Tám ngày trôi qua. Giờ đây, lúc này ngồi viết lại, mọi chuyện đã xong xuôi và khá sáng tỏ. Nhưng, vào hồi đó, chúng tôi không biết gì cả, và nếu có quá nhiều sự là dị thường cũng không có gì ngạc nhiên. Lúc đầu tôi và ông Verkhovenxki giữ kín câu chuyện đứng xa quan sát với một sự âu lo. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tôi vẫn đi chỗ nọ chỗ kia và chia sẻ cho ông những gì nghe được. Tôi tin rằng nhờ đó mà ông cũng còn muốn sống.
Không cần phải nói, đủ loại tin đồn quái đản đã tung ra khắp thành phố, nào cái tát vào mặt Xtavroghin, nào chuyện Liza ngất đi, và về các chuyện khác xảy ra trong ngày chủ nhật đáng kể đó. Tuy nhiên, cũng lạ là tại sao ai cũng biết chuyện nhanh như vậy. Kẻ nào đã tiết lộ? Không người nào hiện diện ngày hôm đó có lợi lộc gì trong việc tiết lộ những gì đã xảy ra. Lúc đó cũng không có mặt những người làm. Chỉ còn Lebiadkin là có thể đã mau miệng, nhưng nếu đúng thì cũng vì không giữ mồm giữ miệng chứ không phải vì ác ý, bởi lẽ hôm đó hắn đã bỏ đi vì quá sợ hãi (và nỗi sợ đánh át sự thù hận đi). Nhưng Lebiadkin và em gái ngày hôm sau đã bỏ nhà Filippov dọn đi mất. Chắc chắn hắn đã phải dọn đi một cách vội vã, bởi vì không ai biết họ đi dâu, như thể họ biến mất rồi cũng nên. Tôi định hỏi Satov xem Maria Lebiadkina ở đâu, nhưng anh ta cũng khóa cửa ở lì trong phòng suốt tám ngày, bỏ cả những công việc lặt vặt trong thành phố, không hề ra ngoài. Anh ta không cho tôi vào, hôm thứ ba tôi tới gõ cửa nhưng anh ta không trả lời. Qua nhiều dấu hiệu, tôi tin chắc anh ta có nhà, vì vậy tôi gõ cửa lần nữa. Rồi tôi nghe có tiếng như anh ta nhảy từ trên giường xuống. Anh ta đi ra cửa và kêu lớn: “Satov không có nhà.” Tới nước đó tôi bỏ đi.
Ông Verkhovenxki và tôi, nhờ người nọ gợi ý khuyến khích người kia, cuối cùng đi tới kết luận là kẻ tung tin chỉ có thể là con ông, dù hơi miễn cưỡng phải chấp nhận một giả thuyết như vậy. Trong một cuộc nói chuyện với cha không bao lâu sau, Piot’r xưng xưng quả quyết rằng anh nghe người ta bàn tán câu chuyện khắp thành phố, nhất là ở hội quán, và mọi chi tiết của câu chuyện đã tới tai vị tổng đốc và bà vợ. Ngay chiều hôm sau, tức thứ hai, tôi gặp Liputin và phát giác rằng hắn đã biết tất cả với đủ mọi tình tiết. Điều đó thật đáng chú ý, có lẽ hắn là người đầu tiên được nghe kể.
Nhiều bà, trong số đó có cả những bà tai mắt, tỏ ra rất hiếu kì về “cô gái quê bí ẩn”, lời họ khi đề cập tới Maria Lebiadkina. Nhiều bà còn ao ước muốn gặp Maria, điều đó cho thấy kẻ nào ở đằng sau vụ anh em Lebiadkin mất tích quả thật thức thời. Nhưng chuyện Liza bất tỉnh mới là đề tài được bàn tán nhiều nhất, cả cái xã hội thượng lưu chú ý đặc biệt đến chuyện đó, dù chỉ vì nó phần nào liên quan tới Julia Mikhailovna, vị tổng đốc phu nhân, người có họ hàng với Liza và cũng là người đỡ đầu cho Liza. Chuyện gì mà họ chẳng nói! Sự bí ẩn chung quanh toàn thể câu chuyện và iệc cả hai gia đình Drozdov và Xtavroghin đều đóng cửa không tiếp khách càng làm tăng sự tọc mạch. Có tin đồn đại Liza bị sốt nóng nằm liệt giường. Nicolai Xtavroghin cũng bị gán cho một điều tương tự, với vài chi tiết thêm thắt khó chịu, như răng bị gẫy, má sưng lên v.v... Lại còn có những lời thầm thì trong góc tối rằng sắp sửa có một vụ giết người; rằng Nicolai Xtavroghin không phải là một người chịu đựng được một sự sỉ nhục như vậy; rằng anh ta sẽ phải giết Satov nhưng hiện còn đang âm mưu để thực hiện một cách bí mật, giống như một vụ trả thù của dân đảo Corx. Ý kiến này được mọi người rất ưa chuộng, mặc dù đa số giới trẻ trong giai cấp thượng lưu chứng tôi đã lắng nghe với một thái độ rõ ràng khinh thị và lãnh đạm - dĩ nhiên đó chỉ là thái độ giả dối.
Nói chung, sự hiềm thù ngày xưa đối với Nicolai Xtavroghin lại biểu lộ trở lại một cách rõ rệt. Ngay cả những người đứng đắn trầm tĩnh nhất cũng sẵn sàng đổ tội lên đầu anh ta, mặc dù chính họ không biết tội đó như thế nào. Người ta thì thầm rằng Xtavroghin và Liza đã vụng trộm với nhau ở Thụy Sĩ và anh ta đã phá hoại thanh danh của nàng. Dĩ nhiên, những người thận trọng giữ thái độ dè dặt, tuy vẫn sẵn sàng lắng nghe cả câu chuyện. Người ta còn đề cập tới những chuyện khác nữa, nhưng không bao giờ bàn tán công khai, một vài chuyện rất kì lạ, tuy họ chỉ thảng hoặc nói riêng với nhau hầu như trong vòng bí mật. Tôi chỉ nói ra đây để báo trước cho quí độc giả, bởi vì sau này tôi sẽ trở lại, khi câu chuyện tôi kể khai triển. Vài người vừa làm mặt trang trọng vừa nói Nicolai Xtavroghin đã về đây với một mục đích đặc biệt; rằng, qua trung gian của Bá tước K, anh ta đã liên lạc với những giới cao cấp ở Petersburg, do đó chắc chắn có liên hệ với chính quyền và có thể giữ một công tác bí mật rất quan trọng. Nhưng khi một vài công dân đáng kính và dè dặt cười mỉm vạch ra rằng chính quyền dễ gì giao công tác chính thức cho một người nhiều tai tiếng như Xtavroghin, thì người ta nhỏ to rỉ tai thầm thì thêm rằng, mối liên hệ của anh ta với chính quyền có tính cách tối mật, và rằng trong những trường hợp như vậy, nhân viên càng không thấy có vẻ gì là công chức thì càng tốt. Cái kiểu lí luận này có một hậu quả khá quan trọng, bởi vì chúng ta biết rằng ở thủ đô người ta đặc biệt lưu ý đến những gì xảy ra ở thành phố chúng tôi. Tôi cũng cần nhấn mạnh rằng những lời đồn đại này được tung ra để rồi tan biến ngay vào buổi Xtavroghin xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng. Nhưng tôi mong lưu ý ở đây rằng trong sốnhững lời đồn đó, có nhiều điều đã được khơi mào bởi những nhận xét mơ hồ, rời rạc, do Artemi Gaganov, một đại úy vệ binh hồi hưu và cũng là một địa chủ quan trọng ở đây, đưa ra ở hội quán. Ông ta mới ở Petersburg trở về, nơi ông ta đã bước vào xã hội thượng lưu. Tình cờ ông ta lại là con trai của Pavel Gaganov, hội viên quá cố của hội quán, người hơn bốn năm về trước đã đụng độ với Xtavroghin và phải chịu nhục nhã vì bàn tay của anh ta, như tôi đã kể trước đây.
Chẳng bao lâu ai cũng biết chuyện phu nhân vị tổng đốc đã đi xe tới nhà bà Xtavroghina trong một cuộc viếng thăm đặc biệt, nhưng bà không được tiếp, bởi vì “bà chủ không được khỏe”. Người ta cũng biết rằng vài ngày sau cuộc viếng thăm bất thành, bà Lembke đã sai người đến hỏi thăm sức khỏe của bà Xtavroghina. Sau đó bà Lembke mới “biện hộ” cho bà Xtavroghina, dĩ nhiên trên quan điểm tinh thần mà thôi, nghĩa là một cách mơ hồ và trừu tượng nhất. Đầu tiên, bà ta lắng nghe một cách lạnh lùng và nghiêm khắc những lời xa gần ác ý về biến cố ngày chủ nhật, đến nỗi suốt ngày hôm sau, không ai dám đem ra nói trước mặt bà ta nữa. Điều này làm người ta có cảm tưởng là vị tổng đốc phu nhân đã biết cả những bí ẩn, hiểu rõ ngọn ngành những chuyện bên trong - biết không phải với tư cách một người ngoài cuộc mà là với tư cách một người có dính líu trực tiếp chuyện đó. Tôi thấy cũng nên ghi nhận rằng, vào lúc đó, Julia Mikhailovna đang chiếm được một địa vị mà bà ta đã mong muốn trong đám chúng tôi, và bà ta đã khởi sự tưởng tượng rằng bà ta có một đám người hâm mộ vây quanh. Một nhóm đáng kể trong xã hội thượng lưu ởđây đã công nhận cái thông minh và khéo léo thực tế của bà ta - nhưng chuyện đó để nói sau. Sự che chở của bà ta phần nào giải thích được tại sao Piot’r Verkhovenxki lại thành công trong xã hội nhanh chóng như thế, một việc lúc đầu làm cho cha anh ta không hiểu nổi.
Có lẽ chúng ta có phần nào phóng đại. Đầu đuôi như thế này: trong vòng bốn ngày sau khi tới đây, Piot’r làm quen với tất cả mọi người trong thành phố bất kể là ai. Anh ta tới ngày chủ nhật thì ngày thứ ba tôi trông thấy anh ta ngồi trên xe cùng với Artemi Gaganov đi qua. Gaganov là một người kiêu hãnh, nóng tính, cao ngạo, ẩn dưới lớp vỏ lịch thiệp, và hầu như khó có ai chịu đựng được ông ta. Piot’r cũng được tiếp đón nồng hậu tại dinh tổng đốc và bỗng chốc giữ địa vị một người bạn trẻ trong gia đình. Anh ta là một vị khách thường xuyên nơi bàn ăn của bà Lembke. Anh ta có gặp bà từ trước, khi còn ở Thụy Sĩ, nhưng vẫn có cái gì khó hiểu trong sự thành công nhanh chóng của anh ta trong gia đình vị tổng đốc. Cuối cùng, người ta tin rằng anh ta là một phần tử cách mạng tích cực ở nước ngoài, có bài đăng trên vài tờ tạp chí nước ngoài và đã tham dự một số hội nghị, không biết có thật không, nhưng “có thể kiểm chứng dễ dàng qua những mẩu tin trên báo cũ”. Ít nhất, đó là lời nhận xét đầy ác ý của Aliosa Teliatnikov, người dưới thời vị tổng đốc cũ cũng từng là một người bạn trẻ được dinh tổng đốc ưu ái, bây giờ, thương thay, chỉ vì là một công chức về vườn. Tuy nhiên, một sự kiện không thể chối cãi được là cái nhà cựu cách mạng kia tại quê nhà đã được đối xử không chút nghi kị, và thực ra, còn được tiếp đón công khai nồng nhiệt nữa. Như vậy có lẽ sự thực cũng chẳng có gì như lời đồn. Có lần Liputin thì thầm bên tai tôi rằng hắn có nghe nói, không biết ở đâu và bằng cách nào, là Piot’r đã tự thú và đã được ân xá sau khi anh kể tên những người liên hệ và hứa trong tương lai sẽ làm việc cho chính phủ. Tôi kể lại câu chuyện ác độc này cho cha anh, và mặc dù đang ở trong một tình trạng tâm thần rối rắm, ông cũng trở nên trầm ngâm suy nghĩ. Sau này mới vỡ lẽ rằng Piot’r đã tới đây với nhiều thư giới thiệu, một cái gửi cho vị đệ nhất phu nhân, người gửi là một vị phu nhân già rất quan trọng ở Petersburg có chồng là một trong những cựu nhân vật cao cấp ở thủ đô. Vị phu nhân già kia, tình cờ lại là mẹ đỡ đầu của bà Lembke, nói trong thư là bá tước K. biết Piot’r rất rõ qua trung gian của Nicolai Xtavroghin, và coi anh ta là một thanh niên rất xuất sắc “mặc dù những lỗi lầm đã qua”. Phu nhân vị tổng đốc rất muốn duy trì những mối liên hệ vốn ít ỏi của bà với xã hội thượng lưu ở Petersburg nên rất hài lòng khi nhận được một bức thư của vị phu nhân già quan trọng kia. Nhưng ngoài ra, còn có một điều khác hơn thế nữa: bà đã thân mật với Piot’r và còn ép chồng cũng đối xử như vậy, cho tới khi cuối cùng vị tổng đốc phản đối - nhưng để sau này chúng ta sẽ nói tới chuyện đó. Tôi cũng ghi nhận rằng nhà đại văn hào Karmazinov rất tử tế với Piot’r, và không chần chừ mời ngay anh,tới nhà. Sự vội vã đó đối với một con người kiêu ngạo, tự mãn như Karmazinov làm cho lòng tự ái của ông Verkhovenxki nhức nhới hơn cả, nhưng tôi giải thích chuyện đó như thế này: khi mời một thanh niên theo chủ nghĩa hư vô tối nhà, Karmazinov đã nhắm vào đám thanh niên tiến bộ ở Moskva và Petersburg. Nhà đại tiểu thuyết kia đang khúm núm trước thế hệ cách mạng mới, vì, trong sự dốt nát của mình, ông ta tưởng tượng rằng họ đang nắm tương lai của nước Nga trong tay. Ông ta đang cố gắng nịnh bợ họ một cách nhục nhã, phần lớn bởi vì họ không có chút quan tâm nhỏ nhoi nào đối với ông ta.
2
Piot’r có ghé thăm cha anh ta hai lần, tiếc rằng cả hai lần tôi đều vắng mặt. Lần đầu anh đến vào ngày thứ tư, nghĩa là chưa được bốn ngày sau ngày cha con gặp gỡ lần đầu tiên, và lần đó cũng chỉ hoàn toàn vì công việc. Nhân đó, họ giải quyết tiền nong về bất động sản, nhưng không ai rõ giải quyết thế nào. Bà Xtavroghina đảm đương mọi chuyện, tung tiền ra và do đó, dĩ nhiên, thu đất về. Ông Verkhovenxki chỉ được người hầu của bà là Alecxei thông báo rằng mọi chuyện đã giải quyết xong và ông chỉ việc kí vài chữ. Ông lặng lẽ kí với sự trang trọng. Nói tới trang trọng, tôi phải nói trong những ngày đó tôi thật không nhận ra ông. Ông xử sự như chưa hề xử sự như thế bao giờ; ông lặng lẽ và không viết một lá thư nào cho bà Xtavroghina từ sau ngày chủ nhật đó, một sự dằn mình mà tôi cảm thấy gần như là phép lạ. Nhưng, lạ hơn nữa, ông trầm lặng một cách lạ lùng. Chắc ông đã nắm được một ý tưởng khác thường nào rồi nên mới điềm tĩnh như thế. Điều đó thật dễ hiểu. Một khi đã nắm được ý tưởng đó, ông chỉ còn việc ngồi đợi nó tới. Tuy nhiên, lúc đầu, ông nhuốm bệnh. Nhất là, ngày thứ hai, ông bị đau bụng. Vậy mà ông vẫn đứng ngồi không yên nếu không biết những sự việc đang diễn ra - mặc dù, khi tôi dẹp các sự kiện qua một bên để bàn tới bản chất của vấn đề, ông bỏ ngoài tai những nhận xét của tôi với một cái xua tay và bảo tôi ngừng lại. Hai buổi thăm viếng của con ông làm ông đau đớn nhưng không làm ông nhụt đi. Sau mỗi buổi viếng thăm, ông nằm dài trên ghế, đầu đắp một miếng vải tẩm dấm. Nhưng, trong thâm tâm, ông vẫn giữ điềm tĩnh.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông cũng để tôi nói. Có những lúc tôi nghĩ sự vững tâm dễ chịu, bí ẩn của ông đã xa rời và hình như ông đang phấn đấu trước một ngọn trào cám dỗ mới. Những cơn như vậy không lâu nhưng tôi cảm thấy cũng nên ghi lại ở đây. Tôi ngờ rằng ông đang muốn chứng tỏ dũng khí của ông, từ bỏ cuộc ẩn dật, quyết một trận sống mái.
Vào tối thứ năm, tức sau buổi viếng thăm lần thứ nhì của Piot’r, trong lúc nằm dài trên ghế, dầu đắp một miếng vải tẩm dấm, ông bỗng lên tiếng:
- Con yêu quí, cha tin chắc cha có thể dẹp hết bọn chúng!
Cả ngày, mãi tới lúc đó mới thấy ông nói với tôi một lời:
- Con trai, con yêu quí và v.v. ,- tôi đồng ý rằng đó chỉ là những cách nói nhảm nhi của hạng đầy tớ. Và tôi không trách nó. Bây giờ tôi hiểu rồi. Từ miếng ăn nước uống tôi cũng không cung cấp cho nó. Tôi đã gửi nó từ Berlin tới một nơi thâm sơn cùng cốc khi nó còn đỏ hỏn, gửi nó đi như gửi một gói đồ. Tôi biết thế chứ không phải không. Cho nên bây giờ nó nói: “Cha chưa bao giờ từng trông nom con, cha gửi con cho nhà bưu điện tống đi. Thế mà vẫn chưa vừa lòng, bây giờ cha còn bóc lột con nữa”. Tôi la nó: “Nhưng con ơi, đứa con bất hạnh của cha, suốt đời, cứ nghĩ đến con là cha lại thấy đau lòng xót dạ, cho dù cha gửi con đi qua nhà bưu điện thật!” Nó cười lớn. Nhưng tôi công nhận, tôi công nhận chuyện đó, tôi có tống khứ nó đi, - ông kết luận, hầu như mê sảng.
Năm phút sau, ông lại bắt đầu:
- Thôi, bỏ qua đi. Tôi thực không hiểu được Turgenev51. Cái nhân vật Bazarov con ông tả thật là gượng ép đến độ không thể nào có được. Chính bọn trẻ là những người đầu tiên không chấp nhận hắn, cho rằng hắn không giống ai trên đời cả. Bazarov là một hỗn hợp mù mịt giữa nhân vật Nodrev của Gogol và nhà thơ lãng mạn Byron52 không có cách diễn tả nào khác! Cứ nhìn họ mà xem: họ nhảy cà tưng và rú lên mừng rỡ như những con chó con ở ngoài nắng; họ hạnh phúc; họ là những kẻ chiến thắng. Đúng ý như Byron! Rõ thật tầm thường! Họ có cái kiêu hãnh dễ giận của hàng tôi tớ, một khao khát ti tiện muốn làm rùm beng quanh tên tuổi của nó, không biết rằng tên tuổi của nó... Ồ, trông nó đến buồn cười! Tôi nói với nó “Có khi nào mày thực sự muốn thay Chúa hiến thân cho đời như trường hợp bây giờ không?” Nó cười. Nó cười ngất. Nó cười quá sức. Nó có một nụ cười rất lạ. Tôi không hiểu; mẹ nó ngày xưa đâu có cái cười như vậy. Lúc nào nó cũng cười.
Lại một lúc yên lặng tiếp theo. Bỗng ông lên tiếng:
- Họ thật mưu mô: mọi chuyện ngày chủ nhật đã được hoạch định từ trước.
Tôi vừa dỏng tai vừa hăng hái đồng tình:
Đúng, không còn ngờ vực gì nữa! Tất cả được xếp đặt từ trước và rõ là được cột lại với nhau; hơn nữa, họ diễn xuất hơi vụng về.
- Hẳn thế, nhưng điều tôi muốn nói là họ diễn xuất, vụng về lồ lộ ra như vậy mục đích để những ai... những ai để ý, có thể nhận ra. Anh có hiểu không?
- Không, tôi không hiểu.
- Càng tốt. Bỏ qua đi. Hôm nay tôi rất bực mình.
- Thế sao ông vẫn cãi lí với anh ta làm gì?
- Tôi muốn cải hóa nó. Phải, anh cứ việc cười - Còn bà Varvara đáng thương kia, rồi sẽ được nghe khối chuyện hay!À, này bạn, mong bạn tin một điều - ngày hôm đó tôi cảm thấy yêu nước vô cùng! Tôi luôn luôn ý thức mình là một người Nga. Tuy nhiên, một người Nga chân chính không thể khác chúng ta, như anh và tôi đây, một tí nào. Vẫn có cái gì mù quáng và ám muội trong đó.
- Hẳn là như vậy.
- Sự thật luôn luôn khó tin bạn ạ; chỉ khi nào nó pha với dối trá mới trở nên dễ tin được. Và đó là điều người ta luôn luôn làm. Có lẽ có vài chuyện gì ở đây chúng ta không hiểu. Theo anh, anh có nghĩ rằng có điều gì vượt khỏi tầm hiểu biết của chúng ta trong cái tiếng tru chiến thắng của họ không? Tôi mong là có. Phải, tôi mong là có điều gì trong đó.
Tôi không trả lời và ông cũng giữ im lặng một lúc lâu. Một hồi sau ông lại bắt đầu lảm nhảm, như người lên cơn sốt.
- Họ nói tất cả đều là tư tưởng của người Pháp nhưng điều đó không đúng. Từ trước đến giờ vẫn thế. Tại sao lại đổ tội cho những tư tưởng của người Pháp? Đó chỉ là sự lười biếng cố hữu của người Nga, sự bất lực của chúng ta nặn không ra một tư tưởng, là chủ nghĩa ăn bám ghê gớm của chúng ta trong hàng ngũ quốc tế. Họ hoàn toàn chỉ là những kẻ lười biếng, và không có vấn đề tư tưởng Pháp gì trong đó. Ôi, điều tốt đẹp nhất cho loài người có lẽ là tất cả người Nga bị tiêu diệt hết, như những kí sinh trùng ăn hại. Ôi, chúng ta hoàn toàn không đi đúng hướng. Tôi không còn hiểu điều gì nữa. Tôi bảo nó: “Mày có hiểu rằng nếu mày đẩy cái máy chém của mày lên hàng đầu đó là bởi vì không có gì dễ hơn việc chặt đầu và không có gì khó hơn việc nảy sinh ra tư tưởng. Chúng mày là những kẻ lười biếng! Lá cờ của chúng mày là một cái giẻ rách, một sự bất lực! Những chiếc xe ngựa, hay bất cứ cái gì kia, như trong câu: “Tiếng xe lăn mang bánh tới cho người ta”. Với chúng còn có ích hơn tranh Đức Bà Sistine... Một thứ ngu xuẩn đại loại. Nhưng mày không hiểu phải không, - tôi la với nó, - mày không hiểu rằng con người cũng cần sự bất hạnh như cần hạnh phúc! Nó cười và nói: “Cha thực đã làm được một cuộc phản kháng bằng mồm vui vẻ trong lúc nằm thẳng cẳng trên ghế nhung”. Đúng ra câu nói của nó còn thô tục hơn. Và cái thói con cái coi nhờn cha như vậy không sao cả nếu cha con hòa thuận nhưng khi họ đã bắt đầu gấu ó với nhau thì lại khác.
Lại một phút im lặng nữa. Rồi ông ngồi dậy.
- Anh có biết không, tôi chắc rằng chuyện này sẽ đi tới kết thúc bằng cách này hay cách khác.
- Hắn là như vậy.
- Anh không hiểu. Thôi bỏ qua. Thường thường, trên đời này mọi sự sẽ không đi tới đâu, nhưng chuyện này sẽ chấm dứt bằng một cái gì đó. Tôi cam đoan với anh như vậy.
Ông đi tới đi lui trong phòng trong một trạng thái kích động cùng cực, rồi khi trở lại chiếc ghế dài, ông gieo mình gục xuống đó.
Vào ngày thứ sáu, Piot’r bỏ đi đâu không rõ, mãi đến thứ hai mới về. Tôi biết chuyện đó nhờ Liputin, hắn cũng cho tôi biết rằng hai anh em Lebiadkin hiện đang ở một nơi nào đó gần một làng bên kia sông. Hắn nói: “Chính tôi giúp họ dọn nhà”, và rồi bỏ qua chuyện về anh em Lebiadkin, hắn bất ngờ thông báo rằng Liza sắp lấy Mavriki Drozdov, cháu người cha ghẻ của nàng và rằng mặc dù không được loan báo chính thức, họ đã đính hôn và vấn đề kể như xong. Ngày hôm sau tôi thấy Liza và Mavriki cưỡi ngựa ra phố. Đó là lần đầu tiên nàng ra ngoài kể từ khi nàng ốm. Mắt nàng sáng lên khi nàng trông thấy tôi; nàng cười và thân mật gật đầu chào. Tôi kể lại tất cả cho ông Verkhovenxki, nhưng ông chỉ lưu ý tới phần liên quan đến anh em Lebiadkin.
Bây giờ, tôi đã kể xong những diễn biến trong suốt tám ngày đó, những diễn biến, đối với chúng tôi, những kẻ khi đó không biết gì cả, có vẻ như bí ẩn. Nay tôi sẽ trình bày những chuyện tiếp theo với đầy đủ chi tiết hậu trường, bởi vì mọi chuyện cuối cùng đã bị phát giác và nay ai cũng biết rõ. Tôi sẽ bắt đầu vào ngày thứ tám sau ngày chủ nhật đó, nghĩa là tối thứ hai một tuần sau, bởi vì một vụ tai tiếng mới khởi đầu trong buổi tối hôm đó.
3
Vào bảy giờ tối, Nicolai Xtavroghin ngồi một mình trong phòng làm việc. Anh ta vẫn thích căn phòng đó vì có trần cao, thảm, và những đồ gỗ cổ khá nặng nề. Anh ngồi trên một chiếc ghế dài ở góc phòng, quần áo sẵn sàng để đi, nhưng anh có vẻ không có ý định đi đâu cả. Một ngọn đèn thắp trên bàn trước mặt anh, chiếc chụp đèn che mất ánh sáng làm những góc ở xa và căn phòng rộng lớn chìm trong bóng tối. Anh hình như trầm ngâm suy nghĩ, tập trung tư tưởng và bận trí. Mặt anh trông gầy đi và mệt mỏi. Má anh có sưng lên, nhưng tin đồn một chiếc răng bị gẫy là một tin phóng đại: nó chỉ bị lung lay và bây giờ đã chắc trở lại. Môi trên anh bị đứt cũng đã lành, về vết sưng cả tuần lễ vẫn còn là bởi vì anh từ chối không đi bác sĩ để mổ, đợi tự nó xẹp xuống.
Anh cũng không chịu để mẹ anh lại gần: bà chỉ được vào phòng mỗi ngày một lần khoảng một phút, và chỉ được vào sau khi trời tối. Ngay cả Piot’r Verkhovenxki anh cũng không tiếp, mặc dù Piot’r ghé thăm bà Xtavroghina ít nhất hai hay ba lần mỗi ngày, khi anh ở thành phố.
Thế rồi, vào ngày thứ hai, sau khi đi vắng ba ngày và trở về vào buổi sáng, sau khi chạy đôn đáo khắp thành phố và rồi dùng cơm chiều ở nhà bà Lembke, buổi tối Piot’r bỗng đến nhà bà Xtavroghina. Bà đang nóng ruột mong anh ta. Anh ta được thông báo rằng sự miễn tiếp khách đã được Nicolai rút lại. Bà Xtavroghin đích thân đưa khách tới cửa phòng của con. Bà nóng lòng muốn hai người nói chuyện, bởi vì Piot’r đã hứa sẽ kể lại cho bà đại ý cuộc nói chuyện. Bà rụt rè gõ cửa phòng, không nghe tiếng trả lời, bà quyết định mở hé vài phân.
- Nicolai, - bà dằn lòng khẽ hỏi, vừa cố nhìn qua khe cửa xem con ngồi đâu, - mẹ để Piot’r Verkhovenxki vào được không?
- Dĩ nhiên là được. - Chính Piot’r trả lời bà bằng một giọng nói lớn vui vẻ.
Anh ta mở rộng cửa và bước vào phòng, Xtavroghin không nghe tiếng gõ cửa và dù có nghe giọng nói rụt rè của mẹ, anh cũng không có thì giờ trả lời. Trên bàn, trước mặt anh, là một bức thư mà anh mới đọc xong và đang suy nghĩ dữ dội về nó. Giọng oang oang của Piot’r làm anh giật mình; anh vội giấu cái thư dưới cái chặn giấy mà tình cờ anh đang cầm trong tay. Một góc lá thư và hầu như cả chiếc phong bì ló ra ở phía dưới.
- Tôi la lên như vậy để anh có đủ thì giờ - Piot’r nói nhanh, với một giọng thật thà đáng ngạc nhiên, vừa đi vội tới bàn và chú mục vào cái chận giấy.
Không động đậy, Nicolai lặng lẽ nói:
- Và dĩ nhiên anh đã nhận thấy tôi đang giấu một cái thư mà tôi mới nhận được.
- Một cái thư à? Nhưng tôi để ý đến thư của anh làm gì.
Nhưng..., - Piot’r thì thầm, vừa hất đầu chỉ ra phía cửa. Cửa đã đóng chặt. Nicolai lạnh lùng nói:
- Bà ấy không bao giờ đứng sau cửa nghe lén đâu, Piot’r vừa ngồi xuống một chiếc ghế dựa vừa nói lớn một cách vui vẻ:
- Dù bà ấy có làm vậy tôi cũng không có gì phản đối. Nhưng tối nay tôi có đôi chuyện muốn nói thẳng với anh, và cuối cùng bãy giờ tôi được gặp anh. Đầu tiên, anh thấy trong người thế nào? Tôi trông anh có vẻ khỏe. Có lẽ ngày mai là anh có thể xuất viện được rồi, phải không?
- Có lẽ.
Piot’r hoa chân múa tay, nói với một giọng khôi hài và dễ mến:
- Cuối cùng, nên để cho họ yên tâm, cả tôi nữa! Anh không tưởng tượng được bao nhiêu là chuyện vô lí mà hồi này tôi phải cho họ nghe. Mặc dù thực sự chắc anh cũng có tưởng tượng một tí.
Nói xong Piot’r cười.
- Tôi không có một ý nghĩ nào rõ cho lắm. Tôi chỉ nghe mẹ tôi nói anh rất bận rộn.
Piot’r kêu lên, như để tự biện hộ trước một lời buộc tội nặng nề:
- Tôi hả? Không, không, không có gì đặc biệt. Anh biết không, tôi lôi vợ Satov vào câu chuyện, nghĩa là những lời đồn đại về sự liên lạc của anh với nàng ở Paris. Dĩ nhiên, điều đó có thể giải thích được những gì xảy ra hôm chủ nhật. Anh không phiền chứ?
- Tôi chắc anh đã làm hết sức mình.
- Đúng như điều tôi sợ! Mà này, anh nói “làm hết sức mình” nghĩa là thế nào? Tôi nghe như một lời khiển trách. Mặt khác, hình như anh muốn trực tiếp đương đầu với vấn đề. Trên đường đi, tôi đã sợ anh sẽ tránh né.
- Tôi không cảm thấy thích đương đầu trực tiếp với bất cứ cái gì cả, - Nicolai nói, mặt có sắc giận, nhưng rồi anh cười lớn. Piot’r vung hai tay, lời nói phát ra càng lúc càng dồn dập và có vẻ thích thú trước sự nóng giận của bạn:
- Không, không, tôi không nghĩ như vậy. Đừng hiểu lầm chuyện đó. Với tình trạng anh hiện nay, tôi không định đem công chuyện chung của chúng ta ra làm phiền anh. Tôi chỉ tới để nói về vụ ngày chủ nhật, và chỉ nói tới nếu tuyệt đối cần thiết, bởi vì không thể để buông xuôi như vậy được. Cuối cùng..., tôi tới để có một lời giải thích thẳng thắn, có lẽ tôi còn cần hơn anh. Có thể điều đó làm thỏa mãn tự ái của anh, nhưng đó cũng là sự thật. Từ nay trở đi, tôi sẽ luôn luôn thẳng thắn với anh.
- Thế nghĩa là trước kia anh không thẳng thắn phải không?
- Anh biết thừa là không, đôi khi tôi cũng có bóp méo sự thật một tí. Anh cười à; tôi mừng trước cái cười của anh, bởi vì đó là một cái cớ cho một cuộc giải thích thẳng thắn. Tôi khêu gợi cái cười đó bằng cách dụng tâm dùng từ ngữ “bóp méo sự thật”. Tôi biết anh giận tôi vì tôi cả gan trình bầy với anh một hình ảnh sự thật bị bóp méo, nhưng bây giờ tôi xin nói thêm, kèm theo sự giải thích về hành vi của tôi. Anh thấy không, tôi đã cởi mở như thế còn gì nữa! Được rồi, anh có thích nghe chuyện tôi nói không?
Vẻ mặt của Nicolai - vẫn giữ nét thờ ơ một cách khinh miệt lẫn chua cay, mặc dù âm mưu rõ ràng của khách muốn chọc giận anh bằng sự xấc xược có sửa soạn trước kĩ lưỡng, thật thà một cách sống sượng - cuối cùng biểu lộ một nét tò mò bồn chồn.
Piot’r bắt đầu, người càng lúc càng vặn vẹo:
- Nghe này, khi tôi tới thành phố này chừng mười ngày trước, tôi đã quyết định đóng một vai nào đó; dĩ nhiên. Tốt nhất là không phải đóng vai nào cả, cứ tự nhiên là mình, đúng không? Cái khôn ngoan nhất là cứ mang bộ mặt mình, vì sẽ không ai tin cả. Tôi công nhận tôi đã nghĩ sẽ đóng vai một thằng đần độn bởi vì làm một thằng đần độn thì dễ hơn mang khuôn mặt mình. Nhưng, mặt khác, một thằng đần độn là một cực đoan và những cực đoan thì khêu gợi sự tò mò. Bởi vậy cuối cùng tôi quyết định dứt khoát trở về với bộ mặt mình. Được, nhưng bộ mặt đích thực của tôi là gì? Đó là một sự chiết trung: không ngu xuẩn cũng chẳng, thông minh và hơi bất tài, ngoài ra, như một người rơi từ mặt trăng xuống, như nhận xét của những người đáng kính ở đây.
Nicolai cười nhạt nói:
- Có thể tất cả đều đúng.
- À, thế là anh đồng ý rồi! Tốt! Tôi nghĩ đó là nhận xét của anh về tôi. Xin anh đừng lo, tôi không phật lòng một mảy may nào. Tôi nói những điều đó về tôi không phải để anh phản đối và lịch sự nói : “Ồ không, anh thực sự có tài và rất thông minh”, hay đại khái như vậy. À, anh lại cười! Anh lại đi guốc vào bụng tôi lần nữa, anh chẳng hề nghĩ đến chuyện nói với tôi câu “anh rất thông minh”. Cũng được. Nhưng tôi phải đặt mọi giả thuyết. Thôi bỏ qua đi, như lời cha tôi thường nói, và, đặc biệt trong ngoặc kép, tha lỗi cho cái tật dài dòng của tôi. Đó là một thí dụ cho thấy tôi luôn luôn nói nhiều, nghĩa là tôi cứ hấp tấp dùng cả lô chữ, nhưng kết quả chẳng sáng chói gì cho lắm. Mà tại sao thế? Tại vì tôi không biết cách nói, những người nói giỏi thường dùng ít lời hơn. Vậy thì tôi thiếu khả năng, có đúng thế không? Nhưng bởi vì cái thiếu khả năng này là một phần trong bản chất của tôi, tôi không được lợi dụng nó hay sao? Bởi thế, tôi lợi dụng nó. Đúng, trên đường tới đây, tôi nghĩ tôi sẽ cố giữ im lặng. Nhưng giữ được im lặng là một khả năng vĩ đại, cho nên nó ngoài tầm tay của tôi. Lại nữa, im lặng luôn luôn có một tí nguy hiểm. Thế là tôi quyết định rằng con đường tốt nhất sẽ là nói, nói thật nhiều, nói thật nhanh, thuyết phục, biện hộ, nói theo một đường lối ngu xuẩn nhất và làm sao cho những lí lẽ của chính tôi cuối cùng sẽ rối như mớ bòng bong, để thính giả sẽ nhún vai bỏ đi hay nhổ nước miếng khinh bỉ càng tốt. Phân tích đến cùng, như vậy tôi đã làm họ tin sự thẳng thắn của tôi, làm họ ngấy đến tận cổ, và sau đó họ không có một ý niệm nào về những gì tôi muốn nói - như vậy là tôi đạt được cả ba mục tiêu đề ra. Sau đó, có ai còn nghi ngờ tôi âm mưu này nọ nữa? Bất cứ người nào trong bọn họ cũng sẽ giận dữ trước bất cứ ai bảo họ rằng tôi đang có những mưu đồ bí mật. Hơn nữa, đôi khi tôi có thể làm họ cười lên và điều đó có những lợi thế vô cùng to lớn. Bấy giờ họ sẽ tha lỗi cho tôi mọi chuyện, bởi vì cái tên khôn ngoan đã ấn hành những bản tuyên ngôn kia, dưới mắt họ đã trở thành ngu xuẩn hơn cả họ nữa. Cứ xem cái cười của anh, chắc anh đồng ý. Tôi nói đúng không?
Tuy nhiên, Nicolai không mỉm cười gì cả; thật ra anh đang cau mày và hơi mất kiên nhẫn. Piot’r lại tiếp tục nói ào ào, mặc dù Nicolai không thốt một lời:
- Cái gì? Anh bảo không có gì quan trọng hả? Dĩ nhiên, dĩ nhiên, tôi không tới đây để gây liên luỵ cho anh vì liên lạc với tôi. Anh biết không, hôm nay anh thật dễ nổi nóng quá, tôi tới đây một cách vui vẻ với một tấm lòng cởi mở, nhưng anh cứ cố moi móc lỗi lầm trong từng chữ tôi nói ra. Tôi hứa hôm nay tôi sẽ không đưa ra một vấn đề khó xử nào. Anh cứ nhớ lấy lời hứa của tôi, và tôi đồng ý trước với mọi điều kiện của anh.
Nicolai vẫn giữ sự im lặng ương ngạnh.
- Sao? Anh mới nói gì? Tôi chắc tôi lại vụng về lần nữa: anh chẳng bao giờ và sẽ chẳng bao giờ đặt bất cứ điều kiện gì. Được, được, tôi tin anh; anh cứ yên tâm. Chính tôi cũng biết rằng đặt điều kiện với tôi là một việc vô ích, không đúng vậy sao? Bây giờ, tôi đang nói cho cả hai người chúng ta, tôi tin vậy, nhưng anh sẽ phải tha thứ cho cái tật thiếu tưởng tượng cửa tôi. Anh hãy nhớ, mọi sự đều do tôi thiếu khả năng... Anh cười hả? Tại sao, có gì quan trọng không?
Nicolai thở ra:
- Không có gì. Tôi mới nhớ rằng có lần tôi nói anh là một người khá tầm thường, nhưng tôi chắc lúc đó không có mặt anh, bởi thế đáng lẽ phải nhắc lại cho anh nghe. Bây giờ tôi sẽ mang ơn anh rất nhiều nếu anh chịu đi ngay lập tức vào vấn đề.
- Nhưng tôi chẳng vào đề rồi thôi. Nói rõ hơn, tôi đang nói về vấn đề biến cố ngày chủ nhật. Bây giờ, hôm chủ nhật tôi đã đóng vai trò gì, anh hãy nói cho tôi nghe xem. Được, tôi nghĩ tôi đã vội vã đóng vai một kẻ tầm thường và đã làm tất cả mọi người chú ý khi nhấn chìm họ trong cái cách đối thoại tầm thường của tôi. Nhưng họ đã tha thứ cho tôi bởi vì, thứ nhất, tôi đã từ mặt trăng rơi xuống - như tất cả moi người ở đây có vẻ đồng ý - và thứ hai, tôi đã kể một câu chuyện nhỏ hay ho và mang được anh ra khỏi cảnh khó khăn một cách êm ái. Vai trò của tôi tả như vậy có được không?
- Nghĩa là anh đã kể câu chuyện bằng một cách sao cho họ nghi ngờ sự xác thật của nó, và để họ nghĩ rằng chúng ta đã hành động theo một kế hoạch soạn ra từ trước trong khi không có một kế hoạch nào như vậy và tôi chẳng bao giờ bảo anh làm một việc gì như thế.
Piot’r khoái trá kêu lên:
- Đúng, đúng! Tôi đã xếp đặt để ai cũng có thể nhìn thấy sợi dây phía sau. Nhưng, chắc chắn anh cũng nhận thấy rằng tôi đã diễn vở kịch ấy phần lớn là vì anh, bởi vậy tôi đã cố gắng chộp bắt anh và muốn gây liên lụy cho anh. Hơn hết, tôi muốn xem anh sợ đến mức nào.
- Tôi lấy làm lạ tại sao bây giờ anh lại thẳng thắn với tôi như vậy.
- Đừng giận; đừng giận; đừng nhìn tôi như thế. Anh ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại thẳng thắn với anh như vậy phải không? Được, chỉ vì mọi sự bây giờ đã thay đổi, đã chấm dứt và bị chôn vùi. Ý nghĩ của tôi về anh bỗng thay đổi. Những phương pháp cũ nay là đồ bỏ: tôi sẽ chẳng bao giờ làm anh liên lụy bằng những phương pháp cũ nữa. Từ giờ trở đi tôi sẽ dùng những phương pháp mới
- Thay đổi chiến thuật hả?
- Không có chiến thuật nào cả. Từ giờ trở đi tôi để anh hoàn toàn định liệu: nếu anh muốn thì là có; nếu anh không thì là không. Đó là chiến thuật mới của tôi đó. Về phần mối lo chung của chúng ta, tôi sẽ không hở ra một tiếng cho tới chừng nào tự anh đưa ra. Điều đó làm anh cười à? Tôi mong anh cứ cười thỏa thích đi; tôi cũng muốn cười góp với anh. Nhưng bây giờ tôi tuyệt đối đứng đắn về những gì tôi mới nói, mặc dù chỉ có kẻ vô tài mới có thể luôn luôn vội vội vàng vàng như vậy, điều đó thật dễ hiểu, đúng không? Dù sao, có tài hay bất tài, tôi xin nhấn mạnh những gì tôi vừa nói đều đúng đắn.
Quả thật, trông anh ta nghiêm trang và anh nói với một giọng khác hẳn. Nicolai cũng nhận ra một sự xúc động lạ lùng trong giọng nói của anh và đưa mắt nhìn anh một cách tò mò. Nicolai hỏi:
- Như vậy anh đã thay đổi quan điểm về tôi phải không?
- Tôi đã thay đổi quan điểm của tôi về anh ngay vào lúc anh nhấc tay khỏi vai Satov và..., nhưng như thế đủ rồi, đầy đủ rồi, và xin anh đừng hỏi tôi một câu nào nữa. Tôi sẽ không nói một điều gì nữa.
Anh ta nhảy lên, xua hai tay như thể xua đuổi bất cứ câu hỏi nào có thể được đưa ra. Nhưng bởi vì không có câu hỏi nào được đưa ra và anh ta không có gì vội vã đặc biệt phải ra đi, anh ta lại ngả người xuống chiếc ghế bành trở lại. Khi đã yên vị trên ghế, anh tiếp tục nói như gió:
- À, này, anh cho phép tôi được thông báo, trong ngoặc kép, là vài công dân ở đây đang lảm nhảm rằng anh sẽ không có cách gì khác hơn là giết hắn. Ông Lembke gần như định báo động cho cảnh sát, nhưng vợ ông phản đối. Thôi thế cũng đủ rồi. Tôi chỉ nói cho anh biết mà thôi. Và một chuyện nữa: anh biết không, cũng ngày hôm đó, tôi đã dời anh em Lebiadkin qua bên sông. Anh có nhận được giấy của tôi ghi địa chỉ của họ không?
- Có.
- Được, tôi đã làm vậy do nhiệt tâm thật tình chứ không hẳn vì sự tầm thường của tôi. Nếu kết quả không có gì sáng chói lắm, ít nhất nó cũng vì thiện ý.
Nicolai trầm ngầm nói:
- Được, có lẽ cũng nên làm vậy. Có điều anh đừng gửi giấy cho tôi nữa.
- Không có đâu, tất cả chỉ có một.
- Thế Liputin biết?
- Không thể được. Nhưng tự anh cũng biết rằng hắn sẽ không dám... Nhưng chúng ta cũng nên đi gặp bọn anh em mình thì vẫn tốt hơn, tôi muốn nói bọn họ chứ không phải bọn anh em mình, kẻo không lại sợ anh bới móc lỗi lầm trong mỗi lời tôi nói ra. Không, anh đừng lo, tôi không nói đi ngay bây giờ, mà để hôm nào thuận tiện. Tôi sẽ cho họ biết, để bữa nào buổi tối họ hop lại chúng ta sẽ đến. Họ đang há hốc mồm ra, giống như những con chim trong tổ, để chờ chúng ta tới mang quà ngạc nhiên cho họ. Cả lũ họ đang điên cái đầu. Họ mang sách vở ra sẵn sàng bắt đầu một cuộc tranh luận. Có Virghinxki, con người thế giới chủ nghĩa và Liputin, tín đồ của Fourier, với những tài năng của một thám tử. Tên này là một người có giá trị trên vài phương diện nhưng về những phương diện khác cần phải đối xử mạnh bạo với hắn. Rồi còn cái anh bạn tai dài kia sẽ giảng giải cho chúng ta cái hệ thống riêng của anh ta. Và anh biết không, họ hơi bất mãn bởi vì tôi coi thường họ, và giội những gáo nước lạnh lên đầu họ, làm họ hết cả hăng. Hà hà! Chúng ta thế nào cũng phải tới mà gặp họ.
Nicolai thờ ơ hỏi:
- Và anh đang cố đưa tôi ra như một loại lãnh tụ của họ?
Piot’r cố lờ làm bộ như không nghe thấy gì, và đáp nhanh:
- Này anh biết không, tôi đã gặp mẹ anh tới ba lần một ngày và trong những dịp đó, tôi đã phải nói biết bao nhiêu chuyện.
- Tưởng tượng ra tôi cũng thừa hiểu.
- Anh không phải tưởng tượng gì cả. Tôi chỉ trấn an bà ấy rằng anh không có mảy may ý định giết người nào và nói những chuyện ngọt ngào khác. Nhưng anh nghĩ sao về việc ngay ngày hôm sau bà ấy biết chuyện tôi đã đưa Maria sang bên kia sông? Có phải anh là người nói cho bà ấy biết không?
- Ai mà nghĩ đến chuyện nói với bà ấy.
- Tôi cũng nghĩ không phải anh. Vậy thì ai?
- Liputin, chắc chắn.
Piot’r cau mày lẩm bẩm:
- Không, không phải Liputin. Để tôi tìm xem ai. Có vẻ như thế là Satov... Nhưng chúng ta hãy để qua một bên đã, mặc dù chuyện đó thực rất quan trọng... Mà này, tôi vẫn mong mẹ anh sẽ bất ngờ đưa ra câu hỏi chính yếu bất cứ lúc nào. Đúng rồi, mọi khi trông bà ấy sầu thảm và buồn bã, thế mà hôm nay khi tôi tới, bà ấy tươi như hoa và sáng rỡ. Tại sao vậy?
- Bởi vì tôi đã hứa với bà ấy năm ngày nữa tôi sẽ đi hỏi Liza. - Nicolai nói với một sự thẳng thắn không ngờ.
Piot’r lẩm bẩm như bị lúng túng:
- Phải, dĩ nhiên, tôi hiểu... Có lời đồn đại về việc nàng hứa hôn với một người khác, dĩ nhiên, nhưng anh nói đúng, anh chỉ cần huýt sáo một cái là nàng bỏ nhà thờ chạy lại anh. Tôi mong anh không phiền vì tôi nói như vậy.
- Không sao.
- Tôi bắt đầu nhận thấy rằng hôm nay muốn làm anh mất bình tĩnh thật vô cùng khó khăn, và tôi bắt đầu sợ anh. Tôi rất tò mò muốn biết anh sẽ trình diện với họ ra sao. Tôi cá là anh đã sắp sẵn một số mưu mẹo trong tay áo để chờ dịp đưa ra. Anh không phiền vì câu nói của tôi như vậy chứ?
Nicolai không thèm trả lời, điều đó càng làm Piot’r tức thêm.
- Nhưng mà, khi anh nói với mẹ anh là anh sẽ đi hỏi Liza, anh không nói chơi chứ?
Nicolai ném cho anh ta một cái nhìn lạnh lùng, dò xét.
- À, tôi biết rồi, đó chỉ là để làm cho bà ấy yên tâm. Dĩ nhiên.
Nicolai nghiêm giọng hỏi:
- Thí dụ thực sự tôi muốn vậy thì sao?
- Sao, trong trường hợp đó, trời phù hộ cho anh, như lời người ta nói trong những dịp như vậy. Điều đó sẽ không hại cho sự nghiệp - xin anh để ý cho rằng tôi không nói sự nghiệp của chúng ta bởi vì tôi biết anh không thích chữ “chúng ta”, về phần tôi, có sao đâu, tôi luôn luôn thuộc quyền sử dụng của anh. Anh biết điều đó.
- Có thật đó là những gì anh nghĩ không?
Piot’r nói nhanh, với một tiếng cười:
- Tôi không nghĩ gì cả, bởi vì tôi ý thức rất rõ rằng anh đã suy nghĩ chín chắn mọi chuyện liên quan đến công việc của anh, và, như tôi nói, tôi luôn luôn thuộc quyền sử dụng của anh, ở bất cứ nơi nào và trong bất cứ trường hợp nào - phải, bất cứ trường hợp nào. Anh hiểu điều đó chứ?
Nicolai ngáp dài.
- À, chắc anh chán tôi lắm rồi! - Piot’r kêu lên, bất ngờ đứng bật dậy và với lấy chiếc mũ tròn mới tinh của mình. Anh ta có vẻ muốn đi, nhưng rồi lại thôi. Anh ta lại tuôn ra thao thao bất tuyệt, khi thì đứng ở giữa phòng, khi thì bước tới bước lui, thỉnh thoảng lại đập chiếc mũ vào gối để nhấn mạnh thêm. Cuối cùng anh ta reo lên vui vẻ:
- Để tôi nói cho anh nghe vài chuyện về vợ chồng Lembke cho vui.
- Thôi, để khi khác. Mà này, bà Lembke ra sao?
- A, một thái độ thật lịch sự: sự quan tâm của anh đối với bà ấy không hơn sự quan tâm đối với một con mèo hoang, tuy nhiên anh cảm thấy có bổn phận phải hỏi thăm. Theo tôi điều đó rất đáng khen. Được, tôi có thể trấn an anh rằng bà ta rất khỏe, bà ta nhìn anh với một thứ kiêng nể, và hầu như đang mê tín mong chờ anh làm những điều vĩ dại. Bà ta không đả động tới vụ ngày chủ nhật và tin chắc rằng anh sẽ trỗi dậy với ngọn cờ phấp phới khi anh ra mắt lần đầu. Tôi nói cho anh biết, bà ta cho rằng anh có thể làm được bất cứ điều gì anh muốn. Anh bí ẩn và huyền hoặc hơn bao giờ và điều đó đem lại một tình trạng rất ích lợi. Tất cả bọn họ đều nóng lòng muốn anh xuất hiện. Khi tôi bỏ đi, không khí đã hơi nóng và bây giờ lại còn sôi bỏng hơn. Và, xin cám ơn một lần nữa về bức thư đó. Bọn họ đều sợ bá tước K. Tôi nghĩ họ coi anh như là một nhân viên bí mật của chính phủ, và tôi khuyến khích cho họ tin như vậy. Anh không giận chứ.
- Không sao.
- Điều đó sau này sẽ rất ích lợi về lâu về dài. Anh thấy không, ở đây họ có những lề lối riêng và tôi, dĩ nhiên, tôi khuyến khích điều đó. Đầu tiên là bà Lembke, kế đó là Gagariov. Anh cười hả? Nhưng anh biết dụng ý của tôi: tôi đi quanh giăng những sợi chỉ ngu ngốc, nhưng thỉnh thoảng tôi hở ra một điều thông minh, tình cờ đúng là những gì họ đang mò mẫm. Rồi, khi họ xúm đông xúm đỏ quanh tôi, tôi lại bắt đầu ba hoa. Bấy giờ họ lại bỏ tôi và nói: “Tên này cũng có tài, nhưng hắn từ mặt trăng rơi xuống”. Ông Lembke mời tôi ra làm để uốn nắn tôi. Anh biết không, tôi đối xử với ông ta một cách khủng khiếp, nghĩa là, tôi coi thường ông ta ra mặt và ông ta chỉ nhìn chòng chọc vào tôi. Vợ ông ta khuyến khích tôi. Còn Gaganov, ông này rất giận anh, Hôm nọ, lúc ởtrại Dukhov ông ta nói về anh với những lời rất thật - à, không phải tất cả sự thật đâu, nhưng cũng là sự thật. Tôi ở lại Dukhov cả ngày hôm đó. Cái trại thật đẹp và cái nhà cũng đẹp.
Nicolai bất ngờ bị kích thích và nhổm người tới trước, hỏi:
- Sao, bây giờ ông ta có ở Dukhov không?
Piot’r làm như không nhận thấy sự kích động bất ngờ của Nicolai và nói:
- Không, sáng nay chính ông ta đánh xe chở tôi ra tỉnh. Ồ, xin lỗi, tôi làm rơi cái gì thế này, à, một quyển sách. - Anh ta cúi xuống nhặt một quyển sách, loại ấn bản quí có tranh ảnh Những người đàn bà trong đời Balzac53, có cả hình ảnh nữa cơ à? - Anh ta mở ra. Chưa coi bao giờ - Anh biết không, lão Lembke viết cả tiểu thuyết nữa.
- Thật không? - Nicolai hỏi, có vẻ chú ý.
- Ông ta viết bằng tiếng Nga và giữ bí mật mặc dù bà Lembke cũng biết và cho phép. Ông ta là một thứ sợ vợ, nhưng có một vài mưu mô lận trong tay áo. Họ đã dặn xếp với nhau một cách thận trọng: mọi sự đều vào khuôn thước ngăn nắp, và gượng nhẹ hết sức. Tôi mong chúng ta cũng có được lề lối làm việc như thế.
- Anh nói, như thể anh khâm phục những phương pháp làm việc của chính phủ.
- Làm sao tôi không khâm phục cho được. Những phương pháp của chính phủ chúng ta là điều duy nhất thật sự tự nhiên ở Nga và là những phương pháp duy nhất có thể đưa tới kết quả ở đây. - Anh ta bỗng kêu lên. – Được, rồi, tôi sẽ không... Đó không phải là những gì tôi muốn nói. Tôi sẽ không nói một lời nào nữa về cái vấn đề tế nhị đó. Nhưng tôi nghĩ tôi nên từ giã. Trông anh xanh lắm đấy.
- Tôi bị sốt.
- Tôi có thể tin điều đó. Sao anh không nằm xuống. À, có vài hội viên phái Xcopetx54 ở quận này đấy. Thật khó hiểu cho những người gia nhập một môn phái chủ trương thiến, anh có nghĩ vậy không? Nhưng để rồi tôi sẽ nói cho anh chuyện đó. Tôi lại có một chuyện vui nhỏ cho anh. Trong quận có cả một trung đoàn bộ binh đóng. Tối thứ sáu tôi nhậu nhẹt với đám sĩ quan. Trong số họ có ba người là bạn của chúng ta, anh hiểu chứ? Chúng tôi đã nói chuyện về chủ nghĩa vô thần và chẳng nói anh cũng biết, Chúa, bị cách chức một cách thảm hại. Họ thích thú, la hét mừng rỡ. À, Satov cứ nhất định rằng nếu một cuộc khởi nghĩa được khơi mào ở Nga, nó sẽ phải bắt đầu bằng chủ nghĩa vô thần. Có thể hắn nói đúng. Có một đại úy già tóc bạc thô lỗ trong bọn họ. Ông ta ngồi suốt buổi im lặng, nhưng rồi bỗng nhiên ông ta đứng dậy, đứng ở giữa phòng và nói lớn như thể tự nói với mình. “Nếu không có Thượng đế, thì cái lon đại úy của tôi có ra cái thá gì?” Rồi ông ta nhặt lấy mũ két, nhún vai và bước ra.
Nicolai ngáp lần thứ ba và nói:
- Ông ta diễn tả một câu thật đúng luận lí.
- Anh nghĩ vậy thật không? Tôi đã không hiểu và định hỏi anh. À, còn gì nữa nhĩ? À, cái xưởng Spigulin khá lắm. Sử dụng năm trăm thợ, như anh biết rồi. Đó là một ổ vi trùng dịch tả và chưa từng được dọn dẹp lau chùi từ năm mươi năm nay. Những ông chủ triệu phú thì trả lương thợ thiếu thốn. Tôi cam đoan với anh, một vài người thợ đã được nghe nói về phong trào Quốc tế. Sao? Cái đó cũng làm anh cười à? Rồi chính anh sẽ thấy. Cứ để cho tôi một thời gian thật ngắn rồi tôi chứng minh cho xem. Trước tôi đã xin anh thời gian rồi, nhưng tôi phải xin thêm nữa... Nhưng xin lỗi, không, không, tôi không định nói về chuyện đó. Xin anh đừng cau mày. Chào anh. - Nhưng anh ta quay lại nói thêm: - Ồ, quên mất. Tôi quên một điều quan trọng nhất: họ mới báo cho tôi biết va li của chúng ta ở Petersburg đã tới.
Nicolai nhìn anh ta tỏ vẻ không hiểu:
- Anh định nói gì?
- Sao, cái va li đựng quần áo của anh trong đó, dĩ nhiên rồi - có áo khoác, quần dài, đồ lót của anh. Có phải nó tới rồi không?
- Phải, sáng nay họ có nói gì như là nó tới rồi.
- Tôi có thể xem bây giờ được không?
- Bảo Alecxei lấy cho.
- Thôi được, để mai. Sao, ngày mai được không? Bởi vì ngoài quần áo của anh còn có áo khoác của tôi, và ba cái quần đặt may ở tiệm Kẻ quyến rũ theo lời mách bảo của anh, anh nhớ không?
Nicoỉai nới với một tiếng thở ra:
- Tôi nghe nói anh đang cố gắng chưng diện để đóng vai một chàng công tử ở đây. Có thật anh còn có ý định tập cưỡi ngựa nữa phải không?
Piot’r cười một cách nhăn nhó. Anh ta vội nói với một giọng run run và ngập ngừng:
- Tôi xin nói với anh một điều, cả hai chúng ta hãy tránh những nhận xét cá nhân, lần này lần đầu và tôi mong sẽ là lần cuối. Dĩ nhiên, anh có quyền khinh rẻ tôi thế nào cũng được và anh cứ việc cười thỏa thích, nhưng tôi mong trong lúc này anh sẽ cố đừng đưa ra những nhận xét cá nhân.
- Được rồi, tôi sẽ không nói vậy nữa.
Piot’r mỉm cười, đập chiếc mũ vào đầu gối và đổi từ chân nọ sang chân kia. Anh ta có vẻ hoàn toàn lấy lại được bình tĩnh. Anh ta cười và nói:
- Vài người ở đây còn coi tôi như đối thủ của anh đối với Liza, cho nên làm sao tôi lại có thể không chú trọng tới bề ngoài của tôi được? Nhưng tôi muốn, biết anh lấy ở đâu lắm tin tức thế. Hừ, đã tám giờ rồi. Tôi phải đi lo nốt công việc mới được. Tôi đã hứa sẽ gặp mẹ anh một lúc, nhưng tôi nghĩ lần này tôi sẽ trốn. Còn anh, anh đi ngủ đi cho tươi tỉnh lại. Bên ngoài trời tối và mưa, đường sá ban đêm không an toàn lắm, nhưng tôi có một chiếc xe ngựa đang đợi... À này, đâu đây trong tỉnh này có một người tù phát lưu tên là Fedca sống lang thang từ Xibir trốn về, ông ta trước kia là một nông nô của tôi, anh tin hay không cũng không sao. Ông già yêu quí của tôi khoảng mười lăm năm trước đã đẩy ông ta vào quân đội và còn được quân đội thưởng tiền. Một nhân vật rất đáng chú ý.
Nicolai dò xét:
- Anh có... anh có nói chuyện với ông ta chưa?
- Rồi. Ông ta không trốn tránh tôi. Ông ta sẵn sàng làm bất cứ cái gì, để có tiền, dĩ nhiên. Nhưng tôi cũng cần phải nói, ông ta cũng có lập trường, mặc dù là những lập trường hơi kì quái. À phải rồi - lại à nữa - nếu chuyện anh và Liza hồi này là chuyện anh nói đứng đắn, anh cho phép tôi xác nhận một lần nữa rằng tôi cũng là một người sẵn sàng làm bất cứ việc gì, dù ra sao, và hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của anh... Anh định làm gì thế? Anh định với lấy cái gậy để làm gì? Ồ không phải... Tôi chỉ tưởng tượng. Tôi tưởng anh với lấy cái gậy kia của anh.
Nicolai không với lấy cái gì cả. Anh cũng không nói một lời nào. Mặc dù anh có đứng dậy và vẻ mặt co rút một cách kì lạ.
Piot’r bất ngờ chỉ thẳng về phía cái chặn giấy và nói:
- Ngoài ra, nếu anh cảm thấy phải làm một cái gì về ông Gaganov, tôi có thể xếp đặt mọi sự, dĩ nhiên. Tôi chắc anh không thể làm ăn được gì nếu không có tôi.
Không đợi trả lời, anh ta vội vã bước ra phòng, nhưng rồi chiếc đầu lại ngoái trở lại khe cửa, anh ta nói như ăn cướp:
- Tôi nói thế bởi vì Satov cũng không có quyền liều mạng sống của hắn khi hắn đánh anh hôm chủ nhật. Mong anh ghi nhớ điều đó.
4
Có lẽ Piot’r Verkhovenxki cho rằng ngay khi anh ta đi rồi, Nicolai còn một mình, sẽ bắt đầu nắm tay đấm vào tường, và chắc chắn anh ta cũng muốn nhìn cảnh đó. Nhưng nếu đúng như vậy thì anh ta tưởng lầm: Nicolai vẫn hoàn toàn trầm tĩnh. Anh đứng nguyên bên cạnh bàn không nhúc nhích khoảng hai ba phút, có vẻ trầm ngầm suy nghĩ. Rồi trên môi nở một nụ cười lạnh lẽo, hờ hững. Anh từ từ ngồi lên chiếc ghế dài mà anh đã ngồi khi Piot’r tới và nhắm mắt như thể mệt mỏi quá sức. Một góc chiếc thư vẫn ló ra khỏi cái chặn giấy, nhưng anh không buồn nhúc nhích để giấu đi. Một lúc sau anh trở nên hoàn toàn vô ý thức với ngoại cảnh.
Khi Piot’r bỏ đi không giữ lời hứa ghé thăm bà Xtavroghina, bà không thể dằn được việc tới phòng con trai, bất kể giờ đó không thích hợp. Bà đã chịu đựng hết nổi trước những lo lắng quá sức và có ý hi vọng rằng con bà sẽ giải thích cho bà tất cả những điều mà bà không hiểu được. Bà gõ cửa và khi không nghe trả lời, bà bước vào, như đã vào khi đưa Piot’r tới thăm con. Thấy Nicolai ngồi bất động trên ghế, bà bước lại gần, tim đập mạnh. Bà ngạc nhiên, thấy con có thể ngủ gà ngủ gật như vậy, ngồi thẳng lưng và bất động, không nghe cả tiếng thở. Mặt anh, nhợt nhạt và khắc khổ. Người như đóng thành băng, lông mày hơi cau lại, trông anh như một bức tượng bằng sáp. Bà đứng gần anh có lẽ tới ba phút, hầu như không dám thở, và bỗng nhiên bà thấy sợ hãi. Bà rón rén ra khỏi phòng, ngừng bên cửa để làm dấu thánh giá hướng về phía anh. Bà bỏ đi không ai thấy, mang theo trong lòng một nỗi buồn nặng nề hơn nữa.
Nicolai ngủ được hơn một giờ, suốt giấc ngủ ở trong trạng thái mê mệt. Không một thố thịt chuyển động trên mặt hay thân thể; cặp lông mày vẫn cau lại một cách khắc khổ như lúc anh ngồi xuống. Nếu mẹ anh nán thêm ba phút nữa, có lẽ bà đã không thể chịu đựng được cảnh mủi lòng trước sự bất động hôn mê ấy và đã đánh thức anh dậy. Nhưng khi anh mở mắt ra thì chỉ có một mình, và dù đã mở mắt, anh vẫn không nhúc nhích suốt mười phút nữa. Anh như chăm chú nhìn vật gì ở góc phòng, mặc dù ở đó không có gì đặc biệt làm anh chú ý.
Rồi chiếc đồng hồ lớn trên tường gõ một cách êm ả và đều đặn đánh dấu nửa giờ. Nicolai quay đầu lại nhìn một cách lo lắng. Đúng lúc đó, chiếc cửa bên trong phòng mò ra và Alecxei, người hầu, bước vào. Một tay ông ta mang chiếc áo ấm, khăn quàng, và mũ của Nicolai, tay kia cầm một cái khay bạc trên có để một mảnh giấy.
- Thưa cậu đã chín giờ rưỡi rồi.
Ông ta loan báo bằng một giọng lặng lẽ, rồi vắt quần áo vừa mang vào lên một chiếc ghế ở góc phòng và chìa cái khay có mảnh giấy cho Nicoilai, trên đó có hai dòng chữ bằng bút chì. Nicolai đọc rồi lấy một cái bút chì để trên bàn, viết hai chữ cũng trên mảnh giấy đó rồi đặt lại lên chiếc khay. Anh đứng dậy khỏi ghế và nói:
- Khi tôi đi rồi ông đem gửi lại. Bây giờ để tôi thay quần áo.
Nhận thấy mình đang mặc mỗi cái áo khoác bằng nhung mỏng, anh suy nghĩ một lúc rồi bảo Alecxei mang đến cái áo khoác đen đứng đắn anh thường mặc trong các cuộc thăm viếng chính thức vào buổi tối.
Khi đã mặc quần áo xong, nghĩa là đầy đủ áo khoác ngoài, mũ... anh khóa cái cửa mà mẹ anh đã vào để thăm anh, cầm bức thư mà anh đã cố giấu dưới cái chặn giấy, và lặng lẽ bước ra khỏi phòng, có Alecxei theo sau. Anh đi đọc theo một hành lang dẫn tới một thang lầu hẹp, bằng đá, ở phía sau. Họ đi xuống và bước vào một phòng nhỏ trông thẳng ra vườn. Trong một góc phòng có một cái dù và một cái đèn lồng nhỏ hình như để đó để dùng trong trường hợp này.
Người hầu cố gắng lần cuối cùng để thuyết phục chủ đừng đi ra ngoài, ông ta nói:
- Trời đang mưa lớn và đường sá rất lầy lội.
Nhưng chủ ông ta đã giương dù, không trả lời và bước ra khu vườn nhớp nháp sũng nước, đen như mực. Ngoài trời gió đang rít lên và làm nghiêng ngả đám cây cối đã hầu như trụi hết lá. Lối đi hẹp, trải cát trong vườn đã ngấm nước và trơn trợt. Alecxei không đội mũ và không mặc áo khoác. Ông ta cầm chiếc đèn lồng, đi trước Nicolai khoảng ba bước để soi đường.
Nicolai bỗng hỏi:
- Tôi và ông như thế này có làm người ta để ý lắm không?
Alecxei trả lời bằng một giọng lặng lẽ đều đặn:
- Thưa cậu, ở cửa sổ họ không thấy chúng ta được đâu. Và ngoài ra, mọi việc đã được sửa soạn kĩ lưỡng.
- Mẹ tôi đang ngủ phải không?
- Bà đã đi nghỉ hồi đúng chín giờ, như mấy ngày mới đây, và thưa cậu, bà không có cách nào khám phá ra chuyện gì. Mấy giờ tôi đón cậu về, thưa cậu? - Ông ta bấy giờ mới dám thêm vào một câu hỏi.
- Khoảng một giờ hay một rưỡi gì đó, nhưng không tới hai giờ đâu.
- Thưa cậu vâng.
Họ đi theo con đường nhỏ khúc khuỷu mà họ nhớ thuộc lòng và tới một cái cổng nhỏ ở gốc bức tường đá bao quanh khu vườn. Chiếc cổng dẫn tới một con đường ngang nhỏ và hẹp. Cổng luôn luôn khóa. Alecxei đưa ra một cái chìa khóa. Nicolai lại lo lắng hỏi:
- Nó có kêu ken két không đấy.
Alecxei giải thích rằng ông ta đã đích thân cho dầu ngày hôm trước và hôm nay lại cho dầu nữa. Người ông ta đã ướt đẫm. Ông ta mở cổng và đưa chìa khóa cho Nicolai.
- Thưa cậu, nếu cậu quyết định đi xa, cậu cho tôi được phép nói rằng xin cậu đề phòng những người mà cậu có thể gặp, nhất là ở những đường hẻm tối tăm vắng vẻ - thưa cậu, nhất là ở bên kia sông.
Alecxei không thể dằn lòng không đưa ra lời cảnh cáo thêm này cho cậu chủ trẻ tuổi của ông ta. Ông ta đã biết Nicolai từ khi còn là một cậu bé, bế ẵm anh trên tay, và ông ta là một đầy tớ biết trách nhiệm, đứng đắn, thích đi nghe giảng đạo và thích đọc sách về tôn giáo.
- Đừng lo, bác Alecxei ạ.
- Thượng đế sẽ phù hộ cho cậu, thưa cậu - nhưng chỉ khi nào cậu làm điều phải.
- Cái gì? - Nicolai ngừng lại hỏi. Anh đã ra tới đường.
Alecxei rắn rỏi nhắc lại những lời vừa nói. Ngày xưa, bác ta chẳng bao giờ dám cả gan nói với chủ như vậy. Nicolai khóa cổng lại, bỏ chìa khóa vào túi, và bước đi dọc phố hẹp, mỗi bước chân là mỗi bước ngập trong bùn tới năm phân. Cuối cùng anh tới một con đường dài trải đá, vào giờ đó hoàn toàn hoang vắng. Anh biết rõ thành phố như lòng bàn tay và biết rằng đường Chúa Giáng sinh còn xa mới tới. Khi anh tới được chiếc cổng khóa chặt của căn nhà cổ của Filippoy, đồng hồ đã quá mười giờ. Từ khi anh em Lebiadkin đi rồi, tầng dưới nhà bỏ không, nhưng ở tầng trên, trong phòng Satov, có một ngọn đèn. Không có chuông nên Nicolai phải dùng tay đập cổng. Cửa sổ mở ra và Satov nhìn xuống đường. Anh ta chắc chắn khó phân biệt được cái gì, bởi vì anh ta đã chăm chú nhìn vào bóng tối trọn một phút. Bỗng anh ta hỏi:
- Phải anh đấy không?
Nicolai trả lời:
- Tôi đây.
Satov đóng cửa sổ, đi xuống lầu và ra mở cổng. Nicolai bước qua bực cổng và không nói một lời đi thẳng tới chái nhà của Kirillov.
5
Cửa cái chái không khóa và thực ra mở sẵn. Lối đi và hai căn phòng đầu tiên tối om, nhưng có một ngọn đèn thắp ở phòng thứ ba, căn phòng Kirillov ở và uống trà. Có tiếng cười và tiếng kêu kì lạ từ đó vọng ra. Nicolai bước về phía căn phòng có ánh sáng nhưng rồi ngừng lại ở ngưỡng cửa. Có nước trà trên bàn. Một bà già, họ hàng của người chủ nhà, đứng ở giữa phòng. Bà ta để đầu trần, mặc chiếc áo khoác bằng lông thỏ bên ngoài chiếc váy lót và đôi chân không đi tất xỏ trong một đôi dép cũ kĩ. Bà ta bế một đứa trẻ chừng mười tám tháng phong phanh mỗi chiếc áo, đôi chân bé tí để trần, cặp má đỏ ửng và mái tóc gần như màu trắng rối bù. Đứa bé trông như mới được nhấc từ chiếc nôi lên. Có lẽ nó mới khóc, bởi vì mắt nó còn ngấn lệ, nhưng bây giờ thì nó đang vỗ tay và cười đùa, mặc dù trong tiếng cười của nó vẫn còn nghe có tiếng nức nở. Nó đang chăm chú nhìn Kirillov lúc đó đang tung một quả bóng đỏ trước mặt nó. Quả bóng tung lên tới tận trần nhà và rơi xuống, đứa trẻ kêu: “Bóng! Bóng!” Kirillov bắt quả bóng và đưa cho nó, nó cầm trong đôi tay bé nhỏ và ném đi, định bắt chước tung lên. Kirillov chạy đi nhặt lấy. Cuối cùng quả bóng lăn xuống dưới gầm tủ, đứa trẻ nóng nảy lại kêu “Bóng, bóng!” và Kirillov nằm dài trên sàn nhà, cố dùng tay với quả bóng. Khi Nicolai bước vào phòng, đứa trẻ trông thấy anh và tức khắc kêu lên, ôm choàng lấy bà già và bà này bế ngay nọ đi chỗ khác. Kirillov đứng dậy với quả bóng trong tay và nói:
- Nicolai đó hả? - Anh ta nhìn như không mảy may, ngạc nhiên trước cuộc viếng thăm. - Dùng trà nhé?
Và anh ta đứng thẳng người lại.
- Tôi không phản đối gì cả, nhất là nếu trà thật nóng. Tôi ướt đẫm rồi.
Kirillov có vẻ bằng lòng và bảo đảm:
- Nóng, rất nóng. Ngồi xuống đi. Đừng để ý bùn đất anh mang vào. Lát nữa tôi sẽ lau sàn bằng giẻ ướt.
Nicolai ngồi xuống và uống cạn tách trà hầu như trong một ngụm.
- Một tách nữa?
- Thôi, cám ơn.
Kirillov, vẫn còn đang đứng, vội ngồi xuống trước mặt Nicolai:
- Anh tới đây có gì không?
- Vì công việc. Đây, đọc cái thư này đi. Gaganov gửi. Tôi đã nói về ông ta với anh ở Petersburg, anh nhớ không?
Kirillov cầm cái thư đọc rồi nhìn Nicolai như chờ đợi. Nicolai bắt đầu giải thích:
- Như anh biết, tôi gặp ông ta ở Petersburg một tháng trước đây, lần đầu tiên trong đời. Tôi và ông ta có gặp nhau ba lần, trước mặt cả những người khác. Không được ai giới thiệu cũng chẳng tự giới thiệu, ông ta tỏ ra rất xấc xược. Tôi đã nói chuyện đó với anh rồi, nhưng có vài điều anh vẫn chưa biết: bởi vì ông ta rời Petersburg trước tôi, ông ta gửi cho tôi một cái thư, và mặc dù cũng chẳng có gì giống bức thư này, tôi thấy thật ngạc nhiên và lạ lùng, bởi vì ông ta không thèm giải thích tại sao ông ta đã gửi nó cho tôi. Tôi vội viết ngay thư trả lời ông ta, thẳng thắn nói rằng tôi chắc ông ta uất ức vì vụ đáng tiếc với cha ông ta bốn năm trước ở hội quán tại tỉnh này, còn về phần tôi, tôi sẵn sàng xin lỗi ông ta bằng bất cứ cách nào ông ta đưa ra, bởi vì hành động đó không phải cố ý mà do tôi bệnh hoạn vào lúc ấy. Tôi xin ông ta xét lại chuyện đó. Ông ta không trả lời và bỏ đi. Bây giờ tôi lại gặp ông ta ở đây và ông ta đang giận điên lên. Vài điều ông ta nói trước mọi người về tôi đã được báo cáo cho tôi biết: toàn là những lời nhục mạ và đầy những lời buộc tội lạ lùng nhất. Cuối cùng, hôm nay tôi nhận được bức thư này - một bức thư như thế từ trước đến nay không ai từng nhận được - đầy những câu tục tằn và công kích như câu: “anh với cái bản mặt phải đấm của anh”. Cho nên tôi đến anh, hi vọng anh sẽ không từ chối giúp tôi một tay.
Kirillov nhận xét:
- Anh nói không ai từng nhận được một cái thư như vậy, nhưng khi người ta nóng giận người ta mới viết những cái thư như thế. Puskin đã viết một cái cho Heckeren. Được rồi, tôi sẽ giúp anh. Anh cho tôi biết phải làm gì bây giờ.
Nicolai giải thích rằng anh muốn Kirillov đi ngay hôm sau và tuyệt đối cần phải bắt đầu bằng việc xin lỗi một lần nữa rồi gửi một cái thư giải thích và xin lỗi thứ hai - tuy nhiên, với điều kiện là về phần ông ta, Gaganov sẽ hứa không gửi thư nhục mạ nữa. Nicolai khi đó sẽ coi cái thư mới nhận được như không có.
Kirillov nói:
- Quá nhiều nhượng bộ. Ông ta sẽ không chấp nhận.
- Hiện thời tôi tới đây để hỏi xem anh có đồng ý chuyển những điều kiện đặc biệt này cho ông ta hay không.
- Tôi sẽ chuyển. Đó là công việc của anh. Nhưng ông ta sẽ không chấp nhận.
- Tôi biết vậy.
- Ông ta muốn giao đấu. Anh nên nói cho tôi biết anh muốn giao đấu với ông ta bằng cách nào.
- Rồi, tôi muốn giải quyết xong xuôi nội ngày mai. Anh sẽ gặp ông ta khoảng chín giờ sáng. Ông ta sẽ nghe anh nói hết rồi từ chối và bảo anh liên lạc với những người chứng của ông ta, khoảng mười một giờ. Bấy giờ, anh sẽ dàn xếp với họ để tôi với ông ta gặp nhau khoảng một hay hai giờ trưa. Dĩ nhiên, vũ khí sẽ là súng lục và tôi muốn anh xem xét cho việc giới tuyến cách nhau mười bước và sắp xếp cho chúng tôi đứng sau giới tuyến mười bước, và chúng tôi sẽ sáp lại nhau theo hiệu lệnh. Mỗi người chúng tôi phải ngừng lại ở giới tuyến nhưng trong khi đi tới có thể bắn trước. Rồi, tôi tin rằng tất cả có thế thôi.
- Mười bước giữa hai lằn mức - như thế gần quá.
- Được rồi, cho mười hai bước vậy. Anh phải biết rằng ông ta thực tâm muốn đấu. Anh có biết nạp đạn vào súng như thế nào không?
- Tôi biết. Tôi cũng có súng riêng. Tôi sẽ hứa với họ rằng anh chưa bao giờ tập bắn súng lục. Người chứng của ông ta cũng sẽ hứa như vậy. Lúc đó sẽ có hai cặp súng lục: cặp của tôi và cặp của ông ta, và chúng tôi sẽ gieo sấp ngửa để xem sẽ dùng cặp nào.
- Tốt lắm.
- Anh có muốn xem qua súng của tôi không?
- Tôi cũng nghĩ nên xem qua.
Kirillov ngồi xổm xuống ở một góc phòng bên chiếc rương. Anh ta không buồn đổ rương ra và chỉ lục những món lặt vặt khi cần. Anh ta lôi từ đáy rương một cái hộp bằng gỗ kè bọc nhung đỏ và lấy ra một cặp súng rất đẹp và đắt tiền.
- Tôi có đủ thứ: thuốc súng, đầu đạn, vỏ đạn. Khoan, tôi còn có một khẩu súng trái khế nữa.
Anh ta moi móc cái rương một lần nữa và lôi ra một cái hộp khác đựng một khẩu súng sáu của Mĩ.
- Anh có nhiều súng và tất cả đều đắt tiền cả.
- Phải, rất đắt.
Kirillov hầu như không có một xu dính túi và mặc dù anh ta hình như chẳng bao giờ để ý tới cái nghèo của mình, anh ta có vẻ hãnh diện khi trưng bầy những thứ vũ khí đắt giá mà chắc hẳn anh ta đã phải hi sinh lớn lao mới tậu được. Sau một lúc yên lặng ngắn. Nicolai hỏi một cách hơi ngập ngừng:
- Anh vẫn cương quyết đi tới cùng đấy chứ?
- Cương quyết. - Kirillov trả lời cụt ngủn. Qua giọng điệu câu hỏi, anh ta đã ý thức tức khắc những điều trong đầu Nicolai.
Lại một khoảng yên lặng ngắn nữa. Rồi Nicolai hỏi một cách thận trọng hơn trước:
- Khi nào?
Kirillov để mấy món vũ khí vằo hộp rồi trở lại ghế ngồi.
- Như anh biết, điều đó không túy thuộc vào tôi. Tôi sẽ làm khi nào được bảo làm. - Anh ta nói một cách vội vàng, như thể không thích câu hỏi nhưng đồng thời sẵn sàng trả lời bất cứ câu chất vấn nào khác. Cặp mắt đen mờ đục của anh ta chằm chằm nhìn vào Nicolai vặ vẻ mặt anh ta biểu lộ một sự trầm tĩnh khá thân thiện.
Sau ba phút yên lặng, Nicolai hơi cau mày nói:
- Tôi có thể thông cảm được việc một người tự bắn vào mình, dĩ nhiên. Chính tôi đôi khi cũng nghĩ đến chuyện làm như vậy. Và tôi thường tự nhủ: “Giả sử ta phạm một trọng tội”. - Tôi muốn nói một cái gì thực sự có tính cách ô nhục, không thể diễn tả được, lố bịch..., một cái gì mà cả ngàn năm sau người ta vẫn nhớ và phỉ nhổ. Rồi tôi nghĩ: “Một phát súng vào thái dương là sẽ chẳng còn gì. Vậy thì ta cần gì phải để ý đến mọi người và lo lắng không biết một ngàn năm sau người ta còn ghê tởm mình không?” Anh đồng ý chứ?
Sau một lúc cân nhắc những lời của Nicolai, - Kirillov nói:
- Anh gọi đó là một tư tưởng mới à?
- Tôi... Tôi không nói vậy... Chẳng qua khi nó nẩy ra trong đầu tôi, tôi cảm thấy... cảm thấy nó như một ý nghĩ mới mẻ.
- Anh “cảm thấy như” phải không? Tốt. Có nhiều tư tưởng lúc nào cũng có sẵn nhưng bỗng nhiên cảm thấy mới. Điều đó đúng. Có nhiều chuyện tôi thấy bây giờ như thể thấy lần đầu tiên.
Nicolai ngắt lời, nóng nảy muốn đưa ra hết ý nghĩ của mình:
- Thí dụ anh đang sống trên mặt trăng, và thí dụ anh đã làm tất cả những điều ghê tởm, lố bịch như vậy ở trên đó. Rồi, khi anh tới đây, anh biết rằng ở trên kia người ta vẫn cười và phỉ nhổ mỗi khi đề cập tới tên anh, khắp nơi trên mặt trăng, cả ngàn năm nữa vẫn còn. Nhưng bây giờ anh đang ở trên trái đất. và từ đây nhìn lên mặt trăng, việc gì anh phải quan tâm tới những gì anh đã làm trên đó và lo không biết cả ngàn năm tên anh có còn bị sỉ nhục ở trên mặt trăng không.
- Không biết được. Tôi chưa từng ở mặt trăng bao giờ.
Anh ta nói không có một vẻ gì là châm biếm, như thể chỉ là một lời nhận xét thực tế bình thường.
- Con ai mới ở đây lúc nãy đó?
- Con của con riêng bà già - à không, của nàng dâu, cũng không khác gì mấy - đã tới đây. Ba ngày trước, với đứa nhỏ. Cô ta ốm, rên cả đêm. Đau bụng. Mẹ đi ngủ, bà già mang đứa bé vào đây, tôi dỗ nó nín. Với quả bóng này. Tôi mua quả bóng ở Hamburg. Tôi ném lên rồi bắt, cho khỏi đau lưng. Nó là con gái.
- Anh thích trẻ con?
- Phải. - Anh ta trả lời, hoàn toàn hờ hững.
- Như vậy anh cũng thích cuộc sống, phải không?
- Vâng. Tôi thích, có gì không?
- Thế mà anh còn quyết chí tự bắn mình.
- Rồi sao? Có gì lạ đâu? Cuộc sống là một chuyện và chuyện kia là khác. Cuộc sống có thật nhưng không có cái gì gọi là cái chết cả.
- Như thế có phải anh đã đi tới tin tưởng rằng có một cuộc sống tương lai vĩnh cửu?
- Không, không phải một cuộc sống tương lai vĩnh cửu, mà chính hiện tại này có cuộc sống vĩnh cửu. Có những lúc - anh có thể đạt được những lúc đó - thời gian bỗng ngừng lại và trở nên vĩnh cửu.
- Và anh hi vọng sẽ đạt được một lúc như vậy?
- Phải.
Nicolai chậm rãi nói một cách đắn đo, cũng không có vẻ gì châm biếm:
- Trong thời đại chúng ta, thật khó có thể được. Trong sách Khải huyền55 thiên thần có hứa sẽ không còn có thời gian nữa.
- Tôi biết. Có nhiều sự thật trong đó, rõ ràng và đúng. Khi người ta đạt tới hạnh phúc, sẽ không còn có thời gian bởi vì không cần nữa. Đó là một tư tưởng rất đúng sự thật.
- Thế họ giấu thời gian ở đâu?
- Không ở đâu cả. Thời gian không phải là một vật, đó là một tư tưởng. Nó sẽ biến mất khỏi tâm trí.
Nicolai nửa buồn rầu nửa chán nản nói:
- Cái chuyện tầm thường cũ kĩ của triết học vẫn như xưa, kể từ thuở khai thiên lập địa tới giờ.
- Vẫn y như xưa kể từ khi các thời đại khai nguyên! Phải, và sẽ không có chuyện gì khác hơn, không bao giờ có! - Kirillov nhắc lại. Mắt anh ta sáng lên như thể tư tưởng đó chứng minh được quan điểm của anh ta.
- Có vẻ anh rất hạnh phúc, Kirillov ạ.
- Rất hạnh phúc. - Kirillov nói một cách hờ hững, như thể trả lời một câu hỏi bình thường nhất.
- Nhưng chỉ có điều mới đây anh có vẻ rất bận tâm và giận dữ với Liputin.
- Hừ... Bây giờ thì tôi không có gì chống báng ai. Khi đó tôi vẫn không biết rằng tôi hạnh phúc. Anh đã từng nhìn một cái lá chưa, một cái lá trên cây đó?
- Rồi.
- Mới đây tôi có nhìn một cái. Nó mầu vàng, điểm một ít mầu xanh và hơi úa ở cạnh. Gió thổi nó cuốn đi. Hồi tôi mười tuổi, vào mùa đông, tôi đã nhắm mắt lại và tưởng tượng một cái lá, mầu xanh tươi, có những đường gân nhỏ, và lấp lánh dưới ánh mặt trời. Khi tôi mở mắt ra, tôi không thể tin là thật, bởi vì nó đẹp quá. Rồi tôi lại nhắm mắt lại.
- Thế là thế nào? Một câu chuyện ngụ ngôn hả?
- Không..., tại sao? Tôi không kể một chuyện ngụ ngôn gì cả, đơn giản chỉ là cái lá. Một cái lá. Cái lá đó, nó thật đẹp. Mọi sự đều tốt.
- Mọi sự?
- Mọi sự. Con người cảm thấy bất hạnh bởi vì hắn không biết là hắn hạnh phúc. Đó là lí do độc nhất. Kẻ nào khám phá được nó sẽ thấy hạnh phúc kể từ phút đó. Cái cô con dâu kia sẽ chết, đứa gái nhỏ ở lại - và mọi sự đều tốt. Tôi đã bất ngờ khám phá ra như vậy.
- Vậy thì, nếu người ta chết vì đói hay có kẻ nào ngược đãi hoặc hiếp đứa bé gái đó, cũng là tốt, phải không?
- Đúng. Và nếu có người đập vỡ sọ cái người đàn ông kia để cứu đứa bé gái, điều đó cũng tốt nữa. Và nếu không có ai đập vỡ sọ kẻ đó, cũng tốt không kém. Mọi sự đều tốt. Nếu người ta chỉ biết rằng người ta hạnh phúc: tất người ta hạnh phúc, nhưng khi nào người ta không biết vậy, người ta thấy bất hạnh. Và đó là tất cả vấn đề.
- Thế anh nhận ra anh hạnh phúc như vậy hồi nào?
- Tuần trước, hôm thứ ba. Không, hôm thứ tư. Khoảng đêm thứ ba rạng ngày thứ tư.
- Trong dịp nào?
- Tôi không nhớ. Khi đó tôi đang đếm bước trong phòng. Điều đó không quan trọng. Tôi làm đồng hồ đứng lại. Lúc đó là hai giờ ba mươi bảy phút sáng.
- Có phải đó là một cử chỉ tượng trưng ngụ ý thời gian ngừng lại không?
Kirillov không trả lời câu hỏi. Một lúc sau anh ta nói:
- Họ xấu bởi vì họ không biết là họ tốt. Khi họ biết ra, họ sẽ không hiếp đứa bé gái. Họ phải tìm ra rằng họ tốt, và rồi họ sẽ tốt hết, hết thảy.
- Cho nên, bởi vì anh đã tìm ra, bây giờ chắc chắn anh tốt.
- Đúng, tôi tốt.
Nicolai cau mày nói:
- Tôi phải nói rằng tôi đồng ý điều đó.
- Kẻ nào thành công trong việc dạy con người rằng tất cả họ đều tốt sẽ kết liễu thế giới.
- Kẻ cố gắng dậy điều đó đã bị đóng đinh trên cây thánh giá rồi.
- Kẻ đó sẽ xuất hiện và là con người làm Thượng đế.
- Anh định nói Thượng đế xuống làm người?
- Không, con người làm Thượng đế - đó là sự khác biệt vĩ đại.
- Tôi thấy ngạc nhiên, có phải chính anh đã thắp ngọn đèn trước ảnh Đức Mẹ kia không?
- Phải, tôi thắp.
- Như vậy cuối cùng anh có tín ngưỡng?
- Bà già thích thắp đèn... và hôm nay bà ấy không có thì giờ.
- Tôi tin rằng anh chưa bắt đầu cầu nguyện?
- Tôi cầu nguyện mọi sự. Anh thấy con nhện đang bò kia không, ở trên tường đó? Tôi nhìn nó và tôi biết ơn nó bởi vì nó bò.
Cặp mắt anh ta lại sáng rực lên. Anh ta nhìn thẳng vào mặt Nicolai một cách cương quyết và không nao núng. Nicolai cau mày nhìn lại với vẻ không bằng lòng, nhưng sự biểu lộ của anh không có gì là nhạo báng. Cuối cùng, anh đứng dậy cầm lấy mũ và nói:
- Tôi đánh cuộc là lần sau tôi mới gặp anh, anh sẽ tin vào Thượng đế.
Kirillov cũng đứng dậy:
- Tại sao?
Nicolai trả lời với một cái thở ra:
- Nếu anh phát giác rằng anh tin nơi Thượng đế, Tất cả sẽ tin, nhưng bởi vì anh vẫn chưa biết nên anh chưa tin.
- Điều đó không đúng. Anh đã bóp méo tư tưởng. Đó là một sự khôi hài không đúng chỗ. Anh hãy nhớ cái vai trò anh đã đóng trong đời tôi, Nicolai ạ.
- Chào anh, Kirillov.
- Tối nào tới và gặp tôi lần nữa. Chừng nào?
- Sao, anh không quên chuyện ngày mai chứ?
- À, quên mất. Nhưng đừng lo, tôi sẽ không ngủ quên đâu. Tôi sẽ có mặt ở đó lúc chín giờ. Tôi biết cách thức giấc khi tôi muốn. Tôi đi ngủ và lẩm bẩm “bảy giờ”, nếu tôi nói “mười giờ”, là đúng mười giờ.
Nicolai nhìn gương mặt nhợt nhạt của Kirillov và nói:
- Anh có những khả năng thật đáng kể.
- Để tôi ra mở cổng cho anh.
- Đừng lo, có Satov rồi.
- Satov hả? Tốt. Thôi chào anh.
6
Cửa căn nhà trống nơi Satov ở không khóa. Nicolai bước vào và thấy bên trong tối đen như mực. Anh đang lần mò tìm cầu thang thì cánh cửa tầng trên mở ra và ánh sáng lọt ra ngoài. Satov đã đẩy cửa phòng cho mở ra nhưng vẫn ở trong phòng. Nicolai đi lên. Tới ngưởng cửa, anh thấy Satov đang đứng ở một góc phòng gần chiếc bàn, như đang chờ đợi.
Từ ngoài Nicolai hỏi vọng vào:
- Tôi vào được không? Tôi có việc phải gặp anh.
- Vào đi và mời ngồi. Đóng cửa lại. Thôi, khoan, để tôi đóng.
Anh ta khóa cửa, trở lại chiếc bàn và ngồi xuống trước mặt Nicolai. Tuần vừa qua anh ta gầy đi và trông như bị ốm. Anh nhìn xuống và nói như thì thầm:
- Anh làm tôi hết hồn. Tại sao anh không đến sớm?
- Tại sao anh tin chắc tôi sẽ đến như vậy?
- Đợi một chút, tôi bị sảng, có thể bây giờ vẫn còn. Đợi một chút...
Anh ta đứng dậy và lấy vật gì ở trên nóc ba cái kệ sách xuống. Đó là một khẩu súng lục trái khế.
- Trong một cơn ác mộng thấy anh tới để giết tôi, cho nên sáng hôm sau tôi đã dốc hết tiền trong túi để mua khẩu súng này của cái tên Liamsin vô tích sự kia. Tôi không muốn để mặc anh lấy mạng tôi. Rồi tôi tỉnh trí trở lại... Tôi không có đạn. Từ lúc đó nó nằm vạ nằm vật trên kệ. Đợi một chút...
Anh ta đứng dậy và định mở cửa sổ. Nicolai nói:
- Đừng vứt đi. Tại sao anh lại định làm vậy? Đó cũng là tiền. Ngoài ra, ngày mai người ta đi rêu rao là súng ống nằm vương vãi dưới cửa sổ nhà Satov. Để lại đi. Được rồi. Bây giờ ngồi xuống đi. Anh cho tôi biết tại sao anh có vẻ như ân hận về ý nghĩ cho rằng tôi sẽ giết anh? Anh phải hiểu rằng tôi đến đây không phải để hòa giải với anh, nhưng để nói một câu chuyện, chuyện rất cần thiết. Anh cho tôi biết, trước hết, khi anh đánh tôi, đó không phải vì tôi có dính dáng với vợ anh, phải không?
Satov lại ngó xuống:
- Anh biết thừa rằng đó không phải là lí do.
- Và dĩ nhiên cũng không phải vì anh tin cái chuyện bịa đặt ngu ngốc kia về tôi và em gái anh, phải không?
- Không, không, dĩ nhiên không! Chuyện vô nghĩa Dasa đã kể cho tôi ngay từ đầu... - Satov nói một cách nóng nảy, dậm chân xuống sàn.
Nicolai bình thản nói:
- Như vậy tôi đoán và anh cũng đã đoán, anh đoán đúng. Tôi đã làm lễ cưới theo pháp luật với Maria Lebiadkina được bốn năm rưỡi nay, từ khi ở Petersburg. Đó là lí do anh đánh tôi, phải không?
Satov ngây người chiếu mắt nhìn Nicolai một cách lặng lẽ. Cuối cùng anh ta nói nhỏ:
- Phải, tôi có đoán điều đó, nhưng tôi không thể tin được...
- Nhưng anh vẫn đánh tôi vì chuyện đó?
Satov đỏ mặt và lúng búng gần như không hiểu anh ta nói gì:
- Tôi làm vậy bởi vì sự mất tư cách của anh, sự lừa dối của anh. Khi tôi tiến lại anh, đó không phải là để trừng phạt anh. Tôi không biết sao tôi lại đánh anh... Tôi làm vậy bởi vì tôi đã quá coi trọng anh... Tôi...
- Tôi hiểu, tôi hiểu. Anh đừng lo. Tôi rất tiếc thấy anh bị ốm. Tôi có chuyện rất quan trọng muốn bàn với anh.
Satov run lên, có vẻ như sắp nhảy khỏi ghế:
- Tôi đã đợi anh quá lâu rồi. Anh cứ nói những gì anh muốn nói rồi tôi cũng nói, tôi nói sau.
Nicolai nhìn anh ta với sự tò mò.
Những gì tôi phải nói không liên quan gì với tất cả chuyện kia. Vì những sự kiện chắc chắn, tôi buộc phải tới đây vào giờ này để báo cho anh biết rằng anh có thể bị giết.
Satov nhìn anh một cách dữ tợn rồi chậm rãi nói:
- Tôi biết rằng mạng sống của tôi có thể bị nguy hiểm, nhưng làm sao anh biết được điều đó?
- Bởi vì, cũng như anh, tôi là một hội viên của hội.
- Anh?
Nicolai cười nhạt:
- Tôi chỉ nhìn mắt anh cùng có thể biết rằng anh có thể mong chờ bất cứ điều gì về tôi trừ điều đó ra. Nhưng dù sao, anh cũng đã biết họ đang âm mưu hại anh, phải không?
- Tôi chẳng bao giờ coi chuyện đó là quan trọng nên không biết, ngay cả bây giờ, sau lời cảnh cáo của anh mặc dù không ai dám chắc điều gì với những kẻ đần độn đó. - Satov bỗng la lớn, giận dữ đập nắm tay lên bàn. - Tôi không sợ chúng nó! Tôi không còn dính líu gì với chúng nó. Một tên đã tới đây bốn lần để nói với tôi rằng điều đó có thể xảy ra, nhưng... - anh ta nhìn thẳng vào Nicolai, - anh biết những gì về chuyện đó?
Nicolai trả lời một cách hơi lạnh lùng, nghe như chỉ muốn trả một nghĩa vụ cho xong:
- Tôi bảo đảm với anh là tôi không đánh lừa anh. Anh hỏi tôi biết những gì về chuyện đó để thẩm vấn tôi đấy hả? Được, tôi biết anh đã gia nhập hội ở nước ngoài hai năm về trước, vào thời tổ chức cũ, ngay trước chuyến đi của anh sang Mĩ châu. Tôi tin rằng hầu như ngay sau cuộc nói chuyện cuối cùng của tôi với anh, cuộc nói chuyện mà anh đã đề cập dài dòng trong cái thư từ Mĩ anh gửi cho tôi. À, tôi mong anh hãy tha lỗi cho tôi về việc tôi không trả lời anh bằng thư mà bằng...
Bằng cách gửi tiền, - Satov vội vã hớt lời. - Đợi đấy. - Anh ta rút ngăn kéo và đưa cho Nicolai một tờ một trăm rúp màu mông trời. - Đây là một trăm rúp mà anh đã gửi cho tôi. Không có anh tôi đã chết ở đó rồi. Đáng lẽ còn lâu tôi mới trả nợ anh được nếu không nhờ có mẹ anh: bà ấy đã cho tôi trăm rúp này sau kì tôi bị ốm, lúc tôi không có một đồng xu dính túi. Nhưng xin anh cứ tiếp tục. - Anh ta gần như hết hơi.
- Ở Mĩ châu, anh thay đổi quan điểm và khi trở về Thụy Sĩ anh quyết định từ chức. Họ không xét đơn của anh mà còn ra lệnh cho anh trông coi một nhà in ở Nga đây và rồi giao lại cho một người của họ khi người này nhân danh họ để đòi lại. Tôi không rõ đầy đủ mọi chi tiết nhưng anh thử nói xem, một cách tổng quát, những gì tôi nói có đúng không? Về phần anh, anh đồng ý thi hành với điều kiện - hay chỉ với hi vọng - rằng đó sẽ là việc cuối cùng mà họ yêu cầu anh làm và sau đó họ sẽ buông tha cho anh hoàn toàn. Dù chuyện đó có đúng như vậy hay không, tôi biết được không phải do họ nói, mà hoàn toàn vì tình cờ. Nhưng bây giờ có một điều mà tôi nghĩ rằng anh không biết: những hạng người này không có ý buông tha anh đâu.
Satov la lớn:
- Chuyện vô lí khả ố! Tôi đã nói với họ một cách thẳng thắn rằng tôi không đồng ý với họ về mọi chuyện! Đó là quyền của tôi! Tôi có quyền đối với lương tâm của tôi, tư tưởng riêng của tôi. Tôi sẽ không chấp nhận chuyện đổ. Không có sức mạnh nào có thể ép tôi được!
Nicolai nói một cách nghiêm trang:
- Anh cũng biết, anh không nên la lớn như vậy. Cái tên Piot’r Verkhovenxki kia là một thứ rất có thể đang trực tiếp rình rập nghe lén hay dùng tai người khác để nghe. Ngay cả cái lão Lebiadkin say sưa kia cũng có thể đã được chỉ thị dòm ngó anh, chẳng khác gì anh được lệnh dòm ngó lão, hay anh bảo tôi nói sai? Anh nên nói cho tôi biết bây giờ Piot’r có chấp nhận những lí lẽ của anh hay không?
- Có. Hắn nói có thể rời khỏi tổ chức được và tôi có quyền...
- Thế thì, tôi xin nói với anh rằng hắn nói dối anh. Tôi biết ngay cả Kirillov, con người hầu như chẳng còn liên hệ gì với họ, cũng đang báo cáo với họ về anh. Ngoài ra, họ còn cả lô nhân viên, nhiều người trong số đó còn không biết mình đang làm việc cho hội. Hiện giờ lúc nào anh cũng bị canh chừng. Và, còn chuyện nữa, Piot’r Verkhovenxki đã tới đây, việc chính là để giải quyết công chuyện của anh và hắn có toàn quyền để làm vậy, nghĩa là, cho thanh toán anh ngay khi nào thuận tiện, bởi vì anh biết quá nhiều và có thể quyết định tố cáo. Tôi nhắc lại, anh có thể tuyệt đối tin lời tôi nói. Họ có vẻ tin rằng anh là một mật vụ và nếu anh chưa chỉ điểm họ, rồi anh sẽ làm ngay khi có dịp. Bây giờ anh cho tôi biết, có đúng vậy không?
Giọng nói khẳng định của Nicolai khi hỏi một câu như vậy làm Satov nhăn mặt. Mồm anh ta méo mó. Anh ta giận dữ nói:
- Dù cho tôi là một mật vụ đi nữa, tôi báo cáo với ai bây giờ? Không, để tôi yên! Đừng lo cho tôi! - Bỗng anh ta la lên, trở lại cái tư tưởng nguyên thủy rõ ràng đã làm bận tâm anh ta hơn là cái tin mạng sống của anh bị đe dọa. - Anh nói cho tôi biết, Nicolai, làm sao anh - một người như anh - có thể dính líu vào cái tổ chức ngu ngốc ghê tởm của những kẻ hạ tiện kia? Thế ra anh cũng là một hội viên của hội! Quả là một thành tích của Nicolai Xtavroghin!
Anh ta còn đan hai tay vào nhau một eách thất vọng, như thể tư cách hội viên của Nicolai trong tổ chức là một sự sỉ nhục kinh khủng nhất mà anh ta không thể tưởng tượng được. Nicolai nói với giọng thực sự kinh ngạc:
- Xin lỗi anh, nhưng có vẻ anh xem tôi như một thứ mặt trời so với anh như một con sâu bọ vậy. Tôi đã nhận thấy như vậy từ khi đọc bức thư anh gửi từ Mĩ về.
Satov ngắt ngang:
- Anh biết, anh biết rất rõ. - Thôi đừng nói chuyện ấy nữa! Nếu anh có thể giải thích việc làm của anh, anh giải thích đi. - Anh ta nói thêm, giọng nóng nảy: - Sao cho có thể trả lời được những gì tôi đã hỏi anh. Dĩ nhiên. Anh muốn biết làm sao tôi có thể dính líu với những nhân vật hạ cấp, ám muội như vậy, phải không? Cũng được, sau những điều tôi nói với anh, tôi nghĩ tôi nợ anh một sự giải thích thẳng thắn. Anh biết không, nói cho đúng, tôi chưa bao giờ thuộc về hội và tôi có đủ tư cách hơn anh để bước ra, bởi vì lí do đầu tiên là tôi không bao giờ nhập bọn với họ. Trái lại, ngay từ đầu, tôi đã cho họ biết tôi không phải đồng chí của họ và nếu tôi giúp họ, đó chỉ là tình cờ làm cho đỡ buồn. Tôi chỉ tham gia một phần nào đó trong việc tổ chức lại hội, và tất cả chỉ có thế. Nhưng bây giờ tôi nghĩ họ đã quyết định nếu để tôi đi sẽ nguy hiểm và họ đã thông qua bản án tử hình dành cho tôi.
- Với họ luôn luôn là án tử hình, viết trên giấy tờ long trọng có đóng dấu và chữ kí của ba người rưỡi... Anh thực sự có nghĩ rằng họ có thể thi hành được bản án không?
Nicolai trả lời một cách hơi hờ hững, gần như lười biếng:
- Về điểm đó, anh có một phần đúng, một phần sai. Chắc chắn là họ có bị trí tưởng tượng của họ lôi kéo một chút và cũng như tất cả những nhóm nhỏ, họ muốn phóng đại quyền lực và ảnh hưởng của họ. Nhưng, nếu anh hỏi, tôi cũng xin trả lời, tất cả tổ chức thu gọn vào một người: Piot’r Verkhovenxki. Hắn quá khiêm nhường khi tự nhận chỉ là một nhân viên của tổ chức. Nhưng công bằng mà nói, lí tưởng của nhóm cũng không điên khùng hơn là lí tưởng của những nhóm tương tự khác. Họ có những mối liên lạc với phong trào Quốc tế; họ đã thành công trong việc tạo ra một mạng lưới nhân viên ở Nga và tình cờ gặp được một phương pháp hoàn toàn độc đáo - ồ không, mới chỉ trên lí thuyết thôi, dĩ nhiên. Về phần những kế hoạch địa phương của họ anh phải nhớ rằng đường đi nước bước của chi nhánh Quốc tế ở Nga mờ ám và bất ngờ đến độ bất cứ phương sách nào họ cũng đem ra làm thử được. Hơn nữa, anh cũng biết rằng Piot’r là một nhân vật cương quyết.
- Satov la lên một cách giận dữ: Hắn là một thứ sâu bụ, một kẻ vô học, và là một tên đần độn chẳng hiểu gì về nước Nga cả!
- Anh biết hắn rất ít, mặc dù thật sự bọn họ cũng không có ai hiểu nhiều gì về nước Nga. Nhưng cũng có ai hiểu đâu? Ngay cả anh và tôi cũng không hiểu hơn gì họ cho lắm, Ngoài ra, Piot’r là một kẻ cuồng tín.
- Hắn mà cuồng tín à?
- Chắc chắn như vậy. Tới một mức, hắn không còn là một thằng hề mà trở thành một kẻ điên khùng. Tôi muốn nhắc anh nhớ lại một lời chính anh nói ra: một kẻ đơn độc cũng có thể có một sức mạnh đáng sợ. Xin anh đừng coi rẻ hắn một cách nông nổi như thế; hắn có đủ khả năng để bóp cò súng. Họ tin rằng tôi cũng là một gián điệp. Cái hệ thống tổ chức nặng nề của họ làm họ nhìn đâu cũng thấy gián điệp.
- Nhưng dĩ nhiên anh không sợ họ, phải không?
- Không... không hẳn. Nhưng, trường hợp anh thì hơi khác. Anh nên nhớ thật kĩ những gì tôi đã nói với anh. Theo tôi nghĩ, họ là những kẻ điên, và, tránh voi chẳng xấu mặt nào. Cái vốn tri thức của họ không có ảnh hưởng gì tới vấn đề, họ đã thủ tiêu nhiều người tài giỏi hơn anh và tôi. Nhưng đã mười một giờ mười lăm rồi, - Nicolai đứng dậy và nhìn đồng hồ, - tôi muốn được hỏi anh một câu không liên quan gì với tất cả những điều vừa nói.
Satov nhảy khỏi ghế, nói:
- Hỏi đi! Vì Thượng đế, cứ hỏi đi.
Nicolai nhìn anh ta ngạc nhiên:
- Ý anh nói gì?
Satov nhắc lại với sự khích động cùng cực:
- Hỏi đi, vì Thượng đế, cứ hỏi cái câu đó đi! Nhưng với điều kiện anh cũng cho tôi hỏi một câu. Làm ơn, làm ơn cho tôi hỏi, tôi không thể... hỏi đi, hỏi câu của anh đi!
Nicolai khẽ nhún vai rồi bắt đầu:
Tôi biết anh có đôi chút ảnh hưởng đối với Maria Lebiadkina ở đây và nàng thích gặp anh để nghe anh nói chuyện. Có đúng không?
Satov bối rối:
- Phải... nàng có nghe...
- Một ngày tới đây tôi định loan báo công khai ở thành phố này là chúng tôi đã cưới nhau.
Satov thì thào, như bị khủng khiếp:
- Nhưng có thể được không?
- Tại sao? Anh nói có thể là làm sao? Không có gì trở ngại. Nhân chứng hôn lễ đều có mặt ở đây. Lễ cưới ở Petersburg hoàn toàn hợp pháp và bình thường, và sở dĩ nó vẫn còn là một bí mật là vì các nhân chứng - Piot’r Verkhovenxki và Alecxei Kirillov, cả Lebiadkin nữa, người mà bây giờ tôi có quyền gọi là anh rể được rồi - đã hứa với tôi sẽ không tiết lộ chuyện đó.
- Đó không phải là những điều tôi nghĩ. Anh thực tế quá! Nhưng cứ tiếp tục đi. À nghe đây, anh đã không bị áp lực phải lấy nàng, phải không?
Nicolai mỉm cười trước sự nóng nảy gây gổ của Satov.
- Không, không ai ép tôi phải lấy nàng.
Satov nói nhanh, như lại nóng trở lại:
- Thế sao nàng luôn miệng nói tới đứa con của nàng?
- Đứa con? Bây giờ tôi mới nghe nói lần đầu. Nàng không có con gì cả và không thể có được: Maria còn con gái.
- À, đúng như tôi đã nghĩ! Nghe đây...
- Nhưng có gì làm anh bồn chồn thế, Satov?
Satov lấy tay che mặt và quay đi, rồi bỗng nắm lấy vai Nicolai.
- Anh có biết... Anh có mảy may nghĩ ngợi tại sao anh đã làm tất cả những chuyện như vậy không? Và bây giờ nhân danh cái gì mà anh muốn nhận lãnh hình phạt?
- Đó là một câu hỏi vừa độc địa vừa thông minh, nhưng tôi dành một ngạc nhiên cho anh: phải, chẳng nhiều thì ít tôi có biết tại sao khi đó tôi đã cưới nàng và tại sao bây giờ tôi lại muốn chấp nhận hình phạt, như lời anh hỏi.
- Thôi tạm bỏ qua chuyện đó, chúng ta sẽ trở lại. Tôi muốn nói về một chuyện quan trọng nhất: tôi đã chờ anh hai năm nay rồi.
- Thật vậy không?
- Tôi đã chờ anh quá lâu, tôi đã nghĩ đến anh không lúc nào nguôi. Anh là người duy nhất đã có thể... Tôi đã viết cho anh về chuyện đó khi tôi còn ở châu Mĩ.
- Tôi nhớ bức thư dài đó rất rõ.
- Dài đến phát ngán không muốn đọc phải không? Tôi đồng ý: sáu trang. Không, khoan đã, anh đừng nói gì cả. Anh có thể dành cho tôi thêm mười phút nữa không? Ngay bây giờ. Tôi đã chờ anh quá lâu!
- Tôi rất vui lòng được làm vừa lòng anh. Nhưng tôi nghĩ để anh nửa giờ luôn cho anh thỏa mãn; đó là thời gian nhiều nhất mà tôi có thể dành cho anh.
Satov giận dữ, trả lời:
- Được, nhưng với điều kiện anh đổi cái giọng nói của anh đi. Nhưng anh hãy nghe tôi nói đây, tôi đang yêu cầu trong khi tôi phải khẩn cầu. Anh có hiểu một người ở địa vị phải khẩn cầu thì yêu cầu nghĩa là gì không?
Nicolai trả lời với một nụ cười nhăn nhó:
- Tôi hiểu tiếng nói đó làm anh cảm thấy vượt lên khỏi những cái bình thường để theo đuổi những lí tường cao cả của anh. Và tôi rất tiếc thấy anh nóng nảy.
Satov hết sức la lớn:
- Tôi khẩn cầu anh, tôi yêu cầu anh đối xử cùng tôi với sự kính trọng! Không phải kính trọng cá nhân tôi - cá nhân bỏ đi - nhưng kính trọng cái khác. Tôi chỉ có thì giờ để nói vài lời về chuyện đó. Chúng ta chỉ là hai sinh vật gặp nhau trong một không gian vô tận - lần cuối cùng trên cái thế giới này. Bỏ cái giọng đó đi và ít ra một lần trong đời anh, anh hãy nói cho ra một con người! Tôi không đòi hỏi cho tôi mà là cho anh. Anh có hiểu rằng anh phải tha thứ chuyện tôi đánh vào mặt anh chẳng qua chỉ vì đó là dịp cho anh nhận thức cái sức mạnh lớn lao của anh? Đó, cái cười sang trọng, kẻ cả của anh như thế kia đó. Ôi! Biết đến bao giờ anh mới hiểu được! Quẳng cái chàng công tử trẻ tuổi của anh đi! Tóm lại, anh hãy hiểu rằng đó là những gì tôi yêu cầu. Phải, tôi yêu cầu anh điều đó, nếu không tôi sẽ không nói, cái gì tôi cũng không nói!
Sự kích động làm anh ta hoàn toàn mê sảng. Nicolai cau mày và có vẻ thận trọng hơn, anh nói một cách chậm rãi và đứng đắn:
- Dù sao, bởi vì tôi đã đồng ý ở lại đây nửa giờ nữa trong lúc thời giờ rất quý báu đối với tôi, anh có thể yên tâm là ít ra tôi cũng lắng nghe anh nói với sự chú ý, và tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tôi sẽ được nghe nhiều điều mới lạ đối với tôi.
Nói xong Nicolai ngồi xuống.
- Ngồi xuống đi! - Satov la lớn, rồi cũng ngồi phịch xuống ghế.
Nicolai như bỗng nhớ ra điều gì:
- Tuy nhiên, tôi phải nhắc nhở anh những gì tôi mới nói. Tôi đã định xin anh một đặc ân lớn lao liên quan đến Maria, một điều dù sao rất quan trọng cho nàng.
- Rồi sao?
Satov nhíu mày với vẻ mặt một người bị ngắt lời giữa lúc đang nói tới điểm quan trọng nhất và chiếu mắt nhìn người đối thoại, mặc dù chưa hiểu bị hỏi gì. Nicolai nói với một nụ cười:
- Anh đã không cho tôi dịp để nói hết lời yêu cầu.
- À, không phải, để sau hãy hay...
Satov gạt đi một cách khinh người sau khi hiểu ra sự trách móc của Nicolai. Rồi anh ta quay sang vấn đề bận trí của mình.
7
Satov bắt đầu, giọng gần như đe dọa, người trườn tới trước trên ghế, mắt sáng rực, tay phải giơ lên trước mặt, ngón trở chỉ lên trên. Có vẻ như chính anh ta cũng không nhận ra thái độ của mình. Anh ta nói:
- Anh có biết dân tộc nào là dân tộc độc nhất trên thế giới cưu mang Thượng đế không? Dân tộc có thiên chức cải tạo và cứu vớt thế giới nhân danh Thượng đế mới, dân tộc đơn độc nắm chìa khóa của đời sống và Thế giới mới. Anh có biết dân tộc đó tên là gì không?
- Qua cách diễn tả của anh, tôi phải trả lời anh ngay đó là dân tộc Nga, không cần phải lưỡng lự lựa chọn gì cả.
Satov lại nóng mặt:
- Đó, đúng là anh đang cười - cái giống người gì đây!
- Anh hãy bình tĩnh, tôi xin anh. Tôi không cười; thực ra tôi mong đợi anh nói ra một điều như thế.
- Một điều như thế? Nghe như chính anh cũng không hiểu “như thế” là như thế nào.
- Tôi hiểu rất rõ. Huống chi tôi thấy quá rõ những gì anh muốn đi tới. Mọi điều anh nói, kể cả từ ngữ “dân tộc cưu mang Thượng đế”, cũng chỉ là cái kết luận của cuộc đối thoại giữa chúng ta hơn hai năm về trước, lúc ở nước ngoài, ngay trước khi anh từ giã để đi Mĩ. Ít ra, qua những gì tôi còn nhớ...
- Từ ngữ đó là của anh chứ hoàn toàn không phải của tôi. Đó là lời của chính anh chứ không phải là cái kết luận trong cuộc đối thoại giữa chúng ta. Giữa chúng ta không có cuộc đối thoại nào cả, chỉ có một ông thầy nói những lời mênh mông và một môn đồ như một xác chết sống dậy. Anh là ông thầy và tôi là môn đồ đó.
- Nhưng nếu tôi nhớ không nhầm, sau khi nghe những lời của tôi, anh đã nhập hội, và mãi về sau này anh mới bỏ đi Mĩ châu.
- Phải, ở Mĩ châu, tôi đã viết thư cho anh về chuyện đó. Tôi đã viết cho anh về mọi chuyện. Phải, tôi đã không thể dứt ra được những gì đã đeo đẳng tôi từ thuở nhỏ, như không thể dứt cái băng ở một vết thương đông cứng mà không làm chảy máu. Tất cả những hân hoan của thời thơ ấu là ở đó, tất cả nước mắt của thù hận là ở đó... Thật khó mà thay đổi được thần tượng. Khi đó tôi không tin anh, bởi vì tôi đã không muốn tin, và tôi cứ bám lấy cái đồ rác rưởi kia. Nhưng hạt giống vẫn nằm đó và nảy mầm. Anh hãy nói với tôi sự thật: thực ra anh đã không đọc hết bức thư của tôi ở Mĩ châu gửi về phải không? Có thể anh đã không đọc tí nào phải không?
- Sáu trang tôi đã đọc ba: hai trang đầu và trang cuối, và chỉ lướt qua những trang giữa. Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng định...
Satov xua tay gạt đi:
- À, tôi cóc cần - bỏ đi! Điều bây giờ làm tôi chán nản là ngay anh cũng không tin những gì khi đó chính anh nói ra về dân tộc Nga.
Bằng một giọng khó hiểu, Nicolai nói:
- Khi đó không phải tôi đùa bỡn anh, bây giờ cũng thế. Tôi đã cố thuyết phục anh, nhưng có lẽ tôi cồn muốn thuyết phục chính tôi nhiều hơn.
Anh đã không đùa bỡn! Ở Mĩ châu, ba tháng tôi nằm ổ rơm bên cạnh tên Kirillov không may kia và rồi tôi khám phá ra rằng, đồng thời - có lẽ cùng một ngày - với việc gieo rắc những tư tưởng về Thượng đế và nước Nga đó vào người tôi, anh đã đầu độc trí óc của Kirillov, kẻ điên khùng bất hạnh kia. Anh đã in sâu đủ loại dối trá và chuyện bá láp khác vào đầu óc của hắn và đưa hắn tới bên bờ sự mất trí. Bây giờ anh cứ đi mà nhìn hắn mà xem; đi mà chiêm ngưỡng công trình sáng tạo của anh, mặc dù tôi biết anh đã gặp hắn rồi.
- Trước hết, anh cho tôi được nói cho anh biết rằng mới chỉ một lúc trước đây, Kirillov quả quyết với tôi là anh ta hạnh phúc và thiện hảo. Bây giờ, còn giả thuyết của anh cho rằng những chuyện kia xảy ra đồng thời, điều đó cũng gần đúng. Nhưng thế đã sao? Tôi nhắc lại, tôi đã không đánh lừa bất cứ anh hay hắn.
- Có phải anh là một kẻ vô thần không? Bây giờ anh là một kẻ vô thần, phải không?
- Đúng.
- Và khi đó?
- Khi đó tôi cũng chẳng kém bây giờ.
Satov lầm thầm một cách phẫn nộ:
- Lúc bắt đầu cuộc nói chuyện của chúng ta, không phải vì tôi mà tôi đã đòi hỏi anh phải kính trọng. Một người thông minh như anh đáng lẽ phải hiểu ngay điều đó.
- Tôi không hề đứng dậy và bỏ về sau lời nói đầu tiên của anh. Tôi vẫn ngồi đây một cách lặng lẽ, lắng nghe những câu hỏi của anh, những lời la lối của anh, và cố gắng trả lời anh. Điều đó chứng tỏ, cho đến bây giờ, tôi không hề thiếu kính trọng đối với anh.
Satov xua tay và ngắt lời:
- Anh có nhớ cái câu của chính anh: “Một người Nga không thể vô thần. Khi nào trở thành vô thần, kẻ đó không còn là người Nga nữa”. Anh nhớ không?
- Cái gì? - Nicolai hỏi, như thể muốn Satov nhắc lại những gì vừa nói.
- Anh hỏi “cái gì” à? Anh quên rồi ư? Quên sao được cái nhận xét tinh tế vô cùng đó, cái đặc tính chính yếu của tinh thần Nga mà anh tiên đoán đó. Không lẽ nào anh đã quên được chuyện ấy. Để tôi nhắc anh thêm. Anh còn nói: “Một người không theo Chính giáo Nga không thể nào là một người Nga được”.
Tôi tưởng đó là một quan niệm của người theo chủ nghĩa Đại Nga.
- Không, những người theo chủ nghĩa Đại Nga ngày nay chối bỏ quan niệm ấy. Ngày nay, người ta đã trở nên quá thông minh. Nhưng anh đã đi xa hơn, anh đã tin rằng Thiên chúa giáo La Mã không còn thuộc Cơ Đốc giáo nữa. Anh khăng khăng rằng La Mã đã tuyên xưng một Chúa bị sa ngã trước lần cám dỗ thứ ba của quỉ sứ. Khi loan báo trước thế giới rằng Chúa không thể ở mãi trên trái đất mà không có một vương quốc trần thế, Thiên Chúa giáo thực sự đã tuyên xưng kẻ phản Chúa và do đó đưa Tây phương đến sự hủy hoại. Anh đã nói rằng nước Pháp sở dĩ bị khổ ải như bây giờ là vì lỗi lầm của Thiên Chúa giáo, bởi vì Pháp đã chối bỏ Thượng đế La Mã suy tàn kia mà không tìm được một Thượng đế khấc để thay thế. Đó là những gì lúc ấy anh đã nói. Tôi nhớ cuộc đối thoại với anh một cách rất rành mạch.
Nicolai nói một cách rất nghiêm trang:
- Nếu tôi còn tin, tôi chắc bây giờ tôi vẫn nhắc lại được. Tôi đã không nói dối khi tôi nói như một kẻ có lòng tin. Nhưng tôi quả quyết rằng việc nhắc lại những tin tưởng cũ của tôi như thế gây cho tôi một dư vị khó chịu, cho nên tôi rất cám ơn anh nếu anh chịu bỏ qua chuyện đó đi. Anh nghĩ có được không?
Satov kêu lên, hoàn toàn không đếm xỉa đến lời yêu cầu của Nicolai:
- Nếu anh còn tin! Có phải chính anh là người đã nói rằng dù cho chứng minh được bằng toán học là Chân lí ở bên ngoài Chúa, anh cũng vẫn muốn thà chọn Chúa ở bên ngoài Chân lí còn hơn? Anh có nói như thế hay là không?
Nicolai nói, hơi cao giọng hơn:
- Khoan đã. Anh để tôi hỏi lại anh một câu. Thực sự, mục đích của cuộc chất vấn nóng nảy và thù nghịch này là gì?
- Cuộc chất vấn đã gần xong và trong đời anh, anh sẽ không bao giờ còn bị nó quấy rầy nữa.
- Anh vẫn một mực rằng chúng ta ở bên ngoài không gian và thời gian...
- Im mồm! Tôi biết tôi đần độn và vụng về, tên tôi có thể bị đem ra bêu riếu. Anh có cho tôi nhắc lại điểm chính trong tư tưởng của anh ngày xưa không? Chỉ một vài lời - chỉ là cái kết luận thôi!
- Nếu chỉ là cái kết luận thì anh tiếp tục đi, nhắc lại đi.
Nicolai định liếc đồng hồ nhưng lại thôi. Satov một lần nữa lại trườn tới trước và lại giơ ngón tay trở lên một lúc. Anh ta bắt đầu nói, giọng như đọc kinh, nhưng đồng thời nhìn chăm chăm vào Nicolai.
- Không một dân tộc đơn độc nào, cho tới nay, đã đặt đời sống của họ trên căn bản lí trí và khoa học, trừ một đôi lúc ngắn ngủi và do sự điên rồ. Trong chính cái bản chất của nó, xã hội chủ nghĩa là một chủ nghĩa vô thần - ngay trong lời tuyên bố đầu tiên, nó đã xác nhận rằng nó là một tổ chức không có Thượng đế; nghĩa là, một xã hội chỉ đặt nền móng trên những nguyên tắc của lí trí và khoa học. Nhưng lí trí và khoa học từ trước tới nay vẫn chỉ giữ một phận sự phụ thuộc trong đời sống các dân tộc và cho tới ngày tận thế cũng vẫn vậy. Các dân tộc được hình thành và chuyển động bởi một sức mạnh khác mà nguồn gốc không rõ và không giải thích được. Sức mạnh đó là cái ý chí không sờn muốn đạt tới một mục đích và đồng thời, phủ nhận mục đích đó. Đó là sức mạnh của một sự xác nhận không ngừng và không lay chuyển của đời sống và một sự phủ nhận cái chết. Đó là tinh thần của đời sống, là “dòng đời” theo như lời Thánh kinh gọi, nó có thể khô cạn đi như sách Khải huyền đe dọa. Và triết gia cho rằng nó đặt trên căn bản một nguyên tắc thẩm mĩ, những triết gia khác thì bảo nguyên tắc luân lí, nhưng tôi gọi đó giản dị là sự tìm kiếm Thượng đế. Mục tiêu của bất cứ phong trào quốc gia nào, trong bất cứ dân tộc nào, ở bất cứ thời đại nào, cũng chỉ là một sự tìm kiếm Thượng đế, Thượng đế cho riêng họ, Thượng đế quốc gia - trên hết, Thượng đế phải là của riêng họ - và tìm kiếm niềm tin nơi Người, như vị Thượng đế thực sự và duy nhất. Thượng đế là một nhân cách tổng hợp của cả dân tộc từ lúc khởi hiện cho đến khi chung cuộc. Mọi dân tộc, hay dù một số đi nữa, cũng không bao giờ cùng có chung một Thượng đế; mỗi dân tộc luôn luôn có Thượng đế riêng của họ. Khi các Thượng đế trở thành chung, đó là dấu hiệu các dân tộc thế nào cũng biến mất. Khi các Thượng đế thành chung, Thượng đế chết; và niềm tin nơi họ chết theo cùng các quốc gia biến dị. Một dân tộc càng sinh động, Thượng đế của họ càng độc đáo và đặc thù. Chưa bao giờ từng có một dân tộc không có tôn giáo, nghĩa là, không có một ý niệm về thiện và ác. Mỗi dân tộc có ý niệm thiện ác riêng của họ và có cái thiện cái ác riêng của họ. Khi nhiều dân tộc bắt đầu có chung những ý niệm thiện ác, những dân tộc đó chết dần và rồi sự khác biệt thiện và ác nhạt nhòa rồi biến mất. Lí trí chưa bao giờ xác định được thiện và ác hay ngaỵ cả phân biệt được chúng, dù chỉ một cách phỏng chừng mà thôi. Trái lại, lí trí đã luôn luôn lầm lộn chúng một cách xấu hổ và thảm hại. Về phần khoa học, câu trả lời của nó luôn luôn đặt căn bản trên sức mạnh thô bạo. Đó là cái xảo diệu đặc biệt của khoa học giả hiệu, cái tai họa khủng khiếp của nhân loại, một tai họa tệ hại hơn bệnh dịch, nạn đói, và chiến tranh mà chúng ta biết cho đến ngày nay. Kiến thức nửa vời là một hung thần không có tiền thân, một hung thần có những mục sư và nô lệ riêng, một hung thần được thờ phụng với mối sợ hãi và sự nịnh bợ chưa từng có và làm cho chính khoa học phải khúm núm và luồn cúi. Phải, đó là tất cả những lời của chính anh, Nicolai ạ, trừ cái nhận xét về kiến thức nửa vời là của tôi. Bởi vì tôi chính là kiến thức nửa vời và tôi ghét cái kiến thức nửa vời hơn bất cứ cái gì khác. Nhưng tôi đã chẳng sửa đổi bất cứ tư tưởng nào của anh, ngay cả thay đổi một chữ trong những lời anh nói cũng không.
Nicolai nói một cách thận trọng:
- Tôi không tin đó đúng là những lời nói của tôi. Anh đã nhập tâm một cách hăm hở và trong sự hăm hở anh đã vô tình làm sai lạc đi. Sự kiện là anh đã xào nấu lại làm Thượng đế chỉ còn là một biểu hiện quốc gia...
Anh bỗng trở nên chăm chứ theo dõi Satov, không hẳn vì những lời của Satov mà chính con người anh ta.
Satov la lên:
- Như thế nghĩa là bây giờ tôi thu hẹp Thượng đế vào hàng một biểu hiện quốc gia phải không? Ngược lại là đằng khác: tôi nâng quốc gia lên hàng Thượng đế. Vả lại, có khi nào ngược lại không? Một quốc gia làm thành thân thể của Thượng đế của nó. Một quốc gia chỉ là một quốc gia chừng nào nó có Thượng đế riêng của nó và loại trừ tất cả những Thượng đế khác một cách không đội trời chung; chừng nào nó tin rằng với sự giúp đỡ của Thượng đế của nó, nó sẽ chinh phục và hủy diệt tất cả những Thượng đế khác. Mọi quốc gia lớn đã tin như vậy ngay từ thuở khai thiên lập địa - ít ra là những nước còn lưu danh, những nước đã cầm đầu nhân loại. Không thể chối bỏ sự kiện đó. Những người Do Thái đã sống chỉ để chờ Thượng đế thật ra đời và họ đã để lại Thượng đế thật cho thế giới. Những người Hi Lạp thờ phụng thiên nhiên và truyền lại tôn giáo của họ cho thế giới, tức triết lí và nghệ thuật của họ. La Mã đã sùng bái nhà nước và để lại ý niệm nhà nước như một tặng vật cho các quốc gia. Nước Pháp, trong suốt lịch sử lâu dài, không làm được trò trống gì ngoài việc thể hiện và khai triển ý niệm về Thượng đế La Mã, và nếu nước Pháp bây giờ có đổi sang chủ nghĩa vô thần - mà họ gọi là xã hội chủ nghĩa - chỉ vì chủ nghĩa vô thần khỏe mạnh hơn thiên chúa giáo La Mã. Nếu một dân tộc vĩ đại không tin rằng riêng nó độc quyền nắm được chân lí, nếu nó không tin rằng riêng nó có thiên chức và có thể cải tạo cũng như cứu vớt toàn thế giới qua chân lí nó đang nắm, nó tức khắc không còn là một dân tộc vĩ đại nữa và chỉ còn là một tên gọi nhân chủng. Nhưng chỉ có một chân lý duy nhất, do đó chỉ có một dân tộc duy nhất có thể nắm được, và với chân lí đó, nắm được Thượng đế thật và duy nhất, mặc dù những dân tộc khác có thể cũng có Thượng đế, đặc biệt riêng của họ, dù có vĩ đại đi nữa. Và dân tộc cưu mang Thượng đế duy nhất là dân tộc Nga và - và anh có thực coi tôi như một thằng ngu không, Nicolai? - Anh ta bỗng hét lên như người khùng. - Một thằng ngu không phân biệt được những luận điệu tầm thường cổ lỗ thịnh hành ở các lò chủ nghĩa Đại Nga tại Moskva với tiếng nói hoàn toàn mới - tiếng nói sau chót, chân thật, và duy nhất về sự đổi mới cùng tái sinh... Và bây giờ anh có coi những lời tôi nói là buồn cười tôi cũng bất cần. Tôi cần gì phải để ý xem anh có hiểu tôi không, anh có hiểu một chữ, một câu nào của tôi không. Ôi, ngay lúc này, sao tôi ghê tởm cái vẻ kẻ cả và cái cười của anh thế!
Anh ta nhảy nhổm khỏi ghế. Trên mép nước bọt sùi ra. Nicolai không nhúc nhích, nói một cách lặng lẽ và nghiêm trang:
- Anh đã hiểu lầm, Satov ạ. Những lời nói nóng bỏng của anh đã khơi động những kí ức rất mạnh mẽ trong đầu tôi. Qua những lời của anh, tôi nhận ra cái tâm trạng của chính tôi hai năm về trước và giờ này tôi sẽ không bảo anh, như mới vừa bảo anh đây, là anh đã xuyên tạc những tư tưởng của tôi ngày trước. Thực vậy, tôi có cảm tưởng rằng không những thế, nó còn mạnh mẽ hơn, tuyệt đối hơn. Và tôi cam đoan với anh lần thứ ba rằng tôi rất sung sướng nếu tôi có thể đồng ý mọi điều anh nói bây giờ, đồng ý không sót một lời. Tuy nhiên...
- Tuy nhiên anh cần một con thỏ phải không?
- Cái gì?
Satov ngồi xuống trở lại, cười một cách thù nghịch.
- Tôi nhắc lại một trong những thành ngữ ghê tởm của anh: “Trước khi nấu thịt thỏ, bạn phải bắt được thỏ, và trước khi tin có Thượng đế, bạn phải tìm được một Thượng đế đã”. Đó là một trong những châm ngôn đắc ý của anh ở Petersburg, nơi anh đã cảm thấy như nhân vật Nozdriov của Gogol, kẻ đã tuyên bố có thể bắt thỏ bằng cách tóm chân sau của nó.
- Không, Nozdriov chỉ khoác lác như vậy thôi. Nhưng, anh cho tôi hỏi một điều được không? Tôi cảm thấy tôi cũng có quyền hỏi. Anh cho tôi biết, cái con thỏ của anh đã bị bắt rồi hay vẫn còn thơ thẩn?
Satov bỗng bát đầu run lên.
- Anh dám hỏi điều đó như thế à! Hỏi lại, hỏi khác đi.
Nicolai nhìn anh ta một cách nghiêm nghị:
- Cũng được, tôi sẽ hỏi khác đi nếu anh muốn. Tôi muốn biết chính anh, anh có tin nơi Thượng đế hay không?
Satov lầm thầm trong sự xuất thần:
- Tôi tin tưởng nơi nước Nga và Giáo hội Chính giáo Nga... Tôi tin tưởng nơi thân thể của Chúa... Tôi tin rằng sự Tái lâm của Người sẽ xảy ra ở Nga... Tôi tin... Tôi tin rằng...
- Nhưng Thượng đế? Anh có tin Thượng đế không?
- Tôi... Tôi sẽ tin tưởng nơi Thượng đế.
Không một thớ thịt chuyển động nơi guơng mặt của Nicolai. Satov nhìn anh với cặp mắt bốc lửa, như thể muốn đốt cháy anh với cái nhìn của mình.
Cuối cùng Satov lên tiếng:
- Tôi đã không hề nói với anh là tôi không tin nơi Thượng đế chút nào. Tôi chỉ cố nói cho anh hiểu rằng tôi chỉ là một kẻ quấy rầy bất hạnh không hơn không kém, trong lúc này... trong lúc này. Nhưng có ai thèm để ý đến tôi đâu mà sợ. Chính là anh, không phải tôi, mới là đáng kể. Tôi hoàn toàn chỉ là một kẻ bất tài, và tôi không có gì để dâng hiến ngoài xương máu của tôi, như bất cứ kẻ bất tài nào khác. Nhưng xương máu của tôi mà làm nên trò trống gì - tôi nghĩ tới anh. Tôi đã đợi anh ở đây hai năm nay và trong suốt một giờ vừa qua tôi đã cảm thấy như tôi đã trần truồng nhảy múa trước mặt anh... Anh là người duy nhất đáng lẽ phải nêu cao ngọn cờ...
Anh ta không nói hết nhưng, như thể tuyệt vọng, chống khuỷu tay lên bàn và lấy tay ôm đầu.
Nicolai bỗng lên tiếng:
Tôi ngạc nhiên, không biết anh có thấy lạ lùng không, là ai hình như cũng muốn dúi một cái cờ vào người tôi? Piot’r Verkhovenxki cũng tin rằng tôi là người phải nâng cao ngọn cờ của họ, hay ít nhất những lời của hắn cũng có ý như vậy. Hắn đã một mực rằng tôi có thể là một thứ Stenka Razin56 của họ, nhờ cái “khả năng phạm tội kì lạ” của tôi. Tôi nghĩ đó đúng là những lời hắn đã dùng.
- Gái gì? Nhờ cái “khả năng phạm tội kì lạ” của anh?
- Đúng.
Satov nói với một cái thở ra gay gắt:
- Hừ! Thế có đúng không? Có đúng là ở Petersburg anh có chân trong một hội bí mật chuyên làm những thú vui nhục dục súc vật nhất không? Có đúng là anh đã có thể dạy lại cho hầu tước Sade57 hay không? Có đúng là anh thường dụ dỗ trẻ con và lạm dụng chúng hay không? Nói lên đi, hãy can đảm đừng nói dối! - Anh ta la lên, hoàn toàn phát điên. - Nicolai Xtavroghin không được quyền nói dối với Satov, kẻ đã tát vào mặt mình! Hãy nói với tôi tất cả sự thật, và nếu những gì tôi nói là đúng tôi sẽ giết anh tại đây ngay bây giờ!
- Tôi đã nói những lời ấy, nhưng tôi không bao giờ làm hại trẻ con. - Nicolai trả lời, nhưng trả lời sau một lúc im lặng kéo dài quá lâu. Anh trở nên nhợt nhạt và cặp mắt nảy lửa.
Satov tiếp tục một cách áp chế, không rời cặp mắt sáng rực khỏi Nicolai:
- Nhưng anh đã nói. Có đúng là anh đã nói rằng anh không thể phân biệt được về phương diện thẩm mĩ giữa một trò chơi khoái lạc súc vật và một sự nghiệp anh hùng, dù là việc hi sinh mạng sống để phục vụ nhân loại? Có đúng là anh đã thấy trong những cái cực đoan đó, có một vẻ đẹp ngang nhau, và một thú vui ngang nhau?
Nicolai nói nhỏ:
- Không thể trả lời như thế được. Tôi sẽ không trả lời.
Anh dợm đứng dậy để đi nhưng lại thôi. Satov khắp người run lên, vẫn cố chấp:
- Tôi cũng không biết tại sao ác thì xấu mà thiện thì đẹp, nhưng tôi biết tại sao sự phần biệt giữa thiện và ác trở nên mù mờ đối với những người như Nicolai Xtavroghin. Tôi có thể nói cho anh biết tại sao anh đã cưới người đàn bà kia một cách xấu hổ, nhục nhã như thế. Anh làm vậy rõ ràng là vì cái vô ý thức và ô nhục của nó đã đạt tới cực điểm thiên tài! À, anh không tự mãn với việc đu đưa bên bờ vực thẳm - anh phải đâm đầu xuống mới thỏa. Anh cưới nàng là để thỏa mãn cái đam mê muốn tàn ác, cái đam mê muốn hối hận; anh phải trải qua để hưởng cái khoái cảm tinh thần. Đó là một sự dụng tâm xâu xé thần kinh. Anh không thể dằn lòng thực hiện một cuộc thách đố lương tri như vậy! Cứ nghĩ mà xem - Nicolai Xtavroghin với cái cô gái què, chân cao chân thấp, một xu không có, và nửa rồ nửa dại kia! Mà này, anh có cảm thấy một sự rùng mình khoái lạc gì khi anh cắn một cái vào tai ông tổng đốc hay không? Anh có cảm thấy gì không, hả cái nhà quí phái trẻ tuổi vô tích sự ăn không ngồi rồi kia?
Mặt Nicolai càng lúc càng tái nhợt hơn.
- Anh đúng là một tâm lí gia, mặc dù anh không hoàn toàn đúng về những lí đo cưới vợ của tôi. Nhưng ai đã có thể cung cấp được cho anh những tin tức như thế đó? - Anh cười một cách gượng gạo. - Có phải do Kirillov không? Nhưng làm sao hắn có thể biết được? Hắn đâu có tham dự gì trong...
- Tại sao anh tái xanh như thế? - Nicolai cuối cùng cất cao giọng:
- Nhưng tóm lại anh muốn gì? Tôi đã ngồi chịu trận trước những ngọn roi của anh ít nhất nửa giờ rồi. Ít ra anh cũng nên để tôi đi một cách lịch sự, trừ phi anh có lí do chính đáng để đối xử với tôi như thế này.
- Lí do chính đáng à?
- Dĩ nhiên. Bây giờ ít nhất anh cũng có bổn phận giải thích cho tôi biết anh đang nhắm vào cái gì. Tôi đã chờ đợi điều đó, nhưng cho đến bây giờ tôi không thấy có gì ngoài mối thù hận điên rồ về phần anh. Cho nên bây giờ, xin anh làm ơn mở cổng giùm tôi.
Anh đứng dậy. Satov nhảy xô về phía anh một cách điên cuồng, vồ lấy vai và la lên:
- Anh hãy hôn mặt đất, lấy nước mắt của anh tưới lên và xin tha thứ!
Nicolai nhìn xuống và như đang bị một nỗi đau đớn vô cùng vò xé.
- Tôi đã không giết anh, mặc dù hôm đó... Tôi đã rút tay ra...
- Nói đi, còn gì tuôn nốt đi! Anh tới để cảnh giác cho tôi sự nguy hiểm, anh đã để tôi nói; ngày mai anh sẽ công bố cuộc hôn nhân của anh. Anh tưởng nhìn bản mặt anh tôi không trông thấy một tư tưởng mới mẻ, đáng sợ đang chế ngự anh à? Nicolai, tại sao tôi lại tin anh suốt đời? Anh biết không, tôi chưa bao giờ nói được như vậy với bất cứ ai khác. Tôi thường rất dè dặt, nhưng tôi đã không ngần ngại diễn tả tư tưởng vĩ đại kia thành lời làm nó trở thành lố bịch, bởi vì tôi đang nói với Nicolai Xtavroghin. Như tôi sẽ không ngần ngại hôn vết chân anh để lại sau khi anh ở đây ra về... Tôi không thể dứt bỏ anh khỏi trái tim tôi, Nicolai ạ!
Nicolai lạnh lùng nói:
- Tôi rất tiếc, Satov, tôi không thể yêu anh để đáp lại.
- Tôi biết là anh không thể; tôi biết anh không nói dối. Nhưng nghe đây, tôi có thể dàn xếp mọi chuyện: tôi sẽ bắt con thỏ cho anh!
Nicolai không nói gì.
- Anh vô thần bởi vì anh là con của kẻ giầu có ăn không ngồi rồi. Anh đã mất khả năng phân biệt thiện và ác bởi vì anh đã mất liên lạc với dân chúng của xứ sở anh. Một thế hệ mới đang dấn bước, khai sinh ngay từ trong lòng dân tộc, và anh sẽ không nhận ra - không những anh mà cả cha con Verkhovenxki và tôi nữa cũng không bởi vì tôi cũng xuất thân từ chốn giầu có ăn không ngồi rồi: tôi là con của đầy tớ nhà anh. Hãy nghe đây Nicolai, anh hãy tìm Thượng đế bằng lao động. Đó là tinh túy của tất cả mọi sự. Hãy đi tìm Thượng đế nếu không anh sẽ tiêu tan không để lại dấu vết gì như một cái nấm mục. Hãy tìm Thượng đế qua lao động!
- Loại lao động nào?
- Công việc của một công nhân, một nông dân. Hãy từ bỏ sản nghiệp của anh - à anh cười, anh sợ rằng có một âm mưu gì trong đó, phải không? Hay cái gì?
Nicolai không cười. Anh nói một cách đắn đo, như thể đã đụng phải một cái gì mới lạ thực sự đáng suy ngẫm:
- Như vậy anh cho rằng có thể tìm được Thượng đế qua sự làm việc, và nhất là sự làm việc của nhà nông, có phải thế không? - Anh ta bỗng chuyển qua một ý mới. - Nhưng, nói về sản nghiệp, anh cũng nên biết rằng tôi không giầu có gì cả và do đó cũng không có gì nhiều để từ bỏ. Ngay đến tương lai của Maria, địa vị tôi cũng khó bảo đảm được. Tôi đã muốn xin anh một điều là đừng bỏ mặc nàng nếu anh có thể giúp đỡ được, bởi vì anh là người duy nhất có chút ảnh hưởng đối với trí óc đáng thương của nàng. Tôi nói thế bởi vì có ai chắc được những gì có thể xảy ra.:.
Satov một tay cầm một ngọn nến, một tay xua Nicolai.
- Được, được, về Maria... Để đó sau, anh khỏi cần phải nói. Nhưng nghe đây, anh hãy đi gặp Tikhon.
- Ai?
- Tikhon, trước là một giám mục. Bây giờ ông ấy đã thôi rồi, vì lí do sức khỏe, ngay trong thành phố này, ở tu viện Đức Mẹ Đồng Trinh.
- Tại sao tôi phải đến ông ta?
- Không có gì. Người ta đến thăm. Anh cũng đến. Có mất mát gì đâu?
Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói về ông ta, và... tôi chưa bao giờ gặp một người nào loại đó. Cám ơn anh, chắc tôi sẽ tới.
Satov soi đèn cho Nicolai xuống cầu thang:
- Lối này. Rồi, cứ đi đi. - Anh ta xô cổng mở ra.
Khi bước qua bực cổng, Nicolai lặng lẽ nói:
- Tôi sẽ không tới anh nữa đâu, Satov.
Ngoài đường trời vẫn mưa và tối đen.
[←51]
Turgenev (1818-1883): tiểu thuyết gia người Nga, nổi danh nhất với tác phẩm Cha và con mô tả sự xung đột giữa hai thế hệ cũ, mới ở Nga. Thế hệ già theo tư tưởng tự do bảo thủ, thế hệ trẻ theo chủ nghĩa hư vô cách mạng. Nhân vật chính trong truyện là gia đình Bazarov.
[←52]
Byron (1788-1824): thi sĩ lãng mạn người Anh, cuộc đời nổi tiếng vì những mối tình sôi động, sống hoang tàng, phiêu bạt; sau tham dự cách mạng ở Hi Lạp và bỏ mình tại đó.
[←53]
Honore de Balzac (1799-1850): tiểu thuyết gia Pháp.
[←54]
Xcopetx: một giáo phái cuồng tín ở Nga. Các giáo đồ tự hoạn và hành xác trước công chúng.
[←55]
Quyển sách cuối cùng của bộ kinh thánh Tân Ước, nội dung tiên đoán ngày tận thế, sự phán xét tội lỗi của con người và đời sống vĩnh cửu. Tương truyền do thánh Juan viết và được coi như sấm kí của Tây phương.
[←56]
Stenka Razin: một lãnh tụ Cozac. Xuất thân từ một gia đình khá giả nhưng lại cầm đầu một cuộc nổi dậy của nông dân năm 1670. Bị bắt hành quyết tại Moskva năm 1671.
[←57]
Marquis de Sade (1740-1814): văn sĩ Pháp, chuyên viết những cuốn tiểu thuyết tình dục đề cao sự bạo dâm và chống đối Giáo hội.