Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1289 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II

Vụ án Hideki Tojo đã trở thành một đề tài lớn trước dư luận thế giới sau khi chiến tranh kết liễu với sự đầu hàng của Nhật. Trước Tòa án xử các tội phạm chiến tranh của Đồng minh năm 1946, người ta đã buộc tội Tojo với nhiều tội danh khác nhau như : phá hoại hòa bình, có hành động vô nhân đạo và một số tội ác chiến tranh khác. Nhưng tội phạm lớn nhất không được bản cáo trạng của Đồng minh nói đến là tội lãnh đạo quân phiệt Nhật đoạt chánh quyển, đưa nước Nhật vào một cuộc chiến gian giảo, tàn bạo nhất từ trước tới nay. Từ lâu, Tojo đã được nhiều người gọi bằng những ngoặi hiệu khác nhau như : «Người đầu thép», «Hiệp sĩ khát máu», «kẻ cuồng tín và tàn bạo nhất nước Nhật». Nhiều người khác lại cho rằng tội lớn nhất của Tojo là ông là một quân nhân không giống như quan niệm đã được Tây phương công nhận, nhưng ông là một chiến sĩ theo kiểu Nhật bản. Do đó những kẻ thù của Nhật không ngớt gán cho ông đủ mọi thứ tội ác.

Nhưng định mạng đã nhất định khiến Tojo trở thành một quân nhân. Ông ra đời ngày 30 tháng Chạp năm 1884. Thân phụ ông là Hidenori Tojo, một người đã gia nhập quân đội Thiên Hoàng ngay từ lức mới mười sáu tuổi. Hideki Tojo có hai người anh, nhưng đều chết từ lúc còn nhỏ. Vì vậy theo truyền thống gia đình của Nhật bản, ông đương nhiên phải nối nghiệp cha để trở thành một quân nhân, giai cấp được trọng vọng và hưởng nhiều đặc quyền nhất thời bấy giờ.

Các di tích lịch sử xưa nhất của dân Nhật từ trước còn lưu lại là các tượng nung bằng đất sét nặn hình các sứ quân ngồi trên lưng ngựa. Điều đó chứng tỏ xưa kia, họ là các bộ lạc từ miền Bắc Á Châu đi lần tới bình nguyên Yamato thuộc hòn đảo chánh của nước Nhật hiện nay, đó là đảo Honshu. Thoạt đầu đặt chân tới đây, họ đã phải đánh nhau ngay với những người dân địa phương thuộc giống Caucasoid. Đương đầu với cuộc chiến đó, lãnh tụ của họ đã thống nhất các bộ lạc dưới quyền cai trị của mình, và ông ta tự tìm cho mình một nguồn gốc thần thánh đề làm tăng thêm uy tín.

Cuộc xâm lâng của các bộ lạc Nhật đã gặp sức chống cự mãnh liệt của người Ainu, và phải ngừng lại vào thế kỷ thứ tám. Sau đó, lại được tiếp tục, và lần này việc chiến đấu do các sứ quản đảm nhận. Họ tự tuyển mộ lấy lính và tổ chức thành các đạo quân nhỏ đánh riêng rẽ bằng một lối đánh tàn bạo, dũng mãnh, chớ không chiến đấu chung với quân lính nhà vua. Những người đó dần dần trở thành các chiến sĩ chuyên nghiệp phục vụ cho nhiều lãnh chúa khác nhau và được gọi bằng tên samurai (võ sĩ đạo).

Các hiệp sĩ samurai được mọi người nhận ra ở bất cứ đâu với chỏm tóc đặc biệt bới lên ở đỉnh đầu, và trên áo kimono của họ có vẽ dấu hiệu của bộ lạc. Họ tự nguyện hiến dâng cả đời mình vào việc chiến đấu và kiện toàn thân thể, tánh tình. Họ phải luyện tập để đi tới chỗ tự chủ tuyệt đối ; không bao giờ để lộ sự tức giận hay vui sướng ra ngoài cho người khác thấy. Họ tự tách rời ra khỏi lối sống bình thường của xã hội công cộng, tuyệt nhiên không dính dáng tới chuyên thương mại, tiền bạc. Nghề chánh của họ là đánh kiếm. Hai cây kiếm, một dài, một ngắn, lúc nào họ cũng luôn luôn mang trên người, vừa là khí giới mà đồng thời cũng là dấu hiệu tiêu biểu của một samurai.

Những thanh kiếm của các samurai thường rất nặng, cầm hai tay mới nổi, được rèn luyện tinh vi bằng thứ thép cực tốt và thường mang nhiều huyền thoại do các thành tích chiến đấu với kẻ thù tạo ra. Kiếm dài đùng để chiến đấu, còn thanh đoản kiếm, samurai xử dụng trong nghi lễ tự tử khi không đủ sức bảo vệ danh dự, khi bị khống chế hay không hoàn thành trách vụ đã được giao phó. Nghi lễ tự tử đó, các samurai đều được huần luyện kỹ càng; gọi là hara-kiri, có nghĩa là « rạch bụng ». Trong lúc tự tử theo lối rạch bụng này, thường có một hiệp sĩ khác chứng kiến và khi được bạn yêu cầu, ông ta sẽ dùng trường kiếm để ban cho nạn nhân một cú ân huệ cuối cùng.

Thanh kiếm chỉ là biểu lộ sức mạnh bên ngoài của samurai, nhưng sức mạnh quan trọng hơn nằm ở bên trong, và đó chính là tinh thần, là cách cư xử của họ, được gọi là bushido. Những quy luật của người hiệp sĩ trở thành như một thứ thần đạo được các vị tuyên úy thiết lập và duy trì tại những ngôi đền rải rác quanh vùng Kyoto ngay từ thế kỷ mười một. Thần đạo này tới thế kỷ mười ba đã biến dần thành môn phái Zen của Phật giáo tại Nhật, chủ trương thản nhiên trước các đau đớn của thân xác.

Dưới thời sứ quân Tokugawa, những quan niệm của Đạo Khổng được kết hợp với Thần đạo để trở thành luật lệ căn bản chi phối đời sống chánh trị, Dưới chế độ của Tokugawa, người đã lấn quyền của Thiên Hoàng, xã hội được tổ chức chặt chẽ bằng cách dựa trên nền tảng Quân, Sư, Phụ của Khổng giáo, Luật pháp quy định rõ ràng : người dưới phải phục tòng Bề trên, và người trên phải ăn ở rộng lượng.

Sự phân chia giai cấp thống trị và bị trị trong xã hội Nhật thời đó được diễn tả qua khẩu hiệu chua chát kanson mimpi, có nghĩa là « Quân vi quý, dân vi khinh,» Các hiệp sĩ dĩ nhiên thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội. Họ được hưởng tất cả những ưu đãi và đặc ân các lãnh chúa dành riêng đãi ngộ họ. Chính vì vậy, họ không cần phải sống hòa mình với giới bình dân. Đó là bối cảnh phát sanh ra các samurai của nước Nhật ở thế kỷ mười sáu.

Triều đại sứ quân Tokugawa vừa hoàn thành xong việc kết hợp các bộ lạc trong nước để tiến tới việc thống nhất quốc gia, thì phải lo đối phó với những đe dọa từ bên ngoài đưa tới. Năm 1543, các chiến thuyền Bồ đào nha trên đường đi Trung Hoa, đã bị bão thổi tạt vô bờ biền Nhật, mở đầu cho sự tiếp xúc giữa người Nhật với người Tây phương sau này. Sau đó, các nhà truyền giáo bắt đầu đổ bộ lên đảo Kyushu mang theo một tôn giáo hoàn toàn xa lạ đối với dân Nhật, đó là Thiên chúa giáo. Chánh quyền tại Kyushu lúc đó coi Phật giáo như quốc giáo, dĩ nhiên không thể nào có cảm tình với thứ tôn giáo mới này. Những tin tức từ Phi luật tân đưa tới cho biết, người Tây ban nha đã chiếm xứ này để truyền đạo Ki-tô, thêm vào đó những cuộc nổi dậy của một nhóm dân theo đao Ki-tô tại Kyushu đã khiến chánh quyền Mạc phủ đi tới những biện pháp mạnh là cấm đạo Ki-tô. Những người theo đạo này, bản xử cũng như ngoại quốc, đều bị săn đuổi một cách tàn nhẫn, và bị tra tấn, bắt phải bỏ đạo. Ai không chịu bỏ đều bị chém.

Sau đó, mọi người đều phải ghi tên theo Phật giáo. Việc chế tạo các tàu đi biển đều bị cấm chỉ. Người nào xuất ngoại lén lút sẽ bị tử hình. Đôi khi những người ngoại quốc nhập cảnh lén lút cũng bị xử tương tự. Chỉ còn một vài người Đức buôn bán tại Nagasaki được phép ở lại Nhật, và bị hạn chế gắt gao trong việc đi lại. Chánh sách bế quan tỏa cảng này được tồn tại mãi cho tới năm 1876, là năm sụp đổ của chế độ Mạc phủ.

Bác sĩ Thurnberg, một học giả người Thụy điển được phép du lịch vào nước Nhật lúc đó đã ghi lại : « Dân Nhật không hề bị Tây phương hủ hóa. Họ biết giữ lại những nếp sống cổ truyền. » Mặc dầu chế độ Mạc phủ thi hành chánh sách bế quan tỏa cảng, nhưng nước Nhật đã may mắn thoát được một cuộc chinh phục của người Tây phương để trở thành thuộc địa, như nhiều trường hợp của các nước Á Châu khác. Ngoài ra Nhật cũng thoát khỏi cảnh bị cướp đất, xâu xé, làm nhục mà nước láng riềng Trung Hoa đã phải chịu đựng. Thực quyền nước Nhật thời đó nằm trong tay Mạc phủ ở Edo, nay là Tokyo. Hoàng đế vẫn còn, nhưng chỉ giữ ngôi vị làm vì và đóng đô ở Kyoto. Do đó, các samurai là giai cấp được Mạc phủ ưu đãi nhất, vì họ giúp cho chế độ được vững mạnh.

« Lùi
Tiến »