của họ sâu đậm lắm chứ, nhất là cái
việc nước Mỹ đã cưu mang hàng triệu người tị nạn đến đây nữa. Bởi thế, nước Mỹ
mới mang cho mình một cái tên hòa đồng là "Hiệp Chủng Quốc". Nghĩ ra
đâu có quốc gia nào có nhiều sắc tộc cùng sinh sống như nước Mỹ đâu.
Nhưng dù có khó khăn trên bất cứ lĩnh
vực nào, những người Việt Nam tị nạn vẫn vượt qua và cố gắng vượt qua, về học
vấn, về khoa học, về kinh tế, về chính trị, v.v... Người Việt Nam luôn luôn tự
hào là sắc dân có nhiều nghị lực, kiên nhẫn, có óc cầu tiến và đã thành công
trên nhiều lĩnh vực. Tôi rất vui và hãnh diện vì tôi là người Việt Nam – một
sắc dân đã có gần bốn nghìn năm văn hiến.
Duy có điều tôi thấy buồn, buồn cho
người Mẹ Việt Nam – một người mẹ đau thương với những người con mất gốc. Tôi
nhớ có lần tôi đi Westminster Mall, California, lúc ấy khoảng cuối tháng 12 năm
1985. Khi gặp những người có dáng dấp giống người Việt Nam là tôi mừng lắm, cứ
tưởng như gặp được một người thân tình mà đã từ lâu rồi xa xôi cách trở. Tôi
không ngại ngùng liền hỏi:
-You’re Vietnamese?
Rồi được họ trả lời:
-No, I’m Korean.
-No, I’m Chinese... v.v...
Khi tôi đến một gian hàng mỹ phẩm,
đang chọn lựa để mua làm quà cho người thương ở Việt Nam, thì có người cũng ghé
vào xem hàng mỹ phẩm. Tôi lại quen miệng hỏi ngay:
-Excuse me, are you Vietnamese?
-No, I’m Japanese.
-Oh, I’m sorry, you look like Vietnamese people.
Chợt tôi nghe có tiếng phát ra từ bên
phía bán đồng hồ:
-Việt Nam thì nhận đại đi, còn bày đặt ta đây là người Nhật. Bộ Việt Nam
xấu lắm hả? Qua Mỹ chưa được bao lâu mà đã mất gốc!
Thế là cô ta bỏ đi một nước không buồn
ngoảnh lại, không để cho tôi được nhìn cô ta thêm lần nữa. Thật đúng là
"nói dốc không xem ngày". Người bạn vừa nói, tuổi độ trên dưới 25,
đến gần tôi rồi hỏi:
-Anh qua Mỹ lâu chưa?
-Tôi qua được hai tháng.
-Anh qua một mình hả?
-Ừ, tôi vượt biên một mình.
-Anh biết không? Cái con nhỏ đó láu cá lắm, nó học chung với em ở trường
Rancho Santiago đấy. Em biết nó là người Việt Nam chứ, vậy mà vào lớp học ai
hỏi cũng nói là dân Nhật. Bộ người Việt Nam xấu lắm sao?
Thêm vài ba câu thăm hỏi nhau, tôi từ
giã người bạn trẻ vì tôi đi bộ cho nên sợ về trễ.
Một chút thoáng buồn cho thân phận
người tị nạn tha hương, một chút thoáng buồn cho người Mẹ Việt Nam có những
người con đang phủ nhận nguồn gốc của cá nhân mình. Vì sao thế?
Đến bây giờ tôi vẫn còn mãi nhớ câu
chuyện trên. Trong cuộc sống và những ngày kế tiếp trong khoảng đời còn lại,
tôi vẫn mong tôi sẽ được mãi là người Việt Nam trên bước đường hội nhập vào
cuộc sống ở xứ người. Tôi luôn mơ ước còn có ngày được trở về quê hương, nơi
chôn nhau cắt rốn. Xin được sống trên quê hương tôi và xin được chết trên quê
hương tôi, trên một đất nước Việt Nam thanh bình và thật sự có một nền dân chủ
tự do cho mọi tầng lớp trong xã hội, và con cháu tôi đời đời vẫn mãi là người
Việt Nam mến yêu.
Quê Hương
Quê hương là một mẹ
hiền
Là dòng sữa ngọt lưu truyền trong tim
Quê hương là một mái hiên
Người đi kẻ ở không phiền trách ai.
Quê hương có một không hai
Từ trong tiềm thức chẳng thay đổi dời
Quê hương có một tình người
Hòa chung nhịp sống đất trời trở trăn.
Quê hương có gốc cội căn
Mà tiền nhân đã nghìn năm đắp bồi
Quê hương tôi một giống nòi
Tổ tiên Âu Lạc muôn đời hùng anh.
Westminster, California
May 26, 1987
Viễn Phương (OVQ)