Rex lại ra ngoài đi dạo vào buổi tối, đội mũ và dựng cổ áo lên, chiếc đèn pin đeo bên hông của anh giống như một khẩu súng trong bao da. Cách đây nửa dặm có một khoảng rừng, một khu rừng thực sự, nó được quản lý và cắt tỉa thường xuyên, không giống khu bảo tồn thiên nhiên như Queen's Wood. Mới nhìn đã thấy những cây thông ở đó khác biệt hẳn, chúng lớn gấp mười lần cây ở Queen's Wood. Nhưng dường như Rex đã biến khu rừng ấy thành của riêng anh. Anh kể rằng anh chưa từng gặp được ai trong rừng. Vào mùa hè mọi thứ sẽ khác, đám trẻ địa phương thường tụ tập ở đó, nhưng lúc này chúng đang vui vẻ lượn lờ bên ngoài những cửa hàng thịt nướng và toàn bộ rừng cây đều là của Rex. Đôi khi anh đi tới tận bờ biển, lúc khác anh lại dừng chân để khám phá những căn nhà xa hoa đang xây dựng dở dang nằm giữa làng chúng tôi và biển. Điều quan trọng là anh ấy bắt đầu thấy được cảm giác sở hữu và hiểu biết về miền đất mới mẻ này của nước Anh, miền đất mà chúng tôi hy vọng sẽ là chốn nương thân trong suốt quãng đời còn lại của anh. Tôi nhớ rằng mình chưa thực sự thuộc về Highgate cho đến khi tôi khám phá và tự khắc họa một Queen's Wood trong lòng mình.
Trước khi Rex rời đi, tôi bắt anh nhắc lại chính xác thời điểm anh quay về nhà. Anh cằn nhằn kêu tôi coi anh như một đứa trẻ, nhưng anh vẫn chiều lòng tôi: tới tận bây giờ, anh vẫn luôn về đúng hoặc sớm hơn giờ hẹn. Và mặc dù tôi rất lo lắng khi anh rời khỏi nhà, nhưng tôi cũng cần khoảng thời gian ấy. Nếu mỗi tối tôi được ở một mình trong khoảng một tiếng thì tốt biết bao, tôi sẽ bắt kịp được phần công việc mà tôi không thể tập trung khi anh nhón chân đi xung quanh nhà, hoặc chỉ đơn giản là ngồi trong im lặng, chẳng cần ai nói chuyện cùng tôi. Tôi rót ly rượu đầu tiên ngay sau khi anh ra khỏi cửa và ly rượu ấy luôn cạn trơ đáy đúng vào lúc tôi nghe thấy tiếng anh tra khóa vào ổ.
Tôi bật máy tính. Nó hờn dỗi vài giây vì hôm qua tôi đã tắt máy một cách đột ngột. Mất thêm vài giây nữa, màn hình vẫn đen kịt, từ “analogue” viết bằng phông chữ cơ bản, nhìn cứng nhắc nhấp nháy vài cái trước khi sự thất vọng của tôi kết thúc và màn hình quen thuộc xuất hiện trở lại. Tôi tìm tên Alison Larch, trong lòng tự hỏi không biết cánh nhà báo bắt đầu cuộc điều tra của họ từ Google hay là đi thẳng vào những nguồn dữ liệu nửa chính thống bí mật mà chỉ có họ mới được quyền truy cập. Tôi không cần tìm đến những hồ sơ bí mật hay thư mục ẩn bởi may mắn đã đến với tôi ngay từ cú nhấp chuột đầu tiên. Alison Larch có trang web riêng, liệt kê tất cả những phim tài liệu cô ta đã nghiên cứu, chỉnh sửa, viết, đạo diễn và sản xuất (sự khác biệt giữa những công việc này hẳn phải có ý nghĩa gì đó đối với những người trong ngành báo chí). Tôi nhận ra một hoặc hai tiêu đề, một cái về việc phẫu thuật thẩm mỹ trong giới thanh thiếu niên và một cái khác về một ngôi trường dành cho học sinh sùng đạo ở Bắc Ireland. Nghề nghiệp của cô ta thật thú vị, kết hợp những tin tức giật gân với khả năng thu hút hàng loạt khán giả. Tôi nhấp chuột vào mục Dự Án Hiện Tại và mở ra một cửa sổ mới. Đầu đề cho tôi biết rằng Alison Larch hiện đang làm việc tự do cho Kênh 4. Chuyện này có thể gợi nhắc rất nhiều điều. Tôi đóng cửa sổ máy tính lại, nếu tôi không cố tìm kiếm thì tôi đã chẳng hoang mang đến thế này. Tôi nhập số điện thoại của mình vào công cụ tìm kiếm, nhưng không tìm thấy gì cả. Điều đó không có nhiều ý nghĩa. Bất cứ ai biết về công việc tôi đang làm đều có thể theo dõi thông tin chi tiết của tôi thông qua nơi làm việc. Ngày mai tôi phải gọi đến công ty và bảo họ không được cho ai biết số điện thoại hoặc email của tôi. Tôi sẽ nói với họ rằng tôi bị gọi điện làm phiền. Đó không thực sự là một lời nói dối. Tôi kiểm tra email của tôi, tôi đã dùng email này từ hồi còn đi học. Bên cạnh những tin quảng cáo công cụ làm “cậu nhỏ” to ra và các trang web bài bạc là một lời nhắc về ngày hội thu hoạch ở trường của Alice và một chuyện vui do bố tôi gửi tới.
Tôi chuyển việc dò tìm sang gia đình riêng của tôi và điều tra xem hôm qua Alice và Rex đã nghiên cứu những gì. Nhìn vào lịch sử tìm kiếm, tôi thấy họ chẳng tìm gì nguy hiểm cả, chỉ là ngày phát hành tập phim Harry Potter sắp tới mà thôi.
Tôi nghĩ đến việc đặt vé, nhưng tôi không thích ngồi mòn mỏi xem một bộ phim về những cô cậu phù thủy tuổi thiếu niên. Dường như Rex rất hào hứng với những đĩa phim DVD mà Alice cho anh xem, cũng giống như lúc tôi mới xem chúng vậy. Có lẽ anh muốn tự mình đưa con bé đi xem phần tiếp theo.
Khi tôi nghe thấy tiếng Rex cạ đế giày ở ngoài cửa trước, tôi uống nốt ly rượu thứ hai. Tôi đóng cửa sổ máy tính, cùng lúc đó, tôi rót cho anh một ly đầy. Anh chưa từng uống rượu vang trắng ở London, nhưng cũng giống như tôi, bây giờ anh sẽ được nếm thử.
☆ ☆ ☆
Đêm dần trở nên mát mẻ, thành phố như được thở phào nhẹ nhõm, nhưng phòng ngủ của Rex vẫn nóng đến ngột ngạt.
Ngay cả ngọn nến duy nhất anh đốt lên với đốm lửa nhỏ như móng tay cũng tỏa ra nhiệt lượng hầm hập như lò lửa lớn. Tôi đá hết chăn gối đi, nằm dạng ra như một con sao biển, cố gắng làm mát cơ thể, nhưng không khí vẫn nóng bức và dính dớp như làn da của tôi vậy. Tôi nhìn đồng hồ trên bàn cạnh giường ngủ: đây không phải lần đầu tiên tôi thức dậy và thấy Rex không có bên cạnh, nhưng lần này phải mất đến nửa giờ mới thấy anh quay lại. Lúc anh trở lại, tia nắng mặt trời đầu tiên đã bắt đầu xuyên qua cửa sổ và làm lu mờ ngọn lửa nhỏ bé của cây nến. Anh mang một bình nước vẩn đục, một cái cốc dính dầu mỡ và in dấu vân tay. Người ta có thể quên rằng mình đang sống ở London khi nhìn ra ngoài cửa sổ, nhưng người ta sẽ nhớ lại ngay khi thấy nước lọc vẩn đầy bụi. Chúng tôi đợi cặn bẩn lắng xuống trước khi uống nước.
“Nửa đêm anh biến đi đâu vậy?” Tôi hỏi.
“Anh đi xem Biba ngủ.” Anh đáp.
“Tại sao?”
“Anh không biết. Chắc là để kiểm tra sự sống của con bé? Hoặc kiểm tra xem nó còn ở đó hay không?”
Việc anh liên tục để mắt đến Biba mỗi đêm không giống những kẻ cuồng rình trộm mà là một người cha hay lo lắng luôn phải chăm lo cho em bé trong nôi. Tôi bắt đầu cảm thấy không chịu đựng được việc đó.
“Sao anh lại phải lo cho cô ấy đến vậy? Cô ấy không phải là trách nhiệm của anh, Rex ạ.” Tôi nói.
“Ờ, nhưng đúng là vậy đấy. Dù anh có làm gì cho con bé thì cũng là không đủ.”
Rex vuốt ve ngực và bụng tôi bằng một bàn tay ướt rượt, dừng bàn tay ở trên rốn tôi. Tôi hơi hồi hộp khi anh chạm đến tôi một cách vô định như thế.
“Đó là lỗi của anh.” Anh nói, vẩn đục lại bung ra khi anh rót nước vào cốc.
“Con bé thành ra thế này là vì những chuyện đã xảy ra với mẹ, và đó là lỗi của anh.”
“Ý anh là gì? Mẹ của anh tự sát cơ mà.”
“Nhưng anh đã gây ra việc đó.”
“Không ai gây ra việc đó cả.” Tôi nói, trong lòng hi vọng mình nói ra câu ấy với giọng nhẹ nhàng, “Đó là không phải lỗi của ai hết.”
“Ừ, nhưng nếu em biết rằng ai đó cảm thấy không ổn, em biết họ sẽ làm những việc điên rồ và em biết làm cách nào để ngăn họ lại nhưng em không làm việc đó, thậm chí còn tồi tệ hơn, em khiêu khích họ, sau đó em thấy tội lỗi, bởi vì em biết rõ mình đã làm những gì. Em có hiểu ý anh không?” Rex ngồi dậy, giọng nói rít lên chói tai như giọng của em gái.
“Em không hiểu.” Tôi nói. Anh liếc nhìn xung quanh phòng như thể hy vọng một người thứ ba xuất hiện và giải thích câu chuyện này hộ anh.
“Được rồi. Khốn nạn thật. Anh kể cho em nghe được chứ?” Câu hỏi này của anh không dành cho tôi, mà là nói với cánh cửa. Ở phía bên kia cánh cửa ấy, Biba vẫn đang ngủ say.
“Anh nghĩ em phải biết điều này, anh nghĩ em sẽ ổn thôi, và anh không nghĩ rằng nó sẽ phá hỏng mọi thứ giữa chúng ta.” Tôi nắm lấy tay của anh và gỡ những ngón tay đang cuộn lại thành nắm đấm, duỗi thẳng từng ngón tay, xoa xoa chúng trong khi Rex nói. Anh hít một hơi thật sâu.
“Mẹ qua đời khi anh mười sáu tuổi.” Anh nói, “Trước đó, mẹ quá yếu nên không thể ra khỏi nhà - ý anh không phải là sự ốm yếu thể chất, mà mẹ đã quá chán nản, quá cuồng dại, em muốn gọi là gì cũng được. Biba lúc đó mười hai tuổi, và nó không được phép vào trong rừng hoặc đi ra Bãi hoang, không được tự mình đi chơi, cả sau khi trời tối cũng không. Nhưng mẹ lại chẳng ngại bắt anh chạy qua chạy lại giữa nhà mình và căn hộ mới của bố ở Hampstead. Cái nhà chết tiệt, bà gọi nó bằng cái tên như thế. Khoảng bốn năm sau khi bố rời bỏ mẹ, ông gặp được Jules, trong khoảng thời gian đó ông đã qua lại với rất nhiều phụ nữ. Từ Hampstead đến Highgate không có xe buýt và nếu muốn đi tàu điện thì phải vòng lên tận Camden, vậy nên đi bộ là nhanh hơn cả. Anh thường phải đi ba hoặc bốn lần một tuần. Anh nghĩ anh nắm rõ đường đi ở Bãi hoang giống như anh hiểu rõ khu rừng này vậy. Em biết rồi đấy, đó là quãng đường kéo dài vài dặm qua đồi đầy thú vị. Nhưng phải lặn lội trên những con đường rất khó đi. Đó có thể là lý do tại sao anh rất gầy.” Anh nói, chìa ra cánh tay trắng trẻo gầy nhom trông như một dải giấy bị thắt nút. Tôi hôn lên mặt trong khuỷu tay của anh.
“Mẹ anh đã từng viết thư cho ông ấy.” Anh tiếp tục.
“Bà đã ngồi viết nhiều giờ bên chiếc bàn trong căn phòng cũ của Nina. Bà xức hương cho những lá thư và niêm phong chúng bằng sáp. Dán thư bằng sáp để làm cái quái gì cơ chứ. Chắc bà nghĩ như thế là lãng mạn, giống một cuốn tiểu thuyết thời Victoria. Anh rất đau lòng khi nhìn thấy mẹ đổ biết bao hy vọng vào những lá thư này, nhưng thật lòng anh còn cảm thấy phát phiền vì điều đó. Nói về mẹ mình như thế có tồi tệ quá hay không? Đặc biệt là khi anh biết mình sẽ phải mang chúng đến cho bố và thường thì ông không có mặt ở đó. Anh về nhà và mẹ ngồi chờ anh, hỏi xem bố nói những gì, bố trả lời như thế nào. Anh thường bịa chuyện ra để an ủi bà. Anh nói rằng ông ấy gửi lời cảm ơn, và rằng bố sẽ sớm đến thăm mẹ. Điều đó có thể gây hại nhiều hơn lợi.”
“Anh làm điều sai trái vì lý do chính đáng mà.” Tôi xen vào.
“Anh rất vui khi em thấy như thế. Anh ước gì mình có thể làm được điều đó. Thế nhưng đến một ngày anh không chịu đựng được nữa. Hôm đó trời lạnh, anh đã phải chơi bóng bầu dục cả ngày, anh ghét chơi bóng, và tất cả những gì anh muốn là trở về nhà và cuộn tròn trong chăn ấm đệm êm. Lúc ấy mẹ đang trong trạng thái tồi tệ hơn bao giờ hết. Bà thực sự tức giận, và bà không chịu nấu ăn, bà muốn anh mang một lá thư cho bố. Anh biết nó vẫn giống những lá thư trước đây: kể rằng bà đã sinh con cho ông ấy như thế nào, đã từ bỏ tuổi thanh xuân của mình ra làm sao, và lý do tại sao ông ấy nên về bên bà và sẽ tốt biết bao nếu ông ấy quay lại với gia đình của mình, tất cả chỉ có vậy. Nhưng anh vẫn đọc nó, và anh ước gì mình không làm thế. Lá thư ấy nói về chuyện chăn gối. Mẹ liệt kê những điều bà sẽ làm cho bố nếu như ông về lại căn nhà này... bà nói với ông ấy rằng bà sẽ... thậm chí anh còn chẳng dám nói ra nữa. Nhưng em có thể tự tưởng tượng.”
“Thật đáng thương.” Tôi chụm tóc anh thành một chỏm nhỏ trên đỉnh đầu.
“Tin anh đi, sau Nina, em là người đầu tiên anh kể chuyện này.” Anh nói, “Và từ lúc đó, mọi chuyện giữa anh và mẹ bắt đầu đi sai hướng, em có thể hiểu lý do tại sao anh muốn trì hoãn việc gửi lá thư ấy đi.”
“Việc ấy sẽ chẳng làm thay đổi điều gì.” Tôi nói, hôn anh để anh thấy rằng tôi rất quan tâm đến câu chuyện của anh. Khi Rex nói tiếp, anh nhìn sâu vào mắt tôi.
“Mẹ nói bây giờ anh là người đàn ông trụ cột trong nhà, anh phải chăm sóc cho mẹ và rằng cách tốt nhất để làm điều đó là đưa những lá thư đến Hampstead. Anh nghĩ, nếu mẹ muốn anh hành động như một người đàn ông thì anh sợ quái gì mà không làm: Anh chống đối lại mẹ. Anh nói với bà rằng anh chưa bao giờ đưa thư cho bà cả. Thực ra anh nghĩ anh làm thế để chọc cho mẹ anh tức điên lên. Bà lên cơn điên thật, la hét quanh nhà, chồng bà đã bỏ bà mà đi và bây giờ đứa con trai duy nhất đã làm điều tương tự. Anh nói rằng anh sẽ không rời bỏ bà, nhưng anh lạnh và đói, anh sẽ không đi ra ngoài và chuyển thư cho bà, và rằng anh chưa bao giờ đọc bất kỳ bức thư nào, đó chỉ là anh nói dối thôi. Giờ đây anh vẫn nhớ rõ khuôn mặt của mẹ. Anh không còn lời nào có thể làm tổn thương bà hơn thế nữa. Mẹ bảo rằng bà không tin anh, nhưng cả hai đều biết anh đã nói sự thật. Anh nghĩ rằng anh ác nghiệt như thế chỉ vì ý tốt, anh đã bắt mẹ thay quần áo và tự mình đến Hampstead, sau đó để bà nhìn ra sự thật, rằng bố anh không muốn gặp mẹ anh nữa, ông ấy bảo bà hãy từ bỏ đi và bà đã phải để mọi chuyện qua đi. Anh nghĩ mình đã quá mềm mỏng với bà và khiến bà trở nên ỷ lại. Sáng hôm sau trước khi đi học, trông mẹ anh có vẻ rất ổn. Đó là một ngày đẹp trời, lạnh giá nhưng dễ chịu và ngập tràn ánh nắng.”
Tôi cố hình dung xem căn nhà nóng như cái lò này vào mùa lạnh sẽ như thế nào. Ý nghĩ về việc căn nhà tồn tại trong một mùa khác hẳn lướt qua như một làn gió lạnh luồn vào sống lưng của tôi.
“Anh nghĩ, trời đẹp thế này, hẳn mẹ sẽ mặc đồ ấm áp và đi thăm thú đó đây. Anh đã rất hạnh phúc, trong lòng nghĩ rằng mình đã làm điều đúng đắn.”
“Và bà đã đi thật?” Tôi hỏi. Rex nhắm mắt lại.
“Khi anh đi học về, anh thấy đôi chân của mẹ ở đầu cầu thang, và anh biết bà đã treo cổ ở lan can trên đầu cầu thang tầng một. Người bà ướt sũng. Anh có thể ngửi thấy mùi nước tiểu, đôi chân bà lốm đốm và sưng lên. Lẽ ra anh phải đi lên tầng và nhìn mặt bà, nhưng anh đã không làm việc đó.” Anh dừng lại và tôi sững người, sợ rằng nước mắt sẽ trào ra, nhưng tôi đoán rằng anh đã khóc rất nhiều rồi. Anh dùng ngón trỏ và ngón cái vần vò khoảng giữa hai lông mày và khi anh bỏ tay ra, trên đầu mày còn lại dấu tay màu trắng.
“Anh gọi điện cho bố, nhưng không có ai nghe máy vì vậy anh chạy sang nhà cô Howard - cô từng sống trong ngôi nhà bên cạnh trước khi vợ chồng Wheeler chuyển tới. Cô ấy gọi xe cứu thương rồi đưa cho anh một cốc ca cao và một chiếc bánh quy, nhưng anh không thể ăn nó, vì vậy anh nhét nó vào giữa đệm sofa. Cô Howard không cho anh về nhà.
Đó mới là chuyện kinh khủng nhất - anh luôn nghĩ rằng việc anh không quay về nhà cũng tồi tệ chẳng kém gì những chuyện xảy ra sau đó. Lẽ ra anh nên quay lại, và anh không thể chịu đựng nổi khi nghĩ đến việc mọi chuyện đã trở nên tồi tệ thế nào chỉ vì anh không về nhà.”
“Em không hiểu”, tôi nói, “ý anh là mẹ anh vẫn còn sống phải không?”
“Không, mẹ anh đã chết. Mẹ anh đã chết nhiều giờ trước đó, anh không thể làm gì khác được. Trong khi anh ở bên nhà cô Howard thì Biba trở về nhà. Lẽ ra nó phải ở câu lạc bộ kịch và tập đến tận 7 giờ tối, nhưng cô giáo bị ốm. Cánh cửa không được đóng hẳn hoi và nó bước vào nhà. Lúc ấy con bé mới mười hai tuổi, Karen ạ. Khi xe cứu thương đến, họ thấy Biba đang đứng trên cầu thang cố gắng nâng mẹ lên. Phải cần đến hai người mới có thể kéo con bé ra khỏi... ra khỏi thi thể của mẹ.” Anh quay về phía tôi và nhìn tôi bằng ánh mắt vừa sợ hãi lại vừa bất cần.
“Chuyện là như vậy đấy. Anh có lỗi trong vụ tự sát của mẹ, và cũng có lỗi khi để Biba nhìn thấy cảnh ấy.”
“Ôi”, tôi nói, “không phải vậy đâu Rex ạ. Anh đã sai khi tự đổ lỗi cho mình vì hai chuyện đó. Anh không thể chịu trách nhiệm cho hành vi của cha mẹ anh, lúc ấy anh chỉ là một đứa trẻ, anh mới có mười sáu tuổi! Anh vẫn chưa hiểu chuyện.”
“Anh biết hết. Anh đã sống cùng những chuyện như thế.” Anh đáp.
“Thế nên đây là câu trả lời cho em. Con bé không có cha bên cạnh và anh đã hại chết người mẹ duy nhất của nó. Anh đã chống lại mẹ anh và hãy xem chuyện gì đã xảy ra! Nếu anh lại làm như vậy, anh sẽ mất Biba và thế là đời anh chấm hết.”
“Cô ấy đã từng tự tử đúng không?” Tôi hỏi.
Anh gật đầu.
“Khi Biba mười sáu tuổi, con bé nghĩ rằng nó sẽ đến một số trường học diễn xuất ở New York. Bố không cho nó đi và anh đồng tình với ông ấy, mặc dù cả hai có lý do khác nhau. Ông ấy không muốn trả tiền, còn anh không muốn mất con bé. Nhưng trong suy nghĩ của Biba, anh đúng về phía bố để chống lại nó.”
“Cô ấy đã làm gì?”
“Nó uống hết một vỉ pẩcetamol 43* với một chai Jack Daniels 44* .” Anh đáp.
* Một loại thuốc giảm đau, giảm sốt. Khi dùng liều cao có thể gây tử vong.
* Một loại rượu nặng, thuộc dòng whiskey Mỹ.
“Anh không nghĩ con bé làm thế vì ý gì khác ngoài việc năn nỉ để được đi học, vì nó đã gọi xe cứu thương ngay sau khi nốc hết đống thuốc. Nhưng đó là lý do tại sao anh luôn lo lắng cho nó. Anh không dám liều để nó phải chịu tổn thương thêm nữa. Anh hiểu cảm giác mất một người thân là như thế nào và anh yêu thương Biba đến nỗi không thể để chuyện đó xảy ra. Con bé là tất cả những gì anh có, hoặc nó vẫn luôn là vậy cho đến lúc em xuất hiện.”
Anh cuộn tròn thành một quả bóng, vòng tay ôm lấy eo tôi và đặt đầu lên ngực tôi, giống một đứa trẻ hơn người yêu. Tôi đột nhiên cảm thấy nóng và ngộp thở nhưng không phải vì nằm trong căn phòng đóng kín cửa sổ. Những tia nắng mặt trời đầu tiên đã mang theo sức nóng được lọc qua giàn thường xuân phủ trên cửa sổ. Những chiếc lá màu xanh như vỏ chai thuốc độc ép vào khung cửa, chúng có kích thước và hình dạng như trái tim con người.