Tàn Thế

Lượt đọc: 1172 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TẠO ĐOẠN I

MÙA THU NĂM 1944

CHIẾC XE BÒ XÓC NẢY trên đất đá và bãi cỏ xỉn màu, ngoan cố lăn bánh qua vùng đồng quê. Bò là súc vật kéo dễ bảo vì phần lớn đã bị thiến, những cái đuôi tết bím mảnh dẻ đung đưa nhịp nhàng như những con lắc.

Đôi tay người đánh xe mang găng da, nắm chặt sợi dây cương. Người đàn ông ngồi cạnh ông ta, vị hành khách, mặc áo choàng dài màu đen che phủ chiếc quần đen. Trên cổ anh là tràng hạt dài của một linh mục người Ba Lan.

Nhưng chàng trai mặc áo thánh này không phải linh mục. Anh thậm chí còn không phải tín đồ Công giáo.

Anh là một người Do Thái đang giả trang.

Một chiếc ô tô tiến tới từ đằng sau. Nó chạy lên ngang hàng với họ trên con đường mòn, một chiếc xe quân sự chở lính Nga, sau đó vượt lên từ phía bên trái họ. Người đánh xe không vẫy tay, thậm chí chẳng quay đầu nhìn mà chỉ chọc cây gậy dài vào đàn bò vừa phải đi chậm lại trong lúc họ xuyên qua đám khói xả từ động cơ diesel. "Có đi nhanh đến đâu cũng không quan trọng," ông ta nói khi khói bụi đã tan. "Xét cho cùng, tất cả chúng ta đều tới cùng một đích, Cha nhỉ?"

Abraham Setrakian không trả lời. Vì anh không chắc điều ông ta nói có còn đúng hay không.

Tấm băng gạc dày cộm Setrakian quấn quanh cổ chỉ là một mánh lừa. Anh đã học hiểu được kha khá tiếng Ba Lan, nhưng không nói lưu loát đủ để qua mặt chúng.

"Chúng đã đánh Cha," người đánh xe bò nói. "Làm Cha gãy tay."

Setrakian nhìn đôi bàn tay trẻ trung sứt sẹo của mình. Những khớp ngón tay dập nát đã lành lại không đúng cách trong thời gian anh trốn chạy. Một bác sĩ phẫu thuật địa phương đã thương tình nắn ghép lại các khớp giữa, giảm bớt việc các xương nghiến lên nhau. Giờ anh đã phần nào cử động được tay, nhiều hơn mức anh có thể mong đợi. Bác sĩ nói các khớp xương của anh sẽ càng ngày càng tệ khi về già. Setrakian co duỗi tay suốt cả ngày, cho đến khi anh không còn thấy đau nữa, với mục đích gia tăng độ linh hoạt của chúng. Chiến tranh đã phủ bóng đen lên hy vọng được sống thọ và hữu ích của bất kỳ người nào, nhưng Setrakian đã quyết định rằng dù còn lại bao nhiêu thời gian, anh cũng sẽ không bao giờ để bản thân bị coi là tàn tật.

Trong chuyến quay trở lại, anh không nhận ra vùng quê này - nhưng làm sao anh nhận ra được chứ? Anh đã đến nơi này trong một đoàn tàu đóng kín, không cửa sổ. Anh chưa từng rời trại cho đến tận cuộc nổi dậy, rồi sau đó - trên đường chạy trốn, thì cứ tiến mãi vào sâu trong rừng. Bây giờ, anh đưa mắt tìm đường ray tàu hỏa, nhưng rõ ràng nó đã bị dỡ đi. Tuy nhiên, con đường tàu chạy qua vẫn còn nguyên, vết tích lồ lộ của nó chạy xuyên qua khu đất trang trại. Quãng thời gian một năm không đủ dài để thiên nhiên lấp vùi những vết tích của tội ác.

Setrakian leo xuống xe ở gần ngã rẽ cuối, cùng lời chúc phúc dành cho người đánh xe nhà quê. "Cha đừng lưu lại đây lâu," người đánh xe nói trước khi vụt roi cho đàn bò đi tiếp. "Nơi này đã bị phủ vải liệm rồi."

Setrakian nhìn đàn súc vật của ông ta thong thả rời đi, rồi anh đi lên con đường mòn. Anh đến một ngôi nhà gạch giản dị nằm cạnh một cánh đồng rậm rạp được vài người làm công chăm sóc. Trại hủy diệt có tên Treblinka đã được dựng tạm lên. Nó bị coi là một lò sát nhân tạm thời, được xây dựng sao cho đạt hiệu quả cao nhất và theo dự định sẽ biến mất hoàn toàn khi mục đích của nó đã được thực hiện. Không ai bị xăm số lên tay như ở trại Auschwitz; có rất ít công việc giấy tờ bất kể thuộc dạng nào. Trại được ngụy trang thành một ga tàu hỏa với một cửa sổ bán vé giả, một cái tên ga giả ("Obermajdan") và một danh sách ga tàu tiếp nối giả. Các kiến trúc sư của những trại tử thần thuộc Chiến dịch Reinhard đã lên kế hoạch cho một tội ác diệt chủng hoàn hảo.

Ngay sau cuộc nổi dậy của tù nhân, trại Treblinka quả nhiên đã bị tháo dỡ, bị phá hủy vào mùa thu năm 1943. Mảnh đất được cày xới và một nông trại được dựng lên ở ngay đó với mục đích ngăn dân địa phương xâm nhập và đào bới. Căn nhà trang trại được xây bằng số gạch lấy từ những phòng hơi ngạt cũ, và một cựu lính gác người Ukraina tên Strebel cùng gia đình được điều đến đây ở. Các nhân viên trại tập trung người Ukraina nguyên là các tù binh Xô Viết bị cưỡng ép. Công việc ở trại - đồ sát - đã tác động đến tất cả bọn họ. Setrakian từng tận mắt chứng kiến chính những cựu tù binh này - đặc biệt là những người Ukraina gốc Đức được trao cho những trọng trách lớn hơn, chẳng hạn như chỉ huy các tổ lính hay trung đội - không chống lại nổi sự thối nát của trại tử thần cùng những cơ hội bạo hành và kiếm chác cho bản thân mà nó mang lại.

Người đàn ông Strebel này, chỉ dựa vào một cái tên thì Setrakian không thể nào nhớ được mặt hắn, nhưng anh nhớ rất rõ những bộ đồng phục màu đen của người Ukraina, cũng như những khẩu súng carbine - và sự tàn ác - của chúng. Setrakian nghe nói Strebel cùng gia đình chỉ vừa mới rời mảnh đất này, chạy trốn Hồng Quân đang trên đường tới. Nhưng Setrakian, với vai trò linh mục của một vùng quê cách đây tầm sáu mươi dặm, cũng được rỉ tai những câu chuyện mô tả một bệnh dịch hiểm ác đã lan khắp khu vực xung quanh trại tử thần cũ. Người ta đồn rằng gia đình Strebel đã biến mất vào một đêm nọ mà không để lại một lời nào, cũng không mang theo bất cứ tài sản gì.

Chính câu chuyện cuối cùng này đã kích thích trí tò mò của Setrakian nhiều nhất.

Anh đã bắt đầu hoài nghi rằng mình đã phần nào, nếu không phải là hoàn toàn hóa điên bên trong trại tử thần. Có thật là anh đã chứng kiến chuyện anh vẫn nghĩ là mình đã chứng kiến không? Hay con ma cà rồng khổng lồ ăn thịt tù nhân Do Thái này chỉ là một thứ do anh tưởng tượng ra, một cơ chế đối phó, một con quái vật đại diện cho sự tàn bạo của Đức Quốc xã mà tâm trí anh không thể nào chấp nhận?

Chỉ đến bây giờ anh mới đủ mạnh mẽ để đi tìm câu trả lời. Anh đi qua căn nhà gạch, bước giữa những người làm công đang canh tác trên cánh đồng - chỉ để phát hiện ra rằng họ không phải người làm công mà là dân địa phương mang theo dụng cụ đào bới từ nhà để lật tung đất đá, tìm kiếm vàng và nữ trang Do Thái đã bị mất trong cuộc thảm sát. Nhưng tất cả những gì họ đào được là dây kẽm gai và thỉnh thoảng là những khúc xương người.

Họ nhìn anh với vẻ ngờ vực, như thể có một quy tắc hành xử riêng cho những kẻ hôi của, chưa nói tới những khu vực còn mập mờ chưa định rõ quyền khai thác thuộc về ai. Đến cả chiếc áo thánh của anh cũng không khiến họ đào chậm lại hay bị nhụt chí. Có thể vài người đã chậm tay lại và cụp mắt xuống - nhưng không hẳn do xấu hổ mà là đang tỏ thái độ của người biết điều - rồi chờ anh đi tiếp trước khi quay lại với công việc trộm mộ của mình.

Setrakian tiếp tục bước ra xa khu trại cũ, rời khỏi đường ranh giới của nó và lần theo con đường bỏ trốn cũ vào trong rừng. Sau vài lần rẽ sai, anh đến một tàn tích La Mã cổ, chẳng hề thay đổi trong mắt anh. Anh tiến vào cái hang, nơi anh đã đối mặt và tiêu diệt gã phát xít Zimmer, nơi anh đã bị gãy tay và đủ thứ khác - nơi anh đã kéo sinh vật đó ra ánh sáng ban ngày và chứng kiến nó bị nướng dưới mặt trời.

Khi nhìn quanh lòng hang, anh nhận ra một điều. Những vết cào trên sàn, con đường mòn bên trong lối vào: dấu hiệu trong hang cho thấy gần đây có kẻ cư trú.

Setrakian vội bỏ ra ngoài và cảm thấy ngực thắt lại trong lúc anh đứng trước cái tàn tích hôi hám đó. Anh cảm nhận được sự hiện diện của cái ác trong khu vực này. Mặt trời đang lặn dần ở phía Tây, bóng tối chẳng bao lâu sẽ chiếm lấy cả vùng.

Setrakian nhắm mắt lại như linh mục đang cầu nguyện. Nhưng anh không thỉnh cầu một đấng tối cao nào cả. Anh chỉ đang trấn tĩnh bản thân, đẩy lùi nỗi sợ và chấp nhận nhiệm vụ đã xuất hiện trước mặt.

Đến khi anh trở về căn nhà trang trại, đám dân địa phương đã về nhà hết, cánh đồng giờ tĩnh lặng và xám xịt như bãi tha ma.

Setrakian vào trong nhà. Anh ngó nghiêng một chút, đủ để đảm bảo anh thực sự ở đó một mình. Trong phòng khách, anh được một phen chết điếng. Trên cái bàn đọc nhỏ cạnh chiếc ghế đẹp nhất phòng, một cái tẩu gỗ chạm khắc tinh xảo được đặt nằm nghiêng. Setrakian với lấy cái tẩu, đặt nó vào giữa những ngón tay khòng khoèo của mình - và ngay lập tức hiểu ra.

Món đồ thủ công này chắc chắn là do anh làm ra. Anh đã làm bốn cái, chạm khắc chúng theo lệnh của một đại úy người Ukraina vào đợt Giáng sinh năm 1942 để làm quà tặng.

Cái tẩu run rẩy trong bàn tay Setrakian khi anh hình dung cảnh tên lính gác Strebel ngồi trong chính căn phòng này với gia đình, vây quanh là những viên gạch của ngôi nhà tử thần, tận hưởng hương vị thuốc lá và làn khói đẹp đẽ bay về phía trần nhà - ở chính nơi những hố lửa gầm rống và mùi hôi thối của xác người trên đài hỏa táng dậy lên như tiếng la hét tới những tầng trời khôn thấu.

Setrakian bẻ cái tẩu gãy làm hai trong tay mình, rồi thả nó xuống sàn và lấy chân giẫm nát, người run lên trong một cơn phẫn nộ anh chưa từng cảm thấy suốt mấy tháng trời.

Và rồi, cũng đột ngột như khi xuất hiện - cơn điên tiết qua đi. Anh bình tĩnh trở lại.

Anh quay về căn bếp giản dị. Anh thắp một cây nến và đặt nó ở cửa sổ đối diện khu rừng. Rồi anh ngồi vào bàn.

Ở nhà một mình, co duỗi đôi bàn tay gãy trong khi chờ đợi, anh nhớ lại ngày mình đến nhà thờ làng. Anh, một chàng trai đang trên đường trốn chạy, đến đó tìm thức ăn và phát hiện giáo đường trống không. Mọi thầy tu Công giáo đã bị vây bắt và dẫn đi. Setrakian tìm thấy mấy chiếc áo thánh ấm áp trong căn nhà nhỏ của linh mục nằm bên hông nhà thờ, và vì cần chứ không phải do suy tính gì - quần áo của anh đã tả tơi không chắp vá nổi, khiến anh trông như một người tị nạn, mà đêm lại lạnh căm căm - anh tròng chúng vào người. Anh đã nghĩ ra trò băng bó, sẽ chẳng bị ai nghi ngờ trong thời buổi chiến tranh. Kể cả trong im lặng, và có lẽ xuất phát từ khát khao tín ngưỡng trong giai đoạn tối tăm đó, dân làng đã tìm đến anh, thú tội với chàng trai mặc áo thánh vốn chỉ có thể ban phước cho họ bằng đôi bàn tay dập nát.

Setrakian không phải kiểu giáo sĩ mà gia đình muốn anh trở thành. Anh rất khác, nhưng cũng lại giống đến kỳ lạ.

Ở đó, trong nhà thờ bỏ hoang đó, anh vật lộn với những điều anh đã chứng kiến, đôi lúc tự hỏi làm sao mà bất kỳ chuyện gì trong số đó - từ sự tàn ác của Đức Quốc xã đến sự dị hợm của ma cà rồng khổng lồ - lại có thể là sự thật. Anh chỉ có đôi tay gãy làm bằng chứng. Tại thời điểm đó, trại hủy diệt, như anh nghe kể từ những người tị nạn khác được anh cho trú ẩn trong nhà thờ "của anh" - những nông dân trên đường chạy trốn Quân đội Krajowa®, những kẻ đào ngũ khỏi Wehrmacht® hay Gestapo® - đã bị quét sạch khỏi bề mặt Trái Đất.

Quá chạng vạng, khi bóng tối đã hoàn toàn chiếm lấy vùng quê, sự tĩnh lặng kỳ quái bao phủ khắp trang trại. Miền đồng quê chẳng bao giờ tĩnh lặng vào buổi tối, vậy mà khu vực xung quanh trại tử thần cũ lại yên ắng và nghiêm trang. Như thể màn đêm đang nín thở.

Một vị khách tới ngay sau đó. Hắn xuất hiện ở cửa sổ, khuôn mặt trắng bệch được soi rọi bởi ánh nến lung linh trên mặt kính mỏng, xước xát. Setrakian không khóa cửa, và vị khách tiến vào trong, cử động cứng nhắc như thể đang phục hồi từ một căn bệnh nặng làm suy nhược cơ thể.

Setrakian quay người đối mặt với gã đàn ông, run rẩy không tài nào tin nổi. Thượng sĩ Hauptmann, đốc công cũ của anh trong trại. Hắn chịu trách nhiệm về xưởng mộc và tất cả những người được gọi là "người Do Thái thân chính quyền", những người dùng kỹ năng cá nhân để phục vụ cho SS và các cán bộ Ukraina. Bộ đồng phục SS đen tuyền quen thuộc - lúc nào cũng mới nguyên - giờ tả tơi, những miếng vải vụn phất phơ để lộ cặp hình xăm SS trên cẳng tay giờ đã không còn chút lông của hắn. Mấy cái cúc áo sáng bóng của hắn đã không còn, thắt lưng và mũ đen cũng vậy. Cái phù hiệu đầu lâu của SS-Totenkopfverbände® vẫn nằm trên cổ áo đen mòn vẹt của hắn. Đôi ủng da đen, luôn được đánh bóng tới mức sáng choang, giờ nứt nẻ và đóng bụi. Tay, miệng và cổ hắn dính vết máu khô đen của các nạn nhân trước, và một đám ruồi bay lòng vòng kín đặc cả khoảng không trên đầu hắn.

Đôi bàn tay dài của hắn cầm theo mấy cái bao tải. Setrakian tự hỏi không biết vì lý do gì mà một cựu sĩ quan của Schutzstaffel lại đến gom đất từ nơi từng là trại Treblinka? Thứ đất mùn được bồi đắp bởi hơi ngạt và tro tàn của cuộc diệt chủng?

Tên ma cà rồng nhìn xuống anh với cặp mắt đỏ ngầu, ánh nhìn xa xăm.

Abraham Setrakian.

[1]

[2]

[3]

Tên gọi tắt của Schutzstaffel (có nghĩa là “đội cận vệ”), là tổ chức bán quân sự của Đức Quốc xã, đóng vai trò chính yếu trong việc khủng bố, đàn áp, thực hiện các tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại ở Đức thời Thế chiến II.

Liên minh Đầu lâu, một đơn vị của SS, chịu trách nhiệm quản lý các trại tập trung.

Giọng nói phát ra từ đâu đó, không phải từ miệng tên ma cà rồng. Đôi môi nhuốm máu của hắn không hề cử động.

Ngươi đã thoát khỏi cái hố.

Giọng nói bên trong Setrakian vừa trầm vừa nặng, vang vọng trong anh như thể xương sống của anh là một cái âm thoa. Cùng một giọng nói nhiều thứ tiếng đó.

Ma cà rồng Chúa Tể. Chính ma cà rồng anh đã đương đầu trong trại - nói chuyện thông qua Hauptmann.

"Sardu," Setrakian nói, gọi hắn bằng tên của người hắn đã đoạt thân xác, chàng quý tộc khổng lồ huyền thoại, Jusef Sardu.

Ta thấy ngươi đang mặc áo thánh. Ngươi đã có lần nhắc đến Chúa của mình. Ngươi có tin Người đã cứu ngươi khỏi cái hố thiêu không?

Setrakian đáp, "Không."

Ngươi vẫn muốn tiêu diệt ta à?

Setrakian không lên tiếng. Nhưng câu trả lời là có.

Có vẻ như đọc được suy nghĩ của anh, hắn lẩm bẩm gì đó chỉ có thể được diễn tả là sự thích thú.

Ngươi kiên cường lắm, Abraham Setrakian, Như chiếc lá quyết không rụng xuống.

"Giờ lại là gì đây? Sao ngươi vẫn ở đây?"

Ngươi muốn nhắc đến Hauptmann. Hắn buộc phải tạo điều kiện thuận lợi cho ta thâm nhập vào trại. Cuối cùng, ta đã biến đổi hắn. Rồi hắn xơi những sĩ quan trẻ hắn từng ưa thích. Hắn thích dòng máu thuần khiết của người Aryan™.

"Vậy là... còn những người khác nữa."

Giám đốc. Và bác sĩ của trại.

Eichhorst, Setrakian nghĩ. Và bác sĩ Dreverhaven. Hẳn rồi. Setrakian nhớ rõ cả hai người họ.

1. Aryan có nghĩa là “quý tộc”, từng được những người sống ở Iran và Bắc Ấn dùng để chỉ tộc người của mình. Đức Quốc xã cho rằng chủng tộc Aryan là “chủng tộc thượng đẳng” có khả năng thống trị thế giới, và rằng người Đức đại diện cho một nhánh của chủng người này.

"Còn Strebel và gia đình hắn?"

Ta không hề hứng thú với Strebel, chỉ xem hắn là thức ăn. Bọn ta đã tiêu hủy xác sau khi xơi, trước khi chúng bắt đầu biến đổi. Ngươi thấy đấy, thức ăn ở đây đã trở nên khan hiếm. Cuộc chiến tranh của các ngươi đúng là một mối phiền nhiễu. Sao phải tạo ra thêm miệng ăn chứ?

"Vậy... ngươi muốn gì ở đây?"

Đầu Hauptmann nghiêng một cách không tự nhiên, cổ họng căng phồng của hắn khùng khục một tiếng, như cổ họng ếch.

Sao chúng ta không gọi nó là hoài niệm nhỉ? Ta nhớ năng suất của trại. Ta đã bị sự tiện lợi của những bữa buffet thịt người làm cho hư thân rồi. Còn bây giờ... ta chán trả lời các câu hỏi của ngươi rồi.

"Vậy thì một câu nữa thôi." Setrakian lại nhìn mấy bao tải đất trong tay Hauptmann. "Một tháng trước cuộc nổi dậy, Hauptmann chỉ đạo ta làm một cái tủ rất lớn. Hắn thậm chí còn cung cấp gỗ nhập khẩu, một thớ gỗ mun dày ịch. Ta được đưa cho một bản vẽ để sao chép, chạm khắc lại lên mấy cánh cửa trước."

Đúng vậy. Ngươi làm tốt lắm, tên Do Thái.

Một "dự án đặc biệt", Hauptmann đã gọi nó như thế. Hồi đó, Setrakian, không có sự lựa chọn nào khác, đã sợ rằng mình đang đóng đồ nội thất cho một sĩ quan SS ở Berlin. Thậm chí có thể là cho chính Hitler.

Nhưng không. Nó còn tệ hơn nhiều.

Lịch sử đã cho ta biết khu trại sẽ không tồn tại được lâu. Không một thí nghiệm vĩ đại nào tồn tại được cả. Ta biết bữa tiệc rồi sẽ tàn, và ta sẽ sớm phải tiếp tục di chuyển. Một trong những quả bom của quân Đồng minh đã rơi trúng một mục tiêu không định trước: giường của ta. Vậy nên ta cần một cái giường mới. Giờ thì ta đảm bảo sẽ giữ nó bên mình mọi nơi mọi lúc.

Cơn thịnh nộ, không phải sợ hãi, của Setrakian khiến anh run lên bần bật.

Anh đã đóng cỗ quan tài cho ma cà rồng Chúa Tể.

Và giờ, Hauptmann phải được no bụng. Ta không hề ngạc nhiên khi ngươi trở lại chỗ này, Abraham Setrakian. Có vẻ như cả hai ta đều có nhiều tình cảm với nơi đây.

Hauptmann thả bao đất xuống. Setrakian đứng yên khi tên ma cà rồng bắt đầu tiến về phía bàn, dựa lưng vào tường.

Đừng lo, Abraham Setrakian. Sau khi xong việc, ta sẽ không đem ngươi cho đám động vật đâu. Ta nghĩ ngươi nên nhập hội cùng bọn ta. Tính ngươi mạnh mẽ. Xương cốt ngươi sẽ lành, và bàn tay ngươi sẽ lại phục vụ bọn ta.

Ở cự ly gần, Setrakian cảm nhận được hơi nóng kỳ lạ của Hauptmann. Tên ma cà rồng tỏa nhiệt và bốc mùi đất hôi hám hắn vừa thu gom. Cái miệng không có môi của hắn tách ra, và Setrakian có thể nhìn thấy đầu vòi chích bên trong, đang sẵn sàng phóng tới anh.

Anh nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu của ma cà rồng Hauptmann và hy vọng rằng Sinh vật Sardu kia cũng đang nhìn lại.

Bàn tay lấm lem của Hauptmann khép lại quanh tấm băng gạc đang che cổ Setrakian. Tên ma cà rồng kéo tấm gạc ra, để lộ cái cổ họng bằng bạc sáng loáng che lấp thực quản và các động mạch chính. Hauptmann trợn trừng mắt loạng choạng lùi về phía sau, bị đẩy lùi bởi tấm bạc bảo vệ mà Setrakian đã thuê thợ rèn trong làng làm.

Hauptmann cảm thấy lưng chạm vào bức tường đối diện. Hắn rên rỉ, yếu ớt và bối rối. Nhưng Setrakian có thể thấy được hắn chỉ đang chuẩn bị cho đòn tấn công tiếp theo.

Kiên cường đến phút cuối cơ đấy.

Khi Hauptmann chạy về phía Setrakian, anh rút từ dưới áo choàng ra một cây thập giá bạc, phần chân được chuốt nhọn, và chặn hắn lại giữa đường.

Cuối cùng, việc giết chết tên ma cà rồng Đức Quốc xã là một hành động giải phóng đơn thuần. Đối với Setrakian, nó đại diện cho cơ hội trả thù mảnh đất Treblinka, cũng như là một cú đòn dành cho ma cà rồng chúa và cung cách bí ẩn của hắn. Nhưng trên hết, nó xác nhận cho sự tỉnh táo của Setrakian.

Phải, anh đã thấy những điều anh đã thấy ở trại.

Phải, truyền thuyết đó là thật.

Và phải, sự thật quả là khủng khiếp.

Việc giết tên ma cà rồng này đã định đoạt số phận Setrakian. Kể từ đó, anh cống hiến cuộc đời cho công cuộc tìm hiểu về Strigoi - và săn lùng chúng.

Tối hôm đó, anh cởi bỏ bộ đồ linh mục, đổi lấy áo quần của một nông dân bình thường và đốt sạch sẽ phần đầu trắng trắng con dao găm thập giá của mình. Trên đường trở ra, anh hất cây nến đổ lên chiếc áo choàng và vài mảnh giẻ rách, rồi bước ra ngoài, để lại sau lưng ánh lửa bập bùng trong căn nhà trang trại bị nguyền rủa.

img

---❊ ❖ ❊---

CHÚ THÍCH

[1] Lực lượng kháng chiến Ba Lan trong Thế chiến II.

[2] Tên thống nhất của các lực lượng vũ trang Đức Quốc xã từ năm 1935 đến năm 1945, bao gồm lục quân, hải quân và không quân. Đây là lực lượng chiến đấu chính của Đức trong Thế chiến II, được đánh giá là lực lượng quân đội hùng mạnh nhất thế giới vào thời điểm này.

[3] Cơ quan mật vụ do Đức Quốc xã lập ra, nhiệm vụ chính là tình báo an ninh, nhưng cũng đảm trách thêm việc thành lập và điều hành trại tập trung.

« Lùi
Tiến »