Về đến nhà, Marco không ngồi yên được. Anh đi ra đi vào khắp nhà, làm Anne phát cáu lên. Cả hai quát tháo nhau.
“Anh nghĩ anh sẽ lên văn phòng,” đột nhiên anh bảo. “Anh cần để đầu óc thoát khỏi đây và trả lời vài khách hàng. Trước khi chẳng còn khách nào nữa.”
“Ý hay đấy,” Anne đồng ý, cô cũng muốn anh ra khỏi nhà. Cô tha thiết ước ao được nói chuyện thật lâu với bác sĩ Lumsden. Lumsden đã gọi lại cho cô ngay sau lời nhắn khẩn mà Anne để lại trong hòm thư thoại của bà, và mặc dù bác sĩ Lumsden thực sự cảm thông và rất ủng hộ cô, cuộc nói chuyện ấy gần như không đủ. Bác sĩ Lumsden đã khuyến khích cô tới nói chuyện cùng vị bác sĩ phụ trách các bệnh nhân cho bà cho đến khi bà trở lại. Nhưng Anne không muốn nói chuyện cùng người cô không biết.
Anne nghĩ đến chuyện đối mặt với Cynthia. Cô không nghĩ Cynthia giữ con của cô, ngày hôm nay thì không. Nhưng cô muốn biết có chuyện gì giữa Cynthia và chồng cô. Có lẽ Anne đã tập trung chú ý vào chuyện đã có thể diễn ra giữa chồng cô và Cynthia hơn, bởi nó không đau đớn bằng nghĩ đến chuyện của con gái cô.
Anne biết Cynthia có nhà. Thi thoảng cô vẫn nghe được tiếng cô ta bên kia bức tường. Anne biết Graham đã lại đi vắng – cô nhìn thấy anh ta bước vào chiếc limo đen của sân bay cùng túi xách sáng sớm hôm đó, từ cửa sổ phòng ngủ của mình. Cô có thể đi sang đó, bảo Cynthia thôi đi và tránh xa chồng cô ra. Anne nhìn đăm đăm vào bức tường chung trong phòng khách, cố quyết định xem phải làm gì. Cynthia chỉ ở cách cô một bức tường thôi.
Nhưng Anne không có cái gan đó. Cô quẫn trí quá. Cô đã kể với thanh tra điều cô nghe lén được, nhưng cô còn chưa đối mặt với Marco về chuyện đó. Marco thì lại không nói gì với cô cả. Dường như họ đã thiết lập một hiệp ước mới là không nói về những chuyện khó khăn. Họ đã từng chia sẻ mọi thứ, gần như mọi thứ. Nhưng kể từ khi có con, mọi chuyện đã khác.
Tình trạng trầm cảm làm cô mất hứng thú với mọi thứ. Hồi đầu, Marco còn mua hoa, sô cô la cho cô, làm những việc nhỏ để động viên tinh thần cô, nhưng không cách nào hiệu quả thực sự cả. Anh đã thôi kể cho cô nghe về ngày làm việc của mình, về công việc làm ăn ở công ty. Cô không thể nói về công việc của cô nữa, vì cô không đi làm. Họ chẳng có gì nhiều để nói với nhau, trừ về con. Có thể Marco đã đúng. Đáng lẽ ra cô nên quay lại làm việc.
Cô phải nói chuyện với anh, phải bắt anh hứa không dính dáng gì đến Cynthia nữa. Cô ta không đáng tin cậy. Tình bạn giữa họ với nhà Stillwell đã chấm hết. Nếu Anne đối chất với Marco về những gì cô đã biết, cho anh biết là cô đã nghe lén được những gì anh nói với thanh tra hôm ấy, chắc anh sẽ thấy tồi tệ lắm. Anh vốn đã mệt mỏi lắm rồi. Cô không nghi ngờ gì chuyện anh sẽ tránh xa Cynthia từ giờ. Không có gì phải lo ngại về việc đó nữa.
Nếu họ vượt qua được chuyện này, cô sẽ phải nói với Marco về Cynthia, và cô sẽ phải nói chuyện với anh về việc kinh doanh. Họ phải bắt đầu thành thật với nhau lần nữa.
Anne cần cọ rửa cái gì đó, nhưng cả nhà đã sạch như ly như lau. Thật kỳ lạ, nguồn năng lượng mà cô đang cảm nhận được lúc này, giữa buổi ban ngày, được tiếp nguồn từ cơn nóng giận. Hồi vẫn còn có Cora cô đã phải kéo lê thân mình suốt ngày. Ngay lúc này đây đáng lẽ cô sẽ đang cầu mong cho Cora chịu ngủ một lát. Cô bật khóc.
Cô phải giữ cho mình bận rộn. Cô bắt đầu từ tiền sảnh, lau hết cái vỉ lò cổ kính đang che cho ống dẫn khí. Món đồ sắt uốn éo ấy đã phủ đầy bụi và phải cọ bằng tay không. Cô lấy một chậu nước ấm và một cái giẻ lau rồi ngồi xuống sàn cạnh cửa trước, bắt đầu lau chùi nó kĩ càng từng rãnh một. Việc đó làm cô bình tâm.
Ngay khi cô ngồi đó, một lá thư lại đến, được nhét qua cái khe trên cửa và hạ xuống sàn cạnh cô, làm cô giật mình. Cô nhìn vào chồng phong bì trên sàn và cứng người lại. Chắc lại thêm những lá thư thù địch. Cô không thể chịu nổi chúng. Nhưng lỡ đó là gì khác thì sao? Cô đặt miếng giẻ ướt xuống, lau khô hai bàn tay vào chiếc quần jean, rồi lục tìm trong chồng thư. Không có gì đi kèm, thậm chí một cái nhãn địa chỉ bằng chữ đánh máy như trên cái gói đã đựng bộ quần áo màu xanh của Cora cũng không. Anne nhận ra mình đang nín thở. Cô cố gắng hít thở bình thường.
Cô không mở một lá thư nào. Cô thà ném tất cả đi, nhưng Marco đã bắt cô hứa phải giữ lại hết. Anh đọc qua tất cả, mọi ngày, phòng khi những kẻ bắt cóc lại cố liên lạc. Anh không chia sẻ nội dung của chúng với cô.
Anne cầm cái chậu và giẻ của mình lên gác để lau những tấm vỉ lò trên đó. Cô bắt đầu ở văn phòng cuối hành lang trước. Khi cô kéo tấm vỉ trang trí nguyên bản ra để lau dọn nó được dễ hơn, cô trông thấy một thứ nhỏ và tối ở bên trong ống khí. Giật mình, cô nhìn vào kĩ hơn, sợ đó là một con chuột chết – hay thậm chí là một con chuột. Nhưng nó không phải là chuột. Đó là một chiếc điện thoại di động.
Anne vùi đầu mình vào giữa hai đầu gối và cố gắng để không ngất xỉu. Cô cảm giác thể tất cả máu đã rút khỏi người cô. Có những chấm đen trước mắt. Sau vài phút, cảm giác choáng váng đã dịu lại và cô ngẩng đầu lên. Cô nhìn vào chiếc điện thoại bên trong ống dẫn. Một phần trong cô muốn đóng nắp lại, xuống nhà pha một cốc cà phê, và giả vờ như cô chưa từng trông thấy nó. Nhưng cô vẫn thò tay vào lấy nó ra. Chiếc điện thoại dính vào cạnh bên của ống dẫn khí. Cô giật mạnh tay, và nó rời ra theo tay cô. Nó đã bị dính vào mặt trong tường bằng một đoạn băng dính bạc.
Cô nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại. Cô chưa từng trông thấy nó. Nó không phải điện thoại của Marco. Cô biết điện thoại của anh. Anh luôn mang nó theo mình. Nhưng cô không thể tự lừa mình được nữa. Ai đó đã giấu một chiếc điện thoại trong nhà họ, và nó không phải là của cô.
Marco có một chiếc điện thoại bí mật. Tại sao?
Ý nghĩ đầu tiên của cô là Cynthia. Có phải họ đang ngoại tình? Hoặc là một người khác? Đôi khi anh phải làm việc muộn. Cô thì đã béo lên và luôn phiền muộn. Nhưng cho đến cái đêm với Cynthia, cô chưa từng nghĩ anh có thể phản bội vợ. Có lẽ cô đã chẳng biết gì cả. Có lẽ cô đã hoàn toàn ngu ngốc. Người vợ lúc nào chẳng là người biết sau cùng, đúng không nhỉ?
Chiếc điện thoại có vẻ mới. Cô bật nó lên. Đèn sáng. Vậy là anh vẫn tiếp tục sạc cho nó. Nhưng giờ cô phải vẽ mật khẩu để mở điện thoại. Cô không biết nó là gì. Cô thậm chí còn không biết cách mở chiếc điện thoại bình thường của Marco. Cô thử vài lần, nó khoá màn hình sau quá nhiều lần thử. Hãy suy nghĩ nào, cô tự nhủ, nhưng không thể. Cô cứ ngồi tê liệt ở đó ôm lấy chiếc điện thoại, chết cứng tại chỗ.
Có rất nhiều việc đang chiếm lấy tâm trí thanh tra Rasbach trên chuyến xe đến hiện trường vụ án ở Catskills. Ông nghĩ về buổi thẩm vấn sớm hôm đó với Marco và Anne Conti.
Ông nghi ngờ đây chính là cách Marco dùng để cho ông biết người đàn ông đã chết kia chính là đồng phạm của anh ta – và Marco đang nhờ ông giúp anh ta tìm lại đứa con. Cả hai đều biết chuyện này đã quá trễ. Marco biết rằng Rasbach tin chính anh ta đã bắt cóc Cora và anh ta đã bị chơi xỏ. Rõ ràng kẻ đã chết có dính dáng gì đó đến việc này. Chắc hẳn anh ta chính là người đàn ông bí ẩn đã lái chiếc xe trên đường lúc 12 giờ 35 phút. Và còn nơi nào tốt hơn một căn nhà gỗ hẻo lánh để che giấu một đứa bé?
Em bé chắc hẳn vẫn còn sống khi rời khỏi nhà Conti, Rasbach nhận ra điều đó, nếu không giờ Marco đã không tìm đến ông. Marco đang mạo hiểm nhưng rõ ràng anh ta đã tuyệt vọng. Nếu điều Rasbach tin tưởng là đúng, thì việc này đã minh oan cho người mẹ. Gạt chuyện sức khoẻ tâm thần sang bên, rõ ràng cô đã không giết em bé.
Ông đang rất nóng lòng muốn biết mình sẽ tìm thấy gì ở chỗ hiện trường vụ án mạng.
Trong lúc đó Jennings đang tìm mối liên hệ giữa Marco và người đàn ông đã chết, Derek Honig. Có thể họ sẽ tìm được gì đó, dù mong manh đến đâu, một liên hệ nào đấy giữa hai người nọ. Rasbach không nghĩ vậy, nếu không thì Marco đã không tìm đến ông. Nhưng Derek Honig đã chết rồi – có thể Marco cảm thấy anh ta đáng thực hiện việc mạo hiểm đó, hòng vớt vát cơ hội dù rất nhỏ là có thể đòi lại con.
Rasbach tin Marco yêu con gái mình, rằng anh ta chưa bao giờ có ý định để con bé bị hại. Rasbach đã suýt thấy thương cho anh ta. Nhưng rồi ông nghĩ đến đứa bé, có thể giờ đã chết, và người mẹ, với trái tim tan nát, và lòng thương cảm của ông biến mất.
“Rẽ ở đây,” ông bảo viên cảnh sát đang lái xe.
Họ chọn lối ra của đường quốc lộ và đi thêm một lúc trên con đường đất hoang vắng. Cuối cùng họ cũng tới một lối rẽ. Chiếc xe tuần tra xóc nảy và đi xuống một lối lái xe đầy cỏ dại và cây bụi cho đến khi nó dừng trước một căn nhà gỗ đơn sơ, xung quanh là dây ngăn hiện trường của cảnh sát. Một chiếc xe cảnh sát khác đã ở đó, rõ là đang chờ họ.
Xe dừng lại và họ bước ra. Rasbach mừng vì được duỗi chân. “Thanh tra Rasbach,” ông nói, giới thiệu mình với cảnh sát địa phương.
“Cảnh sát Watt, thưa ông. Mời đi lối này.”
Rasbach nhìn quanh, không để lọt điều gì. Một cái liếc mắt ra sau nhà gỗ, ông thấy một cái hồ nhỏ, hoang vu. Không còn căn nhà nào khác trong tầm nhìn. Một địa điểm hoàn hảo để giấu đứa trẻ sơ sinh vài ngày, Rasbach trộm nghĩ.
Ông đi vào trong. Đây là một cái nhà kiểu cổ từ những năm 1970, sàn nhà bếp trải bạt nhựa xấu xí, một cái bàn formica, tủ bếp đã lỗi thời.
“Cái xác đâu?” Rasbach hỏi.
“Ở kia,” viên cảnh sát nói, gật đầu về hướng phòng chính. Trong căn phòng là những món đồ cọc cạch cũ kỹ. Chắc chắn cái xác đã nằm kia. Một tấm thảm cũ bẩn thỉu màu be với vết máu mới.
Rasbach ngồi xổm để nhìn. “Vũ khí giết người?”
“Chúng tôi đã đưa nó vào phòng xét nghiệm. Hung thủ dùng một cái thuổng. Đập lên đầu anh ta vài lần.”
“Khuôn mặt có còn nhận diện được không?” Rasbach hỏi, quay sang nhìn viên cảnh sát kia.
“Dập nát, nhưng vẫn nhận diện được.”
Rasbach đứng dậy, cân nhắc đến chuyện đưa Marco tới nhà xác để xem qua. Trò chơi anh đang chơi đây này. “Vậy giả thuyết thế nào?”
“Lúc mới nhìn qua à? Chúng tôi công bố thì là một vụ cướp bạo lực, nhưng nói riêng với ông thôi nhé, ở đây có gì mà cướp. Tất nhiên, chúng tôi không biết liệu từng có gì đó ở đây hay không. Nơi này khá hẻo lánh. Có thể là một vụ buôn ma tuý sai đường chăng.”
“Hoặc bắt cóc.”
“Hoặc bắt cóc.” Anh cảnh sát nói thêm, “Trông có vẻ như mâu thuẫn cá nhân, bị đập liên tục bằng thuổng ấy mà. Ý tôi là, anh ta đã chết chắc rồi.”
“Và không có dấu hiệu gì của trẻ nhỏ à? Không có bỉm, bình sữa hay bất kỳ thứ gì tương tự?” Rasbach hỏi, đánh mắt quanh nhà gỗ.
“Không. Nếu từng có em bé nào ở đây thì kẻ đưa nó đi đã dọn sạch khá tốt.”
“Anh làm gì với đống rác của anh ta rồi?”
“Chúng tôi đoán là anh ta đã đốt một ít trong cái lò củi đằng kia, nên chúng tôi đã lục tìm trong đó, bên ngoài cũng có một bếp lửa nữa. Nhưng không có tí rác nào ở đây cả, và trong lò lẫn ngoài bếp lửa không có gì hết. Vậy là hoặc người chết vừa mới vứt đi tất cả hoặc ai đó đã dọn dẹp. Có một bãi rác cách đây ba mươi cây số, và họ có ghi lại các biển số xe, nhưng tuần trước anh ta đã không đến đó.”
“Vậy đây không phải là một vụ cướp bạo lực. Không có ai lại đi ăn cướp, giết người, rồi đem ném mọi loại rác của nạn nhân đi cả.”
“Không.”
“Xe anh ta đâu?”
“Ở phòng thí nghiệm.”
“Nó hiệu gì đấy?”
“Một chiếc hybrid, Prius V màu đen.”
Trúng phóc, Rasbach nghĩ. Ông có cảm giác vết bánh xe sẽ trùng khớp với dấu vết trong gara nhà Conti. Và dù kẻ nào đó có dọn kĩ đến đâu đi nữa thì nếu từng có một em bé ở đây vài ngày, chắc chắn sẽ còn bằng chứng ADN. Có vẻ như họ đã tìm được đột phá đầu tiên trong vụ bắt cóc bé Cora.
Rốt cuộc họ cũng sẽ tìm ra điều gì đó.