Đang là sáng sớm ngày thứ Bảy, ngày cuối cùng của thế giới, và bầu trời đỏ hơn máu.
Người giao hàng Hỏa tốc Quốc tế vòng qua ngã rẽ với tốc độ rất thận trọng là năm mươi lăm cây số trên giờ, về số hai, và dừng lại bên vệ cỏ.
Ông ra khỏi xe, và lập tức nhào xuống một cái mương để tránh một chiếc xe tải đang lao qua khúc quanh với tốc độ hơn một trăm ba mươi cây số một giờ.
Ông đứng dậy, nhặt kính lên, đeo kính vào, nhặt gói bưu phẩm và tấm bìa kẹp giấy, phủi cỏ và bùn trên bộ đồng phục đi, rồi, như chợt nhớ ra, dứ nắm đấm về phía chiếc xe tải đang vùn vụt biến mất.
“Đáng lẽ không được phép lưu thông, lũ xe tải chết tiệt, chẳng coi ai ra gì, ta nói rồi đấy, ta nói rồi đây, nhớ đấy, ranh con, nếu không có xe thì mày cũng chỉ là người đi bộ thôi...”
Ông trèo xuống vệ cỏ, trèo qua một hàng rào thấp, và đến bên bờ sông Uck.
Người giao hàng Hỏa tốc Quốc tế đi dọc bờ sông, tay cầm gói bưu phẩm.
Ngồi xa xa phía bờ sông là một gã trai trẻ mặc toàn đồ trắng. Gã là người duy nhất trong tầm mắt. Tóc gã trắng, da gã trắng bệch như phấn, và gã ngồi nhìn xuôi nhìn ngược dòng sông như đang ngắm cảnh. Nhìn gã giống các thi sĩ lãng mạn thời Victoria, trước khi việc tiêu thụ và lạm dụng ma túy bắt đầu tràn lan.
Người giao hàng Hỏa tốc Quốc tế không hiểu nổi. Ngày xưa, mà thực ra là cũng chẳng xưa lắm, cứ vài chục mét dọc bờ sông lại có một người thả câu; trẻ con đã chơi đùa ở đây; các cặp đôi đã ra đây để lắng nghe tiếng róc rách rì rầm của dòng sông, để nắm tay nhau, để tình tứ dưới ánh hoàng hôn vùng Sussex. Chính ông cũng đã làm thế với Maud, bà nhà ông, trước khi họ lấy nhau. Họ đã đến đây để chơi úp thìa, và, vào một dịp đáng nhớ, để chơi chọc dĩa nữa.
Thời gian thay đổi nhiều thật, người giao hàng ngẫm nghĩ.
Giờ những tác phẩm điêu khắc bằng bọt cùng cặn dầu màu trắng và nâu lững lờ trôi trên mặt sông, có đoạn phủ kín đến hàng mét. Và ở những chỗ còn nhìn thấy được mặt nước thì nó cũng bị phủ một lớp phân tử hóa dầu mỏng dính.
Có tiếng vù vù chói tai khi một cặp ngỗng, sung sướng vì được trở lại nước Anh sau một chuyến bay dài mệt nhọc ngang qua Bắc Đại Tây Dương, hạ cánh xuống làn nước bóng loáng màu cầu vồng, và chìm nghỉm không vết tích.
Thế giới kỳ cục thật, người giao hàng nghĩ. Đây là sông Uck, vốn là dòng sông thơ mộng nhất vùng này, Thế mà giờ chỉ còn là một cái cống công nghiệp. Thiên nga chìm xuống đáy, còn cá thì nổi lên mặt.
Tiến bộ là thế đấy. Ta không thể ngăn tiến bộ được.
Ông đã đến chỗ gã trai mặc đồ trắng.
“Xin lỗi anh. Anh là Phấn?”
Gã trai mặc đồ trắng gật đầu nhưng không nói gì. Gã tiếp tục nhìn ra sông, mắt dõi theo một tác phẩm điêu khắc cực kỳ ấn tượng bằng bọt và cặn dầu.
“Đẹp thật,” gã thì thào. “Tất cả đều đẹp chết đi được.”
Người giao hàng bỗng chốc không biết nói gì. Rồi hệ thống tự động của ông bật lên. “Thế giới kỳ cục thật phải không, ý tôi là tôi đã đi giao hàng khắp nơi trên thế giới thế rồi tôi lại quay về đây gần như là về nhà, ý tôi là tôi sinh ra và lớn lên ở ngay gần đây, thế mà tôi đã đến Địa Trung Hải và Des O’ Moines, đó là ở Mỹ, thưa anh, giờ tôi lại về đây, bưu phẩm của anh đây.”
Gã trai tên Phấn nhận lấy gói bưu phẩm và cầm lấy tờ bìa kẹp giấy ký nhận. Gã vừa chạm vào cái bút thì nó bị chảy mực, và chữ ký của gã nhòe khi gã viết. Nó là một từ dài, bắt đầu bằng chữ Ô, rồi một vệt mực, rồi kết thúc bằng chữ gì đó có thể là -ịch hoặc cũng có thể là -iễm.
“Cảm ơn anh nhiều,” người giao hàng nói.
Ông bước trở lại dọc bờ sông, quay về con đường đông đúc xe cộ nơi ông đã đỗ xe, vừa đi vừa cố không nhìn dòng sông.
Đằng sau ông, gã trai mặc đồ trắng mở gói bưu phẩm. Trong đó là một cái vương miện - một vòng kim loại trắng, đính kim cương. Gã ngắm nó vài giây vẻ hài lòng, rồi đội nó lên. Cái vương miện lấp lánh dưới ánh bình minh. Rồi lớp xỉn, vốn đã phủ lên bề mặt ánh bạc của nó ngay khi ngón tay gã chạm vào, liền lan ra khắp cái vương miện, khiến nó đen sì đi.
White đứng dậy. Ô nhiễm không khí cũng có cái hay, đó là nó đem lại những buổi bình minh thật huy hoàng. Nhìn như ai đó đốt cháy bầu trời vậy.
Và một que diêm bất cẩn cũng sẽ châm lửa đốt cả dòng sông nữa, nhưng than ôi, giờ không còn thời gian. Trong tâm trí, gã đã biết Bộ Tứ sẽ gặp nhau ở đâu, khi nào, và gã sẽ phải nhanh chân nếu muốn đến đó vào chiều nay.
Có lẽ chúng ta sẽ đốt cháy bầu trời, gã thầm nghĩ. Và gã rời khỏi nơi đó, gần như không ai nhận thấy.
Sắp đến lúc rồi.
Người giao hàng đã để chiếc xe tải lại bên vệ cỏ của con đường hai làn. Ông đi sang phía tài xế (một cách cẩn thận, vì các xe cộ khác vẫn đang phóng vèo vèo qua khúc quanh), thò tay qua cửa sổ để ngỏ, và lấy tờ kế hoạch trên bảng đồng hồ.
Vậy là chỉ còn một đơn nữa phải giao thôi.
Ông đọc kỹ hướng dẫn trên tờ biên lai giao hàng.
Ông đọc lại lần nữa, đặc biệt chú ý tới địa chỉ và tin nhắn. Địa chỉ là ba chữ: Khắp mọi nơi.
Rồi, với cái bút chảy mực, ông viết một dòng cho Maud, vợ mình. Dòng chữ chỉ là, Tôi yêu mình.
Rồi ông lại cất tờ kế hoạch lên bảng đồng hồ, nhìn trái, nhìn phải, rồi lại nhìn trái, và bước ngang qua đường một cách đầy chủ đích. Ông đang đi được nửa đường thì một cỗ xe khổng lồ của Đức lao qua ngã rẽ, tay tài xế phát điên vì caffeine, những viên thuốc nhỏ màu trắng, và điều lệ giao thông của Cộng đồng Kinh tế châu Âu.
Ông nhìn theo chiếc xe to kềnh đi xa dần.
Trời, ông nghĩ, suýt nữa thì nó tông phải mình.
Rồi ông nhìn xuống rãnh.
Ồ, ông nghĩ.
PHẢI, một giọng nói vang lên sau vai trái ông, hay ít nhất là sau cái chỗ từng là vai trái ông.
Người giao hàng quay lại, nhìn, và thấy. Mới đầu ông không tìm nổi từ để nói, không tìm nổi điều gì, nhưng rồi thói quen của cả một đời làm việc lại chiếm lấy ông và ông nói, “Tôi có tin nhắn cho ngài, thưa ngài.”
CHO TA?
“Vâng, thưa ngài.” Ông ước gì mình vẫn còn cổ họng. Nếu vẫn còn cổ họng thì ông đã có thể nuốt khan. “Tôi e là không có bưu phẩm, thưa ông... ờ, ngài. Chỉ có tin nhắn thôi.”
VẬY NÓI ĐI.
“Là thế này, thưa ngài. E hèm. Hãy Đến và Nhìn Xem.”
CUỐI CÙNG CŨNG ĐẾN LÚC. Trên khuôn mặt đó là một nụ cười nhăn nhở, nhưng với khuôn mặt đó thì không thể có biểu cảm nào khác được.
CẢM ƠN, kẻ kia nói tiếp. TA XIN CÓ LỜI KHEN LÒNG TẬN TỤY VỚI CÔNG VIỆC CỦA ÔNG.
“Sao cơ, thưa ngài?” Người giao hàng quá cố đang ngã qua một màn sương xám, và ông chỉ thấy hai đốm sáng xanh, có lẽ là mắt, hoặc cũng có thể là hai vì sao xa xôi.
ĐỪNG NGHĨ ĐÂY LÀ CÁI CHẾT, Thần Chết nói, HÃY COI ĐÂY LÀ ĐI SỚM ĐỂ TRÁNH TẮC ĐƯỜNG.
Người giao hàng thoáng nghĩ xem có phải người bạn mới của mình đang đùa không, rồi quyết định là không phải; và rồi không còn gì nữa.
Vàng trời thì gió, đỏ trời thì mưa.
Đúng thế.
Trung sĩ Săn Phù thủy Shadwell lùi lại, đầu ngoẹo sang một bên. “Được rồi,” lão nói. “Cậu sẵn sàng rồi đấy. Có đủ cả chưa?”
“Rồi ạ, thưa Trung sĩ.”
“Quả lắc khám phá?”
“Quả lắc khám phá, vâng.”
“Kẹp ngón tay?”
Newt nuốt khan và vỗ vỗ một bên túi. “Kẹp ngón tay,” cậu đáp.
“Mồi lửa?”
“Thưa Trung sĩ, thực tình, tôi nghĩ là...”
“Mồi lửa?”
“Mồi lửa,” Newt rầu rĩ đáp. “Và diêm.” (*)
“Chuông, sách và nến?”
Newt vỗ vỗ một bên túi khác. Trong đó là một cái túi giấy đựng một cái chuông nhỏ, loại khiến loài vẹt đuôi dài phát điên, một cây nến hồng thuộc loại cắm lên bánh sinh nhật, và một cuốn sách nhỏ có tên là Lời cầu nguyện cho bàn tay nhỏ. Shadwell đã nhấn mạnh với cậu rằng, mặc dù phù thủy là mục tiêu chính, một lính săn phù thủy giỏi không bao giờ nên bỏ qua cơ hội thực hiện một lễ trừ tà nho nhỏ và lúc nào cũng phải cầm theo bộ dụng cụ.
“Chuông, sách và nến,” Newt đáp.
“Đinh ghim?”
“Đinh ghim.”
“Giỏi lắm. Không bao giờ được quên đinh ghim. Nó là lưỡi lê trong khẩu pháo ánh sáng của cậu đấy.”
Shadwell lùi lại. Newt kinh ngạc nhận thấy mắt lão già rưng rưng.
“Ước gì ta có thể đi cùng cậu,” lão nói. “Tất nhiên, sẽ chẳng có chuyện gì đâu, nhưng được ra ngoài cũng tốt. Vất vả lắm, cậu hiểu không, mấy vụ nằm trên dương xỉ ướt để rình những cuộc nhảy múa quỷ quái của chúng. Cái lạnh ngấm vào xương cốt ghê lắm.”
Lão đứng nghiêm và giơ tay chào.
“Lên đường đi, Binh nhì Pulsifer. Cầu cho các đội quân huy hoàng hành quân cùng cậu.”
Sau khi Newt đã lái xe đi, Shadwell nghĩ ra một việc, một việc mà lão chưa bao giờ có dịp làm trước đây. Cái lão cần bây giờ là một cái ghim. Không phải đinh ghim của quân đội, dùng cho phù thủy. Chỉ một cái ghim bình thường để gắn lên bản đồ thôi.
Tấm bản đồ treo trên tường. Nó đã cũ lắm rồi. Trên đó không có Milton Keynes. Cũng không có Harlow. Gần như không có cả Manchester và Birmingham nữa. Nó đã là bản đồ ở tổng hành dinh của đội quân từ ba trăm năm nay. Trên đó vẫn còn vài cái ghim, chủ yếu là ở Yorkshire và Lancashire và vài cái ở Essex, nhưng chúng đã gỉ gần hết. Ở những chỗ khác, chỉ còn những chấm nâu đánh dấu một nhiệm vụ xa xôi được thực hiện bởi một người lính săn phù thủy từ thời nào.
Cuối cùng Shadwell cũng tìm thấy một cái ghim giữa đống vụn trong gạt tàn. Lão hà hơi lên nó, đánh bóng nó, nheo mắt nhìn tấm bản đồ cho tới khi lão tìm thấy Tadfield, và đắc thắng cắm cái ghim vào đó.
Nó sáng lóe lên.
Shadwell lùi lại một bước và lại giơ tay chào. Mắt lão rớm lệ.
Rồi lão quay ngoắt ra sau và giơ tay chào cái tủ kính. Nó đã cũ và mục nát, kính đã vỡ cả, nhưng theo một cách nào đó thì nó chính là ĐQSPT. Trong đó là đồ bạc của Trung đoàn (Cúp Golf Liên Tiểu đoàn, đã không được tranh cướp từ, than ôi, bảy mươi năm nay); trong đó là khẩu Thần công nạp đạn bằng nòng đặc quyền của Đại tá Săn Phù thủy Ngươi-Không-Được-Ăn-Vật-Sống-Lẫn-Máu-Cũng-Như-Dùng-Phép-Thuật-Và-Xem-Giờ Dalrymple; trong đó là một loạt những thứ nhìn như quả óc chó nhưng thật ra là đầu khô của những kẻ săn đầu người được tặng bởi Thượng sĩ Horace “Bắt chúng trước khi chúng Bắt Ta” Narker, người đã đi đến nhiều vùng xa xôi; trong đó là ký ức.
Shadwell hỉ mũi ầm ĩ vào ống tay áo.
Rồi lão mở một lon sữa đặc để ăn sáng.
Nếu các đội quân huy hoàng định tìm cách hành quân cùng Newt thì người họ sẽ rơi lả tả thành từng mảnh. Đó là vì, ngoại trừ Newt và Shadwell ra, họ đã chết từ lâu.
Sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng Shadwell (Newt chưa bao giờ khám phá ra tên riêng của lão là gì) là gã gàn đơn độc.
Chỉ là những người khác đều đã chết, và phần lớn đã chết từ hàng trăm năm nay. Đã có thời đội quân lớn mạnh như trong cuốn sổ kế toán được thêm thắt một cách sáng tạo của Shadwell. Newt đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra Đội quân Săn Phù thủy cũng có lai lịch dài và gần như đẫm máu chẳng kém phiên bản thế tục của họ.
Tiền lương của lính săn phù thủy đã được định ra từ thời Oliver Cromwell và chưa bao giờ được xét lại. Sĩ quan được một curon, đại tướng được một đồng vàng. Tất nhiên, đó chỉ là tiền thù lao danh nghĩa, vì ta được chín xu cho mỗi phù thủy tìm được và được là người đầu tiên lấy phần mình từ của nả của phù thủy.
Ta đâm ra phụ thuộc vào số tiền chín xu ấy. Vì vậy mọi chuyện đã khá khó khăn trước khi Shadwell được nhận tiền lương của Thiên đường và Địa ngục.
Lương của Newt là một shilling cũ một năm. (*)
Để nhận khoản lương này, cậu phải luôn có “mồi lửa, súng kíp, hộp quẹt, hoặc diêm” bên mình, mặc dù Shadwell có nói một cái bật lửa ga Ronson cũng hoàn toàn chấp nhận được. Shadwell đã đón nhận phát minh bật lửa cũng như những người lính thông thường đón nhận súng tự động vậy.
Theo như Newt thấy thì việc này cũng giống như tham gia vào các tổ chức như Sealed Knot (*) hay những người cứ đánh mãi cuộc Nội chiến Anh hoặc Nội chiến Mỹ. Nó cho ta cơ hội ra ngoài vào cuối tuần, và có nghĩa là ta đang gìn giữ những truyền thống tốt đẹp đã tạo nên nền văn minh phương Tây ngày nay.
Một tiếng sau khi rời tổng hành dinh, Newt dừng lại ở làn đường đỗ xe và lục lọi trong cái hộp trên ghế hành khách.
Rồi cậu mở cửa sổ xe bằng một cái kìm, vì tay cầm đã gãy từ lâu.
Gói mồi lửa bị ném qua hàng rào. Một lát sau, cái kẹp ngón tay cũng theo sau.
Cậu băn khoăn xem có nên ném nốt những thứ còn lại không, rồi cất chúng lại vào hộp. Cái đinh ghim là của Đội quân Săn Phù thủy, ở đầu là một cái núm bằng gỗ mun rất tốt, như ghim cài mũ của phụ nữ.
Cậu biết nó dùng để làm gì. Cậu đã đọc khá nhiều. Shadwell đã nhồi cho cậu cả đống tờ rơi vào hôm đầu tiên, nhưng Đội quân cũng đã thu thập được nhiều sách báo và tài liệu mà Newt ngờ rằng nếu đem bán sẽ đáng giá cả một gia tài.
Cái đinh ghim là để chọc vào người nghi phạm. Nếu trên người họ có chỗ nào đó mà họ không cảm thấy gì, thì họ là phù thủy. Đơn giản vậy thôi. Một số lính săn phù thủy lừa đảo đã dùng loại đinh ghim đặc biệt rút vào được, nhưng cái này thì hoàn toàn bằng thép cứng chân phương. Cậu sẽ không dám nhìn mặt lão Shadwell nữa nếu cậu vứt cái đinh ghim đi. Hơn nữa, làm thế có thể là xúi quẩy.
Cậu lại khởi động xe và tiếp tục cuộc hành trình.
Xe của Newt là một chiếc Wasabi. Cậu đặt tên cho nó là Dick Turpin (*) , với niềm hy vọng rằng sẽ có ngày ai đó hỏi cậu lý do.
Phải là một nhà sử học cực kỳ chính xác thì mới có thể chỉ ra cái ngày mà người Nhật biến từ những người máy xảo quyệt chỉ biết bắt chước mọi thứ của phương Tây để trở thành các kỹ sư tài tình và lành nghề, có thể bắt phương Tây hít bụi. Nhưng chiếc Wasabi đã được thiết kế vào chính cái ngày bối rối ấy, và nó kết hợp các điểm xấu thường thấy ở xe của phương Tây cùng với một loạt các sáng kiến thảm họa mà nhờ tránh xa chúng, các công ty như Honda và Toyota mới được như ngày hôm nay.
Thực ra Newt chưa bao giờ thấy một chiếc thứ hai trên đường, mặc dù đã rất cố gắng. Suốt nhiều năm, và dù chẳng tin cho lắm, cậu đã tán dương sự hiệu quả và tiết kiệm của nó với bạn bè mình, trong niềm mong mỏi tuyệt vọng rằng một trong số họ sẽ mua một chiếc, vì kẻ khốn khổ luôn muốn có đồng bạn.
Một cách vô ích, cậu chỉ ra động cơ 823cc của nó, hộp số có ba tốc độ của nó, các thiết bị an toàn khó tin của nó như là những túi khí thường phồng lên vào những lúc nguy hiểm như khi ta đang đi với tốc độ 75 km/h trên một con đường khô ráo thẳng thớm nhưng lại sắp bị đâm vì một túi khí an toàn khổng lồ vừa chắn mất tầm nhìn. Cậu cũng hết lời ca ngợi cái đài chế tạo ở Triều Tiên, có thể bắt được Đài Phát thanh Bình Nhưỡng rất rõ, và giọng nói điện tử nhắc ta phải cài dây an toàn ngay cả khi ta đã cài rồi; nó đã được lập trình bởi một người không những không biết tiếng Anh mà còn không biết cả tiếng Nhật nữa. Nó là đỉnh cao của nghệ thuật đấy, cậu nói vậy.
Nghệ thuật ở đây có lẽ là nghề làm gốm.
Bạn bè cậu đã gật gù đồng tình, nhưng trong thâm tâm họ tự nhủ là nếu phải chọn giữa mua một chiếc Wasabi và đi bộ thì họ thà bỏ tiền mua một đôi giày; đằng nào cũng thế, vì một lý do chiếc Wasabi có chỉ số tiêu hao nhiên liệu tuyệt vời như vậy là do nó dành rất nhiều thời gian chờ đợi trong các gara khi tay quay và các linh kiện khác được gửi đến từ đại lý Wasabi duy nhất còn tồn tại ở Nigirizushi, Nhật Bản.
Trong cái trạng thái xuất thần lơ đễnh, mơ màng mà phần lớn mọi người thường chìm vào khi lái xe, Newt tự hỏi không biết cái đinh ghim chính xác được dùng như thế nào. Có phải nói, “Ta có đinh ghim và ta không ngại dùng nó đâu” không? Có đinh ghim, sẽ lên đường... Người Đấu Ghim... Người có chiếc ghim vàng... Những chiếc ghim của Navarone (*) ...
Newt có lẽ sẽ thấy hứng thú khi biết rằng, trong số ba mươi chín ngàn phụ nữ bị thử bằng đinh ghim trong suốt bao nhiêu thế kỷ săn phù thủy, hai mươi chín ngàn người đã kêu “ui da”, chín ngàn chín trăm chín mươi chín người không cảm thấy gì do loại ghim rút vào được đã nói ở trên, và một phù thủy tuyên bố rằng kỳ diệu thay, nó đã chữa khỏi bệnh viêm khớp ở chân bà.
Tên bà là Agnes Nutter.
Bà là thất bại lớn nhất của Đội quân Săn Phù thủy.
Một trong những mục đầu tiên của Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác nói về cái chết của chính Agnes Nutter.
Người Anh nhìn chung là một dân tộc dốt nát và lười biếng, không khoái việc thiêu sống phụ nữ như các nước châu Âu khác. Ở Đức, các đống lửa được xếp và đốt với sự tỉ mỉ thường thấy của dân Giéc manh. Ngay cả những người Scotland sùng đạo, mắc kẹt trong cuộc chiến suốt chiều dài lịch sử với kẻ tử thù là những người Scotland khác, cũng xoay xở được vài vụ thiêu sống để giết thời gian trong những tối mùa đông dài dằng dặc. Nhưng người Anh dường như chẳng hứng thú gì với việc đó.
Một lý do cho chuyện này có lẽ là vì cái chết của Agnes Nutter, cái chết đã gần như chấm dứt thời kỳ săn phù thủy điên cuồng thực sự ở Anh. Một đám đông gào thét, điên cuồng cực độ vì bà có cái thói cứ tỏ ra thông thái và chữa bệnh cho mọi người, đã kéo đến nhà bà vào một tối tháng Tư và thấy bà đã mặc áo khoác ngồi đợi sẵn.
“Các người đến muộn rồi,” bà bảo họ. “Lễ ra ta phải cháy từ mười phút trước rồi.”
Rồi bà đứng dậy và chậm rãi bước tập tễnh qua đám người bỗng dưng im bặt, ra khỏi nhà để đến chỗ đống lửa đã được nhóm vội vàng trên bãi cỏ giữa làng. Truyền thuyết kể lại rằng bà loay hoay trèo lên giàn thiêu và vòng tay quanh cái cột sau lưng.
“Buộc cho chắc vào,” bà nói với tay lính săn phù thủy đang ngỡ ngàng. Và rồi, khi đám dân làng rón rén đến bên giàn thiêu, bà ngước mái đầu đẹp đẽ lên trong ánh lửa và nói, “Lại gần đây, hỡi người dân tử tế. Hãy lại gần đến khi lửa làm các người thấy nóng, vì ta bắt các người phải chứng kiến phù thủy cuối cùng của nước Anh đã chết như thế nào. Vì ta đúng là phù thủy, và ta đã được phán xét như vậy, nhưng ta vẫn không biết ta đã phạm tội gì. Vì vậy, hãy để cái chết của ta làm lời cảnh báo tới toàn thế gian. Hãy lại gần đây, ta đã bảo rồi, và hãy nhớ kỹ số phận của những kẻ chọc mũi vào chuyện chúng không hiểu.”
Và hình như sau đó bà còn mỉm cười rồi nhìn lên bầu trời trên làng và nói thêm, “Cả lão cũng vậy, lão già ngớ ngẩn ạ.”
Và sau lời báng bổ kỳ lạ đó bà không nói gì nữa. Bà để họ bịt miệng mình, và đứng đầy oai nghiêm khi ngọn đuốc được châm vào đống củi khô.
Đám đông kéo lại gần hơn, và giờ khi thực sự nghĩ về nó, một hai người trong số đó đã bắt đầu băn khoăn không hiểu liệu họ có đang làm điều đúng đắn.
Ba mươi giây sau một vụ nổ quét sạch khu đất trống của làng, giết sạch mọi sinh vật sống trong thung lũng, và ở tận Halifax cũng còn trông thấy.
Sau này đã có nhiều cuộc tranh luận xem vụ nổ là do Chúa Trời hay quỷ Satan gửi đến, nhưng một tờ giấy tìm thấy trong nhà của Agnes Nutter đã giải thích rằng bất kỳ sự can thiệp thần thánh hay ma quỷ nào thì cũng đã được trợ giúp rất nhiều bởi những thứ có sẵn trong váy lót của Agnes, bà đã thấy trước mà giấu vào đó gần bốn mươi cân thuốc súng và hai mươi cân đinh lợp mái nhà.
Agnes cũng để lại trên bàn bếp, bên cạnh tờ giấy nhắn hủy đơn mua sữa, một cái hộp và một cuốn sách. Có hướng dẫn cụ thể về việc phải làm gì với cái hộp, và hướng dẫn cũng cụ thể không kém về việc phải làm gì với cuốn sách; nó phải được gửi đến cho con trai của Agnes là John Device.
Những người tìm thấy nó - người làng bên, đã bị vụ nổ đánh thức - đã định bỏ qua các hướng dẫn này và đốt trụi luôn căn nhà, nhưng rồi họ nhìn những đống lửa còn bập bùng cùng những đống đổ nát đầy đinh chung quanh và quyết định sẽ không làm vậy. Hơn nữa, mẩu thư của Agnes cũng kèm theo cả những tiên đoán cụ thể đến ghê người về chuyện sẽ xảy ra với những kẻ không chịu làm theo mệnh lệnh của bà.
Người châm đuốc thiêu Agnes Nutter là một Thiếu tá Săn Phù thủy. Người ta tìm thấy mũ của ông ta trên một ngọn cây cách đó hơn ba cây số.
Tên ông ta được thêu bên trong mũ trên một dải băng khá rộng, là Ngươi-Không-Được-Ngoại-Tình Pulsifer, một trong những lính săn phù thủy chuyên cần nhất nước Anh, và có lẽ ông ta sẽ có chút đắc thắng khi biết hậu duệ cuối cùng của mình đang tiến về phía hậu duệ cuối cùng của Agnes Nutter, dù không hay biết. Hẳn ông ta sẽ cảm thấy mối thù truyền kiếp cuối cùng sẽ được trả.
Nếu ông ta biết chuyện gì sẽ xảy ra khi hai hậu duệ gặp nhau thì chắc ông ta sẽ đội mồ sống dậy mất, mỗi tội ông ta chẳng có mồ mả gì.
◇ ❖ ◇
Tuy nhiên, trước tiên Newt phải làm gì đó với cái đĩa bay đã.
Nó hạ cánh trước mặt cậu đúng lúc cậu đang tìm lối rẽ vào làng Tadfield Hạ và đang trải tấm bản đồ lên vô lăng. Cậu phải phanh gấp.
Nhìn nó giống hệt mọi bức tranh hoạt họa vẽ đĩa bay mà Newt đã từng thấy.
Khi cậu trố mắt nhìn qua bên trên tấm bản đồ, một cánh cửa trên đĩa bay trượt mở ra với một tiếng vút nghe sướng tai, và một cầu thang lấp lánh tự động hạ xuống mặt đường. Một luồng sáng xanh rực chiếu ra, làm nổi bật ba hình sinh vật ngoài hành tinh. Họ bước xuống cầu thang. Hay đúng ra là chỉ có hai sinh vật bước đi. Sinh vật thứ ba, nhìn như lọ tiêu, chỉ trượt xuống rồi ngã vật ra dưới chân cầu thang.
Hai sinh vật kia không để ý đến tiếng bíp bíp hốt hoảng của đồng bọn mà cứ thế chậm rãi đến bên chiếc xe, theo cung cách đã được chấp nhận của cảnh sát trên toàn thế giới, tức là vừa đi vừa lập sẵn bảng tội trạng trong đầu. Sinh vật cao nhất, một con cóc màu vàng quấn giấy nhôm, gõ lên cửa sổ của Newt. Cậu hạ cửa kính xuống. Sinh vật đó đeo một cặp kính râm tráng gương mà Newt luôn gọi là kính Luke Tay Lạnh (*) .
“Chào buổi sáng thưa anh, chị, hoặc trung tính,” sinh vật đó nói. “Đây là hành tinh của anh phải không?”
Sinh vật ngoài hành tinh kia, dáng thấp tròn và da xanh, đã đi vào khu rừng bên vệ đường. Qua khóe mắt, Newt thấy nó đá một cái cây, rồi cho một chiếc lá chạy qua một thiết bị phức tạp gì đó trên thắt lưng. Nó có vẻ không hài lòng cho lắm.
“Ờ, vâng. Tôi đoán vậy,” cậu đáp.
Con cóc trầm ngâm nhìn đường chân trời.
“Đã có lâu rồi, phải không?” nó hỏi.
“Ờ. Cá nhân tôi thì không. Ý tôi là, nếu tính cả loài người thì chắc là độ nửa triệu năm. Khoảng vậy.”
Sinh vật ngoài hành tinh liếc mắt với đồng sự của nó. “Đã để mưa axit tăng dần, phải không?” nó nói. “Đã để kệ cho hydrocarbon tràn lan, phải không?”
“Sao cơ?”
“Anh có thể cho tôi biết suất phản chiếu của hành tinh anh không?” con cóc hỏi, vẫn bình thản nhìn đường chân trời như thể ở đó đang có chuyện gì thú vị lắm.
“Ờ. Không.”
“Thế thì tôi rất tiếc phải cho anh biết, thưa anh, rằng băng ở hai đầu cực của anh có kích thước thấp hơn mức quy định của một hành tinh thuộc nhóm này, thưa anh.”
“Ôi trời,” Newt nói. Cậu đang tự hỏi mình có thể kể cho ai nghe chuyện này, và nhận ra sẽ chẳng có ai tin cậu.
Con cóc cúi xuống gần hơn. Dường như nó đang băn khoăn về chuyện gì đó, Nếu Newt có thể đánh giá biểu cảm của một sinh vật ngoài hành tinh cậu chưa gặp bao giờ.
“Lần này chúng tôi sẽ cho qua, thưa anh.”
Newt lắp bắp. “Ồ. À. Tôi sẽ lo liệu... ờ, khi tôi nói là tôi, thì ý tôi là, tôi nghĩ Bắc Cực và mấy chỗ đó thuộc về tất cả các quốc gia, hoặc đại loại thế, và...”
“Thực tế là, thưa anh, chúng tôi được yêu cầu đem đến cho các anh một tin nhắn.”
“Vậy ư?”
“Tin nhắn là, ‘Chúng tôi đem đến thông điệp về sự hòa hợp và thái bình trên toàn vũ trụ và đại loại thế.’ Kết thúc tin nhắn,” con cóc nói.
“À.” Newt ngẫm nghĩ về thông điệp đó. “À. Các vị tử tế quá.”
“Anh có biết tại sao chúng tôi lại được yêu cầu đem tin nhắn này đến cho các anh không, thưa anh?” con cóc hỏi.
Nét mặt Newt tươi tỉnh lên. “À, ờ, tôi đoán là,” cậu luống cuống, “vì Nhân loại đã khai thác nguyên tử và...”
“Chúng tôi cũng không biết, thưa anh.” Con cóc vươn người thẳng dậy. “Chắc là một hiện tượng kỳ lạ gì đó. Thôi, chúng tôi phải đi đây.” Nó lắc đầu vẻ mơ hồ, rồi quay đi và lạch bạch trở về đĩa bay mà không nói thêm một lời.
Newt thò đầu qua cửa sổ.
“Cảm ơn nhé!”
Sinh vật ngoài hành tinh nhỏ hơn đi qua chiếc xe.
“Mức CO 2 tăng 0.5 phần trăm,” nó nói giọng khàn khàn, ném cho cậu một cái nhìn đầy ẩn ý. “Anh biết là mình có thể bị buộc tội là loài thống trị trong khi bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa tiêu dùng bốc đồng chứ?”
Chúng nhấc sinh vật ngoài hành tinh thứ ba dậy, kéo nó lên cầu thang, và đóng cửa lại.
Newt đợi một lát xem còn màn trình diễn ánh sáng hoành tráng nào nữa không, nhưng cái đĩa bay cứ đứng đó. Cuối cùng cậu lái xe lên vệ cỏ để đi vòng qua nó. Khi cậu nhìn lại gương chiếu hậu thì nó đã biến mất.
Chắc mình đã làm quá lên cái gì đó rồi, cậu ngẫm nghĩ vẻ tội lỗi. Nhưng là cái gì chứ?
Mà mình còn không thể kể với Shadwell được, chắc chắn ông ấy sẽ chửi mình vì cái tội không đếm núm vú của chúng.
“Mà này,” Adam nói, “bọn mày đã nhầm về phù thủy rồi.”
Bọn Chúng đang ngồi trên một cánh cổng ngoài đồng, nhìn Chó lăn lộn giữa đám phân bò. Con chó lai nhỏ bé có vẻ đang hết sức vui thích.
“Tao đã đọc về họ,” thằng bé nói, cao giọng hơn. “Thật ra họ mới là người đúng và tra tấn họ bằng Tòa án Dị giáo Anh quốc và các thứ như thế là sai.”
“Mẹ tao bảo họ chỉ là những phụ nữ thông minh dùng phương cách duy nhất khả dĩ với họ để chống lại sự bất công áp bức của một xã hội do nam giới làm chủ,” Pepper nói.
Mẹ Pepper là giảng viên ở trường Bách khoa Norton. (*)
“Ừ, nhưng mẹ mày lúc nào chả nói những câu như thế,” lát sau Adam nói.
Pepper vui vẻ gật đầu. “Và mẹ tao còn bảo, tệ nhất thì họ cũng chỉ là những người tư tưởng độc lập, sùng bái quy luật phát sinh vô tận.”
“Quy luật phàn sinh là ai?” Wensleydale hỏi.
“Chịu. Tao nghĩ là có liên quan gì đó đến cây nêu tháng Năm thì phải,” Pepper đoán mò.
“Ờ, tao lại tưởng là họ thờ quỷ sứ chứ,” Brian nói, nhưng không có vẻ kết tội. Bọn Chúng suy nghĩ rất thoáng về chuyện thờ quỷ. Bọn Chúng suy nghĩ rất thoáng về tất cả mọi thứ. “Dù sao thì quỷ sứ cũng hay hơn là cây nêu tháng Năm ngớ ngẩn.”
“Chúng mày nhầm ở chính chỗ đó đấy,” Adam nói. “Không phải quỷ sứ đâu. Mà là một vị thần khác hay gì gì đấy. Có sừng.”
“Quỷ sứ chứ còn gì,” Brian nói.
“Không phải,” Adam kiên nhẫn nói. “Mọi người nhầm họ với nhau. Vị thần đó cũng có sừng. Tên ông ta là Pan. Ông ta có một nửa là dê.”
“Nửa nào?” Wensleydale hỏi.
Adam ngẫm nghĩ một lát.
“Nửa dưới,” cuối cùng nó đáp. “Thế mà mày không biết. Tao tưởng ai cũng biết cái đó chứ.”
“Dê làm gì có nửa dưới,” Wensleydale nói. “Chúng có nửa trước và nửa sau. Như bò ấy.”
Chúng ngắm Chó thêm một lát nữa, gõ gót giày vào cổng. Trời nóng đến mụ cả đầu.
Rồi Pepper nói, “Nếu ông ta có chân dê thì làm sao có sừng được. Sừng thuộc về nửa trên cơ mà.”
“Có phải tao bịa ra đâu?” Adam bực mình nói. “Tao chỉ kể cho bọn mày nghe thôi. Thế mà bọn mày cứ làm như tao bịa ra ông ta ấy. Sao cứ phải vặn vẹo tao làm gì.”
“Dù sao thì,” Pepper nói. “Cái ông Nồi (*) ngớ ngẩn ấy không thể than phiền là mọi người cứ nhầm mình với quỷ sứ được. Ai bảo ông ta có sừng. Chắc chắn người ta sẽ nói, ôi, quỷ sứ đến kìa.”
Chó bắt đầu đào một cái hang thỏ.
Adam, dường như đang suy nghĩ gì đó lung lắm, hít một hơi thật sâu.
“Bọn mày đừng có nghĩ tất cả theo nghĩa đen như thế,” nó nói. “Vấn đề ngày nay là thế đấy. Chủ nghĩa vật chất. Chính những người như bọn mày đã chặt phá rừng nguyên sinh và làm thủng tầng ozone. Ở tầng ozone có một cái lỗ to tướng chỉ vì những người chủ nghĩa vật chất như bọn mày.”
“Tao thì làm gì được,” Brian nói ngay. “Tao vẫn còn đang trả tiền cho cái giàn dưa chuột ngớ ngẩn kia kìa.”
“Trong tạp chí có nói hết,” Adam nói. “Phải mất hàng triệu héc ta rừng mưa mới làm ra được một cái burger thịt bò. Và ozone thì đang rò đi hết vì...” nó ngần ngừ, “mọi người cứ phun thuốc ra môi trường.”
“Còn cả bọn cá voi nữa,” Wensleydale nói. “Mình phải cứu lấy chúng.”
Adam đờ mặt ra. Trong lúc lục lọi các số cũ của tạp chí Bảo Bình mới, nó không thấy nói gì đến cá voi cả. Các biên tập viên đã mặc định là độc giả hoàn toàn ủng hộ việc cứu cá voi, cũng như họ mặc định các độc giả đó hít thở khí trời và đi bằng hai chân.
“Có một chương trình về chúng,” Wensleydale giải thích.
“Sao phải giữ gìn chúng?” Adam hỏi. Nó bối rối tưởng tượng ra việc dành dụm cá voi cho đến khi có đủ để đổi lấy một cái huy hiệu.
Wensleydale ngừng lời và moi óc cố nhớ. “Vì chúng biết hát. Và chúng có não rất to. Chúng chỉ còn lại rất ít. Và con người cũng chẳng cần giết chúng làm gì vì thịt chúng chỉ để làm thức ăn cho vật nuôi thôi, đại loại thế.”
“Nếu chúng thông minh thế,” Brian chậm rãi nói, “thì sao chúng lại ở ngoài biển?”
“Ờ, tao thấy có sao đâu,” Adam nói vẻ trầm ngâm. “Bơi suốt ngày, chỉ việc há miệng ra ăn... nghe có vẻ thông minh đấy chứ...”
Một tiếng phanh két và tiếng loảng xoảng kéo dài cắt ngang lời nó. Cả bọn trèo xuống khỏi cánh cổng và chạy lên lối mòn dẫn ra ngã tư, nơi một tiếng xe nhỏ đang nằm chổng ngược ở cuối một vệt phanh dài.
Cách đó một quãng dưới con đường là một cái hố. Hình như chiếc xe đã quẹo tránh nó. Khi chúng nhìn cái hố, một cái đầu nhỏ trông giống của dân phương Đông vội tụt xuống.
Bọn Chúng kéo cửa xe và lôi Newt đã bất tỉnh ra. Adam tưởng tượng ra các thể loại huy chương can đảm giải cứu người bị nạn. Đầu Wensleydale thì lại đầy những suy nghĩ thiết thực về sơ cứu.
“Không nên di chuyển anh ấy,” nó nói. “Lỡ có xương gãy. Bọn mình phải đi gọi ai đó.”
Adam nhìn quanh. Có một mái nhà thấp thoáng giữa tán cây phía cuối đường. Là Nhà Hoa Nhài.
Và trong Nhà Hoa Nhài, Anathema Device đang ngồi trước cái bàn có bông băng, thuốc aspirin, và nhiều dụng cụ cấp cứu khác mà cô đã xếp sẵn từ một giờ trước.
Anathema đã để ý đồng hồ. Chàng sắp đến rồi, cô thầm nghĩ.
Và rồi, khi chàng đến, thì chàng lại không giống như người cô chờ đợi. Hay đúng hơn, chàng không giống người cô đã hy vọng.
Một cách ngượng nghịu, cô đã hy vọng đó sẽ là một chàng trai cao lớn, tóc đen, đẹp trai.
Newt cao thật, nhưng cao theo kiểu dài ngoẵng, lêu nghêu. Và mặc dù tóc cậu đen thật, nó không phải là một phụ kiện thời trang; nó chỉ là một mớ những sợi đen mảnh mọc cùng nhau trên đỉnh đầu cậu. Đó không phải lỗi của Newt; hồi bé, cứ vài tháng một lần, cậu lại đến hiệu cắt tóc ở góc phố, nắm chặt một bức ảnh mà cậu đã cẩn thận xé ra từ một cuốn tạp chí, trên đó là một người có kiểu tóc cực ngầu đang toét miệng cười với máy ảnh, và cậu chỉ bức ảnh cho ông thợ cắt tóc rồi nhờ ông ta làm ơn biến cậu thành như thế. Và ông thợ cắt tóc, vốn đã quen việc, chỉ nhìn một cái rồi cho Newt kiểu đầu cơ bản, đa năng, ngắn-phía-sau-và-hai-bên. Sau một năm như vậy, Newt nhận ra rõ ràng là mặt cậu chả hợp với kiểu tóc nào cả. Điều tử tế nhất mà Newton Pulsifer có thể hy vọng sau khi cắt tóc là mái tóc ngắn hơn.
Với đồ vét cũng vậy. Chưa ai phát minh ra loại quần áo nào có thể khiến cậu có vẻ bảnh bao, sành điệu và thoải mái. Giờ cậu đành hài lòng với bất kỳ thứ gì có thể che mưa và có chỗ cho cậu cất tiền lẻ.
Và cậu không đẹp trai. Ngay cả khi cậu bỏ kính ra. (*) Và, cô đã phát hiện ra khi cởi giày cậu để đặt cậu lên giường, là cậu đi tất cọc cạch: một chiếc màu xanh thủng gót, và một chiếc màu xám thủng ngón.
Mình đoán là mình phải cảm thấy một cảm xúc dịu dàng, ấm áp gì-gì-đó về chuyện này, cô thầm nghĩ. Mình chỉ ước là anh ta đã giặt chúng.
Vậy... cao, tóc đen, nhưng không đẹp trai. Cô nhún vai. Cũng được. Hai trên ba cũng không tệ lắm.
Dáng người trên giường bắt đầu cựa quậy, và Anathema, vốn luôn nhìn về tương lai, liền nén nỗi thất vọng và nói:
“Anh cảm thấy thế nào rồi?”
Newt mở mắt ra.
Cậu đang nằm trong một phòng ngủ. và không phải phòng cậu. Cậu biết ngay vì cái trần. Trần phòng cậu vẫn còn mô hình máy bay treo trên dây. Cậu chưa bao giờ hạ chúng xuống.
Trần phòng này chỉ là lớp vữa nứt rạn. Newt chưa bao giờ vào buồng phụ nữ, nhưng cậu cảm nhận được đây là buồng phụ nữ vì có một loạt các mùi êm dịu kết hợp với nhau. Có một thoáng mùi bột tan cùng mùi hoa huệ, và không hề có chút hôi hám nào của những cái áo phông cũ đã quên mất cảnh tượng bên trong một cái máy sấy.
Cậu cố ngẩng đầu dậy, rên lên một tiếng, rồi lại gục xuống gối. Gối màu hồng, cậu không thể không nhận ra.
“Anh đã đập đầu vào vô lăng,” giọng nói vừa đánh thức cậu lên tiếng. “Nhưng may mà không sao. Đã xảy ra chuyện gì vậy?”
Newt lại mở mắt ra.
“Xe ổn chứ?” cậu hỏi.
“Chắc vậy. Có một giọng léo nhéo cứ nói ‘Nàm ơn cày rây an tòn’.”
“Thấy chưa?” Newt nói với đám khán giả vô hình. “Ngày xưa họ mới chế tạo được những thứ như thế chứ. Lớp vỏ nhựa gần như không hề hấn gì.”
Cậu chớp mắt nhìn Anathema.
“Tôi đánh tay lái để tránh một người Tây Tạng trên đường,” cậu nói. “Ít ra thì tôi nghĩ vậy. Tôi nghĩ có lẽ tôi đã hóa điên.”
Dáng người kia bước vòng qua giường để tiến vào tầm mắt cậu. Dáng người có mái tóc đen, đôi môi đỏ, cặp mắt xanh lục, và gần như chắc chắn là nữ. Newt cố không nhìn chằm chằm. Dáng người nói, “Nếu anh có hóa điên thì cũng chẳng ai để ý đâu.” Rồi cô mỉm cười. “Anh có biết là tôi chưa bao giờ gặp một lính săn phù thủy không?”
“Ờ...” Newt mở miệng. Cô giơ cái ví đang mở của cậu lên.
“Tôi đã phải xem bên trong,” cô nói.
Newt thấy ngượng chín người, một tình cảnh chẳng lấy gì làm khác thường. Shadwell đã cho cậu một thẻ chứng nhận của lính săn phù thủy, trên đó, ngoài các thứ khác, còn yêu cầu các thầy tư tế, quan tòa, giám mục, và nhân viên tòa án cho cậu được tự do đi lại và tất cả số củi khô cậu yêu cầu. Nó cực kỳ ấn tượng, một tuyệt tác thư pháp, và có lẽ đã cổ lắm rồi. Cậu đã quên bẵng nó đi.
“Chỉ là thú tiêu khiến ngoài giờ thôi,” cậu khổ sở nói. “Thật ra tôi là... là...” cậu sẽ không nói mình là nhân viên phát lương, không phải ở đây, không phải bây giờ, không phải với một cô gái như thế này, “Kỹ sư tin học,” cậu nói dối. Muốn trở thành, muốn trở thành; trong thâm tâm tôi là kỹ sư tin học thật mà, chỉ là đầu óc tôi không được như ý thôi. “Xin phép, cho tôi hỏi...”
“Anathema Device,” Anathema đáp. “Tôi là nhà huyền học, nhưng đó chỉ là thú tiêu khiển ngoài giờ thôi. Thật ra tôi là phù thủy. Anh khá lắm. Anh muộn nửa tiếng,” cô nói thêm, trao cho cậu một tấm bìa cứng nhỏ, “nên tốt nhất là anh nên đọc cái này. Cho đỡ mất thời gian.”
◇ ❖ ◇
Quả thực Newt cũng có một cái máy tính nhỏ ở nhà, bất chấp những trải nghiệm thời thơ ấu của cậu. Thật ra, cậu có đến vài cái. Ta luôn biết cái nào là máy tính của cậu. chúng là phiên bản máy tính của chiếc Wasabi. Ví dụ, chúng là những cái máy tính thường giảm giá còn một nửa ngay sau khi cậu mua. Hoặc được ra mắt trong một chiến dịch quảng cáo rầm rộ rồi biến mất không tăm tích sau một năm. Hoặc chỉ hoạt động được nếu ta bỏ chúng vào tủ lạnh. Hoặc, nếu nhờ ăn may mà chúng là máy tính tốt, thì Newt luôn vớ phải những cái được bán cùng hệ điều hành phiên bản đầu chứa đầy lỗi. Nhưng cậu vẫn bền chí, bởi vì cậu tin.
Adam cũng có một cái máy tính nhỏ. Thằng bé dùng nó để chơi trò chơi, nhưng chẳng bao giờ được lâu. Nó sẽ mở một trò chơi, chăm chú quan sát vài phút, rồi chơi cho đến khi ô Điểm Cao hết cả số không.
Khi những đứa Bọn Chúng khác tò mò về khả năng kỳ lạ này, Adam tỏ ra hơi ngạc nhiên là không phải ai cũng chơi như thế.
“Bọn mày chỉ việc học cách chơi, sau đó dễ ợt mà,” nó nói.
Newt thót tim khi thấy phòng trước của Nhà Hoa Nhài bị chiếm kha khá bởi hàng chồng báo. Các mẩu báo được cắt ra và đính lên tường. Một số có những phần được khoanh bằng mực đỏ. Cậu hơi hài lòng nhận ra trong số đó có cả vài mẩu tin cậu đã cắt ra cho Shadwell.
Anathema hầu như không có đồ đạc gì mấy. Thứ duy nhất cô bỏ công đem theo là cái đồng hồ, một trong những vật gia truyền của gia đình. Nó không phải là đồng hồ tủ, mà là một cái đồng hồ treo tường với quả lắc đu đưa qua lại mà hẳn là E. A. Poe sẽ rất thích thú được trói ai đó vào bên dưới. (*)
Mắt Newt cứ bị hút về phía đó.
“Một ông tổ của tôi đã làm nó đấy,” Anathema nói, đặt các tách uống cà phê xuống bàn. “Ngài Joshua Device. Chắc anh đã nghe nói đến ông ấy? Ông đã phát minh ra thứ lắc lư nho nhỏ để giúp chế tạo đồng hồ chính xác mà rẻ tiền hơn ấy mà? Họ đã đặt tên nó theo tên ông.”
“Cái Joshua ấy à?” Newt dè dặt hỏi.
“Cái thiết bị.” (*)
Trong nửa giờ đồng hồ qua, Newt đã được nghe nhiều chuyện rất khó tin và đã gần tin, nhưng cũng phải có giới hạn thôi chứ.
“Từ thiết bị được đặt theo tên một người thật sao?” cậu hỏi.
“Đúng thế. Một cái họ rất lâu đời ở Lancashire. Nguồn gốc từ Pháp, tôi nghĩ vậy. Chắc anh sắp sửa nói anh chưa bao giờ nghe nói đến Ngài Humphrey Dụng Cụ...”
“Ồ, thôi đi...”
“... người đã phát minh ra một dụng cụ để bơm nước ra khỏi các hầm mỏ bị ngập. Hoặc Pietr Phụ Tùng? Hoặc Cyrus T. Linh Kiện, nhà phát minh da màu tài ba nhất của Mỹ? Thomas Edison thường nói chỉ có hai nhà khoa học thực nghiệm đương thời mà ông khâm phục, đó là Cyrus T. Linh Kiện và Ella Reader Vật Dụng. Và còn...”
Cô nhìn khuôn mặt đờ đẫn của Newt.
“Tôi đã làm luận văn tiến sĩ về họ,” cô nói. “Những người phát minh ra những thứ đơn giản và đa năng đến mức mọi người quên mất là đã từng có lúc chúng cần phải được phát minh. Anh dùng đường chứ?”
“Ờ...”
“Bình thường anh uống hai viên,” Anathema ngọt ngào nói.
Newt trố mắt nhìn tấm thẻ cô đã đưa cho.
Hình như cô nghĩ nó sẽ giải thích được mọi chuyện.
Không hề.
Tấm thẻ có một đường kẻ ở chính giữa. Ở bên trái là mấy dòng ngăn ngắn nhìn như bài thơ, viết bằng mực đen. Ở bên phải viết bằng mực đỏ, là các nhận xét và ghi chú. Nhìn nó như sau:
3819: Khi cỗ chiến xa phương Đông xoay ngược, bốn bánh trên trời, một chàng trai bị thâm tím sẽ có mặt trên Giường của Con, đầu đau nhức đòi vỏ liễu, một chàng trai cầm ghim thử nghiệm nhưng có trái tim trong sạch, nhưng lại là mầm mống để hủy diệt ta, hãy lấy đi cái đánh lửa của cậu ta cho chắc, hai con sẽ ở bên nhau, cho tới khi Tàn Cuộc.
Xe Nhật Bản? Bị lật.
Xe hỏng... không bị thương nặng???
... đưa vào nhà...
...vỏ liễu = Aspirin
(tk. 3757 Ghim = Lính Săn Phù thủy (tk. 102) Lính Săn Phù thủy tốt?? Nhắc đến Pulsifer (tk. 002) Xem có diêm không, v.v. Vào thập niên 1990! Hừm
... chưa đầy một ngày
(tk. 712, 3803, 4004)
Tay Newt tự động sờ vào túi áo. Cái bật lửa của cậu đã không còn.
“Cái này nghĩa là gì?” cậu nói giọng khàn đặc.
“Anh đã bao giờ nghe nói đến Agnes Nutter chưa?” Anathema hỏi.
“Chưa,” Newt nói, cố tỏ vẻ châm chọc như một nỗ lực tự vệ tuyệt vọng. “Chắc cô sẽ bảo tôi là bà phát minh ra người điên chứ gì.” (*)
“Cũng là một tên họ lâu đời nữa ở Lancashire,” Anathema lạnh lùng nói. “Nếu anh không tin thì đi tra cứu các vụ xử án phù thủy đầu thế kỷ mười bảy ấy. Bà là bà tổ của tôi. Thật ra, một ông tổ của anh đã thiêu sống bà. Hay tìm cách thiêu sống.”
Newt lắng nghe câu chuyện về cái chết của Agnes Nutter với vẻ kinh hoàng mê mệt.
“Ngươi-Không-Được-Ngoại-Tình Pulsifer ấy à?” cậu hỏi, sau khi cô kể xong.
“Thời đó những cái tên như thế rất phổ biến,” Anathema nói. “Hình như có đến mười đứa con và gia đình họ rất sùng đạo. Có Tham-Lam Pulsifer, Nhân-Chứng-Giả Pulsifer...”
“Tôi nghĩ là tôi hiểu rồi,” Newt nói. “Trời. Tôi nhớ là Shadwell có nói ông ấy đã thấy cái tên đó ở đâu rồi. Chắc là trong sổ sách của Đội quân. Tôi đoán nếu bị đặt tên là Ngoại-Tình Pulsifer thì tôi cũng muốn làm tổn thương càng nhiều người càng tốt.”
“Tôi nghĩ chẳng qua ông ta không ưa phụ nữ thôi.”
“Cảm ơn cô có nhã ý,” Newt nói. “Ý tôi là, chắc ông ta là ông tổ của tôi. Không có nhiều người mang họ Pulsifer lắm. Có lẽ... vì thế mà tôi mới gặp được Đội quân Săn Phù thủy chăng? Có thể là Định Mệnh,” cậu khấp khởi nói.
Cô lắc đầu. “Không,” cô nói. “Không có gì là định mệnh hết.”
“Mà săn phù thủy ngày nay cũng không như trước kia nữa. Tôi nghĩ Shadwell chưa làm được gì hơn là đá đổ thùng rác của Doris Stokes (*) đâu.”
“Nói riêng giữa tôi với anh nhé, Agnes khá là khó nhằn,” Anathema nói chung chung. “Bà không biết chừng mực là gì đâu.”
Newt vẫy tấm thẻ.
“Nhưng chuyện đó thì liên quan gì đến cái này?”
“Bà đã viết nó. Viết cuốn nguyên bản ấy. Đây là lời tiên tri số 3819 trong Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác của Agnes Nutter, xuất bản lần đầu năm 1655.”
Newt trố mắt nhìn lời tiên tri. Miệng cậu há ra rồi ngậm vào.
“Bà ấy biết tôi sẽ bị đâm xe ư?” cậu hỏi.
“Đúng. Không. Có lẽ là không. Khó nói lắm. Anh thấy đấy, Agnes là nhà tiên tri tệ nhất trên đời. Vì bà luôn đúng. Chính vì thế mà cuốn sách mới không bán được.”
Phần lớn năng lực tâm linh đều có nguồn gốc từ sự thiếu khả năng phân biệt quá khứ hiện tại tương lai, và tâm trí Agnes Nutter trôi dạt trong dòng Thời gian đến nỗi bà được coi là khá điên, ngay cả theo tiêu chuẩn của Lancashire vào thế kỷ mười bảy, khi mà các nữ tiên tri điên là một ngành lớn mạnh.
Nhưng nghe bà nói rất thú, ai cũng đồng ý như vậy.
Bà thường đi chữa bệnh cho mọi người bằng một loại nấm mốc, và khuyên mọi người phải rửa tay thật kỹ để những con vật nhỏ xíu gây bệnh bị trôi đi, trong khi ai nấy đều biết mùi hôi nồng nặc là cách duy nhất để tự vệ trước những con quỷ bệnh tật. Bà cũng ủng hộ một kiểu chạy nhẹ nhàng nhún nhảy để giúp sống lâu hơn, một quan điểm cực kỳ đáng nghi và là lý do đầu tiên khiến đám Săn Phù thủy chú ý đến bà, và nhấn mạnh tầm quan trọng của chất xơ trong chế độ ăn uống, mặc dù trong việc này thì rõ ràng là bà đã đi trước thời đại xa quá vì hồi ấy phần lớn mọi người để ý đến sỏi trong thức ăn còn nhiều hơn là chất xơ. Và bà không chịu chữa mụn cóc.
“Tất cả chỉ ở trong đầu anh thôi,” bà thường nói, “quên nó đi là nó sẽ tự khỏi.”
Rõ ràng là Agnes có thể nhìn thấy Tương lai, nhưng nó là một cái nhìn hẹp và cụ thể đến khác thường. Nói cách khác là nó gần như hoàn toàn vô dụng.
◇ ❖ ◇
“Ý cô là sao?” Newt hỏi.
“Bà có những lời tiên tri mà ta chỉ có thể hiểu được sau khi chuyện đã rồi,” Anathema đáp. “Ví dụ như là ‘Đừng mua Betamacks.’ (*) Đó là lời tiên tri cho năm 1972.”
“Ý cô là bà đã tiên tri sự ra đời của đầu thu video sao?”
“Không! Bà chỉ nhặt được một mẩu thông tin đơn lẻ thôi,” Anathema nói. “Vấn đề là ở chỗ đó. Phần lớn thời gian bà nói đến những điều quanh co đến nỗi không ai hiểu nổi cho tới khi mọi việc đã qua, và khi đó tất cả mới trở nên sáng tỏ. Và bà không biết chuyện nào quan trọng, nên lúc được lúc không. Lời tiên tri của bà cho ngày 22 tháng Mười một năm 1963 là một ngôi nhà bị đổ ở làng King’s Lynn.”
“Thế thì?” Newt soạn ra một bộ mặt khó hiểu lịch sự.
“Đó là ngày Tổng thống Kennedy bị ám sát,” Anathema tử tế giải thích. “Nhưng thời đó chưa có Dallas, anh hiểu không. Trong khi King’s Lynn thì lại khá quan trọng.”
“À.”
“Nói chung bà rất giỏi với những lời tiên tri có liên quan đến con cháu mình.”
“Thế ư?”
“Và bà cũng không biết gì về động cơ đốt trong cả. Với bà, chúng chỉ là những cỗ xe kỳ cục thôi. Ngay cả mẹ tôi cũng tưởng lời tiên tri đó nói đến cỗ xe của một hoàng đế bị lật. Anh thấy đấy, chỉ biết tương lai là như thế nào thôi là chưa đủ. Ta phải biết nó có nghĩa là gì nữa. Agnes giống như một người đang nhìn một bức tranh khổng lồ qua một cái ống nhỏ xíu vậy. Bà viết lại những gì có vẻ như là lời khuyên tốt, dựa trên những gì bà hiểu được từ những hình ảnh thoáng qua rất nhỏ đó.”
“Đôi khi ta cũng gặp may,” Anathema nói tiếp. “Chẳng hạn như, cụ tôi đã hiểu được lời tiên tri về vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1929, hai ngày trước khi nó xảy ra. Kiếm được cả một gia tài. Anh có thể nói chúng tôi là hậu duệ chuyên nghiệp.”
Cô nhìn chằm chằm Newt. “Anh hiểu không, phải đến hai trăm năm trước, mọi người mới nhận ra Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác là một món đồ gia truyền như ý của Agnes. Rất nhiều lời tiên tri liên quan đến con cháu bà và số phận của họ. Đó là cách bà chăm lo cho chúng tôi sau khi bà ra đi. Chúng tôi nghĩ vì thế mới có lời tiên tri về King’s Lynn. Hôm ấy bố tôi đến thăm làng đó, nên theo cách nhìn của Agnes, ông khó có thể bị dính đạn lạc từ Dallas, nhưng rất có khả năng ông sẽ bị gạch rơi trúng đầu.”
“Thật là tử tế quá,” Newt nói. “Ta gần như có thể bỏ qua chuyện bà đã làm nổ tung cả một ngôi làng.”
Anathema lờ câu này đi. “Đại loại mọi chuyện là thế đấy,” cô nói. “Từ đó trở đi chúng tôi đã dành mọi công sức để diễn giải chúng. Trung bình cứ mỗi tháng có một lời tiên tri... thật ra bây giờ thì nhiều hơn rồi, khi chúng ta tiến gần hơn tới tận thế.”
“Và đó là khi nào?” Newt hỏi.
Anathema nhìn cái đồng hồ đầy ẩn ý.
Cậu cất một tiếng cười nhỏ đáng sợ mà cậu hy vọng là nghe có vẻ khôn ngoan lõi đời. Sau tất cả những sự việc đã trải qua cho tới giờ, cậu cảm thấy không được tỉnh táo lắm. Và cậu có thể ngửi thấy mùi nước hoa của Anathema, nó khiến cậu bối rối.
“May cho anh là tôi không cần đồng hồ đếm giờ đấy,” Anathema nói. “Chúng ta còn khoảng, ờ, năm, sáu tiếng nữa.”
Newt ngẫm nghĩ về điều này. Cả đời cậu chưa bao giờ muốn uống rượu, nhưng có gì đó mách bảo cậu rằng phải có lần đầu tiên.
“Phù thủy có đồ uống trong nhà không?” cậu ướm hỏi.
“Ồ, có.” Cô nở một nụ cười mà Agnes Nutter có lẽ cũng có khi giở ngăn kéo đựng đồ lót của bà ra. “Nước xanh lè nổi bọt với Các Thứ kỳ dị uốn éo trên bề mặt đông đặc. Anh chắc biết cái đó.”
“Cũng được. Có đá không?”
Hóa ra là rượu gin. Cũng có đá. Anathema, cũng có học qua môn pha chế của phù thủy, không tán thành việc uống rượu nói chung nhưng với bản thân cô thì lại thấy không vấn đề gì.
“Tôi đã kể cho cô nghe về người Tây Tạng chui ra từ một cái hố trên đường chưa nhỉ?” Newt hỏi, thư giãn hơn.
“Ồ, tôi biết họ rồi,” cô nói, xếp lại đống giấy trên bàn. “Có hai người chui lên từ bãi cỏ trước nhà hôm qua. Họ bối rối đến tội, nên tôi cho họ uống trà rồi sau đó họ mượn một cái xẻng, thế là họ lại chui xuống. Tôi nghĩ họ không biết phải làm gì.”
Newt thấy hơi lúng túng. “Sao cô biết họ là người Tây Tạng?” cậu hỏi.
“Nói thế thì cũng phải hỏi, sao anh biết? Ông ta có kêu ‘Ommm’ khi anh đụng phải ông ta không?”
“Ờ, ông ta... nhìn ông ta có vẻ Tây Tạng,” Newt nói. “Áo màu vàng, đầu trọc... cô biết đấy... người Tây Tạng ấy mà.”
“Một người tôi gặp nói tiếng Anh khá tốt. Hình như một phút trước anh ta còn đang sửa đài ở Lhasa, phút sau anh ta đã ở trong một đường hầm. Anh ta không biết phải về nhà bằng cách nào.”
“Nếu cô bảo anh ta đi ngược đường, có lẽ anh ta sẽ đi nhờ một cái đĩa bay được đấy,” Newt rầu rĩ nói.
“Có ba sinh vật ngoài hành tinh phải không? Một trong số đó là một robot nhỏ màu bạc?”
“Chúng cũng hạ cánh xuống bãi cỏ của cô à?”
“Theo như bản tin trên đài thì đó có vẻ là chỗ duy nhất chúng không hạ cánh xuống. Chúng hạ cánh xuống khắp nơi trên thế giới để truyền đi những lời nhàm tai về hòa bình vũ trụ, và khi mọi người hỏi ‘Ừ, thì sao?’ thì chúng đờ mặt ra và lại bay đi. Các dấu hiệu và điềm báo, đúng như Agnes nói.”
“Tôi đoán là cô sẽ bảo bà ấy cũng đã tiên tri hết những việc này chứ gì?”
Agnes lật giở một hộp thẻ thư mục đã cũ nát trước mặt.
“Tôi cứ định số hóa tất cả,” cô nói. “Để tìm kiếm bằng từ khóa và đại loại thế. Anh biết chứ? Sẽ đơn giản hơn nhiều. Những lời tiên tri được sắp đặt không có thứ tự gì cả, nhưng có các manh mối bằng chữ viết tay và các thứ tương tự.”
“Bà ấy viết bằng thẻ sao?” Newt hỏi.
“Không. Một cuốn sách. Nhưng tôi đã, ờ, để nó nhầm chỗ. Tất nhiên chúng tôi vẫn có các bản sao.”
“Đánh mất nó rồi chứ gì?” Newt hỏi, cố tạo chút hài hước.
“Dám cá là bà ấy không tiên tri được vụ này đâu!”
Anathema lườm cậu. Nếu chỉ nhìn thôi cũng có thể chết người thì Newt đã nằm trên bàn mổ xác rồi.
Rồi cô nói tiếp: “Nhưng trong nhiều năm chúng tôi đã xây dựng được một mục lục khá đầy đủ, và ông nội tôi đã nghĩ ra một hệ thống tham khảo chéo rất hiệu quả... à. Đây rồi.”
Cô đẩy một tờ giấy ra trước mặt Newt.
3819: Khi người nghệ tây lên từ lòng đất và người xanh xuống từ bầu trời mà không hiểu tại sao, các thanh Pluto biến khỏi lâu đài sấm sét, vùng đất chìm dưới nước sẽ nổi lên, thủy quái đuợc tự do, và Brazil lại xanh, thì Ba sẽ đến cùng nhau và Bốn trỗi dậy, cưỡi trên ngựa sắt; ta bảo con biết cái kết đã cận kề.
Nghệ tây = vàng nghệ (tk. 2003)
... Người ngoài hành tinh... ???
... lính nhảy dù???... nhà máy điện hạt nhân (xem mẩu báo số 798-806)
... Atlantis, mẩu báo 812-819
Thủy quái = cá voi (tk. 1981)?
... Nam Mỹ lại xanh??
3 = 4?
Xe lửa? (“đường sắt”, tk. 2675)
“Tôi không hiểu được hết đoạn này từ trước,” Anathema thừa nhận. “Tôi đã bổ sung sau khi nghe bản tin.”
“Chắc gia đình cô giỏi giải ô chữ lắm,” Newt nói.
“Dù sao thì tôi nghĩ đoạn này cũng quá tầm hiểu biết của Agnes rồi. Những câu nói về thủy quái và Nam Mỹ và Ba với Bốn có thể có nghĩa bất kỳ.” Cô thở dài. “Vấn đề là báo. Anh không thể biết liệu có phải Agnes đang nói tới một sự việc nhỏ xíu nào mà anh đã bỏ lỡ không. Anh có biết mỗi sáng phải mất bao nhiêu thời gian mới có thể xem hết tất cả báo hằng ngày một cách thật kỹ càng không?”
“Ba tiếng mười phút,” Newt đáp ngay.
“Tao nghĩ bọn mình sẽ được thưởng huân chương hoặc gì đó,” Adam khấp khởi nói. “Vì đã cứu được một người khỏi cái xe nát cháy bùng bùng.”
“Nó có cháy bùng bùng đâu,” Pepper nói. “Nó còn chẳng nát lắm khi bọn mình đẩy nó lên.”
“Nó đã có thể cháy chứ,” Adam khăng khăng. “Tao không hiểu sao bọn mình lại không được thưởng huân chương chỉ vì một cái xe không biết khi nào thì nên cháy.”
Chúng đứng nhìn xuống cái hố. Anathema đã gọi cảnh sát, họ bảo đó là do đất lún và đặt mấy cái nón cảnh báo quanh nó; nó rất tối và sâu hoắm.
“Đến Tây Tạng cũng vui chứ nhỉ,” Brian nói. “Bọn mình có thể học võ và các thứ. Tao đã xem một bộ phim cũ nói là ở Tây Tạng có một thung lũng, mọi người ở đó đều thọ hàng trăm tuổi. Nó tên là Shangri-La.”
“Nhà nghỉ của dì tao cũng tên là Shangri-La,” Wensleydale nói.
Adam khịt mũi.
“Thật chẳng ra sao cả, ai lại đặt tên thung lũng theo tên một cái nhà nghỉ cũ kỹ chứ,” nó nói. “Chẳng khác nào gọi nó là Dunroamin’ hoặc Nhà Nguyệt Quế.”
“Dù sao nghe cũng còn hay hơn là Xa Lát,” Wensleydale nhẹ nhàng nói.
“Shambala chứ,” Adam chỉnh lại.
“Tao đoán là cùng một chỗ thôi. Có thể nó có cả hai tên,” Pepper nói với sự khéo léo khác hẳn thường lệ. “Như nhà tao ấy. Nhà tao đổi tên từ Hội Quán thành Phong Cảnh Norton khi chuyển đến đây, nhưng vẫn nhận được thư gửi cho Theo C. Cupier, Hội Quán. Có thể bây giờ họ đặt tên cho nó là Shambala nhưng người ta vẫn gọi nó là Nhà Nguyệt Quế.”
Adam ném một hòn sỏi vào cái hố. Nó đã bắt đầu chán người Tây Tạng.
“Giờ bọn mình làm gì đây?” Pepper hỏi. “Ở Trại Thung Norton người ta đang tắm cừu đấy. Bọn mình có thể đến giúp.”
Adam ném một hòn đá to hơn vào cái hố và đợi tiếng thịch. Không thấy gì.
“Tao không biết nữa,” nó lơ đãng nói. “Tao nghĩ bọn mình nên làm gì đó với lũ cá voi và rừng mưa và các thứ như thế.”
“Làm gì cơ?” Brian hỏi, vốn rất thích những trò giải trí sẵn có ở một cuộc tắm cừu ra trò. Nó bắt đầu rút vỏ bim bim trong túi ra và thả từng cái một xuống hố.
“Bọn mình có thể xuống Tadfield chiều nay và không ăn burger,” Pepper nói. “Nếu cả bốn bọn mình đều không ăn thì tức là sẽ không phải chặt hạ hàng triệu héc ta rừng mưa.”
“Kiểu gì họ cũng sẽ chặt chúng thôi,” Wensleydale nói.
“Lại là chủ nghĩa vật chất,” Adam nói. “Cũng như với bọn cá voi. Những chuyện đang xảy ra ấy, thật không thể tin được.” Nó nhìn Chó chằm chằm.
Nó đang cảm thấy rất lạ.
Con chó lai nhỏ, nhận thấy sự chú ý, liền đứng trên hai chân sau vẻ chờ đợi.
“Chính bọn mày đã ăn hết cá voi,” Adam nghiêm khắc nói. “Tao dám cá mày đã ăn gần hết cả một con cá voi ấy chứ.”
Chó ngoẹo đầu sang bên và kêu ư ử, trong khi một tia độc địa cuối cùng nhỏ xíu trong linh hồn nó đang tự căm ghét mình vì đã làm thế.
“Lớn lên trong một thế giới như vậy,” Adam nói. “Không cá voi, không khí trời, mọi người phải chèo thuyền đi khắp nơi vì nước biển dâng cao.”
“Thế thì chỉ có người Atlantis là sướng thôi,” Pepper khoái chí nói.
“Hừ,” Adam nói, không để tai nghe.
Có gì đó đang xảy ra trong tâm trí nó. Đầu nó đang đau nhức. Những ý nghĩ đang kéo đến mà nó không cần phải nghĩ. Có cái gì đang nói, Mày có thể làm được gì đó, Adam Young ạ. Mày có thể làm bất kỳ điều gì. Và thứ đang nói đó là... chính nó. Một phần sâu thẳm trong nó. Một phần đã gắn liền với nó suốt bao năm nay mà nó không nhận ra, như một cái bóng. Phần đó đang nói: phải, thế giới này đã thối nát. Lẽ ra thế giới đã có thể rất tuyệt vời. Nhưng giờ nó đã thối nát, và đã đến lúc phải làm gì đó. Đó là lý do mày có mặt ở đây. Để khiến mọi thứ tốt đẹp hơn.
“Vì họ muốn đi đâu cũng được,” Pepper nói tiếp, nhìn thằng bé vẻ lo ngại. “Ý tao là người Atlantis ấy. Bởi vì...”
“Tao chán ngấy người Atlantis với người Tây Tạng cũ rích rồi,” Adam quát.
Cả bọn trố mắt nhìn nó. Chúng chưa bao giờ thấy nó như thế.
“Họ thì sướng rồi,” Adam nói. “Mọi người dùng hết cá voi, than, dầu, ozone, rừng nguyên sinh và các thứ khác, đến lượt bọn mình thì chẳng còn gì nữa. Bọn mình phải được lên sao Hỏa và đi khắp nơi, thay vì ngồi đây trong bóng tối ẩm ướt, không khí thì bay đi hết.”
Đây không phải là Adam trước kia mà Bọn Chúng thường biết. Bọn Chúng tránh nhìn nhau. Khi Adam đang trong tâm trạng này, thế giới có vẻ lạnh lẽo hơn.
“Tao thấy là,” Brian nói vẻ thực tế, “tao thấy là, tốt nhất là thôi không đọc về những chuyện đó nữa.”
“Giống như mày nói hôm nọ ấy,” Adam nói. “Hồi bé bọn mình đọc về cướp biển, cao bồi, phi hành gia và đủ thứ, Thế mà đúng lúc bọn mình nghĩ thế giới đầy những thứ tuyệt diệu, họ lại bảo thực ra chỉ toàn cá voi chết và rừng bị chặt và chất thải hạt nhân tồn đọng cả triệu năm. Nếu bọn mày hỏi tao thì như thế không đáng để mình lớn lên.”
Bọn Chúng liếc nhìn nhau.
Đúng là có một bóng đen phủ kín cả thế giới. Những đám mây dông đang dồn lại ở phía bắc, ánh nắng phản chiếu lên đó vàng khè như thể bầu trời đã được vẽ bởi một tay họa sĩ không chuyên nhưng nhiệt tình.
“Tao thấy là nên dẹp hết đi rồi bắt đầu lại từ đầu,” Adam nói.
Giọng nói đó nghe còn không giống giọng Adam.
Một làn gió lạnh buốt thổi qua khu rừng mùa hè.
Adam nhìn chó đang cố trồng cây chuối. Có một tiếng sấm xa xăm vẳng lại. Thằng bé thò tay xuống lơ đãng vỗ vỗ con chó.
“Cho đáng đời mọi người nếu bom nguyên tử nổ hết và tất cả phải bắt đầu lại từ đầu, nhưng lần này sẽ được sắp xếp hẳn hoi hơn,” Adam nói. “Đôi khi tao nghĩ tao thích chuyện đó xảy ra. Và khi ấy bọn mình sẽ sắp đặt mọi thứ đâu ra đấy.”
Tiếng sấm lại gầm lên. Pepper rùng mình. Đây không phải là một cuộc tranh luận vòng vo quen thuộc của Bọn Chúng để giết thì giờ. Trong mắt Adam có một vẻ mà lũ bạn nó không hiểu nổi - không hẳn là tinh quái, vì vẻ đó vốn luôn hiện diện trong mắt nó gần như mọi nơi mọi lúc, mà là một vẻ đờ đẫn trống rỗng còn đáng sợ hơn nhiều.
“Tao không biết là có còn bọn mình không nữa,” Pepper cố thử. “Sẽ làm gì còn bọn mình, vì nếu bom nổ thì bọn mình cũng sẽ toi theo. Với tư cách là mẹ của một thế hệ chưa được ra đời, tao phản đối.”
Mấy đứa kia nhìn nó tò mò. Con bé nhún vai.
“Rồi kiến khổng lồ sẽ chiếm cả thế giới,” Wensleydale lo lắng nói. “Tao đã xem trên phim. Hoặc mình sẽ phải cầm súng cưa nòng và mọi người đều lái xe hơi gắn đầy dao và súng...”
“Tao sẽ không cho phép có kiến khổng lồ hay thứ gì đó tương tự,” Adam nói, mặt sáng bừng lên khủng khiếp. “Và bọn mày sẽ không sao. Tao sẽ đảm bảo như thế. Sẽ chiến lắm nhỉ, nếu cả thế giới chỉ có bọn mình. Đúng không? Bọn mình có thể chia nhau. Bọn mình có thể có những trò chơi cực hay. Bọn mình có thể chơi Chiến tranh với quân đội thật.”
“Nhưng sẽ không có người,” Pepper phản đối.
“À, tao có thể chế ra người cho bọn mình,” Adam ung dung nói. “Đủ người để làm quân lính. Bọn mình có thể chia bốn thế giới. Ví dụ như mày” - nó chỉ vào Pepper, làm con bé co rúm lại, tựa hồ ngón tay Adam là một cái cời than nóng trắng - “mày có thể nhận nước Nga, vì Nga có Hồng quân và mày có tóc đỏ, được không? Còn Wensley có thể nhận châu Mỹ, và Brian sẽ nhận, nhận châu Phi và châu Âu, và, và...”
Ngay cả trong nỗi kinh hoàng lớn dần, Bọn Chúng vẫn dành thời gian ngẫm nghĩ vụ này.
“Hừ-ừ,” Pepper lắp bắp trong làn gió mỗi lúc một mạnh đang giật áo phông của nó, “tao không h-hiểu sao Wensley lại được châu Mỹ trong khi tao chỉ được Nga. Nga chán ốm.”
“Thế thì cho mày Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ vậy,” Adam nói.
“Thế tức là tao chỉ được châu Phi và mấy nước nhỏ chán òm,” Brian nói, vẫn mặc cả dù đang đứng trên bờ vực thảm họa. “Có cho tao châu Úc cũng được,” nó nói thêm.
Pepper huých thằng bé và vội vã lắc đầu.
“Châu Úc là để cho Chó,” Adam nói, mắt rực lên ngọn lửa sáng tạo, “vì nó cần rất nhiều chỗ để chạy quanh. Và sẽ có bao nhiêu là thỏ và chuột túi cho nó đuổi, và...”
Mây tràn tới trước và sang hai bên như mực đổ vào một bát nước sạch, kéo khắp bầu trời còn nhanh hơn cả gió.
“Nhưng sẽ không có thỏ...” Wensleydale ré lên.
Adam không nghe thấy, ít nhất là không nghe những giọng nói bên ngoài đầu nó. “Tất cả thật lộn xộn quá mức,” nó nói. “Bọn mình nên bắt đầu lại từ đầu. Chỉ cứu những gì mình muốn và bắt đầu lại từ đầu. Như thế là tốt nhất. Nghĩ cho kỹ thì như thế sẽ là làm ơn cho Trái đất đấy. Tao tức điên lên khi thấy đám già rồ dại ấy làm các thứ lộn xộn lên hết...”
“Đó là ký ức, anh hiểu không,” Anathema nói. “Ký ức quá khứ cũng như ký ức tương lai. Ký ức giống loài ấy mà, ý tôi là vậy.”
Newt nhìn cô vẻ lịch sự nhưng đờ đẫn.
“Điều tôi định nói là,” cô kiên nhẫn giải thích, “Agnes không nhìn được tương lai. Đó chỉ là cách nói ẩn dụ thôi. Thực ra bà nhớ lại tương lai. Tất nhiên là nhớ không rõ, và đến khi nó được lọc qua cách hiểu của bà thì mọi thứ đã trở nên khá rối rắm. chúng tôi nghĩ bà giỏi nhất khi nhớ những việc sẽ xảy ra với con cháu mình.”
“Nhưng nếu gia đình cô đi các nơi và làm mọi việc vì những gì bà viết, và những gì bà viết lại là ký ức về những nơi gia đình cô đã đi và những việc gia đình cô đã làm,” Newt nói, “thì có nghĩa là...”
“Tôi biết. Nhưng, ờ, có bằng chứng cho thấy mọi chuyện là như vậy đấy,” Anathema nói.
Họ nhìn tấm bản đồ trải rộng trước mặt. Bên cạnh họ, chiếc đài đang khe khẽ nói. Newt nhận thức rất rõ là một cô gái đang ngồi cạnh mình. Chuyên nghiệp lên nào, cậu tự nhủ. Mày là một người lính, phải không? Ờ thì cũng gần như thế. Vậy hãy cư xử như một người lính đi. Cậu nghĩ thật lung trong một tích tắc. Ờ, thế thì hãy cư xử như một người lính đáng kính đang lúc lịch thiệp nhất vậy. Cậu bắt mình phải chú ý vào vấn đề trước mắt.
“Tại sao lại là Tadfield Hạ?” Newt nói. “Tôi thì chỉ quan tâm vì thời tiết thôi. Vì khí hậu tối ưu, họ gọi nó như vậy. Có nghĩa là nó là một khu vực nhỏ có thời tiết hoàn hảo của riêng nó.”
Cậu liếc nhìn những cuốn sổ của cô. Chắc chắn là có gì đó rất lạ về nơi đó, ngay cả khi ta bỏ qua vụ người Tây Tạng và UFO, vốn dường như đang lan tràn khắp thế giới mấy ngày nay. Khu vực Tadfield không chỉ có thời tiết kiểu mẫu ta có thể dùng để tính lịch, nó còn có sức đề kháng cực cao với thay đổi. Dường như không có ai xây nhà mới ở đó. Dân cư cũng không di chuyển mấy. Ở đó có nhiều rừng và hàng giậu hơn ta tưởng vào thời nay. Trại gà công nghiệp duy nhất mở cửa ở khu vực này đã phá sản chỉ sau một hai năm, và được thay thế bởi một chủ trại lợn kiểu xưa, cho lợn chạy rông ngoài vườn táo và bán thịt với giá cao. Hai ngôi trường địa phương dường như cứ một mình một đường mà không thèm đếm xỉa đến các mốt giáo dục liên tục thay đổi. Một đường cao tốc lẽ ra đã biến làng Tadfield Hạ thành Trạm nghỉ Ngã tư Trại Lợn Vui số 18 đã đổi hướng cách đó tám cây số, vòng vèo thành một hình bán nguyệt rộng, và tiếp tục đi mà không biết đến hòn đảo thôn quê nhỏ bé vĩnh cửu nó đã tránh. Không ai biết tại sao; một nhân viên đạc điền liên quan đã bị suy sụp thần kinh, một người nữa đã đi làm thầy tu, và người thứ ba thì đã chuyển đến Ball để vẽ phụ nữ khỏa thân.
Cứ như thể một phần lớn của thế kỷ hai mươi đã đánh dấu mấy cây số vuông là Không Được Đụng Đến.
Anathema rút một tấm thẻ khác ra khỏi hộp và đẩy nó ngang qua bàn.
2315. Có người nói hắn đến từ London, hoặc New York, nhưng họ đã nhầm, nơi đó là Taddes Fild. Hắn có quyền năng hùng mạnh, hắn đến như hiệp sĩ giữa thái ấp, hắn chia Thế giới thành 4 phần, hắn đem tới bão tố.
... sớm 4 năm [đến tận 1664 vẫn là New Amsterdam J...
... Taddville, Norfolk.,.
... Tardesfield, Devon...
... Tadfield, Oxon... <
..!... Xem Khải huyền C.6, k10
“Tôi đã phải tra cứu rất nhiều sổ sách địa phương,” Anathema nói.
“Sao cái này lại là 2315? Nó sớm hơn những cái khác.”
“Agnes hơi cẩu thả trong việc định thời điểm. Tôi nghĩ không phải lúc nào bà cũng biết chuyện gì xảy ra khi nào. Tôi đã bảo anh rồi đấy, chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian để tạo ra một hệ thống kết nối chúng với nhau.”
Newt xem mấy tấm thẻ nữa. Ví dụ:
IIII. Và con Đại Khuyên sẽ đến, và hai Quyền năng bất lực nhìn theo nó, vì nó sẽ đến nơi Chủ Nhân của nó, nơi họ không thể đến, và hắn sẽ đặt tên cho nó, đích danh bản chất của nó, và Địa ngục sẽ rời bỏ nó.
? Có liên quan gì đến Bismarck không? [A.F. Device, 8/6/1888]
...?
... Scheswig-Holstein?
“So với Agnes thì lời tiên tri đó cũng khó hiểu khác thường,”
Anathema nói.
3017. Ta thấy Bốn kẻ cưỡi ngựa, đem đến Tận thế, và Thiên thần Địa ngục đi cùng họ. Và Ba sẽ nổi dậy. Và Bốn và Bốn cùng nhau thành Bốn, và Thiên thần Hắc ám sẽ thừa nhận thất bại. Nhưng Con Người sẽ đòi thứ của Riêng Mình.
Tứ Kỵ sĩ Khải huyền
Con người = Pan, Quỷ sứ (Xử án phù thủy ở Lancashire, Brewster, 1782)
??
Tôi có cảm giác tối hôm đó bà Agnes đã uống đẫy thì phải (Quincy Device, 15/10/1789)
Tôi đồng ý. Than ôi, chúng ta đều là người cả thôi. (Cô O. J. Device, 5/1/1854)
“Tại sao lại là Tuyệt đích và Chuẩn xác?” Newt nói.
“Tuyệt đích có nghĩa là chính xác, hoặc rõ ràng,” Anathema nói bằng giọng mệt mỏi của người đã phải giải thích điều này trước đó. “Đó là nghĩa cổ của nó.”
“Nhưng nghe này,” Newt nói...
... cậu đã gần thuyết phục được mình về việc UFO không tồn tại, rõ ràng chúng chỉ là do cậu tưởng tượng, còn người Tây Tạng thì, ờ, cậu còn đang nghĩ cái đã, nhưng dù là cái gì thì đó cũng không phải người Tây Tạng, nhưng điều cậu đang tin mỗi lúc một chắc chắn hơn đó là cậu đang ở cùng một cô gái rất hấp dẫn, mà cô có vẻ cũng ưa cậu, hay ít ra là không tỏ vẻ không ưa cậu, mà với Newt thì đây là lần đầu tiên. Quả thực đang có rất nhiều chuyện kỳ lạ, nhưng nếu thật sự cố gắng đẩy con thuyền lý trí ngược dòng bằng chứng đang cuồn cuộn chảy, thì cậu có thể giả vờ tất cả chỉ là do bóng khí quyển, hoặc sao Kim, hoặc ảo giác tập thể.
Tóm lại, bây giờ Newt có đang nghĩ bằng cái gì đi chăng nữa thì đấy cũng không phải là não cậu.
“Nhưng nghe này,” cậu nói, “không phải thực sự sắp đến lúc tận thế đấy chứ? Ý tôi là, nhìn quanh mà xem. Chẳng có vẻ gì là có căng thẳng giữa các nước... ờ, thì là không căng thẳng hơn mọi khi. Sao chúng ta không quên mọi chuyện đi chốc lát và ờ, tôi không biết nữa, có thể đi dạo một lát hay gì đó, ý tôi là...”
“Anh không hiểu sao? Có gì đó ở đây! Thứ gì đó đã ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực này!” cô nói. “Nó đã làm lệch hết các pháp mạch. Nó đã bảo vệ khu vực này khỏi những thay đổi! Nó... nó...” Lại là nó: cái ý nghĩ trong tâm trí mà cô không thể, không được phép nắm lấy, như một giấc mơ lúc tỉnh dậy.
Cửa sổ kêu lạch cạch. Bên ngoài, một nhánh hoa nhài bị gió thổi bắt đầu đập phành phạch vào cửa kính.
“Nhưng tôi không thể bắt được nó,” Anathema nói, vặn vẹo các ngón tay. “Tôi đã thử mọi thứ.”
“Bắt ấy à?” Newt hỏi.
“Tôi đã thử quả lắc. Tôi đã thử máy kinh vĩ. Tôi có khả năng tâm linh, anh thấy đấy. Nhưng dường như nó cứ liên tục di chuyển.”
Newt vẫn còn đủ tỉnh táo để diễn giải lời cô nói. Phần lớn những người khác khi nói “Tôi có khả năng tâm linh, anh thấy đấy”, thì ý họ là “Tôi có trí tưởng tượng mạnh nhưng không độc đáo/sơn móng tay màu đen/nói chuyện với con vẹt của tôi”; nhưng khi Anathema nói vậy thì như thể cô đang thừa nhận mình mắc một căn bệnh di truyền mà cô rất không muốn có.
“Ngày Tận thế liên tục di chuyển ấy à?” Newt hỏi.
“Nhiều lời tiên tri nói Kẻ chống chúa phải nổi dậy trước đã,” Anathema nói. “Agnes nói là hắn. Tôi không thể tìm thấy hắn ta...”
“Hoặc cô ta,” Newt nói.
“Gì cơ?”
“Có thể là cô ta,” Newt nói. “Giờ là thế kỷ hai mươi mà. Cơ hội bình đẳng.”
“Tôi không nghĩ anh đang nhìn nhận việc này nghiêm túc đâu,” cô nghiêm nghị nói. “Dù sao thì ở đây cũng chẳng có chút xấu xa nào cả. Đó là điều tôi không hiểu nổi. Chỉ có tình yêu thôi.”
“Cô nói sao cơ?” Newt nói.
Cô nhìn cậu vẻ bất lực. “Khó miêu tả lắm,” cô nói. “Cái gì đó hoặc ai đó rất yêu nơi này. Yêu từng centimet của nơi này mãnh liệt đến nỗi nó che chở và bảo vệ cho nơi này. Một tình yêu sâu đậm, lớn lao, dữ dội. Làm sao điều xấu xa có thể xảy ra ở đây được? Làm sao tận cùng thế giới có thể bắt đầu ở một nơi như thế này được? Ta sẽ muốn nuôi con mình lớn lên ở một thị trấn như thế này. Nó là Thiên đường cho trẻ con.” Cô yếu ớt mỉm cười. “Anh phải thấy bọn trẻ trong vùng mới được. Thật không thể tin nổi! Cứ như chúng bước ra từ Báo Thiếu nhi ấy! Toàn là đầu gối trầy xước và ‘chiến thật!’ và kẹo bạc hà...”
Cô đã sắp nghĩ ra. Cô có thể cảm thấy hình hài của ý nghĩ đó, cô đang dần đuổi kịp nó.
“Chỗ này là gì?” Newt hỏi.
“ Gì cơ?” Anathema thét lên khi dòng suy nghĩ của cô bị cắt ngang.
Ngón tay Newt gõ gõ lên bản đồ.
“Trên bản đồ ghi ‘Sân bay đã ngưng sử dụng’. Ngay đây này, cô nhìn xem, ngay phía tây Tadfield...”
Anathema khịt mũi. “Đã ngưng sử dụng ấy à? Anh đừng có tin. Trước kia là căn cứ cho máy bay chiến đấu trong chiến tranh. Nó đổi thành Căn cứ Không quân Tadfield Thượng từ khoảng mười năm nay. Và trước khi anh hỏi thì câu trả lời là không. Tôi ghét đặc nơi đó, nhưng viên đại tá ở đó thì tỉnh táo hơn anh nhiều lắm. Vợ ông ấy tập yoga đấy, trời ạ.”
Giờ thì. Cô vừa nói gì ban nãy ấy nhỉ? Bọn trẻ quanh đây...
Cô cảm thấy tâm trí vừa trượt ngã, và những ý nghĩ cá nhân thông thường hơn đã đợi sẵn để đón lấy cô. Newt cũng không đến nỗi nào. Còn về việc dành cả phần đời còn lại với cậu, đằng nào cậu cũng sẽ không quanh quẩn ở đây lâu đến mức khiến cô khó chịu.
Trên đài đang nói về rừng mưa ở Nam Mỹ.
Các khu rừng mới.
Mưa đá bắt đầu đổ xuống.
Những mảnh băng như đạn bắn xé toạc tán lá quanh Bọn Chúng trong khi Adam dẫn chúng xuống mỏ phấn.
Chó cun cút đi theo chúng, đuôi cụp giữa hai chân, miệng kêu ư ử.
Chuyện này không đúng, con chó đang nghĩ. Đúng lúc mình vừa nắm được kỹ năng đuổi chuột. Đúng lúc mình sắp xử lý được con béc giê Đức bên kia đường. Giờ ngài lại sắp kết thúc mọi thứ và mình phải quay về với cặp mắt rực lửa cũ mèm và đuổi bắt các linh hồn lạc lối. Một công việc chẳng nghĩa lý gì sất. Họ không biết chống cự, và họ chẳng có vị gì cả...
Wensleydale, Brian và Pepper thì không suy nghĩ được mạch lạc như thế. Chúng chỉ biết rằng chúng giương cánh bay còn dễ hơn là không đi theo Adam; cố chống lại thế lực đang lôi chúng tới trước sẽ chỉ dẫn đến những cái chân bị gãy, và chúng sẽ vẫn phải đi tiếp.
Adam thì chẳng nghĩ gì. Có gì đó đã mở ra trong tâm trí nó và đang rừng rực cháy.
Nó ngồi xuống một cái thùng.
“Dưới này bọn mình sẽ ổn thôi,” nó nói.
“Ờ,” Wensleydale nói, “mày không nghĩ là bố mẹ mình...”
“Bọn mày đừng lo về họ,” Adam trịch thượng nói. “Tao có thể làm ra bố mẹ mới. Sẽ không có chuyện phải đi ngủ lúc chín rưỡi nữa. Bọn mày sẽ không bao giờ phải đi ngủ nữa, nếu bọn mày không muốn. Hoặc dọn phòng, hoặc làm bất kỳ cái gì. Bọn mày cứ để tao lo, sẽ tuyệt lắm.” Nó nở một nụ cười điên loạn. “Tao có mấy người bạn mới đang đến,” nó tiết lộ. “Bọn mày sẽ thích họ cho mà xem.”
“Nhưng...” Wensleydale mở miệng.
“Bọn mày cứ nghĩ đến những chuyện tuyệt vời sau này mà xem,” Adam hào hứng nói. “Bọn mày có thể đưa đến Mỹ cao bồi và người Anh điêng và cảnh sát và găngxtơ và hoạt hình và phi hành gia và các thứ đại loại. Thế có hay không?”
Wensleydale khổ sở nhìn hai đứa kia. Chúng đang có cùng một ý nghĩ mà không đứa nào có thể nói ra một cách rõ ràng ngay cả trong lúc bình thường. Tựu trung, đó là trước kia đã từng có cao bồi và găngxtơ thật, và như thế thật tuyệt. Và sẽ luôn có cao bồi và găngxtơ giả vờ, và như thế cũng rất tuyệt. Nhưng cao bồi và găngxtơ giả vờ thật, vừa sống vừa không sống, và có thể được cất vào trong hộp khi ta đã chán chơi với họ - như thế nghe không tuyệt tẹo nào. Cái hay của cao bồi và găngxtơ và người ngoài hành tinh và cướp biển là ta có thể thôi giả vờ làm họ và về nhà.
“Nhưng trước đó,” Adam lầm lầm nói, “bọn mình sẽ cho họ thấy...”
Trong trung tâm mua sắm có một cái cây. Cái cây không to lắm, lá úa vàng cả, và ánh sáng nó nhận được qua lớp kính mờ đầy ấn tượng không phải là thứ ánh sáng nó cần. Và nó phải dùng nhiều thuốc hơn cả một vận động viên Olympic, và giữa các cành cây có treo những chiếc loa. Nhưng nó vẫn là một cái cây, và nếu lim dim mắt rồi nhìn nó qua cái thác nhân tạo, ta gần như có thể tin mình đang ngắm một cái cây ôm bệnh qua một màn sương nước mắt.
Jaime Hernez thích ngồi ăn trưa dưới bóng cây. Người quản lý đội bảo trì thường quát anh nếu ông ta phát hiện ra, nhưng Jaime đã lớn lên ở một nông trại, đó là một nông trại rất tốt, và anh rất thích cây cối và không muốn phải đến thành phố, nhưng ta có thể làm gì được đây? Công việc ở đây không tệ, và số tiền anh kiếm được thì bố anh còn chưa bao giờ dám mơ đến. Ông nội anh thì thậm chí còn không dám mơ đến tiền nữa. Ông không biết tiền là gì cho đến tận năm mười lăm tuổi. Nhưng có những lúc ta cần cây cối, và Jaime thầm nghĩ, thật đáng tiếc là con cái anh đang lớn lên mà chỉ coi cây là củi đốt, còn cháu chắt anh sẽ coi cây là quá khứ.
Nhưng ta có thể làm gì được? Ở chỗ trước kia là cây thì bây giờ là các trang trại lớn, ở chỗ trước kia là trang trại nhỏ thì bây giờ là trung tâm mua sắm, còn ở chỗ trước kia là trung tâm mua sắm thì bây giờ vẫn là trung tâm mua sắm, và mọi chuyện cứ thế tiếp diễn.
Anh giấu cái xe đẩy đằng sau quầy bán báo, lén lút ngồi xuống, và mở hộp cơm trưa ra.
Đúng lúc đó anh nhận ra có tiếng xào xạc, và những cái bóng di chuyển trên sàn nhà. Anh nhìn quanh.
Cái cây đang chuyển động. Anh chăm chú quan sát nó. Jaime chưa bao giờ nhìn thấy một cái cây lớn lên cả.
Lớp đất, vốn chỉ là một đống đá vụn nhân tạo gì đó, đang cựa quậy trong lúc rễ cây di chuyển dưới bề mặt. Jaime thấy một cái rễ trắng mảnh bò xuống cạnh bồn cây cao và mò mẫm dò dẫm trên nền sàn bê tông.
Không biết tại sao, không bao giờ anh biết được tại sao mình lại làm thế, anh liền lấy chân nhè nhẹ đẩy nó cho tới khi nó đến gần khe hở giữa các phiến bê tông. Nó tìm được khe hở, và luồn xuống dưới.
Các cành cây đang vặn vẹo thành các hình thù khác nhau.
Jaime nghe thấy tiếng xe cộ phanh ken két lại bên ngoài tòa nhà, nhưng không chú ý tới chúng. Ai đó đang gào thét gì đó, nhưng lúc nào xung quanh Jaime chẳng có người gào thét, mà thường là gào thét vào mặt anh.
Cái rễ mò mẫm chắc hẳn đã tìm thấy lớp đất bên dưới. Nó đổi màu và phình ra, như ống phun cứu hỏa khi nước được bật.
Thác nước nhân tạo ngừng chảy; Jaime tưởng tượng các đường ống nứt toác bị nghẹt lại bởi những sợi rễ đang hút nước.
Giờ anh có thể thấy bên ngoài đang xảy ra chuyện gì. Mặt đường đang cuồn cuộn như mặt biển. Cây non đang vươn lên từ các khe nứt.
Tất nhiên rồi, anh lý luận; chúng được nắng. Cái cây của anh thì không. Nó chỉ nhận được chút ánh sáng lờ mờ nhàn nhạt chiếu qua mái vòm cao bốn tầng. Ánh sáng chết.
Nhưng ta có thể làm gì được?
Ta có thể làm thế này:
Thang máy đã ngưng chạy vì điện bị ngắt, nhưng chỉ có bốn lượt cầu thang. Jaime cẩn thận đóng nắp hộp cơm trưa lại và quay về chỗ cái xe đẩy của mình rồi chọn lấy cái chổi cán dài nhất.
Mọi người đang túa ra khỏi tòa nhà, vừa chạy vừa la hét. Jaime vui vẻ đi ngược dòng như một con cá hồi đang bơi lên thượng nguồn.
Mái vòm màu khói được đỡ bởi một bộ khung rầm xà trắng xóa, mà chắc kiến trúc sư hẳn nghĩ rằng sẽ là một tuyên ngôn đầy hăng hái về cái gì đó. Hóa ra mái vòm làm bằng nhựa, và Jaime, vắt vẻo trên một thanh rầm thuận tiện, phải vận hết sức và dùng toàn bộ lực bẩy của cán chổi mới đập vỡ được nó. Thêm vài ba cú vung tay nữa, thế là cả mái vòm sụp xuống thành những mảnh sắc chết người.
Nắng tràn vào, rọi lên những hạt bụi trong trung tâm mua sắm, khiến cho không khí nhìn như tràn ngập những bầy đom đóm.
Xa tít bên dưới, cái cây xé toạc cái nhà tù bê tông của mình và vươn lên như một đoàn tàu tốc hành. Jaime chưa bao giờ nhận ra là cây cũng phát ra âm thanh khi chúng mọc, và cũng không ai khác nhận ra, vì âm thanh ấy được phát ra suốt hàng trăm năm, theo từng đợt sóng đỉnh này cách đỉnh kế hai mươi tư tiếng.
Khi tua nhanh, âm thanh một cái cây phát ra sẽ là vùùùùù.
Jaime ngắm cái cây vươn về phía mình như một đám mây hình nấm màu xanh. Hơi nước bốc lên nghi ngút quanh bộ rễ của nó.
Đám rầm xà không có cơ chống chọi. Những gì còn lại của mái vòm bắn tứ tung như một quả bóng bàn bị xịt nước.
Chuyện tương tự đang xảy ra trên khắp thành phố, chỉ có điều ta không thể thấy thành phố nữa. Ta chỉ có thể thấy một vòm lá xanh rì. Nó kéo dài từ chân trời này đến chân trời kia.
Jaime ngồi trên cành cây của anh, bám vào một sợi dây leo, và cười không ngớt.
Trời bắt đầu đổ mưa.
Tàu Kappamaki, một con tàu nghiên cứu đánh bắt cá voi, hiện đang nghiên cứu câu hỏi: Ta có thể bắt được bao nhiêu con cá voi trong một tuần?
Chỉ có điều hôm nay chẳng có con cá voi nào cả. Thủy thủ đoàn trố mắt nhìn những màn hình, mà nhờ kỹ thuật tối tân có thể phát hiện ra bất kỳ vật thể nào lớn hơn một con cá mòi và tính toán giá trị thực của nó trên thị trường dầu thế giới, và thấy chúng trống trơn. Thỉnh thoảng mới có một con cá xuất hiện, nhưng nó lao qua làn nước như thể đang vội vã đi đâu đó.
Viên thuyền trưởng gõ ngón tay lên bảng điều khiển. Ông ta sợ là mình sẽ sớm phải thực hiện một nghiên cứu riêng để tìm hiểu xem chuyện gì sẽ xảy ra với một mẫu thống kê nhỏ các thuyền trưởng tàu đánh bắt cá voi đã quay về mà không mang theo một tàu đầy nguyên liệu nghiên cứu. Ông ta tự hỏi người ta sẽ làm gì với mình. Có lẽ họ sẽ nhốt ông ta vào một căn phòng có súng phóng lao và mong ông ta có hành động bảo toàn danh dự.
Thật không thể tin được. Phải có gì đó chứ.
Người hoa tiêu mở một hải đồ ra và nhìn nó trân trối.
“Thưa ngài?” anh ta nói.
“Gì thế?” viên thuyền trưởng bực dọc hỏi.
“Hình như thiết bị của chúng ta đã hỏng hóc nặng rồi ạ. Lòng biển ở khu vực này lẽ ra chỉ sâu hai trăm mét thôi.”
“Thì sao?”
“Tôi đọc được ở đây độ sâu là 15.000 mét, thưa ngài. Và vẫn đang tiếp tục sâu thêm.”
“Thật ngớ ngẩn. Làm gì mà sâu như thế.”
Viên thuyền trưởng trừng mắt nhìn các thiết bị kỹ thuật tiên tiến trị giá vài triệu yên, và đập thùm thụp lên đó.
Người hoa tiêu nở nụ cười lo lắng.
“À, thưa ngài,” anh ta nói, “nó đã cao dần lên rồi đấy ạ.”
Dưới lòng biên sâu sấm dậy, như cả Aziraphale và Tennyson đều biết, Sâu, sâu thẳm dưới biên cả khôn dò/Con thủy quái ngủ yên. (*)
Và giờ nó đang thức giấc.
Hàng triệu tấn nước biển tràn khỏi hai bên người nó khi nó vươn lên.
“Ngài thấy chưa,” người hoa tiêu nói. “Giờ chỉ còn ba ngàn mét thôi.”
Con thủy quái không có mắt. Nó có cái gì để nhìn đâu. Nhưng khi vươn lên qua làn nước băng giá, nó cảm nhận được những âm thanh vi sóng của lòng biển, tiếng kêu và rít đầy đau thương của bài hát cá voi.
“Ờ,” người hoa tiêu nói, “một ngàn mét?”
Con thủy quái chẳng lấy gì làm vui vẻ.
“Năm trăm mét?”
Con tàu tròng trành trên đợt sóng cồn bất ngờ.
“Một trăm mét?”
Có một vật nhỏ xíu bằng kim loại trên đầu nó. Con thủy quái cựa mình.
Và mười tỉ miếng sushi gầm lên đòi trả thù.
Cửa sổ căn nhà bật tung vào trong. Đây không phải là một cơn bão, đây là chiến tranh. Những cành hoa nhài xoay tít quanh căn phòng, lẫn với những tấm thẻ đang trút xuống như mưa.
Newt và Anathema bám chặt vào nhau ở khoảng trống giữa tường và một cái bàn bị lật.
“Nói đi,” Newt lầm bầm. “Bảo với tôi là Agnes đã tiên tri được chuyện này đi.”
“Bà có nói là hắn sẽ đem đến bão tố mà,” Anathema nói.
“Đây là một trận cuồng phong thì có. Bà ấy có bảo chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo không?”
“2315 được tham khảo chéo với 3477,” Anathema nói.
“Cô có thể nhớ những chi tiết như thế vào lúc như này sao?”
“Anh đã nói thế thì đúng đấy,” cô đáp. Cô chìa một tấm thẻ ra.
3477. Hãy để bánh xe Số Phận quay, hãy để hai trái tim kết nối, còn nhiều ngọn lửa khác lửa của ta; khi gió thổi hoa rụng, hãy với lấy nhau, vì bình yên sẽ đến khi Đỏ và Trắng và Đen và Xám đến Đậu là Nghĩa Vụ của Chúng tôi. (*)
? Đoạn này có vẻ thần bí quá [A.F. Device, 17/10/1889]
Đậu/hoa? [0FD, 4/9/1929]
Tôi đoán lại là Khải huyền ch. 6 [Tiến sĩ Thos. Device, 1835]
Newt đọc lại lần nữa. Bên ngoài có tiếng như một tấm tôn đang xoay tít ngang qua vườn, mà đúng thế thật.
“Có phải cái này nghĩa là,” cậu chậm rãi nói, “là chúng ta sẽ trở thành một, một cặp không? Cái bà Agnes này hay đùa thật.”
Ta rất khó tán tỉnh khi cô gái ta tán có một bà họ hàng già trong nhà; họ thường lầm bầm, cười khinh khích, hoặc xin điếu thuốc, hoặc, trong trường hợp tệ nhất là lôi album ảnh gia đình ra, một hành động khiêu khích trong cuộc chiến tình dục mà lẽ ra Hội nghị Geneva nên ban hành luật cấm. Còn tệ hơn thế là khi bà họ hàng đó đã chết được ba trăm năm nay. Quả thực Newt đã nuôi vài ý nghĩ nhất định về Anathema; thật ra không chỉ nuôi chúng mà còn dắt chúng đi dạo, chải lông bắt chấy cho chúng, và đưa chúng đi bác sĩ nữa. Nhưng cái ý nghĩ bị nhãn quan tâm linh của Agnes xuyên vào gáy đã giội một gáo nước lạnh vào ham muốn của cậu.
Cậu thậm chí đã ấp ủ ý định mời cô đi ăn, nhưng cậu ghét cái ý nghĩ rằng một bà phù thủy thời Cromwell đang ngồi trong nhà tranh ba thế kỷ trước và nhìn cậu ăn.
Cậu đang ở trong tâm trạng mà người ta thường có khi thiêu phù thủy. Cuộc đời cậu đã đủ rắc rối rồi, không cần bị thao túng qua các thế kỷ bởi một bà già dở hơi nữa.
Trong lò sưởi có tiếng rầm, nghe như một phần ống khói đã sụp.
Và rồi cậu nghĩ: cuộc đời mình đâu có rắc rối. Mình có thể nhìn thấy nó rõ mồn một như Agnes vậy. Nó kéo dài đến lúc nghỉ hưu sớm, được đồng nghiệp quyên tiền, một căn hộ sáng sủa gọn ghẽ nho nhỏ ở đâu đó, một cái chết trống rỗng gọn ghẽ nho nhỏ. Chỉ khác là bây giờ mình sẽ chết dưới đống đổ nát của căn nhà này, trong cái ngày có lẽ là Tận thế.
Thiên thần Ghi sổ sẽ chẳng gặp khó khăn gì với mình cả, cuộc đời mình chỉ toàn những trang “như trên”, từ năm này qua năm khác. Ý mình là, mình đã làm được gì nào? Mình chưa bao giờ cướp ngân hàng. Mình chưa bao giờ phải nhận vé phạt đỗ xe. Mình chưa bao giờ ăn đồ Thái...
Đâu đó một cái cửa sổ nữa vỡ tung, tiếng kính vỡ kêu leng keng vui tai. Anathema vòng tay quanh người cậu, với một tiếng thở dài nghe không hề thất vọng.
Mình chưa bao giờ đến Mỹ. Hay Pháp, vì Calais thì không tính. Mình chưa bao giờ học chơi một nhạc cụ.
Cái đài tắt ngấm khi đường dây điện cuối cùng cũng đứt.
Cậu vùi mặt vào tóc cô.
Mình chưa bao giờ...
Có một tiếng ping.
Shadwell, đang ngồi cập nhật sổ lương của Đội quân, liền dừng tay ký nhận cho Chuẩn hạ sĩ Săn Phù thủy Smith và ngẩng lên.
Mất một lúc lão mới nhận ra cái ghim của Newt không còn lấp lánh trên bản đồ nữa.
Lão xuống khỏi ghế, miệng lầm bầm, và tìm trên sàn cho tới khi thấy cái ghim. Lão lau nó một lần nữa rồi lại cắm nó vào Tadfield.
Lão đang ký nhận cho Binh nhì Săn Phù thủy Bàn, người mỗi năm được thêm hai xu tiền cỏ khô, thì lại có một tiếng ping nữa.
Lão nhặt cái ghim lên, trừng mắt nhìn nó vẻ nghi ngờ, rồi cắm nó vào tấm bản đồ mạnh đến nỗi lớp vữa tường phía sau tróc cả ra. Rồi lão quay về với cuốn sổ lương.
Lại có tiếng ping.
Lần này cái ghim bắn xa khỏi tường đến cả mét. Shadwell nhặt nó lên, kiểm tra kỹ đầu nhọn, cắm nó vào bản đồ, và không rời mắt khỏi nó.
Khoảng năm giây sau, nó bắn qua tai lão.
Lão quờ quạng trên sàn tìm cái ghim, cắm lại nó vào bản đồ, và giữ chặt tay ở đó.
Nó nhúc nhích dưới tay lão. Lão đè cả thân mình vào nó.
Một dải khói mảnh cuộn lên từ tấm bản đồ. Shadwell ré lên một tiếng và mút ngón tay trong khi cái ghim nóng đỏ bắn vào bức tường đối diện rồi đập vỡ một ô cửa sổ. Nó không muốn bị cắm vào Tadfield.
Mười giây sau, Shadwell lục lọi trong hộp đựng tiền của ĐQSPT, tìm được mấy xu đồng, một tờ mười shilling, và một đồng xu giả từ thời vua James I. Bất chấp an toàn của bản thân, lão lục lọi trong túi của chính mình. Kết quả của cuộc nạo vét này, ngay cả khi tính thêm tấm vé ưu đãi hưu trí của lão, cũng chẳng đủ để đưa lão ra khỏi nhà, chứ đừng nói là đến Tadfield.
Những người duy nhất lão biết có tiền là ông Rajit và bà Tracy. Với gia đình Rajit thì nếu lão nhắc chuyện tiền nong lúc này, rất có thể câu hỏi về khoản tiền nhà lão đã nợ bảy tuần nay cũng sẽ được nhắc đến, còn với bà Tracy, người sẽ rất sẵn lòng cho lão vay một nắm tiền mười bảng cũ...
“Ta thà chết còn hơn là nhận Đồng Tiền Tội Lỗi từ mụ son phấn lẳng lơ ấy,” lão nói.
Vậy là chẳng còn ai nữa.
Ngoại trừ một người.
Tên bóng miền Nam.
Mỗi người bọn họ đều đã đến đây chỉ một lần, rời đi nhanh hết mức có thể và, như Aziraphale, cố không chạm vào bất cứ mặt phẳng nào. Tên kia, tên miền Nam khốn nạn lòe loẹt đeo kính râm, thì - theo như Shadwell nghĩ - là một kẻ lão không nên gây chuyện. Trong thế giới giản đơn của Shadwell, ai đeo kính râm khi không đi biển đều có thể là tội phạm. Lão ngờ rằng Crowley là thành viên mafia, hoặc thế giới ngầm, dù lão sẽ ngạc nhiên nếu biết phán đoán của lão gần với sự thật đến nhường nào. Nhưng cái tên õng ẹo mặc áo khoác vải lông lạc đà thì lại là chuyện khác, lão đã đánh liều bám theo y về đại bản doanh của y một lần, và lão vẫn còn nhớ đường. Lão nghĩ Aziraphale là mật thám người Nga. Lão có thể đòi y ít tiền. Đe dọa y chút đỉnh.
Thật mạo hiểm vô cùng.
Shadwell cố trấn tĩnh. Ngay trong lúc này, cậu Newt trẻ tuổi có thể đang chịu đựng những trò tra tấn không tưởng tượng nổi dưới tay bọn con gái của bóng tối, và chính lão, Shadwell, đã cử cậu đến đó.
“Chúng ta không thể để mặc người của mình ở đó,” lão nói, khoác chiếc áo ngoài mỏng và đội cái mũ rúm ró vào, rồi ra ngoài.
Có vẻ trời đang hơi nổi gió.
Aziraphale đang run lập cập. Y đã run lập cập khoảng mười hai giờ đồng hồ rồi. Nếu bị hỏi, y sẽ nói là đầu óc y đã rối loạn hết cả. Y đi quanh cửa hiệu, nhặt mấy mẩu giấy lên rồi lại thả chúng rơi xuống, loay hoay với mấy cây bút.
Y nên cho Crowley biết.
Không, không phải. Y muốn cho Crowley biết. Y nên cho Thiên đường biết.
Dù sao y cũng là thiên thần. Ta phải làm điều đúng đắn. Đấy là bản tính của y. Thấy mưu chước là phải ngăn chặn ngay. Crowley đã nói rất đúng. Lẽ ra y nên cho Thiên đường biết ngay từ đầu mới phải.
Nhưng y đã quen hắn cả ngàn năm nay. Họ hòa thuận với nhau. Họ gần như thấu hiểu nhau. Thỉnh thoảng y ngờ rằng họ có nhiều điểm chung với nhau hơn là với cấp trên của mỗi người. Đơn cử là họ đều yêu thích thế giới, chứ không chỉ coi nó là cái bàn để chơi một ván cờ vũ trụ.
À, tất nhiên, mấu chốt là ở chỗ đó. Đó là câu trả lời, đang nhìn thẳng vào mặt y. Sẽ đúng với tinh thần của thỏa thuận giữa y và Crowley nếu y mách lẻo với Thiên đường một chút, rồi họ có thể lặng lẽ xử lý đứa trẻ, tất nhiên là không làm gì quá tệ vì xét cho cùng thì chúng ta đều là con của Chúa Trời, kể cả những người như Crowley và Kẻ Chống chúa, và thế giới sẽ được cứu, không cần phải có mấy vụ Tận thế này nữa, Tận thế thì có ích gì với ai đâu, vì ai cũng biết kiểu gì Thiên đường chẳng thắng, rồi Crowley sẽ hiểu thôi.
Đúng thế. Và rồi tất cả sẽ ổn.
Có tiếng gõ ngoài cửa, bất chấp cái biển ĐÓNG CỬA. Y lờ nó đi.
Liên lạc với Thiên đường để giao tiếp hai chiều đối với Aziraphale khó khăn hơn nhiều so với người thường, vì người thường không mong nhận được lời hồi đáp, và trong hầu hết mọi trường hợp sẽ rất ngạc nhiên nếu nhận được hồi đáp.
Y đẩy cái bàn chất đầy giấy tờ sang một bên và cuộn tấm thảm mòn xơ của hiệu sách lên. Trên ván sàn bên dưới có một vòng tròn vẽ bằng phấn, bao quanh là các đoạn trích dẫn phù hợp từ kinh Cabala. Vị thiên thần châm bảy ngọn nến mà y đặt một cách đầy nghi thức ở các vị trí nhất định quanh vòng tròn. Rồi y đốt một ít hương trầm, thực ra là không cần thiết, nhưng nó giúp nơi này có mùi dễ chịu hơn.
Rồi y đứng vào vòng tròn và đọc Thần chú.
Không có gì xảy ra cả.
Y đọc Thần chú lần nữa.
Cuối cùng, một tia sáng xanh rực rỡ chiếu xuống từ trần nhà, tràn ngập vòng tròn.
Một giọng kiểu cách lên tiếng, “Sao?”
“Tôi, Aziraphale đây.”
“Chúng ta biết,” giọng nói đáp.
“Tôi có tin tuyệt vời! Tôi đã tìm được Kẻ chống chúa! Tôi có thể cho các vị địa chỉ của nó và thông tin liên quan!”
Im lặng một thoáng. Tia sáng xanh chập chờn.
“Thì sao?” giọng nói đó nhắc lại.
“Nhưng, các vị không thấy sao, các vị có thể giế... có thể ngăn mọi chuyện xảy ra! Vừa kịp lúc! Các vị chỉ còn vài giờ nữa thôi! Các vị có thể ngăn tất cả lại và sẽ không cần chiến tranh và mọi người sẽ được cứu!”
Y toét miệng cười hết mức với tia sáng.
“Ừ thì?” giọng nói trả lời.
“Vâng, nó ở một nơi gọi là làng Tadfield Hạ, và địa chỉ là...”
“Làm tốt lắm,” giọng nói vang lên, đều đều, vô cảm.
“Sẽ không cần mấy vụ một phần ba biển cả biến thành máu hay là gì gì đó nữa,” Aziraphale vui vẻ nói.
Khi giọng nói kia lại vang lên, nghe nó có vẻ hơi bực dọc.
“Sao lại không?” nó nói.
Aziraphale cảm thấy một cái hố giá băng đã mở ra dưới sự hăng hái của y, và cố giả vờ chuyện đó đang không xảy ra.
Y nói tiếp, “Ờ, các vị chỉ cần đảm bảo là...”
“Chúng ta sẽ thắng, Aziraphale ạ.”
“Vâng, nhưng mà...”
“Các thế lực bóng tối sẽ bị đánh bại. Hình như ngươi đã hiểu nhầm. Vấn đề không phải là tránh cuộc chiến mà là thắng nó. Chúng ta đã chờ đợi rất lâu rồi, Aziraphale ạ.”
Aziraphale cảm thấy hơi lạnh bao trùm cả tâm trí. Y mở miệng ra toan nói, “Các vị có nghĩ rằng có lẽ sẽ tốt hơn nếu không tổ chức cuộc chiến trên Trái đất không?” rồi lại đổi ý.
“Tôi hiểu,” y lầm lầm nói. Có tiếng loạt soạt ngoài cửa, và nếu Aziraphale nhìn về phía đó thì hẳn y đã trông thấy một cái mũ nỉ rúm ró đang cố nhìn qua ô cửa sổ hình bán nguyệt.
“Nói như vậy không có nghĩa là ngươi đã không làm rất tốt,” giọng nói lại vang lên. “Ngươi sẽ được khen thưởng. Giỏi lắm.”
“Cảm ơn,” Aziraphale nói. Sự chua chát trong giọng y có thể làm sữa cũng phải vón cục. “Rõ ràng là tôi đã quên mất điều bất khả tư nghị.”
“Chúng ta cũng nghĩ vậy.”
“Xin cho hỏi,” vị thiên thần nói, “tôi đang nói chuyện với ai đấy ạ?”
Giọng nói đáp, “Chúng ta là Metatron.” (*)
“À, vâng. Tất nhiên rồi. À. Ờ. Cảm ơn các vị rất nhiều. Cảm ơn.”
Sau lưng y, khe bỏ thư hất lên, để lộ ra một cặp mắt.
“Một điều nữa,” giọng nói vang lên. “Tất nhiên là ngươi sẽ tham gia cùng chúng ta chứ?”
“Ờ, vâng, thực ra lâu lắm rồi tôi chưa cầm lại thanh gươm lửa...” Aziraphale mở lời.
“Phải, chúng ta còn nhớ,” giọng nói đáp. “Ngươi sẽ có nhiều cơ hội để ôn lại thôi.”
“À. Hừm. Sẽ có sự kiện mào đầu gì xảy ra trước cuộc chiến?” Aziraphale hỏi.
“Chúng ta nghĩ một vụ đối đầu hạt nhân đa quốc gia sẽ là một khởi đầu tốt.”
“À. Vâng. Rất sáng tạo.” Giọng Aziraphale ỉu xìu và tuyệt vọng.
“Tốt. Vậy chúng ta sẽ đợi ngươi về ngay đấy,” giọng nói trả lời.
“À. Vâng. Tôi chỉ cần xử lý nốt vài công chuyện thôi, được chứ?” Aziraphale cố vớt vát.
“Có vẻ không cần thiết đâu,” Metatron nói.
Aziraphale vươn người thẳng lên. “Tôi nghĩ rằng tính trung thực, đó là chưa nói đến đạo đức, yêu cầu tôi, với tư cách một thương nhân có uy tín, cần phải...”
“Được, được,” Metatron nói, vẻ hơi cáu kỉnh. “Hiểu rồi. Chúng ta sẽ đợi ngươi.”
Tia sáng mờ đi nhưng không biến mất hẳn. Họ vẫn để mở đường dây, Aziraphale thầm nghĩ. Mình không thoát được vụ này rồi.
“A lô?” y khẽ nói. “Có ai đó không?”
Im lặng.
Một cách thận trọng, y bước ra khỏi vòng tròn và rón rén đến bên điện thoại. Y mở sổ danh bạ ra và quay một số khác.
Sau bốn tiếng chuồng, cái điện thoại khẽ húng hắng một tiếng, tiếp theo là một quãng lặng, rồi vang lên một giọng nói thõng thượt đến nỗi ta có thể trải thảm lên đó, “Xin chào. Đây là Anthony Crowley. Ờ. Tôi...”
“Crowley!” Aziraphale cố vừa rít vừa quát lên cùng lúc. “Nghe này! Tôi không còn nhiều thời gian nữa! Kẻ...”
“... có lẽ đang không có nhà vào lúc này, hoặc đang ngủ, hoặc đang bận, hoặc gì đó, nhưng...”
“Im đi! Nghe đây! Nó đang ở Tadfield! Tất cả đều có trong cuốn sách đó! Anh phải dừng...”
“... sau tiếng bíp và tôi sẽ gọi lại. Bái bai.”
“Tôi cần nói chuyện với anh ngay...”
BiiiIIiiiIIiii
“Đừng kêu nữa! Nó ở Tadfield! Đó chính là cái tôi đã cảm thấy! Anh phải đến đó và...”
Y bỏ cái điện thoại ra xa miệng.
“Chết tiệt!” y nói. Đó là lần đầu tiên y chửi thề trong vòng hơn bốn ngàn năm.
Đợi đã. Tên quỷ có một số khác, phải không nhỉ? Hắn là kiểu như thế mà. Aziraphale lật giở cuốn sổ, suýt nữa thì đánh rơi xuống sàn. Họ sắp giục y đến nơi rồi.
Y tìm thấy số điện thoại kia. Y quay số. Đầu dây bên kia trả lời gần như ngay lập tức, cùng lúc chuông treo trên cửa hiệu sách khẽ rung lên.
Giọng Crowley, to dần lên khi đến gần ống nghe, đang nói, “... thật đấy. A lô?”
“Crowley, tôi đây!”
“Ờ.” Giọng hắn ậm ờ đến khủng khiếp. Ngay cả trong lúc này, Aziraphale cũng cảm nhận được có rắc rối.
“Anh có ở một mình không?” y thận trọng hỏi.
“Không. Đang có người bạn cũ ở đây.”
“Nghe đây...”
“Cút đi, đồ quỷ sứ địa ngục!”
Một cách hết sức chậm rãi, Aziraphale quay người lại.
Shadwell đang run lẩy bẩy vì phấn khích. Lão đã nhìn thấy tất cả. Lão đã nghe thấy tất cả. Lão đã chẳng hiểu gì cả, nhưng lão biết người ta thường làm gì với vòng tròn, nến, và hương. Lão biết chứ. Lão đã xem phim Quỷ sứ lên đường (*) mười lăm lần liền, đúng ra là mười sáu nếu tính cả lần lão bị tống cổ ra khỏi rạp vì gào lên những lời chê bai lính săn phù thủy tay mơ Christopher Lee.
Bọn khốn này đã lợi dụng lão. Chúng đã giễu cợt truyền thống quang vinh của Đội quân.
“Ta sẽ cho ngươi biết tay, đồ khốn xấu xa!” lão quát, tiến lên như một thiên thần báo thù bị gián gặm. “Ta biết ngươi định giở trò gì rồi, lên đây quyến rũ đàn bà con gái để thực hiện ý đồ ma quỷ của ngươi!”
“Tôi nghĩ ông vào nhầm cửa hàng rồi,” Aziraphale nói. “Tôi sẽ gọi lại sau,” y nói vào điện thoại và dập máy.
“Ta có thể thấy ngươi định giở trò gì,” Shadwell gầm ghè. Lão sùi bọt mép. Lão không nhớ có lúc nào lão giận dữ như vậy.
“Ờ, mọi chuyện không hẳn như vẻ bề ngoài đâu...” Aziraphale mở lời, nhưng chưa dứt lời thì y đã biết đây là một nước đi hơi thiếu tinh tế.
“Ta dám cá là thế rồi!” Shadwell đắc thắng nói.
“Không, ý tôi là...”
Không rời mắt khỏi vị thiên thần, Shadwell lùi lại một bước, túm lấy cánh cửa và dập mạnh khiến chiếc chuông nhỏ rung lên.
“Chuông,” lão nói.
Lão chộp lấy cuốn Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác rồi dằn mạnh nó xuống bàn đánh thình một cái.
“Sách,” lão gầm lên.
Lão loay hoay lục trong túi và rút ra chiếc bật lửa Ronson đáng tin cậy.
“Gần như là nến!” lão quát lên và bắt đầu tiến tới trước.
Trước mặt lão, vòng tròn rực lên một ánh xanh nhạt.
“Ờ,” Aziraphale nói, “tôi nghĩ sẽ không phải ý hay nếu...”
Shadwell không thèm nghe. “Bằng quyền năng đã được trao cho ta theo chức vụ Săn Phù thủy,” lão ngân nga, “ta ra lệnh cho ngươi cút khỏi nơi này...”
“Ông thấy đấy, vòng tròn...”
“... và quay về xuất xứ của ngươi, không được dừng lại...”
“... sẽ rất thiếu khôn ngoan nếu một con người đặt chân vào đó mà không có...”
“... cứu rỗi chúng ta khỏi những điều xấu xa...”
“Tránh xa vòng tròn đi, lão già ngu ngốc kia!”
“... không bao giờ đến mà quấy nhiễu...”
“Được, được, nhưng làm ơn tránh xa...”
Aziraphale lao về phía Shadwell, cuống quýt vẫy hai tay.
“... KHÔNG BAO GIỜ trở lại nữa!” Shadwell kết thúc. Lão chỉ về phía y bằng một ngón tay thù hằn, móng cáu đen.
Aziraphale nhìn xuống chân và chửi thề lần thứ hai trong vòng năm phút. Y đã bước chân vào vòng tròn.
“Ôi, bỏ mẹ,” y nói.
Có một tiếng tưng du dương, và quầng sáng xanh biến mất. Aziraphale cũng vậy.
Ba mươi giây trôi qua. Shadwell không nhúc nhích. Rồi, lão run run nhấc tay trái lên và thận trọng kéo tay phải mình xuống.
“Xin chào?” lão nói. “Có ai không?”
Không ai trả lời.
Shadwell rùng mình. Rồi, vái bàn tay giơ ra trước mặt như một khẩu súng mà lão không dám bắn và cũng không biết cách tháo đạn, lão bước ra ngoài phố, đóng sập cửa lại sau lưng.
Cú sập cửa làm sàn nhà rung lên. Một cây nến của Aziraphale đổ xuống, làm sáp nến đang cháy tràn ra trên lớp gỗ cũ khô nỏ.
Căn hộ của Crowley ở London là hiện thân của phong cách. Nó có tất cả những gì một căn hộ nên có: rộng rãi, tường trắng tinh, đồ đạc thanh nhã, và mang cái vẻ vắng hơi người theo đúng thiết kế, chỉ có thể có được nhờ không có người ở.
Đó là vì Crowley không sống ở đó.
Đó chỉ là nơi hắn quay về vào cuối ngày khi hắn ở London. Giường luôn được dọn; tủ lạnh luôn được xếp đầy đồ ăn ngon không bao giờ hỏng (dù sao đó cũng chính là lý do Crowley có tủ lạnh), và thật ra cái tủ lạnh cũng không bao giờ cần được rã đông hay thậm chí là cắm điện.
Phòng khách có một cái tivi khổng lồ, một cái xô pha bọc da trắng, một đầu video và đầu đĩa, một máy trả lời điện thoại tự động, hai chiếc điện thoại - một nối với máy trả lời, và một nối vào đường dây riêng (với số điện thoại mà đến giờ vẫn chưa được phát hiện bởi quân đoàn các nhân viên tiếp thị qua điện thoại cứ tìm cách rao bán cho Crowley kính cửa sổ hai lớp, mà hắn đã có, hoặc bảo hiểm nhân thọ, mà hắn không cần) - và một hệ thống âm thanh vuông vức màu đen mờ, loại được thiết kế xuất sắc đến mức nó chỉ có nút bật tắt và điều chỉnh âm lượng. Thiết bị âm thanh duy nhất mà Crowley đã bỏ qua là bộ loa; hắn đã quên bẵng chúng. Nhưng cũng không khác biệt gì. Âm thanh phát ra vẫn hoàn hảo.
Còn cả một máy fax không cắm dây, với trí thông minh bằng một cái máy tính, và một cái máy tính thông minh bằng một con kiến thiểu năng. Dù thế, Crowley vẫn cập nhật nó vài tháng một lần, vì hắn cảm thấy một chiếc máy tính sành điệu là thứ mà kiểu con người hắn cố trở thành sẽ phải có. Cái máy tính này giống như một chiếc xe Porsche có màn hình vậy. Quyển hướng dẫn sử dụng vẫn còn được bọc nylon. (*)
Thực ra, thứ duy nhất trong căn hộ mà Crowley đích thân dành sự quan tâm là đám cây cảnh, chúng rất to, xanh mướt, tuyệt đẹp, với những cái lá sáng bóng, khỏe mạnh, nõn nà.
Đó là bởi vì, cứ mỗi tuần một lần, Crowley lại đi quanh căn hộ với một bình xịt cây màu xanh, xịt nước lên những cái lá, và nói chuyện với đám cây.
Hắn đã nghe về việc nói chuyện với cây cảnh vào đầu thập niên bảy mươi, trên Đài số Bốn, và nghĩ đó là một ý tưởng tuyệt vời. Mặc dù có lẽ nói chuyện không phải là từ thích hợp để miêu tả việc mà Crowley làm.
Việc hắn làm là truyền cho chúng nỗi kính sợ Chúa.
Hay chính xác hơn là nỗi kính sợ Crowley.
Ngoài ra, vài tháng một lần, Crowley lại nhặt ra một cái cây mọc quá chậm, hoặc bị héo lá hoặc úa nâu, hoặc chỉ đơn giản là nhìn không đẹp như các cây khác, và hắn sẽ mang nó đi quanh cho các cây khác thấy. “Tạm biệt bạn chúng mày đi,” hắn bảo chúng như vậy. “Nó không trụ nổi rồi...”
Rồi hắn ôm cái cây tội lỗi ra khỏi nhà, và khoảng một giờ sau quay trở lại với một cái chậu cây lớn trống không, để ở một chỗ dễ thấy trong căn hộ.
Cây cảnh của hắn là những cái cây mỡ màng, xanh tươi, đẹp nhất London. Và cũng là những cái cây bị khiếp vía nhất.
Phòng khách được thắp sáng bởi đèn pha và đèn tuýp trắng, loại ta thường dựng vào lưng ghế hoặc góc phòng.
Vật trang trí duy nhất trên tường là một bức tranh đóng khung - hình vẽ chì của bức Mona Lisa, phác thảo nguyên bản của Leonardo da Vinci. Crowley đã mua nó từ nhà danh họa vào một buổi chiều nóng nực ở Florence, và cảm thấy nó đẹp hơn nhiều so với bức tranh hoàn chỉnh. (*)
Crowley có một phòng ngủ, một phòng bếp, một phòng làm việc, một phòng khách, và một phòng tắm: phòng nào cũng mãi mãi sạch tinh và hoàn hảo.
Hắn đã dành một quãng thời gian khó chịu trong từng căn phòng một, trong lúc mòn mỏi chờ đợi Tận thế.
Hắn đã gọi lại cho các đặc vụ của mình trong Đội quân Săn Phù thủy để cố dò tin tức, nhưng đầu mối của hắn, Trung sĩ Shadwell, vừa mới ra ngoài, và bà lễ tân ngớ ngẩn dường như không hiểu là hắn gặp người nào cũng được.
“Cậu Pulsifer cũng đi vắng rồi, cưng ạ,” bà bảo hắn. “Sáng nay cậu ấy đã xuống Tadfield rồi. Đi làm nhiệm vụ.”
“Tôi nói chuyện với ai cũng được,” Crowley đã giải thích.
“Tôi sẽ bảo ông Shadwell thế,” bà trả lời, “khi nào ông ấy về. Giờ thì nếu anh không phiền, tôi đang bận việc buổi sáng, và tôi không thể để ông khách như thế được, ông ấy cảm lạnh chết mất. Và đến hai giờ lại còn bà Ormerod với ông Scroggie và cô bé Julia đến dự buổi gặp mặt nữa, tôi phải dọn nhà trước. Nhưng tôi sẽ nhắn lại với ông Shadwell.”
Crowley đành thôi. Hắn cố đọc một quyển tiểu thuyết, nhưng không tài nào tập trung nổi. Hắn thử xếp đĩa CD theo thứ tự chữ cái, nhưng bỏ cuộc khi phát hiện ra chúng đã được xếp theo thứ tự chữ cái rồi, cũng như giá sách của hắn, và bộ sưu tập Nhạc Linh hồn của hắn. (*)
Cuối cùng hắn ngồi xuống trên cái xô pha bọc da trắng và vẫy tay cho tivi bật lên.
“Có rất nhiều báo cáo,” một phát thanh viên lo lắng nói, “ờ, có rất nhiều báo cáo về, ờ, có vẻ không ai biết rõ đang có chuyện gì cả, nhưng chúng tôi đã nhận được các báo cáo dường như chỉ ra rằng căng thẳng Quốc tế đã gia tăng theo một mức độ mà giờ này tuần trước sẽ bị coi là không thể vì, ờ, khi đó mọi người có vẻ rất hòa thuận. Ờ.
“Dường như một phần lý do cho việc này là do vô số các sự kiện khác thường đã xảy ra trong mấy ngày qua.
“Ngoài khơi Nhật Bản...” CROWLEY?
“Vâng,” Crowley đáp.
ĐANG CÓ CHUYỆN QUÁI QUỶ GÌ THẾ, CROWLEY? CHÍNH XÁC LÀ NGƯƠI ĐÃ LÀM GÌ?
“Ý ngài là sao?” Crowley hỏi, dù hắn đã biết rõ.
ĐỨA BÉ TÊN WARLOCK. CHÚNG TA ĐÃ ĐƯA NÓ ĐẾN CÁNH ĐỒNG MEGGIDO. CON CHÓ KHÔNG ĐI CÙNG NÓ. THẰNG BÉ KHÔNG BIẾT GÌ VỀ CUỘC CHIẾN VĨ ĐẠI CẢ. NÓ KHÔNG PHẢI CON CỦA CHỦ NHÂN CHÚNG TA.
“À,” Crowley nói.
NGƯƠI CHỈ NÓI ĐƯỢC THẾ THÔI SAO, CROWLEY? CÁC ĐỘI QUÂN CỦA CHÚNG TA ĐÃ TẬP HỢP, BỐN CON QUÁI VẬT ĐÃ LÊN ĐƯỜNG - NHƯNG CHÚNG ĐANG ĐI ĐẾN ĐÂU? CÓ CHUYỆN GÌ ĐÓ KHÔNG ỔN, CROWLEY, VÀ ĐÂY LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯƠI. VÀ, RẤT CÓ THỂ LÀ LỖI CỦA NGƯƠI NỮA. CHÚNG TA MONG LÀ NGƯƠI CÓ LỜI GIẢI THÍCH HOÀN TOÀN HỢP LÝ CHO NHƯNG CHUYỆN NÀY...
“À, vâng,” Crowley sốt sắng đồng ý. “Hoàn toàn hợp lý.”
... VÌ NGƯƠI SẼ CÓ CƠ HỘI ĐỂ GIẢI THÍCH TẤT CẢ CHO CHÚNG TA. NGƯƠI MUỐN GIẢI THÍCH TRONG BAO LÂU CŨNG ĐƯỢC. VÀ CHÚNG TA SẼ RẤT CHĂM CHÚ LẮNG NGHE MỌI ĐIỀU NGƯƠI NÓI. VÀ CUỘC TRÒ CHUYỆN CỦA NGƯƠI, CÙNG CÁC TÌNH CẢNH ĐI KÈM, SẼ LÀ MỘT NGUỒN GIẢI TRÍ VÀ VUI THÚ VỚI TẤT CẢ NHỮNG KẺ BỊ NGUYỀN RỦA DƯỚI ĐỊA NGỤC, CROWLEY, VÌ DÙ CHÚNG CÓ BỊ TRA TẤN KHỦNG KHIẾP ĐẾN ĐÂU, CÓ PHẢI CHỊU ĐAU ĐỚN TỘT CÙNG ĐẾN ĐÂU, CROWLEY, THÌ NGƯƠI CŨNG SẼ PHẢI CHỊU ĐỰNG HƠN THẾ...
Bằng một cú phẩy tay, Crowley tắt tivi đi.
Màn hình xám xanh mờ vẫn tiếp tục đều đều lên tiếng; sự im lặng tự biến thành lời.
ĐỪNG CÓ NGHĨ ĐẾN CHUYỆN TRỐN THOÁT CHÚNG TA, CROWLEY, NGƯƠI KHÔNG THỂ ĐÂU. HÃY Ở LẠI ĐÓ. NGƯƠI SẼ ĐƯỢC... GIẢI ĐI...
Crowley đến bên cửa sổ và nhìn ra. Một vật đen ngòm, hình thù như xe hơi, đang chậm rãi đi xuôi phố tiến về phía hắn. Nó có hình thù giống xe hơi đủ để đánh lừa những cái nhìn thoáng qua. Crowley, vốn đang quan sát rất chăm chú, nhận ra rằng bánh xe không chỉ không xoay tròn, mà chúng còn không gắn vào xe nữa. Chiếc xe chậm lại mỗi khi đi qua một căn nhà; Crowley đoán là hành khách trên xe (sẽ không có tên nào lái xe; cả hai tên đều không biết lái) đang nhìn số nhà.
Hắn không còn nhiều thời gian. Crowley đi vào bếp, lấy một cái xô nhựa dưới bồn rửa. Rồi hắn quay về phòng khách.
Nhà Cầm quyền Địa ngục đã ngừng liên lạc. Crowley quay tivi vào tường để đề phòng.
Hắn đến bên bức Mona Lisa.
Crowley nhấc bức tranh từ trên tường xuống, để lộ ra một két sắt. Nó không phải là két sắt thường, mà đã được mua từ một công ty chuyên phục vụ ngành năng lượng hạt nhân.
Hắn mở khóa, để lộ ra cửa két trong với khóa số tròn. Hắn xoay khóa (mã là 4-0-0-4, quá dễ nhớ, vì đó là năm hắn trườn đến cái hành tinh ngớ ngẩn tuyệt vời này, cái thời nó còn mới coóng).
Bên trong két là một cái phích, một đôi găng tay cao su dày, loại che kín cả cánh tay, và một cái kẹp gắp.
Crowley ngừng lại. Hắn hồi hộp liếc cái phích.
(Có tiếng rầm vang lên từ dưới nhà. Đó là cửa trước...)
Hắn đi găng tay vào và rón rén cầm cái phích, cái kẹp gắp, cùng cái xô... rồi, như chợt nghĩ ra, hắn chộp lấy cả bình xịt cây bên cạnh một cây cao su xanh tốt... và tiến vào văn phòng, bước đi như một người cầm theo một cái phích đựng đầy một thứ mà nếu hắn đánh rơi hoặc thậm chí chỉ nghĩ đến chuyện đánh rơi nó thôi thì nó sẽ tạo ra một vụ nổ sẽ khiến các ông già tuyên bố những câu như là “Và cái hố này là nơi thành phố Wah-Shing-Ton từng tọa lạc trước kia,” trong các bộ phim viễn tưởng hạng B.
Hắn đến văn phòng, dùng vai đẩy cửa ra. Rồi hắn khuỵu gối và từ từ đặt các thứ xuống sàn. Xô... kẹp... bình xịt... và cuối cùng, hết sức chậm rãi, là cái phích.
Một giọt mồ hôi rịn ra trên trán Crowley và lăn xuống mắt hắn. Hắn gạt nó đi.
Rồi, hết sức thận trọng và chăm chú, hắn dùng cái kẹp vặn nắp phích ra... cẩn thận... cẩn thận nào... đúng rồi...
(Có tiếng chân bước rầm rầm dưới nhà và một tiếng hét nghèn nghẹt. Đó hẳn là bà già bé nhỏ tầng dưới.)
Hắn không thể vội được.
Hắn kẹp chặt cái phích, và cẩn thận để không đánh rớt dù chỉ một giọt, hắn đổ toàn bộ nước trong phích vào cái xô nhựa. Chỉ sơ sểnh một chút là hỏng bét.
Được rồi.
Rồi hắn mở hé cửa văn phòng khoảng mười lăm phân và đặt cái xô lên đỉnh.
Hắn dùng cái kẹp để đóng nắp phích lại, rồi (- có tiếng rầm ở hành lang ngoài căn hộ của hắn -) cởi đôi găng tay cao su ra, cầm bình xịt lên, và ngồi xuống sau bàn viết.
“Crawlee...?” một giọng khàn đặc cất tiếng gọi. Hastur.
“Hắn ở đằng này,” một giọng khác rít lên. “Tao có thể cảm thấy thằng khốn lươn lẹo ấy.” Ligur.
Hastur và Ligur.
Crowley sẽ là kẻ đầu tiên phản đối, nhưng phần lớn bọn quỷ trong thâm tâm đều không thực sự xấu xa. Trong trò chơi vĩ đại của vũ trụ, chúng cảm thấy mình có vị trí tựa như các thanh tra thuế vụ - làm một công việc không được ưa thích, có lẽ vậy, nhưng thiết yếu cho sự vận hành của bộ máy tổng thể. Mà nói cho đúng thì một vài thiên thần cũng chẳng phải hình mẫu đạo đức; Crowley đã gặp một hai thiên thần mà, khi trừng phạt thích đáng những kẻ tội lỗi, đã nặng tay hơn cần thiết nhiều. Tóm lại là ai cũng có nhiệm vụ phải hoàn thành và họ cứ phải làm thôi.
Nhưng mặt khác, ta lại có những kẻ như Ligur và Hastur, chúng khoái trá một cách nham hiểm với những thứ ghê tởm đến nỗi ta có thể tưởng nhầm chúng là con người.
Crowley ngồi ngả ra trên chiếc ghế giám đốc. Hắn bắt mình phải thư giãn và thất bại thảm hại.
“Trong này, các vị,” hắn gọi.
“Bọn tao muốn nói một lời với mày,” Ligur nói (bằng giọng hàm ý rằng “nói một lời” đồng nghĩa với “gây đau đớn khủng khiếp đời đời”), và tên quỷ thấp lùn đẩy cửa văn phòng ra.
Cái xô chao đảo, rồi rơi gọn lên đầu Ligur.
Hãy thử thả một cục natri vào nước. Hãy ngắm nó bốc cháy bùng bùng và xoay tít như phát điên, rừng rực và kêu xèo xèo. Cảnh này giống hệt thế; chỉ tởm hơn thôi.
Tên quỷ tróc da, bùng lửa, và cháy phừng phừng. Khói nâu đặc quánh dầu bốc lên, và hắn gào thét, gào thét, gào thét mãi. Rồi hắn sụp xuống, co quắp lại, và những gì còn lại của hắn nằm nhờn nhầy giữa vòng tròn cháy đen trên tấm thảm, nhìn như một nắm sên trần bị nghiền nát.
“Chào,” Crowley nói với Hastur, tên này đi sau Ligur và thật không may là đã không bị dính dù chỉ một giọt.
Có những điều mà ta không thể tưởng tượng nổi: có những đáy sâu mà thậm chí bọn quỷ cũng không tin là những tên quỷ khác có thể sa xuống.
“... Nước thánh. Đồ khốn,” Hastur nói. “Đồ khốn nạn. Hắn đã làm gì mày đâu.”
“Chưa thôi,” Crowley sửa lại, cảm thấy dễ chịu hơn vì cán cân giờ đã thăng bằng hơn. Thăng bằng hơn thôi, chứ chưa hoàn toàn, còn lâu. Hastur là Công tước Địa ngục. Crowley thậm chí còn không được là thành viên hội đồng địa phương.
“Số phận mày sẽ được các bà mẹ thì thầm trong bóng tối để dọa lũ nít ranh,” Hastur nói, rồi cảm thấy ngôn ngữ Địa ngục không đủ mạnh cho trường hợp này. “Mày sẽ lãnh đủ, con ạ,” hắn nói thêm.
Crowley giơ bình xịt nhựa màu xanh lên và lắc lắc vẻ đe dọa. “Xéo đi,” hắn nói. Hắn nghe thấy điện thoại dưới nhà reo. Bốn tiếng, rồi máy trả lời tự động bắt máy. Hắn lơ đễnh tự hỏi là ai gọi.
“Mày không dọa được tao đâu,” Hastur nói. Hắn theo dõi một giọt nước nhỏ ra từ vòi xịt và chầm chậm trượt xuống thành bình, về phía tay Crowley.
“Mày có biết đây là gì không?” Crowley hỏi. “Đây là bình xịt cây của Sainsbury, loại bình xịt rẻ và hữu hiệu nhất trên thế giới. Nó có thể xịt một luồng nước rất mịn vào không khí. Tao có cần cho mày biết trong này có gì không? Nó có thể biến mày thành cái đó đấy,” hắn chỉ vào đống hổ lốn trên thảm. “Giờ thì xéo đi.”
Giọt nước trên thành bình xịt đã trượt đến bên ngón tay đang nắm lại của Crowley và dừng ở đó. “Mày nói láo,” Hastur nói.
“Có thể thế,” Crowley nói bằng giọng mà hắn hy vọng sẽ khẳng định rằng hắn không bao giờ nghĩ đến chuyện giả vờ. “Mà cũng có thể không. Mày có cảm thấy may mắn không?”
Hastur vẫy tay, và cái bình nhựa tan ra như bánh tráng, làm nước tràn hết lên bàn tay của Crowley và bộ vét của hắn.
“Có,” Hastur đáp. Rồi hắn nhăn nhở cười. Răng hắn sắc nhọn, và lưỡi hắn thò ra thụt vào giữa hàm răng. “Thế còn mày?”
Crowley không nói gì. Kế hoạch A đã có tác dụng. Kế hoạch B thì không. Mọi thứ giờ phụ thuộc vào Kế hoạch C, và ở đây có một bất lợi: hắn mới chỉ lên kế hoạch đến B thôi.
“Vậy đây,” Hastur rít, “đến lúc phải đi rồi, Crowley.”
“Tao nghĩ có điều này mày cần biết,” Crowley nói, tìm cách câu giờ.
“Và đó là gì?” Hastur nhăn răng hỏi.
Rồi điện thoại trên bàn Crowley reo vang.
Hắn nhấc máy và cảnh báo Hastur, “Đừng nhúc nhích. Có chuyện rất quan trọng mày cần biết, và tao nói thật đấy. A lô?
“Ờ,” Crowley nói. Rồi hắn nói. “Không. Đang có người bạn cũ ở đây.”
Aziraphale cúp máy. Crowley tự hỏi y gọi điện có việc gì.
Và đột nhiên Kế hoạch C hiện ra trong đầu hắn. Hắn không đặt ống nói về chỗ cũ. Thay vào đó, hắn nói, “Được rồi, Hastur. Mày đã vượt qua bài kiểm tra. Mày đã sẵn sàng để chơi với các ông lớn rồi.”
“Mày điên rồi chắc?”
“Không hề. Mày không hiểu sao? Đây là một bài kiểm tra. Các Hoàng thân Địa ngục muốn biết mày có đáng tin không, trước khi cho mày chỉ huy Quân đoàn của những Linh hồn Đọa đày, trong Cuộc chiến sắp tới.”
“Crowley, mày đang nói dối, hoặc mày điên, hoặc cả hai,” Hastur nói, nhưng hắn đã bắt đầu lung lay.
Trong chốc lát, hắn ngẫm nghĩ khả năng đó; đó chính là chỗ Crowley đã nắm thóp được hắn. Có khả năng là Địa ngục đang kiểm tra hắn. Là Crowley có vị trí cao hơn vẻ bề ngoài. Hastur rất hoang tưởng, đó chỉ là một phản ứng có thể hiểu được và phù hợp khi sống ở Địa ngục, nơi quả thực ai cũng tìm cách hãm hại ta.
Crowley bắt đầu quay một số điện thoại. “Không sao đâu, Công tước Hastur. Tao cũng không nghĩ là mày sẽ tin nếu tao nói,” hắn thừa nhận. “Nhưng sao chúng ta không nói chuyện với Hội đồng Hắc Ám nhỉ - tao tin là họ sẽ thuyết phục được mày.”
Số điện thoại hắn vừa quay bắt đầu reo vang.
“Chào nhé, thằng đần,” hắn nói.
Và biến mất.
Một tích tắc sau, Hastur cũng biến theo.
Suốt bao năm trời, vô số giờ công trong lĩnh vực thần học đã được bỏ ra để tranh luận về câu hỏi nổi tiếng này:
Bao nhiêu Thiên thần Có thể Nhảy múa Trên Đầu Một cái Đinh ghim?
Để có thể tìm được câu trả lời, chúng ta cần cân nhắc các dữ kiện sau:
Thứ nhất, các thiên thần không nhảy. Đó là một trong những đặc trưng tiêu biểu của thiên thần. Họ có thể thưởng thức Âm nhạc của các Tinh cầu, nhưng họ không cảm thấy nỗi thôi thúc phải nhún nhảy uốn éo theo nhạc. Vì vậy, câu trả lời là không.
Hay ít ra là gần như không. Aziraphale đã học nhảy điệu ga vốt ở một câu lạc bộ kín dành cho các quý ông ở phố Portland vào cuối thập niên 1880, và mặc dù mới đầu y học giỏi như vịt học kinh doanh ngân hàng, sau một thời gian y đã nhảy khá thạo và vài thập kỷ sau đã rất bực mình khi điệu ga vốt đã trở nên lỗi mốt vĩnh viễn.
Vì vậy, giả dụ điệu nhảy là điệu ga vốt và y có một bạn nhảy phù hợp (và, để cho lập luận được kín kẽ, bạn nhảy đó cũng phải biết nhảy điệu ga vốt, và biết nhảy điệu đó trên đầu đinh ghim), thì câu trả lời sẽ đơn giản là một.
Nhưng bạn cũng có thể hỏi bao nhiêu con quỷ có thể nhảy múa trên đầu một cái đinh ghim. Dù sao quỷ và thiên thần cũng là từ một giống mà ra. Và ít ra chúng còn biết nhảy. (*)
Và nếu bạn đã hỏi như vậy thì câu trả lời là, thực ra là khá nhiều, với điều kiện chúng từ bỏ thân xác vật chất của mình, mà việc đó với bọn quỷ thì dễ như ăn bánh. Quỷ không bị bó buộc bởi vật chất. Nói rộng ra, vũ trụ chỉ là một vật nho nhỏ tròn tròn, như mấy quả cầu đầy nước mà khi lắc sẽ tạo ra một cơn bão tuyết tí hon (*) .Nhưng nếu ta nhìn thật gần, thì vấn đề duy nhất khi nhảy múa trên đầu một cái đinh ghim chỉ là khoảng cách lớn giữa các electron thôi.
Với những kẻ thuộc dòng thiên thần hoặc nòi quỷ thì kích cỡ, hình thù và kết cấu chỉ đơn giản là các lựa chọn.
Hiện Crowley đang lao vun vút cực nhanh dọc theo một đường dây điện thoại.
RENG.
Crowley lao qua hai cuộc trò chuyện điện thoại với vận tốc chỉ bằng một phần đáng kể vận tốc ánh sáng. Hastur ở sau hắn một quãng: chừng tám đến mười centimet gì đó, nhưng ở kích cỡ này thì như vậy cũng đủ cho Crowley dẫn trước một đoạn khá thoải mái. Tất nhiên, đoạn dẫn trước đó sẽ biến mất khi hắn thoát ra ở đầu kia.
Chúng quá nhỏ để có thể phát ra âm thanh, nhưng quỷ không cần âm thanh để giao tiếp. Hắn có thể nghe thấy Hastur gào thét sau lưng mình, “Đồ khốn! Tao sẽ tóm được mày! Mày sẽ không thoát được đâu!”
RENG.
“Mày tuồn ra chỗ nào là tao cũng ra theo! Mày sẽ không chạy nổi đâu!”
Crowley đã lao qua đoạn dây dài hơn ba mươi cây số chỉ trong vòng chưa đầy một giây.
Hastur theo sát sau hắn. Crowley sẽ phải tính toán thời điểm rất, rất cẩn thận.
RENG.
Đó là tiếng chuông thứ ba. Chà, Crowley thầm nghĩ, được ăn cả ngã về không.
Hắn dừng phắt lại và nhìn Hastur lao qua mình. Hastur quay lại và...
RENG.
Crowley lao ra khỏi đường dây điện thoại, xuyên qua vỏ bọc nhựa, và hiện nguyên hình, với kích cỡ như cũ, thở hổn hển không ra hơi, ở giữa phòng khách của hắn.
Tách.
Cuộn băng thu âm tin nhắn bắt đầu quay trong máy trả lời tự động. Rồi có một tiếng bíp, và, khi cuộn băng đang quay, một giọng nói từ loa gào lên sau tiếng bíp, “Được rồi! Gì cơ... Đồ rắn chết giẫm!”
Bóng đèn đỏ báo hiệu có tin nhắn bắt đầu nhấp nháy.
Bật, tắt, bật, tắt, như một con mắt đỏ ngầu, nhỏ xíu, giận dữ.
Crowley hết lòng mong là mình còn thêm nước thánh và lần này hắn sẽ nhúng cuộn băng vào đó cho tới khi nó tan chảy. Nhưng để kiếm được nước tắm lần cuối cho Ligur đã nguy hiểm lắm rồi, hắn đã giữ nó từ bao năm nay để đề phòng, nguyên việc có nó trong phòng thôi cũng khiến hắn bồn chồn. Hay... hay là... phải, chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn cho cuộn băng vào xe? Hắn có thể bật đi bật lại Hastur cho tới khi tên này biến thành Freddie Mercury. Không. Hắn có thể là thằng khốn, nhưng đấy cũng là giới hạn của hắn.
Có một tiếng sấm rền ở đằng xa.
Hắn không còn thời gian nữa.
Hắn không có nơi nào để đi.
Hắn vẫn đi. Hắn chạy xuống chỗ chiếc Bentley và lái xe về Khu Tây như thể toàn bộ quỷ sứ Địa ngục đang đuổi theo sau. Mà nói như vậy ít nhiều cũng chẳng sai.
Bà Tracy nghe thấy tiếng chân lão Shadwell lê bước lên cầu thang. Tiếng chân có vẻ lê lết hơn ngày thường, và cứ vài bước lại dừng. Bình thường lão vẫn lên cầu thang như thể lão căm ghét từng bậc một.
Bà mở cửa ra. Lão đang đứng dựa vào tường ở chiếu nghỉ.
“Kìa, ông Shadwell,” bà nói, “tay ông bị sao thế?”
“Tránh xa ta ra, mụ đàn bà kia,” Shadwell rên lên. “Ta không biết mình lại có quyền năng như thế!”
“Sao ông lại giơ tay ra như vậy?”
Shadwell cố lùi vào tường.
“Lùi lại, ta đã bảo rồi! Ta không chịu trách nhiệm được đâu!”
“Chuyện gì trên đời đã xảy ra với ông vậy, ông Shadwell?” bà Tracy hỏi, cố nắm tay lão.
“Không phải chuyện trên đời! Không phải chuyện trên đời!”
Bà nắm được cánh tay lão. Lão, Shadwell đây, kẻ trừng phạt ma quỷ, đành bất lực, không thể cưỡng lại khi bị kéo vào căn hộ của bà.
Lão chưa bao giờ đặt chân vào đây, ít nhất là trong lúc thức. Trong giấc mơ, lão đã trang trí căn hộ của bà bằng rèm lụa, thảm treo tường đắt tiền, và những thứ mà lão thầm gọi là dầu thơm. Quả thực, căn hộ có một tấm rèm hạt treo trên lối vào căn bếp nhỏ và một cái đèn làm một cách hơi vụng về từ một chai vang Chianti rỗng, vì quan niệm về thời trang của bà Tracy, cũng như Aziraphale, bị kẹt lại ở khoảng năm 1953. Và ở giữa phòng có một cái bàn trải khăn nhưng, và trên tấm khăn nhung là quả cầu thủy tinh đang càng ngày càng trở thành nguồn thu nhập chính của bà Tracy.
“Tôi nghĩ ông nên nằm nghỉ một lát, ông Shadwell ạ,” bà nói bằng giọng không chấp nhận lời tranh cãi nào hết và dẫn lão vào phòng ngủ. Lão choáng váng đến nỗi không phản đối nổi.
“Nhưng nhóc Newt còn ở ngoài kia,” Shadwell lẩm bẩm, “bị trói buộc bởi những đam mê ngoại đạo và những mưu chước huyền bí.”
“Thế thì tôi dám chắc cậu ấy sẽ biết phải làm gì,” bà Tracy nhanh nhảu đáp, hình dung của bà về những gì Newt đang trải qua có lẽ gần với sự thực hơn nhiều so với hình dung của Shadwell. “Và tôi dám chắc là cậu ấy sẽ không muốn nghĩ đến cảnh ông lo lắng rối bời lên ở đây đâu. Ông cứ nằm uống, còn tôi sẽ đi pha cho hai chúng ta một tách trà thật ngon.”
Bà biến mất giữa tiếng lách tách của tấm rèm hạt.
Đột nhiên Shadwell chỉ còn lại một mình trên cái mà lão vừa kịp nhớ ra, giữa đống thần kinh tơi tả, là một cái giường tội lỗi, và đúng lúc này thì lão không thể quyết định xem như vậy thì tệ hơn hay tốt hơn so với không ở một mình trên một cái giường tội lỗi. Lão quay đầu nhìn khắp xung quanh.
Khái niệm của bà Tracy về sự gợi tình xuất phát từ cái thời mà các chàng trai trẻ lớn lên đều nghĩ rằng phụ nữ có hai quả bóng bãi biển gắn trước ngực, Brigitte Bardot (*) có thể được gọi là biểu tượng tình dục mà không khiến ai cười phá lên, và quả thực có những tạp chí với cái tên như là Nữ, Núng Nính và Nịt Tất. Đâu đó trong cái vạc của sự buông thả này, bà đã nhặt được ý tưởng rằng thú nhồi bông trong phòng ngủ sẽ tạo ra một không khí thân mật, khêu gợi.
Suốt một hồi lâu, Shadwell chăm chú nhìn một con gấu bông mòn sờn, bị chột một mắt và rách một bên tai. Có lẽ nó có tên kiểu như Ông Buggins.
Lão quay đầu sang bên kia. Cái nhìn của lão bị chắn bởi một cái túi đựng áo ngủ có hình thù một con vật có lẽ là chó, hoặc cũng có thể là một con chồn hôi. Nó có một nụ cười nhăn nhở vui vẻ.
“Ợ,” lão nói.
Nhưng ký ức cứ ùa về. Lão thực sự đã làm được. Theo như lão biết thì không ai trong Đội quân đã từng diệt trừ được một tên quỷ. Hopkins cũng không, Siftings cũng không, Diceman cũng không. Có lẽ cả Thượng sĩ Săn Phù thủy Narker (*) cũng không, mà ông ta là người giữ kỷ lục săn được nhiều phù thủy nhất. Không sớm thì muộn, một đội quân cũng sẽ tìm được vũ khí tối thượng, và giờ đây, Shadwell ngẫm nghĩ, nó đang nằm ở cuối cánh tay lão.
Hừ, mặc kệ cam kết Không Sử Dụng Trước (*) . Lão sẽ nghỉ ngơi một lát, vì lão đã ở đây rồi, và rồi các Quyền năng Hắc ám sẽ phải đối mặt với địch thủ của chúng...
Khi bà Tracy đem trà vào thì lão đang ngáy khò khò. Bà ý tứ khép cửa lại, với vẻ khá biết ơn, vì hai mươi phút nữa bà có buổi gọi hồn, mà dạo này bà không thể từ chối tiền được.
Mặc dù bà Tracy nằm ở mức rất thấp trên thước đo trí tuệ, bà lại có trực giác trong nhiều chuyện khác, và liên quan đến chuyện chơi mấy trò huyền bí thì khả năng lý luận của bà không chê vào đâu được. Bà đã nhận ra rằng khách hàng của mình chỉ muốn làm chơi mà thôi. Họ không muốn bị nhồi đến tận cổ. Họ không muốn các bí ẩn nhiều tầng của Thời gian và Không gian, họ chỉ muốn được đảm bảo là mẹ họ vẫn khỏe mạnh sau khi chết. Họ chỉ muốn một chút Huyền bí đủ để thêm gia vị cho cuộc sống giản đơn hằng ngày, và với khẩu phần không quá bốn mươi lăm phút một lần, sau đó là một bữa trà với bánh quy.
Chắc chắn là họ không muốn có nến kỳ dị, hương trầm, lời tụng kinh, hay các cổ tự bí hiểm. Bà Tracy thậm chí đã bỏ gần hết các lá Ẩn Chính trong bộ bài tarot, vì sự xuất hiện của chúng thường khiến người ta sợ.
Và bà luôn nhớ luộc một nồi cải Brussels ngay trước buổi gọi hồn. Không có gì khiến người ta yên tâm hơn, không có gì thích hợp với tinh thần khoan khoái của thuyết huyền bí kiểu Anh hơn là mùi cải Brussels đang luộc ở phòng bên.
Đang là đầu buổi chiều, và những đám mây dông trĩu nặng đã biến bầu trời thành màu xám xỉn. Trời sắp mưa rồi, mưa to, mưa trắng trời. Những người lính cứu hỏa hy vọng mưa sẽ đến sớm. Càng sớm càng tốt.
Họ đã có mặt ở hiện trường khá sớm, và những người lính cứu hỏa trẻ tuổi đang chạy tới chạy lui vẻ phấn khích, tháo ống nước và thử rìu; còn những người già dặn hơn thì liếc một cái đã biết tòa nhà vô phương cứu vãn, thậm chí còn không dám chắc là cơn mưa có thể khiến lửa không lan sang các nhà bên cạnh, thì đúng lúc đó một chiếc Bentley đen trượt bánh ở góc đường và lao lên vỉa hè với tốc độ gần một trăm cây số giờ, và dừng lại giữa tiếng phanh ken két chỉ cách tường hiệu sách chưa đến một phân. Một gã trai trẻ cực kỳ khích động đeo kính râm nhảy ra và chạy về phía cửa ra vào của hiệu sách đang cháy bùng bùng.
Hắn bị một người lính cứu hỏa chặn lại.
“Anh là chủ cửa hiệu ạ?” người lính cứu hỏa hỏi.
“Hỏi vớ vẩn! Nhìn tôi giống chủ hiệu sách lắm à?”
“Cái đó thì tôi không biết, thưa anh. Không thể trông mặt mà bắt hình dong được. Ví dụ, tôi là lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nếu gặp xã giao, những người không biết nghề của tôi thường tưởng tôi là nhân viên kế toán hoặc giám đốc công ty. Thử tưởng tượng tôi không mặc đồng phục xem, thưa anh, và anh sẽ thấy một người như thế nào đứng trước mặt? Nói thật ấy?”
“Một thằng đần,” Crowley nói, rồi hắn chạy vào hiệu sách.
Nghe thì dễ hơn là làm, vì để chạy vào được bên trong Crowley cần tránh nửa tá lính cứu hỏa, hai viên cảnh sát, và một số dân ăn đêm thú vị ở Soho (*) đã ra ngoài sớm và đang sôi nổi tranh luận với nhau xem thành phần xã hội nào đã thắp sáng buổi chiều hôm đó và tại sao.
Crowley đi thẳng qua chỗ họ. Họ gần như không thèm liếc hắn lấy nửa cái.
Rồi hắn đẩy cửa ra và bước vào một biển lửa.
Toàn bộ hiệu sách đang bốc cháy. “Aziraphale!” hắn gọi. “Aziraphale, đồ... đồ ngu ngốc... Aziraphale? Anh có đây không?”
Không có tiếng đáp lại. Chỉ có tiếng giấy cháy lắc rắc, tiếng kính rạn vỡ khi lửa bốc lên các phòng trên tầng, và tiếng gỗ sập xuống rầm rầm.
Hắn nhìn khắp cửa hiệu, cuống quýt, tuyệt vọng, tìm vị thiên thần, tìm sự giúp đỡ.
Ở góc phòng, một giá sách đổ nhào, làm sách đang cháy đổ xuống sàn như tuyết lở. Lửa bốc lên quanh hắn, nhưng Crowley lờ đi. Ống quần trái của hắn bắt đầu bốc khói; hắn dập tắt nó bằng một cái nhìn.
“Có ai không? Aziraphale! Vì Chu..., vì Sa..., vì ai cũng được! Aziraphale!”
Cửa sổ hiệu sách bị đập vỡ từ bên ngoài. Crowley giật mình quay lại, và một luồng nước bất ngờ đập thẳng vào ngực hắn, xô hắn ngã nhào xuống đất.
Kính râm của hắn bay vào góc phòng và biến thành một đống nhựa chảy. Cặp mắt vàng với đồng tử là hai vạch thẳng lộ ra. Ướt như chuột lột, bốc khói nghi ngút, mặt đen nhẻm bồ hóng, khác xa vẻ sành điệu hết mức có thể, bò bằng cả tứ chi giữa hiệu sách cháy rừng rực, Crowley nguyền rủa Aziraphale, nguyền rủa kế hoạch bất khả tư nghị, nguyền rủa cả Bên Trên và Bên Dưới.
Rồi hắn nhìn xuống và thấy nó. Cuốn sách. Cuốn sách mà cô gái đã bỏ quên trong xe ở Tadfield, vào tối thứ Tư. Quanh bìa có hơi bị sém, nhưng kỳ diệu thay, nó chưa bị cháy. Hắn nhặt nó lên, nhét vào túi áo khoác, rồi loạng choạng đứng dậy và phủi bụi trên người.
Trần nhà trên đầu hắn đổ sụp. Với một tiếng gầm và một cái nhún vai khổng lồ, tòa nhà sụp xuống thành một trận mưa gạch, gỗ và vôi vữa đang cháy.
Bên ngoài, người qua đường bị cảnh sát chặn lại, và một lính cứu hỏa đang giải thích cho bất kỳ ai chịu nghe, “Tôi không thể ngăn được anh ta. Chắc anh ta điên rồi. Hoặc say. Cứ thế lao vào. Tôi không thể ngăn được. Điên rồi. Lao thẳng vào. Chết như thế thật khủng khiếp. Khủng khiếp, khủng khiếp. Cứ thế lao vào...”
Rồi Crowley bước ra khỏi màn lửa.
Đám cảnh sát và lính cứu hỏa nhìn hắn, thấy vẻ mặt hắn, và đứng nguyên tại chỗ.
Hắn trèo vào chiếc Bentley, lùi xe xuống đường, vòng qua một xe tải cứu hỏa, lái xe vào phố Wardour và biến vào buổi chiều đang tối dần.
Họ trố mắt nhìn theo chiếc xe đi xa dần. Cuối cùng một viên cảnh sát lên tiếng. “Thời tiết thế này, anh ta nên bật đèn mới phải,” ông ta đờ đẫn nói.
“Nhất là với kiểu lái xe như vậy. Có thể nguy hiểm,” một người khác đồng tình bằng giọng vô cảm, và họ cứ đứng trơ ra đó, trong ánh sáng và hơi nóng phả ra từ hiệu sách đang cháy, tự hỏi không biết chuyện gì đang xảy ra với thế giới quen thuộc của họ.
Có một tia chớp trắng xanh rạch qua nền trời phủ mây xám xịt, một tiếng sấm to đến nhức óc, và một màn mưa xối xả bắt đầu trút xuống.
Ả cưỡi một chiếc xe máy màu đỏ. Không phải màu đỏ Honda thân thiện; mà là một màu đỏ sậm như máu, đặc quánh, gần như đen, đầy hằn học. Ngoài màu sơn ra thì chiếc xe nhìn hoàn toàn bình thường, ngoại trừ thanh gươm tra trong vỏ, được treo một bên thân xe.
Mũ bảo hiểm của ả cũng màu đỏ, và áo da của ả có màu rượu lâu năm. Trên lưng áo có gắn đinh tán hồng ngọc thành dòng chữ THIÊN THẦN ĐỊA NGỤC.
Đang là một giờ mười phút chiều, trời tối, nồm, và ẩm ướt. Xa lộ gần như vắng tanh, và cô ả mặc đồ đỏ vừa rồ máy chiếc xe đỏ của mình xuôi con đường vừa mỉm cười uể oải.
Cho tới lúc này thì ngày hôm đó vẫn là một ngày đẹp. Có điều gì đó ở một người phụ nữ đẹp, cưỡi trên một chiếc xe máy phân khối lớn với một thanh gươm buộc vào sau, đã gây ấn tượng mạnh với một loại đàn ông nhất định. Đã có bốn nhân viên tiếp thị định đua xe với ả, và những mảnh vỡ của xe Ford Sierra giờ nằm rải rác trên rào chắn và cầu đỡ suốt dọc sáu mươi cây số xa lộ.
Ả dừng xe ở một trạm nghỉ và đi vào quán Lợn Vui. Quán gần như vắng tanh. Một bà phục vụ chán chường đang mạng tất sau quầy, và một nhóm mấy gã chạy xe máy mặc áo da đen, bặm trợn, râu ria, bẩn thỉu, to con, đang vây quanh một kẻ còn cao to hơn, mặc áo khoác đen. Kẻ này đang chăm chú chơi một thứ mà ngày xưa sẽ được gọi mà máy quay quả, nhưng giờ nó có màn hình và tự quảng cáo là MÁY ĐỐ VUI Ô CHỮ.
Khán giả đang hò hét những câu như:
“Là ‘D’! Nhấn ‘D’ đi... Bố già phải được nhiều Oscar hơn Cuốn theo chiều gió chứ!”
“Rối dây! Sandie Shaw! Thật đấy. Chắc trăm phần trăm!”
“1666!”
“Không, đồ đần! Đó là vụ cháy! Dịch hạch là năm 1665 chứ!”
“Là ‘B’... Vạn Lý Trường Thành không phải là một trong bảy kỳ quan thế giới!”
Có bốn lựa chọn: Nhạc pop, Thể thao, Tin tức sự kiện, và Kiến thức chung. Tay chạy xe máy to cao, vẫn đang đội nguyên mũ bảo hiểm, đang nhấn nút, dường như không chú ý gì đến những người cổ vũ xung quanh. Dù sao thì hắn cũng đang thắng liên tiếp.
Cô ả mặc đồ đỏ đến bên quầy.
“Cho tôi một tách trà. Và một bánh kẹp pho mát,” ả nói.
“Cô đi có một mình thôi à, cưng?” bà phục vụ hỏi, rót trà cho ả và đẩy một vật trăng trắng, khô khốc, cứng quèo ngang qua mặt quầy.
“Tôi đợi bạn.”
“À,” bà ta nói, cắn một sợi len. “Thế thì cô cứ đợi trong này là hơn. Ngoài kia như Địa ngục ấy.”
“Không,” cô ả bảo bà ta. “Chưa đâu.”
Ả chọn một bàn bên cửa sổ, nhìn ra bãi đỗ xe, và ả đợi.
Ả có thể nghe thấy đám chơi Đố Vui cãi cọ sau lưng.
“Câu này mới đây, ‘Nước Anh đã chính thức có chiến tranh với Pháp bao nhiêu lần từ năm 1066?”‘
“Hai mươi à? Không, làm gì đến hai mươi... À. Đúng hai mươi thật. Thế cơ đấy.”
“Chiến tranh giữa Mỹ với Mexico? Câu này tao biết. Là tháng Sáu năm 1845. ‘D’... thấy chưa! Đã bảo mà!”
Gã chạy xe máy thấp thứ hai, Pigbog (1m87), thì thầm với gã thấp nhất, Greaser (1m85):
“Mục ‘Thể thao’ đâu rồi ý nhỉ?” Gã có chữ CƯNG xăm trên khớp ngón tay của một bàn tay, còn bàn tay kia xăm chữ GHÉT.
“Tất cả là do, cái gì nhỉ, lựa chọn ngẫu nhiên thôi. Ý tao là họ làm bằng con chip hết. Chắc nó có đến cả triệu mục khác nhau trong đấy, trong RAM của nó ấy.” Khớp ngón tay phải của gã có xăm chữ KHOAI, còn trên tay trái là chữ CHIÊN.
“Nhạc pop, Tin tức sự kiện, Kiến thức chung, và Chiến tranh. Chỉ là tao chưa bao giờ thấy mục ‘Chiến tranh’ cả. Thế nên tao mới nói.” Pigbog bẻ khớp đốt ngón tay răng rắc và bật nắp một lon bia. Gã nốc cạn nửa lon, ợ một tiếng ngông nghênh, rồi thở dài. “Ước gì nó hỏi nhiều hơn về Kinh Thánh.”
“Tại sao?” Greaser chưa bao giờ nghĩ Pigbog lại là dân mê Kinh Thánh cả.
“Ờ, thì, mày có nhớ cái vụ rắc rối ở Brighton không?”
“À, ừ. Mày được lên chương trình Tầm ngắm tội phạm,” Greaser nói, với một thoáng ghen tị.
“Ờ, thế là tao phải ở lại cái khách sạn chỗ mẹ tao làm ấy, nhớ không? Ba tháng. Mà đếch có gì để đọc, chỉ có thằng cha Gideon nào đã bỏ quên Kinh Thánh ở đấy. (*) Thế là nó cứ kẹt lại trong đầu tao thôi.”
Một chiếc xe máy khác, đen nhánh, bóng lộn, tiến vào bãi đỗ xe bên ngoài.
Cửa quán mở ra. Một luồng gió lạnh thổi qua quán; một người đàn ông mặc đồ da đen từ đầu đến chân, với bộ râu đen ngắn, bước đến bên bàn, ngồi xuống cạnh cô ả mặc đồ đỏ, và mấy gã chạy xe máy quanh cái máy đố vui chợt nhận ra mình đã đói ngấu, nên liền cử Skuzz đi kiếm ít đồ ăn. Tất cả, ngoại trừ kẻ đang chơi vẫn không nói gì, chỉ tiếp tục nhấn nút chọn câu trả lời đúng và để tiền thắng được đổ đầy khay dưới máy.
“Tôi chưa gặp ông từ vụ Mafeking (*) ,” Đỏ nói. “Mọi chuyện thế nào rồi?”
“Tôi bận ra trò,” Đen đáp. “Dành khá nhiều thời gian ở Mỹ. Thi thoảng chu du thế giới ít lâu. Thực ra cũng chỉ để giết thời gian thôi.”
(“Bà nói bà không có bánh nhân thịt bò và bầu dục là sao?” Skuzz công phẫn hỏi.
“Tôi tưởng chúng tôi còn, nhưng hết rồi,” bà phục vụ nói.)
“Buồn cười thật, tất cả chúng ta tụ họp lại thế này,” Đỏ nói.
“Buồn cười ấy à?”
“Ờ thì, ông biết đấy. Khi chúng ta đã dành hàng ngàn năm chờ đợi ngày trọng đại này, và cuối cùng nó cũng đến. Như đợi ngày Giáng sinh vậy. Hay sinh nhật.”
“Chúng ta không có sinh nhật.”
“Tôi đâu có nói thế. Tôi chỉ nói nó giống thế thôi.”
(“Thật ra,” bà phục vụ thừa nhận, “hình như chúng tôi chẳng còn gì cả. Ngoại trừ miếng pizza kia.”
“Có cá cơm trên đó không?” Skuzz lầm lì hỏi. Không gã nào trong nhóm thích cá cơm. Hay ô liu.
“Có, cưng ạ. Là cá cơm và ô liu. Cậu ăn nhé?”
Skuzz buồn bã lắc đầu. Bụng sôi òng ọc, gã quay về chỗ trò chơi. Ted Bự thường nổi cáu khi đói, và khi Ted Bự cáu thì tất cả sẽ ăn đủ.)
Một mục mới đã xuất hiện trên màn hình. Giờ ta có thể trả lời câu hỏi về Nhạc pop, Tin tức sự kiện, Nạn đói, hoặc Chiến tranh. Mấy gã chạy xe máy biết ít về Nạn đói Khoai tây ở Ireland năm 1846, về nạn đói tất cả các thứ ở Anh năm 1315, và nạn đói ma túy ở San Francisco năm 1969 hơn là về chiến tranh, nhưng người chơi vẫn đang đạt điểm hoàn hảo, chỉ thỉnh thoảng điểm mấy tiếng rè rè, loảng xoảng, và leng keng khi cái máy nhả những đồng bảng xuống cái khay.
“Thời tiết dưới phía nam có vẻ hơi rắc rối nhỉ,” Đỏ nói.
Đen nheo mắt nhìn những đám mây đang tối dần. “Không. Tôi thấy ổn đấy chứ. Chỉ lát nữa là bão sẽ đến thôi.”
Đỏ ngắm móng tay. “Tốt. Phải có một trận bão ra trò thì mới đúng điệu chứ. Ông biết chúng ta phải đi bao xa không?”
Đen nhún vai. “Độ vài trăm cây số.”
“Sao tôi lại nghĩ là xa hơn nhỉ. Chờ đợi suốt bao lâu mà chỉ đi có vài trăm cây số.”
“Đi không quan trọng,” Đen nói. “Đến mới là quan trọng.”
Có một tiếng gào rú bên ngoài. Đó là tiếng gào rú của một chiếc xe máy bị hỏng ống xả, động cơ chưa được chỉnh, và bộ chế hòa khí bị rò. Ta không cần nhìn thấy chiếc xe cũng có thể tưởng tượng được làn khói đen sì vây quanh nó, vệt dầu nhớt nó để lại phía sau, và những đinh ốc cùng bộ phận nhỏ của xe vương vãi khắp mặt đường sau lưng nó.
Đen đến bên quầy.
“Xin cho bốn tách trà,” hắn gọi. “Một đen.”
Cửa quán mở ra. Một gã trai trẻ mặc đồ da trắng bụi bặm bước vào, và gió thổi bao bim bim rỗng, giấy báo và vỏ kem vào theo gã. Chúng lượn quanh chân gã như một đám trẻ con háo hức, rồi mệt nhoài rơi xuống sàn.
“Vậy là các anh có bốn người cả thảy hả?” bà phục vụ hỏi. Bà đang cố tìm mấy cái tách và thìa sạch - không hiểu sao cả giá bát đĩa bỗng bị phủ một lớp dầu nhớt và cặn trứng.
“Sẽ có bốn người,” kẻ mặc đồ đen nói, rồi hắn bê bốn tách trà quay về bàn, nơi hai đồng bọn của hắn đang đợi.
“Thấy dấu hiệu gì của ngài không?” gã trai mặc đồ trắng hỏi.
Hai kẻ kia lắc đầu.
Một cuộc tranh cãi đã nổ ra quanh màn hình (các mục đố vui hiện đang có trên màn hình bao gồm Chiến tranh, Nạn đói, Ô nhiễm, và Kiến thức chung 1962-1979).
“Elvis Presley? Phải là ‘C’ - ông ta chết năm 1977, đúng không?”
“Đâu. Là ‘D’. 1976. Tao chắc đấy.”
“Ừ. Cùng năm với Bing Crosby.”
“Và Marc Bolan nữa. Thằng cha ấy cũng ngỏm củ tỏi rồi. Thế thì là ‘D’ rồi. Nhấn đi.”
Kẻ cao lớn nọ không nhúc nhích để nhấn bất kỳ nút nào.
“Ông sao thế?” Ted Bự cáu kỉnh nói. “Nhấn ‘D’ đi. Elvis Presley chết năm 1976.”
TA KHÔNG QUAN TÂM NÓ NÓI GÌ, tay chạy xe máy cao lớn đội mũ bảo hiểm nói, TA CHƯA BAO GIỜ ĐỤNG ĐẾN ÔNG TA.
Ba kẻ ngồi bên bàn đồng loạt quay lại. Đỏ lên tiếng. “Ngài đến đây từ bao giờ?” ả hỏi.
Kẻ cao lớn bước đến bên bàn, để lại đám chạy xe máy đang sững sờ cùng đống tiền thắng được. TA CHƯA BAO GIỜ RỜI ĐI, và giọng hắn là một tiếng vọng u ám từ những chốn tối tăm, một phiến âm thanh lạnh lẽo, xám ngắt, và vô cảm. Nếu giọng nói đó là một phiến đá thì hẳn nó đã được chạm khắc từ lâu: một cái tên, và hai ngày tháng.
“Trà của ngài đang nguội đấy, thưa ngài,” Nạn Đói nói.
“Đã lâu quá rồi,” Chiến Tranh nói.
Có một tia chớp lóe lên, và gần như ngay tiếp theo đó là một tiếng sấm trầm trầm.
“Thời tiết rất tuyệt cho chuyến đi,” Ô Nhiễm nói.
PHẢI.
Mấy gã chạy xe máy đứng quay máy đố vui đang mỗi lúc một bối rối hơn vì cuộc trò chuyện này. Được Ted Bự dẫn đầu, chúng kéo đến bên bàn và trố mắt nhìn bốn kẻ lạ mặt kia.
Chúng không thể không nhận thấy cả bốn kẻ lạ mặt đều có chữ THIÊN THẦN ĐỊA NGỤC trên áo. Và nhìn họ quá đáng nghi so với đám Thiên thần (*) : quá sạch sẽ, và cả bốn kẻ đều không có vẻ gì là đã từng bẻ gãy tay ai chỉ vì đang là chiều Chủ nhật và trên tivi không có gì xem. Và một trong số đó lại còn là phụ nữ nữa, chỉ khác là không cưỡi trên xe máy sau lưng ai đó mà lại được đi xe của riêng mình, như thể ả có quyền vậy.
“Các vị là hội Thiên thần Địa ngục hả?” Ted Bự hỏi mỉa. Nếu có một thứ mà Thiên thần Địa ngục thứ thiệt không chịu nổi, thì đó là bọn chạy xe máy nghiệp dư. (*)
Bốn kẻ lạ mặt gật đầu.
“Thế các vị đến từ chi hội nào?”
Kẻ Lạ Mặt Cao Lớn nhìn Ted Bự. Rồi hắn đứng dậy. Đó là một cử động phức tạp; nếu trên bờ biển đêm mà có ghế xếp thì chúng cũng sẽ mở ra như thế.
Dường như hắn cứ mở người ra thêm mãi.
Hắn đội một cái mũ bảo hiểm đen, che kín hoàn toàn mặt. Và Ted Bự nhận ra cái mũ được làm bằng thứ nhựa kỳ dị. Khi ta nhìn vào đó, ta chỉ thấy khuôn mặt của chính mình.
KHẢI HUYỀN, hắn đáp. CHƯƠNG SÁU. (*)
“Khổ hai đến tám,” gã trai mặc đồ trắng sốt sắng thêm vào.
Ted Bự trừng mắt nhìn bốn kẻ kia. Hàm dưới của gã bắt đầu chìa ra, và một mạch máu xanh ở thái dương gã bắt đầu giần giật. “Thế nghĩa là thế nào?” gã quát.
Có ai đó giật tay áo gã. Là Pigbog. Mặt Pigbog đã chuyển sang một màu xám rất lạ dưới lớp ghét bẩn.
“Có nghĩa là chúng ta gặp rắc rối to rồi,” Pigbog nói.
Và rồi kẻ lạ mặt cao lớn với lấy một chiếc găng đi xe máy màu nhạt, gạt kính trước mũ bảo hiểm của hắn lên, và lần đầu tiên trong quãng đời tồn tại của mình, Ted Bự ước là mình đã sống tử tế hơn.
“Lạy Chúa Jesus!” gã rên lên.
“Tao nghĩ Người cũng sắp đến rồi đấy,” Pigbog vội vã nói. “Chắc Người đang tìm chỗ đỗ xe máy thôi. Đi thôi, và, và tham gia một câu lạc bộ thanh thiếu niên hay gì đó...”
Nhưng sự dốt nát vô địch của Ted Bự chính là khiên chắn và áo giáp của gã. Gã không nhúc nhích.
“Chà,” gã nói. “Thiên thần Địa ngục.”
Chiến Tranh biếng nhác đưa tay chào hắn.
“Chính là bọn ta đây, Ted Bự,” ả nói. “Dân chơi thứ thiệt.”
Nạn Đói gật đầu. “Công ty Cũ,” hắn nói.
Ô Nhiễm bỏ mũ bảo hiểm ra và lắc mái tóc dài trắng bệch. Gã đã đảm nhiệm vị trí này khi Bệnh Dịch, luôn mồm than phiền về penicillin, đã nghỉ hưu hồi năm 1936. Giá mà lão già đó biết tương lai sẽ mở ra những cơ hội gì...
“Những kẻ khác chỉ hứa suông,” gã nói, “bọn ta thì thực thi.” Ted Bự nhìn Kỵ sĩ thứ tư. “Này, tôi đã thấy ngài rồi,” gã nói.
“Ngài ở trên bìa album của nhóm Blue Oyster Cult. Và tôi có một cái nhẫn có... có... đầu ngài trên đó.”
TA CÓ MẶT Ở KHẮP MỌI NƠI.
“Chà.” Khuôn mặt bự của Ted Bự nhăn lại vì cố suy nghĩ.
“Các vị đi xe loại gì?” gã hỏi.
Cơn bão dữ dội bủa vây mỏ phấn. Sợi thừng buộc cái bánh xe ô tô cũ nhảy nhót trong luồng gió. Thỉnh thoảng một tấm sắt, di vật của một lần thử xây nhà cây, sẽ bị giật khỏi chỗ đóng lỏng lẻo và bay vút đi.
Bọn Chúng túm tụm lại với nhau, nhìn Adam chằm chằm. Không hiểu sao nhìn thằng bé có vẻ to lớn hơn. Chó ngồi gầm gừ. Nó đang nghĩ về tất cả những mùi nó sẽ đánh mất. Ở Địa ngục chẳng có mùi gì hết, trừ mùi lưu huỳnh. Trong khi đó thì một số mùi ở đây thật, thật là... ờ, mà sự thật là ở Địa ngục cũng không có chó cái nữa.
Adam đang đi đi lại lại vẻ phấn khích, huơ tay trong không khí. “Bọn mình sẽ tha hồ chơi đùa thỏa thích,” nó nói. “Bọn mình sẽ được khám phá đủ thứ. Tao nghĩ là tao sẽ sớm có thể làm cho rừng xưa mọc lại thôi.”
“Nhưng... nhưng ai... ai sẽ, mày biết đấy, nấu nướng và giặt giũ và làm những việc tương tự?” Brian run run hỏi.
“Sẽ không ai phải làm những việc đó nữa,” Adam nói. “Bọn mày có thể muốn gì ăn nấy, khoai chiên, hành bọc bột chiên, cái gì cũng được. Và sẽ không bao giờ phải thay quần áo mới hoặc tắm nếu bọn mày không muốn. Hoặc phải đi học. Hoặc phải làm bất kỳ thứ gì bọn mày không muốn, không bao giờ nữa. Sẽ ác lắm đây!”
◇ ❖ ◇
Trăng mọc lên trên đồi Kookamundi. Đêm nay trăng rất sáng.
Johnny Hai Khúc Xương ngồi giữa lòng chảo sa mạc đỏ rực. Đây là một nơi linh thiêng, nơi có hai tảng đá tổ tiên, được tạo thành từ Thời Mộng (*) , vẫn nằm như chúng đã nằm từ thuở nguyên sơ. Chuyến hành hương của Johnny Hai Khúc Xương đã sắp kết thúc. Má và ngực anh được bôi một vệt đất son, và anh đang hát một bài ca cổ, một kiểu hát lên bản đồ rặng đồi, và anh đang vạch những hình vẽ lên nền bụi bằng mũi giáo.
Đã hai ngày nay anh nhịn ăn; anh cũng không ngủ. Anh đã sắp đạt đến trạng thái nhập định, để hòa mình với Vùng Hoang, để kết nối với tổ tiên.
Anh đã sắp đạt được.
Sắp...
Anh chớp mắt. Bối rối nhìn quanh.
“Xin thứ lỗi, anh bạn thân mến, “ anh nói với chính mình bằng giọng kiểu cách, phát âm rõ ràng. “Nhưng anh có biết tôi đang ở đâu không?”
“Ai nói đấy?” Johnny Hai Khúc Xương nói.
Miệng anh mở ra. “Là tôi đây.”
Johnny băn khoăn gãi đầu. “Chắc ông là tổ tiên của tôi hẳn?”
“À. Chắc chắn rồi, anh bạn thân mến. Không nghi ngờ gì nữa. Nói theo một cách nào đó thì đúng vậy. Giờ thì, quay lại với câu hỏi ban đầu của tôi. Tôi đang ở đâu đây?”
“Chỉ là nếu ông là tổ tiên của tôi,” Johnny Hai Khúc Xương nói, “thì sao ông lại nói chuyện như thằng bóng chúa (*) thế?”
“ À. Nước Úc,” miệng Johnny Hai Khúc Xương nói, phát âm từ đó như thể nó cần được tẩy trùng kỹ lưỡng trước khi anh thốt ra nó lần nữa. “Ôi trời. Thôi, dù sao cũng cảm ơn anh.”
“A lô? A lô?” Johnny Hai Khúc xương nói.
Anh ngồi trên nền cát, và anh đợi hoài, đợi mãi, nhưng anh không trả lời.
Aziraphale đã đi tiếp.
◇ ❖ ◇
Citron Deux-Chevaux là tonton macoute, một hougan (*) lang thang: anh có một cái túi quảy trên vai, trong đó là các thứ lá thần, lá thuốc, mấy mẩu mèo rừng, nến đen, một thứ bột chủ yếu làm từ da một loại cá phơi khô, một con rết chết, một nửa chai rượu Chivas Regal, mười điếu Rothmans, và một cuốn Sự kiện Haiti.
Anh nhấc con dao lên và, với một nhát xẻo thành thạo, cắt lìa đầu con gà trống đen. Máu túa lên tay phải anh.
“Xin Loa hãy nhập vào tôi,” anh ngân nga. “Xin Gros Bon Ange (*) hãy đến với tôi.”
“Tôi đang ở đâu đây?” anh nói.
“Đó có phải là Gros Bon Ange của tôi không?” anh hỏi.
“Tôi nghĩ đó là một câu hỏi hơi riêng tư,” anh trả lời. “ý tôi là, xét theo mấy thứ kiểu đó ấy mà. Nhưng dù sao ta cũng phải cố thôi. Làm hết sức mình.”
Citron thấy một bàn tay đang với về phía con gà. “Nấu nướng ở đây thì hơi mất vệ sinh, anh có thấy thế không? Ngay giữa rừng rú thế này. Anh đang tổ chức tiệc nướng thịt à? Đây là chỗ nào?”
“Haiti,” anh trả lời.
“Chết tiệt! Còn xa quá. Nhưng thôi cũng được. Thôi, tôi phải đi đây. Ngoan nhé.”
Và Citron Deux-Chevaux chỉ còn một mình trong tâm trí.
“Kệ mẹ các Loa,” anh lầm bầm. Anh nhìn vào hư vô hồi lâu, rồi với tay lấy cái túi và chai Chivas Regal. Có ít nhất hai cách để biến một người thành xác sống. Anh sẽ chọn cách dễ nhất.
Sóng xô bờ ầm ĩ. Hàng cọ rung chuyển.
Một cơn bão đang đến.
Đèn bật sáng. Dàn Hợp xướng Phúc âm Cáp điện (Nebraska) cất cao giọng hát bài “Chúa Jesus là người thợ sửa điện thoại ở tổng đài đời tôi”, gần như át cả tiếng gió đang mạnh dần.
Marvin O. Bagman chỉnh lại cà vạt, kiểm tra nụ cười của mình trong gương, vỗ mông cô trợ lý riêng (cô Cindi Kellerhals, Vật Cưng của Tháng trên tạp chí Penthouse vào tháng Bảy ba năm trước; nhưng cô đã để lại tất cả sau lưng khi có được Sự Nghiệp), và ông ta bước ra trường quay.
Chúa Jesus sẽ không cắt dây trước khi bạn nối máy xong
Với Người bạn sẽ không bao giờ bị nhiễu sóng,
Và khi bạn nhận được hóa đơn từng khoản sẽ được ghi rõ ràng
Người là thợ sửa điện thoại trên tổng đài của đời tôi,
dàn đồng ca hát. Marvin rất thích bài đó. Chính ông ta đã sáng tác nó.
Các sáng tác khác của ông ta bao gồm: “Ông Jesus vui vẻ”, “Chúa Jesus, con đến ở nhà người được không?”, “Thập giá bốc lửa”, “Chúa Jesus là miếng dán trên giảm xóc của linh hồn tôi”, và “Khi tôi được Chúa đưa lên Thiên đường hãy giữ vô lăng chiếc xe bán tải của tôi”. Các bài hát này đều có trong album Chúa Jesus là bạn tôi (có đĩa than, băng cát xét và CD) và cứ bốn phút một lần lại được quảng cáo trên kênh Phúc âm của Bagman. (*)
Mặc dù lời hát chẳng có vần hay là, đã thành lệ, thậm chí còn chẳng có nghĩa nữa, và Marvin, vốn không có khiếu âm nhạc, đã thó tất tật giai điệu từ các bài hát đồng quê cũ, Chúa Jesus là bạn tôi vẫn bán được hơn bốn triệu bản.
Marvin vốn xuất thân là một ca sĩ nhạc đồng quê, hát các bài hát cũ của Conway Twitty và Johnny Cash.
Ông ta đã thường xuyên biểu diễn trực tiếp ở nhà tù San Quentin cho tới khi đám người hoạt động vì nhân quyền cấm ông ta theo điều khoản Trừng phạt Tàn bạo và Bất thường.
Đó là khi Marvin chuyển sang tôn giáo. Không phải kiểu tôn giáo lặng lẽ, cá nhân, bao gồm việc làm điều thiện và sống tốt hơn; thậm chí còn không phải kiểu tôn giáo mà ta phải mặc vét và đi bấm chuông các nhà; mà là kiểu tôn giáo cho ta một kênh truyền hình riêng và thuyết phục mọi người gửi tiền cho ta.
Ông ta đã tìm được sự kết hợp truyền hình hoàn hảo ở chương trình Giờ Thần thánh của Marvin (“Chương trình đã đưa chữ TUYỆT trở lại với Đức tin Tuyệt đối!”). Bốn bài hát trong album, mỗi bài dài ba phút, hai mươi phút nói về Hỏa ngục, và năm phút chữa bệnh. (Hai mươi ba phút còn lại được dành để hoặc phỉnh phờ, hoặc cầu xin, hoặc đe dọa, hoặc van vỉ, và thỉnh thoảng là thẳng thừng yêu cầu mọi người gửi tiền.) Thời đầu ông ta còn đưa người vào trường quay để chữa bệnh, nhưng thấy như thế quá phức tạp, nên bây giờ ông ta chỉ tuyên bố mình đã nhận được hình ảnh về các khán giả trên khắp nước Mỹ đang được chữa lành trong lúc họ xem chương trình. Như thế đơn giản hơn nhiều - ông ta không cần thuê diễn viên nữa, và không ai có thể kiểm tra tỷ lệ thành công của ông ta. (*)
Thế giới phức tạp hơn phần lớn mọi người tưởng nhiều. Ví dụ, nhiều người tin rằng Marvin không phải Tín đồ thực thụ vì ông ta kiếm được quá nhiều tiền từ đức tin. Họ đã nhầm, ông ta tin bằng cả tấm lòng, ông ta tin hoàn toàn, và bỏ ra một khoản kha khá trong số tiền chảy vào túi ông như nước, để dành cho cái mà ông ta thực sự nghĩ là việc của Chúa.
Đường dây điện thoại đến đấng cứu thế luôn sạch tiếng nhiễu
Người sẽ nhấc máy bất kỳ giờ nào, ngày hay đêm
Và khi gọi đến số J-E-S-U-S bạn sẽ không mất cước
Người là thợ sửa điện thoại trên tổng đài của đời tôi.
Bài hát đầu tiên kết thúc, và Marvin bước ra trước máy quay, nhún nhường giơ tay lên ra hiệu im lặng. Trong phòng điều khiển, viên kỹ sư vặn nhỏ tiếng vỗ Tay lại.
“Xin cảm ơn các anh chị em, xin cảm ơn, thật là hay phải không ạ? Và các bạn hãy nhớ, các bạn có thể nghe bài hát đó cùng nhiều bài hát khai trí không kém trong album Chúa Jesus là bạn tôi, chỉ cần gọi điện đến số 1-800-TIEN và đóng góp ngay bây giờ.”
Ông ta trở nên nghiêm nghị hơn.
“Thưa các anh chị em, tôi có một lời nhắn cho tất cả các anh chị em, một lời nhắn khẩn thiết từ Chúa, cho tất cả các bạn, nam, nữ, và trẻ em, thưa các bạn, tôi xin được nói với các bạn về Tận thế. Tất cả đều có trong Kinh Thánh của các bạn, trong kinh Khải huyền mà chúa đã giao cho Thánh John ở đảo Patmos, và trong kinh Daniel, chúa đã luôn nói thẳng với các bạn - về tương lai của các bạn. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra?
“Chiến tranh. Bệnh dịch. Nạn đói. Chết chóc. Sông máu. Động đất. Tên lửa hạt nhân. Những ngày tháng khủng khiếp đang đến, hỡi anh chị em. Và chỉ có một cách duy nhất để tránh được chúng.
“Trước khi sự Hủy Diệt bắt đầu... trước khi Tứ Kỵ sĩ Khải huyền lên đường... trước khi tên lửa hạt nhân trút xuống đầu những kẻ vô tín ngưỡng... sẽ có Cứu Vớt.
“Cứu Vớt là gì? Tôi nghe các bạn hỏi vậy.
“Khi Cứu Vớt tới, thưa các anh chị em, các Tín đồ Chân chính sẽ được nâng lên không trung - bất kể các bạn đang làm gì, dù các bạn đang tắm, đang làm việc, đang lái xe, hay đang ngồi ở nhà đọc Kinh Thánh. Đột nhiên các bạn sẽ được đưa lên không trung, trong cơ thể hoàn hảo, không bao giờ mục rữa. Và các bạn sẽ ở trên không trung, nhìn xuống thế giới trong khi những năm tháng hủy diệt bắt đầu. Chỉ những người có đức tin mới được cứu vớt, chỉ những người đã được rửa tội mới có thể tránh được nỗi đau, cái chết, nỗi kinh hoàng, sự thiêu đốt. Rồi sau đó sẽ là cuộc chiến vĩ đại giữa Thiên đường và Địa ngục, và Thiên đường sẽ đánh bại thế lực của Địa ngục, và chúa sẽ gạt đi những giọt nước mắt của những người khổ đau, và rồi sẽ không còn cái chết, buồn khổ, khóc lóc, hay đau đớn nữa, và Người sẽ ngự trị trong tiên cảnh vĩnh hằng...”
Đột nhiên ông ta ngừng lại.
“Chà, nói hay lắm,” ông ta nói bằng giọng khác hẳn, “chỉ là mọi chuyện sẽ không xảy ra như thế đâu. Không hẳn.
“Ý ta là, ông đã đúng về vụ lửa thiêu, chiến tranh và tất tật mấy thứ đó. Nhưng còn về vụ Cứu Vớt thì, ờ, nếu các vị có thể thấy họ trên Thiên đường - hàng hàng lớp lớp đứng xa hết tầm mắt và còn xa hơn thế, hàng đoàn, hàng đoàn chúng ta, tay cầm gươm rực lửa, tất cả những thứ đó, ờ, ý ta là, ai còn thời gian mà đi chọn người và kéo họ lên không trung để họ cười mỉa đám người đang chết vì nhiễm phóng xạ dưới mặt đất nứt nẻ và cháy rực bên dưới nữa chứ? Nếu các vị nghĩ như vậy là chấp nhận được về mặt đạo đức, ta xin nói thêm như thế.
“Còn về vụ Thiên đường kiểu gì cũng thắng thì... Ờ, nói thật nhé, nếu đã hai năm rõ mười như thế thì việc gì phải có Thiên Chiến nữa, phải không? Chỉ là tuyên truyền thôi. Đơn giản là thế. Cơ hội chiến thắng của chúng ta là không quá năm mươi phần trăm. Các vị có gửi tiền đến cho hội thờ quỷ Satan thì cũng chẳng khác gì, nhưng nói thật là khi lửa trút xuống và biển máu dâng lên thì các vị sẽ đều thành thương vong dân thường cả thôi. Giữa chiến tranh của bọn ta và chiến tranh của các vị, tất cả sẽ bị giết sạch và để cho Chúa xử... đúng không?
“Mà thôi, xin lỗi vì cứ đứng đây lải nhải mãi, tôi chỉ có một câu hỏi nhanh thôi... tôi đang ở đâu đây?”
Marvin O. Bagman đang tím ngắt đi.
“Là quỷ dữ! Xin chúa bảo vệ con! Quỷ dữ đang nhập vào tôi!” ông ta thét lên, rồi lại tự ngắt lời, “Ồ không, ngược lại là khác. Tôi là thiên thần. À. Chắc đây là nước Mỹ phải không? Rất xin lỗi, không thể ở lại được...”
Im lặng một thoáng. Marvin cố mở miệng, nhưng không có gì xảy ra cả. Thứ đang trong đầu ông ta nhìn quanh. Ông ta nhìn các nhân viên trong trường quay, những người không gọi cảnh sát hay trốn vào góc phòng khóc lóc. Ông ta nhìn người quay phim mặt xám ngoét.
“Ôi trời,” ông ta nói, “tôi đang lên truyền hình à?”
◇ ❖ ◇
Crowley đang lao đi trên phố Oxford với vận tốc hai trăm cây số một giờ.
Hắn thò tay vào ngăn đựng găng tay tìm cặp kính râm dự phòng, nhưng chỉ thấy toàn băng cát xét. Hắn bực bội vớ bừa một cái và nhét nó vào đài.
Hắn muốn nghe Bach, nhưng nhóm The Travelling Wilburys cũng được.
Tất cả những gì chúng ta cần là Radio Ga Ga, Freddie Mercury hát.
Tất cả những gì ta cần là trốn thoát, Crowley thầm nghĩ.
Hắn vòng xe ngược chiều qua bùng binh Khải Hoàn Môn, giảm tốc xuống còn một trăm tư. Những tia chớp khiến bầu trời London lập lòe như một ống đèn tuýp bị hỏng.
Bầu trời London bầm tím, Crowley thầm nghĩ, và tôi biết cái kết đã cận kề. Đó là ai viết nhỉ? Chesterton phải không? Nhà thơ duy nhất của thế kỷ hai mươi đã đến gần được Chân lý.
Chiếc Bentley ra khỏi London trong lúc Crowley ngồi ngả ra trên ghế tài xế và lật giở cuốn Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác của Agnes Nutter bị cháy sém.
Gần cuối cuốn sách, hắn tìm thấy một tờ giấy gập lại với nét chữ viết tay rõ ràng như bản khắc đồng của Aziraphale. Hắn giở tờ giấy ra (trong khi cần số của chiếc Bentley tự chuyển sang số ba và chiếc xe tăng tốc lách qua một cái xe tải chở hoa quả vừa bất ngờ lùi ra từ một con ngõ), rồi hắn đọc lại nó.
Rồi hắn đọc nó một lần nữa, trong lúc dạ dày từ từ thót lại.
Chiếc xe đột ngột đổi hướng. Giờ nó tiến về làng Tadfield ở Oxfordshire. Hắn có thể đến nơi trong vòng một tiếng, nếu đi thật nhanh.
Mà cũng chẳng có nơi nào khác để đi cả.
Cuốn băng cát xét chạy hết, và đài trong xe tự động bật lên.
“... Mục Câu hỏi cho Người Làm vườn được gửi đến bạn từ Câu lạc bộ Làm vườn Tadfield. Lần gần đây nhất chúng tôi đến đó là vào năm 1953, một mùa hè rất tuyệt, và như cả nhóm còn nhớ, phía đông giáo xứ ở đó có đất mùn Oxfordshire rất phì nhiêu, rồi chuyển thành đá phấn ở phía tây; đó là nơi mà ta trồng gì cũng sẽ mọc tươi tốt. Phải vậy không, Fred?”
“Đúng thế,” giáo sư Fred Windbright thuộc Vườn Bách thảo Hoàng gia đáp, “tôi cũng không thể nói chính xác hơn.”
“Được rồi... câu hỏi đầu tiên đến từ ông R. P. Tyler, chủ tịch Hội Dân cư, tôi tin là vậy.”
“E hèm. Vâng, đúng thế. Tôi là người rất say mê trồng hồng, nhưng bụi Molly McGuire đoạt giải của tôi hôm qua đã bị mất vài bông hoa vì một trận mưa hình như là toàn cá. Các vị có gợi ý gì cho vấn đề này không, ngoài cách căng lưới che vườn? Ý tôi là, tôi đã viết thư cho hội đồng...”
“Chắc đây không phải là vấn đề thường gặp. Harry, anh nghĩ sao?”
“Ông Tyler, cho tôi hỏi một câu... đó là cá tươi, hay cá ướp lạnh?”
“Tôi tin là cá tươi.”
“Thế thì ông không gặp vấn đề gì đâu, ông bạn. Tôi nghe nói ở khu vực đó đã có cả mưa máu nữa... và tôi ước chúng tôi cũng có mưa máu ở vùng Thung lũng, chỗ vườn của tôi. Sẽ đỡ cho tôi cả một gia tài vì khỏi phải mua phân bón. Ông chỉ việc vùi chúng xuống...” CROWLEY?
Crowley không nói gì.
CROWLEY. CUỘC CHIẾN ĐÃ BẮT ĐẦU, CROWLEY. CHÚNG TA THẤY NGƯƠI ĐÃ TRÁNH ĐƯỢC NHỮNG KẺ CHÚNG TA GỬI ĐẾN ĐỂ ÁP GIẢI NGƯƠI.
“Ừm,” Crowley đồng tình.
CROWLEY... CHÚNG TA SẼ CHIẾN THẮNG. NHƯNG DÙ CHÚNG TA CÓ THUA ĐI CHĂNG NỮA, THÌ VỚI NGƯƠI, CŨNG CHẲNG CÓ GÌ KHÁC BIỆT. VÌ CHỪNG NÀO CÒN MỘT CON QUỶ TỒN TẠI Ở ĐỊA NGỤC, THÌ CROWLEY, NGƯƠI SẼ ƯỚC GIÁ MÌNH ĐƯỢC SINH RA LÀ CON NGƯỜI.
Crowley im lặng.
CON NGƯỜI CÓ THỂ HY VỌNG ĐƯỢC CHẾT, HOẶC ĐƯỢC CỨU RỖI. NGƯƠI KHÔNG THỂ HY VỌNG VÀO GÌ HẾT.
NGƯƠI CHỈ CÓ THỂ HY VỌNG VÀO SỰ KHOAN DUNG CỦA ĐỊA NGỤC THÔI.
“Thế à?”
BỌN TA ĐÙA ĐẤY.
“Hừ,” Crowley nói.
“... như những người làm vườn say mê đều biết, không cần nói cũng hiểu, người Tây Tạng đúng là quỷ quái ranh ma. Đào hầm xuyên qua đám thu hải dường cứ như không ấy. Một tách trà sẽ xử lý được anh ta ngay, nếu thích có thể thêm ít bơ thiu làm bằng sữa bò Tây Tạng nữa, bạn có thể mua được bơ này ở bất kỳ...”
Viiiiu. Vùùù. Bộp. Tiếng nhiễu sóng nhận chìm phần còn lại của chương trình.
Crowley tắt đài đi và cắn môi. Bên dưới lớp tro và muội than phủ đầy mặt, nhìn hắn hết sức mệt mỏi, hết sức tái mét, và hết sức sợ hãi.
Và đột nhiên là hết sức giận dữ nữa. Cái lối bọn họ nói với hắn. Như thể hắn là một cái cây cảnh bắt đầu rụng lá xuống thảm vậy.
Và rồi hắn rẽ qua một khúc quanh, lẽ ra sẽ đưa hắn lên đường phụ dẫn ra cao tốc M25, từ đó hắn sẽ lên cao tốc M40 đến Oxfordshire.
Nhưng có gì đó đã xảy ra với cao tốc M25. Một thứ khiến mắt ta đau nhói, nếu ta nhìn thẳng vào nó.
Từ chỗ trước kia là đường cao tốc vành đai M25 của London phát ra một tiếng ngân nga trầm trầm, được tạo ra từ nhiều thanh âm khác nhau: còi xe, động cơ xe, còi báo động, tiếng bíp của điện thoại di động, và tiếng gào thét của những đứa trẻ bị trói buộc đời đời bởi đai an toàn ở ghế sau. “Xin hoan nghênh Quái Vật Vĩ Đại, Kẻ Nuốt Trọn Các Thế giới,” tiếng ngân nga vang lên, lặp đi lặp lại, bằng thứ ngôn ngữ bí mật của của các Tu sĩ Đen của Mu cổ đại.
Con dấu Odegra đáng sợ, Crowley thầm nghĩ, khi hắn vòng chiếc xe lại, hướng về đường vành đai bắc. Chính mình đã gây ra chuyện đó... là lỗi của mình. Lẽ ra nó đã có thể là một đường cao tốc bình thường. Kể ra thì cũng khá đấy, nhưng có đáng không? Bung bét hết rồi. Thiên đường và Địa ngục đang mặc kệ hết thảy, cứ như cả hành tinh này chỉ là một nước Thế giới Thứ ba vừa bị xơi Bom...
Rồi hắn bỗng mỉm cười. Hắn búng ngón tay. Một cặp kính râm hiện ra từ mắt hắn. Muội than biến khỏi bộ vét và da hắn.
Kệ xác. Nếu phải ra đi, thì sao không ra đi thật phong cách? Hắn vừa lái xe vừa khe khẽ huýt sáo.
Họ lao đi trên làn ngoài của đường cao tốc như những thiên thần hủy diệt, mà đúng thế thật.
Xét cho cùng thì họ đi không nhanh lắm. Cả bốn bọn họ đều giữ vận tốc 170 cây số một giờ, như thể họ tin chắc rằng cuộc vui sẽ không thể bắt đầu trước khi họ đến nơi. Nó không thể. Họ có thừa mứa thời gian, dù thời gian còn lại của thế giới này cũng chẳng được bao lăm.
Ngay sau lưng họ là bốn gã chạy xe máy khác: Ted Bự, Greaser, Pigbog và Skuzz.
Cả bốn gã đều hãnh diện. Giờ chúng đã là Thiên thần Địa ngục thứ thiệt, và chúng đang cưỡi trên im lặng.
Chúng biết xung quanh mình là tiếng cơn bão gầm thét, tiếng xe cộ gào rú, tiếng gió rít mưa giật. Nhưng phía sau Tứ Kỵ sĩ chỉ có sự im lặng, thuần khiết và chết chóc. Ít ra cũng gần như thuần khiết. Còn chết chóc thì chắc rồi.
Sự im lặng bị phá vỡ bởi Pigbog, đang hét lên với Ted Bự.
“Thế mày sẽ là gì?” gã hỏi giọng khàn khàn.
“Gì cơ?”
“Tao bảo là, mày sẽ...”
“Tao nghe thấy mày nói gì rồi. Tao không hỏi mày nói gì. Ai cũng nghe thấy mày nói rồi. Ý mày là gì, tao muốn hỏi thế đấy?”
Pigbog thầm ước mình đã để tâm đến kinh Khải huyền nhiều hơn. Nếu gã biết mình sẽ được tham gia vào đó thì gã đã đọc kỹ hơn rồi. “Ý tao là, họ là Tứ Kỵ sĩ Khải huyền, đúng không?”
“Tay nài,” Greaser sửa lại.
“Ừ. Thì Tứ Tay nài Khải huyền, Chiến Tranh, Nạn Đói, Chết Chóc, và người kia nữa. Ô Nhiễm.”
“Ờ? Thì sao?”
“Và họ bảo bọn mình có thể đi theo họ, đúng không?”
“Thì sao?”
“Thì tức là bọn mình sẽ là Tứ Kỵ sĩ... ờ, Tay nài Khải huyền khác. Thế bọn mình sẽ là gì?”
Im lặng một thoáng. Đèn pha của những chiếc xe đi ngược chiều lao qua chúng, sét để lại những dư ảnh trên nền mây, và sự im lặng gần như tuyệt đối.
“Tao cũng là Chiến Tranh có được không?” Ted Bự hỏi.
“Mày không thể là Chiến Tranh được. Làm sao mày là Chiến tranh được? Cô ta đã là Chiến Tranh rồi. Mày phải là cái khác.”
Mặt Ted Bự co rúm lại vì cố gắng suy nghĩ. “TTTT,” cuối cùng gã nói. “Tao là Thương Tích Trầm Trọng. Là tao đấy. Được chưa. Thế bọn mày sẽ là gì?”
“Tao là Rác được không?” Skuzz hỏi. “Hoặc Vấn đề Cá Nhân Đáng Xấu Hổ?”
“Không làm rác được,” Thương Tích Trầm Trọng nói. “Ô Nhiễm bao gồm cả cái đấy rồi. Mày là cái kia cũng được.”
Chúng đi tiếp trong im lặng và bóng tối, đèn hậu đỏ ối của Bộ Tứ ở trước mặt chúng vài trăm mét.
Thương Tích Trầm Trọng, Vấn Đề Cá Nhân Đáng Xấu Hổ, Pigbog, và Greaser.
“Tao muốn là Tàn Ác Với Động vật,” Greaser nói. Pigbog phân vân không biết nên phản đối hay ủng hộ. Nhưng cũng chẳng quan trọng.
Rồi đến lượt Pigbog.
“Tao... ờ, tao nghĩ tao sẽ là máy trả lời điện thoại tự động. Chúng tệ đấy chứ,” gã nói.
“Mày không thể là máy trả lời điện thoại tự động được. Tay nài Khải hiền kiểu gì thế? Nghe rõ ngớ ngẩn.”
“Không ngớ ngẩn!” Pigbog tự ái nói. “Cũng giống như Chiến Tranh, Nạn Đói và các thứ khác ấy. Đó là một thứ rắc rối trong cuộc sống, phải không? Máy trả lời điện thoại tự động. Tao ghét máy trả lời điện thoại tự động.”
“Tao cũng ghét,” Tàn Ác Với Động Vật nói.
“Mày im đi,” TTTT nói.
“Tao đổi được không?” Vấn Đề Cá Nhân Đáng Xấu Hổ nói, gã đã suy nghĩ rất lung từ nãy đến giờ. “Tao muốn là Các Thứ Không Hoạt Động Được Kể Cả Sau Khi Ta Đập Mạnh.”
“Được rồi, cho mày đổi. Nhưng mày không thể là máy trả lời điện thoại tự động được, Pigbog. Chọn cái gì khác đi.”
Pigbog ngẫm nghĩ. Gã thầm ước mình đã không gợi ra chuyện này. Giống như những buổi phỏng vấn công việc hồi gã còn đi học ấy. Gã đắn đo.
“Những kẻ cực ngầu,” cuối cùng gã nói. “Tao ghét đặc bọn đấy.”
“Những kẻ cực ngầu ấy à?” Các Thứ Không Hoạt Động Được Kể Cả Sau Khi Ta Đập Mạnh nói.
“Ừ. Mày biết đấy. Loại mày hay thấy trên tivi, tóc cắt ngớ ngẩn, nhưng với chúng nó thì nhìn không ngớ ngẩn vì đó là chúng nó. Chúng mặc đồ rộng thùng thình, nhưng mày không được gọi chúng là lũ ngu độn. Ý tao là, bản thân tao thì mỗi khi nhìn thấy một đứa như thế, tao luôn muốn ấn mặt nó thật chậm qua một hàng rào dây thép gai. Và tao nghĩ thế này.” Gã hít một hơi thật sâu. Gã dám chắc đây là bài diễn văn dài nhất đời mình. (*) “Tao nghĩ thế này. Nếu chúng làm tao sôi máu lên thế, thì chắc chúng cũng khiến tất cả mọi người khác sôi máu.”
“Ừ,” Tàn Ác Với Động Vật nói. “Và chúng đeo kính râm ngay cả khi không cần.”
“Ăn pho mát chảy, và uống thứ Bia Không Cồn chết giẫm ấy,” Các Thứ Không Hoạt Động Được Kể Cả Sau Khi Ta Đập Mạnh nói. “Tao ghét đặc loại đấy. Uống để làm gì nếu không được say đến nôn thốc nôn tháo? Này, tao mới nghĩ ra. Cho tao đổi lần nữa thành Bia Không Cồn được không?”
“Đừng có hòng,” Thương Tích Trầm Trọng nói. “Mày đã đổi một lần rồi.”
“Tóm lại,” Pigbog nói. “Vì thế tao muốn làm Những Kẻ Cực Ngầu.”
“Được,” gã cầm đầu nói.
“Sao tao lại không được làm Bia Không Cồn nếu tao muốn chứ.”
“Ngậm mồm vào.”
Chết Chóc, Nạn Đói, Chiến Tranh và Ô Nhiễm tiếp tục tiến về phía Tadfield.
Và Thương Tích Trầm Trọng, Tàn Ác Với Động Vật, Các Thứ Không Hoạt Động Được Kể Cả Sau Khi Ta Đập Mạnh Nhưng Thật Ra Là Bia Không cồn, Và Những Kẻ Cực Ngầu đi cùng họ.
Đó là một chiều thứ Bảy ẩm ướt và lộng gió, và bà Tracy đang cảm thấy hết sức huyền bí.
Bà mặc chiếc váy dài phồng, và một xoong đầy cải đang sôi trên bếp lò. Căn phòng được thắp sáng bằng nến, mỗi cây nến được cẩn thận cắm trong một chai rượu vang đóng đầy sáp ở bốn góc phòng khách của bà.
Có ba người khác tham dự buổi gọi hồn. Bà Ormerod đến từ công viên Belsize, đội một cái mũ màu lục sẫm mà kiếp trước có lẽ đã từng là một cái lọ hoa; ông Scroggie, gầy gò và xanh tái, với cặp mắt lồi vô hồn; và Julia Petley đến từ tiệm Tóc Ngày Nay, (*) tiệm làm đầu trên Phố Chính, mới ra trường và đoán chắc là mình cũng có những đáy sâu huyền bí chưa được thăm dò. Để nhấn mạnh nét huyền bí này, Julia đã bắt đầu đeo rất nhiều đồ trang sức bạc chạm tay và tô mắt xanh lét. Cô ta nghĩ mình có vẻ hao mòn lãng mạn như bị ma ám, và cô ta có thể như thế thật, nếu giảm bớt mười lăm kí. Cô ta tin rằng mình mắc chứng biếng ăn, vì mỗi lần nhìn vào gương quả thực cô ta đều thấy một người béo.
“Các vị nắm tay nhau được không?” bà Tracy nói. “Và chúng ta phải im lặng hoàn toàn. Thế giới tâm linh rất nhạy cảm với tiếng động.”
“Bà hỏi xem ông Ron nhà tôi có đấy không,” bà Ormerod nói.
Bà ta có quai hàm như viên gạch.
“Được, bà bạn ạ, nhưng bà phải im lặng trong lúc tôi tìm cách liên lạc.”
Im lặng bao trùm, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng dạ dày ông Scroggie sôi réo. “Xin lỗi các bà,” ông ta lầm bầm.
Sau nhiều năm Vén màn và Khám phá Bí ẩn, bà Tracy đã phát hiện ra rằng hai phút là quãng thời gian thích hợp để ngồi trong im lặng, chờ đợi Thế giới Tâm linh lên tiếng. Dài hơn thì khách hàng sẽ sốt ruột, còn ngắn hơn thì họ sẽ cảm thấy tiền họ bỏ ra là không đáng.
Bà vừa ngồi vừa nhẩm lại danh sách đi chợ.
Trứng. Xà lách. Một miếng pho mát nấu. Bốn quả cà chua. Bơ. Một cuộn giấy vệ sinh. Không được quên, nhà sắp hết rồi. Và một miếng gan thật ngon cho ông Shadwell, linh hồn già tội nghiệp, thật đáng tiếc...
Hết giờ.
Bà Tracy ngửa đầu ra, để đầu ngoẹo sang một bên vai, rồi lại từ từ ngẩng đầu lên. Mắt bà nhắm hờ.
“Bà ấy đang nhập hồn đấy,” bà nghe thấy bà Ormerod thì thào với Julia Petley. “Không phải hốt hoảng. Bà ấy chỉ đang biến mình thành Cầu Nối tới Bên Kia thôi. Linh hồn dẫn đường của bà ấy sắp đến rồi đấy.”
Bà Tracy thấy hơi bực mình vì bị cướp sân khấu, và bà thốt ra một tiếng rên trầm trầm. “Ôôôô ôôôôôôô.”
Rồi, bằng giọng the thé, run rẩy, “Người đã đến chưa, hỡi Linh hồn Dẫn đường?”
Bà đợi một chút để tăng sự hồi hộp. Nước rửa bát. Hai hộp đậu hầm. À, cả khoai tây nữa.
“Chào?” bà nói bằng giọng người thổ dân da đỏ.
“Người đấy phải không, Geronimo?” bà tự hỏi mình.
“Chính ừm là ta, chào,” bà trả lời.
“Chiều nay chúng ta có một thành viên mới đấy,” bà nói.
“Chào, cô Petley,” bà nói bằng giọng của Geronimo. Bà đã luôn biết rằng các linh hồn dẫn đường người da đỏ là một đạo cụ không thể thiếu, và bà khá thích cái tên ấy. Bà đã giải thích với Newt như vậy. Cậu nhận ra bà chẳng biết gì về Geronimo cả, và cậu không đang tâm cho bà biết điều đó.
“Ôi,” Julia ré lên. “Rất hân hạnh được gặp ngài.”
“Ông Ron nhà tôi có đây không, Geronimo?” bà Ormerod hỏi.
“Chào bà Beryl,” bà Tracy nói. “Ồ ở đây có nhiều ừm các linh hồn lạc lối khốn khổ ừm đang xếp hàng ngoài ừm cửa lều của tôi. Có lẽ ông Ron nhà bà cũng có mặt trong số đó. Chào.”
Bà Tracy đã học được bài học này từ nhiều năm trước, ấy là không bao giờ cho Ron xuất hiện cho tới lúc gần cuối. Nếu không thì Beryl Ormerod sẽ chiếm hết phần còn lại của buổi gọi hồn để kể cho Ron Ormerod quá cố biết mọi chuyện đã xảy ra từ sau lần trò chuyện gần đây nhất của họ (“... Ron, ông còn nhớ không, con bé út nhà thằng Eric, con Sybilla ấy, giờ ông chẳng nhận ra nó được đâu, nó đã chuyển sang đan móc, còn con Letitia, ông biết đấy, con cả nhà con Karen ấy, thì là đồng tính rồi nhưng bây giờ như thế không sao, và nó đang viết luận văn về phim của Sergio Leone theo góc nhìn nữ quyền, còn thằng Stan, ông biết đây, thằng sinh đôi nhà con Sandra ấy, lần trước tôi đã kể ông nghe về nó rồi đây, ờ, nó đã thắng giải phi tiêu, giỏi quá phải không vì cả nhà cứ nghĩ nó chỉ biết bám váy mẹ, còn cái máng xối trên mái nhà kho bị lỏng ra rồi, nhưng tôi đã dặn thằng chồng mới nhất của con Cindi, nó là thợ xây khoán, và chủ nhật nó sẽ ghé qua xem sao, và, a, nói đến đây tôi mới nhớ ra...”)
Không, cứ để Beryl Ormerod đợi. Có một tia chớp, và gần như ngay sau đó là một tiếng sấm rền từ xa vẳng lại. Bà Tracy thấy khá tự hào, như thể chính bà đã tạo ra sấm chớp ấy. Sấm chớp còn có ích hơn cả nến trong việc tạo ra khí quyển. Khí quyển (*) là điều tối quan trọng trong việc gọi hồn.
“Nào,” bà Tracy nói bằng giọng của chính mình. “Ông Geronimo muốn biết có ai tên Scroggie ở đây không?”
Cặp mắt ươn ướt của ông Scroggie sáng lên. “Ờm, là tên tôi đây,” ông ta khấp khởi nói.
“Được, ở đây có người muốn nói đôi lời với ông đây.” Ông Scroggie đã đến cả tháng nay rồi, và bà vẫn chưa nghĩ được lời nhắn gì cho ông ta. Giờ đã đến lúc. “Ông có biết ai tên là, ừm, John không?”
“Không,” ông Scroggie đáp.
“Ờ, có chút thiên nhiễu đây. Có thể là Tom. Hoặc Jim. Hoặc, ừm, Dave.”
“Tôi có biết một ông Dave hồi ở Hemel Hempstead,” ông Scroggie nói, vẻ hơi hồ nghi.
“Đúng rồi, ông ấy đang nói là Hemel Hempstead, đúng thế đấy,” bà Tracy nói.
“Nhưng tuần trước tôi mới gặp ông ấy dắt chó đi dạo, nhìn còn khỏe mạnh lắm mà,” ông Scroggie bối rối nói.
“Ông ấy bảo đừng lo lắng gì, ông ấy hạnh phúc hơn khi ở bên kia bức màn,” bà Tracy vẫn chịu khó nói nốt, bà cảm thấy sẽ luôn tốt hơn nếu cho khách hàng của mình tin vui.
“Bảo ông Ron nhà tôi là tôi phải kể cho ông ấy nghe về đám cưới của con Krystal,” bà Ormerod nói.
“Được thôi, bà bạn. Đợi một chút, có gì đó đang đến đây...”
Và có gì đó đến thật. Nó ngồi trong đầu bà Tracy và ngó ra.
“Sprechen sie Deutsch?” nó nói bằng miệng bà Tracy. “Parlezvous Francrais? Wo bu hui jiang zhongwen?”
“Có phải ông đấy không, Ron?” bà Ormerod hỏi. Câu trả lời, khi vang lên, thì nghe có vẻ khá cáu kỉnh.
“Không. Chắc chắn là không rồi. Nhưng một câu hỏi ngớ ngẩn rành rành đến thế thì chỉ có thể được thốt lên ở một đất nước duy nhất trên cái hành tinh dốt nát này thôi - cái hành tinh mà, nhân tiện, tôi đã được tham quan gần hết trong mấy giờ đồng hồ vừa qua. Bà thân mến, tôi không phải là Ron.”
“Thế thì tôi muốn nói chuyện với Ron Ormerod,” bà Ormerod gắt gỏng nói. “Ông ấy thấp, đầu hói. Nối máy cho ông ấy được không?”
Im lặng một thoáng. “Thật ra có một linh hồn có hình dáng như vậy đang vơ vẩn cạnh đây. Thôi được. Tôi sẽ cho bà nói chuyện, nhưng phải nhanh lên nhé. Tôi đang cố ngăn Tận thế đây.”
Bà Ormerod và ông Scroggie liếc nhìn nhau. Chuyện tương tự thế này chưa bao giờ xảy ra ở các buổi gọi hồn trước đây của bà Tracy. Julia Petley thì lại thích mê. Thế này mới đúng chứ. Cô ta hy vọng bà Tracy sẽ sắp sửa tiết ra cả huyền tương.
“A-a lô?” bà Tracy nói bằng giọng khác hẳn. Bà Ormerod giật bắn mình. Giọng nói đó giống hệt giọng ông Ron. Những lần trước, ông Ron đều có giọng giống bà Tracy.
“Ron, phải ông đấy không?”
“Phải, Buh-Beryl ạ.”
“Được rồi. Tôi có nhiều chuyện muốn kể cho ông lắm. Đầu tiên là tôi đã đi dự đám cưới con Krystal thứ Bảy tuần trước, đứa lớn nhà con Marilyn ấy...”
“Buh-Beryl. Bà-bà ch-chẳng bao giờ ch-cho tôi xen vào lấy n-nửa lời l-lúc tôi còn sống. Gi-giờ tôi đã ch-chết rồi, thì chi-chỉ có một điều tôi muốn n-nói...”
Beryl Ormerod thấy hơi bực mình vì chuyện này. Trước kia, mỗi khi Ron hiện về, ông luôn nói với bà ta là ông hạnh phúc hơn ở bên kia tấm màn, và đang sống ở một nơi nghe như một căn nhà nghỉ thiên đường vậy. Giờ thì ông lại nói giống hệt Ron trước kia, và bà ta không dám chắc mình muốn như thế. Và bà ta nói điều vẫn luôn nói với chồng mỗi khi ông giở cái giọng đó ra với bà ta.
“Ron, nhớ là ông bị tim đấy.”
“Tôi kh-không còn t-tim nữa. Nh-nhớ chứ? Mà, Buh-Beryl này...?”
“Vâng, Ron.”
“Im mồm hộ cái,” và linh hồn biến mất. “Có cảm động không chứ? Được rồi, cảm ơn các bà và ông đây rất nhiều, tôi e là tôi có việc phải làm.”
Bà Tracy đứng dậy, đi ra cửa, và bật đèn lên.
“ Đi ra! ” bà ra lệnh.
Các khách hàng gọi hồn của bà đứng dậy, hết sức bối rối, và trong trường hợp của bà Ormerod là vô cùng giận dữ, và họ đi ra hành lang.
“Bà sẽ biết tay tôi, Marjorie Potts,” bà Ormerod rít lên, áp chặt cái túi xách vào ngực, và đóng sầm cửa lại.
Rồi giọng nghèn nghẹt của bà ta vọng lại từ hành lang, “Và bà có thể bảo lão Ron nhà tôi là lão ấy cũng sẽ biết tay tôi!”
Bà Tracy (và cái tên trên tấm bằng lái xe tay ga của bà quả đúng là Marjorie Potts) vào bếp và tắt xoong cải luộc đi.
Bà đặt ấm đun nước. Bà tự pha cho mình một bình trà. Bà ngồi xuống bên bàn bếp, lấy ra hai cái tách, rót trà vào cả hai tách. Bà cho hai viên đường vào một tách trà. Rồi bà ngừng lại.
“Tôi xin phép không uống đường,” bà Tracy nói.
Bà đặt hai tách trà lên bàn trước mặt, và uống một hơi dài từ tách trà có đường.
“Được rồi,” bà nói bằng giọng mà bất cứ ai quen bà cũng có thể nhận ra là giọng của chính bà, dù họ sẽ không nhận ra vẻ giận dữ lạnh lùng trong đó. “Anh nên giải thích xem chuyện này là sao. Và đây nên là một lời giải thích hợp lý.”
◇ ❖ ◇
Một chiếc xe tải đã đổ hết hàng hóa trên thùng xuống đường cao tốc M6. Theo bản kê khai thì trên xe chỉ chở tôn sóng thôi, nhưng hai viên cảnh sát tuần tra thấy điều đó thật khó chấp nhận.
“Vậy điều tôi muốn biết là, chỗ cá này ở đâu ra?” viên trung sĩ hỏi.
“Tôi đã nói rồi mà. Chúng rơi từ trên trời xuống. Phút trước tôi còn đang lái xe với vận tốc chín mươi cây số một giờ, phút sau thì thịch! Một con cá hồi nặng cả năm cân đập xuyên qua kính chắn gió. Thế là tôi đánh tay lái sang bên, và trượt lên cái đó,” ông ta chỉ phần còn lại của một con cá mập đầu búa dưới gầm xe, “và đâm vào cái đó.” Cái đó là một đống cá cao mười mét, đủ hình thù và kích cỡ khác nhau.
“Trước đó anh có uống rượu không, thưa anh?” viên trung sĩ hỏi nhưng không có vẻ hy vọng gì lắm.
“Tất nhiên là không rồi, đồ đầu đất. Các anh cũng thấy đống cá, phải không?”
Trên đỉnh đống cá, một con bạch tuộc khá to lười nhác nhấc một xúc tu lên vẫy họ. Viên trung sĩ phải ngăn mình giơ tay lên vẫy lại.
Viên sĩ quan còn lại đang ngả người vào trong xe cảnh sát và nói vào điện đàm, “... tôn sóng và cá, làm ách tắc đường M6 đi về phía nam, cách giao lộ số mười khoảng tám trăm mét về phía bắc. Chúng ta sẽ phải chặn toàn bộ đường chiều đi về phía nam. Vâng.”
Mưa to gấp đôi. Một con cá hồi đốm nhỏ, không hiểu sao đã sống sót được sau cú rơi, liền bắt đầu kiên cường bơi về phía Birmingham.
◇ ❖ ◇
“Thật là tuyệt vời,” Newt nói.
“Tốt,” Anathema nói. “Ai cũng thấy mê ly.” Cô đứng lên khỏi sàn nhà, để quần áo vương vãi khắp thảm, và vào nhà tắm.
Newt nói to hơn. “Ý anh là, thật sự tuyệt vời ấy. Rất rất tuyệt vời. Anh đã mong là nó sẽ tuyệt vời, và đúng thật.”
Có tiếng nước chảy.
“Em làm gì thế?” cậu hỏi.
“Tắm.”
“À.” Cậu lơ mơ tự hỏi có phải tất cả mọi người sau khi làm chuyện đó đều phải tắm, hay chỉ có phụ nữ thôi. Và cậu nghi là bồn rửa vệ sinh có liên quan đâu đó.
“Anh bảo này,” Newt nói, khi Anathema ra khỏi nhà tắm, quấn mình trong một chiếc khăn tắm bông màu hồng. “Bọn mình có thể làm lại lần nữa.”
“Không,” cô nói, “bây giờ thì không.” Cô lau khô người, nhặt quần áo trên sàn lên, và, không hề bẽn lẽn, bắt đầu mặc chúng vào. Newt, người thà đợi nửa tiếng đồng hồ để có phòng thay đồ riêng ở bể bơi hơn là đối diện với khả năng phải cởi quần áo trước mặt một người khác, thấy hơi choáng váng và hết sức rộn ràng.
Các phần cơ thể cô cứ thoắt ẩn thoắt hiện, như bàn tay của một ảo thuật gia; Newt cố đếm núm vú của cô mà không được, nhưng cậu thấy cũng chẳng sao.
“Sao lại không?” Newt hỏi. Cậu định nói là sẽ không mất nhiều thời gian đâu, nhưng một giọng nói trong thâm tâm khuyên cậu không nên. Cậu đang lớn lên rất nhanh trong một thời gian ngắn.
Anathema nhún vai, một cử chỉ không dễ dàng gì khi ta đang mặc vào một cái chân váy đen tiện lợi. “Bà nói bọn mình chỉ làm có một lần này thôi.”
Newt mở miệng ra hai ba lần gì đó, rồi nói, “Làm gì có. Không đời nào. Bà ấy không thể tiên đoán cả chuyện đó được. Anh không tin.”
Anathema, đã mặc xong quần áo, đến bên hộp đựng thẻ, lấy một tấm, và đưa cho cậu.
Newt đọc nó, đỏ bừng mặt, và trả lại cho cô, môi mím chặt.
Không chỉ là chuyện Agnes đã biết và đã nói ra một cách rành rành như thế nào. Mà còn là vì trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều thành viên của gia đình Device đã viết những câu động viên vào bên lề.
Cô đưa cho cậu cái khăn ẩm. “Đây,” cô nói. “Nhanh lên. Em phải làm bánh kẹp, rồi chúng ta phải sẵn sàng.”
Cậu nhìn cái khăn. “Cái này để làm gì?”
“Để anh tắm.”
À. Vậy là cả nam lẫn nữ đều phải tắm. Cậu hài lòng là đã giải quyết được vấn đề đó.
“Nhưng anh phải nhanh lên,” cô nói.
“Vì sao? Bọn mình phải ra khỏi đây trong vòng mười phút trước khi căn nhà phát nổ à?”
“À không. Bọn mình vẫn còn vài tiếng nữa. Chỉ là em đã dùng gần hết nước nóng rồi. Trong tóc anh có nhiều vữa lắm.”
Trận bão thổi một luồng gió tàn quanh Nhà Hoa Nhài, và Newt, cầm cái khăn hồng, nhưng không còn bông nữa, phía trước mình một cách rất kín kẽ, nhích vào để đi tắm nước lạnh.
Trong giấc mơ của Shadwell, lão đang trôi nổi cao tít bên trên một bãi cỏ giữa làng. Giữa bãi cỏ là một đống củi và cành khô khổng lồ. Giữa đống củi là một cây cọc gỗ. Đàn ông, đàn bà và trẻ con đứng quanh bãi cỏ, mắt sáng rực, má ửng hồng, vẻ chờ đợi và phấn khích.
Đột nhiên có tiếng ồn ào: mười người đàn ông bước qua bãi cỏ, dẫn theo một người phụ nữ trung niên rất đẹp; hẳn hồi trẻ bà phải hấp dẫn lắm, và từ “tươi tắn” bỗng hiện ra trong tâm trí mơ màng của Shadwell. Đi trước bà là Binh nhì Săn Phù thủy Newton Pulsifer. Không, đó không phải là Newt: người này già hơn, và mặc đồ da màu đen. Shadwell hài lòng nhận ra bộ đồng phục thời xưa của một Thiếu tá Săn Phù thủy.
Người phụ nữ trèo lên giàn thiêu, đưa hai tay ra sau, và bị trói vào cột. Giàn thiêu được đốt. Bà lên tiếng với đám đông, nói gì đó, nhưng Shadwell đang ở cao quá nên không nghe được. Đám đông vây quanh bà.
Một mụ phù thủy, Shadwell thầm nghĩ. Họ đang thiêu một mụ phủ thủy. Cảnh tượng đó khiến lão ấm lòng. Phải như thế mới đúng. Mọi việc phải xảy ra như thế.
Chỉ có điều...
Giờ bà ngước lên nhìn thẳng vào lão và nói, “Cả lão cũng vậy, lão già ngớ ngẩn ạ. “
Chỉ có điều bà sẽ chết. Bà sẽ chết cháy. Và, trong giấc mơ, Shadwell nhận ra đó là một cách chết thật khủng khiếp.
Lửa liếm cao hơn.
Và người phụ nữ ngước lên. Bà vẫn đang nhìn thẳng vào lão, dù lão vô hình, và bà đang mỉm cười.
Rồi tất cả nổ bùm.
Một tiếng sấm rền.
Chỉ là tiếng sấm thôi, Shadwell nghĩ khi lão thức dậy, với cái cảm giác không thể rũ bỏ là ai đó vẫn đang nhìn lão chằm chằm.
Lão mở mắt, và mười ba con mắt thủy tinh dõi theo lão từ các ngăn giá trong khuê phòng của bà Tracy, nhìn ra từ các khuôn mặt nhồi bông đủ kiểu.
Lão nhìn đi nơi khác và bắt gặp mắt ai đó đang chăm chú nhìn lão. Đó là chính lão.
Trời ơi, lão kinh hoàng thầm nghĩ. Ta đang gặp cảnh hồn-lìa-khỏi-xác, ta đang nhìn thấy chính mình, lần này thì ta toi đời rồi...
Lão cuống cuồng quẫy đạp chân tay để với lấy thân xác của chính mình, và rồi, như những chuyện này vốn thường xảy ra, góc nhìn trở nên rõ ràng.
Shadwell bình tĩnh lại và tự hỏi ai lại đi lắp gương trên trần phòng ngủ. Lão bối rối lắc đầu.
Lão trèo xuống giường, đi ủng vào, rồi thận trọng đứng dậy. Còn thiếu cái gì đó. Một điếu thuốc. Lão thọc tay vào sâu trong túi quần, rút ra một hộp thuốc lá, và bắt đầu cuốn một điếu.
Lão đã mơ, lão biết vậy. Shadwell không nhớ giấc mơ, nhưng nó khiến lão thấy bồn chồn, dù nó là gì đi nữa.
Lão châm điếu thuốc. Và lão nhìn thấy tay phải mình: vũ khí tối thượng. Thiết bị tận thế. Lão chỉ một ngón tay vào con gấu bông chột mắt trên bệ lò sưởi.
“Pằng,” lão nói, và bật ra một tiếng cười khô khốc. Lão không quen cười, và lão bắt đầu ho, nghĩa là lão đã về được đất của lão. Lão muốn uống gì đó. Một lon sữa đặc ngọt lịm.
Chắc bà Tracy sẽ có.
Lão bước thình thịch ra khỏi khuê phòng của bà và tiến vào bếp.
Bên ngoài căn bếp nhỏ, lão đứng lại. Bà đang nói chuyện với ai đó. Một người đàn ông.
“Thế anh muốn tôi làm gì về việc đó?” bà đang hỏi.
“Hừ, đúng là mụ nặc nô,” Shadwell lầm bầm. Rõ ràng là bà đang có một vị khách nam giới trong bếp.
“Nói thật, bà thân mến ạ, kế hoạch của tôi vào lúc này bắt buộc phải linh động.”
Shadwell khiếp đảm. Lão lao qua tấm màn nhựa, hét lên, “Tội lỗi của Sodom và Gomorrah! Dám lợi dụng một mụ đàn bà yếu đuôi! Hãy bước qua xác ta đã!”
Bà Tracy ngước lên và mỉm cười với lão. Trong phòng không có ai khác cả.
“Hắn đâu rồi?” Shadwell hỏi.
“Ai cơ?” bà Tracy hỏi lại.
“Một tên bóng miền Nam nào đó,” lão nói. “Ta đã nghe thấy giọng hắn mà. Hắn đang ở đây, dụ dỗ bà. Ta đã nghe thấy mà.”
Miệng bà Tracy mở ra, và một giọng nói lên tiếng, “ Không chỉ là Một Tên Bóng miền Nam nào đó đâu, Trung sĩ Shadwell ạ. Mà chính là Tên Bóng miền Nam ĐÓ đây.”
Shadwell đánh rơi điếu thuốc. Lão vươn tay ra, hơi run run, và chỉ tay vào bà Tracy.
“Quỷ dữ,” lão khàn khàn nói.
“Không,” bà Tracy nói bằng giọng của quỷ dữ. “Tôi biết ông đang nghĩ gì, Trung sĩ Shadwell ạ. ông đang nghĩ là cái đầu này sắp quay vòng tròn và tôi sẽ nôn ra xúp đậu. Không đâu. Tôi không phải là quỷ. Và tôi muốn ông lắng nghe điều tôi phải nói.”
“Tên quỷ kia, im đi,” Shadwell ra lệnh. “Ta sẽ không nghe những lời dối trá của mi. Mi có biết đây là gì không? Một bàn tay. Bốn ngón tay. Một ngón cái. Nó đã diệt được một tên đồng bọn của mi sáng nay rồi. Giờ mi mau mau xéo khỏi tâm trí của người đàn bà tử tế này, không thì ta sẽ thổi bay mi đến ngày Tận thế.”
“Vấn đề là ở đó đấy, ông Shadwell ạ,” bà Tracy nói bằng giọng của chính mình. “Ngày tận thế. Nó sắp đến rồi. Anh Aziraphale đang kể cho tôi nghe về chuyện đó. Giờ thì đừng làm một ông già ngớ ngẩn nữa, ông Shadwell, hãy ngồi xuống và uống trà, rồi anh ấy cũng sẽ giải thích cho ông nghe.”
“Ta sẽ không bao giờ nghe lời xu nịnh xấu xa của hắn, mụ đàn bà kia,” Shadwell nói.
Bà Tracy mỉm cười với lão. “Đúng là ông già ngớ ngẩn,” bà nói. Lão chẳng thể làm gì khác được.
Lão đành ngồi xuống.
Nhưng lão vẫn giơ nguyên cánh tay.
Những tấm biển lắc lư trên đầu báo là đường cao tốc đi về phía nam đã bị chặn, và một rừng cọc tiêu màu cam đã mọc lên để chỉ đường cho xe cộ đi sang một làn mượn tạm của đường đi về phía bắc. Các tấm biển khác hướng dẫn xe cộ hạ tốc độ xuống còn năm mươi cây số giờ. Xe cảnh sát dắt các lái xe đi quanh như những con chó chăn cừu kẻ sọc đỏ.
Bốn tay lái xe máy bỏ qua các biển báo cũng như những cọc tiêu và xe cảnh sát, mà tiếp tục đi xuôi đường cao tốc M6 hướng về phía nam giờ đã trống trơn. Bốn tay lái xe máy khác, đi ngay sau họ, thì chậm lại một chút.
“Bọn mình có nên, ờ, dừng lại không nhỉ?” Những Kẻ Cực Ngầu hỏi.
“Ờ. Có thể có tai nạn liên hoàn,” Giẫm Phải Cứt Chó (trước kia là Tất Cả Dân Nước Ngoài Nhất Là Bọn Pháp, trước kia là Các Thứ Không Hoạt Động Được Kể Cả Sau Khi Ta Đập Mạnh, chưa bao giờ thực sự là Bia Không Cồn, đã từng là Các Vấn đề Cá Nhân Đáng Xấu Hổ trong một thời gian ngắn, trước kia là Skuzz) nói.
“Chúng ta cũng là Tứ Kỵ sĩ Khải huyền,” TTTT nói. “Họ làm gì chúng ta làm nấy. Chúng ta đi theo họ.”
Chúng đi về phía nam.
“Sẽ là một thế giới chỉ dành cho bọn mình,” Adam nói. “Những người khác cứ làm mọi thứ rối tung hết cả, nhưng bọn mình có thể xóa bỏ hết và bắt đầu lại từ đầu. Thế có tuyệt không chứ?”
◇ ❖ ◇
“Tôi tin là ông biết rõ kinh Khải huyền chứ?” bà Tracy nói bằng giọng của Aziraphale.
“Ừ,” Shadwell đáp, dù thực ra lão chẳng biết gì. Hiểu biết về Kinh Thánh của lão bắt đầu và kết thúc với kinh Xuất hành, chương hai mươi hai, khổ mười tám, đoạn nói về Phù thủy, việc chớ để chúng sống, và tại sao. Có lần lão đã liếc sang khổ mười chín, đoạn nói về những kẻ nằm cùng thú vật sẽ bị xử tử, nhưng lão cảm thấy việc đó ở ngoài quyền phán xét của mình.
“Vậy ông đã nghe nói đến Kẻ Chống Chúa rồi chứ?”
“Ừ,” Shadwell nói, lão đã xem một bộ phim giải thích hết về cái đó. Gì đó liên quan đến chuyện các tấm kính rơi từ sau xe tải xuống và chặt băng đầu mọi người, (*) theo lão nhớ là vậy. Chẳng có phù thủy gì cả. Chưa xem được quá nửa thì lão đã ngủ gật.
“Kẻ Chống Chúa hiện đang tồn tại trên Trái đất, ngay lúc này đây, Trung sĩ ạ. Hắn đang đem đến Ngày Tận thế, Ngày Phán Xử, dù chính hắn cũng không biết điều đó. Thiên đường và Địa ngục đều đang chuẩn bị giao chiến, và sẽ rất lộn xộn đấy.”
Shadwell chỉ ậm ừ.
“Thật ra tôi không được phép trực tiếp hành động trong chuyện này, Trung sĩ ạ. Nhưng tôi dám chắc ông có thể hiểu rằng sự tận diệt sắp đến của thế giới là một việc mà không con người biết lẽ phải nào sẽ cho phép xảy ra. Tôi nói đúng chứ?”
“Ừ. Chắc vậy,” Shadwell nói, nhấp một ngụm sữa đặc từ cái lon gỉ sét mà bà Tracy đã lục thấy dưới bồn rửa.
“Vậy thì chỉ có một việc duy nhất để làm thôi. Và ông là người duy nhất tôi có thể trông cậy. Kẻ Chống Chúa phải bị tiêu diệt, Trung sĩ Shadwell. Và ông phải làm việc đó.”
Shadwell cau mày. “Chuyện đó thì ta không biết,” lão nói. “Đội quân Săn Phù thủy chỉ giết phù thủy thôi. Đó là một trong các điều luật. Và quỷ và yêu tinh nữa, tất nhiên.”
“Nhưng, nhưng Kẻ Chống Chúa còn hơn là một phù thủy nữa. Hắn... hắn là phù thủy TỐI CAO. Không ai có thể phù thủy bằng hắn.”
“Liệu tống khứ hắn có khó hơn tống khứ, nói ví dụ, một tên quỷ không?” Shadwell hỏi, mặt rạng rỡ dần lên.
“Không khó hơn nhiều lắm,” Aziraphale nói, để tống khứ quỷ y chẳng bao giờ phải làm gì ngoài việc nói bóng nói gió thật rõ là y, Aziraphale, có việc cần làm, và chẳng phải đã muộn lắm rồi sao? Và Crowley đã luôn hiểu điều y ám chỉ.
Shadwell nhìn xuống bàn tay phải của mình, và mỉm cười. Rồi lão ngần ngừ.
“Kẻ Chống Chúa này... hắn có bao nhiêu núm vú?”
Mục đích biện hộ cho hành động, Aziraphale thầm nghĩ. Và con đường xuống Địa ngục được lát đầy mục đích tốt. (*) Nghĩ vậy, y liền nói dối một cách vui vẻ và đầy thuyết phục: “Cả đống, cả mớ. Ngực hắn đầy núm vú... hắn khiến nữ thần Diana xứ Ephesus (*) nhìn như không có núm vú nào ẩy.”
“Ta chả biết bà Diana của ngươi là ai cả,” Shadwell nói, “nhưng nếu hắn là phù thủy, mà nghe có vẻ đúng thật, thì, với tư cách là trung sĩ của ĐQSPT, ta xin sẵn sàng phục vụ.”
“Tốt,” Aziraphale nói thông qua bà Tracy.
“Tôi không dám chắc về chuyện giết chóc này,” chính bà Tracy nói. “Nhưng nếu phải chọn giữa người này, Kẻ Chống Chúa này, với tất cả mọi người khác, thì tôi đoán là chúng ta không còn lựa chọn nào.”
“Chính xác, bà thân mến,” bà đáp lại. “Nào, Trung sĩ Shadwell. Ông có vũ khí không?”
Shadwell đưa tay trái xoa xoa tay phải, co duỗi nắm tay. “Có,” lão đáp. “Ta có.” Và lão đưa hai ngón tay lên môi rồi khẽ thổi.
Im lặng một thoáng. “Tay ông ấy à?” Aziraphale hỏi.
“Phải. Nó là một món vũ khí khủng khiếp. Nó đã xử ngươi, tên quỷ dữ kia, phải không?”
“Ông có cái gì, ờ, ra tấm ra món hơn không? Dao găm Vàng của Meggido thì sao? Hay Thanh đao của Kali cũng được?”
Shadwell lắc đầu. “Ta có mấy cái ghim,” lão gợi ý. “Và khẩu Thần công của Đại tá Săn Phù thủy Người-Không-Được-Ăn-Tiết-Con-Vật-Nào-Cũng-Như-Dùng-Bùa-Phép-Hoặc-Xem-Giờ Dalrymple... Ta có thể nạp đạn bạc vào đó.”
“Đó là cho ma sói, tôi tin là vậy,” Aziraphale nói.
“Tỏi thì sao?”
“Ma cà rồng.”
Shadwell nhún vai. “Ờ, mà ta cũng chả có đạn sang chảnh gì đâu. Nhưng khẩu Thần công có thể bắn được bất kỳ cái gì. Để ta đi lấy.”
Lão lệt sệt đi ra, vừa đi vừa nghĩ, ta cần một vũ khí khác làm gì? Ta đã có bàn tay này rồi.
“Giờ thì, bà thân mến,” Aziraphale nói. “Tôi tin là bà có một phương tiện đi lại đáng tin cậy chứ.”
“Ồ vâng,” bà Tracy nói. Bà ra góc bếp, cầm lên một cái mũ bảo hiểm màu hồng, trên có vẽ hình một bông hoa hướng dương màu vàng, đội nó vào, cài dây dưới cằm. Rồi bà lục lọi trong một cái tủ, lôi ra ba, bốn trăm túi nylon đi chợ và một đống báo địa phương đã ố vàng, rồi một cái mũ bảo hiểm bụi bặm màu xanh neon có chữ TAY LÁI LỤA (*) trên đỉnh, một món quà mà cô cháu Petula đã tặng bà từ hai mươi năm trước.
Shadwell, khi quay lại với khẩu Thần công vác trên vai, trố mắt nhìn bà vẻ không tin nổi.
“Tôi không biết ông đang nhìn gì, ông Shadwell,” bà bảo lão. “Xe đang đậu ở trên đường dưới nhà.” Bà đưa cho lão cái mũ bảo hiểm. “Ông phải đội mũ vào. Luật mà. Tôi nghĩ hình như không được phép chở ba trên xe tay ga, dù hai trong số ba người đang, ờ, chung nhau. Nhưng đây là trường hợp khẩn cấp. Và tôi chắc chắn ông sẽ được an toàn thôi, Nếu ông ôm tôi thật chặt.” Và bà mỉm cười. “Thế có vui không nào?”
Shadwell tái mặt, lầm bầm gì đó không nghe rõ, và đội cái mũ bảo hiểm xanh vào.
“Ông nói gì thế, ông Shadwell?” bà Tracy liếc nhìn lão sắc lẹm.
“Ta bảo, cầu cho quỷ sứ đập bể ruột mụ với cái xẻng đào huyệt của lão,” Shadwell nói.
“Nói thứ ngôn ngữ như thế là đủ rồi đấy, ông Shadwell,” bà Tracy nói, rồi bà dẫn lão ra hành lang và xuống cầu thang lên Phố Chính ở Crouch End, nơi một chiếc xe tay ga cổ lỗ sĩ đang đợi để chở hai người bọn họ, ờ, thôi cứ cho là ba người bọn họ, lên đường.
Chiếc xe tải chắn ngang đường. Và đống tôn sóng chắn ngang đường. Và một đống cá cao mười mét chắn ngang đường. Đó là một trong những con đường bị chặn hiệu quả nhất mà viên trung sĩ đã từng thấy.
Mưa cũng không giúp ích gì.
“Có biết khi nào xe ủi sẽ đến không?” ông ta hét vào điện đàm.
“Chúng tôi đang roẹt cố hết roạt,” tiếng trả lời vang lên.
Ông ta cảm thấy có gì đó giật giật gấu quần mình, và nhìn xuống.
“Tôm hùm?” ông ta nhảy cẫng một cái, rồi bật lên và hạ cánh trên nóc xe cảnh sát. “Tôm hùm,” ông ta nhắc lại. Có độ ba mươi con, có những con phải dài hơn năm chục phân. Phần lớn chúng đang bò ngược lên đường cao tốc; nửa tá đã dừng lại để ngó nghiêng chiếc xe cảnh sát.
“Có gì không ổn sao, trung sĩ?” viên sĩ quan hỏi, anh này đang ghi lại các thông tin của tài xế xe tải trên làn xe đỗ.
“Chỉ là tôi không thích tôm hùm thôi,” viên trung sĩ lầm lầm nói, nhắm nghiền mắt. “Làm tôi nổi mề đay. Quá nhiều chân. Tôi sẽ ngồi trên này một lát, khi nào chúng đi hết thì cho tôi biết nhé.”
Ông ta ngồi trên nóc xe, dưới màn mưa, và cảm thấy nước mưa ngấm vào đũng quần.
Có một tiếng rền trầm trầm. Sấm ư? Không. Tiếng ấy đều đều, và đang tiến lại gần hơn. Xe máy. Viên trung sĩ mở một mắt ra.
Lạy Chúa!
Có bốn chiếc xe, và chúng đang lao đi với vận tốc phải gần hai trăm cây số một giờ. Ông ta đang định trèo xuống để vẫy họ, quát lên, bảo họ đi chậm lại, nhưng họ đã lướt qua ông ta, lao thẳng về phía chiếc xe tải bị lật.
Viên trung sĩ không thể làm gì được. Ông ta lại nhắm nghiền mắt, lắng nghe tiếng va chạm. Ông ta có thể nghe thấy mấy chiếc xe đang lại gần hơn. Rồi:
Vút.
Vút.
Vút.
Và một giọng nói vang lên trong đầu ông ta, TA SẼ BẮT KỊP CÁC VỊ SAU.
(“Bọn mày thấy không?” Những Kẻ Cực Ngầu nói. “Họ bay vù qua nó!”
“Cha mẹ ơi!” TTTT nói. “Nếu họ làm được thì chúng ta cũng làm được!”)
Viên trung sĩ mở mắt. Ông ta quay sang viên sĩ quan và mở miệng ra.
Viên sĩ quan nói, “Họ. Họ quả thực vậy. Họ đã bay qua...”
Bịch. Bịch. Bịch.
Bẹt.
Có một cơn mưa cá nữa, tuy ngắn hơn, và dễ giải thích hơn. Một cánh tay mặc áo da yếu ớt vẫy vẫy từ đống cá lớn. Một bánh xe máy xoay mòng mòng bất lực.
Đó là Skuzz, đang nửa mê nửa tỉnh, tự nhủ là nếu có một điều gã ghét hơn cả bọn Pháp thì đó là bị ngập đến cổ trong cá với cái chân có cảm giác đã bị gãy. Gã thực sự ghét điều đó.
Gã muốn cho TTTT biết về vai trò mới của mình; nhưng gã không nhúc nhích nổi. Thứ gì đó ướt nhẹp và trơn tuột trườn lên một ống tay áo gã.
Sau đó, khi họ đã kéo gã ra khỏi đống cá, và gã thấy ba gã bạn, với chăn phủ trên đầu, thì gã nhận ra đã quá muộn để có thể nói với chúng điều gì.
Chính vì thế mà chúng mới không được nhắc đến trong cuốn kinh Khải huyền mà Pigbog cứ lải nhải nói mãi. Chúng không bao giờ đi được xa hơn trên cái cao tốc.
Skuzz lầm bầm gì đó. Viên trung sĩ nghiêng người xuống. “Đừng cố nói, con trai,” ông ta nói. “Xe cứu thương sắp đến rồi.”
“Nghe đây,” Skuzz nói giọng khàn đặc. “Có điều quan trọng phải cho ông biết. Tứ Kỵ sĩ Khải huyền... đúng là bọn khốn, cả bốn tên.”
“Anh ta mê sảng rồi,” viên trung sĩ tuyên bố.
“Mê sảng cái quái gì. Tao là Người Ngập Trong Cá,” Skuzz thều thào, rồi ngất xỉu.
Hệ thống giao thông của London phức tạp gấp hàng trăm lần so với tưởng tượng của bất kỳ ai.
Điều này không liên quan gì đến ảnh hưởng của quỷ dữ hay thiên thần. Nó liên quan đến địa lý, lịch sử, và kiến trúc.
Phần lớn thời gian nó tạo lợi thế cho mọi người, dù họ sẽ không bao giờ tin điều đó.
London không được thiết kế cho xe hơi. Thật ra, nó cũng chẳng được thiết kế cho con người nữa. Nó chỉ cứ thế xảy ra thôi. Điều này gây ra nhiều vấn đề, và các giải pháp được áp dụng lại trở thành các vấn đề tiếp theo, sau đó năm, mười, hoặc một trăm năm.
Giải pháp mới nhất là đường M25: một đường cao tốc phác thành một vòng tròn quanh thành phố. Cho tới giờ thì các vấn đề đã khá là cơ bản - những thứ đại loại như là nó đã lỗi thời từ trước khi họ xây xong, hay các vụ kẹt xe nối đuôi nhau thành vòng tròn, đại loại vậy.
Vấn đề hiện nay lại là nó không tồn tại; ít ra là không tồn tại theo ngôn ngữ không gian của con người. Dòng xe nối đuôi nhau, không nhận thức được điều này hoặc đang cố tìm đường khác để ra khỏi London, đã kéo vào đến tận trung tâm thành phố từ mọi hướng. Lần đầu tiên trong lịch sử, London đã hoàn toàn kẹt cứng. Cả thành phố là một vụ tắc đường khổng lồ.
Xe hơi, về lý thuyết, sẽ cho ta một cách thức đi lại cực nhanh. Ngược lại thì tắc đường lại cho ta một cách thức cực tuyệt để ngồi yên. Dưới màn mưa, trong bóng tối chạng vạng, trong khi xung quanh ta dàn giao hưởng còi xe ầm ĩ mỗi lúc một to và sốt ruột hơn.
Crowley đã ngấy nó đến tận cổ.
Hắn đã nhân cơ hội ấy đọc lại các ghi chép của Aziraphale và lật giở lại các lời tiên tri của Agnes Nutter, đồng thời suy nghĩ thật nghiêm túc.
Kết luận của hắn có thể được tóm lược như sau:
1. Tận thế đang xảy ra.
2. Crowley không thể làm gì được.
3. Chuyện đó sẽ xảy ra ở Tadfield. Hay ít ra là bắt đầu ở đó. Sau đó thì nó sẽ xảy ra ở khắp mọi nơi.
4. Crowley đang nằm trong sổ đen của Địa ngục. (*)
5. Aziraphale - theo như hắn đánh giá - thì đã bị loại khỏi phương trình.
6. Tất cả đều đen tối, ảm đạm và kinh khủng. Chẳng có ánh sáng nào ở cuối đường hầm cả - Nếu có chăng thì cũng chỉ là một đoàn tàu đang lao đến.
7. Chẳng thà hắn kiếm một cái nhà hàng nho nhỏ xinh xinh nào đó mà uống cho say bí tỉ, say quắc cần câu lên, trong lúc đợi thế giới tận diệt.
8. Thế nhưng...
Và đến đây, tất cả những thứ ở trên đều thành vô nghĩa lý.
Bởi vì, sau tất cả, Crowley vẫn là kẻ lạc quan. Nếu có một niềm tin vững như bàn thạch đã giúp hắn vượt qua những thời kỳ khó khăn - hắn thoáng nghĩ đến hồi thế kỷ mười bốn - thì đó là sự chắc chắn hoàn toàn rằng hắn sẽ thoát nạn; rằng vũ trụ sẽ lo cho hắn.
Ừ thì Địa ngục đang căm ghét hắn. Ừ thì thế giới đang tận diệt, ừ thì Chiến tranh Lạnh đã kết thúc và Cuộc chiến Vĩ đại đang thực sự bắt đầu. Ừ thì những bất lợi hắn phải đối đầu đang chất đống ngất ngưởng hơn cả một xe tải đầy dân hippy đang phê cỏ Owlsley nguyên chất. Nhưng vẫn còn cơ hội.
Tất cả chỉ là vấn đề có mặt ở đúng chỗ vào đúng lúc mà thôi.
Đúng chỗ là ở Tadfield. Điều đó thì hắn chắc chắn; một phần là do cuốn sách, một phần là do một linh cảm khác: trên tấm bản đồ thế giới trong tâm trí Crowley, Tadfield đang giần giật như một cơn đau nửa đầu.
Đúng lúc là có mặt ở đó trước khi thế giới kết thúc. Hắn xem đồng hồ. Hắn có hai tiếng để đến Tadfield, mặc dù có lẽ bây giờ thì cả Thời gian cũng đang trôi một cách run rẩy.
Crowley ném cuốn sách lên ghế bên. Chó cùng đành rứt giậu vậy: hắn đã giữ chiếc Bentley không một vết xước suốt sáu mươi năm trời.
Thôi kệ mẹ.
Hắn đột ngột lùi xe, làm hỏng nặng đầu một chiếc Renault 5 màu đỏ phía sau, và phóng lên vỉa hè.
Hắn bật đèn lên và bấm còi.
Như vậy là đủ để cảnh báo cho bất kỳ khách bộ hành nào là hắn đang tới. Và nếu họ không kịp tránh đường thì... chà, vài tiếng nữa thì đằng nào cũng vậy. Có lẽ vậy. Có thể vậy.
“Hò dô,” Anthony Crowley nói, và cứ thế lái bừa đi.
Có sáu phụ nữ và bốn người đàn ông, mỗi người đều có một cái điện thoại cùng một tập giấy dày cộp, kín đặc tên và số điện thoại.
Bên cạnh mỗi số điện thoại là một dòng viết tay chú thích xem người được gọi có nhà hay không, số điện thoại hiện có được sử dụng hay không, và quan trọng nhất là liệu người nghe điện thoại có khao khát muốn dùng vật liệu cách nhiệt vách tường trong đời họ không.
Phần lớn họ đều không muốn.
Mười người kia ngồi đó, hết giờ này qua giờ khác, nịnh nọt, xin xỏ, hứa hẹn với những nụ cười giả tạo. Giữa các cuộc gọi, họ viết ghi chú, uống cà phê, và kinh ngạc ngắm mưa tuôn xuống cửa sổ. Họ vẫn giữ nguyên vị trí như dàn nhạc trên tàu Titanic vậy. Nếu không thể bán cửa sổ hai lớp trong thời tiết như thế này thì ta sẽ không bao giờ bán được.
Lisa Morrow đang nói, “... Giờ thì, nếu ông cho phép tôi nói nốt, thưa ông, vâng, tôi hiểu, thưa ông, nhưng nếu ông chi...” và rồi, khi thấy ông ta đã gác máy, cô ta nói, “Hừ, kệ thây ông, đồ mặt mẹt.”
Cô ta cúp máy.
“Tôi vớ được một người đang tắm nữa,” cô ta tuyên bố với các nhân viên tiếp thị qua điện thoại đồng nghiệp của mình. Cô ta đang dẫn đầu cuộc đánh cược Bắt Người ta Ra Khỏi Nhà tắm hằng ngày của văn phòng, và chỉ cần hai điểm nữa là thắng giải Cắt ngang Ân ái hằng tuần.
Cô ta quay số tiếp theo trên danh sách.
Lisa chưa bao giờ có ý định làm nhân viên tiếp thị qua điện thoại. Cái cô ta thực sự muốn là trở thành một ngôi sao lộng lẫy tầm quốc tế, nhưng điểm tốt nghiệp trung học của cô ta không đủ cao.
Nếu đã học hành chăm chỉ đủ để làm một ngôi sao lộng lẫy tầm quốc tế, hoặc phụ tá nha khoa (lựa chọn nghề nghiệp thứ hai của cô ta), hoặc thật ra là bất kỳ nghề gì ngoài một nhân viên tiếp thị qua điện thoại trong cái văn phòng này, thì có lẽ cô ta đã có một cuộc sống dài hơn, và mãn nguyện hơn.
Có lẽ xét kỹ thì cũng sẽ không dài hơn lắm, vì dù sao hôm nay cũng là Ngày Tận thế, nhưng ít ra cũng thêm được vài tiếng.
Thật ra, tất cả những gì cô ta cần làm để được sống lâu hơn là đừng gọi vào số cô ta vừa quay, được ghi trên danh sách là nhà ở tại Mayfair của ông A. J. Cowlley theo truyền thống tốt đẹp của các danh sách đặt hàng qua thư đã được chuyền tay cả chục lần.
Nhưng cô ta đã quay số. Và cô ta đã đợi khi chuông đổ bốn lần. Rồi cô ta nói, “Chà, chán quá, lại là máy trả lời tự động”, và bắt đầu đặt ống nói xuống.
Nhưng rồi có thứ gì đó trèo ra khỏi ống nghe. Một thứ gì đó rất to, và rất giận dữ.
Nhìn nó hơi giống một con dòi. Một con dòi khổng lồ, giận dữ, được tạo ra bởi hàng ngàn, hàng ngàn con dòi nhỏ xíu, tất cả đều quằn quại, gào thét, hàng triệu cái miệng dòi mở ra đóng vào trong điên giận, và mỗi cái trong số chúng đều đang gào lên “Crowley”.
Nó ngừng gào. Lảo đảo mò mẫm, hình như đang nhìn xem nó đang ở đâu.
Rồi nó rữa ra.
Vật đó tan thành hàng ngàn con dòi xám quằn quại, chúng tràn ra trên thảm, bò lên bàn, bò lên khắp người Lisa Morrow và chín đồng nghiệp của cô ta; chúng tràn vào miệng, bò lên mũi, chui vào phổi họ; chúng đục vào da thịt, mắt, não, và nội tạng họ, vừa bò vừa tăng lên gấp bội, làm khắp phòng tràn ngập một đống hổ lốn toàn thịt nhờn nhầy. Cả đống bắt đầu dồn vào với nhau, rồi đông lại thành một sinh vật khổng lồ chiếm trọn căn phòng từ trần đến sàn, khẽ phập phồng.
Một cái miệng mở ra giữa đống thịt đó, những mẩu ươn ướt dính dấp bám vào cái-không-hẳn-là-môi, và Hastur nói, “Đúng cái tao cần.”
Việc bị kẹt nửa giờ trong máy trả lời điện thoại tự động, chỉ có tin nhắn của Aziraphale làm bầu bạn, đã không khiến hắn vui vẻ hơn.
Cũng giống như viễn cảnh phải báo cáo lại với Địa ngục và giải thích xem tại sao hắn về muộn nửa giờ, và quan trọng hơn, tại sao Crowley không đi cùng hắn.
Địa ngục không ưa những kẻ thất bại.
Nhưng điểm cộng là ít ra hắn cũng biết tin nhắn của Aziraphale là gì. Điều đó có lẽ cũng đủ để hắn được tiếp tục tồn tại.
Hắn tự nhủ, dù sao, nếu có phải đối mặt với cơn thịnh nộ có thể xảy ra của Hội đồng Hắc ám thì ít ra hắn cũng không phải làm vậy với cái bụng rỗng.
Một làn khói đặc quánh mùi lưu huỳnh tỏa khắp phòng. Khi làn khói tan, Hastur đã biến mất. Trong phòng chẳng còn gì ngoài mười bộ xương khô, đã bị róc hết thịt, và mấy vũng nhựa chảy, với vài mẩu kim loại lấp lánh đây đó, có lẽ đã từng là một bộ phận điện thoại. Làm phụ tá nha khoa thì tốt hơn nhiều.
Nhưng, nhìn vào mặt tươi sáng hơn, tất cả những điều này chỉ để chứng tỏ sự xấu xa chứa đựng mầm mống tự hủy diệt. Ngay lúc này đây, trên khắp đất nước, những người lẽ ra đã căng thẳng và bực bội hơn vì bị lôi ra khỏi một bồn nước tắm dễ chịu, hay phải nghe tên mình bị đọc sai, bỗng cảm thấy khá thư thái và dễ chịu. Kết quả từ hành động của Hastur là một làn sóng tốt đẹp hạng thấp đã truyền đi khắp dân chúng, và hàng triệu người lẽ ra sẽ bị bầm giập chút đỉnh trong tâm hồn đã tránh được việc đó. Vậy nên thế cũng tốt.
Bạn sẽ không thể nhận ra đó vẫn là chiếc xe cũ. Gần như không có phần nào là không bị móp. Cả hai đèn pha đều vỡ. Nắp capô đã biến từ lâu. Nhìn nó như cựu chiến binh của hàng trăm trận đua phá xe vậy.
Vỉa hè đã rất tệ. Hầm chui cho người đi bộ còn tệ hơn. Phần tệ nhất là băng qua sông Thames. Ít ra hắn còn biết lo xa kéo hết cửa sổ lên.
Dù sao hắn cũng đã đến đây rồi.
Chỉ vài trăm mét nữa là hắn sẽ lên đường M40; từ đó có thể gần như chạy thẳng đến Oxfordshire. Chỉ có một trở ngại duy nhất: một lần nữa, đường M25 lại chặn giữa Crowley và cao tốc rộng mở. Một dải băng rực sáng, gào thét đầy đau đớn và ánh sáng tối. (*) Odegra. Không thứ gì có thể đi qua đó mà sống sót.
Ít ra là không thứ gì phàm trần. Và hắn không dám chắc nó sẽ ảnh hưởng thế nào đến một tên quỷ. Nó không thể giết hắn, nhưng cũng sẽ chẳng dễ chịu gì.
Có một chốt chặn của cảnh sát trên cầu vượt trước mặt hắn. Xe cộ đổ nát cháy đen - một số vẫn còn đang cháy - làm bằng chứng cho số phận của những chiếc xe đã từng phải lái qua cầu vượt bắc trên con đường tối.
Đám cảnh sát nhìn không lấy gì làm vui vẻ.
Crowley chuyển xuống số hai và nhấn mạnh bàn đạp ga.
Hắn lao qua rào chắn với tốc độ chín mươi lăm cây số một giờ. Đó là phần dễ nhất.
Các vụ người tự bốc cháy thường được ghi lại trên khắp thế giới. Một phút trước ai đó còn đang vui vẻ sống; phút sau chỉ còn một bức ảnh đáng buồn chụp một đống tro và một bàn tay hoặc bàn chân đơn côi không hiểu vì sao lại không bị cháy. Còn các vụ xe cộ tự bốc cháy thì ít được biết đến hơn.
Cho dù số liệu có là gì thì chúng cũng vừa tăng thêm một.
Lớp da bọc ghế bắt đầu bốc khói. Nhìn thẳng về phía trước, Crowley loay hoay dùng tay trái lần tìm cuốn Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác của Agnes Nutter trên ghế hành khách, chuyển nó sang vị trí an toàn trên lòng hắn. Hắn thầm ước bà đã tiên tri được điều này. (*)
Rồi lửa nuốt trọn chiếc xe.
Hắn phải tiếp tục lái.
Ở bên kia cầu vượt là một chốt chặn nữa để ngăn các xe cố vào London. Họ đang cười với nhau về một câu chuyện vừa được phát đi trên đài, về một cảnh sát đi xe máy đã dừng một chiếc xe cảnh sát bị trộm, nhưng rồi khám phá ra tài xế là một con bạch tuộc lớn.
Một số đơn vị cảnh sát sẽ sẵn sàng tin bất kỳ điều gì. Nhưng cảnh sát Thủ đô thì không. Đơn vị Thủ đô là đơn vị cảnh sát cứng rắn, thực dụng đến cay độc, và thực tế đến bướng bỉnh nhất trên toàn nước Anh.
Phải là thứ gì khủng khiếp lắm thì mới khiến một viên cảnh sát Thủ đô chùn bước.
Phải là, ví dụ, một chiếc xe hơi khổng lồ, méo mó, gần như chỉ còn là một quả cầu lửa, một quả chanh kim loại vặn vẹo rừng rực, gầm thét của Địa ngục, được lái bởi một thằng điên đeo kính râm đang nhăn nhở cười, ngồi giữa đám lửa, kéo theo một luồng khói đen đặc, lao thẳng vào họ qua màn mưa quất gió quật, với tốc độ một trăm ba mươi cây số một giờ.
Một thứ như thế sẽ luôn khiến họ chùn bước.
Mỏ phấn là trung tâm bình lặng giữa một thế giới bão tố.
Sấm sét không chỉ rền vang trên đầu, chúng xé toạc không khí làm đôi.
“Tao có vài người bạn nữa sắp đến,” Adam nhắc lại. “Họ sẽ đến ngay thôi, và khi đó bọn mình có thể thực sự bắt đầu.”
Chó bắt đầu tru. Đó không còn là tiếng tru vang vọng của một con sói đơn độc nữa, mà là tiếng ư ử kỳ lạ của một con chó nhỏ đang gặp rắc rối lớn.
Từ nãy đến giờ Pepper cứ ngồi nhìn đầu gối.
Có vẻ con bé đang bận tâm điều gì đó.
Cuối cùng nó ngước lên và nhìn vào cặp mắt xám vô cảm của Adam.
“Thế mày sẽ lấy phần nào, Adam?” nó hỏi.
Cơn bão bị thay thế bởi một sự im lặng đột ngột, âm vang.
“Gì cơ?” Adam nói.
“Ờ, mày đang chia thế giới ra, đúng không, và mỗi đứa trong bọn đều được một phần... Thế mày sẽ lấy phần nào?”
Sự im lặng ngân lên như một cây đàn hạc, tiếng cao và mảnh.
“Ừ,” Brian nói. “Mày chưa bảo bọn tao là mày sẽ lấy phần nào.”
“Pepper nói đúng,” Wensleydale phụ họa. “Tao thấy là chẳng còn lại nhiều lắm, nếu bọn tao đã được tất cả các nước kia.”
Miệng Adam mở ra rồi lại ngậm vào.
“Gì cơ?” nó nói.
“Phần nào là của mày, Adam?” Pepper hỏi.
Adam trân trối nhìn con bé. Chó đã ngừng tru và đang hướng về chủ nhân với cái nhìn chăm chú, tư lự của một con chó lai.
“T-tao ấy à?” thằng bé nói.
Sự im lặng cứ kéo dài, dài mãi, một nốt ngân có thể nhấn chìm mọi âm thanh khác của thế giới.
“Nhưng tao sẽ có Tadfield,” Adam nói.
Cả bọn trố mắt nhìn nó.
“Và, và Tadfield Hạ, và Norton, và rừng Norton...”
Chúng vẫn nhìn không chớp.
Mắt Adam lê qua mặt cả bọn.
“Tao chỉ muốn có thế,” nó nói.
Chúng lắc đầu.
“Nếu tao muốn thì tao có thể lấy chúng mà,” Adam nói, giọng thoáng vẻ thách thức dằn dỗi, và trong vẻ thách thức đó có một thoáng hồ nghi chợt nảy ra. “Tao cũng có thể làm chúng tốt hơn. Cây trèo thích hơn, ao thích hơn...”
Giọng nó kéo dài rồi ngưng bặt.
“Mày không thể,” Wensleydale thẳng thừng nói. “Chúng không giống nước Mỹ và mấy chỗ kia. Chúng thật sự thật. Mà hơn nữa, chúng thuộc về cả bọn. Chúng là của tất cả bọn mình.”
“Và mày không thể làm chúng tốt hơn được,” Brian nói.
“Mà nếu mày có làm thì bọn tao cũng sẽ biết,” Pepper nói.
“À, nếu bọn mày chỉ băn khoăn về chuyện đó thì đừng lo,” Adam ung dung nói, “vì tao có thể khiến bọn mày làm bất kỳ điều gì tao muốn...”
Nó ngừng bặt, tai nó kinh hoàng lắng nghe những lời mà miệng nó đang thốt ra. Bọn chúng đang lùi ra xa.
Chó đưa hai chân trước lên ôm đầu.
Mặt Adam nhìn như hiện thân cho sự sụp đổ của cả một đế quốc.
“Không,” nó nói giọng khàn đặc. “Không. Quay lại! Tao ra lệnh cho bọn màyì”
Chúng ngừng lại giữa chừng.
Adam nhìn trân trối.
“Không, tao không có ý đó...” nó mở lời. “Bọn mày là bạn tao...”
Người nó giật nẩy lên. Đầu nó ngật ra sau. Nó giơ tay và nện nắm đấm lên trời.
Mặt nó rúm ró lại. Nền đá phấn nứt ra dưới đế giày nó.
Adam mở miệng và thét lên. Đó là một âm thanh mà một cổ họng phàm trần thông thường lẽ ra không thể phát ra; tiếng thét vang ra khỏi mỏ phấn, hòa lẫn với cơn bão, khiến những đám mây cuộn thành những hình thù mới, khủng khiếp hơn.
Tiếng thét cứ kéo dài, dài mãi.
Nó vang vọng quanh khắp vũ trụ, vốn nhỏ hơn nhiều so với những gì các nhà vật lý tin. Nó làm các tinh cầu rung chuyển.
Nó nói lên sự mất mát, và nó không dừng lại suốt một thời gian rất dài.
Và rồi nó dừng lại.
Có gì đó rút đi.
Đầu Adam lại cúi xuống. Mắt nó mở ra.
Cho dù cái gì đã đứng trong mỏ phấn cũ lúc trước, thì giờ Adam Young cũng đang đứng đó. Một Adam Young hiểu biết hơn, nhưng vẫn là Adam Young. Có lẽ còn đích thực là Adam Young hơn cả trước kia.
Sự im lặng khủng khiếp trong mỏ phấn được thay thế bởi một sự im lặng quen thuộc, dễ chịu hơn, chỉ đơn giản là sự thiếu vắng âm thanh.
Bọn Chúng được thả ra và co rúm bên vách đá phấn, mắt không rời thằng bé.
“Ổn cả rồi,” Adam khẽ nói. “Pepper? Wensley? Brian? Quay lại đây đi. Ổn cả rồi. Ổn cả rồi. Giờ tao hiểu hết rồi. Và bọn mày phải giúp tao. Nếu không thì tất cả sẽ xảy ra. Tất cả sẽ thực sự xảy ra, nếu bọn mình không làm gì đó.”
◇ ❖ ◇
Đường ống nước của Nhà Hoa Nhài rung rung lạch cạch, rồi trút lên Newt làn nước ngả màu nâu nâu xam xám. Nhưng nước lạnh. Có lẽ là trận tắm lạnh nhất Newt đã từng có trong đời.
Chẳng ích gì.
“Trời đỏ,” cậu nói, khi từ nhà tắm đi ra. Cậu đang thấy hơi hoảng loạn. “Vào lúc bốn rưỡi chiều. Vào tháng Tám. Thế nghĩa là sao? Từ góc độ của các nhân viên hàng hải vui sướng ấy? Ý anh là, nếu trời đỏ ban chiều khiến thủy thủ vui sướng (*) , thì cái gì sẽ đem niềm vui đến cho một người vận hành máy tính trên tàu chở dầu? Hay là người chăn cừu mới vui sướng vào đêm nhỉ? Anh chẳng bao giờ nhớ nổi.”
Anathema liếc nhìn vữa trên tóc cậu. Cậu đã không gội sạch được nó; nước chỉ làm vữa ướt và loang ra, khiến Newt nhìn như thể đang đội một cái mũ trắng dính tóc.
“Chắc anh bị đập đầu mạnh lắm nhỉ,” cô nói.
“Không, đó là khi anh bị đập đầu vào tường. Em biết đấy, lúc em...”
“Vâng.” Anathema nhìn ra ô cửa sổ vỡ vẻ hơi giễu cợt. “Anh nghĩ bầu trời này có phải màu máu không nhỉ?” cô nói. “Chuyện đó rất quan trọng đấy.”
“Không đâu,” Newt nói, dòng suy nghĩ của cậu tạm thời bị gián đoạn. “Không phải là màu máu thật sự. Hơi hồng hồng thì đúng hơn. Có lẽ là bão đã cuốn nhiều bụi lên không khí.”
Anathema đang lật giở qua các tập thẻ Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác.
“Em đang làm gì thế?” cậu hỏi.
“Tham khảo chéo. Em vẫn không chắc...”
“Anh nghĩ em không cần bận tâm đâu,” Newt nói. “Anh biết phần còn lại của câu 3477 nghĩa là gì rồi. Anh đã nghĩ ra trong lúc...”
“Anh nói anh biết nó nghĩa là gì là sao?”
“Anh đã nhìn thấy trên đường đến đây. Và đừng quát như thế. Đầu anh đau lắm. Ý anh là anh đã nhìn thấy nó. Họ viết nó bên ngoài cái căn cứ không quân ở gần đây ấy. Chẳng liên quan đến đậu điếc gì đâu. Nó là ‘Hòa bình là Nghĩa vụ của chúng tôi’. Họ hay đề những câu như thế trên biển hiệu bên ngoài các căn cứ không quân. Em biết đấy: SAC Phi đội số 8657745, Những Con quỷ Xanh Gào thét, Hòa bình là Nghĩa vụ của chúng tôi. Đại loại thế.” Newt ôm đầu. Chắc chắn là cảm giác phởn phơ đang tan biến rồi. “Nếu Agnes nói đúng thì hẳn ở đó đang có một tên điên nào đó nạp các tên lửa và mở cửa sổ phóng. Hoặc cái gì tương tự.”
“Không, không có đâu,” Anathema quả quyết.
“Thế hả? Anh đã thấy trên phim! Cho anh biết một lý do tại sao em có thể chắc chắn như thế xem nào.”
“Ở đó không có bom. Hay tên lửa gì hết. Ai ở quanh đây chẳng biết điều đó.”
“Nhưng nó là căn cứ không quân! Nó có đường băng!”
“Đó chỉ là để cho máy bay vận tải và các thứ tương tự thôi. Ở đó họ chỉ có toàn thiết bị liên lạc. Điện đàm và các thứ đại loại vậy. Không có gì dễ nổ cả.”
Newt trố mắt nhìn cô.
Hãy nhìn Crowley, đang lao đi với tốc độ một trăm tám mươi cây số một giờ trên đường M40 hướng về Oxfordshire. Ngay cả người quan sát hững hờ một cách cương quyết nhất cũng phải nhận ra một số điều lạ lùng ở hắn. Hàm răng nghiến chặt là một ví dụ, hay quầng đỏ mờ phát ra từ sau cặp kính râm của hắn. Và chiếc xe nữa. Chiếc xe là một manh mối rõ rành rành.
Crowley đã bắt đầu cuộc hành trình trong chiếc Bentley, và hắn thà chịu nguyền rủa còn hơn là không kết thúc cuộc hành trình cũng trong chiếc Bentley. Ngay cả dân mê xe, kiểu có riêng cặp kính bảo hộ để lái xe, cũng không nhận ra nổi đó là một chiếc Bentley cổ. Không còn nữa. Họ thậm chí còn không thể nhận ra đó là một chiếc Bentley nữa cơ. Họ chỉ có thể đoán năm mươi-năm mươi là nó đã từng là một chiếc xe hơi.
Trước hết, trên xe chẳng còn lại tí sơn nào. Nó có thể vẫn còn màu đen, ở những chỗ nó không phải là màu nâu đỏ gỉ sét, loang lổ, nhưng đó là một màu than đen mờ đục. Nó đi giữa quả cầu lửa của riêng nó, như một khoang tàu vũ trụ đang có một chuyến trở về mặt đất cực kỳ khó khăn.
Còn một lớp mỏng cao su chảy đóng quanh vành kim loại của bánh xe, nhưng xét theo cách vành bánh xe không hiểu sao vẫn đang quay cách mặt đường chừng hai phân, thì việc này có lẽ không ảnh hưởng gì lắm đến hệ thống giảm xóc của xe.
Lẽ ra chiếc xe đã phải tan tành từ mấy cây số trước.
Chính việc gắng sức giữ chiếc xe nguyên vẹn đã khiến Crowley phải nghiến răng, và hồi tiếp từ không gian sinh học đã gây ra đôi mắt đỏ rực của hắn. Cộng thêm cả việc phải nhớ không được thở nữa.
Hắn chưa từng cảm thấy như thế này kể từ thế kỷ mười bốn.
Không khí trong mỏ phấn giờ đã thân thiện hơn, nhưng vẫn căng thẳng.
“Bọn mày phải giúp tao xử lý chuyện này,” Adam nói. “Mọi người đã cố gắng xử lý nó suốt hàng ngàn năm nay, nhưng bọn mình phải xử lý nó ngay bây giờ.”
Chúng sốt sắng gật đầu.
“Bọn mày thấy đấy, chuyện là,” Adam nói, “chuyện là, nó giống như là... ờ, giống như là Johnson Bụng Mỡ ấy.”
Bọn Chúng gật đầu. Chúng đều biết Johnson Bụng Mỡ và các thành viên của băng đảng kia ở Tadfield Hạ. Bọn kia lớn hơn và chẳng dễ ưa cho lắm. Gần như không có tuần nào trôi qua mà không có đụng độ.
“Này,” Adam nói, “bọn mình luôn thắng, đúng không?”
“Gần như luôn luôn,” Wensleydale nói.
“Gần như luôn luôn,” Adam nói, “và...”
“Dù sao cũng là quá nửa,” Pepper nói. “Vì, bọn mày nhớ không, có vụ lộn xộn vì bữa tiệc của người cao tuổi ở hội trường làng khi bọn mình...”
“Vụ đấy không tính,” Adam nói. “Bọn nó cũng bị mắng không kém gì bọn mình. Mà người già lẽ ra phải thích nghe tiếng trẻ con chơi chứ, tao đã đọc được như thế ở đâu đấy, tao không hiểu sao bọn mình lại bị mắng chỉ vì vớ nhầm kiểu người già...” Nó ngừng lời. “Dù sao thì... bọn mình hơn chúng nó.”
“Ồ, tất nhiên là bọn mình hơn chúng nó,” Pepper nói. “Mày nói đúng. Bọn mình hơn chúng nó đứt đi rồi. Chỉ là không phải lúc nào mình cũng thắng.”
“Thử giả dụ,” Adam chậm rãi nói, “là bọn mình có thể thắng chúng nó hẳn hoi. Làm... làm chúng nó bị chuyển đi đâu đó. Đảm bảo là không còn băng nào khác ở Tadfield Hạ ngoài bọn mình nữa. Bọn mày nghĩ sao?”
“Sao, ý mày là nó sẽ... chết ấy à?” Brian hỏi.
“Không. Chỉ là... chỉ đi chỗ khác thôi.”
Bọn Chúng ngẫm nghĩ về chuyện này. Johnson Bụng Mỡ đã là một phần của cuộc sống kể từ khi chúng đủ lớn để đập nhau bằng đầu tàu đồ chơi. Chúng cố chấp nhận cái ý tưởng về một thế giới thiếu bóng Johnson.
Brian gãi mũi. “Tao nghĩ sẽ rất tuyệt nếu không có Johnson Bụng Mỡ,” nó nói. “Có nhớ nó đã làm gì ở tiệc sinh nhật của tao không? Thế mà tao lại bị phạt.”
“Tao không biết nữa,” Pepper nói. “Ý tao là, sẽ không thú vị lắm nếu không có thằng Johnson Bụng Mỡ và băng của nó. Thử nghĩ mà xem. Bọn mình đã có nhiều trò rất vui với Johnson Bụng Mỡ và bọn Johnsonite. Bọn mình có thể sẽ phải tìm một băng khác.”
“Tao thì thấy là,” Wensleydale nói, “nếu bọn mày hỏi mọi người ở Tadfield Hạ, họ sẽ bảo sẽ tốt hơn nếu không có cả băng Johnsonite lẫn Bọn Chúng.”
Ngay cả Adam cũng có vẻ choáng với câu này. Wensleydale vẫn khăng khăng nói tiếp, “Câu lạc bộ người cao tuổi sẽ nói thế. Cả lão Picky nữa. cả...”
“Nhưng bọn mình là băng tốt...” Brian lên tiếng. Nó ngần ngừ. “Ờ, thôi được rồi,” nó nói, “nhưng tao dám cá là họ sẽ thấy đời bớt thú vị hơn nhiều nếu tất cả bọn mình không có ở đây.”
“Ừ,” Wensleydale nói. “Đấy chính là ý tao đấy.”
“Người quanh đây không muốn có bọn mình hay bọn Johnsonite,” thằng bé rầu rĩ nói tiếp, “cứ nhìn cái cách họ suốt ngày lải nhải về chuyện bọn mình đi xe đạp hoặc trượt ván trên vỉa hè nhà họ và quá ồn ào và đại loại thế. Giống như cái người trong sách sử ấy. Một cái biển lên cả hai nhà chúng mày! (*) ”
Câu này được đón nhận bằng im lặng.
“Một tấm biển xanh,” cuối cùng Brian nói, “đề chữ ‘Adam Young Đã Từng Sống Ở Đây’, kiểu thế hả?”
Bình thường một pha mào đầu như thế có thể kéo theo năm phút bàn bạc huyên thuyên Nếu Bọn Chúng đang có hứng, nhưng Adam cảm thấy bây giờ không phải lúc.
“Điều bọn mày muốn nói,” nó kết luận bằng chất giọng chủ tịch nhất của mình, “là sẽ không hay ho gì nếu bọn Johnson Bụng Mỡ thắng Bọn Chúng hoặc ngược lại, đúng không?”
“Đúng thế,” Pepper nói. “Bởi vì,” con bé thêm vào, “nếu bọn mình thắng chúng nó thì bọn mình sẽ phải là tử thù của chính mình. Sẽ là tao với Adam đối đầu với Brian và Wensley.” Con bé ngồi ngả ra. “Ai cũng cần một thằng Johnson Bụng Mỡ,” nó nói.
“Ừ,” Adam nói. “Tao cũng nghĩ thế. Ai thắng cũng sẽ chẳng hay ho gì. Tao cũng nghĩ thế đấy.” Nó nhìn vào Chó chằm chằm, hoặc là nhìn xuyên qua Chó.
“Tao thấy cũng đơn giản đấy chứ,” Wensleydale ngồi ngả ra nói. “Tao chả hiểu sao phải mất hàng ngàn năm mới xử lý được.”
“Đó là bởi vì những người tìm cách xử lý chuyện đó là đàn ông,” Pepper nói đầy ẩn ý.
“Sao mày cứ phải chọn phe nhỉ,” Wensleydale nói.
“Tất nhiên tao phải chọn phe chứ,” Pepper nói. “Ai cũng phải chọn phe trong một chuyện gì đó.”
Adam có vẻ đã đi đến một quyết định.
“Đúng thế. Nhưng tao nghĩ mình có thể tự tạo phe. Tao nghĩ bọn mày nên đi lấy xe đạp đi,” nó khẽ nói. “Tao nghĩ bọn mình nên đi nói chuyện với vài người.”
Bịchbịchbịchbịchbịchbịch, chiếc xe tay ga của bà Tracy chạy xuống Phố Chính Crouch End. Nó là chiếc xe duy nhất đang di chuyển trên một con phố ngoại ô London kẹt cứng xe hơi, taxi, và xe buýt đỏ không thể nhúc nhích.
“Tôi chưa bao giờ thấy một vụ tắc đường như thế này,” bà Tracy nói. “Không biết có phải có tai nạn không nhỉ.”
“Rất có thể,” Aziraphale nói. Rồi tiếp, “Ông Shadwell, nếu không chịu ôm lấy tôi thì ông sẽ ngã đấy. Cái xe này không thiết kế cho hai người đâu, ông biết đấy.”
“Ba chứ,” Shadwell lầm bầm, một tay bám vào yên xe chặt đến nỗi khớp đốt ngón tay trắng bệch ra, còn tay kia ôm khẩu Thần công.
“Ông Shadwell, tôi sẽ không nhắc lại lần nữa đâu.”
“Thế thì bà phải dừng lại, để ta chỉnh lại món vũ khí của ta,” Shadwell thở dài.
Bà Tracy cười khúc khích theo thói quen nghề nghiệp, nhưng bà vẫn dừng lại bên vỉa hè và tắt máy.
Shadwell chỉnh trang lại, miễn cưỡng vòng tay ôm lấy bà Tracy, trong khi khẩu Thần công được kẹp giữa họ như một người đi kèm.
Họ đi qua màn mưa mà không nói gì thêm mười phút nữa, bịchbịchbịchbịchbịch, trong khi bà Tracy cẩn thận luồn lách giữa các ô tô và xe buýt.
Bà Tracy thấy mắt mình cứ nhìn xuống công tơ mét - thật ngốc quá, bà thầm nghĩ, vì nó đã không hoạt động từ năm 1974, và trước đó nó cũng chẳng hoạt động tốt cho lắm.
“Bà thân mến, bà nghĩ chúng ta dang đi với tốc độ bao nhiêu?” Aziraphale hỏi.
“Vì sao?”
“Vì tôi thấy có lẽ chúng ta đi bộ có khi còn nhanh hơn.”
“Nếu chỉ có mình tôi thì vận tốc tối đa là khoảng hai lăm cây số một giờ, nhưng với cả ông Shadwell nữa thì chắc là, chà, khoảng...”
“Bảy đến tám cây số một giờ,” Aziraphale ngắt lời.
“Tôi đoán vậy,” bà đồng tình.
Có một tiếng đằng hắng sau lưng bà. “Không làm cỗ máy địa ngục này chạy chậm lại được sao, mụ đàn bà kia?” một giọng xám ngoét hỏi. Trong thần hệ địa ngục, mà không phải nói cũng biết Shadwell căm ghét một cách đồng đều và đúng đắn, thì lão dành một lòng căm ghét đặc biệt với bọn quỷ tốc độ.
“Trong trường hợp đó,” Aziraphale nói, “chúng ta sẽ đến Tadfield trong khoảng mười tiếng đồng hồ.”
Bà Tracy lặng đi một thoáng, rồi hỏi, “Thế cái chỗ Tadfield ấy ở cách bao xa?”
“Khoảng sáu lăm cây.”
“Ừm,” bà Tracy nói, đã có lần bà chạy xe khoảng vài cây số đến Finchley gần đó để thăm cô cháu gái, nhưng từ đó trở đi bà chỉ đi xe buýt, vì cái xe máy cứ phát ra những tiếng là lạ trên đường về.
“... chúng ta nên đi ít nhất là một trăm cây số một giờ, nếu muốn đến đó kịp lúc,” Aziraphale nói. “Hừm. Trung sĩ Shadwell? Bám thật chặt vào nhé.”
Bịchbịchbịchbịchbịch và một vầng hào quang xanh bắt đầu bao quanh chiếc xe tay ga và những người ngồi trên xe trong một quầng sáng dịu nhẹ, như một dư ảnh, khắp xung quanh họ.
Bịchbịchbịchbịchbịchbịch và chiếc xe vụng về bay lên khỏi mặt đất mà không có gì chống đỡ, hơi lảo đảo, cho tới khi nó lên đến độ cao chừng một mét rưỡi.
“Đừng nhìn xuống, Trung sĩ Shadwell,” Aziraphale khuyên.
“...” Shadwell nói, mắt nhắm nghiền, vầng trán xám ngoét lấm chấm mồ hôi, không nhìn xuống, không nhìn bất kỳ đâu.
“Lên đường nào.”
Trong mọi bộ phim khoa học viễn tưởng bom tấn đều có một cảnh khi mà một phi thuyền to cỡ New York đột ngột chuyển sang vận tốc ánh sáng. Một tiếng “tưng” như một cái thước kẻ gỗ được gảy bên mép bàn, một luồng sáng bị khúc xạ chói lòa, và đột nhiên các vì sao bị kéo dài ra và phi thuyền biến mất. Cảnh này giống hệt thế, chỉ khác là thay vì một phi thuyền sáng bóng dài hai mươi mét, thì đó là một chiếc xe tay ga màu trắng nhờ nhờ đã hai mươi năm tuổi. Và cũng không có hiệu ứng cầu vồng đặc biệt nào cả. Và có lẽ nó cũng không đi được quá ba trăm cây số một giờ. Và thay vì một tiếng ngân dài mỗi lúc một cao lên, nó chỉ kêu bịchbịchbịchbịchbịch...
VÚÚÚÚT.
Nhưng quả là nó đã xảy ra đích xác như thế.
Ở chỗ đường M25, giờ chỉ còn là một vòng tròn kẹt cứng đầy tiếng gào thét, giao cắt với đường M40 đến Oxfordshire, cảnh sát đang tụ tập lại mỗi lúc một đông. Kể từ khi Crowley vượt qua rào chắn nửa giờ trước, số cảnh sát đã tăng gấp đôi. Ít ra là ở phía đường M40. Không ai ở London có thể thoát ra cả.
Ngoài cảnh sát còn có khoảng hai trăm người nữa đứng quanh đó, quan sát đường M25 qua ống nhòm. Họ bao gồm các đại diện từ Quân đội Hoàng gia, Đội Phá Bom, Tình báo MI5, Mật vụ MI6, Đơn vị Đặc biệt, và CIA. Còn có cả một người đàn ông bán xúc xích nữa.
Ai nấy đều ướt sũng và lạnh cóng, bối rối và bực bội, ngoại trừ một viên sĩ quan cảnh sát vừa lạnh, vừa ướt, vừa bối rối, vừa bực bội, lại còn thêm cáu kỉnh nữa.
“Nghe này. Tôi không cần biết các vị có tin tôi hay không,” anh ta thở dài, “tôi chỉ có thể nói tôi đã thấy gì thôi. Đó là một cái xe cũ, một chiếc Rolls hoặc Bentley, loại xe cổ điển bóng bẩy ấy, và nó đã qua được cầu.”
Một kỹ thuật viên quân đội cấp cao ngắt lời. “Không thể thế được. Theo thiết bị của chúng tôi, nhiệt độ trên đường M25 là hơn bảy trăm độ C.”
“Hoặc âm một trăm bốn mươi độ,” trợ lý của anh ta thêm vào.
“... hoặc âm một trăm bốn mươi độ,” kỹ thuật viên cấp cao đồng tình. “Có vẻ có chút lộn xộn trong số đo, mặc dù tôi nghĩ chúng tôi có thể yên tâm coi đó là do lỗi kỹ thuật (*) , nhưng sự thật là chúng tôi còn không thể cho trực thăng bay trực tiếp trên đường M25 mà không biến nó thành trực thăng chiên giòn. Vậy anh có thể giải thích xem thế quái nào mà một cái xe hơi cổ lại có thể lái qua đó mà không hề hấn gì?”
“Tôi đâu có bảo nó đã lái qua mà không hề hấn gì,” viên cảnh sát chỉnh lại, anh ta đang nghiêm túc nghĩ đến chuyện rời lực lượng Cảnh sát Thủ đô và về làm ăn với em trai mình, người vừa bỏ việc ở Công ty Điện lực để đi nuôi gà. “Nó đã bùng cháy. Nhưng nó cứ đi thôi.”
“Anh thực sự mong chúng tôi sẽ tin...” ai đó lên tiếng.
Bỗng có một tiếng rít the thé, ám ảnh và quái lạ. Như một ngàn cây kèn harmonica thủy tinh được thổi cùng một lúc, tất cả đều hơi lạc điệu; như tiếng chính các phân tử không khí đang gào thét đau đớn.
Và Vúúút.
Nó lướt qua đầu họ, cách mặt đất mười hai mét, được bọc trong một vầng hào quang xanh biếc, ánh đỏ ở rìa: một chiếc xe tay ga nhỏ màu trắng, trên đó là một phụ nữ trung tuổi đội mũ bảo hiểm màu hồng, và bám chặt vào bà là một người đàn ông thấp lùn mặc áo khoác đi mưa và đội mũ bảo hiểm màu xanh neon (chiếc xe đang ở quá cao khiến người ta không thể thấy mắt lão đang nhắm nghiền, nhưng đúng là thế).
Người phụ nữ đang hét lên. Điều bà hét lên là:
“ Gerrrronnnimooooo! “
◇ ❖ ◇
Một trong những lợi thế của dòng xe Wasabi, mà Newt luôn sốt sắng chỉ ra, đó là nếu nó bị hư hỏng nặng thì cũng khó có thể nhận ra. Newt phải lái Dick Turpin lên vệ đường để tránh những cành cây gãy.
“Anh làm em đánh rơi hết thẻ xuống sàn rồi!”
Chiếc xe nẩy bật trở lại lòng đường; một giọng lí nhí phát ra từ đâu đó bên dưới ngăn đựng găng tay, nói, “Cảng báo ép xút dầu.”
“Giờ em sẽ không bao giờ sắp xếp lại được nữa,” cô rên rỉ.
“Không cần đâu,” Newt điên cuồng nói. “Cứ nhặt đại một cái đi. Cái nào cũng được. Không sao hết.”
“Ý anh là sao?”
“Ờ, nếu Agnes đã đúng và chúng ta đang làm tất cả những việc này vì bà ấy đã dự đoán trước, thì bất kỳ tấm thẻ nào em nhặt lên vào đúng lúc này cũng sẽ có liên quan. Thế là hợp lý.”
“Thế là ngớ ngẩn thì có.”
“Thế à? Nhìn xem, thậm chí em đang có mặt ở đây cũng là vì bà ấy đã tiên tri như thế. Và em đã nghĩ xem mình sẽ nói gì với ngài đại tá chưa? Đó là nếu chúng ta được gặp ông ấy, mà tất nhiên điều đó sẽ không xảy ra rồi.”
“Nếu chúng ta tỏ ra biết lý lẽ...”
“Nghe này, anh biết rõ những chỗ như thế này. Chúng đều có lính gác khổng lồ như đẽo bằng gỗ ngoài cổng, Anathema ạ, và họ đội mũ trắng và có súng thật, em hiểu không, súng thật bắn đạn thật làm bằng chì thật, có thể xuyên vào người em và nẩy lung tung khắp nơi rồi chui ra qua cùng cái lỗ ấy trước khi em kịp nói, ‘Xin lỗi, chúng tôi có lý do để tin rằng Thế chiến Thứ ba sắp nổ ra đến nơi và nó sẽ bắt đầu ngay ở đây,’ và rồi họ còn có cả những người nghiêm nghị mặc vét, áo khoác phồng ra, sẽ dẫn em vào một căn phòng nhỏ không có cửa sổ và hỏi những câu kiểu như hiện giờ hoặc đã từng có lúc nào em là thành viên của một tổ chức phản loạn thiên tả nào ví dụ như bất kỳ đảng phái chính trị nào của Anh không? Và...”
“Chúng ta sắp đến nơi rồi.”
“Thấy chưa, nó có cả cổng và hàng rào thép gai đủ cả! Và có lẽ còn có cả giống chó ăn thịt người nữa!”
“Em nghĩ anh đang hơi hoảng loạn rồi đấy,” Anathema khẽ nói, nhặt nốt những tấm thẻ cuối cùng từ sàn xe lên.
“Hoảng loạn ấy à? Không! Anh đang rất bình tĩnh lo lắng rằng ai đó sẽ bắn anh đấy chứ!”
“Em dám chắc Agnes sẽ nhắc nếu chúng ta sắp bị bắn. Bà rất giỏi những chuyện như vậy.” Cô bắt đầu lơ đãng xào tập thẻ.
“Anh biết không,” cô nói, cẩn thận chia đôi tập thẻ và trang hai tập vào với nhau, “em đã đọc được đâu đó rằng có một giáo phái tin rằng máy tính là công cụ của quỷ sứ. Họ nói Ngày Tận thế sẽ đến vì Kẻ Chống Chúa rất giỏi máy tính. Theo họ thì chuyện đó được nhắc đến trong kinh Khải huyền hay sao ấy. Hình như em đã đọc được trong một tờ báo nào mới đây thì phải...”
“Thời báo. ‘Thư từ Mỹ.’ Ừm, ngày mồng ba tháng Tám,” Newt nói. “Ngay sau câu chuyện về người phụ nữ ở Worms, Nebraska, đã dạy con vịt của bà ta chơi đàn accordion.”
“Hừm,” Anathema nói, xếp tập thẻ úp xuống trên lòng.
Vậy máy tính là công cụ của quỷ sứ hả? Newt thầm nghĩ. Chuyện đó cậu chẳng thấy khó tin tẹo nào. Máy tính phải là công cụ của ai đó, và điều duy nhất cậu biết chắc là người đó dứt khoát không phải là cậu.
Chiếc xe dừng phắt lại.
Căn cứ không quân nhìn tan tác. Vài cây cổ thụ đã đổ gần lối vào, và một vài người với một cái máy xúc đang tìm cách dịch chuyển chúng. Người lính gác làm nhiệm vụ đang hờ hững quan sát họ, nhưng anh ta quay nửa người lại và lạnh lùng nhìn chiếc xe.
“Được rồi,” Newt nói. “Chọn một tấm thẻ đi.”
3001. ĐẰNG SAU TỔ ĐẠI BÀNG,
MỘT CÂY TẦN BÌ KHỔNG LỒ ĐÃ NGÃ XUỐNG
“Chỉ có thế thôi à?”
“Phải. Nhà em đã luôn nghĩ nó liên quan gì đó đến Cách mạng Nga. Cứ đi theo đường này rồi rẽ trái.”
Ngã rẽ dẫn đến một lối mòn hẹp, với hàng rào ranh giới của căn cứ ở bên trái.
“Giờ thì dừng lại đây. Ở đây thường có xe, và không ai để ý đâu,” Anathema nói.
“Chỗ này là gì?”
“Đường Tình nhân của khu này.”
“Có phải vì thế mà nhìn nó như được rải bằng cao su không?”
Họ đi dọc lối mòn phủ bóng cây chừng một trăm thước, cho tới khi đến chỗ cây tần bì. Agnes đã đúng. Nó khá là khổng lồ. Nó đã đổ đè ngang lên hàng rào.
Một người lính gác đang ngồi trên thân cây, hút thuốc. Anh ta là người da đen. Newt luôn thấy tội lỗi trước mặt những người Mỹ da đen, phòng trường hợp họ đổ tội cho cậu vì hai trăm năm buôn bán nô lệ.
Người lính đứng dậy khi họ lại gần, rồi lại thả lỏng người, thư giãn hơn.
“À, chào cô, Anathema,” anh ta nói.
“Chào anh, George. Bão mạnh nhỉ.”
“Mạnh ra trò.”
Họ đi tiếp. Anh ta nhìn theo họ cho tới khi họ đi khuất tầm mắt.
“Em quen anh ta à?” Newt hỏi, cô tỏ vẻ hờ hững.
“Ồ, quen chứ. Thỉnh thoảng vài người trong số họ có xuống quán rượu. Họ khá dễ chịu, theo kiểu sạch sẽ ấy.”
“Nếu chúng ta cứ thế xông vào thì liệu anh ta có bắn không?” Newt hỏi.
“Rất có thể anh ta sẽ chĩa súng vào chúng ta vẻ hăm dọa,” Anathema đáp.
“Thế với anh là đủ rồi. Vậy theo em thì chúng ta nên làm gì đây?”
“Ờ, chắc Agnes đã biết điều gì đó. Nên em đoán chúng ta cứ đợi thôi. Giờ gió đã lặng rồi nên cũng không đến nỗi.”
“Ồ.” Newt nhìn những đám mây đang dồn lên ở chân trời. “Được lắm bà Agnes,” cậu nói.
Adam đạp xe đều đều trên đường, Chó chạy theo phía sau và thỉnh thoảng lại tìm cách cắn lốp sau của thằng bé vì quá phấn khích.
Có tiếng lách cách và Pepper lao ra từ lối vào nhà nó. Ta rất dễ nhận ra xe của Pepper. Con bé nghĩ có thể cải tạo cái xe bằng một miếng bìa cứng khéo léo kẹp vào bánh xe bằng một cái kẹp quần áo. Lũ mèo đã học được là phải nhảy tránh khi con bé còn cách chỗ chúng hai dãy phố.
“Tao nghĩ bọn mình có thể đi tắt qua ngõ Chăn Bò rồi đi lên xuyên qua rừng Đầu Tròn,” Pepper nói.
“Lầy lội lắm,” Adam nói.
“Ừ đúng rồi,” Pepper bồn chồn nói. “Trên đấy lầy lội lắm. Thế thì bọn mình đi dọc theo mỏ phấn. Ở đấy lúc nào cũng khô nhờ đá phấn. Rồi sau đó đi lên qua nhà máy nước thải.”
Brian và Wensleydale kéo đến sau lưng chúng. Xe đạp của Wensleydale màu đen, sạch bóng, và rất thực dụng. Xe của Brian có thể đã từng có màu trắng, nhưng màu sơn đã biến mất dưới một lớp bùn dày.
“Gọi nó là căn cứ quân sự thì thật là ngớ ngẩn,” Pepper nói. “Tao đã đến đấy hôm họ mở cửa tham quan và họ chẳng có súng ống hay tên lửa gì cả. Chỉ toàn các công tắc, bảng đồng hồ và đội quân nhạc thôi.”
“Ừ,” Adam nói.
“Công tắc với bảng đồng hồ thì có gì là quân sự chứ,” Pepper nói.
“Tao không biết nữa,” Adam nói. “Công tắc với bảng đồng hồ cũng làm được nhiều chuyện lắm.”
“Hồi Giáng sinh tao được tặng một bộ đồ,” Wensleydale xen vào. “Toàn các linh kiện điện. Có vài cái công tắc và bảng đồng hồ. Có thể lắp thành cái đài hoặc một thứ kêu bíp bíp.”
“Tao không biết nữa,” Adam trầm ngâm nói, “tao đang nghĩ đúng hơn là có những người kết nối vào hệ thống liên lạc quân sự của toàn thế giới và ra lệnh cho các máy tính và các thứ khác bắt đầu chiến đấu ấy.”
“Trời,” Brian nói. “Thế thì chiến lắm.”
“Kiểu vậy,” Adam nói.
Làm chủ tịch Hội Dân cư làng Tadfield Hạ là một sứ mệnh cao cả và cô đơn.
R. P. Tyler, thấp lùn, béo tốt, hài lòng, bước thình thịch xuôi một con đường làng, đi theo là Shutzi, con chó poodle mini của vợ ông ta. R. P. Tyler biết phân biệt giữa đúng và sai; trong cuộc đời ông ta không có khoảng xám nào về mặt đạo đức cả. Nhưng ông ta không hài lòng với việc chỉ được ban cho khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Ông ta cảm thấy nhiệm vụ bắt buộc của mình là phải cho toàn thế giới biết.
R. P. Tyler không chọn bục diễn thuyết, các bài bút chiến, hay dùng biểu ngữ. Diễn đàn mà R. P. Tyler lựa chọn là mục thư gửi tòa soạn của tờ Quảng cáo Tadfield. Nếu một cái cây nhà hàng xóm khinh suất đến độ dám rụng lá vào vườn của R. P. Tyler, thì trước hết R. P. Tyler sẽ cẩn thận quét hết lá lại, bỏ chúng vào hộp, và đặt những cái hộp ở cửa trước nhà hàng xóm, cùng một mẩu thư lời lẽ nghiêm khắc. Rồi ông ta sẽ viết thư cho tờ Quảng cáo Tadfield. Nếu thấy bọn choai choai ngồi trên bãi cỏ làng, bật nhạc bằng đài xách tay, và chúng đang đú đởn với nhau, thì ông ta sẽ tự nhận nhiệm vụ giáo huấn cho chúng. Và sau khi đã chạy trốn khỏi tiếng chế nhạo của chúng, ông ta sẽ viết thư cho tờ Quảng cáo Tadfield về sự Sa sút Đạo đức và Thanh Thiếu niên Ngày nay.
Kể từ khi ông ta nghỉ hưu năm ngoái, số lượng thư đã tăng lên đến mức thậm chí tờ Quảng cáo Tadfield cũng không đăng hết nữa. Thật vậy, lá thư mà R. P. Tyler đã viết xong trước khi đi dạo buổi tối bắt đầu như sau:
Kính gửi các ngài,
Tôi rất đau lòng nhận ra báo chí ngày nay không còn cảm thấy có nghĩa vụ với công chúng, chính chúng tôi, những người trả lương cho các ngài...
Ông ta ngắm những cành cây gãy nằm vương vãi khắp lối mòn hẹp. Ông ta thầm nghĩ, chắc họ không nghĩ đến hóa đơn dọn vệ sinh khi họ đem mấy cơn bão này đến cho chúng ta. Hội đồng Giáo hội sẽ phải tự bỏ tiền túi ra để dọn dẹp hết. Còn chúng ta, những người nộp thuế, thì lại trả lương cho họ...
Họ trong dòng ý nghĩ này là các phát thanh viên dự báo thời tiết trên Đài Số Bốn (*) , mà R. P. Tyler đổ lỗi cho về chuyện thời tiết.
Shutzi dừng lại ở một cây sồi bên vệ đường và ghếch chân lên.
R. P. Tyler xấu hổ nhìn đi chỗ khác. Có thể mục đích duy nhất của chuyến tản bộ buổi tối này là để cho con chó giải quyết nỗi buồn, nhưng ông ta sẽ không đời nào thừa nhận điều đó với chính mình. Ông ta ngước lên nhìn những đám mây dông, chúng đang dồn cao thành từng đống màu xám mờ, đen sì. Không chỉ là những tia chớp rạch qua chúng như đoạn mở đầu một bộ phim Frankenstein; mà còn là cái cách chúng dừng lại khi chúng đến ranh giới của làng Tadfield Hạ nữa. Và ở giữa chúng là một khoảng nắng tròn; nhưng ánh nắng có vẻ mỏng dính, vàng vọt, như một nụ cười gượng.
Không gian lặng như tờ.
Có một tiếng rền trầm trầm.
Bốn chiếc xe máy lao xuống con đường hẹp. Chúng lao qua ông ta và vòng qua ngã rẽ, khiến một con gà lôi trống hốt hoảng bay qua lối mòn thành một vòng cung đỏ sẫm và xanh.
“Bọn phá hoại!” R. P. Tyler quát với theo chúng.
Nông thôn không được tạo ra cho những kẻ như chúng. Nó được tạo ra cho những người như ông ta.
Ông ta giật xích Shutzi, và họ đi tiếp xuôi lối mòn.
Năm phút sau ông ta rẽ qua một khúc quanh và thấy ba trong số bốn kẻ chạy xe máy đang đứng quanh một biển báo bị đổ, nạn nhân của cơn bão. Kẻ thứ tư, một tên cao lớn đội mũ tráng gương, vẫn ngồi nguyên trên xe.
R. P. Tyler quan sát tình huống và lập tức rút ra kết luận mà chẳng mất chút công sức nào. Bọn phá hoại này - tất nhiên là ông ta đã đúng - đã về vùng thôn quê để báng bổ Tượng đài Liệt sĩ và đạp đổ các biển báo.
Ông ta đang định nghiêm nghị tiến về phía chúng thì chợt nhận ra mình bị áp đảo một chọi bốn, chúng cao hơn ông ta, và chắc chắn chúng là lũ tâm thần bạo lực. Trong thế giới của R. P. Tyler, chỉ có bọn tâm thần bạo lực thì mới chạy xe máy.
Vậy là ông ta vênh cằm lên và bắt đầu khệnh khạng đi qua chúng, ra vẻ như không biết có chúng ở đó, (*) trong lúc đó vẫn thầm viết một bức thư trong đầu (Thưa các ngài, tối nay tôi rất đau lòng nhận ra có nhiều tên du côn đi xe máy xâm chiếm Ngôi Làng Xinh đẹp của Chúng ta. Tại sao, ôi tại sao chính phủ không làm gì với những kẻ ôn dịch này...).
“Xin chào,” một tên trong bọn chạy xe máy nói, nhấc kính mũ bảo hiểm lên để lộ ra một khuôn mặt gầy guộc và một bộ râu đen tỉa gọn. “Chúng tôi hơi bị lạc.”
“À,” R. P. Tyler nói vẻ chê trách.
“Chắc biển báo đã bị gió xô đổ,” tên chạy xe máy nói.
“Phải, tôi đoán vậy,” R. P. Tyler đồng tình, ông ta ngạc nhiên nhận ra mình đang đói.
“Vâng. Ờ, chúng tôi đang đến làng Tadfield Hạ.”
Một bên lông mày hiếu sự nhướng lên. “Các vị là người Mỹ. Chắc là đến căn cứ không quân.” (Thưa các ngài, khi đi nghĩa vụ quân sự tôi là niềm tự hào của đất nước. Tôi đã kinh hoàng và đau lòng nhận thấy các binh sĩ không quân ở Căn cứ Không quân Tadfield lại chạy xe khắp vùng thôn quê tao nhã của chúng ta mà ăn mặc như bọn du thủ du thực. Mặc dù tôi đánh giá rất cao tầm quan trọng của họ trong việc bảo vệ nền tự do của thế giới phương Tây...)
Rồi niềm yêu thích chỉ dẫn của ông ta đã lấn át tất cả. “Các vị phải quay ngược lại đường kia khoảng tám trăm mét, rồi vào lối rẽ trái đầu tiên, tôi e là đường đầy ổ trâu ổ gà đến thảm thương, tôi đã viết rất nhiều thư cho hội đồng về chuyện đó, tôi hỏi họ, các vị là tôi tớ của dân hay là ông chủ của dân vậy, rốt cục thì ai trả lương cho các vị thế? rồi đi vào lối rẽ phải thứ hai, chỉ có điều nó không hẳn ở bên phải, nó ở bên trái nhưng các vị sẽ thấy cuối cùng nó lại uốn sang bên phải, biển báo đề là đường Porrit, nhưng tất nhiên nó không phải là đường Porrit, cứ nhìn bản đồ đạc điền là các vị sẽ thấy, chẳng qua nó là đầu phía đông của đường Đồi Rừng, rồi các vị sẽ đến làng, rồi đi qua Bò & Vĩ Cầm - đó là quán rượu - rồi khi đến nhà thờ (tôi đã bảo những người làm bản đồ đạc điền là đó là nhà thờ có chóp, chứ không phải nhà thờ có tháp, thực ra tôi đã viết thư cho tờ Quảng cáo Tadfield, đề nghị họ tổ chức một chiến dịch địa phương để sửa lại bản đồ, và tôi hết lòng hy vọng rằng một khi những người này biết họ đang đối mặt với ai thì họ sẽ nhanh chóng quay đầu thôi), rồi các vị sẽ đến ngã tư, các vị đi thẳng qua ngã tư đó thì sẽ đến ngay một ngã tư nữa, ở đó các vị có thể rẽ trái hoặc đi thẳng, kiểu gì các vị cũng sẽ đến căn cứ không quân thôi (nhưng rẽ trái thì sẽ tiết kiệm được khoảng một trăm mét), không thể lạc vào đâu được.”
Nạn Đói trân trối nhìn ông ta. “Tôi, ờ, tôi không dám chắc là tôi nhớ hết...” hắn nói.
TA NHỚ RỒI. ĐI THÔI.
Shutzi khẽ ré lên một tiếng và lao ra sau R. P. Tyler, rồi phủ phục ở đó, run rẩy.
Những kẻ lạ mặt lại lên xe. Gã mặc đồ trắng (nhìn thì chắc là một tên hippy, R. P. Tyler thầm nghĩ) vứt một vỏ gói bim bim lên vệ cỏ.
“Xin lỗi cậu,” Tyler quát. “Có phải là gói bim bim của cậu kia không?”
“Ồ, không phải của riêng tôi đâu,” gã trai đáp. “Là của tất cả mọi người.”
R. P. Tyler vươn người cao hết mức. (*) “Chàng trai trẻ,” ông ta nói, “cậu sẽ cảm thấy thế nào nếu tôi đến nhà cậu và vứt rác ra khắp nơi?”
Ô Nhiễm mỉm cười vẻ tiếc nuối. “Rất, rất hài lòng,” gã thở ra. “Ồ, như thế sẽ tuyệt lắm.”
Bên dưới xe máy của gã, một vũng dầu đọng thành màu cầu vồng trên nền đường ướt.
Các động cơ rồ lên.
“Tôi không kịp nghe hết,” Chiến Tranh nói. “Có phải chúng ta phải quay đầu ở chỗ nhà thờ không?”
CỨ ĐI THEO TA, tên cao lớn đi đầu nói, và cả bốn kẻ cùng lao đi.
R. P. Tyler nhìn theo họ, cho tới khi ông ta bị sao nhãng bởi tiếng gì đó kêu cạchcạchcạch. Ông ta quay lại. Bốn dáng người cưỡi xe đạp lao qua ông ta, bám sát theo sau là một con chó nhỏ chạy lăng xăng.
“Bọn kia! Dừng lại!” R. P. Tyler quát.
Bọn Chúng phanh xe lại và nhìn ông ta.
“Ta biết là cậu mà, Adam Young, và, hừm, bè phái của cậu. Ta có thể hỏi đêm hôm thế này các cô các cậu còn làm gì ở đây không? Bố các cô cậu có biết các cô cậu còn đang chạy rông không?”
Đứa đi đầu quay lại. “Cháu chả hiểu sao ông lại nói là đã muộn rồi,” nó nói, “cháu thấy là, cháu thấy là, nếu trời còn sáng thì vẫn chưa muộn.”
“Dù sao cũng quá giờ ngủ của các cô cậu rồi,” R. P. Tyler tuyên bố, “và đừng có lè lưỡi ra với ta, tiểu thư” - câu này nói với Pepper - “không thì ta sẽ viết thư cho mẹ cô biết con bà ta có thái độ thảm hại và không nữ tính ra sao.”
“Cho bọn cháu xin,” Adam bực bội nói. “Pepper chỉ đang nhìn ông thôi mà. Cháu không biết là có cả luật cấm người ta nhìn đấy.”
Trên cỏ có tiếng ồn ào. Shutzi, vốn là một con chó xù Pháp cực kỳ thuần giống, loại chỉ được nuôi bởi những người không có khả năng xếp trẻ con vào ngân sách gia đình của họ, đang bị Chó hăm dọa.
“Cậu Young,” R. P. Tyler ra lệnh, “hãy bảo con... con chó lai của cậu tránh xa Shutzi của ta ra.” Tyler không tin Chó. Khi ông ta gặp con chó lần đầu tiên, cách đây ba ngày, nó đã gầm ghè với ông ta và mắt nó đỏ rực lên. Điều này đã khiến Tyler bắt đầu một bức thư nói rằng chắc chắn Chó bị dại, chắc chắn là một mối nguy cho cộng đồng, và phải bị triệt hạ vì Lợi ích Chung, cho tới khi vợ ông ta nhắc ông ta rằng mắt đỏ rực không phải là triệu chứng của bệnh dại hay là bất kỳ thứ gì khác thường thấy bên ngoài các bộ phim mà cả hai vợ chồng nhà Tyler thà chết còn hơn phải xem nhưng lại biết rõ về chúng, cảm ơn nhiều.
Adam có vẻ sững sờ. “Chó không phải là chó lai. Chó là một con chó cực tuyệt. Nó rất khôn. Chó, mày tránh xa con chó xù kinh khủng của ông Tyler đi.”
Chó lờ thằng bé đi. Nó vẫn còn nhiều chuyện hàn huyên của chó cần làm.
“Chó,” Adam nói vẻ đe dọa. Con chó liền lùi về bên xe đạp của chủ nhân nó.
“Ta không tin là các cô cậu đã trả lời câu hỏi của ta. Bốn cô cậu đi đâu?”
“Đến căn cứ không quân ạ,” Brian nói.
“Nếu ông không phiền,” Adam nói, với giọng mà nó hy vọng là đầy mỉa mai chua chát và cay độc. “Ý cháu là, bọn cháu sẽ không muốn đến đó nếu ông thấy phiền.”
“Đồ khỉ con láo lếu,” R. P. Tyler nói. “Khi ta gặp bố mày, Adam Young, ta sẽ nói thẳng cho ông ta biết là...”
Nhưng Bọn Chúng đã đạp xe xuôi con đường, về phía Căn cứ Không quân Tadfield Hạ - đi theo lối của Bọn chúng, vừa ngắn hơn, đơn giản hơn, và cảnh lại đẹp hơn so với lối mà ông Tyler đã chỉ.
R. P. Tyler đã viết xong trong đầu một lá thư dài dằng dặc về các khuyết điểm của thanh thiếu niên ngày nay. Lá thư nói đủ hết các vấn đề từ sự đi xuống của tiêu chuẩn giáo dục, sự thiếu kính trọng đối với người cao tuổi và bề trên, cách chúng luôn lù rù chứ không chịu đi đứng cho thẳng thớm, tội phạm vị thành niên, cần áp dụng trở lại Nghĩa vụ Quân sự bắt buộc, hình phạt bằng roi mây, bằng roi da, và giấy phép nuôi chó.
Ông ta rất hài lòng với nó. Ông ta ngờ rằng lá thư ấy quá hay so với tờ Quảng cáo Tadfield và đã quyết định sẽ gửi nó cho tờ Thời báo.
Bịchbịchbịch bịchbịchbịch.
“Cho tôi hỏi chút, ông bạn thân mến,” một giọng nữ nồng ấm nói. “Tôi nghĩ chúng tôi đã bị lạc.”
Đó là một chiếc xe tay ga cổ lỗ sĩ, và trên xe là một phụ nữ trung niên. Bám chặt vào bà, mắt nhắm nghiền, là một lão già nhỏ thó mặc áo ba đờ xuy, đầu đội mũ bảo hiểm xanh lè. Vươn lên giữa họ là cái nhìn như một khẩu súng cổ với cái nòng xòe ra hình phễu.
“Vâng. Các vị đang đi đâu?”
“Làng Tadfield Hạ. Tôi không chắc địa chỉ chính xác, nhưng chúng tôi đang tìm một người,” người phụ nữ nói, rồi, bằng giọng khác hẳn, bà ta nói, “Tên nó là Adam Young.”
R. P. Tyler sững sờ. “Các vị tìm thằng bé đó hả?” ông ta hỏi. “Giờ thì nó đã làm gì... không, không, đừng cho tôi biết. Tôi không muốn biết.”
“Thằng bé ư?” người phụ nữ nói. “Anh không bảo tôi nó là thằng bé. Nó bao nhiêu tuổi?” Rồi bà ta nói, “Nó mười một tuổi. Chà, tôi mong là anh đã nhắc đến chuyện này lúc trước. Nó khiến cục diện thay đổi hoàn toàn đấy.”
R. P. Tyler chỉ biết trố mắt nhìn. Rồi ông ta chợt hiểu ra mọi sự. Người phụ nữ này là nghệ sĩ nói tiếng bụng. Cái mà ông ta tưởng là người đàn ông đội mũ bảo hiểm xanh thì giờ ông ta đã nhận ra chỉ là con rối nói tiếng bụng, ông ta tự hỏi làm sao mà mình lại tưởng nó là người được, ông ta thấy toàn bộ vụ này có cái gì đó hơi lợm giọng.
“Tôi vừa thấy Adam Young chưa đầy năm phút trước,” ông ta nói với người phụ nữ. “Nó và đám bạn nối khố của nó đang trên đường đến căn cứ không quân Mỹ.”
“Ôi trời,” người phụ nữ nói, hơi tái mặt đi. “Tôi chưa bao giờ ưa dân Mẽo cả. Thật ra họ rất dễ chịu mà, bà biết đấy. Vâng, nhưng ta không thể tin những người chơi bóng đá bằng tay được.”
“À, xin lỗi bà,” R. P. Tyler nói. “Tôi nghĩ là bà rất giỏi. Rất ấn tượng. Tôi là phó chủ tịch câu lạc bộ Rotary của làng, và tôi muốn hỏi, bà có phục vụ riêng không?”
“Chỉ vào các thứ Năm thôi,” bà Tracy đáp vẻ chê trách. “Và tôi tính thêm phí đấy. Còn tôi thỉ muốn hỏi liệu ông có thể chỉ đường cho chúng tôi đến...”
Ông Tyler đã gặp chuyện này trước đây rồi. Không nói một lời, ông chỉ một ngón tay ra.
Và chiếc xe tay ga nhỏ chạy bịchbịchbịchbịchbịchbịch xuôi con đường làng hẹp.
Khi chiếc xe chạy đi, con rối xám ngoét đội mũ bảo hiểm xanh quay lại và mở một bên mắt ra. “Đồ miền Nam đầu đất,” nó nói giọng khàn đặc.
R. P. Tyler thấy bị xúc phạm, nhưng cũng hơi thất vọng. Ông ta đã mong là nó sẽ sống động hơn.
R. P. Tyler, chỉ cách làng có mười phút, dừng bước trong lúc Shutzi lại thực hiện một trong chuỗi các hoạt động bài tiết đa dạng của nó. Ông ta nhìn qua hàng rào.
Hiểu biết của ông ta về kinh nghiệm dân gian hơi mù mờ, nhưng ông ta dám chắc là nếu bò nằm xuống thì có nghĩa trời sắp mưa. Nếu chúng đứng thì trời sẽ tạnh. Bọn bò này lại đang thay phiên nhau làm những cú lộn nhào chậm rãi và khoan thai; và Tyler tự hỏi cái đó báo trước loại thời tiết gì.
Ông ta hít hít. Thứ gì đó đang cháy - có một mùi nồng hắc của kim loại, cao su, và da bị cháy sém.
“Xin lỗi ông,” một giọng nói vang lên sau lưng ông ta. R. P. Tyler quay lại.
Một chiếc xe hơi khá lớn, đã từng có màu đen, đang cháy bùng bùng trên lối mòn, và một gã đàn ông đeo kính râm đang ngả người qua cửa sổ, nói giữa làn khói, “Xin lỗi, tôi hơi bị lạc một chút. Ông có thể chỉ đường cho tôi đến Căn cứ Không quân Tadfield Hạ được không? Tôi biết nó ở đâu đó quanh đây.”
Xe anh đang cháy.
Không. Tyler không thể bắt mình thốt ra câu đó. Tên kia chắc phải biết chứ, phải không? Hắn đang ngồi giữa nó mà. Có lẽ đây là một trò chơi khăm gì đó.
Vì vậy ông ta chỉ nói, “Tôi nghĩ chắc anh đã rẽ nhầm cách đây khoảng một cây rưỡi. Một biển báo bị gió quật ngã.”
Kẻ lạ mặt mỉm cười, “Chắc là đúng vậy rồi,” hắn nói. Những lưỡi lửa màu cam bập bùng sau lưng khiến hắn có vẻ như vừa từ Địa ngục chui lên.
Gió thổi về phía Tyler, ngang qua chiếc xe, và ông thấy lông mày mình kêu xèo xèo.
Xin lỗi, chàng trai trẻ, nhưng xe anh đang cháy mà anh vẫn ngồi trong đó mà không bị chảy và nhân tiện cỏ chỗ nóng đỏ lên rồi kìa.
Không.
Ông ta có nên hỏi tên kia xem hắn có muốn ông ta gọi điện cho cứu hộ không nhỉ?
Thay vào đó, ông ta chỉ cẩn thận giải thích đường đi, cố không nhìn chằm chằm.
“Tuyệt vời. Cảm ơn ông nhiều,” Crowley nói và bắt đầu kéo cửa kính xe lên.
R. P. Tyler phải nói gì đó.
“Xin lỗi, chàng trai trẻ,” ông ta nói.
“Vâng?”
Ý tôi là, xe của ta bị cháy đâu phải là thứ mà ta không nhận ra được.
Một lưỡi lửa liếm qua bảng đồng hồ đã cháy thành than.
“Thời tiết kỳ lạ quá nhỉ?” ông ta chốt một câu nhạt phèo.
“Thế à?” Crowley đáp. “Quả tình tôi không để ý.” Rồi hắn lùi lại trên con đường làng trong chiếc xe cháy rừng rực của mình.
“Có lẽ là vì xe anh đang cháy,” R. P. Tyler nói xẵng. Ông ta giật mạnh xích Shutzi, kéo con chó nhỏ chạy theo.
Gửi Tổng biên tập
Thưa quý ngài,
Tôi muốn ngài chú ý tới một xu hướng mới mà tôi đã nhận thấy ở các thanh niên ngày nay là hoàn toàn lờ đi các biện pháp phòng ngừa an toàn hết sức hợp lý trong lúc lái xe. Tối nay tôi đã được hỏi đường bởi một người đàn ông với chiếc xe đang...
Không.
Lái một chiếc xe đang...
Không.
Nó đang cháy...
Mỗi lúc một bực bội, R. P. Tyler giậm chân thình thịch nốt đoạn đường còn lại về làng.
“Này!” R. P. Tyler quát. “Young!”
Ông Young đang ở vườn trước, ngồi trên ghế xếp, hút tẩu.
Chuyện này liên quan đến việc bà Deirdre mới phát hiện ra mối nguy của việc hút thuốc thụ động và cấm hút thuốc trong nhà, nhưng ông không muốn thừa nhận với hàng xóm. Điều đó không khiến tâm trạng ông khá hơn. Chuyện bị ông Tyler gọi là Young cộc lốc cũng vậy.
“Sao?”
“Con trai anh, thằng Adam ấy.”
Ông Young thở dài. “Nó lại làm gì rồi?”
“Anh có biết nó đang ở đâu không?”
Ông Young xem đồng hồ. “Tôi đoán là chuẩn bị đi ngủ.”
Tyler nhăn nhở cười vẻ đắc thắng. “Đừng chắc. Tôi vừa thấy nó và đám quỷ nhỏ của nó, và con chó lai kinh khủng đó, cách đây chưa đầy nửa giờ, đạp xe về phía căn cứ không quân.”
Ông Young bập bập tẩu.
“Anh biết ở đó họ nghiêm ngặt thế nào rồi đấy,” ông Tyler nói, phòng khi ông Young chưa hiểu ra vấn đề.
“Anh biết thằng con anh hay bấm nút các thứ như thế nào rồi đấy,” ông ta nói thêm.
Ông Young bỏ chiếc tẩu ra khỏi miệng và ngắm nghía ống tẩu vẻ trầm ngâm.
“Hừm,” ông nói.
“Tôi hiểu rồi,” ông nói.
“Được,” ông nói.
Rồi ông đi vào nhà.
Vào đúng lúc đó, bốn chiếc xe máy phanh két lại cách cổng chính vài trăm thước. Những người ngồi trên xe tắt máy và đẩy kính mũ lên. Ờ, ít ra là ba trong số họ làm vậy.
“Tôi đã mong là chúng ta có thể lao qua rào chắn,” Chiến Tranh nói vẻ tiếc nuối.
“Như thế chỉ tổ gây rắc rối thôi,” Nạn Đói nói.
“Càng tốt.”
“Ý tôi là rắc rối cho chúng ta ấy. Đường dây điện và điện thoại có lẽ đã bị đứt, nhưng chắc chắn họ phải có máy nổ và điện đàm. Nếu ai đó báo là khủng bố đang tấn công căn cứ thì họ sẽ hành động một cách logic và toàn bộ Kế hoạch sẽ đổ bể hết.”
“Hừ.”
CHÚNG TA VÀO, HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC, RỒI RỜI ĐI, ĐỂ BẢN TÍNH CON NGƯỜI TỰ LÀM NỐT, Thần Chết nói.
“Tôi không tưởng tượng mọi chuyện sẽ như thế này, các vị,” Chiến Tranh nói. “Tôi đã không đợi cả ngàn năm chỉ để nghịch mấy mẩu dây. Như thế chẳng kịch tính chút nào. Albrecht Durer (*) đã không phí thời gian để làm tranh khắc gỗ Bốn Kẻ Nhấn Nút Khải Huyền, cái đó thì tôi biết chắc.”
“Tôi cứ tưởng sẽ có kèn đồng,” Ô Nhiễm nói.
“Hãy nghĩ thế này đi,” Nạn Đói nói. “Đây chỉ là việc chuẩn bị. Sau đó chúng ta sẽ được xông lên. Xông lên thực sự ấy. Đôi cánh bão và đại loại thế. Các vị phải linh động chút đi.”
“Chẳng phải chúng ta cần gặp... ai đó ở đây sao?” Chiến Tranh hỏi.
Không có âm thanh nào khác ngoài tiếng lách tách của các động cơ xe đang nguội dần.
Rồi Ô Nhiễm chậm rãi nói, “Các vị biết không, tôi cũng không tưởng tượng là nó sẽ xảy ra ở một nơi như thế này. Tôi cứ nghĩ nó phải là, ờ, một thành phố lớn. Hay một nước lớn. Có lẽ là New York. Hoặc Moscow. Hoặc ở chính Armageddon. “ (*)
Lại im lặng một thoáng.
Rồi Chiến Tranh nói, “Mà Armageddon ở đâu nhỉ?”
“Cô hỏi thế cũng lạ,” Nạn Đói nói. “Tôi đã định tra xem đấy.”
“Có thị trấn Armageddon ở Pennsylvania,” Ô Nhiễm nói. “Hoặc có thể là Massachusetts, một trong những nơi đây. Có nhiều người để râu rậm và đội mũ đen rất nghiêm trang.”
“Đâu,” Nạn Đói nói. “Tôi nghĩ nó nằm đâu đó ở Israel.”
ĐỈNH CARMEL.
“Tôi tưởng đó là chỗ họ trồng quả bơ.”
VÀ TẬN CÙNG THẾ GIỚI.
“Thế cơ à? Chắc quả bơ ấy phải to lắm.”
“Tôi nghĩ tôi đã từng đến đó một lần,” Ô Nhiễm nói. “Thành cổ Megiddo ấy. Ngay trước khi nó sụp đổ. Rất tuyệt. Hoàng môn rất thú vị.”
Chiến Tranh ngắm cảnh quan xanh tươi xung quanh họ.
“Trời,” ả nói, “chúng ta đã rẽ nhầm nhỉ.”
ĐỊA LÝ LÀ PHI VẬT CHẤT.
“Ngài nói sao cơ?”
NẾU ARMAGEDDON Ở BẤT KỲ ĐÂU THÌ CÓ NGHĨA NÓ Ở KHẮP MỌI NƠI.
“Đúng thế,” Nạn Đói nói, “chúng ta sẽ không nói đến mấy dặm vuông toàn cây bụi và dê nữa.”
Lại im lặng.
CHÚNG TA ĐI THÔI.
Chiến Tranh khẽ hắng giọng. “Chỉ là tôi tưởng... ngài ấy sẽ đi cùng chúng ta...?”
Thần Chết chỉnh lại găng tay.
ĐÂY, hắn quả quyết nói, LÀ VIỆC CỦA DÂN CHUYÊN NGHIỆP.
Sau này, Trung sĩ Thomas A. Deisenburger hồi tưởng sự việc ở cổng chính diễn ra như sau:
Một chiếc xe sĩ quan dừng lại trước cổng. Xe sáng bóng và có vẻ rất quan chức, mặc dù sau đó anh ta không rõ tại sao mình lại nghĩ như vậy, hay tại sao có lúc chiếc xe nghe như thể được chạy bằng động cơ xe máy.
Bốn vị tướng ra khỏi xe. Một lần nữa, viên trung sĩ cũng không hiểu sao anh ta lại nghĩ như thế. Họ có giấy tờ hợp lệ. Là loại giấy tờ gì thì quả thực anh ta cũng không nhớ nổi nữa, nhưng chúng đều hợp lệ. Anh ta giơ tay chào.
Và một vị tướng nói, “Kiểm tra đột xuất đây, anh lính.”
Trung sĩ Thomas A. Deisenburger liền trả lời, “Báo cáo thủ trưởng, tôi chưa nhận được thông báo gì về một vụ kiểm tra đột xuất cả, thưa thủ trưởng.”
“Tất nhiên rồi,” một vị tướng nói. “Đó là vì nó là đột xuất.”
Viên trung sĩ lại giơ tay chào lần nữa.
“Báo cáo thủ trưởng, xin phép được xác nhận thông tin với chỉ huy căn cứ, thưa thủ trưởng,” anh ta lo lắng nói.
Vị tướng cao nhất và gầy nhất bước ra xa cả nhóm một chút, quay lưng lại, và khoanh tay trước ngực.
Một vị tướng khác choàng một cánh tay thân thiện quanh vai trung sĩ và ngả người về phía trước vẻ bí mật.
“Nghe đây...” - vị tướng nheo mắt nhìn bảng tên của trung sĩ - “Deisenburger, có lẽ tôi lại không đồng tình với anh về chuyện đó. Đây là kiểm tra đột xuất, hiểu chưa? Đột xuất. Như thế có nghĩa là đừng có ấn còi báo động khi chúng tôi đi qua, hiểu chưa? Và đừng có rời vị trí. Một người lính dạn dày kinh nghiệm như anh chắc sẽ hiểu, đúng chứ?” vị tướng nói thêm. Ngài nháy mắt. “Nếu không anh sẽ bị giáng cấp thấp đến nỗi sẽ phải thưa gửi với cả một tên tiểu yêu đấy.”
Trung sĩ Thomas A. Deisenburger trố mắt nhìn vị tướng.
“Binh nhì,” một vị tướng khác rít lên. Theo bảng tên thì tên của bà là Waugh. Trung sĩ Deisenburger chưa bao giờ thấy một vị nữ tướng như bà, nhưng chắc chắn bà là một thay đổi tích cực.
“Gì cơ?”
“Binh nhì. Không phải tiểu yêu.”
“À ừ. Ý tôi là vậy. Đúng rồi. Binh nhì. Hiểu chưa, anh lính?”
Viên trung sĩ cân nhắc các lựa chọn hết sức hạn hẹp của mình.
“Báo cáo thủ trưởng, kiểm tra đột xuất, thưa thủ trưởng?” anh ta nói.
“Thông tin tối mật lâm thời trong lúc này,” Nạn Đói nói, hắn đã dành rất nhiều năm để học cách tiếp thị cho chính quyền liên bang và có thể cảm thấy thứ ngôn ngữ đó đang trở lại với mình.
“Báo cáo thủ trưởng, xin xác nhận, thưa thủ trưởng,” viên trung sĩ nói.
“Tốt lắm,” Nạn Đói nói, khi thanh chắn được nâng lên. “Rồi anh sẽ tiến xa.” Hắn liếc nhìn đồng hồ. “Rất sớm thôi.”
◇ ❖ ◇
Đôi khi con người rất giống loài ong. Ong luôn bảo vệ tổ một cách hết sức dữ dằn, chừng nào chúng ở bên ngoài tổ. Một khi bạn đã vào trong tổ rồi thì đám ong thợ sẽ cho rằng cấp trên đã xác nhận sự có mặt của bạn và không để ý nữa; nhiều loài côn trùng ăn bám đã sống phè phởn nhờ chính điều này. Con người cũng cư xử như vậy.
Không ai ngăn bộ tứ lại khi họ tiến bước một cách có chủ đích vào một trong những tòa nhà dài, thấp nằm dưới khu rừng những cột ăngten vô tuyến. Không ai để ý đến họ cả. Có lẽ người ta còn chẳng nhìn thấy gì. Có lẽ họ chỉ thấy những cái mà tâm trí họ được hướng dẫn phải thấy, vì trí não con người không có khả năng nhìn thấy Chiến Tranh, Nạn Đói, Ô Nhiễm và Thần Chết khi họ không muốn bị nhìn thấy, và đã giỏi việc không nhìn thấy họ đến nỗi nó còn chẳng thấy họ khi họ nhan nhản ở khắp mọi nơi.
Còi báo động thì hoàn toàn chẳng có não và nghĩ nó đã thấy bốn người ở nơi lẽ ra không được có người, và bắt đầu réo ầm ĩ.
Newt không hút thuốc, vì cậu không cho phép nicotine xâm nhập vào ngôi đền thiêng liêng là thân thể cậu, hay đúng hơn là cái nhà thờ bằng tôn Hội Giám lý Wales là thân thể cậu. Nếu có hút thuốc thì hẳn cậu đã mắc nghẹn luôn điếu thuốc mà cậu hẳn đang hút vào lúc này cho bình tâm.
Anathema đứng dậy vẻ quả quyết và vuốt phẳng các nếp nhăn trên váy.
“Đừng lo,” cô nói. “Không phải vì chúng ta đâu. Chắc đang có chuyện bên trong.”
Cô mỉm cười trước khuôn mặt tái mét của cậu. “Đi nào,” cô nói. “Không phải O.K. Corral (*) đâu.”
“Không. ít nhất súng của họ tốt hơn,” Newt nói.
Cô kéo cậu dậy. “Không sao,” cô nói. “Em dám chắc anh sẽ tìm ra cách.”
Điều không thể tránh khỏi là cả bốn bọn họ không thể đóng góp bình đẳng, Chiến Tranh thầm nghĩ. Chính ả đã kinh ngạc khi thấy mình có sự ham thích tự nhiên với vũ khí hiện đại, vì chúng hiệu quả hơn nhiều so với những miếng kim loại sắc, và tất nhiên Ô Nhiễm cười nhạo các thiết bị dễ sử dụng, đảm bảo an toàn. Ngay cả Nạn Đói cũng còn biết máy tính là gì. Trong khi đó thì... ờ, hẳn chẳng làm gì mấy ngoài đứng quanh, mặc dù quả thực hắn đứng cũng rất có phong cách. Chiến Tranh đã nhận ra rằng một ngày kia có thể Chiến Tranh sẽ kết thúc, Nạn Đói sẽ kết thúc, thậm chí có thể cả ô Nhiễm cũng sẽ kết thúc, và có lẽ vì thế mà kỵ sĩ thứ tư và vĩ đại nhất chưa bao giờ là một thành viên đích thực của nhóm. Giống như có một nhân viên kiểm toán trong đội bóng đá vậy. Có hắn ở cùng phe là rất tuyệt, tất nhiên rồi, nhưng không phải kiểu đồng đội mà ta muốn chén chú chén anh trong quán sau trận đấu. Ta không dám thả lỏng một trăm phần trăm.
Một vài người lính chạy xuyên qua hắn trong lúc hắn ngó qua bờ vai gầy còm của Ô Nhiễm.
MẤY THỨ LẤP LÁNH KIA LÀ GÌ? Hắn hỏi, bằng giọng của người biết mình sẽ không hiểu câu trả lời nhưng vẫn muốn tỏ ra là mình quan tâm.
“Hiển thị LED bảy phân đoạn,” gã trai đáp. Gã âu yếm đặt tay lên dãy rơ le, khiến chúng lập tức nổ cầu chì, rồi đưa vào một loạt virus tự nhân lên chạy vèo vèo trong thinh không điện.
“Giá mà mấy cái báo động chết tiệt ấy im đi thì tốt,” Nạn Đói lầm bầm.
Thần Chết lơ đãng búng ngón tay. Cả chục cái còi điện ậm ọe rồi tắt ngấm.
“Tôi không biết nữa, nghe cũng thích đấy chứ,” Ô Nhiễm nói.
Chiến tranh thò tay vào một tủ sắt khác. Ả không trông đợi mọi chuyện sẽ xảy ra như thế này, ả thừa nhận là vậy, nhưng khi ả lướt ngón tay trên và đôi khi là xuyên vào các thiết bị điện tử, có một cảm giác quen thuộc. Đó là tiếng vọng của cảm giác khi ta cầm một thanh gươm, và ả rùng mình hồi hộp với ý nghĩ rằng thanh gươm này bao quanh toàn bộ thế giới và cả một phần bầu trời trên đầu nữa. Nó yêu ả.
Một thanh gươm rực lửa.
Nhân loại vẫn không học được bài học rằng gươm rất nguy hiểm nếu bị vứt vạ vật, mặc dù họ đã cố gắng hết năng lực hạn chế của mình để đảm bảo rằng một thanh gươm cỡ này có khả năng được vô tình sử dụng là rất cao. Quả là một ý nghĩ khiến ta hởi lòng hởi dạ. Thật tuyệt khi nghĩ rằng nhân loại có phân biệt giữa việc làm hành tinh này nổ tung một cách vô tình và làm nó nổ tung một cách cố ý.
Ô Nhiễm lại thọc tay vào một giá đầy các thiết bị điện tử đắt tiền khác.
Người lính gác lỗ hổng ở hàng rào có vẻ bối rối. Anh ta biết là ở căn cứ đang có chuyện lộn xộn, và điện đàm của anh ta dường như không thu được bất kỳ cái gì ngoài tiếng nhiễu, trong khi mắt anh ta cứ bị hút về phía tấm thẻ trước mặt.
Anh ta đã thấy nhiều thẻ căn cước trong đời - quân đội, CIA, FBI, thậm chí cả KGB nữa - và, vì còn trẻ, nên anh ta chưa hiểu rằng tổ chức càng ít quan trọng thì thẻ căn cước của nó lại càng ấn tượng.
Tấm thẻ này ấn tượng chết đi được. Môi anh ta mấp máy trong lúc anh ta đọc lại nó, từ đoạn “Hộ quốc công khối Thịnh vượng chung Anh quốc ra lệnh và yêu cầu”, đến đoạn về trưng thu tất cả củi đóm, dây thừng, và dầu thắp, cho đến tận đoạn cuối, là chữ ký của Tổng Quản đầu tiên của ĐQSPT, Hãy-Ngợi-Ca-Ân-Điển-Của-Chúa-Và-Chớ-Gian-Dâm Smith. Newt giữ ngón cái đè lên đoạn Chín Xu cho Một Phù thủy và cố tỏ ra thật giống James Bond.
Cuối cùng trí não mò mẫm của người lính thấy một từ mà anh ta nghĩ là mình nhận ra.
“Đoạn này,” anh ta nói vẻ nghi ngờ, “về chuyện chúng tôi phải cho anh faggot (*) nghĩa là thế nào?”
“Ồ, chúng tôi cần chúng,” Newt nói. “Để đốt.”
“Sao cơ?”
“Chúng tôi đốt chúng.”
Khuôn mặt người lính giãn ra thành một nụ cười. Thế mà họ bảo anh ta là dân Anh ẻo lả lắm. “Có thể chứ!” anh ta nói.
Có thứ gì đó ấn vào eo lưng anh ta.
“Bỏ súng xuống,” Anathema lên tiếng sau lưng anh ta, “không thì tôi sẽ rất tiếc điều tôi sẽ phải làm tiếp theo đấy.”
Ờ thì cũng đúng mà, cô thầm nghĩ khi thấy người lính cứng đờ ra vì sợ. Nếu anh ta không bỏ súng xuống thì anh ta sẽ phát hiện đây chỉ là một cành cây, và mình sẽ rất tiếc vì bị bắn.
◇ ❖ ◇
Ở cổng chính, Trung sĩ Thomas A. Deisenburger cũng đang gặp rắc rối. Một lão già nhỏ bé mặc cái áo ba đờ xuy cáu bẩn cứ chĩa một ngón tay vào anh ta và lầm bầm, trong khi một bà nhìn hơi giống mẹ anh ta thì nói với anh ta bằng giọng khẩn nài và cứ tự ngắt lời bằng giọng khác hẳn.
“Quan trọng là chúng tôi cần được nói chuyện với người chịu trách nhiệm,” Aziraphale nói. “Tôi phải yêu cầu là anh ta nói đúng đấy, tôi sẽ biết ngay nếu anh ta nói dối vâng, cảm ơn bà, tôi nghĩ chúng ta sẽ đạt được kết quả gì đó nếu bà vui lòng để tôi nói tiếp được thôi cảm ơn bà tôi chỉ muốn nói giúp anh một lời thôi mà Vâng! Ờ. Anh đang hỏi anh ta à vâng, phải rồi... giờ thì...”
“Có thấy ngón tay ta không?” Shadwell quát, lão vẫn còn tỉnh táo, nhưng sự tỉnh táo ấy chỉ được nối với lão ở cuối một sợi dây dài và mòn xơ. “Có thấy không? Ngón tay này có thể cho chú mày về chầu ông bà ông vải đấy!”
Trung sĩ Deisenburger trố mắt nhìn cái móng tay cáu đen và tím bầm cách mặt mình vài phân. Xét theo cấp độ vũ khí sát thương thì nó cũng đứng ở mức khá cao, nhất là nếu được dùng trong việc chuẩn bị thức ăn.
Điện thoại chỉ toàn tiếng nhiễu. Anh ta đã được lệnh không được phép rời vị trí. Vết thương của anh ta từ hồi ở Việt Nam lại đang nhức nhối. (*) Anh ta tự hỏi mình sẽ gặp bao nhiêu rắc rối nếu bắn dân thường không phải người Mỹ.
◇ ❖ ◇
Bốn chiếc xe đạp dừng lại cách căn cứ một quãng. Vệt bánh xe trên bụi đường và một vũng dầu cho thấy những lữ khách cũng đã nghỉ chân ở đó một lát.
“Dừng lại làm gì?” Pepper hỏi.
“Tao đang nghĩ,” Adam đáp.
Thật là khó. Cái phần trong tâm trí nó mà nó biết là bản thân mình vẫn còn đó, nhưng cái phần đó đang cố ngoi lên giữa một bể bóng tối hỗn loạn. Nhưng điều nó ý thức được, đó là ba đứa bạn nó là con người một trăm phần trăm. Trước kia nó đã khiến chúng gặp rắc rối, theo nghĩa bị rách quần áo và không được tiền tiêu vặt, đại loại thế, nhưng vụ này chắc chắn sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn so với chỉ bị cấm túc trong nhà và bị bắt phải dọn phòng.
Mặt khác, cũng chẳng còn ai nữa.
“Thôi được,” nó nói. “Tao nghĩ là bọn mình cần vài thứ. Một thanh gươm, một cái vương miện, và bàn cân.”
Cả bọn trố mắt nhìn nó.
“Cái gì, ở ngay đây ấy à?” Brian hỏi. “Quanh đây làm gì có thứ gì như thế.”
“Biết đâu đấy,” Adam nói. “Khi bọn mày nhớ lại những trò bọn mình hay chơi ấy mà...”
Để khiến ngày hôm đó của Trung sĩ Deisenburger thêm trọn vẹn, một chiếc xe xuất hiện, lơ lửng trên mặt đất vài phân, vì nó không có bánh xe. Cũng không có cả nước sơn. Nó chỉ có một luồng khói xanh, và khi dừng lại thì nó phát ra những tiếng pingping của kim loại đang nguội dần sau khi bị nung đến nhiệt độ cực cao.
Nhìn chiếc xe như thể có kính mờ, tuy nhiên thực ra đó chỉ là hiệu ứng do cửa sổ kính bình thường nhưng bên trong xe lại đầy khói thôi.
Cửa tài xế mở, và một quầng khói sặc sụa tuôn ra. Rồi Crowley bước ra theo nó.
Hắn xua khói trước mặt, chớp mắt, rồi biến cử chỉ đó thành một cái vẫy tay thân thiện.
“Chào,” hắn nói. “Mọi chuyện thế nào rồi? Thế giới đã tận diệt chưa?”
“Anh ta không cho bọn tôi vào, Crowley,” bà Tracy nói.
“Aziraphale? Anh đấy à? Váy đẹp nhỉ,” Crowley lơ đãng nói. Hắn cảm thấy không được khỏe. Suốt gần năm mươi cây số cuối cùng hắn đã phải tưởng tượng một tấn kim loại, cao su và da thuộc đang cháy bùng bùng là một chiếc xe hơi hoạt động bình thường, và chiếc Bentley đã cưỡng lại hắn hết sức dữ dội. Phần khó nhất là bắt nó vẫn chạy sau khi phần lốp bố thép chạy được trong mọi thời tiết đã cháy mất. Bên cạnh hắn, những gì còn lại của chiếc Bentley rơi bộp xuống các vành bánh xe méo mó khi hắn thôi tưởng tượng là nó có lốp xe.
Hắn vỗ vỗ lên một bề mặt kim loại nóng đến tráng trứng được.
“Xe thời nay thì làm sao mà chạy thế được,” hắn âu yếm nói.
Tất cả bọn họ nhìn hắn chằm chằm.
Có một tiếng cách điện tử rất nhỏ.
Cánh cổng đang nâng lên. Cái hộp đựng mô tơ điện rên lên một tiếng cơ học rồi bỏ cuộc, chịu thua sức mạnh không gì ngăn nổi đang kéo thanh chắn lên.
“Này!” Trung sĩ Deisenburger nói. “Ai trong đám lập dị các người đã làm thế?”
Vút. Vút. Vút. Vút. Và một con chó nhỏ, chân chỉ còn là một vệt mờ.
Họ trố mắt nhìn bốn dáng người đạp xe tít mù vừa chui qua thanh chắn và biến vào trong khu trại.
Viên trung sĩ cố bình tĩnh lại.
“Này,” anh ta nói, nhưng lần này yếu ớt hơn nhiều, “có đứa nào trong bọn trẻ con đó có một người ngoài hành tinh với khuôn mặt như một cục phân thân thiện trong giỏ xe không?” (*)
“Hình như không,” Crowley nói.
“Thế thì,” Trung sĩ Deisenburger nói, “chúng gặp rắc rối to rồi.” Anh ta giơ súng lên. Rón rén thế là đủ lắm rồi; anh ta cứ nghĩ về xà phòng suốt. “Và các vị,” anh ta nói, “cũng vậy.”
“Ta cảnh báo chú mày...”
“Chuyện này kéo dài quá lâu rồi,” Aziraphale nói. “Xử lý đi, Crowley, chóng ngoan nào.”
“Hử?” Crowley nói.
“Tôi là phe tốt,” Aziraphale nói. “Anh không thể chờ đợi tôi... chà, thôi mặc xác. Cố làm điều đúng đắn mà có đi đến đâu đâu?” Y búng ngón tay.
Có một tiếng bốp như tiếng nổ của đèn nháy kiểu cổ, và Trung sĩ Thomas A. Deisenburger biến mất.
“Ơ,” Aziraphale nói.
“Thấy chưa?” Shadwell nói, lão vẫn chưa tường tận chuyện đa nhân cách của bà Tracy. “Dễ như bỡn. Cứ theo ta là sẽ ổn thôi.”
“Giỏi lắm,” Crowley nói. “Không ngờ là anh cũng có khả năng đó cơ đấy.”
“Không,” Aziraphale nói. “Chính tôi cũng không ngờ. Hy vọng tôi đã không đưa anh ta đến nơi nào đó khủng khiếp.”
“Anh nên làm quen với chuyện đó ngay bây giờ đi,” Crowley nói. “Anh chỉ đưa họ đi thôi. Tốt nhất là đừng băn khoăn xem họ đến đâu.” Hắn có vẻ hết sức hứng thú. “Anh không định giới thiệu tôi với cơ thể mới à?”
“Sao? A. Vâng, tất nhiên rồi. Bà Tracy, đây là Crowley. Crowley, đây là bà Tracy. Rất hân hạnh.”
“Vào thôi,” Crowley nói. Hắn buồn rầu nhìn đống đổ nát của chiếc Bentley, rồi bỗng tươi mặt hơn. Một chiếc xe jeep đang chạy phăm phăm về phía cổng, nhìn như thể trong đó đầy người đang định thét hỏi và nổ súng mà không cần biết họ làm theo thứ tự nào.
Hắn vui vẻ hẳn lên. Đây mới đúng cái gọi là lĩnh vực chuyên môn của hắn.
Hắn bỏ tay ra khỏi túi áo, giơ tay lên như Lý Tiểu Long, rồi cười như Lee van Cleef. (*) “À,” hắn nói, “xe đến đây rồi.”
Cả bọn đỗ xe bên ngoài một trong những tòa nhà thấp. Wensleydale cẩn thận khóa xe lại. Nó là thằng bé kiểu như thế.
“Thế những người đấy trông sẽ như thế nào?” Pepper hỏi.
“Họ có thể nhìn giống bất kỳ ai,” Adam nói vẻ lưỡng lự.
“Họ là người lớn chứ hả?” Pepper hỏi.
“Ừ,” Adam đáp. “Người lớn hơn bất kỳ ai mày đã từng thấy, tao đoán thế.”
“Chống lại người lớn chẳng được gì,” Wensleydale rầu rĩ nói. “Chỉ tổ gặp rắc rối thôi.”
“Bọn mày sẽ không phải chống lại họ,” Adam nói. “Chỉ cần làm theo lời tao là được.”
Bọn Chúng nhìn những thứ chúng đang cầm. Xét theo tiêu chuẩn dụng cụ để giải cứu thế giới thì nhìn chúng không được hiệu quả cho lắm.
“Thế bọn mình làm cách nào để tìm ra họ?” Brian nghi ngại hỏi. “Tao nhớ hôm bọn mình đến tham quan, chỉ toàn phòng ốc và các thứ. Bao nhiêu là phòng và đèn nhấp nháy.”
Adam trầm ngâm nhìn mấy tòa nhà. Còi báo động vẫn đang kêu ông ổng.
“Ờ,” nó nói, “tao thấy là...”
“Này, mấy đứa nhóc các cháu làm gì ở đây thế?”
Giọng nói đó không có vẻ đe dọa một trăm phần trăm, nhưng cũng đã ở gần cuối giới hạn rồi, và nó thuộc về một sĩ quan đã mất mười phút để cố hiểu một thế giới vô lý nơi còi báo động réo vang và cửa không chịu mở. Hai người lính cũng có vẻ bối rối không kém đứng sau lưng ông ta, không biết phải xử lý thế nào với bốn đứa trẻ vị thành niên thấp bé và rõ ràng là da trắng, một trong số chúng còn có vẻ là con gái nữa.
“Đừng lo cho bọn cháu,” Adam thư thái nói. “Bọn cháu chỉ đang xem loanh quanh thôi.”
“Nào nghe đây...” viên trung úy mở miệng.
“Ngủ đi,” Adam nói. “Ông ngủ đi. Tất cả những người lính ở đây ngủ đi. Như vậy các ông sẽ không bị hại. Tất cả ngủ đi, ngay bây giờ.”
Viên trung sĩ trố mắt nhìn nó, cố tập trung. Rồi ông ta đổ gục về phía trước.
“Trời,” Pepper nói, khi những người khác đổ theo, “mày làm cách nào thế?”
“Ờ,” Adam thận trọng nói, “bọn mày có nhớ đoạn về thôi miên trong cuốn 101 trò vui cho bé trai mà bọn mình chưa từng làm được không?”
“Thì sao?”
“Ờ thì nó cũng từa tựa thế, chỉ khác là giờ tao đã tìm ra cách làm.” Nó quay lại với tòa nhà liên lạc.
Nó lấy tinh thần, vươn người từ tư thế lù rù thoải mái quen thuộc thành một dáng đứng thẳng thớm mà hẳn ông Tyler sẽ rất lấy làm tự hào.
“Được rồi,” nó nói.
Nó ngẫm nghĩ một lát.
Rồi nó bảo, “Đến mà xem.”
Nếu ta lấy đi thế giới và chỉ để lại mạng lưới điện, thì nhìn nó sẽ giống như một vật chạm lộng tinh tế nhất từng được tạo ra - một quả cầu làm bằng những dải bạc lấp lánh, thỉnh thoảng lại có một tia vệ tinh chói rực chiếu lên. Ngay cả những khoảng tối cũng sáng bừng nhờ sóng vô tuyến ra đa và phát thanh. Nó có thể là hệ thống thần kinh của một con quái vật khổng lồ.
Đây đó các thành phố tạo nên những nút thắt trong mạng lưới, nhưng phần lớn điện chỉ là hệ thống cơ bắp, dùng cho các công việc tay chân. Nhưng từ khoảng năm mươi năm nay, con người đã đem đến cho điện những bộ não.
Và giờ nó đã có sự sống, giống như lửa cũng có sự sống. Các công tắc chảy ra và đóng lại. Các rơ le chập cầu chì. Giữa trung tâm của những con chip silicon, với hệ thống kiến trúc tí hon nhìn như bản đồ thành phố Los Angeles, các lối đi mới mở ra, và cách đó hàng trăm cây số, chuông réo vang trong những căn phòng dưới hầm, và những người đàn ông kinh hoàng nhìn những gì được hiển thị trên các màn hình. Những cánh cửa thép nặng đóng chặt trong các căn hầm bí mật trong lòng núi, để mặc những người ở phía bên kia đâm lên chúng và vật lộn với những hộp cầu giao đã tan chảy. Những khoảng sa mạc và lãnh nguyên trượt ra, để khí trời lọt vào những hầm mộ được điều hòa, và những hình thù tròn tròn chậm rãi tiến vào vị trí.
Và trong lúc điện truyền đến những nơi lẽ ra nó không được đến, nó cũng rời khỏi những vị trí thường lệ. Trong thành phố, đèn giao thông tắt phụt, rồi đến đèn đường, rồi tất cả đèn đóm. Quạt chạy chậm dần, chập chờn, rồi dừng lại. Máy sưởi nguội tắt. Thang máy bị kẹt. Các kênh radio chết lặng, tiếng nhạc êm dịu chúng phát ra tắt ngấm.
Có câu nói rằng chỉ cần hai mươi tư giờ và thiếu ăn hai bữa là văn minh nhân loại sẽ trở về thời man di.
Màn đêm đang dần bao trùm lấy Trái đất đang quay. Lẽ ra Trái đất phải đầy những đốm sáng. Nhưng không có.
Dưới đó có năm tỉ người, chuyện sắp xảy ra sẽ khiến thời man di nhìn như một bữa picnic - nóng hổi, ngon miệng, và cuối cùng là để cho bầy kiến dọn sạch.
Thần Chết đứng thẳng dậy. Dường như hắn đang chăm chú lắng nghe. Hắn nghe bằng cái gì thì đố ai biết.
NGÀI ĐANG Ở ĐÂY, hắn nói.
Ba kẻ kia ngước lên. Có một sự thay đổi hầu như chẳng thể nhận ra trong cách họ đứng đó. Một phút trước khi Thần Chết lên tiếng, họ, cái phần trong họ mà không đi đứng nói cười như người bình thường, đã bao quanh cả thế giới. Giờ họ đã quay lại.
Gần như thế.
Ở họ có vẻ gì là lạ. Như thể, thay vì mặc quần áo không vừa, giờ cơ thể của họ lại không vừa. Nạn Đói nhìn như thể hắn đã bị chỉnh hơi lệch kênh, nên tín hiệu vẫn vượt trội từ trước đến giờ - của một thương gia thành đạt, lịch thiệp, năng nổ - đã bắt đầu bị lấn át bởi tiếng nhiễu cổ xưa, khủng khiếp từ tính cách cơ bản của hắn. Làn da của Chiến Tranh bóng nhẫy mồ hôi. Da Ô Nhiễm thì chỉ bóng nhẫy thôi.
“Tất cả đã... được xử lý,” Chiến Tranh nói, lên tiếng một cách khó khăn. “Mọi chuyện sẽ... tự diễn ra.”
“Không chỉ là hạt nhân đâu,” Ô Nhiễm nói. “Còn là hóa chất nữa. Hàng ngàn lít trong... các thùng nhỏ trên khắp thế giới. Những chất lỏng tuyệt đẹp... tên có đến mười tám âm tiết. Và cả những... thứ dự phòng quen thuộc nữa. Muốn nói gì tùy. Plutoni có thể khiến ta đau khổ hàng ngàn năm, nhưng thạch tín là vĩnh viễn.”
“Và rồi... mùa đông,” Nạn Đói nói. “Ta thích mùa đông. Mùa đông có vẻ gì đó rất... thanh sạch.”
“Gậy ông... sắp đập lưng ông,” Chiến Tranh nói.
“Không còn ông nào nữa đâu,” Nạn Đói nói thẳng thừng.
Chỉ Thần Chết là không thay đổi. Có những thứ không bao giờ thay đổi.
Bộ Tứ rời tòa nhà. Điều đáng chú ý là Ô Nhiễm, mặc dù đang bước đi, vẫn tạo ấn tượng là gã đang chảy ri rỉ.
Và điều này đã được Anathema và Newton Pulsifer để ý.
Đó là tòa nhà đầu tiên họ tiến đến. Nhìn bên trong có vẻ an toàn hơn nhiều so với bên ngoài, nơi đang hết sức lộn xộn. Anathema đã mở một cánh cửa gắn đầy những biểu tượng cho thấy mở cửa là một việc nguy hiểm chết người. Cánh cửa đã mở ra ngay khi cô chạm vào. Khi họ vào trong, nó liền tự động đóng và khóa lại.
Họ đã không có nhiều thời gian để bàn bạc về điều này sau khi Bộ Tứ bước vào.
“Chúng là cái gì vậy?” Newt hỏi. “Khủng bố à?”
“Theo một nghĩa tuyệt đích và chuẩn xác,” Anathema nói, “thì em nghĩ là anh nói đúng.”
“Thế những câu nói kỳ dị đó là sao?”
“Em nghĩ là về tận thế,” Anathema nói. “Anh có thấy huyền quang của chúng không?”
“Anh nghĩ là không,” Newt đáp.
“Không hay chút nào.”
“À.”
“Thật ra là huyền quang âm.”
“Thế à?”
“Như các hố đen vậy.”
“Thế là tệ lắm phải không?”
“Phải.”
Anathema trừng mắt nhìn những hàng tủ kim loại. Lần này, trong lúc này, bởi vì đây không phải là trò chơi nữa mà là thật, những thứ máy móc sẽ đem đến sự tận diệt của thế giới, hay ít ra là cái khoảng thế giới tính từ hai mét dưới mặt đất lên đến tận tầng ozone, lại đang không chạy theo kịch bản thông thường. Không có cái hộp to màu đỏ với đèn nhấp nháy. Không có cuộn dây với cái vẻ “hãy cắt tôi đi”. Không có bảng số to đến phát ngờ đang đếm ngược đến không mà có thể bị dừng lại khi chỉ còn vài giây. Thay vào đó, các tủ sắt có vẻ chắc chắn, rất nặng, và có thể cưỡng lại bất kỳ hành động anh hùng phút chót nào.
“Cái gì sẽ tự diễn biến cơ?” Anathema hỏi. “Chúng đã làm gì đó, phải không?”
“Có lẽ có công tắc tắt ở đâu đó?” Newt luống cuống nói. “Anh chắc là nếu chúng ta tìm xung quanh...”
“Những thứ kiểu này đều được nối dây trực tiếp. Đừng ngốc thế. Em tưởng anh biết về những thứ này chứ.”
Newt tuyệt vọng gật đầu. Vụ này khác xa so với quyển Điện máy cho mọi người. Để cho ra vẻ, cậu ngó vào sau một cái tủ.
“Viễn thông toàn cầu,” cậu nói giọng nghèn nghẹt. “Em gần như có thể làm bất kỳ điều gì. Điều chỉnh nguồn điện chính, kết nối với các vệ tinh. Bất kỳ điều gì. Em có thể” - xẹt - “á, em có thể” - xẹt - “a, khiến mọi thứ” - xẹtt - “ự, làm đủ” - xxẹt - “ui.”
“Anh thế nào rồi?”
Newt mút ngón tay. Cậu chưa tìm thấy cái gì giống một bóng bán dẫn cả. Cậu quấn cái khăn mùi soa quanh bàn tay và giật mấy bảng mạch ra khỏi ổ cắm của chúng.
Có lần, một cuốn tạp chí điện tử mà cậu đăng ký mua đã đăng một bảng mạch đùa, đảm bảo không thể hoạt động. Họ bông lơn rằng cuối cùng thì cũng có một thứ mà những kẻ hậu đậu vụng về có thể làm ra mà biết chắc rằng nếu nó không hoạt động thì có nghĩa là nó đã hoạt động tốt. Nó có đi ốt cắm sai chiều, bóng bán dẫn ngược, và pin kiệt. Newt đã lắp nó, và nó đã bắt được Đài Phát thanh Moscow. Cậu đã viết thư cho tạp chí để than phiền, nhưng họ không trả lời.
“Anh không biết làm thế này có ích gì không nữa,” cậu nói.
“James Bond thường chỉ tháo các thứ ra là xong mà,” Anathema nói.
“Không chỉ tháo các thứ đâu,” Newt nói, thần kinh cậu đã bắt đầu tơi tả. “Và anh không phải” - xoẹt - “James Bond. Nếu anh là James Bond” - xìxì - “thì bọn người xấu đã cho anh thấy các đòn bẩy chết người và cho anh biết cách chúng hoạt động rồi, phải không?” - Phxịt - “Chỉ có điều nó không xảy ra như thế trong đời thực! Anh không biết đang có chuyện gì và anh không thể ngăn nó lại được.”
Mây vần vũ quanh đường chân trời. Trên đầu, bầu trời vẫn còn quang, không khí chỉ bị khuấy động bởi một hơi gió nhẹ. Nhưng không khí không bình thường. Nó có vẻ như pha lê, khiến bạn có cảm giác nếu quay đầu thì sẽ thấy nhiều mặt cắt mới. Nó lấp lánh. Nếu bạn cần phải tìm một từ để miêu tả nó thì từ xúm xít sẽ lẩn vào tâm trí bạn lúc nào không biết. Xúm xít đầy những sinh vật không hình thù rõ rệt đang chờ đợi thời khắc có được hình hài thực chất.
Adam ngước nhìn lên. Theo một cách nào đó thì trên đầu chỉ có không khí quang quẻ. Nhưng theo một cách khác thì, kéo dài đến tận vô cực, là những đội quân của Thiên đường và Địa ngục, các đầu cánh nối tiếp nhau. Nếu bạn nhìn thật kỹ, và nếu bạn đã được đào tạo đặc biệt, bạn có thể nhìn thấy sự khác biệt.
Sự im lặng siết chặt lấy cả thế giới.
Cửa tòa nhà bật mở và Bộ Tứ bước ra. Giờ ba bọn họ chỉ còn giống người một chút xíu thôi - họ nhìn như những hình người được tạo thành bởi những thứ họ là hoặc họ đại diện. Họ khiến Thần Chết trông giản dị tuyệt đôi. Chiếc áo khoác da và cái mũ bảo hiểm kính đen của hắn đã biến thành một cái áo choàng có mũ trùm, nhưng đó chỉ là tiểu tiết. Một bộ xương, dù là biết đi, thì vẫn là người; bên trong mọi sinh vật sống đều có Thần Chết lẩn quất.
“Vấn đề là,” Adam vội vã nói, “họ không có thật đâu. Họ chỉ giống như ác mộng thôi.”
“N-nhưng bọn mình có đang ngủ đâu,” Pepper nói.
Chó rên ư ử và cố trốn sau lưng Adam.
“Gã kia nhìn như đang chảy ra ấy,” Brian nói, chỉ hình thù đang tiến đến, nếu vẫn có thể gọi đó là hình thù, của Ô Nhiễm.
“Đấy thấy chưa,” Adam lấy giọng khích lệ. “Thế thì làm sao là thật được, đúng không? Ai chả biết. Một thứ như thế không thể là thật được.”
Bộ Tứ dừng lại cách đó vài mét.
VIỆC ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN, Thần Chết nói. Hắn hơi cúi về phía trước và nhìn Adam bằng cặp mắt không tròng. Rất khó nói xem hắn có ngạc nhiên không.
“Ờ, vâng,” Adam nói. “Vấn đề là, tôi không muốn nó được thực hiện. Tôi đâu có đòi nó được thực hiện.”
Thần Chết nhìn ba kẻ kia, rồi nhìn lại Adam.
Đằng sau họ, một chiếc jeep phanh két lại. Họ không để ý đến nó.
TA KHÔNG HIỂU, hắn nói. DỨT KHOÁT CHÍNH SỰ TỒN TẠI CỦA NGÀI ĐÒI HỎI THẾ GIỚI PHẢI TẬN DIỆT. ĐIỀU ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC ĐỊNH TRƯỚC.
“Chẳng hiểu sao ai lại đi định đoạt những chuyện như thế làm gì,” Adam bình thản nói. “Thế giới đầy những thứ tuyệt hay mà tôi vẫn chưa khám phá hết, nên tôi không muốn ai làm loạn nó lên hay kết thúc nó trước khi tôi có cơ hội tìm hiểu nó. Vì vậy các người có thể đi đi.”
(“Chính nó đấy, ông Shadwell,” Aziraphale nói, chưa dứt lời thì giọng y đã nhỏ bặt dần sang một giọng không chắc chắn, “thằng bé... mặc... áo phông ấy...”)
Thần Chết nhìn Adam.
“Ngài... là... một phần... của chúng ta,” Chiến Tranh thốt ra giữa hai hàm răng như những viên đạn tuyệt đẹp.
“Việc đã xong. Chúng ta sẽ... tái tạo... thế giới,” Ô Nhiễm nói, giọng gã nghe cũng quỷ quyệt như một thứ đang rỉ từ một cái thùng phuy han gỉ vào một tầng nước ngầm vậy.
“Ngài... dẫn đường cho... chúng ta,” Nạn Đói nói.
Và Adam ngần ngừ. Những giọng nói trong thâm tâm nó vẫn đang gào thét rằng đó là sự thật, rằng thế giới cũng là của nó, và nó chỉ việc quay đầu và dẫn họ tiến vào một hành tinh đang hỗn loạn. Họ là những kẻ giống nó.
Xếp hàng trên đầu, các đội quân bầu trời đợi Lệnh.
(“Không thể bắt ta bắn nó được! Nó còn bé tí!”
“Ờ,” Aziraphale nói. “Ờ. Vâng. Có lẽ chúng ta nên đợi một lát, các vị thấy sao?”
“ Ý anh là đợi nó lớn lên ấy à?” Crowley hỏi.)
Chó bắt đầu gầm gừ.
Adam nhìn Bọn Chúng. Chúng cũng là người giống nó.
Ta phải quyết xem bạn bè đích thực của mình là ai.
Nó quay lại nhìn Bộ Tứ.
“Xử chúng,” Adam khẽ nói.
Vẻ ngắc ngứ và lúng búng đã biến khỏi giọng nói của nó. Trong giọng nói đó là những thanh âm kỳ lạ. Không con người nào có thể chống lại một giọng nói như vậy.
Chiến tranh bật cười và nhìn Bọn Chúng vẻ chờ đợi.
“Lũ nhóc con,” ả nói, “nghịch mấy món đồ chơi. Hãy nghĩ đến các món đồ chơi ta có thể cho các ngươi... hãy nghĩ đến những trò chơi. Ta có thể khiến các ngươi say mê ta, lũ nhóc. Lũ nhóc con với những khẩu súng con con.”
Ả lại cất tiếng cười, nhưng tiếng cười như súng liên thanh ấy tắt ngấm khi Pepper bước tới trước và giơ cánh tay run rẩy lên.
Đó cũng chẳng phải là một thanh gươm ra hồn cho lắm, nhưng nó là cái tốt nhất có thể làm được bằng hai mảnh gỗ và một sợi dây. Chiến Tranh nhìn nó.
“Ta hiểu rồi,” ả nói. “Một chọi một hả?” Ả cũng rút gươm của mình ra và giơ nó lên, khiến nó phát ra âm thanh như một ngón tay miết quanh ly rượu.
Một tia chớp lóe lên khi hai thanh gươm chạm nhau.
Thần Chết nhìn vào mắt Adam.
Vang lên một tiếng leng keng thảm hại.
“Đừng chạm vào nó!” Adam quát, đầu không nhúc nhích.
Bọn Chúng trố mắt nhìn thanh gươm đang lắc lư rồi bất động trên nền bê tông.
“ ‘Lũ nhóc con,’ “ Pepper khinh bỉ lầm bầm. Sớm muộn gì thì ai cũng phải quyết định xem mình thuộc về băng nào.
“Nhưng, nhưng,” Brian nói, “cô ta như bị hút vào thanh gươm ấy...”
Không khí giữa Adam và Thần Chết bắt đầu rung chuyển, như giữa một luồng hơi nóng.
Wensleydale ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào cặp mắt hõm sâu của Nạn Đói. Thằng bé đang cầm trong tay một thứ mà, nếu thêm chút tưởng tượng thì cũng có thể gọi là một cái cân làm bằng nhiều cành cây và dây nữa. Rồi nó quay cái cân quanh đầu.
Nạn Đói giơ tay lên tự vệ.
Có một ánh chớp nữa, rồi vang lên tiếng leng keng của chiếc cân bạc nẩy xuống nền đất.
“Đừng... chạm... vào... nó,” Adam nói.
Ô Nhiễm đã quay lưng chạy, hay ít ra cũng bắt đầu chảy thật nhanh, nhưng Brian giật vành cỏ đeo trên đầu xuống và ném mạnh. Lẽ ra vành cỏ không thể bay xa được, nhưng một sức mạnh nào đó đã giật nó ra khỏi tay thằng bé, làm nó quay tít như một chiếc đĩa.
Lần này vụ nổ đầy lửa đỏ rực giữa một quầng khói đen, tỏa mùi dầu nồng nặc.
Với một tiếng kim loại lách cách, một chiếc vương miện bạc đen xỉn lăn ra khỏi đám khói rồi xoay tròn với âm thanh như một đồng xu quay chậm dần.
Ít nhất chúng cũng không cần cảnh báo là không được chạm nào cái vương miện. Nó lấp lánh theo một cách quái đản so với chất liệu kim loại của nó.
“Họ đi đâu rồi?” Wensley hỏi.
NƠI HỌ THUỘC VỀ, Thần Chết nói, vẫn không rời mắt khỏi mắt Adam. NƠI HỌ VẪN LUÔN TỒN TẠI. QUAY VỀ TÂM TRÍ CON NGƯỜI.
Hắn nhăn nhở cười với Adam.
Có một tiếng rách. Áo choàng của Thần Chết toạc ra và cặp cánh của hắn dang rộng. Cánh thiên thần. Nhưng không làm bằng lông vũ. Chúng là cặp cánh của màn đêm, cặp cánh xuyên qua vật chất sáng thế mà đi vào bóng tối bên dưới, nơi một vài đốm sáng xa xăm đang lập lòe, những đốm sáng có thể là những vì sao, mà cũng có thể là thứ gì đó hoàn toàn khác.
NHƯNG TA, hắn nói, KHÔNG GIỐNG HỌ. TA LÀ AZRAEL, ĐƯỢC TẠO RA ĐỂ LÀM CÁI BÓNG CỦA SỰ SÁNG THẾ. NGÀI KHÔNG THỂ HỦY DIỆT TA. ĐIỀU ĐÓ SẼ HỦY DIỆT CẢ THẾ GIỚI.
Sức nóng từ cuộc đấu nhãn của họ giảm dần. Adam gãi gãi mũi.
“À, ai biết được,” nó nói. “Biết đâu lại có cách.” Nó toét miệng cười đáp lại.
“Mà thôi, tất cả phải dừng lại đi,” nó nói. “Tất cả các thứ máy móc ấy mà. Giờ ông phải làm theo lời tôi, và tôi ra lệnh tất cả dừng lại.”
Thần Chết nhún vai. NÓ ĐÃ BẮT ĐẦU DỪNG LẠI RỒI, hắn nói. KHÔNG CÓ HỌ, hắn chỉ vào những tàn tích thảm hại của ba kỵ sĩ kia, MỌI CHUYỆN SẼ KHÔNG THỂ TIẾP TỤC. SỰ HỖN LOẠN TỰ NHIÊN SẼ CHIẾN THẮNG. Thần Chết giơ một bàn tay trơ xương lên như để chào.
HỌ SẼ QUAY LẠI, hắn nói. HỌ KHÔNG BAO GIỜ ĐI XA.
Cặp cánh vỗ, chỉ một lần thôi, như một tiếng sấm, và vị thiên thần Chết Chóc biến mất.
“Được rồi,” Adam nói với khoảng không trống rỗng. “Thế là xong. Mọi chuyện sẽ không xảy ra nữa. Những chuyện họ đã bắt đầu... sẽ phải dừng lại ngay bây giờ.”
Newt tuyệt vọng nhìn các giá đựng thiết bị.
“Cứ tưởng là phải có bản hướng dẫn hay gì đó chứ,” cậu nói.
“Thử xem Agnes có nói gì về chuyện này không,” Anathema gợi ý.
“À, phải,” Newt chua chát nói. “Thật là hợp lý quá, phải không? Phá hoại đồ điện tử của thế kỷ hai mươi với sự trợ giúp của một quyển hướng dẫn từ thế kỷ mười bảy? Agnes Nutter biết gì về bóng bán dẫn chứ?”
“Ờ, ông nội em đã diễn giải lời tiên tri số 3328 rất hiệu quả vào năm 1948 và đã có vài khoản đầu tư khá khôn ngoan,” Anathema đáp. “Tất nhiên, bà không biết nó sẽ được gọi là gì, và bà không thạo lắm về điện tử nói chung, nhưng...”
“Anh chỉ đang nói theo kiểu tu từ thôi.”
“Mà anh cũng có phải làm cho nó hoạt động đâu. Anh phải làm cho nó ngừng hoạt động. Để làm được chuyện đó thì anh đâu có cần hiểu biết. Anh chỉ cần bị ngu thôi mà.”
Newt rên lên.
“Thôi được,” cậu mệt mỏi nói. “Cứ thử xem nào. Cho anh một lời tiên tri xem.”
Anathema rút hú họa một tấm thẻ.
“ ‘Anh ta không phải người như anh ta nói,’ “ cô đọc. “Là số 1002. Đơn giản quá nhỉ. Anh có ý gì không?”
“Ờ, là thế này,” Newt nói, vẻ khổ sở, “bây giờ quả thực không phải lúc để nói ra nhưng,” - cậu nuốt khan - “thật ra anh chẳng thạo đồ điện lắm. Thực ra là chẳng thạo tẹo nào.”
“Em nhớ anh đã nói anh là kỹ sư máy tính cơ mà.”
“Đấy là thậm xưng thôi. Ý anh là, thậm xưng đến hết mức có thể ấy, thật ra, anh đoán em có thể gọi nó là chém gió cũng được. Thậm chí, anh có thể nói thẳng ra nó là cái gì,” Newt nhắm mắt lại, “đấy là quanh co.”
“Ý anh là một lời nói dối chứ gì?” Anathema dịu dàng hỏi.
“Ồ, không đến mức đấy đâu,” Newt nói. “Tuy nhiên,” cậu nói thêm, “thật ra anh không phải là kỹ sư máy tính. Không hề. Thậm chí còn ngược lại là đằng khác.”
“Ngược lại là thế nào?”
“Nếu em muốn biết thì lần nào anh cố làm một thứ đồ điện gì đó hoạt động, nó cũng bị hỏng.”
Anathema nở một nụ cười tươi rói với cậu và lấy một tư thế rất kịch, như cô gái mặc đồ đính kim tuyến đang lùi lại để cho khán giả thấy trò ảo thuật trên sân khấu.
“Xin mời,” cô nói.
“Sửa nó đi,” cô nói.
“Sao cơ?”
“Làm nó hoạt động tốt hơn đi,” cô nói.
“Anh không biết nữa,” Newt đáp. “Anh không chắc là mình làm được.” Cậu đặt một tay lên cái tủ gần nhất.
Có âm thanh của một thứ mà cậu không nhận ra là mình đã nghe thấy từ nãy đến giờ bỗng đột ngột dừng lại, kèm theo tiếng rít nhỏ dần của một máy phát điện đâu đó phía xa. Đèn trên bảng điều khiển nhấp nháy, rồi tắt gần hết.
Trên khắp thế giới, những người đang vật lộn với các công tắc bỗng thấy chúng hoạt động trở lại. Các cầu dao mở ra. Các máy tính ngừng lên kế hoạch cho Thế chiến Thứ ba và quay trở lại lười biếng quét tầng bình lưu. Trong các boong ke bên dưới Novya Zemla, những người lính thấy các cầu chì họ đang cuống cuồng kéo ra cuối cùng cũng rời ra trong tay họ; trong các boong ke dưới Wyoming và Nebraska, những người lính mặc đồ dã chiến liền thôi gào thét và vẫy súng vào mặt nhau, và muốn uống một cốc bia, nếu ở các căn cứ tên lửa cho phép đồ uống có cồn. Thực ra là không được phép, nhưng họ vẫn uống.
Đèn sáng. Văn minh nhân loại ngừng cú trượt dốc vào hỗn loạn và bắt đầu viết thư cho các báo về chuyện ngày nay mọi người cứ loạn cả lên vì những chuyện lặt vặt hết sức.
Ở Tadfield, những cỗ máy ngừng tỏ ra vẻ hăm dọa. Có gì đó bên trong chúng đã biến mất, không chỉ là điện.
“Trời,” Newt thốt lên.
“Anh thấy chưa,” Anathema nói. “Anh đã sửa đâu ra đấy còn gì. Bà Agnes luôn hết sức đáng tin cậy, hãy tin em. Giờ thì ra khỏi đây thôi.”
◇ ❖ ◇
“Nó không muốn hủy diệt thế giới!” Aziraphale nói. “ Chẳng phải tôi đã luôn bảo anh vậy sao, Crowley? Nếu anh chịu khó nhìn vào sâu bên trong con người, anh sẽ thấy rằng, trong thâm tâm, thật ra họ rất...”
“Chưa kết thúc đâu,” Crowley nói gọn.
Adam quay lại và dường như bây giờ mới nhận ra họ. Crowley không quen với việc bị người khác nhận dạng dễ dàng như thế, nhưng Adam nhìn hắn như thể toàn bộ tiểu sử của hắn được dán lên sau sọ hắn và thằng bé đang đọc nó vanh vách. Trong một khoảnh khắc, hắn cảm nhận được nỗi kinh hoàng thực sự. Hắn cứ ngỡ nỗi kinh hoàng hắn cảm thấy trước kia là đồ thứ thiệt, nhưng đó chỉ là nỗi sợ tầm thường không là gì so với cảm giác mới này. Những kẻ Bên Dưới có thể khiến ta ngừng tồn tại bằng cách, ờ, tra tấn ta thật dã man tàn bạo, nhưng thằng bé này không những có thể khiến ta ngừng tồn tại chỉ bằng một ý nghĩ, mà có lẽ còn có thể sắp xếp sao cho ta chưa bao giờ tồn tại nữa.
Cái nhìn của Adam lướt sang Aziraphale.
“Xin lỗi, tại sao ông lại là hai người?” Adam hỏi.
“Ờ,” Aziraphale nói, “chuyện dài...”
“Là hai người như thế là không đúng,” Adam nói. “Tôi nghĩ ông nên quay lại làm hai người riêng biệt thì hơn.”
Không có hiệu ứng đặc biệt phô trương nào cả. Chỉ có Aziraphale, ngồi cạnh bà Tracy.
“Ui, nhột quá,” bà nói. Bà nhìn Aziraphale từ đầu đến chân, “Ồ,” bà nói, giọng hơi thất vọng. “Không hiểu sao tôi lại nghĩ anh phải trẻ hơn.”
Shadwell lầm lầm nhìn vị thiên thần vẻ ghen tức và ấn cò khẩu Thần công một cách cực kỳ có chủ đích.
Aziraphale nhìn xuống cơ thể mới của y, mà thật không may là nhìn vẫn giống hệt cơ thể cũ của y, chỉ khác là áo khoác ngoài sạch hơn.
“Thôi, thế là đã kết thúc,” y nói.
“Không,” Crowley nói. “Không. Chưa xong đâu, anh thấy đấy. Chưa hề.”
Giờ mây mới kéo đến đầy trời, cuộn xoáy như một nồi mì nui đang sôi sùng sục.
“Anh thấy đấy,” Crowley nói, giọng trĩu xuống đầy u ám tuyệt vọng, “mọi chuyện không đơn giản như thế đâu. Ta cứ nghĩ chiến tranh bắt đầu vì một lão công tước nào đó bị bắn, hay người này cắt tai người kia, hay ai đó đặt tên lửa nhầm chỗ. Không phải thế đâu. Đó chỉ là, ờ, chỉ là cái cớ thôi, chẳng liên quan gì đến chiến tranh hết. Điều thực sự gây ra chiến tranh là hai phe không chịu nổi nhau và áp lực cứ dồn nén mãi cho đến lúc cái gì cũng có thể khiến chiến tranh bùng nổ. Bất kỳ cái gì. Tên cậu là gì... ờ... nhóc?”
“Đó là Adam Young,” Anathema nói, khi cô bước đến với Newt lẽo đẽo theo sau.
“Đúng thế. Adam Young,” Adam nói.
“Giỏi lắm. Cậu đã cứu cả thế giới, cho nghỉ buổi chiều,” Crowley nói. “Nhưng sẽ chẳng thay đổi được điều gì đâu.”
“Tôi nghĩ anh nói đúng,” Aziraphale nói. “Tôi dám chắc là người phe tôi muốn có Tận thế. Thật đáng buồn.”
“Có ai cảm phiền cho chúng tôi biết đang có chuyện gì không?” Anathema nghiêm nghị nói, khoanh tay trước ngực.
Aziraphale nhún vai. “Chuyện dài lắm,” y mở lời.
Anathema vênh cằm lên. “Thì ông cứ kể đi,” cô nói.
“Ờ. Vào thuở ban đầu...”
Một tia chớp lóe lên, đánh xuống mặt đất cách Adam vài mét, rồi đứng nguyên tại chỗ, một cột sáng kêu xèo xèo, dưới đáy rộng hơn, như thể luồng điện hoang dại đang đổ vào một cái khuôn vô hình. Con người lùi lại, dựa sát chiếc jeep.
Tia chớp biến mất, và một chàng trai trẻ được tạo ra từ những ngọn lửa vàng rực đứng thế chỗ nó.
“Ôi trời,” Aziraphale nói. “Là ông ấy.”
“Tên nào?” Crowley hỏi.
“Giọng Nói của Chúa,” vị thiên thần đáp. “Metatron.”
Bọn Chúng trố mắt nhìn.
Rồi Pepper lên tiếng, “Đâu phải. Metatron làm bằng nhựa, có thần công laser và có thể biến thành máy bay trực thăng chứ.” (*)
“Đây là Megatron Vũ trụ,” Wensleydale yếu ớt nói. “Tao có một con, nhưng cái đầu bị rơi mất. Tao nghĩ cái này khác.”
Cái nhìn từ cặp mắt tuyệt đẹp nhưng vô hồn chạm vào Adam Young, rồi quay ngoắt sang nền bê tông đang sôi sùng sục bên cạnh mình.
Một hình thù vươn lên từ nền đất cuộn xoáy như quỷ vương trong vở kịch câm, nhưng nếu kẻ này có mặt trong một vở kịch câm thì sẽ chẳng còn khán giả nào sống sót và sau đó họ sẽ phải mời một linh mục đến để đốt trụi rạp hát. Nhìn nó không khác hình thù kia là mấy, chỉ khác là lửa của nó có màu đỏ như máu.
“Ờ,” Crowley nói, cố co rúm người trên ghế. “Chào... ờ.”
Vật màu đỏ ném cho hắn một cái nhìn vô cùng ngắn ngủi, như đánh dấu hắn để nuốt chửng sau, rồi quay sang nhìn Adam. Khi vật đó lên tiếng, giọng nó nghe như hàng triệu con ruồi đang vội cất cánh.
Nó phát ra một tiếng vo ve, mà với những con người đang có mặt ở đó thì nghe như tiếng một cái dũa được kéo dọc sống lưng.
Nó đang nói chuyện với Adam, và thằng bé đáp lại, “Hử? Không. Tôi đã nói rồi. Tên tôi là Adam Young.” Nó nhìn kẻ kia từ đầu đến chân. “Thế tên ông là gì?”
“Beelzebub,” Crowley đáp thay. “Hắn là Chúa...”
“Cảm ơn, Crowzley,” Beelzebub nói. “Lát nữa chzúng ta zzẽ phải nói chzuyện nghiêm chzỉnh. Ta zzám chzắc ngươi có nhiều điều cần nói với ta.”
“Ờ,” Crowley nói, “ờ, ngài thấy đấy, chuyện là thế này...”
“Trzật tự!”
“Vâng. Vâng,” Crowley vội nói.
“Giờ thì, Adam Young,” Metatron nói, “mặc dù chúng ta đánh giá rất cao sự giúp đỡ của cậu vào lúc này, chúng ta phải nói thêm rằng Tận thế phải xảy ra ngay bây giờ. Có thể có một vài bất tiện tạm thời, nhưng điều đó không nên ngăn cản cái thiện tối thượng.”
“À,” Crowley thì thào với Aziraphale, “ý gã là, chúng ta phải phá hủy thế giới thì mới có thể cứu rỗi nó.”
“Điều đó ngăn cản cái zzì thì còn phải zzét lại,” Beelzebub vo ve nói. “Nhưng phải quyết mọi zzự ngay bây giờ, nhóc. Đây là zzố mệnh của ngươi. Nó đã được định zzẵn.”
Adam hít một hơi thật sâu. Những con người đứng quanh nín thở. Còn Crowley và Aziraphale thì đã quên thở từ lâu rồi.
“Tôi chẳng hiểu sao mọi người và mọi thứ lại cứ phải bị đốt trụi làm gì,” Adam nói. “Hàng triệu con cá, cá voi, rồi cây cối, rồi cả cừu và các thứ nữa. Lý do thậm chí cũng chẳng ra hồn. Chỉ để xem băng nào cừ nhất. Giống như bọn tôi và bọn Johnsonite ấy. Nhưng dù các ông có thắng đi chăng nữa, các ông cũng không thể đánh bại phe kia, vì thực ra các ông không muốn. Ý tôi là, không muốn thắng vĩnh viễn ấy. Các ông sẽ lại bắt đầu từ đầu. Các ông sẽ gửi những người như hai ông kia,” nó chỉ Crowley và Aziraphale, “để chọc ngoáy mọi người. Làm người đã khó lắm rồi, không cần người khác đến quấy phá nữa.”
Crowley quay sang Aziraphale.
“Johnsonite là sao?” hắn thì thào.
Vị thiên thần nhún vai. “Chắc là một giáo phái ly khai thời kỳ đầu, tôi đoán vậy,” y nói. “Theo thuyết Ngộ đạo. Giống hội Ophite ấy.” Trán y nhăn lại. “Hay là hội Sethite nhỉ? Không, tôi đang nghĩ đến đám Collyridian. Ôi trời. Tôi xin lỗi. Có đến cả trăm giáo phái ấy, tôi chẳng thể nào nhớ hết được.”
“Người ta bị quấy phá,” Crowley lầm bầm.
“Không quan trọng!” Metatron quát. “Mấu chốt của việc tạo ra Trái đất cùng với thiện và ác là...”
“Tôi chẳng thấy có gì hay hớm khi tạo ra con người là con người, rồi lại bực mình vì họ cư xử như con người,” Adam nghiêm khắc nói. “Mà nếu các ông thôi bảo mọi người là tất cả sẽ được xử lý sau khi họ chết, thì họ có thể sẽ tìm cách xử lý mọi chuyện lúc họ đang còn sống. Nếu tôi là người đứng đầu thì tôi sẽ làm mọi người sống lâu hơn nhiều, như Methuselah (*) ấy. Như thế thú hơn nhiều và họ sẽ phải nghĩ về những chuyện họ đang làm với môi trường và hệ sinh thái, vì họ sẽ vẫn còn sống trong một trăm năm tới.”
“À,” Beelzebub nói, và hắn bắt đầu mỉm cười thực sự. “Ngươi muốn làm bá chzủ thế zới. Thế mới zống cha ng...”
“Tôi đã nghĩ về chuyện đó rồi và tôi không muốn,” Adam nói, hơi quay người lại và gật đầu với Bọn Chúng vẻ khích lệ. “Ý tôi là, có vài thứ có thể cần được thay đổi một chút, nhưng tôi nghĩ mọi người sẽ suốt ngày đến tìm tôi và đòi tôi giải quyết mọi chuyện, dọn dẹp rác rưởi và tạo ra thêm cây cho họ, Thế thì có gì hay ho chứ? Cứ như là phải dọn phòng hộ người khác ấy.”
“Đến phòng của chính mày mà mày còn không dọn nữa là,” Pepper lên tiếng sau lưng nó.
“Tao có nói gì về phòng tao đâu,” Adam nói, ý chỉ căn phòng có cái thảm trải sàn từ mấy năm nay khuất dạng dưới bao nhiêu là thứ. “Ý tao là phòng chung chung ấy. Tao không có ý nói phòng riêng của tao. Chỉ là phép ẩn dị thôi. Ý tao là thế.”
Beelzebub và Metatron liếc nhìn nhau.
“Đấy,” Adam nói, “suốt ngày phải nghĩ trò chơi cho Pepper với Wensley với Brian để chúng nó không chán đã đủ mệt lắm rồi, nên tôi thấy thế giới này là đủ lắm rồi, không cần thêm nữa. Dù sao thì cũng xin cảm ơn.”
Mặt Metatron bắt đầu có cái vẻ mà ai nghe kiểu lý luận đặc trưng của Adam cũng sẽ thấy quen thuộc.
“Ngươi không thể chối bỏ bản chất của mình,” cuối cùng y nói. “Nghe đây. Sự ra đời và số mệnh của ngươi là một phần của Kế hoạch Vĩ đại. Mọi chuyện phải xảy ra như thế này. Mọi lựa chọn đã được đưa ra.”
“Nổi loạn là zất tốt,” Beelzebub nói, “nhưng có những điều ta không thể chzống lại được! Ngươi phải hiểu!”
“Tôi có chống lại cái gì đâu,” Adam nói bằng giọng hợp lý. “Tôi chỉ đang chỉ ra thôi. Tôi thấy các ông không thể trách người ta vì chỉ ra vấn đề được. Tôi thấy sẽ tốt hơn nhiều nếu các ông thôi đánh nhau đi và cứ xem mọi người sẽ làm gì. Nếu các ông đừng chọc ngoáy họ nữa thì họ có thể sẽ suy nghĩ thấu đáo hơn và họ sẽ không làm loạn thế giới lên nữa. Tôi không nói là họ sẽ làm thế,” nó cẩn thận thêm vào, “nhưng họ có thể sẽ làm.”
“Thật vô nghĩa lý,” Metatron nói. “Ngươi không thể đi ngược lại Kế hoạch Vĩ đại. Ngươi phải suy nghĩ. Nó đã nằm trong gien của ngươi rồi. Suy nghĩ đi.”
Adam ngần ngừ.
Dòng chảy ngầm hắc ám vẫn luôn sẵn sàng trở lại, róc rách thì thầm rằng đúng, đúng thế, mọi sự là như thế, ngươi phải làm theo kế hoạch vì ngươi là một phần trong đó...
Hôm đó đã là một ngày rất dài. Thằng bé đã mệt. Việc cứu cả thế giới đã khiến cơ thể mười một tuổi của nó rã rời.
Crowley gục đầu vào hai bàn tay. “Trong một khoảnh khắc, chỉ trong một khoảnh khắc thôi, tôi đã ngỡ chúng ta có cơ hội,” hắn nói. “Thằng bé đã khiến họ lo lắng. Thôi, được thế cũng đã là...”
Hắn chợt nhận ra Aziraphale đã đứng lên.
“Cho tôi hỏi tí,” vị thiên thần nói.
Bộ ba kia nhìn y.
“Cái Kế hoạch Vĩ đại này,” y nói, “đó chính là Kế hoạch bất khả tư nghị đấy chứ?”
Im lặng một thoáng.
“Đó là Kế hoạch Vĩ đại,” Metatron nói thẳng thừng. “Ngươi biết rõ mà. Sẽ có một thế giới tồn tại sáu ngàn năm và nó sẽ kết thúc bằng...”
“Vâng, vâng, đó thì đúng là Kế hoạch Vĩ đại rồi,” Aziraphale nói. Hắn nói một cách lịch sự, cung kính, nhưng với cái vẻ của người vừa đặt ra một câu hỏi hóc búa ở một cuộc họp mặt chính trị và sẽ không chịu rời đi cho đến khi nhận được câu trả lời. “Tôi chỉ đang hỏi xem có phải nó cũng là bất khả tư nghị không. Tôi chỉ muốn biết cho chắc thôi ấy mà.”
“Không quan trọng!” Metatron quát. “Chắc hẳn chúng là cùng một thứ!”
Chắc hẳn ay à? Crowley thầm nghĩ. Hóa ra họ không biết. Hắn bắt đầu nhăn nhở cười như một thằng đần.
“Vậy ngài không dám chắc một trăm phần trăm?” Aziraphale hỏi.
“Chúng ta không thể hiểu Kế hoạch bất khả tư nghị,” Metatron nói, “nhưng tất nhiên, Kế hoạch Vĩ đại...”
“Nhưng Kế hoạch Vĩ đại có thể chỉ là một phần nhỏ tí tì ti của bất khả tư nghị nói chung thôi mà,” Crowley nói. “Ngài không thể chắc chắn rằng việc đang xảy ra bây giờ không phải là đúng đắn, Nếu nhìn theo góc độ bất khả tư nghị mà nói.”
“Nó đã được viết zzẵn!” Beelzebub rống lên.
“Nhưng nó có thể đã được viết sẵn theo cách khác ở chỗ khác,” Crowley nói. “ở nơi các ngài không đọc được.”
“Viết bằng chữ to hơn,” Aziraphale nói.
“Có gạch chân,” Crowley thêm vào.
“Gạch chân đến hai lần,” Aziraphale phụ họa.
“Có lẽ đây không chỉ là phép thử cho thế giới,” Crowley nói. “Có thể nó là phép thử cho cả các ngài nữa. Nhỉ?”
“Chúa không đùa bỡn với kẻ bề tôi trung thành của Người,” Metatron nói, nhưng giọng có vẻ lo lắng.
“Úi chà,” Crowley nói. “Ngài đã ở đâu vậy?”
Mọi người đổ dồn mắt vào Adam. Hình như nó đang suy nghĩ rất lung.
Rồi nó nói, “Tôi chẳng hiểu sao chuyện được định sẵn lại quan trọng đến thế. Nhất là khi có liên quan đến con người. Luôn có thể xóa nó đi mà.”
Một làn gió thổi qua sân bay. Trên đầu, những đội quân đang tập hợp thoáng chập chờn, như một ảo ảnh.
Sự im lặng bao trùm có lẽ giống như sự im lặng vào cái ngày trước Sáng thế.
Adam đứng mỉm cười với hai bọn họ, một dáng người nhỏ bé đứng chính giữa Thiên đường và Địa ngục.
Crowley chộp lấy cánh tay Aziraphale. “Anh biết đã xảy ra chuyện gì không?” hắn phấn khích rít lên. “Thằng bé đã được để yên! Nó lớn lên như con người! Nó không phải là Hiện thân của Thiện hay Ác, nó chỉ là... hiện thân của con người...”
Rồi:
“Ta nghĩ là,” Metatron nói, “ta cần xin thêm chỉ thị.”
“Ta cũng vậy,” Beelzebub nói. Khuôn mặt rực lửa của hắn quay sang Crowley. “Và ta zzẽ báo cáo lại vai trzò của ngươi trzong việc này, hãy tin là như vậy.” Hắn trừng mắt nhìn Adam. “Và ta không biết Cha ngươi zzẽ nói zì...”
Có một tiếng nổ chát chúa. Shadwell, vốn suốt mấy phút vừa rồi đã đứng ngồi không yên với một nỗi phấn khích kinh hoàng, cuối cùng cũng điều khiển được những ngón tay run rẩy đủ để bóp cò súng.
Viên đạn xuyên qua khoảng không chỗ Beelzebub vừa đứng. Shadwell không biết lão may mắn đến mức nào vì đã bắn trượt.
Bầu trời chao đảo, rồi biến thành bầu trời bình thường. Quanh đường chân trời, mây bắt đầu tan dần.
Bà Tracy phá vỡ sự im lặng.
“Họ có lạ không chứ,” bà nói.
Bà không có ý nói “họ có lạ không chứ”; điều bà thực sự muốn nói thì có lẽ bà sẽ chẳng bao giờ có thể bộc bạch được ngoại trừ bằng cách thét lên, nhưng trí não con người có khả năng phục hồi đáng kinh ngạc, và nói “họ có lạ không chứ” là một phần trong quá trình lành lại nhanh chóng. Chỉ trong vòng nửa giờ nữa, bà sẽ nghĩ chỉ đơn giản là mình đã quá chén.
“Anh nghĩ là mọi chuyện đã xong xuôi chưa?” Aziraphale hỏi.
Crowley nhún vai. “Với chúng ta thì tôi e là chưa đâu.”
“Tôi nghĩ các ông không cần phải lo đâu,” Adam nói vẻ bí hiểm. “Tôi đã biết hết về hai ông rồi. Đừng lo.”
Nó nhìn Bọn Chúng, đang cố không lùi lại. Nó có vẻ ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói, “Dù sao thì cũng đã có quá nhiều chuyện chọc ngoáy rồi. Nhưng có lẽ mọi người sẽ vui hơn nếu quên hết tất cả việc này. Không hẳn là quên, đúng hơn là không nhớ rõ. Và rồi chúng ta có thể về nhà.”
“Nhưng em không thể kết thúc mọi chuyện như thế được!” Anathema chen lên nói. “Hãy nghĩ đến những điều em có thể làm! Những điều tốt đẹp.”
“Ví dụ như?” Adam nghi ngờ hỏi.
“Ờ... trước hết là em có thể làm cá voi sống lại.”
Thằng bé ngoẹo đầu sang bên. “Và như thế người ta sẽ thôi giết chúng chứ?”
Cô ngần ngừ. Giá mà cô có thể trả lời là có thì tốt quá.
“Và nếu người ta vẫn giết chúng thì chị sẽ yêu cầu em làm gì để giải quyết?” Adam hỏi. “Không. Em nghĩ em đã hiểu phải làm thế nào rồi. Một khi em đã bắt đầu chọc ngoáy như thế thì sẽ không dừng lại được. Em thấy hợp lý nhất là mọi người nên biết rằng khi họ giết một con cá voi, thì họ sẽ có một con cá voi chết.”
“Đó là một thái độ đầy trách nhiệm,” Newt nói.
Adam nhướng một bên mày lên.
“Chỉ là hợp lý thôi mà,” nó nói.
Aziraphale vỗ lưng Crowley. “Có vẻ chúng ta đã sống sót đấy nhỉ,” y nói. “Thử tưởng tượng xem mọi chuyện có thể đã khủng khiếp thế nào nếu chúng ta làm ăn ra hồn.”
“Ừm,” Crowley đáp.
“Xe anh có còn chạy được không?”
“Tôi nghĩ nó cần sửa chữa một chút,” Crowley thừa nhận.
“Tôi đang nghĩ là chúng ta có thể chở những người tử tế này về thị trấn,” Aziraphale nói. “Tôi dám chắc mình nợ bà Tracy một bữa. Và cả chàng bồ của bà ấy nữa, tất nhiên.”
Shadwell nhìn qua vai, rồi ngước lên nhìn bà Tracy.
“Hắn đang nói ai vậy?” lão hỏi vẻ mặt đắc thắng của bà.
Adam lại gần Bọn Chúng.
“Tao nghĩ bọn mình nên về nhà đi,” nó nói.
“Nhưng đã xảy ra chuyện gì vậy?” Pepper hỏi. “Ý tao là, có mấy vụ...”
“Không quan trọng nữa,” Adam nói.
“Nhưng em có thể giúp được rất nhiều...” Anathema lên tiếng, khi bọn trẻ quay lại chỗ để xe đạp. Newt nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay cô.
“Đó không phải là ý hay đâu,” cậu nói. “Ngày mai là ngày đầu tiên của phần còn lại của cuộc đời chúng ta đấy.”
“Anh có biết,” cô nói, “là trong các câu sáo rỗng em thực sự ghét, thì câu đó đứng đầu bảng không?”
“Tuyệt thật, phải không?” Newt vui vẻ nói.
“Tại sao anh lại có chữ ‘Dick Turpin’ sơn lên cửa xe?”
“Đó là để đùa thôi,” Newt đáp.
“Hử?”
“Vì đi đến đâu anh cũng gây tắc đường,” cậu khổ sở lầm bầm giải thích.
Crowley rầu rĩ nhìn bảng điều khiển chiếc jeep.
“Tôi rất tiếc vì chiếc xe,” Aziraphale đang nói. “Tôi biết anh thích nó đến mức nào. Có lẽ nếu anh hết sức tập trung...”
“Sẽ không giống trước nữa,” Crowley nói.
“Chắc vậy.”
“Tôi mua mới nó đấy, anh biết không. Nó không phải là một cái xe hơi, nó giống như một kiểu găng tay bọc cả người thì đúng hơn.”
Hắn khịt mũi.
“Cái gì cháy ấy nhỉ?” hắn hỏi.
Một cơn gió cuốn hết bụi lên rồi lại thả bụi xuống. Không khí trở nên nóng rực, nặng nề, bó chặt lấy người ta như ruồi mắc kẹt trong xirô.
Hắn quay đầu, nhìn khuôn mặt kinh hoàng của Aziraphale.
“Nhưng nó đã kết thúc” hắn nói. “Nó không thể xảy ra bây giờ được! Cái... cái lúc ấy, khoảnh khắc thích hợp hay gì gì đó... đã qua rồi! Tất cả đã kết thúc!”
Mặt đất bắt đầu rung chuyển. Âm thanh vang lên như một đoàn tàu điện ngầm, chỉ khác là không phải tàu đang đi dưới chân. Nghe giống như tiếng một đoàn tàu đang đội đất chui lên thì đúng hơn.
Crowley cuống cuồng loay hoay với cần số.
“Không phải Beelzebub đâu!” hắn hét lên, át cả tiếng gió. “Là Lão. Cha nó! Đây không phải là Tận thế, đây là chuyện cá nhân. Khởi động đi, đồ chết giẫm!”
Mặt đất rung chuyển dưới chân Anathema và Newt, khiến họ ngã nhào xuống nền bê tông đang uốn lượn. Khói vàng khè cuồn cuộn tuôn ra giữa các khe nứt.
“Như là núi lửa ấy!” Newt hét lên. “Cái gì vậy?”
“Dù là cái gì thì nó cũng khá là giận dữ,” Anathema nói.
Trong chiếc jeep, Crowley đang chửi thề. Aziraphale đặt tay lên vai hắn.
“Ở đây có con người,” y nói.
“Phải,” Crowley nói. “ Và cả tôi nữa.”
“Ý tôi là chúng ta không nên để chuyện này xảy ra với họ.”
“Ờ, thế...” Crowley mở miệng, rồi ngừng lại.
“Ý tôi là, anh thử nghĩ mà xem, chúng ta đã khiến họ gặp đủ rắc rối rồi. Anh và tôi ấy. Suốt bao năm nay. Vì việc này việc kia.”
“Chúng ta chỉ làm công việc của mình thôi mà,” Crowley lầm bầm.
“Ừ. Thì sao chứ? Bao nhiêu người trong lịch sử cũng chỉ làm công việc của họ thôi, và xem họ đã gây ra những rắc rối gì kìa.”
“Anh không có ý là chúng ta sẽ phải tìm cách ngăn chặn Lão đấy chứ?”
“Anh có gì để mất nào?”
Crowley định cãi lại, rồi nhận ra hắn chẳng còn gì cả. Hắn chẳng có gì để mất vì hắn đã mất tất cả. Họ không thể làm gì tồi tệ hơn với hắn ngoài những điều hắn sắp phải đối mặt. Cuối cùng hắn cũng thấy tự do.
Hắn cũng sờ dưới ghế và tìm được một cái xà beng nạy lốp xe. Nó sẽ chẳng có tác dụng gì, nhưng thực ra cũng chẳng có thứ gì có tác dụng cả. Thật ra, sẽ kinh khủng hơn nhiều nếu ta đối mặt với Địch Thủ mà cầm theo một thứ vũ khí tạm ổn. Như thế ta sẽ có một chút hy vọng, và điều đó sẽ chỉ khiến mọi chuyện tệ đi mà thôi.
Aziraphale nhặt lên thanh gươm mà Chiến tranh đã đánh rơi, và nhấc nhấc nó trên tay để thử sức nặng.
“Trời, đã nhiều năm lắm rồi tôi không dùng cái món này,” y thì thào.
“Khoảng sáu ngàn năm,” Crowley nói.
“Trời ạ, đúng thế,” vị thiên thần nói. “Hôm đó thật là một ngày đặc biệt, không lẫn vào đâu được. Những ngày xưa tươi đẹp.”
“Tươi đẹp nỗi gì,” Crowley nói. Âm thanh kia đang to dần lên.
“Thời đó người ta còn biết phân biệt phải trái,” Aziraphale mơ màng nói.
“Ờ, đúng thế. Thử nghĩ xem.”
“À. Phải. Chọc ngoáy quá nhiều hả?”
“ Ừ .”
Aziraphale giơ thanh gươm lên. Có một tiếng bùm khi thanh gươm đột nhiên bùng lửa như một thanh magiê.
“Một khi đã học được cách làm thì ta sẽ không bao giờ quên,” y nói.
Y mỉm cười với Crowley.
“Tôi chỉ muốn nói là,” y nói, “nếu chúng ta không thoát được vụ này, thì... tôi đã biết, sâu thẳm bên trong, anh vẫn có một chút tính thiện.”
“Được đấy,” Crowley cay đắng nói. “Làm ngày hôm nay của tôi trở nên đáng nhớ đi.”
Aziraphale chìa tay ra.
“Rất vui được biết anh,” y nói.
Crowley bắt tay y.
“Hẹn gặp lại lần sau,” hắn nói. “Và... Aziraphale này?”
“Sao?”
“Hãy nhớ là tôi đã biết, sâu thẳm bên trong, anh vừa đủ khốn nạn để bõ công quý mến.”
Có tiếng loạt soạt, và họ bị đẩy sang bên bởi dáng người nhỏ thó nhưng hối hả của Shadwell, đang huơ khẩu Thần công vẻ đầy quyết tâm.
“Ta không tin hai tên bóng miền Nam các anh có thể giết nổi một con chuột què trong chậu,” lão nói. “Giờ chúng ta đang đánh lại ai đây?”
“Quỷ sứ,” Aziraphale đáp gọn.
Shadwell gật đầu, như thể chuyện chẳng có gì ngạc nhiên, ném khẩu súng xuống, và bỏ mũ để lộ ra một vầng trán mà bất kỳ nhóm đánh lộn trên phố nào cũng biết và e sợ.
“Ta cũng đoán thế mà,” lão nói. “Trong trường hợp đó, ta sẽ dùng cái thủ.”
Newt và Anathema nhìn ba người bọn họ lảo đảo đi ra xa chiếc jeep. Với Shadwell đứng giữa, nhìn họ như một chữ W cách điệu.
“Họ định làm gì vậy?” Newt hỏi. “Và chuyện gì... chuyện gì đang xảy ra với họ thế?”
Áo khoác của Aziraphale và Crowley rách toạc theo đường chỉ. Nếu phải ra đi thì tốt nhất là ra đi trong hình dáng thật của mình. Những cọng lông vũ duỗi ra, vươn cao về phía bầu trời.
Trái với điều mọi người hay nhầm tưởng, cánh của quỷ cũng giống hệt cánh của thiên thần, chỉ khác là thường được chải chuốt kỹ lưỡng hơn thôi.
“Shadwell không nên đi cùng họ!” Newt nói, loạng choạng đứng dậy.
“Shadwell là cái gì?”
“Ông ấy là Trung... ông ấy là một ông già tuyệt vời, em không thể tin được đâu... Anh phải giúp ông ấy!”
“Giúp ông ấy ư?” Anathema hỏi.
“Anh đã đọc lời tuyên thệ rồi.” Newt ngần ngừ. “Ờ, đại loại là một lời tuyên thệ. Và ông ấy còn ứng trước một tháng lương cho anh nữa!”
“Thế còn hai người kia là ai? Bạn của anh...” Anathema mở lời, rồi ngưng bặt. Aziraphale vừa quay nửa người lại, và cuối cùng cô cũng nhận ra nét mặt nhìn nghiêng của y.
“Em biết là đã thấy tên đó trước kia rồi mà!” cô hét, đứng dậy bên cạnh Newt trong lúc mặt đất vẫn rập rờn lên xuống. “Đi nào!”
“Nhưng sắp có chuyện khủng khiếp xảy ra!”
“Nếu y làm hỏng cuốn sách thì anh nói đúng rồi đấy!”
Newt loay hoay lần mò trên ve áo và tìm thấy cái ghim trừ tà của mình, cậu không biết lần này họ sẽ phải đối mặt với cái gì, nhưng cái ghim là tất cả những gì cậu có.
Họ lao đi...
Adam nhìn quanh. Nó nhìn xuống.
Mặt nó soạn ra một vẻ ngây thơ có chủ đích.
Có một khoảnh khắc xung đột.
Nhưng Adam đang ở trên sân nhà. Luôn luôn là vậy, và xét cho cùng, thì đây là sân nhà của nó.
Nó khua một bàn tay thành hình bán nguyệt mờ.
... Aziraphale và Crowley cảm thấy cả thế giới thay đổi.
Không còn tiếng ồn nữa. Không còn những vết nứt nữa. Ở chỗ lúc trước là một đỉnh núi lửa của quyền lực Satan đang nhú lên thì giờ chỉ còn đám khói đang tan dần, và một chiếc xe hơi đang chầm chậm dừng lại, động cơ xe ầm ĩ trong sự tĩnh lặng buổi sập tối.
Đó là một chiếc xe có tuổi, nhưng được bảo trì rất cẩn thận. Nhưng không phải bằng cách của Crowley, tức là chỉ dùng ý nghĩ ước cho các vết móp biến mất; chiếc xe này có vẻ như vậy, bạn sẽ biết ngay bằng bản năng, là vì chủ nhân nó đã dành các cuối tuần suốt hai thập kỷ làm tất cả những việc mà sách hướng dẫn nói là nên được làm vào mỗi cuối tuần. Trước mỗi chuyến đi ông đều đi quanh xe, kiểm tra đèn, đếm bánh xe. Những người đầu óc nghiêm nghị, hút tẩu và để ria đã viết những hướng dẫn nghiêm nghị nói rằng nên làm như vậy, và vì thế ông làm theo, vì ông cũng là một người đầu óc nghiêm nghị, hút tẩu và để ria, và không bao giờ coi nhẹ các huấn thị, vì nếu ta coi nhẹ huấn thị thì ta sẽ đi đến đâu? Ông mua bảo hiểm vừa đủ. Ông luôn lái xe dưới vận tốc cho phép năm cây số, hoặc với vận tốc sáu lăm cây số một giờ, tùy cái nào chậm hơn. Ông luôn đeo cà vạt, kể cả vào thứ Bảy.
Archimedes đã nói nếu có đòn bẩy đủ dài và một điểm tựa đủ chắc chắn, ông có thể nâng cả thế giới.
Ông đã có thể tựa vào ông Young.
Cửa xe mở và ông Young bước ra.
“Có chuyện gì ở đây vậy?” ông hỏi. “Adam? Adam!”
Nhưng Bọn Chúng đã ba chân bốn cẳng chạy ra cổng.
Ông Young nhìn những người đang sững sờ đứng đó. Ít ra Crowley và Aziraphale vẫn còn đủ bình tĩnh để xếp cánh lại.
“Nó lại làm gì rồi?” ông thở dài nhưng không thực sự mong nhận được câu trả lời.
“Cái thằng bé này lại đi đâu rồi? Adam! Quay lại đây ngay!” Adam chẳng mấy khi làm theo ý bố nó.
◇ ❖ ◇
Trung sĩ Thomas A. Deisenburger mở mắt ra. Điều lạ lùng duy nhất về khung cảnh xung quanh anh ta là nó quen thuộc làm sao. Kia là bức ảnh kỷ yếu trung học của anh ta treo trên tường, kia là lá cờ Sao Vạch cắm trong cái cốc đánh răng bên cạnh bàn chải, và thậm chí cả con gấu nhồi bông của anh ta, vẫn còn mặc bộ quân phục nhỏ xíu của nó. Ánh nắng đầu buổi chiều tràn qua cửa sổ phòng ngủ của anh ta.
Anh ta ngửi thấy mùi bánh táo. Đó là một trong những điều anh ta nhớ nhất vào những tối thứ Bảy khi phải ở một nơi rất xa nhà.
Anh ta xuống dưới nhà.
Mẹ anh ta đang đứng bên lò bếp, lấy một cái bánh táo khổng lồ ra khỏi lò cho nguội.
“Chào con, Tommy,” bà nói. “Mẹ tưởng con đang ở Anh chứ.”
“Vâng, báo cáo mẹ, đúng ra thì con đang ở Anh, thưa mẹ, bảo vệ nền dân chủ, thưa thủ trưởng mẹ,” Trung sĩ Thomas A. Deisenburger nói.
“Tuyệt quá, con yêu,” mẹ anh ta nói. “Bố con đang ở Đồng Lớn ấy, với Chester và Ted. Thấy con chắc mọi người vui lắm.”
Trung sĩ Thomas A. Deisenburger gật đầu.
Anh ta bỏ chiếc mũ quân đội và áo khoác quân đội ra, rồi xắn tay áo sơ mi quân đội lên. Trong thoáng chốc, anh ta có vẻ trầm tư hơn bất kỳ lúc nào trong cả đời mình. Một phần ý nghĩ của anh ta đang bị chiếm chỗ bởi bánh táo.
“Báo cáo mẹ, nếu có thông tin nào dẫn đến yêu cầu được gặp Trung sĩ Thomas A. Deisenburger bằng điện thoại, thưa thủ trưởng mẹ, cá nhân này sẽ...”
“Con nói gì, Tommy?”
Tom Deisenburger treo súng lục lên tường, bên trên khẩu súng trường cũ kỹ của bố mình.
“Con bảo là, nếu có ai gọi điện, mẹ ạ, thì con sẽ ở Đồng Lớn với bố, Chester và Ted.”
Chiếc xe tải chậm rãi tiến đến cổng căn cứ quân sự. Nó dừng lại. Người lính gác ca đêm nhìn vào cửa sổ, kiểm tra giấy tờ của tài xế, và vẫy cho ông qua.
Chiếc xe tải đi trên nền bê tông.
Nó đỗ lại trên đường băng trải nhựa trống trơn, nơi hai người đàn ông đang ngồi, chia nhau một chai vang. Một người trong số đó đeo kính râm. Lạ là không ai khác có vẻ để ý đến họ một chút nào.
“Ý anh là,” Crowley nói. “Người đã lên kế hoạch như thế này suốt bấy lâu nay sao? Ngay từ đầu?”
Aziraphale cẩn thận chùi miệng chai và chuyền nó sang.
“Có thể,” y đáp. “Có thể chứ. Ta luôn có thể hỏi Người mà.”
“Theo những gì tôi nhớ,” Crowley tư lự đáp, “và chúng tôi chưa bao giờ có mối quan hệ mà anh có thể gọi là nói chuyện được với nhau, thì Người không phải kiểu sẽ cho câu trả lời rõ ràng. Thật ra, thật ra, Người chẳng trả lời gì sất. Người chỉ mỉm cười, như thể Người biết điều gì đó mà ta không biết.”
“Và tất nhiên là đúng thế,” vị thiên thần nói. “Nếu không thì có nghĩa gì chứ?”
Im lặng một thoáng, và cả hai trầm ngâm nhìn về đằng xa, như thể họ đang nhớ lại những điều mà đã lâu họ không nghĩ tới.
Người tài xế xe tải ra khỏi xe, mang theo một hộp các tông và một cái kẹp.
Trên nền nhựa đường là một cái vương miện xỉn màu và một cặp cân. Người đàn ông dùng cái kẹp nhặt chúng lên và đặt chúng vào hộp.
Rồi ông tiến đến chỗ hai người với cái chai.
“Xin lỗi các vị,” ông nói, “nhưng lẽ ra phải có cả một thanh gươm ở đâu đó quanh đây nữa, ít nhất là trên đây có nói vậy, và không biết...”
Aziraphale có vẻ xấu hổ. Y nhìn quanh, hơi bối rối, rồi đứng dậy và phát hiện ra mình đã ngồi lên thanh gươm từ suốt một tiếng đồng hồ vừa rồi. Y với tay xuống nhặt nó lên. “Xin lỗi,” y nói, và bỏ thanh gươm vào hộp.
Người tài xế xe tải, đầu đội mũ lưỡi trai Hỏa tốc Quốc tế, nói là không có gì, và thật là phép mầu trời cho khi cả hai bọn họ đều có mặt ở đây, vì ai đó sẽ phải ký xác nhận ông đã thu nhặt đủ các thứ như yêu cầu, và hôm nay quả là một ngày đáng nhớ, phải không?
Aziraphale và Crowley đều đồng tình rằng đúng là đáng nhớ thật, và Aziraphale ký vào cái bảng kẹp giấy mà người tài xế xe tải đưa cho y, chứng thực rằng một cái vương miện, một cặp cân và một thanh gươm đã được thu nhận với tình trạng tốt, và sẽ được đưa đến một địa chỉ nhòe nhoẹt và tính tiền cho một số tài khoản mờ tịt.
Người đàn ông dợm bước về xe tải. Rồi ông dừng bước và quay lại.
“Nếu tôi kể cho bà nhà tôi nghe chuyện xảy ra với tôi hôm nay,” ông bảo họ, vẻ hơi bâng khuâng, “bà ấy sẽ chẳng tin đâu. Và tôi cũng không trách bà ấy được, vì chính tôi cũng không tin.” Và ông trèo lên xe rồi lái xe đi.
Crowley đứng dậy, hơi lảo đảo một chút. Hắn chìa tay ra cho Aziraphale.
“Nào,” hắn nói. “Tôi sẽ chở anh về London.”
Hắn lấy một chiếc jeep. Không ai ngăn họ lại.
Trong xe có đài cát xét. Đó không phải kiểu tiêu chuẩn, ngay cả với xe quân sự Mỹ đi chăng nữa, nhưng Crowley tự động cho rằng mọi chiếc xe hắn lái đều có đài cát xét và vì thế chiếc này cũng có, chỉ vài giây sau khi hắn lên xe.
Băng cát xét hắn bật lên trong lúc lái xe được ghi là Water Music của Handel, và nó vẫn là Water Music của Handel suốt chặng đường về nhà.