Đêm đen như một tấm màn dày cộp che kín cửa hang, còn gió lại dùng tiếng thét gào của mình át hết mọi tiếng động ngoài hang. Tôi ngồi xổm sau bụi cây ở cửa hang, co rúm người lại, không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì, chỉ còn những ảo giác lúc ẩn lúc hiện và nỗi tuyệt vọng, sự sợ hãi chân thực như một dấu nung hằn lên cơ thể.
Sau khi phát hiện Trương Lam mất tích, hết lần này tới lần khác tôi định lấy mọi can đảm ra ngoài tìm cô ấy, nhưng lần nào vừa thò tay ra khỏi bụi cây tôi cũng vội rụt lại. Tôi sợ, đầu óc tôi toàn sự sợ hãi. Tôi chưa từng căm hận bản thân mình như hôm nay, hận mình nhu nhược, nhát gan. Nhưng dù chửi mắng bản thân thế nào, tôi vẫn như con chuột bị động vật họ mèo dọa gần chết, co ro rúm ró một chỗ, không dám đi dù chỉ nửa bước.
Gió thổi qua cửa hang, mang theo tiếng rú rít như tiếng sáo, có thể nhận ra gió ngoài hang lại mạnh hơn, xen lẫn tiếng sóng biển đập ầm ầm vào đá ngầm. Tôi co tròn người lại hết mức, tái mét và yếu ớt ảo tưởng rằng Trương Lam có thể quay lại, rồi tự nhủ cô ấy tỉnh dậy không thấy tôi đâu nên đã ra ngoài tìm.
Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của tôi.
Cuộc đuổi giết vừa rồi giống như cơn ác mộng chẳng thể tỉnh lại, nó bấu chặt lấy trái tim tôi, ép ra giọt máu cuối cùng, khiến tay chân tôi lạnh toát, không ngừng run rẩy. Đây là ác mộng ư? Sao trên đời này lại có thứ như Sách Khải Huyền Hắc Ám nhỉ? Sao lại có hòn đảo cô độc này? Sao lại có nhiều người điên cuồng như vậy? Đây chắc chắn là ác mộng.
Nhưng tôi không biết cách tỉnh dậy.
Chẳng biết bao lâu sau, chắc vì quá mệt mỏi, lại thêm cơn choáng váng xây xẩm giống như bị hạ đường huyết hoặc thiếu oxy, tôi buồn ngủ díp cả mắt. Sự mệt mỏi bắt đầu đè nặng từng thớ thịt, từng khúc xương trên cơ thể. Cũng chính lúc này, những cảm xúc bất an dần bao phủ tôi, có thứ gì đó đã ẩn náu rất lâu đang từ từ dấy lên trong lòng tôi.
Đó là gì vậy? Tôi cố gắng nghĩ...
Trần Bình chết rồi, chết ngay trước mắt tôi.
Lúc tôi khép mắt cho anh ta, đột nhiên anh ta mở mắt ra nhìn tôi nói: “Cẩn thận sau lưng.”
Tôi kinh hãi quay đầu lại, nhìn thấy Hoàng Hải đang cười hung tợn. Tôi muốn chạy nhưng không cất bước nổi.
Hoàng Hải vẫn cười điên cuồng, cơ thể ông ta đang liên tục phồng lên. Dần dần chiếm hết tầm nhìn của tôi. Tôi cố hết sức muốn nhúc nhích chân mình nhưng không thể, dù chỉ nửa bước, chân tôi như bị đổ chì.
Lúc này bỗng một bàn tay vươn tới, tôi ngẩng lên, là Trương Lam. Cô ấy bình tĩnh cười nói: “Đã chín trăm chín mươi người rồi.”
Mắt Hoàng Hải đã trở nên đỏ ngầu, từ cơ thể to như núi của ông ta thò ra một cái móng vuốt lớn kinh người, tóm chặt lấy tôi. Tôi cảm thấy bụng mình lành lạnh... tôi cúi xuống, bụng tôi đã bị rạch, ruột màu xám trắng cùng dịch thể màu xanh sẫm lập tức trào ra ngoài.
Màu xanh sẫm á? Tại sao không phải màu đỏ nhỉ? Tôi thấy hơi kỳ lạ. Ngay sau đó không phải đau đớn, mà là cơn lạnh thấu xương...
Tôi giật mình bừng tỉnh, loáng thoáng ý thức được ngọn nguồn của nỗi bất an trước khi ngủ thiếp đi.
“... Một nghìn linh hồn đã chết vì Sách Khải Huyền Hắc Ám sẽ bảo vệ người được Chúa chọn, tương lai của anh ta sẽ thuận buồm xuôi gió... Sau khi hội tụ đủ tất cả các điều kiện, vận mệnh của người được Chúa chọn, tức là người thứ một nghìn lẻ một, sẽ do bản thân người đó nắm giữ...”
Đúng vậy, chính là vấn đề này.
Trần Bình từng nói trước khi lên đảo đã có chín trăm chín mươi người chết vì Sách Khải Huyền Hắc Ám, ban đầu chỉ có mười người lên đảo. Vậy nghĩa là vừa đúng một nghìn người. Nếu không có tôi, dù tất cả mọi người có mặt trên đảo đều chết hết cũng vô dụng, vì thiếu người thứ một nghìn lẻ một sống sót để trở thành người được Chúa chọn, vậy là mọi giết chóc đều trở nên vô nghĩa.
Vấn đề nằm ở đây: Trước khi tôi tới còn thiếu một người.
Tôi cảm thấy hoảng hốt, tất cả những điểm đáng ngờ tôi chôn giấu, chưa từng suy nghĩ kỹ càng giờ xộc vào tâm trí:
Đêm trước khi tôi lên đảo, Lý Giang chết;
Tiếp đó bắt đầu có nhiều người chết hơn;
Trở thành người được Chúa chọn cần nhận được khải thị, mà tôi thì không;
Trương Lam giấu con thuyền tôi lái tới đây ở chỗ chỉ mình cô ấy biết;
Lúc tôi nôn thốc nôn tháo, cô ấy tỏ ra rất lạnh lùng...
Trương Lam gọi điện thoại nói cần giúp đỡ...
Cô ấy bảo tôi tới đây, cô ấy biết tôi sẽ tới...
Tôi tuyệt vọng nhắm mắt lại.
Lúc tôi mở mắt ra lần nữa, gió ngoài hang không biết đã ngừng thổi từ khi nào. Trời sáng rồi.
“Kìa một con ngựa ô, và người cưỡi ngựa cầm cân trong tay.”
Sách Khải Huyền
Mất tích
Không biết do ẩm thấp hay vì bị căng cơ, mỗi thớ thịt trên người tôi đều nhâm nhẩm đau nhức.
Nhưng khớp xương còn tồi tệ hơn, tất cả đau kinh khủng, cử động chỉ cần hơi mạnh một chút là nghe thấy các đầu khớp khe khẽ răng rắc. Đầu tôi cũng đau kinh khủng, thậm chí cả cánh tay trái cũng đau theo. Còn lòng bàn tay trái chỉ có thể miêu tả bằng cụm từ “thảm không nỡ nhìn”, nó vẫn đang chảy máu ròng ròng, có vẻ sưng lên rồi, chẳng thấy dấu hiệu khởi sắc nào cả. Nếu không kịp thời xử lý chắc sẽ bị viêm, tôi nghĩ vậy. Nhưng trước mắt, tôi thiếu thuốc men, đành chịu đựng thôi.
Trong hang còn ẩm thấp hơn hôm qua. Thứ không khí khiến người ta cảm thấy ấm áp, an toàn đã biến mất, chỉ có lại bất an và lạnh lẽo. Tôi hiểu đây không còn là nơi an toàn nữa, vì Trương Lam biết chỗ này. Dù không muốn nghĩ nhiều nhưng tôi buộc phải đối diện với một vấn đề: Không loại trừ khả năng cô ấy liên thủ với ai đó để giết tôi. Ở một mức độ nào đó, rất có thể cái hang này còn nguy hiểm hơn bên ngoài, thậm chí nói một cách nghiêm trọng, đây là hầm mộ.
Tôi quyết định ra ngoài.
Tôi cố nén cơn đau khắp cơ thể, vào sâu trong hang thu dọn tất cả đồ đạc, kéo cái ba lô lớn chật vật bò ra ngoài.
Đến cửa hang, tôi quay lại nhìn nơi từng là chốn dung thân của mình, ít nhiều lưu luyến, nhớ lúc ban đầu Trương Lam dẫn tôi tới đây, cả bóng lưng nhanh nhạy như động vật hoang dã của cô ấy nữa... Không biết vì sao, cảm giác đau khổ, buồn bã, phẫn nộ và nghi hoặc cùng lúc dâng lên trong lòng tôi, hòa vào nhau, thay nhau ảnh hưởng tới tâm trạng của tôi.
Tôi cố gắng bình tĩnh lại rồi lặng lẽ tự nói với bản thân: “Chu Khởi Dương, giờ mày chỉ có một thân một mình.”
Trời ngoài hang rất lạnh, nhưng không còn ướt rườn rượt như hôm qua, chắc nhờ trận gió lớn đêm qua. Sương sớm lững lờ dày hơn hôm qua một chút, khiến cảnh tượng đằng xa có chút mông lung.
“Nên đi đâu nhỉ?” Tôi hoang mang nhìn quanh.
Ở lại quanh đây không phải lựa chọn hay, bãi đá ngầm gần bờ biển quá trống trải, những tảng đá màu xám đen nằm rải rác kia nhìn từ xa rất giống mấy bóng đen mơ hồ, nếu có người ngồi ở đó sẽ rất khó nhận ra, thật đáng sợ. Hơn nữa dù là mùa hè nhưng ban đêm trên đảo vẫn rất lạnh, nơi này chẳng thể che mưa chắn gió, ngoài trời lại quá ẩm thấp, dây chằng của tôi đủ đau rồi.
Tới nhà thờ ư?
E là cũng không được, nếu có kẻ định hợp mưu giết người, tới đó chẳng khác nào đâm đầu vào chỗ chết. Hay tìm một chỗ trú chân trong mấy ngôi nhà nát ở làng chài quanh nhà thờ?
Có lẽ được, nhưng nghĩ tới cái xác của La Chiêm... nơi ấy chưa chắc đã an toàn. Hoặc đã có người cắm chốt trong một căn nhà bỏ hoang ở đó rồi.
Tôi đờ đẫn đứng ở cửa hang cân nhắc một hồi lâu, cuối cùng tuyệt vọng phát hiện ra chẳng có nơi nào an toàn cả. Đây là một hòn đảo hoang.
Cuối cùng tôi quyết định cứ vào rừng trước đã, ít nhất ở đó cũng không dễ bị bắt, nếu lại phải đối diện với nguy hiểm lần nữa. Tôi chẳng trông mong có điều gì bất ngờ xảy ra, nhưng vẫn phải đối mặt với thực tế thôi.
Tôi cắn răng đi về phía rừng cây, trong lòng dâng lên nỗi sợ hãi và bất lực. Đó là nơi tôi vừa thoát ra ngày hôm qua, giờ lại trở thành lựa chọn duy nhất.
Tôi khó nhọc xốc lại cái ba lô to tướng nặng nề, đi về phía rừng cây cách đó mấy chục mét.
Trương Lam từng nói nếu định tới nhà thờ thì ra khỏi hang, vào rừng từ khoảng cách ngắn nhất, sau đó rẽ sang trái, đi bộ hơn mười phút sẽ nhìn thấy một con đường lầy lội.
Đó là con đường duy nhất nối bến thuyền với làng chài, cứ đi thẳng men theo nó sẽ tìm được nhà thờ. Còn tôi sau khi vào rừng liền cố tình rẽ sang phải, nên giờ tôi không phân biệt được mình đang ở đâu, tôi chưa từng tới đây.
Một lúc sau, tôi nghĩ có lẽ mình đã lạc đường. Hình như tôi đang đi trong một khu rừng chẳng có điểm kết thúc, không phân biệt được mình đang ở đâu, cũng chẳng biết mình đang đi về đâu.
Tồi tệ hơn là, sương mù càng lúc càng dày đặc.
Những mảng sương mỏng không biết từ bao giờ đã bắt đầu nối vào nhau, càng lúc càng tích tụ, cho đến khi trở thành một khối sương lớn đặc và dính. Lúc tôi mới ra ngoài sương vẫn còn là sương (hoặc ít nhất nhìn vẫn giống sương), nhưng giờ nó giống một loại chất rắn màu trắng ngưng kết trên không trung. Tôi rất bất an, lặng lẽ cầu nguyện cho thứ sương mù quái dị này từ từ tan đi, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại, những khối vật chất lớn màu trắng đặc và dính đó bắt đầu bao phủ cả khu rừng bằng những sợi tơ trắng, nhanh chóng và lặng lẽ khiến khu rừng ướt nhẹp. Sau mười mấy phút ngắn ngủi, chúng âm thầm liền thành một thể, hoàn toàn đóng kín tầm nhìn của tôi, chiếm cứ không gian xung quanh tôi, thậm chí còn chậm rãi luồn qua cổ họng và khí quản tôi, kiên định thẩm thấu vào phổi... Tôi sinh ra ảo giác mình có thể cảm nhận được chúng khi hít thở. Những vật thể màu trắng chầm chậm chuyển động trước mắt khiến tôi sợ hãi, như thể có thứ gì ở đằng xa đang chậm rãi khuấy chúng lên, chưa biết chừng một lúc nào đó sẽ có gương mặt hung ác đột ngột hiện ra từ trong hư vô, gần ngay gang tấc.
Hơi thở của tôi trở nên nặng nề.
Tầm nhìn càng lúc càng hẹp, cây cối hình như đều có sinh mệnh, cứ bất ngờ xuất hiện trong sương mù ở khoảng cách rất gần khiến tôi không kịp trở tay, thậm chí có mấy lần còn suýt va vào cây. Tôi buộc phải giảm tốc độ, chật vật lần mò tiến bước trong không gian mênh mang như người mù. Tôi đưa tay ra định xua tan thứ màu trắng đó, nhưng chỉ nhìn thấy cánh tay mình bị sương mù nuốt chửng... rất đáng sợ.
Có điều tôi chẳng còn lựa chọn nào khác.
Cuối cùng, tôi hoàn toàn mất hết tầm nhìn, tôi dừng bước nhìn ngó xung quanh, cố gắng tìm một phương hướng chính xác (có quỷ mới biết thế nào là phương hướng chính xác, thậm chí tôi còn chẳng biết mình phải đi đâu), nhưng không thấy gì cả, chỉ có một vùng sương trắng mênh mông.
Lúc này trong rừng vắng tiếng chim hót, vắng tiếng côn trùng kêu, ngoài tiếng cành cây gãy và tiếng lá bị giẫm đạp thỉnh thoảng vang lên dưới chân tôi, chẳng còn bất cứ tiếng động nào khác. Dường như nơi này là một thế giới chết, còn tôi là kẻ duy nhất sống sót.
Tầm nhìn thế này, không thể đi tiếp được nữa, vì chẳng thấy gì hết, kể cả đôi tay đang mò đường trong sương mù của tôi.
Tôi lần mò tìm được một cái cây khá lớn, khó nhọc tháo ba lô ra, chẳng buồn bận tâm tới cảm giác khó chịu khi quần áo ẩm ướt dính sát vào người, tựa thân cây từ từ ngồi xổm xuống. Khoảnh khắc sống lưng áp vào thân cây lạnh ngắt, tôi khẽ rùng mình, nhưng thân cây rắn chắc vẫn mang lại cho tôi chút cảm giác an toàn ít ỏi.
Khẽ thở phào, tôi bất an liếm môi, nhìn đồng hồ đeo tay, đã gần mười tiếng tôi không gặp Trương Lam rồi. Sau một loạt phân tích, suy đoán, tôi rất nghi ngờ động cơ Trương Lam gọi tôi tới đây, nhưng không có nghĩa đó là sự thật, chỉ là tôi nghĩ vậy thôi. Nếu Trương Lam thực sự không biết tất cả những chuyện Trần Bình kể với tôi mà đúng là cần giúp đỡ nên mới gọi tôi tới hòn đảo này, cũng chẳng có gì đáng chê trách cả. Còn giai đoạn bắt đầu có người bị giết, biết đâu là sự trùng hợp... Thôi được, tôi thừa nhận, điểm này vẫn chưa chắc chắn, cần nhiều chứng cứ hơn và phải tìm thấy Trương Lam hỏi cho rõ ràng nữa. Nhưng kể ra cũng lạ, từ khi trời sáng tôi đã tin chắc Trương Lam sẽ không gặp nguy hiểm, chẳng phải tôi nhát gan mà sinh ra hoang tưởng lung tung, cũng chẳng phải tôi không thể chấp nhận cảnh cô ấy chết thảm, mà tôi thực sự nghĩ như vậy. Lý do vì sao tôi không nói rõ được, chỉ là cảm giác vô cùng mãnh liệt, tôi từng nói tôi rất tin tưởng vào cảm giác của mình. Còn tình hình thực tế, tôi không cách nào xác nhận được, tất cả chỉ là suy đoán. Nhưng dù Trương Lam thực sự phản bội tôi hay không, tôi cho rằng lựa chọn rời khỏi hang trú chân vẫn rất đúng đắn, bởi quyết định đó liên quan tới sống chết, chẳng có lý do gì không thận trọng cả.
Đầu óc tôi rất hỗn loạn, vô cùng hỗn loạn, tuy có vẻ như tôi đã phân tích, suy luận rất lý trí, nhưng đó chỉ là cách tôi giúp bản thân mình bình tĩnh lại, chứ chẳng hề có hiệu quả thực tế.
Đúng lúc tôi đang đắn đo phân vân, bỗng nhiên cách đó không xa về phía bên trái vọng lại vài tiếng động rất khẽ, hình như là tiếng người đi lại.
Tất cả lông tơ trên người tôi dựng đứng.
Như để khiến tôi thêm sợ hãi, trải nghiệm ác mộng đêm qua bắt đầu chiếu đi chiếu lại hết lần này tới lần khác trong đầu. Còn màn sương mù chết tiệt thì chắn hết mọi thứ, tầm nhìn của tôi chưa đến một mét.
Lại một tiếng động khe khẽ nữa vang lên, chạm vào dây thần kinh căng cứng của tôi như điện giật, khiến trái tim tôi gần như ngừng đập.
Tâm lý tuyệt vọng, gần như suy sụp một lần nữa bao trùm lấy tôi, chúng chưa từng rời xa, vẫn luôn đeo bám tôi như hình với bóng.
Qua vài giây hoảng loạn ngắn ngủi, tôi vô thức rút dao rọc giấy trong túi quần, nắm chặt trong tay, nhưng không đẩy lưỡi dao ra. Sau chuyến mạo hiểm đêm qua, tôi không cất dao rọc giấy vào ba lô nữa mà luôn mang theo bên người để cảm thấy an toàn hơn. Nên làm thế nào? Tiếp tục đợi ở đây ư?
Trong đầu tôi nhanh chóng tính toán, tựa lưng vào cây chờ đợi nghe có vẻ an toàn, nhưng nghĩ kỹ lại không phải ý hay. Nếu có người lần mò trong sương mù (tôi không nghĩ có ai lại nhìn rõ được cảnh vật xung quanh trong sương mù thế này) tìm được đến đây, nhất định sẽ đối mặt với tôi. Nếu là Hoàng Hải (hoặc một người nào đó khác muốn tham gia cuộc giết chóc này), chưa chắc đã có lợi cho tôi, đây đúng là một vấn đề, dù sao tôi cũng chỉ có một con dao nhỏ. Nhưng nếu tôi chủ động tìm kiếm trong sương mù? Có khả năng đối phương sẽ xuất hiện sau lưng tôi, như vậy rất nguy hiểm. Cái cây sau lưng tôi khá lớn, khả năng đi từ hướng này ra sau lưng tôi tương đối thấp. Trường hợp tồi tệ nhất là chúng tôi mặt đối mặt, hoặc đôi bên xuất hiện bên cạnh nhau, kết quả này sẽ xảy ra nếu tôi cứ chờ đợi ở đây. Quan trọng nhất là, so với chờ đợi, chủ động xuất kích sẽ có thêm khả năng nữa - tôi xuất hiện sau lưng ai đó. Điều này chắc chắn có lợi cho tôi, dù là đánh lén hay bỏ chạy.
“Đúng vậy, mày nên chủ động.” Tôi thầm nói với bản thân.
Sau khi quyết định, tôi từ từ đứng dậy, bình tĩnh lại, im lặng há miệng hít sâu một hơi, chầm chậm đẩy lưỡi dao sắc bén ra, khẽ khàng đi vào làn sương mù dày đặc phía trước.
Tiếng động lại vang lên, rất rõ ràng, tuyệt đối không phải ảo giác. Tôi có thể nghe thấy tim mình đang đập điên cuồng.
Một làn sương nhẹ xoay tròn, cuộn xoáy quanh tôi theo từng động tác cơ thể như có sinh mệnh. Tôi chẳng còn tâm trạng quan tâm đến những thứ này nữa, tôi như một con dã thú chuẩn bị vồ mồi, khom người, nắm chặt vũ khí, lúc nào cũng để ý dưới chân, tôi không muốn giẫm phải những cành cây nằm rải rác dưới đất, chúng rất giòn, dễ tạo ra tiếng động. Tôi cẩn thận nhích từng bước về phía trước, không phát ra bất cứ tiếng động nào.
Đi được bao xa rồi nhỉ? Tôi chẳng biết, nhưng tôi cảm nhận được một cảm giác trước giờ chưa từng có, hình như là một loại khoái cảm, chỉ có khi săn mồi. Tôi trở nên hưng phấn lạ lùng, trong máu có một thành phần khô nóng đang rục rịch hoạt động.
Tôi quay lại nhìn, đi được một đoạn rồi, cái cây lớn phía sau đã biến mất trong sương mù, còn tầm nhìn phía trước vẫn chẳng thấy gì.
Đúng lúc này, tôi chợt ý thức được một vấn đề: Mấy phút vừa rồi không thấy cái cây nào, sao vậy nhỉ?
Tôi dừng bước quan sát xung quanh. Hình như tầm nhìn đã rộng hơn, tôi có thể thấy rõ hình dáng một số cây bụi cách đó mấy mét. Sương mỏng đi rồi ư?
Hình như thế.
Nãy giờ tôi chỉ nhìn chằm chằm phía trước, sợ có thứ gì đó xuất hiện trong sương mù nên hoàn toàn không để ý đến vấn đề tầm nhìn.
Sau khi nhận ra điều này, tôi bắt đầu căng thẳng, vì điều đó nghĩa là tầm nhìn của đối phương cũng rõ ràng như tôi.
Tôi quyết định đứng đợi một lúc, để quan sát rõ tình hình xung quanh rồi mới hành động.
Sương mù tan rất nhanh, vài tia nắng rời rạc đã xuyên qua màn sương chiếu xuống mặt đất. Tầm nhìn càng lúc càng rõ ràng.
Cuối cùng cũng có thể nhìn rõ, tôi đã rời khỏi khu rừng, đang đứng trong làng chài bỏ hoang quanh nhà thờ.
Tôi ngắm nghía kỹ xung quanh, quan sát từng đống đổ nát, từng bức tường ngổn ngang, từng lùm cây bụi um tùm, tôi không hy vọng mình lỗ mãng bước vào cái bẫy của một kẻ điên hoặc một tên sát nhân. Đột nhiên, cách tôi khoảng mười mét về bên phải, trong đống đổ nát, có thứ gì đó phản quang.
Phản quang? Có nắng ư? Tôi ngẩng lên nhìn, đúng là có nắng xuyên qua màn sương, vậy nghĩa là: Sương sắp tan rồi.
Vật phản quang đó là gì vậy? Dao ư? Chắc không phải, điểm phản quang rất ổn định, không thấy chuyển động.
Tôi hơi lưỡng lự, không khinh suất tiến lên mà quyết định đợi thêm. Tôi cần có tầm nhìn tốt hơn.
Một lúc sau, cuối cùng ánh nắng cũng xua tan phần lớn sương mù, tầm nhìn về cơ bản đã trở lại bình thường, đây là một buổi sớm mùa hè như bao buổi sớm mùa hè khác.
Tôi thận trọng nhìn quanh lần nữa, lấy hết can đảm đi về phía đang phát sáng, trong đầu là mớ suy nghĩ ngổn ngang: Đó là gì vậy? Sách Khải Huyền Hắc Ám ư? Lẽ nào trên đời này thực sự có kỳ tích? Lẽ nào... tôi mới là người được Chúa chọn?
Nghĩ vậy tim tôi bắt đầu đập thình thịch.
Khoảng cách càng lúc càng gần, cuối cùng tôi đã nhìn rõ, thứ phản chiếu ánh mặt trời là một cặp kính, cặp kính nằm trên bức tường đất.
Có một khoảnh khắc tôi hơi thất vọng. Chính lúc này tôi chợt nhận ra một dục vọng dâng lên trong con người mình, nhưng tôi không thể nói rõ đó là gì.
Đợi đã, cặp kính nhìn có vẻ rất quen.
Mấy giây sau, tôi nhận ra đó là kính của La Chiêm. Bức tường thấp là nơi tôi thấy xác La Chiêm hôm qua, do góc nhìn, vừa rồi tôi không thể phân biệt được địa điểm. Nhưng chỉ có cặp kính, xác La Chiêm đâu rồi?
Tôi cẩn thận nhìn quanh, không có, không thấy xác La Chiêm đâu cả. Xác ông ta mất rồi ư?
Lẽ nào bị dòi bọ... Không, không thể nào! Trong một ngày ngắn ngủi sao mà nhanh thế được! Trên đảo này cũng chẳng có dã thú.
Hay là... không còn thời gian suy nghĩ nữa, bản năng mách bảo tôi gần đây có nguy hiểm, đây không phải nơi an toàn.
Cặp kính bỗng dưng được để ở đây e là tín hiệu chẳng lành.
Tôi vội quay lại nhìn, cái cây tôi từng tựa vào ở cách tôi không xa, gần một trăm mét.
Sương mù đã tan gần hết. Tôi không chần chừ thêm nữa, đứng phắt dậy quay đầu bỏ chạy.
Tôi lao tới dưới gốc cây bằng một tốc độ điên cuồng rồi đột ngột thắng gấp. Cơ thể còn chưa kịp điều chỉnh trọng tâm, tôi vội giơ con dao rọc giấy ra trước ngực, quay phắt lại. Nếu kẻ điên nào đó dám đuổi theo tôi, tôi nghĩ mình sẽ bật dao, chém đứt ngón tay hắn, hoặc rạch đứt động mạch của hắn. Thậm chí tôi còn có thể tưởng tượng được cảnh máu phụt ra và tiếng kêu đau đớn của hắn.
Không có chuyện gì xảy ra cả. Sau lưng tôi chẳng có gì hết.
Chỉ thế thôi ư?
Tôi bình tĩnh lại, cố hết sức dùng tất cả các giác quan thu thập mọi thông tin xung quanh. Chẳng có bất cứ tiếng động nào, trong tầm nhìn cũng không thấy thứ gì hoạt động.
An toàn rồi ư?
Không, chưa chắc, nơi này có quá nhiều cây bụi, có quá nhiều chỗ đáng ngờ, địa hình bất lợi cho tôi chạy trốn. Quay lại rừng cây vẫn an toàn hơn.
Tôi cúi xuống định xách ba lô lên thì phát hiện nó đã biến mất. Tôi tìm một vòng quanh cái cây mà không thấy. Cái ba lô to lớn, nặng nề biến mất rồi. Tôi toát mồ hôi lạnh.
Đối địch
Cậu bé có vẻ là học sinh cấp ba xòe hai tay về phía tôi từ đằng xa: “Cháu không có vũ khí, thật đấy, hãy tin cháu, bọn cháu không định giết người.”
Tôi không nói năng gì, nhìn cậu ta cảnh giác. Sau những chuyện kỳ quái lạ lùng đã trải qua, tôi không tin ai hết.
“Sáng nay suýt nữa Mã Tiểu Điền đã giết cháu rồi, là chú ấy cứu cháu.” Nói rồi cậu ta chỉ chỉ gã béo bên cạnh.
Gã béo có vẻ ngoài hung dữ, toàn thân mỡ màng, để râu quai nón đứng cạnh cậu ta, vẻ mặt hờ hững. Khi cậu ta nhắc đến gã, gã liếc mắt nhìn về phía tôi không chút cảm xúc, rồi từ từ ngồi lên một thân cây đổ dưới đất, cởi mũ bóng chày ra, sờ sờ cái cổ mũm mĩm của mình, tiếp đó gã quay người lần tìm bao thuốc lá bị đè bẹp dúm trong ba lô, rút ra một điếu thuốc, châm lửa.
Trước khi chết Trần Bình từng nhắc tới tên gã: Lý Vĩ Húc.
Tôi nhìn bọn họ đầy nghi ngờ, tay phải giấu sau lưng vẫn nắm chặt con dao rọc giấy tôi coi là hy vọng duy nhất. Còn tay trái đút túi quần thì nắm cái hộp nhựa nhỏ bên trong có một liều moóc-phin.
Ngoài hai thứ này ra, tôi chẳng còn gì hết.
Tôi làm mất ba lô rồi.
Sau khi phát hiện ba lô bị mất tích, tôi tìm mấy vòng liền dưới gốc cây với hy vọng nó chỉ ở quanh đó nhưng chẳng thấy đâu cả, một cảm giác suy nhược dữ dội bất ngờ ập đến, trước mắt tôi tối sầm, mồm miệng khô rang, trán toát mồ hôi hột. Chắc hạ đường huyết. Tôi ý thức được vấn đề, bèn nhân lúc chưa mất hết thị giác, cố bám vào thân cây, từ từ điều chỉnh tư thế, tựa lưng vào thân cây, ngồi lả xuống đất.
Từ nửa đêm đến giờ, tôi chưa uống một ngụm nước nào, cũng chẳng ăn miếng thức ăn nào, nhưng tôi làm mất ba lô rồi. Trong đó có toàn bộ đồ ăn nước uống của tôi. Tôi phải làm thế nào bây giờ?
Khoảnh khắc mất đi ý thức, ý nghĩ cuối cùng xẹt qua đầu tôi là: Có thể đến tối mai tôi sẽ rất yếu ớt suy nhược, muốn giết chết tôi thật dễ như trở bàn tay.
Trước mắt tôi chỉ còn một màn tăm tối.
Chẳng biết bao lâu sau, cảm giác khát nước dữ dội đánh thức tôi dậy khỏi cơn hôn mê.
Mấy phút đầu sau khi tỉnh lại, tôi không biết mình đang ở đâu, cứ băn khoăn nhìn bốn phía, cố gắng hồi tưởng một lúc lâu mới nhớ ra tình cảnh trước mắt, hay có thể nói là tuyệt cảnh, ở một mức độ nào đó.
Tôi thở hổn hển, đưa tay lau mồ hôi lạnh trên đầu cho tỉnh táo lại, càng lúc càng muốn uống nước hơn. Tôi cần nước.
Đáng chết, đến nửa chai nước cũng chẳng có, làm sao bây giờ?
Tôi vùng vẫy bò dậy nhìn xung quanh, lúc này tôi mới nhớ ra hôm qua Trương Lam có nói sương đọng trên lá cây lá rộng có thể uống được.
Được rồi, đành uống thử sương vậy, tôi khát lắm rồi.
Định thần lại, tôi cố gắng kiềm chế cơn bủn rủn tay chân, loạng choạng vòng qua cái cây lớn, lao về phía những cái cây lá rộng á nhiệt đới tôi có thể tìm được. Tôi thành kính quỳ dưới đất thè lưỡi ra, tham lam liếm sạch chút nước ít ỏi trên từng phiến lá, thậm chí còn thử nhai một ít lá dày cho đỡ đói.
Tôi phải làm vậy vì chút dưỡng chất ít ỏi cũng có thể cứu mạng tôi. Khi những thứ màu lục ấy từ từ bị nghiền nát giữa hai hàm răng, vị đắng chát lan trong miệng tôi, còn cả mùi cỏ nồng nồng. Nói thực lòng, rất khó nuốt. Nhưng tôi vẫn cố.
Sau khi liếm đủ nước trên những phiến lá như một con vật ăn cỏ đói khát, tôi mới ngẩng đầu lên, thở phào, cơn choáng váng vì mất nước và hạ đường huyết đã hoàn toàn tan biến. Chút nước ít ỏi cùng mùi vị của cỏ từ từ thấm sâu, giúp cổ họng và niêm mạc thực quản vốn khô rát như bị nhét một nắm cát thô của tôi trở nên ẩm ướt, cho tôi thêm chút sức mạnh, dũng khí và cả hy vọng.
Kể ra cũng đáng buồn, loài người tuy tự xưng là động vật cao cấp, luôn dương dương tự đắc vì bộ não thông minh nhưng những tình cảm cao thượng như dũng khí, niềm tin và cả sự tôn nghiêm đều phải cúi đầu khuất phục trước đói khát.
Sự sống mới là quan trọng nhất.
Sau khi hồi phục chút sức lực, tôi quay lại chỗ giáp ranh giữa khu rừng và ngôi làng, vừa hy vọng vừa cẩn thận tìm kiếm nhưng vẫn chẳng thấy ba lô đâu.
Mất thật rồi.
“Giờ làm thế nào đây?” Tôi yếu ớt tựa thân cây, khẽ lẩm bẩm một mình.
Hỗn loạn, hoang mang, bản năng mách bảo tôi chỉ còn một lựa chọn: tìm kiếm thức ăn nước uống. Giờ giữ sức mới là quan trọng nhất.
Có nên tiếp tục ăn cỏ không?
Không, tuyệt đối không! Quá khó ăn, lại chẳng có giá trị dinh dưỡng gì, mà dù có, e là dạ dày con người yếu ớt của tôi cũng không có khả năng tiêu hóa.
Côn trùng? Con vật nhỏ? Chuột? Cây cối? Tôi nghiêm túc sục sạo tìm kiếm những thứ có thể nhét đầy bụng với ánh mắt đói khát như dã thú.
Lúc này mấy bông hoa trông như hoa loa kèn nằm rải rác dưới đất thu hút sự chú ý của tôi. Tôi hứng thú nhìn những bông hoa màu trắng, chẳng khác nào con khỉ đói mất hết lý trí.
Đó là gì vậy nhỉ? Hoa gì thế? Hình như có manh mối. Cố gắng lục lọi trong đầu, cuối cùng tôi cũng nhớ ra, đó là thực vật họ Loa kèn! Nghĩa là củ của chúng chôn dưới đất có thể ăn được.
Tôi không quan tâm mình lấy được thông tin này ở đâu, bàn tay đầy vết thương cầm con dao rọc giấy đào bông hoa lên, tâm trạng nôn nóng.
Chỉ lát sau, trong lớp bùn đất ẩm ướt lộ ra một củ hoa màu trắng sữa. Có ăn được không nhỉ? Tôi hơi nghi ngờ, nhưng vẫn thử cẩn thận bóc lớp vỏ dày ngoài cùng ra, được một miếng củ non chỉ to bằng khớp ngón tay, nhìn giống tép tỏi nát.
Ăn được thật không nhỉ? Tôi hồ nghi nhìn thứ trên tay mình. Chần chừ vài giây, cuối cùng cảm giác đói khát đã chiếm thế thượng phong.
Tôi phủi hết bùn đất bám trên củ non, vặt mấy cái lá ướt, lau sạch rồi nhét vào miệng.
Nó chẳng có vị gì cả, cũng không nhiều nước như tôi tưởng, nhưng ăn không đắng, hơi giống tép tỏi chưa chín kỹ. Mặc kệ mùi vị thế nào, rõ ràng vẫn ăn được.
Tôi vừa nhai vừa tìm thêm những bông hoa có hình dạng như loa kèn. Tuy không phải tất cả các loài cây thuộc họ Loa kèn đều có củ, nhưng tôi vẫn nhanh chóng thu thập được một đống nhỏ.
Đang định làm sạch và thưởng thức bữa “đại tiệc”, đột nhiên tôi có cảm giác kỳ lạ, hình như ai đó đang nhìn tôi chằm chằm.
Tôi khom người, khẽ khàng nhất có thể nhấc dao rọc giấy ra, sau đó bật nhảy lên cảnh giác quan sát xung quanh.
Gần một bụi cây cách tôi và bữa “đại tiệc” của tôi khoảng mười mấy mét về bên trái, cậu bé có vẻ là học sinh cấp ba và gã béo mỡ màng đang há hốc miệng nhìn tôi. Tôi nhớ Trần Bình từng nói gã béo đó tên Lý Vĩ Húc. Ánh mắt họ nhìn tôi giống như nhìn một loài động vật hoang dã họ chưa từng thấy bao giờ.
“Bọn cháu thực sự không có ác ý.” Cậu ta mở rộng hai bàn tay lần nữa để chứng minh mình an toàn.
Tôi căng thẳng liếm liếm môi, bối rối đứng tại chỗ. Đối phương có vẻ cũng không biết nên xử lý tình huống này thế nào.
Hình như Lý Vĩ Húc nói gì đó, ban đầu cậu bé ngẩn ra, sau đó vội tìm nửa chai nước và mấy cái bánh xốp trong ba lô, ném xuống mặt đất cách chân tôi không xa. Nhìn đồ ăn trước mặt, tôi cố hết sức kiềm chế bản thân nuốt nước bọt, ánh mắt đầy thèm khát.
Tôi do dự.
Không phải tôi nghi ngờ thức ăn hay nước có độc, nơi quỷ quái này có thuốc độc mới lạ! Mà vì tôi nhìn thấy ánh mắt lấy lòng của cậu ta, giống một nhà nghiên cứu động vật hoang dã đang cố tìm cách tiếp cận con dã thú đói khát, dùng thức ăn để kéo gần khoảng cách giữa đôi bên.
Tôi chẳng dám tưởng tượng bộ dạng mình lúc này trông thế nào.
Cảm giác đói khát gần như khiến người ta đánh mất lý trí đã đánh bại sự đắn đo trong tôi, nhanh chóng chiếm lĩnh toàn bộ ý thức của tôi, tôi ngoan ngoãn từ bỏ tôn nghiêm con người, loạng choạng tiến lên một bước, nhặt chai nước và bánh xốp... Họ thích nhìn tôi như thế nào thì kệ đi, tôi không quan tâm.
Đói khát là thứ gia vị tốt nhất, nó khiến bánh xốp trở nên ngon lành khó cưỡng! Những vụn bánh nhỏ bị răng nghiền nát còn chưa đợi nuốt đã lập tức bị hấp thu trong vòm miệng, những ngụm nước mát lành như cam lộ xối qua thực quản đói khát... Chỉ vài giây, tôi nuốt tất cả vào bụng với một thái độ gần như thành kính.
Hơi ấm dần dần lan tỏa trong dạ dày, tiếp đến một thứ gì đó trong cơ thể được đánh thức, vượt ra ngoài bản năng sinh tồn, đó là lý trí.
Thấy tôi nhồm nhoàm ngấu nghiến ăn hết, cậu bé thở phào. Còn Lý Vĩ Húc vẫn luôn nhìn chằm chằm xuống đất như đang nghĩ ngợi điều gì, hình như gã không hề nhìn về phía tôi, nhưng tôi biết gã đang quan sát tôi bằng đuôi mắt.
“Cảm ơn...” Vừa cất tiếng nói, tôi giật mình nhận ra giọng mình khàn đặc và trầm thấp, nó không giống giọng tôi.
“Ba lô của chú đâu?” Cậu ta nhìn sau lưng tôi. Tôi cười ngượng nghịu: “Mất rồi.”
“Thế à... thật đáng tiếc...” Cậu ta cũng cười ngượng nghịu. Khác với tôi, sự ngượng nghịu của cậu ta là do không biết nên tiếp tục chủ đề này như thế nào.
Lý Vĩ Húc vẩy vẩy tàn thuốc, vắt cái mũ bóng chày dầu mỡ lên đầu gối, nghiêng đầu nhìn tôi: “Cậu có một mình thôi à? Nếu vậy nguy hiểm lắm, sáng nay Mã Tiểu Điền suýt giết thằng bé... Những người khác đến giờ bọn tôi vẫn chưa gặp ai, không biết trốn đi đâu hay đã bị Mã Tiểu Điền giết rồi. Nhìn sắc mặt cậu có vẻ không ổn lắm, chắc tình hình cũng chẳng khá hơn... Có thể cậu không tin bọn tôi, chẳng sao. Nhưng nếu cậu không định đi cùng bọn tôi, tốt nhất hãy tìm một chỗ trốn, bằng không... rất khó nói.”
Tôi bất an liếm liếm khóe miệng, nhìn hai người trước mặt, đắn đo chẳng biết có nên tin họ không.
Nếu hai người này thực sự định tấn công tôi, lúc tôi cắm đầu đào củ hoa là thời cơ tốt nhất, khi đó tôi hoàn toàn không đề phòng gì cả, họ lại phát hiện tôi trước, vậy mà chẳng có bất cứ hành động gì, chỉ thận trọng quan sát. Nghĩa là họ đang xác định xem tôi có nguy hiểm không, họ lo lắng liệu tôi có giống Mã Tiểu Điền không. Tôi chỉ có một mình, họ có hai người, vậy nên hành động quan sát đó không phải thăm dò để tấn công tôi, mà là thận trọng cân nhắc độ an toàn (nghĩa là rất có thể họ nói thật). Hơn nữa, nếu họ thực sự định tấn công tôi, chắc chắn sẽ không cho tôi đồ ăn nước uống. Trong tình trạng gần như suy nhược của tôi khi đó, đừng nói là đánh nhau, chạy được bao xa cũng là một vấn đề.
Nói cách khác, với tình trạng của tôi lúc nãy, giết tôi chẳng hề khó khăn gì. Nhưng họ không làm vậy, đến giờ cũng chẳng có ý định ra tay.
Sau vài giây phân tích, tôi nghĩ họ an toàn, có thể nói là đáng tin cậy, không nói dối. Quả thật tôi cũng không cảm thấy hai người trước mặt mình có ác ý gì.
“Tôi... đêm qua tôi bị Hoàng Hải truy sát, trước đó, Trần Bình chết rồi... sau đó... cô ấy mất tích... chỉ còn lại một mình tôi... đến sáng, sương lên, tôi làm mất ba lô... La Chiêm... La Chiêm cũng biến mất rồi... chỉ còn cặp kính!” Tôi nói năng lộn xộn cố diễn đạt cho họ biết mọi chuyện mình đã trải qua.
Tuy cách diễn đạt hỗn loạn này gần như vượt quá khả năng lý giải của con người nhưng cậu bé và Lý Vĩ Húc vẫn hiểu, họ nhìn tôi vẻ ngạc nhiên, tôi đoán họ không ngờ tôi lại gặp phải nhiều biến cố như vậy.
“Thế là thế nào? Trần Bình sao mà chết?” Lý Vĩ Húc lại đội mũ bóng chày đã biến dạng lên, cố hỏi tôi chậm rãi nhất có thể. Hình như gã đang ám thị tôi bình tĩnh lại bằng tốc độ nói chậm rãi. Tôi cố hết sức trấn tĩnh mình, bắt đầu kể họ nghe chuyện Trần Bình chết, chuyện tôi bị Hoàng Hải đuổi giết đêm qua. Nhưng tôi giấu phần lớn nội dung lời trăn trối của Trần Bình, cẩn thận vẫn hơn. Tôi cũng không nhắc đến liều moóc-phin, giờ tôi chẳng thể hoàn toàn tin tưởng người khác, bất kể người đó là ai.
Họ kiên nhẫn đợi tôi kể hết, yên lặng nhìn nhau.
“Thực ra cháu cảm thấy...” Cậu bé bất an đẩy đẩy gọng kính, rồi lại quay sang nhìn Lý Vĩ Húc: “Nếu Hoàng Hải không giết Trần Bình mà liên thủ với anh ta và cả Mã Tiểu Điền thì còn phiền phức hơn, đúng không? Cháu cảm thấy ba người họ đều rất mạnh... có vẻ...”
“Không, nếu tôi là Hoàng Hải, tôi cũng sẽ giết Trần Bình.” Lý Vĩ Húc nheo mắt nghĩ ngợi.
“Tại sao?”
“Trần Bình rất khỏe, rất mạnh.”
“Ờm... cháu không hiểu.”
Lý Vĩ Húc lại châm điếu thuốc nữa: “Nếu cuối cùng chỉ còn lại hai người, chẳng ai muốn đối mặt với kẻ rất mạnh, đúng không? Nếu đối phương là kẻ yếu sẽ có lợi hơn nhiều. Tôi mà là Hoàng Hải, chắc chắn tôi cũng sẽ giết Trần Bình trước, hơn nữa có vẻ chiều qua Trần Bình đã kể không ít chuyện, tôi cược là cậu ta mới chỉ kể một phần rất nhỏ. Đối với Hoàng Hải, Trần Bình biết quá nhiều, là một uy hiếp lớn. Nên chẳng có gì bất ngờ khi Hoàng Hải giết Trần Bình cả, lý thuyết kẻ mạnh bị đào thải trước là vậy mà.”
“Hóa ra... là vậy...” Cậu bé ngẩn người nhìn mặt đất, gật gật đầu.
“Giờ chúng ta nên làm thế nào?” Tôi hỏi.
“Đi tìm thuyền trước.” Nói rồi Lý Vĩ Húc đứng lên: “Hôm qua Trần Bình nói chắc như đinh đóng cột thế, chưa biết chừng thuyền vẫn còn đó. Có điều Lý Hiểu Lượng đã trốn đi hay bỏ chạy hay chết rồi, đến giờ tôi vẫn chưa khẳng định được.”
“Đi cùng bọn cháu đi? Ít nhất cũng an toàn hơn.” Cậu bé hỏi ý kiến tôi. Tôi gật đầu.
Tình hình trước mắt, tôi không có lựa chọn nào tốt hơn.
Lý Vĩ Húc uể oải đeo ba lô màu xám của mình lên, hỏi tôi: “Vừa rồi cậu nói La Chiêm đã biến mất? Thế là sao? La Chiêm chết rồi mà?”
“Ý chú là cái xác đã biến mất?” Cậu bé hỏi theo.
“Đúng vậy.” Tôi bất an nhìn họ: “Xác La Chiêm biến mất rồi, ở đó chỉ còn cặp kính của ông ta. Hôm qua có người chôn ông ta rồi à?”
“Không phải bọn cháu.” Cậu bé quay lại nhìn Lý Vĩ Húc.
Lý Vĩ Húc cau mày vuốt vuốt bộ râu quai nón: “Cậu phát hiện xác La Chiêm biến mất khi nào?”
“Sáng nay. Tôi không biết thời gian cụ thể, đồng hồ đeo tay của tôi ngừng chạy rồi.” Tôi huơ huơ cánh tay đeo đồng hồ.
“Ý cậu là kính ông ta vẫn ở đó nhưng xác thì không?”
“Đúng vậy.”
“Được rồi, chúng ta đi xem thử thế nào.”
Tôi ngơ ngác nhìn họ: “Tôi không biết đường.”
“Cháu biết.” Cậu bé cười với tôi.
Mười mấy phút sau, ba chúng tôi đứng trong căn nhà đổ nát nơi phát hiện cái xác của La Chiêm hôm qua, nhìn cặp kính kỳ dị đó.
“Không có dấu vết kéo lê.” Lý Vĩ Húc vừa nói vừa ngồi xuống cẩn thận quan sát đống đổ nát lộn xộn và mặt đất xung quanh.
“Tự dưng biến mất à?” Cậu bé đẩy đẩy gọng kính.
Lý Vĩ Húc không ngẩng đầu lên, tiếp tục quan sát mặt đất: “Phải có từ hai người trở lên khiêng đi.”
“Họ lấy cái xác làm gì?”
“Không rõ. Nhưng đừng quên Lý Hiểu Lượng và Trương Lam cũng mãi chẳng xuất hiện, có thể do họ làm.”
“Không phải vì thiếu đồ ăn chứ...” Cậu bé ôm vai tỏ vẻ già dặn. Tôi cảm thấy buồn nôn với giả thuyết đó, ý tôi là ăn thịt người chết.
“Chắc là không, mới một, hai ngày, chắc chưa ai đói tới mức đó đâu, ăn thịt người cần rất nhiều dũng khí. Có thể vì mục đích khác.” Lý Vĩ Húc chậm rãi đứng thẳng người dậy, chống bàn tay múp míp vào thắt lưng.
“Chú ấy vốn là cảnh sát hình sự.” Cậu bé giới thiệu với tôi nghề nghiệp của Lý Vĩ Húc, vẻ mặt có chút đắc ý.
Tôi chẳng nói gì, tôi không nghĩ đó là tin tốt. Nghề nghiệp đó giết người còn dễ dàng hơn, ít nhất họ biết cách giết người hiệu quả, nhanh gọn.
“Chắc là nên quay lại nhà thờ xem thế nào...” Lý Vĩ Húc cau mày nhìn cặp kính trên bức tường thấp.
“Vì sao ạ? Nhất định phải quay lại sao?” Cậu bé tỏ vẻ sợ hãi.
Có nguyên nhân cả.
Trên đường đi tôi mới biết đại khái đầu đuôi một số chuyện. Cậu bé tên Dương Phàm (giờ tôi mới nhớ được tên), sáng nay một mình tới chính điện nhà thờ, định nhóm lửa để hong khô quần áo. Đúng lúc đó Mã Tiểu Điền đến. Dương Phàm không nghĩ ngợi nhiều, còn Mã Tiểu Điền sau khi đánh tiếng nghe ngóng được ở đó chỉ có hai người họ liền đột ngột tấn công Dương Phàm. Dương Phàm vẫn còn là trẻ con, đánh không lại Mã Tiểu Điền. Cậu ta bị Mã Tiểu Điền đè xuống đất, bóp chặt cổ họng. Nhưng Mã Tiểu Điền chưa thực hiện được ý đồ của mình thì Lý Vĩ Húc đã đến.
Dù không hiểu chuyện gì đang xảy ra, Lý Vĩ Húc vẫn hét lớn một tiếng làm Mã Tiểu Điền sợ quá bỏ chạy, tình cờ cứu mạng Dương Phàm. Nhưng sự việc vẫn chưa kết thúc, Dương Phàm vừa được cứu, Lý Vĩ Húc còn chưa kịp hỏi đầu đuôi câu chuyện thì Mã Tiểu Điền đã dẫn Hoàng Hải quay lại. Lý Vĩ Húc đành cùng Dương Phàm chạy vào rừng. Mã Tiểu Điền vốn định đuổi theo nhưng bị Hoàng Hải gọi lại, lý do không rõ.
Trong lúc bỏ chạy, Dương Phàm và Lý Vĩ Húc định tìm những người khác để liên thủ.
Ban đầu họ gửi gắm hy vọng vào Trần Bình - người đàn ông đô con đó nhìn rất đáng tin cậy, nhưng đáng tiếc họ chỉ tìm thấy tôi, lại còn biết thêm tin Trần Bình đã chết. Những người khác họ chưa gặp một ai. Họ vẫn nghĩ chúng tôi đều đã bị Mã Tiểu Điền và Hoàng Hải giết rồi.
Sự tình là vậy. Vì những nguyên nhân đó, Dương Phàm rất sợ quay lại nhà thờ. Vậy mà giờ Lý Vĩ Húc đề nghị quay lại.
“Tại sao phải quay lại?” Dương Phàm vô cùng sợ hãi, đối với cậu ta đó là một nơi rất đáng sợ.
“Tôi muốn biết xác Lý Giang còn ở đó không.”
“Nghĩa là sao?” Tôi chợt cảm thấy sợ hãi lạ lùng.
Lý Vĩ Húc nhìn mái nhọn nhà thờ ở đằng xa: “Trước khi tới đây, tôi từng nghe không ít tin đồn về Sách Khải Huyền Hắc Ám, có cả tin đồn liên quan tới những người đã chết vì cuốn sách này, tôi muốn kiểm chứng.”
“Ý, ý chú là...” Tôi thấy Dương Phàm còn căng thẳng hơn tôi: “Ý chú là xác chết có thể sống lại?”
“Không, không phải, chuyện khác, ban đầu tôi cũng không tin, chẳng suy nghĩ gì nhiều, nhưng giờ...” Lý Vĩ Húc dừng lại giây lát: “Nhưng giờ xác chết mất tích hơi kỳ lạ.”
“Kỳ lạ thế nào cơ?” Tôi không kìm được liền nhìn quanh.
Lý Vĩ Húc nghiêm túc nghĩ ngợi gì đó, tôi đoán không phải gã đang suy nghĩ mà đang đắn đo có nên nói ra hay không.
“Kỳ lạ thế nào?” Dương Phàm cũng căng thẳng quan sát xung quanh.
“Chúng ta cứ tới nhà thờ xác nhận trước đã. Giờ chúng ta có ba người, Hoàng Hải và Mã Tiểu Điền không dám tùy tiện ra tay đâu.” Nói rồi Lý Vĩ Húc đi về phía nhà thờ, rõ ràng gã không trưng cầu ý kiến mà chỉ đang thông báo.
Tôi và Dương Phàm nhìn nhau rồi đành bấm bụng đi theo.
Nước liên tục nhỏ xuống từ lỗ thủng trên nóc chính điện, làm mặt đất vốn đã ẩm thấp lại có thêm mấy vũng nước, cỏ dại trong góc nhà co cụm lại một chỗ đầy u ám, những cái ghế băng cũ kỹ và đá vỡ chẳng biết từ đâu nằm rải rác dọc bờ tường loang lổ. Cây thập tự giá vốn treo ở chính giữa đã biến mất từ lâu, để lại một dấu chữ “thập” nhạt màu trên tường. Tất cả đều có vẻ lạnh lẽo, ẩm thấp, tịch mịch, không chút sinh khí, chỉ còn đống tro tàn đen sót lại trên mặt đất chứng tỏ từng có người tới đây.
Cả chính điện trống hoác.
“Họ đi rồi.” Dương Phàm cẩn thận nhìn ra ngoài cửa, lau nước nhỏ xuống tóc.
“Tôi đi xem cái xác của Lý Giang.” Nói rồi Lý Vĩ Húc đi về phía phòng áo lễ chỉ có khung cửa nằm phía bên phải cung thánh.
Mấy phút sau, gã đứng ở cửa phòng áo lễ, quay lại nhìn chúng tôi: “Cái xác cũng biến mất rồi.”
Tôi và Dương Phàm nhìn nhau.
“Thế là sao?” Tôi đoán những chuyện Lý Vĩ Húc biết rất khác những gì chúng tôi biết.
Lý Vĩ Húc hơi bất an móc một điếu thuốc ra châm lửa, rồi tới cạnh đống tro tàn, rít mạnh vài hơi, chần chừ một lúc: “Ông nội của ông nội tôi từng có cuốn sách đó.”
Dương Phàm trợn tròn mắt nhìn tôi, ánh mắt ngạc nhiên.
“Khác với mọi người, đa số thông tin tôi có đều từ cuốn sổ tay nhà chúng tôi. Nhưng nửa đầu cuốn sổ tay đó đã bị mất, chỉ có nửa sau.”
“Trong đó viết những gì?” Dương Phàm gặng hỏi.
“Hôm qua Trần Bình nói không hoàn toàn đúng, người sở hữu Sách Khải Huyền Hắc Ám không thay đổi vận mệnh của mình mà là nắm giữ vận mệnh của mình.”
“Đúng vậy, cậu nói không sai, người sở hữu cuốn sách sẽ nắm giữ vận mệnh của mình.” Một giọng nói quen thuộc vang lên phía cửa hông thông ra sân. Hoàng Hải dẫn theo Mã Tiểu Điền xuất hiện trước mặt chúng tôi, nở nụ cười giả tạo.
Lý Vĩ Húc vẫn giữ được bình tĩnh, còn tôi và Dương Phàm đều sợ điếng người, ngẩn ra như gà mắc tóc. Hoàng Hải và Mã Tiểu Điền bước vào nhưng không đi về phía chúng tôi, cứ đứng yên một chỗ, vẻ mặt khinh bỉ.
Lý Vĩ Húc quay lại xua xua tay với hai chúng tôi, ra ý đừng sợ, trái ngược hẳn thái độ hung bạo trước kia, gã bình tĩnh nhìn Hoàng Hải: “Xem ra ông cũng biết rất nhiều.”
Hoàng Hải lạnh lùng liếc nhìn Lý Vĩ Húc, không hề đáp lời, mà quay sang bảo tôi và Dương Phàm: “Nói thật nhé, vận mệnh của chúng ta không hề nằm trong tay chúng ta. Nghe rất tồi tệ phải không? Nhưng có thứ còn tồi tệ hơn cơ, thậm chí chúng ta còn chẳng biết vận mệnh của mình nằm trong tay ai.”
Chúng tôi đều yên lặng nhìn ông ta.
“Có thể các cậu không thấy vậy, nhưng nếu nghĩ kỹ các cậu sẽ hiểu thôi, các cậu thực sự chẳng biết vận mệnh của mình do ai nắm giữ đâu.” Ông ta dừng lại giây lát, rút một điếu thuốc, châm lửa, hít sâu một hơi rồi phả ra làn hơi dài. “Vận mệnh của các cậu không nằm trong tay cấp trên các cậu, cũng không nằm trong tay ông chủ, càng không nằm trong tay bạn gái, bạn trai, thậm chí đối tác, người phỏng vấn các cậu, hoàn toàn không phải là họ, mà do một số người các cậu chẳng bao giờ đoán được nắm giữ. Có thể cấp trên, ông chủ quyết định thăng chức, giáng chức hoặc đuổi việc các cậu; có thể bạn gái quyết định lấy các cậu hoặc chia tay; có thể đối tác hoặc người phỏng vấn quyết định tiền đồ của các cậu. Nhưng đó là do một số cảm xúc kỳ lạ khó hiểu dẫn dắt khiến họ đưa ra lựa chọn. Thứ ảnh hưởng tới cảm xúc của họ có thể chỉ là cái áo sơ mi người giúp việc làm hỏng, hay một người ăn xin trên đường tình cờ nhìn họ với ánh mắt khinh miệt, hoặc lời thoại khô khan chán ngắt trong một bộ phim truyền hình rẻ tiền, thậm chí là một giọt nước bẩn từ mái hiên nhỏ xuống áo họ... Tóm lại, không ai biết thứ gì đã ảnh hưởng tới tâm trạng của họ. Nhưng ảnh hưởng của những lựa chọn mà cảm xúc đó sinh ra có thể thay đổi vận mệnh các cậu. Còn cấp trên của các cậu, ông chủ của các cậu, bạn bè của các cậu, bạn gái của các cậu, đối tác của các cậu và cả người phỏng vấn các cậu chỉ là kẻ chấp hành mà thôi. Nghĩa là vận mệnh của các cậu nằm trong tay những người các cậu thậm chí còn chẳng quen biết, mà họ lại không hề biết điều này.” Hoàng Hải nở nụ cười kỳ lạ, dừng lại giây lát rồi tiếp lời: “Cũng giống như các cậu không hề biết bản thân mình đang nắm giữ vận mệnh của ai vậy.”
Ông ta dừng lại như nghĩ ngợi điều gì, rồi cau tít mày, cúi đầu chậm rãi bước lên giảng đài, quay người nhìn chúng tôi, phía sau là bức tường vẫn còn lưu lại dấu vết của cây thập tự giá.
“Các cậu có hiểu không? Tôi căm hận thứ kết cấu hỗn loạn này, nó giống bức tranh ghép khổng lồ với hàng trăm triệu mảnh lộn xộn, nhìn đã thấy đau đầu, càng nghĩ ngợi nhiều lại càng muốn phát điên. Tôi hận điều đó! Thật đấy, tôi căm hận.” Ông ta nheo mắt chăm chú nhìn phía trên cánh cửa lớn sau lưng chúng tôi, như thể ở đó có vận mệnh ông ta căm hận.
“Nhưng chúng ta lại không thoát ra được, từ sau khi con người sống quần tụ để tăng cơ hội sống sót, chúng ta đã hợp thành một kết cấu tập thể gọi là xã hội, dưới kết cấu này, các tác động qua lại phi tuyến tính trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng. Các hành vi tác động qua lại mỗi giờ mỗi khắc đều thay đổi vận mệnh chúng ta. Việc nắm giữ vận mệnh bản thân, bất cứ ai - tôi nói là bất cứ ai cũng đều vô cùng yếu đuối, lực bất tòng tâm, chẳng ai ngoại lệ cả. Chúng ta đã giao vận mệnh mình ra từ lâu, rồi cùng vận mệnh người khác dệt thành tấm lưới khổng lồ, phức tạp đan xen nhau, việc chúng ta có thể làm chỉ là mù quáng di chuyển từ điểm giao cắt này đến điểm giao cắt khác, vậy thôi.”
“Nhưng luôn có người muốn nắm giữ vận mệnh mình.” Mã Tiểu Điền hờ hững tiếp lời, uể oải ngồi xổm tại chỗ, ánh mắt không biết vô tình hay cố ý liếc nhìn Dương Phàm, khóe miệng lặng lẽ nở nụ cười trắng trợn.
Dương Phàm hoảng sợ lùi lại một bước.
“Đúng vậy, không sai!” Hoàng Hải đứng thẳng người trên giảng đài cao cao nhìn xuống chúng tôi. “Nếu hiểu biết một chút về lịch sử, các cậu sẽ thấy vô số người đánh nhau vỡ đầu để được làm hoàng đế, tại sao vậy? Trong sách nói vì quyền lực, vậy quyền lực là gì? Quyết định vận mệnh của một quốc gia ư? Không, không, tuyệt đối không phải! Từ cổ chí kim, vận mệnh mỗi quốc gia đều nằm trong tay một nhóm người, chưa từng nằm trong tay một người. Vậy là quyết định vận mệnh của người khác ư? Tin tôi đi, còn có thứ người ta hứng thú hơn nữa cơ. Đó là nắm giữ vận mệnh của bản thân. Có thể các cậu sẽ nghi ngờ, chỉ vậy thôi ư. Nhưng đúng vậy đấy, chỉ thế thôi, vậy đã quá đủ hấp dẫn rồi. Dù phải trả bằng mọi giá, kể cả tính mạng của bản thân cũng không tiếc, mà thực tế thì đặt cược tính mạng mình là một trong những điều kiện bắt buộc.”
“Đó gọi là cái giá phải trả.” Lý Vĩ Húc đút hai tay vào túi quần, chậm rãi chêm vào một câu. Tôi có thể thấy sau gáy gã mướt mát mồ hôi.
“Đúng, là cái giá phải trả. Muốn nắm giữ vận mệnh của mình thì phải như vậy, rủi ro cao, vốn lớn. Hơn nữa quá trình này lại kéo dài, nghĩa là sẽ rất đau khổ, nhưng vẫn không ngăn được vô số người ham muốn nó, dù phải trả cái giá cực đắt.”
“Có điều...” Hoàng Hải khẽ khom người, nhìn chằm chằm vào mắt tôi, chậm rãi nói từng từ: “Có điều, nếu cho các cậu một cơ hội, cơ hội chẳng cần xưng đế vẫn có thể nắm giữ vận mệnh mình, các cậu có muốn thử không? Nghĩ xem, vận mệnh của các cậu không nằm trong tay những người vớ vẩn đó nữa, mà do các cậu quyết định, các cậu có thể khiến tương lai mình thuận buồm xuôi gió, các cậu có thể có rất nhiều tiền, các cậu có thể rất nổi tiếng, các cậu có thể thuận lợi mọi bề, thậm chí các cậu còn có thể khiến bản thân trở nên rực rỡ, được muôn người chú ý, hoặc trở thành truyền thuyết trong lịch sử luôn... Thế nào, các cậu có hứng thú không? Quyết định tương lai của mình ấy?”
Tôi bất an liếm môi, không biết nên trả lời thế nào. Thậm chí tôi còn chẳng biết ông ta có đang hỏi tôi thật không.
Nhìn thấy vẻ mặt tôi, Hoàng Hải bật cười: “Thực ra dù các cậu có lựa chọn thế nào, các cậu cũng đang thử thay đổi vận mệnh của mình thôi. Tất cả đã bắt đầu từ giây phút các cậu đưa ra quyết định rồi.”
Lúc này trong chính điện rất yên ắng, chỉ có tiếng nước nhỏ tong tỏng lúc được lúc mất.
“Diễn thuyết xong chưa? Chúng ta phải đi thôi, nơi này không phù hợp với chúng ta.” Nói rồi Lý Vĩ Húc quay đi, nhìn tôi và Dương Phàm, ánh mắt cực kỳ nghiêm khắc rồi gật gật đầu. Chúng tôi lặng lẽ theo Lý Vĩ Húc ra ngoài nhà thờ.
Hoàng Hải ở phía sau tiếp tục cao giọng giảng đạo: “Chạy đi, nhưng các người không thoát được đâu, vì chúng ta chẳng có gì khác biệt cả, mọi người đều đến đây vì nó.”
Đối với tôi, những lời vừa rồi như tiếng trống chiều, tiếng chuông sớm, liên tục vang vọng trong đầu tôi hết lần này tới lần khác, bởi vì tôi hiểu rồi.
Tôi nghĩ Hoàng Hải nói đúng.
Lời răn của tổ tiên
Sau khi rời khỏi nhà thờ một quãng xa, tôi hỏi Lý Vĩ Húc: “Chúng ta đi đâu?”
“Ra bờ biển tìm thử xem, chắc thuyền vẫn còn ở đâu đó, tôi luôn nghĩ bọn Hoàng Hải đã giấu nó đi.”
“Ý anh là hôm qua lúc họ nói mất thuyền rồi, anh vẫn chưa đi xác nhận?”
“Chưa, tôi chỉ nghe họ nói vậy.”
“Cháu cũng chỉ nghe họ nói.” Dương Phàm chen vào một câu.
“Vậy còn Trương Chiêu Huy thì sao? Lúc bọn Hoàng Hải ra bến thuyền, cô ta có mặt không?”
“A... đúng rồi, hình như hôm qua cô ta rời nhà thờ từ rất sớm, chắc đã ra bến thuyền xác nhận rồi... hoặc cũng có thể là chưa... tôi không biết.” Có vẻ Lý Vĩ Húc cũng không rõ.
“Hay là... “ Dương Phàm dừng bước nhìn tôi và Lý Vĩ Húc: “Hay chúng ta ra bến thuyền xem thử, chưa biết chừng lại có manh mối, từ hôm qua nghe nói thuyền mất đến giờ, đã ai trong chúng ta xác nhận tận mắt đâu, đúng không?”
Tôi cũng dừng bước nhìn Lý Vĩ Húc.
Anh ta hơi chần chừ một chút rồi gật đầu: “Đi, tôi cũng đói rồi, đến bên thuyền chúng ta nghỉ ngơi một lát.”
Tôi nhận ra mỗi người chúng tôi đều có chút mất tập trung, đầu óc như để ở đâu đâu.
Trên đường đi chúng tôi không nói năng gì, nhưng tôi vẫn lờ mờ cảm thấy không khí có phần khác thường. Dù sao những lời Hoàng Hải vừa nói cũng đầy cám dỗ, phải thừa nhận đó là sự thật. Hai ngày trước, tôi không nghĩ ngợi quá nhiều về việc nắm giữ vận mệnh của mình, nhưng giờ này phút này, tôi lại có chút ao ước, vì nó thực sự đáng ao ước.
Tôi đoán Dương Phàm cũng có suy nghĩ giống tôi. Tuy tôi không rõ cậu ta nghĩ thế nào, nhưng tôi biết vì sao mình lại động lòng.
Từ hồi còn nhỏ, hình như số mệnh đã định tôi chỉ có thể làm một người bình thường, chắc chắn sẽ không được người khác nhớ tới, vì tôi quá thiếu nổi bật.
Tôi là một người đàn ông bình thường, chưa từng được ai ngưỡng mộ, cũng chưa từng bị ai căm hận, nhiều nhất là thường xuyên bị người ta quên lãng. Nếu tìm hiểu kỹ lý do tôi chưa từng bị ai căm hận, không phải vì tôi có quan hệ tốt đẹp với mọi người, mà bởi ngay cả những trò tồi tệ tôi cũng không nghĩ ra được, tất nhiên sẽ chẳng thể có tư cách bị căm hận. Vì bình thường mà không bị người khác đố kị hay căm hận, kể ra thật đáng buồn.
Hơn ba mươi năm nay, tôi đã quen lặp đi lặp lại hết lần này tới lần khác với người khác rằng “Trước kia chúng ta từng gặp nhau”, tôi đã quen nhắc đi nhắc lại tên mình trước mặt cấp trên đang cố nhớ tên tôi, tôi đã quen với việc người khác không tìm thấy mặt tôi trong ảnh tốt nghiệp, tôi đã quen chìm lẫn vào trong đám đông từ lâu. “Được chú ý” cách xa tôi không chỉ một dải ngân hà, nên tôi cũng an phận bị vùi lấp trong biển người. Thậm chí, có một dạo tôi còn cho rằng mình thích như vậy.
Luôn là như vậy.
Nhưng đó không phải suy nghĩ thực sự của tôi, tôi chỉ đang an ủi bản thân thôi. Đúng vậy, an ủi bản thân. Vì tôi chẳng thể thay đổi được gì. Tôi không thể trở nên xuất chúng hơn người, không thể thu hút ánh nhìn của người khác, tôi đành chấp nhận thực tế, chôn sâu dục vọng bí mật của mình xuống đáy lòng, để không một ai hay biết. Nhưng tôi biết rất rõ dục vọng từ tận đáy lòng mình mãnh liệt nhường nào, mỗi khi thất ý, mỗi khi cảm thấy thất bại, mỗi khi bị người khác lãng quên, khát vọng nắm giữ vận mệnh bản thân, cảm giác căm hận sự bình thường như một con mãnh thú nấp sâu trong cơ thể đang phát cuồng bắt đầu cắn xé lồng ngực tôi, cào cấu cổ họng tôi, khiến tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Nhưng việc duy nhất tôi có thể làm là tiếp tục đè nén nó, vùi đầu trong chăn liên tục gào thét đến khản cả cổ họng, cho tới khi sức cùng lực kiệt mà ngủ thiếp đi. Thức dậy, tôi vẫn là con người bình thường chẳng có gì đặc biệt, sẽ bị người ta quên lãng chỉ sau một giây.
Tôi lặng lẽ chịu đựng tất cả những điều này, thậm chí có lúc tôi còn hoài nghi ý nghĩa sự tồn tại của mình chỉ là để chết. Mỗi khi có ý nghĩ này, tôi chỉ muốn sớm kết thúc sinh mệnh mình, để kết quả đó đến luôn đi.
Tôi là vậy, nhìn giống như đang sống một cuộc đời yên ổn, nhưng thực tế lại vùng vẫy giằng xé đến mức kiệt quệ cả thể chất lẫn tinh thần. Mỗi ngày.
Tôi luôn nghĩ mình sẽ sống như vậy đến chết.
Thế rồi ma xui quỷ khiến thế nào tôi lại đến nơi này, bị cuốn vào một cuộc giết chóc lạ lùng, tận mắt nhìn thấy mỗi người ở đây đều tham gia với sự hưng phấn bệnh hoạn, ngờ vực, cướp đoạt... Lúc đầu tôi cảm thấy sợ hãi, băn khoăn, hoang mang, cho đến khi nghe những lời Hoàng Hải nói, tôi nghĩ mình đã hiểu ra, cũng biết được vấn đề nằm ở đâu.
Không phải họ điên hết rồi, mà vì tôi không điên. Tôi loáng thoáng biết được mình nên làm thế nào.
Đúng vậy, tôi không nhận được khải thị, nhưng thế thì đã sao? Tôi phải coi trọng cái khải thị chết tiệt đó ư? Lẽ nào không có khải thị thì tôi chắc chắn phải chấp nhận thất bại? Không, tôi không muốn thất bại, ở đây thất bại là chết.
Tôi không muốn chết. Đó không phải ý nghĩa sinh mệnh của tôi.
Tôi khao khát được nắm giữ vận mệnh của mình, chẳng còn bị người khác sắp đặt nữa. Tôi chán ngấy phải làm một người bình thường, chán ngấy cuộc sống bình thường, chán ngấy vô số lần bị người ta quên lãng rồi. Tôi căm hận bản thân bị vùi lấp trong đám đông! .. Cho các cậu một cơ hội, một cơ hội nắm giữ vận mệnh của mình, các cậu có muốn thử không?... Các cậu có hứng thú quyết định tương lai của mình không?” Thật nực cười! Tôi cần lựa chọn sao? Cần lựa chọn thật sao?
Không, mặc kệ lựa chọn chết tiệt đó đi! Tôi không muốn có một ngày mình lặng lẽ chết, không muốn rất lâu sau khi tôi chết mọi người mới đột nhiên phát hiện ra tôi đã chẳng còn ở trên cõi đời này nữa, tôi không muốn đến một dấu vết mình từng tồn tại cũng chẳng có! Tôi biết rõ mình căm hận sự bình thường tới nhường nào! Tôi hận!
Tôi càng không thích, cũng không muốn chết ở đây!
Dù chuyện này điên cuồng thế nào, tôi đã đến đây, kể cả phải trả cái giá rất lớn, tôi vẫn muốn tiếp tục.
Vì tôi đã đến rồi.
Bầu trời xám xịt kéo dài từ đỉnh đầu đến tận mặt biển đằng xa, tầng mây dày đặc chậm rãi ụp xuống hòn đảo, e là đêm nay thời tiết sẽ rất tệ. Không biết từ bao giờ màu biển lại giống sắc trời như vậy, u ám nặng nề. Sóng biển dập dềnh gấp gáp giống một họa sĩ cáu kỉnh đang vẽ những đường màu trắng to trên tấm vải màu xanh xám, rồi lại cảm thấy không hài lòng nên vội vã xóa chúng đi. Thủy triều hờ hững xô bờ, mang theo cả tông màu xám xịt của mây đen lên bờ biển đá ngầm, khiến những tảng đá ngầm vốn tối tăm lại càng u ám hơn. Bến thuyền sơ sài bị thủy triều xô đẩy kêu rắc rắc, như thể sắp bị bóp nát rồi tan thành những mảnh gỗ vụn, bất cứ lúc nào cũng có thể biến mất trong làn nước, cho tới khi chẳng còn nhận ra dấu vết.
Ba chúng tôi đứng trên bến thuyền trống trải, sững sờ nhìn cảnh sắc tăm tối và u ám trước mắt.
Không có thuyền.
“Làm thế nào bây giờ?” Dương Phàm trơ trọi quay lại nhìn tôi và Lý Vĩ Húc.
Lý Vĩ Húc cởi mũ bóng chày xuống, gãi gãi cái gáy múp míp: “Nghỉ một lát đi, tôi đói rồi.”
Chúng tôi ngồi trên bờ biển chỗ bến thuyền, Lý Vĩ Húc ném cho tôi một cái xúc xích và một chai nước, Dương Phàm đưa tôi hai cái bánh xốp, tôi thấy đồ ăn của họ cũng không nhiều, nếu ba người chia nhau, nhiều nhất chỉ duy trì được hai bữa nữa.
Ánh mắt tôi đầy vẻ cảm kích, áy náy.
“Không sao đâu, ăn tiết kiệm chút, chưa biết chừng lại tìm được ba lô của chú, đến lúc đó nhờ cả vào chú.” Dương Phàm vừa nhai nhồm nhoàm vừa an ủi tôi, trong miệng nhét đầy thức ăn.
“Họ có thể giấu thuyền vào chỗ chết tiệt nào được nhỉ?” Lý Vĩ Húc bóp chai nước, cau mày khẽ lẩm bẩm.
Dương Phàm mải ăn, không nghe thấy.
Tôi nghĩ tới Trương Lam.
Chiếc thuyền nhỏ tôi lái tới đây ở một nơi chỉ có cô ấy biết.
Giờ Trương Lam đang ở đâu?
Theo lời Lý Vĩ Húc và Dương Phàm, chắc chắn họ không gặp Trương Lam. Hoàng Hải và Mã Tiểu Điền cũng không nhắc lời nào về cô ấy. Họ cố ý không nói hay là cũng chưa gặp Trương Lam? Tuy lúc nãy ở lại nhà thờ không lâu, nhưng có vẻ hai tên khốn kiếp đó cũng chưa hề gặp cô ấy, nếu không ít nhiều Hoàng Hải đã nói gì đó, ông ta hoàn toàn có thể làm ra chuyện này. Như vậy rất có thể Trương Lam vẫn an toàn. Nhưng ngoài cái ba lô nhỏ, cô ấy không hề mang theo đồ ăn, nước uống trong ba lô to, tôi đã kiểm tra rồi. Hơn nữa, theo những gì tôi biết về cô ấy, cô ấy chắc chắn sẽ không tự bỏ đi như thế, cô ấy ghét bỏ cuộc giữa chừng, chắc chắn cô ấy đang ở một nơi nào đó trên hòn đảo này.
Có lẽ tôi nên quay lại cái hang... Thôi được, lát nữa tôi sẽ cân nhắc xem có nên quay lại không.
Nhưng cô ấy giấu thuyền ở đâu nhỉ?
“Loại thuyền máy đó chìm xuống nước rồi còn sử dụng được nữa không?” Dương Phàm bỗng nhiên hỏi một câu không đầu không đuôi, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.
“Chắc không được nhỉ?” Tôi quay sang nhìn Lý Vĩ Húc, ánh mắt dò hỏi.
“Không, dưới nước có áp lực, một số linh kiện chỉ chống nước, không chịu được áp lực, bị nước vào là hỏng luôn.”
Dương Phàm gãi gãi đầu: “Vậy có thể giấu thuyền ở đâu được nhỉ?”
“Còn nhớ trên thuyền có một tấm vải bạt rất lớn không?” Lý Vĩ Húc nheo mắt nhìn hai chúng tôi: “Loại vải bạt đó màu gần giống màu đá ở đây, chỉ cần che thuyền, kéo lại gần một tảng đá ngầm nào đó sẽ rất khó bị phát hiện.”
Mắt Dương Phàm sáng lên, nét mặt lộ vẻ mừng rỡ: “Đúng, đúng! Cháu nhớ ra rồi, hình như thế!”
“Tôi nghĩ đó là cách giấu thuyền. Thuyền lớn như vậy, không thể kéo lên bờ chôn được, mà trên đảo cũng chỉ có mấy người chúng ta. Chỉ cần vẫn còn thuyền, chắc ở đâu đó bên bờ biển thôi...” Nói rồi Lý Vĩ Húc vứt vỏ đựng đồ ăn trong tay đi, thở dài một tiếng, vẻ mặt không thỏa mãn chút nào: “Sau khi trở về tôi muốn ăn một bữa thật ngon, mấy hôm nay chẳng có bữa nào no cả.”
Câu nói đã khơi dậy ham muốn ăn uống của Dương Phàm, cậu ta phấn khích miêu tả một số món ngon mình từng ăn.
Lúc này tâm tư tôi chẳng nằm ở đây, tôi không tham gia vào câu chuyện mà vội vã ăn cho xong rồi ngẩng lên nhìn Lý Vĩ Húc.
Anh ta nhận ra điều đó, nghiêng đầu nhìn tôi dò hỏi.
Tôi do dự một chút, rồi không kìm được liền hỏi: “Ừm... lúc ở nhà thờ, anh nói tổ tiên anh từng có cuốn sách đó, chuyện là như thế nào? Còn nữa, hai cái xác đều biến mất có ý nghĩa gì?”
Lý Vĩ Húc lau miệng, vừa nghĩ ngợi vừa vặn chặt nắp chai nước rồi nhìn chằm chằm mặt biển một lúc lâu mới lên tiếng: “Nhà tôi có một cuốn sổ tay, trong đó ghi chép lại một số điều về Sách Khải Huyền Hắc Ám, nhưng sổ tay chỉ có nửa sau nên tôi cũng không biết nhiều lắm.”
“Vậy nửa sau nói về cái gì?” Dương Phàm đẩy gọng kính, nhích về phía này.
“Có Sách Khải Huyền Hắc Ám không phải chuyện tốt, nghe nói đó là một lời nguyền.”
“Hả?” Tôi và Dương Phàm không hẹn mà cùng kinh ngạc.
“Sổ tay viết vậy, nét chữ rất loạn, lại tháu, có vẻ viết trong lúc hoảng loạn, hơn nữa lại viết bằng bút lông, chưa khô đã gấp lại sẽ bị lem, thành ra nhìn không rõ lắm... Trong sổ tay nói cuốn sách do ma giáo phương Tây để lại, người có cuốn sách sẽ bị nguyền rủa, nhưng nguyền rủa thế nào thì không nói rõ...”
“Xác chết mất tích có liên quan đến chuyện này không?”
“Trong sổ viết những người chết vì cuốn sách này đều sẽ sống lại. Chỉ có một câu như vậy thôi, còn cụ thể thế nào tôi không biết... Lúc mới đọc cuốn sổ tôi không tin, nhưng hôm nay...”
“Tổ tiên chú giàu có lắm à?” Dương Phàm tò mò nhìn Lý Vĩ Húc.
Lý Vĩ Húc nhìn Dương Phàm, gật đầu: “Nghe nói từng giàu lên trong một thời gian ngắn, nhưng tự sát rồi.”
“Ông nội... của ông nội chú á?”
“Ừ.”
“Vì sao?”
“Sao mà biết được.” Lý Vĩ Húc hơi ngập ngừng, tôi cảm thấy anh ta đang lấp lửng chuyện gì đó.
“Ra vậy...” Dương Phàm liếc tôi thật nhanh, tôi thấy vẻ hoài nghi trong ánh mắt cậu ta.
“Ngồi lâu lắm rồi, chúng ta đi tìm thuyền đi, tôi cảm thấy đi dọc bờ biển sẽ tìm được.” Tôi chuyển chủ đề.
“Đi thôi.” Lý Vĩ Húc khẽ nói rồi đứng dậy, men theo bờ biển toàn đá ngầm.
Tôi và Dương Phàm trao đổi ánh mắt rồi đi theo, tôi nghĩ cậu ta cũng nhận ra có vấn đề.
Trên bờ biển có rất nhiều đá tảng lớn màu xám đen, chúng tôi phải tới gần kiểm tra từng chỗ, rất tốn công tốn sức.
Dù đã rất cẩn thận, nhưng một tiếng sau quần chúng tôi vẫn ướt nhẹp vì những vũng nước đọng trên bờ biển. Chẳng còn cách nào khác, muốn tới gần một tảng đá ngầm buộc phải tìm cách vượt qua những vũng nước đó, to nhỏ nông sâu khác nhau, để không phải đi vòng quá xa, chỉ có thể nhảy qua hoặc lội qua, thực sự khiến người ta đau đầu. Với nơi ẩm thấp thế này, giữ quần áo khô ráo rất quan trọng, mấy ngày ở đây khiến con người ta trở nên cực kỳ nhạy cảm với chuyện này, thậm chí có thể nổi nóng vì quần áo bị ướt.
Nhưng chúng tôi chẳng còn lựa chọn nào khác.
Lý Vĩ Húc vừa lẩm bẩm chửi rủa vừa kéo lê cơ thể mập mạp, vụng về nhảy qua nhảy lại trên bãi biển toàn đá để kiểm tra, còn tôi và Dương Phàm ở phía sau kiểm tra những chỗ anh ta không muốn đi. Dương Phàm và tôi đều có chút lơ là.
“Những điều chú ấy nói...” Dương Phàm khẽ hỏi tôi.
“Nửa cuốn sổ tay gia truyền á?” Tôi cố tình dài giọng, rõ ràng Dương Phàm không hề nói thẳng ra.
“Đúng vậy... có đáng tin không?” Nói rồi cậu ta dễ dàng vượt qua một vũng nước lớn, lúc đáp xuống chân đá văng một mớ đá vụn màu xám.
Tôi chuyển sang vị trí dễ nhảy hơn, bước một bước lớn qua vũng nước rồi hỏi lại: “Cháu thấy sao?”
“Ừm... rất khó nói.”
“Sao thế?”
“Chuyện này... tóm lại rất khó nói, cháu nghĩ nãy giờ, hình như có vấn đề gì đó...”
“Vấn đề gì?” Tôi không để lộ suy nghĩ của mình, định chờ Dương Phàm nói ra.
“Chú xem, xác La Chiêm biến mất như thế nào hai chúng ta đều không nhìn ra, đúng không, có mình chú ấy nhìn ra, nên chúng ta chỉ biết tin chú ấy. Xác Lý Giang hai chúng ta cũng chẳng thấy, chú ấy tự đi kiểm tra...”
“Chú không muốn đi kiểm tra cái xác đó.” Tôi nói thẳng.
Dương Phàm nuốt nước bọt có vẻ hơi căng thẳng: “Cháu cũng thế... nhưng những lời vớ vẩn như người chết sống lại... cháu thực sự không tin. Có thể...”
“Có thể gì?”
“Có thể, tất cả đều do chú ấy giở trò...”
“Nhưng anh ta đã cứu cháu thoát khỏi Mã Tiểu Điền.”
“Đúng vậy, nhưng...” Nét mặt Dương Phàm có chút giằng co.
Tôi ngăn Dương Phàm tiếp tục nói, vì tôi nhìn thấy Lý Vĩ Húc đang tới gần.
“Tìm được rồi à?” Dương Phàm quay lại nhìn anh ta.
Vẻ mặt Lý Vĩ Húc nghiêm nghị lạ thường, anh ta tới cạnh chúng tôi, hạ giọng nói khẽ: “Bình tĩnh, giả vờ vô tình nhìn về phía khu rừng... trong rừng có người!”
Tôi và Dương Phàm giật mình, rồi nhanh chóng giả vờ vô tình liếc về phía rừng cây. Không thấy gì cả.
“Ở đâu?” Tôi vừa giả vờ ngồi xuống buộc dây giày vừa hỏi.
“Lúc nãy tôi thấy người đó nấp đi, rồi lại chui ra.”
Dương Phàm nhìn thêm lần nữa thật nhanh: “Không có...”
Lý Vĩ Húc sốt ruột: “Hướng tôi xoay lưng lại ấy, các cậu nhìn sau lưng tôi xem.” Nói rồi anh ta quay lưng về phía rừng cây, đứng trước mặt chúng tôi, khoa chân múa tay như đang nói điều gì. Nếu đằng xa có người nhìn trộm chúng tôi thật, động tác khoa trương đó chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của đối phương.
Dương Phàm và tôi nhìn về phía khu rừng qua đôi vai anh ta. Ngoài cây cối, chẳng có gì cả.
Đúng lúc tôi đang nghi ngờ, hình như có bóng người xẹt qua phía sau một cái cây rồi biến mất.
Dương Phàm cũng thấy.
Chúng tôi trở nên căng thẳng.
“Hình như hắn phát hiện chúng ta đang nhìn rồi, giờ làm thế nào?” Giọng Dương Phàm hơi run run. Tôi nhìn thật nhanh về phía khu rừng, giờ chẳng thấy gì nữa cả.
“Tách ra đi, hai người ở đây giả vờ phát hiện ra gì đó, còn tôi sẽ giả vờ quên đồ để đi về phía bến thuyền, sau đó vòng một vòng vào rừng cây xem thế nào.” Lý Vĩ Húc rất bình tĩnh.
“Hay là... hay là để tôi đi cho, tôi không có ba lô, hành động cũng nhanh. Nếu có chuyện gì tôi sẽ chạy về phía hai người, hơn nữa tôi còn có cái này.” Nói rồi tôi rút con dao rọc giấy ra cho họ xem.
Hai người họ nhìn nhau, Lý Vĩ Húc do dự vài giây rồi gật đầu: “Chú ý an toàn.”
Nói rồi anh ta đi vài bước về phía bờ biển, chỉ một tảng đá ngầm màu xám đen to như cái nhà rồi giả bộ hét toáng lên.
Nếu là bình thường, chắc tôi sẽ cảm thấy rất buồn cười, nhưng giờ hoàn toàn ngược lại, tôi rất căng thẳng.
Rất nhanh sau đó, dưới sự chỉ huy khẽ khàng của anh ta, tôi và Dương Phàm giả vờ lại gần, rồi nói gì đó với nhau, tôi gật đầu lia lịa, quay người chạy về phía bến thuyền.
Chạy được một quãng rất xa, tôi quay lại nhìn, Lý Vĩ Húc và Dương Phàm vẫn đang khoa chân múa tay nhiệt tình, thỉnh thoảng lại nhìn về phía rừng cây hoặc phía tôi.
Họ giả vờ rất giỏi.
Tôi đi thêm một lúc nữa dọc bờ biển hình cung, cẩn thận quan sát tình hình trong rừng rồi ngoặt vào.