Người Khiết Đan là một dân tộc du mục cổ đại của Hoa Hạ, cư trú tại vùng biên cương và khu vực Đông Bắc Hoa Hạ, sinh sống theo lối bán nông bán mục. Người Khiết Đan cổ có tám bộ lạc, Niết Lý là thủy tổ của triều Liêu.
Người Khiết Đan có tập tục ba năm bầu chọn Khả Hãn một lần. Thời kỳ đầu, Khả Hãn đều xuất thân từ gia tộc Đại Hạ; thời kỳ giữa xuất thân từ gia tộc Dao Liễn; cuối cùng, Diệt Lý Cẩn của tộc Da Luật thuộc Khiết Đan Điệp Lạt bộ đã thống nhất các bộ lạc Khiết Đan.
Cuối thời Đường, thủ lĩnh quý tộc Khiết Đan là Da Luật A Bảo Cơ thừa cơ thiết lập triều Liêu, tồn tại song song với thời Ngũ Đại và Bắc Tống.
Phong tục tập quán của người Khiết Đan khác với người Hán. Người Khiết Đan thường cạo tóc, trang phục là áo bào vạt trái, cổ tròn tay hẹp, ống quần nhét vào trong cổ ủng.
Tại nước Liêu, chỉ những người thuộc Hoàng tộc trướng và Hậu tộc trướng mới có họ, những người Khiết Đan ngoài hai trướng này đều không có họ.
Người Khiết Đan phần lớn đã hòa nhập vào các dân tộc khác ở phương Bắc Hoa Hạ như người Hán, người Nữ Chân, người Mông Cổ, v.v.
Do Hãn quốc Kim Trướng là bá chủ phương Tây từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, người Mông Cổ thường gọi vùng phương Bắc Hoa Hạ là Khiết Đan.
Tương truyền, trên thảo nguyên phương Bắc có hai dòng sông chảy qua. Một con sông chảy xiết từ cuối phía Nam dãy Đại Hưng An Lĩnh, người Khiết Đan gọi là sông Tây Lạp Mộc Luân, còn gọi là "Hoàng Thủy", trong văn hiến viết là "Hoàng Hà". Con sông kia chảy từ phía Tây núi Y Vu Lư, tên là sông Lão Cáp, còn gọi là "Thổ Hà".
Dân tộc Khiết Đan hưng khởi tại lưu vực sông Tây Lạp Mộc Luân và sông Lão Cáp. Sự di cư và giao thoa của các dân tộc trong khu vực này diễn ra vô cùng phức tạp và thường xuyên.
Về thủy tổ của mình, người Khiết Đan có truyền thuyết rằng: Một "Thiên Nữ" ở cung trời lâu ngày cảm thấy buồn tẻ cô quạnh, nàng đánh xe bò xanh, từ "Bình Địa Tùng Lâm" xuôi theo dòng Hoàng Thủy mà xuống. Cùng lúc đó, một "Tiên Nhân" cưỡi ngựa trắng, từ "núi Mã Vu" men theo sông Thổ Hà mà đi về phía Đông.
Bò xanh và ngựa trắng gặp nhau tại núi Mộc Diệp, nơi giao nhau của Hoàng Thủy và Thổ Hà. Thiên Nữ và Tiên Nhân đuổi bò, thả cương ngựa, tiến về phía nhau. Hai người yêu nhau, kết hợp và sinh sôi nảy nở.
Mặc dù câu chuyện "Bò xanh ngựa trắng" được lưu truyền rộng rãi, nhưng trong các sử liệu về triều Liêu lại rất ít ghi chép. Ghi chép duy nhất nằm ở Liêu Sử, quyển 37, Địa lý chí, mục "Vĩnh Châu": Có núi Mộc Diệp, trên núi xây miếu thờ thủy tổ Khiết Đan, Kỳ Thủ Khả Hãn ở miếu phía Nam, Khả Đôn ở miếu phía Bắc, vẽ tượng hai vị thánh cùng tám vị thần tử.
Tương truyền có thần nhân cưỡi ngựa trắng từ núi Mã Vu theo sông Thổ Hà mà đi về phía Đông, có Thiên Nữ đánh xe bò xanh từ Bình Địa Tùng Lâm theo dòng Hoàng Thủy mà xuống, đến núi Mộc Diệp. Hai dòng sông hợp lưu, hai người gặp nhau kết làm vợ chồng, sinh ra tám người con. Sau đó tộc thuộc dần lớn mạnh, chia làm tám bộ. Mỗi khi hành quân hoặc tế lễ mùa xuân thu, tất phải dùng ngựa trắng bò xanh để tỏ ý không quên gốc gác.
Đây không nghi ngờ gì chính là ghi chép chính xác và có thẩm quyền nhất về truyền thuyết bò xanh ngựa trắng. Từ đó có thể thấy, dân tộc Khiết Đan khởi nguồn từ lưu vực sông Tây Lạp Mộc Luân và sông Lão Cáp là điều xác thực.
Về những thông tin của tộc Khiết Đan, cả Lý lão và Tô Cửu đều biết trong lòng.
Truyền thuyết về nguồn gốc tộc Khiết Đan từng là chủ đề tranh luận sôi nổi trong giới học thuật Hoa Hạ. Dân tộc Khiết Đan - vốn đã sáng lập ra triều đại Liêu kéo dài 219 năm - từ cuối thời Nguyên đầu thời Minh bỗng nhiên biến mất tăm hơi trong sử sách.
Trong thực tế, liệu dân tộc này có thực sự không còn tồn tại giống như thời gian đã trôi qua hay không? Câu hỏi này từng bị không ít học giả chất vấn.
Một số chuyên gia đưa ra kết luận và ví von rằng: Khi người Mông Cổ thời Nguyên thiết lập đế quốc Mông Cổ trải dài khắp đại lục Á-Âu, chinh chiến liên miên, người Khiết Đan vốn thường xuyên dùng binh đã bị chinh phục và phân tán đến khắp nơi. Có bộ phận vẫn giữ được tộc quần lớn, ví dụ như tộc Đạt Oát Nhĩ vẫn tồn tại như một dân tộc riêng biệt; số khác thì bị người địa phương đồng hóa.
Nhóm thứ hai là khó tìm kiếm nhất, bởi lẽ tộc Khiết Đan hơn một ngàn năm qua vẫn luôn duy trì chế độ "ngoại hôn", nên người Khiết Đan theo nghĩa thuần túy đã không còn tồn tại nữa. Sau quá trình di cư, cách biệt và dung hợp không ngừng, phần lớn người Khiết Đan đã tan chảy như những tảng băng bị ném xuống biển. Dùng một thuật ngữ chuyên môn thì đó là "hậu duệ theo nghĩa phân tử".
Những "tảng băng" đã tan chảy này liệu có còn tìm được không?
Chỉ có Tô Cửu là biết rõ, người Khiết Đan thực chất vẫn luôn tồn tại. Họ sống trên mảnh đất Hoa Hạ thông qua phương thức truyền thừa gia tộc. Hơn nữa, địa vị của tộc Khiết Đan trong giới phong thủy cũng không hề tầm thường. Đương nhiên, nếu không phải vì bại trận, cộng thêm việc bị người trong giới phong thủy truy sát, thì tộc Khiết Đan cũng sẽ không ẩn danh mai danh như vậy. Chuyện này thực ra có căn nguyên rất lớn, nhưng đó là chuyện ngoài lề, không tiện nói nhiều.
Tô Cửu hiểu rõ trong lòng. Phụ Tân là cố địa của tộc Khiết Đan, điều này từ lâu đã được các nhà sử học thừa nhận. Bắt đầu từ Bắc Ngụy, tộc Khiết Đan đã bắt đầu hoạt động tại Phụ Tân. Triều Liêu kiến quốc năm 907, quốc hiệu là Khiết Đan, năm 916 bắt đầu lập niên hiệu, năm 938 đổi quốc hiệu thành Liêu, năm 983 lại xưng là Khiết Đan, năm 1066 vẫn xưng là Liêu.
Từ khi Liêu Thái Tổ Da Luật A Bảo Cơ thành lập Đại Liêu, trong suốt thời kỳ triều Liêu, các nhà cai trị Khiết Đan đã coi Phụ Tân là "phúc địa" của mình.
Tương truyền, trong địa phận Phụ Tân ngày nay có 9 đầu hạ châu (đơn vị hành chính thời Liêu). Thuộc thời kỳ đầu có Toại Châu, Thuận Châu, Hào Châu, Hoan Châu; thuộc thời kỳ giữa có Huy Châu, Thành Châu, Hoành Châu; ngoài ra còn có Lư Châu thời đại không rõ ràng. 9 đầu hạ châu này khi đó có hơn 19 vạn dân, nếu cộng thêm quân đội thì có thể lên tới hơn 20 vạn người, trong đó người Khiết Đan chiếm tới hơn 10 phần.
Sau khi triều Liêu mất, những người Khiết Đan tại Phụ Tân đã đi đâu? Còn bao nhiêu người Khiết Đan từ nơi khác đổ về Phụ Tân? Họ rốt cuộc đã hòa tan vào những dân tộc nào? Điểm này, ngay cả Tô Cửu cũng không rõ.
Vì vậy, tộc Khiết Đan đã trở thành một đại bí mật trong giới phong thủy, thậm chí là trong cả Hoa Hạ. Không ai biết tộc Khiết Đan đã đi đâu. Có lẽ, nó có liên quan đến sự kiện lúc đó, nhưng ai mà nói cho chắc được chứ?
"Lý lão, nếu tôi phán đoán không sai, Lý gia hẳn là đã bị người Khiết Đan để mắt tới." Tô Cửu thản nhiên nói ra kết luận của mình.
"Chẳng phải tộc Khiết Đan đã biến mất trong dòng sông lịch sử rồi sao?" Nghe lời Tô Cửu, Lý lão theo bản năng lên tiếng.
Lý lão không phải là người bình thường, với tư cách là người đại diện hiện tại của Lý gia, những thứ ông có thể tiếp cận đều là những thứ người thường không thể chạm tới. Trong mắt thế gian, hai chữ "Khiết Đan" thực ra từ lâu đã trở thành lịch sử.
"Lý lão, ông sai rồi. Tộc Khiết Đan không hề biến mất, chỉ là mai danh ẩn tích mà thôi. Họ không xuất hiện trong thế tục, nhưng mấy trăm năm nay, trong giới phong thủy vẫn luôn có bóng dáng của họ." Tô Cửu nhẹ nhàng lên tiếng, bác bỏ lời của Lý lão.
Anh biết rất rõ trong lòng, thực lực của tộc Khiết Đan trong giới phong thủy không hề yếu hơn so với các gia tộc thủ hộ Cửu Đỉnh năm xưa. Nếu thực sự phải chia giới phong thủy ra thành chính và tà, thì thực lực của tộc Khiết Đan có thể nói là chiếm đến hai phần ba phe tà. Chỉ từ điểm này thôi cũng đủ để thấy địa vị của tộc Khiết Đan trong giới phong thủy đáng sợ và mạnh mẽ đến mức nào. (Còn tiếp)