Bây giờ đến chỗ mà tôi thấy khó kể nhất.
Tôi thử đặt cho câu chuyện này nhan đề Mộng phù kiều , và đã viết, dù vụng về, trong hình thức một tiểu thuyết. Nhưng mà mọi điều tôi kể đều có thực, không có lời bịa đặt nào. Dù vậy, nếu hỏi tại sao tôi có ý viết ra, tôi vẫn không trả lời được. Ít ra tôi không có ý định để cho ai xem trong lúc tôi còn sống. Nếu có ai tình cờ bắt gặp bản thảo sau khi tôi chết, sẽ không có hại gì; mà dù cho nó có bị mất mát, không có ai đọc, tôi cũng không hối tiếc. Tôi viết để mà viết, chỉ là vì tôi thích ngoái nhìn những biến cố của quá khứ và cố nhớ lại chúng từng chuyện một. Tất nhiên mọi điều tôi kể đây đều là sự thật: tôi không để cho mình thêm bớt, sửa đổi một chút nào. Nhưng có những giới hạn ngay cả khi kể chuyện thật, có một ranh giới mà người ta không được vượt qua. Và do đó, dù tôi chắc chắn không viết điều gì sai lầm, tôi cũng không viết toàn thể sự thật. Có lẽ tôi giữ một phần không viết ra là vì kính trọng cha tôi, mẹ tôi và cả tôi. Nếu có ai nói rằng không kể toàn thể sự thật tức là nói dối, thì đó là quyền của họ, tôi không dám phủ nhận.
Những gì mà bác sĩ Kato tiết lộ cho tôi biết về tình trạng sức khỏe của cha khiến tâm hồn tôi đầy những ý tưởng cuồng dại, kinh hoàng. Nếu từ mùa thu qua mà cha bắt đầu biết rõ số phận đau khổ của mình, thì lúc ấy ông đã bốn mươi ba, mẹ ba mươi và tôi mười tám. Tuy nhiên dù đã ba mươi, mẹ trông trẻ hơn bốn, năm tuổi. Người ta có thể tưởng lầm là chị tôi. Đột nhiên tôi nhớ lại về câu chuyện cuộc đời quá khứ của bà mà Okane đã kể chuyện cho tôi nghe khi chúng tôi lang thang trong khu rừng quanh đền trước khi bà rời xa vào năm ngoái. “Cậu không được để cho cha cậu hay về chuyện này”, bà đã nói, nhưng biết đâu chính cha đã bảo bà làm thế. Có lẽ ông có lý do để muốn phá bỏ sự ràng buộc giữa mẹ ruột và mẹ kế tôi, đã gắn bó chặt chẽ trong tâm hồn tôi.
Tôi cũng nghĩ tới những gì đã xảy ra không lâu trên hiên nhà khách. Có lẽ cha cũng dính líu tới chuyện ấy. Tôi khó có thể tin rằng mẹ đã cố khích động tôi một cách táo tợn đến thế mà không có ông cho phép. Sự thật là dù tôi lánh nhà khách trong nhiều tuần sau vụ đó, tôi đã đi đến đấy để nút vú mẹ hơn một lần. Có khi cha đi vắng, có khi ở nhà: khó tin rằng ông không nhận biết những gì bà làm, hay bà đã giấu giếm ông. Có thể biết mình không sống bao lâu nữa, ông cố tạo một sự thân mật sâu xa hơn giữa mẹ và tôi để cho bà nghĩ về tôi như là người thay thế ông và bà không phản đối. Đó là tất cả những gì tôi có thể nghĩ. Tuy nhiên một thuyết như thế sẽ giải thích tại sao họ đã đưa Takeshi đi Seriu. Có thể tôi đã tưởng tượng ra những chuyện phi lý nhất về cha mẹ, nhưng những điều cha trối trăng mà tôi sắp kể ra đây sẽ xác nhận lời tôi nói.
Không rõ từ khi nào mẹ biết rằng cha chẳng còn sống bao lâu nữa; có lẽ ông nói với bà ngay khi ông hiểu. Nhưng buổi chiều hôm đó trong nhà khách bà đã dùng chữ “mẹ của con” là do vô tình, như nó có vẻ, hay bà có ý nói thế. Thật sự cha hẳn đã nói cho bà biết về bệnh tình mình ngay cả trước khi bà sinh Takeshi vào tháng Năm. Dù sao họ cũng tiên đoán những gì tương lai đang chờ đợi họ. Có thể họ đi đến cảm thông, dù cho họ không thảo luận chuyện ấy công khai và gửi Takeshi đi xa mà mướn nuôi.
Lạ một điều tôi không giải thích được là mẹ không tỏ dấu hiệu gì buồn bã lo âu trước cuộc xa cách sắp tới với chồng. Dù bản tính bà chẳng hay phô bày cảm xúc mình một cách lộ liễu, nhưng lẽ nào lại không có cả một bóng tối ưu phiền kín đáo thoáng hiện trên gương mặt dịu dàng, xinh đẹp ấy? Hay bà buộc lòng phải cầm nước mắt vì nghĩ rằng không nên để tôi thấy bà mất bình tĩnh? Lúc nào nhìn vào mắt bà tôi cũng thấy khô ráo và sáng trong. Ngay cả ngày nay tôi cũng không hiểu rõ tình cảm bà, những cảm xúc nhiêu khê dường như ẩn lắng bên dưới vẻ bình thản ngoài mặt của bà. Cho tới lúc cha hấp hối bà cũng không hề bắt chuyện với tôi về cái chết của ông. Đến tháng Tám, cha không đủ sức rời giường bệnh nữa. Lúc này cả thân thể ông đều sưng phù. Bác sĩ Kato đến thăm ông hầu như hằng bữa. Càng ngày cha càng yếu hẳn đi, không còn cả ý muốn ngồi dậy để ăn uống nữa. Mẹ hầu như không rời ông nửa bước.
- Bà phải mướn một cô điều dưỡng – bác sĩ Kato nói với bà.
Nhưng mẹ đáp:
- Tôi muốn tự tay chăm sóc.
Bà không cho ai sờ vào ông. Hiển nhiên đó cũng là ý muốn của cha tôi. Các bữa ăn của ông, dù ăn rất ít, đều do bà lo cẩn thận; bà cho làm những món ông thích như cá tươi hay lươn biển và dọn cho ông ăn. Khi ông đi tiêu ngày càng thường hơn thì lúc nào bà cũng chuẩn bị sẵn một chiếc lọ. Lúc này là giữa mùa hè nóng bức và ông bị ê mình vì nằm lâu, bà cũng săn sóc chu đáo. Thường thường, bà lau thân thể ông bằng nước pha rượu cồn. Bà không bao giờ sơ ý làm ông đau, tất cả những chuyện này bà đều tự tay làm. Thần kinh ông trở nên nhạy cảm đến nỗi âm thanh nhỏ nhất cũng làm ông khó chịu: ngay cả cối tre trong vườn cũng chát chúa, và ông bảo chúng tôi cho cối ngưng lại. Sau cùng, ông chỉ nói khi cần thiết và rồi chỉ nói với mẹ mà thôi. Thân bằng quyến thuộc thường đến thăm hỏi nhưng ông không muốn gặp. Mẹ bận rộn với ông cả ngày lẫn đêm; khi nào bà thấy quá mệt thì có vú già Okane thay thế, bà đã trở lại giúp việc cho chúng tôi, rất ngạc nhiên khi thấy rằng mẹ có sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn vô song.
Vào một ngày cuối tháng Chín, sau cơn mưa bão nặng nề thường lệ, khi dòng Tiểu Khê ngập tràn bờ, tuôn đổ vào hồ làm đục ngầu nước, cha cho gọi mẹ và tôi đến bên giường. Ông đang nằm ngửa, nhưng bảo chúng tôi xoay ông nằm nghiêng để ông có thể nhìn rõ mặt chúng tôi hơn. Ra dấu cho tôi tới ngồi sát ông, ông nói:
- Đến đây Tadasu. Mẹ con ở đấy vẫn nghe được. – Ông nhìn tôi chăm chú, trong lúc ông nói như thể ông đang tìm kiếm điều gì trong đáy sâu đôi mắt đó.
- Ba không còn sống bao lâu – ông nói – nhưng ba không buồn mà cam chịu. Khi ba về bên kia thế giới có mẹ con chờ đợi và ba sung sướng vì nghĩ rằng sẽ gặp lại sau bao năm. Điều ba lo nhất là người mẹ kế tội nghiệp của con. Bà còn cả một cuộc đời dài dặc, khi ba đi rồi bà chỉ còn trông cậy nơi con vì thế con hãy săn sóc bà, yêu thương bà hết lòng. Ai cũng nói con giống ba. Ba cũng thấy thế. Càng lớn con càng giống ba hơn. Ở bên con bà sẽ thấy như thể ba còn sống. Ba muốn con nghĩ tới việc thay thế ba trong cuộc đời bà như mục tiêu chính trong đời, như thứ hạnh phúc con cần.
Chưa bao giờ ông nhìn tôi cách đó, nhìn sâu vào mắt tôi. Dù tôi không hiểu hoàn toàn ý nghĩa cái nhìn ấy, tôi gật đầu bằng lòng, và ông thở ra nhẹ nhõm. Rồi sau khi ngừng vài phút cho tới khi thở dễ dàng hơn, ông tiếp tục:
- Để làm cho bà hạnh phúc con phải lấy vợ nhưng thay vì lấy vì mình, con phải lấy vì mẹ con để có người giúp con săn sóc bà. Ba đang nghĩ tới Kajikawa...
Đó là người làm vườn lui tới nhà tôi nhiều năm nay. (Cha hắn là phụ tá cho người xây vườn ở Tổ Diệc). Chúng tôi thấy hắn rất thường vì hắn và các thợ phụ làm việc trong vườn chúng tôi nhiều ngày trong một tuần. Và chúng tôi cũng biết Sawako con gái hắn: từ khi học ở trường Nữ Trung học nàng thường ghé thăm chúng tôi mỗi năm một lần vào ngày lễ Aoi.
Sawako có nước da tươi tắn và gương mặt trái xoan mảnh dẻ theo kiểu mẫu cổ điển, kiểu khuôn mặt hạt dưa mà bạn thấy trong những bức tranh mộc bản Ukiyo-e. Có lẽ có nhiều người khen nàng đẹp. Sau khi học xong Trung học, nàng bắt đầu trang điểm cẩn thận, thì lại càng quyến rũ hơn. Theo tôi một cô gái có làn da trắng mịn không cần phấn son như thế; nhưng năm ngoái nàng lưu lại nhà tôi suốt cuộc lễ giữa mùa hè, sau khi xem lửa mừng đốt trên các quả đồi phương đông, từ bờ sông Kamo, và vì nàng nói nàng thấy nóng bức chúng tôi mời nàng đi tắm, nàng nghe theo và sau đó khi nàng trở lại, đi gần tôi đến nỗi tôi thấy vài đốm tàn nhang trên đôi má nàng. Thì ra nàng đánh nhiều phấn là vì thế, tôi nghĩ. Sau đó, tôi không gặp nàng một thời gian dài, nhưng cách đây khoảng mười ngày nàng cùng Kajikawa đến thăm cha tôi. Tôi thấy cuộc thăm viếng của họ khá rắc rối. Cha vốn ít chịu tiếp khách lại cho họ vào phòng mình và nói chuyện với họ trên hai mươi phút. Biết có chuyện nên tôi hơi mong ông nói gì với tôi.
“Chắc hẳn con biết nhiều về cô gái ấy?”. Cha tiếp và ông nói vắn tắt về cuộc sống Sawako nhưng không có gì tôi thấy là mới vì tôi đã nghe nói về nàng trong bao năm qua. Nàng mười chín tuổi, cùng tuổi tôi, cùng sinh vào năm 1906, nàng thông minh và có tài và đã tốt nghiệp trường Nữ Trung học vào ba năm trước với chứng chỉ xuất sắc; sau đó nàng vẫn tiếp tục học, đỗ đạt cao. Con gái một người làm vườn mà thành công như thế thật là hiếm thấy. Vì thế nàng có đủ điều kiện để xứng đáng về làm dâu cho bất cứ gia đình nào. Chỉ tiếc rằng năm 1906 là năm Ngọ, mà theo lịch xưa, nàng là nạn nhân của sự mê tín cho rằng đàn bà hạn tuổi đó đều là những ác phụ. Do đó mà nàng chưa nhận được một lời cầu hôn xứng đáng nào.
Tất cả những chuyện đó tôi đã rõ và cha kết luận bằng cách bảo tôi lấy nàng làm vợ, rồi ông thêm rằng cô gái lẫn cha mẹ nàng đều vui lòng chấp nhận lời cầu hôn này.
- Chỉ cần con đồng ý là mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái – ông nói – nhưng trong trường hợp đó ba muốn yêu cầu con một chuyện nữa, là nếu con có con, hãy đưa nó đi nơi khác như mẹ con đã rời xa con bà vì con. Không cần phải nói gì với Sawako hay cha mẹ nàng lúc này. Con có thể giữ kín chuyện này tới khi cần phải nói cho họ biết. Con càng sớm lấy vợ càng tốt, hãy cử hành hôn lễ khi mãn tang. Ba chưa nghĩ ra người mai mối thích hợp vào lúc này nhưng con và mẹ con có thể thảo luận chuyện đó với Kajikawa rồi quyết định chọn người nào đó.
Sau khi nói chuyện một hồi lâu như vậy, cha nhắm mắt lại và thở một hơi dài. Dường như ông cảm thấy chắc chắn rằng tôi sẽ làm theo ý muốn ông. Mẹ và tôi xoay ông nằm ngửa trở lại.
Hôm sau cha cho thấy những triệu chứng của bệnh niệu độc. Ông không ăn gì được, tâm trí ông mờ mịt, thỉnh thoảng ông nói sảng. Ông sống chừng ba ngày nữa cho tới đầu tháng Mười; tất cả những gì mà chúng tôi có thể nghe ra trong những lời lẽ rời rạc của ông là tên mẹ tôi “Chinu” và mấy chữ lắp bắp “Cầu... Mộng”, mấy chữ mà ông lặp đi lặp lại không ngớt. Đó là những tiếng cuối cùng mà tôi nghe cha thốt ra.
Từ tháng Tám, Okane từ quê lên giúp chúng tôi và ngay khi hết lễ ngày thứ bảy của Phật giáo bà trở về quê. Những người trong họ mà mấy năm nay chúng tôi không gặp tề tựu ở nhà tôi vào các lễ 35 và 49 ngày, nhưng dần dần số người ấy sút giảm, cho tới 100 ngày chỉ còn thấy có hai, ba người xuất hiện.
Mùa xuân năm sau, tôi học xong Trung học và vào Luật khoa. Sau cái chết của người cha ít giao thiệp, khách khứa ghé qua Tổ Diệc vốn không đông lại càng trở nên ít ỏi đến nỗi cuối cùng hầu như không còn ai ngoài Sawako và cha mẹ nàng, mỗi tuần đến chừng một lần. Mẹ ở trong nhà cả ngày, hương khói trước bài vị cha hoặc nếu cần tiêu khiển thì bà lấy đàn Koto của mẹ tôi mà đánh một lúc. Bởi vì ngôi nhà giờ đây hiu quạnh quá, bà quyết định cho cối tre hoạt động lại sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng; bà bảo Kajikawa đẽo một miếng tre xanh lắp vào cối. Tôi lại được nghe tiếng tí tách quen thuộc, tiếng tí tách tôi hằng yêu mến.
Mẹ có sức chịu đựng phi thường trong khi săn sóc cha vào năm trước cũng như trong một loạt những ngày kỷ niệm dài dặc theo sau cái chết của ông, bà luôn luôn bận tiếp khách với vẻ chững chạc và tự chủ, và trông đôi mắt vẫn đầy đặn, sức khỏe vẫn dồi dào như thường. Nhưng về sau bà lộ vẻ mệt nhọc và đôi khi gọi một người tớ gái đấm bóp bà. Sawako cũng dự vào việc đấm bóp khi nào nàng có mặt.
Một lần khi cây hợp hoan [2] bắt đầu trổ hoa, tôi đi tới nhà khách, biết sẽ tìm thấy mẹ và Sawako. Mẹ đang nằm trên hai chiếc gối như thường lệ, trong khi Sawako hăng hái xoa bóp hai cánh tay bà.
- Sawako đấm bóp giỏi lắm – mẹ đáp – không có ai bằng cô. Cô ấy làm má thấy buồn ngủ đến nỗi muốn thiếp đi, thật dễ chịu. Cô ấy có vẻ biết cách sử dụng bàn tay lắm. Sawako cô có học đấm bóp bao giờ không?
- Không, không có học – nàng đáp – nhưng con thường đấm bóp cho cha mẹ hằng ngày.
- Má cũng nghĩ thế – mẹ nói – cô ấy còn giỏi hơn bọn nhà nghề. Tadasu, hãy để cô ấy thử đấm bóp con.
- Con không mỏi. Nhưng con muốn làm học trò cô ấy để học đấm bóp. Để con cũng đấm bóp cho má, con cần phải học nhiều.
- Nhưng tay con cứng lắm.
- So với tay đàn ông thì đâu có cứng. Phải thế không Sawako? Cô sờ thử xem!
- Để xem – Sawako nói và nắm lấy các ngón tay tôi, rồi vuốt lòng bàn tay tôi – trời ơi, tay anh thật mềm dịu đấy chứ. Anh thật là hay!
- Vì tôi không chơi thể thao nhiều.
- Khi anh đã thành thục rồi thì anh sẽ thành tay lão luyện ngay.
Vài tuần sau, Sawako dạy tôi nhiều kỹ thuật đấm bóp khác nhau, và thực hành bằng cách đấm bóp cho mẹ. Đôi khi mẹ bị nhột và cười ngất.
Trong tháng Bảy cả ba chúng tôi thường hay ngồi bên hồ hóng mát buổi chiều. Giống như cha tôi, tôi lấy vài chai bia, đặt dưới vòi cối tre. Mẹ cũng uống bia, uống nhiều ly nữa nếu tôi nài bà, nhưng Sawako thì luôn từ chối.
Mẹ đong đưa đôi bàn chân trắng trong nước và nói:
- Sawako, cô thử xem, mát mẻ dễ chịu lắm!
Nhưng Sawako vẫn ngồi yên trong bộ quần áo mùa hạ kiểu mới, thắt lưng bằng lụa.
- Chân dì đẹp quá – nàng nói – cháu không dám đặt bàn chân xấu xí của cháu kế bên.
Tôi thấy nàng rụt rè quá đáng. Lẽ ra nàng nên tự nhiên và thân mật hơn với người mẹ chồng tương lai của mình. Nhưng lúc nào nàng cũng tỏ ra vâng phục chiều chuộng, thường thường lời lẽ của nàng có vẻ thiếu thành thật. Cả cách nàng cư xử với tôi cũng cổ xưa quá đối với một thiếu nữ đã học qua Trung học. Có thể hôn nhân sẽ biến đổi nàng, chứ hiện giờ tôi không thể không có cảm tưởng tôi là chủ, nàng là tớ. Hẳn nàng đã quen cư xử thế với cha tôi và chắc chắn bên tính quả cảm của mẹ, nàng càng có vẻ nhút nhát. Nhưng dù sao thì nàng cũng xa cách quá, đối với một thiếu nữ sắp trở thành người thứ ba trong cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi.
Sau khi cây mimosa và thạch lựu đã hết ra hoa chừng vài tháng, khi cây đào kim nhưỡng khởi sự đơm bông và trái mã đề đã chín muồi, tôi đã khá thành thục trong việc đấm bóp và thường gọi mẹ đến nhà khách để thực hành.
- Vài phút thôi nhé – bà đáp.
Tự nhiên là tôi thế chỗ Sawako nếu nàng vắng mặt nhưng ngay cả khi nàng có đó, tôi cũng đẩy nàng qua một bên và nói: “Để tôi tập xem nhé”. Không quên được những ngày mẹ cho nút đôi bầu vú của bà, giờ đây tôi thấy vui thích trong việc đấm bóp cho bà. Khoảng thời gian ấy Sawako vốn vấn tóc theo kiểu Tây phương, bắt đầu làm tóc theo kiểu Shimada vấn cao cổ truyền để trùm tóc làm gương mặt Ukiyo-e của nàng đẹp hẳn lên. Nàng đến chuẩn bị cho lễ Phật sẽ tổ chức vào ngày giỗ đầu cha tôi cũng đã kề cận. Mẹ đã đích thân cho may quần áo mới vào dịp ấy: trong số đó có một chiếc áo sa tanh tím thẫm rất đúng kiểu có vẽ hoa thục quỳ trên váy và một chiếc thắt lưng lớn bằng lụa trắng dày cứng vẽ bằng bảy thứ hoa mùa thu.