Cari Mora

Lượt đọc: 370 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Cari Mora có hai miếng baleada thịt và phô mai trong túi nhựa, một bình nước nhỏ, thêm khẩu Sig Sauer P229 của Antonio còn bảy viên và thêm một băng đầy đạn. Cô có một trăm mười đô la trong ví và bộ đồ nghề cô thường dùng làm móng khi đi xe buýt. Cô có cây dù ngắn được gia cố quanh cán cầm bằng ba vòng đệm chì lấy từ các hồ chứa clo. Antonio đã gắn vòng đệm nặng lên dù cho cô vì ban đêm cô phải đợi xe buýt rất lâu.

Trong bãi đậu xe của một khu trung tâm mua sắm, Cari lau chùi bên trong xe. Cô có thể nhìn thấy mình trong gương khi lau chùi. Cô không đọc được gì trên mặt mình. Cô mặc áo trùm đầu của Antonio đề phòng máy quay an ninh. Áo có mùi của Antonio - thanh lăn kiểm soát mồ hôi hiệu Mountain Air và mùi clo nhẹ. Trong túi áo có vài bao cao su. Cô lấy mặt dây chuyền hình thánh treo trên gương rồi cho vào túi chung với mấy bao cao su. Cô bỏ lại xe tải rồi bắt xe buýt.

Một cây chanh Tây Ban Nha mọc gần trạm xe bus nơi cô phải đổi tuyến. Rõ ràng người chủ của nó không biết đấy là cây gì và cũng không nhận ra thức ăn trên mặt đất, một cảnh tượng thường thấy ở Miami. Nhiều trái chanh rớt xuống đám cỏ sau trạm xe và trên vỉa hè. Cô cũng thấy mấy trái xoài hỏng phí phạm dưới đất nhưng lại ở sau một hàng rào cách xa quá không với đến được. Cari lượm chanh đầy hai tay bỏ vào túi xách. Cô bóc vỏ một quả, hút phần thịt mềm ra khỏi hạt. Vị như bánh tart ngọt còn thịt như trái vải.

Điện thoại của cô reo vang. Điện thoại của Antonio đang gọi. Cô đã thấy anh bị mất đầu nhưng vẫn có thôi thúc mạnh mẽ muốn trả lời. Điện thoại để trong túi rung lên. Điện thoại còn hoạt động. Nó không nhão ra và bất động như những múi cơ trên lưng anh khi cô đặt tay lên người anh trong nhà hồ bơi.

Cô kiểm tra cho chắc đã tắt dịch vụ định vị. Cô ăn thêm sáu trái chanh lấy lại sức. Cô có thời gian để suy nghĩ trên chuyến xe dài về căn hộ của chị họ.

Nếu cảnh sát không đến tòa nhà Escobar, Hans- Peter Schneider sẽ biết cô không thể gọi cảnh sát. Hắn sẽ nghĩ cô thuộc băng Mười Chuông. Cari tin Schneider sẽ chẳng buồn truy lùng cô chừng nào còn chưa xong việc của hắn. Tới khi ấy, vào lúc thuận tiện, hắn sẽ giết hoặc bán cô đến một nơi không có lối về.

Tối muộn, cô đi cửa sau vào căn hộ gần Claude Pepper Way. Dì của Cari, chị họ Julieta và con chị đang ngủ.

Cô lấy nước chanh chà xát hai tay rồi lau sạch. Ngồi trong phòng với bé con, cô lắng nghe hơi thở của nó. Cari bồng nó lên ôm lúc nó quấy giữa đêm. Chị họ Julieta bơ phờ nghe tiếng nó thì tỉnh giấc.

"Em lo được, cứ ở yên đấy đi," Cari nói.

Cô hâm nóng bình sữa cho bé con.

Lúc đứa bé tè dầm, Cari lau mình rồi bôi phấn cho nó và ru cho đến khi nó lại ngủ thiếp đi.

Đến khuya, cô đưa bầu ngực cho đứa bé con chị họ lúc nó quấy. Dù không có sữa nhưng nó cứ rúc đầu vào Cari rồi lại im. Cari chưa từng làm thế này bao giờ. Nó xóa mờ ký ức của cô về biểu cảm của Bobby Joe lúc cô bắn vào mặt gã. Bobby Joe gục mặt xuống, gáy nổ banh, dây mũ sau đầu chĩa ra và hai chân còn nhúc nhích.

Vừa ru bé con, cô vừa nhìn vết ố trên trần có hình thù giống Colombia. Nhà thơ sai rồi, cô nghĩ. Không, một đứa bé không phải chỉ là "thêm một mái nhà nhỏ cho cái chết". No es solamente otra casita para la muerte.

Cô nhắm mắt. Lẽ ra cô nên kiên quyết cùng lặn với Antonio. Cô ước mình đã quyết tranh luận với anh tới cùng. Cô ước mình đã vượt qua cái chủ nghĩa đàn ông vô nghĩa ấy mà bảo cô cũng lặn chung. Nhưng thay vào đấy cô để anh lâm vào một tình huống chiến thuật mà cô biết rõ hơn anh. Anh từng là lính Hải quân thứ thiệt cơ mà. Anh phải tỉnh táo hơn chứ.

Cari, lính trẻ em, mười hai tuổi, bị trừng phạt vì mất tập trung trong các lớp nhồi sọ - mấy lớp này cũng không có ý nghĩa gì hơn lớp giáo lý - nhưng cô nhanh chóng tiếp thu các chiến thuật. FARC thấy cô được việc.

Cô nghĩ quan trọng là những người bị thương nên cô nhanh chóng học y học cấp cứu. Một tay để lên mặt anh lính nhằm trấn an trong khi tay kia buộc chặt garo.

Cô giỏi bảo trì vũ khí và thiết bị. Nhiệm vụ chính của cô là nấu nướng ngoài trời, nhưng đây thường là hình phạt vì thái độ - khi nào có thịt thì nấu mấy nồi thịt hầm hai mươi ga lông trên bếp lộ thiên ở chỗ đất xói lên và có các mái thiếc ngụy trang, tại đấy có một gã người Allen đang chỉ họ cách làm súng cối từ bình ga Kosan, cách đặt dây bẫy lên lựu đạn, làm sao xử lý khi đạn trong súng cối không nổ.

Quân du kích sống dựa vào bắt cóc và tống tiền. Một trong những nhiệm vụ của Cari là chăm lo cho một bác giáo sư lớn tuổi bị FARC bắt cóc. Bác là nhà khoa học tự nhiên kiêm giáo viên và từng là chính trị gia, một người dễ ốm đau đến từ một gia đình giàu có ở Bogota. Cô chăm sóc bác trong ba năm trời. Chừng nào còn nhận tiền từ gia đình bác thì chừng ấy ban quản lý FARC còn đối xử khá tử tế với bác già. Họ đưa cho bác sách cướp được từ các dinh thự của kẻ áp bức, và Cari đọc cho bác nghe khi nào mắt bác mệt, kính gấp lại bỏ trong túi áo. Những người bắt cóc bác nghĩ rằng các sách được phép là sách phi chính trị: về thi ca, làm vườn và tự nhiên. Một tên sĩ quan FARC bắt bác giáo sư phải giảng về Darwin cho những người tập sự nhỏ tuổi nhất.

Trại FARC là một tập hợp khó hiểu giữa cũ và mới. Theo lệnh thì Cari nấu xúp chuột đồng để trị bệnh ho gà trong khi viên chỉ huy có máy tính xách tay.

Một trong nhiều nhiệm vụ của Cari là sạc pin máy tính, lôi bộ pin nặng trịch hoặc để trên xe goòng của trẻ em rồi kéo đến nguồn điện gần nhất. Nếu nguồn điện đủ gần và đủ an toàn thì mấy tay sĩ quan sẽ cho phép nhà khoa học tự nhiên già đi cùng lúc cô đi làm việc vặt.

Một ngày xuân ấm áp, Cari, mười hai tuổi, cùng bác giáo sư bị bắt cóc đi dạo trên con đường đất. Hoa nở rộ trên bờ hào còn lũ ong thì bận rộn lấy mật. Họ đang đi đến trạm điều dưỡng để lấy insulin cho người bị giam cầm, được gia đình bác chu cấp cùng một khoản phí lớn cho FARC. Họ phải đi qua một ngôi làng cháy rụi, địa điểm của một trận thảm sát mới đây. Đây là làng thuộc khu bán quân sự. Họ không nhìn kỹ các lều do những cảnh tượng có thể nhìn thấy. Một con chim ó đập cánh, bới móc, náo động từ trên mái tôn bay xuống. Trong một nhà kia, người nhà cố lôi đồ đạc ra ngoài sân. Một cái mùng vướng trong bụi cây. Nhà khoa học tự nhiên già nhìn cái mùng một hồi, lại nhìn qua đám hoa ven đường, rồi bác lôi xuống và gấp mùng lại.

"Bác nghĩ mình có thể giữ cái này, cháu thấy sao?" bác hỏi Cari. Cô cầm nó khi bác đã thấm mệt.

Đến chiều, sau khi được Cari tiêm cho thì bác già phải thuyết giảng về Darwin cho một lớp lính mới trẻ tuổi. Bài giảng bao gồm các định luật tiến hóa có thể mở rộng sang công nhận chủ nghĩa cộng sản như một phần của trật tự tự nhiên. Một giám sát viên ngồi trong lớp để bảo đảm quan điểm thật sự của giáo sư không lộ ra.

Sau đấy thì họ rảnh trước khi Cari phải nấu bữa tối cho cả đoàn, một con chuột lang nước cho Mùa Chay. FARC phải cho phép một chút tín ngưỡng, và số chuột lang nước không được tính là thịt trong Mùa Chay vì Vatican đã ra phán quyết rằng loài gặm nhấm này là cá.

"Bác muốn cho cháu xem thứ này," bác giáo sư bảo. "Cắt mùng này làm đôi nhé. Ta có mấy cái nón rộng vành, cháu lấy rồi đi với bác nhé."

Bác già thong thả băng qua khu rừng sau lều.

Trên dốc đồi gần con suối có một tổ ong. Nó lấp hết một nửa thân cây rỗng. Cari và bác giáo sư cài lưới lên nón rồi cài nút tay áo. Họ dùng giẻ rách buộc gấu quần.

"Nếu lũ ong bị kích động quá thì khi khác bác cháu mình đến hun khói chúng cũng được," bác giáo sư dặn. Bác từng nuôi ong theo sở thích cho đến khi vụ bắt cóc chen ngang vào đời.

Lũ ong bận rộn. Cari cùng ông thầy đứng đủ gần tổ, nhưng không sát quá.

"Nhiệm vụ của chúng thay đổi qua từng thời kỳ," bác giáo sư nói. "Ong thợ đều là giống cái. Chúng bắt đầu bằng cách dọn quang lỗ ấp trứng. Rồi chúng dọn sạch và bảo trì tổ, sau đó nhận mật và phấn hoa từ ong thụ phấn, rồi cuối cùng chúng ra ngoài kiếm ăn đến sức tàn lực kiệt. Vài con trong đám ong thợ này thấy việc đấy là mới mẻ. Đối với chúng đây như một công việc mới lạ lẫm - thấy không, có vài con chỉ đang bay loanh quanh lối vào, ghi nhớ để có thể tìm đường về. Có thấy cái bục nhỏ ở lối ra vào mà khi kiếm ăn xong đám ong thợ chở hàng đáp xuống không? Nhiều con đi kiếm ăn trở về từ những cánh đồng. Cháu có thấy đám ong tiếp nhận đang vuốt ve chúng không? Một con ong thợ vừa về dù chỉ với chút phấn hay mật hoa thôi đã được tung hô nồng nhiệt. Vì sao nào?"

"Để nó sẽ muốn làm lần nữa," Cari đáp.

"Đúng vậy," bác nói. "Nên nó sẽ tự lao động miệt mài đến chết vì vận chuyển nguồn cung cho cái tổ. Nó bị dụ dỗ." Bác nhìn Cari một lúc lâu bằng đôi mắt trong sáng. "Nó bị lợi dụng. Nó sẽ cứ liên tục ra ngoài đến khi ngã xuống chết ở nơi nào đấy dưới một cành hoa, cánh phân hủy thành nhiều mẩu nhỏ xíu màu đen. Cả tổ sẽ không nhận thấy nó vắng mặt. Cả bọn ở trong tổ không thấy đau buồn. Khi đã đủ số ong thợ chết, chúng sẽ tạo ra thêm. Không có gì gọi là cuộc sống riêng. Đấy là một cái máy." Bác nhìn cô, chắc đang tự hỏi liệu cô có báo cáo về bác không. "Vậy nên trại này cũng thế, Cari à, hệ thống này. Nó là một cái máy, Cari. Cháu có đầu óc thông minh và sáng tạo. Đừng để họ đánh lừa. Đừng giới hạn cuộc sống cá nhân chỉ trong những phút giây lẻn vào rừng với một ai. Hãy dùng đôi cánh cho chính mình."

Cari nhận ra cuộc nói chuyện này mang tính lật đổ bị cấm kỵ nhất. Nhiệm vụ của cô là báo cáo bác lên viên chỉ huy. Cô sẽ được thưởng - chắc vậy, thay vì tắm với đàn ông, viên chỉ huy sẽ cho cô tắm sớm một mình khi tới tháng như bạn gái anh ta. Cô sẽ được thưởng. Sẽ bị dụ dỗ. Cô nghĩ đến sự kết nạp thân tình vào nhóm du kích, nghĩ đến thứ tình cảm được phô ra cho cô nhìn, tình đồng chí. Cảm giác gia đình mà cô hằng ao ước.

Đây là một gia đình cho phép cô chè chén trong tiệc tùng. Là gia đình có thể dung thứ cho tình dục nếu làm rõ với viên chỉ huy. Đây cũng là gia đình kêu cô đi xử những ai không hưởng ứng, hay những ai bỏ trốn. Họ bỏ phiếu xem nên giết ai trong đám người bỏ trốn. Ai cũng bỏ phiếu tán thành. Hồi nhỏ, Cari cũng từng giơ tay lên cùng với những người khác, lần đầu tiên cô đã bỏ phiếu tán thành, và không bao giờ có lần thứ hai. Cô đã không chắc chuyện gì đang diễn ra. Sau đấy cô thấy cảnh hành hình, thấy họ bị bắn khi đang đứng dưới nước.

Từ "dụ dỗ" cứ bám mãi trong đầu. Tiếng Tây Ban Nha là "engañar". Khi cô biết hai thứ tiếng thì cả hai từ đều kẹt trong đầu.

Đến cuối ngày, sau vụ bầy ong, Cari đang nấu món chuột lang nước thì bị viên chỉ huy triệu tập. Văn phòng anh ta nằm trong một căn nhà nhỏ do FARC quản lý. Có ba chị gái làm việc trong văn phòng. Chẳng dễ mà đoán được nhiệm vụ của họ ở văn phòng. Ai cũng ngồi trên mấy chiếc đệm tự làm.

Cari trình diện trước bàn làm việc của anh ta. Cô không có quân hàm nên phải bỏ mũ xuống.

"Ông giáo sư thế nào rồi?" chỉ huy hỏi. Viên chỉ huy tầm ba mươi lăm, một nhà cầm quyền kiên quyết nhưng trong tác chiến thì lại do dự. Anh ta đeo cặp kính gọng tròn bằng thép hệt như hồi còn đi học.

"Đã khá hơn, thưa chỉ huy," Cari đáp. "Ông ấy tăng được vài cân. Vì ưa ăn chuối lá còn xanh hơn chuối chín nên có ích cho lượng đường huyết. Tôi đã xem băng kiểm tra. Lúc ngủ ông ấy thở tốt hơn."

"Tốt, ta cần giữ cho ông ta khỏe mạnh. Ta sẽ đợi thêm hai tuần nữa đến lần tiền chuộc tiếp theo. Tôi đề nghị ông ta nên viết thư về cho gia đình lần nữa. Nếu họ không chi tiền thì lá thư sau sẽ có thêm hai tai. Và sẽ do cô cắt, Cari." Viên chỉ huy xoay kẹp giấy trên đầu bút chì.

"Giờ thì, Cari này, Jorge báo cáo đã thấy cô với ông giáo sư trong rừng. Ông già đang đeo mặt nạ hay vật ngụy trang gì đấy. Cô cũng vậy. Jorge lo ông giáo sư đã nói gì đó với cô. Anh ta đã tính dí súng áp giải cô đến chỗ tôi. Cari, cô đã làm gì?"

"Thưa chỉ huy, giáo sư biết ơn tấm lòng rộng lượng của anh đối với ông ấy, và ông ấy biết ơn khi được dùng thuốc. Ông ấy..."

"Và ông ta thể hiện lòng biết ơn này bằng cách đeo mặt nạ vào rừng sao?"

"Ông ấy chỉ cho tôi cách lấy mật. Trước kia ông ấy từng nuôi ong. Đấy là mũ bảo hộ do ông ấy làm. Ông ấy nghĩ ngoài Darwin ra thì đấy là một kỹ năng sinh tồn mà anh cho phép dạy. Ông ấy bảo biết đâu lại có lợi cho cả đoàn khi kiếm lương thực bằng cách này. Mật ong sẽ trữ được lâu hơn mà không phải ướp lạnh. Ông ấy bảo trong trường hợp khẩn cấp có thể băng bó vết thương bằng mật ong nhờ tính chất gần như vô trùng. Ta đã có lưới. Ta có thể hun khói bầy ong bằng muội than mà không tạo ra quá nhiều khói. Vừa đủ để máy bay đi tuần không phát hiện ra."

Viên chỉ huy xoay xoay kẹp giấy. Mấy chị thư ký của anh ta nhìn Cari không mấy thiện cảm.

"Thú vị đấy, Cari. Lẽ ra cô nên đến chỗ tôi trước khi để ông ta mặc lên bất cứ thứ gì ngoài quần áo được cho phép."

"Vâng, thưa chỉ huy."

"Trước đây tôi từng phạt cô vì thiếu nghiêm túc. Nay tôi sẽ thưởng. Cô thích gì nào? Có muốn một ngày đi lễ không?"

"Tôi muốn được tắm một mình khi đến tháng, tách khỏi đám đàn ông."

"Đấy không phải chính sách của ta. Như vậy là phân biệt giới tính. Ai cũng bình đẳng trong cuộc chiến này."

"Tôi nghĩ có thể tắm sớm như các chiến sĩ trong văn phòng anh đây cũng được," Cari đáp.

Mấy năm sau trên hành trình dài về phía Bắc, cô sẽ gặp hành vi lừa dối tại các trạm xe buýt khi lũ sói lượn lờ cho miếng ăn và cảm tình vờ vịt để đổi lấy bất kỳ kiểu giao cấu nào mà một đứa nhỏ có thể thực hiện hay được chỉ cách làm. Thường thì trong xe bọn chúng có thức ăn và kẹo, đôi lúc có gấu bông. Chúng không cần đưa gấu bông cho đứa nhỏ, chỉ cần cho chúng ôm gấu trước khi kẻ tham lam kia giật lại rồi đẩy đứa nhỏ ra khỏi xe ở trạm xe buýt. Thỉnh thoảng mấy đứa nhỏ giữ lại được đôi dép tông mới đính kim tuyến và hoa hòe.

Sau cùng thì họ hàng của nhà khoa học tự nhiên cũng trả khoản tiền cuối cùng và bác được tự do. Ban quản lý FARC cho bác cạo râu và mặc chiếc áo sơ mi hồi bị bắt đi nhưng nay đã mòn xác xơ, thêm dây đeo quần. Cari nhìn mặt bác và hỏi liệu có thể dẫn cô theo không, bác hỏi người bắt giam mình. Họ bảo không. Bác hỏi liệu có được gửi tiền để thả cô ra không. Họ bảo có thể. Tiền không bao giờ đến. Hoặc là có đến. Nhưng Cari không được thả.

Lên mười lăm tuổi thì cô bỏ trốn. Cô trốn cùng cậu bạn hơn cô một tuổi. Tóc cậu đỏ hung và bị mẻ một góc răng cửa. Trong rừng, cứ khi nào có thể là họ ngủ với nhau và cô thương cậu. Sau lần đầu ngủ chung trên lớp nhựa thơm dưới nền đất rừng, cậu ngắm nhìn cô như thể cô thật thiêng liêng.

Ngày cuối cùng làm lính của cô, ngay sau khi mặt trời mọc thì đơn vị của Cari được lệnh tấn công một ngôi làng ủng hộ lực lượng bán quân sự phe cực hữu của địch. Chính khoảng thời gian này, các phe thay phiên tàn sát toàn bộ làng mạc, nhưng một số phát thanh viên chỉ gọi đây là “giết hại nhiều người" dù đâu hiểu rõ từ ấy có nghĩa gì.

Thường thì các làng mạc bị phe này hoặc phe kia đánh chiếm bằng vũ lực. Sau đấy phe còn lại sẽ đi phá làng và người dân vì chứa chấp địch. Cuộc đột kích lần này của FARC là để trả thù lực lượng bán quân sự phe cực hữu vì cuộc thảm sát cách đó ba tuần tại một ngôi làng có cảm tình với quân du kích. Lực lượng bán quân sự giết sạch người trong làng: quân du kích, người dân, con cái họ và cả động vật.

Năm thứ hai Cari đi lính, gia đình cô bị tàn sát theo cách này dưới tay các lực lượng bán quân sự. Trong sáu tháng trời cô không hề hay biết, và khi biết tin thì suốt hai tuần cô nói không thành tiếng.

Lúc cô đến được làng thì đoàn quân đã rời đi. Họ thổi bay thành vách trường học, gió thổi qua dây đàn piano bốc cháy, tiếng thở ngắn thở dài rồi than khóc văng lên qua dây đàn trong từng cơn gió mạnh cuốn bay tờ nhạc phổ sang bên kia đường.

Nhiều nhà bốc cháy và nhiều người chết trên đường. Cô không bị dính đạn. Cô quyết không bắn dân thường. Bên dưới một căn nhà ven đường có gì đó động đậy. Cô vung súng. Không phải lính, là một đứa nhỏ ở tít bên dưới, đang nấp, nằm bẹp dí sau một khối xi măng đỡ dầm sàn. Cô không biết được là trai hay gái mà chỉ thấy một gương mặt lấm lem với một mớ tóc.

Cô giả vờ không thấy đứa nhỏ. Cô không muốn kéo sự chú ý vào nó. Cô đứng lại, cúi xuống buộc dây giày.

"Chạy vào rừng đi!" cô nói mà không quay đầu về phía căn nhà.

Viên chỉ huy từ đằng sau đang lại gần, đến chiến đấu sau cùng như thói quen. Cô không muốn ở một mình cùng anh ta. Anh ta luôn cố thọc ngón tay lên hậu môn của cô, thường tìm cách đi ra sau lưng và cố đút tay xuống quần cô. Công nhận là anh ta không ra lệnh cho cô để anh ta thọc ngón tay lên hậu môn; chỉ đơn thuần là một cử chỉ xã giao.

Cô đã yêu cầu anh ta dừng tay. Cô không ngừng cầu nguyện Chúa khiến anh ta dừng lại. Đây là lời thường xuyên xuất hiện trong những buổi cầu nguyện ban tối. Anh ta đâu chịu dừng.

Cô đang rảo bước về phía trước để giữ khoảng cách thì nghe tiếng súng đằng sau. Viên chỉ huy đang ngồi xổm, bắn xuống dưới căn nhà chỗ đứa nhỏ đang nấp. Cô chạy trở lại phía anh ta, hét lên, "Es nino, es nino!" Tầm nhìn ngoài rìa nhòe đi nhưng chính giữa thì rất rõ. Cô đang chạy xuống một đường hầm rợp lá xanh nhòa nhòa và rõ ràng ngay trung tâm là viên chỉ huy.

Anh ta ném một quả lựu đạn phốt pho vào căn nhà và lửa bùng lên. Anh ta ngồi xổm trong sân nhà, cầm súng lục ngắm xuống bên dưới. Cari chạy đến, mặt chết trân. Anh ta bắn một phát. Ngón tay dài lại tìm cò, anh ta ngồi xổm thấp để ngắm, còn cô thì dừng giữa đường, nâng súng trường lên bắn vào sau đầu viên chỉ huy.

Cô bình tĩnh đến lạ kỳ. Lúc này khói bốc lên bên dưới căn nhà rồi cô thấy đứa nhỏ chui ra từ sau nhà và chạy vào rừng. Đến bìa rừng nó quay đầu lại nhìn. Đứa nhỏ quả là lấm lem. Cô thấy nhiều khuôn mặt giữa đám cây. Một bàn tay vẫy chào giữa rừng.

Viên chỉ huy nặng quá nên không lôi vào đống lửa được. Một tên lính khác có thể đến bất kỳ lúc nào và thấy anh ta nằm đấy, bị bắn từ đằng sau. Án tử. Cô chạy đến chỗ viên chỉ huy. Một tròng kính tròn bị bắn văng ra và bên còn lại thì phản chiếu bầu trời. Nhìn bộ đồ nghề ta sẽ nghĩ anh ta là người có tinh thần chiến đấu nhất trên đời. Một quả lựu đạn mảnh gắn sau túi đạn. Cô gỡ ra khỏi người anh ta. Cari cầm tay anh ta để xuống dưới đầu. Cô nhét luôn lựu đạn xuống dưới đầu anh ta. Cô rút chốt an toàn, vứt cần bẩy đi rồi cắm đầu chạy, chạy không ngừng, nằm bẹp xuống hào ở bên đường, há miệng cho đến sau cú nổ như được huấn luyện, bò lên chạy tiếp. Cái chết của viên chỉ huy đã loại đi một điều trong lời cầu nguyện của cô.

Hai người họ bỏ trốn, Cari cùng người tình tóc đỏ.

Một năm trời họ sống tại làng Fuente de Bendición, cậu làm việc trong một xưởng cưa còn cô thì rửa chén và nấu bếp tại một nhà trọ. Họ tính chuyện kết hôn. Cô mười sáu tuổi.

Hồi đấy ta đâu thể đào tẩu khỏi FARC mà sống được. Đến cuối năm thì bọn sát thủ lần ra hai người rồi bắn chết cậu cùng dàn phù rể giữa đường trên chiếc xe cũ kỹ đi mượn để đến nhà thờ nơi Cari đang đợi với bó nguyệt quế trong tay.

Khi bọn sát thủ đến xử Cari thì nhà thờ trống hoác. Cô đang băng bó hai cánh tay bị thương trong khu bệnh xá trong làng rồi chuồn bằng cửa sau.

Chúng chờ cô ở nhà tang lễ. Cô không đến. Chúng lại gần quan tài bắn vị hôn phu đã mất của Cari thêm vài phát rồi chụp hình các vết thương trước khi rời đi, vì lúc giết cậu đã quên béng mất là phải làm mặt biến dạng cho đủ.

Một tuần sau Cari đứng trước ngưỡng cửa một tòa nhà lớn ở Bogota. Một người hầu ra mở cửa và mời cô qua cửa lối đi nội bộ. Cô đợi mười lăm phút và rồi nhà khoa học tự nhiên già mặc quần có dây đeo xuất hiện. Mất một lát bác mới nhận ra cô đang đứng trên bậc thềm, người băng bó và dơ dáy, máu dính trên đôi giày cuối.

"Bác giúp cháu được không?" cô hỏi.

"Được chứ, bác sẽ giúp," bác đáp ngay, rồi tắt bóng đèn trên cửa. "Vào đi." Suốt quãng thời gian cô chăm sóc bác với tư cách tù binh, bác chưa bao giờ ôm cô. Giờ bác ôm cô. Băng gạc làm dây máu ra sau áo bác khi cô ôm lại.

Quản gia của bác già lo tiếp cô và cô nhanh chóng được rửa ráy, ăn uống no nê và ngủ trên giường sạch sẽ. Mành cửa trong nhà thả xuống: Có một hình phạt nếu tiếp tay cho bọn đào tẩu khỏi FARC. Đó là cái chết. Cari không thể ở lại Colombia.

Và bác giáo sư đã giúp Cari. Cô nghỉ ngơi một tuần - mất chừng ấy thời gian để mua giấy tờ tạm cho cô, rồi bác gửi cô lên phía Bắc bằng xe buýt, đi dài ngày qua Costa Rica, Nicaragua, Honduras, Guatemala, cô dùng răng và tay còn lại để buộc băng trên cánh tay.

Bác cho cô đủ tiền đi xe buýt ở Mexico - cô không phải nhảy lên La Bestia, chuyến tàu từ Mexico lên phía Bắc nơi các băng đảng bán chỗ ngồi phía trên mấy xe thùng chở hàng, nơi rất nhiều người đã ngã xuống, tay chân đứt lìa khô đét giữa đường ray. Bác đưa cô lá thư gửi một gia đình ở Miami. Vì bệnh tật nên gia đình này phải gửi cô sang một nhà khác bắt cô làm việc không công trong ba năm. Đài phát thanh Mambí gọi đấy là lừa đảo, nên từ đấy cô phải tự xoay xở.

Kể từ ấy, Cari luôn mang theo chút gì để ăn. Thông thường nếu có gì thì đến bữa tối mới ăn. Cô luôn đem bình đựng nước nhỏ bên mình và con dao gập với chiều dài hợp pháp mở được bằng một tay. Đeo trên cổ là một chuỗi vòng gắn cây thánh giá ngược biểu tượng của thánh Peter, người bị đóng đinh treo ngược. Trong cây thánh giá là con dao găm chữ T.

Giờ, trong căn hộ của chị họ, cô ngủ trên ghế cạnh bé con, gật gù như hồi ngồi trên xe buýt về phía Bắc đến Vùng đất Tự do.

Đến nửa đêm thì điện thoại của cô rung. Điện thoại của Antonio lại gọi đến. Cô nhìn chiếc điện thoại đang sáng lên trong phòng của bé con. Không bắt máy cũng khó. Cô để cuộc gọi đi vào hộp thư thoại. Là giọng Đức, "Kah-ree. Gặp tôi đi, tôi có thể giúp cô."

Được thôi. Đến giúp tao đi, thằng ngu, rồi tao sẽ giúp mày.

Cô đu đưa bé con và khẽ hát bài "Lời khuyên cho chú vẹt", một bài hát của bà nội Guna của cô, hứa hẹn cho chú vẹt đuôi dài một quả chuối chín và một cuộc đời thoải mái khi chú được bán cho một người Panama giàu có.

Ngủ gật đến sáng, cô mơ thấy căn nhà nhỏ vững chãi trên kênh Snake Creek. Căn nhà đứng vững trước thời tiết dù mái bị dột. Nhà xây trên sàn bê tông. Định thần lại mới thấy không có khoảng trống bên dưới để có thể gây hại cho một đứa nhỏ. Trong giấc ngủ, trong sự nhẹ nhõm cuối ngày, cô mỉm cười khi mơ về ngôi nhà vững chãi trên sàn bê tông và bé con còn sống bên cạnh.

« Lùi
Tiến »