Tam Thể Tập 2 - Khu Rừng Đen Tối

Lượt đọc: 6109 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

“Không, không có lòng tin ở tôi là đúng.”

La Tập vẫn không chào tạm biệt, đi thẳng ra khỏi văn phòng. Anh lại rơi vào trạng thái như lúc vừa được tuyên bố trở thành Người Diện Bích, ngơ ngẩn đi không mục đích. Anh đi tới cuối hành lang, vào trong thang máy, xuống đại sảnh ở tầng một, sau đó ra khỏi tòa nhà của Ban thư ký, rồi tới Quảng trường Liên Hiệp Quốc. Dọc đường, lúc nào cũng có mấy nhân viên an ninh quây kín xung quanh anh, La Tập đã mấy lần bực bội đẩy bọn họ ra xa, nhưng anh cứ như một cục nam châm, đi tới đâu là hút bọn họ bâu quanh tới đấy. Giờ đang là ban ngày, quảng trường rực rỡ ánh nắng, Sử Cường và Kent đi tới, bảo anh mau chóng trở vào trong nhà hoặc trong xe.

“Cả đời này tôi không được nhìn ánh mặt trời nữa rồi, đúng không?” La Tập nói với Sử Cường.

“Không phải, họ đã dọn dẹp xung quanh rồi, chỗ này giờ đã tương đối an toàn. Nhưng du khách rất đông, họ đều nhận ra anh, cả đám người quây lại thì không tiện lắm, anh cũng không muốn như vậy đâu nhỉ.”

La Tập đưa mắt nhìn xung quanh, ít nhất hiện giờ vẫn chưa ai chú ý đến nhóm người bọn họ. Anh cất bước đi về phía Trung tâm hội nghị nối liền với tòa nhà Ban thư ký Liên Hiệp Quốc, thoáng cái đã vào bên trong, đây là lần thứ hai anh vào đây. Mục tiêu của anh rất rõ ràng, anh đã biết mình muốn đến đầu. Sau khi đi qua ban công lơ lửng kia, La Tập trông thấy tấm kính màu sắc rực rỡ ấy, rẽ phải ở trước tấm kính, anh bước vào phòng Trầm tư, đóng cửa lại, chặn Sử Cường, Kent và các nhân viên an ninh đi theo ở bên ngoài.

La Tập lại trông thấy khối quặng sắt hình hộp chữ nhật kia, ý nghĩ đầu tiên trong đầu anh là đập đầu vào đó chết đi cho xong, nhưng việc tiếp theo mà anh làm lại là lên nằm trên bề mặt bằng phẳng trơn nhẵn của khối đá ấy. Bề mặt đá mát lạnh, hút đi phần nào sự nóng nảy trong tâm trí anh, cơ thể anh cảm nhận được sự cứng rắn của khối quặng, kỳ lạ thay, trong lúc này không ngờ anh lại nhớ đến một câu hỏi của thầy giáo môn Vật lý thời trung học: làm thế nào dùng đá cẩm thạch chế tạo một chiếc giường mà người nằm lên đó cảm giác mềm mại như nằm trên giường của hãng Simmons? Đáp án là khoét trên bề mặt đá cẩm thạch một chỗ trũng có hình dáng vừa khít với phần lưng người, nằm vào chỗ trũng đó, áp suất được phân bố đều đặn, cảm giác sẽ hết sức mềm mại. La Tập nhắm nghiền cả hai mắt, tưởng tượng nhiệt độ cơ thể mình làm tan chảy khối quặng bên dưới, hình thành nên một chỗ trũng như thế… bằng cách này, anh khiến mình dần dần bình tĩnh trở lại. Một lúc sau, anh lại mở mắt, nhìn lên trần nhà mộc mạc.

Phòng Trầm tư được Dag Hammarskjöld, người Thụy Điển, Tổng thư ký thứ hai của Liên Hiệp Quốc đề nghị xây dựng, ông cho rằng ngoài hội trường lớn là nơi đưa ra những quyết định mang tính lịch sử của Liên Hiệp Quốc, cần phải có một nơi để người ta trầm tư. La Tập không biết có nguyên thủ quốc gia hay đại biểu Liên Hiệp Quốc nào từng trầm tư ở đây hay chưa, nhưng chắc chắn vị Tổng thư ký đã qua đời vì tai nạn máy bay năm 1961 kia tuyệt đối không thể ngờ được, trong phòng Trầm tư lại có một Người Diện Bích như anh đang ngơ ngẩn.

La Tập lại nghĩ về cạm bẫy logic mà mình đã sa vào, cũng một lần nữa xác định rằng tuyệt đối không thể nào tự mình thoát ra khỏi cái cạm bẫy này được.

Vì vậy, anh tập trung chú ý vào quyền lợi trong tay mình, tuy bà Say đã nói, anh là người có quyền lực ít nhất trong bốn Người Diện Bích, nhưng tài nguyên mà anh có thể sử dụng chắc chắn vẫn tương đối kinh khủng, mấu chốt nhất là khi sử dụng lượng tài nguyên này, anh không cần phải giải thích với bất kỳ ai. Trên thực tế, một phần rất quan trọng trong chức trách của anh chính là khiến cho hành vi của mình không thể nào lý giải nổi, vả lại, tiến thêm một bước nữa, còn phải cố gắng khiến người khác càng hiểu lầm càng tốt. Đây là chuyện chưa từng có trong lịch sử loài người, các vị đế vương chuyên chế thời cổ họa may có thể muốn làm gì thì làm, nhưng rốt cuộc vẫn phải đưa ra một lời giải thích cho hành vi của mình.

Đằng nào thì giờ mình cũng chỉ còn có thứ quyền lực lạ lùng này thôi, vậy sao lại không dùng nó chứ?

La Tập tự nhủ, đoạn ngồi dậy, chỉ nghĩ ngợi trong chốc lát, anh đã quyết định xong việc cần phải làm tiếp theo.

Anh xuống khỏi chiếc giường đá cứng ấy, mở cửa ra, yêu cầu được gặp chủ tịch Hội đồng phòng ngự toàn cầu.

Chủ tịch luân phiên nhiệm kỳ này của PDC là một người Nga tên là Garanin, một ông già râu bạc, thân hình vạm vỡ. Văn phòng chủ tịch PDC nằm ở tầng dưới văn phòng Tổng thư ký, lúc La Tập đi vào, ông ta đang sai phái mấy người vừa mới đến trước đó, một nửa số họ mặc quân phục.

“À, chào anh, tiến sĩ La Tập, nghe nói anh gặp phải vài rắc rối nhỏ, nên tôi cũng không vội liên hệ với anh.”

“Ba Người Diện Bích còn lại đang làm gì vậy?”

“Họ đều đang bận rộn thành lập ban tham mưu cho mình, tôi khuyên anh cũng nên nhanh chóng bắt tay vào công việc này luôn đi, trong giai đoạn khởi đầu, tôi sẽ phái một nhóm cố vấn đền hỗ trợ anh.”

“Tôi không cần ban tham mưu gì cả.”

“Ừm, nếu anh cảm thấy như vậy tốt hơn thì… nếu anh cần, bất cứ lúc nào cũng có thể thành lập được.”

“Tôi có thể dùng giấy và bút được không?”

“Tất nhiên.”

La Tập nhìn tờ giấy trắng trước mặt, hỏi: “Ngài chủ tịch, ngài có ôm giấc mộng nào không?”

“Về phương diện nào?”

“Chẳng hạn, ngài có bao giờ tưởng tượng mình sống ở một nơi rất đẹp không?”

Garanin cười khổ, lắc đầu, “Hôm qua tôi vừa bay từ London đến đây, trên máy bay cũng phải làm việc suốt, đến nơi vừa mới ngủ chưa được hai tiếng đồng hồ đã lại phải vội vẵ đi làm. Hôm nay, sau khi cuộc họp thường kỳ với PDC kết thúc, tôi sẽ phải bay cả đêm đi Tokyo… đời này tôi đã xác định là phải bôn ba khắp nơi rồi, mỗi năm thời gian ở nhà tổng cộng chưa đến ba tháng, giấc mộng kiểu đó thì có ý nghĩa gì với tôi đâu chứ?”

“Nhưng tôi lại có vùng đất mộng mơ của riêng mình, có nhiều lắm, tôi đã chọn ra một nơi đẹp nhất.” La Tập cầm bút chì lên, vẽ vào tờ giấy, “Ở đây không có màu sắc, ông cần phải tưởng tượng: nhìn này, đầy là mấy ngọn núi tuyết, rất cheo leo hiểm trở, giống như thanh kiếm của các thiên thần, hay là như chiếc răng dài của Trái đất vậy, trên nền trời xanh thẳm, trắng sáng như bạc, rất chói mắt…”

“Ừm, ừm…” Garanin nhìn với vẻ hết sức nghiêm túc, “Đây là một nơi rất lạnh.”

“Sai rồi! Khu vực bên dưới núi tuyết không thể lạnh, là khí hậu á nhiệt đới, đây mới là điểm quan trọng! Phía trước núi tuyết, có một hồ nước rộng mênh mông, nước hồ màu xanh, xanh thẫm hơn cả bầu trời, giống như đôi mắt vợ ông vậy…

“Mắt vợ tôi màu đen.”

“Chậc, vậy thì nước hồ ấy xanh thầm đến độ ngả sang màu đen, vậy càng tốt. Xung quanh hồ, có rừng rậm và thảo nguyên mênh mông, chú ý, phải có cả rừng rậm lẫn thảo nguyên, không thể thiếu thứ nào. Đây chính là vùng đất trong mơ của tôi: núi tuyết, hồ, rừng rậm và thảo nguyên, tất cả đều phải ở trong trạng thái nguyên sinh thuần khiết, khi nhìn thấy nơi này, ông sẽ có ảo tưởng rằng trên Trái đất chưa từng có loài người xuất hiện. Ở đây, trên bãi cỏ cạnh hồ nước ấy, hãy xây một trang viên, không cần lớn lắm, nhưng các thiết bị phục vụ cho cuộc sống hiện đại cần phải có đầy đủ, kiểu dáng ngôi nhà cổ điển hay hiện đại cũng được, nhưng phải hài hòa với môi trường tự nhiên ở xung quanh. Ngoài ra, cần phải có các công trình đồng bộ, như đài phun nước, hồ bơi…, nói tóm lại, cần đảm bảo chủ nhân ở đây sống một cuộc sống quý tộc, thoải mái sung sướng.”

“Ai sẽ là chủ nhân ở đây?”

“Tôi chứ còn ai.”

“Anh đến đó làm gì?”

“Sống yên ổn cho đến hết đời.”

La Tập chờ đợi Garanin cất lời nhiếc mắng mình, nhưng ông ta lại nghiêm túc gật đầu: “Sau khi ủy ban xét duyệt xong, chúng tôi sẽ làm ngay.”

“Ông và ủy ban của ông không chất vấn gì về động cơ của tôi à?”

Garanin nhún vai, “Ủy ban chỉ chất vấn Người Diện Bích trong hai trường hợp sau: lượng tài nguyên sử dụng vượt quá phạm vi hạn định, hoặc gây tổn hại đến mạng người. Ngoài hai điều đó, bất cứ sự nghi ngờ, chất vấn nào cũng đều trái với tinh thần cơ bản của kế hoạch Diện Bích. Thực ra, Tyler, Rey Díaz và Hines đều khiến tôi rất thất vọng, cứ nhìn bộ dạng tính toán trù hoạch của bọn họ hai ngày nay mà xem, những kế hoạch chiến lược vĩ đại gì đấy người ta vừa nhìn đã biết là họ làm cái gì rồi. Nhưng anh thì khác, hành vi của anh khiến người ta khó hiểu, thế mới giống Người Diện Bích chứ.”

“Ông thực sự tin trên thế giới này có nơi nào giống như tôi vừa miêu tả hả?”

Garanin lại chớp một con mắt, mỉm cười như lúc nẫy, đồng thời đưa tay ra dấu “OK”: “Trái đất rất rộng lớn, chắc là phải có nơi như thế. Vả lại, nói thật với anh, tôi đã thấy nơi đó rồi.

“Thế thì tốt quá, xin ông hãy tin rằng, đảm bảo cho tôi một cuộc sống quý tộc thoải mái ở đó, là một phần trong kế hoạch Diện Bích.”

Garanin nghiêm túc gật đầu.

“À, còn nữa. Nếu tìm được nơi thích hợp ấy, đừng bao giờ nói cho tôi biết là nó ở đâu.”

Không, đừng nói là ở đâu! Một khi biết mình đang ở đâu, thế giới liền trở nên nhỏ như một tấm bản đồ; không biết mình ở đâu, cảm giác thế giới này mới thật rộng lớn.

Garanin lại gật đầu, lần này ông ta tỏ ra rất hào hứng: “Tiến sĩ La Tập, ngoài việc giống như một Người Diện Bích trong tưởng tượng của tôi, anh còn một điểm khiến chúng tôi hài lòng nhất: hạng mục đầu tư này là nhỏ nhất trong số bốn Người Diện Bích, ít nhất cho đến thời điểm hiện tại.”

“Nếu thế, vậy thì đầu tư cho tôi sẽ không bao giờ nhiều đâu.”

“Vậy thì anh sẽ là ân nhân của tất cả những người kế nhiệm tôi đấy, tiền lúc nào cũng khiến người ta phải đau đầu… Sau đây, các cơ quan trực tiếp chấp hành có thể sẽ hỏi anh một số vấn đề chi tiết, tôi nghĩ chủ yếu là về căn nhà thôi.”

“Phải rồi, về căn nhà đó, tôi đúng là đã quên mất một chi tiết, cực kỳ quan trọng.”

“Anh nói đi.”

La Tập cũng bắt chước Garanin nháy một mắt, cười cười: “Cần phải có lò sưởi âm tường.”

Sau tang lễ của cha, Chương Bắc Hải lại cùng Ngô Nhạc đến ụ tàu nơi con tàu sân bay mới đang được thi công, lúc này, công trình tàu Đường đã hoàn toàn dừng lại, những đóa hoa lửa hàn trên vỏ tàu đã biến mất. Dưới ánh nắng giữa trưa, thân tàu khổng lồ đã không còn chút sức sống nào nữa, mang đến cho họ một thứ cảm giác tang thương lại chồng chất tang thương.

“Nó cũng chết rồi.” Chương Bắc Hải nói.

“Cha cậu là vị tướng nhìn xa trông rộng nhất trong các lãnh đạo cấp cao của hải quân, nếu ông ấy vẫn còn, có lẽ tôi sẽ không bị ngập sâu thế này.” Ngô Nhạc nói.

Chương Bắc Hải nói: “Chủ nghĩa thất bại của anh được xây dựng trên cơ sở lý trí, ít nhất là lý trí của bản thân anh, tôi không nghĩ rằng có ai đó có thể khiến anh phấn chấn lên thật sự. Ngô Nhạc, lần này tôi đến không phải là để xin lỗi anh. Tôi biết, trong chuyện này anh không hề căm giận gì tôi cả.”

“Tôi phải cảm ơn cậu mới đúng, Bắc Hải, cậu đã giúp tôi được giải thoát.”

“Anh có thể trở lại hải quân, công việc ở đó hẳn là rất hợp với anh.”

Ngô Nhạc chầm chậm lắc đầu, “Tôi đã nộp đơn xin ra khỏi quân ngũ rồi. Trở về làm gì chứ, các công trình thi công tàu khu trục và tàu hộ tống đang thực hiện đều đã đình chỉ, trên chiến hạm đã không còn vị trí cho tôi nữa, chẳng lẽ đến Bộ tư lệnh hạm đội ngồi văn phòng? Bỏ đi. Vả lại, tôi thật sự không phải là một quân nhân đủ tư cách, một quân nhân chỉ muốn tham gia vào cuộc chiến có hy vọng thắng lợi thì không phải là quân nhân đủ tư cách.”

“Dù thất bại hay thắng lợi, chúng ta đều không thể thấy được ngày đó.”

“Nhưng cậu có niềm tin thắng lợi, Bắc Hải, tôi thật sự rất ngưỡng mộ cậu, ngưỡng mộ đến mức đố kỵ, vào lúc này mà có niềm tin ấy, đối với một quân nhân, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất. Xét cho cùng, cậu vẫn là con trai của tướng Chương.”

“Sau này anh định làm gì?”

“Chưa định làm gì cả, tôi cảm thấy cuộc đời mình đã kết thúc rồi.” Ngô Nhạc chỉ vào tàu Đường ở phía đằng xa, “Giống như nó vậy, chưa khởi hành thì đã kết thúc rồi.”

Tiếng ầm ầm trầm đục vẳng lại từ chỗ ụ tàu, tàu Đường chậm rãi chuyển động. Để lấy chỗ trống, nó buộc phải hạ thủy sớm, rồi để tàu kéo đưa đến ụ tàu khác tháo dỡ và tiêu hủy. Khi mũi tàu nhọn hoắt rẽ đôi nước biển, Chương Bắc Hải và Ngô Nhạc cảm giác thân tàu khổng lồ lại có một chút sinh khí. Nó nhanh chóng tiến vào làn nước biển, cơn sóng lớn dấy lên khiến những tàu khác trong bến cảng đều trồi lên hụp xuống, tựa hồ đang tỏ lòng tôn kính nó. Tàu Đường nổi trôi trên mặt biển, chầm chậm tiến về phía trước, lặng lẽ hưởng thụ vòng tay ôm của biển cả, trong cuộc đời ngắn ngủi và tàn khuyết ấy, con tàu khổng lồ này ít nhất cũng được tiếp xúc với nước biển một lần.

Thế giới ảo Tam Thể đang ở trong đêm đen tăm tối, ngoài ánh sao thưa thớt, tất thảy đều chìm đắm trong màn đêm đen như mực, thậm chí còn không thấy được cả đường chân trời, hoang mạc và bầu trời hòa làm một trong sắc đen mù mịt.

“Quản trị viên, điều chỉnh sang kỷ nguyên Hằng định đi. Không nhìn thấy gì làm sao mà họp được ?” Có giọng quát gắt lên.

Giọng nói của quản trị viên dường như vẳng xuống từ bầu không: “Tôi không làm được. Kỷ nguyên là do mô hình lõi vận hành ngẫu nhiên, không có giao diện cài đặt từ ngoài.”

Một giọng khác vang lên trong bóng tối: “Đẩy nhanh tốc độ lên, tìm một khoảng thời gian ban ngày ổn định là được rồi, không tốn bao nhiêu thời gian đâu.”

Thế giới nhấp nháy một hồi, Mặt trời chốc chốc lại vọt qua không trung, thoáng sau, tốc độ chảy của dòng thời gian đã trở lại bình thường, một vầng dương ổn định tỏa chiếu xuống thế giới.

“Được rồi, tôi cũng không biết có thể duy trì bao lâu đâu.” Quản trị viên nói.

Ánh mặt trời chiếu lên một đám người trên hoang mạc, trong số họ có vài gương mặt quen thuộc: Chu Văn Vương, Newton, von Neumann, Aristoteles, Mặc Tử, Khổng Tử, Einstein… Họ đứng rất thưa thớt, đều hướng về phía Tần Thủy Hoàng, ông ta đang đứng trên một tảng đá, thanh kiếm gác trên vai.

“Tôi không phải là một người,” Tần Thủy Hoàng nói, “đây là bảy người trong ban lãnh đạo cấp cao đang nói.”

“Không nên bàn về ban lãnh đạo mới ở đây, việc đó vẫn chưa có quyết định cuối cùng.” Có người lên tiếng, những người khác cũng xôn xao cả lên.

“Được rồi,” Tần Thủy Hoàng chật vật giơ thanh kiếm lên, “tranh cãi về quyền lãnh đạo tạm thời gác sang một bên, chúng ta cần làm một số việc khẩn cấp hơn! Mọi người đều biết rồi đó, kế hoạch Diện Bích đã được khởi động, loài người muốn dùng tư duy chiến lược hoàn toàn bít kín của cá nhân để chống lại sự giám sát của Hạt trí tuệ, trong khi đó, Chúa của chúng ta có tư duy hoàn toàn trong suốt tuyệt đối không thể nào phá giải được mê cung này. Với kế hoạch này, loài người đã giành lại được thế chủ động, bốn Người Diện Bích đều là mối đe dọa đối với Chúa. Theo nghị quyết của hội nghị offline lần trước, chúng ta cần phải lập tức khởi động kế hoạch Phá Tường.”

Nghe thấy cụm từ cuối cùng, cả bọn đều yên lặng, không ai có ý kiến gì nữa.

Tần Thủy Hoàng nói tiếp: “Đối với mỗi Người Diện Bích, chúng ta cần chỉ định một Người Phá Tường. Giống như Người Diện Bích, Người Phá Tường sẽ có quyền sử dụng tất cả tài nguyên trong tổ chức, nhưng tài nguyên lớn nhất chính là Hạt trí tuệ, Hạt trí tuệ sẽ khiến mọi cử động của Người Diện Bích hoàn toàn phơi bày trước mắt các vị, thứ duy nhất bí mật chính là tư duy của bọn chúng. Nhiệm vụ của Người Phá Tường, chính là với sự hỗ trợ của Hạt trí tuệ, phân tích các hành vi công khai và bí mật của từng Người Diện Bích, nhanh chóng phá giải ý đồ chiến lược thật sự của chúng. Bây giờ, ban lãnh đạo sẽ chỉ định ra danh sách Người Phá Tường.”

Tần Thủy Hoàng giơ thanh kiếm ra, chạm lên vai von Neumann như thể đang phong hiệp sĩ, “Anh, Người Phá Tường số 1, anh sẽ là Người Phá Tường của Frederick Tyler.”

Von Neumann quỳ một chân xuống, tay trái đặt lên vai phải hành lễ: “Vâng, xin được nhận sứ mệnh này.”

Tần Thủy Hoàng chạm kiếm lên vai Mặc Tử, “Anh, Người Phá Tường số 2, Người Phá Tường của Manuel Rey Díaz.”

Mặc Tử không quỳ xuống, mà ưỡn người đứng thẳng hơn, cao ngạo gật đầu, “Tôi sẽ là người đầu tiên phá được bức tường đó.”

Thanh kiếm lại chạm lên vai Aristoteles, “Anh, Người Phá Tường số 3, Người Phá Tường của Bill Hines.”

Aristoteles cũng không quỳ xuống, phủi phủi chiếc áo dài, trầm ngâm nói: “Vâng, Người Phá Tường của hắn ta cũng chỉ có thể là tôi mà thôi.”

Tần Thủy Hoàng gác lại thanh kiếm trở về vai mình, đảo mắt nhìn quanh mọi người một lượt: “Được rồi, đã có Người Phá Tường, giống như Người Diện Bích, các anh đều là tinh hoa trong các tinh hoa, Chúa sẽ ở bên các anh! Các anh sẽ được ngủ đông, cùng với Người Diện Bích bắt đầu chuyến du hành dài đằng đẵng đến ngày tận thế.”

“Tôi cho rằng không cần thiết phải ngủ đông,” Aristoteles nói, “trước khi chúng tôi sống hết cuộc đời này một cách bình thường, đã có thể hoàn thành được sứ mệnh Phá Tường này rồi.

Mặc Tử gật đầu tán thành, “Lúc phá đi bức tường đó, tôi sẽ đích thân đến đối mặt với Người Diện Bích của mình, tôi sẽ hân hoan thưởng thức cảnh tinh thần hắn sụp đổ trong đau đớn và tuyệt vọng, chỉ riêng chuyện này, cũng đáng để tôi trả giá bằng phần đời còn lại của mình rồi.”

Hai Người Phá Tường còn lại cũng đều bày tỏ vào thời khắc cuối cùng khi phá vỡ bức tường sẽ đích thân đi gặp Người Diện Bích của mình, von Neumann nói: “Chúng tôi sẽ vạch trần chút bí mật cuối cùng mà nhân loại có thể giữ lại trước Hạt trí tuệ, đây là việc cuối cùng mà chúng ta làm vì Chúa, sau này, sự tồn tại của chúng ta cũng không còn cần thiết nữa.”

“Người Phá Tường của La Tập là ai?” Có người hỏi.

Cầu nói này dường như đã chạm đến thứ gì đó trong lòng Tần Thủy Hoàng, ông ta chống thanh kiếm xuống đất trầm tư. Lúc này, vầng Mặt trời trên không trung đột nhiên lặn xuống nhanh hơn, cái bóng của tất cả mọi người đều bị kéo dài ra, cuối cùng vươn mãi ra phía chân trời. Khi Mặt trời lặn được chừng một nửa, nó lại đột nhiên đổi hướng, men theo đường chân trời trồi lên hụp xuống mấy lần, tựa như lưng một con cá voi phát ra ánh vàng lấp lóa, chốc chốc lại nổi lên mặt biển đen ngòm, khiến cái thế giới đơn giản chỉ gồm có bình nguyên trống trải và một nhúm người này thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh sáng và bóng đêm.

“Người Phá Tường của La Tập là chính bản thân anh ta, anh ta cần phải tự mình tìm ra mối đe dọa của mình với Chúa nằm ở đâu.” Tần Thủy Hoàng nói.

“Chúng ta có biết người này có mối đe dọa gì với Chúa không?” Có người hỏi.

“Không biết, nhưng Chúa biết, Evans cũng biết, Evans đã dạy Chúa che giấu bí mật này, mà ông ta lại chết rồi, vì vậy chúng ta không thể biết được.”

“Trong số các Người Diện Bích, La Tập có phải là người có mối đe dọa lớn nhất không?” Một người dè dặt đặt câu hỏi.

“Chuyện này chúng ta cũng không biết được, chỉ có điểm này là đã rõ ràng,” Tần Thủy Hoàng ngẩng mặt lên nhìn bầu không đang biến ảo giữa hai sắc màu xanh và đen, “trong bốn Người Diện Bích này, chỉ có anh ta là trực tiếp đối đầu với Chúa.”

Buổi họp công tác của phòng chính trị quân chủng không gian.

Sau khi tuyên bố khai mạc cuộc họp, Thường Vĩ Tư trầm mặc một lúc lâu, trước giờ chưa từng có chuyện này. Ánh mắt ông vượt qua hai hàng ghế nơi các sĩ quan thuộc phòng chính trị ngồi hai bên bàn họp, nhìn về phía xa xăm vô tận, cây bút chì trong tay khe khẽ gõ lên mặt bàn, âm thanh cành cạch nhè nhẹ ấy tựa như tiếng bước chân của suy nghĩ trong đầu ông. Cuối cùng, ông cũng kéo mình ra khỏi dòng suy tư.

“Các đồng chí, hôm qua đã công bố mệnh lệnh của quân ủy, tôi sẽ kiêm chức chủ nhiệm phòng chính trị của quân chủng. Một tuần trước tôi đã nhận được quyết định bổ nhiệm, nhưng đến giờ khi chúng ta ngồi với nhau, mới có cảm giác phức tạp như thế này. Tôi đột nhiên nhận ra, mình đang ngồi đối diện với nhóm người chịu trách nhiệm gian nan nhất trong không gian quân, còn tôi, giờ đã là một thành viên của mọi người rồi. Trước đây, tôi không hiểu được điều này, giờ cho tôi được xin lỗi mọi người ở đây.” Nói tới đây, Thường Vĩ Tư đẩy tập hồ sơ trước mặt mình ra. “Phần này trong buổi họp sẽ không ghi vào biên bản, các đồng chí, chúng ta hãy mở lòng ra trao đổi một chút đi, tất cả đều làm người Tam Thể một lần, để mọi người nhìn được suy nghĩ trong lòng mình, điều này rất quan trọng với công tác sau này của chúng ta đấy.”

Ánh mắt Thường Vĩ Tư dừng lại trên gương mặt từng sĩ quan khoảng chừng một hai giây, tất cả đều trầm ngâm, không ai nói năng gì. Thường Vĩ Tư đứng dậy, vòng qua bàn họp, bước đi sau lưng một dãy các sĩ quan đang ngồi nghiêm ngắn.

“Trách nhiệm của chúng ta, chính là khiến cho cán bộ chiến sĩ xây dựng được niềm tin tất thắng đối với cuộc chiến trong tương lai, vậy thì, bản thân chúng ta có niềm tin đó hay không? Ai có thì giơ tay lên, nhớ kỹ, chúng ta đang trải lòng ra với nhau nhé.”

Không ai giơ tay, hầu như ánh mắt người dự họp nào cũng đều nhìn chằm chằm xuống mặt bàn. Nhưng Thường Vĩ Tư để ý thấy, có một người vẫn kiên định nhìn thẳng về phía trước, anh ta là Chương Bắc Hải.

Thường Vĩ Tư nói tiếp: “Vậy thì, người cho rằng có khả năng thắng lợi? Chú ý, khả năng thắng lợi mà tôi đang nói không phải sự việc ngẫu nhiên chỉ có không phẩy mấy phần trăm, mà là khả năng thắng lợi thật sự, có ý nghĩa.”

Chương Bắc Hải giơ một cánh tay lên, cũng chỉ có mình anh ta giơ tay.

“Trước tiên, cảm ơn sự thẳng thắn của các đồng chí.” Thường Vĩ Tư nói, kế đó, ông ta quay sang nhìn Chương Bắc Hải: “Tốt lắm, đồng chí Chương Bắc Hải, hãy nói xem anh xây dựng niềm tin này như thế nào?”

Chương Bắc Hải đứng dậy, Thường Vĩ Tư ra hiệu cho anh ta ngồi xuống: “Đây không phải buổi họp chính thức, chúng ta chỉ đang tâm sự thôi.”

Chương Bắc Hải vẫn đứng nghiêm, nói: “Thủ trưởng, dăm câu ba điều không thể trả lời câu hỏi của anh cho rành mạch được, dẫu sao, việc xây dựng niềm tin là cả một quá trình dài và phức tạp. Điều đầu tiên tôi muốn chỉ ra ở đây là khuynh hướng tư tưởng sai lầm trong quân đội hiện nay. Mọi người đều biết, trước khi nguy cơ Tam Thể xuất hiện, chúng ta luôn chủ trương dùng nhãn quan khoa học và lý trí để xem xét những cuộc chiến tranh trong tương lai, có rất nhiều học giả và nhà khoa học tham gia vào, càng khiến cho khuynh hướng tư tưởng này thêm trầm trọng. Nếu dùng cách tư duy này để suy xét về cuộc chiến tranh liên sao bốn trăm năm sau, chúng ta sẽ không bao giờ xây dựng được niềm tin chiến thắng.”

“Đồng chí Chương Bắc Hải nói lạ thật,” một viên thượng tá nói, “chẳng lẽ niềm tin kiên định không phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và lý trí hay sao? Niềm tin không xây dựng trên cơ sở sự thực khách quan thì không thể nào vững chãi được.”

“Vậy thì trước tiên chúng ta phải nhìn lại xem khoa học và lý trí là gì, cần phải hiểu rằng, đây chỉ là khoa học và lý trí của chúng ta thôi, trình độ phát triển của nền văn minh Tam Thể đã cho chúng ta biết rằng, khoa học của chúng ta chỉ như đứa trẻ nhặt vỏ sò trên bờ biển, có lẽ còn chưa thấy được đại dương chân lý. Vì vậy, sự thực mà chúng ta nhìn thấy dưới ánh sáng của khoa học và lý trí nhân loại chưa chắc đã là sự thực khách quan chân chính. Đã vậy, chúng ta cần phải học cách bỏ qua nó một cách có lựa chọn, chúng ta cần phải nhìn thấy sự vật trong quá trình phát triển và biến đổi, không thể ỷ vào một thứ quyết định luận công nghệ và lý luận duy vật máy móc mà cho rằng tương lai là bất biến.”

“Tốt lắm.” Thường Vĩ Tư gật đầu, cổ vũ Chương Bắc Hải nói tiếp.

“Niềm tin chiến thắng chắc chắn cần phải xây dựng, niềm tin này là cơ sở cho danh dự và bổn phận của quân đội! Quân đội nước tôi đã từng phải đối diện với kẻ địch mạnh mẽ trong điều kiện vô cùng khó khăn, chính nhờ bổn phận đối với tổ quốc và nhân dân mà xây dựng nên niềm tin kiên định vào thắng lợi; tôi tin rằng, ngày nay, bổn phận đối với loài người và nền văn minh Trái đất cũng có thể trở thành cột trụ cho niềm tin này.”

“Nhưng chúng ta làm thế nào thực hiện công tác tư tưởng cụ thể với từng cán bộ chiến sĩ?” Một sĩ quan nói, “thành phần của không gian quân rất phức tạp, khiến cho tư tưởng chiến sĩ cũng rất phức tạp, sau này, chúng ta làm việc sẽ rất khó khăn đấy.”

“Tôi cho rằng, hiện tại, ít nhất cần bắt đầu từ trạng thái tinh thần của cán bộ chiến sĩ.” Chương Bắc Hải nói, “Về tổng quan, tuần trước tôi đi điều tra tìm hiểu về các cán bộ chiến sĩ không quân và phòng không của hải quân vừa chuyển sang quân chủng chúng ta, phát hiện ra những người này hiện đã hết sức lơ là huấn luyện hằng ngày; về chi tiết, tác phong và kỷ luật quân nhân cũng càng ngày càng nhiều vấn đề, hôm qua là ngày thống nhất chuyển sang trang phục mùa hè, nhưng ở cơ quan tổng bộ lại vẫn có rất nhiều người còn mặc quân trang mùa đông. Trạng thái tinh thần này cần phải nhanh chóng thay đổi. Hiện giờ, quân chủng không gian đang biến thành một cái viện nghiên cứu khoa học mất rồi. Tất nhiên, không thể phủ nhận rằng trước mắt chúng ta đang gánh vác nhiệm vụ của một viện khoa học quân sự, nhưng trên hết cần phải ý thức được mình là quân nhân, vả lại còn là một đội quân đang ở trong trạng thái chiến tranh!”

Cuộc trò chuyện diễn ra thêm một lúc nữa, Thường Vĩ Tư ngồi về vị trí: “Cảm ơn mọi người, hy vọng sau này chúng ta luôn có thể trò chuyện với nhau một cách thẳng thắn và chân thành như vậy. Tiếp sau đây, chúng ta sẽ đi vào nội dung chính thức của cuộc họp.” Thường Vĩ Tư nói xong, ngẩng đầu lên, lại gặp ánh mắt của Chương Bắc Hải, vẻ trầm ổn, kiên nghị trong ánh mắt ấy khiến ông cảm thấy an ủi phần nào.

Chương Bắc Hải, tôi biết là cậu có niềm tin, cậu có người cha như vậy thì không thể nào không có niềm tin được, nhưng sự việc chắc chắn không đơn giản như cậu nói, tôi không rõ niềm tin của cậu được xây đắp cách nào, thậm chí còn không biết trong niềm tin đó có hàm chứa nhiều thứ khác nữa hay không, giống như cha cậu vậy, tôi kính phục ông ấy, nhưng cũng phải thừa nhận, cho đến cuối cùng tôi vẫn không thể nhìn thấu được ông ấy.

Thường Vĩ Tư mở tập hồ sơ trước mặt ra, “Trước mắt, việc nghiên cứu lý thuyết chiến tranh không gian đã được triển khai toàn diện, song lại nhanh chóng gặp phải vấn đề: nghiên cứu chiến tranh liên sao hiển nhiên phải dựa trên cơ sở là trình độ phát triển công nghệ, nhưng hiện nay, các hạng mục nghiên cứu cơ sở đều chỉ mới vừa bắt đầu, đột phá công nghệ vẫn còn ở xa ngoài tầm với. Điều này khiến cho nghiên cứu của chúng ta mất đi chỗ dựa. Để thích ứng với tình trạng này, tổng bộ đã thay đổi kế hoạch nghiên cứu, chia công tác nghiên cứu lý thuyết chiến tranh không gian ra thành ba bộ phận độc lập, để thích ứng với các mức trình độ công nghệ mà thế giới loài người có thể đạt đến trong tương lai, lần lượt là: chiến lược công nghệ thấp, chiến lược công nghệ trung và chiến lược công nghệ cao.

“Hiện nay, chúng ta đang tiến hành định nghĩa và phân biệt ba mức trình độ công nghệ, sẽ xác định rất nhiều tham số và chỉ tiêu trong các ngành khoa học chủ yếu, song tham số mấu chốt là tốc độ và phạm vi bay của tàu vũ trụ tải trọng mười nghìn tấn.

“Trình độ công nghệ thấp: tốc độ của tàu vũ trụ gấp khoảng 50 lần vận tốc vũ trụ cấp 3[24], tức là khoảng 800 km/s, trên tàu không có hệ sinh thái tuần hoàn. Trong trường hợp này, bán kính phạm vi tác chiến của tàu vũ trụ sẽ bị hạn chế bên trong Hệ Mặt trời, tức là bên trong quỹ đạo của sao Hải Vương, cách Mặt trời chừng 30 đơn vị thiên văn.

“Trình độ công nghệ trung: tốc độ tàu vũ trụ đạt đến 300 lần vận tốc vũ trụ cấp 3, tức là khoảng 4.800 km/s, trên tàu có chức năng sinh thái tuần hoàn bán phần. Trong trường hợp này, bán kính tác chiến của tàu vũ trụ mở rộng đến bên ngoài vành đai Kuiper, trong khoảng không gian cách Mặt trời chừng 1.000 đơn vị thiên văn.

“Trình độ công nghệ cao: tốc độ tàu vũ trụ đạt đến 1.000 lần vận tốc vũ trụ cấp 3, tức là khoảng 16.000 km/s, khoảng 5% vận tốc ánh sáng; trên tàu có hệ sinh thái tuần hoàn hoàn thiện. Trong trường hợp này, phạm vi tác chiến của tàu vũ trụ mở rộng đến đám mây Oort[25], có năng lực di chuyển liên sao ở mức cơ bản.

“Chủ nghĩa thất bại là mối đe dọa lớn nhất đối với lực lượng vũ trang không gian, vì vậy người làm công tác chính trị tư tưởng trong quân chủng không gian phải gánh trên vai sứ mệnh nặng nề, phòng chính trị của quân chủng cần phải toàn diện tham gia vào việc nghiên cứu lý thuyết quân sự trong chiến tranh không gian, gột rửa sạch vết tích chủ nghĩa thất bại trong lĩnh vực lý luận cơ sở, đảm bảo nghiên cứu tiến theo đường hướng chính xác.

“Các đồng chí có mặt trong buổi họp ngày hôm nay đều sẽ trở thành thành viên của nhóm nghiên cứu lý thuyết chiến tranh không gian. Ba nhánh nghiên cứu tuy rằng có những nội dung trùng nhau, nhưng cơ quan nghiên cứu lại hoàn toàn độc lập với nhau, ba cơ quan này tạm thời được đặt tên là Phòng nghiên cứu chiến lược công nghệ thấp, Phòng nghiên cứu chiên lược công nghệ trung và Phòng nghiên cứu chiến lược công nghệ cao, buổi họp hôm nay, là muốn nghe ý nguyện và lựa chọn của mỗi người để tham khảo cho bước tiếp theo khi sắp xếp vị trí cho phòng chính trị quân chủng. Sau đây, mọi người hãy nói lên lựa chọn của mình.”

Trong ba mươi hai sĩ quan phòng chính trị tham dự cuộc họp này, có hai mươi bốn người lựa chọn Phòng nghiên cứu chiến lược công nghệ cấp thấp, bảy người chọn Phòng nghiên cứu chiến lược công nghệ cấp trung, chỉ có một mình Chương Bắc Hải là chọn Phòng nghiên cứu chiến lược công nghệ cấp cao.

“Xem chừng, đồng chí Chương Bắc Hải đã quyết chí theo đuổi khoa học viễn tưởng rồi.” Có người nói, làm cho mấy người khác phá lên cười theo.

“Lựa chọn của tôi là hy vọng duy nhất để giành chiến thắng, chỉ khi đạt đến trình độ công nghệ cao, loài người mới có khả năng xây dựng được hệ thống phòng ngự hiệu quả cho Trái đất và Hệ Mặt trời.” Chương Bắc Hải nói.

“Hiện nay, ngay cả phản ứng nhiệt hạch có điều khiển chúng ta còn chưa nắm vững, thế mà muốn đẩy tốc độ của tàu vũ trụ tải trọng mười nghìn tấn lên đến 5% tốc độ ánh sáng? Biến những con tàu khổng lổ ấy trở nên nhanh hơn một nghìn lần thứ tàu to bằng xe tải hiện nay? Điều này thậm chí còn không thể coi là khoa học viễn tưởng nữa, phải nói là kỳ ảo mới đúng.”

“Chẳng phải vẫn còn bốn thế kỷ nữa hay sao? Phải nhìn nhận vấn đề từ quan điểm phát triển.”

“Nhưng lý thuyết cơ sở của ngành vật lý đã không thể phát triển thêm nữa.”

“Chúng ta có khi còn chưa khai thác hết 1% tiềm năng ứng dụng của những lý luận hiện có,” Chương Bắc Hải nói, “Tôi cảm thấy, vấn đề lớn nhất bây giờ là chiến lược nghiên cứu của giới khoa học, họ lãng phí quá nhiều tài nguyên và thời gian vào các công nghệ cấp thấp. Lấy ví dụ như động cơ vũ trụ chẳng hạn, hoàn toàn không cần thiết phải đi làm động cơ phân hạch, vậy mà bây giờ, chẳng những đầu tư lớn để nghiên cứu phát triển động cơ phân hạch, thậm chí lại còn đầu tư nhiều không kém vào động cơ hóa học thế hệ mới! Cần phải trực tiếp tập trung tài nguyên để nghiên cứu động cơ nhiệt hạch, vả lại tốt nhất là bỏ qua động cơ có môi chất công tác[26], chuyển thẳng sang phát triển động cơ nhiệt hạch không môi chất[27]. Trong các lĩnh vực nghiên cứu khác cũng có vấn đề tương tự như vậy, chẳng hạn như hệ thống sinh thái hoàn toàn khép kín. Đây là công nghệ cần thiết để tàu vũ trụ viễn trình di chuyển ở khoảng cách liên sao, cũng không dựa nhiều vào lý thuyết cơ sở của vật lý, nhưng hiện nay quy mô nghiên cứu cũng rất có hạn.”

Thường Vĩ Tư nói: “Đồng chí Chương Bắc Hải ít nhất đã nêu ra một vấn đề đáng coi trọng: trước mắt, quân đội và giới khoa học đều đang bận rộn khởi động toàn diện công việc của mình mà thiếu sự giao lưu, trao đổi lẫn nhau. Cũng may, hai bên đều đã ý thức được tình trạng này, đang tổ chức một hội nghị liên tịch giữa quân đội và giới khoa học, đồng thời cả quân đội và các viện khoa học đều đã thành lập cơ quan chuyên môn nhằm tăng cường sự giao lưu trao đổi giữa hai bên, để cho việc nghiên cứu chiến lược chiến tranh không gian và nghiên cứu khoa học kỹ thuật liên kết chặt chẽ và thúc đẩy lẫn nhau. Bước tiếp theo, chúng ta sẽ cử ra nhiều đại biểu của quân đội đến các cơ sở nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau, đồng thời, cũng sẽ mời đông đảo nhà khoa học tham gia nghiên cứu lý thuyết chiến tranh không gian. Vẫn là câu nói ấy: chúng ta không thể thụ động chờ đợi đột phá công nghệ, mà cần phải mau chóng hình thành hệ thống tư tưởng chiến lược của riêng mình, xúc tiến nghiên cứu trên các lĩnh vực. Bây giờ, còn phải nói đến một tầng quan hệ khác nữa: mối quan hệ giữa không gian quân và Người Diện Bích.”

“Người Diện Bích à?” Có người lấy làm kinh ngạc hỏi, “Họ cũng can thiệp vào công việc của không gian quân sao?”

“Hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu gì cho thấy như vậy, chỉ có Tyler đề nghị được tới quân chủng chúng ta khảo sát. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu rõ, họ có quyền lực nhất định, nếu thực sự có can thiệp, có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng không thể ngờ đến đối với công việc của chúng ta. Cần phải chuẩn bị tư tưởng về mặt này, khi thực sự có tình huống đó, cần phải giữ được sự cân bằng nhất định giữa kế hoạch Diện Bích và kế hoạch phòng ngự chính.”

Kết thúc buổi họp, Thường Vĩ Tư ngồi một mình trong phòng họp trống trải, ông châm một điếu thuốc, làn khói bay vào chùm ánh nắng chiếu qua cửa sổ, trông như thể cháy bùng lên.

Cho dù thế nào, tất cả rốt cuộc cũng bắt đầu rồi. Ông tự nhủ.

Đây là lần đầu tiên La Tập trải nghiệm cảm giác giấc mộng thành sự thực. Anh vốn tưởng rằng lời hứa của Garanin chỉ là bốc phét, tất nhiên có thể tìm được một nơi rất đẹp, thiên nhiên vẫn còn nguyên sơ, nhưng chắc chắn phải khác rất nhiều so với những gì anh tưởng tượng. Thế nhưng, khi bước xuống máy bay trực thăng, La Tập có cảm giác như đang bước vào giấc mơ của chính mình: núi tuyết phía xa xa, hồ nước ở trước mặt, đồng cỏ và rừng rậm bên bờ hồ, thậm chí cả vị trí cũng giống hệt như bức tranh anh vẽ cho Garanin. Đặc biệt, nơi này rất trong lành, lúc trước anh còn không dám tưởng tượng được đến mức ấy, tất cả đều như thể vừa mới nhảy ra từ câu chuyện cổ tích nào, bầu không khí tươi mát tỏa ra mùi hương ngọt ngào thoang thoảng, đến cả vầng dương kia hình như cũng rất dè dặt, rải những phần ánh sáng dịu dàng nhất, đẹp đẽ nhất xuống nơi đây. Khó tin nhất là, bên hồ thực sự có một trang viên nhỏ, trung tâm của trang viên ấy là một ngôi biệt thự. Theo lời Kent đi cùng anh nói, ngôi biệt thự này được xây vào giữa thế kỷ 19, nhưng trông bề ngoài thì cổ hơn một chút, vết dấu mà năm tháng lưu lại đã khiến nó hòa nhập hẳn với môi trường xung quanh.

“Đừng kinh ngạc quá, con người ta có lúc cũng mơ thấy những nơi thực sự có tồn tại mà.” Kent nói.

“Ở đây có cư dân không?” La Tập hỏi.

“Trong bán kính năm cây số thì không, xa hơn nữa có một vài ngôi làng nhỏ.”

La Tập suy đoán, nơi này có thể ở Bắc Âu, nhưng anh không hỏi.

Kent dẫn La Tập đi vào biệt thự, trong phòng khách kiểu Âu rộng rãi, La Tập liền thấy ngay lò sưởi âm tường, bên cạnh còn có một đống củi được xếp gọn gàng để đốt lửa, tỏa ra một mùi hương thoang thoảng.

“Chủ nhân trước của biệt thự gửi lời chào đến anh, ông ấy rất vinh hạnh vì có một Người Diện Bích sống ở đây.” Kent nói, đoạn bảo La Tập, ngoài những trang thiết bị mà anh đã yêu cầu, trong trang viên này còn có thêm vài thứ: một chuồng ngựa có mười con, vì nếu muốn đi dạo về phía núi tuyết, cưỡi ngựa là tốt nhất; ở đây còn có một sân tennis và một sân golf, một hầm rượu, trên hồ có một du thuyền nhỏ và mấy chiếc thuyền buồm. Bên trong căn biệt thự có bề ngoài cổ kính này đều đã được hiện đại hóa, phòng nào cũng có máy tính, các thứ như đường mạng tốc độ cao và ti vi vệ tinh đều đầy đủ, lại còn có một phòng chiếu phim kỹ thuật số. Ngoài những thứ này, lúc đến đây, La Tập còn để ý thấy bãi đậu máy bay trực thăng, hiển nhiên không phải là thứ mới được xây dựng một cách tạm bợ.

“Người này rất giàu đúng không?”

“Nào chỉ có giàu thôi, ông ấy không muốn để lộ tên tuổi, nếu không tôi nói tên ra chắc anh cũng biết… ông ấy đã đem cả mảnh đất này tặng cho Liên Hiệp Quốc, so với mảnh đất của Rockefeller tặng thì còn lớn hơn nhiều. Vì vậy, bây giờ cần phải xác định rõ ràng, mảnh đất này và những bất động sản đều thuộc về Liên Hiệp Quốc, anh chỉ có quyền cư trú. Nhưng anh cũng được khá nhiều rồi đấy: lúc sắp rời đi, chủ nhân có nói, ông ấy đã mang hết đồ của mình đi rồi, những thứ còn lại trong biệt thự đều tặng hết cho anh, chưa nói đến thứ gì khác, chỉ mấy bức tranh này thôi chắc cũng là một khoản tiền lớn rồi.”

Kent dẫn La Tập xem xét các phòng trong biệt thự, La Tập nhận thấy người chủ cũ của nơi này có gu thưởng thức rất tinh tế, cách bố trí mỗi phòng đều mang đến cho người ta một cảm giác yên bình, cao nhã. Sách trong thư phòng có một phần tương đối lớn là các bản in cổ bằng tiếng Latin. Những bức tranh trong phòng, đa phần đều theo phong cách hiện đại, nhưng lại hoàn toàn không bị xung khắc với những gian phòng nồng đậm bầu không khí cổ điển này. La Tập đặc biệt chú ý thấy ở đây không có bức tranh phong cảnh nào, điều này thể hiện một gu thẩm mỹ rất chín chắn: tòa biệt thự này tọa lạc giữa khu vườn Địa Đàng tuyệt đẹp rồi, treo tranh phong cảnh ở đây cũng thừa thãi hệt như đem một thùng nước đổ xuống đại dương.

Sau khi quay lại phòng khách, La Tập ngồi xuống chiếc ghế bập bênh cực kỳ dễ chịu trước lò sưởi, lúc vươn tay sang chiếc bàn nhỏ bên cạnh, anh chạm phải một thứ, cầm lên xem thì hóa ra là một tẩu thuốc, loại tẩu kiểu Âu nhưng lại có cán tẩu vừa nhỏ vừa dài rất hiếm thấy, đây là loại dùng trong nhà của giới quý tộc. Anh nhìn những ô vuông màu trắng trên tường, cố tưởng tượng những thứ vừa được chuyển đi.

Lúc này, Kent dẫn theo mấy người vào giới thiệu với La Tập, họ là quản gia, đầu bếp, lái xe, người coi ngựa, người lái du thuyền… đều đã từng phục vụ cho chủ nhân trước đây. Sau khi những người này đi khỏi, Kent lại giới thiệu một viên trung tá quân đội mặc thường phục, là người phụ trách an ninh ở đây. Đợi cho người kia đi khuất, La Tập hỏi Kent xem Sử Cường giờ đang ở đâu.

“Anh ta đã bàn giao lại công việc bảo vệ an toàn cho anh, hiện giờ có lẽ đã về nước rồi.”

“Bảo anh ta thay thế tay trung tá lúc nãy đi, tôi cảm thấy anh ta làm tốt hơn.”

“Tôi cũng thấy vậy, nhưng anh ta không biết tiếng Anh, làm việc không được tiện.”

“Vậy thì đổi nhân viên an ninh ở đây thành người Trung Quốc hết đi.”

Kent nhận lời sẽ đi liên hệ, rồi quay người ra ngoài.

La Tập cũng ra khỏi phòng, băng qua thảm cỏ được cắt tỉa hết sức kỹ lưỡng, bước lên cầu tàu vươn ra giữa hồ, ở cuối cầu tàu, anh vịn lan can, ngắm nhìn hình bóng núi tuyết phản chiếu trong mặt hồ phẳng lặng như gương, xung quanh là bầu không khí trong lành ngọt mát và ánh mặt trời rực rỡ. La Tập thầm nhủ: so với cuộc sống lúc này, thế giới hơn bốn trăm năm nữa có đáng là gì đâu?

Mặc xác cái kế hoạch Diện Bích.

☆ ☆ ☆

“Sao lại để tên khốn ấy vào đây thế nhỉ?” Một nhân viên nghiên cứu ngồi trước thiết bị đầu cuối thấp giọng nói.

“Người Diện Bích tất nhiên có thể vào đây rồi.” Một người khác ngồi bên cạnh thấp giọng trả lời.

“Rất bình thường phải không, chắc là khiến ngài thất vọng rồi, đúng không ngài Tổng thống?” Giám đốc phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, tiến sĩ Allen nói trong lúc đưa Rey Díaz đi qua những hàng máy tính.

“Tôi đã không còn là tổng thống nữa rồi.” Rey Díaz nghiêm sắc mặt nói, đồng thời đảo mắt nhìn xung quanh.

“Đây là một trong các trung tâm mô phỏng vũ khí hạt nhân, Los Alamos có bốn trung tâm thế này, bên Lawrence Livermore có ba.”

Rey Díaz thấy hai thứ trông bề ngoài có vẻ không bình thường lắm, nhìn rất mới, có màn hình hiển thị lớn, trên bàn điều khiển còn có rất nhiều tay nắm thiết kế tinh xảo đẹp mắt, ông ta nhích lại gần xem xét kỹ càng hơn, tiến sĩ Allen liền nhẹ nhàng kéo ông ta lại: “Đó là máy chơi game, các thiết bị đầu cuối và máy tính ở đây đều không thể chơi game được, vì vậy mới đặt hai chiếc ở đây để mọi người thư giãn lúc nghỉ ngơi.”

Rey Díaz lại nhìn thấy hai thứ không quá bình thường khác, kết cấu trong suốt mà rất phức tạp, bên trong có chất lỏng đang chuyển động, ông ta lại đến gần xem xét, lần này Allen chỉ lắc đầu cười cười, không ngăn lại, “Đấy là máy phun hơi ẩm, khí hậu bang New Mexico rất khô; cái kia, chỉ là máy pha cà phê tự động thôi… Mike, rót cho ngài Rey Díaz một ly cà phê. Không, đừng lấy ở đây, sang phòng làm việc của tôi lấy loại cà phê hảo hạng ấy.”

Rey Díaz đành phải nhìn tấm ảnh đen trắng được phóng rất lớn trên tường, ông ta nhận ra người gầy gò đội mũ ngậm tẩu thuốc là Oppenheimer[28], nhưng Allen vẫn chỉ cho ông ta xem những thiết bị đầu cuối trông chẳng có gì đặc biệt.

“Những màn hình này cũ quá rồi.” Rey Díaz nói.

“Nhưng đằng sau chúng là máy tính mạnh nhất thế giới đấy, mỗi giây có thể thực hiện được năm trăm nghìn tỷ phép tính.”

Lúc này, một kỹ sư đi tới trước mặt Allen, nói: “Tiến sĩ, mô hình AD4453OG đã hoạt động được rồi.”

“Tốt lắm.”

Giọng tay kỹ sư thấp xuống một chút: “Chúng tôi đã tạm dừng module xuất ra rồi.” Nói đoạn, anh ta liếc nhìn Rey Díaz.

“Vận hành đi.” Allen nói, đoạn quay sang Rey Díaz. “Ngài thấy đấy, chúng tôi không che giấu gì với Người Diện Bích cả.”

Lúc này, Rey Díaz nghe thấy một loạt tiếng rẹt rẹt, ông ta thấy những người ngồi trước các thiết bị đầu cuối đều đang xé giấy, tưởng rằng họ đang tiêu hủy hồ sơ, bèn lẩm bẩm: “Các ông không có máy hủy tài liệu à?” Nhưng ngay sau đó, ông ta lại thấy có người xé toàn là giấy in trắng tinh. Không rõ là ai hét lên một tiếng: “Over!” Tất cả mọi người đều tung toàn bộ đống giấy vụn vừa xé lên không trong tiếng hoan hô vang dội, khiến cho sàn nhà vốn đã bừa bộn trông lại càng giống bãi rác hơn.

“Đây là một truyền thống của trung tâm mô phỏng. Năm đó, khi quả bom nguyên tử đầu tiên nổ, tiến sĩ Fermi[29] đã rải một nắm giấy vụn lên không trung, dựa theo khoảng cách bay đi trong sóng xung kích để tính toán chuẩn xác đương lượng của quả bom. Bây giờ, mỗi khi một mô hình được tính toán thành công, chúng tôi cũng làm như vậy.”

Rey Díaz phủi mảnh giấy vụn trên đầu và vai, nói: “Mỗi ngày các ông đều tiến hành thử nghiệm hạt nhân, đối với các ông, chuyện này dễ dàng như chơi trò chơi điện tử vậy, nhưng chúng tôi thì không được, chúng tôi không có siêu máy tính, chỉ có thể thử thật… Cùng làm một chuyện, bao giờ cũng chỉ có người nghèo là bị ghét.”

“Ông Rey Díaz, những người ở đây đều không có hứng thú gì với chính trị.”

Rey Díaz lần lượt lại gần mấy thiết bị đầu cuối xem xét kỹ lưỡng, bên trên chỉ có những số liệu đang nhảy liên tục và những đồ thị biến ảo, khó khăn lắm mới nhìn ra được vài hình ảnh, nhưng cũng như tranh trừu tượng vậy, chẳng biết chúng nghĩa là gì. Khi Rey Díaz lại đến gần một máy tính khác, nhà vật lý ngồi trước màn hình ngẩng đầu lên nói: “Ngài Tổng thống, ngài muốn trông thấy đám mây hình nấm à, không có đâu.”

“Tôi không phải tổng thống.” Rey Díaz lặp lại một lần nữa khi nhận cốc cà phê mà Mike đưa cho.

Allen nói: “Vậy, hay là bàn xem chúng tôi có thể làm gì cho ông đi.”

“Thiết kế bom hạt nhân.”

“Tất nhiên, tuy phòng thí nghiệm Los Alamos là cơ quan nghiên cứu đa ngành, nhưng tôi đoán ông đến đây chắc cũng không có mục đích gì khác. Có thể nói cụ thể hơn không? Loại hình gì, đương lượng bao nhiêu?”

“PDC sắp tới sẽ gửi yêu cầu kỹ thuật hoàn chỉnh cho các ông. Tôi chỉ nói điểm quan trọng nhất: đương lượng lớn, lớn nhất, làm lớn chừng nào hay chừng đó. Giới hạn thấp nhất cho phép là 200 megaton.”

Allen trợn mắt lên nhìn Rey Díaz một lúc lâu, rồi cúi đầu trầm ngâm giây lát: “Chuyện này cần có thời gian.”

“Không phải các ông đã có mô hình toán học rồi sao?”

“Tất nhiên, ở chỗ chúng tôi, từ đạn pháo hạt nhân 500 ton cho đến bom nguyên tử cỡ lớn sức nổ 20 megaton, từ bom neutron đến bom xung điện từ EMP… đều có mô hình toán học cả. Nhưng đương lượng nổ mà ông yêu cầu thực sự quá lớn, gấp hơn mười lần đương lượng nổ của quả bom nhiệt hạch lớn nhất thế giới hiện nay. Quá trình tiếp xúc và tiến hành phản ứng nhiệt hạch của thứ này hoàn toàn khác với bom hạt nhân thông thường, có khả năng còn cần đến một kết cấu hoàn toàn mới, chúng tôi không có mô hình tương ứng.”

Bọn họ lại bàn bạc thêm một hồi về kế hoạch tổng thể của công trình nghiên cứu này, trước lúc từ biệt, Allen nói: “Ông Rey Díaz, tôi biết, trong nhóm tham mưu của ông ở PDC có các nhà vật lý xuất sắc nhất, chắc hẳn họ cũng đã nói với ông một số điều về tác dụng của bom hạt nhân trong chiến tranh không gian rồi.”

“Ông có thể nhắc lại.”

“Được rồi, trong chiến tranh không gian, bom hạt nhân có lẽ là loại vũ khí có hiệu suất tương đối thấp, vụ nổ hạt nhân trong môi trường chân không không sinh ra sóng xung kích, áp suất ánh sáng cũng không đáng nhắc tới, bởi vậy sẽ không có sức tấn công cơ học như khi nổ trong bầu khí quyển. Toàn bộ năng lượng của nó sẽ được phóng thích dưới dạng bức xạ và xung điện từ, mà ngay cả loài người chúng ta cũng đã nắm rất vững công nghệ lá chắn điện từ chống bức xạ cho tàu vũ trụ rồi.”

“Nếu trực tiếp bắn trúng mục tiêu thì sao?”

“Đó là chuyện hoàn toàn khác, lúc này, nhiệt lượng sẽ có tác dụng quyết định, rất có thể sẽ nung chảy mục tiêu, thậm chí khiến nó bốc hơi. Nhưng một quả bom có sức nổ vài trăm megaton, có thể sẽ lớn bằng cả tòa nhà, muốn trực tiếp bắn trúng mục tiêu sợ là không dễ… thực ra, xét về mặt tấn công cơ học, vũ khí hạt nhân không bằng vũ khí động năng; về cường độ bức xạ thì không bằng vũ khí chùm hạt, mà so về sức phá hoại nhiệt năng thì lại càng không bằng tia gamma.”

“Nhưng mấy loại vũ khí mà ông nói đều chưa thể sử dụng trong thực chiến. Bom hạt nhân dẫu sao vẫn là vũ khí mạnh nhất mà loài người sử dụng thành thạo nhất trong thời điểm hiện tại, còn vấn đề hiệu quả tấn công trong không gian mà ông nói, có thể nghĩ ra phương pháp cải tiến, ví dụ như cho thêm môi chất gì đó vào để hình thành sóng xung kích, kiểu như nhét thêm bi sắt vào trong lựu đạn vậy.”

“Đây là một ý tưởng rất thú vị, ông quả không hổ là một nhà lãnh đạo xuất thân từ giới khoa học.”

“Vả lại, tôi học ngành năng lượng nguyên tử mà, vì vậy tôi thích bom hạt nhân, cảm giác với nó là tốt nhất.”

“Ha ha, tôi quên mất, thảo luận vấn đề với một Người Diện Bích như thế này thật là một chuyện tức cười.”

Hai người đều cười phá lên, nhưng tiếng cười của Rey Díaz tắt ngay sau đó, ông ta nghiêm túc nói: “Tiến sĩ Allen, ông cũng giống như những người khác, đã thần bí hóa chiến lược của Người Diện Bích lên mất rồi, trong các loại vũ khí có thể đưa vào thực chiến mà loài người hiện đang sở hữu, uy lực mạnh nhất là bom nhiệt hạch và phản ứng nhiệt hạch của đại nguyên tử[30]. Tôi tập trung chú ý vào một trong hai thứ đó, không phải là rất tự nhiên hay sao? Tôi cho rằng phương thức tư duy của mình là chính xác.”

“Vậy tại sao ông không nghĩ đến phản ứng nhiệt hạch của đại nguyên tử chứ?”

“Ông còn chưa biết chuyện à? Cựu bộ trưởng quốc phòng của các ông đã đi trước một bước, đang bắt tay vào làm rồi, ông ta đã đi Trung Quốc.”

Lúc này, hai người dừng bước, họ đang đi trên một con đường nhỏ u tĩnh giữa rừng cây, tiến sĩ Allen nói: “Fermi và Oppenheimer đã đi qua con đường này vô số lần. Sau vụ Hiroshima và Nagasaki, hầu hết các nhà nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân thế hệ đầu tiên đều sống nửa đời còn lại trong u uất, nếu họ ở trên trời mà biết sứ mệnh của vũ khí hạt nhân lúc này, hẳn là sẽ thấy được an ủi lắm.”

“Vũ khí, dù đáng sợ chừng nào, dẫu sao cũng là thứ tốt… giờ điều tôi muốn nói là, lần sau khi tôi đến, mong rằng sẽ không thấy các ông ném giấy vụn nữa, chúng ta cần phải cho Hạt trí tuệ ấn tượng sạch sẽ.”

Vì lý do thời tiết, tàu con thoi Mayflower buộc phải chuyển sang hạ cánh ở sân bay dự bị, Frederick Tyler cũng vì vậy mà phải vội vã ngồi máy bay trực thăng từ Trung tâm vũ trụ Kennedy tới Căn cứ không quân Edwards. Ông ta đứng ở cuối đường băng, nhìn tàu Mayflower đang cắt dù giảm tốc chầm chậm dừng lại. Tyler cảm thấy một luồng sóng nhiệt từ phía đó ập đến, trong mắt ông ta, thân tàu con thoi phủ lớp gốm chống nhiệt toát lên một thứ cảm giác thô kệch nguyên thủy, trông như di vật từ thời Cách mạng công nghiệp. Nghĩ đến trong cả một khoảng thời gian khá dài từ rày về sau, cái thứ tiêu hao nhiều, hiệu suất thấp này vẫn là công cụ chủ yếu để vận chuyển con người lên không gian, Tyler lại không khỏi thở dài lắc đầu.

Sau khi khoang tàu mở, những người đầu tiên bước ra là năm thành viên tổ bay cùng với hai học giả vừa được đón về từ Trạm vũ trụ quốc tế ISS, kế đó có hai người mang theo cáng vào khoang tàu, khiêng ra một người, có lẽ để tiện xoay trở trên cáng, người này đã cởi bỏ trang phục du hành vũ trụ từ trong khoang tàu.

Sau khi cáng được khiêng xuống theo cầu thang bên sườn tàu, chỉ huy tàu bước tới nói với người nằm trên cáng: “Tiến sĩ Đinh Nghi, đi xuống khỏi tàu con thoi bằng hai chân là tôn nghiêm tối thiểu của một người lữ hành không gian.”

Đinh Nghi nằm trên cáng nói: “Toàn bộ loài người đều chẳng còn tôn nghiêm gì nữa rồi, hẳn anh cũng đã biết phát hiện lần này của chúng tôi, Thượng tá, cảnh anh làm tình tối nay cũng sẽ bị Hạt trí tuệ quan sát và ghi lại một cách say sưa hứng thú đấy.”

“Tiến sĩ, tôi thật sự không muốn phải đi cùng một chuyến bay với anh nữa.” chỉ huy tàu ném hai vật nhỏ lên cáng, Đinh Nghi cầm lên, phát hiện chính là tẩu thuốc của mình, nhưng đã bị gẫy làm đôi.

“Các anh phải bồi thường tôi đấy! Đây là Dunhill phiên bản kỷ niệm, có biết là bao nhiêu tiền không?” Đinh Nghi nằm trên cáng choải người dậy, tức đến bủn rủn cả người hét toáng lên, nhưng cảm giác chóng mặt và buồn nôn lại khiến anh ta phải nằm xuống.

“NASA không phạt anh là may cho anh rồi đó.” Chỉ huy trưởng chẳng buồn quay đầu lại, rảo nhanh chân đuổi theo các đồng nghiệp đi trước.

Tyler bước nhanh đến bên cáng, chào hỏi Đinh Nghi.

“Ồ, Người Diện Bích, chào ông!” Đinh Nghi vươn cánh tay gầy gò ra bắt tay Tyler, nhưng lại tức khắc rụt trở về, cùng tay kia nắm chặt vào khung cáng, “Này, các anh khiêng cho vững vào chứ!” Anh ta hét lên với người khiêng cáng.

“Thưa anh, chúng tôi nãy giờ vẫn khiêng rất vững.”

“Sao tôi cứ thấy ngửa ra sau là sao?”

Người khiêng cáng giải thích: “Cơ quan cảm nhận thăng bằng của anh đã thích ứng với trạng thái không trọng lực, hiện giờ đang thích ứng lại với trọng lực bình thường.”

Tyler mỉm cười nói: “Có điêu trông anh cũng có vẻ ổn lắm.”

“Ông nói dối!” Đinh Nghi nói.

“À, tất nhiên, sắc mặt anh hơi nhợt nhạt một chút, nhưng tôi nghĩ đây cũng là chuyện bình thường. Dù sao chúng ta cũng là động vật sống trên mặt đất… Tôi muốn nói chuyện với anh một lát.”

“Bọn họ bảo còn phải kiểm tra sức khỏe gì đó nữa.”

“Rất xin lỗi, chỉ một phút thôi, chuyện rất gấp.”

“Ô, trời ơi, lại nghiêng về phía sau rồi… tôi nghĩ tự đi còn dễ chịu hơn ấy.” Đinh Nghi nói, vung tay bảo người khiêng cáng dừng lại, anh ta lăn người xuống, vừa chạm đất đã ngã ngồi phịch xuống.

Tyler kéo Đinh Nghi dậy, vắt một cánh tay anh ta qua vai mình, giống như đỡ người say đi về phía xe phục vụ sân bay ở cách đó không xa, vừa đi ông ta vừa nói: “Hy vọng anh có thể tham gia vào kế hoạch của tôi, trên người anh có mùi gì vậy?”

“Không khí trên đó như là địa ngục ấy, trên lưới lắp miệng máy lọc tuần hoàn thậm chí còn có cả thứ ở trong nhà xí… kế hoạch mà ông nói là gì thế?”

“Tôi muốn xây dựng một đội quân không gian độc lập, sử dụng vũ khí nhiệt hạch dùng đại nguyên tử.”

Đinh Nghi nhìn Tyler từ trên vai ông ta, khi Rey Díaz nói muốn chế tạo bom hạt nhân có sức công phá trên 200 megaton, giám đốc Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos cũng đưa qua ánh mắt này. “Tôi bảo này, các ông tốt nhất là đừng lãng phí tiền của người nộp thuế nữa đi.”

“Nói chuyện lãng phí nguồn vốn, cho đến giờ vẫn còn chưa ai giỏi hơn được đám nghiên cứu vật lý các người đâu: các anh cổ động chế tạo ra bốn máy gia tốc hạt, xây được nửa chừng đều dừng lại hết, nhưng chúng ta đã bỏ vào đó mấy chục tỷ đô la rồi đấy.” Tyler nói.

“Chế tạo máy gia tốc hạt không phải đề nghị của tôi, tôi vẫn luôn cho rằng xây thêm nhiều máy gia tốc để chạy đua với Hạt trí tuệ là cách làm ngu xuẩn hết sức, vì vậy tôi mới đi lên không gian.”

“Tôi cũng định lên không gian, thu thập hạt nhân đại nguyên tử trên đó dễ dàng hơn.”

Lúc này, họ đã đi tới trước cửa xe, Đinh Nghi uể oải dựa vào cửa xe, nói với Tyler: “Trong nhóm tham mưu của ông chắc là có nhà vật lý nào đấy chứ.”

“Có, ba người được giải Nobel, họ bảo tôi rằng: nếu như ví việc chúng ta thu thập hạt nhân nguyên tử triển khai ở cẩu trúc chiều thấp hơn trong trạng thái tự nhiên - tức là hạt nhân đại nguyên tử - giống như người nguyên thủy chế tạo cung tên, thì người Tam Thể triển khai hạt vi mô xuống cấu trúc chiều thấp hơn chính là đã nắm giữ công nghệ tên lửa. Văn minh Tam Thể am hiểu về đại nguyên tử hơn loài người chúng ta không biết bao nhiêu lần, sử dụng loại vũ khí này đối phó với bọn họ… những học giả ấy đã dùng một câu thành ngữ Trung Quốc mà tôi không hiểu lắm… bảo là múa búa trước cửa Lỗ Ban.”

“Ông không tin lời bọn họ sao?”

“Tất nhiên, xét theo lẽ thường thì họ nói đúng, nhưng hiện tại thì phản ứng nhiệt hạch của đại nguyên tử là vũ khí có uy lực nhất mà chúng ta nắm trong tay, về mặt chiến lược, tôi nghĩ đến nó không phải là rất bình thường hay sao?”

“Tay tổng thống Venezuela kia cũng nói thế trên ti vi, hình như ông ta muốn làm bom nhiệt hạch nguyên tử thông thường thì phải.”

Lúc này, có người đẩy Đinh Nghi lên xe, Tyler thô bạo ngăn người đó lại, kéo tay Đinh Nghi nói: “Cung tên cũng không đến nỗi tuyệt đối không thể chiến thắng tên lửa… nếu cộng thêm mưu kế thủ đoạn của con người nữa, về phương diện âm mưu, người Tam Thể cũng đi sau nhân loại một quãng xa như chúng ta chạy sau bọn chúng về mặt khoa học kỹ thuật vậy. Loài người dùng mưu kế lừa gạt lính tên lửa đi ra xa khỏi tên lửa, rồi dùng cung tên tiêu diệt hắn, vậy chẳng phải là ổn rồi sao.”

“Vậy thì xin chúc ông thành công, tôi không có hứng thú tham gia đâu.”

“Kỹ thuật thu thập hạt nhân đại nguyên tử đã thành thục rồi, không có anh chúng tôi cũng làm được, nhưng trong thời khắc nguy nan của nền văn minh nhân loại này, một nhà khoa học như anh sao lại có thể khoanh tay mà đứng nhìn như thế.”

“Tôi đang làm việc có ý nghĩa hơn nhiều. Dự án mà chúng tôi triển khai trên trạm vũ trụ lần này, chính là tiến hành nghiên cứu hạt cao năng lượng trong các tia vũ trụ, nói cách khác, chính là dùng vũ trụ làm máy gia tốc hạt. Việc này vẫn luôn được tiến hành từ hồi trước, nhưng do hạt cao năng lượng phân bố trong vũ trụ rất bất định, đặc biệt những hạt siêu năng lượng cần trong nghiên cứu vật lý tuyến đầu lại càng khó tìm bắt, nên không thể thay thế nghiên cứu bằng máy gia tốc được. Phương thức dò tìm hạt cao năng lượng trong vũ trụ rất giống với dò tìm hạt ở đầu cuối máy gia tốc, nhưng giá thành tại mỗi điểm dò tìm ấy lại rất thấp, có thể xây dựng với số lượng lớn trên không gian. Lần này đã đầu tư số tiền vốn dự trù đem xây dựng máy gia tốc trên mặt đất, thiết lập hơn trăm điểm dò tìm. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm suốt một năm, vốn cũng chẳng hy vọng tìm ra được thứ gì có giá trị, mà chỉ muốn kiểm tra xem có phải đã có thêm nhiều Hạt trí tuệ khác đến Hệ Mặt trời rồi hay không.”

“Kết quả?” Tyler căng thẳng hỏi.

“Tất cả các sự kiện va chạm cao năng lượng dò tìm được, bao gồm cả những hình thức va chạm đã có kết quả xác định từ thế kỷ trước, đều thể hiện ra sự hỗn loạn toàn phần.”

“Cũng có nghĩa là, Hạt trí tuệ hiện nay đã có thể cùng lúc quấy nhiễu trên một trăm máy gia tốc.”

“Có lẽ chúng ta xây dựng thêm cả mười nghìn điểm dò tìm, bọn chúng cũng có thể quấy nhiễu được, vì vậy, số lượng Hạt trí tuệ ở Hệ Mặt trời hiện nay đã không chỉ là hai hạt nữa rồi.

“Ừm…” Tyler ngẩng đầu ngước nhìn bầu trời xa thẳm, nhất thời không nói được gì. Nói gì bây giờ? Nói gì bọn chúng cũng đều đang lắng nghe, bọn chúng đang ùn ùn kéo đến, những con mắt nhỏ li ti có ở khắp mọi nơi, lúc này chắc chắn chúng cũng đang trôi dập dềnh ở xung quanh ông ta, ông ta nói với Đinh Nghi cũng tức là nói với những người Tam Thể ở cách đây bốn năm ánh sáng. Nhất thời, ông ta thực sự có ý nghĩ muốn trực tiếp nói chuyện với đám người Tam Thể kia.

“Có điều, vậy cũng vừa hay chứng minh được tính cần thiết của kế hoạch Diện Bích.” Đinh Nghi nói.

Sau khi xe công vụ rời khỏi đó, Tyler đứng một mình trên đường băng hồi lâu, nhìn tàu con thoi Mayflower được kéo về phía nhà chứa. Thực ra, ông ta chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ đang nghĩ đến một mối nguy khác mà trước đây ông ta đã lơ là bỏ sót: Giờ người ông ta cần tìm đến không phải nhà vật lý, mà là bác sĩ hoặc nhà tâm lý học, và cả những chuyên gia nghiên cứu giấc ngủ nữa.

Tóm lại là, tìm những người có thể khiến mình ngủ mà không nói mớ.

Yamasuki Keiko tỉnh giấc giữa đêm khuya, phát hiện bên cạnh mình trống trơn, chẳng những vậy phía giường bên đó đã lạnh ngắt. Bà nhổm dậy khoác áo đi ra cửa phòng, như mọi lần, vừa liếc mắt đã thấy bóng dáng chồng mình ở khóm trúc trong sân vườn. Họ có nhà ở cả Anh và Nhật Bản, nhưng Hines thích ngôi nhà ở Nhật hơn, ông ta nói ánh trăng phương Đông giúp mình tĩnh tâm được. Đêm nay không có trăng, cả khóm trúc và bóng Hines đều không có cảm giác lập thể, mà trông như một hình cắt giấy màu đen treo lơ lửng dưới ánh sao.

Hines nghe thấy tiếng bước chân Yamasuki Keiko, nhưng không quay đầu lại. Thật kỳ lạ, giày Keiko đi ở Anh và Nhật Bản đều giống như nhau, dù ở quê nhà bà cũng không bao giờ đi guốc gỗ, nhưng chỉ ở đây, Hines mới nghe thấy tiếng bước chân bà, ở Anh thì không.

“Anh yêu, anh đã mất ngủ mấy hôm rồi.” Yamasuki Keiko nói, dù giọng bà rất khẽ, lũ côn trùng mùa hạ trong khóm trúc vẫn ngưng bặt tiếng kêu, bầu không khí tĩnh lặng như nước bao trùm lên tất thảy, bà nghe thấy chồng mình thở dài.

“Keiko, anh không làm được, anh không nghĩ ra, anh thật sự không nghĩ ra cái gì cả.”

“Chẳng ai nghĩ ra được đầu, em cảm thấy kế hoạch có thể giành được thắng lợi cuối cùng ấy hoàn toàn không tồn tại.” Yamasuki Keiko nói, bà lại bước lên trước hai bước, nhưng vẫn đứng cách Hines mấy cây trúc xanh, khóm trúc này là nơi họ suy nghĩ, hầu hết sáng kiến cho những nghiên cứu lúc trước đều xuất hiện ở đây, thông thường họ sẽ không có những cử chỉ thân mật ở chốn đất thánh này, mà ở nơi dường như tràn ngập bầu không khí triết học phương Đông ấy, hai vợ chồng luôn kính nhau như khách, “Bill, anh cần phải thả lỏng bản thân, dốc hết sức làm tốt nhất là được rồi.”

Hines xoay người lại, nhưng gương mặt vẫn khuất trong bóng tối khóm trúc, “Sao được chứ, mỗi một bước nhỏ của anh, đều tiêu tốn rất nhiều tài nguyên.”

“Vậy tại sao lại không như thế chứ,” Yamasuki Keiko tiếp lời rất nhanh, rõ ràng bà đã nghĩ đến vấn đề này từ trước, “lựa chọn phương hướng ấy, cho dù cuối cùng không thành công, trong quá trình thực hiện chúng ta cũng đã làm được một điều có ích.”

“Keiko, đây chính là điều anh vừa nghĩ lúc nãy, anh quyết định rồi: cho dù mình không nghĩ ra được kế hoạch đó, anh sẽ giúp người khác nghĩ ra nó.”

“Người khác mà anh nói là ai? Những Người Diện Bích khác à?”

“Không, bọn họ đều không hơn anh bao nhiêu, anh muốn nói đến đời sau của chúng ta cơ. Keiko, em đã bao giờ nghĩ đến điều này chưa: tiến hóa tự nhiên của sinh vật muốn thấy hiệu quả rõ rệt thì ít nhất cần khoảng hai mươi nghìn năm, mà văn minh nhân loại mới chỉ có năm nghìn năm lịch sử, văn minh công nghệ hiện đại thì chỉ có hai trăm năm lịch sử, vì vậy, thứ chúng ta đang nghiên cứu trong khoa học hiện đại vẫn chỉ là não bộ của người nguyên thủy mà thôi.”

“Anh muốn lợi dụng công nghệ để đẩy nhanh tốc độ tiến hóa của não người à?”

“Em biết đấy, trước giờ chúng ta vẫn nghiên cứu não bộ, điều cần thiết hiện nay là càng phải đầu tư thêm sức người sức của vào để tiếp tục, mở rộng nghiên cứu này đến quy mô lớn như là xây dựng hệ thống phòng ngự Trái đất vậy, cố gắng từ một đến hai thế kỷ, có lẽ cuối cùng sẽ nâng cao được trí lực loài người, khiến cho trình độ khoa học của con cháu chúng ta có thể đột phá được khỏi ách giam cầm của Hạt trí tuệ.”

“Đối với chuyên ngành của chúng ta, từ trí lực này có hơi sáo rỗng, cụ thể anh muốn chỉ…”

“Trí lực mà anh nói đến mang nghĩa rất rộng, ngoài năng lực suy luận logic như ý nghĩa truyền thống của nó, còn bao gồm cả năng lực học hỏi, năng lực sáng tạo cũng như tưởng tượng, năng lực giữ được sức sống và sự linh hoạt của tư duy trong quá trình tích lũy tri thức và kinh nghiệm suốt đời người, và còn thể lực tư duy, tức là bộ não có thể suy nghĩ liên tục trong một thời gian dài mà không biết mệt mỏi… thậm chí còn có thể nghĩ đến khả năng hủy bỏ luôn nhu cầu ngủ…”

“Làm thế nào, anh đã có ý tưởng đại khái chưa?”

“Vân chưa, giờ thì vẫn chưa có. Có lẽ có thể trực tiếp kết nối bộ não với máy tính, khiến cho máy tính với khả năng tính toán khổng lồ trở thành thiết bị khuếch đại trí lực của con người; cũng có thể liên kết trực tiếp não người với nhau, kết hợp tư duy của nhiều người làm một; rồi còn di truyền ký ức nữa… Nhưng dù cuối cùng có những cách nào để nâng cao trí lực của con người đi nữa, việc đầu tiên cần làm lúc này chính là tìm hiểu bản chất cơ chế tư duy của bộ não người.”

“Đây chính là lĩnh vực của chúng ta.”

“Chúng ta cứ tiếp tục sự nghiệp của mình, giống như trước đây, chỉ khác là giờ chúng ta có thể điều động một nguồn tài nguyên khổng lồ để thực hiện việc này!”

“Anh yêu, em thật sự rất vui, em vui quá! Chỉ là, trong vai trò Người Diện Bích, kế hoạch này của anh, quá…”

“Quá gián tiếp, phải không? Nhưng Keiko ơi, em thử nghĩ xem, mọi thứ trong nền văn minh nhân loại này rốt cuộc đều quy về bản thân loài người, chúng ta bắt đầu từ việc nâng cấp bản thân loài người, đây chẳng phải chính là một kế hoạch rất nhìn xa trông rộng hay sao? Vả lại, ngoài chuyện này, anh còn có thể làm được gì nữa?”

“Bill, chuyện này thật sự quá tốt rồi!”

“Hãy thử nghĩ xem, biến khoa học nghiên cứu não bộ và nghiên cứu tư duy thành một công trình cấp độ toàn thế giới, lại có khoản đầu tư khổng lồ mà trước đây chúng ta không thể tưởng tượng ra nổi, liệu mất bao lâu thì có thể thành công?”

“Một thế kỷ chắc là được rồi.”

“Hãy bi quan hơn một chút, tính là hai thế kỷ đi, nếu như vậy, loài người sở hữu trí lực vượt trội vẫn còn thời gian hai thế kỷ, nếu dùng một thế kỷ để phát triển khoa học cơ bản, rồi dùng một thế kỷ nữa để hoàn thành việc chuyển hóa lý thuyết thành công nghệ…”

“Kể cả là thất bại, chúng ta cũng đã làm việc sớm muộn gì cũng phải làm.”

“Keiko, hãy cùng anh đến với ngày tận thế đi.” Hines lẩm bẩm nói.

“Được, Bill, thứ chúng ta có chính là thời gian mà.”

Lũ côn trùng mùa hạ trong vườn hình như đã quen với sự có mặt của họ, lại cất lên những tiếng kêu du dương. Lúc này, một làn gió nhẹ thổi qua khóm trúc, khiến những vì sao trên bầu trời đêm lấp la lấp lánh giữa tán lá, làm người ta có cảm giác bản hợp xướng của bầy côn trùng kia phát ra từ những vì sao xa xôi ấy.

Hội nghị lắng nghe ý kiến Người Diện Bích lần thứ nhất của Hội đồng phòng ngự toàn cầu PDC đã diễn ra được ba ngày. Ba Người Diện Bích Tyler, Rey Díaz và Hines lần lượt trình bày kế hoạch giai đoạn đầu tiên của mình trước hội nghị, đại biểu các quốc gia ủy viên thường trực PDC đã tiến hành thảo luận sơ bộ những kế hoạch này.

Trong phòng họp của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc khi xưa, đại biểu các quốc gia ủy viên thường trực ngồi quanh bàn tròn lớn, còn ba Người Diện Bích thì ngồi bên bàn hình chữ nhật ở chính giữa, họ là Tyler, Rey Díaz và Hines.

“Hôm nay La Tập vẫn không đến à?” Đại biểu Mỹ lấy làm bất mãn hỏi.

“Anh ta không đến.” Chủ tịch luân phiên của PDC, Garanin nói, “Anh ta tuyên bố, ẩn cư và không tham gia Hội nghị lắng nghe ý kiến của PDC, là một phần trong kế hoạch của mình.”

Nghe những lời này, các đại biểu dự họp liền rầm rì bàn tán, có người lộ vẻ giận dữ, có người lại nở nụ cười không rõ hàm ý gì.

“Người này là một thằng rác rưởi lười nhác!” Rey Díaz nói.

“Vậy thì ông là cái gì?” Tyler ngẩng đầu lên hỏi.

Hines cũng nói: “Tôi ngược lại còn muốn bày tỏ sự kính trọng đối với tiến sĩ La Tập, anh ta là người hiểu rõ bản thân, biết rõ năng lực của mình đến đâu, vì vậy mới không muốn lãng phí nguồn lực một cách vô nghĩa.” Ông ta vừa nói, vừa lễ độ quay sang phía Rey Díaz, “Tôi cho rằng ông Rey Díaz cũng nên học tập điều này từ anh ta.”

Ai cũng nhìn ra được, Tyler và Hines không phải đang biện hộ cho La Tập, mà chẳng qua là họ thù địch với Rey Díaz hơn với La Tập mà thôi.

Garanin cầm búa gỗ gõ xuống mặt bàn: “Trước tiên, những lời của Người Diện Bích Rey Díaz là không thích đáng, xin nhắc nhở ông chú ý tôn trọng những Người Diện Bích khác; đồng thời, cũng yêu cầu Người Diện Bích Tyler và Hines chú ý, ngôn từ của hai người trên hội nghị cũng không được ổn thỏa đâu.”

Hines nói: “Ngài chủ tịch, những gì mà Người Diện Bích Rey Díaz thể hiện ra trong kế hoạch của ông ta, chỉ là sự thô bạo của bọn võ biền. Sau Iran và Bắc Triều Tiên, đất nước của ông ta cũng bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt vì phát triển vũ khí hạt nhân, khiến ông ta có một thứ tình cảm méo mó đối với bom hạt nhân; kế hoạch sử dụng vũ khí dùng phản ứng nhiệt hạch của hạt nhân đại nguyên tử của ông Tyler và kế hoạch dùng bom nhiệt hạch cỡ siêu lớn của ông Rey Díaz không có khác gì nhau về bản chất, đều khiến chúng ta phải thất vọng cả. Ngay từ đầu, hai kế hoạch trực tiếp này đã lộ hết hướng đi chiến lược rồi, không hề thể hiện ưu thế về mặt mưu kế chiến lược của Người Diện Bích.”

Tyler phản kích: “Ông Hines, kế hoạch của ông lại càng giống như một ảo tưởng ngây ngô hơn.”

Sau khi Hội nghị lắng nghe ý kiến kết thúc, những Người Diện Bích đi tới phòng Trầm tư, đây là nơi họ ưa thích nhất trong trụ sở Liên Hiệp Quốc, giờ nghĩ lại, căn phòng nhỏ được thiết kế nhằm mục đích yên tĩnh suy nghĩ này thật giống như để dành riêng cho Người Diện Bích bọn họ vậy. Tụ tập ở đây, họ đều lặng lẽ chờ đợi, cảm nhận những dòng tư duy vĩnh viễn không thể trao đổi với nhau trước cuộc chiến ngày tận thế. Khối quặng sắt kia lặng lẽ nằm giữa bọn họ, tựa hồ đang hấp thu và hội tụ tư tưởng của họ, cũng tựa hồ đang lặng lẽ làm chứng cho điều gì đó.

Hines thấp giọng hỏi: “Các ông có nghe nói đến chuyện Người Phá Tường không?”

Tyler gật đầu, “Vừa công bố trên trang mạng công khai của bọn chúng, CIA cũng đã chứng thực.”

Những Người Diện Bích lại chìm vào trầm mặc, họ đang tưởng tượng ra hình ảnh Người Phá Tường của mình, sau này, hình ảnh ấy sẽ xuất hiện vô số lần trong những cơn ác mộng của họ, mà cái ngày Người Phá Tường nào thực sự xuất hiện, rất có khả năng sẽ chính là ngày tàn của Người Diện Bích đó.

☆ ☆ ☆

Khi Sử Hiểu Minh thấy cha mình bước vào, anh ta sợ hãi nhích về phía góc tường, nhưng Sử Cường chỉ lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh anh ta.

“Đừng sợ, lần này bố không đánh mà cũng không mắng mày đâu, bố đã không còn hơi sức đầu mà làm thế nữa rồi.” Vừa nói, gã vừa lấy ra một bao thuốc, rút hai điếu, đưa một điếu cho con trai, Sử Hiểu Minh do dự một lúc rồi mới nhận lấy. Hai bố con châm thuốc, lẳng lặng hút một hồi, Sử Cường mới nói: “Bố có nhiệm vụ, sắp tới sẽ lại phải ra nước ngoài rồi.”

“Vậy bệnh của bố thì sao?” Sử Hiểu Minh ngẩng đầu lên trong làn khói thuốc, lo lắng nhìn cha mình.

“Nói chuyện của mày trước đã.”

Sử Hiểu Minh lộ ánh mắt van nài: “Bố, vụ này xử nặng lắm…”

“Nếu mày phạm phải chuyện khác, bố còn có thể chạy chọt cho, nhưng chuyện này thì không được. Minh à, cả bố và mày đều đã là người trưởng thành, chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”

Sử Hiểu Minh tuyệt vọng cúi gằm mặt xuống, chỉ biết hút thuốc.

Sử Cường nói: “Tội của mày cũng có một nửa là do bố, từ nhỏ đến lớn, bố chẳng lo gì được cho mày. Ngày ngày đều về nhà rất muộn, mệt rũ chỉ kịp uống chén rượu rồi lăn ra ngủ luôn, chưa bao giờ bố đi họp phụ huynh cho mày một lần, cũng chẳng bao giờ nói chuyện tử tế với mày… Vẫn là cái câu nói đó: chúng ta tự mình làm thì tự mình phải chịu thôi.”

Sử Hiểu Minh rơm rớm nước mắt, dụi đi dụi lại đầu thuốc vào mép giường, tựa hồ đang dập tắt nửa cuộc đời về sau của chính mình.

“Trong đó cũng giống như khóa học bồi dưỡng dành cho tội phạm thôi, vào đấy rồi đừng mong cải tạo được cái gì, đừng hùa theo bọn trong đấy là được rồi, cũng phải học được cách tự bảo vệ mình.” Sử Cường để một túi nylon lên giường, bên trong có hai tút thuốc lá, “Còn cần thứ gì thì mẹ mày sẽ mang tới.”

Sử Cường ra đến cửa, lại xoay người nói với con trai: “Minh à, bố con mình có lẽ sẽ còn gặp lại nhau, lúc đó có khi mày già hơn bố rồi, đến lúc ấy mày sẽ hiểu được tâm tình của bố lúc này.”

Sử Hiểu Minh nhìn cha mình đi ra khỏi trại tạm giam qua cái ô nhỏ trên cửa. Bóng Sử Cường nhìn từ phía sau trông đã già nua lắm rồi.

Lúc này, giữa cái thời đại mọi thứ đều căng thẳng, La Tập lại trở thành người nhàn tản nhất thế giới. Anh chậm rãi tản bộ ven bờ hồ, bơi thuyền trong hồ, mang nấm hái được và cá câu được cho đầu bếp chế biến thành các món ăn ngon; anh thong dong đọc số sách phong phú cất giữ trong thư phòng, đọc chán rồi thì ra ngoài đánh golf với đám vệ sĩ; anh còn cưỡi ngựa men theo con đường nhỏ giữa thảo nguyên và rừng rậm, chạy về phía núi tuyết, nhưng chưa bao giờ đến dưới chân núi. Ngày ngày, anh ngồi trên băng ghế dài bên bờ hồ, nhìn bóng núi tuyết phản chiếu xuống mặt hồ, chẳng nghĩ gì hoặc nghĩ đến mọi thứ, thoáng cái là một ngày đã qua đi.

Mấy hôm nay, La Tập luôn ở một mình, hoàn toàn không có bất cứ liên lạc gì với thế giới bên ngoài. Kent cũng có phòng làm việc nhỏ riêng trong trang viên, nhưng rất hiếm khi đến làm phiền anh. La Tập nói chuyện với viên sĩ quan phụ trách an ninh đúng một lần, yêu cầu những binh sĩ bảo vệ ấy đừng có đeo bám đằng xa trong lúc mình tản bộ, nếu nhất thiết phải đi theo thì hãy cố gắng đừng để anh trông thấy.

La Tập có cảm giác mình giống như con thuyền nhỏ đã hạ buồm trên mặt hồ kia, cứ lẳng lặng dập dềnh, không biết đỗ vào đâu, cũng chẳng quan tâm rồi sẽ trôi về hướng nào. Có lúc, nghĩ về cuộc sống trước đây, anh ngạc nhiên nhận ra, chỉ qua mấy ngày ngắn ngủi không ngờ nửa cuộc đời trước đây đã thành ra xa cách tựa như từ kiếp nảo kiếp nào, đồng thời, anh cũng rất hài lòng với trạng thái này.

La Tập rất hứng thú với hầm rượu trong trang viên, anh biết trong những cái chai bụi bặm được xếp gọn gàng ngay ngắn trên giá trong hầm đều là các loại rượu thượng hạng. Anh uống trong phòng khách, uống trong phòng đọc sách, có lúc còn uống trên con thuyền nhỏ, nhưng chưa bao giờ uống quá nhiều, chỉ đủ để rơi vào trạng thái nửa say nửa tỉnh, khi ấy, anh sẽ lấy chiếc tẩu cán dài người chủ trước để lại ra phun khói nhả mây.

Mặc dù từng có một trận mưa, trong phòng khách hơi ẩm và lạnh, nhưng La Tập vẫn không cho đốt lò sưởi lên, anh bảo, vẫn chưa đến lúc.

Ở đây, anh chưa từng lên mạng, nhưng thỉnh thoảng cũng xem ti vi, hễ thấy tin tức thời sự là nhất loạt bỏ qua, chỉ xem những chương trình không liên quan đến thời cuộc, thậm chí là không liên quan gì đến thời đại, tuy rằng những nội dung như vậy trên ti vi càng lúc càng ít, nhưng dư âm của thời đại vàng vẫn còn, nên vẫn có thể tìm được.

Một đêm nọ, một chai rượu nhìn nhãn thì có vẻ là cognac ba mươi lăm năm tuổi khiến anh ngà ngà ngất ngưởng, anh cầm điều khiển từ xa nhảy qua mấy kênh tin tức trên chiếc ti vi HD, nhưng rồi nhanh chóng bị một chương trình tin tức tiếng Anh thu hút. Ấy là việc trục vớt một con tàu đắm từ giữa thế kỷ 17, con tàu ba cột buồm ấy đi từ Rotterdam đến Faridabad ở Ấn Độ và bị đắm ở Cape Horn. Trong các vật phẩm mà thợ lặn vớt ra được từ con tàu đắm, có một thùng rượu vang vẫn còn nguyên vẹn niêm phong, theo các chuyên gia suy đoán, rượu ở trong đó giờ vẫn uống được, vả lại trải qua hơn ba trăm năm ủ dưới đáy biển, mùi vị thứ rượu ấy có thể sẽ ngon không gì sánh được. La Tập thu lại hầu như toàn bộ đoạn tin này, sau đó gọi Kent tới.

“Tôi muốn thùng rượu này, đi đấu giá nó về đây.” Anh nói với Kent.

Kent lập tức đi liên hệ, hai tiếng sau ông ta quay lại báo với La Tập rằng thùng rượu ấy dự kiến giá sẽ rất cao, giá khởi điểm có lẽ đã khoảng ba trăm nghìn euro rồi.

“Tí tiền lẻ ấy thì có là gì đối với kế hoạch Diện Bích chứ, đi mua đi, đây là một phần trong kế hoạch.”

Như vậy, sau “nụ cười với Người Diện Bích”, kế hoạch Diện Bích lại đẻ ra một thành ngữ mới. Phàm là chuyện gì biết rõ là hoang đường vớ vẩn nhưng lại không thể không đi làm, sẽ được gọi là “một phần trong kế hoạch Diện Bích”, hay gọi tắt là “một phần trong kế hoạch”.

Hai ngày sau, thùng rượu ấy đã được chuyển tới phòng khách của biệt thự, trên vỏ thùng kiểu dáng cổ xưa bám đầy hà. La Tập lấy trong hầm rượu ra một cái vòi kim loại có đầu mũi khoan xoắn ốc chuyên dùng để lấy rượu khỏi thùng gỗ, cẩn thận khoan vào vách thùng, rót ra ly rượu đầu tiên, màu rượu xanh biếc đầy quyến rũ. Anh ngửi một hơi, rồi đưa ly rượu lên sát miệng.

“Tiến sĩ, đây cũng là một phần trong kế hoạch à?” Kent hờ hững hỏi.

“Đúng thế, đây là một phần trong kế hoạch.” La Tập nói xong, đang định uống rượu, nhưng lại đưa mắt nhìn những người đang có mặt tại đó, “Các anh ra ngoài hết đi.”

Mấy người bọn Kent đều đứng bất động.

“Bảo các anh ra ngoài cũng là một phần trong kế hoạch, mời!” La Tập trợn mắt lên nói với bọn họ, Kent khe khẽ lắc đầu, đoạn dẫn những người khác đi ra.

La Tập uống ngụm rượu đầu tiên, cố gắng thuyết phục bản thân rằng mình đang nếm thử nước tiên, nhưng rốt cuộc vẫn không có dũng khí uống thêm ngụm thứ hai.

Nhưng ngụm rượu nhỏ ấy cũng không buông tha cho anh, đêm đó anh không ngừng miệng nôn trôn tháo, đến khi nôn ra cả dịch mật có màu hệt như màu rượu kia, cuối cùng cả người mềm nhũn ra không bò dậy nổi. Sau đấy, bác sĩ và các chuyên gia mở nắp thùng rượu đó ra mới biết, vách bên trong thùng gỗ có một tấm nhãn bằng đồng rất lớn, thời đó quả thực là có thói quen làm nhẵn hiệu bên trong thùng. Trong những tháng năm dài đằng đẵng, đồng và rượu vốn dĩ không có tác động lẫn nhau lại nảy sinh phản ứng, không biết đã thành ra thứ gì hòa tan trong rượu… Lúc thùng rượu ấy được khiêng đi, La Tập nhận thấy Kent lộ ra vẻ khoái trá.

La Tập rũ ra nằm vật trên giường, nhìn dịch truyền trong bình chảy xuống từng giọt từng giọt một, cảm giác cô độc dữ dội chưa từng thấy bao trùm lấy anh, anh biết, sự nhàn tản mấy ngày nay chẳng qua chỉ là giai đoạn không trọng lực trên đường rơi xuống vực thẳm cô độc mà thôi, giờ thì anh đã chạm đáy rồi.

Nhưng La Tập sớm đã liệu trước thời khắc này, anh đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, chỉ đợi một người đến đây, sẽ có thể khởi động bước tiếp theo của kế hoạch. Anh đang đợi Sử Cường.

Tyler cầm ô đứng giữa màn mưa bụi lâm thâm trên đảo Kagoshima, sau lưng ông ta là Inoue Koichi, sĩ quan phụ trách Cục phòng vệ[31]. Inoue Koichi mang ô nhưng không mở ra, đứng cách Tyler chừng hai mét, hai ngày hôm nay, dù về cơ thể hay tư tưởng, ông ta luôn giữ một khoảng cách nhất định với Người Diện Bích. Nơi này là Nhà kỷ niệm Đội đặc công Thần Phong, trước mặt họ là bức tượng một đội viên đặc cống, bên cạnh có một chiến đấu cơ màu trắng mang số hiệu 502. Nước mưa phủ lên bề mặt bức tượng và chiếc máy bay một quầng ánh sáng, khiến cả hai toát lên một thứ sức sống hư ảo.

“Chẳng lẽ kiến nghị của tôi còn không có cả đất để thảo luận sao?” Tyler hỏi.

“Tôi khuyên ông tốt nhất đừng nói đến chuyện này trước mặt giới truyền thông, sẽ phiền phức lắm đấy.” Giọng Inoue Koichi lạnh băng như nước mưa.

“Đến thời điểm này rồi mà vẫn còn nhạy cảm thế à?”

“Nhạy cảm không phải là lịch sử, mà là kiến nghị của ông, khôi phục lại Đội đặc công Thần Phong, tại sao không làm ở Mỹ hay ở nơi nào khác? Cả thế giới này chẳng lẽ chỉ có người Nhật là có tinh thần cảm tử thôi sao?”

Tyler gập ô lại. Inoue Koichi bước lại gần ông ta thêm một chút. Tuy Tyler không né tránh, nhưng xung quanh ông ta dường như có một thứ trường lực ngăn cản Inoue Koichi tiếp tục áp sát: “Tôi chưa bao giờ nói Đội đặc công Thần Phong trong tương lai sẽ chỉ có người Nhật Bản, đây là một đội quân quốc tế, nhưng nước ông là vùng đất khởi nguyên của nó, bắt tay khôi phục nó từ đây chẳng phải là rất tự nhiên ư?”

“Trong chiến tranh không gian, phương thức tấn công này thực sự có ý nghĩa sao? Phải biết rằng, hiệu quả tác chiến của đội Thần Phong năm đó là rất có hạn, không thể xoay chuyển được cục diện của chiến tranh.”

“Ngài chỉ huy, lực lượng vũ trang không gian mà tôi xây dựng sử dụng sét hòn làm vũ khí, sét hòn sử dụng hạt nhân đại nguyên tử, điều khiển bắn ra bằng điện từ, tốc độ khi vừa bắn rất chậm, muốn đạt đến tốc độ của tên lửa không gian thì đường bắn cần phải có độ dài mấy chục thậm chí hơn trăm cây số, chuyện này không thể thực hiện được; đồng thời, sét hòn khi đã bắn ra lại không có trí thông minh như tên lửa tự hành, không thể cơ động đột phá hiệu quả hệ thống đánh chặn và hệ thống chắn của kẻ địch, vì vậy cần phải đến gần mục tiêu mới tấn công, đây chính là ý nghĩa tác chiến của đội đặc công mới. Không phải yêu cầu người ta lái phi thuyền đâm thẳng vào mục tiêu của kẻ địch, tuy tất nhiên, trong tình huống này, tỷ lệ tử vong cũng không thấp hơn việc ấy là bao nhiêu.”

“Tại sao nhất thiết phải sử dụng con người? Máy tính không thể điều khiển phi thuyền áp sát mục tiêu rồi tấn công sao?

Câu hỏi này dường như đã mở đường cho Tyler, ông ta trở nên hưng phấn: “Vấn đề chính là ở đây! Trên các chiến đấu cơ hiện nay, máy tính chưa thể thay thế bộ não con người, việc chế tạo ra máy tính thế hệ mới, bao gồm cả máy tính lượng tử, phải dựa vào sự tiến bộ của vật lý cơ bản, mà vật lý thì đã bị Hạt trí tuệ khóa chết rồi. Vì vậy, bốn trăm năm sau, trí thông minh của máy tính cũng vẫn rất có hạn, không thể không có con người điều khiển vũ khí… thực ra, hiện nay khôi phục lại Đội đặc công Thần Phong cũng chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần và niềm tin, trong mười thế hệ tới, sẽ không có ai phải cảm tử cả, nhưng việc xây dựng tinh thần và niềm tin nhất thiết phải bắt đầu ngay từ bây giờ!”

Inoue Koichi quay người lại, lần đầu tiên mặt đối mặt với Tyler, mái tóc ẩm ướt dính bết lên trán, nước mưa chảy trên mặt ông ta tựa như nước mắt: “Cách làm này hoàn toàn đi ngược lại quy tắc đạo đức cơ bản của xã hội hiện đại: sinh mạng con người đặt cao hơn hết thảy, quốc gia và chính phủ không thể yêu cầu bất cứ cá nhân nào đảm nhiệm sứ mệnh tự sát được. Tôi vẫn còn nhớ láng máng trong truyện Truyền thuyết anh hùng Ngân Hà[32], nhân vật Dương Uy Lợi từng nói một cầu thế này: nước nhà hưng thịnh hay suy tàn, tất cả đều quyết định trong trận chiến này, nhưng so với quyền và tự do của cá nhân, thì đó chỉ là một điều thật nhỏ mọn, các vị cứ cố gắng hết sức là được rồi.”

Tyler thở dài: “Ông biết không? Các người đã bỏ đi thứ quý giá nhất của mình rồi.” Nói dứt lời, ông ta mở ô đánh soạt một tiếng, quay người giận dữ bỏ đi. Đi một mạch ra đến chỗ cổng nhà kỷ niệm, ông ta mới ngoảnh đầu lại nhìn, Inoue Koichi vẫn dầm mưa đứng trước bức tượng.

Tyler đi giữa làn gió biển và màn mưa, trong đầu chốc chốc lại vẳng lên một câu nói, đó là câu ông ta vừa đọc được trong bức di thư trưng bày tại phòng triển lãm, của một đội viên Thần Phong viết cho mẹ mình trước khi xuất kích:

“Mẹ ơi, con sẽ biến thành đom đóm.”

“Thực tế khó hơn nhiều so với tưởng tượng.” Allen nói với Rey Díaz, họ đang đứng trước một tấm bia hình tháp làm bằng đá núi lửa màu đen, đây là cột mốc đánh dấu điểm nổ quả bom nguyên tử đầu tiên của loài người.

“Kết cấu của nó thực sự khác đến thế sao?” Rey Díaz hỏi.

“Hoàn toàn khác hẳn bom nguyên tử hiện nay, xây dựng mô hình toán học cho nó có thể phức tạp gấp hơn trăm lần hiện tại, đây là một công trình khổng lồ.”

“Cần tôi làm gì?”

“Cosmo ở trong ban tham mưu của ông đúng không? Cho ông ta đến phòng thí nghiệm của tôi.”

“William Cosmo?”

“Đúng là ông ta đấy.”

“Nhưng mà ông ta là một, là một…”

“Nhà vật lý thiên văn, một chuyên gia có uy tín chuyên nghiên cứu hằng tinh.”

“Vậy ông cần ông ta làm gì?”

“Đây chính là điều hôm nay tôi muốn nói với ông. Trong ấn tượng của ông, bom hạt nhân kích hoạt xong là nổ tung, nhưng trên thực tế thì quá trình đó giống như sự cháy vậy, đương lượng càng lớn, quá trình cháy càng dài. Ví dụ như khi một quả bom hạt nhân có sức công phá 20 megaton bùng nổ, quả cầu lửa có thể kéo dài chừng hơn 20 giây; mà quả bom siêu lớn chúng tôi đang thiết kế đây, giả sử như là 200 megaton đi, vậy thì quả cầu lửa nó tạo ra có thể cháy chừng vài phút, ông nghĩ thử xem, nó giống như cái gì?”

“Một Mặt trời nhỏ.”

“Rất chính xác! Kết cấu phản ứng nhiệt hạch của nó rất giống với một ngôi sao, và nó tái hiện quá trình tiến hóa của một ngôi sao trong thời gian cực kỳ ngắn ngủi. Vì vậy, mô hình toán học mà chúng tôi phải xây dựng, về bản chất chính là mô hình của một ngôi sao.”

Trước mặt họ, hoang mạc của bãi thử tên lửa White Sands trải dài mênh mông, lúc này đương là thời điểm ngay trước bình minh, cả hoang mạc tối đen như mực, không nhìn rõ thứ gì. Lúc nhìn thấy khung cảnh này, hai người đều bất giác nhớ đến cảnh tượng nền trong trò chơi Tam Thể.

“Tôi thực sự rất phấn khích, ông Rey Díaz, xin hãy thứ lỗi cho sự thiếu nhiệt tình lúc ban đầu của chúng tôi, giờ nhìn lại, ý nghĩa của công trình nghiên cứu này đã vượt xa bản thân việc chế tạo ra một quả bom hạt nhân siêu lớn rồi, ông có biết chúng ta đang làm gì không? Chúng ta đang sáng tạo ra một ngôi sao mô phỏng đấy!”

Rey Díaz lắc đầu, tựa hồ như không đồng tình: “Chuyện này thì can hệ gì đến việc phòng thủ Trái đất?”

“Đừng có lúc nào cũng giới hạn suy nghĩ ở việc phòng thủ Trái đất, dẫu sao tôi và các đồng nghiệp ở phòng thí nghiệm vẫn là các nhà khoa học. Vả lại, chuyện này cũng không phải là hoàn toàn không có ý nghĩa thực tế, chỉ cần nhập vào các tham số thích hợp, đây sẽ biến thành mô hình của Mặt trời! ông thử nghĩ mà xem, có một Mặt trời trong ổ cứng máy tính, thế nào cũng có tác dụng. Có một thiên thể khổng lồ gần chúng ta đến thế, mà chúng ta lại lợi dụng được quá ít, nhờ mô hình này, có lẽ sẽ còn có nhiều phát hiện mới hơn.”

Rey Díaz nói: “Ứng dụng của Mặt trời lần trước đã dồn loài người vào bước đường cùng, cũng khiến cho ông và tôi có duyên đứng với nhau ở đây đấy.”

“Nhưng phát hiện mới lại có khả năng khiến loài người in thoát khỏi cảnh ngộ khốn cùng này, vì vậy hôm nay tôi mới mời ông đến đây ngắm Mặt trời mọc.”

Lúc này, vầng dương buổi sớm nhô phần đỉnh sáng lóa lên khỏi đường chân trời, hoang mạc trở nên rõ nét như hình ảnh dần hiển thị trên màn hình, Rey Díaz nhìn thấy, trên vùng đất năm xưa ngọn lửa địa ngục bùng cháy, nay đã có những bụi cỏ dại lưa thưa.

“Ta đang biến thành cái chết, thành kẻ hủy diệt các thế giới.” Allen buột miệng nói.

“Gì hả?!” Rey Díaz vụt ngoảnh đầu lại nhìn Allen, vẻ mặt tựa như có người vừa nổ súng sau lưng ông ta vậy.

“Đây là câu Oppenheimer nói lúc trông thấy quả bom nguyên tử đầu tiên phát nổ, hình như là trích dẫn từ trong sử thi Bhagavad Gita của Ấn Độ.”

Vầng sáng ở phương Đông nhanh chóng lớn dần lên, đem ánh sáng trùm xuống thế giới, tựa như quăng một tấm lưới màu vàng khổng lồ. Chính vầng Mặt trời này là đích đến mà Diệp Văn Khiết xoay ăng ten Hồng Ngạn nhắm vào buổi sáng năm ấy; và trước nữa, ở nơi đây, cũng chính vầng Mặt trời này đã chiếu sáng đám bụi khói sót lại sau vụ nổ bom nguyên tử đầu tiên; đây cũng chính là vầng Mặt trời mà vượn người cổ đại của triệu năm trước và các loài khủng long của trăm triệu năm trước nhìn thấy bằng đôi mắt đờ đẫn; sớm hơn thế nữa, thứ ánh sáng lờ mờ mông lung từ mặt biển đi vào mà tế bào có sự sống đầu tiên trong đại dương nguyên thủy cảm nhận được, cũng là do vầng Mặt trời này phát ra.

Allen nói tiếp: “Lúc ấy, một người tên là Bainbridge đã tiếp lời Oppenheimer bằng một câu hoàn toàn không có ý thơ chút nào: ‘Giờ thì chúng ta đều thành lũ chó đẻ cả rồi.’”

“Ông đang nói gì vậy?” Rey Díaz hỏi, ông ta đang nhìn vầng dương dâng lên, hơi thở trở nên gấp gáp.

“Tôi đang cảm ơn ông, ông Rey Díaz, vì từ nay trở đi, chúng tôi không phải là lũ chó đẻ nữa rồi.”

Phương Đông, Mặt trời từ từ dâng lên với vẻ trang nghiêm vượt trên tất thảy, tựa hồ đang tuyên bố với thế giới này, ngoài ta ra, tất cả đều chỉ là bóng câu qua cửa mà thôi.

“Ông sao vậy, ông Rey Díaz?” Allen thấy Rey Díaz quỳ gục xuống, chống một tay xuống đất và bắt đầu nôn mửa, nhưng không nôn ra được thứ gì. Gương mặt ông ta bỗng tái nhợt, đẫm mồ hôi lạnh, bàn tay ông ta đè lên bụi gai, nhưng Rey Díaz đã không còn đủ sức nhấc tránh đi nữa.

“Đi, vào trong xe.” Rey Díaz yếu ớt nói, đầu ông ta ngoảnh đi khỏi hướng Mặt trời mọc, bàn tay còn lại giơ ra phía trước, muốn che bớt ánh mặt trời. Lúc này, ông ta đã không còn sức lực mà đứng dậy nổi nữa, Allen toan đỡ ông ta dậy, nhưng không sao đỡ nổi tấm thân lực lưỡng của Rey Díaz. “Cho xe đến đây…” Rey Díaz thở hổn hển, đồng thời rụt bàn tay che ánh mặt trời lại bịt chặt hai mắt. Lúc lái xe đến bên cạnh, Allen phát hiện ra Rey Díaz đã tê liệt ngã lăn ra đất, Allen phải rất khó nhọc mới đẩy được ông ta lên băng ghế sau. “Kính râm, tôi cần kính râm…” Rey Díaz nửa ngồi nửa nằm trên ghế, hai tay quơ loạn trong không trung, Allen vội vàng tìm cặp kính râm trên táp lô đưa cho ông ta. Sau khi đeo kính lên, Rey Díaz dường như đã thở bình ổn hơn một chút, “Tôi không sao đâu, chúng ta trở về đi, nhanh lên.” Rey Díaz yếu ớt nói.

“Rốt cuộc ông bị sao vậy? Khó chịu ở chỗ nào?”

“Hình như là vì Mặt trời.”

“Chuyện này… ông bắt đầu có triệu chứng này từ bao giờ vậy?”

“Vừa nãy.”

Từ đó trở đi, Rey Díaz mắc phải chứng bệnh sợ Mặt trời kỳ quái ấy, hễ trông thấy Mặt trời, cả tinh thần lẫn thân thể ông ta đều rơi vào trạng thái gần như suy sụp.

“Ngồi máy bay lâu quá hả? Trông anh uể oải lắm.” Trông thấy Sử Cường vừa mới đến, La Tập nói.

“Thì đó, làm gì được thoải mái như cái lần trước chúng ta đi.” Sử Cường nói, đồng thời đảo mắt quan sát khung cảnh xung quanh.

“Chỗ này được đấy nhỉ.”

“Không ổn.” Sử Cường lắc đầu, “Ba mặt có rừng cây, muốn ẩn nấp để tiếp cận biệt thự rất dễ dàng; còn cả cái hồ này nữa, gần khu nhà ở như vậy, khó mà đề phòng người nhái xuống nước từ khu rừng phía bờ hồ bên kia; có điều, bãi cỏ ở xung quanh này lại rất tốt, dành ra một khoảng không gian thoáng rộng.”

“Anh không thể lãng mạn một chút được à?”

“Chú em, tôi đến đây làm việc đấy ạ.”

“Tôi đang định giao cho anh một công việc lãng mạn đây.” La Tập dẫn Sử Cường vào phòng khách, Sử Cường lại quan sát sơ qua một lượt, sự hào hoa và thanh lịch của nơi này dường như không để lại cho gã ấn tượng gì cả. La Tập cầm chiếc ly thủy tinh chân cao rót rượu cho Sử Cường, nhưng gã xua tay từ chối.

“Đây là brandy đã ủ ba mươi năm đấy.”

“Giờ tôi không thể uống rượu được rồi… Nói cái công việc lãng mạn của cậu đi xem nào.”

La Tập nhấp một ngụm rượu, ngồi xuống bên cạnh Sử Cường: “Đại Sử à, tôi muốn nhờ anh một việc này. Trong công việc trước đây của anh, thường phải tìm kiếm một người nào đó trên phạm vi toàn quốc, thậm chí là toàn thế giới đúng không?”

“Ừ.”

“Anh là chuyên gia hả?”

“Tìm người ấy à? Tất nhiên rồi.”

“Vậy thì tốt, giúp tôi tìm một người, một cô gái khoảng hai mươi tuổi, đây là một phần trong kế hoạch.”

“Quốc tịch, họ tên, địa chỉ?”

“Đều không có, thậm chí khả năng cô ấy có mặt trên thế gian này cũng rất nhỏ.”

Sử Cường trố mắt nhìn La Tập, dừng lại mấy giây rồi mới nói: “Mơ thấy hả?”

La Tập gật đầu: “Coi như là một giấc mộng cũng được.”

Sử Cường cũng gật đầu, nói ra hai chữ mà La Tập không ngờ đến: “Còn đỡ.”

“Cái gì?”

“Tôi bảo là còn đỡ, như vậy ít nhất anh cũng biết cô ta trông thế nào.”

“Cô ấy là một, ừm, cô gái phương Đông, chậc, cứ giả định là người Trung Quốc đi.” La Tập nói, lấy giấy bút ra vẽ, “Mặt cô ấy, trông thế này này; mũi thế này, miệng thế này, chậc, tôi không biết vẽ, mắt… khốn thật, sao tôi vẽ được mắt cô ấy chứ, có phải các anh có một thứ, phần mềm thì phải, có thể mở ra một khuôn mặt, rồi dựa theo miêu tả của nhân chứng mà điều chỉnh mắt mũi miệng gì gì đổ, cuối cùng sẽ có chính xác chân dung người mà nhân chứng đã trông thấy không?”

“Có, trong máy tính xách tay của tôi cũng có cài.”

“Vậy anh lấy ra đi, chúng ta vẽ luôn!”

Sử Cường duỗi người trên ghế xô pha, lấy tư thế thật thoải mái: “Không cần đâu, cậu cũng không cần vẽ nữa, nói tiếp đi, chuyện tướng mạo tạm gác sang một bên, trước tiên nói xem cô ấy là người thế nào.”

Bên trong La Tập dường như có thứ gì được đốt cháy, anh đứng dậy, bất an đi đi lại lại trước lò sưởi: “Cô ấy… nói thế nào nhỉ? Cô ấy đến với thế giới này, giống như là một đóa bách hợp mọc lên giữa đống rác rưởi, thật là… thật là thuần khiết mong manh, mọi thứ xung quanh đều không thể khiến cô ấy nhuốm bẩn, nhưng đều làm tổn thương cô ấy, đúng thế, mọi thứ xung quanh đều có thể khiến cô ấy tổn thương! Phản ứng đầu tiên khi anh gặp cô ấy chính là muốn bảo vệ cô ấy… à không, muốn che chở cho cô ấy, để cô ấy không bị cái hiện thực dã man thô bạo này làm tổn thương, vì điều này, anh sẵn lòng trả bất cứ giá nào! Cô ấy… Cô ấy thật là… Chậc, anh xem đấy, sao tôi lại nói năng vụng về thế này chứ nhỉ, không nói rõ ràng được gì cả.”

“Đều thế cả thôi,” Sử Cường cười cười gật đầu, nụ cười thoạt nhìn có vẻ ngây ngô của gã giờ đây trong mắt La Tập lại tràn đầy trí tuệ, cũng khiến anh cảm thấy rất thoải mái, “có điều, cậu nói vậy cũng rõ ràng lắm rồi.”

“Được, vậy tôi nói tiếp nhé, cô ấy… nhưng, nhưng tôi biết nói thế nào bây giờ nhỉ? Miêu tả thế nào cũng không thể hiện ra được cô gái trong lòng tôi ấy.” La Tập rối rít, tựa hồ như muốn móc tim mình ra cho Sử Cường xem vậy.

Sử Cường xua xua tay, bảo La Tập bình tĩnh lại: “Được rồi, nói về chuyện cậu và cô ấy sống chung đi, càng chi tiết càng tốt.”

La Tập kinh ngạc trợn tròn mắt lên: “Sống chung… Với cô ấy? Sao anh biết?”

Sử Cường bật cười khành khạch, đồng thời đưa mắt ngó quanh quất: “Ở nơi thế này, chắc là phải có xì gà loại ngon ngon chứ?”

“Có, có đây!” La Tập vội vàng lấy trên nóc lò sưởi xuống một cái hộp gỗ tinh xảo, lấy ra một điếu Davidoff to tướng, rồi dùng một dụng cụ cắt xì gà còn tinh xảo hơn, có kiểu dáng như cái máy chém nhỏ, cắt phần đầu đi đưa cho Sử Cường, đoạn dùng que châm xì gà bằng gỗ tùng, châm thuốc cho gã ta.

Sử Cường hút một hơi, hài lòng gật đầu: “Nói đi.”

Trái ngược hẳn với bộ dạng ấp a ấp úng vừa nãy, La Tập bắt đầu thao thao bất tuyệt. Anh kể lại chuyện lần đầu tiên cô xuất hiện trong thư viện, kể lại chuyện anh và cô gặp lại nhau trước cái lò sưởi tưởng tượng trong phòng ký túc xá, kể chuyện cô xuất hiện trên giảng đường của anh, tả lại vẻ đẹp mà ngọn lửa trong lò sưởi chiếu qua chai rượu vang có màu sắc tựa như đôi mắt của ráng chiều hắt lên gương mặt cô vào cái đêm hôm ấy. Anh vui sướng hồi tưởng lại chuyến đi lần đó của hai người, kể lại tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhặt nhất: cánh đồng sau trận tuyết, thị trấn và ngôi làng nhỏ dưới bầu trời xanh, ngọn núi như những người già sưởi nắng, và cả đống lửa cùng buổi hoàng hôn trên núi nữa…

Sử Cường nghe xong, dập tắt điếu thuốc đi, nói: “Ừm, về cơ bản là đủ rồi. Tôi có đưa ra một số suy đoán về cô gái đó, cậu xem có đúng không nhé.”

“Được, được!”

“Trình độ văn hóa của cô ấy, có lẽ là trên đại học và dưới tiến sĩ.”

La Tập gật đầu, “Đúng thế, đúng thế, cô ấy có kiến thức, nhưng những kiến thức ấy vẫn chưa đạt đến mức độ học vấn đề khiến cô ấy trở nên cứng nhắc, mà chỉ khiến cô ấy càng thêm nhạy cảm với cuộc sống và thế giới này.”

“Cô ấy chắc là sống trong một gia đình trí thức cao cấp, cuộc sống không giàu có xa xỉ, nhưng so với gia đình bình thường thì sung túc hơn nhiều, từ nhỏ tới lớn cô ấy đều được sống trong tình yêu thương đầy đủ của cha mẹ, nhưng tiếp xúc với xã hội, đặc biệt là những người ở tầng đáy xã hội thì rất ít.”

“Đúng, đúng, cực kỳ chính xác! Cô ấy chưa từng nói với tôi về gia đình mình, sự thực là chưa từng nói bất cứ chuyện gì liên quan đến bản thân mình, nhưng tôi nghĩ chắc hẳn là phải như vậy!”

“Những suy đoán tiếp theo chỉ là suy đoán thôi, nếu sai thì cậu bảo tôi nhé… Cô ấy thích mặc, nói như nào nhỉ, quần áo kiểu thanh lịch mà trang nhã, so với những cô gái cùng tuổi, cô ấy có vẻ đơn điệu hơn một chút.” La Tập ngây người ra, gật đầu lia lịa, “Nhưng luôn có những phần trắng tinh khiết, ví dụ như áo trong này, hay cổ áo gì gì đó, nhìn tương phản rõ với những phần có màu sắc đậm hơn.”

“Đại Sử à, anh…” La Tập nhìn Sử Cường với ánh mắt gần như sùng bái, nói.

Sử Cường xua tay ngăn không cho anh nói tiếp, “Điểm cuối cùng: cô ấy không cao lắm, khoảng mét sáu gì đấy, vóc người rất… hình dung như thế nào nhỉ, mong manh, kiểu như một trận gió cũng thổi bay đi được ấy, vì vậy nên trông cũng không phải thấp lắm… tất nhiên còn có thể nghĩ ra nhiều điểm khác nữa, chắc là cũng hòm hòm rồi.”

La Tập như thể muốn quỳ xuống trước mặt Sử Cường: “Đại Sử, tôi phục anh sát đất rồi! Anh, anh là Sherlock Holmes tái thế à!”

Sử Cường đứng lên, “Vậy tôi ra vẽ trên máy tính nhé.”

Tối hôm đó, Sử Cường mang máy tính xách tay đến tìm La Tập. Lúc trên màn hình hiện ra bức tranh thiếu nữ ấy, La Tập ngồi đờ ra bất động, nhìn chằm chằm vào màn hình như thể trúng phải bùa. Sử Cường hình như sớm đã đoán trước được điều này, lại đi tới chỗ lò sưởi lấy một điếu xì gà, kê lên cái máy chém nhỏ kia cắt đầu đi, châm lửa, hút mấy hơi xong quay lại vẫn thấy La Tập nhìn chằm chằm vào màn hình.

“Có chỗ nào không giống, cậu bảo để tôi điều chỉnh.”

La Tập khó nhọc thu ánh mắt khỏi màn hình, đứng dậy đi tới trước cửa sổ, nhìn ngọn núi tuyết xa xa dưới ánh trăng, giọng nói như đang nói mê: “Không cần điều chỉnh gì hết.”

“Tôi cũng nghĩ thế.” Sử Cường nói, đóng máy tính lại.

La Tập vẫn nhìn về phía xa xăm, nói ra một câu mà người khác cũng từng dùng để đánh giá Sử Cường: “Đại Sử, anh đúng là một con quỷ.”

Sử Cường mệt mỏi ngồi xuống ghế xô pha: “Làm gì đến nỗi thế, chúng ta đều là đàn ông cả mà.”

La Tập quay người lại nói: “Nhưng người tình trong mộng của mỗi người đàn ông đều rất khác nhau mà!”

“Nhưng người tình trong mộng của mỗi một loại đàn ông về đại thể đều khá tương đồng.”

“Vậy cũng không thể nào vẽ ra giống như vậy được!”

“Không phải cậu đã nói với tôi rất nhiều thứ à.”

La Tập đi tới bên cạnh máy tính, lại mở ra: “Sao cho tôi một bản.” Vừa làm anh vừa hỏi, “Anh có thể tìm được cô ấy không?”

“Giờ tôi chỉ có thể nói là tỷ lệ rất cao, nhưng cũng không loại trừ khả năng hoàn toàn không tìm được.”

“Gì hả?” La Tập dừng thao tác đang làm dở lại, quay đầu kinh ngạc nhìn Sử Cường.

“Chuyện kiểu này làm sao mà đảm bảo 100% thành công được chứ.”

“Không, ý tôi không phải là vậy, ngược lại cơ, tôi tưởng anh sẽ nói là gần như không có khả năng, nhưng cũng không loại trừ khả năng một phần vạn là ngẫu nhiên tìm được, kỳ thực, nếu anh nói như vậy tôi cũng đã thỏa mãn rồi!” Anh quay đầu lại nhìn bức hình vừa hiển thị lại trên màn hình, lẩm bẩm như người nói mớ: “Trên đời này sao có thể tồn tại người như vậy được chứ.”

Sử Cường bật cười khinh khỉnh: “Thầy giáo La, cậu đã gặp được bao nhiêu người?”

“Tất nhiên không thể so sánh với anh được, nhưng tôi biết trên thế giới này không có người nào hoàn mỹ, lại càng không có người phụ nữ nào hoàn mỹ.”

“Như cậu nói đấy, tôi thường xuyên phải tìm ai đó giữa hàng trăm hàng nghìn người. Tôi lấy kinh nghiêm nửa đời mình ra nói cho cậu biết: người như thế nào cũng có. Nói cho cậu biết nhé, chú em, loại nào cũng có, bao gồm cả người hoàn mỹ và người phụ nữ hoàn mỹ, chỉ là cậu chưa có duyên gặp được đấy thôi.”

“Đây là lần đầu tiên tôi nghe người khác nói vậy đấy.”

“Bởi vì thế này, người hoàn mỹ trong lòng cậu, chưa chắc đã hoàn mỹ trong mắt người khác, ví dụ như cô gái trong mộng kia của cậu nhé, theo tôi thấy, cô ấy có những chỗ rõ ràng là… nói thế nào nhỉ, không hoàn mỹ đi, vì vậy, khả năng tìm được là rất lớn.”

“Thế nhưng có những đạo diễn tìm một diễn viên lý tưởng giữa hàng chục nghìn người mà cuối cùng vẫn chẳng tìm được.”

“Đám đạo diễn kia làm sao so bì được với những kẻ làm nghề như chúng tôi, chúng tôi đâu chỉ tìm một người giữa hàng chục nghìn người, thậm chí đâu chỉ là tìm một người giữa hàng trăm nghìn hay hàng triệu người, các công cụ cũng như phương pháp của chúng tôi đều tiên tiến hơn bất cứ đạo diễn nào. Lấy ví dụ nhé, mấy cái máy tính cỡ lớn ở trung tâm phân tích của Bộ Công an ấy, chỉ cần nửa ngày là tìm ra một gương mặt thích hợp giữa mấy trăm triệu bức ảnh… Chỉ là, chuyện này nằm ngoài phạm vi chức trách của tôi, trước tiên tôi phải báo cáo lại với cấp trên, nếu được phê chuẩn và giao nhiệm vụ, tất nhiên tôi sẽ dốc hết sức hoàn thành.”

“Bảo với họ, đây là phần quan trọng trong kế hoạch Diện Bích, cần phải xử lý một cách nghiêm túc.”

Sử Cường cười hì hì đầy vẻ ám muội, đứng dậy từ biệt La Tập.

“Gì hả? Bảo PDC tìm…” Kent vất vả tìm kiếm cụm từ tiếng Trung Quốc ấy, “người tình trong mộng cho anh ta? Thằng cha này đã được nuông chiều thành ra thế này rồi cơ à! Xin lỗi, tôi không thể chuyển tiếp yêu cầu này của anh lên cấp trên được.”

“Vậy thì ông đã làm trái với nguyên tắc của kế hoạch Diện Bích: cho dù chỉ thị của Người Diện Bích có khó hiểu đến đâu, cũng đều phải xin ý kiến thi hành, chỉ PDC mới có quyền phủ quyết cuối cùng.”

“Dù thế thì cũng không thể dùng tài nguyên của xã hội loài người để phục vụ loại người này sống kiểu đế vương như vậy! Anh Sử, chúng ta làm việc chung với nhau chưa lâu, nhưng tôi rất khâm phục anh, anh là người rất lão luyện, lại có khả năng quan sát thấu suốt, vậy mong anh nói thực lòng cho tôi biết: anh thực sự cho rằng La Tập đang thi hành kế hoạch Diện Bích hay sao?”

Sử Cường lắc đầu, “Tôi không biết.” Gẫ giơ tay ngăn Kent tiếp tục tranh luận, “Nhưng, ông Kent này, đây chỉ là cá nhân tôi không biết, chứ không phải cách nhìn của cấp trên. Đây chính là điểm khác nhau lớn nhất giữa ông và tôi: tôi chỉ là một kẻ chấp hành mệnh lệnh trung thành, còn ông thì khác, chuyện gì ông cũng phải hỏi tại sao.”

“Làm vậy không đúng à?”

“Chẳng có gì đúng hay không đúng ở đây cả, nếu mỗi người đều phải làm rõ ra tại vì sao rồi mới chấp hành mệnh lệnh thì cái thế giới này loạn từ lâu rồi. Ông Kent này, cấp bậc của ông cao hơn của tôi một chút, nhưng nói cho cùng, chúng ta đều là người chấp hành mệnh lệnh mà thôi, điều đầu tiên chúng ta cần hiểu là, có một số việc không đến lượt những người như chúng ta suy xét, chỉ cần làm hết trách nhiệm của mình là được rồi. Không làm được điều này, cuộc sống của ông sợ là sẽ khó khăn lắm đấy.”

“Cuộc sống của tôi giờ đã khó khăn lắm rồi! Lần trước bỏ ra cả đống tiền mua rượu trong tàu đắm, tôi đã nghĩ… anh nói đi, người này có chút gì giống như Người Diện Bích hay không?”

“Người Diện Bích cần phải như thế nào?”

Kent nhất thời tắc tị.

“Mà kể cả Người Diện Bích thực sự phải ra dáng Người Diện Bích đi chăng nữa, tôi thấy thầy La Tập cũng không phải là hoàn toàn không giống đâu.”

“Gì hả?” Kent hơi ngạc nhiên, “Không phải anh định nói là đã nhìn ra tố chất gì đó ở anh ta đấy chứ?”

“Đúng là đã nhìn thấy chút chút.”

“Quỷ quái thật, anh nói thử xem.”

Sử Cường đặt tay lên vai Kent: “Lấy ví dụ là ông nhé, giả sử gán cho ông cái thân phận Người Diện Bích này, ông liệu có lợi dụng cơ hội mà hưởng thụ giống anh ta không?”

“Tôi đã suy sụp từ lâu rồi.”

“Vậy là đúng rồi, nhưng La Tập vẫn thong dong thoải mái, cứ như chẳng có chuyện gì vậy. Ông Kent này, ông tưởng thế là đơn giản chắc? Đây gọi là có khí độ đấy, đây chính là khí độ mà người làm việc lớn nhất thiết phải có! Những kẻ như ông với tôi đây thì không làm được việc lớn đâu.”

“Nhưng anh ta… nói thế nào nhỉ… Cứ thong dong thoải mái mãi à, còn kế hoạch Diện Bích thì sao?”

“Nói từ nãy đến giờ mà sao tôi vẫn không giảng rõ cho ông được nhỉ? Tôi đã bảo là tôi chẳng biết gì cả mà, sao ông biết được những việc người ta đang làm không phải là một phần trong kế hoạch? Nói lại lần nữa, chuyện này không phải do chúng ta phán đoán. Mà kể cả là chúng ta nghĩ đúng đi chăng nữa,” Sử Cường nhích lại gần Kent, hạ giọng xuống: “Có một số việc, cần phải từ từ mới được.”

Kent nhìn chằm chằm vào Sử Cường một lúc, cuối cùng vẫn lắc lắc đầu, không chắc mình đã hiểu được câu nói cuối cùng của gã ta: “Được rồi, tôi báo lên cấp trên, có điều có thể cho tôi xem thử cái cô người tình trong mộng kia trước được không?”

Nhìn thấy bức ảnh thiếu nữ trên màn hình, gương mặt già nua của Kent lập tức dịu lại, ông ta xoa cằm nói: “Chậc… trời ạ, tuy không tin rằng cô gái này có ở trên đời, nhưng tôi vẫn chúc các anh sớm có ngày tìm được cô ấy.”

[nonindent]“Đại tá, với thân phận của tôi, lại đến khảo sát về công tác chính trị tư tưởng của quân chủng các anh, có phải anh cảm thấy có chút đường đột hay không?” Tyler hỏi khi gặp Chương Bắc Hải.

“Không, ông Tyler, chuyện này đã có tiền lệ rồi, Rumsfeld[33] từng đến thăm trường Đảng của Quân ủy trung ương, lúc ấy tôi đang học ở đó.” Chương Bắc Hải nói, ở anh ta không có sự tò mò, cẩn trọng và xa cách mà Tyler thấy ở những sĩ quan Trung Quốc khác, còn tỏ ra rất chân thành, khiến cuộc trò chuyện trở nên thoải mái hơn nhiều.

“Tiêng Anh của anh giỏi thật đấy, anh xuất thân từ hải quân à?”

“Đúng vậy, tỷ lệ đến từ hải quân trong không gian quân của Mỹ còn cao hơn chúng tôi.”

“Quân chủng cổ xưa này hẳn không ngờ được, chiến thuyền của họ rồi sẽ phải xuất quân trong không gian… nói thực lòng, khi tướng Thường Vĩ Tư giới thiệu anh là cán bộ chính trị xuất sắc nhất của quân chủng, tôi đã tưởng anh đến từ lục quân, vì lục quân mới là linh hồn của các anh.”

Chương Bắc Hải rõ ràng không đồng ý với quan điểm của Tyler, nhưng anh ta chỉ nở nụ cười khoan dung rồi bỏ qua: “Các quân chủng khác nhau trong một quân đội hẳn đều có chung một linh hồn, kể cả là không gian quân mới được thành lập ở các nước, về mặt văn hóa quân sự cũng đều đã ghi sâu dấu ấn của quân đội nước mình rồi.”

“Tôi rất hứng thú với công tác chính trị tư tưởng trong quân chủng các anh, hy vọng có thể tiến hành một số khảo sát chuyên sâu.”

“Không thành vấn đề, cấp trên đã có chỉ thị, trong phạm vi công tác của tôi, sẽ không giấu giếm bất cứ điều gì với ông.”

“Cảm ơn!” Tyler thoáng do dự giây lát rồi nói, “Mục đích chuyến đi lần này của tôi là muốn có được một câu trả lời, tôi muốn được anh chỉ giáo ở đây trước.”

“Đừng khách khí, xin ông cứ nói.”

“Đại tá, anh cho rằng chúng ta có thể khôi phục được một đội quân mang tinh thần của quá khứ hay không?”

“Quá khứ mà ông nói đến ở đây là gì?”

“Về thời gian thì phạm vi rất lớn, có thể từ Hy Lạp cổ đại cho đến Chiến tranh Thế giới thứ II, mấu chốt là điểm chung về mặt tinh thần này: coi bổn phận và danh dự cao hơn hết thảy, khi cần thiết sẵn sàng hy sinh tính mạng mà không hề do dự. Hẳn là anh đã chú ý thấy điểm này, sau Chiến tranh Thế giới thứ II, dù là ở các quốc gia dân chủ hay quốc gia chuyên chế, tinh thần này đều đã biến mất khỏi quân đội rồi.”

“Quân đội đến từ xã hội, muốn thế cần toàn bộ xã hội đều khôi phục lại cái tinh thần quá khứ mà ông nói đến.”

“Về điểm này thì cách nhìn của chúng ta giống nhau.”

“Nhưng, ông Tyler, đây là điều bất khả.”

“Tại sao? Chúng ta có hơn bốn trăm năm, trong quá khứ, xã hội loài người đã mất khoảng thời gian dài tương đương vậy để tiến hóa từ chủ nghĩa anh hùng tập thể sang chủ nghĩa cá nhân, tại sao chúng ta không thể dùng khoảng thời gian tương tự để biến đổi trở lại?”

Nghe những lời này, Chương Bắc Hải ngẫm nghĩ trong giây lát: “Đây là một vấn đề rất sâu sắc, nhưng tôi cho rằng xã hội nhân loại nay đã thành người trưởng thành không thể nào trở lại thuở ấu thơ được nữa. Giờ nhìn lại, trong bốn trăm năm đã hình thành nên xã hội hiện đại ấy, chúng ta chưa từng có bất cứ sự chuẩn bị nào về mặt tư tưởng và văn hóa để đối mặt với thảm họa và nguy cơ như thế này.”

“Vậy niềm tin chiến thắng của anh từ đâu mà có? Theo tôi được biết, anh là một người kiên định niềm tin chiến thắng, thế nhưng hạm đội không gian đầy rẫy những người theo chủ nghĩa thất bại này làm sao có thể đối mặt với kẻ thù mạnh mẽ đây?”

“Chẳng phải ông đã nói vẫn còn hơn bốn trăm năm nữa sao, nếu chúng ta không thể đi lùi, vậy thì cứ kiên định tiến lên phía trước thôi.”

Câu trả lời của Chương Bắc Hải rất mơ hồ, nhưng bàn bạc sâu hơn nữa, Tyler cũng không tìm hiểu thêm được gì từ anh ta, chỉ có cảm giác suy nghĩ của con người này rất sâu sắc, không thể dễ dàng nhìn thấu.

Lúc ra khỏi bộ chỉ huy quân chủng không gian, Tyler đi ngang qua một người lính gác, lúc ánh mắt ông ta và người lính đó chạm nhau, đối phương hơi bẽn lẽn mỉm cười với ông ta. Điều này không thể thấy ở quân đội của các quốc gia khác, những lính gác kia đều mở mắt trừng trừng, nhìn thẳng về phía trước. Nhìn thấy gương mặt trẻ trung đó, Tyler lại thầm nhắc lại câu nói kia trong đầu:

“Mẹ ơi, con sẽ biến thành đom đóm.”

Chập tối ngày hôm ấy trời đổ mưa, đây là lần đầu tiên trời mưa từ khi La Tập tới nơi này, phòng khách rất ẩm ướt và lạnh lẽo. La Tập ngồi trước lò sưởi không đốt lửa, lắng nghe tiếng mưa bên ngoài, cảm giác như thể ngôi nhà này nằm trên một hòn đảo lẻ loi giữa đại dương u ám vậy. Anh để mình chìm vào giữa sự cô độc mênh mông vô tận ấy, sau khi Sử Cường đi, lúc nào anh cũng sống trong cảm giác chờ đợi không yên, cảm tưởng như bản thân sự cô độc và chờ đợi này chính là hạnh phúc. Đúng lúc này, anh nghe thấy tiếng xe ô tô đậu trước hiên nhà, loáng thoáng có tiếng người nói chuyện, trong đó có một giọng nữ non nớt dịu dàng, nói những lời cảm ơn, tạm biệt gì đó. Âm thanh ấy khiến anh run lên, như chạm phải điện.

Hai năm trước, trong những cơn mộng giữa đêm đen và ngày dài, anh đều nghe thấy giọng nói ấy, rất mờ mịt, rất mông lung, như một dải lụa mỏng trắng tinh khiết lướt qua giữa bầu trời xanh, như giữa buổi hoàng hôn u uất có tia nắng lóe lên rồi vụt tắt.

Kế đó, tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên, La Tập ngồi đờ ra tại chỗ, một lúc lâu sau mới cất tiếng mời vào. Cửa mở ra, một bóng hình mảnh mai lướt vào cùng mùi mưa. Trong phòng khách chỉ bật một chiếc đèn đứng, có chụp đèn lớn kiểu cổ khiến ánh đèn chỉ chiếu một vòng quanh chân đặt trước lò sưởi, còn lại cả phòng đều rất tối. La Tập không nhìn rõ gương mặt cô gái, chỉ thấy cô mặc quần trắng và áo khoác sẫm màu, cổ áo trắng muốt tương phản rõ nét với áo khoác, khiến anh lại nghĩ đến một đóa hoa bách hợp.

“Thầy giáo La, chào anh.” Cô nói.

“Chào em.” La Tập vừa nói vừa đứng lên, “Bên ngoài lạnh lắm phải không?”

“Trong xe thì không lạnh.” Tuy không nhìn rõ, nhưng La Tập có thể khẳng định cô đang cười, “Nhưng ở đây,” cô đưa mắt nhìn quanh quất, “thật tình có hơi lạnh… à, thầy giáo La, em tên là Trang Nhan.”

“Trang Nghiêm[34] à, chào em, chúng ta đốt lò sưởi lên nhé.”

La Tập ngồi xổm xuống, nhặt những thanh củi xếp ngay ngắn cho vào lò sưởi, miệng hỏi: “Trước đây em từng thấy kiểu lò sưởi âm tường này chưa? À, em lại đây ngồi đi.”

Cô bước tới, ngồi xuống ghế xô pha, nhưng vẫn ở trong bóng tối: “Ừm… Chỉ thấy trên phim thôi.”

La Tập quẹt diêm châm vào bùi nhùi bên dưới đống củi, khi ngọn lửa bắt đầu vươn lên như đang sống, cô dần dần hiện ra dưới ánh sáng dìu dịu màu vàng kim. Hai ngón tay La Tập cầm chặt que diêm đã cháy đến tận gốc, anh cần cảm giác đau đớn ấy để nhắc nhở mình không phải ở trong mộng. Anh có cảm giác như thể mình vừa đốt lên một vầng Mặt trời, chiếu rọi thế giới trong mơ nay đã biến thành hiện thực. Vầng dương ngoài kia hãy cứ vĩnh viễn ẩn mình trong mưa và đêm đen đi, thế giới này chỉ cần có ánh lửa và cô là đã quá đủ rồi.

Đại Sử, anh đúng là ma quỷ, anh tìm được cô ấy ở đâu vậy? Tiên sư nhà anh, sao anh có thể tìm được cô ấy?

La Tập thu ánh mắt về, nhìn vào ngọn lửa, nước mắt bất giác đã tràn bờ mi, thoạt đầu, anh sợ cô trông thấy, nhưng rồi nhanh chóng nghĩ ra mình không cần phải giấu, vì có thể cô sẽ cho rằng khói bụi đã khiến anh chảy nước mắt, anh bèn giơ tay lên quệt đi.

“Ấm thật đấy, thích quá…” Cô nhìn ngọn lửa, mỉm cười.

Câu nói này và nụ cười của cô lại khiến trái tim La Tập rung động.

“Sao lại thế này?” Cô ngẩng đầu lên, đưa mắt quan sát căn phòng khách trong bóng tối.

“Nơi này không giống như trong tưởng tượng của em à?”

“Không giống ạ.”

“Nơi này không…” La Tập nhớ ra tên cô, “không đủ trang nghiêm sao?”

Cô mỉm cười với anh :“Tên em là Trang Nhan, chữ ‘nhan’ trong ‘nhan sắc’ ấy.”

“Ô, anh biết rồi… Có phải em cảm thấy ở đây lẽ ra phải có rất nhiều bản đồ và màn hình lớn, có cả một đám tướng tá nai nịt súng ống, còn anh thì cầm một cây gậy dài chỉ chỉ trỏ trỏ không?”

“Đúng là vậy ạ, thầy giáo La.” Nụ cười mỉm của cô nhoẻn rộng thành một nét cười vui vẻ, như thể một đóa hồng nở rộ.

La Tập đứng lên: “Em đi đường mệt lắm rồi phải không, uống chút trà nhé,” Anh hơi do dự, “hay là, uống ly rượu vang nhé? Cho đỡ lạnh.”

“Vâng ạ.” Cô gật đầu. Lúc nhận lấy chiếc ly chân cao, cô khẽ cảm ơn, rồi nhấp một ngụm nhỏ.

Bộ dạng nâng ly rượu đầy vẻ ngây thơ của cô đã chạm đến phần mềm yếu nhất trong tim La Tập. Bảo cô uống, cô bèn uống luôn, cô tin vào thế giới này, hoàn toàn không cảnh giác gì với nó. Đúng thế, cả thế giới này, đâu đâu cũng ẩn giấu những thứ có thể gây tổn thương cho cô, chỉ có ở đây là không, cô cần sự che chở của nơi này, đây chính là thành trì của cô.

La Tập ngồi xuống, ngắm nhìn Trang Nhan, cố hết sức làm ra vẻ thong dong: “Trước khi tới đây, họ đã nói gì với em?

“Tất nhiên là bảo em đến đây làm việc rồi.” Cô lại lần nữa bộc lộ sự ngây thơ khiến trái tim anh tan nát, “Thầy giáo La, công việc của em là gì ạ?”

“Em học ngành gì?”

“Ngành quốc họa[35], ở Học viện mỹ thuật trung ương ạ.”

“Ồ, tốt nghiệp rồi hả?”

“Vâng, mới tốt nghiệp, vừa thi nghiên cứu sinh vừa tìm việc ạ.”

La Tập ngẫm nghĩ một lúc lâu, thực sự không nghĩ ra cô có thể làm gì ở đây. “Ừm… Chuyện công việc, ngày mai chúng ta bàn đi, chắc chắn em mệt rồi, hãy cứ nghỉ ngơi cho thoải mái đã… Có thích nơi này không?”

“Em không biết, lúc từ sân bay đến thì sương mù rất lớn, sau đấy thì trời lại tối rồi. Chẳng thấy gì cả… Thầy giáo La, đây là đâu vậy?”

“Anh cũng không biết.”

Cô gật đầu, cười thầm một mình, rõ ràng là không tin lời La Tập.

“Anh thật sự không biết đây là nơi nào, địa mạo có vẻ giống Bắc Âu, anh có thể gọi điện hỏi ngay bây giờ.” La Tập vừa nói vừa vươn tay ra điện thoại đặt cạnh ghế xô pha.

“Không, không, thầy giáo La, không biết cũng tốt mà.” Tại sao?

“Một khi biết mình ở đâu, thế giới liền trở nên nhỏ bé hẳn mất rồi.”

Trời ơi, La Tập thầm thốt lên trong tâm trí.

Cô đột nhiên có một phát hiện bất ngờ, nói như một đứa trẻ: “Thầy giáo La, ở trong ánh lửa, rượu này trông đẹp thật.”

Rượu vang nhìn qua ánh lửa, hiện lên một thứ sắc đỏ sậm long lanh chỉ có ở trong cảnh mộng.

“Em cảm thấy nó giống thứ gì?” La Tập căng thẳng hỏi.

“Ừm… em nghĩ là giống đôi mắt.”

“Đôi mắt của ráng chiều?”

“Đôi mắt của ráng chiều, thầy giáo La, anh nói hay quá!”

“Giữa ban mai và ráng chiều, em thích ráng chiều hơn phải không?”

“Vâng ạ, sao anh biết? Em thích nhất là vẽ cảnh ráng chiều đấy.” Trang Nhan nói, trong ánh lửa, đôi mắt cô trong veo, tựa hồ như đang nói: thế thì có gì sai chứ?

Sáng sớm hôm sau, nắng sớm sau mưa, trong cảm giác của La Tập, tựa hồ như Thượng Đế đã tẩy rửa khắp khu vườn Địa Đàng này một lượt để đón Trang Nhan đến đây. Khi lần đầu tiên Trang Nhan thấy cảnh sắc thực sự của nơi đây, La Tập không nghe cô trầm trồ kinh ngạc và ngợi ca như những cô gái thông thường. Đứng trước cảnh sắc tráng lệ này, cô rơi vào một trạng thái kính sợ và nín thở, từ đầu chí cuối đều không thể nói ra câu khen ngợi nào. La Tập nhận ra, đối với vẻ đẹp của thiên nhiên, rõ ràng là cô nhạy cảm hơn những cô gái khác rất nhiều.

“Từ đầu em đã thích vẽ tranh rồi à?” La Tập hỏi.

Trang Nhan ngây người nhìn chăm chăm vào rặng núi tuyết phía xa, hồi lâu sau mới định thần lại: “À, vâng ạ, có điều, nếu em lớn lên ở nơi này, có lẽ em sẽ không thích vẽ nữa.”

“Tại sao?”

“Em từng tưởng tượng ra rất nhiều nơi đẹp đẽ, vẽ ra xong thì có cảm giác như đã từng đến đó vậy, nhưng ở đây, những gì em tưởng tượng, em mơ mộng, đều đã có cả rồi, còn vẽ gì nữa chứ?”

“Đúng thế, một khi tìm được giữa hiện thực những thứ đẹp đẽ trong tưởng tượng của mình, cảm giác đó thật là…” La Tập nói, anh liếc mắt nhìn Trang Nhan giữa ánh nắng ban mai, cô tựa như một thiên sứ bước ra từ giấc mộng của anh, cảm giác hạnh phúc cuộn dâng lên trong lòng giống những gợn sóng lăn tăn trải rộng trên mặt hồ kia. Liên Hiệp Quốc, PDC, các người không thể ngờ được kế hoạch Diện Bích lại có kết quả này đâu, giờ tôi có chết ngay cũng chẳng vấn đề gì nữa rồi.

“Thầy giáo La, tối qua trời mưa nhiều thế, sao tuyết trên núi tuyết không bị xối đi nhỉ?” Trang Nhan hỏi.

“Mưa chỉ ở dưới đường ranh tuyết thôi, trên núi đó tuyết đọng quanh năm. Khí hậu ở đây khác chỗ chúng ta ở rất nhiêu.

“Anh đã lên núi tuyết đó bao giờ chưa?”

“Chưa, anh đến đây cũng chưa lâu lắm.” La Tập để ý thấy, đôi mắt cô gái nãy giờ vẫn không rời khỏi rặng núi, “Em thích núi tuyết hả?”

“Vâng.” Cô gật mạnh đầu.

“Vậy chúng ta đi.”

“Thật sao ạ? Bao giờ?” Cô kinh ngạc reo vui.

“Ngay bây giờ có thể đi luôn, có một con đường nhỏ chạy tới chân núi, bây giờ đi thì đến tối là về nhà được rồi.”

“Nhưng còn công việc ?” Ánh mắt Trang Nhan rời khỏi rặng núi tuyết, nhìn sang phía La Tập.

“Công việc để sau đi, em vừa mới đến.” La Tập lấp liếm.

“Vậy…” Trang Nhan hơi nghiêng đầu, khiến trái tim La Tập rung lên một chặp. Trước đây, anh đã thấy cái điệu bộ ngây thơ và ánh mắt ấy ở “cô” không biết bao nhiêu lần rồi. “Thầy giáo La, em dẫu sao cũng cần biết công việc của mình là gì chứ ạ?”

La Tập nhìn về phía xa xăm, ngẫm nghĩ vài giây, rồi nói bằng giọng kiên quyết: “Đến chỗ núi tuyết rồi anh sẽ nói với em!”

“Được ạ! Vậy chúng ta đi nhanh lên, được không ạ?”

“Ừ, từ đây ngồi thuyền sang bờ hồ bên kia, rồi lái xe đi thì tiện hơn.”

Họ đi bộ tới cuối cầu tàu, La Tập nói gió đang thuận, có thể đi thuyền buồm, đến tối gió đổi hướng, vừa hay có thể trở về. Anh kéo tay Trang Nhan, đỡ cô lên một chiếc thuyền buồm nhỏ. Đây là lần đầu tiên anh tiếp xúc với cô, bàn tay cô giống hệt như đôi bàn tay mà anh nắm lấy lần đầu tiên vào cái đêm đông trong tưởng tượng ấy, cảm giác mềm mại, mát lạnh. Trang Nhan kinh ngạc quan sát La Tập kéo cánh buồm thể thao hình cong trắng muốt ấy lên, khi con thuyền rời khỏi cầu tàu, cô thò tay xuống nước.

“Nước hồ này lạnh lắm.” La Tập nói.

“Nhưng nước này trong quá là trong ấy!”

Giống đôi mắt em, La Tập thầm nhủ, “Tại sao em thích núi tuyết thế?”

“Em thích tranh thủy mặc mà.”

“Tranh thủy mặc và núi tuyết thì liên quan gì đến nhau?”

“Thầy giáo La, anh có biết tranh thủy mặc và tranh sơn dầu khác nhau thế nào không? Tranh sơn dầu dùng các màu sắc nồng đậm dày đặc, có một họa sĩ lớn từng nói, trong tranh sơn dầu, màu trắng quý như vàng vậy; nhưng tranh thủy mặc thì khác, trong tranh có rất nhiều rất nhiều khoảng trắng, những khoảng trắng ấy mới là linh hồn của bức tranh, còn phong cảnh trong tranh chẳng qua chỉ là cái khung cho những khoảng trắng ấy thôi. Anh nhìn ngọn núi tuyết kia mà xem, có giống như những khoảng trắng trong tranh thủy mặc không…”

Đây là đoạn thoại dài nhất cô nói kể từ lúc gặp La Tập, cô cứ thao thao bất tuyệt giảng bài cho Người Diện Bích, coi anh như một đứa học sinh ngốc nghếch, hoàn toàn không hề có cảm giác mình đang thất lễ.

Em cũng giống như khoảng trắng trong tranh thủy mặc, đối với một người thưởng tranh lão luyện, đó là phần tinh khiết nhưng lại đẹp vô cùng. La Tập nhìn Trang Nhan, thầm nghĩ.

Con thuyền đậu vào cầu tàu bên bờ hồ đối diện, một chiếc xe Jeep không mui đậu ở bìa rừng ven hồ, người lái xe đến đó đã rời đi.

“Đây là xe quân dụng phải không ạ? Lúc đến đây em thấy xung quanh có quân lính, phải đi qua ba trạm gác đấy.” Trang Nhan nói lúc ngồi lên xe.

“Không sao, họ sẽ không làm phiền chúng ta đâu.” La Tập vừa nói vừa khởi động xe.

Đó là một con đường nhỏ thô sơ chạy xuyên rừng, nhưng xe chạy rất êm, sương mù buổi sớm chưa tan hết làm những tia nắng chiếu qua rừng thông cao lớn thêm lấp lánh, giữa tiếng động cơ xe cũng vẫn nghe thấy lũ chim hót ríu ran. Cơn gió mát lành thổi bay mái tóc dài của Trang Nhan, từng sợi từng sợi lướt qua trên mặt anh, trong cảm giác ngưa ngứa, anh lại nhớ đến chuyến du lịch ngày đông từ hai năm về trước.

Mọi thứ xung quanh lúc này và cảnh tượng vùng đồng bằng Hoa Bắc cùng dãy núi Thái Hàng sau trận tuyết mùa đông lúc đó đã tựa như hai kiếp người, song mộng tưởng thuở ấy và hiện thực lúc này nối tiếp liền mạch không kẽ hở, La Tập đến giờ vẫn không tin nổi sự việc này lại xảy ra với mình.

La Tập ngoảnh đầu lại nhìn Trang Nhan, nhận ra cô cũng đang nhìn mình, chẳng những vậy, còn có vẻ như cô đã nhìn anh rất lâu rồi, ánh mắt ấy thoáng có vẻ tò mò, nhưng nhiều hơn cả là sự thiện lương thuần khiết. Những tia sáng trong rừng loang loáng lướt qua mặt và bên cạnh cô, thấy La Tập đang nhìn mình, ánh mắt cô cũng không hề né tránh.

“Thầy giáo La, anh thật sự có khả năng chiến thắng người ngoài hành tinh hả?” Trang Nhan hỏi.

La Tập đã bị bộ dạng ngây thơ ấy của cô hoàn toàn chinh phục, đây là câu hỏi mà ngoài cô ra, không một người nào khác có thể đặt ra với một Người Diện Bích, chưa kể họ mới quen nhau trong khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi.

“Trang Nhan, ý nghĩa cốt lõi của kế hoạch Diện Bích nằm ở chỗ đem ý đồ chiến lược thực sự của loài người niêm phong trọn vẹn trong tư duy của một cá nhân, đây là nơi duy nhất trong thế giới của loài người mà Hạt trí tuệ không thể nhìn vào. Vì vậy, dù thế nào cũng phải chọn ra mấy người làm việc đó, nhưng điều này không có nghĩa bọn họ là siêu nhân, trên thế gian này không có siêu nhân.”

“Thế tại sao lại chọn anh?”

Câu hỏi này lại càng đường đột, càng quá đáng hơn câu trước, nhưng từ miệng Trang Nhan nói ra lại hết sức tự nhiên, trong trái tim thuần khiết của cô, mỗi tia nắng mặt trời đều óng ánh xuyên qua và khúc xạ theo một góc khác.

La Tập chầm chậm dừng xe lại, Trang Nhan tò mò nhìn anh, còn anh lại nhìn con đường lấp lóa ánh nắng phía trước.

“Người Diện Bích là những kẻ không đáng tin nhất từ thuở hồng hoang đến hiện tại, là những kẻ lừa đảo đầu sỏ.”

“Đây là trách nhiệm của Người Diện Bích mà.”

La Tập gật đầu, “Nhưng, Trang Nhan à, những lời sau đây anh nói với em là sự thật, mong em hãy tin anh.”

Trang Nhan gật đầu, “Thầy giáo La, anh nói đi ạ, em tin anh.”

La Tập trầm mặc một lúc lâu, như để gia tăng sức nặng cho những lời mình sắp nói ra: “Anh không biết tại sao họ lại chọn anh,” anh quay sang nhìn Trang Nhan, “anh là một người bình thường.”

Trang Nhan lại gật đầu, “Vậy nhất định là khó khăn lắm phải không?”

Câu nói này và nét mặt ngây thơ thánh thiện của Trang Nhan khiến khóe mắt La Tập lại ươn ướt. Từ khi trở thành Người Diện Bích, đây là lần đầu tiên anh được người khác hỏi han như vậy, đôi mắt của cô gái này chính là thiên đường của anh, trong đôi mắt trong veo ấy, hoàn toàn không có ánh mắt giống như những người khác khi nhìn Người Diện Bích; nụ cười của cô cũng là thiên đường của anh, đó không phải là nụ cười với Người Diện Bích, nụ cười thuần khiết, chân thành ấy giống như giọt sương sớm được ánh ban mai chiếu vào, nhè nhẹ rỏ xuống nơi khô cạn nhất trong tâm hồn anh.

“Có lẽ là rất khó, nhưng anh muốn làm cho dễ dàng một chút… Vậy thôi, lời thật lòng đến đây kết thúc, trở lại trạng thái Người Diện Bích.” La Tập nói xong, lại khởi động xe.

Sau đó, họ im lặng suốt cả quãng đường, cho tới khi rừng cây dần trở nên thưa thớt, bầu trời xanh thăm thẳm lộ ra.

“Thầy giáo La, nhìn con chim ưng trên trời kìa!” Trang Nhan reo lên.

“Bên kia hình như còn có cả một con hươu nữa!” La Tập chỉ về một mé khác phía trước, sở dĩ anh nhanh chóng đánh lạc hướng Trang Nhan đi như vậy, là bởi anh biết thứ xuất hiện trên bầu trời kia không phải chim ưng, mà là máy bay bảo vệ không người lái. Điều này đồng thời cũng khiến La Tập nhớ đến Sử Cường, anh lấy điện thoại di động ra, bấm số gã.

Trong điện thoại vang lên giọng Sử Cường: “Ồ, chú em, giờ mới nhớ đến tôi hả? Thế nào, Nhan Nhan vẫn ổn chứ?”

“Ổn, rất ổn, quá ổn ấy chứ, cám ơn anh!”

“Vậy thì tốt, coi như tôi đã hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng rồi.”

“Cuối cùng? Anh đang ở đâu?”

“Ở Trung Quốc, chuẩn bị ngủ một giấc dài rồi.”

“Gì hả?”

“Tôi bị ung thư máu, giờ đến tương lai chữa trị.”

La Tập phanh xe đánh két, lần này anh dừng xe rất đột ngột, khiến Trang Nhan kinh hãi kêu lên một tiếng khe khẽ, La Tập lo lắng đưa mắt nhìn cô, thấy không có vấn đề gì mới tiếp tục nói chuyện với Sử Cường.

“Chuyện này… từ lúc nào vậy?”

“Lâu rồi, lúc thi hành nhiệm vụ bị nhiễm phóng xạ, năm ngoái mới phát bệnh.”

“Trời đất! Tôi có làm chậm trễ việc của anh không?”

“Chuyện này thì có gì mà chậm trễ với chẳng không, ai biết được y học trong tương lai sẽ như thế nào chứ?”

“Thật sự xin lỗi anh, Đại Sử.”

“Có gì đâu, công việc mà. Tôi không tới làm phiền cậu nữa, là vì nghĩ sau này chúng ta vẫn còn cơ hội gặp lại nhau, có điều nếu chẳng may không gặp được nữa, tôi có câu này muốn nói với cậu.”

“Anh nói đi.”

Sử Cường im lặng một hồi lâu, mới nói: “Trong ba điều bất hiếu, không có con cái là lớn nhất, người anh em, sự kế tục của nhà họ Sử chúng tôi hơn bốn trăm năm sau, đều nhờ cậu cả đấy.”

Bên kia đã gác máy, La Tập ngước nhìn bầu trời, chiếc máy bay không người lái kia đã biến mất, bầu trời xanh như vừa được rửa sạch hoàn toàn trống trải, hệt như tâm trí anh lúc này.

“Thầy giáo La, anh gọi điện cho chú Sử Cường ạ?” Trang Nhan hỏi.

“Ừ, em gặp anh ta rồi à?”

“Gặp rồi ạ, chú ấy là người tốt, hôm em đi, chú ấy bất cẩn làm đứt tay, máu cứ chảy không ngừng, sợ chết khiếp đi được.”

“Ồ… anh ta có nói gì với em không?”

“Chú ấy bảo thầy giáo La đang làm công việc quan trọng nhất thế giới, bảo em phải giúp anh.”

Lúc này, rừng cây đã hoàn toàn biến mất, phía trước núi tuyết chỉ còn lại thảo nguyên, chỉ có hai sắc màu trắng bạc và xanh mướt, kết cấu thế giới trở nên giản đơn và thuần khiết hơn bội phần. Trong cảm giác của La Tập, cảnh sắc thiên nhiên trước mặt anh đang trở nên càng lúc càng giống thiếu nữ bên cạnh. Anh để ý thấy, lúc này trong đôi mắt Trang Nhan thấp thoáng một tia u uất, thậm chí còn phát hiện cô buông tiếng thở dài khe khẽ.

“Nhan Nhan, sao vậy?” La Tập hỏi, đây là lần đầu tiên anh gọi cô như vậy, lòng thầm nhủ Đại Sử có thể gọi cô như vậy thì mình cũng gọi được.

“Nghĩ thử mà xem, thế giới đẹp đẽ nhường này. Nhiều năm sau nữa, có thể sẽ chẳng ai ngắm nhìn nó nữa, thật đáng buồn biết mấy.”

“Người ngoài hành tinh không phải là người sao?”

“Em cảm thấy, họ không cảm nhận được cái đẹp.”

“Tại sao?”

“Bố em từng nói, những người nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, về bản chất đều là người lương thiện, bọn họ không lương thiện, vì vậy họ không thể cảm nhận được vẻ đẹp.”

“Nhan Nhan, chính sách của họ đối với loài người là một lựa chọn lý trí, là một cách làm có trách nhiệm đối với sự sinh tồn của giống loài mình, không liên quan gì đến lương thiện hay tà ác cả.”

“Lần đầu tiên em nghe thấy có người nói như vậy đấy… thầy giáo La, sau này anh sẽ gặp họ, đúng không?”

“Có lẽ.”

“Nếu họ thực sự giống như anh nói, mà trong cuộc chiến tận thế ấy, mọi người lại đánh bại được họ, ưm, vậy mọi người có thể…” Trang Nhan nghiêng đầu nhìn La Tập, do dự.

La Tập muốn nói, khả năng để chuyện thứ hai ấy xảy ra gần như là bằng không, nhưng lại không nỡ nói ra: “Có thể làm sao?”

“Liệu có thể không đuổi bọn họ ra ngoài vũ trụ hay không, như thế họ sẽ chết hết mất, hãy cho họ một vùng đất, để họ và chúng ta sống chung với nhau, như vậy thì tốt biết bao nhiêu.”

La Tập cảm khái im lặng một lúc lâu, rồi mới chỉ tay lên bầu trời nói: “Nhan Nhan, những lời em vừa nói không chỉ có mình anh nghe thôi đâu.”

Trang Nhan cũng căng thẳng ngước lên nhìn bầu không: “À… đúng rồi, xung quanh chúng ta nhất định là có rất nhiều Hạt trí tuệ đang bay lượn!”

“Cũng có khả năng, kẻ lúc này đang nghe em nói chuyện chính là vị nắm quyền tối cao của nền văn minh Tam Thể.”

“Bọn họ sẽ cười nhạo em phải không?”

“Không, Nhan Nhan, em có biết giờ anh đang nghĩ gì không?” Lúc này, trong lòng La Tập chợt dâng lên một ham muốn mãnh liệt muốn nắm lấy tay cô, bàn tay trái thon thả của cô ở ngay bên cạnh vô lăng, nhưng anh vẫn gắng kiềm chế bản thân, “Anh đang nghĩ, thực ra, người thực sự có thể cứu thế giới này, chính là em.”

“Em hả?” Trang Nhan bật cười.

“Là em, chỉ tiếc là em quá ít, à, anh muốn nói là người như em quá ít, nếu một phần ba loài người đều giống như em, văn minh Tam Thể thực sự có thể đàm phán với chúng ta về khả năng cùng sống chung trong một thế giới, nhưng hiện tại…” Anh cũng thở dài một tiếng.

Trang Nhan nở nụ cười gượng gạo: “Thầy giáo La, em cũng khó khăn lắm, mọi người đều nói tốt nghiệp xong là bước ra ngoài xã hội, giống như cá bơi ra biển lớn, nhưng biển lớn nước đục ngầu, em không nhìn thấy gì cả, chỉ muốn bơi đến một vùng biển nước trong, bơi đến mệt nhoài…”

Mong rằng anh có thể giúp em bơi đến vùng biển đó… La Tập thầm nhủ trong lòng.

Con đường bắt đầu chạy lên núi, theo độ cao tăng dần, thảm thực vật dần trở nên thưa thớt, xuất hiện những khối nham thạch đen trần trụi, có một đoạn đường, thậm chí họ còn có cảm giác như thể đang chạy xe trên bề mặt Mặt trăng. Nhưng chỉ thoáng sau, chiếc xe đã chạy qua đường ranh tuyết, xung quanh liền chuyển sang màu trắng tinh khiết, không khí cũng ngập tràn hơi lạnh. La Tập lấy áo lông vũ trong túi du lịch để ở ghế sau ra, hai người mặc vào rồi tiếp tục tiến về phía trước. Đi không được bao xa thì gặp phải barie chắn ngang, chính giữa con đường có một tấm biển báo nổi bật với hàng chữ cảnh cáo: Mùa này có tuyết lở rất nguy hiểm, đường phía trước bị chặn. Họ bèn xuống xe, lội ra giữa bãi tuyết trắng ở ven đường.

Lúc này, vầng dương đã ngả về Tây, con dốc phủ tuyết quanh họ nằm trong chỗ bóng râm, những đụn tuyết sạch bong ánh lên một thứ sắc lam nhàn nhạt, tựa hồ như đang phát ra ánh sáng huỳnh quang yếu ớt, còn đỉnh núi tuyết dựng đứng trông nhọn hoắt như mũi dao phía xa xa kia thì vẫn tắm ánh mặt trời, đang tỏa ánh sáng bàng bạc đi khắp bốn phương tám hướng, những tia sáng như chỉ thuần do bản thân tuyết trắng tỏa ra, cứ như thể chiếu sáng thế giới này chưa bao giờ là Mặt trời, mà chỉ có ngọn núi tuyết đó thôi.

“Được rồi, giờ bức tranh toàn là khoảng trắng rồi nhé.” La Tập dang rộng hai cánh tay, xoay một vòng rồi nói.

Trang Nhan hân hoan ngắm nhìn thế giới trắng tinh khiết xung quanh: “Thầy giáo La, đúng là em đã từng vẽ một bức tranh như vậy! Nhìn xa thì chỉ như một tờ giấy trắng, cả bức tranh gần như toàn là khoảng trắng, nhìn gần mới phát hiện ở góc dưới bên trái có mấy khóm lau sậy nhỏ xíu, góc trên bên phải có một cánh chim cơ hồ sắp biến mất, chính giữa khoảng trắng, có hai người nhỏ đến mức không thể nào nhỏ hơn nữa… đó là tác phẩm mà em đắc ý nhất.”

“Có thể tưởng tượng được, bức tranh đó nhất định là rất đẹp… thế… Trang Nhan này, ở giữa thế giới trống trải này, em có hứng thú muốn biết công việc của mình là gì không?”

Trang Nhan gật đầu, bộ dạng rất căng thẳng.

“Em đã biết kế hoạch Diện Bích là gì rồi đấy, kế hoạch muốn thành công phải nhờ vào tính chất không thể lý giải nổi, mà cảnh giới cao nhất của kế hoạch Diện Bích chính là ngoài bản thân Người Diện Bích ra, cả Trái đất và thế giới Tam Thể không ai có thể hiểu nổi nó. Vì vậy, Trang Nhan này, dù công việc của em có khó tin thế nào, chắc chắn nó cũng có ý nghĩa nào đấy, đừng cố tìm cách hiểu làm gì, cứ cố gắng mà làm là được rồi.”

Trang Nhan căng thẳng gật đầu: “Vâng, em hiểu rồi ạ,” cô lại mỉm cười lắc đầu, “à không, không, ý em là em biết rồi ạ.”

La Tập nhìn Trang Nhan giữa cảnh tuyết trắng mênh mang, giữa không gian tuyết trắng thuần khiết cơ hồ như mất đi cảm giác ba chiều này, thế giới dường như đã vì cô mà ẩn mặt, cô là tồn tại duy nhất. Hai năm trước, khi hình tượng văn học mà anh tạo ra trong tưởng tượng vừa sống dậy, La Tập đã được nếm trải tình yêu; còn giờ đây, ở giữa khoảng trắng của bức tranh vẽ nên bởi thiên nhiên vĩ đại, anh đã hiểu được điều huyền bí tối thượng của tình yêu.

“Trang Nhan, công việc của em chính là: khiến cho bản thân mình được vui vẻ hạnh phúc.”

Trang Nhan mở tròn đôi mắt.

“Em trở thành người con gái hạnh phúc nhất, vui vẻ nhất thế giới này, đó chính là một phần trong kế hoạch Diện Bích.”

Đôi mắt Trang Nhan ánh lên những tia sáng chiếu rọi thế giới giống như tỏa ra từ đỉnh núi tuyết kia, trong ánh mắt thuần khiết của cô, vô số xúc cảm phức tạp lướt qua như áng mây trôi trên bầu trời. Núi tuyết đã hấp thu hết mọi âm thanh đến từ thế giới bên ngoài, La Tập kiên nhẫn chờ đợi trong tĩnh lặng, rốt cuộc, Trang Nhan cất tiếng hỏi, giọng nói như thể vẳng đến từ nơi nào xa xồi lắm:

“Thế… em cần phải làm gì ạ?”

La Tập tỏ ra rất hưng phấn: “Em muốn làm gì cũng được! Ngày mai, hoặc là tối nay sau khi chúng ta trở về, em có thể đi nơi nào mà em muốn đi, làm điều mà em muốn làm, sống như ý nguyện của mình, là một Người Diện Bích, anh sẽ dốc hết khả năng của mình để giúp em thực hiện mọi điều ấy.”

“Nhưng em…” Cô gái nhìn La Tập, có vẻ rất bất lực, “Thầy giáo La, em… em không cần gì cả ạ.”

“Sao lại thế? Ai mà chẳng cần điều gì đó! chẳng phải các chàng trai các cô gái đều dốc sức theo đuổi điều gì đó hay sao?”

“Em… em đã từng theo đuổi thứ gì chưa?” Trang Nhan chầm chậm lắc đầu, “Hình như là chưa.”

“Phải rồi, em là một cô gái coi mọi thứ chỉ như gió thoảng mây trôi, nhưng dẫu sao cũng phải ôm mộng gì đó chứ, ví dụ, em thích vẽ tranh, chẳng lẽ không muốn tổ chức triển lẫm cá nhân ở gallery hay bảo tàng mỹ thuật lớn nhất thế giới sao?”

Trang Nhan bật cười, dường như La Tập đã biến thành một chú nhóc ngốc nghếch rồi vậy, “Thầy giáo La, em vẽ tranh là để cho bản thân xem, chưa từng nghĩ đến những điều anh vừa nói.”

“Được rồi, vậy ít nhất em cũng mơ tưởng về tình yêu rồi chứ?” La Tập không chút do dự nói ra những lời này, “Giờ em đã có điều kiện, có thể đi tìm kiếm nó.”

Vầng tịch dương thu lại ánh sáng trên đỉnh núi tuyết, đôi mắt Trang Nhan hơi tối đi một chút, ánh mắt cũng trở nên dịu dàng, cô khẽ nói: “Thầy giáo La, thứ đó có thể tìm được ư?”

“Vậy cũng phải.” La Tập bình tĩnh trở lại, khẽ gật đầu, “Thế thì, chúng ta làm thế này nhé: không tính toán xa xôi, chỉ nghĩ đến ngày mai thôi, ngày mai ấy, em hiểu không? Ngày mai em muốn đi đâu, làm gì? Ngày mai cần phải như thế nào em mới thấy vui vẻ? Điều này thì thế nào cũng nghĩ ra được chứ.”

Trang Nhan nghiêm túc ngẫm nghĩ một lúc rất lâu, rốt cuộc cũng dè dặt hỏi: “Em mà nói ra, thực sự có thể thực hiện hay sao?”

“Chắc chắn là được, em nói đi.”

“Thế thì, thầy giáo La, anh có thể dẫn em đến bảo tàng Louvre được không?”

Lúc tấm khăn vải che trên mắt Tyler được gỡ xuống, không hề thấy ánh sáng đột ngột nào khiến ông ta phải nheo mắt, chỗ này vốn dĩ rất tối tăm, kỳ thực cho dù có đèn sáng mấy chăng nữa, ở đây vẫn cứ tối, vì ánh sáng sẽ bị vách đá hấp thu hết. Nơi này là một hang núi. Tyler ngửi thấy mùi thuốc, đồng thời quan sát thấy hang núi này được sắp xếp giống như một bệnh viện dá chiến, có rất nhiều hộp bằng hợp kim nhôm đã mở sẵn, bên trong đầy các loại thuốc men được sắp xếp gọn gàng; còn có cả bình dưỡng khí, tủ tiệt trùng bằng tia tử ngoại cỡ nhỏ và một đèn phẫu thuật xách tay, cùng với vài thiết bị y tế trông như máy chụp X quang, và máy tạo nhịp tim loại tiện di chuyển. Tất cả mọi thứ đều giống như vừa mới dỡ ra khỏi thùng, mà cũng đồng thời sẵn sàng đóng thùng mang đi bất cứ lúc nào. Tyler còn trông thấy trên vách đá có treo hai khẩu súng trường tự động, nhưng màu sắc lẫn vào vách đá phía sau, không dễ gì mà nhận ra được. Có một người đàn ông và một phụ nữ mặt mũi hờ hững không chút cảm xúc nào đi lướt qua bên cạnh ông ta, bọn họ không mặc áo blu, nhưng dám chắc chính là bác sĩ và y tá.

Giường bệnh ở sâu bên trong hang núi, toàn bộ đều trắng toát: tấm màn phía sau, tấm chăn phủ lên người lão già nằm trên giường, bộ râu dài của lão già, khăn quấn đầu ông ta, thậm chí là cả gương mặt ông ta, tất cả đều màu trắng, ánh đèn phía trong đó trông như ánh nến, làm ẩn bớt đi một phần sắc trắng ấy, phần còn lại thì bị tô lên quầng sáng vàng yếu ớt, khiến cho cảnh tượng này thoạt trông như một bức tranh sơn dầu cổ điển vẽ chân dung các thánh vậy.

Tyler thầm rủa chính mình, chết tiệt thật, sao mày có thể nghĩ kiểu ấy chứ!

Ông ta đi về phía giường bệnh, gắng sức kìm nén cảm giác đau đớn ở xương hông và mé trong đùi, bắt nhịp bước phải ổn định, mạnh mẽ một cách tôn nghiêm. Ông ta dừng lại trước giường, đứng trước mặt con người mà bao năm nay ông ta và chính phủ của mình ngày đêm mơ tưởng tìm thấy, trong lòng không khỏi dâng lên cảm giác không dám tin đây là sự thực. Ông ta nhìn gương mặt nhợt nhạt của lão già, quả nhiên giống như truyền thông vẫn nói, đây là gương mặt thân thiện nhất thế giới.

Con người thực sự là một thứ kỳ quặc.

“Rất hân hạnh được gặp ông.” Tyler khẽ khom người nói.

“Tôi cũng rất hân hạnh.” Lão già lịch thiệp đáp, không nhúc nhích, giọng ông ta mảnh như sợi tơ, nhưng cũng bền chắc chẳng kém gì tơ nhện, khó lòng bị cắt đứt. Lão già chỉ vào mép giường dưới chân mình, Tyler cẩn thận ngồi xuống đó, ông ta không biết đây có phải là một hành động biểu thị sự thân tình hay không, vì cạnh giường quả thực cũng không có cái ghế nào. Lão già nói: “Đi đường mệt nhọc rồi, lần đầu tiên ông cưỡi la hả?”

“Ô, không, hồi trước đi du lịch ở đại vực Grand Canyon tôi đã cưỡi la một lần rồi.” Tyler nói, nhưng lần đó chân ông ta không bị cọ xát đau như lần này, “Ông vẫn khỏe đấy chứ?”

Lão già chầm chậm lắc đầu, “Hẳn ông cũng nhìn ra rồi, tôi không sống được bao lâu nữa.” Đôi mắt thâm trầm của ông ta đột nhiên ánh lên vẻ ranh mãnh, “Tôi biết ông là một trong những người không mong tôi chết vì bệnh tật nhất trên thế giới này, thật sự rất lấy làm xin lỗi.”

Ý châm biếm trong câu nói sau cùng làm Tyler nhói đau, nhưng điều đó đúng là sự thực. Trước đây, điều mà Tyler sợ nhất chính là người này chết bệnh hoặc chết già. Ngài Bộ trưởng quốc phòng từng cầu nguyện không chỉ một lần rằng, hãy cho tên lửa hành trình hoặc đạn của lực lượng đặc biệt Mỹ bắn trúng người này trước khi ông ta chết một cách tự nhiên, cho dù chỉ trước một phút thôi cũng được! Chết một cách tự nhiên là thắng lợi cuối cùng của lão già này, cũng là thất bại nặng nề của cuộc chiến chống khủng bố, giờ phút này đây, lão già đang đến gần khoảnh khắc huy hoàng đó. Kỳ thực, trước đây cũng không phải là không có cơ hội, một lần, một chiếc máy bay không người lái Predator đã chụp được ảnh láo trong sân một nhà thờ Hồi giáo khuất nẻo giữa vùng núi phía Bắc Afghanistan, chỉ cần điều khiển máy bay đâm thẳng vào là có thể làm nên lịch sử, huống hồ trên máy bay không người lái lúc đó còn mang theo một quả tên lửa Hellfire, nhưng sau khi xác nhận được thân phận của mục tiêu, viên sĩ quan trực ban trẻ tuổi lại không dám tự tiện quyết định, đành phải xin chỉ thị cấp trên, lúc quay lại thì mục tiêu đã biến mất từ đời nào rồi. Lúc bấy giờ, Tyler đang ngủ trên giường bị gọi dậy đã đùng đùng nổi giận, gào thét đập vỡ nát hết cả đống đồ sứ Trung Hoa quý giá bày trong nhà…

Tyler muốn chuyển khỏi chủ đề gượng gạo này, bèn đặt chiếc va li mang theo bên người lên mép giường, “Tôi mang cho ông một món quà nhỏ,” ông ta mở va li, lấy ra một bộ sách bìa cứng, “đây là bản tiếng Ả Rập mới nhất.”

Lão già vươn cánh tay gầy guộc như cành củi khô, gắng sức rút ra tập sách ở dưới cùng: “Ồ, tôi mới chỉ xem ba tập đầu, hồi đó đã nhờ người mua những tập sau rồi, nhưng chẳng lấy đâu ra thời gian đọc, về sau thì đánh mất… đẹp thật đấy, ừm, cám ơn ông, tôi thích lắm.”

“Có truyền thuyết nói rằng ông đặt tên cho tổ chức của mình theo bộ tiểu thuyết này?”

Lão già nhẹ nhàng đặt cuốn sách xuống, khẽ mỉm cười: “Truyền thuyết thì hãy để nó mãi mãi là truyền thuyết đi, các ông có tiền của và khoa học kỹ thuật, chúng tôi thì chỉ có truyền thuyết thôi.”

Tyler cầm cuốn sách lão già vừa đặt xuống kia lên, tựa như một vị mục sư đang cầm Kinh Thánh, nói với lão ta: “Lần này tôi đến đây, là muốn ông trở thành Seldon[36].”

Vẻ hài hước tinh quái ấy lại xuất hiện trong đôi mắt lão già: “Hả? Tôi nên làm gì?”

“Cho tổ chức của ông tiếp tục tồn tại.”

“Đến khi nào?”

“Bốn thế kỷ sau, cho đến trận chiến ngày tận thế.”

“Ông cho rằng điều này có thể sao?”

“Nếu nó không ngừng phát triển thì có thể, hãy cho tinh thần và linh hồn nó thẩm thấu vào quân chủng không gian, đến cuối cùng, tổ chức của ông cũng sẽ trở thành một phần trong không gian quân.”

“Điều gì khiến ông coi trọng nó như thế?” sắc thái chầm biếm trong giọng nói của lão già càng lúc càng thêm rõ rệt.

“Vì nó là lực lượng vũ trang hiếm hoi của nhân loại có thể dùng sinh mạng làm vũ khí tấn công kẻ thù. Ông biết đấy, khoa học cơ bản của loài người đã bị Hạt trí tuệ khóa cứng rồi, do đó, sự tiến bộ của máy tính và trí tuệ nhân tạo cũng chỉ có hạn, trong cuộc chiến tận thế, phi thuyền chiến đấu vẫn phải do con người điều khiển, vũ khí sử dụng sét hòn của Trái đất cần áp sát kẻ địch mới tấn công được, chỉ có đội quân sở hữu tinh thần cảm tử mới làm được điều này!”

“Vậy, trong chuyến đi lần này, ngoài mấy cuốn sách ra, ông còn mang đến cho chúng tôi thứ gì nữa?”

Tyler hưng phấn đứng lên khỏi mép giường: “Vậy phải xem các ông cần thứ gì, chỉ cần giúp tổ chức của ông tiếp tục tồn tại được, tôi có thể cung cấp cho các ông tất cả những gì cần thiết.”

Lão già vẫy tay ra hiệu cho Tyler ngồi xuống: “Tôi thật sự thương hại thay cho ông đấy, bao nhiêu năm rồi, không ngờ ông vẫn không biết chúng tôi thực sự cần gì.”

“Ông có thể nói được không?”

“Vũ khí? Tiền bạc? Không không, thứ đó còn quý báu hơn những cái ấy nhiều, tổ chức có thể tồn tại hoàn toàn không phải vi nó có mục tiêu vĩ đại như Seldon, ông chẳng thể nào khiến một người bình thường có lý trí tin vào và hiến thân cho mục tiêu nào đó được đâu, tổ chức tồn tại được chính là vì nó có thứ đó, nó là không khí, là máu của tổ chức, không có nó, tổ chức sẽ lập tức tiêu vong.”

“Thứ đó là gì vậy?”

“Thù hận.”

Tyler nín lặng.

“Một mặt, vì có kẻ thù chung, thù hận của chúng tôi với phương Tây đã giảm bớt phần nào; mặt khác, người Tam Thể muốn tiêu diệt toàn bộ loài người, cũng bao gồm cả phương Tây mà chúng tôi từng căm hận, đối với chúng tôi, cùng chết một mẻ cũng là một niềm vui, vì vậy chúng tôi cũng chẳng thù hận người Tam Thể.” Láo già xòe hai bàn tay ra, “Ông thấy đấy, lòng căm thù, thứ này là tài sản còn quý giá hơn cả vàng và kim cương, là vũ khí sắc bén nhất trên thế gian này, giờ nó không còn nữa, mà ông cũng không thể cho chúng tôi được, vì vậy, tổ chức này cũng giống như tôi vậy, nó chẳng sống được bao lâu nữa đâu.”

Tyler vẫn không nói được lời nào.

“Còn về Seldon, kế hoạch của ông ta hẳn là cũng không thể nào thành công được.”

Tyler thở dài, ngồi xuống mép giường: “Nói vậy, ông đã đọc phần sau rồi à?”

Lão già ngạc nhiên nhướng mày: “Chưa, tôi thật sự chưa đọc, chỉ nghĩ như vậy thôi. Sao hả, trong sách, kế hoạch Seldon cũng thất bại ư? Nếu đúng vậy thì tác giả quả là một người xuất sắc, tôi còn tưởng ông ấy sẽ viết ra một kết cục hoàn mỹ nữa cơ, xin Allah hãy phù hộ cho ông ấy.”

“Asimov đã chết nhiều năm trước rồi.”

“Mong ông ấy được lên thiên đường, thiên đường nào cũng được… ừm, người cơ trí đều chết thật sớm.”

Trên đường về, hầu hết thời gian Tyler đều không bị bịt mắt, khiến ông ta có cơ hội thưởng thức cảnh sắc núi non cằn cỗi nhưng hiểm trở của Afghanistan, chàng trai trẻ dắt la thậm chí còn tin tưởng đến nỗi treo khẩu súng trường tự động của anh ta trên yên cương, ngay bên cạnh tay Tyler.

“Anh đã giết người bằng khẩu súng này bao giờ chưa?” Tyler hỏi.

Chàng trai trẻ không hiểu, một người lớn tuổi cưỡi la nhưng không mang vũ khí đi bên cạnh trả lời thay anh ta: “Chưa, lâu lắm không đánh trận rồi.”

Chàng trai trẻ vẫn ngẩng đầu lên nhìn Tyler với ánh mắt thắc mắc, anh ta không có râu, vẻ mặt vẫn còn nét trẻ con, ánh mắt trong veo như bầu trời xanh vùng Tây Á.

“Mẹ ơi, con sẽ biến thành đom đóm.”

☆ ☆ ☆

La Tập và Trang Nhan bước qua cổng bảo tàng Louvre lúc mười giờ tối, Kent đề nghị họ tham quan vào ban đêm, như vậy việc bố trí bảo vệ an toàn sẽ tiện hơn.

Thứ đầu tiên đập vào mắt họ là kim tự tháp bằng kính, tòa cung điện hình chữ U đã ngăn lại sự ồn ã của Paris về đêm, kim tự tháp lặng lẽ đứng dưới ánh trăng vằng vặc như nước, trông như thể được đúc bằng bạc trắng.

“Thầy giáo La, anh có cảm giác nó từ ngoài không gian bay đến thế giới này không?” Trang Nhan chỉ vào tòa kim tự tháp, hỏi.

“Ai cũng có cảm giác như thế cả, vả lại em nhìn mà xem, nó chỉ có ba mặt.” La Tập nói xong câu cuối cùng liền hối hận ngay, anh không muốn nói đến chủ đề ấy vào thời điểm này.

“Lúc đầu khi đặt ở đây, nhìn thế nào cũng thấy chướng mắt, nhưng lâu rồi, nó lại trở thành một phần không thể thiếu của nơi này.”

Đây chính là sự dung hợp của hai thế giới vô cùng khác biệt, La Tập nghĩ, nhưng anh không nói ra.

Lúc này, đèn trong kim tự tháp đã được thắp sáng toàn bộ, nó chuyển từ màu bạc dưới ánh trăng thành một sắc màu rực rỡ huy hoàng, đồng thời, vòi phun ở các hồ nước xung quanh cũng khởi động, những cột nước cao vút bắn lên trong ánh đèn và ánh trăng, Trang Nhan kinh hãi đưa mắt nhìn La Tập, hết sức bất an khi cả bảo tàng Louvre thức giấc vì họ ghé thăm. Giữa tiếng nước chảy, họ bước vào đại sảnh bên dưới kim tự tháp, sau đó đi vào cung điện.

Đầu tiên, họ đi vào gian triển lãm lớn nhất của bảo tàng Louvre, dài hai trăm mét, ánh sáng ở đây rất dịu, tiếng bước chân vang vọng trong không gian trống trải. La Tập nhanh chóng nhận ra chỉ có tiếng bước chân của chính anh, Trang Nhan bước đi rất nhẹ, như một chú mèo, không phát ra tiếng động nào. Cô giống như đứa trẻ lần đầu đi vào tòa cung điện thần kỳ trong cổ tích, chỉ sợ đánh thức thứ gì đó đang say ngủ. La Tập thả bước chậm lại, kéo giãn khoảng cách với Trang Nhan, anh không hứng thú gì với các tác phẩm nghệ thuật trưng bày ở đây, mà chỉ muốn thưởng thức cô giữa thế giới nghệ thuật. Các vị thần Hy Lạp, thiên sứ và Đức Mẹ thân hình đầy đặn trong những bức tranh sơn dầu cổ điển cũng cùng anh ngắm nhìn người con gái phương Đông xinh đẹp này từ bốn phương tám hướng. Cô cũng giống như tòa kim tự tháp sáng lóng lánh ngoài kia, chỉ sau một thoáng đã hòa nhập thành một phần của chốn thánh địa nghệ thuật này, không có cô, nơi này chắc chắn sẽ thiếu đi thứ gì đó. La Tập say mê đắm chìm trong ý cảnh như cõi mộng ấy, để mặc thời gian lặng lẽ trôi đi.

Không biết bao lâu sau, Trang Nhan mới nhớ ra sự tồn tại của La Tập, ngoảnh đầu lại nhìn anh mỉm cười, trái tim La Tập rung lên, anh có cảm giác nụ cười ấy tựa như một tia sáng trên đỉnh Olympus trong tranh chiếu xuống cõi trần thế vậy.

“Nghe nói, nếu thưởng thức một cách chuyên nghiệp, phải mất một năm mới xem hết được tất cả mọi thứ ở đây.” La Tập nói.

“Em biết.” Trang Nhan trả lời ngắn gọn, ánh mắt như đang nói: vậy em phải làm sao? Sau đó, cô lại quay người đi tập trung ngắm tranh, lâu như vậy, cô mới chỉ xem đến bức thứ năm.

“Không sao đâu, Nhan Nhan à, anh có thể xem với em cả năm, tối nào cũng đi xem.” La Tập không kim được cảm xúc, buột miệng nói.

Nghe vậy, Trang Nhan lại xoay người nhìn La Tập, có vẻ rất kích động: “Thật không ạ?”

“Thật chứ.”

“Thế…. thầy giáo La, hồi trước anh từng đến đây chưa ạ?”

“Chưa, có điều ba năm trước khi đến Paris, tôi đã đến Trung tâm nghệ thuật Pompidou, tôi còn tưởng em sẽ hứng thú với nơi đó hơn cơ.”

Trang Nhan lắc đầu: “Em không thích nghệ thuật hiện đại.”

“Những thứ này,” La Tập nhìn các vị thần, thiên sứ và Đức Mẹ ở xung quanh, “em không thấy chúng quá cũ kỹ hay sao?

“Cũ quá em cũng không thích, em chỉ thích tranh thời kỳ Phục hưng thôi.”

“Vậy cũng là cũ lắm rồi.”

“Nhưng em thấy không cũ, các họa sĩ khi ấy lần đầu tiên phát hiện ra vẻ đẹp của con người, họ vẽ các vị thần thành những con người rất đẹp, anh nhìn các bức tranh này là cảm nhận được niềm hạnh phúc của họ lúc đang vẽ tranh, cảm giác ấy giống như em lần đầu tiên nhìn thấy hồ và núi tuyết buổi sớm hôm nọ vậy.”

“Hay lắm, có điều, tinh thần nhân văn mà các bậc thầy thời Phục hưng mở lối ấy, giờ lại thành một thứ trở ngại rồi.”

“Ý anh nói là trong nguy cơ Tam Thể này ư?”

“Đúng vậy, chắc chắn em đã nhìn thấy những chuyện mới xảy ra gần đây. Bốn trăm năm sau, thế giới loài người sau thảm họa có thể sẽ thụt lùi về trạng thái thời Trung cổ, nhân tính sẽ một lần nữa bị đè nén cực độ.”

“Vậy nghệ thuật cũng sẽ rơi vào mùa đông và đêm đen, phải không ạ?”

Nhìn ánh mắt ngây thơ của Trang Nhan, La Tập thầm cười khổ… Cô bé ngốc, còn nói chuyện nghệ thuật gì nữa, nếu thực sự có thể sinh tồn, cho dù loài người thụt lùi về đến xã hội nguyên thủy cũng chỉ là một cái giá rất nhỏ. Nhưng anh vẫn cứ nói: “Đến khi ấy, có lẽ sẽ có cuộc phục hưng văn nghệ thứ hai, em có thể phát hiện lại cái đẹp từng bị lãng quên, vẽ lại nó.”

Trang Nhan cười cười, nụ cười pha chút thê lương, hiển nhiên cô đã hiểu được lời an ủi thiện ý của La Tập: “Em chỉ đang nghĩ, sau ngày tận thế, những bức tranh này, những tác phẩm nghệ thuật này sẽ ra sao?”

“Em lo lắng chuyện này sao?” La Tập hỏi, cô gái nhẹ nhàng nói ra hai chữ “tận thế” khiến tim anh đau nhói, nhưng nếu những lời an ủi vừa nói ra khi nãy đã thất bại, vậy lần này anh tin rằng mình có thể thành công, anh cầm tay Trang Nhan nói: “Đi, chúng ta đến khu trưng bày nghệ thuật phương Đông nhé.”

Trước khi làm lối vào ở chỗ tòa kim tự tháp, bảo tàng Louvre là một mê cung lớn, ở bên trong muốn đến một gian sảnh nào có thể sẽ phải đi vòng rất xa, nhưng giờ thì có thể đi thẳng tới các vị trí khác nhau từ đại sảnh kim tự tháp. La Tập và Trang Nhan trở lại đại sảnh ở lối vào, theo biển chỉ dẫn đi vào khu trưng bày nghệ thuật phương Đông, so với khu triển lãm hội họa cổ điển châu Âu, nơi này là một thế giới hoàn toàn khác.

La Tập chỉ vào những tác phẩm điêu khắc, hội họa và các quyển sách cổ từ châu Á và châu Phi, nói: “Đây là những thứ một nền văn minh tiên tiến mang về từ các nền văn minh lạc hậu hơn, có thứ họ cướp về, có thứ họ trộm về hoặc lừa gạt về, nhưng em nhìn thử xem, giờ chúng đều được bảo quản rất tốt. Kể cả trong thời Chiến tranh Thế giới thứ II, những thứ này cũng đều được chuyển đến nơi an toàn.” Họ dừng chân trước một bức bích họa Đôn Hoàng được đặt trong tủ kính bịt kín, “Nhớ lại năm xưa, sau khi Vương Đạo Sĩ tặng những thứ này cho người Pháp, trên mảnh đất ấy của chúng ta đã xảy ra bao nhiêu biến loạn và chiến tranh, nếu những bích họa này vẫn còn ở vị trí ban đầu, em có dám chắc chúng được bảo tồn tốt như vậy không?”

“Nhưng người Tam Thể sẽ bảo tồn di sản văn hóa của nhân loại sao, bọn họ hoàn toàn không coi trọng nền văn minh của chúng ta,” Trang Nhan nói.

“Chỉ vì họ nói chúng ta là sâu bọ? Không phải vậy đâu, Nhan Nhan, em có biết biểu hiện cao nhất của lòng kính trọng đối với một chủng tộc hoặc một nền văn minh là gì không?”

“Là gì ạ?”

“Tận diệt, đây chính là sự trọng thị tối cao đối với một nền văn minh.”

Tiếp sau đó, hai người lặng lẽ đi xuyên qua hai mươi tư gian sảnh của khu vực trưng bày nghệ thuật phương Đông, đi giữa quá khứ xa xăm, tưởng tượng về tương lai tăm tối. Lúc nhận ra mình đang ở đâu thì họ đã đến khu trưng bày nghệ thuật Ai Cập.

“Đứng ở đây, em biết anh nghĩ đến ai không?” La Tập đứng bên cạnh chiếc mặt nạ vàng của pharaoh đặt bên trong tủ kính, muốn tìm một chủ đề thoải mái hơn, “Sophie Marceau.”

“Anh muốn nói đến bộ phim Bóng ma d bảo tàng Louvre ấy ạ? Sophie Marceau thực sự rất xinh đẹp, mà còn rất có nét của phụ nữ phương Đông nữa.”

Không hiểu có phải là ảo giác hay không, La Tập cảm nhận được trong giọng cô thoáng một tia ghen tị và ấm ức.

“Nhan Nhan, cô ấy không đẹp bằng em đâu, thật đấy.” La Tập còn muốn nói, vẻ đẹp của Sophie Marceau có lẽ có thể tìm được trong những tác phẩm nghệ thuật này, nhưng vẻ đẹp của em lại khiến mọi thứ ở đây đều trở nên nhạt nhòa, nhưng anh không muốn tỏ ra quá vồ vập. Anh thấy một nụ cười mỉm ngượng nghịu lướt qua trên gương mặt cô gái tựa áng mây, đây có lẽ là lần đầu tiên anh nhìn thấy cô ngượng.

“Chúng ta quay về xem tranh sơn dầu tiếp đi ạ.” Trang Nhan lí nhí nói.

Họ lại quay trở về đại sảnh kim tự tháp, nhưng quên mất lối vào đầu tiên. La Tập thấy, biển báo nổi bật nhất ở đây là ba món trưng bày quý giá nhất ở Louvre: bức tranh nàng Mona Lisa, tượng Thần Vệ nữ và tượng Thần Chiến thắng.

“Mình đi xem bức Mona Lisa đi.” La Tập đề nghị.

Trong lúc họ đi về hướng ấy, Trang Nhan nói: “Thầy giáo của bọn em bảo, sau khi thầy ấy tham quan bảo tàng Louvre, lại thấy hơi phản cảm với Mona Lisa và Thần Vệ nữ.”

“Tại sao?”

“Du khách toàn chăm chăm xem hai thứ đó, mà không hề thấy hứng thú trước những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại chẳng kém, chỉ là danh tiếng không lớn bằng mà thôi.”

“Anh chính là một thành viên của nhóm người phàm tục ấy đấy.”

Lúc đến trước nụ cười mỉm thần bí đó, La Tập cảm thấy bức tranh này nhỏ hơn nhiều so với tưởng tượng của mình, chẳng những vậy lại còn nằm phía sau lớp kính chống đạn dày khự. Trang Nhan cũng không tỏ ra hào hứng lắm.

“Nhìn cô ấy, em lại nghĩ đến các anh.” Trang Nhan chỉ vào người phụ nữ trong tranh.

“Bọn anh?”

“Người Diện Bích đó ạ.”

“Cô ấy và Người Diện Bích thì có liên quan gì?”

“Ừm, em nghĩ thế này ạ… Chỉ nghĩ thôi, anh đừng cười em nhé… Có thể nào tìm được một cách thức trao đổi thông tin mà chỉ con người với nhau mới hiểu, Hạt trí tuệ vĩnh viễn không thể nào lý giải được, như vậy thì con người có thể thoát khỏi sự giám sát của Hạt trí tuệ rồi.”

La Tập nhìn Trang Nhan ngẫm nghĩ khoảng vài giây, sau đó nhìn chằm chằm vào bức tranh Mona Lisa, nói: “Anh hiểu ý em rồi, Hạt trí tuệ và người Tam Thể mãi mãi sẽ không thể hiểu được nụ cười mỉm của cô ấy.”

“Đúng ạ, nét mặt của con người, đặc biệt là ánh mắt, là thứ phức tạp nhất, vi diệu nhất, một cái nhìn chăm chú, một nụ cười, có thể truyền đạt được bao nhiêu thông tin ấy chứ! Thông tin này chỉ có con người mới hiểu được, chỉ con người mới có sự nhạy cảm đó mà thôi.”

“Phải, một trong các nan đề lớn nhất của trí tuệ nhân tạo chính là nhận biết được nét mặt và ánh mắt của con người, thậm chí có vị chuyên gia còn nói rằng, có thể máy tính sẽ không bao giờ nhận biết và phần biệt nổi ánh mắt của con người.”

“Thế liệu có thể tạo ra một loại ngôn ngữ biểu cảm, dùng nét mặt và ánh mắt để nói chuyện với nhau không ạ?”

La Tập ngẫm nghĩ một cách nghiêm túc, rồi cười cười lắc đầu, chỉ vào bức tranh Mona Lisa nói: “Vẻ mặt của cô ấy, chính bản thân chúng ta cũng không lý giải nổi… lúc anh chăm chú nhìn cô ấy, ẩn ý của nụ cười đó cứ biến đổi mỗi giây một lần, vả lại còn không bao giờ trùng lặp nữa.”

Trang Nhan vui vẻ nhảy cẫng lên như đứa bé: “Thế chẳng phải đã chứng tỏ rằng nét mặt có thể truyền đạt rất nhiều thông tin phức tạp ư?”

“Vậy thì, một thông tin thế này: tàu vũ trụ xuất phát từ Trái đất, đích đến là Sao Mộc. Em định diễn đạt bằng nét mặt như thế nào?”

“Lúc mới bắt đầu nói chuyện, người nguyên thủy chắc chắn cũng chỉ có thể biểu đạt những ý rất đơn giản, có khi còn chẳng phức tạp bằng tiếng chim hót ấy chứ, ngôn ngữ về sau này mới dần trở nên phức tạp!”

“Vậy… Chúng ta thử dùng nét mặt để diễn đạt một ý đơn giản nhé?”

“Vâng!” Trang Nhan hưng phấn gật đầu, “Vậy thế này nhé, mỗi người chúng ta hãy nghĩ ra một thông tin, sau đó truyền đạt cho nhau?”

La Tập ngập ngừng giây lát: “Anh nghĩ xong rồi.”

Trang Nhan lại nghĩ ngợi rất lâu, sau đó mới gật đầu, “Vậy chúng ta bắt đầu nhé.”

Hai người họ chăm chú nhìn nhau, chỉ giữ được chưa đến nửa phút là gần như cùng lúc cười phá lên.

“Thông tin của anh là: đêm nay anh muốn mời em ra đại lộ Champs-Élysées ăn khuya.” La Tập nói.

Trang Nhan cũng cười đến gập cả người lại: “Thông tin của em là: anh… anh nên cạo râu đi!”

“Đây là chuyện đại sự can hệ đến vận mệnh của cả nhân loại, chúng ta cần phải nghiêm túc mới được.” La Tập cố nhịn cười nói.

“Lần này không ai được cười trước đâu đấy!” Trang Nhan nói, trịnh trọng như thể một đứa trẻ con đang xác định lại quy tắc của trò chơi.

Họ đứng xoay lưng vào nhau, mỗi người lại nghĩ ra một mẩu thông tin khác, sau đó quay lại nhìn chằm chằm vào nhau lần nữa. Thoạt đầu, La Tập lại có cảm giác run rẩy muốn bật cười, anh cố gắng kiềm chế, nhưng chỉ thoáng sau, cảm giác đè nén ấy trở nên thoải mái dễ chịu, bởi ánh mắt trong veo của Trang Nhan một lần nữa khiến trái tim anh rung lên.

Người Diện Bích và cô thiếu nữ cứ vậy nhìn nhau đăm đăm, trong bảo tàng Louvre giữa đêm thâu, trước nụ cười của nàng Mona Lisa.

Con đê chắn ngang tâm hồn La Tập rỉ ra một dòng nước nhỏ róc rách, dòng nước này xối qua bờ đê, vết nứt nhỏ xíu dần dần mở rộng, dòng nước cũng trở nên càng lúc càng xối xiết, La Tập cảm thấy sợ hãi, anh ra sức bịt vết nứt trên con đê lại, nhưng không sao làm được, đê vỡ là điều không thể tránh khỏi.

Lúc này, La Tập có cảm giác mình đang đứng trên vách đá dựng đứng cao hàng nghìn mét, đôi mắt của cô gái trẻ chính là vực sâu mênh mang bên dưới, phía trên là một biển mây trắng tinh khiết, ánh mặt trời rải xuống từ khắp bốn phương tám hướng, biển mây trở nên rực rỡ muôn màu, cuồn cuộn vô cùng vô tận. La Tập cảm thấy mình đang trượt xuống, rất chậm, rất chậm, nhưng sức anh lại không đủ ngăn trở. Anh hoảng loạn khua khoắng tay chân, muốn tìm một chỗ bám, song bên dưới lại trơn nhẵn như mặt băng. Anh trượt xuống càng lúc càng nhanh, cuối cùng bắt đầu rơi xuống vực sâu trong một cơn choáng váng cuồng loạn, trong nháy mắt, niềm hạnh phúc được rơi xuống đã biến thành nỗi đau đớn tột cùng.

Mona Lisa đang biến hình, vách tường cũng đang biến dạng, tựa như băng đang tan chảy. Bảo tàng Louvre đã sụp đổ, những khối đá, khối gạch đang rơi xuống giữa chừng biến thành dung nham đỏ lòa, dòng dung nham chảy xuyên qua thân thể bọn họ, không ngờ lại mát lạnh như nước suối. Hai người họ cũng rơi xuống cùng với bảo tàng Louvre, xuyên qua đại lục châu Âu đang tan chảy, rơi xuống tâm Trái đất. Lúc đi xuyên qua tâm Trái đất, hành tinh liền nổ tung ra tứ phía, biến thành một ngọn lửa rực rỡ trong vũ trụ; ngọn lửa tắt rụi, không gian trong nháy mắt trở nên trong vắt như pha lê, tinh tú dùng những tia sáng óng ánh dệt thành một tấm thảm khổng lồ màu bạc, vô vàn các vì sao rung lên, tấu nên khúc nhạc tuyệt trần; biển sao trở nên dày đặc, như thể thủy triều dâng, vũ trụ đang teo nhỏ, co rút về phía họ… Cuối cùng, tất thảy đều bị nhấn chìm trong ánh sáng sáng thế của tình yêu.

“Cần phải quan sát thế giới Tam Thể ngay lập tức!” Tướng Fitzroy nói với tiến sĩ Ringier, họ đang ở trong phòng điều khiển của kính viễn vọng không gian Hubble 2, một tuần trước, kính thiên văn này rốt cuộc cũng đã hoàn thành lắp ráp.

“Tướng quân, có lẽ không được.”

“Tôi nghi ngờ các quan trắc hiện nay là đám thiên văn các ông đang lợi dụng việc công để làm chuyện riêng.”

“Nếu làm được chuyện riêng thì tôi đã làm từ lâu rồi, Hubble 2 hiện vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm.”

“Các ông đang làm việc cho quấn đội, chỉ cần chấp hành mệnh lệnh.”

“Ở đây ngoài ông ra chẳng có ai là quân nhân cả, chúng tôi chỉ thực hiện kế hoạch thử nghiệm của NASA thôi.”

“Tiến sĩ, các ông không thể lấy đó làm mục tiêu thử nghiệm luôn được sao?” Giọng điệu của Fitzroy đã mềm mỏng đi đôi phần.

“Mục tiêu thử nghiệm đã được lựa chọn nghiêm ngặt, bảo đảm đủ các khoảng cách và độ sáng khác nhau, kế hoạch thử nghiệm được xác định sao cho tiết kiệm nhất, để cho kính viễn vọng chỉ cần xoay một vòng là có thể hoàn thành toàn bộ các thử nghiệm, mà bây giờ muốn quan sát thế giới Tam Thể, thì phải chỉnh hướng ngắm đã xoay gần 30 độ trở lại chỗ cũ. Tướng Fitzroy, muốn xoay cái của nợ này phải hao phí thuốc phóng, chúng tôi đang tiết kiệm tiền cho quân đội đấy.”

“Vậy thì phải xem các ông tiết kiệm kiểu gì, tôi vừa mới phát hiện ra thứ này trong máy tính của các ông đây.” Fitzroy nói, đưa bàn tay vẫn chắp sau lưng ra phía trước, trong tay ông ta cầm một tờ giấy, đó là một bức ảnh được in ra từ máy tính, từ trên cao chụp xuống, có một đám người đang hưng phấn ngước nhìn lên, có thể dễ dàng nhận ra họ chính là đám người đang ở trong phòng điều khiển lúc này, Ringier đứng chính giữa, còn có ba người phụ nữ đang ưỡn ẹo tạo dáng, có thể là bạn gái của ba người trong số bọn họ. Đám người trong ảnh hiển nhiên là đang đứng trên nóc phòng điều khiển, ảnh chụp rất rõ nét, trông như thể từ độ cao mười mấy mét chụp xuống vậy, khác với các tấm ảnh thông thường, trên tấm ảnh này còn in chồng lên một đống các tham số phức tạp. “Tiến sĩ, chỗ các người đứng đã là điểm cao nhất trên nóc tòa nhà rồi, chỗ đó không phải có gắn cẩu quay phim đấy chứ? Nếu nói cho Hubble 2 xoay 30 độ tốn tiền, vậy thì các ông cho nó xoay 360 độ phải tốn bao nhiêu? Huống hồ, khoản đầu tư hơn chục tỷ đô này hình như không phải dùng để các ông chụp hình với bạn gái từ trên vũ trụ đâu, có muốn tôi tính khoản tiền này vào hóa đơn của các ông hay không hả?”

“Tướng quân, mệnh lệnh của ông đương nhiên là cần phải chấp hành.” Ringier vội vàng nói, các kỹ sư cũng lập tức cuống cuồng thực hiện.

Các thông số tọa độ trong cơ sở dữ liệu nhanh chóng được tra ra, trong không gian, khối hình trụ đường kính hơn hai chục mét dài hơn trăm mét bắt đầu chầm chậm chuyển động, trên màn hình lớn trong phòng điều khiển, hình ảnh bầu trời sao bắt đầu dịch chuyển theo phương ngang.

“Đây chính là thứ kính viễn vọng quan sát được hả?” Fitzroy hỏi.

“Không, đây chỉ là hình ảnh mà hệ thống định vị truyền về thôi, kính viễn vọng truyền về ảnh tĩnh, phải xử lý rồi mới xem được.”

Năm phút sau, bầu trời trên màn hình ngừng dịch chuyển, hệ thống điều khiển báo cáo đã hoàn thành định vị. Năm phút nữa trôi qua, Ringier nói: “Được rồi, cho trở lại vị trí thử nghiệm ban đầu đi.”

Fitzroy kinh ngạc hỏi: “Sao hả, đã xong rồi à?”

“Đúng vậy, bây giờ hình ảnh quan trắc đang được chuyển qua xử lý.”

“Không chụp thêm vài tấm được à?”

“Tướng quân, đã chụp 210 tấm ảnh ở các tiêu cự khác nhau rồi.” Lúc này, tấm ảnh quan trắc đầu tiên đã được xử lý xong, Ringier chỉ vào màn hình nói, “Tướng quân, nhìn đi, đây chính là thế giới của kẻ thù mà ngài khát khao được nhìn thấy đó.”

Fitzroy chỉ thấy trên nền đen kịt có ba quầng sáng rất mờ nhạt, trông như ánh đèn đường trong đêm sương mù, đây chính là ba ngôi sao quyết định vận mệnh của cả hai nền văn minh.

“Xem ra đúng là không thể trông thấy hành tinh được rồi.” Fitzroy không giấu nổi thất vọng.

“Tất nhiên là không thể, kể cả sau này lắp đặt xong Hubble 3 có đường kính cả trăm mét, cũng chỉ có thể quan trắc được khi hành tinh Tam Thể chuyển động đến một số ít vị trí nhất định mà thôi, vả lại cũng chỉ thấy có một điểm, không thấy chi tiết gì cả đâu.”

“Nhưng đúng là vẫn còn thứ gì đó khác mà, tiến sĩ, ông xem đây là cái gì vậy?” Một kỹ sư chỉ lên khu vực gần ba quầng sáng trên tấm ảnh, nói.

Fitzroy nhích lại gần xem xét, nhưng không thấy gì cả, thứ đó quá tối, chỉ có những người chuyên nghiệp mới phát giác ra được.

“Đường kính của nó còn lớn hơn cả ngôi sao nữa.” Tay kỹ sư nói.

“Bảo là đường kính cũng không chuẩn xác, nó có hình dạng bất quy tắc thì phải.” Ringier nói.

Khu vực đó được phóng to liên tục, cho đến khi vật ấy chiếm trọn cả màn hình.

“Cái bàn chải!” Fitzroy kinh ngạc thốt lên.

Người tay mơ bao giờ cũng giỏi đặt tên cho các đối tượng chuyên môn, mà kỳ thực, các chuyên gia khi đặt tên cũng đứng từ góc độ của người ngoài nghề, cái danh xưng “bàn chải” này đã ấn định bằng cách ấy. Fitzroy miêu tả rất chuẩn xác, đó chính là một cái bàn chải trong vũ trụ, nói chính xác hờn thì chỉ có lông bàn chải chứ không thấy cán. Tất nhiên, cũng có thể coi nó như một bộ tóc bù xù dựng ngược lên.

“Đó là vết rạn trên mặt ghép! Ngay từ giai đoạn nghiên cứu tính khả thi tôi đã nói rồi, cách thức ghép nối các tấm kính với nhau tất nhiên sẽ xảy ra vấn đề.” Ringier lắc đầu nói.

“Tất cả các mặt ghép đều đã được kiểm nghiệm khắt khe, không thể nào có vết rạn như thế này được, cũng không thể nào là những tì vết khác trên mặt kính, trong mấy chục nghìn bức ảnh quan trắc đã truyền về trước đó, chưa từng xuất hiện thứ này bao giờ.” Chuyên gia của công ty chế tạo mặt kính Carl Zeiss lên tiếng.

Phòng điều khiển chìm vào yên lặng, tất cả đều tập trung lại nhìn chằm chằm vào bức ảnh đó, vì có quá nhiều người chen chúc, một số người đã ra máy tính khác mở tấm ảnh ra xem xét kỹ hơn. Fitzroy cảm nhận được bầu không khí thay đổi rõ rệt, đám người đang uể oải vì mệt mỏi sau quá trình thử nghiệm kéo dài cùng lúc trở nên căng thẳng, đờ người ra như thể bị trúng phải lời nguyền nào đó, chỉ có đôi mắt là càng lúc càng sáng lên.

“Trời đất ơi…” Gần như cùng lúc có mấy người thốt lên kinh ngạc.

Một đám người như bị đóng đinh ở đó đột nhiên trở nên hưng phấn, nhốn nháo, đối với Fitzroy, những đoạn đối thoại về sau của họ đã có phần hơi quá chuyên nghiệp.

“Là vị trí của đám mây bụi xung quanh mục tiêu nhỉ, kiểm tra xem sao…”

“Không cần, tôi đã từng thực hiện mục ấy rồi, quan trắc sự hấp thụ chuyển động nền của nhánh xoắn ốc, phát hiện đỉnh hấp thụ là hai trăm mi li mét, có thể là vi hạt carbon, mật độ F.”

“Các vị thấy sao về tác động của xung kích ở tốc độ cao trong trường hợp này?”

“Vệt đuôi khuếch tán ra theo trục xung kích là điều có thể khẳng định, nhưng phạm vi khuếch tán… Có mô hình toán học không?”

“Có, đợi chút… đây rồi, tốc độ xung kích?”

“Một trăm lần vận tốc vũ trụ cấp 3.”

“Đã cao thế rồi cơ à?”

“Thế là đã hơi giảm đi rồi đấy… tiết diện xung kích thì theo… đúng rồi, đúng rồi, thế là gần được rồi đấy, chỉ tính toán đại khái một chút thôi.”

Trong lúc các nhà khoa học đang bận rộn, Ringier nói với Fitzroy đang đứng bên cạnh, “Tướng quân, ngài có thể làm một số việc trong khả năng của mình, ví dụ như đếm xem trên bàn chải ấy có bao nhiêu sợi lông?”

Fitzroy gật đầu, cúi gập người xuống trước một màn hình máy tính bắt đầu đếm.

Mỗi lần tính toán đều mất bốn năm phút, trong đó lại còn có mấy lần sai sót, nửa tiếng sau mới có kết quả.

“Đường kính khuếch tán lớn nhất của vệt đuôi khoảng 240.000 km, bằng hai lần đường kính Sao Mộc rồi.” Nhà thiên văn học đang tính toán mô hình toán học nói.

“Thế là đúng rồi.” Ringier khoanh hai cánh tay lại ngước nhìn lên trần nhà, tựa hồ đang nhìn xuyên qua đó lên bầu trời sao xa thẳm, “Tất cả đều đã được chứng thực!” Lúc nói câu này, giọng ông ta hơi run lên, sau đó, lại lẩm bẩm như thể tự nói với chính mình: “Chứng thực cũng tốt, có gì không ổn đâu chứ?”

Phòng điều khiển lại rơi vào im lặng, lần này bầu không khí còn có vẻ ngột ngạt nặng nề. Fitzroy muốn hỏi, nhưng thấy bộ dạng cúi đầu nghiêm túc của bọn họ, lại không tiện mở miệng. Một lúc lâu sau, ông ta mới nghe thấy tiếng nấc nghẹn khe khẽ, trông thấy một người trẻ tuổi đang ôm mặt khóc nức nở.

“Được rồi, Harris, ở đây không chỉ có mỗi cậu là người theo chủ nghĩa hoài nghi đâu, trong lòng tất cả mọi người đều chẳng dễ chịu gì.” Có người lên tiếng.

Người trẻ tuổi tên Harris ngước đôi mắt đẫm lệ: “Tôi biết hoài nghi chỉ là một dạng an ủi mà thôi, nhưng tôi muốn sống nốt cuộc đời này trong niềm an ủi ấy… Chúa ơi, cả một chút may mắn này chúng ta cũng không có nữa rồi.”

Sau đó, lại là im lặng bao trùm.

Ringier rốt cuộc cũng chú ý đến Fitzroy: “Tướng quân, tôi giải thích qua một chút nhé: xung quanh ba ngôi sao kia có một mảng bụi, trước đó đã có một nhóm vật thể chuyển động với vận tốc cao xuyên qua đám bụi này, lực xung kích của chúng đã để lại trong đám bụi một vệt đuôi, vệt đuôi này không ngừng mở rộng, hiện giờ đường kính mặt cắt của nó đã mở rộng đến bằng gấp đôi Sao Mộc rồi, vệt đuôi và đám bụi xung quanh chỉ có khác biệt rất nhỏ, vì vậy ở gần không thể nhìn thấy được, chỉ ở vị trí cách bốn năm ánh sáng như chúng ta đây, mới có thể quan sát thấy nó.”

“Tôi đếm rồi, có khoảng một nghìn sợi.” Fitzroy trả lời.

“Tất nhiên, chắc chắn là con số này, tướng quân, chúng ta đã nhìn thấy hạm đội Tam Thể rồi.”

Phát hiện của kính thiên văn vũ trụ Hubble 2 rốt cuộc đã xác nhận cuộc xâm lăng của người Tam Thể, cũng dập tắt luôn ảo tưởng cuối cùng của loài người.

Sau một phen tuyệt vọng, hoảng sợ và hoang mang, loài người thực sự bước vào cuộc sống đổi diện với mối nguy Tam Thể. Thời đại khó khăn đã bắt đầu, bánh xe lịch sử sau khi tròng trành vì phải chuyển hướng, bắt đầu tiến lên theo quỹ đạo mới.

Trong thế giới đang xảy ra những biến đổi to lớn này, duy chỉ có tốc độ dòng chảy thời gian là không thay đổi, thấm thoát, năm năm đã trôi qua.

[24] Vận tốc vũ trụ cấp 3 là giá trị tối thiểu để vật phóng từ Trái đất thoát ra khỏi trường hấp dẫn của Mặt trời.

[25] Đám mây Oort là một vật thể giả định, một đám mây bụi khí, sao chổi và thạch khổng lồ bao quanh Hệ Mặt trời ở khoảng cách từ 2000 đến 20000 đơn vị thiên văn. Theo giả thuyết, đám mây Oort nằm ngoài nhật quyển (phạm vi ảnh hưởng của Mặt trời) và nằm trong không gian liên sao, có thể coi là rào chắn cuối cùng để bước vào Hệ Mặt trời.

[26] Môi chất công tác là chất trung gian để thực hiện quá trình chuyển hóa từ nhiệt năng sang cơ năng ở động cơ đốt trong, bao gồm chất oxy hóa như không khí hoặc oxy (trong những trường hợp đặc biệt), nhiên liệu sản xuất và sản vật cháy.

[27] Động cơ nhiệt hạch có môi chất công tác tương tự như tên lửa hóa học, dùng năng lượng từ phản ứng nhiệt hạch để thúc đẩy môi chất công tác có khối lượng, sinh ra lực đẩy để đưa tàu vũ trụ tiến lên; động cơ nhiệt hạch không môi chất công tác thì trực tiếp dùng năng lượng bức xạ của phản ứng nhiệt hạch để đẩy tàu vũ trụ. Loại đầu tiên, tàu vũ trụ cần phải mang theo môi chất đẩy, lúc tăng tốc hoặc giảm tốc khi di chuyển khoảng cách xa trong thời gian dài, lượng môi chất cần thiết là vô cùng lớn, vì vậy động cơ dạng có môi chất công tác không thề dùng trong viễn trình liên sao. (Chú thích của bản tiếng Trung.)

[28] Julius Robert Oppenheimer (1904-1967): Nhà vật lý lý thuyết người Mỹ, giáo sư Đại học California tại Berkeley. Là lãnh đạo thời chiến của Phòng thí nghiệm Los Alamos, ông là một trong số những “cha đẻ của bom nguyên tử” với vai trò trong Dự án Manhattan, dự án thời Chiến tranh Thế giới thứ II phát triển các vũ khí hạt nhân đầu tiên.

[29] Enrico Fermi (1901-1954): Nhà vật lý lý thuyết và thực nghiệm người Ý, với nghiên cứu về lò Chicago Pile-1, lò phản ứng hạt nhân do con người xây dựng đầu tiên trên thế giới, và nổi tiếng với những công trình đóng góp cho cơ học lượng tử, vật lý hạt nhân, vật lý hạt, cơ học thống kê. Cùng với Robert Oppenheimer, ông được coi là một trong những “cha đẻ của bom nguyên tử”, ông có một số bằng sáng chế liên quan đến năng lượng hạt nhân, và nhận giải Nobel Vật lý năm 1938 cho lý thuyết phóng xạ cảm ứng và phát hiện ra các nguyên tố siêu urani.

[30] Đây là một khái niệm hư cấu tác giả nghĩ ra để giải thích về hiện tượng sét hòn trong tiểu thuyết Sét hòn xuất bản năm 2005.

[31] Là tổ chức vũ trang phòng thủ Nhật Bản, đến năm 2007 mới nâng cấp thành Bộ quốc phòng Nhật Bản.

[32] Ginga Eiyū Densetsu, là bộ tiểu thuyết khoa học viễn tường nổi tiếng của tác giả Yoshiki Tanaka, Yang Wen-li (Dương Uy Lợi) là một nhân vật chính trong tiểu thuyết này.

[33] Donald Rumsfeld, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ thời Tổng thống Gerald Ford từ năm 1975 đến 1977 và lần nữa giữ chức này thời George W. Bush từ năm 2001 đến 2006.

[34] Trang Nghiêm và Trang Nhan trong tiếng Trung đồng âm, La Tập nghe nhầm.

[35] Tức tranh thủy mặc.

[36] Nhân vật chính trong series tiểu thuyết khoa học viễn tưởng kinh điển Foundation (tạm dịch: Cơ sở) của nhà văn Mỹ Isaac Asimov. Al-Qaeda trong tiếng Ả Rập cũng có nghĩa là “cơ sở”.

[37] Mặt phẳng hoàng đạo là mặt phẳng quỹ đạo của Trái đất quay quanh Mặt trời. Đa số các hành tinh trong Hệ Mặt trời đều có quỹ đạo nằm gần mặt phẳng này.

« Lùi
Tiến »