Cuộc Truy Tìm T.72

Lượt đọc: 1720 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

Sau khi Mác Clao bị bắt, ta thông báo cho phía Hoa Kỳ biết hành vi phạm pháp của thành viên phái đoàn Mỹ. Mác Cao-ly đề nghị ta hoãn họp một thời gian để giải quyết vụ rắc rối này. Ý đồ của Mác Cao-ly là tìm cách gặp được Mác Clao để nhận tài liệu B.3 làm cơ sở cho phái đoàn Mỹ bước vào phòng họp. Hắn tin tưởng kỹ thuật hiện đại “vi ảnh” kia sẽ đánh lừa được nhà chức trách Việt Nam, cũng như đã từng tin tưởng phía Việt Nam không thể chế tạo được phương tiện rà phá thủy lôi “tinh khôn”, “hủy diệt”. Phía Việt Nam bác bỏ đề nghị của Mỹ.

Vì thế cuộc họp giữa hai đoàn vẫn tiến hành ở sân bay Cát Bi (ngoại

thành Hải Phòng) đúng quy định.

Phiên họp đầu tiên tiến hành vào một ngày đầu mùa hè năm 1973. Hôm ấy trời khá đẹp. Mặt trời lên cao, tỏa ánh sáng màu vàng xuống muốn cành cây xanh và hoa lá.

Đi đầu phái đoàn Mỹ là tướng hai sao Mác Cao-ly. Hắn có cái trán hói trông rất khó coi, đeo cặp kính gọng sừng dày cộp. Tiếp theo là đại tá Phlin, trung tá Crắc-xti-uốt, thiếu tá Phin và một loạt sĩ quan khác.

Và có thể rút kinh nghiệm sau vụ Mác Clao, phái đoàn Mỹ từ trưởng đoàn đến thành viên đều đi rất thận trọng, theo đúng sự hướng dẫn của phía Việt Nam. Họ ngồi xuống dãy bàn dài. Lúc đó, phái đoàn của ta mới bước vào. Tiên sĩ Nguyễn Văn Hạnh trong bộ quân phục mang quân hàm thượng úy Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia thành viên trong đoàn. Anh ngồi đối diện tên trung tá Crắc-xti-uốt. Bên phải anh là Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật Bộ Giao thông vận tải, người đã có mặt bên anh, động viên anh trong suốt quá trình nghiên cứu công trình. Bên trái anh là Phó chủ nhiệm khoa Vật lí hạt nhân trường Đại học Bách khoa Hà Nội, thành viên của B.3.

Sau những lời chào hỏi xã giao thông thường, phiên họp đầu tiên bắt đầu vào lúc 9 giờ (GMT). Trưởng đoàn Hoa Kỳ đứng lên đọc một bài diễn văn đã được chuẩn bị. Lời văn và giọng điệu đầy vẻ hằn học, lạc hẳn với nội dung nghị định thư. Mác Cao-ly nói rằng:

- Chiều hôm qua, phía Việt Nam đã bắt giữ thiếu tá Mác-bét, nhân viên đoàn Mỹ. Mác-bét là chuyên viên rà phá mìn của lực lượng đặc nhiệm rà phá mìn số 8. Thiếu Mác-bét, chúng tôi không thế hướng dẫn, bàn giao khí tài cho Việt Nam một cách đầy đủ được. Chúng tôi đề nghị phía Việt Nam thả ngay Mác-bét. Nếu không thả Mác-bét thì chính phủ Việt Nam là người cản trở việc thực hiện nghị định thư và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả...

Phía phái đoàn Mỹ lộn xộn hẳn lên. Họ hài lòng với những điều mà trưởng đoàn vừa nói và nhìn về phía Việt Nam với thái độ thách thức. Nhiều thành viên phái đoàn Việt Nam lo cho trưởng đoàn của mình. Ngay sau khi Mác Cao-ly ngồi xuống, trưởng đoàn của ta đứng lên. Bằng một giọng cứng rắn, ông chất vấn phía Mỹ:

- Nếu như phía Mỹ cam đoan Mác-bét là một chuyên viên kỹ

thuật rà phá thủy lôi thuộc lực lượng đặc nhiệm rà phá bom mìn số 8

của hải quân Mỹ, thì hôm nay, tại phòng họp này, trưởng phái đoàn Mỹ

phải làm giấy cam đoan. Sau đó, phía Việt Nam sẽ thả Mác-béc, tại phòng họp này, anh ta phải làm đúng chức năng của mình theo nghị

định thư: hướng dẫn và bàn giao khí tài rà phá thủy lôi của Mỹ cho phía Việt Nam.

Mác Cao-ly ngồi chết lặng, chưa biết quyết định thế nào. Mác-bét là một sĩ quan tình báo làm sao có thể thuyết trình được kỹ thuật rà phá thủy lôi. Trong tình thế khó xử, trưởng đoàn Mỹ nói một câu không chuẩn bị trước:

- Nhưng Mác-bét chỉ là một cố vấn chính trị.

Trương đoàn của ta cười mỉa mai, nói tiếp:

- Theo nghị định thư mà hai nước đã kí kết tại Pa-ri, chúng tôi không yêu cầu cố vấn chính trị.

Trương đoàn ta dõng dạc tuyên bố:

- Nếu các ông chưa hiểu về Mác-bét, chúng tôi nói để các ông rõ.

Mác-bét tên thật là Mác Clao, sinh năm 1921 tại bang Tếch-dát nước Mỹ. Trước đây Mác Clao làm việc khác, anh ta mới được tăng cường vào phái đoàn của Mỹ đến Hải Phòng. Ở Việt Nam, anh ta đã hai lần rời khách sạn không xin phép. Trầm trọng hơn nữa, 17 giờ chiều qua, anh ta đã đi vào khu vực cấm, vi phạm luật pháp nước Việt Nam Dân chủ

cộng hòa, đã bị bắt quả tang. Vì vậy, tôi được uỷ quyền của nhà chức trách Việt Nam thông báo cho phía Mỹ biết: Trong vòng bốn mươi tám giờ, kể từ giờ phút này Mác Clao tức Mác-bét phải rời khỏi lãnh thổ

Việt Nam.

Trưởng đoàn Mỹ sa sầm sắc mặt. Các thành viên khác ngồi im không nói.

Phiên họp đầu tiên kết thúc.

☆ ☆ ☆

Sáng hôm sau, hai phái đoàn lại gặp nhau tại sân bay Cát Bi.

Tiếp sau đó là bàn giao kỹ thuật. Thiếu tá Phin thuyết trình tính năng tác dụng các loại bom mìn của Mỹ và giới thiệu kỹ thuật rà phá. Vì không đánh cắp được B.3, thiếu tá Phin được lệnh moi hỏi tin tức trong quá trình thuyết trình khí tài. Hắn tỏ vẻ cảm thông muốn giúp ta rà phá thủy lôi thành công để giảm đi phần nào cái nhục của nước Mỹ

trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

− Thú thực, bản thân tôi không tán thành với chính phủ Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Tôi phản đối việc ném bom phong tỏa này. Nhưng việc làm của tôi chỉ là đội đá vá trời. Giờ đây có điều kiện giúp nhân dân Việt Nam, tôi sẽ hướng dẫn đầy đủ tính năng, tác dụng các loại thủy lôi và các phương tiện rà phá. Để giúp chúng tôi làm tốt việc này, đề nghị các ngài cho chúng tôi một chiếc ngòi nổ của thủy lôi MK.42

và MK.52 cải tiến.

Tiến sĩ Hạnh chau mày. Thằng cha này lại muốn moi mình đây.

Là chủ đề tài, mình hiểu: để có ngòi nổ - bộ óc của quả thủy lôi đó, các nhà khoa học Việt Nam tham gia công trình B.3 đã mất bao ngày đêm mai phục mới tóm được tên “gián điệp câm” mang về khai thác.

Nhiều anh em, đồng chí đã hi sinh cho sự nghiệp này. Giờ đây, đưa cho chúng ngòi nổ có khác nào báo cáo cho chúng biết là có phương tiện rà phá hiện đại hơn của Mỹ, không chỉ làm nổ mà còn “bắt sống”

được thủy lôi.

Tiến sĩ Hạnh cười nói:

− Nước Mỹ sản xuất hàng loạt ngòi nổ, làm gì mà các ông chẳng có lấy một vài chiếc.

Biết rằng thuyết phục ta là việc làm khó, y chuyển hướng:

− Nếu không có ngòi nổ đó ở đây, xin các ông cho biết cần giới thiệu sâu phần nào, phần nào các ông đã biết để tôi giới thiệu cho thích hợp.

Tiến sĩ Hạnh hiểu tên thiếu tá Phin đang muốn dò xem ta biết gì về các loại thủy lôi hiện đại này. Anh trả lời:

− Đê nghị các ông cứ theo nghị định thư mà làm.

Biết không thể nào thuyết phục được ta, phái đoàn Mỹ buộc phải

thuyết trình kỹ thuật.

Sáng 9 tháng 4 năm 1973, tại sông cầu Rào gần sân bay Cát Bi, phía Hoa Kỳ bàn giao cho ta khí tài rà phá mìn điều khiển từ xa và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng. Phó đô đốc Mác Cao-ly, đại tá Phlin, trung tá Crắc-xti-nốt thiếu tá Phin đều có mặt. Khoảng 30 lính Mỹ, mặc quần đùi, may ô, đi giầy cao cổ lễ mễ khiêng từ bờ để xuống lòng sông một ống từ màu da cam dài tới 10 mét, nặng 450 ki-lô-gam, đường kính 254 cm, một chiếc ca nô vỏ nhựa trắng dài 4,3 mét, rộng 1,2 mét và một ống quay tạo tiếng động giả tiếng chân vịt tàu. Toàn bộ thiết bị đóng giả một con tàu. Thiết bị được điều khiển từ xa.

Một tên sĩ quan đứng trên bờ ấn nút phát lệnh tiến, rẽ trái, rẽ

phải, dừng... Chiếc ca nô chấp hành lệnh khá tốt.

Tiến sĩ Hạnh cùng trưởng đoàn Việt Nam và các thành viên trong đoàn đứng trên bờ quan sát. Với con mắt kỹ thuật, tiến sĩ Hạnh nhận thấy mặt tạo dáng công nghiệp những thiết bị của Mỹ khá đẹp. Chiếc ca nô thon thả, trắng như sứ Hải Dương, ống từ màu da cam, in hình xuống mặt nước tạo thành cho hài hòa cảnh sắc, đẹp mắt. Nhưng thiết bị của Mỹ quá nặng và cồng kềnh so với thiết bị B.3 của ta.

Tiến sĩ Hạnh hỏi thiếu tá Phin:

− Thiết bị của các ông lùi được không?

− Nó lùi, sẽ vướng vào mớ dây rợ, ống từ, ông phát âm thanh phía sau.

− Nói tóm lại là nó không lùi được chứ gì?

− Vâng, chúng tôi thiết kế không cho nó lùi.

− Các ông chủ định thiết kế như thế hay chưa thiết kế được? Hai vấn đề khác nhau đấy!

Tên thiếu tá Phin choáng váng. Hắn là người sử dụng chứ có chế

tạo con tàu đâu. Trước hôm lên đường cấp trên của hắn đã dặn phải trả lời như thế để giấu cái dốt của họ. Nhưng trong hội nghị này, hắn ta phải đứng mũi chịu sào, giơ đầu chịu báng. Hắn ta ngượng đỏ mặt, tức đến mức run lên, quay lại nói:

− Cái đó thì do các nhà khoa học Mỹ trả lời các ông.

Tiến sĩ Hạnh nhìn thẳng mặt tên thiếu tá:

− Xin hỏi thêm. Nếu nó bị mắc cạn làm sao có thể lôi nói vào bờ

trong khi vùng quanh quanh còn bom mìn chưa nổ?

Bị hỏi dồn, tên thiếu tá Phin đỏ bầm mặt, ngoảnh đi nơi khác, tiến sĩ Hạnh tiếp tục tấn công:

− Thiết bị cồng kềnh như thế này tiến vào lòng sông hẹp và đoạn uốn khúc nó có lượn được không?

Tên thiếu tá Phin đành thừa nhận:

− Nó chỉ có vài hạn chế nhỏ nhưng vào loại hiện đại bậc nhất thế

giới.

− Nhưng lại kém hiệu quả ở Việt Nam.

− Vâng. Thưa ông, vì những người chế tạo ra nó chưa hiểu hết thực tế sông ngòi Việt Nam.

− Không phải chỉ ở sông ngòi đâu - đồng chí trưởng đoàn của ta mỉm cười - và cả ở mặt biển. Đã là biển, thì dù biển ở Việt Nam hay nước Mỹ cũng đều có nước cả chứ?

Trớ trêu thay chiếc ca nô của Mỹ bỗng nhiên không chấp hành lệnh nữa. Nó lững lờ trôi theo dòng chảy. Cuộc bàn giao giữa hai đoàn bị

đình lại để phía Mỹ kéo chiếc ca nô trở về.

Nhìn các phương tiện rà phá thủy lôi của Mỹ, trưởng đoàn của ta nói nhỏ với Hạnh:

− “Con tàu” B.3 của ta gọn, nhẹ và hiện đại hơn của Mỹ rất nhiều.

Cho đến lúc đó, tiến sĩ Hạnh mới thực sự cho rằng “con tàu” B.3

do anh chế tạo ưu việt hơn con tàu của Mỹ. Tuy vậy, anh vẫn không bộc lộ niềm vui ấy trên khuôn mặt.

Sau khi kết thúc việc hướng dẫn kỹ thuật và bàn giao khí tài, phái đoàn Mỹ lên máy bay trở về căn cứ quân sự Su-bích, Philippin.

Đoàn Việt Nam trở về Hà Nội. Riêng tiến sĩ Hạnh ở lại Hải Phòng. Anh đến thăm ông già Tường. Anh nghĩ, nếu như không có ông già Tường bắt tên “gián điệp câm” để anh khai thác, anh cũng khó lòng chế tạo hoàn chỉnh “con tàu” B.3. Chiến công anh có được nhờ một phần công lao của ông già vùng biển này. Bây giờ mọi việc đã êm đẹp, biển không còn thủy lôi, bạn bè trong nước, quốc tê đi lại thông thương, anh nhớ đến già Tường, tìm đến cảm ơn ông. Nhưng đêm đó anh không sao ngủ được. Anh cố nhắm mắt, tìm sự thanh thản sau một thời gian làm việc càng thẳng. Anh không ngủ được một phần vì do sóng biển đang nối đuôi nhau xô đẩy ầm ầm, một phần nhỏ tới Việt Hoa và người vợ xấu số. Người anh tự dưng nôn nao, có lúc nóng rực lên. Anh đi ra bãi biển, đi dọc theo mép nước mà có lần anh đã đi cùng Phương Thảo. Bỗng anh nhớ Phương Thảo, tưởng như có Phương Thảo cùng đi...

Sau khi bị bắt, Thúy Vân được đưa đến trụ sở công an thành phố.

Thị vẫn đinh ninh rằng mình sẽ bị khóa tay và tổng vào nhà giam.

Nhưng không... thị không bị khoá tay mà còn được ở trong căn phòng khá tươm tất. Có giường, chiếu, chăn, màn, ấm chén... Khi cánh cửa khép lại, thị cảm thấy toàn thân rã rời. Thị đứng lặng như phỗng trong ánh sáng điện và bóng chiều chạng vạng. Thị thấy đau khổ. Nhưng biết làm sao được. Thị mở mắt nhìn lên trần nhà. Thị cứ nhìn như thế

để trốn tránh một điều gì ghê sợ hơn cả bóng đêm nặng nề mung lung và bí hiểm... Thị cứ nằm như thế và nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra... những gì đã dẫn thị trở thành một điệp viên.

Hình như tất cả bắt đầu từ cái ngày thị về Trung Quổc thăm họ

hàng. Hồi ấy thị đang học tại trường trung học Hoa Kiều, Hải Phòng.

Nghe bố nói, thị bỏ học về Bắc Hải thăm người chú. Chú thị, ông Lâm Trí Mao từ Hồng Kông cũng về thăm quê.

Lâm Trí Mao sinh ra và lớn lên giữa khu cảng sầm uất và đã tham gia quân giải phóng. Trong cuộc trường chinh từ Giang Tây lên Diên An, không chịu được gian khổ, Lâm Trí Mao đào ngũ chạy theo Tưởng Giới Thạch. Năm 1949, Trung Quốc giải phóng, Lâm Trí Mao theo Tưởng Giới Thach chạy ra Đài Loan làm cho cơ quan tình báo Trung Hoa Dân Quốc. Nhiệm vụ của y là giúp Cục tình báo trung ương Mỹ tuyển chọn huấn luyện điệp viên người Hoa tung trở lại lục địa hoạt động.

Đầu năm 1965, cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra với quy mô lớn, Cục tình báo trung ương Mỹ thương lượng với cơ quan tình báo Trung Hoa Dân Quốc chuyển hẳn Lâm Trí Mao sang làm việc cho CIA.

Từ đó, Lâm Trí Mao chuyên tâm lo việc tuyển chọn, đào tạo điệp viên người Hoa đang sinh sống ở Việt Nam để làm việc cho CIA. Lần này y từ Hồng Kông về Bắc Hải gặp anh trai và Thúy Vân là theo kế hoạch CIA đã sắp đặt. Sau những ngày tha hương gặp lại nhau, họ thực sự

vui mừng, kể đủ chuyện.

− Cháu hãy kể tình hình Việt Nam cho chú nghe đi.

Lâm Trí Mao hỏi tất cả mọi điều:

− Cháu ở bên đó có được người Việt Nam giúp không? Cháu hiểu như thế nào về đường lối của Việt Nam đối với Trung Quốc? Họ thân với Trung Quốc hay thân với Liên Xô?

− Dạ, cháu là học sinh, nên hiếu vấn đề đó còn ít lắm.

− Không sao. Miễn là cháu để tâm tới. Một người Hoa chân chính, dù sống ở đâu cũng phải nhớ về đất nước Trung Hoa, cũng phải có nhận xét về chính sách, thái độ của nước đó đối với mình?...

Thế rồi, Lâm Trí Mao đã đưa thị đi tham quan gần khắp Quảng Tây. Lên núi Phục Ba nhìn cảnh thị xã Quê Lâm bên dòng sông Ly; Ngồi thuyền đi dọc sông Liễu, thăm khu công nghiệp Liễu Châu, khu công nghiệp lớn và quan trọng nhất vùng tự trị; Đứng trên ban công tầng thượng khách sạn Bắc Hải bên bờ vịnh Bắc Bộ nhìn toàn cảnh Bắc Hải... Đi đâu, Lâm Trí Mao cũng đi cùng hỏi chuyện.

− Cháu hiểu như thế nào về một nước Việt Nam bị Mỹ chiếm đóng

− người thanh niên đi thêm vài bước nữa nói tiếp - Nếu Việt Nam bị Mỹ

thôn tính sẽ ảnh hưởng tới Trung Quốc. Ta phải ủng hộ Việt Nam đế họ

cầm cự được với Mỹ. Nhưng nhớ rằng không bao giờ để cho Việt Nam thống nhất... Đã là người Hoa chân chính phải hiểu rõ điều này.

Lâm Trí Mao càng tỏ ra quan tâm đến thị, kể cả công ăn việc làm, giới thiệu thị với ông N. đang làm việc tại một cơ quan ở Hà Nội. Ông N. đã nhận thị làm cộng tác viên của một tờ báo.

Một thời gian sau, ông N. kéo thị lên Hà Nội làm báo. Từ đó, thị

thực sự bước vào cuộc đời hoạt động gián điệp. Và hình như mọi việc đã được xếp đặt từ trước. Làm báo được một thời gian thì ông N. tới gặp, thu nhận thị vào cơ quan tình báo Mỹ. Từ đó, ông N. trực tiếp huấn luyện nghiệp vụ tình báo và chỉ đạo thị dùng đặc quyền nhà báo xâm nhập vào các trường đại học thu thập tin tức về tiến bộ của khoa học Việt Nam. Ông ta lệnh cho thị tìm hiểu, làm quen với Tô Quyên, vợ

tiến sĩ Hạnh. Cho đến khi Tô Quyên chết, thị được lệnh về Hải Phòng, chờ chỉ thị mới. Một hôm, có người lạ mặt đến nhà và đem theo thư

của ông N. Sau khi dùng thuốc hóa học kí hiệu M.5 (cũng do ông N.

giao cho) quét lên lá thư, thị đọc được toàn bộ bản chỉ thị mới viết bằng mực hóa học. Theo nội dung chỉ thị đó, thị sẽ nhận tài liệu B.3 và trao cho một người Mỹ ở gần công cảng. Thế là thị bị công an Việt Nam bắt đưa về đây với tài liệu hoạt động tình báo.

Thị Vân vẫn nhìn lên trần nhà và nhận thấy cuộc đời thị đã đến lúc sụp đổ hoàn toàn...

Đêm đầu tiên đã trôi qua, lại một ngày nữa thị vẫn không bị công an gọi đi xét hỏi. Hay là họ không phát hiện ra tờ báo Nhân Dân có tài liệu vi ảnh B.3 - thị Vân nghĩ như thế và trong giây phút, thị thấy có hy vọng - có lẽ mình quá vội bi quan, lo lắng đấy. Cứ bình tĩnh nào.

Mạo hiểm, bình tĩnh, sáng suốt vốn là đặc thù của một người làm công tác tình báo mà - thị Vân suy nghĩ và cố nhủ mình phải ngủ đi cho khỏe để chuẩn bị đổi phó với những cuộc thẩm vân của cơ quan an ninh Việt Nam. Bỗng có tiếng chìa khóa tra vào ổ khoá cửa làm thị có cảm giác lạnh giá.

− Mời ra!

Người cảnh sát mang quân hàm thượng sĩ áp giải thị đến một căn phòng sang trọng hơn, có hai người đang ngồi bên chiếc bàn gỗ phía trên đặt một tấm kính.

− Mời cô ngồi.

Người đứng tuổi mặc chiếc áo bộ đội đã bạc màu, chỉ tay vào chiếc ghế ở góc đổi diện. Thị ngồi xuống chiếc ghế có bốn chân bắt vít xuống sàn, dành riêng cho phạm nhân.

− Từ hôm qua đến nay cô ăn uống thế nào?

− Cám ơn ông, tôi ăn uống không được nhiều.

− Do cô không thích ăn hay do nhà bếp chúng tôi nấu kém?

− Dạ. Do tôi nghĩ về việc mình bị bắt quá nhiều.

Người cán bộ an ninh điều tra xét hỏi động viên:

− Cô nên ăn cho khỏe. Đời còn dài, ăn nhiều mới có thể sống lâu được.

Thấy cán bộ ta thăm hỏi ân cần, thị Vân bớt sợ, thần kinh đỡ

căng thẳng hơn. Rồi thị Vân lại tự hỏi, tại sao mình là một phạm nhân mà công an Việt Nam lại cho ăn ở đàng hoàng, nói chuyện có vẻ từ

tốn, lịch sự như thế? Thị chưa kịp lý giải điều này thì đã bị câu hỏi của thiếu tá Tường cắt ngang.

− Cô sống ở Hải Phòng, có nhớ năm ngoái (1972) Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử hai bố con Âu Trạch Niên, Âu Cần Tiên làm tay sai cho cơ quan tình báo Mỹ và Đài Loan không?

− Dạ, có biết. Tôi và Âu Cần Tiên là bạn thân từ khi còn học ở

trường trung học Hoa Kiều Hải Phòng.

− Tôi nói để cô biết. Âu Cần Tiên là con Âu Trạch Niên. Cả gia đình cô ta đã được cơ quan tình báo trung ương Mỹ và Đài Bắc sử dụng để thu thập tin tức vận chuyển hàng hóa của nước Việt Nam qua đường cảng Hải Phòng. Họ đã bị công an Việt Nam bắt quả tang. Trước cơ quan luật pháp, mẹ Au Cân Tiên đã thực thà khai báo tội lỗi nên tòa án chỉ tuyên bố phạt hai năm án treo. Còn bố thị Tiên ngoan cố đã bị

phạt 20 năm tù giam. Thế đấy. Những người có tội dù cho tội làm gián điệp như gia đình Âu Cần Tiên, nếu thành thực khai báo cũng sẽ được giảm tội. Khai báo quanh co sẽ bị xử thêm tội gây khó khăn cho cơ

quan điều tra khi làm nhiệm vụ.

Thúy Vân ngồi im nhìn xuống đất.

− Bây giờ cô có trách nhiệm trả lời đầy đủ những câu hỏi của chúng tôi. Câu hỏi nào chưa rõ, cô được phép hỏi lại.

Sau khi làm các thủ tục hành chính, thiếu tá Tường hỏi:

− Họ và tên?

− Lâm Thúy Vân.

− Ngày tháng năm sinh, quê quán, trú quán?

− Tôi sinh năm 1942, tại cảng Bắc Hải, Quảng Tây, Trung Quốc.

Trú quán tại phố Trung Quốc Hải Phòng.

− Cô sang Việt Nam năm nào?

− Năm 1943, cùng với gia đình.

− Cô hãy nói trường hợp được tuyển dụng vào làm phóng viên báo.

Thúy Vân cúi nhìn xuống đất thở dài nặng nề.

− Như các ông đã biết. Tôi được các ông cấp giấy phép về thăm chú tôi ở bên Trung Quốc. Và chính cái ngày chết tiệt ấy, tôi bắt đầu bước vào cuộc đời làm chính trị. Chú tôi viết thư giới thiệu tôi với ông N. ở Hà Nội. Và cũng từ ngày ấy, tôi thực sự hoạt động theo sự chỉ đạo của ông ta.

Thiếu tá Tường đặt chén nước trước mặt thị Vân, nói:

− Cô uống nước đi rồi khai tiếp. Cô hãy nhớ lại mọi việc từ lúc chúng tuyển dụng cô vào làm báo cho tới khi bị bắt.

Thiếu tá mở cặp lấy ra 8 bức ảnh phóng to vi ảnh tài liệu B.3.

Nhìn tài liệu do chính tay mình thu nhỏ từ phim của Sinh chụp, thị Vân càng hoảng. Nếu họ đã biết được vi ảnh thì chắc chắn những việc khác họ cũng biết, khó lòng mà giấu được. Thị Vân vẫn chưa hết bàng hoàng và suy nghĩ căng thẳng có nên khai hết hay cứ khai những điều họ đã biết. Nhưng điểm nào công an đã biết? - Thị tự hỏi mình như

thế. Cuối cùng thị quyết định vừa khai vừa thăm dò.

− Thưa các ông, từ Trung Quốc trở về, tôi đến ngay trụ sở báo.

Tôi còn nhớ, lần ấy N. bước vào cười nói cởi mở: “Tôi rất hân hạnh được tiếp cháu của Lâm tiên sinh - Dừng một lúc như nghĩ điều gì, ông ta nói tiếp - Gần đây Mỹ ném bom phong tỏa bờ biển, sông ngòi Việt Nam. Để chống lại phong tỏa, tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh đang nghiên cứu công trình B.3, nhiệm vụ của chúng ta là phải lấy cắp bản thiết kế

công trình này cung cấp cho Mỹ. Làm công việc này thật khó, nhưng ta có khả năng làm được. Cô biết đấy, Tô Quyên vợ tiến sĩ có dây mơ rễ

má với Trung Quốc. Nhiệm vụ của cô là làm quen với cô ta. Đặc quyền của nhà báo sẽ giúp cho cô làm tốt việc này”.

Thị Vân lại ngồi im. Thiếu tá Tường chú ý quan sát thay đổi sắc mặt của phạm nhân. Thị Vân suy nghĩ hồi lâu rồi kể toàn bộ quá trình được tên N. huấn luyện cách làm quen, moi tin Tô Quyên nhưng lẩn tránh việc N khống chế Tô Quyên . Thiếu tá Tường hỏi thẳng:

− Cô gặp Tô Quyên và ông N. để làm gì?

Như thế là họ đã biết tất cả mọi chuyện rồi - thị Vân suy nghĩ.

Nhưng bản chất những tên làm tay sai cho đế quốc chẳng bao giờ cam chịu khai ngay một lúc, mà chỉ khai nhỏ giọt.

− Dạ thưa ông. Lần thứ nhất thăm hỏi. Lần thứ hai để nhận nhiệm vụ. Lần thứ ba gặp để ông N. chuyển lời cảnh cáo thái độ không làm việc của Tô Quyên. Lần thứ sáu...

Bàn tay thị Vân bắt đầu run run, giọng ấp úng:

− Họ bắt cô ta phải chết chứ gì?

− Dạ đúng như thế, song không hoàn toàn như vậy. Chính sau vụ

này tôi không được làm báo nữa.

− Vì sao cô lại bỏ nghề làm báo?

− Thưa ông, ông N. yêu cầu tôi trở lại Hải Phòng. Từ đó, họ giao công việc giết Tô Quyên cho người khác.

− Cô có quen Sinh không?

− Dạ, tiếp xúc một vài lần nhưng không nói chuyện nhiều nên hiểu rất ít, thậm chí tôi cũng không biết anh ta làm việc ở đâu nữa.

− Thế tại sao tên Sinh lại có thể trao cho cô tài liệu B.3 - hỏi câu này thiếu tá Tường chưa có bằng chứng cụ thể mà chỉ phán đoán, kết luận qua việc tên Sinh chụp tài liệu B.3. Thiếu tá nhìn thẳng vào mặt thị Vân. Thị tỏ ra hoang mang và có vẻ sợ sệt hơn lúc mới vào, ý chí tỏ

ra rã rời, thuần phục và ngoan ngoãn.

− Dạ theo quy định, đêm đó tôi thức đợi Sinh. Khoảng 3 giờ sáng, Sinh cho xe chạy dọc phố Trung Quốc. Thấy tôi, anh ta vứt cho một túi nhỏ đựng phim chụp tài liệu B.3 rồi cứ tiếp tục đi, không hề nhìn lại.

Nhận được phim đó, tôi tráng và làm vi ảnh đợi ngày trao cho một người nước ngoài.

− Ai chỉ thị cho cô làm việc này?

− Dạ, vẫn ông N.

− Cô có biết tên người nước ngoài kia làm gì, ở đâu không?

− Tôi đoán là thủy thủ nước nào đó mới lên bờ.

Thiếu tá Tường nhìn thẳng vào mặt thị Vân.

− Tôi nói cho cô biết, đó là tên chỉ huy của cơ quan tình báo Mỹ.

Cô cũng nên hiểu rằng, họ sử dụng cô nhưng không bao giờ tin. Cô chỉ

được phép hành động như một cái máy không hơn không kém...

Thiếu tá Tường nói như giảng giải, giọng mỗi lúc một cao hơn.

Ánh sáng dịu đầu hè chiếu qua ô cửa. Thị Vân chớp mắt, càng nghe thiếu tá Tường giải thích thị càng thấy mình bị tên N. lừa dối. Thị ngồi im, mặc cho hàm răng trên cắn vào môi dưới đến bầm tím. Hai hàng nước mắt làn xuống gò má. Thị Vân đứng lên trong tâm trạng vô cùng căng thẳng và rệu rã. Lần đầu tiên thị mới ý thức được rằng mình tin và làm theo ông N. một cách quá ngu xuẩn. Thị nặng nhọc bước vào gian phòng chưa phải là nhà giam mà thấy nó nặng nề lạnh lùng đến ghê sợ. Thị nằm vật xuống giường và đau khổ về sự mù quáng của mình. Thị hối hận đã nghe theo ông N. để bị bắt. Thị lại nhìn trân trân lên trần nhà và tưởng như trên đó là sức nặng của cả trái đất đang giáng xuống đầu. Thị cảm thấy đầu óc ngả nghiêng, chao đảo...

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của trần diễn