Trương Văn Hổ chỉ huy quân sĩ cố cầm cự trước sức tấn công từ đội thuyền của Phạm Chính được hơn một canh giờ thì viên hầu giật mình kêu lên và chỉ về phía xa xa. Một đoàn thuyền đang tiến về phía trận đánh. Ngọn cờ thêu chữ Trần bay lồng lộng. Đoàn thuyền xuôi gió nam mà vùn vụt lao đến. Trương Văn Hổ thoáng rùng mình. Hắn vội vã truyền lệnh các thuyền kíp vứt lương xuống biển, tìm mọi cách quay mũi rồi giương buồm lên mượn gió Nam mà chạy.
Sau này, trong suốt hải trình quay về cố quốc, Trương Văn Hổ vẫn tự cho mình kể cũng là sáng suốt trong cơn nguy cấp. Nếu hắn không nhanh chóng cho thuyền quay mũi, thì chắc chắn không bị giết thì cũng sẽ bị bắt trong trận này. Trương Văn Hổ bỏ lại mười chiếc thuyền không kịp quay đầu, dẫn mười thuyền còn lại cắm cổ mà chạy. Trên những chiếc thuyền bị bỏ rơi, đám quân Nguyên đành quỳ xuống xin hàng. Nhưng không ai để ý đến chúng. Chúng đã như cá nằm trong rọ. Giờ, cả Phạm Chính lẫn Đỗ Niêm, với sự thân chinh của Đức ông Nhân Huệ trên thuyền tướng, đều đang quyết đuổi theo phá sạch lương và bắt cho bằng được Trương Văn Hổ.
Tiếc là gió Nam trước cản đường tiến của giặc nhưng sau lại góp phần thổi căng những lá buồm giúp chúng nhanh chân tẩu thoát. Ta chỉ kịp bắt và phá thêm năm thuyền. Trên năm thuyền đó, toàn bộ lính trong đội thân binh của Trương Văn Hổ đã chia ra trụ lại tử chiến cản đường cho chủ tướng bỏ chạy. Để diệt hết lũ chúng, không ít quân tướng Vân Đồn cũng đã vì nước quên mình.
Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ hầu Trương Văn Hổ đào thoát và lựa gió tìm về Quỳnh Châu. Về tới nơi, hắn sẽ được biết rằng số phận hai đoàn thuyền lương đi sau hắn kia cũng gần như đoàn thuyền của hắn. Từ Khánh thì bị bão lôi đến mất phương hướng, giạt vào tận Chiêm Thành mới lần mò quay lại Quỳnh Châu. Phí Củng Thìn đi sau cùng, mới đến Huệ Châu gặp bão cũng bạt về Quỳnh Châu. Tất cả, không sót một mảy may lương thảo cho đội quân chinh phạt đều đã bị cơn bão bí ẩn cuối năm Trùng Hưng thứ ba biến thành trò đùa của sóng gió.
Nhưng đấy là chuyện sau này. Còn lúc đó, Trương Văn Hổ đang mải nghĩ về những hình phạt mà Nguyên chúa sẽ dành cho y. Chẳng còn ai trên chiếc thuyền chạy trốn nghĩ tới Thoát Hoan kẻ đang như ngồi trên lửa mong ngóng lương thảo từng giờ từng khắc. Than ôi, lương thảo ấy, đều đã nằm dưới biển sâu rồi!
Về sau, viên quan hầu đã nghĩ ra một mưu hiểm khiến Trương Văn Hổ qua cơn lo sợ. Tất cả tội lỗi sẽ đổ lên đầu viên An phủ sứ đã chết. Sớ dâng lên phải tâu rằng Trần Trọng Đạt cưỡng lệnh tự tiện dấn thuyền đi vào lối nhỏ trúng kế mai phục. Trương Văn Hổ vội vã làm theo ý đó. Trong đầu hắn chỉ thoáng chút nghĩ về Trần Trọng Đạt: "Thôi, ngươi đằng nào cũng chết. Mà trong cái tổ chim đã vỡ thì trứng sao còn giữ được. Thôi thì hy sinh nốt toàn gia của ngươi thế mạng cho nhà ta cũng là hợp lẽ. Chẳng phải vì thế mà các ngươi lại mau chóng được đoàn tụ ở cõi âm hay sao?”
Gió Bắc lại đang thổi ào ạt ngoài kia như chưa từng có một phen quần thảo với gió Nam trên khắp chốn Vân Đồn. Mưa đã tạnh. Trời trong dần.
Một trận đánh quỷ khốc thần sầu vừa trôi qua trong chớp mắt. Cả một đoàn thuyền lương, nỗi mong mỏi không cùng của Thoát Hoan, đã chìm sâu dưới biển như chưa hề từng tồn tại trên đời.
Trần Khánh Dư thản nhiên nhìn Hoàng Chí Hiển và bảo:
– Ông trung sứ, giờ thì ông mau dâng sớ mà tâu xin phong thưởng cho ta thôi. Kể ra, cũng nên ban kim phù để thưởng cho trận bão giả mà trời đất đã nổi lên vì nước Việt. Nhưng bão thì giả, kim phù ấy cũng không ai nhận. Thế thì thưởng cho ta cũng đủ rồi...
Hoàng Chí Hiển cười mà miệng méo xệch đi. Nhân Huệ vương là như thế. Luôn luôn nói thẳng mọi sự theo cách mà ông nghĩ. Không quanh co, không hoa dạng. Nhưng những câu nói thẳng ấy che sâu bao nhiêu nỗi niềm đau xót của ông. Cả ba tướng họ Phạm cùng bao nhiêu binh lính Vân Đồn vừa ngã xuống. Tới tận phút cuối cùng của trận đánh, cuộc tử chiến với đám thân binh của Trương Văn Hổ cũng đã cướp đi sinh mạng của hai phần ba đội lính tinh nhuệ của Đỗ Niêm...
Dẫu có mất mát tới đâu, thì vẫn phải bày tiệc khao quân. Bữa rượu mừng công đêm đó, Hoàng Chí Hiển không biết mình say lúc nào và say đến thế nào. Rượu chảy tràn. Nhân Huệ vương quyết không để những người lính Vân Đồn đã cùng ông vào sinh ra tử phải chịu thiệt thòi. Bát rượu đầu tiên, ông rưới xuống đất và lầm rầm khấn khứa. Thế rồi, ông đi khắp các mâm, uống cùng lính Vân Đồn từng bát rượu lớn, hát cùng họ những câu hát của dân chài trên biển. Và, ông say mèm, gục xuống cùng với họ bên đống lửa bập bùng.
Suốt đêm, Hoàng Chí Hiển khóc cười với Nhân Huệ vương và những người lính Vân Đồn. Họ kể những câu hả dạ, hát váng lên rồi cười sằng sặc. Nhưng lúc sau, họ lại khóc, kể chuyện những đồng ngũ vừa ngã xuống. Rượu cứ thế mà rót tràn cung mây.
Khi Hoàng Chí Hiển quá say, Trần Khánh Dư truyền hỏa đầu quân nấu cho anh chàng Trung sứ một bát cháo. Lúc chờ cháo chín, Trần Khánh Dư buồn buồn ngồi nhắc về cuộc đời của ba viên tướng họ Phạm. Quân Vân Đồn im phăng phắc mà nghe. Ba người là con của một lão dân chài bao năm phiêu bạt khắp chốn Hải Đông. Tuổi thơ của họ lênh đênh cùng con thuyền của bố. Ngày Trần Khánh Dư còn đang nay đây mai đó với đội thuyền nửa buôn than nửa buôn hàng cấm thì gặp con thuyền nhà họ Phạm gần đắm. Chính Trần Khánh Dư và Vũ Khắc đã nhảy xuống cứu cả bốn người. Sau đận ấy, ba anh em họ Phạm một lòng đi theo Trần Khánh Dư xuống biển lên ngàn... Những người trong câu chuyện ngày đó, nay còn đâu. Vũ Khắc tham lợi phản chủ, bị giết. Còn ba tướng họ Phạm đều vừa tử trận! Bây giờ, chỉ cần nhắm mắt lại, Trần Khánh Dư vẫn hình dung ra rõ mồn một gương mặt của từng người. Phạm Chính, nhất nhất tuân theo tướng lệnh, dẫu lửa đốt nước dìm lòng cũng chẳng sờn. Phạm Quý, uy vũ hiên ngang, đánh trận luôn tiến lên hàng đầu mà xông pha diệt giặc. Phạm Thuần Dụng, cẩn trọng nghiêm trang, rõ là phong phạm của bậc làm tướng. Ba người ấy, nay đang phảng phất ở nơi nào? Giọng Trần Khánh Dư nghẹn lại, và Hoàng Chí Hiển ứa nước mắt. Xung quanh, đã có những người khóc thành tiếng.
Nhưng người tỉnh ra đầu tiên vẫn là Trần Khánh Dư. Ông gằn giọng với các tùy tướng và binh lính:
– Không được khóc. Nam nhi đại trượng phu da ngựa bọc thây các ngươi khóc thì anh em của chúng ta làm sao an lòng mà ra đi được. Nào vui lên, nâng rượu lên. Xin bái biệt các anh em thanh thản về hầu tiên tổ. Gia quyến của các anh em, xin hãy cứ trông cả vào Dư này...
Không ai dám khóc, dù tất cả đều đã nghẹn ngào lắm rồi. Giờ thì chỉ một người khóc lên một tiếng thì tất cả sẽ òa ra như con trẻ. Nhưng Đức ông Nhân Huệ đang trợn mắt nhìn trừng trừng vào mặt từng người. Ông quát :
– Uống!
Rượu cay xè và đắng chát. Rượu thiêu đốt như ngọn lửa trong cổ họng mỗi người. Rượu để xóa đi nỗi buồn và những niềm day dứt. Tiệc rượu ngả nghiêng.
May có bát cháo nên Hoàng Chí Hiển tỉnh được ra đôi chút. Cháo nấu bằng sá sùng - thứ giun biển vẫn được coi là món quà mà trời đất dành cho Vân Đồn. Cháo ngọt lạ. Chỉ một bát mà Hoàng Chí Hiển thấy mình khỏe hẳn. Vừa mới thế, chàng Trung sứ đã lại giật mình vì Trần Khánh Dư đập mạnh lên vai : "Khỏe rồi chứ hả? Tốt, uống tiếp với ta nào!” Rượu lại trào dâng như sóng...
Hôm sau, mãi xế chiều Hoàng Chí Hiển mới tỉnh táo. Chàng cư sĩ khoác áo Trung sứ toan ghé qua nơi vừa xảy ra trận chiến, nhưng rồi lại thôi. Trận đại thắng Vân Đồn mới chỉ là trận thắng quan trọng đầu tiên kể từ khi giặc kéo sang. Sẽ còn nhiều trận đánh khác nữa. Vó ngựa giặc đã giày xéo non sông gấm vóc này thêm một lần nữa. Chúng đang tụ ở Vạn Kiếp. Ô Mã Nhi cũng đang sắp sửa hội quân về. Không chóng thì chầy, giặc sẽ tiến đánh và chiếm Thăng Long. Hai vua lại phải một phen long đong khắp chốn. Nhưng chắc chắn, lũ giặc kia sẽ không thể hoành hành lâu được. Chúng phải chịu đói nhanh thôi. Khi lương thảo mang theo đã hết, chúng ắt phải thành lũ giặc đói khát cùng đường. Xem ra, kẻ trốn thoát như Trương Văn Hổ, dẫu trở về phải chịu tội, có khi lại thành may mắn. Dù sao, y không phải tiếp tục chịu những ngày phấp phỏng lo lắng trên đất Đại Việt chằng chịt cạm bẫy hiểm nguy này...
Chí Hiển tìm gặp Nhân Huệ vương và cáo từ để về phục mệnh. Trần Khánh Dư đang cùng chúng tướng bàn bạc điều gì đó thật cơ mật. Khi Chí Hiển tới nơi thì chúng tướng vừa tản đi. Chỉ còn lại Thị Thảo bưng một bát thuốc lớn giục Nhân Huệ vương uống. Thật bất ngờ, sau trận đại thắng, không thấy Trần Khánh Dư có vẻ gì mừng vui cả. Ông dửng dưng bảo:
– Trận này, sử quan hẳn sẽ chép cho được một dòng công tích. Được cái là họ sẽ không chép gì về trận bão giả, coi như công thuộc hết về ta. Sẽ chỉ có người Nguyên kể về bão táp nước Nam để mượn cớ nói rằng chúng không hề bại trận. Việc ấy, chẳng đáng xét đến. Nhưng, ngươi biết không, để chép tội ta, sử quan sẽ dành cả vài chục dòng cho mà xem...
Nói xong, Trần Khánh Dư phất tay bước không ngoái lại. Hoàng Chí Hiển cứ đứng trông theo bóng dáng vị tướng vừa hoàn thành một chiến tích không hề nhỏ. Vậy mà ông tướng ấy chẳng coi chiến tích vừa qua ra gì, cũng chẳng nhắc về những trận đánh sắp tới. Ông chỉ chạnh lòng vì những gì sử quan sẽ chép, dẫu ông chấp nhận điều đó.
Trần Khánh Dư chầm chậm bỏ đi. Trước cửa trướng hổ, chỉ còn lại Thị Thảo. Người hầu gái cứ đứng im lặng một mình, tay bưng bát thuốc Nhân Huệ vương đang uống dở. Chẳng biết nàng còn đứng đó chờ đến bao giờ...
Chí Hiển cứ đứng trông theo Trần Khánh Dư đi khuất về phía xa. Nhìn từ góc này, đôi vai Nhân Huệ vương như trĩu xuống mà đi.
Giữa trời đất Vân Đồn mênh mông, ông tướng đánh thủy ấy mới cô độc làm sao!