Sau ba tháng làm việc chăm chỉ và tự nghĩ ra rất nhiều thứ để xao nhãng bản thân, Tom vẫn không thể gạt Lady Cassandra Ravenel ra khỏi tâm trí. Những ký ức về cô cứ lảng vảng trong trí óc anh, lấp lánh như một sợi dây kim tuyến Giáng sinh kiên quyết mắc lại trên tấm thảm.
Trong cả triệu năm nữa anh cũng không thể đoán được Cassandra sẽ xuống bếp để thăm anh. Anh cũng không muốn cô làm vậy. Anh muốn chọn một nơi khác, nơi nào đó có hoa và ánh nến, hoặc khung cảnh ngoài sân vườn. Nhưng cuối cùng thì họ lại thu mình với nhau trên sàn nhà bẩn thỉu, hàn các đường ống lò hơi trong một căn phòng đầy những người giúp việc nhà bếp, Tom ý thức được một điều gì đó vui thích đang bùng phát. Cô rất thông minh và tò mò, với một năng lượng vui tươi làm anh sững sờ.
Rồi khoảnh khắc đó đến, khi cô nói một cách vô cùng chân thành, "Em thích anh đúng như bản thân anh."
Và bắt đầu từ khoảnh khắc đó, Cassandra đã từ một đối tượng mong muốn trở thành một trách nhiệm mà anh không thể chấp nhận. Cô gây nguy hiểm cho anh, cô là một thứ gì đó mới và lạ, và anh không muốn điều đó. Không ai có thể có sức mạnh đó đối với anh.
Anh quyết tâm quên cô.
Giá mà anh có thể.
Chẳng ích gì vì anh là bạn bè với Rhys Winterborne, người đã kết hôn với Helen - chị gái của Cassandra. Tom thường gặp Winterborne vào bữa ăn trưa nhanh tại một trong những cửa hàng ăn nhanh hoặc một nhà hàng bít tết rẻ tiền nằm giữa văn phòng của họ. Vào một hôm, Winterborne tiết lộ West Ravenel vừa đính hôn và sẽ kết hôn với Phoebe, Lady Clare, một góa phụ trẻ có hai con trai nhỏ, Justin và Stephen.
"Tôi không nghi ngờ gì anh ta sẽ làm thế," Tom nói, và hài lòng trước thông tin đó. "Tôi đã ở câu lạc bộ Jenner với anh ta vào đêm hôm trước, và cô ấy là tất cả những gì anh ta liên tục lảm nhảm."
"Tôi đã nghe chuyện đó," Winterborne nhận xét. "Có vẻ như anh và Ravenel đã gặp một chút rắc rối."
Tom đảo mắt. "Tên cầu hôn trước đây của Lady Clare đã đến bàn với một khẩu súng lục trên tay. Và nó không hề thú vị như nó nghe đâu đấy. Anh ta nhanh chóng bị tước vũ khí và bị một người gác đêm kéo đi ". Anh ngả người ra ghế khi cô bồi bàn đặt đĩa salad cua ướp lạnh và cần tây trước mặt họ. "Nhưng trước khi điều đó xảy ra, Ravenel đã nói luyên thuyên về Lady Clare, về việc anh ta không đủ tốt với cô ấy vì quá khứ tai tiếng của mình, và anh ấy lo lắng như thế nào về việc sẽ trở thành tấm gương xấu cho các con cô ấy."
Đôi mắt đen láy của Winterborne đầy quan tâm. "Và anh đã nói gì?"
Tom nhún vai. "Cuộc hôn nhân này là có lợi cho anh ta, còn điều gì khác quan trọng nữa à? Lady Clare giàu có, xinh đẹp và là con gái của một công tước. Đối với các con trai của cô ấy… thực ra thì cho dù anh có làm gương như nào đi nữa thì bọn trẻ vẫn khăng khăng làm theo ý chúng thôi". Tom uống thêm một ngụm bia trước khi tiếp tục. "Đắn đo quá nhiều luôn làm phức tạp một quyết định một cách không cần thiết. Chúng giống như những bộ phận cơ thể thừa thãi không ai cần".
Winterborne dừng nâng nĩa cua tươi lên môi. "Bộ phận cơ thể phụ nào cơ?"
"Những thứ như ruột thừa. Núm vú đàn ông. Tai ngoài."
"Tôi cần đôi tai của mình."
"Chỉ những bộ phận bên trong thôi. Cấu trúc tai ngoài là không cần thiết ở người".
Winterborne trông mỉa mai. "Tôi cần chúng để nâng đỡ chiếc mũ của mình."
Tom cười toe toét và nhún vai, đồng ý với điểm đó. "Dù sao thì, Ravenel đã giành được một phụ nữ tốt. Tốt cho anh ta."
Họ nâng ly và chạm cốc để chúc mừng.
"Ngày cưới đã được ấn định chưa?" Tom hỏi.
"Chưa, nhưng sẽ sớm thôi. Họ sẽ tổ chức buổi lễ ở Essex, điền trang Clare. Một sự kiện nhỏ, chỉ có vài bạn bè và những mối quan hệ thân thiết mà thôi". Winterborne xiên một cây cần tây và rắc lên chút muối khi anh nói thêm, "Ý của Ravenel là mời cả anh."
Những ngón tay của Tom xiết chặt lấy miếng chanh theo phản xạ. Một giọt nước bắn lên má anh. Anh bỏ phần vỏ rỗng và lấy khăn ăn lau mặt. "Tôi không hiểu tại sao," anh lẩm bẩm. "Anh ta chưa bao giờ ghi tên tôi vào danh sách khách mời trước đây. Tôi còn ngạc nhiên nếu anh ta thậm chí biết đánh vần tên tôi đấy. Nhưng dù sao thì, tôi hy vọng anh sẽ không tốn giấy mực để mời tôi, vì tôi sẽ không đi đâu."
Winterborne hoài nghi nhìn anh. "Anh sẽ không tham dự đám cưới của anh ta ư? Hai người đã là bạn ít nhất mười năm rồi. "
"Anh ta sẽ xoay sở được mà không cần sự hiện diện của tôi," Tom gắt gỏng khẳng định.
"Có phải chuyện này liên quan đến Cassandra không?" Winterborne hỏi.
Tom nheo mắt. "Trenear đã kể với anh," anh khẳng định.
"Anh ấy đề cập đến chuyện anh đã gặp Cassandra và rất thích cô ấy."
"Tất nhiên là tôi thích rồi," Tom lạnh lùng nói. "Anh biết sự yêu thích của tôi với những thứ xinh xắn mà. Nhưng sẽ không có gì xảy ra hết. Trenear nghĩ đó là một ý tưởng tồi, và tôi không thể đồng ý với anh ta hơn nữa".
Với giọng trung lập, Winterborne nói, "Sự quan tâm không chỉ từ mỗi phía anh đâu, anh bạn."
Phát biểu đó làm dạ dày anh thót nhanh một cái. Đột nhiên mất hứng thú với đồ ăn, anh dùng mũi dĩa để đẩy một nhánh mùi tây ra khỏi đĩa của mình. "Làm sao anh biết?"
"Cassandra đã uống trà với Helen tuần trước. Và từ những gì cô ấy nói, có vẻ như anh đã gây ấn tượng mạnh với cô ấy ".
Tom cười nhẹ. "Tôi gây ấn tượng mạnh với tất cả mọi người. Nhưng chính Cassandra đã tự nói với tôi rằng tôi không bao giờ có thể cho cô ấy cuộc sống mà cô ấy hằng ao ước - thứ bao gồm một người chồng có thể yêu cô ấy ".
"Và anh không thể làm thế à?"
"Dĩ nhiên là không. Nó không tồn tại. "
Hơi nghiêng đầu, Winterborne nhìn anh giễu cợt.
"Tình yêu không tồn tại ư?"
"Không hơn tiền."
Giờ Winterborne trông có vẻ bế tắc. "Tiền không tồn tại?"
Để trả lời, Tom thò tay vào bên trong túi áo khoác, lục lọi một lúc và rút ra một tờ tiền. "Cho tôi biết cái này đáng giá bao nhiêu."
"Năm bảng."
"Không, giá trị thực của mảnh giấy cơ."
"Nửa xu," Winterborne đoán.
"Đúng. Nhưng cái mảnh giấy nửa xu này lại trị giá 5 bảng chỉ vì tất cả chúng tôi đều đồng ý giả vờ như vậy. Bây giờ, lấy chuyện kết hôn - "
"Yr Duw6," Winterborne lẩm bẩm khi anh nhận ra cuộc tranh cãi đang dẫn đến đâu.
"Hôn nhân là một sự dàn xếp về kinh tế," Tom tiếp tục. "Người ta có thể kết hôn mà không có tình yêu không? Tất nhiên là có. Liệu chúng ta có thể tạo ra con cái mà không có nó không? Chắc chắn là có rồi. Nhưng chúng ta lại giả vờ tin vào cái thứ hoang tưởng, trôi nổi đấy, thứ mà không ai có thể nghe, thấy hay chạm vào nó, trong khi sự thật là, tình yêu chẳng là gì ngoài giá trị giả tạo mà chúng ta gán cho một mối quan hệ."
"Còn những đứa trẻ thì sao?" Winterborne trả miếng. "Liệu tình yêu có phải là một giá trị giả tạo với chúng không?"
Tom nhét lại tờ tiền năm bảng vào túi khi trả lời: "Cái tình yêu mà trẻ em cảm thấy là một bản năng sinh tồn. Đó là một cách khuyến khích cha mẹ quan tâm đến chúng cho đến khi chúng có thể tự làm được điều đó".
Biểu cảm của Winterborne như chết lặng. "Lạy Chúa, Tom." Anh cắn một miếng cua tươi rói, cẩn thận nhai từng miếng, để một lúc trước khi trả lời. "Tình yêu là thật, nó là thật," cuối cùng anh nói. "Nếu anh đã từng trải nghiệm nó -"
"Tôi biết, tôi biết," Tom mệt mỏi nói. "Bất cứ khi nào tôi sai lầm vì tranh luận kiểu này, thì đó là những gì mọi người nói. Nhưng ngay cả khi tình yêu là thật, thì tại sao tôi lại muốn nó chứ? Con người đưa ra những quyết định phi lý vì tình yêu. Một vài người thậm chí còn chịu chết vì nó. Tôi hạnh phúc hơn nhiều khi không có nó."
"Thật ư?" Winterborne nghi ngờ hỏi lại, và im lặng khi người hầu bàn đến với một bình rượu. Sau khi cô ta tiếp đầy lại cốc của họ và rời đi, Winterborne mới nói, "Mẹ tôi thường nói với tôi, 'Rắc rối khi có kẻ muốn thế giới, và rắc rối là họ có được nó.' Tôi biết bà ấy đã sai - làm sao một người có được thế giới lại chỉ cảm thấy mỗi hạnh phúc chứ? Nhưng sau khi tôi làm nên một gia tài, cuối cùng tôi cũng hiểu ý của bà ấy. Những thứ giúp chúng ta leo lên đến đỉnh cao cũng chính là những thứ khiến chúng ta mất hứng thú khi đã ở chỗ đó ".
Tom định phản đối rằng bản thân anh đang hưởng thụ. Nhưng Winterborne, chết tiệt anh ta đi, anh ta hoàn toàn đúng. Anh đã khốn khổ trong nhiều tháng. Địa ngục quái quỷ. Liệu đây có phải là cách phần đời còn lại của anh sẽ diễn ra không? "Vậy thì tôi không còn hy vọng gì nữa," anh nói dứt khoát. "Tôi không thể tin vào một điều gì đó mà không có bằng chứng. Tôi không có niềm tin."
"Đã hơn một lần tôi thấy anh tự đưa bản thân vào con đường sai lầm vì suy nghĩ quá nhiều. Nhưng nếu anh có thể xoay sở tìm cách bước ra khỏi mê cung của bộ não đó đủ lâu để khám phá những gì anh muốn… không phải những gì anh quyết định là anh nên muốn, mà là những gì bản năng mách bảo anh… anh có thể tìm thấy những gì tâm hồn anh đang gọi tên. "
"Tôi không có linh hồn. Không có những thứ như vậy."
Vừa bực tức vừa thích thú, Winterborne hỏi, "Vậy thì điều gì điều khiển não anh hoạt động và tim anh đập?"
"Xung điện. Một nhà khoa học người Ý tên là Galvani đã chứng minh điều đó một trăm năm trước, bằng một con ếch ".
Winterborne kiên quyết nói: "Tôi không thể nói thay con ếch, nhưng anh có linh hồn. Và tôi muốn nói rằng đã đến lúc anh phải chú ý đến nó. "
Sau bữa trưa, Tôm quay trở về văn phòng của mình trên phố Hanover. Hôm nay là một ngày mùa thu lạnh lẽo với những cơn gió mạnh và thổi đến đột ngột từ mọi hướng - một ngày ‘áo nỉ’, như Winterborne đã mặc. Những đôi găng tay lộn xộn, những mẩu xì gà, những tờ báo và giẻ rách từ dây phơi đồ tung bay trên đường phố và vỉa hè.
Tom dừng lại trước cửa tòa nhà đại diện văn phòng chính của năm công ty của anh. Cách đó không xa, một cậu bé đang cần mẫn nhặt những mẩu xì gà cũ trong máng nước. Sau đó những sợi thuốc lá sẽ được kéo ra và làm thành những điếu xì gà rẻ tiền để bán với giá vài đồng.
Cổng vào tòa nhà gây ấn tượng mạnh với chiều cao hơn 6 mét, với một mái vòm khổng lồ bên trên. Những tấm đá xi măng Portland trắng bao phủ năm tầng dưới, trong khi hai tầng trên cùng được lát gạch đỏ và chạm khắc tinh xảo bằng đá trắng thuần. Bên trong có một chiếc cầu thang rộng dẫn thẳng lên giếng trời bằng kính để đón ánh sáng tự nhiên từ trên mái.
Nó trông giống như một nơi mà những người quan trọng đến làm những công việc quan trọng. Trong nhiều năm qua, Tom đã luôn cảm thấy cực kì thỏa mãn mỗi khi anh đến đây.
Bây giờ, không có gì có thể làm anh hài lòng được nữa.
Ngoại trừ... mặc dù thật vô lý... vì anh đã từng trải qua một số cảm giác cũ về những mục đích và tính hoàn thành trong khi sửa chữa chiếc lò hơi ở Eversby Priory. Làm việc bằng đôi tay của mình, dựa trên những kỹ năng mà anh có khi còn là một cậu bé học việc mười hai tuổi, với tất cả những điều ở phía trước.
Hồi đó anh đã rất vui vẻ. Tham vọng thời trai trẻ của anh đã được ca ngợi và nuôi dưỡng bởi người thầy thông thái - Chambers Paxton, người đã trở thành người cha mà anh cần. Trong những ngày đó, dường như anh có thể tìm thấy câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi hoặc vấn đề nào. Ngay cả những nhược điểm của Tom cũng là một lợi thế: Khi một người đàn ông không phải bận tâm đến tình yêu, danh dự hay những thứ thối tha nào khác, thì anh ta sẽ tự do để kiếm được nhiều tiền. Anh đã rất thích điều đó.
Nhưng gần đây, một số nhược điểm của anh bắt đầu giống như những hạn chế. Hạnh phúc - ít nhất là cái anh từng trải qua - đã biến mất.
Những cơn gió như nhảy múa và tạt vào anh từ mọi hướng. Một cơn gió thình lình thổi đặc biệt mạnh hất chiếc mũ len đen khỏi đầu anh. Nó lộn nhào dọc theo vỉa hè trước khi bị thằng nhóc thợ săn cuống xì gà chộp lấy. Nắm chặt lấy chiếc mũ, cậu bé nhìn anh cảnh giác. Đánh giá khoảng cách giữa họ, Tom kết luận rằng việc đuổi theo là vô nghĩa. Đứa trẻ có thể dễ dàng tránh né anh, biến mất trong mê cung của những con hẻm và những hang ổ đằng sau con phố chính. Để chiếc mũ cho nó vậy, Tom nghĩ và đi vào tòa nhà. Nếu chiếc mũ được bán lại với giá chỉ bằng một phần nhỏ so với ban đầu, nó vẫn là một khối tài sản đối với cậu bé.
Anh đi lên dãy phòng điều hành của mình trên tầng năm. Thư ký và trợ lý riêng của anh, Christopher Barnaby, bước đến ngay lập tức để đỡ chiếc áo khoác len màu đen cho anh.
Barnaby ngờ vực nhìn Tom khi thấy anh không đội mũ.
"Gió," Tom cộc cằn nói, bước về chiếc bàn khổng lồ bằng đồng của mình.
"Tôi có nên ra ngoài tìm nó cho ông không, thưa ông?"
"Không cần đâu, nó đã mất lâu rồi." Vừa nói anh vừa ngồi vào sau chiếc bàn chất hàng đống sổ cái và chồng thư từ bừa bộn. "Cà phê."
Barnaby vội vàng lao ra ngoài với sự nhanh nhẹn trái ngược với hình thể to lớn chắc nịch của anh ta.
Ba năm trước, Tom đã chọn một kế toán cấp dưới làm thư ký kiêm trợ lý riêng cho đến khi anh tìm được người thích hợp cho vị trí này. Thông thường, anh sẽ không bao giờ cân nhắc đến việc chọn một người như Barnaby - người luôn lộn xộn và lo lắng, với những lọn tóc nâu cứ nhảy múa hoang dại và rung rung quanh đầu anh ta. Thực ra, ngay cả sau khi Tom gửi Barnaby đến chỗ thợ may riêng của anh ở Savile Row và thanh toán vài chiếc áo sơ mi thanh lịch, ba chiếc cà vạt lụa, và hai bộ vest đặt làm riêng, đống đồ len và vải pôpơlin, anh chàng vẫn trông như thể anh ta vội vã móc quần áo ra từ hòm mây đựng đồ sạch gần nhất. Diện mạo của một trợ lý cá nhân được cho là hình ảnh phản ánh của chủ nhân anh ta. Nhưng Barnaby đã nhanh chóng chứng minh giá trị của mình, chứng minh khả năng đặc biệt trong việc sắp xếp và chú ý đến những chi tiết thứ tự ưu tiên mà Tom không cho anh biết chúng trông như thế nào.
Sau khi mang cà phê với đường và kem nóng, Barnaby đứng trước bàn làm việc của anh với một cuốn sổ nhỏ. "Thưa ông, phái đoàn Nhật Bản đã xác nhận chuyến thăm của họ trong hai tháng nữa để mua máy xúc hơi nước và thiết bị khoan. Họ cũng muốn tham khảo ý kiến về các vấn đề kỹ thuật xây dựng tuyến đường Nakasendo qua các khu vực miền núi. "
"Tôi cần một bản sao bản đồ địa hình và khảo sát địa chất của họ càng sớm càng tốt."
"Vâng, thưa ông Severin."
"Ngoài ra, hãy thuê cho tôi một gia sư tiếng Nhật."
Barnaby chớp mắt. "Ý ông là một người phiên dịch phải không, thưa ông?"
"Không, một gia sư. Tôi muốn tự mình hiểu những gì họ nói chứ không qua trung gian".
"Nhưng thưa ông," người trợ lý không dừng lại, "chắc chắn là ông đang không đặt mục tiêu sẽ thông thạo tiếng Nhật trong vòng hai tháng đấy chứ…?"
"Barnaby, đừng có ngớ ngẩn như thế."
Người trợ lý bắt đầu ngượng ngùng cười. "Tất nhiên, thưa ngài, nghe có vẻ như là -"
"Tối đa sẽ mất tầm một tháng rưỡi là cùng." Với trí nhớ đặc biệt của mình, Tom có thể học ngoại ngữ dễ dàng - mặc dù phải thừa nhận rằng trọng âm của anh thường đòi hỏi cao hơn. "Sắp xếp các bài học hàng ngày bắt đầu từ thứ Hai."
"Vâng, ông Severin." Barnaby nguệch ngoạc mấy chữ trong cuốn sổ nhỏ của mình. "Tin tiếp theo khá thú vị, thưa ông. Trường đại học Cambridge đã quyết định trao giải thưởng Alexandria cho ông vì phương trình thủy động lực học của ông. Ông là người đầu tiên không tốt nghiệp trường Cambridge mà nhận được nó." Barnaby cười rạng rỡ với anh. "Xin chúc mừng!"
Tom cau mày và xoa mắt. "Tôi có phải phát biểu không?"
"Vâng, sẽ có một buổi thuyết trình hoành tráng tại Peterhouse."
"Tôi có thể nhận giải thưởng mà không phải phát biểu không?"
Barnaby lắc đầu.
"Vậy thì hãy từ chối giải thưởng đó đi."
Barnaby lại lắc đầu tiếp.
"Anh đang nói không với tôi đấy à?" Tom ngạc nhiên hỏi.
"Ông không thể từ chối nó được," Barnaby nhấn mạnh. "Có khả năng một ngày nào đó ông có thể giành được tước vị hiệp sĩ cho những phương trình đó, nhưng không thể được nếu ông từ chối giải thưởng Alexandria. Và ông muốn một tước vị hiệp sĩ mà! Ông đã từng nói như vậy trước đây! "
"Bây giờ tôi không quan tâm đến nó," Tom lẩm bẩm. "Nó không quan trọng."
Trợ lý của anh ngoan cố. "Tôi đang đưa nó vào lịch trình của ông. Tôi sẽ viết một bài phát biểu về việc ông đã khiêm tốn thế nào khi được tôn vinh là một trong những người trí tuệ giúp đẩy mạnh sự vinh quang đế chế của Nữ hoàng -"
"Vì Chúa, Barnaby. Tôi chỉ có năm cảm xúc, và 'khiêm tốn' không phải là một trong số đó. Hơn nữa, tôi sẽ không bao giờ gọi mình là 'một trong những người.' Anh đã từng gặp ai giống như tôi chưa? Không, bởi vì chỉ có một người như tôi mà thôi." Tom thở dài. "Tôi sẽ tự viết bài phát biểu."
"Như ông mong muốn, thưa ông." Người trợ lý nở một nụ cười nhỏ nhưng rõ ràng là hài lòng. " Đó là tất cả công việc cho đến lúc này. Ông có muốn tôi làm gì trước khi tôi quay lại bàn làm việc của mình không?"
Tom gật đầu và nhìn chằm chằm xuống tách cà phê rỗng của mình, xoa ngón tay cái dọc theo mép sứ mịn màng. "Có. Hãy đến hiệu sách và mua cuốn ‘Vòng quanh thế giới trong Tám mươi ngày’ cho tôi."
"Ồ, một cuốn sách của Jules Verne," Barnaby nói, khuôn mặt anh ta sáng lên.
"Anh đã đọc nó rồi à?"
"Vâng, đó là một câu chuyện hay."
"Phileas Fogg đã học được bài học gì thế?" Nhìn thấy nét mặt khó hiểu của người trợ lý, Tom sốt ruột nói thêm, "Trong suốt chuyến đi. Anh ta khám phá ra điều gì trên đường đi thế? "
"Tôi không thể tiết lộ điều đó cho ông được," người thanh niên nói nghiêm túc.
"Anh không tiết lộ nó. Tôi chỉ cần biết kết luận mà một người bình thường sẽ rút ra thôi. "
"Nó khá là rõ ràng, thưa ông," Barnaby đảm bảo với anh. "Ông sẽ tự tìm ra khi ông đọc nó."
Barnaby quay lại một hoặc hai phút sau khi rời văn phòng của Tom. Trước sự ngạc nhiên của anh, người trợ lý cầm chiếc mũ bị mất của anh đến. "Người gác cửa đã mang cái này lên," Barnaby nói. "Một thằng nhóc đường phố đã trả lại nó. Và nó không hề yêu cầu một phần thưởng." Anh trầm trọng nói thêm về phần vành mũ, "Tôi sẽ đảm bảo nó được làm sạch và chải chuốt trước cuối ngày, thưa ngài."
Trầm ngâm, Tom đứng và đi đến bên cửa sổ. Cậu bé đã quay trở lại rãnh nước để tiếp tục tìm kiếm những đầu điếu xì gà cũ. "Tôi ra ngoài một phút," anh nói.
"Ông có muốn tôi làm gì không?"
"Không, tôi sẽ xử lý nó."
"Áo khoác của ông -" Barnaby bắt đầu, nhưng Tom đã đi qua anh ta.
Anh đi ra lối đi bộ, nheo mắt trước một cơn gió thổi dữ dội. Cậu bé tạm dừng công việc lao động nhưng vẫn ngồi xổm bên cạnh rãnh nước, nhìn lên thận trọng khi Tom đến gần. Cậu bé gầy gò và ốm yếu, với vẻ ngoài già dặn vì suy dinh dưỡng nên khó đoán đúng được tuổi tác của nó, nhưng cậu bé không thể lớn hơn mười một tuổi. Có lẽ là mười. Đôi mắt nâu của nó ẩm ướt và nước da thô ráp như một con gà mái bị nhổ lông. Những lọn tóc dài đen nhánh rối bù như đã lâu rồi không được chải chuốt.
"Tại sao cháu không giữ nó?" Tom hỏi mà không mở đầu.
"Cháu không phải là kẻ trộm," cậu bé nói, tay vẫn thu hoạch một điếu xì gà khác. Đôi bàn tay nhỏ bé của nó đã cáu ghét đầy bụi bẩn.
Tom lấy một đồng siling trong túi và đưa cho nó.
Cậu bé không cầm lấy nó. "Cháu không cần từ thiện."
"Đây không phải tiền từ thiện," Tom nói, vừa thích thú vừa bực bội trước hình ảnh tự hào của một đứa trẻ khó có thể cáng đáng nổi cuộc đời. "Đây là tiền boa cho dịch vụ hoàn trả."
Cậu bé nhún vai và nhận lấy đồng xu. Sau đó thả nó vào cái túi đựng những mẩu thuốc lá đã thu hoạch được.
"Cháu tên là gì?" Tom hỏi.
"Bazzle con."
"Và họ của cháu là?"
Cậu bé nhún vai. "Cháu luôn là Bazzle con. Cha cháu là Bazzle cha."
Óc phán đoán của Tom nghĩ anh tốt hơn hết là nên để câu chuyện dừng lại tại đây. Không có gì đặc biệt về cậu bé này. Trong khi việc giúp đỡ một đứa trẻ nhất định có thể thỏa mãn một sự nhân từ bốc đồng, nhưng nó cũng chẳng làm được gì đối với hàng ngàn người sống trong cảnh bẩn thỉu và nghèo đói. Tom đã quyên góp một số tiền lớn - càng phô trương càng tốt - cho một loạt các nhóm từ thiện ở London. Thế là đủ.
Nhưng có điều gì đó khiến anh thấy khó chịu, có lẽ là do bài thuyết giảng của Winterborne. Bản năng mách bảo anh phải làm gì đó cho đứa trẻ này - đó là một ví dụ điển hình về lý do tại sao anh thường cố phớt lờ chúng.
"Bazzle, tôi cần người quét dọn văn phòng của tôi. Cháu có muốn công việc đó không? "
Đứa trẻ nghi ngờ nhìn anh. "Ông đang chơi khăm cháu sao, quý ông?"
"Tôi không chơi khăm mọi người. Hãy gọi cho tôi là 'Mr. Severin,' hoặc 'thưa ông.'" Tom đưa cho nó một đồng xu khác. "Hãy đi mua cho mình một cây chổi nhỏ, và đến tòa nhà của tôi vào sáng mai. Tôi sẽ bảo người gác cửa chờ cháu."
"Ông muốn cháu đến lúc mấy giờ, thưa ông?"
"Chín giờ." Khi Tom bước đi, anh lẩm bẩm buồn bã, "Nếu anh che mắt tôi, Winterborne, tôi sẽ gửi anh một cái hóa đơn đáng nguyền rủa."