Cũng như tính tự lập, tính tương thuộc là – và phải được coi là – phẩm chất lý tưởng của con người.
Con người là một sinh vật xã hội.
- Gandhi
Trước khi vào chương này, chúng tôi muốn bạn suy nghĩ về những điều bạn cho là “quan trọng nhất” trong cuộc sống của mình. Có bao nhiêu điều trong số đó có liên quan đến các mối quan hệ của bạn với người khác?
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, mọi người đều cho rằng những điều thực sự quan trọng đối với họ đều có liên quan với người khác, hầu như không có trường hợp ngoại lệ nào. Ngay cả những người liệt kê những điều như là “sức khỏe” hay “sự bảo đảm về kinh tế” thì cũng là vì họ muốn có nguồn lực để tận hưởng cuộc sống với gia đình hay bạn bè của họ. Niềm vui lớn nhất – cũng như nỗi đau khổ lớn nhất – của chúng ta đều bắt nguồn từ mối quan hệ của chúng ta với người khác.
Sự thật là chất lượng cuộc sống, xét về bản chất, mang tính tương thuộc.
Các vai trò của chúng ta mang tính tương thuộc – chúng ta là người chồng, người vợ, cha mẹ, bạn bè, sếp, nhân viên, người đồng nghiệp, thành viên của cộng đồng, công dân. Chất lượng của hầu hết các vai trò này đều liên quan đến mối quan hệ với ít nhất một cá nhân khác.
Những thành tích của chúng ta cũng có tính chất tương thuộc. Mặc dù khi nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng có một cá nhân cụ thể nào đó “đã phát minh” hay “khám phá” ra một điều cụ thể nào đó, thì sự thật là những thành tựu vĩ đại nhất đều không phải là được làm ra từ số không. Cá nhân nhận được công trạng đó thường là đứng trên vai của nhiều người đi trước, những người mở đường, không thành công trong việc tìm ra điều gì đó nhưng vẫn có ý nghĩa dẫn dắt lối đi cho người đi sau tìm ra kết quả.
Ngay cả sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và các năng lực của chúng ta cũng mang tính tương thuộc.
Sống là có được sức khỏe thể chất và sự an toàn về kinh tế. Chúng ta sẽ như thế nào nếu sống ở nơi không có thầy thuốc, bệnh viện, thuốc kháng sinh và bảo hiểm y tế? Chúng ta nhận được tiền lương vì công việc chúng ta làm có ảnh hưởng theo cách nào đó đến cuộc sống của người khác. Chúng ta dùng tiền lương chi cho các thứ là sản phẩm lao động của người khác.
Yêu thương , theo định nghĩa, là mang tính tương thuộc. “Tình yêu chỉ thành tình yêu khi bạn trao nó cho người khác”. Nó liên quan đến mối quan hệ với người khác và mong muốn thuộc về nhau, và nó dựa trên cơ sở một trong những đề tài lớn nhất của các tác phẩm khai sáng – sự có đi có lại, hay còn gọi là Quy tắc vàng.
Học tập là để trưởng thành, để cảm thấy bản thân mình phát triển. Biết bao lần sự học tập đến với chúng ta khi chúng ta đọc những quyển sách do người khác viết, tham dự hội thảo do người khác thuyết trình, ngồi trong lớp học nghe người khác dạy? Bao nhiêu lần chúng ta có được hiểu biết khi chúng ta quan hệ tương tác trong sinh hoạt tập thể với người khác? Có bao nhiêu ý tưởng của chúng ta nảy sinh từ ý tưởng của người khác?
Để lại di sản cũng mang tính tương thuộc ngay từ trong định nghĩa. Đó là sự cống hiến cho xã hội, là sự đóng góp có ý nghĩa cho cuộc sống của người khác. Thế giới mà chúng ta đang sống là di sản của các thế hệ đi trước để lại cho chúng ta. Những sự lựa chọn của chúng ta sẽ để lại di sản cho những người đi sau chúng ta.
Sự thật là cuộc sống của chúng ta tốt hơn khi chúng ta cùng sống trong cộng đồng thay vì sống đơn độc một mình. Tính khiêm tốn đến với chúng ta khi chúng ta nhận ra rằng “không có ai sống một mình như một hòn đảo”, rằng không một ai có tất cả tài năng, biết tất cả mọi thứ, có tất cả năng lực để làm mọi việc. Điều thiết yếu trong cuộc sống là khả năng cùng làm việc với người khác, học hỏi người khác và giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển.
Mô thức độc lập
Mặc dù sự tương thuộc trong cuộc sống là điều hiển nhiên, chúng ta vẫn thường nhìn “sự thành đạt” dưới góc độ thành tích độc lập của cá nhân. Vả lại, các sách báo về quản trị thời gian nói chung cũng phản ánh mô thức thành tích độc lập này. Con người được coi trước hết là những nguồn lực và chúng ta có thể tăng lợi thế của mình thông qua sự ủy quyền; hoặc ngược lại, con người là những sự cản trở cần phải được xử lý hiệu quả trên đường chúng ta thực hiện kế hoạch của mình. Ai có đủ sức mạnh của tính cách để vượt qua hoàn cảnh, tấm gương phản chiếu xã hội và các tác động tiêu cực của môi trường thì có khả năng có được “sự thành đạt”.
Nhưng con người không phải sự vật. Khi chúng ta cư xử với con người, chúng ta cư xử với sinh vật sống biết suy nghĩ, có khoảng trống giữa tác nhân và phản ứng riêng của họ. Họ cũng có các khả năng thiên phú của con người và một năng lực cực kỳ lớn để hành động trong khoảng trống đó. Hơn nữa, phần lớn thời gian của chúng ta là dùng để tương tác trong thực tế cuộc sống có sự tương thuộc này.
Ngoài tính chính trực cá nhân, những vấn đề lớn nhất của chúng ta – và tiềm năng lớn nhất của chúng ta để tác động đến cách sử dụng thời gian và chất lượng cuộc sống – đều nằm trong lĩnh vực tương thuộc.
Cái giá của mô thức độc lập
Khi chúng ta tìm cách thỏa mãn các nhu cầu và hoàn thiện các năng lực thông qua một thành tựu độc lập – theo mô thức đường thẳng, chỉ theo thời gian tuần tự – thì cuộc sống đôi khi giống như dùng bữa ăn trong quán ăn tự phục vụ theo giờ (smorgasbord). Vì thời gian có hạn nên chúng ta phải tối đa hóa sự thỏa mãn của mình, càng thử nhiều món càng tốt. Chúng ta lao nhanh vào xếp hàng, giành giật được càng nhiều món càng tốt. Chúng ta biến mình thành những kẻ muốn hưởng thật nhiều trải nghiệm và cảm giác.
Chúng ta sống gấp. Việc duy trì lối sống lành mạnh đòi hỏi quá nhiều thời gian và sức lực, nên chúng ta ăn những gì mình thích, làm những gì mình muốn, làm việc đến kiệt sức và sau đó nhờ đến các chuyên gia y tế để hàn gắn các mảnh vỡ. Sự an toàn kinh tế trở thành việc tối đa hóa lợi nhuận, bất chấp ý nghĩa hay phương tiện.
Chúng ta vội vã trong quan hệ yêu thương. Chúng ta mang tư tưởng ăn xổi ở thì trong các mối quan hệ, thường để lại hậu quả là những số phận bi đát, những cuộc đời tan vỡ. Chúng ta muốn có hạnh phúc từ hôn nhân, nhưng lại không chịu cam kết về tình cảm để sống một cuộc sống có mối quan hệ tương thuộc phong phú, có sự phục vụ vị tha, có sự nhạy cảm và không ngừng hoàn thiện tính cách để làm cho mối quan hệ đó lớn mạnh. Chúng ta sản sinh ra những mầm non của xã hội, nhưng chúng ta lại không bỏ ra thời gian và sức lực cần thiết để nuôi dạy, yêu thương và lắng nghe chúng. Chúng ta chỉ tận hưởng một vài kết quả của các mối quan hệ gần gũi nhất với chúng ta, nhưng không có thời gian dành cho các mối quan hệ khác hay cho tình yêu thương rộng lớn hơn.
Chúng ta vội vã trong học tập. Không có thời gian dành cho đối thoại sâu sắc, cho mối quan hệ tương tác có ý nghĩa với người khác, học tập chỉ là sự tiếp nhận hời hợt. Chúng ta đi sâu vào các kỹ năng, phương pháp và kỹ thuật mà không hiểu sâu về các nguyên tắc giúp chúng ta hành động trong nhiều tình huống khác nhau.
Chúng ta vội vã để lại một di sản danh nghĩa. Chúng ta bỏ ra vài đô-la vào chỗ này, vài đô-la vào chỗ kia, và đó là sự đóng góp “cố định” nhất thời vào lúc này hay lúc khác, nhưng không phải lâu dài. Ở đây không có cam kết thực sự, không có ý thức bao trùm về mục đích và sự cống hiến trong cuộc sống của chúng ta.
Như nhiều nhà khoa học xã hội và các nhà bình luận đã chỉ ra, mô thức độc lập hấp tấp này là nguyên nhân tạo ra sự mất cân bằng lớn trong xã hội của chúng ta. Để thu được nhiều quả trứng vàng, chúng ta đang giết chết chính con ngỗng đẻ ra các quả trứng vàng đó. Chúng ta bận rộn đến mức không quan tâm chăm sóc đến năng lực sản xuất của chúng ta, và bằng chứng của việc này có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi quanh chúng ta – như các khoản nợ quốc gia, các vấn đề y tế, nền kinh tế thế giới, sự thiếu thiện chí của thị trường chứng khoán Wall Street trong việc đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn.
Cha đẻ của công trình nghiên cứu hiện đại về stress, Hans Selye, so sánh việc tập trung vào thành tích cá nhân cũng giống như “sự phát triển của tế bào ung thư, mà đặc điểm nổi bật nhất của nó là chỉ quan tâm đến bản thân nó. Do vậy, nó ăn vào các bộ phận khác của cơ thể cho đến khi giết chết chính cơ thể đó – và đó là sự tự sát sinh học, vì tế bào ung thư không thể nào sống được nếu không dựa vào chính cái cơ thể mà nó đã khởi xướng quá trình phát triển vô trách nhiệm và ích kỷ của nó”. Ở mức độ nào đó, việc này giống như chúng ta đang leo trên chiếc thang bắc nhầm bức tường. Chúng ta sống với ảo tưởng của tính độc lập, nhưng mô thức đó không tạo ra kết quả cuộc sống có chất lượng như chúng ta mong muốn.
Để thay đổi kết quả, chúng ta phải thay đổi mô thức.
Mô thức tương thuộc
Như nguyên tắc “chính Bắc” cho thấy, sự thật chúng ta chỉ là một phần của một hệ sinh thái sống động có mối liên hệ qua lại ở mức độ cao. Chất lượng cuộc sống có tính tương thuộc. Đó là cách nhìn toàn diện, 360 độ, được biểu thị bằng sơ đồ dưới đây.
Tại tâm của nó là phạm trù cá nhân. Mỗi chúng ta là một cá thể. Chúng ta có các khả năng thiên phú đặc biệt của con người, có một số tính cách và năng lực nhất định trong việc sử dụng các khả năng thiên phú đó để làm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và hoàn thiện các năng lực của chúng ta. Là một cá nhân, mỗi chúng ta tham gia vào các mối quan hệ với các cá nhân khác. Đây là phạm trù liên cá nhân. Trong các mối quan hệ của chúng ta, chúng ta làm việc với người khác để thực hiện các nhiệm vụ, được thể hiện bởi phạm trù quản lý. Chúng ta liên kết các hệ thống và phối hợp làm việc vì những mục đích tập thể, thuộc phạm trù tổ chức. Tất cả những phạm trù này nằm trong bối cảnh của xã hội và có ảnh hưởng đến xã hội nơi chúng ta đang sống.
Chúng ta hãy xem xét một số hệ quả của thực tế tương thuộc này.
1. Mọi hành vi tập thể xét đến cùng đều là hành vi cá nhân
Những vấn đề chúng ta gặp phải trong gia đình, tổ chức hay xã hội đều là kết quả từ sự lựa chọn của các cá nhân trong khoảng trống giữa tác nhân và phản ứng. Khi những lựa chọn này xuất phát từ sự bị động đối phó, hoàn cảnh, hay tính khẩn cấp, chúng sẽ có tác động đến việc sử dụng thời gian và chất lượng cuộc sống của gia đình, tổ chức và cả xã hội nói chung.
Lấy ví dụ, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Nếu người vợ và người chồng không dành công sức cho cuộc sống nội tâm của họ, thì có thể lúc đầu cuộc hôn nhân vẫn diễn ra tốt đẹp, nhưng khi có khó khăn xảy ra – con cái hư hỏng, khó khăn tài chính, rắc rối trong quan hệ với gia đình hai bên – thì họ sẽ không đủ tính cách và năng lực để tương tác với nhau một cách hiệp lực, tích cực. Họ quay trở lại khuôn mẫu trước đây của mình – mà có thể rất khác nhau – và nếu những khuôn mẫu này không dựa vào nguyên tắc, thì sự khác biệt có thể dẫn đến sự thủ thế và chia rẽ, thậm chí cuối cùng là sự đau khổ và chia ly.
Ngược lại, nếu cặp vợ chồng dựa vào nguyên tắc, họ sẽ tôn trọng sự khác biệt và giúp nhau hiểu được khuôn mẫu của mỗi bên và các nguyên tắc “chính Bắc”. Họ chung sức tìm kiếm giải pháp thứ ba để vượt qua thử thách. Họ nhìn nhận những thiếu sót của mỗi bên là cơ hội để giúp đỡ lẫn nhau. Họ quan tâm đến cái gì đúng nhiều hơn là ai đúng. Họ coi gia đình là một tế bào của xã hội và nhận thức rằng một trong những cách đóng góp quan trọng nhất cho xã hội là xây dựng một mái nhà yên ấm và nuôi dạy con cái trở thành những người có ích cho xã hội. Họ cũng ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau theo nhiều cách khác để đóng góp cho xã hội nói chung.
Điều tương tự cũng đúng đối với tổ chức. Một trong những lý do khiến chúng tôi gặp khó khăn đối với các chương trình về sáng kiến chất lượng toàn diện và sự ủy quyền là vì có nhiều người, trong khi cố gắng tạo ra những giá trị này trong tổ chức của họ, đã không chịu bỏ công sức ra để xử lý vấn đề trong cuộc sống nội tâm của chính mình. Họ thường được rèn đúc để hướng đến tính độc lập thuần túy và sự cạnh tranh do từ nhỏ họ được trao tình yêu thương trên cơ sở có điều kiện, do cách phân phối dựa vào bằng cấp, hoặc do mô thức thắng thua của các vận động viên thi đấu thể thao, hay hệ thống thứ bậc áp đặt tại nơi họ làm việc. Họ có thể có nỗ lực chân thành, nhưng họ không thể kéo dài hành động vượt ra ngoài mô thức đã ăn sâu của họ.
Tác giả W. Edwards Deming, được nhiều người coi là người đi đầu trong phong trào Chất lượng Toàn diện (TQM), đã nói rằng phần lớn các vấn đề xảy ra trong các tổ chức là do các hệ thống, chứ không phải do con người. Nhưng con người làm ra hệ thống. Nếu con người được rèn đúc tư tưởng cạnh tranh, tâm lý hẹp hòi, các mô thức độc lập, thời gian tuần tự thuần túy, và nếu họ không liên kết với các nguyên tắc “chính Bắc”, thì điều này sẽ có ảnh hưởng đến những kết quả trong các tổ chức và xã hội. Quản lý chất lượng toàn diện và sự ủy quyền chỉ chú ý đến các khía cạnh của “đặc điểm trong tháng” chứ không tạo ra sự thay đổi chất lượng sâu sắc bền vững, và nhiều người trở nên nghi ngờ hiệu quả của phương pháp này.
Quản lý chất lượng toàn diện phải bắt đầu bằng chất lượng toàn diện của cá nhân. Sự ủy quyền trong tổ chức phải bắt đầu bằng sự ủy quyền cá nhân. Đó là lý do vì sao rèn luyện cuộc sống nội tâm và tính chính trực lại quan trọng như vậy.
Stephen: Gần đây trong một nhóm đông người, một người đàn ông nói với tôi: “Này Stephen, làm cách nào đưa phương pháp lãnh đạo dựa vào nguyên tắc vào Quốc hội?”
Tôi hỏi lại: “Thế anh cư xử với vợ anh như thế nào?”.
“Việc đó thì có liên quan gì chứ?”, anh ta vặn lại.
Tôi trả lời: “Xét đến cùng, thì chính sách công chính là biểu hiện rõ nhất của đạo đức cá nhân”.

Anh ta có vẻ bối rối và không nói gì nữa. Nghĩ rằng anh ta tự ái vì câu nói của mình, sau đó tôi gặp anh để xin lỗi. “Tôi xin lỗi nếu tôi trót xúc phạm anh. Tôi không có ý như vậy. Nhưng tôi thực sự tin vào cách tiếp cận xuất phát từ bên trong”.

“Không phải anh đã xúc phạm tôi”, anh ta nói. “Nhưng điều anh nói đã làm tôi bừng tỉnh! Cả đời tôi cho đến nay, tôi chỉ nặng về đổ lỗi cho người khác trước những bất công. Đôi khi tôi còn trút cơn tức giận vào những người thân của mình. Việc anh chỉ ra sai lầm của hành vi này là đúng với tim đen của tôi, nhưng tôi cần được nghe điều đó”.
Xét cho cùng thì không có điều gì gọi là “hành vi của tổ chức” cả; tất cả chỉ là hành vi của những con người nằm trong tổ chức đó mà thôi.

2. Cuộc sống là một tổng thể không thể chia cắt
Như chúng tôi đã nói ở phần trên, Gandhi đã từng nhận xét rằng: “Không ai có thể làm điều tốt trong một phần của cuộc sống trong khi đang rắp tâm làm điều xấu ở một phần khác. Cuộc sống là một tổng thể không thể chia cắt”. Một cộng tác viên của chúng tôi đã chia sẻ câu chuyện sau :
Có một thời gian tôi làm việc cho một công ty lớn ngành không gian vũ trụ. Tôi là một thành viên chủ chốt của nhóm tiếp thị có nhiệm vụ chuẩn bị các tư liệu “báo cáo tóm tắt” cho lãnh đạo công ty nhằm bán các chương trình và sản phẩm quốc phòng trị giá hàng tỷ đô-la.
Một ngày nọ, công ty thuê một nhân viên mới và giới thiệu cho nhóm. Qua cách chào đón như rải thảm đỏ của lãnh đạo công ty, chúng tôi hiểu rằng anh ta được coi là tài sản quý giá. Anh ta rất thông minh và đã có kinh nghiệm 10 năm trong ngành.
Anh ta được cử làm lãnh đạo một nhóm để thực hiện một hợp đồng mới quan trọng nhất của công ty. Tôi được cử làm việc với anh ta và được bố trí chỗ ngồi sát với anh ta trong căn phòng không có tường ngăn cách.
Trong thời gian công việc đang tiến triển theo kế hoạch, tôi có dịp biết rõ hơn về con người anh ta. Do bàn làm việc ở liền nhau, tôi có thể nghe rõ tất cả các cuộc nói chuyện qua điện thoại và tại bàn của anh ta. Các cuộc đàm thoại này bắt đầu hé mở một cuộc sống riêng không lương thiện và vô tổ chức của anh ta. Biết tôi đã nhận ra các dấu hiệu không hay, anh ta cố giải thích cho qua chuyện về các cuộc đàm thoại này rồi nói:“Dù thế nào thì việc này cũng sẽ chẳng có ảnh hưởng gì đến công việc của tôi ở đây”. Anh ta nhắc đi nhắc lại giọng điệu này trong nhiều ngày sau.
Khi công việc của dự án vào giai đoạn căng thẳng đòi hỏi nỗ lực hết mức, sức ép về thời gian và khối lượng công việc tăng lên gấp đôi. Lúc này, dưới sức ép nóng bỏng đó, cuộc sống riêng của vị chỉ huy nhóm đã có tác động tồi tệ đến nhóm. Làm việc trong điều kiện thiếu ngủ và căng thẳng, anh ta trở nên không thể làm việc chung được – hay cáu gắt, vô lý, gây sự, mất thăng bằng. Điều đó có ảnh hưởng xấu đến tất cả mọi người trong nhóm. Dù có kiến thức chuyên sâu, nhưng anh ta lại trở thành trở ngại cho dự án và cuối cùng bị đuổi việc, chỉ sáu tháng sau khi anh ta được công ty đặt kỳ vọng rất cao.
Chúng ta có thể nghĩ rằng mình lừa dối được người khác. Chúng ta thậm chí còn tự lừa dối bản thân. Nhưng nếu chúng ta giả dối hay thiếu trung thực trong bất cứ một vai trò nào, thì điều đó sẽ có ảnh hưởng đến tất cả vai trò khác trong cuộc sống của chúng ta.
3. Niềm tin bắt nguồn từ sự đáng tin cậy
Niềm tin là chất keo dính của cuộc sống. Nó là thành phần quan trọng nhất trong sự giao tiếp có hiệu quả, là nguyên tắc cơ bản để gắn kết các mối quan hệ - hôn nhân, gia đình, và tổ chức dưới mọi hình thức - với nhau. Còn bản thân niềm tin lại bắt nguồn từ sự đáng tin cậy.
Stephen: Có lần, đứa con trai nhỏ của tôi nghe thấy tôi phê phán tàn nhẫn một người khác. Cu cậu lập tức chạy đến chỗ tôi và nói: “Bố ơi, bố có yêu con không?” với một vẻ thành thực, yếu đuối và rất dễ bị tốn thương. Thằng bé đã nhìn thấy ở con người tôi có khả năng ghen ghét đố kỵ người khác và ngay lập tức liên hệ điều này vào mối quan hệ cha con của chúng tôi. Cu cậu đang chất vấn sự đáng tin cậy của tôi. Cu cậu muốn biết chắc có nên tin vào tình thương yêu của tôi hay không.
Tôi có một sự trải nghiệm hoàn toàn khác khi được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại một trường đại học trong thời gian một năm ở Hawaii. Khi đến nơi, tôi thấy nơi ăn chốn ở không được như mong đợi nên đã đến gặp ông hiệu trưởng để phàn nàn với ông ta về giám đốc nhà khách của nhà trường. Lúc đó tôi tỏ ra bức xúc và thất vọng. Tôi thắc mắc với ông về hợp đồng và cam kết đã thỏa thuận như thế nào và thực tế trái ngược ra sao.
Vị hiệu trưởng lắng nghe tôi nói với sự tôn trọng, sau đó nói: “Stephen, tôi rất phiền lòng khi nghe chuyện này, nhưng thực ra giám đốc nhà khách của chúng tôi là người rất tốt, có năng lực... Chúng ta sẽ mời anh ấy đến đây để cùng nhau giải quyết vấn đề này”.
Đó không phải là điều tôi muốn nghe. Tôi không muốn dính dáng vào việc này. Tôi chỉ muốn kêu la phàn nàn để anh ta khắc phục, thế thôi. Tôi sẽ không bao giờ quên những giây phút chờ đợi ông giám đốc đến phòng ông hiệu trưởng, và những điều nảy sinh trong tâm trí tôi lúc đó. “Mình dính vào chuyện bê bối gì thế này? Mình có thể phải chịu một phần trách nhiệm đối với bê bối này. Đúng là cách giao tiếp của mình không ổn cho lắm”. Thái độ hung hăng dịu xuống, tôi trở nên khiêm nhường và có phần kiềm chế và lúng túng về sự ngạo mạn của mình.
Khi ông giám đốc bước vào phòng, tôi lên tiếng: “Chào anh, anh khỏe không, rất vui được gặp lại anh”. Và tôi chợt nhận rõ thái độ hai mặt của mình. Ngược lại, tôi cảm thấy ông hiệu trưởng sao mà đáng kính thế, ông là người nhất mực tin tưởng nhân viên của mình, ông nói tốt về họ và muốn họ cùng tham gia giải quyết mọi vấn đề tiêu cực xảy ra!
Ông hiệu trưởng là người dựa vào nguyên tắc. Tôi tin rằng nếu có ai phàn nàn với ông về tôi – dù với cương vị gì – thì ông cũng sẽ cư xử với tôi tôn trọng như thế. Con người này luôn trung thành với những người không có mặt.
Từ đó, tôi không bao giờ dám xem thường uy tín của người khác trước mặt ông nữa. Tôi đã biết rõ ông là người như thế nào.
Sự tin cậy là điều mà bạn không thể ngụy tạo hay dùng biện pháp cấp tốc mà có được. Nó chủ yếu phụ thuộc vào tính cách – vào sự đáng tin cậy của cá nhân.
Nếu không có nền tảng của sự đáng tin cậy, thì lòng tin chỉ có tính chất tạm thời. Nó không có nguồn dự trữ. Không có niềm tin vào động cơ cơ bản. Sự giao tiếp trở nên thận trọng, cảnh giác, đầy rẫy sự vờ vĩnh và thủ thế. Ngược lại, sự đáng tin cậy tạo ra tính linh hoạt và nguồn dự trữ trong các mối quan hệ. Thỉnh thoảng bạn có thể sơ suất gây ra lộn xộn, nhưng điều đó không phá hỏng mối quan hệ. Bạn có các nguồn dự trữ để bổ sung. Người ta vẫn tin vào thiện ý của bạn. Họ hiểu rõ con người thực của bạn như thế nào.
Quan hệ tương thuộc kiểm chứng “Tầm quan trọng”
Sự chuyển từ mô thức độc lập sang mô thức tương thuộc tạo ra một cách nhìn hoàn toàn mới. Nó có tác động mạnh mẽ đến các quyết định của chúng ta về cách sử dụng thời gian tốt nhất – cũng như kết quả đạt được của chúng ta. Nó thực sự xác định lại khái niệm “tầm quan trọng”. Hãy nhớ lại về Ma trận quản trị thời gian.
Khi bạn nhìn qua lăng kính của thực tế tương thuộc, hãy suy xét các câu hỏi sau đây:
• Điều nào sau đây quan trọng hơn: thực hiện công việc có hiệu quả... hay dành thời gian để trao quyền cho nhân viên hay con cái làm việc đó, cả đối với trước mắt cũng như trong tương lai? Sự lựa chọn nào sẽ có tác động lớn nhất tới chất lượng thời gian của bạn, thời gian của người khác, thời gian của tổ chức?
• Điều nào sau đây quan trọng hơn: bỏ ra thời gian để giám sát và kiểm tra người khác, hay giải phóng tiềm năng sáng tạo to lớn của người khác để họ tự cai quản bản thân?
• Điều nào sau đây quan trọng hơn: sắp xếp thời gian của bạn để giải quyết có hiệu quả các vấn đề gây ra bởi những kỳ vọng trái ngược... hay dành thời gian để làm việc với người khác nhằm trước hết làm rõ những kỳ vọng của nhau?
• Điều nào sau đây quan trọng hơn: bỏ ra thời gian để cố gắng giải quyết các vấn đề gây ra do sự giao tiếp hạn chế, hay dành thời gian cho việc xây dựng các mối quan hệ dẫn đến sự giao tiếp có hiệu quả?

Chữ in đậm biểu thị tỷ lệ trong các tổ chức có năng suất cao
Chữ in thường biểu thị tỷ lệ trong các tổ chức bình thường
Thế hệ quản trị thứ tư là một mô thức “con người”. Nó tập trung vào mối quan hệ tương tác đồng tâm hiệp lực có hiệu quả giữa con người với nhau nhiều hơn là vào việc quản lý có hiệu suất cao, cứng nhắc các “sự việc”. Sự khác biệt giữa cách tập trung vào con người và cách tập trung vào sự việc là một trong những khác biệt sâu sắc nhất giữa thế hệ quản trị thứ ba và thứ tư. Thế hệ quản trị thứ ba tập trung vào quản lý và kiểm soát. Nó hạ thấp con người xuống ngang hàng với sự việc.
Nhưng mô thức quản trị thời gian thế hệ thứ tư coi con người là trước tiên, sau đó mới đến sự việc. Trước tiên là lãnh đạo, sau đó mới là quản lý. Trước tiên là hiệu quả, sau đó mới là hiệu suất. Trước tiên là mục đích, sau đó mới đến cơ cấu. Trước tiên là viễn cảnh, sau đó mới đến phương pháp thực hiện.
Mô thức tập trung vào con người tạo ra cách nhìn và cách tiếp cận hoàn toàn khác đối với cuộc sống, như chúng ta thấy ở bảng so sánh trên.
Rõ ràng mô thức “sự việc” rất phù hợp khi chúng ta quản lý các sự việc. Nhưng nó không phù hợp – và không có hiệu quả – khi chúng ta cố áp dụng vào con người. Nó chẳng khác gì chơi quần vợt bằng chiếc gậy đánh gôn – công cụ không phù hợp với thực tế.
Mô thức con người rất quan trọng đối với sự thành công trong các mối quan hệ gia đình hay trong mọi loại tổ chức. Nhà công nghiệp nổi tiếng của Nhật Bản, Konosuke Matsushita chỉ ra rằng nhiều sai lầm và thách thức trong kinh doanh của phương Tây là do mô thức chủ yếu sau đây:
Với tư duy coi suy nghĩ là việc của các sếp còn công nhân chỉ lo cầm cờ-lê tua-vít, các bạn đã tin rằng đó là cách hoạt động kinh doanh tốt nhất – làm thế nào moi được các ý tưởng từ đầu óc của các sếp và chuyển nó sang bàn tay các công nhân.
Còn đối với chúng tôi, cốt lõi của quản lý là nghệ thuật huy động và lôi kéo tất cả mọi nguồn lực trí tuệ của tất cả nhân viên nhằm phục vụ công ty. Chúng tôi đã tính đến toàn bộ phạm vi của những thách thức kỹ thuật và kinh tế – chúng tôi hiểu rằng trí tuệ của một vài nhà quản trị, dù thông minh đến đâu, cũng không đủ để giành được thắng lợi.
Chỉ có cách tập hợp sức mạnh trí tuệ tập thể của tất cả mọi nhân viên thì công ty mới có thể đương đầu với sự biến động và những trở ngại của môi trường kinh doanh ngày nay.
Khi “nhìn” dưới góc độ của một thực tế tương thuộc, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra tầm quan trọng của việc dùng thời gian cho các hoạt động Phần tư thứ II như là xây dựng các mối quan hệ, tạo lập viễn cảnh chung và làm rõ những kỳ vọng. Chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng phần lớn những điều chúng ta làm theo phương pháp quản trị thời gian truyền thống mới chỉ là chặt cành lá một cách có hiệu suất, chứ chưa đụng chạm gì đến cái gốc rễ mang tính tương thuộc.
Quan hệ tương thuộc đích thực tạo nên sự biến đổi
Trong quản trị thời gian truyền thống, quan hệ tương thuộc về cơ bản chỉ có tính chất giao dịch vụ việc. Quan hệ tương thuộc giao dịch này diễn ra hàng ngày thông qua sự ủy quyền, và nó thường có liên hệ với các nguyên tắc quan hệ quần chúng tốt. Nó có thể được tiến hành theo nhiều cách suôn sẻ, có kết quả và làm thỏa mãn cả đôi bên. Nhưng đây chỉ là quan hệ tương tác ở mức độ thấp. Các bên tham gia đều không có sự thay đổi. Ở đây không xuất hiện sự đồng tâm hiệp lực thực sự. Cũng không có điều gì mới được tạo ra.
Nhưng thế hệ quản trị thứ tư thì khác hẳn về chất. Nó chuyển từ sự tương thuộc giao dịch sang sự tương thuộc biến đổi, trong đó sự đồng tâm hiệp lực thực sự của mối quan hệ tương thuộc được tạo ra đúng với bản chất phụ thuộc lẫn nhau của nó. Nhờ đó, con người có sự biến đổi. Họ biến đổi. Họ thực sự thay đổi. Họ không biết loại động lực nào được giải phóng trong quá trình giao tiếp. Điều mới mẻ đang được tạo ra và không bên nào kiểm soát điều đó. Nó là sự tương tác giữa những con người được tự do chứ không phải bị kiểm soát. Quan hệ tương thuộc biến đổi là một thế giới hoàn toàn mới; và đó là điều rất cơ bản, là cốt lõi của thế hệ quản trị thứ tư. Trong quan hệ tương tác biến đổi, cách tiếp cận của thế hệ thứ ba gồm sự kiểm soát, hiệu suất, thành tích cá nhân và thời gian tuần tự được thay thế bằng khái niệm đồng tâm hiệp lực của thế hệ thứ tư, dựa trên cơ sở một tập hợp cân đối các quy luật tự nhiên hay các nguyên tắc mà cuối cùng chúng sẽ giữ vai trò chi phối.
Toàn bộ ý tưởng đồng tâm hiệp lực là điều thực sự hấp dẫn và lý thú, nhưng đồng thời nó cũng là điều gây lo ngại. Khi bạn đi vào giao tiếp đồng tâm hiệp lực, bạn thực sự không biết chắc kết cục của nó sẽ như thế nào. Hơn nữa, nếu bạn đã được rèn đúc và dạy dỗ về tính độc lập và triết lý của thế hệ thứ ba, như sự kiểm soát và hiệu suất, có thể bạn sẽ cảm thấy rất dễ bị tổn thương và không có kinh nghiệm, cảm thấy hoài nghi và lo sợ.
Stephen: Tôi còn nhớ lần đầu tiên tham gia chương trình huấn luyện nhảy dây mạo hiểm từ trên vách núi cao. Tôi làm trợ lý cho người huấn luyện, nhưng không phải chuyên về kỹ thuật nhảy dây, mà là trợ lý về phản ứng tâm lý. Tuy vậy, tôi cũng buộc phải trải qua các bước học kỹ thuật nhảy dây như các học viên. Tôi không bao giờ quên giây phút đứng trên đỉnh vách núi chờ đến lượt mình để lao xuống từ vách núi thẳng đứng. Tôi đã nhìn thấy những người khác nhảy như thế trước khi đến lượt tôi. Tôi bấm bụng tự nhủ rằng mọi thiết bị an toàn đã có sẵn và rằng dù tôi có bị ngất xỉu giữa chừng thì đã có dây an toàn giữ tôi khỏi rơi xuống. Nhưng tất cả sự trấn an này không làm tôi bình tâm. Tôi vẫn cảm thấy rất hồi hộp, lo sợ và yếu đuối. Tôi không dám cất tiếng vì sợ sẽ khuấy động phản ứng của các học viên. Nhưng tôi không bao giờ quên cảm giác xuyên qua con tim và khối óc của mình khi tôi lao người xuống khoảng không phía dưới.
Những cảm giác đó rất tương đồng với cảm nhận tổng quát về sự đồng tâm hiệp lực của mối quan hệ tương thuộc mà chúng ta đang bàn tới. Thực ra bạn rất dễ bị tổn thương. Bạn cũng đang rơi tự do. Bạn đang đặt niềm tin của mình vào một quy trình và các nguyên tắc. Bạn không biết kết quả sẽ ra sao. Bạn đang thực sự mạo hiểm.
Việc kiểm soát mối quan hệ tương thuộc chỉ là ảo tưởng. Những người kiểm soát được nó là những người về cơ bản đã thấm nhuần một cách sâu sắc các nguyên tắc hay các quy luật tự nhiên của cuộc sống, khiến họ tin tưởng rằng họ có thể làm cho sự việc xảy ra đúng như họ nghĩ. Nhưng điều đó thực ra chỉ là sự tuân theo các quy luật tự nhiên và các nguyên tắc chi phối các kết quả mà thôi. Nó có thể có kết quả ở một mức thấp và trong phạm vi mạng lưới các đối tác giao dịch và các quan hệ tương thuộc.
Nhưng khi bạn muốn có sự đóng góp lớn hơn và muốn chuyển sang quan hệ tương thuộc biến đổi có tính hiệp lực thực sự và sáng tạo, và trở thành một nguồn sức mạnh – bạn phải rời khỏi căn cứ an toàn của sự kiểm soát và trở nên dễ bị tổn thương. Bạn phải đặt niềm tin vào các nguyên tắc ở mức độ cao hơn. Bạn không biết chắc điều gì sẽ xảy ra. Lúc đó cuộc sống sẽ trở thành một cuộc phiêu lưu thực sự. Bạn không biết chắc cái gì nằm ở phía sau khúc quanh sắp tới. Bạn không biết chắc người khác sẽ phản ứng lại thế nào. Bạn đang mạo hiểm. Đó là lý do đòi hỏi ở bạn lòng dũng cảm. Bạn phải vượt ra khỏi vùng đất an toàn của mình, ra khỏi kinh nghiệm quá khứ hay chỗ dựa hiện nay của mình. Ở đó có rất nhiều mô hình cuốn hút bạn, những khuôn mẫu đã được thực hiện trước đây và khuyến khích bạn tiếp tục làm theo. Nhưng bạn vẫn phải bắt đầu bước đi đầu tiên ấy. Bạn cần phải bay bổng và “nhảy” từ trên cao xuống.
Bốn khả năng thiên phú trong quan hệ tương thuộc
Nguyên nhân chúng ta có thể làm được điều nói trên – và có thể tạo ra một tổng thể đồng tâm hiệp lực lớn hơn rất nhiều so với các bộ phận của chúng cộng lại – là nhờ có các khả năng thiên phú đặc biệt của con người.
Trong thực tế tương thuộc, chúng ta có khả năng xử lý khoảng trống giữa tác nhân và phản ứng không những của chúng ta mà còn của người khác nữa. Khi làm như thế, chúng ta có thể sử dụng các khả năng thiên phú đặc biệt của mình để tương tác với người khác với sự chính trực – một cách gắn bó chặt chẽ.
• Khả năng tự nhận thức giúp chúng ta hiểu được nhận thức của người khác. Do chúng ta biết lắng nghe tiếng nói từ trái tim mình, chúng ta cũng sẽ biết lắng nghe tiếng nói từ trái tim của người khác. Chúng ta có thể bước ra khỏi khuôn mẫu suy nghĩ của mình để hiểu được suy nghĩ của người khác. Chúng ta có thể không suy bụng ta ra bụng người, không nhìn hành động của người khác dưới góc độ nó có ảnh hưởng như thế nào đến thời gian và thế giới riêng của chúng ta. Chúng ta có thể không coi họ là những nguồn lực đơn thuần nhằm đạt được điều chúng ta mong muốn. Chúng ta có thể vượt ra khỏi thói tự tâng bốc, để coi trọng sự khác biệt, sẵn sàng tiếp thu kinh nghiệm của người khác. Do chúng ta có cốt lõi vững chắc nên chúng ta sẵn sàng thay đổi. Chúng ta biết khiêm tốn, tôn trọng người khác. Chúng ta coi những nhược điểm của họ như các cơ hội để chúng ta giúp đỡ, yêu thương, để tạo ra sự khác biệt.
• Do chúng ta hiểu rõ lương tâm của mình, nên chúng ta có thể hiểu được phải làm gì để trở thành một bộ phận của lương tâm tập thể. Chúng ta coi trọng làm việc tập thể để cùng nhau khám phá nguyên tắc “chính Bắc”, sự khiêm tốn để nhận ra rằng sự hiểu biết của chúng ta có giới hạn do quá trình dạy dỗ và thiếu sự trải nghiệm. Chúng ta hài lòng sâu sắc khi tạo lập viễn cảnh và các giá trị chung giúp chúng ta cùng nhau thực hiện điều quan trọng nhất.
• Thông qua ý chí độc lập của mình, chúng ta có thể phấn đấu để có được ý chí tương thuộc. Chúng ta có thể thỏa thuận với người khác để đạt được mục đích chung trên cơ sở cùng thắng. Chúng ta có thể tạo ra các cơ cấu và hệ thống để hỗ trợ cho các nỗ lực tương thuộc. Là những cá nhân độc lập, chúng ta có thể cùng nhau thực hiện các mục đích chung có lợi cho gia đình, tập thể, tổ chức và cho xã hội nói chung.
• Chúng ta có thể đóng góp trí tưởng tượng sáng tạo của mình cho quá trình tạo ra sự hiệp lực sáng tạo. Chúng ta có thể giúp đỡ giải phóng tiềm năng sáng tạo to lớn của người khác và cởi mở, sẵn sàng chia sẻ những kết quả bất ngờ của sự đồng tâm hiệp lực. Chúng ta có thể tìm ra những giải pháp thứ ba sáng tạo hơn, phù hợp hơn, dễ thực hiện hơn và kết quả lớn hơn so với giải pháp riêng của từng người. Thông tin đầu vào của chúng ta sẽ trở thành một bộ phận của ống kính vạn hoa tạo ra những kết quả mới mẻ khi chúng ta tương tác với người khác trong quá trình giải quyết vấn đề.
Những khả năng thiên phú này giúp chúng ta tạo dựng các mối quan hệ phong phú, làm một người bạn, cung cấp thông tin phản hồi trung thực, giao tiếp với người khác một cách hiệu quả. Chúng ta có thể tạo ra mối quan hệ tương thuộc đồng tâm hiệp lực và hiệu quả, chứ không phải quan hệ lệ thuộc, dựa dẫm hay bất hợp tác. Chúng ta có thể cùng nhau làm việc có hiệu quả để đạt được mục đích chung. Chúng ta có thể xây dựng một tập thể vững mạnh dựa vào sức mạnh của từng cá nhân và bổ khuyết những điểm yếu cho nhau. Chúng ta có thể cùng nhau ưu tiên cho điều quan trọng nhất một cách mạnh mẽ và hiệu quả.
Đây là điểm tựa tốt nhất của chiếc đòn bẩy. Nó giúp chúng ta kết hợp thời gian, sức lực và sự sáng tạo (vẫn thường bị lãng phí vào trong các cuộc khủng hoảng không cần thiết ở Phần tư thứ I và các hoạt động không quan trọng ở Phần tư thứ III) để hướng vào việc tạo ra những chiều kích mới của tính hiệu quả.