CHO TỚI TẬN KHI tôi tìm thấy cuộn phim cũ rồi rửa nó ra và nhìn thấy tấm biển với những chữ cái màu xanh treo trên hiên, tôi chưa từng nghe nói đến Liberty, New York. Đó hẳn chẳng phải là một địa danh nổi tiếng. Chỉ là một thị trấn nhỏ ở dãy núi Catskill, cách thành phố New York chừng hai giờ rưỡi xe ô tô về phía Tây Bắc. Nhưng vì tôi biết mẹ tôi và có thể cả bà tôi cũng đã từng ở đó, đột nhiên với tôi nơi ấy trở thành một địa điểm quan trọng nhất trên thế giới.
Nếu thực sự mẹ mang thai tôi lúc chụp bức hình này, điều ấy có nghĩa những tấm ảnh kia phải được chụp cách đây gần mười ba năm trước. Tôi sợ rằng trại Hilltop sẽ chẳng còn ở đấy, nhưng Bernadette kiếm được số điện thoại không mấy khó khăn và chúng tôi gọi đến đó.
Tôi đứng cạnh Bernadette, miệng tới tấp hỏi bác trong khi bác nói chuyện với người ở đầu dây bên kia.
“Hỏi họ xem Mẹ có từng sống ở đó không! Nói với họ rằng bà từng dự một bữa tiệc Giáng sinh hoành tráng mà có lẽ Mẹ đi cùng với mẹ của Mẹ nữa.”
Bernadette cố hỏi tất cả những câu hỏi đó và còn hỏi thêm nữa, nhưng vì lý do nào đó người ở đầu dây bên kia không để bác nói hết câu.
“Vâng, tôi hiểu, nhưng nếu chị có thể chỉ nói cho tôi biết… Vâng, tôi hiểu, nhưng tất cả những gì tôi cần chị làm là kiếm trong các hồ sơ - có quá nhiều… À thế ạ. Dạ được, dạ được.”
Cuối cùng Bernadette cho số điện thoại của bác và gác máy.
“Có chuyện gì ạ? Họ nói gì ạ?” tôi hỏi.
“Tất cả những gì bác cố gắng moi được từ cô ta là Hilltop là một địa chỉ cho những người bị tật nguyền và chỉ có một người có thẩm quyền trả lời các câu hỏi cá nhân là một ông tên Thurman Hill.”
“Vậy chúng ta cần nói chuyện với Thurman Hill ngay bây giờ,” tôi nói.
“Hôm nay ông ấy không có ở đó. Người phụ nữ đã lấy số điện thoại của bác và nói ông này sẽ gọi lại cho bác.”
Nhưng Thurman Hill không gọi lại. Không gọi trong ngày hôm đó. Hay hôm sau cũng vậy.
Thế là Bernadette lại gọi lại. Và gọi lại. Mỗi lần bác lại nhận được sự trì hoãn tương tự về việc ông Hill là người duy nhất ra sao có thể trả lời các câu hỏi cá nhân của chúng tôi, có điều ông ta không ở đây. Bernadette gọi lại không biết bao nhiêu lần, cuối cùng người phụ nữ ở Hilltop bắt đầu bảo bác chờ máy ngay khi nghe thấy giọng Bernie, và rồi cô ta bỏ chúng tôi chờ như thế mà không bao giờ quay lại cả.
“Gọi điện với khoảng cách xa thì đắt đỏ lắm, Heidi-Ho ạ, và Thurman Hill, cái đồ bốn chữ cái đáng thương ấy, rõ ràng là không có ý định gọi điện cho chúng ta.”
Bernadette chưa từng chửi thề trước mặt tôi, thế nên khi bác thực sự điên tiết, bác thay thế bằng “bốn chữ cái” cho những từ chửi thề có bốn chữ cái thực sự [5] . Dù vậy qua Zander, tôi đã biết tỏng các từ thực của nó rồi - tôi từng liệt kê một danh sách các từ đó dưới dạng mật mã trong cuốn sổ tay của mình.
“Bác nghĩ đã đến lúc tiếp cận bằng đường bưu điện rồi đó,” bác bảo.
Bernadette có rất nhiều kinh nghiệm để đạt được những gì bác muốn bằng việc trò chuyện với mọi người qua điện thoại hoặc thư tay, nhưng cho dù bác có làm cách nào đi chăng nữa cũng chẳng thể đi đến đâu đối với trường hợp Hilltop. Ba tuần trôi qua và chúng tôi vẫn không có câu trả lời bằng thư hay qua điện thoại. Tôi không kiềm chế được nữa. Bernie cố làm tôi xao lãng bằng cách khiến cho chân tay tôi phải bận rộn. Chúng tôi dán miếng giấy bọc mới lên tủ bếp. Và vào một dịp cuối tuần bác bảo tôi lau dọn tất cả các phòng để đồ trong căn hộ của chúng tôi. Tôi bò bằng tứ chi, kéo ra những cái hộp, những đôi giày méo mó và các va li cũ mòn vẹt từ phía trong phòng để đồ của Mẹ, bỗng tôi cảm thấy thứ gì đó mềm mềm được chèn ở phía góc xa phía dưới một chồng báo cũ. Đó là một chiếc áo len dài tay màu đỏ. Giống chiếc áo đỏ có hình chú tuần lộc mà người phụ nữ tóc vàng trong bức hình ở trại Hilltop mặc.
“Bà ấy từng ở đây, bác Bernie ạ!” tôi kêu toáng lên, cầm chiếc áo nhàu nhĩ tới cho bác xem. “Bà ngoại cháu từng ở đây. Bằng chứng đây này.”
Sau sự kiện đó, không gì có thể làm tôi xao lãng được nữa. Tôi không nghĩ gì khác ngoài Hilltop.
“Tất cả những gì chúng ta yêu cầu họ làm chỉ là tìm xem có tên Mẹ trong các hồ sơ thôi mà. Sao việc này lại quá khó khăn như vậy chứ?” tôi hỏi.
“Bác không biết, cưng à, nhưng điều đó khiến bác phát điên lên đây này, bác chỉ muốn đi ngay tới văn phòng của lão già Thurman Hill hẹp hòi kia và ngồi đè lên cái cái đồ ti tiện ấy cho đến khi lão phải khạc thông tin ra mới thôi.”
“Đúng rồi, bác Bernie!” tôi nói, nhảy cẫng lên vì vui sướng. “Đó chính xác là những gì chúng ta phải làm. Chúng ta phải đi gặp Thurman Hill! Chúng ta phải tới đó và buộc ông ta phải nói cho chúng ta về Mẹ.”
“Bé con à,” Bernadette nói, giọng nhẹ nhàng, “cháu biết là chúng ta không thể làm thế mà. Bác không thể…”
“Không thể ra ngoài ư? Sao bác biết được nào? Làm sao bác biết là mình không thể chứ?” tôi hỏi. “Lần cuối cùng bác thử là khi nào, bác Bernie? Có lẽ bệnh sợ khoảng rộng đã biến mất rồi cũng nên. Có thể bác đã khá hơn mà bác không biết ấy chứ.”
“Nó không hết đâu, Heidi. Bệnh tình không tự dưng mà khỏi được.”
“Bệnh cảm tự khỏi mà. Và mụn nhọt nữa. Sao bác biết bệnh này cũng sẽ không tự hết nào? Có thể nó vẫn còn. Cũng có thể nó đã hết,” tôi bảo.
Giờ đây tôi quá phấn khích. Tôi đi tới cửa trước và mở toang nó ra.
“Nào bác Bernie, thử xem, làm ơn thử chút xem sao. Vì cháu.”
“Heidi, bác không thể,” Bernadette đáp. Giọng bác thốt ra vẻ khó khăn và tôi nhận thấy hai bàn tay bác run bần bật.
“Bác đã khiến Mẹ thử được mà. Nhờ thế mà mẹ cháu có thể mở được các hộp đồ ăn, bác Bernie à, và tự chải tóc nữa. Bác cũng khiến cháu thử nữa. Viết chữ thảo, bác Bernie à. Rồi Shakespeare, bác đã bảo cháu thử. Đó là lý do vì sao cháu yêu cầu bác làm. Thử đi mà.”
Bernadette đứng lên, níu lấy thành ghế sofa để tìm điểm tựa. Cặp chân bác loạng choạng, nhưng bác bước đi chầm chậm về phía tôi. Về phía cánh cửa mở rộng.
“Bác không biết…” bác nói. “Cháu không hiểu đâu, Heidi. Nếu bác ra ngoài… Nếu bác ra ngoài kia, bác có thể… nếu bác ra ngoài…”
“Chẳng có chuyện gì xảy ra đâu, bác Bernie. Chỉ cần một bước là ra hành lang rồi. Bác chỉ cần làm có thế thôi chứ mấy. Một bước. Bước đầu tiên. Giống như khi bác dạy cháu viết chữ a đó, bác nhớ không? ‘Lượn một vòng, lên, xuống, hất cái đuôi sang bên.’ Bác có thể làm được mà, bác Bernie. Cháu biết là bác có thể.”
Bernadette nắm lấy tay nắm cửa, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì sợ hãi. Bác đứng như thế đến cả phút với cặp mắt nhắm nghiền.
“Lượn một vòng, lên, xuống, hất cái đuôi sang bên,” bác thì thào trong hơi thở. “Lượn một vòng, lên, xuống, hất cái đuôi sang bên.” Đoạn bác hít một hơi sâu, buông tay nắm cửa, và bước ra hành lang.
“Bác đã làm được rồi này!” tôi hét lên. “Bác đã ra ngoài được rồi, bác Bernie! Cháu biết là bác có thể mà! Bác đã ra ngoài được rồi!”
Cách đúng nhất để miêu tả những gì xảy ra tiếp theo là trong vòng vài giây kể từ lúc Bernadette buông tay nắm cửa ra và khi bác đổ sụp xuống sàn nhà, cơ thể bác từ khối rắn chắc chuyển sang dạng lỏng. Cặp chân Bernadette nhũn ra và bác ngã xụi lơ, hơi thở từ bác phát ra thật lớn và gấp gáp, mí mắt bác run rẩy trong khi đầu bác quặt về phía sau như chiếc đầu búp bê bị hỏng.
“Bác Bernie!” tôi thét lên, lao về phía bác.
“Cứu bác,” bác cố gắng thì thào giữa hơi thở gấp. “Bác đang… chết đuối.”
Tôi đứng sau, xốc nách bác và cố hết sức mình để kéo bác vào nhà, nhưng bác quá nặng. Bernie thấp song chẳng hề nhỏ chút nào. “Tá điền chính hiệu nhé,” bác thường nói vậy. “Chân chỉ hạt bột và hay lam hay làm.”
“Giúp bác, Heidi,” bác rên rỉ.
Tôi nghe tiếng cánh cửa kẹt mở phía dưới chúng tôi, và tiếng bước chân nặng nề quen thuộc ở cầu thang.
“Zander,” tôi hét lên. “Mau! Lên đây! Bác cháu tớ cần giúp đỡ!”
Một phút sau, khuôn mặt tròn như cái bánh nướng của Zander thò ra ở đầu cầu thang. Cậu ta đang thở hồng hộc vì leo một mạch các bậc thang. Một tay cậu ta cầm túi khoai tây chiên còn tay kia là lon soda nho. Quai hàm của cậu ta trễ ra khi nhìn thấy Bernadette nằm quay lơ trên nền đất.
“Chúa ơi,” cậu ta thốt lên. “Có chiện gì với bác í thế?”
“Mau lên. Giúp tớ kéo bác ấy vào nhà đi,” tôi nói.
Cậu ta không nhúc nhích, chỉ đứng ì ra đầy căng thẳng, liếm những ngón tay dính gia vị đỏ lừ.
“Khiếp, bác ấy trắng bệch kìa,” cậu ta bảo. “Cứ như thể một con ma kinh dị vậy.”
“Zander, đi nào,” tôi quát lên. “Giúp tớ đưa bác ấy vào nhà đi.”
Zander thở dài đánh thượt và buông gói khoai tây chiên cùng lon soda xuống đất. Đoạn cậu ta đến và đỡ lấy một cánh tay Bernie.
“Bác ấy chưa ngoẻo chứ?” cậu ta thì thào. “Vì tớ chưa được nhìn tận mắt một ai đó ngoẻo bao giờ.”
Tôi nắm lấy cánh tay kia của Bernie và bắt đầu kéo đi. Một chiếc tất chân của bác mắc vào một cái đinh trên nền nhà và rách toạc, phát ra âm thanh rất to trong khi chúng tôi kéo mạnh. Bác rên rỉ và trở nên hoàn toàn mềm rũ ra khiến cảm giác như bác còn nặng hơn trước, nhưng không rõ vì sao cuối cùng chúng tôi cũng đã xoay xở kéo bác qua tấm chiếu chùi chân để vào bên trong.
“Trông bác ấy chả khá tí nào. Cậu có muốn tớ gọi cấp cứu 911 không?” cậu ta hỏi.
Tôi hoảng sợ. Nếu chúng tôi gọi 911, họ sẽ đến đưa Bernie đi mất. Mẹ và tôi sẽ biết làm gì đây? Làm sao chúng tôi có thể sống sót được nếu thiếu Bernie? Tôi bắt đầu òa khóc.
Zander đứng khoảng một phút nhìn xuống cơ thể bất động của Bernie và hết chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia một cách bồn chồn.
“Bác ấy say rượu chăng?” cậu ta hỏi. “Vì nếu thế thì tớ có thể nói với cậu rằng bác ấy sẽ chẳng dậy trong một thời gian và khi bác tỉnh lại, cậu phải thật khẽ khàng và cho bác ấy uống một ly cà phê nóng cho dù thậm chí bác ấy sẽ chửi rủa cậu về chuyện đó. Cậu có cà phê chứ?”
“Có, nhưng bác ấy đâu có say.” Tôi đáp, đưa ống tay áo quẹt mũi.
“Không sao hết, tớ sẽ chẳng kể cho ai cả đâu,” cậu ta nói.
Tôi cảm thấy một mẩu sự thật trượt đi phía dưới làn da của mình. Một mẩu vụn bé tí sắc nhọn nằm bên dưới tất cả những câu chuyện về anh hùng chiến tranh và huân chương danh dự.
Bernie cựa quậy và rên rỉ. Zander vội vã quỳ gối xuống cạnh tôi, và cả hai chúng tôi quạt hối hả bằng tay khi bác trở mình.
“Làm ơn đừng bị sao cả,” tôi thì thào. “Làm ơn mà, bác Bernie, tỉnh dậy đi.”
Thời gian tưởng chừng như vô tận trước khi sắc hồng trở lại trên khuôn mặt bác và bác mở mắt ra. Tôi ngồi trên nền nhà ngay cạnh bác suốt thời gian đó, vuốt ve cánh tay Bernie và nói nhẹ nhàng với bác theo cách mà bác thường nói với Mẹ lúc bà thức dậy sau giấc ngủ ngắn điều trị chứng nhức đầu. Cuối cùng, khi Bernadette có thể ngồi lên được, tôi ngồi bắt chéo chân và dịch đến sát vào bác, quàng một cánh tay vòng quanh người bác và kéo đầu bác sát vào vai tôi trong khi tôi khẽ lắc lư nhẹ nhàng. Vài lọn tóc dài hoa râm rối ra từ túm đuôi sam nặng trịch mà bác thường hay tết, và tôi vuốt nó khỏi khuôn mặt bác, giắt chúng vào trong bím tóc.
“Xong, xong, xong rồi, bác Bernie, suỵt,” tôi thì thào.
Zander tựa người vào cửa và quan sát. Từ lúc đó, cậu ta chẳng nói hay làm gì cả, nhưng sự hiện diện của cậu ta là đủ. Khi Bernie có thể ngồi dậy và uống một ít nước, cậu ta ra về, nhẹ nhàng khép cửa lại. Tôi từng ở cạnh Zander nhiều giờ liền, lắng nghe cậu ta kể chuyện ở ngoài bậc cửa, nhưng cho đến ngày hôm đó tôi chưa thực sự biết gì về cậu ta. Rồi, giống như gói Twinkies đầu tiên cậu ta đưa cho tôi, không cần tôi dò hỏi, cậu đưa cho tôi một mẩu sự thật nhỏ xíu. Sau đó, mọi thứ đã thay đổi. Trong mắt tôi, Zander sẽ chẳng bao giờ là thằng nhóc béo ị hay ngu đần nữa. Tôi đang bắt đầu nhìn ra sức mạnh của sự thật có thể như thế nào.
Thật may khi sự cố với Bernadette xảy ra thì Mẹ đang ngủ. Tôi không chắc bà sẽ phản ứng thế nào khi nhìn thấy Bernie lăn quay một đống trên sàn như vậy. Tôi biết rằng điều đó đã làm tôi sợ đến bủn rủn cả người.
“Bác xin lỗi, cưng à,” bác nói. “Bác đã thử rồi đó.”
“Cháu biết là bác đã thử, Bernie. Không sao đâu,” tôi nói với bác. “Lẽ ra cháu không nên yêu cầu bác.”
Một lát sau chúng tôi vào bếp và bác cố gắng pha cho mình một tách cà phê, nhưng bác vẫn còn khá run.
“Ngồi xuống đi, bác Bernie. Cháu sẽ pha cho bác,” tôi bảo.
Bernadette thả phịch người xuống một chiếc ghế trong bếp và nhìn tôi nghiền hạt cà phê trong chiếc cối xay cà phê. Một chiếc hộp gỗ cà tàng cà rịch với cái cần quay tay gắn ở trên cùng và một ngăn kéo ở dưới đáy để bột cà phê rớt xuống đó. Tôi thích được kéo cái khay ra và hít hà mùi hương của thứ bột màu nâu nâu đen đen huyền bí đó, nhưng tôi ghét vị đắng của nó. Tôi thích vị trà ngòn ngọt của mẹ hơn. Bernadette uống năm ly cà phê mỗi ngày - ba ly vào buổi sáng, một ly sau bữa trưa và một ly lúc năm giờ chiều, bác gọi đó là giờ cocktail.
“Đó là thức uống của quỷ, Heidi à. Chỉ nhấp một ngụm và cháu thành kẻ tiêu tùng ngay.”
“Nhưng bác đâu có tiêu.” Tôi đáp.
“Đúng là thế đấy, nhưng bác là nô lệ của hạt cà phê, Heidi ạ. Tin bác đi, một nô lệ.”
Trong khi chúng tôi đợi cho nước sôi, tôi ngồi xuống bên bàn đối diện với bác.
“Chúng ta sẽ không từ bỏ vụ Hilltop, Heidi à. Bác hứa đó. Chúng ta sẽ tiếp tục nhắc nhở họ,” bác nói. “Chúng ta sẽ gọi điện và viết thư cho đến khi có ai đó ở đấy cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta sẽ làm thế.”
Nhưng trong thâm tâm tôi biết rằng cách đó chẳng ăn thua. Thurman Hill rõ ràng có kế hoạch để chúng tôi phải nản lòng. Khi tôi quan sát Bernie, lúc này vẫn còn xanh tái và run rẩy dò dẫm từng bước một, tôi biết rằng chỉ có một cách mà thôi.
“Bernadette, cháu sẽ tới Liberty,” tôi nói.
“Cháu ư? Ý cháu là một mình?” bác hỏi giọng hoài nghi. “Điều đó hoàn toàn không thể được. Cháu chỉ là một đứa trẻ.”
“Cháu đâu còn là đứa trẻ, cháu đã mười hai tuổi rồi còn gì. Cháu ra ngoài một mình suốt đó thôi,” tôi cãi.
“Không phải là tới New York, cháu không thể.”
“Cháu có thể bay tới đó,” tôi đáp.
“Cháu có mất trí không đấy, cô gái?”
“Người ta bay cả đó thôi, bác Bernie. Tất cả mấy thứ máy bay chúng ta nghe thấy, chúng bay qua hằng ngày và chật ních người trong đó.”
“Những người khác, những người lạ, nhưng không phải cháu. Cháu đâu có giống họ,” bác bảo.
“Không, bác Bernie à, cháu không giống bác,” tôi đáp vẻ nóng nảy. “Bác và Mẹ là những người giống nhau.”
Màu đỏ ửng lên trên hai má bác, và lưng của bác cứng đơ ra một cách rõ rệt.
“Nếu để cho cháu bước vào một cái máy bay thì ta thà cắt chân mình đi còn hơn,” bác đáp.
“Được thôi. Cháu sẽ đi xe buýt. Đằng nào thì nó cũng sẽ rẻ hơn.”
“Xe buýt hay máy bay đều chả có gì khác nhau cả. Cháu sẽ không đi đâu sất,” bác quả quyết. “Và cuộc thảo luận đến đây là kết thúc.”
Bernie có một bản tính bảo thủ ngấm vào máu, tựa như việc con chồn hôi thì phải có sọc trắng ở trên người vậy. Bác bảo ban tôi rất nhiều điều. Nhưng có một điều tôi biết rằng Bernie không thể can thiệp được. Tôi sẽ tới Liberty.