Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang ngồi chết lặng hồi lâu trông xuống bức thư của Trần Ích Tắc. Những lời của Ích Tắc ong ong trong đầu ông: "Vương huynh chẳng thấy những huynh đệ không tình máu mủ bỏ quên Vương huynh chốn xa xôi ư? [22] Vương huynh chẳng thấy chính huynh đệ ruột già nhẫn tâm sai gia nô xạ tiễn chết đứa con trai yêu quý của Vương huynh ư? [23] Vương huynh chẳng thấy đứa cháu ngông ngạo ngồi trên ngai cao chỉ vì bênh em là thằng Đức Việp [24] mà bỏ quên tài trí của Chương Hiến [25] ư? Lẽ nào Vương huynh chịu ngồi yên mãi như vậy”. Và Ích Tắc còn nhắn nhủ: "Nay em chẳng quên tình huynh đệ, lại vì ân nghĩa với Chương Hiến nên không nỡ nhìn Vương huynh u mê mãi. Em giờ đã được thiên tử [26] đoái trông, được Nguyên soái Trấn Nam vương tin tưởng, sẽ đi trước mở đường cho đại quân. Nếu khi ấy Vương huynh ứng lên một ngọn cờ quy thuận, chẳng phải công lao không nhỏ ư? Đến phen luận công ban thưởng, ân đức truy phong của thiên tử chẳng cũng khiến cho Chương Hiến được ngậm cười ư?”...
Bức thư thật dài, lời lời đều như từ tâm can phế phủ. Nó chạm đúng vào nỗi đau Trần Quốc Khang vẫn giấu trong lòng. Tết Bính Tuất vừa rồi, thực là một Tết buồn trong cuộc đời Trần Quốc Khang. Đứa con giỏi giang nhất đã chết trong chiến trận. Mà chết khi đã là tên phản quốc. Nhưng dẫu gì, nó vẫn là con ông. Không có người cha nào không đau lòng nhìn con mình chết. Giá như nó có được tấm áo giáp tốt hơn... Giá như nó chạy sớm một ngày... Giá như Nguyễn Địa Lô nương tay cho hoàng thất...
Hoàng thất... Ý nghĩ ấy lại càng làm Trần Quốc Khang thêm ngao ngán. Thượng hoàng Thái Tông không yêu mà chỉ thương xót ông. Cha đích của ông là An Sinh vương Trần Liễu thì không muốn nhìn thấy ông. Ấy là vì ông luôn gợi lại nỗi đau bị em cướp cả vợ lẫn con vẫn canh cánh trong lòng Trần Liễu. Rồi khi Thánh Tông lên ngôi, ông lại phải tránh sang một bên, nín nhịn. Khi mâu thuẫn chi Vạn Kiếp và chi Tức Mặc lên cao, ông càng phải ngồi yên kẻo mang vạ. Đến bậc thâm sâu chữ nghĩa như Hưng Ninh vương Trần Tung còn lánh vào cõi Thiền để tránh thị phi nữa là ông... Tết vừa rồi, chừng như để an ủi, hai vua tặng ông nhiều quà và ban khen cho công lao "giữ Diễn Châu, cản lối Toa Đô”. Ông chẳng lấy thế làm vui. Công chặn Toa Đô là của Chiêu Văn vương, của Hoài Văn vương - khi đó mới chỉ là chàng hầu tước vừa quen trận mạc, của sĩ tốt... chứ chẳng phải công của ông. Chẳng thế mà ngày ban sư mừng đại thắng, ông cáo mệt không về kinh. Hai vua cũng nể mặt ông chỉ gửi lời thăm hỏi chứ không thúc giục hay sai thầy thuốc vào Diễn Châu. Ai chẳng biết, Tĩnh Quốc đại vương mệt trong lòng chứ không phải chuyện ốm đau thường tình. Đó là cách xử sự rất khéo léo của hai vua: cử ngự y vào thăm hỏi chẳng khác gì chứng tỏ triều đình đang nghi ngờ cái tâm bệnh của Trần Quốc Khang.
Trước Tết, Trần Quốc Khang có được một ngày vui. Hôm đó Nguyễn Khoái dắt vợ vào lạy mừng công tác thành của Đức ông Tĩnh Quốc. Bữa rượu với cá nướng Diễn Châu làm Nguyễn Khoái say nghiêng ngả. Viên tướng Thánh Dực thực tâm uống để lấy vui cho Đức ông Tĩnh Quốc còn vị đại vương thì uống cho quên sự đời mà cũng để mừng Nguyễn Khoái... Nhưng ngày vui tàn nhanh, dẫu rất thương Trần Quốc Khang nhưng vợ chồng Nguyễn Khoái cũng không thể ở lâu. Họ phải về quê, tranh thủ mấy ngày Tết thăm hỏi họ hàng. Ông Trưởng Thụ, cha của Thu, đã hẹn rằng Tết này sẽ đưa con gái yêu và chàng rể quý đi chào làng trên xóm dưới. Trước khi Nguyễn Khoái bái tạ ra về, Trần Quốc Khang đã sai người biện đủ thứ quà. Quà gửi ông Trưởng, quà biếu họ hàng. Chuyến thăm hỏi thành ra rất rầm rĩ vì kèm theo có quà Diễn Châu của Đức ông Tĩnh Quốc...
Nguyễn Khoái đi rồi, Trần Quốc Khang lại ngồi buồn. Mấy bà phu nhân người Diễn Châu đều xin phép về thăm nhà để tránh những cơn bực bội của vị đại vương đang hồi khó tính. Những ngày chán nản cứ kéo dài mãi. Và bao nhiêu ẩn ức chợt òa ra cùng với bức thư của Trần Ích Tắc. Dù đó là thư của một thằng em luôn hỗn xược với ông từ bé. Một kẻ luôn chặn ngang lời ông mỗi khi Thượng hoàng Thái Tông hỏi chuyện. Một kẻ mà ông khinh ghét, vì tham vọng và âm mưu. Nhưng giờ đây, chính kẻ đó đang sống sượng gọi ra những gì còn mơ hồ trong lòng ông, những nỗi đau vốn bị lòng trung quân ái quốc che khuất. Chính kẻ đó khiến ông thấy thương chính mình. Giờ biết nghĩ sao đây, biết làm sao đây.
Sau lưng ông, chiếc khiên vẽ tướng huy nửa mặt trời màu chu sa, nửa mặt trăng màu nguyệt bạch nằm im lìm kể từ lần được trương lên trong buổi hội vương hầu ở Bình Than.
○ ○ ○
Sau mấy ngày Tết, Hưng Nhượng vương cáo từ để về Vạn Kiếp, không quên nói một lời với Trần Khánh Dư:
– Chuyện bức thư, Vương thúc tùy ý khu xử. Cháu sẽ không trình cha cháu. Riêng ý cháu, việc chưa dừng ở đây đâu..
Chẳng phải Trần Khánh Dư không nghĩ đến điều đó. Ngần ấy năm lang bạt và bao nhiêu lần đối phó với đủ thứ gian thương gián điệp ở đất Vân Đồn này, ông chẳng lạ trò nào. Con người Trần Ích Tắc ra sao, ông càng biết. Đó là một kẻ có tài "giậu đổ bìm leo” vào bậc nhất. Chỉ là ông thêm phần kính nể Hưng Nhượng vương. Màn diễn của ông và Quốc Tảng trước mặt quân lính là ông đã tính trước, còn Quốc Tảng thì chưa hề biết. Vậy mà Hưng Nhượng vương thản nhiên nhập trò như quá thành thục. Giờ lại đến lời nhận xét này. Chà, quả là hổ phụ sinh hổ tử!
Hoàng Chí Hiển cũng đã đi. Giờ con người ấy như mây ngàn hạc nội, nay đây mai đó, chẳng ai biết được hành tung. Trần Khánh Dư tặng Hoàng Chí Hiển một cây tiêu ngọc nhưng chàng cư sĩ chối từ: "Bẩm Đức ông, kẻ lang bạt không nên mang theo bảo vật trong người”.
Vài ngày sau, quả nhiên lại có một bức thư khác được chuyển đến tay Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Thư của em trai ông, Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng. "...Đại huynh nhã giám. Đệ từ buổi xa lìa cố hương, vẫn thường trông vọng về Chí Linh mà lòng xót ruột đau. Tết xa nhà, đành vun đất thắp hương để tưởng cha nhớ mẹ. Đệ vẫn mong một ngày lại được hồi cố hương, quỳ lạy xin ông cha tha tội cho đứa con bất hiếu. Từ buổi đệ theo Nguyên soái Trấn Nam vương nhập Nguyên, may cũng được phen mở mặt. Nay đã được quan cao lộc hậu, thường trông yến tiệc ứa nước mắt nhớ đại huynh. Em chỉ những mong chúng ta cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, vui vầy huynh đệ. Đệ phen này nhất nhất xin cầm roi theo Nguyên soái chinh Nam. Nếu ngày ấy mà huynh ra đón thì dẫu chỉ một người một ngựa hay cả đoàn quân, chắc Nguyên soái cũng tính công đầu. Cứ nghĩ tới ngày anh em ta sóng ngựa trống dong cờ mở về Chí Linh, em lại thấy lòng dạ xốn xang. Vậy xin đại huynh xét đến lời của đứa em phương xa này mà tính liệu việc lớn. Hẹn ngày đại nghiệp thành, em xin về chịu lỗi bất mục với anh”.
Trần Khánh Dư đọc thư xong liền cười sặc sụa. Thằng em hèn nhát của ông còn lâu mới viết được cái bức thư này. Đây chắc là đám thư sinh theo hầu Trần Ích Tắc hoặc đám tân khách bên phủ Trần Kiện viết theo ý của Trần Ích Tắc mà thôi. Nhưng xem ra cánh đào vong này cũng được chút bổng lộc ngọt ngào nên khua mép trơn tru lắm. Mang cả công đầu ra dụ dỗ người bất cần vào bậc nhất như Nhân Huệ vương!
Đột nhiên, Trần Khánh Dư nhớ đến Trần Bình Trọng. Bả vinh hoa mà Lý Hằng mang ra đã không dụ nổi con người ấy. Và Bảo Nghĩa vương đã nằm lại đâu đó trên bờ Thiên Mạc. Ngày trước, Trần Khánh Dư không ưa Trần Bình Trọng. Ông nghĩ rằng người con cả của Bảo Văn hầu Lê Phụ Trần tìm cách lấy cho được Công chúa Thụy Bà để mong tìm lối phong vương. Trần Bình Trọng có vẻ ngoài khó gần, ít nói, và luôn khiến người ta nghĩ rằng ông ra vẻ là con cháu Lê Đại Hành hoàng đế. Trần Khánh Dư quý Bảo Văn hầu Lê Phụ Trần vì lối bỗ bã của ông bao nhiêu thì ghét Trần Bình Trọng bấy nhiêu. Nhưng dẫu thế, Trần Khánh Dư không thể không khâm phục Trần Bình Trọng. Con người ấy đã bảo thẳng vào mặt Lý Hằng: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Không ít lần Trần Khánh Dư nghĩ về khí phách của Bảo Nghĩa vương và câu trả lời này. Nếu là ông, ông có làm như Trần Bình Trọng không? Hay ông sẽ trá hàng và tìm lối vượt thoát về với đại quân, bất chấp danh tiếng bị giặc rêu rao, bản thân bị nghi kị, nhưng vẫn bảo toàn sinh mạng? Tính cách của Trần Bình Trọng là vậy, và chắc chắn Bảo Nghĩa vương chọn cái chết để toàn danh tiết mà không mảy may suy nghĩ. Liệu chết như vậy có vội vã và đáng tiếc lắm không?
Mỗi lúc thế này, Trần Khánh Dư mới bất chợt cảm thấy mình đơn độc. Ông không có ai để cùng chia sẻ những nỗi niềm và cả những mưu toan thầm kín. Không có "hồng nhan tri kỷ”, không có "gia tướng tâm phúc”. Đến ngay cả gã quản gia bao nhiêu năm như Vũ Khắc mà còn có lúc phản ông thì thử hỏi ông tin ai làm sao được?
Trần Khánh Dư bước ra sân. Buổi trưa mùa xuân vắng lặng. Một loài hoa gì đó thơm thoang thoảng trong gió. Trần Khánh Dư gọi gia nhân lấy ngựa. Con ngựa nâu lúc lắc bờm hí vang như chào chủ. Trần Khánh Dư thúc ngựa đi chầm chậm. Dân hai bên đường cung kính vái chào ông. Ông đáp lễ mấy cụ già, còn những người khác thì coi như không thấy. Trần Khánh Dư rê cương ngựa vào một lối nhỏ rồi phóng lên mỏm đá trông ra biển. Biển trưa cũng thật yên ả. Tiếng rì rào mơ hồ của cây cối, tiếng rì rào của biển như khúc hát ru. Trần Khánh Dư thấy lòng nhẹ bớt. Ông buộc ngựa rồi tới ngồi tựa lưng vào một gốc cây lớn và nhắm mắt. Ông cố nghĩ tới những điều tốt đẹp trên đời, và thiếp đi lúc nào không rõ.
Khi Trần Khánh Dư tỉnh lại, nắng đã nhạt. Phía xa, Hoàng Phủ Tín đang khoanh tay đứng sừng sững như tượng. Con sói của miền biên tái năm nào đã cùng ông tra vấn những kẻ trên chiếc thuyền mang mật thư suốt mấy ngày trời. Hoàng Phủ Tín nói:
– Tôi theo vương gia bao lâu nay, chưa thấy vương gia mệt mỏi và bất cẩn thế này!
Trần Khánh Dư chống tay xuống đất và đứng lên:
– Ta cũng không ngờ mình lại có phen sơ ý đến thế.
Đoạn, ông khoát tay bảo Hoàng Phủ Tín:
– Về thôi...
Con ngựa nâu tung vó phi về trại quân. Trên lưng ngựa, Trần Khánh Dư nheo mắt mấy phen vì gió cuốn bụi tung. Con tuấn mã này đưa ra đảo thực là cuồng vó. Nó vốn là dòng ngựa quý được một thương gia Tống kỳ công mang sang biếu Trần Khánh Dư để đổi lại việc được buôn trầm hương về Bắc quốc. Kèm theo, gã thương gia còn tặng Trần Khánh Dư một đôi kiếm quý và một khối ngọc. Chất ngọc đã già, qua bàn tay người thợ chạm tinh tế trở thành một tác phẩm tuyệt vời. Cả khối ngọc nhìn thoáng qua như một ngọn núi lớn với nhiều hang động ẩn khuất mơ hồ đâu đó sau những cành tùng cổ thụ và mây giăng hàng. Đôi kiếm hiện đang treo ở thái ấp Chí Linh. Khối ngọc, ông đã cất kỹ trong rương cùng rất nhiều đồ quý khác. Trần Khánh Dư chợt nghĩ đến mười thoi vàng vừa tìm thấy trên chiếc thuyền bị bắt hôm trước. Ông cho anh em họ Phạm một thoi, cất lấy năm thoi, sung vào công quỹ ba thoi. Còn một thoi, chia một phần cho đám lính tuần bắt được thuyền gian, một phần làm một bữa chén túy lúy cho lính Vân Đồn. Chuyện đó, ngoài ông và ba anh em họ Phạm không ai được biết. Ở đất này, ai cũng biết quyền sinh quyền sát nằm trong tay ông Phó Đô tướng. Ông cho thuyền nào được vào thuyền nào được ra, tha kẻ này bắt kẻ kia. Ông ra uy ban ân chẳng thiếu gì. Trần Khánh Dư bất giác bật cười khi nghĩ đến Trần Ích Tắc. Ả Trần quả là ngờ nghệch mà cứ tự tưởng là khôn ngoan. Ngày ông lỡ bước, y cứ tưởng ông chết đói đến nơi. Ha ha, ai chết đói chết nghèo không biết, chứ ông thì đừng hòng.
Trần Khánh Dư ngoảnh lại hỏi Hoàng Phủ Tín:
– Ngươi tìm ta có việc gì chăng?
Hoàng Phủ Tín nhìn quanh rồi khẽ đáp:
– Dạ bẩm, thuyền gấm vừa sang. Tôi và tướng quân Phạm Chính đã soát kỹ, không có gì khả nghi...
Trần Khánh Dư gật:
– Vậy cứ theo lệ mà làm. Ngươi về trước lo việc đi.
Hoàng Phủ Tín vái chào rồi thúc ngựa vọt lên. Giờ thì Trần Khánh Dư chỉ cho ngựa đi nước kiệu. Với ông, mọi thứ luôn thật rạch ròi. Hoàng Phủ Tín trung thành với ông nên người nhà anh ta gần như độc quyền buôn gấm. Nhưng mỗi lần soát thuyền, vẫn phải có Hoàng Phủ Tín và một trong ba anh em họ Phạm để tránh những vụ kiểu thám báo trà trộn hoặc thư dụ hàng. Đổi lại, nhà họ Phạm cũng được chia phần trong mỗi chuyến hàng gấm. Bất cứ ai đã đi theo Nhân Huệ vương thì phải được no đủ. Kẻ nào lập công là phải khá giả, kẻ nào tận trung là phải được giàu sang. Ấy là cách dùng người, cũng là cách giữ người của Trần Khánh Dư. Nếu cứ mải chuyên tâm lo phú quý mà bị ngăn cản, ai lại chẳng tuốt gươm chĩa giáo ra đánh. Bổng lộc cỏn con của Nguyên triều ban cho Trần Ích Tắc có khi chẳng bằng những gì mà mấy viên cận tướng của Nhân Huệ vương kiếm được ấy chứ. Ả Trần ơi là ả Trần, ngươi có nghĩ đến cái điều ấy được không mà dám gửi thư chiêu hàng ta, lại còn mượn giọng thằng em đớn hèn của ta? Sao chẳng dụ dỗ những kẻ không được mấy bổng lộc gì họa chăng còn có được chút cơ may?...
Cứ nghĩ miên man thế rồi Trần Khánh Dư chợt giật mình. Nhỡ bức thư dụ hàng kia lọt đến tay Trần Quốc Khang thì sẽ ra sao? Còn nếu bức thư của Trần Văn Lộng lại cũng lọt vào tay một vị vương gia khác thì sao? Hỏng, thế thì hỏng to...
Trần Khánh Dư thúc ngựa về trại quân. Ông thảo hai bức thư, một sai tướng Phạm Quý dẫn một ngũ lính thiện chiến mang đến Thăng Long; một sai Đỗ Niêm mang vào Diễn Châu. Thư vào Diễn Châu báo tin về bức thư của Trần Ích Tắc. Thư tới Thăng Long thực là một tờ cáo dâng lên hai vua, kèm theo là thư của Trần Ích Tắc gửi Đức ông Tĩnh Quốc và thư của Trần Văn Lộng gửi ông. Phạm Quý được lệnh phải bảo vệ hai bức thư dụ hàng và tờ cáo hơn cả tính mạng của mình. Để tránh chú ý, cả Phạm Quý và Đỗ Niêm đều đi đường thủy.
Phân phó cắt đặt xong xuôi, Trần Khánh Dư mới ngả người xuống sập. Ông định đêm nay sẽ nghỉ sớm cho thoải mái. Nhưng Phạm Chính lại vừa vào bẩm "đại phú gia Tào Kỷ mời Đức ông tới Nguyệt Hương lâu uống rượu”. Và Trần Khánh Dư vặn người răng rắc ngồi dậy. Lại một kẻ muốn nhờ vả ông đây....