LŨ NGƯỜI QUỶ ÁM

Lượt đọc: 6071 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHỤ LỤC
Chương IX
tìm đến cụ tikhon 1

Đêm đó Nicolai không ngủ. Anh ngồi trên trường kỉ và hầu như suốt đêm chỉ ngây nhìn một điểm nơi góc buồng, gần chiếc tủ. Đèn thắp sáng suốt đêm. Đến bảy giờ sáng anh mới chợp mắt, vẫn trong thế ngồi. Đến đứng chín giờ rưỡi, lúc lão Alecxei theo lệ thường mang tách cà phê buổi sáng vào cho anh, anh mới lại mở mắt và có vẻ khó chịu rằng sao mình đã ngủ lâu và dậy muộn như vậy. Anh húp vội tách cà phê, mặc quần áo và vội vã đi, chẳng trả lời khi Alecxei cẩn trọng hỏi xem chủ có sai bảo gì thêm nữa chàng. Anh đi trên hè phố, cúi đầu tư lự, thỉnh thoảng mới ngẩng lên trong giây lát và lúc đó để lộ ra một nỗi niềm lo âu mơ hồ nhưng mảnh liệt. Nơi góc phố không xa nhà anh, một toán thợ lối già năm chục người qua ngang mặt anh. Họ bước trịnh trọng, hầu như im lặng và giữ hàng ngũ. Trong lúc Nicolai dừng bước gần một cửa tiệm để chờ cho bọn họ qua, anh nghe thấy có người nói rằng đó là thợ thuộc xưởng của Spigulin. Anh không để ý gì đến họ. Khoảng mười giờ rưỡi anh đến cổng Tu viện Đức Bà ở Efimovo, tại ngoại ô thành phố, gần sống. Đến đây anh hình như chợt nhớ tới một sự gì làm anh hoảng hốt và khó chịu. Anh dừng bước, lúng túng móc túi như muốn moi tìm một cái gì, rồi nhếch mép cười. Anh qua cổng gặp thầy cả và nhờ ông chỉ đường tới gặp giám mục Tikhon ngụ trong tu viện. Thầy cả cúi chào mấy lần rồi dẫn Nicolai đi. Đến cửa chính một tòa nhà dài, hai tầng - một chái của tu viện này - thầy cả giao Nicolai cho một thầy khác, mập, trịnh trọng, tóc muối tiêu, tiếp tục dẫn anh đi theo một hành lang dài và hẹp. Ông thầy, này cũng luôn luôn cúi mình, nhưng ông quá mập, không thể cúi thấp được nên chỉ gục gặc cái đầu ra hiệu cho Nicolai đi theo ông. Cử chỉ đó thật là vô ích bởi vì lúc nào Nicolai cũng theo sát ông rồi. Ông thầy mập hỏi anh đủ thứ chuyện, nói cả đến cha tu viện trưởng, và khi thấy anh không trả lời thì ông thầy lại càng kính nể anh. Nicolai có cảm tưởng nơi đây người ta rõ rệt biết anh là ai, tuy anh không thể nhớ được từ thuở nhỏ anh đã có khi nào tới đây chưa. Đến một cái cửa ở tận cuối hành lang, ông thầy mở cửa vào không chút do dự gặp một chủng sinh ngay trong cửa, ông thầy hởi có vào được không, rồi không đợi trả lời ông mở rộng cửa, cúi đầu mời vị “quí khách” bước vào. Nicolai cám ơn ông và ông vội vã rút lui như có người đuổi theo.

Nicolai bước chân vào một gian phòng có thể gọi là nhỏ, và hầu như ngay lúc đó một người đàn ông hiện ra trong khuôn cửa thông sang buồng bên kia. Đó là một người cao, gầy, khoảng năm mươi lăm tuổi. Ông ta mặc một chiếc áo giản dị của tu sĩ và trông có vẻ ốm yếu. Trên mặt ông mơ hồ một nụ cười và có vẻ bỡ ngỡ, rụt rè. Đó là cụ Tikhon. Nicolai lần đầu tiên nghe nới đến cụ là qua Satov và sau đó anh đã tìm hỏi đó đây thêm về cụ.

Những điều thu lượm được về cụ thực phức tạp và tương phản, chỉ có một điểm chung là tất cả những người yêu và (có một số) những người ghét cụ dường như giấu giếm điều gì. Những người không thích cụ xử sự như vậy chắc vì coi rẻ cụ, còn những người kính trọng cụ thì lại vì tế nhị như muốn che đậy điều gì, một nhược điểm nào đó. Nicolai biết rằng cụ Tikhon sống trong tu viện này từ sáu năm nay và cụ đã tiếp tất cả ai đến tìm gặp cụ, từ nông dân nghèo hèn nhất đến những nhân vật danh tiếng nhất. Ngay ở Petersburg cụ cũng có những người ái mộ nồng nhiệt. Ngược lại Nicolai cũng đã thấy một trong những hội viên khả kính của câu lạc bộ tại thành phố chúng tôi hạ lời phê phán rằng: “Cụ Tikhon gần như khùng, và có điều chắc chắn ông cụ là tay bợm rượu”. Đến đây, tôi xin mạn phép tuyên bố rằng lời phê phán đó không có gì là xác đáng, và thực ra cụ Tikhon chỉ bị bệnh tê thấp cấp tính cả hai chân và bị thêm chứng co giật thần kinh kinh niên. Nicolai cũng được biết thêm rằng vị giám mục ẩn cư này đã không khiến được mọi người trong tu viện kính trọng đúng mức. Người ta đã nói với Nicolai rằng đó là do tính khí nhu nhược hoặc là do sự lơ đễnh của cụ, điều này không thể tha thứ được nơi một người cấp bậc và địa vị như cụ. Lại có lời xầm xì rằng cha viện trưởng là người rất nghiêm khắc trong việc tự thi hành kỉ luật tu viện và rất uyên bác về mặt tôn giáo, cũng thầm kín chống đối cụ Tikhon và lên án (lẽ dĩ nhiên không phải ra mặt mà chỉ hàm ý) thái độ thờ ơ của cụ đối với mọi sự ở đời, và coi đó gần như là một thái độ tà đạo. Các thầy tu đối với vị giám mục ốm đau này cũng có thái độ quá suồng sã, nếu không nói là bất kính. Các phòng của cụ Tikhon bày biện một cách khá kì lạ. Ngay cạnh những đồ đạc nặng nề, thô kệch, bọc da đã cũ mèm là một ghế nằm nghỉ sặc sỡ, một bàn viết lớn thật là đẹp, một kệ sách chạm trổ tinh vi, mấy bàn nhỏ, mấy giá sách... lẽ tất nhiên tất cả là đồ biếu. Trên sàn trải một tấm thảm lớn Bukharu đắt tiền và mấy cái chiếu. Có nhiều bức mộc bản trình bày những đề tài lấy trong thần thoại hay cả những đề tài trần tục nữa. Và ngay trong một góc phòng gần đấy là một kệ lớn lộng lẫy những hình tượng các thánh thếp vàng và bạc, trong đó có một tác phẩm rất cổ, có chứa thánh tích. Người ta nói rằng tủ sách của cụ là cả một sự hỗn tạp và mâu thuẫn: ngay cạnh những tác phẩm của các đại tông đồ của Chúa và các thánh trong Kito giáo, là những vở kịch, những cuốn tiểu thuyết, “và có lẽ cả những cái nhảm nhí hơn thế nữa”.

Hai người hấp tấp và ấp úng chào nhau, rồi cụ Tikhon đưa khách vào trong phòng bên cạnh là nơi tu học của cụ. Và vẫn còn vẻ hấp tấp, cụ mời Nicolai ngồi xuống một trường kỉ, còn cụ thì ngồi xuống một ghế mây nơi bàn viết gần đấy. Nicolai ngạc nhiên cảm thấy mình lúng túng một cách kì lạ như là mình đã nhất quyết làm một việc đặc biệt, không làm không được, nhưng hình như vượt quá sức mình. Trong một phút, anh đưa mắt quanh khắp buồng nhưng rõ rệt là anh chẳng thấy gì. Anh có vẻ chìm đắm trong suy tư, nhưng chắc là anh không thể nói được mình đang nghĩ gì. Sự lặng lẽ làm anh tỉnh lại và anh nhận thấy cụ Tikhon đang nhìn xuống, trên môi còn một nụ cười thật không thích hợp. Cái đó làm Nicolai bừng nổi giận và anh cảm thấy muốn đứng dậy ra khỏi nơi này. Lão này chắc đang say rượu, anh nghĩ vậy. Nhưng cũng ngay lúc đó, cụ Tikhon đột nhiên ngước mắt lên nhìn thẳng vào anh, cái nhìn sâu sắc và vẻ mặt huyền bí, khiến Nicolai gần như khựng liền và tức thời nghĩ lại: cụ Tikhon biết tại sao mình đến tìm gặp cụ; cụ đã được thông báo điều đó trước (tuy rằng ai là người trên đời này biết lí do Nicolai đến đây?), và nếu cụ không nói trước thì đó chỉ là vì cụ nể mình, chứ không phải gì khác, và muốn tránh cho mình khỏi bị nhục.

Nicolai đột ngột hỏi:

- Chúng ta đã gặp nhau chưa? Vào đây tôi đã xưng danh chưa nhỉ? Xin cụ thứ lỗi, tôi thật đãng trí quá...

- Không, ông chưa xưng danh, nhưng tôi đã được thấy ông từ lâu rồi, một lần, do sự tình cờ, tại tu viện này, khoảng bốn năm trước đây.

Lúc này cụ Tikhon nói nhẹ nhàng và thong thả, rành rẽ từng tiếng.

- Tôi không có đến đây bốn năm trước. Lần cuối cùng tôi tới đây là hồi tôi còn nhỏ, chưa có cụ ở đây.

- Có lẽ ông đã quên? - Cụ Tikhon dè dặt đáp lại, không muốn nhấn mạnh. Nicolai nói:

- Không, tôi không thể quên được - Thật lố bịch nếu quên một sự kiện như vậy. - Khác với cụ Tikhon, Nicolai bướng bỉnh cãi lại và thái độ nóng nảy của anh trong việc này thật là quá đáng. Nicolai nói tiếp:

- Có thể cụ đã nghe nói đến tôi và tưởng tượng đã gặp tôi rồi và do đó cụ lẫn.

Cụ Tikhon không nói gì. Nicolai nhận thấy da mặt cụ giật giật, một hiện tượng của bệnh dây thần kinh suy nhược. Nicolai nói:

- Có lẽ hôm nay cụ không được khỏe. Chắc tôi nên trở lại nhà. - Anh dợm đứng dậy.

- Phải, hôm nay hai chân tôi nhức nhối lắm, hôm qua cũng vậy. Ban đêm tôi mất ngủ.

Cụ Tikhon ngưng lời khi nhận thấy Nicolai đột nhiên như chìm đắm trong một giấc mơ kì lạ. Im lặng kéo dài trong hai phút.

- Sao cụ lại nhìn tôi? - Nicolai đột nhiên hỏi, lo lắng và nghi ngờ.

- Nhìn ông tôi lại nhớ đến cụ bà. Tuy rằng người không giống nhưng có nhiều nét giống nhau về tâm linh.

- Không có tí nào giống nhau, nhất là về tâm linh, tuyệt đối không có tí nào, tôi đoan chắc vậy! - Nicolai hấp tấp nói tiếp, anh phản ứng một cách mạnh mẽ vô lí: - Cụ nói vậy chỉ cốt cho tôi cảm thấy, chỉ là vì cụ cảm thương hoàn cảnh hiện tại của tôi... Nhưng mẹ tôi có đến thăm cụ à?

- Có.

- Tôi không biết chuyện đó. Bà không hề nói lại với tôi. Bà có hay đến đây không?

- Ít nhất cũng mỗi tháng một lần.

- Tôi không hề hay biết. Không hề nghĩ là có chuyện đó. Tuyệt nhiên không. Và chắc bà cụ đã nói với cụ là tôi khùng? - Nicolai lại hấp tấp hỏi..

- Không, không nói là ông khùng. Tuy nhiên tôi có nghe thấy người ta nói như vậy.

- Cụ thật phải có một trí nhớ lạ thường nên mới còn nhớ được những chuyện vụn vặt như thế. Và hẳn cụ đã nghe nói rằng tôi bị tát.

- Tôi có nghe qua về chuyện đó.

- Cụ chắc đã nghe thấy tất cả mọi chuyện. Cụ có vẻ có thừa thời giờ để nghe đủ mọi thứ chuyện. Và hẳn cụ đã nghe nói về vụ đấu súng.

- Có.

- Tôi thấy là ở đây khỏi cần báo chí nữa. Satov đã nói gì với cụ về tôi?

- Ông ấy không nói gì cả. Tôi quen biết ông ta từ lâu, nhưng gần đây tôi không gặp.

- Hừ... Bản đồ gì treo ở kia? Có phải về cuộc chiến gần đây không? Cụ treo để làm gì vậy?

- Tôi muốn so sánh trên bản đồ những điều ghi trong sách. Lí thú lắm.

- Sách gì vậy? À, phải rồi, các cuộc hành quân được mô tả thật hay. Nhưng tôi không ngờ cụ đọc loại sách đó.

Anh cầm cuốn sách lên và tò mò liếc nhìn. Đó là một quyển sách dày trong đó mô tả một cách đầy đủ những diễn biến của cuộc chiến vừa qua, mặc dù giá trị của nó thuộc về lĩnh vực văn chương hơn là về quân sự. Nicolai lật đi lật lại quyển sách trong tay một hồi, rồi đặt lại trên bàn một cách nóng nảy.

- Tôi thật không hiểu tại sao đã đi thẳng đến đây. - Nicolai nói một cách khinh khỉnh, nhìn thẳng vào mắt cụ Tikhon như thách thức cụ trả lời.

- Ông cũng có vẻ không được khỏe.

- Cụ nói có phần đúng.

Và rồi, với một giọng vắn tắt và đứt quãng đến nỗi nhiều tiếng hầu như không hiểu nổi, anh kể với cụ Tikhon mình hay có những ảo giác lạ lùng; nhất là về đêm, anh dường như nhìn thấy hay cảm thấy ở gần mình có một thứ quỉ ưa nhạo báng và “lí luận”, hình dáng và cá tính thay đổi luôn luôn, nhưng anh biết rằng bao giờ cũng vẫn là nó, và “lần nào nó cũng làm tôi tức điên người”.

Những điều anh nói ra đều hỗn độn và thiếu mạch lạc, như là từ miệng một kẻ điên khùng. Tuy nhiên Nicolai chưa bao giờ phát biểu một cách giản dị và thành thực như lần này, như là con người trước kia của anh đột nhiên đã biến đâu mất rồi. Anh không cảm thấy chút nào xấu hổ khi kể lại những cơn mê sảng của mình. Nhưng trạng thái ấy chỉ kéo dài trơng một lát rồi lại đột biến cũng như đã đột hiện.

- Thật là phi lý, - anh nói, trở lại trạng thái bực dọc nóng nảy. - Tôi sẽ đi hỏi bác sĩ.

- Phải đấy, - cụ Tikhon tán thành.

- Cụ có vẻ biết rõ về vấn đề này. Cụ đã từng gặp ai cũng bị mê sảng như tôi chưa?

- Cũng có vài trường hợp, ít lắm. Tôi chỉ nhớ rõ có một trường hợp giống như của ông. Một cựu sĩ quan sau khi vợ chết - họ khăng khít với nhau lắm. Còn một trường hợp nữa, nhưng tôi chỉ nghe nói thôi, cả hai người đều ra nước ngoài để chữa bệnh. Ông bị như thế này đã lâu chưa?

- Chừng một năm, nhưng không sao. Tôi sẽ đi khám bác sĩ. Và tất cả chỉ là vớ vẩn, vớ vẩn khủng khiếp. Đó chỉ là con người tôi dưới nhiều hình thái, chỉ có vậy. Tôi phải nói thêm... câu này vì có lẽ cụ nghĩ rằng chính tôi cũng không biết chắc rằng đó là con người tôi chứ không phải là ma quỉ.

Cụ Tikhon nhìn Nicolai và hỏi:

- Và... ông thực sự thấy nó à? - Như không hề nghi ngờ gì đó là một ảo giác. - Phải chăng ông đã đích thực nhìn thấy một hình bóng hay một cái gì tương tự?

- Tôi rất ngạc nhiên thấy cụ chú trọng đến điều đó. Tôi đã thưa cùng cụ là phải, tôi thấy nó. - Nicolai nói, lại nổi giận. - Lẽ dĩ nhiên là tôi thấy, rõ ràng như tôi thấy cụ. Tuy nhiên đôi khi tôi thấy nó mà không dám chắc rằng mình thấy. Đôi khi tôi không biết đâu là thực - đó là nó hay tôi... tất cả đều là vớ vẩn. Nhưng chẳng lẽ cụ lại chẳng thể cho rằng đó thực sự là quỉ? - Anh nói tiếp, lớn tiếng cười và chuyển ngay sang giọng nhạo báng. - Như vậy hợp với nghề của cụ hơn, cụ đồng ý chứ?

- Là một chứng bệnh thì đúng hơn, tuy nhiên...

- Tuy nhiên làm sao?

- Có quỉ thật, tuy nhiên mỗi người quan niệm một khác.

- Bây giờ cụ lại nhìn xuống, - Nicolai nổi nóng, giọng mỉa mai, - bởi vì cụ xấu hổ cho tôi vì tôi đã tin nơi quỉ, và cụ cho rằng trong lúc tôi giả bộ không tin có quỉ thì tôi lại tìm cách dò cụ xem có quỉ thực hay không.

Cụ Tikhon mỉm cười một cách khó hiểu.

- Tôi xin thưa ngay với cụ rằng, - Nicolai nói tiếp, - tôi không có gì phải xấu hổ cả! Và xin cụ thứ lỗi, tôi xin công khai, và không một chút ngượng ngập nào, tuyên bố rằng tôi thực sự tin ở quỉ, rằng tôi theo đúng giáo điều mà tin tưởng là có quỉ như một nhân vật chứ không phải là một biểu tượng. Và tôi cũng muốn cụ tin rằng tôi không cầu mong moi móc bí mật nào từ ai hết, tôi chắc đã nói rõ.

Anh cười rộ lên, nóng nảy, bất thường. Cụ Tikhon ngắm anh tò mò nhưng cũng dè dặt và dịu dàng.

- Cụ có tin nơi Chúa không? - Nicolai bất ngờ hỏi cụ.

- Có.

- Và sách nói nếu có đức tin thì bảo núi chuyển, núi cũng sẽ chuyển - cụ thứ lỗi cho, tất cả là vớ vẩn, nhưng tôi tò mò muốn biết cụ có thể di chuyển được một ngọn núi không?

- Nếu đó là ý Chúa thì được, - cụ Tikhon nhẹ nhàng đáp lại và lại đưa mắt nhìn xuống.

- Thì nó cũng chẳng khác gì Chúa di chuyển lấy. Tôi muốn hỏi là cụ - cá nhân cụ - có thể di chuyển được núi không? Như đó là một ân thưởng vì tin nơi Chúa.

- Có lẽ tôi không làm được.

- Cụ nói có lẽ? Khá, ha-ha! Nhưng tại sao cụ còn nghi ngờ?

- Vì tôi không hoàn toàn tin.

- Sao? Cụ cũng không hoàn toàn tin? Thật là điều bất ngờ đối với tôi, khi trông dáng cụ!

- Vâng - có lẽ đức tin của tôi hãy còn thiếu sót.

- Tuy nhiên cụ cũng tin tưởng rằng, với sự hỗ trợ của Chúa, cụ có thể di chuyển được núi. Riêng điều đó đã là một thành tựu rồi. Ít nhất nó cũng chứng tỏ rằng cụ muốn có đức tin. Và tôi cũng thấy rằng cụ đã tiếp nhận câu chuyện di chuyển núi đó theo đúng nghĩa đen. Đó là điều rất có ý nghĩa. Một nguyên tắc rất tốt. Tôi nhận thấy là những thầy tế Levi116 lãnh đạo của chúng ta đã thiên nhiều về đạo Tin lành và sẵn sàng tìm cách dẫn giải những phép màu bằng tự nhiên. Thế còn hơn là trả lời như một ngài tổng giám mục kia đã thú nhận: “Tôi tin rất ít” - mặc dù nói cho ngay ta phải hiểu ngài lúc đó đang bị gươm kề cổ. Cụ cũng là một người Kito giáo, phải vậy chăng? - Nicolai nói rất nhanh, vẻ trịnh trọng xen lẫn với nhạo báng.

- Lạy Chúa, xin Chúa giữ cho con khỏi phải xấu hổ về thánh giá của Chúa. - Cụ Tikhon nói gần như thì thầm, giọng đam mê một cách kì lạ, và cụ lại cúi đầu một lần nữa. Khóe môi của cụ bỗng giật nhanh, mạnh. Nicolai cười lớn hỏi:

- Giờ xin cụ cho biết là người ta có thể tin ở Quỉ mà không tin hoàn toàn ở Chúa không?

- Rất có thể, nhiều kẻ như thế lắm. - Cụ Tikhon ngước mắt lên và cũng mỉm cười.

- Và tôi cá là cụ cho rằng sự tin tưởng đó còn đáng quí hơn là sự hoàn toàn thiếu lòng tin? - Nicolai cười ha hả.

- Không, trái lại. Tôi cho rằng sự vô thần tuyệt đối còn đáng kính hơn là lòng dửng dưng của người đời, - cụ Tikhon nói giọng nhẹ nhàng và vui vẻ, nhưng đồng thời lo âu nhìn thẳng vào khách.

- Tôi hiểu - thế ra cụ như vậy đó.

- Dù sao đi nữa người hoàn toàn vô thần cũng đứng ở nấc kế đỉnh trên chiếc thang đưa đến đức tin trọn vẹn. Hắn có thể hay không tiến lên nấc chót - ai biết được? Còn những kẻ thờ ơ, chắc chắn là họ không có đức tin, chỉ có sự sợ hãi xấu xa, mà ngay cả cái đó cũng chỉ có những kẻ nhạy cảm nhất trong bọn họ mới có mà thôi.

- Hừ. Cụ đã đọc sách Khải huyền chưa?

- Rồi.

- Cụ có nhớ đến đoạn: “Viết gửi Thiên thần của Giáo hội ở Laodixe...?”

- Có.

- Cụ có đấy không. - Nicolai bị xúc động một cách kì lạ, anh đưa mắt tìm quyển Thánh kinh trên bàn viết của cụ Tikhon. - Tôi muốn đọc cụ nghe đoạn ấy. Cụ có ở đây không?

- Tôi thuộc lòng đoạn đó, - cụ Tikhon đáp.

- Cụ thuộc thật ư? Xin cụ đọc cho. - Nicolai nhìn xuống, hai bàn tay đặt trên đầu gối và chuẩn bị nghe. Cụ Tikhon đọc cả đoạn, không sót một chữ:

“Và cho thiên thần hội thánh Laodixe, hãy viết: Này lời phán dạy của Amen, chứng nhân trung thành và chân thật, uyên nguyên cho cả tạo thành của Thiên Chúa. Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi nóng hẳn hay lạnh hẳn đi! Vì ngươi hâm hẩm như thế, và chẳng nóng chẳng lạnh, thì Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta! Vì ngươi quả quyết: ta giàu, ta đã thành phú túc; ta chẳng thiếu thốn sự gì; - và ngươi không biết là ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương hại, nghèo nàn, đui mù, trần trụi...”

- Thôi thế đủ rồi, - Nicolai ngắt lời. - Tôi rất mến cụ. Tôi cũng mến ông, - cụ Tikhon khẽ đáp lại.

Nicolai im lặng và trở nên trầm tư như trước đấy ít phút. Đó là một tâm trạng dồn dập kéo phủ anh - lần này là lần thứ ba rồi. Khi anh nói anh mến cụ Tikhon, hầu như anh cũng ở trong tâm trạng đó, và câu kia khi thốt ra anh cũng không ngờ. Một phút trôi quá.

- Ông đừng giận, - cụ Tikhon nói nhỏ, ngón tay cụ khẽ chạm vào khuỷu tay Nicolai, và cụ có vẻ bối rối lắm. Nicolai cau mặt giận dữ vặn lại:

- Sao cụ biết rằng tôi giận? - Cụ Tikhon còn đang lựa lời thì Xtavroghin đã ngắt lời cụ, nóng nảy lạ lùng! - Tại sao cụ cho rằng tôi nhất thiết phải nổi giận? Phải. Tôi đang tức, cụ nói đúng - đó là vì tôi đã nói tôi mến cụ. Cụ nghĩ đúng đấy, nhưng cụ là một kẻ tàn nhẫn, cụ coi bản chất con người chẳng ra cái gì hết. Kẻ khác có thể không phải nổi giận - nhưng tôi... Cụ là một thứ thánh thiện nhà quê, và ưa lên mặt.

Nicolai càng nói càng nổi giận và chắc chắn là anh không thèm giữ ý tứ gì hết.

- Nghe đây - anh tiếp, - tôi không ưa bọn mật thám và các nhà tâm lí học, là những kẻ soi mói vào tâm hồn tôi. Tôi chẳng cần ai hết; tôi có thể tự xoay xở một mình. Hay cụ tưởng tượng rằng có thể tôi sợ cụ? - Cất cao giọng, anh đưa mắt thách thức cụ Tikhon. - Có lẽ cụ nghĩ rằng tôi đến đây để thổ lộ cùng cụ một bí mật động trời nào đó, và cụ đã mong đợi nghe chuyện đó với tất cả trí tò mò của lũ thầy tu? Tôi xin thưa rằng tôi sẽ không kể gì cho cụ nghe hết; tôi sẽ không tiết lộ một bí mật nào hết, bởi vì tôi tuyệt đối bất cần cụ! Phải nói thêm là chẳng có bí mật nào hết, ngoại trừ trong trí tưởng tượng của cụ mà thôi.

Cụ Tikhon nhìn thẳng vào anh và nói:

- Ông ngạc nhiên vì Chúa thà chuộng thà chuộng người lạnh hơn người hâm hẩm. Ông không muốn chỉ là một người hâm hẩm. Tôi có cảm tưởng là ông muốn làm một cái gì khác thường, có lẽ khủng khiếp. Ông đừng tự giày vò nữa; hãy cho tôi biết...

- Cụ tin chắc rằng tôi đến đây là có chuyện gì hay sao?

- Tôi... đoán vậy qua mặt ông, - cụ Tikhon nói nhỏ, đôi mắt nhìn xuống.

Nicolai tái mặt, hai tay hơi run. Trong mấy giây, anh lặng nhìn vào khoảng không, do dự. Sau hết, anh móc trong túi ra mấy tờ giấy in và đặt lên bàn.

- Những tờ giấy này là để phát đi, - anh nói giọng đứt quãng. - Chỉ cần dù chỉ một người đọc và hiểu nó thì tôi sẽ chẳng còn giấu bất cứ ai nữa. Tôi đã quyết định như vậy. Cụ, thực ra tôi chẳng cần cụ tí nào hết, bởi vì tôi đã quyết định. Nhưng cụ cứ coi đi - cụ đọc hết đi rồi hãy nói, nói cho tôi biết tất cả ý nghĩ của cụ.

- Nhưng có thực là ông muốn tôi coi không?

- Cụ cứ đọc đi, không quan hệ gì.

- Tôi phải có kính mới đọc được, chữ nhỏ quá. Chắc in ở nước ngoài.

- Kính của cụ đây.

Nicolai đưa kính cho cụ và ngả người trên trường kỉ. Không nhìn anh, cụ Tikhon bắt đầu đọc.

2117

Chắc chắn mấy tờ giấy đó in ở nước ngoài. Ba tờ giấy viết thư nhỏ loại thường, chi chít những chữ và ghim với nhau. Chắc từ một nhà in lậu của người Nga ở nước ngoài, và mới nhìn thì thấy y hệt một tờ truyền đơn. Nhan đề: “Xtavroghin gửi”

Tôi để nguyên văn tài liệu này vào trong truyện. Tôi chỉ mạn phép sửa những lỗi chính tả - không phải là ít - và đó là điều làm tôi rất ngạc nhiện, và tác giả hiển nhiên là người có học thức, có thể nói là đọc rộng. Tôi không thay đổi gì về cách hành văn, mặc dù cũng có đôi chỗ sai. Tác giả hiển nhiên không phải là một con người văn vẻ.

Tôi cũng xin mạn phép đưa ra một nhận xét, mặc dù chưa phải lúc. Theo ý tôi đây là một tài liệu bệnh hoạn - sản phẩm của con quỉ đã ám người đàn ông đó. Ta có cảm tưởng một người đau đớn, quằn quại trên giường, cố tìm một thế nằm khả dĩ làm êm nhẹ được cơn đau, dù chỉ là trong chốc lát. Hoặc có thể chỉ là để được đổi sang một thế nằm mới chẳng kém phần đau đớn. Hiển nhiên là đến mức này thì không thể có vấn đề thế nằm của mình có tao nhã hoặc coi được hay không. Tư tưởng chính trong tài liệu này là cái nhu cầu thê thảm và trần truồng muốn đi tìm một hình phạt, một cây thập tự, một sự hành quyết trước công chúng. Ý muốn được đóng đinh trên cây thập tự lại phát xuất từ một người không tin vào cây thập tự - riêng đó “cũng đủ là một tư tưởng rồi”, như ông Xtepan có lần nhận xét, mặc dầu khi đó ông nghĩ đến chuyện khác.

Tài liệu này, tuy có vẻ giống như một lời bộc lộ mạnh mẽ và không kiềm chế, thật ra nhắm một mục đích rõ rệt. Tác giả nói rằng anh cần phải viết ra, anh bị bắt buộc - và đó là điều hoàn toàn đúng. Nếu anh có thể tránh được việc đó thì anh sẽ sung sướng biết bao - nhưng, vì không tránh được, anh đã nhân dịp mà tuôn ra mạnh mẽ. Thật vậy, con bệnh đã lăn lộn trên giường, cố thoát cơn đau này để lại rơi vào cơn đau khác; dường như tác giả nghĩ rằng đứng ra thách thức xã hội còn ít đau đớn hơn, nên anh đã đứng lên.

Thật vậy, sự hiện hữu của tài liệu này báo trước một sự thách thức mới, bất ngờ, và láo xược đối với xã hội. Tác giả chỉ có một ý muốn: sớm được vật nhau với kẻ thù. Có lẽ ý định công bố những trang đó cũng tương đương với việc cắn tai ông tổng đốc một lần nữa, mặc dầu bằng một đường lối khác? Tôi không hiểu tại sao nay tôi lại nghĩ như vậy, sau khi bao nhiêu điều đã trở nên sáng tỏ. Tôi không mong chứng minh sự xác thực của tài liệu, cũng như không muốn nói rằng đó là một lời thú tội giả mạo, hoàn toàn bịa đặt. Hình như sự thật nằm giữa hai giả thuyết đó.

Dù sao, tôi cũng đã nói trước quá dông dài: trở lại với tài liệu thì hơn. Đây là những gì cụ Tikhon đọc:

Xtavroghin gửi.

Tôi, Nicolai Xtavroghin, sĩ quan lục quân hưu trí, đã ngụ tại Petersburg năm 186..., tự trầm mình trong trụy lạc mà không thấy khoái lạc gì. Có thời kì tôi đã mướn ba nơi ở. Nơi tôi thực sự cư ngụ là một căn buồng có đầy tớ lo việc quét dọn và thổi nấu cho tôi, Maria Lebiadkina, nay là vợ chính thức của tôi, hồi đó cũng ngụ tại tòa nhà này. Hai phòng kia tôi trả tiền hàng tháng và để dùng vào chuyện tình tọt của tôi. Tôi dùng một phòng để tiếp một cô người tình của tôi, còn phòng kia là để tiếp cô hầu của cô ta. Có một dạo tôi thích thú với ý nghĩ cho hai nàng chạm trán nhau. Tôi muốn bố trí để bà mệnh phụ phu nhân và con hầu gặp nhau có mặt bạn bè tôi và cả đức ông chồng. Biết tính họ, tôi dự đoán là chơi khăm họ như thế sẽ mang lại cho tôi nhiều lí thú.

Để sắp xếp cuộc tao ngộ này, tôi buộc phải năng đến căn phòng thuê ở phố Hàng Đậu là nơi tôi thường gặp cô hầu. Tại nơi này tôi chỉ thuê có một phòng của một gia đình nghèo ở lầu ba.Họ ở một phòng nhỏ kế bên, chật chội quá nên luôn luôn để hé cửa. Điều đó tiện cho tôi. Người chồng, để râu và mặc áo choàng dài, làm việc ở một văn phòng nào đó và vắng nhà cả ngày. Người vợ chừng bốn mươi tuổi, thường phá những quần áo cũ để may lại thành đồ mới, và cũng thường phải vắng nhà để đi giao hàng: Trong nhà chỉ còn có tôi và đứa con gái của họ, khoảng mười bốn tuổi, trông còn con nít hoàn toàn. Tên nó là Matriosa. Bà mẹ yêu nó tuy dữ đòn và luôn luôn gắt gỏng, như đàn bà thuộc loại này. Con bé hầu hạ và dọn dẹp cho tôi. Tôi không còn nhớ số của tòa nhà này. Tôi đã thăm hỏi và nay tôi biết rằng nhà này đã bị phá bỏ; hiện nay nơi đây có một tòa nhà rất lớn mới được xây cất trên đất của hai hay ba tòa nhà cũ. Tôi không biết gia đình đó họ gì, nếu có biết thì cũng quên rồi. Người vợ có tên là Xtepanida; người chồng tên gì thì tôi không nhớ nữa. Tôi không biết nay họ ở đâu. Nếuai muốn tìm ra họ, nhờ cảnh sát Petersburg thì chắc sẽ tìm ra được. Căn phòng này nhìn xuống một góc sân ở dưới. Tòa nhà quét vôi mầu xanh nhạt. Chuyện đó xảy ra vào tháng sáu.

Một hôm tôi không thấy con dao nhíp trên bàn; con dao đó kể ra tôi cũng không cần gì đến. Tôi nói với bà chủ nhà, cũng chẳng nghĩ rằng con bé có th bị đòn vì vụ đó. Không may là bà mẹ vừa mới nổi tam bành với con bé, vi nghi ngờ nó đã lấy một mụn vải để may áo cho con búp bê của nó. Bà ta còn túm tóc nó nữa. Khi tìm ra mụn vải lấp dưới khăn bàn, con bé chỉ im lặng nhìn mẹ, không một lời trách móc. Tôi nhận thấy con bé đã cố tình không thốt ra một lời. Tôi nhận thấy điều đó và lần đầu tiên nhìn kĩ con bé - trước đó, tôi chẳng để ý gì. Tóc nó mầu vàng nhạt, nó có tàn nhang, khuôn mặt bình thường; nhưng ở người nó có một cái gì rất ngây thơ, an lành, vô cùng dịu dàng và bình dị. Bà mẹ bực tức vì con bé không than thở gì mà cứ ngậm câm. Đúng lúc đó thì xảy ra vụ con dao. Bà mẹ đang điên ruột vì vừa mới đánh oan con bé. Bà túm mấy cây roi và, ngay trước mặt tôi, quất con bé đến rớm máu. Có lẽ vì sự hiện diện của tôi nên Matriosa không kêu khóc. Mỗi roi nó lại nấc lên một cách lạ kì, và sau khi bà mẹ thôi đánh rồi, nó còn tiếp tục nấc lên cả giờ nữa.

Con bé bị đòn rồi tôi mới thấy con dao trên giường ngủ, trong cái chăn. Không nói gì với ai, tôi bỏ con dao vào túi, ra đường và vứt bỏ ở một phố xa để không ai biết. Ngay khi đó tôi ý thức được rằng tôi vừa có một hành vi hèn nhát, nhưng cũng lúc đó một cảm giác khoái lạc thiêu đốt tôi như một thỏi sắt nóng và xâm chiếm tất cả tư tưởng tôi. Tôi phải nói rõ là trước đó tôi cũng đã từng biết đủ mọi thứ khoái lạc quái ác và tôi cũng đã từng cầu lạc đến mức điên rồ, hay nói đúng hơn, một cách phóng túng, bướng bỉnh, nhưng chưa bao giờ đến mức mất tự chủ. Ngay khi một cảm xúc bừng bừng, tôi vẫn có cảm giác còn tự chủ và có th ngưng tất cả lại nếu tôi muốn, mặc dù tôi rất ít khi chọn quyết định ngưng lại. Đến đây tôi xin tuyên bố là tôi không muốn trốn tránh trách nhiệm về các tội ác của tôi, dù là đ lỗi cho hoàn cảnh hay bệnh hoạn.

Sau hai ngày khóc lóc, con bé càng thêm thầm lặng. Tuy nhiên tôi tin chắc là nó không oán tôi, và cùng lắm thì nó cũng chỉ cảm thấy xấu h vì bị trừng phạt kiểu đó trước mặt tôi như vậy. Nhưng vì bản tính quen chịu đựng, nó chỉ giận nó chứ không giận ai khác về cái nhục mà nó đã phải chịu. Điều đó rất quan trọng để hiểu được mọi sự đã xảy ra.

Sau vụ đó, tôi ở nhà ba ngày liền. Trong chung cư này, thiên hạ chui rúc trong các buồng nhỏ nồng nặc mùi đồ ăn. Đa số là tiểu công chức, thất nghiệp hay thuộc hạ cấp, y sĩ nông thôn tương lai chờ ngày về làng, và người Ba Lan thuộc đủ loại. Tất cả đều khúm núm đối với tôi, tôi còn nhớ nhiều mặt trong bọn họ. Trong cái thế giới hỗn tạp đó tôi sống rất cách biệt - nghĩa là cách biệt với những người trong chung cư thôi, - bởi vì tôi có những bạn của tôi, rất hết lòng với tôi và mến tôi thắm thiết do cái túi tiền của tôi. Tụi chúng tôi lộn xộn lắm; mọi người trong chung cư sợ tụi tôi và đối xử với chúng tôi rất kính nể, mặc dù chúng tôi chọc phá họ - đôi khi làm những chuyện thật không tha thứ được. Tôi xin nói rằng giá hồi đó tôi có bị đày đi Xibir tôi cũng cóc cần. Cũng có thể tôi tự thắt cổ vì buồn chán và nếu tôi đã không làm vậy ấy là vì hồi đó tôi mong đợi một cái gì, như là tôi đã mong đợi cả đời tôi. Tôi nhớ là hồi đó tôi đang quan tâm nhiều đến thần học. Nó cũng giải trí tôi được một thời gian, nhưng sau đó mọi sự lại trở nên nhàm chán hơn. Về quan điểm chính trị thì hồi đó tôi muốn tọng thuốc súng vào bốn góc thế giới này và cho tất cả nổ tung lên mây - nếu làm như thế cũng bõ công. Tuy nhiên, nếu tôi có làm như vậy thì cũng không phải vì tinh nghịch mà chỉ vì buồn chán.

Thực ra tôi không theo phái xã hội. Tôi ưa nghĩ rằng tôi mắc một bệnh nào đó. Có lần tôi hỏi đùa bác sĩ Dobroliubov- ông cùng với gia đình sống đói rách trong một căn buồng nhỏ - rằng ông có biết thuốc nào uống cho người ta có tinh thần công dân không; và ông ta đã trả lời: “Không, chẳng có thuốc nào cho tinh thần công dân, nhưng tôi có thể chỉ cho ông thứ gây tinh thần tội ác”, và ông có vẻ tự đắc, mặc dầu ông chẳng có đồng xu dính túi và phải nuôi một bà vợ bụng mang dạ chửa với hai đứa con gái nhỏ. Tuy nhiên, đến đây tôi phải nêu nhận xét rằng nếu thiên hạ không được luôn luôn bằng lòng với mình thì chắc chẳng ai muốn kéo dài cuộc sống.

Vậy là tôi ở đó trong ba ngày liền, rồi trở lại căn phòng ở phố Hàng Đậu. Bà mẹ đang sửa soạn để đi phố với mớ hàng may, còn ông bố thì vắng nhà như thường lệ. Matriosa một mình ở nhà. Các cửa s trông xuống sân đều mở. Có nhiều thợ sống trong tòa nhà này, và suốt ngày tầng nào cũng vang lên tiếng hát lẫn tiếng búa đập. Tôi ở đó hơn một giờ rồi và suốt thời gian đó, Mat’riosa ngồi trên ghế đầu trong buồng nhỏ của gia đình nó. Nó quay lưng lại tôi và đang khâu một cái gì. Sau cùng nó ê a một điệu hát, rất nhẹ nhàng, như đôi khi nó vẫn hát. Tôi rút đồng hồ ra. Hai giờ chiều. Tim tôi đập cuồng nhiệt. Tôi đứng dậy đến bên nó. Trên cửa sổ có nhiều cây xương rồng, hoa rực rỡ dưới ánh nắng. Im lặng, tôi ngồi xuống cạnh nó. Nó giật nảy người lên. Tôi cầm tay nó đưa lên môi hôn, đẩy nó ngồi lại trên ghế, và nhìn thẳng vào mắt nó. Cái hôn tay của tôi làm nó bật cười, như trẻ con cười, nhưng chỉ một giây sau đó nó lại vùng lên, mặt méo mó vì sợ hãi. Nó nhìn tôi không chớp, đôi mắt mở lớn hoảng hốt, và đôi môi run rẩy. Tuy nhiên nó không la lên. Tôi lại hôn tay nó, rồi đặt nó ngồi lên đùi. Nó quay mặt đi và đột nhiên mỉm cười, ngượng ngập, mặt đỏ ửng vì xấu hổ. Tôi nói thầm vào tai nó đôi câu và cười. Sau cùng xảy ra một điều rất lạ lùng. Không bao giờ tôi quên được điều đó và hồi ấy nó đã làm tôi hoàn toàn sửng sốt. Con bé đột nhiên đưa tay ôm lấy cổ tôi và hôn tới một cách liều lĩnh, mặt nó biểu lộ vẻ hoan lạc tuyệt đối. Tôi đứng dậy, sửng sốt thấy một con bé như nó lại có cử chỉ như vậy. Tôi thấy thương nó và điều đó làm tôi nổi giận..”.

Đến đây là hết tờ giấy và câu kia bị ngưng nửa chừng. Tôi phải nói là thực ra tất cả có năm tờ118. Cụ Tikhon chỉ cầm có một tờ, bốn tờ kia vẫn ở trong tay Nicolai. Khi cụ Tikhon nhìn anh có vẻ hỏi thêm, Nicolai từ trước vẫn chờ cụ ngước nhìn, đưa cho cụ, đoạn tiếp.

- Nhưng thiếu mà, - cụ Tikhon nói, nhìn tờ giấy. - Ông coi đây, ông đưa cho tôi tờ 3. Thiếu tờ 2.

- Tôi biết rồi, nhưng lúc này kiểm duyệt còn giữ tờ 2, - Nicolai vội vã trả lời, gượng cười. Trong lúc cụ Tikhon đọc, anh ngồi không động đậy, nhìn cụ với đôi mắt của kẻ đang lên cơn sốt. - Rồi cụ sẽ có tờ đó, khi nào cụ xứng đáng đọc, - anh nói thêm một cách tự nhiên nhưng không làm ai tin được. Anh cười lớn nhưng trông vẫn đáng thương. Cụ Tikhon nói:

- Chúng ta đã tới điểm này rồi thì tôi nghĩ rằng đọc hay không đọc tờ đó cũng vậy thôi.

- Cụ nói cũng vậy thôi là thế nào? Tại sao cụ lại nói vậy? - Nicolai nóng nảy hỏi, ngả người về phía trước. - Có khác chứ! Tôi thấy cụ rất ưa nghi ngờ những chuyện tởm nhất, hệt như tất cả bọn thầy tu. Tôi nghĩ tu sĩ mà làm cảnh sát điều tra thì nhất.

Cụ Tikhon im lặng nhìn anh.

- Cụ đừng tưởng tượng nữa, - Nicolai nói. - Thật không phải lỗi tự tôi nếu con bé ngu ngốc đến nỗi hiểu lầm tôi. Chẳng có chuyện gì xảy ra - chẳng có gì hết!

- Tạ ơn Chúa, - cụ Tikhon nói khẽ và làm dấu.

- Giải thích tất cả mọi sự thì lâu quá. Đó là một sự hiểu nhầm về tâm lí.

Nicolai đột nhiên đỏ mặt và trên mặt anh để lộ sự chán chường, buồn bã - và tuyệt vọng. Hai người im lặng và cũng chẳng nhìn nhau trong hơn một phút.

- Tôi nghĩ dù sao cụ cũng nên đọc đi. - Nicolai vừa nói vừa lấy ngón tay quệt mồ hôi lạnh nhỏ giọt từ lông mày. - Và tôi nghĩ cụ không nên nhìn tôi thì hơn. Tôi cảm thấy như trong giấc mơ - và - và - cụ đừng làm tôi hết chịu nổi, - anh hạ giọng nói thêm.

Cụ Tikhon không nhìn Nicolai nữa, cụ cầm lấy tờ thứ ba và đọc một mạch đến hết. Không còn chỗ nào thiếu nữa. Tuy nhiên tờ thứ ba bắt đầu từ giữa câu. Đúng như dưới đây:

“... qua một cơn sợ hãi thực sự tuy rằng không mãnh liệt quá119. Sáng hôm đó tôi cảm thấy thực sự vui vẻ, và rất tử tế với cả bọn họ và cả đám chúng tôi đều hả hê.Nhưng tôi bỏ rơi họ và đi đến phố Hàng Đậu: Tôi gặp con bé khi tôi chưa lên thang. Người ta mới sai nó đi mua đồ gia vịở tiệm tạp hóa về, và khi trông thấy tôi, nó hốthoảng cắm đầu chạy lên cầu thang. Nó cảm thấy kinh hoàng hơn là sợ hãi, một nỗi kinh hoàng làm con người têcứng lại. Khi tôi lên hết cầu thang thì mẹ hó đã tát nó về tội chạy bổ như thế, và nhờ đó mà lí do đích thực làm con bé sợ hãi đã được ém nhẹm. Và như vậy là chẳng còn gì đáng lo cả. Con bé trốn trong một xó nào và suốt thời gian tôi ở đó không thấy mặt nó đâu. Tôi ở trong buồng của tôi chừng một giờ rồi lại đi.

Nhưng về đêm, tôi lại sợ và lần này sợ hơn trước. Tệ hại nhất là tôi sợ và biết là mình sợ thật. Thật không có gì vô lí và nhục cho bằng! Tôi chừa hề biết sợ hãi, dù rằng trước hay sau việc đó - không bao giờ! Nhưng lần này tôi thật là sợ - sợ run lên. Tôi ý thức rõ rệt điều đó và cảm thấy nhục nhã một cách kinh khủng. Nếu được phép chết thì tôi đã tự tử rồi, nhưng tôi nghĩ rằng tôi không đáng được chết. Tuy nhiên, đó chẳng phải là lí do khiến tôi không tự tử - cũng là vì quá sợ hãi mà tôi đã không làm vậy. Người ta tự tử vì sợ hãi, nhưng cũng vì sợ hãi mà còn đeo đuổi cuộc sống. Bắt đầu là không dám tự tử rồi sau đó tự tử trở thành một việc không thể làm được. Ngoài ra, đêm đó, ngồi trong buồng, tôi căm thù con bé và quyết định phải giết nó.

Với ý định đó, tôi vội vã đi đến phố Hàng Đậu khi trời mới rạng đông. Suốt dọc đường tôi nghĩ cách nhục mạ nó và rồi giết nó. Điều làm cho tôi căm hờn nó nhất là nh lại nụcười của nó; nó làm nảy sinh lòng khinh bỉ lẫn với cảm tưởng kinh tởm bệnh hoạn trong tâm hồn tôi. Nó đã tưởng tượng những gì mà vòng tay ôm cổ tôi như vậy! Nhưng khi tôi đến kè Fontanca thì tôi lại thấy sợ hãi. Tôi có một cảm giác mới lạ, kinh hoàng. Tôi quay về nhà và nằm dài trên giường, rét run, tràn ngập sợ hãi đến nỗi không còn biết ghét con bé nữa. Tôi không còn muốn giết người nữa, và đó là điều tôi đã nhận thức được trên kè Fontanca. Lúc đó lần đầu tiên trong đời tôi hiểu là sự sợ hãi, nếu đủ cao độ, có thể tiêu diệt lòng căm thù và cả đến mọi ý muốn trả thù.

Tôi thức dậykhoảnggiữa trưa và cảm thấy hoàn toàn dễ chịu. Tôi hơi hổ thẹn về những ý nghĩ ngày hôm trước, về ý muốn giết con bé. Điều đó làm tôi khó chịu. Tôi phải đi đến phố Hàng Đậu tuy rằng tôi không muốn đến đó. Tôi nhớ rõ là trên đường đi tôi thèm muốn được có chuyện cãi lộn với ai, một vụ cãi lộn kịch liệt. Khi tôi đến căn buồng tôi thuê ở Hàng Đậu thì thấy cô hầu Nina Xavelievna đã chờ đợi tôi ở đó đến một giờ. Cô nàng đã tự ý đến đây và đang lo sợ rằng tôi có thể không bằng lòng. Cô ta bao giờ cũng đến như vậy. Tôi thực ra không thích ả, nhưng lần này được, gặp ả tôi bằng lòng lắm. Điều đó làm ả sung sướng. Cô ả cũng khá xinh, kín đáo, và có những cử chỉ đẹp lòng những người thuộc giai cấp trung lưu thấp. Bà chủ nhà của tôi quý cô lắm. Tôi gặp hai người đang ngồi uống cà phê và bà chủ nhà có vẻ chịu chuyện. Tôi cũng đưa mắt nhìn Mat’riosa đứng trong một góc ở buồng bên: con bé đứng yên và u sầu nhìn mẹ cùng khách. Khi tôi vào nó không chạy trốn như hôm trước, và điều đó làm tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi để ý thấy nó có vẻ gầy, mệt mỏi, và chắc bị sốt. Tôi nồng nàn và thân mật với Nina suốt lần này và cô ả ra về hỉ hả lắm. Tôi rời khỏi buồng cùng lúc với Nina và suốt hai ngày sau tôi không lai vãng tới phố Hàng Đậu. Tôi chán ngấy nơi đó rồi. Vậy mà tôi cũng nhớ nơi đó.

Sau cùng tôi quyết định chấm dứt tất cả. Tốt nhất là rời bỏ Petersburg. Tâm trạng của tôi đã đến mức đó! Nhưng khi tôi đến phố Hàng Đậu để cho h biết là tôi không thuê căn buồng nữa thì thấy bà mẹ lo buồn và hoảng hốt lắm: Mat’riosa đã đau ba hôm nay và đã mê sảng suốt ba đêm liền. Tất nhiên tôi hỏi ngay nó đã nói mê những gì (Chúng tôi thì thầm nói chuyện trong buồng của tôi). Bà kể cho tôi là con bé trong cơn mê sảng đã nói về “những điều thật là kinh khủng. Nó nói: Tôi đã giết Chúa”. Tôi đề nghị mời bác sĩ và nhận trả tiền nhưng bà không chịu.

- Nhờ ơn Chúa tự nhiên nó sẽ khỏi. Vả lại nó đâu có lúc nào cũng liệt giường. Sớm nay nó còn ra tiệm tạp hóa mà.

Tôi quyết định gặp riêng Mat’riosa, và bởi vì bà chủ nhà tiết lộ rằng khoảng năm giờ chiều bà phải có mặt ở cuối thành phố, tôi định là sẽ trở lại đây. Tuy nhiên, tôi không biết tại sao tôi muốn trở lại đây và làm gì.

Tôi ăn tại một quán, và đúng nằm giờ mười lăm tôi trở lại. Như thường lệ tôi mở cửa bảng chìa khóa của tôi. Con bé ở nhà một mình, nằm trên giường mẹ, sau tấm màn gió. Tôi thấy nó ngóc đầu lên nhìn tôi, nhưng tôi giả bộ không trông thấy. Các cửa sổ đều mở. Thời tiết ấm, có lẽ nóng nữa. Tôi đi lại trong buồng một lát rồi ngồi lên giường. Nay tôi còn nhớ rõ mỗi phút giây lúc đó. Không hiểu tại sao, rõ rệt là tôi lấy làm thích thú để Matriosa phải hồi hộp chờ đợi bằng cách là không nói gì với nó cả. Tôi chờ đợi cả một giờ. Đột nhiên, nó vùng dậy khỏi giường sau bức màn gió. Tôi nghe rõ tiếng chân nó nện trên sàn khi nó nhảy khỏi giường, rồi tiếng những bước chân hối hả của nó. Rồi tôi thấy nó hiện ra đứng trước cửa buồng tôi. Khi đó lòng dạ tôi ti tiện biết bao, tôi lấy làm hài lòng thấy con bé đã phải đi bước trước. Ôi, tôi thật đáng khinh và quả thật nhục nhã quá.

Con bé đứng đó và im lặng nhìn tôi. Từ mấy ngày nay tôi không nhìn gần nó, quả tình nó thật là gầy. Mặt nó như quắt lại và đầu nó như bị hun lửa. Mắt nó mở to hơn và sự dò hỏi câm nín trong đó làm tôi xúc động. Tôi ngồi im không động đậy, nhìn lại nó. Thếrồi đột nhiên tôi lại cảm thấy lòng căm thù sôi sục trong tim tôi. Mat’riosa có vẻ không còn sợ tôi nữa, và tôi nghĩ có thể nó mê sảng. Nhưng không phải. Đột nhiên nó lúc lắc cái đầu, theo kiểu những người bình dân chất phác thường làm để tỏ sự chê trách. Rồi bất ngờ nó giơ nắm tay nhỏ bé lên như đe dọa. Thoạt đầu tôi thấy cử chỉ đó ngộ nghĩnh nhưng rồi tôi không chịu đựng được nữa. Tôi đứng dậy và tiến lên một bước về phía nó. Mặt nó lộ vẻ tuyệt vọng không thể tường tượng được ở một đứa bé. Nó vẫn lúc lắc cái đầu trách móc và giơ nắm tay đe dọa tôi. Tôi nói với nó, nhẹ nhàng và tử tế, bởi vì tôi sợ nó. Nhưng tôi nhận thức ngay được rằng nó không nghe tôi và điều đó làm tôi càng kinh hãi. Đột nhiên, nó lấy hai tay che mặt như nó đã làm lần trước, đến bên cửa sổ và đứng đó quay lưng lại tôi. Tôi cũng quay đi không nhìn nó na và ngồi xuống gần cửa s. Cho đến nay tôi cũng không hiu được khi đó tôichờ đợi cái gì và tại sao tôi lại không rời bỏ nơi đó ngay lúc ấy. Bởi vì dường như thực sự tôi đang chờ đợi một cái gì. Có lẽ tôi ngồi lại đó một lúc rồi sẽ đứng dậy và giết nó, chỉ cốt để chấm dứt mọi sự trong niềm tuyệt vọng của tôi. Nhưng ngay lúc ấy tôi lại nghe thấy tiếng chân vội vã của nó. Nó ra khoảng hàng ba lát gỗ dẫn đến cầu thang. Tôi đứng dậy và chạy ra cửa; tôi chỉ vừa kịp thoáng thấy nó đi vào buồng xép dùng để chứa đồ lặt vặt, cạnh nhà cầu. Tôi ngồi xuống gần cửa sổ và một lần nữa lại nghĩ đến chết chóc. Cho đến nay, tôi vẫn không th hiu tại sao tôi lại nghĩ trước tiên đến điều đó. Chắc phải có gì xui khiến. Tôi thực không thể tin được rằng ý nghĩ đó tự nhiên lóe trong đầu tôi, nhưng - tôi nhớ lại rất rõ ràng và nhớ cả tim tôi đập mạnh như thế nào.

Một phút sau tôi nhìn đồng hồ để coi giờ đúng. Tại sao lại cần phảighi nhận giờ đúng, nay tôi cũng không hiểu - tôi chỉ có thể nói được là tôi rángghi nhận tất cả mọi sự. Vì vậy, đến nay tôi còn nhớ mọi chi tiết, tất cả như đang xảy ra trước măt tôi. Chiều đã muộn.Một con ruồi vo ve và đậu lên mặt tôi. Tôi bắt nó, kẹp nó trong mấy ngón tay một lát rồi thả nó ngoài cửa sổ. Dưới sân một cái xe lăn bánh ầm ĩ. Một người thợ may đang lớn tiếng hát; hắn ngồi ở cửa sổ trông sang một góc sân. Tôi có thể nhìn thấy hắn đang làm việc. Lúc đó tôi chợt nghĩ rằng, vì không ai trông thấy tôi đi qua sân để lên lầu, tôi không nên để người ta thấy tôi ở đây và rời khỏi nơi đây. Vì vậy, tôi kéo ghế lùi xa cửa sđể các người trong chung cư không nhìn thấy tôi. Ôi, tôi thật bỉ ổi quá! Tôi cầm một quyển sách lên nhưng lại bỏ ngay xuống. Rồi tôi bắt đầu quan sát một con nhện nhỏ xíu mầu đỏ trên một lá xương rồng và chợp mắt thiếp đi. Nay tôi còn nhớ mọi sự cho đến lúc cuối cùng.

Đột nhiên, tôi rút đồng hề ra. Con bé đã rời khỏi buồng được hai mươi phút. Tôi quyết định đợi đúng mười lăm phút nữa. Tôi tự đặt cho tôi thời gian đó. Tôi cũng có ý nghĩ là có thể con bé đã trở lại buồng trong thời gian tôi thiếp đi. Nhưng không thể được: có một sự im lặng chết chóc và tôi có thể nghe được tiếng vo ve của từng con ruồi nhỏ. Tim tôi lại bắt đầu đập mạnh. Tôi rút đồng hồ ra: vẫn còn ba phút nữa mới phải đi. Tôi ép mình ngồi cho đủ, mặc dầu tim tôi đập nhức nhối. Rồi tôi đứng dậy, đội mũ, mặc áo choàng và nhìn quanh phòng xem tôi có để lại dấu vết nào không. Tôi đặt chiếc ghế lại gần cửa s hơn, vào chỗ cũ của nó. Xong rồi tôi khẽ mở cửa, đi ra rồi khóa lại bằng chìa khóa của tôi, và đi đến căn buồng xép. Cửa đóng nhưng không khóa. Mặc dù biết là cửa không khóa, tôi vẫn không mở mà chỉ kiễng chân lên và dòm qua khe hở phía trên cánh cửa. Và ngay lúc tôi kiễng chân lên, tôi nhớ lại rằng trước đó, khi tôi còn ngồi gần cửa s và ngắm con nhện đỏ, tôi cũng đã tự nhìn thấy tôi đi qua chỗ này, kiễng chân lên để nâng tầm mắt tới khe hở này. Tôi kể lại chi tiết này để chứng minh lúc đó tôi rất minh mẫn vì vậy không thể cho rằng tôi bị khủng hoảng tinh thần hay vô trách nhiệm về hành vi của tôi. Tôi nhòm qua khe cửa. Một lúc lâu tôi mới nhận ra sự vật vì ở đó tối, nhưng không đến nỗi hoàn toàn đen kịt. Nhưng sau cùng tôi cũng thấy mọi thứ cần phải nhìn.

Rồi tôi quyết định rời khỏi nơi này. Tôi xuống thang. Tôi không gặp một ai - sau này sẽ không có ai vạch mặt chỉ tên tôiđược. Ba giờ sau, tôi và lũ thủ hạ của tôi mặc sơ mi trần ngồi uống trà và đánh bài với một cỗ bài hoen ố. Rồi Lebiadkin ngâm thơ, những thằng khác k chuyện. Lần này chúng tôi nói chuyện có duyên và thông minh chứ không nhạt nhẽo và đần độn như thường lệ. Hôm đó có cả Kirillov. Trên bàn có chai rượu rum nhưng ngoài Lebiadkin ra không ai đụng tới. Prokhor Malov đưa ra nhận xét: “Khi Nicolai không ủ ê và vui vẻ thì tất cả chúng ta đều vui mừng và tỏ ra thông minh hơn”. Tôi còn nhớ là hắn nói vậy; điều đó cho thấy là tôi vui vẻ chứ không phải ủ ê, và tôi cũng đã có nói những điều thông minh. Tuy nhiên nay tôi vẫn còn nhớ rõ ràng lúc đó tôibiết chắc rằng tôi phải là một thằng hèn nhát, ti tiện, và đáng tởm nên mới có thể cảm thấy nhẹ nhõm và tôi cũng biếtrằng sẽ không bao giờ tôi còn tự trọng được nữa, suốt đời tôi, sau khi tôi chết - không bao giờ nữa. Hơn nữa tôi thấy câu ngạn ngữ Do Thái “Rắm ai vừa mũi người nấy” áp dụng đúng cho tôi. Tôi nói vậy bởi vì mặc dầu tôi thấy tôi đáng tởm, sự kiện đó cũng không làm tôi bận lòng hay làm tôi hổ thẹn cho lắm.

Chính lúc đó, trong khi uống trà và chuyện gẫu với tụi nó, nói lung tung chuyện này chuyện nọ, lần đầu tiên trong đời tôi tự đặt thành một công thức rõ rệt ý tưởng rằng tôi không biết và cũng không cảm thấy điều ác là cái gì. Không phải chỉ đơn giản là tôi đã mất nhận thức về thiện và ác, mà tôi nghĩ rằng chẳng có gì là thiện hay ác (tôi thích nhận định đó); rằng tất cả chỉ là một định ước; rằng tôi có quyền không để bị ràng buộc; nhưng nếu tôi đạt được tới cái tự do đó thì cũng là rồi đời tôi. Đó là lần đầu tiên tôi ý thức được điều đó và đặt thành công thức, đúng lúc đang ngồi uống trà, cười lớn và nói lang bang, tôi chẳng còn nhớ đã nói những gì. Đôi khi những tư tưởng sáo, cổ lỗ làm người ta xúc động, tưởng như hoàn toàn mới lạ, ngay khi đã trên năm mươi tuổi đầu.

Nhưng tôi vẫn chờ đợi xảy ra chuyện gì. Và thật vậy, khoảng mười một giờ đứa con gái nhỏ của người gác cửa ở tại chung cư ở phố Hàng Đậu đến và nói với tôi Mat’riosa đã thắt cổ tự tử. Tôi đi ngay đến đó và yên lòng khi thấy chính bà chủ nhà cũng không biết tại sao bà đã nhờ con bé đến tìm tôi. Tất nhiên bà ấy đang than khóc như loại phụ nữ này thường làm trong trường hợp tương tự. Có những kẻ hiếu kì và, dĩ nhiên, có cảnh sát. Tôi ở đó một lát rồi bỏ đi.

Họ chẳng làm phiền tôi gì hết, chỉ hỏi những câu thường lệ. Tôi chẳng nói gì ngoại trừ sự kiện con bé bệnh và mê sảng, tôi đã đề nghị mời bác sĩ và chịu tiền. Họ có hỏi sơ qua về con dao nhíp bị mất, và tôi kể là mẹ con bé đã đánh nó vé tội đó, nhưng chuyện chẳng có gì đặc biệt. Họ không tìm ra gì về việc chiều hôm đó tôi có ghé lại nhà. Và thế là xong.

Tôi không đến phố Hàng Đậu trong cả một tuần và sau đó tôi đến trả căn buồng cho họ. Bà chủ nhà hãy còn than vãn, tuy rằng bà đã trở lại cắt may những mụn vải rách của bà.

- Chỉ tại con dao nhíp của ông mà tôi đã bất công với nó, - bà nói câu đó không có ý trách móc gì cho lắm, tuy rằng dường như bà ấy đã dành câu đó để nói với tôi khi tôi tới.

Tôi thanh toán tiền thuê buồng và nói với bà là tôi không thuê nữa, viện cớ rằng tôi không thể tiếp Nina ở đây sau biến cố này. Bà lại nói đến cảm tình đối với Nina, và khi ra về tôi cho bà thêm năm rúp nữa ngoài sốtiền thuê phòng.

Phiền nhất là tôi thấy đời chán đến mức làm tôi phát điên. Tôi chắc rằng tôi đã có thể quên được chuyện xảy ra ở phố Hàng Đậu và sự nguy him mà tôi đã thoát được, nếu tôi đừng tiếp tục tức tối nhớ lại những sự việc đi liền theo vụ đó. Tôi trút hận thù lên đầu bất cứ ai tôi gặp. Và chính lúc đó tôi quyết định - nhưng thậtlà không vì một lí do nào đặc biệt - phá phách đời tôi và làm nó hết sức nát bấy, đến kinh tm. Trước đó một năm, tôi có ý định tự tử, nhưng nay tôi quyết định làm còn hơn thế nữa. Một hôm, tôi nhìn Maria Lebiadkina, cô gái thọt chân vẫn quét dọn các phòng trong chung cư và khi đó chưa mất trí, mới chỉ ngớ ngẩn, vốn thầm kín và tuyệt vọng mê say tôi (lũ bạn tôi đã đánh hơi khám phá được bí mật này) tôi quyết định cưới cô ta. Ý tưởng là Nicolai kết hôn với một sinh vật như vậy làm dây thần kinh của tôi nhảy cỡn lên. Thật là không còn có gì ngông cuồng hơn. Không thể nào hiểu nổi nếu không nhớ rằng chuyện này xảy ra đúng vào thời kì đặc biệt đó trong đời tôi. Dù sao tôi không phải cưới cô ta chỉ vì sau một bữa ăn no tôi đã đánh cá một chai rượu. Những nhân chứng trong cuộc hôn nhân này là Kirillov; Piot’r Verkhovenxki, khi đó đang làm cho chính phủ tại Petersburg; anh của cô Lebiadkina; và Prokhor Malov, anh này nay đã chết. Không một ai khác biết chuyện này, bởi vì tất cả những người kể trên đã thề giữ kín. Bao giờ tôi cũng nghĩ rằng giữ kín chuyện này là một hành vi ti tiện - tôi muốn làm công khai vụ hôn nhân này. Tuy nhiên, chuyện này đã được giữ kín mãi cho đến hôm nay do tôi tiết lộ ra.

Sau lễ cưới, tôi về trại của mẹ tôi để nghỉ ngơi. Trong tỉnh người ta cho là tôi khùng, điều đó đến nay vẫn còn, và còn làm hại tôi, tôi sẽ giải thích điều đó sau. Rồi tôi ra nước ngoài ở bốn năm.

Tôi đã đi về phương Đông, tới thăm tu viện trên núi Athos và dự lễ ở đó, lâu tới tám giờ liền; tôi đi Ai Cập, sống ở Thụy Sĩ, du lịch đến Iceland và sau đó đến học tại đại học Göttingen suốt một năm. Trong năm cuối của cuộc du hành đó tôi quen thân với một gia đình người Nga sống tại Paris, và trong khi sống ở Thụy Sĩ tôi chơi thân với hai thiếu nữ Nga ở đó. Cách đây vài năm, đi qua một tiệm sách ở Frankfurt tôi thấy trong các bưu thiếp hình một cô bé quần áo sang trọng làm tôi nhớ đếnMat’riosa. Tôimua hình đó và khi trở về khách sạn tôi dựng nó trên lò sưởi. Tôi để nguyên tấm hình nơi đó, chẳng đụng và chẳng nhìn đến nữa, rồi khi tôi rời khỏi Frankfurt tôi cũng quên không mang theo.

Tôi kể chuyện đó để chứng tỏ lần nữa rằng tôi đã nh rõ ràng đến mức nào, và tôi có thể khách quan như thế nào. Tôi có th vứt bỏ tất cả những kỉ niệm đó nếu tôi muốn. Ký ức bao giờ cũng làm tôi khó chịu, và tôi không tiếc nuối dĩ vãng như nhiều người, nhất là từ khi tôi ghê tởm dĩ vãng cũng như tất cả những gì liên hệ với tôi. Còn đối với Mat’riosa, tôi bỏ quên cả tấm hình của nó trên lò sưởi ở khách sạn.

Cách đây một năm, vào mùa xuân, tôi đi chơi ở Đức và vô ý quên không đổi xe lửa nên đến ga sau mới xuống tàu. Lúc đó khoảng hai ba giờ chiều. Trời đẹp. Đó là một tỉnh nhỏ ở Đức. Vì phải chờ đến mười một giờ đêm mới có tàu, nên tôi đến khách sạn. Tôi có vẻ bằng lòng về chuyện này vì tôi cũng chẳng vội vã để tới đâu. Khách sạn nhỏ và tồi tàn, nhưng chung quanh có nhiều cây và bồn hoa. Họ cho tôi một phòng rất nhỏ. Tôi gọi thức ăn và ăn rất ngon miệng, và vì đã đi tàu suốt đêm hôm trước, nên chừng bốn giờ tôi ngủ rất say.

Tôi mơ giấc mơ rất kì lạ, như chưa bao giờ có. Thường thì các giấc mơ của tôi đu vô nghĩa hoặc dễ sợ. Tại viện bảo tàng ở Dresden có một bức tranh của Claude Lorrain120, trong mục lục gọi là “Mục đồng và Tiên nữ” nhưng riêng tôi vẫn gọi là “Thời đại Hoàng kim”, chẳng biết vì lí do gì. Tôi đã ngắm nó nhiều lần, lần cuối cùng là mới ba ngày trước, khi tôi qua Dresden. Tôi đã đặc biệt tới viện bảo tàng để ngắm nó, và có lẽ chính vi vậy mà tôi đã dừng chân ở Dresden. Trước hết, chính bức tranh đó tôi đã thấy trong giấc mơ - không phải như một bức họa mà như một cảnh thật.

Thực ra tôi cũng không chắc lắm về cái gì tôi đã thấy trong mơ. Tôi đang ở một địa điểm trong quần đảo Hi Lạp - và thời gian đã trở lại hơn ba nghìn năm trước. Nay tôi còn nhớ, sóng lăn tăn mầu xanh dương, những hòn đảo và mỏm đá, bờ bin rực rỡ mầu cây lá, chân trời huyền ảo, mặt trời đang lặn đầy quyến rũ - không th diễn tả bằng lời được. Đây là cái nôi của nền văn minh Âu châu - ý nghĩ đó làm tim tôi tràn ngập tình yêu. Đây là địa đàng, nơi các thiên thần từ trên trờihạ xuống và kết tình thân hữu với loài người. Đây là điểm trên trái đất được thấy diễn ra những thần thoại đầu tiên. Và những người sống tại nơi đây đẹp biết bao! Họ thức dậy hồn nhiên và tối đi ngủ cũng hồn nhiên. Rừng và bóng mát của họ vang lời ca vui; nghị lực còn nguyên của tuổi trẻ dành cho tình yêu và những niềm vui giản dị, và tôi cảm thấy tất cả những điều đó hiển hiện cả cái định mệnh vĩ đại trải ba ngàn năm của họ, mà chính họ cũng không ngờ. Ý nghĩ đó làm tim tôi nhảy múa vì hoan lạc. Tôi sung sướng biết bao bởi vì tim tôi nhảy múa như thế đó và bởi vì, sau cùng tôi đã yêu! Mặt trời túa xuống các đảo và trên bể, vui mừng thấy đàn con xinh đẹp. Ôi, một giấc mộng huyền diệu, một ảo ảnh cao cả. Đó là lí tưởng bấp bênh nhất, nhưng là một lí tưởng mà con người đã tuyệt vọng tranh thủ suốt bao nhiêu thời đại và bỏ mình vì nó; một lí tưởng mà vì nó họ đã hi sinh tất cả; vì nó họ đã trông ngóng và mòn mỏi; và nhân danh nó bao nhiêu nhà tiên tri đã bị đóng đinh và sát hại. Không có lí tưởng đó thì con người không còn muốn sống nữa và cũng không th chết được. Hình như tôi đã sống tất cả những điều đó trong giấc mơ này. Tôi xin nhắc lại là tôi thực sự không biết rằng tôi đã mơ thấy những gì - tôi chỉ biết rằng tôi cảm thấy những cái đó trong giấc mơ. Tuy nhiên, khi tôi thức giấc, ghềnh đá, biển và ánh dương chênh chếch hình như còn ở ngay trước mắt tôi. Và lần đầu tiên trong đời tôi, mắt tôi đẫm lệ. Tôi còn nhớ những giọt nước mắt đó, bởi vì tôi sung sướng và không h thẹn chút nào. Một cảm giác hạnh phúc như chưa bao giờ được biết tràn đầy tim tôi, đến nhức nhi. Ngày đã hầu tàn và ánh mặt trời chênh chếch xuyên qua lá các khóm hoa nơi cửa sổ trải dài trong buồng tôi. Tôi vội vã nhắm mắt, hi vọng bắt lại giấc mơ đã tan, nhưng rồi đột nhiên giữa ánh sáng lộng lẫy tôi thấy một chấm nhỏ. Dần dần chấm đó thành hình và tôi nhận lại rõ ràng con nhện nhỏ mầu đỏ tôi đã thấy trên cái lá cây xương rồng. Ngay lúc đó, cũng như lúc này, ánh tà dương cũng đang đổ vào. Tôi cảm thấy như có gì đâm thấu tim tôi và tôi ngồi dậy trên giường, và rồi nó xảy đến - tôi nhìn thấy ngay trước mặt tôi... (không, tất nhiên không phải là thực - ôi, nếu con bé là thực được - ước gì tôi có thể được trông thấy lại nó bằng xương bằng thịt, dù chỉ là một lần sau lần đó - dù chỉ là một giây lát - nếu tôi có thểnói với nó rằng...) Phải, tôi nhìn thấy Mat’riosa với nét mặt hốc hác và đôi mắt sốt nóng của nó y như cái lần đó, khi nó đứng trên ngướng cửa, lắc đầu một cách chê trách và giơ nắm tay nhỏ bé lên dọa tôi. Ôi! Sự tuyệt vọng đáng thương của đứa nhỏ yếu đuối, óc còn non nớt, đang đe dọa tôi (Chúa ơi, nó còn có thể làm gì đối với tôi được nữa!), nhưng, tất nhiên, nó chỉ có thể tự trách mình mà thôi. Tôi chưa bao giờ trải qua một chuyện gì như thế. Tôi ngồi như vậy mãi cho đến đêm. Tôi không động đậy và cũng không ý thức được thời gian. Nay tôi muốn giải thích rõ ràng về những gì đã xảy ra. Phải chăng đó là cái mà người ta gọi là lòng hối hận hay cảm giác tội lỗi? Ngày nay tôi cũng chưa trả lời được. Nhưng tôi biết rằng tôi không thể chịu nổi khi nhìn khuôn mặt đó, ngay lúc nó đứng ở ngưỡng cửa - phải chính lúc đó, không một giây sớm hay muộn hơn, đúng lúc nó lắc đầu và giơ nắm tay nhỏ bé lên dọa tôi. Dáng điệu vờ sự đe dọa của nó không còn buồn cười nữa mà là khủng khiếp. Tôi thương hại nó, và lòng thương đó mở rộng tới độ điên rồ, tôi sẵn sàng hiến thân xác tôi cho xé tan thành trăm mảnh nếu chuyện đó không xảy ra. Không phải là tội ác ám ảnh tôi; cũng không phải là tôi hối tiếc sâu xa về cái chết của nó đến thế. Điều mà đến nay tôi vẫn không thể chịu đựng ni chính là cái khoảnh khắc kia, và bởi vì từ khi đó tôi đã hầu như hàng ngày sống lại những giây phút ấy, và tôi biết rất rõ ràng rằng tôi hết còn cứu vãn được. Ngày nay tôi không chịu đựng nổi cảnh tượng đó, cũng như ngay khi ấy tôi đã không chịu đựng nổi, mặc dù khi ấy tôi không hay. Không phải tự nó hiện hình ra với tôi - chính tôi gọi nó đến, và không tài nào không gọi nó được, mặc dầu đời tôi khốn nạn vì nó. Ôi, ước chi tôi thấy được nó khi tôi thức, dẫu chỉ là một ảo ảnh! Tôi cầu mong nó sẽ nhìn tôi với đôi mắt sốt nóng mở to, đúng như khi ấy, để nó nhìn thấy tôi - nhưng đó chỉ là một ý tưởng ngu ngốc và sẽ không bao giờ xảy ra chuyện như vậy!

Sao trong các hồi tưởng của tôi không có gì làm tôi xúc động như vậy? Tôi chắc rằng người ta có thể tìm thấy trong đó nhiều tội còn nặng hơn thế, theo sự phán xét của người đời. Trong hiện trạng của tôi những kỉ niệm khác chỉ gợi lên sự căm thù trong lòng tôi, và trước đây tôi thường chỉ cần đẩy chúng vào hậu trường là có thể tìm lại sự bình yên giả tạo của tâm hồn.

Sau khi chuyện đó xảy ra, tôi lang thang khắp thế giới trong một năm, cố gắng bắt tâm trí tôi phải bận rộn. Thế nhưng tôi vẫn biết rằng - ngay cả lúc này - tôi có thể xua đuổi được Mat’riosa nếu tôi muốn. Tôi hiện hoàn toàn điều khiển được ý chí tôi như trước. Nhưng trở ngại ở đây là: tôi chưa hề và sẽ không bao giờ muốn xua đuổi Mat’riosa. Và sẽ vẫn cứ như thế cho đến lúc tôi mất trí.

Hai tháng sau, ở Thụy Sĩ, chắc chắn cũng như một kháng tố tự vệ của cơ thể, tôi trải quá một cơnđam mê - một sự bộc phát như trước đó tôi thường có. Tôi cảm thấy một sự cám dỗ không sao cưỡng lại được, là phạm vào một tộiác khác nữa - lần này là tội đa thê, bởi vì tôi đã kết hôn rồi. Nhưng tôi nghe lời khuyên của một cô gái khác, mà tôi đã thổ lộ dự định, và bỏ trốn. Tôi đã k gần hết mọi sự với cô, kể cả sự kiện là tôi chẳng yêu gì cô gái kia mà chỉ là ham muốn mà thôi, rằng tôi không bao giờ có thể yêu ai được, và trong con người tôi chẳng có gì khác ngoài tình dục. Ngoài ra, tội ác mới ấy cũng không giải thoát tôi khỏi Mat’riosa chút nào.

Vậy nên tôi quyết định cho in mấy tờ giấy này thành ba trăm bản và mang về nước Nga. Khi đến lúc, tôi sẽ gửi chúng cho nhà cầm quyền, cho cảnh sát, và báo chí, với lời yêu cầu công bố, cho luôn cả những người tôi quen biết cá nhân ở Petersburg và khắp nước Nga nói chung. Đồng thời một bản dịch cũng được lưu hành ở nước ngoài. Dù cho làm thế không có nghĩa lí gì, tôi cũng vẫn xuất bản những tờ giấy này. Tôi ý thức rằng tôi có thể không bị rắc rối gì về mặt pháp luật, hay dù có thì cũng rất ít, vì tôi là nhân chứng độc nhất khởi tố chính mình, lại không có nguyên cáo hay bằng chứng gì cả. Ngoài ra còn có tin đồn dai dẳng về bệnh điên của tôi, mà chắc chắn gia đình tôi sẽ tìm cách lợi dụng để chặn đứng bất cứ sự truy tố nào có thể xảy ra. Tôi đề cập qua sự việc này, chỉ cốt để minh xác sự kiện rằng hiện nay tôi hoàn toàn làm chủ lí tính của tôi và nắm vững tình huống. Nhưng vẫn còn có những người biết rành mọi chuyện. Họ sẽ nhìn thng vào tôi và tôi sẽ nhìn lại họ. Tôi muốn mọi người chú mục vào tôi, mặc dầu tôi không biết điều ấy có thực sự sẽ làm tôi dễ chịu hơn chăng. Đó là cái phao cuối cùng của tôi.

Một lần nữa, tôi chắc chắn rằng nếu lục lại hồ sơ của cảnh sát Petersburg một cách thật chu đáo, thếnào cũng lượm lặt được một cái gì. Tôi chắc chắn một vài người phải còn nhớ căn nhà kia - nó mầu xanh da trời, về phần tôi, tôi không định đi đâu và trong một thời gian - một nạy hai năm - tôi sẽ ở lại nhà mẹ tôi tại trại Xcvoresniki. Nếu có lệnh đòi, tôi sẽ đi bất cứ nơi nào người ta cần tôi.

Nicolai Xtavroghin

3

Cụ Tikhon phải mất chừng một giờ để đọc mấy tờ giấy. Cụ đọc chậm, có lẽ nhiều đoạn đọc đi đọc lại. Suốt từ lúc nêu lên vụ có một tờ bị thiếu, Nicolai vẫn ngồi im bất động, ngả mình vào một góc trường kỉ. Dường như anh chờ đợi một cái gì.

Cụ Tikhon tháo kính, đợi một hồi, rồi ngập ngừng nhìn khách. Nicolai giật mình và vội cúi ra phía trước. Anh đường đột nói:

- Tôi quên báo trước cho cụ là cụ đừng tìm cách khuyến giới tôi làm gì cho tốn công. Tôi đã nhất quyết làm cho tới nơi tới chốn. Mấy tờ đó phải xuất bản.

Anh đỏ bừng mặt và lại chìm vào im lặng.

Tôi đâu có quên. Ông đã báo trước điều đó từ khi tôi chưa bắt đầu đọc. Trong giọng cụ Tikhon lúc này có thoáng một chút giận dữ. Rõ ràng là tài liệu kia đã gây một ấn tượng mạnh đối với cụ. Con người Kito trong cụ bị khích động, và cụ phải là người lúc nào cũng tự chế được. Không phải vô cớ mà trong tu viện cụ bị coi là người không biết cách xử sự trước công chúng cho lắm. Vậy nên, mặc dù tất cả đức khiêm nhường Kito của cụ, giọng cụ bây giờ vẫn lộ rõ bực tức.

Nicolai vẫn thô lỗ nói tiếp, không màng tới sự thay đổi trong giọng cụ Tikhon:

- Dù cụ có nói gì chăng nữa, dù lí luận của cụ có mạnh mẽ tới đâu, nó cũng chẳng thay đổi được gì: tôi sẽ không bỏ kế hoạch của mình, - (Anh nhíu mép mỉm cười và kết luận): - Và cụ đừng xem đây là một lời mời mọc vụng về, hay nếu cụ muốn, một lời mời mọc tinh quái, để cụ lên tiếng khuyến giới tôi, và nài nỉ tôi đừng làm chuyện đó.

- Tôi đâu có thể nào lại khuyến giới hay nài nỉ ông bỏ kế hoạch đó. Ý tưởng của ông cao quí và phản ảnh tinh thần đích thực của Kito giáo. Lòng ăn năn không thể nào đi xa hơn sự lựa chọn can đảm tự chịu hình phạt, như ông đang tính làm, chỉ có điều...

- Chỉ có điều gì?

- Chỉ có điều nếu nó thực sự ăn năn và thực sự một tư tưởng Kito.

Nicolai lơ đãng lẩm bẩm:

- Chẻ sợi tóc làm tư.

Anh đứng dậy và bắt đầu đi bách bộ trong phòng, dường như không biết mình đang làm gì.

Cụ Tikhon nói, bây giờ cởi mở hơn:

- Làm như ông muốn tạo một ấn tượng là ông cộc cằn hơn trong chính thâm tâm.

Tạo một ấn tượng? Tôi không có tìm cách tạo một ấn tượng gì hết. Tôi không có đóng tuồng. Còn cụ nói “cộc cằn hơn” là nghĩa ra làm sao? - Anh đỏ mặt và điều đó khiến anh nổi giận. Anh gật đầu chỉ mấy tờ giấy và nói: - Tôi biết mọi thứ trong đó là sự thật bẩn thỉu, khốn nạn, đê mạt, nhưng cứ để chính cái truỵ lạc của nó củng cố...

Anh tắc lời, dường như xấu hổ không muốn nói tiếp, như thể anh coi việc tìm cách giải thích là mất phẩm giá. Nhưng đồng thời anh lại đau đớn ra mặt vì chịu khuất phục một nhu cầu vô ý thức nào đó bắt anh ở lại đấy mà giải thích. Điều đáng ghi nhận là cả hai không ai nhắc nhở gì tới chuyện Nicolai lấy đi một tờ trong bản thú tội nữa.

Bây giờ Nicolai dừng lại gần bàn lượm một thập tự giá bằng ngà nhỏ lên, và bắt đầu vặn vẹo trong mấy ngón tay. Chợt anh bẻ nó ra làm đôi. Điều này làm anh tỉnh lại, và anh bối rối nhìn cụ Tikhon. Rồi môi trên của anh bắt đầu run rẩy như bị ai mới làm nhục, và cặp mắt anh bừng vẻ thách thức cao ngạo.

Anh nói trầm giọng, dường như phải mãnh liệt cố tự kiềm chế, và liệng hai mảnh thập tự lên bàn:

- Tôi cứ nghĩ ông sẽ nói với tôi một chuyện gì - vì thế tôi mới tới.

Cụ Tikhon vội cúi mắt. Cụ hỏi một cách tha thiết, gần như nồng nhiệt:

- Tài liệu này phát xuất thẳng từ một trái tim tử thương, tôi nói có đúng không? Phải, nó là một sự sám hối, và nhu cầu sám hối tự nhiên trong người ông đã vượt thắng ông. Cái đau khổ của sinh vật ông xúc phạm đã làm ông tan nát cõi lòng, tới nỗi nó dẫn ông nghĩ tới vấn đề sống và chết; vậy là vẫn còn niềm hi vọng rằng hiện ông đang đi trên con đường thênh thang, tới nay còn vắng dấu chần người, là kêu gọi sự sỉ nhục và miệt thị của tất cả xuống chính con người ông. Và ông đã yêu cầu toàn thể Giáo hội phán xét ông, mặc dù ông không tin vào Giáo hội - tôi hiểu như thế có đúng với ông không? Nhưng ngay bây giờ, ông còn hận và ghét tất cả những ai đọc lời tự thú của ông, và ông còn khiêu chiến họ...

- Ai, tôi ấy à? Tôi mà đang khiêu chiến họ? Phải, nếu ông không xấu hổ khi thú nhận tội ác, thì việc gì ông lại xấu hổ khi sám hối?

- Ai bảo tôi xấu hổ?

- Ông xấu hổ và sợ hãi.

Nicolai nhếch mép cười nóng nảy và môi trên anh lại bắt đầu run run.

- Sợ hãi cái gì?

- Ông nói: “Cứ để họ chú mục vào tôi”, nhưng còn ông - làm sao ông nhìn lại hộ? Ông muốn họ thù hận ông, để ông có thể đáp lại họ bằng một hận thù còn lớn hơn nữa. Một vài đoạn tự thuật của ông còn được nhấn mạnh bằng cái phương thức ông trình bày: dường như ông thán phục thái độ của mình và dùng mọi chi tiết để gây cho độc giả cái ấn tượng rằng ông rất là vô cảm xúc và vô liêm sỉ, mặc dù dĩ nhiên ông có thể không như thế một chút nào. Mặt khác, chỉ các dục vọng thấp hèn và sự bạc hạnh mới làm cho người ta thành vô cảm xức và xuẩn ngốc.

Nicolai mặt càng tái dần. Anh hừ mũi:

- Xuẩn ngốc đâu phải thói xấu.

Cụ Tikhon tiếp tục với vẻ một mực say mê:

- Đôi khi có thể. Dù bị đau đớn nhức nhối vì hình bóng người con gái trong khung cửa, dường như qua bản tự thú của ông người ta vẫn thấy rằng ông còn chưa dứt khoát nổi tội ác chính của ông là gì, và cái gì đáng làm cho ông phải xấu hổ nhất - cái bất nhẫn trong hành vi bạo động của ông, hay là sự hèn nhát ông biểu lộ trong hoàn cảnh đó. Có mộtchỗ ông còn cố thuyết phục độc giả rằng sự đứa bé giơ nắm tay ra đe dọa ông không còn gây cho ông ấn tượng ngộ nghĩnh nữa, mà là kinh hoàng. Điều tôi muốn biết là: làm sao việc đứa bé vung nắm tay lại có thể có vẻ tức cười đối với ông, dù cho chỉ trong một giây lát - bởi vì nó có xảy ra, tôi biết nó có.

Cụ Tikhon ngừng lại. Cụ đã nói như một người để mặc cho cảm xúc tuôn trào. Nicolai thúc giục:

- Tiếp tục, tiếp tục. Cụ có vẻ nổi nóng; tôi khoái những thầy tu nổi nóng - thả cửa. Tôi khoái một thầy tu như vậy. Nhưng cho tôi xin hỏi một câu. Nãy giờ chúng ta đã nói chuyện mười phút, kể từ khi cụ đọc những cái kia (anh gật đầu chỉ mấy tờ giấy), và mặc dù cụ giận dữ, tôi vẫn chưa thấy một dấu hiệu khinh thị hay gờm nhớm nào nơi cụ. Cụ cũng không lấy gì làm nổi nóng cho lắm, vì cụ đang đàm đạo với tôi như thể tôi là một kẻ ngang hàng.

Anh thêm những tiếng chót, “như thể tôi là một kẻ ngang hàng” thật khẽ; chúng dường như buột ra khỏi miệng anh, mà anh hầu như không có hay. Cụ Tikhon nhìn anh chăm chú. Một hồi sau cụ nói:

- Ông làm tôi ngạc nhiên, và bởi tôi biết hiện giờ ông thành thật, tôi phải thưa với ông rằng dĩ nhiên tôi quả mắc vào những cảm xúc đó - tôi quả có phấn khích về ông và đã thô lỗ đối với ông; nhưng ông, trong sự mong mỏi tự phạt, ông cũng không nhận ra điều đó, mặc dù ông có nhận thấy tôi mất kiên nhẫn, mà ông gọi là nổi nóng. Nhưng chính trong thâm tâm, ông cũng cảm thấy ông còn xứng đáng với một sự khinh thị vô cùng lớn lao hơn; và sự nhận định của ông rằng tôi nói với ông như một kẻ ngang hàng, mặc dầu buột miệng, thực là tuyệt diệu. Tôi sẽ không giấu ông điều gì: Tôi kinh sợ khi thấy những sức mạnh lớn lao và bỏ phí của ông lại cố tình bị hướng về bùn nhơ. Dường như con người không thể phóng khí ngay trong xứ sở của mình, mà không bị trừng phạt. Có một sự hành hạ định riêng cho những người tự dứt lìa khỏi quê cha đất tổ - đó là sự chán chường và bất lực trong mọi hành động, dù họ có gắng gỏi tới đâu. Nhưng một người Kito chấp nhận trách nhiệm mặc dù hoàn cảnh ra sao.

Chúa đã không bủn xỉn với ông về trí thông minh - ông có thể trả lời câu hỏi: “Tôi có trách nhiệm về hành động của tôi hay không?” Vì vậy ông phải chịu trách nhiệm, không còn hồ nghi gì nữa. “Cám dỗ không thể không len lỏi vào thế gian, nhưng khốn cho kẻ nào mở đường cho cám dỗ”. Còn về ngay sự vi phạm của ông, ôi chao, khối người cũng phạm vào những điều tương tự như thế nhưng vẫn tiếp tục sống bình an với lương tâm, và còn coi đó là những lầm lạc không thể tránh được của tuổi trẻ. Cũng có những người già đã phảng phất tử khí của mồ ma cũng cứ còn đi phạm tội như thế, nhởn nhơ nhún vai trút trách nhiệm và tự trấn an. Thế gian đầy những nỗi kinh hoàng như thế. Ông ít ra cũng cảm thấy tận thâm sâu những vi phạm của ông, và đó là một chuyện rất hiếm có.

Nicolai cười nhếch mép mà nói:

- Xem như những tờ giấy kia đã gây nên sự quí mến tôi trong lòng cụ. Không, Đức Cha Tikhon ơi, bây giờ tôi hiểu ra tại sao người ta bảo cụ không thích hợp để làm người hướng đạo tâm linh. - Nụ cười của anh càng lúc càng thêm giả tạo và chướng ngượng. - Quanh đây họ phản đối cụ dữ lắm. Họ bảo hễ cụ thấy kẻ có tội lỗi nào thoáng lộ chút gì thành thực và khiêm nhường, là cụ hứng khởi ngay, bắt đầu xin lỗi và ăn năn, rồi cụ hạ mình trước cả kẻ đó nữa.

- Tôi sẽ không trả lời ông trực tiếp, nhưng sẵn sàng thú nhận là cung cách với thiên hạ thì tôi dở ẹt. Luôn luôn tôi cảm thấy đó là một cái tôi thua sút lắm.

Cụ Tikhon thở ra một hơi thật dài, và nghe chừng quá chất phác và tự nhiên đến nỗi Nicolai ngắm cụ mà nở một nụ cười.

Cụ liếc nhìn mấy tờ giấy và nói tiếp:

- Còn về chuyện kia, không có và không thể có tội ác nào tồi tệ hơn những gì ông đã làm cho đứa bé gái đó.

Sau một chút yên lặng Nicolai nói, giọng đượm chút bực bội:

- Chúng ta thôi đừng so sánh và đo lường mọi chuyện. Có thể tôi không thực sự đau khổ nhiều như mấy tờ kia gợi ra - có thể là phần lớn còn do tôi tạo ra để buộc tội mình, - anh kết luận một cách bất ngờ.

Cụ Tikhon không nói gì. Nicolai cúi đầu trầm tư đi bách bộ trong phòng. Chợt cụ Tikhon lên tiếng hỏi:

- Ông nói cho tôi biết, thiếu nữ mà ông dứt tình ở Thụy Sĩ - hiện nay cô ta ở đâu?

- Nàng ở ngay trong tỉnh đây.

Lại một hồi im lặng tiếp theo. Nicolai nhắc lại, nhấn mạnh:

- Tôi có thể đã tự vu cáo nhiều. Chính tôi cũng không rõ đến mức nào nữa. Nhưng dù cho tôi có thách thức thiên hạ với sự trình bày sỗ sàng của tôi, như cụ đã vạch ra, thì cũng có sao đâu? Thế là phải lắm. Đáng đời họ.

- Nói cách khác, thù hận họ đối với ông dễ hơn là chấp nhận lòng thương của họ?

- Phải, cụ nói đúng. Tôi không bộc bạch như thế, nhưng bởi vì tôi đã khởi đầu - tôi muốn nói là với cụ - thôi thì, tôi xin thưa cụ là tôi khinh họ chẳng kém tôi khinh tôi chút nào, hay nói cho đúng, còn nhiều hơn, nhiều hơn vô kể. Không có một ai trong bọn họ xứng đáng ngồi mà phán xét tôi. Tôi viết cái mớ tào lao kia chỉ vì tôi thích - thuần là do khinh thế ngạo vật đó thôi. Có thể tôi phóng đại hay còn bịa ra từ đầu đến cuối trong một lúc xúc cảm mãnh liệt. - Anh giận dữ ngắt lời, và một lần nữa mặt lại đỏ bừng bừng bởi đã nói điều gì ngược với ý muốn. Anh giơ tay ra, nhặt mảnh thập tự gẫy ở trên bàn lên, và quay lưng lại cụ Tikhon.

Giọng cụ Tikhon phấn khởi:

- Hãy trả lời một câu hỏi. Ông hãy nói với tôi như nói với chính mình trong đêm tối. Nếu có kẻ nào tha thứ cho ông về chuyện ấy - cụ trở mấy tờ giấy - không phải một trong những người mà ông sợ hãi hay kính nể mà là một kẻ lạ mặt vô danh nào đó chưa bao giờ ông hề thấy mặt; nếu sau khi đọc bản thú tội ghê gớm của ông, người đó lặng lẽ tha thứ cho ông, không hề thốt với ai một lời - hãy nói cho tôi nghe, biết như thế có làm ông cảm thấy dễ chịu hơn, hay chẳng có gì thay đổi? Và nếu trả lời lớn tiếng sẽ quá chạm tự ái của ông thì xin đừng nói - chỉ nghĩ thầm câu trả lời.

Nicoiai nói rất khẽ:

- Tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, nếu cụ tha thứ cho tôi - dễ chịu hơn nhiều lắm, - anh nói thêm trong hơi thở, vẫn quay lưng lại phía cụ Tikhon.

- Tôi sẽ tha thứ cho ông, nếu ông cũng tha thứ cho tôi nữa.

Nicolai quay lại đối diện với cụ.

- Tha thứ cho cụ về chuyện gì? Cụ đâu có làm điều gì xấu với tôi? A, tôi thấy rồi, đó chỉ là phương thức nhà tu của cụ. Sự khiêm nhường xấu xa. Xin thưa với cụ là tôi thấy những phương thức tu viện cổ lỗ đó rất là thô thiển. Cụ thực sự thấy là chúng hay ho lắm sao? - Anh hừ mũi bực tức. - Nhưng ta đến đây làm cái gì? A, - chợt anh cất tiếng khi nhìn cây thập tự mình đã bẻ gẫy. - Tại tôi - vật này giá bao nhiêu? Hai mươi lăm rúp có được chăng?

Cụ Tikhon nói:

- Đừng bận tâm về chuyện đó.

- Năm mươi rúp nhé? Tại sao tôi lại không phải bồi thường? Không có lí do gì cụ lại tha thứ cho tôi về sự tổn thất tôi đã gây ra. Đây là năm mươi rúp. - Nicolai móc tiền ra và đặt lên bàn. Anh nói tiếp càng bực bội hơn: - Thôi được, nếu cụ không muốn nhận cho mình, thì cụ giữ cho những kẻ khó, cho nhà thờ của cụ - nghe đây, tôi sẽ nói với cụ sự thật: Tôi muốn cụ tha thứ cho tôi, rồi sau là một người khác, và rồi có lẽ một người thứ ba nữa, nhưng với những kẻ còn lại - mặc xác cho họ ghét tôi!

Mắt anh long lên.

- Phải chăng ông không thể khiêm nhường mà mang chịu tình thương đại đồng?

- Không, tôi không thể. Tôi không muốn tình thương đại đồng và, hơn nữa, chẳng có cái gì gọi là tình thương đại đồng cả; cho nên đó chỉ là một câu hỏi tầm phào. Nghe đây, tôi không muốn đợi chờ; tôi muốn công bố chuyện đó. Và cụ đừng có tìm cách lừa tôi vào tròng. Tôi không thể chờ đợi chút nào nữa - tôi không thể nào! - Anh nói thêm như mất tự chủ. Cụ Tikhon có phần kinh hoàng thực sự. Cụ nói:

- Tôi lấy làm sợ cho ông.

- Cụ sợ tôi không chịu nổi? Không chịu nổi sự thù ghét của thiên hạ ư?

- Không phải chỉ riêng sự thù ghét của họ.

- Vậy còn cái gì nữa?

- À - còn cái cười nhạo của họ, - cụ Tikhon thì thào như tuồng phải cố gắng lắm mới ép mình nói ra được những tiếng đó.

Cụ đã không tự kiềm nổi mình, và đã thốt ra một điều mà chính cụ biết rằng tốt hơn nên giữ im.

Nicolai bối rối. Anh lo âu nhìn cụ Tikhon, và nói:

- Tôi biết mà! Vậy sau khi đọc bản tự thú của tôi, cụ thấy con người tôi khôi hài lắm. Xin cụ đừng có vẻ lúng túng như thế - tôi đoán trước như thế rồi.

Cụ Tikhon thực sự lúng túng và hấp tấp cố tìm cách giải thích chủ ý của cụ, dĩ nhiên như thế chỉ làm cho cơ sự thêm hỏng.

- Những công cuộc như thế đòi hỏi cái an nhiên - ngay để đau khổ người ta cũng vẫn cần sự siêu thoát tâm linh tối cao; ngày nay thiên hạ cứ đua nhau tranh luận mà không hiểu được nhau, hệt như những gì họ đã làm thời tháp Babel sụp đổ.

Nicolai nói, ngắt lời ông cụ:

- Tôi đã nghe tất cả những thứ đó từ trước rồi, và tôi thấy chán ngắt. Chuyện đó cứ được nói đi nói lại mãi, có cả hàng ngàn lần.

Cụ Tikhon nói toạc móng heo:

- Nhưng dù vậy ông cũng không đạt được mục đích. Trên mặt pháp lí, dĩ nhiên là ông không thể bị công kích được rồi. Người ta sẽ cười xòa và nói thẳng với ông điều đó trước tiên. Rồi người ta sẽ băn khoăn không biết ông định nhằm cái gì - bởi vì có ai hiểu được chủ đích thực sự của lời tự thú của ông? Hẩn là thiên hạ sẽ ngoan cố từ chối không chịu hiểu, bởi họ sẽ giật mình khi thấy một sự sám hối lạ thường như vậy, và sẽ trả thù bất cứ kẻ nào muốn thú nhận một sự sám hối kiểu đó, vì cớ thế gian khoái chìm đắm trong bùn nhơ của chính nó, và sẽ cười vào mặt kẻ nào muốn cố tẩy rửa cho sạch, bởi sự chế nhạo là đường lối dễ dàng nhất để bóp chết...

Nicolai thúc giục cụ:

- Xin nói rõ hơn; nói tất cả những gì cụ có trong đầu.

- Mới đầu, dĩ nhiên họ sẽ biểu lộ vẻ kinh hoàng, nhưng giả tạo nhiều hơn là thực bụng, chỉ cốt trưng bày. Tôi không nói đến những tấm lòng thanh khiết, vì họ sẽ kinh hoàng thực sự, nhưng chỉ lẳng lặng, và rồi cũng trong im lặng họ tự lên án. Tuy vậy, không ai hay biết gì về họ đâu, vì sự im lặng kia. Còn những kẻ khác, những người phù phiếm, chỉ lo sợ những cái đe dọa quyền lợi riêng tư của họ - chính đó là những kẻ, sau lúc thoạt tiên ngạc nhiên và phô bày cái kinh hoàng đóng kịch, sẽ hè nhau phá ra cười. Họ cũng tò mò về người điên - bởi vì họ sẽ tin chắc rằng ông điên. Có lẽ không hoàn toàn điên đến nỗi vô trách nhiệm, nhưng đủ điên để cho phép họ cười nhạo. Ông có nghĩ rằng ông sẽ chịu đựng nổi điều đó không? Hay cõi lòng ông sẽ tràn đầy thù hận, và rồi thế nào nó cũng đưa ông tới đọa đày? Đó là điều tôi e ngại quá.

Nicolai nói, hơi giận dữ:

- Cụ thử nhìn lại mình xem! Tôi phải nói là tôi chưng hửng khi thấy cụ coi thường con người - cụ nói về họ một cách ghê tởm ra mặt.

Cụ Tikhon kêu lên:

- Ông biết không, thực ra tôi gần như phán đoán chính mình khi nói về kẻ khác!

- A, thực vậy sao? Vậy có thể có một điều gì trong cái bất hạnh của tôi làm cụ vui thích?

- Biết đâu? Có thể.

- Được rồi, trong trường hợp đó, xin cụ chỉ cho tôi rõ ngay chỗ tôi có vẻ lố bịch trong bản thú tội. Tôi cũng tự biết chỗ nào khôi hài, nhưng tôi muốn cụ vạch ra giùm tôi. Và xin cụ làm ơn khinh bạc cho, vì cụ một tay đại khinh bạc. Bọn thánh thiện các ông đều là những tay đại khinh bạc, cả một lũ! Chính các ông không biết rõ các ông khinh người tới đâu! Cụ hãy hết sức thành thật trả lời cho tôi, và tôi xin nói với cụ rằng: chính cụ cũng là một người hết sức quái đản!

- Trước hết, trong con mắt người đời, ý định thực hiện sự sám hối vĩ đại của ông tự nó đã lố bịch. Nó có một cái vẻ gì khôi hài, gượng gạo - ấy là chưa kể cái hình thức mơ hồ lỏng lẻo của nó, như thể ông vì sợ hãi và yếu đuối mà lắp bắp tuôn ra. Ồ, đừng nghi ngờ ông có thể không thành công! (cụ chợt kêu to, như mê đắm). Dù với hình thức đó, ông cũng sẽ thành công, (cụ chỉ mấy tờ giấy), miễn là ông thành thật đón nhận sự phỉ nhổ và chà đạp của họ - nếu ông có thể chịu đựng nổi! Cây thập tự nhục nhã nhất bao giờ cũng nảy sinh vinh quang và sức mạnh lớn nhất, nếu đức khiêm nhường khi thụ hình là chân thành. Nhưng ông có đức khiêm nhường đó chăng? Cái cần cho ông không phải là một sự thách thức, mà là sự khiêm nhường và nhục nhã vô biên! Ông không được khinh những kẻ phán xét ông, mà phải thành thật tin ở họ, như vào một giáo hội vĩ đại; rồi ông sẽ vượt thắng họ và nêu gương để họ hướng về ông, và ông sẽ được kết hợp trong tình bác ái - a, phải chi ông chịu đựng được điều đó!

- Bây giờ xin cụ chỉ cho tôi, theo ý cụ, chỗ nào trong mấy tờ giấy kia lố bịch nhất?

Cụ Tikhon đau đớn, lắc đầu mà rằng:

-Sao? Sao ông cứ bận tâm về chuyện lố bịch của nó làm gì? Sao ông lại bị ám ảnh một cách bệnh hoạn như thế?

- Dù sao đi nữa, tôi vẫn muốn cụ vạch nó ra.

Cụ Tikhon thì thào, mắt nhìn xuống:

- Cái xấu xa sẽ làm nó hư mất.

- Xấu xa? Xấu xa nào?

- Cái xấu xa trong tội ác của ông. Mọi tội ác đều xấu xa từ trong căn cốt; nhưng chúng càng vấy máu thì càng gớm ghiếc - có thể nói là càng vô lại; nhưng có những tội ác hoàn toàn đê tiện và nhục nhã mà cái ghê rợn của chúng cũng không làm nhẹ đi được...

- Có phải cụ muốn nói cụ cảm thấy tôi phải có vẻ khôi hài đặc biệt khi hôn tay con bé và - và quá hoảng hốt như thế sau đó, phải, và luôn tất cả nội vụ? Tôi hiểu. Tôi hiểu rất rõ những gì cụ muốn nói. Vậy ra cụ sợ cho tôi vì chuyện đó xấu xa, đê tiện, không, không phải đê tiện mà là xấu hổ, lố bịch. Và cụ cho rằng chính vì vậy mà tôi chịu đựng không nổi?

Cụ Tikhon lặng im. Mặt Nicolai tái xanh và nhăn nhúm lại. Anh nói rất khẽ, như với chính mình:

- Bây giờ tôi cũng có thể đoán ra lí do cụ hỏi tôi về người thiếu nữ ở Thụy Sĩ kia.

Cụ Tikhon nói:

- Ông chưa sẵn sàng để chịu thử thách đâu, chưa đủ tôi luyện.

Nicolai nói, mắt ánh niềm hăng say man dại:

- Tôi muốn cụ hiểu cho rằng mối quan tâm chính của tôi là sự tự tôi tha thứ cho tôi. Đây là bản tự thú của tôi; đây là sự thật trọn vẹn - còn ngoài ra chỉ là láo khoét. Tôi biết rằng chỉ có như vậy ảo ảnh kia mới biến đi. Bởi thế tôi chờ mong sự đau khổ vô biên cho chính tôi. Vậy cụ đừng làm tôi hoảng sợ, kẻo tôi sẽ rồi đời mà còn tức giận tràn hông, - anh nói tiếp, và một lần nữa dường như những lời cuối cùng đó lại tuột khỏi lưỡi anh một mình, ngược hẳn ý anh. Cụ Tikhon quá ngạc nhiên nên đứng bật hẳn dậy. Cụ hân hoan kêu lên:

- Ông nếu quả tin điều đó, thì có thể tha thứ cho chính mình; và nếu ông sẵn lòng theo đuổi sự tha thứ đó bằng khổ đau ở thế gian này, thì ông đã có đức tin hoàn toàn rồi! Như thế sao ông dám bảo là ông không tin vào Chúa?

Nicolai không trả lời.

- Chúa sẽ tha thứ cho ông về cái không tin; bởi vì ông thực thờ lạy Chúa Thánh thần mà không biết đó thôi.

- Nicolai u ám nói: Không có sự tha thứ nào dành cho tôi cả. Trong cuốn sách kia của ông có nói rằng không có tội ác nào lớn hơn việc xúc phạm “một trong những con trẻ”, và không thể nào có!

Anh chỉ cuốn Phúc Âm. Cụ Tikhon xúc động dịu dàng và nói:

- Về chuyện đó, Đấng Cứu thế cũng sẽ tha thứ cho ông nữa, nếu ông thành công trong việc tự tha thứ - không phải, hãy khoan, ông chớ nghe tôi; tôi phỉ báng mất rồi: dù cho ông không đạt tới sự hoà giải với bản thân và thất bại trong việc tha thứ cho chính mình, Ngài cũng vẫn tha thứ cho ông vì ý định và sự đau khổ lớn lao của ông, bởi không có lời lẽ hay tư tưởng nào của loài người có thể bày tỏ hết mọi chủ đích của Chiên Con121 “Cho đến khi đường lối Ngài được mặc khải cho chúng ta”. Ai có thể gói trọn được Ngài, Đấng không bị trói buộc, và cầm giữ được Ngài, Đấng không thể cầm giữ?

Khóe môi cụ bắt đầu giật, và một cơn co rút nhẹ chạy dài khắp mặt cụ. Trong một lúc, cụ cố tự kiềm nhưng vô hiệu, và cụ cúi mắt nhìn xuống. Nicolai cầm lấy mũ trên trường kỉ. Anh nói bằng một giọng kiệt sức:

- Tôi sẽ trở lại một bữa khác, và rồi chúng ta... Tôi rất thích nói chuyện với cụ và tôi thật cảm kích... hậu tình của cụ. Xin cụ cứ tin là, tôi đã thâm hiểu vì sao một số người quí mến cụ đến thế. Xin cụ cầu nguyện giùm tôi với Đấng mà cụ hết lòng kính yêu đó.

Cụ Tikhon vội vã đứng lên, có vẻ sửng sốt vì khách lại ra đi:

- Ông về bây giờ à? Tôi lại định muốn... - cụ lắp bắp với vẻ bối rối ra mặt, - Tôi muốn xin ông một đặc ân nhưng thực tôi không biết diễn tả ra sao bây giờ...

Nicolai ngồi xuống, tay vẫn cầm chiếc mũ, và nói:

- Xin cụ cứ nói. Tôi rất lấy làm sung sướng...

Cụ Tikhon nhìn cái mũ, nhìn cái dáng điệu thế tục và dửng dưng của con người, mà trước đây năm phút còn bứt rứt và dao động đến thế, giờ đây đang ngồi bảnh chọe và ban cho cụ năm phút gia hạn để giãi bày công chuyện. Cụ càng lúng túng hơn.

- Tất cả lời yêu cầu của tôi chỉ có là - vì lẽ ông đã thú tội rồi - ông Nicolai ơi (tôi chắc đó là tên thánh của ông phải không?), ông hẳn cũng ý thức được rằng nếu ông cho xuất bản những tờ giấy này, ông sẽ phá tan mọi triển vọng về sau, cả sự nghiệp và hết thảy các thứ khác.

Nicolai nhằn mặt lộ vẻ chán ngắt:

- Sự nghiệp gì?

- Sao ông lại phải làm nó thui chột đi? Sao ông khó tính thế?

Cụ Tikhon nói, gần như năn nỉ, cụ biết rõ cái vụng về của mình. Một vẻ đau đớn hiện trên gương mặt Nicolai.

- Tôi đã nói với cụ từ trước và nay lặp lại một lần nữa: không điều nào cụ nói có thể thay đổi được gì cả. Hơn nữa, tất cả cuộc đàm thoại này, nói chung, tôi hết chịu nổi nữa rồi.

Anh nóng nảy ngọ nguậy trong ghế.

- Ông không hiểu tôi. Hãy nghe tôi nói cho xong đã, và đừng nổi cọc. Ông biết điều tôi nghĩ chứ: sự tuẫn đạo của ông, nếu quả cho đức khiêm nhường hứng khởi, sẽ là một hành vi Kito vĩ đại, miễn là ông có thể chịu đựng được nó, và đi cho suốt với nó. Hơn nữa, dù ông thất bại không đi cho suốt với nó được, Chúa vẫn sẽ xét đến sự hy sinh khởi đầu cho ông. Mọi việc đều sẽ được cứu xét - không một lời, không một tình, không ý nào, dù cho mơ hồ, mà bị mất mát đi. Nhưng tôi còn muốn đề nghị với ông một ý kiến khác, còn lớn lao hơn nữa - một chuyện lớn lao không thể tưởng được.

Nicolai vẫn lặng câm.

- Ông đang mong muốn tuẫn đạo và hi sinh: a, phải thắng cả cái dục vọng đó nữa - dẹp những tờ giấy kia và luôn dự định công bố chúng, rồi lúc đó tôi chắc chắn là ông sẽ vượt thắng mọi cái. Ông sẽ khuất phục lòng kiêu hãnh và đuổi phăng con quỉ của ông. Cuối cùng ông sẽ là kẻ chiến thắng và lấy lại tự do.

Mắt cụ sáng lên; tay cụ chắp lại như cầu nguyện.

- Cụ xem tất cả chuyện đó dưới cặp mắt quá bi đát và gán cho nó một tầm mức quan trọng quá đáng. Tuy nhiên, cụ cứ vững tin cho, rằng tôi hết sức cảm kích về sự quan hoài của cụ, - Nicolai ăn nói lễ độ, nhưng thoáng vẻ chán chường. - Tôi thấy rằng cụ cứ nhất quyết cho tôi vào rọ - dĩ nhiên là hoàn toàn với thiện ý, thuần là do lòng tử tế và quan hoài của cụ đối với đồng loại. Cụ muốn tôi tỉnh trí ra mà biết điều phải chăng, không còn lộn lạo, công bố gì hết - ổn định cuộc sống, và có lẽ an hưởng tuổi già như một hội viên câu lạc bộ hàng tỉnh và ngày lễ đến thăm tu viện. Phải thế không? Mặt khác, là một nhà tâm lí và khinh bạc, cụ biết mọi chuyện đó rồi ra thế nào cũng phải xảy đến, và chỉ còn cần là bây giờ thuyết phục tôi cho khẩn khoản đến độ để giữ thể diện cho tôi, bởi vì đó là điều chính tôi tự muốn. Tôi cá là cụ còn nghĩ đến mẹ tôi nữa, cho linh hồn bà cụ được bình an...

- Tôi muốn đề nghị một cách ăn năn khác hẳn cách đó! - Cụ Tikhon hăng hái nói tiếp, hoàn toàn không để ý đến đời lẽ của Nicolai. - Tôi biết một ông già - không phải ở đây, nhưng cũng không cách xa cho lắm. Ông ta là một ẩn sĩ, một nhà khổ tu, và sự ngộ đạo của ông ta lớn lao đến nỗi ông và tôi, chúng ta không thể nào vươn tới được. Ông ta sẽ nghe lời cầu xin của tôi; và tôi sẽ kể cho ông ta nghe hết câu chuyện về ông. Ông cho phép tôi làm như thế chứ? Ông hãy đến ở bên ông ta như một môn đệ. Đi đi, trong năm, trong bảy năm - bao lâu tùy theo ông tự cảm thấy là cần thiết. Ông hãy khấn nguyện hãm mình, và bằng sự hi sinh lớn lao đó, ông sẽ nhìn thấy tất cả những gì ông mong mỏi trên trần, ngay cả những cái ông không mong mỏi nữa; bởi bây giờ ông không thể tưởng ra tất cả những gì ông sẽ đạt được!

Nicolai nghiêm cẩn nghe cụ nói. Đôi má tái nhợt của anh hồng lên sắc máu.

- Cụ đề nghị là tôi khấn nguyện vào tu ở đó?

- Ông không cần phải vào tu viện; ông không cần phải gia nhập một nhà dòng. Chỉ cần làm một môn sinh, một môn sinh bí mật; ông cũng vẫn có thể tiếp tục sống với thế gian.

Nicolai chán nản ngắt lời và đứng dậy:

- A, bỏ chuyện đó đi, Cha Tikhon.

Cụ Tikhon cũng đứng lên.

- Cụ làm sao thế? - anh chợt kêu lên, kinh hoàng chòng chọc nhìn cụ. Cụ Tikhon đứng trước mặt anh, hai cánh tay giơ ra phía trước; một sự co rút đau đớn, chừng như do một cơn khiếp đảm lớn lao, làm mặt cụ nhăn nhúm trong giây lát.

- Cụ làm sao thế, cụ làm sao thế? - anh lặp đi lặp lại rồi vội vã đến đỡ cụ, vì anh ngỡ vị thầy tu kia sắp sửa quị đến nơi.

- Tôi có thể thấy, tôi có thể thấy rõ như có thật, - cụ Tikhon cất lên bằng một giọng buốt tim, nét mặt cụ phản ảnh một nỗi khổ đau mãnh liệt, - chưa bao giờ ông cận kề với một tội ác mới và còn gớm guốc hơn như là chính lúc này. Ôi, khốn khổ thay cho một thanh niên như ông!

Nicolai nói, bây giờ thực tâm lo lắng cho cụ và cốtrấn an cụ:

- Bình tĩnh lại, cụ ơi. Có lẽ tôi sẽ còn hoãn chuyện đó để về sau xét lại xem đã. Cụ nói đúng.

- Không, không phải sau khi công bố, mà trước đó, có thể một ngày, có thể một giờ, trước khi ông bước cái bước lớn lao đó, ông sẽ lao mình vào một tội ác mới như một lối thoát, và ông sẽ phạm vào chỉ cốt để tránh công bố những tờ giấy mà hiện ông đang nằng nặc đòi cho ra kia.

Nicolai run lên vì giận dữ và gần như sợ hãi nữa. Anh hét to:

- Nhà tâm lí trời đánh!

Rồi đột ngột cắt ngay câu nói, anh bực tức quầy quả bước ra khỏi phòng không hề ngoái đầu lại.

[←115]

Chương này, trong bản dịch của ông Nguyễn Ngọc Minh là chương IX phần thứ Hai, với lời dẫn sau:

Trong nguyên tác Lũ người quỉ ám của Doxtoevxki, chương Tìm đến cụ Tikhon thường gọi là chương Lời thú ti của Xtavroghin, được xếp đặt gia hai chương Ivan - Hoàng tử và Cuộc lục soát tại nhà ông Xtepan Verkhovenxki. Tuy nhiên, hồi đó Nhà xuất bản đã không chịu in ra vì nghĩ rằng chương này có thể gây phn nộ và gây tiếng xấu cho tác giả. Doxtoevxki cũng đồng ý nên suốt trong thời gian sinh tiền, chương này chưa hề được ra mắt trong tác phẩm. Ngày nay chương này thường được in ở cuối tác phẩm như một phụ lục có tính cách giải thích, ngõ hầu làm sáng tỏ thêm cá tính của Xtavroghin, một nhân vật chính trong truyện. Tuy nhiên trong bản dịch này, chúng tôi đã cho đặt chương này vào vị trí đúng của nó vì nghĩ rằng làm như vậy độc giả sẽ có th theo dõi diễn biến của truyện, đúng như quan niệm sơ khởi của tác giả. (Chú thích của Andrew Mac Andrew, dịch giả bản Anh ngữ.)

Tìm hiểu qua các nguồn tài liệu tiếng Nga, người hiệu đính thấy chương này thường được xếp vào phần Phụ lục của tác phẩm vì đây là một chương chưa hoàn chỉnh, theo ý kiến của NXB tác giả đã loại bỏ hẳn ra khỏi cuốn sách và đưa ra một số điều chỉnh ở phần sau (phần ba) để nối mạch cốt truyện. Hơn nữa, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, nhân vật Xtavroghin của cuốn tiểu thuyết khác với Xtavroghin của chương này và không phải là một hình tượng thống nhất. Vì vậy, chúng tôi đưa chương Tìm đến cụ Tikhon vào phần Phụ lục như các bản tiếng Nga thường làm (NHĐ).

[←116]

Levi: thuộc Chính thống giáo Nga.

[←117]

Từ đoạn này trở đi, bản dịch của Nguyễn Ngọc Minh có nhiều, chỗ khác với bản tiếng Nga NHĐ sử dụng. Chúng tôi giữ nguyên theo bản dịch của ông Nguyễn Ngọc Minh mà không hiệu đính lại vì làm như vậy khá phức tạp và xét thấy cũng không cần thiết. (NHĐ).

[←118]

Phần đầu chương này nói là có ba tờ giấy, nay lại thấy có năm tờ. Nguyên nhân có vẻ là vì có hai bản lời thú tội nầy. Xin xem lời ghi chú ở trang 865 (chú thích của Andrew Mac Andrew)

[←119]

Về phần đầu của cầu này, xin đọc đoạn cuối của Ghi chú dưới đây. Trong một bản trước, nói rõ hơn, không có đề cập tờ bị thiếu, thay vào đó là đoạn dưới đây. Đoạn này dường như cần thiết để đánh tan mọi nghi ngờ về những gì đã xảy ra, và phải đặt sau câu kết thúc bằng mấy chữ “mặt nó biểu lộ vẻ hoan lạc tuyệt đối”:

“Khi đã xong, nó có vẻ bối rối và tôi chẳng làm gì giúp nó dễ chịu hơn. Tôi không còn cảm thấy chút nào thương mến đối với nó nữa. Nó mỉm cười ngượng nghịu nhưng tôi chỉ thấy nó ngu muội. Nó càng thêm ngỡ ngàng; sau hết nó đưa hai tay lên che mặt và đứng yên trong góc buồng, quay mặt vào tường. Tôi sợ nó lại hoảng kinh nữa, vì vậy tôi không nói gì và ra về.

“Nay tôi tin rằng những gì đã xảy ra, khi nghĩ lại, đã đập mạnh vào tâm hồn nó như là một sự khả làm nó phấn khích. Mặc du nó chắc đã phải nghe những tiếng nhảm nhí và đủ mọi thứ chuyện từ thuở nh, tôi tin chắc rằng nó hoàn toàn ngây thơ trước những chuyên đó. Chắc là khi chuyện đã rồi nó cảm nghĩ là mình đã phạm một tội trọng không thể nói được, đã phạm tội đáng chết, thực ra nó đã giết Chúa”.

Khi cụ Tikhon tiếp tục đọc “từ giữa câu,” phần đầu còn thiếu của câu đó là: “Đêm đó, tại một quán rượu, tôi dính líu vào vụ lộn xộn mà - như tôi đã nói ở trên - tôi đang cầu mong. Lebiadkin phải đưa tôi về nhà. Sáng hôm sau, khi thức dậy ý nghĩ đầu tiên của tôi là: nó có kể lại hay không? Tôi trải qua...” (Chú thích của Andrew Mac Andrew).

[←120]

Claude Lorrain (1600-1682); họa sĩ phong cảnh người Pháp.

[←121]

Chỉ chúa Jesus

« Lùi
Tiến »