Đó chính là chiếc Studebaker đó. Chính là nó, chiếc Studebaker cũ mèm đó. Chính cái đống sắt vụn đã đón hắn trên đường. Không thể nào. Không thể nào được. Ấy vậy mà đúng là nó. Nó đó, đang đậu bên kia đường. Nó đó. Đang đợi ở đó. Chính là chiếc Studebaker đó.
Parry đi về phía tòa chung cư, không biết mình đang đi về phía tòa chung cư, chỉ biết mình đang đi về phía chiếc Studebaker, muốn chắc chắn rằng đó là chiếc xe đó và biết chắc là nó nhưng không tin nổi là nó và dù sao vẫn biết là nó. Không có ai trong xe. Không thể nào là chiếc xe đó được.
Chính là chiếc xe đó.
Hắn không muốn bắt đầu tự hỏi mình tại sao. Và thế nào. Và tại sao và thế nào và khi nào và thế nào và tại sao và thế nào và tại sao. Hắn hỏi và hắn không thể trả lời. Nếu có câu trả lời nào thì đó là sự trùng hợp. Nhưng sự trùng hợp cũng có giới hạn và chuyện này đã vượt quá xa giới hạn. Khu vực này nhắm tới tầng lớp trung lưu thượng lưu, thu nhập từ mười lăm ngàn một năm trở lên. Hoặc thôi cứ cho gã Studebaker một cơ hội và tính là mười ngàn. Thậm chí bảy ngàn rưỡi thì gã Studebaker vẫn không thuộc về nơi này. Gã Studebaker nằm tít dưới hạng nông dân tá điền. Và chiếc xe đang đậu trước một tòa chung cư mà giá thuê một cái buồng để quần áo cũng không dưới một trăm mười đô một tháng. Không thể nào là chiếc xe đó được.
Chính là chiếc xe đó.
Được rồi, gã Studebaker làm lao công ở đó. Không. Được rồi, gã Studebaker có ông anh giàu có sống ở đó. Không. Được rồi, gã Studebaker đang lái xe xuống phố thì hết xăng và phải đậu ở đó. Không. Không và không và không.
Không phải là chiếc xe đó. Không thể là chiếc xe đó.
Chính là chiếc xe đó.
Ánh sáng buổi sáng rọi xuống và cố gắng lấp lánh trên chiếc Studebaker. Không có lớp đánh bóng nào trên chiếc Studebaker và rất ít sơn, do đó rất ít lấp lánh. Chỉ có chiếc Studebaker coupé cũ kỹ, xỉn màu và im lìm ở đó bên kia đường, đang đợi hắn.
Parry quay người và đi về phía tòa chung cư. Hắn đang lảo đảo. Trên bậc tam cấp hắn vấp ngã. Trong tiền sảnh ngón tay hắn hướng về cái nút sai và hắn lái nó đi kịp thời và đưa nó về cái nút đúng và ấn nút.
Hắn nhận được tiếng chuông mở cửa. Hắn đi qua sảnh và vào thang máy. Hắn ấn nút số 3. Thang máy bắt đầu đi lên và Parry cảm thấy mình đang đi xuống. Khi thang máy đi lên hắn cứ đi xuống và mắt hắn giờ đã nhắm nghiền. Hắn thấy bức tường đen của mi mắt khép kín và rồi hắn lại thấy màu cam sáng và chiếc xà đu và hắn thấy những miếng trám vàng trong cái miệng đang cười và rồi hắn lại thấy màu đen ngay trước khi mọi thứ trở thành màu cam sáng và sau đó tất cả đều là màu đen và hắn đang đi vào đó trong màu đen và hắn đang ở trong đó. Hắn đang ở trong màu đen.
Dần dần màu đen nhường chỗ và thay thế nó là màu tím xám và vàng. Hắn đang nằm trên ghế sofa. Hắn ngước nhìn và thấy cô. Cô đang đứng cạnh sofa, nhìn hắn. Cô mỉm cười.
Cô nói, "Tôi không nghĩ anh sẽ quay lại."
Cô đang mặc một chiếc áo choàng màu vàng. Mái tóc vàng của cô xõa xuống và phủ lên vai.
Cô nói, "Khi tôi nghe tiếng chuông tôi đã sợ hãi. Khi không thấy ai lên tôi đã sợ khủng khiếp. Rồi một lúc sau tôi ra hành lang và thấy ánh sáng từ thang máy. Tôi xuống đó và mở thang máy ra thì thấy anh trong đó. Tôi đã sợ điếng người khi thấy đống băng gạc nhưng tôi nhận ra bộ com-lê và thế là tôi hiểu về đống băng gạc. May mà anh không nặng, vì nếu không tôi đã không xoay xở được. Kể tôi nghe chuyện gì đã xảy ra với anh đi."
Parry lắc đầu.
"Sao lại không?"
Hắn lắc đầu.
"Sao anh không thể kể cho tôi?"
Hắn chỉ vào miệng mình. Hắn lắc đầu.
"Anh nói được không?"
Hắn lắc đầu.
"Tôi có thể làm gì cho anh không?"
Hắn lắc đầu. Rồi hắn gật đầu. Bằng một cây bút chì tưởng tượng hắn viết lên lòng bàn tay. Cô vội vã chạy ra khỏi phòng. Cô quay lại với một tập giấy và một cây bút chì.
Parry viết——
Một gã tài xế taxi nhận ra tôi. Gã đề nghị giúp tôi. Gã đưa tôi đến một chuyên gia phẫu thuật thẩm mỹ đã phẫu thuật mặt tôi. Rồi gã đưa tôi về và thả tôi xuống cách đây vài dãy nhà. Băng gạc phải giữ nguyên trong năm ngày. Tôi chỉ được ăn thức ăn lỏng và phải uống qua ống hút thủy tinh. Tôi có thể hút thuốc nếu cô có tẩu thuốc lá. Tôi phải ngủ nằm ngửa và để không bị lật úp mặt tôi phải trói cổ tay vào thành giường. Mặt tôi đau kinh khủng và cả tay tôi nữa, nơi gã bác sĩ phải cắt để lấy da mới đắp lên mặt. Tôi rất mệt và tôi muốn ngủ.
Cô đọc những gì hắn viết. Cô nói, "Anh sẽ ngủ trong phòng ngủ. Tôi sẽ ngủ ở đây trên ghế sofa."
Hắn lắc đầu.
"Tôi bảo anh sẽ ngủ trong phòng ngủ. Làm ơn đừng cãi tôi. Giờ tôi là y tá của anh. Anh không được cãi y tá."
Cô dẫn hắn vào phòng ngủ. Cô đứng ngoài trong khi hắn cởi đồ. Khi hắn đã nằm trong chăn hắn gõ vào thành giường và cô bước vào. Cô dùng khăn tay để trói cổ tay hắn vào hai bên thành giường.
"Có chặt quá không?"
Hắn lắc đầu.
"Anh thấy thoải mái không?"
Hắn gật đầu.
"Còn cần tôi làm gì nữa không?"
Hắn lắc đầu.
"Ngủ ngon, Vincent."
Cô tắt đèn và đi ra khỏi phòng.
Vài phút sau Parry đã ngủ say. Hắn thức dậy vài lần trong đêm, tỉnh giấc khi cố lật người và cổ tay bị trói giữ hắn lại. Ngoài chuyện đó ra hắn ngủ một giấc ngủ trọn vẹn của sự kiệt sức, giấc ngủ nặng nề giúp hắn thoát khỏi cơn sốc và đau đớn. Hắn ngủ cho đến tận chiều muộn, và khi hắn thức dậy cô đang ở trong phòng, đợi hắn với một khay đồ ăn sáng. Có một ly nước cam cao. Có một bát ngũ cốc trắng, rất mềm và chủ yếu là kem, để có thể ăn qua ống hút thủy tinh. Có một bình cà phê và một ly nước. Có ba cái ống hút thủy tinh, mới và sáng bóng, và hắn biết cô đã ra ngoài mua chúng vào buổi sáng. Hắn cảm ơn cô bằng ánh mắt. Cô mỉm cười với hắn. Cô với lấy thứ gì đó trên tủ ngăn kéo và khi cô giơ nó lên hắn thấy một cái tẩu thuốc lá dài, mới và sáng bóng. Nó được tráng men vàng và có một cái đầu ngậm nhỏ nhắn tinh xảo.
Cô nói, "Anh ngủ ngon không?"
Hắn gật đầu. Cô cởi khăn tay và hắn định ra khỏi giường rồi hắn nhìn cô. Cô bước ra khỏi phòng. Hắn đi vào phòng tắm. Khi xong việc trong phòng tắm hắn dùng bữa sáng qua ống hút thủy tinh. Nhạc Basie vang lên từ máy quay đĩa ở phòng bên, rồi cô từ phòng bên bước vào, châm một điếu thuốc và nhìn hắn nhấm nháp bữa ăn qua ống hút. Cô nhìn những cái ly rỗng, cái bát rỗng và cái tách rỗng.
Cô mỉm cười và nói, "Ngoan lắm. Và giờ anh có muốn một điếu thuốc không?"
Hắn gật đầu.
Cô đặt một điếu thuốc vào tẩu và châm lửa cho hắn.
Cô nói, "Mặt anh hôm nay thấy đỡ hơn chưa?"
Hắn gật đầu.
"Đỡ hơn nhiều không?"
Hắn gật đầu.
"Anh muốn làm gì?"
Hắn nhún vai.
"Anh có muốn đọc sách không?"
Hắn gật đầu.
"Anh muốn đọc gì?"
Hắn nhún vai.
"Tạp chí nhé?"
Hắn lắc đầu.
"Báo nhé?"
Hắn nhìn cô. Cô không cười. Hắn cố tìm kiếm điều gì đó trong mắt cô. Hắn không tìm thấy gì. Hắn bắt đầu gật đầu rồi dừng lại và nhún vai.
Cô đi ra khỏi phòng và quay lại với ấn bản buổi chiều. Cô đưa nó cho hắn và hắn cầm sát mắt và thấy rằng ở San Francisco một người đàn ông tên Fellsinger đã bị giết vào rạng sáng và cảnh sát nói đó là tác phẩm của kẻ vượt ngục chung thân từ San Quentin. Cảnh sát nói dấu vân tay của Parry ở khắp nơi, trên đồ đạc, trên vỏ bọc giấy bóng kính quanh bao thuốc lá, trên cái ly, trên hầu như mọi thứ ngoại trừ hung khí giết người là một cây kèn trumpet. Cảnh sát diễn giải thế này—họ nói Vincent Parry đã đến chỗ bạn mình là George Fellsinger và yêu cầu giúp đỡ để trốn thoát. Fellsinger chắc chắn đã từ chối. Rồi Fellsinger cố gọi cảnh sát hoặc bảo Parry rằng anh ta cuối cùng sẽ gọi cảnh sát. Trong cơn giận dữ hoặc một quyết định lạnh lùng Parry đã vớ lấy cây kèn trumpet quên mất những dấu vân tay khác của mình khắp phòng và chỉ biết rằng không được để dấu vân tay trên cây kèn. Và vì thế hắn hẳn đã dùng khăn tay quấn quanh tay khi cầm cây kèn và giáng nó xuống đầu Fellsinger. Lặp đi lặp lại. Những dấu vân tay duy nhất ở đó là của Fellsinger và của Parry. Hoàn toàn không nghi ngờ gì về điều đó. Parry đã làm chuyện đó.
Parry ngước lên. Cô đang nhìn hắn. Hắn chỉ vào bài báo.
Cô gật đầu. Cô nói, "Phải, Vincent. Tôi thấy rồi."
Hắn ra hiệu ý bảo cô hãy đưa ra phản ứng thêm.
Cô nói, "Tôi không biết phải nói gì. Anh có làm chuyện đó không?"
Hắn lắc đầu.
"Nhưng ai có thể làm chuyện đó?"
Hắn lắc đầu.
"Anh đã ở đó đêm qua?"
Hắn gật đầu. Rồi hắn làm động tác giấy bút. Cô mang cho hắn giấy bút và hắn viết ra cho cô, đúng như những gì đã xảy ra. Cô đọc chậm rãi. Như thể cô đang nghiên cứu sách giáo khoa.
Khi cuối cùng cô đặt tập giấy xuống, cô nói, "Trong bản tường trình anh viết sáng nay anh không nói gì về Fellsinger. Tại sao?"
Hắn nhún vai.
"Còn chuyện gì khác anh chưa kể tôi không?"
Hắn lắc đầu. Hắn nghĩ về chiếc Studebaker. Hắn nghĩ về Max. Và chiếc Studebaker. Và hắn lại lắc đầu.
Cô nói, "Tôi biết có chuyện khác. Tôi ước anh kể cho tôi. Anh càng kể nhiều tôi càng giúp được anh nhiều. Nhưng tôi không thể ép anh kể. Tôi chỉ hỏi xem nó có quan trọng không."
Hắn lắc đầu.
Cô đi ra cửa và ở đó cô quay lại đối mặt với hắn. Cô nói, "Chiều nay tôi có việc phải làm. Công việc từ thiện (Settlement work). Tôi dành vài giờ mỗi ngày cho việc đó. Tôi sẽ về lúc sáu giờ và chúng ta sẽ ăn tối. Hứa với tôi anh sẽ ở yên đây. Hứa với tôi anh sẽ không trả lời chuông cửa và bất kể chuyện gì xảy ra và bất kể ý nghĩ gì nảy ra trong đầu anh cũng sẽ ở yên đây."
Hắn gật đầu.
Cô nói, "Có thuốc lá ở phòng bên và nếu khát anh sẽ thấy cam trong tủ lạnh và anh có thể vắt nước."
Hắn gật đầu.
Cô bước ra ngoài. Hắn cúi xuống tờ báo và đọc lại câu chuyện về Fellsinger vài lần nữa. Hắn nghe tiếng cô đi ra khỏi căn hộ. Hắn xem qua tờ báo. Hắn cố gắng quan tâm đến mục tài chính và dần dần hắn thành công, hắn xem qua các báo cáo chứng khoán, chỉ số trung bình Dow-Jones, giá lúa mì và bông, tình hình ngành đường sắt và thép. Hắn thấy một mẩu quảng cáo nhỏ và gọn gàng nghiêm túc của công ty nơi hắn từng làm thư ký, nơi Fellsinger từng làm việc. Hắn bắt đầu nhớ lại những ngày làm việc, ngày hắn bắt đầu ở đó, ban đầu khó khăn thế nào, hắn đã cố gắng thế nào, hắn đã tham gia một khóa học hàm thụ về thống kê ngay sau khi kết hôn thế nào, hy vọng có thể nắm bắt thống kê và cuối cùng leo lên mức bốn mươi lăm đô một tuần với tư cách là nhân viên thống kê. Nhưng khóa học hàm thụ mang lại cho hắn nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời và cuối cùng hắn phải bỏ cuộc. Hắn nhớ cái đêm hắn viết thư bảo họ ngừng gửi những tờ giấy in roneo đến. Hắn cho Gert xem lá thư và cô bảo hắn sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì. Đêm đó cô đi chơi. Hắn nhớ hắn đã hy vọng cô đừng bao giờ quay lại và hắn sợ cô sẽ không bao giờ quay lại vì có điều gì đó ở cô cuốn hút hắn đôi chút và hắn ước có điều gì đó ở hắn cuốn hút cô. Hắn biết chẳng có gì ở hắn cuốn hút cô và hắn tự hỏi tại sao cô không xách đồ lên và bỏ đi một lần cho xong. Cô luôn nói về những người đàn ông cao lớn xương xẩu với gò má cao và má hóp và rất cao. Hắn xương xẩu và rất gầy và hắn có gò má cao và má hóp nhưng hắn không cao. Hắn thực sự là một bản thu nhỏ của những gì cô thực sự muốn. Và bởi vì cô không thể nắm bắt lâu dài được hàng thật nên cô nghĩ thà ở với bản thu nhỏ còn hơn. Đó là cách giải thích gần đúng nhất hắn có thể nghĩ ra. Bản thân cô rất gầy và đó là kiểu hắn thích, gầy. Rất gầy. Cô hầu như không có ngực và chẳng có mông nhưng đó là kiểu hắn thích và lần đầu tiên hắn thấy cô hắn đã tập trung vào cách cô được cấu tạo như một cây sậy và hắn thấy hứng thú. Hắn lờ đi đôi mắt còn nhạt màu hơn nâu nhạt, mái tóc còn nhạt màu hơn vải flannel nâu nhạt, cái mũi mỏng và cái miệng rất mỏng và đường quai hàm sắc như dao cạo. Hắn lờ đi sự thật là cô đã hai mươi chín tuổi khi cưới hắn và lý do duy nhất cô cưới hắn là vì hắn là bản thu nhỏ của những gì cô thực sự muốn và cô đã không thể có được thứ cô thực sự muốn. Cô cưới hắn vì hắn xuất hiện vào lúc cô bắt đầu lo lắng về chuyện đó, lo lắng rằng cô sẽ không thể có được bất cứ ai. Có những lúc cô bảo hắn lý do duy nhất hắn cưới cô là vì hắn bắt đầu lo lắng, vì hắn không thể có được thứ hắn thực sự muốn và hắn cho rằng thà lấy cây sậy nhạt màu này khi còn có thể, và trước khi tuổi tác đuổi kịp hắn và hắn sẽ chẳng có được ai cả. Hắn bảo điều đó không đúng. Hắn muốn cưới cô vì cô là thứ hắn thực sự muốn và nếu cô chịu hợp tác với hắn thì họ sẽ có thể hòa hợp và họ sẽ tìm ra cách để hạnh phúc. Hắn đã cố làm cô hạnh phúc. Hắn nghĩ một đứa con sẽ làm cô hạnh phúc. Hắn cố cho cô một đứa con và có lần hắn đã làm cô có thai nhưng cô đã đi bác sĩ và uống thuốc. Cô bảo cô ghét ý nghĩ có con.
Parry lật các trang báo và đến mục thể thao. Bóng rổ được lên lịch tối nay. Hắn nhớ hắn luôn thích bóng rổ. Hắn nhớ hắn đã chơi bóng rổ khi ở trại giáo dưỡng tại Arizona, và sau đó hắn chơi trong đội Y.M.C.A. khi sống một mình ở San Francisco và làm việc trong kho hàng với mức lương mười sáu đô một tuần. Hắn nhớ hắn thường đi xem các trận đấu và có một cuối tuần hắn lên Eugene ở Oregon để xem đội Oregon State vĩ đại đấu với đội Oregon vĩ đại. Hắn nhớ hắn đã muốn xem trận đó thế nào, và hắn đã hạnh phúc thế nào khi cuối cùng được ở đó cùng đám đông và các đội bóng trên sân và trận đấu bắt đầu. Hắn nhớ có lần hắn đưa Gert đi xem một trận đấu vào tối thứ Bảy và đó là sau khi họ cưới nhau được bốn tháng. Cô cứ nói cô không quan tâm đến bóng rổ và thà đi xem ca nhạc tạp kỹ (floor show) ở đâu đó còn hơn. Hắn cứ nói cô nên cho bóng rổ một cơ hội vì nó thực sự thú vị để xem và dù sao thì nó cũng là sự thay đổi so với ca nhạc tạp kỹ. Cô bảo đó là vì vé xem bóng rổ chỉ có một đô rưỡi hoặc tầm đó và hắn chỉ không muốn chi chín hay mười hay mười một đô vào hộp đêm. Hắn bảo nói thế là không công bằng, vì hắn luôn đưa cô đi bất cứ đâu cô muốn vào tối thứ Bảy, và cô luôn muốn đi hộp đêm, và đằng nào cũng không phải chín hay mười hay mười một, mà là cỡ mười sáu mười bảy mười chín, vì cả hai đều uống khá nhiều. Hắn không nói những điều khác hắn đang nghĩ lúc đó, rằng khi cô ở trong hộp đêm cô cứ nhìn những gã đàn ông cao lớn xương xẩu, luôn nhìn họ, không bao giờ nhìn hắn, không bao giờ nghe hắn nói, luôn quay đầu nhìn những gã đàn ông cao lớn xương xẩu với gò má cao và má hóp. Hắn cuối cùng sẽ ngừng nói và cô thậm chí không nhận ra hắn đã ngừng nói. Ấy vậy mà đêm đó cuối cùng cô cũng hạ mình đi xem bóng rổ với hắn. Và đó là một trận đấu sôi động, rất sát nút, càng lúc càng nóng, và hắn rất phấn khích và hạnh phúc khi ở đó. Cô ngồi đó bên cạnh hắn, hắn nhớ lại, không nói gì, không hỏi hắn về trận đấu, không tò mò về cách chơi, nhưng vẫn quan tâm. Quan tâm đến những chàng trai cao lớn xương xẩu chạy lên chạy xuống sân. Quan tâm đến những cơ thể cao lớn xương xẩu của họ, cánh tay dài, đôi chân dài lấp lánh dưới ánh đèn rực rỡ của sân bóng rổ khi họ chạy và dừng và lại chạy. Và khi cô đã nhìn ngắm chán chê tất cả bọn họ, cô bảo cô chán ngấy khi nhìn tất cả cái thứ vớ vẩn dưới kia, một đám ngu ngốc trẻ tuổi cố làm tàn phế nhau để ném quả bóng qua cái vòng. Cô bảo cô muốn về. Hắn xin cô ở lại với hắn cho đến khi trận đấu kết thúc. Cô bảo cô muốn về. Cô bảo nếu hắn không về cùng cô thì cô sẽ về một mình. Cô nói to. Hắn van xin cô hạ giọng xuống. Cô nói to hơn. Mọi người xung quanh bảo họ trật tự để xem trận đấu. Cô nói to hơn nữa. Cuối cùng hắn bảo được rồi, họ sẽ về. Khi họ đứng dậy và bắt đầu rời đi hắn có thể nghe thấy những người đàn ông khác cười nhạo mình.
Parry lật các trang báo và đến mục phụ nữ. Ai đó đang dạy phụ nữ nấu món gì đó. Hắn nhớ cô ghét nấu ăn. Họ ăn ngoài phần lớn thời gian. Có những đêm hắn về nhà rất mệt và hắn rùng mình khi nghĩ đến việc phải đi ra ngoài và xếp hàng tại những nhà hàng nổi tiếng và đắt đỏ mà cô thích, và hắn ước gì cô chịu học nấu ăn, vì ngay cả vào vài đêm họ ăn ở nhà cô cũng cho hắn ăn đồ sống, thịt nguội hoặc cá hộp và thứ duy nhất nóng là cà phê. Có lần hắn cố nói chuyện với cô về việc đó và cô bắt đầu la hét. Cô cầm ấm pha cà phê và đổ cà phê ra khắp sàn nhà.
Hắn nhớ cô lấy hai phần ba, hơn hai phần ba trong số ba mươi lăm đô một tuần hắn kiếm được. Hắn nhớ cô hầu như không bao giờ cười với hắn. Khi cô cười thì đó không thực sự là nụ cười, đó là vì cô thấy buồn cười về cái gì đó. Cô không bao giờ nói cho hắn biết cái gì làm cô buồn cười. Và những thứ làm cô buồn cười thì không làm hắn buồn cười. Hắn nhớ có lần họ đang đi bộ trên phố và có kẹt xe và một xe đâm vào xe khác và chúng mắc kẹt cản xe vào nhau. Cô nói, "Tốt." Cô bắt đầu cười. Hắn cố tìm xem có gì vui trong chuyện đó. Hắn cố cười. Hắn không cười được.
Có lần họ đang đi bộ về phía tòa chung cư và một cậu bé giao hàng đi xe đạp vượt qua họ, với cái giỏ lưới chất đầy những gói hàng trên ghi đông. Xe đạp vấp phải ổ gà và lật nhào. Cậu bé ngã dập mặt và các gói hàng bay tung tóe khắp đường. Cậu bé bị rách mặt và ngồi đó giữa đường, lấy khăn tay thấm máu trên mặt. Cô bắt đầu cười. Hắn hỏi cô cười cái gì. Cô không trả lời. Cô cứ cười mãi.
Hắn bắt đầu cảm thấy mệt trở lại. Cơn đau trên mặt giờ âm ỉ, và hắn đang quen dần với nó. Nhưng khi ngồi đó đo đếm cơn đau hắn dần nhận ra có thứ gì khác ngoài cơn đau. Như những chiếc lông vũ nhỏ dưới lớp băng gạc. Đó là cơn ngứa mà Coley đã nói. Quá trình chữa lành, sự liền da đang diễn ra. Hắn chào đón cơn ngứa. Hắn bảo nó hãy tệ hơn đi. Hắn lật các trang báo và không thấy gì thu hút sự quan tâm, vả lại hắn rất mệt. Hắn đẩy tờ báo sang một bên và để đầu ngả ra sau gối. Hắn nhắm mắt, biết rằng mình sẽ không ngủ, biết rằng mình sẽ chỉ nằm đó, nghỉ ngơi. Cảm nhận cơn đau, cảm nhận cơn ngứa dưới lớp băng, chảy vào cơn đau, rồi luồn xuống dưới cơn đau. Có lúc hắn mở mắt và nhìn về phía cửa sổ. Trời sắp mưa ở San Francisco. Bầu trời xám xịt nặng nề, lầm bầm, sẵn sàng trút nước. Hắn nhắm mắt lại. Hắn không quan tâm nếu trời mưa. Hắn ở đây, hắn ở trong này, hắn ổn trong này. Và trong chưa đầy năm ngày nữa hắn sẽ ra khỏi đây và hắn sẽ đi xa với khuôn mặt mới và mọi chuyện sẽ ổn thôi. Và tiếng chuông cửa đang reo và mọi chuyện sẽ ổn thôi. Và tiếng chuông cửa đang reo.
Hắn ngồi dậy.
Tiếng chuông cửa đang reo lần nữa. Rồi nó ngừng. Hắn ngồi đó chờ đợi. Nó lại reo. Nó là một mũi kim đâm vào hắn. Và rồi nó ngừng.
Hắn chờ đợi. Hắn tự hỏi ai ở dưới đó. Hắn rời khỏi giường và đi ra cửa sổ chờ ở đó. Rồi hắn thấy ai đó đi ra khỏi tòa chung cư và băng qua đường, đi về phía chiếc Studebaker đang đậu ở phía bên kia đường. Và đó là người đàn ông đã cho hắn đi nhờ xe. Đó là Studebaker.
Đó thực sự là Studebaker, với quần áo khác, quần áo mới và không đội mũ, và thực sự là Studebaker. Và Studebaker đang tìm hắn. Studebaker một mình. Không có cảnh sát. Parry không thể hiểu nổi, không thể hiểu chút nào.
Bầu trời vỡ òa. Mưa trút xuống.
Parry đứng đó bên cửa sổ và nhìn Studebaker chui vào xe. Chiếc xe bò đi, xóc nảy, đi về phía trước, đi xuống góc phố và rẽ. Parry bắt đầu run rẩy. Studebaker đang đi báo cảnh sát. Nhưng tại sao lại là bây giờ? Sao không phải trước đó? Tại sao lại là bây giờ? Nếu Studebaker chưa nói với cảnh sát cho đến lúc này, tại sao gã lại đi gặp họ bây giờ?
Mưa trút xuống xối xả và đều đặn. Parry rời cửa sổ, đi về phía giường, rồi dừng lại và đi về phía tủ phấn và đứng trước gương, nhìn vào gương. Hắn quyết định tháo băng và ra khỏi căn hộ trước khi Studebaker quay lại cùng cảnh sát. Hắn đưa tay lên mặt và ngón tay chạm vào băng dính. Hắn giật miếng băng dính. Một cơn đau khủng khiếp bắn ngang mặt và chạy xuyên qua đầu hắn. Ngón tay hắn rời khỏi miếng băng dính. Hắn tự nhủ không được sợ đau. Hắn phải thử lại. Hắn phải ra khỏi đây, và hắn không thể đeo băng gạc khi ra ngoài. Hắn đặt ngón tay lên băng dính và một lần nữa hắn giật nó và một lần nữa cơn đau chém vào hắn. Hắn biết hắn sẽ không thể chịu đựng thêm nữa. Hắn quyết định ở lại đây và để họ đến bắt. Hắn đi vào phòng khách, ngồi xuống ghế sofa và nhìn xuống sàn. Hắn ngồi đó một lúc, rồi hắn đứng dậy vào phòng ngủ lấy cái tẩu thuốc lá. Hắn quay lại phòng khách và cầm lấy một bao thuốc.
Hắn ngồi đó nhìn sàn nhà và hút thuốc. Hắn hút chín điếu liên tiếp. Hắn nhìn những mẩu thuốc trong gạt tàn. Hắn đếm chúng, thấy chúng chết ở đó trong đống tro vun cao. Rồi hắn tự hỏi mất bao lâu cảnh sát mới đến. Hắn tự hỏi còn bao lâu nữa thì hắn chết, vì lần này hắn sẽ không quay lại xà lim. Lần này họ bắt hắn với tội danh đồng nghĩa với án tử hình. Hắn nhìn cửa sổ và thấy mưa dày đặc trút xuống từ bầu trời xám dày đặc, bầu trời vỡ nát. Hắn quyết định chạy đà lao vào cửa sổ, xuyên qua kính và kết thúc tất cả. Hắn bước một bước về phía cửa sổ rồi dừng lại, quay lưng vào cửa sổ và nhìn vào tường. Hắn đứng đó không cử động gần một tiếng đồng hồ. Hắn đang quay ngược thời gian, lấy ra từng mảng cuộc đời mình và giơ lên xem xét. Những ngày vàng rực rỡ và trẻ trung dưới ánh mặt trời nóng bỏng của Maricopa, luôn vàng rực rỡ trong mọi mùa. Những con đường rộng và trắng chạy về phía bắc từ Arizona. Màu xám và tím của San Francisco. Màu xám và cái nóng của nhà kho, và những ngày đêm hư vô, những năm tháng hư vô. Và cái lồng trong công ty chứng khoán, và những cổ áo trắng cứng còng của các giám đốc, cứng và trắng mới mỗi ngày, và khuôn mặt họ mỗi ngày, và giọng nói họ mỗi ngày. Và giấy tờ, giấy trắng trơn, giấy hồng, giấy xanh nhạt, giấy kẻ dòng tím và xanh và đen trong những sổ cái nhỏ và sổ cái lớn và sổ cái khổng lồ. Và những khuôn mặt. Khuôn mặt của những nhân viên thống kê kiếm bốn mươi lăm đô một tuần, và những nhân viên môi giới đôi khi kiếm một trăm rưỡi và đôi khi không kiếm được gì. Và những giám đốc kiếm mười lăm và hai mươi và ba mươi ngàn một năm, và những khách hàng ngồi đó hoặc đứng đó xem bảng điện tử. Những khách hàng, và một số người trong họ có thể bước ra khỏi chỗ đó và lên du thuyền của họ và đi qua hàng ngàn dặm nước, thức dậy vào buổi sáng khi họ muốn dậy, câu cá hoặc bơi lội quanh những chiếc du thuyền trắng to lớn của họ, một mình ngoài khơi. Và vào buổi tối họ sẽ đeo khuy măng sét ngọc lục bảo trên ngực áo sơ mi với áo khoác lễ phục trắng và quần tây len nhiệt đới đen với sọc satin đen bóng loáng dọc hai bên, xuống tận đôi giày da bóng loáng khi họ khiêu vũ trong những phòng khiêu vũ nhỏ trên du thuyền với những người phụ nữ cao gầy để lộ bờ vai trần, vải organdie rủ xuống từ cơ thể cao gầy của họ khi họ khiêu vũ hoặc cầm những ly sâm panh tinh tế trên những ngón tay thon thả tinh tế. Và khi những khách hàng này quay lại công ty chứng khoán họ đến trên những chiếc limousine đen bóng loáng và họ bước vào với làn da rám nắng và nụ cười và hắn sẽ ở đó trong cái lồng của mình, nhìn họ, nghĩ rằng thật đáng tiếc những người may mắn như thế cuối cùng cũng phải chết, bởi vì thật đáng để họ sống mãi, họ có quá nhiều thứ để sống, họ có quá nhiều thứ để tận hưởng. Hắn thích nhìn họ bước vào trong những bộ quần áo đắt tiền, hút những điếu xì gà đắt tiền, nói chuyện bằng những giọng nói đắt tiền. Hắn rất vui khi họ vào, khi họ đứng ở nơi hắn có thể thấy, vì hắn cảm thấy phấn chấn chỉ bằng việc nhìn họ. Có những lúc hắn ước hắn có thể nói chuyện với họ, khi hắn ước hắn có đủ can đảm để bắt chuyện với một trong số họ. Giá mà hắn có thể nói chuyện với một người trong số họ để hắn có thể nghe kể về tất cả những điều tuyệt vời, những ngôi nhà tuyệt vời họ sống, những chuyến đi tuyệt vời họ thực hiện, những điều tuyệt vời tuyệt vời họ làm. Khi hắn nhìn họ, khi hắn nghĩ về cuộc sống họ dẫn dắt, những xa xỉ họ tận hưởng, hắn quyết định rằng nếu hắn dùng cái đầu và có chút may mắn hắn có thể leo lên đến chỗ họ. Tất cả thực ra chỉ là vấn đề dùng cái đầu và có chút may mắn, và hắn quyết định bắt đầu. Và đó là khoảng thời gian hắn quyết định tham gia khóa học hàm thụ về thống kê.
Hắn đi vào phòng khách và đặt một điếu thuốc khác vào tẩu. Hắn đặt mình lên ghế sofa và nằm đó, rít tẩu thuốc. Hắn cố gắng xây dựng một chiếc kính hiển vi tinh thần để xử lý những thứ nhỏ bé này hắn có trên bàn của tâm trí. Hắn đi đến một điểm trở thành bức tường và hắn không thể chui qua hay trèo qua. Hắn phải ở lại đó. Giờ hắn lại thấy mệt. Hắn lấy mẩu thuốc ra khỏi tẩu, dụi vào gạt tàn. Hắn để đầu ngả ra sau sự mềm mại của ghế sofa. Mắt hắn nhắm lại và những ý nghĩ xoay vòng trong não, xoay chậm hơn, và chậm hơn, và rồi hắn ngủ.
Tiếng cửa mở lôi hắn khỏi giấc ngủ. Hắn ngồi dậy và nhìn cô. Cô đang đóng cửa. Tay cô ôm đầy những gói hàng. Giờ cô đi về phía hắn. Cô nói, "Anh thấy thế nào?"
Hắn gật đầu.
"Mọi thứ ổn cả chứ?"
Hắn gật đầu.
Cô nói, "Đúng giờ, phải không nào? Chính xác sáu giờ. Và giờ chúng ta sẽ ăn tối. Đói chưa?"
Hắn gật đầu.
Cô đi vào bếp. Hắn có thể nghe tiếng cô di chuyển trong đó. Hắn chờ trên ghế sofa, chờ bữa tối, chờ tiếng chuông cửa reo lần nữa, chờ Studebaker lên cùng cảnh sát.
Bữa tối ăn rất ngon, mặc dù nó đi qua ống hút thủy tinh. Có nước dùng bò, có phần kem màu nâu của món hầm bò rau củ, có món pudding bơ đường pha loãng thành dạng lỏng. Hắn ra hiệu sẵn lòng giúp cô rửa bát. Cô bảo hắn vào phòng bên và chơi vài đĩa nhạc. Hắn vào và cho một đĩa Basie chạy dưới kim. Đó là bài Sent For You Yesterday And Here You Come Today. Và Rushing21 đang bắt đầu gào thét hết mình thì điện thoại reo.
Parry đứng dậy. Hắn nhìn điện thoại. Nó reo lần nữa ngay khi Rushing lặp lại tiếng kêu rằng mặt trăng trông thật cô đơn. Cô bước ra từ bếp, nhìn điện thoại, nhìn Parry. Cô bước một bước về phía điện thoại. Nó reo lần nữa. Parry nhấc kim khỏi đĩa nhạc.
Cô nhìn Parry khi điện thoại reo lần nữa. Cô nói, "Không có gì phải lo đâu. Tôi biết là ai."
Cô nhấc máy.
"Alo? Ồ, vâng, chào anh, vâng—vâng?—ồ, em vừa ăn tối xong—không, dù sao cũng cảm ơn—chà—chà—được rồi, mấy giờ anh tới?—được rồi—được."
Cô đặt điện thoại xuống và nhìn Parry. Cô nói, "Đó là Bob Rapf. Anh ta sẽ ở đây trong một tiếng nữa."