Gia đình và kẻ hầu người hạ đứng đợi trước cái chắn đường màu trắng đặt trên hai trụ gạch.
Chiếc xe trạm dừng lại. Những cái ôm hôn kéo dài. Mẹ khóc, Jeanne xúc động cũng lau nước mắt. Bố, vẻ xốn xang, đi đi lại lại.
Trong lúc hành lý được bốc dỡ từ trên xe xuống, Jeanne ngồi trước ánh lửa lò sưởi phòng khách sôi nổi kể lại chuyến đi. Có lẽ trừ một vài chi tiết nhỏ bị quên trong lúc kể nhanh, còn toàn bộ câu chuyện chỉ nói trong nửa giờ là xong hết.
Sau đó, Jeanne cởi từng gói hàng của nàng. Cô Rosalie, cũng rất xúc động, giúp nàng một tay. Khi đã xếp xong xuôi áo quần và đồ trang sức đâu vào đó, cô hầu nhỏ mới rời cô chủ. Hơi mệt, Jeanne ngồi xuống.
Nàng tự hỏi bây giờ mình sẽ làm gì với ý định muốn tìm cho ra một công việc nào đó để được bận tâm, bận tay. Nàng chẳng muốn xuống lại phòng khách, đến với bà mẹ đang ngủ gà, ngủ gật ở đó. Nàng tính đến chuyện đi dạo chơi, nhưng cảnh đồng ruộng ngoài kia buồn tẻ đến nỗi, mới nhìn thấy qua khung cửa sổ, nàng đã thấy lòng mình nặng trĩu phiền muộn rồi.
Thế là nàng nhận ra rằng nàng chẳng còn gì để làm nữa cả, vĩnh viễn chẳng còn gì để làm nữa cả. Nàng đã dành tất cả thời thơ trẻ ở trường dòng để tính chuyện tương lai và bận rộn với những điều mơ ước. Lúc đó, những hy vọng sôi động không ngừng đã lấp kín thời gian, và nàng không hề cảm thấy thời gian trôi qua. Rồi thì, khi nàng vừa mới ra khỏi bốn bức tường khắc khổ, nơi những ảo tưởng của nàng đã nảy nở, sự chờ đợi tình yêu đã lập tức được đáp ứng ngay. Người đàn ông nàng hằng mong mỏi ấy, nàng đã gặp, đã yêu và đã lấy chàng chỉ sau vài tuần lễ, giống như những trường hợp người ta đột ngột quyết định lấy vợ, lấy chồng vậy, và chàng đã ôm thốc lấy, đã cuốn nàng đi mà không để cho nàng kịp suy nghĩ đến gì hết thảy.
Nhưng bây giờ, cái hiện tại thực êm ái của thuở ban đầu ấy đang sắp trở thành hiện thực hàng ngày. Nó sẽ đóng kín cửa lại, chẳng còn tìm đâu ra nữa những hy vọng vô biên, những khắc khoải thú vị xung quanh những điều chưa từng được biết. Vâng, đúng là đã hết đợi chờ rồi.
Vậy là nàng không còn gì để làm nữa, bây giờ không, ngày mai không, mãi mãi sẽ không. Tất cả những cái đó, nàng mơ hồ cảm thấy như một sự tan vỡ nào đó của ảo tưởng, một sự sụp đổ của những ước mơ.
Nàng đứng dậy và bước tới tỳ trán vào ô cửa kính lạnh lẽo. Nàng ngắm nhìn một lúc bầu trời cuồn cuộn mây đen rồi quyết định đi ra ngoài.
Phải chăng chính là ruộng đồng, cây cỏ hồi tháng năm đây? Còn đâu nữa những lá cây tươi tắn dưới ánh mặt trời? Còn đâu màu xanh thơ mộng của bãi cỏ rực rỡ hoa bồ-công-anh đỏ thắm, hoa mỹ-nhân-thảo sáng ngồi, hoa cúc rung rinh cánh bướm vàng kỳ diệu như gắn ở đầu những sợi dây vô hình? Và còn đâu nữa cái ngất ngây của không khí tràn trề nhựa sống và hương thơm, đầy rẫy những nguyên tử dạt dào sức sinh sôi?
Những con đường ngập nước của trận mưa thu không ngớt cứ kéo dài mãi ra, mặt đường phủ dày một thảm lá rụng và hai bên lề đường, những cây Bạch Dương gầy guộc, gần như trần trụi, đứng run lập cập vì giá lạnh. Những cành cây khẳng khiu run rẩy trong gió, vẫn còn lất phất vài khóm lá đang sẵn sàng tả tơi rơi rụng. Và suốt ngày, những chiếc lá cuối cùng đã úa vàng ấy, gióng như những đồng tiền vàng to, không ngừng tách rời khỏi cành cây, quay lông lốc, bay dập dờn rồi rơi xuống, giống hệt một trận mưa dai dẳng và buồn đến phát khóc lên được.
Nàng đi tới vạt rừng cuối con đường. Trong nó thê thảm như căn buồng một người đang hấp hối. Những rặng cây, trước đây tựa hồ những bức tường xanh ngăn cách
và che dấu những con đường khúc khuỷu xinh xắn, bây giờ đã trở thành xơ xác. Những cây nhỏ xoắn xuýt, trông như một tấm đăng-ten làm bằng gỗ mỏng mảnh, khua chạm cành lá khẳng khiu. Làn gió lạnh đưa đẩy, khuấy động và dồn lá khô rụng lại thành từng đống rải rác. Tiếng lá rơi rì rầm chẳng khác gì tiếng thở dài não nuột của một người sắp chết.
Những con chim nhỏ xíu, chuyền cành tìm nơi ẩn náu, phát ra một tiếng kêu chiêm chiếp lạnh lẽo.
Chỉ có hai cây bồ đề và ngô đồng, được bức rèm cây du dày đặc che chở như một đội cận vệ chống lại gió biển, là vẫn còn giữ được bộ áo mã mùa hè, nhưng màu sắc lại khác nhau tùy theo tác động của những cơn gió lạnh đầu mùa vào chất nhựa của mỗi cây, cho nên cái thì trông như may bằng nhung đỏ, cái lại như làm bằng lụa màu da cam.
Jeanne chậm rãi đi đi lại lại trên "con đường của mẹ thân yêu", theo dọc ấp trại của gia đình bác Cuia (Couillard). Lòng nàng cảm thấy nặng nề, do linh cảm được những ưu tư dài dằng dặc của một cuộc sống đơn điệu đã bắt đầu.
Nàng ngồi xuống bờ đất, nơi Julien đã nói với nàng lần đầu tiên về tình yêu. Nàng ở lại đó, mơ mộng vẩn vơ, hầu như không suy nghĩ gì nữa, mỏi mệt đến tận đáy lòng, chỉ những muốn được nằm lăn ra, ngủ thiếp đi, để thoát khỏi nỗi buồn của ngày hôm đó.
Bất thần nàng nhìn thấy một con hải âu bay vụt ngang trời theo một cơn gió mạnh. Nàng nhớ lại con chim
ưng nàng đã gặp trong thung lũng tối Ota nơi đảo Corse kia. Nàng thấy lòng mình bị chấn động dữ dội, cái chấn động thường gặp khi nhớ tới một cái gì tốt đẹp đã hết rồi. Và nàng chợt thấy lại hòn đảo rực rỡ, với mùi hương hoang dã, với ánh nắng làm chín mõm những trái cam và thanh yên, với những đỉnh núi hồng nhạt, với những vịnh biển da trời, những vực thẳm suối chảy cuồn cuộn.
Thế là phong cảnh ẩm thấp và khắc nghiệt xung quanh nàng, với tiếng lá cây rụng sầu thảm, với bầu trời đầy mây xám và lộng gió, phong cảnh ấy bỗng trở nên buồn bã đến nỗi nàng phải về nhà ngay để khỏi phát khóc lên.
Bà mẹ lạnh cóng đang ngồi trước lò sưởi. Đã quen với những ngày ảm đạm này đến nỗi không còn cần biết thời tiết ra sao nữa, bà đang ngủ gà, ngủ gật. Ông bố và Julien đang đi dạo và bàn việc làm ăn. Đêm xuống gieo rắc bóng tối thê lương trong gian phòng khách rộng chập chờn một ánh lửa lò sưởi.
Qua cửa sổ, nhờ chút ánh sáng buổi chiều còn rớt lại, vẫn còn có thể nhận rõ cái cảnh cuối năm ủ ê, bẩn thỉu và bầu trời xám nhạt như trát bùn đó.
Một lát sau, ông nam tước bước vào, có Julien theo sau. Vừa bước vào căn phòng đầy bóng tối, ông đã giật chuông, kêu lên: ”Đem nến ra đây, mau mau lên! Sao mà buồn thế này!”.
Ông ngồi xuống trước lò sưởi. Đôi chân ướt của ông bốc hơi bên ngọn lửa; những mảnh đất bám dưới đế giày ông gặp nóng, khô dần và rơi xuống. Ông xoa tay vui vẻ: "Bố tin là sẽ có sương đông cho mà xem. Trời hừng sáng ở phía Bắc. Đêm nay lại trăng lên. Sẽ giá buốt phải biết!".
Rồi, quay về phía con gái, ông nói: "Thế nào, con gái bố, được trở về xứ sở với bố mẹ, con có hài lòng không?".
Câu hỏi đơn giản ấy đã xáo động cả tâm hồn Jeanne. Nàng sà vào đôi tay bố, mắt đầy lệ, ôm hôn ông nồng nhiệt, như để xin lỗi bố vậy, bởi vì dù có gắng gượng làm vui, nàng vẫn cảm thấy buồn bã đến héo cả người. Tuy vậy, nàng vẫn nghĩ đến niềm vui mà nàng từng tự hứa sẽ phải tạo ra cho được, khi nàng gặp lại bố mẹ. Nàng kinh ngạc về sự lạnh lùng này, một sự lạnh lùng làm tê liệt cả tình thân ái, giống như trường hợp khi, ở một nơi xa xôi, ta thường nghĩ quá nhiều đến những người ta yêu quý và ta đã mất thói quen được thấy họ suốt ngày đêm; nhưng đến lúc gặp lại, ta bỗng thấy tình thân ái dường như đã bị ngưng đọng hết, mãi đến khi các mối liên hệ trong cuộc sống chung được nối tiếp, nó mới được khôi phục trở lại.
Bữa ăn tối kéo dài. Chẳng ai nói năng gì. Julien hầu như đã quên bẵng vợ.
Sau đó, lửa ấm của phòng khách đã làm cho Jeanne thiếp đi. Và mẹ nàng, trước mặt, cũng đã ngủ hẳn. Nhiều lúc, tiếng bố và Julien tranh luận làm nàng chợt tỉnh giấc. Phút giây đó, nàng cố lay động tâm trí mình và tự hỏi rồi đây trạng thái ủ ê mê muội của những thói quen không hề gián đoạn này liệu có thể xâm chiếm tâm hồn nàng không?
Ngọn lửa trong Iò sưởi còn yếu ớt và nhợt nhạt lúc ban ngày, lúc này, đã sáng rực và reo lên phần phật. Nó đột ngột rọi từng mảng lớn ánh sáng lên những tấm thảm phủ ghế đã nhạt màu, lên hình con cáo và con cò, lên hình con diệc ủ rũ, con ve và con kiến.
Ông nam tước bước lại gần lò sưởi, tươi cười xoa tay trên những thanh củi đang rực cháy: "úi chà, tối nay lửa cháy tốt thật. Sương muối xuống rồi các con ạ, sương muối xuống rồi!". Đặt tay lên vai Jeanne, ông chỉ vào ngọn lửa; "Con gái bố thấy không, đây chính là cái tuyệt diệu nhất trên đời: Chiếc lò sưởi, chiếc lò sưởi với những người thân quây quần quanh mình. Chẳng có gì bì được cái đó đâu! À, nhưng mà ta phải đi ngủ chứ? Hẳn các con đã mệt đến kiệt sức phải không?".
Về đến buồng mình, Jeanne tự hỏi tại sao hai lần trở lại nơi mà nàng tin là mình yêu mến lại có thể khác nhau đến thế? Tại sao nàng lại cảm thấy như là đau đớn? Tại sao căn nhà này, xứ sở thân yêu này, tất cả những cái mà cho tới gần đây nhất vẫn làm cho lòng nàng rung động thì bây giờ đối với nàng lại áo não đến thế?
Bất chợt, mắt nàng nhìn thấy cái đồng hồ quả lắc. Con ong nhỏ vẫn bay nhảy từ trái sang phải và từ phải sang trái, với nhịp điệu nhanh và liên tục, bên trên những bông hoa đỏ thắm. Một niềm thương yêu bỗng dâng trào trong lòng Jeanne. Nàng xúc động đến rưng rưng nước mắt
trước bộ máy bé nhỏ ấy. Nó như đang sống, đang ca hát báo thời gian, đang phập phồng như một lòng ngực.
Hẳn là khi ôm hôn bố mẹ, nàng cũng không cảm xúc đến thế này. Trái tim có những điều bí ẩn mà lý trí không thể nào hiểu thấu được.
Lần đầu tiên, từ ngày kết hôn, nàng nằm ngủ một mình. Julien, viện lẽ mệt mỏi, đã ngủ ở một phòng khác. Vả lại, hai vợ chồng cũng đã thỏa thuận là mỗi người đều sẽ có một phòng riêng.
Nàng thao thức mãi không sao ngủ được vì ngỡ ngàng với tình trạng không còn cảm thấy một cơ thể khác nằm sát kề bên, vì đã mất thói quen ngủ một mình, vì bị cơn gió bấc trái tính, trái nết đang gào thét mãi trên mái nhà kia.
Sáng hôm sau, nàng tỉnh giấc vì một làn ánh sáng rực rỡ nhuộm chiếc giường nàng nằm một màu máu. Những ô kính cửa sổ chằng chịt sương giá cũng đỏ lên, dường như cả phía chân trời kia đang bốc cháy.
Quấn mình trong một chiếc áo choàng tắm to, nàng chạy đến, mở cửa sổ ra.
Một làn gió giá rét trong lành và buốt như kim châm ùa vào phòng; một thứ lạnh sắc như dao, quấn vào da thịt, khiến nàng phải chảy nước mắt. Trên nền trời rực hồng, một mặt trời to tướng, đỏ chói và phì phị như mặt một anh chàng say rượu, ló ra sau rặng cây. Nền đất lúc này phủ trắng sương muối, khô cứng và kêu côm cốp dưới gót giày của các bác trang viên. Chỉ qua có một đêm mà
tất cả những chiếc lá bạch dương còn sót lại đều đã rụng sạch. Xa xa, phía ngoài cánh đồng hoang thấy rõ vạch dài xanh nhạt của sóng biển, chỗ nào cũng lốm đốm trắng những vết băng đóng.
Trước những cơn gió mạnh, cây ngô đồng và cây bồ đề trút lá rất mau. Mỗi làn gió lạnh giá vút qua đều cuốn theo những lá cây đã rơi cành do trận sương muối đột ngột. Lá cây bay tơi tả trong gió như một đàn chim. Để gọi là có chút việc làm, Jeanne mặc quần áo, bước ra ngoài đi thăm gia đình các bác tá điền.
Hai bác Martin giơ tay chào nàng. Cô chủ hôn vào má họ. Hai bác ép nàng uống bằng được một cốc nhỏ rượu cất bằng hạt cây. Rồi nàng sang thăm ấp bên kia. Hai bác Couillard cũng giơ tay chào nàng. Cô chủ hôn đánh chụt một cái vào mang tai họ và thế là nàng lại phải uống với họ một cốc nhỏ rượu hắc phúc bồn.
Sau đó, nàng trở về nhà ăn cơm trưa.
Ngày hôm đó trôi qua cũng giống như ngày hôm trước, chỉ có khác là trời lạnh chứ không ẩm thấp nữa. Những ngày khác trong tuần cũng hệt như hai ngày đó và các tuần lễ trong tháng cũng y như tuần lễ đầu này.
Tuy nhiên, ở lòng nàng, niềm luyến tiếc những vùng đất xa xôi của chuyến đi trăng mật đã dần dần giảm đi. Thói quen đã phủ lên cuộc sống của nàng một lớp màng cam phận. Nó giống như lớp bột đá vôi mà một vài thứ nước nào đó thường để đọng lại trong vật đựng. Và trong lòng nàng lại thấy nảy sinh trở lại cái tính hay quan tâm đến hàng nghìn sự vật nhỏ nhặt, một kiểu lo lắng đến những công việc đều đặn, giản đơn và tầm thường trong đời sống hàng ngày. Trong con người nàng, đã phát triển một thứ sầu muộn trầm mặc, một cảm giác, mơ hồ về bệnh chán đời. Nàng cần những gì nhỉ? Nàng muốn những gì nhỉ? Tất cả những cái đó, nàng đều chẳng biết. Trên cõi đời này, nàng tự thấy không còn bị thu hút bởi bất cứ một nhu cầu nào, một khát vọng khoái lạc nào, một sự say mê nào, ngay cả đối với những niềm vui có thể có, cũng vậy. Vả lại, những niềm vui nào cơ chứ? Mọi việc đều nhẹ nhàng phai nhạt màu sắc đi dưới mắt nàng, đều bị xóa nhòa, đều mang một sắc thái buồn tẻ và ảm đạm, giống như những chiếc ghế bành cũ kỹ trong phòng khách đã phai tàn với thời gian.
Quan hệ của nàng với Julien đã hoàn toàn thay đổi. Từ sau chuyến đi trăng mật trở về, anh hầu như khác hẳn, hệt như một diễn viên đã sắm xong vai trò của mình và trở lại với bộ mặt bình thường. Anh gần như không còn quan tâm gì, nói năng gì với nàng nữa. Mọi dấu vết của tình yêu đã bỗng dưng biến mất ở anh và thật là hiếm hoi mới có một đêm anh vào lại phòng nàng.
Anh đã nắm quyền điều khiển cơ nghiệp và công việc trong nhà, xem xét lại các văn tự tô tức, sách nhiễu bà con nông dân và giảm bớt các khoản chi tiêu. Anh đã mất đi cái vẻ hào nhoáng và thanh lịch của người chồng chưa cưới trước đây, vì chính bản thân anh đã xử sự đúng theo phong cách của một trang viên quí phái.
Anh mặc mãi không rời một bộ quần áo đi săn cũ may bằng nhung có đính bộ cúc bằng đồng mà anh đã tìm lại được trong đống quần áo thời trai trẻ, mặc dù bộ quần áo đã ố bẩn và có vằn như vằn hổ. Bị cuốn theo thói luộm thuộm của những kẻ tự thấy mình không còn cần phải làm duyên với cô nào nữa, anh đã ngừng hẳn việc cạo râu, nên bộ râu dài, lởm chởm làm cho anh xấu đi một cách không tưởng tượng nổi. Anh chẳng còn trau chuốt gì đôi bàn tay nữa và cứ sau mỗi bữa ăn, lại uống một lèo năm cốc ruợu cô-nhắc.
Jeanne thử nói đôi lời phê bình âu yếm thì anh trả lời cộc lốc: "Em có để cho anh yên thân không đấy?" đến nỗi nàng chẳng còn gan dạ nào mà khuyên nhũ anh nữa.
Nàng đã chấp nhận những thay đổi đó theo một kiểu làm cho chính nàng cũng phải ngạc nhiên: đối với nàng, anh đã trở thành một người xa lạ, một người xa lạ mà tâm hồn và trái tim đều đóng kín. Nàng thường nghĩ luôn về điều đó, thường tự hỏi do đâu mà sau khi gặp nhau, yêu nhau và lấy nhau theo cái đà luyến ái hăm hở như vậy, đột nhiên họ lại thấy xa lạ với nhau đến mức như chưa từng nằm cạnh nhau một lần nào.
Tại sao nàng lại không thấy đau khổ hơn nữa khi bị anh bỏ rơi? Phải chăng đời người là như vậy cả? Họ đã lầm chăng? Phải chăng tương lai của nàng không còn gì nữa hết?
Phải chăng có thể nàng sẽ đau khổ nhiều hơn, nếu
Julien vẫn chưng diện và bảnh trai, vẫn thanh lịch và quyến rũ?
Gia đình đã thỏa thuận là sau Tết, hai vợ chồng nàng sẽ ở lại, còn bố và mẹ sẽ về nghỉ vài tháng tại nhà riêng ở Rouen.
Mùa đông đó, hai vợ chồng nàng sẽ không rời Bạch Dương để hoàn thành việc xếp đặt nơi ăn, chốn ở, để làm quen và vui thú được với chốn này, nơi họ sẽ sống cho đến trọn đời. Họ cũng có một vài bạn láng giềng mà Julien dự định sẽ đem vợ đến giới thiệu; các gia đình Brizovin (Briseville) Cutoliê (Coutelier) và Phuôcvin (Fourville).
Nhưng hai vợ chồng vẫn chưa đi thăm hỏi được ai vì cho tới lúc đó, họ vẫn chưa mời được họa sĩ nào đến vẽ lại và thay đổi cái biển tên hiệu trên cỗ xe ngựa.
Thực vậy, ông nam tước đã nhường hẳn cỗ xe cũ kỹ đó của gia đình cho con rể, và Julien chẳng hề muốn đến thăm các lâu đài lân cận chừng nào mà cái biển mang tên hiệu họ nhà Lơ Pectuyx đờ Vô (Le Perthuis dé Vauds) chưa được gỡ ra và thay bằng biển hiệu của họ nhà Đơ Lama (De Lamare) .
Trong vùng chỉ có mỗi một anh thợ vẽ ở Bonbêch (Bolbec) tên gọi Batay (Bataille) là người chuyên về các biển hiệu có trang trí này, nhưng anh ta lại bận lắm vì hết thảy mọi lâu đài trong xứ Normandie đều lần lượt gọi anh ta đến để vẽ và gắn những thứ trang trí cầu ký lên các cửa xe của họ.
Mãi đến một ngày tháng chạp, cơm trưa sắp xong, mới thấy một người đến mở cái chắn đường ra rồi đi theo con đường thẳng vào nhà, lưng đeo một cái hộp. Đó là Bataille.
Anh được đưa vào trong phòng, được dọn bàn mời ăn, cứ ý như là một vị quyền cao, chức trọng, bởi vì năng lực sở trường và mối quan hệ liên tục của anh với toàn bộ giới quý tộc trong tỉnh, cộng thêm sự hiểu biết của anh về các huy chương, biển hiệu, về các thuật ngữ chuyên môn đã biến anh thành một thứ người - biển hiệu mà ngay cả các nhà cành vàng, lá ngọc cũng phải chìa tay ra để bắt tay anh.
Giấy và bút chì được đem ngay đến. Trong lúc Bataille ăn uống, ông nam tước và Julien cùng phác họa thử các biển hiệu với nhau. Tỉnh như sáo mỗi khi gặp những việc loại này, bà nam tước cũng phát biểu ý kiến; ngay cả Jeanne cũng tham gia thảo luận, dường như một mối quan tâm bí ẩn nào đó đã đột nhiên thức tỉnh trong con người nàng vậy.
Bataille vừa ăn vừa nói rõ ý kiến của anh. Thỉnh thoảng anh lại cầm cây bút chì vạch lên một phác thảo, nêu ra những hình mẫu, mô tả toàn bộ các cỗ xe của giới lãnh chúa trong vùng, như thể anh đã đem theo đến đây một bầu không khí quý tộc trong trí tuệ và ngay cả trong giọng nói của mình nữa.
Anh là một người thấp bé, tóc hoa râm cắt ngắn, tay lem luốc những thuốc vẽ, người nồng nặc toàn mùi xăng. Thiên hạ đồn rằng trước kia anh ta có phạm một chuyện gian dâm xấu xa gì đó nhưng thái độ quý trọng nhất loạt
của mọi gia đình vương tước đối với anh đã xóa bỏ cho anh cái vết nhơ ấy đi từ lâu rồi.
Uống xong cà-phê, anh được dẫn đến gian nhà để xe. Tấm vải sáp phủ kín xe được giở ra, Bataille ngắm nghía rồi trịnh trọng nói rõ kích thước tấm hình anh định vẽ. Sau một hồi trao đổi ý kiến thêm nữa, anh bắt tay vào việc.
Mặc dù trời lạnh, bà nam tước vẫn bảo đem đến một chiếc ghế cho bà ngồi xem rồi lại yêu cầu thêm một lò sưởi nhỏ cho đôi chân khỏi bị giá cóng. Bà bình thản trò chuyện với anh thợ vẽ, hỏi anh hết về các cuộc hôn nhân giữa dòng họ này với dòng họ khác mà bà chưa biết rồi lại về những người mới chết, những kẻ mới sinh, qua đó mà bổ sung vào cái biểu đồ các thế hệ quý tộc hình thành trong trí nhớ của ba.
Julien ở lại với mẹ vợ; anh xoay ngược một cái ghế dựa, dang hai chân ra rồi ngồi lên như cưỡi ngựa. Anh hút thuốc tẩu, nhổ toẹt nước bọt xuống đất, lắng nghe câu chuyện giữa mẹ vợ với anh thợ vẽ và theo dõi việc thể hiện thành màu, thành sắc danh vị quý tộc của anh.
Một lúc sau, ngay lão Ximông (Simon),với chiếc xẻng trên vai đang đi ra vườn rau, cũng phải dừng lại để xem Bataille làm việc. Tin anh thợ vẽ đến lâu đài đã lan truyền sang ấp trại cạnh nhà nên chẳng mấy chốc, hai bà tá điền cũng chạy sang. Đứng hai bên bà nam tước, hai bà cứ ngẩn người ra, trầm trồ mãi: "Ôi! Phải có hoa tay lắm mới vẽ những thứ này tỷ mỷ đến thế được!".
Mãi đến mười một giờ trưa hôm sau, biển hiệu trên các cửa xe mới vẽ xong, cả nhà liền lập tức có mặt và cổ xe được kéo ra ngoài để đánh giá được chính xác hơn.
Thật là hoàn hảo. Mọi người khen ngợi Batay (Bataille). Và anh lại ra đi với chiếc hộp trên lưng. Ông bà nam tước, vợ chồng Jeanne đều nhất trí cho rằng anh thợ vẽ này là một tay có tài nghệ lớn và, nếu điều kiện cho phép, chắc anh sẽ trở thành một nhà nghệ sĩ.
Vì lý do tiết kiệm, Julien đã thực hiện một số cải cách trong nhà và, do đó, đã có một số điều chỉnh mới.
Ông già đánh xe ngựa trở thành người làm vườn vì Julien tự đánh xe lấy và vì anh đã bán mấy con ngựa kéo đi để khỏi phải chi tiêu thức ăn cho chúng. Anh đã cho chú chăn bò Marius vào làm người hầu và nắm giữ giây cương ngựa, mỗi khi các vị chủ nhà lên xuống xe. Còn để kiếm cho ra ngựa thì anh ta đã tìm cách đưa thêm được vào giấy tờ thuê đất của hai bác Couillard và Martin một điều khoản đặc biệt buộc hai người tá điền mỗi người, mỗi tháng, phải cung cấp cho Julien một con ngựa trong một ngày, ngày nào sẽ do anh ta ấn định. Để bù lại, hai bác sẽ được miễn khỏi phải nộp cái khoản gà vịt cho anh ta.
Bác Couillard bèn dẫn đến một con ngựa xấu to tướng, lông vàng, còn bác Martin thì lại đem tới một con ngựa trắng bé tý, lông dài, hai con được thắng vào xe, đứng cạnh nhau. Lọt thỏm trong cái áo choàng cũ rộng thùng thình của lão Simon, Marius dẫn cỗ xe đã thắng đến đợi trước bậc tam cấp của tòa lâu dài.
Người tắm rửa sạch sẽ, ngực ưỡn ra, Julien đã lấy lại được chút ít cái phong độ thanh lịch ngày trước, nhưng dù sao, bộ râu xồm xoàm kia vẫn làm cho anh có một vẻ tầm thường.
Anh ngắm đôi ngựa, cỗ xe, chú hầu và đánh giá là đáng hài lòng, bởi vì đối với anh, điều quan trọng duy nhất chỉ là cái biển hiệu đã được viết và vẽ lại kia thôi.
Từ phòng riêng, bà nam tước vịn vào tay chồng bước xuống và leo lên xe một cách khó nhọc. Bà ngồi, lưng dựa vào mấy cái gối. Đến lượt Jeanne bước ra. Trước hết, nàng thấy buồn cười vì đôi ngựa; con trắng chỉ đáng là cháu nội của con vàng. Rồi nàng phá lên cười, cười mãi không thôi khi nàng nhìn thấy Marius, mặt bị che lấp đến tận mũi bởi cái mũ có gắn huy hiệu, đôi tay biến đâu mất trong đôi tay áo rộng quá khổ, hai chân lọt thỏm trong cái đuôi tôm lê thê của vạt áo trông như váy phụ nữ, hai bàn chân lại xỏ trong một đôi giày to tướng thòi ra một cách kỳ dị dưới tà áo, và chú bé, mỗi lần muốn nhìn cho rõ phải lật ngửa cả người về phía sau, mỗi bước đi phải co cao đầu gối như sắp bước qua một con sông, mỗi lần Julien ra lệnh, chú cuống lên và xoay xở như một anh mù, thân hình hoàn toàn biến mất trong bộ quần áo rộng mênh mông.
Ông nam tước quay lại, nhìn chú bé rối trí ấy, cũng bị lây ngay tức khắc, ông vừa phá ra cười, vừa gọi vợ, nghe không ra tiếng, nữa; "Này mình... mình, nhì...ìn Marius thử... thử xem nó... nó... có... kỳ... không? Trời ơi, có... có kỳ không?".
Bà nam tước thò vội đầu ra cửa xe và, khi đã nhìn ra, thì cơn vui của bà đã nổ tung thành một trận cười mạnh đến nỗi cả cỗ xe cứ nhảy cẫng lên trên các ổ lò xo, hệt như lúc xe bị xóc mạnh trên đoạn đường đầy ổ gà.
Julien, mặt xám ngoét, hỏi to; "Các người cười cái gì thế? Điên cả rồi sao?".
Không nín nổi, Jeanne co quắp cả người tưởng đến phát ốm lên được. Nàng phải ngồi bệt trên cái bậc lên xuống. Ông nam tước cũng làm theo nàng. Còn trong xe, những tiếng hắt hơi giật giọng nghe như tiếng gà cục tác liên tục của bà nam tước chứng tỏ bà cũng đang cười sặc sụa đến ngạt thở. Rồi đến chiếc áo choàng dài của Marius cũng phập phồng lên xuống trên lưng. Chắc chú bé đã hiểu ra. Đầu thụt sâu vào đến đáy mũ, chính chú bé cũng đang cười ngất.
Thế là Julien nổi xung lên, xông tới. Anh giáng cho chú bé một cái tát mạnh đến nỗi chiếc mũ to tướng của chú bay vọt ra khỏi đầu và văng xuống bãi cỏ. Rồi quay về phía bố vợ, giọng run lên vì tức giận, anh hổn hển nói; "Tôi tưởng các người chẳng có quyền gì mà cười như vậy. Nếu các người không phung phí hết cái gia sản và ngốn sạch cả vốn liếng, chúng ta đâu có đến nông nỗi này. Nếu các người bị phá sản thì đó là lỗi tại ai?".
Cơn vui bỗng lạnh giá và ngừng bặt. Không ai nói một lời nào. Sắp òa lên khóc, Jeanne lặng lẽ leo lên xe, ngồi cạnh mẹ. Bị bất ngờ, ông nam tước cũng nín thinh ngồi lên trước mặt vợ con. Sau khi lôi chú bé đang khóc sướt mướt, má sưng vù, lên gần mình, Julien ngồi vào chiếc ghế trước xe.
Đường đi buồn bã và dài lê thê. Trong xe, mọi người im lặng. Ủ rũ và ngượng ngùng, cả ba không ai muốn nói với ai điều đang làm họ nặng lòng. Ý nghĩ đau đớn đó ám ảnh mạnh đến nỗi họ hiểu rõ rằng, nếu cất tiếng lên trò chuyện, họ sẽ không thể nói được một điều gì khác nữa; họ muốn thà chịu đựng một sự im lặng buồn bã còn hơn phải động chạm đến câu chuyện phiền muộn đó.
Theo nhịp phi nước kiệu không đều của hai con ngựa, cỗ xe lăn bánh theo dọc các ấp trại, làm cho những con gà mái đen phát hoảng lên, sải chân chạy như bay và biến mất vào trong hàng rào. Thỉnh thoảng, một con chó, trông cứ như chó sói, gầm lên đuổi theo xe; và ngay khi chạy trở về đến nhà rồi, nó vẫn còn quay cổ lại, dựng ngược lông lên mà sủa theo. Một gã thanh niên đi tới. Đôi chân dài mang guốc lấm bùn bước thất thểu; tay đút vào túi quần, tấm áo choàng thô màu xanh phập phồng trên lưng theo chiều gió, anh chàng đứng dẹp sang một bên nhường chỗ cho xe qua, tay vung về nhấc mũ chào, để lộ ra một mái tóc phẳng, chải bẹp dí xuống đầu.
Sau mỗi ấp trại lại đến một khoảnh bình nguyên và, lác đác xa xa, nổi lên những ấp trại khác.
Cuối cùng, xe đã chạy vào một lối đi rộng, hai bên có trồng những cây tùng, dẫn ra ngã con đường lớn. Những rãnh bánh xe sâu ngập bùn làm cho cỗ xe nghiêng ngả và bà mẹ phải kêu ầm lên. Một cái chắn đường màu trắng đóng kín lối đi. Marius nhảy xuống mở ra, rồi cỗ xe vòng theo một bồn cỏ rất rộng dọc con đường lượn tròn đến một tòa nhà cao to và buồn bã, cửa đóng kín mít.
Cửa giữa tòa nhà mở ra đột ngột. Một người đầy tớ già, chân bị bại, mình mặc tấm áo nịt đỏ vằn đen, bên ngoài có choàng thêm tấm tạp dề làm việc, bước chéo từng bước nhỏ xuống bậc tam cấp. Bác hỏi tên các vị khách, đưa họ vào một phòng rộng, rồi khó khăn lắm mới mở nổi những cánh cửa chớp luôn luôn đóng kín. Bàn ghế đều bọc vải; chiếc đồng hồ quả lắc và những cây đèn đều phủ khăn trắng. Một không khí mốc meo, một không khí thời xưa giá lạnh, ẩm thấp, dường như làm nỗi buồn của gian phòng thấm vào tận tim, phổi, da thịt mỗi người.
Các vị khách ngồi xuống và chờ đợi. Tiếng chân người đi lại ở hành lang trên gác chứng tỏ đang có một sự tất bật khác thường. Bị bất ngờ vì chuyến đến thăm, các vị chủ lâu đài vội vàng mặc quần áo cho được tề chỉnh. Việc sửa soạn này kéo dài. Tiếng chuông reo gọi liên tiếp. Có tiếng người bước xuống cầu thang rồi lại chạy lên.
Nhiễm cái lạnh thấu xương, bà nam tước hắt hơi không ngớt. Julien đi đi, lại lại, Jeanne ủ rũ ngồi bên cạnh mẹ. Ông nam tước ngồi dựa lưng vào vách đá hoa của lò sưởi, đầu cúi xuống.
Cuối cùng, một trong những cánh cửa lớn mở ra. Ông bà tử tước Briseville xuất hiện, cả hai đều bé nhỏ, mảnh khảnh, bước chân nhún nhảy, vẻ mặt trịnh trọng và lúng túng. Rất khó có thể đoán đúng được tuổi của họ. Bà vợ mặc một áo dài lụa thêu hoa lá và đội một cái mũ có dải theo kiểu các bà góa được hưởng di sản của chồng cũ. Tiếng bà nói nhanh, giọng hơi chua. Người bó chặt trong bộ quần áo lễ lộng lẫy, ông chồng nhún hai đầu gối chào khách. Trên con người ông, từ cái mũi, đôi mắt, đến hàm răng chìa ra ngoài, mái tóc chải sáp và bộ quần áo hào nhoáng, tất cả đều cứ bóng lộn lên như những thứ đồ vật được lau chùi rất kỹ.
Sau khi đã nói hết những lời chào mừng xã giao đầu tiên giữa lân bang hàng xóm với nhau, mọi người không ai còn biết nói gì thêm nữa. Thế là họ xoay ra tặng nhau những lời chúc mừng, khen ngợi chẳng có lý do gì hết. Hai phía đều tỏ ra mong muốn được tiếp tục mối quan hệ tuyệt vời này, coi việc được gặp nhau trong hoàn cảnh phải sống quanh năm ở chốn quê mùa thật chẳng khác gì họ được thêm của, thêm tiền vậy.
Không khí lạnh như băng của phòng khách vẫn thấm vào tận xương và làm cho giọng nói mỗi người khàn đặc lại. Chưa hết hắt hơi, bà nam tước bây giờ lại phát ho lên. Thấy vậy, ông nam tước bèn làm hiệu ra về. Ông bà Briseville năn nỉ: "Sao lại vội thế, xin các ngài lưu lại thêm chút nữa". Nhưng Jeanne đã đứng dậy, mặc dù Julien, thấy cuộc đến thăm quá ngắn, đã ra hiệu ngăn lại.
Chủ nhà định giật chuông gọi người hầu cho xe đến nhưng cái chuông bị hỏng. Ông ta vội chạy ra ngoài rồi trở lại báo tin là ngựa đã đưa vào chuồng mất rồi. Thế là phải đợi thêm.
Mỗi nguời cố tìm một câu, một lời để nói. Họ bàn về chuyện mưa nhiều của mùa đông năm nay. Tự nhiên thấy lo ngại đến rùng cả mình, Jeanne hỏi hai vợ chồng chủ nhà là họ sống cô đơn thế này thì quanh năm, suốt tháng biết làm gì cho khuây khỏa. Ông bà Briseville có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi đó, bởi vì họ vẫn thấy mình luôn luôn bận rộn, hết viết không biết bao nhiêu thư từ cho họ hàng quý tộc ở rải rác khắp nước Pháp, lại ngày này qua ngày khác chăm lo những công việc hết sức vun vặt, chẳng ra đâu vào đâu cả. Họ đối xử với nhau trịnh trọng như thể với người xa lạ; gặp một chuyện cỏn con vô nghĩa nhất, họ cũng bàn bạc với nhau một cách rất đường bệ.
Dưới vòm trời xám đen của phòng khách rộng không một người ở và lót kín bằng thảm, vợ chồng chủ nhà quá bé nhỏ, quá sạch sẽ và quá đĩnh đạc ấy làm cho Jeanne cảm thấy họ cứ như là những mẫu người quý tộc đã bị đem đóng hộp vậy.
Cuối cùng, chiếc xe với hai con ngựa, một to, một bé đã đi ngang dưới cửa sổ tiến vào. Nhưng Marius đã biến mất. Tưởng mình được tự do cho tới chiều tối, chú bé chắc đã chạy đi chơi một vòng ngoài cánh đồng kìa rồi. Julien nổi cáu đòi bỏ mặc cho Marius đi bộ về sau. Sau nhiều lần hai bên chủ khách chào tạm biệt nhau, gia đình Jeanne lên đường về lại Bạch Dương.
Ngay khi cửa xe vừa đóng lại, mặc dù nỗi ám ảnh nặng nề về sự thô bạo hồi nãy của Julien chưa hết hẳn, hai bố con Jeanne vẫn vừa cười vừa nhại những cử chỉ và giọng nói của cặp vợ chồng Briseville, ông nam tước bắt chước ông chồng, còn Jeanne thì nhại bà vợ. Nhưng bà nam tước, vốn sẵn lòng quý trọng các vị chủ nhà, hơi có vẻ không bằng lòng. Bà nói: "Bố con ông chế nhạo họ như vậy là sai. Đó là những người rất đàng hoàng, họ thuộc về những dòng họ tuyệt vời đấy". Bố con Jeanne lặng thinh để khỏi làm mất lòng bà mẹ, nhưng mặc dù vậy, thỉnh thoảng họ vẫn nhìn nhau và tiếp tục nhại thêm. Ông bắt chước chào với một vẻ kiểu cách và nói bằng một giọng trịnh trọng: "Thưa bà, với ngọn gió biển thổi mạnh suốt ngày chạy ùa vào thăm hỏi ấy, lâu đài Bạch Dương của bà chắc phải là lạnh lắm?!. Jeanne giả bộ kiêu kỳ, đầu rung nhẹ như đầu một con vật đang tắm, õng ẹo phân bua: "Ồ! Thưa ông, ở đây chúng tôi bận bịu quanh năm suốt tháng đấy chứ! Phải viết thư cho biết bao nhiêu bà con. Ổng Briseville thì lại trút cho tôi hết thảy mọi việc. Chả là ông nhà tôi đang cùng vị cha xứ Penlơ (Pelle) bận tiến hành nhiều công trình nghiên cứu lớn lao đấy ạ. Hai vị đang biên soạn cuốn lịch sử tôn giáo xứ Normandie nhà ta đó mà!". Bà nam tước bị trái ý, nhưng vẫn độ lượng. Bây giờ, đến lượt bà cũng phải thấy buồn cười. Bà nhắc lại:
"Nhạo báng những người cùng giai cấp với mình như vậy thật chẳng hay ho gì đâu!".
Nhưng chiếc xe bỗng dừng lại đột ngột, Julien hét lên, gọi giật ai đó ở phía sau. Jeanne và ông nam tước thò đầu ra ngoài cửa xe, nhìn thấy một vật gì kỳ lạ như đang lăn tròn về phía họ. Đôi chân luýnh quýnh trong bộ áo lễ của người hầu phồng lên như cái váy, mắt bị che kín bởi cái mũ chao đảo không ngừng, đôi cánh tay áo thì phất lên như hai cánh cối xay gió, bì bõm lội bừa qua những vũng nước lớn, gặp hòn đá nào cũng vấp, người vấy đầy bùn, Marius đang lạch bạch nhảy chồm lên, hết sức chạy đuổi theo cỗ xe.
Khi chú bé vừa bắt kịp xe, Julien bèn cúi ngay xuống nắm lấy cổ tay chú, kéo bổng chú lên, rồi buông tay cương và đấm lia lịa lên đầu chú, làm cho cái mũ rộng tụt xuống đến tận vai và kêu lên như một cái trống. Trong cái mũ ấy, chú bé gào thét lên, cố tìm cách nhảy ra khỏi ghế để chạy trốn; còn Julien, một tay nắm chặt người chú, một tay vẫn tiếp tục đánh. Jeanne cuống cuồng, lắp bắp gọi không ra tiếng: "Bố ơi... ơi bố!". Hết sức phẫn nộ, bà nam tước nắm chặt cánh tay chồng; "Jắc (Jacques), ông ngăn nó lại đi chứ!". Thế là ông nam tước bỗng hạ mạnh tấm kính phía trước xuống và nắm lấy tay thằng con rể, ông quát vào mặt hắn, giọng run lên vì tức giận: "Anh có thôi đánh ngay đứa bé này không?”.
Julien kinh ngạc quay lại: "Thế bố không thấy thằng chó đểu này đã phá bộ áo lễ như thế nào ư?"
Đầu hơi thò ra ngoài cửa trước, ông nam tước đáp: "Dù thế nào anh cũng không được tàn bạo đến mức đó!". Julieng lại nổi cáu: "Thôi, xin hãy để cho tôi yên! Việc này chẳng liên quan gì đến bố hết!". Nói rồi, anh lại giơ tay lên. Nhưng ông bố vợ đã vồ lấy và kéo giật bàn tay anh xuống, mạnh đến nỗi bàn tay đó đập xuống mặt ghế gỗ đánh bốp một cái. Ông thét lên: "Nếu anh không chấm dứt, tôi sẽ xuống xe, và tôi, tôi sẽ biết cách chặn ngay anh lại cho mà xem!". Tiếng thét của ông dữ dội đến nỗi ngài tử tước phải tĩnh trí lại ngay. Anh không đáp, chỉ nhún vai rồi ra roi quất ngựa cho phi nước kiệu mạnh lên.
Mặt tái mét, hai mẹ con bà nam tước ngồi im không cựa quậy. Nghe rõ cả tiếng tim bà mẹ đập thình thịch.
Bữa ăn tối đó, Julien làm ra vẻ dễ thương hơn thường lệ, cứ y như đã chẳng có việc gì xảy ra cả. Với lòng khoan dung trong sáng sẵn có, Jeanne và bố mẹ nàng đã quên đi dễ dàng và nhanh chóng. Mềm lòng trước thái độ tỏ ra đáng mến của Julien, với cảm giác khoan khoái như khi mới ốm dậy, ba người đã dần dần vui vẻ trở lại. Lúc Jeanne tiếp tục nói về vợ chồng Briseville, chính Julien cũng pha trò chêm vào, nhưng y nói thêm ngay: "Cũng chẳng sao. Họ có vẻ đường bệ đấy chứ!".
Không còn vấn đề đi thăm thêm ai khác nữa vì cả bốn người đều ngại không muốn khơi lại câu chuyện Marius ấy. Họ chỉ quyết định là, nhân dịp Tết dương lịch sẽ gửi thiếp chúc mừng các vị láng giềng trong vùng và chờ cho đến những ngày đầu xuân ấm áp, mới sẽ đi thăm.
Ngày lễ Nô-en đã đến. Gia đình mời ông linh mục và vợ chồng ông xã trưởng đến ăn cơm tối. Tết dương lịch, gia đình lại mời họ lần nữa, Đó là những lần khuây khỏa duy nhất làm dứt quãng được chuỗi ngày sống buồn tẻ của bốn người.
Ông bố và bà mẹ dự định rời Bạch Dương vào ngày mùng chín tháng giêng. Jeanne muốn giữ bố mẹ lại thêm nhưng Julien không chịu. Trước thái độ ngày càng lãnh đạm của con rể, ông nam tước đã phải thuê một chuyến xe trạm từ Rouen gửi đến.
Trước ngày ông bà nam tước lên đường một hôm, trời sương muối nhưng sáng sủa, đồ đạc đã đóng gói đâu vào đấy, nên Jeanne và bố quyết định đi chơi một lần nữa xuống tận Yport. Từ khi nàng đi thăm đảo Corse trở về, hai bố con chưa lần nào đến lại nơi đó cả.
Hai bố con băng ngang cánh rừng. Đây là nơi nàng đã đi qua vào ngày lễ cưới, nơi mà tâm hồn nàng đã quyện chặt vào con người nàng sẽ phải chung sống mãi, nơi nàng đã nhận của y cái vuốt ve âu yếm đầu tiên, đã biết cơn rùng mình rung động đầu tiên, đã linh cảm thấy cái tình yêu nhục dục ấy mà cuối cùng, mãi khi tới thung lũng Ota hoang dã kia nàng mới thực sự hiểu nó được rõ ràng, bên tia nước suối họ đã cùng vừa uống, vừa hôn nhau.
Lá cây đã trụi sạch, cỏ lan mặt đất cũng chẳng còn, chỉ nghe tiếng cành cây xào xạc và tiếng rì rầm khô đanh của những rùng cây rụng lá giữa mùa đông.
Hai bố con bước vào xóm nhỏ. Phố xá vắng tanh, lặng lẽ, vẫn còn đượm mùi nước biển, mùi rong, mùi cá. Những tấm lưới rộng, nâu sẫm vẫn phơi lòng thòng trên cánh cửa hoặc trải dài trên sỏi đá.
Sóng biển vẫn ầm ầm tung bọt như từ muôn thuở, nhưng mặt biển lạnh và xám đã bắt đầu rút xuống, làm trơ ra những tảng đá màu xanh rêu dưới chân những bờ vách thẳng đứng phía Fêcăng (Fécamp). Dọc theo bãi biển, những chiếc thuyền lớn mắc cạn nằm nghiêng, trông như những con cá chết to tướng. Chiều đang xuống, Từng tốp người đánh cá đang đi về phía kè đá ven bờ biển. Họ bước nặng nề, chân dận những đôi ủng đi biển to, cổ quấn khăn len kín mít, một tay xách lít rượu mạnh, tay kia cầm chiếc đèn thuyền. Họ lượn một lúc lâu quanh những chiếc thuyền nằm nghiêng. Với thói quen chậm rãi của người xứ Normande, họ từ từ xếp lên thuyền những lưới đánh cá và phao chỉ đường, một ổ bánh mì to, một hũ bơ, một cái cốc và chai rượu Ba-Sáu (1). Xong xuôi đâu đó, họ lật ngửa thuyền ra rồi đẩy nó chạy rầm rầm trên bãi sỏi xuống mặt nước. Con thuyền rẽ bọt biển làm đôi, cưỡi lên mặt sóng, nghiêng ngả một lúc, xòe những cánh nâu ra rồi biến mất vào đêm tối với cả chiếc đèn nhỏ đặt trên đỉnh cột buồm.
Với bộ xương cứng nhô lên dưới làn áo mỏng, các bà vợ của- những bác dân chài đứng chờ đến tận lúc người đánh cá cuối cùng rời bến mới quay về xóm khi đó đã ngủ yên. Tiếng các bà léo nhéo khuấy động giấc ngủ nặng nề của các dãy phố tối đen như mực.
Ông nam tước và Jeanne đứng im như tượng ngắm cảnh những con người vì muốn khỏi chết đói mà đêm đêm phải liều chết ra đi trong bóng tối như vậy, những con người nghèo khổ đến mức không bao giờ biết một miếng thịt là gì.
Tâm hồn dào dạt trước cảnh đại dương mênh mông, ông nam tước thì thầm: "Thật là ghê gớm mà đẹp. Jeanne, con thấy không, cảnh biển cả với bóng đêm dày đặc và bao nhiêu sinh mạng bị hiểm nguy trong đó, thật là hùng vĩ biết bao!".
Jeanne đáp lại với một nụ cuời lạnh cóng: "Nhưng chẳng sao bằng được biển Địa Trung Hải đâu, bố ạ!". Bố nàng bất bình cãi lại: "Biển Địa Trung Hải ư? Nước nó nhờn như dầu, ngọt như đường, xanh như màu xanh của nước giặt quần áo ấy chứ! Còn biển này, con nhìn xem, với những con sóng bọt nước tung trào, nó mới dễ sợ làm sao. Và con hãy nghĩ đến những con người ra khơi kia, những con người ta đã chẳng còn trông thấy được nữa".
Jeanna đành thở dài đồng ý; "Vâng, nếu bố muốn như vậy".
Nhưng bốn chữ "Biển Địa Trung Hải" mà nàng vừa thốt lên lời ấy đã làm cho lòng nàng thắt lại một lần nữa. Bốn chữ ấy thả tung mọi ý nghĩ của nàng bay về những vùng đất xa xôi kia, nơi nàng đã gửi lại bao nhiêu niềm mơ ước.
Hai bố con không trở về qua cánh rừng mà đi ra phía đường cái, rồi chầm chậm leo lên dốc. Họ lặng thinh bước đi, lòng buồn bã vì sắp phải xa nhau,
Men theo bờ hào bên kia các ấp trại, thỉnh thoảng hai bố con lại thấy phả vào mặt mình mùi thơm của những quả táo đã giã nát, thứ hương rượu táo mới cất đó, vào mùa này, dường như đang nồng đượm trên toàn bộ vùng nông thôn xứ Normandi, hoặc mùi ngầy ngậy của các chuồng bò, cái mùi vừa hôi thối vừa nồng nồng nhưng dễ ngửi bốc lên từ bò. Một khung cửa sổ nhỏ còn sáng đèn chỉ rõ một căn nhà ở phía cuối sân.
Jeanne cảm thấy tâm hồn mình như rộng mở ra, dường như thấy rõ cả những vật vô hình. Và những ánh đèn le lói rải rác trên đồng ruộng ấy bỗng nhiên gieo vào lòng nàng nỗi đau xót cô đơn của những người mà tất cả mọi thứ trên đời đều làm cho họ phải rời bỏ và cách biệt nhau, đều kéo họ phải tách xa ra những gì họ hằng yêu mến.
Thế rồi, với một giọng nói đầy vẻ cam chịu, nàng thốt ra: "Cuộc sống chẳng phải bao giờ cũng vui vẻ đâu, bố ạ".
Ông nam tước thở dài: "Biết làm sao được, con gái yêu của bố, ta đành chịu vậy thôi!".
Sáng hôm sau, bố mẹ lên đường, chỉ còn Jeanne và Julien ở lại.
Chú thích:
[1] Rượu Ba Sáu, loại rượu cổ cực mạnh, pha ba phần rượu đỏ với ba phấn nước sẽ được sáu phần rượu mạnh.