Khoảng trống

Lượt đọc: 1563 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần bốn
tâm thần bất bình thường

5.11 Theo lẽ thường, những người không đủ năng lực trí tuệ vĩnh viễn bị coi là không đủ năng lực pháp lý để tham gia bầu cử, nhưng người tâm thần bất bình thường vẫn được quyền tham gia bỏ phiếu vào những lúc họ tỉnh táo.

Charles Arnold-Baker

Điều lệ Ban quản trị hội đồng địa phương

In lần thứ bảy.

❀❀❀

I

Samantha Mollison đã mua đủ ba đĩa DVD của nhóm nhạc Libby thần tượng. Cô giấu nó trong ngăn đựng vớ và quần áo nịt, cạnh mớ bao cao su cho nữ. Nếu Miles có nhìn thấy thì cô sẽ bảo đó là quà cho Libby, cô tính sẵn thế. Việc làm ăn chưa lúc nào ế ẩm thế này nên thỉnh thoảng lúc ở cửa hàng cô vẫn lên mạng tìm hình của Jake. Trong một lần tìm hình Jake-mặc-vest-không-sơ mi hay Jake-quần-jean-áo-bó kiểu thế, cô phát hiện ra hai tuần nữa ban nhạc sẽ đến trình diễn tại Wembley.

Cô có người bạn hồi đại học sống ở West Ealing. Cô có thể tới đó cùng Libby, viện cớ thưởng cho con bé, cũng là dịp để mẹ con gần gũi nhau. Với tâm trạng háo hức lâu lắm rồi mới có, Samantha xoay xở mua được hai chiếc vé cực đắt cho buổi diễn. Tối đó lúc về nhà, niềm vui thầm kín làm cô trông tươi tỉnh như mới đi hẹn hò về.

Miles đã về nhà, anh mặc nguyên bộ đồ đi làm ở trong bếp, tay cầm điện thoại. Anh nhìn chòng chọc vào cô vợ vừa bước vào, nét mặt lạ lùng khó đoán.

- Sao thế? - Samantha hỏi, thoáng dè chừng.

- Anh không gọi được bố - Miles đáp - điện thoại bố cứ bận suốt. Lại có thêm bài đăng mới.

Nhìn cô vợ ngẩn ra, Miles sốt ruột giải thích - Hồn ma của Barry Fairbrother! Thêm một bài đăng nữa! Trên website hội đồng khu ấy!

- À, ra thế - Samantha cởi khăn quàng.

- Ừ, anh vừa gặp Betty Rossiter ngoài đường, chị ta tuôn ra một tràng. Anh xem bảng tin rồi nhưng không thấy, chắc là mẹ xóa rồi. Mong là đúng thế, mụ Tai Cụp mà viện đến luật sư là mẹ có nguy cơ “hứng đạn” cao lắm.

- Tin về Parminder Jawanda phải không? - Samantha cố ý tỏ giọng thản nhiên. Cô không hề hỏi bài đăng có nội dung gì, trước nhất vì cô quyết không tự biến mình thành con quạ già quàng quạc thóc mách như Shirley và Maureen; thứ nữa là chắc bài đó chỉ loanh quanh chuyện Parminder làm bà Cath Weedon chết đó thôi. Im một lát ngắn, cô hỏi, giọng có phần thích thú - Anh nói mẹ có nguy cơ “hứng đạn” hả?

- Ừ, mẹ là quản trị website mà, cho nên sẽ phải chịu trách nhiệm nếu không gỡ bỏ những thông tin phỉ báng hoặc là có ngầm ý phỉ báng. Anh không chắc là bố mẹ ý thức được rõ vụ này nghiêm trọng cỡ nào đâu.

- Thì anh có thể đứng ra biện hộ cho mẹ, mẹ anh thích thế mà.

Miles không để ý, anh ta còn mải bấm nút redial, mặt mày cau có, nhưng di động của ông bố vẫn đang bận.

- Càng lúc càng lớn chuyện rồi đây - Miles nói.

- Hồi Simon Price bị công kích anh vui lắm mà, sao lần này khác thế?

- Vì đây là cả một chiến dịch chống lại những người trong hội đồng hay đang ứng cử hội đồng…

Samantha quay mặt đi giấu nụ cười thầm. Rõ ràng ông con đâu phải đang lo cho bà mẹ.

- Nhưng sao lại có người viết về cả anh làm gì? - Cô ra vẻ ngây ngô - Anh có tội lỗi bí mật gì đâu.

Anh mà có thì hấp dẫn hơn bây giờ nhiều.

- Thế còn lá thư thì sao?

- Thư nào?

- Trời đất ơi, bố mẹ có kể vụ đó rồi mà, cái thư nặc danh viết về anh đó! Nói anh không xứng thay vị trí của Barry Fairbrother.

Samantha mở tủ lạnh nhìn mấy món đồ lạnh chẳng lấy gì làm hấp dẫn bên trong, cô biết chắc mở cửa tủ thế này Miles không thể thấy biểu cảm trên mặt cô nữa.

- Anh cũng nghĩ chẳng ai moi ra được điều tiếng gì về anh mà, phải không? - cô hỏi.

- Ừ, nhưng anh là luật sư mà. Chắc cũng có người thù oán. Anh nghĩ cái thứ thư nặc danh này không... ý anh là giờ thì mấy tin đó toàn nhắm tới phe kia, nhưng có khi sẽ có trả đũa... Anh không thích mọi sự diễn ra theo kiểu này.

- Thì chính trị mà Miles - Samantha lộ hẳn vẻ khoái trá - Toàn trò bẩn mà.

Miles bỏ ra khỏi phòng nhưng cô không bận tâm, cô còn mải nghĩ tới chỗ xương gò má đẹp như tạc, cặp mày xếch và những múi cơ bụng săn chắc hoàn hảo của chàng ca sĩ. Giờ cô có thể ngâm nga hát theo được khôi khối bài của nhóm. Cô sẽ mua một chiếc áo thun in hình nhóm mà mặc, thêm cái nữa cho Libby. Jake sẽ nhún nhảy cách cô chỉ vài mét. Nhiều năm nay chưa khi nào cô vui vẻ thế.

Trong lúc đó Howard đang đi tới đi lui trong tiệm thực phẩm đã đóng cửa, chiếc di động dán chặt vào tai. Những tấm rèm đều đã buông xuống, đèn đã bật, ở phía bên kia cánh cổng hình vòm, Shirley và Maureen đang bận tháo hộp mấy món đồ sứ và thủy tinh cho quán café sắp mở và thấp giọng bàn tán đầy phấn khích trong khi vẫn lóng tai nghe mấy lời ừ hử cụt ngủn của Howard.

- Phải... ừm, ừm... ừ.

- Gào lên với tôi chứ - Shirley thì thào - vừa gào thét vừa chửi tục nhé. - Tháo ngay cái thứ chó chết đó xuống - cô ta nói thế đây, tôi thì bảo, tôi đang làm đây, bác sĩ Jawanda, nên cô đừng có nói tục với tôi thì tôi cảm ơn lắm.

- Nếu cô ta mà văng vào mặt tôi thế thì tôi còn để thêm vài tiếng nữa cho biết - Maureen đáp.

Shirley cười. Lúc biết chuyện xảy ra, bà bỏ đi pha tách trà, để mặc mẩu tin nặc danh về Parminder trên website thêm bốn mươi lăm phút nữa rồi mới xóa. Bà và Maureen đã tán suốt về vụ này tới nỗi câu chuyện bã xơ nhạt hoét, tất nhiên là còn khối thứ để mà bươi móc, nhưng cái háo hức tức thời đã bơn bớt. Thế là Shirley và Maureen chuyển sang ngồi đoán xem Parminder phản ứng thế nào khi chuyện riêng bị lộ.

- Dù sao vụ này chứng tỏ không phải cô ta đăng bài về Simon Price - Maureen bình luận.

- Phải, rõ ràng là thế rồi - Shirley đáp, tay lau mấy món đồ sứ xinh xắn màu xanh dương và trắng bà tự chọn, dù Maureen thích màu hồng hơn. Đôi khi, dù không tham gia vào việc kinh doanh, Shirley vẫn muốn tỏ cho Maureen thấy bà có tầm ảnh hưởng lớn với tư cách là vợ của Howard.

- Ừ - Howard nói qua điện thoại - nhưng chắc tốt hơn là nên…? ừm... ừm...

- Thế chị nghĩ là ai làm? - Maureen hỏi.

- Thực sự tôi cũng không rõ nữa - Shirley đáp vẻ cao kỳ, như thể mấy chuyện đồn đoán hay nghi ngờ người này người nọ không xứng tầm để bà nói đến.

- Chắc là người nào đó biết rành nhà Price với Jawanda - Maureen vẫn đoán.

- Hẳn thế - Shirley nhắc lại.

Cuối cùng Howard cũng ngắt máy.

- Aubrey đồng ý rồi - lão vừa nói vừa lạch bạch đi sang tiệm café, tay nắm chặt số báo hôm nay của tờ Yarvil và District Gazette. - Bài đó “yếu” lắm. Chẳng ăn thua gì đâu.

Phải mất một lúc hai bà mới nhớ lại rằng mọi người cứ nghĩ bài báo Barry viết trước khi chết đăng trên báo địa phương sẽ rất hấp dẫn. Hóa ra hồn ma của ông ta còn hấp dẫn hơn nhiều.

- À, vâng, lúc đọc bài đó em cũng thấy luận điểm nghèo nàn lắm - Shirley vội bắt lời.

- Bài phỏng vấn Krystal Weedon mới đúng buồn cười - Maureen cười khe khé - nói con bé đó thích nghệ thuật cơ đấy. Tui nghĩ chắc họ nói tới chuyện vẽ bậy lên mặt bàn.

Howard phá ra cười. Shirley nhặt ống EpiPen cho Andrew Price để trên quầy để lấy cớ quay đi, sáng đó Ruth ghé qua gửi nó ở tiệm thực phẩm cho con trai. Shirley đã tra thông tin về EpiPen trên trang y khoa ưa thích của bà, nên giờ hoàn toàn tự tin giải thích cơ chế tác động của adrenalin. Nhưng không ai hỏi đến, thế là bà bỏ cái ống trắng nhỏ đó vào tủ và sập cửa thật to để chặn mấy câu đùa của Maureen.

Chiếc điện thoại di động trong bàn tay khổng lồ của Howard lại réo lên.

- Alo? À Miles hả? Ờ... ờ, nhà biết vụ đó rồi... sáng nay mẹ con đọc thấy - lão cười ha hả - Ờ, mẹ con xóa rồi... Không biết nữa... chắc đăng ngày hôm qua... ờ, chắc rồi... bao lâu nay quá rành Tai-Cụp rồi mà…

Vẻ hài hước của Howard tắt dần khi nghe Miles nói. Lát sau lão nói - ừ, bố hiểu rồi. Ừ. Không, bố chưa xét tới góc độ... chắc là phải kiếm người coi lại phần bảo mật...

Tiếng xe chạy qua quảng trường tối đen bên ngoài chẳng làm ba người trong tiệm thực phẩm để ý, nhưng người lái xe nhìn thấy cái bóng khổng lồ của Howard Mollison đang di động sau tấm rèm màu kem. Gavin nhấn ga, háo hức được gặp Mary. Giọng cô qua điện thoại nghe hoàn toàn tuyệt vọng.

- Ai lại làm thế chứ? Ai mới được chứ? Ai mà ghét tôi đến thế?

- Không ai ghét chị đâu - gã an ủi - Ai lại thù ghét chị được cơ chứ. Chị cứ ở nguyên đấy... tôi đang qua.

Gã đậu xe bên ngoài nhà, sập cửa rồi bước vội vào. Bà chủ nhà ra mở trước khi gã kịp gõ cửa. Mắt Mary lại sưng mọng nước mắt, cái áo ngủ bằng len dài chấm đất mặc nhà càng làm cô trông bé nhỏ hơn. Xét ra nó hoàn toàn không quyến rũ như chiếc kimono tím của Kay, nhưng cái vẻ thoải mái xuề xòa của nó gợi lên cảm giác thân tình khác hẳn.

Bốn đứa con của Mary đều đang ngồi trong phòng khách. Cô giơ tay ra ý bảo gã vào thẳng bếp.

- Các cháu biết chuyện chưa? - gã hỏi.

- Fergus biết. Ở trường có người bảo với nó. Tôi có dặn nó đừng kể với mấy em. Thật sự đấy, Gavin... tôi sắp hết chịu nổi rồi. Thù oán gì mà...

- Có đúng đâu - Gã đáp, rồi không nhịn được hỏi lại - phải không?

- Tất nhiên là thế rồi - cô tức giận kêu lên - ý tôi là... tôi không biết… tôi đâu có quen thân với chị ấy. Nhưng để ông ấy nói ra mấy lời như vậy... đặt những lời như vậy vào miệng ông ấy… lẽ nào mấy người đó không thèm quan tâm đến cảm giác của tôi sao?

Nước mắt bà vợ góa lại rơi lã chã. Gã nghĩ cô đang mặc áo ngủ thế này thì không tiện ôm, may mà gã đã kìm mình vì ngay sau đó cậu cả Fergus mười tám tuổi bước vào bếp.

- Chào chú Gav.

Cậu thanh niên trông mệt mỏi và già hơn tuổi. Gavin nhìn cậu vòng tay ôm mẹ, Mary dựa đầu vào vai con, lấy cánh tay áo lồng phồng quệt mắt như đứa bé.

- Chắc không phải là cùng một người đâu - Fergus nói luôn không rào đón - Con đọc lại rồi.Văn phong hai bài này khác nhau.

Cậu mở bản lưu trên điện thoại rồi đọc to:

Ủy viên hội đồng khu, bác sĩ Parminder Jawanda luôn giả vờ rất nhiệt tâm giúp đỡ người nghèo và những người cần tương trợ trong vùng, nhưng thật ra có động cơ bí mật. Cho tới khi tôi chết...

- Thôi đừng Fergus - Mary nói, sụp xuống bên bàn bếp - mẹ không chịu nổi. Thật sự đấy. Hôm nay trên báo còn đăng bài của cha con nữa.

Cô vùi mặt vào tay nấc lặng lẽ. Gavin để ý thấy tờ Yarvil và District Gazette trên bàn. Gã không đọc báo này. Không hỏi ý trước cũng không chờ được nhờ, gã đứng dậy bước ra phía tủ làm cho Mary một ly.

- Cảm ơn Gav - cô nói giọng đặc nghẹt khi gã ấn cái cốc thủy tinh vào tay.

- Hay là Howard Mollison nhỉ - Gavin đoán phỏng, cũng ngồi xuống cạnh cô - Xét từ những gì Barry từng kể về ông ta thì chắc là phải.

- Tôi nghĩ không phải đâu - Mary chấm chấm mắt - Kiểu này thô thiển quá. Ông ta chưa từng làm gì kiểu thế khi Barry còn số... - bà nấc cụt -...ống. - Bà quay sang, hơi gắt cậu con trai - Vứt tờ báo đó đi Fergus.

Cậu con trông có vẻ bối rối và tổn thương.

- Nhưng trong đó có bài của bố.

- Vứt nó đi - Mary lặp lại, giọng chớm kích động - Nếu muốn mẹ sẽ đọc trên máy tính, tác phẩm cuối cùng ông bố con làm đó, ngay trong dịp kỷ niệm ngày cưới nữa chứ!

Fergus cầm lấy tờ báo trên bàn, đứng lặng nhìn bà mẹ đang vùi mặt vào tay một lát. Cậu liếc nhìn Gavin rồi cầm theo tờ báo bỏ ra ngoài.

Gavin ngồi thêm một lúc để chắc là Fergus không trở lại rồi xoa xoa cánh tay Mary an ủi. Hai người ngồi yên lặng một lúc, Gavin thấy dễ chịu hơn nhiều khi tờ báo không còn trên mặt bàn.

II

Parminder không có ca trực vào sáng hôm sau nhưng phải lên Yarvil họp. Lúc mấy đứa con đã đi học hết, bà cẩn thận đảo quanh một vòng trong nhà xem đã mang đủ những thứ cần thiết chưa. Đột nhiên điện thoại reng làm bà giật bắn người đánh rơi cả túi.

- Alố? - Giọng bà the thé, nghe gần như đang hoảng sợ. Tessa ở đầu dây kia giật mình.

- Minda, em đây, chị có sao không?

- À, không sao, điện thoại làm giật mình thôi - Parminder nói, nhìn sàn bếp vương vãi những chìa khóa với giấy tờ, xu lẻ và tampon. - Có chuyện gì?

- Không có gì - Tessa đáp - Em gọi nói chuyện cho vui thôi. Với hỏi thăm chị ấy mà.

Chuyện về bài viết nặc danh lơ lửng trên câu chuyện giữa hai người như con quái vật đùa dai. Parminder hầu như chẳng để Tessa hỏi han gì về chuyện đó trong cuộc gọi ngày hôm qua. Lúc đó bà quát vào máy Dối trá, bẩn thỉu, đừng có bảo tôi là Howard Mollison không làm chuyện này nữa đi.

Tessa chẳng dám nói thêm gì về chuyện đấy nữa.

- Giờ tôi không nói chuyện được - Parminder bảo - tôi phải đi họp ở Yarvil. Đánh giá về trường hợp một bé trai đang trong danh sách nguy cơ cao.

- Thế à, xin lỗi em không biết. Vậy nói sau nhé?

- Ừ - Parminder đáp - Được đấy. Tạm biệt nhé.

Bà gom lại mớ đồ đạc vương vãi rồi vội ra khỏi nhà nhưng lại phải chạy ngược từ cổng vườn vào để xem đã khóa cửa kỹ chưa.

Trên đường đi, cứ lúc lúc bà lại nhãng đi không nhớ mình vừa lái xe qua đoạn vừa rồi thế nào và nghiêm khắc buộc mình phải tập trung. Nhưng những lời lẽ hiểm độc trong bài đăng nặc danh đó cứ trở đi trở lại trong đầu. Bà đã thuộc nó nằm lòng.

Ủy viên hội đồng khu, bác sĩ Parminder Jawanda luôn ra vẻ rất nhiệt tâm giúp đỡ người nghèo và những người cần tương trợ trong vùng, nhưng thật ra có động cơ bí mật. Cho tới tận khi tôi chết, bà ta vẫn luôn yêu tôi, và chẳng giấu những lúc cứ nhìn tôi đăm đắm, và mỗi lần họp hội đồng khu, tôi nói gì bà ta cũng ủng hộ. Giờ tôi đã chết, bà ta chỉ là một ủy viên hội đồng vô dụng, vì bộ não của bà ta đã mất đi rồi.

Sáng hôm qua, bà đọc bài đăng đó lần đầu tiên khi mở website hội đồng xem lại biên bản cuộc họp vừa rồi. Cú sốc đánh mạnh cả vào thể xác: hơi thở bà vụt gấp gáp và nông, hệt như thời nhỏ lúc bà phải cố nâng mình vượt lên cao hơn nỗi đau để thoát khỏi thực tại khổ sở.

Giờ thì ai cũng đã biết. Không còn chỗ nào để náu mình nữa.

Bà thậm chí còn nảy ra những ý tưởng kỳ quặc nhất. Tỉ như bà nghĩ không biết bà nội sẽ nói gì khi biết Parminder bị cáo buộc trên một diễn đàn công cộng rằng bà yêu chồng của một phụ nữ khác, mà đó lại là một gora (đàn ông da trắng). Bà như thấy cảnh bebe lấy chéo sari che mặt, vừa lắc đầu vừa gập người tới lui như bà vẫn làm thế mỗi khi nhà gặp cơn sóng gió.

- Chắc cũng có những ông chồng muốn biết chuyện này có thật không đấy - Tối qua Vikram nói với kiểu cười mỉa mai khang khác ngày thường.

- Tất nhiên là không đúng - bà run rẩy đưa tay lên che miệng - sao anh có thể hỏi câu như thế? Tất nhiên là không đúng! Anh biết ông ấy mà! Đó là bạn của em, chỉ là bạn thôi!

Bà đã đi qua khỏi cả trung tâm cai nghiện Bellchapel. Sao bà chạy lố xa đến thế mà không nhận ra nhỉ? Giờ bà thành kiểu tài xế ẩu mất rồi.

Bà nhớ đến buổi tối cùng Vikram đến nhà hàng, cách nay cũng gần hai mươi năm rồi, tối đó hai người đồng ý kết hôn với nhau. Bà đã kể cho ông nghe gia đình đã làm ầm lên thế nào khi bà đi bộ về nhà cùng Stephen Hoyle, ông ấy khi đó cũng đồng tình là vụ đó chẳng có gì mà ầm ĩ. Khi đó ông ấy hiểu. Nhưng giờ thì ông không hiểu rằng giờ chính Howard Mollison đang buộc tội bà thay vì đám họ hàng thủ cựu nhà bà khi xưa. Rõ ràng ông ấy không hề thấy bọn gora đó nông cạn, giả dối và hiểm độc nhường nào...

Bà lại chạy lố khúc ngoặt. Phải tập trung, tập trung, tập trung.

- Tôi có bị trễ không? - Bà vừa bước vội qua bãi gửi xe tới chỗ Kay Bawden vừa hỏi với. Bà từng gặp cô nhân viên xã hội này một lần, lúc cô này đến khám để gia hạn đơn thuốc mới.

- Không đâu - Kay đáp - tôi định dẫn chị đi quanh văn phòng một chút, bố trí chỗ này khá là ngoắt ngoéo...

Trung tâm dịch vụ xã hội Yarvil đặt tại tòa nhà văn phòng xấu xí xây từ thập niên 70. Lúc cùng đi lên trong thang máy, Parminder tự hỏi liệu Kay có biết về bài đăng trên website hội đồng hay vụ họ hàng bà Catherine Weedon buộc tội bà hay không. Lát nữa khi cửa thang máy mở ra, có khi nào cả hàng người mặc vest đã chờ sẵn đó để lên án, kết tội bà. Nếu như vụ đánh giá về lợi ích của Robbie Weedon này chỉ là thủ đoạn dẫn bà tới thẳng phiên tòa xử mình thì sao…

Kay dẫn bà đi dọc hành lang tồi tàn tẻ ngắt dẫn tới phòng họp. Ba người phụ nữ khác đã ngồi đợi sẵn ở đó, họ mỉm cười chào Parminder.

- Đây là chị Nina tư vấn cho mẹ Robbie ở trung tâm Bellchapel - Kay nói, ngồi xuống xoay lưng về khung cửa sổ treo mành. - Còn đây là cấp trên của tôi, chị Gillian, đây là chị Louise Harper người phụ trách nhà trẻ Anchor Road. Đây là bác sĩ Parminder Jawanda, bác sĩ của Robbie.

Parminder nhận cốc café. Bốn người phụ nữ bắt đầu thảo luận với nhau, không hỏi gì đến bà.

Ủy viên hội đồng khu, bác sĩ Parminder Jawanda luôn ra vẻ rất nhiệt tâm giúp đỡ người nghèo và những người cần tương trợ trong vùng...

Giả vờ rất nhiệt tâm. Lão Howard Mollison khốn kiếp. Từ trước đến nay lão luôn nghĩ bà giả nhân giả nghĩa, Barry từng kể thế.

“Ông ta nghĩ tôi sinh ra ở khu Fields nên muốn để dân Yarvil tràn vào Pagford ở là phải thôi. Nhưng cô thì thuộc tầng lớp trí thức có chuyên môn cao nên ông ta nghĩ cô chẳng được lợi lộc gì khi đứng về phe khu Fields. Ông ấy nghĩ cô đạo đức giả hay bới việc làm vui thôi.”

- … hiểu vì sao gia đình lại đăng ký khám bác sĩ ở Pagford? - một trong ba cô nhân viên xã hội kia hỏi, Parminder đã quên bẵng tên cô.

- Nhiều gia đình tại khu Fields đăng ký khám chỗ chúng tôi - Parminder lập tức trả lời - nhưng có phải nhà Weedon khi trước có rắc rối với chỗ khám cũ…?

- Đúng thế, phòng khám ở Cantermill gạt tên họ ra - Kay đáp, chồng hồ sơ trước mặt cô dày hơn cả - Terri hành hung một y tá ở đó. Vậy là nhà đó chuyển sang đăng ký khám chỗ chị, đã được bao lâu rồi?

- Gần năm năm - Parminder đáp, bà đã chuẩn bị sẵn mọi thông tin dữ liệu phòng khám.

(Hồi đám tang của Barry, bà thấy Howard quỳ cạnh nhà Fawley, lão đan đôi tay to tướng trước ngực vờ cầu nguyện. Parminder biết dân Công giáo phải tin vào lời răn. Hãy yêu hàng xóm của mình như yêu chính mình... Howard mà thành thực hơn thì lão đã quay sang bên mà cầu nguyện cho Aubrey rồi…)

Cho tới tận khi tôi chết, bà ta vẫn luôn yêu tôi, và chẳng giấu những lúc cứ nhìn tôi đăm đắm...

Lúc trước bà thật sự không giấu nổi sao?

- ... gặp cậu bé lần gần đây nhất là khi nào, chị Parminder? - Kay hỏi.

- Lúc cô chị đưa nó đến chích kháng sinh vì bị nhiễm trùng tai - Parminder đáp - khoảng tám tuần trước đây.

- Lúc đó tình trạng thể chất của cậu bé thế nào? - một nhân viên xã hội khác hỏi.

- Cậu bé không bị chậm phát triển về thể chất đâu - Parminder đáp, rút ta một xấp tài liệu photo mỏng từ trong túi - Tôi khám cho cháu rất kỹ vì, đấy, tôi cũng có biết tình hình cháu trước nay thế nào. Không thấy có chấy rận. Cân nặng tốt, dù tôi nghĩ chế độ ăn của cháu không lấy gì làm lý tưởng. Phần mông đít hơi bị hăm lở, nhưng cô chị nói thỉnh thoảng cháu vẫn còn bị tè dầm.

- Nhà đó cứ đóng tã lại cho thằng bé mà - Kay nhận xét.

- Nhưng chị nhận thấy cháu không có vấn đề gì đáng lo về mặt sức khỏe chứ? - người hỏi Parminder câu đầu tiên khi nãy lại lên tiếng.

- Không có dấu hiệu bị ngược đãi - Parminder đáp - Tôi nhớ là có cởi áo lót của cháu ra xem kỹ, không có vết thâm tím hay thương tích gì.

- Nhà đó không có ai là đàn ông mà - Kay nói chen.

- Còn vụ nhiễm trùng tai thì sao? - bà quản lý của Kay nhắc.

- Đó là một ca nhiễm khuẩn khá bình thường do virus thôi. Không có gì lạ cả. Trẻ tuổi cháu vẫn thường bị.

- Vậy nói chung là...

- Tôi từng thấy nhiều ca nặng hơn cháu nhiều - Parminder kết luận.

- Chị nói là cô chị đưa cháu đi chứ không phải mẹ sao? Chị có đồng thời là bác sĩ của Terri không?

- Tôi nhớ là năm năm nay không thấy Terri đến phòng khám - Parminder đáp, bà quản lý quay sang hỏi thêm Nina.

- Việc điều trị bằng methadone của chị ta như thế nào rồi?

Parminder lại chìm trong suy nghĩ riêng, “Hồn ma” đó chắc là Shirley hay Maureen chứ không phải Howard, nhiều khả năng là mấy người đó theo dõi mình khi ở cạnh Barry, mấy cái đầu già nua bẩn thỉu đó chắc mong vớ thấy cái gì đó để còn dựng chuyện...

- … tham gia chương trình lâu nhất, cho đến nay - Nina đang báo cáo - chị ta thường nhắc về vụ đánh giá này. Tôi có cảm giác chị ta biết đây là cơ hội cuối, sau này sẽ không còn cơ hội nào khác nữa. Chị ta không muốn mất Robbie. Chị ta từng nói thế vài lần. Phải nói là chị đã điểm đúng huyệt, Kay ạ. Chị ta thực sự tỏ ra có chút trách nhiệm rồi, từ khi biết chị ta tới giờ lần đầu tiên tôi mới thấy chị ta được như vậy.

- Cảm ơn chị, nhưng tôi không dám mừng quá sớm đâu. Tình trạng ca này còn bấp bênh lắm - Nói vậy chứ Kay không kìm được nụ cười hài lòng - Thế bên nhà trẻ thì như thế nào hở chị Louise?

- À, cậu bé đã đi nhà trẻ lại - người nhân viên xã hội thứ tư lên tiếng - Ba tuần rồi đi học đầy đủ, đúng là thay đổi lớn. Cô chị chừng mười mấy tuổi đưa cháu đến. Quần áo của cháu đã chật, thường lấm bẩn, nhưng cháu có nói ở nhà được tắm với ăn.

- Còn hành vi thì sao?

- Cháu hơi chậm so với các bạn cùng tuổi. Ngôn ngữ cử chỉ rất nghèo nàn. Cháu không thích đàn ông tới nhà trẻ. Lúc mấy ông bố đến nhà trẻ là cháu cứ bám lấy các cô giữ trẻ chứ không lại gần, còn tỏ ra căng thẳng nữa. Với lại một đôi lần - chị cúi xuống lật một trang ghi chép - rõ ràng cháu bắt chước hành vi tình dục trên người hay bên cạnh các bé gái.

- Dù ta có quyết định tiếp theo làm thế nào, vẫn chưa thể đặt vấn đề đưa cháu bé ra khỏi danh sách nguy cơ cao được - Kay nói, cả bàn lầm rầm ra dấu đồng ý.

- Có vẻ mọi điều đều phụ thuộc vào chuyện Terri theo đúng chương trình của cô - bà quản lý nói với Nina - và bỏ nghề cũ.

- Tất nhiên, chuyện đó là cốt lõi nhất - Kay đồng ý - Nhưng ngay cả khi không dùng heroin, tôi vẫn lo là chị ta không chăm sóc Robbie được bao nhiêu với vai trò người mẹ. Xem ra chính cô chị Krystal mới là người chăm sóc thằng bé, năm nay em ấy mười sáu tuổi và tự em ấy cũng có vô khối vấn đề riêng rồi...

(Parminder nhớ lại những câu đã nói với Sukhvinder vài hôm trước đây.

Krystal Weedon! Cái con nhỏ ngu ngốc đó. Mày cùng đội với con nhỏ đó riết rồi muốn thành cái hạng như thế luôn hả?

Ngày xưa Barry quý Krystal. Ông nhìn thấy nơi con bé những phẩm chất người khác không thấy.

Có một lần, lâu lắm rồi, Parminder kể cho Barry nghe chuyện về Bhan Kanhaiya, người anh hùng của người Sikh đã giúp đỡ cho những người bị thương trong chiến tranh, bất phân địch ta. Khi có người hỏi ông tại sao lại hành xử như vậy, Bhan Kanhaiya đáp ánh sáng của Thượng Đế chiếu rọi tới mọi linh hồn, vì thế ông không thể nào phân biệt đối xử được.

Ánh sáng của Thượng Đế chiếu rọi tới mọi linh hồn.

Vậy mà bà gọi Krystal Weedon là con bé ngu ngốc và ngầm ý bảo nó thấp kém.

Barry không khi nào nói thế.

Thật đáng xấu hổ.)

- ... bà cố của nhà đó giúp chăm sóc cậu nhỏ khi cần kíp, nhưng...

- Bà ấy đã qua đời - Parminder vội vàng tranh lời. - Bị khí thũng và đột quỵ.

- Phải - Kay vẫn đang đọc mớ ghi chép - Quay lại với Terri nào. Ngày xưa chị ta cũng lớn lên ở trung tâm xã hội. Chị ta có từng tham gia lớp học làm cha mẹ nào chưa?

- Chúng tôi có mời nhưng chị ta chưa khi nào đủ ổn định tỉnh táo để mà dự lớp cả - người phụ nữ từ nhà trẻ đáp.

- Nếu chị ta chịu nhận lời và thực sự đến lớp thì sẽ là bước tiến cực lớn đấy - Kay nói.

- Nếu họ buộc ta phải đóng cửa - Nina, người làm việc ở Bellchapel thở dài nói với Parminder - E là chị ta phải đến chỗ chị nhận tiếp methadone đấy.

- Tôi sợ là chị ta không đến đâu - Kay nói trước khi Parminder kịp đáp.

- Cô nói vậy là ý gì? - Parminder nổi giận.

Tất cả những người khác đều quay lại nhìn bà.

- Thì Terri đâu có giỏi đón tuyến xe buýt và nhớ đúng lịch hẹn - Kay giải thích - Còn muốn đến Bellchapel thì chỉ cần đi vài bước chân thôi.

- Ra thế - Parminder đâm ngượng - Phải rồi, xin lỗi. Vâng, chắc là vậy.

(Bà cứ nghĩ Kay ám chỉ Terri không tin bà vì cái chết của Catherine Weedon.

Phải tập trung nghe họ nói gì chứ. Mình bị làm sao thế này?)

- Vậy nhìn chung, - người quản lý nhìn xuống tập ghi chép - Thằng bé không được mẹ quan tâm, và có phần không được chăm sóc đúng mực - bà thở dài, nhưng giọng lại có phần bực mình hơn là buồn - Trước mắt thì cơn khủng hoảng đã qua, chị ta ngừng dùng thuốc, Robbie đi nhà trẻ, lúc cậu bé mà ở đó thì ta có thể trông chừng được, và hiện tạm thời chưa có gì phải lo ngay về sự an toàn của bé. Như Kay nói, ta sẽ giữ cậu bé trong danh sách nguy cơ cao một thời gian nữa… Tất nhiên ta cần phải họp thêm lần nữa sau bốn tuần tới.

Phải bốn mươi phút sau cuộc họp mới kết thúc. Kay đi cùng Parminder xuống bãi giữ xe.

- Chị thật tốt quá, đích thân đến dự cuộc họp, các bác sĩ khác thường chỉ gửi báo cáo tới thôi.

- Sáng nay tôi nghỉ làm mà - Parminder đáp. Bà định giải thích đến họp vẫn hơn là ngồi nhà không có việc gì làm, nhưng hình như Kay lại hiểu bà muốn được ghi nhận công sức bỏ ra nhiều hơn, thế là cô lại nói thêm vài lời có cánh.

Đến chỗ xe Parminder, Kay hỏi - Chị là ủy viên hội đồng khu phải không? Colin có gửi chị các số liệu về trung tâm Bellchapel mà tôi chuyển cho ông ấy không?

- Vâng, có - Parminder đáp - Lúc nào bàn thêm về vụ này thì tốt quá. Tôi đã đề nghị đưa vấn đề này vào chương trình cuộc họp kế tiếp.

Nhưng lúc Kay đưa bà số điện thoại, cảm ơn lần nữa rồi rời đi, tâm trí bà lại quay về chuyện Barry, hồn ma, và nhà Mollison. Lúc lái xe xuyên qua khu Fields trở về, một ý nghĩ mà bấy lâu nay bà cố chôn vùi che giấu cuối cùng cũng thoát ra được qua những lớp phòng thủ đã suy yếu của bà.

Có lẽ mình thực sự yêu Barry.

III

Andrew mất hàng mấy giờ để chọn bộ cánh mặc vào ngày đầu tiên đi làm ở tiệm Ấm Đồng, vắt sẵn trên lưng ghế trong phòng ngủ. Giờ nốt mụn đỏ nhất trên mặt đã biến thành “đỉnh núi lửa” sáng bóng căng nhức trên má phải, Andrew đã phải thử dùng tới món kem nền trang điểm trộm từ bàn phấn của mẹ.

Tối thứ sáu đó, Andrew đang dọn bàn ăn dưới bếp, đầu mải nghĩ tới Gaia và bảy tiếng đồng hồ liên tục được gần sát bên nàng thì ông bố đi làm về. Andrew chưa khi nào thấy bố mình có vẻ bại trận và hoang mang đến thế.

- Mẹ mày đâu?

Ruth vội vã chạy ra từ phòng để thực phẩm.

- Chào anh Si yêu! Anh... có chuyện gì à?

- Công ty đưa tôi vào diện cắt giảm nhân sự rồi.

Ruth kinh hoảng ụp hai tay vào mặt rồi chạy vội đến ôm ghì lấy cổ ông chồng.

- Sao thế? - cô thì thầm.

- Cái bài đăng đó - Simon nói - trên cái website chết toi đó. Jim với Tommy cũng bị lôi vào vụ này. Hoặc là vào nhóm nhân sự bị cắt giảm, hoặc là chịu sa thải. Thương lượng kiểu chết tiệt.

Andrew đứng im như tượng, người từ từ đông cứng lại vì cảm giác tội lỗi.

- Mẹ nó - Simon nói bên vai Ruth.

- Anh sẽ kiếm được việc khác thôi - cô thì thầm.

- Mấy chỗ quanh đây thì đừng hòng - Simon đáp.

Gã mặc nguyên áo khoác ngồi xuống chiếc ghế trong bếp nhìn trừng trừng vô định, có vẻ choáng váng không mở mồm nổi. Ruth lượn lờ xung quanh ông chồng, hết âu yếm an ủi lại sụt sùi khóc lóc hoảng hốt. Andrew khoái trá nhận ra vẻ khoa trương điệu bộ trong cái dáng ngồi nhìn trừng trừng của ông bố. Cảm giác đó làm nó thấy đỡ áy náy đôi chút. Nó tiếp tục im lặng dọn bàn.

Bữa tối diễn ra êm xuôi. Paul sau khi nghe tin trông sợ khiếp vía, như thể ông bố sẽ đổ tội cho nó về mọi chuyện. Trong suốt lúc ăn món đầu tiên, Simon trông vẻ như kẻ tử vì đạo vinh quang vì phải chịu hành hạ thương đau, nhưng chỉ lát sau - Tôi sẽ thuê người đấm nát cái mặt mập của thằng khốn đó - Gã vụt nói khi xúc bánh hấp táo, cả nhà đều biết gã đang ám chỉ Howard Mollison.

- Anh biết không, trên website hội đồng lại có thêm bài đăng đấy - Ruth vội vã nói, hụt hơi. - Không phải chỉ mình anh bị nói đâu Si. Shir... có người ở chỗ làm kể với em thế. Cùng cái tên đó, Hồn ma của Barry Fairbrother, đăng một bài kinh khủng về bác sĩ Jawanda. Nên Howard và Shirley đã mời người kiểm tra website, người đó phát hiện ra có ai đó dùng thông tin đăng nhập của Barry Fairbrother để đăng bài, cho nên để đảm bảo an toàn, họ xóa... gỡ nó khỏi cơ sở dữ liệu hay sao đó…

- Thế có gì trong mớ chuyện của cô giúp tôi lấy lại việc làm không?

Ruth không nói gì nữa suốt một lúc.

Chuyện bà mẹ nói làm Andrew phát sốt. Nó lo người ta sẽ điều tra Hồn ma của Barry Fairbrother và lần theo manh mối là mình.

Mà còn ai lại nghĩ tới chuyện dùng thông tin đăng nhập của Barry Fairbrother ngoài Fats cơ chứ? Nhưng sao Fats lại nhắm vào bác sĩ Jawanda? Hay là thêm một cách để nó hành hạ Sukhvinder? Andrew không thích thế chút nào...

- Mày làm sao đấy? Simon sủa lên.

- Đâu có gì - Andrew lúng búng trong miệng - đúng là sốc quá, công việc của bố...

- À mày sốc cơ đấy, hả? - Simon quát, Paul đánh rơi cả thìa làm kem vấy lên người (lau sạch đi thằng gà ướt!). Đời thực là thế đấy, Mặt Pizza! Khắp nơi toàn bọn khốn cố dìm đầu mà thôi! Cho nên mày! - gã chỉ tay vào cậu con lớn - mày phải moi được chuyện gì thối tha về nhà Mollison, không thì mai đừng có nghĩ tới chuyện về nhà nữa.

- Kìa anh Si...

Simon xô ghế ra, vứt thìa xuống bàn làm nó rơi xuống sàn đánh cách, rồi hùng hổ bỏ ra khỏi phòng sập cửa. Andrew đợi cái phản ứng thường lệ của bà mẹ. Quả nhiên.

- Bố con sốc quá đấy mà - Ruth run run nói nhỏ với các con - Sau bao nhiêu năm cống hiến cho công ty… Bố con không biết sau này làm thế nào chăm sóc mẹ con mình...

Sáu giờ rưỡi sáng hôm sau, chuông đồng hồ vừa réo lên là Andrew đập tắt ngay rồi nhảy bật khỏi giường. Rồi với tâm trạng háo hức như ngày lễ Giáng Sinh, nó rửa mặt thay đồ thật nhanh rồi dành trọn bốn chục phút chăm chút mặt mũi và mái tóc, khẽ chấm chút xíu phấn nền lên mấy điểm mụn thấy rõ nhất.

Lúc nhón chân đi ngang phòng bố mẹ, Andrew chuẩn bị tinh thần là ông bố sẽ chực sẵn đó, nhưng không có ai. Nó nuốt vội bữa sáng rồi lôi chiếc xe đạp đua của Simon trong garage ra phóng như bay xuống Pagford.

Sáng nay trời mù sương, báo hiệu lát nữa sẽ có nắng. Tiệm thực phẩm vẫn còn buông rèm nhưng cánh cửa kính cong mở ra ngay khi cậu đẩy.

- Không phải lối này - Howard kêu to, lạch bạch chạy ra - Cậu vòng ra sau mà vào! Dựng xe đạp chỗ mấy cái thùng rác ấy, đừng có để trước cửa hiệu!

Một lối đi hẹp dẫn vào sân sau cửa tiệm, đó chỉ là mảnh sân bé tí tối tăm bao quanh bởi mấy bức tường cao, thêm vài thùng kim loại kiểu thùng rác công nghiệp và cánh cửa lật với cầu thang dốc đứng dẫn xuống hầm.

- Cậu cứ khóa nó ở chỗ này, miễn đừng vướng đường là được - Howard mặt mày ướt đẫm, mũi mồm tranh nhau vừa thở khò khè vừa dặn. Lúc Andrew đang còn loay hoay với cái khóa xích, Howard quẳng vào mặt nó tấm tạp dề.

- Rồi, bắt đầu từ tầng hầm - lão chỉ cho Andrew cánh cửa lật khi nó đã khóa xong cái xe. - Xuống xem một vòng đi.

Lúc Andrew leo xuống hầm, lão chỉ cúi người nhìn qua cửa. Nhiều năm nay lão không còn tự leo xuống nổi nữa. Tuần nào Maureen cũng phải xiêu vẹo bò lên bò xuống hầm lấy hàng vài ba bận, nhưng giờ hầm còn chất thêm đầy đồ cho quán café mới nên không thể thiếu được một đôi chân trẻ trung hơn.

- Xem xét cho kỹ đi - lão gào với xuống dù không thấy Andrew nữa - Thấy chỗ để bánh gatô với bánh nướng chưa? Mấy túi hạt café to cạnh hộp đựng trà gói đấy? Trong góc có giấy vệ sinh và túi đựng rác, thấy chưa?

- Có - giọng Andrew vang dội từ dưới sâu.

- Gọi là ông Mollison - lão khò khè gắt.

- Vâng... thưa ông Mollison.

Nghe có vẻ châm biếm sao đó. Andrew vội vàng lễ phép hỏi câu khác để lấp liếm.

- Mấy cái tủ lớn này đựng gì vậy ạ?

- Cứ mở ra mà nhìn - Howard sốt ruột đáp - Cậu xuống đó để xem xét cho rõ mà, để còn biết phải cất chỗ nào lấy ở đâu.

Howard lờ mờ nghe tiếng Andrew mở mấy cánh cửa dày nặng, bụng chỉ mong thằng nhỏ này đừng quá ngốc hay phải cầm tay chỉ việc quá nhiều. Hôm nay cơn suyễn của lão đặc biệt nặng, đang không phải mùa mà sao lượng phấn hoa trong không khí dày thế, lại còn bao nhiêu việc phát sinh và mọi sự phấn khích có phần chộn rộn trong ngày khai trương. Sao mà đổ mồ hôi lắm thế, chắc phải gọi cho Shirley mang cho lão cái áo sơ mi mới để thay trước khi mở cửa.

- Xe tải đến rồi kia - Howard gào lên khi nghe tiếng động cơ rồ rồ rẽ vào tiệm - Lên đây! Cậu mang hàng xuống xếp dưới hầm nghe không? Rồi mang mấy lít sữa sang tiệm café cho tôi. Cậu hiểu không?

- Vâng... thưa ông Mollison - Andrew đáp vọng lên từ dưới hầm.

Howard chậm chạp quay lại phòng cho nhân viên phía sau quầy để lấy ống thuốc xịt trong túi áo khoác. Sau nhiều hơi hít sâu, lão đã thấy dễ chịu hơn. Rồi lão lấy tạp dề chùi mặt, ngồi phịch xuống một cái ghế ọp ẹp mà nghỉ.

Sau lần đi khám viêm da, Howard nhiều lần nghĩ tới câu bác sĩ Jawanda nói: cân nặng là nguồn gốc mọi vấn đề về sức khỏe của lão.

Đúng là vớ vẩn. Cứ nhìn thằng nhóc nhà Hubbard mà xem, gầy như cái que mà vẫn hen lên suyễn xuống đó thôi. Theo lão nhớ, cơ thể lão từ hồi trẻ đã đồ sộ thế này rồi. Trong vài tấm ảnh hiếm hoi chụp chung với bố lão (ông này đã bỏ nhà đi lúc con trai bốn, năm tuổi) thì cậu nhóc Howard khi đó mới ở mức mũm mĩm thôi. Sau khi ông bố bỏ đi, mẹ cậu đặt cậu ngồi ngay đầu bàn giữa bà với bà nội, và cứ hễ cậu không lấy thêm đồ ăn là bà lại buồn. Thế rồi cậu từ từ béo phĩnh ra lấp đầy khoảng trống giữa hai người phụ nữ, đến năm mười hai tuổi thì đã nặng bằng ông bố lúc bỏ đi. Howard dần gắn chuyện ăn uống ngon miệng với bản lĩnh đàn ông. Vẻ ngoài cao to cũng là một nét đặc trưng của lão. Hình thể đó được âu yếm bồi đắp bởi hai người phụ nữ yêu quý lão, chỉ có con mụ Tai-Cụp khoái phá thối người khác mới tính chuyện tước đi cái vẻ đặc trưng đó của người ta.

Nhưng thỉnh thoảng, khi yếu mệt vì khó thở hay không đi lại nổi, Howard cũng thấy sợ. Shirley luôn rất giỏi cư xử như thể lão chưa bao giờ gặp hiểm họa gì về sức khỏe, nhưng lão vẫn nhớ những đêm dài trong bệnh viện sau khi phẫu thuật tim nhân tạo, lúc đó lão mất ngủ vì lo trái tim mệt mỏi quá rồi ngừng đập. Cứ nỗi lần nhìn thấy Vikram Jawanda, lão lại nhớ những ngón tay nâu thon dài đó từng thực sự chạm vào trái tim trần trụi còn đang đập của lão; cái vẻ thân thiện quá mức với ông bác sĩ mỗi lần chạm mặt cũng là một cách che giấu nỗi khiếp sợ nguyên sơ và bản năng đó nơi lão. Hồi còn ở bệnh viện sau ca phẫu thuật, người ta cũng có khuyên lão giảm cân, lão chẳng làm gì cũng đã giảm được gần 13kg khi phải ăn mấy món dở tệ trong bệnh viện, thế rồi Shirley ra sức bồi dưỡng cho lão khi xuất viện...

Howard ngồi thêm một lát, tận hưởng cảm giác hít thở dễ dàng sau khi dùng thuốc xịt. Ngày hôm nay rất có ý nghĩa với lão. Ba mươi lăm năm trước, lão giới thiệu đến người dân Pagford những món ăn làm sẵn tinh tế với khí thế rừng rực như tay thám hiểm thế kỷ mười sáu mang về tinh hoa ẩm thực từ nửa kia thế giới; và dân Pagford, sau những e dè ban đầu, chẳng bao lâu đã tò mò lẫn rụt rè sán lại gần những hộp nhựa đựng đồ ăn của lão. Lão rầu rầu nhớ bà mẹ đã quá cố, khi trước bà luôn tự hào về cậu con trai và việc kinh doanh phát đạt của cậu ta. Giá mà giờ bà còn sống để chứng kiến tiệm café khai trương. Howard ì ạch nhấc người đứng dậy, với lấy cái mũ hai vành trên móc rồi cẩn thận chụp lên đầu như đội mũ miện đăng quang.

Các cô phục vụ mới cùng đến lúc tám rưỡi. Lão đã sẵn món bất ngờ chờ hai cô.

- À các cô đây rồi - lão lôi ra hai bộ đồng phục: đầm liền đen và tạp dề trắng viền đăng đen, đúng như lão hình dung. - Hẳn là vừa thôi. Maureen nói biết cỡ của các cô. Bà ấy cũng đang mặc một bộ giống thế này.

Gaia cố nhịn cười khi Maureen từ tiệm café đi qua cười chào hai đứa. Bà ta đang đi đôi sandal Dr Scholl và vớ đen. Chiếc váy đen cách hai đầu gối nhăn nheo độ ngón tay.

- Các cháu vào phòng nhân viên mà thay đồ - bà chỉ tay vào căn phòng Howard vừa ló ra.

Gaia đứng cạnh cửa toilet và đã kịp cởi xong quần jean mới để ý thấy vẻ mặt của Sukhvinder.

- Sao thế, cô nàng mắc cỡ?

Cái biệt hiệu mới mẻ làm Sukhvinder có can đảm nói ra điều cô vẫn giấu bấy nay.

- Mình không mặc cái này được - cô thì thầm.

- Sao thế?- Gaia hỏi - trông bồ O.K mà.

Chiếc đầm liền đen ngắn tay.

- Không được đâu.

- Nhưng vì... Ôi trời ơi - Gaia thốt lên.

Sukhvinder đã vén cao ống tay chiếc áo lạnh dài tay đang mặc. Má trong cánh tay chằng chịt vết sẹo xấu xí ngang dọc, những vết cắt mới còn đỏ tươi chạy suốt dọc từ cổ tay lên cánh tay.

- Cô nàng mắc cỡ - Gaia khẽ hỏi - Chơi trò gì thế hả bạn mình?

Sukhvinder lắc đầu, mắt ầng ậc nước.

Gaia ngẫm nghĩ một lát rồi nói - mình biết rồi, lại đây.

Cô bé kéo tuột cái áo thun dài tay đang mặc khỏi người.

Cánh cửa bị húc mạnh, cái then cài lỗng lẻo bật tung, Andrew ròng ròng mồ hôi khiêng hai thùng giấy vệ sinh nặng trịch dợm bước vào, tiếng hét tức giận của Gaia làm cậu sững lại rồi vội vàng giật lui, đâm luôn vào Maureen.

- Các cô đang thay đồ trong đó mà - bà ta cau có mắng.

- Ông Mollison bảo cháu mang giấy vệ sinh vào phòng nhân viên...

Chết tử chết tiệt! Cô nàng còn mỗi đồ lót trên người. Cậu kịp thấy gần hết.

- Xin lỗi nhé - cậu nói vọng qua cánh cửa đóng kín. Mặt cậu nóng ran vì ngượng.

- Đồ đầu đất - Gaia lầm bầm. Cô bé đưa cái áo cho Sukhvinder. - Mặc vào dưới đồng phục ấy.

- Thế trông kỳ lắm.

- Kệ không sao đâu. Tuần sau mang áo đen đi, thế giống như bồ mặc đầm liền dài tay thôi. Tụi mình sẽ nghĩ ra cớ gì đó để nói với ổng...

- Bạn cháu bị chàm - Gaia nói lúc hai đứa ra khỏi phòng, áo váy chỉnh tề. - Suốt dọc cánh tay, trông hơi ghê.

- À - Howard liếc mắc nhìn tay áo thun trắng của Sukhvinder rồi quay sang Gaia, cô bé trông hoàn mỹ từng tấc một, đúng như lão mong đợi.

- Tuần sau cháu sẽ mang theo áo đen - Sukhvinder cụp mắt lí nhí.

- Được rồi - lão nói, phát vào eo lưng Gaia một cái lúc đưa hai đứa sang tiệm café - cố lên nhé - lão nói to với mọi người. - Sắp rồi đây... nào, mời chị mở cửa đi Maureen.

Bên ngoài vỉa hè đã có vài khách hàng đợi sẵn. Tấm biển bên ngoài tiệm đề:

Quán Ấm Đồng, khai trương hôm nay - Ly café đầu tiên miễn phí!

Mấy tiếng sau đó, Andrew không có lúc nào gần được Gaia. Howard khiến nó chạy lên chạy xuống cầu thang dốc đứng khuân sữa và nước trái cây, lại còn phải lau sàn căn bếp nhỏ phía sau. Nó nghỉ ăn trưa sớm hơn hai cô phục vụ. Lần thứ hai Andrew được thấy Gaia trong ngày là lúc Howard gọi nó ra chỗ quầy, hai cô cậu đi lướt qua cách nhau chưa đến gang tay rồi cô nàng rẽ vào phòng phía sau.

- Chúng ta bị ngập lụt rồi đây, ngài Price - Howard đùa, lão đang rất phấn chấn. - Cậu thay cái tạp dề sạch đi rồi lau dọn mấy cái bàn kia trong lúc Gaia ăn trưa.

Miles và Samantha Mollison đang ngồi cùng hai cô con gái và Shirley ở cái bàn sát cửa sổ.

- Mọi chuyện có vẻ đang trôi chảy thật đấy nhỉ? - Shirley nhìn quanh - Nhưng con gái nhà Jawanda mặc cái gì dưới đồng phục thế kia?

- Băng tay à? - Miles liếc mắt nhìn, cố đoán.

- Hi, Sukhvinder - Lexie gọi, hai cô học với nhau hồi tiểu học.

- Đừng nói to thế cưng - Shirley nhắc nhở cô cháu gái, Samantha lập tức xù lông lên.

Maureen xuất hiện sau quầy trong bộ đầm đen ngắn tay và tạp dề viền đăng ten, Shirley chúi vào ly café cố nhịn cười.

- Ôi trời ơi - bà ta lẩm bẩm, Maureen đang toe toét cười tiến lại bàn.

Tất nhiên rồi, Samantha nghĩ, Maureen mặc thế trông chẳng ra làm sao, nhất là khi đứng cạnh hai cô bé mười sáu tuổi ăn mặc y hệt, nhưng cô quyết không hưởng ứng cho bà mẹ chồng đắc chí. Cô cố tình quay đi chỗ khác, nhìn cậu nhỏ đang lau bàn gần đó. Trông cậu gầy người nhưng vai khá rộng. Dưới lớp áo thun rộng, cô thấy được cơ bắp trên người cậu chuyển động khi làm việc. Tấm lưng nung núc của Miles mà được thon gọn thế thì còn gì bằng - rồi cậu bé quay ra chỗ sáng làm lộ rõ đám mụn trên mặt.

- Không tệ nhỉ? - Maureen quang quác bảo Miles - Suốt ngày nay sẽ kín bàn đây.

- Được rồi các quý nương - Miles bảo cả nhà - mình gọi món gì để tăng lợi nhuận cho ông ngoại nào?

Samantha gọi bừa tô xúp lúc Howard lạch bạch từ hiệu thực phẩm chạy sang; suốt ngày cứ mười phút là lão lại chạy ra chạy vào tiệm café, hết đón khách lại kiểm tra mớ tiền trong ngăn thu ngân.

- Khách vô ào ào - lão bảo Miles rồi chen vào ngồi chung. - Con thấy chỗ này thế nào Sammy? Con chưa từng thấy mấy thứ này, hả? Tranh tường này, rồi đồ sứ nữa?

- Ừm - Samantha đáp - đẹp lắm ạ.

- Bố đang định tổ chức mừng thọ sáu lăm tuổi ngay trong tiệm này luôn - Howard nói, lơ đãng gãi gãi vết ngứa đã bôi kem Parminder kê cho nhưng chưa kịp lành - không đủ chỗ rồi. Thôi chắc cứ phải mượn sảnh nhà thờ.

- Hôm nào hở ông? - Lexie nói lớn - con có được dự không?

- Ngày hai chín, giờ cháu năm nay bao lớn đấy nhỉ, mười sáu à? Tất nhiên là cháu cũng đến chứ - Howard vui vẻ đáp.

- Ngày hai chín à? - Samantha hỏi lại - ồ, nhưng mà...

Shirley liếc con dâu một nhát sắc như dao cạo.

- Bố con dự tính chuyện này cả mấy tháng rồi. Cũng đã nói với các con từ lâu rồi.

- Nhưng đó là đêm có buổi diễn ca nhạc Libby muốn xem - Samantha nói.

- Buổi diễn ở trường ấy à? - Howard hỏi.

- Không ạ - Libby đáp thay - mẹ mua cho cháu vé xem nhóm nhạc cháu thích.  Ở London.

- Con cũng cùng đi với cháu - Samantha nói thêm - không thể để con bé đi một mình được.

- Mẹ của Harriet nói cô ấy...

- Mẹ sẽ đích thân đi cùng con, Libby, nếu con đi London.

- Ngày hai mươi chín à? - Miles trừng mắt nhìn vợ - ngay hôm sau buổi bầu cử?

Samantha bật cười chế nhạo, cô đã nhịn cái cười này từ nãy lúc nhìn thấy Maureen.

- Hội đồng khu thôi mà Miles. Đâu phải anh sắp tổ chức họp báo.

- Ờ, nhưng cả nhà sẽ nhớ con đấy Sammy - Howard bảo, chống tay vào lưng ghế nhấc mình dậy - Tiếp thôi… thôi được rồi đấy Andrew… xuống hầm xem có cần gì không đi.

Andrew phải đứng chờ một lát bên quầy vì hàng người liên tục ra vào nhà vệ sinh chắn lối. Maureen đang trao cho Sukhvinder mấy đĩa bánh mì kẹp.

- Mẹ cháu thế nào? - Bà ta đột nhiên hỏi, như chợt nghĩ tới.

- Khỏe ạ - Sukhvinder đỏ mặt đáp.

- Không quá buồn về vụ bài đăng trên website hội đồng chứ?

- Không ạ - Sukhvinder đáp, mắt đã có nước.

Andrew bỏ ra khoảng sân sau nhớp nháp, mới đầu buổi chiều, trời còn nắng và ấm áp. Ước gì Gaia cũng ra đây hít thở chút không khí trong lành, nhưng chắc cô ấy lại vào phòng nhân viên rồi. Nó thất vọng châm điếu thuốc rồi suýt nuốt luôn ngụm khói khi Gaia đột nhiên ló ra từ tiệm café, đang uống lon nước có ga sau bữa trưa.

- Chào - Andrew lên tiếng, miệng khô khốc.

- Chào - cô đáp, im một thoáng rồi nói tiếp - Này, sao bạn cậu làm trò như cứt với Sukhvinder thế hả? Do thù riêng hay nó là thằng phân biệt chủng tộc?

- Cậu ta không phân biệt chủng tộc - Andrew rút điếu thuốc khỏi môi, cố giữ tay không run, nhưng không nghĩ ra câu gì khác mà nói nữa. Ánh mặt trời phản chiếu trên mấy thùng rác rọi lên tấm lưng đẫm mồ hôi của nó âm ấm. Khủng quá, nó đứng ngay gần nàng lúc nàng mặc váy ôm sát thế này, mà nó lại còn thấy thân hình dưới lớp áo váy đó rồi nữa chứ. Andrew rít thêm hơi nữa, từ trước đến giờ chưa khi nào nó thấy mình vừa sững sờ vừa rạo rực đến thế.

- Thế bạn tôi đã làm gì cậu ta?

Vòng hông uốn lượn lên cái eo nhỏ xíu, cặp mắt to xanh lấp lánh ánh vàng hoàn hảo sau lon Sprite. Andrew chỉ muốn đáp, không gì cả, nó là thằng khốn, cậu để mình sờ một cái là mình sẵn lòng nện nó ngay...

Sukhvinder cũng bước ra sân, chớp chớp mắt vì nắng; trông cô bé có vẻ nóng bức và không thoải mái trong cái áo của Gaia.

- Ông ấy gọi bồ vào kìa - Sukhvinder nói với Gaia.

- Cứ để ông ấy đợi một lát - Gaia lạnh lùng đáp - mình phải chấm dứt cho xong vụ này. Mình mới nghỉ trưa có bốn mươi phút thôi mà.

Andrew và Sukhvinder nhìn sững cô bé bình thản nhấp nước ngọt, hâm mộ vẻ đẹp lẫn sự ngạo mạn của cô nàng.

- Con mụ già kia vừa hỏi gì về mẹ bồ hả? - Gaia hỏi Sukhvinder.

Sukhvinder gật đầu.

- Tôi nghĩ chính là thằng bạn của cậu ta - cô nhìn thẳng vào Andrew, nó nghe cái chữ của cậu ta nhấn mạnh đó sao mà khêu gợi, dù cô bé cố tình tỏ ý khinh bỉ - đăng bài về mẹ của bồ trên website.

- Không thể nào - Andrew nói ngay nhưng giọng không lấy gì làm chắc - Người làm trò đó cũng nhắm tới ông già tớ mà. Vài tuần trước.

- Cái gì?- Gaia hỏi - Cũng cái tay đó đăng bài về bố cậu hả?

Andrew gật đầu, sung sướng vì nàng tỏ ra quan tâm.

- Về vụ ăn cắp gì đó, phải không? - Sukhvinder hỏi với vẻ táo bạo hiếm có.

- Ờ - Andrew đáp. - Hôm qua bố tớ bị sa thải vì vụ đó. Vì thế mẹ bạn ấy - Andrew cố nhìn thẳng lại Gaia - không phải người duy nhất khốn khổ đâu.

- Quỷ tha ma bắt - Gaia uống cạn lon nước rồi quẳng vào thùng rác - mấy người ở đây thần kinh cả lũ rồi.

IV

Bài đăng về Parminder trên website hội đồng làm những cơn ác mộng của Colin càng thêm trầm trọng. Ông phỏng đoán nhà Mollison đang tìm cách moi thông tin về họ, nếu đến chuyện của Parminder mà nhà đó cũng biết...

- Ôi trời ơi Colin - Tessa phải kêu lên với ông chồng - mấy lời mách lẻo độc địa thôi mà. Có gì đáng để ý đâu chứ!

Nhưng Colin không dám liều tin vợ. Ông luôn tin rằng người ta sống với quá nhiều bí mật đến nỗi đâm ra dở điên dở dại. Dù những thảm họa ông lo lắng suốt hơn nửa đời người chưa từng thành hiện thực, nhưng không vì thế mà ông đỡ lo hơn; theo quy luật trung bình thì sớm muộn cũng có chuyện xảy ra thôi.

Hai rưỡi chiều, trên đường từ hiệu bán thịt về nhà, ông mải lo nghĩ đến lúc bị vạch trần sau này nên tới khi nghe tiếng ồn ào vọng ra từ hiệu café mới, ông mới sực tỉnh nhận ra mình đang ở đâu. Đúng ra ông định băng qua phía kia quảng trường, nhưng chân đã bước ngang cửa sổ hiệu Ấm Đồng, sát với đám người nhà Mollison đáng sợ. Liếc mắt qua cửa sổ, ông ngạc nhiên đến ngẩn người.

Mười phút sau lúc ông bước vào bếp, Tessa đang gọi điện thoại cho bà chị. Colin bỏ túi thịt cừu vào tủ lạnh rồi đi thẳng lên gác xép chỗ Fats ngủ. Ông đẩy tung cửa, đúng như dự đoán, căn phòng trống không.

Không biết lần gần đây nhất ông lên đây là khi nào nữa. Sàn phòng vương vãi đầy quần áo bẩn. Có mùi gì khăng khẳng dù Fats đã mở cửa sổ mái. Colin để ý thấy một hộp diêm lớn trên bàn bèn mở ra, bên trong đầy ắp điếu giấy cuốn xoắn. Một hộp giấy quấn Rizlas nằm lộ liễu trơ tráo ngay cạnh chiếc máy vi tính.

Colin giận tới mức tim đập thình thình muốn văng khỏi lồng ngực.

- Anh Colin? - Giọng Tessa vẳng lên từ dưới nhà - Anh ở đâu thế?

- Trên này - Colin gầm lên.

Cô xuất hiện trước cửa phòng, trông lo lắng và sợ hãi. Không nói tiếng nào, ông mở hộp diêm chìa cho vợ xem.

- Trời ơi - cô nói yếu ớt.

- Hôm nay nó bảo đi chơi với Andrew Price - Colin nói. Tessa sợ hãi nhìn quai hàm ông chồng nghiến lại trợn trừng trợn trạo vì tức giận. - Tôi mới đi ngang tiệm café mới mở chỗ quảng trường, thằng Andrew đang lau bàn trong đó. Thế thằng Stuart đâu?

Nhiều tuần nay, Tessa luôn vờ tin lời Fats mỗi lần nó bảo đi chơi với Andrew. Cô tự phỉnh mình rằng Sukhvinder nhầm lẫn đó thôi, làm gì có chuyện Fats đi chơi (hay sau này có khi nào chịu hạ cố đi chơi) với Krystal Weedon.

- Em không biết - Cô xoa dịu - thôi anh xuống lầu uống cốc trà đi, em sẽ gọi cho nó.

- Tôi sẽ chờ ở đây - Colin dứt khoát ngồi xuống cái giường chưa dọn của thằng Fats.

- Thôi mà anh, xuống nhà đi - Tessa năn nỉ.

Cô sợ để ông chồng ngồi đây một mình. Trời mới biết ông sẽ còn tìm thấy thứ gì trong ngăn kéo hay cặp đi học của Fats nữa. Cô cũng chẳng hề mong ông lục lọi máy tính hay dòm xuống gầm giường. Tránh né những góc tối tăm vốn là chiêu quen thuộc duy nhất của cô từ trước đến nay.

- Xuống đi nào Colin - Cô giục.

- Không - Colin đáp, khoanh chéo tay trước ngực như đứa trẻ con cáu kỉnh, quai hàm vẫn trợn trạo - Nó có ma túy. Con trai của phó hiệu trưởng đấy.

Tessa ngồi xuống chiếc ghế trước máy tính của Fats, cảm giác bực bội quen thuộc lại bùng lên. Cô biết cái thói lo sợ cho bản thân đó là do căn bệnh tâm lý của Colin, nhưng đôi khi...

- Tụi trẻ cỡ nó nhiều đứa vẫn thử cho biết mà - cô nói.

- Cô vẫn còn bênh nó hả? Có khi nào cô nghĩ cứ bênh riết rồi nó nghĩ có giết người cũng thoát được tội không?

Tessa cố nén giận, cô biết mình phải làm đệm đỡ giữa hai cha con.

- Xin lỗi nhé Colin, nhưng mà đâu phải mọi thứ chỉ xoay quanh anh và công việc của anh…

- Ờ rõ rồi, cho nên nếu tôi bị đuổi việc...

- Sao anh lại nghĩ mình bị đuổi cơ chứ?

- Trời ơi là trời - Colin gào lên - Cái gì cũng chĩa vào tôi mà, vốn đã tệ hại lắm rồi, nó trước giờ luôn là đứa cá biệt nhất trong…

- Không đúng - Tessa quát lại - Ai cũng nghĩ Stuart là cậu thiếu niên bình thường thôi. Nó có phải Dane Tully đâu!

- Giờ nó theo đường thằng Tully rồi đó, ma túy….

- Lúc trước em đã bảo anh là phải gửi nó đi học trường Paxton rồi mà. Em thừa biết nó mà học ở Winterdown thì nó làm gì thì anh cũng nghĩ nó nhằm vào anh hết! Lúc nào cũng nghĩ thế thì trách sao mà nó không nổi loạn? Em đâu bao giờ muốn nó vào học ở trường anh đâu!

- Còn tôi ấy hả - Colin nhảy bật dậy rống lên - chưa bao giờ muốn có nó hết!

- Đừng có nói thế - Tessa hổn hển - em biết anh đang bực nhưng đừng có nói những lời đó!

Dưới lầu có tiếng cửa trước đóng sập. Tessa hoảng hốt ngó quanh như thể Fats lập tức hiện ra ngay bên cạnh họ. Cô không phải chỉ giật mình vì tiếng động lớn mà còn vì Stuart không bao giờ có thói sập cửa như thế, nó thường ra vào lặng ngắt như cái bóng.

Cô nghe tiếng chân quen thuộc bước lên cầu thang. Liệu nó có nghi ngờ hay đã biết bố mẹ đều đang ở ttong phòng nó không? Colin vẫn đợi, tay nắm chặt. Tessa nghe tiếng cầu thang cọt kẹt, rồi Fats xuất hiện. Cô biết chắc nó đã dọn sẵn cái vẻ mặt khinh bỉ lẫn chán ngán đó.

- Chào - nó nhìn hết bà mẹ lại đến ông bố quàu quạu cứng ngắc. Nó có vẻ cái tự chủ kỳ lạ mà Colin chưa khi nào có được - Ngạc nhiên chưa.

Tessa tuyệt vọng cố cảnh báo cậu con.

- Bố con lo không biết con đi đâu - cô nói với vẻ nài nỉ - Con nói hôm nay đi chơi với Arf, nhưng bố con thấy…

- À, đổi kế hoạch mà - Fats đáp.

Nó liếc mắt sang chỗ vẫn để cái hộp diêm.

- Thế cậu cả nói cho bố mẹ biết đã đi đâu được chứ? - Colin hỏi, hàm nghiến chặt đến trắng bệch.

- Ờ, nếu hai người muốn nghe - Fats nói, ông bố chờ đợi.

- Kìa Stu - Tessa nửa rên rỉ nửa van nài.

- Tui đi chơi với Krystal Weedon - Fats tỉnh rụi.

Ôi trời ơi, không -Tessa tuyệt vọng nghĩ - Không, không, không.

- Mày làm gì? - Colin hỏi lại, ngạc nhiên tới nỗi quên cả lên gân.

- Tui đi chơi với Krystal Weedon - Fats nhắc lại to hơn.

- Từ khi nào nó thành bạn mày thế? - Colin hỏi sau thoáng im lặng.

- Cũng gần đây - Fats đáp.

Tessa thấy rõ Colin đang cố chọn từ cho một câu hỏi quá lố bịch đến khó bật ra lời.

- Đúng ra con phải nói với bố mẹ, Stu - cô lên tiếng.

- Nói chuyện gì? - nó hỏi.

Cô sợ thằng con đẩy cuộc đối đầu này tới chủ đề hiểm nghèo.

- Nói con đi đâu - cô đứng dậy, cố ra vẻ bình thường - lần sau nhớ gọi báo bố mẹ.

Cô nhìn sang Colin những mong ông chồng cũng theo cô ra cửa. Nhưng ông vẫn đứng sững giữa phòng kinh hãi nhìn trừng trừng Fats.

- Mày có... qua lại với Krystal Weedon không?

Hai người mặt đối mặt, Colin cao hơn cả gang tay nhưng Fats nắm trọn ưu thế.

- Qua lại? - Fats lặp lại - “Qua lại” nghĩa là sao?

- Mày biết tao muốn hỏi gì mà! - Mặt Colin đỏ bừng.

- Tính hỏi tui có dùi con nhỏ không chứ gì? -Fats hỏi lại.

Tessa khẽ kêu lên “Stu” nhưng đã bị Colin gào át đi - Sao mày dám nói thế hả!

Fats thản nhiên cười khẩy nhìn ông bố, đầy vẻ thách thức chế nhạo.

- Sao chứ? - Fats hỏi.

- Mày có - Colin cố tìm từ, mặt càng đỏ gay đỏ gắt - Mày có ngủ với Krystal Weedon không?

- Nếu có thì cũng chẳng sao, phải không? - Fats hỏi, liếc nhìn bà mẹ - hai người đều đang giúp đỡ Krystal mà, đúng không?

- Giúp đỡ…

- Thì hai người cố đấu tranh duy trì cái trung tâm cai nghiện đó để giúp đỡ gia đình Krystal đó thôi?

- Thế thì liên quan gì…

- Thì tui đi chơi với nó có chuyện gì đâu.

- Vậy là con có đi chơi với nó phải không? - Tessa đanh giọng. Được thôi, nếu Fats đã muốn đẩy chuyện đến nước này thì cô theo. - Con thực sự có đi chơi ở đâu với nó không hả Stuart?

Nó lại cười khẩy làm cô phát điên. Thậm chí nó còn không buồn vờ giữ chút lễ phép nào nữa.

- Ừ thì, hai đứa tui chưa khi nào “làm” ở nhà này hay nhà nó…

Colin vung nắm đấm nện vào mặt thằng con, Fats đang chú ý tới bà mẹ nên không kịp đỡ, nó loạng choạng va vào cái bàn rồi thoáng trượt xuống sàn. Lúc nó đứng thẳng dậy, Tessa đã kịp đứng chắn giữa hai người, đối mặt với thằng con.

Sau lưng cô, Colin lặp đi lặp lại - thằng oắt khốn kiếp, thằng oắt khốn kiếp.

- Thế hả? - Fats thôi không cười khẩy nữa - Tôi ít khốn kiếp hơn ông, phải không lão khốn già!

- Không! - Tessa gào lên - Colin, ra ngoài. Đi ra đi!

Colin vừa giận vừa sốc vẫn đứng sừng sững đó trong chốc lát rồi mới bỏ ra khỏi phòng, hai người nghe tiếng ông hơi vấp chân chỗ cầu thang.

- Sao con có thể làm thế? - Tessa thì thầm hỏi.

- Có thể làm cái quái gì? - Stuart quát, cái vẻ trên mặt nó làm cô vội vàng chốt cửa rồi đứng chặn luôn ở đó.

- Con lợi dụng con bé đó, Stuart, con biết thế mà, rồi con nói năng kiểu đó với...

- Cái cứt - Fats lồng lộn đi qua đi lại, vẻ thản nhiên thường ngày hoàn toàn biến sạch - Lợi dụng cái cứt. Con đó biết thừa nó làm gì, chỉ vì nó sống ở cái khu Fields chó chết đó, chỗ đó không… Thật ra bà với lão Tủ không muốn tui dùi nó chỉ vì nghĩ nó thấp kém...

- Không đúng - Tessa nói dối, và dù cũng quan tâm tới Krystal, cô chỉ mong thằng con đủ lý trí mà mang bao cao su.

- Đồ đạo đức giả, bà với lão Tủ đều một giuộc - Nó vẫn hầm hầm sải bước khắp phòng - Mồm thì suốt ngày rêu rao nói muốn giúp nhà Weedon, thực ra đâu có muốn...

- Đủ lắm rồi - Tessa gào lên - Sao dám nói với mẹ thế hả? Sao mày không thấy... sao mày không hiểu mày ích kỷ thế nào hả...?

Cô nghẹn lời, quay người giật mạnh cửa bỏ ra ngoài rồi đóng sập lại.

Bà mẹ đi rồi, Fats thoáng thấy lạc lõng. Nó ngừng chân nhìn sững cánh cửa đóng vài giây. Nó lục túi moi ra điếu thuốc lá rồi châm lửa, không màng thổi khói ra cửa sổ mái. Nó giận dữ đi lại lại đầu óc tràn đầy những hình ảnh lộn xộn kỳ quặc.

Nó nhớ tới buổi tối thứ Sáu gần một năm trước đó, Tessa lên phòng bảo nó ngày mai ông bố muốn dẫn nó đi đá bóng với Barry và mấy cậu con trai nhà đó.

(-  Gì chứ? - Fats lưỡng lự hỏi, chưa khi nào bố nó rủ nó đi như thế.

- Cho vui thôi mà. Không có gì đặc biệt - Tessa nói, tránh ánh mắt Fats bằng cách vờ bực bội nhìn đống quần áo rải khắp sàn.

- Tại sao?

- Bố con nghĩ đi thế thì vui thôi - Tessa nói, cúi nhặt một cái áo đồng phục - Declan cũng muốn tập một chút hay gì đó. Nó sắp có trận thi đấu mà.

Fats đá bóng cũng khá. Ai cũng thấy lạ, cứ nghĩ kiểu như nó chắc không ưa thể thao và coi khinh mấy đội này nhóm nọ. Nó dùng chân cũng thạo như dùng miệng lưỡi, biết tạo ra hàng loạt động tác giả, lừa qua mấy đứa vụng về, có cơ hội là sút luôn nhưng nếu bóng không vào gôn thì nó cũng chẳng để tâm.

- Không ngờ ông ấy cũng biết chơi đấy.

- Bố con chơi khá giỏi, hồi bố mẹ quen nhau ông ấy chơi đều hai lần mỗi tuần đấy - Tessa phát bực - ngày mai, mười giờ sáng nhé! Mẹ sẽ giặt giúp cái quần thể thao cho.)

Fats rít thuốc, nó nhớ lại mọi chuyện dù không muốn. Sao lúc ấy nó lại chịu thỏa hiệp với chuyện đó? Nếu là bây giờ, nó chỉ đơn giản từ chối tham gia vào trò mèo của lão Tủ rồi nằm dài trên giường cho đến khi họ chửi chán thì thôi. Một năm trước, nó vẫn chưa hiểu thế nào là xác thực.

(Hôm đó cuối cùng nó vẫn đi với ông bố, hai người im lặng đi bộ chừng năm phút, cả hai đều nhận thấy khoảng hụt hẫng khủng khiếp giữa họ.

Sân bóng vốn là của trường Thánh Thomas. Hôm đó trời nắng hanh. Mọi người chia thành hai đội ba người, vì Declan dẫn theo một đứa bạn đến ngủ lại với nó vào cuối tuần. Cậu bạn rõ ràng là chết mê thằng Fats nên vào đội của bố con Fats.

Fats và ông bố lặng thinh chuyền bóng cho nhau, còn Barry chơi dở nhất thì hết hét hò đến động viên bằng cái giọng Yarvil nhặng xị giữa hai đống áo nịt họ chất làm gôn. Khi Fergus ghi bàn, Barry lao tới tính nhảy đập ngực ăn mừng nhưng hụt, va luôn đầu vào hàm cậu con. Hai bố con ngã lăn ra, Fergus vừa kêu rên vừa cười sằng sặc, Barry ngồi thụp xuống bên cạnh cũng vừa xin lỗi vừa cười phá ra. Fats cũng cười theo nhưng khoặm mặt bỏ đi ngay khi nghe thấy tiếng ông bố cười hô hố.

Rồi tới cái giây phút nhục nhã đó, lúc đó tỉ số đang hòa và sắp tới giờ về, Fats đã lừa được bóng qua mặt Fergus, lão Tủ gào lên - Cố lên, Stu, chàng trai!

“Chàng trai”, lão Tủ chưa bao giờ dùng từ này. Nghe nó mới sáo rỗng, gượng ép và thảm hại nữa chứ. Rõ là ông ta đang cố bắt chước kiểu động viên tự nhiên thoải mái Barry dành cho các con. Cố ra vẻ với Barry đây mà.

Quả bóng bắn thẳng từ chân sút của Fats như viên đạn pháo, đập thẳng vào gương mặt bất ngờ và ngớ ngẩn của lão Tủ làm kính gãy vụn, một giọt máu ứa ra dưới mắt lão. Phải mất một khắc ông ta mới nhận ra ý định của nó, mới biết nó cố tình làm thế, mới rõ cú sút ấy chính là đòn trừng phạt.)

Hai bố con không bao giờ chơi bóng đá với nhau nữa. Chút trải nghiệm kiểu bố-và-con-trai bị xếp xó, như hàng chục lần trước đó.

Còn tôi chưa bao giờ muốn có nó hết!

Nó biết chắc mình nghe rõ câu đó. Lão Tủ hẳn là nói về nó thôi, đang trong phòng nó mà, còn nói tới ai khác được chứ?

Như thằng này bậy một bãi thôi thôi - Fats nghĩ. Trước này nó luôn nghi ngờ chuyện đó mà. Nhưng sao ngực nó bỗng nhiên thấy lạnh thế?

Fats dựng cái ghế đổ kềnh trong lúc xô xát dậy. Đúng ra cách phản ứng đúng đắn phải là gạt bắn mẹ nó ra mà đâm vào mặt lão. Đập bể kính lão lần nữa. Khiến lão đổ máu. Fats thấy nhục với chính mình vì đã không làm thế.

Nhưng vẫn còn cách khác. Bao nhiêu năm nay nó đã nghe trộm được khối chuyện. Nó biết thừa những nỗi sợ lố bịch của ông bố, nhiều hơn bố mẹ nó tưởng nhiều.

Những ngón tay Fats vụng về hơn mọi khi. Nó vừa mở website hội đồng khu vừa không ngừng rít thuốc. Mấy tuần trước, nó tìm hiểu cách chèn mã SQL và mò ra được dòng mã lệnh thằng Andrew không chịu chỉ cho nó. Sau khi xem xét bảng tin trên website một lúc, nó đăng nhập dễ dàng dưới tên Betty Rossiter, đổi tên đăng nhập thành Hồn-ma-Barry-Fairbrother rồi bắt đầu gõ.

V

Shirley Mollison vẫn cho rằng chồng con bà cứ nói quá về nguy cơ khi cứ để nguyên những bài đăng của Hồn ma trên mạng. Bà coi mấy bài đó chẳng hơn gì mấy chuyện ngồi lê đôi mách, mà mách lẻo thì đâu có bị bắt tội. Bà cũng nghĩ luật pháp chẳng tới nỗi ngớ ngẩn và phi lý tới mức trừng phạt bà vì bài của người khác viết, thế thì bất công quá mức. Dù tự hào về cái bằng luật của cậu con, bà vẫn tin chắc Miles nhầm lẫn đâu đó.

Bà kiểm tra bản tin trên website còn thường xuyên hơn mức Miles và Howard khuyến nghị, nhưng đó chẳng phải là vì bà sợ hậu quả pháp lý. Rõ ràng là hồn ma của Barry Fairbrother vẫn chưa ngừng cuộc công kích riêng lẻ vào từng người trong phe ủng hộ dân khu Fields; bởi thế bà háo hức được là người đầu tiên xem bài đăng tiếp theo của “nó”. Một ngày bà vào căn phòng cũ của Partricia nhiều lần liền để mở web. Đôi lúc đang hút bụi hay gọt dở khoai tây, bà nóng ruột rùng cả mình tới nỗi vứt hết mọi chuyện chạy vào phòng làm việc để rồi lại thất vọng quay ra.

Shirley thấy mình và Hồn Ma có điểm chung gì đó thật đặc biệt và bí ẩn. “Nó” đã chọn website của bà làm diễn đàn để vạch trần thói đạo đức giả của những đối thủ của Howard, điều này làm bà thấy vinh dự như nhà khoa học xây dựng được môi trường nhân tạo cho một loài sinh vật hiếm đến làm tổ. Nhưng hơn thế nữa, bà thích thú cơn thịnh nộ, sự tàn bạo và cả gan của Hồn ma. Bà tự hỏi “nó” là ai, hình dung bóng người đàn ông khỏe mạnh đứng sau lưng ủng hộ bà và Howard, hạ sát những kẻ đối đầu bằng những sự thực xấu xí để dọn đường cho họ.

Xem ra không có người đàn ông nào ở Pagford có vẻ hợp với vai trò Hồn Ma, nếu đó là một trong số những người chống khu Fields mà bà biết, hẳn bà sẽ thất vọng lắm.

- Nếu đó đích thực là đàn ông - Maureen nhận xét.

- Chính thế - Howard tán thưởng.

- Tôi nghĩ đó là một người đàn ông - Shirley lạnh nhạt đáp.

Sáng Chủ nhật, lúc Howard ra tiệm café, Shirley mặc nguyên váy ngủ, tay cầm tách trà, tự động rẽ vào phòng sách và mở website.

Những mộng tưởng quái dị của ngài Phó Hiệu Trưởng đăng bởi Hồn-ma-của-Barry-Fairbrother.

Bà run rẩy bỏ tách trà xuống, click mở bài đăng và đọc ngốn ngấu, mồm há hốc. Rồi bà chạy thẳng ra sảnh chộp lấy điện thoại mà gọi tới tiệm café nhưng máy bận.

Năm phút sau, Parminder Jawanda, vốn dạo này cũng thường theo dõi bảng tin trên website hội đồng nhiều hơn bình thường, bấm mở trang và thấy ngay bài đăng. Giống Shirley, việc đầu tiên bà làm là chộp lấy điện thoại.

Nhà Wall đang ăn sáng, cậu con trai hãy còn ngủ trên lầu. Khi Tessa nhấc máy, Parminder ngắt ngang luôn màn chào hỏi của cô bạn.

- Trên website hội đồng có bài đăng về Colin. Cô làm gì cũng được nhưng đừng để ông ấy đọc thấy.

Tessa kinh hãi liếc mắt nhìn ông chồng, nhưng ông này ngồi cách ống nghe chưa đầy một mét nên đã nghe rõ từng lời Parminder hét lên qua điện thoại.

- Em gọi lại chị sau - Tessa gấp gáp nói. - Colin - cô gọi, lập cập gác ống nghe - Colin, khoan đã.

Nhưng ông đã chạy khỏi phòng, tay cứng ngắc ép cạnh sườn như thường lệ, Tessa phải chạy gằn mới đuổi kịp ông.

- Hay anh đừng xem thì hơn - cô khuyên, bàn tay to lớn với những khớp xương to lồi của ông đang rê chuột - hay là để em đọc rồi…

Những mộng tưởng quái dị của ngài Phó Hiệu Trưởng

Một trong những người mong được vào hội đồng khu để đại diện cộng đồng, là Colin Wall, phó hiệu trưởng của trường Winderdown. Cử tri hẳn sẽ quan tâm khi biết rằng ông Wall, người vốn tuân thủ kỷ luật cực kỳ nghiêm ngặt, có đời sống cực kỳ quái dị bất thường, ông luôn sợ có học sinh tố cáo mình về hành vi tình dục không phù hợp, đến nỗi thường phải xin nghỉ phép cho bình tĩnh lại. Ông Wall có thực đã mó máy em học sinh năm nhất nào không, cả Hồn ma cũng không dám chắc. Nhưng những cơn tưởng tượng tới phát cuồng phát sốt đó chứng tỏ, dù chưa làm đi nữa thì ông cũng có ý muốn như thế.

Là thằng Stuart viết - Tessa lập tức nghĩ thế.

Dưới ánh sáng hắt ra từ màn hình vi tính, khuôn mặt của Colin xanh nhợt như xác chết. Tessa nghĩ ông mà bị đột quỵ chắc cũng có dáng vẻ như thế.

- Colin...

- Chắc là Fiona Shawcross đã đồn ra ngoài.

Tai họa ông luôn lo sợ đã chụp xuống. Thế là hết. Ông luôn tính tới chuyện nuốt thuốc ngủ. Không biết trong nhà còn đủ liều không.

Tessa sau lúc sững sờ vì ông chồng nhắc tới tên cô hiệu trưởng, lên tiếng - Cô Fiona không... dù sao thì cô ấy cũng đâu có biết.

- Cô ta biết anh bị rối loạn nghi thức ám ảnh (OCD).

- Thì đúng, nhưng cô ấy đâu có biết là... là anh sợ...

- Có. - Colin nói. - Lần trước lúc xin phép nghỉ ốm anh có nói.

- Tại sao chứ? - Tess bùng nổ - Anh kể ra làm cái gì?

- Anh muốn giải thích rõ là anh thực sự cần nghỉ - Colin nem nép giải thích - Anh nghĩ phải cho cô ấy hiểu bệnh anh nghiêm trọng cỡ nào.

Tessa ráng kìm mong muốn sôi sục là quát vào mặt ông chồng. Thế là đã rõ vì sao Fiona đối xử và nói về ông ta có phần thương cảm; trước giờ Tessa chưa bao giờ ưa cô này vì nghĩ cô cứng nhắc và không biết cảm thông.

- Dù có như thế - cô nói - Em nghĩ Fiona chẳng việc gì mà...

- Không phải cô ấy trực tiếp làm - Colin run rẩy úp tay lên bờ môi trên đẫm mồ hôi - chắc Mollison đã lọt tai tin đồn đâu đó.

Không phải do nhà Mollison. Chính Stuart đã viết, em biết thế. Tessa quá rành cậu con mình. Thậm chí cô kinh ngạc vì Colin không nhận thấy gì cả, thậm chí không liên tưởng bài đăng hôm nay với trận cãi vã và cú đánh thằng con ngày hôm qua. Nó không thể ngừng chuyện này. Hẳn là chính nó đã viết về tất cả, Simon Price, Parminder. Tessa nghĩ trong sự sững sờ khiếp đảm.

Nhưng Colin không hề ngờ vực Stuart. Ông đang mải khơi lại những tưởng tượng sống động như ký ức thật, cái cảm giác đụng chạm ấy, cả những ý nghĩ bạo lực, đê mạt: một bàn tay thò ra túm chặt, bóp siết khi ông len qua đám đông những tấm thân trẻ trung mơn mởn; tiếng thét đau đớn; gương mặt trẻ thơ quằn quại. Ông tự hỏi mình hết lần này tới lần khác: có phải ông làm không? Ông có thích thú chuyện đó không? Ông không nhớ. Ông chỉ biết mình luôn luôn nghĩ về nó, nhìn thấy nó diễn ra, cảm thấy nó diễn ra. Bắp thịt mềm mại dưới lần áo vải; túm, bóp, đau và sốc; bạo lực. Bao nhiêu lần rồi? Ông không biết. Ông dành hàng giờ liền trăn trở tự hỏi bao nhiêu đứa học sinh biết ông làm chuyện đó, chúng nó có nói với nhau không, rồi bao lâu nữa ông sẽ bị phát hiện.

Không biết mình đã phạm tội bao nhiêu lần và cũng không tin nổi chính mình, ông thường cầm trên tay hàng đống giấy tờ sổ sách để không còn rảnh tay nào mà gây tội khi đi dọc hành lang. Ông quát thét đám đông học sinh tránh đường, chừa trống cho ông đi qua. Không ích gì. Vẫn luôn có những đứa lạc hàng chạy ngang ông, đâm sầm vào ông, rồi khi cả hai tay đều bận, ông lại nghĩ ra cách khác để đụng chạm chúng: giơ khuỷu tay chạm lướt qua ngực; bước sang bên hay vờ vấp chân để háng đứa bé chạm vào da thịt ông.

- Colin -Tessa gọi.

Ông bắt đầu khóc, những cơn nấc làm rung chuyển cả cái đầu và thân hình vụng về, khi cô quàng tay ôm và áp mặt vào má chồng, mặt cô cũng đẫm nước mắt của ông.

Cách đó vài dặm, tại Nhà Trên Đồi, Simon Price ngồi trước cái máy tính gia đình mới toanh. Nhìn thằng con chạy đi làm cuối tuần cho Howard Mollison, lại nhớ chuyện mình phải trả đúng giá thị trường cho cái máy, gã thấy bực bội và bất công. Trước cái đêm đem máy tính ăn cắp đi vứt, gã chưa khi nào mở website hội đồng, nhưng giờ ngồi nghĩ loanh quanh một lát, gã tự nhiên muốn mở thử website xem bài đăng làm gã mất cả việc có còn đó không, nhỡ như công ty sau này gã nộp đơn lại nhìn thấy.

Bài đó không còn. Simon không hề biết vụ này là nhờ vợ. Ruth sợ phải nói cho gã biết là cô gọi điện cho Shirley, dù chỉ để nhờ xóa bài đó. Gã hơi thoải mái hơn khi không còn thấy nó và tìm thử bài về Parminder nhưng bài này cũng đã bị xóa nốt.

Gã đã định đóng web thì thấy bài đăng mới nhất, có tựa Những mộng tưởng quái dị của ngài Phó Hiệu Trưởng.

Gã đọc kỹ hai lần liền rồi phá ra cười một mình trong phòng khách. Cái cười đắc thắng độc địa. Gã chưa bao giờ ưa cái tay trán dô cao to lộc ngộc đó. Gã khoái trá thấy so với tay này thì mình qua truông quá là nhẹ nhàng.

Ruth vào phòng, e dè mỉm cười. Cô mừng khi nghe gã cười vì từ khi mất việc tâm trạng của gã luôn cực kỳ tệ hại.

- Có gì mà vui thế.

- Biết ông già của thằng Fats không? Wall, tay phó hiệu trưởng đó? Gã hóa ra là tay khoái hàng non.

Nụ cười trên môi Ruth vụt biến. Cô chạy vội lại máy đọc bài đăng.

- Đi tắm đây - Simon phấn khởi nói.

Ruth chờ ông chồng đi khỏi phòng rồi mới nhấc máy cố gọi cho bà bạn Shirley để báo vụ scandal mới, nhưng máy nhà Mollison báo bận.

Cuối cùng Shirley cũng nối máy được với Howard đang ở hiệu thực phẩm. Bà vẫn còn mặc nguyên áo ngủ, còn ông đang đi tới đi lui trong căn phòng nhỏ phía sau quầy.

-... cố gọi anh nãy giờ...

- Mo dùng điện thoại. Bài đó nói gì? Nói chậm thôi.

Shirley đọc bài đăng về Colin, phát âm rõ ràng như phát thanh viên. Bà vẫn chưa đọc tới cuối thì ông chồng cắt ngang.

- Bà có chép nó xuống chưa?

- Sao cơ? - bà hỏi lại.

- Bà đọc thẳng từ màn hình à? Nó vẫn trên web à? Bà xóa nó chưa?

- Em đang làm đây - Shirley hơi hoảng vội nói dối, - em tưởng là anh...

- Tháo nó xuống ngay lập tức! Trời ơi, Shirley, vụ này ngoài tầm kiểm soát rồi, không thể để mấy thứ như thế trên đó được!

- Em chỉ nghĩ là anh phải...

- Tháo ngay xuống đi, tôi về nhà rồi nói sau - Howard quát.

Shirley tức điên người, hai vợ chồng nhà này chưa khi nào lớn tiếng với nhau thế.

IV

Cuộc họp hội đồng kế tiếp - cũng là cuộc họp đầu tiên sau khi Barry mất - đóng vai trò quan trọng trong trận chiến về khu Fields. Howard không muốn hoãn việc bỏ phiếu về vụ trung tâm cai nghiện Bellchapel lẫn đề nghị của thị trấn yêu cầu chuyển quyền quản lý khu nhà cho Yarvil.

Vì vậy Parminder đề nghị bà, Colin và Kay gặp nhau vào tối hôm trước cuộc họp để bàn bạc về chiến lược.

- Pagford đâu thể nào đơn phương quyết định thay đổi địa giới thuộc quyền quản lý của hội đồng, đúng không? - Kay hỏi.

- Đúng thế - Parminder kiên nhẫn giải thích (dù sao Kay cũng là người mới ở đây) - nhưng hội đồng quận có hỏi ý kiến của Pagford, nên Howard quyết tâm ép hội đồng khu thông qua ý kiến của ông ấy.

Họ tổ chức họp ngay phòng khách nhà Wall vì Tessa nhẹ nhàng mà cương quyết ép Colin phải mời hai người đó tới họp ở chỗ mà cô giám sát được. Tessa chuyền rượu vang cho mọi người, đặt một tô lớn khoai tây chiên giòn lên bàn café rồi ngồi im lặng nghe ba người kia trò chuyện.

Cô đang hết sức mệt mỏi và bực dọc. Bài đăng nặc danh về Colin đã làm ông lập tức suy sụp tới nỗi phải xin nghỉ bệnh. Parminder thừa biết ông yếu nhược thế nào, chính chị ta đã ký giấy khám bệnh cho ông xin nghỉ, thế mà lại mời ông tham gia buổi họp này. Xem ra chị ta không hề bận tâm tới những cơn hoang tưởng và dằn vặt mới có thể sẽ đổ lên đầu Tessa ngay tối nay.

- Rõ ràng có dư luận không đồng tình về cách nhà Mollison xử lý vấn đề - Colin nói bằng giọng ra vẻ tinh tường am hiểu mỗi khi muốn tỏ ra mình không biết sợ hãi hay hoang tưởng là gì. - Tôi nghĩ mọi người bắt đầu bực bội với cái kiểu bọn họ cứ coi mình là người phát ngôn cho cả thị trấn rồi đấy. Các cô biết đấy, tôi nhận ra điều đó trong lúc đi vận động tranh cử mà.

Tessa cay đắng nghĩ, giá thỉnh thoảng mà ông chồng vờ vĩnh được như thế này vì cô thì tốt biết mấy. Ngày xưa cô thích được là hồng nhan tri kỷ duy nhất của Colin, là bình chứa mọi nỗi lo sợ và trao đi mọi nguồn an ủi, nhưng giờ thì hết rồi. Hồi khuya này suốt từ hai giờ đến tận ba rưỡi sáng, cô không tài nào ngủ được vì ông chồng ngồi bên mép giường cứ gập người rên rỉ khóc lóc, ước gì được chết, ước gì ông không ra ứng cử, rằng ông không chịu nổi, đời ông thế là tan nát...

Tessa nghe tiếng Fats xuống cầu thang và lập tức cứng người căng thẳng, nhưng nó chỉ đi ngang cửa phòng khách đang mở để xuống bếp trước cái liếc mắt gay gắt của Colin, ông đang ngồi trên cái đôn thấp bọc da, đầu gối lêu đêu cao tới ngực.

- Có khi việc Miles ra ứng cử sẽ khiến mọi người thấy quá đáng rồi phản đối chăng, kể cả những người vốn ủng hộ nhà Mollison? - Kay hy vọng hỏi.

- Cũng có khả năng đấy - Colin gật đầu.

Kay quay sang Parminder.

- Chị có nghĩ là hội đồng sẽ bỏ phiếu buộc Bellchapel dời khỏi tòa nhà không? Tôi biết mọi người hay lo lắng về mớ kim tiêm bị vứt bừa bãi và dân nghiện lượn lờ gần nhà, nhưng trung tâm cách đây hàng mấy dặm... sao Pagford lại lo thế?

- Howard và Aubrey chống lưng cho nhau - Parminder giải thích, mặt mày căng thẳng, mắt thâm quầng. (Ngày mai chính bà sẽ phải dự cuộc họp hội đồng và chiến đấu chống lại Howard Mollison cùng với phe cánh của lão mà không có Barry bên cạnh.) - Quận phải cắt giảm ngân sách, nếu Howard đẩy trung tâm cai nghiện ra khỏi tòa nhà cho thuê giá rẻ đó, thì ngân sách cho trung tâm phải tăng thêm nhiều, như vậy Fawley có thế lấy cớ chi phí gia tăng mà đề nghị cắt giảm nguồn hỗ trợ từ hội đồng. Rồi Fawley sẽ cố đẩy khu Fields lại cho Yarvil.

Kiệt sức vì phải nói nhiều, Parminder vờ xem xét chồng hồ sơ về Bellchapel mà Kay mới mang tới để đỡ phải tham gia trò chuyện một lát.

Sao mình lại phải làm việc này - Bà tự hỏi.

Đúng ra giờ này mình có thể ở nhà cạnh Vikram, lúc bà đi ông và hai con lớn đang ngồi xem hài kịch trên tivi. Tiếng cười của ba bố con làm bà gai cả người, bao lâu rồi mình không cười như thế? Vì sao mình phải ngồi đây uống thứ rượu vang dở tệ âm ấm này, đấu tranh vì cái trung tâm cai nghiện mình chẳng khi nào cần đến và cái khu nhà đầy những kẻ nếu gặp chắc đâu mình đã ưa? Mình đâu có phải Bhan Kanhaiya mà không phân biệt linh hồn phe ta và phe địch? Bà chẳng thấy ánh sáng nào từ Thượng đế chiếu rọi lên Howard Mollison cả. Bà thích tưởng tượng tới cảnh Howard thất bại hơn nhiều, hơn là viễn cảnh bọn trẻ khu Fields được tiếp tục học ở trường Thánh Thomas hoặc dân khu Fields cắt được cơn nghiện ở trung tâm Bellchapel, dù rằng bà cũng hơi hơi thấy mấy chuyện đó là tốt...

(Thật ra bà biết rõ vì sao mình vẫn làm thế. Chiến thắng vì Barry. Ông từng kể cho bà nghe đủ chuyện về thời học ở trường Thánh Thomas. Các bạn mời ông về nhà chơi, ông khi đó ở trong xe moóc với mẹ và hai anh trai nên cực kỳ thích vẻ sạch sẽ tiện nghi của những ngôi nhà trên đường Hope, cũng như mê mẩn và có phần kính sợ những dinh thự kiểu Victoria trên phố Church Row. Ông thậm chí từng dự sinh nhật tại căn nhà có hình mặt bò, sau này ông mua chính căn nhà đó và nuôi lớn bốn đứa con tại đây.

Ông yêu quý Pagford, yêu dòng sông, những cách đồng và những căn nhà có tường chắc chắn, ông sung sướng vì có hẳn một khu vườn trường để chơi đùa, có cây to để treo xích đu, khắp nơi đều rộng rãi và xanh tươi. Ông nhặt hạt cây dẻ ngựa đem về khu Fields. Sau thời gian học hành xuất sắc ở trường Thánh Thomas, Barry là một trong những người đầu tiên của dòng họ vào được đại học.

Yêu và ghét, Parminder nghĩ, hơi hoảng vì sự thành thật của chính mình. Yêu và ghét, chính vì thế mà mình ở đây...)

Bà lật một trang trên xấp tài liệu của Kay vờ chăm chú đọc.

Kay hài lòng thấy bà bác sĩ nghiên cứu cẩn thận tài liệu mình mang tới vì cô đã đầu tư biết bao thời gian công sức chuẩn bị chúng. Cô tin chắc bất kỳ ai đọc tài liệu đó cũng phải tin rằng trung tâm Bellchapel cần được giữ nguyên vị.

Nhưng xuyên suốt mọi con số thống kê, mọi nghiên cứu ca điều trị ẩn danh và những bản đánh giá của các chứng nhân trực tiếp, thực sự Kay chỉ nghĩ về trung tâm cai nghiện từ góc độ một bệnh nhân duy nhất: Terri Weedon. Terri đã có chuyển biến Kay cảm nhận được điều đó, cô vừa tự hào vừa lo lắng. Terri đã có vài dấu hiệu le lói cho thấy cô bắt đầu kiểm soát được đời mình. Gần đây Terri có nói với Kay hai lần rằng “Họ hông cướp thằng Robbie được đâu, tôi hông cho”, và đó là lời tuyên bố có mục đích chứ không phải tiếng cãi bất lực trước số mệnh.

- Qua tui đưa nó đi nhà trẻ - chị ta bảo với Kay, cô này sơ ý không kìm nổi vẻ kinh ngạc - Ngạc nhiên cái mẹ gì thế? Bộ tui hông đưa nó đi được hả?

Nếu cánh cửa trung tâm Bellchapel đóng sập trước mặt Terri, Kay chắc chắn việc đó sẽ phá tan từng mảnh công trình mong manh mà họ đã cùng nhau xây dựng lại từ các mảnh vụn cuộc đời chị ta. Kay không hiểu sao Terri có vẻ rất sợ Pagford.

- Tui ghét cái nơi chết tiệt đó - chị ta nói khi Kay tình cờ nhắc tới thị trấn.

Ngoài chi tiết bà nội quá cố của chị ta sống ở đó, Kay không biết gì về những điều đã xảy ra giữa Terri và thị trấn, nhưng cô sợ nếu Terri buộc phải đến đó nhận methadone mỗi tuần thì khả năng tự kiểm soát của chị ta sẽ sụp đổ, kéo theo cả chút yên ổn mong manh mới chớm có của gia đình này.

Colin thay Parminder kể về lịch sử khu Fields, Kay nghe mà chán ngắt, cô chỉ gật đầu ừ hữ giữ nhịp chứ đầu óc đã ở tận đâu đâu.

Còn Colin đang bốc lên vì người phụ nữ trẻ đẹp này đang nghe từng lời ông nói. Tối nay ông thấy trấn tĩnh hơn bao giờ hết kể từ lúc đọc bài đăng khủng khiếp đó. Giờ bài viết đã bị xóa khỏi website. Những tai họa khủng khiếp Colin tưởng tượng ra lúc nửa đêm về sáng vẫn chưa cái nào thành hiện thực. Ông không bị sa thải. Không có đám đông giận dữ nào tụ tập trước cửa nhà. Trên website của hội đồng khu và cả mạng internet (ông đã tìm kiếm bằng Google biết bao nhiêu lần) không ai đòi bắt giữ hay tống giam ông.

Fats vừa đi ngang cửa phòng khách vừa múc sữa chua ăn. Nó liếc mắt vào phòng và chạm phải tia nhìn của Colin trong thoáng chốc. Colin lập tức nhỡ mạch câu chuyện đang nói dở.

- ... và... à, đấy, tóm lại là thế. - Ông kết thúc cụt ngủn rồi liếc nhìn qua Tessa cho an lòng lại nhưng bà vợ đang lạnh lẽo nhìn đăm đăm vào cõi vô định. Colin hơi dỗi, ông cứ nghĩ rằng Tessa sẽ thấy vui khi ông đỡ hơn nhiều, tự chủ hơn nhiều sau cái đêm mất ngủ khốn khổ. Bụng dạ ông vẫn còn thon thót vì khiếp hãi, nhưng đã dễ chịu hơn vì ngồi cạnh ông cũng có một nạn nhân bị cáo buộc oan ức là Parminder, lại thêm được cô nhân viên xã hội quyến rũ biết thông cảm lắng nghe.

Không như Kay, Tessa nghe kỹ từng lời Colin vừa nói về chuyện khu Fields có quyền tiếp tục trực thuộc Pagford. Cô thấy những lời nói của ông chẳng mảy may thuyết phục, ông muốn tin điều Barry từng tin, ông muốn đánh bại nhà Mollison, vì đó là điều Barry muốn. Colin không ưa gì Krystal Weedon nhưng Barry lại quý nó, thế là ông cũng cho rằng con bé có nhiều phẩm chất tốt đẹp mà ông chưa thấy. Tessa biết thừa ông chồng mình vừa hợm mình vừa hèn nhát, hễ tin cái gì là không lay chuyển nổi nhưng đồng thời chẳng chắc chắn được chuyện gì.

Đúng là ngây thơ cả lũ - Tessa nghĩ, nhìn mọi người đang chúi vào biểu đồ gì đó Parminder trích ra từ tài liệu của Kay. Họ cứ nghĩ sẽ lật ngược được sáu mươi năm hằn học và phẫn nộ bằng vài tờ số liệu thống kê cơ đấy. Và không ai trong số họ như Barry. Ông chính là ví dụ sống động về những gì họ đề ra trên lý thuyết: Sự tiến bộ thông qua giáo dục, từ nghèo thành giàu, từ phần tử bất lực và phụ thuộc trở thành người có đóng góp giá trị cho xã hội. Chẳng lẽ họ không thấy mình chẳng là gì so với người đã khuất hay sao?

- Mọi người thực sự phiền lòng vì nhà Mollison đang cố chiếm quyền điều hành mọi thứ - Colin nói.

- Tôi thực sự cho rằng - Kay tiếp lời - một khi đã đọc những tài liệu này, họ sẽ khó lòng vờ rằng trung tâm không làm được gì nên chuyện.

- Không phải ai trong hội đồng cũng quên Barry đâu - Parminder nói, giọng hơi run.

Tessa chợt thấy mấy ngón tay nhầy mỡ của mình bốc vào khoảng không. Trong lúc mọi người mải bàn chuyện, cô đã một mình ăn sạch cả tô khoai tây chiên.

VIII

Buổi sáng hôm nay trời sáng đẹp và dễ chịu, phòng máy tính trường Winterdown càng trưa càng trở nên ngột ngạt, những cánh cửa sổ bẩn hắt những đốm sáng khó chịu lên màn hình máy vi tính lấm bụi. Dù trong lớp không có Gaia lẫn Fats nhưng Andrew Price vẫn không sao tập trung nổi. Trong đầu nó chỉ trở đi trở lại mỗi câu chuyện bố mẹ bàn với nhau vào tối hôm trước.

Bố mẹ Andrew đã nghiêm chỉnh tính tới nước dọn về Reading, ở đó có dì dượng của nó. Andrew loanh quanh trong hành lang hẹp tối đen lóng tai nghe qua cánh cửa bếp để mở. Hình như Simon kiếm được một việc, hay có khả năng xin được việc gì đó nhờ ông dượng mà Andrew và Paul hầu như chẳng biết vì Simon vốn rất ghét ông này.

- Chỗ đó ít tiền hơn - Simon nói.

- Chưa chắc. Dượng ấy đâu có nói...

- Hẳn là thế rồi. Sinh hoạt phí chỗ đó cũng đắt hơn ở đây nữa.

Ruth ậm ừ. Andrew đứng trong hành lang thậm chí không dám thở mạnh. Mẹ nó không đồng ý lập tức với bố, thế nghĩa là mẹ muốn dọn đi.

Andrew không hình dung nổi chuyện bố mẹ mình sẽ ở chỗ nào khác ngoài Nhà Trên Đồi, ngoài Pagford. Nó cứ nghĩ họ sẽ ở đây mãi mãi. Andrew thì có ngày sẽ đi London, chứ bố mẹ sẽ bám rễ ở đây như đám cây mọc trên đồi, cho đến tận lúc chết.

Andrew rón rén trở lại phòng, nhìn sững qua cửa sổ quầng sáng lấp lánh của Pagford bọc trong vùng tối đen sâu thẳm giữa những ngọn đồi. Cậu cảm thấy như mình thấy cảnh này lần đầu. Đâu đó ở bên dưới, Fats chắc đang hút thuốc trong phòng gác mái và xem phim con heo trên máy tính. Gaia cũng ở dưới đó, đang mải mê với những chuyện con gái của cô nàng. Andrew nhận ra cô bạn cũng từng phải trải qua chuyện này, từng bị bứt khỏi môi trường quen thuộc và phải thích nghi với nơi hoàn toàn mới. Cuối cùng thì hai đứa cũng có điểm chung sâu sắc nào đó, Andrew hơi hơi thấy an ủi vì nếu phải dời đi, nó sẽ thật sự có chung điều gì đó với cô bạn.

Nhưng bạn ấy đâu phải nguyên nhân khiến chính mình phải dọn đi. Lòng dạ chợt bức bối khó chịu, Andrew bốc di động lên nhắn cho Fats: Lão Si có cơ hội việc làm ở Reading. Chắc sẽ nhận.

Fats không trả lời, cả buổi sáng nay Andrew không gặp nó vì hai đứa không học chung lớp nào. Hai cuối tuần vừa rồi, Andrew cũng không đi chơi với Fats vì bận làm ở tiệm Ấm Đồng. Gần đây hai đứa nói chuyện với nhau dài nhất là lúc bàn về ông thầy Tủ đăng trên website hội đồng.

- Chắc Tessa nghi ngờ gì đó - Fats thản nhiên kể với Andrew - bà ấy cứ nhìn tao như kiểu biết tỏng.

- Thế mày định nói gì? - Andrew sợ hãi hỏi.

Andrew biết Fats thèm muốn được vinh quang, được công nhận, nó cũng rất thích tận dụng sự thật như một thứ vũ khí, nhưng nó không chắc thằng bạn thật sự hiểu là không bao giờ được phép để lộ vai trò nòng cốt của nó sau những trò của Hồn ma Barry Fairbrother. Giải thích cho Fats hiểu có ông bố như Simon là thế nào chẳng dễ dàng gì, và không hiểu sao bây giờ giải thích chuyện gì với Fats cũng ngày càng khó khăn hơn.

Khi ông thầy dạy tin học đi khuất, Andrew dò tìm địa danh Reading trên internet. Nó lớn hơn nhiều so với Pagford. Hàng năm có festival âm nhạc. Chỉ cách London có 40 dặm. Nó thử tính đường đi bằng xe lửa. Có khi vào cuối tuần Andrew sẽ lên thủ đô chơi, như kiểu bây giờ nó bắt xe buýt đi Yarvil. Mơ hồ quá, trước giờ chỉ biết có Pagford, nó chịu không hình dung nổi gia đình mình sẽ sống ở nơi khác ra sao.

Giờ nghỉ trưa Andrew đi thẳng ra ngoài trường tìm Fats. Vừa khuất khỏi sân trường là nó châm luôn điếu thuốc. Lúc bỏ bật lửa vào túi, Andrew phấn khởi nghe một giọng nữ gọi sau lưng, Gaia và Sukhvinder đang dấn lên sánh bước.

- Ăn trưa hả? - Andrew chào, quay đầu phà khói tránh gương mặt xinh đẹp của Gaia.

Dạo này ba cô cậu có phần thân mật với nhau khác hẳn các bạn khác. Hai kỳ cuối tuần cùng làm việc chung đã hình thành mối liên kết mong manh giữa chúng. Cả ba đều biết mấy từ riêng Howard hay dùng, cùng chịu đựng thói háo chuyện nhà người của Maureen, cùng cười thầm chế nhạo cặp đầu gối nhăn nheo của bà ta dưới lớp váy đầm quá ngắn và trao đổi với nhau từng mẩu thông tin cá nhân lụn vụn như các thương gia trên miền đất lạ. Nhờ vậy mà hai cô gái biết cha của Andrew đã bị đuổi việc; Andrew và Sukhvinder biết Gaia đang cố cày để dành tiền mua vé xe lửa về Hackney; Andrew và Gaia cũng biết mẹ Sukhvinder không thích cô làm việc cho Howard Mollison.

- Bồ ruột của cậu đâu rồi? - Gaia hỏi khi ba đứa đã sánh bước cạnh nhau.

- Không biết nữa - Andrew đáp - Sáng giờ chưa gặp.

- Càng tốt - Gaia bình luận - một ngày cậu hút mấy điếu?

- Cũng không đếm nữa, - Andrew sung sướng vì nàng quan tâm - Cậu muốn một điếu không?

- Thôi - Gaia từ chối - mình không thích hút thuốc.

Thế nàng có ghét phải hôn người hút thuốc không nhỉ, Andrew tức thì băn khoăn. Nhưng lúc trước Niamh Fairbrother đâu có phàn nàn gì khi cậu khóa môi cô nàng tại buổi disco trong trường.

- Marco có hút không? - Sukhvinder hỏi.

- Không, anh ấy cứ phải tập luyện suốt mà - Gaia giải thích.

Đến giờ thì Andrew đã quen quen với cái anh chàng Marco de Luca đó. “Tình địch” ở xa đúng là lợi thế. Tác động của những tấm hình chụp chung giữa Gaia và bạn trai trên Facebook yếu dần vì cậu đã xem quen mắt. Những tin nhắn mà Marco và Gaia viết cho nhau trên đó cũng thưa thớt và bớt thân mật dần đi, chắc không phải vì mong muốn quá mà Andrew thấy thế. Nó không rõ hai người gọi điện hay email thì thế nào, chứ rõ là Gaia đã bắt đầu nản nản khi nhắc tới chuyện đó.

- Ồ, mới nhắc là có ngay kia - Gaia nói.

Không phải là anh chàng đẹp trai Marco mà là Fats Wall đang đứng nói chuyện với Dane Tully ở bên ngoài cửa hàng tiện lợi.

Sukhvinder đứng sựng lại nhưng Gaia đã túm tay nó kéo đi.

- Bồ muốn đi đâu thì cứ đường hoàng mà đi chứ - nó nhẹ nhàng kéo tay bạn dấn tới trước, cặp mắt xanh lục nheo lại khi tiến gần tới chỗ Fats và Dane đang hút thuốc.

- Ê Arf - Fats gọi khi ba đứa tới gần.

- Fats - Andrew đáp.

Andrew không muốn Fats bắt nạt Sukhvinder ngay trước mặt Gaia, nó hỏi lảng - Mày nhận được tin nhắn không?

- Tin nào - Fats hỏi - À có, vụ lão Si đó hả? Vậy là mày sắp dọn đi, hả?

Giọng nó tỉnh khô ra vè chẳng bận gì tới mình, Andrew đành tự an ủi là do thằng Dane Tully đang ở đó.

- Ờ, chắc vậy - Andrew đáp.

- Cậu đi đâu? - Gaia hỏi.

- Ông già mình được mời làm việc ở Reading - Andrew giải thích.

- Thiệt hả, bố mình cũng đang ở đó! - Gaia ngạc nhiên - Khi mình dọn tới đó ở luôn tụi mình cùng đi chơi được đó. Festival ở đó hết sảy. Sooks, bồ muốn mua bánh mì kẹp mà phải không?

Thấy nàng đột nhiên tình nguyện chịu đi chơi với mình, Andrew mừng quá đần cả người, tới khi cô bạn đã vào trong cửa hàng tiện lợi nó mới tỉnh ra mà lắp bắp đồng ý. Trong khoảnh khắc, trạm xe buýt bụi bặm, cửa hàng, thậm chí cả thằng Dane Tully lẫn những hình xăm và những chỗ cũ sờn trên quần áo nó dường như cũng rực lên trong ánh sáng thiên đàng.

- Thôi tao phải đi - Fats chào.

Dane cười khẩy. Trước khi Andrew kịp nói gì hay đề nghị đi chung, Fats nhún nhảy bỏ đi luôn.

Fats biết thừa cái vẻ thờ ơ của nó làm Andrew bối rối và tự ái nhưng nó lại lấy thế làm khoái. Fats không thắc mắc tâm trạng đó lẫn cái thú làm người khác buồn bực ngày càng tăng mạnh mấy ngày gần đây là do đâu. Nó đã quyết định rằng tự truy vấn động cơ trong lòng mình cũng là không xác thực. Cách cô đặc triết lý cá nhân thành tiêu chuẩn đơn giản duy nhất như thế thật dễ cho người ta làm theo.

Trên đường tới khu Fields, Fats nghĩ tới chuyện tối qua ở nhà. Lần đầu tiên sau hôm lão Tủ đấm nó bà mẹ mới đặt chân vào phòng.

(- Bài đăng về cha con trên website hội đồng khu - mẹ nó nói - mẹ phải hỏi con chuyện này, Stuart, và mẹ mong là... Stuart, con có viết bài đó không?

Cô phải mất vài ngày mới gom đủ can đảm buộc tội cậu con, nó đã kịp chuẩn bị đối phó.

- Không - nó đáp.

Nói “có” thì chắc là sẽ xác thực hơn, nhưng nó thích nói không, việc gì mà phải tự lý giải hành động chính mình chứ.

- Không à? - cô hỏi lại, giọng không đổi.

- Không - nó lặp lại.

- Vì rất, rất ít người biết là bố con... biết điều bố con lo lắng.

- Ờ, nhưng không phải tui.

- Bài đăng xuất hiện ngay buổi tối hai bố con cãi nhau, bố con đánh...

- Đã nói rồi, tui không có làm.

- Con biết bố con có bệnh mà, Stuart.

- Ờ, nghe kể đầy tai rồi.

- Mẹ kể suốt thế là vì chuyện đúng như thế! Bố con không thể không... bố con bị chứng bệnh nghiêm trọng về thần kinh làm ông ấy luôn thấy luôn thấy dằn vặt khổ sở vô cùng.

Di động của Fats bíp bíp, nó liếc mắt đọc tin nhắn của Andrew. Bụng nó như có ai thụi vào: Andrew sắp rời đi mãi mãi rồi.

- Mẹ đang nói chuyện với con đấy, Stuart.

- Tui biết, sao?

- Tất cả những bài đăng về Simon Price, Parminder, bố con... những người đó con đều quen biết. Nếu con đứng sau tất cả những vụ này...

- Đã nói  rồi, tui không có làm.

- ... thì con đã gây ra những thiệt hại không sao kể xiết. Ảnh hưởng rất nghiêm trọng và tệ hại tới cuộc sống người ta đấy Stuart.

Fats đang mải nghĩ tới cuộc sống sắp tới không còn Andrew bên cạnh. Hai đứa chơi với nhau suốt từ năm lên bốn.

- Không phải tui - nó nói thế)

Ảnh hưởng rất nghiêm trọng và tệ hại tới cuộc sống người ta.

Thì họ tự tạo ra cuộc sống của mình đấy thôi, Fats khinh miệt nghĩ khi rẽ vào đường Foley. Những nạn nhân của Hồn ma đều ngập ngụa trong thói đạo đức giả và những lời dối trá nên đâu muốn bị lật mặt. Đúng là mấy con bọ ngu ngốc cứ đâm đầu vào chỗ sáng. Họ chẳng biết quái gì về cuộc đời thực hết.

Nó nhìn thấy căn nhà phía trước với lốp xe cũ mòn trên bãi cỏ trước. Nó đoán đó là nhà Krystal rồi kiểm tra số nhà, đúng là thế. Nó chưa khi nào tới đây. Mấy tuần trước, nó sẽ không khi nào chịu gặp con bé ở nhà vào giờ nghỉ trưa, nhưng mọi chuyện đã thay đổi. Nó đã thay đổi.

Người ta đồn mẹ con bé làm điếm. Tất nhiên bà ta cũng nghiện. Krystal nói nhà vắng vì bà mẹ phải đến trung tâm Bellchapel nhận methadone. Fats không hề chậm bước khi rẽ vào lối đi xuyên vườn nhưng trong lòng tự nhiên hơi bối rối.

Krystal nhìn thấy nó từ cửa sổ phòng ngủ. Nó đã đóng chặt cửa tất cả các phòng dưới đất nên từ ngoài nhòm vào chỉ thấy hành lang. Con bé ném mọi thứ chất chồng ở đó vào phòng khách và bếp. Tấm thảm lót sàn đầy đất cát và cháy xém vài chỗ, giấy dán tường đốm bẩn, nhưng nó chẳng buồn quan tâm. Thuốc tẩy uế mùi gỗ thông đã hết sạch, nó tìm được ít thuốc tẩy trắng dùng tạm cho nhà bếp và nhà tắm, đây là hai chỗ bốc mùi kinh nhất nhà.

Khi Fats gõ cửa con bé chạy xuống lầu. Terri sắp về nhà cùng Robbie. Chẳng còn mấy thời gian để đúc em bé.

- Chào - con bé lên tiếng, mở rộng cửa.

- Ổn hả? - Fats phun khói ra lỗ mũi.

Nó không hình dung được trong nhà sẽ như thế nào. Thoạt nhìn, căn nhà như cái hộp tồi tàn trống huơ. Hầu như không có đồ nội thất. Mấy cánh cửa đóng chặt xung quanh có vẻ đáng ngờ và kì dị.

- Ở nhà có mình thôi hả? - nó hỏi khi bước qua bậc cửa.

- Ờ - Krystal đáp - lên lầu đi, vô phòng đây.

Con bé dẫn đường. Càng vào sâu trong nhà mùi nước tẩy và mùi hôi ngày càng nồng nặc. Fats ráng tỏ vẻ không để ý. Mấy cánh cửa gần đầu cầu thang đều đóng chặt, chỉ một cánh mở. Krystal rẽ vào đó.

Fats không muốn bị sốc tí nào, nhưng trong phòng chỉ vỏn vẹn có một tấm nệm với tấm khăn trải giường, ruột chăn trần không vỏ bọc và một chồng quần áo nhỏ chồng đống trong góc. Vài bức hình ngôi sao nhạc pop và mấy nhân vật đình đám khác xé từ báo dán trên tường bằng băng dính.

Hôm qua Krystal bắt chước Nikki dán tranh ảnh lên tường phòng ngủ. Con bé biết Fats sẽ qua chơi nên nó gắng làm cho phòng ốc trông được mắt một chút. Nó còn treo thêm vài tấm màn mỏng. Ánh nắng xuyên qua màn ngả màu xanh phớt tím.

- Cho rít tí - Con bé nói - đang thèm quá.

Nó châm lửa cho Krystal. Hôm nay sao nó trông căng thẳng hơn thường lệ. Nó thích cái vẻ vênh váo thạo đời của con bé hơn.

- Không lâu được đâu - con bé bảo, rít lấy rít để điếu thuốc - mẹ đây sắp về.

- Ờ, ở trung tâm Bellchapel phải không? - Fats hỏi, bồi đắp thêm vẻ dày dạn trải đời cho Krystal trong đầu nó.

- Ờ - Krystal ngồi xuống nệm, tụt quần ra.

- Chỗ đó mà đóng cửa thì sao? - Fats cũng cởi áo khoác - nghe nói đang tính thế.

- Không biết nữa. - Krystal đáp qua loa, thật ra nó sợ. Mẹ nó vốn yếu đuối nhu nhược như gà con, chỉ cần chút đả kích nhỏ nhất là suy sụp ngay.

Nó còn mỗi đồ lót trên người. Fats đang cởi tới giày thì để ý thấy cái hộp nhựa đựng đồ trang sức để cạnh chồng quần áo, trong đó là cái đồng hồ rất quen.

- Cái đó của mẹ đây mà hả? - nó ngạc nhiên hỏi.

- Cái gì? - Krystal phát hoảng - Đâu có - nó nói dối - của bà cố đấy, đừng...!

Nhưng thằng kia đã bốc cái đồng hồ lên.

- Đúng là của bả - nó nhận ra cái dây đeo.

- Mẹ kiếp không phải!

Krystal sợ khiếp vía. Nó gần như đã quên bẵng là mình trộm nó từ ai. Fats không nói gì, con bé không thích thế tí nào.

Cái đồng hồ trên tay Fats như vừa thử thách vừa trách cứ nó. Trong thoáng chốc đầu nó vụt hiện lên cả hai khả năng: thản nhiên đút túi cái đồng hồ và đi ra, hay đơn giản là nhún vai trả lại nó cho Krystal.

- Của đây - Krsytal nói.

Fats chẳng muốn là cảnh sát. Nó thích sống vô kỷ luật. Rồi nó nhớ ra đây là quà tặng của lão Tủ, thế là nó dứt khoát dúi lại cái đồng hồ cho con bé và tiếp tục cởi đồ. Krystal mặt mày đỏ chín đã tụt hết quần áo lót rồi trần truồng chui vào dưới chăn. Fats còn mỗi cái quần lót chuẩn bị chui vào theo, tay nó cầm cái bao cao su.

- Không cần đâu - Krystal khó nhọc mở miệng - Đây uống thuốc sẵn rồi.

-Thế hả?

Con bé nhích lại gần thằng bạn. Fats cũng chui vào chăn.

Lúc tụt quần, Fats nghĩ không biết con nhỏ có nói láo vụ uống thuốc như vụ đồng hồ không. Thôi kệ, dù sao nó cũng khoái thử chơi “trần” cho biết.

- Tới đi - con bé thì thầm, nó moi cái bao cao su khỏi tay Fats quẳng lên trên cái áo khoác vứt bừa trên sàn.

Nó tưởng tượng Krystal mang bầu con mình và gương mặt của Tessa với lão Tủ khi biết tin. Con nó ở khu Fields, máu thịt của nó. Chắc chắn là vượt xa mọi thứ lão Tủ từng phải đối phó.

Nó trèo lên người con bé. Nó biết. Đây đích thực là đời.

VIII

Sáu giờ ba mươi tối, Howard và Shirley Mollison cùng bước vào sảnh nhà thờ Pagford. Shirley ôm một xấp lớn giấy tờ còn Howard mang chuỗi vòng cổ trang trí huy hiệu hai màu trắng xanh của Pagford.

Ván sàn cót két oằn mình dưới sức nặng của Howard khi lão đi thẳng tới chỗ mấy tấm bàn xước xát đã được kê nối vào nhau. Howard thích sảnh đường này chẳng kém mấy cửa tiệm của mình. Đội nữ hướng đạo dùng sảnh vào thứ ba, thứ tư là ngày cho Tổ chức phụ nữ [1]. Đây cũng là nơi tổ chức bán hàng từ thiện và lễ Đại Xá, nơi tổ chức đám cưới lẫn lễ canh thức người quá cố. Nó lưu dấu mùi vị của tất cả những sự kiện đó: mùi quần áo cũ, mùi café, bánh nướng nhà làm, salad thịt nguội, mùi bụi bặm, mùi thân người, nhưng rõ nhất là mùi gỗ và đá lâu năm.

[1] Women’s Institute: Tổ chức tình nguyện tại Anh dành cho phụ nữ, giúp phụ nữa học được những kĩ năng mới và tiếp cận cơ hội giáo dục – chú thích của người dịch.

Shirley lăng xăng lượn lên lượn xuống bày sẵn tài liệu ra bàn. Bà ta rất mê họp hành. Đương nhiên vì bà phồng mũi thích thú được thấy ông chồng chủ trì cả hội, nhưng hơn nữa vì Maureen không có vai trò gì nên không được bén mảng vào đây, thế là bà ta đành bằng lòng nghe những chuyện Shirley chịu rỉ cho.

Mấy ủy viên cánh hẩu với Howard lục tục kéo tới. Ông này oang oang chào hỏi váng cả phòng. Thường hiếm khi nào cuộc họp có đủ 16 thành viên, như hôm nay ông ta phỏng chừng cũng chỉ được độ 12 người.

Aubrey Fawley xuất hiện lúc nửa bàn đã kín chỗ. Ông cui cúi bước vào, trông dáng như người đang cố tiến tới trong cơn gió ngược.

- Aubrey - Howard phấn khởi la to, tới khi vị khách đặc biệt này xuất hiện lão mới chịu đích thân ra đón - Khỏe không ông bạn? Julia thế nào? Có nhận được thiếp mời của tôi không đấy?

- Xin lỗi, tôi không...

- Sinh nhật sáu nhăm của tôi đấy mà! Ngay đây nhá, thứ Bảy, ngay sau ngày bầu cử ấy.

- À, vâng vâng. Howard, ngoài kia có một cô đang chờ, nói là bên tạp chí Yarvil và District Gazette. Tên Alison thì phải?

- Thế à, lạ nhỉ - Howard hỏi lại. - Tôi mới gửi cô ấy bài báo mà, ông biết đấy, đáp lại bài của Fairbrother... Chắc có việc, để tôi đi xem thử.

Lão lo lắng lạch bạch đi ra cửa, vừa khéo gặp Parminder Jawanda tiến vào. Bà này vẫn càu cạu như mọi khi và đi lướt qua luôn không chào hỏi, và duy nhất lần này Howard cũng không buồn chào.

Trên vỉa hè bên ngoài, một phụ nữ tóc vàng còn trẻ, người bè bè cục mịch đang đứng chờ. Cô ta toát ra cái vẻ tươi cười xơn xớt, Howard nhận ra ngay, vốn chính lão cũng luôn khoác cái vẻ ấy hàng ngày. Cô ta đứng ôm cuốn sổ, săm soi nhìn mấy chữ cái đầu họ tên nhà Sweetlove khắc trên hai cánh cửa.

- Xin chào xin chào! - Howard hào hển lên tiếng - Cô Alison phải không? Tôi là Howard Mollison. Cô bỏ công đi tới tận đây để bảo tôi là tôi viết chẳng ra gì phải không?

Cô ta vội nhành mồm cười đáp lễ, nắm lấy bàn tay Howard chìa ra.

- Đâu có, đâu có, chúng tôi thích lắm - cô trấn an lão - Tôi nghĩ chuyện này càng ngày càng trở nên được nhiều người quan tâm nên muốn đến dự cuộc họp hội đồng, ông không phiền chứ ạ? Báo chí được vào mà phải không ạ. Tôi có xem qua các quy định cả rồi.

Cô ta vừa nói vừa bước luôn về phía cửa.

- Phải phải, báo chí được dự - Howard núng nính bước theo, lịch sự dừng trước cửa nhường cô này đi trước - miễn là không phải lúc chúng tôi phải bàn những vấn đề không công khai rộng rãi, chính thế.

Cô liếc nhìn lão, trong ánh sáng lờ mờ lão vẫn thấy rõ cô đang cười.

- Như mấy lời cáo buộc nặc danh đăng trên bảng tin của quý vị phải không? Của Hồn ma Barry Fairbrother đấy?

- Kìa cô bạn thân mến - Howard khò khè cười lại - Mấy bài đó đâu có đáng gì mà nhắc tới, phải không? Một hai câu bình luận ngớ ngẩn trên mạng thôi mà?

- Một hai câu thôi sao? Tôi nghe nói có vô khối kia, chỉ có điều là đã được xóa hết thôi.

- Đâu có đâu có, chắc ai nghe nhầm rồi - Howard đáp - chỉ hai ba mẩu ngắn thôi, theo tôi biết là thế. Vớ vẩn tuốt. Thật ra tôi nghĩ - lão cố biến báo - đứa nhóc nào nghịch dại đó thôi.

- Đứa nhóc à?

- Ờ thì cô biết đấy, bọn choai choai phá cho vui ấy mà.

- Lẽ nào mấy cô cậu tuổi ấy lại đi công kích ủy viên hội đồng khu? - Cô ta vẫn cười - Tôi lại nghe là có người bị nhắc tới xong là mất việc luôn đấy. Chắc cũng do bài báo trên website của ông.

- Tôi mới biết đấy - Howard nói dối. Hôm qua Shirley gặp Ruth ở bệnh viện và khi về đã rỉ cho lão tin này.

- Tôi xem trong lịch thấy hôm nay mọi người định bàn về trung tâm Bellchapel. - Alison nói lúc hai người bước vào sảnh đường sáng trưng. - Cả ông lẫn ông Fairbrother quá cố đều có những lập luận rất thuyết phục... Sau khi đăng bài ông Fairbrother, chúng tôi nhận được kha khá thư gửi về đấy. Biên tập của chúng tôi thích lắm. Sao cũng được, miễn là kích được người ta chịu viết thư...

- Ờ, tôi có được đọc qua - Howard đáp - xem ra chẳng ai nói tốt được cho cái trung tâm đó, hả?

Các ủy viên tại bàn đều quay lại nhìn họ. Alison Jenkins bình tĩnh giữ nguyên vẻ tươi cười nhìn lại.

- Để tôi kiếm cho cô cái ghế - Howard phì phò nhấc ra một cái từ chồng ghế gần đó rồi đặt xuống cách bàn độ bốn thước.

- Cảm ơn ông - Cô ta tự động kéo xịch ghế lại gần bàn hai thước.

- Thưa quý vị - Howard giới thiệu - Tối nay cuộc họp chúng ta có sự tham dự của báo giới nhé. Đây là cô Alison Jenkins của tờ Yarvil và District Gazette.

Vài người tỏ ra thích thú, nhưng đa số chỉ liếc nhìn đầy nghi ngờ. Howard quay lại vị trí đầu bàn, Shirley và Aubrey đều đang thắc mắc nhìn lão.

- Hồn ma Barry Fairbrother - lão hạ giọng nói lúc rón rén đặt mông xuống cái ghế nhựa (cách đây hai cuộc họp, một chiếc từng gãy sụm suống dưới sức nặng của lão) - và Bellchapel. Tony kia rồi!- đột nhiên lão đổi giọng la to làm Aubrey giật nảy người - lại đây Tony... ta chờ Herry với Sheila thêm vài phút nhá?

Hôm nay tiếng rì rầm trò chuyện khẽ hơn mọi khi. Alison Jenkins chưa gì đã bắt đầu ghi chép lia lịa vào sổ. Howard bực dọc nghĩ đây là tại thằng cha Fairbrother chết tiệt! Chính hắn khi trước mời nhà báo tới dự họp chứ ai. Howard thoáng nghĩ Barry sống hay Barry-Ma cũng hệt như nhau, toàn gây chuyện rắc rối.

Parminder cũng mang cả chồng tài liệu tới cuộc họp như Shirley. Bà đặt tờ chương trình họp lên trên chồng tài liệu vờ đọc để đỡ phải chuyện trò với ai. Đầu óc bà thực sự đang hướng về người phụ nữ ngồi ngay sau lưng mình. Chính tờ Yarvil và District Gazette đã đăng bài về vụ đột quỵ của bà Catherine Weedon và khiếu nại của gia đình về bác sĩ điều trị. Báo không đăng rõ tên Parminder nhưng chắc chắn người viết biết danh tính bác sĩ đó. Có khi Alison cũng dính líu tới bài đăng nặc danh về Parminder trên website hội đồng cũng nên.

Thôi bình tĩnh đi, mình lại thành ra giống Colin mất rồi.

Howard đã đứng dậy đọc lời xin phép không tham dự cuộc họp của các thành viên vắng mặt rồi yêu cầu hội đồng xem lại biên bản cuộc họp lần trước, Parminder hầu như không nghe được lão nói gì, mạch máu đập thùm thụp trong tai bà.

- Giờ nếu không ai phản đối - Howard tuyên bố - ta sẽ bàn về mục tám và chín trước vì ủy viên hội đồng quận Fawley cần trình bày về hai mục này, mà ông lại không nán lại lâu được...

- Chỉ đến tám rưỡi thôi - Aubrey vừa nói vừa liếc nhìn đồng hồ.

- Vâng, thế nếu không ai phản đối... không có nhỉ? Xin mời ông, Aubrey.

Aubrey trình bày vấn đề một cách giản dị, khách quan, sắp có đợt xét lại ranh giới hành chính, lần đầu tiên có ý kiến cho rằng Pargord nên chuyển lại khu Fields cho Yarvil. Khi đó Yarvil phải gánh một phần chi phí không bao nhiêu dùm cho Pagford, đổi lại Yarvil sẽ được một số cử tri tự do bầu cho Đảng khác ngoài chính phủ hiện tại, những phiếu này có thể làm nên chuyện với Yarvil nhưng chỉ lãng phí ở Pagford, vì từ thập niên 50, thị trấn này luôn là khu vực bầu cử an toàn đối với đảng Bảo Thủ. Toàn bộ tiến trình này sẽ diễn ra đơn giản và suôn sẻ dưới lập luận vỏ bọc là Yarvil chi tiền cho hầu hết các dịch vụ của khu Fields vì khu này là một phần của nó.

Aubrey kết luận, nếu Pagford muốn cắt bỏ khu đất khỏi địa giới của mình, thì nên bày tỏ mong muốn làm thế vì lợi ích của hội đồng quận.

- … cần một thông điệp rõ ràng, thuyết phục từ quý vị - ông nói - tôi thực sự tin rằng lần này...

- Trước nay có ăn thua gì đâu - một chủ trại ngắt lời giữa tiếng rì rầm tán đồng.

- Nhưng mà đã khi nào ta được mời trình bày quan điểm của mình về vụ này đâu John - Howard đáp.

- Thế thì ta nên xác định cho rõ quan điểm của hội đồng là gì đã rồi hãy tuyên bố công khai thì hơn, phải không? - Parminder lên tiếng, giọng lạnh như nước đá.

- Được rồi - Howard ôn tồn đáp - thế chị phát biểu trước nhé, bác sĩ Jawanda?

-Tôi không biết có quý vị nào ở đây đã đọc bài viết của Barry trên tờ Gazette chưa - Parminder bắt đầu. Trước mọi ánh mắt đang đổ về mình, bà cố gạt khỏi đầu ý nghĩ xoay quanh bài đăng nặc danh về mình hay cô phóng viên đang ngồi sau lưng. - Tôi nghĩ những luận điểm trong bài về việc giữ khu Fields thuộc về Pagford rất xác đáng.

Parminder nhìn Shirley, bà này tuy cúi mặt ghi chép nhưng vẫn không giấu nổi nụ cười rất nhẹ.

- Chứng minh bằng cách nói về lợi ích cho những người như con bé Krystal Weedon ấy hả? - Betty, một phụ nữ lớn tuổi ngồi cuối bàn lên tiếng. Parminder ghét cay ghét đắng bà này.

- Bằng cách nhắc cho chúng ta nhớ những người sống ở khu Fields cũng là một phần của cộng đồng này - bà đáp.

- Họ lúc nào cũng nghĩ mình chuyển từ Yarvil tới mà - ông chủ trại nói - trước nay vẫn thế.

- Tôi còn nhớ - Betty chen vào - con bé Krystal đó từng xô một đứa nhỏ lọt xuống sông.

- Không đúng - Parminder giận dữ nói - lúc đó con gái tôi cũng có mặt, là đo hai thằng bé đánh nhau... nhưng dù sao...

- Tôi thì lại nghe là do Krystal Weedon làm - Betty khăng khăng.

- Bà nghe nhầm rồi - Parminder đột nhiên hét lớn.

Cả bàn sững sờ. Chính bà cũng sựng lại. Tiếng hét dội khắp sảnh đường cũ kỹ. Parminder nghẹn cứng họng, bà cúi đầu nhìn chằm chằm tờ chương trình họp trước mặt, tiếng John văng vẳng như từ đâu xa lắm.

- Đúng ra Barry tự minh họa bằng chuyện của mình thì thuyết phục hơn con bé đó nhiều. Ông ta có được nhiều thư từ trường Thánh Thomas.

- Vấn đề là - một phụ nữ khác lên tiếng - cả trăm đứa phá làng phá xóm mới được một Barry.

- Cốt yếu là, họ là dân Yarvil - một ủy viên nam tóm gọn - họ phải thuộc về Yarvil.

- Không phải thế - Parminder cố ghìm giọng nhưng tất cả đều im bặt lắng nghe như thể đợi bà hét lên lần nữa - hoàn toàn không phải thế. Cứ nhìn nhà Weedon đi. Toàn bộ bài viết của Barry xoay quanh họ. Nhiều năm trước họ vốn là gia đình ở Pagfords này nhưng...

- Họ chuyển tới sống ở Yarvil...

- Vì ở đây không kiếm được chỗ nương thân - Parminder cô giữ bình tĩnh - quý vị đâu có muốn phát triển khu mới ở ngoại ô thị trấn.

- Xin lỗi nhé - Betty đỏ mặt tía tai vênh mặt nhìn Parminder - Chị đâu có ở đây mà biết mấy chuyện khi trước.

Mọi người lao xao quay ra bàn luận riêng từng nhóm lẻ với nhau, Parminder không để lọt tai nổi câu nào. Cổ họng bà se thít, không dám nhìn vào mắt bất kỳ ai.

- Hay là ta giơ tay biểu quyết nhé? - Howard từ cuối bàn lớn tiếng đề nghị, tiếng lào xào lắng bặt - Ai muốn phản ảnh với hội đồng quận là Pagford vui lòng cắt khu Fields khỏi phạm vi quản lý của thị trấn và định lại ranh giới khu?

Tay Parminder nắm chặt trong lòng, móng bấm sâu vào lòng bàn tay. Xung quanh loạt soạt tiếng ống tay áo giơ lên.

- Tuyệt lắm - Howard đắc thắng kêu to - Thế, tôi sẽ thảo đề xuất với Tony và Helen rồi gửi mọi người cùng xem qua, rồi là tiến hành thôi. Tuyệt vời!

Vài ủy viên vỗ tay. Mắt Parminder nhòa đi, bà vội chớp lia lịa. Tấm chương trình nhòe nhoẹt lúc xa lúc gần. Rồi đột nhiên nhận ra sự im lặng kéo dài quá lâu, bà ngẩng nhìn lên. Howard vừa rồi quá bốc nên đã phải moi bình thuốc xịt ra dùng cho dễ thở, các ủy viên khác đang chú mục nhìn lão đầy quan tâm.

- Được rồi, thế thì - Howard cuối cùng cũng bỏ ống xịt xuống mỉm cười, mặt mày còn đỏ lưỡng - nếu không ai có ý kiến gì khác thì... - lão ngừng một lúc lâu - tới mục chín, Bellchapel. Ông Aubrey cũng có mấy lời phát biểu về trung tâm.

Barry sẽ không để chuyện này xảy ra. Ông ấy sẽ phản bác. Ông ấy sẽ khiến John phải bật cười mà ngả về phía chúng ta. Đúng ra ông ấy phải viết về chính mình chứ không phải Krystal... mình đã khiến ông ấy phải thất vọng...

- Cảm ơn anh Howard - Aubrey lên tiếng, mạch máu bên tai Parminder càng đập dữ dội, bà bấm sâu thêm móng tay vào - Như quý vị đã biết, quận đang cắt giảm đáng kể ngân sách...

Bà ta vẫn luôn yêu tôi, và chẳng giấu những lúc cứ nhìn tôi đăm đắm...

- … và một trong những hạng mục chúng tôi sẽ xem xét là Bellchapel - Aubrey nói - Tôi nghĩ tôi sẽ góp lời về chuyện này, vì như quý vị đã biết, tòa nhà thuộc quyền quản lý của khu...

- Và hợp đồng cho thuê gần đáo hạn rồi - Howard tán đồng - Đúng thế.

- Nhưng đâu có ai khác muốn thuê tòa nhà cũ kỹ đó nữa, phải không? - Một viên kế toán về hưu ngồi cuối bàn lên tiếng - Nó xuống cấp nhiều rồi, theo tôi biết là thế.

- Tôi thì tôi tin là sẽ tìm được người thuê mới thôi - Howard thoải mái đáp - nhưng đó không phải vấn đề. Vấn đề là ở chỗ ta có thấy trung tâm làm được gì hay không...

- Chuyện đó chẳng liên quan gì - Parminder cắt lời - Hội đồng khu không có trách nhiệm đánh giá trung tâm có hoạt động hiệu quả hay không. Ta đâu có tài trợ cho chỗ đó thì đâu có trách nhiệm đánh giá.

- Nhưng chúng ta sở hữu tòa nhà - Howard vẫn cười rất lịch sự - thế nên thiết nghĩ cũng hợp lẽ thôi nếu ta muốn xét tới...

- Nếu cần xem thông tin về hoạt động trung tâm, tôi nghĩ điều quan trọng nhất là phải xem xét đồng đều nhiều mặt - Parminder nói.

- Tôi rất xin lỗi - Shirley lên tiếng, nhìn lướt về phía Parminder - Chị vui lòng đừng ngắt lời chủ tọa được không, bác sĩ Parminder? Vì rất khó ghi biên bản nếu mọi người cứ ngắt lời nhau thế này. Ấy đấy, nói thế mà chính tôi lại đang ngắt lời người khác rồi đây - bà ta mỉm cười xoa dịu - Xin lỗi nhé.

- Tôi cho rằng hội đồng vẫn muốn kiếm nguồn thu từ tòa nhà đó - Parminder không đếm xỉa gì tới Shirley - mà theo tôi biết hiện không có khách hàng nào đang chờ thuê cả. Vì vậy tại sao phải cân nhắc việc có nên chấm dứt hợp đồng cho thuê hay không.

- Trung tâm đó mà chữa chạy gì - Betty phản đối - cấp thêm thuốc cho dân nghiện thì có. Họ mà dọn đi là tôi mừng.

- Ở cấp quận, chúng tôi cũng đang phải đối mặt với nhiều quyết định rất khó khăn - Aubrey Fawley tiếp lời - Chính phủ muốn cấp chính quyền địa phương phải tiết kiệm được hơn một tỉ bảng. Chúng tôi không thể nào tiếp tục duy trì các dịch vụ theo cách trước giờ. Đó là thực tế.

Parminder căm ghét đám ủy viên hội đồng xun xoe quanh Aubrey, nhịp nhàng gật gù nuốt từng lời phát ra bằng cái giọng trầm trầm ngân nga đó. Bà biết thừa có người gọi mình là “Tai Cụp”.

- Các nghiên cứu cho thấy rằng việc dùng chất gây nghiện bất hợp pháp tăng lên trong thời kỳ suy thoái - Parminder nói.

- Đó là do họ tự chọn thôi - Betty nói - có ai bắt họ xài thuốc đâu.

Bà ta nhìn quanh bàn tìm sự ủng hộ, Shirley mỉm cười khuyến khích.

- Chúng ta đang phải đứng trước nhiều lựa chọn khó khăn - Aubrey nhắc lại.

- Thế nên ông phải liên kết với Howard - Parminder lại ngắt lời - và quyết định thúc đẩy trung tâm đôi chút bằng cách tống họ ra khỏi tòa nhà đó phải không.

- Tôi nghĩ có nhiều cách dùng tiền hiệu quả hơn là đổ vào cho cái đám tội phạm đó - viên kế toán lên tiếng.

- Còn tôi thì chỉ muốn cắt hết mọi trợ cấp cho bọn họ thôi - Betty bồi thêm.

- Tôi được mời tới dự buổi họp này là để trình bày cho quý vị cùng hiểu rõ tình hình ở cấp quận như thế nào - Aubrey bình tĩnh nói - chứ không có ý gì khác đâu, bác sĩ Jawanda.

- Mời Helen - Howard nói to, giơ tay mời một ủy viên khác đang giơ tay, cô này nãy giờ cố nói ra ý kiến của mình mà không được.

Parminder không còn nghe chị ta nói gì nữa. Bà cũng quên hẳn chồng tài liệu nằm dưới tờ chương trình mà Kay Bawden đã dày công chuẩn bị: số liệu thống kê, thông tin về những trường hợp cai nghiện thành công, lợi ích của việc dùng methadone so với heroin, các nghiên cứu phản ánh chi phí cũng như khía cạnh tài chính, xã hội của nạn nghiện hút. Mọi thứ xung quanh bà lung lay tan chảy. Bà biết mình sắp bùng nổ khủng khiếp chưa từng có. Không còn đường hối hận. Không thể ngăn chặn. Giờ chỉ có thể nhìn nó diễn ra. Quá trễ, quá trễ rồi...

-... sự trao quyền - Aubrey Fawley vẫn đang nói - Những người đó đúng nghĩa là cả đời không hề làm việc một ngày nào.

- Và thực sự - Howard tiếp lời - giải pháp cho vấn đề này rất đơn giản trực tiếp. Cứ ngừng dùng thuốc là được thôi.

Lão quay lại tự mãn cười với Parminder - Thuật ngữ trong ngành gọi cách này là “chặn nguồn để cắt cơn” phải không bác sĩ?

- Theo ý ông thì họ phải tự chịu trách nhiệm vì thói nghiện ngập của mình và phải tự biết thay đổi hành vi phải không? - Parminder hỏi.

- Tóm lại là thế.

- Trước khi họ làm nhà nước tiêu tốn thêm nhiều tiền của nữa?

- Chính xác…

- Vậy thì ông - Parminder cao giọng, cơn điên giận lặng lẽ cuốn xoáy lấy bà - Howard Mollison, ông có biết mình đã làm dịch vụ y tế tiêu tốn bao nhiêu nghìn bảng chỉ vì ông hoàn toàn không thể ngừng nhồi nhét đồ ăn vào người hay không?

Howard đỏ rần từ cổ lên mặt.

- Ông có biết chi phí đặt tim nhân tạo, rồi thuốc men, rồi tiền nằm viện dài ngày là bao nhiêu không? Rồi cả những cuộc thăm khám của bác sĩ vì ông bị suyễn, ông cao huyết áp, và cả cái chứng viêm da gớm ghiếc chỉ vì không muốn giảm cân?

Giọng của Parminder đã vút lên thành tiếng thét, các thành viên khác bắt đầu lào xào phản ứng thay cho Howard, Shirley đã đứng bật dậy, Parminder vẫn gào thét, tay vung vẩy mớ giấy tờ xộc xệch.

- Bác sĩ gì mà không giữ bí mật cho bệnh nhân - Shirley cũng gào lên - Quá đáng! Đúng là quá đáng mà!

Parminder bước thẳng ra cửa, giữa tiếng nấc điên giận, bà còn kịp nghe Betty kêu gọi lập tức đuổi bà khỏi hội đồng. Bà đi như chạy khỏi sảnh nhà thờ, biết rõ mình vừa gây chuyện tày trời. Giờ bà chỉ mong được bóng đêm nuốt chửng, được biến mất mãi mãi.

IX

Tờ Yarvil và District Gazette đã thận trọng lựa lời khi tường thuật cuộc họp hội đồng gay gắt nhất từ trước đến nay, trong ký ức mọi người ở đây. Nhưng chẳng ích gì, bài báo đã cắt xén kỹ càng đó cộng thêm lời kể của những người dự họp hôm đó vẫn làm dấy lên làn sóng buôn chuyện. Tệ hơn, trang đầu tờ tạp chí còn nhắc tới những cuộc tấn công mạng dưới tên người đã chết, mà theo Alison Jenkins là “gây ra nhiều phẫn nộ và đồn đoán. Xem thêm chi tiết ở trang bốn”. Dù báo không nói rõ ai bị cáo buộc vì tội gì, nhưng lúc nhìn thấy “những luận điệu nghiêm trọng” và “hành động vô đạo đức” trên báo in, Howard còn thấy buồn bực hơn là đọc bài đăng trên web.

- Ta phải tăng cường an ninh cho website ngay khi bài đầu tiên xuất hiện mới phải - lão nói với vợ và bà bạn làm ăn lúc ngồi trước lò sưởi gas.

Trận mưa xuân lặng lẽ lấm tấm rơi trên cửa sổ, bãi cỏ vườn sau lấp lánh những giọt nước li ti. Howard lạnh run, lão cố ấp lấy hơi ấm tỏa ra từ mớ than giả xếp trong lò. Nhiều ngày nay, hầu như khách nào ghé hiệu thực phẩm và quán café cũng bàn tán về những bài đăng nặc danh, hồn ma Barry Fairbrother và cơn cuồng nộ của Parminder Jawanda trong cuộc họp hội đồng. Howard ghét nghe người ta xì xào về những điều bà ta đã gào lên trong cuộc họp. Lần đầu tiên trong đời lão thấy không thoải mái ngay trong cửa hiệu của mình và phải lo lắng về địa vị vững như bàn thạch của mình tại Pagford này. Cuộc bầu cử tìm người thay thế cho Barry Fairbrother sẽ diễn ra ngay hôm sau, Howard hào hứng lạc quan nhưng vẫn không gạt hẳn được tâm trạng bứt rứt lo lắng.

- Vụ này tai hại quá. Quá tai hại đi. - lão lặp lại.

Lão thò tay xuống bụng định gãi nhưng rụt lại, chịu đựng cơn ngứa ngáy với vẻ mặt kẻ tử vì đạo. Lão vẫn còn chưa quên câu bác sĩ Jawanda hét lên trước hội đồng và nhà báo. Howard và Shirley đã tìm thông tin về Hội đồng y khoa trung tâm, đến tận nơi gặp bác sĩ Crawford và gửi thư khiếu nại chính thức. Từ khi đó Parminder không thấy đến chỗ làm nữa, chắc chắn bà ta hối hận vì cơn bùng phát đó của mình. Dù vậy, Howard vẫn không quên nổi vẻ mặt của bà ta khi gào lên với lão. Cái vẻ căm thù sâu sắc đó làm lão sốc.

- Người ta nói chán rồi cũng quên thôi - Shirley đoán chắc.

- Không đâu - Howard đáp. - tôi không chắc thế đâu. Đẹp mặt thật. Hội đồng khu. Cãi vã ngay trước mũi phóng viên. Aubrey nói trên quận người ta không hài lòng chút nào. Vụ này làm đề nghị của ta về khu Fields yếu hẳn đi. Cãi nhau trước mặt người ngoài thế đấy, chẳng ra làm sao... không ra vẻ hội đồng đại diện cho tiếng nói thị trấn gì hết.

- Có mà - Shirley cười khẽ - Đâu có ai ở Pagford này thích khu Fields, hầu như thế.

- Từ bài báo đó mà xét, có vẻ như cánh ta nhằm vào bọn ủng hộ khu Fields, đe dọa đám đó - Howard nhăn nhó cố nhịn gãi. - Ừ thì Aubrey hiểu cánh ta không làm thế, nhưng cô phóng viên đó viết thành ra khác. Nói cho bà biết, nếu Yarvil làm cho hình ảnh của ta trở nên tệ hại hay kém năng lực... bao nhiêu năm này họ luôn cố tìm cơ hội chiếm quyền khu ta đấy.

- Không có đâu - Shirley lập tức trả lời - Chuyện đó không thể nào xảy ra đâu.

- Tôi nghĩ chuyện này chấm dứt rồi - Howard mải nghĩ về khu Fields, phớt lờ bà vợ - Tôi nghĩ chúng ta đã làm được. Ta sẽ cắt bỏ được cái đám đó.

Bài báo lão đã tốn biết bao thời gian chứng minh cặn kẽ khu Fields và trung tâm cai nghiện là cống rãnh, là vết nhơ của Pagford lại bị át mất do scandal của Parminder và hồn ma Barry Fairbrother. Howard đã hoàn toàn không còn cảm thấy tí gì cảm giác khoan khoái lúc đọc bài đăng đầu tiên buộc tội Simon Price, trước khi cô vợ nhà ấy chưa gọi điện năn nỉ, lão không hề nghĩ chuyện gỡ xuống.

- Hội đồng quận gửi email cho tôi - lão kể với Maureen - hỏi hàng đống câu về website. Họ muốn ta nói rõ dùng những biện pháp nào để chống lại hành động phỉ báng đó. Họ cho rằng an ninh website quá lỏng lẻo.

Shirley thấy đụng chạm, đáp lạnh tanh - Em nói rồi, em đã giải quyết vụ này, Howard.

Hôm qua cháu một người bạn của Howard và Shirley đến chơi lúc Howard đang ở cửa hàng. Cậu này đang theo học tin học. Cậu nói với Shirley là nên bỏ website quá dễ hack này đi và nhờ một ai “biết rõ mình làm gì” để thiết kế trang mới.

Shirley hiểu chưa tới một phần mười mớ thuật ngữ kỹ thuật cậu thanh niên tuôn vào tai bà. Bà chỉ biết “hack” nghĩa là thâm nhập trái phép, rồi khi chàng sinh viên ngừng ba hoa, bà tự nhiên có cảm giác Hồn ma xoay xở kiếm được mật khẩu của mọi người bằng cách cài bẫy họ trong những cuộc nói chuyện bình thường.

Thế là bà gửi email yêu cầu tất cả mọi người đổi mật khẩu và đừng thông báo mật khẩu với với bất kỳ ai. Thế là bà coi như mình “đã giải quyết vụ này.”

Về chuyện đóng website mà bà vừa là quản trị vừa là gác cổng, bà không làm gì, cũng không nhắc tới chuyện đó với Howard. Bà lo website mới với đủ loại phương tiện bảo mật mà anh chàng siêu đẳng này muốn thiết kế vượt ngoài khả năng hiểu biết của mình. Ngay như bây giờ bà cũng đã phải căng hết sức rồi, mà bà thì quyết bám chặt lấy cái chân quản trị website.

- Nếu Miles được bầu... - Shirley cất tiếng nhưng Maureen đã khàn khàn ngắt lời - Mong là không có bài đăng kinh tởm nào nhắm vào cậu ta. Mong là không có điều tiếng gì về cậu ấy.

- Ai cũng biết Miles chẳng liên quan gì cả - Shirley lãnh đạm đáp.

- Thật thế hả? - Maureen hỏi, Shirley nhìn mà phát ghét. Mụ có quyền gì mà ngồi ngay trong nhà bà và nói nghịch ý bà? Mà tại sao Howard lại gật đầu đồng tình với mụ kia chứ?

- Đó đúng là điều tôi lo đấy - lão nói - Giờ ta cần Miles hơn lúc nào hết, để gây dựng lại liên kết trong hội đồng. Sau khi mụ Tai Cụp làm om sòm lên hội đồng còn chưa biểu quyết được về vụ Bellchapel nữa. Ta cần Miles thắng cử.

Shirley đã bỏ ra khỏi phòng để tỏ ý phản đối Howard về phe với Maureen. Bà cáu kỉnh loay hoay với mớ cốc tách trà trong bếp, nghĩ bụng sao mình không bưng lên hai tách thôi cho mụ Maureen biết thân biết phận.

Dù sao Shirley vẫn cứ thấy hâm mộ Hồn ma. Kẻ đó đã vạch trần sự thật về những kẻ ngang ngạnh xấu xa bà vốn không ưa hay coi thường. Chắc chắn cử tri Pagford cũng sẽ nhìn nhận mọi sự như bà và bầu cho Miles chứ không phải cái gã Colin Wall đáng tởm kia.

- Khi nào ta đi bầu đây? - Shirley hỏi Howard lúc lanh canh bưng khay trà vào phòng, cố tình phớt lờ Maureen. (Con trai của hai người họ sẽ nằm trong danh sách kiểm phiếu kín chứ liên quan gì tới mụ)

Rồi bà bực điên người khi Howard bảo cả ba người họ sẽ cùng đi sau khi đóng cửa hàng.

Miles Mollison cũng lo lắng chẳng kém gì cha, mấy câu đùa của anh ta về những sự cố ảnh hưởng tới cơ hội thắng cử ngày mai nhạt nhẽo chưa từng thấy. Ngay sáng hôm đó, anh ta vào cửa hàng tiện lợi phía sau quảng trường và tình cờ nghe được đoạn đối thoại giữa người phụ nữ đứng sau quầy thu ngân và ông khách lớn tuổi.

-… Mollison lúc nào cũng nghĩ ông ta như vua của Pagford vậy - ông không để ý vẻ mặt cứng đơ của cô thu ngân - Tôi thích Barry Fairbrother hơn. Đúng là bi kịch. Bi kịch. Con trai nhà Mollison lập di chúc cho chúng ta mà, tôi nghĩ chắc anh ta tự mãn lắm.

Miles bình tĩnh lùi khỏi hiệu, mặt mày đỏ ửng như cậu học trò. Anh không biết ông già nói năng hoa mỹ đó có phải tác giả mấy bài đăng nặc danh không. Miles vốn bao bọc trong niềm tin dễ chịu rằng mình khá được ưa mến, giờ niềm tin đó đã lung lay, anh ta không thể ngừng tưởng tượng giả sử ngày mai không ai bỏ phiếu cho mình thì sẽ thế nào.

Tối đó, lúc thay đồ đi ngủ, anh lặng lẽ ngắm bóng vợ trong tấm gương trên bàn trang điểm. Nhiều ngày nay anh cứ mở miệng nhắc tới cuộc bầu cử là cô chế nhạo ngay. Giá mà tối nay anh có được chút động viên, chút an ủi. Anh cũng thấy muốn vợ. Đã lâu lắm rồi mới thế. Giờ nghĩ lại, lần cuối hình như vào đêm trước khi Barry gục chết. Vợ anh đã hơi ngà ngà. Dạo này cô hay uống chút đỉnh.

- Công việc thế nào? - anh hỏi, nhìn cô vợ đang tháo áo lót qua gương.

Samantha không đáp ngay. Cô xoa xoa mấy vệt hằn đỏ trên vùng da dưới cánh tay do áo lót quá chật rồi đáp, không nhìn chồng - Thật ra tôi đang định nói chuyện đó với anh đây.

Cô không muốn bàn tới chuyện này. Cô đã cô trì hoãn suốt nhiều tuần lễ nay.

- Roy đề nghị tôi đóng cửa hàng. Làm ăn đang không tốt lắm.

Miles sẽ cực sốc khi biết tình hình thực sự của cửa hàng. Chính cô cũng sốc khi viên kế toán mô tả rõ tình hình bằng những từ trần trụi trực tiếp nhất. Cô vừa hiểu rõ vừa không hiểu. Thật lạ, có những chuyện bộ não hiểu nhưng con tim lại từ chối chấp nhận.

- Ồ - Miles bất ngờ - nhưng em vẫn giữ website bán hàng chứ?

- Ừ - cô đáp - vẫn giữ website đó.

- À thế thì tốt - Miles động viên. Anh chờ gần một phút để tỏ ý tôn trọng tin xấu về cửa hàng rồi mới hỏi - Hôm nay em chắc chưa đọc tờ Gazette phải không?

Cô vợ rướn người với lấy cái áo ngủ bỏ trên gối, anh khoan khoái ngắm trọn khuôn ngực vợ. Chắc chắn sex sẽ giúp anh thư giãn.

- Đúng là tiếc quá, Sam ạ - anh nói, bò sẵn lên giường, chờ tới lúc được vòng tay ôm vợ khi cô mặc xong áo ngủ. - Vụ cửa hàng đấy. Chỗ đó rất khá. Em mở nó cũng được... mười năm rồi nhỉ?

- Mười bốn - Samantha sửa.

Cô biết anh đang muốn gì. Cô những muốn bảo anh chồng đi mà tự sướng rồi bỏ ra phòng khác mà ngủ, nhưng thế chắc chắn sẽ có cãi cọ nặng nề, mà cô chẳng muốn gì hơn là hai ngày tới được đi London cùng Libby, mặc áo thun cô mua cho cả hai mẹ con và được ở gần sát Jake với mấy chàng khác trong nhóm nhạc suốt buổi tối. Giờ toàn bộ niềm vui hiện tại của Samantha đều xoay quanh chuyến đi đó. Hơn nữa sex sẽ khiến Miles nguôi bớt, anh ta gần đây cứ bực bội vì cô bỏ không dự sinh nhật Howard.

Thế là cô để chồng ôm hôn mình. Cô nhắm mắt bò lên người anh, tưởng tượng đang cưỡi lên Jake trên bãi biển trắng muốt hoang vắng, cô mới mười chín tuổi còn chàng hai mốt. Rồi cô hình dung Miles ngồi trên thuyền điên giận nhìn họ qua ống nhòm từ xa.

X

Chín giờ sáng ngày diễn ra cuộc bầu cử tìm người thay thế vị trí của Barry, Parminder rời Nhà Giáo Sĩ Cũ đi lên nhà Wall ở phố Church Row. Bà gõ gõ cửa và đợi, cuối cùng Colin cũng ló ra.

Cặp mắt đỏ ngầu của ông thâm quầng, chỗ xương má cũng xám đen, da trong nhợt ra, quần áo hóa thùng thình, ông vẫn chưa đi làm lại được. Tin Parminder gào lên thông tin y tế bí mật của Howard trước mặt mọi người khiến ông tạm thời khá hơn, mấy hôm trước lại có một Colin mạnh mẽ ngồi trên ghế da vờ ra vẻ tự tin sẽ giành chiến thắng có lẽ không bao giờ tới.

- Mọi chuyện ổn chứ? - ông thận trọng hỏi, khép cửa lại sau lưng bà.

- Vâng, ổn - bà đáp - tôi nghĩ ông muốn cùng tôi đi bỏ phiếu chỗ sảnh nhà thờ.

- Tôi... không - ông ta yếu ớt đáp - Xin lỗi.

- Tôi biết ông cảm thấy gì, Colin - giọng Parminder hơi rắn lại - Nhưng nếu ông không bỏ phiếu nghĩa là họ sẽ thắng. Tôi không để họ thắng đâu. Tôi sẽ xuống đó, bỏ phiếu cho ông, tôi muốn ông đi với tôi.

Parminder đang tạm thời nghỉ việc. Nhà Mollison đã khiếu nại với tất cả mọi cơ quan tổ chức nào họ lần ra được địa chỉ, bác sĩ Crawford khuyên bà nên nghỉ một thời gian. Không ngờ khi nghỉ như thế bà thấy thật tự do. Nhưng Colin vẫn lắc đầu. Bà thoáng thấy mắt ông có ngấn nước.

- Tôi không thể đâu Minda.

- Có thể - bà quả quyết - Ông có thể, Colin. Phải đứng lên chống lại họ chứ. Hãy nghĩ tới Barry.

- Nhưng tôi không thể... tôi xin lỗi... tôi...

Ông nấc lên rồi òa ra khóc. Khi trước ông từng khóc như thế trong phòng khám bệnh của bà, nức nở tuyệt vọng vì bao nhiêu nỗi sợ hãi vây bủa từng ngày một trong đời.

- Thôi nào - bà an ủi, không hề lúng túng kéo tay dẫn ông vào bếp, dúi cho ông cuộn giấy rồi chờ cho cơn nức nở chuyển thành nấc cục - Thế Tessa đâu rồi?

- Đi làm - Ông thút thít, lau mắt.

Trên bàn có tờ thiệp mời dự sinh nhật lần thứ sáu lăm của Howard Mollison, có ai đó đã xé nó thành hai mảnh gọn ghẽ.

- Tôi cũng nhận được một tấm thế - Parminder an ủi - trước buổi tối quát vào mặt lão. Nghe này Colin, ông đi bầu...

- Tôi không thể - Colin thì thầm.

- Chứng tỏ họ không thể hạ gục ta.

- Nhưng họ làm rồi thôi - Colin đáp.

Parminder phá lên cười. Colin há hốc mồm nhìn bà giây lát rồi cũng phá ra cười hô hố nghe như tiếng sủa của con chó lớn.

- À thì họ đẩy ta khỏi chỗ làm - Parminder nói - và hai ta đều chẳng ai muốn ra khỏi nhà này, nhưng ngoài mấy chuyện đó ra thì tôi nghĩ ta đều đang rất sung sức, thật đấy.

Colin bỏ kính ra chấm chấm mắt, nhoẻn cười.

- Nào Colin. Tôi sẽ bầu cho anh. Vẫn chưa phải là kết thúc mà. Sau khi tôi nổi khùng mắng Howard Mollison rằng lão là thứ rác rưởi ngay trước mặt toàn thể hội đồng lẫn phóng viên báo địa phương…

Colin lại phá ra cười, bà thấy vui vui. Từ dạo tết Năm mới đến nay ông không mấy khi cười, có chăng thì đều nhờ Barry.

-… họ quên cả bỏ phiếu về vụ buộc trung tâm cai nghiện phải dọn khỏi tòa nhà Bellchapel cơ mà. Làm ơn đi nào. Mặc áo khoác vào. Ta sẽ cùng xuống đó.

Vẻ tươi cười của Colin lập tức tắt ngóm. Ông ta nhìn chằm chằm hai bàn tay to tướng cứ lóng ngóng xoa xát vào nhau như rửa tay khô.

- Colin, đã kết thúc đâu. Ông sẽ tạo nên sự khác biệt đấy. Người ta có ưa gì nhà Mollison đâu. Ông mà vào được hội đồng thì phe ta đấu tranh được mạnh hơn nhiều. Làm ơn đi mà, Colin.

- Được rồi - ông ta đáp sau vài giây im lặng rồi phát hoảng vì sự táo gan của chính mình.

Đoạn đường đi bộ ngắn, không khí tinh sạch tươi mới, mỗi người đều nắm chặt trong tay phiếu đăng ký bầu cử. Nhà thờ không có cử tri nào khác ngoài hai người họ. Mỗi người đều vạch một dấu chữ chéo thật đậm bằng bút chì cạnh tên Colin rồi rời đi, nhẹ cả người.

Tới trưa Miles Mollison mới đi bỏ phiếu. Lúc ngang phòng anh bạn đồng sự, anh ta dừng chân.

- Tôi nghỉ đi bỏ phiếu đây Gav - anh ta nói.

Gavin chỉ chỉ vào ống nghe đang áp chặt vào tai, gã đang nói chuyện với công ty bảo hiểm của bà Mary.

- Ồ, được rồi, tôi đi bỏ phiếu đây Shona - Miles quay sang cô thư ký.

Nhắc khéo rằng anh đang cần hai người họ ủng hộ tính ra cũng chẳng hại gì. Miles bước nhanh xuống thang, trực chỉ tiệm Ấm Đồng. Ở đó sau khi ngắn gọn bàn bạc với vợ trong không khí hậu-làm-tình, anh thỏa thuận được sẽ gặp chị vợ rồi hai người sẽ cùng đến nhà thờ bỏ phiếu.

Sáng nay Samantha nghỉ hẳn ở nhà, để cô phụ việc tự trông cửa hàng. Cô biết mình không thể trì hoãn báo cho Carly cái tin cửa hàng sắp đóng và cô này phải mất việc, nhưng cô không buộc mình làm nổi chuyện ấy trước chuyến đi London nghe hòa nhạc cuối tuần này. Lúc Miles xuất hiện với vẻ cười phấn khích, cô lập tức thấy sôi máu.

- Bố không đến à? - Câu đầu tiên anh ta hỏi là thế.

- Bên cửa hàng sẽ đi sau khi đóng cửa - Samantha đáp.

Lúc cô và Miles bước vào, sảnh có hai bà cụ khác đang trong phòng bỏ phiếu. Samantha đứng chờ, nhìn mái tóc uốn màu xám sắt, chiếc áo khoác dày nặng và cặp mắt cá chân nặng nề của họ. Một ngày nào đó, trông cô cũng sẽ như thế. Lúc rời đi, bà cụ lưng khòm hơn để ý thấy Miles liền cười nói - Tôi mới bỏ phiếu cho cậu đấy.

- Cảm ơn bà nhiều - Miles vui vẻ đáp.

Samantha bước vào phòng bỏ phiếu, nhìn chằm chằm hai cái tên: Miles Mollison và Colin Wall, tay cầm chiếc bút chì được buộc một đầu vào sợi dây. Cô viết nguệch ngoạc: “tao thù Pagford chết toi” trên tờ phiếu, gấp kỹ lại rồi bước ra, lạnh lùng bỏ vào khe thùng phiếu.

- Cảm ơn cưng - Miles nói, vỗ nhẹ lưng vợ.

Tessa Wall trước nay chưa khi nào không đi bầu cử, nhưng trên đường đi làm về, cô chạy ngang nhà thờ mà không hề dừng lại. Ruth và Simon Price suốt ngày bàn tính nghiêm túc hơn về chuyện dời đến Reading. Lúc dọn bàn bếp để ăn tối, Ruth vứt luôn mấy tấm thẻ đăng ký bầu cử.

Gavin thì chẳng khi nào định đi bầu. Giả sử Barry còn sống ra ứng cử thì may ra gã sẽ đi, nhưng Miles thì khác, gã không hề định giúp tay này đạt được mục tiêu cuộc đời của hắn. Đúng năm giờ ba mươi, gã bực bội đứng dậy thu dọn vì đã chẳng còn cớ gì thoái thác ăn tối cùng Kay. Đúng là tẻ ngắt, mà lại ngay lúc công ty bảo hiểm có vẻ chuyển theo hướng có lợi cho Mary, gã nóng lòng muốn tới báo cho bà biết tin ấy. Thế nghĩa là gã phải giữ cái tin này lại đến tận ngày mai vì gã chẳng muốn bỏ phí nó khi báo qua điện thoại.

Kay vừa mở cửa cho gã đã tuôn ra cả tràng liến thoắng, thường khi nào cô không vui mới như thế.

- Xin lỗi nhé, ngày hôm nay chẳng ra làm sao - cô nói luôn dù gã chẳng phàn nàn gì, hai người cũng chẳng chào hỏi gì nhau. - Em về trễ, giờ phải nấu nốt bữa tối đã, anh vào đi.

Từ trên lầu vọng xuống tiếng trống và tiếng bass dập ầm ĩ. Gavin cũng lấy làm lạ, sao hàng xóm không ai nói gì nhỉ. Kay để ý thấy gã nhìn lên trần liền giải thích - À, Gaia đang cáu vì cậu nhóc nào đó nó thích hồi còn ở Hackney đi chơi với cô khác ấy mà.

Cô nắm chặt ly rượu đang uống dở, hớp một ngụm to. Cô thấy áy náy vì đã gọi Marco de Luca là “cậu nhóc nào đó”. Mấy tuần trước khi hai mẹ con rời London, cậu gần như loanh quanh suốt trong nhà họ. Kay thấy cậu ta rất duyên dáng, ý tứ và tháo vát. Cô mà có được đứa con trai như thế thì còn gì bằng.

- Con bé sẽ chịu được thôi - Kay gạt qua mớ hồi ức, quay lại với chỗ khoai tây đang luộc - Nó mười sáu tuổi mà. Tuổi này hay làm quá lên lắm. Anh rót rượu mà uống.

Gavin ngồi xuống bên bàn, gã chỉ mong Kay bảo được Gaia hạ nhỏ nhạc. Cô cứ phải gần như hét lên với gã giữa tiếng bass sầm sập, tiếng nắp chảo lạch cạch và tiếng quạt thông gió ầm ĩ. Gã lại nhớ đến sự tĩnh lặng dịu dàng trong căn bếp rộng rãi của Mary, cô thật lòng biết ơn gã, cô ấy cần gã.

- Sao? - Gã hỏi to, Kay vừa hỏi gã gì đó.

- Em hỏi là anh đã đi bầu chưa?

-Bầu?

- Bầu cử hội đồng ấy! - Cô giải thích.

- Không - gã đáp - anh chẳng quan tâm.

Gã không chắc cô có nghe được câu đáp không. Cô lại lép nhép gì đó, mãi tới khi cô bưng dao nĩa ra bàn, gã mới nghe được rõ.

- … thực sự đáng ghê tởm, hội đồng khu mà lại đi thông đồng với Aubrey Fawley. Miles mà trúng cử thì trung tâm Bellchapel coi như xong...

Cô chắt nước nồi khoai, tiếng nước đổ xuống lại nhấn chìm giọng cô lần nữa.

- Nếu cái bà ngớ ngẩn đó không mất tự chủ thì có khi ta sẽ nhiều khả năng thắng cử hơn rồi. Em đưa cho bà ta cả đống tài liệu về trung tâm, chắc bà ta chẳng dùng tới tờ nào. Bà ấy chỉ gào vào mặt Howard Mollison là lão ấy quá béo thôi. Mà nói về chuyện thiếu chuyên nghiệp...

Gavin có nghe nói về vụ bác sĩ Jawanda nổi điên trước mặt mọi người. Thật ra gã thấy chuyện đó cũng hơi buồn cười.

-… Tình trạng bất ổn định thế này ảnh hưởng rất xấu tới nhân viên trung tâm, chứ đừng nói gì là bệnh nhân.

Gavin không đủ sức vờ tỏ ra tiếc thương hay căm phẫn nữa, gã chỉ thấy hoảng vì xem ra Kay dính chặt vào cái mớ bòng bong rối rắm này cùng với cả loạt nhân vật có mặt có mũi ở đây. Thế nghĩa là cô ta đang cắm rễ ngày càng sâu tại Pagford này. Giờ muốn bẩy được cô đi thì còn phải khốn khổ chán.

Gã quay đầu nhìn ra mảnh vườn không được xén tỉa thường xuyên ngoài cửa sổ. Cuối tuần này gã có hứa sẽ giúp Fergus làm vườn. Nếu may mắn, biết đâu bà Mary sẽ lại mời gã ở lại ăn tối, và nếu thực thế gã sẽ có cớ không đi bữa tiệc sinh nhật thứ sáu lăm của Howard. Miles cứ làm như gã trông mong vụ đó lắm.

-… muốn giữ nhà Weedon nhưng không, Gillian nói ta không thể chỉ chọn thứ ngon nhất trên bàn tiệc. Anh có nghĩ làm thế là chọn thứ dễ ăn không?

- Xin lỗi, sao?- Gavin hỏi lại.

- Mattie đã trở lại làm việc rồi - cô nói, gã phải nặn óc ra mới nhớ nổi đó là đồng nghiệp mà cô đang phải choàng việc. - Em muốn tiếp tục làm việc với nhà Weedon, đôi lúc mình có xúc cảm đặc biệt với một gia đình nào đó mà, nhưng Gillian không cho phép. Điên thật đấy.

- Trước giờ không phải chỉ có mình em muốn giữ nhà Weedon đâu - Gavin nhận xét. - Theo những gì anh nghe được thì là thế.

Kay phải ghìm lắm mới không bật lại. Cô kéo khay phi-lê cá hồi ra khỏi lò nướng. Tiếng nhạc từ phòng Gaia to đến nỗi cô cảm thấy cái khay cũng rung rung. Cô dằn mạnh nó xuống bệ.

- Gaia - cô gào lên làm Gavin giật nảy mình, bước thẳng lại phía chân cầu thang - GAIA! Vặn nhỏ xuống! Mẹ bảo rồi đấy nhé! VẶN NHỎ XUỐNG!

Tiếng nhạc giảm được độ một decibel. Kay trở vào bếp, lóng ngóng xoay tới xoay lui. Trước lúc Gavin tới, hai mẹ con vừa cãi nhau một trận tệ hại chưa từng có. Gaia nói thẳng ý định gọi cho ông bố xin được chuyển về ở với ông.

- Thế hả, thế chúc may mắn nhé! - Kay gào lên.

Mà có khi Brendan đồng ý thì sao. Anh ta bỏ đi lúc Gaia mới được một tháng tuổi. Giờ Brendan đã cưới vợ và có thêm ba đứa nữa. Anh ta có nhà to, việc tốt. Nhỡ anh ta đồng ý nhận con bé thật thì sao?

Gavin cũng mừng là không phải chuyện trò gì suốt bữa ăn, tiếng nhạc ầm ầm lấp đầy khoảng im lặng, gã có thể yên ổn mà mơ tưởng về Mary. Ngày mai, gã sẽ kể với Mary rằng công ty bảo hiểm đang ngỏ ý muốn thỏa thuận, rồi cô ấy sẽ biết ơn và khâm phục mình...

Gã sắp vét sạch đĩa mới để ý Kay không hề ăn miếng gì. Cô chỉ đang nhìn gã chằm chằm, cái vẻ ấy làm gã bất an. Hay là gã có làm gì để lộ ra chuyện đang tơ tưởng...

- Thậm chí anh còn không buồn cố gắng nữa - Kay cay đắng nói - thậm chí anh còn không thèm vờ quan tâm nữa, Gavin.

Gã cố tìm lối thoát thân nhẹ nhàng.

- Kay, anh mệt cả ngày mà - gã nói - anh xin lỗi vì không nghe kịp hết mấy tình tiết chính trị địa phương...

- Em không có trách chuyện đó - Kay nói. - Nhưng anh ngồi đó mà hồn để đâu đâu, thật... thật quá đáng. Anh muốn gì hả Gavin?

Gã thấy hiện ra trong đầu gian bếp của Mary và gương mặt ngọt ngào của bà.

- Em phải năn nỉ anh mới chịu gặp - Kay nói - khi chịu đến rồi thì anh lại tỏ cái vẻ chẳng muốn đến chút nào.

Cô những mong nghe gã nói “không phải đâu”. Tới lúc này, lời từ chối chỉ như câu đối phó cho qua. Họ đang trượt ngày càng nhanh tới thời điểm khủng hoảng mà Gavin vừa mong vừa sợ xảy ra.

- Nói tôi nghe anh muốn gì đi - Kay mệt mỏi lên tiếng - cứ nói ra đi.

Cả hai đều nhận thấy mối dây tình cảm đã đứt rời từng mảnh dưới sức nặng những điều Gavin không chịu thốt ra. Cảm giác như cả hai đều sẽ thoát khỏi nỗi đau khổ hiện thời nếu gã chịu nói thẳng những điều mà gã không muốn, thậm chí là không bao giờ muốn bộc lộ, nhưng theo cách nào đó, những lời ấy sẽ giải thoát cho cả hai.

- Anh không muốn chuyện xảy ra thế này - Gavin thành thực nói - Anh không cố tình đâu, Kay. Anh rất xin lỗi, nhưng anh nghĩ anh yêu Mary Fairbrother mất rồi.

Rõ ràng cô không hề ngờ đến chuyện này.

- Mary Fairbrother - cô lặp lại.

- Anh nghĩ - gã tiếp (nói về chuyện này, lòng gã vừa đắng vừa ngọt; gã biết mình đang làm tổn thương cô, nhưng ngoài cô ra gã đâu còn ai để nói) - tình cảm này ươm mầm từ lâu rồi. Anh không nhận ra, ý anh là, hồi Barry còn sống, anh chưa khi nào...

- Tôi nghĩ ông ấy là bạn thân nhất của anh cơ đấy - Kay thì thầm.

- Đúng thế mà.

- Ông ấy mới chết có vài tuần!

Gavin không muốn nghe những lời như thế.

- Kìa - gã phân trần - anh đang cố tỏ ra thành thật với em còn gì. Anh muốn xử sự công bằng với em mà.

- Anh muốn xử sự công bằng ấy hả?

Gã từng tưởng tượng cảnh chia tay ầm ĩ, nhưng cô chỉ ứa nước mắt nhìn gã mặc áo khoác vào.

- Anh xin lỗi - gã nói rồi bước khỏi nhà cô, lần cuối.

Lúc ra đến vỉa hè, gã phấn chấn đi như bay ra xe. Cuối cùng thì tối nay gã cũng có thể kể cho Mary nghe vụ công ty bảo hiểm rồi.

« Lùi
Tiến »