Một cô gái đang yêu một hôm đã nói với người đàn ông mà nàng yêu: em cũng thế, em có thể viết ra những câu chuyện khiến chàng vừa ý như thế… Em nghĩ thế à? chàng đáp lời. Họ gặp nhau hai hoặc ba lần mỗi tuần, và không bao giờ vào kỳ nghỉ, cũng như không bao giờ vào cuối tuần. Khoảng thời gian họ ở cùng nhau, là thời gian mà mỗi người đánh cắp khỏi gia đình và công việc. Các buổi chiều tháng Một hoặc tháng Hai, khi ngày dài hơn và mặt trời chiếu từ phía Tây những ảnh phản chiếu màu đỏ xuống sông Seine, họ dạo chơi trên bờ sông, kè Grands-Augustins, kè Tournelle, hôn nhau dưới bóng những cây cầu. Một lần một kẻ vô gia cư đã hét lên với họ: Các người muốn chúng tôi trả tiền phòng cho không? Nơi ẩn náu của họ thay đổi thường xuyên. Chiếc xe hơi cũ, mà cô gái cầm lái, dẫn họ đến Vườn thú để xem hươu cao cổ, đến Bagatelle để ngắm hoa diên vĩ và cây ông lão vào mùa xuân, hoặc hoa cúc sao vào mùa thu. Nàng ghi tên của các loài cúc sao, xanh mờ, tím, hồng nhạt, mà để làm gì? bởi vì nàng chẳng bao giờ trồng được chúng (tuy nhiên chúng ta sẽ gặp lại những cây hoa cúc sao). Nhưng Vincennes, hay còn gọi là Rừng, ở xa. ở Rừng, ta gặp những người có thể nhận ra ta. Quả thực là chỉ còn lại cách thuê phòng. Một phòng nhiều lần liên tiếp. Hoặc các phòng khác, tùy theo ngẫu nhiên. Có những nét dịu dàng kỳ lạ trong ánh sáng yếu ớt của những căn phòng cho thuê trong những khách sạn gần ga; sự sang trọng khiêm tốn của chiếc giường lớn, nơi họ rời đi bỏ lại những tấm ga nhăn nhúm, cũng có sự quyến rũ riêng. Và đã đến lúc người ta không thể tách bạch âm thanh của những tiếng nói và những tiếng thở dài với tiếng ầm ào liên tục của các động cơ và tiếng rin rít của những bánh xe ngược lên phố. Suốt nhiều năm, những lần trú chân thoáng chốc và dịu dàng đó, trong khoảng thời gian nghỉ ngơi tiếp nối sau cuộc yêu, khi chân lồng vào nhau còn tay thì rã rời, được ru vỗ bởi những chuyện kể, ta cũng có thể nói là bởi những câu chuyện này, nơi những cuốn sách giữ vị trí đầu tiên. Những cuốn sách là sự tự do toàn vẹn duy nhất của họ, tổ quốc chung của họ, những chuyến du lịch thực sự của họ; họ sống cùng với những cuốn sách mà họ yêu giống như những người khác yêu căn nhà của gia đình; họ có trong sách những người đồng bào và các anh em; các nhà thơ đã viết cho họ, những bức thư của các tình nhân xưa tìm đến họ xuyên qua bóng tối của các ngôn ngữ cổ, các phong tục và lối sống đã mất đi - và tất cả những thứ đó được đọc lên bằng giọng trầm trong căn phòng không ai biết đến, căn gác bần tiện và huyền diệu, nơi mà trong vài giờ, những làn sóng lừng bên ngoài không thể phá vỡ được. Họ không có đêm chung. Đột nhiên, đến một giờ định trước nào đó - chiếc đồng hồ không rời khỏi cổ tay - họ phải ra về. Mỗi người phải gặp lại đường phố, căn nhà, căn phòng ngủ, chiếc giường hằng ngày của riêng mình, gặp lại những người mà họ gắn bó bởi cách thức khác của một tình yêu không thể cứu chuộc, những người mà sự ngẫu nhiên, tuổi trẻ hoặc chính họ đã từng trao tặng cho họ một lần cho mãi mãi, và ta không thể rời bỏ hay làm tổn thương bởi ta chính là trái tim trong cuộc sống của họ. Chàng, trong phòng ngủ của mình, chàng không ở một mình. Còn nàng thì chỉ có một mình trong phòng ngủ của nàng. Một tối, sau câu “Em nghĩ thế sao?” ở trang đầu, và không hề nghĩ rằng một ngày nào đó nàng sẽ thấy trên một cuốn địa bạ cái tên Réage và tự cho phép mình mượn tên riêng của hai kẻ phóng đãng nổi tiếng, Pauline Borghèse và Pauline Roland, một tối, cô gái mà tôi nói đến tối nay, ở một nơi thích hợp, bởi vì tôi không biết gì về nàng, còn nàng lại biết hết về tôi, và trước hết là giọng nói, một tối cô gái này, thay vì cầm lấy một cuốn sách trước khi đi ngủ, người cong hình chữ S nằm nghiêng sang bên trái, đã đưa tay phải cầm lấy một cây bút chì thật đen, bắt đầu viết câu chuyện mà nàng đã hứa.
Mùa xuân sắp biến mất. Những cây anh đào Nhật Bản trong các công viên lớn ở Paris, những cây tử kinh, những cây mộc lan bên các hồ nước, những cây cơm cháy viền quanh các đường kè của đường xe lửa vành đai, đều đã tàn hoa. Ngày dài như không dứt, và ánh sáng buổi sáng, vào những giờ khác thường, chiếu rọi đến tận những tấm rèm đen bụi bặm dùng để phòng thủ bị động, những tàn tích cuối cùng của chiến tranh. Nhưng dưới ánh sáng của cây đèn nhỏ trên bàn đầu giường, bàn tay cầm bút chì chạy trên giấy không bận tâm đến giờ giấc hay độ sáng. Cô gái viết như thể ta đang nói trong bóng tối với người ta yêu, khi những lời lẽ yêu đương đã bị kìm giữ quá lâu và cuối cùng trào ra. Lần đầu tiên trong đời nàng viết không ngại ngần, không ngơi nghỉ, tẩy xóa, không vứt bỏ, viết như ta thở, viết như ta mơ. Tiếng ầm ì liên tục của xe cộ chìm đi, không còn nghe những tiếng lạch cạch của các cánh cửa xe, Paris bước vào trong yên lặng. Tận khi trời tảng sáng, khi bắt đầu bình minh, nàng vẫn còn viết. Trọn vẹn cả đêm đầu tiên, hẳn là giống như những người bị bệnh mất ngủ trải qua đêm dài của họ, nàng rứt khỏi chính nàng, hoặc ai mà biết được? được trả lại cho chính nàng. Buổi sáng, nàng gấp cuốn sổ, chứa đựng hai phần mở đầu mà quý vị đã biết, bởi quý vị đã đọc đến tận đây, có nghĩa là quý vị đã nhọc công đọc toàn bộ câu chuyện, và hôm nay quý vị đã biết nhiều hơn những gì nàng biết vào lúc đó. Đã đến lúc nàng phải đứng dậy, tắm rửa, mặc quần áo, chải đầu, lấy lại điệu bộ cứng nhắc, nụ cười thường nhật, vẻ dịu dàng câm lặng quen thuộc. Ngày mai, không, ngày kia, nàng sẽ đưa cuốn sổ.
Nàng trao nó ngay khi chàng vào xe, nơi nàng đang chờ chàng cách một ngã tư vài mét, trong một con phố nhỏ gần một ga tàu điện ngầm và một siêu thị. (Đừng tìm kiếm, có nhiều nơi giống như thế, và không quan trọng là nơi nào). Đọc ngay thôi, đừng hỏi. Với lại cuộc hẹn đó dường như là một trong những cuộc hẹn mà ta đến để nói là ta không đến, khi ta biết rằng phải từ bỏ thì đã quá muộn màng, và ta không thể tính trước được. Chàng có thể thoát được đã là tốt rồi. Nếu không, nàng có thể phải chờ đợi hàng giờ, và sẽ quay lại vào ngày hôm sau, cùng thời điểm đó, cùng nơi đó, theo những nguyên tắc cổ xưa của những người hoạt động bí mật. Chàng nói là mình thoát được, bởi vì cả hai cùng dùng thứ ngôn từ của các tù nhân mà nhà tù của họ không phản đối, và có thể họ ý thức được rằng mặc dù phải đau khổ khi chịu đựng nó, nhưng có lẽ họ cũng đau khổ không kém, bởi vì cảm thấy mình tội lỗi, khi được rời khỏi nó. Ý nghĩ phải quay về mang lại toàn bộ giá trị cho khoảng thời gian bị đánh cắp, khoảng thời gian đó được thiết lập bên ngoài thời gian thực tế, trong một thứ hiện tại kỳ quặc và vĩnh viễn. Lẽ ra họ phải cảm thấy mình bị truy đuổi bởi năm tháng đang thu hẹp lại phía trước, bởi chúng trôi qua mà không mang lại cho họ nhiều tự do hơn. Nhưng không. Các chướng ngại gặp phải mỗi ngày, mỗi tuần - những Chủ nhật kinh khủng không thư từ, không điện thoại, một lời nói hay một ánh nhìn đều không thể, những kỳ nghỉ khủng khiếp ở nơi xa tít mù khơi, và lúc nào cũng có ai đó hỏi: Anh/ Cô đang nghĩ gì thế? - đủ để khiến họ tự dằn vặt mình, và luôn lo sợ người kia thay đổi. Họ không đỏi hỏi được hạnh phúc, nhưng một khi đã nhận ra nhau, run rẩy đề nghị để chuyện này được lâu dài, Chúa ơi, giá mà chuyện này được lâu dài… giá mà người này với người kia sẽ không trở nên xa lạ, giá mà tình thân thiết vô vọng đó, hiếm hoi hơn niềm khoái lạc, quý giả hơn tình yêu - hoặc rốt cuộc có thể đó chính là tình yêu - được tồn tại mãi mãi. Đến nỗi tất cả đều là rủi ro: một cuộc gặp, một chiếc váy mới, một chuyến đi, một bài thơ lạ. Nhưng không gì ngăn cản họ chấp nhận rủi ro. Thế nhưng, ngày hôm đó, rủi ro lớn nhất chính là cuốn sổ. Thế nếu như những ảo tường mà cuốn sổ tiết lộ khiến người tình của nàng bực tức, hoặc tệ hơn, khiến chàng chán ngán, hoặc tệ hơn nữa, khiến chàng cảm thấy nực cười? Không phải vì chính những ảo tưởng đó, đương nhiên, mà bởi vì chúng xuất phát từ nàng, và hiếm khi người ta tha thứ cho những người mà họ yêu vì những ý tưởng tự do mà người ta chấp nhận ở tất cả những người khác. Nhưng nàng đã nhầm khi lo sợ: A, em viết tiếp đi, chàng nói. Chuyện gì xảy ra sau đó? Em có biết không? Nàng biết. Nàng sẽ dần dần phát hiện ra. Suốt cuối mùa hè, suốt cả mùa thu, từ bãi biển nóng như thiêu ở thành phố ven biển buồn thảm, rồi trở về trong một Paris đỏ hung và cháy nắng, nàng viết những điều nàng biết. Từng mười trang một, năm trang một, các chương hoặc các phần của chương, nàng bỏ vào phong bì ghi địa chỉ một hòm thư lưu ký những trang giấy có cùng khổ với cuốn sổ ban đầu, đôi khi viết bằng bút chì, đôi khi viết bằng mực bút bi hoặc một chiếc bút máy sắc nét. Không bản sao, không bản nháp, nàng không giữ lại gì. Nhưng bưu điện rất trung thành. Câu chuyện còn chưa kết thúc thì trong những lần gặp nhau ở Paris vào mùa thu, người đàn ông đòi nàng đọc to từng phần; và trong chiếc xe màu đen, giữa buổi chiều trong một con phố đông người qua lại và buồn tẻ ở quận mười ba, hướng Butte-aux-Cailles, nơi người ta tưởng vẫn đang sống vào những năm cuối của thế kỷ trước, hoặc bên bờ kênh Saint-Martin, nơi những cây cầu gần như theo kiểu Trung Hoa, cô gái đang đọc phải ngừng lại, lần này hoặc lần khác, bởi vì trong im lặng thì có thể tưởng tượng những chi tiết tồi tệ nhất và nóng bỏng nhất, tưởng tượng và viết ra, nhưng không thể đọc to những điều được mơ thấy trong những đêm dài bất tận.
Tuy nhiên, một ngày, câu chuyện dừng lại. Trước mặt O, không còn gì khác ngoài cái chết mà nàng đang mịt mù lao tới bằng tất cả sức lực, và đã được chấp thuận cho nàng một cách ngắn gọn. Còn việc làm thế nào bản thảo về câu chuyện của nàng đến được tay Jean Paulhan, tôi đã hứa là sẽ không nói, cũng như không nói tên thật của Pauline Réage, tôi trông cậy vào sự lịch lãm của những người biết chuyện để cái tên đó không bị phổ biến, lâu đến chừng nào tôi còn cảm thấy không thể phá vỡ lời hứa này. Với lại, không gì dối trả và hay thay đổi bằng một danh tính. Nếu ta có thể tin tưởng, giổng như hàng trăm triệu người đang tin tưởng, rằng chúng ta sống nhiều cuộc đời, thì tại sao cũng không tin rằng trong mỗi cuộc đời của mình, chúng ta chính là điểm hẹn của nhiều tâm hồn? Rốt cuộc thì tôi là ai, Pauline Réage nói, nếu không phải là một phần lâu nay câm lặng của ai đó, một phần tăm tối và bí mật, không bao giờ bị công khai tiết lộ bởi một hành vi, một cử chỉ, thậm chí bởi một lời nói, nhưng lại giao tiếp với những mạch ngầm của trí tưởng tượng bằng những giấc mơ xưa như thế giới này? Từ đó mà tôi có những cơn mơ màng lặp lại và rất chậm rãi, ngay trước giấc ngủ, lúc nào cũng giống nhau, nơi tình yêu thanh khiết và điên cuồng nhất luôn cho phép, hoặc đúng ra là luôn đòi hỏi sự buông bỏ khốc liệt nhất, nơi những hình ảnh ngây thơ về xích và roi bổ sung vào sự ràng buộc những biểu tượng của ràng buộc, tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết rằng đổi với tôi chúng rất hữu ích, và bảo vệ tôi một cách bí ẩn - ngược với những cơn mơ màng hợp lẽ quay quanh cuộc sống ban ngày, tìm cách sắp xếp nó, thuần hóa nó. Tôi chưa từng biết thuần hóa cuộc đời mình. Tuy nhiên mọi chuyện diễn ra như thể những ý nghĩ lạ lùng đó có tác dụng giúp đỡ, như thể một khoản tiền chuộc nào đó đã được trả bằng những điên loạn và thú vị của điều bất khả: những ngày tiếp theo trở nên nhẹ nhàng một cách kỳ lạ, trong khi việc sắp đặt khôn khéo cho tương lai và những dự đoán thiện chí lại luôn bị sự kiện diễn ra phủ định. Cứ như thế, tôi đã học được từ rất sớm rằng không nên chiếm dụng những thời khắc trống vắng ban đêm để bày biện đồ đạc cho những cơ ngơi lý tưởng, không tồn tại nhưng khả dĩ, nhưng có thể thực hiện được, nơi cha mẹ và bạn bè sẽ cùng sống hạnh phúc (ôi ảo tưởng) - nhưng chúng ta có thể không sợ gì mà không xây nên những lâu đài bí mật, với điều kiện phải đưa vào đó những cô gái đang yêu, làm điểm vì tình yêu, và đắc thắng trong những sợi xích của họ. Thế nên những lâu dài của Sade, được phát hiện rất lâu sau khi những lâu đài của tôi được xây dựng trong im lặng, chưa từng khiến tôi ngạc nhiên, cả Những người Bạn của Tội ác của ông cũng vậy: tôi đã có hội kín của mình, không thể xâm phạm và nhỏ bé theo một cách khác. Nhưng nó đã khiến tôi hiểu rằng tất cả chúng ta đều là cai ngục, và tất cả đều ở trong tù, theo nghĩa trong chúng ta luôn có ai đó mà chính chúng ta xích lại; mà chúng ta giam cầm, mà chúng ta khiến phải câm lặng. Thông qua một cú dội lại kỳ quặc, có lúc chính nhà tù đó lại mở ra với tự do. Các bức tường đá của một xà lim, nỗi cô độc, nhưng cả đêm tối, vẫn là nỗi cô độc, sự ấm áp của những tấm ga, sự tĩnh lặng, giải thoát kẻ xa lạ mà chúng ta từ chối vào ban ngày. Hắn không ngừng thoát khỏi chúng ta và thoát khỏi chính hắn, vượt qua những bức tường, vượt qua tuổi tác và những điều cấm kỵ. Hắn chuyển từ người này sang người khác, từ thời đại này, đất nước này sang một thời đại khác, đất nước khác, hắn lấy tên này hoặc tên khác. Những người lên tiếng cho hắn chỉ là những phiên dịch, và với những người này, dù ta không hiểu tại sao (tại sao là những người đó, tại sao vào ngày đó), họ đã có thể, trong một thời khắc, nắm bắt được vài sợi dây trong mạng lưới bất tử của những ý nghĩ cấm kỵ. Cứ thế, đã mười lăm năm nay, tại sao không phải là tôi?
Điều khiến ông, vì ông mà tôi viết câu chuyện này, thích thú, cô lại nói, chính là mối quan hệ giữa câu chuyện với cuộc đời của chính tôi. Liệu đó có thể là hình ảnh bị biến dạng, bị đảo ngược của nó? Liệu đó có phải là cái bóng được kéo theo, không thể nhận ra, bị thu hẹp lại giống như cái bóng của một người đi dạo dưới ánh mặt trời buổi trưa, hoặc vẫn không thể nhận ra, bị kéo dài một cách quỷ quái giống như cái bóng trước mặt người đi về từ bờ biển Đại Tây Dương, trên bãi biển trống vắng, khi mặt trời lặn xuống thành những ngọn lửa phía sau anh ta? Tôi so sánh giữa thứ mà tôi tưởng là mình với thứ tôi kể, và tưởng rằng đang sáng tạo ra cùng lúc một khoảng cách thật triệt để và một sự gần gũi thật sâu sắc mà chính tôi cũng không thể nhận ra. Hẳn là tôi sẽ chấp nhận cuộc sống của mình với chừng ấy kiên nhẫn (hoặc thụ động, hoặc yếu đuối) bởi vì tôi biết mặc lòng tìm thấy một cách trung thành cuộc sống khác tối tăm làm khuây khỏa cuộc sống, thứ không được thú nhận, không được chia sẻ - và thế là nhờ nó mà tôi yêu, tôi thú nhận điều đó, và từ nay trở đi sẽ chia sẻ với người nào muốn chia sẻ, đồng thời cũng làm điếm một cách hoàn hảo trong cảnh nặc danh của một cuốn sách giống như trong cuốn sách về cô gái không khuôn mặt, không tuổi tác, không họ, thậm chí là không tên đó. Về nàng, không bao giờ ông đặt câu hỏi. Ông biết rằng nàng là một ý nghĩ, một làn khói, một nỗi đau, sự phủ nhận của một số phận. Nhưng còn những người khác? René, Jacqueline, Sir Stephen, Anne-Marie? Nhưng còn những địa điểm, những con phố, những khu vườn, những ngôi nhà, Paris, Roissy? Nhưng còn những bối cảnh? Những cái đó thì vâng, tôi nghĩ tôi có biết. René chẳng hạn (cái tên gợi nhớ cố hương), chính là kỷ niệm, không, là dấu vết của một tình yêu thời niên thiếu, đúng hơn là hy vọng về một tình yêu chưa từng tồn tại, và René chưa bao giờ ngờ rằng tôi có thể yêu chàng. Nhưng Jacqueline đã yêu chàng. Và trước chàng, là tôi. Thế nhưng cô từng là nỗi buồn phiền đầu tiên của tôi vì tình yêu. Cô cũng giống tôi, mười lăm tuổi, và trong suốt năm học cô đã theo đuổi tôi, than thở vì sự lạnh nhạt của tôi. Những kỳ nghỉ vừa khiến cô biến mất thì tôi đã thức tỉnh khỏi sự lạnh nhạt đó. Tôi viết thư. Tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chín, ba tháng ròng tôi đã trông chờ người đưa thư vô ích. Thế nhưng tôi vẫn viết. Những lá thư đó đã làm hỏng tất cả. Bố mẹ Jacqueline cấm cô gặp tôi, và chính từ cô, được ghi tên học tại một ngành khác, mà tôi biết rằng “đó là một tội lỗi ”. Tại sao đó lại là một tội lỗi? Người ta chê trách tôi điều gì? Ngày đâu có thanh tịnh hơn… Tôi đã tái tạo Rosalinde và Célia, hoàn toàn không có thật - hai nhân vật không tồn tại lâu. Chỉ có điều Jacqueline, Jacqueline thật sự, chỉ xuất hiện trong truyện với cái tên riêng và mái tóc màu sáng của cô. Nhân vật trong truyện đúng ra là một nữ diễn viên khinh khỉnh và nhợt nhạt, tôi đã từng ăn trưa với cô một hôm ở phố Eperon. Ông già, người tặng cho cô đồ trang sức, quần áo, xe hơi, hỏi ý kiến tôi: “Cô ấy xinh đẹp, đúng không?” Vâng, cô ấy đẹp. Tôi không bao giờ gặp lại cô nữa. René liệu có thể là người mà tôi sẽ trở thành, nếu tôi là đàn ông? Tận tụy với một người đàn ông khác, đến độ nhường cho ông ta mọi thứ, thậm chí không cảm thấy cái cách thức hành xử của chư hầu với bá chủ đó đã lỗi thời? Tôi thấy sợ điều đó. Trong khi nàng Jacqueline tưởng tượng kia là người hoàn toàn xa lạ. Thế nhưng phải mất một thời gian dài tôi mới nhận thức được rằng trong một cuộc sống khác, một cô gái như cô - mà tôi ngưỡng mộ trong tuyệt vọng - đã lấy mất người tình của tôi. Và tôi trả thù bằng cách đưa cô đến Roissy, tôi vốn vẫn khoe khoang rằng mình khinh bỉ mọi kiểu trả thù, ấy thế mà tôi lại trả thù, và thậm chí còn không đủ khả năng nhận ra điều đó. Sáng tác một câu chuyện là một cái bẫy thú vị. Còn Sir Stephen, thì tôi đã nhìn thấy, tận mắt. Người tình của tôi lúc đó, chính là người tôi vừa nói đến, đã chỉ ông ấy cho tôi, một buổi chiều, trong một quán rượu gần Champs-Elysées: ngồi ghé trên một chiếc ghế tròn kê sát quầy rượu bằng gỗ gụ, lặng lẽ, trầm tĩnh, với dáng vẻ của một hoàng tử có đôi mắt xám khiến đám thanh niên và phụ nữ say mê - chàng đã chỉ cho tôi thấy ông ấy và nói: “Anh không hiểu tại sao phụ nữ không thích những người đàn ông như thế hơn lũ trai ba mươi tuổi.” Người tình của tôi không phải ba mươi tuổi. Tôi đã không đáp: “Nhưng họ thích hơn mà.” Tôi đã nhìn người đàn ông lạ đó hồi lâu, ông ấy không nhìn tôi. Trạc ngũ tuần, có lẽ thế, người Anh thì chắc chắn. Và còn gì nữa? Chẳng còn gì. Nhưng mối quan hệ câm lặng, đơn phương, giữa ông ấy và bạn tình của tôi, giữa ông ẩy và tôi, mười năm sau lại hiện ra trong chớp mắt, ngay giữa màn đêm bị xuyên thủng bởi ánh sáng từ ngọn đèn ở đầu giường tôi, và bàn tay trên tờ giấy đã khiến ông ấy tái sinh với mộ ý nghĩa mới mẻ còn nhanh chóng hơn cả một hồi tưởng Anne-Marie thì tôi không hề biết. Một trong số bạn bè của tôi (những người mà tôi tôn trọng, và tôi không phải là người dễ tôn trọng người khác) rất có thể là Anne-Marie, nếu không phải bà chính là sự thanh sạch và danh dự: tôi muốn nói rằng Anne-Marie có thể đã lấy từ bà tính quyết đoán và nghiêm khắc, và dáng điệu thư thái, cũng như cách thức rõ ràng và thẳng thắn khi làm việc của bà. Nói thật ra, những nghề nghiệp được nói đến ở đây (nghề của O, nghề của Anne-Marie, làm điểm hay người đại diện, nếu phải rõ ràng), tôi không hề biết. Một nhà văn lớn phẫn nộ nếu có thấy trong câu chuyện của tôi những hồi ức của một Người Đẹp thì cũng vô ích - đó là lời thú nhận để thanh minh cho việc ông không đọc nó - ông ta đã bị nhầm hai lần: đây không phải là những hồi ức và tôi không phải là một Người Đẹp, cho dù đó chỉ là một cách diễn đạt lịch sự. Để ông ta vui lòng, cứ cho rằng đó hẳn là một thiên hướng bất thành. Sau danh sách vắn tắt về các nhân vật, giống như ở nhà hát, liệu có cần thiết phải giải thích về các địa điểm? Chúng thuộc về tất cả mọi người. Con phố Poitiers và văn phòng khách riêng ở Lapérouse, căn phòng khách sạn nhà thổ ở gần ngục Bastille, với tấm gương gắn trên trần, những con phố trong khu Saint-Germain, những bờ kè đầy nắng trên đảo Saint-Louis, đống đá vụn khô và trắng ở vùng nông thôn Provence, và cái địa điểm Roissy-en-France thấp thoảng trong một buổi dạo chơi ngắn ngủi mùa xuân, gần như không là gì khác ngoài một cái tên trên bản đồ, tất nhiên không có gì là bịa, cũng như những cây hoa cúc sao, mà tôi đã nói là chúng ta sẽ gặp lại chúng. Cũng không phải là bịa ‘đúng hơn là đánh cắp, tôi xin được thứ lỗi một cách muộn màng, nhưng đó là hành vi đánh cắp vì ngưỡng mộ - những chiếc mặt nạ của Léonor Fini. Hình như tôi cũng đã đánh cắp phòng khách của một quý bà, để dùng nó vào một mục đích bỉ ổi: phòng khách của Sir Stephen, quý vị tưởng tượng xem! Bà đã nói chuyện với chính tôi, nhưng không biết bà đang nói chuyện với ai (ta không bao giờ biết mình đang nói chuyện với ai). Tôi chưa từng bước vào nhà quý bà này, chưa từng nhìn thấy phòng khách đó. Tôi chưa từng nhìn thấy (và không biết rằng nó tồn tại) căn nhà giấu mình trong một cái hõm, căn nhà mà nhiều năm trước một cô gái mà rốt cuộc sự ngẫu nhiên đã khiến tôi gặp gỡ đã tặng cho người đàn ông cô yêu - và người đó đã theo dõi cô bằng một chiếc gương giả ẩn trong tường, và một chiếc micro - những cảnh tượng mà Sir Stephen yêu cầu O phải làm: buông thả với những người xa lạ, do ông ta tuyển mộ, do ông ta áp đặt. Không, tôi không sao chép câu chuyện của bà, và không, bà cũng không lấy cảm hứng từ câu chuyện tôi kể. Nhưng một khi đã đến lượt của tưởng tượng và nhắc lại mà thông qua đó các ám ảnh được thỏa mãn (việc nhắc đi nhắc lại không ngừng những khoái lạc và lạm dụng cũng cần thiết giống như nó là vô lý và không thể thực hiện), mọi thứ ăn khớp với nhau một cách trung thành, dù là chuyện đã diễn ra hay chỉ trong mơ, mọi thứ được khám phá cùng nhau và được chia sẻ trong vũ trụ của cùng một sự điên loạn - và nếu ta có thể nhìn trực diện nó, thì mọi điều kinh hoàng, tuyệt diệu, giấc mộng và dối trá, đều là trừ tà và giải thoát.
Pauline RÉAGE