Ken Williams đã dựa vào John Harris và các hacker Thế hệ Thứ ba, những người chịu ảnh hưởng bởi Robert Heinlein hay Tiến sĩ Smith không nhiều bằng các trò chơi như Galaxian (tạm dịch: Chiến tranh thiên hà), Dungeons & Dragons (tạm dịch: Pháp sư và rồng thần) và Star Wars (tạm dịch: Chiến tranh giữa các vì sao). Đó là cả một nhóm tiểu văn hóa sáng tạo mới đang nảy nở bao gồm các lập trình viên kiêm hacker thiết kế trò chơi điện tử. Họ đã vượt ra khỏi tầm với của những tay săn đầu người. Hầu hết bọn họ vẫn còn đang học phổ thông.
Để lôi kéo các lập trình viên trẻ tuổi đến Coarsegold, Ken đã đăng quảng cáo trên tờ Los Angeles Times để mời chào họ “Khởi động tới Yosemnite”. Anh thường nhận được những câu trả lời kiểu như: “Con trai tôi là một lập trình viên Apple tuyệt vời và nó muốn làm việc với cậu.” “Sao ông không để tôi nói chuyện với cậu ta nhỉ?” Ken hỏi. Người đàn ông đó nói rằng con trai ông ta không thể hiện tốt lắm qua điện thoại. Vì thế, trong buổi phỏng vấn ở Oakhurst, ông ta đã khăng khăng đòi trả lời tất cả các câu hỏi thay cho con trai mình, một cậu bé 17 tuổi, tóc vàng, mắt tròn xoe, má đầy tàn nhang, và có vẻ đã bị cuộc phỏng vấn làm cho khiếp sợ. Tất cả những điều đó chẳng nghĩa lý gì khi Ken phát hiện ra khả năng lập trình hợp ngữ Apple tuyệt vời của cậu ta. Ken đã thuê cậu bé với mức lương 3 đô-la mỗi giờ.
Dần dần, Ken Williams bắt đầu lấp đầy căn nhà mà anh mua ở khu vực Sierra Sky Ranch, phía bên kia Oakhurst, nơi đường 41 bắt đầu nhô cao hơn khoảng 1.600m so với mực nước biển. Bên cạnh việc có chỗ ở miễn phí, nơi đây còn có các hướng dẫn đồ họa ứng khẩu do Ken cung cấp. Giờ đây, Ken nổi tiếng là một pháp sư Apple đã được công nhận. Anh có thể gần như ngay lập tức khởi động trí tò mò kiểu hacker bên trong con người mình. Anh có thể sử dụng kỹ thuật lật trang, toán tử XOR, kỹ thuật mặt nạ… hay một phương pháp nào đó để hiển thị thứ gì đó lên màn hình. Khi nhìn vào chương trình của người khác, anh có thể nhận ra ngay vấn đề, nghiên cứu nó, tìm cách đi sâu vào trọng tâm của vấn đề đề rồi đưa ra giải pháp.
Trụ sở của Tập đoàn On-Line vào năm 1981 nằm trên tầng 2 của một tòa nhà có khung gỗ màu nâu xám trên đường 41, với tầng một là cửa hàng văn phòng phẩm và một cửa hàng in nhỏ. Bạn có thể đến được văn phòng của họ sau khi leo lên một cầu thang dài bên ngoài tòa nhà; bạn phải đi ra ngoài, phía sau cầu thang để tới được phòng tắm. Bên trong văn phòng đặt những chiếc bàn, số lượng bàn còn ít hơn cả số lượng nhân viên. Mọi người liên tục phải chơi trò ghế nhạc để có thể dành được ghế và sử dụng một trong vài chiếc máy Apple. Trên sàn nhà chất đống các hộp đĩa, màn hình máy tính bỏ đi và thư từ. Cả văn phòng lộn xộn tới mức kinh ngạc, và còn thường xuyên ồn ào đến mức không thể chịu nổi. Cách ăn mặc của họ cũng chẳng giống ai. Đó là một sự hỗn loạn hữu ích gợi cho ta nhớ về không khí vô tổ chức của Phòng Thí nghiệm AI hay Câu lạc bộ Homebrew. Nhưng vì đó là một công ty đang ăn nên làm ra, và các nhân viên của nó thì còn quá trẻ, nên văn phòng của On-Line giống như một sự kết hợp kỳ dị giữa Animal House (tạm dịch: Căn nhà dành cho động vật, bộ phim nói về nhóm sinh viên ngỗ ngược thách thức thầy hiệu trưởng) và The Millionaire (tạm dịch: Triệu phú).
Công ty này cũng thể hiện các ưu tiên của Ken Williams. Anh đã tham gia vào một loại hình kinh doanh mới trong một ngành công nghiệp hoàn toàn mới trên tinh thần không tạo ra một môi trường quan liêu, bí hiểm, sợ hãi và đáng ghét như hầu hết các công ty mà anh từng làm việc trước kia. Anh là kiểu ông chủ luôn bị ám ảnh với các chi tiết chứ không như Dick Sunderland ở Informatics. Anh muốn kiểm soát bức tranh lớn hơn. Bên cạnh việc trở nên giàu có, mọi việc thật sự hoàn hảo khi các chương trình của anh thường xuyên lọt vào top 10 hoặc 15 trong danh sách “30 phần mềm bán chạy nhất” do tạp chí Softalk công bố hằng tháng, và Ken cảm thấy rằng có một nhiệm vụ kép cần phải thực hiện tại On-Line.
Đầu tiên là phải vui vẻ, điều anh luôn cảm thấy thiếu thốn một cách thảm hại trong các môi trường mô phạm của Thời Xưa cũ. Do đó, Ken Williams đã trở thành cố vấn trưởng cho một trại hè công nghệ cao. Ở đó có sự vui vẻ của trại hè cùng sự náo nhiệt, chè chén và sử dụng cả chất kích thích. Dù có “phê” hay không, thì tất cả mọi người đều rất phấn khích và được làm việc trong một một trường dễ chịu về cả chính trị lẫn đạo đức. Bữa tiệc mở rộng còn được tiếp thêm năng lượng đến từ các phong bao tiền mặt.
Các gói phần mềm cũng xuất hiện cùng với những trò chơi mới – có thể đến từ các đối thủ thân thiện như Sirius hay Brøderbund, từ các phần mềm siêu sao tương lai đang chờ được phát hành, hay từ một trong các tác giả bên ngoài của On-Line làm việc dưới sự giám sát của Ken. Nguồn gốc xuất xứ không quan trọng. Tất cả mọi việc đều dừng lại để nhường chỗ cho các trò chơi mới. Ai đó sẽ phát tán các bản sao để mọi người có thể cài đặt trên những chiếc máy Apple, chơi đùa khám phá, chế giễu các lỗi mà họ phát hiện, ngưỡng mộ những tính năng thú vị và thi xem ai chơi được điểm cao nhất. Miễn là tiền tiếp tục chảy về, chắc chắn là như vậy, ai cần quan tâm đến việc tình hình có hơi vô tổ chức một chút, và hơi quá thiên về kiểu tiệc tùng một chút cơ chứ?
Những người ngoại đạo đến thăm văn phòng sẽ không thể tin nổi những gì mà họ chứng kiến. Chẳng hạn như Jeff Stephenson. Ở tuổi 30, anh là một lập trình viên giàu kinh nghiệm gần đây đang làm việc cho Software Arts, một công ty ở Cambridge, Massachusetts đã phát triển phần mềm “bảng tính” tài chính VisiCalc, chương trình dành cho máy Apple bán chạy nhất mọi thời đại. Công ty này cũng do các lập trình viên lãnh đạo – Jeff còn nhớ việc hai chủ tịch, một là cựu hacker MIT, còn người kia là một tín đồ Do Thái giáo chính thống trẻ tuổi, đã tranh luận suốt nửa giờ về việc nên đặt dấu phẩy ở đâu trong cùng một báo cáo. Jeff, một người trầm tính, được cho là ăn chay và có cả đai đen môn đấu kiếm Hàn Quốc, gần đây đã chuyển lên vùng núi cùng vợ rồi gọi cho On-Line để hỏi liệu công ty gần nhà mới của anh nhất có cần một lập trình viên không. Anh đã mặc quần bò áo phông đến phỏng vấn, dù vợ anh khuyên chồng nên mặc lịch sự hơn. “Đây là vùng núi mà,” Jeff nhắc lại cho cô nhớ, rồi lái xe về vùng núi Deadwood để tới On-Line Systems. Khi tới đó, Ken đã nói với anh rằng: “Tôi không chắc anh sẽ hợp với nơi này – trông anh có phần hơi bảo thủ.” Dù vậy, Ken vẫn thuê Jeff với mức lương 18.000 đô-la một năm – thấp hơn 11.000 đô-la so với mức lương mà anh đã nhận được ở Software Arts.
Khi đó, dự án tham vọng nhất mà On-Line từng nỗ lực đã trở thành một thảm họa về tổ chức. Time Zone (tạm dịch: Múi giờ), trò chơi phiêu lưu mà Roberta đã phát triển trong gần một năm, là một chương trình vượt ra ngoài tầm kiểm soát, gần giống với Creeping Feature Creature (tạm dịch: Sinh vật đáng sợ). Gần như chìm đắm trong đam mê sáng tạo trên máy tính, Roberta đã tạo ra một bối cảnh không chỉ làm sống lại các cảnh tượng trên khắp thế giới mà còn mang đến các sự kiện lịch sử chính xác, từ buổi bình minh của loài người tới năm 4081. Khi chơi một trò chơi phiêu lưu thú vị, Roberta luôn thầm ước rằng nó sẽ không bao giờ kết thúc – vì thế, đối với trò chơi này, cô đã quyết định rằng nó phải có thật nhiều cốt truyện và nhiều phòng để ngay cả người chơi kinh nghiệm cũng phải mất cả năm trời mới giải quyết được hết. Bạn sẽ chứng kiến sự sụp đổ của Caesar, trải qua các cuộc chiến của Napoleon, chiến đấu với các võ sư Samurai, đánh nhau với thổ dân tiền sử ở Úc, giăng buồm cùng Colombo, viếng thăm hàng trăm địa điểm, chứng kiến bức tranh toàn cảnh về loài người để rồi cuối cùng sẽ lên hành tinh Neburon, nơi nhà lãnh đạo ma quỷ Ramadu đang lên kế hoạch hủy diệt trái đất. Đó sẽ là một thiên sử thi vi tính, được thực hiện bởi một bà nội trợ sống ở vùng trung tâm California.
Nỗ lực lập trình con quái vật này đã làm đình trệ công việc kinh doanh của On-Line. Cậu lập trình viên trẻ tuổi có cha giúp thu xếp công việc thì cố gắng xử lý logic trò chơi, trong khi một người trước kia từng nghiện rượu nhưng sau này đã tự dành lấy danh hiệu lập trình viên đã nhập các thông điệp trong Ngôn ngữ Phát triển Trò chơi Phiêu lưu. Một thanh niên địa phương đã cần cù vẽ 1.400 bức tranh, đầu tiên là trên giấy ảnh, rồi sao đó vẽ lại trên máy tính đồ họa của Apple.
Jeff Stephenson được yêu cầu bằng cách nào đó phải kết nối các chương trình lại với nhau. Anh đã mất tinh thần trước sự vô tổ chức ở nơi này, và kinh hãi khi nhìn thấy thời hạn công việc: cuối mùa thu, sao cho trò chơi có thể lên kệ vào dịp Giáng sinh. (Sau này, anh kết luận rằng tất cả các thời hạn công việc mà Ken giao thường lạc quan thái quá theo hệ số gấp ba lần.)
Bất chấp việc dự án đang trễ hạn quá xa, công ty vẫn cứ vận hành theo kiểu trại hè. Tối thứ Ba là “Đêm của cánh đàn ông”, với việc ra ngoài nhậu cùng Ken. Vào thứ Tư hằng tuần, hầu hết mọi người sẽ nghỉ để đi trượt tuyết tại Badger Pass thuộc Yosemite. Vào trưa thứ Sáu, On-Line sẽ thực hiện một nghi thức mang tên “Phá thép”. “Thép” ở đây là loại rượu sơ-náp bạc hà cay, trong vắt nhưng rất mạnh và là đồ uống có cồn ưa thích của On-Line Systems. Theo ngôn ngữ của công ty, nhiều thép sẽ khiến bạn “trượt”. Mỗi khi họ “phá thép” vào các ngày thứ Sáu, công việc của Time Zone sẽ đình trệ bởi toàn bộ đội ngũ, do Ken dẫn đầu, sẽ khám phá trạng thái “trượt” say sưa vô thời hạn.
Giáng sinh đã đến, và Time Zone không được xuất xưởng cho tới tận tháng Hai. Với kích thước lớn gấp 12 lầnWizard and the Princess, lấp đầy cả hai mặt của 6 chiếc đĩa mềm, nó được bán lẻ với giá 100 đô-la. Người đầu tiên giải quyết được nó là một tín đồ của trò chơi phiêu lưu vui tính tên là Roe Adams (đồng thời là người phụ trách phê bình của tạp chí Softtalk), đã gần như không ngủ trong suốt một tuần liền cho tới khi đánh bại được Ramadu, và tuyên bố rằng sáng tạo của Roberta là một trong những kỳ quan vĩ đại nhất trong lịch sử trò chơi điện tử.
Dù vậy, Time Zonevẫn không giành được nhiều tiếng vang như Softporn (tạm dịch: Hẹn hò cùng bạn gái), một trò chơi phiêu lưu khác của công ty. Mùa xuân năm 1981, Ken đã gặp một lập trình viên từng nói chuyện với các nhà phát hành về một trò chơi phiêu lưu mà anh đã viết rồi cố gắng tự marketing, tự bán và đã có chút thành công. Trò chơi này không giống với các trò chơi phiêu lưu thông thường, nơi bạn sẽ tìm kiếm châu báu, xử lý một vụ giết người hay cố gắng lật đổ một Hoàng đế Nyquill tàn ác nào đó đến từ hành tinh Yvonne. Trong trò chơi này, bạn là một anh chàng độc thân có nhiệm vụ tìm kiếm và quyến rũ ba người phụ nữ. Lập trình viên này đã viết chương trình đó như một bài tập thực hành giúp anh ta làm quen với cơ sở dữ liệu và dùng chủ đề giới tính để khiến nó trở nên thú vị hơn. Đó là chủ đề mà các hacker, ít nhất là những người từng biết đến sự tồn tại của thứ gọi là giới tính, đã thực hiện trong hàng năm trời, và hiếm có một trung tâm máy tính nào không có các nét giới tính đặc biệt của riêng nó, có thể là một bộ sản xuất các câu chuyện hài tục tĩu hay chương trình hiển thị một phụ nữ khỏa thân. Điểm khác biệt của năm 1981 là tất cả những thứ ngớ ngẩn về mặt kỹ thuật mà các hacker đã thực hiện bỗng nhiên lại có giá trị thị trường khi chuyển chúng vào những chiếc máy tính gia đình.
Với những người thích thú với những thứ kiểu như vậy thì Softporn là một trò chơi điện tử đáng khao khát trên máy Apple. Hầu hết các nhà phát hành không thấy trò chơi này có điểm gì thú vị; họ coi mình là các doanh nghiệp “gia đình”. Nhưng Ken Williams lại cho rằng trò chơi này là một sự nổi loạn: Anh thấy thích thú khi giải quyết chuyến phiêu lưu này trong 3 hoặc 4 giờ. Anh cho rằng cuộc tranh luận sẽ khá thú vị. Vì vậy, anh đã đồng ý bán Softporn.
Một ngày không lâu sau đó, Ken đến văn phòng và nói: “Ai muốn đến nhà tôi và chụp ảnh khỏa thân trong bồn tắm nào?”
Ý tưởng là họ sẽ tìm ba cô gái chụp ảnh bán khỏa thân trong bồn tắm ở nhà Ken để quảng cáo cho Softporn. Đâu đó trong bức ảnh sẽ có một chiếc máy tính Apple, và một nam bồi bàn phục vụ đồ uống cho ba cô nàng. Họ đã thuê một bồi bàn đến từ Broken Bit, một nhà hàng bít-tết ở Coarsegold, có thể coi là nơi ăn uống tử tế duy nhất ở thị trấn. ba cô nàng này đều là nhân viên của On-Line, một là nhân viên kế toán của công ty, hai là vợ của trợ lý của Ken và ba là Roberta Williams.
Đó là một quảng cáo in màu, với ba cô nàng cầm ly rượu, anh chàng bồi bàn mặc quần áo nghiêm chỉnh đang bưng một khay rượu và một chiếc máy tính Apple được đặt làm nền, và quảng cáo này đã gây phản ứng mạnh. On-Line đã nhận được rất nhiều thư bày tỏ sự giận dữ, một số chứa đầy những lời trích dẫn và tiên tri trong Kinh Thánh về sự trừng phạt đang đợi họ. Câu chuyện về trò chơi và quảng cáo của nó đã thu hút trí tưởng tượng của các dịch vụ tin tức, và bức ảnh đã được đăng trên tờ Time và UPI.
Ken Williams rất thích thú khi được quảng cáo miễn phí. Softporn đã trở thành một trong những trò chơi bán chạy nhất của On-Line. Các cửa hàng máy tính muốn có nó sẽ rất miễn cưỡng khi chỉ đặt mua mỗi chương trình đó. Vì thế, giống như các cậu choai tới tiệm thuốc và nói: “Cháu muốn mua lược, kem đánh răng, aspirin, kem chống nắng, văn phòng phẩm và tiện thể cả tờ Playboy 84 này nữa, các chủ cửa hàng máy tính cũng sẽ đặt mua một loạt các sản phẩm của On-Line… và một vài bản Softporn nữa. Ken ước tính Softporn và hiệu ứng kéo theo của nó đã làm tăng doanh thu của công ty lên gần gấp đôi.
84 Tạp chí khiêu dâm nổi tiếng của Mỹ. (ND)
Khi đã vui vẻ, giàu có và nổi tiếng, việc tổ chức các bữa tiệc vô tận chỉ còn là một phần trong sứ mệnh của Ken; vẫn còn đó một phần quan trọng hơn nữa. Anh đã phát triển một triết lý về máy tính cá nhân cùng khả năng của nó trong việc biến đổi cuộc sống của mọi người. Máy tính Apple, và nhóm những chiếc máy tính giống nó, tuyệt vời không chỉ ở những gì chúng đã làm được mà còn ở khả năng tiếp cận của chúng. Ken đã chứng kiến những người từng hoàn toàn không biết gì về máy tính làm việc với chúng, rồi có được sự tự tin đến mức thay đổi toàn bộ tầm nhìn của họ đối với cuộc sống. Thông qua việc điều khiển thế giới bên trong chiếc máy tính, họ đã nhận ra rằng họ có thể biến nhiều việc trở thành hiện thực bằng chính khả năng sáng tạo của mình. Một khi đã có năng lực đó trong tay, bạn có thể làm được bất kỳ điều gì.
Ken Williams nhận ra rằng mình có thể giúp mọi người tiếp xúc với sự biến chuyển đó và sẵn sàng sử dụng công ty mà anh cùng Roberta thành lập để làm việc như một dự án phục hồi cho cư dân xung quanh khu vực Oakhurst và Coarsegold.
Khu vực này đang phải hứng chịu một cuộc suy thoái, đặc biệt là trong lĩnh vực khai khoáng đã từng nuôi sống họ. Kể từ sau Cơn sốt Vàng, nơi đây chưa từng chứng kiến một cuộc bùng nổ kinh tế nào. On-Line Systems đã nhanh chóng trở thành hãng thuê nhân công lớn nhất vùng. Bất chấp phong cách quản lý phi chính thống của Ken, sự có mặt của một hãng công nghệ cao trong thị trấn là một món quà trời ban – dù thích hay không thì họ cũng là một phần của cộng đồng. Ken đã rất thích thú với vai trò nhà giàu mới nổi, thực hiện các trách nhiệm công dân một cách thừa mứa của mình – chẳng hạn như thông qua các khoản quyên góp khổng lồ cho đơn vị phòng cháy chữa cháy địa phương. Những người bạn thân thiết mà Ken và Roberta kết giao không đến từ tầng lớp giàu có trong xã hội Oakhurst. Thay vào đó, là những người mà Ken nâng đỡ, giúp thoát khỏi tình cảnh tối tăm nhờ vào năng lực máy tính.
Rick Davidson từng làm công việc đánh bóng thuyền bằng cát còn vợ anh Sharon là người dọn phòng khách sạn. Ken đã thuê cả hai; và Rick sau này đã trở thành Phó Chủ tịch phụ trách phát triển sản phẩm còn Sharon làm Trưởng phòng Kế toán. Larry Bain trước đây từng là một thợ sửa ống nước thất nghiệp sau này đã trở thành Trưởng phòng Thu mua Sản phẩm.
Bob Davis đã có một sự chuyển đổi đặc biệt ấn tượng. Anh là mẫu vật chính trong phòng thí nghiệm con người On-Line Systems của Ken, một dự án liều lĩnh sử dụng máy tính để biến đổi những người chưa-từng và không-bao-giờ-sẽ tiếp xúc với máy tính trở thành các bậc thầy công nghệ. Ở tuổi 27, Davis là một cựu nhạc sĩ kiêm đầu bếp nấu đồ ăn nhanh với mái tóc dài màu đỏ cùng bộ râu rối bù. Vào năm 1981, anh đang làm việc cho một cửa hàng bán rượu. Anh đã rất vui mừng trước cơ hội đổi đời bằng máy tính, và Ken thậm chí còn phấn khởi hơn với sự biến đổi này. Ngoài ra, những nét tính cách hoang dại trong Bob Davis có vẻ tương đồng với tính lập dị trong tính cách của Ken.
Cứ mỗi khi Ken Williams đến mua rượu, Bob Davis lại năn nỉ xin việc. Davis đã nghe đồn về công ty mới này, và rất tò mò về máy tính. Cuối cùng, Ken cũng cho anh ta một công việc sao chép đĩa vào ban đêm. Davis bắt đầu đến vào ban ngày để học lập trình. Dù đã bỏ học phổ thông nhưng dường như anh rất thích thú với BASIC, và tìm kiếm thêm sự trợ giúp từ nhóm các hacker trẻ của Ken. Anh chàng Davis thông minh đến từ đường phố đã thấy On-Line kiếm được hàng đống tiền nhờ vào các trò chơi này, và đã thề sẽ viết được một trò chơi cho riêng mình.
Bob và vợ anh bắt đầu giao lưu với nhà William. On-Line Systems là một công ty đủ thoải mái để bỏ qua những cấm kỵ truyền thống giữa chủ và nhân viên. Họ đã cùng nhau đi tới những nơi như hồ Tahoe. Danh tiếng của Bob ở công ty tăng lên. Anh được chỉ định làm lập trình viên, và là giám đốc dự án Time Zone. Anh hầu như chỉ dùng mã ADL và biết không nhiều về hợp ngữ. Nhiều người cảm thấy khó chịu – thậm chí là cả Jeff Stephenson nhã nhặn, người rất thích Bob – khi Bob đi khắp nơi và tự nhận mình là một lập trình viên, trong khi một lập trình viên thực thụ, và bất kỳ ai có danh hiệu hacker, cũng cần phải có những tài năng phi thường, vượt trội hơn hẳn so với những gì Davis làm.
Dù vậy, khi Davis học được cách dùng các công cụ ADL của Ken, anh đã có chìa khóa để viết một trò chơi phiêu lưu với đẳng cấp chuyên nghiệp. Anh luôn thích thú với những câu chuyện thần thoại và đã đọc một số tác phẩm kinh điển của Hy Lạp, đặc biệt là những câu chuyện có liên quan tới Jason 85 . Anh đã đưa các câu truyện cổ vào trong một trò chơi phiêu lưu và tuyên bố rằng anh đã lập trình trò chơi đó trong thời gian rảnh (dù một vài người cho rằng anh đã ăn cắp thời gian làm Time Zone cho dự án riêng), cùng với sự trợ giúp của Ken, anh đã hoàn thành nó. Trong vòng chưa đầy một năm kể từ lúc rời khỏi công việc thư ký của một cửa hàng bán rượu, anh đã trở thành một ngôi sao trong giới phần mềm. Luật sư của On-Line cho rằng họ có thể sẽ gặp rắc rối nếu đặt tên trò chơi là Jason and the Golden Fleece(tạm dịch: Jason và huân chương hiệp sĩ) do trùng tên với một bộ phim có thể đã được đăng ký bản quyền, vì thế họ đã phát hành trò chơi đó với cái tên Ulysses and the Golden Fleece (tạm dịch: Ulysses và huân chương hiệp sĩ).
85 Vị anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, nổi tiếng với chiến tích tìm được bộ lông cừu vàng. (BTV)
Trò chơi đã ngay lập tức thành công và nằm trong danh sách 30 phần mềm hàng đầu trên Softtalk. Tạp chíVideogame Illustrated gọi đây là “một trong những trò chơi điện tử quan trọng nhất và thách thức nhất từng được tạo ra”, dù thực ra nó không có bất kỳ bước tiến nào so với các trò chơi phiêu lưu có độ phân giải cao trước đó, ngoại trừ việc nó dài hơn và đồ họa trông có vẻ nghệ thuật hơn so với các hình ảnh dạng que của Mystery House. Tạp chí này cũng phỏng vấn Davis, một người nghe có vẻ khá uyên thâm, nói về việc người chơi có thể trông đợi gì trong 5 năm tới (“máy tính sẽ được kết nối với tất cả điện thoại và tivi… phân tích giọng nói… nhận diện giọng nói… các hiệu ứng đặc biệt được tạo ra bởi các đĩa video…”). Đó là một viễn cảnh không tưởng, nhưng tại sao lại không chứ? Hãy nhìn vào những gì máy tính đã làm cho Bob Davis.
☆ ☆ ☆
Những thay đổi mà máy tính cá nhân mang lại cho cuộc sống của con người không có lý gì lại chỉ giới hạn ở California. Trên khắp nước Mỹ, máy tính đã mở ra những khả năng sáng tạo mới. Một phần của giấc mơ hacker là máy tính, giúp giải phóng những người có các khuynh hướng sáng tạo chưa được khai quật. Họ thậm chí còn đạt được cấp độ năng lực xứng đáng với danh xưng hacker. Ken Williams giờ đây đã có thể chứng kiến điều đó xảy ra. Cứ như được số mệnh định sẵn, khi một số lập trình viên của anh hoàn toàn đồng cảm với những chiếc máy tính, họ có thể phát triển một cách đầy tự tin. Và không có sự chuyển đổi nào lại ấn tượng như trường hợp của Warren Schwader.
Có lẽ sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của Warren Schwader đã xảy ra vào năm 1977, khi anh 18 tuổi: Cha của anh đã mua một trong những chiếc máy tính Apple II đầu tiên. Anh trai của anh bị liệt sau một tai nạn ô tô, và muốn có một chiếc Apple để dùng cho đỡ buồn. Và cậu em Warren cao ráo, tóc vàng, đậm người, ăn nói từ tốn sẽ chịu trách nhiệm giúp đỡ anh trai mình nhập các câu lệnh vào chiếc máy. Nhờ thế, Warren đã trở thành một hacker.
Khi đó, Warren đang làm việc tại Công ty Bút máy Parker gần nhà tại vùng nông thôn Wisconsin. Dù có năng khiếu toán học, nhưng anh đã bỏ học sau khi tốt nghiệp phổ thông. Công việc của anh tại Parker là vận hành một máy đúc phun được cấu tạo gồm một khuôn lớn và một chiếc ống để nung nóng nhựa. Nhựa nóng sẽ được bơm vào khuôn và sau 20 giây làm mát, Warren sẽ mở cửa máy để lấy các linh kiện mới được hình thành của chiếc bút, rồi đóng cửa lại. Warren Schwader coi công việc này là một thử thách. Anh muốn các linh kiện đó phải thật hoàn hảo. Anh thường xuyên hiệu chỉnh bộ nạp, vặn lại khóa hoặc siết lại khuôn. Anh rất thích cỗ máy đó. Nhiều năm sau khi rời khỏi Parker, anh đã kể lại một cách đầy tự hào rằng các linh kiện bút máy làm bằng khuôn của anh thực sự hoàn hảo.
Anh đã tiếp cận lập trình bằng chính sự tỉ mỉ ấy. Mỗi ngày, anh lại thử các trình diễn đồ họa khác nhau. Vào buổi sáng, anh quyết định xem mình muốn thử cái gì. Trong các quãng 20 giây mà máy đúc cho phép, anh sẽ dùng bút chì và giấy để vẽ biểu đồ luồng cho chương trình mà anh muốn trình diễn. Vào buổi tối, anh sẽ ngồi làm việc cùng chiếc máy tính Apple và gỡ lỗi chương trình cho tới khi hiệu ứng mà anh mong muốn lấp đầy trên màn hình. Anh đặc biệt thích các hiển thị nhiều màu sắc kiểu kính vạn hoa.
Một trong các trình diễn đồ họa mà Warren từng thử hấp dẫn tới mức anh quyết định mở rộng nó thành một trò chơi điện tử. Từ lần đầu tiên chơi trò Pong trên máy điện tử xèng, Warren đã lập tức nghiện trò chơi điện tử. Anh đã cố gắng sao chép một trò chơi mà anh từng thấy trong một chiếc máy: Có một cái vợt ở dưới đáy màn hình và các viên gạch nhỏ ở phía trên. Khi bạn dùng vợt để đập một đốm sáng, nó sẽ nảy lên giống như trong máy chơi pinball. Warren đã mất một tháng thực hiện các quãng 20 giây và các đêm gỡ lỗi chương trình để hoàn thành trò chơi đó/ Dù chỉ sử dụng đồ họa có độ phân giải thấp, tức là hình ảnh sẽ không căng nét như khi thực hiện trong hợp ngữ và đồ họa phân giải cao, nhưng trò chơi này hóa ra vẫn khá hay.
Tới lúc này, Warren đã làm việc với máy tính Apple hầu như chỉ để khám phá xem anh có thể làm gì với nó. Anh đã miệt mài với các quy trình thuần túy. Nhưng khi chứng kiến các trò chơi này trên màn hình, những trò chơi mà anh tạo ra một cách ngẫu nhiên và có lẽ là những thứ sáng tạo nhất anh từng thực hiện, Warren Schwader bắt đầu nhận ra rằng điện toán có thể thực sự tạo ra các kết quả hữu hình. Giống như một trò chơi mà mọi người đều ưa thích chẳng hạn.
Sự thật hiển nhiên này đã đưa Warren tiếp xúc sâu hơn với cỗ máy. Anh đã quyết định thực hiện một trò chơi điện tử bằng hợp ngữ, dù việc đó sẽ khiến anh mất nhiều tháng trời. Chẳng có cuốn sách nào về chủ đề này, và càng không có ai mà Warren biết ở Wisconsin có thể chỉ cho anh bất kỳ điều gì về nó.
Đồng thời, trình hợp ngữ mà Warren có là trình hợp ngữ rút gọn và đơn giản được xây dựng riêng cho máy Apple. Tất cả những điều này không thể ngăn cản Warren Schwader, một người có tính cách và tầm nhìn rất giống với chú rùa trong câu chuyện ngụ ngôn từng chiến thắng trong cuộc đua với thỏ.
Warren đã làm một trò chơi điện tử bằng hợp ngữ gọi là Smash-Up (tạm dịch: Đua xe), mà ở đó người chơi điều khiển một chiếc xe nhỏ và cố gắng tránh va chạm với những chiếc xe khác. Anh cho rằng nó đủ hay để đem đi bán. Warren không có đủ tiền để đăng quảng cáo trên tạp chí, vì thế, anh đã tạo ra nhiều bản sao nhất có thể trên các băng cát-sét, và gửi chúng đến các cửa hàng máy tính. Đó là năm 1980, khi thị trường trò chơi điện tử cho Apple mới hình thành đang chuyển dịch từ băng cát-sét sang những chiếc đĩa mềm nhanh hơn và linh hoạt hơn. Warren chỉ bán được khoảng 2.000 đô-la dù đã chi ra gần gấp đôi con số đó.
Công ty Bút máy Parker đã đóng cửa nhà máy của họ, vì thế Warren có thêm nhiều thời gian để phát triển trò chơi tiếp theo của mình. “Tôi vừa mới biết đến [trò chơi bài] Cribbage và thực sự thích nó,” Schwader nhớ lại. “Chẳng ai biết cách chơi nó [với tôi] vì thế tôi đã tự nhủ: ‘Sao mình không viết một chương trình chơi bài Cribbage nhỉ?’” Anh đã làm việc tổng cộng khoảng 800 giờ với trò chơi này, thường là thâu đêm tới sáng. Warren đã cố gắng thực hiện một số kỹ thuật đồ họa mà anh không hiểu rõ lắm, những thứ sau này được biết đến với cái tên “đánh địa chỉ gián tiếp” và “đồ họa không trang”. Anh đã làm việc chăm chỉ tới mức “trong suốt thời gian đó, tôi có cảm tưởng như mình ở bên trong cỗ máy. Khi ai đó nói chuyện với tôi, tôi không thể tương tác lại,” anh kể. Ngôn ngữ chính của anh khi đó không còn là tiếng Anh mà là các chữ số tượng hình trong hệ cơ số 16 như LDX #$0, LDA STRING, X, JSR $FDF0, BYT $0, BNE LOOP.
Chương trình hoàn thiện rất tuyệt vời. Warren đã phát triển một số thuật toán đầy sáng tạo cho phép máy tính ước lượng các quân bài theo 12 quy tắc chính. Anh cho rằng chương trình này rất hoàn hảo trong việc chọn các lá bài để chơi. Chỉ khi đã quen với các đặc điểm của chương trình – anh biết về nó rõ như biết một người bạn chơi bài lâu năm – Warren mới có thể đánh bại nó khoảng 60% số lần.
Warren Schwader đã gửi trò chơi đó cho Ken Williams, và Ken đã ấn tượng với logic cũng như đồ họa khi các lá bài hiển thị rất rõ ràng, sắc nét. Điều tuyệt vời hơn nữa là Schwader đã phát triển nó trên một trình hợp ngữ rút gọn rất giới hạn của Apple.
Việc đó giống như có người gửi cho Ken một chiếc ghế đá được trạm trổ rất đẹp, rồi nói với anh rằng người thợ đã không dùng cưa, tiện hay bất kỳ công cụ thông thường nào khác mà chỉ làm chiếc ghế đó bằng một con dao nhíp. Ken đã hỏi Warren xem liệu anh có muốn làm việc cho On-Line, tới sống tại một khu rừng, đến với Yosemite, gia nhập trại hè điên cuồng và hoang dã của một công ty thời đại mới hay không.
Warren đang sống nhờ vào vài trăm đô-la trợ cấp mỗi tháng từ chính quyền cho việc chăm sóc anh trai mình. Warren rất lo lắng khi giao anh trai cho các y tá, nhưng người anh đã nói với Warren rằng cơ hội này ở On-Line là rất lớn và anh nên nhận lời. Ý tưởng về việc rời đi, kiếm tiền nhờ vào lập trình trò chơi điện tử, và sống ở trong rừng đã hấp dẫn Warren. Vì thế, anh quyết định đồng ý. Nhưng có một phần trong gói đề nghị không hấp dẫn anh. Đó là sự vui vẻ, ầm ĩ, chè chén và hút cần vốn phổ biến ở On-Line Systems.
Warren là một Chứng nhân của Jehovah.
Trong quá trình Warren phát triển trò Cribbage thì mẹ anh qua đời. Warren đã nghĩ về việc mình sẽ đi đâu và mục đích của cuộc đời anh là gì. Anh phát hiện ra rằng máy tính là thứ mà anh nguyện sẽ sống chết cùng với nó. Anh cảm thấy hẳn còn thứ gì đó nữa và cải đạo sang đạo của người mẹ quá cố. Anh bắt đầu nghiêm túc nghiên cứu Kinh Thánh, và thề rằng cuộc sống mới của anh ở California sẽ hoàn toàn trung thành với các giới luật của Jehovah.
Ban đầu, điều này không mấy cản trở cuộc sống của anh ở On-Line. Warren Schwader không chỉ trích la dolce vita 86 ở On-Line Systems. Nhưng do những thói quen vô thần của các đồng nghiệp, nên nhìn chung, anh hạn chế giao tiếp với họ và chỉ giữ chừng mực trong phạm vi công việc hay các thảo luận kỹ thuật. Anh thích giao du với những người có cùng đức tin với mình hơn, để bản thân có thể được bảo vệ khỏi những cám dỗ.
86 Cuộc sống ngọt ngào. (ND)
Anh sống một mình, miễn phí, trong một trong những căn hộ với hai phòng ngủ của Ken. Cuộc sống xã hội của anh bó gọn trong Vương quốc của các Chứng nhân Jehovah tại Ahwahnee, cách Oakhurst 8km về phía Tây. Lần đầu tiên tới phục vụ ở đó, anh cảm thấy mình đã kết bạn được với nhiều người hơn bất kỳ lúc nào. Họ chấp nhận máy tính, và nói với anh rằng chúng có thể hữu ích đối với con người, nhưng cũng cần phải biết rằng ai đó có thể sẽ lợi dụng chúng để làm những điều xấu xa. Warren bắt đầu nhận ra tình yêu mà anh dành cho hack sẽ đe dọa những gì mà anh muốn hiến dâng cho Chúa, và dù vẫn còn rất yêu lập trình, nhưng anh vẫn cố gắng dung hòa mọi thứ sao cho nó không làm anh sao nhãng khỏi mục tiêu đích thực của mình. Vì thế, anh vừa duy trì việc lập trình vào ban đêm, vừa nghiên cứu Kinh Thánh, còn vào các buổi chiều và cuối tuần, anh sẽ đi quanh khu vực của mình, gõ cửa từng nhà và mang theo các tác phẩm Awake! (tạm dịch: Thức tỉnh!) và The Watchtower (tạm dịch: Tháp canh) để thuyết giáo về đức tin của Jehovah.
Cùng lúc đó, anh đang phát triển một trò chơi dựa trên một số chương trình con viết bằng hợp ngữ nhanh nhất và tuyệt vời nhất của Ken. Đó là một trò chơi giống như Space Invaders (tạm dịch: Kẻ xâm lược vũ trụ), ở đó bạn có một con tàu vũ trụ và phải chiến đấu chống lại các làn sóng xâm lược. Nhưng các làn sóng đó có đủ hình thù kỳ dị và di chuyển theo các hướng khác nhau, vì thế nếu người chơi cố gắng bắn đạn liên tục để chống trả thì “súng laser” của anh ta sẽ bị quá nhiệt, và anh ta sẽ gần như cầm chắc cái chết. Đó là kiểu trò chơi được thiết kế để khiến những người yếu tim phát khiếp trước những kẻ tấn công tàn ác, và những vụ nổ dữ dội. Dù không hẳn là một kiệt tác trong trò chơi điện tử trên máy Apple, do chỉ là một dẫn xuất của thể loại bắn súng như Space Invaders, nhưng trò chơi này đã thể hiện sự tiến bộ về độ sắc sảo trong đồ họa và sự mạnh mẽ trong cách điều khiển. Tên của chương trình máy tính này làThreshold (tạm dịch: Giới hạn). Nó đã giúp Warren Schwader kiếm được gần 100.000 đô-la tiền bản quyền, và một phần tiền đáng kể trong số đó được dành cho Vương quốc Ahwahnee.
Nhưng càng gần gũi với cộng đồng ở Vương quốc, anh lại càng nghi ngờ sâu sắc hơn về những gì mình đang làm cho On-Line. Anh tự hỏi liệu đam mê lập trình của mình có phải là một dạng tội lỗi không? Hành động lập trình trò chơi điện tử đã trở nên trần tục – Warren đã làm việc xuyên đêm khi dàn âm thanh của anh phát om sòm nhạc Led Zeppelin (ban nhạc rock của Satan). Tệ hơn nữa, các hành động bắn nhau trong trò chơi dường như đang cổ xúy cho chiến tranh. Nghiên cứu Kinh Thánh của Warren đã thuyết phục anh rằng, chúng ta không nên tìm hiểu về chiến tranh nữa. Anh cảm thấy xấu hổ khi trò chơi chiến tranh mà anh tạo ra sẽ được các cậu bé chơi.
Vì thế, anh đã không ngạc nhiên khi thấy những bài viết trong Awake! so sánh trò chơi điện tử với chất gây nghiện, và nói rằng các trò chơi chiến tranh đang “truyền bá bạo lực một cách không khoan nhượng”: Warren đã quyết định không lập trình các trò chơi bạo lực nữa, và anh thề rằng nếu The Watchtower cực lực chống lại tất cả các loại trò chơi, thì anh sẽ dừng công việc lập trình, và tìm công việc khác để làm.
Anh bắt đầu phát triển một trò chơi phi bạo lực với chủ đề gánh xiếc. Công việc diễn ra một cách chậm chạp, bởi anh đang cố gắng để làm sao không đánh mất bản thân trong việc lập trình, và để không trở thành một xác sống không còn được liên lạc với Chúa. Anh đã vứt tất các các album nhạc rock, và nghe những loại nhạc như Cat Stevens, Toto và The Beatles. Anh thậm chí còn bắt đầu thích thứ âm nhạc mà anh từng cho là ngớ ngẩn như Olivia Newton-John (dù khi chơi các bản nhạc của cô, anh luôn phải nhấc kim khi đến bài hát tội lỗi Physical (tạm dịch:Vật chất)).
Dù vậy, khi Warren nói về trò chơi mới của mình, về cách mà anh sử dụng hoạt hình trang kép với 12 hình mẫu khác nhau để điều khiển những chiếc thùng lăn mà nhân vật cần phải nhảy qua, hay về cách đồ họa không bị nháy và đảm bảo rằng trò chơi của anh “hoàn toàn có thể chơi được”, ta có thể thấy rõ rằng bất chấp các nỗ lực tu hành khổ hạnh của mình, anh vẫn rất tự hào về việc hack. Lập trình có ý nghĩa rất lớn đối với anh. Nó đã làm thay đổi cuộc đời anh, đem đến cho anh sức mạnh, và khiến anh trở thành một con người có ý nghĩa.
☆ ☆ ☆
Bất chấp việc John Harris thích sống xa San Diego tại vùng đồi núi Sierra, bất chấp việc anh trân trọng không khí trại hè thoải mái ở nơi đây, và bất chấp sự hài lòng của anh đối với việc các chương trình được cho là sáng tạo và đầy màu sắc, một phần quan trọng trong cuộc sống của anh đang hoàn toàn bế tắc. Đó là căn bệnh chung của các hacker Thế hệ Thứ ba, những người mà đối với họ, hack dù quan trọng đến mấy cũng không thể là tất cả giống như trường hợp của các hacker MIT. John Harris luôn khao khát có một cô bạn gái.
Ken Williams cũng quan tâm sâu sắc đến những mối bận tâm của các lập trình viên trẻ của mình. Một John Harris hạnh phúc sẽ là một John Harris viết nên các trò chơi thành công. Roberta Williams cũng quý mến cậu thanh niên ngây thơ chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi, và cảm động trước tình cảm bí mật mà cậu dành cho cô. “Cậu ấy nhìn tôi với cặp mắt đáng yêu như cún con,” cô nhớ lại. Gia đình Williams đã cố gắng giải quyết vấn đề của John, và trong suốt một khoảng thời gian khá dài, mục tiêu không chính thức của On-Line Systems là kiếm cho John Harris một cô bạn gái. Việc đó không hề dễ dàng chút nào. Dù Harris được các cô gái cùng tuổi coi là “dễ thương”, và dù anh khá thông minh trong lời ăn tiếng nói cũng như chắc chắn là anh có thể kiếm đủ tiền để làm hài lòng hầu hết các cô nàng đào mỏ; nhưng anh có vẻ không phải là tuýp người mà phụ nữ thấy hấp dẫn.
Tất nhiên là quanh vùng Oakhurst thì ngay cả việc tìm thấy một cô gái cũng là cả một vấn đề. John Harris đã nhận công việc bán thời gian trong một cửa hàng điện tử xèng ở địa phương khi thấy rằng những cô gái thích trò chơi điện tử sẽ có các điểm chung với mình; anh quyết định sẽ có mặt ở đó trong hầu hết thời gian cửa hàng mở cửa. Nhưng các cô gái đến đó chơi điện tử vẫn còn đang học phổ thông. Bất kỳ cô gái nào có học thức trong vùng cũng sẽ rời bỏ nơi đó để đi học đại học; những người ở lại thì toàn đam mê xe cộ, và không liên quan gì tới các anh chàng hiền lành luôn cảm thấy bồn chồn khi ở bên phụ nữ giống như Harris. Anh đã mời rất nhiều cô gái ra ngoài hẹn hò, nhưng họ thường từ chối, và điều đó có lẽ khiến anh cảm thấy giống như khi mọi người chọn phe trong các trận đấu bóng rổ còn anh đứng đó và bị cho ra rìa.
Ken đã thề sẽ thay đổi tất cả những điều đó. “Tôi sẽ kiếm cho cậu một cô gái, John Harris ạ,” anh luôn nói như vậy, và dù Harris luôn cảm thấy xấu hổ và đề nghị Ken đừng nói những điều đó nữa, nhưng anh vẫn ngầm hy vọng rằng Ken sẽ giữ lời. Nhưng nỗi thống khổ ấy của anh vẫn còn tiếp diễn.
Mỗi lần hẹn hò là một lần khiến anh càng đau khổ hơn. Đầu tiên là cô gái tuổi teen mà anh gặp ở tiệm bán đồ ăn nhanh đã đồng ý đi ăn pizza nhưng sau đó lại không muốn tiếp tục hẹn hò nữa. Tiếp đến là một cô nàng làm công việc đóng gói đĩa cho On-Line mà Ken giúp sắp xếp. Harris đã tự khiến mình xấu hổ khi quên chìa khóa trong xe ô tô, và khi bước vào phòng khách thì tất cả mọi người đang ở đó, đặt mình vào thế ngượng ngùng. Ken đã đưa ra những nhận xét thô lỗ về việc John đã hứng tình đến mức nào – “Việc đó thực sự khiến tôi xấu hổ,” John Harris kể lại. Khi mọi người quay lại nhà của Williams để ngâm mình trong bồn tắm nước nóng, thì chiếc xe của John bị kẹt lại trong tuyết; cuối cùng, cô nàng đó đã gặp anh bạn trai cũ và bỏ đi cùng anh ta. Đó là kết thúc điển hình cho một buổi hẹn của John Harris.
Ken Williams không từ bỏ dễ dàng như thế. Nhà Williams đã đưa John Harris tới Câu lạc bộ Med ở Haiti. Làm thế nào mà một anh chàng có thể lên giường được ở Câu lạc bộ Med chứ? Khi có một phụ nữ không mặc áo lót – bạn có thể thấy bộ ngực của cô ta ngay trước mặt – rủ John đi chơi snorkeling 87 thì Ken đã cười phá lên. Thật dã man! Cô nàng này dù hơn John khoảng 10 tuổi, nhưng cô ta có lẽ có đủ kinh nghiệm mà anh cần. Những lượt chơi snorkeling thường rất vui vẻ và trên đường về, tất cả các cô gái sẽ ve vãn các anh chàng. Roberta đã túm lấy tay John thì thầm: “Nếu cậu không làm gì được những cô nàng này thì đừng có nói chuyện với tôi nữa!”
87 Lặn với ống thở. (ND)
John Harris đã kìm nén sự xấu hổ khi đó. “Cuối cùng, tôi cũng dám khoác tay một cô gái,” anh hồi tưởng lại. “Cô ấy nói: ‘Em có thể nói chuyện với anh chút không?’ Khi chúng tôi ngồi xuống, cô ấy nói về khác biệt tuổi tác giữa chúng tôi.” Rõ ràng là chẳng có gì lãng mạn đang chờ đón. “Tôi đã định đưa cô ấy đi chơi thuyền, nhưng lúc sau tôi đã quá xấu hổ,” John kể lại.
Ken thậm chí còn trở nên táo bạo hơn sau chuyến đi Haiti. “Anh ấy gần như chả giúp gì [trong việc tìm cho tôi một cô nàng],” John Harris kể lại. Có lúc, Ken đã hỏi một bồi bàn ở hồ Tahoe rằng: “Cô có muốn ngủ với một cậu bé 20 tuổi giàu có không?”
Điều tồi tệ nhất có lẽ đã xảy ra trong một bữa tiệc độc thân được tổ chức cho một nhân viên của On-Line. Ken đã thuê 2 vũ nữ khỏa thân. Bữa tiệc được tổ chức ở văn phòng, và nó đã cho thấy tinh thần tự do bất chấp trong công ty của Ken. Mọi người uống rất nhiều; và có người đã khởi xướng một trò chơi, trong đó mọi người sẽ nhắm mắt và ném chai bia vào một buồng ở phía xa. Cả văn phòng đầy rẫy những mảnh kính vỡ để rồi khi thức dậy vào ngày hôm sau, hầu hết những người tham gia bữa tiệc đều thâm tím và mình đầy thương tích.
Harris rất say mê vẻ ngoài của một vũ nữ. “Cô ấy đẹp một cách khó tin,” anh nhớ lại. Có vẻ cô ấy khá xấu hổ trước John, và thú nhận với anh rằng cách đây vài tuần, cô vẫn làm công việc thư ký và mới chuyển sang công việc này chỉ vì thu nhập quá tốt. Cô đã nhảy ngay sang ngồi cạnh Harris.
“Tôi muốn nói chuyện với cậu,” Ken kéo John sang một bên và nói: “Tôi đang vô cùng trung thực đấy nhé. Cô ấy nói với tôi rằng: ‘Anh ta thực sự rất dễ thương.’”
Harris im lặng lắng nghe.
“Tôi nói với cô ta là cậu kiếm được 300.000 đô-la một năm. Và cô ta hỏi cậu đã kết hôn chưa.”
Thực ra, Ken đã không hoàn toàn trung thực. Anh đã thỏa thuận để cô gái đó hẹn hò với John Harris. Ken đã sắp xếp tất cả rồi nói với John rằng cô ấy sẽ tới Chez Paree ở Fresno, và Harris sẽ ăn mặc lịch sự để tới gặp cô. Ken cũng đi cùng. Harris và cô gái đó đã rời tới một chiếc bàn ở góc. Ken nói rằng anh sẽ mua đồ uống cho họ, nhưng cô ấy chỉ muốn uống 7-Up. Vì thế, Ken đã mua vài chai 7-Up. “Mấy chai đó đắt thật,” John nhớ lại. “20 đô-la một chai.” Đó là chai đầu tiên trong số rất nhiều chai 7-Up giá 20 đô-la. Chỗ đó sắp sửa đóng cửa. Và khoảnh khắc của sự thật đã tới. Cô gái giả vờ về việc đã đến lúc cô ấy phải đi, và họ đường ai nấy đi. Và thế là Harris đã về nhà thật. Để rồi khi Ken gọi điện và hỏi liệu anh đã “ghi bàn” chưa, thì “tôi chẳng có gì nhiều để biện hộ”, Harris nhớ lại
Đúng là hết thuốc chữa! Dù thành công ở Atari, nhưng Harris chẳng có chút may mắn nào với phụ nữ cả.
☆ ☆ ☆
Bất chấp các vấn đề với nữ giới, John Harris vẫn trở thành một hình mẫu cho kỷ nguyên mới: một siêu sao hacker. Anh sẽ tham gia phỏng vấn cho các tạp chí để quảng cáo về các ưu điểm của máy Atari 800. Các bài báo thường nhắc đến thu nhập 6 chữ số đến từ thỏa thuận tiền bản quyền 30% của anh. Đó quả là một vị trí đầy bất ngờ và đáng thèm muốn. Trên khắp nước Mỹ, những người trẻ tự nhận là hacker đang phát triển những kiệt tác của chính họ: Đó là kỷ nguyên mới giống như lúc mà các thanh niên trẻ tuổi trong những năm 1940 đua nhau viết nên các Tiểu thuyết Vĩ đại của người Mỹ. Và cơ hội để một trò chơi bán chạy lọt vào cánh cửa của On-Line, dù không quá tuyệt vời, cũng có phần cao giá hơn so với cơ hội của một tiểu thuyết bán chạy được cho đi miễn phí.
Ken nhận ra rằng anh đang phải cạnh tranh với các công ty khác trong nhóm Brotherhood để giành lấy các lập trình viên tài ba này. Khi ngày càng có thêm nhiều người biết đến sự tuyệt vời của hợp ngữ độc đáo trên Apple và Atari, thì đó cũng là lúc những người dùng máy tính gia đình nhận thức rõ hơn về những gì họ mua. Các công ty bên cạnh On-Line giờ đây cũng đang phát hành các trò chơi phiêu lưu đồ họa, và họ cũng tự tìm ra cơ chế cho riêng mình để đặt hàng tá hình ảnh kèm văn bản trên những chiếc đĩa của Apple. Đồng thời, một công ty mới ở Cambridge có tên là Infocom, chỉ sử dụng văn bản, đã phát triển một trình phiên dịch tiên tiến chấp nhận được số lượng từ vựng lớn – dưới dạng các câu hoàn chỉnh. Công ty đó do các hacker MIT thành lập. Trò chơi vi tính đầu tiên của họ được nâng cấp thẳng từ một trò chơi mà họ đã viết cho vui trên một trong những chiếc máy tính tại Quảng trường Công nghệ. Đó là Zork,một phiên bản tỉ mỉ dựa trên câu chuyện gốc về ngục tối của Adventure mà Crowther và Woods đã viết tại Stanford. Và nó đã bán rất chạy.
Nó cho thấy thị trường trò chơi điện tử trên máy tính đã chuyển dịch nhanh đến thế nào. Thứ từng nổi bật vào năm trước đã trở nên lạc hậu ngay lập tức vào năm sau. Các hacker Apple và Atari đã khiến các cỗ máy ấy vượt xa giới hạn của chúng. Chẳng hạn, chỉ vài tháng sau khi ra mắt chương trình Skeet Shoot (tạm dịch: Bắn bồ câu) của On-Line, vì trông nó thô thiển một cách đáng xấu hổ nên Ken đã bỏ nó ra khỏi dây chuyền sản phẩm. Hay Threshold đã xóa bỏ các tiêu chuẩn tồn tại trước đó. Rồi sau đó, hacker Bill Budge đã viết một chương trình mô phỏng máy chơi pinball có tên Raster Blaster (tạm dịch: Kẻ phá mành), và nó đã thổi bay gần như tất cả những gì mà On-Line cung cấp trên Apple.
Ken Williams biết rằng On-Line cần phải thể hiện nó là một nơi làm việc đáng khao khát. Anh và cộng sự đã tổng hợp và tạo ra một gói chứa đầy những lời hứa hẹn, và giấc mơ dành cho các siêu sao phần mềm trong tương lai. Kỳ quặc là những lời dụ dỗ mà On-Line đưa ra chẳng mấy liên quan đến Đạo đức Hacker. Gói đề xuất đó không nhấn mạnh tới cộng đồng trại hè hạnh phúc xung quanh On-Line. Thay vào đó, nó chỉlà một lời ca tụng dành cho Mammon.
Trong gói đó có một phần “Hỏi - Đáp” như sau:
HỎI: Tại sao tôi nên phát hành trò chơi với On-Line (chứ không phải ai khác)?
ĐÁP: Một trong những lý do là tiền. On-Line là nơi trả tiền bản quyền cao nhất, và thường xuyên nhất trong ngành… Công việc của chúng tôi là khiến cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn!
HỎI: Tại sao tôi không thể tự mình xuất bản?
ĐÁP: Với On-Line, sản phẩm của bạn sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các nhân viên kỹ thuật được đào tạo tốt. Điều đó giúp bạn có thêm thời gian tập trung vào những việc quan trọng hơn như đi du thuyền trên vịnh Caribe, trượt tuyết ở Aspen và các hoạt động sôi nổi khác trong cuộc sống. Nói cách khác, chúng tôi sẽ làm tất cả mọi việc… Điều duy nhất chúng tôi yêu cầu là bạn có mặt trong trường hợp có lỗi xảy ra. Còn lại, bạn chỉ cần ngồi đó và chờ tiền chảy về!
Cũng trong gói đó là một bức thư của Ken Williams (“Chủ tịch Hội đồng quản trị”) giải thích lý do tại sao On-Line Systems là công ty chuyên nghiệp nhất, và marketing hiệu quả nhất. Anh viện dẫn các con át chủ bài Warren, Davis và Stephenson trong đội, đồng thời quảng cáo về sự tinh thông kỹ thuật của bản thân. Ngoài ra còn có một bức thư của quản lý bán hàng của On-Line: “Chúng tôi là những người giỏi nhất, và chúng tôi chỉ tìm kiếm những người giỏi nhất vào đội. Nếu bạn phù hợp với tiêu chí đơn giản này, hãy tới để tận hưởng bầu không khí trên đỉnh cao cùng chúng tôi. Thành công đang chờ bạn ở phía trước rồi. Bạn có muốn không?” Một ghi chú từ Phòng Thu mua Phần mềm đã tổng kết thông điệp gửi tới các lập trình viên tương lai: “Chúng tôi thích bạn vì bạn là dòng máu nuôi sống công việc kinh doanh của chúng tôi. Lập trình đã trở thành một sản phẩm thượng hạng.”
Đây quả là một cuộc chuyển dịch lớn so với thời mà một hacker sẽ thỏa mãn vô cùng nếu có ai đó biết trân trọng vẻ đẹp ở phần mềm của họ. Giờ đây, khi thị trường tồn tại, thế giới thực đã làm thay đổi chủ nghĩa hacker. Đó có lẽ là một sự đánh đổi cần thiết để có được những lợi ích mà việc truyền bá máy tính mang lại. Cứ nhìn vào những thay đổi tuyệt vời mà máy tính đã làm cho cuộc sống của những người trong cộng đồng On-Line thì rõ.
Ken đã vô cùng tự hào với những chuyển đổi này. Họ có vẻ ủng hộ những hứa hẹn tốt đẹp của giấc mơ hacker. Anh không chỉ thành công rực rỡ mà còn cùng với các công ty khác trong nhóm Brotherhood thực hiện điều đó với tư tưởng tự do của thời đại mới… và họ là những người tiên phong trong một Nước Mỹ Mới! Thêm vào đó, ngày tháng dần trôi, máy tính ngày càng trở thành một ngành công nghiệp bùng nổ chưa từng thấy, ngay cả trong ngành công nghiệp ô tô. Tất cả mọi người đều muốn có phần trong đó. Apple Computer dường như chỉ là một dự án mạo hiểm nào đó khi Ken lần đầu nhìn thấy Apple II, nhưng giờ đây, công ty này đang trên đường trở thành một công ty thuộc Fortune 500 88 , nhanh hơn bất kỳ công ty nào khác từng làm được trong lịch sử. Các nhà đầu tư mạo hiểm đang tập trung vào lĩnh vực điện toán, và dường như họ đã xác định rằng phần mềm – thứ giúp cho những chiếc máy tính này hoạt động – là sự đầu cơ hợp thời nhất. Tính theo số lượng đĩa mềm bán được, trò chơi điện tử là loại ứng dụng máy tính bán chạy nhất, và nhóm Brotherhood đã dành được thị phần đáng kể, vì thế, các đề nghị đầu tư và mua lại xuất hiện thường xuyên như các trò chơi mới vậy. Dù Ken thích nói chuyện với những người giàu có thường xuất hiện trên tạp chí danh giá Wall Street Journal, nhưng anh vẫn duy trì công ty của mình. Chuông điện thoại của các công ty thuộc Brotherhood thường xuyên reo lên cùng những báo cáo mới nhất về các đề nghị mua lại – “Anh ta nói sẽ trả 10 triệu đô-la đấy!” “À, tôi vừa mới được đề nghị 10 triệu đô-la cho một nửa công ty!” “Ồ, thế thì tôi thấy ngần ấy cũng bình thường!” Ken thường gặp những người giàu có ấy trong các buổi gặp gỡ ăn sáng ở sân bay, nhưng những nhà lãnh đạo đó sẽ đi tới điểm đến tiếp theo mà không đạt được thỏa thuận mua lại. Ken Williams rất vui vẻ với việc làm thay đổi cuộc sống của những người xung quanh cũng như hằng ngày đến chỗ làm trên chiếc Porsche 928 màu đỏ mới của mình, tới mức anh không hề nghĩ đến việc bán lại công ty.
88 Danh sách 500 công ty lớn nhất nước Mỹ. (BTV)